<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-07-25 05:08:54Từ Hội>
Phật lịch 2536
(Dương Lịch 1992)
KINH PHẬT-ĐẢNH-TÔN-THẮNG ĐÀ-RA-NI
Hán-dịch: Hậu-Chu Trung-Quốc
PHẬT ĐÀ-BA-LỴ Pháp-sư
THUẦN-TRINH Pháp-sư
Việt-dịch: Việt-Nam Quốc
THÍCH-THIỀN-TÂM Pháp-sư
KINH PHẬT-ĐẢNH TÔN-THẮNG ĐÀ-RA-NI
Nước Kế Tân
Sa-Môn Phật-Đà-Ba-Lỵ dịch
NHƯ THẾ TÔI NGHE:(1)
Một thời, đức Bạc Dà-Phạm(2) ở tại đạo tràng Măng-Tre, trong vườn Thệ-Đa-Lâm Cấp-Cô-Độc, thuộc thành Thất-La-Phiệt, cùng với tám ngàn chúng Tỳ Kheo(3) câu hội.
Các vị ấy đều là bậc đại A-La-Hán, hàng tri thức, của quần chúng. Trong đấy những Tôn giả(4) như: Xá-Lợi-Phất, Mục-Kiền-Liên(5), Ma-Ha-Ca-Diếp, A-Na-Luật-Đà(6)...làm thượng thủ(7).
Lại có đến ba vạn hai ngàn Bồ-Tát, đều là bậc trụ nơi hạnh Bất-Thối-Chuyển(8), chánh trí(9) soi sáng tất cả các pháp không còn ngăn ngại, dùng vô lượng công đức để tự trang nghiêm(10) cùng với các đại chúng đồng thời câu hội(11).
Trong ấy có các Bồ-tát như:
Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, Đắc-Đại-Thế Bồ-Tát(12), Mạn-Thù-Thất-Lỵ Bồ-Tát(13), Phổ-Hiền Bồ-Tát(14), Di-Lặc Bồ-Tát(15), Thắng-Liên-Hoa-Tạng Bồ-Tát, Chấp-Kim-Cang Bồ-Tát, Trì-Địa Bồ-Tát, Hư-Không-Tạng Bồ-Tát, Tịnh-Trừ-Nhất-Thiết-Chướng Bồ-Tát..., làm thượng thủ...
Lại có một vạn Phạm-Thiên-Vương, do Thiện-Tra-Phạm-Ma Thiên-Vương(16) Thiện-Kiến Thiên-Vương làm thượng thủ, từ các cõi trời khác đến dự hội...
Lại có một vạn hai ngàn vị Đế-Thích Thiên-Vương cùng với vô lượng chư Thiên, Long, Dạ-Xoa, Càn-Thát-Bà, A-Tu-La, Ca-Lâu-La, Khẩn-Na-La, Ma-Hầu-La-Dà, Cưu-Bàn-Trà, Tỳ-Xá-Giá, Nhơn-Phi-Nhơn(17)...cùng tập hội.
Bấy giờ Đức Thế-Tôn đang được bốn chúng vây quanh, cung kính cúng dường, một lòng chiêm ngưỡng cầu nghe pháp yếu.
Khi ấy tại cõi trời Đao-Lợi(18) có một vị Thiên-Tử tên là Thiện-Trụ, đang ngự tại cung báu lớn, cùng với các Thiên-nữ dự cuộc âm nhạc, ca múa, vui đùa hưởng lạc...
Lúc đó ở Thiên giới vào khoảng cuối đêm, bổng nhiên giữa hư không có tiếng gọi bảo:
"Thiện-Trụ Thiên-Tử ! bảy hôm nữa ông sẽ hết phước trời, sau khi xã báo thân(19) sẽ phải đọa xuống cõi Diêm-Phù-Đề, bảy kiếp làm thân cầm thú, thường ăn đồ nhơ uế. Kế đó lại phải đọa vào trong Địa-Ngục, chịu đủ các sự khổ, trải qua nhiều kiếp mới được làm người. Tuy được thân người, nhưng lại đen, lùn, thô, xấu, đui mù cả đôi mắt, các căn không đủ(20), hơi miệng thường hôi hám, nghèo khổ, hèn hạ, hằng thiếu ăn, thiếu mặt, mọi người trông thấy đều gớm ghét lánh xa..."
Thiện-Trụ Thiên -Tử nghe lời ấy rồi, trong tâm kinh hoàng tột độ, long tóc nơi thân đều dựng đứng, ôm lòng sầu muộn, Ông vội đem hương hoa cùng các thứ cúng dường, đến chỗ Thiên-Đế quỳ xuống dâng lễ, than khóc thuật lại việc trên và thưa rằng:
"Nay tôi tâm tư bối rối, mê loạn, không biết phải làm thế nào? Cúi xin Thiên-Đế xót thương, cứu vớt tôi ra khỏi vòng khổ độc !".
Thích-Đế Hoàn-Nhơn nghe xong, trong lòng rất lấy làm kinh ngạc, tự suy nghĩ: "Thiện-Trụ Thiên-Tử đời trước tu tạo phước gì, mà được sanh lên cõi trời, hưởng sự vui thù-thắng vi-diệu nhiều năm ? lại kiếp xưa tạo nghiệp nhân chi, đến nỗi sau khi hết thiên phước, phải chịu bảy lần làm cầm thú, rồi lại đọa vào Địa-Ngục. Sau khi được làm thân người, phải chịu đôi mắt mù lòa, thọ đủ điều xấu ác ?". Nghĩ như thế rồi, liền nhiếp tâm vào định, dùng Thiên-nhãn quán xét thấy:
Thiện-Trụ Thiên-Tử sau khi mạng chung ở cõi Trời, liền đọa xuống Nam-Diêm-Phù-Đề làm thân heo, hết thân heo, thọ thân chó, hết thân chó, thọ thân chồn, hết thân chồn, thọ thân khỉ, hết thân khỉ, thọ thân rắn-độc, hết thân rắn-độc, thọ thân kên-kên, hết thân kên-kên, thọ thân chim quạ.
Trong bảy kiếp làm cầm thú ấy, thường ăn những đồ nhơ uế, bất tịnh.
Khi thấy biết như thế rồi, ngài cũng lo lắng đau xót dùm cho Thiện-Trụ Thiên-Tử, lúc đó Thiên-Đế lại suy nghĩ:
"Thiên-nhãn của ta vốn cạn cợt, thấy biết trong một phạm vi giới hạn. Sự việc trên chỉ xem được ít phần chớ không thể hiểu được hết những nghiệp nhân xâu xa. Duy chỉ có đức Như-Lai là bậc Chánh-Biến-Tri mới có thể thấu suốt tất cả nhân quả, thiện, ác trong ba đời. Duy chỉ đức Thế-Tôn là bậc Đại-Từ, ngài mới có thể cứu vớt Thiện-Trụ Thiên-Tử này ra khỏi vòng khổ độc mà thôi.
Vậy ta nên đến cầu thỉnh đấng Như-Lai về việc này !"
Nghĩ như thế xong, ngài liền thống lãnh Thiện-Trụ Thiên-Tử cùng các chư Thiên, mang theo các thứ tràng hoa, hương lạ nhiệm màu nơi cõi Trời, anh lạc, thiên-y...bay xuống vườn Thệ-Đa-Lâm Cấp-Cô-Độc.
Bấy giờ ở cõi nhân gian, thời khắc vào khoảng đầu hôm, nhằm lúc ấy chư Bồ-Tát, Thanh-Văn, Thiên-Long Bát-Bộ và tứ chúng ... như trên đang vân tập chung quanh Phật để nghe Pháp yếu.
Khi đến nơi, Thiên-Đế hướng dẫn Thiện-Trụ Thiên-Tử và chư Thiên chúng đến đảnh lễ Phật, đi nhiễu quanh Phật bảy vòng, và dâng lên lễ vật cúng dường.
Pháp sự đã xong, bây giờ Thích-Đế Hoàn-Nhơn quỳ trước Như-Lai bạch lại việc trên và thưa thỉnh rằng:
" Bạch đức Thế-Tôn ! Chẳng hay Thiện-Trụ Thiên-Tử đời trước tu phước chi, mà được hưởng sự vui nơi cõi Trời trải qua nhiều thời gian như thế ? Lại kiếp xưa tạo ác nhân gì, mà sau khi hết phước phải bảy phen đọa làm thân cầm thú, ăn những thức ăn bất tịnh, rồi thọ các sự khổ nơi đại Địa-Ngục, sự hèn kém, thô xấu nơi cõi người ?
Lại nhờ phước duyên nào, mà cảm được giữa hư không có tiếng mách bảo ?
Xin đức Như-Lai vì thương chúng con và tất cả chúng trong đại hội nói rõ nhân duyên. Lại cúi xin đấng Thiên-Nhơn-Sư mở lượng từ-bi, cứu vớt cho Thiện-Trụ Thiên-Tử được thoát ra khỏi vòng khổ ách".
Khi ấy đức Như-Lai mỉm cười, từ nơi đảnh môn của Ngài phóng ra ánh sáng rộng lớn, soi rõ khắp mười phương cõi Phật. Quang Minh ấy, ánh chiếu lẫn nhau, rồi uyển chuyển quay về nhiểu quanh bên hữu Phật ba vòng, rồi trở vào trong miệng đấng Điều-Ngự.
Đức Thế-Tôn thu nhiếp quang minh ấy xong, bảo Trời Đế-Thích rằng:
"Lành thay ! Thiện nam tử !
Ông khéo vì Thiện-Trụ Thiên-Tử và đại chúng mà thưa hỏi nhân duyên thiện ác thuở tiền sanh(21). Lại hay vì chúng hữu tình hiện tại và đời sau, mà thưa thỉnh ta nói Pháp môn cứu khổ.
Lắng nghe ! Ta sẽ vì các ông mà giải thuyết rành rẽ:
Này Thiện nam tử ! Cách đây vô lượng, vô số kiếp về trước, có đức Phật ra đời. Vị Như-Lai ấy danh hiệu là Tỳ-Bà-Thi, Ứng-Cúng, Chánh-Biến-Tri, Minh-Hạnh-Túc, Thiện-Thệ, Thế-Gian-Giải, Vô-Thượng-sĩ, Điều-Ngự-Trượng-Phu, Thiên-Nhơn-Sư, Phật, Thế-Tôn.
