📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tiểu thuyết trinh thám kinh dị: LINH HỒN ÁC - Maxime Chattam (HẾT) 🔒

77 trả lời, 13.337 lượt xem — Trang 3 / 3
Chương 36
 
Đại úy Chamberlin đứng thẳng đơ, tay vuốt ria mép vẻ căng thẳng. Sau lưng ông, các tòa nhà cao tầng của Portland trải dài trên nền rừng núi mênh mông.
 
- Anh ngồi xuống đi, ông nói với Brolin. Các dấu vết tìm thấy tại hiện trường đã được đưa qua Opti-Scan và so sánh với tất cả các hồ sơ hiện có, nhưng không thấy gì cả. IAFIS (Integroted Automoted Fingerprint Identification System: cơ sở dữ liệu quốc gia về vân tay do FBI tập hợp) của FBI im lặng. Không có kết quả tích cực nào cả. Hiện tại, Craig Nova đang so sánh vân tay này với vân tay của nạn nhân, anh ấy cho rằng đây là cùng 1 người.
 
- Mặt khác, Chamberlin nói tiếp, Craig đã phân tích các vết bánh xe và thu được kết quả, anh ấy sắp gọi cho tôi để khẳng định lại.
 
- Báo chí đang quây lấy chúng ta, Meats nói tiếp, họ muốn biết liệu đây có phải là loạt án mạng mới, liệu có phải có 1 kẻ giết người hàng loạt khác ở Portland. Họ muốn có thông tin chính xác, và họ biết gây sức ép khi cần thiết.
 
- Hãy tin họ, Salhindro lên tiếng, họ không…
 
Tiếng chuông điện thoại ngắt lời anh. Đại úy Chamberlin nhấc máy và bật loa.
 
- Tôi là Craig, 1 giọng nói bị kích thích cao độ vang lên. Tôi e là không có tin tốt đẹp về vết vân tay, đúng như tôi phán đoán, đây là vân tay của nạn nhân.
 
Chamberlin nhăn mặt. Craig nói tiếp với vẻ hăng hái mà mọi người hiểu ra ngay:
 
“Thế nhưng với các vết bánh xe, tôi vừa có được khẳng định từ hồ sơ của FBI. Dấu vết đủ rõ và nhiều để xác định khoảng cách trục, bán kính lái và độ rộng của trục bánh xe. Tương đối đủ để giúp chúng ta xác định chính xác đây là loại ôtô nào. Và lần này, chúng ta gặp may mắn, chỉ có 1 khả năng, Mercury Capri đời 1977.”
 
- Có chắc chắn không? Chamberlin hỏi lại.
 
- Không nghi ngờ gì nữa. Đây là những hồ sơ cực chính xác do FBI phối hợp với các hãng sản xuất xe hơi lập ra. Thưa đại uý, với loại công cụ tin học này, tôi chỉ cần có 1cm2 kính vỡ là đủ để khẳng định với anh nó là của hãng xe nào, thậm chí thuộc dòng xe nào. 
 
- Mercury Capri, 1977, Salhindro ghi lại. Thế anh có biết màu gì không?
 
Nụ cười ngưng lại trên môi của cả nhóm, đây không phải là lúc để đùa.
 
- Về vết chân, bản thân nó không nói lên gì nhiều ngoài cỡ giày, cỡ 43. Nhưng bù lại, có 1 ít đất rơi ra từ giày. Scott vừa mới kiểm tra bằng ống tỉ lệ biến đổi tỉ trọng. Nói 1 cách đơn giản, đây là 1 ống nghiệm với những lớp sản phẩm có tỉ trọng khác nhau. Khi đặt chỗ đất tìm được trên vết chân vào trong ống, mỗi phân tử sẽ chảy tới lớp có cùng tỉ trọng với nó. Như vậy, chúng tôi thu được ống nghiệm với những đường màu sẫm ở những mức riêng biệt, giống như những mã vạch nhỏ nằm ngang. Sau đó, chúng tôi làm y như vậy với các ống tỉ lệ biến đổi tỉ trọng khác đối với các mẫu đất lấy ở xung quanh khu vực diễn ra vụ án, rồi đem so sánh “mã vạch” của các ống. chúng đều ít nhiều giống nhau, trừ ống có đất ở vết chân. Như vậy có nghĩa là đất trên vết chân không phải đất trong 1 khu vực nào đó gần ngôi nhà của công ty thoát nước.
 
- Anh có tìm được nguồn gốc của nó không? Meats hỏi.
 
- Tỉ trọng của đất biến đổi sau khoảng vài trăm mét. Tôi cần có một mẫu đất trên mỗi km2 trong toàn bộ bang thì mới so sánh được! Thế đấy! Không, đó là việc bất khả thi. Đất trên vết chân là đất dính trên đế giày của kẻ giết người, vì thế có thể là đất trong vườn nhà hắn hoặc ở nơi hắn làm việc.
 
- Thế nó giúp ích gì cho chúng ta? Salhindro hỏi với vẻ hơi thất vọng.
 
- Nếu anh nghi ngờ 1 người, anh chỉ cần mang tất cả giày của hắn tới cho tôi, bằng cách so sánh hình trên đế giày, tôi có thể xác nhận được đó có phải là chiếc giày để lại vết trên hiện trường hay không. Cũng tương tự như vậy nếu anh lấy được mẫu đất ở nhà hắn…
 
- Đúng thế nhưng….
 
Craig ngắt lời đại úy:
 
- Đợi đã, tôi vừa mới nhận được kết quả phân tích. Chúng tôi đã gửi 1 ít đất đi kiểm tra bằng máy sắc khí, vốn luôn đi kèm 1 chiếc máy tính để phổ khối lượng….
 
- Craig, cho chúng tôi biết chi tiết đi, Chamberlin ra lệnh.
 
- Vâng. Đất này giàu chất colloidal hữu cơ, tức là chứa nhiều mùn.
 
- Craig, làm ơn nói cho phù hợp với trình độ thấp của những người như chúng tôi, Brolin yêu cầu. Chất colloidal là gì?
 
- Trong đất, đây là chất hữu cơ sinh ra từ quá trình phân hủy thực vật do nấm và vi khuẩn. Và trong trường hợp mà chúng ta đang quan tâm, xét đến tỉ lệ mùn dày, tôi cho rằng đây là đất tự nhiên, đất rừng. Kẻ giết người đã đi trong rừng trước khi tới ngôi nhà.
 
- Có thể là công viên thành phố không? Brolin hỏi.
 
- Không, quá nhiều phân bón. Chắc chắn là 1 nơi tương đối hoang dại.
 
- Giống như Washington Park, nơi tìm thấy nạn nhân đầu tiên ấy à?
 
- Vâng, có thể.
 
- Như vậy có lẽ hắn đã quay lại nơi đó, vài giờ trước khi gây án mạng thứ 2.
 
- Có thể hắn sống hoặc làm việc gần đó? Meats đề xuất.
 
- Đừng vội vàng, Portland chắc chắn là thành phố lớn nhiều rừng nhất bờ Tây, nên không thiếu gì rừng quanh đây đâu, Salhindro nhận xét.
 
Đại úy Chamberlin gật đầu, vẻ mặt nghiêm trọng.
 
- Nhưng hiện tại, đây là tất cả những gì chúng ta có. Anh nghĩ thế nào? Ông hỏi Brolin. Washingotn Park?
 
- Có thể. Hắn đã chọn địa điểm đó cho vụ án mạng đầu tiên, đó là nơi quen thuộc với hắn, hắn thấy yên tâm hơn, và trong trường hợp có vấn đề gì xảy ra, thì hắn đã biết rõ địa hình. Tôi cảm thấy có thể xem xét được.
 
- Tốt, Meats, anh lấy cho tôi danh sách các chủ sở hữu xe Mercury Capri 1977 trong bang và chúng ta sẽ nghiên cứu tỉ mỉ, bắt đầu từ những người đã có lý lịch tư pháp. Trong khi chờ đợi, chúng ta kiểm tra kỹ Washington Park, lập danh sách tất cả những người sống ở bìa rừng xung quanh, và xem ai có thể phù hợp với mô tả nhân dạng. Những nét chính của hồ sơ mô tả thế nào, Brolin?
 
- Da trắng, từ 20 đến 25 tuổi là cùng. Độc thân, có việc làm bán thời gian hoặc không có việc làm, có xe hơi. Có thể là 1 chiếc Mercury Capri 1977. Cứ bắt đầy từ đây, hơi rộng nhưng đặc điểm này sẽ thu gọn danh sách.
 
- Tại sao lại là công việc bán thời gian hoặc không có việc làm? Meats hỏi.
 
- Hai vụ án xảy ra vào đêm và những ngày khác nhau trong tuần. Với thời gian mà việc này đòi hỏi và sự phấn khích khi chuyển sang hành động, tôi ngờ rằng hung thủ không thể đi làm vào sáng hôm sau được.
 
- Tốt lắm, Salhindro, hãy gửi hồ sơ mô tả này cho tất cả các cảnh sát mà anh cử đến Washington Park. Chúc mọi việc tốt đẹp, Craig.
 
- Tôi có thể giúp ích gì không? 1 giọng nói vang lên trong loa.
 
Salhindro và Brolin đứng dậy, còn Meats lên tiếng:
 
- Thưa đại úy, thế còn báo chí? Chúng ta nói gì với họ? Phải cho họ khúc xương để gặm, nếu không sẽ không thể chịu nổi đâu.
 
- Báo chí cứ để tôi phụ trách. Hãy tập trung tóm tên điên rồ đó, tôi sẽ cho chúng ta thêm thời gian bằng cách đưa ra 1 thông cáo báo chí ngắn gọn.
 
Salhindro thân mật vỗ vai cấp trên khi đi ra:
 
- Báo chí ư? Tôi vẫn thích vai trò của mình hơn…
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 37
 
Hai tay đút túi, Joshua Brolin đi bộ trong khu Broadway. Gió lạnh từ phía bắc thổi mạnh trên đường phố, sau khi đi dọc sông Willamette, anh vừa đi xuyên qua trung tâm thành phố vừa hát thật to cho đến đường cao tốc số 5. Ở đó, anh chìm trong tiếng ầm ầm của động cơ xe cộ.
 
Đầu tóc rối tung trong cơn gió mạnh, Brolin rụt đầu trong cổ chiếc áo vest da. Anh đi ra ngoài với mục đích chính không phải là ăn gì đó, mà là để gột rửa cảm giác ngột ngạt xâm chiếm anh từ sáng nay. Lớp màng ẩm ướt của hơi nước và của cái chết vẫn bám chặt trên da anh. Mỗi khi chớp mắt, anh lại nhìn thấy căn phòng tối đen đó và ánh mắt của cô gái, ánh mắt chĩa thẳng vào anh. Cô van xin anh, cầu khẩn anh làm gì đó, và cho tới bây giờ, anh vẫn còn khó tin rằng cô gái đã chết khi anh phát hiện ra cô. Cái chết xảy đến với cô tàn nhẫn tới mức cô sững sờ thu hết sự sống vào ánh mắt, giống như khi người ta ấn nút “pause” trên băng video.
 
Anh nuôi ý định trở về đi tắm ngay để xua bỏ lớp hơi chết chóc dính trên người, nhưng anh biết rằng việc đó không có tác dụng gì cả, mùi hôi thối đã ngấm vào người anh.
 
Gió đập vào má anh.
 
“Mát thật đấy, anh tự nhủ. Mùa đông đã tới đòi phần thời gian của nó.”
 
Đi qua trước quán Starbucks Coffee, Brolin lưỡng lự định bước vào. Nhiều người cùng tổ với anh thường tới đây để thư giãn 1 chút với cốc café nóng trong tay. Rồi anh thay đổi ý định, anh muốn gọi cho mẹ để biết tin tức, nếu ăn thật nhanh, anh có thể tập trung nghiên cứu hồ sơ sau đó 1 tiếng.
 
Ở góc đường Broadway và Taylor, anh dừng lại cạnh 1 người bán hot-dog và đứng vào sau chiếc xe bằng sắt, từ xe tỏa ra những cột khói mờ hơi mỡ và đường.
 
Người bán hàng, cao lớn, râu ria lởm chởm, với nước da và giọng nói của người Mexico, lại gần anh ngay lập tức.
 
- Gió quá nhỉ, đúng không?
 
Brolin chỉ gật đầu.
 
- Cứ như trong phim về thảm họa ấy! Anh chàng Mexico cao lớn nói tiếp. Anh ăn gì?
 
- 1 hot-dog với 2 xúc xích.
 
Trông dáng người có vẻ chậm chạp, nhưng người bán hàng lại rất nhanh nhẹn lấy ra 2 chiếc xúc xích đang bốc khói và đặt vào 1 chiếc bánh đã rạch bụng.
 
- Đây thưa sếp. Hai đô la.
 
Brolin trả tiền rồi rưới đầy sốt cà chua lên bánh mì.
 
- Có vẻ không ổn lắm, sếp ạ. Chuyện đàn bà, đúng không?
 
Brolin ra hiệu không phải.
 
- Không sao, chỉ vì gió thôi…
 
- Không nói dối được tôi đâu! Tôi thấy rõ ràng có chuyện không ổn.
 
Anh chàng Mexico xoa xoa tay như thể sắp ký kết được 1 vụ làm ăn béo bở.
 
- Này, anh ta tiếp tục, tôi tin chắc là vì đàn bà!
 
Brolin cười:
 
- Không. Không có đàn bà.
 
- Không có đàn bà ư? Anh ta vừa kêu lên vừa mở to mắt. Nhưng đó lại chính là điều không ổn! Anh cần phải tìm lấy 1 cô gái!
 
Brolin suýt nữa nghẹn miếng bánh.
 
- Không liên quan gì cả….
 
- Thế thì vì công việc! Công việc không thuận lợi ư?
 
Quả là 1 người bán hàng lắm mồm. Brolin nhớ lại những chuyến đi New York của anh. Ở đó lái xe taxi nói liên mồm, nhưng anh vừa gặp người còn tệ hơn!
 
- Cứ cho là thế đi, anh đành đồng tình.
 
Anh chàng bán hàng người Mexico trịnh trọng giơ cao 1 ngón tay.
 
- Thế anh có biết tại sao công việc lại khó khăn không, sếp? Vì anh chỉ có 1 mình trên đời! Có 2 người sẽ dễ dàng hơn nhiều, sẽ ít rủi ro hơn! Cả 2 người cùng đảm đương cuộc sống. Đó chính là bí mật: không chuốc lấy những rủi ro vô nghĩa!
 
Brolin nuốt miếng cuối cùng với hy vọng có thể đi tiếp 1 mình. “Nếu mình không đi bây giờ, anh ta sẽ giữ mình lại đến tối mất”, anh nghĩ.
 
Người bán hàng tiếp tục màn độc thoại:
 
- Tôi đảm bảo với anh đấy, thứ mà anh cần chính là 1 cô gái! Nếu anh muốn được giúp đỡ, thì anh tôi có một ….
 
Một tia sáng bỗng vụt lên trong đầu Brolin.
 
- Anh vừa nói gì thế?
 
Anh chàng Mexico nhìn anh soi mói.
 
- Sao, gì cơ? Anh tôi có 1 quán bar nhỏ, không phải…
 
- Không phải thế, Brolin ngắt lời. Trước đó cơ.
 
- Trước đó ư? Anh chàng Mexico cao lớn ngạc nhiên. A! Không nên chuốc lấy rủi ro vô nghĩa! Đây là khẩu hiệu của tôi. Nhưng nếu anh muốn, anh có thể sử dụng….
 
Nhưng Brolin không nghe anh ta nói nữa.
 
Một ý nghĩ khiến anh băn khoăn. 1 trong những trực giác của cảnh sát hay của chuyên gia mô tả tâm lý dần dần biến thành niềm tin.
 
Anh bỏ mặc người bán hot-dog ở đó mà không nói lời nào nữa rồi vội vã chạy ngược gió. Trong khi bước chân dẫn anh chạy như bay về phía trụ sở cảnh sát trung tâm, Brolin vạch lại đường đi của kẻ giết người. Theo các chỉ dẫn mà anh biết.
 
Anh đã nắm được thứ gì đó.
 
Giọng nói của anh chàng Mexico vang vang trong đầu anh: “Không nên chuốc lấy những rủi ro vô nghĩa.”
 
Họ đã nhầm về chiếc xe.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 38
 
Vừa vào phòng, Brolin đã bật ngay ấm đun nước, dấu hiệu cho thấy trạng trái phấn khích mạnh mẽ.
 
Anh bấm số tắt gọi Salhindro trên máy điện thoại.
 
- Larry, anh có bận không? Brolin hỏi.
 
- Cậu không tưởng tượng nổi tôi làm việc thế nào đâu! Tôi vừa kết thúc cuộc họp ngắn với các đội tuần tra, họ đi rồi. Nếu có 1 người da trắng, khoảng 20 đến 30 tuổi, làm việc bán thời gian hoặc thất nghiệp và đi trên chiếc Mercury Capri 77 quanh Washington Park, chúng tôi sẽ tìm ra hắn cho anh!
 
- Larry, bỏ qua xe Mercury đi, tôi nghĩ là chúng ta đã nhầm hướng, tôi có 1 ý. Anh đến phòng tôi được không?
 
Im lặng kéo dài 1 giây, như để Salhindro kịp đánh giá tình hình.
 
- Tôi sẽ có mặt ngay, khi anh còn chưa kịp đặt máy xuống.
 
Larry Salhindro cùng với 100kg của mình đi vào khi Brolin đang rót cốc trà nóng bỏng.
 
- Nào, có cần tôi nhắc lại cho mọi người không? Anh vừa hỏi vừa đóng cửa lại.
 
- Không cần. Chuyện kẻ giết người sống gần nơi xảy ra vụ án mạng đầu tiên không phải là không thể. Vấn đề là chiếc xe, xe đó không phải của hắn.
 
- Sao anh biết được?
 
- Anh uống trà nhé?
 
Salhindro từ chối bằng 1 cái nhăn mặt.
 
“Tôi không “biết” điều đó, Brolin nói tiếp, tôi “phán đoán”.”
 
- Lại là 1 trong những kiến thức của khoa học hành vi ư? Lắm khi tôi tự hỏi tại sao người ta lại nhận cậu vào FBI.
 
- Tôi nói nghiêm túc đấy, Larry.
 
Brolin đứng dậy và ra đứng trước tấm bảng lớn choán 1 khoảng tường. 1 tay anh cầm cốc trà bốc khói, 1 tay anh dùng ngón trỏ chỉ vào dòng chữ trên cùng của những ghi chép được viết thành hình kim tự tháp.
 
“1 kẻ giết người và 1 con Quạ”, anh đọc.
 
- Lần thứ nhất chúng giết người trong rừng, 1 nơi cách xa các nhân chứng, và cẩn thận vẩy chất Mercaptan vào ngôi nhà hoang. Chúng không gặp bất cứ rủi ro nào, tất cả đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Lần này, chúng hành động trong 1 ngôi nhà tách biệt cạnh 1 khoảng đất hoang. Tuy nhiên, có người sống cách đó không xa và có con đường dẫn tới ngôi nhà của công ty thoát nước vốn khá đông người qua lại. Thế mà chúng ta lại tìm thấy vết bánh xe trước ngôi nhà. Anh nghĩ là chúng lại để xe của chính mình ở đằng trước, mặc dù biết là sẽ có nhân chứng hay sao?
 
- Chúng hành động ban đêm, vì thế hạn chế được rủi ro, Salhindro phản bác.
 
- Đúng, 1 khi đã ở trong ngôi nhà của công ty thoát nước, nhưng ngay khi báo chí thông báo về vụ giết người, có thể 1 nhân chứng nhớ lại là đã nhìn thấy 1 chiếc xe rẽ vào con đường riêng. Nếu anh đủ tinh ranh để vảy Mercaptan nhằm xua đuổi những kẻ không mời mà đến ở lần thứ 1, thì anh có nghĩ là anh sẽ chở nạn nhân thứ 2 đi xuyên qua khu nhà vườn bằng chính chiếc xe của anh không?
 
- Khó có thể, quả đúng là như thế.
 
- Chúng làm theo cách đơn giản nhất, tôi nghĩ chiếc Mercury là của nạn nhân.
 
Brolin viết bằng bút Veleda lên bảng.
 
“Xe của nạn nhân thứ 2: Mercury Capri 1977?”
 
- Điều này sẽ giúp xác định danh tính. Meats đã yêu cầu bộ phận đăng ký xe cho biết danh sách các chủ sở hữu xe Mercury 77 trong toàn bang. Nếu may mắn, chúng ta sẽ tìm thấy 1 cái tên trùng với hồ sơ người mất tích.
 
Brolin đồng tình.
 
- Larry. Hãy tưởng tượng anh là kẻ giết người.
 
Salhindro làu bàu không thích thú gì.
 
“Anh giết cô gái này. Anh rất tinh quái, anh biết rằng tốt hơn hết là không để xe của cô ta diễu qua nơi xảy ra án mạng. Anh muốn vứt bỏ chiếc xe ấy, đồng thời lấy lại xe mình ở đâu đó. Anh sẽ chọn địa điểm nào?”
 
- Hừm…Có lẽ là 1 bãi đỗ xe. Nơi tuyệt vời để để lại chiếc xe của tôi mà không gây chú ý trong khi tôi giết cô ta, rồi sau đấy cũng bỏ lại xe của nạn nhân ở đó. Nếu may mắn, phải rất lâu sau người ta mới nhận ra chiếc xe ấy nằm im tại chỗ. Rất lâu.
 
- Với điều kiện ở 1 bãi đỗ xe công cộng, không phải trả tiền. Hoặc bãi đỗ xe dài ngày của sân bay.
 
- Sân bay ư? Ở phía đối diện, không, xa quá! Anh nói là 1 bãi đỗ xe miễn phí ư? Không nhiều bãi như vậy…
 
Brolin lại gần bản đồ thành phố. Anh đặt ngón tay mình chỉ cách nơi xảy ra án mạng vài cm.
 
- Anh quên mất bệnh viện Shriners và trường Y Oregon với bãi xe công cộng mênh mông. Cách ngôi nhà của công ty thoát nước chưa đầy 1 cây số.
 
Salhindro đứng bật dậy, đầu óc hoạt bát, tim hồi hộp, giống như khi anh đi tuần đêm mười lăm năm trước.
 
- Đi xe của cậu hay xe của tôi? 
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 39
 
Chắc chắn là bệnh viện Shriners hoàn toàn có thể tạo cảm hứng cho 1 trong những cuốn tiểu thuyết của Shirley Jackson nếu bà bắt gặp cái bóng tối tăm của nó. Không phải vì kiến trúc gớm ghiếc hay dịch vụ chăm sóc tồi tệ - nhất định không phải như thế - mà đó là một cảm giác không thể cắt nghĩa được đập vào võng mạc. Với các cửa sổ bất tận và những bức tường bẩn thỉu, dưới bề ngoài mất mỹ quan đó, tất cả thể hiện một tình trạng khổ sở giả tạo. Khi Brolin thấy nó hiện ra ở khúc ngoặt của đường Jackson Park, anh không nhận ra đây là một tòa nhà y tế, mà chỉ thấy mùi hôi của phòng để xác, tiếng òng ọc của các chất lỏng trong cơ thể ở khu phòng mổ hay mũi kim nhọn của ống tiêm cắm sâu trong thịt để vào ven. Không thể giải thích được nguồn gốc của những hình ảnh ấy, anh đã thấy chúng hiện ra sau chỗ ngoặt. Đây chính là tác động xấu của Shriners.
 
Brolin đi tiếp đến bãi đỗ xe rộng mênh mông ngay bên cạnh.
 
- Rẽ phải, Salhindro nói. Sẽ logic hơn khi hung thủ đỗ xe ở công cộng chứ không phải khu dành cho nhân viên. Kín đáo hơn.
 
Chiếc Mustang rẽ phải và lần lượt đi qua khắp các con đường nhỏ. Bãi đỗ xe rộng mênh mông vừa dành cho bệnh nhân, khách tới thăm, vừa dành cho các sinh viên của trường đại học Y nằm bên kia đường.
 
Những chiếc xe ngủ dưới ánh mặt trời tháng Mười nhàn nhạt tạo thành một hình ghép khá ấn tượng. Nhìn từ máy bay, bức tranh ghép lộng lẫy nhiều màu sắc này hẳn phải khiến người ta ngây ngất, Salhindro nhận xét.
 
Đằng xa, đèn pha sáng rực của một chiếc xe cứu thương khiến họ chú ý. Trước phòng cấp cứu, các y tá vừa chạy thật nhanh vừa đẩy một chiếc cáng. Từ cửa sau của xe cứu thương hai người mặc đồng phục màu xanh lam đặc trưng cho công việc của họ lao ra và đẩy chiếc cáng bên trên là một người bị thương đang kêu gào, quằn quại vì đau. Tấm vải phủ màu trắng không đủ để che hết các vết đỏ trên ngực anh ta.
 
- Cho dù chết kiểu gì, tôi cũng không muốn kết thúc như thế này, Salhindro thốt lên, giọng đột ngột yếu đi.
 
- Kết thúc như thế nào? Trên cáng ư?
 
- Không, trong bệnh viện. La hét như tất cả mọi người, đi tiểu ra máu, cảm thấy cơn hoảng loạn dâng trào trong khi vẫn nhận thức được cái chết sắp xảy đến. Xung quanh anh là những người tận tụy, chắc chắn rồi, nhưng cũng có không ít người trong nghề y mà với họ cái chết của anh chỉ là thêm một cái chết Vô Danh nữa mà thôi. Tôi muốn một cái chết mang ý nghĩa cá nhân, trung tâm là tôi, anh hiểu không. Một cái chết thực sự tập trung vào con người nhỏ bé của tôi, với những người cùng ý thức với tôi rằng thế là kết thúc, rằng tôi ra đi. Tôi không muốn một cái chết chuyên nghiệp như người ta làm hiện nay, nó nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
 
Brolin rời mắt khỏi hàng xe đang đỗ một giây để nhìn lại ông bạn.
 
- Anh có hay nghĩ đến cái chết của mình không?
 
- Đôi khi.
 
Salhindro không rời mắt khỏi cảnh tượng đó.
 
- Khi có tuổi, người ta nghĩ tới nó nhiều hơn, ông nói thêm. Sau nửa thế kỷ, chuyện đó bắt đầu trở nên quan trọng, nhất là với người có cách sống như tôi… Cách sống không ra gì.
 
Đằng xa, nhóm y tá biến mất cùng với người bị thương: một giây sau, chiếc xe cứu thương tắt đèn pha và lại lên đường. Cảnh tượng diễn ra thật ngắn ngủi, chớp nhoáng và giờ chỉ còn là một ký ức mờ mịt.
 
- Cách đây hai tuần, tôi đến nhà anh tôi ăn một bữa thịt nướng, Salhindro nói tiếp. Cậu biết đấy, ông anh làm việc ở EPA16 ấy mà. Trên một bức tường, tôi thấy một cái khung có dòng chữ thêu: “Nếu một con người thất bại trong cuộc sống gia đình, thì anh ta cũng thất bại trong cuộc sống.”
 
Ông cười khô khốc, mỉa mai, khiến cái bụng lắc lư bên trên thắt lưng.
 
- Cậu biết không, tôi đứng đó để nhìn cái khung khốn kiếp ấy trong mười phút, cho tới khi Dolly tới tìm tôi. Cô ấy hỏi thăm sức khỏe của tôi rồi chúng tôi tới chỗ ông anh và gia đình nhỏ của anh ấy. Cái khung dở hơi ấy được treo trên tường đến mười năm rồi nhưng đó là lần đầu tiên tôi để ý tới nó. Một thông điệp, như một dấu hiệu.
 
Salhindro nhìn mình trong gương chiếu hậu.
 
- Cái khung ngớ ngẩn, ông nói… Đúng là một thứ rất sinh thái!
 
Brolin quan sát các xe đang đỗ và chỉ thỉnh thoảng liếc nhanh sang người ngồi bên cạnh. Anh biết rằng Salhindro chưa bao giờ có con. Thực ra, ông cũng chưa bao giờ có vợ, ông thường ngồi với bạn bè khi có thời gian rỗi và… làm quá giờ rất nhiều. Salhindro không tập thể thao nữa, ông ăn thoải mái tất cả những gì ông muốn, cho dù sức khỏe có xấu đi cũng chẳng sao, không có gì thực sự bổ ích níu kéo ông lại thế giới này cả. Salhindro hài lòng vì được sống, nhưng không khóc khi cái chết tới. Ít nhất là theo cách hiểu của Brolin.
 
- Anh biết không, chuyện cảm thấy cái chết đến… thật là vớ vẩn, Brolin nói. Anh vừa mới nói là anh không muốn hoảng loạn khi cảm thấy cái chết sắp tới, nhưng tôi không tin điều này.
 
- Thật thế sao? Cậu có vẻ tài thật đấy, nhưng cậu đã chết bao nhiêu lần rồi? Tôi tự nhủ, có một thứ mùi…
 
- Không, thật đấy, tôi đảm bảo. Trong hai năm ở FBI, có lần tôi đã rơi vào một cuộc đọ súng dữ dội. Khi ấy tôi vẫn còn đang trong quá trình đào tạo, lẽ ra tôi không được ở đó, nhưng tôi đi cùng một điệp viên, điều này không quan trọng… Hai kẻ giữ con tin trong một ngân hàng. Một người của ta đã bị bắn vào bụng. Anh ấy mất nhiều máu và liên tục kêu lên: “Tôi sắp chết, tôi cảm thấy rồi, tôi sắp chết”. Tôi ở cùng anh ấy trong xe cứu thương, có lúc tôi thấy anh ấy còn trở nên nhợt nhạt hơn nữa. Anh ấy nhìn thẳng vào mắt tôi, cầm tay tôi rồi nói: “thế là xong... hãy nói với vợ tôi là tôi yêu cô ấy…”. Anh ấy đã cảm thấy cái chết đến giống như anh nói. Nhưng viên đạn găm vào cái xương sườn thứ mười và không gây tổn thương nặng nề. Hai tuần sau, anh ấy lại nhảy như một con thỏ! Cảnh một người biết mình sắp chết và dành thời gian để nói lời vĩnh biệt quả là hay với phim ảnh.
 
- Nhưng… tôi không tin.
 
- Đừng buồn, khi nó tới thì anh đã quá già. Anh sẽ ngủ thanh thản và quên không thức dậy…
 
- Thôi đi! Dù thế nào tôi cũng không đồng tình với ý nghĩ của cậu. Có những người cảm thấy được giờ tận số sắp….
 
- Larry! Brolin vừa kêu lên vừa giậm chân.
 
Salhindro nhìn theo hướng chàng thanh tra chỉ tay.   
 
Cách đó mười mét, một chiếc Mercury Capri màu hạt dẻ đang ngoan ngoãn chờ đợi.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 40
 
- Trung tâm, đây là 4-01. Chúng tôi đang ở trong vùng tuần tra 871, cần một 10-28. Xe Mercury Capri màu hạt dẻ, đăng ký ở bang Oregon. Biển số cá nhân hóa “Wendy81”. “Whisky-Echo-November-Delta-Yankee 8-1”
 
- Đã nhận 4-01, chúng tôi sẽ xử lý.
 
Với cảnh sát Portland, mã số 10-28 là yêu cầu xác định biển số xe ô tô.
 
Brolin đỗ chiếc Mustang vào cạnh đường và họ xuống xe.
 
- Có bao nhiêu phần trăm may mắn đây chính là chiếc xe đó? Brolin hỏi trong khi đi vòng quanh xe.
 
- Tôi không biết, có bao nhiêu chiếc Mercury Capri ở Portland? 10? 40? Và có bao nhiêu phần trăm may mắn tìm được một chiếc ở nơi đang tìm kiếm? Tôi chưa bao giờ giỏi môn xác suất.
 
- Thôi, đừng động chạm gì cả. Có thể đây chỉ là xe của một cậu sinh viên tội nghiệp nào đó và cậu ta sẽ kiện chúng ta vì đã đặt tay lên tay nắm cửa xe. Hãy đợi trung tâm trả lời.
 
- Để họ nói gì với cậu? Salhindro phân vân hỏi. Đây là xe của thị trưởng chăng?
 
Brolin lấy điện thoại di động ra.
 
- Ngay khi biết chiếc xe thuộc sở hữu của ai, tôi sẽ gọi cho chủ xe. Nếu người đó trả lời và trong gia đình anh ta không có người mất tích, thì chúng ta sẽ quyết định.
 
- Thế còn Craig? Chúng ta có thể gọi cậu ấy đến, với tất cả các thiết bị của mình, cậu ấy sẽ cho chúng ta biết đây có phải chính là các lốp xe đã để lại vết trước hiện trường vụ án hay không.
 
- Larry, chúng ta không thể gọi Craig và cả đội của anh ấy tới mỗi khi tìm thấy một chiếc Mercury Capri.
 
- Có sao đâu, đấy là việc của cậu ấy mà!
 
Brolin định đáp lại thì máy điện đài lạo xạo.
 
- 4-01, đây là trung tâm. Các anh có nghe thấy không?
 
Salhindro cầm lấy micro.
 
- Rất rõ.
 
- Chúng tôi vừa xác định được chủ sở hữu xe. Elizabeth Stinger, ba mươi sáu tuổi, trú tại Fremont Drive, quận Đông.
 
- Ba mươi sáu tuổi, Brolin nhắc lại. Phù hợp với tuổi của nạn nhân.
 
- Nhưng quan trọng hơn, giọng nói vô cảm từ trung tâm tiếp tục vang lên, Elizabeth Stinger nằm trong hồ sơ mất tích sáng nay.
 
Brolin rùng mình. Khi một người được chồng, vợ hoặc một người thân trong gia đình thông báo mất tích, thì theo đúng thủ tục, cần phải chờ bốn mươi tám tiếng đồng hồ mới được ghi vào hồ sơ mất tích, chủ yếu là để chắc chắn không bị nhầm lẫn và tránh làm bão hòa hệ thống. Thế mà cái chết được xác định là xảy ra cách sáng nay năm mươi tiếng đồng hồ, tức là đúng hai ngày trước. Tất cả hoàn toàn trùng hợp.
 
Chỉ vài phút sau, đồn cảnh sát khu 920 cho biết Elizabeth Stinger bị mất tích vào cuối buổi tối hôm thứ ba. Lúc 23 giờ tối thứ Ba, sau khi nhiều lần gọi cho Elizabeth Stinger mà không được, Amy Frost, bảo mẫu của con gái Elizabeth, quyết định báo cảnh sát. Ông chủ nơi Elizabeth làm việc có nhìn thấy cô ra về vào cuối buổi chiều và từ đó không ai nhìn thấy cô ấy nữa. Elizabeth Stinger làm việc gần đại lộ Columbia, phía Bắc thành phố.
 
