📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

CÔNG VIÊN KHỦNG LONG KỶ JURA - MICHEAL CRICHTON - HẾT 🔒

45 trả lời, 8.435 lượt xem — Trang 2 / 2
CÔNG VIÊN
     Những tiếng lách tách yếu ớt như tiếng củi cháy trong lò sưởi. Một thứ gì ấm và ẩm dính vào chân Grant. Ông mở mắt và thấy một chiếc đầu mầu be khổng lồ. Chiếc đầu dẹp dần xuống thành một chiếc miệng bẹp rộng như cái mỏ vịt. Đôi mắt, lồi ra ngoài trên chiếc miệng dẹp, trông hiền lành và ươn ướt như mắt bò. Chiếc miệng như mỏ vịt há rộng rứt nhai các cành cây con dưới cành cây to có Grant ngồi. Ông có thể thấy hai hàm răng to, phẳng trong má con vật nhai lá.
     Một con khủng long mỏ vịt. Ông rất ngạc nhiên khi nhìn nó ở khoảng cách gần. Không phải ông sợ; tất cả các loài khủng long mỏ vịt đều là loài ăn cỏ, và con thú này đã ăn theo kiểu cách đúng như một con bò. Dù nó rất to lớn, cung cách nó rất từ tốn và hiền từ khiến Grant không cảm thấy sợ hãi. Ông ngồi yên trên cành cây, cẩn thận không động đậy, nhìn con vật ăn.
     Lý do làm Grant ngạc nhiên là Grant đã có ý tưởng rất đúng về con vật này. Đây có lẽ là con thú thuộc loài maiasaur, ông là người đầu tiên miêu tả chủng loại này. Tên maiasaur có nghĩa là "bà mẹ kỳ nhông hiền"; maiasaur được cho là con thú biết giữ gìn trứng cho đến khỉ nở con và biết chăm sóc con.
     Ông nghe thấy tiếng chiếp chiếp, và chiếc đầu to cúi xuống. Ông chuyển mình đủ để thấy con hadrosaur con đang dẫm chân quanh con mẹ. Con con màu be đậm có vằn đen. Con mẹ cúi đầu thấp sát mặt đất và chờ, không cử động, trong khi con con đứng trên hai chi sau, đặt hai chi trước lên hàm mẹ nó và ăn những cành lá thò ra từ hai khóe miệng con mẹ.
     Con thú mẹ kiên nhẫn chờ cho đến khi con thú con ăn hết và bỏ hai chi trước xuống đất, và chiếc đầu lớn lại vươn lên chỗ Grant.
     Con hadrosaur tiếp tục ăn, chỉ cách chân ông vài tấc. Grant nhìn hai lỗ hổng kéo dài nằm trên phần mỏ trên của con thú. Rõ ràng là nó không ngửi thấy mùi của Grant, và dù cho con mắt trái con vật đang nhìn ngay vào ông, vì lý do nào đó, con thú không có phản ứng.
     Ông nhớ lại cách con khủng long bạo chúa đã không nhìn thấy ông đêm trước. Grant quyết định thử một thí nghiệm.
     Ông ho lên một tiếng.
     Lập tức con hadrosaur ngừng lại, chiếc đầu lớn giữ nguyên chỗ, hàm không nhai nữa. Chỉ con mắt cử động, tìm nơi xuất phát tiếng động. Rồi, sau một lúc, khi dường như chẳng có gì nguy hiểm, con vật nhai trở lại.
     Đáng ngạc nhiên thật, Grant suy nghĩ.
     Ngồi trong tay ông, Lex mở mắt và hỏi:
     - Eo ơi! Cái gì vậy?
     Con vật hí lên cảnh giác, tiếng hí nghe như tiếng còi xe chát tai làm Lex giật mình suýt rơi xuống đất. Con hadrosaur rút đầu khỏi cành cây và lại hí lên.
     Từ cành cây phía trên, Tim bảo Lex:
     - Đừng có làm nó sợ.
     Con hadrosaur con kêu chiếp chiếp và rúc vào dưới chân con mẹ khi con thú lớn lùi xa cây. Con mẹ ngóc đầu tới lui, nhìn vào cành cây nơi Lex và Grant ngồi với vẻ kỳ lạ. Với chiếc môi cong cong lên, con vật trông có vẻ khôi hài. Lex hỏi:
     - Nó sao thế?
     - Cháu làm nó ngạc nhiên.
     - Thế à. Nó muốn đuổi chúng ta xuống, hay làm gì?
     Con hadrosaur đã đi lui cách gốc cây ba mét. Nó lại hí lên. Grant có cảm tượng là nó đang cố làm cho họ sợ bỏ đi chỗ khác. Nhưng con khủng long dường như thật sự không biết phải làm gì. Nó hành động có vẻ bối rối và không thoải mái. Họ im lặng chờ, và sau một phút, con hadrosaur lại đến gần thân cây, hàm nhép nhép, đoán chừng. Rõ ràng là nó sắp ăn trở lại.
     Lex nói lớn:
     - Mặc kệ nó. Cháu không ở trên này nữa. - Cô bé bắt đầu leo xuống cành cây. Khi cô bé cử động, con hadrosaur hí lên những âm thanh báo động khác.
     Grant lấy làm kỳ. Con thú thật sự không thấy họ khi họ không cử động, ông nghĩ. Và sau một lúc, nó thật sự quên đi sự hiện diện của họ. Đúng như trường hợp con khủng long bạo chúa - một ví dụ cổ điển khác về tế bào thị giác vỏ não loài lưỡng cư. Các nghiên cứu về loài ếch nhái đã cho thấy rằng loài lưỡng cư chỉ thấy những cử động, như các loài côn trùng. Nếu một con vật không cử động, chúng thật sự không nhìn thấy.
     Con maiasaur lúc này dường như quá bối rối vì thấy một sinh vật kỳ lạ đang leo xuống cây. Với tiếng hí cuối cùng, nó hất con thú con, và rồi bước lui từng bước nặng nề. Nó dừng lại một lát, nhìn lại chỗ ba người, lại tiếp tục bước lui.
     Họ xuống đến đất. Lex phủi người. Hai đứa bám đầy bụi mịn. Xung quanh họ, cỏ dị dẫm nằm rạp. Có những dấu máu, và mùi chua.
     Grant nhìn đồng hồ tay:
     - Tốt hơn là đi thôi.
     - Cháu không đi, - Lex nói - cháu sẽ không đi ra đấy nữa.
     - Chúng ta phải đi.
     - Sao vậy?
     - Vì chúng ta phải báo cho họ chuyện chiếc tàu. Bởi họ không nhìn thấy chúng ta qua mấy bộ cảm ứng, chúng ta phải tự tìm đường về. Đấy là cách duy nhất.
     Tim góp ý:
     - Tại sao ta không dùng bè?
     - Bè nào đâu?
     Tim chỉ về ngôi nhà kho đúc bê tông nơi họ nghỉ qua đêm. Ngôi lán hiện cách họ hai mươi mét, ngang qua cánh đồng:
     - Cháu thấy một chiếc bè trong ấy.
     Grant lập tức thấy được sự thuận lợi. Bây giờ đã bảy giờ sáng. Họ có ít nhất tám dặm trên đường về. Nếu họ có được chiếc bè đi dọc theo con sông, họ sẽ đi nhanh hơn là đi trên đất. Grant nói:
     - Vậy trở lại đấy xem.
*
     Arnold vào lệnh cho computer tìm hiện hình và nhìn trong khi các máy thu hình giám sát hoạt động, dò tìm khắp công viên, những hình ảnh thay đổi từng giây một. Việc dò tìm này quá mệt. Nhưng đấy là cách nhanh nhất để tìm chiếc xe Jeep của Nedry, và Muldoon quyết phải tìm cho ra. Ông ta cùng Gennaro đi ra chỗ thú chạy tán loạn để xem qua, nhưng bây giờ là ban ngày, ông muốn tìm được chiếc xe. Muldoon muốn lấy khẩu phóng hỏa tiễn ông để sau chiếc Jeep ấy.
     Intercom kêu tách:
     - Anh Arnold, tôi muốn nói chuyện với anh, được không?
     Đấy là Hammond. Giọng lão nghe như giọng Chúa trời.
     - Ông muốn đến đây à?
     - Không. Anh đến chỗ tôi. Tôi đang ở trong phòng thí nghiệm tạo gen với tiến sĩ Wu. Chúng tôi chờ anh.
     Arnold thở dài, rồi đứng dậy rời khỏi mấy màn hình.
*
     Grant bước sâu vào phòng chứa dụng cụ của căn lán. Ông đẩy qua một bên năm gallon thuốc diệt cỏ, các dụng cụ cắt xén cây, các bánh phụ của xe Jeep, các cuộn thép hàng rào, những bao phân hóa học loại năm mươi ký, các trụ sành nâu cách điện, thùng dầu nhớt đã dùng hết, đèn rọi làm việc ban đêm và dây cáp
     - Chẳng thấy bè nào cả.
     - Bác tìm tiếp đi.
     Các bao xi măng. Các ống đồng lưới mắt cáo… và hai chiếc dầm bằng nhựa gác ngang ở móc gắn trên tường.
     - Có dầm, tốt quá, nhưng bè đâu?
     - Phải có bè quanh đâu đây. - Tim nói chắc.
     - Thì ra cháu chưa trông thấy bè à?
     - Chưa, cháu chỉ đoán là có bè.
     Lục lọi giữa đám những khúc gỗ, Grant cũng không tìm thấy bè. Nhưng ông tìm thấy được một bộ bản đồ, cuộn lại, ẩm mốc cất sau một kệ tủ bằng sắt gắn trên tường. Ông trải bản đồ lên nền nhà, hất một con nhện thật to đi. Ông nhìn bản đồ một lúc lâu.
     - Cháu đói bụng.
     - Một chút nữa thôi.
     Đấy là một bản đồ hình chi tiết những vùng chính của đảo, nơi họ đang có mặt. Theo bản đồ này thì hồ vịnh nước mặn thu hẹp dần chảy vào con sông họ thấy trước đấy, con sông quanh co chảy về phía bắc, ngang qua khu nuôi chim, và chảy tiếp, cách khu nhà nghỉ của khách nửa dặm. Ông giở tới vài trang. Làm sao đến hồ vịnh? Theo bản đồ, phải có một cửa ở phía sau tòa lán này. Grant nhìn lên và thấy cửa, xây lõm vào tường bê tông. Cửa rộng đủ một xe đi lọt. Mở cửa, ông thấy một con đường lát gạch chạy thẳng về phía hồ nước. Con đường được đào thấp hơn mặt đất, vì thế, đứng trên mặt đất không thể thấy được. Đấy hẳn là một con đường phục vụ khác, và nó dẫn đến một bến tàu chỗ có chứa bè. Tiếng Tim gọi:
     - Bác à, nhìn cái này xem. - Cậu bé trao cho Grant một hộp bằng sắt.
     Mở hộp, Grant thấy một súng ngắn bắn bằng hơi ép và một thắt lưng bằng vải dày có túi đựng những mũi tên. Có sáu mũi tên tất cả, mỗi mũi to bằng cỡ ngón tay. Nhãn dán đề là MORO-709.
     - Tốt quá, Tim. - ông mang dây đeo quanh vai và nhét khẩu súng vào túi.
     - Súng gây mê hả bác?
     - Bác chắc vậy.
     - Thế bè ở đâu? - Lex hỏi.
     - Bác nghĩ là bè ở bến tàu.
     Và họ bắt đầu đi xuống con đường thấp. Grant vác cặp dầm lên vai. Lex nói:
     - Cháu mong là có một chiếc mảng thật lớn, vì cháu không biết bơi.
     - Đừng có lo. - Grant bảo.
     - Có thể mình bắt được vài con cá.
     Họ đi về phía hồ, con đường thấp với hai bờ đường nghiêng dốc can hai bên họ. Họ nghe tiếng khịt mũi đều đều, nhưng Grant không thể biết tiếng ấy đến từ đâu. Lex nhăn mũi, hỏi:
     - Bác có chắc là có bè ở dưới kia không?
     - Có lẽ có
     Tiếng khịt mũi đều đều nghe to hơn khi họ đi tiếp, và họ cũng nghe thấy tiếng vo vo, vù vù không dứt. Khi họ đến cuối con đường, Grant khựng người lại choáng váng.
     Con khủng long bạo chúa ngồi ngay đấy.
     Nó đang ngồi ngóc cao đầu trong một bóng cây, hai chân sau duỗi dài ra trước. Hai mắt nó mở nhưng không cử động, trừ chiếc đầu cất lên hạ xuống nhẹ nhàng với mỗi tiếng khịt mũi. Tiếng vo ve xuất phát từ những đám ruồi bay quanh con thú, đậu vào đầu, bò lên mặt và chiếc hàm trễ, bu vào cả mấy chiếc răng nanh còn dính đầy máu, và bám đầy con hadrosaur bị chết nằm lật nghiêng đàng sau con tyrannosaur.
     Con tyrannosaur chỉ cách chỗ ba người chừng hai mươi mét. Grant có cảm tưởng chắc chắn là nó thấy ông, nhưng con vật không phản ứng. Nó chỉ ngồi đấy, phải mất một lúc ông mới nhận ra: con tyrannosaur đang ngủ. Nó ngồi thẳng người, nhưng nó ngủ.
     Ông ra hiệu cho Tim và Lex đứng yên tại chỗ. Còn Grant chậm chạp đi về phía bến tàu, ngang qua tầm nhìn của con tyrannosaur. Con thú khổng lồ tiếp tục ngủ, ngáy nhẹ nhẹ.
     Gần cuối bến tàu, một căn lán bằng gỗ sơn màu bạc nằm lẫn với đám tàn lá. Grant nhẹ nhàng mở then cửa và nhìn vào trong. Ông thấy năm, sáu chiếc áo phao màu da cam móc trên tường, vài cuộn thép mắt cáo làm hàng rào, vài cuộn dây thừng, hai khối cao su to nằm trên sàn nhà. Chúng được buộc chặt với nhau bằng dây cao su mỏng.
     Bè cao su.
     Ông nhìn Lex. Cô bé hỏi không thành tiếng: "Không có thuyền?"
     Grant gật đầu: "Có."
     Con tyrannosaur đưa một chi trước quạt đàn ruồi bu xung quanh miệng nó. Nhưng nó không nhúc nhích. Grant kéo một trong hai khối cao su ra khỏi lán về phía bến tàu. Trông thế mà quá nặng. Ông tháo vứt giây buộc và tìm thấy một van hình trụ bơm tự động. Với tiếng xì xì lớn, chiếc bè cao su bắt đầu phồng lên, và với một tiếng bép cuối cùng, nó nằm phình to trên bến tàu. Âm thanh nghe to đến đáng sợ vang bên tai họ.
     Grant quay lui, nhìn chăm chú vào con tyrannosaur.
     Con khủng long bạo chúa gầm gừ và khịt mũi. Nó bắt đầu cử động.
     Grant cố kìm mình không bỏ chạy, nhưng con thú chỉ trở mình và rồi ngồi tựa lại vào thân cây, và ựa một hơi dài.
     Lex có vẻ không chịu nổi mùi hôi, đưa tay vẫy trước mũi.
     Grant ướt đẫm mồ hôi vì căng thẳng. Ông kéo bè cao su ngang qua cầu phà. Chiếc bè cao su rơi xuống mặt nước một tiếng bộp rõ to.
     Con khủng long vẫn tiếp tục ngủ.
     Grant cột chiếc bè cao su vào bến và quay trở lại lấy hai phao cấp cứu. Ông để tất cả vào bè và ra dấu cho hai đứa đi xuống bè.
     Xám mặt vì sợ, Lex vẫy tay lại: "Không."
     Ông vẫy tay lại: "Xuống."
     Con khủng long vẫn tiếp tục ngủ.
     Grant đưa tay ra dấu đi yên lặng. Lex bước nhẹ nhàng đến bến tàu, và ông khoát tay bảo cô bước vào bè; rồi Tim bước theo, và cả hai đứa mặc áo phao vào. Grant bước xuống và chống bè ra. Chiếc bè yên lặng rời khỏi bến. Grant cầm hai cái dầm gắn vào cọc chèo. Họ dần xa bến vào hồ vịnh.
     Lex ngồi và thở dài thật to, nhẹ nhõm. Rồi cô bé cảm thấy khiếp hãi, đặt tay vào miệng. Người cô rung lên vì những âm thanh bị nghẽn lại. Cô đang cố nén một cơn ho.
     Cô bé luôn luôn ho không đúng lúc.
     Tim kêu nhỏ giận dữ:
     - Lex. - cậu nhìn lui vào bờ.
     Cô em lắc đầu khổ sở chỉ vào họng mình. Cậu bé hiểu em muốn nói gì: cảm giác ngưa ngứa ở cổ. Những gì cô cần là một ly nước uống. Grant thì đang chèo, và Tim tựa người vào mạn bè, khum tay vục một vục nước vịnh, đưa về phía em.
     Lex bật ho, một tiếng ho thật lớn. Bên tai Tim, tiếng ho vọng trên mặt nước như tiếng súng nổ.
     Con tyrannorsaur uể oải ngáp, đưa chân sau gãi tai, y như một con chó. Nó có vẻ chuệnh choạng sau một buổi ăn no, và chậm chạp tỉnh dậy.
     Trên chiếc bè, Lex đang ngậm miệng ho khùng khục. Tim rất sốt ruột:
     - Lex, mày thôi đi chớ!
     - Em không nín được. - Lex thì thào, và lại ho. Grant chèo mạnh đưa chiếc bè đi nhanh vào giữa hồ vịnh.
     Trên bờ, con bạo chúa dẫm chân đứng dậy.
     - Em không nín được, anh Tim. - cô bé rít lên khổ sở - Em không nín được.
     - Suỵt!
     Grant ráng chèo hết sức mình.
     - Vả lại, chẳng hề gì nữa rồi. - cô bé nói tiếp - Chúng ta đã ra xa bờ, nó thì không biết lội.
     Tim nạt em:
     - Dĩ nhiên là nó lội được, mày ngu quá!
     Trên bờ, con khủng long bạo chúa bước tới bến phà và phóng mình xuống nước. Nó đi trong nước thật mạnh mẽ theo sau họ.
     - Thế à? - Lex bảo - Làm sao em biết được.
     - Mọi người đều biết khủng long bơi được! Điều đó nói trong mấy cuốn sách. Vả lại, tất cả loài bò sát đều bơi trong nước được.
     - Rắn không bơi được.
     - Rắn bơi được chứ. Mày đại ngu.
     Grant bảo hai đứa:
     - Cúi xuống. Bấu lấy thứ gì đó. - Ông đang quan sát con tyrannosaur, xem nó lội cách nào. Con khủng long đứng nước ngang ngực, nhưng nó có thể cất đầu lên khỏi mặt nước. Và Grant chú ý là nó không bơi, nó đang lội, vì mấy chốc sau đó chỉ còn chóp đầu, mắt và mũi, nằm ngang mặt nước. Lúc này trông nó giống như một con cá sấu. Và nó bắt đầu bơi như cá sấu, đuôi đập tới đập lui, nước sủi bọt sau nó. Tiếp theo chiếc đầu to, Grant có thể thấy khum lưng và dải kỳ dọc theo sống đuôi, khi thỉnh thoảng nó nhô lên khỏi mặt nước.
     Nó lội đúng y như một con cá sấu, Grant nghĩ, một con cá sấu to nhất trên quả đất. Lex rên rỉ:
     - Cháu bậy quá, tiến sĩ Grant. Cháu không muốn vậy.
     Grant ngoái nhìn lui. Hồ vịnh rộng hơn một trăm mét ở chỗ họ đang chèo và họ hầu như đã ra đến trung tâm hồ. Nếu ông chèo tiếp nữa thì nước cạn trở lại. Con tyrannosaur lại có thể lội trong nước và nó sẽ di chuyển nhanh hơn. Grant quành bè lại và bắt đầu chèo về hướng bắc.
     - Bác chèo đi đâu thế?
     Con tyrannosaur lúc này chỉ cách bè vài mét. Grant có thể nghe tiếng thở khìn khịt khi nó đến gần. Grant nhìn cặp dầm trong tay mình, nhưng chúng bằng nhựa, không thể dùng làm khí giới được.
     Con khủng long bạo chúa thụt đầu lui hàm mở rộng, nhe hai hàm răng nhọn cong và bằng một cú giật mạnh, phóng đầu tới chiếc bè. Nó táp hụt, cách mép bè trong gang tấc, chiếc sọ vĩ đại đập mạnh xuống nước. Chiếc bè lắc lư trên mấy đợt sóng rồi dạt ra xa.
     Con tyrannosaur chìm xuống dưới mặt nước, bọt bong bóng nổi lên.
     Mặt hồ yên lặng. Lex bấu chặt mép bè, nhìn lui:
     - Nó chết chìm rồi chắc?
     - Không đâu. - Grant lại thấy bong bóng, và rồi một dãy kỳ hiện mờ mờ dưới nước, lội về phía chiếc bè…
     - Bám chặt nghe! - Grant la lớn. Chiếc đầu từ dưới chiếc bè cất lên, nâng bổng chiếc bè lên không, quay họ như điên trước khi nó đập đầu xuống nước.
     Lex gào lên :
     - Làm cái gì đi bác ơi! Làm gì đi!
     Grant rút khẩu súng hơi ra khỏi thắt lưng. Khẩu súng trông bé tí quá tội nghiệp trong tay ông nhưng có thể có cơ may, nếu ông bắn trúng một điểm nhạy cảm nơi con vật, vào mắt hay mũi.
     Ông lắp mũi tên. Con tyrannosaur lắc lắc chiếc đầu, và lại rống lên.
     Và đột nhiên họ nghe một tiếng rống trả lời, vọng trên mặt nước đến tai họ.
     Nhìn lui, Grant thấy con T-rex non trên bờ, cúi mình trên xác con sauropod, nhấm nháp xác con vật chết như là của riêng nó. Con T-rex lớn cũng nhìn thấy cảnh tượng ấy, và nó phản ứng tức khắc - nó quay lui để bảo vệ con mồi của mình, lội nhanh về phía bờ. Lex tươi nét mặt:
     - Nó đi rồi. - cô bé vỗ tay - Na na na, na na na… nó đi rồi. Con vật ngu ngốc.
     Ở trên bờ, con T-rex non rống lên thách thức. Nổi hung, con T-rex trưởng thành tuôn trong nước vịnh hết tốc độ, nước chảy ròng ròng từ thân hình khổng lồ của nó khi nó bước lên bến phà chạy về phía đồi. Con thú non cứ cúi đầu và bỏ chạy, hàm vẫn còn ngậm đầy thịt tươi.
     Con thú lớn đuổi theo, chạy băng ngang xác con sauropod, biến mất bên kia đồi. Họ nghe tiếng rống đe dọa cuối cùng của nó, và rồi chiếc bè trôi về phía bắc, quẹo ở một khúc quanh của vịnh, tiến vào con sông.
     Mệt đừ vì chèo, Grant rũ người ngồi lui, ngực đau như dần. Ông tựa người thở dốc trong bè.
     - Bác không can gì chứ, tiến sĩ Grant? - Lex hỏi.
     - Từ đây trở đi, cháu có làm theo lời bác bảo không?
     - Dạ. - Cô bé thở dài, dường như ông đề nghị với cô một điều gì vô lý nhất trần đời. Nó đưa tay vọc nước một chốc.
     - Bác nghỉ chèo rồi.
     - Bác quá mệt.
     - Thế tại sao bị chúng ta vẫn đi thế này?
     Grant ngồi dậy. Cô bé nói đúng. Chiếc bè trôi đều đều về phía bắc.
     - Hẳn phải có dòng nước chảy.
     Dòng nước đang mang họ về phía bắc, về phía khách sạn đang xây dở. Ông nhìn đồng hồ và ngạc nhiên thấy mới bảy giờ mười lăm. Chỉ mới mười lăm phút trôi qua kể tử khi ông nhìn đồng hồ lần vừa rồi.
     Thế mà dường như đã hai tiếng đồng hồ trôi qua.
     Grant nằm tựa mình vào mạn bè, nhắm mắt, và ngủ.
0
PHẦN NĂM
TÌM KIẾM
     Gennaro ngồi trong xe Jeep, lắng nghe tiếng vo vo của bầy ruồi, nhìn chăm chăm vào mấy cành cọ dừa phe phẩy trong không khí nóng ở xa xa. Ông kinh ngạc khi nhìn thấy quang cảnh như một bãi chiến trường: cỏ bị dẫm bẹp nát cả trăm mét khắp tứ phía. Một cây cọ dừa lớn bị trốc gốc ngã nằm dài trên đất. Có những vết máu lớn trên cỏ và trên những tảng đá lớn cạnh bên phải họ. Ngồi một bên Gennaro, Muldoon nói:
     - Không còn nghi ngờ gì nữa. Con T-rex đã tung hoành giữa đám hadrosaur. - ông tợp một ngụm whiskey, đậy nắp chai rượu, rồi nhìn quanh - Ruồi đâu mà nhiều quá.
     Họ nhìn quanh, và chờ.
     Gennaro gõ mấy ngón tay lên bảng đồng hồ:
     - Chúng ta chờ gì đây?
     Muldoon không trả lời ngay.
     - Con T-rex đang quanh quẩn đâu đây, - ông nói - mà chúng ta thì không có một khí giới nào cho ra hồn.
     - Chúng ta ngồi trong xe Jeep.
     - Ồ, con rex có thể chạy bỏ xa chiếc Jeep, ông Gennaro à. Một khi chúng ta bỏ đường chính và chạy ở vùng đất trống, giỏi lắm chúng ta cũng chỉ đạt được năm, sáu mươi cây số với chiếc Four - Wheel drive này. Con rex sẽ đuổi kịp chúng ta ngay. Chẳng có gì khó khăn đối với nó. - Muldoon thở dài.
     - Nhưng chúng ta không bỏ đây đi được. Ông sẵn sàng chịu gặp nguy hiểm chứ?
     - Xong.
     Muldoon cho nổ máy. Tiếng động bất ngờ làm hai con othnielian nhảy vọt ra khỏi đám sậy xa xa ngay trước mặt. Muldoon gài số xe. Ông lái xe chạy một vòng rộng quanh vùng đất bị dẫm nát, rồi cho xe chạy thành những vòng tròn đồng tâm hẹp dần, cuối cùng đến chỗ hai con othnielian vừa mới vọt ra trong cánh đồng. Ông xuống xe, rẽ cỏ đi tới, cách xa chiếc Jeep. Ông dừng lại chỗ một đám ruồi bay dày đặc trên không. Gennaro hỏi:
     - Cái gì vậy?
     - Đem vô tuyến tới đây. - Muldoon bảo.
     Gennaro leo ra khỏi xe đi vội tới. Cho dù còn cách xa, ông đã ngửi thấy mùi chua của thứ gì đó sắp thối rữa. Ông thấy một hình dạng đen đen nằm trên cỏ, máu khô cứng, chân xiên lệch. Muldoon nhìn xác con vật.
     - Một con hadrosaur non. Cả bầy bị đuổi chạy tán loạn, con này bị xé khỏi bầy và con T-rex hạ nó.
     Thịt con vật bị xé tơi tả do nhiều vết cắn. Gennaro hỏi:
     - Làm sao ông biết?
     - Căn cứ vào các đống phân thú kia. Ông có thấy những đống phân nhỏ trắng như phấn ở kia, trên đám cỏ không? Đấy là phân con hadrosaur. Acid uric làm cho chúng trắng ra. Nhưng ông xem chỗ này, - ông chỉ vào một đống lớn hơn, cao lên tận đầu gối trong đám cỏ - đấy là phân con tyrannosaur.