Đức Phật ấy sau khi hóa duyên(22) đã mãn, ngài nhập vào cõi Vô-Dư-Niết-Bàn.
Trong thời tượng-pháp(23) của Ngài, bấy giờ có một quốc gia tên là Ba-La-Nại. Trong nước Ba-La-Nại đó, có gia đình của một người Bà-La-Môn nghèo, chỉ sanh được có một người con trai, rồi sau đó qua đời.
Cậu bé ấy ở với mẹ cho đến khi khôn lớn, được mẹ giao cho việc nông tác ngoài đồng. Bà mẹ ở nhà tảo tần lo thức ăn, mỗi ngày mang ra ngoài ruộng cho con.
Một hôm, vì bận quá nhiều công việc, cơm nước đưa đến trễ, đứa con ấy bị đói khát, trong lòng sanh ra hờn giận.
Trong một phút bực dọc, không kịp suy nghĩ, người con ấy dùng lời độc ác mắng rằng:
"Mẹ tôi còn thua loài súc sanh ! Tôi thấy mấy con heo, con chó, con chồn, con khỉ, con kên-kên, con quạ... còn biết thương lo cho con của nó ! Tại sao mẹ tôi lại để cho tôi đói khát như thế này mà lại không mang cơm nước đến ?"
Do vì lòng đói làm cho hờn giận, đứa con ấy nói như thế ba lần.
Giây lát, người mẹ đi đến với dáng điệu vội vã mang cơm nước đến cho con, lại nói nhiều lời an ủi,, khiến cho người con vui mừng, trong tâm không còn hờn giận nữa.
Đứa con ấy, khi vừa ngồi xuống, sắp dùng cơm, bỗng thấy giữa hư không có một vị Bích-Chi-Phật(24) hình tướng Sa-môn(25) bay từ phương Nam qua phương Bắc. Người con thấy rồi, sanh lòng kính ngưỡng, đứng lên chấp tay cúi đầu đảnh lễ, trên trọng thỉnh vị Bích-Chi-Phật giáng lâm.
Khi ấy, vị Bích-Chi-Phật nhận lời thỉnh, từ từ đáp xuống. Đứa con ấy rất vui mừng, lấy tranh trắng trải làm tòa ngồi, dâng hiến hoa đẹp sạch, giảm bớt nửa phần ăn của mình đem cúng dường vị Sa-môn.
Sau khi thọ thực xong, vị Bích-Chi-Phật lại vì người con ấy nói Pháp-yếu khiến cho được vui lòng.
Về sau người con xuất gia, được chư Tăng cử cho làm chức Trị-sự.
Lúc ấy, có một người Bà-La-Môn xây cất Tịnh-xá vừa xong, trong ngày khánh thành, mời đông đảo khách-tăng tụ hội đến. Lại có thí chủ khác đem nhiều tô-du và sữa đặc đến cúng dường. Ông Trị-sự hiềm vì khách-tăng luôn luôn làm cho phiền rộn, nên không đem tô-du và sữa đặc ra thiết đãi.
Khách Tăng hỏi rằng:
"Những thức ăn đó là của đàn việt(26) đem đến cúng dường cho hiện tiền Tăng dùng, sao không thấy dọn ra ?".
Ông Trị-sự tánh nóng nảy, vội lên tiếng mắng rằng:
"Bộ mấy ông đui mù hết hay sao?
Có tô-du và sữa ở đâu mà bảo tôi cất dấu? Nếu mấy ông muốn đòi thêm nữa thì chỉ có phân và nước tiểu để cho các ông ăn mà thôi".
Đức Phật bảo với Đế-Thích rằng:
" Đứa con của người Bà-La-Môn nghèo đó, là Thiện-Trụ Thiên-Tử đời nay vậy. Do vì kiếp trước trong lúc hờn giận, dùng lời ác độc, gọi tên bảy loài cầm thú mắng mẹ, nên phải chịu bảy phen làm thân cầm thú. Bởi vì khi làm chức Trị-sự, thốt ra lời nhơ-uế mắng chư Tăng, nên nghiệp cảm thường phải ăn những đồ bất tịnh.
Lại nữa do vì tâm tánh bỏn xẻn, giữ riêng thức ăn của hiện-tiền Tăng nên phải bị quả báo nơi Địa-Ngục, và chịu nghèo hèn, thô xấu trong kiếp người. Bởi mắng chư Tăng là đui, mù, nên trong bảy trăm đời liên tiếp phải chịu mù đôi mắt, sống trong cảnh tối tăm, nhiều điều phiền não.
Nên biết những tội nghiệp như thế, đã có gây nhân, tất nhiên nay phải trả quả, ảnh hưởng không bao giờ tiêu mất.
Lại nữa, này Thêin-Đế!
Sở dĩ Thiện-Trụ Thiên-Tử hưởng được sự vui thắng diệu nơi cõi trời, ấy là do kiếp trước đã trải tòa dâng hoa, cúng dường thức ăn cho vị Bích-Chi-Phật và nhờ ảnh hưởng của sự nghe chánh Pháp.
Do vì đời trước chắp tay ngửa lên hư không, hết lòng kính thỉnh, cúi đầu đảnh lễ vị Bích-Chi-Phật. Bởi công đức đó, nên mới được giữa hư không có tiếng mách bảo cho biết trước. Tiếng mách bảo ấy là của vị Thần giữ cung điện của Thiện-Trụ Thiên-Tử vậy.
Khi ấy Thiện-Trụ Thiên-Tửnghe lời Phật dạy, biết nghiệp quả của mình đều có túc-nhân(27) trong lòng hết sức ăn năn, tự trách. Ông gieo mình đảnh lễ trước Phật, tỏ bày tội lỗi, cầu xin sám hối, thương khóc, sa nước mắt như mưa đến nỗi máu chảy ra theo lệ, ứ đọng nơi chiếc khăn trong giỏ đựng hoa, chết ngất hồi lâu mới tỉnh lại.
Bấy giờ đức Phật bảo với Đế-Thích và Thiện-Trụ Thiên-Tử rằng:
"Trong cả thảy mười nghiệp ác (28), khẩu nghiệp(29) rất là mãnh liệt. Phải biết lời ác còn quá hơn lửa dữ, bởi vì lửa dữ chỉ đốt tiêu tất cả tài sản, và của báu ở thế gian, trái lại lửa giận ác-khẩu chẳng những đốt mất cả Thất-Thánh-Tài(30) và tất cả các công-đức xuất thế(31) mà còn thêm chiêu-cảm ác-báo về sau.
Như Thiện-Trụ Thiên-Tử đây, chỉ vì nóng giận mắng mẹ và chư Tăng mà tổn bớt phước Trời, phải chịu làm thân cầm thú và quả báo nơi Địa-Ngục.
Cho nên, đối với Cha Mẹ và chư Tăng, lẽ ưng tôn trọng, cung kính cúng dường, dùng lời dịu dàng khen ngợi, thường nghĩ đến ân-đức, chớ không nên sanh lòng khinh-hủy.
Lòng từ-ái giữa trần gian chỉ có Cha-Mẹ, ruộng phước trong ba đời(32) không chi hơn chúng Tăng. Đối với các bậc chân Tăng, hiền Thánh, nếu cúng dường thì công đức không mất. Như tiến thêm, muốn cầu Pháp xuất thế, lại cũng có thể thành đạo, đâu nên đối với chúng Tăng vội thốt lời khinh-chê hủy-nhục. Còn Cha-Mẹ công sanh, dưỡng rất là khó nhọc, mười tháng cưu-mang khổ nặng, ba năm bú sữa, mớm cơm. Trải qua biết bao sự lo lắng, gian lao, nuôi con khôn lớn, dạy dỗ, cho học hành, chỉ mong sao cho con được thành lập, tài đức hơn người.
Nếu con xuất gia, lại mong con được đắc đạo, thoát vòng sanh tử, ân niệm ấy cao rộng như biển trời, khó sánh ví, khó trả đền. Vì thế, ta đã bảo với A-Nan:
Nếu có người, vai bên trái cõng Cha, vai bên mặt cõng Mẹ, đi giáp núi Tu-Di trăm ngàn vòng, huyết chảy ngập hai bàn chân, cũng còn chưa thể báo đền công ơn sanh dưỡng ấy, huống chi lại còn khởi niệm hờn giận, buông lời khinh mắng ư !
Này Thiên-Đế ! Thiện-Trụ Thiên-Tử nay vì do được thấy ta, một lòng chí tâm sám-hối, nên đạo nhãn trong suốt, tội chướng cũng được trừ diệt.
Đức Thế-Tôn lại nhìn Thiện-Trụ Thiên-Tử an ủi và bảo rằng:
"Ông chớ nên quá buồn, thương, khóc lóc.
Ta có một Pháp-môn tên là
"PHẬT-ĐẢNH-TÔN-THẮNG ĐÀ-RA-NI"
Ông trì chú nầy, tất sẽ thoát khỏi vòng khổ-ách. Môn Đà-Ra-Ni nầy đây, vô-lượng hằng hà sa chư Phật đời quá khứ đã tuyên nói, ta nay cũng sẽ diễn nói.
Trong tất cả các Thần-Chú(33) về Phật-Đảnh, môn Đà-Ra-Ni nầy rất là tối-tôn, tối-thắng, hay trừ hết tất cả những sự khổ-não trong sáu nẻo luân hồi của tất cả chúng sanh.
Thích-Đế Hoàn-Nhơn nghe Phật nói, tâm sanh vui mừng, hy hữu, một lòng khát-ngưỡng, thưa rằng:
"Bạch đức Thế-Tôn ! Cúi xin Như-Lai thương nghĩ đến Thiện-Trụ Thiên-Tử và bọn chúng con, cũng vì chúng-sanh đời mạt pháp về sau mà tuyên thuyết môn
PHẬT-ĐẢNH ĐÀ-RA-NI ấy".
Chúng con sẽ tuân hành và nguyện cho tất cả các loài hữu tình đều thoát khỏi sự khổ tam-đồ, bát-nạn(34).