- Đại lộ Columbia ư? Brolin ngạc nhiên. Quá xa! Nếu cô ấy mất tích ở bãi đỗ xe khi ra khỏi nơi làm việc, thì tức là kẻ giết người đã phải đưa cô ấy xuyên qua toàn bộ thành phố để tới đây?
 
Salhindro nhún vai.
 
- Cậu mới là chuyên gia chứ.
 
- Đúng là có một thứ không phù hợp. Người phụ nữ đó ra khỏi nơi làm việc và đi tới nhà bảo mẫu ở quận Đông, tức là còn xa chỗ này hơn nữa. Hung thủ có thể đã chặn đường cô ấy. Và đưa cô ấy tới địa điểm đó.
 
- Có lẽ hắn thích địa điểm đó.
 
- Hắn đã phát hiện ra địa điểm đó và chuẩn bị cho hành động của mình. Chính vì thế hắn đã dùng xe của nạn nhân, nếu hắn muốn đi xuyên qua thành phố thì không được để lại hình ảnh về cái xe của chính hắn. Điều khiến tôi băn khoăn là tại sao hắn lại chọn nạn nhân ở xa như thế? Trừ khi…
 
Lời nói của Brolin biến mất trong dòng suy luận của anh.
 
- Nếu đây đúng là một kẻ tâm thần, tôi muốn nói là kẻ giết người hàng loạt, thì chắc chắn hắn hành động như phần lớn tội phạm, hắn lang thang và giết bất kỳ phụ nữ nào hợp với sở thích của hắn. Cậu có nghĩ thế không? Salhindro hỏi.
 
- Không. Hắn đã cho chúng ta thấy rằng hắn không quá tự tin vào bản thân, nhưng hắn không ngu ngốc, hơn nữa còn có Quạ luôn cảnh giác. Khi hắn phải liều lĩnh đi qua thành phố dù hắn thường hành động rất thận trọng, thì tức là hắn không có lựa chọn nào khác. Tại sao vậy?
 
Một phụ nữ và hai đứa trẻ đi qua sau lưng họ, hai cậu bé nhìn các cảnh sát, cố hiểu xem có gì đáng chú ý ở đây. Bà mẹ nhìn bộ đồng phục cảnh sát của Salhindro và chiếc xe mà hai cảnh sát đang chú ý tới, rồi hiểu rằng có thể đã xảy ra hành động gì đó tàn bạo ở hàng ghế sau. Bà che mắt hai đứa trẻ lại bằng phong bì to đựng phim chụp X-quang rồi rảo bước thật nhanh.
 
- Tại sao kẻ giết người lại chấp nhận nguy hiểm để đưa nạn nhân đi xuyên qua toàn bộ thành phố? Brolin tiếp tục đặt câu hỏi. Nếu hắn thích địa điểm đó, thì hắn chỉ việc chọn một phụ nữ ở nơi gần hơn, trong số các nữ sinh viên của trường đại học hoặc các y tá. Tại sao hắn lại phải tìm nạn nhân ở xa đến thế?
 
Brolin bật ngón tay ra dấu chiến thắng.
 
Ngay lập tức, khuôn mặt Salhindro trở nên rạng rỡ, như vừa được ngón tay của chính Thượng đế chạm vào.
 
- Bởi vì hắn muốn chính người phụ nữ đó.
 
- Chính xác, Brolin nói. Hắn không chỉ chuẩn bị sẵn địa điểm giết người mà còn chọn sẵn nạn nhân. Hắn không giết người một cách ngẫu nhiên theo các ảo ảnh của hắn. Chúng ta cần nhận dạng nạn nhân đầu tiên để tìm ra điểm chung. Nhất định phải có một điểm chung.
 
- Và nếu nơi xảy ra án mạng ở xa đến thế, thì đó là vì nó cũng có một ý nghĩa nào đó. Salhindro hăng hái. Có thể hắn chọn nạn nhân theo thông điệp mà hắn muốn gửi tới chúng ta.
 
Brolin đồng tình.
 
- Anh có nhớ lá thư đầu tiên không, những câu thơ trích từ Thần khúc: “Tôi ở trong một khu rừng tối”, và hắn để lại xác nạn nhân đầu tiên trong rừng. Lá thư thứ hai trích những câu thơ ở tầng thứ nhất của Địa ngục và hắn để lại xác nạn nhân trước cửa vào hệ thống cống. Còn gì tượng trưng cho địa ngục dưới mặt đất chính xác hơn những đường cống đen và bẩn.
 
- Nếu phải gây ra những vụ giết người khác, thì hắn sẽ để các xác chết trong cống.
 
Một tấm màn đen phủ xuống trước mắt Brolin.
 
- Ông chủ nói đã thấy Elizabeth ra khỏi nơi làm việc khoảng 6h15, đúng không?
 
Salhindro gật đầu.
 
“Và chúng ta phán đoán cô ấy chết vào khoảng nửa đêm? Larry, kẻ giết người nhất định đã chặn đường cô gái ít phút sau khi cô ra về, nếu không bảo mẫu đã nhìn thấy cô ấy. Có nghĩa là hai người ở cạnh nhau suốt mấy giờ đồng hồ…”
 
Vẻ mặt Brolin thể hiện những gì anh mường tượng ra. Giam giữ, tra tấn đủ kiểu. Anh lại nghĩ tới kẻ giết người hàng loạt John Wayne Gacy, hắn hóa trang thành thằng hề để tìm con mồi trẻ em. Hắn bắt cóc những đứa trẻ đó, tra tấn, cưỡng bức và bóp cổ rồi lại làm chúng tỉnh lại, cứ tiếp tục như vậy tới khi chúng chết. Ba mươi ba lần. Chuyện gì đã xảy ra với Elizabeth Stinger? Cô phải chịu những nỗi thống khổ gì trong suốt mấy giờ đồng hồ?
 
- Phải bắt tay vào ngay thôi, Larry, nhanh lên.
 
- Thế cậu định bắt đầu thế nào? Trong khi cậu đưa ảnh nạn nhân cho tất cả những người bán hàng từ đại lộ Columbia đến nhà cô bảo mẫu, thì hắn đã có đủ thời gian để giết nửa thành phố trước khi chúng ta có được thông tin nhỏ nhất, nếu chúng ta có thể có được. Phải có phép màu thì mới có người nhớ được một chiếc Mercury Capri màu hạt dẻ với một người đàn ông lái xe. Vốn rất ranh ma, kẻ giết người sẽ không để lại bất cứ dấu vết nhỏ nhất nào trong xe cả, tôi cá đấy!
 
Brolin quan sát chiếc xe.
 
- Nhưng chúng ta có lợi thế về thời gian so với hung thủ, anh nói nhỏ tới mức Salhindro tưởng anh nói một mình. Chắc chắn là hắn không nghĩ chúng ta tìm được chiếc xe nhanh đến thế.
 
- Và?
 
- Chúng ta chỉ mất có vài giờ. Tôi tin chắc rằng chiếc xe chỉ là một chi tiết nhỏ đối với hắn vì hắn nghĩ là chúng ta không tìm được nó – hoặc mất rất nhiều thời gian.
 
Brolin vừa quan sát kỹ phần còn lại của bãi đỗ xe vừa nói thêm:
 
- Và điều này, tôi có thể sử dụng để nhử hắn về phía tôi.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 41
 
- Ở FBI, người ta gọi nó là “kỹ thuật tiên phong hành động”, Brolin giải thích cho các đồng nghiệp.
 
Lloyd Meats đưa tay lên chòm râu, vẻ mặt hoài nghi.
 
- Vậy kỹ thuật này là như thế nào? Đại úy Chamberlin hỏi.
 
- Là sử dụng những gì chúng ta biết về đối thủ, về những sai lầm của hắn, để giăng bẫy và đưa hắn tới chỗ chúng ta, cựu điệp viên FBI giảng giải.
 
- Nhưng chúng ta có biết gì về hắn đâu! Bentley Cotland phản đối. Anh muốn sử dụng sai lầm nào?
 
Brolin đứng dậy khỏi ghế bành và nhìn những người đang có mặt trong phòng làm việc của anh. Đại úy Chamberlin và cấp phó của ông là thanh tra Lloyd Meats, trợ lý chưởng lý tương lai Cotland và Larry Salhindro. Tất cả nhìn anh như nhìn một con thú quý hiếm.
 
- Anh đã không nghe tôi nói gì từ khi bắt đầu cuộc điều tra, anh đáp lại, mắt nhìn thẳng vào Cotland. Các vụ án mạng gây ra nói với chúng ta, hắn liên lạc với chúng ta qua các vụ giết người – mặc dù hắn không biết điều này – các hành động của hắn là thể hiện vô thức và ảo ảnh của hắn. Và tôi đã nói với các anh rằng hắn mắc chứng tự mê. Đây là những vụ án tự mê – tình dục. Hắn không nhìn nhận nạn nhân như một sinh vật sống vì hắn chỉ cảm nhận được nhu cầu của riêng hắn, thú vui của riêng hắn. Hắn không hiểu nỗi đau đớn của người khác vì với hắn, đau đớn là một công cụ mua vui. Hơn nữa, giờ đây chúng ta đã biết – qua lá thư mới nhất – rằng còn có Quạ ở bên cạnh hắn. Có thể không trực tiếp ở hiện trường vụ án, nhưng hắn biết tất cả những gì kẻ giết người làm vì chúng chia sẻ với nhau.
 
Brolin ngừng một lát để tin chắc rằng tất cả mọi người đang lắng nghe anh. Rồi anh nói tiếp bằng giọng rất nghiêm trọng:
 
“Thật ra, tôi nghĩ rằng Quạ là người điều khiển kẻ giết người. Một tên là bộ não chỉ huy, một tên thực hiện. Đối với nạn nhân thứ nhất, kẻ giết người thể hiện mình chưa trưởng thành về mặt tình dục, hắn vẫn chưa chấp nhận bản thân như mình vốn là hoặc không đủ tự tin, đó là một kẻ bất mãn mang trong mình một sự hung bạo khủng khiếp đối với phụ nữ. Kiểu người này chỉ chuyển sang hành động khi hận thù và giận dữ tích dồn lại, hắn phải trải qua một sự kiện gây stress mạnh mẽ khiến hắn bùng nổ. Khi đó hắn không kìm nén được nữa và hắn hành động, nhưng theo cách hầu như không kiểm soát được, không chuẩn bị trước. Vậy mà vụ án lại được chuẩn bị trước – bằng chứng là chất Mercaptan được đặt vào ngôi nhà hoang từ vài ngày trước. Và chúng ta không tìm lại được dấu hiệu nào cả, đây là lý do địa điểm này được chọn. Cũng tương tự như vậy với vụ án thứ hai. Tuy nhiên, kẻ giết người dường như đã kiểm soát bản thân tốt hơn. Hắn tự tin hơn một chút, nhưng vẫn không kiềm chế được việc cắt đi hai vú của nạn nhân. Bản chất đồi bại trở lại cực nhanh, ngay cả khi hắn muốn xua đuổi nó. Nếu Quạ là kẻ đúng như tôi nghĩ, nếu hắn đúng là cái đầu suy nghĩ của cả hai, thì chúng ta có một cơ hội giăng bẫy hắn.”
 
- Tôi không thấy có cách nào cả, Meats cay đắng than thở. Hắn không để lại cho chúng ta cái gì đáng kể, một vết chân và những vết bánh xe, quá ít!
 
- Hãy tự đặt câu hỏi này: tại sao Quạ gửi thư cho chúng ta?
 
- Để dọa, hoặc để gây chú ý, để chứng tỏ với mọi người rằng hắn tồn tại, Meats hăng hái vì đã có những kinh nghiệm trước đây.
 
- Không hẳn thế, nếu hắn muốn chứng tỏ với mọi người rằng hắn tồn tại, thì hắn sẽ gửi thư cho các phương tiện truyền thông, chứ không phải cho cảnh sát vì hắn biết rõ là chúng ta sẽ giữ bí mật về những lá thư đó, Brolin phản bác. Tôi nghĩ hắn muốn đùa giỡn với chúng ta. Hắn cũng là một kẻ đồi bại mắc chứng tự mê – tình dục, hắn là kẻ chi phối, kẻ điều khiển, chính vì thế mà chúng tấn công phụ nữ và làm họ đau đớn. Tại sao lại là Địa ngục của Dante và chúng tìm cách đạt được gì khi đi qua chín tầng địa ngục, tôi không biết, có thể là đạt tới cốt lõi của cái Ác hoặc một điều hoang tưởng nào đó, tôi không biết nữa. Nhưng Quạ muốn đối đầu với cảnh sát vì hắn tự cho mình mạnh và thông minh hơn chúng ta và hắn muốn chúng ta thấy điều đó. Cảnh sát là cánh tay của xã hội, chúng ta đại diện cho cơ quan thi hành luật pháp của giới chúng ta. Nếu anh thách thức cảnh sát, tức là anh nằm ngoài lề xã hội, và chỉ nhà tù mới có thể sửa chữa anh, giúp anh trở lại là công dân. Nhưng nếu chứng tỏ được mình trên tài cảnh sát, anh sẽ ở bên trên xã hội này, mạnh hơn. Hắn tự thấy mình như thế, hắn rất tự tin. Đây chính là sai lầm cần được khai thác.
 
- Đó là cái mà anh gọi là hướng đi cơ đấy! Bentley Cotland kêu lên. Cảm ơn vì bài học về tâm lý tội phạm, nhưng nó sẽ cho chúng ta biết điều gì ư? Cho chúng ta biết kẻ điên đó sống ở đâu ư? Không! Thôi được, vậy thì anh muốn làm gì?
 
- Xin lỗi anh Cotland, hãy để tôi tiếp tục nếu anh không tự suy luận được.
 
Bentley Cotland nhìn xoáy vào mắt anh. Lần này thật quá thể! Để xem gã cảnh sát trẻ kia phải trả giá như thế nào khi làm phật lòng một chưởng lý! Ngay sau khi được bổ nhiệm, mình sẽ sắp sếp để Joshua Brolin chỉ còn được nhận những cuộc điều tra tệ hại nhất mà thôi, và thời gian còn lại, anh ta sẽ phải đi khắp Portland để gom bọn say rượu và gái điếm đứng đường. Tên nông dân ấy nghĩ hắn là ai mới được chứ?
 
- Lúc đầu, chúng ta may mắn nhận ra được các vết bánh xe nhờ công lao to lớn của Craig Nova và nhóm anh ấy, Brolin nói tiếp. Sau đó, nhờ suy luận của chúng ta (anh nháy mắt với Larry) và một chút may mắn, chiều nay chúng ta đã tìm được chiếc xe của nạn nhân. Đây chính là chiếc xe mà kẻ giết người đã sử dụng để chở nạn nhân đến nơi gây án, các vết xe chính là bằng chứng. Tôi tin chắc rằng hắn không nghĩ chúng ta tìm ra chiếc xe nhanh đến thế.
 
- Vấn đề ở chỗ đây không phải là xe của hắn mà là xe của nạn nhân, và đương nhiên là hắn đã xóa rửa sạch sẽ! Chamberlin vặn lại.
 
- Thưa đại úy, chúng tôi có những yếu tố cần thiết để thực hiện một kỹ thuật tiên phong hành động. Tôi xin nói rõ hơn: chúng ta giăng bẫy quanh chiếc xe của nạn nhân và nhử hắn tới. Vì hắn muốn chơi, nên chúng ta sẽ đề nghị chơi với hắn một ván.
 
- Vậy cụ thể chúng ta phải làm gì? Salhindro hỏi vì ông liên quan đến cả công tác hậu cần lẫn thực tiễn.
 
Brolin quay về phía Đại úy Chamberlin.
 
- Thưa đại úy, anh hãy mời báo chí tới và thông báo rằng chúng ta đang đi theo một hướng điều tra rất quan trọng, rằng việc bắt giữ hung thủ chỉ còn tính bằng ngày. Chắc chắn họ sẽ yêu cầu anh đưa ra chi tiết, khi đó anh hãy trả lời là về các vết bánh xe, nhờ chúng mà chúng ta biết được rằng hung thủ hoặc nạn nhân có một chiếc Mercury Capri 1977. Và rằng trong những ngày tới, chúng ta sẽ tìm tất cả các xe Mercury Carpi, rằng chúng ta sẽ khai thác tất cả các hướng điều tra, thẩm vấn tất cả các chủ sở hữu xe, và các xe Mercury Capri vô chủ sẽ được soi cực kỳ kỹ lưỡng để tìm ra những dấu vết nhỏ nhất. Chúng ta sẽ phân tích tất cả các vết bánh xe gần giống, thẩm vấn tất cả các nhân chứng có thể có, v.v... Mục đích là gây ấn tượng với hung thủ bằng hàng loạt công nghệ được triển khai và bằng sự tự tin của chúng ta, anh hãy tỏ ra tự tin, hãy nhấn mạnh vào ý hắn sẽ nhanh chóng phải đứng sau vành móng ngựa, để làm cho hắn tức tối. Hắn hẳn sẽ rất ngạc nhiên vì chúng ta xác định được chiếc xe của nạn nhân nhanh đến thế, điều này có thể khiến hắn sợ, hơn nữa nếu cảm thấy mình bị coi thường, hắn sẽ liều lĩnh.
 
- Và hắn liều lĩnh gây thêm án mạng rất nhanh! Anh muốn như thế sao? Bentley bắt bẻ.
 
- Không, trước tiên hắn sẽ xóa dấu vết! Hắn biết chúng ta sẽ nhanh chóng tìm được chiếc Mercury, trừ phi bản thân hắn là cảnh sát và tin chắc đã rửa sạch hoàn toàn chiếc xe, còn không hắn không thể biết chính xác về các phương tiện công nghệ của chúng ta. Việc chúng ta xác định được chiếc xe nhanh như vậy có thể khiến hắn lo sợ. Và nếu chúng ta gặp may, thì hắn đã đỗ chiếc xe của chính hắn không xa chiếc Mercury để không phải đi bộ xa và không bị nhiều người ở bãi đỗ xe nhìn thấy. Như vậy hắn sẽ lo sợ chúng ta có thể tìm ra dấu vết bánh xe của hắn. Hãy nhấn mạnh về các vết bánh xe và tầm quan trọng của chúng, thưa đại úy, cũng như tất cả các chi tiết có thể cho chúng ta thấy những dấu hiệu nhỏ nhất, anh cứ nói là chỉ một sợi tóc thôi cũng có thể cho chúng ta biết rất nhiều thông tin rồi. Tôi muốn hắn cảm thấy bị đe dọa vừa đủ để hắn phải liều lĩnh quay lại bãi xe rất nhanh và lấy chiếc Mercury rồi tống khứ nó đi.
 
Bentley lắc đầu, sững sờ không hiểu vì sao người ta lại có thể xây dựng những lý thuyết như thế.
 
- Nếu tôi hiểu đúng ý anh, Salhindro phát biểu, thì đại úy tổ chức cuộc họp báo nhỏ, thông tin sẽ được đưa lên truyền hình và tất cả các báo, trong lúc đó chúng ta bí mật tới bãi đỗ xe và chờ xem cá có cắn câu không, đúng không?
 
Brolin gật đầu.
 
- Chính xác. Chúng ta ở đó quan sát cùng với một nhóm của SWAT (Special Weapons and Tactics, đội cảnh sát đặc nhiệm), và ngay khi có một người động vào chiếc Mercury, chúng ta sẽ bao vây toàn bộ khu vực và tóm lấy hắn.
 
Đại úy Chamberlin chép miệng, vẻ không đồng tình.
 
- Theo tôi, ông lên tiếng, vấn đề là ở chỗ khu vực rất rộng và đông người qua lại.
 
- Vâng, đó là một mối bận tâm. Chúng ta không thể hạn chế lượng người ra vào mà không gây nghi ngờ. Nhưng hung thủ sẽ tìm cách để càng ít người chú ý càng tốt, hắn sẽ tránh đi lẫn vào đám đông người qua lại, tôi nghĩ thế, vả lại rất có thể hắn sẽ tới vào ban đêm.
 
Căn phòng trở nên im lặng. Chỉ có tiếng quạt thông gió quay ù ù ở một góc và tiếng chuông điện thoại kêu vọng đến từ các phòng khác. Điếu thuốc lá của Meats cháy hết trong gạt tàn mà anh không hề để ý.
 
Bentley là người đầu tiên phá tan sự im lặng.
 
- Thưa đại úy, dù sao ông cũng không nên chấp nhận một phương án điên rồ đến thế!
 
- Anh có phương án gì hay hơn không, anh Cotland? Hay anh thích đợi có nạn nhân sau? Trong trường hợp này, anh có thể tổ chức cuộc họp báo sắp tới và hễ chúng ta còn ở đây, thì anh là người sẽ nói với gia đình nạn nhân, anh nói gì về việc này?
 
Bentley chỉ lẩm bẩm.
 
Đại úy Chamberlin vuốt hàng ria mép, ánh mắt chìm vào hư vô của suy nghĩ. Khi ông tiếp tục nói, giọng ông trở nên khàn hơn, có lẽ vì hoài nghi.
 
- Brolin?
 
- Vâng, thưa đại úy.
 
- Thường thì kỹ thuật tiên phong hành động ở FBI có cho kết quả tốt không?
 
Brolin nhún vai.
 
- Cũng còn tùy. Đôi khi tốt. Cần thêm một chút may mắn.
 
Đại úy nắm chặt bàn tay.
 
- Tôi nghĩ là chúng ta cần hành động ngay, tránh mất thêm thời gian, ông nói. Brolin, hãy liên hệ với đội đặc nhiệm trong khi tôi họp với cánh nhà báo. Trong vòng 3 tiếng nữa, các thông tin sẽ được tung ra, thông báo đến mọi công dân của bang Oregon rằng chúng ta rất tự tin và kẻ giết hai phụ nữ sẽ bị bắt giữ trong nay mai.
 
Ông nhắm mắt lại và nói thêm:
 
- Hy vọng là chúng ta không sai lầm. Chúng ta đánh lớn.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 42
 
Dàn âm thanh giá trị 1800 đô la đang phát album mới nhất của Amon Tobin ở tầng trệt, làm rung cả nền nhà dưới tác dụng của loa bass.
 
- Làm ơn vặn nhỏ nhạc đi, Camelia nói.
 
Chỉ số decibel lao ngay xuống như máy bay bổ nhào.
 
Juliette dựa vào khung cửa bếp, miệng nhấm nháp một củ cà rốt sống. 
 
- Chúng mình ra ngoài ăn tối nhé? Cô đề xuất.
 
 Camelia nhìn cô bằng ánh mắt tinh quái.
 
- Muốn có bạn ư? Cuối cùng thì có lẽ Juliette của tôi cũng quyết định tự tặng cho bản thân mình sự hiện diện của một anh chàng chứ gì?
 
Juliette nhún vai tỏ vẻ không hài lòng
 
- Đừng có ngốc như thế, đó không phải là điều mà em cần.
 
- Ơ, bình tĩnh nào, chị chỉ nói đến bạn trai một đêm thôi! Một anh chàng Kleenex.
 
- Còn em, em nói rất nghiêm túc. Đi xem phim hoặc tới tiệm ăn chỉ có con gái với nhau, em không biết nữa, một việc gì đó mang tính chất “xã hội”. Nói chung là đi chơi.
 
Camelia bỏ cuốn tạp chí đang đọc xuống
 
- Thế còn hai con đười ươi của em? Cô vừa nói vừa hất cằm ra phía ngoài.
 
Juliette thở dài
 
- Em nghĩ là họ sẽ đi theo chúng ta, dù thế nào họ cũng không thể ngăn cản em sống.
 
Camelia nhìn đồng hồ
 
- Mười bảy giờ, vẫn còn thời gian để lựa chọn. Món ăn Tàu nhé? À này! Chị biết một nhà hàng Nga ăn rất ngon ở Downtown
 
- Hay là nhà hàng Pháp?
 
- Gốc gác của em lại trỗi dậy hay sao?
 
- Theo chị thì gu ẩm thực có di truyền không? Juliette đáp.
 
Cả hai cô gái cùng cười, rồi Camelia thể hiện vẻ mặt rất tập trung, nhăn nhó hết mức.
 
- Có chứ! Cô kêu lên. Chị chưa giới thiệu anh bạn Anthony Desaux với em nhỉ?
 
- Anh bạn triệu phú ư?
 
- Người Pháp lại còn nấu ăn rất giỏi nữa! Với tính cách lãng mạn và galang kiểu Pháp, đây chính là người mà em cần.
 
Juliette chưa kịp nói thêm gì thì Camelia đã nhấc điện thoại lên.
 
Juliette vẫn đứng trong bếp. Cô nhớ lại cuộc trò chuyện chiều nay với Brolin. Nhưng không phải là lời nói, mà là nét mặt của anh khi họ chỉ đứng cách nhau vài centimet, khoảng cách mà cô cố giữ. Một sợi dây rất mảnh được dệt nên chính thời điểm đó, một sợi tơ ham muốn, cô không thể giấu mình điều này, đúng là cô đã cảm thấy ham muốn. Mà điều này đã rất lâu rồi không xảy đến với cô. Trong vài giây, cô muốn được anh ôm hôn, muốn da họ cọ sát và chạm vào nhau.
 
Một sợi tơ ham muốn.
 
Bỗng dưng bùng lên, cháy như một que diêm. Được thổi bùng từ những bất ngờ của cuộc sống, mà ở đây là một tiếng chuông điện thoại. Thật ra, nó là gì? Liệu có phải là một cảm xúc nhất thời, một phản ứng kỳ lạ của cơ thể trong thời kỳ hoảng loạn? Nếu hai người cùng ở bên nhau một thời gian, cô sẽ cảm thấy thế nào? Mong muốn gắn bó với nhau hay chỉ là tình bạn, chuyện trò và lòng tin?
 
Camelia lại xuất hiện.
 
- Phủi bụi trên các bộ đồ dạ hội của em đi, bọn mình được mời ăn tối ở nhà anh Desaux, đúng tám giờ.
 
- Hy vọng là chị không bắt ép người ta mời mình đấy chứ?
 
- Không hề, khi chị nói là sẽ giới thiệu cho anh ấy cô gái xinh đẹp nhất bang Origon, anh ấy rất vui mừng mời bọn mình tới ăn tối!
 
- Chị không nói thế! Khẳng định với em chị không nói thế đi!
 
Thay vì trả lời, Camelia chỉ cười rất tươi, đây là cách ưa thích của cô để cho người khác tha hồ hoài nghi: nụ cười của loài thú ăn thịt, nhe hết cả hàm răng.
 
Chiếc khiên đồng mang hình gia huy của nhà Desaux chốt chặt cánh cổng sắt uy nghi của khu nhà. Các họa tiết gồm có một con rồng phun lửa trên cạnh phải, một chiếc kiếm bên cạnh trái và một tháp pháo đài đơn giản khắc nổi ở giữa.
 
Camelia bấm rồi nói vào điện thoại nội bộ ở cạnh lối vào và chiếc huy hiệu tách ra làm đôi khi cánh cổng sắt mở ra. Đằng sau, chiếc xe ngụy trang bình thường làm nhiệm vụ bảo vệ Juliette dừng lại nơi lề đường. Hai cảnh sát trong xe lấy bánh mì kẹp và báo ra để kiên nhẫn làm công việc đau khổ của họ như đã thỏa thuận với cô gái khi cô thông báo sẽ đi ăn tối ở điền trang Desaux.
 
Camelia lái xe xuyên qua cánh rừng riêng, bình thản đi trong đêm.
 
Ngồi bên cạnh, Juliette ngắm nhìn cảnh quan được chiếu sáng bằng ánh đèn pha.
 
- Tất cả là của anh ý sao? Cô hỏi. Em muốn hỏi tất cả chỉ thuộc về một mình anh ấy thôi sao?
 
- Và không thuộc về bất cứ ai khác. Một bức tường bốn mét bao quanh điền trang rộng 12 héc ta, nếu muốn dạo chơi ở đây thì em phải là bạn của anh ấy. Những người không được chấp nhận, persona non grata, chỉ đứng bên ngoài. Về phương diện nào đó, Anthony Desaux sống trong một thế giới khác, rồi em sẽ thấy.
 
Juliette đồng tình, nhưng cô không chắc mình có sẵn sàng gặp gỡ một người như thế hay không.
 
Phía sau một đám hoa đỗ quyên rất lớn, tòa nhà của gia tộc Descaux đột ngột hiện ra. Juliette tưởng mình sẽ nhìn thấy một điền trang kiểu Pháp, giống như một tòa lâu đài bên sông Loire, với những ô cửa sổ dài, trần nhà rất cao với những đường chỉ cầu kỳ, những lò sưởi bằng đá cẩm thạch và sàn gỗ cổ được đánh xi cẩn thận. Nhưng nhà của gia tộc Desaux không mang nét kiến trúc nào của Levau và những khu vườn cũng không mang nét gì của Lenotre. Quả thực, trông nó hệt như bắt nguồn từ Cornwall hay Connemara vậy. Tất cả đều theo phong cách neo - gothic, với vô số lò sưởi bằng đá, những ô cửa sổ hẹp và mái dựng thẳng lên trời như tháp chuông nhỏ bị những tia chớp mài nhọn. Tòa nhà giống như một nhà thờ nằm ngang. Juliette nhận xét khi họ đến gần.
 
- Trời ơi! Cô thốt lên vì ngạc nhiên. Bọn mình sẽ ăn ở trong đó sao?
 
- Gì cơ? Em không thấy khoái à?
 
- Không, thực sự em có cảm tưởng như đang ở trong một bộ phim kinh dị tồi.
 
- Một bộ phim kinh dị tồi lấy đâu ra kinh phí để trả cho một deco như thế này, giờ thì đừng kêu ca nữa và hãy tận hưởng đi. Em sẽ gặp gỡ giới quý tộc Pháp. 
 
Camelia đi qua dưới một vòm trống và đỗ xe dưới một bậc thềm đá đen. Cửa mở ngay, một người mặc complet xoa xoa tay ra đón họ. Anh ta khoảng năm mươi tuổi, với mái tóc trắng chải ngược ra đằng sau và khổ vai rộng của một người có cuộc sống đầy đủ, vừa tập luyện thể thao vừa theo chủ nghĩa khoái lạc.
 
- Chào mừng các cô tới thăm nhà tôi! Cứ để xe ở đây.
 
Camelia bước nhanh lên bậc thang để đến bên chủ nhà
 
- Rất vui lòng, cô đáp khi anh đặt một nụ hôn lên má cô.
 
- Còn đây chắc là Juliette xinh đẹp mà tôi rất hay được nghe nói đến! Anh ta thốt lên để lộ hàm răng trắng một cách bất bình thường.
 
Juliette bước chậm đến. Đứng thẳng người trong bộ complet xa hoa, Anthony Desaux cười rất tươichào cô. Cô thấy hàm răng hoàn hảo, mái tóc không chê vào đâu được và da mặt nhẵn nhụi của nhà triệu phú. Trên cằm anh ta có một vết lõm sâu.
 
“Quả là dễ đẹp trai hơn khi người ta giàu”, cô thầm nghĩ khi nhìn anh ta. Rồi ngay lập tức cô tự trách mình đã tỏ ra vô liêm sỉ với anh ta và nhất là với tiền bạc của anh ta, trong khi gia đình cô cũng không có gì đáng phàn nàn cả.
 
- Tôi rất vui được làm quen với anh, anh Desaux, cô vừa nói vừa chìa tay cho anh ta.
 
- Cứ gọi tôi là Anthony. Thay vì bắt tay cô, anh ta cúi xuống trịnh trọng hôn tay cô.
 
- Xin mời vào.
 
Anh ta đứng sang một bên để họ bước vào tiền sảnh rộng mênh mông.
 
Bữa tối diễn ra trong phòng ăn “nhỏ”, để “thân mật hơn” theo đúng lời của chủ nhà. Họ ăn tối dưới một chiếc đèn chùm bằng pha lê thế kỷ XVIII và với bộ bát đĩa mà chiếc nhỏ nhất hẳn phải có giá trị ít nhất 2500 đô la. Juliette sợ có một đội ngũ đầu bếp đông đảo phục vụ nhưng chính Anthony tự tay phục vụ và đôi lúc nán lại một lát trong bếp. Và như Camelia đã hứa với cô, anh ta tỏ ra là một bếp trưởng tuyệt vời, ninh món gà nấu đậu cô ve tẩm rượu vang ngon tuyệt. Rượu vang, tất nhiên là vang Pháp, thuộc loại dễ say nhất, và khi chủ nhà nói bóng gió về giá rượu vang, Juliette suýt nữa bị nghẹn. Rõ ràng Anthony thích nói về bản thân, về sự thành đạt của mình và của gia đình từ nhiều thế hệ. Như thể tài năng trong lĩnh vực tài chính được di truyền theo gen. Anh ta nói nhiều với họ về đất nước mình, ca ngợi phong cảnh đẹp, nền văn hóa giàu bản sắc, nhưng chê trách trình độ yếu kém của các chính trị gia và đầu óc quá bảo thủ của dân tộc Pháp, câu chuyện khiến Juliette rất vui. Được phát ra từ miệng một quý tộc tự hào về nguồn gốc danh giá của mình, nhưng lại ca tụng chủ nghĩa tư bản một cách quá đáng vì chủ nghĩa ấy giúp nhà máy của anh ta tăng hiệu suất tài chính, nhận xét về tính bảo thủ này nghe giống như lời lăng nhục đối với tất cả những người không có may mắn được làm chủ số phận mình.
 
Càng về cuối buổi tối, Juliette càng thấy Anthony là người được sinh ra trong tiền bạc và luận thuyết của một “gia đình danh giá” nhưng lại không xa cách mọi người, anh ta không bốc mùi kiêu căng hay tự phụ, anh ta tự hào là một triệu phú có nguồn gốc xuất thân danh giá nhưng không vì thế mà khinh thường mọi người.
 
Khi món tráng miệng Belle – Helene được mang ra và rào cản nhút nhát đã bị xóa bỏ vì sự mệt mỏi, rượu và không khí nồng nhiệt của bữa ăn, Juliette mới dám hỏi một câu mang tính riêng tư hơn:
 
- Xin lỗi vì tò mò, nhưng anh sống một mình trong ngôi nhà rộng lớn này sao?
 
