📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

CÔNG VIÊN KHỦNG LONG KỶ JURA - MICHEAL CRICHTON - HẾT 🔒

45 trả lời, 8.436 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-12-26 09:33:14buihongvan>
Truyện được đánh máy từ bản scan của duy-anh-o2
Tên truyện: Công viên khủng long kỷ Jura - Jurassic Park
Tác giả: Micheal Crichton
Người dịch: Trương Văn Khanh
Thể loại: Khoa học viễn tưởng
NXB Kim Đồng và NXB Lao Động năm 1994
0
DẪN TRUYỆN
VẾT CẮN CỦA CON CHIM ĂN THỊT
Mưa nhiệt đới gõ rào rào trên mái tôn dợn sóng của phòng khám bệnh viện, theo ống máng tuôn xuống mặt đất như một dòng thác. Roberta Carter thở dài nhìn qua cửa kính. Từ phòng khám, chị khó mà thấy được bãi biển và đại dương ở ngoài xa kia bị che mờ trong một màn sương thấp. Đây không phải là điều chị mong đợi khi đến đây, ngôi làng đánh cá Bahia Anasco bờ biển phía tây Costa Rica, để sống hai tháng với tư cách một bác sĩ lâm sàng. Roberta đã mong chờ nắng ấm và sự nghỉ ngơi sau hai năm nội trú kiệt sức ở phòng cấp cứu bệnh viện Micheal Reese ở Chicago
Chị đã đến đây được ba tuần và ngày nào trời cũng mưa. Mọi thứ khác thì tuyệt. Chị thích sự cách biệt của làng Bahia Anasco và sự thân thiện của dân chúng ở đây. Costa Rica có một trong hai mươi hệ thống bệnh viện tốt nhất thế giới, và ngay cả ở một ngôi làng xa xôi này, phòng khám vẫn tốt, thiết bị đầy đủ. Bác sĩ phụ tá cho chị là Manuel Aragon, rất thông minh và được đào tạo tốt. Roberta có thể thực hành tay nghề ngang với mức chị đã thực hành ở Chicago.
Nhưng cơn mưa! Cơn mưa triền miên, bất tận!
Ngồi bên kia bàn trong phòng khám, Manuel gật gật đầu:
- Hãy nghe kìa.
Roberta nói:
- Ừ nhỉ, tôi nghe rồi.
- Có gì đâu nhỉ. Để nghe xem nào.
Và chị nghe rõ một âm thanh khác hòa lẫn với tiếng mưa, tiếng rì rầm từ xa vọng đến cho đến khi rõ hẳn: tiếng ầm ầm của một động cơ trực thăng. Chị nghĩ: Họ không thể bay được trong thời tiết như thế này. Nhưng tiếng động cơ nghe càng lúc càng to, và chiếc trực thăng xuất hiện từ đám sương mù sà xuống, đảo tròn trên bờ biển tìm chỗ đáp. Đấy là chiếc Sikorsky bụng to với một sọc xanh bên hông có dòng chữ "InGen Construction", tên của một công ty xây dựng đang xây một trung tâm nghỉ mát trên một trong mấy hòn đảo ngoài khơi
Roberta tự hỏi không hiểu có điều gì khẩn cấp ở hòn đảo ấy đến nỗi chiếc trực thăng phải bay đến đây trong thời tiết này. Qua kính trước của phòng lái, chị thấy viên phi công thở phào nhẹ nhõm khi chiếc trực thăng đáp yên lành xuống mặt cát ướt bở biển. Nhiều người mặc đồng phục nhảy ra và mở rộng cánh cửa hông lớn. Chị nghe họ nói với nhau bằng tiếng Tây Ban Nha
Manuel thúc cùi chỏ vào chị. Họ đang tìm một bác sĩ.
Hai người da đen của đội bay khiêng một người nằm bất động đi về phía chị. Một người da trắng có vẻ là chỉ huy, mặc áo mưa vàng, tóc hung hung thò ra quanh mép mũ lưỡi trai. Anh ta lên tiếng hỏi khi chị chạy đến gần.
- Có bác sĩ nào ở đây không
- Tôi là bác sĩ Roberta đây
Mưa rơi từng hạt to đập vào đầu vào vai chị. Người da trắng nhíu mày nhìn Roberta. Chị mặc Jeans xẻ lên tận gối theo mốt hiện đại, đội mũ rộng vành, ống nghe choàng qua vai. Người áo mưa vàng nói:
- Tôi là Ed Regis. Tôi có một người bị thương rất nặng, bác sĩ à.
- Rất nặng à? Vậy thì tốt hơn là ông nên mang bệnh nhân đến San José.
San José là thủ đô của Costa Rica, chỉ cách đấy hai mươi phút bay.
- Nhưng chúng tôi không thể vượt các dãy núi trong thời tiết này. Bác sĩ phải chữa cho anh ta tại đây.
Cậu trai môi tái xám, co giật trong cơn hôn mê.
Manuel đứng cạnh cửa phòng cấp cứu vẫy tay. Hai người khiêng người bệnh vào đặt lên chiếc bàn giữa phòng. Manuel bắt mạch, Roberta xoay chiếc đèn chiếu rọi lên người bệnh và cúi xem vết thương. Chị nhận ra ngay là mấy vết thương rất không bình thường. Nạn nhân hầu như chắc chắn là chết. Một vết rách lớn chạy dài từ vai xuống sườn, thịt ở mép vết thương tưa ra từng miếng nhỏ. Vai bị lệch, xương bày ra. Một vết cắt khác xẻ sâu vào bắp vế, đến mức thấy rõ nhịp đập của động mạch đùi. Ấn tượng đầu tiên của chị là chân bị xẻ dọc ra Chị bảo:
- Nói rõ cho tôi về vết thương này
Ed nói:
- Tôi không thấy việc xẩy ra Họ bảo máy xúc kéo gã đi.
- Có vẻ nhự cậu ta bị cắn xé.
Ed nói:
- Bị cắn xé? Không, không Do máy đào đất. Thật đấy mà
Manuel hỏi Roberta.
- Bác sĩ có rửa vết thương không
- Vâng. Sau khi cho cầm máu.
Roberta dùng ngón trỏ dò vết thương. Nếu một xe ủi đất lăn qua người, hẳn phải có đất bụi, nhưng không có chút đất bụi nào, chỉ có thứ gì như bọt nước dính vào. Và vết thương có mùi kỳ lạ, một thứ mùi rất khó chịu, như mùi của xác chết thối rữa. Chị chưa từng ngửi phải một thứ mùi như thế bao giờ.
- Việc xẩy ra bao lâu rồi?
- Một tiếng.
Một lần nữa, chị nhận thấy Ed tỏ vẻ căng thẳng Anh ta trông chẳng ra dáng một đốc công tí nào. Mà có vẻ như một nhân viên hành chính, người anh ta ướt như chuột lột
Roberta quay lại người bị thương. Vết thương đúng là do bị cào xé nhưng mặt khác phần còn lại của cơ thể không có dấu vết gì, lại là điều bất thường đối với một người bị thú dữ tấn công. Chị lại nhìn vào đầu, hai cánh tay và bàn tay nạn nhân.
Chị thấy ớn lạnh. Có những vết cắt xé trong cả hai lòng bàn tay, dấu bầm tím ở cổ tay và cánh tay. Chị đã làm việc lâu ở Chicago, đủ để biết những dấu vết ấy có ý nghĩa gì. Chị bảo:
- Được rồi, hãy ra chờ ở ngoài.
- Tại sao? - Ed cảnh giác Anh ta không muốn thế.
- Anh muốn tôi chữa cho nạn nhân không? - Chị nói và đẩy Ed ra khỏi phòng đóng cửa lại. Chị không biết điều gì đã xẩy ra, nhưng cảm thấy hoang mang. Manuel do dự:
- Tôi tiếp tục rửa vết thương chứ?
- Vâng. - Roberta với chiếc máy ảnh mini Olympus, lấy đủ góc cạnh của mấy vết thương, bấm liên tiếp mấy po, rồi xoay đèn nhìn kỹ. Thật chẳng giống vết cắn chút nào, chị nghĩ.
Nạn nhân rên rỉ. Chị để chiếc máy ảnh qua một bên và cúi xuống người bệnh. Môi gã mấp máy:
- Raptor Lo sa raptor…
Manuel khựng người, bước lui mấy bước khi nghe mấy tiếng ấy. Roberta hỏi:
- Cậu ta nói gì vậy?
Manuel lắc đầu:
- Đừng rửa nữa, bác sĩ. - Manuel nhăn mũi - Mùi khó chịu quá.
Và chị ta làm dấu thánh giá.
Roberta nhìn lại mấy vết bọt dính ở vết thương. Chị đưa tay quệt rồi chà giữa hai ngón tay. Hầu như đúng là nước miếng.
Môi người bị thương lại cử động:
- Raptor.
Manuel nói giọng kinh sợ:
- Nó cắn gã.
- Con gì cắn? - Roberta hỏi.
- Raptor.
- Raptor là con gì?
- Đấy là hupia đấy.
Dân ở đây tin rằng hupia là một con quỷ ăn đêm, một loại quỷ không có mặt chuyên hút máu và rất ưa bắt cóc trẻ con. Loài hupia xưa sống trong các dãy núi của Costa Rica, còn bây giờ thì chúng ở trên những hòn đảo ngoài khơi.
Manuel lui bước, miệng lẩm bẩm và làm dấu thánh:
- Thật chẳng bình thường chút nào cái mùi nào. Đấy là mùi hupia.
Roberta định bảo chị ta trở lại làm việc thì người bị thương mở mắt và ngồi thẳng dậy trên bàn. Manuel kinh hãi thét lên. Gã công nhân trẻ bị thương ngó ngoáy đầu nhìn trái nhìn phải với cặp mắt mở rộng thất thần rồi mửa ra hàng bát máu. Ngay sau đó gã lên cơn co giật, thân hình run rẩy. Roberta giữ gã lại nhưng gã vùng vẫy rơi khỏi bàn xuống nền xi măng. Gã lại mửa, máu vung vãi khắp nơi. Ed mở cửa:
- Chuyện gì vậy? - Nhưng anh ta vội quay đi ngay khi nhìn thấy máu, một tay bịt miệng.
Roberta lấy ra một que gỗ cố đặt giữa hai hàm răng cắn chặt của người bị nạn, cho dù làm thế nhưng chị biết là đã hết hy vọng, và với một cái giật cuối cùng, gã duỗi người nằm yên.
Chị cúi xuống định làm hô hấp nhân tạo qua đường miệng nhưng Manuel chụp vai chị cương quyết kéo lui:
- Không được đâu, bác sĩ. Con hupia sẽ vào người bác sĩ.
- Manuel, vì tình thương của Chúa.
Manuel nhìn chị quyết liệt:
- Không! Không! Cô không hiểu những việc này đâu.
Roberta nhìn thân thể người bệnh và hiểu rằng không còn hy vọng gì nữa. Manuel gọi mấy người chờ ngoài cửa vào đem cái xác đi. Ed bước vào, dùng lưng bàn tay chùi miệng:
- Tôi biết bác sĩ đã làm hết sức.
Roberta nhìn theo mấy người khiêng cái xác ra khỏi phòng, trở lại chiếc trực thăng. Chiếc máy bay rú lên cất mình khỏi mặt đất.
Roberta đang nghĩ ngợi về hai bàn tay của nạn nhân. Hai bàn tay đầy những vết rách và dấu bầm tím. Đấy là những vết thương do chống cự. Chị biết chắc là gã cônh nhân không chết vì tai nạn, gã bị tấn công và đưa cả hai tay chống lại kẻ thù. À, ít nhất mình cũng đã chụp được mấy bức hình. Roberta nghĩ. Nhưng khi trở vào bàn, chị thấy chiếc máy ảnh đã biến đâu mất.
Cuối cùng thì mưa cũng tạnh vào khuya hôm ấy. Một mình trong phòng ngủ kế sau phòng khám, Roberta giở cuốn từ điển Tây Ban Nha. Nạn nhân thốt ra tiếng raptor, chị nghĩ đấy là một từ Tây Ban Nha. Đúng thế thật, chị thấy từ ấy có trong từ điển. Nó có nghĩa là 'người ban niềm vui' hoặc 'người bắt cóc'. Điều này làm chị suy nghĩ. Nghĩa của từ gần giống với nghĩa của từ hupia. Dĩ nhiên là chị chẳng tin chuyện ma quỷ, và chẳng con ma nào cấu xé hai bàn tay ấy. Vậy nạn nhân đã ráng nói cho chị biết gì?
Chị nghe tiếng rên từ phòng bên cạnh. Một người đàn bà đang trở dạ và Elena Morales, một cô đỡ địa phương đang giúp bà ta. Roberta đi vào phòng cấp cứu và ra dấu gọi Elena bước ra ngoài.
- Elena này…
- Dạ. Gì thế bác sĩ.
Elena tóc đã bạc, sáu mươi tuổl. dáng dấp mạnh khỏe với vẻ thành thạo trong nghề Roberta hỏi:
- Bà có biết raptor là gì không?
Trong bóng đêm, dưới ánh sáng sao, thấy bà ta cau mày:
- Raptor?
- Vâng. Bà biết từ đó không?
Elena gật đầu:
- Biết. Từ đó có nghĩa là một người lẻn vào nhà ban đêm, mang trẻ em đi.
- Một kẻ bắt cóc?
- Vâng.
- Một hupia?
Thái độ bà ta thay đổi:
- Ấy đừng nói tiếng ấy, bác sĩ.
- Tại sao?
- Vào lúc này, đừng nói tiếng ấy. - Elena giọng quả quyết, hất đầu về phía tiếng rên của người đàn bà đau đẻ - Nói ra từ ấy vào lúc này chẳng khôn ngoan tý nào.
- Nhưng con raptor có cắn và cấu xé nạn nhân của nó không?
- Cắn và cấu xé? - Elena có vẻ ngạc nhiên - Không đâu bác sĩ. "Raptor" là một người đi bắt trẻ sơ sinh. - Elena dường như nóng lòng muốn cho cuộc nói chuyện chấm dứt. Bà ta quay vào phòng khám - Tôi sẽ gọi bác sĩ khi bà ta trở dạ. Có lẽ khoảng một tiếng nữa.
Roberta nhìn lên trời sao và lắng nghe tiếng sóng biển đập vào bờ cát. Trong bóng đêm, chị thấy bóng đen của những chiếc thuyền đánh cá ra khơi. Quang cảnh thật yên tĩnh. Chị cảm thấy thực điên khùng khi nói đến chuyện quỷ hút máu người hoặc trẻ em bị bắt cóc.
Roberta trở lại phòng mình. Chị nhớ là Manuel quả quyết đấy không phải là một từ Tây Ban Nha. Vì tò mò, chị tìm thử trong từ điển tiếng Anh. Và chị ngạc nhiên khi tìm thấy nó: raptor - chim săn mồi thịt.
0
PHẦN MỘT
VUỜN BÁCH THÚ
Mike Bowman huýt sáo vui vẻ lái chiếc Land Rover xuyên qua khu bảo tồn sinh vật ở bở biển miền tây Costa Rica. Đây là một buổi sáng đẹp trời tháng bảy, và con đường trước mặt thật là tuyệt vời, quanh co bám theo vách đá, nhìn xuống rừng rậm và Thái Bình dương xanh biếc Theo các sách
hướng dẫn, Cabo Blanco còn giữ được nguyên vẹn tính chất thiên nhiên, chưa bị bàn tay con người đụng tới.
Mike, một chuyên gia bất động sản gốc gác ở Dallas, đến Costa Rica với vợ và con gái trong một chuyến đi nghỉ hai tuần. Chuyến đi thật ra là ý của bà vợ. Elena từ lâu đã nghe nhiều về các công viên quốc gia kỳ diệu ở Costa Rica, và chị nghĩ con gái Tina của chị sẽ thích thú khi được xem.
Chiếc Land Rover nẩy lên khi qua một ổ gà, bùn bắn tung tóe. Ngồi bên chồng, Elena hỏi:
- Mike, anh có chắc là đi đúng đường không? Không hề thấy một bóng người suốt mấy tiếng đồng hồ.
- Có một xe khác cách đây mười lăm phút, em nhớ không? Chiếc xe màu xanh ấy.
- Nhưng nó đi lối khác.
- Em yêu, em thích một bờ biển vắng người, và đó chính là chỗ em sắp đến đấy.
Elena nghi ngờ gật đầu:
- Em hy vọng là anh đi đúng đường.
- Vâng, con cũng hy vong là ba đúng. - Tina ngồi đằng sau xe lên tiếng. Cô bé mới tám tuổi.
- Tin ba đi, ba đúng đường mà. - Mike im lặng một lúc - Đẹp đấy chứ. Nhìn kìa. Thật là đẹp.
- Quá đẹp, phải không, ba?
Mike cảm thấy mình như một người hùng khi cuối cùng họ cũng đến được nơi muốn đến: một bờ biển hình lưỡi liềm dài hai dặm với cát trắng, hoàn toàn vắng vẻ. Anh đỗ chiếc Land Rover dưới một cây linh sam và lấy thùng giấy đựng thức ăn. Elena thay đồ tắm, chị nói:
- Nói thật, em không biết làm thế nào để mất bớt đi vài kilô nữa.
- Em trông tuyệt lắm. - Thật ra, anh thấy vợ mình đã quá gầy, nhưng anh biết là đừng có gợi tới điều ấy.
Tina đã chạy xuống bờ biển. Elena nhìn quanh:
- Anh nghĩ con bé không việc gì chứ?
- Cưng à, em thấy đấy, cách đây nhiều dặm đã chẳng có ma nào.
- Nhưng nhỡ có rắn thì sao?
- Ôi, ơn Chúa. Chẳng có rắn trên bờ biển đâu.
- Ấy, nhưng có thể...
- Cưng à. - anh quả quyết - Rắn máu lạnh, bò sát. Chúng không thể tự điều hòa thân nhiệt. Cát nóng đến 450. Nếu có con rắn nào bò ra, sẽ bị nướng chín. Tin anh đi. Không có rắn trên cát bãi biển đâu. - Anh nhìn theo con gái đang tung tăng ngoài xa, một chấm đen trên nền cát trắng - Để cho con bé mặc sức vui chơi.
Tina chạy đến mệt lả rồi năm dài trên cát, lăn mình xuống gần mép nước. Biển ấm áp, phẳng lì không một gợn sóng. Cô bé ngồi dậy một chốc, lấy lại hơi thở rồi nhìn lên chiếc xe và ba mẹ xem thử mình cách bao xa. Họ đang vẫy tay ra hiệu cho cô bé trở lui. Tina vui vẻ vẫy lại, giả vờ không hiểu. Tina không muốn thoa kem chống nắng, và nó cũng không muốn quay lại để nghe mẹ nói mãi về việc làm sút cân. Nó muốn ở lại chỗ này và hy vong thấy một con lười chân ba móng.
Tina đã thấy một con lười chân ba móng cách đây hai ngày ở sở thú San José. Trong trường hợp nào, mình cũng có thể đuổi kịp, cô bé nghĩ.
Elena đang gọi con bé, và Tina quyết định tránh ánh nắng để mẹ khỏi lo. Cô bé lùi khỏi mép nước, vào dưới bóng đám cọ dừa. Ở đây các cây cọ dừa đều có những cành gửi từ trên cao xuống thấp, khó có ai chen qua được. Tina ngồi trên cát, đưa chân đá đám lá khô. Cô nhận thấy có nhiều dấu chân chim đi thành lối trên cát. Costa Rica nổi danh vì có nhiều chim. Sách hướng dẫn nói chim ở Costa
Rica nhiều gấp ba lần toàn thể chim ở Mỹ và Canada.
Trên cát có nhiều dấu chân chim ba ngón rất nhỏ và mờ. Một số khác lớn hơn và in sâu vào cát. Tina đang lơ đãng nhìn mấy dấu chân thì nghe có tiếng chíp chíp và tiếng xào xạc của đám lá khô. Cuối cùng, từ chỗ xuất phát tiếng kêu cách đấy vài bước, một con vật như con kỳ nhông hay kỳ đà ló khỏi đám rễ cây ngóc đầu nhìn chằm chằm cô bé.
Tina nín thở. Thêm một con vật nữa ghi vào danh sách! Con kỳ đà đứng thẳng người trên hai chân sau giữ thăng bằng nhờ chiếc đuôi dày, nhìn chòng chọc cô bé. Với thế đứng ấy, con vật cao gần ba tấc, da màu lục, có vằn nâu dọc theo sống lưng, hai chân trước tí xíu có móng thằn lằn cử động trong không khí. Con vật ngóc ngóc đầu khi nhìn cô bé.
Tina đưa tay, ngoắc mấy ngón tay.
Con kỳ đà không có vẻ sợ. Nó tiến về phía cô bé, đi thẳng đứng hai chân sau. Nó không to hơn con gà mái mấy; và giống như con gà, nó ngúc ngắc đầu tới lui khi bước đi. Tina nghĩ là con vật có thể trở thành một con vật cưng kỳ lạ của mình.
Cô bé thấy con kỳ đà để lại những dấu chân ba ngón trông hoàn toàn giống như dấu chân chim. Con vật đến gần Tina hơn.
Chầm chậm cô bé chìa bàn tay.
Con kỳ đà dừng lại, ngúc ngắc đầu và kêu chíp chíp. Tina bảo:
- Xin lỗi nhé. Tao chẳng có gì cả
Con kỳ đà nhảy phắt lên lòng bàn tay cô bé. Tina có thể cảm thấy mấy ngón chân nhỏ bé của nó ấm trên lòng bàn tay mình và sức manh đáng ngạc nhiên của con vật đè tay mình xuống và rồi con vật nhảy theo cánh tay lên mặt cô bé.
Elena nhấp nháy mắt nhìn trong nắng:
- Em chỉ mong là thấy được nó. Chỉ thế thôi. Chỉ cần nhìn thấy nó.
- Anh chắc chắn là con nó chẳng hề gì. - Mike Bowman trả lời, tay nhấc mấy thứ thức ăn trong hộp ra. Một con gà nướng vỉ trông không được ngon lắm và vài thứ bánh khác nhét đầy thịt.
Elena cảm thấy không muốn ăn:
- Anh không cho là nó đã bỏ đi xa bờ biển à?
- Không đâu, cưng…
- Em thấy ở đây quá cách biệt.
- Đấy là điều em muốn đấy chứ.
- Đúng là em muốn thế.
- Vậy thì có sao đâu?
Rồi thì từ phía bờ biển, theo gió vọng tới, hai người nghe thấy tiếng con gái. Cô bé đang thét lên.
 
THỊ TRẤN PUNTARENAS
Bác sĩ Cruz hạ thấp đầu ống dưỡng khí khi cô bé ngủ yên và bảo Mike Bowman:
- Cháu bây giờ hoàn toàn khá rồi đấy.
Tuy vậy, Mike vẫn cảm thấy không an tâm.
Khi Mike tìm được đến bên Tina, con bé đang la hét như lên cơn động kinh. Cánh tay dính máu, đầy những vết cắn nhỏ, vết to nhất bằng chừng đầu ngón tay cái. Và có những vết bọt nhỏ nhơn nhớt như nước miếng. Anh bế con trở lại bờ biển. Hầu như ngay lập tức cánh tay bắt đầu đỏ và sưng vù lên. Mike sẽ còn lâu mới quên được lần lái xe như điên trở về thế giới văn minh. Chiếc Land Rover nhảy chồm chồm, phóng hết tốc lực trên con đường lên xuống những ngọn đồi, với đứa con gái bên cạnh la hét trong cơn đau và sợ hãi, tay càng lúc càng sưng to và đỏ hơn. Rất lâu trước khi họ đến được ranh giới công viên, vết sưng đã lên đến tận cổ và Tina bắt đầu thấy khó thở.
Elena hỏi:
- Con bé sẽ ổn ngay bây giờ chứ bác sĩ?
- Tôi tin vậy. Tôi đã cho cháu thêm một liều steroid và cháu đã dễ thở hơn nhiều. Bà có thể thấy vết sưng trên tay bắt đầu nhỏ lại.
Mike nói:
- Về các vết cắn…
- Chúng tôi chưa xác định được. Bản thân tôi chưa bao giờ thấy những vết căn như thế. Nhưng ông có thể nhận thấy là chúng đang dần dần biến mất. Rất khó mà xác đinh được con gì cắn. May mà tôi có chụp ảnh để xem lại. Và tôi cũng đã rửa tay cháu để lấy một ít nước bọt dính ở đấy. Tôi cho phân tích một ít ở đây, và gửi một ít đến những phòng thí nghiệm ở San José. Ngoài ra còn cất giữ một ít ở phòng đông lạnh. Ông có bức hình cháu vẽ không?
- Có đây. - Mike trao cho bác sĩ Cruz bức phác họa do Tina vẽ.
Bác sĩ Cruz nhìn bức hình:
- Con vật cắn cháu đây à?
- Vâng. Cháu bảo là một con kỳ đà lục, to cỡ bằng con gà hay con quạ.
- Tôi biết loại kỳ đà này. Cháu đã vẽ nó đứng thẳng trên hai chân sau…
- Đúng thế. Cháu bảo nó là con vật đi hai chân sau.
Bác sĩ Cruz cau mày. Ông nhìn bức vẽ lâu hơn:
- Tôi không phải là chuyên gia. Tôi đã mời tiến sĩ Guitierrez đến đây.
Tiến sĩ Guitierrez bước vào phòng. Ông ta mặc quần soóc kaki, sơ mi trắng, râu quai nón rậm. Điều ngạc nhiên la ông ta là người Mỹ. Sau khi được giới thiệu, ông ta đáp lời bằng giọng miền nam nhè nhẹ:
- Xin chào ông bà Bowman. Rất hân hạng được gặp ông bà.
Guitierrez giải thích tiếp, ông ta là giáo sư sinh vật ở đại học Yale đến làm việc ở Costa Rica đã năm năm. Ông ta cẩn thận nhấc tay cô bé lên thật nhẹ nhàng, dùng cây đèn pin nhỏ rọi soi mói vào từng vết cắn rồi đo chúng bằng một thước cuốn bỏ túi.
Sau một lúc, Guitierrez bước lui, gật đầu như hiểu ra điều gì. Rồi ông xem xét mấy bức hình màu do Cruz chụp bằng máy polaroid. Hỏi mấy câu về mẫu nước bọt nhưng Cruz nói là đang phân tích ở phòng thí nghiệm. Cuối cùng ông ta quay sang Mike Bowman và vợ đang nôn nóng chờ:
- Tôi nghĩ là cháu Tina sẽ ổn thôi. Tôi chỉ muốn biết rõ thêm một vài chi tiết. - ông ta giở sổ tay ghi chép - Con gái ông bà nói là nó bị cắn bởi một con vật màu lục, cao gần ba tấc, đi thẳng thân trên hai chân sau, xuất hiện từ đám lá khô ở khu đầm lầy gần bờ biển.
- Đúng vậy.
- Và con vật, dạng như con kỳ nhông, tiếng kêu phát ra từ cổ?
- Tina nói nó kêu chíp chíp, hoặc chút chít.
- Ông muốn nói tiếng kêu như chuột?
- Vâng.
- Vậy thì, tôi biết loại kỳ đà này. - Ông ta giải thích rằng trong sáu ngàn chủng loại thằn lằn, không có quá mười, mười hal loại đi thẳng trên hai chân sau. Trong số này chỉ có bốn loại được tìm thấy ở châu Mỹ La tinh. Và xét về màu sắc, con kỳ đà này có thể thuộc một trong bốn loại. - Tôi tin rằng đó là một con basiliscus amoratus, một loại kỳ đà có vằn, có thể thấy ở Costa Rica và ở Honduras. Đứng lên bằng hai chân sau, loại này có khi cao đến ba tấc.
- Chúng độc không?
- Không, ông Mike à. Chúng không độc chút nào. - Guitierrez giải thích - Vết sưng nơi tay Tina là do dị ứng. Theo sách vở, rất nhiều người, mười bốn phần trăm, bị dị ứng với loài bò sát và con gái ông bà chừng như ở trong số mười bốn phần trăm.
- Con bé la hét, bảo là rất đau đớn.
- Có thể vậy. Nước bọt loài bò sát có chứa chất serotonin, có thể gây đau đớn dữ dội. - ông ta quay qua Cruz - Huyết áp cháu ha với thuốc chống kích động chứ?
- Vâng. Ngay lập tức.
- Vậy đúng là serotonin. Không còn nghi ngờ gì.
Nhưng Elena vẫn chưa thật an tâm.
- Nhưng tại sao con kỳ đà lại cắn con bé ngay thế.
- Tắc kè, kỳ nhông hoặc kỳ đà cắn là chuyện thường. - Guitierrez trả lời - Những ngườl trông nom sở thú vẫn luôn bị cắn. Và chỉ mới hôm kia tôi nghe một con kỳ nhông cắn một đứa bé đang nằm trong nôi, ở Amaloya, cách chỗ hai ông bà đến chừng sáu mươi dặm. Vậy bị kỳ đà cắn là việc đã xẩy ra. Tôi chỉ không biết tại sao cháu lại bị nhiều vết cắn đến thế.
Elena nói:
- Và còn thứ nước bọt trên cánh tay con bé nữa. Tôi cứ nghĩ mãi đến bệnh dại.
- Không đâu, không đâu. - Tiến sĩ Guitlerrez nói - Một con vật thuộc loài bò sát không thể mang bệnh dại.
Mike chỉ cho Guitierrez bức tranh Tina vẽ. Ông ta gật đầu:
- Tôi thấy đây là bức hình của một con kỳ đà. Một vài chi tiết chưa đúng, dĩ nhiên thôi. Cổ quá dài, và cháu đã vẽ chân sau có ba ngón thay vì năm. Đuôi quá to, và đưa lên quá cao. Mọi chi tiết khác thì hoàn toàn giống loại kỳ đà mà chúng ta đang nói đến.
- Nhưng Tina nói một cách chính xác là cổ con vật rất dài, và chân thì chỉ có ba ngón thôi.
Mike tiếp lời vợ:
- Con bé quan sát rất khá.
Guitierrez mỉm cười:
- Đúng là cháu quan sát khá lắm. Nhưng tôi vẫn nghi là con gái ông bà đã bị một con kỳ đà amoratus thông thường cắn, và đã bị dị ứng bò sát. Thời gian chữa trị bình thường là mười hai tiếng. Cháu sẽ hoàn toàn bình phục vào sáng mai.
Trong phòng thí nghiệm hiện đại của bệnh viện Santa Maria mọi người đều biết tin tiến sĩ Guitierrez đã nhận dạng được con vật cắn cô bé người Mỹ là một con kỳ đà vô hại. Lập tức việc phân giải mẫu nghiệm nước miếng ngưng lại cho dù đã có một vài kết quả ban đầu cho thấy môt vài phân tử protein cực kỳ cao cấp của một loại sinh vật chưa biết đến. Nhưng kỹ thuật viên trực đêm bận việc và ông ta cất mẫu nghiệm nước miếng vào phòng lạnh.
Sáng hôm sau nhân viên trực kiểm tra lại kệ đựng những mẫu nghiệm cần loại bỏ của bệnh nhân. Thấy tên Bowman Tina nằm trong danh sách xuất viện buổi sáng, anh ta vứt bỏ mẫu nghiệm nước miếng. Vào lúc cuối, anh ta thấy mẫu nghiệm có dán nhãn đỏ, có nghĩa là cần phải gửi đến phòng thí nghiệm trường Đại học tổng hợp ở San José. Anh ta lượm lại cái ống đã vứt vào thùng rác và gửi đi.
Elena đẩy Tina tới trước, bảo:
- Nói đi con. Nói cảm ơn bác sĩ Cruz.
Tina nói:
- Cháu cảm ơn bác sĩ Cruz. Giờ cháu thấy khỏe nhiều rồi. - cô bé đưa tay bắt tay người bác sĩ - Bác sĩ đã thay áo sơ mi.
Bác sĩ Cruz có vẻ hơi ngạc nhiên một chốc rồi mỉm cười.
- Đúng đấy, Tina. Khi làm việc suốt đêm ở bệnh viện, sáng ra bác phải thay sơ mi.
- Nhưng không thay cà vạt?
- Không, bác chỉ thay áo thôi.
- Anh Mike đã nól với bác sĩ là con bé rất ưa quan sát.
- Quả vậy. - Bác sĩ cười và lắc tay cô bé rất lâu - Chúc cháu vui vẻ trong những ngày còn lại ở Costa Rica, Tina.
- Nhất định là cháu vui.
Gia đình Bowman đã bước đi thì bác sĩ Cruz gọi:
- À, Tina, cháu còn nhớ con kỳ đà cắn cháu không?
- Nhớ chứ.
- Cháu nhớ chân nó?
- Nhớ.
- Chân có ngón không?
- Có.
- Mấy ngón
- Ba. - cô bé trả lời.
- Tại sao cháu biết?
- Vì cháu nhìn kỹ. Vả lại, tất cả các con chim trên bờ biển đều để lại những vết chân có ba ngón như con kỳ đà này, - cô bé đưa bàn tay lên, ba ngón tay giữa xòe ra - và con kỳ đà còn để lại dấu chân trên cát nữa.
- Con kỳ đà để lại dấu chân như chim à?
- Vâng, vâng. Nó còn đi như chim nữa, đầu nó ngóc ngóc như thế này, lên xuống. - cô bé bước tới vài bước, đầu gật tới gật lui như chim đi.
Gia đình Bowman đi rồi, bác sĩ Cruz quyết định thuật lại mấy câu trao đổi với cô bé cho tiến sĩ Guitierrez tại trạm sinh vật. Guitierrez nói:
- Phải thừa nhận rằng câu chuyện của cô bé hơi kỳ lạ. Tôi đã tự kiểm tra lại. Tôi không còn chắc chắn là cô bé bị kỳ đà cắn nữa. Không chắc chút nào cả.
- Vậy có thể là con gì?
- Thôi, chúng ta hãy khoan nghĩ tới điều đó lúc này. Nhân thể, anh có nghe nói đến những vụ kỳ nhông cắn trẻ con ở các bệnh viện không?
- Không. Có chuyện ấy à?
 
BÃI BIỂN
Marty Guitierrez ngồi trên bãi biển ngắm mặt trời lặn dần cho đến khi chỉ còn các tia sáng chiếu từ mặt vịnh, phết vàng lên các ngọn cọ dừa. Ông ngồi giữa đám rễ cây đước, gần đúng vị trí cô gái nhỏ người Mỹ đã ngồl cách đấy hai ngày, trên bờ bể Cabo Blanco.
Cho dù có đúng như thế, như Guitierrez đã nói với gia đình Bowman, rằng bị kỳ đà cắn là chuyện thường, nhưng ông chưa hề nghe ai kể là bị kỳ đà cắn, và chắc chắn là ông cũng chưa nghe ai phải đến bệnh viện vì kỳ đà cắn cả. Lại còn vết cắn trên tay Tina có vẻ hơi lớn so với kỳ đà. Trở về trạm Carara, ông đã đến thư viện kiểm tra lại, nhưng không hề tìm thấy một trường hợp ghi chú nào về kỳ đà cắn người. Kế đó ông đến Trung tâm phục vụ khoa học sinh vật quốc tế, nơi đặt máy điện toán ghi các dữ kiện và số liệu xảy ra tại Mỹ. Nhưng không thấy nói gì đến kỳ đà cắn người hoặc người phải vào bệnh viện vì bị kỳ đà cắn.
Sau đó ông phôn cho một nhân viên y tế ở Amaloya, ông này quả quyết là có một em bé, mới được chín ngày, ngủ trong nôi đã bị một con vật cắn vào chân. Bà ngoại của bé - người duy nhất thấy con vật - bảo rằng đấy là một con kỳ nhông. Chân đứa bé sưng tấy và nó ngất ngư gần chết. Bà tả con kỳ nhông màu lục, có vằn nâu. Nó cắn chân đứa bé nhiều lần trước khi bà đuổi được nó. Nhân viên y tế này cho biết, ông còn nghe nói nhiều đến các vụ cắn khác. Một đứa bé ở Vásquez, bị cắn lúc đang ngủ. Một đứa khác ở Puerta Sotrero. Tất cả đều xảy ra trong hai tháng vừa qua, với trẻ đang ngủ và trẻ sơ sinh.
Những tin tức như thế khiến Guitierrez nghi ngờ là có sự hiện diện của một loài kỳ nhông hoặc kỳ đà thuộc chủng loại lâu nay chưa ai biết. Điều này đặc biệt có thể đúng với Costa Rica. Chỉ rộng có bảy mươi dặm tại điểm hẹp nhất, xứ sở này còn nhỏ hơn bang Maine. Tuy nhiên với diện tích này, Costa Rica vẫn có nhiều điều kiện sinh thái khác nhau cho cư dân sinh vật: biển, các bờ biển cả hai phía Đại Tây dương và Thái Bình dương, bốn rặng núi cách biệt nhau với những đỉnh cao ba ngàn sáu trăm mét và những núi lửa đang hoạt động, rừng mưa, rừng phủ mây, những miền khí hậu điều hòa, nhiều đầm lầy và sa mạc khô cháy. Những vùng sinh thái khác biệt như thế đã tạo ra những sinh vật khác biệt đáng ngạc nhiên. Các chủng loại ở Costa Rica nhiều gấp ba lần Bắc Mỹ. Có hơn một ngàn loại lan, hơn năm ngàn loại côn trùng.
Luôn có những vùng sinh vật mới được tìm ra với tốc độ gia tăng trong những năm gần đây. Vì một lý do không mấy vui, Costa Rica đang mất dần rừng rậm, các sinh vật sống ở rừng mất nơi cư trú,  phải di chuyển sang vùng khác và đôi khi thay đổi luôn lối sống.
Vậy thì một chủng loài mới hoàn toàn có khả năng tồn tại. Nhưng đi theo với niềm phấn khởi khi phát hiện một loài mới là sự phát sinh bệnh tật mới. Loài kỳ nhông mang bệnh có vi trùng, nhiều bệnh có thể truyền sang người. Nghiêm trọng nhất là bệnh viêm màng não của loài kỳ nhông, có thể gây nên một loại bệnh buồn ngủ ở người và ngựa. Guitierrez cảm thấy việc tìm ra loại kỳ nhông mới này là việc rất quan trọng.
Ngồi trên bờ cát, ông nhìn mặt trời thấp dần và thở dài. Cô bé Tina có lẽ đã thấy một con thú mới mà cũng có thể không phải. Ngay từ sáng sớm Guitierrez đem theo súng hơi, lắp sẵn tên tẩm thuốc mê, đi đến bờ biển với niềm hy vong lớn. Nhưng cả ngày đã trôi qua vô ích. Phải trở về thôi. Ông không muốn lái xe trên con đường từ bờ biển ngược lên đồi trong đêm tối. Guitierrez đứng dậy đi trở lại bờ biển. Phía xa xa ông thấy bóng một con khỉ đi thong thả giữa đám rễ đước bên cạnh môt đầm nước. Ông vội rời ra chỗ trống. Nếu đã có con khỉ thì có thể có những con khác trên các cành cây và loại thú này hay đái lên đầu những người quấy rầy chúng.
Nhưng con khỉ này dường như chỉ đi một mình, và đi chầm chậm, thỉnh thoảng lại ngồi lên hông. Nó ngậm một vật gì đó ở miệng. Khi đến gần, ông thấy nó đang ăn một con kỳ đà. Đuôi và hai chân sau con kỳ đà thõng xuống từ miệng con khỉ. Dù ở xa, Guitierrez vẫn nhìn thấy những vằn nâu trên sống lưng màu lục.
Guitierrez ngồi thụp xuống giương súng lên ngắm. Con khỉ, quen sống trong một khu rừng được bảo vệ, tò mò nhìn lại ông. Nó không bỏ chạy, ngay cả khi mũi tên đầu tiên bắn xẹt qua nó. Khi phát tên thứ hai cắm sâu vào đùi, con khỉ rú lên tức giận và ngạc nhiên thả con mồi ăn dở và chạy biến vào rừng.
Guitierrez đứng dậy đi tới. Ông không lo lắng gì cho con khỉ, lượng thuốc mê quá ít, bất quá chỉ gây cho nó ít phút mơ màng. Ông nghĩ đến việc phải làm với thứ mới tìm được. Bản thân Guitierrez sẽ viết bản báo cáo đầu tiên, nhưng phần con vật ăn dở dĩ nhiên là phải được gửi về My để có sự nhận dạng chủng loại thật chính xác.
0
NEW YORK
     Tiến sĩ Richard Stone, trưởng phòng thí nghiệm bệnh nhiệt đới thuộc trung tâm y khoa Đại học Columbia cho rằng cái tên thường làm cho một trung tâm to lớn hơn khuôn khổ thật sự của nó. Vào những năm đầu của thế kỷ hai mươi, khi phòng thí nghiệm chiếm toàn bộ tầng thứ tư của Viện khảo cứu sinh vật, nhiều toán kỹ thuật viên làm việc ngày đêm để loại trừ những bện tật làm khổ loài người như sốt vàng da, sốt rét, tả. Những thành công về y học này đã làm cho nó có một vị trí quan trọng hơn trước. Bây giờ chỉ còn là một cơ sở thu gọn với hai kỹ thuật viên, và công việc chủ yếu của họ là chẩn đoán bệnh cho người dân New York đi du lịch nước ngoài.
     Cô kỹ thuật viên đọc tấm nhãn ghi chú mẫu nghiệm, nói:
     - Ồ rất thú vị. Xác bị ăn dở của con kỳ đà Costa Rica chưa xác định được chủng loại. - Cô ta nhăn mũi - Có việc làm rồi đây, tiến sĩ Richard ạ.
     Richard bước đến xem xét mẫu vật mới gửi đến. Ống chứa mẫu nghiệm bằng nhựa trắng có dung tích hai lít rưỡi. Nắp kim loại vặn có khóa cài. Ống dán nhãn "Bình mẫu nghiệm sinh vật quốc tế" và lời cảnh cáo Nhãn này giữ cho ống khỏl bị những nhân viên quan thuế tò mò mở xem.
     Rõ ràng là lời cánh cáo có tác dụng; khi quay đèn chiếu rọi xem, Richard thấy dấu niêm phong còn y nguyên. Ông mang găng tay plastic và bao che mặt. Ông phải cẩn thận thế vì gần đây, phòng thí nghiệm phát hiện ra là các mẫu nghiệm thường bị nhiễm vi trùng bệnh sốt ngựa ở Venezuela, bệnh viêm màng não Nhật, vi khuẩn vùng rừng Kyasanur, vi khuẩn Laugat và Mayaro. Rồi ông mở nắp.
     Có tiếng xì xì do hơi thoát ra và khói trắng bốc lên. Bình chứa trở nên lạnh băng. Trong bình là một túi plastic có khóa kéo chứa một thứ gì đó màu lục. Richard trải một tấm khăn giải phẫu lên mặt bàn và dốc túi plastic cho vật mẫu rơi ra. Một miếng thịt tươi đông lạnh rơi xuống bàn với một tiếng bịch khô khan. Cô kỹ thuật viên nói:
     - Ô, trông như thứ gì ăn dở.
     - Đúng thế. Họ muốn chúng ta làm gì đây.
     Cô kỹ thuật viên xem giấy tờ kèm theo:
     - Kỳ nhông hoặc kỳ đà đang cắn trẻ em địa phương. Họ cần nhận dạng chủng loại và tìm xem có bệnh truyền qua vết cắn không. - Cô đưa ra bức vẽ một con kỳ đà, ký tên Tina bên trên - Một trong mấy đứa trẻ đã vẽ con vật.
     Richard liếc nhìn bức vẽ:
     - Rõ ràng là chúng ta không thể xác định được chủng loại, nhưng có thể kiểm tra xem nó mang bệnh gì khá dễ dàng nếu chúng ta có thể có được một ít máu của con vật. Họ gọi là con gì vậy?
     Cô kỹ thuật viên đọc:
     - Basiliscus amoratus, với chân ba ngón đột biến dị thường.
     - Ô kê. Chúng ta bắt đầu thôi. Trong khi chờ tan, hãy chuẩn bị chụp X-quang và ảnh màu polaroid cho vào hồ sơ. Khi lấy được máu, bắt đầu tìm các vi khuẩn gây bệnh cho đến khi có kết quả. Cho tôi hay nếu có vấn đề gì.
     Trước giờ ăn trưa, phòng thí nghiệm đã có câu trả lời. Richard Stone ghi là "không đáng lưu ý" trong bản Fax do kỹ thuật viên gửi đi cho tiến sĩ Guitierrez tối hôm ấy.
     Không có câu trả lời cho việc nhận dạng chủng loại con kỳ đà. Việc này phải để giáo sư Edward Simpson. Ông ta còn nhiều tuần nữa mới trở về và thư ký của Guitierrez yêu cầu phòng thí nghiệm bệnh nhiệt đới vui lòng cất mẫu nghiệm vào phòng lạnh. Richard lại để mẫu nghiệm vào túi plastic và cất vào ngăn đông.
     Tiến sĩ Guitierrez đọc bản Fax ngắn gọn.
     ĐỀ TÀI: Basiliscus amoratus đột biến dị thường.
     (Do văn phòng giáo sư Simpson gửi đến)
     MẪU NGHIỆM: phần thân sau, thú? bị ăn dở.
     PHƯƠNG THỨC THÍ NGHIỆM: X-quang hiển vi điện tử, RTX vi rút, vi khuẩn, vi sinh
     KẾT QUẢ: Không có bằng chứng gây bênh cho người.
     Ký tên
     Tiến sĩ giám đốc: Richard Stone
     Guitierrez đặt hai giả thiết căn cứ trên lời ghi. Thứ nhất, việc nhận dạng con vật là loài kỳ nhông amoratus của ông đã được các nhà khoa hoc ở Đại học Columbia xác nhận. Thứ hai, sự vắng mặt tác nhân gây bệnh trong con vật có nghĩa là chẳng có gì nguy hiểm cho sức khỏe của dân Costa Rica. Ông cảm thấy quan điểm đầu tiên của mình là đúng: một chủng loại kỳ nhông mới bị đuổi khỏi rừng rậm đến một môi trường sống mới, và đang tiếp xúc với dân làng. Guitierrez tin chắc rằng vài tuần lễ nữa loại kỳ nhông này sẽ sống ổn định và thời kỳ cắn trẻ con sẽ chấm dứt.
*
     Mưa nhiệt đới rơi dầy đặc, gõ đều đều lên mái ngói của phòng khám bệnh viện ở Bahia Anasco. Lúc này đã nửa đêm Điện đã bị mất do cơn bão. Bà đỡ Eelena Morales đang làm việc với ánh đèn bình ăc quy thì nghe tiếng kêu chíp chíp. Cho là tiếng chuột kêu, bà đặt vội miếng gạc lên trán sản phụ và đi qua phòng bên để xem chừng đứa trẻ mới sinh. Đặt tay lên then cửa, bà cảm thấy yên tâm khi nghe tiếng chíp chíp. Rõ ràng đấy là một con chim bay vào cửa sổ để tránh mưa. Dân Costa Rica tin rằng một con chim đến thăm người mới sinh là một điềm may.
     Bà Morales mở cửa. Đứa bé mới sinh nằm trong chiếc nôi gỗ liễu, đắp chiếc chăn nhẹ, chỉ hở mặt. Xung quanh thành nôi, ba con kỳ đà màu lục đậm bám vào song chắn, miệng há rộng. Khi thấy bà Morales cả ba con cùng ngúc ngoắc đầu; nhìn bà chòng chọc trong ánh đèn rọi, bà Morales thấy máu ra từ miệng chúng. Kêu lên mấy tiếng chíp chíp nhỏ, một con hạ thấp đầu, và với một cái giật nhẹ, rứt ra một miếng thịt tươi trên thân thể đứa bé.
     Bà Morales bổ nhào tới, hét lên, và cả ba con vật chạy biến vào đêm tối.
     Trước khi đến được bên chiếc nôi, bà đã kịp nhận biết điều gì đã xảy ra, khi nhìn vào mặt đứa bé, bà biết nó đã chết. Ba con kỳ nhông chạy tản trong đêm mưa, kêu chíp chíp, để lại những dấu chân ba ngón như dấu chân chim.
 