Bấy giờ, đức Như-Lai vì Thiên-Đế, Thiện-Trụ Thiên-Tử cùng bốn bộ chúng và chúng sanh đời mạt pháp về sau. Ngài dùng giọng Phạm-Âm trong sáng, thanh diệu hòa nhã như tiếng chim Ca-Lăng-Tần-Già(35), thuyết ra Thần-Chú rằng:
PHẠM ÂM
Namo bagabhàté, Sarvatadran lokiya,
Pradi Vitistraya, Buddhàya bagabhàté,
Tadyatha ! Aum ! Bhrum, bhrum, bhrum,
Suddhàya suddhàya,
Visuddhàya Visuddhàya,
Á sàma sàma, Samànta bhàvasad,
Sabhàrana gati gagàna,
Svabhàva visuddhi, Á vicanya dumam
Survatatthà gadà, Sùgada,
Bhàra bhàcanà Amirtá pisàku,
Maha mùdra, mandara pana,
Aum ! Á hàra áhàra,
Ayusàn dhàrani, Suddhàya suddhàya,
Gagana svabhàva visuddhi,
Usnisà vicaya visuddhi,
Sáhàsara rasami santonité,
Sàrava tatthàgada, Avalokini,
Sarvatatthàgada matté, Sàtra pàramità,
Bari pùrani, Nasà bùmipra dissité,
Sàrava tatthagada h'ridhàya, Dissàna,
Dissité, Aum ! Mùdri mùdri maha mùdri,
Vajra caya, Samhàdana visuddhi,
Sàrava Kama, bhàrana visuddhi,
Para durikati biri visuddhi,
Pratina varadhàya aỳusuddhi,
Samaỳa dissàna dissité,
Aum ! Mani mani màhà mani,
Á mani, á mani, Vimani vimani màhà vimani,
Matdi matdi màhà matdi,
Tatthàdà bùdha, Kuthi virisuddhi,
Visaphora buddhi visuddhi,
Aum ! hyhy, Jàya jàya,
Vijàya vijàya, Samara samara,
Sabhàra sabhàra, Sàrabhà Buddha,
Dissàna, Dissité, Suddhi suddhi,
Vàjri vàjri màhàvàjri,
Á vàjri, Vàjra gàbi, Jàya gàbi, Vijàya gàbi,
Vàjra jvàlà gàbi
Vàjro nagaté, Vàjro nabàvé, Vàjra sambàvé,
Vàjro vàjrina, Vàjram vabhà dumàmà,
Sàriram sàrabhà sattabhànaim,
Tàcaya biri visuddhi,
S'ya vabhà dumi satna,
Sàrabhà gati birisuddhi,
Sàrabhà tatthagada s'yami,
Sàma sabhà sadyantu,
Sarva tatthagada, Sàma sàbhàsa dissité,
Aum ! S'diya s'diya,
Buddhiya buddhiya, Vibuddhiya vibuddhiya
Boddhàya, boddhàya, Viboddhàya, viboddhàya,
Mocaya mocaya, Vimocaya vimocaya,
Suddhàya, suddhàya, Visuddhàya visuddhàya,
Samàntà tatbiri mocaya,
Samandhàya sami birisuddhi,
Sarabhà tatthàgadà samaya h'ridhàya,
Dissàna Dissité,
Aum ! Mùdri mùdri màhà mùdra
Mandàra pana, Dissité, Svàhà.
(PHIÊN ÂM VIỆT NGỮ)
Nam mô ba ga pha tê, Sạt hoa tát răn lô ki da,
Bơ ra đi vi ti sắc tra da, Bút đà da ba ga phê tê,
Tát đi da tha ! Um ! Bút rum, bút rum, bút rum,
Suýt đà da, suýt đà da,
Vi suýt đà da, vi suýt đà da,
Á sá ma sá ma, Sa măn tá phạ hoa sát,
Sa phả ra na ga ti, ga gạ na,
Xoa phạ hoa vi suýt đi, Á vi chuân da đu măn,
Sạt hoa tát thá ga đá, Sú ga đa,
Phạ ra, phạ ca nã, A mi rị tá, bi sá cu,
Ma ha muýt đơ ra, măn đa ra ba na,
Um ! Á hạ ra, á hạ ra,
A du săn đà ra ni, Suýt đà da, suýt đà da,
Ga ga na xoa phạ hoa vi suýt đi,
U sắc ni sá vi ca da, vi suýt đi,
Sá hạ sa ra, ra sa mi săn tô ni tê,
Sá ra hoa tát thá ga đa, A hoa lô ki ni,
Sạt hoa tát thá ga đa mát tê,
Sá tra bá ra mi tá, Ba ri bủ ra ni,
Na sá bủ mi bơ ra, đi sắc si tê,
Sá ra hoa tát thá ga đa hất rị đà da,
Đi sắc sá na, Đi sắc si tê,
Um ! Muýt đơ ri, muýt đơ ri, ma ha muýt đơ ri,
Hoa di ra ca da, Săn hạ đa nã, vi suýt đi,
Sá ra hoa ca ma, phạ ra na vi suýt đi,
Ba ra đu ri ca ti, bi ri vi suýt đi,
Bơ ra ti na hoa ra đá da, a dục suýt đi,
Sam ma dã, đi sắc sá na, đi sắc si tê,
Um ! Ma ni, ma ni mạ hạ ma ni
Á ma ni, á ma ni, Vĩ ma ni, vĩ ma ni,
mạ hạ vĩ ma ni, Mát đi mát đi, mạ hạ mát đi,
Tát thá đá, bủ đa, Cu thi vi ri suýt đi,
Vĩ sa phổ ra, bút đi vi suýt đi, Um ! hi hi,
Dá ra, dá ra, Vĩ dá ra, vĩ dá ra, Sa ma ra, sa ma ra,
Sa phạ ra, sa phạ ra, Sá ra phạ bút đa,
Đi sắc sá na, Đi sắc si tê, Suýt đi, suýt đi,
Họa di ra gạ bi, Dá ra gạ bi, Vĩ dá ra gạ bi,
Họa di ra, rít họa lã gạ bi,
Họa di rô, na ga tê, Họa di rô, na bà vê,
Họa di ra, sam bà vê, Họa di rô, họa di rị na,
Họa di rảm, hoa phạ đô mạ mạ,
Sá rị rảm sá ra phạ sát ta phạ năng,
Tả ca da bi ri vi suýt đi, Sất da hoa phạ đô mi sát na,
Sá ra phạ, ga ti bi rị suýt đi,
Sá ra phạ tát tha gạ đa sất da mi,
Sá ma sa phạ sát dăn tu, Sạt hoa tát tha ga đa,
Sá ma sá phạ sa đi sắc si tê,
Um ! Sất đi da sất đi da, Bút đi da bút đi da,
Vi bút đi da vi bút đi da, Bồ đà da bồ đà da,
Vi bồ đà da, vi bồ đà da, Mô ca da mô ca da,
Vi mô ca da vi mô ca da, Suýt đà da, suýt đà da,
Vi suýt đà da, vi suýt đà da,
Sa măn tá tát bi ri mô ca da,
Sa măn đá da sa mi bi ri suýt đi,
Sá ra phạ tát thá ga đá sam ma da hất rị đà da,
Đi sắc sá na đi sắc si tê,
Um ! Muýt đo ri muýt đơ ri mạ hạ muýt đơ ra,
Mạn đà ra bá na, Đi sắc si tê, Soá ha.
Thuyết chú xong, đức Như-Lai bảo rằng:
"Nầy Thiên-Đế ! môn Như-Lai Quán-Đảnh, Thanh-Tịnh, Chư-Thú, Phật-Đảnh-Tôn-Thắng Đà-Ra-Ni nầy(36) đã có tám mươi tám câu chi, trăm ngàn Hằng-hà-sa chư Phật đã từng tuyên thuyết và nghiêm-mật thủ-hộ, tùy hỷ ngợi khen. Tất cả Như-Lai đều đồng ấn-khả.
Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thiện-nam-tử, Thiện-nữ-nhơn nào thọ trì, hoặc đọc tụng. Do công đức ấy, nên những tội ngũ-nghịch, thập-ác(37) trong trăm ngàn muôn kiếp đều được tiêu trừ, sẽ chứng được quả A-NẬU-ĐA-LA-TAM-MIỆU-TAM-BỒ-ĐỀ.
Kẻ ấy trong kiếp hiện tại sẽ được túc mạng trí(38), sau khi xóa bỏ báo-thân nầy, sẽ sanh từ cõi Trời này đến cõi Trời khác, từ cõi Phật nầy đến cõi Phật khác. Kẻ ấy sẽ được chư Bồ-Tát Ma-Ha-Tát(39) như Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ-Tát, Phổ-Hiền Bồ-Tát, Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, Đại-Thế-Chí Bồ-Tát xoa đầu thọ-ký. Kẻ ấy thường ở nơi đạo-tràng nghe, hiểu và thọ-trì chánh-pháp.
Kẻ ấy ba nghiệp thân, ngữ, ý, hằng luôn thanh tịnh, tâm an vui, thân khổ dứt trừ, luôn luôn được những xúc giác nhẹ nhàng, thọ mạng tăng thêm, không bị hoạch-tử(40).
Kẻ ấy được chư Thiên-Thần hộ vệ, chư Bồ-Tát từ-ái ngắm nhìn, chư Phật hộ-niệm. Người trì chú nầy, khi đến cõi Địa-Ngục, Ngạ-quỷ, Diêm-ma-vương(41) đọc tụng, thì tất cả các tội-phạm nơi đó đều được giải-thoát, cảnh giới trống rỗng(42). Các cung Trời, cung điện của Bồ-Tát, các cung điện của Phật đều mở cửa rước người thọ trì thần chú vào.
Tại sao thế ?
Bởi vì môn Đà-Ra-Ni nầy, hay trừ sạch tội ngũ-nghịch, thập-ác của chúng sanh. Hay cứu tất cả những khổ-nạn trong cảnh Diêm-ma, Bàng-sanh(43), Ngạ-quỷ, Địa-ngục. Hay độ thoát tất cả chúng sanh nghiệp nặng, phước mỏng, nghèo-nàn, hèn-hạ, đau-bịnh, tàn-tật, yểu-thọ, xấu-xa, câm-ngọng, đui-điếc. Hay cứu vớt các loài A-Tu-LA(44), Dạ-Xoa, La-sát, Phú-đơn-na, Ca-tra-phú-đơn-na(45), các thân quỷ, thần. Cho đến nay độ thoát hết tất cả các loài thủy-tộc(46), phi-cầm(47), tẩu-thú(48), rắn-rết, ruồi-muỗi, côn-trùng.