Anthony đặt một tay vào chiếc ly pha lê, tay kia cầm khăn và cẩn thận chấm lên môi
 
- Nếu câu hỏi này đồng nghĩa với việc muốn biết tôi có vợ hay không, thì câu trả lời là không, tôi góa vợ. Nhưng tôi không hoàn toàn sống một mình ở đây, tôi còn có đội ngũ người làm ở cánh phía Tây, tôi cho họ nghỉ buổi tối. Còn cô? Cô đã đính hôn hay tương tự như vậy chưa?
 
Juliette cảm thấy hai má đỏ rực và bực mình vì quá nhạy cảm.
 
- Chưa, tôi hoàn toàn chú tâm vào việc học tập.
 
- A, đúng rồi! Camelia đã nói với tôi. Tâm lý học. Cô có biết rằng tôi có bạn bè là những nhân vật quan trọng ở Johns Hopskin và Georgetown (2 trường đại học gần Washington DC, rất nổi tiếng và được đánh giá rất cao) không? Tôi có thể trợ giúp hồ sơ của cô nếu cô quan tâm.
 
Juliette nuốt một miếng lê, cô cảm thấy khó chịu. “Anh ta định nói gì thế nhỉ? cô tự hỏi. Anh ta đang tán tỉnh mình hay chính mình tưởng tượng ra”.
 
Không biết nên trả lời thế nào, cô chỉ gật đầu, hy vọng câu chuyện không đi xa hơn thế.
 
- Đừng ngại hỏi tôi, tôi rất vui lòng làm việc đó, anh ta nói thêm.
 
Nhận thấy vẻ khó chịu của cô bạn, Camelia đặt tay lên tay của Anthony.
 
- Anh nên dẫn bọn em vào thư viện của anh, Juliette mê sách vở lắm.
 
- Thế ư? Anh ta ngạc nhiên. Thế thì tôi đúng là người mà cô cần! Tôi có hơn năm mươi hai nghìn cuốn sách về tất cả các chủ đề.
 
Juliette thấy bàn tay nhà triệu phú nắm lấy tay của Camelia. Cô luôn tự hỏi có mối quan hệ thân thiết nào giữa họ không nhưng cô chưa bao giờ dám hỏi Camelia. Chị kém anh ta những hai mươi tuổi, nhưng anh ta vẫn có một sức quyến rũ nào đó. Nếu đúng là có chuyện gì đấy giữa họ, thì sức quyến rũ có phải là lý do thực sự không? “Đúng là một số phụ nữ thấy anh ta hấp dẫn và đặc biệt với phong cách một quý tộc Pháp, nhưng tiền bạc của anh ta cũng khiến người khác thèm muốn, Juliette tự nhủ. Không. Không phải Camelia, chị ấy không thuộc loại nào, chị ấy không hám tiền và bản thân đã có một khoản tiền lớn sau khi ly hôn”.
 
Anthony Desaux nhìn sâu vào mắt Camelia, tay đưa ly rượu đặt vào đôi môi mỏng của cô. 
 
Juliette mỉm cười. Phải, đúng là phải có gì đó giữa họ, trong mắt họ ánh lên những kỷ niệm ngọt ngào của tình yêu. Và quả đúng, với tinh thần của Camelia, “vượt qua bề ngoài tuổi tác, để chỉ giữ lấy bản chất con người, như chị ấy thường nói. Chính khi đó người ta tìm thấy người đàn ông tốt nhất”.
 
Nghĩ cho kỹ thì đề suất gửi gắm cô vào Johns Hopskin hoặc Georgetown có lẽ không phải là tán tỉnh, anh ta chỉ nói ra vì Camelia, như một bằng chứng cho tình cảm trừu mến.
 
- Nào, chúng ta đi thăm thư viện nhé! Anthony nói và đứng dậy.
 
Đi thêm mấy cầu thang và hành lang nữa, anh ta đẩy một cánh cửa nặng nhọc với những họa tiết trang trí dát vàng. Juliette ngây người trước cảnh tượng bên trong.
 
Những cái bóng của đỉnh tròn đổ dài vài mét giữa những giá sách cao của thư viện. Ánh trăng yếu ớt chiếu vào lãnh địa tối tăm này qua mấy ô cửa sổ. Juliette thấy một bức tranh vẽ trên trần, khoảng cách từ trần đến sàn là 8 mét, nhưng ánh trăng không cho phép cô nhìn thấy gì khác ngoài một thiên thần ở trên một cái cây và một nhà thông thái đang nhìn thiên thần được vẽ theo phong cách giả Raphael.
 
Bước chân của Anthony Desaux nện trên những tấm đá lát nặng nề màu đen và trắng, anh ta đi tới một chiếc bàn, bật cây đèn đồng chụp màu xanh đời đầu thế kỷ lên. Ánh sáng tỏa ra trong vòng bán kính vài mét, nhưng không thể xuyên thủng lớp màn tối phủ lên những người khổng lồ bằng gỗ trên những giá chất đầy sách, Juliette chăm chú nhìn chủ sở hữu của nơi này. Anh ta đứng giữa một ốc đảo sáng nhỏ, nổi lên trên làn sương mờ bí ẩn.
 
- Các cô còn chờ gì nữa. Vào đây! Anh ta nói to với hai vị khách mời đứng ngây ở cửa.
 
Giọng nói vang to, nảy trên nền nhà, trên trần nhà rồi bị nuốt sâu vào những lối đi tối tăm của thư viện.
 
- Tôi đã nói rồi, năm mươi hai nghìn tác phẩm được đặt ở đây, các giá sách cao đến năm mét và nếu đi hết tất cả các lối đi trong thư viện này, các cô sẽ đi được hơn nửa cây số.
 
Có lẽ do bầu không khí hoặc do thời gian quá muộn, nên Juliette rùng mình khi nghe lời nói của chủ nhà. Còn hơn cả khi ở trong nhà thờ hay trong văn phòng của một học giả uyên bác, sự im lặng ở đây với cô là một nghi thức không được làm uế tạp. Mặc dù vậy, cô vẫn mấp máy môi:
 
- Rất ấn tượng, cô thốt lên.
 
Lời nói của cô vang vọng khắp tòa nhà:
 
“Nhưng mà làm thế nào anh tìm được sách trong bóng tối như thế này? Dầu sao anh cũng đâu cầm theo đèn pin.”
 
Anthony dường như thích thú với nhận xét này, nét mặt anh ta vô cùng rạng rỡ. Anh ta cầm lấy một chiếc điều khiển từ xa rồi bấm nút. Ngay lập tức, hàng chục ngọn đèn nhỏ lặng lẽ sáng lên trên các hàng giá sách. Với số lượng hạn chế, chúng chỉ cho phép đọc tên sách, phủ lên đỉnh tròn một lớp màn ánh sáng mờ đục.
 
Juliette bước vào một lối đi, đầu ngẩng về những cuốn sách bìa da. Cô đi qua những ốc đảo ánh sáng hiếm hoi. Cô không tin nổi vào mắt mình, “vừa rộng, vừa...vừa đẹp, vừa đáng sợ”, cô tự nhủ. Trên các giá sách vừa có sự phô trương, vừa có sự khiêm tốn, một vài cuốn sách để lộ mép trước những con mắt tò mò, còn các cuốn khác ẩn mình trong bóng tối dầy đặc.
 
Cô bỗng đứng khựng lại, mặt đối mặt với người phụ nữ có đôi mắt trống rỗng.
 
Rồi cô lấy lại được bình tĩnh khi thấy một bức tượng bán thân đặt trên kệ. Xoay người lại, Juliette thấy thêm rất nhiều tượng khác, chủ yếu là tượng phụ nữ và không được đặt hẳn ra phía trước. Người ta chủ ý đặt chúng lùi về phía sau như những thứ đồ đạc chứ không phải như tác phẩm nghệ thuật. 
 
Giọng nói của nhà triệu phú vang lên, kéo cô ra khỏi vòng suy tưởng:
 
- Juliette, cô thích đọc loại sách nào? Lịch sử thời kỳ phục hưng dưới con mắt của người cùng thời với Da Vinci? Một bản sách Một người Mỹ trong triều đình vua Arthur của Twain có chữ ký tác giả? Tôi biết rồi, Một ấn bản đầu tiên về các lý thuyết của Freud! Hoặc có thể cô thích một trong những cuốn sách phù thủy cổ đại hơn chăng?
 
- Phù thủy ư? Anh có sách về phép thuật sao? Juliette hỏi.
 
Tiếng cười thoải mái của Anthony vang lên đến mái vòm trong khi anh ta xoa xoa tay.
 
- Có chứ, anh ta đáp, vẻ tự hào vì đã gây bất ngờ cho người đối thoại. Và có lẽ đây là thư viện sách thần bí phong phú nhất cả nước!
 
- Nhất là sách về phép thuật.
 
Camelia nhìn Juliette. Điều gì khiến Juliette bỗng trở nên bí ẩn như thế. Thông thường đây là loại chủ đề cô ấy thấy chán. Theo như chính lời Juliette kể, cô chưa bao giờ dự một buổi gọi hồn cùng các bạn gái, cũng chưa bao giờ thử làm bùa yêu khi còn là thiếu niên, cô thấy việc này thật “quá lãng mạn”.
 
- Tất nhiên rồi, Anthony thốt lên. Nhưng đây không phải là lĩnh vực mà người ta vô cớ tìm hiểu đâu nhé, cô bạn thân mến ạ. Cho phép tôi hỏi lý do khiến cô quan tâm?
 
Mắt anh ta ánh lên niềm vui sướng sắc sảo và ngốn ngấu.
 
- Tính tò mò, Juliette nói dối. Những cuốn sách phù thủy cổ luôn kích thích trí tò mò của tôi, và...tôi phải thú nhận rằng sự huyền bí khiến tôi hào hứng, cô vừa nói thêm và cố nở một nụ cười. 
 
Anthony hướng một bên lông mày, anh ta đã được gãi đúng chỗ ngứa. Chứng kiến toàn bộ câu chuyện, Camelia không thể tin nổi thái độ bất thường của Juliette.
 
- Thế thì để tôi dẫn các cô vào tận cùng của thư viện, vào tận hang ổ của những kiến thức về địa ngục! Nhất định các cô sẽ thích.
 
Anh ta mất hút trong một lối đi giữa các giá sách đồ sộ rồi dừng lại ở một góc tối tăm. Từ chỗ đó, anh ta quay về phía Camelia và Juliette đang lùi lại phía sau để dõi theo. Anh ta vẫy tay với họ như để nói lời tạm biệt.
 
Rồi biến mất.
 
Như có phép thuật.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 43
 
Anh ta biến mất hẳn trước mắt họ.
 
Anthony Desaux vừa thực hiện giấc mơ cổ xưa nhất của con người kể từ thời Trung cổ: tàng hình. Anh ta thu mình vào một góc của thư viện, rồi biến mất tăm. Giống như nhân  vật trong truyện của H.G. Wells hay của Marcel Aymé, nhà triệu phú biến mất như người đi xuyên tường.
 
- Anh Desaux? Juliette thì thầm.
 
Camelia cũng lên tiếng gọi.
 
Họ nhìn nhau rồi cùng bước chậm vào lối đi tối tăm. Những chiếc giá chất đầy sách hiếm đã sờn bao quanh họ, giống như một thung lũng kiến thức buồn tẻ.
 
- Anthony? Camelia gọi.
 
Juliette theo sát Camelia. Cô định cất tiếng gọi nhà triệu phú thì một bàn tay bỗng đặt lên vai cô khiến tiếng gọi của cô biến thành tiếng thét sợ hãi.
 
- Rất tiếc vì đã làm cô sợ, Juliette ạ, Anthony nói, không giấu giếm vẻ thích thú. Tôi không thể làm khác được, vì với tôi khuôn mặt của một phụ nữ đang sợ hãi đôi lúc cũng đẹp như khi cực kỳ vui sướng vậy.
 
- Anthony! Anh làm chuyện quái quỷ gì thế? Camelia rất thán phục tình huống thú vị này.
 
- Ngôi nhà này có nhiều lối đi được ngụy trang cùng loạt cửa bí mật. Các cô không thấy tôi biến mất vì cánh cửa ẩn sâu trong một chỗ hõm.
 
Tim Juliette mới chỉ lấy lại được nhịp đập ở mức có thể chịu đựng được. Trong một thoáng, cô suýt cho anh ta một cái tát. Cô ghét nhất là bị nghi ngờ như vậy! Làm cô sợ là việc cuối cùng để thu hút cảm tình của cô.
 
- Nhưng tôi nghĩ là mình cần phải xin lỗi ngay, anh ta nói khi thấy ngọn lửa giận dữ bốc ngùn ngụt trong mắt Juliette. Hãy đi theo tôi.
 
Họ cùng đi tới chỗ mà anh ta vừa mới biến mất vài phút trước đó. Anthony lướt các ngón tay dưới một kệ sách, ngay lập tức, một tấm ván gỗ trượt trong bóng tối không hề gây tiếng động. Họ bước vào một căn phòng khác rõ ràng nhỏ hơn nhưng cũng có vẻ bề ngoài không kém phần bí hiểm. Anthony bật một ngọn đèn nhỏ.
 
Những giá sách chất đầy sách cổ phủ kín các bức tường không cửa sổ. Phải có đến hai hoặc ba trăm cuốn sách đủ mọi kích cỡ, từ những cuốn cũ nát nhất chỉ còn đứng được nhờ giá thép, đến những cuốn mới nhất mà một số trang không thể đọc được vì bị dính liền nhau ở phần trên. Ngoài ra, có vài mạng nhện, bụi bặm và mùi da cũ trong căn phòng hình bát giác này.
 
Rồi Juliette thấy một vật nằm yên giữa phòng. 
 
Một chiếc ghế bằng sắt đã hoen gỉ.
 
Nhưng những chỗ tỳ tay của ghế đã mòn vẹt và dây xích bị oxy hóa khiến người ta không phải nghi ngờ gì về chức năng của nó nữa.
 
- Đừng quá xúc động, chủ nhà lên tiếng. Dụng cụ tra tấn này đã không còn được sử dụng từ hơn hai thế kỷ nay.
 
- Dù sao cũng… đáng sợ, Juliette vừa nói vừa đi quanh chiếc ghế.
 
- Một kỷ vật cũ của gia đình…
 
Giờ thì Juliette đã hiểu vì sao Camelia lại miêu tả anh bạn triệu phú của mình như một con người kỳ quặc hơi đặc biệt.
 
- Nếu cô muốn xem sách về ma thuật, thì chúng đây, anh ta nói với cô, tay làm một động tác rất kịch để giới thiệu những cuốn sách được cho là nói về tà thuyết.
 
Juliette lại gần và bắt đầu chậm rãi đọc. Nói chung, những tên sách đó cô có đọc được không hề quen thuộc, chúng không gợi lại bất cứ điều gì mà cô từng biết: Daemoniomicum; Unausprechlichen Kulten; Malleus Maleficarum; Liber Ivonis; phép thuật đích thực… Cô chẳng dùng được cuốn nào. Phần lớn chúng thậm chí không được viết bằng tiếng Anh mà bằng tiếng Latin, Pháp, Đức hoặc Hy Lạp cổ. Toàn những ngôn ngữ mà cô không biết.
 
Thực ra, ngay khi Anthony Desaux nói ra từ phù thủy, khuôn mặt của Leland Beaumont đã hiện lên trong đầu cô. Brolin từng nói cho cô biết là Leland khiến đồng nghiệp sợ vì hắn thường nói đến phù thủy, hắn đam mê phép thuật. Cô vừa hy vọng tìm được một chỉ dẫn trong kho sách huyền bí rộng lớn này, nhưng giờ đây khi đã thấy nó, cô biết rằng điều đó là không thể. Có quá nhiều sách, quá nhiều rào cản về ngôn ngữ, từ vựng, và nhất là không có đủ thời gian.
 
- Sao anh lại có một căn phòng như thế này trong nhà nhỉ? Camelia hỏi, giọng đầy phấn khích. 
 
- Với một kẻ mê chơi sách như anh, em nghĩ rằng anh lại không có một bộ… (anh ta tìm kiếm từ ngữ thích hợp) cứ cho là sách cấm ư?
 
- Em không nghĩ là anh còn giấu nó sau một cánh cửa bí mật!
 
Anthony tự tin ngắm nhìn những cuốn sách quanh mình rồi giải thích:
 
- Tất cả các thư viện lớn trên thế giới đều có những cuốn sách bị nguyền rủa. Những cuốn sách cấm. Bảo tàng Anh quốc, Thư viện quốc gia Paris, Thư viện Vatican, nhất là ở thư viện này, anh ta vừa nhấn mạnh vừa mỉm cười. Tất cả đều có một kho sách lớn không mở cửa rộng rãi cho công chúng. Các cô có biết người Pháp gọi căn phòng bí ẩn nơi chứa những cuốn sách bị nguyền rủa là gì không? Họ gọi nó là địa ngục. Tôi thấy như thế là khá rõ ràng. Thông thường, rất ít nhân viên được tiếp cận với Địa ngục, thậm chí đôi khi phần lớn mọi người còn không biết đến sự tồn tại của nó. Một số thư viện nổi tiếng phủ nhận sự hiện diện của những căn phòng như thế trong cơ ngơi của họ, họ canh giữ nghiêm ngặt những cuốn sách ấy và chú ý giám sát không cho ai tra cứu chúng.
 
- Vì sao? Juliette hỏi, bỗng nhiên cô cảm thấy kích thích quan tâm đến thế giới huyền bí.
 
- Bởi vì một số cuốn sách cổ chứa đựng những bí mật mà nhiều người không muốn nghe thấy!
 
Anh ta gần như hét lên để trả lời, choáng ngợp bởi niềm đam mê.
 
- Có những cuốn sách, anh ta nói tiếp bằng giọng văn dịu hơn, không nói về Kinh Phúc âm như mọi người vẫn biết! Ẩn trong những trang sách mốc có thể là sự thật về thế giới của chúng ta hoặc về nguồn gốc của chúng ta. Và nếu Thượng đế không phải như chúng ta vẫn nghĩ thì sao? Rốt cuộc, Giáo hội đã kiến tạo cho Thượng đế một hình ảnh qua năm tháng, qua một thời kỳ mà ở đó giáo hội còn đầy quyền năng, còn kiểm soát được tất cả những gì được viết ra và được truyền lại. Nhưng có thể còn tồn tại những văn bản cổ phản ánh sự thật, những văn bản mà các tác giả của chúng ta không chịu bị chi phối bởi trí tưởng tượng của giáo hoàng, hay những văn bản cổ hơn, có lẽ là những ghi chép đầu tiên về các sự kiện xảy ra từ rất lâu rồi. Từ hai nghìn năm nay, tôn giáo đã kịp thu phục thế giới, buộc thế giới phải làm theo ý mình và xây dựng nên đời sống tâm linh như nó mong muốn. Thế nhưng tôi biết là có sự tồn tại của những văn bản nói về các bí mật lịch sử một cách chân thực nhất và chúng vẫn chưa bị tiêu hủy. Chính vì thế mà người ta không đưa tất cả sách vở ra phục vụ đông đảo độc giả.
 
- Anh đã đọc cuốn sách nào trong số đó chưa? Juliette hỏi.
 
Anthony Desaux đặt ngón tay trỏ lên miệng.
 
- Im lặng là cái giá của sự thật.
 
Juliette coi đó là câu trả lời khẳng định. Là người có thế lực, giàu có và đam mê sách vở, anh ta hẳn đã có dịp được mở cánh cửa của vài Địa ngục trên khắp thế giới. Camelia không hề nhầm, đây đúng là một con người kỳ quặc nhưng rất thú vị.
 
- Thế còn những cuốn sách mà anh sở hữu, chúng nói về điều gì? Cô hỏi thêm.
 
- Về nhiều điều, cô gái thân mến ạ, còn tùy vào việc cô tìm kiếm điều gì. Chủ yếu là về khoa học thần bí, nhưng cũng có những cuốn nói về quỷ Satan, đạo Vaudou, nhiều lắm! Tôi còn có cả sách nói về cái chết.
 
Nói xong, anh ta đặt tay lên một cái giá để kinh hát lễ to đùng đặt sau chiếc ghế tra tấn. Cái giá được gia công hết sức công phu, hàng trăm móng vuốt được trạm trổ vào gỗ dọc theo chân giá. Trên cùng đặt một cuốn sách rất lớn, bìa bọc da, không có tựa đề, chỉ được trang trí duy nhất bằng hình một đầu lâu ghê rợn dập nổi trên da.
 
- Hình như anh có biết chút ít về đề tài này, Juliette đánh liều nói.
 
Anthony đút hai bàn tay to khỏe vào túi quần.
 
- Chút ít thôi, anh ta đáp.
 
- Anh có thể cho tôi biết vài khái niệm sơ đẳng, hoặc những giai thoại mà tất cả những người yêu thích đề tài này thường xuyên truyền tai nhau không?
 
Tiếng cười của Anthony Desaux rất trầm và bay lên không trung như tiếng rồng vỗ cánh.
 
- Cô muốn tập làm phù thủy chăng?
 
- Tôi đã nói với anh rồi đấy, tôi luôn thích những gì hơi… huyền bí, Juliette thừa nhận.
 
Quả là Camelia không thể tin nổi điều mà cô đang thấy. Juliette vốn dửng dưng với những câu chuyện thần tiên và huyền bí, giờ đây lại sử dụng sức quyến rũ của mình để được nghe giải thích những khái niệm căn bản nhất của chủ đề này. Camelia biết khá rõ Juliette, đủ để hiểu rằng cô bạn mình không mảy may quan tâm đến Anthony trên phương diện tình cảm, điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Điều khiến Camelia ngỡ ngàng hơn cả là chứng kiến Juliette dùng đến ánh mắt đong đưa, khéo léo hơi ưỡn bộ ngực tròn trịa, và nhất là sử dụng nụ cười tự nhiên, thứ vũ khí chí mạng đối với người tinh khôn Homo sapiens đang đứng trước mặt cô. Juliette đang quyến rũ anh ta để đạt được thứ mà cô mong muốn.
 
Camelia có lẽ không bao giờ tin được rằng Juliette có khả năng làm việc này. Còn Anthony, một người tinh ranh và từng trải, không dễ mắc lừa. Anh ta đùa giỡn, dùng mắt uống lấy thứ mà cô gái tặng cho, đáp lại cô bằng những kiến thức cần thiết của mình để vở diễn tiếp tục.
 
- Nhìn chung, nhiều người nói đến hiện tượng siêu linh và khoa học huyền bí với thái độ hạ cố, thậm chí kinh tởm. Nhưng để kích thích trí tò mò của cô, tôi sẽ kể một giai thoại.
 
Nói xong, anh ta bắt đầu bước chậm rãi trong căn phòng, lúc thì quay về phía Juliette, lúc lại quay về phía Camelia. Dưới bước chân đều đặn của anh ta, sàn nhà kêu răng rắc, điểm thêm vào lời nói của anh ta bằng những tiếng kêu kèn kẹt thê lương.
 
- Các cô biết thuật giả kim là gì không? Đó chính là “nghệ thuật” kỳ lạ biến chì thành vàng. Thế này, kể từ khi Mendeleiv lập nên bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học vào thế kỷ XIX, chúng ta biết rằng nguyên tố được coi gần giống vàng nhất chính là chì. Vì vậy, chì được sử dụng trong các thí nghiệm trên máy gia tốc hạt và trong các phòng thí nghiệm khác để thu được vàng. Hẳn các cô sẽ rất ngạc nhiên vì người ta đã làm được điều này! Nhưng chi phí vận hành các máy móc đó đắt tới mức lượng vàng thu được không đáng kể gì. Dù sao thì đây cũng là bằng chứng cho thấy việc biến chì thành vàng là hoàn toàn có thể, “thuật giả kim hiện đại” đã chứng minh điều này. Bây giờ liệu các cô có thể giải thích cho tôi làm thế nào mà con người ở thế kỷ X lại biết cần phải dùng chì chứ không phải bất cứ loại chất nào khác để thu được vàng không? Làm thế nào mà từ một nghìn năm trước thí nghiệm đầu tiên của chúng ta, con người đã đoán ra được rằng chì là nguyên tố hóa học gần với vàng nhất và là nguyên tố thích hợp nhất để đạt được sự biến chuyển? Khi mà họ không hề có bất cứ khái niệm nào về nguyên tử, kính hiển vi hay khái niệm sơ đẳng nhất về nguyên tử lượng! Bởi vì các nhà giả kim này đã không thử với thạch cao, đá lửa hay granit, mà là với chì! Họ biết điều đó.
 
- Làm sao họ có thể đoán được? Juliette hỏi, cô thực sự tò mò.
 
- Đây mới chính là vấn đề! Mà tôi không biết gì cả, thế mới là huyền bí, một lĩnh vực bí ẩn vô cùng rộng lớn mà lại có rất ít câu trả lời.
 
Đoạn nhập đề của anh ta đã đạt được mục tiêu đề ra, Juliette và Camelia đều bị cuốn hút.
 
Juliette chợt nhớ lại hàng giờ liền ngồi nghiên cứu ở thư viện suốt hai ngày qua. Cô hỏi:
 
- Anthony, anh biết Thần khúc của Dante chứ?
 
- Tất nhiên rồi, ai mà không biết một tác phẩm như thế?
 
- Tôi đặc biệt quan tâm đến phần thứ nhất, “Địa ngục”. Quả thực, tôi nhận thấy chất trữ tình tuyệt vời, nhưng về mặt… bí hiểm, Thần khúc có tầm quan trọng nào đó không?
 
Nhà triệu phú hất món tóc trắng ra phía sau.
 
- Có, có thể nói như thế. Với một số người say mê môn khoa học huyền bí, thì thần khúc không khác gì cuốn sách hướng dẫn đi tới thế giới bên kia. Có thể điều này khiến cô buồn cười, nhưng thực sự có những người nghĩ rằng đây là một câu chuyện có thật được kể lại dưới dạng thơ cho nhẹ nhàng hơn và làm giảm độ tin cậy, giúp Dante được yên ổn vào thời của ông. Nhưng vẫn còn những người có thể xác thực với cô rằng phần đầu tiên trong tác phẩm này là bản đồ chi tiết của Địa ngục! Với họ, Thần khúc có lẽ là tác phẩm hoàn chỉnh nhất và thành công nhất, một cuốn kinh thánh!
 
Juliette chầm chậm gật đầu mà bản thân cô không nhận ra. Cô biết ít nhất một kẻ cũng suy nghĩ như vậy. Một kẻ mà với hắn ta, giết người không mang ý nghĩa đạo đức như xã hội vẫn nghĩ. Một kẻ không giống mọi người mà gần với quỷ hơn.
 
Anthony đứng dang tay như Chúa cứu thế giữa thư viện riêng của quỷ hiện thân.
 
- Bây giờ, hãy để tôi kể cho các cô về những huyền thoại nổi tiếng nhất của khoa học huyền bí và phép thuật.
 
Rất xa họ, trong một căn phòng rộng mênh mông, vang lên tiếng chuông duy nhất của đồng hồ quả lắc, báo hiệu đã hai mươi ba giờ rưỡi đêm.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 44
 
Năm xe hòm bọc thép, ba mươi tư cảnh sát đặc nhiệm được trang bị đầy đủ – áo chống đạn Kevlar, mũ bảo hiểm và súng Heckler & Koch MP5 – và mười chín cảnh sát do trụ sở trung tâm cảnh sát Portland cử tới bao vây bãi xe của bệnh viện Shriners và trường Y. Một chiếc trực thăng của cảnh sát giao thông sẵn sàng can thiệp, đậu cách đó vài trăm mét trên khu đất của một trại xăng cũ đằng sau trường đại học. Ba lối vào chính của bãi đỗ xe được giám sát liên tục, một chiếc xe hòm sẽ chắn ngang lối đi ngay khi có lệnh phát qua radio hoặc bộ đàm. Nhiều người được bố trí ở các cổng khác nhau của bệnh viện, vì có thể, trong trường hợp xấu – kẻ tình nghi trốn chạy vào các hành lang ngoắt ngoéo. Với một đội hình đông đảo như vậy, rủi ro không được phép xảy ra. Khi có lệnh, cảnh sát đặc nhiệm sẽ phong tỏa các cổng, không ai có thể tự do ra vào. Kẻ tình nghi bị mắc kẹt, rơi vào bẫy.
 
Vấn đề nan giải nhất là lượng người ra vào bãi đỗ xe . Lúc nào cũng rất đông người và không ai muốn xảy ra một vụ bắt con tin. Nhất là Brolin, vì cũng giống như mọi nhân viên FBI, anh đã theo một khóa đào tạo về thương thuyết và anh biết đến mức độ nào thì kết cục có thể là công cốc.
 
Vượt lên trên tất cả, khẩu hiệu chính của chiến dịch này là bí mật. Không được để mọi người nhận ra sự hiện diện của các lực lượng trật tự trong khắp khu vực, nếu không sẽ xôi hỏng bỏng không.
 
Các xe hòm bọc sắt là của ATP Seatle và vừa mới tới nơi sau bốn giờ đi đường, ATF (Bureau of Alcohol, Tobaco and Firearmes, Văn phòng rượu, thuốc lá và vũ khí; ATF đảm bảo việc thi hành luật về sản xuất và kinh doanh rượu, thuốc lá, vũ khí và chất nổ. ATF nổi tiếng là rất quyết liệt, và người ta thường so sánh các nhân viên được lựa chọn kỹ càng của ATF với các tay cao bồi, nhưng phải thừa nhận rằng kết quả của họ nói lên tất cả. Ví dụ từ khẩu súng tìm được trong vụ mưu sát tổng thống Reagan, ATF chỉ mất chưa tới mười lăm phút để tìm ra chủ nhân của nó là John Hinckey Jr, trong khi các cơ quan khác phải mất hàng giờ, thậm chí vài ngày) đề xuất cử một số nhân viên tới hỗ trợ về mặt hậu cần, nhưng đại úy Chamberlin từ chối, lấy cớ là cơ quan này không được phép can thiệp vào lĩnh vực tư pháp. Thực ra, Micheal Chamberlin không muốn những người này có mặt tại hiện trường, ông sợ có quá nhiều người hoặc khó kiểm soát.
 
Tuy nhiên, các xe hòm vẫn tới rất nhanh. Đặc điểm của chúng là cũng kỳ cục như một chiếc hot-dog trên khán đài của một trận bóng chày. Trông giống như xe đưa pizza hay xe của công ty điện lực, không có biển hiệu gì, chẳng ai có thể đoán được là trong xe có nhiều thành viên xuất sắc của đội cơ động đang giám sát bãi xe qua một ống nhòm giấu trong miệng thông gió trên nóc xe. Mười bốn sĩ quan cảnh sát mặc thường phục đi đi lại lại trên các lối đi nhưng không hề bị nhận ra do bãi xe quá rộng. 
 
Chiến dịch mới được triển khai vài giờ và chỉ được triển khai trong ba mươi sáu giờ. Quá khoảng thời gian đó, có lẽ sẽ là quá lâu để kẻ giết người liều lĩnh tới tìm xe. Tính cả các phi công trên trực thăng, có hai đội gồm năm mươi lăm người được huy động và phải thay phiên nhau qua những ca làm việc dài. Hơn một trăm cảnh sát chỉ tập trung vào “kỹ thuật tiên phong hành động” này, đây là cái tên mà Brolin đã đặt theo chiến lược của FBI. Khi đã thông báo rộng rãi trên báo chí rằng sắp bắt được kẻ giết người, thì sẽ là một thất bại nghề nghiệp thảm hại đối với chàng thanh tra trẻ nếu hắn không lộ diện.
 
Đã hai giờ ngồi trong chiếc xe hòm đỗ gần chiếc Mercury Capri nhất, Brolin không ngừng lật qua lật lại vụ việc, anh cảm thấy sợ vì nhận ra rằng họ đã quên mất một chi tiết mấu chốt. Bên cạnh anh, đội trưởng đội đặc nhiệm chia cho anh một chiếc cốc nghi ngút khói.
 
- Anh uống cà phê nhé?
 
Brolin lắc đầu, đội trưởng đội đặc nhiệm quay về phía sau xe hòm với năm người khác. Brolin lại dán mắt vào chiếc ống nhòm và tiếp tục quan sát xung quanh. Đêm đã buông, đã gần nửa đêm, các chủ xe xuất hiện thưa dần. Trong cuộc họp nhanh với các đội, Brolin đã nhấn mạnh rằng tất cả mọi người ở bãi đỗ xe đều khả nghi, nhưng cần tập trung chủ yếu vào những người đàn ông đi một mình hoặc hai người. Nếu không có ai lại gần chiếc Mercury thì rất khó, họ không thể quan sát tất cả mọi người, lại càng không thể nếu có rất đông người. Nhưng vào nửa đêm, bất cứ người nào đi qua cũng sẽ bị phát hiện ngay lập tức.
 
Brolin để ý một cái bóng vừa xuất hiện ở một cửa nhỏ của bệnh viện. Anh chỉnh ống kính lại gần và khi cái bóng đi qua dưới cột đèn, anh nhận ra đó là một phụ nữ khoảng năm mươi tuổi. Không rời mắt hoàn toàn khỏi bà ta, anh tiếp tục quan sát chiếc Mercury.
 
Lại một lần nữa, anh thầm làu bàu.
 
Chiếc xe nằm khá xa đèn cao áp, bị một khoảng bóng tối rất lớn bao phủ. Thế nhưng họ không thể liều lĩnh di chuyển nó, kẻ giết người có thể nhận ra điều đó trước khi tới gần chiếc xe.
 
Tai nghe của Brolin lạo xạo, anh nhận ra giọng Lloys Meat:
 
- Josh, có một đối tượng ở cửa phía nam. Một người đàn ông đi một mình khá nhanh về phía anh.
 
Brolin quay sang trái và nhận ra đối tượng tình nghi sau vài giây. Anh ta hút một điếu thuốc lá và bước rất nhanh về phía chiếc xe hòm. Rồi anh ta vứt đầu mẩu thuốc lá, chui vào một chiếc Toyota rồi phóng đi. Từ lâu, nhóm theo dõi không còn đếm số lần báo động sai nữa.
 
- Lại hụt, Salhindro nhận xét từ một chiếc xe được ngụy trang thành xe bình thường, Josh, anh nghĩ là hắn sẽ tới chứ?
 
- Có thể… Brolin thì thầm, mắt vẫn tiếp tục quan sát qua ống nhòm.
 
Từng phút kéo dài đến mức tưởng như nó làm chậm kim giây của đồng hồ. Hai giờ sáng hiện lên trên mặt đồng hồ quartz của chiếc xe hòm. Rồi rất chậm chạp, con số ba giờ hiện ra. Vào giờ này, sự mệt mỏi xâm chiếm thế giới xung quanh, tình trạng thiếu sự sống đem lại cho đêm đủ mọi loại quyền năng với con người, nhất là quyền làm cho họ lo lắng.
 