HÌNH DẠNG
     Bình tĩnh lại, bà Morales quyết định không nói gì về vụ ba con kỳ nhông. Mặc dù hết sức kinh hãi bởi những gì vừa thấy, bà bắt đầu lo sẽ bị phê bình vì đã để đứa bé nằm một mình. Bà nói với sản phụ là đứa bé bị ngạt thở, và với tư cách là bà đỡ quốc gia, bà báo cáo cái chết của đứa bé là "hội chứng chết bất ngờ của trẻ sơ sinh". Một cái chết không thể giải thích được xảy ra với trẻ còn rất bé, báo cáo của bà không gây nghi ngờ gì và mọi việc đều êm thấm.
     Phòng thí nghiệm ở San José phân tích mẫu nghiệm nước miếng dính ở tay Tina Bowman đã phát hiện nhiều điều đáng chú ý. Đúng như dự đoán, có một lượng serotonin. Nhưng giữa những protein nước miếng có một con quái vật thật sự: khối lượng phân tử lên dến 1980, một trong những protein lớn nhất được biết đến. Hoạt động sinh hóa của chất này vẫn đang được khảo sát, nhưng đấy dường như là một chất độc gây hại cho thần kinh liên quan đến nọc rắn Cobra ở Ấn Độ, mặc dầu cấu trúc phân tử còn rất sơ khai.
     Phòng thí nghiệm còn tìm ra dấu vết của một lượng lớn chất gamma-amino methionine hydrolase. Vì loại enzyme này chỉ hiện diện trong kỹ thuật di truyền, không bao giờ tìm thấy ở thú vật hoang dã, các kỹ thuật viên cho rằng đây Ià do nhiễm độc ở phòng thí nghiệm và không báo cáo điều này khi họ phôn cho bác sĩ Cruz, người cần biết sự việc ở Puntaneras.
     Những mảng thịt kỳ đà nằm lại trong tủ lạnh của phòng thí nghiệm Đại học Columbia, chờ tiến sĩ Simpson về, ít nhất một tháng nữa. Và như thế sẽ chưa có gì xảy ra, nếu không có một kỹ thuật viên tên là Alice Levin đi vào phòng thí nghiệm. Chị thấy hình vẽ của Tina và nói:
     - Ô, nhỏ nào vẽ con khủng long thế này?
     - Cái gì? - Richard hỏi, chầm chậm quay qua chị kỹ thuật viên.
     - Con khủng long. Không phải con khủng long đấy sao. Thằng nhỏ nhà tôi vẫn thường vẽ.
     Richard nói:
     - Đây là con kỳ đà. Ở Costa Rica. Một cô bé nào ở đấy vẽ.
     Alice lắc đầu:
     - Không phải. Giáo sư nhìn xem, thật rõ ràng, cái đầu này, cái cổ dài này, đứng trên hai chân sau, cái đuôi dài, to này. Đây là con khủng long.
     - Không thể. Nó chỉ cao có ba tấc thôi.
     - Thế à? Vậy thì đây là con khủng long con. Tin tôi đi. Tôi có hai thằng em trai, tôi biết rõ khủng long lắm. Những khủng long nhỏ thường không cao quá ba tấc. Có tên gọi là teenysauries hay gì đó tôi không biết.
     Richard nói:
     - Cô không biết. Đây là hình vẽ của một con vật đang sống. Họ có gửi cho tôi mấy miếng thịt của nó. Trong ngăn lạnh ấy. - Richard đến tủ lạnh lấy bao plastic và rũ mấy miếng thịt rơi ra.
     Alice nhìn vào phần thịt ở chân và đuôi mà rùng mình. Chị ta không dám sờ đến.
     - Tôi không biết. Nhưng những thứ tôi nhìn đây đúng là của một con khủng long.
     Richard lắc đầu:
     - Không thể thế được.
     - Tại sao? Nó có thể là một con con còn sót lại, hay nó là dấu vết hậu duệ của loài khủng long, hay là cái gì đó tùy mấy người gọi.
     Richard tiếp tục lắc đầu. Alice không được thông tin. Chị ta chỉ là kỹ thuật viên làm việc trong phòng thí nghiệm vi trùng học ở phòng dưới. Và chị ta có trí tưởng tượng khá phong phú. Alice nói:
     - Tiến sĩ biết đấy, nếu quả thật đây là một con khủng long thì có thể là một sự việc lớn đấy.
     - Nó không phải là một con khủng long.
     - Đã có ai kiểm tra xem chưa?
     - Chưa.
     - Thế thì hãy đem nó đến Bảo tàng lịch sử thiên nhiên hay nơi nào tương tự. Tiến sĩ nên làm đi.
     - Làm thế thì buồn cười và kỳ quá.
     - Tiến sĩ muốn tôi đưa nó đi giúp ông không?
     - Không. Tôi không định làm thế.
     - Ông sẽ không làm gì cả à?
     Richard bỏ vật mẫu vào bao, đặt vào chỗ cũ ở ngăn lạnh, đóng mạnh cửa:
     - Đấy không phải là khủng long, đấy là con kỳ đà. Và cho dù là con gì thì nó cũng phải chờ cho đến khi tiến sĩ Simpson từ Bornéo trở về nhận dạng. Chỉ có thế, Alice à, con kỳ đà khủng long chẳng đi đâu được.
0
PHẦN HAI
BỜ BIỂN NỘI ĐỊA
     Alan Grant gập người lại, mũi chỉ cách mặt đất vài phân. Nóng trên bốn mươi độ. Đầu gối ông đau nhức, dù đã mang bao cao su chống cọ xát. Phổi như cháy vì bụi cát nóng. Mồ hôi nhỏ giọt từ trán. Nhưng rõ ràng Grant không thấy khó chịu . Toàn bộ sự chú ý của ông tập trung vào một diện tích chừng một đềximét vuông trước mặt.
     Làm việc rất cẩn thận với một công cụ của nha sĩ và một bàn chải nhỏ bằng lông lạc đà, ông khơi dần ra một mảnh xương hàm hình chữ L nhỏ xíu. Mảnh xương dài chừng hai xăngtimét rưỡi và không dày hơn ngón tay út của ông. Hàm răng là một dãy những điểm nhỏ. Một ít mảnh xương nhỏ rời ra khi ông bới đất. Ông ngưng bới một lúc để phết lên miếng xương một lớp xi măng trên nhựa cao su trước khi tiếp tục. Không còn nghi ngờ gì nữa đây là xương hàm của một chú khủng long con. Con vật mang chiếc hàm này đã chết cách đây bảy mươi chín triệu năm, lúc khoảng hai tháng tuổi. May ra, Alan tìm thêm được phần còn lại của bộ xương. Nếu tìm được thì đấy là bộ xương đầy đủ đầu tiên của một con vật ăn thịt sống.
     - Ê… ông Gr…. an… t!
     Gran nhìn lên, mắt nhấp nháy trong ánh nắng. Ông kéo kính mát xuống và đưa lưng bàn tay chùi trán. Ông đang ở lưng chừng một sườn đồi bị xói mòn thuộc vùng đất xấu ngoại vi Snakewater, bang Montana. Dưới vòm trời xanh rộng, những đồi trọc đầy đá vôi trải dài hàng dặm về mọi hướng. Không thấy một cành cây, một bụi cỏ. Chẳng có gì ngoài đá sỏi, mặt trời cháy nóng và gió rít.
     Khách tham quan thấy ở vùng đất hoang xấu này một quang cảnh tẻ ngắt. Nhưng với Grant thì lại khác. Vùng đất cằn cối này là cái gì đó còn lại của một thế giới khác, hoàn toàn khác, đã biến mất cách đây tám mươi triệu năm. Grant như thấy mình đứng trước một vùng đầm lầy ấm áp của quá khứ xa xôi, có nhánh sông tạo nên bờ của một vùng biển nội địa vĩ đại. Biển nội địa rộng một ngàn dặm, tràn khắp mọi phía, bắt đầu từ rặng Rocky Mountains mới trồi lên, đến những chóp núi nhọn hiểm trở của rặng Áppalachiaus.
     Toàn bộ vùng Tây nước Mỹ nằm dưới nước.
     Những đám mây mỏng bay trên bầu trời như bị đen xám đi bởi khói của những núi lửa gần đấy. Bầu khí quyển đặc hơn, có nhiều thán khí. Cây cối mọc thật nhanh dọc theo bờ biển. Biển không có cá, chỉ có trai, sò và ốc. Thằn lằn bay thường phóng mình xuống mặt nước để ăn các loại tảo. Một số khủng long ăn thịt lảng vảng kiếm mồi ở các bờ đầm phá, di chuyển giữa đám cọ dừa. Và ở ngoài khơi là một hòn đảo nhỏ diện tích chừng hai mươi mẫu tây. Quanh đảo thực vật rau cỏ mọc dày đặc làm thành nơi trú ẩn tốt cho những bầy khủng long mỏ vịt ăn cỏ, đẻ trứng trong những ổ chung và nuôi con.
     Hàng triệu triệu năm sau đó, biển nội địa giàu muối kiềm cạn dần và cuối cùng biến mất. Mặt đất phơi mình dưới ánh nắng mặt trời nứt nẻ. Hòn đảo ngoài khơi vơi trứng khủng long biến thành ngọn đồi xói mòn ở phía bắc Montana, nơi hiện giờ đang được Gran khai quật.
     - Ê...! Tiến sĩ Grant...
     Ông đứng dậy, ngực lớn như thùng rượu, râu quai nón, khoảng bốn mươi tuổi. Tiếng máy điện xách tay nổ bình bình, tiếng cách cách của một lưỡi rìu máy bổ vào đá tảng ở ngọn đồi kề cận vọng tới. Ông thấy mấy người trẻ tuổi làm việc quanh lưỡi búa máy, chuyển những tảng đá đi sau khi kiểm tra xem có hóa thạch hay không. Ở chân đồi, sáu chiếc lều thuộc khu trại rung phần phật trước gió, một toa xe moóc dùng làm phòng thí nghiệm tại hiện trường ở phía sau. Và ông thấy Ellie đứng trong bóng râm của toa xe, một tay vẫy ông, tay kia chỉ về phía tây:
     - Có kh...á... c... h!...
     Grant thấy một đám bụi và một chiếc Ford Sedan nẩy xóc trên mặt đường nhấp nhô hướng về khu trại. Ông nhìn đồng hồ, vừa hết giờ. Phía bên kia đồi, mấy thanh niên nhìn về chiếc xe tỏ vẻ quan tâm. Không có mấy khách đến viếng Snakewater và lâu nay họ vẫn nghe tin là có một luật sư thuộc Cục bảo vệ môi trường muốn đến gặp Alan Grant.
     Nhưng Alan biết rằng ngành cổ sinh vật học, ngành khảo cứu về các dạng sống đã tuyệt chủng, trong thời gian gần đây đã đạt được những thành quả bất ngờ.
     Thế giới đang thay đổi nhanh chóng và những câu hỏi cần thiết về thời tiết, về việc phá rừng, về sự ấm lên của địa cầu hay về tầng ô-zôn... lâu nay dường như đã có lời giải đáp, it nhất phần nào, qua những lượng thông tin từ quá khứ. Những thông tin mà các nhà khảo cổ sinh vật học có thể cung cấp. Trong vài năm qua ông đã hai lần được xem là một chứng nhân trung thực.
     Ông xuống đồi đón chiếc xe.
     Người khách ho lên mấy tiếng khi đóng sầm cửa xe trong đám bụi và chìa tay ra:
     - Tôi là Bob Morris, Cục bảo vệ môi trường. Tôi làm việc tại văn phòng chi nhánh San Francisco.
     Grant tự giới thiệu rồi nói:
     - Trông anh nóng quá rồi. Làm lon bia nhé?
     - Ôi còn gì bằng!
     Bob Morris gần ba mươi, mang cà vạt, quần xám. Tay xách cặp giấy. Đôi giày đế da mũi nhọn của anh ta kêu rào rạo trên sỏi khi họ đi về toa xe moóc. Morris chỉ vể phía mấy căn lều chóp nhọn:
     - Khi tôi vượt qua ngọn đồi đàng kia nhìn tới đây, tôi tưởng đây là một khu trại của dân da đỏ.
     - Đấy là cách tốt nhất để ở vùng này. - Grant giải thích. Vào năm 1978, năm đầu tiên khai quật, họ đóng ở vùng North Slope, họ dùng những lều tám mặt hiện đại nhất. Nhưng mấy chiếc lều luôn bị gió thổl lật. Họ thử dùng các loại lều khác, nhưng kết quả như cũ. Cuối cùng họ dùng loại này, bên trong rộng hơn, thoải mái hơn, và vững chắc hơn trước gió mạnh.
     Morris đưa mắt nhìn quang cảnh hoang sơ rồi lắc đầu:
     - Lều ấy thì đúng là thích hợp với ở đây. Ông đến đây bao lâu rồi?
     - Vào khoảng sáu mươi thùng.
     Morris ngạc nhiên không hiểu. Grant cười và giải thích tiếp:
     - Chúng tôi tính thời gian bằng bia. Chúng tôi bắt đầu ở đây vào tháng sáu. Và đến giờ thì đã hết khoảng sáu mươi thùng.
     - Thật chính xác là sáu mươi ba thùng. - Giọng của Ellie vang lên khi cô đến bên xe moóc. Cô mặc Jeans xẻ lên tận gối, áo công nhân cổ hở với cà vạt buông thõng. Hai mươi bốn tuổi, da nâu sậm, tóc vàng hoe buông xõa sau lưng.
     Grant hơi buồn cười khi thấy Morris nhìn sững cô gái. Ông giới thiệu cô rồi tiếp:
     - Ellie giữ cho mọi việc chạy đều. Rất thành thạo với công việc.
     Morris hỏi:
     - Cô ấy làm những gì?
     Ellie mở cửa toa xe, trả lời thay Grant:
     - Tôi đi chuyên ngành cổ thực vật. Và tôi cũng thực hiện mọi thứ để chuẩn bị cho hiện trường.
     Họ bước vào. Chiếc máy lạnh trong toa xe chỉ đưa được nhiệt độ xuống tới ba mươi độ, nhưng dường như vẫn mát mẻ. Toa xe có một dãy bàn gỗ dài, bày thứ tự những mẫu xương nhỏ, mỗi mẫu đều có đính thẻ ghi rõ chi tiết. Xa hơn về phía cuối dãy bàn là những đĩa và chậu sành. Mùi dấm chua bốc nồng lên. Morris nhìn những mảnh xương.
     - Tôi tưởng là khủng long phải to lớn.
     - Lớn chứ. Nhưng mọi thứ anh thấy đây là của khủng long con. Vùng Snakewater này quan trọng là vì có nhiều ổ trứng khủng long. Cho tới trước khi chúng tôi bắt đầu công việc này, hiếm người biết đến khủng long con. Chỉ duy nhất một ổ trứng được tìm thấy ở sa mạc Gobi. Ở đây chúng tôi đã phát hiện nhiều ổ trứng khủng long, còn đầy đủ cả trứng lẫn xương khủng long non.
     Trong khi Alan đến tủ lạnh, cô chỉ cho Morris những chậu đựng acid acetic dùng để rửa chất vôi ở những mảnh xương dễ vỡ. Morris nhìn mấy chậu sành:
     - Trông giống những miếng xương gà.
     - Vâng. Đúng là giống như xương chim.
     Morris nhìn qua cửa sổ toa xe moóc, chỉ mấy đống xương lớn trong bao plastic:
     - Còn cái gì ngoài kia?
     - Thứ loại bỏ. Đấy là những mảnh xương quá dễ vỡ, hoặc xương vụn. Ngày trước, chúng tôi chỉ việc vứt đi. Nhưng nay phải giữ chúng lại để thực hiện những thí nghiệm về gen di truyền.
     - Thử nghiệm gen di truyền?
     Grant bước đến, nhét vô tay Bob lon bia:
     - Phần anh đây. - ông đưa cho Ellie một lon khác. Cô ngửa đầu uống lon bia. Morris lại nhìn cô. Grant tiếp - Ở đây chúng tôi không kiểu cách gì. Anh muốn thăm phòng làm việc của tôi không?
     - Có.
     Grant dẫn anh chàng luật sư trẻ tuổi đến đến cuối toa xe, nơi có đặt một chiếc giường xếp rách, một chiếc ghế xiêu vẹo và một chiếc bàn thô tháp. Grant buông mình lên giường xếp, chiếc giường kêu kẽo kẹt và tung lên một đám bụi trắng. Ông dựa ngửa người, cọ chân vào chân bàn để cởi đôi bốt, vẫy tay mời Morris ngồi xuống ghế:
     - Xin cứ thoải mái.
     Alan Grant là một giáo sư cổ sinh học ở Đại học tổng hợp Denver, và là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực này. Nhưng ông sống nhiều ngoài thiên nhiên và ý thức được rằng tất cả những công việc quan trọng thuộc ngành cổ sinh học đều được thực hiện ngoài thiên nhiên, với chính bàn tay mình. Ông không có mấy kiên nhẫn chờ vào Hàn lâm viện, vào quản lý bảo tàng, những nhân vật mà ông gọi là Người săn khủng long bên tách trà.
     Ông nhìn Morris phủi bụi cẩn thận ở ghế trước khi ngồi. Morris mở cặp giấy tờ tìm kiếm, nhìn về phía Ellie đang dùng kẹp gắp những mảnh xương trong các chậu acid ở cuối toa moóc, chẳng chú ý gì đến hai người. Rồi anh ta mở đầu:
     - Có lẽ giáo sư đang thắc mắc tại sao tôi đến đây?
     Grant gật đầu:
     - Có lẽ. Đường đến đây quá xa, ông Bob Morris.
     - Vâng. Tôi xin vào ngay vấn đề. Cục bảo vệ môi trường gần đây rất quan tâm đến những hoạt động của công ty Hammond. Giáo sư có nhận một ít khoản tài trợ của Hammond phải không?
     Grant gật đầu:
     - Ba mươi ngàn đôla mỗi năm. Trong năm năm qua.
     - Giáo sư biết gì về công ty này?
     Grant nhún vai:
     - Công ty Hammond là một nguồn trợ cấp tài chính đáng nể của các hoạt động có tính chất khảo cứu. Họ cấp ngân quỹ cho công cuộc khảo cứu khắp thế giới, gồm cả người khảo cứu về khủng long. Tôi biết họ vẫn bảo trợ cho Bob Kerry ở Alberta, và John Weller ở Alaska. Có lẽ còn nữa.
     - Giáo sư có biết tại sao Hammond lại đỡ đầu nhiều cuộc khảo cứu khủng long?
     - Dĩ nhiên tôi biết. Vì John Hammond là một ông già say mê khủng long.
     - Giáo sư đã gặp Hammond?
     - Một hoặc hai lần. Ông ta đến đây thăm tôi. Ông ta đã quá lớn tuổi, anh biết đấy. Và hơi kỳ quặc, theo kiểu thường có của một tay giàu có. Nhưng luôn luôn nhiệt tình. Tại sao anh hỏi thế?
     - Ấy, công ty Hammond thật ra lại là một tổ chức hơi bí mật. - Morris lấy ra một bản đồ thế giới có đánh dấu những chấm đỏ và trao cho Alan - Đây là những vụ khai quật do Hammond tài trợ năm rồi. Giáo sư có chú ý thấy gì lạ ở các địa điểm đào tìm không? Montana, Alaska, Canada, Sweden…
     - Tất cả đều ở phía bắc. Không có địa điểm nào dưới vĩ tuyến 45. - Morris mở ra một bản đồ khác - Y như thế, năm này qua năm khác. Những chương trình khai quật phía nam, ở Utah, Colorado hay Mexico, không bao giờ được tài trợ. Công ty Hammond chỉ bảo trợ cho các cuộc đào bới ở những vùng có khí hậu lạnh. Chúng tôi muốn biết tại sao.
     Grant nhìn qua mấy tấm bản đồ. Đúng như thế, Hammond chỉ cung cấp tài chính cho những vụ khai quật ở xứ lạnh. Và đấy là một cách đối xử kỳ dị, vì một số công cuộc khảo cứu khủng long tốt nhất đang được thực hiện ở những vùng khí hậu nóng.
     - Và đây là điều kỳ lạ khác. - Morris tiếp - Ví dụ có sự liên hệ gì giữa khủng long và hổ phách không?
     - Hổ phách?
     - Vâng, đấy là loại nhựa cây khô màu vàng rất cứng…
     - Tôi biết thứ đó rồi. Nhưng tại sao anh hỏi thế?
     - Vì suốt năm năm qua, công ty Hammond đã thu mua một số lượng khổng lồ hổ phách ở châu Mỹ, châu Âu, châu Á, gồm cả những mảnh nữ trang vụn trong các viện bảo tàng. Công ty này hiện sở hữu một số cổ phần lớn nhất trên thế giới về buôn bán chất liệu này.
     Grant lắc đầu:
     - Tôi không hiểu.
     - Bất cứ ai cũng không hiểu. Trong chừng mực chúng tôi có thể nói được, việc này chưa thấy có ý nghĩa gì cả. Hổ phách rất dễ tổng hợp. Nó chẳng có giá trị thương mại hay quốc phòng. Không có lý do gì để tích trữ. Nhưng Hammond đã làm thế, trong nhiều năm qua.
     - Hổ phách. - Alan lẩm bẩm lắc đầu.
     Morris tiếp:
     - Còn về hòn đảo của ông ta ở Costa Rica nữa. Mười năm trước, công ty Hammond thuê một hòn đảo của chính quyền Costa Rica. Giải thích là đê xây dựng nên một bảo tàng sinh vật.
     Grant cau mày:
     - Tôi không biết gì về việc ấy cả.
     - Tôi không có khả năng tìm hiểu được nhiều hơn, - Morris nói - nhưng đây là vài điều về đảo. Nằm ngoài khơi bờ biển tây Costa Rica một trăm dặm. Đảo rất gồ ghề, nằm trong một vùng biển - nơi gặp gỡ của gió và hải lưu nên đảo luôn bị bao phủ bởi sương mù. Người ta vẫn gọi là đảo Mây. Tên đảo là Isla Nublar. Người Costa Rica rõ ràng rất ngạc nhiên thấy có người thuê đảo. - Morris tìm trong cặp giấy - Lý do tôi chú ý đến nó là, theo một số giấy tờ, giáo sư được trả một khoản với tư cách là cố vấn cho những gì liên quan tới đảo.
     - Tôi ấy à? - Grant hơi ngạc nhiên.
     Morris trao cho Grant một tờ giấy. Đấy là một tờ ngân phiếu được ký xuất vào tháng ba năm 1984 của công ty InGen ở đại lộ Farallon, California. Người nhận là Alan Grant, số tiền mười hai ngàn đôla. Ở một góc tờ ngân phiếu có ghi: THÙ LAO CỐ VẤN THAM KHẢO.
     Grant nhìn tờ phiếu rồi gật đầu:
     - Ờ, đúng thế. Tôi nhớ tờ ngân phiếu này. Quỷ thật, tôi nhớ rồi. Nhưng số tiền chẳnh có chút gì liên quan tới hòn đảo cả.
     Alan Grant đã tìm được một số trứng khủng long ở Montana lần đầu tiên vào năm 1979, và nhiều hơn nữa trong hai năm tiếp theo. Nhưng ông ta không công bố phát hiện của mình cho đến năm 1983. Các tài liệu báo cáo của ông cho biết ông đã tìm được một bầy mười ngàn khủng long mỏ vịt sống dọc bờ biển nội địa, xây tổ chung, đẻ trứng trong bùn, nuôi con lớn thành bầy. Báo cáo này đã làm cho Grant nổi tiếng chỉ trong một đêm.
     Các khái niệm về bản năng làm mẹ của những khủng long khổng lồ - và hình vẽ những khủng long con từ trong trứng mổ bể vỏ để chui ra - đã lôi cuốn sự chú ý của khắp thế giới. Grant luôn bị bao vây, tràn ngập những yêu cầu được phỏng vấn, diễn thuyết, viết sách. Nhưng ông đã từ chối tất cả, chỉ muốn tiếp tục việc khai quật. Và trong những ngày sôi nổi giữa năm 1980 ấy, công ty InGen đã tiếp cận với Grant, với yêu cầu giữ chức vụ cố vấn.
     Morris hỏi:
     - Giáo sư có nghe nói đến InGen trước đó không?
     - Không.
     - Làm sao họ tiếp xúc với giáo sư?
     - Gọi điện thoại. Một người xưng là Gennaro hay Genino gì đó.
     Morris gật đầu:
     - Donald Gennaro. Ông ta là luật sư của InGen.
     Grant nói tiếp:
     - Ông ta muốn biết rõ về thói ăn thịt của khủng long và ông ta trả cho tôi một khoản thù lao để viết cho ông ta mọi thứ. - Grant uống bia, đặt lon xuống sàn xe - Gennaro đặc biệt lưu tâm đến khủng long con. Muốn biết chúng ăn gì. Ông ta cho rằng tôi biết các chuyện ấy.
     - Giáo sư biết không?
     - Thật sự tôi không. Tôi đã nói với ông ta như thế. Chúng tôi đã tìm ra được nhiều mảnh của bộ xương, nhưng có rất ít những dữ kiện về thức ăn. Nhưng Gennaro cho là chúng tôi không muốn công bố mọi thứ, và bảo là ông ta muốn bất cứ thứ gì chúng tôi có được với một đề nghị thù lao rất lớn. Năm mươi ngàn đôla.
     Morris lấy ra một máy ghi âm để lên bàn, mở máy:
     - Giáo sư có phiền không?
     - Không đâu. Cứ việc.
     - Và thế là, Gennaro điện thoại cho giáo sư vào năm1984. Công việc của giáo sư khi ấy thế nào? Giáo sư nhận lời?
     - Vâng. Anh đã thấy công việc của chúng tôi ở đây rồi đấy. 50.000 đôla sẽ giúp chúng tôi rất nhiều trong việc khai quật. Tôi bảo là tôi sẽ làm những gì ông ta muốn.
     - Giáo sư bằng lòng viết về khủng long cho ông ta?
     - Vâng.
     - Về chế độ ăn uống của khủng long?
     - Vâng.
     - Giáo sư có gặp Gennaro?
     - Không. Chỉ qua điện thoại.
     - Gennaro có nói tại sao ông ta muốn biết các thứ đó không?
     - Có. Ông ta đang chuẩn bị kế hoạch thực hiện một bảo tàng cho trẻ em, trưng bày khủng long. Ông ta nói là có nhờ đến nhiều nhà khoa học khác và kể tên ra. Có những nhà cổ sinh vật như tôi, một nhà toán học ở bang Texas, hai người về môi trường.
     Morris gật đầu:
     - Và giáo sư nhận làm cố vấn tham khảo?
     - Vâng. Tôi đồng ý gửi cho ông ta một bản tóm tắt công việc của mình: những gì biết được về thói quen của khủng long mỏ vịt mà chúng tôi có.
     - Giáo sư đã gửi những loại thông tin gì?
     - Mọi thứ: thói quen làm tổ, vùng đất ở, lối săn mối, lối sống theo bầy... mọi thứ.
     - Và Gennaro đáp ứng thế nào?
     - Ồ, ông ta gọi và gọi. Cả vào lúc nửa đêm. Khủng long có ăn thứ này không, có ăn thứ kia không. Tôi không thể hiểu tại sao ông ta muốn biết đủ thứ như thế. Ý tôi muốn nói là, tôi cũng cho khủng long là quan trọng, nhưng những thứ ấy thì không quan trọng. Chúng đã chết tiệt giống cách đây sáu mươi lăm triệu năm rồi. Anh có thấy những cú gọi như thế có thể chờ đến sáng cũng được không?
     - Đúng thế. - Morris đồng ý - Còn về vụ năm mươi ngàn đô?
     Grant lắc đầu:
     - Tôi cảm thấy quá mệt với bao câu hỏi của Gennaro và hoãn lại mọi thứ. Chúng tôi nhận mười hai ngàn cho những công việc đã làm. Đâu vào khoảng giữa năm 1985.
     - Còn công ty InGen? Giáo sư có tiếp xúc nào khác với họ không?
     - Không. Kế từ 1985.
     - Và khi nào thì công ty Hammond bắt đầu tài trợ cho giáo sư?
     - Để tôi nhớ xem. Cũng đâu vào khoảnh thời gian đó. Vào giữa những năm 80.
     - Và giáo sư biết Hammond là một người giàu có rất ưa thích khủng long?
     - Vâng. - Grant nói - Này, nếu Cục bảo vệ môi trường quan tâm đến Hammond và những gì ông ta làm - những công trường khai quật khủng long ở phía bắc, việc lùng mua hổ phách, thuê đảo ở Costa Rica - tại sao anh không hỏi ngay ông ta?
     - Vào lúc này, chúng tôi không thể hỏi được.
     - Tại sao?
     - Vì chúng tôi không có chứng cớ nào về việc họ sai trái. Nhưng theo ý kiến riêng tôi, rõ ràng là Hammond đang vi phạm luật pháp.
     Morris giải thích:
     - Thoạt tiên, tôi được gọi tiếp xúc với cơ quan OOT. Cơ quan này kiểm soát việc chuyên chở bằng đường biển những phương tiện kỹ thuật có thể có ý nghĩa về mặt quân sự. Họ cho tôi hay là InGen có thể chuyên chở hai loại kỹ thuật bất hợp phấp. Thứ nhất, ba máy Cray XMP3 đến Costa Rica. InGen cho rằng vụ này chỉ nằm trong mục phân phối phương tiện cho công ty chứ không phải đem bán. Nhưng OOT không hiểu được tại sao có gã trưởng phòng nào đấy ở Costa Rica lại cần đến thứ ấy.
     - Ba máy Cray XMP3? - Grant hỏi - Đấy có phải là một loại computer không?
     Morris gật đầu:
     - Những computer siêu hạng. Ba chiếc Cray này có năng lực tính toán hơn bất cứ nhóm máy tính nào của các công ty tư nhân ở Mỹ và InGen chở máy đến Costa Rica. Giáo sư không tự hỏi tại sao ư?
     - Tôi chịu. Tại sao?
     - Chẳng ai biết được - về những chiếc máy Hoods lại càng đáng ngán hơn. Hoods là những máy kết chuỗi gen tự động - máy có thể tìm ra mã di truyền. Nó còn quá mới đến nỗi chưa có tên trong danh sách hạn chế buôn bán. Nhưng bất cứ phòng thí nghiệm kỹ thuật di truyền nào cũng muốn có một chiếc, nếu có thể mua được với giá nửa triệu đô la. - Morris lật sổ - Thế mà, hình như InGen đã chở đi đến hai mươi bốn máy kết chuỗi gen này qua Costa Rica.
     - Một lần nữa - Morris tiếp tục - họ lại bảo đây là việc phân phối phương tiện làm việc, không phải xuất cảng. OOT đành bó tay. Nhưng rõ ràng là InGen đang thiết lập một trung tâm đầy đủ tiện nghi nhất về kỹ thuật di truyền tại Trung Mỹ, một xứ sở không có quy tắc, luật lệ. Loại việc như thế đã xẩy ra trước đây.
     Có nhiều trường hợp các công ty sinh vật Mỹ chuyển đến hoạt động tạii một quốc gia khác để khói bị ràng buộc bởi những nguyên tắc và luật lệ Mỹ. Trường hợp tệ hại nhất - Morris giải thích tiếp - là công ty Biosyn, nghiên cứu bệnh dại.
     Năm 1986, Biosyn thử nghiệm một loại vaccine bệnh dại có được do kỹ thuật di truyền sinh vật ở một nông trại Chile. Họ không đơn phương làm thử nghiệm. Chất vaccine chứa virus sống của bệnh dại, bằng phương pháp gen di truyền người ta đã làm cho nó không còn khả năng gây bệnh dại nữa. Nhưng tính chất không còn gây bệnh chưa được thử nghiệm trước. Biosyn không biết là virus có thể còn gây bệnh hay không. Tệ hơn nữa là virus đã bị thay đổi bản chất. Thông thường, người ta không thể mắc bệnh dại nếu không bị thú vật cắn. Nhưng công ty Biosyn thay đổi bản chất làm cho virút có thể gây bệnh qua đường hô hấp. Một người có thể bị dại chỉ vì hít phải loại virus này. Nhân viên của Biosyn mang thứ virus bệnh dại này đến Chile trong những túi xách trên một chuyến bay thương mại. Sự thể sẽ ra sao nếu các túi chứa virus vỡ ra. Mọi hành khách trên máy bay có thể nhiễm bệnh dại. Việc ấy thật là vô nhân đạo. Thật là thiếu trách nhiệm. Và rõ ràng là một sự bất cẩn mang tính trọng tôi. Nhưng chẳng có hành động nào chống lại công ty Biosyn. Các nông gia Chile đã liều mạng sống của họ một cách không mấy khôn ngoan, họ là những dân quê thiếu học, chính quyền Chile thì đang để tâm đến khủng hoảng kinh tế trong nước, chính quyền Mỹ thì không có thẩm quyền. Lewis Dodgson, nhà di truyền học chịu trách nhiệm thử nghiệm, đang làm việc cho Biosyn. Công ty này vẫn bình chân như vại. Và các công ty Mỹ khác đang gấp rút hoạt động tại nước ngoài vốn chưa có kinh nghiệm về di truyền học. Một số các quốc gia cho rằng kỹ thuật di truyền cũng giống như bất cứ kỹ thuật cao cấp nào khác, vì thế đã rước nó vào đất nước mình, không biết đến nỗi nguy hiểm đang hiện diện.
     - Đấy là lý do tại sao chúng tôi - Morris nói - bắt đầu điều tra công ty InGen. Cách đây ba tuần.
     - Và anh thật sự đã tìm thấy gì?
     - Chưa có gì nhiều. - Morris thừa nhận - Khi trở lại San Francisco, có lẽ chúng tôi sẽ phải chấm dứt cuộc điều tra. Và tôi nghĩ tôi sắp hoàn thành việc điều tra tại đây. - Anh ta lắc đầu thu gọn giấy tờ vào cặp - Nhân thể, giáo sư cho biết "Jurenile hyperspace" có nghĩa là gì?
     - Đấy chỉ là một tên tưởng tượng cho bản báo cáo của tôi. Hyperspace là một thuật ngữ chỉ không gian đa chiều - giống như three-dimenstion chỉ ba chiều. Nếu anh sắp thu thập các thói quen sinh hoạt của một con thú từ việc ăn uống, di chuyển, nghỉ ngơi, anh có thể định vị trí con vật trong không gian đa chiều. Một số nhà cổ sinh vật học nói đến thói cư xử của một con vật như đang diễn ra trong một môi sinh đa chiều. Jurenile hyperspace nói đến thói quen sinh hoạt của môt khủng long thành niên.
     Ở cuối toa xe moóc, chuông điện thoại reo lên. Ellie nhấc ống nghe. Cô nói:
     - Giáo sư đang bận họp. Giáo sư sẽ gọi lại ông nhé?
     Morris đóng cặp lại và đứng dậy:
     - Cảm ơn giáo sư nhiều về sự giúp đỡ và lon bia.
     - Chẳng có gì.
     Grant đi với Morris đến cánh cửa đầu toa xe. Morris nói:
     - Có khi nào Hammond hỏi đến các thứ thuộc về thân thể khủng long ở công trường khai quật của giáo sư không? Xương trứng hay nhiều thứ tương tự.
     - Không. - Grant trả lời.
     - Tiến sĩ Ellie Sattler có lưu ý là giáo sư có thực hiện một số công việc về di truyền tại đây…?
     - Thật ra không hẳn thế. Khi chuyển các vật hóa thạch bị bể hay vì lý do gì khác khiến chúng không thích hợp cho việc trưng bày, chúng tôi gửi tới một phòng thí nghiệm để nghiền nát và rút ra các protein. Phòng thí nghiệm xác định loại protein và phải báo cáo cho chúng tôi.
     - Phòng thí nghiệm nào?
     - Trung tâm sinh học y khoa ở Salt Lake.
     - Lý do giáo sư chọn phòng thí nghiệm ấy?
     - Họ mời, vì cạnh tranh.
     - Phòng thí nghiệm không dính dáng gì đến InGen? - Morris hỏi.
     - Theo tôi biết thì không.
     Họ đã đến chỗ cánh cửa của toa xe. Grant mở cửa và cảm thấy đám hơi nóng từ bên ngoài tuôn vào. Morris dừng lại để mang kính mát lên. Anh ta nói:
     - Một điều cuối cùng. Giả sử InGen đang thật sự chuẩn bị một bảo tàng trưng bày. Có thể họ đã làm được gì với các thông tin giáo sư gửi cho họ ở các bản báo cáo.
     Grant cười to:
     - Chắc chắn là có thể rồi. Họ có thể nuôi một con khủng long con.
     Morris cũng cười lớn:
     - Một con khủng long con. Đấy là một điều nên xem xét. Khủng long con to cỡ nào?
     - Chừng này, - Grant dang tay - khoảng mười lăm xăngtimet. Cỡ một con sóc.
     - Trong bao lâu thì chúng lớn hết mức?
     - Ba năm.
     Morris đưa tay ra:
     - Lần nữa xin hết sức cám ơn giáo sư.
     - Lái xe thong thả nhé. - Grant nói, đứng nhìn theo Morris một lát khi anh ta đi về phía chiếc Land Rover rồi đóng cửa toa xe.
     - Cô nghĩ sao? - Grant hỏi.
     Ellie nhún vai:
     - Ngây thơ.
     Grant cười:
     - Cô thấy thích Hammond ở chỗ ông ta là một gã vô lại xấu xa à? John Hammind cũng sắp sửa làm chuyện gở như Walt Disney vậy. À này, ai gọi đấy?
     - Một người đàn bà tên là Allce Levin, bà ta làm việc tại Trung tâm y tế Columbia. Giáo sư biết bà ta?
     Grant lắc đầu:
     - Không.
     - Thế thì có việc gì đấy về việc nhận dạng phần còn lại của một con vật bị ăn thịt. Bà ta muốn giáo sư gọi ngay.
0
BỘ XƯƠNG
     Ellie Sattler vuốt ngược mấy lọn tóc vàng hoe xõa trước trán ra sau và lại tập trung chú ý vào mấy chậu sành chứa acid. Một dãy sáu chậu, nồng độ từ 5 đến 30 phần trăm. Cô phải xem chừng đến các chậu có nồng độ hòa tan mạnh bởi vì chúng sẽ ăn thấm qua lớp đá vôi và bắt đầu xói mòn xương. Xương của một khủng long con rất dễ vỡ. Và cô lấy làm lạ là chúng vẫn tồn tại cho đến bây giờ, sau tám mươi triệu năm. Ellie lơ đãng nghe Grant trả lời:
     - Cô Levin? Đây là Alan Grant. Việc này thuộc về… Cô có gì?... Cái gì? - Grant bắt đầu cười - Ồ, tôi không tin điều ấy lắm đâu, cô Levin… không. Tôi thật sự không có thì giờ. Rất tiếc. Vâng, tôi sẽ xem qua, nhưng tôi có thể cam đoan với cô rằng đấy chỉ là một con kỳ nhông. Nhưng… Vâng, cô có thể làm thế. Được rồi. Gửi ngay bây giờ. - Grant treo máy và lắc đầu - Mấy người này thật…
     Ellie hỏi:
     - Việc gì vậy?
     - Một con kỳ đà nào đó mà cô ta muốn xác định chủng loại. Cô ta sắp fax cho tôi một bản X-quang. - Grant đến bên chiếc máy fax và chờ tín hiệu chuyển đến - Ngẫu nhiên mà toi có công việc mới cho cô. Một mẫu nghiệm tốt.
     - Thế ư?
     - Tìm được ở Seuth Hill. Một con velociraptor non, ngay trước khi chú nhỏ này phơi mình ra. Hàm còn nguyên vẹn răng, vì thế không có vấn đề phải nhận dạng. Và công trường dường như chẳng phải đào bới gì nhiều. Chúng ta thậm chí còn nguyên vẹn cả bộ xương.
     - Thật kỳ lạ. Non đến mức nào?
     - Rất non, hai tháng tuổi, nhiều lắm là bốn tháng.
     - Có đúng là một con velociraptor không?
     - Chắc chắn. Cuối cùng có lẽ may mắn đã trở lại với chúng ta.
     Trong hai năm đào bới tại Snakewater đội khai quật chỉ tìm thấy khủng long mỏ vịt. Họ đã có bằng chứng là có rất nhiều loài khủng long ăn cỏ này, đi lang thang thành từng bầy từ mười đến hai mươi ngàn con ở các đồng cỏ miền Cetaceous, như những bầy trâu nước đi lang thang sau này. Nhưng dần dà một vấn đề đặt ra là tổ tiên của lũ thú này cư trú ở đâu.
     Họ đoán là loài thú tổ tiên này hẳn là hiếm. Những nghiên cứu về chúng và mật độ thú săn mồi ở châu Phi và Ấn Độ gần đây cho thấy, cứ một con thú săn mồi thịt thì có hậu duệ của nó là bốn trăm con thú ăn cỏ. Điều đó có nghĩa là với một bầy khủng long mỏ vịt duckbill mười ngàn con thì tổ tiên của chúng chỉ là hai mươi lăm con khủng long tyranosaur. Vì thế họ khó có thể tìm thấy những thứ còn lại của một bầy lớn khủng long ăn thịt sống.
     Nhưng nơi nào có những con thú ăn thịt nhỏ hơn? Vùng Snakewater đã có hàng tá vùng ấp trứng – một vài nơi mặt đất phủ đầy vỏ trứng khủng long - và nhiều khủng long nhỏ ăn trứng.
     Có bộ xương con velociraptor này, thật sự có nghĩa là họ đang gặp may mắn. Và là một con non! Ellie biết một trong những mơ ước của Grant là nghiên cứu cách nuôi con của loài ăn cỏ. Có lẽ đây là bước đầu tiên của giấc mơ ấy.
     - Ôi Chúa ơi! - ông vừa nhìn chằm chằm vào bản fax vừa nói.
     Từ phía sau, Ellie nhìn bản X-quang qua vai Grant, và thở ra nhè nhẹ.
     - Giáo sư cho đây là một con amqssicus?
     - Đúng vậy. Hoặc là một con triassicus. Bộ xương rất thanh.
     Ý nghĩ đầu tiên của Ellie là cô đang nhìn vào một vật dỏm, một vật dỏm tinh xảo, tài tình, nhưng chỉ là một vật dỏm. Mọi nhà sinh vật học biết rằng mối đe dọa của một vật dỏm có mặt khắp nơi. Vật dỏm nổi tiếng nhất, người tiền sử Piltdown. Kẻ gây ra vụ giả mạo này đền giờ vẫn không ai biết. Mới đây, nhà thiên văn nổi tiếng Fred Hoyle tuyên bố rằng con khủng long hóa thạch có cánh, con rchaeopterys, đang trưng bày ở viện bảo tàng Anh quốc là một con giả (Nhưng sau đó lại là con thật).
     Bản chất thành công của một vật giả là nó hiện diện trước mắt các nhà khoa học với những gì mà họ mong được thấy. Và, dưới mắt của Ellie, tấm hình X-quang của con kỳ đà hoàn mỹ quá. Bàn chân ba ngón rất cân đối, với ngón giữa nhỏ nhất. Phần còn lại của ngón thứ tư và thứ năm nằm gần khớp xương bàn chân. Xương ống quyển to và tương đối dài hơn xương đùi. Tại hông, chỗ lõm của đầu khớp xương rất hoàn hảo. Chiếc đuôi cho thấy đủ bốn mươi lăm đốt xương. Đây là một con procompsognathus.
     - Bản X- quang này có thể giả không? - Ellie hỏi.
     - Tôi không biết. Nhưng hầu như không thể giả được một bản X-quang. Và con procompsognathus là một con hiếm thấy. Ngay cả những người biết nhiều về khủng long cũng chưa từng nghe nói đến nó.
     Ellie đọc bài ghi chú: "Mẫu vật có được trên bờ biển Cabo Blanco, ngày 16 tháng bảy… Một con khỉ đang ăn con vật và đây là những gì còn lại." Cô nói tiếp.
     - Ồ, lời ghi còn nói là con kỳ đà tấn công một bé gái.
     - Tôi không tin lắm. - Grant nói - Nhưng có lẽ procompsognathus quá nhỏ và rất nhẹ, chúng ta giả sử nó là một con ăn xác chết súc vật. Và có thể ước định cỡ - ông đo nhanh bức fax - khoảng hai mươi centimet cho đến hông, có nghĩa là toàn bộ con vật cao khoảng ba mươi centimet. To cỡ bằng con gà. Ngay cả một đứa bé trong cũng có vẻ đáng sợ đối với nó. Nó có thể cắn một trẻ sơ sinh chứ không thể cắn một đứa bé.
     Ellie cau mày nhìn bản X-quang.
     - Giáo sư có cho rằng đây có thể thật sự là một khám phá? Như con coelacanth?
     - Có thể.
     Con coelacanth là một con cá dài mười lăm mét tưởng đã tiệt giống sáu mươi lăm triệu năm trước cho đến khi một con được đánh bắt lên từ đại dương vào năm 1988. Vẫn còn nhiều ví dụ khác: loài sóc nhỏ mang con trên lưng ở châu Úc chỉ được biết đến qua hóa thạch cho đến khi một con còn sống được tìm thấy trong một thùng rác ở Melbourne. Và một con dơi ăn quả hóa thạch từ mười ngàn năm ở New Guinea đã được một nhà động vật học miêu tả kỹ lưỡng và sau đó không lâu thì ông ta nhận được một con vật mẫu sống gửi qua đường bưu điện.
     - Nhưng đây liệu có phải mẫu vật thật không? - Ellie vẫn thắc mắc - Tuổi nó chừng nào?
     Grant gật đầu:
     - Tuổi là cả một vấn đề.
     Phần lớn những con vật được phát hiện lại gần đây được ghi nhận có tuổi hóa thạch là mười hay hai mươi ngàn năm. Một vài trường hợp vài triệu năm; trường hợp con coelacanth, sáu mươi lăm triệu năm. Nhưng vật mẫu họ đang nhìn đây thì co tuổi hơn nhiều. Khủng long tiệt giống từ kỷ Cretaceous, sáu mươi lăm triệu năm trước. Chúng sinh sôi nảy nở như là những sinh vật ngự trị hành tinh này vào kỷ Jurassic từ một trăm chín mươi triệu năm trước. Và chúng xuất hiện lần đầu tiên trên quả đất ở kỷ Triassic gần hai trăm triệu năm trước.
     Con procompsognathus đã sống vào thời kỳ đầu của kỷ Triassic, một thời điểm quá xa xôi lúc hành tinh chúng ta chẳng giống chút nào với bây giờ. Tất cả các lục địa đều nối với nhau bằng những dải đất lớn, gọi là Pangca chạy dài từ Bắc cực đến Nam cực - một lục địa cực lớn với cây dương xỉ và rừng rậm, thỉnh thoảng xen vào vài sa mạc rộng mênh mông. Đại Tây dương chỉ là một hồ nước hẹp nằm giữa hai miền mà sau này trở thành châu Phi và vùng Florida châu Mỹ. Không khí đậm đặc hơn. Đất đai nóng ẩm hơn. Có đến hàng trăm núi lửa hoạt động. Con procompsognathus đã sống trong một môi trường như thế.
     - Thế thì, - Ellie nói - chúng ta biết thú vật đã sống sót. Cá sấu về căn bản là thú thuộc kỷ Triassic sống thời hiện đại. Cá mập cũng là thú thuộc kỷ Triassic. Vì thế chúng ta biết việc này đã từng xảy ra trước đây.
     Grant gật đầu:
     - Sự thể là, chúng ta không có cách giải thích nào khác. Hoặc nó là giả - điều tôi nghi ngờ - hoặc là thú được phát hiện lại. Còn là gì khác được nữa?
     Điện thoại reo. Grant nói:
     - Alice Levin gọi đấy. Chúng ta hỏi xem cô ta có thể gửi cho chúng ta mẫu vật thực ấy không - ông trả lời điện thoại và nhìn Ellie, ngạc nhiên - Vâng tôi sẽ giữ máy chờ ông Hammond. Vâng. Dĩ nhiên.
     Ellie hỏi:
     - Hammond à? Ông ta muốn gì vậy?
     Grant lắc đầu và nói vào điện thoại:
     - Vâng, thưa ông Hammond. Rất vui được nghe giọng ông… Vâng.
     Grant nhìn Ellie.
     - Ồ, ông đã làm thế à. Đúng thế không?
     Grant che ống nói lại và bảo Ellie:
     - Vẫn quái gở như mọi khi. Cô phải nghe chuyện này.
     Grant bấm nút loa và Ellie nghe giọng rè rè khó chịu của một người lớn tuổi nói rất nhanh:
     - … Đồ quỷ quái, mấy gã quấy rẩy nào đó ở Cục bảo vệ môi trường, dường như cái cơ quan khỉ gió này đã phái đi một gã dở điên dở khùng, tự ý chạy đến chỗ này chỗ kia nói bậy bạ, thổi phồng sự việc. Chắc ở chỗ giáo sư chưa có gã nào đến quấy rầy chứ?
     Grant nói:
     - Đúng ra thì có một người đã đến gặp tôi.
     Hammond khịt mũi:
     - Tôi đã đoán thế. Một gã lừa con ranh vặt tên là Morris phải khômg?
     - Vâng, tên anh ta là Morris.
     - Gã ta sắp đến gặp tất cả các cố vấn của tôi. Gã đã đến gặp Ian Malcolm hôm kia - nhà toán học ở bang Texas, ông biết chứ? Đây là lần đầu tiên tôi biết chuyện này. Chúng tôi đang gặp xúi quẩy vì vướng phải chuyện khỉ gió này; đấy vẫn là cái kiểu làm của ông nhà nước, chẳng có ai than phiền, chẳng có gì thay đổi, chỉ biết công kích người ta thông qua một gã chẳng có ai giám sát, chạy quanh theo món tiền của người phải đóng thuế. Gã ta làm phiền gì ông không? Làm gián đoạn công việc của ông?
     - Không, không, anh ta chẳng làm phiền gì tôi cả.
     - Quỷ thật, chuyện này quá tệ, tôi đang cố kiếm cách cho người ta tốp gã lại nếu gã đã làm chuyện khỉ ấy. Tôi đã cho các luật sư gọi đến Cục bảo vệ môi trường tìm xem họ muốn gì đây. Lão đứng đầu cơ quan tuyên bố là lão chẳng hề biết có cuộc điều tra nào cả. Giáo sư cứ tưởng tượng đi. Cái thứ quan liêu giấy tờ chết tiệt ấy. Đồ quỷ! Tôi cho là gã khỉ gió này đang ráng đến Costa Rica thọc gậy lung tung, rồi leo lên đảo của chúng tôi. Giáo sư biết là chúng tôi có một hòn đảo ở đấy chứ?
     - Không. - Grant nhìn Ellie - Tôi không biết.
     - Ồ thế thì, chúng tôi đã mua một hòn đảo và đã bắt đầu hành động, đâu bốn hay năm năm rồi. Tôi không nhớ chính xác. Gọi là đảo Islan Nublar - đảo rất lớn cách bờ một trăm dặm. Sắp trở thành một nơi bảo tồn sinh vật. Một nơi kỳ diệu, rừng nhiệt đới. Ông biết không, ông cần phải viếng thăm đảo, giáo sư Grant ạ.
     - Nghe thú vị đấy… nhưng…
     - Hầu như mọi thứ đã xong, ông biết không. - Hammond cắt ngang - Tôi đã cho gửi ông một vài tài liệu về đảo. Ông đã nhận được rồi chứ?
     - Chưa, chúng tôi ở khá xa…
     - Có thể mấy thứ đó đến ông hôm nay. Ông sẽ xem xem. Hòn đảo thật đẹp. Có đủ mọi thứ. Chúng tôi xây dựng các công trình ba mươi tháng nay rồi. Ông có thể tưởng tượng xem. Một công viên cực lớn. Khai trương vào tháng chín năm tới. Thật sự ông nên đến thăm đảo.
     - Nghe kỳ diệu thật, nhưng…
     - Thật sự thì - Hammond nói - tôi nhất định mời ông đến viếng đảo, tiến sĩ Grant à. Tôi biết là ông sẽ thấy nó thích hợp với việc ông làm. Ông sẽ thấy rất hấp dẫn.
     - Tôi đang ở tận đây…
     - Tôi sẽ cho giáo sư hay. - Dường như một ý tưởng chợt đến với Hammond - Tôi đang mời một số cố vấn đến đảo vào kỳ nghỉ cuối tuần này. Sống trên đảo vài ngày và xem qua đảo. Dĩ nhiên phí tổn đều  do chúng tôi chịu. Thật là tuyệt nếu ông cho chúng tôi những ý kiến về đảo.
     Grant vẫn từ chối:
     - Tôi không thể đi được.
     - Ồ, chỉ là chuyến đi nghỉ cuối tuần. - Hammond thuyết phục, với giọng vui vẻ - Đó là tất cả những gì tôi mong ở ông, tiến sĩ Grant. Tôi không muốn làm gián đoạn công việc của ông. Tôi biết công việc của ông quan trọng đến nhường nào. Thật vậy, tôi biêt điều đó. Nhưng ông có thể nhởn nhơ trên đảo mầy ngày cuối tuần, rồi trở về vào thứ hai.
     Grant nói:
     - Không được. Tôi không thể đi nghỉ. Chúng tôi mới tìm được một bộ xương mới và…
     - Vâng, tốt quá. Nhưng tôi nghĩ là ông nên đến. - Hammond cứ tiếp tục chẳng để ý đến lời Grant.
     - Và chúng tôi vừa mới nhận được một thứ hết sức đáng chú ý, dường như đấy là một con procompsgonathus sống.
     - Con gì? - Giọng Hammond chậm lại - Tôi nghe chưa rõ. Ông bảo là một con procompsgonathus sống à?
     - Đúng vậy. Đấy là một mẫu vật sinh vật, mấy mảnh còn lại của một con vật thu thập được ở Trung Mỹ. Một con vật sống.
     - Ông không nói đùa chứ. Một con vật sống? Kỳ quái thế.
     - Vâng. Tôi cũng thấy thế! Vì vậy, ông thấy đấy, đây không phải là lúc tôi bỏ đi được.
     - Ở Trung Mỹ, ông vừa nói thế?
     - Vâng.
     - Vùng nào ở Trung Mỹ, ông biết không?
     - Tại một bờ biển có tên là Cabo Blanco, tôi không biết chính xác là ở đâu…
     - Tôi hiểu. - Hammond nuốt nước bọt - Và bao giờ thì thứ đó, à mẫu vật đến tay ông?
     - Hôm nay.
     - Hôm nay. Tôi nghe rồi. Hôm nay. Tôi nghe rồi. Vâng. - Hammond lại nuốt nước bọt
     Grant nhìn Ellie và ra hiệu: "Chuyện gì vậy?"
     Ellie lắc đầu: "Nghe có vẻ lão ta bối rối."
     Grant ra hiệu: "Xem thử Morris còn đấy không?"
     Cô đến bên cửa sổ nhìn ra, nhưng xe của Morris đã khuất dạng. Cô trở lại. Ở ống nghe, tiếng Hammond dặng hắng:
     - À tiến sĩ Grant, ông đã nói ai nghe chuyện ấy chưa?
     - Chưa.
     - Tốt. Thế thì tốt. Vậy thì, vâng. Tôi nói thật với ông, tiến sĩ Grant, tôi đang gặp một rắc rối nhỏ về hòn đảo này. Vụ Cục bảo vệ môi trường đến chẳng đúng lúc tí nào.
     - Rắc rối ra sao? - Grant hỏi.
     - Quỷ thật, chúng tôi đã gặp một vài vấn đề và có vài việc phải trì hoãn… Cứ hiểu là ở đây chúng tôi đang bị áp lực, và tôi muốn ông đến xem qua đảo giùm tôi. Và rồi cho chúng tôi ý kiến. Tôi sẽ trả cho ông mức hai mươi ngàn đôla mỗi ngày. Như vậy là sáu mươi ngàn đôla cho ba ngày. Và nếu ông có thể rủ tiến sĩ Ellie Sattler cùng đi, tôi cũng xin trả với giá ấy. Tôi cần một nhà thực vật học. Ông nghĩ thế nào?
     Ellie nhìn Grant khi ông trả lời:
     - Vâng, ông Hammond. Món tiền lớn đó chúng tôi sẽ dành cho những vụ khai quật trong hai mùa hè tới…
     - Tốt, tốt. - Hammond nói, giọng hài lòng - Tôi muốn việc này để cho giáo sư… Tôi sẽ phái chiếc phản lực của công ty đến đón hai vị tại phi trường riêng ở phía đông Choteau. Ông biết chỗ ấy chứ. Từ chỗ ông lái xe đến đấy mất khoảng hai tiếng. Ông có mặt vào năm giờ sáng mai, tôi chờ ông ở đấy. Ông có thể mời tiến sĩ Ellie cùng đi chuyến này?
     - Chắc là chúng tôi cùng đi được.
     - Tốt. Mang hành trang nhẹ thôi. Các vị không cần hộ chiếu. Tôi đang chờ đến mai đấy. Hẹn gặp quý vị. - và Hammond gác máy.
0
COWAN, SWAIN VÀ ROSS
     Ánh nắng tràn ngập văn phòng luật sư của Cowan, Swain và Ross, căn phòng sáng sủa vui vẻ nhưng Donald Gennaro chẳng cảm thấy gì. Ông ta nghe điện thoại và nhìn ông chủ mình, Daniel Ross, vẻ mặt lạnh băng như người đưa đám trong bộ đồ màu sẫm có sọc.
     - Tôi hiểu, ông Hammond à. - Gennaro nói vào điện thoại - Và Grant đồng ý đến. Tốt, vâng, tôi cho thế là tốt. Xin chúc mừng ông Hammond.
     Gennaro gác máy và quay sang Ross:
     - Chúng ta không thể tin tưởng vào Hammond được nữa. Ông ta đang chịu nhiều áp lực. Cục bảo vệ môi trường đang điều tra ông ta, và công việc trung tâm nghỉ mát ở Costa Rica đang chậm lại, không theo kịp thời gian chỉ định. Các nhà đầu tư vốn đang băn khoăn. Có quá nhiều lời đồn thổi về các vấn đề ở đấy. Có quá nhiều công nhân chết. Và bây giờ thì việc một con procompsit-sat gì đó ở đất liền.
     - Việc ấy có ý nghĩa gì? - Ross hỏi.
     - Có lẽ không có gì. Nhưng Hamachi là một trong những nhà đầu tư vốn của chúng ta. Tuần rồi tôi có nhận được một báo cáo của đại diện Hamach ở San José, thủ đô Costa Rica. Theo báo cáo có một loại kỳ nhông mới đang cắn trẻ em ở vùng bờ biển.
     Ross nhấp nháy mắt:
     - Loài kỳ nhông mới?
     - Vâng. Chúng ta không thể đi loanh quanh được. Phải đến tận nơi ngay lập tức. Tôi đã yêu cầu Hammơnd chuẩn bị cho việc khảo sát tại chỗ trong ba tuần tới.
     - Hammond nói sao?
     - Ông ta quả quyết là chẳng có gì sai trên đảo cả. Đã dự phòng mọi chuyện.
     - Nhưng anh không tin ông ta?
     - Không. - Gennaro nói - Tôi không tin.
     Donald Gennaro làm việc tại văn phòng Cowan, Swain về việc đầu tư ngân hàng. Các khách hàng có kỹ thuật cao cấp của Cowan, Swain cần vốn, và Gennaro giúp họ tìm nguồn vốn. Một trong những công tác đầu tiên được giao cho ông là hợp tác làm ăn với John Hammond vào năm 1982. Ông già này, lúc đó đã gần bảy mươi, cùng lập ngân sách cho công ty InGen. Họ đã đưa vốn lên gần một tỷ đôla sau đó. Và Gennaro nhớiại công việc, thật chẳng khác gì cưỡi lưng cọp. Gennaro nói:
     - Hammond là một người có hoài bão.
     - Một người mơ ước tiềm tàng đầy nguy hiểm. Đáng lẽ chúng ta chẳng nên dính líu vào.
     - Vào lúc ấy thì hình như thế là khôn ngoan. Quỷ thật, thế mà đã tám năm rồi. Chúng ta tham gia hợp tác thay vì nhận một khoản thù lao. Và, nếu ông nhớiại, kế hoạch của Hammond đã được suy xét chín chắn. Ông ta đang gần đến thành công. Không ai cho rằng ông ta có thể để cho việc gì xảy ra.
     - Ấy thế mà rõ ràng ông ta đã sơ hở. - Ross nói - Trong mọi trường hợp, tôi đồng ý là cần phải xúc tiến một cuộc điều tra. Thế ý kiến các chuyên gia cộng tác của ta thế nào?
     - Tôi đang tiếp xúc với các chuyên gia do Hammond thuê làm cố vấn từ lúc bắt đầu dự án. - Gennaro thảy một danh sách lên bàn của Ross. - Nhóm gồm một nhà khảo cổ động vật, một nhà khảo cổ thực vật và một nhà toán học. Họ sắp đến đấy cuối tuần này. Tôi sẽ đi với họ.
     - Họ sẽ nói với ông sự thật?
     - Tôi tin vậy. Không một ai có liên hệ gì với đảo cả, và một người trong nhóm này - nhà toán học, Ian Malcolm - thật sự chống đối dự án ngay từ lúc bắt đầu. Ông ta nhất mực cho rằng dự án sẽ không bao giờ thực hiện được, sẽ không thể hoạt động.
     - Còn ai nữa?
     - Một nhân viên kỹ thuật: nhà phân giải hệ thống computer. Anh ta xem lại các computer của công viên và sửa chữa chỗ trục trặc. Anh này sẽ đến đây vào sáng thứ sáu.
     - Tốt. Anh đang chuẩn bị cho họ đến chứ?
     - Hammond yêu cầu để đích thân ông ta mời. Tôi nghĩ ông ta muốn mọi người tin rằng ông ta không gặp rắc rối, rằng đó chỉ là việc thăm viếng xã giao. Mời đến để giới thiệu đảo.
     - Được thôi. - Ross bảo - Nhưng mọi sự phải được tiến hành. Tôi muốn vụ Costa Rica này giải quyết xong trong vòng một tuần.
     Ông ta đứng dậy rời khỏi phòng.
     Gennaro quay số, nghe tiếng xì xì của một radiophone. Rồi ông nghe tiếng:
     - Grant đây.
     - Xin chào tiến sĩ Grant. Donald Gennaro đây. Luật sư thường trực của InGen. Chúng ta có nói chuyện với nhau cách đây vài năm. Không biết giáo sư còn nhớ không…
     - Tôi vẫn còn nhớ.
     - Hay quá. Tôi vừa mới điện đàm với Hammond, ông ta báo cho tôi tin vui là giáo sư nhận lời đến thăm đảo chúng tôi ở Costa Rica.
     - Đúng thế. Chúng tôi sẽ đến đấy vào ngày mai.
     - Hay quá. Tôi chỉ muốn bày tỏ lời cảm ơn giáo sư và mọi người trong công ty InGen đánh giá cao sự nhận lời của giáo sư. Chúng tôi cũng đã mời Ian Malcolm, một trong những cố vấn của chúng tôi đến đấy nữa. Ông ta là giáo sư toán Đại học Utah phải không?
     - Nghe ông John Hammond bảo vậy. - Grant nói.
     - Tốt quá. Tôi cũng sẽ đến đấy. Nhân thể tôi muốn hỏi cái của con procom… mà giáo sư mới tìm được, nó là cái gì vậy?
     - Con procompsgonathus.
     - Vâng, ông có mẫu vật ở đấy không tiến sĩ Grant? Mẫu vật thực ấy?
     - Không. Tôi chỉ có một bản X-quang. Mẫu vật hiện ở New York. Một chị ở Đại học Columbia gọi cho tôi.
     - Hay quá. Giáo sư có thể cho tôi biết mọi chi tiết về chuyện này không? Để tôi có thể kể lại cho Hammond. Ông ta rất kích động về cái mẫu vật ấy. Tôi chắc là giáo sư cũng rất muốn thấy.
     - Có lẽ tôi sẽ xoay xở để nó được gửi tới đảo trong khi quý vị ở đấy.
     Grant kể cho Gennaro mọi chi tiết về mẫu vật. Gennaro nói:
     - Hay quá. Thế là tốt, tiến sĩ Grant. Gửi lời chào của tôi đến tiến sĩ Ellie Sattler. Mong được gặp quý vị vào ngày mai. - Gennaro gác máy.
 
ĐỒ ÁN
     Ngày hôm sau, Ellie cầm một bì thư lớn bước vào cuối toa xe trao cho Grant.
     - Mới nhận được. Một trong mấy gã đào đất mang ngoài phố về. Của Hammond gửi.
     Grant chú ý đến dấu hiệu bằng hình vẽ màu xanh- trắng của công ty InGen khi ông xé phong bì. Bên trong chẳng có thư từ gì, chỉ một xấp giấy tờ. Lật ra, ông thấy đấy là những bản thiết kế được thu nhỏ lại, đóng thành một tập dày. Bìa sách ghi: CÁC TIỆN NGHI DÀNH CHO KHÁCH CỦA TRUNG TÂM NGHỈ MÁT ISLA NUBLAR ( TOÀN BỘ KHU NHÀ NGHỈ SAFARI).
     - Thứ quỷ gì thế này? - ông lật vài trang, và một mảnh giấy rơi ra.
     Thân gửi Grant và Ellie.
     Xin quý vị hiểu cho là chúng tôi không biết nhiều về cách thức trình bày các tài liệu. Nhưng tập sách mỏng này có thể giúp quý vị hình dung được một vài điều về dự án Isla Nublar. Tôi nghĩ là cuốn sách rất hấp dẫn.
     Mong được bàn thảo với quý vị!
     Hi vọng quý vị sẽ đến với chúng tôi.
Kính.
John Hammond
     Grant lật qua những trang sách.
     - Tôi chẳng hiểu gì. Đây là những đồ án kiến trúc. - Ông giở trang bìa trong - Trong này ghi tên các nhà chuyên môn ở các lĩnh vực khác nhau tham gia đồ án như kiến trúc sư, kỹ sư, thiết kế công trình, thiết kế điện, computer.
     Grant lật những trang đồ án. Mỗi trang đều đóng dấu. BÍ MẬT CÔNG NGHIỆP - CẤM SAO CHÉP. LƯU HÀNH NỘI BỘ - KHÔNG PHỔ BIẾN. Mỗi tờ đều có đánh số, và đầu trang: "Đây là những đồ án thiết kế sáng tạo riêng của công ty InGen".
     Trang kế là một trắc đồ của đảo Isla Nublar. Đảo trông như một giọt nước mắt lộn ngược, tròn ở phía bắc, thuôn như búp măng ở phía nam, dài tám dặm và bản đồ đảo được chia ra nhiều vùng lớn.
     Vùng phía bắc ghi chú là KHU KHÁCH VIẾNG, có những kiến trúc "Nhà khách", "Trung tâm khách viếng", "Phòng điều hành", "Khu năng lượng", "Kho", "Tư thất Hammond" và "Nhà nghỉ Safari". Grant có thể thấy đường bao quanh của một bể bơi, những hình chữ nhật của sân tennis và các đường dợn sóng tượng trưng các khu trồng cây và bụi cây.
     - Trông ra khu nghỉ mát lắm, đúng vậy. - Ellie nói.
     Tiếp theo là các tờ vẽ chi tiết của nhà nghỉ Safari. Trong bản vẽ nhìn theo mặt tiền, ngôi nhà nghỉ trông rất thích mắt: một tòa nhà khác trong khu khách viếng không có nhiều chi tiết bằng.
     Và phần còn lại của đảo trông còn bí mật hơn. Trong chừng mực Grant có thể hiểu qua bản vẽ, hầu như toàn là ngoài trời. Một mạng lưới đường sá, đường hầm, các dãy nhà phụ, và một chiếc hồ dài, hẹp dường như do người đào với những đê chắn bằng bê tông và rào chấn song sắt. Nhưng phần lớn đảo được chia thành những vùng uốn cong với rất ít khai phá. Mỗi vùng được ghi chú bằng các mã số.
     - Có chỗ nào ghi giải thích các mã không?
     Grant lật nhanh các trang nhưng không thấy.
     - Có thể họ đã lấy đi rồi. - Ellie nói.
     - Bí hiểm thật. - Grant nhìn vào các đường cong phân chia vùng, cách nhau bởi một hệ thống đường. Chỉ có sáu vùng trên toàn đảo. Và mỗi vùng được tách khỏi đường bao quanh bằng một hàng rào với dấu hiệu ánh chớp. Dấu hiệu này làm hai người thấy có vẻ bí hiểm cho đến khi họ hiểu ra được đấy là hàng rào có truyền điện.
     - Kỳ lạ thật. - Elhe nhận xét -. Hàng rào điện ở nơi nghỉ mát.
     - Mà lại dài hàng dặm. - Grant nhận xét thêm - Cả hàng rào điện lẫn mương bê tông và lại có con đường chạy theo nữa.
     - Đúng là giống như sở thú.
     Họ xem lại bản trắc đồ và nhìn kỹ mấy đường bao quanh. Những con đường được xây ớ những vị trí kỳ lạ. Con đường chính chạy từ bắc đến nam, qua những đồi trung tâm của đảo, gồm cả một phần cắt sâu vào một bên vách đá bên trên một con sông. Ở đây con đường bắt đầu quanh co để khỏi phải chạy qua những vùng phân chia, vây quanh những đường mương và hàng rào điện. Và những con đường đều được đắp cao khỏi mặt đất, vì thế đi trên đường ta có thể nhìn vào trong vùng phân chia qua bên trên hàng rào. Ellie nói:
     - Giáo sư xem đây. Một vài kích thước lớn kinh khủng.
     Con mương bê tông này rộng hơn mười mét. Chẳng khác gì hào chắn quân sự.
     - Các tòa nhà cũng thế. - Grant thấy ở mỗi vùng phân chia đều có vài tòa nhà, nằm ở một góc bên ngoài hào bê tông cốt sắt, tường thật dày. Ở những bản thiết kế vẽ nhìn xiên, các tòa nhà trông như những pháo đài với những ô cửa sổ nhỏ. Tựa như lỗ châu mai.
     Vào lúc này, họ nghe tiếng nổ ì ầm từ xa vọng đến. Grant đặt xấp tài liệu qua một bên.
     - Hãy đi làm việc đã.
*
     - Cho nổ!
     Hình ảnh chao động nhẹ rồi một đường bao quanh màu vàng xuất hiện ngang màn hình computer. Lần giải đáp này thật hoàn toàn. Grant nhìn vào bộ xương, được định dạng rõ ràng, chiếc cổ dài cong ngửa ra đằng sau. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, đấy là một con velociraptor non, và hình ảnh trông rất hoàn chỉnh…
     Màn hình bỗng trắng xóa. Grant nhấp nháy mắt trong ánh nắng:
     - Tôi chúa ghét computer. Việc gì thế này?
     Một cậu sinh viên thực tập nói:
     - Mất nguồn điện. Chờ một phút thôi.
     Cậu ta cúi nhìn đám dây nhợ dẫn đến các bình điện cung cấp năng lượng cho chiếc conputer xách tay đặt trên một thùng bia bằng giấy. Không quá xa đấy là một khí cụ họ gọi là thumper. Grant ngồi xuống lưng đồi và nhìn đồng hồ tay, ông nói với Ellie:
     - Chúng ta sắp phải làm việc này theo kiểu cổ điển.
     Một cậu đào đất hỏi:
     - Ấy, ông Grant, gì vậy?
     - Chúng tôi phải đi để kịp chuyến bay. Và tôi muốn tất cả các hóa thạch phải được che giữ trước khi tôi đi.
     Việc bảo vệ hóa thạch thường gồm một tấm bạt che mưa nắng bên trên phần đất khai quật và một đường hào đào quanh chu vi công trường để dẫn nước chảy đi. Vấn đề là đường hào phải xa chừng nào để khỏi đụng đến hóa thạch con velociraptor này.
     Để quyết định mức rộng, họ đang dùng một kỹ thuật mới, một thiết bị dùng siêu âm và X-quang có tên là CAST cung cấp dữ kiện cho một computer. Đấy là một phương pháp mới: Chiếc thumper bắn một viên đạn chì nhỏ vào lòng đất gây nên những sóng va chạm được máy computer đọc rồi tập hợp sóng thành một hình X-quang của vùng đất đồi.
     Chiếc thumper đang ở cách chỗ Grant sáu mươi mét. Đấy là một chiếc thùng lớn bằng bạc trên một xe đẩy bánh lớn, có dù che. Chiếc máy trông giống như một xe bán kem dạo, đỗ tại một nơi chẳng thích hợp chút nào trên vùng đất cằn cỗi này. Thumper có hai sinh viên phụ tá đang lắp một viên đạn chì cho nổ.
     Cho đến giờ phút này, chương trình CAST chỉ có việc là xác định mức xa cần của vật khai quật, giúp Grant và cả toán đào xới làm việc hiệu quả hơn. Nhưng các công nhân đào xới nói rằng trong vòng vài năm tới nó sẽ cho một hình ảnh chi tiết hon, khiến việc khai quật sẽ mất ít thời gian. Người ta có thể có được một bức hình thật hoàn toàn của bộ xương về cả ba chiều, và kỹ thuật này thật hứa hẹn một kỷ nguyên mới cho ngành khảo cổ không cần khai quật.
     Nhưng các điều ấy chưa xẩy ra. Và cái thiết bị đã hoạt động không chút trục trặc tại trường đại học, ở đây lại tỏ ra sai chập bất thường, thật tội nghiệp. Grant hỏi:
     - Còn lâu không?
     - Có rồi đấy, giáo sư Grant. Không tệ lắm đâu.
     Grant đến nhìn màn hình. Ông thấy được toàn bộ bộ xương được vạch bằng đường sáng màu vàng. Đúng là một con vật con. Có những tính chất vượt trội rõ ràng của một con velociraptor - chân một ngón, mà ở một con trưởng thành sẽ là một móng vuốt cong, một thứ khí giới dài mười lăm centimet có khả năng xẻ dọc con mồi, mà ở đây mới chỉ nhú chưa dài hơn một cái gai bông hồng. Ngón vuốt này hầu như khó mà thấy được trên màn hình. Và velociraptor là một con khủng long có dáng dấp mảnh mai, một mãnh thú có xương thanh cảnh như xương chim, được cho là một con thú rất thông minh.
     Ở đây bộ xương hiện ra với một thứ tự hoàn hảo, trừ đầu và cổ hơi cong về phía lưng. Tính chất uốn cong ở cổ như thế rất thường thấy ở các loại hóa thạch khiến một số các nhà khoa học đã hình thành một lý thuyết để cắt nghĩa, cho rằng loài khủng long sở dĩ tiệt giống vì chúng bị nhiễm chất alkaloid có trong thực vật. Chiếc cổ bị cong ra sau được xem là tiêu biểu cho cái chết đau đớn của khủng long. Grant cuối cùng đã bác bỏ thuyết ấy bằng cách chứng minh rằng có rất nhiều chủng loại chim và bò sát trước khi chết đã phải chịu đựng sự co rút đầu và cổ ra phía sau của dây chằng bắp thịt cổ, làm đầu bị kéo ra sau một cách tiêu biểu. Tình trạng này không dính líu gì đến nguyên nhân cái chết; chỉ dính líu đến việc con thú chết phơi xác dưới ánh nắng lâu ngày.
     Grant nhận thấy cổ bộ xương đặc biệt này bị kéo lui về phía sau qua một bên, vì thế chân phải cùng bàn chân bị nâng lên ở vị trí cao quá xương sống.
     - Trông như bị xoắn. - Một sinh viên nói - Nhưng tôi thường tin đây là do màn hình computer.
     Grant nói:
     - Không phải. Đấy chỉ do thời gian. Quá nhiều thời gian.
     Grant biết là người bình thường khó thể tưởng tượng ra được thời gian địa chất. Cuộc sống loài người được tính trong một tỉ lệ thời gian hoàn toàn khác. Một quả táo trở nên chín vàng trong vài phút. Đồ dùng bằng bạc đổi màu đen xỉn trong vài ngày. Một đồng phân hoại tiêu đi trong một mùa. Một đứa bé trưởng thành trong một thập kỷ. Không một kinh nghiệm bình thường hằng ngày nào chuẩn bị cho con người có khả năng tưởng tượng được ý nghĩa của một thời gian tám mươi triệu năm - độ dài của thời gian đã trôi qua kể từ khi con vật này chết.
     Trong lớp học, Grant đã cố đưa ra những so sánh khác nhau. Nếu bạn tưởng tượng một đoạn đời sống sáu mươi năm được thu ngắn lại con một giờ thì tám mươi triệu năm vẫn còn là con số 3652 năm, lâu hơn tuổi của các kim tự tháp. Con velociraptor này chết đã quá lâu.
     - Trông chẳng kinh khủng gì lắm. - Một gã đào xin nhận xét.
     - Con này thì chẳng kinh khủng gì, - Grant giải thích - ít nhất cũng đến khi nó lớn đủ.
     Có lẽ con này ăn các xác chết - xác thú bị các con lớn giết và chén no say, rồi nằm sưởi ấm dưới ánh nắng mặt trời. Thú ăn thịt có thể tiêu thụ một lượng thịt bằng 25% sức nặng của nó trong một bữa ăn, và làm nó buồn ngủ sau đấy. Những con non sẽ kêu chút chít, lổm ngồm bò ngang qua thân hình no nê buồn ngủ của mấy con lớn, gặm cắn những miếng thịt còn lại của con thú chết. Những con non có lẽ là những con vật nhở rất dễ thương.
     Nhưng một con velociraptor trưởng thành là một chuyện hoàn toàn khác, nó là một con khủng long tham ăn hung dữ nhất chưa từng có trong loài thú. Dù tương đối nhỏ con, chừng một trăm kilô, lớn cỡ bằng một con báo, con velociraptor rất nhanh nhẹn, thông minh và hung dữ có khả năng tấn công với hàm nhọn, với chi trước có móng nhọn rất mạnh, và chiếc móng đơn có sức tàn phá kinh khủng của chi sau.
     Velociraptor đi thành từng bầy để săn mồi, Grant nghĩ hẳn phải là một cảnh hết sức hấp dẫn nếu được xem một đoàn mươi mười lăm con thú này chạy hết tốc lực đuổi theo rồi nhảy lên mình một con khủng long lớn hơn, xé rách cổ và cào toác bụng xẻ sườn con mồi.
     - Chúng ta còn rất ít thì giờ. - Ellie nhắc Grant.
     Grant chỉ dẫn đào mương nước. Qua hình ảnh của bộ xương ở màn hình computer, họ xác định được vùng nằm của bộ xương. Một mương dẫn nước quanh một khu chừng hai mét vuông là đủ. Trong khi đó Ellie soạn một tấm bạt che. Grant giúp cô đóng những cây cọc cuối cùng. Một sinh viên hỏi:
     - Con khủng long non này chết như thế nào nhỉ?
     Grant trả lời.
     - Khó mà biết được đấy. Tỷ lệ tử vong của thú hoang dã rất cao. Ở các công viên châu Phi, một số loài ăn thịt tử vong đến bảy mươi lăm phần trăm. Lý do cơ thể đủ mọi thứ - bệnh, lạc bầy, bất cứ lý do gì. Thậm chí bị con lớn giết. Chúng ta biết loài thú này đi săn mồi theo đàn, nhưng không biết gì về sinh hoạt xã hội của chúng trong đàn.
     Mấy sinh viên gật đầu. Họ đều đã biết các tập tính của thú vật, ví dụ một con sư tử đực khi "nhậm chức" đầu đàn, việc đầu tiên nó làm là giết hết sư tử con. Lý do rõ ràng là do bản năng truyền giống; Con đực gieo rắc gen của nó càng nhiều càng tốt, và bằng cách giết hết sư tử con, nó muốn cho các con cái động đực để có thể làm cho bầy sư tử cái có thai. Nó cũng không muốn cho bầy cái của nó mất thì giờ nuôi nấng chăm sóc con của một con đực khác.
     Có lẽ lũ velociraptor cũng có một con đầu đàn khi sống theo bầy. Chúng ta biết còn ít về khủng long quá, Grant nghĩ. Sau 150 năm nghiên cứu và khai quật khắp thế giới, họ vẫn hầu như chưa biết khủng long thật sự sống như thế nào. Ellie nói:
     - Đến lúc ngưng rồi đấy, khoảng 5 giờ chúng ta phải đến Choteau.
 
HAMMOND

     Cô thư ký của Gennaro bước vào, tay xách chiếc vali mới. Chiếc vali vẫn còn nhãn hiệu lủng lẳng. Cô ta nghiêm trang nói:
     - Thưa ông Gennaro, ông quên sắp xếp vali làm tôi nghĩ ông thật sự chẳng muốn chuyến đi này.
     - Có thể cô đúng đấy. Tôi sẽ không dự được sinh nhật của con bé.
     Chủ nhật là sinh nhật của bé Amanda, con gái Gennaro, và vợ ông ta, Elizabeth, đã mời đủ hai mươi "bạn" ở lứa bốn tuổi còn khóc nhè đến dự, mời cả chú hề Cappy và một ảo thuật gia. Elizabeth chẳng mấy vui khi biết ông phải đi xa vào cuối tuần. Cả Amanda nữa. Cô thư ký nói:
     - Vâng, tôi đã làm đầy đủ viêc ông nhắc. Giày đi rừng đúng cỡ, quần soóc kaki, sơ mi, bộ cạo râu. Một cặp jeans và áo choàng đề phòng trời lạnh. Xe đã sẵn bên dưới, chờ chở ông đến phi trường. Ông phải đi ngay bây giờ để kịp chuyến bay.
     Cô thư ký rời khỏi phòng. Gennaro đi dọc theo hành lang, tay xé nhãn hiệu khỏi chiếc vali. Khi ông đi ngang căn phòng gắn toàn cửa kính, Daniel Ross rời bàn giấy bước ra ngoài.
     - Đi vui vẻ nhé. - Ross nói - Nhưng chúng ta dứt khoát một điều. Tôi không biết tình huống thật sự xấu đến thế nào, Gennaro, nhưng nếu có vấn đề gì trên hòn đảo ấy thì hãy đốt trụi nó đi nhé.
     - Lạy Chúa, ông Ross… Chúng ta đang nói chuyện về một cuộc đầu tư lớn.
     - Đừngl do dự. Quên chuyện đầu tư đi. Cứ việc làm như thế. Nghe tôi chứ?
     Gennaro gật đầu:
     - Tôi nghe. Nhưng Hammond…
     - Mặc kệ Hammond.
*
     - Ông bạn nhỏ của tôi. - Giọng ồ ề quen thuộc. - Lâu nay ra sao, ông bạn nhỏ?
     - Rất tốt, thưa ông. - Gennaro trả lời, người tựa vào chiếc ghế xoay bọc da trong chiếc phản lực cơ Gulfstream II đang bay về phía đông, hướng đến dãy Rocky Mountains.
     Hammond thân mật nói:
     - Anh không hề gọi tôi lần nào. Tôi rất nhớ anh, anh Gennaro. Vị nội tướng xinh đẹp của anh vẫn khỏe chứ?
     - Cô ấy khỏe lắm. Elizabeth rất khỏe. Chúng tôi đã có một bé gái.
     - Tuyệt, tuyệt. Trẻ em thật tuyệt. Con bé sẽ đến tung tăng trong công viên mới của chúng ta ở Costa Rica.
     Gennaro quên mất là Hammond rất thấp; ngồi trong chiếc ghế máy bay, chân lão không chạm tới tấm thảm. Lão đung đưa chân khi nói. Ông già này tính khí vẫn trẻ con, mặc dầu bây giờ Hammond hẳn phải… bao nhiêu nhỉ? Bảy mươi lăm? Bảy mươi sáu? Vào cỡ ấy, lão ta trông già hơn theo trí nhớ của Gennaro, nhưng ông đã không gặp lão từ năm năm rồi.
     Hammond ưa phô trương, bẩm sinh có khiếu tổ chức. Vào năm 1983, lão có một con voi mà đi đâu lão cũng mang theo trong một cái chuồng nhỏ. Con voi cao hai tấc, dài gần ba tấc, một con voi thu nhỏ hoàn toàn, Hammonđ đem con voi vào những buổi họp xin tăng ngân sách. Hammonđ thường mang con voi vào phòng, chuồng được phủ kín bằng tấm mền nhỏ, giống như một thùng ấp bình trà nóng, còn Hammond sẽ phát biểu bài diễn văn thường lệ của lão về viễn ảnh phát triển "sinh vật tiêu thụ". Vào thời điểm kích động nhất, lão hất chiếc mền để lộ con voi ra. Rồi lão đòi thêm tiền.
     Con voi luôn tạo thành công. Thân hình nhỏ tí teo, không to hơn một con mèo mấy, do lão kiếm được ở phòng thí nghiệm của Noerman Atherton, một nhà di truyền học theo lão trong cuộc phiêu lưu làm ăn mới. Atherton chỉ việc lấy bào thai của một con voi bất thường rồi nuôi trong một tử cung nhân tạo với các phương thức biến đổi hormon…
     Atherton không thể nhân bản con voi nhỏ này, dù ông ta đã cố gắng. Con vật thường nằm mọp khi trời lạnh, đặc biệt là mùa đông. Những cái hắt hắt tuôn ra khỏi thân hình nhỏ nhắn làm Hammond lo lắng. Con voi còn chuồi đôi ngà giữa chấn song chuồng, hắt hơi liên tiếp một cách khó chịu như muốn cố thoát khỏi nơi giam cầm. Đôi khi nó bị nhiễm trùng quanh chỗ mòn của ngà. Hammond luôn lo sợ con voi chết trước khi Atherton có thể tạo nên một con khác.
     Hammond cũng giấu những tay đầu tư của mình việc tập tính của con voi đã thay đổi trong quá trình nhỏ hóa. Con thú nhỏ xíu, giống con voi nhưng sinh hoạt giống như một con thú gậm nhấm hung dữ, cử động nhanh nhẹn.
     Và mặc dù Hammond nói một cách tin tưởng về bảy tỉ đôla thu nhập hàng năm vào 1993, dự án của lão vẫn bị cho là một cuộc phiêu lưu, cần phải cân nhắc kỹ. Lão có đầu óc và nhiệt tình, nhưng không có gì chắc chắn là kế hoạch của lão sẽ tiến hành tốt cả. Đặc biệt từ khi Noerman Atherton, bộ óc đứng sau thúc đẩy cho kế hoạch của Hammond, bị ung thư, và đấy là điều cuối cùng Hammond bỏ qua không nhắc đến.
     Tuy vậy, với sự giúp đỡ của Gennaro, Hammond vẫn kiếm được tiền. Giữa khoảng tháng chín 1983 và tháng mười một 1985, John Allred Hammond và công ty Pachyderm Portfolio của ông ta bỏ một cú vốn liề lĩnh tài trợ cho Hiệp hội kỹ thuật quốc tế về gen di truyền, tức InGen. Và họ đã có thể nâng vốn lên nữa, nếu Hammond không nhất mực giữ bí mật tuyệt đối, và đề nghị không hoàn vốn lại trong thời gian ít nhất là năm năm. Điều này làm cho một số nhà đầu tư ngại không tham gia góp vốn. Cuối cùng, họ phải nhận vốn phần lớn ở các nhà đầu tư Nhật. Các tay đầu tư Nhật là những người duy nhất đủ kiên nhẫn.
     Ngồi trong ghế da của chiếc phản lực, Gennaro suy nghĩ về việc Hammond đang tránh né vấn đề. Ông già này đang giả lơ sự việc là văn phòng của Gennaro đã ép buộc lão ta có chuyến đi này. Trái lại, lão làm như thể đây là một chuyến tham quan nghỉ mát cuối tuần. Lão nói:
     - Anh bạn không đem chị và cháu đi theo là quá tệ.
     Gennaro nhún vai:
     - Là vì sinh nhật của nó. Hai mươi "khách" của nó đã mời rồi. Lại bánh và chú hề nữa.
     - Ồ, tôi hiểu. Lũ nhỏ luôn để tâm đến mọi thứ đã hứa với chúng.
     Gennaro hỏi:
     - Nhân thể, công viên đã sẵn sàng cho khách đến viếng chưa?
     - Ấy chính thức thì chưa. Nhưng khách sạn xây rồi, vì thế có chỗ để nghỉ lại.
     - Còn lũ thú?
     - Dĩ nhiên tất cả lũ thú đều trên đảo. Tất cả đều ở đúng chỗ của chúng.
     - Tôi nhớ là trong đề nghị đầu tiên, ông hy vọng có tổng số là 12 con.
     - Ô, chúng ta có quá xa con số ấy. Chúng ta có hai trăm ba mươi tám con, anh Gennaro à.
     - Hai trăm ba mươi tám con?
     Lão già cười khúc khích, thích thú với phản ứng của Gennaro:
     - Anh không thể tưởng tượng được đâu. Chúng ta có từng bầy thú.
     - Hai trăm ba mươi tám… Bao nhiêu loại?
     - Mười lăm chủng loại khác nhau, anh Gennaro.
     - Thật không. Thật quá kỳ dị. Còn các thứ khác mà ông cần thì sao? Các tiện nghi? Các computer?
     - Đủ cả. Đủ cả Mọi thứ trên hòn đảo ấy đều đầy tính nghệ thuật. Anh sẽ tận mắt nhìn thấy. Thật kỳ diệu, Gennaro à. Đấy là lý do tại sao… vụ… này đã đặt sai chỗ, tuyệt đối không có vấn đề gì với hòn đảo cả.
     - Và thế là tuyệt đối sẽ chẳng có vấn đề điều tra.
     - Không có. Nhưng nó làm chậm trễ mọi thứ. Tất cả đều phải tạm ngừng chờ một cuộc viếng thăm chính thức.
     - Dầu sao thì ông cũng đã trì hoãn nhiều lần. Ông đã hoãn lại ngày khai trương.
     Hammond đưa tay vân vê chéo khăn tay lụa màu đỏ ở túi áo trên của chiếc áo khoác thể thao:
     - Ô, chuyện ấy. Chuyện ấy bắt buộc phải xẩy ra.
     - Tại sao?
     - Thế đấy, Gennaro à. Để giải thích, anh phải trở lại quan niệm ban đầu của Trung tâm nghỉ mát, quan niệm về một công viên giải trí tiến bộ nhất trên thế giới, tổng hợp các kỹ thuật sinh vật và điện tử mới nhất ngày nay, mọi người đều có môi trường sinh hoạt điện tử. Căn nhà ma ám, cái hang cướp biển, miền Tây hoang dã, động đất… mọi người đều đã kinh qua các trò đó, vì thế chúng ta để tâm thực hiện một sự hấp dẫn du khách bằng sinh vật. Sự hấp dẫn này sẽ gây choáng váng cho bất cứ bộ óc tưởng tượng ghê gớm nào của thế giới.
     Gennaro mỉm cười. Hầu như vẫn luận điệu đó, đúng y chang từng từ một, mà lão già này đã dùng để thuyết phục các nhà đầu tư cách đây nhiều năm. Hammond tiếp tục:
     - Và chúng ta không bao giở quên mục đích tối thượng của chúng ta trong dự án ở Costa Rica: làm ra tiền. - Lão nhìn qua cửa sổ máy bay - Nhiều và thật nhiều tiền.
     - Tôi nhớ.
     - Bí quyết làm ra tiền ở một công viên là giới hạn sự tốn kém của người đầu tư. Người giao thực phẩm, người nhận phiếu, đội dọn dẹp, đội sửa chữa. Làm một công viên mà sự điều hành chỉ cần một đội nhân viên tối thiểu. Đấy là lý do tại sao chúng tôi đầu tư nhiều vào kỹ thuật computer - chúng tôi tự động hóa tất cả nơi nào có thể.
     - Tôi nhớ.
     - Nhưng một thực tế cần giải quyết là khi kết hợp các con thú với các hệ thống computer vào hoạt động, chúng tôi gặp khó khăn bất ngờ. Ai là người tổ chức hệ thống computer cho hoạt động theo chương trình. Tôi chưa biết tìm ai.
     - Vì thế ông đã có những lần trì hoãn việc bắt đầu.
     - Đúng thế. Những trì hoãn bình thường.
     Gennaro nói qua chuyện khác:
     - Tôi nghe có những tai nạn xẩy ra trong lúc xây dựng. Một số công nhân chết…
     - Vâng. Có một số tai nạn. Và tổng số có ba người chết. Hai thợ chết khi đang xây con đường ở vách đá. Người kia chết vì một tai nạn đất lở vào tháng giêng. Nhưng nhiều tháng nay chúng tôi không gặp tai nạn nào nữa. - Hammond đặt tay lên cánh tay người luật sư - Gennaro, anh hãy tin tôi khi nói là mọi thứ trên đảo đều tiến hành đúng theo kế hoạch. Mọi thứ đều hoàn toàn tốt.
     Intercom trong phi cơ kêu tách. Giọng của phi công:
     - Xin buộc thắt lưng an toàn. Chúng ta sắp hạ cánh.
 
CHOTEAU
     Những cánh đồng khô trải dài về phía những dốc đồi thấp. Gió trưa thổi tung bụi và những túm cỏ khô bay ngang qua đường băng đúc bê tông nứt nẻ. Grant đứng với Ellie gần chiếc Jeep trong khi chiếc phản lực lượn vòng đáp xuống. Grant lắc đầu:
     - Tôi chúa ghét chờ đợi những kẻ có tiền.
     Ellie nhún vai:
     - Mình đi vì công việc thôi.
     Mặc dầu nhiều lĩnh vực khoa học, như vật lý và toán học, đã được liên bang cung cấp ngân sách, ngành khảo cổ sinh vật vẫn còn phải phụ thuộc các ông chủ tư nhân. Hoàn toàn chẳng có chút tò mò với những thứ trên hòn đảo, nhưng Grant hiểu rằng nếu John Hammond yêu cầu ông giúp đỡ, ông sẽ nghe theo. Đây là cách thức các ông chủ thường làm để ban phát tài trợ, cách luôn luôn có hiệu quả.
     Chiếc phản lực nhỏ đáp xuống và lăn bánh nhanh đến chỗ hai người. Ellie xóc lại túi mang vai. Chiếc phi cơ dừng lại và một tiếp viên đồng phục xanh mở cửa.
     Vào trong, Grant rất ngạc nhiên thấy khá chật chội, không kể đến những trang bị rất xa hoa. Ông phải cúi thấp người đi từng bước đến bắt tay Hammond. Lão chào:
     - Xin chào tiến sĩ Grant và tiến sĩ Ellie. Thật quý báu khi quý vị đến đi với chúng tôi. Cho phép tôi giới thiệu người hợp tác: luật sư Donald Gennaro.
     Gennaro là một người khá to con, nhiều bắp thịt, tuổi khoảng ba mươi, mặc một bộ Armani, kính trắng gọng vàng. Grant thấy không thích khi nhìn bề ngoài ông luật sư này. Ông bắt tay nhanh. Khi Ellie bắt tay, Gennaro ngạc nhiên nói:
     - Tiến sĩ là một phụ nữ!
     Grant nghe Ellire trả lời:
     - Thì có sao đâu. - Và ông nghĩ cô cũng chẳng thích anh chàng này.
     Hammond quay sang Gennaro:
     - Chắc anh đã biết tiến sĩ Grant và tiến sĩ Ellie làm gì. Họ là những nhà cổ sinh vật học. Họ khai quật khủng long. - Và lão bắt đầu cười, dường như thấy ý tưởng ấy rất thú vị.
     - Xin mời ngồi vào chỗ. - Cô tiếp viên nói và đóng cửa. Ngay lập tức, chiếc phản lực nhỏ chuyển bánh.
     - Xin quý vị thứ lỗi cho, chúng tôi hơi vội. Ông Gennaro cần phải đến ngay đấy.
     Viên phi công báo cho biết là phải mất bốn tiếng để bay đến Dallas, ở đấy sẽ tiếp thêm nhiên liệu rồi bay đi Costa Rica. Đến đảo vào sáng hôm sau.
     Grant hỏi:
     - Chúng ta sẽ ở Costa Rica bao lâu?
     Gennaro:
     - À, việc ấy còn tùy. Chúng ta có một số điều cần làm sáng tỏ.
     Hammond quay qua Grant:
     - Tin lời tôi đi. Chúng ta sẽ ở đấy không quá bốn mươi tám tiếng đồng hồ.
     Grant cài dây lưng an toàn và nói:
     - Cái đảo của quý vị mà chúng ta sắp đến đây - tôi chưa từng nghe nói đến nó bao giờ. Có thứ gì bí mật ở đấy à?
     Hammond:
     - Về phương diện nào đấy. Chúng tôi đã cẩn thận, hết sức cẩn thận để chắc chắn là không ai biết gì về hòn đảo này, cho đến ngày chúng tôi khai trương trước sự ngạc nhiên của mọi người.
0
CƠ HỘI
     Công ty Biosyn ở California, chưa từng triệu tập một cuộc họp khẩn cấp các giám đốc. Mười người trong hội đồng giám đốc giờ đây đang ngồi trong phòng hội nghị, bồn chồn và nôn nóng. Lúc này là 8 giờ sáng. Họ đã nói chuyện với nhau trong mười phút cuối, nhưng rồi ai nấy yên lặng dần. Họ giở giấy tờ sột soạt. Họ nhìn đồng hồ tay. Một người hỏi:
     - Chúng ta chờ ai thế này?
     - Một người nữa. - Lewis Dodgson nói - Chúng ta cần một người nữa.
     Ông ta nhìn đồng hồ tay. Văn phòng Ron Meyer cho hay là ông này đi chuyến máy bay sáu giờ sáng từ San Diego. Giở này ông ta phải có mặt đây rồi, cho dù xe từ phi trường về thành phố có chậm đi nữa. Một người khác hỏi:
     - Ông cần một đa số tối thiểu à?
     Dodgson:
     - Đúng thế. Chúng ta cần.
     Câu trả lời làm họ yên lặng chốc lát. Một đa số tối thiểu có nghĩa là họ sắp được hỏi ý kiến để thực hiện một quyết định quan trọng. Và có chúa mới biết được đa số này gồm những ai. Dodgson chẳng ưa triệu tập hội nghị chút nào. Nhưng Steingaten, chủ tịch công ty, vốn rất sắt đá. Ông ta đã bảo: "Anh cần phải có sự đồng ý của họ về việc này, Dodgson à."
     Lewis Dodgson nổi tiếng là một nhà di truyền học năng nổ nhất của thời đại, hay một nhà di truyền học hiếu động nhất. Ba mươi tư tuổi, hói đầu, khuôn mặt diều hâu, luôn căng thẳng. Được công ty Biosyn mời làm việc, ông đã hưởng dẫn vụ thử nghiệm vaccine bệnh dại ở Chile. Bây giờ, ông ta đứng đầu bộ phận phát triển sản phẩm của Biosyn, thường ứng dụng cái gọi là "kỹ thuật đảo ngược": lấy sản phẩm của công ty cạnh tranh về tháo vụn ra, xem nó hoạt động thế nào và rồi thực hiện một mẫu khác của riêng mình. Về mặt thực hành, nó dính dáng đến gián điệp kỹ nghệ, và phần lớn những vụ này đều nhằm đến tập đoàn InGen.
     Thập niên 1980, một số công ty kỹ thuật di truyền bắt đầu đặt câu hỏi: "Cái tương đương về mặt sinh học của một máy Walksman của hãng Sony là gì?" Những công ty này không quan tâm đến y dược hay sức khoẻ, họ chỉ quan tâm đến giải trí, thể thao, hoạt động tiêu khiển, mỹ phẩm và thú nuôi làm cảnh. Họ nhận thấy trước là đòi hỏi về "tiêu thụ sinh vật" trong thập niên 1990 sẽ cao. Cả InGen lẫn Biosyn đều hoạt động trong lĩnh vực này.
     Biosyn đã đạt được một vài thành công, tạo được một loài cá mòi một màu xám theo hợp đồng với bang Idaho. Loại cá mòi này dễ định được vị trí trong các dòng nước, và được cho là sẽ dễ đánh bắt. Còn sự việc là cá mòi xám thỉnh thoảng chết lềnh bềnh vì ánh nắng, thịt chúng nhão và không mùi vị gì thì không thấy bàn tán gì đến. Biosyn vẫn tiếp tục hoạt động, và…
     Cánh cửa mở và Ron Meyer bước vào, buông người vào ghế. Đa số tối thiểu đã có thể thực hiện được. Dodgson lập tức đứng dậy:
     - Thưa quý vị, chúng ta họp ở đây hôm nay để xem xét đến mục đích của một cơ hội: tập đoàn InGen.
     Dodgson nhắc nhanh qua quá trình. InGen bắt đầu vào năm 1983 với những nhà đầu tư Nhật Bản. Việc mua ba máy siêu điện toán Cray XMP. Việc mua đảo Isla Nublar ở Costa Rica. Việc mua trữ hổ phách. Việc hợp tác bất thường với tất cả các sở thú trên thế giới, từ sở thú new York cho đến khu bảo tồn thú hoang Ranthapur ở Ấn Độ. Dodgson tiếp:
     - Cho dù có đủ các thông tin này, chúng ta vẫn chẳng có một tý hiểu biết gì về công việc của InGen. Thông tin này dường như tập trung vào thú vật; và họ đã thuê mướn những nhà khảo cứu chuyên tìm hiểu về quá khứ - các nhà cổ sinh vật, các nhà vật lý di truyền, chuyên khảo sát DNA, vân vân. Và rồi, vào năm 1987, lnGen mua lại một công ty ít được biết đến chuyên sản xuất một số sản phẩm bằng plastic ở Nashvolle, bang Tennessce. Đây là một công ty mà gần đây đã đăng ký bản quyền một loại plastic mới có tính chất như trứng chim. Loại plastic này có thể chế tạo thành vỏ trứng để nuôi bào thai gà. Năm tiếp theo, InGen đã sử dụng hết toàn bộ công suất sản xuất loại plastic này cho riêng công ty.
     - Tiến sĩ Dodgson à, việc này xem ra thú vị…
     - Cùng lúc, - Dodgson tiếp - có công trình xây dựng ở Isla Nublar. Công trình này liên quan đến việc di chuyển những khối lượng đất đồ sộ, gồm cả một cái hồ dài hai dặm ở trung tâm đảo. Những kế hoạch về các tiện nghi cho một trung tâm nghỉ mát được tiết lộ với độ tin cậy khá cao, nhưng dường như là InGen đang xây một sở thú với các diện tích hết sức rộng trên đảo.
     Một trong các giám đốc chồm người tới trước và hỏi:
     - Vậy thì nó là cái gì?
     Dodgson:
     - Đấy không phải là một sở thú bình thường. Sở thú này là độc nhất trên thế giới. Dường như InGen đang làm một việc gì hoàn toàn bất thường. Họ đã xoay xở cố tái sinh lại các con thú đã tuyệt chủng trên quả đất.
     - Thú gì?
     - Loại thú nở ra từ trứng, và chúng cần nơi sinh sống rộng rãi trong một sở thú.
     - Thú gì?
     - Họ đang gây giống khủng long.
     Sự kinh hoàng tiếp theo đã hoàn toàn đặt sai chỗ, theo quan điểm của Dodgson. Việc rắc rối đối với những người cung cấp tiền là họ đã không theo dõi sự việc: họ đầu tư vào một lĩnh vực mà họ không biết lĩnh vực ấy có khả năng làm được những gì.
     Thật sự đã có những thảo luận về việc tái tạo khủng long trong sách vở kỹ thuật từ nhiều năm trước, từ năm 1982. Mỗi năm qua việc nắm được hoạt động của DNA lại càng trở nên dễ dàng hơn. Các chất liệu di truyền được chắt lọc ra từ các xác ướp Ai Cập và từ những con thú Phi châu thuộc giống ngựa vằn quagga đã tuyệt giống từ thập kỷ 1880. Vào năm 1985, dường như có khả năng là DNA của ngựa quagga có thể tái tạo được, và một con thú có thể tái sinh. Nếu quả vậy nó sẽ là sinh vật đầu tiên được tái sinh sau khi đã tuyệt chủng bằng cách tái cấu trúc DNA của nó. Nếu điều đó xảy ra, điều gì khác có thể xảy ra? Một con mastodon. Một con hổ răng kiếm? Một con dodo?
     Hay ngay cả một con khủng long?
     Dĩ nhiên, không một loại DNA khủng long nào được biết còn tồn tại ở bất cứ nơi nào trên quả đất. Nhưng bằng cách nghiền nát một số lớn xương khủng long có khả năng là có thể lấy ra được một số thành phần trong chuỗi DNA. Ngày trước, người ta cho rằng sự hóa thạch đã hủy hoại tất cả các DNA. Đến giờ, điều ấy được nhận ra là không đúng. Nếu lấy được đầy đủ tất cả các mắt xích cấu trúc của chuỗi DNA người ta có khả năng tái tạo một con vật sống.
     Trở lại năm 1982, những vấn đề thuộc kỹ thuật nghe rất ghê sợ. Nhưng không có một rào chắn lý thuyết nào cả. Chỉ có khó khăn, tốn kém, thực hiện khó thành công. Nhưng chắc chắn là có thể thực hiện được, nếu có ai để tâm cố gắng.
     InGen rõ ràng đã cố gắng.
     Dodgson nói:
     - Những gì họ đã làm là xây dựng nên một nơi vĩ đại duy nhất trong lịch sử thế giới để thu hút khách du lịch. Như quý vị đã biết, sở thú cực kỳ phổ biến. Trong năm qua, số người Mỹ đến tham quan sở thú nhiều hơn số người đi xem tất cả các trận khúc côn cầu nhà nghề. Và người Nhật rất thích sở thú - có đến năm mươi sở thú ở Nhật và đang xây dựng thêm nữa. Và với sở thú khồng lồ này, InGen có thể định giá chừng nào tùy thích. Hai ngàn đôla một ngày, mười ngàn đôla một ngày… và rồi còn có các mặt hàng thương mại. Sách ảnh, áo pull in hình, video, mũ, thú nhồi lông, sách truyện tranh, thú cảnh.
     - Thú cảnh?
     - Dĩ nhiên. Nếu InGen có thể tái sinh khủng long đúng kích thước, họ có thể thực hiện được những con khủng long tý hon làm thú cảnh nuôi trong nhà. Có đứa trẻ nào mà không thích có một khủng long nhỏ để chơi? Một con thú được cấp bằng "sáng chế" của riêng họ. InGen sẽ bán ra hàng triệu con. Và InGen sẽ dùng kỹ thuật di truyền để lũ thú chỉ có thể ăn thực phẩm do họ chế tạo.
     - Chúa ơi! - Ai đó thốt lên.
     - Đúng thế! - Dodgson tiếp - Sở thú là hoạt động trung tâm của một cuộc kinh doanh khổng lồ.
     - Anh nói là khủng long sẽ được trình tòa để lấy độc quyền "sáng chế"?
     - Vâng. Thú được tạo ra do kỹ thuật di truyền ngày nay có thể trình tòa để lấy bằng "sáng chế". Tòa án tối cao đã chấp nhận điều này vào năm 1987 vì quyền lợi của Đại học Haward. InGen sẽ có riêng các khủng long của họ và không ai có thể tạo ra khủng long một cách hợp pháp nữa.
     - Thế cái gì ngăn chúng ta tạo ra một con khủng long của riêng chúng ta?
     - Không có gì ngăn cả, trử chuyện họ có năm năm thực hiện công việc rồi. Hầu như không thể đuổi kịp họ trước cuối thế kỷ này.
     Dodgson ngưng một chút, rồi tiếp:
     - Dĩ nhiên, nếu chúng ta có được mẫu khủng long của họ, chúng ta có thể xem xét kỹ thuật và làm được giống riêng, với biến đổi DNA đủ để tránh bản quyền của họ.
     - Nếu chúng ta có được một con khủng long mẫu của họ? - Một người hỏi.
     - Tôi tin là chúng ta sẽ có.
     Ai đó nuốt nước bọt:
     - Sẽ không có gì bất hợp pháp về việc ấy?
     - Ồ, không - Dodgson nói nhanh - không có gì bất hợp pháp. Tôi đang nói đến một nguồn hợp pháp để có DNA của ho. Luật nhân công bất mãn, hay một thứ gì đó loại bỏ đem vất đi, hay đại loại như thế.
     - Ông có nguồn hợp pháp không, tiến sĩ Dodgson?
     - Tôi có. Nhưng tôi sợ có sự vội vàng trong quyết định, vì InGen đang trải qua một cơn khủng hoảng nhỏ và người của tôi sẽ phải hành động trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ tới.
     Yên lặng kéo dài khắp phòng họp. Các nhân vật dự họp nhìn vào cô thư ký đang ghi chép, máy ghi âm trước mặt cô ta. Dodgson nói:
     - Tôi thấy không cần đến một quyết định chính thức trong vụ này. Chỉ cần sự nhạy cảm của hội đồng, quý vị có cảm thấy là tôi nên tiến hành…
     Những cái đầu gật gật. Không một ai cất lời. Không một ai nói vào máy thu. Họ chỉ yên lặng gật đầu.
     Dodgson:
     - Cám ơn quý vị đã đến họp. Tôi sẽ thực hiện ngay từ phút quý vị quyết định.
 