Các chúng sanh ấy tuỳ phận sẽ được sanh về các cảnh giới an-lành và lần lượt đều sẽ chứng quả giải-thoát.
Nầy Thiên-Đế ! nếu có người thọ trì chú nầy, từ kiếp hiện tại cho đến tất cả những kiếp trở về sau, sẽ vĩnh-viễn lìa khỏi ác đạo(49), thường sanh trong hàng quý-tộc ở cõi người, hoặc sanh lên cõi Trời, cho đến được cùng mười phương chư Phật đồng ở chung một chỗ, cùng chư Bồ-Tát làm bạn lành, và kết cuộc sẽ chứng được quả Vô-thượng Chánh-đẳng, Chánh-giác.
Nầy Thiên-Đế ! môn Phật-Đảnh-Tôn-Thắng Đà-Ra-Ni nầy của ta đây, có đủ hết tất cả thần-lực, uy-thế, công-đức rộng, lớn, rực-rỡ như mặt trời kiết-tường, như châu-ma-ni(50), trong sạch, sáng suốt, chẳng chút bợn nhơ, tùy ở chỗ nào phóng ánh sáng quang-minh làm sáng sạch nơi đó.
Lại nữa, như ở thế-gian thì bảy báu(51) là thù-thắng, tất cả các hàng vua, quan, dân chúng đều ưa thích, quý trọng, nhìn không chán mắt. Môn Đà-Ra-Ni nầy cũng thế, nếu kẻ nào thọ trì, đọc, tụng, biên chép hoặc cúng-dường, kẻ ấy sẽ được vô-lượng công-đức, tất cả Trời, Thần, Thiên-Long, Bát-bộ đều ưa kính, quý-trọng.
Nầy Thiên-Đế ! Nếu có hàng vua, quan, tứ chúng nào biên chép Đà-Ra-Ni nầy để trong tháp bằng bảy báu, nơi tòa sư-tử, nơi tháp ở ngã tư đường, trong tháp xá-lợi, hoặc nơi đầu phướng cao, lại dùng các thứ hương, hoa, anh-lạc, y-phục, thức ăn uống, thuốc men cúng dường...kẻ ấy công đức được nhiều vô-lượng, vô-biên, không thể dùng phước hay trí mà tính kể được.
Kẻ ấy chính thực là đích-tử của tất cả chư Phật, kẻ ấy chính là bậc đại Bồ-Tát, vì đã cứu vớt được vô-lượng chúng sanh đi qua lại nơi đó.
Nếu có chúng sanh nào phạm tội tứ-trọng, ngũ nghịch, thập-ác, các trọng giới cùng tất cả các tội nặng, đáng lẽ đọa tam-đồ, ác đạo thọ vô-lượng tội khổ, mà đi ngang qua tháp hoặc phướng có để Đà-Ra-Ni nầy, được một điểm bụi hay một chút gió từ nơi tháp, phướng ấy dính nhiễm đến thân hình, hoặc được bóng tháp, phướng che, thì tất cả các tội nặng thảy đều được tiêu trừ, được sanh về cõi Trời, hưởng sự vui thù-thắng, vi diệu, hoặc tuỳ duyên sanh về Tịnh-Độ.
Kẻ nào thường thọ trì môn Đà-Ra-Ni nầy, khi sắp tụng niệm, dùng nước rửa tay, nước đó rơi xuống đất, rưới nhằm các loài trùng, kiến, các vật loại ấy đều được nhờ ảnh hưởng công đức ấy mà được sanh lên cõi Trời.
Cho nên các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thiện-nam, Tín-nữ, nếu trai giới thanh tịnh, ngày sáu thời thọ trì Đà-Ra-Ni nầy, thì các tội tứ-trọng, ngũ-nghịch, thập-ác...cùng tất cả các tội nặng trong ba đời, thảy đều tiêu-diệt, được chư Phật cùng chư Bồ-Tát xoa đầu thọ-ký.
Bấy giờ đã quá nửa đêm, Diêm-Ma-La-Vương, Hộ-Thế-Tứ Thiên-Vương(52), Đạo-Lợi Thiên-Vương, Đâu-Xuất-Đà Thiên-Vương, Hoá-Lạc Thiên-Vương, Tha-Hóa Tự-Tại Thiên-Vương, Phạm Thiên-Vương, Đại-Phạm Thiên-Vương suất lãnh quyến thuộc trăm ngàn muôn-ức, đem theo hương, hoa, và các thứ để trang-nghiêm, đến nhiểu quanh bên hữu Phật bảy vòng, đảnh lễ nơi chân Phật, rồi dâng hiến thức cúng-dường.
Lễ kính đã xong, lại thưa thỉnh rằng:
"Bạch đức Thế-Tôn ! Chúng con nghe Như-Lai diễn thuyết môn Phật-Đảnh-Tôn-Thắng Đà-Ra-Ni nên đến đây xin thính-thọ và tùy thuận theo lời dạy của đức Thế-Tôn mà thủ-hộ. Cúi xin đấng Thiên-Nhơn-Sư vì chúng con nói các Pháp yếu về thần chú nầy để cho sự thọ-trì của chúng con được thông suốt và thành-tựu".
Đức Phật bảo vua Diêm-Ma-La và các vị Thiên-Vương rằng:
1. Nếu có chúng-sanh nào bị khổ-nạn, tội-chướng cực nặng mà không có ai cứu hộ. Kẻ ấy nên chọn ngày trăng sáng, tắm, gội, thay y-phục sạch-sẽ, thọ bát-quan trai giới(53), quỳ trước tượng Phật tụng Đà-Ra-Ni nầy 1080 biến, thì tất cả các tội-nghiệp, chướng nạn thảy đều tiêu diệt. Kẻ ấy sẽ được thanh-t5nh, giải-thoát, được môn Tổng-Trì Đà-Ra-Ni, biện tài vô-ngại.
2. Nếu kẻ nào chưa trì-tụng, mà chỉ nghe một âm-thanh của Đà-Ra-Ni nầy lọt vào tai, tức liền thành-tựu được hột giống của Phật. Ví như một chút kim-cương rớt xuống đất, tất lần lượt xuyên lọt tới nơi bản-tế(54) mới dừng lại, đất tuy dày nhưng không thể làm trở ngại được. Thần chú nầy cũng thế, khi đã lọt vào tai, liền huân-tập chủng-tử, khiến cho lần lần thành-tựu được quả Chánh-Đẳng, Chánh-Giác, phiền não tuy nặng cũng không thể ngăn che. Dù cho kẻ ấy có bị đọa vào trong cõi Địa-Ngục, Ngạ-quỷ, Bàng-sanh đi nữa, cũng không bị nghiệp-báo làm cho hạt giống đó tiêu mất. Trái lại còn nương nơi sức Chú, lần lượt tiến-tu cho đến khi thành Phật.
3. Nếu có chúng sanh nào một phen nghe được Đà-Ra-Ni nầy, qua kiếp hiện tại, sẽ không còn bị các tật bệnh, không còn bị các khổ não, cũng không còn thọ thân bào thai, tùy theo chỗ sanh mà hoá hiện nơi hoa sen. Từ đó về sau, ngũ-nhãn lần lần thanh-tịnh, được túc-mạng-trí, kiết-sử(55) tiêu trừ, sẽ chứng được chứng quả Vô-Thượng Đẳng-Giác.
4. Nếu có kẻ nào mới chết, hoặc chết đã lâu, có người tụng 21 biến Đà-Ra-Ni nầy vào một nắm đất hoặc cát, rãi lên thi hài, hoặc rãi lên nấm mộ, kẻ ấy nhất định sẽ được sanh về mười phương Tịnh-Độ. Như người chết thần-thức đã bị đọa vào Địa-ngục, Ngạ-quỷ, Bàng-sanh, khi đất cát ấy dính vào hài cốt, cũng được thoát khỏi ác thú, sanh lên cõi Trời.
5. Nếu có chúng sanh nào mỗi ngày trì-tụng thần Chú nầy 21 biến, thì kẻ ấy ưng tiêu được sự cúng dường rộng lớn của tất cả thế-gian, sau khi xả báo thân sẽ được sanh về thế-giới Cực-Lạc của đức Phật A-Di-Đà. Còn kẻ nào thường tụng niệm Chú nầy ngày, đêm sẽ được tăng thêm thọ-mạng, hưởng được mọi sự vui thù-thắng, nhiệm-mầu, được thọ-ký, hào quang cùng ánh sáng nơi thân sẽ chiếu đến tất cả cõi Phật, rốt-ráo chứng được Đại-Niết-Bàn.
6. Nếu như muốn được oai-lực, tự-tại, hành-giả nên dùng các thứ bột nếp, bột gạo...v..v..nắn thành hình người để tám phương hướng nơi đàn tràng. Trong bảy ngày đêm đối với tám phương mà tụng Chú, tất mọi sự mong cầu đều được như sở nguyện.
7. Nếu muốn lui nước lụt dâng tràn, hướng về phương nước dâng lên, tụng chú nầy 108 biến mà cầu nguyện thì nước lụt sẽ rút lui.
8. Nếu bị nạn vua, nạn quan, nạn binh lửa, nạn giặc cướp, nạn khẩu-thiệt, tụng chú nầy 21 biến vào năm thứ nước thơm, đem rưới trên đảnh của tượng Phật, đoạn dùng nước ấy tắm rửa tượng Phật thì tất cả các tai-nạn thảy đều tiêu-diệt.
9. Nếu có chúng sanh nào tướng-mạng yểu thọ, muốn cầu sống lâu, kẻ ấy nên chọn ngày trăng sáng, tắm gội, thay y-phục sạch-sẽ, một lòng trai giới, tụng Chú nầy đủ 1080 biến, tất sẽ được trường thọ, tất cả các tội chướng thảy đều tiêu-diệt.