     - Làm sao ông biết con tyrannosaur không đến sau đó, sau khi con hadrosaur đã chết rồi?
     - Nhờ ở các vết cắn. Có thấy những vết nhỏ này không? - ông  chỉ dọc theo bụng con thú chết - Những vết cắn này là của mấy con othys. Những dấu cắn không có máu chảy. Đấy là do cắn sau khi con thú đã chết. Mấy con othys cắn. Nhưng con hadrosaur bị hạ bằng một cú cắn ở cổ, ông thấy dấu rách lớn ở đấy, trên bả vai. Đấy là dấu cắn của con T-rex, chẳng nghi ngờ gì nữa.
     Gennaro cúi nhìn con thú, nhìn vào mấy chỗ bị day xé lệch lạc với cảm giác nghi ngờ. Muldoon bật vô tuyến:
     - Phòng điều khiển.
     Giọng Arnold đáp:
     - Tôi nghe?
     - Chúng tôi tìm thấy một con hadrosaur khác bị giết chết. Con non. - Muldoon cúi xuống giữa đám ruồi và kiểm tra lại da phía trên móng bàn chân phải của con thú. Một con số được đóng vào đấy. - Số chủng loại là HD/09.
     Máy vô tuyến kêu tít tít. Arnold:
     - Tôi có tin cho ông.
     - Ô? Gì vậy?
     - Tôi đã tìm ra Nedry.
     Chiếc xe Jeep rồ máy chạy xuyên qua những hàng cọ dừa dọc theo con đường phía đông và rẽ vào một con đường phục vụ hẹp hơn, dẫn đến con sông. Vùng này của công viên thật nóng, khu rừng bao kín quanh họ và hôi hám. Muldoon đang theo dõi màn hình giám sát trong xe Jeep, lúc này đang hiện lên bản đồ của khu nghỉ mát với những đường nằm ngang dọc.
     - Họ tìm thấy gã ta ở vidéo điều khiển từ xa. - Muldoon nói - Khu 1104 ở ngay trước.
     Ở phía xa trên con đường, họ thấy một rào chắn bê tông và chiếc Jeep đỗ bên cạnh. Arnold nói:
     - Chắc hẳn gã đã quẹo nhầm chỗ. Thằng chó chết.
     - Nó lấy gì?
     - Wu nói là mười lăm phôi. Ông biết giá trị chừng ấy không?
     Gennaro lắc đầu. Muldoon cho biết:
     - Vào khoảng giữa hai mươi và mười triệu đô la. - ông lắc đầu - Một cú lớn.
     Khi họ đến gần hơn, Gennaro thấy xác chết nằm ngay cạnh chiếc xe, nhưng không phân biệt rõ và có màu xanh lá - nhưng rồi những bóng màu xanh tản mát đi khi chiếc Jeep dừng lại. Arnold nói:
     - Lũ compys. Những con compys làm thịt gã.
     Khoảng mươi mười hai con procompsgonathus, những con thú ăn thịt sống không lớn hơn con ngỗng, đứng ở bìa rừng, kêu chút chít kích động khi hai người bước ra khỏi xe.
     Dennis Nedry nằm ngửa, khuôn mặt trẻ con hồng hào mập mạp bây giờ đỏ ngầu máu và sưng phồng. Ruồi bu quanh chiếc miệng mở và chiếc lưỡi dày. Thân hình gã bị xé nham nhở, ruột phanh lòi ra ngoài, một chân bị nhai nát. Gennaro quay vội đi chỗ khác, nhìn vào lũ compys lúc này đang quàng quạc đứng trên hai chân sau cách đấy một khoảng và tò mò nhìn hai người. Ông chú ý là con khủng long nhỏ có bàn tay năm ngón. Chúng đưa tay chùi miệng và mặt, làm chúng có bộ tịch kỳ quặc giống như người… Muldoon nói:
     - Tôi thật đoảng. Đây không phải do lũ compys.
     - Thế thì con gì?
     Muldoon đang lắc đầu:
     - Có thấy những vết bẩn kia không? Trên áo và trên mặt gã. Ngửi như mùi nôn mửa đã khô.
     Gennaro mở tròn mắt. Ông ngửi thấy mùi ấy.
     - Đấy là nước giải của mấy con dilophosaur. Do mấy con dilo khạc bắn ra. Ông thấy các dấu hủy hoại ở giác mạc, tất cả các dấu đỏ. Vào mắt, nó gây đau nhưng không gây hại. Ông có thời gian hai tiếng đồng hoặc rửa nó đi với thuốc chống nọc độc. Thuốc này chúng tôi có để khắp công viên để đề phòng những trường hợp này. Không phải thứ đó gây hại cho gã vô lại này. Mấy con thú làm gã mù mắt rồi xé bụng gã. Đấy không phải con đường tốt cho gã đi. Có thể trên cõi đời này có thứ công lý nào đấy chăng?
     Lũ compys kêu chút chít và nhảy nhót khi Muldoon mở cửa sau xe Jeep của Nedry và lấy ra hai ống kim loại màu xám và một hộp sắt không gỉ:
     - Tất cả còn nguyên đây.
     Ông trao hai ống hình trụ cho Gennaro. Ông này hỏi:
     - Thứ gì đây?
     - Hỏa tiễn. - khi Gennaro bước lùi xa, Muldoon dặn - Coi chừng, đừng có giẵm lên thứ gì đấy.
     Gennaro bước cẩn thận bên cạnh xác Nedry. Muldoon đem ống phóng qua chiếc Jeep của mình, dặt vào băng sau. ông leo vào sau tay lái:
     - Đi thôi.
     - Còn nó thì sao? - Gennaro chỉ tay vào Nedry.
     - Còn nó thì sao ư? Chúng ta có bao nhiêu chuyện phải làm. - Ông gài số xe. Nhìn lại, Gennarn thấy lũ compys lại trở lại đánh chén xác chết. Một con nhảy lên ngồi xổm trên ngực Nedry và bắt đầu nhâm nhi chiếc mũi của gã.
*
     Dòng sông hẹp lại. Hai bờ khép dần cho đến khi tàn lá cây trên bờ đan kín lại che khuất ánh mặt trời. Tim nghe tiếng kêu của chim và những con khủng long nhỏ kêu chíp chíp nhảy qua nhảy lại giữa các cành cây, Nhưng phần lớn khu rừng đều im lặng, không khí thì nóng và yên tĩnh dưới các màn cây. Grant nhìn đồng hồ. Tám giờ.
     Họ trôi nhẹ trên mặt nước yên tĩnh, giữa những đốm sáng lọt qua kẽ lá. Nếu có gì khác thì chỉ dường như họ trôi nhanh hơn trước. Grant lúc này đã tỉnh táo, ông nằm ngửa, nhìn các cành cây trên đầu. Trong mấy cành lá lòa xòa, ông thấy cô bé với tay lên.
     - Lex, cháu làm gì vậy?
     - Mấy quả này có ăn được không bác? - Cô bé chỉ vào đám cây.
     Một số cành cây vươn ra mặt nước, gần tầm tay với. Tim thấy các chùm dâu chín đỏ mọng đầy cành. Grant ngăn lại:
     - Không ăn được đâu.
     Cô bé chỉ vào những con khủng long nhỏ nhảy nhót trên cành.
     - Sao vậy? Lũ khủng long nhỏ đang ăn kìa.
     - Đừng ăn, Lex.
     Cô bé thở dài, tỏ vẻ bất bình:
     - Cháu ước gì có bố cháu ở đây. Bố cháu luôn biết phải làm gì.
     - Mày đang nói gì vậy? - Tim mắng em - Ông ấy chẳng bao giờ biết phải làm gì.
     - Bố biết chứ. - cô thở dài. Lex nhìn các thân cây khi họ lướt ngang, các chùm rễ thòng xuống gần mặt nước - Chỉ vì anh không thích bố…
     Tim quay đi chỗ khác, không nói gì.
     - Nhưng đừng lo, bố cũng thích anh. Cho dù anh ham máy điện toán mà không ham thể thao.
     - Bố cháu là một cây thể thao. - Tim giải thích với Grant.
     Grant gật đầu. Trên các cành cây cao, những con khủng long vàng, xám, cao chỉ chừng sáu tấc, nhảy từ cây này qua cây khác. Chúng có mỏ nhọn và quặp; như loài vẹt. Tim nói với em:
     - Mày biết những con đó kêu là con gì không? Con microceratop đấy.
     - Anh thì giỏi vụ này rồi.
     - Tao nghĩ là mày thích.
     - Chỉ con trai mới thích khủng long.
     - Ai nói thế?
     - Bố.
     Tim bắt đầu cãi lại, nhưng Grant đưa tay lên:
     - Hai đứa, im đi.
     - Sao vậy. Cháu có làm gì đâu nếu…
     Nhưng rồi con bé làm thinh vì nó cũng nghe thấy. Đấy là tiếng rít đầy chết chóc của con T-rex, từ đâu đó cuối dòng sông.
*
     - Kỳ thật, con T-rex chết tiệt ở đâu nhỉ? - Muldoon nói vào vô tuyến - Chúng tôi không thấy nó ở đây.
     Hai người đã trở lại bãi nuôi sauropod, tìm kiếm quanh đám cỏ bị lũ hadrosaur dẫm nát. Con tyrannosaur biến đâu mất tăm. Arnold nói, qua vô tuyến:
     - Tôi kiểm tra, tìm lại. - và ông bấm tắt máy.
     Muldoon quay sang Gennaro:
     - Tìm lại. - ông nhắc lại, chán nản - Tại sao ông ta không kiểm soát trước đó? Tại sao ông ta không theo dấu nó?
     Một lúc sau, giọng Arnold:
     - Nó không lộ dạng.
     - Anh nói sao, nó không lộ dạng?
     - Nó không hiện diện ở các màn hình giám sát. Các bộ cảm ứng chuyển động không phát hiện nó.
     - Đồ quỷ! Các bộ cảm ứng này chẳng ra gì cả. Anh thấy Grant và hai đứa nhỏ chưa?
     - Các bộ cảm ứng cũng không phát hiện ra họ.
     - Thế thì, chúng tôi làm gì bây giờ?
     - Cứ chờ đó. - và Arnold bấm máy.
*
     - Nhìn kìa! Nhìn kìa!
     Ngay phía trước, mái vòm của chuồng nuôi chim vươn cao. Trước đó, Grant chỉ thấy chuồng chim này từ xa; bây giờ, ông nhận thấy chuồng nuôi thật khổng lồ - đường kính có đến gần năm mươi mét hoặc hơn. Các khung chuồng chiếu sáng mờ mờ qua màn sương nhẹ, và ý nghĩ đầu tiên của ông là phần kính gắn vào dễ phải đến cả tấn. Rồi, khi họ đến gần, hóa ra chẳng có miếng kính nào - chỉ toàn những thanh chắn. Một lưới mắt cáo mỏng treo phía trong các khung. Lex nhận xét:
     - Chúng chưa làm xong.
     - Bác nghĩ là họ cố ý để ngỏ như thế. - Grant nói
     - Thế thì chim có thể bay ra hết.
     - Không đâu, nếu là chim lớn.
     Con sông mang họ đi dưới rìa chân mái chuồng. Họ nhìn lên. Lúc này họ đã vào trong chuồng, dưới mái vòm. Bè vẫn trôi trên con sông. Nhưng trong vòng mấy phút, họ khó thấy rõ được mái vòm ở quá cao trên đầu họ, nằm lẫn trong sương.
     - Bác nhớ dường như có một khu nhà nghỉ thứ hai ở đâu đây.
     Một lúc sau, Grant thấy mái của tòa nhà cao vượt qua các ngọn cây về phía bắc. Tim hỏi:
     - Bác muốn vào đấy à?
     - May ra có thể có điện thoại ở đấy. Hay các bộ phận cảm ứng chuyển động. - Grant chèo về phía bờ - Chúng ta cần phải tiếp xúc với phòng điều khiển. Càng lúc càng trễ rồi đấy.
     Họ leo ra khỏi bè, lảo đảo trượt trên bờ đất bùn. Grant kéo bè lên khỏi mặt nước. Họ cột bè vào một thân cây rồi cất bước qua khu rừng cọ dừa dày đặc.
0
NHÀ NUÔI THÚ BAY
     Arnold nói vào điện thoại:
     - Tôi không thể hiểu được. Tôi không thấy con rex, cũng không thấy Grant và hai đứa trẻ đâu cả.
     Ông ta ngồi trước bàn điều khiển vả nốc cạn một tách cà phê khác. Quanh ông, vứt bừa bãi những đĩa giấy và những mẩu bánh sandwich ăn dở. Arnold đã kiệt lực. Lúc này là 8.30 sáng thứ bảy. Trong suốt mười bốn tiếng đồng hồ kể từ khi Nedry làm rối hệ thống điều khiển, Arnold đã kiên trì đem hệ thống trở lại làm việc, bộ phận này sau bộ phận khác.
     - Tất cả các hệ thống của công viên đã hoạt động trở lại, và hoạt động chính xác. Điện thoại đã sử dụng được, và tôi đã cho mời một bác sĩ cho ông.
     Bên kia đường dây, Malcolm ho mấy tiếng. Arnold đang nói chuyện với ông.
     - Nhưng anh đang gặp rắc rối với mấy bộ cảm ứng?
     - Ờ, tôi không tìm thấy những gì tôi muốn tìm.
     - Như con rex?
     - Nó không xuất hiện trước các bộ cảm ứng nữa. Cách đây hai mươi phút nó đi về phía bắc, dọc theo rìa nước của hồ vịnh, và rồi tôi mất dấu nó. Tôi không biết tại sao, từ khi nó đi ngủ trở lại.
     - Và anh cũng không tìm thấy Grant và hai đứa trẻ?
     - Không.
     - Thật đơn giản. - Malcolm góp ý - Các bộ cảm ứng chuyển động không bao trùm đủ các vùng.
     - Không bao trùm đủ? - Arnold nổi giận. - Chúng bao trùm đủ chín mươi hai…
     - Chín mươi hai phần trăm vùng đất đảo, tôi nhớ. Nhưng nếu anh xem lại trên bản đồ, tôi cho rằng anh sẽ thấy là tám phần trăm số đất còn lại nối nhau theo đỉa hình, nghĩa là các vùng ấy kề nhau. Theo bản chất, một con thú có thể đi tự do bất cứ nơi nào trong công viên và thoát khỏi sự phát hiện, bằng cách đi theo các con đường bảo quản hay con sông rừng, hay bờ biển hay gì gì đó.
     - Cho dù thế, lũ thú ngu ngốc làm sao biết được điều đó.
     - Lũ thú ngu đến như thế nào thì chưa rõ ràng.
     - Ông nghĩ rằng Grant và hai đứa trẻ đang làm thế? - Arnold hỏi.
     - Rõ ràng là tôi không nghĩ thế. - Malcolm lại ho. - Grant đâu điên khùng gì. Ông ta muốn các anh phát hiện ra họ chứ. Ông ta và hai đứa trẻ có thể đang vẫy tay trước mỗi bộ cảm ứng họ bắt gặp. Nhưng có lẽ họ gặp những rắc rối chúng ta không đoán biết được. Hoặc có thể họ đang đi trên sông.
     - Tôi không thể tưởng tượng được là họ đang đi trên sông. Hai bờ quá hẹp, nhiều cây, không thể đi được.
     - Con sông có mang họ trở về đây không?
     - Vâng. Nhưng đấy không phải là con đường an toàn, vì nó đi ngang qua khu nuôi thú bay.
     - Tại sao không có khu này trong chuyến đi tham quan?
     - Chúng tôi đã gặp rắc rối khi thiết lập khu nuôi thú bay. Thoạt tiên, công viên có ý định xây một ngôi nhà nghỉ thật cao, bằng các ngọn cây, nơi các du khách có thể nhìn ngắm các con pterodactyl ở tầm bay của chúng. Hiện giờ, chúng tôi có bốn con dactyl trong khu chuồng; thật sự, chúng là những con cearadactyl, vốn là loại dactyl lớn săn mồi cá.
     - Chúng ra sao?
     - Vâng khi xây xong khu nhà nghỉ mát, chúng tôi cho mấy con dactyl vào ở trong khu chuồng để cho chúng thích nghi. Nhưng đấy là một nhầm lẫn lớn. Những con thú bay săn mồi cá của chúng tôi trở thành loài sống trên đất.
     - Loài sống trên đất.
     - Một loài thú sống trên đất rất hung dữ. Chúng đánh lẫn nhau để chiếm chỗ ở và chúng sẽ tấn công bất cứ con thú nào khác xâm lấn vào vùng chúng đã định ranh.
     - Tấn công?
     - Quang cảnh thật khó quên. Mấy con dactyl từ đỉnh chuồng, gấp cánh lại và lao xuống. Một con thú nặng năm mươi ký sẽ va vào một người trên mặt đất như hòn đá một tấn. Chúng đã làm nhiều công nhân bất tỉnh, họ bị thương khá nặng.
     - Những cú tấn công không làm mấy con thú bị thương?
     - Cho đến bây giờ thì chưa thấy.
     - Vậy nếu mấy đứa nhỏ ấy vào khu chuồng chim…
     - Họ không vào đâu. - Arnold nói - Tôi hy vọng là họ không vào.
*
     Lex chỉ tay:
     - Đấy có phảl là khu nhà nghỉ không? Cao ghê.
     Dưới mái vòm chuồng, khu nhà nghỉ Pteratop xây cao trên mặt đất, nằm trên những trụ gỗ lớn, giữa một đám cây linh sam. Nhưng tòa nhà chưa xong và không sơn, các cửa sổ chưa có cánh cửa. Các thân cây và khu nhà đều có những vệt bùn trắng lớn dính vào.
     Grant nói, giấu nỗi thất vọng:
     - Bác đoán họ chưa làm xong, vì một lý do nào đấy. - ông nhìn đồng hồ - Chúng ta hãy trở lại bè.
     Khi họ quay lại mặt trời ló dạng làm cho buổi sáng vui vẻ hơn. Ông chú ý là mặt đất và các tàn lá đều bị những vệt trắng lớn tung tóe, những vệt trắng như phấn ông đã thấy trên tỏa nhà nghỉ mát. Và có một mùi chua ngửi thấy rõ ràng trong không khí buổi sáng. Lex nhăn mũi:
     - Đây hôi quá. Cái thứ trăng trắng kia là gì vậy bác?
     - Trông giống như phân loài bò sát. Có lẽ của mấy con chim.
     - Tại sao họ không làm cho xong tòa nhà nghỉ này nhỉ?
     - Bác chịu.
     Họ đi vào một vùng cỏ thấp, điểm hoa dại. Họ nghe một tiếng huýt sáo trầm, dài. Và một tiếng huýt đáp lại, ngang qua khu rừng.
     - Gì thế nhỉ?
     - Bác chịu.
     Rồi Grant thấy một bóng mây đen trên cánh đồng cỏ trước mặt. Cái bóng chạy trên cỏ thật nhanh. Trong chốc lát, nó quét qua đầu họ. Ông nhìn lên vả thấy một bóng đen khổng lồ lướt trên đầu, che kín ánh nắng. Lex la lớn:
     - Eo ôi? Phải nó là con pterodactyl không?
     - Đúng đấy. - Tim trả lời em.
     Grant không nói gì. Ông bị thu hút bởi cảnh tượng của một sinh vật bay khổng lồ. Trên bầu trời cao, con pterodactyl huýt lên một tiếng trầm và lượn thật dịu dàng, quay trở lại phía họ. Tim nói:
     - Sao họ không cho chúng ta xem trong chuyến tham quan nhỉ?
     Grant cũng đang tự hỏi như vậy. Những con khủng long này quá đẹp, quá duyên dáng khi chúng di chuyển trên không trung. Khi Grant nhìn, ông thấy một con thứ hai xuất hiện trên bầu trời, rồi con thứ ba, và con thứ tư.
     - Có thể vì họ chưa làm xong khu nhà nghỉ này. - Lex góp ý.
     Grant đang suy nghĩ, cho rằng mấy con này không phải là những con pterodactyl thường, chúng quá lớn. Chúng phải là những con cearadactyl, loài bò sát bay từ thời đầu kỷ Cretacedus. Khi ở trên cao, chúng trông giống như những chiếc máy bay nhỏ. Khi chúng xuống thấp hơn, ông có thể thấy chúng có đôi cánh sải rộng bốn mét rưỡi, thân hình da thú và đầu như cá sấu. Chúng ăn cá ông, nhớ lại. Nam Mỹ và Mexico.
     Lex đưa tay che mắt và nhìn lên trời:
     - Chúng có cắn ta không?
     - Bác nghĩ là không. Chúng ăn cá.
     Một con bay vòng và lượn xuống, một bóng đen bay vụt qua họ với một làn khí nóng và mùi chua phảng phất. Lex lại la lên:
     - Eo ơi, chúng to quá. - và nó lại hỏi - Bác có chắc là chúng không cắn không?
     - Khá chắc.
     Một con dactyl thứ hai sà xuống, nhanh hơn con vừa rồi. Nó từ phía sau, xẹt một đường thẳng qua đầu họ. Grant thoáng thấy chiếc mõm đầy răng và thân hình da thú. Trông giống như một con dơi khổng lồ, ông nghĩ. Nhưng Grant thấy say mê với dáng dấp mỏng manh của mấy con thú. Đôi cánh khổng lồ - hai lớp cánh hồng mềm mại vươn dài ngang qua họ - mỏng đến như trong suốt - mọi thứ đều làm tăng thêm vẻ thanh tú của con thú bay.
     Lex bỗng la lên, tay chụp lấy tóc:
     - Eo ơi, nó cắn cháu.
     - Nó làm gì? - Grant hỏi.
     - Nó cắn cháu! Nó cắn cháu! - Khi cô bé đưa tay ra, ông thấy máu dính nơi tay.
     Trên cao, hai con dactyl khác nữa gấp cánh lại thành những bóng đen nhỏ lao xuống đất như những mũi tên. Chúng phát ra âm thanh như tiếng thét khi chúng nhào xuống.
     - Nào, nhanh lên - Grant chụp lấy tay hai đứa.
     Họ chạy băng qua cánh đồng có, nghe tiếng thét đến gần họ, và ông nhào người xuống mặt đất, kéo theo hai đứa nhỏ, khi hai con dactyl huýt lên và kêu chíp chíp xẹt ngang trên họ, đôi cánh đập đập. Grant cảm thấy móng chúng xé rách lưng áo.
     Rồi ông đứng dậy, kéo Lex đứng lên và chạy cùng Tim trong khi hai con dactyl lượn vòng trên đầu họ và phóng xuống, rồi lên. Vào phút cuối, ông đẩy hai đứa bé ngã lăn ra đất, hai bóng đen lướt nhanh qua.
     - Ui chao, gớm quá. - Lex la lên. Ông thấy cô bé bị mấy vệt phân trắng từ mấy con chim bắn vào người.
     Grant lảo đảo đứng dậy:
     - Chạy đi hai đứa.
     Ông sắp sửa chạy thì nghe tiếng Lex thét lên sợ hãi. Ông quay lại và thấy một trong hai con dactyl đang bấu vào vai cô bé bằng hai chi sau. Đôi cánh to rộng của con thú trong mờ dưới ánh nắng đập lên đập xuống hai bên vai cô bé. Con dactyl đang cố nhấc cô bé lên, nhưng Lex quá nặng, và trong khi ráng mang cô bế lên, con thú dùng móng dài nhọn của nó cào vào đầu cô bé.
     Lex khóc thét, vẫy tay điên dại. Grant đã làm một điều ông nghĩ ông có thể làm được. Ông chạy tới và nhảy lên, ném người vào con thú bay. õng hất được nó ngã ngửa, và ông té chồm lên thân hình da thú của nó. Con thú rít lên và mổ. Grant cúi đầu tránh xa đôi hàm và đẩy nó lui, trong khi đôi cánh vĩ đại đập quanh người ông. Như một chiếc lều vải trong cơn bão. Ông không thấy gì, ông không nghe gì; chẳng có gì ngoài tiếng đập cánh, tiếng rít và lớp cánh da mỏng. Đôi chân có móng nhọn cào điên cuồng vào ngực ông. Lex thì cứ thét lên. Grant đẩy người khỏi con dactyl. Con thú kêu chíp chíp và đập mạnh cánh cố trở mình để bay lên. Cuối cùng, nó thu cánh lại giống như một con dơi và lăn tròn, rồi đứng dậy trên đôi cánh ấy. Grant dứng lại, ngạc nhiên.
     Con thú có thể đi bằng đôi cánh. Suy nghĩ của Lederer thế mà đúng. Nhưng rồi những con dactyl khác đang phóng xuống. Grant thấy quay cuồng, mất thăng bằng và trong nỗi kinh hoàng, ông thấy Lex bỏ chạy, hai tay ôm lấy đầu… Tim thì la khản cổ.
     Con thứ nhất sà xuống và cô bé ném một thứ gì đó và đột nhiên con dactyl huýt lên rồi bay lên. Mấy con kia lập tức bay đuổi theo con thứ nhất. Con thứ tư đập cánh cất mình lên không nhập bọn với mấy con trước. Grant nheo mắt nhìn theo xem việc gì đã xảy ra. Cả ba con dactyl đuổi theo con thứ nhất, rít lên giận dữ. Còn lại ba người trên cánh đồng. Grant hỏi:
     - Cháu làm sao mà nó bỏ đi thế?
     - Nó giật găng tay của cháu.
     Họ bắt đầu đi trở lại. Tim đặt tay quanh vai em.
     - Em không việc gì chứ?
     - Dĩ nhiên. Ông ngốc ạ. - Cô bé trả lời, rụt người khỏi tay anh. Cô nhìn theo mấy con thú - Em mong cho nó bị nghẹn và chết.
     - Ừ, anh cũng mong thế.
     Họ thấy chiếc bè cao su trước mặt, nằm trên bờ sông. Grant nhìn đồng hồ: tám giờ rưỡi. Bây giờ, ông còn hai tiếng nữa để trở về.
     Lex thấy vui vẻ khi ba người trôi qua khỏi mái vòm của khu nuôi thú bay. Rồi hai bờ sông hẹp lại, cây trên đầu họ lại đan nhau. Khúc sông ở đây hẹp hơn cả, một vài chỗ chỉ rộng vài ba mét và nước chảy xiết. Lex với tay chạm vào các cành cây khi họ trôi qua.
     Grant ngồi tựa người lắng nghe tiếng nước róc rách qua mạn bè cao su. Lúc này họ đang trôi mau. Các cành cây trên đầu họ lướt nhanh qua. Thật dễ chịu. Gió nhẹ đưa lá cây dao động, thế này có nghĩa là họ sẽ về đến nơi sớm hơn.
     Grant không thể đoán là họ đã đi được bao xa, nhưng ít nhất cũng đã cách tòa lán ở khu nuôi sauropod, nơi họ đã nghỉ qua đêm, nhiều dặm rồi. Có lẽ bốn hay năm dặm. Có thể còn hơn. Như thế có nghĩa là họ chỉ mất khoảng một tiếng đi bộ, kể từ chỗ khách sạn, để về đến nơi nếu họ bỏ bè. Nhưng sau khi lên khu chuồng nuôi thú bay, Grant thấy không vội gì mà rời con sông một lần nữa. Họ đang được lúc khỏe người.
     - Cháu không biết con Ralph bây giờ ra sao. - Lex nói - Có thể nó chết hay bị gì đó.
     - Bác chắc là nó không can gì.
     - Cháu không biết nó có cho cháu cưỡi không. - Cô bé thở dài, mắt riu ríu ngủ trong nắng. - Thật thú vị, khi cưỡi cn Ralph.
     Tim nói với Grant:
     - Bác có nhớ con stegosarus? Đêm hôm qua?