PHI TRƯỜNG
     Lewis Dodgson bước vào gian bán cà phê của phòng đợi ở phi trường San Francisco, nhìn quanh một lượt. Dodgson đến ngồi một bàn, chiếc cặp đặt trên nền nhà, giữa hai người.
     - Anh đến trễ rồi, anh bạn. - người ngồi chờ nói. Anh ta nhìn vào chiếc mũ rơm của Dodgson đang đội và mỉm cười - Thứ này để làm gì đây, cho nổi bật hả?
     - Anh không bao giờ biết được đâu. - Dodgson nén giận, trả lời.
     Suốt sáu tháng qua, ông ta đã cố làm quen với người này, nhưng mỗi lần gặp lại y càng trở nên khó chịu và hợm hĩnh. Nhưng Dodgson chẳng làm thế nào được. Cả hai đều hiểu thấu tim đen nhau.
     Gen DNA được tạo thành do kỹ thuật di truyền là chất liệu quý giá nhất trên thế giới. Một con siêu vi khuẩn, rất bé không thể nào nhìn tả ấy được bằng mắt trần, nhưng chưa những gen của một enzyme gây bệnh tim mạch, hoặc của chất "băng âm tính" để phòng ngừa sự tàn phá vì bằng giá, có thể đáng giá đến năm tỷ đôla đối với người cần mua.
     Và giá trị của sự sống bé cùng cực ấy đã tạo nên một thế giới gián điệp kỹ nghệ mới và kỳ lạ. Dodgson đặc biệt có tài về vụ làm ăn kiểu này. Vào năm 1987, ông ta đã thuyết phục được một nhà di truyền học bất mãn bỏ công ty Cetus đến làm việc với Biosyn, đem theo năm loại vi khuẩn. Nhà di truyền học này chỉ việc rỏ vào mỗi móng tay một giọt và đi ra khỏi cửa.
     Nhưng với InGen là cả một thách đố khó khăn hơn. Dodgson muốn có những thứ khác hơn là những con vi khuẩn DNA; ông ta cần những phôi ướp lạnh, và Dodgson biết là InGen giữ gìn những thứ này bằngphương tiện an toàn nhất. Để có thứ này ông ta cần một nhân viên của InGen biết tường tận ngõ ngách đến chỗ cất giữ các phôi, một người có thể vượt qua được mọi biện pháp bảo vệ để lấy cắp. Một người như thế không phải dễ kiếm.
     Cuối cùng vào đầu năm này, Dodgson cũng tìm ra được một người có thể thực hiện được vụ này. Dù nhân vật đặc biệt đó không có quyền ra vào chỗ cất chứa phôi, Dodgson vẫn duy trì mối tiếp xúc, gặp anh ta hàng tháng, giúp anh ta nhiều chuyện nhỏ. Và vào lúc này InGen đang mời các tay đấu thầu và các cố vấn đến đảo, đấy là co hội mà Dodgson chờ đợi - vì vào lúc này người của Dodgson có thể đến được chỗ cất giữ phôi khủng long.
     - Chúng ta vào chuyện đi. - người ấy nói - Tôi còn mười phút nữa thôi.
     Dodgson hỏi:
     - Anh muốn xét lại chuyện đó à?
     - Quỷ thật, không đâu, tiến sĩ Dodgson à. Tôi muốn thấy thứ quỷ quái ấy, món đô ấy mà. - Gã nhìn chiếc cặp - Đủ tất cả trong ấy chưa?
     - Một nửa thôi. Bảy trăm năm mươi ngàn.
     - Ô kê - Gã quay người, uống ly cà phê - Thế là quá tốt, tiến sĩ Dodgson
     Dodgon khóa nhanh chiếc cặp:
     - Từng ấy cho tất cả mười lăm chủng loại, anh nhớ đấy.
     - Tôi nhớ. Mười lăm chủng loại, phôi đông lạnh. Và làm sao tôi chuyển chúng?
     Dodgson trao cho anh ta một bình chứa xà phòng bọt cạo râu hiệu Guillette. Gã hỏi:
     - Cái này à?
     - Cái này.
     - Họ có thể kiểm tra hành lý của tôi.
     Dodgson nhún vai:
     - Cứ bấm nắp xem.
     Người ấy ấn vào nắp. Một tia kem cạo râu trắng phun vào tay gã.
     - Không tệ lắm. - Gã quẹt kem vào mép đĩa đựng tách cà phê.
     - Chiếc hộp chỉ hơi nặng hơn chiếc hộp bình thường một tí thôi, chỉ chừng ấy.
     Toán chuyên viên kỹ thuật của Dodgson đã phải ngồi quanh chiếc hộp hai ngày qua. Ông ta chỉ nhanh cho gã cách vận hành. Gã hỏi:
     - Khí lạnh chứa trong ấy có tác dụng bao lâu?
     - Đủ cho ba mươi sáu tiếng. Các phôi phải đến San José trong khoảng thời gian ấy.
     - Chuyện ấy tùy thuộc vào người của tiến sĩ trên tàu. Để chắc chắn, tốt hơn là họ phải có một máy lạnh xách tay.
     - Tôi sẽ cho đem theo .
     - Và chúng ta hãy nhắc lại việc trao đổi.
     - Như cũ. - Dodgson nói - Năm chục ngàn đô la cho mỗi phôi. Nếu các phôi còn sống, mỗi cái được thêm năm mươi ngàn đô.
     - Thế là tốt. Chỉ còn việc ông phải nhớ là cho tàu chờ ở bến tàu phía đông của đảo, vào đêm thứ sáu. Không phải là bến phía bắc nơi các tàu cung cấp các thứ cho đảo đến đâu nhé. Bến phía đông. Đấy là một bến nhỏ ông nhớ chứ?
     - Tôi nhớ. Khi nào anh trở lại San José?
     - Có lẽ vào chủ nhật. - Người kia đứng dậy rời chỗ.
     Dodgson dặn theo:
     - Anh chắc chắn là sử dụng được chiếc…?
     - Tôi biết. Cứ yên trí. Tôi biết.
     - Và chúng tôi biết là đảo luôn giữ liên lạc vô tuyến với ban giám đốc công ty InGen ở California, vì thế…
     - Ô đừng quá lo. Tôi sẽ không để một ai biết. Cứ yên tâm và lo sẵn nửa còn lại. Tôi muốn nhận đủ vào sáng chủ nhật, tại phi trường San José. Tiền mặt.
     - Tôi sẽ chờ anh vào sáng chủ nhật. Và cũng đừng lo.
0
MALCOLM
     Khoảng vài phút trước nửa đêm, ông ta bước lên máy bay tại phi cảng Dallas, một người hói đầu, cao, gầy, khoảng ba mươi lăm tuổi, ăn mặc toàn đen từ đầu đến chân: sơ mi đen, quần đen, vớ đen, giầy đen.
     - A, tiến sĩ Malcolm. - Hammond chào, cố mỉm cười ra vẻ thân mật.
     Malcolm cười:
     - Hello, ông Hammond. Tôi e là người bạn cũ của ông sẽ làm ông khó chịu ở đây.
     Malcolm bắt tay mọi người, tự giới thiệu nhanh:
     - Kính chào quý vị. Tôi là Ian Malcolm. Tôi làm toán. - Ông ta làm cho Grant có ấn tượng là mình thích chuyến đi chơi này nhiều hơn bất cứ ai khác.
     Chắc chắn là Grant nhớ tên ông ta. Ian Malcolm là một trong các nhà toán học nổi tiếng của thời đại luôn quan tâm đến câu hỏi "thế giới thật sự hoạt động như thế nào". Các nhà toán học này đã vượt ngoài khuôn khổ toán học truyền thống trong một số phương thức quan trọng. Vì một mặt, họ thường xuyên dùng các computer, một lối thực hành các nhà toán học cổ truyền chẳng mấy thích. Về mặt khác, họ chuyên giải các bài toán, phương trình không có đường biểu diễn, trong một lãnh vực mà họ gọi là "lý thuyết bất ổn". Mặt khác họ cho rằng toán học họ đang nghiên cứu diễn tả được điều gì đó tồn tại trong thế giới. Và cuối cùng, dường như để làm nổi bật việc họ rời bỏ lý thuyết dấn thân vào thế giới thực tại, họ ăn mặc và nói năng theo một phong cách mà một nhà toán học cao niên bảo là "một sự vượt quá khuôn khổ đáng tiếc của tính cá biệt". Thực tế, họ ăn mặc, cư xử như những ca sĩ nhạc rock.
     Malcolm ngồi vào một ghế nệm da. Nữ tiếp viên hỏi ông ta có uống gì không. Ông ta nói:
     - Coca pha. Lắc nhưng đừng khuấy.
     Không khí ẩm ướt của Dallas len vào cánh cửa mở. Ellie hỏi:
     - Mặc đồ đen thì có nóng hơn một chút, phải không?
     - Cô thật hết sức xinh xắn, tiến sĩ Ellie à. Tôi có thể ngồi suốt ngày để ngắm đôi chân cô. Nóng hơn một chút à? Thật sự thì màu đen là màu tối ưu cho sức nóng. Nếu cô nhớ lại sự phát xạ của các vật thể đen, màu đen luôn hết sức tốt đối với nhiệt. Trong bất cứ trường hợp nào, tôi chỉ mặc hai màu: đen và xám.
     Ellie rniệng mở to, nhìn sững ông ta. Malcolm tiếp:
     - Hai màu này thích hợp cho mọi dịp. Chúng đi đôi với nhau rất đẹp, nhỡ tôi có vì nhầm lẫn mà mang một đôi vớ xám khi mặc quần đen.
     - Nhưng ông không thấy nhàm chán khi chỉ mặc có hai màu?
     - Không bao giờ. Tôi lại thấy được tự do. Tôi tin rằng đời tôi có giá trị và tôi không muốn phí thời gian suy nghĩ về chuyện ăn mặc. Tôi không muốn suy nghĩ tôi sẽ mặc gì vào buổi sáng. Thật sự cô có thể tưởng tượng ra chuyện gì nhàm chán hơn chuyện thời trang không? Thế thao nhà nghề, chẳng hạn. Những người lớn tuổi giành giật nhau quả bóng nhỏ trong khi những người còn lại trả tiền để vỗ tay. Nhưng về đại để, tôi thấy thời trang còn nhàm chán hơn thể thao nhiều.
     Hammond giải thích:
     - Tiến sĩ Malcolm là một người có những ý kiến rất mới lạ.
     Malcolm vui vẻ:
     - Và hơi khùng nữa. Nhưng quý vị phải thừa nhận rằng đấy lả những vấn đề chẳng có ý nghĩa gì lắm. Chúng ta sống trong một thế giới đầy những thứ định sẵn dễ sợ. Định sẵn là bạn phải cư xử thế này, định sẵn là bạn phải để tâm đến cái kia. Không ai nghĩ ngợi gì về các chuyện định sẵn. Đấy không đáng ngạc nhiên sao? Trong một xã hội thông tin, không một ai suy nghĩ, chúng ta trông chờ đốt bỏ mọi thứ giấy tờ, nhưng chúng ta thực sự đã đốt bỏ tư tưởng.
     Hammond quay sang Gennaro, đưa cả hai tay lên:
     - Anh đã mời ông ta!
     Malcolm:
     - Và cũng là một điều may nữa đấy. Bởi vì hình như quý vị có một vấn đề gì nghiêm trọng.
     Hammond nói nhanh:
     - Chúng tôi chẳng có vấn đề gì.
     Malcolm:
     - Tôi luôn giữ ý kiến là hòn đảo này rồi chẳng thể nào hoạt động được. Tôi đã tiên đoán từ lúc bắt đầu. - Ông ta với tay lấy chiếc cặp da mềm - Và tôi tin rằng vào giờ này, chúng ta đều biết rằng việc phải xảy ra sắp xảy ra. Ông sắp phải ngưng mọi hoạt động.
     Hammond nổi nóng:
     - Ngưng mọi hoạt động! Đừng có nói tầm phào.
     Malcolm nhún vai, dửng dưng trước cơn giận của Hammond:
     - Tôi có mang theo đây bản sao tài liệu của tôi để ông xem lại. Bản tham khảo ý kiến gốc của tôi soạn cho InGen. Toán học hơi rắc rối một tý, nhưng tôi có thể dẫn ông vào được. Ông sắp đi đâu à?
     Hammond:
     - Tôi cần gọi mấy cú điện thoại. - Lão đứng dậy đi vào cabin phía trước.
     Malcolm nói với mấy người còn lại:
     - Vâng, chuyến bay khá lâu. Ít ra thì bản tham khảo của tôi sẽ giúp quý vị có chuyện mà làm.
     Chiếc phản lực băng mình trong đêm.
     Grant giở tập tài liệu, nhìn các phương trình:
     - Bản tham khảo của ông kết luận là đảo của Hammond chắc chắn phải thất bại?
     - Đúng thế.
     - Vì lý thuyết bất ổn?
     - Đúng thế. Chính xác hơn là vì hoạt động của hệ thống trên đảo không đúng vị trí không gian.
     Gennaro để xấp tài liệu quá một bên và nói:
     - Ông có thể giải thích?
     - Sure. Nào, hãy xem ta có thể bắt đầu từ đâu. Ông biết một phương trình không đường biểu diễn chứ?
     - Không.
     - Các lực hấp dẫn từ xa?
     - Không.
     - Thôi được. Ta hãy trở lại từ đầu. - ông ta dừng một chút, nhìn trần máy bay - Vật lý đã có những thành công lớn mô tả được một số sự việc: các hành tinh trong quỹ đạo, phi thuyền bay lên mặt trăng, con lắc, lò xo, hòn bi lăn, các thứ đại loại như thế. Chuyển động đều của các vật thể. Những thứ này được miêu tả bằng cái được gọi là các phương trình có đường biểu diễn, và các nhà toán học có thể giải những phương trình này rất dễ dàng. Chúng tôi đã làm thứ công việc này hàng trăm năm nay.
     - Ô kê.
     - Nhưng có một loại sự kiện khác mà vật lý còn chưa giải thích tốt. Ví dụ cái gì liên quan đến tình trạng hỗn độn. Nước từ nguồn phun ra. Không khí di chuyển bên trên cánh máy bay. Thời tiết. Máu chảy qua tim. Các sự kiện hỗn độn được miêu tả bằng các phương trình không có đường biểu diễn. Loại phương trình này khó giải - thực tế thường chúng không thể giải được. Vì thế vật lý chưa bao giờ hiểu thấu các loại sự kiện này. Cho đến cách đây mười năm. Lý thuyết miêu tả loài hiện tượng gọi là lý thuyết bất ổn.
     - Lý thuyết bất ổn - Malcolm tiếp - khởi đầu là để thực hiện những bản mẫu về thời tiết qua computer. Thời tiết là một hệ thống phức tạp, gọi đúng tên là bầu khí quyển của mặt đất khi nó hoạt động cùng với các hoạt động của đất đai và mặt trời. Cách hoạt động của hệ thống phức tạp to lớn này luôn thách đố sự tìm hiểu. Vì thế lẽ tự nhiên là ta đã không thể đoán trước được thời tiết. Nhưng những gì mà các nhà khảo cứu trước đây biết được qua các bản mẫu của computer là, cho dù anh có hiểu được hệ thống, anh vẫn không thể tiên đoán được. Sự tiên đoán chính xác thời tiết tuyệt đối không thực hiện được. Lý do là hoạt động của hệ thống phụ thuộc một cách nhạy cảm vào các điều kiện ban đầu.
     Gennaro:
     - Ông làm tôi lạc lối rồi đấy.
     - Nếu tôi dùng một khẩu đại bác bắn một viên đạn có trọng lượng nào đấy, một vận tốc nào đấy, với một độ nghiêng súng nào đấy - và nếu tôi bắn viên đạn thứ hai với cùng trọng lượng, vận tốc, độ nghiêng - Việc gì sẽ xay ra?
     - Hai viên đạn sẽ rơi gần như cùng một vị trí.
     - Đúng. Đấy là chuyển động có đường biểu diễn.
     - Ô kê. - Gennaro gật đầu.
     - Nhưng nếu tôi có một hệ thống thời tiết và tôi bắt đầu với một nhiệt độ nào đấy, một tốc độ gĩó nào đấy, một độ ẩm nào đấy và tôi lại lặp lại đúng y nhiệt độ, vận tốc gió, độ ẩm, hệ thống thứ hai sẽ chẳng xảy ra y như trước. Nó sẽ xảy ra rất khác với hệ thống thứ nhất, mưa bão thay vì nắng đẹp. Đấy là các hiện tượng không có đường biểu diễn. Các hiện tượng này rất nhạy cảm với những điều kiện ban đầu: những khác biệt rất nhỏ được khuếch đại ra.
     - Tôi thấy có thể hiểu được.
     - Điều thiếu sót là "hiệu quả cánh bướm". Một con bướm đập cánh ở Bắc Kinh, và thời tiết ở New York đổi khác.
     - Vậy bất ổn chỉ toàn thứ bất ngờ không đoán trước được, phải không?
     - Không. Thật sự chúng tôi đã tìm được nhưng quy tắc ẩn núp trong sự biến đổi phức tạp của một hệ thống di chuyển. Vì thế lý thuyết bất ổn bây giờ đã trở thành một lý thuyết rộng lớn dùng để nghiên cứu mọi thứ, từ thị trường chứng khoán đến những đám đông nổi loạn, làn sóng điện não trong cơn co giật. Chúng tôi có thể tìm được một trật-tự-ẩn trong đó. Hiểu chứ?
     - Hiểu. Nhưng trật tự ẩn là gì?
     - Bản chất nó được định tính bằng chuyển động của hệ thống trong một khoảng không gian.
     - Ôi Chúa ơi! - Gennaro lắc đầu - Tất cả điều tôi muốn hiểu là tại sao ông cho rằng đảo của Hammond không thể hoạt động được.
     - Tôi hiểu. Tôi sẽ nói đến điều ấy. Lý thuyết bất ổn nói hai điều: Thứ nhất, là các hệ thống phức tạp như thời tiết có một trật tự ẩn. Thứ hai, đảo đề của nó là các hệ đơn giản có thể sinh ra các hiện tượng phức tạp. Ví dụ chơi billard. Ông thúc một quả bóng. Nó bắt đầu lăn, đụng đến mép bàn bên kia và dội ra. Về lý thuyết, đấy là một hệ thống khá đơn giản, hầu như nằm trong hệ lý thuyết Newton. Vì ông có thể tính được lực tác động lên quả bóng, trọng lượng quả bóng và góc mà nó sẽ chạm mép bên kia, ông có thể đoán được sự vận chuyển của nó. Về lý thuyết, ông có thể tiên đoán sự vận chuyển của quá bóng trong tương lai, khi nó cứ tiếp tục chạm nẩy từ mép bàn này đến mép bản khác. Ông có thể tiên đoán nó sẽ chấm dứt chỗ nào trong ba tiếng đồng hồ tới, kể từ lúc này, về lý thuyết.
     - Ô kê. - Gennaro gật đầu.
     - Nhưng thật sự, hóa ra là ông không thể đoán được hơn vài giây trong tương lai. Vì hầu như ngay lập tức, những hậu quả nhỏ - sự không hoàn toàn của mặt quả bóng, sự lồi lõm rất không đáng kể của gỗ mặt bàn - bắt đầu làm cho sự việc khác đi. Và nó chẳng mất mấy thời gian trước khi làm sự tính toán của ông thành ra sai lạc. Thành thử hệ thống đơn giản của một bàn billard cũng có những chuyển động không đoán trước được.
     - Ô kê.
     - Và dự án của Hammond, rõ ràng là một hệ thống đơn giản khác - các thú vật trong môi trường sống của chúng - điều này cuối cùng sẽ có những hiện tượng không đoán trước được.
     - Ông biết thế là vì…
     - Vì lý thuyết.
     - Nhưng ông chưa đến đảo để thấy những gì ông ấy đã làm được.
     - Không. Việc ấy hoàn toàn không cần thiết. Chi tiết chẳng có ý nghĩa gì. Lý thuyết cho tôi biết là đảo sẽ nhanh chóng có những hoạt động chệch hẳn những gì tiên đoán.
     - Và ông tin vào lý thuyết của ông?
     - Ồ, vâng. - Malcolm tựa lưng vào ghế - Hoàn toàn tin tưởng. Đảo đang có vấn đề. Đấy là một tai họa sắp xảy ra.
0
ĐẢO ISLA NUBLAR
     Với tiếng rú, cánh quạt bắt đầu quay tròn trên đầu, in bóng xuống đường băng của phi trường San José. Grant lắng nghe tiếng lách cách trong ống nghe của mình khi phi công nói với đài kiểm lưu.
     Họ đón thêm một hành khách ở San José, một người tên là Dennis Nedry, đã bay đến đẩy để gặp họ. Anh này mập bự, vẻ yếu ớt đang ăn một thỏi kẹo, ngón tay dính đầy chocolate, mấy mảnh vụn giấy bạc gói kẹo dính nơi áo. Nedry nói lúng búng điều gì đó về việc điều khiển computer trên đảo và không bắt tay ai.
     Qua cửa kính, Grant nhìn đường băng đúc bê tông xa dần dưới chân mình, và ông thấy bóng chiếc trực thăng chạy theo khi họ bay về hướng tây đến mấy dãy núi.
     Tiếng Hammond từ một chỗ ngồi phía sau nói vọng tới:
     - Chuyến bay này mất chừng bốn mươi phút.
     Grant nhìn những ngọn đồi thấp xa dần, và rồi họ bay qua những đám mây, vượt ra ngoài nắng. Núi non nhấp nhô trải dài, các đồi trọc bị xói mòn nối tiếp nhau. Tiếng Hammond tiếp:
     - Sự kiểm soát dân số ở Costa Rica tốt hơn nhiều quốc gia khác ở Trung Mỹ. Nhưng cho dù vậy, việc khai hoang phá rừng tệ quá. Tình trạng phần lớn đất đai thế này đã có từ mười năm trở lại đây.
     Họ bay thấp xuống, ra khỏi một đám mây ở bên kia dãy núi và Grant thấy biển ở bờ tây. Họ bay trên một làng ven biển. Viên phi công cho biết:
     - Làng Bahia Anasco. Một làng đánh cá. - Anh ta chỉ về phía bắc - Bờ biển phía trên kia, quý vị thấy khu bảo tồn thiên nhiên Blanco. Những bờ biển thật đẹp.
     Phi công cho máy bay bay ra biển. Nước biển xanh, rồi trở nên xanh thẳm. Ánh nắng lấp lánh trên nước. Lúc này vào khoảng mười giờ sáng. Hammond nói:
     - Chỉ vài phút nữa chúng ta sẽ nhìn thấy đảo Isla Nublar.
     Isla Nublar, Hammond giải thích, thật sự không phải là một hòn đảo. Đúng hơn, đấy là một ngọn núi, một khối núi lửa trồi lên từ đáy biển. Lão nói:
     - Nguồn gốc của núi lửa có thể thấy khắp đảo. Có lỗ thoát hơi ở nhiều nơi, và đất dưới chân thường nóng. Vì lý do này, vì các dòng hải lưu, đảo Isla Nublar nằm trong một vùng sương mù. Khi đến đấy quý vị sẽ thấy… A, chúng ta thấy đảo rồi đấy.
     Chiếc trực thăng bươn tới trước, thấp gần mặt nước. Ở phía trước, Grant thấy một hòn đảo, nhấp nhô lởm chởm, nổi lên rõ ràng trên mặt nước. Malcolm thốt lên:
     - Chúa ơi. Trông giống đảo Alcatraz ở vịnh San Francisco quá.
     Những triền dốc rừng bị che mờ trong sương làm cho đảo có một vẻ huyền bí.
     - Nhưng rộng hơn nhiều - Hammond nói - dài tám dặm và rộng ba dặm ở điểm rộng nhất, toàn bộ khoảng hai mươi hai dặm vuông. Đảo sẽ là nơi bảo tồn thú rộng nhất ở Bắc Mỹ.
     Chiếc trực thăng bắt đầu lên cao, bay về phía bắc của đảo. Grant cố nhìn xuyên qua lớp sương mù dày đặc.
     - Thường đảo không có sương mù nhiều như thế này. - Hammond nói. Giọng lão có vẻ lo lắng.
     Đầu phía bắc của đảo là những ngọn đồi cao nhất, vượt lên khỏi mặt nước biển sáu trăm mét. Đỉnh các ngọn đồi nằm trong sương mù, nhưng Grant thấy các vách núi đá lởm chởm và mặt biển nhấp nhô ở dưới. Chiếc trực thăng bay cao bên trên mấy dãy đồi. Hammond tiếp:
     - Thật không may. Chúng ta phải đáp lên đảo. Tôi chẳng muốn làm thế, vì sẽ quấy rối đàn thú. Và đôi khi hơi dễ sợ một tí…
     Giọng Hammond bị ngắt quãng khi người phi công nói:
     - Bắt đầu hạ cánh rồi đấy, ngồi vững vào, quý vị.
     Chiếc trực thăng hạ thấp xuống và lập tức họ bị bao bọc trong làn sương mù. Grant nghe tiếng bíp bíp liên hồi qua ống nghe, nhưng ông không thể thấy gì cả; rồi ông bắt đầu nhận thấy mờ mờ các cành thông xanh vươn ra khỏi đám sương mít Một vài cành rất gần.
     - Anh ta làm quỷ gì vậy? - Malcolm hỏi, nhưng không ai trả lời.
     Viên phi công điều khiển cần lái về phía phải rồi về phía trái, mắt nhìn vào rừng thông. Đám cây vẫn rất sát. Phi cơ xuống thật nhanh.
     Tiếng bíp bíp to hơn. Grant nhìn viên phi công. Anh ta đang tập trung. Grant nhìn xuống và thấy ánh đèn xuyên sương mù ở dưới. Ánh đèn đang nhấp nháy báo hiệu. Phi công điều khiển máy bay chậm lại và đỗ xuống bãi đáp trực thăng. Tiếng máy chậm dần rồi dừng hẳn. Grant thở phào và cởi dây lưng an toàn. Hammond nói:
     - Chúng ta phải xuống nhanh bằng cách ấy. Vì có gió tạt. Ở đây thường hay có loại gió tạt rất tệ hại, và… tốt thôi, chúng ta đã xuống an toàn.
     Một người đang chạy tới phía trực thăng. Một người đội mũ lưỡi trai, tóc đỏ. Anh ta chạy tới kéo cửa máy bay mở rộng và vui vẻ:
     - Xin chào. Tôi là Ed Regis. Hoan nghênh quý vị đến viếng đảo Isla Nublar. Xin bước cẩn thận.
     Một con đường hẹp chạy quanh co xuống đồi. Không khí ẩm và hơi ớn lạnh. Khi họ xuống thấp hơn, sương mù quanh họ mỏng dần và Grant có thể thấy quang cảnh rõ hơn. Ông thấy đảo rất giống bán đảo Olympic ở tây bắc Thái Bình dương.
     - Đúng vậy. - Regis nói - Hệ sinh thái nguyên thủy ở đây là rừng mưa không đều. Hơi khác với đất trồng ở đất liền, vốn thuộc dạng rừng mưa cổ điển. Nhưng đây là một loại khí hậu chỉ có ở những vùng cao, trên những đồi phía bắc. Khí hậu phần lớn ở đảo là nhiệt đới.
     Ở phía dưới xa, họ có thể thấy những mái thẳng của những tòa nhà lớn nằm giữa những đám cây trồng. Grant lấy làm ngạc nhiên. Sự xây cất thật kỹ lưỡng. Họ xuống thấp dần, ra khỏi hẳn đám sương, và bây giờ ông có thể thấy toàn bộ miền đất trải dài về phía nam của đảo. Đúng như Regis nói, đảo hầu như bao phủ bởi rừng nhiệt đới.
     Về phía nam, vươn cao lên khỏi ngọn các cây cọ dừa, Grant thấy một thân cây đứng riêng không có một ngọn lá nào, chỉ với một chỗ uốn cong phía trên. Và rồi thân cây chuyển động, vặn mình đối diện với đám người mới đến. Grant nhận thấy đấy chẳng phải là một thân cây nào cả.
     Ông đang nhìn vào một chiếc cổ cong mượt mà của một sinh vật khổng lồ đứng cao hơn mười lăm mét trên không.
     Ông đang nhìn một con khủng long.
 
TIẾP ĐÓN
     - Lạy Chúa tôi. - Ellie thốt lên. Cả sáu người đang nhìn vào con vật cao quá mấy ngọn cây. - Lạy Chúa tôi.
     Ý nghĩ đầu tiên của cô là khủng long là một con thú đẹp một cách kỳ lạ. Sách vở miêu tả khủng long là loài thú to ngoại khổ, thấp, mập mạp, nhưng con thú cổ dài này khi cử động có một vẻ duyên dáng, gần như cao quý. Và rất nhanh nhẹn - Không một chút vẻ chậm chạp hoặc đần độn. Con sauropod cảnh giác nhìn chăm chú vào đám người và cất lên một tiếng rống nghe như tiếng rống của voi. Một lát sau, một chiếc đầu thứ hai cất cao lên khỏi đám lá, và rồi đầu thứ ba, đầu thứ tư.
     - Lạy Chúa tôi. - Ellie lại thốt lên.
     Gennaro không nói được lời nào. Ông ta đã thấy những gì muốn thấy - ông đã biết trong mấy năm nay - nhưng vì những lý do này khác, ông không bao giờ tin là việc đó sẽ xảy ra, và bây giờ ông ta choáng người đến sững sờ. Khả năng kinh khủng của kỹ thuật di truyền mới, mà trước đây ông cho là rườm rà trong những cuốn sách dùng toàn ngôn từ khó hiểu - cái khả năng ấy bây giờ bỗng trở nên rõ ràng trước mắt ông. Những con vật to ghê gớm! Đúng là khổng lồ! Như tòa nhà! Và thật nhiều! Những con khủng long quỷ quái có thật! Có thật sự như ta muốn có.
     Gennaro nghĩ: chúng ta sắp có cả một kho tiền trên đảo này. Một kho tiền.
     Ông ta cầu trời cho hòn đảo được bình yên.
     Grant đứng trên con đường mòn bên sườn đồi, sương mù phả vào mặt, nhìn chăm chú vào những chiếc cổ xám vươn cao quá những cây cọ dừa. Ông cảm thấy chóng mặt, dường như đất sườn đồi đang trượt xuống, chao đảo. Ông cảm thấy khó thở. Vi ông đang nhìn vào cái gì đó ông không bao giờ chờ được thấy trong đời mình. Nhưng ông đang thấy nó.
     Những con thú trong đám rừng sương mù là những con apatosaur cỡ trung bình. Trí óc đang kinh ngạc của ông hiện ngay ra những liên hệ về các kỷ: loài khủng long ăn cỏ miền Bắc Mỹ thuộc hậu kỷ Jurassic. Có tên chung là "brontosaur". Đầu tiên được phát hiện do nhà cổ sinh vật học E.D.Cope ở bang Montana vào năm 1876. Chủng loại này liên quan với thời gian cấu tạo địa tầng Morrison ở Colorado, ở Utah và ở Oklahoma. Gần đây hai nhà cổ sinh vật học xếp chúng vào chủng loại  diplodocus dựa vào bề ngoài hộp sọ. Brontosaur vẫn thường được tin là sống phần lớn cuộc sống của chúng ở các đầm nước để giúp nâng đỡ thân hình to lớn của chúng. Mặc dầu con vật này rõ ràng không ở trong nước, nó đang cử động nhanh nhẹn, chiếc đầu và cổ cất cao qua các đọt cọ dừa với phong cách linh hoạt - một phong cách linh hoạt đáng ngạc nhiên.
     Grant bắt đầu cười. Hammond hỏi, giọng lo lắng:
     - Gì vậy? Có chuyện gì bất ổn?
     Grant chỉ lắc đầu, và tiếp tục cười. Ông không thể nào nói cho họ hiểu điều kỳ lạ là dù ông chỉ mới thấy lũ thú có vài giây, nhưng ông đã bắt đầu thừa nhận chúng, và dùng những quan sát của mình để trả lời những câu hỏi đã dài ngày ở công trường khai quật.
     Ông vẫn còn đang cười tiếp khi nhìn thấy chiếc cổ thứ năm và thứ sáu ngóng cao lên khỏi đám cọ dừa. Mấy con sauropod ngắm đám người đi đến. Chúng làm Grant nghĩ đến những con hươu cao cổ to quá khổ - mấy con thú này cũng có cái nhìn bằng lòng, hơi ngốc nghếch.
     Malcolm nói:
     - Tôi cho chúng là những con vật điện tử. Chúng rất giống những con thú thật.
     Hammond:
     - Ông tin thế ư? Chúng thật đấy. Chúng là những con thú thật sự, không phải sao?
     Từ phía xa xa, họ lại nghe tiếng rống. Đầu tiên do một con vật cất lên, rồi những con khác cất tiếng rống nối tiếp. Ed Regis nói:
     - Đấy là tiếng kêu của chúng. Hoan nghênh chúng ta viếng đảo.
     Grant đứng lắng nghe một chút, mê mẩn.
     Rồi đám người đi tiếp xuống đồi. Hammond nói:
     - Có lẽ quý vị muốn biết những gì tiếp theo nữa. Chúng tôi đã sắp đặt một thời khóa biểu cho chuyến viếng thăm đảo của quý vị với đầy đủ tiện nghi, và một chuyến tham quan các con thú trong công viên vào xế chiều nay. Tôi sẽ theo quý vị đi ăn trưa, và sẽ trả lời bất cứ câu hỏi nào của quý vị vào lúc đó. Bây giò xin mời quý vị theo ông Regis…
     Đám người đi theo Ed Regis đến những tòa nhà gần nhất. Trên cao, ngang qua con đường mòn, một tấm bảng sơn to viết bằng tay: "Nhiệt liệt đón chào quý khách viếng thăm công viên kỷ Jura".
0
PHẦN BA
CÔNG VIÊN KỶ JURA
     Họ đi vào một con đường, dưới những tán lá cọ dừa đan nhau thành một mái vòm xanh dẫn đến tòa nhà khách chính. Khắp nơi là những khu trồng cây trải dài làm mọi người tăng thêm cảm giác là họ đang đi vào một thế giới mới, một thế giới nhiệt đới thời tiền sử, để lại thế giới bình thường sau lưng.
     Ellie nói với Grant:
     - Lũ thú trông khá tuyệt.
     - Vâng. Tôi muốn đến gần xem chúng. Tôi muốn cầm chân chúng dơ lên xem mấy ngón chân, sờ vào da chúng, banh hàm chúng ra quan sát các hàm răng. Chưa làm được thế thì tôi chưa tin chắc được. Nhưng đúng, trông chúng thật tuyệt.
     Malcolm:
     - Tôi chắc là chúng làm thay đổi lĩnh vực của ông chút ít.
     Grant gật đầu:
     - Thay đổi tất cả ấy chứ.
     Một trăm năm mươi năm nay, kể từ lúc phát hiện được đống xương không lồ ở châu Âu, việc nghiên cứu khủng long chỉ là công việc suy đoán có tính khoa học. Ngành cổ sinh vật học về bản chất giống như công việc thám tử tìm kiếm đầu mối ở đám xương hóa thạch và lần theo dấu vết của những con thú khổng lồ biến mất từ lâu. Nhà cổ sinh vật học giỏi nhất là người có thể đưa ra những suy đoán thông minh nhất.
     Toàn bộ các cuộc bàn cãi của ngành cổ sinh vật đều tiến hành trong lối suy đoán này - kể cả các cuộc cãi vã cay cú, trong đó Grant là khuôn mặt chủ yếu, rằng khủng long có phải loại máu lạnh hay không.
     Các khoa học gia xếp khủng long vào loài bò sát có máu lạnh, lấy nhiệt cần thiết cho cơ thể từ môi trường chúng sống. Một con động vật có vú có thể biến đổi thức ăn làm sinh ra nhiệt cho cơ thể, nhưng một con bò sát thì không làm thế được. Cuối cùng một nhóm các nhà nghiên cứu - đứng đầu là giáo sư Jhon Ostrom và Robert Bakker ở đại học Yale - cho rằng quan điểm "khủng long là loài có máu lạnh không được giải thích những phát hiện tử hóa thạch. Theo cách suy diễn cổ điển, họ rút ra những kết luận: các loài thằn lằn và bò sát chân có móng cong bám vào mặt đất để lấy nhiệt. Chúng không có khả năng đứng trên hai chi sau hơn vài giây. Nhưng khủng long đứng thẳng trên hai chi sau, và nhiều loại đi thẳng bằng hai chi sau. Trong số các loài thú, dáng đứng thẳng chỉ có ở các loài thú có vú máu nóng và loài cầm. Vì thế, dáng đứng thẳng của khủng long cho ta ý niệm chúng có máu nóng.
     Kế đến, họ khảo sát thức ăn, tính toán áp lực cần thiết để đẩy máu lên đầu qua chiếc cổ dài hơn năm mét của một con brachiosaur, và kết luận rằng nó chỉ có thể thực hiện được nhờ một quả tim máu nóng có bốn tâm thất.
     Họ xem xét đường đi ăn, những dấu chân hóa thạch để lại trên bùn, và kết luận rằng khủng long chạy nhanh như người, một hoạt động nhanh nhẹn như thế chỉ có ở loài máu nóng. Họ đã tìm thấy những vết tích khủng long ở phía trên Bắc cực, một môi trường lạnh không thể tưởng tượng được đối với loài bò sát, và những khảo cứu mới về sinh hoạt quần thể, phần lớn dựa trên công trình riêng của Grant, cho thấy khủng long có một cuộc sống quần thể phức tạp, và biết nuôi con, mà loài bò sát không có.
     Cuộc tranh luận máu nóng máu lạnh kéo dài trong mười lăm năm trước khi có sự thừa nhận khủng long là một loài thú cử động nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, nhưng không phải là không có những tức khí kéo dài. Tại các hội nghị, nhiều đồng sự không thèm nói chuyện với nhau.
     Nhưng giờ đây, nếu khủng long có thể tái sinh được - thì lĩnh vực khảo sát của Grant sắp thay đổi. Ngành cổ sinh vật học khảo cứu khủng long đã chấm dứt. Các phòng bảo tàng với những bộ xương khổng lồ cùng các đàn học sinh nhỏ om sòm chỉ trỏ, các phòng thí nghiệm với những khung xương, những bài khảo cứu, báo chí… tất cả sắp chấm dứt.
     Malcolm:
     - Hình như anh không bị bất ngờ?
     Grant lắc đầu:
     - Việc này đã từng được bàn đến. Nhiều người nghĩ là nó sẽ đến. Nhưng không quá sớm thế này.
     Malcolm cười:
     - Câu chuyện chủng loại của chúng ta. Mọi người biết nó sẽ đến, nhưng không quá sớm đến thế.
     Khi đi xuống con đường mòn, họ không còn thấy mấy con khủng long nữa, nhưng vẫn nghe chúng đang hí lên nhẹ nhàng ở xa xa. Grant:
     - Thắc mắc duy nhất của tôi là, họ lấy được DNA ở đâu.
     Grant biết rõ suy nghĩ nghiêm túc của các phòng thí nghiệm ở Berkeley, ở Tokyo, và ở London, là rồi ra có thể tái sinh một con thú tiệt giống như con khủng long - nếu họ có thể lấy được một số DNA khủng long. Vấn đề là tất cả các khủng long đều hóa thạch, và sự hóa thạch hủy diệt phần lớn DNA, thay vào đấy bằng chất vô cơ. Dĩ nhiên, nếu một con khủng long đông lạnh, hay bị chôn vùi dưới một đồng lầy, hay được ướp xác trong một môi trường sa mạc, thì DNA của nó có thể lấy lại được. Nhưng không một ai tìm được một con khủng long ở một trong những tình trạng như thế. Vì vậy việc tái sinh là không thể thực hiện được. Không có cái gì để mà tái sinh. Tất cả kỹ thuật di truyền hiện đại đều vô dụng. Cũng giống như một tấm giấy nhận được bản sao màu nhưng không có cái gì để sao. Ellie nói:
     - Ông không thể tái tạo được con khủng long thật, vì không thể có được DNA của khủng long.
     - Trừ khi có một cách mà chúng ta chưa nghĩ tới.
     - Cách gì? - Ellie hỏi.
     Grant đáp:
     - Tôi không biết.
     Họ đến một bể bơi, nước bể chảy xuống một loạt các thác nước và hồ đá nhỏ hơn. Toàn vùng trồng những cây dương xỉ to lớn. Regis nói:
     - Quý vị có thấy kỳ diệu không. Nhất là những ngày sương mù như hôm nay, rửng cây này thật sự tạo nên không khí tiền sử. Đây là những cây dương xỉ của kỷ Jurassic.
     Ellie dừng lại nhìn đám dương xỉ kỹ hơn. Đúng như Regis nói, cây Serenna veriformans, một loại cây thấy rất nhiều ở các hóa thạch có tuổi hơn hai triệu năm, bây giờ còn nhiều ở các vùng đất ẩm Brazil và Columbia. Những kẻ trồng loại dương xỉ này cạnh các ao hồ rõ ràng không biết mầm cây veriformans chứa một chất độc chết người, chất aikaloid beta-carboline. Ngay cả sờ vào những cọng lá xanh tươi hấp dẫn cũng làm nhiễm độc được, và nếu một đứa trẻ ăn một nhúm lá, hầu như chắc chắn là nó sẽ chết - mức độc của cây này lớn hơn cây oleauder đến năm mươi lần.
     Con người quá ngây thơ về cây cối, Ellie thầm nghĩ. Họ chỉ chọn cây theo bề ngoài, như chọn một bức tranh thích hợp để treo tường. Không bao giờ con người nghĩ rằng cây cối thực sự là những vật sống, chúng cũng vận động để hoàn thiện các chức năng sống của chúng như thở, tiêu hóa, bài tiết, tái tạo và phòng vệ.
     Ellie biết rằng, với lịch sử quả đất, thực vật cũng đã cạnh tranh sinh tồn để phát triển, và trong một số trường hợp, tàn khốc vô cùng. Chất độc trong cây Serena veriformans là một ví dụ nhỏ về chất arsenal, một chất độc phức tạp mà cây cối đã "bào chế" để làm vũ khí bảo vệ. Còn các chất terpene mà cây tẩm vào đất để đánh bả đất đai, gây độc cho những cây cùng cạnh tranh sinh tồn. Chất alkaloid làm cho vỏ cây trở nên bất khả xâm phạm đối với côn trùng, với các loài thú ăn cây cỏ (và cả trẻ con nữa); chất pheromone cây dùng để thông tin hên lạc với nhau. Khi một cây thông douglass bị một đàn côn trùng có cánh tấn công, cây lập tức tổng hợp ra một chất hóa học "chống tiêu hóa", - và các cây douglass ở các vùng khác rất xa trong khu rừng cũng đồng thời tiết ra chất ấy.
     Những người tưởng rằng sự sống trên trái đất chỉ là những động vật chuyển động trong khung cảnh thực vật bất động đã hiểu lầm nghiêm trọng về những gì họ thấy. Khung cảnh thực vật ấy luôn biến động. Cây cỏ mọc lên, di chuyển, luồn lách, đấu tranh với nhau để chiếm lấy ánh nắng mặt trời; và chúng hoạt động liên tục cùng với muông thú, chống lại sự tấn công của thú vật bằng vỏ xù xì hoặc gai góc, đánh bả một số thú khác; hoặc cung cấp thức ăn cho một số động vật để chúng thuận lợi trong việc tái sản xuất, rải rắc phấn hoa và hạt mầm. Đấy là một quá trình phức tạp và năng động mà Ellie bao giờ cũng tìm thấy ở đấy niềm say mê.
     Nhưng nếu trồng các cây dương xỉ có chất độc chết người này tại các bờ ao đầm thì quả là các tay thiết kế công viên chưa đủ cẩn thận cần phải có.
     Regis tiếp tục giới thiệu:
     - Không kỳ diệu sao, thưa quý vị? Nếu nhìn tới trước, quý vị sẽ thấy khu nhà nghỉ Safari của chúng tôi. Đấy là nơi nghỉ của tất cả quý vị khi lưu lại công viên kỷ Jura.
     Ellie thấy một khu nhà thấp với một dãy mái kính hình chóp.
     Gian phòng của Grant xây bằng đá màu beige, đồ đạc bày biện màu xanh, kiểu dáng có đường nét rửng rú. Các phòng chưa xây xong. Những khúc gỗ trong phòng vệ sinh, những mẩu dây điện trên nền nhà. Một ti vi đặt ở góc phòng với một tấm bìa trên máy:
     Kênh 2: Vùng đồi nuôi hypsilophodont.
     Kênh 3: Khu vực nuôi triceraptor.
     Kênh 4: Khu đầm lầy nuôi sauropod.
     Kênh 5: Khu vực loài ăn thịt.
     Kênh 6: Khu phía nam nuôi stegosaurus.
     Kênh 7: Thung lũng nuôi velociraptor.
     Kênh 8: Đỉnh núi nuôi pterosaur.
     Ông thấy các tên gọi có vẻ hấp dẫn. Grant bật máy nhưng chỉ thấy các bản thống kê. Ông tắt và đi vào phòng ngủ thảy chiếc vali nhỏ lên giường. Phía trên giường là một mái hình tháp bằng kính cho ánh sáng trời rọi xuống. Mái tạo cảm giác ở trang trại, như ngủ dưới bầu trời sao. Chỉ tiếc một điều là mái được bảo vệ bằng những thanh sắt to khiến các bóng đen của chúng nằm ngang dọc trên giường.
     Grant dừng lại. Ông đã đọc qua và xem bản thiết kế khu nhà nghỉ, nhưng ông không nhớ đến những thanh sắt trên mái kính. Thực tế, các thanh sắt này thêm vào khiến cho mái có vẻ thô lỗ. Đấy là một khung với các thanh sắt xếp thành ô vuông hàn chắc với nhau nằm bên ngoài lớp kính. Hơi ngạc nhiên, Grant đi tử phònh ngủ qua phòng khách. Cửa sổ phòng ông nhìn ra bể bơi.
     Ellie bước vào phòng, nhìn ông:
     - Giáo sư nhớ là các cây thông đuôi chồn ấy độc lắm đấy. Nhưng ông có chú ý các phòng không?
     - Họ đã thay đổi các bản thiết kế ban đầu.
     - Vâng, tôi cũng nghĩ vậy. Các cửa kính đều có các khung sắt đặt bên ngoài cho kiên cố thêm. Các cửa lớn gài bằng những thanh sắt. Điều đó thật ra quá mức cần thiết. Và giáo sư có thấy hàng rào khi chúng ta vào không?
     Grant gật đầu. Toàn bộ khu nhà nghỉ đều nằm trong một vòng rào với các song sắt dày mấy centimet. Hàng rào cố tạo vẻ thanh nhã, sơn đen trông cho có vẻ là một hàng rào sắt thường, nhưng không che giấu được độ dày của các thanh sắt và chiều cao đến ba mét rưỡi của nó.
     - Tôi cho rằng hàng rào này cũng không có trong bản thiết kế. - Ellie nói tiếp - Trông như họ đang biến khu nhà nghỉ này thành một đồn lũy.
     Grant nhìn đồng hồ tay:
     - Thế nào chúng ta cũng phải hỏi lý do tại sao. Mười phút nữa thì chuyến tham quan bắt đầu.
 