Chỉ còn lác đác vài cái bóng thi thoảng đi lại trên đường. Các sĩ quan mặc thường phục đã vào lại trong xe của họ để không gây chú ý và chờ đợi trong bóng tối.
 
Brolin nhớ lại những năm tháng học hành trước khi gia nhập FBI. Anh từng rất chăm chỉ, ít khi đi chơi với các bạn học của anh, những năm đại học là những đêm trọn vẹn để vui thú. Việc làm quá đà duy nhất – nếu coi như thế là quá đà – chỉ là mối quan hệ kéo dài hai năm với một cô sinh viên ngành khoa học chính trị. Nhưng cả hai đều say mê học hành, và cuối cùng cô gái có cơ hội đi Washington học lên cao hơn, họ mới quên nhau. Brolin tự hỏi không biết cô thế nào rồi và đang làm gì vào chính thời điểm này, trong khi anh phải ngồi trong chiếc xe hòm giữa đêm khuya với chiếc áo chống đạn cọ vào phần hông. Là một người bình thường, chắc cô ấy đang ngủ say, mặc dù có sự chênh lệch về giờ giấc với bờ biển phía Đông. Cô ấy tên là Gayle. Xét cho cùng cô ấy khá dễ thương, dù ít chàng trai…
 
- Tất cả các đơn vị chú ý, một đối tượng vừa đi bộ vào bãi xe, một giọng nói vang lên.
 
Josh tỉnh táo ngay lập tức.
 
- Người đó từ đâu tới? Anh hỏi.
 
- Tôi không biết, đối tượng đi ra từ dưới các tán cây, có lẽ từ khu vực trường Y.
 
- Tốt, tập trung chú ý nhưng đừng quên quan sát phần còn lại của bãi xe, Brolin chỉ đạo. Tôi thấy anh ta rồi. Cao trung bình, đội mũ và mặc áo khoác dạng vest có lông vũ.
 
- Xác nhận.
 
- Tôi không rời mắt khỏi anh ta. Lloyd, anh cũng để ý nhé, còn những người khác tiếp tục bao quát toàn bộ khu vực. Vẫn còn hơn một trăm chiếc xe đỗ ở đây, tôi không muốn xảy ra bất cứ một sơ suất nào.
 
Cái bóng bước nhanh, hai tay đút trong túi áo khoác. Có cái gì đó không ổn. Brolin không thích cách hắn vừa đi vừa ngó nghiêng xung quanh.
 
- Đối tượng có vẻ mờ ám, anh thông báo qua chiếc micro gắn dưới cổ áo pull. Hắn cảm thấy không an toàn hoặc hắn không muốn bị nhìn thấy. Trực thăng chuẩn bị bảo vệ khu vực.
 
Đối tượng khả nghi còn cách chiếc xe hòm của Brolin, cũng là cách chiếc Mercury, khoảng hai trăm mét. Nhưng hắn đi thẳng và không có vẻ gì là sẽ vòng về phía họ.
 
- Hình như hắn không đi về phía anh, Meats nhận xét.
 
- Chính xác, hắn đi về phía bệnh viện.
 
Đội trưởng đội đặc nhiệm lại gần Brolin từ phía sau.
 
- Anh có muốn người của tôi chặn hắn lại không? Anh ta hỏi.
 
- Không, chúng ta hoàn toàn không có cớ nào cả. Cũng có thể đó chỉ là một người quá căng thẳng, chúng ta không thể bắt anh ta về lý do đó.
 
Gã đàn ông đội mũ vẫn bước rất nhanh và lần này, Brolin nhìn thấy khói bốc lên từ miệng hắn.
 
- Hắn hút thuốc lá, anh nói. Có vẻ như hắn không đi qua đây. Không tốt cho chúng ta.
 
Brolin nói xong thì đối tượng khả nghi vứt đầu mẩu thuốc lá rồi đột ngột đổi hướng. Hắn rẽ sang phải về phía Brolin. Về phía chiếc xe Mercury.
 
- Ồ đổi hướng rồi, hắn đi về phía chúng tôi. Meats, hãy chuẩn bị lực lượng, chỉ can thiệp khi có hiệu lệnh của tôi.
 
- Rõ.
 
Lần này, kẻ tình nghi buông thõng hai tay, như thể chuẩn bị làm một việc xấu. Hắn đi qua dưới cột đèn, mặc dù từ đầu hắn luôn tránh việc này. Brolin dán mắt vào ống nhòm nhưng mũ hắn sụp quá sâu, anh chỉ nhìn thấy cằm của hắn.
 
- Anh nhìn rõ mặt hắn không? Salhindro hỏi ngay, ông theo dõi tất cả từ một chiếc xe đỗ xa hơn một chút.
 
- Không, đầu hắn thụt quá sâu trong áo khoác, lại thêm cái mũ che kín mặt.
 
Kẻ tình nghi rẽ vào giữa các hàng xe đang đậu.
 
Không còn nghi ngờ gì nữa, hắn đi thẳng về phía chiếc Mercury. 
 
- Tôi muốn bắt quả tang, hãy để hắn chạm vào ổ khóa rồi chúng ta bắt hắn.
 
Lực lượng đặc nhiệm đã chuẩn bị sẵn sàng ở phía sau, hạ thấp lưỡi trai mũ xuống, tay nắm chặt chỗ cằm trên băng súng có đầu nhọn gắn kim cương chống trượt. Sự căng thẳng tăng lên cùng lượng adrenalin. Ai nấy đều biết rằng họ có thể đông người, luyện tập rất nhiều, vũ trang đầy đủ hơn, nhưng chỉ cần sơ suất nhỏ là một người trong số họ có thể ngã xuống, bị hạ bởi một nguyên nhân bất ngờ. Nhưng họ yêu công việc của mình. Hơi thở dồn dập, bàn tay ướt mồ hôi, họ sẵn sàng lao ra bằng cửa sau, khi đó hành động là trên hết, adrenalin hòa tan trong máu, đầu óc được huy động trong tình thế khẩn cấp ở thời điểm hiện tại chứ không phải cho những hậu quả xấu sẽ xảy ra trong tương lai.
 
Đội trưởng đội đặc nhiệm quay đầu về phía Brolin để chờ hiệu lệnh.
 
Kẻ tình nghi vừa đến đúng trước mặt, cách khoảng hơn mười mét.
 
- Meats, khi tôi ra hiệu, các anh hãy khẩn trương bao vây khu vực phía sau, trong lúc các anh tiến đến gần, tôi không muốn hắn kịp nấp sau chiếc Break màu xám hoặc chiếc  Lincoln đằng trước. Tránh nổ súng, hắn có thể có vũ khí. Trong trường hợp tốt đẹp, hắn sẽ đầu hàng mà không chống cự, nhưng nếu hắn chạy trốn, chúng ta sẽ bao vây và siết chặt vòng vây cho tới khi cất được mẻ lưới. Không nổ súng nếu hắn không bắn trước, rõ chưa?
 
- Hy vọng là hắn không có ý định đó. Chúng tôi sẵn sàng.
 
Kẻ tình nghi đi nhanh ra phía sau chiếc xe Break mà Brolin đang để mắt tới rồi lại gần chiếc Mercury. Không có ai khác ở bãi đỗ xe, họ đang gặp may.
 
Kẻ đội mũ đứng yên trước cánh cửa bên ghế lái. Hắn quan sát khoảng không xung quanh rồi cắm chìa vào ổ khóa.
 
- Hắn có chìa khóa! Salhinro kêu lên trong micro khi thấy cảnh tượng đó qua ống nhòm. Hắn có chìa khóa!
 
Nhưng Brolin không để ý tới lời cảnh báo. Chiếc xe được đăng ký dưới tên của nạn nhân, và ngay cả một số bạn bè của nạn nhân cũng không ngốc nghếch đến mức vô cớ di chuyển chiếc xe. Chính tên giết người đã giữ lại một kỷ vật. Một trong số các kỷ vật.
 
- Trực thăng xuất phát, Brolin ra lệnh. Theo lệnh chỉ huy của tôi, tất cả các đơn vị: TRIỂN KHAI.
 
Tiếng lách cách của kim loại đồng loạt vang lên giữa các cột đèn, trong khi cảnh sát đặc nhiệm lao ra từ nơi ẩn nấp. Năm người lao ra từ chiếc xe hòm gần nhất cùng với Brolin theo sát gót, năm người khác từ một chiếc xe hòm khác, cách đó hai chục mét cùng với Lloyd Meats. Tám người hiện ra từ những chiếc xe khác nhau và cùng chạy về phía chiếc  Mercury để nhập vào hai nhóm kia. Tiếng ầm ầm của trực thăng vang lên trên bầu trời màu đen, đèn pha sáng rực như mặt trời đêm.
 
Ngay khi những cánh cửa đầu tiên bật mở, kẻ đội mũ – vẻ cực kỳ căng thẳng đã chạy về phía sau rồi nhảy lên chiếc Lincoln cạnh đó.
 
Brolin hét to hơn cả mệnh lệnh của đội đặc nhiệm:
 
- Đứng yên, anh đã bị bao vây!
 
Nhưng kẻ tình nghi lăn trên mui xe và biến mất sau mũi chiếc Lincoln. Ngay lập tức, tất cả cảnh sát đặc nhiệm quỳ xuống và vây xung quanh. Một khi mục tiêu ra khỏi tầm mắt, người ta không thể lao theo vì nó sẽ xuất hiện bất cứ lúc nào và xả cả băng đạn.
 
Nhóm của Meats chầm chậm tiến lại gần từ phía sau, tất cả mọi người đều cúi lom khom tới mức gần như di chuyển bằng bốn chi để làm giảm tối đa khả năng bị trúng đạn. Trước mặt Brolin, đội trưởng đội đặc nhiệm đang ra lệnh bằng tay cho các thành viên của đội. Và giống như một buổi diễn tập đã diễn đi diễn lại hàng trăm lần, cả đội triển khai lực lượng, mỗi người đều biết rõ mình phải đi đâu và làm gì. Họ sẽ siết chặt dần vòng vây cho đến khi đồng thời tóm được hắn. Những người đầu tiên xông ra sẽ mang lá chắn đạn để bảo vệ cả nhóm, trong khi đó khoảng cách một chục cây súng chĩa vào mặt hắn, chỉ cách hắn vài centimet. 
 
Cách đó khoảng mười mét, mọi người chạy tới, mang theo lá chắn để đảm bảo an toàn tối thiểu.
 
Trực thăng gần tới nơi, nó có thể làm lóa mắt kẻ tình nghi nhờ đèn pha chiếu sáng vào thời điểm tấn công. 
 
Rồi phát súng đầu tiên phá tan màn đêm khá yên tĩnh.
 
Người đi trước Brolin gục xuống rên rỉ.
 
Brolin vội nằm xuống đất, tiếng súng bắt đầu rít lên. Hơn mười lăm khẩu pháo dồn dập bắn vào mục tiêu.
 
Một cơn mưa vỏ đạn rơi vào anh thanh tra khi viên cảnh sát đặc nhiệm đứng gần nhất xả hết băng đạn lên chiếc Lincoln. Những tiếng nổ vang lên chát chúa như tiếng búa của vị thần Vulcain đập lên đe, tạo nên những tia chớp ngắn trên vỏ xe. Đèn pha cực mạnh chiếu từ trên trời xuống, phủ lên hiện trường lớp ánh sáng trắng lóa, trong khi phi công cho máy bay tăng thêm độ cao để tránh đạn lạc. Trời lặng gió nên có thể ném hai quả lựu đạn hơi cay. Và tiếng súng im bặt như có phép màu, tất cả các súng đã hết đạn. Hai giây sau, một băng đạn ba mươi viên được lắp vào các khẩu MP5 và cảnh sát đặc nhiệm chạy lên phía trước, lao vào đám khói như một con nhện khép cả tám chân của nó vào cùng một lúc.
 
Lá chắn đạn đập vào nhau, vũ khí chĩa vào nhau, trực thăng đứng bên cạnh chiếu xuống đội quân tinh nhuệ thứ ánh sáng của một buổi chiều hè. 
 
Qua làn khói hơi cay cuối cùng hiện ra những gì còn lại của một kẻ bắn tỉa đơn độc. 
 
Một vỏ đạn.
 
Không hơn không kém.
 
Tiếng máy trực thăng kêu càng to hơn, làm run rẩy vòng tròn sáng trắng trên mặt đường trơ trụi.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 55
 
Cái bóng sừng sững của núi Hood bao trùm tất cả các cánh rừng trong vùng. Ở độ cao hơn ba nghìn bốn trăm mét, lớp màn tuyết trắng tinh phản chiếu lại ánh nắng nhạt của tháng Mười giống như một chiếc gương khổng lồ.
 
Chiếc xe Mustang chạy trên dải màu xám – tím của con đường. Đi ngang qua vài thị trấn nhỏ hiếm hoi, những cảnh sắc sinh động duy nhất trên đường, Brolin cố tập trung vào con đường chứ không ngắm nhìn phong cảnh.
 
Người nào chưa bao giờ đặt chân tới bang Oregon sẽ không thể tưởng tượng được hết không khí trong những cánh rừng già ở đây. Ở chỗ ngoặt của một con đường, một vực thẳm hẹp xé toạc mặt đất để đón nhận dòng thác hung dữ chảy dài ba mươi mét về phía dưới, hay một vách đá khổng lồ có nguy cơ bất ngờ đè nát người. Ở đây, cây cối có màu đen, khu vực giữa rừng chưa từng có dấu chân người, và những ngọn núi trập trùng bao quanh vùng đất bí ẩn này nom giống như đội quân những phù thủy da đỏ.
 
Trong khung cảnh kỳ bí ấy, một người dạo chơi bình thường hẳn sẽ nhanh chóng cảm thấy bị giằng xé giữa một bên là nỗi sợ hãi âm ỉ từ sâu thẳm trong lòng và bên kia là trạng thái ngất ngây trước cảnh đẹp.
 
Vì thế Brolin từ chối quan sát những thân cây nhiều mấu nom giống những con người cùng hòa vào một vở ba lê đau đớn và hấp hối. Anh nhớ lại bản đồ hạt, hy vọng không đi quá đường rẽ vào Hồ chứa nước.
 
Sau chưa đầy hai giờ đồng hồ chạy xe từ Portland, Brolin nhận ra con đường đất dẫn sâu vào rừng.
 
Đi thêm ba kilômet, con đường chia làm hai ngả. Một tấm biển đề “Hồ chứa nước Bull Run”, Brolin rẽ sang ngả đối diện.
 
Đi với tốc độ đều đều, anh mở cửa kính xe với hy vọng không khí trong lành sẽ thổi vào anh chút dũng cảm thần bí nào đó. Thỉnh thoảng, anh nghe thấy tiếng kêu của một con chim săn mồi, hay tiếng chim hót líu lo. Nhưng không hề có dấu vết con người.
 
Đêm ở đây hẳn là rất rùng rợn.
 
Cuối cùng, dưới bóng một cây thông cao, hiện ra “nhà” của gia đình Beaumont. Hai chiếc xe moóc rất lớn được ghép thêm nhiều căn phòng làm từ thân cây giống như những ngôi nhà gỗ cũ kỹ. Vài tấm tôn lượn sóng dài ghép thành mái của khu nhà kỳ dị này và tạo thành mái che bên trên thảm lá kim. Khoảng nửa tá vỏ xe cũ đủ loại đã chết hẳn dưới những vết gỉ dài màu nâu.
 
Brolin đỗ chiếc Mustang cách đó khoảng chục mét và bấm còi để thông báo.
 
“Mong sao ông ta ở nhà, anh nghĩ. Mình chẳng muốn quay lại đây tí nào”.
 
Anh lại gần nơi được coi là nhà ở. Một lũ gà mái yên trí cục ta cục tác sau một hàng rào tự tạo bằng lưới sắt rẻ tiền. 
 
- Này! Có ai ở đây không?
 
Một con chim vỗ cánh bay đi.
 
Các ô cửa sổ đen ngòm và hẹp như mắt người chết.
 
Brolin đi thăm dò xung quanh, nhưng cơn mưa mới đây đã khiến cát trở nên mềm nhão, khó đi lại. Ở bên phải, cách đó vài mét trong rừng, Brolin nhận thấy có sự chuyển động.
 
Anh im lặng tiến lại gần, một tay đặt lên khẩu Glock để yên tâm hơn.
 
Một cái bóng di chuyển chầm chậm sau đám cành cây.
 
Brolin gạt đám lá cây ẩm ướt.
 
Đằng kia có một cái xác treo lủng lẳng trong gió, rỉ máu, phơi bày da thịt, bị chặt thành nhiều mảnh.
 
Brolin nhảy lùi về phía sau và rút súng ra.
 
Không, không, không! Không phải người.
 
Anh lắc đầu. Đấy là một con thú dùng chân bám vào dây cáp.
 
Milton là con người của thiên nhiên, có lẽ ông ta đi săn không giấy phép và ăn những thứ mà ông ta tự kiếm được.
 
Tim đập nhanh, Brolin quay lại chỗ các xe moóc.
 
- Ông Milton Beaumont?
 
Brolin gọi tên chủ nhà nhiều lần. Không có tiếng đáp lại.
 
Anh lại gần cửa ra vào. Rất nhiều vỏ đồ hộp han gỉ nằm trong cát, đựng đầy nước mưa. Dưới mái tôn, Brolin chui qua đống quần áo đang phơi trên một loạt dây.
 
- Này! Có ai không?
 
Anh bước lên một viên đá dùng làm bậc thang và gõ vào cánh cửa nặng nề đã được gia cố thêm. Không ai trả lời.
 
Gió thổi tung một tấm bạt màu xanh phủ lên chùm bi đông bằng thép treo giữa hai vỏ ôtô.
 
“Nơi này thật kỳ quái! Loại người nào có thể sống được ở một nơi lộn xộn đến thế?”
 
Viên thanh tra trẻ quay ra, đi vòng quanh ngôi nhà từ bên phải rồi đứng lại dưới một ô cửa sổ. Bụi bẩn che phủ toàn bộ khung cửa, giấu không gian bên trong dưới một lớp màn màu tro. Anh dán mắt vào cửa kính.
 
- Tôi có thể giúp gì cho anh? Một giọng nói vang lên sau lưng anh.
 
Brolin quay ngoắt lại. Milton Beaumont đứng ở bìa rừng. Đó là một ông già nhỏ thó, đầy xương xẩu và nếp nhăn. Hai gò má nhô cao tới mức tưởng như mỗi khi ông ta cười, xương sọ sẽ xé rách chút ít thịt còn lại.
 
Mái tóc đen nhánh của ông ta xõa xuống trước hai hốc mắt. Vẻ mặt hăm dọa của loài thú ăn mồi toát lên khi ông ta hung hăng nhắc lại. 
 
- Tôi hỏi liệu tôi có thể giúp gì cho anh?
 
- Vâng, tôi rất tiếc, tôi không muốn thô lỗ như thế, nhưng không ai trả lời cả. Tôi là…
 
Anh ngần ngại. Có lẽ Milton hơi ngây ngô, nhưng hoàn toàn có thể nhớ được tên của kẻ đã giết chết con trai mình.
 
- Tôi là thanh tra Joshua Brolin, cuối cùng, anh quyết định nói thẳng.
 
- Anh muốn gì ở tôi? Tôi chả có gì để nói với mấy tay cớm cả.
 
Giọng ông ta mạch lạc, không chút do dự, rít lên ở vài phụ âm.
 
- Tôi chỉ muốn hỏi ông vài câu. Chúng ta vào nhà được chứ? Brolin vừa hỏi vừa chỉ tay vào chiếc xe moóc.
 
Milton đứng thẳng dậy, dường như ông ta không đến nỗi thấp bé lắm. Đây là lần thứ ba hai người gặp nhau, nhưng nếu còn nhớ Brolin, ông ta cũng không để lộ chút dấu hiệu nào cả.
 
- Tôi đã nói với mấy tay cớm rồi và chả còn gì để nói nữa cả. Họ đã lấy đi con trai của tôi, như thế là quá đủ rồi!
 
Ngực Brolin nén chặt lại.
 
- Tôi hiểu… Tôi muốn…
 
- Anh cóc hiểu gì cả! Chỉ vì chúng tôi ở đây nên người ta không thích chúng tôi, nhưng thằng bé nhà tôi chưa bao giờ làm điều gì xấu xa hết!
 
Brolin chầm chậm lắc đầu.
 
- Có lẽ chúng ta có thể nói chuyện bình tĩnh hơn.
 
Cặp mắt sắc của Milton lóe sáng trong một giây. Ẩn trong hốc mắt sâu, hai con ngươi rất hiếm khi lộ ra. Milton Beaumont giấu kỹ ánh phản chiếu tâm hồn mình với mọi người.
 
Ông ta quay đi và biến mất trước ngôi nhà. Brolin đi theo. Milton lấy từ dưới xe moóc ra hai chiếc ghế gấp. Ông ta mở ghế và đặt dưới mái hiên. Mặt đối mặt.
 
Khó mà biết được liệu có phải Milton đang quan sát anh hay ông ta đang nhìn đi đâu, vì thế Brolin quyết định ngồi xuống. Milton đi lùi ra và mở hàng rào chuồng gà, rồi bằng một động tác rất nhanh và tự tin, ông ta tóm lấy một con gà mái lông đen. Ông ta kẹp nó dưới nách rồi đến ngồi xuống ghế
 
- Này ông, tôi… Tôi không định ở đây lâu. Ông có theo dõi tin tức không?
 
Đầu Milton lắc lư trên cái cổ xương xẩu, rồi ông ta khạc. Khi lại đối diện với Brolin, ông ta hất cằm lên, vẻ thách thức viên thanh tra. Với bộ da được thuộc trong sương gió qua hàng thập kỷ cuộc đời, khuôn mặt dài, rất dài, khiến cho cằm trễ thấp bất bình thường xuống tận ngực, người đàn ông già nua này giống như một pho tượng nhân sư hung dữ vừa được tước đi những đường gờ.
 
Ông ta bao nhiêu tuổi nhỉ?
 
Mặc dù trời mát mẻ, Milton vẫn mặc một bộ đồ lao động với sơ mi tay xắn gần đến nách, để lộ các cơ bắp nhăn nheo nhưng dấu vết săn chắc một thời vẫn còn hiện rõ. Con gà mái nằm yên, một bàn tay rắn rỏi vuốt ve mào của nó. Khó mà đoán được nó đang khiếp đảm hay đang thỏa mãn.
 
Hay là mình nhầm? Hay là kẻ giết người không còn trẻ? Có lẽ Milton Beaumont có đủ sức khỏe cần thiết, ông ta khá ngây ngô để có thể bị điều khiển và hành động như một kẻ thần kinh không ổn định. Gần như rối loạn tâm thần, nhưng tuổi đời vẫn giúp ông ta kiểm soát được những hành động tối thiểu…
 
Nhưng không phù hợp. Làm thế nào ông ta có thể giữ được quá nhiều xung năng phá hủy trong thời gian lâu như vậy? Milton có con, có vợ, còn kẻ giết người lại thể hiện tình trạng chưa trưởng thành về mặt tình dục.
 
- Báo chí là để cho người ta biết phải nghĩ gì. Tôi ít xem ti vi, ít lắm.
 
Nhận xét quả là đúng, Brolin nghĩ. Trước một kẻ đầu óc chậm chạp, Milton hoàn toàn có thể tỏ ra nhanh nhạy. Suốt một thời gian dài, người ta tự hỏi làm thế nào mà một người đầu óc hạn chế như ông ta lại có thể sinh ra một kẻ đầy năng lực như Leland. Thực ra, có lẽ Milton không phải là lão già ngớ ngẩn như người ta vẫn nghĩ, đằng sau vẻ chất phác hoang dã ẩn giấu một cái nhìn sắc sảo về thế giới.
 
- Ông có nghe nói về hai vụ giết người phụ nữ thời gian gần đây không? Brolin hỏi.
 
- Anh nghĩ gì thế? Hiện người ta đang nói về con trai tôi. Có cả một nhà báo đến tận đây đặt câu hỏi cho tôi. Anh ta đến rồi lại đi. Chẳng được gì cả.
 
Gió làm cây rừng rung mạnh xung quanh họ.
 
- Vậy thì chắc chắn ông biết chuyện kẻ giết người hành động theo cách của… cách của Đao phủ Portland?
 
Cho dù tàn nhẫn, nhưng tên gọi này giúp Brolin không nêu đích danh Leland Beaumont, điều mà Brolin mong muốn khi anh vẫn chưa biết chắc về phản ứng của ông bố.
 
- Họ nói là có một gã bắt chước Leland. Nhưng Leland bây giờ đã chết rồi, làm ơn để nó được yên!
 
Brolin không thể đi thẳng vào mục đích. Nếu anh nói về chuyện ADN, chắc chắn ông ta không hiểu gì cả, việc đó chỉ làm rộng thêm hố ngăn cách giữa họ.
 
- Thưa ông Beaumont, con trai ông đã được chôn cất ở nghĩa trang Latourell, đúng không?
 
Milton chỉa hai tia nhìn đen ngòm vào Brolin. Ông ta thôi không vuốt mào gà nữa và gật đầu.
 
- Xin thứ lỗi cho tôi vì lời nói thẳng, nhưng ông có quyền được biết tin này. Xác của Leland đã bị đánh cắp.
 
Hai vết nứt đột ngột mở choàng, để lộ ra hai nhãn cầu màu trắng, đỏ và xanh lam. Cũng nhanh như khi hiện ra dưới ánh sáng, chúng lại trở về với các hốc tối tăm của mình.
 
- Sao? Con người sống ẩn dật kêu lên. Đồ điên nào…
 
Nhưng lời nói câm bặt trong miệng ông ta. Ông ta cúi xuống tay vịn ghế, khiến con gà đang run rẩy dưới nách ông ta kêu lên ầm ĩ. Ông ta rút từ đống củi nhỏ ra một vật dài màu bạc.
 
Brolin chưa hiểu ngay chuyện gì sắp diễn ra. Anh xác định được vật đó khi cái lưỡi bằng kền của nó chạm vào một tia nắng hiếm hoi.
 
Chiếc rìu xé toang không khí tạo nên một tiếng rít khô khốc.
 
Đã quá muộn.
 
Milton vứt thứ đang cầm ở tay kia ra.
 
Con gà mái giãy giụa như bị một cơn cười điên dại, coi chuyện vừa xảy ra như một trò đùa ác ý. Brolin thấy nó giật giật khi tia máu còn nóng của nó phun vào không khí, tạo ra âm thanh giống như khi người ta bóp một chai nước rửa bát đã hết.
 
Mặc dù đầu dúi trong cát, nhưng thân gà vẫn còn chạy, như để thoát khỏi cơn ác mộng này. Khi quá nhiều máu chảy ra từ vết cắt há miệng, con gà đổ vật xuống mềm nhũn.
 
- Thưa anh cảnh sát, nếu anh đến để báo cho tôi biết tin này, thì anh có thể rút lui được rồi, còn nếu anh đến để tống cổ tôi vào tù thì cứ việc, vì tôi chả còn gì để nói cả!
 
- Thế này, có thể…
 
- Im đi! Bắt tôi hoặc là xéo ngay!
 
Brolin nhìn vết máu chảy trên ghế. Ở đây tách biệt hẳn với thế giới văn minh, và nếu Milton lên cơn điên, không ai có thể cứu được anh. Mắt anh dừng lại trên chiếc rìu mà ông ta vẫn đang cầm trên tay. Hầu như không còn dính máu.
 
- Vâng, tôi đi đây.
 
Anh đứng dậy, quan sát phản ứng của người đối diện. Ông ta chỉ nhìn anh, không thể hiện bất cứ cảm xúc nào.
 
- Tuy nhiên, tôi muốn ông làm một việc, vì ông. Tôi có thể lấy mẫu nước bọt của ông được không?
 
Milton cúi đầu. Gò má bên phải giật giật vì một cơn máy cơ thần kinh.
 
- Anh dùng nó để làm gì?
 
- Để so sánh gien. Nó giống như dấu vân tay, nhưng thay vì dùng ngón tay, người ta dùng nước bọt hoặc máu. Nếu ông đồng ý, chúng tôi sẽ so sánh với mẫu gien của kẻ giết người, và như vậy ông sẽ được tuyên bố vô tội. Nhưng tôi phải thông báo với ông rằng ông không buộc phải làm thế, tôi yêu cầu ông với tư cách cá nhân, ông hoàn toàn không bị buộc phải chấp nhận.
 
Brolin không chắc rằng ông ta hiểu hết được những lời này. Anh đang định ra về thì Milton gật đầu.
 
- Anh muốn gì? Muốn tôi nhổ vào ống tiêm chứ gì?
 
Trong không khí nặng nề khi ấy, nụ cười trên môi Brolin được đón nhận như một sự giải thoát thực sự.
 
- Không cần như thế. Đã có phương pháp mới hơn. Đợi một chút, tôi sẽ cho ông xem.
 
Anh đi lấy chiếc cặp nhựa trong xe Mustang và lôi từ cặp ra đôi găng tay cao su. Anh yêu cầu Milton nhổ một ít nước bọt vào trong một chiếc khăn trắng tinh rồi lấy thứ mà anh cần bằng vài que bông nhỏ.
 
Khi đã vào trong xe, anh thấy Milton nhặt xác con gà mái. Một cơn rùng mình mạnh khiến Brolin run người khi anh chợt nhận ra rằng đó có lẽ là một con gà trống chứ không phải gà mái. Ẩn dụ quá rõ ràng.
 
Milton không đủ khả năng tinh tế đến thế.
 
Nhưng ai bảo vậy chứ? Ngây ngô không có nghĩa là không đủ khả năng thể hiện suy nghĩ của mình bằng hành động.
 
Con người sống ẩn dật đó đứng dậy, tay cầm cái xác ấm nóng. Ông ta nhìn chiếc Mustang chằm chằm.
 
Tiếng máy rền vang dưới ngọn cây. Brolin thấy bố Leland đứng bất động giữa đường và dần dần biến mất trong gương chiếu hậu. Và một suy nghĩ không thôi ám ảnh Brolin suốt chặng đường về.
 
Ông ta biết.
 
Milton biết chính xác trước mặt ông ta là kẻ đã giết chết con trai của ông ta.
 
Brolin tin chắc như vậy.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 56
 
Ba mươi sáu giờ.
 
Đó là toàn bộ khoảng thời gian mà Juliette có thể chịu đựng được. Chỉ mới không gặp Joshua  từ sáng hôm qua mà cô cảm thấy nỗi nhớ ngấm ngầm nhen lên trong cô. Chẳng lẽ người ta không thể đem lòng yêu ai đó qua hai ngày được sao? Không, cô không thôi nhắc đi nhắc lại với mình như vậy, đây không phải là tình yêu, mà chỉ là sự quý mến. Chỉ mong muốn được gặp lại nhau càng sớm càng tốt để tìm hiểu nhau, đem lại niềm vui cho nhau và ôm chặt lấy nhau.
 
Và gọi nó như thế nào nhỉ?
 
Sự quý mến?
 
Từ khi thức dậy đến giờ, cô chỉ nghĩ đến điều này, giờ đây, cô xua đuổi những ý nghĩ ấy bằng một cái tát trong tâm thức để thay thế chúng bằng một sức nặng khác đang đè trên ngực cô.
 
Leland Beaumont.
 
Tên quái vật đó thế nào rồi? Joshua đã nói thật với cô về mẫu DNA. Ý nghĩ anh đứng giữa nghĩa trang để đào xác của Leland khiến Juliette mãi rất khuya mới ngủ đuợc, cô vô vọng tìm kiếm Joshua giữa những chiếc gối to trên giường.
 
Cả buổi sáng, Juliette chỉ chực chờ điện thoại của Joshua. Chỉ đến cuối buổi chiều anh mới gọi đến, giọng uể oải lộ rõ vẻ mệt mỏi và thiếu tự tin. Anh không muốn nói gì cả, nhưng Juliette biết có chuyện không ổn. Cô hỏi xem có phải liên quan đến Leland và ngôi mộ của hắn không, nhưng anh không trả lời, chỉ nói rằng sẽ qua ăn tối với cô.
 
Giờ đây, Juliette cố xua đi chút cảm giác cô đơn ở nhà Camelia vì cô biết mình sẽ được chăm chút nếu hé lộ chuyện tình cảm với anh thanh tra trẻ. 
 
Sáu giờ rưỡi tối, đêm đã bao phủ hết bầu trời bằng cái mũ chụp tối đen của nó. 
 
Phía ngoài cửa kính của biệt thự trên đỉnh đồi West Hills, Portland sáng rực, đẹp như một cây thông Noel trong truyện của Dickens.
 
- Chị ngạc nhiên vì bố mẹ em không về động viên em, không giống với họ tí nào, Camelia vừa nhận xét vừa cắn một miếng táo thật to.
 
Co người trên chiếc sofa, Juliette ôm chặt hai đầu gối sát vào ngực. Cô nhún vai.
 
- Thật ra, em chưa nói hết với bố mẹ. Chị biết bố mẹ em thế nào rồi đấy, năm ngoái bố mẹ đã rất đau khổ. Em không muốn họ lại phải chịu đựng điều đó.
 
- Chị biết là em thích cô đơn, em yêu quý ạ, nhưng bố mẹ em có thể đem lại cho ngôi nhà của em sức sống và niềm vui, những thứ em đang thiếu thốn. Em không nên sống quá... quá thu mình như thế.
 
- Thôi, đừng nói nữa, chị biết em bận rộn thế nào...
 
Camelia lắc đầu.
 
- Thế còn với thanh tra Brolin? Chuyện ra sao rồi?
 
Camelia nhấn mạnh vai trò của Brolin, cố ý nhấn mạnh từng từ một cách tinh quái.
 
- Tốt. Em nghĩ thế.
 
- Thế thôi ư? Chị đã nói chuyện điện thoại với Anthony Desaux, anh ấy nói là theo người quản gia thì hai người ra về rất muộn, cả hai chỉ nghiên cứu ở đó thôi sao?
 
Lông mày nhướn cao, một nụ cười nhếch lên ở khóe miệng, Camelia không đặt câu hỏi, cô chờ đợi lời khẳng định và các chi tiết.
 