10. Nếu có người tụng Chú nầy 1 biến vào lỗ tai của bất kỳ một loại cầm thú nào, thì sanh-loại ấy sau khi thọ hết kiếp đó sẽ không còn thọ thân cầm-thú nữa, dù có nghiệp nặng sẽ bị đọa vào trong Địa-Ngục cũng được thoát ly.
11. Nếu có kẻ nào bị bệnh trầm-trọng, chịu nhiều đau khổ, nghe được Đà-Ra-Ni nầy, sẽ lìa được bệnh khổ, tội chướng tiêu-diệt. Cho đến tất cả chúng sanh trong bốn loài(56) nghe được Chú nầy, đều xa bệnh khổ, lìa thân bào thai, hóa sanh nơi hoa sen, tùy theo chỗ sanh mà nhớ biết đời trước, kiếp trước không sai.
12. Nếu có chúng sanh nào vừa mới khôn lớn, đã tạo các tội tứ-trọng, ngũ-nghịch, thập-ác liên tiếp cho đến tuổi già, kẻ đó tự suy-nghĩ biết mình do nghiệp-ác nầy, sau khi mãn phần sẽ đọa vào trong Địa-Ngục A-Tỳ, chịu vô-lượng sự khổ lớn trải qua trong vô-lượng kiếp, rồi xoay vần mãi trong ba đường ác-đạo không ai cứu vớt. Người ấy nên chọn ngày rằm, tắm gội, mặc y-phục tinh khiết, dùng cái bát bằng vàng, bạc, hoặc bằng đồng, có dung lượng chứa nước khoảng một thăng(57), đem bát ấy đựng nước trong sạch để trước tượng Phật, thọ giới Bồ-Tát, trì trai thanh tịnh. Vào ở nơi đàng tràng hình đứng vào vị thế ở phương Đông, hướng mặt về tượng Phật ở Phương Tây, chắp tay đảnh lễ một lòng chí-thành sám-hối, rồi tụng Đà-Ra-Ni nầy 1080 biến giữa chùng liên tục không nên gián đoạn. Kẻ đó dùng nước ấy rưới khắp bốn phương trên và dưới, nguyện cho tất cả đều được thanh-tịnh. Sau khi làm phép nầy xong, tất cả các tội-chướng đều được tiêu-diệt, thoát khỏi các tội báo nơi Địa-Ngục, Tam-Đồ, vua Diêm-Ma-La buông tha, thần Tư-Mạng(58) vui đẹp, không sanh giận trách, trở lại chấp tay cung kính, tùy-hỷ, ngợi-khen công-đức.
13. Nếu như muốn cứu độ người tội nặng, nên chọn ngày rằm, tụng Chú nầy vào mật hoặc sữa 1080 biến, rồi cho người đó ăn. Làm như thế, đương nhơn sẽ được tiêu trừ tội-chướng, sanh về cõi lành, lần lượt tiến tu, tất sẽ chứng được quả vô-thượng Chánh-Đẳng, Chánh-Giác.
14. Nếu tụng 21 biến chân-ngôn nầy gia-trì vào tăm xỉa răng, rồi đem dùng, có thể trừ được bệnh đau răng, được mạnh khỏe, thông minh và trường-thọ.
15. Nếu muốn cứu độ tội khổ của loài súc-sanh nên gia-trì Cú nầy vào cát hoặc đất vàng 21 biến, đem rãi trên mình chúng và bốn phương, tội-chướng của chúng sẽ tiêu-diệt.
16. Nếu có chúng sanh nào muốn được phước đức đầy-đủ, muốn cầu tài lộc, bảo vật xứng ý, muốn cứu hộ mình và người, kẻ ấy nên khởi lòng lành, mỗi ngày phát nguyện sám-hối, đối trước tượng Phật kiết ấn tụng Chú nầy 7 biến, tâm không tán-loạn, mắt nhìn tượng Phật không di-động, rồi đem công đức tụng niệm ấy thí cho tất cả chúng sanh. Nếu tác Pháp và có tâm làm đúng như thế, quyết định sẽ được như nguyện, tăng phước lộc trong đời hiện tại, và cả những kiếp về sau.
17. Nếu hành-giả(59) ở nơi đạo-tràng, mỗi ngày ba thời, mỗi thời tụng Chú nầy 21 biến gia-trì vào chén nước sạch, rồi dùng tâm trân-trọng bưng chén nước uống. Làm như thế sẽ tiêu trừ các bệnh, sống lâu trăm tuổi, giải trừ hết mọi oan kết, tiếng nói thanh-diệu, biện-tài thông-suốt, mỗi đời túc-mạng-thông, nhớ biết rõ ràng đời và kiếp trước của mình. Nếu đem chén nước ấy rưới trong phòng nhà, cho đến chỗ chuồng trâu, ngựa, thì nơi đó sẽ được oai-lực của chân-ngôn giữ gìn an-ổn, trừ các nạn như:
* Nạn Quỉ La-sát, nạn rắn, rồng...như đem chén nước ấy, miệng tụng Chú rưới trên đảnh người bệnh và cho bệnh nhơn uống, các thứ bệnh khổ nơi thân sẽ được dứt trừ.
18. Nếu muốn cho tiêu trừ các tai chướng, nên dùng vải lụa năm sắc, kết làm cây phất trần. Kế đó tụng Chú vào nơi cây phất, quét bụi nơi tượng Phật và kinh. Thường làm như thế, chướng nạn của mình sẽ được tiêu, mà tội nghiệp của chúng sanh sẽ trừ diệt.
19. Nếu kẻ bị nhiều khẩu thiệt, và tai tiếng phát khởi, nên dùng châu-sa hòa với bạch-mật hoặc đường cát trắng, tụng Chú vào đó 21 biến, rồi đem thoa vào môi 100 tượng Phật, làm như thế khẩu thiệt và tai tiếng sẽ được tiêu trừ.
20. Nếu vợ hay chồng chán ghét lẫn nhau, muốn được hòa thuận, nên tụng Chú nầy vào vải hay lụa 21 biến xong đem may áo cho chồng hay cho vợ mặc, làm như thế vợ chồng sẽ được hòa thuận.
21. Nếu người nam hay nữ bị ma quỉ khuấy rối, hoặc phần âm yêu đắm, quyến luyến chẳng chịu buông tha, nên giữ chánh niệm vừa tụng Chú, vừa xoa khắp mình nạn nhân, kế đó lấy tay vỗ, đánh vào thân, ma quỉ liền bỏ chạy.
22. Nếu như người nữ không có ai đến cưới hỏi, nên dùng muối tốt, sạch, tụng chú vào đó 108 biến, rồi đem cúng dường cho hiện tiền Tăng, tất sẽ được như ý.
23. Nếy như chỗ ở có quỉ, thần hung dữ đến khuấy rối, nên tụng Chú vào trong thức ăn 21 biến rồi đem cúng thí cho ăn. Trong khi ấy lại nói: "Nay tôi cúng thí cho các vị, như không làm tổn hại cho chúng-sanh thì tùy ý ở lại, nếu làm tổn hãy mau đi nơi khác". Nếu như vị quỉ, thần đó hung-hãn không nghe lời, nên dùng cọc sắt dài khoảng 12 ngón tay, tụng Chú vào đó 21 biến, rồi đem cọc sắt đó đóng lút sâu vào trong đất. Làm như thế, các quỉ, thần hung dữ phải chạy ra khỏi địa-giới.
24. Nếu có bệnh-nhân bị tinh mỵ dựa vào, kẻ cứu độ nên nhìn chăm chú vào mặt người bệnh mà tụng Đà-Ra-Ni nầy, tinh mỵ sẽ xuất ra.
25. Nếu có quỉ La-sát hoặc quỉ thần dữ tợn vào trong quốc giới, gây đau bệnh, làm khủng bố hoặc não loạn dân chúng. Nên xưng tụng danh hiệu Tam-Bảo, ngày đêm tụng trì Chú nầy, kết ấn Phật-Đảnh-Tôn-Thắng rãi khắp bốn phương, tất cả các tai nạn đều tiêu-diệt. Làm như thế cũng cứu luôn được các chúng-sanh đang thọ khổ-nạn nơi chốn tam-đồ.
26. Nếu muốn bố thí nước cho loài ngạ-quỉ, nên tụng Chú nầy vào trong nước sạch 7 biến rồi rãi khắp bốn phương, tâm tưởng, miệng nói cầu cho tất cả chúng được thọ dụng, như thế các ngạ-quỉ sẽ được uống nước Cam-lộ, và sẽ trừ được nghiệp-khổ của kiếp ngạ-quỉ.
27. Nếu người nào buôn bán ế-ẩm, muốn được khách hàng chiếu cố, nên kết ấn thường tụng Chú nầy 21 biến, an trí tượng Phật nơi chỗ tinh sạch, kín đáo mà cúng-dường, tất sẽ toại ý.
28. Nếu người nào mỗi ngày ba thời, mỗi thời tụng Chú nầy 21 biến, cung kính cúng-dường, chí-tâm thọ-trì lại vì người khác giải nói, người ấy sẽ được an vui, sống lâu, không bệnh, phát sanh trí-tuệ, được Túc-mạng-thông, khi lâm chung như con ve thoát xác, liền được sanh về thế-giới Cực-lạc của Phật A-Di-Đà, tai không nghe tiếng khổ, tiếng Địa-Ngục, huống chi lại nói đến sa-đọa, kẻ ấy sẽ tuần tự tiến trên con đường Đạo-quả cho đến khi thành Phật không còn nghi ngại.
Bấy giờ đức Phật bảo vua Diêm-La cùng các vị Thiên-Vương rằng:
"Nếu có chúng-sanh nào muốn lập đàn-tràng để trì-tụng Đà-Ra-Ni nầy, nên dùng đất vàng trộn với nước thơm mà bôi trên mặt đàn.
Đàn-tràng phải lập vuông vức, mỗi bề rộng bốn cánh tay, dùng giây lụa năm sắc bao vòng quanh ba lớp, tụng Chú vào hạt cải trắng hoặc nước thơm rải ra bốn bên.
Bốn góc đàn-tràng để bốn bình nước tinh sạch, các bình nước lượng lớn nhỏ đều phải đồng nhau. Giữa đàn tràng rãi các thứ hoa, đốt các thứ hương, thấp các loại đèn dầu có chất thơm. Trước tượng Phật, phải dùng các đồ quý giá hoặc đẹp sạch, dùng các thứ cơm trắng, nếp, sữa, đường hoặc các thứ hoa quả cúng dường.