KHI KHỦNG LONG NGỰ TRỊ QUẢ ĐẤT
     Họ tụ tập trong nhà khách hai tầng, xây toàn bằng kính với các cột sắt có phủ lớp sơn chống rỉ, các đòn tay và khung nâng kiên cố. Grant thấy nhà được cấu trúc với kỹ thuật cao cấp. Một thính phòng nhỏ mà ngay lối vào đứng sừng sững một robot khủng long bạo chúa - con tysannosaurus rex - với dáng đe dọa. Bên trong có một khu trưng bày với tấm bảng: KHI KHỦNG LONG NGỰ TRỊ QUẢ ĐẤT. Xa hơn nữa là các khu trưng bày khác: KHỦNG LONG LÀ CON THÚ GÌ? và QUẢ ĐẤT Ở KỶ MESOZOIC. Nhưng những vật trưng bày chưa chuẩn bị xong, dây điện, dây cáp nằm ngổn ngang trong phòng. Gennaro leo lên sân khấu nói chuyện với Grant, Ellie và Malcolm. Giọng ông ta vang khắp phòng. Hammond ngồi phía sau, tay khoanh trước ngực. Gennaro nói:
     - Chúng ta sắp đi một vòng xem các thứ. Tôi chắc rằng ông Hammond và cộng sự sẽ chỉ cho chúng ta mọi việc. Trước khi đi, tôi muốn nhắc lại là tại sao chúng ta đến đây, và những gì tôi cần quyết định trước khi chúng ta rời đảo. Về cơ bản, như quý vị đã nhận thấy, đây là một chỗ có các loại khủng long tái sinh theo kỹ thuật di truyền được nuôi giữ trong một khung cảnh như một công viên thiên nhiên, tạo thành một địa điểm thu hút du khách. Đảo chưa khai trương, nhưng sẽ mở cửa trong vòng một năm nữa. Và bây giờ câu hỏi của tôi là một câu đơn giản thôi. Đảo này có an toàn không? Có an toàn cho khách đến thăm, và có nuôi giữ khủng long một cách an toàn không?
     Gennaro nói tiếp:
     - Có hai sự việc làm chứng cứ mà chúng tôi cần xét đến. Trước hết là tiến sĩ Grant đã có nhận dạng được một con khủng long chưa từng biết đến trước đây ở Costa Rica. Con khủng long này chỉ là những phần còn lại của một cơ thể không toàn vẹn. Nó được phát hiện vào khoảng tháng bảy năm nay, sau khi được xem là nó đã cắn một bé gái người Mỹ. Tiến sĩ Grant sẽ kể với quý vị sau. Những chứng cứ ấy đang nằm ở một phòng thí nghiệm New York và chúng tôi đã yêu cầu gửi đến đây bằng máy bay để chúng ta có thể trực tiếp xem xét. Còn một chứng cứ thứ hai.
     - Costa Rica, - Gennaro tiếp tục - có một hệ thống y tế công cộng tuyệt hảo, theo dõi mọi loại dữ kiện. Vào đầu tháng ba, có những báo cáo về các con kỳ nhông hoặc kỳ đà cắn trẻ con trong nôi - và tôi có thể thêm là, cắn cả người lớn đang ngủ. Những vụ kỳ nhông cắn này được báo cáo từ những ngôi làng ven biển xa xôi, từ Ismaloya đến Puntarenas. Sau tháng ba, các vụ cắn không còn được báo cáo nữa. Tuy nhiên tôi có một biểu đồ của sở y tế San José về tử vong của trẻ em tại các thị trấn nằm trên bờ biển phía tây.
     Gennaro lấy ra một biểu đồ biểu diễn sự biến thiên tử vong của trẻ em từ tháng hai đến tháng bảy và giải thích:
     - Xin quý vị chú ý vào hai đặc điểm của biểu đồ này. Thoạt tiên, tử suất của trẻ em thấp vào các tháng giêng và tháng hai, rồi lên cao vào tháng ba, thấp dần vào tháng tư. Nhưng từ tháng năm trở đi thì lên rất cao cho đến tháng bảy, là tháng mà bé gái Mỹ bị cắn. Sở y tế cảm thấy có điều gì đó ảnh hưởng đến số tử vong của trẻ, và điều đó không thấy nhắc đến trong các báo cáo. Đặc điểm thứ hai là đường biểu diễn đưa lên đến đỉnh cao nhất từng hai tuần một, như gợi lên một hiện tượng gì đó luân phiên hoạt động. Bây giờ, quý vị có thể…
     Malcolm:
     - Tôi sẽ giải thích điều ấy cho ông.
     - Ông giải thích được? - Gennaro hỏi.
     - Vâng. Trước hết, các con thú có thể đã thoát ra khỏi đảo.
     Hammond ở đằng sau lên tiếng:
     - Ồ chuyện này…
     - Thứ đến, biểu đồ của sở y tế hầu như không liên quan gì đến các con thú đã trốn thoát được.
     Grant hỏi:
     - Làm sao ông biết dược?
     - Quý vị sẽ nhận thấy rằng biểu đồ có điểm cao thấp xen kẽ. Đấy là tính chất của nhiều hệ thống phức tạp. Ví như nước nhỏ giọt ra tử vòi nước. Nếu quý vị chỉ mở vòi một tí thôi, quý vị sẽ thấy nước giọt từng giọt đều đặn. Nếu mở vòi thêm một chút nữa quý vị sẽ có những giọt nước lớn nhỏ xen kẽ nhau Đấy là do sự hỗn loạn của áp suất gây ra. Sự hỗn loạn gây ra sự xen kẽ. Và quý vị sẽ có một biểu đồ cao thấp xen kẽ như thế này đối với bất cứ loại bệnh mới phát nào.
     Grant:
     - Nhưng sao ông biết không phải do khủng long thoát khỏi đảo.
     Malcolm:
     - Vì đấy là tính chất của một biểu đồ không liên tục. Phải hàng trăm khủng long thoát khỏi đảo mới gây nên tình trạng như biểu đồ mới ghi nhận. Mà tôi không tin là có được hàng trăm khủng long trốn khỏi đảo. Vì thế, tôi kết luận là có một hiện tượng nào khác, như một bệnh cúm mới, đã gây nên sự biến thiên của biểu đồ
     Gennaro:
     - Nhưng ông cho rằng có khủng long thoát khỏi đảo.
     - Vâng có thể như thế.
     - Tại sao?
     - Vì những gì quý vị đang cố thực hiện ở đây. Xem nào, đảo này là một cố gắng tái tạo lại môi trường thiên nhiên như trong quá khứ. Tạo nên một thế giới riêng cách biệt trong đó các sinh vật tiệt giống sinh sống tự do. Đúng vậy không?
     - Đúng.
     - Nhưng theo quan điểm của tôi, một việc như thế không thể thực hiện được. Toán học đã có bằng cứ rõ ràng đến nỗi không còn phải tính toán. Rõ ràng như khi tôi hỏi quý vị, với một tỷ đô la lợi tức liệu quý vị có trả thuế không. Quý vị không cần phải lôi máy tính bỏ túi ra tính toán. Quý vị biết ngay là phải trả thuế thôi. Và, tương tự, tôi biết một cách rất rõ là người ta không thể nào sao lại thiên nhiên theo cách này, hoặc hy vọng là tách biệt nó.
     - Tại sao không? Chúng ta cũng đã có những sở thú…
     - Sở thú không tái tạo lại thiên nhiên. - Malcolm giải thích - Chúng ta hãy nói rõ hơn điều này. Các sở thú lấy thiên nhiên sẵn có và chỉ hơi thay đổi để tạọ những nơi ở cho thú. Thậm chí những thay đổi nhỏ như thế cũng thất bại. Lũ thú trốn thoát đều đều. Nhưng công viên này không theo kiểu một sở thú. Nó đang cố gắng thực hiện một tham vọng xa hơn nhiều. Thực hiện một điều gì đó tương tự như một trạm không gian trên quả đất.
     Gennaro lắc đầu:
     - Tôi không hiểu.
     - Vâng, rất đơn giản. Trừ không khí ra, mọi thứ dính líu trên đảo này đều bị cách ly. Thú vật nuôi giữ ở đây không bao giờ sống lẫn với hệ sinh thái lớn hơn. Chúng không bao giờ thoát khỏi đây.
     Hamrnond khịt mũi:
     - Và chúng chưa bao giờ thoát được.
     Malcolm nói, rõ ràng:
     - Một sự cách ly như thế là không thể tồn tại được. Chỉ vì không thể thực hiện được.
     - Có thể thực hiện được. Rõ là ông không biết ông đang nói điều gì. Ông là một anh chàng ba hoa đấy. - Hammond nói, đứng dậy rời khỏi phòng.
     Gennaro:
     - Thưa quý vị, thưa quý vị…
     Malcolm:
     - Tôi rất tiếc nhưng vấn đề là vậy. Điều mà chúng ta gọi là "thiên nhiên" thật là một hệ thống rắc rối, tinh vi quá sức hiểu của chúng ta. Chúng ta tạo nên một hình ảnh đơn giản của tạo vật và làm sai cả những gì liên quan đến nó. Tôi không phải là một nhà môi trường học, nhưng chúng ta phải cố biết những gì chúng ta chưa biết. Chúng ta đã xây đập Aswam và tuyên bố là nó sẽ làm cho đất đai màu mỡ. Nhưng thật ra, nó đã tàn phá vùng châu thổ sông Nile, sản sinh thực vật ký sinh, tàn phá kinh tế Ai Cập. Chúng ta xây dựng…
     Gennaro:
     - Xin lỗi. Hình như tôi nghe thấy tiếng trực thăng. Đấy có thể là mẫu nghiệm cho tiến sĩ Grant. - ông ta ra khỏi phòng, mọi người đều ra theo.
     Tại chân núi, Gennaro đang hét lớn hòng át tiếng trực thăng, các đường gân cổ trương to:
     - Ông đã làm cái gì thế này? Ông đã mời ai hả?
     Hammond:
     - Hãy bình tĩnh đã nào.
     Gennaro hét lớn:
     - Ông mất trí rồi đấy à?
     - Nào, để xem nào. - Hammond cố bình tĩnh - Tôi cho là chúng ta cần phải nói rõ vấn đề…
     - Không, không. Ông phải nói rõ vấn đề chứ không có chúng ta nào cả. Đây đâu phải là một cuộc đi chơi với gia đình. Đây không phải là một đợt nghỉ cuối tuần…
     - Đây là đảo của tôi. Và tôi có thể một ai mà tôi muốn mời.
     - Đây là một cuộc điều tra nghiêm túc hòn đảo của ông vì các nhà đầu tư vào đây cho rằng đảo đang ở ngoài vòng pháp luật. Chúng tôi nghĩ rằng đây là một nơi rất nguy hiểm và…
     - Anh sẽ chẳng dẹp công việc của tôi được, Gennaro.
     - Tôi sẽ dẹp nếu tôi thấy cần phải dẹp.
     - Đây là một nơi an toàn, cho dù cái tay toán học chết rấp kia nói gì đi nữa.
     - Đảo không an toàn…
     - Tôi sẽ chứng minh là rất an toàn.
     - Và tôi muốn ông cho chúng nó trở lại ngay lập tức vào chiếc trực thăng kia.
     - Không thể được, - Hammond chỉ về phía những đám mây - trực thăng đã bay xa rồi. - Và thực vậy, tiếng động cơ trực thăng không còn nghe thấy nữa.
     - Đồ máy bay chết rấp. - Gennaro bực tức - Ông có thấy là ông đang liều lĩnh một cách không cần thiết không?
     - Chuyện đó chúng ta bàn sau. Bây giờ tôi không muốn làm rối trí mấy đứa trẻ.
     Grant quay lại, và thấy hai đứa bé đang đi xuống dốc đồi, dẫn đầu là Regis. Đấy là một bé trai mang kính trắng vào khoảng mười một tuổi, và một bé gái nhỏ hơn vài tuổi, có lẽ bảy hay tám tuổi mái tóc vàng hoe dưới mũ lưỡi trai thể thao, một cặp găng chơi bóng ném đeo lủng lẳng dưới vai. Hai đứa trẻ từ chỗ bãi đáp trực thăng đi từng bước một xuống đồi, rồi dừng lại cách Gennaro và Hammond một quãng.
     - Ôi Chúa ơi - Gennaro nói nhỏ qua hơi thở.
     - Nào, cứ bình tĩnh đi nào, - Hammond nói - cha mẹ chúng đang lo chuyện ly dị, và tôi muốn chúng vui cuối tuần ở đây.
     Cô bé vẫy tay:
     - Ê. Chào ông nội. Bọn cháu đến dây.
0
CHUYẾN THAM QUAN
     Cậu bé Tim Murphy nhận ra ngay có điều gì đó bất ổn. Ông nội đang cãi cọ với một người trẻ hơn, mặt đỏ gay, đứng đối diện với nội. Và còn mấy người lớn tuổi khác, đứng đằng sau, trông có vẻ bối rối. Cô bé Lex cũng cảm thấy có sự căng thẳng, vội dừng lại, tung qủa bóng lên chụp bắt. Cậu bé phải đẩy em:
     - Tới đi chứ Lex.
     - Anh Tim đi trước đi.
     - Đừng có nhút nhát.
     Lex nhìn anh, nhưng Regis đã vui vẻ nói:
     - Để chú giới thiệu hai đứa với mọi người, và chúng ta có thể đi theo họ xem mọi thứ.
     Lex e ngại:
     - Thôi, cháu không đi đâu.
     - Để chú giới thiệu cháu trước. - Và Regis bắt đầu. Trước hết với ông nội, Hammond hôn hai đứa. Rồi với người mà nội đang cãi cọ. Ông này dáng chắc khỏe, tên là Gennaro. Phần giới thiệu còn lại làm Tim lờ mờ nhớ đến điều gì đó. Có một cô tóc vàng mặc đồ soóc một người đàn ông râu quai nón mặc quần Jeans và áo sơ mi kiểu Hawaii. Ông này trông có vẻ là một người chuyên hoạt động ngoài trời. Rồi một anh mập mạp đến đảo làm chuyện gì đó với mấy cái computer. Cuối cùng là một người gầy gầy mặc đồ đen, không bắt tay chúng mà chỉ gật đầu. Tim cố lục lại trí nhớ khi nhìn vào chân của cô tóc vàng, và đột nhiên nhớ ra là cậu đã biết người đàn ông râu quai tròn là ai.
     Lex bảo anh:
     - Miệng anh đang há hốc ra đấy.
     - Tao biết ông ấy. - Tim nói.
     - Ồ, thì chắc chắn rồi. Anh vừa mới được giới thiệu đấy.
     - Không phải, tao có sách của ông ấy.
     Người râu quai nón hỏi:
     - Sách gì, Tim?
     - Thưa bác, cuốn Lost World of Dinosanura.
     Lex cười khúc khích:
     - Bố nói óc anh Tim chứa toàn khủng long.
     Tim không nghe cô em nói gì. Cậu đang nghĩ đến những gì mình biết về ông Alan Grant. Ông Grant này là người bênh vực lý thuyết cho rằng khủng long là loài máu nóng. Ông đã thực hiện nhiều vụ khai quật tại một nơi có tên là Đồi Trứng ở bang Montana, một địa điểm nổi tiếng vì có quá nhiều trứng khủng long. Grant đã tìm thấy phần lớn số trứng khủng long chưa từng được phát hiện. Ông cũng là người vẽ minh họa, và đã vẽ các hình cho sách của mình. Người râu quai nón nói:
     - Đầu chứa toàn khủng long? Thế thì bác với cháu giống nhau. Đầu bác cũng toàn khủng long.
     Bé Lex:
     - Bố nói lũ khủng long đần độn lắm. Bố bảo anh ấy nên ra ngoài trời nhiều và chơi các môn thể thao.
     Tim cảm thấy hơi ngượng. Cậu bảo em:
     - Tao thấy là mày phải đi theo họ rồi chứ?
     - Một phút nữa đã.
     - Rồi mày phải chạy theo cuống lên.
     Bé Lex đứng tay chống nạnh, vênh mặt, bắt chước điêu bộ khiêu khích của mẹ:
     - Em không phải là loại người mà ai bảo chi cũng nghe đâu.
     Regis nói với mọi người:
     - Thưa quý vị xin mời tất cả hãy trở lại nhà khách để chúng ta có thể bắt đầu chuyến tham quan.
     Mọi người bắt đầu bước đi. Tim nghe ông Gennaro nói nhỏ vào tai ông nội: "Tôi có thể giết ông được vì chuyện này đấy", rồi Tim nhìn lên và thấy tiến sĩ Grant đã bước theo bên cạnh.
     - Cháu mấy tuổi rồi, Tim?
     - Dạ, mười một.
     - Cháu thích khủng long từ lúc nào?
     Tim nuốt nước miếng:
     - Mới đây thôi. - Cậu cảm thấy lúng túng khi nói chuyện với tiến sĩ Grant - Chúng cháu thỉnh thoảng có đến viện bảo tàng, và cháu nói về khủng long với ba cháu.
     - Ba cháu không thích khủng long à?
     Tim gật đầu, và kể cho Grant nghe chuyến thăm viện bảo tàng lịch sử thiên nhiên mới đây của gia đình. Ba cậu nhìn vào một bộ xương và nói : "Chà, bộ xương to ghê".
     Tim đã nói với ba: "Không to ghê đâu ba. Mới cỡ trung bình thôi. Đấy là con comptosaurus".
     "Ồ ba không biết. Ba thấy to ghê quá."
     "Thế mà nó chưa trưởng thành hoàn toàn đấy, ba".
     Ba cậu nhìn một bên bộ xương: "Nó thuộc kỷ nào, Jurassic?"
     "Không phải đâu. Kỷ Cretaceous."
     "Cretaceous à. Hai kỷ này cách nhau bao lâu?"
     "Chỉ vào khoáng một trăm triệu năm.", Tim nói.
     "Kỷ Cretaceous trước à?"
     "Không, ba. Jurassic trước chứ."
     Ba cậu bảo: "Thế nhưng, đối với bố thì nó hết sức to rồi đấy." ông bước lui và quay sang Tim chờ sự đồng ý. Cậu bé biết là mình nên đồng ý với bố vì thế cậu lẩm bẩm một điều khác. Và hai cha con đi tiếp xem nơi khác.
     Tim đứng trước một bộ xương - một con tyrannosaụrus rex, một mãnh thú săn mồi mạnh chưa từng có. Cuối cùng, ba cậu hỏi: "Con nhìn gì đấy?"
     "Con đếm đốt sống."
     "Đốt sống?"
     "Xương sống lưng ấy."
     "Ba biết đốt sống là gì rồi.", ba nói vẻ khó chịu. ông đứng với cậu một lúc rồi hỏi "Con đếm làm gì?"
     "Con thấy các đốt sống này không đúng. Con tyrannosaurus đúng ra cho có ba mươi bảy đốt sống ở đuôi thôi. Con này có nhiều hơn."
     Ba cậu nói: "Con có ý bảo là viện bảo tàng có một bộ xương không đúng. Ba không thể tin được."
     "Bộ xương này không đúng đấy."
     Ba cậu bỏ về phía người trông nom viện bảo tàng ở góc. Mẹ cậu hỏi: "Con làm phiền gì ba thế?"
     Tim nói: "Con chẳng làm gì cả. Con chỉ nói bộ xương khủng long không đúng như thật, thế thôi."
     Và rồi ba cậu quay lui với vẻ mặt lạ lùng, vì dĩ nhiên là người coi bảo tàng bảo là bộ xương có quá nhiều đốt sống ở đuôi. Ba cậu nói: "Làm sao con biết được?"
     "Con đọc sách."
     "Chuyện lạ đấy, chú nhỏ." Ông ta đặt tay lên vai cậu, ấn nhẹ. "Con biết được có bao nhiều đốt sống ở cái đuôi ấy. Ba chưa từng thấy đứa nào thế. Óc con đúng là chứa toàn khủng long."
     Và rồi ba cậu nói ông muốn xem hiệp hai của trận bóng gậy trên ti vi. Lex nói bé cũng thích, và cả nhà rời viện bảo tàng. Tim không được xem thêm con khủng long nào nữa.
     Bao nhiêu việc lộn xộn vẫn thường xẩy ra trong gia đình, Tim cố nhớ lại. Bây giờ, ba cậu đang lo chuyện li dị với mẹ cậu, mọi việc có lẽ sẽ khác hẳn. Ba cậu đã bỏ đi khỏi nhà, dù vậy, Tim lấy làm lạ là mình lại thích thế. Cậu nghĩ là mẹ có một ông bạn, nhưng cậu không chắc được, và dĩ nhiên cậu không bao giờ nhắc đến điếu ấy với Lex. Em gái cậu rất buồn khi phải xa ba, và trong mấy tuần gần đây, cô bé trở nên bẳn tính đến nỗi…
     Grant hỏi Tim:
     - Có phải bộ xương số 5027 không?
     - Bác nói sao?
     - Con tyrannosaurus ở viện bảo tàng ấy, có phải số 5027 không?
     - Phải. Sao bác biết?
     Grant cười:
     - Họ vừa bàn chuyện làm sao mà giữ nó cho được nhiều năm. Nhưng bây giờ việc ấy có lẽ chẳng cần đến nữa.
     - Tại sao vậy?
     - Vì những gì đang xẩy ra ở đây, trên đảo của nội cháu.
     Tim lắc đầu. Cậu chẳng hiểu Grant đang nói đến điều gì.
     - Mẹ cháu bảo đảo là một nơi nghỉ mát, với hồ bơi và sân tenis.
     - Không đúng. Bác sẽ giải thích cho cháu biết khi chúng ta cùng đi.
     Bây giờ mình còn kiêm nhiệm thêm cái việc "cô nuôi dạy trẻ" chán ngấy này nữa, Regis bực mình nghĩ ngợi khi anh ta nghỉ ở nhà khách. Ông già ấy bảo mình: Cậu phải trông chừng mấy đứa nhỏ cẩn thận như gà dắt con đi ăn đấy. Trách nhiệm của cậu trong kỳ nghỉ cuối tuần này đấy.
     Regis chẳng thích chuyện này tí nào. Anh ta cảm thấy mình giảm giá trị. Mình đâu phải là một ả giữ trẻ. Và còn chuyện này, anh ta đâu phải là người hướng dẫn tham quan, ngay cả hướng dẫn các VIP đi nữa. Anh ta là trưởng ban giao tiếp của công viên này, và còn bao nhiêu điều cần chuẩn bị từ bây giờ cho đến khi khai trương đảo, trong vòng một năm tới. Mọi việc liên hệ với các công ty giao tiếp ở San Francisco và London, với các tổ chức du lịch ở New York và Tokyo cũng đã chiếm hết thì giờ làm việc, đặc biệt vì chưa thể cho các công ty dịch vụ du lịch này biết có những điểm hấp dẫn gì ở đảo. Tất cả các tổ chức này chỉ vạch dự án đoán chừng, không có gì chính xác, và họ không mấy bằng lòng. Những con người sáng tạo cần được nuôi dưỡng chứ. Họ cần được khuyến khích để làm tốt công việc của mình chứ. Anh ta không thể phí thời gian làm cái việc vớ vẩn hướng dẫn các nhà khoa học thăm đảo được
     Nhưng cái nghề giao tiếp công cộng này vốn rắc rối - không ai coi "nghề" này là một nghề nghiệp thật sự. Regis đã tới lui làm việc trên đảo này bảy tháng qua, và họ vẫn gán cho anh những công việc kỳ cục. Như dạo tháng giêng vừa qua. Đáng lẽ cái lão bác sĩ Harding phải làm việc ấy. Harding, mà không thì Owens, tay tổng thầu ấy. Thế mà việc lại giao cho Ed Regis. Anh ta thì biết gì về việc chăm sóc cho công nhân gặp tai nạn chứ. Và bây giờ lại là một hướng dẫn viên tham quan kiêm chị vú chết rấp. Anh ta quay lui và đếm mấy cái đầu. Vẫn còn thiếu một.
     Rồi, từ phía sau, anh ta thấy nữ tiến sĩ Ellie Sattler ló ra khỏi phòng tắm. Anh ta cất tiếng:
     - Nào, thưa quí vị, hãy bắt đầu chuyến tham quan tầng lầu một.
     Tim đi với mấy người khác, tất cả theo ông Regis lên chiếc cầu thang màu đen lên tầng một của tòa nhà. Họ đi ngang một tấm biển đề: Vùng cấm - Chỉ dành cho nhân viên có thẩm quyền.
     Tim hơi sợ khi thấy tấm biển. Họ đi theo hành lang tầng lầu về phía cuối. Một bên tường gắn kính, nhìn ra bao lơn với những cây sồi trong màn sương mỏng. Một bên tường còn lại là một dãy các cánh cửa phòng cách đều nhau, giống các văn phòng.
     Khoảng giữa hành lang, họ đến một nơi xây toàn bằng kính, có tấm biển ghi: Phòng thí nghiệm sinh học - coi chừng - nguy hiểm
     Phía dưới có tấm bảng ghi: Coi chừng - Chất sinh quái vật - Phụ nữ có thai cấm vào đây.
     Tim càng lúc càng thấy kích động. Chất sinh quái vật tạo nên những quái thai. Cậu cảm thấy hơi rợn người, và lại cảm thấy thất vọng khi nghe Rehris nói: "Đừng có tin vào mấy cái biển đó. Chúng được treo lên đấy chỉ vì lý do pháp lý thôi. Chúng tôi bảo đảm với quý vị là mọi thứ ở đây đều an toàn". Anh ta dẫn cả đoàn đi qua cửa. Phía bên kia có một nhân viên bảo vệ. Regis quay lại nói với nhóm tham quan:
     - Quý vị có thể chú ý là chỉ có một số nhân viên tối thiểu. Chúng tôi có thể điều hành trung tâm với tổng số hai mươi người. Dĩ nhiên, cần thêm người khi có khách đến đảo, nhưng vào lúc này thì chỉ hai mươi. Đây là phòng điều hành. Toàn thể công viên được điều khiển từ phòng này.
     Họ dừng lại trước một dãy cửa sổ và nhìn vào bên trong một căn phòng tối lờ mờ. Một bản đồ toàn bộ công viên vẽ trên một tấm kính trong suốt dựng đứng, trước bản đồ là một dãy các bàn phím điều khiển và các computer. Một vài màn hình đang cho các bảng số liệu, nhưng phần lớn các màn hình đều cho thấy các hình ảnh quanh công viên. Trong phòng có hai người đang ngồi nói chuyện. Regis chỉ vào một người mặc sơ mi ngắn tay, mang cà vạt, đang hút thuốc:
     - Người ngồi bên trái này là kỹ sư trưởng của chúng tôi, kỹ sư John Arnold, vá người ngồi bên cạnh quản lý công viên, ông Robert Muldoon, một tay đi săn nổi tiếng ở Nairobi.
     Muldoon là một người to con, mặc kaki, kính mát móc ở túi áo trên. Ông ta liếc nhìn nhóm người, khẽ gật đầu rồi quay lại với các màn hình computer. Ed Regis tiếp:
     - Tôi chắc là quý vị muốn xem căn phòng này, nhưng trước hết chúng ta hãy xem xem chúng tôi lấy được DNA của khủng long bằng cách nào.
     Tấm biển trên cửa đề EXTRACTIONS, và giống như mọi cánh cửa khác của tòa nhà dành cho các phòng thí nghiệm, cửa được mở bằng một thẻ bảo mật. Eo Regis nhét chiếc thẻ vào khe, ánh sáng nhấp nháy và cửa mở.
     Bên trong Tim thấy căn phòng nhỏ, ánh sáng màu lục. Bốn kỹ thuật viên đồng phục phòng thí nghiệm đang chăm chú nhìn vào mấy ống kính hiển vi điện tử hoặc nhìn các hình ảnh chuyển trên một màn hình có độ phân giải cao. Căn phòng chứa đầy một loại đá màu vàng. Đá đặt trên các bệ bằng kính; trong các thùng bìa cứng, trong các hộc tủ. Mỗi viên đá đều có buộc nhãn đánh số bằng mực đen. Regis giới thiệu Henry Wu, một người mảnh khảnh tuổi khoảng ba mươi.
     - Tiến sĩ Henry Wu là trưởng nhóm di truyền của chúng tôi. Ông Henry Wu sẽ giải thích công việc của phòng này với quý vị.
     Wu mỉm cười:
     - Tôi xin cố gắng. Di truyền có hơi phức tạp một tí. Có lẽ quý vị đang thắc mắc chúng tôi lấy được DNA khủng long từ đâu.
     Grant:
     - Đúng thế. Việc này cứ đánh dấu hỏi trong óc tôi.
     - Thật sự thì, có hai nguồn gốc có thể cung cấp. Bằng cách dùng kỹ thuật rút kháng thể của Loy, đôi khi chúng tôi có thể lấy được DNA khủng long trực tiếp từ xương khủng long.
     - Lấy trực tiếp từ xương?
     - Vâng, phần lớn protein hòa tan đã thoát khỏi xương trong suốt thời gian hóa thạch, nhưng hai mươi phần trăm các protein vẫn thu lại được bằng cách nghiền nát xương rồi dùng phương pháp Loy. Tiến sĩ Loy đã dùng chính phương pháp này để lấy được các protein của con morsupial đã tiệt giống ở Úc, cũng như đã lấy được một số tế bào máu từ các thứ thuộc cơ thể loài người cổ đại khai quật được. Kỹ thuật này cần chất thử nghiệm rất tinh túy, chỉ thực hiện được với năm mươi nanogram chất liệu. Nanogram là một phần tỉ của gam.
     Grant:
     - Quý vị đã phỏng theo phương pháp ấy?
     - Chỉ như kỹ thuật phụ thôi. Như quý vị có thể tưởng tượng, hai mươi phần trăm các protein không thể nào đủ. Chúng tôi cần một chuỗi đầy đủ DNA khủng long để tái sinh. Và chúng tôi lấy được ở đây, - Wu nhấc một viên đá màu vàng lên - ở hổ phách, một thứ nhựa cây hóa thạch từ thời tiền sử.
     Grant nhìn Ellie, rồi Malcolm. Nhà toán học gật đầu:
     - Rất thông minh.
     Grant thú nhận:
     - Tôi vẫn không hiểu.
     Wu giải thích:
     - Nhựa cây thường là cái bẫy đối với côn trùng. Nhựa sẽ bọc kín côn trùng và bảo toàn được chúng khi nhựa bị hóa thạch. Người ta tìm được đủ loại côn trùng trong hổ phách - kể cả các loại côn trùng sống bằng cách hút máu các loại thú lớn.
     - Hút máu. - Grant nhắc lại - Anh muốn nói là hút máu khủng long?
     - Chúng tôi hy vọng thế? Vâng.
     - Và rồi các côn trùng được bảo toàn trong hổ phách… - Grant lắc đầu - Tôi thật ngu ngốc. Điều này đúng là có thể xẩy ra.
     - Tôi bảo đảm với ông là việc ấy đã thật sự xẩy ra.
     Wu đến bên một kính hiển vi, một kỹ thuật viên đặt một mảnh hổ phách có chứa một con ruồi vào kính soi Trên màn hình, họ quan sát nhân viên kỹ thuật dùng một kim dài đâm xuyên qua miếng hổ phách đến họng của con ruồi tiền sử ông ta giải thích:
     - Nếu con ruồi này có các tế bào máu lạ, chúng tôi sẽ có khả năng rút ra, và có được paleo - DNA, tức là DNA của một sinh vật tiệt giống từ thời tiền sử. Dĩ nhiên, chúng tôi không thể biết chắc là có hay không, cho đến khi rút được bất cứ thứ gì trong con ruồi, nhân phiên bản lên, rồi thử nghiệm. Đấy là những gì chúng tôi đã làm suốt năm năm nay. Đấy là cả một quá trình lâu dài và chậm chạp - nhưng chúng tôi đã được trả công xứng đáng.
     - Thật sự thì, - Wu nói tiếp - bằng cách này, DNA khủng long lấy được có phần dễ dàng hơn là lấy DNA của các loài thú có vú. Lý do là hồng cầu của loài thú có vú không có nhân, và vì thế không có DNA trong hồng cầu của loài này. Để tái sinh một con thú có vú chúng tôi phải tìm bạch cầu, hiếm hơn nhiều so với hồng cầu. Nhưng khủng long có hồng cầu có nhân, như các loài chim ngày nay. Đấy là một trong số nhiều chỉ dẫn khiến chúng tôi tin khủng long không phải là loài bò sát. Chúng thuộc loài chim lớn có lông vũ.
     Tim thấy tiến sĩ Grant vẫn do vẻ nghi ngờ và Dennis Nedry, một kỹ thuật viên mập mạp, trông có vẻ chẳng chú tâm tới điều gì, hình như anh ta đã biết hết mọi chuyện. Anh ta cứ nhìn vào phòng kế với vẻ sốt ruột. Wu nói:
     - Ông Dennis Nedry đã chuẩn bị cho chúng ta xem các khâu tiếp theo của công việc. Làm thế nào để xác định được DNA. Muốn thế, chúng tôi phải dùng các computer cực mạnh.
     Họ qua một cánh cửa đẩy, vào phòng lạnh có tiếng máy chạy rì rì. Hai cái tháp tròn cao hai mét đứng ngay giữa phòng, kê dọc theo các bức tường là những dãy thùng làm bằng sắt không rỉ cao ngang thắt lưng. Wu nói:
     - Ở đây toàn là máy móc kỹ thuật cao cấp. Những thùng để dọc theo các bức tường là những máy Hamachi-Hood phân giải gen tự động. Chúng đang hoạt động, với tốc độ cực kỳ nhanh, do các máy siêu điện toán Cray XMP điều khiển. Giữa phòng là hai máy supercomputer Cray XMP- Quý vị đang đứng tại trung tâm một nhà máy sản xuất gen di truyền cực kỳ siêu việt, đến mức khó tin.
     Có nhiều màn hình điều hành, và tất cả đang vận hành thật nhanh rất khó thấy chúng đang thể hiện những gì. Wu ấn một nút cho một hình dừng lại và giải thích:
     - Quý vị đang nhìn cấu trúc của một đoạn nhỏ trong chuỗi DNA khủng long. - (trên màn hình là 23 hàng chữ, mỗi hàng có 60 chữ cái tượng trưng cho mỗi vòng xoắn của chuỗi DNA) - Xin chú ý là chuỗi cấu thành do bốn hợp chất cơ bản - adenine, thymine, guamne, và cytosine. Lượng DNA này có lẽ chứa theo thứ tự những phần tử cấu tạo nên một protein đơn lẻ, tức là một hormone hay một enzyme. Một phần tử DNA đầy đủ chứa đến ba tỉ protein cơ bản này. Nếu chúng ta nhìn vào một hình như thế này một giây mỗi hình, mỗi ngày tám tiếng, vẫn phải hơn hai năm mới nhìn hết một chuỗi DNA.
     Tiến sĩ Wu chỉ vào hình:
     - Đây là một ví dụ điển hình, bởi vì quý vị thấy mẫu DNA này có một sai sót, ở dòng 1201. Phần lớn các DNA chúng tôi rút được là các phần rời rạc hoặc không hoàn toàn. Vì thế điều chúng tôi phải làm trước tiên là sửa chữa chắp nối lại, hay đúng hơn, máy điện toán làm. Máy sẽ cắt DNA, dùng thứ mà chúng tội gọi là các enzyme giới hạn. Computer sẽ chọn một số các enzyme khác nhau để thực hiện công việc.
     Wu lại bấm nút, một hình khác hiện lên:
     - Hình này cũng là mẫu DNA vừa rồi. Nhưng quý vị hãy nhìn vào dòng 1201, ở chỗ sai sót đã có hai enzyme cắt hai bên vòng xoắn bị hư để chỉ định chỗ cần sửa chữa. Thường, chúng tôi để cho máy computer quyết định dùng enzyme nào để cắt. Nhưng chúng tôi cũng cần biết phải dùng cặp vòng xoắn cơ bản nào để thay vào chỗ vòng bị hư. Muốn thế, computer phải phân giải hàng vòng xoắn có sai sót. - Wu bấm nút, màn hình hiện rõ phần chuỗi xoắn có một xoắn bị cắt trống - Bây giờ chúng tôi đang tìm xoắn DNA bị hư. Và quý vị thấy là chúng tôi có thể tìm được. Chuỗi xoắn đậm nét là một đoạn nhỏ của DNA khủng long, bị cắt bởi hai enzyme và được phân tích. Bây giờ máy điện toán đang kết hợp lại, bằng cách tìm những xoắn đúng mã. Cũng tương tự như chơi ô chữ vậy. Máy điện toán có thể thực hiện động tác này rất nhanh.
     Màn hình bây giờ là một hình khác, giống như hình đầu tiên nhưng chỗ sai sót ở dòng 1201 đã được kết hợp liên tục. Wu giải thích tiếp:
     - Và đây là chuỗi DNA đã được kiểm tra sửa chữa cẩn thận, nhờ computer. Việc phân giải sửa chữa mà quý vị vừa chứng kiến sẽ phải mất hàng tháng trong một phòng thí nghiệm thông thường, nhưng chúng tôi có thể thực hiện trong vài giây.
     Grant hỏi:
     - Và quý vị đang làm việc với toàn bộ chuỗi DNA?
     - Ồ, không. Chúng tôi đã bắt đầu từ những năm sáu mươi, lúc mà toàn thể một phòng thí nghiệm phải mất bốn năm để giải mã một đoạn xoắn như ở màn hình này. Bây giờ computer có thể làm trong hai tiếng đồng hồ. Nhưng cho dù vậy, số phân tử của DNA vẫn quá lớn. Chúng tôi chỉ nhìn xem các đoạn chuỗi của thú vật này khác với thú vật khác, hoặc khác với DNA hiện thời. Từ chủng loại này qua chủng loại khác, chỉ có vài phần trăm nucleotid là khác nhau. Đấy là điều chúng tôi cần phân tích, và đấy là một công việc quá lớn.
     Dennis Nedry ngáp dài. Từ lâu anh ta đã đoán chừng rằng InGen hẳn phải làm những thứ đại loại như thế này. Cách đây hai năm, khi InGen thuê Nedry thiết kế hệ thống điều khiển công viên, một trong những thông số thiết kế đầu tiên được ghi với con số 3x109 lĩnh vực cần dữ liệu. Nedry xem đấy chỉ là một nhầm lẫn, và phôn đến Palo Alto để điều chỉnh lại. Nhưng họ bảo con số ấy chính xác. Ba tỷ lĩnh vực.
     Nedry đã từng thực hiện một số khá nhiều hệ thống lớn. Anh ta đã tạo được tên tuổi mình khi thiết lập các hệ thống liên lạc bằng điện thoại khắp thế giới cho những tập đoàn đa quốc gia. Thường những hệ thống ấy có hàng triệu dữ kiện cần ghi bộ nhớ. Anh ta đã quen với chuyện ấy. Nhưng InGen muốn một thứ gì đó lớn hơn nhiều…
     Rất bối rối, Nedry đã tìm gặp Barney Follows, một chuyên gia lừng danh về các hệ thống computer ở Cambridge để hỏi.
     - Có loại database nào có đến ba tỷ dữ liệu được ghi không, thưa ông Barney?
     Barney cười, bảo:
     - Một sự nhầm lẫn. Họ đã thêm vào một hoặc hai con số không.
     - Không phải nhầm. Tôi đã kiểm tra lại. Đó là những gì họ muốn.
     - Nhưng đấy là điều điên khùng. - Barney nói - Điều không thể thực hiện được. Cho dù anh có những quá trình thực hiện nhanh nhất và những thuật toán nhanh như chớp thì việc tìm một dữ liệu cũng sẽ mất nhiều ngày. Có thể là nhiều tuần.
     - Vâng, tôi hiểu. May là họ không yêu cầu tôi làm thuật toán. Tôi chỉ được yêu cầu thực hiện phần lưu trữ và phần ghi nhớ cho toàn nghệ thống. Nhưng vấn đề là… cái database với ba tỷ dữ liệu này có thể dùng vào việc gì?
     Barney cau mày:
     - Anh có thể nói rõ hơn về nơi anh làm việc?
     - Đấy là một cơ sở di truyền sinh vật.
     - Kỹ thuật di truyền… Vậy thì có một điều khá rõ…
     - Điều gì?
     - Một phân tử DNA.
     Nedry lắc đầu:
     - Ôi chuyện ấy thì không có đâu. Không ai có thể phân tích nổi một phân tử DNA. - Anh ta biết các nhà sinh vật học đang có dự án phân tích toàn thể một chuỗi DNA của người. Nhưng công việc này cần đến sự hợp tác thực hiện ít nhất cũng mười năm của toàn thể các phòng thí nghiệm khắp thế giới. Đấy là cả một khối lượng công việc khổng lồ cũng như dự án Manhattan thực hiện bom nguyên tử. Nedry nói thêm - Đây là một cơ sở tư nhân.
     - Với ba tỷ dữ liệu, tôi nghĩ không thể là điều gì khác ngoài điều đó. Có thể họ quá lạc quan trong công việc thiết kế hệ thống ấy.
     - Rất lạc quan.
     - Hoặc có thể chỉ phân tích từng đoạn xoắn của DNA. Nhưng nếu thế thì họ đã có phương thức thuật toán RAM rất hiệu quả.
     - Điều này khiến sự việc thêm ý nghĩa. Các kỹ thuật tìm dữ kiện ở database này cần rất nhiều thứ vào bộ nhớ.
     - Anh biết ai thực hiện thuật toán cho họ? - Barney hỏi.
     - Không. Công ty này bảo mật tuyệt đối.
     - Vậy thì, dự đoán của tôi là họ đang làm chuyện gì đó với DNA. Hệ thống của họ là gì?
     - Multi XMP.
     - Multi XMP. Anh muốn nói là nhiều hơn một máy Cray XMP? Chà. - Barney lại nhíu mày, suy nghĩ thêm - Anh có thể nói thêm cho tôi biết điều gì khác nữa không?
     - Rất tiếc, tôi không thể nói được.
     Và Nedry đã trở về và thiết kế các hệ thống điều khiển. Toán kỹ thuật thực hiện chương trình cùng với anh ta đã mất hơn một năm, và đặc biệt công việc thêm khó khăn vì công ty không bao giờ bảo cho anh ta biết hệ thống này dùng vào việc gì. Các chỉ dẫn chỉ đơn giản là "Thiết kế một modun để lưu giữ dữ kiện" hoặc "Thiết kế một modun để trình bày hình ảnh". Họ cho anh ta các thông số thiết kế nhưng không cho một chi tiết nào về việc sử dụng. Anh ta đã phải làm việc trong bóng tối. Và bây giờ hệ thống đã thiết kế xong và đang vận hành, anh ta chẳng ngạc nhiên khi biết hệ thống có nhiều điều chưa hoàn chỉnh. Và họ đã ra lệnh cho anh ta đến đây, bực mình, khó chịu với những khiếm khuyết "của anh ta". Thật chán ngấy, Nedry nghĩ.
     Nedry quay qua nhóm người khi nghe Grant hỏi:
     - Và một khi computer đã phân tích một DNA, làm thế nào anh biết loài thú nào máy cho mã?
     Wu:
     - Chúng tôi có hai cách, cách thứ nhất là làm một đồ bản về gốc và sự phát triển của một chủng loại. DNA tiến hóa theo thời gian giống như mọi thứ khác trong một cơ chế - tay, chân, hay bất cứ thứ nào thuộc cơ thể. Vì thế chúng tôi có thể lấy một xoắn chưa biết rõ của DNA, nhở computer định xem nó khớp vào chỗ nào trong quá trình tiến hóa liên tục. Cách này rất mất thì giờ nhưng có thể thực hiện được.
     - Cách thứ hai.
     Wu nhún vai:
     - Chỉ việc nuôi cho nó lớn lên xem thử nó là loài thú nào. Đấy là cách chúng tôi thường làm. Tôi sẽ chỉ cho quý vị cách ấy thực hiện thế nào.
     Tim cảm thấy sốt ruột khi chuyến đi xem tiếp tục. Cậu bé thích các thứ máy móc kỹ thuật, nhưng dù vậy, cậu đang mất dần thích thú. Họ đến một cánh cửa, có tấm biển ghi FERTILIZATIONS. Tiến sĩ Wu mở cửa với thẻ bảo mật đặc biệt và mọi người bước vào.
     Tim thấy lại vẫn một căn phòng khác với những kỹ thuật viên đang chăm chú làm việc với các kính hiển vi. Phía sau là một gian hoàn toàn được chiếu sáng bằng màu xanh của ánh sáng cực tím. Tiến sĩ Wu giải thích là công việc với DNA đòi hỏi sự phân chia tế bào tại các thời điểm chính xác, và vì thế họ giữ một số vi khuẩn độc hại nhất. Ông ta chỉ vào một loạt các ống tiêm đặt dưới ánh sáng cực tím:
     - Helotoxin, colchicinold, beta-alkaloid. Giết bất cứ con thú nào trong vòng một hoặc hai giây.
     Tim nghe thêm nữa về các chất độc nhưng tiến sĩ Wu lại nói về việc dùng trứng chưa có trống của cá sấu, về việc thay thế DNA, và rồi giáo sư Grant hỏi mấy câu hỏi phức tạp. Một bên căn phòng là những bình chứa lớn dán nhãn LIQUID N2. Và có những ngăn đông lạnh lớn xếp thành kệ chứa những phôi, mỗi phôi được bọc trong một loại giấy bạc nhỏ.
     Lex thấy buồn chán. Nedry thì ngáp, và thậm chí tiến sĩ Ellie cũng không còn mấy chú ý. Tim cảm thấy mệt vì phải xem mãi những phòng thí nghiệm rắc rối này. Cậu muốn thấy những con khủng long.
     Căn phòng kế có biển đề Phòng ấp. Tiến sĩ Wu nói:
     - Ở đây hơi nóng và ẩm. Chúng tôi giử cho phòng ở nhiệt độ ba mươi bảy độ rưỡi và độ ẩm tương đối một trăm phần trăm. Chúng tôi cũng cho tập trung nhiều ôxy hơn. Đến ba mươi ba phần trăm.
     Grant nói:
     - Đấy là bầu khí quyển của kỷ Jurassic.
     - Vâng, ít nhất chúng tôi cũng cho là như thế. Nếu vị nào cảm thấy khó chịu, xin cho tôi hay.
     Tiến sĩ Wu chuồi thẻ bảo mật vào khe, cửa phòng ngoài kêu xì xì mở ra. Ông mời mọi người vào:
     - Chỉ xin nhắc một điều: đừng đụng đến bất cứ thứ gì trong phòng. Một số những quả trứng rất dễ thấm chất nhờn ở da người. Và coi chừng phía trên đầu. Các bộ cảm ứng nhiệt luôn chuyển động.
     Ông mở cửa phòng trong và cả nhóm bước vào phòng ươm nuôi. Tim đứng trước một căn phòng rộng rãi tràn ngập ánh sáng đỏ của đèn hồng ngoại. Trứng nằm trên các bàn dài, màu xám vỏ trứng mờ mở trong đám hơi sương bao phủ các bàn, những quả trứng đang lắc lư, động đậy nhẹ nhàng.
     - Trứng loài bò sát chứa một lượng lòng đỏ lớn nhưng không có chút nước nào. Phôi phải rút nước từ môi trường xung quanh, vì thế mà phải có hơi sương.
     Tiến sĩ Wu cho biết mỗi bàn có 150 trứng, một lứa mới rút DNA. Mỗi lứa ấp được phân loại nhận dạng bằng những con số.
     Đám sương mờ lên cao đến thắt lưng, mấy công nhân trong phòng ươm di chuyển trứng này đến trứng khác, thò tay vào đám hơi sương, xoay từng trứng mỗi giờ, và kiểm tra nhiệt độ bằng các bộ cảm ứng nhiệt. Căn phòng được điều khiển hoạt động từ xa nhờ một camera video đặt cao quá đầu, và những bộ cảm ứng di động. Một bộ cảm ứng nhiệt bên trên di chuyển từ trứng này đến trứng kế, chạm vào mỗi trứng bằng một dây băng, kêu túp túp rồi chuyển qua trứng khác.
     - Trong phòng ấp này, chúng tôi đã cho ấp nở hơn mười hai lứa do phòng EXTRACTIONS rút ra được, cho hai trăm ba mươi tám con thú sống. Tỷ lệ sống được vào khoảng 0,4%, và dĩ nhiên chúng tôi muốn cải thiện tỷ lệ này. Nhưng bằng vào sự phân tích của computer, chúng tôi đang làm một công việc với năm trăm biến cố; một trăm hai mươi về môi trường, hai trăm về phần bên trong của trứng, số còn lại là của chất di truyền. Vỏ trứng bằng plastic. Các phôi được cho vào trứng và đem đến ấp ở đây.
     - Phải nuôi bao lâu mới lớn?
     - Khủng long trưởng thành rất nhanh, đạt đến cỡ lớn hoàn toàn từ hai đến bốn năm. Vì thế hiện giờ chúng tôi đã có được một số chủng loại đã trưởng thành trong công viên.
     - Các con số có ý nghĩa gì?
     - Những mã số đó để nhận dạng những lứa DNA rút được: Bốn chữ đầu cho biết tên con thú đang được ươm nuôi. Như ở bàn kia, TRIC tức là triceraptors. Và STEG nghĩa là stegosaurus, vân vân.
     - Còn bàn này? - Grant hỏi - Mã số ghi xxxx - 0001/1. Phía dưới có ghi mấy từ "Presumed Coelu".
     - Đấy là một lứa DNA mới. Chúng tôi không biết rõ nó sẽ cho ra loại gì. Một lứa rút đầu tiên được đem ấp, chúng tôi không biết nó sẽ nở ra con thú gì. Ông có thể thấy nó được đánh dấu là "Presumed Coelu" nghĩa là nó có thể là loại coelurosaurus. Một loài khủng long ăn cá nếu tôi không nhớ nhầm. Đối với tôi, việc nhớ được tên mấy con vật thật là khó. Cho đến nay hình như có đến ba trăm thế hệ con cháu khủng long được biết đến.
     - Ba trăm bốn mươi bảy. - Tim nói góp.
     Grant mỉm cười, rồi nói:
     - Có con nào đang nở không?
     - Vào lúc này thì chưa. Thời gian ấp trứng thay đổi theo mỗi loại thú nhưng đại để thường phải mất khoảng hai tháng. Chúng tôi cố bố trí thời gian ấp trứng sao cho bộ phận nuôi dưỡng không bị dồn việc. Quý vị cứ thử tưởng tượng xem chúng tôi phải làm sao nếu cả một trăm năm mươi con cùng nở trong một vài ngày. Cho dù phần lớn không sống được. Quý vị hỏi gì nữa không? Không? Vậy chúng ta đến phòng nuôi, nơi có những con mới sinh.
     Đấy là một phòng tròn, toàn màu trắng. Có một số đồ dùng trông giống như cái nôi vẫn thường thấy ở các phòng nuôi trẻ sơ sinh, nhưng còn trống. Các đồ dùng lặt vặt và đồ chơi nằm rải rác trên nền nhà. Một người đàn bà trẻ mặc áo choàng trắng đang ngồi giữa nhà, xây lưng về phía cửa. Tiến sĩ Wu hỏi:
     - Hôm nay chị nhận gì vào đây, Kathy?
     Người đàn bà trả lời:
     - Chẳng có gì nhiều. Chỉ có một con raptor sơ sinh.
     - Cho chúng tôi xem qua.
     Chị ta đứng dậy bước tránh qua một bên. Tim nghe Nedry nói:
     - Trông giống như một con thằn lằn.
     Con thú trên nền nhà dài chừng năm tấc, nó có đầu thằn lằn, sống mõm dài, nhưng đứng trên hai chân sau rất mạnh mẽ, giữ thăng bằng bằng chiếc đuôi dày, thẳng. Hai chân trước ve vẩy trong không khí. Đầu nghiêng nghiêng ngúc ngắc nhìn đám người vào phòng. Alan Grant nói nhỏ:
     - Một con velociraptor.
     Wu gật đầu:
     - Con velociraptor mongoliensis. Một con thú ăn thịt sống. Con này sáu tuần tuổi.
     Grant cúi người nhìn gần hơn:
     - Tôi vừa mới đào được một con raptor.
     Lập tức con thằn lằn không lồ nhảy qua đầu Grant lên tay Tim. Cậu bé thốt lên:
     - Ui cha!
     Wu nói:
     - Chúng có thể nhảy. Những con sơ sinh ấy. Và dĩ nhiên, các con trưởng thành cũng nhảy được.
     Tim ôm con thú vào người. Con vật nhỏ chẳng nặng mấy, khoảng chửng một ký. Da ấm và hoàn toàn khô, chiếc đầu nhỏ cách đầu Tim có mấy phân, đôi mắt đen, tròn như hai viên bi mở lớn nhìn Tim. Lưỡi như một cái chĩa thò ra thụt vào. Tim hỏi:
     - Nó có cắn cháu không?
     - Không. - Wu đáp - Nó rất thân thiện.
     Alan Grant hỏi, giọng nghi ngại"
     - Ông có chắc vậy không?
     - Ồ, hoàn toàn chắc. Ít nhất cũng đến lúc nó lớn hơn chút nữa. Nhưng chắc hay không, con vật non này chẳng có chiếc răng nào, cho dù là răng trứng.
     - Răng trứng? - Nedry hỏi.
     - Phần lớn khủng long khi nở ra là đã có rắng trứng - những sừng nhỏ ở đầu mõm, giống như sừng tê giác, giúp chúng khẽ bể vỏ trứng. Nhưng raptor không có. Chúng thọc bể vỏ trứng nhờ chiếc mõm nhọn và rồi nhân viên phòng ấp phải giúp chúng ra khỏi trứng.
     - Quý vị phải giúp chúng nở. Vậy ngoài thiên nhiên chúng làm thế nào?
     - Ngoài thiên nhiên?
     Grant nhắc lại:
     - Vâng. Khi chúng ấp ngoài thiên nhiên. Khi chúng tự làm tổ.
     - Ồ, chúng không thể làm thế được. Không một con thú nào của chúng tôi có khả năng sinh sản cả. Và đấy là lý do tại sao chúng tôi phải có phòng ấp này, cách duy nhất để thay thế đàn thú ở công viên này.
     - Tại sao các con thú lại không có khả năng sinh sản?
     - Vâng, quý vị có thể tưởng tượng được không, chúng không thể sinh sản. Chúng tôi luôn luôn chuẩn bị ít nhất hai quá trình kiếm soát. Trong trường hợp này, có hai nguyên nhân độc lập với nhau làm cho thú không sinh sản được. Thứ nhất, chúng đã được làm tiệt mầm sinh sản. Chúng tôi phóng xạ chúng với tia X.
     - Còn nguyên nhân thứ hai?
     - Tất cả các con thú trong công viên này đều là con cái. - Wu trả lởi với nụ cười mỉm bằng lòng.
     Malcolm:
     - Tôi muốn nên có sự làm rõ ràng hơn về việc này. Vì đối với tôi thì dường như việc phóng xạ không có gì bảo đảm chắc chắn. Liều lượng phóng xạ có thể sai lạc, hoặc tia phóng xạ không đi đến đúng phần cơ thể cần thiết của con thú…
     - Hoàn toàn đúng. Nhưng chúng tôi hoàn toàn tin tưởng là chúng tôi đã phá hủy được các mô sinh dục.
     - Còn về chuyện tất cả các con thú đều là cái, việc này có được kiểm tra không? Có ai đi ra công viên… và "vén váy" mấy con khủng long và nhìn thử xem không? Tôi có ý nói là làm thế nào mà người ta biết được giới tính của một con khủng long?
     - Cơ quan sinh dục của thú thay đổi tùy chủng loại. Một vài loại thì rất dễ biết, ở một vài loại khác hơi khó hơn. Nhưng để trả lời câu hỏi này, lý do chúng tôi biết tất cả các con thú đều cái thật sự là thế này: chúng tôi kiểm soát chromosome của chúng, và chúng tôi kiểm soát môi trường phát triển bên trong trứng. Từ quan điểm kỹ thuật sinh học, con cái thì dễ được sinh sản hơn. Có thể quý vị cũng biết là tất cả các phôi loài có xương sống vốn luôn là cái. Tất cả chúng ta bắt đầu cuộc đời bằng giống cái. Sau đó một số các hiệu quả nào đó được thêm vào - ví dụ một hormone nào đó đúng lúc đang phát triển - biến đổi cái phôi đang lớn thành ra đực. Vậy nếu loại bỏ được các hiệu quả đó, phôi sẽ tự nhiên trở thành cái. Vì thế, các con thú của chúng tôi đều là cái. Chúng tôi có khuynh hướng khi nhắc tới một con thú nào đớ, chúng tôi gọi nó là một "cậu", tỷ như con tyrannosaurus rex nhưng thật sự, nó là một con cái. Và, xin cứ tin chúng tôi, chúng không thể sinh sản được.
     Con veilciraptor nhỏ đưa mõm khịt khịt vào Tim rồi cọ đầu vào cổ cậu bé. Tim thấy nhột. Wu nói:
     - Nó muốn cháu cho ăn đấy.
     - Nó ăn gì?
     - Chuột. Nhưng nó vừa mới ăn xong, vì thế chưa cần phải cho ăn vào lúc này đâu.
     Con raptor nhỏ ngửng đầu, nhìn Tim, và vẫy hai chi trước trong không khí. Tim thấy những vuốt nhỏ ở ba ngón của mỗi bàn chân. Rồi con raptor lại vùi đầu vào cổ cậu bé.
     Grant đến gần một bên, nhìn thật chăm chú vào con vật để tìm hiểu. Ông vuốt nhẹ một chi trước của nó và nói với Tim:
     - Đưa bác ẵm nó một chút xem.
     Tim trao con vật cho Grant. Grant cầm lấy con thú trở qua trở lại xem xét từ sống lưng đến bụng trong khi con vật kêu chít chít. Ông đưa lên cao để nhìn nghiêng và con vật kêu lên sợ hãi. Regis nói:
     - Nó không thích thế. Nó không thích bị đưa cao xa khỏi người ôm nó.
     Con raptor đang kêu to lên nhưng Grant không để ý đến. Ông đang bóp đuôi nó dò tìm xương đuôi. Regis nói:
     - Tiến sĩ Grant. Xin ông…
     - Tôi không làm đau nó đâu.
     - Tiến sĩ Grant. Những sinh vật này không phải ở thế giới chúng ta. Chúng có mặt từ lúc không có con người quanh chúng để nắn bóp tìm tòi gì nơi cơ thể chúng.
     - Tôi không nắn bóp gì và…
     Ed Regris:
     - Xin ông cho nó xuống.
     - Nhưng…
     Regis bắt đầu thấy khó chịu. Anh ta dứt khoát:
     - Xin để nó xuống ngay cho.
     Grant trao con vật lại cho Tim. Nó ngừng kêu. Tim có thể cảm thấy trái tim nhỏ của nó đập nhanh qua ngực cậu.
     - Xin lỗi, tiến sĩ Grant - Regis nói - những con thú sơ sinh này rất yếu ớt. Chúng tôi đã mất đi nhiều con chỉ vì những cử chỉ như thế. Chúng bị suy tim. Nhiều con chết trong vòng năm phút.
     Tim vuốt ve con vật nhỏ
     - Yên rồi, không có gì đâu, mày. - Tim con vật vẫn còn đập nhanh.
     Regis:
     - Ở đây chúng tôi cảm thấy một điều thật quan trọng là mấy con thú phải được đối xử với cử chỉ dịu dàng của người. Tôi hứa là ông sẽ còn nhiều cơ hội để xem xét.
     Nhưng Grant không thể rời xa con vật được. Ông lại đến gần con thú trên tay Tim, nhìn soi mói. Con thú nhỏ mở mồm phun phì phì vào Grant, trong một tư thế giận dữ bất ngờ. Tim hỏi:
     - Cháu có thể ở lại đây chơi với nó không?
     Regis nhìn đồng hồ tay:
     - Lúc này thì không được. Bây giờ là ba giờ, thời gian tốt nhất để đi thăm công viên, và quý vị sẽ thấy tất cả các con khủng long trong môi trường chúng tôi tạo ra.
     Tim thả con raptor xuống nhà. Con thú nhảy quanh phòng, chụp lấy một mảnh vải, cho vào miệng, giựt giựt đầu mảnh vải với những chiếc móng nhỏ.
0
ĐIỀU KHIỂN
     Khi trở lại phòng điều khiển, Malcolm nói:
     - Tôi có một câu hỏi nữa, tiến sĩ Wu à. Cho đến lúc này, tiến sĩ đã có được bao nhiêu loại khủng long rồi?
     - Tôi không biết chắc chắn. Nhưng vào lúc này, tôi tin là đã có được mười lăm. Mười lăm chủng loại. Anh biết không, anh Regis?
     Regis gật đầu:
     - Đúng. Mười lăm.
     Malcolm hỏi, vẻ ngạc nhiên:
     - Ông không biết chắc chắn à?
     Wu mỉm cười:
     - Chúng tôi không đếm nữa, sau khi có được một tá đầu tiên. Và quý vị phải thấy rằng đôi khi chúng tôi tưởng là có được một con thú đúng như chúng tôi muốn có - Đúng như DNA mà chúng tôi rút được - Và con vật lớn lên, rồi một rủi ro gì đấy xảy ra. Và chúng tôi nhận thấy có điềụ gì đó sai sót. Một gen định chủng không hoạt động. Một hormone không phát sinh. Hoặc một vấn đề gì đó trong sự phát triển liên tục. Và thế là chúng tôi phải trở lại từ đầu với con thú đó. Đại loại như vậy. - ông ta mỉm cười - Có lúc chúng tôi tưởng đã có hơn hai mươi loại, nhưng bây giờ chỉ có mười lăm.
     Malcolm:
     - Và có phải là một con trong số mười lăm chủng loại đó là con - ông ta quay sang Grant - con gì nhỉ?
     Grant:
     - Con procompsognathus.
     - Ông đã tạo ra một số procompsognathus? - Malcolm hỏi.
     - Ồ, vâng - Wu trả lời ngay - Procompsognathus, hay con compys, là những con thú rất khác biệt. Và chúng tôi tạo một số rất lớn loài này.
     - Tại sao thế?
     - Vâng, chúng tôi muốn có một môi trường càng đúng với kỷ Jurassic chừng nào càng tốt chứng ấy. Và loài compys đúng là loại thú ăn xác súc vật chết ở kỷ Jurassic. Vì thế chúng tôi muốn có loài này để dọn sạch môi trường.
     - Ông có ý nói để dọn dẹp các con thú chết?
     - Vâng, nếu có thú chết. Nhưng với chỉ hai trăm ba mươi tám con thú lạ trong toàn thể số thú ở đây, chúng tôi không có nhiều xác thú chết. Đấy không phải là mục đích chính. Thật sự, chúng tôi cần lũ compys này để giải quyết toàn bộ các thứ chất thải khác.
     - Thứ gì?
     - Vâng, chúng tôi có một số thú ăn cỏ rất lớn. Đặc biệt chúng tôi đã không nuôi tạo những con sauropod lớn nhất, nhưng dù vậy vẫn có những con to quá ba mươi tấn sống đó đây trên đảo, và nhiều con khác từ năm tới mười tấn. Việc này đặt ra cho chúng tôi hai vấn đề lớn. Một là thức ăn cho chúng và dĩ nhiên là chúng tôi phải nhập thức ăn lên đảo hai tuần một lần. Không còn cách nào khác vì hòn đảo nhỏ thế này không thể bảo đảm thức ăn cho những con thú lớn như thế quanh năm. Và vấn đề thứ hai là phân. Tôi không biết quý vị đã từng thấy con voi "đi cầu" chưa, nhưng đúng là cả một khối phân. Một cục phân gần bằng một quả bóng đá. Hãy tưởng tượng cục phân của một con brontosaur, mười lần to hơn. Và bây giờ xin hãy tưởng tượng đống phân của một đàn súc vật như thế, mà chúng tôi có ở đây. Và các con thú lớn không phải là tiêu hóa hết thức ăn, vì thế chúng thải ra rất nhiều. Đã sáu mươi triệu năm trôi qua kể tử khi loài khủng long tiệt giống, rõ ràng là loại vi khuẩn chuyên việc tiêu hủy phân của chúng cũng tiệt giống luôn. Như thế, phân của lũ sauropod không phân hủy ngay được.
     Malcolm:
     - Đúng là một vấn đề.
     Wu nói tiếp, không cười:
     - Một vấn đề quá đi chứ. Chúng tôi đã mất bao nhiêu thời gian để giải quyết vấn đề này. Có thể quý vị đã biết là ở châu Phi có một loài bọ hung đặc biệt, chuyên ăn phân voi. Nhiều loại thú lớn khác cũng có những sinh vật nhỏ hơn "cộng tác'' làm vệ sinh các thứ chúng thải ra. Ở đây loài compys hóa ra chuyên ăn phân của các con thú ăn cỏ rồi tiêu hóa thêm lần nữa. Và phân của compys sẽ tiêu hủy nhờ vi khuẩn. Vì thế, có nhiều compys, vấn đề đã được giải quyết.
     - Ông đã tạo ra được bao nhiêu compys rồi?
     - Tôi không nhớ được chính xác, nhưng chúng tôi nhắm đến con số năm mươi. Và chúng tôi đã đạt được, hay gần đạt được. Trong ba lứa ấp. Sáu tháng chúng tôi cho ấp một lứa. Cho đến khi có đủ.
     Malcolm:
     - Năm mươi con. Quá nhiều để có thể theo dõi được.
     - Phòng điều khiển được thiết lập để làm việc ấy. Họ sẽ chỉ cho ông xem phòng làm việc.
     - Tôi hiểu. Nhưng nếu một trong những con compys này thoát khỏi đảo…
     - Chúng không thể thoát.
     - Tôi biết thế, nhưng giả sử có một con thoát được…
     Wu nhướn mày:
     - Ông muốn nói con thú được tìm thấy trên bờ biển? Con vật đã cắn cô bé Mỹ?
     - Vâng, ví dụ thế.
     - Tôi chưa biết giải thích vụ đó như thế nào, nó là con gì. Nhưng tôi biết nó không thể là một trong những con thú của chúng tôi, vì hai lý do. Thứ nhất là ở quá trình kiểm soát: thú của chúng tôi được computer đếm vài phút một lần. Nếu thiếu đi một con, chúng tôi biết ngay.
     - Còn lý do thứ hai?
     - Đất liền cách đảo bằng hàng trăm dặm. Phải mất gần một ngày để đi tàu đến đấy. Và ra khỏi đảo, những con thú của chúng tôi sẽ chết trong vòng mười hai tiếng.
     - Làm sao ông biết được?
     - Chúng tôi biết chính xác những gì xẩy ra. - Wu trả lời và bắt đầu tỏ vẻ hơi khó chịu - Thử nghĩ xem, chúng tôi đâu có điên. Chúng tôi hiểu đây là loài thú tiền sử, là một phần của môi trường sinh thái đã biến mất. Chúng tôi không muốn chúng sống sót ngoài hoang dã. Vì thế chúng tôi đã làm cho chúng phải phụ thuộc vào chất lysine. Tôi cho vào một gen tạo nên một enzyme sai trong trao đổi protein. Do kết quả đó, con vật không thể tự tạo ra lysine có acid amino dược. Chúng phải dùng đến thức ăn có chất đó từ bên ngoài, do chúng tôi cung cấp, dưới dạng viên. Chúng sẽ lên cơn co giật trong vòng mười hai tiếng và chết luôn nếu thiếu các viên đó trừ khi chúng kiếm được một nguồn thức ăn giàu chất lysine exogen. Mấy con thú này được tạo nên bằng kỹ thuật di truyền khiến cho chúng không có khả năng sống sót ở thế giới tự nhiên thật sự. Chúng chỉ có thể sống ở đây, trong công viên này. Chúng thật sự không có chút tự do. Về bản chất chúng là những tù nhân của chúng tôi.
     Ed Regis nói với mọi người:
     - Đây là phòng điều khiển. Đến lúc này, quý vị đã biết là thú được tạo ra như thế nào, hẳn quý vị muốn xem phòng điều khiển công viên như thế nào, trước khi chúng ta đi ra ngoài kia…
     Anh ta đứng lại. Qua cánh cửa kính dày, căn phòng tối mờ. Các màn hình điều khiển đều tắt, trừ cái đang hiện ra những con số và hình một chiếc tàu lớn. Regis nói, giọng lấy làm lạ:
     - Chuyện gì thế này nhi? Ồ, quỷ thật, họ đang cập bến.
     - Cập bến?
     - Cứ hai tuần một lần, tàu cung cấp từ đất liền đến đảo. Một trong những điều mà đảo này không có là một cảng tốt, hay thậm chí một bến tốt. Thành thử hơi khó khăn một tí khi cho tàu vào bờ, khi biển động. Có thể vài phút nữa. - Anh ta gõ cửa nhưng mấy người ngồi trong phòng không chú ý đến - Tôi e là chúng ta phải chờ vậy.
     Ellie quay sang Wu:
     - Ông có nói là đôi khi ông tạo được một con thú trông có vẻ tốt nhưng khi lớn lên, nó lại tỏ ra không hoàn thiện.
     - Vâng. Chúng tôi cho là không có cách nào ngăn ngừa được. Chúng tôi có thể nhân bản DNA nhưng để phát triển việc này phải mất nhiều thời gian, và chúng tôi cũng không biết được liệu mọi thứ có hoạt động tốt không trừ phi chúng tôi thấy con vật thật sự phát triển đúng hướng.
     Grant:
     - Làm sao ông biết được nó phát triển đúng hướng?
     Wu mỉm cười:
     - Chúng tôi đã suy nghĩ nhiều về chuyện ấy. Rồi cuối cùng tôi chỉ biết hy vọng là các nhà cổ sinh vật như ông sẽ so sánh các con thú của chúng tôi với các hóa thạch tìm được để xác định xem chúng có phát triển đúng như tổ tiên của chúng thời tiền sử không.
     Ellie:
     - Nhưng con thú chúng tôi mới thấy đó, con velociraptor - ông nói đấy là một con monggoliensis?
     - Vâng, chúng tôi lấy được DNA của nó trong hổ phách mua từ Trung Quốc.
     Grant:
     - Thú vị thật. Tôi vừa đào được một con antirrhopus. Có con raptor trưởng thành nào ở đây không?
     - Có. - Regis trả lời ngay không do dự - Tám con cái. Những con cái thật sự là những con săn mồi. Chúng săn mồi theo đàn.
     - Chúng tôi sẽ thấy chúng trong chuyến đi xem?
     - Không. - Wu trả lời đột nhiên có vẻ không thoải mái. Và có lúc yên lặng bối rối. Wu nhìn Regis.
     Regis vui vẻ nói:
     - Không thấy được ngoài công viên . Các con velociraptor chưa được chuẩn bị đủ điều kiện để cho vào công viên. Chúng tôi nuôi chúng trong chuồng riêng.
     Grant hỏi:
     - Tôi xem chúng trong chuồng được không?
     - Ồ vâng, dĩ nhiên. Trong khi chờ đi - anh ta nhìn đồng hồ - có lẽ quý vị muốn tới chuồng xem qua chúng.
     Grant:
     - Tôi chắc chắn là muốn rồi.
     Ellie:
     - Tôi cũng rất muốn.
     Tim cũng háo hức:
     - Cháu cũng muốn đến xem.
     Regis:
     - Chỉ việc đi quanh ra đằng sau ngôi nhà này, qua khỏi cái chái chứa dụng cụ quý vị sẽ thấy chuồng. Nhưng xin đừng đến quá gần hàng rào. - anh ta hỏi cô bé - Cháu muốn đi xem không?
     - Không, - Lex nhìn Regis - Chú muốn chơi bóng không? Ném vài quả với cháu?
     - Ờ, rất muốn. Chú cháu ta xuống dưới kia chơi một lát trong khi chờ phòng điều khiển mở cửa.
     Grant cùng với Ellie và Malcolm đi quanh ra sau tòa nhà chính. Cậu bé Tim lẽo đẽo theo sau. Grant vốn thích trẻ - không thể nào không thích bất cứ đứa trẻ nào nhiệt tình với khủng long - Grant vẫn thường ngắm lũ trẻ trong các nhà bảo tàng khi chúng há hốc mồm chăm chú nhìn vào những bộ xương khổng lồ cao quá đầu chúng.
     Ông tự hỏi say mê của chúng biểu hiện điều gì. Cuối cùng ông khẳng định rằng trẻ con thích khủng long vì những sinh vật khổng lồ này là hiện thân của một sức mạnh không thể kiểm soát nổi của một thứ quyền lực khó xác định được. Thứ quyền lực này làm say mê và cũng làm sợ hãi, như cha mẹ chúng. Và trẻ con yêu thích khủng long, cũng như yêu thích cha mẹ chúng.
     Grant cũng nghĩ rằng đấy là lý do tại sao ngay cả trẻ còn nhỏ cũng học thuộc tên các khủng long. Ông luôn luôn thấy ngạc nhiên khi một đứa bé ba tuổi la lớn lên "Stegosourus!" Nói lên cái tên phức tạp này là một cách biểu lộ sức mạnh của mình đối với khủng long, một cách thức điều khiển.
     Grant hỏi Tim:
     - Cháu biết gì về velociraptor?
     - Đấy là một loài ăn thịt sống, săn bắt mồi theo đàn, giống như con deinonychus.
     - Đúng lắm. Điều này suy đoán được là do vẻ bên ngoài của con thú, vốn có dáng nhanh nhẹn và mạnh mẽ, nhưng nhỏ con so với khủng long. Con raptor chỉ nặng từ bảy mươi kí đến một trăm năm mươi kí. Chúng ta đoán rằng chúng đi săn mồi thành đàn là vì chúng phải mang những con mồi lớn. Và đã có những hóa thạch trong đó tìm thấy chúng biết săn tập thể. Và, raptor là loài có bộ não lớn, dĩ nhiên chúng thông minh hơn phần lớn các khủng long khác.
     Malcolm:
     - Thông minh như thế nào?
     - Tùy thuộc vào người anh hỏi. Do các nhà cổ sinh vật học vừa cùng đi đến một ý tưởng khủng long là loài máu nóng, rất nhiều người chúng tôi cho rằng một số khủng long có lẽ thông minh. Nhưng không ai biết chắc.
     Họ bỏ lại khu nhà khách sau lưng, nghe tiếng rì rì của những máy phát điện, phảng phất mùi dầu máy. Họ đi ngang qua một khu trồng cọ dừa và thấy một cái lán rộng, thấp, xây bê tông, lợp tôn. Tiếng rì rì dường như xuất phát từ đấy. Họ nhìn vào lán. Ellie:
     - Chắc là một máy phát điện.
     Grant nhìn vào trong:
     - Một máy lớn.
     Nhà máy năng lượng có hai tầng, xây dưới mặt đất. Những tua-bin lớn với ống và dây chạy xuống, những bóng đèn tròn cháy sáng. Malcolm nhận xét:
     - Không cần xài một nhà máy như thế này cho một khu nghỉ mát. Họ đang sản xuất điện cho cả một thành phố.
     - Có lẽ cho các computer.
     - Có lẽ thế!
     Grant nghe tiếng kêu be be. Ông đến một chuồng nhốt dê. Đếm qua, ông ước chửng có năm mươi hoặc sáu mươi con. Ellie hỏi:
     - Họ nuôi dê làm gì nhỉ?
     - Thử đoán xem.
     Malcolm:
     - Có lẽ họ dùng làm thức ăn cho khủng long.
     Nhóm người tiếp tục đi tới, theo một con đường mòn hơi bẩn ngang qua một khu trồng tre nhỏ dày đặc. Cuối khu trồng tre, họ đến bên một hàng rào gồm hai lớp lưới sắt cao ba mét rưỡi, với dây thép gai bên trên. Có tiếng ù ù của điện chạy theo hàng rào ngoài.
     Bên trong hàng rào, Grant thấy nhiều nhóm cây đuôi chồn trồng dày đặc, cao trên một mét rưỡi. Ông nghe tiếng khịt khịt, một âm thanh phát ra từ mũi rồi tiếng bước chân bồm bộp lên mặt đất đến gần. Im lặng một lúc lâu. Cuối cùng, Tim lên tiếng, thì thầm:
     - Cháu chẳng thấy gì cả.
     - Suỵt.
     Grant chờ. Nhiều giây trôi qua. Ruồi bay vù vù trong không khí. Ông vẫn không thấy gì.
     Ellie khẽ đập vào vai ông và chỉ.
     Giữa đám cây đuôi chồn, Grant thấy chiếc đầu của một con thú. Chiếc đầu bất động, một phần ẩn sau đám lá đuôi chồn, hai con mắt đen to lạnh lùng quan sát đám người.
     Chiếc đầu dài chừng sáu tấc. Từ đầu mõm, một hàm răng chạy dài ngược về phía sau đến một mấu thịt lồi dùng như cái tai. Chiếc đầu nhắc ông hình ảnh một con thằn lằn không lổ, hay một con cá sấu. Đôi mắt không nhấp nháy và con thú không cử động. Da trông như da thuộc với hoa văn hình sỏi nhỏ, và cơ bản có cùng màu với con non họ đã thấy ở phòng ươm: vàng nâu với những vết hình sỏi đỏ đậm, như vằn của một con hổ.
     Khi Grant quan sát, một chi trước của con vật đưa ra chầm chậm, rẽ đám lá đuôi chồn trước mặt nó. Chi trước, "tay" của con vật, có những bắp thịt mạnh mẽ. Bàn tay có ba ngón, đầu mỗi ngón là vuốt nhọn hoắt cong lại. Bàn tay nhẹ nhàng, chầm chậm đẩy đám lá đuôi chồn qua một bên.
     Grant cảm thấy ớn lạnh và nghĩ: Nó đang rình bắt chúng ta.
     Chẳng lấy gì làm lạ khi con người ghét loài bò sát. Vẻ bất động, lạnh lùng, bộ dạng, tất cả đều xấu. Đối chiếu với đám cá sấu hay những con bò sát khổng lồ khác, con vật này nhắc ta một sự sống khác, một thế giới khác, đã biến mất trên quả đất.
     Cú tấn công thật bất ngờ, từ trái sang phải. Mấy con raptor vụt qua đoạn đường dài mười mét đến bên hàng rào với tốc độ kinh người. Grant có một ấn tượng mờ mờ về các thân hình đầy sức lực cao gần hai mét, những chiếc đuôi mạnh mẽ giữ thăng bằng, các chi với móng vuốt nhọn cong, những chiếc hàm mở rộng răng lởm chởm.
     Mấy con thú gầm gừ khi xông tới, rồi nhảy cả thân hình lên không trung, đưa cao hai chi trước với mấy chiếc vuốt nhọn bén như dao găm. Rồi chúng chạm phải hàng rào trước mặt, làm bắn ra những tia lửa điện tung tóe.
     Mấy con velociraptor nhào ngược trở lại, rít lên. Mấy người khách xem đều tiến tới trước, bị thu hút bởi cảnh tượng ấy. Vào đúng lúc này con thứ ba mới tấn công, nhảy tông vào hàng rào với độ cao ngang ngực. Tim khiếp đảm hét lên khi các đám lửa điện bắn tung tóe quanh cậu bé. Mấy con thú gừ gừ, thứ âm thanh của loài bò sát, và nhảy lui vào giữa đám cây đuôi chồn. Chúng đi khuất, để lại một mùi hăng hắc và mấy làn khói cay xè. Tim hoàn hồn:
     - Ôi, đúng là lũ quỷ!
     Ellie:
     - Chúng nhanh ghê gớm thật.
     Grant:
     - Những con thú săn mồi tập thể. Phục kích phối hợp theo bản năng… Thật kỳ lạ.
     Malcolm:
     - Tôi chẳng thích gọi chúng là những con vật thông minh cực kỳ.
     Phía bên kia hàng rào, họ lại nghe tiếng sịt sịt giữa đám cọ dừa. Mấy chiếc đầu chầm chậm thò ra khỏi đám lá. Grant đi đến.
     Mấy con thú quan sát họ, trừng trừng, lạnh lùng.
     Một người da đen mặc đồ bảo hộ chạy đến gần họ:
     - Quý vị không việc gì chứ?
     Grant:
     - Chúng tôi ổn cả.
     - Có báo động cho chúng tôi biết. - anh ta nhìn hàng rào, bị lõm vào và cháy đen - Chúng tấn công quý vị?
     - Vâng, ba con.
     Người da đen gật đầu:
     - Chúng cứ luôn luôn làm thế, tông hàng rào, bị điện giật choáng. Hình như chúng không đếm xỉa gì đến chuyện đó.
     Malcolm:
     - Cũng chẳng thông minh lắm, phải không?
     Người da đen dừng lại. Anh ta liếc nhìn nhà toán học trong ánh sáng buổi chiều:
     - Hãy lấy làm mừng vì có chiếc hàng rào ấy, thưa ông.
     Và anh ta bỏ đi.
     Từ lúc bắt đầu cho tới lúc chấm dứt, toàn bộ cuộc tấn công không thể lâu hơn sáu giây. Grant vẫn đang cố sắp đặt lại ấn tượng ấy. Tốc độ thật kinh người, mấy con thú quá nhanh, ông khó mà thấy được chúng di động.
     Khi đi lui, Malcolm nói:
     - Lũ này nhanh nhẹn ghê gớm thật.
     Grant:
     - Đúng thế. Nhanh hơn bất cứ loài bò sát nào. Một con sấu trâu có thể di động nhanh, nhưng chỉ với khoảng cách ngắn, từ một mét rưỡi đến hai mét. Những con kỳ nhông lớn, như kỳ nhông rồng có tên là komodo dài một mét rưỡi ở Indonesia có thể chạy với tốc độ ba mươi dặm một giờ, nhanh đủ đuổi kịp một người. Và chúng giết người thưởng xuyên. Nhưng chúng tôi đoán lũ thú bên trong hàng rào có thể nhanh hơn gấp hai lần.
     Malcolm:
     - Tốc độ của một con mèo rừng chutat. Sáu mươi, bảy mươi dặm giờ.
     - Chính xác.
     - Dường như chúng phóng mình tới. Gần như chim.
     - Đúng thế.
     Trong thế giới đương thời, chỉ có loài thú có vú rất nhỏ như con cầy mongoose mới có tốc độ nhanh tương ứng. Phải là loại thú có vú nhỏ, và dĩ nhiên kể cả chim. Loài chim bắt rắn ở châu Phi, hay đà điểu đầu mào ở Úc. Thật sự, mấy con velociraptor mang đầy đủ chính xác cái ấn tượng đe dọa nhanh khiếp người mà Grant đã chứng kiến ở con đà điểu đầu mào, một loài cầm có móng vuốt sống ở New Guinea.
     Malcolm:
     - Vậy thì những con velociraptor này trông giống loài bò sát về da và bề ngoài, nhưng chúng di chuyển như chim, với tốc đô và sự thông minh của một con chim săn mồi thịt. Đúng các tính chất như thế không?
     - Đúng Tôi có thể bảo là chúng pha trộn những nét ấy.
     - Việc ấy có làm anh ngạc nhiên không?
     Grant:
     - Không hẳn vậy. Thật sự thì điều đó gần đúng với những gì các nhà sinh vật học tin vậy từ lâu.
     Từ khi những bộ xương lớn được tìm thấy vào những thập niên 1820 và 1830, các nhà khoa học cảm thấy bắt buộc phải giải thích là các bộ xương xem như thuộc các chủng loại thú khổng lồ của thế giới đương đại. Là bởi vì người ta tin rằng không một loài thú nào có thể tiệt giống được, vì Chúa không cho phép một sinh vật nào mà Ngài sáng tạo ra chết mất giống được.
     Cuối cùng thì mọi người thấy quan niệm như thế là nhầm lẫn, và mấy bộ xương thuộc về những con thú đã tiệt giống. Nhưng là những con thú nào?
     Năm 1842, Richard Owen, nhà cơ thể học hàng đầu của Anh quốc vào những ngày ấy, gọi chúng là những con dinosauria, nghĩa là những con "thằn lằn kinh khủng". Owen nhận ra rằng con dinosaur - khủng long - dường như có tính cách tổng hợp của thằn lằn, cá sấu, và chim. Đặc biệt hông khủng long giống chim, không giống thằn lằn. Và không như thằn lằn, nhiều khủng long dường như đứng thẳng. Owen tưởng tượng khủng long cử động nhanh nhẹn, là loài sinh vật lanh lợi, và quan điểm của ông được thừa nhận suốt bốn mươi năm sau đó.
     Nhưng khi những bộ xương khổng lồ thật sự được phát hiện - con vật mà khi sống cân nặng một trăm tấn - các nhà khoa học bắt đầu hình dung khủng long là một con vật khổng lồ ngốc ngếch, chuyển động chậm chạp, mà số phận đã định trước như thế để rồi chết mất giống. Hình ảnh một con thú bò sát uể oải dần dần thay chỗ hình ảnh con chim chuyển động nhanh nhẹn. Trong những năm gần đây, các nhà khoa học như Alan Grant lại bắt đầu quay trở lại ý tưởng về những con khủng long hoạt động nhanh nhẹn. Các đồng sự của Grant xem ông như là người khởi xướng quan niệm về tập tính của khủng long. Nhưng bây giờ ông phải thừa nhận rằng quan điểm của ông quá thiếu thực tế của những con thú săn mồi to lớn nhanh nhẹn một cách khó tin này.
     Malcolm hỏi Grant:
     - Thật sự điều tôi đang để tâm suy nghĩ là thế này: Đây có thật là một con khủng long?
     - Tôi cho là thế, vâng.
     - Với tập tính săn mồi tập thể.
     - Chúng tôi suy đoán thế. - Grant trả lời - Theo các ghi nhận về hóa thạch, những đàn velociraptor có khả năng mang đi các thú vật nặng một ngàn tấn, như con tenontosaurus có thể chạy nhanh như ngựa. Chúng phải hợp tác mới làm được việc ấy.
     - Làm thế nào chúng hợp tác với nhau, mà không có ngôn ngữ?
     - Ồ, ngôn ngữ không cần thiết trong hợp tác săn bắt. - Ellie góp chuyện - Vượn tinh tinh vẫn làm thế. Một bầy tinh tinh sẽ vây bắt được con khỉ và giết đi. Tất cả mọi thông tin đều bằng mắt.
     - Mấy con khủng long hồi nãy đúng là tấn công chúng ta?
     - Vâng.
     - Chúng sẽ giết chúng ta và ăn thịt nếu chúng làm được?
     - Tôi nghĩ vậy.
     - Lý do khiến tôi hỏi là - Malcolm tiếp - tôi nghe nói các thú vật săn mồi thịt lớn như sư tử và cọp bẩm sinh không ăn thịt người. Có đúng thế không? Mấy con thú này hẳn phải biết được rằng con người rất dễ bắt giết. Chỉ sau đó chúng mới trở thành thú săn người.
     Grant:
     - Vâng, tôi tin đúng như thế.
     - Vậy thì những con khủng long này không chỉ có cơ hội để có được kinh nghiệm như sư tử và cọp. Chúng xuất hiện trên quả đất lúc có loài người - hoặc loài thú có vú lớn. Có Chúa biết chúng nghĩ gì khi chúng thấy chúng ta. Vì thế tôi tự hỏi: chúng học biết được ở đâu đó theo con đường sinh trưởng, rằng con người dễ giết?
     Cả nhóm im lặng bước đi.
     Malcolm:
     - Dù sao, tôi cũng rất muốn được xem phòng điều khiển ngay bây giờ.
0
PHIÊN BẢN 4 - 4
     Hammond hỏi:
     - Họ có đặt vấn đề gì không?
     Henry Wu:
     - Không. Rốt lại chẳng có vấn đề gì cả.
     - Họ chấp nhận sự giải thích của anh à?
     - Tại sao không? Tất cả là sự thật, ngay trước mắt mọi người. Chỉ các chi tiết là rắc rối. Hôm nay tôi muốn trình bày với ông về vấn đề những chi tiết. Ông có thể xem chuyện này như là vấn đề thẩm mỹ.
     John Hammond nhăn mũi, dường như lão ngửi thấy mùi gì đó không ưa, lão lặp lại:
     - Thẩm mỹ?
     Hai người đang ngồi chờ trong gian phòng khách lịch sự của căn nhà nghỉ một tầng của Hammond, xây giữa đám cọ dừa ở khu phía bắc công viên. Căn phòng thật thoáng và đủ tiện nghi, có gắn sáu màn hình điều khiển cho thấy tất cả thú vật trong công viên. Hồ sơ Wu vẫn mang dấn, có đóng dấu SỰ PHÁT TRIỂN THÚ - PHIÊN BẢN 4 - 4, nằm trên bàn cà phê.
     Hammond đang nghe Wu nói với thái độ như cha con, và với vẻ nôn nóng. Henry Wu, ba mươi ba tuổi, biết rất rõ rằng anh đã dốc hết cả sự nghiệp của mình để làm việc cho Hammond. Hammond đã thuê anh làm ngay sau khi tốt nghiệp.
     - Dĩ nhiên, còn có những hậu quả thực tế nữa. Tôi thực sự cho rằng ông phải xét đến đề nghị của tôi cho giai đoạn thứ hai. Chúng ta phải đi đến phiên bản 4 - 4.
     Hammond hỏi:
     - Anh muốn thay hết cả đám thú hiện có?
     - Vâng, tôi muốn thế.
     - Tại sao? Có chuyện gì với lũ đó?
     - Không có gì. Ngoài việc chúng là những con khủng long thật sự.
     Hammond mỉm cười.
     - Đấy là điều tôi yêu cầu anh Wu. Và đấy là điều anh đã làm cho tôi.
     - Tôi biết. Nhưng ông thấy… - Anh ta dừng lại. Làm thế nào anh có thể giải thích điều này cho Hammond? Hammond hiếm khi đến thăm đảo. Và đây là một tình huống kì lạ m à Wu đang cố truyền đạt - Ngay lúc này, trong lúc chúng ta đang đứng đây, hầu như không một ai trên thế giới từng thấy một con khủng long thực sự. Không một ai biết chúng như thế nào.
     - Ừ.
     - Nhưng khủng long chúng ta có hiện nay là thật, - Wu chỉ vào các màn hình khắp phòng - nhưng chúng chưa hoàn thiện, theo một cách nhìn nào đấy. Không có sức thuyết phục. Tôi có thể làm cho chúng tốt hơn.
     - Tốt hơn theo cách nào?
     - Một mặt, chúng di chuyển qua nhanh. Người ta không quen với việc thấy những con thú to lớn cử động nhanh như thế. Tôi sợ rằng du khách đến xem sẽ cho rằng lũ thú dường như bị tăng tốc độ cử động, như phim ảnh chụp quá nhanh.
     - Nhưng anh Wu, đây là những con khủng long thật. Chính anh đã nói như thế.
     - Tôi biết. Nhưng chúng tôi có thể tạo ra những con thú chậm hơn, có tính cách thuần hóa hơn.
     - Những con khủng long thuần hóa? - Hammond sịt mũi - Chẳng ai muốn xem khủng long thuần hóa đâu, Wu. Họ muốn những con vật thật.
     - Nhưng đấy là quan điểm của tôi. Tôi không nghĩ là họ muốn thế. Họ muốn thấy những gì họ chờ thấy, vốn rất khác với điều chúng ta có.
     Hammond cau mày. Wu tiếp:
     - Chính ông đã nói, công viên này là nơi giải trí. Và việc giải trí chẳng dính líu gì đến tính thật. Sự giải trí về mặt lý thuyết chống lại tính thật.
     Hammond thở dài:
     - Anh Wu, đây có phải là lúc chúng ta tiến hành cuộc thảo luận trừu tượng ấy không? Anh biết là tôi muốn mọi thứ đơn giản. Mấy con khủng long ta đang có hiện giờ là thật, và…
     - Ấy nhưng, không phải đúng vậy. - Wu bước quanh phòng, chỉ vào các màn hình - Tôi không nghĩ rằng chúng ta đang tự lừa phỉnh. Chúng ta không tái tạo lại quá khứ ở đây. Quá khứ đã trôi qua rồi. Quá khứ không bao giờ có thể tái tạo lại được. Những gì chúng ta đang làm là xây dựng nên một quá khứ hay ít ra là một phiên bản của quá khứ. Và tôi đang nói rằng tôi có thể tạo nên một bản sao quá khứ tốt hơn.
     - Tốt hơn sự thật?
     - Tại sao không? Rốt lại thì những con thú này đã được sửa đổi. Chúng ta đã thêm gen vào để lấy bằng sáng chế, chúng ta làm chúng phụ thuộc vào lysine. Và chúng ta đã làm mọi thứ có thể làm để gia tốc cho chúng mau trưởng thành.
     Hammond nhún vai:
     - Đó là chuyện không thể tránh được. Chúng ta không muốn chờ đợi. Chúng ta còn có những nhà đầu tư.
     - Dĩ nhiên. Nhưng tôi chỉ nói là tại sao chúng ta dừng lại đây? Tại sao không đẩy mạnh lên nữa để tạo ra một loại khủng long đúng như ta muốn. Vì một điều là chúng dễ chấp nhận hơn đối với khách đến xem, điều khác là chúng ta dễ nuôi giữ hơn? Một phiên bản chậm chạp hơn, dễ bảo hơn cho công viên?
     Hammond nhíu mày:
     - Nhưng lúc ấy mấy con khủng long sẽ không đúng thật.
     - Hiện giờ chúng cũng không đúng thật. Đấy là điều tôi đang cố nói với ông. Chẳng có tính chất thật nào ở đây. - Anh ta nhún vai có vẻ tuyệt vọng. Anh ta có thể nhận thấy rõ là vấn đề sẽ không thông qua được. Hammond chưa bao giở quan tâm đến vấn đề kỹ thuật, mà bản chất cuộc bàn cãi này là kỹ thuật. Làm sao anh có thể giải thích cho Hammond về những xoắn DNA bị thiếu, những đoạn chắp nối, những chỗ hở trong một chuỗi DNA mà Wu bắt buộc phải thêm vào cho đầy đủ, cố có những suy đoán tốt nhất để thực hiện, nhưng, vẫn là những suy đoán. DNA của khủng long cũng giống như những bức hình quá cũ đem ra tô vẽ thêm thắt vào những chỗ bị bong bị mờ, tuy cơ bản dựa trên bức hình gốc nhưng nhiều nơi cần sửa chữa làm cho rõ nét, và do đấy…
     Hammond quàng tay quanh vai Wu:
     - Wu này, anh đang phật ý, tôi nghĩ rằng anh đang trở nên e ngại rồi đấy. Anh đã làm việc hết sức khó nhọc trong một thời gian dài và anh đã làm được những việc thật ghê gớm, cuối cùng là lúc anh vén màn cho mọi người thấy những gì anh làm. Điều tự nhiên là có hơi căng thần kinh một chút. Còn tý nghi ngờ nào đó. Nhưng tôi hết sức tin tưởng, anh Wu, là mọi người sẽ thỏa mãn. Hoàn toàn thỏa mãn.
     - Nhưng ông Hammond. Hãy nhớ lại vào năm 1987, khi chúng ta bắt đầu. Chúng ta không có được một con nào trưởng thành đủ kích thước cả, vì thế chúng ta phải đoán những gì chúng ta cần. Chúng ta đã đặt làm những dụng cụ gây choáng to lớn, những xe với chuồng nhốt có cọc nhọn, những súng bắn ra lưới điện. Chúng ta có rất nhiều thứ dụng cụ mà giờ đây, hóa ra quá chậm chạp khi sử dụng. Chúng ta phải điều chỉnh lại một số. Ông có biết là Muldoon cần các trang bị quân sự: súng phóng hỏa tiễn TOW và những vũ khí điều khiển bằng laser?
     - Hãy cứ mặc cho Muldoon với những ý muốn đó. Tôi chẳng bận tâm. Đây chỉ là sở thú thôi, Wu.
     Điện thoại réo, và Hammond bước đến trả lời. Wu cố nghĩ ra cách khác để thúc hối thực hiện những yêu cầu của mình. Nhưng sự thật là, sau năm năm dài chuẩn bị, công viên sắp hoàn thành, và Hammond sẽ không nghe anh nữa.
     Cũng đã có lúc Hammond chăm chú lắng nghe Henry Wu nói. Đặc biệt là vào những ngày đầu tiên khi lão tuyển dụng anh, lúc ấy Wu là một sinh viên hai mươi tám tuổi vừa mới đạt được học vị tiến sĩ sau thời gian làm luận án tại phòng thí nghiệm của Norman Atherton.
     Cái chết của Atherton đã để lại cho cơ sở thí nghiệm nỗi buồn tiếc và lâm vào tình trạng bối rối; không một ai biết những gì đã xảy ra trong khu vực cung cấp ngân khoản cho các chương trình đào tạo tiến sĩ. Có nhiều điều bất ổn, mọi người đều lo lắng cho nghề nghiệp của mình.
     Hai tuần lễ sau đám tang, John Hammond đến gặp Wu. Mọi người trong phòng thí nghiệm biết rằng Hammond vốn vẫn có mối liên hệ với Atherton, dầu mối manh thế nào thì không ai biết rõ được.
     Nhưng Hammond đã tiếp xúc với Wu bằng một sự thẳng thắn mà Wu không bao giờ quên.
     - Norman Atherton luôn bảo rằng anh là nhà di truyền học giỏi nhất trong phòng thí nghiệm của ông ấy. - ông ta hỏi thẳng - Dự định của anh bây giờ thế nào?
     - Tôi chưa biết. Có lẽ là nghiên cứu.
     - Anh muốn được bổ dụng vào đại học?
     - Vâng.
     Hammond nói, khô khan:
     - Đấy là một sự nhầm lẫn. Nếu anh kính trọng tài năng của mình.
     Wu nhấp nháy mắt:
     - Tại sao?
     - Vì, chúng ta hãy cứ nhìn vào sự việc. Các trường đại học không còn là trung tâm trí thức của đất nước nữa. Nói thật chính xác thì các nơi đó thật lố bịch. Và là những nơi tù túng. Đúng có tỏ ra ngạc nhiên như thế. Tôi đâu cả nói những gì mà anh không biết. Kể tử sau thế chiến II, tất cả những khám phá thật sự quan trọng đã xuất phát từ các phòng thí nghiệm tư nhân. Tia laser, transistor, thuốc chủng bệnh bại liệt, mạch tổ hợp IC, phương pháp sang ảnh ba chiều, máy tính điện tử cá nhân, máy phân tích CAT… danh sách còn lại dài dài. Chỉ vì các trường đại học không còn là nơi cho các việc đó xẩy ra nữa. Và chúng không thể như thế đã bốn mươi năm nay. Nếu anh muốn thực hiện một việc gì quan trọng ở lĩnh vực computer hay di truyền, thì đừng có vào trường đại học. Nghe tôi đi, đừng.
     Wu thấy mình không nói được lời nào. Hammond tiếp:
     - Anh phải đi qua những cửa ải nào để thực hiện dự định của anh? Anh phải viết bao nhiêu lá đơn xin xỏ, điền bao nhiêu mẫu, chạy chọt bao nhiêu nơi? Ủy ban điều hành? Chủ nhiệm khoa? Phòng tổ chức? Làm sao anh có thêm những khâu thực hiện công việc nếu anh cần? Có thêm phụ tá nếu anh muốn? Tất cả những thứ đó cần bao nhiêu thời quan? Một người thông minh không thể tiêu phí thời gian vào những biểu mẫu và những cửa ải ấy. Cuộc đời thì quá ngắn, mà DNA thì quá dài. Anh muốn ghi lại dấu ấn của mình. Nếu anh muốn thực hiện một điều gì đó, hãy tránh xa các trường đại học.
     Trong những ngày đó, Wu quả có cảm thấy thất vọng khi muốn theo đuổi dự định của mình, Hammond đã chiếm được nhiều chú ý của anh.
     - Tôi đang nói về công việc của anh. - Hammond tiếp - Về một kết quả thực sự. Một nhà khoa học cần gì? Anh ta cần thì gờ, và tiền bạc. Tôi đang bàn với anh về một thời gian làm việc năm năm với mỗi năm số tiền tài trợ mười triệu đô. Năm mươi triệu đô. Và không một ai chỉ cho anh phải tiêu như thế nào. Tự anh quyết định. Mọi người khác chỉ việc theo ý anh.
     Đề nghị quá ngon lành tưởng không thể là sự thật. Wu yên lặng một lúc thật lâu. Cuối cùng, anh hỏi:
     - Để đổi lại
     - Để thử làm một việc mà có thể là không làm được.
     - Việc liên quan đến lĩnh vực nào?
     - Tôi không thể nói với anh về các chi tiết, những đại để công việc dính líu đến việc tái sinh các loài bò sát.
     - Tôi nghĩ là công việc đó có thế thực hiện được. Loài bò sát dễ hơn loài thú có vú. Việc tái sinh có thể chỉ trong mươi mười lăm năm.
     Hammond nói gọn:
     - Tôi có năm năm, và nhiều tiền, cho ai muốn lao vào việc ấy ngay bây giờ.
     - Công việc tôi có thể công bố khônt,ơ?
     - Cuối cùng.
     - Không ngay lập tức?
     - Không.
     - Nhưng cuối cùng có thể công bố chứ? - Wu cứ bám vào điểm này.
     Hammond mỉm cười:
     - Đừng lo. Nếu anh thành công, cả thế giới sẽ biết về những gì anh làm, tôi hứa với anh vậy.
     Và bây giờ, quả vậy, hình như toàn thể thể giới sẽ biết, Wu nghĩ. Sau năm năm cố gắng hết sức, giờ chỉ còn thêm một năm nữa là đến ngày mở cửa công viên cho công chúng. Dĩ nhiên những năm ấy trôi qua không thật đúng như những gì Hammond đã hứa. Đã có một số người đến bảo Wu phải làm điều này điều nọ và nhiều lần những áp lực đáng sợ đã đè nặng lên anh. Bản thân công việc cũng đã thay đổi, - thậm chí không phải là tái tạo lại một số bò sát, khi họ bắt đầu hiểu rằng khủng long rất giống loài chim. Đấy là việc tái sinh một số loài chim, một công việc được xem là rất khó khăn. Khó hơn nhiều. Và trong hai năm qua, anh kiêm nhiệm nhiều chức: quản lý phân phối tài chính, giám thị các tổ nhóm nghiên cứu, các tổ computer giải mã gen. Quản lý phân phối không phải là loại công việc anh thích. Cũng không phải là loại công việc anh đòi hỏi.
     Tuy vậy, anh đã thành công. Anh đã làm được những việc mà không ai tin là có thể làm được. Nhưng Hammond không nghe và không cần anh nữa.
     Lão mỉm cười, mở cửa cho anh bước ra.
0
ĐIỀU KHIỂN
     Grant nhìn tất cả các màn hình computer điều khiển từ xa trong các phòng tối lờ mờ. Grant vốn không ưa các máy điện toán. Ông biết điều này khiến mình thành một nhà khảo cứu lỗi thời, kiểu cũ, nhưng ông bất cần. Một số sinh viên trẻ làm việc với ông lại có cảm tình thật sự với các máy tính, một trực giác. Grant không bao giờ cảm thấy thế. Ông cho computer là những cỗ máy phức tạp.
     John Arnold bắt đầu:
     - Quý vị muốn biết về cơ chế phòng điều khiển? - ông ta xoay chiếc ghế đang ngồi về phía khách tham quan. Người kỹ sư trưởng này bốn mươi lăm tuổi, gầy, dáng luôn căng thẳng, hút thuốc liên tục. Ông liếc nhìn mấy người khác trong phòng - Chúng tôi có những cơ chế điều khiển quý vị khó có thể tin được. - ông đốt một điếu thuốc khác.
     Gennaro:
     - Ví dụ?
     - Ví dụ theo dõi đường đi của thú. - Arnold ấn một nút ở bảng điều khiển và một bản đồ bằng kính sáng lên với những đường vẽ màu xanh thành hình một con thú. - Đấy là một con T-rex vị thành niên của chúng tôi. Một con T-rex nhỏ. Tất cả những di chuyển của nó trong công viên trong hai mươi bốn tiếng vừa qua. - Arnold lại bấm nút - Hai mươi bốn tiếng trước. - và bấm nữa - Hai mươi bốn tiếng trước đó nữa.
     Những đường vẽ trên bản đồ chụm lại dày đặc, theo một lối nguệch ngoạc như trẻ con vẽ. Nhưng những nét nguệch ngoạc tập trung vào một chỗ, gần phía tây nam của hồ nước. Arnold nói:
     - Quý vị sẽ có được một nhận xét về phạm vi sinh hoạt của nó ở từng thời điểm. Con này còn nhỏ nên nó ở gần hồ nước và nó luôn luôn ở cách xa con trưởng thành. Nếu cho xuất hiện đường đi của hai con, quý vị sẽ thấy là đường đi của chúng không bao giờ giao nhau.
     Gennaro hỏi:
     - Vào lúc này con rex lớn ở đâu?
     Arnold bấm một nút khác. Bản đồ sáng trắng lên và một điểm duy nhất sáng chói với một mã số xuất hiện ở những cánh đồng phía tây bắc của hồ nước. Arnold nói:
     - Nó đấy.
     - Con rex nhỏ đâu rồi?
     - Tôi sẽ chỉ cho quý vị thấy mọi con thú trong công viên. - Arnold nói và bấm nút - Đây là toàn bộ hai trăm ba mươi tám con thú vào phút này.
     Tấm bản đồ bắt đầu sáng lên như một cây Noel, có hàng tá chấm sáng, mỗi chấm kèm một mã số. Gennaro hỏi:
     - Chính xác đến mức nào?
     - Trong phạm vi một mét rưỡi. - Arnold giụi tắt điếu thuốc - Hãy nhìn vấn đề theo cách này: quý vị lái một chiếc xe ra đấy và sẽ thấy các con thú đúng vào các chỗ ấy, chính xác như chúng đang xuất hiện trên bản đồ
     - Bao lâu thì sự ghi nhận này thay đổi?
     - Ba mươi giây.
     - Khá hấp dẫn đấy chứ. Làm thế nào có được các hình ảnh
     - Chúng tôi có những bộ cảm ứng với sự chuyển động đặt khắp công viên. Phần lớn các bộ cảm ứng này chuyển hình ảnh bằng dây, một số bằng sóng điện tử. Dĩ nhiên, những bộ cảm ứng với sự chuyển động này thường không cho quý vị biết về chủng loại, nhưng chúng tôi nhận biết trực tiếp qua các màn hình video. Ngay cả khi chúng tôi không theo dõi màn hình điều khiển, hệ thống computer cũng theo dõi. Và kiểm tra chặt chẽ mọi con thú.
     - Có khi nào computer nhầm lẫn không?
     - Chi có với những con non thôi. Computer thỉnh thoảng nhầm với loại này, vì chúng quá bé. Nhưng đấy không thành vấn đề. Mấy con non luôn ở gần bầy các con trưởng thành. Và chúng tôi còn có bản kiểm kê về các chủng loại.
     - Ấy là cái gì?
     - Cứ cách mười lăm phút, computer kiểm kê toàn bộ các loại thú. - Arnold bấm một nút - Như bảng này.
     Màn hình hiện lên một bảng kiểm kê. Arnold giải thích:
     - Những gì quý vị thấy là một quá trình tổng hợp các bộ cảm ứng đặt khắp công viên. Việc đếm dựa trên các số liệu theo dõi lũ thú. Toàn bộ công việc cho thấy computer không thể nhầm lẫn được vì nó so sánh hai cách thu thập dữ hệu khác nhau. Nếu thiếu một con thú chúng tôi biết ngay trong vòng năm phút.
     Malcolm:
     - Tôi hiểu. Nhưng đã khi nào có sự cố xảy ra để thử nghiệm chưa?
     Arnold:
     - Có, bằng một cách khác tương tự. Chúng tôi có vài con thú chết. Một con othnielian bị vướng vào các cành cây và bị chết nghẹt. Một con stegos chết vì bệnh đường ruột. Một trong số hypsilophodontids rơi gãy cổ. Và trong mọi trường hợp, mỗi khi có con thú ngừng hoạt động thì các con số kiểm kê không hình thành và computer báo động.
     - Trong vòng năm phút?
     - Vâng.
     - Còn các con số ở cột cuối?
     - Đấy là mã số các phiên bản. Quý vị nhớ là các con thú này được con người tạo nên. Thỉnh thoảng có sự nhầm lẫn. Vì thế, khi nào chúng tôi phát hiện có sự sai lầm, phòng thí nghiệm của tiến sĩ Wu phải thực hiện phiên bản mới, và chúng tôi phải theo dõi các phiên bản chúng tôi có ngoài kia.
     Malcolm:
     - Vâng, tôi hiểu. Nhưng, trở lại chuyện đếm số thú. Tôi hiểu là việc đếm dựa vào các bộ cảm ứng.
     - Vâng.
     - Và các bộ cảm ứng có đặt khắp công viên?
     - Các bộ cảm ứng bao quát chín mươi hai phần trăm diện tích đảo. Chỉ có vài nơi chúng tôi không thể dùng được. Ví dụ, chúng tôi không thể đặt dọc theo dòng sông, vì sự chuyển động của dòng nước và sự đối lưu từ mặt nước làm nhiễu loạn hoạt động của các bộ cảm ứng. Nhưng chúng tôi đặt hầu như khắp nơi. Và nếu như computer theo dấu một con thú vào vùng không có bộ cảm ứng, nó sẽ ghi vào bộ nhớ, và sẽ theo dõi cho đến khi con vật lại ra khỏi vùng ấy. Và nếu không thấy con vật ra, computer sẽ báo động.
     - Bây giờ, anh đã cho chúng tôi thấy có bốn mươi chín con procompsognathus. Giả sử chúng tôi nghi rằng một vài con trong số này thật sự không phải cùng chủng loại. Làm sao anh chỉ cho thấy là chúng tôi sai.
     - Có hai cách. Trước hết, tôi có thể theo dấu các chuyển động cá thể của các con compys giả sử là có. Compys là loài sống quần thể, chúng di chuyển theo nhóm. Chúng tôi có hai nhóm compys trong công viên. Vì thế các con thú này phải nằm trong nhóm A hoặc nhóm B.
     - Vâng, nhưng…
     - Cách thứ hai là quan sát trực tiếp. - Arnnld nói và bấm một nút. Một trong mấy màn hình điều khiển bắt đầu chớp hiện nhanh hình ảnh của các compys, đánh số từ 1 đến 49.
     - Những bức hình này là…
     - Những hình nhận dạng. Của các compys trong năm phút vừa qua.
     - Vậy thì anh có thể nhìn thấy tất cả các con thú, nếu anh muốn?
     - Vâng. Tôi có thể đếm duyệt các con thú bằng cách nhìn từng con một bất cứ lúc nào tôi muốn.
     Gennaro:
     - Còn về nuôi giữ thì sao? Các con thú có thể vượt ra khỏi chỗ nhốt không?
     - Tuyệt đối không. Đây là những con thú quá đắt, ông Gennaro à. Chúng tôi chăm sóc chúng thật kỹ càng. Chúng tôi có những rào chắn nhiều lớp. Trước hết là lớp hào. - Amold bấm nút và bản đồ sáng lên với một mạng lưới các đường kẻ màu da cam - Các hào này, không có hào nào sâu dưới ba mét rưỡi, và luôn đầy nước. Với thú lớn hơn, hào có thể sâu đến chín mét. Kế đến, là hàng rào điện. - Các đường màu đỏ sáng lên trên bản đồ. - Chúng tôi có năm mươi dặm hàng rào cao ba mét rưỡi, kể cả hai mươi hai dặm bao quanh đảo. Tất cả các hàng rào của công viên tải điện mười ngàn volt. Các con thú đều nhanh nhóng hiểu rằng chúng không nên đến gần hàng rào.
     Gennaro:
     - Nhưng nếu có một con thoát khỏi rào?
     Arnold khịt mũi và dập tắt điếu thuốc. Gennaro tiếp:
     - Chỉ giả thiết thôi. Giả sử việc ấy xảy ra?
     Muldoon đằng hắng, lên tiếng:
     - Chúng tôi sẽ đi theo bắt lại. Có nhiều cách để làm việc đó. Súng gây choáng, lưới điện, thuốc gây mê. Các thứ này không gây tử vong vì, như ông Arnold nói, chúng là những thú vận đắt giá.
     Gennaro gật:
     - Và nếu một con thoát khỏi đảo?
     - Nó sẽ chết trong vòng chưa tới hai bốn tiếng. - Arnold trả lời. - Đây là những con thú có được do kỹ thuật di truyền. Chúng không có khả năng sống được trong thế giới thật sự.
     Gennnaro:
     - Còn về các bộ phận điều khiển thì sao? Có thể có ai xen vào gây rối được không?
     Arnold lắc đầu:
     - Hệ thống điều khiển được thiết kế tạo nên rất nhiều khâu ngăn không cho ai có thể xen vào được. Computer độc lập trong mọi hoạt động. Năng lượng độc lập. Năng lượng dự trữ cũng độc lập. Hệ thông không có liên lạc với ngoài đảo, vì thế nó không thể bị gây ảnh hưởng bởi các bộ phá điều khiển từ xa. Hệ thống các computer đều có khâu bảo mật.
     Một lúc yên lặng. Arnold giụi tắt điếu thuốc:
     - Một hệ thống tuyệt diệu. Một hệ thống tuyệt hảo.
     Malcolm:
     - Vậy tôi đoán là, vì hệ thống của quý vị hoạt động quá tốt như vậy, hầu như quý vị không gặp vấn đề gì.
     Arnold nhướng mày:
     - Chúng tôi có cả triệu vấn đề. Nhưng không có vấn đề nào giống như các vấn đề mà quý vị đang bận tâm. Chúng tôi thấy quý vị đang lo lắng là lũ thú có thể thoát khỏi đảo đến đất liền và gây nên những chuyện quỷ quái. Chúng tôi chẳng thấy có gì phải lo lắng cả. Những con thú này rất mong manh và dễ đau yếu. Chúng được mang đến từ một thời điểm cách nay sáu mươi lăm triệu năm, đến một thế giới rất khác với thế giới chúng đã sống, đã quen thuộc. Chúng tôi đã phải tốn nhiều công sức để săn sóc chúng.
     - Quý vị phải thấy được rằng - Arnold nói tiếp - con người đã nuôi được loài thú có vú và loài bò sát trong sở thú hằng trăm năm rồi. Vì thế chúng ta biết rất nhiều cách chăm sóc cho một con voi hay một con trăn. Nhưng chưa có ai từng chăm sóc cho một con khủng long. Chúng là những thú vật mới. Và chúng tôi cũng chưa nắm vững. Bệnh tật của lũ thú này cũng là vấn đề lớn đối với chúng tôi.
     - Bệnh tật à? - Gennaro hỏi, đột nhiên cảnh giác - Liệu khách viếng có thể bị nhiễm bệnh không?
     Arnold lại khịt mũi:
     - Người ta chưa từng bao giờ bị lây bệnh cảm từ một con cá sấu nuôi ở sở thú. Các sở thú không bận tâm vấn đề ấy. Chúng tôi cũng thế. Điều chúng tôi lo lắng là lũ thú đang chết chính vì bệnh của chúng, hay là lây lan qua các con khác. Nhưng chúng tôi cũng đã có những chương trình kiểm soát. Quý vị muốn xem hồ sơ sức khỏe của con rex lớn? Các lần tiêm chủng? Các lần chữa răng? Đấy là các điểm nên quan tâm… Quý vị cũng nên xem các thú y sĩ khoan các lỗ sâu ở mấy chiếc răng nanh con thú để trám rồi lại cọ rửa sạch để nó khỏi nuốt phải thuốc.
     - Bây giờ thì chưa xem được. Thế còn về các hệ thống chuyên chở thì sao?
     - Ông muốn nối đến các hệ thống chuyển du khách?
     Gennaro ngước lên nhanh: "Hệ thống chuyên chở?" Arnold vẫn đang nói:
     - Chưa có hệ thống chở du khách nào hoạt động cả. Chúng tôi có thiết kế hệ thống "Du hành trên sông" với các thuyền trôi dọc theo sông, và "Bay trong lồng khủng long", nhưng chưa có hệ thống nào sử dụng trong năm tới. Công viên sẽ khai trương bằng những chuyến đi tham quan khủng long theo cách mà quý vị sẽ đi trong vài phút tới. Những chuyến đi kiểu khác sẽ được tiến hành sau đó mười hai tháng nữa.
     Grant:
     - Ông nói là sẽ có những chuyến chở khách? Như trong các công viên giải trí?
     Arnold:
     - Đây là công viên thú vật. Chúng tôi có những chuyến đi vào các khu vực khác nhau, và chúng tôi gọi đó là các chuyến xe chở du khách. Thế thôi.
     Grant cau mày. Một lần nữa, ông lại cảm thấy khó chịu. Ông không thích cái ý tưởng là khủng long được dùng trong một công viên giải trí. Malcolm tiếp tục những câu hỏi của mình:
     - Quý vị bảo là toàn bộ khu công viên được điều khiển từ phòng này?
     Arnold:
     - Vâng. Và chúng tôi có thể điều khiển chỉ với một người thôi, nếu cần. Chúng tôi đã tự động hóa nhiều. Computer có thể tự mình theo dấu các con thú, cho ăn, cho đầy nước vào các máng uống nước trong vòng bốn mươi tám tiếng mà không cần người giám thị.
     Malcolm:
     - Đây là hệ thống do Nedry thiết kế?
     Dennis Nedry ngồi ở một góc cuối phòng, đang ăn một thỏi chocolate và đang đánh máy. Anh ta trả lời, không nhìn lên:
     - Đúng thế.
     Arnold hãnh diện nhắc lại:
     - Thật là một hệ thống tuyệt hảo.
     Nedry hờ hững:
     - Vâng, đúng vậy. Chỉ có một hoặc hai trục trặc cần điều chỉnh.
     Arnold nói:
     - Bây giờ, tôi thấy là chuyến đi tham quan sắp bắt đầu. Vậy trừ khi quý vị còn câu hỏi nào…
     Malcolm:
     - Chỉ một câu nữa thôi. Đây là câu hỏi về việc khảo cứu. Ông đã cho chúng tôi thấy ông có thể theo dấu lũ compys và cho thấy rõ từng con riêng biệt. Có thể nào thực hiện việc khảo sát chúng trong cả nhóm không cần đo chúng, hay bất cứ gì khác. Nếu tôi muốn biết chiều cao, trọng lượng, hoặc…
     Arnold bấm một nút: màn hình hiện một biểu đồ về tình hình sức nặng và chiều cao của nhóm compys.
     - Chúng tôi có thể làm được việc đó - Arnold nói - và làm rất nhanh. Máy điện toán nhận những số liệu cân đo khi đọc từ màn hình video, vì thế có thể phiên dịch ra ngay. Quý vị thấy biểu đồ này biểu diễn một sự phân bố bình thường mật độ loài thú này. Nó cho thấy phần lớn các con thú có số cân đo trung bình tập trung ở các điểm giữa. Đầu và cuối đường cong, các con thú lớn hơn hoặc nhỏ hơn.
     - Đây là biểu đồ mà quý vị cần!
     - Vâng. Và bây giờ, - Arnold châm một điếu thuốc khác - còn câu hỏi nào không?
     Malcolm:
     - Không. Tôi đã biết hết những gì tôi cần biết.
     Khi cả mấy người cùng đi ra ngoài, Gennaro nói:
     - Đối với tôi thì đây dường như là một hệ thống khá tốt. Tôi thấy đám thú không thể nào thoát ra được.
     - Ông thấy thế sao? Tôi thì hoàn toàn thấy việc thú trốn thoát là hiển nhiên.
     Gennaro:
     - Chờ một chút nữa. Anh cho là đã có con trốn thoát?
     - Tôi biết là chúng đã trốn thoát.
     - Nhưng bằng cách nào? Anh cũng thấy rồi đó. Họ có thể đếm tất cả. Có thể nhìn đến tận từng con. Họ biết chúng đang ở đâu vào bất cứ lúc nào. Làm thế nào mà chúng có thể thoát khỏi đảo được?