     - Nhớ.
     - Bác hỏi họ về DNA của loài ếch nhái là sao?
     - Về chuyện sinh sản. Họ không thể giải thích tại sao lũ khủng long lại đang sinh sản, vì họ đã triệt sản bằng bức xạ và vì tất cả các khủng long đều là con cái.
     - Đúng thế.
     - Việc triệt sản bằng bức xạ được biết là khó tin cậy và có thể không có tác dụng. Bác nghĩ cuối cùng việc đó sẽ được thấy rõ. Nhưng còn một vấn đề là việc các khủng long toàn là cái. Làm sao chúng sinh sản được?
     - Đúng thế.
     - Ấy, nhưng trong vương quốc loài thú, sự nảy nở về tình dục tồn tại trong nhiều tình trạng bất thường.
     Lex nói xen:
     - Anh Tim rất quan tâm đến tính dục đấy.
     Cả hai không chú ý đến Lex. Grant giải thích tiếp:
     - Ví dụ nhiều loài thú sinh sản hữu tính mà không hề có điều mà chúng ta vẫn gọi là trao đổi tính dục. Con đực giải phóng một số tinh dịch, có chứa tinh trùng, và con cái thu lấy. Loại trao nhận này không hề đòi hỏi nhiều sự tiếp xúc giữa con đực và con cái như chúng ta thường nghĩ. Con đực và con cái giống nhau trong một số loài thú, khác với loài người.
     Tim gật đầu:
     - Nhưng ếch nhái thì sao?
     Grant nghe một tiếng rít bất chợt từ mấy cành cây trên đầu họ, trong khi mấy con microceratopsian nhảy tán loạn báo động, làm rung chuyển các cành lá. Chiếc đầu không lồ của con khủng long bạo chúa từ bên trái thò ra khỏi đám tán lá, đôi hàm táp vào chiếc bè. Lex rú lên kinh hãi và Grant chèo bè về phía bờ đối diện, nhưng khúc sông ở đây chỉ rộng có ba mét. Con tyrannosaur bị mắc lại sau các thân cây lớn mọc dày đặc, nó ngọ nguậy đầu và rống lên, và rồi thụt đầu lui. Qua đám cây mọc thành dãy ở trên bờ, họ thấy bóng đen của con tyrannosaur di chuyển về hướng bắc, tìm một khoảng hở giữa hàng cây dọc theo bờ. Các con microceratopsian đều đã chuyền qua hết bên bờ đối diện, rít lên và dậm chân nhảy nhót. Trên bè, Grant, Tim và Lex cảm thấy tuyệt vọng khi con khủng long cố tìm cách chen chân ra khỏi cây lần nữa. Nhưng cây mọc quá dày dọc theo bờ sông, con tyrannosaur lại di chuyển về cuối dòng sông, đi trước bè, và cố chen ra lần nữa, lay các cành cây một cách giận dữ. Nhưng nó vẫn không chen ra được. Rồi nó bỏ đi, về phía cuối dòng. Lex nói:
     - Em ghét nó quá.
     Grant tựa lui người vào mạn bè, lo ngại. Nếu con tyrannosaur chen ra được, ông không thể làm gì để cứu cả ba bác cháu. Con sông quá hẹp, không rộng hơn chiếc bè bao nhiêu. Giống như họ đang đi trong một đường hầm. Hai mạn bè thường xuyên cọ vào bùn hai bên bờ khi dòng nước chảy xiết kéo nó đi. Ông nhìn đồng hồ. Gần chín giờ. Chiếc bè vẫn tiếp tục trôi xuôi dòng. Lex bỗng thốt lên:
     - Này, hãy nghe xem.
     Ông nghe tiếng gầm gừ rải rác chen vào những tiếng như cú kêu đều đều. Tiếng kêu phát ra từ bên kia một khúc cong, xa xa về phía cuối sông. Ông lắng tai và nghe tiếng cú kêu một lần nữa. Lex hỏi:
     - Gì thế bác?
     - Bác chịu. Nhưng có nhiều chứ không phải một con. - Grant chống bè vào bên bờ đối diện, níu lấy một cành cây cho bè dừng lại. Tiếng gầm gừ tiếp tục. Và có thêm tiếng cú rúc.
     - Nghe như tiếng một bầy cú. - Tim nhận xét.
*
     Malcolm rên rỉ:
     - Đã đến lúc tiêm morphine được chưa?
     - Chưa đâu - Ellie trả lời ông.
     Malcolm thở dài:
     - Chúng ta có nhiều nước ở đây không?
     - Tôi không biết. Nước chảy rất nhiều ở các vòi .
     - Không, tôi muốn nói là nước chứa được ấy? Có chút nào không?
     Ellie nhún vai:
     - Không.
     - Vậy hãy vào các phòng của tầng nhà này, và xả nước vào đầy các bể tắm đi.
     Ellie cau mày. Malcolm nói tiếp:
     - Và nữa, có máy bộ đàm nào không? Đèn pin? Lò củi hay dầu? Các thứ đại loại như thế?
     - Tôi sẽ tìm quanh xem. Ông đang chuẩn bị cho một trận động đất?
     - Tương tự thế. Hiệu ứng Malcolm hàm ý có những biến đổi tàn khốc.
     - Nhưng Arnold bảo tất cả các hệ thống đều đã hoạt động hoàn hảo.
     - Đây là lúc nó xảy ra đấy. - Malcolm nói.
     - Ông không tin nhiều vào Arnold, phải không?
     - Ông ta tốt thôi. Ông ta là một kỹ sư. Wu cũng thế. Cả hai là những kỹ thuật viên. Họ không có sự thông minh. Họ có cái mà tôi gọi là sự "thông minh mỏng". Họ chỉ thấy tình huống tức thời. Họ suy nghĩ nông cạn và họ gọi đấy là "sự tập trung". Họ không nhìn thấy xung quanh. Họ không thấy hậu quả. Vì thế mà họ đã tạo nên một hòn đảo như thế này. Vì người ta không thể tạo nên một con thú mà lại không chuẩn bị đón nhận việc nó hoạt động để sống còn.
     - Ông không cho rằng đấy là bản tính của riêng loài người?
     - Không, tôi sẽ nói cô hay về các kỹ sư và các khoa học gia. Các nhà khoa học có một con đường thật tỉ mỉ của một gã điên trong cái cách họ làm thế nào để tìm hiểu được sự thật của thiên nhiên. Điều đó đúng, nhưng không phải là điều thúc đẩy họ. Không một ai bị thúc đẩy bởi nhưng điều trừu tượng như "tìm kiếm sự thật".
     Các nhà khoa học thật sự đã có định kiến trước với những thành tựu. Vì thế họ tập trung vào việc xem thử họ có thể làm được điều gì. Họ không bao giờ dừng lại để hỏi xem họ nên làm điều gì. Nếu họ không làm thì ai đó khác sẽ làm. Sự khám phá, họ tin vậy, là điều không thể tránh khỏi. Vì thế họ chỉ cố làm điều đó trước tiên. Đấy là một canh bạc trong khoa học. Ngay cả những khám phá thuần túy khoa học cũng là một hành động có tính liều lĩnh và không cân nhắc. Phải dùng những thiết bị to lớn, và đúng nghĩa là nó sẽ thay đổi thế giới sau đó. Những hạt gia tốc đã ghi lại những dấu vết trên đất đai và để lại những sản phẩm phụ kích hoạt phóng xạ. Các phi hành gia đã để lại nhiều thứ trên mặt trăng. Luôn luôn có những bằng chứng cho thấy các nhà khoa học hiện diện đó đây, thực hiện những khám phá của họ. Sự khám phá luôn là một sự cưỡng bức thiên nhiên.
     Các nhà khoa học muốn như thế. Họ phải gắn những dụng cụ của họ vào. Họ muốn để lại dấu vết. Họ không thể chỉ cứ quan sát, họ không thể chỉ đánh giá. Họ không thể chỉ cứ thích hợp với trật tự của thiên nhiên. Họ phải làm một điều gì không tự nhiên xẩy ra. Đấy là công việc của các nhà khoa học. Và ngày nay xã hội đều đang cố đạt được tính khoa học. - ông thở dài và nằm yên.
     - Ông không nghĩ rằng ông đang nói đùa đấy chứ? - Ellie nói.
     - Một trong những vụ khai quật của cô ra thế nào sau một năm.
     - Khá tồi tệ. - Ellie thú nhận.
     - Cô không trồng cây lại, cô không hồi phục lại đất sau khi đào xới.
     - Không.
     - Tại sao cô không làm?
     Ellie rùn vai:
     - Không tiền, tôi đoán thế…
     - Chỉ đủ tiền đào, không đủ tiền lấp?
     - Ờ vâng, mà chúng tôi chỉ khai quật ở những vùng đất xấu.
     - Chỉ những vùng đất xấu. - Malcolm lắc đầu - Chỉ toàn là vật rác rưởi. Chỉ là thứ sản phẩm phụ. Chỉ là hiệu ứng phụ… Tôi đang cố nói với cô là các nhà khoa học muốn chúng như thế. Họ muốn những sản phẩm loại bỏ, rác rưởi, những vết đào xới và những hiệu quả phụ. Đấy là một cách bảo đảm bản thân họ. Nó được tạo thành nền móng xây dựng khoa học và dần dần nó là tai ương.
     - Vậy câu trả lại là sao?
     - Hãy loại bỏ sự "thông minh mỏng". Để chúng ra ngoài năng lực.
     - Nhưng rồi chúng ta sẽ mất hết mọi tiến bộ.
     - Mọi tiến bộ. - Malcolm nói, khố chịu - Số giờ một người đàn bà dành để làm công việc nội trợ chẳng hề thay đổi kể từ năm 1930, bất chấp đến bao nhiêu tiến bộ. Tất cả những máy hút bụi, máy giặt, sấy, máy ép rác, máy phân hủy rác, vải sợi không cần là… Tại sao ta cũng mất nhiều thì giờ để làm việc nhà như ở những năm 30?
     Ellie không nói gì. Malcolm tiếp:
     - Vì đã chẳng có tiến bộ gì cả. Thật sự là không có gì. Ba mươi ngàn năm trước, khi con người sơn vẽ những hang động ở Lascaux, họ làm việc hai mươi giờ một tuần để lo đủ thức ăn thức mặc và chỗ ở. Thời giờ còn lại họ có thể chơi đùa, ngủ ngáy hay làm bất cứ gì họ muốn. Và họ sống trong một thế giới tự nhiên, với không khí trong lành, nước trong sạch, cây cối xanh tươi và những buổi hoàng hôn đẹp đẽ. Cứ nghĩ mà xem. Hai mươi tiếng một tuần, ba mươi ngàn năm trước.
     - Ông muốn quay ngược thời gian?
     - Không. Tôi muốn đánh thức mọi người dậy. Chúng ta đã có bốn trăm năm khoa học hiện đại, và vào lúc này, chúng ta nên biết điều gì tốt để làm và điều gì không tốt để tránh. Đây là lúc thay đổi.
     - Trước khi chúng ta hủy diệt hành tinh.
     Malcolm thở dài, nhắm mắt lại:
     - Ôi. Đấy là điều cuối cùng tôi vẫn thường lo lắng.
*
     Trong đường hầm tối tăm của con sông, Grant dùng tay này đến tay kia níu các cành cây, cho chiếc bè tiến tới trước một cách thận trọng. Ông vẫn còn nghe các tiếng gầm gừ xen lẫn tiếng cú rúc. Và cuối cùng ông thấy một con khủng long.
     - Có phải mấy con đó có chất độc không?
     - Đúng đấy. - Grant nói - Đấy là con dilophosaur.
     Đứng trên bờ sông là hai con dilophosaur. Thân hình cao ba mét của chúng điểm chấm vàng và đen. Dưới bụng màu lục sáng, như kỳ nhông. Chiếc mào đôi từ đỉnh đầu chạy từ hai mắt đến sống mũi, tạo thành hình chữ V trên đầu. Tính chất giống chim của chúng được những cử động của chúng làm cho giống thêm, khi chúng cúi xuống uống nước sông và rồi ngẩng lên để gừ gừ và rúc lên những tiếng như cú kêu. Lex thì thầm:
     - Chúng ta có nên lên bờ đi bộ?
     Grant lắc đầu trả lời "không". Mấy con dilophosaur nhỏ hơn con tyrannosaur, đủ chen lọt qua đám tán lá cây dày đặc hai bên bờ, và chúng trông nhanh nhẹn, khi chúng gừ gừ và rúc lên với nhau.
     - Nhưng chúng ta không thể đi ngang qua nó trong chiếc bè. - Lex lại thì thầm - Chúng phóng chất độc.
     - Chúng ta phải đi qua thôi, bằng cách này hay cách khác.
     Hai con dilo tiếp tục uống nước và rúc. Chúng dường như hoạt động xen kẽ với nhau theo một nghi thức lặp đi lặp lại một cách kỳ lạ. Con thú bên trái cúi xuống uống nước, miệng mở rộng hoác bày ra hai hàm răng nhọn hoắt và rồi rúc lên. Con thú bên phải rúc lên trả lời và cúi đầu xuống uống nước, trong những hình ảnh cử động của con thứ nhất phản chiếu xuống nước. Và cứ thế lặp đi lặp lại, đúng y cùng một cách.
     Grant chú ý thấy con thú bên phải nhỏ hơn, với những chấm nhỏ hơn ở trên lưng, và mào của nó màu đỏ nhạt hơn. Ông nói:
     - Bác dốt thật. Đấy là nghi thức giao phối giữa con đực và con cái.
     Tim hỏi:
     - Chúng ta đi qua được không?
     - Thế thì không qua được. Chúng đang ở ngay bên rìa nước.
     Grant biết là thú vật thường "cử hành" nghi thức vợ chồng này mỗi lần có khi đến hàng giờ. Chúng tiến hành không cần ăn uống, không chú ý đến bất cứ gì khác… Ông liếc nhìn đồng hồ: Chín giờ hai mươi. Tim hỏi:
     - Chúng ta làm gì bây giở?
     Grant thở dài:
     - Bác cũng không biết tính sao.
     Ông ngồi trong bè, hai con dilophosaur bắt đầu hú lên và rống lên lặp đi lặp lại, trong sự kích thích. Ông nhìn lên. Cả hai con đều xây mặt không nhìn ra sông nữa. Lex hỏi:
     - Gì vậy bác?
     Grant mỉm cười:
     - Bác thấy là cuối cùng chúng ta cũng có được cơ may. - ông đẩy bè ra khỏi bờ - Bác muốn hai đứa bây nằm thật sát xuống lòng bè. Chúng ta sẽ di qua càng nhanh càng tốt. Nhưng cố nhớ: cho dù có gì xảy ra, đừng nói tiếng nào, đừng cử động. Nghe chứ?
     Chiếc bè bắt đầu trôi về cuối dòng, về phía hai con dilophosaur đang rúc lên với nhau. Bè lấy được tốc độ cũ, đi nhanh. Lex, nằm sát chân Grant, nhìn ông với đôi mắt sợ hãi. Họ đến gần hai con dilophosaur, vẫn đang xây mặt khỏi dòng nước, hơn. Nhưng ông lôi súng hơi ra, ép nòng hơi.
     Chiếc bè tiếp tục trôi, và họ ngửi thấy mùi kỳ dị, vừa thơm vừa gây buồn nôn. Tiếng rúc của hai con dilophosaur nghe to hơn. Chiếc bè đi quanh khúc cong cuối cùng của con sông và Grant nín thở. Hai con dilophosaur chỉ cách họ có vài bước, nhắm những cây bên trong bờ sông và rú lên.
     Và như Grant đã nghi ngờ, chúng đang rúc về phía con tyrannosaur. Con tyrannosaur đang cố chen qua đám lá, hai con dilo rúc lên và dẫm mạnh chân trong bùn. Chiếc bè trôi ngang qua chúng. Mùi hôi muốn nôn ọe. Con khủng long bạo chúa gầm lên, có lẽ vì nó thấy chiếc bè.
     Một tiếng "sạt". Chiếc bè dừng lại. Họ mắc cạn, gần bên bờ sông, chỉ cách mấy con dilophosaur mấy bước về phía cuối dòng. Lex thì thào la lên:
     - Ôi Chúa ơi!
     Có tiếng sền sệt của bè bị đẩy đi trên bùn. Rồi chiếc bè lại trôi trở lại Họ đang trôi về cuối dòng. Con khủng long bạo chúa rống lên lần cuối rồi bỏ đi. Một con dilophosaur trông có vẻ ngạc nhiên, rúc lên. Con dilophosaur kia rúc đáp lại.
     Chiếc bè trôi xuôi dòng.
0
KHỦNG LONG BẠO CHÚA
     Chiếc Jeep nẩy xóc lên khi chạy dưới ánh nắng chói chang. Muldoon lái, Gennaro ngồi bên cạnh. Họ đang ở trong cánh đồng trống, đang đi xa dần các đám tàn lá và các cây cọ dừa đánh dấu ranh giới dòng sông, cách một trăm mét về phía đông. Họ đến một chỗ dốc cao và Muldoon thắng xe.
     - Chúa ơi, nóng quá. - Muldoon đưa lưng bàn tay chùi mồ hôi trán. Ông tu mấy ngụm whiskey ở chai rượu kẹp giữa hai chân rồi trao chai cho Gennaro.
     Gennaro lắc đầu. Ông nhìn ra phong cảnh lung linh sau làn hơi nóng buổi sáng. Rồi ông nhìn các bộ phận computer và màn hình giám sát ở bảng đồng hồ xe. Màn hình cho thấy quang cảnh của công viên qua các máy thu hình từ xa. Vẫn không có dấu hiệu gì của Grant và hai đứa nhỏ, hay của con khủng long bạo chúa. Máy vô tuyến kêu xè xè:
     - Muldoon?
     Muldoon cầm lấy ống nghe:
     - Tôi đây.
     - Ông đang mở màn hình đấy chứ? Tôi đã tìm thấy con rex. Nó ở ô 442. Đang đi qua ô 443.
     - Chờ một chút. - Muldoon điều chỉnh màn hình - Vâng, tôi nhìn thấy nó rồi. Đang đi dọc con sông. Nó lần trong đám lá dọc theo hai bờ sông, di chuyển về phía bắc.
     - Nhẹ tay với nó. Chỉ làm nó bất động thôi.
     - Đừng có lo. - Muldoon nheo mắt trong nắng - Tôi sẽ không làm nó bị thương đâu.
     - Ông nhớ đấy, - Arnold nói - mấy con tyrannosaur là điểm thu hút du khách chính của chúng ta.
     Muldoon tắt vô tuyến với một tiếng rẹt tĩnh điện:
     - Mấy thằng cha điên. Mấy cha vẫn cứ nói chuyện du khách. - Muldoon nổ máy - Chúng ta hãy đi gặp ả rexy và cho ả một liều.
     Chiếc Jeep nhảy xóc trên mặt đất.
     Họ dừng lại bằng một cú quẹo xe. Qua kính chắn gió trước, Gennaro thấy con tyrannosaur ngay trước mặt họ, di chuyển giữa đám cọ dừa dọc theo bờ sông.
     Muldoon nốc cạn chai whiskey và liệng chai ra băng sau. Ông với tay lấy ống phóng. Gennaro nhìn màn hình giám sát. Hẳn phải có một camera gắn đâu gần đây, sau đám cây.
     - Ông muốn phụ một tay mà - Muldoon bảo - ông có thể mở mấy chiếc hộp nhỏ cạnh chân ông.
     Gennaro nghiêng người và mở một nắp hộp bằng sắt không gỉ. Bên trong là bọt biển. Bốn ống hình trụ, mỗi ống to cỡ bằng một phần tư chai sữa, đặt giữa miếng bọt biển, dán nhãn Moro - 709. Ông lấy ra một ống.
     - Ông hãy gỡ một đầu ống ra và tra một cây kim vào. - Muldoon hướng dẫn.
     Gennaro lấy một hộp nhựa chứa những kim tiêm lớn, mỗi cây đường kính to bằng đầu ngón tay. Ông tra một cây kim vào ống thuốc hình trụ. Đầu kim của ông có một cục chì tròn nặng.
     - Đấy là ống kim. Bơm thuốc bằng sức ép do va chạm. - Muldoon ngồi chồm tới trước, khẩu súng hơi để ngang đầu gối. Khẩu súng làm bằng kim loại xám nòng to, và Gennaro trông nó giống như một khẩu ba-zô-ka hay một khẩu phóng lựu.
     - Moro - 709 là gì?
     - Thuốc mê dành cho thú. - Muldoon giải thích - Các sở thú khắp thế gới đều dùng. Chúng ta sẽ thử bắt đầu bằng một ngàn cc xem. - Muldoon gập súng mở hé buồng đạn rộng đủ đưa nắm tay vào. Ông tra ống thuốc vào và đóng lại.
     - Chừng đó mới đủ công hiệu. - Muldoon giải thích - Một con voi trung bình hai đến ba tấn cần khoảng hai trăm cc. Con tyrannosaurus rex nặng tám tấn, và cũng chỉ ở mức trung bình.
     - Tại sao?
     - Liều lượng cho thú vật một phần do trọng lượng cơ thể, một phần do tính khí. Ông bắn cùng một liều lượng vào một con voi, một con hà mã, một con tê giác. Ông sẽ làm bất động con voi, nó chỉ việc đứng đấy như một bức tượng. Ông sẽ làm cho con hà mã cử động chậm chạp lại, giống như buồn ngủ nhưng còn cử động. Nhưng với con tê giác thì chỉ sẽ làm cho nó nổi điên. Nhưng mặt khác nếu ông đuổi con tê giác trong hơn năm phút bằng xe thì nó sẽ ngã xuống chết vì sốc adrenaline. Một sự kết hợp kỳ lạ giữa sự hung hăng và sự dễ chịu.
     Muldoon lái chầm chậm về phía con sông, tiến gần tới con khủng long bạo chúa, và nói tiếp:
     - Nhưng đấy là những động vật có vú. Chúng ta đã biết nhiều về cách chăm sóc loài thú có vú, vì các sở thú đều được xây dựng nên do sự thu hút của các loài thú có vú - sư tử, cọp, gấu, voi. Chúng ta biết ít hơn về loài bò sát - và không một ai biết gì về loài khủng long. Khủng long là loài thú mới.
     - Ông xem chúng là loài bò sát mà?
     - Không, - Muldoon đổi số - khủng long không thích hợp với sự xếp loài hay lớp nào cả. - ông quẹo xe tránh một hòn đá - Thật sự, theo những gì chúng tôi tìm thấy, các khủng long có rất nhiều loài như động vật có vú ngày nay. Một vài khủng long dễ thuần hóa và khôn ngoan. Một số khó tính và hung dữ. Một số có thị giác tốt, một số không nhìn thấy. Một vài loài rất ngu ngốc nhưng một số khác hết sức thông minh.
     - Như lũ raptor?
     Muldoon gật đầu:
     - Raptor khôn lanh, rất khôn lanh. Tin tôi đi, tất cả những rắc rối mà chúng tôi gặp phải cho đến giờ chẳng là gì cả nếu so sánh với những gì chúng tôi sẽ gặp phải nếu lũ raptor mà sổng khỏi chuồng. À, được rồi đây. Tôi nghĩ là đã đủ gần để làm việc với nàng rexy của chúng ta.
     Ở phía trước, con khủng long bạo chúa đang thò đầu qua kẽ cây nhìn về phía con sông, cố chen qua. Rồi con thú lại thụt đầu lại và đi về cuối sông, tìm cách lách ra nữa. Gennaro thắc mắc:
     - Không biết nó nhìn thấy gì trên sông.
     - Có quỷ mới biết được. Có lẽ nó đang cố bắt mấy con microceratopsian đang nhảy nhót trên mấy cành cây.
     Muldoon dừng xe cách con tyrannosaur chừng năm mươi mét và quay đầu xe lại. Ông vẫn để máy nổ bảo Gennaro:
     - Ông ngồi sẵn sàng sau tay lái, thắt lưng an toàn vào. - Muldoon lấy thêm một ống thuốc mê khác nhét vào túi áo và xuống xe.
     Gennaro ngồi dịch qua sau tay lái:
     - Ông vẫn thường làm việc này trước đây chứ?
     - Chưa bao giờ. Tôi sẽ công nó bằng một cú sau mang tai. Chúng ta sẽ xem nó chịu đựng như thế nào. - Muldoon bước tới cách sau chiếc Jeep chửng 10 mét rồi quỳ một gối xuống. Ông tỳ chắc khẩu súng vào vai, bật ống ngắm lên. Muldoon ngắm vào con khủng long, con thú vẫn chưa biết đến sự hiện diện của họ.
     Một tiếng nổ bụp nhẹ của khí ép, và Gennaro thấy một vệt trắng xẹt trong không khí về phía con tyrannosaur, nhưng dường như chẳng có gì xảy ra cả.
     Rồi con tyrannosaur từ từ quay lui, tò mò nhìn họ. Nó quay đầu sang bên này rồi bên kia, dường như nhìn họ bằng mắt này rồi mắt khác.
     Muldoon đã hạ súng xuống và tra vào một ống thuốc khác. Gennaro hỏi:
     - Bắn trúng chứ?
     Muldoon lắc đầu:
     - Hụt rồi. Ống ngắm laser cái con khỉ. Ông xem thử còn pin trong hộp không?
     - Còn gì?
     - Pin. To cỡ bằng ngón tay ông, màu xam xám.
     Gennaro cúi tìm trong hộp sắt. Ông cảm thấy chiếc xe rung rung, tiếng máy nổ, Nhưng ông không thấy pin. Con khủng long bạo chúa gầm lên. Đối với Gennaro thì đấy là một âm thanh kinh khủng, rung chuyển ầm ầm từ lồng ngực to lớn của con thú, vang xa ra khắp cảnh vật. Ông ngồi ngay dậy, một tay sẵn sàng trên tay lái, tay kia đặt trên cần sang số. Qua vô tuyến, ông nghe giọng nói: "Muldoon, đây là Arnold. Đi ra khỏi đấy ngay."
     - Tôi biết tôi đang làm gì. - Muldoon trả lời.
     Con tyrannosaur bắt đầu phóng tới. Muldoon lấy thế bắn. Bất chấp con thú đang chạy về phía mình, ông nâng khẩu súng lên từ từ và có phương pháp, lấy đường ngắm, và bắn. Một lần nữa, Gennaro thấy khói trắng và một vệt trắng của ống thuốc bay xẹt về phía con thú.
     Không có gì xẩy ra. Con khủng long bạo chúa tiếp tục phóng tới.
     Bây giờ Muldoon đã đứng dậy chạy, la lớn: "Chạy thôi' Chạy!". Gennaro gài số xe và Muldoon nhảy đến bám vào cửa khi chiếc xe Jeep vọt tới. Con tyrannosaur chạy theo thật nhanh và Muldoon mở cửa xe leo vào.
     - Chạy thôi! Đồ chết tiệt! Chạy!
     Chiếc Jeep nẩy chồm lên, đầu cất lên khỏi mặt đất đến nỗi họ chỉ thấy bầu trời qua kính chắn gió, rồi rơi xầm xuống và lại lao tới trước. Gennaro nhắm một hàng cây phía bên trái cho xe lao tới cho đến khi, nhìn vào kính chiếu hậu, ông thấy con tyrannosaur gầm lên một tiếng cuối cùng rồi quay đi. Gennaro cho xe chạy chậm lại:
     - Ôi, lạy Chúa.
     Muldoon lắc đầu.
     - Tôi đoán chắc là tôi đã bắn trúng nó ở cú thứ hai.
     - Tôi cho là ông đã bắn hụt.
     - Kim hẳn phải gãy trước khi thuốc được ép vào.