Hành-giả phải tắm, gội sạch-sẽ, mặc y-phục mới, sạch, tinh-khiết, giữ giới Bồ-Tát, không nên ăn các thức ăn có màu sắc đen, mỗi thời khóa trì-tụng, phải kiết ấn Phật-Đảnh-Tôn-Thắng và trì 108 biến Chú, nếu có thể 1080 biến.
Trì-tụng như thế sẽ tiêu được tất cả các tội-chướng, tăng trưởng vô-lượng phước-đức, căn-lành. Hành-giả đó quyết-định sẽ được sanh về mười phương Tịnh-Độ và được thọ-ký thành Phật quả.
Muốn kiết ấn Phật-Đảnh-Tôn-Thắng nên chắp hai tay lại, hai ngón trỏ co vào trong lòng bàn tay, hai ngón cái áp vào lóng giữa ngón trỏ là ấn thành.
Khi kiết ấn nầy và tụng 108 biến Chú, tức là đã cúng dường, thừa sự tám mươi tám cu-chi Hằng-hà-sa Na-do-tha trăm ngàn chư Phật, được chư PHật ngợi khen, được chư Phật kêu xưng là Phật tử.
Nếu có người nào mỗi ngày kiết-ấn trì-tụng Chú nầy 108 biến, sẽ được mưới phương chư Phật thọ-ký, quyết định không còn nghi ngại. Như mỗi ngày kiết-ấn trì-tụng được 1080 biến, kẻ ấy sẽ được thân kim-cang bất-hoại, và mau chứng thành Đạo-quả.
Hành-giả nào mỗi ngày thường trì-tụng Chú nầy, rồi kiết ấn đối với bốn phương, tụng một biến Chú, rãi một lượt ấn. Người đó sẽ được tất cả Thiên, Long, quỉ, thần cung kính vây quanh ủng hộ. Người đó hiện tại sẽ được nhan sắc tươi đẹp, sự cần dùng tùy tiện, sẽ được Chư Thần sui khiến cho có người mang đến. Người đó sẽ được tất cả chư Phật ngợi khen, sẽ được tùy ý sanh về mười phương Tịnh-Độ.
Tóm lại, công-đức cùng thần-lực của Tôn-Thắng Đà-Ra-Ni nầy vô cùng, vô-tận, vô-lượng, vô-biên, có thể tùy theo tâm nguyện mà ứng dụng, không sao tả xiết !
Đức Phật bảo Thiên-Đế và tất cả đại-chúng:
Môn Phật-Đảnh-Tôn-Thắng Đà-Ra-Ni đây, về sau trong thời kỳ mạt-pháp, nếu có hàng vua, quan, hay tứ chúng y đúng theo như pháp thức mà lập đàn tu tràng thọ-trì, cúng-dường, đó gọi là tu Bố-thí-độ. Khi lập đàn tu hành, phải nên giữ ba nghiệp thanh tịnh, không khởi lòng phiền-não giận hờn, đó gọi là Trì-giới-độ và Nhẫn-nhục-độ. Mỗi ngày trì niệm không gián đoạn, biếng trễ là Tinh-tấn-độ. Chuyên y theo phép tắc, một lòng không loạn, ấy là Thiền-tịnh-độ. Bố trí đàm-tràng đúng pháp, thông hiểu phép thọ-trì, khéo lượng chừng độ, biết việc nên làm hoặc không nên làm, ấy là Bát-nhã-độ.
"Nầy Thiên-Đế và đại chúng ! Nếu y theo lời dạy nầy mà kiến lập pháp-sự, tức là đã đầy đủ sáu phép Ba-la-mật. Các ông nên xoay vần, khai-thị, khiến cho chúng-sanh thày đều được lợi ích, và chứng quả Bồ-Đề!".
Khi đức Phật nói Pháp-môn nầy xong, Thiên-Đế, Thiện-Trụ và chư Thiên lãnh giáo trở về Thiên-cung.
Thiện-Trụ Thiên-Tử y theo lời dạy mà thọ-trì, mãn bảy ngày, dùng thiên-nhãn quan sát, tự thấy tội báo của mình thảy đếu tiêu trừ, phước thọ ở cõi Trời càng tăng thêm vô-lượng. Ông vui mừng khấp-khởi, cả tiếng khen ngợi rằng:
"Kỳ diệu thay Phật-Đà ! Kỳ diệu thay Đạt-Mạ ! Kỳ diệu thay Tăng-Già ! Kỳ diệu thay sức Chú Ấn Phật-Đảnh-Tôn-Thắng Đà-Ra-Ni, hay trừ diệt tất cả khổ ách, khiến cho tôi thoát khỏi các ác báo như thế."
Liền đó ông đến trình bạch lại sự việc với Thiên-Đế, thỉnh ngài cùng với Thiên-chúng xuống cõi Diêm-phù-đề tạ ơn đức Phật. Thiên-Đế xuất lãnh Thiện-Trụ Thiên-Tử và tất cả hàng tùy-thuộc, mang theo các thứ hương hoa, phướng lọng, trầm hương, y-phục và các thứ anh-lạc quý, đẹp, ngồi xe báu như-ý, bay xuống vườn Thệ-Đa-Lâm, đảnh lễ cúng dường Phật.
Hành lễ xong lại chắp tay đi nhiễu quanh Như-Lai trăm ngàn vòng rồi đứng qua một phía, dùng các lời kệ ca ngợi công đức của đấng Thế-Tôn.
Bấy giờ, đức Như-Lai đưa cánh tay sắc vàng, ngàn muôn phước trang nghiêm, xoa đầu Thiện-Trụ Thiên-Tử, dùng tiếng Phạm-âm thâm-diệu và hòa nhã nói những lời Pháp-yếu và thọ cho Bồ-Đề ký.
Đức Phật lại bảo rằng:
"Kinh nầy tên là
TỊNH-NHỨT-THIẾT ÁC-ĐẠO,
PHẬT-ĐẢNH-TÔN-THẮNG ĐÀ-RA-NI
Các ông phải nên cố gắng thọ-trì".
Thiên-Đế, Thiện-Trụ Thiên-Tử và đại chúng vui mùng, một lòng đảnh lễ, tín-thọ phụng-hành.
********************
PHẦN CHÚ THÍCH
(1) Tôi: - Đây là đức A-Nan, một vị đệ-tử hầu cận đức Phật, Ngài có một trí nhớ rất lạ-lùng hy-hữu. Cho nên Phật giao cho ngài một nhiệm vụ là ghi nhớ hết tất cả kinh Phật đã thuyết ra.
(2) Bạc-Dà-Phạm: - Là một tên khác nữa của Phật. Nguyên văn chữ Phạn là Bhagavan, Hán dịch là Tự-tại, Đoan-nghiêm, Kiết-tường, Tôn-quý, Hữu-đức. (Gọi thẳng tắt là đức Phật với đầy đủ mười hiệu...)
(3) Chúng Tỳ-kheo: - Gọi chung hết tất cả đệ-tử của Phật, không phân biệt Tăng hay Ni. Gọi là chúng vì có nhiều người.
(4) Tôn-Giả: - Chỉ cho các bật đại đệ-tử đắc từ quả vị A-La-Hán trở lên của Phật.
(5) Xá-Lợi-Phất: - Là vị đại đệ-tử A-La-Hán có trí tuệ vào bậc nhất của Phật.
Mục Kiền Liên: - Là mộ vị đệ-tử A-La-Hán có thần-thông phép-tắc bậc nhất của Phật.
(6) A-Na-Luật-Đà: - Còn một tên khác là A-Nậu-Lâu-Đà. Nguyên là một trong sáu Hoàng-tử của giòng họ Thích-ca xuất gia. Là một đệ tử A-La-Hán của Phật, chứng được đệ nhứt thiên-nhãn (Nhạo kiến chiếu-minh Kim-cang Tam-muội). Thiên-nhãn chứng đắc được, ngài nhìn hết Tam-thiên, Đại-thiên thế-giới rõ ràng như xem chỉ trong lòng bàn tay.
(7) Thượng-Thủ: - Đứng đầu, làm lớn hơn hết trong chúng...(Tại sao trong kinh để các vị A-La-Hán trước các vị Bồ-Tát?. - Bởi vì các vị A-La-Hán chấp giữ nghiêm nhặt 250 giới Tỳ-kheo không thiếu sót để trang -nghiêm oai-nghi. Còn ở bậc Bồ-Tát, vì giới Bồ-Tát rộng-rãi hơn, tâm Bồ-Tát rộng lớn hơn, tùy theo thời nghi thích-hợp mà độ chúng-sanh, cho nên về thể-tướng trang-nghiêm thì A-La-Hán phải đứng đầu. Đây cũng cần nói rõ hơn là nếu về phương diện tâm giới thì Bồ-Tát giới và Bồ-Tát tâm thù thắng hơn hàng Tỳ-kheo nhiều đến vô-lượng, vô số lần...)
(8) Bất-Thối-Chuyển: - Chỉ dùng để gọi cho các bậc đại Bồ-Tát đã phát tâm không lui sụt từ đệ bát địa (bậc thứ 8) trở lên mà thôi. Sở dĩ gọi là Bất-Thối-Chuyển vì Bồ-Tát ở địa vị nầy phát tâm rộng độ hết tất cả chúng-sanh không sợ mỏi-mệt, không nài khó-khăn, lao-khổ trước bất cứ chúng-sanh hung dữ nào. Dù chúng-sanh đó khó độ thế mấy đi nữa, Bồ-Tát ở bậc nầy cũng tìm đủ phương cách, biến hoá đủ mọi thân hình để độ cho được.
Trong kinh Địa-Tạng có nói:
"...Ta phân ra nhiều thân để độ thoát chúng-sanh mỗi-mỗi sai khác như thế. Hoặc hiện ra thân gái..., quỉ, thần, trời, rồng, núi-non, ao-ngòi, sông-rạch...thậm chí đến thị hiện ra làm thân ngũ cốc, lúa mè...để làm cho chúng-sanh được lợi-ích..."