Tiếng rên rỉ, mồ hôi chảy trên cơ thể, sức nóng của sự đam mê, tất cả hiện về trong tâm trí Juliette, từng đoạn ngọt ngào. Những cuốn sách cổ mở ra trong ký ức của cô với vô vàn tiếc nuối, và sự say sưa nhường chỗ cho nỗi khó chịu. Juliette lên tiếng đáp lại, cô hiểu rằng Camelia đang quan sát từng dấu hiệu thú nhận nhỏ nhất của cô.
 
- Nói gì thế! Cô đáp. Bọn em đã tìm thấy thứ cần tìm, và thứ đó khiến người ta lạnh xương sống...
 
- Đừng kể chuyện vớ vẩn nữa, nhất là với chị. Anh ấy thế nào?
 
Juliette cảm thấy ngượng ngùng hơn là khó chịu.
 
- Nhẹ nhàng, đó là từ duy nhất thoát ra khỏi đôi môi mím chặt của cô.
 
- Thấy chưa! Nếu nghe lời chị thì em đã không đánh mất biết bao nhiêu thời gian! Chị đã có lúc nói với em là phải tấn công, nhưng em có nghe chị đâu! Tốt rồi, hai người gặp lại nhau chưa?
 
- Tối nay.
 
- Tối nay ư? Thế mà em còn ngồi đó với bà cô Camelia này sao? Em nên tắm rửa, chọn đồ để mặc, sấy tóc, xịt một chút nước hoa dưới lớp ga giường, Camelia nói thêm, cố tình nhếch môi lên.
 
- Em không biết. Em cứ để mọi thứ tự nhiên, không che giấu những gì thực chất của mình, không gian dối.
 
Camelia bật dậy khỏi chiếc ghế bành cô đang ngồi.
 
- Em cổ lỗ quá đấy! Sạch sẽ và thơm tho, đó không phải là gian dối, mà là để thể hiện hết sức quyến rũ, quần áo là để tăng thêm giá trị của cái đang tồn tại, chứ không phải để che giấu khiếm khuyết, mặc dù... Với em thì chẳng có vấn đề gì. Hãy làm cho mình xinh tươi hơn, em rất hấp dẫn, em sẽ trở nên quyến rũ không thể cưỡng lại được!
 
Sự hào hứng của người bạn gái thân nhất hơn mình gần chục tuổi khiến Juliette rất thích thú. Cô mới hai mươi tư tuổi, lẽ ra cô phải hăng hái nói chuyện này, thế mà chính cô bạn đã ly hôn lại dạy cô bài học về sự quyến rũ.
 
- Không nói đến chuyện sống cùng nhau mười năm, Juliette ạ, nhưng phải luôn hấp dẫn để anh ấy không thể cưỡng lại được. Em chưa bao giờ đi ăn tối cùng một anh bạn mới toanh và thể hiện hết các điểm mạnh của mình, khiến anh ta nóng lòng vì ham muốn suốt bữa ăn, trong khi em cứ đủng đỉnh một cách quá đáng đúng không? Hãy nghe chị, không có gì giá trị hơn thú vui được nhìn thấy anh ta phải kiềm chế, được thấy sức ép tăng lên, được đùa giỡn với anh ta cho tới khi cảm thấy anh ta run lên vì ham muốn. Sau này, em sẽ không bao giờ có được một đêm đặc biệt như thế, hãy tin bà bạn phù thủy này nhé!.
 
Khuôn mặt Juliette trở nên vui vẻ.
 
- Em không biết đó có đúng là thứ mà em muốn...
 
- Hãy xử sự như một cô gái ở tuổi em! Như một người phụ nữ! Rõ ràng đây là điều mà em cần, em chỉ không muốn nhìn thẳng vào sự thật thôi. Em muốn biết ý kiến của chị ư? Chị nghĩ rằng em đang chạy trốn hạnh phúc vì em có cảm giác rằng vui vẻ vào lúc này là không đúng.
 
- Chị Camelia, một số phụ nữ có nguy cơ bị giết vào lúc này! Và kẻ giết người có thể là... có thể là một trong số bạn bè của Leland Beaumount, em nghĩ điều này cho em lý do để lo lắng.
 
- Và để em bỏ mặc cuộc sống của mình sao? Mỗi phút trôi qua đều có những phụ nữ bị hãm hiếp, những đứa trẻ bị tàn sát, em phản ứng thế nào đây? Suy sụp tinh thần ư? Đôi khi, nên ích kỷ một chút, đó chính là chìa khóa của niềm vui.
 
- Em không biết...
 
Camelia lại gần cô bạn gái.
 
- Juliette, cô nói bằng giọng dịu dàng hơn và đặt tay lên má Juliette. Chị không muốn thấy em phí phạm cuộc đời vì kẻ điên đó. Cách đây mấy tháng, chính em đã nói: ”Em không muốn kẻ đó tiếp tục hủy hoại em.” Nhưng hôm nay nghe em nói, chị không có cảm tưởng rằng nỗi đau đã qua đi. Hít một hơi thật sâu, vứt bỏ các bóng ma cũ và hãy vui sống. Chúc em hạnh phúc.
 
Juliette áp đầu vào vai Camelia.
 
- Cứ như là một màn quảng cáo cho giáo phái scientology ấy, cô thì thầm.
 
- Đồ ngốc!
 
Vài phút sau, Juliette đẩy cánh cửa ra vào rồi đi về Shenadoah Terrace để chỉnh trang bản thân và chuẩn bị tiếp đón Brolin.
 
***
 
Camelia tắt điện bếp và cuộn tròn trong chăn trước tivi. Ngón tay cô lướt trên các nút bấm cho tới khi cô phát mệt vì màn hình. Cô đi đi lại lại trong phòng khách, lưỡng lự không biết có nên nhóm lò sưởi không. 
 
Tội nghiệp Juliette, cô nghĩ. Một cô gái đặc biệt như vậy mà có thể sống phần còn lại của cuộc đời một mình vì không tìm được người xứng tầm! Thế thì còn gì là công bằng trên đời nữa? Tại sao một số người sinh ra đã xinh đẹp và thông mình, còn những người khác thì không?
 
Ý nghĩ về sự bình đẳng tuyệt đối luôn lôi cuốn Camelia. Có thể một người được sinh ra với vô vàn phẩm chất tốt đẹp, nhưng rồi sớm hay muộn, thiên nhiên cũng sẽ lập lại công bằng bằng cách đặt trên đuờng đi của người đó một chướng ngại vật khó vượt qua. Ví dụ như không thể có con, hay sống độc thân phần lớn cuộc đời, hay mắc bệnh nan y khi còn khá trẻ... Người ta không thể có toàn lợi thế mà không phải trả giá, như thế là không thể chấp nhận được đối với những người khác. Thiên nhiên đưa ra quá nhiều tiểu tiết, sự hoàn hảo và tính toán để không thể không bận tâm đến điều này. Nó sẽ không sinh ra những con người quá hoàn hảo để họ bị những người kém may mắn hơn sỉ vả nếu người ta không ngầm hiểu rằng tất cả sẽ tự cân bằng vào một lúc nào đó.
 
Và Juliette sẽ không thoát khỏi quy luật này. 
 
Suy nghĩ của Camelia vấp phải bìa của một cuốn sách phủ đầy bụi trên tủ bát đĩa.
 
Cuộc mưu phản của những kẻ ngu xuẩn của John Kennedy Toole.
 
Juliette đã tặng cô cuốn sách này và tin rằng cô sẽ thay đổi sau khi đọc nó. Tác giả đã viết cuốn sách với tất cả đam mê của nhà văn, và ông ấy tự sát khi biết rằng bản thảo của mình bị từ chối ở khắp nơi. Sau này, khi mẹ ông thuyết phục được một nhà xuất bản đọc nó, tác phẩm đã thành công vang dội và nhận được giải Pulitzer.
 
Số mệnh thật trớ trêu.
 
Giống như sự cân bằng tự nhiên.
 
Camelia tự hứa sẽ dành cả buổi tối để đọc cuốn sách và đi lên phòng tắm để tắm thật khoan khoái trước khi vào giường. Tắm trong hơi nước nóng thư giãn, trút bỏ mọi ưu phiền.
 
***
 
Juliette trải một chiếc khăn rộng màu xanh thẫm lên mặt bàn trong phòng khách. Sau khi suy nghĩ chín chắn, cô quyết định không gọi pizza hay món ăn Tàu đến nhà mà sẽ tự nấu nướng. Cô mất mười phút để tìm hai cái giá nến mà trước kia mẹ cô thường đặt trên lò sưởi và cuối cùng đã tìm thấy chúng dưới gầm một chiếc tủ. Cô kiểm tra lại lượng đồ ăn đủ để chuẩn bị một bữa ra trò cho hai người và đặt những thứ cần thiết lên mặt bàn soạn trong bếp.
 
Joshua sẽ tới trong vòng một giờ nữa, cô chạy nhanh lên gác chọn bộ đồ chỉnh tề nhưng vẫn quyến rũ. Cô định đi vào phòng tắm, nhưng bỗng thay đổi ý kiến và mở ngăn kéo đựng đồ lót. Về phần này cũng vậy, tốt hơn hết là không nên coi thường, một khi đã chăm lo đến vẻ bề ngoài, thì phải làm cho đến nơi đến chốn. Cô chọn một bộ màu đen không diêm dúa nhưng đường cắt khá sâu.
 
Cô đẩy cửa nhà tắm, nhanh chóng trút bỏ quần áo để đứng dưới vòi nước nóng.
 
***
 
Khu phố không đến nỗi vắng vẻ, ngược lại là khác. Nhưng các ngôi nhà đều rất rộng, có vườn bao quanh tách biệt nhà này với nhà khác. Cuộc sống chỉ quanh quẩn trong ánh sáng của tầng trệt các ngôi nhà, không có người qua lại.
 
Tốt lắm.
 
Hắn mở cửa xe bước ra và chỉnh lại cái mũ lính thủy đội trên đầu. Hắn rất thích cái mũ này, đây là một thứ đẹp đẽ mà hắn tìm được.
 
Hắn đi bộ trên vỉa hè, hai tay đút túi, ngắm nhìn cảnh thành phố sáng đèn ở xa xa, dưới chân đồi. Vừa đẹp vừa gớm ghiếc. Hằng hà sa số những vì sao trên mặt đất lấp lánh màu sắc sặc sỡ, nhưng quan trọng hơn là thứ gắn liền với nó: xã hội. Tất cả những con người sống trong mớ bòng bong của công việc, đời sống xã hội, của cái thiện và cái ác ấy. Họ biết gì về cái thiện và cái ác? Họ là ai mà có quyền biến cái thiện và cái ác thành những điều luật tất yếu? Họ là Thuợng đế chăng?
 
Không, nhưng họ thích tin vào điều đó. Hoặc thích trở thành như thế.
 
Người ta thường nói với hắn rằng “với mong muốn thay thế hình ảnh mờ nhạt và đang lung lay của Thượng đế, con người đã tạo ra tiến bộ khoa học. Khoa học là công cụ của con người để trở thành Thượng đế”.
 
Hiển nhiên là gã đàn ông đang bước đi trên vỉa hè trong đêm tối kia không có những suy nghĩ đó, không phải bằng những từ ngữ ấy. Hắn cố gắng thực hiện các suy nghĩ đó một cách đầy đủ nhất, khẳng định chúng và nhận xét chúng bằng từ ngữ của riêng mình, nhưng không thể rút ra được khái niệm. Vì thế sự điên dại của hắn lại càng tăng gấp bội.
 
Đằng xa, có tiếng chó sủa rồi im bặt ngay sau tiếng quát của người chủ. Gã đàn ông đội mũ lính thủy đứng yên một lát đủ để biết chắc rằng không ai có thể nhìn thấy mình. Không được có nhân chứng, Người ta đã nói với hắn như thế, điều này đóng vai trò cốt yếu với đoạn tiếp theo của nghi thức.
 
Hắn đi xuống phố khoảng một trăm mét và ngắm nhìn ngôi nhà rất to mà hắn đang tìm kiếm. Nhà rộng mênh mông, với những ô cửa sổ cao và rộng. Hẳn là ban ngày, có rất nhiều ánh mặt trời chiếu vào trong nhà.
 
Mọi thứ đều tối đen, trừ một ô cửa sổ nhỏ ở tầng hai, chắc chắn là nhà tắm, từ đó toả ra một quầng sáng yếu ớt trong đêm.
 
Hắn đi qua rặng cây râm và vòng qua nhà bên cạnh. Như vậy, hắn sẽ vào nhà từ cửa sau, tránh bị nhìn thấy.
 
Hắn đeo găng tay, rất quan trọng đấy! Người ta đã dạy hắn như thế. Găng tay giúp không bị nhiễm năng lượng âm khi hắn giải thoát linh hồn. Nhưng hắn thấy khó chịu khi không bỏ găng được một lát để chạm vào làn da đó, trong cả hai lần làm việc của hắn. Hắn từng định vuốt ve làn da đó, ít nhất là để thử bằng ngón tay xem bề mặt của nó thế nào. Nhưng rất nguy hiểm, tất cả có thể đổ bể nếu hắn làm như vậy.
 
Hắn đi dọc sườn trái của ngôi nhà rộng lớn, và như Người ta nói với hắn, hắn thấy một chiếc hộp kim loại nhỏ với sợi dây giày treo ở vách nhà. Lưỡi dao của hắn sáng loáng dưới ánh trăng thoáng qua, giống như một nhũ thạch bằng nước dá, và hắn cắt phăng sợi dây cáp. Không còn điện thoại nữa.
 
Cửa sau khóa chặt. Người ta không muốn có hắn ở đây. Hắn nghiến răng, nhưng cơn điên dại không hề dịu bớt. 
 
Cửa sổ bếp nhanh chóng bị phủ một lớp băng dính nâu to bản, và khi cán dao của hắn đập vỡ lớp kính, không một tiếng động nào phát ra.
 
Hắn vào bếp. Lớp da của găng tay hắn vuốt ve những tấm ảnh gắn trên cánh cửa tủ lạnh. Hắn hít thật sâu. 
 
Từ hệ thống ống nước của ngôi nhà vọng ra tiếng nước nóng bơm lên cao do áp suất.
 
Trên tầng, nước trong nhà tắm chảy trong đám hơi nước mù mịt, một phụ nữ vừa tắm vừa hát.
 
Cô không nghe thấy tiếng sàn gỗ kêu cọt kẹt, cũng không nghe thấy tiếng buớc chân từ từ leo lên các bậc thang.
 
Trong đêm khuya, hắn đặt tay lên bộ ngực mềm nhô về phía hắn. Làn da thật mềm, nhưng găng tay không cho phép hắn cảm nhận trực tiếp. Lại một lần nữa, hắn thèm rút một bên găng ra, vừa đủ thời gian để chạm vào bộ ngực đó, sờ nắn một chút, nắm nó trong lòng bàn tay của hắn.
 
Hắn nhìn lên và thấy khuôn mặt co dúm vì kinh hoàng và đang hấp hối, rồi cái trán bị bỏng vì hắn dùng axit để xóa hình ngôi sao năm cánh. Bí mật của hắn. Bí mật của chúng.
 
Hắn thấy trước mặt không phải là một phụ nữ, mà là một đồ vật. Một đồ vật không sự sống. Người phụ nữ này bị ham muốn mạnh mẽ của hắn biến thành đồ vật, cô là công cụ cho ảo ảnh của hắn, giống như một thứ đồ chơi mà người ta giấu kỹ để được hưởng thụ trọn vẹn, chỉ một lần duy nhất.
 
Hắn không cảm nhận được trái tim đang thoi thóp, hay những cơn co giật thần kinh của các cơ. Không. Chỉ có dấu hiệu mà hắn đã khắc lên trán là có ý nghĩa với hắn. Từ giờ trở đi, linh hồn không tồn tại nữa, chỉ còn lại lớp vỏ bọc da và thịt. Hắn muốn làm gì thì làm, cô gái là của hắn.
 
Đã thoát xác.
 
Chất thép lạnh của lưỡi dao lướt trên làn da trần trên đùi cô gái. Nó lướt dần lên trên, rất nhẹ nhàng và hắn cảm thấy bộ phận sinh dục của mình cương lên. Lưỡi dao mỏng cắt đi vài sợi lông mảnh như tơ trên cặp đùi láng bóng.
 
Một tiếng rên rất khẽ và thoảng qua phát ra từ cô gái nằm dưới nền nhà tắm. Hắn không hề để ý tới.
 
Hắn không thấy những giọt nước mắt chảy trên má cô khi con dao của hắn khiến cô rỉ máu.
 
Hắn chỉ cảm nhận đưọc niềm thích thú của riêng hắn.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 57
 
Sáng thứ Ba đến sớm bất ngờ, Brolin ngồi ở bàn ăn trong bếp, uống nhiều ngụm to nước cam ép. Còn sớm, Juliette vẫn đang ngủ và anh không dám đánh thức cô dậy. Họ vừa có một đêm tuyệt vời, ăn bữa tối với những thứ còn lại từ một nỗ lực nấu nướng không mấy thành công, thưởng thức loại rượu vang California tuyệt hảo trước lò sưởi rồi biến mất cùng với tình yêu trong phòng ngủ.
 
Brolin khoác áo vest da rồi đi ra chỗ chiếc Mustang. Hai cảnh sát mặc thường phục vừa gác vừa gà gật trong xe của họ. Brolin chào nhanh rồi đi về hướng trụ sở cảnh sát trung tâm.
 
Anh vào phòng làm việc, vội vã kiểm tra tin nhắn, mail và fax. Không có gì trong số những thứ anh hy vọng.
 
Anh ngồi vào ghế bành và xoay người nhìn về phía chiếc bảng to, trên đó anh đã ghi tất cả các kết luận hay tóm tắt về mô tả tâm lý và nhân dạng của hung thủ cùng các yếu tố điều tra. Từ đó, ánh mắt anh lướt dọc theo các bức tường, xuống dưới sàn và dừng lại ở bộ trò chơi điện tử phủ đầy bụi. Cho tới trước thời gian gần đây, công việc của anh từng vừa là cuộc sống riêng tư, vừa là việc để kiếm sống. Khi không tham gia điều tra, anh có thể ở đây bấm điều khiển, mắt chăm chú hướng về màn hình chờ đợi một tình huống khẩn cấp mới. Ở nhà, anh cũng không có việc gì bận rộn cả. Cuộc sống như thế cuối cùng sẽ đưa anh tới chỗ trở thành một cảnh sát già cô đơn sống với chiếc ti vi và những ký ức vô liêm sỉ.
 
Giờ đây, đã có thêm Juliette. Juliette dịu dàng và xinh đẹp. Anh không biết liệu câu chuyện có tốt đẹp không nhưng nó đáng để thử. Anh muốn điều đó.
 
Chiếc cặp nhựa hiện ra trong tầm nhìn của anh khiến anh lại nghĩ tới mẫu nước bọt đang đặt ở một ngăn nhỏ trong tủ lạnh. Anh phải đưa nó cho Craig Nova hoặc Carl DiMestro để từ đó xác định gien. Nhưng giờ đây, khi đã gặp lại Milton Beaumont, Brolin không nghĩ rằng ông ta có thể gây tội lớn. Con người đó rất kỳ lạ, thậm chí nguy hại, nhưng từ đó đi đến chỗ giết phụ nữ ư? Ông ta đã có tuổi, và nhất là bị hạn chế về mặt trí tuệ. Vả lại, ông ta còn đồng ý cho thử nước bọt mà không gây khó dễ gì, trong khi ông ta không buộc phải làm thế.
 
Lúc nào có dịp, anh sẽ đưa mẫu cho Craig.
 
Tiếng kêu của máy fax kéo Brolin ra khỏi trạng thái nửa đờ đẫn. 
 
Anh đứng phắt dậy và đọc luôn khi trang giấy còn chưa ra hết. Anh không tin nổi vào mắt mình. Bản fax được gửi đến từ văn phòng cảnh sát trưởng Beaverton, phía tây Portland.
 
"ĐÃ NHẬN DẠNG NẠN NHÂN TRONG RỪNG, KÈM THEO ĐÂY LÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐƯA RA NGÀY 8 THÁNG MƯỜI."
 
Tức là cách đây bốn ngày. Thế nhưng nạn nhân bị giết trong đêm 29 rạng sáng ngày 30 tháng chín, khoảng mười ngày trước đó. Brolin không kịp đợi mực khô, anh vội vã cầm lấy tờ giấy đầu tiên và đọc ngấu nghiến.
 
Hôm trước, Carl DiMestro đã gửi tới tất cả các cảnh sát trưởng của bang một bản fax và một e-mail đề nghị cung cấp thông tin liên quan đến "nạn nhân trong rừng", khuôn mặt nạn nhân đã được tái tạo một phần bằng silicon. Báo chí cũng nhận được một bản tương tự, một lời kêu gọi làm chứng kiểu như: "Nếu bạn biết cô gái này hoặc đã từng nhìn thấy cô gái này, hãy liên hệ với...."
 
Một cảnh sát Beaverton đã đọc được thông báo ngay khi nó được dán lên tường và liên tưởng tới tấm ảnh mà hai cô gái vừa mới cho anh xem.
 
Cô gái tên là Anita Pasieka, hai mươi sáu tuổi.
 
Những phút tiếp theo, Brolin biến thành cái máy: chạy, gọi điện, tập hợp thông tin. Khoảng chín giờ, Bentley Cotland đến gõ cửa hỏi xem có giúp được gì cho anh không, vì anh ta đến đây để học việc, thế là Brolin giao cho anh ta việc phân loại tài liệu, công việc không quá sức đối với một trợ lý chưởng lý tương lai. 
 
Cuối buổi sáng, Brolin đề nghị Lloyd Meats và Salhindro đến gặp anh ở phòng làm việc. Bentley Cotland nhìn họ bước vào, một tay đặt trên chồng tài liệu đã phân loại, nét mặt lộ rõ vẻ tự hào. Brolin chăm chú nhìn Meats khi nhận thấy rằng phó phòng không còn bộ râu ngắn màu đen nữa.
 
- Lẽ nào cậu đã giảng hòa với lũ ma quỷ? Viên thanh tra trẻ ngạc nhiên hỏi. Đến mức không phải trốn sau tấm rèm bảo vệ nữa?
 
Giọng anh muốn tỏ ra thân mật và đùa vui, thực ra anh không chờ đợi câu trả lời, nhưng Meats cảm thấy mình có quyền bào chữa:
 
- Vợ tôi cứ kêu ca suốt từ mùa hè đòi tôi phải cắt nó đi. Thần kinh của tôi đã phải nhân nhượng! 
 
- Chính vì thế mà tôi sống một mình! Salhindro thốt lên, tay vỗ vỗ vào chiếc bụng phệ.
 
Brolin đóng cửa lại.
 
- Thế này, chúng ta có tin mới. Nhưng trước tiên, cuộc điều tra về vụ đào mộ Leland Beaumont đến đâu rồi?
 
Meats thở dài, bẻ khớp tay răng rắc.
 
- Rất tiếc không tìm ra điều gì quan trọng. Cả ngày hôm qua, tôi đã hỏi tất cả các nhân viên làm việc ở nghĩa trang, tất cả những người làm việc ở đây từ năm ngoái, nhưng không ai khai báo được gì. Họ khẳng định rằng người ta có thể bí mật và vì một động cơ nào đó mà đào mộ lên và lấy xác ra, rồi lấp lại mà họ không hay biết, nhưng với điều kiện là mộ mới chôn, nếu không đất bị đào xới sẽ làm lộ vụ việc.
 
- Trừ khi bọn ăn cắp xác làm việc đó vào một đêm trời mưa, Bentley nhận xét.
 
- Chính xác, một người đào huyệt cũng nói với tôi như vậy, nhưng đào dưới trời mưa mất thời gian và công sức gấp đôi. Tôi biết một chuyện, anh định nói thêm khi nghĩ tới chuyện khai quật, nhưng lại thôi. - Và người ta không thể nghe thấy ai đang tới, kể từ người bảo vệ đi tuần tra trở đi. Thật là thuận lợi cho kẻ nào muốn hành động bí mật.
 
- Vậy thì có thể cho rằng ngôi mộ đã bị đào lên trong những tuần đầu tiên sau khi chôn cất, Brolin kết luận. Chúng đã lập kế hoạch từ lâu...
 
Anh nguệch ngoạc vội vài dòng vào cuốn sổ.
 
- Được, vậy anh có thể cho chúng tôi biết anh đã tìm thấy gì không? Meats đề nghị.
 
- Tôi chẳng làm được gì cả, đây là công lao của một cảnh sát trưởng trẻ có năng khiếu quan sát. Nạn nhân đầu tiên đã được nhận dạng.
 
Hai cảnh sát ngồi yên lặng.
 
"Sáng nay, Brolin nói tiếp, một người ở hạt Washington đã chính thức nhận ra khuôn mặt của nạn nhân thứ nhất trên một tấm ảnh được gửi tới tất cả các cảnh sát trưởng trong vùng. Chính phó cảnh sát trưởng Hazelwood đã nhận dạng được. Trước đó bốn ngày, vào thứ sáu ngày 8 tháng 10, có hai cô gái tới trình báo về việc Anita Pasieka, cô gái cùng thuê nhà với họ, mất tích. Hai cô này vừa đi Mexico về và ngạc nhiên vì đến tối mà không thấy Anita đâu. Họ chờ qua hai mươi tư tiếng rồi mới đi trình  báo về sự vắng mặt bất thường của bạn mình. Hazelwood đã ghi lại lời khai của họ và nhận tấm ảnh Anita mà họ mang tới. Sau đó, không có thêm gì nữa. Cảnh sát đã liên lạc với gia đình Anita ở bang Illinois, nhưng cô không ở đó. Sáng nay, Hazelwood đi qua trước bảng tin và bỗng nhận ra khi nhìn thấy tấm ảnh mà chúng ta gửi qua mail. Đều là một người.”
 
- Ở đâu trong hạt? Salhindro hỏi.
 
- Ở Beaverton.
 
- Ngay cạnh đây thôi, ông nói. Gia đình đã được thông báo chưa?
 
Giọng Brolin trở nên trầm hơn.
 
- Bố mẹ cô ấy đã tới và đang ở chỗ cảnh sát trưởng Beaverton.
 
Họ chia sẻ nỗi đau với gia đình nạn nhân trong im lặng.
 
- Tôi đã thu thập nhanh tối đa thông tin về Anita Pasieka, Brolin nói tiếp; giọng khô khan hơn trước. Có lẽ phải mất một thời gian dài mới xác định được chính xác địa điểm và thời gian cô gái gặp kẻ sát nhân, quá nhiều thời gian đã trôi qua, tôi sợ là như vậy.
 
- Chúng ta có gì để đối chiếu không? Meats hỏi nhưng không mấy hy vọng.
 
Lloyd Meats làm cảnh sát hình sự từ khá lâu, đủ để có kiến thức tối thiểu về những kẻ giết người hàng loạt. Anh đã tham gia điều tra vụ Green River Killer với tư cách là một trong nhiều thanh tra nhận nhiệm vụ này hồi đó. Những kẻ giết người hàng loạt cực kỳ khó bị bắt chỉ đơn giản vì cách chọn nạn nhân của chúng. Chúng không bao giờ chọn một người quen biết để giết như phần lớn những kẻ giết người khác, mà chúng giết một cách ngẫu nhiên. Một phụ nữ qua đường quá giống với sự lý tưởng hóa ảo tưởng của chúng, và thế là trở thành một con mồi mới, không có bất cứ mối liên hệ nào với kẻ giết người. Thế nhưng cũng có kẻ giết người hàng loạt hành động theo một sơ đồ, một dữ liệu cụ thể và nhất quyết làm theo vì đó là một phần không thể thiếu trong ảo tưởng của hắn. Trong trường hợp đó, hắn có thể luôn luôn giết người ở cùng một kiểu địa điểm, hay chọn cùng một kiểu phụ nữ, hay giết người vào cùng một thời điểm trong ngày, để lại cho các điều tra viên một hướng để bám theo và lột mặt nạ của hắn. Đó là một cách đối chiếu, tìm một chi tiết nối các nạn nhân với nhau bằng cách này hay cách khác.
 
Brolin cầm lấy một tập bìa cáctông trong đống trước mặt Cotland.
 
- Đây chính là thứ mà tôi muốn cho các anh xem. Có một mối đối chiếu, và không hề tầm thường, Elizabeth Stinger, nạn nhân thứ hai, làm việc cho một công ty người mẫu hơi đặc biệt. Công ty này bán hàng qua bưu điện và nhằm vào đối tượng phụ nữ thuộc mọi lứa tuổi, chủ yếu là phụ nữ làm nội trợ. Vì thế họ thực hiện một cuốn catalogue với các người mẫu thuộc mọi lứa tuổi, mọi vóc dáng, để thu hút sự chú ý của tất cả mọi người, từ bà nội trợ năm mươi tuổi đến cô con gái của bà ta, hay người hàng xóm nằm giữa hai lứa tuổi đó. Elizabeth còn làm vài việc lặt vặt khác để kiếm sống, nhưng cô kiếm tiền chủ yếu nhờ vào hợp đồng làm người mẫu cả năm với công ty này. Và Anita Pasieka cũng làm công việc như thế ở cùng công ty này.
 
Salhindro rút từ túi ngực ra một bao thuốc lá.
 
- Mẹ kiếp... Ông vừa nói vừa đặt một điếu Newport vào giữa hai môi. Khó có thể là một sự trùng hợp. 
 
Lloyd Meats chìa tay về phía Salhindro, ông đặt một điếu thuốc vào giữa hai ngón tay Meats. Mặc dù rất thèm, nhưng Brolin chỉ có thể hít những làn khói nicotin, và mong muốn sâu sắc được hít căng hai lá phổi những điếu thuốc chết người kia chợt xâm chiếm anh. Nếu ở bên họ quá lâu, thì hẳn cuối cùng anh cũng sẽ phải lùi bước. Đột nhiên, anh thấy hăng hái với ý nghĩ phải sớm tổ chức một cuộc họp quan trọng để thúc đẩy cuộc điều tra vì anh không chịu nổi mùi thuốc lá. Anh là loại người gì mà yếu đuối đến thế? Anh lấy lại tinh thần ngay lập tức và ý chí của anh lại trở nên vững chắc.
 
- Có nghi ngờ, nhưng đó thực sự là một điều ngẫu nhiên đặc biệt, anh đáp. Công ty này khá lớn, họ có khoảng một trăm nhân viên. Tôi đã gọi đến đó và sắp tới giờ hẹn gặp rồi.
 
- Hung thủ có thể là một trong số các nhân viên, anh có nghĩ thế không? Meats hỏi.
 
- Quan hệ gần gũi khá dễ xảy ra và có thể lý giải được. Hắn lựa chọn trong số những người mà ngày nào hắn cũng nhìn thấy. Hắn hoặc Quạ. Nhưng trí thông minh của Quạ cao hơn sự giản đơn đó nhiều, hắn biết sớm hay muộn chúng ta cũng sẽ đối chiếu. Nếu như hắn không bận tâm về điều ấy, thì đó là do hắn cho rằng chúng ta không thể mò ra hắn bằng hướng đi này, vì vậy rất ít khả năng hắn có mối quan hệ trực tiếp với doanh nghiệp nói trên. Dù thế nào, cũng vẫn phải khai thác. Tôi chạy đi gặp người quản lý của Fairy's Wear, để biết thêm thông tin về các nạn nhân, sau đó tôi sẽ qua văn phòng của cảnh sát trưởng Beaverton để gặp gia đình Anita Pasieka. 
 
Mặc dù nghề nghiệp của ông rất căng thẳng, nhưng Salhindro đã tự tạo cho mình một lớp vỏ ngoài giúp ông luôn tìm đuợc một chút hài hước - cho dù nhỏ nhất - trong những lúc khó khăn. Đây chính là cách của ông - cũng giống như rất nhiều cảnh sát ở khắp nơi trên thế giới - để tự giảm áp lực.
 
- Fairy's Wear (trang phục dành cho tiên nữ; nhưng fairy trong tiếng lóng còn có nghĩa là "kẻ loạn dâm" hoặc "kẻ đồng tính")? Nếu là anh, tôi sẽ dè chừng khi tới gặp người quản lý một nơi như thế!
 
Brolin không đứng dậy mà cúi người về phía Cotland.
 
- Anh đi cùng tôi không? Chúng ta sẽ bới tung lên để tìm kiếm mối liên hệ giữa Elizabeth Stinger và Anita Pasieka.
Bentley Cotland gật đầu mà không tin chắc lắm.
 
***
 
Philip Bennet quản lý công ty Fairy's Wear từ mười bảy năm nay. Ông chưa bao giờ thấy cảnh sát tới văn phòng mình. Ông luôn nộp đầy đủ tiền phạt, hoàn thành các nghĩa vụ công dân và không có lý do gì để lo lắng về bất cứ một động cơ bất hợp pháp nào. Khi thanh tra Brolin ở Phòng điều tra tội phạm tới gặp ông cùng với trợ lý chưởng lý, Philip biết  ngay rằng chuyện đó không liên quan đến ông ít nhất là không trực tiếp. Họ đến vì chuyện của Elizabeth Stinger, và trống ngực ông lại đập mạnh liên hồi.
 
Với lượng cân dư thừa quá mức, ông khó chịu đựng được những cảm xúc mạnh, và càng khó chịu đựng hơn từ khi ông hút thuốc trở lại, điều vốn chẳng có lợi cho bệnh rối loạn nhịp tim của ông. Lòng tốt quá mức là điểm yếu nơi ông, sớm hay muộn nó cũng sẽ làm ông thua lỗ, đây chính là tình cảnh nước đôi của những người có lòng nhân từ trong xã hội tiêu thụ. Và tình cảnh ấy sắp tiến đến gần một cách vô cùng nhanh chóng khi viên thanh tra báo cho ông biết về cái chết của cô bé Pasieka.
 
Ông có nhiều nhân viên, nhưng ông nhớ được cô vì cô làm việc cho ông từ ba năm nay. Fairy's Wear đều đặn mời cô chụp ảnh, và bây giờ nghĩ lại, ông thấy cô không được gọi đã nhiều tuần nay. Kiểm tra lại kế hoạch, Philip khẳng định với viên thanh tra rằng cô phải làm việc vào thứ bảy tuần sau. Rất bình thường khi không một ai ở đây lo lắng vì không có tin tức gì của cô.
 
Anita Pasieka với những lọn tóc vàng.
 
Sao lại là cô ấy? Cô ấy rất tốt bụng, rất dễ thương.
 
Ba ngày trước, khi biết tin Elizabeth Stinger bị sát hại, Philip đã không nhắm mắt nổi suốt đêm. Ngay hôm sau, trong cả ngày Chủ Nhật, ông cố gắng liên lạc với gia đình Stinger, ông biết Elizabeth có một cô con gái nhỏ, và ông muốn chắc chắn rằng con bé được chăm sóc tốt.
 