     - Nhận đi, ông đã bắn hụt nó.
     - Vâng thì bắn hụt. - Muldoon thở dài - pin đã hết, chiếc ống ngắm chết tiệt. Lỗi ở tôi. Đáng ra tôi phải kiểm tra lại, sau khi súng bị đem đi đêm hôm qua. Chúng ta hãy trở về lấy thêm thuốc.
     Chiếc Jeep chạy về hướng bắc, nhắm hướng khách sạn.
     Muldoon nhắc ống nghe vô tuyến:
     - Allo, phòng điều khiển.
     - Tôi nghe. - giọng Arnold.
     - Chúng tôi đang cho xe trở về trung tâm.
*
     Dòng sông bây giờ rất hẹp và chảy xiết. Chiếc bè đang trôi thật nhanh. Họ bắt đầu cảm thấy như là một chuyến đi chơi công viên thú vị. Lex bám lấy hai mạn bè, reo lên:
     - Này, nhanh lên, nhanh lên!
     Grant nheo mắt, nhìn tới trước. Con sông vẫn còn hẹp và tối nhưng xa hơn về phía trước, ông có thể thấy các hàng cây cuối cùng và ánh nắng sáng sủa bên kia hàng cây. Có tiếng ầm ầm xa xa. Con sông dường như chấm dứt đột ngột bằng một đường bằng phẳng kỳ dị.
     Chiếc bè vẫn đang trôi nhanh hơn, lao về phía trước.
     Grant chụp lấy hai mái chèo.
     - Gì vậy bác?
     - Thác nước. Một thác nước đằng kia.
     Chiếc bè từ dưới mái cây tối om trên đầu họ băng ra một vùng sáng sủa của buổi sớm mai và trôi nhanh trên dòng nước chảy xiết tới mép thác. Tiếng ầm ầm vọng rõ đến tai họ. Grant chèo thật mạnh hết sức mình nhưng ông chỉ làm cho chiếc bè quay vòng tròn. Và nó cứ tiếp tục tiến dần tới thác nước không gì ngăn cản được. Lex tựa người vào Grant, la lên:
     - Cháu không biết bơi!
     Grant thấy cô bé chưa móc lại khuy áo phao cấp cứu, nhưng ông không thể làm gì cho cô bé được nữa. Với tốc độ đáng sợ, họ trôi đến miệng thác và tiếng rú ầm ầm của thác dường như bao trùm cả không gian. Grant thọc một mái dầm xuống nước, thấy nó chạm vào đá, ông ghìm bè lại, ngay miệng thác. Chiếc bè rùng mình trên dòng nước. Grant tì người vào mái chèo nhìn qua mép thác, thấy nước rơi thẳng đứng xuống một hồ nước sủi bọt phía dưới, cách miệng thác mười lăm mét.
     Và, đứng trong hồ nước sủi bọt là con tyrannosaur đang chờ họ.
     Lex thét lên trong nỗi kinh hoàng, và rồi chiếc bè quay tròn, đuôi bè trôi ra khỏi miệng thác nghiêng xuống, trút họ vào khoảng không và nước thác gầm rú, họ rơi xuống, quay cuồng.
     Ông thấy dường như mình rơi rất lâu trong thác nước, ông có đủ thời gian nhìn Lex, tay giữ chặt hai mép áo phao màu cam, rơi bên cạnh ông. Rồi ông nhìn Tim đang nhìn xuống đáy thác, ông lại nhìn màn nước trắng xóa, nhìn hồ nước sủi bọt phía dưới trong khi ông chầm chậm, yên lặng rơi xuống đấy.
     Rồi, với một cú đập nhức nhối, ông chìm xuống nước lạnh ngắt, bao quanh ông đầy những bọt bong bóng trắng như nước sôi. Ông vùng vẫy, quay tròn và thoáng thấy chiếc chân khổng lồ của con tyrannosaur khi ông bị nước cuốn tròn trôi ngang qua nó và nước đẩy ông qua hồ nước vào dòng chảy phía bên kia hồ. Grant trồi lên bơi vào bờ, bám vào mấy hòn đá ẩm, trượt xuống, lại níu một cành cây, đu lên, cuối cùng thoát được dòng nước cuốn. Thở dốc, ông trườn sấp người trên mấy hòn đá, và nhìn lại con sông vừa kịp lúc thấy chiếc bè cao su màu nâu bập bềnh trôi nhanh ngang qua ông. Rồi ông thấy Tim, vùng vẫy trong dòng nước, ông đưa tay ra kéo cậu, họ sặc nước và run rẩy, lóp ngóp bò lên.
     Grant quay lui nhìn thác nước, và thấy con tyrannosaur thò đầu xuống nước hồ gần chân ông. Chiếc đầu to lớn lắc lư, làm nước bắn tung ra hai bên. Có cái gì giữa hai hàm răng nó.
     Và rồi con khủng long bạo chúa cất đầu lên khỏi mặt nước.
     Lòng thòng nơi đôi hàm răng của nó là chiếc áo phao màu cam của Lex.
     Một lúc sau, Lex nhấp nhô trên mặt nước bên cạnh chiếc đuôi dài của con khủng long. Cô bé nằm úp xuống mặt nước, thân hình nhỏ bé trôi xuôi. Grant phóng người xuống nước cố bám theo Lex. Một chốc sau, ông kéo cô đặt lên hòn đá. Lex rũ rượi, đẫm nước, không còn sinh khí. Mặt cô bé tái xám , nước chảy ra từ miệng.
     Grant cúi người úp mặt thổi vào miệng cô bé làm hô hấp nhân tạo. Rồi cô nôn ra nước xanh nước vàng và lại ho. Mí mắt cô bé lay động. Và bé mỉm cười yếu ớt:
     - Eo ơi…
     Tim bắt dầu khóc. Cô bé lại ho.
     - Anh có nín đi không? Anh đang khóc chuyện gì vậy?
     - Khóc vì…
     - Bác và Tim lo cho cháu - Grant nói. Ông nhìn những mảnh trăng trắng trôi trên sông.
     Con tyrnnosaur đang xé nát tấm áo phao, đuôi quay về phía họ, đầu quay về phía thác nước. Nhưng bất cứ giây phút nào con thú cũng có thể quay lui và thấy họ. Grant bảo:
     - Đi thôi hai đứa.
     Lex ho, và hỏi:
     - Đi đâu bây giờ, bác?
     - Đi mau lên. - ông đang tìm một chỗ nấp. Về phía cuối dòng ông chỉ thấy một cánh đồng cỏ trống trải, trên dòng là con khủng long. Rồi ông thấy một con đường mòn ướt bùn bên cạnh con sông. Con đường dường như dẫn về phía thác nước.
     Và trên mặt bùn ông thấy dấu chân mang giày của một người dẫn đến con đường mòn.
     Con tyrannosaur cuối cùng quay quanh, gừ gừ nhìn về phía đồng cỏ. Dường như nó cho rằng mấy người đã đi mất về phía cuối dòng và đang tìm họ. Grant và hai đứa bé chúi đầu xuống đám cỏ đuôi chồn mọc hai bên bờ sông. Hết sức thận trọng, ông dẫn hai đứa đi ngược dòng sông.
     - Chúng ta đi đâu thế này? - Lex hỏi - Chúng ta đang đi lui.
     - Bác biết.
     Lúc này họ đến gần thác nước hơn, tiếng ầm ầm nghe to hơn. Đá đầy rêu trơn trượt, đường lấm bùn. Sương mù mờ mịt bốc lên. Giống như đi trong mây. Con đường mòn dường như dẫn vào thác nước, nhưng đến gần họ thấy thật ra con đường đi vào sau con thác.
     Con tyrannosaur vẫn đang chăm chú nhìn vào cuối dòng, đuôi quay về phía họ. Ba người gấp rút theo con đường mòn đi đến thác và hầu như họ đã vào sau màn nước rơi khi Grant thấy con khủng long bạo chúa quay lui. Rồi họ khuất hoàn toàn vào sau màn nước, và Grant không nhìn thấy gì qua màn nước được nữa.
     Grant nhìn quanh, ngạc nhiên. Có một gian nhà kho ở đây, không lớn hơn một phòng rửa mặt bao nhiêu. Gian nhà chứa đầy máy móc: Một máy bơm nước đang hoạt động tiếng nổ nghe ù ù, các máy lọc, ống dẫn. Mọi thứ đều ẩm ướt và lạnh.
     - Nó có thấy chúng ta không? - Lex phải la lớn át tiếng ầm ầm của thác nước - Chúng ta đang ở đâu? Chỗ này là chỗ nào? Nó có thấy chúng ta không?
     - Chờ một chút xem. - Grant nhìn quanh mấy thứ thiết bị. Rõ ràng đây là chỗ đặt máy móc. Vậy ắt phải có điện để điều khiển, và vì thế có lẽ cũng phải có một điện thoại để liên lạc. Ông lục tìm trong các đống ống lọc và ống dẫn.
     - Bác đang làm gì thế? - Lex la lớn để hỏi.
     - Tìm điện thoại. - Bây giờ đã gần mười giờ, họ chỉ còn hơn một tiếng để tiếp xúc với con tàu trước khi nó đến đất liền.
     Ở sau phòng chứa ông tìm thấy một cánh cửa ghi MAINT 04, nhưng khớa chặt. Gần bên khóa cửa là một khe nhét thẻ an toàn. Cạnh cửa, ông thấy một dãy hộp kim loại. Ông mở hết chiếc này đến chiếc khác nhưng chỉ thấy chứa toàn các công tắc và đồng hồ đo. Không có điện thoại, và cũng không có thứ gì để mở cửa.
     Ông suýt bỏ sót chiếc hộp bên trái cửa. Mở ra, ông thấy một bảng số điều khiển có chín nút, các điểm số sơn màu lục, trông dường như có cách mở cửa qua chiếc hộp này, và ông có cảm tưởng sau cửa thế nào cũng có điện thoại. Ở nắp hộp có dấu vạch con số 1023. Ông bấm thử con số ấy.
     Với tiếng xì xì, cánh cửa mở ra. Bên trong tối mờ, có bậc lên xuống xây bằng xi măng dẫn xuống. Trên bức tường sau cửa ông thấy có ghi MAINT VEHICLE 04/22/CHARGER và một mũi tên chỉ xuống các bậc lên xuống. Có thể đây là nơi chứa một loại xe gì chăng? Ông gọi:
     - Vào đây hai đứa.
     - Thôi bác ơi. Cháu không vào đấy đâu. - Giọng Lex.
     - Vào đi, Lex. - Tim bảo em.
     - Thôi đi. Trong ấy chẳng có đèn đuốc gì cả. Em không vào đâu.
     - Không vào thì thôi. - Không còn thì giờ để cãi cọ, ông bảo hai đứa - Ở đấy, bác sẽ ra ngay.
     Lex bỗng thấy cảnh giác.
     - Bác đi đâu?
     Grant đã bước qua cửa. Cánh cửa kêu bíp bíp và rồi đóng ập lại sau lưng ông, qua một lò xo.
     Grant bước vào bóng tối hoàn toàn. Sau một phút ngạc nhiên, ông quay lại chiếc cửa và cảm thấy bề mặt ẩm ướt của nó. Không có tay nắm, không có then. Ông quay sang hai bức tường hai bên cửa, mò tìm một công tắc, một hộp điều khiển hoặc bất cứ thứ gì.
     Không có gì cả.
     Ông đang chống cự với nỗi sợ hãi thì mấy ngón tay ông chạm vào một hình trụ bằng sắt lạnh. Ông sờ tay quanh mép gờ, một cây đèn rọi! Ông bật núm đèn, và thật ngạc nhiên, đèn bật sáng. Ông nhìn lại cửa và thấy nó không mở.
     Ông bắt đầu bước xuống các bậc xi măng. Chúng ẩm ướt và trơn trượt vì rêu. Ông bước cẩn thận. Đâu đó dưới các bậc ông nghe tiếng khịt mũi và tiếng cào của móng chân lên nền xi măng. Ông lấy khẩu súng hơi bắn tên gây mê ra, thận trọng tiến tới.
     Các bậc xi măng quẹo ở một góc, và khi ông chiếu đèn tới, một ánh sáng kỳ dị phản chiếu lại và rồi, sau một lát, ông thấy nó: Chiếc xe! Đấy là một chiếc xe điện, nằm sẵn sàng trên một con đường hầm dường như kéo dài về phía trước hàng nhiều dặm. Một đốm đèn đỏ nhấp nhảy bên cạnh tay lái, có lẽ nó đã được sạc điện.
     Grant lại nghe tiếng khịt mũi. Ông quay lui và thấy một bóng đen xám đứng dậy nhảy mấy bước về phía ông, hàm mở rộng. Không suy nghĩ, Grant nhắm vào nó bóp cò. Con thú ngã nhào vào người ông hất ông té xuống đất, và ông lăn người tránh trong nỗi kinh hoàng, cây đèn rọi quay lung tung. Nhưng con vật không đứng dậy, và ông cảm thấy rùng mình khi nhìn kỹ nó.
     Đấy là một con velociraptor, nhưng còn rất non, có lẽ chưa được một năm tuổi. Nó cao chừng sáu tấc, cỡ một con chó trung bình, và nó nằm trên mặt đất, thở gấp, mũi tên găm vào phía dưới hàm, có lẽ liều thuốc mê quá nhiều so với trọng lượng của nó. Và Grant rút mũi tên ra thật nhanh. Con vật nhìn ông với ánh mắt đờ đẫn.
     Một con còn rất non, và là một con đực. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa về những gì ông đã chứng kiến. Con velociraptor này đã được sinh sản trong thiên nhiên.
     Phấn khích về sự phát hiện này, ông đi gấp lên bậc xi măng trở lại cánh cửa. Với cây đèn rọi, ông quét ánh sáng lên bề mặt của cánh cửa và những bức tường trong phòng tìm xem có gì lạ. Khi ông đưa tay khắp cánh cửa, ông dần dần nhận thấy là ông đã bị khóa nhốt lại trong phòng, và không thê nào mở cửa được trừ phi mấy đứa nhỏ có đủ thông minh để mở cửa cho ông. Ông có thể nghe thấy tiếng chúng văng vẳng phía bên kia cánh cửa.
     - Tiến sĩ Grant! Bác Grant! - Lex kêu lớn, tay đấm mạnh vào cửa.
     - Hãy thong thả nào. Bác ấy sẽ ra ngay đấy. - Tim trấn an em.
     - Nhưng bác ấy đi đâu?
     - Nghe anh đây. Tiến sĩ Grant biết chuyện bác ấy làm. Bác ấy sẽ trở lại trong chốc lát thôi.
     - Bác ấy nên trở lại vào lúc này. - Cô bé chống tay lên hông, khuỳnh cùi tay ra. Cô giẫm chân giận dữ. Và rồi, với một tiếng gầm, đầu con khủng long bạo chúa thò qua màn nước về phía hai đứa bé.
     Tim kinh hoàng nhìn chiếc miệng mở rộng. Lex thét lên nằm lăn xuống đất. Chiếc đầu quay tới quay lui, rồi thụt lùi. Nhưng Tim có thể thấy bóng của đầu con thú in lên màn nước rơi trắng xóa.
     Tim kéo em lui sát vào sau căn nhà kho, đúng vào lúc đôi hàm lại thò vào, gầm lên, chiếc lưỡi dày thè ra thụt vào thật nhanh. Nước dội xuống đầu nó bắn tung tóe ra bốn phía. Rồi nó lại thụt ra.
     Lex nép vào Tim, run rẩy:
     - Em ghét nó quá. - Cô bé rụt người sát vào sau nhưng gian phòng chỉ sâu trên dưới một mét, lại chất đầy các thứ máy móc chẳng còn chỗ nào cho chúng ẩn nữa.
     Chiếc đầu lại thò vào qua màn nước, lần này chậm hơn, và đặt xuống nền phòng. Con tyrannosaur khịt mũi. Đôi mắt con thú vẫn nằm bên ngoài màn nước.
     Tim nghĩ: nó không thể nhìn thấy chúng ta. Nó biết có chúng ta trong này, nhưng nó không thể thấy qua màn nước.
     Con tyrannosaur lại khìn khịt.
     - Nó đang làm gì thế? - Lex hỏi.
     - Suỵt.
     Với mấy tiếng gừ gừ nhỏ, đôi hàm chầm chậm mở, chiếc lưỡi thè ra. Chiếc lưỡi dày, xanh đen, đầu lưỡi như cái chĩa, dài chừng một mét hai, và dễ dàng thò tới tận bức tường trong của căn phòng. Chiếc lưỡi liếm sồn sột vào mấy ống hình trụ của máy lọc nước. Tim và Lex ẩn mình sát vào sau ống.
     Chiếc lưỡi chuyển chầm chậm về phía trái, rồi về phía phải, liếm láp vào bộ máy. Đầu lưỡi quấn quanh mấy chiếc ống và van, dò tìm. Tim thấy chiếc lưỡi có những bắp thịt chuyển động, như một vòi voi, kéo lùi dọc theo bên phải của gian nhà kho. Nó kéo qua hai đùi Lex. Cô bé la lên nho nhỏ:
     - Eo ơi!
     Chiếc lưỡi dừng lại. Rồi đầu lưỡi ngóc lên, và bắt đầu trườn lên người cô bé… Tim thì thào:
     - Đừng có nhúc nhích.
     Nó liếm qua mặt cô bé, rồi qua vai Tim, và cuối cùng vòng quanh ôm lấy đầu cậu bé. Tim nhắm nghiền hai mắt khi những bắp thịt thô ráp bao lấy mặt cậu. Chiếc lưỡi ươn ướt, nóng, và khai. Quấn quanh cậu bé, chiếc lưỡi bắt đầu kéo cậu đi, rất chậm, về phía hai hàm răng mở rộng.
     - Anh Tim…
     Tim không thể trả lời; miệng bị bịt lại bởi chiếc lưới phẳng, xanh đen. Cậu có thể thấy, nhưng không thể nói được. Lex giật tay anh:
     - Ra đi, anh Tim!...
     Chiếc lưỡi kéo cậu về cái miệng đang khìn khịt. Cậu bé cảm thấy hơi thở nóng phả lên đùi cậu. Lex đang trì kéo anh lại nhưng sức cô bé không là gì cả so với các bắp thịt đang kéo anh cô. Tim rụt khỏi tay em, nâng chiếc lưỡi bằng cả hai tay mình, cố đẩy nó qua khỏi đầu cậu. Không cách gì đẩy nó đi được. Cậu bám hai chân xuống sàn nhưng vẫn bị kéo lần tới.
     Lex đã vòng hai tay vào hông anh và cố kéo anh lui, miệng la lớn, nhưng cậu bé không còn sức làm gì được nữa. Cậu đã bắt đầu thấy nổ đom đóm. Một cảm giác bình yên chiếm cứ người cậu, cậu cảm thấy điều không thể nào tránh được, và cứ thế để cho mình bị kéo đi.
     - Anh Tim!...
     Nhưng đột nhiên chiếc lưỡi chùn ra, không cuốn chặt cậu nữa. Tim cảm thấy nó tuột dần khỏi mặt cậu. Thân hình cậu phủ đầy thứ nước bọt gớm guốc và chiếc lưỡi rơi xuống nằm duỗi dài trên mặt bùn. Hai hàm răng ngậm chặt lại, cắn vào chiếc lưỡi. Máu đỏ đậm trào ra hòa lẫn với bùn. Hai lỗ mũi khìn khịt thở dốc. Lex la lên:
     - Nó làm sao vậy?
     Và rồi chầm chậm, rất chậm, chiếc đầu bắt đầu kéo lui, ra khỏi gian nhà kho, để lại một vệt dài trên bùn. Và cuối cùng chiếc đầu hoàn toàn biến mất, hai đứa chỉ còn thấy màn nước bạc của thác.
0
ĐIỀU KHIỂN
     Trong phòng điều khiển, Arnold thở ra:
     - Ô kê. Con rex ngã rồi.
     Ông ta ngả người ra ghế, đốt điếu thuốc cuối cùng rồi vò bao thuốc và cười hài lòng. Thế là xong. bước cuối cùng trong việc hồi phục sự hoạt động của công viên. Bây giờ còn lại những gì phải làm là ra đấy và chuyển nó đi. Muldoon nhìn màn hình giám sát:
     - Đồ chó đẻ. Rốt cuộc tao cũng hạ dược mày. - ông quay sang Gennaro - Có điều là mất đến một tiếng nó mới chịu rớt.
     Henry Wu cau mày nhìn màn hình:
     - Nhưng nó có thể chết đuối, với tư thế đó…
     - Nó không chết chìm đâu. - Muldoon nói - Chưa từng thấy một con thú khó hạ như thế.
     - Tôi cho là chúng ta phải ra đấy đem nó đi. - Arnold nói.
     - Chúng tôi sẽ ra. - Giọng Muldoon không mấy nhiệt tình.
     - Đấy là một con thú có giá trị.
     - Tôi biết đấy là một con thú có giá trị.
     Arnold quay sang Gennaro. Ông ta không thể giấu một phút tự hào chiến thắng:
     - Tôi đã vạch cho ông thấy, là công viên giờ đây đã hoàn toàn trở lại bình thường. Cho dù mô hình toán học của Malcolm có nói điều gì chăng nữa. Chúng ta đã hoàn toàn nắm quyền kiểm soát.
     Gennaro chỉ vào màn hình sau đầu Amold và hỏi:
     - Cái gì thế?
     Arnold quay lui. Ông ta ngạc nhiên thấy ở góc trái trên màn hình đang nhấp nháy dòng chữ màu vàng: AUX PWR LOW. Ông không hiểu chuyện gì xẩy ra. Tại sao nguồn năng lượng phụ lại gần hết? Họ đang dùng nguồn năng lượng chính, đâu phải nguồn năng lượng phụ. Ông bảo Wu:
     - Này anh Wu, nhìn xem.
     - Tại sao ông lại dùng nguồn điện phụ? - Wu hỏi.
     - Tôi có dùng đâu.
     - Trông như ông đang dùng đấy?
     - Tôi đâu có dùng.
     - Hãy cho in ra bảng sử dụng năng lượng xem. - Wu bảo – Máy có ghi nhận tình trạng năng lượng dùng trong vài giờ cuối.
     Arnold bấm nút, và họ nghe tiếng rì rì của máy in hoạt động ở góc phòng. Wu đến bên máy in.
     Arnold nhìn chòng chọc vào màn hình. Các chữ ở góc trái trên màn hình đã chuyển từ màu vàng sang màu đỏ và dòng chữ bây giờ là: AUX PWR FAIL. Các con số bắt đầu đếm ngược từ hai mươi.
     - Việc quái quỷ gì thế này? - Arnold lẩm bẩm.
*
     Hết sức thận trọng, Tim bước vài bước vào con đường mòn, ra ngoài ánh nắng. Cậu nhìn quanh thác nước, và thấy con tyrannosaur nằm nghiêng nổi bập bềnh trên mặt nước. Lex bước theo sau anh:
     - Em mong cho nó chết quách.
     Tim có thể thấy là nó chưa chết: lồng ngực con khủng long vẫn phập phồng, và một chi trước đang co giật. Nhưng đã có gì đó xảy ra cho nó. Rồi Tim nhìn thấy ống thuốc cắm vào sau đầu, gần mang tai:
     - Nó bị một mũi tên thuốc.
     - Đáng đời. Nó đã ăn chúng ta.
     Tim nhìn con vật thở khó khăn. Cậu bé bất ngờ cảm thấy buồn bã khi con vật khổng lồ lâm vào tình trạng này. Cậu không muốn nó chết. Cậu bảo em:
     - Không phải lỗi của nó.
     - Ồ, xong rồi. Nó đã ăn chúng ta và nó không có tội gì.
     - Nó là loài ăn thịt. Nó chỉ làm những gì nó làm.
     - Nếu bây giờ anh ở trong bao tử nó rồi thì hết nói dóc thế.
     Tiếng rơi của thác nước bỗng thay đổi. Từ tiếng ầm ầm điếc cả tai nó trở nên nhỏ hơn, êm lặng hơn. Màn nước rơi rầm rầm mỏng dần rồi chỉ còn những dòng chảy nhỏ. Và nước ngừng chảy.
     - Thác nước ngừng đổ, anh Tim. - Lex la lên.
     Bây giờ thác chỉ còn nhỏ giọt giống như mấy vòi nước không khóa kỹ. Mặt hồ ở đáy thác yên lặng. Hai đứa đứng gần đỉnh thác, trong một nơi giống như một miệng hang chứa đầy máy móc, nhìn xuống. Lex nhận xét:
     - Thác nước thì có bao giờ ngừng được?
     Tim gật đầu:
     - Đúng. Đây hẳn là thác chảy nhờ năng lượng. Có ai đó đã ngắt điện.
     Sau lưng chúng, tất cả các máy bơm, máy lọc đều tuần tự ngừng hoạt động cái này sau cái khác. Các đèn nháy tắt, máy ngừng chạy. Gian phòng trở nên yên lặng.
     Và rồi một tiếng "tách" của một rơ le điện, chiếc cửa ghi MAINT 04 từ từ mở ra.
     Grant bước ra, hấp him mắt vì ánh sáng:
     - Giỏi lắm. Mấy đứa đã mở được cửa.
     - Chúng cháu có làm gì đâu? - Lex nổi.
     - Nguồn năng lượng bị cắt. - Tim nói.
     - Thôi, đừng để ý. Vào đây xem mấy thứ bác tìm thấy.
*
     Arnold nhìn sững, choáng người.
     Tuần tự cái này sau cái kia, các màn hình giám sát tắt đèn và rồi ánh sáng trong phòng tắt lịm, toàn bộ căn phòng điều khiển bỗng tối om và lộn xộn. Mọi người đều lập tức la lớn. Muldoon vội kéo các màn cửa cho ánh sáng tràn vào. Wu mang bản in lại:
     - Hãy xem cái này xem.
     Wu trao tờ giấy cho Arnold và tiếp:
     - Ông tắt máy vào lúc nằm giờ ba mươi phút sáng nay, và khi cho máy hoạt động lại, ông khởi động với nguồn năng lượng phụ.
     - Chúa ơi! - Arnold kêu lên.
     Rõ ràng máy điện chính đã không hoạt động kể từ lúc ông tắt hệ thống. Và khi ông đóng cầu dao hệ thống hoạt động trở lại, chỉ có máy điện phụ cung cấp năng lượng. Arnold đang cho rằng sự việc lạ lùng quá thì ngay đấy ông lại cho rằng như thế là bình thường. Rằng sự việc phải xảy ra như thế: máy điện phụ hoạt động được, và nguồn điện sẽ dùng để khởi động máy điện chính . Vì động cơ máy điện chính cần đến cường độ điện rất lớn mới khởi động được. Hệ thống đã được thiết kế theo cách hoạt động như thế.
     Amold chưa từng có dịp tắt nguồn năng lượng chính. Khi đèn và các màn hình hoạt động trở lại, ông không hề nghĩ rằng nguồn điện chính chưa được hồi phục.
     Máy điện chính đã không chạy trong suốt thời gian họ lục tìm con rex, và làm hết việc này đến việc khác. Thật sự, mọi rắc rối mới chỉ bắt đầu. Muldoon chỉ vào một dòng chữ, hỏi Arnold:
     - Dòng chữ này nghĩa là gì?
     - Có nghĩa là: báo động về tình trạng của hệ thống, đã được truyền đến các màn hình điều khiển. Liên quan tới các hàng rào.
     - Ông có thấy dòng báo động này không?
     Arnold lắc đầu:
     - Không… Chắc lúc ấy tôi đang nói chuyện với ông ngoài cánh đồng.
     - Mấy chữ này nghĩa là gì: "Warning: Fence status"?