Tóm lại, Bồ-Tát trụ nơi hạnh Bất-Thối-Chuyển tức là bậc Bồ-Tát phát tâm rộng độ khắp tất cả chúng-sanh không nài mỏi-mệt...
(9) Chánh-Trí: - Trí huệ chơn-chánh, hiểu biết chơn-chánh. Chỉ được gọi là có trí-huệ chơn-chánh khi chứng được từ đệ tứ quả A-La-Hán trở lên mà thôi.
(10) Công-Đức Trang-Nghiêm: - Các bậc giải-thoát đã chứng được Thánh quả (từ đệ nhất quả Tu-đà-hoàn trở lên) không trang nghiêm thân thể bằng thất-bảo như chư Thiên trên cõi Trời hay người nơi chốn thế-gian. Những vị Thánh-nhơn nầy chỉ trang-nghiêm thân bằng đức hạnh và công đức tu-trì mà thôi. Đây là một sự trang-nghiêm vi-diệu, nhiệm-màu bằng tâm tướng mà người thế-gian không có.
(11) Câu-Hội: - Tập họp lại chung ở một chỗ. Đây ý nói tất cả các vị Trời, người...vv... đồng thời họp lại để nghe Phật thuyết Pháp.
(12) Đắc-Đại-Thế Bồ-Tát: - Tức là Đại-Thế-Chí Bồ-Tát. Vị đại Bồ-Tát nầy là một trong Tây-Phương Tam-Thánh ở cõi nước Cực-Lạc của Phật A-Di-Đà, thường đứng hầu bên tay phải của Phật. Tượng trưng cho sức đại-hùng, đại-lực, tiếp dẫn chúng-sanh niệm Phật trong mười phương vãng-sanh về Cực-Lạc thế giới...
(13) Mạn-Thù-Thất-Lỵ Bồ-Tát: - Tiếng Phạn là Manjusri. Hán dịch là Diệu-Kiết-Tường, trong kinh xưng tên là Văn-Thù Sư-Lợi Pháp-Vương Tử Bồ-Tát. Vị Bồ-Tát nầy thường ngồi trênlưng con sư-tử lông xanh, tay cầm như-ý, hầu bên tay trái Phật Thích-Ca Mâu-Ni, giữ về phần Trí cho nên gọi là Đại-Trí-Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ-Tát...
(14) Phổ-Hiền Bồ-Tát: - Là một vị Bồ-Tát hầu bên tay phải Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Vị Bồ-Tát này thường cõi con voi trắng có sáu ngà, tay cầm quyển kinh, tượng trưng cho sức đại-tổng-trì và hạnh nguyện. Ngài có một sức thần-thông rộng lớn bất khả tư-nghì...
(15) Di-Lặc Bồ-Tát: - Trong kinh còn gọi là A-Dật-Đa Bồ-Tát. Tiếng Phạn là Maitreja dịch là Từ-Thị, tên một vị Bồ-Tát sẽ nối ngôi thành Phật kế đức Thích-Ca Mâu-Ni.
(16) Thiện-Tra Phạm-Ma Thiên-Vương: - Tên của vị Thiên-tử chủ cõi Phạm-Thiên.
(17) Thiên: - Thiếng Phạn gọi là Đề-Bà (Deva), ta gọi là Trời. Các vị nầy do tu thập-thiện nên hưởng phước thiên-nhiên, sự ăn mặc tùy niệm hiện thành.
Long: - Tiếng Phạn gọi là Na-Dà (Naga), ta gọi là Rồng. Loại nầy có thần-thông biến hoá, hoặc giữ cung điện Trời, hoặc giữ địa-luân, hoặc làm mưa gió.
Dạ-Xoa: - Tiếng Phạn (Yaksa), dịch là Dõng-kiện, Bạo-ác hay Thiệp-tật, một loài quỉ rất hung mãnh, bay đi mau lẹ, có phận sự giữ các cửa khuyết cùng thành trì của Trời.
Càn-Thát-Bà: - Tiếng Phạn (Gandharva), dịch là Hương-ấm, nhạc-thần của Trời Đế-Thích, dùng hương thơm là thức ăn.
A-Tu-La: - Tiếng Phạn (Asura), dịch là Phi-thiên, một loại Thần có phước Trời mà đức không bằng Trời, hay thần thông biến hoá, xong thân hình thô xấu, vì kiếp trước tánh hay sân hận.
Ca-Lâu-La: - Tiếng Phạn (Garuda), dịch là Kim-súy-điểu, một loại chim thần, cánh có lông sắc vàng tốt đẹp, hai cánh xòe ra cách nhau đến 3,360,000 dặm, có thần thông biến hoá.
Khẩn-Na-La: - Tiếng Phạn (Kimnara), dịch là Nghi-nhơn, một loại thần giống người nhưng không phải là người, vì trên đầu có sừng, ca múa rất hay, thường tấu Pháp nhạc và ca múa cho Trời Đế-Thích nghe.
Ma-Hầu-La-Dà: - Tiếng Phạn (Mahoraga), dịch là Đại-mãng hoặc Địa-long, tức là thần Rắn. Từ Thiên, Long cho đến Ma-hầu-la-dà tám loài, gọi là Bát-bộ.
Cưu-Bàn-Trà: - Tiếng Phạn (Kumbhànda), dịch là Yểm-mị quỉ.
Tỳ-Xá-Giá: - Tiếng Phạn (Pisàca), còn gọi Tỳ-Xá-Xà, dịch là Đạm-tinh-khí quỷ. Đây là hai loại quỷ vương trong bát-bộ quỷ thần.
Nhơn-Phi-Nhơn: - Loại quỷ thần hình như người mà không phải là người, hoặc có sừng, có cánh, có móng vuốt. Đây cũng là danh xưng chung cho bát-bộ quỷ thần, vì họ không phải là người mà biến ra hình người đến nghe Phật thuyết Pháp. Kinh Xá-Lợi-Phất nói: "Bát-bộ đều là Nhơn-Phi-Nhơn".
(18) Trời Đao-Lợi: - Tiếng Phạn (Trayastrimsá). Còn có tên là Tam-Thập-Tam-Thiên (Thiên-xứ thứ hai của 33 cỏi Trời). Cảnh trí ở cõi nầy cực kỳ thắng diệu, tuyệt vời, không sao tả xiết...
(19) Báo-Thân: - Tức là thân tội báo. Thân nầy có nhiều tội lỗi. Do tội lỗi mà thành ra có xấu, đẹp, giàu, nghèo, thông-minh, ngu-độn...v.v...
(20) Các Căn Không Đủ: - Là thiếu tay, chân, hoặc mắt, mũi...v.v...
(21) Tiền-Sanh: - Những cuộc sống về trước của thuở quá-khứ.
(22) Hóa-Duyên: - Tức là nhân duyên giáo-hóa của một đức Phật.
Ví-dụ: Hoá duyên của Phật Thích-Ca Mâu-Ni tại cõi Nam-diêm phù-đề là 50 năm (30 tuổi thành đạo, 80 tuổi nhập Niết-bàn).
(23) Thời Tượng Pháp: - Khi một đức Phật ra đời, rồi nhập vào Niết-bàn. Giáo Pháp của đức Phật ấy được phân chia ra làm ba thời kỳ: Chánh-Pháp, Tượng-Pháp, Mạt-Pháp. Ba thời kỳ nầy gọi chung một tên là Pháp-vận, nghĩa là thời vận của một giáo pháp (cũng như vận hạn)...
Chánh-Pháp: - Vì chữ Chánh có nghĩa là chứng. Trong thời kỳ nầy, tuy Phật đã nhập diệt (Niết-bàn), nhưng Pháp-nghi, Giới-luật còn vững chắc. Có người hành trì, có người tu chứng.
Thời gian Chánh-Pháp của đức Thích-Ca Mâu-Ni Thế-Tôn là 500 năm sau (sau khi Phật nhập Niết-bàn).
Tượng-Pháp: Vì chữ Tượng có nghĩa là mường-tượng, có nghĩa là tương-tợ mà thôi. Trong thời-gian nầy, Pháp-nghi, Giới-luật của Phật để lại bị các Ma-tăng (người tu hành tà bậy, ngoại đạo trà trộn vào để phá Đạo...) giảng-giải sai lầm một cách cố ý...Tuy có giáo-lý, có người hành-trì, song rất ít người chứng Đạo. Trong triệu người tu may ra còn được vài mươi người chứng đắc. Thời gian nầy gồm trong 1000 năm kế tiếp.
Mạt-Pháp: Vì chữ Mạt có nghĩa là Vi-mạt. là hạt bụi nhỏ, như chót đầu lông, như điểm sương ban sáng...Trong thời gian nầy, đạo-đức suy đồi, Pháp-nghi hư hoại. Tà ma, ngoại đạo lẫn-lộn vào phá hư Phật-Pháp. Tuy có giáo-lý, có người tu-hành, song không ai hành trì đúng Pháp, huống chi dám nói đến người tu chứng ư?...
Thời gian nầy gồm trong 1000 năm kế tiếp trước, trở riết về sau. Trong kinh Đại-tập, Phật huyền ký rằng: " ...Thời Mạt-Pháp, ức-ức người tu-hành song không có một ai chứng-đắc..."
(24) Bích-Chi-Phật: - Còn gọi là Duyên-giác, chứng đắc 12 nhân-duyên. Cũng gọi là Độc-giác Phật.
(25) Sa-môn: - Người xuất gia đã thọ đủ Cụ-túc-giới (giới tỳ-kheo).
(26) Đàn-Việt): - Là tên gọi chung cho tất cả Phật-tử.
(27) Túc-Nhân: - Nhân gây ra từ nhiều kiếp trước.
(28) Mười nghiệp-ác: - Gồm có các nghiệp sau đây:
* Thân nghiệp: Có 3 tội là: Sát-sanh, trộm-cắp, dâm-dục.
* Khẩu nghiệp: Có 4 tội là: Nói láo, nói hung dữ, nói đâm thọc, nói hai chiều.
* ý nghiệp: Có 3 tội là: Tham lam, nóng giận, và si-mê.
Cộng chung của 3 cái Thân-Miệng-Ý có cả thảy 10 tội. Trong 10 tội nầy, tội của miệng là nặng nhất.