Quả là một cú sốc khi biết tin hai nhân viên bị sát hại trong vòng chưa đầy một tuần.
 
Ngồi đối diện với ông, Brolin chìa cho ông tấm ảnh chụp một khuôn mặt có thể nói được tạc bằng nhựa đục và sơn màu thịt.
 
- Vâng, đúng là cô ấy, ông khẳng định. Nhưng khuôn mặt cô ấy... cứ như làm bằng nhựa tổng hợp trên tấm ảnh này...
 
- Ông Bennet, các nhân viên nữ của ông làm việc theo chế độ nào? Họ có hợp đồng cả năm hay chỉ được gọi theo vụ việc?
 
Vẫn còn bị sốc, Philip Bennet phải dùng khăn mùi soa lau trán để lấy lại minh mẫn.
 
- À... Những người là hạt nhân cứng có hợp đồng cả năm. Họ gồm ba mươi hai người. Họ làm mẫu cho catalogue của từng tháng, tham gia vài cuộc trình diễn trong các buổi dạ hội của các thành viên và có mặt trong hai cuốn catalogue hàng năm của chúng tôi. Ngoài ra còn có một số người mẫu được tuyển theo thời hạn, và khoảng năm chục người thỉnh thoảng được gọi làm việc, chủ yếu cho catalogue mùa hè và mùa đông.
 
- Anita Pasieka và Elizabeth Stinger có thuộc nhóm “hạt nhân” không?
 
Philip xác nhận, chiếc cằm nảy lên dưới tác động của cảm xúc.
 
- Vâng... Ồ họ còn làm những việc lặt vặt khác nữa, chúng tôi không thể đảm bảo cho họ cả một gia sản vì chỉ thỉnh thoảng mới mời họ làm việc, nhưng tính đến nay họ đã làm việc trong công ty qua nhiều mùa rồi.
 
Bennet mở chiếc ngăn kéo nặng bằng thép và lấy ra một cuốn catalogue. Ông giở nhiều trang và dừng lại khi đến chỗ cần tìm.
 
- Đây, anh nhìn đi, Anita ở đây. Đây là cuốn catalogue mới nhất của chúng tôi, catalogue mùa hè. Elizabeth ở trước trang này ba trang.
 
Ông đưa cuốn catalogue cho Brolin. Anh ngắm nhìn nụ cười không tự nhiên của Anita Pasieka. Mặt giấy láng bóng làm mất vẻ hoạt bát của cô gái trẻ, nhưng lại khiến Brolin như thấy lại bên trong ngôi nhà hoang. Vết mốc, bóng tối đen kịt mà chỉ những bó đuốc lớn mới xuyên thủng được, và khuôn mặt bị bỏng axít của cô gái tóc vàng trên tấm ảnh.
 
Anh đưa catalogue cho Bentley, anh ta cũng quan sát kỹ càng bức ảnh.
 
- Thời gian gần đây, hai cô gái này có nói với ông về nỗi lo sợ hay nghi ngờ gì không? Thanh tra Brolin hỏi.
 
- Sao lại thế được? Họ không kể chuyện đời tư với tôi. Thực ra, tôi không gặp gỡ họ, tất nhiên là tôi rất quý nhân viên, nhưng tôi chỉ như một con chó canh đàn cừu thôi. Tôi... Tôi hơi gia trưởng, nhưng không đến mức can dự vào cuộc sống của họ.
 
- Họ có nói với ông về một người nào đó đang theo dõi họ, hay một cú điện thoại nặc danh, hay một chuyện gì đó tương tự như thế không?
 
- Không, hoàn toàn không. Một lần nữa, tôi khẳng định với các anh: chúng tôi chỉ hơi quen biết nhau thôi.
 
Brolin gật đầu, tỏ ý đồng tình.
 
Anh chỉ những phòng khác ở bên kia hành lang.
 
- Toàn bộ Fairy's Wear đều ở đây phải không? Tất cả xuất phát từ đây phải không?
 
- Không, đây chỉ là trụ sở. Ở đây chúng tôi quản lý hành chính, đơn đặt hàng, hồ sơ khách hàng... Nhưng chúng tôi còn có một nhà kho ở Vancouver để chứa hàng hóa, và một phòng chụp ảnh ở phía bắc Portland.
 
- Nơi Elizabeth Stinger đã làm việc trong ngày cô mất tích.
 
Ông quản lý gật đầu, vẻ mặt rầu rĩ.
 
- Ông Bennet, có phải ông biết tất cả các nhân viên, tôi muốn nói là có phải ông tham gia tuyển chọn họ không?
 
- Phần lớn. Nhất là ở đây, ở trụ sở, nhưng sao vậy?
 
- Có thể cho tôi xem danh sách toàn bộ nhân viên được không?
 
- Vâng, tôi sẽ cho mang tới thật nhanh. Ô... (Miệng người quản lý tròn lại thành hình chữ O, đôi lông mày chau lại, thể hiện thái độ của một người chợt nhận ra rằng mình vừa phát ngôn điều gì đó trầm trọng.) Anh nghĩ là kẻ sát nhân nằm trong số chúng tôi hay sao?
 
- Tôi không biết. Rất có thể.
 
Một cơn rùng mình mạnh làm rung lớp mỡ của Philip Bennet.
 
Brolin đang định nói thêm rằng không nên coi nhận xét này là quá nghiêm túc, rằng khó có thể có chuyện đó, thì Bentley Cotland bật lên khỏi ghế.
 
- Chờ một phút! Anh ta kêu to. Hãy nhìn đây, Joshua.
 
Anh ta đặt cuốn catalogue lên mặt bàn làm việc và lần lượt giở trang ảnh của Anita Pasieka, rồi đến trang có ảnh của Elizabeth Stinger.
 
- Anh không nhận thấy điều gì sao?
 
Brolin chăm chú nhìn cả hai trang. Anita trẻ hơn, ít hơn khoảng mười tuổi. Với nét mặt khá dễ thương, cô thể hiện một cách hoàn hảo hình ảnh một cô gái trẻ năng động vừa tốt nghiệp. Elizabeth cũng thể hiện sự năng động đó, nhưng với kiểu khác. Kiểu một người mẹ trẻ trong trang phục nhã nhặn, mặc dù chiếc váy khá ngắn.
 
Váy ngắn.
 
Brolin lật đến trang có ảnh Anita.
 
Áo không tay.
 
Sao anh lại không nhận ra nhỉ? Anita để lộ đôi tay trần trước mắt khách hàng, còn Elizabeth để lộ đôi chân.
 
Đây chính là những bộ phận bị chặt mất.
 
- Thấy rồi, Bentley ạ. Quá rõ rồi...
 
Kẻ sát nhân đã thấy những tấm ảnh này. Và hắn đã chặt đi những bộ phận để trần trước ánh đèn flash.
 
Hắn chọn các nạn nhân của mình qua một cuốn catalogue, giống như người ta chọn đồ ăn trong tủ kính của siêu thị.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 58
 
Liệu có thể cắt nghĩa tỉ mỉ tình yêu được không? Liệu có thể định lượng, định tính tình yêu, khiến nó mất đi mọi quyền năng bí ẩn và đánh mất phép thuật vốn làm chúng ta sợ hãi đến thế bởi không thể hiểu được và không thể chế ngự được nó?
 
Juliette tự hỏi như vậy trong khi nằm dài trên một trong những chiếc sofa lớn trong phòng khách. Một thanh củi nặng đang cháy và gãy ra trong lò sưởi, làm ấm căn phòng rộng mênh mông và cả tâm hồn của cô gái đang lúng túng với vô vàn câu hỏi.
 
Mới tối hôm qua thôi, cô còn tự thuyết phục bản thân rằng cô “chỉ thân thiết” với Brolin, nhưng giờ đây, cô đặt ra cho mình những câu hỏi với một sự chân thành đáng ngạc nhiên. Cô đang dấn sâu vào mối quan hệ với viên thanh tra trẻ, như thể cuộc đời cô chỉ còn xoay quanh chuyện đó từ vài ngày nay, nhưng lần này cô không tìm cách chạy trốn chủ đề đó. Tình cảm chính xác của cô đối với Joshua Brolin là gì? Cô thấy thoải mái khi ở bên anh, nhưng điều này có kéo dài không? Họ vui vẻ và say sưa dần khám phá nhau, nhưng đến một lúc nào đó, họ sẽ thấy nhau ít bí ẩn hơn, nhiều thực tế hơn. Lúc ấy sẽ thế nào? Tình yêu – vì đây chính là nó, cho dù chỉ mới nảy nở – liệu có phải quyền năng đến thế, đẹp đẽ đến thế và đáng ao ước đến thế bởi nó rất ngắn ngủi không?
 
Juliette vớ lấy một cái gối dựa và máy móc ném qua đầu mình.
 
- Đừng tự tra tấn nữa, đứa con gái đáng thương ạ! Cô thì thầm. Hãy sống với cái mà mày có, nhận lấy khi nó tới. Và chỉ đón nhận hạnh phúc trong đó, tận hưởng mà không e sợ gì.
 
Đoạn độc thoại khiến cô buồn cười. “Phải ghi lại để vài năm nữa kể cho con mình nghe mới được!” Cô nghĩ với chút mỉa mai. Cô từng nghĩ đến tương lai chết già một mình, giờ đây lại nói tới chuyện con cái!
 
Buổi chiều sắp kết thúc, cái lạnh tháng Mười càng thêm buốt giá. Juliette bắt chéo tay dưới đầu. Cô cần phải tìm cho mình động cơ để đi học bài, sau buổi học sáng nay ở trường, cô nhận ra mình đã tụt hậu đến mức nào trong thời gian gần đây.  Nhưng mới chỉ là học kỳ một thôi mà!
 
Chuông điện thoại đổ, Juliette giật mình.
 
Cô thở dài vì bực bội rồi ngồi dậy nghe điện thoại di động.
 
- Alô?
 
- Cô Lafayette phải không?
 
Giọng nói rất kỳ lạ, đục và xa xôi, giống như có một chiếc khăn mùi xoa dày bịt ở ống nghe.
 
- Vâng…Ai đấy?
 
- Hãy nghe cho rõ, ta không nhắc lại đâu.
 
Thật khó chịu khi không xác định được người nói là đàn ông hay phụ nữ, giọng nói không có âm sắc đặc trưng, có thể là một phụ nữ giọng khàn, hoặc một người đàn ông không vỡ tiếng.
 
- Chúng muốn đùa với ta. Nói với cảnh sát đây là lỗi của chúng. Ta khuấy động Địa ngục vì chúng không tôn trọng ta. May mắn cho cô, cô Lafayette ạ, ta đã lưỡng lự nhiều với cô, cuối cùng, ta đã chọn một người khác.
 
- Ngươi là ai? Juliette mất bình tĩnh.
 
- Không quan trọng, ta ở đây để hoàn thành số mệnh của mình. Nhưng hãy lo cho người thân của cô thì hơn…
 
Tiếp đó là tiếng cười lạnh lùng và đứt quãng, tiếng cười của một kẻ không cho phép bản thân tự do thể hiện bất cứ cảm xúc nào, một kẻ chế ngự mọi trạng thái tình cảm, không hề để lộ mưu đồ. Tiếng cười quá hiếm hoi chỉ có thể mang đầy toan tính xấu xa.
 
- Ngươi…
 
- Im đi! Nói với cảnh sát rằng chúng không tóm được ta nữa đâu, không bao giờ!
 
Hắn cúp máy.
 
Juliette vẫn đứng yên thêm một lát với chiếc điện thoại trong tay, nước mắt rưng rưng, nhưng không dám trào ra. Hắn là ai? Tại sao hắn lại gọi cho cô? Trong đầu cô bật lên hàng nghìn lời giải thích ít nhiều làm yên lòng, nhưng cô không thể ngăn mình run rẩy như một chiếc lá khô mà gió cố giật khỏi cành. Có thể một kẻ điên rồ có được số điện thoại của cô và dọa cô một phen, hay chỉ là một nhóm sinh viên ác ý đã cá cược nhau những trò quái đản.
 
Thế nhưng giọng nói ấy không có vẻ gì giả dối cả. Rất căng thẳng, đầy hận thù. Sau đó Juliette mới nhận ra sự tự tin, tự hào vô cùng, “chúng không tôn trọng ta”, “chúng không tóm được ta nữa đâu, không bao giờ!”. Hắn rất nguy hiểm. Hắn kìm nén mọi cảm xúc, chỉ để lộ ra những gì hắn đã kiểm soát, giấu kỹ những thứ còn lại, tích mãi tích mãi cho đến khi bão hòa.
 
Juliette nhắm mắt lại và ngay lập tức cô thấy một trong những kẻ một ngày nào đó vứt bỏ những gì còn lại của cuộc sống và phá bỏ mọi rào cản xã hội bằng cách hạ gục tất cả những ai có thể khơi sâu óc báo thù đó. Những Charles Whitman, Gene Simmons, hay Howard Unruh tiềm tàng…
 
Không phải một trò đùa ác.
 
“Hãy lo cho người thân của cô thì hơn…”
 
Juliette sững người. Ngay lập tức, một khuôn mặt hiện lên trên võng mạc của cô. Cô vội chạy ra sảnh và lao ra ngoài, không kịp xỏ giày.
 
Gary Seddon và Paul O’Donner đang canh gác trước số nhà 2885 Shenandoah Terrace, để giám sát – hay bảo vệ, tùy theo cách nói của mỗi người – cô, Juliette Lafayette. Gary hững hờ cắn vài miếng bim bim  để cho có việc chứ không phải vì đói. Khi thấy Juliette đột ngột lao như tên bắn ra khỏi nhà, chân lại còn đi đất, anh vội quẳng cái gói xuống sàn xe và lao ngay ra ngoài.
 
- Cô Juliette! Có chuyện gì thế? Anh vừa kêu to vừa chạy sang đường.
 
Các ngón tay phải của anh vung mạnh, sẵn sàng bật về phía bao súng và khẩu Beretta 9 li đang nằm yên trong đó. Nhưng động cơ của chiếc Coccinelle cũ kỹ đã phụt khói và chồm lên phía trước.
 
Gary quay lại phía đồng nghiệp của mình rồi vội chạy vào xe.
 
- Hãy gọi tổng đài trung tâm, nói với thanh tra Brolin rằng cô gái được bảo vệ đã đi khỏi, và cô ấy đang trong tình trạng không bình thường.
 
Anh giẫm nát mấy miếng bim bim trên sàn xe rồi xoay chìa khóa khởi động.
 
Juliette đến phía Bắc phố 32 chỉ sau vài phút. Cô nhấn ga mạnh đến nỗi khó phanh lại trước ngôi nhà nằm bên trên khu phố và cũng chẳng để ý đến cảnh đẹp lộng lẫy của Portland nhìn từ đỉnh đồi. Cô chạy đến tận thềm nhà, bấm chuông và đập mạnh. Không thể chờ đợi thêm nữa, cô lấy chiếc chìa khóa mà Camelia đã đánh thêm cho cô và mở cửa. Nghĩ về người thân của mình, cô không chần chừ một giây nào. Vì có quá ít người thân, nên cô dễ dàng biết ngay đó là ai. Cha mẹ cô ở rất xa, họ sống trong một thế giới khác, dưới ánh mặt trời êm dịu ở Califonia. Brolin mới bước vào cuộc đời cô – và hoàn toàn có thể tự vệ được; chỉ còn lại duy nhất một người.
 
Cách đó vài mét, một chiếc xe Ford móp méo dừng lại, hai thanh tra “bảo vệ” cô bước ra, ngơ ngác.
 
Juliette đứng ở sảnh, đôi chân trần trên sàn gỗ lạnh.
 
- Chị Camelia? Cô gọi. Chị Camelia, chị ở đâu?
 
Cô lao vào phòng khách, phòng ăn, và tim cô ngừng đập một nhịp khi cô vào tới bếp.
 
Một ô kính bị vỡ, nhiều mảnh nhỏ rơi trên sàn, dính đầy băng dính màu nâu. Một ô kính của cửa sau.
 
Ôi, không, không phải thế. Cầu mong không phải như thế…
 
Juliette chăm chú quan sát căn phòng. Không vết máu, cũng không vết vật lộn.
 
Dấu hiệu tốt, có lẽ Camelia đã tự đập ô cửa kính để vào nhà. Chị ấy quên chìa khóa chăng?
 
Nhưng chính cô cũng không tin.
 
Cố chú ý để không giẫm đôi chân trần lên mảnh kính sắc nhọn, cô cầm lấy một con dao làm bếp dài và lại gần cầu thang.
 
Cô không gây một tiếng động nhỏ nào khi đi lên tầng hai. Cầm dao chĩa về phía trước, Juliette sẵn sàng đâm thủng bụng bất cứ kẻ nào hiện ra từ một cái tủ hay từ sau tấm rèm. Cô đến cửa căn phòng chính và nhẹ nhàng đẩy cửa bằng đầu ngón chân.
 
Không có gì.
 
Hay đúng hơn là có, một mùi hôi tỏa khắp phòng. Mùi vẫn còn khá nhẹ nhưng đủ để gây cảm giác buồn nôn.
 
- Cô Juliette? Này?
 
Đó là một trong hai thanh tra đang ở bên dưới, hẳn là trên thềm nghỉ. Juliette không đáp lại và tiến vào trong phòng.
 
Mùi bốc ra từ phòng bên cạnh, qua cánh cửa thông nhau. Đó là phòng tắm. Cánh cửa hé mở, Juliette thò đầu vào giữa mép cửa và tường, ngón tay siết chặt cán dao.
 
Mùi hôi xoáy tròn và bám dọc theo thành họng cô như một lớp đờm hôi thối.
 
Chính vào lúc đó, mũi dao cắm mạnh xuống sàn gạch, rồi lưỡi dao kêu loảng xoảng trong không khí phát buồn nôn.
 
Trong tư thế kỳ cục, Camelia nằm ngửa, hai cánh tay co quắp, da bị cháy từ bắp chân đến ngực. Đùi cô giống như tảng thịt để quá lâu trong lò nướng. Da cô bị tróc thành nhiều lớp cháy đen, dễ vỡ như các ngôi tháp của một tòa lâu đài bằng cát khô. Có thể thấy rõ các rãnh tĩnh mạch vẫn còn đỏ xen lẫn với các đường nứt trên thịt cháy khét.
 
Camelia chỉ bị cháy một phần vì lửa cháy trên tấm thảm phòng tắm đã bị tắt khi gặp sàn gạch, để lại một vết đen lạ lùng giữa không gian tinh khiết này.
 
Nhìn từ trên xuống, cảnh tượng giống như một bức tranh của Motherwell với vết đen không phù hợp nằm giữa một cảnh gần như vô cùng bình thường của cuộc sống. Có điều ở đây, cái chết đã tước đi mọi thứ bình thường của cuộc sống.     
 
Tay nắm cửa kêu ken két dưới sức ép của các ngón tay Juliette.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 59
 
Bentley Cotland và Joshua Brolin cùng ngồi trong chiếc Mustang, luồn lách giữa các làn xe trong đường cao tốc số 8 nối liền Beaverton và Portland. Họ không nói gì, cả hai cùng đang chịu đựng nỗi đau mà họ vừa chia sẻ. Họ đã gặp bố mẹ Anita Pasieka ở văn phòng cảnh sát trưởng và Brolin tỏ ra rất đồng cảm, nhưng cũng rất chuyên nghiệp, anh không quên đặt những câu hỏi cần thiết, dường như trong đầu anh luôn thường trực công việc điều tra, ngay cả khi anh thể hiện lòng dũng cảm và sự cảm thông. Bentley rất ngưỡng mộ điều này. Làm thế nào mà Brolin luôn có được ý thức như vậy, nói lời an ủi để đạt được một câu hỏi xác đáng? Ngay cả khi cách xử sự của Brolin không phải lúc nào cũng hợp ý anh, nhưng Bentley phải thừa nhận rằng có lẽ Brolin là một thanh tra cừ khôi.
 
Nếu có một chút khoảng lùi và một chút lương tri, hẳn Bentley sẽ không tỏ ra ngưỡng mộ mà sẽ tỏ ra khiếp sợ dấu hiệu vô liêm sỉ đó. Nhưng cái là điểm yếu trong mắt một số người lại được một số người khác coi như phẩm chất.
 
Viên trợ lý chưởng lý trẻ tuổi không thể kiềm chế lâu hơn nữa, và khi ý thức được rằng không phải lúc nào cũng có một người đồng hành dễ chịu, anh ta cảm thấy buộc phải khen ngợi Brolin:
 
- Anh… Cách anh tiếp xúc với bố mẹ nạn nhân vừa rồi khiến tôi rất ấn tượng. Anh làm rất tốt, khéo léo an ủi họ mà vẫn không quên lý do chúng ta đến đó. Thực sự là rất tốt. Rất chuyên nghiệp.
 
Brolin vừa lái xe, vừa liếc nhìn Bentley.
 
- Cám ơn.
 
Liệu có mỉa mai không? Brolin khéo léo tránh ngay vấn đề, anh không muốn nói nhiều về mình, về nhân cách của mình. Liệu anh chàng trợ lý chưởng lý trẻ tuổi có đủ khả năng hiểu thế nào là điều tra các vụ tội phạm tình dục trong suốt một quãng thời gian dài không? Liệu anh ta có thể hình dung được rằng sự tách biệt mà Brolin thể hiện là rào cản tinh thần duy nhất mà anh có thể chịu đựng được những sự tàn bạo mà nghề nghiệp buộc anh phải chịu đựng hết tháng này qua tháng khác không?
 
Anh vượt lên trước một chiếc xe hòm to với cửa kính màu nhạt sau khi bắt cỗ máy V8 của chiếc Mustang phải gầm lên.
 
Anh chọn cách làm dịu trò chơi, nếu Bentley chìa tay ra với anh, thì không có lý do gì để anh từ chối.
 
- Tôi đặc biệt đánh giá cao nhận xét của anh, Brolin nói thêm. Đừng nghĩ chuyện này là xấu, nhưng tôi và anh chưa hoàn toàn hiểu nhau…
 
- Chúng ta không có cái nhìn giống nhau về công việc, tôi nghĩ thế.
 
- Chúng ta không làm công việc giống nhau, Brolin khẳng định dứt khoát.
 
Ngay lập tức, anh hối hận vì đã tỏ ra quá cương quyết nên nói thêm bằng giọng ôn hòa hơn:
 
- Tôi nghĩ là phương pháp của chúng ta khác nhau, hai chúng ta đạt được mục đích của mình bằng những cách làm khác nhau, nhưng cuối cùng vẫn đi tới đích chung, đúng không?
 
- Công lý.
 
Lần đầu tiên, một kiểu tình anh em trong nghề nghiệp nảy sinh giữa hai người, một nụ cười chia sẻ.
 
- Bước tiếp theo là gì vậy? Bentley tò mò hỏi.
 
- Tổng kết để lập kế hoạch điều tra tiếp.
 
- Có nghĩa là chúng ta chưa biết phải làm gì?
 
Đi thêm ba trăm mét nữa, một dãy đèn pha màu đỏ sáng rực trên đường, một đoạn tắc đường.
 
- Sao mà tôi thích đường cao tốc vào giờ cao điểm đến thế! Viên thanh tra trẻ thốt lên.
 
Họ đi chậm lại đến mức chỉ còn nhích được từng tí một.
 
- Thế này, ý kiến của tôi là: tổng kết. Anh có thể thấy phương pháp ấy thật dễ sợ, nhưng đó là điều quan trọng nhất trong một cuộc điều tra, tổng hợp đều đặn những gì chúng ta đã biết và từ đó vạch ra những hướng mới. Chúng ta biết gì cho đến lúc này?
 
Bentley Cotland gãi mạnh má.
 
- Rằng xác của Leland Beaumont đã bị đánh cắp, rằng kẻ giết người có mẫu ADN giống hệt với hắn và rằng đó là điều không thể. À, suýt nữa tôi quên mất: rằng Leland rất thích ma thuật và sự hồi sinh! Đây có thể trở thành một kịch bản tuyệt vời cho phim kinh dị, đúng không?
 
Theo cách liệt kê đó, các sự việc mang lại tầm quan trọng hoàn toàn khác, không thể có thực được và đe dọa sức khỏe tâm thần.
 
- OK, rất dễ liên tưởng như thế, nhưng chúng ta không phải đang trong một bộ phim, vậy thì cái gì có thể đây? Một là Leland Beaumont không chết, hai là chúng ta bị coi thường. Vả lại, tôi có đủ căn cứ để khẳng định với anh rằng Leland không còn ở thế giới này nữa, không ai có thể sống được sau phát đạn vào đầu, không một ai. Và “một khi đã loại trừ điều không thể xảy ra, thì điều còn lại, cho dù khó tin đến đâu, cũng là sự thực”, như Ngài Arthur Conan Doyle đã nói.
 
- Vậy  điều gì còn lại, sự thật đó là thế nào, anh đã có lời giải thích chưa?
 
Tranh thủ lúc xe dừng ở chỗ tắc đường, Brolin nhìn thẳng vào mắt Bentley
 
- Anh tưởng tôi có thể ngủ được khi biết rằng một kẻ mà tôi đã hạ gục đang dạo chơi trong thành phố và giết người luôn tay, trong khi không có một lời giải thích hợp lý nào cho hiện tượng đó sao?
 
- Tôi không biết gì, nói thật là anh không…dễ đoán…
 
Brolin quan sát những đám mây to màu xám đang biến buổi chiều thành tà khúc khởi đầu của đêm.
 
- Tôi nghĩ rằng kẻ đã đánh cắp xác của Leland Beaumont chính là hung thủ giết người. Hắn có ADN của Leland, nước bọt của Leland mà chúng ta tìm thấy trên mẫu thuốc lá, ít nhất hắn cũng có vào lúc đầu, khi cái xác còn mới. Hắn chỉ cần giữ đông lạnh các mẫu.
 
- Anh thấy giả thiết này chấp nhận được sao?
 
- Dễ chấp nhận hơn ý tưởng về một âm binh trong thành phố.
 
Bầu không khí im lặng nặng nề bao trùm trong xe.
 
- Chúng ta còn có hướng nào khác không nhỉ? Brolin nói tiếp. Chúng ta biết những gì?
 
Bentley nhún vai.
 
- Không nhiều, mới chỉ bắt đầu biết thêm một chút về các nạn nhân.
 
- Tôi không đồng ý. Chúng ta có những thông tin quan trọng. Chúng ta biết rằng có hai kẻ giết người, chứ không phải một.
 
- Có chắc chắn không?
 
- Theo tôi là chắc chắn, một kẻ quá tự tin, hiểu biết và tinh tường trong các bức thư, và ngược lại, rõ ràng còn có một kẻ khác thiếu độ chín trong các vụ giết người. Ít nhất có một kẻ giết người và một kẻ chủ mưu, kiểu như thầy và trò. Còn gì nữa không?
 
Nhớ lại ca khám nghiệm tử thi mà mình đã tham gia, Bentley vặn người trên ghế vì ghê sợ.
 
- Hung thủ có kiến thức về sinh học, anh nhớ lại.
 
- Chính xác. Lượng kiến thức tối thiểu giúp hắn cắt rời rất khéo các chi của nạn nhân. Ngoài ra, trong cả hai trường hợp, hắn đều cắt da gọn gàng, róc xương cẩn thận, nhưng lại cắt các cơ và thịt như một tên đồ tể. Hắn quan tâm đến da và xương, không để ý đến phần còn lại, tại sao vậy?
 
Bentley lắc đầu.
 
- Đó là một phần trong dấu ấn của hắn, một khía cạnh trong ảo tưởng của hắn mà chúng ta phải khám phá để hiểu rõ hơn, nhưng hiện tại, hãy gạt chuyện đó sang một bên, Brolin nói tiếp. Chúng ta cũng biết rằng hắn đã chọn hai nạn nhân trong cùng một cuốn catalogue, cũng chính trong catalogue này hắn đã thấy các chi mà hắn sẽ chặt. Hắn giở các trang và chọn bộ phận để trần trên cơ thể các cô gái. Mọi người chọn lựa quần áo, còn hắn chú ý đến người mẫu, hắn lựa chọn một cách bình thản. Có bao nhiêu cô gái chụp hình cho cuốn catalogue này nhỉ?
 
- Nếu tôi nhớ không nhầm thì là hơn tám mươi người.
 
- Ừ… Không thể giám sát tất cả họ. Sẽ phải cần đến hơn hai trăm cảnh sát, không thể tưởng tượng nổi. Chúng ta còn biết gì nữa?
 
Bentley nhíu mày, lục lọi trí não để nhớ lại nhiều phán đoán được đưa ra trong những ngày gần đây.
 
- Anh đã kết luận được gì về hung thủ?
 
- Người da trắng, từ hai mươi đến ba mươi tuổi, độc thân, có nơi ở tách biệt và một công việc bán thời gian, thậm chí không có việc làm, đấy là những nét chính.
 
- Bây giờ, chúng ta biết thêm rằng hắn xem catalogue của Fairy’s Wear, Bentley bình luận.
 
- Đúng, tôi đã yêu cầu xem danh sách những người đặt mua catalogue nhưng không chắc có được điều gì đáng kể, ngay cả khi hạn chế trong số nam giới. Hắn có thể mua cuốn catalogue ở bất cứ đâu, catalogue thường được phân phát miễn phí ngoài phố. Đây cũng là một hướng đi không có điểm kết thúc. Nhưng điều thú vị là những gì Philip Bennet nói ngay trước khi chúng ta rời khỏi đó.
 
- Gì cơ? Về vụ trộm năm ngoái ư?
 
Brolin đã cố hỏi về những sự việc bất thường xảy ra trong những tháng gần đây, khiến người quản lý phải kể ra rằng họ bị viếng thăm năm ngoái. Một buổi sáng, người ta nhận thấy nhiều ổ khóa bị phá, nhưng thật lạ lùng, không hề mất gì cả. Philip Bennet và cảnh sát kết luận rằng đây là cuộc viếng thăm của những tên trộm trẻ con và chúng hẳn đã thất vọng vì không tìm thấy gì để ăn trộm.
 
- Chính xác. Cậu có thấy bọn trộm nào đột nhập vào những văn phòng kiểu này không, nơi chẳng có gì ăn trộm ngoại trừ vài thiết bị tin học?
 
- Bọn trẻ con, một trò đùa…
 
- Không, tôi không nghĩ thế. Tôi sẵn sàng cá cược rằng chính là kẻ chúng ta đang tìm đã làm chuyện này.
 
- Thế thì ngớ ngẩn quá! Tại sao hắn lại làm thế bất chấp nguy hiểm bị tóm một cách ngu ngốc, hắn có mục đích gì?
 
- Không hiếm những kẻ giết người hàng loạt thích đột nhập vào nhà người khác, chúng đi khắp nhà vào ban đêm, ăn trộm những vật dụng cá nhân, trang phục chẳng hạn, đó là bước đầu tiên để tiến tới lấy mạng nạn nhân tương lai của hắn.
 
- Ở đó chẳng có gì thuộc về các nạn nhân cả!
 
- Nghĩ thêm một chút đi. Bennet nói là không bị mất gì. Nhưng có thể hắn đã sao chép cái gì đó.
 
Bentley thấy nhận xét này khá buồn cười.
 
- Sao chép ư? Chẳng có gì để sao chép ở đó cả, đây đâu phải là một vụ tình báo công nghiệp!
 
- Trừ khi đó là một kẻ tâm thần nguy hiểm đang trên đường gây tội ác. Ở trụ sở công ty có một file chứa tất cả thông tin về các nhân viên, trong đó có các người mẫu. Họ, tên, địa chỉ, ảnh, tất cả.
 
Bentley chăm chú nhìn Brolin. Rất lô gíc, như vậy kẻ giết người nắm được đầy đủ thông tin cần thiết để bắt đầu cuộc săn đuổi, hắn biết tất cả những gì hắn có thể cần đến về các nạn nhân, kể từ địa chỉ trở đi.
 
- Còn một việc khác, Brolin nói tiếp. Nếu kẻ đó chấp nhận rủi ro để đột nhập vào một công ty với mục đích lấy được file dữ liệu ấy, thì chúng ta có thể giả thiết rằng hắn sẽ tiếp tục săn lùng trên mảnh đất này, trong số những người phụ nữ ở đây. Nhưng ban đầu, sao hắn lại chọn công ty này, chứ không phải một công ty khác?
 
- Ngẫu nhiên thôi, một hôm hắn bắt gặp cuốn catalogue và thấy các cô gái trong đó đặc biệt hấp dẫn…
 
- Những kẻ giết người hàng loạt hiếm khi hành động một cách ngẫu nhiên trong việc lựa chọn nạn nhân khi đã có sự nghi thức hóa như thế này, đây không phải là những hành động bốc đồng, tất cả đều được tính toán tỉ mỉ. Cả việc lựa chọn nạn nhân. Nếu hắn quyết định tấn công các cô gái ở Fairy’s Wear, thì tức là nhất định phải có một điểm xuất phát. Thế nhưng trang phục ở đây chỉ dành cho phụ nữ. Tôi nghĩ rằng hắn theo dõi công ty này từ lâu, có thể mẹ hắn, hoặc một cô bạn gái mà kẻ chúng ta vẫn gọi là Quạ có quan hệ lâu dài, đặt mua hàng ở đây. Một mối liên hệ cá nhân với công ty này, cái gì đó trực tiếp nằm trong cuộc sống của hắn, ít nhất là trong chính mắt hắn. Rất có thể hắn nuôi ảo tưởng với những cuốn catalogue này được một thời gian rồi và chuẩn bị chuyển sang hành động. Vụ trộm xảy ra năm ngoái, hắn đã có nhiều tháng để chuẩn bị.
 
- Nhưng một cách cụ thể, điều này không cho chúng ta biết gì đáng kể, Bentley nhận xét, tôi muốn nói rằng chúng ta không thể xin được lệnh khám xét tất cả các thành viên của Fairy’s Wear.
 
- Đúng vậy, nhưng hoàn toàn có thể kẻ đó đã đặt mua vài món hàng ở đây. Đó chính là ảo tưởng của kẻ giết người loại này, có thể hắn ngủ với những món hàng ấy, hoặc mặc chúng một cách giấu giếm. Anh thấy tấm bảng không… Bennet sẽ gửi cho tôi danh sách tất cả các khách hàng trong hai năm gần đây.
 
- Sẽ có hàng đống những cái tên! Cotland thốt lên.
 