     - Ờ lúc nãy tôi đã không biết việc báo động này của computer, chúng ta đang dùng nguồn điện phụ. Và nguồn điện phụ không cung cấp đủ cường độ để truyền điện cho các hàng rào.
     Muldoon gào lên nho nhỏ:
     - Các hàng rào đều không được truyền điện?
     - Vâng.
     - Tất cả các hàng rào? Từ năm giờ sáng nay? Suốt năm tiếng đồng hồ vừa qua?
     Arnold thở dài:
     - Vâng.
     - Kể cả các hàng rào nhốt lũ velociraptor?
     - Vâng. - Arnold thở dài .
     - Ôi lạy đức Jesus. - Muldoon kêu lên - Năm tiếng đồng hồ. Lũ súc sinh ấy hẳn đã thoát ra khỏi chuồng hết.
     Và rồi, ở một nơi nào đó xa xa, họ nghe tiếng thét. Muldoon bắt đầu nói thật nhanh. Ông đi quanh phòng, phân phát những máy vô tuyến xách tay.
     - Ông Arnold sẽ xuống nhà bảo quản đi khởi động máy điện chính. Tiến sĩ Wu, ngồi tại phòng điều khiển. Anh là người duy nhất có thể làm việc với các computer. Ông Hammond, trở lại khu nhà nghỉ. Đừng có cãi tôi vào lúc này. Khóa cổng lại, và ở nguyên trong ấy cho đến khi ông nghe tin tức của tôi. Đi ngay. Tôi sẽ giúp Arnold giải quyết mấy con raptor. - Ông quay sang Gennaro - Có muốn thêm vài phút nguy hiểm nữa chăng?
     - Không muốn lắm. - Mặt Gennaro tái xanh.
     - Tốt thôi. Vậy đi với mấy người trở về khu nhà nghỉ. - Muldoon quay người - Cứ thế, tất cả nghe tôi. Đừng có đi đâu.
     Hammond rên rỉ.
     - Nhưng anh sẽ làm gì mấy con thú của tôi?
     - Đấy không phải là câu hỏi đúng. Phải hỏi là "Những con thú của ông sẽ làm gì chúng tôi?".
     Muldoon ra cửa, đi về cuối hành lang về phòng làm việc của mình. Gennaro bước theo cạnh ông. Muldoon hỏi:
     - Ông thay đổi ý kiến?
     - Ông sẽ cần giúp một tay.
     - Có lẽ. - Muldoon vào phòng ghi ANIMAL SUPERVISOR, cầm lấy khẩu súng phóng tì vai, mở khóa một ngăn hộc gắn vào tường sau bàn giấy mình. Có sáu ống đạn phóng và sáu ống thuốc.
     - Điều rắc rối với những con raptor này là chúng có một hệ thần kinh phân bố. Chúng không chết nhanh, xương sườn to làm cho cú bắn vào tim phải đi chệch, khó mà làm cho chúng què hai chi sau hoặc hai chi trước. Khó chảy máu, chậm chết. - Muldoon mở mấy ống phóng nhét ống thuốc vào. Ông thảy một thắt lưng to bản cho Gennaro - Mang cái này vào.
     Gennaro thắt chặt thắt lưng và Muldoon trao cho ông mấy viên đạn:
     - Những gì chúng ta hy vọng là có thể hạ lẻ từng con. Chẳng may chúng ta chỉ có sáu viên đạn. Mà có đến tám con velociraptor trong chuồng nhốt ấy. Đi thôi. Đi gần nhau. Ông giữ đạn đấy.
     Muldoon ra khỏi phòng và chạy dọc theo hành lang, nhìn qua lan can xuống con đường dẫn đến căn lán bảo quản. Gennaro chạy theo ông bén gót. Họ xuống tầng cuối và bước ra ngoài cửa kính. Muldoon dừng lại.
     Arnold đang đứng, lưng quay lại căn lán. Ba con velociraptor tiến đến gần ông ta. Arnold đã nhặt được một cây gậy và đang hoa lên về phía chúng, miệng hét lớn. Ba con velociraptor xòe chi trước ra khi chúng đến gần, một con đứng giữa, hai con bao hai bên. Phối hợp. Nhẹ nhàng. Gennaro rùng mình. Tập tính săn mồi theo bầy.
     Muldoon đã quỳ xuống đặt súng phóng lên vai. Ông bảo Gennaro:
     - Tra đạn vào. - Gennaro chuồi viên đạn vào súng phóng. Một tiếng điện xẹt. Chẳng việc gì xảy ra. - Chúa ơi, ông tra lộn ngược rồi. - Muldoon nói và dốc ngược nòng súng cho viên đạn chạy lọt ra tay Gennaro. Gennaro lắp đặt lại. Ba con velociraptor đang gầm gừ với Arnold, con thú bên phải giật lên, phần trên xương sườn của nó bay bổng lên không trung, máu bắn tung tóe như một trái cà chua vỡ dính lên mấy bức tưởng của tòa nhà. Phần còn lại gục ngã lên mặt đất, hai chân đá trong không khí, đuôi giật giật.
     - Cú ấy sẽ làm mấy con còn lại nổi hung.
     Arnold chạy về phía cửa lán. Hai con velociraptor quay lại, bắt đầu tiến về phía Muldoon và Gennaro. Chúng xòe mấy ngón chi trước ra trong khi tiến đến gần. Ở xa xa, đâu đó trong tòa nhà nghỉ, họ nghe những tiếng hét. Gennaro:
     - Có thể đã có tai họa rồi.
     - Tra đạn. - Muldoon bảo.
*
     Henry Wu nghe mấy tiếng nổ và nhìn về phía cửa phòng điều khiển. Anh đi quanh mấy bàn phím điều hành, rồi ngừng lại. Anh muốn đi ra ngoài, nhưng anh biết mình phải ở lại trong phòng. Nếu Arnold có thể làm cho có điện - chỉ có trong một phút thôi – thì Wu có thể khởi động máy điện chính được. Anh phải ở lại.
     Nghe tiếng ai đó thét lên. Như tiếng Muldoon.
*
     Muldoon cảm thấy đau điếng người ở mắt cá, loạng choạng vấp một bờ đường, cố dốc hết sức để chạy. Nhìn lui, ông thấy Gennaro đang chạy về phía ngược lại, vào một khu rừng. Hai con velociraptor bỏ Gennaro, chỉ đuổi theo Muldoon. Lúc này chúng chỉ còn cách ông không đầy hai mươi mét. Muldoon vừa chạy vừa la đến khản cổ, mơ hồ tự hỏi không biết mình có thể chạy đi đâu.
     Vì ông biết có lẽ ông chỉ có mười giây trước khi chúng chụp được ông.
     Mười giây.
     Có khi còn chưa tới.
*
     Ellie phải giúp Malcolm lật người lại khi Harding đâm mũi kim và đẩy hết chỗ morphine. Malcolm thở dài và rũ người lại. Dường như từng phút một ông càng lúc càng yếu đi. Qua máy vô tuyến, họ nghe những tiếng thét và những tiếng nổ nho nhỏ từ trung tâm nhà khách.
     Hammond bước vào phòng và hỏi:
     - Ông ta thế nào?
     - Đang cố kìm đau đớn. Hơi nói sảng một chút.
     Malcolm:
     - Tôi không mê sảng chút nào đâu. Tôi hoàn toàn sáng suốt. - Họ lắng nghe qua radio - Nghe như có cả cuộc chiến tranh ngoài kia.
     Hammond:
     - Mấy con velociraptor sổng chuồng?
     - Chúng ra được? - Malcolm thở dốc - Làm sao mà việc ấy có thể xảy ra?
     - Do một vụ phá rối hệ thống. Arnold đã không nhận ra được là nguồn điện phụ đang được sử dụng, và hàng rào không được truyền điện.
     - Thế đấy.
     - Chết rấp đi, đồ quỷ hợm hĩnh.
     Malcolm:
     - Nếu không nhớ lầm, tôi đã nói trước là hàng rào truyền điện sẽ có ngày gây ra biến cố.
     Hammond thở dài, nặng nề ngồi xuống ghế:
     - Thật chả ra gì. - Lão lắc đầu - Như ông chú ý và nhận thấy đấy, những gì chúng tôi đang cố gắng thực hiện ở đây chỉ là một ý tưởng kỳ diệu, đấy là một loại du hành ngược thời gian. Chỉ là sự du hành ngược thời gian trên quả đất này. Làm chúng sống trở lại, vậy thôi. Vì công việc rất hào hứng, và vì có thể thực hiện được, chúng tôi quyết định tiến tới. Chúng tôi thuê đảo này và tiến hành. Tất cả đều đơn giản.
     - Đơn giản. - Không hiểu bằng cách nào, Malcoìm tìm được sức lực để ngồi dậy trên giường - Đơn giản? Ông là một gã điên, điên hơn cả tôi tưởng. Tôi nghĩ rằng ông là một gã điên vì quá thừa thãi tiền của.
     Ellie:
     - Tiến sĩ Malcolm. - Cô cố dìu ông nằm xuống. Nhưng Malcolm không để ý. Ông chỉ về chiếc máy vô tuyến đang vang tiếng la hét.
     - Cái gì đang xảy ra ngoài kia? - Malcolm nói tiếp - Đấy là ý tưởng đơn giản của ông. Đơn giản. Ông sáng tạo ra những dạng sống mới mà ông chẳng biết gì về chúng cả. Ông tiến sĩ Wu của ông thậm chí không biết tên những con vật do ông ta sáng tạo ra. Ông ta không hề bị quấy rầy với những chi tiết như con này gọi là con gì, cứ mặc cho nó ra sao thì ra. Ông tạo ra nhiều thứ trong một thời gian ngắn, ông không hề học hỏi gì để biết về chúng, thế nhưng ông trông chờ chúng tuân lệnh ông, và vì ông tạo ra chúng cho nên ông cho ông là chủ sở hữu của chúng; ông quên rằng chúng là những con thú sống, chúng có trí thông minh, chúng có thể không tuân theo lệnh ông; ông quên mất là ông hiểu biết chúng ít ỏi đến thế nào, ông thiếu khả năng đến chừng nào để làm những điều mà ông quá bông lơn gọi là đơn giản… Ôi Chúa ơi…
     Malcolm ngồi lui vào, ho sặc sụa..
     - Ông có biết có điều gì sai đối với sức mạnh của khoa học không? -Malcolm tiếp - Đấy là hình thức của một gia tài được thừa kế và ông biết những gã óc lừa bẩm sinh đã giàu có như thế nào.
     Hammond:
     - Ông ta đang nói vấn đề gì vậy?
     Harding phác một cử chỉ, hàm ý là tình trạng mê sảng. Malcolm nháy mắt:
     - Tôi sẽ cho anh biết những gì tôi đang nói. Phần lớn các loại sức mạnh đòi hỏi một sự hy sinh vật chất với những ai muốn có sức mạnh ấy. Để học được một nghề, phải chịu đựng luyện tập trong nhiều năm. Bất cứ loại sức mạnh nào ông muốn. Chủ tịch một công ty. Đai đen karaté. Giáo sư thần học. Bất cứ thứ gì ông muốn có ông phải mất nhiều thời gian, thực hành, sức lực. Ông phải chối bỏ nhiều thứ để có nó. Nó phải rất quan trọng đối với ông. Và mỗi khi ông đạt được, nó là sức mạnh của ông. Ông không thể chối bỏ nó: nó khu trú trong ông. Thực chất đấy là kết quả của sự rèn luyện.
     - Bây giờ, điều cần quan tâm tới của quá trình này là, vào lúc một người nào đó đạt được khả năng giết người bằng tay không, anh ta cũng đạt được quan điểm chín muồi là mình sẽ không dùng sức mạnh ấy một cách không khôn ngoan. Cho nên thứ sức mạnh ấy có một bộ kiểm soát kiềm chế. Sự rèn luyện để có được sức mạnh đã biến đổi ông để ông không lạm dụng nó.
     Nhưng sức mạnh của khoa học là một thứ gia tài được thừa hưởng; có được mà không phải qua một sự rèn luyện nào. Ông đọc những gì người khác làm và ông làm bước kế tiếp. Ông có thể làm khi còn rất trẻ . Ông có thể thực hiện những tiến bộ rất nhanh. Không có những sự rèn luyện kéo dài nhiều chục năm. Không có sự làm chủ: những nhà khoa học cổ xưa bị bỏ lơ. Không có sự khiêm tốn trước thiên nhiên mà chỉ có những triết nhân làm - giàu - gấp - rút, tự - tạo - tên - tuổi - nhanh. Lừa đảo, nói dối, làm của giả - không một ai phê bình chỉ trích. Không một ai có bất cứ tiêu chuẩn gì. Mọi người đều cố gắng làm một điều: làm một việc gì đó thật lớn, và làm thật nhanh.
     Và vì ông đứng trên vai một người không lồ khác, ông có thể hoàn thành mọi việc một cách nhanh chóng. Thậm chí ông không biết chính xác những gì ông đã làm nhưng ông dã báo cáo, đã trình tòa, lấy bản quyền và sản xuất đem bán. Và người mua còn có ít sự rèn luyện hơn cả ông nữa. Người mua chỉ đơn thuần mua sức mạnh, như mua một thứ tiện nghi nào. Người mua thậm chí không hiểu là bất cứ sự rèn luyện nào cũng rất cần thiết.
     Hammond hỏi:
     - Các người có biết ông ta đang nói gì không?
     Ellie gật đầu. Hammond nói :
     - Tôi chẳng nắm được đầu cua tai nheo gì.
     - Tôi sẽ nói đơn giản hơn. Một tay karaté siêu đẳng không giết người với tay không. Anh ta không mất bình tĩnh đến phải giết vợ mình. Kẻ giết người là kẻ không có sự luỵện tập, không có sự kiềm chế, và là người mua được sức mạnh như mua một đêm ăn chơi. Và đấy là loại sức mạnh mà khoa học khuyến khích, và cho phép. Và đấy là lý do tại sao ông nghĩ rằng xây dựng nên một nơi như chỗ này là đơn giản.
     - Nhưng quả thật là đơn giản. - Hammond bảo.
     - Thế tại sao nó đã gặp rắc rối?
*
     Choáng váng, John Arnold xô cửa lán bước vào bóng tối bên trong. Ôi Chúa, căn phòng tối đen. Đáng lẽ ông phải nhận ra là đèn đã tắt hết. Ông cảm thấy không khí mát lạnh, khoảng không gian sâu như cái hang, và hai tầng nhà trải dài dưới chân. Ông phải tìm ra lối đi men giữa đám máy móc. Ông phải cẩn thận, không thì gãy cổ.
     Lối đi men.
     Ông sờ soạng như một người mù cho đến khi nhận ra là vô ích. Bằng cách này cách khác ông phải để ánh sáng vào lán. Ông quay trở lại cửa và mở hé ra chửng một tấc. Thế là có đủ ánh sáng. Nhưng không có cách gì giữ cho cửa mỏ. Ông tháo nhanh một chiếc giày và chèn vào cửa.
     Ông trở lại tìm lối đi men và dễ dàng tìm thấy. Ông bước dọc theo tấm kim loại lót lối đi, nghe từng bước chân khác nhau, một bước nặng, một bước nhẹ. Nhưng cuối cùng ông có thể thấy. Phía trước là cầu thang dẫn xuống hầm để máy phát điện. Đi thêm mười mét nữa.
     Bỗng tối om.
     Ánh sáng biến mất.
     Arnold nhìn ra cửa, và thấy ánh sáng bị chắn mất bởi thân hình một con velociraptor. Con vật cúi xuống và cẩn thận khịt mũi ngửi chiếc giày.
*
     Henry Wu đưa tay sờ trên mấy bàn phím điều khiển computer. Anh vuốt mấy màn hình. Anh cử động liên tục. Anh gần như điên cuồng vì căng thẳng.
     Anh ôn lại những bước anh sẽ phải làm. Anh phải nhanh tay. Màn hình đầu tiên sẽ sáng lên, và anh sẽ bấm…
     - Wu! - Máy Vô tuyến kêu xè xè.
     Anh chụp ngay lấy nó:
     - Vâng. Tôi đây.
     - Có được tý điện nào chưa? - Đấy là Muldoon. Giọng ông có chút gì kỳ dị, khác thường.
     - Chưa. - Wu mỉm cười, yên tâm vì biết Muldoon còn sống.
     - Tôi nghĩ là Arnold đã vào được căn lán. Sau đó, tôi không biết!
     - Ông ở đâu vậy?
     - Tôi bị nhét…
     - Cái gì?
     - Tôi bị nhét vào một ống dẫn nước. Và vào lúc này, tôi ở tình thế rất nguy hiểm.
*
     Muldoon nằm dài trong một ống nước. Có một đống ống dẫn nước nằm sau khu trung tâm nhà khách, và ông đã chui vào một ống gần nhất, ép người vào cống như một gã khốn khổ. Ống nước thật hẹp, bó khít lấy người ông, nhưng mấy con raptor không theo ông vào trong đấy được.
     Sau khi bắn đứt chân một con khi con thú đáng ghét này mon men đến gần ống nước, nó đã rên rỉ lết đi, mấy con khác cũng phải chùn bước. Sự hối tiếc của ông là ông đã không chờ đến khi thấy mõm của nó ở đầu ống rồi mới lẫy cò.
     Nhưng ông có thể vẫn còn cơ may, còn ba hay bốn con lẩn quẩn bên ngoài khịt mũi gầm gừ với ông. Ông nói vào radio:
     - Vâng, rất nguy hiểm.
     - Arnold có vô tuyến không? - Wu hỏi.
     - Chắc là không. Bây giờ tôi đang ngồi bó rọ và chờ chúng đi.
*
     Arnold đi thụt lùi theo con đường men. Con velociraptor hầu như chỉ cách ông chừng 3 mét, len lén theo ông, đi vào vùng bóng tối. Arnold có thể nghe tiếng côm cốp của những móng chân kinh khiếp của nó gõ trên tấm sắt lót lối đi.
     Nhưng Arnold đang lùi chầm chậm. Ông biết con thú có thể thấy rất rõ nhưng những chấn song lan can dọc theo lối đi men, mùi vị không quen thuộc của kim loại làm nó thận trọng. Sự thận trọng của nó là dịp may duy nhất cho mình, Arnold nghĩ. Nếu ông có thể đến đầu cầu thang, và rồi đi xuống tầng dưới. Bởi vì ông biết chắc là con velociraptor không thể leo cầu thang, đặc biệt là cầu thang hẹp và đứng.
     Arnold nhìn lui, đến cầu thang chỉ còn vài bước. Chỉ thêm vài bước nữa.
     Ông đã đến đầu cầu thang! Với tay lui, ông sờ thấy tay vịn, bắt đầu bò xuống các bậc thang hầu như thẳng đứng. Chân ông chạm mặt nền đúc xi măng. Con velociraptor đứng trên lối đi men cách trên đầu ông sáu mét, gầm gừ giận dữ.
     - Xoàng quá, chú mày. - Arnold quay đi. Lúc này ông đến rất gần máy phát điện phụ. Chỉ bước thêm vài bước nữa là ông sẽ nhìn thấy cho dù trong thứ ánh sáng lờ mờ thế này.
     Một tiếng thụp sau lưng ông.
     Arnold quay lui.
     Con raptor đã đứng đấy, trên nền đúc, gầm gừ.
     Nó đã nhảy xuống.
     Ông nhìn quanh tìm một thứ gì làm khí giới bỗng thình lình thấy mình ngã vật ngửa xuống nền đúc xi măng. Một thứ gì nặng nề đè lên ngực làm ông thấy khó thở, ông nhận ra là con velociraptor đang đứng trên ngực ông, ông cảm thấy những móng nhọn của nó đào sâu vào ngực mình, ông ngửi thấy hơi thở hôi hám từ chiếc đầu động đậy trên người ông, và ông mở miệng hét lên.
*
     Ellie giữ máy vô tuyến trong tay, lắng tai. Thêm hai công nhân đã đến nhà nghỉ mát; họ dường như biết ở đây an toàn. Nhưng trong mấy phút vừa qua, không có thêm người nào đến nữa. Và bên ngoài hình như yên tĩnh hơn. Qua radio, nghe giọng Muldoon hỏi:
     - Lâu mau rồi?
     - Chừng bốn hay năm phút. - Giọng Wu đáp.
     - Lúc này Arnold phải làm được rồi, nếu anh ta vào được trong ấy. Có ý kiến gì không?
     - Không.
     - Có nghe tin gì của Gennaro không?
     Tiếng Gennaro:
     - Tôi đây.
     - Ông ở vào cái xó xỉnh nào vây? - Giọng Muldoon.
     - Tôi sắp đi vào nhà báo quản đây. Hãy cầu chúc cho tôi gặp may.
*
     Gennaro bò trong đám tàn lá, lắng tai.
     Ngay trước mặt, ông ta thấy con đường mòn trồng cây hai bên dẫn đến khu nhà khách. Gennaro biết căn lán bảo quản ở đâu đó về phía đông. Ông nghe tiếng chim chíp chíp trên cây. Một làn sương nhẹ đang bay qua. Một trong mấy con raptor rít lên, nhưng đâu đó ở xa xa. Nghe như về phía bên phải. Gennaro bắt đầu bò ra, rời con đường nhỏ, chui vào đám tàn lá.
     Ông đang hành động một cách nguy hiểm?
     Không hẳn là như vậy.
     Thật vậy, ông không liều mình một cách nguy hiểm. Nhưng Gennaro nghĩ là mình đã có một kế hoạch, hay ít nhất, một khả năng có thể xảy ra. Nếu ông đang ở phía bắc các ngôi nhà chính, ông có thể đến lán bảo quản từ phía sau. Tất cả các con raptor có thể đều đang quanh quất ở các ngôi nhà khác về phía nam. Không có lý do gì mà chúng lại ở trong rừng.
     Hoặc ít ra ông cũng hy vong thế.
     Ông di chuyển thật yên lặng, và không mấy an tâm khi thấy mình vẫn gây nên quá nhiều tiếng động ông bắt mình đi chậm lại nghe tiếng tim đập thình thịch. Đám tàn lá hết sức dày đặc; ông không thể thấy quá hai ba bước về phía trước. Ông bắt đầu lo lắng là mình đã đi quá căn lán bảo quản. Nhưng rồi ông thấy mái lán về phía phải, cao trên các đọt co dừa.
     Ông di chuyển về phía lán, đi quanh một bên. Ông tìm thấy cửa, mở ra, và lọt vào trong. Bên trong tối om. Ông vấp phải một vật gì.
     Một chiếc giày.
     Gennaro cau mày. Ông đẩy cửa mở rộng và tiếp tục đi sâu vào ngôi lán. Ông thấy một lối đi men ở ngay phía trước. Đột nhiên ông nhận ra là không biết mình đi vào chỗ nào. Và ông đã để máy vô tuyến ngoài kia. Chó thật!
     Có thể có một máy vô tuyến đâu đó trong tòa nhà bảo quản. Hay là ông chỉ việc tìm cho ra máy phát điện. Ông biết mình có thể nhận ra được một máy phát điện. Có lẽ nó ở đâu đó dưới tầng hầm. Ông tìm được một cầu thang dẫn xuống dưới tầng hầm.
     Ở dưới tầng hầm còn tốt hơn, và khó nhìn được mọi thứ. Ông đi giữa những đám ống dẫn, đưa tay cao khỏi đầu để tránh va chạm.
     Ông nghe thấy tiếng một con thú gầm gừ và khựng người lại. Ông lắng tai nhưng tiếng gầm không còn nữa. Ông thận trọng đi tới trước. Có thứ gì rỏ lên vai ông, lên cánh tay trần. Hơi âm ấm, như nước. Ông quẹt tay vào xem thử trong bóng tối. Dinh dính. Ông đưa tên ngửi.
     Máu.
     Ông nhìn lên. Con raptor ngồi vắt vẻo trên mấy đường ống, chỉ cách đầu ông có mấy tấc. Máu đang nhỏ giọt ra từ móng chân nó. Với cảm giác kỳ dị mong được thoát ngay, ông tự nghĩ có khi nó bị thương. Và rồi ông bắt đầu chạy, nhưng con raptor nhảy lên lưng ông, đẩy ông nhào xuống đất.
     Gennaro khá khỏe, ông rướn người lên, hất được con raptor đi và lăn trên nền nhà tránh qua một bên. Khi ông quay lui, ông thấy con raptor đang nằm nghiêng, thở hổn hển.
     Đúng. Nó đã bị thương. Chân nó cháy máu, vì một lý do nào đó.
     Giết nó đi.
     Gennaro loạng choạng đứng dậy, tìm một thứ khí giới. Con raptor vẫn còn nằm thở hổn hển trên nền nhà. Ông điên cuồng tìm một thứ gì đó - bất cứ thứ gì - để dùng như một khí giới. Khi ông quay lui, con raptor đã đi mất.
     Nó gầm gừ, âm thanh dội lại trong bóng tối.
     Gennaro quay một vòng, đưa cả hai tay ra lần tìm. Và rồi ông thấy đau nhói ở bàn tay phải.
     Răng nhọn. Nó đã cắn ông
     Con raptor gật đầu, và Donald Gennaro bị giật ngã nhào.
*
     Nằm trên giường, người đẫm mồ hôi, Malcolm lắng nghe tiếng nói trong radio.
     - Có gì không? - Giọng Muldoon - Anh nghe được gì không?
     - Không có tin tức gì. - Giọng Wu.
     - Chó thật. - giọng Mudoon.
     Một lúc yên lặng. Malcolm thở dài:
     - Tôi không thể chờ được để nghe kế hoạch mới của anh ta. Điều tôi muốn làm là đưa mọi người vào nhà nghỉ, tập họp họ lại.
     - Nhưng tôi không biết phải làm thế nào. - Giọng Muldoon.
     - Có một chiếc Jeep ở khu nhà khách. - giọng Wu - Nếu tôi lái đến chỗ ông, liệu ông có thể chui vào xe được không?
     - Có thể. Nhưng anh sẽ phải bỏ trống phòng điều khiển.
     - Nhưng hiện giờ ở đây tôi cũng chẳng biết làm gì.
     - Có Chúa biết đấy là sự thật. - Malcolm nói - Phòng điều khiển mà không có điện thì còn gì là phòng điều khiển nữa.
     - Thôi được. - Giọng Mulidoon - Cứ thử xem. Thế này xem ra không hay chút nào.
     Nằm trên gường, Malcolm nói:
     - Thế này không phải là xem ra không hay. Mà xem ra giống như một thảm họa.
     - Mấy con raptor đang đi theo chúng ta khắp mọi nơi. - Giọng Wu.
     Malcolm nói:
     - Tốt hơn là đừng nghe nữa. Tắt máy đi.
     Radio ra tắt. Malcolm nhắm mắt lại, thở chầm chậm, lấy lại sức.
     Ellie:
     - Hãy nằm cho khỏe, tiến sĩ Malcolm. Hãy bình tĩnh.
     Malcolm:
     - Quý vị biết là chúng ta đang nói về vấn đề gì ở đây. Tất cả những cố gắng để điều khiển… Chúng ta đang nói đến thái độ cư xử của phương tây cũ cách đây năm trăm năm. Họ bắt đầu từ lúc miền Florence ở Ý còn là thành phố quan trọng nhất trên thế giới. Cái tư tưởng cơ bản của khoa học - là một phương pháp mới để nhìn vào thực tế, là khoa học là bắt buộc, khoa học không tùy thuộc vào niềm tin hay quốc tịch, là khoa học dựa trên lý trí - cái tư tưởng đó rất mới và rất kích thích, vào thời đó. Khoa học đã trao cho người ta sự hứa hẹn và niềm hy vọng đối với tương lai, và nó quét sạch hệ thống suy nghĩ cũ kỹ thời trung cổ vốn xưa hàng trăm năm. Thế giới trung cổ của những giáo điều tôn giáo và chính trị truyền từ đời này sang đời khác với những dị đoan đáng ghét ngã gục trước khoa học. Nhưng, nói đúng ra, nó phải như thế vì thế giới trung cổ thật sư chẳng còn gì hoạt động nữa. Nó không hoạt động về mặt tinh thần, nó không hoạt động về mặt kinh tế, và nó cũng chẳng thích hợp với thế giới mới vừa xuất hiện.