CHUYẾN THAM QUAN
     - Theo lối này, thưa quý vị, đi theo lối này - Ed Regis nói. Bên cạnh anh ta là một nữ công nhân đang trao những chiếc nón an toàn bằng nhựa cứng có hình con khùng long nhỏ với dòng chữ "Công viên Jurassic".
     Một hàng xe Land Cruiser hiệu Toyota từ hầm garage dưới khu nhà nghỉ tiến ra. Từng chiếc đỗ lại, không có ngườl lái, êm ru. Hai người da đen đồng phục mở cửa xe cho khách.
     - Hai đến bốn hành khách cho mỗi xe, thưa quý vị, hai đến bốn hành khách cho mỗi xe. - Tiếng nói thu thanh sẵn vang lên - Trẻ em dưới mười tuổi phải có người lớn dẫn đi. Hai đến bốn người mỗi xe, thưa quý vị…
     Tim đứng nhìn Grant, Ellie và Malcolm leo vào chiếc Land Cruiser thứ nhất với người luật sư, Gennaro. Tim nhìn qua Lex, đang đứng thọc tay vào găng. Cậu chỉ chiếc xe thứ nhất và hỏi Regis:
     - Cháu đi với họ được không?
     - Chắc là họ có nhiều điều để thảo luận. Các vấn đề kỹ thuật.
     - Cháu rất thích các chuyện kỹ thuật. Cháu xin đi với họ.
     - Ấy nhưng cháu vẫn có thể nghe được họ ở xe sau. Có máy vô tuyến liên lạc giữa hai xe.
     Chiếc xe thứ hai đến. Tim và Lex leo vào, và Regris theo sau. Anh ta giải thích:
     - Đây là các xe chạy bằng điện. Điều khiển bởi dây cáp dọc theo đường.
     Tim rất hài lòng được ngồi ở băng trước, bởi vì ở bảng điều khiển trước mặt có hai màn hình computer và một hộp điều khiển trông giống như máy CD-ROM; đấy là một máy đĩa laser điều khiển bằng computer. Còn có thêm một máy bộ đàm và một máy liên lạc vô tuyến. Có hai ăng ten trên mui xe và một cặp kính đeo mặt kỳ dị đặt ở hộc bản đồ.
     Người da đen đóng cửa chiếc xe Land Cruiser. Chiếc xe rời chỗ với tiếng u u của động cơ điện. Ở phía trước, ba nhà khoa học đang cùng với Gennaro nói chuyện và chỉ trỏ, rõ ràng là rất hào hứng. Regis bấm nút intercom, nói:
     - Chúng ta hãy xem họ đang nói gì.
     Giọng Gennaro qua intercom, có vẻ tức giận:
     - Tôi không hiểu ông nghĩ ông đang làm chuyện quái quỷ gì ở đây.
     Malcolm:
     - Tôi hiểu rất rõ tại sao tôi đến đây.
     - Ông đến đây để cho chúng tôi lời khuyên thiết thực, không phải để chơi trò đấu trí con khỉ ấy. Tôi có cổ phần năm phần trăm trong công ty này và có trách nhiệm nắm chắc rằng Hammond đã thực hiện công việc một cách có trách nhiệm. Bây giờ mấy ông đã đến đây…
     Regis bấm nút intercom nói với xe trước:
     - Để không làm ô nhiễm môi trường của công viên, những chiếc Land Cruiser chạy điện nhẹ nhàng này đã được hãng Toyota chế tạo riêng cho chúng tôi. Sau này, chúng tôi hy vọng sẽ lái các xe này đi giữa đám thú, như ở các công viên giải trí ở châu Phi; còn giờ đây, xin quý vị thưởng thức chuyến đi. - Anh ta nghỉ một lát - Và xin quý vị biết cho là, chúng tôi có thể nghe được quý vị ở sau này.
     Gennaro:
     - Ôi Chúa ơi! Tôi muốn được nói chuyện tự do. Tôi đâu có yêu cầu mấy đứa nhỏ chết rấp ấy theo đến đây…
     Regis mỉm cười, bấm một nút:
     - Chúng ta chỉ mới bắt đầu chuyến đi xem, phải không ạ? - Họ nghe tiếng kèn đồng như tiếng kèn trumpel, và hai màn hình trong xe chớp lên dòng chữ CHÀO MỪNG QUÝ KHÁCH ĐẾN CÔNG VIÊN KỶ JURA. Một giọng trầm ấm vang lên:
     - Chào mừng quí khách đến công viên kỷ Jura. Quý vị đang tiến vào thế giới của kỷ Jurassic, một thế giới của những sinh vật dũng mãnh đã biến mất khỏi quả đất từ lâu, mà quý vị có đặc quyền thấy lần đầu tiên.
     Chiếc Land Cruiser chạy qua một khu trồng toàn cây cọ dừa thấp và to, lá dày đặc. Giọng nói vẫn tiếp tục:
     - Xin chú ý trước hết đến cuộc sống thực vật đang bao quanh quý vị. Những hàng cây bên trái và bên phải quý vị là cây cycad, một loại cây tiền thân của cây cọ dừa, có tử thời tiền sử. Cycad là thức ăn ưa thích của khủng long. Qúy vị cũng có thể thấy các cây bennettitaleans và ginkgoes. Thế giới khủng long ở đây còn gồm có các cây hiện đại, như thông, linh sam, và cây bách ở vùng đầm lầy. Quý vị sẽ thấy hết tất cả các loại cây này.
     Chiếc Land Cruiser di chuyển chầm chậm giữa các đám lá. Tim chú ý đến các hàng rào và những bức tường chắn được chiếu lên màn hình với màu xanh lá cây để tăng ảo giác là xe đang di chuyển qua một khu rừng rậm thật sự. Giọng hướng dẫn nói tiếp:
     - Chúng tôi tưởng tượng thế giới khủng long như là thế giới của những con thú khổng lồ ăn cây cỏ, đi rong kiếm ăn qua những khu rừng trên những đầm lầy khổng lồ thuộc kỷ Jurassic và Cretaceaes, cách đây một trăm triệu năm. Nhưng phần lớn khủng long không to lớn như mọi người tưởng. Con khủng long nhỏ nhất không lớn hơn một con mèo nuôi trong nhà, và một con khủng long trung bình chỉ to bằng cỡ một con ngựa đua. Trước hết chúng ta sắp xem một trong những con thú cỡ trung bình, gọi là con hypsilophodont. Nếu quý vị nhìn qua phía trái, ngay lúc này quý vị có thể thấy được chúng.
     Tất cả đều nhìn qua bên trái.
     Chiếc Land Cruiser dừng lại trên một triền dốc thấp, chờ các tàn lá cây hở một khoảng đủ cho du khách nhìn về phía đông. Họ thấy một khu rừng thoai thoải chạy dài đến một cánh đồng cỏ màu vàng cao chừng một mét. Không thấy có khủng long. Lex lên tiếng:
     - Khủng long đâu?
     Tim nhìn bảng điều khiển. Đèn máy chuyển nhấp nháy và bộ CD-ROM kêu ro ro. Rõ ràng là đĩa thu đang lấy dữ kiện từ một hệ thống tự động nào đó. Cậu đoán là các bộ cảm ứng theo dõi các hoạt động của thú cũng đồng thời điều khiển các màn hình trong chiếc Land Cruiser. Các màn hình bây giờ đang cho thấy hình ảnh các con hypsilophodont và các số liệu về chúng. Giọng nói cất lên:
     - Hypsilophodont là những con linh dương của thế giới khủng long, những con thú tương đối nhỏ, nhanh nhẹn, có thời kỳ lang thang khắp nơi trên quả đất từ quần đảo Anh đến Trung Á lên Bắc Mỹ. Chúng tôi cho rằng các con thú này rất thành công vì chúng có hàm và răng để nhai các loại cây cỏ tốt hơn các đồng loại đồng thời với chúng. Thật vậy, cái tên hypsilophodontid có nghĩa là "những chiếc răng cao", vốn liên hệ đến bộ răng có tính cách tự mài nhọn của loài thú này. Quý vị có thể thấy chúng ở trong những cánh đồng trống ngay phía trước, và có thể trên các cành cây.
     Lex nói:
     - Trên các cành cây à? Khủng long trên cây?
     Tim cũng đang nhướn cổ lên với chiếc ống nhòm. Cậu nói:
     - Phía bên phải. Ở cây to ấy, khoảng giữa cây kể từ gốc lên…
     Trong đám lá cành lỗ chỗ của thân cây một con thú màu lục đậm, vào khoảng cỡ một con khỉ đầu chó đứng bất động trên một cành cây. Con thú trông giống như con thằn lằn to đứng trên hai chân sau, lấy thăng bằng bởi chiếc đuôi buông thõng. Tim nói:
     - Cháu biết đấy là con othnielia.
     Grant nói:
     - Những con thú nhỏ qúy vị đang thấy được gọi là othnielia, để tôn vinh nhà săn tìm khủng long Othniel Marsh thuộc trường đại học Yale ở thế kỷ mưởi chín.
     Tim còn tìm thấy thêm hai con khác nữa trên các cành cao hơn cùng cây ấy. Chúng to cùng cỡ. Không một con nào động đậy. Lex bảo:
     - Khủng long gì mà chán òm. Chẳng con nào làm cái gì cả.
     Giọng nói:
     - Bầy chính của lũ thú này có thể nhìn thấy ở cánh đồng cỏ dưới chân đồi quý vị. Chúng tôi có thể làm chúng xuất hiện bằng âm thanh gọi bầy.
     Một chiếc loa mắc cạnh hàng rào phát ra những âm thanh giọng của mũi nghe như tiếng ngỗng kêu. Từ cánh đồng cỏ ngay bên trái họ sáu chiếc đầu thằn lằn nhô cao khỏi đám cỏ, chiếc này sau chiếc kia. Hiệu quả có vẻ khôi hài và Tim cười lớn. Sáu chiếc đầu biến mất. Chiếc loa lại phát ra tiếng kêu và một lần nữa, mấy cái đầu lại nhô lên - theo cách như lần vừa rồi, chiếc này sau chiếc kia. Sự lặp lại đúng y của một tập tính thật đáng ngạc nhiên.
     Giọng nói:
     - Hypsilophodont đặc biệt không phải là một loài thú thông minh. Trí khôn của chúng chỉ gần bằng một con bò nuôi ăn thịt thôi.
     Mấy chiếc đầu màu lục xám, với các loạt vằn nâu sẫm và đen chạy dài xuống mấy chiếc cổ mảnh. Từ mấy chiếc đầu, Tim đoán thân hình chúng dài cỡ một mét hai, lớn bằng một con hươu. Một vài con đang nhai cỏ nhóp nhép. Một con đưa chi trước có năm ngón lên cào cào trên đầu. Cử chỉ này khiến con vật có dáng tư lự, suy nghĩ .
     - Nếu quý vị thấy chúng đang gãi, ấy là vì chúng có vấn đề ở da. Những nhà thú y ở đây cho rằng đấy có thể là một loại nấm hoặc một thứ dị ứng. Nhưng họ vẫn chưa chắc chắn. Vả lại, đây là con khủng long đầu tiên trong lịch sử được khảo sát khi đang sống.
     Động cơ điện của xe khởi động và có tiếng nghiến của các bánh xe răng cưa. Với âm thanh bất ngờ đó, bầy hypsilophodont bỗng nhảy cao lên trên không rồi nhảy liên tục trên đám cỏ như những con kangguru, bày rõ toàn bộ thân hình với các chân sau to khỏe, những chiếc đuôi dài dưới ánh mặt trời.
     - Chúng ta đã xem qua mấy con thú thuộc loài ăn cỏ, bây giờ chúng ta đi tiếp, xem những con lớn hơn một chút.
     Chiếc Land Cruiser tiếp tục tiến tới về phía nam xuyên qua công viên kỷ Jura.