- Chúng ta sẽ sàng lọc và nhặt ra những người đàn ông độc thân, chắc là số này không nhiều, vì công ty không bán đồ dành cho đàn ông, chúng ta sẽ có vài kẻ không bình thường và những anh chàng đặt mua đồ cho mẹ hoặc người tình. Tôi cũng định tách riêng tất cả những khách hàng mua đồ mà Anita Pasieka mặc trên ảnh và đồ của Elizabeth Stinger, cũng sẽ không có quá nhiều tên đâu. Cần phải sàng lọc. Sẽ mất nhiều trang dữ liệu và vài ngày làm việc, nhưng có thể đem lại kết quả tốt đấy.
 
Bentley cảm thấy mắt Brolin đang nhìn vào mình.
 
- Này, tại sao lại là tôi phải gánh vác công việc khổ sai đó?
 
- Bentley, đừng giận, nhưng tôi tin chắc là trong việc phân loại giấy tờ, không ai hơn anh được.
 
Bentley không chống đối, về mặt nào đó, anh tự hào cảm thấy mình có vẻ được Brolin đánh giá cao, nhưng điều này khiến anh bỗng nhiên căng thẳng. Nếu anh hài lòng vì được viên thanh tra đề cao, thì đó là bởi chính anh đánh giá Brolin cao hơn nhiều so với việc anh tự thừa nhận với mình. Sau đó thì sao? Anh tự biết mình dễ cáu giận bột phát, nhưng không phải là con người hay thù vặt như nhiều người nghĩ. Ít nhất anh cho là thế.
 
- Nhưng chúng ta không biết điều cốt yếu, Bentley nói thêm khi giao thông trên đường trở nên thoáng hơn một chút.
 
- Nghĩa là thế nào?
 
- Ngoài những ảo tưởng về cái chết, thì mục đích của việc mà kẻ giết người và tên Quạ tìm cách làm bằng được là gì? Dường như anh nói rằng ảo tưởng dẫn tới giết người không dính dáng gì đến sự ngẫu nhiên cả, vậy thì tại sao lại chọn Thần khúc, chứ không phải là Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn?
 
- Anh học nhanh thật đấy, Brolin ngạc nhiên. Quả thực, chúng sử dụng “Địa ngục” của Dante vì nó thuộc kế hoạch gây dựng ảo tưởng của chúng, lý do thì tôi không biết. Nhưng có một mục đích, một chung cục. Chúng ta phải tìm thấy nó trước khi quá muộn. Chúng ta phải hiểu chúng muốn gì, chúng làm gì.
 
Tay Brolin nổi da gà, Bentley vừa nhắc đến điều mà anh sợ nhất. Chung cục hành động của chúng.
 
Họ về đến trụ sở cảnh sát trung tâm và tới gặp Lloyd Meats vào lúc Lloyd đang kết thúc bản báo cáo về các thông tin mà anh thu thập được liên quan đến Elizabeth Stinger. Nhìn thấy anh, Brolin không thể nhịn được cười, anh không quen nhìn anh bạn đồng nghiệp bị thiếu mất bộ râu.
 
- Có kết luận gì về Elizabeth không? Anh hỏi.
 
Meats giơ tay lên trần nhà khiến xương sống kêu răng rắc, mặt nhăn nhó.
 
- Không có gì đáng kể. Cô ấy không có kẻ thù, không bị đe dọa, không có bạn trai mới quen gần đây, bạn trai mới nhất là một người môi giới bảo hiểm sống ở bang Arkansas. Về vụ bắt cóc cô ấy, Salhindro đã cử hai người đi hỏi tất cả những người bán hàng ở đó, không ai thấy kẻ tình nghi tối hôm ấy. Về phần cô con gái nhỏ, hình như mẹ của Elizabeth sẽ chăm sóc nó. Còn các anh?
 
Brolin kể lại việc làm chiều nay và các hướng điều tra. Họ ở đó một giờ đồng hồ để hoàn thành bản báo cáo đầy đủ về các dữ liệu thu được. Sau đó, họ gọi món ăn Tàu giao hàng tận nơi. Brolin tranh thủ gửi đến phòng xét nghiệm mẫu nước bọt mà anh lấy của Milton Beaumont cùng vài lời cho Carl DiMestro và Craig Nova.
 
Ba người tập trung trong phòng làm việc của Brolin và bắt đầu sàng lọc hàng tấn tài liệu mà họ thu được ở nhà hai nạn nhân. Bản sao kê điện thoại, ngân hàng, thư từ mới, hóa đơn… mọi thứ đều được kiểm tra để chắc chắn rằng không có bất cứ chi tiết bất thường nào, yếu tố then chốt giúp họ biết được đường đi của kẻ giết người. Brolin biết rất rõ một điều, trong các vụ giết người hàng loạt, kiểu công việc chán ngắt này không đi đến đâu cả, vì kẻ giết người không có bất cứ liên hệ gì với nạn nhân trước khi hành động, thế nhưng vẫn cần phải làm. Cuối cùng, anh phải thừa nhận rằng sự có mặt của Bentley Cotland chỉ là một gánh nặng không có đối trọng, dù anh ta có thể tỏ ra dễ chịu như hôm nay, thậm chí là tỏ ra có ích, dạo này anh ta hay thể hiện điều đó khi nghề cảnh sát hiện ra trước mắt anh ta với tất cả thực tế của nó, chứ không phải như anh ta từng tưởng tượng khi còn ngồi trên ghế đại học. Về phía mình, Brolin không thể chê trách Bentley Cotland được gì, rốt cuộc, chính anh đã sai lầm về sự khác biệt có thể có giữa công việc hàng ngày của một nghề và cái mà người ta tưởng tượng, thời gian ngắn ngủi của anh ở FBI là một minh họa rõ nét.
 
Ánh sáng yếu ớt của mặt trời dần tắt, Portland sáng lên sau những ô cửa sổ rộng của văn phòng.
 
Brolin nhiều lần định gọi cho Juliette để nghe tiếng nói của cô, và có thể để được mời tới qua đêm ở nhà cô, nhưng anh xua ngay ý nghĩ đó ra khỏi đầu. Họ chỉ vừa bắt đầu mối quan hệ, vì thế tốt nhất là không nên làm cô quá bất ngờ, anh có thể gửi hoa tặng cô vào ngày mai.
 
Ý nghĩ này khiến anh yên tâm để rồi anh lại chìm đắm vào hàng loạt dãy số dài mà anh đang có.
 
Khi cửa mở, cả ba người tưởng đã tới giờ ăn tối, nhưng không phải người đưa đồ ăn mà là Fletcher Lee với cái trán đầy nếp nhăn vì lo lắng.
 
- Josh, có một vấn đề với Juliette Lafayette. Seddon và O’Donner, hai cảnh sát đang làm nhiệm vụ bảo vệ cô ấy, đã phát đi tín hiệu 10-49.
 
10-49 là mật mã mà cảnh sát Portland sử dụng để thông báo về vụ giết người. 
 
Thấy Brolin gần như rụng rời, Fletcher vội nói thêm:
 
- Cô ấy không sao, không trực tiếp bị sao cả. Hình như một cô bạn gái bị…
 
Anh nhìn vào mẩu giấy đang cầm trên tay.
 
- Một cô gái tên là Camelia McCoy. Cô ấy đã bị giết chết.
 
Brolin nhắm mắt và không hề nhận ra rằng chiếc bút chì vừa bị gãy giữa những ngón tay anh.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 60
 
Ngôi nhà trên đồi cao của Camelia McCoy được bao quanh bằng một vòng dây an ninh màu vàng rung rinh trong gió. Nhiều xe cộ - hầu hết đều không tắt đèn pha - đỗ lộn xộn trên đường phố khi Brolin tới hiện trường.
 
Đêm đã xuống, viên thanh tra trẻ run rẩy khi bước ra khỏi chiếc Mustang, nhưng anh không dám chắc mình run vì lạnh hay vì sợ. Anh nhanh chóng nhận ra chiếc xe Ford quen thuộc, Gary Sheddon đang đưa cốc cà phê cho Juliette ở trong xe. Cô ngồi ở ghế trên, vai khoác một tấm chăn, cửa xe vẫn mở. Nhìn thấy Brolin, cô ra khỏi xe và lại gần anh, không nói lời nào.
 
Họ ôm chặt lấy nhau rất lâu, rồi Brolin lùi lại để nhìn vào mắt cô. Ánh đèn pha phủ lên gương mặt cô một lớp voan màu đỏ siêu thực.
 
- Em có chịu đựng được không? Anh hỏi và chỉ định cho cô biết rằng anh lo lắng chứ không chờ đợi câu trả lời.
 
Cô hơi nhún vai và lại ôm chặt lấy anh. Brolin cảm thấy ngực cô gái rung mạnh từng đợt, còn anh chỉ có thể lùa tay vào mái tóc cô. Không cần nói gì cả, đây chính là một trong những khoảnh khoắc của cuộc sống mà không một lời nào có thể an ủi được, chỉ cần im lặng, và sự có mặt chính là vũ khí duy nhất để lấy lại tinh thần.
 
Có hai người bước lại gần, một lính mới và một người ở phòng thí nghiệm, nhưng khi thấy hai khuôn mặt đau khổ, họ lại thôi. Lloy Meats làm nhiệm vụ chỉ huy tác chiến.
 
Một lúc lâu sau, Brolin để Juliette ngồi xuống và bảo mọi người mang tới cho cô một cốc trà nóng, anh đặt cốc trà vào giữa những ngón tay đờ đẫn của cô.
 
- Anh phải vào trong bây giờ, anh nhẹ nhàng nói.
 
Tấm chăn trượt trên vai cô khi cô gật đầu.
 
- Em biết.
 
Brolin thấy hai người của viện pháp y đang chờ anh trước cửa nhà, vẻ hơi sốt ruột.
 
- Gary và Paul sẽ đưa em về nhà và họ ở lại đó cho đến khi anh tới, được không?
 
Cô chỉ mím chặt môi, khiến máu tan đi cho tới khi đôi môi trở nên nhợt nhạt giống như một đường kẻ trên tuyết. Brolin hôn lên trán cô rồi quay đi.
 
Một giờ sau, Camelia McCoy được mang ra khỏi nhà trong một chiếc túi đen cũng kêu sột soạt như những chiếc túi du lịch khi người ta lên đường đi nghỉ.
 
Một chuyến đi xa.
 
Và mãi mãi
 
***
 
Đôi lúc thật kỳ lạ khi nhìn thấy sức mạnh của cảm xúc, như khi tình cảm của chúng ta vượt lên trên tri giác và trở nên đủ sức kéo căng thời gian cho tới khi đẩy chúng ta ra khỏi dòng chảy không thôi của nó, biến dòng chảy đó thành một yếu tố xa rời, không ảnh hưởng gì đến cuộc sống của chúng ta. Giống như vậy, Juliette không trải qua những giờ phút tiếp theo trong cùng một thế giới, tâm trí cô vượt qua dòng chảy của thời gian để đương đầu được với nỗi đau.
 
Để mặc hai cảnh sát trong phòng khách, cô lên gác thu mình trong phòng riêng, nơi bất khả xâm phạm của cô. Thay vì ngã xuống giường và trút hết nước mắt trong người ra như nhiều người thường làm, cô đi đi lại lại một lúc lâu rồi mở cửa sổ. Cái lạnh ùa ngay vào phòng như một lũ ma xông xáo.
 
Juliette nghiêng người qua cửa sổ. Những ngôi sao lấp lánh bình yên trong không khí lạnh buốt. Hàng ngàn đôi mắt kim cương mờ đi vì khoảng cách của không gian đang bao trùm một cách uy nghi lên trái đất say ngủ.
 
Các vì sao đang thì thầm, cô nghĩ, chúng hát trong vũ trụ. Chiếu sáng những khoảng tối vô tận bằng vầng sáng rực rỡ của mình.
 
Juliette quay đầu về phía gác chuông nhà thờ của cha xứ Willem, cô tìm kiếm mặt trăng, nhưng chỉ thấy bóng tối và những đốm sáng kiêu ngạo của thành phố.
 
Nhìn ngắm hằng hà sa số những ngôi sao trên mặt đất ấy, Juliette lại nghĩ tới những lời mà Camelia nói với cô vài tháng trước, khi cô khó nhọc lấy lại tinh thần sau vụ bắt cóc và cái chết suýt giáng xuống đầu cô.
 
Cái chết luôn làm phiền, người ta không thích nó, và khi nó hiện diện, người ta luôn mong muốn nó ở xa con mắt mình.
 
Đúng vậy. Chỉ riêng ý nghĩ về cái chết đã không khiến tâm trí con người thích thú gì. Thậm chí chỉ đôi khi nó trở nên ám ảnh đến mức cuốn hút, nhưng người ta không thể thích nó. Juliette lại nghĩ tới con mèo Humus. Khi còn nhỏ, cô đã lớn lên cùng với con mèo mun to tên là Humus. Nó có mặt khi cô sinh ra, nó có mặt trong lễ rửa tội và cả trong lần sinh nhật thứ mười của cô. Humus luôn ở trong nhà, như một nhân vật không thể phủ nhận của đời cô, một yếu tố không thể thiếu của số phận quanh cô. Thế mà một buổi sáng, cô thấy Humus nằm dài ở chân ghế sofa, cái lưỡi tím tái thè ra trên nền gạch. Khi đó Juliette mới mười hai tuổi, cô không hiểu rõ sự việc, cô muốn ôm nó trong tay, nhưng cô cảm thấy thân thể bé nhỏ đó lạnh ngắt giữa các ngón tay cô. Hôm ấy, cô đã khóc rất nhiều. Cô chưa bao giờ nghĩ rằng một ngày nào đó Humus có thể chết, và càng không thể nghĩ nó sẽ chết theo cách ấy. Không có cái vuốt ve cuối cùng, không một tiếng meo meo từ biệt, không gì cả, chỉ là cái xác lạnh ngắt trong một buổi sáng được nghỉ học. Sau đó, cô tình cờ nghe thấy bố nói với mẹ. “Lẽ ra nó phải chết ở bên ngoài chứ nhỉ? Anh nghĩ là bọn mèo thường đi trốn khi chết cơ mà? Phải, anh cũng vậy, anh cũng buồn lắm chứ, nhưng tệ quá! Hãy nghĩ tới Juliette, nhìn thấy xác con mèo khi ngủ dậy, em nghĩ như thế là tốt cho con sao? Ít nhất nếu con mèo chết ngoài phố hay trong vườn nhà hàng xóm, thì mọi chuyện sẽ nhẹ nhàng hơn. Chúng ta sẽ không thấy gì, dù sao thì Juliette cũng không thấy gì, rồi không thấy nó về, chúng ta sẽ rút ra kết luận là nó chết. Như thế nhẹ nhàng hơn.”
 
Juliette đứng lại trên bậu cửa bếp rồi rón rén quay nửa vòng để trở về phòng mình và để tiếp tục khóc. Người lớn không thích cái chết. Chắc chắn rồi. Họ thích nó diễn ra cách xa cặp mắt dễ  bị gây ấn tượng của họ. Phía sau cánh cửa sổ đóng kín.
 
Juliette cứ ngồi mãi trên bậu cửa sổ cho tới khi cả tâm trí lẫn thân thể tê đi vì lạnh.
 
Khi Joshua Brolin tới, anh thấy cô cuộn tròn trên giường. Anh kéo lại chăn để cả người cô được ấm áp rồi cởi đồ và nằm xuống ôm chặt lấy cô. Anh thắp một ngọn nến nhỏ, và khi nhìn Juliette, anh bỗng nghĩ rằng người ta ngủ không chỉ để nghỉ ngơi. Mà còn để sống tốt hơn, để chữa lành những nỗi bất hạnh. Cuối cùng, giấc ngủ làm dịu các nỗi đau, khiến chúng tan ra và biến thực tế thành ký ức.
 
Có lẽ giấc ngủ là thánh đường thực duy nhất của sự thanh thản mà con người có được, anh tự nhủ.
 
Anh đặt một bàn tay lên đầu Juliette.
 
Mi mắt cô giật giật trong những giấc mơ đáng sợ. 
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
Chương 61
 
Bác sĩ Sydney Folstom đậy nắp cái lọ cuối cùng. Có tới chín cái lọ đặt trên nền gạch cạnh bàn phẫu tích chứa đựng các mẫu phẩm khủng khiếp trong một dung dịch formol trung tính 10%. Tất cả các lọ đều đựng khoảng từ 30 đến 80ml gan, tim, máu, nước tiểu và tất cả những thứ cần thiết cho các cuộc khám nghiệm chất độc và giải phẫu bệnh học sau khi chết.
 
Một trợ lý quay lại báo với bác sĩ và thanh tra Brolin rằng một bản copy các ảnh X quang đã được sao để gửi cho cảnh sát. Phần lớn xác của Camelia đã bị thiêu cháy, nên khó phân tích được nửa người trên bằng mắt thường. Khám nghiệm bằng tia X đã được thực hiện nhằm làm rõ những phần mà các vết bỏng nghiêm trọng che mất và để tiết kiệm thời gian, người ta sử dụng một chiếc máy làm tăng độ chói kèm theo một thiết bị in ảnh. Như vậy người ta có thể quét nhanh toàn bộ cái xác và cho ra ảnh chụp các vùng nghi án. Nhưng việc này không giúp tiến triển gì, bằng phương pháp loại trừ, ít nhất người ta cũng có thể nói rằng cô gái chắc chắn không bị giết bằng súng. Cổ cũng bị cháy đen, người ta chụp ảnh được nhờ một cái máy lấy nét cực nhạy, một faxitron có phim độ nét cao cho phép đạt được chất lượng tốt nhất khi chụp tất cả các bộ phận rất nhỏ như thanh quản, xương, răng… Ở đây, người ta cũng không thấy bất cứ một vết gãy nào ở góc sụn tuyến giáp, vốn là đặc trưng của hành động bóp cổ. Cái chết là do nguyên nhân khác.
 
Kết luận trong báo cáo của pháp y cho rằng đối tượng chết do mất nhiều máu sau khi bị đâm từ tám đến mười hai nhát - các vết bỏng quá lớn không cho phép xác định chính xác số lượng vết thương do dao đâm - và rằng cô gái đã chết trước khi cơ thể cô bị đốt.
 
Có được những dữ liệu ghê rợn này, Brolin rời nhà xác của Portland để quay về phòng làm việc của mình ở trung tâm thành phố. Ở đó, anh gọi cho Juliette như đã làm trong buổi sáng, và mặc dù họ không nói chuyện nhiều với nhau, nhưng anh cảm thấy cô yên tâm hơn. Họ yên tâm hơn.
 
Dù qua điện thoại, qua email, trong sảnh tòa nhà hay ở lối ra của bãi đỗ xe, Brolin đều tránh được các nhà báo chầu trực suốt cả ngày với hy vọng mong manh là nhận được một lời bình luận từ viên thanh tra trẻ. Không hề có tuyên bố chính thức nào về mối liên hệ giữa vụ giết Camelia và hai vụ giết người của Hồn ma Leland, nhưng người ta nhanh chóng biết việc thanh tra Brolin có mặt ở hiện trường vụ án, vì thế báo chí thích thú làm công việc của mình. Người ta bắt đầu nói về nạn nhân thứ ba của “Hồn ma”, khiến giờ đây hắn trở thành “kẻ giết người hàng loạt” đáng sợ theo đúng định nghĩa của từ này, tức là có ít nhất ba nạn nhân. Nhưng phần lớn các điệp viên FBI làm việc trong Tổ khoa học hành vi ở Quantico đủ khả năng khẳng định rằng họ đang đối mặt với một serial killer nguy hiểm kể từ nạn nhân đầu tiên của hắn, và Brolin cũng không thoát khỏi quy luật do được đào tạo như vậy. Ngay lúc phân tích vụ giết Anita Pasieka, anh đã nhận ra cách sắp đặt, sự nghi thức hóa và cách hành động được tính toán kỹ lưỡng chỉ có ở những kẻ giết người hàng loạt. Anh chưa dám chia sẻ với ai, nhưng trong thâm tâm, anh sợ rằng Anita không phải là nạn nhân đầu tiên. Mặc dù còn mò mẫm, nhưng hung thủ cũng đã chứng tỏ một mức độ tinh vi, nhất là cách hắn chuẩn bị hiện trường vô cùng tỉ mỉ cho thấy rõ hành vi phạm tội thành thục của hắn. Càng điều tra, Brolin càng tin chắc rằng hung thủ là một kẻ bị điều khiển, một công cụ. Trong khi Quạ là một kẻ đáng sợ, một kẻ tâm thần xảo quyệt và đây không phải lần đầu hắn phạm tội.
 
Rồi có cả sự leo thang của tội ác nữa.
 
Càng ngày nhu cầu giết chóc của kẻ giết người hàng loạt càng trở nên cốt tử. Lúc đầu, hắn còn dè chừng, hắn giết người và đợi nhiều tháng rồi mới thực hiện tiếp. Nhưng càng ngày hắn càng giết nhiều hơn, càng thấy rằng ảo ảnh vẫn chưa hết, càng tự tin vì không bị tóm. Việc rút ngắn thời gian giữa các vụ giết người, từ nhiều tháng xuống vài tuần, thậm chí vài ngày, chính là sự leo thang của tội ác. Thế mà trong trường hợp hiện tại, đã có ba nạn nhân trong vòng hai tuần, điều này khiến người ta nghĩ rằng kẻ giết người thích bạo lực với một tốc độ chóng mặt. Hoặc là hắn đã giết người trước đó, một cách bí mật, tạo khoảng cách xa về thời gian giữa các nạn nhân.
 
Theo quy luật thông thường, kể từ vụ án thứ hai, Brolin đã gửi yêu cầu hỗ trợ đến chương trình VICAP. Bản báo cáo dài mười lăm trang đó giúp miêu tả chi tiết các vụ giết người mà một thanh tra cảnh sát phải đương đầu, nó được gửi tới FBI, sau đó FBI nhập các dữ liệu vào một máy tính tốc độ cao để phân tích. Nếu ở nơi nào đó trên lãnh thổ Mỹ xảy ra một vụ phạm tội tương tự, với cách hành động như thế hoặc một dấu ấn giống hệt, thì ngay lập tức vụ việc sẽ được đặt trong mối liên kết để có thể tìm ra một tên tội phạm đã hành động ở những nơi khác nhau trên đất nước, trong các phạm vi xét xử khác nhau. Borlin đã trả lời hết sức cẩn thận 189 câu hỏi của báo cáo VICAP và nhanh chóng gửi trả tất cả. Trong thời gian chờ xử lý yêu cầu, rồi đối chiếu với 5.849 trường hợp đã lưu trong máy tính, việc nghiên cứu có thể kéo dài vài tuần.
 
Thứ tư ngày mười ba tháng Mười là ngày may mắn đối với Brolin trong hệ thống hành chính Mỹ mênh mông và mù mịt, bởi vì câu trả lời của chương trình VICAP được gửi tới vào buổi chiều.
 
Nhưng thật đáng thất vọng. Cách hành động có thể giống với nhiều vụ án khác, nhưng dấu ấn lại là độc nhất. Trừ một kẻ giết người. Nhân viên xử lý yêu cầu của Brolin đã đánh dấu đỏ vào sự giống nhau khó tin giữa các vụ mới đây và sự tàn bạo của Leland Beaumont một năm trước.
 
Ít nhất, Brolin cũng có được bằng chứng rằng hung thủ không gây những vụ giết người khác trên khắp nước Mỹ, trừ khi hắn thay đổi dấu ấn tội ác, điều này trên lý thuyết là không thể xảy ra. Một con người không thể đi đến chỗ giết người, chặt chân tay và gây đau đớn đến mức vượt qua các ranh giới của sự hấp hối như vậy trong một sớm một chiều. Để trở thành một con quái vật như thế, hắn phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và chỉ bắt đầu giết người khi các xung năng chết trong hắn trở nên quá mạnh, không thể kìm nén được nữa. Vì thế, hắn giết chóc theo một sơ đồ rất chính xác, sơ đồ mà hắn đã xây dựng suốt một thời gian dài, thậm chí hắn đã lặp đi lặp lại sơ đồ ấy không biết bao nhiêu lần trong đầu đến mức nó trở thành nỗi ám ảnh, dẫn hắn tới chỗ phạm tội giết người lần đầu tiên. Đó là một cái vòng vô cùng luẩn quẩn. Và người ta không thể thay đổi sơ đồ ấy, đó là “lý do” giết người của hắn, điều kiện thỏa mãn cần thiết để hắn vượt qua nỗi kinh hoàng về việc mà hắn làm và chỉ quan tâm đến thú vui xuất phát từ việc làm này. Thay đổi ảo ảnh ấy, dấu ấn ấy, tức là phải thay đổi cá nhân, tất cả những gì đưa hắn đến chỗ giết người, đây là điều không thể.
 
Như vậy, kẻ giết người không thể là tác giả của những vụ giết người khác ở đâu đó mà không có dấu ấn của hắn. Trừ khi chúng không được lưu lại hoặc cách hành động và dấu ấn không được xác định một cách đúng đắn.
 
Đó là một cách giải thích. Lực lượng cảnh sát trên cả nước không hợp tác một cách có hệ thống với FBI và VICAP.
 
Còn một khả năng khác.
 
Một khả năng mà Brolin không muốn đối mặt ,vì nó không thể chấp nhận được.
 
Một kẻ duy nhất đã giết chóc và để lại dấu ấn rất đặc trưng này.
 
Leland Beaumont.
 
Nếu Quạ là kẻ giết người, hoặc đã từng giết người ở một thời điểm nào đó trong đời hắn, thì Leland Beaumont trở thành kẻ tình nghi lý tưởng.
 
Không ai ngoài hắn lại trùng hợp chính xác đến thế với Quạ. Bạo dâm, thông minh, thích điều khiển người khác, hiểu biết hoàn hảo về cách hành động của Đao phủ bởi vì đó chính là hắn!
 
Không! Rõ ràng là không thể. Kẻ đã chết không thể giết người được.
 
Brolin tự nhắc đi nhắc lại câu này nhiều lần, như một câu kinh thánh để chống lại nỗi sợ hãi.
 
Nhưng đến bảy giờ tối, khi Salhindro tới đón anh trong phòng làm việc, anh vẫn còn run.
 
***
 
Larry Salhindro đứng trước dấu niêm phong của cảnh sát.
 
- Cười đi, người ta đang chụp ảnh lia lịa kìa, ông vừa nhận xét vừa chỉ vào phóng viên ảnh đang chĩa ống kính về phía họ từ trong xe ô tô.
 
Brolin không để ý đến những lời của Salhindro, anh ra hiệu cho ông mở cửa.
 
Anh muốn quay lại nhà Camelia vào giờ này để có mặt ở hiện trường đúng thời điểm của ngày mà hung thủ đã hành động bốn mươi tám giờ trước.
 
Sự việc chỉ vừa mới diễn ra, vẫn còn nóng hổi, hầu như vẫn còn cảm nhận được mùi hơi kinh hoàng trong không gian.
 
Brolin vào trước và lên thẳng tầng hai, Salhindro theo sát anh. Anh đi qua phòng ngủ, dừng lại trên ngưỡng cửa phòng tắm và bật công tắc điện. Một hình người vẽ bằng phấn nằm dài trên nền gạch; một mảnh vải thô đen phủ lên một phần nền nhắc cho người ta nhớ rằng mùi luẩn quẩn ở đây là mùi thịt cháy.
 
- Có thật anh tin rằng chính kẻ mà chúng ta đang tìm đã làm việc này? Salhindro sốt ruột hỏi. Tôi muốn nói là không trùng hợp với hắn tí nào, hắn thường không dùng lửa. Hắn thích cho mọi người thấy việc hắn đã làm, hắn cần gây sốc, vậy thì tại sao lần này hắn lại muốn che giấu vụ giết người bằng lửa? Đừng bỏ qua giả thiết về một kẻ bệnh hoạn khác, anh không nghĩ thế sao?
 
- Không. Đó đúng là hắn. Juliette đã xác nhận, Quạ đã gọi cho cô ấy.
 
- Tôi biết, nhưng hắn không nói gì cụ thể cả, đó có thể là một thằng điên bất kỳ! Nói thật nhé, ở đây anh là chuyên gia về hành vi của tội phạm, nhưng anh thấy có nhiều điểm giống với những gì hắn thường làm không? Hắn không chặt đi gì cả, hắn đốt cái xác. Đồng ý là có axit trên trán, nhưng chỉ thế thôi. Anh có biết tôi nghĩ đến cái gì không?
 
Brolin bước lên một bước.
 
- Tôi nghĩ đến nỗi sợ! Tôi có cảm tưởng rằng đây là một giáo phái. Mà tại sao lại không nhỉ? Chúng có thể có nhiều người, cả một nhóm rối loạn thần kinh và một lãnh tụ tinh thần, mỗi tên có cách hành động riêng… Chúng lần lượt giết người.
 
Brolin đi vòng quanh vạch phấn rồi đứng lại trước bồn rửa. Tấm gương lớn treo bên trên bị vỡ ở nhiều chỗ, mảnh còn lại trên tường bị bôi bẩn bằng nhiều loại mỹ phẩm khiến người ta không thể nhìn thấy mình trong gương.
 
 - Hắn không thể chịu được hình ảnh của mình trong gương. Nếu hắn đập vỡ gương trước khi giết cô gái, tôi đánh cuộc rằng hắn bị một dị tật nào đó trên cơ thể, có lẽ trên mặt. Nếu đập vỡ sau khi giết chết cô gái, tức là hắn tỏ ra hối hận hoặc ít nhất là cảm thấy tí chút tội lỗi, điều đó càng khẳng định giả thiết của tôi về chuyện hắn bị điều khiển.
 
- Sao lại thế?
 
Brolin dựa vào thành bồn rửa và ghé mặt lại gần bề mặt gương bị bôi bẩn.
 
- Vì đó là một con người yếu đuối, mẫn cảm. Hắn đã đau khổ và tiếp tục đau khổ, nhưng kẻ khác ở bên trên hắn, là thầy của hắn, chế ngự hắn và bằng cách nào đó đã nhìn thấu ảo ảnh của “con rối” và biết cách sử dụng chúng để đưa “con rối” tới chỗ thực hiện các ham muốn của “thầy”. Kẻ giết người đấu tranh giữa các cảm xúc mâu thuẫn nhau, nhu cầu ấy, mệnh lệnh khẩn thiết phải giết người để tự thỏa mãn ấy, nhưng tận đáy lòng, hắn biết mình hành động tồi. Tuy nhiên hắn vẫn muốn làm việc đó, và Quạ, “thầy” của hắn, khơi dậy ngọn lửa trong hắn.
 
Salhindro lẩm bẩm điều gì đó không rõ ràng.
 
- Đó là một giả thiết đơn giản, Brolin nói thêm và quỳ xuống cái xác nằm mới tối hôm qua.
 
Bầu trời đã quang đãng, ánh trăng chiếu xuống sàn gạch bóng loáng. Brolin liếc nhanh về phía cửa sổ. Anh từng đưa ra khả năng về tầm quan trọng của chu kỳ mặt trăng đối với việc lựa chọn ngày giết người, giống như vài trường hợp giết người hàng loạt hơi bí hiểm; nhưng với khoảng cách ngắn giữa các vụ giết người, lý thuyết đó đã bị phá sản. Dù sao, bầu trời cũng không quang đãng vào buổi tối ngày Camelia bị giết, mây liên tục che khuất mặt trăng.
 
Brolin lướt đầu ngón tay theo vết lửa trên mặt sàn.
 
Cái gì đã khiến mày thay đổi cách hành động? Chắc chắn phải có một lô gic. Tại sao lần này mày lại đốt xác?
 
Viên thanh tra trẻ đã mổ xẻ kỹ hai vụ giết người trước đây, anh đã phân tích từng chi tiết, thiết lập toàn bộ diễn biến cảm xúc của hung thủ, ít nhất là bằng cách đặt mình vào vị trí của hắn. Với nạn nhân thứ ba này, các dữ liệu bắt đầu đủ nhiều để anh có thể phác họa một tính cách có sức thuyết phục, để anh cảm thấy kẻ giết người.
 
Anh tập trung tư tưởng. Anh vừa mất hai tuần nhập thông tin, sắp xếp chúng trong đầu, nghiền ngẫm chúng. Giai đoạn ngâm đã hết, bây giờ là lúc đưa tất cả lên bề mặt.
 
- Larry, anh làm ơn ra đợi tôi ở ngoài xe đi.
 
Salhindro vẫn đứng yên, ông biết anh bạn đồng nghiệp của mình và không bực bội vì lời nói này, Brolin đã đề nghị ông đi cùng để làm chỗ dựa, một nhị thức cho tinh thần và cho cả tư duy. Chưa đầy một giờ nữa, Larry sẽ thấy anh bạn tới chỗ mình, trong trạng thái hơi xúc động và cần chia sẻ ý nghĩ, cần một cái đầu khác giúp chỉnh sửa các lý thuyết anh bạn đó đưa ra.
 
Khi Salhindro đi xuống, Brolin bắt đầu nhớ lại tất cả những chi tiết mới ghi nhận về vụ sát hại Camelia McCoy. Anh tưởng tượng lại cảnh hiện trường trong buổi tối đầu tiên; anh nhớ lại những nhận xét của các nhân viên phòng xét nghiệm; và ca giải phẫu tử thi đã bổ sung vào đầu óc anh những thông tin cần thiết. Từ đây, anh biết được những nét chính của sự việc xảy ra tối hôm đó.
 
Từ quan điểm hoàn toàn dựa trên sự việc.
 
Anh còn phải đặt mình vào vị trí của hung thủ, để biết chuyện gì đã xảy ra về mặt cảm xúc.
 
Trong vài giây, anh đứng ở cửa sau, trong cái lạnh của đêm.
 
Hắn không để lại dấu vân tay nào, chứng tỏ hắn đi găng, như mọi khi.
 
Viên thanh tra trẻ rút từ trong túi ra một đôi găng tay mà anh mượn của Terry Pennonder, một đồng nghiệp luôn đeo găng khi lái xe.
 
“Tôi đứng trước cửa bếp, tôi vừa đi đôi găng tay da và chúng khiến tôi yên tâm. Hành động này bắt đầu có một ý nghĩa rất lớn, đây là lần thứ ba. Chỉ cần cảm thấy các ngón tay thọc sâu vào lớp lót là tôi đã rùng mình.
 
“Cánh cửa nhanh chóng mở ra, đi vào không phải là vấn đề. Tôi không thấy chút ánh sáng nào tỏa ra từ tầng trệt, chỉ có một tia sáng trên tầng, vì thế tôi biết rằng không có gì nguy hiểm cả. Tôi biết cô ấy ở đâu, tôi cảm thấy cô ấy, còn cô ấy thậm chí không ý thức được ánh mắt của tôi qua vách ngăn. Sự có mặt của tôi giữa các bức tường. Trong cô ấy.”
 