     Malcolm ho lên, và tiếp:
     - Nhưng ngày nay, khoa học là một hệ thống tín ngưỡng có hàng trăm năm nay Và giống như hệ thống trung cổ trước nó, khoa học bắt đầu không thích hợp với thế giới nữa. Khoa học đã đạt được quá nhiều sức mạnh đến nỗi những giới hạn thực tế của nó bắt đầu lộ rõ. Nói rộng ra, thông qua khoa học hàng tỷ người chúng ta sống trong một thế giới nhỏ bé, chen chúc chật chội và thông tin liên lạc với nhau. Nhưng khoa học không thể giúp chúng ta khẳng định phải làm những gì với thế giới ấy, hay là sống như thế nào. Khoa học có thể thực hiện được những phản ứng hạt nhân, nhưng nó không thể bảo chúng ta đừng có làm điều đó. Khoa học có thể tạo nên thuốc trừ sâu, nhưng không thể bảo chúng ta đừng có dùng nó. Và thế giới chúng ta dường như đã bắt đầu bị ô nhiễm những phần cơ bản nhất - không khí, nước, đất đai - bởi vì không ai thống trị được khoa học. - Ông thở dài - Điều này đối với mọi người quá rõ ràng.
     Yên lặng. Malcolm nằm nhằm mắt, hơi thở nặng nhọc. Không một ai nói lời nào, và đối với Ellie thì dường như cuối cùng Malcolm cũng đã ngủ được. Rồi đột nhiên, ông ta ngồi dậy.
     - Cũng lúc đó, sự biện hộ cho tinh thần vĩ đại cua khoa học biến đâu mất. Kể từ thời Newton và Descarte khoa học đã dứt khoát trao cho chúng ta điều mơ ước được kiểm soát tất cả. Khoa học đã công bố sức mạnh của nó để cuối cùng đã diều khiển mọi thứ, bất chấp cả sự hiểu biết các định luật thiên nhiên. Nhưng vào thế kỷ hai mươi, lời công bố đó đã bị đổ vơ không thể hàn gắn được. Thoạt tiên, định luật bất ổn của Heisenberg đặt ra những giới hạn về những gì chúng ta có thể biết được về thế giới nhỏ hơn nguyên tử. Ồ, tốt thôi, chúng ta bảo không một ai trong chúng ta sống trong thế giới nhỏ hơn nguyên tử. Thực tế nó chẳng dính líu gì đến chúng ta khi ta sống hết cuộc đời. Rồi lý thuyết của Godel đặt những giới hạn tương tự cho toán học, ngôn ngữ chính thức của khoa học. Các nhà toán học thường cho rằng ngôn ngữ của họ có một sự thật được thừa kế đặc biệt nào đó được rút ra từ những định luật logic. Bây giờ chúng ta biết rằng điều chúng ta gọi là "lý luận" chỉ là một trò chơi tự ý. Nó chẳng có gì đặc biệt, theo cách chúng ta suy nghĩ.
     Và ngày nay lý thuyết bất ổn chứng minh rằng tính không đoán trước được xây dựng sẵn trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nó cũng bình thường như là mưa bão chúng ta không thể đoán trước được. Và vì thế điều mơ ước to lớn của khoa học, có đã hàng trăm năm - ước mơ điều khiển tất cả - đã chết, trong thế kỷ của chúng ta. Và cùng với nó, phần lớn sự biện hộ, lý trí dành cho khoa học làm những điều nó cần làm, cũng chết theo. Và chúng ta không còn cơ hội để lắng nghe. Khoa học vẫn luôn bảo rằng nó có thể không biết hết mọi thứ vào lúc này nhưng cuối cùng cũng sẽ biết. Nhưng ngày nay chúng ta thấy rằng điều đó không đúng. Đấy chỉ là một sự khoe khoang ngu ngốc. Rất điên khùng, và lạc đường, cũng giống như một đứa trẻ nhảy ra khỏi cầu vì nó tin tưởng rằng nó có thể bay.
     Hammond lắc đầu:
     - Ông chỉ nói chuyện trên trời dưới nước.
     - Chúng ta đang làm chứng cho việc chấm dứt của kỷ nguyên khoa học, cũng giống như các hệ thống lỗi thời khác, đang tự hủy diệt. Khoa học có được trong tay sức mạnh, nhưng nó tự chứng tỏ là không có khả năng kiềm chế được sức mạnh đó. Bởi vì ngày nay mọi việc tiến thật nhanh. Năm mươi năm trước, mọi người đều tự đắc với quả bom nguyên tử. Đấy là sức mạnh không ai có thể tưởng tượng ra bất cứ thứ gì hơn nữa. Thế nhưng chỉ một thập kỷ sau quả bom, chúng ta có sức mạnh của kỹ thuật di truyền. Và sức mạnh di truyền có tiềm năng bỏ rất xa bom nguyên tử. Và nó sẽ nằm trong tầm tay của mọi người. Nó sẽ nằm trong thùng đựng đồ nghề dành cho những người làm vườn ở sân sau. Những thí nghiệm cho học sinh tiểu hoc. Những phòng thí nghiệm rẻ tiền cho những tên khủng bố và những nhà độc tài. Và điều đó sẽ bắt buộc mọi người phải cùng đặt một câu hỏi: "chúng ta nên làm gì với sức mạnh của chúng ta?" vốn chính là câu hỏi mà khoa học nói là không thể nào trả lờ.
     - Vậy việc gì sẽ xảy ra? - Ellie hỏi.
     Malcolm rùn vai:
     - Một sự thay đổi.
     - Loại thay đổi nào?
     - Tất cả những thay đổi lớn đều giống như chết. Cô không thể tham gia vào mặt kia cho tới chừng nào cô hiện diện ở đây. - Và ông ta nhắm mắt.
     - Con người khốn khổ. - Hammond lắc đầu.
     Malcolm thở dài:
     - Ông có suy nghĩ chút nào không, về việc ông, hay bất cứ ai trong chúng ta, sẽ ra khỏi được đảo này mà còn sống sót?
0
PHẦN SÁU
TRỞ VỀ
Động cơ điện kêu vù vù, chiếc xe chạy tới trong bóng tối của đường hầm. Grant lái xe, chân để trên sàn xe. Con đường hầm chẳng có nét gì đặc biệt trừ các lỗ thông hơi thưa thớt ở phía trên, có mái che, và do đó cho phép có một ít ánh sáng lọt vào. Ông thấy có những đống phân thú khô trắng nằm rải rác nhiều nơi. Rõ ràng là có rất nhiều con thú đã ở đây. Ngồi bên cạnh ông trong xe, Lex chiếu cây đèn rọi về phía sau, nơi con velociraptor nằm. Cô bé hỏi Grant:
- Tại sao nó có vẻ khó thở vậy?
- Vì bác bắn nó với mũi tên có thuốc mê.
- Nó có sắp chết không?
- Bác hy vọng là không.
- Chúng ta đem nó về làm gì?
- Để chứng minh với mọi người ở trung tâm rằng lũ khủng long thật sự đang sinh sản.
- Làm sao bác biết chúng đang sinh sản?
- Vì con này rất non. Và vì nó là con đực.
- Con đực à? - Lex rọi đèn dọc theo con thú.
- Đúng thế. Bây giờ dọi đèn ra phía trước. - ông đưa cổ tay ra, xây đồng hồ về phía cô bé - Mấy giờ rồi?
- Để cháu xem . .. Mười giờ ba lăm.
- Ô kê.
- Có nghĩa là chúng ta còn mười lăm phút nữa để tiếp xúc với chiếc tàu. - Tim góp ý.
- Chúng ta sẽ về kịp. Bác đoán là chúng ta sẽ đến khu nhà khách hầu như ngay lúc này thôi. - Ông không chắc, nhưng ông cảm thấy con đường hầm đang hơi lên dốc, dẫn họ lên mặt đất, và…
- Ôi chao! - Tim la lớn
Họ lao ra nơi ánh sáng ban ngày với tốc độ choáng người. Có sương nhẹ đang bay là đà, che một phần tòa nhà ẩn hiện mờ mờ ngay trên đầu họ. Grant thấy ngay lập tức đấy là khu nhà khách. Họ đã lái xe về ngay trước garage.
- Ngon lành quá! - Lex la lớn - Chúng ta về đến nơi. Ngon lành quá!
Cô bé nhún người nhấp nhổm trên nệm khi Grant cho xe vào đỗ trong nhà xe. Dọc theo tường có những chuồng thú. Họ để con velociraptor vào một chuồng với một chút nước. Và họ bắt đầu lên cầu thang lối vào tầng trệt của khu nhà khách.
- Cháu sẽ có một miếng hamburger, và món cá chiên. Và sữa khuấy với chocolate. Không còn khủng long nữa! Là la la…
Họ đi vào tiền sảnh. Và họ mở cánh cửa.
Và lặng người.
Trong tiền sảnh khu nhà khách, các cánh cửa gương đều bị đập vỡ và một làn sương xám lạnh thổi qua căn phòng tiếp tân chính. Tấm biển ghi câu WHEN DINOSAURS RULED THE EARTH rời khỏi tường đu đưa trên đinh treo, kêu cút kít trong gió. Con robot khủng long khổng lồ bị lộn ngược nằm hai chân chĩa lên trời, với những ống, những dây nhợ trong ruột tung cả ra ngoài. Bên ngoài khu nhà, qua khung cửa gương, họ thấy những hàng cây cọ dừa, in hình trong sương.
Tim và Lex đứng tựa người vào chiếc bàn sắt của người bảo vệ. Grant cầm tay máy vô tuyến của người gác và thử hết các băng tần.
- Hello. Đây là Grant. Có ai ở đây đó không? Hello, đây là Grant.
Lex nhìn người bảo vệ nằm trên nền nhà. Cô bé chẳng thấy gì ngoài đôi chân và bàn chân.
- Hello, đây là Grant. Hello.
Lex đang chồm người tới trước, nhìn quanh mép bàn. Grant chụp tay cô bé:
- Này, đừng có làm thế.
- Ông ta chết rồi à? Thứ gì trên nền nhà vậy? Máu?
- Đúng. - Tim đáp.
- Tại sao nó không thật đỏ?
- Mày dốt quá rồi đấy.
- Em mà dốt à?
Radio kêu xè xè. Một giọng vang lên:
- Lạy Chúa tôi. Grant đấy à? Phải tiến sĩ Grant không? - Và rồi - Tiến sĩ Grant? Tiến sĩ Grant? - Đấy là giọng Ellie.
- Tôi đây.
- Cám ơn Chúa. Ông không hề gì chứ?
- Vâng, tôi chẳng hề gì.
- Thế còn hai đứa bé? Tiến sĩ có thấy chúng không?
- Hai đứa đang ở đây với tôi. Chúng đều bình yên.
- Ôi cám ơn Chúa.
Lex đang bò quanh mép bàn. Grant đập vào mắt cá cô bé:
- Trở lại đây.
Radio lại tích tích:
- Ông đang ở đâu vậy?
- Ở tiền sảnh. Ở tiền sảnh khu nhà chính.
Ông nghe tiếng Wu qua radio:
- Ôi lạy Chúa. Chúng đang ở đây.
- Tiến sĩ Grant, nghe đây. - Giọng Ellie - Mấy con raptor đều đã sổng chuồng. Chúng có thể mở được cửa. Chúng có thể đang ở trong cùng tòa nhà với ông.
- Ôi chà. Thế cô ở đâu đấy? - Grant hỏi.
- Chúng tôi đang ở trong khu nhà nghỉ.
- Và những người khác? Muldoon, mọi người?
- Chúng tôi thất lạc vài người. Nhưng những người khác có đủ trong nhà nghỉ này.
- Các điện thoại đều hoạt động chứ?
- Không. Toàn bộ hệ thống đều ngừng. Không bộ phận nào hoạt động cả.
- Làm thế nào để hệ thống hoạt động trở lại.
- Chúng tôi đang cố gắng.
- Chúng ta phải cho hệ thống hoạt động lại ngay. Nếu không, trong vòng nửa tiếng nữa, những con raptor sẽ đến được đất liền.
Ông giải thích về việc chiếc tàu. Muldoon xen vào:
- Tôi nghĩ là ông không hiểu, tiến sĩ Grant. Chúng tôi chẳng làm gì có được nửa tiếng.
- Thế là sao?
- Có mấy con raptor đang theo chúng tôi. Lúc này trên mái nhà có hai con.
- Vậy thì sao? Tòa nhà ấy quá kiên cố, làm sao chúng vào được.
Tiếng Muldoon dặng hắng:
- Giờ thì rõ ràng là chẳng kiên cố gì. Không ai nghĩ rằng mấy con thú ấy có thể leo lên mái nhà. - Tiếng radio tít tít - Mấy con raptor leo qua hàng rào rồi lên mái nhà. Vả lại, những chấn song trên mái nhà thường là có truyền điện, nhưng điện đã bị cắt. Chúng đang gặm dần các song sắt.
- Gặm những song sắt à? - ông cau mày cố tưởng tượng tình huống - Bao lâu thì chúng cắn đứt?
- Vâng. Sức mỗi cú cắn của chúng có áp lực đến sáu ngàn ký trên mỗi phân vuông. Chúng giống loài linh cẩu, chúng cắn đứt kim loại và… - Rađio mất truyền sóng trong chốc lát.
- Bao lâu thì chúng cắn đứt. - Grant hỏi lại.
Giọng Muldoon:
- Tôi đoán chỉ chừng mười lăm phút nữa là chúng cắn đứt hoàn toàn và sẽ chui qua mái kính lộ thiên vào nhà, và một khi chúng đã vào được… A, chờ một chút, tiến sĩ Grant.
Radio rẹt tắt.
Ở mái kính lộ thiên bên trên giường của Malcolm, mấy con raptor đã cắn đứt thanh sắt thứ nhất. Một con níu thanh sắt kéo mạnh. Nó giẫm chiếc chân sau đầy móng vuốt của nó lên mái kính, tấm kính vỡ tan, mảnh vụn rơi xuống giường Malcolm bên dưới. Ellie đưa tay nhặt những mảnh lớn vứt đi. Malcolm nhìn lên:
- Chúa ơi, chúng ghê gớm thật.
Bây giờ kính đã vỡ, họ có thể nghe tiếng khịt mũi và tiếng gầm gừ của mấy con raptor, tiếng kèn kẹt của răng chúng nghiến vào sắt. Có những chỗ bị thưa đi do chúng đã cắn đứt. Nước giải đầy bọt của chúng rơi vung vãi lên nệm giường, lên bàn ngủ.
- Ít nhất chúng cũng chưa vào được. - Ellie nói - Chưa vào được cho đến khi chúng cắn đứt thêm một thanh nữa.
Giọng Wu:
- Nếu tiến sĩ Grant bằng cách nào đó có thể vào được nhà bảo quản…
- Ôi lũ súc sinh. - Muldoon khập khiễng bước quanh phòng với một chân bị sưng ở mắt cá - Ông ấy không thể đến đấy kịp. Ông ấy không thể làm cho máy điện chạy kịp. Không kịp để ngăn việc này.
Malcolm ho lên:
- Đúng thế. - giọng ông như nghe như tiếng gió thoảng.
- Ông ấy nói gì vậy? - Muldoon hỏi.
- Đúng thế. - Malcolm lặp lại - Có thể…
- Có thể gì?
- Đánh lạc hướng… - ông nhăn mặt.
- Đánh lạc hướng thế nào?
- Đi đến… hàng rào…
- Vâng? Và làm gì?
Macolm nhăn mặt cười yếu ớt:
- Đưa tay… qua hàng rào.
- Ôi Chúa - Muldoon quay đi.
Wu nói:
- Chờ một tí. Ông ấy nói đúng đấy. Chí có hai con raptor ở đấy, có nghĩa là ít nhất cũng còn bốn con ngoài kia. Chúng ta có thể đi ra ngoài và cố đánh lạc hướng chúng tới đây.
- Và rồi thì sao?
- Và rồi Grant có thể thoát khỏi chúng để đến tòa nhà bảo quản và cho máy điện chạy.
- Và rồi đi trở lại phòng điều khiển để cho hệ thống hoạt động trở lại?
- Chính xác.
- Không còn thì giờ. Không còn thì giờ. - Muldoon lắc đầu.
- Nhưng nếu chúng ta có thể nhử hai con raptor trên kia xuống đây, thậm chí có thể làm chúng đi khỏi mái lộ thiên kia. Có thể thực hiện được đấy. Đáng thử lắm.
- Làm mồi? - Muldoon hỏi.
- Đúng.
- Ai sẽ làm mồi đây. Tôi không làm mồi được. Mắt cá tôi sưng.
- Tôi sẽ làm - Wu xung phong.
- Không. - Muldoon bảo - Anh là người duy nhất biết qua về computer. Anh cần hướng dẫn Grant khởi động hệ thống.
- Vậy tôi sẽ làm mồi. - Harding nói.
- Không, - Ellie nói - ông Malcolm cần ông. Tôi sẽ làm.
- Không được đâu. - Muldoon nói - Cô sẽ bị raptor vây, raptor trên mái nhà…
Nhưng Ellie đã cúi xuống buộc dây giày:
- Chỉ có điều là đừng nói với Grant. Ông ấy sẽ căng thẳng.
*
Khu tiền sảnh thật yên tĩnh. Vài làn sương lạnh trôi ngang qua họ. Máy vô tuyến đã im trong mấy phút. Tim hỏi:
- Tại sao họ không nói chuyện với chúng ta nữa?
- Cháu đói bụng. - Lex rên rỉ.
- Họ đang bàn kế hoạch.
Radio kêu tít tít:
- Tiến sĩ Grant, ông có đấy không? Henry Wu đang nói đây.
- Tôi nghe đây. - Grant đáp.
- Xin nghe đây. Ông có thấy phía sau cửa khu nhà khách nơi ông đang có mặt không?
Grant nhìn qua cửa kính cuối phòng ra những hàng cọ dừa và sương.
- Vâng, có thấy.
- Có môt con đường ngang qua đám cọ dừa đến khu nhà bảo quản. Đấy là nơi đặt các thiết bị điện và các máy phát điện. Tôi tin là hôm qua ông đã nhìn thấy căn nhà bảo quản?
- Vâng, - Grant trả lời, dẫu ông thoáng ngạc nhiên. Ông đã nhìn ngôi nhà bảo quản ấy chỉ mới hôm qua ư? Thế mà như đã mấy năm trôi qua rồi.
- Bây giờ, nghe tôi đây. Chúng tôi tin là có thể nhử tất cả mấy con raptor đến đây, cạnh tòa nhà nghỉ mát này, tuy là không chắc lắm. Vì thể hãy cẩn thận. Cho chúng tôi năm phút.
- Ôkê.
- Ông có thể để mấy đứa nhỏ tại phòng ăn, và chúng sẽ an toàn. Đem radio đi theo khi ông đi.
- Ôkê.
- Tắt máy trước khi đi để khỏi gây ồn khi ông ra ngoài. Và gọi tôi khi ông vào được lán bảo quản.
- Ô kê.
Grant tắt máy vô tuyến. Lex bò lui:
- Chúng cháu sẽ xuống nhà ăn hả?
- Ừ. - Họ bắt đầu đi xuyên qua đám sương trong tiền sảnh.
- Cháu muốn một miếng hamburger. - Lex nói.
- Bác nghĩ là không có điện để nướng bánh đâu.
- Thế thì kem vậy .
- Tim, cháu phải ở bên Lex và giúp em.
- Dạ.
- Bác phải đi một chốc.
- Cháu biết.
Họ đến lối vào nhà ăn. Khi mở cửa, họ thấy các bàn ăn vuông và ghế, các cửa quay bằng inox ở bên kia phòng. Gần đấy, một quầy thu tiền và một tủ kệ chứa đầy kẹo bánh.
- Ôkê, hai đứa, bác muốn hai đứa ở đây cho dù có chuyện gì. Được chứ?
- Để máy vô tuyến cho cháu.
- Không được. Bác cần máy. Cứ việc ở đây. Bác chỉ đi chừng năm phút. Ôkê chứ?
- Ô kê.
Grant đóng cửa. Nhà ăn tối lại. Lex đập tay anh:
- Bật đèn lên chứ.
- Điện đâu mà bật. - Nhưng cậu bé mang kính nhìn đêm lên.
- Anh thế là ngon. Còn em làm sao thấy đây?
- Cứ việc nắm tay anh. Chúng ta sẽ kiếm thức ăn. - Cậu dẫn em đi tới. Trong ánh sáng xanh lân tinh, cậu thấy bàn và ghế. Về phía phải là chiếc quầy thu tiền sáng lên màu lục và dãy kệ với kẹo cao su và các thứ kẹo bánh khác. Cậu bốc một nắm các thỏi kẹo. - Em đã bảo anh, em thích ăn kem, em không thích kẹo.
- Ăn tạm thứ này đã.
- Kem thôi, anh Tim.
- Được rồi, được rồi.
Tim nhét nắm kẹo vào túi và dẫn Lex đi sâu vào phòng ăn. Cô bé giật tay áo anh:
- Em không thấy đường.
- Cứ đi với anh, cầm tay anh.
- Thế anh đi chậm lại.
Phía bên kia các dãy bàn ghế là hai cánh cửa quay có những cửa sổ tròn trên cửa. Có lẽ cửa này dẫn tới nhà bếp. Cậu bé đẩy một cánh và giữ cho nó mở rộng.
*
Ellie bước ra bên ngoài cửa trước khu nhà nghỉ và cảm thấy sưong lạnh phả vào mặt và chân. Tim cô đánh thình thịch, cho dù cô biết là mình hoàn toàn an toàn sau hàng rào. Ngay trước mặt cô thấy những thanh sắt to trong sương mờ.
Nhưng cô không thấy gì nhiều bên kia hàng rào. Cách hàng rào hai mươi mét về phía ngoài phong cảnh có màu trắng đục. Và cô chẳng thấy con raptor nào cả. Thật sự, các khu vườn và rừng cây hầu như yên ắng một cách kỳ dị. Cô cố ý la lớn cho tiếng cô vọng đến lớp sương:
- Ê ê!
Muldoon tựa vào khung cửa. Ông nói:
- Tôi e rằng như thế chẳng ăn thua gì. Chúng ta phải làm ồn lên.
Ông khập khiễng bước ra, đem theo một khúc sắt lấy ở phòng chứa vật liệu xây dựng. Ông đánh khúc sắt vào các thanh hàng rào nghe như tiếng kẻng:
- Mời tất cả đến đây. Bữa ăn đã dọn sẵn rồi đấy.
- Buồn cười quá. - Ellie nói, và cô lo lắng nhìn về phía mái nhà. Cô không thấy con raptor nào cả.
- Chúng không hiểu tiếng Anh. - Muldoon cười - Nhưng tôi tưởng tượng là chúng nắm được ý tưởng tổng quát.
Ellie vẫn thấy căng thẳng, và thấy sự khôi hài của ông hơi khó chịu. Cô nhìn về phía khu nhà khách, bao phủ trong sương. Muldoon ngừng đánh vào hàng rào. Trong giới hạn tầm nhìn, hầu như lẫn trong sương, Ellie thấy một chiếc bóng xám ma quái. Một con raptor.
- Vị khách ăn đầu tiên. - Muldoon la lớn.
Con raptor biến mất, và rồi xuất hiện lại, nhưng nó không đến gần hơn, và dường như nó lấy làm tò mò về tiếng ồn đến từ khu nhà nghỉ. Ellie bắt đầu lo lắng. Trừ khi cô nhử được mấy con raptor đến khu nhà nghỉ, nếu không Grant sẽ gặp nguy hiểm. Ellie nói với Muldoon:
- Ông làm quá ồn.
- Ồn quái gì đâu.
- Đúng thế đấy.
- Tôi biết mấy con thú này mà.
- Ông hơi say rồi đấy. - Ellie bảo - Để tôi liệu.
- Cô sẽ làm sao với nó?
Ellie không trả lời. Cô đi đến cổng:
- Họ nói raptor rất thông minh?
- Đúng thế. Ít nhất cũng thông minh như loài vượn người.
- Và chúng rất thính?
- Vâng, thính giác chúng tuyệt hảo.
- Vậy có thể chúng hiểu được âm thanh này. - Ellie mở cổng. Các bản lề sắt, bị gỉ sét vì dầm sương, kêu kèn kẹt thật to. Cô đóng cửa lại, rồi lại mở ra với những tiếng kèn kẹt khác. Và cô để cửa mở. Muldoon bảo:
- Tôi sẽ không làm thế dâu. Nếu cô định làm thế để tôi vào lấy súng phóng.
- Lấy súng phóng đi.
Muldoon thở dài:
- Gennaro đã giữ hết đạn.
- Thế thì, hãy trông chừng ra ngoài cho. - và Ellie đi ra cửa, bước ra ngoài những chấn song sắt. Tim cô đập mạnh đến nỗi cô không nghe được tiếng bước chân mình trên đất. Cô di chuyển ra xa hàng rào. Và hàng rào nhanh chóng biến mất trong màn sương một cách đáng sợ. Chẳng mấy chốc nó biến mất hẳn sau lưng cô.
Đúng như cô chờ đợi, Muldoon bắt đầu kêu lớn lên với cô trong tâm thần kích động vì hơi rượu:
- Này đồ con gái hư, cô bé, đừng có điên thế. - ông ta gào lên.
Cô la lớn trở lại:
- Đừng có gọi tôi là cô bé.
- Tôi muốn gọi cô bằng thứ gì mặc tôi.
Ellie không nghe tiếng Muldoon. Cô đang quay người chầm chậm, quan sát khắp mọi phía. Lúc này cô cách hàng rào ít nhất cũng hai mươi mét, và cô có thể thấy sương bay như mưa nhẹ hạt qua đám tàn lá. Cô đứng xa tàn lá. Cô di chuyển qua một đám bóng râm xám. Bắp chân và vai cô đau nhức vì căng thẳng. Mắt cô căng to để nhìn.
- Có nghe tôi không, đồ quỷ? - Muldoon lại gào lên.
Mấy con thú này khôn tới mức nào? Ellie tự hỏi. Khôn đủ để cắt đường thoái lui của mình? Quãng đường lui lại hàng rào chẳng xa mấy, không hẳn…
Chúng tấn công.
Không nghe lấy một tiếng động.
Con thú đầu tiên tấn công một cách hung dữ từ đám tàn lá dưới gốc một cây cao ở phía trái. Nó nhảy vọt tới và Ellie bắt đầu chạy, và nó nhảy lên trên không, móng giương lên trong thế chụp. Ellie lao như một vận động viên chạy đường trường bứt nước rút khi về tới đích, và con thú chụp hụt nhào trên đất. Bây giờ cô đang chạy thục mạng, không dám nhìn lui, thở hổn hển muốn đứt hơi, nhìn thấy các chấn song của hàng rào ló ra từ đám sương mờ trước mắt, nhìn thấy Muldoon xô cánh cửa mở rộng ra, nhìn thấy ông với tay tới cô, la lên với cô, chụp lấy tay cô và kéo cô quá mạnh đến nỗi cô hẫng chân nhào lăn trên đất. Và cô ngoái lại để kịp nhìn thấy con thứ nhất, rồi con thứ hai, rồi con thứ ba, tông vàn hàng rào và gầm gừ.