(29) Thất-Thánh-Tài: - Là 7 tài sản của bậc Thánh-nhân. Gồm có:
* Tín: Là đức tin.
* Tấn: Là tinh-tấn.
* Tàm-quý: Là hổ thẹn với bên ngoài, hổ thẹn với bên trong.
* Đa-văn: Là học nhiều hiểu rộng.
* Xả: Là trong tâm không chấp giữ.
* Định: Tâm không bị chao động.
* Huệ: Là trí huệ (Lửa dữ thế gian không thể đốt tiêu được Thất-thánh-tài, nhưng lửa sân hận có thể đốt tiêu hết tất cả)
(31) Công-Đức Xuất-Thế: - là đầy đủ hết việc lợi mình, lợi người (tức là giải thoát). Muốn được đầy đủ phần công đức xuất-thế nầy, phải dứt được phần tư-hoặc (tham, sân, si, mạn, nghi). Từ quả vị A-La-Hán trở lên mới được đầy đủ công đức xuất-thế.
(32) Ba-Đời: - Đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai.
(33) Thần-Chú: - Thần có nghĩa là Linh-thông, Chú có nghĩa là Chúc-nguyện, về Thể gọi là Đà-Ra-Ni, về dụng gọi là Chú.
(34) Tam-Đồ: - Nói chung là Địa-ngục, nói riêng là ba cái hình phạt ghê gớm:
1) Đao-đồ: Hình phạt đâm chém, địa-ngục non đao, rừng kiếm.
2) Nhục-đồ: Hoặc là huyết-đồ, máu chảy, thây phơi, banh da, xẻ thịt...v.v...
3) Hỏa-đồ: Địa-ngục lửa.
Bát-Nạn: - Là 8 cái nạn lớn của chúng-sanh. Ấy là 1- Đao, 2- Binh, 3- Nước, 4- Lửa, 5- Trộm cướp, 6- Thiên-tai, 7- Thất mùa, 8- Bão lụt.
Tám nạn khác nữa là 1- Địa-ngục, 2- Ngạ-quỷ, 3- Bàng-sanh, 4- Câm-ngọng, Đui-điếc, 5- Sanh trước Phật, hay sau Phật (Vào thời không có Phật-Pháp), 6- Sanh Bắc-Cu-Lư-Châu, 7- Sanh Vô-Tưởng Thiên, 8- Thế trí biện thông.
(35) Ca-Lăng Tần-Già: - Đây là tên của một loài chim chỉ có nơi cõi Cực-Lạc của Phật A-Di-Đà mà thôi. Loài chim nầy do thần thông của Phật hoá ra. Chim nầy có giọng hót nói ra những lời thuyết Pháp vô cùng vi-diệu và thanh-tao tuyệt vời.
Câu: Ca-Lăng tiếng hát nghe đâu đó...
Là ý chỉ cõi lòng tưởng nhớ đến cõi Cực-Lạc là nơi mà người tu hằng luôn mong mỏi được sanh về.
(36) Đà-Ra-Ni: - Tiếng Phạn (Dhàrani), dịch là Tổng trì; có 3 loại: một chữ, nhiều chữ, và không chữ. Vì bao gồm vô lượng Pháp nên gọi là Tổng. Vì chứa vô-lượng nghĩa nên gọi là Trì. Môn Tổng-Trì có công năng phá-tà lập-chánh, tiêu diệt nghiệp ác, phát sanh phước đức căn lành.
Đà-Ra-Ni (thần-chú) là tên gọi chung cho tất cả Thần-Chú.
(37) Tội Ngũ-Nghịch: - Năm tội bội phản. Thay vì báo ân, trả nghĩa, bồi bổ phước điền, lại đi làm phản nghịch, cho nên kể là tội.
Trong A-Xà-Thế vấn ngũ nghịch kinh, có ghi năm tội là 1- Giết cha, 2- Giết mẹ, 3- Hại A-La-Hán, 4- Phá hòa hợp Tăng, 5- Đâm, chém Phật chảy máu, hay khinh hủy Pháp của Như-Lai. Người nào phạm 5 tội lớn ấy, lại không hối cải, phát lòng sám hối, tu trì, thì phải đọa vào địa-ngục vô-gián (Ngũ vô-gián địa-ngục), tức là sẽ bị hành hạ mãi-mãi ở địa-ngục, không biết bao giờ mới được ra khỏi. Vì vậy Ngũ nghịch tội cũng kêu là Ngũ vô-gián tội.
(38) Túc-Mạng-Trí: - Biết nhiều kiếp trước, thời quá khứ.
(39) Bồ-Tát Ma-Ha-Tát: - Tiếng Phạn (Bodhisattva Mahàsattva), Bồ-Tát dịch là Đại-đạo-tâm chúng-sanh, hoặc Giác-hữu-tình, nghĩa là bậc chúng có lòng Đạo lớn và tuy giác-ngộ mà còn có tình thức. Ma-ha-tát dịch là Đại-chúng-sanh. Nói tóm lại, Bồ-Tát Ma-Ha-Tát là Đại-Bồ-Tát, bậc Bồ-Tát lớn trong hàng Bồ-Tát.
(40) Hoạch-Tử: - Chết yểu.
(41) Diêm-Ma-Vương: - Diêm Vương.
(42) Cảnh-giới trống-rỗng: - Cảnh-giới không còn tội-nhơn, không còn người thọ khổ.
(43) Bàng-Sanh: - Thú vật (loài súc sanh có xương sống nằm ngang, xương sống con người thì thẳng đứng.
(44) A-Tu-La: - Tiếng Phạn (Asura) dịch là Phi-Thiên, một loại Thần có phước Trời mà đức không bằng Trời, hay thần-thông biến hoá song thân hình thô xấu, vì kiếp trước tánh hay sân hận.
(45) Ca-Tra-Phú-Đơn-Na: - Tiếng Phạn (Patapùtana) dịch là Kỳ-xú-quỉ, thường làm bệnh kêu khóc và gây tai nạn. Hai loại quỉ nầy thân hình rất xấu xa, hôi hám.
Phú-Đơn-Na: - Tiếng Phạn (Phùtana) dịch là Xú-ngạ-quỉ, thường làm bệnh nóng.
(46) Loài-Thủy-Tộc: - Những loài thú sống dưới nước.
(47) Phi-cầm, (48) Tẩu-Thú: - Các loài chim bay và những loài thú sống trên mặt đất.
(49) Ác-Đạo: - Là đướng ác. Gồm có 3: Địa ngục đạo, ngạ quỷ đạo, và súc sanh đạo.
(50) Châu-Ma-Ni: - Hột ngọc như-ý, có khả năng ban phát hết tất cả đồ dùng mà chúng-sanh mong muốn.
(51) Bảy-Báu: - Vàng, bạc, lưu-ly, cà-cừ, chơn-châu, mã-não, và san-hô.
(52) Hộ-Thế-Tứ-Thiên-Vương: - Bốn vị Thiên-Vương ở cõi Trời Tứ-Vương, cõi Trời nầy nằm giữa chừng núi Tu-Di.
(53) Bát-Quan-Trai-Giới: - Tám giới cho người Phật-tử tại gia tu-trì trong một ngày một đêm. Gồm có: 1- Không sát sanh, 2- Không trộm cắp, 3- Không dâm dục, 4- Không láo xược, 5- Không uống rựu, 6- Không son phấn hay xức nước hoa, đeo nữ trang, 7- Không nằm giường cao và không xem hát xướng, 8- Không ăn xái giờ.
(54) Bản-Tế: - Lớp kim-cương nằm sâu trong lòng đất làm nền tảng của quả Địa-cầu.
(55) Kiết-Sử: - Kiết là trói buộc - Sử là sai-sử, sai khiến...mười kiết sử này hằng luôn trói buộc và sai-khiến tất cả chúng-sanh không sao thoát được, tựa như chủ nhân sai-khiến, trói buộc tôi tớ, kẻ ăn người ở, nô-lệ vậy...
10 Kiết-sử ấy là:
1) Tham: Lòng ham muốn, dục vọng, lòng mong cầu...v.v...
2) Sân: Lòng sân-hận, nóng độc...
3) Si: Lòng si-mê, điên-cuồng, chấp-ngã...
4) Mạn: Khinh-khi, ngạo-mạn, phách-lối, coi không ai ra gì...
5) Nghi: Nghi-ngờ, không quả quyết, không chắc-chắn...
6) Thân-kiến: Thấy có ta và cái của ta, do từ đó mà sanh ra tội lỗi.
7) Biên-kiến: Sự thấy biết nghiêng lệch, méo-mó, thấy cái bên ngoài, không thấy
cái vi-diệu bên trong, không rõ sự thật...
8) Tà-kiến: Thấy bậy bạ, lấy ngu làm khôn, lấy sa-đọa làm giải thoát, lấy tội lỗi
làm cứu cánh, không thèm nghe, học các Đạo mầu vô-thượng của Phật...
9) Kiên-thủ-kiến: Lấy cái dở làm hay, cái hay làm dở, thấp kém mà cứ cho mình
là tuyệt đỉnh, không cần nghe, học, thực hành theo các bậc cao minh chỉ điểm...
10) Giới-thủ-kiến: Giữ chắc lấy một cái biết thô-sơ, kém-cỏi, không chịu và
không thèm học để biết thêm các điều cao-diệu, có ích-lợi cho sự giải-thoát...
Mười kiết-sử nầy luôn sai khiến chúng-sanh không ngừng nghỉ, chúng-sanh bị làm
nô-lệ cho nó nên không giải-thoát được, ví như người bị trói, không sao được
tự-do, chỉ trừ bậc chứng quả A-La-Hán trở lên mới thoát được mà thôi.
(56) Bốn loài: - Loài sanh bằng thai.
- Loài sanh bằng trứng.
- Loài sanh từ nơi ẩm-ướt.
- Loài từ biến hoá mà sanh ra, như lăng quăng thành muỗi, sâu thành
bướm...v.v...
(57) Một-thăng: - 1 ô = khoảng 3 lít. Dụng cụ để đong gạo thời xưa.
(58) Thần Tư-Mạng: - Ông Táo, (Tư-mạng Táo-quân).
" Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều tròn thành Phật Đạo"
A-Di-Đà-Phật
Từ-Hội