ĐIỀU KHIỂN
     Trong phòng điều khiển, John Arnold nghe thấy tiếng bánh xe răng cưa của mấy chiếc Land Cruiser. Ông nói:
     - Hãy xem lại các khớp ly hợp của các chiếc BB4 và BB5 khi chúng trở về.
     - Vâng, thưa ông Arnold. - Một giọng trả lời ở intercom.
     Hammond đang đi quanh phòng. Lão nói:
     - Một tiểu tiết.
     Nhìn ra, lão có thể thấy hai chiếc Land Cruiser chạy xuyên qua công viên. Muldoon đứng trong một góc, yên lặng quan sát. Aronold từ bảng điều khiên của mình đẩy ghế lui:
     - Thưa ông Hammond chẳng có vấn đề nào là tiểu tiết cả.
     Ông ta đốt một điếu thuốc khác. Luôn căng thẳng. Đặc biệt bây giờ Arnold đang cáu kỉnh. Chả là ông quá biết rằng đây là lần đầu tiên khách thật sự đi tham quan công viên. Thật ra, đội kỹ thuật của Arnold không thường xuyên ra công viên. Harding, bác sĩ thú y thỉnh thoảng mới đi. Các nhân viên chăm sóc thú chỉ đi vào những ngôi nhà cho ăn riêng. Còn thì họ chỉ canh chừng công viên từ phòng điều khiển. Và bây giờ với những người khách ngoài kia, ông ta lo lắng đến cả trăm chuyện linh tinh.
     John Arnold là một kỹ sư đã từng làm việc trên tàu ngầm Polaris có hệ thống phóng hỏa tiễn tử dưới nước vào cuối thập niên 60 cho đến khi ông có đứa con đầu lòng và cái viễn cảnh chế tạo vũ khí chẳng còn mùi mẽ gì nữa. Trong lúc đó, Walt Disney đã bắt đầu sáng tạo những hệ thống chuyển du khách đi quanh công viên giải trí với những kỹ thuật tinh vi hiện đại, họ đã thuê nhiều người trong lãnh vực hàng không làm việc. Arnold đã giúp xây nên Disney World ở Orlando, và rồi tiếp tục xây dựng các công viên lớn ở Magic Mountain bang California, Old Coconty ở bang Virgina và Aotroworld bang Houston.
     Trong hai năm qua, công việc của Arnold là chuẩn bị cho công viên đi vào sử dụng. Với tư cách là một kỹ sư, ông đã quen với các thời gian biểu dài ngày. Ông thường nhắc đến "ngày khai trương vào tháng chín" Trong đó ông có ý nói tháng chín năm tới - và khi ngày khai trương tháng chín gần kề, ông không thấy vui vẻ với những gì đã thực hiện được. Theo kinh nghiệm ông biết rằng đôi khi phải mất hàng năm để tìm ra những lỗi kỹ thuật của một chuyến di chuyển quanh công viên.
     Hammond nói với Arnold:
     - Anh chỉ là một kẻ hay lo.
     - Tôi không nghĩ thế. Ông phải nhận rằng, theo quan điểm kỹ thuật, công viên kỷ Jura đã vượt quá xa tham vọng về một công viên. Khách viếng không bao giờ nghĩ đến điều đó, nhưng chúng tôi nghĩ đến.
     Arnold đưa từng ngón tay lên.
     - Thứ nhất, công viên có tất cả các vấn đề của một công viên giải trí - duy trì bảo quản những phương tiện chuyên chở, điều khiển việc bốc xếp hàng, vận chuyển thức ăn, tiện nghi lưu trú, thanh lý rác rưởi, an toàn cho du khách. Thứ hai, chúng ta có tất cả các vấn đề của một sở thú lớn - chăm sóc, sức khỏe và phúc lợi; nuôi thú ăn và giữ sạch sẽ chuồng trại; bảo vệ thú tránh côn trùng cùng các thú vật có hại khác, dịch bệnh, dị ứng, bảo quản rào chắn và mọi thứ. Cuối cùng, chúng ta có những vấn đề chưa từng gặp trước đây là chăm sóc cho một mật độ thú dày đặc mà chưa một ai từng thử làm.
     Hammond:
     - Ồ, nhưng chúng ta chẳng gặp gì tệ hại với tất cả những thứ đó.
     - Có đấy chứ. Chỉ vì ông không có mặt ở đây để thấy. Mấy con tyrannosaurus uống nước trong hồ và đôi khi đau ốm, chúng tôi không biết tại sao. Những con triceraptor giết lẫn nhau trong các trận đấu giành quyền đầu đàn và phải chia thành từng đàn không quá sáu con. Chúng tôi không biết tại sao. Những con stegosaur thường xuyên có những vết rộp ở lưỡi và đi tiêu chảy, vì những lý do gì chưa ai biết, dù chúng tôi đã mất hai con. Các con hypsilophodont thì thường nổi mẩn ở da, con velociraptor thì…
     - Thôi, chúng ta hãy ngưng nói đến những con velociraptor đã. Tôi đã phát ốm lên vì nghe mãi về những con này. Chúng thật là những con thú vô lại chưa từng thấy.
     Muldoon nói, bằng giọng nhỏ:
     - Đúng vậy. Nên đem hủy diệt hết những con này.
     Hammond:
     - Anh muốn gắn cho chúng những vòng cổ phát sóng. Và tôi đã đồng ý.
     Arnold:
     - Vâng. Và chúng lập tức cắn đứt. Nhưng cho dù mấy con raptor này không bao giờ có thể thoát ra khỏi chuồng được, tôi nghĩ chúng ta phải thừa nhận rằng công viên vẫn dễ gặp điều bất trắc. Hammond:
     - Ồ, chỉ là chuyện nhảm nhí. Anh đang đứng về phía nào đấy?
     - Hiện giờ chúng ta đang có mười lăm loại thú tuyệt chủng, và phần lớn đều rất nguy hiểm. Chúng ta bắt buộc phải hoãn các chuyến chuyên chở trên sông vì những con dilophosaur, và khu tham quan Pteratop trong khu trại lồng vì lũ ptenodactyl tính khí bất thường. Đấy không phải là những trì hoãn kỹ thuật, thưa ông Hammond.
     - Anh đã có khối chuyện phải trì hoãn vì kỹ thuật. Đừng đổ lỗi cho lũ thú.
     - Vâng, đúng vậy. Thật sự, chúng tôi đã làm mọi thứ để có được sự hấp dẫn du khách, xe điện xuyên công viên, hoạt động rất chính xác, trong mỗi xe đều có CD - ROM điều khiển bằng các bộ cảm ứng chuyển động. Đã phải mất bao nhiêu tuần lễ để làm chúng vận hành chính xác. Và bây giờ hệ thống trục răng của điện trên mấy chiếc xe đang có vấn đề? Mấy chiếc trục răng cưa chết tiệt!
     - Hãy giải quyết công việc đó sau. Anh đã có được sự chính xác về kỹ thuật và lũ thú sẽ ở đúng các vị trí qui định. Rốt cuộc, chúng vẫn có thể huấn luyện được.
     Từ lúc bắt đầu, đây là một trong những điều tin tưởng cốt lõi của các nhà lập kế hoạch. Lũ thú, cho dù khó tính, sẽ có những tập tính như các con thú ở bất cứ sở thú nào. Chúng sẽ học được những thói quen về sự chăm sóc của họ.
     - Còn về computer thì sao? - Hammond hỏi và nhìn Dennis Nedry, đang làm việc ở góc cuối phòng - Thứ computer quỷ tha ma bắt này luôn là chuyện nhức đầu.
     Nedry vẫn làm việc:
     - Chúng tôi đang hoàn thiện hệ thống.
     - Nếu anh làm đúng ngay từ đầu… - Hammond bắt đầu rền rĩ, nhưng Arnold đã đặt một tay lên vai lão để làm dịu cơn tức. Ông biết không nên gây căng thẳng với Nedry trong lúc anh ta làm việc.
     Đấy là cả một hệ thống lớn. Nhất định phải có những sai sót.
     Thật vậy, danh mục chi tiết kỹ thuật sai sót lên đến 130 mục, gồm nhiều thứ kỳ cục. Ví dụ, chương trình cho súc vật ăn tự thiết lập lại sau mười hai tiếng chứ không phải hai mươi bốn tiếng, và không cho ăn vào các chủ nhật. Vì lý do đó, các nhân viên không sao tính toán chính xác số lượng thực phẩm lũ thú dùng.
     Hệ thống an toàn, vốn điều khiển tất cả các cánh cửa mở bằng thẻ an toàn, bị mất tác dụng khi nguồn điện chính bị cắt là đương nhiên, nhưng lại không hoạt động trở lại khi được cung cấp điện bằng nguồn phụ. Chương trình an toàn chỉ vận hành với nguồn năng lượng chính.
     Chương trình duy trì ánh sáng, theo thiết kế chỉ bật đèn mờ sau mười giờ đêm, nay lại chỉ hoạt động vào một số ngày trong tuần.
     Chương trình phân hủy phân tự động được lập để kiểm tra các ký sinh trùng trong phân thú đã luôn luôn ghi nhận là mọi thứ phân của các chủng loại thú đều có các ký sinh phagostomum venulosum, mặc dầu không có thứ phân nào có ký sinh đó cả, do đó nó tự động phân phát thuốc cho vào thức ăn của thú. Nếu một nhân viên chăm sóc gạt bỏ thuốc ra khỏi phễu để khỏi bị cho vào thức ăn thì hệ thống báo động kêu vang lên mà không thể nào ngắt được.
     Và cứ thế, các lỗi lầm cứ được ghi vào trang này đến trang khác.
     Khi mới đến, Dennis Nedry có cảm tưởng rằng anh ta sẽ sửa chữa tất cả những lỗi máy trong một tuần lễ. Nhưng anh ta xám mặt khi thấy bảng danh sách. Bây giờ, anh đang gọi cơ sở của mình ở Cambridge, bảo các nhà lập chương trình là họ sắp phải hoãn lại các dự định nghỉ cuối tuần để làm việc suốt đến thứ hai. Và anh ta cũng đã cho Arnold hay là cần đến tất cả các điện thoại liên lạc giữa Isla Nublar và đất liền để chuyển các số liệu chương trình đi và đến cho những người lập chương trình của mình.
     Trong khi Nedry làm việc, Arnold mở hé một cửa sổ tại phòng điều khiển từ xa của mình. Việc này cho phép Arnold thấy những gì Nedry đang làm tại góc phòng trước bảng điều khiển. Không phải ông không tin tưởng Nedry. Nhưng Arnold chỉ thích biết những gì đang diễn biến ở đấy.
     Ông nhìn vào biểu đồ trên màn điều khiển bên phải, đang chỉ đường đi của mấy chiếc Land Cruiser. Hai xe đang chạy dọc theo con sông, về phía bắc của khu lồng nuôi thú bay.
     Giọng nói tiếp tục hướng dẫn:
     - Nếu quý vị nhìn qua phía trái thì sẽ thấy mái vòm của khu chuồng nuôi khủng long bay, chưa hoàn thành để đón du khách - Tim thấy ánh mặt trời chiếu hắt ra từ những vòng tròn bằng nhôm trắng ở xa xa - Và ngay phía dưới chuồng lồng là con sông thuộc kỷ Mesogoic, nơi mà nếu may mắn quý vị có thể thoáng thấy một con thú săn thịt hiếm có. Xin hãy nhìn kỹ, tất cả các quý vị.
     Bên trong chiếc Land Cruiser, màn hình cho thấy một cái đầu như đầu chim, trên đỉnh đầu có một cái mào đỏ chói. Nhưng mấy người trong xe Tim đang nhìn ra cửa sổ. Chiếc xe chạy men theo rìa núi cao nhìn xuống một con sông chảy xiết phía dưới. Con sông hầu như bị che kín hai bên bởi những tàn lá rậm rạp. Giọng nói:
     - Đấy chúng đang ở đấy. Các con thú quý vị đang nhìn gọi là con dilophosaur.
     Tim chỉ thấy một con. Con dilophosaur ngồi xổm trên hai chân sau bên dòng suối, đang uống nước. Con vật có hình dáng của một loài chim ăn thịt, đuôi to, chân sau mạnh, và chiếc cổ dài. Thân hình cao ba mét có từng khoanh tròn vàng và đen như một con báo.
     Nhưng chính cái đầu con vật khiến Tim chú ý. Hai chiếc mồng cong chạy suốt đỉnh đầu, từ hai mắt xuống sống mũi, gặp nhau ở chính giữa làm thành một chữ V. Hai chiếc mồng có vằn đỏ đen, trông phảng phất hình ảnh của một con két hay con tu-căng. Con thú đang kêu lên những tiếng như cú rúc.
     Lex nhận xét:
     - Con thú dễ thương ghê.
     Giọng ghi âm:
     - Dilophosaurus là một trong những loài khủng long săn mồi thịt xuất hiện sớm nhất trên quả đất. Các nhà khoa học đã từng cho rằng bắp thịt hàm của chúng quá yếu không giết con mồi được và nghĩ rằng chúng là những con thú ăn xác súc vật chết. Nhưng bây giờ chúng tôi biết chúng là những con thú có chất độc làm chết con mối.
     Những tiếng kêu như cú rúc của con dilophosaurus lại văng vẳng trong bầu không khí buổi chiều đưa đến tai họ. Lex nhỏm lên trên ghế của mình giọng bất an:
     - Chúng có độc thật sự không, chú Regis?
     - Đừng có bận tâm chuyện ấy.
     - Nhưng chúng có độc không?
     - Ờ có đấy, Lex.
     Giọng nói:
     - Cùng với những loại bò sát hiện nay như rắn đầu quỷ Gila, rắn roi, con dilophosaurus chứa độc hematotoxin trong những tuyến ở miệng. Cú cắn của nó gây hôn mê bất tỉnh trong vòng vài phút. Rồi thì con khủng long cứ từ từ đánh chén con mồi của mình. Con dilophosaurus là một con thú đẹp nhưng nguy hiểm chết người trong số thú quý vị đang thấy trong công viên.
     Chiếc Land Cruiser quẹo ở một góc, để lại con sông đằng sau. Tim nhìn lui, hy vọng một lần nữa thấy con dilophosaurus. Thật đáng ngạc nhiên! Khủng long độc? Cậu ước chi có thể dừng xe lại, nhưng mọi thứ đều tự động. Và cậu biết chắc tiến sĩ Grant cũng muốn dừng xe.
     - Nếu quý vị nhìn lên dốc đứng phía phải, quý vị sẽ thấy Les Gigantes, công trường xây phòng ăn ba sao siêu việt của chúng tôi. Đầu bếp trưởng Alain Richard của nhà hàng Le Baumiere ở Pháp nổi tiếng khắp thế giới được mời đến đây. Quý vị có thể gọi đặt buổi ăn bằng cách quay số bốn tại phòng khách sạn quý vị.
     Tim nhìn lên dốc, nhưng không thấy gì cả.
     Ed Regis giải thích:
     - Nói thế nhưng lúc này chưa có. Nhà hàng này thậm chí còn chưa được xây dựng cho đến sau tháng mười một.
     - Tiếp tục đi thăm, kế đây chúng ta sẽ xem loài ăn cỏ thuộc nhóm ornithiechian. Nếu nhìn qua bên phải, có thể quý vị sẽ thấy chúng vào lúc này.
     Tim thấy hai con thú đứng bất động trong bóng râm của một cây lớn: hai con triceraptor. Chúng màu xám và to cỡ bằng con voi với dáng đứng hùng hổ của một con tê ngu. Phía trên mỗi mắt có một chiếc sừng dài một mét rưỡi, cong cong, trông giống như ngà voi. Và chúng đều có mõm dài, nhọn của một con tê ngu. Giọng nói:
     - Không giống như các khủng long khác, con triceraptor serratus không nhìn thấy rõ. Chúng cận thị, như các tê ngu ngày nay, và chúng có khuynh hướng ngạc nhiên với các vật di động. Chúng có thể tấn công xe chúng ta nếu chúng ở gần đủ để thấy xe. Nhưng xin quý vị cứ yên tâm, ở đây, chúng ta có đủ khoảng cách an toàn.
     - Các con triceraptor có mồng hình quạt phía sau đầu. Mồng được cấu tạo bằng xương cứng và rất mạnh. Mỗi con thú này cân nặng bảy tấn. Bất chấp vẻ bên ngoài, thật ra chúng rất dễ bảo. Chúng quen với các người chăm sóc, và chúng chịu để cho vuốt ve. Đặc biệt, chúng rất thích được gãi ở vùng hông.
     Lex nói:
     - Tại sao chúng không cử động? - cô bé quay cửa xuống - Ê, mấy con khủng long ngu ngốc? Nhúc nhích đi chứ!
     Ed Regis bảo Lex:
     - Ấy cháu đúng chọc mấy chú ấy.
     - Sao vậy? Chúng ngốc nghếch như thế. Chúng ngồi đấy như ảnh trong sách.
     Giọng ghi âm vẫn đang thuyết minh:
     - … Những con quái vật dễ tính từ một thế giới đã trôi qua sắp xuất hiện trước mắt quý vị. Loài thú ăn thịt nổi danh nhất trong lịch sử trái đất: con khủng long bạo chúa dũng mãnh, có tên là tyrannosaurus rex.
     Tim nói như reo lên:
     - Hay quá. Con tyrannosaurus rex.
     Lex quay mình khỏi mấy con triceraptor:
     - Em hy vọng con này thú vị hơn mấy con thú khở kia.
     Chiếc Land Cruiser tiếp tục chạy tới ro ro.
0
BẠO CHÚA KHỔNG LỒ
     - Loài tyrannosaurus ra đời chậm trong lịch sử khủng long. Khủng long ngự trị quả đưa đất trong một trăm hai mươi triệu năm, nhưng chỉ đến mười lăm triệu năm cuối thời kỳ này mới có loài khủng long bạo chúa.
     Hai chiếc Land Cruiser đã dừng lại trên một đỉnh đồi. Họ nhìn bao quát một vùng rộng phủ rừng chạy thoai thoải xuống một hồ vịnh. Mặt trời đang lặn dần xuống phía tây, chân trời mù sương. Toàn bộ quang cảnh của công viên đẫm trong một ánh sáng nhạt, với những bóng cây đổ dài. Mặt vịnh chín màu hồng thắm. Xa hơn về phía nam, họ thấy những chiếc cổ mềm mại của những con camarasuar đứng ở rìa nước, thân hình in bóng xuống mặt hồ vịnh gợn sóng lăn tăn. Trời đất yên lặng, trừ âm thanh o o của những con ve sầu. Khi nhìn chăm chú vào cảnh vật trước mặt, thật không thể nào tin rằng họ đang thật sự đi ngược lại quá khứ hằng bao nhiêu triệu năm đến một thế giới đã biến mất. Tiếng Regis trong intercom:
     - Cảnh sắc trông được đấy chứ, thưa quý vị? Thỉnh thoảng tôi cũng hay đến đây, vào buổi chiều. Và chỉ ngồi ngắm.
     Grant không bị cảnh vật gây ấn tượng. Ông hỏi:
     - Mấy con tyrannosaurus rex đâu?
     - Câu hỏi đúng lúc đấy? Có một con nhỏ vẫn thường thấy ở hồ. Hồ có rào chắn ở dưới nước, chúng tôi nuôi cá trong ấy. Nó học biết được cách bắt cá. Xem nó bắt cá thật thú vị. Nó không dùng hai chi trước, mà vục đầu xuống nước. Như một con chim.
     - Một con nhỏ?
     - Con T-rex nhỏ. Nó ở độ tuổi vị thành niên, hai năm tuổi. Đứng cao hai mét rưỡi, nặng một tấn rưỡi. Còn một con nữa là con tyrannosaur đã trưởng thành, lớn đủ mức. Nhưng vào lúc này, chúng ta không thấy nó.
     Grant:
     - Có lẽ nó đang săn bắt mấy con camarasaur.
     Regis cười, tiếng nghe nho nhỏ qua vô tuyến.
     - Nó sẽ săn mồi ngay nếu nó có thể đi săn được, hãy tin vậy. Đôi lúc nó đứng cạnh hồ và nhìn chằm chằm vào mấy con thú ấy, rồi ve vẩy hai chi trước trong nỗi thất vọng. Lãnh địa của con T-rex hoàn toàn bị cô lập với rào chắn và hào sâu. Nó đứng đâu đó ta không thấy được, nhưng nó không thể đi đâu được.
     - Vậy nó đâu?
     - Nó giấu mình. Nó hơi e thẹn.
     Malcolm ngạc nhiên:
     - E thẹn? Khủng long bạo chúa mà e thẹn?
     - Vâng thường nó luôn luôn ẩn mình. Quý vị không bao giờ thấy nó ngoài trời, đặc biệt là dưới ánh nắng.
     - Tại sao vậy?
     - Chúng tôi cho rằng da chúng mẫn cảm và dễ bị rám nắng.
     Malcolm bắt đầu cười ra tiếng. Grant thở dài:
     - Anh đang phá hoại nhiều ảo ảnh.
     Regis:
     - Nhưng tôi nghĩ là quý vị sẽ không thất vọng. Cứ chờ xem.
     Họ nghe tiếng kêu be be nho nhỏ. Ở chính giữa cánh đồng, một chiếc lồng sắt được nâng bằng thủy lực từ dưới hầm lên mặt đất. Các thanh lồng bằng sắt trượt xuống và con dê vẫn bị buộc ở giữa đồng, kêu be be não nùng. Tiếng Regis nhắc lại:
     - Xin chú ý, sự việc xẩy ra bất cứ phút nào.
     Họ nhìn chăm chú qua cửa sổ.
*
     Hammond nhìn các màn hình điều khiển trong phòng:
     - Hãy nhìn họ xem. Chồm hết ra ngoài cửa xe, có vẻ háo hức. Họ không thể chờ để xem con vật. Họ đang đến gần sự nguy hiểm.
     Muldoon:
     - Đấy là điều tôi đang lo sợ. - Ông ta xoay xoay mấy chiếc chìa khóa quanh ngón tay, nhìn mấy chiếc Land Cruiser căng thẳng. Đây là lần đầu tiên có khách tham quan công viên, và Muldoon cùng chia sẻ nỗi lo ngại với Arnold.
     Robert Muldoon là một người to con, năm mươi tuổi, râu mép rậm màu xám chì, mắt xanh sâu. Lớn lên ở Kenya, ông đã dùng phần lớn cuộc đời mình làm người hướng dẫn cho các tay đi săn lớn ở châu Phi, như cha ông ta đã làm trước đó. Nhưng từ năm 1980, ông làm việc chủ yếu cho những nhóm bảo tồn thiên nhiên và những nhà thiết kế sở thú với tư cách là người tư vấn về thú hoang. Ông nổi tiếng, và tờ Time ra ngày chủ nhật ở London đã viết: "Những gì ông Robert Jones làm là cho các sân chơi golf còn của Robert Muldoon là cho sở thú: một nhà thiết kế với kỹ năng và kiến thức không ai qua mặt được".
     Năm 1986, ông làm việc cho một công ty ở San Francisco, tức công ty đang xây cất một công viên tư nuôi thú hoang trên một đảo ở Bắc Mỹ. Muldoon đã thiết kế những khu ở cho các loại thú khác nhau, xác định những yêu cầu về khoảng không gian và nơi sinh cho sư tử, voi, ngựa vằn và hà mã. Ông phân loại các thú nào có thể nuôi chung được với nhau, con nào cần phải nuôi riêng.
     Trước đó, công việc này vẫn theo một lề thói cũ. Và rồi ông thấy rất thích thú với một công viên ở Ấn Độ gọi là Tiger World ở miền nam Kashmir.
     Rồi cách đây một năm, ông được đề nghị làm người tổ chức các trò thăm thú giải trí ở công viên kỷ Jura. Việc này trùng hợp với ý muốn rời châu Phi của ông; lương tháng thì quá tuyệt diệu. Muldoon đã theo công việc này trong một năm. Ông ngạc nhiên phát hiện ra công viên này thật sự là một nơi tập trung những thú tiền sử có được do kỹ thuật di truyền.
     Đấy dĩ nhiên là một công việc thú vị, nhưng suốt những năm ở châu Phi, Muldoon đã phát triển một quan điểm bất di bất dịch về loài thú - quan điểm phi lãng mạn - gây cho ông sự cãi cọ thường xuyên với ban quản đốc công viên kỷ Jura ở California. Theo ý kiến Muldoon, tái tạo được khủng long trong phòng thí nghiệm là một việc, duy trì chúng sống được trong hoang dã là một việc khác.
     Chính là do quan điểm của Muldoon cho rằng một số loài khủng long quá nguy hiểm để nuôi nhốt trong công viên. Họ vẫn còn biết quá ít về số loài khủng long này. Ví dụ không ai cho rằng các con dilophosaur có mang chất độc cho đến khi quan sát được chúng lúc săn mồi: chúng cắn những con chuột trên đảo rồi bước lui, chờ chuột chết. Và thậm chí chẳng ai ngờ rằng các con dilophosaur có thể thè lưỡi phóng độc cho đến khi một người chăm sóc gần như mù mắt vì chất độc chúng phóng ra.
     Sau đó, Hammond bằng lòng cho nghiên cứu chất độc của con dilophosaur và tìm thấy có chứa bảy độc tố khác nhau. Và họ cũng phát hiện ra là con dilophosaur có thể phóng độc tới con mồi khoảng cách mười lăm mét! Vì điều này cho thấy khả năng du khách có thể bị phóng độc làm mù mắt, ban quản đốc quyết định mổ lấy đi túi chứa nọc độc. Các bác sĩ thú ấy đã cố thử hai lần, với hai con khác nhau, những chẳng lần nào thành công. Không một ai biết được chất độc nằm ở chỗ bí mật nào, và sẽ không một ai biết được cho đến khi có dịp khám nghiệm và mổ xác một con chết - nhưng dĩ nhiên ban quản lý chưa cho phép một con nào bị giết chết.
     Muldoon thậm chí còn lo ngại hơn về mấy con velociraptor. Lũ thú này săn mồi theo bản năng, và không bao giờ bỏ qua con mồi. Chúng giết mồi ngay cả khi chúng không đói. Chúng giết vì niềm vui của việc giết mồi. Chúng là những con vật chạy rất nhanh, và nhảy cao đáng ngạc nhiên. Bốn chân chúng có nhiều móng vuốt chết người, một cú chụp của chi trước có thể xẻ dọc một người, banh cả ruột gan ra ngoài. Và chúng có đôi hàm mạnh mẽ có thể xé thịt thay vi cắn. Chúng thông minh hơn các con khủng long khác rất nhiều và chúng hình như là các con thú chuyên phá chuồng do bản tính tự nhiên.
     Các chuyên gia sở thú biết rằng một số thú nhất định nào đó đặc biệt ưa trốn thoát khỏi chuồng. Khỉ và voi, có thể mở cửa chuồng. Một số khác, như lợn rừng, thông minh một cách bất thường, có thể nâng then gài cửa chuồng bằng mõm. Nhưng có ai ngờ rằng một con cừu khổng lồ là một con vật chuyên phá chuồng? Hay con nai Bắc Mỹ. Loài nai này hầu như rất thiện nghệ trong việc dùng mõm như voi dùng ngà vòi. Chúng luôn thoát được chuồng, rất tài trong việc này.
     Và mấy con velociraptor cũng thế!
     Raptor ít ra cũng khôn như loài hắc tinh tinh. Và như con hắc tinh tinh, lũ raptor có đôi tay khéo léo cho phép chúng mở được cửa và sử dụng các đồ dùng bằng tay. Chúng có thể thoát chết dễ dàng. Và, như Muldoon đã từng lo so, khi cuối cùng một con trốn thoát, giết chết hai công nhân công trường và làm bị thương nặng một người khác trước khi bị bắt lại. Sau tai biến đó, khu dành cho khách viếng được xây dựng lại với các hàng rào chấn song to, chắc và cao. Các cửa sổ được thay bằng loại kính không bể, khu nhốt raptor được xây lại với nhiều bộ cảm ứng để báo động khi có raptor sắp trốn thoát. Muldoon muốn trang bị súng nữa. Ông muốn có những khẩu súng phóng hỏa tiễn TOW bắn bằng cách vác trên vai. Các tay đi săn đều biết là rất khó khăn mới hạ được một con voi châu Phi bốn tấn, thế mà một vài con khủng long ở đây nặng gấp mười lần hơn.
     Ban quản đốc sợ, nhất quyết không cho có súng ở trên đảo. Khi Muldoon dọa sẽ thôi việc, và đem chuyện này phanh phui cho báo chí, họ mới có được một thỏa thuận. Cuối cùng, hai súng phóng hỏa tiễn điều khiển bằng tia laser được chế tạo riêng cho đảo được cất giữ trong một phòng khóa kỹ ở tầng hầm. Chỉ Muldoon có chìa khóa mở phòng. Mấy chiếc chìa khóa mà lúc này Muldoon đang quay quanh ngón tay. Ông nói:
     - Tôi xuống hầm đây.
     Arnold đang nhìn màn hình điều khiển, gật đầu. Hai chiếc Land Cruiser đỗ tại đỉnh rồi, chờ con T-rex xuất hiện.
     Nedry từ bảng điều khiển ở góc phòng, gọi với lại:
     - Ê, khi nào lên, nhớ mang cho tôi một chai coca, nhé?
*
     Grant chờ trong xe, yên lặng trông chừng. Tiếng kêu be be của con dê vang lên to hơn, gây chú ý hơn. Con vật điên cuồng giật mạnh sợi dây buộc, chạy tới chạy lui, qua vô tuyến, Grant nghe tiếng Lex giọng lo lắng:
     - Việc gì sẽ xẩy ra cho con dê? Con T-rex có ăn thịt nó không?
     Một giọng trả lời cô bé:
     - Chắc là vậy.
     Và Ellie vặn nhỏ vô tuyến lại. Rồi họ ngửi thấy mùi hôi thối của thức ăn thối rữa bốc lên. Grant thì thào:
     - Nó kia rồi.
     Con dê bị buộc giữa cánh đồng cách đấy gần nhất cũng phải ba mươi mét, con khủng long hẳn ở đâu đó giữa đám cây, nhưng vào lúc này, Grant không thấy gì cả. Rồi ông nhận ra rằng ông đang nhìn quá thấp: đầu con vật đứng cao cách mặt đất sáu mét, nửa ẩn nửa hiện sau những tán lá của đám cọ dừa.
     - Ôi, Chúa ơi, con vật to bằng cả tòa nhà.
     Grant nhìn chăm chăm vào chiếc đầu vuông khổng lồ dài một mét rưỡi, lốm đốm vằn nâu đỏ, với đôi hàm bự và răng nanh. Đôi hàm của con khủng long cử động, mỏ ra rồi ngậm lại. Nhưng con vật khổng lồ không ra khỏi chỗ núp:
     - Nó sẽ chờ trong bao lâu?
     - Có lẽ ba hay bốn phút. Có lẽ…
     Con khủng long bạo chúa yên lặng nhảy vọt tới bày ra toàn thể thân hình khổng lồ của nó. Với bốn cú nhảy nó đã vượt hết khoảng cách tới con dê, cúi xuống, và cắn vào cổ con mồi. Tiếng be be tắt ngấm. Yên lặng.
     Với tư thế đàng hoàng khi giết con mồi, con khủng long bỗng nhiên tỏ vẻ ngần ngại. Chiếc đầu hình khối vĩ đại quay trên chiếc cổ đầy bắp thịt, nhìn khắp mọi phía. Nó nhìn chòng chọc vào mấy chiếc Land Cruiser, đang đỗ trên đồi cao. Malcolm thì thào.
     - Nó có thấy chúng ta không?
     Giọng Regris qua intercom:
     - Ồ, thấy chứ. Hãy xem xem nó ăn ngay ở đấy trước mặt chúng ta, hay nó sẽ kéo con mồi đi.
     Con tyrannosaurus cúi xuống, khịt mũi ngửi xác con dê. Một tiếng chim kêu chíp chíp: nó ngẩng đầu lên cảnh giác, trông chừng. Nó nhìn tới nhìn lui, đầu giật giật. Ellie nhận xét:
     - Trông như con chim.
     Con khủng long vẫn do dự. Malcolm thì thầm:
     - Nó sợ gì?
     Grant đáp nhỏ:
     - Có lẽ nó sợ một con khác.
     Những con thú to lớn ăn thịt sống như sư tử và cọp thường rất cẩn thận sau khi giết con mồi, hành động như là có thể bất ngờ bị phát hiện. Các nhà nuôi thú thế kỷ 19 nghĩ rằng chúng cảm thấy có tội vì những gì chúng vừa làm. Nhưng các nhà khoa học hiện đại cho rằng đấy là chúng cảnh giác sau cố gắng giết mồi - sau những giờ kiên nhẫn bám theo trước khi tung cú chụp cuối cùng. Ý tưởng cho rằng "vuốt đã đỏ thì răng cũng đỏ" là sai; phần lớn các con mồi thường bị chiếm mất. Khi một con thú hạ được con mồi nó rất cảnh giác vì sợ bị tấn công và cuỗm mất phần. Con khủng long này cũng đang sợ.
     Sinh vật khổng lồ cúi xuống con dê lần nữa. Một chân sau to lớn đè lên xác con vật khi đôi hàm bắt đầu xé thịt. Regis thì thầm:
     - Nó sẽ ăn tại chỗ. Thật tuyệt.
     Con khủng long lại ngẩng đầu lên, các miếng thịt tươi đầy máu dính ở hàm. Nó nhìn mấy chiếc Land Cruiser. Nó bắt đầu nhai. Họ nghe tiếng xương kêu rào rạo sởn cả gai ốc.
     Và rồi, dường như sự cẩn thận cuối cùng làm nó cảm thấy yên tâm hơn, con tyrannosaur nhấc phần còn lại của con dê bằng hàm rồi lặng lẽ lui vào giữa đám cây.
     Giọng thu thanh:
     - Thưa quý ông quý bà. Đấy là con tyrannosaurus- rex.
     Hai chiếc Land Cruiser lại khởi động, yên lặng rời chỗ, xuyên qua đám tán lá. Malcolm dựa vào ghế:
     - Thật kỳ quái.
     Gennaro chùi mồ hôi trán. Mặt ông ta xám ngắt.
0
ĐIỀU KHIỂN
     Henry Wu bước vào phòng điều khiển, thấy mọi người đang ngồi trong bóng tối, lắng nghe radio.
     - Ôi, đức Chúa Jesus! Nếu một con như con thú ấy thoát ra. - giọng Gennaro nghe nho nhỏ.
     - Không thể nào chặn nó lại được.
     - Không thể chặn bắt được, không…
     - Khổng lồ, không có thể nào…
     Trong phòng điều khiển, Hammond nói:
     - Mấy lão chết tiệt. Họ quá lo lắng những chuyện không đâu.
     Wu:
     - Họ vẫn tiếp tục về chuyện thú trốn thoát à? Tôi không hiểu nổi. Đến lúc này họ hẳn đã thấy rằng chúng ta kiểm soát được mọi thứ. Chúng ta đã tạo nên lũ thú và thiết kế nên trung tâm nghỉ mát này.
     Hammond nói:
     - Đấy là do cái lão Malcolm ấy. Hắn xúi mọi chuyện. Hắn chống chúng ta từ lúc bắt đầu, anh biết đấy. Hắn tìm đâu được cái lý thuyết là những hệ thống phức hợp không thể điều khiển được, không thể bắt chước được thiên nhiên. Tôi hy vọng là lão không làm Gennaro chết khiếp rồi hủy bỏ công viên này.
     Wu hỏi:
     - Lão ta có thể làm được thế không?
     - Không. Nhưng lão có thể làm cho các tay đầu tư Nhật sợ hãi rút tiền đầu tư. Hay lão có thể châm chọc chính quyền San José. Lão có thể gây rối.
     Arnold dập tắt điếu thuốc:
     - Chúng ta hãy chờ xem. Chúng ta tin vào công viên. Hãy xem, công viên sẽ hoạt động ra trò.
*
     Muldoon rời thang máy, gật đầu chào người gác tầng trệt và bước xuống tầng hầm. Ông bật đèn. Tầng hầm chứa hai xe Land Cruiser, sắp hàng ngay ngắn. Đây là những xe điện mà rồi đây sẽ thực hiện những chuyến du ngoạn bất tận, chạy quanh công viên rồi trở về trung tâm đón khách.
     Trong góc là một chiếc Jeep sơn sọc đỏ, một trong hai xe chạy xăng, - Harding, viên bác sĩ thú y, đã lấy một chiếc vào sáng hôm kia - có thể chạy đến bất cứ nơi nào trong công viên, ngay cả giữa đám thú. Hai chiếc Jeep được sơn những sọc chéo màu đỏ làm cho những con triceraptor sợ không dám tấn công.
     Muldoon đi quanh chiếc Jeep ra phía sau. Cánh cửa sắt của phòng chứa vũ khí không mất dấu. Ông dùng chìa riêng của mình mở khóa và kéo rộng cánh cửa. Giá súng sắp đều bên trong. Ông lôi ra một khẩu súng phóng hỏa tiễn nhỏ Randler và một hộp đạn.
     Ông kẹp hai hỏa tiễn xám ở dưới tay kia.
     Sau khi khóa cửa, ông để khẩu súng vào ghế sau chiếc Jeep. Khi rời garage, ông nghe một tràng sấm nổ xa xa.
*
     Hai chiếc Land Cruiser đã dừng lại lần nữa, gần đồng lầy nuôi sauropod. Một bầy apatosaur khá đông đang ăn ở rìa hồ nước. Chúng ăn lá của những cành cọ dừa gần đọt. Cũng trong vùng đó có một số khủng long mỏ vịt hadrosaur, trông nhỏ hơn nhiều so với những khủng long khác.
     Dĩ nhiên, Tim biết là các con hadrosaur thật sự không phải nhỏ. Ấy là chỉ vì các con apatosaur lớn hơn nhiều. Những chiếc đầu nhỏ tí của chúng vươn cao lên đến mười lăm mét trong chiếc cổ ngóng dài vào không trung.
     Giọng nói:
     - Những con thú lớn quý vị đang nhìn thấy có tên là brontosaurus nhưng thật ra chúng là những con apatosaurur. Chúng cân nặng hơn ba mươi tấn. Có nghĩa là chỉ một con thôi đã nặng bằng cả bầy voi ngày nay. Và quý vị có thể chú ý là vùng đất ưa thích của chúng dọc theo vịnh, không có đầm lầy. Chúng thích ở đất khô hơn.
     Regis nói:
     - Lex à, brontosaurus là con khủng long lớn nhất đấy.
     Tim không muốn cãi lại anh ta vì sợ mất lòng. Thật sự, con brachiosaurus to hơn gấp ba lần. Và một số người lại còn cho rằng con ultrasaurus và con seisnosaurus thậm chí còn lớn hơn cả con brachiosaurus. Con seisnosaurus có thể nặng đến một trăm tấn.
     Bên cạnh các con apatosaurus các con hadrosaur nhỏ hơn đang đứng trên hai chân sau để ngắt lá cọ dừa. Chúng cử động thật dịu dàng so với thân hình to lớn như thế. Một số các con hadrosaur con tung tăng quanh những con trưởng thành, ăn những lá rơi từ miệng những con lớn.
     Giọng nói:
     - Những con khủng long của công viên kỷ Jura không sinh sản. Những con con quý vị thấy do phòng ấp của chúng tôi tạo ra. Nhưng những con lớn vẫn nuôi chúng.
     Những tràng sấm nổ kéo dài. Bầu trời đen hơn, thấp xuống đe dọa. Ed Regis:
     - Ấy, trời sắp mưa thật đấy.
     Chiếc xe chạy tới trước, và Tim quay ra nhìn mấy con hadrosaur. Đột nhiên, một bên xe, cậu bé thấy một con vật màu vàng xám vụt qua thật nhanh. Có những vằn nâu trên lưng con vật. Cậu nhận ra nó ngay lập tức. Cậu la lớn:
     - Ê! Dừng xe lại!
     Regis hỏi:
     - Chuyện gì thế?
     - Nhanh lên! Dừng xe lại?
     Giọng nói tiếp tục:
     - Bây giờ, chúng ta tiếp tục xem con thú cuối cùng của công viên kỷ Jura vĩ đại của chúng tôi, con stegosaur.
     - Có chuyện gì thế, Tim?
     - Cháu thấy một con. Cháu thấy một con ở cánh đồng kia.
     - Thấy gì?
     - Một con raptor? Ở cánh đồng kia!
     Giọng ghi âm:
     - Các con stegosaur là những con thú thuộc trung kỷ Jurassic, vào khoảng một trăm bảy mươi triệu năm trước. Nhiều con trong số loài thú ăn cỏ này đang sống tại đây, trong công viên kỷ Jura này.
     Regis nói:
     - Ồ, không phải đâu, Tim. Không phải con raptor đâu.
     - Cháu thấy rõ mà! Dừng xe lại đi!
     Có tiếng bíp bíp trong intercom và tin này đã chuyển đến Grant và Malcolm:
     - Tim bảo nó thấy một con raptor.
     - Ở đâu?
     - Sau cánh đồng kia.
     - Chúng ta hãy lui lại xem thử.
     Ed Regis nói:
     - Chúng ta không thể quay lại. Chúng ta chỉ có thể đi tới. Các xe đã được lập chương trình.
     Grant:
     - Không thể đi lui được à?
     - Không được. Xin lỗi. Quý vị thấy đấy.
     Một giọng cắt ngang ở intercom :
     - Tim. Đây là giáo sư Malcolm. Bác chỉ hỏi cháu một câu về con raptor này. Cháu đoán nó chừng mấy năm tuổi?
     - Lớn hơn con chúng ta thấy hồi trưa, và non hơn mấy con trưởng thành ở trong chuồng. Những con trưởng thành cao hai mét. Con này cao chừng một nửa thôi.
     - Được rồi, tốt.
     - Cháu chỉ thấy nó trong một giây thôi.
     Regis:
     - Tôi đoán chắc đấy không phải là con raptor. Không thể nào là một con raptor. Chỉ có thể là một con othys. Những con này luôn nhảy qua được chuồng. Chúng tôi đã mất nhiều thì gĩờ với chúng.
     Tim:
     - Cháu biết là cháu đã thấy một con raptor.
     Lex bắt đầu rên rỉ:
     - Cháu thì thấy đói bụng quá.
*
     Trong phòng điều khiển, Arnold quay sang Wu:
     - Anh nghĩ thằng bé thấy gì?
     - Tôi cho rằng đấy là một con othys.
     Arnold gật đầu:
     - Chúng ta vẫn gặp rắc rối khi theo dõi lũ othys vì chúng vẫn thường ở trên các cây.
     Lũ othys là một ngoại lệ đối với việc kiểm tra từng phút một đối với lũ thú. Các computer thường xuyên mất dấu rồi lại tìm thấy được chúng khi chúng leo lên cây rồi leo xuống.
     Hammond:
     - Điều làm tôi bực mình là chúng ta đã tạo nên công viên kỳ diệu này, nhưng những người khách đầu tiên của chúng ta ngoài kia với tư cách những người có trách nhiệm về tiền bạc, chỉ bới lông tìm vết. Họ chẳng để tâm gì đến sự kỳ diệu của công viên.
     Arnold:
     - Đấy là việc của họ. Chúng ta có thể làm cho họ thấy sự kỳ diệu.
     Intercom kêu tách, và Arnold nghe một giọng cất lên:
     - À, ông Arnold, đây là Anne B tại bến tàu. Chúng tôi chưa làm xong việc dỡ hàng, chúng tôi thấy là cơn bão sẽ đến ở phía nam. Tốt hơn là tôi không nên neo tàu tại đây nếu trời trở gió tệ hại hơn.
     Arnold quay sang màn hình đang chiếu cảnh chiếc tàu chở hàng, thả neo ở bến tàu về phía đông đảo. Ông ta bấm nút vô tuyến:
     - Còn nhiều hàng cần bốc nữa không?
     - Chỉ còn ba container thiết bị cuối cùng nữa. Tôi chưa kiểm tra lại phiếu giao hàng, nhưng thế này thì chắc ông phải chờ hai tuần để nhận. Điều kiện thả neo ở đây không tiện cho chúng tôi khi có bão. Ông biết đấy. Và chúng tôi cách đất liền cả trăm dặm.
     - Ông yêu cầu được rời bến không?
     - Vâng, ông Arnold.
     Hammond:
     - Tôi cần các thiết bị ấy. Các thiết bị cho các phòng thí nghiệm.
     - Vâng, - Arnod nói - nhưng ông không muốn bỏ tiền để làm rào chắn bão cho cầu tàu. Vì thế chúng ta không có bến tốt. Nếu bão trở nên dữ dội thì tàu sẽ nẩy lên đập vào bến. Tôi đã từng thấy nhiều tàu chìm theo cách ấy. Và rồi ông sẽ tiêu tốn bao thứ khác, thay tàu, thêm việc dọn cảng. Ông sẽ không dùng được cảng cho đến khi…
     Hammond vẫy tay ra hiệu cho qua:
     - Thôi, để cho họ đi đi.
     Arnold nói vào radio:
     - Cho phép rời bến, Anne B.
     Giọng nói qua intercom:
     - Hẹn gặp lại hai tuần sau .
     Trên màn hình điều khiển, họ thấy các thủy thủ lên boong tàu, bắt đầu nhổ neo. Arnold quay trở lại bảng điều khiển chính. Ông ta thấy mấy chiếc Land Cruiser chạy qua cánh đồng đầy hơi nước bốc lên. Hammond hỏi:
     - Họ đang ở đâu vậy?
     - Trông như họ đang ở những cánh đồng phía nam. Cuối phía nam đã có nhiều núi lửa hơn phía bắc. Có lẽ họ gần đến chỗ mấy con stegosaurus. Tôi chắc là họ sẽ dừng lại để xem Harding đang làm gì.
0
STEGOSAUR
     Khi chiếc Land Cruiser dừng lại, Ellie Sattler nhìn con stegosaur qua những đám hơi nóng bốc lên từ mặt đất. Con vật đứng yên lặng, không nhúc nhích. Một chiếc Jeep có sọc chéo đỏ đỗ gần một bên.
     Malcolm:
     - Phải thừa nhận rằng đây là một con vật trông buồn cười.
     Con stegosaur dài sáu mét với một thân hình to lớn cục mịch và những vi thẳng đứng nằm dọc theo sống lưng. Chiếc đuôi trông rất nguy hiểm với những đầu nhọn dài gần một mét. Chiếc cổ thon dần lên đến chiếc đầu nhỏ rắn chắc với đôi mắt nhìn ngờ nghệch, trông như một con ngựa câm. Khi họ đang nhìn, một người từ sau con vật đi quanh ra trước. Regis nói qua radio:
     - Đấy là bác sĩ thú y của chúng tôi, bác sĩ Harding. Ông ta đã đánh thuốc mê con stegos, đấy là lý do tại sao nó không cử động. Nó đang ốm.
     Grant đã rời khỏi xe, đi vội tới bên con vật đang đứng bất động. Ellie cũng ra khỏi xe và nhìn lui khi chiếc Land Cruiser thứ hai đỗ lại và hai đứa bé nhảy ra. Tim hỏi:
     - Con vật bệnh gì vậy?
     Ellie:
     - Họ chưa rõ
     Những cái vi to như những cái quạt bằng da dọc theo sống lưng con stegos rủ nhẹ xuống. Con vật thở khó khăn, chậm chạp, hơi thở phì phò. Lex hỏi:
     - Nó có làm lây bệnh không?
     Họ đến bên chiếc đầu nhỏ của con vật, nơi Grant và Harding đang quỳ giữa đất, nhìn vào miệng con vật. Lex nhăn mũi:
     - Con này đúng là to thật. Và khó ngửi quá.
     Ellie đồng ý:
     - Đúng là có mùi khó ngửi.
     Cô đã chú ý là con stegosaur có một mùi kỳ lạ, như cá ươn để thối. Mùi hôi nhắc cô đến điều gì đó cô đã biết, nhưng không nhớ ở đâu. Dù sao cô cũng chưa bao giờ ngửi được mùi của một con stegos trước đây. Có lẽ đây là mùi đặc trưng của con thú. Nhưng cô cũng nghi ngờ. Phần lớn các con thú ăn cỏ chẳng có mùi khó ngửi. Phân của chúng cũng thế. Chỉ những con vật ăn thịt sống mới có thể có mùi khó chịu. Lex hỏi:
     - Có phải vì ốm mà nó hôi không?
     - Có thể. Và đừng quên là bác sĩ thú y đã đánh thuốc mê nó.
     Grant gọi:
     - Ellie này. Hãy nhìn lưỡi con vật xem.
     Chiếc lưỡi tím đen từ miệng con thú thè ra buông thõng xuống. Bác sĩ thú y rọt đèn vào lưỡi và Ellie thấy những nốt mụn trắng rất nhỏ.
     - Những mụn nước li ti. Thú vị thật.
     Bác sĩ thú y nói:
     - Chúng tôi đang gặp lúc khó khăn với lũ stegos này. Chúng luôn luôn bị bệnh.
     - Triệu chứng ra sao? - Ellie đưa móng tay gẩy vào một mụn ở lưỡi con vật. Một chất nước trong ứa ra.
     - Eo ơi! - Lex lè lưỡi.
     Harding:
     - Đứng không vững, mất định hướng, thở khó, đi tiêu nhiều. Dường như cứ sáu tuần thì xẩy ra một vụ nhiễm bệnh.
     - Họ tiếp tục cho nó ăn? - Ellie hỏi.
     - Ồ, vâng. Một con thú cỡ này cần một lượng tối thiểu từ hai trăm rưỡi hoặc ba trăm kilô rau cỏ hàng ngày. Chúng là những chiếc máy cắt cỏ liên tục.
     - Vậy thì chúng không phải bị bệnh do ăn phải cỏ độc.
     - Đúng vậy.
     - Cho tôi mượn cây đèn một tí. - Ellie lấy cây đèn chiếu rọi vào mắt con thú - Chất gây mê của ông gây kết quả thế nào đối với mắt con thú?
     - Các đồng tử hẹp lại.
     Ellie nhận xét:
     - Nhưng đồng tử con vật lại mở rộng ra.
     Harding nhìn theo Ellie. Quả đúng như thế: con ngươi của con thú mở to ra và không đóng hẹp lại khi ánh sáng chiếu vào. Ông nói:
     - Tôi thật đáng chê. Đây là hiệu quả dược lý.
     Ellie đứng dậy:
     - Đúng vậy. - Cô nhìn quanh - Phạm vi hoạt động của con vật rộng chừng nào?
     - Chừng năm dặm vuông.
     - Trong vùng này?
     Họ đang đứng trong một đồng cỏ khoảng khoát, mặt đất có những hỏn đá trồi lên cao rải rác đó đây và những đám hơi nước bốc lên. Lúc này đã quá nửa chiều, và bầu trời hồng lên dưới những đám mây xám thấp. Harding nói:
     - Phạm vi hoạt động của chúng phần lớn ở khu phía bắc và phía đông cánh đồng này. Những khi ốm, chúng chỉ quanh quẩn ở vùng đặc biệt này.
     - Thật là một sự đau đầu thú vị, cô nghĩ làm thế nào giải thích được những lần bị độc định kỳ của con thú?
     Cô chỉ tay qua cánh đồng:
     - Ông thấy những bụi cây thấp xanh tươi kia không?
     Harding gật:
     - Cây tử đinh lương Tây Ấn. Chúng tôi biết cây này độc. Nhưng con vật không ăn cây ấy.
     - Ông có chắc không?
     - Chắc chứ. Chúng tôi theo dõi qua vidéo, và kiểm tra phân chúng để biết chắc. Các con stegos không bao giờ ăn loại cây này.
     Cây dâu tàu, hay cây tử đinh lương Tây Ấn, tên khoa học là melia agedarach có chứa một lượng độc chất akaloid. Người Trung Hoa dùng cây này để đánh độc cá. Harding nhắc lại:
     - Chúng không ăn cây ấy.
     Ellie:
     - Thế thì lạ thật. Bởi vì con vật này cho thấy mọi dấu hiệu cổ điển của sự trúng độc cây melia: đờ đẫn, mụn nhỏ màng nhầy, đồng tử mở rộng. - Cô đi tới gần mấy bụi cây để xem kỹ hơn – ông nói đúng. Các bụi cây nguyên vẹn, không có dấu hiệu bị rứt bẻ. Không có.
     Harding nhắc:
     - Và còn chuyện là cứ cách khoảng sáu tuần.
     - Con stegos có tới đây thường xuyên không?
     - Khoảng một tuần một lần. Lũ stegos quanh quẩn ở đây, xem như phạm vi cư trú của chúng, rồi bắt đầu đi ăn xa dần ra. Rồi chúng lại trở về đây. Mỗi lần như thế chừng một tuần. Nhưng chỉ sáu tuần chúng mới ốm một lần.
     - Đúng.
     Lex bảo Tim:
     - Mấy chuyện này chán quá.
     - Suỵt. Tiến sĩ Ellie Sattler đang tập trung suy nghĩ.
     Ellie:
     - Tôi không nghĩ ra được. - Cô đi xa thêm, nhìn quanh. Sau lưng, cô nghe Lex hỏi: "Có ai muốn chơi ném cầu không?"
     Ellie nhìn mặt đất. Cánh đồng có khá nhiều đá. Cô có thể nghe thấy tiếng sóng triều vỗ vào ghềnh đá, đâu đó về phía trái. Có những quả dâu chín rụng nằm xen giữa đám đá. Có lẽ mấy con thú chỉ ăn quả dâu. Nhưng cũng vô lý, vì quả dâu Tây Ấn này đắng kinh khủng.
     Grant đến bên cô:
     - Cô đang tìm gì à?
     Ellie thở dài:
     - Chỉ toàn đá. Chắc chúng ta ở gần biển, vì những hòn đá này đều nhẵn. Và chúng chồng lên nhau thành từng đống một cách kỳ lạ
     - Những đống đá kỳ lạ?
     - Có nhiều khắp nơi đấy. Có một đống gần ngay đây. - Ellie chỉ.
     Ngay khi chỉ, Ellie bỗng nhận ra là mình đang nhìn vào thư gì. Đá bị mòn nhẵn nhưng không có liên quan gì đến biển. Những hòn đá dồn lại thành từng đống nhỏ, dường như chúng được ném vào một chỗ.
     Đấy là những đống đá ựa ra từ mề chim. Nhiều loài chim và cá sấu nuốt những viên đá nhỏ, tập trung vào một túi thịt trong mề. Do sự co bóp của mề, những viên đá giúp nghiền nát các cây cỏ cứng trước khi đến bao tử và nhờ vậy tiêu hóa dễ hơn. Một số các nhà khoa học cho rằng khủng long cũng có mề. Vì răng khủng long tương đối nhỏ và ít mòn, chứng tỏ chúng ít nhai hoặc khó mà nhai thức ăn. Người ta đã giả thiết rằng khủng long nuốt chửng thức ăn và sau đó là mề làm nhiệm vụ nghiền nát các sợi xơ của thực vật. Và một số các bộ xương khai quật được thấy có những đống sạn nhỏ ở vùng bụng. Nhưng điều đó chưa được chứng thực, và…
     Grant thốt lên:
     - Sạn trợ tiêu.
     Ellie:
     - Tôi chắc vậy. Stegos nuốt những sạn này, và sau vài tuần, sạn bị mòn nhẵn, chúng ựa ra rồi nuốt sạn mới. Khi nuốt sạn, chúng nuốt luôn những quả chín. Và chúng bị bệnh.
     Grant:
     - Tôi thật ngốc. Chắc chắn là cô đúng rồi. - Ông nhìn đống sạn, dùng tay hất ra vài viên theo bản năng của một nhà cổ sinh vật. Và ông dừng lại:
     - Ellie này, hãy nhìn thứ này xem.
*
     - Nào, ném đi, chú.- Lex la lớn và Gennaro ném quả bóng về phía cô bé.
     Cô bé ném lại rất mạnh làm ông ta thấy đau tay khi bắt, ông nói lớn:
     - Này, ném vừa thôi. Chú không mang găng tay đấy.
     Lex nói, giọng tỏ vẻ ta đây:
     - Chú xoàng quá.
     Hơi bị chọc tức, ông ta ném mạnh quả bóng về phía cô bé, và nghe kêu bốp một tiếng trong lòng bàn tay da. Lex ta lên:
     - Đấy, tốt hơn rồi đấy.
     Đứng bên con khủng long, Gennaro tiếp tục chơi ném bóng với Lex và nói chuyện với Malcolm:
     - Con thú bị bệnh này khớp với lý thuyết của ông theo cách nào?
     - Việc này tôi đã tiên đoán rồi.
     - Có điều nào không được đoán trước bằng lý thuyết của ông?
     - Ô kìa. Chuyện chẳng dính dáng gì đến tôi cả. Đấy là lý thuyết bất ổn. Nhưng tôi thấy chẳng ai muốn nghe sự liên hệ nhân quả của toán học. Vì sự liên hệ đó qúa rộng lớn so với một đời người. Lớn hơn rất nhiều so với nguyên lý của Heisenberg hay lý thuyết của Godel, mà ai cũng có đọc qua. Đấy đúng là những suy tư trừu tượng. Suy tư triết học. Còn lý thuyết bất ổn liên quan tới cuộc sống hằng ngày. Ông có biết thoạt tiên tại sao người ta chế tạo ra các computer không?
     - Không.
     - Ném vào đây này, chú. - Lex gọi Gennaro.
     - Máy tính điện tử được tạo nên vào cuối thập niên bốn mươi vì các nhà toán học như John Von Neuman cho rằng nếu chúng ta có máy điện toán - một bộ máy đồng thời xử lý được nhiều vấn đề khác nhau - ta có thể đoán được thời tiết. Thời tiết cuối cùng sẽ nằm trong sự hiểu biết của con người. Mọi người tin tưởng vào giấc mơ ấy suốt bốn mươi năm kế đó. Họ tin rằng sự tiên đoán sẽ là một chức năng để theo dõi mọi chuyện. Nếu anh biết đủ, anh sẽ tiên đoán bất cứ thứ gì. Đấy là niềm tin vào khoa học được ấp ủ từ thời Newton.
     - Và…?
     - Lý thuyết bất ổn ném niềm tin ấy qua cửa sổ. Lý thuyết này nói người ta không bao giờ có thể tiên đoán được chắc chắn một hiện tương nào cả. Anh không bao giờ đoán được thời tiết trước quá vài ngày. Tất cả tiền bạc tiêu tốn vào việc đoán thời tiết dài ngày - vào khoảng nửa tỷ đô la trong mấy thập niên cuối cùng, là số tiền tiêu hoang phí. Đấy là sự lạc đường của người điên. Đấy là một hy vọng vô lý như cố biến chì thành vàng. Chúng ta nhìn lại các nhà hóa học giả kim và cười những gì họ cố làm, nhưng các thế hệ tương lai cũng sẽ cưới chúng ta như thế. Chúng ta đã cố làm một điều bất khả, và đã tiêu phí nhiều để làm. Vì thật ra có những hiện tượng mà cố hữu là không thể dự đoán được.
     - Lý thuyết bất ổn bảo thế?
     - Vâng. Và thật là ngạc nhiên khi ít có người chịu nghe đến nó. Tôi đã cho ông Hammond biết tất cả các thông tin này rất lâu trước khi ông ấy bắt đầu xây dựng chỗ này. Quý vị sắp dùng kỹ thuật di truyền tạo nên một đám thú tiền sử ở một hòn đảo à? Tốt. Một ước mơ đẹp. Hấp dẫn. Nhưng nó sẽ không thành công như kế hoạch dự định đâu. Kế hoạch cũng cố hữu là không thể dự đoán được cũng như thời tiết vậy.
     - Ông nói với ông ta thế?
     - Vâng. Và tôi cũng đã nói cho ông ta hay ở nơi nào sự trệch hướng sẽ xẩy ra. Rõ ràng lũ thú có thích hợp với môi trường hay không là một vấn đề. Con stegosaur này có đã từ một trăm triệu năm. Nó không thích nghi được với thế giới chúng ta. Không khí khác, sự bức xạ mặt trời khác, thổ nghi khác, côn trùng khác, âm thanh khác, cây cỏ khác. Mọi thứ đều khác. Độ ôxy trong không khí giảm. Con vật khốn khổ này giống như một người sống trên độ cao ba ngàn mét. Hãy nghe nó phì phò kia.
     - Còn các vấn đề khác?
     - Nói rộng ra, là khả năng của công viên trong việc có kiểm soát được sự lan tràn của các dạng đời sống hay không. Bởi vì lịch sử tiến hóa là cuộc sống vượt khỏi được các rào chắn. Cuộc sống vươn đến tự do. Cuộc sống trải rộng đến những vùng đất mới. Một cách đau đớn, và có lẽ cả một cách nguy hiểm, tôi không có ý định nói chuyện triết lý, nhưng cuộc sống nó là như thế.
     Gennaro nhìn về phía xa. Grant và Eliie đang đứng đàng ấy, vẫy tay và la lớn.
*
     Khi Muldoon bước vào phòng điều khiển, Nedry hỏi:
     - Ông có đem cho tôi chai coca không?
     Muldoon không buồn trả lời. Ông đi tới bên bộ phận điều khiển và nhìn xem những gì đang xẩy ra. Qua radio, ông nghe tiếng Harding: "Con stegos - cuối cùng - xử trí tiếp - bây giờ". Ông hỏi:
     - Họ nói gì vậy?
     Arnold:
     - Họ đang ở vùng phía nam, chỗ của lũ stegos. Và đấy là lý do tại sao họ dừng lâu một chút. Hình như họ tìm ra chuyện gì đã làm cho mấy con stegos mắc bịnh. Chúng ăn một thứ dâu gì đó.
     Hammond gật đầu:
     - Tôi đã nói là sớm muộn gì rồi chúng ta cũng giải quyết được việc ấy.
*
     Gennaro để một miếng trăng trắng, không lớn hơn một con tem thư, trên đầu ngón tay, trong ánh sáng tàn phai của buổi chiều, nói vời Grant:
     - Ông biết chắc thứ này à?
     - Hoàn toàn chắc chắn. Điều chắc chắn là ở chỗ bề mặt bên trong, mặt cong bên trong. Lật lại, ông sẽ thấy những đường nổi lên mờ mờ, tạo thành những hình gần như hình tam giác.
     - Vâng, tôi có thấy.
     - Tôi đã đào được hai quả trứng với nhưng đặc điểm y như thế ở địa điểm khai quật Montana.
     Gennaro hỏi lần nữa:
     - Ông nói đây là một mảnh vỏ trứng khủng long?
     Grant gật đầu quả quyết:
     - Hoàn toàn chắc chắn.
     Harding lắc đầu:
     - Nhưng khủng long ở đây không đẻ trứng.
     Gennaro:
     - Rõ ràng là chúng có thể đẻ.
     - Đấy hẳn là một mảnh vỏ trứng chim lớn. Thật sự có đến hàng tá loài chim trên đảo.
     Grant lắc đầu:
     - Hãy nhìn độ cong của mảnh vỏ. Gần như phẳng. Là vì quả trứng quả to. Và hãy chú ý đến độ dày của nó nữa. Trừ phi ông nuôi đà điểu trên đảo, không thì đấy là vỏ trứng khủng long.
     Harding vẫn lắc đầu:
     - Nhưng chúng không thể sinh sản được. Tất cả các con khủng long đều là con cái.
     Grant:
     - Theo tất cả những gì tôi biết thì đây là trứng khủng long.
     Malcolm hỏi:
     - Anh có thể cho biết chủng loại?
     - Được chứ. Đấy là trứng con velociraptor.
0
ĐIỀU KHIỂN
     Ở phòng điều khiển, qua radio, Hammond đang lắng nghe những lời trao đổi của mấy người tham quan. Lão nói:
     - Hoàn toàn vô lý. Đấy là trứng của loài chim lớn. Chỉ có thể như thế.
     Máy vô tuyến kêu lốp bốp. Lão nghe giọng Malcolm:
     - Dễ biết thôi. Chúng ta hãy làm một thí nghiệm nhỏ. Yêu cầu ông Arnold cho computer đếm lại và ghi kết quả.
     - Ngay bây giờ? - Arnold ở phòng điều khiển hỏi.
     - Vâng. Ngay bây giờ. Tôi biết là ông có thể chuyển kết quả đến màn hình trong xe ông Harding. Ông làm cho việc ấy luôn.
     - Được. Không sao cả.
     Mấy giây sau, màn hình trong phòng điều khiển hiện ra: Tổng số thú: 238
     Giọng Hammond:
     - Tôi hy vọng là quý vị đã thỏa mãn. Quý vị có nhận được kết quả ở màn hình trong xe không?
     Malcolm:
     - Chúng tôi đã thấy.
     - Mọi thứ đều rõ ràng, như thường lệ. - Giọng lão không giấu được vẻ thỏa mãn.
     Malcolm đề nghị:
     - Nào, bây giờ quý vị có thể cho computer tìm một tổng số thú khác được không?
     Arnold hỏi:
     - Tổng số khác? Số nào?
     - Hãy thử với số hai trăm ba mươi chín.
     Arnold cau mày:
     - Chờ một chút.
     Một lát sau, màn hình cho thấy: Tổng số 239
     Hammond chồm người tới trước:
     - Chuyện quỷ quái gì thế này?
     - Computer tìm được một con compys khác.
     - Từ đâu ra chứ?
     - Tôi không biết.
     Tiếng radio kêu lốp bốp:
     - Bây giờ, nào. Anh thử cho computer tìm cho một tổng số khác, con số ba trăm chẳng hạn?
     Hammond nói, cao giọng:
     - Lão ta nói gì vậy? Ba trăm con thú? Lão nói chuyện gì vậy?
     Arnold:
     - Chờ một chút. Việc này sẽ mất vài phút
     Ông bấm mấy nút ở màn hình. Dòng đầu tiên của bản kiểm kê thay đổi: Tổng số thú: 239
     Hammond nói:
     - Tôi không hiểu lão ấy đang nhắm vào việc gì?
     Arnold:
     - Tôi e là tôi hiểu được. - ông quan sát màn hình. Con số ở hàng thứ nhất đang nhấp nháy.
     Tổng số thú: 244
     Hammond:
     - Hai trăm bốn mươi bốn? Việc gì vậy?
     - Computer đang đếm số thứ tự. Đếm tất cả các con thú hiện có trên đảo. - Henry Wu nói.
     - Tôi nghĩ là máy vẫn luôn làm việc ấy chứ. - Lão quay người - Nedry, cậu có tương thêm chuyện rắc rối gì vào trong máy không đấy?
     Nedry từ bàn điều khiển của mình nhìn lên:
     - Không. Máy điện toán cho phép người điều khiển đưa vào một con số thú có sẵn để tiến trình đếm nhanh hơn. Nhưng đấy là một sự thuận tiện kỹ thuật, không phải là một nhầm lẫn.
     - Anh ấy nói đúng đấy. - Arnold nói - Chúng ta chỉ cứ dùng con số cơ bản hai trăm ba mươi tám vì chúng ta cho rằng không thể nào có quá con số ấy.
     Tổng số thú: 262
     Hammond:
     - Mấy con thú này không sinh sản được. Computer đang đếm chuột đồng hay con gì đó.
     Arnold:
     - Tôi cũng nghĩ vậy. Đấy hầu như chắc chắn là do việc thu hình của các thiết bị theo dõi. Nhưng chúng ta sẽ biết ngay thôi.
     Tổng số thú 270
     - Chúng từ đâu đến vậy? - Arnold hỏi.
     Wu:
     - Thật chết tiệt. Tôi cũng chịu thôi.
     Họ theo dõi con số tăng dần.
     Tổng số thú 283
     Qua radio, họ nghe giọng Gennaro:
     - Chúa ơi, còn bao nhiêu con nữa?
     Và họ nghe giọng cô bé:
     - Cháu thấy đói bụng quá. Khi nào thì chúng ta về?
     - Về ngay thôi, Lex.
     Trên màn hình, dòng chữ cho biết có nhầm lẫn xuất hiện:
     Nhầm lẫn lệnh tìm: không tìm đủ 300 con.
     Hammond gật đầu:
     - Một sự nhầm lẫn, tôi đã nghĩ vậy. Tôi có cảm giác nãy giờ hẳn phải có sự nhầm lẫn.
     Nhưng một chốc sau, màn hình hiện lên bảng kiểm kê khác:
     Tổng số thú: 292
     Radio kêu lốp lốp, giọng Malcolm:
     - Bây giờ quý ví đã thấy sự sai lầm trong quá trình lập chương trình của mình. Quý vị chỉ theo dõi con số tổng số khủng long của quý vị. Quý vị lo lắng sợ mất thú và các quá trình hoạt động được lập nên để báo cho quý vị biết ngay lập tức nếu thấy số thú ít hơn số sẵn có. Nhưng đấy không phải là vấn đề. Vấn đề là, quý vị có số thú nhiều hơn con số chờ đợi.
     Arnold thốt lên:
     - Lạy Chúa.
     Wu:
     - Không thể có nhiều hơn. Chúng tôi biết số chúng tôi thả ra. Không thể có nhiều hơn số ấy.
     Giọng Malcolm:
     - Tôi sợ là có nhiều hơn đấy, anh Wu. Chúng đang sinh sản.
     - Không.
     - Cho dù anh không thừa nhận mảnh vỏ trứng của Grant, anh có thể chứng minh với các số liệu của riêng anh. Hãy nhìn lại xem biểu đồ vẽ chiều cao của lũ compys. Arnold sẽ cho anh thấy biểu đồ ấy.
     Màn hình hiện lên biểu đồ với đường cong có một đỉnh cực đại. Malcolm hỏi:
     - Anh có chú ý gì về đường cong không?
     - Một đường cong bình thường, biểu diễn sự tăng trưởng chiều cao.
     - Nhưng chẳng phải anh đã nói rằng cho đến nay anh đã cho ấp ba lứa, mỗi lứa cách nhau khoảng sáu tháng?
     - Vâng…
     - Vậy thì anh phải có một biểu đồ với ba đỉnh khác nhau cho mỗi lứa ấp như thế này. - Malcolm bấm bàn phím và một biểu đồ khác xuất hiện ở màn hình, với một đường cong biến thiên có ba đỉnh - Nhưng anh không có biểu đồ ấy. Biểu đồ của anh chỉ mật độ tăng trưởng. Các con compys đang sinh sản.
     Wu lắc đầu:
     - Tôi không thấy bằng cách nào chúng sinh sản được.
     - Chúng đang sinh sản, và các con othnielia, maiasaur, hypsys, và velociraptor cũng đang sinh sản.
     Muldoon thốt lên:
     - Ôi Chúa! Các con raptor đang có mặt trong công viên.
     Hammond nhìn màn hình:
     - Ờ, nhưng việc này chẳng có gì tệ hại. Chúng ta chỉ có ba loại… à năm loại, đang gia tăng. Hai trong số này chỉ gia tăng rất ít.
     Wu hỏi, lớn giọng:
     - Ông đang nói gì vậy? Ông không hiểu việc này có nghĩa gì à?
     - Dĩ nhiên là tôi biết nó có ý nghĩa gì. Nó có nghĩa là anh đang tương những rắc rối vào công viên.
     - Tôi tuyệt đối không làm thế.
     - Anh đang có những con khủng long sinh sản được ngoài công viên kia, anh Wu.
     - Nhưng chúng là những con cái. Việc đó không thể được. Ắt có sự nhầm lẫn. Và hãy nhìn các con số. Các con thú lớn có sự gia tăng nhỏ, con maiasaur và con hypsys. Và các con thú nhỏ có các gia tăng lớn. Điều đó là không có lý. Hẳn là một nhầm lẫn.
     Radio kêu tít tít. Giọng Grant:
     - Không nhầm lẫn đâu. Tôi cho rằng những con số này xác nhận việc sinh sản của khủng long đang xẩy ra. Trong bảy nơi khác nhau quanh đảo.
0
NƠI SINH SẢN
     Bầu trời dần dần tối. Sấm rền xa xa. Grant và mấy người đứng tựa vào cửa xe Jeep chăm chú nhìn màn hình ở bảng đồng hồ tay lái. Giọng Wu qua radio:
     - Nơi sinh sản?
     Grant:
     - Tổ trứng. Giả sử trung bình mỗi tổ có từ tám đến mười hai trứng ấp nở, con số này cho thấy lũ compys có hai tổ. Mấy con raptor có hai tổ. Con othys một tổ. Và các con hypsys và maias mỗi con một tổ.
     - Những tổ này nằm ở đâu?
     - Chúng ta sẽ tìm. Khủng long làm tổ ở những nơi hẻo lánh.
     - Nhưng tại sao số thú lớn quá ít? Nếu có một tổ maias từ tám đến mười hai trứng thì phải có từ tám đến mưởi hai con maias mới thêm vào, không phải chỉ một con.
     - Đúng thế. - Grant nói - Ngoại trừ các con raptor và compys thả lỏng trong công viên có thể ăn trứng các con lớn hơn, và có thể ăn luôn các con mới nở.
     Giọng Arnold xen vào qua radio:
     - Nhưng chúng tôi chưa bao giờ thấy điều đó.
     - Raptor là loài ăn đêm. Có ai canh chừng công viên vào ban đêm không?
     Yên lặng một lúc lâu.
     Grant:
     - Chắc chẳng có ai.
     Giọng Wu:
     - Nhưng việc ấy cũng không có ý nghĩa. Ông không thể nuôi năm mươi con thú thặng dư chỉ với hai tổ trứng.
     - Vâng. Tôi cho là chúng ăn thêm thức ăn gì khác nữa. Có lẽ là loại gặm nhấm, như chuột nhắt, chuột đồng.
     Một lúc yên lặng khác. Rồi Grant lên tiếng: .
     - Tôi thử đoán xem. Khi thoạt tiên quý vị đến đảo, quý vị đã gặp vấn đề với lũ chuột. Rồi thời gian trôi qua, vấn đề mất dần đi.
     - Vâng. Đúng như thế…
     - Và quý vị không bao giờ nghĩ đến việc điều tra xem lý do tại sao.
     - Ơ chúng tôi chỉ cho rằng… - Giọng Arnold ngập ngừng.
     Giọng Wu:
     - Thế nhưng, vấn đề là: Tất cả các con thú đều là cái, chúng không thể sinh sản.
     Grant cũng đã suy nghĩ về điều đó. Gần đây ông có biết đến một khảo cứu khá thú vị của Tây Đức, có khả năng trả lời cho câu hỏi đau đầu này. Ông hỏi Wu:
     - Khi anh thực hiện việc rút DNA khủng long, anh làm việc với những chuỗi không nguyên vẹn, phải không?
     - Phải.
     - Để có được một chuỗi DNA hoàn toàn, anh có dùng đến một số xoắn DNA của các chủng loại khác không?
     - Thỉnh thoảng. Đấy là cách duy nhất để hoàn thành công việc. Đôi khi chúng tôi thêm vào DNA loài cầm, của các loài chim khác nhau, đôi khi của loài bò sát.
     - Anh có dùng DNA loài lưỡng cư không, chính xác là, của loài ếch nhái không?
     - Có thể có. Tôi phải kiểm tra lại đã.
     - Hãy kiểm tra lại đi. - Grant bảo - Tôi cho là anh sẽ tìm được câu trả lời ở đấy.
     Malcolm hỏi:
     - DNA của ếch nhái. Tại sao lại DNA ếch nhái?
     Gennaro sốt ruột xen vào:
     - Này, chuyện quý vị đang nói thú vị đấy, nhưng chúng ta quên mất câu hỏi chủ yếu: có con thú nào thoát khỏi đảo không?
     Grant:
     - Chúng ta không thể trả lời căn cứ theo các số liệu này được.
     - Vậy làm sao chúng ta biết được?
     - Tôi chỉ thấy một cách. Chúng ta sẽ phải tìm cho ra từng ổ trứng, khảo sát, rồi đếm mảnh vỏ trứng. Từ đấy ta có thể xác định có bao nhiêu khủng long được ấp nở. Rồi đếm lại số thú trên đảo xem có thiếu không.
     Malcolm:
     - Cho dù vậy, ta cũng không biết được là những con thú thiếu là do bị giết, hay chết vì những nguyên nhân tự nhiên, hoặc đã rời khỏi đảo.
     - Không biết được, đúng thế, nhưng đấy là bước đầu tiên. Và tôi nghĩ là chúng ta có thể có thêm thông tin qua xem xét kỹ các biểu đồ mật độ thú.
     - Làm thế nào chúng ta có thể tìm được các tổ trứng này?
     - Thật ra thì - Grant nói - tôi cho là computer có thể giúp chúng ta trong việc này được.
     Lex lại lên tiếng:
     - Chúng ta về được chưa? Cháu đói bụng quá.
     Grant nhìn cô bé, mỉm cười:
     - Được rồi, chúng ta về thôi. Cháu kiên nhẫn lắm rồi.
     Regis bắt đầu đến bên mấy chiếc Land Cruiser:
     - Quý vị có thể dùng bữa sau khoảng hai mươi phút nữa.
     Ellie đề nghị:
     - Tôi sẽ ở lại thêm một lát, để mượn máy ảnh của bác sĩ Harding chụp vài bức ảnh con stegos này.
     - Tôi muốn về. - Grant bảo - Tôi sẽ đi với mấy đứa nhỏ.
     - Tôi cũng thế. - Malcolm tiếp lời.
     - Tôi sẽ ở lại - Gennaro nói - và sẽ cùng về với tiến sĩ Ellie bằng xe của bác sĩ Harding.
     - Tốt quá. Vậy đi thôi.
     Họ bắt đầu đi đến bên mấy chiếc Land Cruiser. Tim đề nghị:
     - Lần này, cháu muốn đi xe trước với tiến sĩ Grant.
     Malcolm nói:
     - Không được đâu, cháu. Tiến sĩ Grant và bác cần nói chuyện.
     - Cháu chỉ ngồi nghe. Cháu sẽ không nói gì cả.
     - Hai bác nói chuyện riêng.
     Regis bảo Tim: .
     - Chú đề nghị thế này. Để hai bác ấy ngồi xe sau. Chúng mình ngồi xe trước và cháu có thể dùng kính nhìn đêm. Đấy là kính nhìn rất rõ, cháu sẽ thấy mọi thứ trong bóng tối .
     - Vậy thì được. - Tim tỏ vẻ thích thú và tiến tới xe trước.
     Lex chạy theo:
     - Ê em cũng muốn nhìn nữa.
     - Không được.
     - Không công bằng! Không công bằng! Cái gì anh cũng giành làm cả, anh Tim.
     Regis đứng nhìn chúng đi đến xe trước và bảo Grant:
     - Nào, lên xe thôi, và xem thử chuyến trở về có gì vui không.
     Grant và Malcolm leo vào chiếc xe sau. Một vài giọt mưa rơi bồm bộp vào mặt kính trước. Regis đóng cửa xe:
     - Chúng ta đi thôi. Tôi chuẩn bị bụng ăn tối rồi đây. Và tôi sẽ nhắm rượu chuối. Quý vị thấy sao? Rượu chuối, nghe ngon không? Gặp lại quý vị ở nhà khách.
     Regis chạy về phía chiếc xe trước, leo vào. Ánh đèn báo màu đỏ chớp chớp ở bảng đồng hồ. Với tiếng động cơ điện êm ru, hai chiếc Land Cruiser lăn bánh.
     Ngồi trên chuyến xe về chạy trong ánh sáng mờ nhạt, Malcolm cảm thấy bất an. Grant hỏi:
     - Anh hẳn cảm thấy mình đã suy nghĩ đúng? Về lý thuyết của anh?
     - Thật ra, tôi cảm thấy sợ hãi. Tôi ngờ rằng chúng ta đang ở vào một thời điểm rất nguy hiểm.
     - Tại sao?
     - Do trực giác.
     - Các nhà toán học tin vào trực giác không?
     - Tuyệt đối tin. Rất quan trọng là trực giác. Thật sự tôi đang nghĩ đến loại hình học tỉ lệ. Anh biết hình học tỉ lệ chứ?
     Grant lắc đầu:
     - Không, chỉ nghe đến thôi.
     - Hình học tỉ lệ là một loại hình học liên quan đến một người có tên là Mandelbrot. Không giống như hình học Euclid mà mọi người đều có học ở nhà trường gồm những hình vuông, hình tròn, hình cầu… Hình học tỉ lệ dường như diễn tả những vật thật trong thế giới tự nhiên. Núi và mây là những hình thể tỉ lệ. Vì thế hình học tỉ lệ có thể liên hệ đến tính thật. Bằng cách nào đấy. Vâng. Mandelbrot đã tìm ra một điều đáng lưu ý với những dụng cụ hình học của mình. Ông ta tìm ra được là mọi thứ trông rất giống nhau ở quy mô tỉ lệ khác nhau.
     - Quy mô tỉ lệ khác nhau? Tôi chưa hiểu.
     - Ví dụ, một ngọn núi lớn, nhìn từ xa, có hình dạng là một ngọn núi lởm chởm nào đấy. Nếu anh đến gần hơn và quan sát một đỉnh nhỏ của ngọn núi lớn, nó sẽ có hình dạng của ngọn núi lớn. Thực tế anh có thể đi suốt tỉ lệ này từ hình thể to nhất đến hình thể nhỏ nhất là một hạt bụi đá nhìn dưới kinh hiển vi, nó vẫn có hình dạng cơ bản của một ngọn núi lớn.
     Grant che miệng ngáp:
     - Tôi thật sự không thấy lý do tại sao lý thuyết này làm anh băn khoăn. - Ông ngửi thấy mùi lưu huỳnh của đám hơi nóng núi lửa. Bây giờ, họ đang đi trên con đường chạy gần bờ biển, nhìn xuống bãi biển và đại dương.
     - Đấy là một cách để nhìn sự vật. - Malcolm giải thích - Mandelbrot đã tìm ra được rằng sự giống nhau về tỉ lệ này cũng thấy có ở các biến cố.
     - Biến cố?
     - Hãy xét đến giá bông vải. Có đủ tài liệu ghi lại giá bông vải từ cách một trăm năm trở lại đây. Nếu xem lại sự dao động của giá cả loại nguyên liệu vải sợi này, ta sẽ thấy biểu đồ dao động giá trong thời gian một ngày cơ bản giống như biểu đồ trong một tuần, biểu đồ một tuần giống biểu đồ của một năm, của mười năm. Và đấy là cách mọi sự vật diễn ra. Một ngày cũng giống như toàn bộ cả cuộc đời Anh bắt đầu làm một việc, nhưng chấm dứt bằng cách làm một việc khác, dự định đến một nơi nào đấy, nhưng không bao giờ đến đấy… Và cho đến cuối cuộc đời, toàn bộ sự tồn tại của anh cũng có tính cách ngẫu nhiên như thế. Toàn bộ cuộc đời anh có hình dạng của một ngày đơn lẻ.
     - Tôi cho rằng đấy chỉ là một cách nhìn sự vật.
     - Không phải là một cách nhìn mà là cách duy nhất để nhìn sự vật. Hay ít ra, đấy cũng là cách duy nhất đúng với thực tế. Anh thấy đấy, cái ý tưởng giống nhau về tỉ lệ chứa trong nó một phương diện toán học, một cách nhân đôi chính bản thân, có ý nghĩa là biến cố thì không thể nào đoán trước được. Biến cố có thể thay đổi bất thình lình, và không có báo trước.
     - Ô kê…
     - Nhưng chúng ta tự xoa dịu bằng cách tưởng tượng sự thay đổi bất thường như là một cái gì xẩy ra ngoài sự tuần tự thông thường của sự vật. Một tai nạn, như một vụ tông xe. Hay là ở ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, như một căn bệnh nguy hiểm chẳng hạn. Chúng ta không nhận biết được sự thay đổi bất ngờ, có nguyên do, khó chịu, vốn là chất liệu chính của sự tồn tại. Nhưng sự thay đổi ấy có đấy. Như lý thuyết bất ổn đã bảo ta: tính chất đường thẳng, mà chúng ta vẫn xem là đương nhiên tồn tại ở mọi thứ, từ vật lý cho đến sự tưởng tượng ra các hoạt động, thật ra là không tồn tại. Tính chất đường thẳng là một loạt các biến cố liền với nhau cái này theo cái kia như một chuỗi hột đeo cổ. Cuộc sống thật sự là một biến cố theo sau một cách hoàn toàn không thể đoán trước được, thậm chí bằng cách hủy diệt. - Malcolm ngồi lui, nhìn chiếc Land Cruiser phía trước, cách xe sau vài mét - Đấy là sự thật hoàn toàn về cấu trúc vũ trụ. Nhưng vì lý do nào đó, chúng ta cứ nhất mực xử sự dường như đấy là không đúng sự thật.
     Vào lúc đó hai chiếc xe nẩy lên rồi dừng lại. Grant hỏi:
     - Việc gì thế?
     Ở phía trước, hai người thấy hai đứa bế trong xe đưa tay chỉ ra ngoài biển. Ngoài khơi, dưới những đám mây thấp, Grant thấy bóng đen của con tàu đang trên đường trở lại Puntarenas. Malcolm hỏi:
     - Tại sao xe dừng lại?
     Grant bật radio và nghe bé Lex la lớn kinh động:
     - Nhìn kìa, anh Tim! Anh thấy không, nó ở đấy!
     Malcolm liếc nhìn chiếc tàu:
     - Tụi nó đang nói về chiếc tàu?
     - Rõ ràng như thế.
     Regis leo ra khỏi xe chạy đến cửa xe họ:
     - Xin lỗi, nhưng cả hai đứa bé đều kích động. Quý vị có ống nhòm đấy không?
     - Để làm gì?
     - Con bé nói nó có thấy cái gì trên tàu, như là một con thú.
     Grant chụp cái ống nhòm, tì tay lên cửa sổ chiếc Land Cruiser. Ông nhìn quét hết chiều dài của chiếc tàu. Trời chiều và chiếc tàu quá xa, gần như chỉ là một cái bóng mờ; khi ông nhìn, đèn trên tàu bật lên, chiếc tàu sáng lên trong ánh tím hoàng hôn. Regis hỏi:
     - Ông thấy gì không?
     - Không.
     Giọng Lex qua radio:
     - Chúng ở dưới thấp ấy. Nhìn thấp xuống.
     Grant hạ thấp ống nhòm, nhìn quét hông tàu nằm gần mặt nước. Chiếc tàu chói sáng với những chấm đèn chạy suốt chiều dài con tàu. Nhưng lúc đó đã hoàn toàn tối, và ông khó mà thấy được chi tiết.
     - Không, không có gì…
     - Cháu có thể thấy chúng mà, - Lex sốt ruột la lên - gần phía sau ấy. Bác hãy nhìn gần cuối tàu.
     Malcolm hỏi:
     - Làm sao nó thấy gì được trong ánh sáng này?
     - Tụi nhỏ có thể nhìn thấy. Chúng có sức nhìn mạnh hơn mà chúng ta quên là mình cũng từng có.
     Grant đưa ống nhòm về phía cuối tàu, đưa chầm chậm và thình lình ông thấy một con vật. Chúng đang đùa, giỡn, nhảy tới nhảy lui giữa bóng đen của đuôi tàu. Ông chỉ có thể thấy thấp thoáng, nhưng dù ngay trong ánh sáng mờ nhạt, ông có thể nói rằng đấy là những con vật đứng thẳng cao khoảng hơn nửa mét, lấy thăng bằng nhờ ở đuôi cứng.
     Lex hỏi:
     - Bác đã thấy chúng chưa?
     - Bác thấy rồi.
     - Chúng là những con gì?
     - Chúng là những con raptor. Ít nhất là hai con. Có thể hơn. Những con gần trưởng thành.
     Regis kêu lên:
     - Chúa ơi. Chiếc tàu ấy đang đi về đất liền.
     Malcolm nhún vai:
     - Đừng có hoảng hốt. Chỉ việc gọi phòng điều khiển và bảo họ gọi chiếc tàu quay lại.
     Regis với tay vào xe chụp lấy radio ở bảng điều khiển. Họ nghe tiếng lách tách lốp bốp khi anh ta thay đổi nhanh băng tần:
     - Máy này có gì trục trặc rồi. Nó không hoạt động.
     Anh ta chạy trở lại chiếc Land Cruiser thứ nhất. Họ thấy anh ta chui vào xe. Rồi nhìn về phía họ:
     - Có gì trục trặc ở cả hai máy vô tuyến. Tôi không thể gọi được phòng điều khiển.
     - Vậy chúng ta đi thôi - Grant nói.
*
     Trong phòng điều khiển, Muldoon đứng trước các cánh cửa lớn nhìn xuống công viên. Lúc này là bảy giờ tối, ánh sáng đèn thạch anh rực rỡ tràn ngập khắp nơi, biến đảo thành một viên kim cương chói lòa. Đây là lúc Muldoon thích nhất trong ngày. Ông nghe những tiếng xì xì nhiễu sóng từ những máy vô tuyến. Arnold nói:
     - Hai chiếc Land Cruiser đã lại bắt đầu đi. Trên đường về.
     - Nhưng tại sao họ dừng lại? - Hammond hỏi - Và tại sao chúng ta không thể nói chuyện được với họ?
     - Tôi không biết. Có lẽ họ tắt radio ở xe họ.
     Muldoon:
     - Có lẽ vì cơn giông. Mất truyền sóng vì cơn giông.
     Hammond:
     - Họ sẽ về đây trong hai mươi phút nữa. Tốt hơn cả là anh nên gọi xuống và biết chắc rằng phòng ăn sẵn sàng đón tiếp họ. Hai đứa nhỏ đói bụng lắm rồi.
     Arnold nhấc ống nghe và nghe tiếng xì xì đơn điệu đều đặn:
     - Gì thế này? Có gì xảy ra?
     Nedry la lên:
     - Chúa ơi, đặt xuống đi. Ông đang làm rối cả dòng số liệu đấy.
     - Anh dùng hết tất cả đường điện thoại à? Kể cả điện thoại nội bộ.
     - Tôi sử dụng hết các đường liên lạc ra ngoài đảo. Nhưng những đường nội bộ trên đảo vẫn hoạt động.
     Arnold bấm những nút điều khiển, hết nút này đến nút khác. Ông chẳng nghe gì khác ngoài tiếng lì xì trên tất cả các đường dây.
     - Hình như anh đã sử dụng hết tất cả.
     Nedry:
     - Xin lỗi về vụ này. Tôi sẽ giải phóng hai đường dây dành cho ông vào cuối lần chuyển số liệu tới, khoảng mười lăm phút nữa. - Anh ta ngáp - Mấy ngày cuối tuần đối với tôi dài quá. Tôi phải đi kiếm một chai coca đã. - Nedry với lấy túi đeo vai và bước về phía cửa. - Đừng có động tới bảng điều khiển của tôi, được chứ?
     Cánh cửa đóng lại. Hammond thốt lên:
     - Thật là một gã cẩu thả.
     - Vâng, - Arnold nói - nhưng tôi thấy là gã làm việc được.
*
     Dọc theo con đường, những đám hơi núi lửa biến thành những đám sương bảy màu cầu vồng do hiệu quả của ánh sáng chói lòa. Grant nói qua radio:
     - Chiếc tàu mất bao lâu mới đến đất liền?
     Ed Regis trả lởi:
     - Mười tám tiếng. Hơn kém khoảng chừng ấy. Tàu chạy khá đúng giờ. - Anh ta nhìn đồng hồ - Tàu sẽ phải đến vào mười một giờ sáng hôm sau.
     Grant cau mày:
     - Anh vẫn không liên lạc được với phòng điều khiển?
     - Chưa liên lạc được.
     - Thế Harding thì sao? Anh bắt liên lạc với ông ấy được không?
     - Không. Tôi đã thử rồi. Có lẽ ông ta không mở radio.
     Malcolm đang lắc đầu:
     - Vậy thì chỉ chúng ta là những người duy nhất biết có mấy con thú trên tàu.
     Regis:
     - Tôi đang gắng báo động cho người nào đó. Ôi, Chúa ơi, chúng tôi không muốn mấy con vật đó lên đất liền.
     - Mất bao lâu nữa chúng ta về đến nhà nghỉ?
     - Từ đây, khoảng mười sáu mưởi bảy phút.
     Ban đêm, toàn bộ con đường đều được thắp sáng bằng những dãy đèn mờ ở hai bên đường. Grant có cảm tưởng là họ đang đi vào một con đường hầm phủ lá màu rực rực rỡ. Những hạt mưa lớn đập vào kính chắn. Grant cảm thấy chiếc xe điện chạy chậm lại, rồi dừng hẳn.
     - Lại chuyên gì nữa?
     Lex la lên:
     - Cháu không muốn dừng. Tại sao dừng?
     Và rồi, đột nhiên, tất cả ánh điện tắt ngấm. Con đường chìm ngập vào bóng tối. Lex lại la lên:
     - Eo ơi!
     Regis:
     - Có lẽ là điện ngưng hoạt động hay gì đó. Tôi chắc là ánh sáng sẽ trở lại trong một phút thôi.
*
     Arnold nhìn vào màn hình điều khiển:
     - Chuyện quỷ gì thế này?
     Muldoon hỏi:
     - Chuyện gì vậy. Mất điện à?
     - Vâng, nhưng chỉ điện ở vùng ngoài. Mọi thứ trong tòa nhà này vẫn hoạt động tốt. Nhưng ngoài kia, trong công viên, năng lượng mất hết. Đèn, camêra truyền hình, mọi thứ.
     - Hai chiếc Land Cruiser thì sao?
     - Dừng đâu đó quanh khu vực của mấy con tyrannosaur.
     Muldoon nói:
     - Vậy gọi bộ phận sửa chữa để họ lo cho có điện lại.
     Arnold nhấc ống nghe và nghe tiếng xì xì. Các computer của Nedry đang liên lạc giao nhận dữ kiện:
     - Không có điện thoại. Gã Nedry chết tiệt. Nedry! Ai biết gã ở đâu bây giờ.
     Dennis Nedry đẩy cánh cửa có ghi FERTILIZATION. Do điện vòng ngoài bị cúp, tất cả những cửa an toàn mở với cách riêng đều mất tác dụng. Mọi cánh cửa trong tòa nhà giờ chỉ mở bằng một cái đẩy nhẹ. Các vấn đề dính líu đến kỹ thuật bảo đảm hệ thống an toàn ở công viên có rất nhiều lỗi kỹ thuật của Nedry.
     Nedry tự hỏi không biết đã có ai nghĩ rằng đấy chẳng phải lỗi kỹ thuật - rằng đấy chỉ là do Nedry lập chương trình theo cách ấy. Anh ta đã cho gắn vào một loại khóa cổ điển. Rất ít nhà lập chương trình cho những hệ thống computer lớn có thể chống lại nỗi cám dỗ để lại cho họ một lối vào bí mật. Một phần là do lương tâm: nếu người dùng lúng túng làm hệ thống khóa lại, và rồi kêu giúp đỡ người thiết lập luôn có cách lọt vào để sửa chữa.
     Và một phần là do sự bảo đảm cho tương lai. Nedry thấy khó chịu với dự án công viên; về cuối chương trình, InGen đã yêu cầu có những sửa đổi rộng rãi cho hệ thống nhưng lại không muốn trả tiền cho những sửa đổi này, lý luận rằng việc ấy có trong hợp đồng nguyên thủy. Nedry bị đe dọa sẽ nhờ tòa án can thiệp, nhiều thư được gửi đến cho các khách hàng khác của Nedry, hàm ý anh ta là người không tin cậy được. Đấy là những thư nặc danh, và cuối cùng Nedry bắt buộc phải thực hiện những gì Hammond muốn.
     Nhưng sau đó, khi được tiếp cận với Lewìs Dodgson ở công ty Biosyn, Nedry sẵn sàng nghe. Và thật sự có thể nói rằng anh ta đã nắm hết mọi vấn đề an toàn ở công viên kỷ Jura. Anh ta có thể vào bất cứ phòng nào, bất cứ hệ thống nào, bất cứ nơi nào trong công viên. Bởi vì anh ta đã lập chương trình theo cách ấy. Chỉ để có dịp.
     Anh ta bước vào phòng nuôi phôi. Phòng thí nghiệm vắng lạnh như anh ta dự đoán. Các nhân viên đều đang ăn tối. Nedry mở khóa kéo túi đeo vai và lấy ra hộp kem cạo râu hiệu Gillette. Anh ta mở vít tháo đáy hộp ra và thấy bên trong được chia ra thành từng ô hình trụ.
     Nedry mang vào một đôi găng tay cách điện dày và mở ngăn chứa phôi xây vào tường, chỗ có tấm biển ghi: CONTENTS - VIABLE BIOLOGICAL MAINTAIN - 100C MINIMUM. Phòng đông lạnh rộng cỡ bằng một phòng rửa mặt nhỏ, có những ngăn bệ từ mặt đất lên đến trần nhà. Phần lớn các bệ chứa các loại thuốc thử phản ứng và các chất lỏng trong các túi plastic. Phía một bên, anh ta thấy một ngăn hộc nhỏ làm lạnh bằng chất nitrogen với cửa dày bằng gốm. Nedry mở cửa hộc và một giá chứa những ống trượt ra trong một đám hơi lạnh nitrogen lỏng.
     Các phôi được sắp theo chủng loại: stegausaurus, aptosoraus, hadrosaur. Mỗi phôi chứa trong một đồ dựng bằng thủy tinh, gói trong giấy bạc, cột bằng dây polylene. Nedry nhanh tay lấy mỗi thứ hai cái, nhét vào ống thuốc cạo râu.
     Rồi anh ta đậy nắp đáy lai, vặn vít và xoay nắp hộp. Có tiếng xì xì của ga được giải phóng bên trong và chiếc hộp lạnh lên trong tay anh ta. Dodgson nói là chất đông lạnh có thề kéo dài đến ba mươi sáu tiếng, lâu hơn thời gian đi từ đảo đến San José.
     Nedry rời phòng đông lạnh trở ra phòng thí nghiệm chính. Anh ta thả chiếc hộp vào túi xách, kéo khoá kéo lại.
     Anh ta trở lại hành lang. Việc đánh cắp kéo dài không quá hai  phút. Nedry có thể tưởng tượng ra được sự hoang mang trên phòng điều khiển, khi họ nhận thấy việc gì đang xẩy ra. Tất cả các mã an toàn đều bị thay đổi tần số, các đường điện thoại bị nghẽn. Nếu anh ta không gỡ, họ sẽ mất nhiều tiếng đồng hồ mới đem được hệ thống trở lại hoạt động bình thường. Nhưng chỉ trong vài phút thôi, Nedry sẽ trở lại phòng điều khiển, và mọi thứ sẽ lại đâu vào đấy
     Và không một ai nghi ngờ gì việc anh ta vừa làm.
     Miệng mỉm cười, Nedry đi xuống tầng trệt, gật đầu với người gác, tiếp tục bước các bậc cầu thang xuống tầng hầm. Đi ngang qua các dãy xe điện sắp hàng gọn gàng, anh ta đến bên chiếc Jeep chạy xăng đỗ sát tường. Anh ta leo lên xe, và chạy thấy có ống gì màu xam xám ở băng sau. Trông như một khẩu phóng phi đạn, Nedry nghĩ vậy khi anh ta xoay khóa công tắc và khởi động chiếc Jeep.
     Nedry liếc nhìn đồng hồ. Từ đây, ra công viên, và ba phút chạy thẳng tới bến tàu phía đông. Ba phút từ đấy trở lại phòng điều khiển
     Dễ như trở bàn tay.
*
     - Khỉ thật! - Arnold la lên - Mọi thứ đều lộn xộn cả. - Ông bấm nút này đến nút khác ở bàn điều khiển.
     Muldoon đứng ở cửa sổ nhìn ra ngoài công viên. Đèn trên đảo tắt ngấm, trừ những vùng xung quanh gần tòa nhà chính. Ông thấy một vài nhân viên chạy gấp gáp ra ngoài mưa, nhưng dường như không một ai biết được có điều gì xảy ra. Muldoon nhìn qua khu nhà khách, nơi vẫn sáng chói lọi.
     Arnold:
     - Ơ, ơ, chúng ta gặp rắc rối thật rồi.
     - Gì thế? - Muldoon từ cửa sổ quay lại hỏi và vì thế ông không thấy chiếc Jeep từ garage ở tầng hầm chạy ra, hướng về phía đông của đảo, theo con đường dành cho nhân viên bảo trì vào công viên.
     - Gã ngu ngốc Nedry ấy đã tắt tất cả các hệ thống an toàn. Tất cả tòa lầu xem như mở trống. Không còn cửa nào khóa nữa.
     Muldoon:
     - Tôi sẽ lưu ý những người bảo vệ.
     Arnold:
     - Việc đó chưa ăn thua gì. Khi hệ thống an toàn tắt, tất cả các hàng rào ngoại biên cũng tắt nữa.
     - Hàng rào?
     - Ừ, hàng rào điện. Hàng rào không còn truyền điện nữa, khắp đảo.
     - Anh muốn nói là…
     - Đúng thế. Mấy con thú có thể ra khỏi hàng rào vào lúc này. - Arnold châm một điếu thuốc - Có thể chẳng xảy ra việc gì, nhưng ai mà biết được…
     Muldoon bước về phía cửa.
     - Vậy tốt hơn là tôi lái xe đến đem mấy người trong chiếc Land Cruiser đó về. Lỡ ra có việc gì…
     Muldoon nhanh chân xuống lầu tới hầm garage. Thật sự ông không lo lắng gì về mấy lớp hàng rào. Phần lớn lũ khủng long đã ở trong khu nuôi nhốt chín tháng hay hơn rồi và chúng cũng đã rút kinh nghiệm tránh bị gây sốc. Người ta có thể huấn luyện một con bồ câu với chỉ hai hay ba lượt tập luyện.
     Vì thế không chắc gì lúc này lũ khủng long sẽ đến gần hàng rào điện.
     Muldoon chỉ chú tâm đến việc mấy người trong xe sẽ làm. Ông không muốn họ rời khỏi mấy chiếc Land Cruiser, bởi vì mỗi khi điện có lại, mấy chiếc xe sẽ lại bắt đầu chạy, cho dù có người trong xe hay không. Họ có thể bị bỏ lại giữa công viên. Dĩ nhiên trong cơn mưa thế này, không chắc họ rời xe. Nhưng, dù thế nào, ai mà biết được…
     Ông đến garage và đi gấp đến chiếc xe Jeep. Cũng thật may ông đã thấy trước điều gì đó và đã để khẩu phóng phi đạn trên xe. Ông có thể lên xe ngay, rời khỏi đây và ra ngoài kia trong vòng…
     Chiếc xe Jeep không còn đấy!
     - Chuyện quỷ gì thế này? - Muldoon nhìn chòng chọc vào chỗ để xe, ngạc nhiên.
     Chiếc xe đi đâu mất!
0
PHẦN BỐN
CON ĐƯỜNG CHÍNH
     Mưa gõ thật to lên trần chiếc Land Cruiser. Tim cảm thấy chiếc kính nhìn đêm ấn mạnh vào trán mình. Cậu bé đưa tay tìm chiếc nút ở gấn tai và điều chỉnh cường độ. Có ánh chớp lân tinh bùng lên và trong ánh sáng xanh đèn điện tử, cậu có thể nhìn thấy chiếc Land Cruiser ở đằng sau, với tiến sĩ Grant và tiến sĩ Malcolm ở bên trong xe. Tốt lắm.
     Tiến sĩ Grant đang nhìn qua kính trước về phía cậu. Cậu thấy ông cầm lấy ống vô tuyến ở bảng đồng hồ, và rồi cậu nghe tiếng Grant:
     - Cháu nhìn lui có thấy bác đây không?
     Tim cầm lấy radio nơi Regis:
     - Cháu thấy mấy bác.
     - Mọi thứ ổn cả chứ.
     - Rất ổn tiến sĩ Grant à.
     - Ngồi yên trong xe nhé.
     - Dạ. Bác đừng lo. - Cậu cất ống nghe.
     Regis khịt mũi, lẩm bẩm:
     - Mưa gì mà to khiếp. Dĩ nhiên là chúng tôi phải ngồi trong xe.
     Tim quay qua nhìn vào đám tàn lá bên đường. Qua kính nhìn đêm, đám lá sáng lên màu lục điện tử và bên kia đám lá, cậu có thể trông thấy một phần chấn song hàng rào điện. Hai chiếc Land Cruiser đỗ ở dốc xuống của một ngọn đồi có nghĩa là họ đang ở đâu đó gần mấy con tyrannosaur. Và sẽ thật là hồi hộp nếu được nhìn một con khủng long bạo chúa qua ống kính đêm này. Một hình ảnh khủng khiếp thật sự. Có thể con khủng long bạo chúa sẽ đến bên hàng rào và nhìn họ. Tim tự hỏi đôi mắt nó sẽ sáng lên như thế nào khi cậu thấy nó. Thật là tuyệt.
     Nhưng cậu không thấy gì, và cuối cùng cậu không nhìn nữa. Mọi người trong mấy chiếc xe đều yên lặng. Mưa rơi sàn sạt trên mái xe. Những lớp nước chảy xuống hai bên cửa xe. Khó mà nhìn thấy gì bên ngoài cho dù với kính nhìn đêm. Malcolm hỏi:
     - Chúng ta ngồi đây bao lâu rồi nhỉ?
     - Tôi không để ý. Bốn hay năm phút, có lẽ.
     - Tôi thắc mắc không biết có sự cố gì.
     - Có thể do chạm điện vì mưa.
     - Nhưng việc xẩy ra trước khi mưa mà.
     Yên lặng. Lex lên tiếng, giọng căng thẳng:
     - Nhưng không có chớp, phải không? - Cô bé vốn rất sợ chớp, và bây giờ ngồi lo lắng, nắm chặt đôi găng tay.
     Tiến sĩ Grant hỏi:
     - Ai nói gì thế? Chúng tôi không nghe rõ.
     - Em cháu nói chuyện đấy.
     Tim lại nhìn qua đám lá, đến chỗ hàng rào, nhưng không thấy gì. Chắc chắn là không có con gì to bằng con khủng long bạo chúa. Cậu bắt đầu tự hỏi liệu con tyrannosaur có ra đi ăn vào ban đêm không. Chúng nó có phải loài thú ăn đêm không? Tim không nhớ chắc là mình đã đọc điều đó chưa. Cậu có cảm tưởng là con tyrannosaur là loài đi ăn trong bất cứ thời tiết nào, ngày hay đêm. Ban ngày hay ban đêm chăng thành vấn đề đối với một con khủng long bạo chúa.
     Mưa tiếp tục trút nước. Ed Regis lại thốt lên:
     - Mưa to thật. Mưa như cầm chĩnh đổ vậy.
     Lex bảo Regis:
     - Cháu đói bụng quá.
     - Chú biết. Nhưng chúng ta bị kẹt ở đây. Mấy chiếc xe chạy được nhờ điện ở cáp chôn dọc đường.
     - Kẹt bao lâu nữa chú?
     - Cho đến khi họ sửa chữa xong điện.
     Lắng nghe tiếng mưa rơi, Tim cảm thấy buồn ngủ. Cậu ngáp và quay nhìn mấy cây cọ phía bên trái Giật mình vì một tiếng "bộp" nặng nề bất ngờ, cậu quay người và vừa kịp thoáng thấy một bóng đen thoáng qua thật nhanh ở giữa hai chiếc xe.
     - Chúa ơi !
     - Cái gì vậy?
     - To quá. Nó to bằng chiếc xe…
     - Tim, cháu đấy à?
     Cậu bé chụp lấy radio:
     - Vâng, cháu đây.
     - Cháu có thấy nó không?
     - Không, cháu không thấy rõ. Cháu thấy hụt.
     Malcolm:
     - Con gì thế nhỉ?
     - Cháu có mang kính nhìn đêm đấy không, Tim?
     - Có, cháu sẽ trông chừng xem.
     Regis hỏi:
     - Có phải là con tyrannosaur không?
     - Cháu nghĩ là không phải. Nó đi trên đường mà.
     - Nhưng cháu không thấy rõ nó?
     - Không rõ.
     Tim thấy rất tiếc là mất cơ hội nhìn được con thú, cho dù nó là con gì. Có ánh chớp thình lình và kính đêm của Tim lóe lên màu sáng lục. Cậu nhấp nháy mắt và bắt đầu đếm:
     - Một… hai… ba….
     Tiếng sấm nổ giòn, rất lớn và rất gần. Lex bắt đầu khóc:
     - Eo ơi, cháu sợ…
     Regis:
     - Có gì đâu, cháu. Chỉ là sấm nổ đấy thôi.
     Tim nhìn quét một bên con đường. Lúc này mua đang rơi nặng hạt, làm lay động đám lá với những giọt mưa đập bùm bụp. Mưa làm mọi thứ lay dộng. Cậu nhìn vào đám lá, từ từ quét ngang. Cậu dừng lại. Có cái gì đó ở bên kia đám tàn lá.
     Tim nhìn lên, cao hơn.
     Đàng sau đám lá, bên kia hàng rào, cậu thấy một thân hình với một lớp da sần sùi nhăn nheo như hạt tiêu khô, trông giống như lớp vỏ cây. Nhưng đấy không phải là một cái cây… Cậu tiếp tục quét ống kính đêm nhìn lên.
     Cậu thấy chiếc đầu khổng lồ của con khủng long bạo chúa. Nó chỉ đứng đấy nhìn mấy chiếc Land Cruiser qua hàng rào. Chớp lại lóe lên, và con vật khổng lồ quay đầu kêu rống lên trong ánh chớp.
     Rồi lại tối đen, rồi yên lặng, và mưa rơi.
     - Có Tim đấy không?
     - Dạ, cháu đây, tiến sĩ Grant.
     - Cháu thấy con gì chứ?
     - Dạ.
     Tim có cảm giác là tiến sĩ Grant đang cố tìm cách nói chuyện mà không làm cho em cậu rối trí.
     - Ngay lúc này, nó đang làm gì đấy?
     - Không làm gì. Chỉ đứng bên kia hàng rào.
     - Ở chỗ bác thì không thấy rõ gì cả, Tim à.
     - Cháu thấy rõ lắm, tiến sĩ Grant à. Nó chỉ đứng đấy thôi.
     - Được rồi.
     Lex vẫn cứ tiếp tục khóc sụt sịt.
     Một lúc yên lặng. Tim trông thấy con bạo chúa. Chiếc đầu nó thật đồ sộ! Con thú nhìn chiếc xe này rồi chiếc khác. Rồi nó lại đứng im. Dường như nó nhìn chăm chăm ngay vào Tim.
     Qua kính nhìn đêm, đôi mắt nó sáng ngời màu xanh lục.
     Tim cảm thấy rùng mình, và rồi; khi cậu nhìn từ chiếc đầu đồ sộ dần xuống thân hình con thú, cậu thấy hai chi trước với những bắp thịt cuồn cuộn. Một chi nó vẫy trong không khí và rồi bấu lấy hàng rào. Regis nhìn qua cửa xe và thốt lên:
     - Ôi, Chúa ơi.
     Con thú ăn thịt sống lớn nhất quả đất từng biết đến. Con thú tấn công kinh khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Ở một nơi nào đó trong bộ óc của một người giao tiếp, Ed Regis vẫn còn đang ghi lại những lời ấy. Nhưng anh ta cảm thấy đầu gối của mình run lập cập không thể điều khiển được, ống quần đánh phần phật như cờ trước gió. Chúa ơi, anh ta quá khiếp đảm. Regis không muốn có mặt tại đây. Trong số người có mặt trong hai chiếc xe, chỉ mình anh ta biết thế nào là một cú tấn công của con khủng long. Anh ta biết người bị tấn công sẽ như thế nào. Anh ta đã từng thấy một thân thể bị xé toạc bởi một cú tấn công của con raptor. Anh ta có thể thấy rõ hình ảnh ấy trong óc. Và đây là con bạo chúa T-rex! To, to hơn nhiều! Một con thú ăn thịt to nhất đã từng giẫm chân trên quả đất.
     Ôi, Chúa.
     Khi con tyrannosaur rống lên thì thật kinh khủng, một tiếng kêu như đến từ một thế giới khác. Regis cảm thấy nong nóng suốt hai chân. Anh ta đã vãi đái. Anh ta vừa ngượng ngùng vừa khiếp đảm. Nhưng anh ta biết mình phải làm điều gì đó. Anh ta không thể chỉ cứ ngồi đây. Anh ta phải làm một điều gì. Một điều gì. Tay anh ta khập khựng, run lẩy bẩy trên bảng đồng hồ.
     - Ôi Chúa ơi. - Anh ta lại kêu lên.
     Lex vẩy ngón tay về phía Regis, bảo:
     - Chú cứ kêu Chúa hoài vậy.
     Tim nghe tiếng mở cửa xe và cậu bỏ con khủng long quay đầu nhìn lại. Cậu thấy Regis bước ra khỏi cửa xe, đầu đưa ra trước, dưới mưa. Lex hỏi:
     - Ê chú Gis, chú đi đâu đấy?
     Regis không nói gì, đâm đầu chạy về phía đối diện với con bạo chúa, biến mất vào trong rừng cây. Cửa chiếc Land Cruiser vẫn để mở, mưa ướt cả phần bên trong cửa. Lex la lớn:
     - Chú ấy bỏ đi! Chú ấy đi đâu vậy? Chú ấy bỏ chúng cháu lại một mình.
     Tim bảo:
     - Đóng của lại đi, Lex.
     Nhưng cô bé đã khóc lên:
     - Chú ấy bỏ chúng ta! Chú ấy bỏ chúng ta!
     - Tim à, có chuyện gì vậy? - Đấy là giọng của tiến sĩ Grant qua radio - Có Tim đấy không?
     Tim chồm người tới trước, cố đóng cửa lại. Từ băng sau, cậu bé không thề với tới tay nắm cửa. Cậu nhìn lại con khủng long khi có một ánh chớp lóe sáng, hình con vật in đen thui lên bầu trời trắng sáng trong một chốc.
     - Tim, việc gì vậy?
     - Chú ấy bỏ chúng cháu! Chú ấy bỏ chúng cháu!
     Tim nhấp nháy mắt để lấy lại sức nhìn. Khi cậu có thể thấy lại qua kính đêm, con khủng long bạo chúa vẫn đang đứng đấy, ngay chỗ cũ, khổng lồ và bất động. Một chi trước bấu vào hàng rào…
     Và rồi Tim nhận ra: con khủng long đang nắm lấy hàng rào!
     Hàng rào không còn truyền điện nữa! Cậu kêu lên:
     - Lex, đóng cửa lại!
     Radio kêu tách tách:
     - Tim có đấy không?
     - Cháu đây, tiến sĩ Grant.
     - Có chuyện gì vậy?
     - Chú Regis bỏ chạy.
     - Chú Regis cái gì?
     - Chú ấy bỏ chạy. Cháu cho là chú ấy thấy hàng rào không còn truyền điện nữa.
     Giọng Malcolm qua radio:
     - Hàng rào không còn truyền điện nữa à? Chú ấy có nói hàng rào không còn điện nữa không?
     Tim bảo Lex:
     - Lex, đóng cửa lại đi.
     Nhưng Lex đang khóc và la "Chú ấy bỏ chúng cháu, chú ấy bỏ chúng cháu" bằng một giọng than vãn đều đều đơn điệu và Tim không còn cách gì hơn là ra khỏi xe bằng cửa sau, đứng trong mưa để đóng cửa xe lại cho Lex. Sấm gầm lên và chớp lại lóa sáng. Tim nhìn lên và thấy con bạo chúa đang dùng chi trước cuồn cuộn thịt của nó để đè hàng rào xuống. Lex kêu lên:
     - Anh Tim.
     Cậu bé nhảy lui chui vào xe và đóng sầm cửa lại. Tiếng cửa đóng tan đi trong tiếng sấm rền. Tiếng trong radio:
     - Tim, cháu có đấy không?
     Cậu bé chụp lấy radio.
     - Cháu đây. - Cậu quay qua Lex - Khóa hai cánh cửa lại. Ngồi xích vào giữa xe. Và câm mồm đi.
     Bên ngoài, con khủng long bạo chúa nhướng đầu lên và bước tới một bước với dáng lúng túng. Móng chân sau của nó bị vướng vào ô lưới mắt cáo của hàng rào bị nó đè bẹp. Cuối cùng Lex cũng thấy con thú và nín khóc, ngồi yên. Cô bé mở to mắt nhìn. Tiếng tách tách của vô tuyến:
     - Tim à.
     - Dạ, cháu nghe đây, tiến sĩ Grant.
     - Ngồi trong xe. Ngồi thấp xuống. Đừng động đậy. Đừng gây tiếng ồn.
     - Cháu nghe bác.
     - Cháu sẽ không can gì đâu. Bác nghĩ là nó sẽ không mở cửa xe được đâu.
     - Dạ.
     - Chỉ việc ngồi yên, như thế cháu sẽ không gây sự chú ý cho nó nếu không thấy cần thiết.
     - Dạ. - Tim tắt radio - Nghe không, Lex?
     Cô em gật đầu, yên lặng. Cô bé không rời mắt khỏi con khủng long. Con bạo chúa rống lên. Trong một ánh chớp, chúng thấy nó giật chân được khỏi lưới rào và nặng nề bước một bước tới trước.
     Bây giờ, nó đang đứng giữa hai chiếc xe. Tim không thấy chiếc xe của tiến sĩ Grant được nữa vì thân hình đồ sộ của nó che mất. Mưa rơi trên người nó, chảy thành dòng ngoằn ngoèo xuống làn da sần sùi nhăn nheo của hai chi sau con thú. Cậu không thấy đầu con thú vì nó cao quá trần xe.
     Con khủng long đến bên một chiếc xe, đúng vào chỗ Tim vừa chui ra; đúng chỗ Regis đã chui ra. Con thú dừng lại đấy. Chiếc đầu khổng lồ cúi xuống mặt đường bùn.
     Tim ngoái nhìn, tiến sĩ Grant và tiến sĩ Malcolm ở xe sau. Qua kính chắn gió, cậu thấy họ nhìn chăm chăm về phía cậu, mặt căng thẳng.
     Chiếc đầu đồ sộ cất lên, hai hàm mở ra, và dừng lại bên mấy cửa kính. Trong ánh chớp lóe sáng, họ thấy đôi mắt tròn vo vô thần của loài bò sát chuyển động trong hố mắt.
     Nó đang nhìn vào xe.
     Hơi thở của cô em đứt quãng, khiếp đảm. Cậu với tay cầm lấy tay em, bóp nhẹ, hy vọng là cô bé ngồi yên. Con khủng long tiếp tục nhìn chăm chú qua cửa xe một lúc lâu. Có lẽ con thú này không thấy hai đứa mình, cậu nghĩ. Cuối cùng, chiếc đầu cất cao, khuất tầm mắt như trước. Lex thì thầm:
     - Anh Tim, em nghĩ là nó không thấy chúng ta.
     Cậu bé đang nhìn tiến sĩ Grant thì một cú hất làm chiếc xe rung rinh và mặt kính trước rạn nứt ra như hình mạng nhện bởi chiếc đầu con bạo chúa húc vào capô của chiếc Land Cruiser. Tim bấu chắc lấy nệm ngồi khi chiếc xe lắc lư trên mấy bánh xe nhưng vẫn té nằm dài xuống nệm, chiếc kính nhìn đêm tuột khỏi trán.
     Cậu bé ngồi nhanh dậy, tối mắt lại vì bóng đêm, miệng âm ấm vì máu.
     - Lex đâu?
     Cậu không thấy em mình đâu nữa.
     Con bạo chúa đứng gần phía trước chiếc Land Cruiser, ngực nó chuyển động phập phồng, hai chi trước cử động với tư thế chụp mồi trong không khí. Tim thì thào:
     - Lex đâu?
     Cậu nghe tiếng cô em rên. Cô bé đang nằm đâu đó giữa sàn xe.
     Rồi chiếc đầu không lồ lại cúi xuống, đập tan tành kính trước xe. Con khủng long bạo chúa húc mạnh đầu vào thanh cản trước. Tim bấu chặt chỗ ngồi khi chiếc xe lắc lư trên bốn bánh. Con khủng long húc thêm hai lần nữa, thanh cản méo móp.
     Rồi nó đi vòng sang một bên xe. Chiếc đuôi to lớn chổng lên che khuất mất mấy cửa xe. Đến sau xe, con vật khịt mũi, tiếng gầm gừ trầm trầm pha lẫn với tiếng sấm rền. Đôi hàm nó ngậm phập vào chiếc bánh xe dự phòng gắn ở sau chiếc Land Cruiser, và chỉ với một cú lắc đầu, rứt chiếc bánh xe đi. Phần sau của xe bị nhấc bổng lên trên không một chốc rồi rơi bịch xuống làm nước bắn tung tóe.
     Giọng tiến sĩ Grant:
     - Tim! Tim, cháu vẫn đấy chứ.
     Tim chụp lấy radio.
     - Bọn cháu không hề gì.
     Có tiếng rào rạo nghe sởn cả gai ốc khi mấy chiếc móng cào trên trần xe. Tim nghe tim mình đập thình thịch. Cậu chẳng thấy gì ngoài cửa sổ bên phải cả ngoài làn da nhăn nheo như hạt tiêu. Con khủng long đang tì thân hình nó vào xe, nhịp thở của nó làm chiếc xe nghiêng qua nghiêng lại, mấy chiếc lò xo và sườn xe kêu ken két thật rõ.
     Lex lại rên rỉ. Tim đặt vô tuyến xuống, và bắt đầu bò qua chỗ ngồi trước. Con bạo chúa rống lên và trần xe lõm xuống. Tim nghe đau nhói trên đầu và ngã xuống sàn xe, nằm lên đống dây nhợ chuyển tín hiệu. Cậu thấy mình nằm bên cạnh Lex, và cậu choáng người thấy một bên đầu cô em dính dầy máu. Cô bé trông có vẻ đã bất tỉnh.
     Lại một cú húc dữ dội khác, và mảnh kính vỡ rơi vung vãi quanh ngưởi cậu. Tim nhìn lên và thấy cửa kính trước đã vỡ tan. Chỉ còn khung viền quanh lởm chởm kính vỡ, mưa rơi vào xe, và bên ngoài là chiếc đầu đồ sộ của con khủng long.
     Nó đang nhìn xuống chỗ cậu nằm.
     Tim rùng mình và rồi chiếc đầu đưa tới phía cậu, đôi hàm mở rộng. Có tiếng kèn kẹt của sắt bị đôi hàm cắn nghiến, và cậu cảm thấy mùi thối của hơi thở con vật, và một chiếc lưỡi dày thò vào xe qua cửa chắn gió. Chiếc lưỡi ẩm ướt liếm láp xung quanh bên trong xe - cậu cảm thấy có bọt nước dãi nóng của con thú - và con khủng long bạo chúa gầm lên. Tiếng gầm vang dội trong xe điếc cà tai.
     Đột nhiên chiếc đầu thụt nhanh ra.
     Tim bò toài người lên, tránh chỗ bẹp trên đầu xe. Con bạo chúa đứng trong mưa gần cái bađờxốc. Con thú dường như bối rối vì việc gì đó xẩy ra cho nó. Máu chảy nhỏ giọt từ hàm con thú.
     Con bạo chúa nhìn Tim, đầu ngóc tới ngóc lui, nhìn nghiêng bằng một mắt. Cái đầu chuyển tới gần chiếc xe, theo chiều ngang, và nhìn vào xe. Máu nhỏ giọt xuống capô móp méo của chiếc Land Cruiser hòa lẫn với nước mưa.
     Nó không thể với tới mình, Tim nghĩ. Nó quá to.
     Rồi chiếc đầu rời đi chỗ khác, và trong một ánh chớp sáng, cậu thấy chân sau nó giơ lên. Và rồi trời đất nghiêng ngả điên cuồng khi chiếc Land Cruiser bị lật nghiêng, cửa xe nằm dưới bùn mưa. Cậu bé thấy cô em rơi nằm lên cửa bên và cậu rơi bên cạnh cô, đầu va mạnh. Tim thấy hoa cả mắt. Và rồi hàm con khủng long bạo chúa ngoạm vào khung cửa xe, chiếc Land Cruiser bị nhấc bổng lên cao, rung rinh.
     - Anh Tim! - Lex thét lên, gần một bên tai cậu. Cô bé đột nhiên tỉnh lại, và cậu chụp lấy cô em khi con bạo chúa đập chiếc xe xuống đất. Tim cảm thấy có vật gì đâm vào một bên hông đau nhói, và cô em rơi lên người cậu. Chiếc xe lại bị nhấc lên nghiêng ngả điên cuồng. Lex la lớn "Anh Tim" và cậu thấy cánh cửa xe nằm phía dưới cô em mở ra và cô bé rơi khỏi xe xuống bùn. Thế nhưng cậu không làm gì được vì phút giây kế đó mọi thứ quay cuồng điên loạn, cậu thấy những thân cây cọ dừa tuôn xuống vùn vụt ngang qua người cậu - chạy ngang trong không trung - cậu thoáng thấy mặt đất xa phía dưới cậu - tiếng rống phả hơi nóng của con khủng long - con mắt sáng rực - những ngọn cọ dừa.
     Và rồi, một tiếng rắc rào rào, chiếc xe rơi khỏi hàm con vật, một cú rơi lộn ruột, bao tử Tim trộn trạo một lúc trước khi trời đất trở nên hoàn toàn đen tối, rồi lặng yên.
     Trong chiếc xe kia, Malcolm há hốc miệng:
     - Chúa ơi! Chiếc xe trước xẩy ra chuyện gì vậy?
     Grant nhấp nháy mắt khi hết ánh chớp.
     Chiếc xe không còn đấy nữa.
     Grant không thể tin được. ông nhìn chăm chú, cố xem thử có thấy gì qua kính trước nhạt nhòa nước mưa. Thân hình con khủng long quá to, có thể nó che mất…
     Không phải. Qua một ánh chớp khác, ông thấy rõ ràng hơn: Chiếc xe đã biến mất.
     Malcolm hỏi:
     - Việc gì xẩy ra vậy?
     - Tôi không biết.
     Thoảng trong mưa, Grant nghe tiếng thét yếu ớt của cô bé. Con khủng long đang đứng trong bóng tối trên đoạn đường phía trước, nhưng họ có thể thấy rõ nó đang cúi đầu xuống, ngửi ngửi trên mặt đất. Hay đang ăn cái gì đó trên mặt đất.
     Malcolm cố nhìn:
     - Anh có thấy cái gì không?
     - Chẳng thấy gì.
     Mưa rơi sàn sạt trên mái xe. Ông lắng nghe tiếng cô bé, nhưng không nghe thấy gì nữa. Hai người ngồi trong xe, lắng tai. Cuối cùng, Malcolm hỏi:
     - Phải đấy là con bé không? Nghe như tiếng con bé.
     - Đúng thế, nghe như tiếng nó.
     - Đúng nó không?
     - Tôi không biết. - Grant trả lời. Ông cảm thấy một nỗi mệt nhọc dần dần chiếm cứ ngưởi ông. Mờ mờ qua kính trước phủ đầy mưa, con khủng long đang tiến lại xe họ. Những bước chân chậm chậm, báo trước điềm hung, đến ngay trước mặt hai người. Malcolm nói:
     - Anh biết đấy, những lúc như thế này, người ta cảm thấy, vâng, có lẽ là loài thú tiệt chủng nên để cho chúng tiệt chủng. Lúc này, anh không có cảm giác ấy à?
     - Có. - Grant cảm thấy tim mình đập thình thình.
     - Chúng ta có nên làm gì bây giờ không?
     - Tôi không thể suy nghĩ được điều gì.
     Malcolm xoay tay nắm cửa, tông cửa mở ra, và chạy. Nhưng cho dù làm thế, Grant có thể thấy là nhà toán học đã quá chậm, con bạo chúa đã quá gần. Một làn chớp ngoằn ngoèo, và trong phút chốc của ánh sáng lóe lên ấy, Grant kinh hoàng nhìn con bạo chúa rống lên và nhảy tới trước.
     Grant không thấy rõ những gì xẩy ra kế đó, Malcolm chạy, chân xéo bùn bắn tung tóe. Con bạo chúa nhảy một cú đến bên nhà toán học và húc chiếc đầu đồ sộ tới. Malcolm bị hất tung lên không trung như một con búp bê nhỏ.
     Vào lúc ấy Grant cũng ra khỏi xe, cảm thấy mưa quất vào mặt vào người. Con khủng long bạo chúa đang quay lưng về phía ông chiếc đuôi không lồ ve vẩy trong không khí. Grant định bỏ chạy vào khu rừng thì đột nhiên con bạo chúa quay người lại đối diện với ông và gầm lên.
     Grant khựng người lại.
     Ông đang đứng bên cạnh cửa chiếc Land Cruiser ướt sũng trong mưa. Ông hoàn toàn là rõ người, con bạo chúa cách ông không quá hai mét rưỡi. Con thú khổng lồ lại gầm lên. Với khoảng cách quá gần như thế, tiếng gầm nghe to kinh khủng. Grant cảm thấy toàn thân run lẩy bẩy vì lạnh và vì khiếp đảm à ông vịn chắc đôi tay run rầy của mình vào cửa xe để giữ người đứng vững.
     Con bạo chúa rống lên một lần nữa, nhưng nó không tấn công. Nó nghiêng đầu nhìn chiếc xe Land Cruiser bằng một mắt, rồi mắt kia, và không làm gì cả. Nó chỉ cứ đứng yên đấy.
     Chuyện gì sẽ xẩy ra?
     Đôi hàm mạnh mẽ mở ra rồi ngậm lại. Con khủng long bạo chúa gầm gừ giận dữ rồi đưa chân sau lên đập mạnh xuống trần xe; mấy móng vuốt cào trượt vào lớp sắt nghe kèn kẹt, suýt nữa cào vào Grant vẫn đứng nguyên đấy, bất động.
     Bàn chân con thú lội trong bùn. Chiếc đầu cúi xuống chầm chậm theo một vòng cung, và con vật thăm dò chiếc xe, khịt mũi. Nó nhìn vào xe qua kính chắn trước. Rồi, đi về phía sau xe, nó hất cửa đóng lại và đi ngay đến chỗ Grant đang đứng. Grant hoa mắt vì sợ tim đập thùm thụp trong ngực. Con thú đến quá gần, ông có thể ngửi thấy mùi thịt thối trong miệng nó, mùi máu tanh, mùi hôi khó chịu của loài thú ăn thịt.
     Ông đứng căng người, chờ điều không tránh được.
     Chiếc đầu đồ sộ đi ngang qua ông về phía sau xe.
     Việc gì đã xẩy ra?
     Có khả năng là con khủng long bạo chúa không thấy ông? Dường như nó không thấy. Nhưng tại sao vậy?
     Grant nhìn con thú đang khịt mũi vào chiếc bánh dự phòng gắn sau xe. Nó dùng mõm đẩy hất chiếc bánh, rồi chiếc đầu quay lui. Một lần nữa, nó lại đến gần Grant.
     Lần này con vật dừng lại. Hai lỗ mũi đen bóng của nó cách ông có mấy centimet. Grant cảm thấy hơi thở nóng phả vào mặt. Nó đang thở và nếu có gì thì hình như nó đang bối rối.
     Không, con bạo chúa không thể thấy ông. Không thể thấy nếu ông bất động. Từ một góc nào đó trong đầu óc bác học của ông, Grant đã tìm được giải thích cho điều này, chiếc đầu đồ sộ cất cao lên. Grant ấn chặt hai tay vào nhau, cắn môi lại, cố gắng đứng yên, không gây nên một tiếng động nào.
     Con khủng long bạo chúa gầm gừ trong bầu không khí ban đêm.
     Nhưng lúc này Grant bắt đầu hiểu. Con vật không thấy ông, nhưng nó nghi là ông có đấy, ở một nơi nào đấy, và nó đang cố làm cho Grant sợ hãi bằng những tiếng rống và tiếng gầm gừ để ông lộ người bằng cử động. Grant nhận ra rằng, chừng nào ông còn bất động thì ông như người vô hình.
     Trong một cử động thất vọng cuối cùng, chân sau to lớn của nó đưa lên đánh mạnh vào chiếc Land Cruiser và Grant cảm thấy một nỗi đau xé người cùng với cảm giác ngạc nhiên thấy mình bay vút xuyên qua không khí. Dường như mọi việc diễn ra chầm chậm, và ông có nhiều thời gian để cảm thấy trời đất lạnh hơn, nhìn thấy mặt đất xông lên ập vào mặt mình.
0
CHUYẾN TRỞ VỀ
     Harding kêu lên:
     - Ôi quỷ thật, quý vị hãy xem kìa.
     Cả ba người đang ngồi trong chiếc xe Jeep chạy xăng của Harding, nhìn ra trước qua tấm kính chắn gió đang được hai cần gạt nước gạt "tách tách". Gennaro nói:
     - Chắc là do sét. Làm sao đi qua được với cái cây khốn kiếp này.
     Harding:
     - Không thể vượt qua được. Tốt hơn là tôi cho Arnold hay. - ông cầm lấy ống nghe vô tuyến và quay núm tần số - Hello, phòng điều khiển. Arnold, anh có đấy không?
     Không nghe gì ngoài tiếng xì xì.
     - Tôi không hiểu được. - Harding nói - Các đường vô tuyến dường như hỏng.
     Gennaro:
     - Hẳn là do trận giông.
     - Tôi cũng đoán vậy.
     Ellie:
     - Thử gọi mấy chiếc Land Cruiser xem.
     Harding mở tần số khác, nhưng không nghe trả lời:
     - Vào giờ này, có lẽ họ đã về đến trại rồi, và đã ra ngoài phạm vi hoạt động sóng vô tuyến của loại máy nhỏ này. Dù trường hợp nào, tôi nghĩ là chúng ta không nên ở đây. Mất cả hàng giờ đội bảo quản mới đến đây được để dọn cái cây này đi.
     Ông ta tắt vô tuyến và cho chiếc Jeep quay đầu lại. Ellie hỏi:
     - Ông định làm gì?
     - Trở lại chỗ rẽ vào con đường dành cho nhân viên bảo quản. - Harding giải thích - Chúng tôi có một con đường dành cho du khách, và một con đường thứ hai dành cho những người săn sóc thú, xe chở thực phẩm cho chúng và các thứ khác. Chúng ta sẽ trở lui vào con đường ấy. Dài hơn một chút. Và không có cảnh đẹp. Nhưng quý vị có thể thấy thú vị. Nếu tạnh mưa, ta có thể nhìn qua vài con thú vào ban đêm. Chúng ta sẽ về đến nơi sau khoảng ba, bốn mươi phút. Nếu tôi không chạy lạc.
     Harding quay xe, và chạy trở lại hướng nam trong bóng đêm.
*
     Ánh chớp loé lên, và mọi màn hình trong phòng điều khiển đều tắt đèn. Arnold ngồi chồm tới, thân hình ông cứng ngắc, căng thẳng. Chúa ơi, không phải lúc này, không phải lúc này. Đừng có sự cố gì vào lúc này. Đấy là tất cả những gì ông muốn.
     Tất cả các đường dây chính cung cấp điện đều có cầu chì bảo vệ, dĩ nhiên, nhưng Arnold không biết chắc Nedry đang dùng những modem nào để chuyển số liệu của gã. Phần đông mọi người không biết rằng có khả năng cắt đứt toàn bộ một hệ thống chỉ bằng một modem - các xung ánh chớp do sét chạy ngược lại computer qua đường dây điện thoại và - beng! - không còn bảng điều khiển. Chẳng còn RAM. Không còn lưu trữ. Chẳng còn computer!
     Mấy chiếc màn hình nhấp nháy, rồi lần lượt cái này đến cái kia, sáng trở lại.
     Arnold thở phào, rũ người trở lại trong chiếc ghế.
     Ông lại tự hỏí không biết Nedry đi đâu. Cách đây năm phút, ông đã cho người tìm gã ta khắp tòa lầu. Gã chó chết mập ú đó có thể ở trong phòng tắm đọc truyện khôi hài. Nhưng mấy người đi tìm không quay lại, và họ cũng chưa được gọi về. Năm phút rồi. Nếu Nedry ở trong tòa lầu, vào lúc này họ đã tìm thấy gã.
     Muldoon bước vào phòng:
     - Có ai lấy chiếc Jeep đi rồi. Anh nói chuyện được với mấy chiếc Land Cruiser chưa?
     - Tôi không thể gọi họ ở radio được. Tôi phải dùng vô tuyến xách tay, vì bảng điều khiển chính không hoạt động. Thứ này tuy yếu nhưng vẫn hoạt động tốt. Tôi đã thử cả sáu tần số. Tôi biết họ có radio trên xe, thế mà họ không trả lời.
     - Đáng ngại đấy.
     - Nếu anh muốn ra đấy, hãy dùng một chiếc xe của đội bảo quản.
     - Tôi sẽ lấy một chiếc, nhưng xe để ở garage phía đông, cách đây cả dặm. Harding lúc này ở đâu?
     - Tôi đoán là ông ta đang trên đường về. - Arnold nói.
     - Vậy thì ông ta sẽ đem mấy người trên hai chiếc Land Cruiser về luôn khi gặp họ giữa đường. - Muldoon nói.
     - Tôi cũng nghĩ vậy.
     - Có ai cho Hammond hay là hai đứa nhỏ chưa về không?
     - Chưa. Quỷ thật. - Arnold nói - Tôi chẳng muốn lão chết tiệt ấy quanh quẩn ở đây, la hét tướng cả lên. Mọi việc ổn thôi. Vào lúc này, hai chiếc Land Cruiser bị kẹt ở dọc đường trong mưa. Họ chỉ việc ngồi chờ một chốc cho đến khi Harding đem họ về. Hay cho đến khi chúng ta tìm ra Nedry và bảo gã chó chết ấy làm cho hệ thống hoạt động trở lại.
     Muldoon hỏi:
     - Anh không thể làm được à?
     Arnold lắc đầu:
     - Tôi đã cố thử. Nhưng Nedry đã làm điều gì đó trong hệ thống. Tôi không thể đoán được điều gì. Nhưng nếu phải lục tìm ở mã số của hệ thống, việc ấy sẽ mất nhiều giờ. Chúng ta cần Nedry. Chúng ta phải tìm cho ra ngay thằng chó chết ấy.
0
NEDRY
     Tấm biển đề HÀNG RÀO TRUYỀN ĐIỆN 10.000 VOLT, ĐỪNG ĐỤNG VÀO, nhưng Nedry gỡ tấm biển bằng tay không, mở khóa cổng rào, đẩy rộng cổng. Gã trở lại xe, lái xe qua cổng, rồi đi lui đóng cổng lại.
     Bây giờ gã đã ở trong công viên, cách bến tàu phía đông chưa đến một trăm dặm. Gã nhấn ga, chồm người lên tay lái, nhìn qua kính trước đầy nước mưa, lái xe chạy trên con dường hẹp. Gã đang chạy nhanh, quá nhanh, nhưng gã phải giữ đúng thời biểu đã đề ra. Xung quanh gã rừng đen dày vây kín nhưng chẳng mấy chốc gã sẽ thấy biển về phía trái gã.
     Cái cơn giông chó chết này, gã nghĩ. Nó có thể làm rối tung mọi thứ. Vì nếu tàu của Dodgson không chờ Nedry ở bến tàu phía đông khi gã đến đấy, toàn bộ kế hoạch sẽ hỏng bét. Nedry không thể chờ lâu, vì gã sẽ bị để ý là vắng mặt ở phòng điều khiển. Dự kiến kế hoạch là gã lái xe đến bến tàu phía đông, trao hộp phôi, và trở lại trong năm phút, trước khi có người nào chú ý đến. Đấy là một kế hoạch tốt, một kế hoạch thông minh. Nedry đã nghiên cứu kế hoạch thật cẩn thận, chọn lọc từng chi tiết. Kế hoạch này sẽ đem đến cho gã một triệu rưỡi đô la, một phẩy năm triệu. Đấy là một thu nhập trong mười năm làm việc, một cú áp phe khỏi bị đánh thuế, và cú làm ăn sẽ thay đổi cả cuộc đời gã. Nedry đã cẩn thận hết mức, ngay cả với việc hẹn Dodgson gặp tại phi trường San Francisco vào phút chót và lời yêu cầu được thấy món tiền. Thật ra, Nedry đã thu thanh cuộc nói chuyện với Dodgson, và nhắc đến tên ông ta trong băng ghi âm. Chỉ để Dodgson không quên là ông ta vẫn còn nợ gã món tiền còn lại. Và Nedry đang mang theo đây một bản sao cuốn băng ấy để trao cùng với hộp đựng phôi. Tóm lại, Nedry đã nghĩ đến đủ mọi thứ.
     Chỉ trừ cơn bão chó chết này.
     Có cái gì đó chạy băng ngang đường, một vệt trắng trong ánh sáng đèn trước. Một vật gì trông giống như một con chuột lớn. Con vật chạy loanh quanh vào một bụi rậm, kéo theo chiếc đuôi mập. Một con chuột túi. Thật đáng ngạc nhiên có con chuột túi sống sót được ở đây. Lũ khủng long sẽ không tha một con thú nào như thế.
     Cái bến tàu chết tiệt ấy ở chỗ nào?
     Gã lái thật nhanh, và gã đi hết năm phút rồi. Đáng lẽ lúc này gã đã đến được bến tàu. Gã đã quẹo sai chỗ? Gã không nghĩ vậy. Gã đã không thấy một chỗ rẽ nào trên đường đi.
     Vậy thì bến tàu ở đâu?
     Gã choáng người khi xe gã đến một góc đường và thấy con đường chấm dứt bằng một hàng rào chấn song bê tông cao hai mét, ướt sũng trong mưa. Gã đạp mạnh thắng, chiếc Jeep ngoằn ngoèo như cá lượn, tuôn tới, trong một phút kinh hoàng, gã nghĩ là gã đã sắp tông vào bức tường chắn - gã biết chắc sẽ tông vào đấy - gã điên cuồng xoay tay lái, chiếc Jeep trượt dài rồi dừng lại, hai đèn trước chỉ còn cách bức rào chắn mấy centimet.
     Gã ngồi im lặng, lắng nghe tiếng lách cách đều đều của hai cần gạt nước. Gã hít thật sâu và thở ra chầm chậm. Gã nhìn lại con đường. Rõ ràng là gã quẹo nhầm ở một ngã ba nào đấy. Gã có thể cho xe lui nhưng sẽ mất nhiều thời gian.
     Tốt hơn là gã tìm xem gã đang ở chỗ chết tiệt nào đây.
     Gã bước xuống chiếc Jeep, cảm thấy những hạt mưa to quất mạnh vào đầu. Thật đúng là cơn giông nhiệt đới, mưa rơi nặng hạt đau điếng cả người. Gã liếc nhìn đồng hồ, bấm nút cho mấy chữ số hiện rõ. Đã sáu phút trôi qua. Gã đang ở vào cái chỗ quỷ quái nào thế này. Gã đi quanh hàng rào chắn qua phía bên kia, trong mưa. Gã nghe tiếng nước róc rách. Có thể đấy là biển? Nedry bước gấp tới trước, đôi mắt dò tìm trong bóng đêm. Rừng dày kịt bao quanh tứ phía. Những hạt mưa rơi bồm bộp trên lá.
     Tiếng róc rách nghe to hơn, kéo gã bước tới trước, đột nhiên gã thấy mình ra khỏi đám lá và cảm thấy chân lún vào đất ướt. Gã thấy dòng nước đen của con sông. Con sông! Gã đang ở cạnh con sông!
     Chó đẻ thật, gã nghĩ. Ở chỗ nào của con sông đây? Con sông dài hàng dặm chạy xuyên qua đảo. Gã lại nhìn đồng hồ. Bảy phút trôi qua. "Nedry ơi, mày gặp rắc rối rồi", gã lẩm bẩm thốt lên.
     Và dường như để trả lời, có tiếng rúc nhẹ của con cú trong rừng.
     Nedry khó mà chú ý đến tiếng cú. Gã đang lo lắng cho kế hoạch của mình. Sự thể rõ ràng là thời gian đã dùng hết. Không còn sự lựa chọn nào khác nữa. Gã phải từ bỏ kế hoạch ban đầu. Tất cả những gì gã có thể làm là quay trở lại phòng điều khiển, cho hệ thống xomputer hoạt động trở lai, và bằng cách nào đấy gắng liên lạc với Dodgson, hẹn giao hàng vào đêm mai. Nedry sẽ phải phấn đấu nhiều để thực hiện công việc nhưng gã nghĩ là gã có thể giải quyết được. Computer tự động ghi lại tất cả các cú điện đàm; sau khi liên lạc được với Dodgson, gã phải trở lại computer và xóa cuộc nói chuyện của gã. Nhưng một điều chắc chắn là gã không thể ở thêm ngoài công viên này phút nào nữa, không thì sự vắng mặt của gã sẽ gây chú ý.
     Nedry bắt đầu đi lui, nhằm hướng hai ánh đèn trước của chiếc xe Jeep vẫn để sáng. Gã ướt sũng, khổ sở. Gã nghe tiếng cú rúc lần nữa, và lần này gã dừng lại. Tiếng kêu thật ra không giống tiếng cú. Dường như rất gần, ở nơi nào đấy trong rừng bên phải gã.
     Gã nghe tiếng sột soạt ở bụi cây thấp. Rồi yên lặng. Gã chờ, và lại nghe sột soạt. Tiếng sột soạt nghe rõ mồn một như có một con gì thật lớn, di chuyển chầm chậm trong rừng về phía gã.
     Một con gì thật lớn, một con gì thật gần. Một con khủng long lớn
     Chạy ra khỏi chỗ này.
     Nedry bắt đầu chạy. Gã gây nhiều tiếng động khi chạy nhưng dù thế gã vẫn có thể nghe tiếng thú sột soạt qua đám lá. Và rúc lên.
     Con thú đến gần hơn.
     Chúi người vì vấp phải các rễ cây to trong bóng đêm, tay rẽ cành lá buông rũ đầm nước mưa để lấy đường chạy, gã thấy chiếc Jeep trước mặt và ánh đèn xe chiếu qua những thanh đứng của hàng rào làm gã thấy khỏe hơn. Chỉ trong một phút nữa gã sẽ ở trong xe và rồi chạy khỏi chỗ quỷ quái này. Gã loạng choạng quanh hàng rào và khựng lại .
     Con vật đã đứng đấy.
     Nhưng nó không đứng gần lắm. Con thú đứng cách khoảng mười hai mét, ở rìa ánh sáng đèn xe. Nedry không hề ra các chỗ nuôi thú vì thế gã không biết đến các loại thú khác nhau. Nhưng con này trông thật kỳ lạ. Thân hình cao ba mét, màu vàng sẫm, với những chấm đen, và chạy dọc theo trán là chiếc mồng màu đỏ hình chữ V. Con khủng long không cử động, nhưng lần nữa cất lên tiếng kêu như cú rúc.
     Nedry chờ xem nó có tấn công không. Nhưng nó không tấn công. Có lẽ ánh đèn của chiếc xe Jeep làm nó sợ hãi, khiến nó đứng ở một khoảng cách xa, như một đống lửa.
     Con khủng long nhìn Nedry chăm chăm rồi ngóc đầu tới một cái thật nhanh. Nedry cảm thấy một thứ gì ươn ướt bay tới đánh bộp vào ngực. Gã nhìn xuống và thấy một đám bọt trên chiếc áo sũng nước mưa. Gã lạ lùng nhìn vào đấy, không hiểu…
     Đấy là nước bọt.
     Con khủng long đã nhổ nước bọt vào gã.
     Thật gớm tởm quá, gã nghĩ. Gã nhìn lại con thú, đầu nó ngóc tới lần nữa, và ngay lập tức gã cảm thấy một cục ươn ướt khác dính vào cổ ngay phía trên cổ áo. Gã đưa tay hất đi.
     Chúa ơi, thật gớm quá. Nhưng da cổ gã bắt đầu thấy ngứa và rần đỏ. Và tay gã cũng thấy rần ngứa nữa. Gần giống như là gã chạm phải acid.
     Nedry mở cửa xe, liếc nhìn lui để biết chắc rằng nó không tấn công và cảm thấy đau buốt thình lình ở đôi mắt, đau như cọc nhọn đâm thấu sọ. Gã nhắm mắt lại, đưa cả hai tay lên che mắt và cảm thấy nước dãi nhơn nhớt chảy xuống hai bên sống mũi.
     Nước bọt.
     Con khủng long đã nhổ nước bọt vào hai mắt gã.
     Ngay khi gã nhận ra điều ấy, nỗi đau đớn đã chiếm cứ gã, và gã quỵ người xuống, mất phương hướng, quay cuồng. Gã té ngang người, má ấn xuống đất ướt, hơi thở đều sìn sịt cùng với nỗi đau đớn chưa từng có làm gã điên đầu với hàng ngàn điểm sáng tung tóe trong đôi mắt nhắm kín của gã.
     Mặt đất rung động dưới người gã và Nedry biết là con khủng long đang di chuyển, gã có thể nghe tiếng kêu như cú rúc của nó, và bất chấp đau đớn, gã cố mở mắt nhưng chẳng thấy gì ngoài những đốm sáng trong màn đen. Chầm chậm, sự nhận thức đến với gã.
     Gã đã mù.
     Tiếng cú rúc nghe rõ hơn khi Nedry cố gượng đứng dậy và lảo đảo tựa người vào mặt trong cửa xe, với một cơn buồn mửa làm gã chóng mặt điên đảo. Lúc này con khủng long đã đến gần, gã có thể cảm thấy nó đến gần, gã mơ màng nghe tiếng thở khìn khịt của con thú.
     Nhưng gã không thể thấy. Gã không trông thấy gì cả và nỗi kinh hoàng của gã ngày càng cùng cực. Gã vươn hai tay ra, vẫy trong không khí một cách cuồng dại để chống đỡ cuộc tấn công gã biết đang gần đến.
     Và rồi một nỗi đau đớn khác, như một lưỡi dao nhọn thúc vào bụng, Nedrr quờ quạng với tay xuống mí áo rách, một thứ gì dày dày, trơn trơn và nong nóng một cách ngạc nhiên, trong nỗi kinh hoàng, gã đột nhiên nhận ra là gã đang nắm bộ ruột của mình trong tay. Con khủng long đã xé toang người gã. Bộ ruột của gã rơi ra ngoài.
     Nedry ngã xuống đất nằm lên một vật gì lạnh ngắt, có vảy, đấy là chân con vật, rồi một nỗi đau đớn khác hai bên đầu gã. Nỗi đau đớn càng gia tăng, khi gã bị nhấc bổng lên khỏi mặt đất, gã biết con khủng long đang ngoạm đầu gã giữa hai hàm răng, theo sau nỗi kinh hoàng của sự nhận biết ấy là ước muốn cuối cùng của gã: chấm dứt mọi chuyện thật mau.
0
NGÔI NHÀ NGHỈ
     Hammond hỏi, giọng thân ái:
     - Cà phê thêm nhé?
     - Đủ rồi, cám ơn - Henry Wu từ chối, dựa vào ghế. - Tôi không thể ăn thêm cái gì được nữa.
     Họ đang ngồi trong phòng ăn của ngôi nhà nghỉ của Hammond, nằm trong một góc công viên không xa phòng thí nghiệm mấy. Wu phải thừa nhận rằng ngôi nhà nghỉ Hammond xây riêng cho lão thật trang nhã, với những đường nét Nhật. Và buổi ăn tối tuyệt hảo cho dù là phòng ăn chưa có đầy đủ nhân viên phục vụ.
     Nhưng có một điều gì đó nơi Hammond khiến Wu thấy khó chịu. Ông già này khác người trong một phong cách nào đấy… một sự khác biệt khó nhận ra. Trong suốt buổi ăn, Wu đã cố gắng khẳng định xem đó là điều gì. Một phần, là khuynh hướng ưa nói chuyện huyên thiên, lặp đi lặp lại những chuyện cũ. Một phần, đấy là tính dễ xúc cảm, vừa mới nổi giận đấy, thì kế đó đã tình cảm ủy mị. Nhưng tất cả những thứ đó có thể hiểu là xẩy ra cùng với tuổi già một cách đương nhiên. Hammond đã gần bảy mươi bảy rồi, còn gì.
     Nhưng còn có điều khác. Sự lảng tránh bướng bỉnh. Sự khăng khăng theo đường lối của mình. Và, vào lúc cuối, một sự từ chối hoàn toàn việc đối phó với tình huống mà công viên đang phải đương đầu.
     Wu đã bị choáng váng bởi bằng cứ hiển nhiên là lũ khủng long đang sinh san. sau khi Grant hỏi về DNA loài lưỡng cư, Wu đã có ý định đi ngay tới phòng thí nghiệm và kiểm tra các thứ lưu trữ ở computer. Bởi vì, nếu các khủng long đang sinh sản, mọi thứ về công viên phải xem xét lại - các phương pháp phát triển gen, phương pháp điều khiển gen, mọi thứ. Thậm chí chất lysine xúc tác cũng đáng nghi ngờ. Và nếu thật đúng là các con thú này sinh sản được thì chúng cũng có thể sống được trong thiên nhiên…
     Henry Wu muốn kiểm tra các số liệu ngay lập tức. Nhưng Hammonđ đã bướng bỉnh nhất định bảo ông cùng đi ăn tối với lão.
     Hammond đẩy ghế lui khỏi bàn ăn, bảo Wu:
     - Nào, bây giờ, Wu, anh phải dành bụng cho món kem. Marita làm món kem gừng tuyệt diệu nhất.
     - Được rồi. - Wu nhìn cô gái phục vụ xinh đẹp yên lặng làm việc. Anh nhìn theo cô ta đi ra khỏi phòng, và rồi liếc nhìn lên màn hình điều khiển từ xa gắn trên tường. Màn hình tối đen.
     - Màn hình điều khiển của ông không hoạt động đấy.
     - Thật ư? - Hammond ngước nhìn - Chắc là do giông bão. - Lão với tay đến điện thoại sau lưng - Tôi sẽ kiểm tra với John ở phòng điều khiển.
     Wu có thể nghe lách tách tĩnh điện vang ra trong ống nghe. Hammond nhun vai, và đặt lại ống liên hợp lên giá:
     - Liên lạc điện thoại trở ngại. Hoặc có lẽ Nedry vẫn đang dùng các đường dây để chuyển số liệu. Gã ấy có cả một lô lỗi kỹ thuật cần điều chỉnh cho xong trong tuần này. Nedry là một thiên tài trong việc này, nhưng chúng ta phải thúc hối gã, khi gần đến đích, để chắc rằng gã làm mọi thứ đúng.
     - Có lẽ tôi nên đến phòng điều khiển để kiểm tra xem sao.
     - Không, không. Chẳng có lý do gì. Nếu có vấn đề gì thì chúng ta đã được cho biết. À, đây rồi .
     Marita trở lại phòng, với hai đĩa kem. Hammond nói:
     - Anh phải ăn in ít thôi. Kem được làm với gừng, trồng phía đông của đảo. Đấy là một thói xấu của người già, kem. Nhưng vẫn…
     Wu nhúng muỗng vào đĩa kem. Bên ngoài, chớp lóe lên và có tiếng sấm rền. Wu nói:
     - Sấm nổ gần ghê. Tôi mong là giông bão không làm mấy đứa trẻ sợ.
     - Đáng ra, tôi không nên nghĩ về điều này. - Hammond nếm món kem - Nhưng tôi không thể không lo sợ một vài chỗ.
     Wu cảm thấy nhẹ nhõm trong thâm tâm. Có lẽ rốt cuộc rồi ông già cũng sắp đối diện với sự thật:
     - Những nỗi sợ gì?
     - Anh biết đấy. Công viên thật sự xây dựng cho trẻ em. Trẻ con trên thế giới thích khủng long, và trẻ con sắp sửa khoái chí - chỉ khoái chí thôi - với chỗ này. Những khuôn mặt nhỏ nhắn sẽ rạng rỡ vui thích khi cuối cùng được thấy những con thú kỳ diệu này. Nhưng tôi sợ… tôi sẽ không sống để thấy điều đã Wu à. Tôi có thể không sống đến lúc thấy niềm vui trên những khuôn mặt ấy.
     Wu cau mày:
     - Tôi nghĩ rằng còn có những vấn đề khác nữa.
     - Nhưng không có vấn đề nào đè nặng trong trí tôi bằng vấn đề này. Tôi sẽ không sống để thấy những khuôn mặt khoái trá, sáng rực của chúng. Đây là chiến thắng của chúng ta, công viên này. Chúng ta đã thực hiện những gì chúng ta đề ra từ đầu. Và, anh nhớ là, ý định đầu tiên của chúng ta là dùng kỹ thuật di truyền mới này để kiếm tiền. Thật nhiều tiền.
     Wu biết Hammond sắp sửa tuôn ra một trong những "bài nói" cũ rích của lão. Ông đưa tay lên:
     - Tôi đã biết điều này, ông Hammond…
     - Nếu anh sắp mở một công ty kỹ thuật sinh học, Wu, anh sẽ làm gì? Anh sẽ tạo nên những sản phẩm đề giúp loài người chống đau yến bệnh tật? Bỏ lỗi cho tôi. Đấy là một ý tướng chẳng mấy tốt đẹp. Một cách sử dung rất tầm thường một kỹ thuật mới.
     Hammond buồn bã lắc đầu, nói tiếp:
     - Tuy nhiên, anh nhớ là các công ty kỹ thuât di truyền nguyên thủy như Genetech và Cetus, đều bắt đầu với công việc chế tạo y dược. Những phương thuốc mới cho nhân loại. Mục đích cao thượng. Chẳng may, các phương thuốc đương đầu với mọi loại rào chắn. Nội việc thử nghiệm của FDA không thôi cũng đã mất từ năm đến tám năm, nếu anh gặp may. Thậm chí còn tệ hơn, có những sức ép ở thị trường. Giả dụ như anh chế được một phương thuốc thần kỳ chữa được ung thư hay bệnh tim - như Genetech đã làm. Giả dụ như anh muốn định giá một ngàn hay hai ngàn đô la một liều. Anh có thể tưởng đấy là quyền ưu tiên của anh. Bởi vì, anh phát minh ra thuốc, anh trả phí tổn để chế tạo và thử nghiệm, anh phải có được quyền định giá bao nhiêu tùy anh. Nhưng anh có thật sự cho rằng Nhà nước sẽ để cho anh làm việc ấy? Không đâu, Wu, họ sẽ không để anh làm. Ngưởi bệnh sẽ chẳng trả một ngàn đô la cho phương thuốc cần đến, họ sẽ chẳng biết ơn, họ sẽ nổi giận. Họ sẽ la toáng lên là bóc lột. Và thế là chuyện đó sẽ xảy ra. Giấy phép sản xuất sẽ bị từ chối. Đơn xin của anh sẽ bị trì hoãn. Một điều gì đó sẽ ép buộc anh xem lại lý do - và bán thuốc của anh với giá thấp hơn. Từ một quan điểm doanh thương, việc ấy làm cho sự giúp đỡ nhân loại thành ra một việc làm ăn liều lĩnh. Cá nhân tôi, tôi sẽ không bao giờ giúp nhân loại.
     Wu đã từng nghe lý luận này trước đây. Và anh biết là Hammond cũng có lý; một vài ngành dược theo kỹ thuật sinh học quả thật đã phải chịu đựng những trì hoãn và những vấn đề giấy phép kinh doanh không thể giải thích được.
     Hammond tiếp:
     - Bây giờ, hãy nghĩ xem vấn đề sẽ khác như thế nào nếu anh kinh doanh việc giải trí. Không một ai cần thiết giải trí. Đấy không phải điều nhà nước phải xen vào. Nếu tôi định giá năm ngàn đô một ngày ở trong công viên tôi, ai sẽ ngăn cản tôi? Xét cho cùng, không một ai cần thiết phải đến đây. Và, khác xa với việc bị trấn lột một bảng giá cao chắc chắn sẽ làm tăng thêm sự hấp dẫn của công viên. Một chuyến viếng công viên trở thành một dấu hiệu của địa vị, và mọi người Mỹ thích điều đó. Người Nhật cũng vậy, và dĩ nhiên họ còn có nhiều tiền hơn.
     Hammond ăn hết chỗ kem và Marita yên lặng đem đĩa đi. Lão nói:
     - Cô ta không phải là người ở đây. Ngưởi đảo Haiti. Mẹ cô ta là người Pháp. Nhưng, bất cứ trường hợp nào, Wu, anh hãy luôn nhớ rằng mục đích nguyên thủy đứng sau việc chỉ đạo đường lối xây dựng đảo này của tôi trước hết là không có sự can thiệp của chính quyền, bất cứ chính quyền nào trên thế giới.
     - Nói về phần còn lại của thế giới thì...
     Hammond mỉm cười:
     - Chúng ta đã thuê một vùng đất ở Azores, dành cho công viên kỷ Jura châu Âu. Và anh biết là từ lâu, chúng ta đã có được một đảo Guam, dành cho công viên Nhật Bản. Việc xây dựng hai công viên này sẽ bắt đầu vào đầu năm tới. Cả hai sẽ mở cửa trong vòng bốn năm tới. Và lúc đó, doanh số thu nhập lên đến mười tỉ đôla một năm, còn hàng hóa, và những lợi nhuận phụ thuộc sẽ gấp đôi con số ấy. Tôi thấy không có lý do gì để quấy rầy các con vật cưng của lũ trẻ.
     - Hai mươi tỉ đôla một năm. - Wu lắc đầu, nói qua hơi thở.
*
     - Anh đã tìm thấy gã chưa? - Arnold hỏi ngay, khi người bảo vệ bước vào phòng.
     - Không thấy, thưa ông Arnold.
     - Hãy tìm gã bằng được.
     - Tôi nghĩ là ông ấy không có trong tòa lầu, ông Arnold à.
     - Vậy thì tìm ở khu nhà khách, ở nhà bảo quản, ở nhà tắm, phòng vệ sinh, tìm khắp nơi, nhưng phải tìm cho ra gã.
     - Vấn đề là… - người bảo vệ do dự - ông Nedry là người mập mạp, phải ông ta không?
     - Phải đấy. Một gã mập. Một gã vụng về mập mạp.
     - Vậy thì, Jimmy gác ở hành lang chính nói anh ta thấy ông ấy đi vào garage.
     Muldoon quay lại:
     - Vào garage? Khi nào?
     - Cách đây khoảng mươi, mười lăm phút.
     - Chúa ơi! - Muldoon kêu lên.
*
     Harding đạp thắng, chiếc Jeep trượt dài rồi dừng lại. Trong ánh dèn pha, Ellie thấy một đàn aptorsaur lạch bạch đi qua đường. Có sáu con, mỗi con to cỡ một căn nhà, và con con to bằng cỡ con ngựa. Mấy con aptorsaur di chuyển yên lặng và vội vàng, không hề nhìn chiếc Jeep và hai ánh đèn pha. Một con dừng lại bên một vũng nước ở vệ đường cúi đầu uống mấy hớp nước, rồi tiếp tục đi.
     Nếu đấy là một đàn voi, chúng sẽ ngạc nhiên khi thấy chiếc xe đến, chúng sẽ hí lên, quay vòng lại để bảo vệ voi con. Nhưng những con thú này chẳng tỏ vẻ gì sọ hãi. Ellie hỏi:
     - Chúng không trông thấy chúng ta à?
     - Không thấy, nhưng không hẳn vậy. Dĩ nhiên, về nghĩa đen chúng có thấy chúng ta nhưng chúng ta thật sự không có ý nghĩa gì đối với chúng cả. Chúng tôi hiếm khi dùng xe vào ban đêm, vì thế chúng không có kinh nghiệm gì về xe cả. Chúng ta chỉ là một vật lạ, một vật là có mùi trong môi trường của chúng, không là một biểu hiện đe dọa, và vì thế chúng không quan tâm. Thỉnh thoảng tôi phải ra ngoài vào ban đêm, chăm sóc một con thú bệnh, và trên đường về, các con thú này chắn đường cả tiếng đồng hồ, hoặc hơn.
     - Rồi ông làm sao?
     - Mở một băng cassette ghi tiếng rống của con khủng long bạo chúa. Tiếng rống sẽ làm chúng di chuyển. Không phải chúng để tâm gì đến con khủng long bào chúa. Những con aptorsaur này quá to đến nỗi không thể có con thú nào khác ăn thịt nó được. Chúng có thể làm gãy cổ con bạo chúa bằng một cú quật đuôi.
     - Nhưng chúng sẽ thấy chúng ta. Nếu chúng ta ra khỏi xe…
     Harding nhún vai:
     - Có lẽ cũng sẽ chẳng phản ứng gì. Khủng long có cái nhìn rất tinh, nhưng chúng có hệ thống thâu nhận hình ảnh cơ bản của loài lưỡng cư. Chúng nhìn rõ những vật cử động. Chúng không thấy rõ những vật bất động.
     Mấy con thú tiếp tục đi, da chúng ánh lên trong mưa. Harding gài số xe:
     - Giờ thì chúng ta đi được rồi.
*
     Wu và Hammond đã chuyển qua phòng khách. Hai người ngồi nhìn cơn bão qua cửa kính lớn. Wu nói:
     - Tôi ngờ rằng ông thấy những áp lực vào công viên của ông, cũng như những áp lực vào các thứ thuốc của Genetech.
     - Tôi thấy họ không thể làm được.
     - Các nhà khoa học có thể cưỡng ép ông. Thậm chí muốn ngưng công việc.
     - Ô họ không thể làm điều ấy. - Lão gẩy một ngón tay vào Wu - Anh có biết tại sao các tay khoa học gia đó sẽ ráng làm việc ấy không. Chỉ vì họ muốn làm công việc khảo cứu, dĩ nhiên. Đấy là những gì họ từng muốn làm, khảo cứu. Không muốn hoàn thành bất cứ điều gì. Không muốn thực hiện một tiến bộ nào. Chỉ cứ khảo cứu. Vâng họ sẽ ngạc nhiên khi đến đây.
     - Tôi không suy nghĩ đến vấn đề ấy.
     Hammond thở dài:
     - Tôi chắc chắn là đối với các nhà khoa học, họ rất thú vị khi khảo cứu. Nhưng sẽ dẫn đến vấn đề là các con thú này quá đắt, không thể dùng cho khảo cứu. Đây là kỹ thuật kỳ diệu, Wu, nhưng cũng là thứ kỹ thuật đắt tiền đáng sợ. Cái chính là, chúng chỉ có thể được nuôi dưỡng như là việc giải trí.
     Hammond nhún vai:
     - Đấy, nó phải là như thế.
     - Nhưng nếu có những cố gắng đóng cửa công viên…
     - Hãy đương đầu với những sự việc chết tiệt ấy, Wu. - Hammond bắt đầu khó chịu - Đây không phải là Mỹ. Thậm chí đây cũng không phải là Costa Rica. Đây là đảo của tôi. Tôi là chủ sở hữu. Và không có gì ngăn được tôi mở cửa công viên kỷ Jura cho tất cả các trẻ con trên thế giới. - Lão chặc lưỡi - Hay chí ít, cho những trẻ con giàu có. Và tôi nói thật, chúng sẽ thích công viên này.
*
     Từ chỗ ngồi phía sau xe Jeep, Ellie nhìn ra cửa sổ xe. Họ đã chạy qua cánh rèng mưa rơi dày đặc ít nhất cũng hai mươi phút rồi và chẳng thấy gì nữa kể từ khi mấy con aptorosaur băng qua đường.
     Harding chăm chú lái xe. Ông nói:
     - Bây giờ chúng ta đang ở gần bờ sông. Con sông ở đâu đó bên trái chúng ta.
     Đột nhiên ông lại đạp mạnh thắng. Chiếc xe trượt dài rồi dừng lại ngay trước một đàn thú nhỏ màu xanh lục. Ông bảo hai người:
     - Ấy, thế mà thú vị lại được thấy nhiều thú vào đêm nay. Đây là những con compys.
     Những con procompsognathus, Ellie nghĩ, và ước gì có Grant ở đây cho ông ta xem. Đây là con thú mà họ đã thấy ở bản Fax, ở Montana. Những con thú nhỏ màu lục đậm ríu rít chạy nhanh về phía bên kia đường rồi đứng cao lên bằng hai chân sau, nhìn chiếc xe, kêu chíu chít, trước khi chạy tiếp vào bóng đêm.
     - Kỳ lạ thật. - Harding nói - Không hiểu chúng chạy đi đâu. Compys thường không đi đâu ban đêm, cô biết đấy. Chúng lao lên cây và chờ trời sáng.
     - Vậy tại sao chúng chạy ra đường vào giờ này? - Ellie hỏi.
     - Tôi không nghĩ ra được. Cô biết compys là loài ăn xác súc vật chết, như loài chim ó. Hễ đâu có con vật chết là chúng biết ngay, và chúng có khứu giác cực nhạy. Chúng có thể ngửi thấy mùi một con vật đang hấp hối cách hàng dặm.
     - Chúng ta có nên theo chúng không? - Elhe hỏi.
     - Tôi cũng thấy tò mò. Vâng. Tại sao không? Chúng ta hãy xem xem chúng đi đến đâu?
     Ông quay xe, lái chạy theo lũ compys.
0
TIM
     Tim Murphy nằm trong chiếc Land Cruiser, má tì vào tay nắm cửa xe. Cậu bé mơ màng chầm chậm tỉnh lại. Cậu chỉ muốn ngủ. Cậu nhấc mình và cảm thấy đau ở xương gò má, tay chân, và đầu như búa bổ.
     Cậu chống cùi chỏ ngồi dậy, mở mắt và nôn ọe đầy áo sơ mi. Cậu nghe mùi thật chua và đưa lưng bàn tay chùi miệng. Đầu cậu nhức nhối, chóng mặt như say sóngg, thấy trời đất như chuyển động, tưởng như mình đang lắc lư trên một con tàu.
     Tim rên rỉ và lăn người tránh chỗ vừa nôn.
     Cậu đang ở trong chiếc Land Cruiser, nhưng chiếc xe hẳn phải nằm nghiêng, vì cậu đang nằm ngửa bên trong cánh cửa chỗ ngồi hành khách, nhìn lên tay lái và mấy cành cây ở bên ngoài đang đong đưa trong gió. Mưa gần như đã tạnh, nhưng những giọt nước tiếp tục rơi lên người cậu, qua khung cửa kính trước đã vỡ.
     Hết sức thận trọng, Tim đứng dậy. Đứng trên cánh cửa xe, cậu nhìn ra bên ngoài qua cửa kính chắn gió vỡ. Thoạt tiên cậu thấy những tàn lá dày đặc, chuyển động trong gió. Nhưng đó đây có thể thấy những khoảng trống, và bên kia tán lá, mặt đất - một mặt đất ở khoảng sáu mét phía dưới cậu.
     Cậu nhìn chòng chọc, không hiểu nổi. Chiếc Land Cruiser đang nằm nghiêng trên những cành của một cây lớn, cách mặt đất sáu mét, lắc lư đưa tới đưa lui trong gió.
     - Eo ơi? Eo ơi? - cậu lặp đi lặp lại - Eo ơi.
     Cẩn thận, Tim với tay ra vặn nắm cửa sau.
     Tay nắm cũng kẹt.
     Làm thế nào ra khỏi xe?
     Cậu nghe tiếng khịt mũi và nhìn xuống. Một bóng đen lướt ngang dưới cậu. Đấy không phải là con khủng long bạo chúa. Bóng đen này to mập và phát ra những tiếng khìn khịt khi nó đi ngang. Chiếc đuôi đập tới đập lui và Tim có thể thấy cái đầu nhọn dài.
     Đấy là con stegosaur, rõ ràng là đã lành bệnh. Tim tự hỏi không biết mấy người kia đâu cả rồi: Gennaro, Ellie và ông bác sĩ thú y. Cậu thấy mấy người ấy lần cuối cạnh con stegosaur. Cách đây bao lâu? Cậu nhìn đồng hồ nhưng mặt đồng hồ đã nứt rạn, không thế thấy mấy con số. Cậu vớ chiếc đồng hồ và liệng nó qua một bên.
     Con stegosaur khịt mũi và tiếp tục đi. Bây giờ chỉ còn tiếng gió thổi qua cành cây và âm thanh kẽo kẹt của chiếc Land Cruiser khi nó đưa tới đưa lui.
     Cậu phải ra khỏi nơi đây.
     Tim nắm chắc tay nắm, ráng sức xoay, nhưng tay nắm kẹt cứng, chẳng nhúc nhích lấy một tý. Rồi cậu nhận ra rằng cửa sau đã khóa chốt. Cậu kéo chốt và xoay tay nắm. Cánh cửa sau mở bung xuống, rồi kê lên một cành cây cách vài tấc ở phía dưới.
     Cửa chỉ mở thành một khe hẹp, nhưng Tim nghĩ là cậu có thể luồn người qua được. Nín thở, cậu bò thật chậm ra phía sau xe. Chiếc Land Cruiser kêu răng rắc nhưng vẫn ở nguyên chỗ cũ. Bấu chặt vào hai bên thành cửa, Tim từ từ hạ mình xuống lọt qua khe cửa hẹp. Bây giờ cậu đang nằm sấp, người úp vào mặt trong cánh cửa nghiêng nghiêng, hai chân thò ra khỏi xe.
     Ngay khi cậu làm thế, cành cây oằn xuống và cánh cửa mở rộng hơn, cậu tuột khỏi chiếc Land Cruiser và rơi - lá quét qua mặt cậu - thân hình nảy từ cành này qua cành khác đau buốt - đầu choáng váng.
     Một cú chạm mạnh và cậu dừng lại. Tim nằm vắt người qua một cành cây lớn, bao tử đau như xé.
     Tim nghe thấy một tiếng "rắc" khác và nhìn lên chiếc Land Cruiser đen thui cách cậu chừng một mét rưỡi ở phía trên.
     Một tiếng rắc khác. Chiếc xe rời chỗ.
     Tim buộc mình phải rời chỗ, phải leo xuống. Cậu thường thích leo cây. Cậu là một tay leo cây giỏi. Và đây là một cây dễ leo, khoảng cách các cành rất gần nhau, gần như là một chiếc cầu thang.
     "Rắcccc…"
     Rõ ràng là chiếc xe đang di chuyển.
     Vội vã, Tim bò toài người leo xuống, trượt qua các cành cây ướt, cảm thấy nhựa cây nhơn nhớt nơi tay, cậu xuống chưa được một mét thì chiếc Land Cruiser kêu "rắc" một lần cuối, và rồi chầm chậm, thật chậm, tuột dần xuống. Tim có thể nghe thấy các chấn song màu lục và hai đèn trước chao đảo, và rồi chiếc Land Cruiser rơi tự do, đã nhanh hơn lao về phía cậu, dội vào cành cây lớn Tim vừa nằm vắt người trước đó. Và chiếc xe dừng lại.
     Mặt cậu chỉ cách chấn song xe có mấy phân, chấn song lõm vào như miệng một con quái vật, hai mắt là hai đèn trước. Dầu nhớt rỏ cả lên mặt Tim.
     Cậu vẫn còn cách mặt đất ba mét rưỡi, cậu với tìm một cành khác và leo xuống. Phía trên cậu thấy cành cây oằn xuống vì sức nặng của chiếc Land Cruiser, và gây. Chiếc xe tuôn xuống chỗ cậu và cậu thấy không có cách gì tránh được, cậu không thể leo xuống nhanh hơn chiếc xe được, vì thế cậu thả người rơi xuống.
     Cậu va vào cành này đến cành khác, cảm thấy đau khắp người, nghe chiếc Land Cruiser sàn sạt tuôn xuống qua các cành cây như một con quái vật đuổi sát theo cậu, và rồi Tim chạm mặt đất xốp, và cậu lăn thật nhanh hết sức mình ép người vào sát thân cây khi chiếc xe Land Cruiser lộn nhào rơi xuống với một tiếng rầm rổn rảng của kim loại, làm tung tóe những tia lửa điện châm chích vào da cậu và kêu xèo xèn khi rơi xuống mặt đất ướt xung quanh.
     Chầm chậm, Tim đứng dậy. Trong bóng tối, cậu nghe tiếng khìn khịt và thấy con stegosaur trở lại, rõ ràng là tiếng rơi của chiếc Land Cruiser làm nó chú ý. Con khủng long bước từng bước yên lặng, chiếc đầu thấp chĩa tới trước và các đĩa sụn hình quạt chạy dài thành hai đường dọc theo sống lưng. Nó có cử chỉ của một con rùa to quá cỡ. Ngờ nghệch và chậm chạp.
     Tim chụp một hòn đá ném về phía con vật.
     - Đi chỗ khác, này.
     Hòn đá chạm vào dãy sụn và văng đi. Con stegosaur tiếp tục đi tới.
     - Đi đi! Đi.
     Cậu ném một hòn đá khác, trúng vào đầu con stegosaur. Con vật ụt ụt lên mấy tiếng, chầm chậm quay lui, tìm cách lẩn tránh phía nó vửa mới đi đến.
     Tim tựa người vào chiếc Land Cruiser móp méo và nhìn quanh trong bóng đêm. Cậu phải trở lại với mấy người kia, nhưng cậu không muốn bị lạc đường. Cậu biết là mình đang ở đâu đó trong công viên, có lẽ không xa con đường chính mấy. Nếu cậu có thể định được phương hướng. Cậu không thể thấy được nhiều trong bóng tối.
     Rồi cậu nhớ lại cặp kính nhìn đệm.
     Cậu leo vào xe qua kính chắn gió bể phía trước tìm kính đêm và chiếc máy vô tuyến. Chiếc máy bể và tắt câm, vì thế cậu để lại. Nhưng cặp kính vẫn hoạt động tốt. Cậu mang thử vào, và yên tâm khi thấy màu lục của lân tinh.
     Mang kính đêm, cậu thấy khoảng hàng rào bị nằm rạp xuống về phía trái, và cậu đến bên hàng rào. Hàng rào cao ba mét rưỡi nhưng con bạo chúa đã đè bẹp xuống dễ dàng. Tim bước qua thật nhanh, đi xuyên qua một đám tán lá rậm rạp, và bước ra con đường chính.
     Qua kính đêm, cậu thấy chiếc Land Cruiser thứ hai nằm lật nghiêng. Cậu chạy tới bên xe, thở thật sâu và nhìn vào trong xe. Chiếc xe trống. Không có dấu hiệu gì của tiến sĩ Grant và tiến sĩ Malcolm.
     Họ đi rồi?
     Mọi người đã đi đâu cả.
     Đột nhiên cậu cảm thấy sợ kinh khủng khi thấy mình đứng một mình trên con đường rừng vào ban đêm với chiếc xe trống hoác. Và cậu quay quanh một vòng, thấy màu xanh lục của cây rừng qua kính đêm. Có cái gì đó xam xám bên cạnh đường khiến cậu chú ý. Đấy là quả bóng của Lex. Cậu nhặt lên và phủi bùn đi.
     - Lex!
     Cậu la lớn hết sức mình, bất kể chuyện các con thú có thể nghe tiếng cậu. Cậu lắng tai, nhưng chỉ có tiếng gió, và tiếng lách tách của nước mưa từ trên cây rơi xuống.
     - Lex!
     Cậu láng máng nhớ lại là em mình ở trong xe khi con khủng long tấn công. Lex có còn trong xe không? Hay là nó đã thoát ra khỏi xe. Diễn biến của vụ tấn công rối rắm trong trí cậu. Cậu không nhớ chắc những gì đã xẩy ra. Chỉ riêng việc nghĩ đến đã làm cậu khó chịu. Cậu đứng trên đường, thở dốc với nỗi kinh hoàng.
     - Lex!
     Bóng đêm dường như vây kín cậu. Cảm thấy khổ sở, cậu ngồi xuống một vỉa đá ướt lạnh bên vệ đường và thút thít. Cuối cùng, khi cậu ngừng khóc, cậu vẫn nghe tiếng thút thít. Tiếng thút thít nghe thoang thoảng, đến tử đâu đó xa xa trên dường.
*
     Muldoon trở lại phòng điều khiển, mang theo một vali sắt đen. Ông hỏi:
     - Bao lâu rồi?
     - Nửa tiếng.
     - Vào giờ này, chiếc Jeep của Harding phải về đến nơi rồi.
     Arnold dụi tắt điếu thuốc:
     - Tôi đoán chắc là họ sẽ về đến nơi trong ít phút nữa.
     - Vẫn không thấy bóng dáng Nedry?
     - Chưa. Không thấy
     Muldoon mở vali, trong có sáu máy vô tuyến xách tay:
     - Tôi sẽ giao thứ này cho mấy người trong tòa nhà này. - ông trao cho Arnold một máy - Hãy sạc điện đã. Đây là những radio dành cho trường hợp khẩn cấp, nhưng lâu nay chẳng ai sạc điện cả, tất nhiên thôi. Sạc chừng hai mươi phút, và rồi thử gọi mấy chiếc xe.
*
     Henry Wu mở cánh cửa có ghi FERTILIZATION và bước vào căn phòng mờ tối. Không có ai ở đây cả; rõ ràng là mấy kỹ thuật viên vẫn còn ăn tối. Wu đi thẳng tới computer cuối phòng và bấm phần lưu trữ DNA. Phần lưu trữ này rất lớn, bởi mỗi phân tử DNA của một chủng loại cần đến một đĩa nhớ mười tỉ bít mới chứa hết chi tiết của tất cả các phiên bản. Anh sắp kiểm tra hết cả mười lăm chủng loại. Đấy là một lượng thông tin không lồ phải lục tìm hết.
     Anh vẫn chưa hiểu rõ tại sao Grant cho rằng DNA của loài cóc nhái là quan trọng. Wu vẫn thường không đích thân phân biệt loại DNA này với loại DNA khác. Vả lại, phần lớn DNA ở động vật sống giống nhau. DNA vốn là một thứ vật chất có từ lâu đời đến mức khó tin. Con người đi dạo chơi trên các đường phố của thế giới ngày nay, bồng nựng những đứa trẻ hồng hào, khó có thể tin rằng thứ vật chất tại trung tâm thế giới đó - thứ vật chất đã bắt đầu cuộc khiêu vũ của đời sống - là một chất hóa học có từ lâu đời như bản thân quả đất. Phân tử DNA quá xưa đến nỗi sự tiến hóa của nó về bản chất đã chấm dứt cách đây hơn hai tỉ năm. Nó chẳng có gì mới hơn kể từ lúc ấy. Gần đây mới chỉ có một vài sự tổng hợp những gen cũ. Và việc này cũng không nhiều.
     Khi bạn so sánh DNA của người và DNA của một vi khuẩn hạ đẳng, bạn thấy chỉ có mưởi phần trăm của chuỗi xoắn là khác nhau. Tính chất bảo thủ bẩm sinh này của DNA đã làm cho Wu bạo gan dùng bất cứ loại DNA nào anh muốn. Trong việc tạo nên khủng long, Wu đã sử dụng DNA như là một thứ chất dẻo hay một thứ đá của nhà điêu khắc. Anh đã tự do sáng tạo.
     Anh bắt đầu cho máy điện toán chương trình tìm kiếm, biết máy sẽ mất hai hay ba phút để hoạt động. Anh đứng dậy, đi quanh phòng thí nghiệm, kiểm tra các dụng cụ theo thói quen cố hữu. Anh chú ý đến cái máy ghi ngoài cánh cửa phòng đông lạnh để theo dõi nhiệt độ phòng lạnh. Anh thấy có một đỉnh nhọn ở biểu đồ. Điều này kỳ dị, anh nghĩ. Có nghĩa là có ai đó đã vào phòng lạnh, và cũng mới vào thôi, trong vòng chưa quá nửa tiếng. Nhưng mà ai đã vào đấy vào ban đêm?
     Computer kêu bíp bíp, cho biết phần đầu việc kiếm số liệu đã hoàn thành. Wu đến bên máy xem những gì đã xẩy ra, và khi anh thấy màn hình, anh quên mất phòng lạnh với đỉnh nhọn của biểu đồ nhiệt độ.
     Kết quả đã rõ ràng: các chủng loại maiasaur, procompsognathus, othnielia, velociraptor, hypsilophodontid - những khủng long hiện đang sinh sản - đều có pha lộn rana, hay là DNA ếch nhái. Không một loài nào khác có. Wu vẫn không hiểu tại sao việc này làm cho chúng sinh sản được. Nhưng anh không còn cho là Grant không có lý nữa. Các khủng long đang sinh sản.
     Anh đi gấp vào phòng điều khiển.
 