- Được việc rồi đấy. - Muldoon la lớn. Lúc này ông đang chọc mấy con thú, và chúng gầm gừ lại, man rợ. Chúng ném mình vào hàng rào, nhảy lên và một con nhảy lên gần tới đầu hàng rào - Chúa ơi, mấy con súc sinh này có thể nhảy qua được đấy.
Ellie đứng dậy, nhìn mấy vết xước và mấy chỗ bầm tím, máu chảy theo chân. Tất cả điều cô nghĩ đến là: ba con thú đã ở đây. Và hai con trên mái. Có nghĩa là vẫn còn sót một con, đang ở đâu đấy.
*
Grant rời khu nhà khách, đi thật nhanh, lẫn vào đám sương mù. Ông tìm được con đường giữa đám cọ dừa và theo nó đi về phía bắc. Ở trước mặt, căn lán bảo quản vuông vắn hiện ra trong lớp sương mù.
Ông chẳng thấy cánh cửa nào cả. Ông tiếp tục di. Ra phía sau, Grant thấy một bệ đúc bê tông dành cho việc bốc hàng lên xe hơi nằm khuất sau mấy hàng cây. Ông leo lên và thấy mình đứng đối diện với một cánh cửa sắt có nếp gấp để mở theo chiều thẳng đứng. Cửa khóa. Xa hơn về phía trái, Grant thấy một cánh cửa thường. Cánh cửa được chèn mở bởi một chiếc giày.
Grant bước vào trong và nhấp nháy mắt trong bóng tối. Ông lắng tai nghe động tĩnh, không nghe thấy gì. Ông cầm radio lên và bật:
- Đây là Grant. Tôi đã vào trong lán.
*
Wu nhìn lên mái lộ thiên. Hai con raptor vẫn nhìn xuống phòng của Malcolm, nhưng dường như chúng phân tâm vì tiếng ồn bên ngoài. Anh đi đến bên cửa sổ của tòa nhà nghỉ. Bên ngoài, ba con velociraptor vẫn tiếp tục tấn công hàng rào. Ellie đang chạy lui chạy tới, an toàn bên trong hàng rào. Nhưng mấy con raptor dường như không còn chú tâm đến việc tìm cách chụp bắt cô nữa. Lúc này chúng dường như đùa giỡn. Từ hàng rào chúng chạy quanh, lui rồi tới và gầm gừ, rồi ngồi thấp người xuống, chạy vòng tròn lại và cuối cùng tấn công. Kiểu cách hoạt động của chúng dường như đang biểu lộ một tập tính nào đó, hơn là chuẩn bị một cuộc tấn công nghiêm túc. Muldoon nói:
- Giống như chim.
Wu gật đầu:
- Chúng rất thông minh. Chúng thấy là không thể chụp được cô gái. Chúng không cần cố gắng nữa.
Tiếng radio tít tít:
- …lán.
Wu chụp lấy vô tuyến:
- Nói lại đi tiến sĩ Alan Grant.
- Tôi đã vào trong lán.
- Tiến sĩ Alan Grant, ông hiện đang ở trong căn nhà bảo quản?
- Vâng, - Và ông thêm - cứ gọi tôi là Grant.
- Vâng, ông Grant. Nếu ông đang đứng trong cánh cửa phía đông, ông sẽ thấy nhiều ống dẫn và các khoanh ống. - Wu nhắm mắt, nhìn khu lán trong trí - Ngay trước mặt là một miệng cầu thang lớn nằm ở trung tâm lán dẫn xuống hai tầng dưới mặt đất. Bên trái ông là một lố đi men có lót sắt với lan can sắt.
- Tôi thấy rồi.
- Đi dọc theo lối đi men.
- Tôi sắp đi đây. - Radio truyền đi nhè nhẹ tiếng bước chân ông đi trên con đường lát kim loại.
- Sau khi ông đi được sáu hay bảy, tám mét, ông sẽ thấy một lối đi khác rẽ về phải.
- Rồi, tôi thấy rồi.
- Đi theo lối ấy.
- Ôkê.
- Khi ông tiếp tục đi - Giọng Wu hưởng dẫn tiếp - ông sẽ thấy một cầu thang về phía trái. Bước vào đầu cầu thang.
- Tôi thấy rồi.
- Đi xuống cầu thang.
Một lúc thật lâu. Wu đưa năm ngón tay vuốt mớ tóc ướt đẫm. Muldoon căng thẳng, nhăn mặt.
- Rồi. Tôi đã xuống cầu thang.
- Tốt. Bây giờ ngay trước mặt ông phải là hai thùng chứa nhiên liệu lớn màu vàng có sơn chữ "Flammable".
- Chúng có chữ "Inflammable" và thêm chữ gì bên dưới. Bằng tiếng Tây Ban Nha.
- Phải rồi, tôi nhớ nhầm. Đấy là hai bình nhiên liệu cho máy phát điện. Một trong hai thùng đã dùng hết, vì thế chúng ta phải mở thùng kia. Nếu ông nhìn xuống đáy hai thùng, ông sẽ thấy ống dẫn màu trắng.
- Ống nhựa polivinyl cỡ một centimet?
- Phải, ống bằng nhựa polivinyl. Lần theo ống nhựa ấy.
- Ôkê. Tôi đang đi theo… ôi chao?
- Gì vậy?
- Không sao. Nó va vào đầu tôi.
Một lúc yên lặng. Rồi Wu:
- Ông không sao chứ?
- Ừ, ừ… không sao. Chỉ… u đầu. Ngu quá.
- Cứ theo ống dẫn.
- Ôkê, ôkê - Giọng Grant hơi chịu đau - Ôkê. Mấy ống dẫn dẫn đến một thùng nhôm lớn với những tấm giải nhiệt ở bốn phía. Có chữ "Honda". Trông giống máy phát điện.
- Vâng. Đấy là máy phát điện. Nếu ông đi quanh một bên ông sẽ thấy tấm bảng có hai nút bấm.
- Tôi thấy rồi. Một vàng một xanh?
- Đúng đấy. Ấn nút vàng trước, cứ giữ thế và ấn tiếp nút xanh.
- Vâng.
Một lúc yên lặng khác. Kéo dài đến cả phút. Wu và Muldoon nhìn nhau.
- Grant? - Wu gọi.
- Nó không chạy.
- Ông bấm nút vàng trước rồi nút xanh sau chứ?
- Vâng. Tôi đã làm đúng như thế - Giọng ông hơi bực mình - Có tiếng ro ro, rồi những tiếng tách tách tách rất nhanh. và rồi tiếng ro ro dừng, và chẳng có gì sau đó.
- Làm lại lần nữa.
- Tôi đã làm rồi. Nó vẫn không chạy.
- Được rồi, thế thì chờ cho một chút. - Wu cau mày - Nghe như máy phát điện cố khởi động nhưng không chạy được vì lý do gì đó. Ông Grant?
- Tôi nghe.
- Đi quanh ra phía sau máy phát điện, nối chỗ đường ống dẫn vào.
- Ôkê. - Một lúc yên lặng; rồi Grant nói - Ống dẫn đi vào một ống kim loại tròn trông giống như một ống bơm.
- Đấy, đúng rồi đấy. Đấy là ống bơm nhiên liệu. Hãy tìm ống van có khóa phía trên.
- Ống van?
- Ống van hẳn phải nằm ở đầu ống bơm, với một khóa có thể xoay được.
- Tôi thấy rồi, nhưng nó nằm một bên, không nằm phía trên.
- Ôkê. Xoay mở nó ra.
- Thấy có bọt khí đang tuôn ra.
- Tốt….
- Bây giờ, chất lỏng đang tuôn ra. Ngửi như mùi xăng.
- Ôkê. Khóa van lại. - Wu quay sang Muldoon, lắc đầu - Bơm khô dầu. - anh nói vào máy - Grant?
- Đây.
- Thử bấm nút lại.
Wu nghe thoang thoáng tiếng ho và tiếng xình xịch khi máy điện bắt đầu chạy, và rồi tiếng nổ đều đều êm ro. Grant reo lên:
- Máy chạy rồi.
- Tốt quá, Grant! Tốt quá!
- Bây giờ làm gì đây? - Giọng ông nghe có vẻ rầu rầu - Đèn vẫn không thấy sáng lên ở đây.
- Trở lại phòng điều khiển, và tôi sẽ hướng dẫn ông cách cho hệ thống hoạt động trở lại bằng tay.
- Ấy là những việc tôi phải làm lúc này
- Vâng.
- Ôkê. Tôi sẽ gọi khi tôi đến đấy.
Có tiếng xì xì cuối cùng, và rồi yên lặng.
- Grant?
Máy vô tuyến tắt lịm.
*
Tim bước qua cánh cửa quay ở cuối phòng ăn và vào nhà bếp. Một chiếc bàn sắt inox thật lớn nằm chính giữa phòng, một lò lớn với rất nhiều rá và vỉ nướng ở phía trái. Các tủ lạnh lớn đứng thành một dãy. Tim bắt đầu mở các tue lạnh để tìm kem. Hơi lạnh bốc ra trong không khí ẩm ướt khi cậu bé mở cửa tủ lạnh. Lex buông tay anh:
- Làm sao mà các lò lại đang hoạt động.
- Chúng đâu có hoạt động?
- Lò nào cũng có ngọn lửa xanh cả.
- Đấy là đèn báo bật gas.
- Đèn báo bật gas là gì?
- Lò này không dùng điện, mà dùng khí đốt. Đèn báo thế cho biết đang sẵn sàng để dùng. Chỉ cần mở gas là lò hoạt động, Và như thế có nghĩa là chúng mình sẽ nướng được thứ gì đó.
Trong tủ lạnh kế, Tim tìm thấy đủ thứ sữa tươi trong hộp giấy, rau quả và cả thịt bít tết, cá - nhưng không có kem.
- Em vẫn còn thích kem à?
- Em đã bảo anh rồi mà, phải không?
Chiếc tủ lạnh kế đó thật khổng lồ. Một cửa bằng sắt không gỉ, tay nắm nằm ngang. Cậu bé giật tay nắm, mở cửa tủ và thấy một ngăn đông lớn. Giống như cả một căn phòng, và bốc hơi lạnh.
- Anh Tim…
- Mày chờ một tí được không? - Cậu bảo em, giọng bực mình - Tao vẫn tìm kem cho mày đây.
- Anh Tim… Có cái gì ở kia.
Cô bé đang thì thào, và hai tiếng cuối hầu như chẳng nghe gì cả Rồi Tim lùi khỏi ngăn đông, thấy mép cửa tủ lạnh bọc trong làn hơi lân quang chói sáng qua kính nhìn đêm. Lex đứng bên chiếc bàn làm bếp bằng sắt. Cô bé đang nhìn về phía cửa bếp.
Cậu nghe tiếng phì phì rất trầm, như của một con rắn rất lớn. Âm thanh phát ra rồi giảm xuống nghe rất nhỏ. Hầu như khó mà nghe thấy. Thậm chí đấy có thể là tiếng gió, nhưng cậu biết đấy không phải là tiếng gió.
- Anh Tim… - cô bé thì thầm - em sợ quá.
Cậu bò tới cửa bếp và nhìn ra ngoài.
Trong căn phòng tối om cậu chỉ thấy hình vuông của mặt bàn. Và di chuyển giữa đám hình vuông ấy, yên lặng như một bóng ma, trừ tiếng phì phì của hơi thở, là một con velociraptor.
*
Trong bóng tối của căn phòng bảo quản, Grant lần theo các đường ống, trở lại chỗ cầu thang. Ông thấy khó khăn khi tìm đường đi trong bóng tối, lại còn tiếng nổ của máy phát điện làm cho ông khó định hướng. Ông đến chân cầu thang, leo lên thì nghe một tiếng gì khác nữa ngoài tiếng máy ở trong phòng. Grant dừng lại, lắng nghe.
Đấy là tiếng một người đang la lớn. Nghe như tiếng la của Gennaro. Grant la to:
- Ông ở đâu?
- Ở đây. - Gennaro trả lời - Trong xe tải.
Grant không trông thấy chiếc xe tải nào. Ông nhấp nháy mắt trong bóng tối. Ông tìm quanh. Ông thấy mấy điểm xanh xanh chói sáng, di chuyển trong bóng tối. Và rồi ông thấy chiếc xe tải, và ông quay về phía ấy.
*
Tim thấy căn phòng yên lặng đến sởn gáy.
Con velociraptor cao gần hai mét, thân hình rắn chắc, đôi chân mạnh khỏe và chiếc đuôi khuất dưới những dãy bàn. Tim chỉ có thể thấy những bắp thịt của phần nửa thân trên, hai chi trước buông sát theo thân hình, mấy chiếc vuốt cong lại. Cậu có thể thấy những đốm ngũ sắc óng ánh trên lưng. Con velociraptor rất cảnh giác; khi tiến tới, nó nhìn hết bên này đến bên kia, chiếc đầu cử động, giật tới giật lui như loài chim.
Một con chim săn mồi yên lặng, khổng lồ.
Căn phòng ăn tối om, nhưng rõ ràng là con raptor thấy rất rõ đủ để di chuyển rất vững vàng tới trước. Thỉnh thoảng, nó cúi mình, đầu thấp xuống dưới mấy mặt bàn. Tim nghe tiếng khịt mũi nhanh hơn. Rồi chiếc đầu lại ló lên, cảnh giác, ngóc tới ngóc lui như đầu chim.
Tim nhìn theo cho đến khi cậu thấy chắc chắn là con velociraptor đang đi về phía bếp. Có phải nó đang theo mùi của chúng không? Tất cả các sách đều nói là khủng long có khứu giác rất tồi, nhưng con này dường như đang ngửi rất tốt. Dù sao, làm sao mà sách biết rõ được.
Đây mới là sự thật.
Nó đang tiến về phía cậu.
Câu bé rút lui vào căn bếp. Lex hỏi:
- Có gì ngoài ấy thế?
Tim không trả lời. Cậu đẩy em xuống dưới một chiếc bàn nằm sau một thùng rác lớn. Cậu gí mắt sát vào em và thì thầm với giọng ra lệnh quyết định:
- Ở đấy nghe chưa. - Và rồi cậu chạy tới chiếc tủ lạnh.
Cậu vốc ra một nắm những miếng bít tết lạnh và chạy vội lại phía cửa bếp. Cậu yên lặng đặt miếng thứ nhất xuống nền nhà, lui vài bước, và đặt miếng thứ hai. Qua kính đêm, cậu thấy Lex thò đầu ra một bên thùng rác. Cậu vẫy tay cho cô bé thụt vào. Cậu đặt miếng thứ ba, và miếng thứ tư lần lần sâu vào bếp.
Tiếng phì phì nghe to thêm, và rồi bàn tay đầy móng vuốt nắm lấy mép cửa, và chiếc đầu to lớn ló ra nhìn quanh thận trọng. Con velociraptor dừng lại ở lối vào bếp.
Tim đứng cúi khom người ở gần cuối phòng cạnh chiếc bàn làm bếp. Nhưng cậu không còn thì giờ giấu mình. Đầu và vai cậu vẫn nhô lên khỏi mặt bàn. Cậu ở trong tầm nhìn của con velociraptor.
Chầm chậm, Tim cúi người xuống dưới mặt bàn… Con velociraptor gật đầu tìm quanh, nhìn thẳng vào Tim.
Tim sợ cứng người. Cậu vẫn còn ở trong tầm nhìn, nhưng cậu nghĩ, mình đừng có động đậy.
Con velociraptor đứng bất động ở lối đi. Và khịt mũi.
Ở đây tối hơn, Tim nghĩ. Nó không thấy rõ. Và bóng tối làm nó thận trọng.
Lúc này cậu bé có thể ngửi thấy mùi tanh của con bò sát to lớn, và qua kính đêm, cậu thấy con velociraptor yên lặng ngáp, đưa chiếc mõm dài lên cao, bày ra hai hàm răng nhọn bén như dao cạo. Con velociraptor lại bắt đầu tiến tới, đầu gật gật nhìn bên này bên kia. Đôi mắt tròn vo láo liên trong hai hốc xương.
Tim cảm thấy tim mình đập mạnh. Thật tệ hại khi phảiđương đầu với một con vật như thế này trong nhà bếp, thay vì ngoài rừng trống.
Khi nhìn gần, nó là con thú gây kinh khiếp hơn cả con khủng long bạo chúa. Con khủng long bạo chúa tuy là một con thú khổng lồ sức lực ghê gớm nhưng không ranh ma. Con velociraptor chỉ bằng cỡ con người nhưng rõ ràng nó rất nhanh nhẹn và thông minh. Tim thấy sợ đôi mắt lục lọi cũng như sợ hàm răng nhọn của nó.
Con velociraptor khịt mũi. Nó bước thẳng tới chỗ Lex! Hẳn nó đã ngửi thấy mùi con bé! Tim Tim đập thình thịch.
Con velociraptor dừng lại. Nó cúi xuống từ từ.
Nó nhìn thấy miếng thịt.
Tim muốn khom người xuống, nhìn dưới mặt bàn, nhưng cậu không dám cử động. Cậu đứng cứng người trong tư thế khom lưng, lắng nghe tiếng nhai rào rào. Con khủng long đang ăn miếng thịt. Lẫn cả xương.
Con raptor ngẩng chiếc đầu mảnh mai lên, và nhìn xung quanh. Nó khịt mũi. Nó thấy miếng thịt thứ hai. Nó đi nhanh tới bên miếng thịt. Nó cúi xuống.
Yên lặng.
Con raptor không ăn.
Chiếc đầu ngẩng lên. Chân Tim tê rần vì đứng khom nhưng cậu vẫn không cử động.
Tại sao con thú không ăn miếng thịt thứ hai? Nhiều ý nghĩ thoáng qua trong óc cậu bé - nó không thích mùi vị miếng thịt, nó không thích thịt lạnh, nó không thích miếng thịt không phải của con mồi sống, nó ngửi thấy có một chiếc bẫy, nó ngửi thấy Lex và nó ngửi thấy Tim, nó thấy Tim…
Lúc này con velociraptor cử động rất nhanh. Nó tìm thấy miếng thịt thứ ba, cúi đầu xuống, ngẩng lên, lại tiếp tục đi tới.
Tim nín thở. Con khủng long lúc này chỉ cách cậu có vài bước. Tim có thể thấy những đường vằn sọc xen những chấm lốm đốm và những nếp gấp của da cổ dưới hàm.
Con velociraptor khịt mũi ngửi. Nó gật đầu và nhìn thẳng vào Tim.
Tim gần đứt thở vì sợ. Thân hình cậu cứng đơ, căng thẳng. Cậu nhìn nó trong khi đôi mắt tròn của loài bò sát lấc láo dò tìm quanh phòng. Mấy tiếng khịt mũi khác.
Nó ngửi thấy mình rồi, Tim nghĩ.
Rồi chiếc đầu giật lui nhìn tới và con vật đi tiếp, về phía miếng thịt thứ năm. Tim nghĩ thầm, Lex ơi em đừng cử động, xin đừng cử động, cho dù em có muốn gì thì cũng đừng…
Con veloclraptor khịt mũi ngửi miếng thịt, và đi tiếp. Lúc này nó đang đứng cạnh cửa của chiếc tủ lạnh lớn đang mở, trông vào ngăn đông. Tim có thể thấy hơi lạnh cuồn cuộn tuôn ra, là là trên nền nhà quấn quanh chân con thú. Một bàn chân to đầy móng nhấc lên, rồi đặt xưống, yên lặng. Con khủng long do dự. Quá lạnh, Tim nghĩ bụng. Nó sẽ không bước vào, tủ quá lạnh, nó sẽ không bước vào, nó sẽ không bước vào…
Con khủng long bước vào.
Chiếc đầu khuất mất, rồi thân hình, rồi chiếc đuôi cứng. Tim bật lên, bắn vụt người về phía cánh cửa sắt không gỉ đóng sầm nó lại. Cửa ập vào chóp đuôi con thú! Cửa sẽ không đóng kín được! Con velociraptor gầm lên, tiếng gầm nghe kinh khủng. Hơi khiếp đảm, cậu bước lui một bước - Chóp đuôi biến mất. Cậu ập mạnh cửa và nghe một tiếng tách! Cửa gài lại!
Cậu la lớn:
- Lex! Lex! - Cậu nghe con raptor đấm thình thình vào cánh cửa vừa được gài lại bằng một then sắt phẳng bên trong, và nếu con raptor đẩy mạnh, cửa sẽ mở được. Chúng phải khóa được cửa lại.
- Lex!
Lex đã đến bên anh:
- Anh muốn em làm gì.
Tim tựa ngửa người vào tay nắm nằm ngang, đè cửa đóng chặt, bảo em:
- Có một cây chốt nhỏ. Tìm cây chốt.
Con velociraptor rống như một con sư tử, tiếng rống bị nghẽn lại trong tủ sắt dày. Nó tông mạnh người vào cánh cửa. Lex la lớn:
- Em không thấy gì cả.
Cây chốt treo lủng lẳng dưới tay nắm cửa tủ, quay tròn quanh một sợi dây kim loại nhỏ xíu.
- Nó ở đây này! - Tim bảo em.
- Em không thấy. - Cô bé la lên, và rồi Tim nhận ra là cô em không có kính nhìn đêm.
- Vậy thì em mò mà tìm.
Cậu thấy bàn tay nhỏ nhắn của em đưa lên, chạm vào tay cậu lần tìm chiếc chốt khóa, và khi cô em đứng gần cậu, cậu mới biết em mình sợ hãi đến chừng nào. Hơi thở cô bé đứt đoạn trong cơn khiếp đảm khi cô mò tìm chiếc chốt, con velociraptor đập vào cửa, cửa tủ mở ra - Chúa ơi, nó mở cửa - nhưng con thú không nghĩ là cửa mở nên nó lại quay lui để đập cú khác. Tim lại ập cửa vào được. Lex lùi lại, tay Đưa lên trong bóng tối.
- Em lấy được rồi. - Lex la lên, nắm chặt chiếc chốt trong tay, và đẩy nó vào lỗ. Nó tuột ra.
- Đẩy phía trên xuống. Từ phía trên xuống.
Cô bé cầm lại chiếc chốt, nhấc lên cùng với sợi xích nhỏ, nhét vào lỗ bên trên tay nắm, xoay, và đẩy xuống. Vào gọn trong lỗ.
Cửa đã được gài chặt.
Con velociraptor rống lên. Tim và Lex bước lui khỏi cửa khi con khủng long lại đập vào cửa. Với mỗi cú đập, tấm cửa sắt và bản lề kêu cót két, nhưng cửa vẫn vững. Tim nghĩ là con khủng long không thể nào mở cửa được.
Con raptor đã bị khóa lại trong tủ lạnh. Cậu bé buông một tiếng thở dài:
- Đi thôi. - Cậu cầm tay em, và hai đứa chạy.
*
- Đáng lẽ ông đã thấy chúng. - Gennaro nói với Grant khi Grant dẫn ông ta trở lại sau tòa nhà bảo quản. - Chúng nó có đến hơn hai chục con compys. Tôi phải bò vào chiếc xe tải để tránh chúng. Chúng bám đầy vào cửa chắn gió trước. Cứ quàng quạc ở đấy, như những con ó. Nhưng chúng bỏ chạy khi ông đến.
- Loài ăn xác chết súc vật. - Grant giải thích - Chúng sẽ không tấn công cái gì chuyển động hay trông mạnh mẽ. Chúng chỉ chén các thứ đã chết hay gần chết. Nói cách khác, là những thứ không cử động.
Hai người đang leo lên cầu thang, trở lại lối vào. Grant hỏi:
- Thế còn con raptor tấn công ông thì sao?
- Tôi không rõ.
- Nó bỏ đi à?
- Tôi không thấy. Tôi bỏ chạy, tôi nghĩ là nó bị thương. Tôi chắc là Muldoon bắn nó ở chân và nó bị chảy máu khi vào đây. Rồi thì… tôi không rõ. Có thể nó bỏ ra ngoài. Có thể nó chết trong này. Tôi không thấy.
- Vậy có lẽ nó vẫn còn ở đâu đó trong này.
*
Wu nhìn ra mấy con raptor bên hàng rào qua cửa sổ khu nhà nghỉ. Chúng vẫn dường như còn đùa giỡn với Ellie. Chúng tiếp tục các cử chỉ này khá lâu, và anh thấy có thể là quá lâu. Dường như chúng có vẻ muốn cố giữ sự chú ý của Ellie, cũng như cách Ellie đã làm để thu hút sự chú ý của chúng.
Tập tính của các con khủng long vẫn luôn luôn là điều suy tư thứ hai của Wu. Đúng như thế thôi: Tập tính là hậu quả ở vị trí thứ hai của DNA, cũng như việc xếp lớp protein. Thật sự anh không thể đoán trước được tập tính, và thật sự anh cũng không thể điều khiển tập tính được, trừ khi dùng những cách thô bạo, tỉ như làm cho con thú phụ thuộc vào việc thay đổi chế độ ăn uống bằng cách rút bớt đi một enzym. Nhưng, đại để, các hậu quả thuộc tập tính ở ngoài tầm hiểu biết. Anh không thể nhìn vào một chuỗi DNA và đoán trước tập tính được. Đấy là điều bất khả.
Và điều đó làm cho công việc rút DNA của Wu chỉ đơn thuần dựa trên kinh nghiệm. Đấy là một công việc có vẻ chắp nối, theo cách của một người thợ hiện đại sửa chữa một ổ khóa thời cổ. Anh đang liên hệ với một thứ gì từ quá khứ, một thứ gì được cấu tạo với những chất liệu cổ đại và theo những quy tắc cổ đại. Anh không thể biết chắc tại sao nó hoat động như nó đã hoạt động; và nó được sửa chữa và bổ khuyết nhiều lần, bằng sức mạnh của tiến hóa, qua các niên đại. Vì thế, giống như người thợ đã thực hiện những điều chỉnh rồi xem thử liệu chiếc đồng hồ có chạy tốt hơn không, Wu cũng đã có những điều chỉnh rồi xem thử các con thú có có được những tập tính tốt hơn không. Anh chỉ cố sửa chữa những tập tính thô bạo: húc đầu vào hàng rào điện, cà cọ chỗ da trầy vào thân cây…
Và những giới hạn về hiểu biết khoa học của anh đã để lại nơi anh những cảm tưởng bí mật về các con khủng long trong công viên. Anh chưa bao giờ chắc, thật sự chưa bao giờ chắc chút nào cả, là tập tính của lũ thú có đúng như lịch sử của chúng hay không. Chúng có cư xử đúng như là chúng đã cư xử trong qua khứ? Đấy là một câu hỏi còn để ngỏ, hoàn toàn không thể trả lời được.
Và dẫu Wu sẽ không bao giờ thừa nhận việc đó, nhưng việc phát hiện ra lũ khủng long đang sinh sản cho thấy giá trị to lớn của công trình của anh. Một con thú sinh sản được, có hiệu quả chứng minh rõ ràng; nó hàm ý rằng Wu đã xếp đặt các xoắn với nhau một cách hoàn toàn đúng. Anh đã tái sinh lại được một con thú của triệu triệu năm về trước, với sự chính xác đến mức mà con thú đó thậm chí có thể tự sinh sản được.
Nhưng, vào lúc này, nhìn những con raptor ngoài hàng rào, anh thấy lo lắng bởi những cử chỉ kéo dài quá lâu của chúng. Lũ raptor rất thông minh, và những con thú thông minh thường nhanh chóng gây rắc rối. Những con thú thông minh cũng có thể sắp đặt được những kế hoạch, và…
Harding từ hành lang của phòng Malcolm bước vào:
- Ellie đâu rồi?