Brolin đi qua phòng khách rồi đến gần cầu thang. Toàn bộ ngôi nhà chìm trong bóng tối, trừ phòng tắm nhưng không thể nhìn thấy gì từ bên dưới. Đêm lọt vào đến tận phòng khách, ở đây bóng tối đặc lại như những vết mực khổng lồ bao trùm các đồ vật. Khó có thể tiến về phía trước mà không đụng chân phải một thứ đồ đạc, vì thế Brolin lấy chiếc đèn pin ra và bật lên, chĩa chùm ánh sáng xuống nền nhà, ngay trước mặt anh.
 
“Đèn là phần kéo dài của mắt tôi. Nó chiếu vào đâu, tôi nhìn thấy đó, tôi điều khiển nó.”
 
Anh đặt chân lên bậc thang đầu tiên và nhắm mắt lại.
 
“Chính ở đây, căng thẳng bắt đầu tăng cao, lần này tôi đang ở rất gần, cô ấy gần như nằm trong tầm tay tôi. Bên trên những bậc thang kia, mọi thứ sẽ diễn ra nhanh chóng. Tôi mong sao thời gian dừng lại, để tận hưởng được lâu hơn.”
 
Brolin chiếu đèn xung quanh mình, chiếu vào các bậc thang tiếp theo để tìm dấu vết, có lẽ hung thủ đã dừng lại ở đây vài phút để nghe ngóng điều đang diễn ra bên trên, sự sống. Không có gì cả. Vì biết chuyện gì sẽ đến, nên Brolin đã yêu cầu mọi người xê dịch và lục lọi hiện trường ở mức tối thiểu trong buổi tối tìm thấy xác chết. Càng ít người đến hiện trường càng tốt để không làm ô nhiễm nơi đây. Mặc dù đã đề phòng như vậy, nhưng khó có chuyện một dấu vết còn sót lại trên cầu thang nơi rất nhiều cảnh sát đi lên đi xuống. Anh tiếp tục đi lên.
 
“Ở mỗi bậc thang, tim lại đập nhanh hơn. Kiến bắt đầu bò ở dương vật, đó chính là sự hòa trộn giữa trạng thái hưng phấn, lòng thù hận và nỗi sợ hãi. Dương vật của tôi cứng lại, điều này khó xảy ra khi gặp một phụ nữ trong hoàn cảnh bình thường, và nó khiến tôi cảm thấy vừa thích thú vừa như bị tước đoạt. Bậc thang cuối cùng.
 
“Hành lang dường như dài vô tận dưới tia sáng quá mảnh phát ra từ đèn pin của tôi. Nhưng cửa phòng hé mở, tôi đã thấy ánh sáng mờ hắt từ cửa phòng tắm lên tấm thảm trải trong phòng ngủ. Tôi tắt đèn pin. Cô ấy đang ở rất gần. Hơi thở đứt quãng và sâu của tôi xâm chiếm không khí, đó là dấu hiệu duy nhất về sự có mặt của tôi. Tiếng nước vẳng đến tai tôi và tôi thấy cô ấy trần truồng trong bồn tắm. Nhịp tim tôi giờ đây lan xuống tận đầu dương vật đang bị kích thích. Găng tay của tôi sột soạt nhẹ khi tôi chầm chậm mở cánh cửa. Tôi rất thích tiếng kêu của da.
 
“Rồi đột nhiên cô ấy ở ngay đây. Cơ thể mềm mại trong nước nóng, bộ ngực nổi lên như những bọt khí treo lơ lửng, cặp đùi láng bóng, lông mu được cắt cẩn thận nhấp nhô trong nước. Ngay lập tức rất nhanh, cực kỳ nhanh, cô ấy nhìn thấy tôi và khuôn mặt cô ấy tan ra trong cơn tức giận của tôi. Tôi đã muốn đứng ở đó để nhìn cô ấy thật lâu, nhưng cô ấy không cho tôi thời gian. Thế là tôi nhảy bổ vào cô ấy, đập thật mạnh vào mặt cô ấy, tạo thành một vết bầm máu lớn trên hàm, khiến cô ấy suýt chết. Cô ấy không thể cựa quậy được trong bồn tắm, cô ấy trượt dần và làm nước bắn lên các bức tường trắng tinh. Cô ấy không kịp kêu lên, tôi đâm cô ấy một nhát vào phổi trái bằng lưỡi dao rất mảnh. Bộ ngực mà lúc trước tôi muốn ngắm nhìn thật lâu và chạm vào giờ đây đã bị xuyên thủng, mỡ trào ra như nước khi con dao được rút ra. Một lần. Hai lần. Ba lần. Dương vật của tôi chạm vào quần dài vì nó đang cương lên; tim tôi đập như muốn vỡ tung, tôi rùng mình dưới tác động của lượng adrenalin quá đậm đặc và tôi bị co thắt đường thở. Nữa. Nữa. Nữa. Những giọt nước trên tường lẫn thêm nhiều giọt máu. Chúng chảy nhanh hơn rất nhiều, để lại phía sau một vệt dài màu hồng.”
 
Brolin như thấy lại toàn bộ cảnh tượng, các báo cáo đã biến thành hành động, tiếng thét, tiếng rên rỉ, vết nước bắn lên. Anh gần như không nhận ra mình đang vừa cố nén tiếng nức nở vừa bắt chước một số hành động, răng nghiến chặt đến gần vỡ men.
 
Anh thấy hắn dùng dao đâm vào người Camelia hơn chục nhát, cảm thấy cơ thể cô đổ vào người hắn và nghe thấy rõ âm thanh khô khốc khi đầu cô đập xuống nền nhà. Lần này, ham muốn của hắn không bùng lên ngay lập tức. Cô gái vẫn còn sống và đang hấp hối khi hắn dang hai đùi cô ra.
 
Phải, lần này, hắn không cắt bộ phận sinh dục của cô, hắn không cảm thấy bớt bị tước đoạt và giận dữ vì hắn đã cọ xát vào người cô.
 
Hắn thỏa mãn dục vọng trên người cô!
 
Chính vì vậy hắn đã đốt cô! Hắn thỏa mãn dục vọng trên người cô, hắn đã để lại một dấu vết trực tiếp, và hắn phải xóa bỏ tất cả, vì thế hắn quyết định dùng lửa để làm mọi thứ biến mất!
 
Đầu óc sôi sục, Brolin không còn thấy hình vạch phấn trên nền, anh thấy Camelia trần truồng và be bét máu. Anh nhớ tới hai chai whisky mà một nhân viên phòng thí nghiệm tìm thấy trong thùng rác ở bếp. Hung thủ không định đốt xác, hắn phải dùng thứ mà hắn tìm thấy ở hiện trường. Phải chính xác là thế, hắn đã vượt qua một giai đoạn và hắn khiếp sợ. Nhưng chính vì vậy, sự hưng phấn của hắn càng trở nên không cùng, chắc chắn hắn không muốn dừng lại ở đây. Trong hắn có một ham muốn tốc độ, hắn muốn làm, hắn có thể làm được!
 
Rồi đến tấm bùa hình ngôi sao năm cánh, cần phải bảo vệ mình khỏi linh hồn của nạn nhân. Hắn dùng mũi dao khắc hình sao rồi đổ axit lên để che giấu. Hắn tự trách mình không có thêm axit để đổ lên toàn bộ cái xác, để mọi việc dễ dàng hơn. Hắn phải tìm cái gì đó để xóa dấu vết bằng lửa. Hắn ra khỏi phòng tắm.
 
Ham muốn vẫn còn rất dữ dội, ngắn ngủi quá, chưa kiềm chế đủ, mới mẻ quá. Hắn vẫn còn muốn nữa, ngay lập tức. Thậm chí hắn bắt đầu thấy giận dữ vì mọi chuyện xảy ra quá nhanh, hắn không thỏa mãn.
 
Brolin đi vào phòng ngủ mà không gây tiếng động. Gần ra đến hành lang, anh bỗng khựng lại.
 
Bên phải cửa, một cái tủ màu đen che kín bức tường. Nhưng điều quan trọng hơn là có một tấm gương to, trong đó phản chiếu hình chiếc giường.
 
Từ nơi anh đứng, Brolin nhìn thấy trong gương hình ảnh cái giường ở hàng đầu, xa hơn hắn phải là phần dưới cái xác của Camelia ở cửa phòng tắm. Nếu ngẩng đầu lên, hung thủ không thể không nhìn thấy cảnh này.
 
Cái giường và thân thể trần truồng của Camelia. Giống như một cặp vợ chồng bình thường.
 
Không có vết máu trên giường, cảnh sát đã tìm kiếm bằng đèn Polilight nhưng không phát hiện thấy dấu vết, có nghĩa là hắn không đặt cái xác lên giường.
 
Brolin đến gần tủ và đẩy nhẹ cánh cửa trượt. Anh tưởng tượng ra hình ảnh cái xác của Camelia trượt trong gương và anh nhìn thấy nhiều ngăn quần áo.
 
Áo phông, áo buộc chéo vạt, áo pull và…cả một ngăn toàn đồ lót, ngăn này khác hẳn với các ngăn còn lại vì vô cùng lộn xộn. Tất cả quần áo được gấp gọn gàng đặt ngay ngắn trừ quần áo lót và áo ngực chất thành đống. Bản thân việc này không có gì đáng ngạc nhiên cả, không hiếm cảnh tương tự trong tủ của một phụ nữ, thế nhưng có cái gì đó khiến Brolin băn khoăn. Không bỏ găng, anh bắt đầu bình tĩnh sắp xếp từng bộ, chĩa đèn vào từng mảnh vải.
 
Một ý nghĩ nảy sinh trong anh. Hung thủ cũng đi theo những bước như vậy hắn ngập chìm trong ham muốn và muốn tìm kiếm thêm nhục dục. Rồi hắn phát hiện ra ngăn đồ lót.
 
Một vết nhỏ xíu hiện ra dưới ánh đèn. Rồi vết thứ hai trên cùng một chiếc quần lót. Cuối cùng, Brolin thấy một sợi lông dính vào một cái móc của áo ngực.
 
Hung thủ đã cọ thứ đồ lót này vào chỗ kín của hắn. Hắn đã trải nó lên giường hoặc dưới nền nhà và thủ dâm. Và trong trạng thái quá tự mãn và tự tin, hắn đã quên mất chi tiết này.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
PHẦN 3
 
“Các ông không hiểu tôi.

Các ông không đủ khả năng hiểu tôi. 

Tôi nằm ngoài trải nghiệm của các ông. 

Tôi nằm ngoài cái Thiện và các Ác.”

Lời nói trong buổi xử án của Richard Ramirez,  

bị kết án tử hình vì đã giết mười bốn người.  
 
Chương 54
 
Đêm bao phủ toàn bộ Portland, trùm lên những vực thẳm và những cánh rừng nơi đầy nỗi khiếp sợ âm ỉ về cái chết đang lảng vảng xung quanh. Những đám mây khổng lồ màu đen trôi qua giống như những bóng ma lặng lẽ, bóp nghẹt cả vùng dưới tấm áo choàng tang tóc của nó.
 
Đêm hôm đó, Brolin không đến nhà Juliette. Sau khi đào mộ Leland Beaumont, anh đã về nhà để trốn chạy nỗi sợ hãi. Vốn rất ít uống rượu, nhưng anh đã nốc hết một phần ba chai Jack’s phủ đầy bụi. Anh tắm dưới vòi hoa sen nóng rãy, gần đến mức làm anh đau đớn. Rồi anh chui vào chiếc áo phông cũ của học viện Quantico, chiếc áo màu xám sờn mòn với khẩu hiệu của FBI được viết bằng chữ đậm: Trung thanh, Dũng cảm, Liêm khiết. Anh cảm thấy an toàn khi mặc nó, giống như đang ở trong dấu tích còn lại của một thời trung thực đã qua. Thời mà anh biết anh đi đâu, làm gì và tin vào cái gì. Đấy là trước khi anh mất đi ảo tưởng về nghề nghiệp.
 
Trong sảnh nhỏ thông với phòng khách, Brolin nghe tiếng nước rỏ xuống từ áo vest của mình. Anh quay đầu và trông thấy đôi giày dính đầy bùn, hình ảnh ngôi mộ trống rỗng của Leland lại hiện ra với tất cả những điều tưởng như không thể xảy đến.
 
Cần phải nhanh chóng mở một cuộc điều tra bổ sung về vụ xác của Leland biến mất. Bởi đây không thể chỉ là chuyện đào mộ. Leland đã được chôn cất, hắn đã chết.
 
Rốt cuộc, mày có chắc không? Mày có mặt khi chôn cất không?
 
Không thể thế được, Leland đã lĩnh một viên đạn vào giữa đầu, hắn không thể sống sót bằng bất cứ cách nào. Cái xác lạnh ngắt của hắn đã được các bác sĩ khám nghiệm. Khẳng định chắc chắn.
 
Nhưng mày có kiểm tra xem liệu cái xác đã được đặt trong quan tài khi chôn cất hay không?
 
Não hắn đã bay mất cùng với hộp sọ.
 
Leland thực hành ma thuật. Hắn muốn trở nên bất tử.
 
Brolin tự tra tấn mình trong tâm thức vài phút rồi bật máy chơi điện tử. Anh đã không chơi nữa từ… từ hai tuần, quả là một kỳ tích! Bức xạ từ màn hình ti vi và động tác giật giật khi chơi đưa anh rời khỏi thực tế. Khi những xác chết sống lại đầu tiên hiện ra, Brolin ấn nút “off”. Anh ngủ một lát, một giấc ngủ trống rỗng, không mộng mị, không nghỉ ngơi.
 
Anh dậy lúc bảy giờ, chỉ kịp tắm qua rồi lái chiếc Mustang lao đến trụ sở cảnh sát trung tâm. Dạ dày réo ầm ĩ, Joshua nuối tiếc đêm ở nhà Juliette, cảm giác yên tâm trong vòng tay cô và cốc nước cam ép buổi sáng.
 
Salhindro vừa đặt điện thoại xuống thì anh thanh tra bước vào. Là người được coi như không có vai trò trực tiếp, Salhindro tham gia cuộc điều tra với một sự tận tâm gần giống chứng tốt bụng bệnh lý, nhưng đó là tính thích bận bịu với công việc của ông mà thôi. Không ai nhận xét gì, kể cả đại úy Chamberlin hay các thanh tra của Phòng điều tra tội phạm. Bắt giữ tên giết người và Quạ là ưu tiên trên hết, không tính đến chức năng của từng cá nhân.
 
Khi khám phá ra ngôi mộ rỗng, Meats và Brolin đã báo qua điện thoại cho đại úy và Salhindro, vì thế Salhindro chỉ gật đầu chào anh thanh tra trẻ khi thấy anh đi qua hành lang. Họ không muốn nói về chuyện đó, vẫn chưa muốn.
 
Những giờ đầu tiên của buổi sáng trôi qua nhưng Brolin không hề cảm thấy mệt mỏi. Anh đã điện thoại cho Lloyd Meats. Meats quay lại nghĩa trang Latourell từ sáng sớm để thẩm vấn người quản trang hiện tại và người quản trang trước đó về khả năng xảy ra một vụ đào trộm mộ. Nhưng không thu được kết quả gì. Không người nào nhận thấy bất cứ điều gì xảy ra với ngôi mộ của Leland Beaumont trong mười hai tháng nó hiện diện ở đây.
 
Carl DiMestro gọi điện lúc khoảng mười giờ rưỡi để thông báo một tin mới:
 
- Tổ tái tạo khuôn mặt của nạn nhân đầu tiên đã kết thúc công việc hôm qua. Họ đã làm việc cả bảy ngày trên bảy và tỏ ra hài lòng với kết quả, theo họ, hoàn toàn có thể khai thác được. 
 
- Tốt lắm, Carl, hãy chụp ảnh khuôn mặt và gửi cho tất cả các đồn cảnh sát trong bang, gửi cả đến bang Washington nữa, có thể quê nạn nhân ở đó. Hãy gửi một bức ảnh thật rõ nét tới tất cả các báo ở Portland và Salem, cho dù báo có số lượng phát hành nhiều hay ít. Anh phụ trách việc này có được không ?
 
- Cô X của chúng ta sắp trở thành bạn ăn sáng của tất cả người dân bang Oregon.
 
- Cảm ơn Carl.
 
- Đợi đã, vẫn chưa hết. Về loại axit được sử dụng để làm bỏng trán, máy đo khối phổ cho thấy có anhydride và một số hợp chất phổ biến khác như hydro. Thực ra, cần phải tách thành phần thuộc về thịt của nạn nhân ra khỏi những thức được thêm vào. Những hydro kết hợp với oxy hoàn toàn có thể tạo thành nước cần thiết cho H2SO4, axít sunfuric. Điều này không giúp được gì nhiều cho anh đâu, bản thân axít này là loại rất phổ biến, có thể thấy ở khắp nơi, ngay cả trong trường học. Ngoài ra, tôi đã thấy có kết quả thăm dò của Craig về Elizabeth Stinger. Các mẫu phẩm lấy bằng máy hút bụi cho thấy một lượng bột phấn nhất định.
 
- Phấn ư?
 
- Đúng. Hình như ở trên nền nhà, xung quanh nạn nhân, một lượng rất ít nên không nhận thấy được bằng mắt thường trong bóng tối, nhưng có bụi phấn trắng.
 
- Có thể do vết giày của hắn để lại không? Ví dụ như hắn đến đó từ một công trường khai thác đá chẳng hạn?
 
Brolin nghe thấy tiếng Carl lật giở báo cáo.
 
- Đợi đã … Không, lượng bột phấn nhiều hơn những gì mà vết chân có thể để lại, và rất có mục tiêu. Bột phấn chỉ có ở quanh xác, và chủ yếu ở… ở nơi lẽ ra là hai đùi của nạn nhân. Theo Craig, chính kẻ giết người đã mang phấn tới, hắn dùng phấn, vì thế bụi rơi ra nền nhà.
 
Brolin ghi lại các thông tin và cảm ơn Carl DiMestro rất nhiều vì công việc của cả nhóm khoa học.
 
Rồi anh ngồi phịch xuống ghế bành và bắt đầu cắn môi một cách rất máy móc. Hướng điều tra axít sẽ không đưa họ tới đâu cả, loại axít này không đến nỗi hiếm để có thể tìm ra một người có khả năng đã mua nó. Ngược lại, yếu tố thứ hai tỏ ra hay ho hơn. Phấn dùng vào việc gì ở đó? Lại còn với một lượng khá ít, như thế kẻ giết người viết gì đó bằng phấn, sau đấy xóa đi, vì cảnh sát không tìm thấy dòng chữ nào cả.
 
Cũng giống như việc hắn khắc một hình ngôi sao năm cánh lên trán các nạn nhân rồi sau đó dùng axít xóa đi.
 
Giống như một quân domino đổ bao giờ cũng kéo theo quân bên cạnh, nhận xét này làm bật lên trong đầu Brolin một ý tưởng khác. Kẻ giết người đã vẽ hình ngôi sao năm cánh lên nền nhà, ở nơi hắn cắt đi hai chân của Elizabeth Stinger. Một hình vẽ ma quỷ với ý nghĩa bí hiểm.
 
Brolin vùi mặt vào hai bàn tay. Thêm một khả năng nữa vừa xuất hiện, nhưng nó sẽ không có giá trị gì lắm một khi chưa được kiểm nghiệm. Không có hình vẽ cụ thể của biểu tượng đó thì chỉ dẫn không có sức nặng, vì thế anh quyết định gạt thông tin này vào một góc trong đầu và chuyển sang chủ đề khác. 
 
Anh mở tập hồ sơ đề “Leland Beaumont” và lật vài trang cho tới khi thấy thứ mà anh đang tìm: dòng chữ “địa chỉ gia đình”.
 
Trang trại Quạ, Đường Bull Run, Hạt Mulnomah.
 
Cái tên quả là kỳ dị đối với một nơi ở. Độc địa và mù mờ, chào mừng đến với họ hàng của gia đình Adams.
 
Brolin gõ móng tay xuống mặt bàn, rồi anh gật đầu.
 
Anh sẽ tới thăm ông Milton Beaumont. Lẽ ra anh phải làm việc này từ lâu rồi. Với đầu óc hơi ngây ngô, ông già đó có thể kể ra vài bí mật.
 
Brolin mở chiếc tủ trong góc rồi lấy ra một cái cặp bằng nhựa. Anh không cần phải kiểm tra thứ đựng bên trong, anh đã thuộc lòng.
 
Anh đóng sập cửa lại và đang lao thẳng về phía thang máy thì giọng đại úy Chamberlin khô khốc vang lên:
 
- Josh! Đợi một lát!
 
Một thoáng vô vọng hiện lên trong ngữ điệu của ông.
 
- Chúng ta lại vừa nhận được một lá thư nữa.
 
- Gì cơ? Có chắc chắn là của hai kẻ đó không?
 
- Nội dung thư xác thực điều đó. Lại đây.
 
Mùi thuốc lá sặc sụa trong phòng của đại úy. Bentley Cotland đang ngồi ở đây, Salhindro vừa mới tới.
 
- Thư mới đến cách đây đúng một tiếng, bằng đường thư tín thông thường, Chamberlin thông báo. Fred Chwimsky đã quét bằng đèn Polilight và luminol nhưng không thu được kết quả gì. Có vẻ nó không chứa đựng thông điệp ẩn giống như thư trước. Nhưng nó chẳng cần thêm gì cũng khiến người ta lạnh xương sống.
 
Ông chìa lá thư cho Brolin. Thư được in ra, giống như những lá thư trước.
 
Thưa các ông thanh tra,
 
Lần này, không có vần, chẳng có thơ, cũng chẳng có chỉ dẫn nào hết.
 
Các ông đã ăn gian. Cái bẫy cỏn con đó thật nực cười, nó thể hiện sự kém cỏi của các ông. Nếu các ông nghĩ rằng có thể ngăn cản được tôi thực hiện bổn phận của mình, thì hãy cố lên. Thế nhưng tôi đã bị xúc phạm khi các ông coi tôi như một con thú tầm thường mà người ta thường vây dồn và giăng bẫy. Các ông đã đánh giá thấp tôi. Vì thế tôi sẽ trừng phạt các ông.
 
Giọng điệu ngạo nghễ của ông Chamberlin, sếp của các ông, khiến tôi bị sốc nặng, hợm hĩnh đến thế mà kết quả lại tồi tệ như vậy, điều này chỉ khiến tôi khinh thường, và phải thừa nhận rằng tôi cảm thấy vui vẻ khá lâu khi cái kế hoạch cỏn con thống thiết của các ông bị thất bại. Nếu biết trước, tôi đã quay phim lại cảnh tượng đó, đài truyền hình hẳn sẽ thích lắm.
 
Bây giờ, tôi trở lại với Tác phẩm của mình. Sau khi cú trừng phạt được giáng xuống, có thể tôi sẽ lại liên lạc để các ông tiếp tục theo dõi diễn biến công việc của tôi.                                                                                           
Đã quá chán ngấy các quý ngài,
 
Tôi.
 
Brolin đặt lại lá thư vào chiếc túi nhựa bảo vệ trong khi Chamberlin căng thẳng vuốt ria mét.
 
- Không ai biết gì về những lá thư mà kẻ điên khùng này đã gửi cho chúng ta ngoài anh, vì thế tôi nghĩ rằng nó đủ đặc biệt và chính xác để xác định người viết. Joshua, anh nghĩ thế nào?
 
- Vâng, đúng thế. Có nhắc đến các chỉ dẫn, vần và thơ, tất cả những thứ có trong các thư trước. Đây không phải trò lừa. Ngoài ra, còn một số điều cũng rõ ràng. Hắn cảm thấy mình được mang một số mệnh mà hắn rất yêu thích, hắn nói về “tác phẩm”, về “bổn phận”, v.v... Hắn không hề nhắc đến kẻ còn lại, kẻ mà chúng ta nghĩ là tay sai của hắn. Hắn chỉ nói bằng ngôi thứ nhất, không bao giờ nói “chúng tôi”, như thể đối tượng kia không tồn tại, hoặc chỉ là một công cụ. Cũng giống như các nạn nhân của hắn, hắn tuyệt đối không tôn trọng họ chút nào, họ không phải là con người, mà chỉ là những đồ vật để thỏa mãn và hắn có toàn quyền với họ. Bằng chứng là hắn nổi giận vì bị vây dồn “như một con thú”, theo đúng lời của hắn, nhưng hắn cũng làm y như vậy với các nạn nhân. Họ chẳng là gì cả, nhưng khi hắn bị đối xử như vậy, hắn nổi cơn điên.
 
Brolin thoáng nhìn về phía Bentley Cotland và bất ngờ vì anh ta vẫn chưa tìm được gì để đáp lại. Brolin nói tiếp:
 
- Song dù tức giận chúng ta, hắn vẫn viết thư cho chúng ta và cho chúng ta hiểu rằng hắn sẽ còn tiếp tục. Hắn cần được công nhận. Lời lẽ của hắn chứng tỏ hắn có một phông văn hóa nhất định mà một kẻ giết người hàng loạt thường không có được, vì chúng thường là những kẻ thảm hại. Trừ khi chúng ta đang đối diện với một kẻ rất thông minh, lắm mưu mẹo và có học thức. Hắn sử dụng từ ngữ khá kiểu cách, chính xác, và hắn kết thúc bằng một từ mà mọi người gần như không sử dụng nữa, rất văn vẻ: “các quý ngài”. Có thể hắn tự học qua sách vở. Hắn xây dựng hành trang văn hóa thông qua việc đọc sách, điều này vừa lý giải cho cách dùng từ văn vẻ, vừa lý giải cho nhu cầu được công nhận của hắn. Hẳn là hắn sống một mình hoặc với “tay sai”, hắn đối xử tàn tệ với tên kia vì tên kia không đánh giá được tài năng của hắn. Có thể hắn thấy mình không được đánh giá đúng mức, hắn đã tích lũy được biết bao kiến thức nhưng lại chưa bao giờ có cơ hội khoe ra. Hắn nhút nhát hoặc khó hòa nhập với xã hội, không giao du rộng và luôn bất mãn vì không ai biết được hắn thông minh đến mức nào. Điều đó khiến hắn bực tức và hắn nhất định phải nuôi lòng hận thù với tất cả mọi người, bởi hắn đứng tách biệt. Vì thế hắn đùa giỡn với chúng ta. Hắn có một công việc mà hắn tự cho là mình làm cực giỏi, và các đồng nghiệp của hắn hẳn phải coi hắn là một kẻ tự phụ hoặc hơi điên, nhưng không nguy hiểm. Hắn điều khiển người khác rất thiện nghệ, tôi nghĩ thế. Cuối cùng, một đặc điểm liên quan tới những gì tôi đã nói ở trên, đó là hắn mắc chứng tự mê cực nặng. Hắn ký tên “Tôi” và cho rằng lẽ ra chúng ta không nên giăng một cái bẫy nực cười đến thế, như thể chúng ta không xứng đáng bắt được hắn.
 
- Anh nói rất ấn tượng, Cotland nhận xét. Tất cả chỉ qua đúng một lá thư!
 
Cotland đã đánh mất vẻ ngạo nghễ và khiêu khích của anh ta, cảnh tượng ngôi mộ trống rỗng dưới cơn mưa đêm tầm tã rõ ràng đã đặt lại anh ta vào đúng chỗ của mình. Nhưng Bentley không ảo tưởng nữa, cũng giống như sau khi giải phẫu tử thi, anh ta chịu đựng và đánh mất vẻ hung hăng, nhưng rồi nhanh chóng trở lại là Bentley Cotland, người duy nhất và độc nhất. Kẻ tự phụ. Người ta không thể thay đổi bản chất của một con người.
 
- Đây chỉ là một cách diễn giải, dần dần khi có thêm nhiều chi tiết, chúng ta có thể thu gọn thêm hồ sơ mô tả tâm lý cho tới khi có được một ý tưởng thật chính xác về hắn, về cách suy nghĩ của hắn.
 
Đoán trước là Cotland sẽ đáp lại một cách mỉa mai hoặc hung hăng, đại úy Chamberlin vội tiếp lời:
 
- Các anh thấy đấy, hắn thông báo rõ ràng rằng hắn sẽ lại tiếp tục ra tay. Ai, ở đâu và như thế nào? Hắn không cho chúng ta biết.
 
- Nhưng hắn còn giết người nữa, vụ án sắp tới sẽ dã man hơn các vụ trước. Lần này, hắn sẽ giết người vì chúng ta, để làm chúng ta đau đớn. Để động chạm trực tiếp đến chúng ta, chứ không phải để phục vụ các ý đồ của hắn. Không nên xếp vụ sắp tới vào loạt vụ mà hắn đã làm, Brolin dự đoán, ánh mắt rầu rĩ.
 
- Tên khốn kiếp này khinh thường chúng ta! Bentley phẫn nộ. Phải làm gì đó chứ, hắn sẽ giết người trước mắt chúng ta mà chúng ta lại không đủ khả năng hành động! Có đúng thế không, cảnh sát Portland?
 
Salhindro đứng dậy và cúi xuống trên Cotland, hai tay chống vào phần tay ghế.
 
- Chúng tôi đang làm tất cả những gì có thể, đồ ngớ ngẩn ạ! Tên này giết người một cách ngẫu nhiên, hắn chọn nạn nhân theo những tiêu chí riêng của hắn, không có mối liên hệ nào, không có động cơ rõ ràng nào, đây là ác mộng đối với tất cả các điều tra viên. Anh tưởng tất cả chúng tôi đều muốn nhanh nhanh chóng chóng thấy nạn nhân tiếp theo ư? Đến báo tin cho gia đình nạn nhân ư? Chịu đựng sự lên án của các phương tiện truyền thông vì hung thủ quá ranh ma, không để lại dấu vết gì ư? Có những kẻ giết người như John Wayne Gacy đã từng giết ba mươi ba nạn nhân rồi mới vô tình bị bắt. Sát thủ Zodiac đã sát hại bốn mươi ba người rồi biến mất và đến nay vẫn chưa lộ mặt. Ở đây, đã có hai nạn nhân, và tất cả chúng tôi đều mất ăn mất ngủ, nhưng khổ nỗi một cuộc điều tra luôn diễn biến chậm và giật cục. Còn anh, anh chỉ có một ý nghĩ, đó là …
 
- Larry… Larry! Chamberlin ngắt lời.
 
Salhindro lại đứng thẳng lên, mặt Cotland lại sáng bừng và hằn lên màu máu.
 
- Các anh, chúng ta đừng buông xuôi, hãy giữ đoàn kết, bây giờ không phải lúc để mất tinh thần, đại úy góp ý. Larry, chúng ta sẽ tăng gấp đôi quân số điều tra trong bốn mươi tám giờ, hãy triệu tập những người đang nghỉ phép, ngay cả những người nghỉ ốm cũng phải giúp đỡ một tay trong chừng mực cho phép. Tôi muốn chúng ta rải quân theo chiến thuật bàn cờ trên khắp thành phố và trong mọi lúc, nhất là ở những khu vực vắng vẻ mà kẻ giết người ưa thích.
 
- Tôi nghĩ là nạn nhân tiếp theo của hắn sẽ bị giết trong đường cống, Brolin nói. Hắn giết người theo Địa ngục của Dante, theo chín tầng dưới lòng đất, và Elizabeth Stinger đã được tìm thấy trước một cửa cống. Hình ảnh so sánh khá rõ ràng.
 
- Josh, chúng ta không thể cử người tuần tra dưới đó, biết bao nhiêu người cho đủ! Chamberlin rất tiếc phải phản bác.
 
- Nhưng trước khi tiếp tục “tác phẩm” của mình, hắn sẽ phải trừng phạt chúng ta, hắn sẽ tìm cách giết một người để gây tổn hại cho chúng ta. Chắc chắn hắn sẽ sắp đặt để đó là một vụ giết người được biết đến rộng rãi, bằng cách thông báo cho báo chí. Nếu trở thành trò cười cho thiên hạ, chúng ta sẽ bị mắc kẹt giữa hắn và công luận, bị cô lập và gần như nằm bên lề xã hội giống như hắn. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu hắn hành động như thế.
 
- Trong trường hợp đó, chúng ta sẽ tăng thêm quân số tuần tra, mở các tổng đài phụ và mỗi lời khiếu nại sẽ được xử lý một cách nghiêm túc nhất.
 
- Không dễ đâu! Salhindro nhận xét.
 
- Thưa đại úy, tôi rất muốn tăng cường bảo vệ Juliette thêm vài giờ, Brolin khẩn thiết nói với giọng trầm hơn. Cô ấy… cô ấy là một yếu tố tượng trưng quan trọng. Kẻ giết người cố hướng chúng ta tới Leland bằng cách sử dụng các phương pháp giống hệt, mà Juliette là người duy nhất thoát khỏi Đao phủ Portland. Ông có hiểu ý tôi không?
 
- Joshua, tôi huy động hai người thường xuyên bảo vệ cô ấy, với thời gian nghỉ luân phiên, chúng ta phải cử tới đó sáu người! Trong đa số các trường hợp, chỉ duy nhất một cảnh sát mặc sắc phục đứng gác và chấm hết, anh cũng biết đấy. Chúng ta không có đủ quân số…
 
Đại úy và thanh tra nhìn nhau, với sự đồng cảm và tôn trọng, rồi Brolin chầm chậm gật đầu.
 
- Vâng… tôi hiểu.
 
Salhindro đi về phía cửa.
 
- Tôi đi tập hợp lực lượng.
 
Ông bước nhanh ra ngoài. Brolin cũng đứng dậy, nhưng đại úy lên tiếng khiến anh dừng bước.
 
- Anh có gì không? Một hướng điều tra, hay bất cứ thứ gì có thể khiến tôi an tâm?
 
Brolin lưỡng lự rồi nhún vai,
 
- Tôi sẽ bắt đầu lại từ con số không. Tôi quay lại nguồn gốc của cái Ác, nơi nảy sinh tội ác.
 
Anh cầm lấy chiếc cặp nhựa nhỏ của mình rồi biến mất trong đám đông ồn ào.
Sự đời cà khịa cái chơi
Khi vui muốn khóc, khi cười buồn tênh!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-08-10 23:54:46Ct.Ly>
Cảm ơn Soccon, LINH HỒN ÁC - Maxime Chattam

Đã mang vào thư viện

Chúc em luôn vui, an lành





📎 welcom2
0
«« « 1 2 3 » »»