LEX
     Cô bé phải cong người lại bên trong một ống thoát nước đường kính một mét chạy dưới đường. Cô cắn đôi găng tay nơi miệng, người lắc lư, đầu đập đều đều vào thành ống nước. Trong ống tối đen, nhưng Tim có thể thấy cô em nhờ cặp kính đêm. Cô không có vẻ bị thương tích gì và cậu cảm thấy nhẹ người.
     - Lex, anh đây. Tim đây.
     Cô bé không trả lời. Cứ tiếp tục đánh đầu vào thành ống.
     - Đi ra đây đi.
     Cô bé lắc đầu. Cậu có thể thấy cô em quá sợ hãi. Cậu bảo:
     - Này Lex, nếu em ra, anh sẽ cho em mang kính đêm đây.
     Cô bé chỉ lắc đầu.
     - Xem anh có cái gì đây. - cậu đưa tay lên. Cô bé nhìn không hiểu. Có lẽ quá tối, nó không thấy - Đây là quả bóng của em. Anh đã tìm ra quả bóng của em.
     - Mặc kệ bóng.
     Cậu tìm cách khác:
     - Trong ấy chắc chẳng thoải mái gì. Lạnh nữa. Em không thích ra à?
     Cô bé lại lắc đầu. Tim lại hỏi:
     - Sao không ra?
     - Có con thú ở ngoài ấy.
     - Con thú đi rồi.
     - Nó đi đâu?
     - Anh không biết, nhưng nó không còn quanh quẩn ở đây nữa.
     Tim nói và nhìn quanh hi vọng là mình nói đúng.
     Lex không nhúc nhích. Cậu bé lại nghe tiếng đầu cô em đập vào ống nước. Tim ngồi xuống đám cỏ phía ngoài, nơi cô em có thể thấy cậu. Chỗ đất cậu ngồi ướt đầm. Cậu ôm chặt hai đầu gối, và chờ. Cậu không thể nghĩ ra được điều gì khác để làm. Cậu nói vào ống cống:
     - Anh chỉ việc ngồi đây. Và nghĩ.
     - Có bố ngoài ấy không?
     - Không. - cậu cảm thấy lạ - Bố ở nhà mà, Lex.
     - Có mẹ không?
     - Không. Lex.
     - Có người lớn nào ngoài ấy không?
     - Chưa có. Nhưng anh chắc chắn là họ sẽ đến ngay thôi. Có lẽ là họ đang trên đường đi đến đây.
     Cậu nghe động đậy trong ống, và cô bé chui ra. Cô run rẩy vì lạnh, máu khô đọng trên trán, nhưng người không hề gì. Lex nhìn quanh ngạc nhiên và hỏi:
     - Tiến sĩ Grant đâu?
     - Anh không biết.
     - Ơ, hồi nãy ông ấy ở đây mà.
     - Ông ấy ở đây? Khi nào?
     - Hồi nãy. - Lex nói - Em thấy khi em ở trong ống.
     - Thế ông ấy đi đâu?
     - Làm sao em biết được? - Cô bé nhăn mũi. Cô bắt đầu kêu lớn - Bác Grant ơ ơ ơi… Tiến sĩ Grant? Tiến sĩ Grant ơiii!
     Tim thấy lo lắng vì tiếng kêu của em có thể đem con bạo chúa trở lại. Nhưng một chốc sau, chúng nghe tiếng kêu trả lời. Tiếng đáp lại đến từ bên phải, phía bên kia chiếc Land Cruiser Tim mới bỏ đi cách đấy mấy phút. Với kính nhìn đêm, Tim nhẹ người khi thấy tiến sĩ Grant đang bước về phía chúng. Áo ông bị rách một mảng lớn ở vai nhưng trông ông có vẻ không hề gì.
     - Cám ơn Chúa. Bác đang tìm mấy cháu.
*
     Run rẩy, Ed Regis đứng dậy, chùi sạch bùn lạnh trên mặt và tay. Anh ta đã trải qua nửa tiếng đồng hồ tệ hại, chen chúc giữa những tảng đá ở dốc một ngọn đồi dưới con đường. Anh ta biết đấy không phải là một chỗ ẩn nấp tốt được, nhưng anh ta quá khiếp đảm và không thể suy nghĩ kỹ. Anh ta đã nằm trong chỗ đầy bùn lạnh này và cố giữ bình tĩnh, nhưng vẫn thấy con khủng long ấy trong trí nhớ. Con khủng long đang tiến về phía anh ta. Về phía chiếc xe.
     Regis không nhớ chính xác những gì xẩy ra sau đó. Anh ta nhớ là Lex cố nói gì đó với mình, nhưng anh ta đã không dừng lại, anh ta không thể dừng lại, anh ta chỉ việc chạy và chạy. Qua bên kia con đường, Regis vấp ngã và nằm yên bên cạnh mấy tảng đá, anh ta thấy dường như có thể bò vào giữa đám đá, và nấp, vì thấy có chỗ nấp, và đấy là những gì anh ta đã làm.
     Anh ta tự nhủ nếu hai đứa trẻ vẫn còn ở trên con đường ấy chúng không thể nào sống sót được, và dĩ nhiên là Regis chẳng làm gì được cho chúng. Tốt hơn là cứ nấp ở đây. Không một ai biết được những gì đã xẩy ra, trừ anh ta. Regis nằm yên giữa đám đá trong nửa tiếng đồng hồ, đấu tranh với nỗi sợ hãi, cố không nghĩ đến việc hai đứa trẻ đã chết hay chưa, và Hammond sẽ nói gì khi lão biết mọi chuyện.
     Cuối cùng, điều làm cho anh ta động đậy là cảm giác khó chịu nơi miệng. Khoé miệng thấy buồn buồn ngứa ngứa như bị ong đốt, và Regis tự hỏi mình có bị thương không khi ngã, Regis đưa tay lên sờ mặt và thấy thịt sưng vều lên ở một bên khóe miệng. Hơi kỳ lạ nhưng không đau lắm. Và rồi anh ta nhận ra chỗ thịt sưng vều là một con sên phồng to vì hút máu nơi môi mình. Thật sự là nó bám trong miệng anh ta. Rùng mình vì buồn nôn, Regis kéo con sên, cảm thấy nó bứt khỏi môi mình, máu nóng phun vào miệng. Anh ta nhổ và ghê tởm ném con sên đi. Regis lại thấy một con sên khác ở cánh tay, và kéo nó ra, để lại một vết máu đen. Ôi, Chúa ơi, có lẽ người anh ta phủ đầy sên. Những ngọn đồi này đầy sên. Ở một vài khe nứt của mấy hòn đá cũng thế. Mấy công nhân làm việc ở đây đã nói thế nào nhỉ? Sên bò vào áo lót anh. Chúng thích những chỗ tối ấm áp.
     - Bác Grant ơ ơ ơi…
     Anh ta lắng nghe. Đấy là tiếng kêu, vẳng tới theo gió:
     - Tiến sĩ Grant? Tiến sĩ Grant ơiii…
     Chúa ơi, đấy là giọng cô bé.
     Regis lắng nbơhe kỹ tiếng kêu. Tiếng gọi không có vẻ sợ hãi hay đau đớn gì. Cô bé chỉ gọi theo lối bướng bỉnh của mình. Và từ từ Regis nhận thấy mọi việc ắt đã xảy ra một cách khác hẳn, con khủng long bạo chúa đã đi rồi - hay ít nhất, nó cũng đã không tấn công - những người khác vẫn còn sống sót. Cả Grant và Malcolm.
     Suy nghĩ này làm anh ta bình tĩnh trở lại ngay tức khắc, và thấy khỏe hơn, vì bây giờ anh ta biết mình phải làm gì. Khi bò ra khỏi đám đá, Regis đã tưởng tượng ra mình sẽ nói gì, sẽ xoay xở ra sao.
     Regis bắt đầu đi lên đồi, trở lại chỗ hai chiếc Land Cruiser. Chân lội trong bùn. Anh ta không còn nghe tiếng gọi của cô bé nữa. Tại sao cô bé ngừng gọi. Trong khi đi, anh ta bắt đầu suy nghĩ là có thể có điều gì đó đã xảy đến cho cô ta. Trong trường hợp ấy, anh ta không nên trở lại đấy. Có thể con khủng long bạo chúa vẫn còn quanh quẩn đâu đấy. Anh ta sẽ ở đây, dưới chân đồi. Như thế gần nhà hơn nhiều.
     Và trời đất yên lặng. Quá yên lặng, một cách ma quái.
     Regis quay người lại, và bắt đầu bước về phía khu nhà.
*
     Alan Grant đưa tay khắp tứ chi cô bé, nắm nhẹ cánh tay và cẳng chân. Lex dường như không có chỗ nào đau cả. Thật là ngạc nhiên. Ngoài một vết rách trên đầu, cô bé hoàn toàn không hề gì. Cô nói:
     - Cháu đã bảo là cháu không sao cả mà.
     - Thế nhưng, bác phải kiểm tra xem.
     Thằng bé thì không hoàn toàn may mắn như thế. Mũi Tim sưng và đau nhức. Grant nghi là sống mũi gãy. Vai phải sưng tấy và bầm tím. Nhưng hai chân xem ra còn khỏe. Cả hai đứa đều có thể đi được. Đấy là điều quan trọng.
     Bản thân Grant cũng không hề gì, trừ một vết trầy ở ngực trái chỗ con khủng long đá hất ông. Vết trầy đau nhức mỗi khi thở mạnh nhưng hình như không nghiêm trọng, và cũng không ảnh hưởng đến sự đi lại của ông.
     Ông tự hỏi không biết mình có bị té bất tỉnh không, bởi vì ông chỉ mơ hồ nhớ lại các sự việc ngay trước lúc ông ngồi dậy, rên rỉ ở trong rừng cách chiếc Land Cruiser chừng mười mét. Thoạt tiên, ngực ông chảy máu, vì thế ông phải dán lá lên vết thương và sau một chốc vết thương ngưng chảy máu. Rồi ông bắt đầu đi quanh, tìm Malcolm và hai đứa nhỏ. Grant không thể tin là mình còn sống sót, và khi những hình ảnh rời rạc bắt đầu tập trung lại vào trí nhớ, ông cố sắp xếp sao cho chúng có ý nghĩa. Con khủng long bạo chúa đáng lẽ ra đã giết hết bọn họ dễ dàng. Tại sao nó không làm thế nhỉ?
     Lex kêu lên:
     - Cháu đói bụng.
     - Bác cũng đói. Chúng ta phải tự tìm đường trở lại. Và chúng ta phải nói cho họ hay về chuyện chiếc tàu.
     Tim hỏi:
     - Chỉ có chúng ta là những người biết chuyện ấy?
     - Đúng. Chúng ta phải trở lại và báo cho họ.
     - Vậy chúng ta hãy theo con đường trở về khách sạn. - Tim chỉ tay xuống đồi - Theo con đường ấy họ sẽ gặp chúng ta khi họ đi tìm.
     Grant cân nhắc điều đó. Và ông cứ suy nghĩ mãi về một điều: bóng đen con vật đi ngang giữa hai chiếc Land Cruiser ngay trước khi có cuộc tấn công của con bạo chúa. Đấy là con gì? Ông nghĩ chỉ có một khả năng. Đấy là con tyrannosaur con. Ông bảo Tim:
     - Bác không nghĩ thế, Tim à. Con đường có hàng rào cao ở hai bên. Nếu có một con tyrannosaur ở phía cuối đường, chúng ta sẽ bị bao vây.
     - Vậy chúng ta nên chờ đây?
     - Ừ, chúng ta cứ chờ cho đến khi có người đến.
     - Cháu đói bụng. - Lex lại kêu.
     - Bác hy vọng không phải chờ lâu đâu.
     - Cháu không muốn chờ ở đây.
     Rồi thì tử dưới chân đồi, họ nghe tiếng người ho. Grant bảo:
     - Hai đứa chờ đây. - và ông chạy tới, nhìn xuống đồi.
     - Em chờ đây. - Tim bảo, em cũng chạy theo Grant.
     Lex chạy theo anh:
     - Đừng bỏ em, đừng để cháu lại đây. Mấy người đừng. - Grant đưa tay bịt miệng cô bé. Lex vùng vẫy cự lại. Ông lắc đầu và đưa tay chỉ qua bên kia đồi, cho cô bé nhìn thấy.
     Ở dưới chân đồi, Grant thấy Regis, đứng cứng người, bất động. Rừng xung quanh họ bỗng trở nên yên lặng, vẻ chết chóc. Tiếng ve đêm và tiếng kêu của ếch nhái bỗng ngưng bặt. Chỉ có tiếng xào xạc yếu ớt của lá cây và tiếng gió rít nhè nhẹ.
     Regis đang ép người vào thân một cây to, ôm chặt lấy cây, không động đậy.
     Rừng vẫn yên lặng.
     Lex sốt ruột giật tay áo Grant. Cô bé muốn biết những gì đang xẩy ra. Rồi, từ một nơi nào rất gần, họ nghe tiếng khìn khịt thoảng đưa tới, không to hơn tiếng gió mấy. Lex cũng nghe thấy, và nó ngừng giật tay áo. Âm thanh ấy lại văng vẳng về phía họ, nghe nhẹ như tiếng thở dài. Grant nghe như tiếng thở của con ngựa.
     Grant nhìn Regis, và thấy bóng lá do ánh trăng tạo nên chuyển động trên thân cây. Và rồi Grant nhận ra còn có một bóng đen khác, in hình lên những bóng lá kia, nhưng không cử động: Một chiếc cổ cong mạnh mẽ và một chiếc đầu vuông. Tiếng thở khìn khịt lại vẳng đến.
     Tim thận trọng chồm người tới trước để nhìn. Lex cũng thế.
     Họ nghe tiếng "rắc" của một cành cây gãy, và một con tyrannosaur bước vào con đường mòn. Đấy là con T-rex tuổi thanh niên. Cao khoảng hai mét rưỡi, di chuyển với dáng vụng về của một đứa trẻ, giống như một con búp bê. Con khủng long bạo chúa trẻ tuổi này lê chân trên lối đi, dừng lại ở mỗi bước, ngửi khìn khịt trong không khí trước khi bước tiếp. Nó đi ngang chỗ cây có Regis đứng nấp, và không tỏ dấu hiệu nào là nó thấy anh ta. Grant thấy thân hình Regis nhẹ giãn ra. Anh ta quay đầu, ráng nhìn theo con khủng long ở phía bên kia thân cây.
     Con khủng long bây giờ đã khuất tầm mắt ở cuối đường. Regis bắt đầu bớt căng thẳng; nới lỏng tay ôm thân cây. Khu rừng vẫn yên lặng. Regis còn đứng gần thân cây thêm nửa phút nữa. Rồi âm thanh của khu rừng trở lại. Trước hết là tiếp ì oạp trầm tư của ếch nhái, tiếng u u của ve sầu, rồi toàn bộ bản hợp xướng của khu rừng. Regis bước ra khỏi cây, lắc vai, xua đi sự căng thẳng. Anh ta bước vào giữa con đường, nhìn về phía con tyrannosaur bỏ đi.
     Cú tấn công đến từ phía trái.
     Con T-rex thanh niên gầm lên khi nó đưa đầu tới trước, hất Regis ngã nằm dài xuống đất. Anh ta hét lên và lồm cồm bò dậy, nhưng con tyrannosaur nhảy nẩy lên, và hẳn nó đã dẫm lên anh ta bằng chân sau, bởi vì đột nhiên Regis không đi nữa, anh ta ngồi trên mặt đường la hét, vẫy hai tay vào con khủng long, tưởng như anh ta có thể làm chó nó sợ hãi bỏ đi. Con khủng long trẻ tuổi có vẻ như lúng túng với âm thanh và cử động của con mồi nhỏ bé,
     Con khủng long cúi đầu, tò mò ngửi ngửi và Regis đập nắm tay lên sống mũi nó.
     - Đi đi! Cút đi! Đi chỗ khác! Lui đi! - Regis hét hết cả hơi, và con khủng long thối lui, để cho Regis đứng dậy.
     - Ừ, mày nghe tao. Cút đi! Xéo đi! Đi chỗ khác!
     Regis vừa hét vừa lùi xa con thú. Con tyrannosaur tiếp tục nhìn một cách kỳ lạ vào con vật nhỏ nhắn kỳ dị trước mặt nó, nhưng khi Regis lùi được vài bước, nó lại xông tới hất anh ta ngã nhào.
     Con vật đang đùa với anh ta, Grant nghĩ.
     - Ôi chao! - Regis la lớn khi anh ta ngã, nhưng con thú không đuổi theo. Anh ta đứng dậy, tiếp tục lui. - Mày! Con vật ngu ngốc! Đi lui! Mày nghe tao! Đi lui! - Anh ta la lớn như một người huấn luyện sư tử.
     Con khủng long thanh niên rống lên, nhưng nó không tấn công, và Regis bây giờ đã đến gần dãy cây và các tán lá bên phải. Chỉ vài bước nữa là anh ta ẩn mình được - Lui! Mày! Lui! - Regis la lên, vào phút cuối, con khủng long nhày chồm lên, hất Regis té ngửa - Cút đi! - Regis thét, con khủng long cúi đầu xuống. Regis lại thét. Không thành lời, chỉ tiếng thét lanh lảnh.
     Tiếng thét đứt ngang đột ngột, khi con T-rex ngẩm đầu lên. Grant thấy thịt tươi lòng thòng nơi hàm nó.
     - Ôi, không… - Lex thốt lên, thì thào. Bên cạnh no, Tim quay mặt đi, đột nhiên ói mửa. Cặp kính đêm tuột khỏi trán cậu rơi xuống làm vang lên mọt tiếng động nhẹ của kim loại chạm đất.
     Đầu con khủng long bạo chúa trẻ tuổi ngóc lên, và nó nhìn lên phía đỉnh đồi.
     Tim nhặt cặp kính đêm trong khi Grant túm lấy tay hai đứa và bắt đầu chạy.
0
ĐIỀU KHIỂN
     Trong bóng đêm, lũ compys chạy lon ton dọc theo con đường. Chiếc Jeep của Harding chạy theo sau một quãng ngắn. Ellie chỉ tới phía xa cuối con đường:
     - Đấy có phải là một ánh đèn không?
     - Có thể. - Harding trả lời - Trông giống như đèn xe.
     Máy vô tuyến kêu xè xè, tít tít. Rồi họ nghe giọng Arnold:
     - … ở đấy không?
     Harding thốt lên:
     - A, ông ta đây rồi. Thế chứ. - ông bấm nút - Vâng, Arnold, chúng tôi đây. Chúng tôi đang ở gần con sông, đi theo lũ compys. Thật thú vị.
     Những tiếng tít tít.
     - … xe anh.
     Gennaro hỏi:
     - Ông ta nói gì vậy?
     - Cái gì đó về chiếc xe. - Ellie xen vào. Ở công trường của Grant, Ellie là một người điều khiển vô tuyến điện thoại. Sau nhiều năm kinh nghiệm, cô đã có được tài nắm bắt những câu nói không trọn vẹn - Tôi nghĩ là ông ấy cần xe của ông.
     Harding ấn nút:
     - Arnold? Anh đấy chứ? Chúng tôi không nghe anh rõ. Arnold?
     Đèn báo máy vô tuyến chớp chớp, tiếp theo là tiếng rè rè tĩnh điện và rồi giọng Arnold, lo lắng :
     - … Anh… đâu?
     - Chúng tôi ở cách khu nuôi compys khoảng một dặm về phía bắc, gần con sông, đang đi theo bọn compys.
     - Không… khỉ thật… về đây… ay!
     Ellie cau mày:
     - Nghe như ông ấy gặp rắc rối gì. Có lẽ tốt hơn là chúng ta nên trở lui.
     Harding nhún vai:
     - Lão Arnold ấy thì thường xuyên có vấn đề. Cô biết kỹ sư là thế nào rồi đấy. Họ muốn mọi thứ theo đúng như sách. - ông bấm nút vô tuyến - Arnold, nói lại đi.
     Lại có tiếng lách tách. Và tiếng xè xè. Đèn nhấp nháy nhiều hơn. Rồi:
     - Muldoon… cần xe… ay.
     Gennaro nhíu mày:
     - Có phải ông ta nói Muldoon cần xe chúng ta?
     Ellie:
     - Nghe đúng như thế.
     Harding:
     - Việc ấy cũng chẳng có gì lạ.
     - … kia… kẹt… Muldoon muốn… xe…
     Ellie:
     - Tôi nghe ra rồi. Các người kia bị kẹt trên đường vì cơn bão và Muldoon cần xe chúng ta để đến chở họ.
     Harding nhún vai:
     - Tại sao không dùng chiếc kia của Muldoon? - ông bấm nút radio - Bảo Muldoon dùng chiếc xe Jeep còn lại. Trong garage.
     Radio kêu lách tách:
     - … không nghe… đồ quỷ… xe…
     - Tôi nói chiếc xe trong garage, Arnold. Chiếc xe trong garage.
     Tiếng xè xè tiếp theo:
     - Nedry đã… ùng… kia…
     Harding thở ra:
     - Cứ thế này thì chẳng đi đến đâu. Được rồi, Arnold. Chúng tôi sắp quay trở về đây. - ông tắt vô tuyến và quay xe - Tôi cũng muốn biết có việc gì khẩn cấp đến thế.
     Harding vào số và họ rú ga chạy trên đường đêm. Mười phút sau họ đã thấy ánh đèn của khu nhà nghỉ. Và khi Harding thắng xe lại trước cửa nhà khách, họ thấy Muldoon đi về phía họ. Ông ta đang la lớn và vẫy tay.
*
     - Ôi thật chó đẻ. Arnold, chú mày thật là đồ quỷ? Chó đẻ thật, làm sao cho cái công viên này trở lại như cũ đi. Ngay lập tức. Đem mấy đứa cháu tôi về đây. Ngay lập tức. - Hammond đứng trong phòng điều khiển dẫm chân la lớn. Lão đã ra lối kiểu này gần hai phút rồi, trong khi Wu đứng trong một góc phòng, bối rối.
     - Này, ông Hammond - Arnold bình tĩnh - Muldoon đã lên đường để làm đúng những gì ông nói. - Arnold quay người, và châm một điếu thuốc khác. Hammond cũng giống như mọi lão quản đốc khác Arnold đã từng gặp. Ở đâu thì các lão quản đốc cũng luôn luôn cư xử giống nhau. Họ không bao giờ hiểu các rắc rối phát sinh do kỹ thuật; và họ nghĩ rằng la hét là phương thức làm mọi thứ xảy ra. Có đúng thế chăng cũng chỉ vào lúc các lão hét thư ký đem một chiếc xe Limousine ra.
     Thế nhưng la hét chẳng được tích sự gì với các rắc rối giờ đây Arnold đang đối diện. Computer cũng chẳng quan tâm đến la hét. Mạng lưới cáp năng lượng chẳng thèm để ý đến la hét. Các hệ thống kỹ thuật hoàn toàn dửng dưng với thứ nổi đóa này của con người. Nếu có gì, la hét chỉ gây thêm rắc rối bởi vì giờ đây Amold đang đối diện với một điều chắc chắn là Nedry sẽ không trở lại, có nghĩa là đích thân Arnold phải lục tìm mã số computer và cố gắng đoán ra điều sai chập. Đấy sẽ là một công việc nhức đầu; ông cần phải bình tĩnh và cẩn thận. Arnold bảo Hammond:
     - Tại sao ông không xuống lầu, đến nhà ăn và gọi một cốc cà phê. Chúng tôi sẽ gọi ông khi chúng tôi có thêm tin tức.
     - Tôi không muốn có hiệu ứng Malcolm ở đây.
     - Đừng có để tâm đến hiệu ứng Malcolm. Ông có để tôi làm việc không?
     - Thật là đồ quỷ, chú mày.
     - Tôi sẽ gọi, thưa ông, khi tôi có tin tức của Muldoon.
     Arnold bấm nút bảng điều khiển, và thấy các màn hình quen thuộc đổi khác.
     Arnold từ lâu đã không điều hành computer nữa. Vừa rồi ông đã nhìn qua chỉ dẫn mã - các hướng dẫn theo từng đường dây ra lệnh cho computer làm việc. Arnold không mấy vui khi biết toàn bộ chương trình chứa hơn nửa triệu đường dây mã mà phần lớn không ghi lại vào tài liệu và chẳng có giải thích.
     Wu bước ra khỏi góc phòng:
     - Ông đang làm gì đó, Arnold?
     - Kiểm tra mã.
     - Bằng cách dò tìm à? Ông sẽ mất cả đời.

CON ĐƯỜNG
     Muldoon quẹo chỗ cong thật nhanh, chiếc Jeep trượt trên bùn. Gennaro nắm chặt tay lại. Họ đang chạy như đua theo con đường men vách núi đá, nằm cao trên con sông, lúc này là một giải đen nằm trong bóng đêm phía dưới. Muldoon nhấn ga, mặt căng thẳng. Gennaro hỏi:
     - Còn bao xa?
     - Hai, hoặc ba dặm.
     Ellie và Harding ở lại khu nhà khách. Gennaro đề nghị đi theo Muldoon.
     - Phải cả tiếng rồi. Một tiếng đồng hồ, không có tin tức gì về mấy chiếc xe kia. - Muldoon nói.
     - Nhưng họ có vô tuyến.
     - Chúng tôi không gọi được họ.
     Gennaro cau mày:
     - Nếu tôi phải ngồi cả tiếng trong xe, chắc là tôi phải dùng radio để gọi ai đó.
     - Tôi cũng thế.
     - Ông nghĩ có thể có điều gì xảy đến cho họ không?
     - Tôi cho là hoàn toàn yên ổn. Nhưng tôi sẽ vui hơn nếu cuối cùng gặp được họ. Chỉ vài phút nữa thôi.
     Con đường uốn cong và chạy lên một ngộn đồi. Tại chân đồi Gennaro thấy vật gì trăng trắng nằm giữa đám cây dương xỉ bên cạnh đường. Gennaro la lên "Dừng lại" và Harding đạp thắng. Gennaro nhảy ra khỏi xe chạy tới trong ánh đèn xe để xem vật ấy là cái gì. Trông như một mảnh vải.
     Gennaro dừng lại. Dù còn cách xa hơn hai mét, Gennaro vẫn có thể thấy rõ đấy là vật gì. Ông ta bước tới chầm chậm. Muldoon nhoài người ra khỏi xe:
     - Cái gì vậy?
     - Một cái chân.
     Thịt của chiếc cẳng chân xanh xám, toe ra dính đầy máu ở chỗ đầu gối đứt lìa. Dưới ống chân, ông thấy một chiếc tất trắng và một chiếc giày da nâu. Đấy là loại giầy Ed Regis vẫn thường mang.
     Lúc này Muldoon đã ra khỏi xe, chạy đến bên chiếc cẳng, cúi xuống xem. Ôi Chúa, - ông nhấc chiếc cẳng ra khỏi đám lá, đưa lên trước ánh đèn xe, và máu ở chỗ đứt tràn ra tay ông. Gennaro vẫn đứng cách một mét. Ông cúi nhanh người xuống, đặt hai tay lên đầu gối, nhắm nghiền mắt, thở mạnh, cố không để buồn nôn.
     - Gennaro. - Muldoon gọi.
     - Sao?
     - Tránh đi. Ông đang che ánh đèn.
     Gennaro thở một hơi và tránh đi. Khi ông mở mắt, ông thấy Muldoon đang ngắm nghía mẩu chân cụt.
     - Bị mất đứt ở khớp. - Muldoon nhận xét - Không phải cắn đứt. Day và giật đứt lìa. - Muldoon đứng dậy, dốc ngược chiếc cẳng lên cho máu còn lại chảy giọt lên đám cây đuôi chồn. Bàn tay dính đầy máu của ông dây bẩn chiếc tất trắng, khi ông cầm nơi mắt cá. Gennaro lại thấy buồn nôn
     - Không còn nghi ngờ gì nữa. Con T-rex tấn công anh ta. - Muldoon nhìn lên đồi, rồi nhìn lại Gennaro:
     - Không việc gì chứ? Có thể tiếp tục đi không?
     - Được. Tôi đi tiếp được.
     Muldoon đi lui về chiếc xe Jeep, đem theo chiếc chân:
     - Tôi cho là chúng ta nên đem thứ này theo, không nên để lại đây. Ôi nó sẽ làm bẩn xe mất. Ông xem giùm có thứ gì trong xe không? Tấm nilon hay tờ báo…
     Gennaro mở cửa sau và lục tìm trong xe. Ông tìm thấy một túi vải bố đựng đồ nghề, một miếng bánh xe, một thùng các tông, và có hai tấm vải dầu.
     - Lấy cho tôi một tấm.
     Muldoon vẫn đang đứng ngoài xe, mở tấm vải dầu gói gọn chiếc chân lại rồi trao cho Gennaro:
     - Để vào băng sau. Kiếm cách chèn lại, đừng cho lăn lóc.
     - Ô kê.
     Gennaro đỡ lấy chiếc gói và ngạc nhiên thấy khá nặng. Ông đặt nó vào băng sau và Muldoon leo vào sau tay lái. Ông ấn ga. Bốn bánh xe quay trong bùn, cày lên. Chiếc Jeep xông lên ngọn đồi chẳng mấy chốc nó lên đỉnh dốc, hai ánh đèn trước vẫn chiếu thẳng lên các tàu lá. Và ánh đèn quay xuống, Gennaro có thể thấy con đường trước mặt họ. Muldoon kêu lên:
     - Chúa ơi! - và thắng xe lại.
     Gennaro thấy một chiếc Land Cruiser nằm lật nghiêng ở chính giữa đường, còn chiếc kia không thấy đâu cả.
     - Chiếc kia đâu?
     Muldoon nhìn quanh, rồi chỉ về phía trái:
     - Nó kia. - Chiếc Land Cruiser thứ hai nằm cách đấy khoảng mười mét, bẹp gí một đống dưới gốc cây.
     - Tại sao nó vào đấy?
     - Con T-rex ném vào đấy.
     - Con T-rex ném?
     Mặt Muldoon đăm đăm:
     - Chúng ta tới xem sao. - ông leo ra khỏi xe Jeep. Hai người chạy nhanh đến bên chiếc Land Cruiser thứ hai. Ánh đèn rọi của họ quét tới quét lui trong bóng đêm.
     Khi họ đến gần hơn, Gennaro có thể thấy tình trạng bẹp gí của chiếc xe như thế nào. Ông thận trọng để Muldoon nhìn vào trong xe trước. Muldoon:
     - Chẳng có gì dễ sợ cho tôi thấy đâu. Hầu như chắc chắn là chúng ta sẽ chẳng tìm thấy được người nào.
     - Không thể tìm được người nào?
     - Không. - Muldoon giải thích là, trong những năm ở châu Phi, ông đã đến xem các quang cảnh hiện trường của năm sáu vụ thú tấn công người ở các bụi rậm. Một vụ tấn công của loài báo: con báo đã xé lều lúc ban đêm và mang đi một đứa bé ba tuổi. Rồi vụ trâu nước tấn công ở Amboseli; hai vụ tấn công của sư tử; một vụ khỉ độc ở miền bắc gần Meru. Trong tất cả mọi trường hợp, đều ngạc nhiên là không có một dấu vết gì để lại.
     Nạn nhân dường như biến mất, như thể anh ta đi dạo chơi trong rừng và không bao giờ trở về. Một con thú ăn thịt có thể giết một đứa trẻ bằng cách day day khi nó ngoạm cổ đứa bé. Thường thường thì không có chút máu mủ nào.
     Và phần lớn những vụ đó, người ta không bao giờ tìm thấy thứ gì còn rơi rớt lại của nạn nhân. Đôi khi có thể thấy một hột nút áo, một miếng đế giày cao su. Nhưng phần lớn không tìm thấy gì.
     Nhưng khi nhìn lại vào trong xe, ông ta ngạc nhiên:
     - Tôi thật đáng nguyền rủa.
     Muldoon cố thử lắp ráp lại các cảnh. Cửa chắn gió trước của chiếc xe bị vỡ, nhưng không có nhiều mảnh vỡ quanh đây. Ông đã chú ý đến những mảnh vỡ ông thấy trên đường. Vì thế cửa chắn gió chắc chắn đã bị vỡ ở ngoài kia, trước khi con T-rex nhấc chiếc xe quẳng vào đây. Nhưng chiếc xe đã chịu một cú ghê gớm. Muldoon rọi đèn chiếu vào trong xe. Gennaro căng thẳng, hỏi:
     - Xe trống?
     - Không hẳn. - ánh đèn phản chiếu lại từ một chiếc máy vô tuyến và trên sàn xe, ông thấy một vật gì khác, một vật đen đen, cong cong. Cửa trước méo mó và kẹt cứng, nhưng ông leo cửa sau vào và bò qua nệm ngồi nhặt lấy một vật đen đen.
     - Một chiếc đồng hồ. - ông đưa lên ánh đèn ngắm nghía. Một chiếc đồng hồ chữ số rẻ tiền, vỏ bằng nhựa mềm. Mặt nhựa đã vỡ. Ông cho rằng đứa bé có lẽ đã mang chiếc đồng hồ này, dù ông không chắc. Nhưng đấy là loại đồng hồ mấy đứa nhỏ ưa thích.
     Gennaro hỏi:
     - Cái gì thế? Phải đồng hồ không?
     - Phải. Và có máy vô tuyến nữa, nhưng đã vỡ.
     - Mấy thứ ấy có ý nghĩa gì không?
     - Có chứ. Và có cái gì đây nữa… - Muldoon khịt mũi. Có mùi chua trong xe. Ông rọi đèn xung quanh cho đến khi ông thấy có ai đó đã nôn ra, dính ở khung cửa. Ông sờ thử: còn ướt.
     - Một trong hai đứa bé có thể còn sống.
     Gennaro liếc nhìn Muldoon:
     - Điều gì khiến ông tin vậy?
     - Chiếc đồng hồ. Chiếc đồng hồ chứng tỏ thế. - Muldoon trao chiếc đồng hồ cho Gennaro, ông này đưa lên ánh đèn xem xét, lật lật trong tay.
     - Mặt kính đã vỡ. - Gennaro nói.
     - Đúng thế. Và dây đeo không bị đứt.
     - Có nghĩa là?
     - Thằng bé cởi đồng hồ ra.
     - Việc ấy có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Bất cứ lúc nào trước vụ tấn công.
     - Không đâu. Mặt kính ấy khó vỡ. Phải va chạm mạnh mới làm nó vỡ được. Mặt đồng hồ vỡ khi đang xẩy ra cuộc tấn công.
     - Vì thế thằng bé cởi vứt đi?
     - Cứ nghĩ lại xem. Nếu ông đang bị khủng long tấn công, ông có tìm cách cởi đồng hồ ra không?
     - Có thể nó bị tuột ra.
     - Hầu như khó mà rứt một chiếc đồng hồ ra khỏi tay ai, mà không rứt luôn cả bàn tay. Vả lại, dây đeo còn nguyên. Vậy đúng là thằng bé tự cởi ra. Nó nhìn đồng hồ, thấy vỡ và tháo ra. Nó có thì giờ để làm việc ấy.
     - Lúc nào?
     - Chỉ có thể sau lúc bị tấn công. Thằng bé hẳn phải ở trong xe sau khi con thú tấn công. Và chiếc radio bị vỡ, nên nó cũng để lại luôn. Nó là đứa thông minh, và hiểu rằng mấy thứ đó chẳng còn dùng được.
     Gennaro thắc mắc:
     - Nếu nó thông minh thì nó bỏ đi đâu? Bởi vì nó phải chờ đây để có người tới đem về.
     - Vâng, nhưng có lẽ nó không thể chờ đây. Có thể con tyrannosaur trở lại. Hay một con nào khác. Dù sao có điều gì đó khiến nó bỏ đi.
     - Vậy nó đi đâu được chứ?
     - Hãy thử xem nó có loanh quanh đâu đây không. - Muldoon trả lời và bước về phía đường chính.
     Gennaro đứng trông Muldoon chiếu đèn rọi lên mặt đường để quan sát. Mặt Muldoon chỉ cách mặt đường đầy bùn vài centimet, căng thẳng tìm kiếm. Muldoon tin là ông đang then dõi được dấu vết gì đó, và ít nhất một trong hai đứa trẻ vẫn còn sống. Gennaro thì vẫn không có chút hy vọng nào. Cú choáng vì thấy chiếc cẳng chân đã dẫn ông tới một quyết định cương quyết là phải đóng cửa công viên và phá hủy nó đi.
     - Ông có thấy những dấu này không? - Muldoon hỏi, vẫn nhìn vào mặt đường.
     - Dấu gì?
     - Dấu chân. Xem đi, những dấu chân tập trung về phía chúng ta từ đầu đường? Và có cả dấu chân người lớn nữa. Một loại dấu giày đế cao su. Hãy chú ý những kiểu bước đi…
     Gennaro chỉ thấy toàn bùn. Nước bùn làm mờ cây đèn rọi. Muldoon tiếp:
     - Ông có thể thấy đấy, dấu chân người lớn đến chỗ này rồi nhập với các dấu khác. Dấu nhỏ, dấu trung bình,… đi xung quanh thành những vòng tròn, dường như họ tụm lại với nhau để nói chuyện… Nhưng còn đây thì, dường như họ chạy. - Ông chỉ về phía xa - Chạy vào đó, vào trong công viên.
     Gennaro lắc đầu:
     - Ông có thể thấy được gì với đám bùn này.
     Muldoon đứng dậy bước lui. Ông nhìn xuống mặt đất và thở dài:
     - Ông muốn nói gì thì nói, nhưng tôi đánh cuộc là một trong hai đứa bé còn sống. Và có thể cả hai. Có lẽ cả một người lớn nữa, nếu những dấu chân người lớn này thuộc về một người nào đó không phải Regis. Chúng ta phải tìm trong công viên.
     - Ngay đêm nay?
     Nhưng Muldoon không nghe câu hỏi. Ông đã bỏ đi, đến chỗ một đụn đất mềm do nước chảy đùn lại, gần một ống thoát nước. Và lại bò khum người:
     - Con bé ấy ăn mặc thế nào nhỉ?
     - Ôi, tôi không nhớ được.
     Bò tới dần dần, Muldoon tiến xa hơn qua bên kia đường. Rồi hai người nghe thấy tiếng phì phì. Rõ ràng đây là tiếng một con thú. Gennaro cảm thấy sợ hãi, bảo Muldoon:
     - Nghe kìa… Tôi nghĩ tốt hơn chúng ta nên…
     - Suỵt… - Muldoon đưa tay lên, dừng lại, lắng tai.
     - Chắc là tiếng gió thôi.
     Họ lại nghe thấy tiếng phì phì, lần này rõ hơn. Đấy không phải tiếng gió. Âm thanh xuất phát từ đám tàn lá ngay phía trước họ.
     Nghe như không phải tiếng con thú, nhưng Muldoon tiến tới rất thận trọng. Ông lắc cây đèn rọi và la lớn, nhưng tiếng phì phì không thay đổi.
     Muldoon đẩy đám tán lá cọ dừa ra một bên. Gennaro hỏi:
     - Cái gì thế?
     - Ôi, ông Malcolm.
     Ian Malcolm nằm ngửa người, da trắng bệch, miệng há. Hơi thở tuôn ra từng quãng phì phò. Muldoon trao cây đèn cho Gennaro rồi cúi xuống xem xét thân trên của Malcolm. Ông nói:
     - Tôi không tìm thấy vết thương nào. Đầu không can gì, ngực, hai tay…
     Rồi Gennaro đưa ánh đèn xuống chân.
     - Ông ta đã thắt một dây cầm máu. - Muldoon nói.
     Dây nịt của Malcolm quấn chặt trên vế. Gennaro rọi đèn xuống bàn chân. Mắt cá chân phải vênh lên tạo thành một góc kỳ cục với bàn chân, ống quần vấy máu dính sát vào da. Muldoon đưa tay chạm nhẹ vào mắt cá, và Malcolm rên lên.
     Muldoon bước lui và cố suy nghĩ xem phải làm gì tiếp đây. Malcolm có thể có những vết thương khác. Lưng ông ta có thể gãy. Nếu di chuyển có thể giết chết ông ta. Nhưng nếu để ông ở đây thì ông sẽ chết vì ngất. Chỉ nhờ ông ta nhanh trí dùng dây nịt làm dây cầm máu mới khỏi bị mất máu đến chết. Và có lẽ ông ta cũng chết thôi. Vậy họ phải chuyển ông ta về.
     Gennaro giúp Muldoon nhấc nhà toán học lên, đỡ vào vai ông ta. Malcolm rên rỉ, thở gấp từng hồi. Ông kêu nhỏ:
     - Lex. Lex… đi… Lex…
     Muldoon hỏi:
     - Lex là ai?
     - Con bé. - Gennaro đáp.
     Hai người khiêng Malcolm trở lại xe Jeep và đặt ông nằm gọn ở đằng sau. Gennaro buộc chặt lại dây nịt cầm máu quanh chân. Malcolm lại rên rỉ. Muldoon vén ống quần lên và thấy thịt mềm nhão ở bên dưới, những mảnh vụn xương trắng lòi ra.
     - Chúng ta phải đem ông ta về. - Muldoon nói.
     - Đi khỏi chỗ này mà không tìm mấy đứa nhỏ?
     Muldoon lắc đầu:
     - Nếu chúng đi vào công viên, thì cả hai mươi dặm vuông. Cách duy nhất chúng tôi có thể tìm ra được gì trong công viên là nhờ các bộ cảm ứng với chuyển động. Nếu mấy đứa bé sống sót và đang quanh quẩn trong công viên, các bộ cảm ứng sẽ phát hiện ra, và chúng ta sẽ đến đúng chỗ để đem chúng về. Còn nếu chúng ta không đem tiến sĩ Malcolm về ngay ông ta sẽ chết.
     - Thế thì chúng ta phải trở về.
     - Vâng, tôi thấy thế.
     Họ leo vào xe. Gannaro hỏi:
     - Ông sẽ nói với Hammnold là mấy đứa bé đã mất tích?
     - Không. Ông nói.
0
ĐIỀU KHIỂN
     Donald Gennaro nhìn Hammnold. Ngồi trong phòng ăn vắng người, ông già đang ăn kem, bình tĩnh.
     - Vậy Muldoon tin là hai đứa nhỏ ở đâu đó trong công viên.
     - Ông ta cho vậy. Vâng.
     - Vậy thì tôi chắc chắn là ông ta sẽ tìm ra chúng.
     - Tôi hy vọng vậy. - Gennaro nhìn ông già thong thả múc kem ăn, và ông ta cảm thấy hơi mất tin tưởng.
     - Ồ, tôi chắc chắn là chúng ta sẽ tìm được chúng. Vả chăng, tôi vẫn nói với mọi người, công viên này được tạo dựng cho lũ trẻ.
     - Chỉ vì thế mà ông hiểu rằng chúng đang đi lạc, thưa ông?
     - Đi lạc? - ông già ngắt lời - Dĩ nhiên, tôi biết là chúng đi lạc. Đừng để mọi sự tồi đi. Chúng ta gặp trở ngại hư hỏng do giông bão hay gì đó và do vậy ta đã chịu đựng một tai nạn không may đáng tiếc. Và cũng chỉ có thế. Chúng ta đang liên hệ xem xét. Arnold sẽ tìm cách cho computer hoạt động trở lại. Muldoon sẽ tìm được mấy đứa nhỏ và tôi tin chắc là ông ta sẽ đem chúng về vào lúc chúng ta ăn xong chỗ kem này. Vậy chúng ta hãy cứ chờ xem…
     Gennaro:
     - Vâng, thì cứ theo lời ông nói thế đã.
*
     - Tại sao phải kiểm tra lại? - Wu hỏi, mắt nhìn màn hình điều khiển.
     - Vì tôi nghĩ là gã Nedry đã làm điều gì đó ở mã. Đấy là lý do tại sao tôi đang kiểm tra lại.
     - Được rồi. Nhưng ông đã thử các phần khác chưa?
     - Như cái gì?
     - Tôi không biết. - Wu bảo - Như, hệ thống an toàn còn hoạt động không? Các bộ kiểm soát? Vân vân?
     - Chúa ơi! - Arnold gõ mấy ngón tay - Phải kiểm tra mấy thứ này. Hệ thống an toàn không thể tắt đi trừ ở bảng điều khiển chính.
     - Vậy, nếu các bộ kiểm soát vẫn còn hoạt động, ông có thể lần theo những gì gã làm.
     - Chắc chắn là thế.
     Arnold bắt đầu bấm các nút. Tại sao ông không nghĩ đến từ trước nhỉ? Việc ấy thật rõ ràng. Hệ thống computer của công viên có gắn một số các hệ thống an toàn. Một trong những hệ thống này là chương trình kiểm soát, có nhiệm vụ ghi lại tất cả các tín hiệu lập chương trình do điều hành viên đưa vào hệ thống computer. Thoạt tiên chương trình kiểm soát này được đưa vào như là một dụng cụ để phát hiện những thiếu sót, nhưng sau nó được giữ lại luôn để bảo đảm an toàn.
     Trong một chốc có ba dãy số và những lệnh do Nedry bấm phím đưa vào xuất hiện chiếm hết cả màn hình. Arnold trố mắt nhìn và kêu lên:
     - Đến thế ư? Gã khốn này dường như đã mất cả tiếng đồng hồ để tương đủ các thứ này vào.
     Đấy là một cái bẫy sập. Gã vô lại mập ú này cho vào đấy một thứ thoạt nhìn tưởng đâu dùng để gọi object, nhưng thật sự đấy là một lệnh nối lệnh an toàn với hệ thống số, và rồi gã cắt: cho phép gã ta vào được mọi nơi trông công viên.
     - Vậy thì chúng ta có thể nối lại?
     - Vâng, chúng ta phải nối trở lại. - Arnold cau mày nhìn màn hình - Những gì ta phải làm là tìm cho ra lệnh. Tôi sẽ lục tìm hết tất cả những gì gã đưa vào qua bộ kiểm soát an toàn.
     Wu bỗng đứng dậy khỏi ghế:
     - Trong lúc đó, có ai đó đã vào phòng lạnh cách đây khoảng một tiếng. Tôi nghĩ tốt hơn là tôi phải xuống đếm lại các phôi của tôi xem sao.
*
     Ellie đang ở trong phòng mình, sắp sửa thay bộ áo quần ướt thì có tiếng gõ cửa.
     - Giáo sư Grant? - Nhưng khi mở cửa Ellie thấy Muldoon đứng đấy, với một gói bọc bằng vải dầu kẹp dưới tay. Muldoon ướt sũng và có nhiều vết bùn dính trên áo quần.
     - Xin lỗi nhưng tôi cần cô giúp. - Muldoon nói ngắn gọn - Hai chiếc Land Cruiser bị tấn công cách đây một tiếng. Chúng tôi mang Malcolm về nhưng ông ta bị ngất. Ông ta bị thương rất nặng ở chân. Vẫn còn mê man. Tôi để ông ta nằm trên giường trong phòng ông ta. Harding thì ra ngoài kia.
     - Harding? Mấy người kia thì sao?
     Muldoon trả lời, chậm chạp:
     - Chúng tôi chưa tìm được mấy người kia, tiến sĩ Ellie à.
     - Ôi lạy Chúa.
     - Nhưng tôi nghĩ là tiến sĩ Grant và hai đứa bé vẫn còn sống. Chúng tôi cho là họ đã vào trong công viên.
     - Đi vào trong công viên?
     - Chúng tôi nghĩ vậy. Trong lúc đó, Malcolm cần giúp đỡ. Chúng tôi đã gọi Harding về.
     - Sao không mời một bác sĩ?
     - Trên đảo không có bác sĩ. Người biết thuốc men tốt nhất ở đây là Harding.
     - Nhưng chắc chắn là ông có thể mời được một bác sĩ chứ?...
     - Không. - Muldoon lắc đâu - Các đường điện thoại đều bị tắc. Chúngtôi không thể gọi ra ngoài đảo. - Ông đổi tay cầm cái gói.
     - Cái gì vậy? - Ellie hỏi.
     - Không có gì. Hãy vào giúp Malcolm giùm tôi. - và ông quay người bỏ đi.
     Ellie ngồi lên giường. Ellie Sattler không phải là loại đàn bà dễ tỏ ra sợ hãi khi không cần thiết, và cô biết giáo sư Grant trước đây đã từng thoát được nhiều tình huống nguy hiểm.
     Có lần ông lạc lối trong vùng đất cằn suốt bốn ngày khi một dốc đá chuồi dưới chân ông và ông bị rơi xuống một khe núi từ trên cao cả ba mươi mét. Chân phải Grant bị gãy. Ông không có nước uống. Thế mà ông đã đi bộ về đến trại với chiếc chân gãy.
     Phần khác, còn mấy đứa bé.
     Cô lắc đầu xua những ý nghĩ sang chiều hướng khác. Mấy đứa trẻ có lẽ cùng đi với Grant. Và nếu Grant ở ngoài kia trong công viên, ờ… còn có ai đem chúng đi qua được công viên kỷ Jura tốt hơn một chuyên gia về khủng long.

TRONG CÔNG VIÊN
     - Cháu mệt quá. - Lex than thở - Bế cháu đi, tiến sĩ Grant.
     - Em lớn quá ai ẵm được. - Tim bảo em.
     - Nhưng em mệt.
     - Ôkê, Lex, để bác bế. - Grant nhấc cô bé lên - Ô ô, cháu nặng thật đấy.
     Lúc này vào khoảng 9 giờ tối. Ánh trăng tròn mờ mờ qua làn sương bay, và bóng họ ngả trên mặt đất dẫn họ đi ngang qua một cánh đồng trống, về phía khu rừng tối đen bên kia. Grant chìm sâu vào suy nghĩ cố khẳng định xem mình đang ở đâu. Vì thoạt tiên họ đã đi qua hàng rào do con khủng long đè rạp xuống, Grant lý luận chắc rằng hiện họ đang ở đâu đó trong khu nuôi khủng long bạo chúa. Là một nơi mà ông không muốn có mặt. Trong trí ông, ông vẫn còn thấy việc theo dõi khu vực sinh hoạt của con tyrannosaur của computer, những đường dợn sóng vẽ nên sự di chuyển của nó trong một diện tích nhỏ. Ông và hai đứa nhỏ hiện ở trong diện tích ấy.
     Nhưng Grant cũng nhớ rằng những tyrannosaur bị cách ly khỏi những con khác, có nghĩa là họ biết họ sẽ rút khỏi khu tyrannosaur nếu qua một rào chắn - một hàng rào, một cái mương, hoặc cả hai.
     Nhưng cho đến gào ông chưa thấy một rào chắn nào cả.
     Cô bé tựa đầu lên vai ông, lồng mấy ngón tay vào tóc. Chẳng mấy chốc, cô bắt đầu ngáy. Tim lê bước theo sát Grant.
     - Còn đi nổi không, Tim?
     - Không sao. Nhưng cháu nghĩ có lẽ mình vẫn còn ở trong vùng con tyrannosaur.
     - Bác nghĩ chắc là thế, bác hy vọng chúng ta sẽ sớm ra khỏi đây.
     - Bác đang đi vào khu rừng?
     Khi họ đến gần, khu rừng tối và có vẻ đe dọa. Grant gật đầu:
     - Đúng thế. Bác nghĩ là chúng ta có thể định hướng được nhờ những con số ghi ở các bộ cảm ứng.
     Các bộ cảm ứng với chuyển động là những hộp màu xanh lục đặt cao khỏi mặt đất chừng hơn một mét. Một số đứng riêng rẽ, một số gắn trên các cây. Không một bộ nào hoạt động vì rõ ràng là năng lượng đã bị cắt. Mỗi hộp cảm ứng có một bộ thấu kính ở trung tâm, và một mã số viết bằng sơn ở dưới. Ở đàng trước, trong ánh trăng nhòa lẫn với sương, Grant có thể thấy một hộp đánh số T/S/04.
     Họ vào khu rừng, các cây to đứng lờ mờ xung quanh. Dưới ánh trăng, một đám sương trắng la đà trên mặt đất, luẩn quẩn quanh mấy rễ cây. Trông rất đẹp, nhưng dễ đánh lừa bước chân. Và Grant đang trông chừng các bộ cảm ứng. Chúng dường như đánh số theo thứ tự nhỏ dần. ông đi ngang T/S/03, và T/S/02. Cuối cùng, họ đến T/S/01. Ông đã mệt vì phải bế con bé, và hy vọng bộ này sẽ nằm ở đường ranh cuối cùng của khu tyrannosaur, nhưng lại có một hộp khác ở giữa rừng. Và hộp kế hộp này được đánh số T/N/01, tiếp theo là T/N/02. Grant nhận thấy là các con số được đánh quanh một tâm điểm, như một compas. Họ đang đi từ nam tới bắc, vì thế các con số nhỏ dần khi đến trung tâm và rồi lớn dần lên.
     - Ít nhất, chúng ta cũng đang đi đúng hướng. - Tim nhận xét.
     - Cháu giỏi đấy.
     Tim mỉm cười, và vấp ngã vì một đám dây leo. Cậu bé đứng ngay dậy. Họ đi tiếp lát nữa. Cậu bé nói chuyện:
     - Ba mẹ cháu đang lo chuyện ly dị nhau.
     - Ừ, ừ…
     - Ba cháu đã ở riêng cả tháng rồi. Lúc này, ông ấy đã có nhà riêng ở Mill Valley.
     - Ừ, ừ…
     - Ba chẳng bao giờ bế em cháu nữa. Thậm chí chẳng bao giờ nhấc nó lên.
     - Và ông ấy nói cháu có khủng long trong óc.
     - Vâng. - Tim thở dài
     - Cháu nhớ ba?
     - Thật ra thì không hẳn vậy. Thỉnh thoảng thôi. Lex nhớ nhiều hơn.
     - Thế mẹ cháu?
     - Me có bạn trai. Mẹ biết ông ấy ở chỗ làm việc.
     Họ yên lặng đi thêm một chốc nữa, ngang qua T/N/03 và T/N/04. Grant hỏi:
     - Cháu có gặp "bạn trai" mẹ cháu không?
     - Có.
     - Ông ta ra sao?
     - Cũng được được. Ông ấy trẻ hơn ba, nhưng hói đầu.
     - Ông ta đối xử với cháu thế nào?
     - Cháu không biết. Cũng tạm được. Cháu không biết sắp tới sẽ ra sao. Thỉnh thoảng mẹ nói sẽ bán nhà đi ở chỗ khác. Thỉnh thoảng ông ấy với mẹ đánh lộn nhau trong đêm khuya. Cháu ngồi trong phòng chơi với computer, nhưng cháu có thể nghe hết.
     - Ờ, ờ…
     - Bác li dị à
     - Không. Vợ bác chết lâu rồi.
     - Và bây giờ bác ở với tiến sĩ Ellie.
     Grant mỉm cười trong bóng đêm:
     - Không, cô ấy là học trò của bác.
     - Bác có ý nói cô ấy vẫn còn đi học?
     - Ờ, tốt nghiệp rồi nhưng vẫn học.
     Grant nghỉ một lúc lâu đủ để đổi Lex qua vai khác, rồi họ tiếp tục đi qua T/N/05 và T/N/06. Có tiếng sấm rền ở xa xa. Cơn giông bão đã chuyển về phía nam. Có rất ít tiếng động trong rừng trừ tiếng râm ran của ve rừng và tiếng ì oạp của ếch nhái trong các hốc cây.
     Tim lại hỏi:
     - Bác có con không?
     - Không.
     - Bác có cưới tiến sĩ Ellie không?
     - Không. Cô ấy sắp lấy chồng là một bác sĩ rất đẹp trai ở Chicago, vào năm tới.
     - Ô, ô. - Tim dường như rất ngạc nhiên nghe vậy. Họ đi thêm một lúc nữa. - Thế bác sắp cưới ai?
     - Bác nghĩ là bác chưa sắp cưới ai.
     - Cháu cũng thế.
     Họ đi tiếp. Tim lại hỏi:
     - Chúng ta sẽ đi suốt đêm để về chăng?
     - Bác nghĩ là không thể được. Chúng ta phải kiếm chỗ nghỉ, ít nhất cũng vài tiếng. - ông nhìn đồng hồ - Được thôi. Chúng ta còn hơn mười lăm tiếng đồng hồ trước khi phải có mặt ở chỗ họ. Trước khi con tàu đến đất liền.
     - Chúng ta sẽ nghỉ ở đâu đây? - Tim hỏi ngay lập tức.
     Grant cũng đang tự hỏi như thế. Ý nghĩ đầu tiên của ông là họ có thể leo lên một cái cây, và nghỉ trên ấy. Nhưng họ phải leo thật cao mới an toàn tránh khỏi các con thú và Lex có thể rơi trong khi nó ngủ. Và cành cây thì cứng; họ sẽ khó mà nghỉ được, ít nhất ông cũng không nghỉ được.
     Họ cần một chỗ nào đó an toàn. Ông nhớ lại các bản vẽ thiết kế ông đã xem khi ở trên chiếc phản lực. Ông nhớ là có những dãy nhà nằm bên ngoài phạm vi của mỗi khu khác nhau. Grant không biết các dãy nhà đó như thế nào, vì những thiết kế riêng cho mỗi dãy nhà ấy không có trong tập sách. Và ông không thể nhớ chắc chắc chúng ở đâu, nhưng nhớ là chúng nằm rải rác khắp công viên. Có thể những tòa nhà ấy gần đâu đây.
     Nhưng đến được đấy, có một điều kiện là phải qua một rào chắn và ra khỏi khi vực của con tyrannosaur. Tìm một ngôi nhà cũng phải có một chiến lược, và chiến lược tốt nhất là…
     - Tim à, cháu có thể đỡ em cháu cho bác một lát? Để bác leo lên cây nhìn quanh xem sao.
     Ngồi cao trên mấy cành cây, ông có thể nhìn rõ quang cảnh của khu rừng, các ngọn cây trải dài về phía trái và phía phải. Họ đang ở gần rìa khu rừng - ngay trước các dãy cây chấm dứt bằng một khoảng trống với hàng rào điện và con mương bê tông xám. Phía bên kia là một cánh đồng trống mà ông đoán là khu nuôi sauropod. Phía xa hơn, lại cây, và ánh trăng nhòa với sương lấp lánh trên mặt nước biển.
     Ông nghe đâu đó tiếng gầm của một con khủng long, nhưng ở xa xa. Ông mang cặp kính đêm của Tim lên và nhìn lần lượt. Ông theo dõi chỗ uốn quanh của con mương, và rồi ông thấy điều ông đang tìm, một dải đen của con đường dẫn tới một mái bằng hình chữ nhật. Mái nhà không cao quá mặt đất nhiều, nhưng nó có đấy và nó không xa lắm. Có lẽ chỉ một phần tư dặm kể từ đây đến đấy.
     Khi ông leo xuống, Lex đang khịt mũi.
     - Gì vậy Lex?
     - Cháu nghe tiếng một con thú.
     - Nó chẳng làm rầy chúng ta đâu. Cháu đã tỉnh chưa? Đi tiếp.
     Ông dẫn cô bé tiến đến bên hàng rào. Hàng rào cao ba mét rưỡi với dây thép gai xoắn tròn nằm dài theo phía trên, và dường như vươn quá cao trên đầu họ trong ánh trăng. Con hào nằm ngang bên kia hàng rào. Lex nhìn lên hàng rào tự lượng sức mình.
     - Cháu leo được không? - Grant hỏi.
     Cô bé trao cho ông đôi găng tay, và quả bóng:
     - Được chứ. Dễ òm. - Cô bắt đầu leo - Nhưng cháu cá là anh Tim không leo được.
     Tim nổi tức:
     - Này im mồm đi.
     - Anh Tim sợ leo cao lắm.
     - Tao không sợ đâu.
     - Sợ chứ. - cô bé leo cao hơn.
     - Không sợ.
     - Vậy thì leo theo em đi.
     Grant quay nhìn Tim Mặt tái mét trong bóng đêm, thằng bé không cử động.
     - Cháu leo được chứ Tim?
     - Chắc rồi.
     - Có muốn bác đỡ không?
     - Anh Tim là một con mèo nhát. - Lex gọi xuống.
     - Con bé này nói vớ vẩn. - Và cậu bắt đầu leo.
     - Nước lạnh quá - Lex kêu lên.
     Họ đang đứng dưới mương trong nước sâu đến thắt lưng. Họ đã leo qua được hàng rào không xẩy ra việc gì, trừ chuyện Tim bị rách áo sơ mi do thép gai cuộn tròn trên đỉnh rào. Rồi cả ba người tuột xuống mương, và bây giờ Grant đang tìm cách leo lên.
     - Ít nhất thì cháu cũng đã kéo anh Tim qua hàng rào giùm bác. - Lex nói - Anh ấy đúng là lúc nào cũng sợ hãi.
     Tim nói mỉa:
     - Xin cám ơn sự giúp đỡ của bà lớn.
     Dưới ánh trăng, cậu bé có thể thấy một khúc gỗ nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Cậu lội dọc theo con hào, nhìn thành hào cao phía bên kia. Bờ thành hào bê tông phẳng, họ không thể nào leo lên được.
     - Eo ơi! - Lex chỉ vào khúc gỗ.
     - Nó không làm gì mày đâu.
     Cuối cùng, Grant tìm được một chỗ bê tông nứt và một cây leo mọc buông thõng xuống mặt nước. Ông nắm thân cây leo giật thử, thấy nó chịu được sức nặng của mình.
     - Nào, hai đứa. Leo lên.
     Họ bắt đầu leo theo cây, lên được cánh đồng bên trên.
     Họ chỉ mất mấy phút đi ngang qua cánh đồng trống để tới một con đường chưa đạt tiêu chuẩn, dành cho việc phục vụ và tòa nhà bảo quản nằm bên phải. Họ đi ngang qua hai hộp cảm ứng, và Grant cảm thấy không vui khi nhận thấy chúng vẫn không hoạt động, cũng như chưa có ánh đèn. Hơn hai tiếng đồng hồ trôi qua kể từ khi năng lượng bị cúp, thế mà vẫn chưa sửa chữa được. Ở một nơi nào đó xa xa, họ nghe tiếng con tyrannosaur rống. Lex hỏi:
     - Nó có gần đây không?
     - Không đâu. Chúng ta ở trong một khu khác rồi.
     Họ tuột xuống một bờ đường đầy cỏ và đi về phía tòa nhà đúc bê tông. Trong bóng đêm, trông nó có vẻ chắc chắn, như một cái lô cốt
     - Đây là chỗ gì hở bác? - Lex hỏi .
     - Chỗ này an toàn - Grant trả lời, hi vọng đúng thế.
     Cửa vào rộng đủ cho một xe tải đi lọt. Cửa làm bằng những song sắt to. Bên trong, họ thấy, tòa nhà là một cái lán trống trải, với những đống cỏ tươi và những kiện cỏ khô nằm giữa những đồ dùng khác. Cửa được khóa bằng một ổ khóa to, chắc chắn. Khi Grant đang còn ngắm nghía ồ khóa, Lex đã chen qua các chấn song vào lọt bên trong.
     - Vào đi mấy người.
     Tim vào theo Lex . Cậu bản Grant:
     - Chắc bác cũng vào lọt, bác Grant à.
     Cậu bé nói đúng. Dù chui qua chật vật một tí, nhưng Grant cũng lọt người qua được khe song vào bên trong lán. Ngay khi vào được lán, một cơn mệt nhoài chiếm cứ ông.
     - Không biết có thứ gì ăn được không? - Lex hỏi.
     - Chỉ toàn cỏ khô. - Grant tháo một bó cỏ, rải lên sàn bê tông. Họ nằm xuống nghỉ, cảm thấy ấm áp. Lex cuộn tròn người bên ông, và nhắm mắt. Tim đặt tay qua người cô bé, ôm lấy em.
     Cậu nghe tiếng sauropod hí lên nhè nhẹ đâu đây.
     Không đứa nào nói gì. Hình như chúng ngủ ngay lập tức. Grant đưa tay nhìn đồng hồ, nhưng quá tối không thấy được. Ông cảm thấy hơi ấm hai đứa bé truyền qua người ông.
     Grant nhắm mắt, và ngủ thiếp.
0
ĐIỀU KHIỂN
     Muldoon và Gennaro bước vào đúng lúc Arnold vỗ hai tay vào nhau và thốt lên:
     - Đồ quỷ! Mày, đồ con hoang.
     Gennaro bước tới một bên:
     - Cái gì vậy?
     Arnold chỉ vào màn hình, vẻ bằng lòng.
     - Đấy, thế đấy.
     Gennaro nhìn màn hình:
     - Cái gì thế?
     - Cuối cùng thì tôi cũng tìm được lệnh để hồi phục lại mã gốc.
     - Tốt. - Muldoon gật đầu.
     - Nhưng nó gây nên chuyện khác. - Arnold nói - Nó sẽ xóa hết tất cả các đường mã liên hệ tới nó. Nó hủy hết tất cả mọi chứng cứ ghi lại từ trước đến nay. Khá mệt đấy.
     Gennaro lắc đầu:
     - Tôi chẳng biết gì nhiều về computer. Đấy là những vấn đề lớn, rất lớn.
     - Vậy thì, xem đây. - Arnnld bấm phím đánh lệnh: FINI OBJ.
     Màn hình nhấp nháy và thay đổi.
     Muldoon chỉ về phía cửa sổ
     - Xem kìa!
     Bên ngoài ánh sáng bửng lên khắp công viên. Họ đến bên cửa sổ, nhìn ra ngoài. Arnold nói:
- Đồ quỷ, gã mập.
Gennaro hỏi:
- Thế thì có nghĩa các hàng rào đã được truyền điện trở lại?
- Đúng vậy. Nhưng phải mất vài giây để có điện cùng khắp, vì chúng tôi có đến năm mươi dặm hàng rào, và máy phát điện phải sạc điện vào các bộ chứa dọc theo hàng rào. Nhưng chỉ trong vòng nửa phút nữa, chúng ta sẽ trở lại như cũ. - Arnold chỉ tay vào tấm bản đồ trong suốt của công viên.
     Trên chiếc bản đồ dựng thẳng đứng, những đường đỏ sáng đang bò ra khỏi nhà máy điện, chạy khắp công viên, khi điện truyền vào các hàng rào. Gennaro hỏi:
     - Còn các bộ cảm ứng?
     - Vâng. Các bộ cảm ứng cũng đã hoạt động. Sẽ mất vài phút khi computer đếm số thú. Nhưng mọi thứ đang hoạt động. - Arnold nhìn đồng hồ - Chín giờ rưỡi, và chúng ta đã đưa toàn bộ mọi thứ vào hoạt động trở lại.
*
     Grant mở mắt. Ánh sáng chói lòa tràn vào lán qua chấn song cửa. Ánh sáng đèn thạch anh: năng lượng đã được phục hồi. Ông giụi mắt, nhìn đồng hồ. Chín giờ rưỡi. Ông chỉ mới thiếp đi vài phút. Ông quyết định có thể ngủ thêm vài phút nữa, và rồi đi trở lại cánh đồng, đứng trước một bộ cảm ứng và vẫy tay cử động. Phòng điều khiển sẽ định vị được ông; họ sẽ cho xe tới đem ông và hai đứa trẻ về, ông sẽ bảo Arnold gọi chiếc tàu cung cấp trở lại, hai đứa nhỏ cùng ông sẽ ngủ qua hết đêm trong giường của mình ở khu nhà nghỉ. Ông sẽ làm những việc đó ngay thôi. Chỉ trong vài phút nữa. Ông ngáp, và nhắm mắt lại lần nữa.
*
     Trong phòng điều khiển, Arnold nhìn vào bản đồ công viên.
     - Không hỏng nhiều lắm. Chỉ có ba chỗ bị cắt. Tốt hơn tôi chờ đợi nhiều.
     - Bị cắt? - Gennaro hỏi.
     - Hàng rào được tự động ngắt những phần bị chạm điện. - Arnold giải thích - Ông có thể thấy một chỗ to ở đây, ở khu ô 12, gần đường chính.
     - Đấy là chỗ tyrannnsaur đạp hàng rào xuống. - Muldoon nói.
     - Đúng thế. Và một chỗ khác ở đây, ở khu 11. Gần nhà bảo quản ở khu sauropod.
     - Tại sao khu đó lại bị cắt?
     - Có chúa biết. Có thể do cơn giông hay một cây đổ. Chúng ta có thể kiểm tra điều này ở bộ phận thu hình trong chốc nữa. Chỗ cắ thứ ba ở kia, gần bên con sông. Chẳng biết tại sao chỗ ấy lại bị cắt.
     Khi Gennaro nhìn, bản đồ trở nên phức tạp hơn, có đầy những điểm xanh và những con số.
     - Các thứ gì vậy?
     - Các con thú đấy. Các bộ cảm ứng đang hoạt động trở lại và computer bắt đầu định vị và định loại tất cả các thứ trong công viên. Và bất cứ người nào nữa nếu có.
     Gennaro nhìn chăm chăm vào bản đồ:
     - Anh có ý nói là Grant và hai đứa nhỏ…?
     - Vâng. Chúng tôi đặt con số tìm trên bốn trăm. Vì thế nếu ngoài ấy có họ, các bộ cảm ứng sẽ đếm thêm họ như là các con thú. - Arnold nhìn vàn bản đồ - Nhưng tôi chưa thấy có thêm con thú phụ trội nào cả.
     - Tại sao mất lâu thì giờ thế?
     - Ông thấy đó, ông Gennaro, có rất nhiều chuyến động khác nhau ngoài công viên. Cành cây gió lay đông, chim bay, mọi thứ. Computer phải loại bỏ những chuyển động nền. Máy có thể mất đến… à, máy đã đếm xong.
     - Anh không thấy mấy đứa bé?
     Arnold xoay người trong ghế, và nhìn bản đồ lại:
     - Không thấy. Vào lúc này, không thấy con số phụ trội trên bản đồ. Tất cả mọi thứ ngoài ấy phải được đếm như những con khủng long. Có lẽ họ leo lên cây, hay ở một nơi nào đấy và không cử động. Mấy người ấy có thể cũng đang ngủ.
     Muldoon lắc đầu:
     - Tốt hơn, chúng ta không nên tiếp tục việc này. Chúng ta cần phải chữa hàng rào và xua lũ thú vào bãi nuôi. Theo máy điện toán đếm ở kia, chúng ta phải đem năm con về chỗ của chúng. Tôi sẽ đem đội bảo quản ra ngoài kia bây giờ.
     Arnold quay sang Gennaro:
     - Chắc ông muốn xem thử tiến sĩ Malcolm giờ này ra sao. Bảo với Harding là Muldoon sẽ cần ông ấy khoảng một tiếng để trông chừng việc xua thú. Và tôi sẽ báo cho ông Hammond hay là chúng tôi đang bắt dầu việc dọn dẹp cuối cùng.
     Gennaro bước qua cánh cổng sắt và đi vào cửa trước khu nhà nghỉ Safari. Ông thấy Ellie đang đi xuống hành lang, đem theo khăn mặt và một xô nước bốc hơi. Cô nói:
     - Có nhà bếp đằng kia. Tôi đang dùng để nấu nước sôi rửa vết thương.
     - Ông ta ra sao rồi?
     - Tốt, rất đáng ngạc nhiên.
     Gennaro theo Ellie vào phòng Malcolm, và nghe thấy tiếng cười. Nhà toán học nằm ngửa trên giường, Harding đang tiêm tĩnh mạch. Malcolm kể một chuyện tiếu lâm gì đấy khiến Harding cười to.
     - Không tệ lắm, phải không? - Malcolm hỏi, mỉm cười. - A, ông Gennaro. Ông đã đến thăm tôi. Nào, giờ thì ông biết chuyện gì xẩy ra từ việc nhặt một chiếc chân bên đường rồi chứ.
     Gennaro đến bên giường, Harding nói:
     - Vừa tiêm cho ông ấy một liều morphine cao.
     - Chưa đủ cao đâu. - Malcolm nói - Lạy Chúa, ông ta chích ngon lành quá. Họ đã tìm được mấy người kia chưa?
     - Chưa thấy. Nhưng tôi thấy rất vui khi thấy ông khỏe.
     - Tôi làm gì khác được, với một chỗ xương vỡ ở ống chân, mà dường như đã nhiễm trùng và bắt đầu có mùi… ái, đau quá. Nhưng như tôi vẫn nói, nếu người ta không giữ được tính hài hước thì…
     Gennaro mỉm cười:
     - Ông có nhớ việc gì xẩy ra không?
     - Dĩ nhiên là tôi nhớ. Ông có nghĩ rằng ông bị một con tyrannosaur rex cắn rồi việc đó sẽ thoát khỏi trí nhớ ông? Không đời nào, phải không. Ông sẽ nhớ việc ấy suốt cuộc đời còn lại của mình. Trong trường hợp tôi, có lẽ thời gian bị nạn không kéo dài ghê gớm lắm. Nhưng, vâng, tôi nhớ chứ.
     Malcolm tả lại khi ra khỏi xe Land Cruiser và chạy trong mưa rồi bị con T-rex đuổi theo:
     - Đấy là lỗi tại tôi. Nó đã đến gần quá rồi, tôi quá kinh hoàng. Và có chạy thế nào nữa thì nó cũng dùng đôi hàm ngoạm lấy tôi.
     - Sao? - Gennaro hỏi.
     - Nó ngoạm ở mạng sườn tôi. - Malcolm đưa tay lên. Một vết bầm tím lõm sâu vào theo hình một cung tròn thật lớn chạy từ vai xuống rốn - nhấc tôi lên trong đôi hàm của nó, day tôi như điên rồi ném tôi xuống. Và tôi không can gì - kinh khủng, dĩ nhiên, nhưng vẫn nằm yên và không can gì, ngay vào lúc nó ném tôi. Tôi gãy chân vì cú rơi. Nhưng cú cắn thì đau không bằng một nửa.
     Malcolm thở dài.
     Harding:
     - Phần lớn những thú ăn thịt lớn không có đôi hàm manh. Sức mạnh thật sự của nó nằm ở cần cổ. Hàm chỉ có việc giữ mồi trong khi chúng dùng cổ để rứt xé mồi. Nhưng với một con mồi nhỏ như tiến sĩ Malcolm, con vật chỉ day và rồi hất đi.
     - Tôi e đúng như thế. Tôi ngỡ không thể nào sống sót, thì ra con thú bự ấy không có quả tim. Nói đúng sự thật, nó quật tôi một cách vụng về, như tấn công vào một vật gì nhỏ hơn chiếc xe hơi hay một ngôi nhà nhỏ.
     - Ông cho là nó không thật tâm tấn công?
     - Nói thế thì cũng đau lòng tôi, nhưng một cách trung thực, tôi cảm thấy là nó không hoàn toàn chú tâm đến việc tấn công. Nó chớp được tôi, dĩ nhiên. Nhưng, nó nặng đến tám tấn. Còn tôi, chẳng có kí nào, so với nó.
     Gennaro quay qua Harding:
     - Họ sắp sửa ra chữa lại mấy chỗ hàng rào hỏng. Arnold nói ông Muldoon sẽ phải cần ông giúp xua lũ thú vào khu nuôi.
     - Ô kê. - Harding gật đầu.
     Malcolm nói với Ellie:
     - Chừng nào cô rời phòng, tiến sĩ Ellie, xin cho một ống morphine. Và chừng nào chúng ta chưa có hiệu ứng Malcolm.
     - Hiệu ứng Malcolm là gì? - Gennaro hỏi.
     - Sự khiêm nhường ngăn tôi nói với ông những chi tiết về một hiện tượng mang tên tôi. - Malcolm lại thở dài, và nhắm mắt lại. Trong một chốc, ông ta thiếp ngủ.
     Ellie di ra hành lang nói với Gennaro:
     - Đừng có lo. Ông ấy quá căng thẳng. Chửng nào thì ông có trực thăng đến dây?
     - Trực thăng à?
     - Chân của ông ấy cần phải mổ. Phải đảm bảo là họ đang cho gọi một chiếc trực thăng, và đem ông ta ra khỏi đảo này.
0
CÔNG VIÊN
     Chiếc máy điện xách tay kêu xình xích rồi nổ đều, làm ánh sáng thạch anh sáng đến tận cuối các cánh tay máy. Muldoon nghe tiếng nước chảy của con sông cách vài mét về phía bắc. Ông quay sang nhìn đội bảo quản và thấy một trong mấy công nhân bước ra với một cưa điện.
     - Không, không cần. - ông bảo - Chỉ dây thừng thôi, Carlo. Chúng ta không cần phải cưa nó đi.
     Ông quay trở lại nhìn hàng rào. Thoạt tiên, rất khó khăn họ mới tìm thấy khoảng bị hư hại ngắn này, và chẳng có gì nhiều để thấy: một cây xương rồng lớn tựa vào hàng rào. Đó là một trong những cây được trồng ở vùng này trong công viên. Các cành lá đầy gai nhọn của nó che bớt tính cách kiên cố của hàng rào, làm cho người xem thấy dễ chịu hơn.
     Nhưng chiếc cây đặc biệt này đã bị đè bẹp xuống bởi dây điện và các mắt khóa nối dây. Các dây điện dọc theo rào đã bị đứt trong cơn bão, các khóa nối rơi xuống hàng rào gây chạm điện. Dĩ nhiên những việc này không đáng để xẩy ra, nếu dùng dây bọc nhựa thay dây trần và các khóa nối đều bọc sành cách điện ở chỗ gần hàng rào.
     Dù trường hợp nào thì đây cũng không phải là một công việc lớn. Tất cả những gì phải làm là kéo cây ra khỏi hàng rào, gỡ dây điện vướng đánh dấu chỗ cho các người làm vườn trồng lại vào sáng hôm sau. Sẽ chẳng mất quá hai mươi phút. Và phải làm nhanh, bởi vì Muldoon biết là mấy con dilophosaur luôn luôn ở gần con sông. Cho dù các công nhân được hàng rào ngăn cách khỏi con sông, các con dilos vẫn có thể phóng độc quá hàng rào, gây mù mắt.
     Ramon, một trong mấy công nhân đến gần:
     - Thưa ông Muldoon, ông có thấy ánh đèn không?
     - Ánh đèn gì?
     Ramon chỉ về hướng đông, qua cánh rừng rậm:
     - Tôi thấy ánh đèn ấy khi chúng ta vừa đến đây. Ở kia, rất mờ. Ông thấy không? Trông giống như ánh đèn xe, nhưng không chuyển động.
     Muldoon nháy mắt. Có thể đấy là ánh đèn của đội bảo quản. Rốt cuộc thì năng lượng đã có lại. Ông bảo:
     - Chúng ta sẽ để ý đến việc đó sau. Bây giờ… chúng ta hãy đem cái cây kia ra đã.
*
     Arnold đang trong trạng thái hồ hởi. Công viên hầu như đã trở lại bình thường. Muldoon đang sửa chữa các hàng rào. Hammond đang giám sát việc xua thú của Harding. Mặc dầu mệt, Arnold vẫn cảm thấy phấn chấn; thậm chí ông còn ở trong tâm trạng muốn làm vui lòng ông luật sư Gennaro.
     - Hiệu ứng Malcolm? Ông băn khoăn chuyện đó à?
     - Chỉ vì tò mò thôi.
     - Ông muốn tôi nói tại sao Ian Malcolm sai không?
     - Đúng thế.
     Arnold đốt một điếu thuốc lá khác:
     - Đấy là thuộc về kỹ thuật.
     - Gắng nói cho tôi hiểu đi .
     - Ôkê. Lý thuyết bất ổn diễn tả những hệ thống đường thẳng không liên tục. Bây giờ nó trở nên một lý thuyết rộng rãi dùng để khảo sát mọi thứ từ thị trường chứng khoán, đến đám đông nổi loạn, tới làn sóng điện não trong cơn động kinh. Một lý thuyết thời thượng. Có khuynh hướng ứng dụng lý thuyết này vào bất cứ hệ thống phức tạp nào có những sự việc không đoán trước được. Ôkê?
     - Ôkê.
     - Ian Malcolm là một nhà toán học đặc biệt chuyên về lý thuyết bất ổn. Hay đùa và có cá tính. Nhưng cơ bản, về những điều ông ta làm, ngoài chuyện mặc toàn đồ đen, là dùng computer để hình thành nên những gì xảy ra trong những hệ thống phức tạp. Và ông Hammond thiếu cái mốt khoa học nhất thời mới nhất đó, vì thế yêu cầu Malcolm làm nên mô hình cho công viên. Malcolm đã thực hiện. Mô hình của Malcolm là những hình dạng lồi lõm trong không gian có được từ một màn hình computer. Ông đã thấy những hình ấy chưa?
     - Chưa.
     - Ấy, nó giống như chân vịt của một chiếc tàu thủy, méo mó, kỳ dị. Theo Malcolm, mọi thứ xảy ra của bất cứ hệ thống nào đều đi theo bề mặt của chân vịt. Ông hiểu tôi chứ?
     - Không hiểu lắm.
     Arnold đưa một tay lên:
     - Giả sử ta rỏ một giọt nước lên lưng bàn tay tôi. Giọt nước sẽ chảy khỏi tay tôi. Có thể nó sẽ chảy về cổ tay. Có thể nó chảy về ngón cái hay giữa các ngón tay khác. Tôi không biết nó sẽ chảy đi đâu nhưng tôi biết nó sẽ chảy đến đâu đó trên lưng bàn tay tôi. Nó phải thế.
     - Ôkê.
     - Lý thuyết bất ổn cho rằng mọi thứ trong toàn bộ hệ thống sẽ xảy ra y như một giọt nước chảy trên bề mặt phức tạp của chiếc chân vịt. Giọt nước có thể chảy xuống theo hình xoắn ốc, hoặc chảy ra mép. Nó có thể làm nhiều điều khác nhau, tùy ý. Nhưng nó sẽ luôn luôn đi theo bề mặt của chân vịt.
     - Ôkê.
     - Mô hình của Malcolm có khuynh hướng có một chỗ lồi lên, hay một chỗ ngoặt dốc, nơi mà tốc độ có thể tăng nhanh. Ông khiêm nhường gọi chuyển động tăng nhanh này là hiệu ứng Malcolm. Toàn bộ hệ thống có thể bất ngờ sụp đổ. Và đấy là những gì ông ta nói về công viên kỷ Jura. Đó là tính không bền vững cố hữu.
     - Tính không bền cố hữu. - Gennaro hỏi - Thế quý vị làm gì khi nhận được báo cáo của ông ta?
     - Chúng tôi không đồng ý với bản báo cáo, và bỏ qua luôn, dĩ nhiên.
     - Thế có khôn ngoan không?
     - Hiển nhiên là thế. Chúng tôi làm việc với những hệ thống sống. Đây là sự sống, không phải là các mô hình computer.
*
     Trong ánh sáng thạch anh chói ngời, chiếc đầu màu lục của con hypsilophodont thò ra khỏi thanh chắn, lưỡi thè ra, mắt dại đi. Hammond la lớn khi cần cẩu bắt đầu đưa lên:
     - Chú ý! Cân thận đấy!
     Harding càu nhàu đè chiếc đầu vào lại sợi dây da. Ông không muốn làm trở ngại sự tuần hoàn của các động mạch cổ. Chiếc cần cẩu kêu xì xì khi nó nhấc con thú lên không, đưa vào thùng sau của chiếc xe tải. Con hypsi này là một con dryosaur nhỏ, dài hai mét, cân nặng hai trăm rưỡi ký. Con vật màu lục đậm với vằn nâu. Nó đang thở nặng nhọc, nhưng dường như không hề gì. Harding đã bắn một ống thuốc gây tê thần kinh vào con thú một lúc trước đây. Và rõ ràng là ông ta đã lường đúng liều lượng. Luôn luôn phải tính toán kỹ khi đoán định liều thuốc gây liệt này. Quá ít thì nó sẽ chạy mất vào rừng, sụm vào một nơi nào đó không thể tìm ra. Quá nhiều thì nó bị trụy tim mạch và dẫn đến đứng tim. Con này chỉ nhẩy lên được một cú và rồi ngã nhào. Một liều thuốc chính xác.
     - Coi chừng nó! Nhẹ nhẹ thôi! - Hammond lại đang la lớn với mấy công nhân.
     - Ông Hammond, xin ông để họ làm. - Hardmg nói.
     - Ấy, nhưng chúng ta nên cẩn thận.
     - Họ đang cẩn thận đấy.
     Harding leo lên thùng xe khi con hypsi hạ xuống và đưa nó vào gọn trong chiếc cũi lớn. Ông gắn máy đo nhịp tim và lấy một ống nhiệt đút vào hậu môn con vật. Đây là ống kẹp nhiệt điện tử, nó tít báo cho biết 36,0 độ bách phân.
     - Nó ra sao? - Hammond cáu kỉnh hỏi.
     - Tốt. Chỉ xuống có một độ.
     - Thế là quá nhiều. Quá liều rồi đấy.
     Harding bẻ lại:
     - Ông không muốn nó tỉnh lại và nhẩy khỏi xe chứ?
     Trước khi đến làm việc tại công viên này, Harding đã là thú y trưởng ở sở thú San Diegro, và là một chuyên gia hàng đầu của thế giới về chăm sóc loài thú bay. Ông đã đi khắp thế giời, tham khảo ở các vườn thú châu Âu, Ấn và Nhật về các trường hợp chim bị ngộ độc. Ông chả thích gì ông già khó tính hay lên mặt này, khi lão đề nghị công việc với ông. Nhưng khi ông biết về những việc Hammond đang làm… khó mà bỏ qua. Harding cũng có khả năng học thuật, và ý muốn viết lách.
     Con hypsi hắt xì mấy cái và giật người. Nó vẫn thở nông; chưa có phản xạ mắt. Nhưng đã đến lúc đưa ngồi. Ông hô lớn:
     - Tất cả lên xe. Đem ả ta về chuồng của ả.

*

     Arnold tiếp tục giảng giải:
     - Hệ thống sống không thể giống hệ thống cơ học được. Hệ thống sống không bao giờ thăng bằng. Chúng có đặc điểm cố hữu là không bền. Chúng có vẻ bền, nhưng thật ra thì không. Mọi thứ đang chuyển động và thay đổi. Về một ý nghĩ nào đã mọi thứ đều ở trên bờ vực tan rã.
     Gennaro cau mày:
     - Nhưng có bao nhiêu thứ không thay đổi; thân nhiệt không thay đổi, và mọi thứ khác.
     - Thân nhiệt thường xuyên thay đổi đấy chứ. Thường xuyên, theo chu kỳ suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Thấp nhất vào buổi sang, cao nhất vào buổi chiều. Nó thay đổi theo tâm trạng, bệnh tật, sự luyện tập, với nhiệt độ bên ngoài, với thức ăn. Nó liên tục dao động lên xuống. Những dịch chuyển rất nhỏ trên biểu đồ. Bởi vì vào bất cứ lúc nào cũng có một lực nào đó kéo nhiệt độ lên và những lực khác kéo xuống. Nó cố hữu là không vững chắc. Và mọi phương diện khác của hệ thống sống cũng như thế.
     - Vậy thì anh đang nói…
     - Malcolm chỉ là một nhà lý thuyết. Ngồi trong phòng làm việc, ông ta thiết lập nên một hình mẫu toán học, và chẳng bao giờ ông ta gặp phải những khuyết điểm cần phải gặp để giải quyết. Hãy thử xem, khi tôi đang làm việc với các phi đạn, tôi dính líu tới một vấn đề gọi là "chệch hướng âm thanh". Chệch hướng âm thanh có nghĩa là, cho dù một phi đạn chỉ hơi không vững một tí khi ra khỏi giá bắn, nó không hi vọng trúng đích. Rõ ràng không tránh khỏi nó đi thoát ra ngoài sự điều khiển. Đấy là một đặc tính của cơ học. Một chút sai lệch nhỏ có thể càng lúc càng lớn cho đến khi toàn bộ hệ thống sụp đổ. Nhưng những sai lệch đó là bản chất của hệ thống sống. Nó có nghĩa là hệ thống khỏe mạnh và sẵn sàng đáp ứng. Malcolm không bao giờ hiểu điều đó.
     - Anh có chắc là ông ta không hiểu điều đó không? Dường như ông ta hiểu rất rõ sự khác biệt giữa tính sống động và không sống động.
     Arnold chỉ vào bản đồ:
     - Thì hãy xem kia. Chứng cứ ở đây. Trong không đầy một tiếng nữa, công viên sẽ trở lại bình thường. Điều duy nhất tôi chưa tái lập lại được là điện thoại. Vì một lý do nào đó, điện thoại vẫn chưa hoạt động. Nhưng mọi thứ khác sẽ chạy đều. Và đấy không phải là lý thuyết. Đấy là sự việc.
*
     Mũi kim đi sâu vào bắp thịt cổ, và Harding bơm chất medrine giảm tê vào con dryosaur cái bị đánh thuốc mê nằm nghiêng hông trên mặt đất. Ngay lập tức con thú bắt đầu tỉnh lại, khịt mũi và hai chân sau đá ngược. Harding bước lui tránh xa con thú:
     - Tất cả tránh lui. Tránh xa ra.
     Con khủng long lảo đảo chồm dậy, đứng ngả nghiêng như say rượu. Nó hất chiếc đầu kỳ đà nhìn mấy người đứng sau ánh đèn thạch anh và nhấp nháy đôi mắt. Hammond lo lắng:
     - Nó đang chảy nước mũi.
     - Một chốc thôi. Sẽ hết ngay.
     Con dryosaur ho lên mấy tiếng rồi chầm chậm di chuyển qua cánh đồng.
     - Tại sao nó không nhảy tung tăng? - Hammond hỏi lại.
     - Phải mất một tiếng nó mới hoàn toàn hồi phục, sẽ tung tăng bây giờ đấy. - ông quay lại mấy công nhân - Ôkê, các cậu, giờ đến lượt tới với con stegos.
*
     Muldoon đứng nhìn khi những chiếc cọc cuối cùng được cắm xuống mặt đất. Các dây giữ cây kéo căng và cây xương rồng được dựng thẳng dậy, tách khỏi hàng rào. Muldoon có thể nhìn thấy những vệt cháy xám đen trên hàng rào sắt trắng ở chỗ đã xảy ra chập mạch điện. Nhưng trước khi thực hiện việc này, Arnold phải cắt điện tất cả hàng rào.
     - Allo phòng điều khiển. Đây là Muldoon. Chúng tôi sẵn sàng bắt đầu việc chữa hàng rào.
     - Được rồi. - Giọng Arnold - Sẽ cắt điện ở khu vực ông ngay.
     Muldoon nhìn đồng hồ. Ở một nơi nào xa xa, ông nghe tiếng rúc nhẹ. Nghe như tiếng cú kêu, ông biết đấy là con dilophosaur. Ông bước đến bên Ramon và bảo:
     - Chúng ta sẽ chữa cho xong chỗ này. Tôi muốn đến mấy chỗ hỏng kia.
*
     Một tiếng đồng hồ qua. Gennaro nhìn chăm chú vào tấm bảng nhấp nháy. Arnold đang làm việc ở bảng điều khiển. Gennaro hỏi:
     - Việc gì đang xảy ra?
     - Tôi đang cố tái lập các đường điện thoại. Để có thể gọi giải quyết trường hợp tiến sĩ Malcolm.
     - Không. Tôi hỏi ở ngoài kia.
     Arnold nhìn bản đồ:
     - Trông như họ đang xử lý mấy con thú và hai chỗ hàng rào hỏng. Như tôi đã nói, công viên đã trở lại trong tầm điều khiển. Thật sự, chỉ có chỗ hỏng thứ ba của hàng rào.
     - Arnold? - Đây là giọng Muldoon.
     - Tôi đây?
     - Anh có thấy chỗ hàng rào hỏng này không?
     - Chờ một chút.
     Trên màn hình quan sát, Gennaro thấy một góc đồng cỏ lay lất trong gió. Xa xa là một mái đúc thấp. Arnold giải thích:
     - Đây là tòa nhà chăm sóc sauropod. Dùng để chứa dụng cụ, tồn trữ thực phẩm, v.v… - Trên màn hình, các hình ảnh thay đổi - Chúng tôi đang xoay camera để nhìn vào hàng rào.
     Gennaro thấy một dãy hàng rào bằng một lưới sắt sáng lên dưới ánh đèn. Một đoạn rào bị xô ngã, nằm rạp xuống mặt đất. Chiếc Jeep của Muldoon và đội sửa chữa có mặt ở đấy.
     - Ui chà. Trông như con rex đã đi qua khu sauropod. - Arnold kêu lên.
     Giọng Muldoon:
     - Đêm nay tôi ăn ngon rồi đấy.
     - Chúng ta phải đem con rex ra khỏi đây chứ. - Arnold nói
     - Đem với cái gì đây? Chung tôi không đem thứ gì để làm việc với con rex cả. Tôi sẽ chữa xong hàng rào này, nhưng tôi sẽ không đi vào đấy cho đến sáng mai.
     - Ông Hammond không chịu đâu.
     - Chúng ta sẽ bàn chuyện ấy khi tôi trở về.
*
     Hammond đếm bước quanh phòng điều khiển:
     - Con rex sẽ giết bao nhiêu con sauropod?
     - Có lẽ chỉ một. - Harding trả lời - Sauropod rất lớn; con rex có thể để dành ăn trong vài ngày chỉ với một chuyến săn mồi.
     - Chúng ta phải ra đấy đem nó trở lại trong đêm nay.
     Muldoon lắc đầu:
     - Tôi sẽ không vào đấy cho đến sáng ngày mai, lúc ban ngày.
     Hammond đang nhún người trên gót chân, kiểu lão ta vẫn làm khi nổi giận:
     - Anh quên là anh đang làm việc cho tôi?
     - Không, ông Hammond. Tôi không quên. Nhưng đấy là một con khủng long bạo chúa đã trưởng thành. Ông có kế hoạch như thế nào để bắt nó?
     - Chúng ta có súng bắn thuốc mê.
     - Chúng ta có những súng bắn được những ống thuốc 20cc. Rất hữu hiệu với con thú cân nặng từ hai trăm đến hai trăm rưỡi ký, con tyrannosaur ấy nặng tám tấn. Thậm chí nó chẳng cảm thấy gì.
     - Anh đã cho đặt những súng lớn hơn.
     - Tôi cho đặt ba súng phóng lớn hơn, ông Hammond, nhưng ông không chấp thuận, chỉ cho một. Và mất rồi. Nedry đem theo khi gã ta lái xe đi.
     - Chuyện ấy thật ngu ngốc. Ai để cho việc ấy xẩy ra?
     - Nedry không phải là chuyện của tôi, ông Hammond.
     - Anh đang nói rằng vào lúc này, không có cách nào để bắt con tyrannosaur?
     - Đúng như tôi nói.
     - Thế thì buồn cười quá.
     - Đây là công viên của ông, ông Hammond. Ông không muốn ai làm bị thương con thú qúy giá của ông. Thế nhưng, giờ đây, con rex vào khu sauropod mà ông không có một thứ gì để giải quyết cả. - Muldoon quay người ra khỏi phòng.
     Hammond bước mau theo Muldoon:
     - Chờ một tí.
     Gennaro chăm chú nhìn các màn hình và lắng nghe tiếng cãi cọ vọng vào từ ngoài hành lang. Ông bảo Arnold:
     - Rốt cuộc, tôi đoán là anh vẫn chưa nắm được việc kiểm soát công viên.
     - Đừng có đùa. - Arnold châm một điếu thuốc khác - Chúng tôi đã nắm công viên. Trời sẽ sáng trong vài tiếng đồng hồ nữa. Chúng tôi có thể mất một hai con thú trước khi chúng tôi đem con rex ra khỏi chỗ ấy, nhưng tin tôi đi, chúng tôi đã nắm được công viên.
0
BÌNH MINH
     Grant thức giấc vì âm thanh của một thứ gì đó nghiến vào nhau tiếp theo là tiếng loảng xoảng của kim loại. Ông mở mắt và thấy hai kiện cỏ chạy ngang bên cạnh ông trên một băng tải, ngược lên phía trần nhà. Hai kiện khác chạy theo sau hai kiện trước. Rồi tiếng loảng xoảng đột nhiên ngửng lại, cũng bất ngờ như khi nó xuất hiện, và tòa lán đúc bê tông lại im lặng trở lại. Grant ngáp. Ông duỗi chân tay vẻ còn ngái ngủ, rồi co lại vì đau và mỏi, rồi ngồi dậy.
     Ánh sáng vàng nhạt chiếu vào lán qua chiếc cửa sổ một bên. Trời sáng rồi: ông đã ngủ suốt đêm! Ông liếc nhanh đồng hồ: 5 giờ 30. Vẫn còn sáu tiếng để đi về trước khi con tàu phải được gọi trở lại. Ông cong người, rên ri. Đầu ông choáng váng, thân mình đau nhức như dần. Từ một góc, ông nghe tiếng kín kít, như một bánh xe rỉ. Và rồi Lex cười khúc khích.
     Grant chầm chậm đứng dậy, và nhìn tòa lán. Giờ là vào lúc ban ngày, ông có thể thấy rõ đây là một loại nhà kho, với những đống cỏ khô và các thứ dự trữ. Trên tường ông thấy một thùng sắt xám có ghi SAUROPOD MAITENANCE BLDG(04). Đây ắt là khu nuôi sauropod, như ông đã nghĩ. Ông mở thùng sắt và thấy một điện thoại, nhưng khi nhấc ống nghe lên thì chỉ có tiếng xì xì tĩnh điện. Rõ ràng là các đường điện thoại chưa hoạt động trở lại.
     - Nhai đi, mày. Đừng có ngu như đồ lợn, Ralph. - tiếng của Lex.
     Ông đi quanh góc và thấy Lex đứng bên các chấn song cửa, thò một nắm cỏ ra ngoài cho con thú ăn. Con thú trông giống như một con lợn màu hồng kêu lên những tiếng kít kít ông nghe hồi nãy. Thật sự đây là một con triceraptor non, vào cỡ một con ngựa nhỏ. Con thú non chưa có sừng trên đầu, chỉ mới nhú lên một điểm sụn tròn sau đôi mắt to. Nó thò mõm vào song cửa về phía Lex, đôi mắt trông vào cô bé khi Lex lấy thêm cỏ cho nó.
     - Thế là tốt. - Lex nói với con thú - Còn nhiều cỏ lắm, mày đừng có lo. - Cô bé vỗ vào đầu con thú. - Mày thích cỏ hả, Ralph?
     Lex quay lui và thấy Grant:
     - Đây là Ralph, bạn cháu. Nó thích ăn cỏ.
     Grant bước tới một bước rồi dừng lại, cúi người.
     - Bác xoàng quá. - Lex bảo ông.
     - Bác cảm thấy ê ẩm cả người.
     - Tim cũng thế. Mũi anh ấy sưng vù.
     - Nó đâu rồi.
     - Anh ấy đi giải. Bác có muốn giúp cháu cho Ralph ăn không?
     Con triceraptor non nhìn Grant. Cỏ nhồm nhoàm ở hai khóe miệng, rơi vãi xuống đất khi nó nhai. Lex nói:
     - Nó tạp ăn quá. Và chắc là đang đói ghê lắm.
     Con thú non nhai hết chỗ cỏ và liếm môi. Nó há miệng rộng, chờ thêm. Grant có thể nhìn thấy hàm răng dưới mảnh, nhọn, và hàm trên nhọn úp lại, như một con vẹt. Lex bảo con thú:
     - Ôkê, chờ tao một phút. - Cô bé lấy thêm cỏ trên nền nhà. - Ralph cứ thật tình đi nhé. Má mày chắc không bao giờ cho mày ăn.
     - Tại sao nó tên là Ralph?
     - Vì nó trông giống như bạn Ralph ở trường cháu.
     Grant đến bên cửa, sờ nhẹ vào da cổ con vật. Lex nói:
     - Nó dễ chịu lắm. Bác có thể cưng nó. Nó thích lắm nếu bác cưng nó, phải không mày, Ralph?
     Da con vật khô và ấm, mềm như da một quả bóng. Ralph kêu lên mấy tiếng kít kít khi Grant vuốt cổ nó, chiếc đuôi ve vẩy tỏ ý thích thú.
     - Nó thuần hóa rồi. - Lex nói. Con vật nhìn Lex rồi nhìn Grant - Khi ăn nó không tỏ vẻ gì sợ hãi. Có lẽ chán cưỡi nó được đấy.
     - Đừng có cưỡi.
     - Cháu cá là nó sẽ cho cháu cưỡi. Cưỡi khủng long thì chắc là thú vị lắm. - Grant nhìn qua cửa sắt về phía cánh đồng sau con thú. Cánh đồng cỏ khu nuôi sauropod sáng dần lên từng phút một. Ông phải đi ra ngoài kia, Grant suy nghĩ, và đứng trước một hộp cảm ứng trên cánh đồng mà vẫy tay. Và ông cảm thấy hơi băn khoăn, khi thấy đường dây điện thoại vẫn chưa hoạt động…
     Ông nghe một tiếng khịt mũi, như tiếng khịt của một con ngựa rất lớn, và đột nhiên con thú non có vẻ lo lắng. Nó cố thu đầu lui khỏi cửa, nhưng bị kẹt giữa hai chấn song vì thịt hai bên mép hàm. Và nó kêu lên kít kít sợ hãi.
     Tiếng khịt mũi lại vẳng đến, lần này gần hơn.
     Ralph rướn người lui bằng hai chân sau, điên cuồng rút đầu ra khỏi hai song sắt. Đầu nó thụt tới thụt lui, cà vào các thanh sắt. Lex bảo:
     - Cứ từ từ, Ralph.
     - Đẩy nó ra, Lex. - Ông đến gần bên, đưa tay ấn lên đầu con vật, tay kia ép thụt hai bên mép nó lại, đẩy đầu nó lui. Con thú rụt đầu ra khỏi mấy song sắt, mất thăng bằng té nằm nghiêng. Rồi con thú non bị một cái bóng phủ lên, và một chiếc chân khổng lồ xuất hiện trong tầm nhìn, to như một thân cây. Bàn chân có năm móng như một chân voi.
     Ralph nhìn lên và kêu kít kít. Một chiếc đầu cúi xuống: dài ba mét với ba chiếc sừng trắng, hai chiếc lớn, mỗi chiếc nằm trên một con mắt nâu thật to và một chiếc nhỏ hơn nằm đầu chóp mũi. Đấy là một con triceraptors hoàn toàn trưởng thành. Con vật to lớn nhìn Lex và Grant, mắt nhấp nháy chậm rãi, rồi quay lại chú ý đến Ralph. Một chiếc lưỡi dài thè ra liếm con con, Ralph kêu kít kít, cọ mình vào chiếc chân lớn, sung sướng. Lex nói:
     - Phải mẹ nó không?
     - Trông có vẻ như thế.
     - Chúng ta cho con mẹ ăn không?
     Nhưng con triceraptors đã dùng mõm húc vào Ralph, đẩy con con tránh xa các song sắt.
     - Không nên. - Grant bảo.
     Con thú non quay người khỏi mấy chấn song và bỏ đi. Thỉnh thoảng con mẹ dùng mõm đẩy con con, và cả hai con đi vào cánh đồng. Lex vẫy tay.
     - Tạm biệt, Ralph.
     Tim từ sau căn nhà xuất hiện. Grant bảo hai đứa:
     - Này, bác sẽ ra kia chỗ ngọn đồi để ra dấu cho mấy bộ cảm ứng, để cho họ biết mà đến đem chúng ta về. Hai đứa ở đây chờ.
     - Không. - Lex không chịu.
     - Sao vậy? Ở đây an toàn hơn.
     - Bác đừng để bọn cháu lại. Đúng không, anh Tim.
     - Ừ.
     - Vậy thì cùng đi.
     Cả ba chui qua mấy chấn song, bước ra ngoài.
     Vào lúc trước bình minh.
     Không khí nóng và ẩm ướt, bầu trời hồng và tím nhạt. Một đám sương trắng là đà sát mặt đất. Xa xa, ba người thấy con triceraptors mẹ và con con đi xa dần về phía một đàn lớn hadrosaur mỏ vịt, đang ăn lá cây ở bên bờ vịnh.
     Một vài con hadrosaur đứng dưới nước, nước ngập đến đầu gối, chúng uống nước, chiếc đầu dẹt hạ thấp xuống, chạm vào chính chiếc bóng của nó ở mặt nước. Rồi chúng lại ngửng lên, đầu quay quanh. Ở rìa vịnh, mấy con con bước khỏi nước, kêu chít chít, mấy con lớn đứng nhìn, vẻ ung dung.
     Xa hơn nữa về phía nam, các con hadrosaur khác đang ăn cây cỏ mọc ở tầng thấp hơn. Thỉnh thoảng chúng rướn người đứng trên hai chân sau, đặt hai chi trước lên thân cây để vói rứt lá ở các cành trên cao. Và ở phía xa xa một con aptosaur khổng lồ đứng cao vượt quá các ngọn cây, chiếc đầu nhỏ quay qua quay lại trên cần cổ dài. Quang cảnh quá êm đềm, Grant khó mà tưởng tượng được điều gì nguy hiểm. Bỗng Lex la lớn:
     - Eo ơi? Con gì thế? - Hai con chuồn chuồn voi khổng lồ màu đỏ, cánh dang rộng đến gần hai mét bay vù qua mặt họ.
     - Chuồn chuồn. - Grant nói - Jurassic là kỷ của loài côn trùng khổng lồ.
     - Chúng cắn không?
     - Bác nghĩ là chúng không cắn đâu.
     Tim đưa tay ra. Một trong hai con chuồn chuồn đáp xuống tay cậu bé. Cậu cảm thấy sức nặng của con côn trùng khổng lồ. Lex cảnh cáo:
     - Coi chừng nó cắn anh đấy.
     Nhưng con chuồn chuồn chỉ nhẹ nhàng đập đôi cánh to trong suốt với những mạch máu đỏ và rồi khi Tim cử động tay, nó lại bay đi. Lex hỏi:
     - Chúng mình đi đường nào?
     - Đường kia.
     Họ bắt đầu đi ngang cánh đồng. Họ đến trước một chiếc hộp đen đặt trên một đế ba chân vùng chãi, bộ cảm ứng đầu tiên. Grant dừng lại và vẫy tay qua lại trước hộp, nhưng hình như không có gì xảy ra. Nếu điện thoại không hoạt động, có thể các hộp cảm ứng cũng không hoạt động.
     - Chúng ta thử tìm một hộp khác xem. - ông chỉ qua cánh đồng. Ở một nơi nào xa xa, họ nghe tiếng rống của một con thú lớn.
*
     Arnold nhấp li cà phê, mở to đôi mắt nhìn vào màn hình. Ông đã cắt hết các đường dây của các màn hình giám sát do các bộ cảm ứng chuyển về. Ông đang lục tìm các mã computer. Ông đã kiệt sức; ông đã làm việc suốt mười hai tiếng đồng hồ. Ông quay sang Wu, vừa từ phòng thí nghiệm về.
     - Quỷ thật, tôi không thể tìm ra được.
     - Tìm gì?
     - Điện thoại vẫn không hoạt động. Tôi không thể làm cho chúng hoạt động trở lại. Tôi chắc là Nedry đã làm cái gì đó với điện thoại.
     Wu nhấc một điện thoại, nghe tiếng xì xì:
     - Nghe như tiếng đang chuyển số liệu.
     - Nhưng không phải. Tôi đã xuống tầng hầm và cắt tất cả các đường dây chuyển số liệu. Tiếng anh vẫn nghe chỉ là âm thanh trắng, nghe như bộ chuyển đang hoạt động.
     - Vì thế các đường điện thoại đều bị nghẽn?
     - Về cơ bản, đúng thế. Gã ta đã làm tắc nghẽn các đường điện thoại rất kỹ. Gã đã cho một loại mã khóa vào mã chương trình, và hiện giờ tôi không thể tìm ra, bởi vì tôi đã ra một lệnh hồi phục và lệnh này xóa đi một phần liệt kê mã chương trình. Những rõ ràng lệnh cắt điện thoại vẫn nằm trong bộ nhớ computer.
     Wu nhún vai:
     - Như thế à? Vậy chỉ việc đặt lại: xóa toàn bộ hệ thống, và sẽ xóa hết bộ nhớ để bắt đầu lại.
     - Tôi chưa làm thế bao giờ và tôi cũng chống lại việc làm như thế. Có thể toàn bộ hệ thống sẽ khỏi hoạt động trở lại, nhưng có thể cũng không. Tôi không phải là chuyên gia computer và anh cũng thế. Mà điện thoại không hoạt động, chúng ta cũng không hề liên lạc được với một chuyên gia nào.
     - Nếu lệnh này trong bộ nhớ RAM, nó sẽ không cho ta biết ở mã. Ông có thể cho xuất hiện bộ nhớ để tìm, nhưng ông lại không biết mình tìm gì. Vì thế những gì cần làm theo tôi nghĩ là ông nên xóa tất cả, và đặt lại.
     Gennaro chen vào:
     - Chúng ta vẫn chưa có điện thoại.
     - Tôi đang chữa đây.
     - Ông đã làm việc trắng đêm. Mà Malcolm thì đang nặng hơn. Ông ấy cần đến y tế bên ngoài đảo.
     - Thế có nghĩa là tôi phải xóa tất cả. - Arnold nói - Mà tôi không thể chắc chắn là hệ thống có trở lại hoạt động không?
     Gennaro:
     - Cứ nghĩ xem. Một người bệnh nặng ở khu nhà nghỉ kia. Ông ta cần có một bác sĩ, hoặc sẽ chết. Mà anh không thể gọi bác sĩ trừ phi anh có điện thoại. Bốn người có thể cũng đã chết đâu đó rồi Nào, xóa hết đi và cho điện thoại hoạt động.
     Arnold ngần ngại. Gennaro hỏi:
     - Sao?
     - Vâng, ấy chỉ là… các hệ thống bảo mật không cho phép computer xóa, và…
     - Vậy thì xóa cả các hệ thống bảo mật luôn! Ông có thấy được vấn đề là ông ta sắp chết nếu không có sự giúp đỡ?
     Arnold thở ra:
     - Vậy thì ôkê.
     Ông đứng dậy đi đến bên bảng điều hành chính. Ông mở các cửa ô có các then khóa chặn các công tắc an toàn, và bật tắt bốp bốp từng cái một.
     - Ông yêu cầu, và tôi làm theo lời ông. - Arnold bật chiếc công tắc chính.
     Căn phòng điều khiển tối om. Tất cả các màn hình giám sát tắt đen. Ba người đứng trong bóng tối. Gennaro hỏi:
     - Chúng ta phải chờ bao lâu?
     - Ba mươi giây. - Arnold trả lời.
*
     Lex nhăn mũi khi họ đi ngang qua cánh đồng:
     - Eo ơi!
     - Gì vậy? - Grant hỏi.
     - Mùi gì ấy. Hôi như thức ăn thối.
     Grant do dự. Ông nhìn qua cánh đồng về phía các cây to ở xa xa, để ý xem có thứ gì chuyển động không. Ông không thấy gì. Họa hoằn mới thấy cơn gió lay động mấy cành cây. Quang cảnh thật êm đềm và yên tĩnh trong buổi sáng sớm. Ông nói:
     - Bác chắc là cháu tưởng tượng thôi.
     - Không đâu…
     Và ông nghe tiếng kêu như ngỗng. Tiếng kêu của khủng long mỏ vịt hadrosaur phía sau lưng họ. Đàn thú mỏ vịt xáo động, nhảy và quay người vội vã lên khỏi nước, bao quanh lấy mấy con con để bảo vệ. Chắc mấy con vật đó cũng ngửi thấy mùi gì, Grant nghĩ.
     Với một tiếng gầm, con khủng long bạo chúa từ những cây cách đám thú mỏ vịt năm mươi mét nhảy lồng ra. Nó tuôn qua cánh đồng bằng những bước nhảy khổng lồ. Nó không chú ý đến ba người, chỉ nhắm đàn hadrosaur chạy đến. Lex gào lên:
     - Cháu đã bảo mà, không ai tin cháu.
     Ở rìa bờ vịnh, đàn khủng long mỏ vịt kêu quàng quạc và bắt đầu bỏ chạy. Grant có thể cảm thấy đất rung chuyển dưới chân.
     - Nào hai đứa. - Grant chụp lấy Lex nhấc bổng cô bé và cùng Tim chạy qua đám cỏ. Ông thoáng thấy bóng con khủng long bạo chúa chạy xuống bờ vịnh, xông vào đám hadrosaur, lũ thú này đang nguẩy đuôi trong tư thế tự vệ, kêu lên những tiếng quàng quạc thật to và liên tục. Ông cũng nghe thấy tiếng cành cây gãy răng rắc, và khi nhìn lại, đàn thú mỏ vịt đang bỏ chạy.
*
     Trong căn phòng tối, Arnold đưa tay xem đồng hồ, kiểm tra lại giờ. Ba mươi giây. Bộ nhớ giờ này phải được xóa sạch. Ông đóng mạch điện ở cầu dao chính.
     Không có việc gì xẩy ra cả.
     Bao tử Arnold thắt lại. Ông kéo cầu dao ra rồi đóng lại. Vẫn không thấy gì xảy ra. Mồ hôi ông tuôn ròng ròng trên trán.
     Gennaro hỏi :
     - Có gì sai chập?
     - Ồ, quỷ thật. - Arnold nhớ lại là phải đóng hết các công tắc bảo mật lại trước khi đóng câu dao cung cấp năng lượng. Ông bật mở ba công tắc bảo mật, gài các then chặn lại. Rồi ông nín thở, đóng cầu dao năng lượng.
     Đèn trong phòng bật sáng.
     Các computer kêu bíp bíp.
     Các màn hình kêu xì xì.
     - Ôi, lạy Chúa. - Aronld bước gấp trở lại bảng điều khiển màn hình giám sát công viên: dòng chữ JURASSIC PARK - STARTUP nằm trên một mâm các ô ghi tất cả các chi tiết của hệ thống đang chờ lệnh vào mã điều khiển.
     Gennaro với lấy một điện thoại, nhưng điện thoại hoàn toàn tắc tiếng không có tiếng ù ù chờ đợi, cũng không có tiếng xì xì bận đường dây. Không có gì cả.
     - Sao thế này?
     - Chờ tôi một giây. - Arnold bảo - Sau khi xóa và đặt lại, tất cả các module của hệ thống phải đưa lại hoạt động bằng tay.
     Gennaro hỏi:
     - Tại sao lại phải bằng tay?
     - Ôi, lạy Chúa, ông để cho tôi làm việc với chứ.
     Wu đáp thay:
     - Hệ thống không hề có ý định xóa. Vì thế, khi xóa, nó cho rằng có vấn đề ở đâu đó, nó yêu cầu phải đóng lại từng phần bằng tay. Bằng không nếu có chạm mạch chỗ nào đấy, cả hệ thống sẽ đóng, tắt, đóng, tắt trong một chu kỳ bất tận.
     - Được rồi. - Arnold nói.
     Gennaro nhấc ống điện thoại và bắt đầu quay số, bỗng nhiên ông ngừng tay.
     - Ôi, Chúa ơi, nhìn xem kìa. - ông chỉ vào một màn hình giám sát.
     Nhưng Arnold không nghe ông. Ông ta đang nhìn chăm chú vào bản đồ, nơi có một chỗ tập trung nhiều điểm sáng đã bắt đầu chuyển động. Chuyển động thật nhanh, một loại chuyển động quay vòng.
     Gennaro hỏi:
     - Việc gì vậy.
     - Lũ khủng long mỏ vịt. - Arnold đáp - Chúng đang chạy tán loạn.
*
     Các con khủng long mỏ vịt chạy với tốc độ ngạc nhiên, thân hình to lớn của chúng ép sát nhau, kêu quàng quạc và rống lên, lũ thú con kêu the thé, cố tránh những bước dẫm. Cả bầy làm tung lên một đám bụi vàng mờ mịt.
     Grant không thể thấy con khủng long bạo chúa đâu cả.
     Lũ khủng long mỏ vịt chạy về phía ba người.
     Vẫn ẵm Lex, Grant tìm cách chạy về phía một tảng đá trồi lên cao, nằm gần bên một gốc cây bách. Họ chạy thật nhanh, cảm thấy đất rung chuyển dưới chân. Tiếng quàng quạc của lũ thú đến gần làm điếc cả tai, nghe như tiếng rú của động cơ phản lực trong một phi trường. Tiếng kêu của lũ thú tràn ngập không gian, làm đau nhức cả tai. Lex đang hét lởn một điều gì đó, nhưng ông không thể nghe được. Và khi họ nhảy được lên mấy tảng đá, bầy thú đã đến gần sát bên họ.
     Grant thấy những chiếc chân to rộng của những con hadrosaur chạy ngang qua, mỗi con nặng năm tấn, và rồi chúng bị bao phủ bởi một đám bụi mù dày đặc đến nỗi ông không thể thấy gì được nữa. Ông chỉ có ấn tượng của những thân hình khổng lồ, những chiếc cẳng chân to lớn, rống lên những tiếng đau đớn khi lũ thú chạy quay vòng tròn. Một con thú mỏ vịt tông nhằm một hòn đá tròn lớn lăn lông lốc ngang chỗ họ qua cánh đồng bên kia.
     Trong đám bụi mù dày đặc, họ không thể thấy gì bên ngoài mấy tảng đá. Họ bấu chặt vào mấy hòn đá tảng, nghe tiếng kêu sợ hãi và tiếng quàng quạc, và tiếng gầm đe dọa của con khủng long bạo chúa. Lex bấu chặt tay vào vai Grant.
     Một con khủng long quất mạnh đuôi vào một tảng đá làm phun ra một đám máu nóng. Grant chờ cho đến khi tiếng ồn ào của trận chiến di chuyển xa về phía trái, rồi đẩy hai đứa bé leo lên một cây lớn nhất. Họ leo một cách khó nhọc, mò mẫn tìm từng cành, trong khi lũ thú chạy tán loạn xung quanh họ trong đám bụi. Họ leo lên được sáu mét và rồi Lex bám vào Grant không chịu leo lên nữa. Tim cũng đã quá mệt. Grant nhìn lại, nghĩ là họ đã lên đủ cao. Qua đám bụi, họ có thể thấy những tấm lưng to lớn của lũ thú phía dưới khi chúng vừa chạy vừa kêu quàng quạc. Grant tựa người vào một cành cây to vỏ xù xì, ho rũ rượi vì đám bụi, nhắm mắt lại và chờ.
*
     Arnold điều chỉnh máy thu hình trong khi đoàn thú tản đi. Đám bụi dần dần bay đi hết. Ông thấy là các con hadrosaur đã tản mát hết và con tyrannosaur thì đã ngừng chạy, có nghĩa là nó đã giết được một con. Con khủng long bạo chúa bây giờ đang ở gần bờ vịnh. Arnold nhìn màn hình giám sát và nói:
     - Tốt hơn là bảo Muldoon ra đấy xem sự thể ra sao.
     - Để tôi tìm bảo ông ta. - Gennaro nói và bước ra khỏi phòng.
0
«« « 1 2 » »»