- Vẫn còn bên ngoài.
- Tốt hơn là bảo cô ấy vào, hai con raptor đã rời khỏi mái lộ thiên.
- Vào lúc nào? - Wu hỏi, đi về phía cửa.
- Cách đây một lúc rồi.
Wu xô cửa phòng trước:
- Cô Ellie! Hãy vào đây ngay! Vào ngay!
Ellie ngoái nhìn Wu, ngạc nhiên:
- Có vấn đề gì đâu. Mọi thứ đang kiểm soát được…
- Vào ngay!
Cô lắc đầu:
- Tôi biết tôi đang làm gì mà.
- Này, cô Ellie, có vào ngay không?
Muldoon không muốn Wu cứ đứng đó với cánh cửa mở ra, và ông định nói thế thì thấy một bóng đen từ trên lao xuống, và ông nhận ra được ngay tình huống đã xảy ra. Wu bị kéo hẫng chân ngã nhào ra cửa, và Muldoon nghe tiếng Ellie thét lên. Muldoon đến bên cửa nhìn ra và thấy Wu đang nằm ngửa, thân hình bị xẻ dọc bởi chiếc vuốt lớn, và con raptor đang giật đầu day đám ruột của Wu mặc dầu Wu vẫn còn sống, vẫn còn yếu ớt đưa tay lên cố đẩy chiếc đầu to lớn của con vật đi. Wu bị con vật ăn thịt khi anh vẫn còn sống. Ellie ngừng thét và bắt đầu chạy dọc theo bên trong hàng rào, Muldoon đóng ập cửa lại, choáng người vì kinh hoàng. Việc xảy ra quá nhanh.
Harding hỏi:
- Nó nhảy từ trên mái xuống à?
Muldoon gật đầu. Ông bước tới cửa sổ nhìn ra, và ông thấy ba con raptor bên ngoài hàng rào lúc này đang bỏ chạy. Nhưng chúng không chạy theo Ellie.
Chúng chạy lui, về phía trung tâm nhà khách.
*
Grant đến mép cửa tòa nhà bảo quản và nhìn ra trước, trong đám sương. Ông có thể nghe tiếng mấy con raptor gầm gừ và tiếng gầm gừ dường như càng lúc càng đến gần. Lúc này, ông thấy những thân hình của chúng chạy ngang ông. Chúng đang đi về phía trung tâm nhà khách.
Ông nhìn lui Gennaro. Grant nghiêng đầu và thì thầm vào tai Gennaro:
- Không còn sự chọn lựa. Chúng ta phải cho computer hoạt động trở lại.
Grant ra khỏi lán bước vào đám sương.
Sau một phút, Gennaro bước theo.
*
Ellie không ngừng suy nghĩ. Khi thấy con raptor nhảy xuống trong hàng rào tấn công Wu, cô chỉ việc quay người chạy, càng nhanh càng tốt, về phía cuối tòa nhà nghỉ. Có một khoảng trống khoảng năm mét giữa tòa nhà và hàng rào. Cô chạy, không nghe thấy tiếng mấy con raptor đuổi theo, chỉ nghe tiếng thở của mình. Cô quẹo ở một góc, thấy một cây mọc bên cạnh tòa nhà, liền nhảy lên, bám vào một cành, đu người lên. Cô không cảm thấy kinh khủng. Cô cảm thấy một niềm hào hứng khi cô đá hai chân và thấy hai chân mình đưa cao lên trước mặt mình, cô móc hai chân vào một cành xa hơn, thót bụng kéo người lên thật nhanh.
Cô đã cách mặt đất ba mét rưỡi, mấy con raptor vẫn không theo cô, khi cô bắt đầu cảm thấy yên tâm thì cô thấy con thú đầu tiên ở gốc cây miệng dính đầy máu, những mẩu thịt còn dính nơi hàm. Cô tiếp tục leo cao lên thật nhanh, tay này sau tay kia, chỉ với và leo, cô gần như có thể thấy được nóc tòa nhà. Cô nhìn xuống.
Hai con raptor đang leo lên cây.
Lúc này cô đã cao ngang mức với mái nhà, có thể thấy mặt tường xây bằng đá cách cô chừng hơn một mét và những mái kính lộ thiên hình chóp vươn lên trong sương. Có một cửa trên mái, cô có thể chui qua đấy để vào nhà. Bằng một cố gắng hết sức mình, cô tung người vào khoảng không và đáp xuống bấu vào mặt đá. Cô bị trầy da mặt nhưng không hiểu sao, cảm giác của cô chỉ là hồ hởi, dường như cô đang thi đấu một môn thể thao, một môn thể thao mà cô quyết định thắng cuộc. Cô chạy đến cửa mái dẫn vào bệ cầu thang. Phía sau, cô có thể nghe tiếng mấy con raptor lắc rung mấy cành cây. Chúng vẫn còn trên cây.
Cô đến được bên cửa, và xoay tay nắm.
Cửa khóa.
Phải mất đến một lúc ý nghĩa của việc cửa khóa mới cắt ngang sự phấn chấn của cô. Cánh cửa khóa. Cô ở trên mái nhà và không thể leo xuống được. Cánh cửa khóa.
Cô đấm vào cửa trong cơn thất vọng, rồi cô chạy về phía cuối mái, hi vọng thấy một con đường đi xuống, nhưng chỉ thấy một hồ bơi với mặt nước màu lục mờ mờ trong làn sương bay dưới mặt đất. Xung quanh hồ bơi là mặt bến đúc bê tông. Từ ba đến ba mét rưỡi. Quá xa đối với cô, không thể nhảy qua được.
Không có cây để leo xuống. Không có cầu thang. Không có lối thoát dành cho khi xảy ra hỏa hoạn. Không có gì cả.
Ellie quay lại, và thấy mấy con raptor đang nhảy qua mái nhà một cách dễ dàng. Cô lại chạy đến cuối mái bên kia, hy vọng có một cửa khác ở đấy, nhưng không có.
Mấy con raptor chầm chậm tiến về phía cô, yên lặng len giữa những mái chóp bằng kính. Cô nhìn xuống. Mép hồ bơi cách xa chân tường hơn ba mét. Quá xa.
Mấy con raptor đến gần hơn, bắt đầu đi tách ra, và cô suy nghĩ, một cách không logic: Chẳng phải sự việc cứ luôn xảy ra như thế này đó sao. Một nhầm lẫn rất nhỏ nào đó xen vào làm đổ vỡ tất cả. Cô vẫn còn cảm thấy nóng mặt, vẫn còn cảm thấy muốn chiến thắng, và không hiểu sao cô không thể tin được rằng mấy con thú này sắp sửa tóm được cô, cô không thể tin được rằng vào lúc này cuộc đời cô sắp sửa chấm dứt bằng cách này. Dường như không thể như thế này được. Cô như được bao trùm trong một thứ niềm vui được che chở. Cô chỉ việc không tin là việc này có thể xảy ra.
Mấy con raptor gầm gừ. Ellie bước lùi, di chuyển về phía cuối của mái nhà. Cô lấy hơi, bắt đầu chạy nước rút về cuối mái đằng kia. Và khi cô chạy về phía cuối mái, cô thấy hồ bơi, và cô biết là hồ quá xa nhưng cô nghĩ: ăn thua gì, và nhảy vào khoảng không.
Và rơi xuống.
Và với một cú choáng tê người, cô cảm thấy mình bao bọc trong nước lạnh ngắt. Cô đã ở dưới nước. Cô đã làm được việc này! Cô trồi lên mặt nước nhìn lên mái nhà, và thấy mấy con raptor đang nhìn xuống cô. Và Ellie biết rằng nếu cô làm được thì mấy con raptor cũng làm được. Cô đạp nước bơi vào và nghĩ, mấy con raptor bơi được không? Nhưng cô chắc chắn là chúng bơi được. Có lẽ chúng bơi được như cá sấu.
Hai con raptor quay người khỏi mép mái nhà. Và rồi cô nghe Harding kêu: "Cô Ellie!" Và cô nhận ra là ông ta đã mở cửa trên mái nhà. Hai con raptor đang tiến về phía ông ta.
Harding đã leo hai bậc một chiếc cầu thang lên cửa mái nhà, và ông đã mở tung cánh cửa không suy nghĩ, "Cô Ellie!" ông ta kêu lớn. Và rồi ông dừng lại. Sương lẩn khuất giữa các mái lộ thiên hình kim tự tháp trên mái. Không thấy mấy con raptor đâu cả.
- Cô Ellie?
Ông ta mải lo Ellie đến nỗi phải một lúc mới nhận ra sai lầm của mình. Đáng lẽ mình phải thấy mấy con thú, ông thầm nghĩ. Tiếp theo ngay đó, chi trước con raptor với những móng nhọn đạp mạnh vào mép cửa, cào vào ngực ông một vết đau buốt, và ông dốc hết sức còn lại thụt người vào và đóng mạnh cửa vào cánh tay con vật, từ dưới cầu thang, ông nghe Muldoon kêu lên: "Cô ấy đây rồi. Cô ấy đã vào trong nhà rồi."
Ở bên ngoài cánh cửa, con raptor gầm gừ và Harding đóng ập cửa lần nữa, và cánh tay con thú rút ra, ông đóng cửa, bật khóa đánh tách rồi ngã nằm xuống bệ cầu thang, ho lên.
*
- Chúng ta đang đi đâu đây? - Lex hỏi.
Hai đứa bé đang ở trên tầng thứ nhất của khu nhà khách. Một hành lang có lắp cửa kính chạy dài theo tòa nhà. Tim đáp:
- Tới phòng điều khiển.
- Phòng ấy ở đâu?
- Đâu đằng này. - Tim nhìn lên mấy tấm bảng ghi ở cửa khi chúng đi ngang. Những phòng này dường như là những phòng làm việc. Chúng đến một khu được chặn lại bằng kính.
Có một khe để nhét thẻ an toàn, nhưng Tim chỉ đẩy là cửa mở.
- Làm sao mà nó mở được?
- Không có điện. - Tim trả lời em.
- Ta vào phòng điều khiển làm gì?
- Tìm một máy vô tuyến. Chúng mình cần phải gọi một người nào đó.
Bên kia phần ngăn cách bằng kính, hành lang tiếp tục kéo dài. Tim nhớ ra khu vực này; cậu bé đã thấy trước đó, trong chuyến đi xem. Lex lết bết đi theo cạnh anh. Cả hai đứa nghe thấy tiếng gầm gừ của mấy con raptor ở xa xa. Mấy con tìh dường như đang tới gần. Rồi Tim nghe chúng đạp vào cửa gương dưới thang lầu.
- Chúng nó ở ngoài kia. - Lex nói nhỏ.
- Đừng có lo.
- Chúng làm gì ở đây nhỉ?
- Đừng thèm chú ý đến.
- Đây rồi. - Tim đẩy cửa. Phòng điều khiển chính y nguyên như cậu đã thấy trước đây. Chính giữa phòng Ià một bàn điều khiển với bốn ghế và bốn màn hình giám sát. Căn phòng hoàn toàn tối trừ mấy màn hình điều khiển và tất cả đều xuất hiện những mâm hình vuông màu sắc khác nhưng Lex hỏi:
- Radio đâu?
Nhưng Tim đã quên mất chuyện radio. Cậu bước tới trước, nhìn chăm chú vào các màn hình. Các màn hình có hình? Điều đó chỉ có thể là…
- Năng lượng đã có lại rồi…
- Eo ơi - Lex la, nhảy người lên.
- Gì vậy?
- Em đang đứng trên một cái tai của ai ấy.
Tim không thấy có cái xác nào khi cậu bước vào đây. Cậu nhìn lại và thấy một cái tai ở đấy, nằm trên nền nhà. Lex nói:
- Khiếp quá.
- Thôi, đừng để ý. - Tim nhìn trở lại màn hình.
- Mấy thứ khác của ông ta đâu rồi?
- Đừng để ý đến mấy thứ đó vào lúc này nữa.
Cậu nhìn sát một màn hình điều khiển. Trên màn hình là một menu gồm nhiều ô vuông, trong mỗi ô vuông là những lời hướng dẫn. Tất cả nằm dưới dòng chữ SYSTEM START UP. Lex bảo anh:
- Anh đừng có điên mà mất thì giờ với chúng anh Tim.
- Đừng có lo. Tao không mất thì giờ đâu.
Cậu đã từng thấy nhiều máy computer rất phức tạp trước đây, như những máy đặt trong các tòa nhà bố cậu làm việc. Những computer điều khiển mọi thứ, từ các thang máy cho đến các hệ thống sưởi ấm hay làm lạnh, về cơ bản, trông chúng cũng giống như cái này - một loạt các ô nhỏ có chữ nằm trong ô - nhưng chúng thường dễ hiểu hơn. Và dường như luôn luôn có những ô chữ phụ để giúp, nếu người ta cần hiểu thêm về hệ thống. Nhưng ở đây cậu không thấy những ô chữ phụ ấy. Cậu nhìn lại, cho thật chắc.
Nhưng rồi cậu thấy một điều gì khác: Những con số cứ chớp tắt trên góc trái của màn hình. Con số là 10: 47: 22. Rồi Tim nhận ra đấy là con số chỉ giờ. Chỉ còn có mười lăm phút nữa để ngăn chiếc tàu - nhưng cậu lo lắng cho những người trong khu nhà nghỉ nhiều hơn.
Có tiếng bíp bíp tĩnh điện. Cậu quay lại và thấy Lex đang cầm một máy vô tuyến. Cô em đang vặn những nút và mặt số. Cô hỏi:
- Làm sao cho nó kêu? Em không thể làm cho nó kêu được.
- Đưa máy cho anh.
- Của em mà! Em tìm được!
- Đưa cho tao, Lex.
- Em dùng nó trước mà!
- Lex!
Thình lình, máy vô tuyến kêu xè xè: "Có chuyện gì thế này?". Đấy là giọng Muldoon.
Kinh ngạc, Lex thả chiếc máy xuống nền nhà.
*
Grant cúi đầu, bò giữa đám cây cọ dừa. Qua làn sương trước mặt ông có thể thấy mấy con raptor rít lên, gầm gừ và húc đầu vào mấy tấm kính cửa khu nhà khách. Nhưng, giữa những lúc gầm gừ, chúng yên lặng, đầu giật giật, dường như lắng nghe thứ gì ở xa xa. Rồi chúng rúc lên những âm thanh nho nhỏ. Gennaro hỏi:
- Chúng làm gì vậy?
- Dường như chúng tìm cách vào phòng ăn. - Grant đáp.
- Có gì trong phòng ăn không?
- Tôi để hai đứa nhỏ trong ấy.
- Chúng có đập vỡ gương để đi qua được không?
- Tôi chắc là chúng không làm được. Không.
Grant trông chừng, và bây giờ ông nghe thấy tiếng xè xè của một máy vô tuyến xa xa, và mấy con raptor bắt đầu nhảy nhót xao động hơn. Con này sau con kia, chúng bắt đầu nhảy lên càng lúc càng cao, cho đến cuối cùng ông thấy con thứ nhất nhảy nhẹ nhàng lên lan can tầng lầu thứ nhất, và từ đấy nó đi vào tầng thứ nhất của nhà khách.
*
Trong phòng điều khiển ở tầng thứ nhất, Tim chộp lấy máy vô tuyến Lex vừa mới đánh rơi. Cậu bấm nút:
- Hello? Hello?
- Cháu đấy à, Tim? - Đấy là giọng Muldoon.
- Dạ, cháu đây.
- Cháu đang ở đâu đấy?
- Trong phòng điều khiển. Điện có rồi!
- Tốt quá, Tim.
- Nếu có ai chỉ cho cháu cách làm cho computer hoạt động, cháu sẽ làm.
Một lúc yên lặng.
- Hello? - Tim gọi - Bác nghe cháu không?
- À,… ở đây mấy bác đang có chuyện. Không ai, à, có ai làm chuyện đó không? Biết cách khởi động hệ thống computer?
- Bác đang nói đùa đấy à? Không ai biết sao? - Tim thấy khó tin.
- Không. Bác chắc là ở chỗ nào đó ở hệ thống đường dây. Bật hệ thống đường dây chính lên… Cháu có biết gì về computer không Tim?
Tim nhìn lên màn hình chăm chăm. Lex thúc anh.
- Bảo với ông ấy là không đi, anh Tim.
- Biết… một ít. Cháu biết vài chuyện.
- Vậy cháu gắng thử xem. Ở đây không ai biết phải làm gì.
Tiến sĩ Grant cũng chẳng biết gì về computer.
- Ô kê. Cháu sẽ thử xem. - Tim tắt máy vô tuyến và nhìn vào màn hình, tìm hiểu.
- Anh chẳng biết làm gì đâu, anh Tim.
- Tao biết chứ.
- Nếu biết thử làm xem.
- Chờ một tí. - Như để bắt đầu, cậu kéo chiếc ghế gần tới bàn điều khiển và bấm mấy nút con. Đấy là những nút bấm làm cho con chạy di chuyển trên màn hình. Nhưng không có gì xảy ra. Rồi cậu bấm những nút khác. Màn hình vẫn không thay đổi.
- Sao? - Lex hỏi.
- Hình như có gì không ổn. - Tim cau mày.
- Đấy chỉ là vì anh không biết.
Cậu bé lại xem xét, nhìn các bộ phận computer kỹ càng hơn. Bàn phím có một dãy nút bấm phía trên, giống bàn phím một máy computer xách tay bình thường. Nhưng màn hình điều khiển thì to và có màu. Tim nhìn ở các mép màn hình và thấy những điểm sáng mờ mờ màu đỏ.
Đèn màu đỏ, cả bốn xung quanh mép màn hình. Điều này có thể là gì? Cậu đưa tay về phía đèn đỏ và thấy màu đỏ nhẹ chiếu lên da. Cậu sờ màn hình và nghe một tiếng bíp. Một chốc sau, một ô hướng dẫn nhỏ xuất hiện giữa màn hình trong khi cả menu các ô nhỏ nhấp nháy.
- Việc gì vậy? Anh đã làm gì thế? Anh đụng vào cái gì rồi thế?
Dĩ nhiên! Cậu bé nghĩ bụng. Cậu đã chạm vào màn hình. Đây là loại computer mà phần điều khiển nằm ở màn hình. Ánh đèn đỏ xung quanh hẳn phải là tia hồng ngoại cảm ứng. Tim chưa từng thấy một màn hình như thế, nhưng cậu đã đọc được về loại này trong các tạp chí. Cậu chạm vào.
Màn hình thay đổi ngay lập tức. Cậu nhận được lời báo: Đại ý muốn gì thì chỉ việc sờ vào các ô hướng dẫn ở màn hình điều khiển chính.
Qua máy vô tuyến, cậu nghe tiếng gầm gừ của mấy con raptor. Lex bảo anh:
- Em muốn xem quang cảnh. Anh bấm lệnh VIEW cho em xem.
- Không được, Lex.
- Anh Tim, em muốn VIEW. - Trước khi cậu bé có thể chụp tay em, Lex đã sờ vào ô lệnh VIEW. Màn hình thay đổi.
- Ô a…
- Lex, mày đứng có phá.
- Xem kìa! Máy chạy rồi đấy! Ha ha!
Xung quanh phòng, tất cả các màn hình giám sát đều xuất hiện các quang cảnh ở các vùng khác nhau của công viên. Phần lớn các hình ảnh đều nằm trong một màu xanh xám mờ mờ bởi vì sương mù bên ngoài, nhưng có một màn hình cho thấy quang cảnh bên ngoài của khu nhà nghỉ, với một con raptor trên mái, và một màn hình khác cho thấy hình ảnh một bầu trời trắng sáng rõ với đầu một con tàu, chói sáng dưới ánh mặt trời. Tim chồm người tới:
- Cái gì đấy?
- Cái gì?
- Hình gì ở màn hình kìa!
Nhưng hình ảnh đã thay đổi, và bây giờ chúng đang nhìn bên trong khu nhà nghỉ, phòng này sau phòng kia, và rồi cậu thấy Malcolm, nằm trên một chiếc giường. Lex nói, vẻ đã chán:
- Thôi, tốp đi. Em thấy đủ rồi.
Tim chạm màn hình nhiều chỗ và nhận được những thẻ lệnh và lại những thẻ lệnh khác. Lex bảo anh:
- Này, anh làm rối beng lên cả đấy.
- Câm mồm đi có đuợc không? Mày thì biết gì về computer?
Lúc này cậu có được danh sách các màn hình giám sát trong một submenu trên màn hình điều khiển. Cậu bấm khu nhà nghỉ và tàu hàng, và nhiều chỗ khác.
Các hình ảnh xuất hiện trên các màn hình giám sát quanh phòng. Một màn hình chỉ đầu tàu của chiếc tàu cung cấp, và đại dương ở phía trước. Ở phía xa xa Tim thấy đất liền - các tòa nhà xây dọc theo bờ biển, và một cảng. Cậu nhận ra được hải cảng vì cậu đã bay trên cảng này trong trực thăng một ngày trước đây. Đấy là Puntaneras. Chiếc tàu dường như chỉ còn mấy phút nữa thì vào cảng.
Nhưng Tim tập trung nhiều chú ý vào màn hình có quang cảnh khu nhà nghỉ, trong sương xám. Mấy con raptor hầu như khuất sau các mái chóp, nhưng đầu chúng nhấp nhô, có thể nhìn thấy được.
Và trên một màn hình thứ ba, cậu có thể thấy bên trong một căn phòng. Malcolm đang nằm trên giường, và Ellie đứng gần ông ta. Cả hai đang nhìn lên trần nhà. Khi họ đang nhìn, Muldoon đi vào và cũng nhìn lên. Cả ba đều biểu lộ vẻ quan tâm.
- Họ thấy chúng ta. - Lex nói.
- Không thấy đâu.
Radio kêu xè xè. Trên màn hình, Muldoon đưa vô tuyến lên miệng:
- Hello, có Tim đấy không?
- Cháu đây.
- À… Các bác ở đây chẳng còn được mấy thì giờ. - giọng Muldoon buồn bã - Làm sao mà đóng mạch mạng lưới truyền điện được thì tốt. - Và Tim nghe tiếng raptor gầm gừ, thấy một chiếc đầu dài trên mái nhà thò xuống, đôi hàm mở rộng, táp táp.
- Mau lên, anh Tim. - Lex la lên - Bật điện lên.
Tim bỗng thấy mình rối beng giữa cả đám màn hình điều khiển và giám sát, khi cậu cố có lại màn hình điều khiển chính. Phần lớn các hệ thống computer đều chỉ có một nút đơn giản để trở về lại màn hình trước, hay về menu chính. Nhưng hệ thống này không có - hay là cậu không biết nút ấy. Và cậu cũng biết chắc rằng những chỉ dẫn giúp cho phần điều khiển đều có ghi sẵn trong máy, nhưng cậu cũng không tìm ra được. Lex thì đang nhảy lên nhảy xuống bên cậu và hét vào tai cậu, làm cậu rối trí.
Cuối cùng Tim cũng làm xuất hiện được menu chính. Cậu không biết chắc chắn mình đã làm những gì, nhưng đã có được. Cậu ngừng lại, tìm một lệnh.
- Làm cái gì đi, anh Tim?
- Mày câm mồm cho tao nhờ! Tao đang cố tìm đây. - cậu bấm thử TEMPLATE-MAIN. Màn hình xuất hiện một biểu đồ phức tạp.
- Không được rồi, không được rồi.
Cậu bấm: Màn hình xuất hiện một khung ô lệnh.
- Tại sao anh không bật điện lên, anh Tim?
Tim giả lơ cô em. Có một ô lệnh ghi may ra được việc gì với lệnh này. Cậu bấm INFO. Màn hình chỉ xuất xứ người thực hiện chương trình với tên Dennis Nedry.
- Anh Tiiiim?... - Lex lại hét lên, nhưng cậu đã bấm FIND. Cậu chỉ được một menu vô ích. Cậu bấm GOBACK, màn hình trở lại khung ô lệnh.
Qua vô tuyến, cậu nghe giọng Muldoon:
- Ra sao rồi, Tim?
Tim không để ý đến chuyện trả lời. Cậu điên cuồng sờ hết ô này đến ô khác.
Thình lình, không báo trước, menu điều khiển chính trở lại. Cậu xem xét các ô lệnh. Cậu bấm SETGRIDS và rên rỉ khi nghe thấy một loạt ô lệnh tung tung xuất hiện. Cậu tìm thấy một ô có vẻ có liên quan và bấm.
Tim lắc đầu trong nỗi thất vọng. Phải mất một lúc cậu mới nhận ra là mình đã có được những thông tin quý giá. Bây giờ cậu đã biết các mã số về mạng lưới điện của các khu, các bộ phận. Cậu bấm F4-D4, chỉ mạng điện khu nhà nghỉ. Dòng chữ xuất hiện trên màn hình:
- Lệnh không thực hiện được. Nhầm
Lex nói với anh:
- Không xong rồi, chẳng có gì cả.
- Tao biết rồi. - Tim bấm D5-G4. Màn hình nháy lên.
Tim giữ bình tĩnh, cố suy nghĩ. Vì một lý do nào đó, cứ mỗi khi cậu bấm một mạng lưới điện là computer lại cho biết có nhầm lẫn, năng lượng không thích hợp với lệnh. Thế là thế nào? Tại sao năng lượng lại không thích hợp.
Lex bỗng giật tay anh:
- Anh Tim…
- Chưa đâu, Lex.
- Đi ngay mà. - Lex bảo anh, và kéo cậu rời khỏi màn hình và bàn điều khiển. Hai đứa nghe tiếng gầm gừ của mấy con raptor.
Tiếng gầm gừ xuất phát từ ngoài hành lang.
*
Trên mái kính lộ thiên bên trên giường Malcolm, mấy con raptor hầu như đã cắn đứt thanh sắt thứ hai. Lúc này chúng đã có thể thò đầu xuống qua chỗ gương và gầm gừ dọa nạt mấy người bên dưới. Sau một lát, chúng lại thụt đầu lui, bắt đầu gặm mấy thanh sắt trở lại. Malcolm nhìn lên:
- Chẳng còn mấy chốc nữa, ba hay bốn phút nữa thôi. – ông bấm nút máy vô tuyến - Tim, có cháu đấy không?
Không có tiếng trả lời.
*
Tim ló người ra khỏi cửa và thấy con velociraptor phía cuối hành lang đứng bên cạnh bao lơn. Cậu nhìn nó kinh ngạc. Làm sao mà nó thoát ra khỏi tủ lạnh được?
Rồi, khi cậu nhìn, một con raptor khác thình lình xuất hiện trên bao lơn và cậu hiểu. Con raptor này không phải từ tủ lạnh thoát ra. Nó ở chỗ khác đến. Nó đã từ dưới đất nhảy lên. Con thứ hai đáp xuống một cách yên lặng, hoàn toàn thăng bằng lên lan can. Tim không thể tin được. Con thú to lớn đã nhảy lên cao đến ba mét. Còn cao hơn ba mét. Chân của chúng phải khỏe không thể tưởng tượng được. Lex thì thầm bên tai anh:
- Thế mà em tưởng anh nói chúng không thể…
- Suỵt. - Tim đang cố suy nghĩ. Nhưng cậu nhìn với một tâm  trạng kinh sợ mà thú vị khi một con thứ ba nhảy vào bao lơn. Mấy con thú vơ vẩn ở đấy một tí, và rồi bắt đầu đi dọc theo hành lang thành hàng một. Chúng tiến về phía Tim và Lex.
Yên lặng, Tim đẩy lùi cánh cửa sau lưng để trở lại phòng điều khiển. Nhưng cánh cửa kẹt cứng. Cậu ẩy mạnh hơn. Lex thì thào:
- Chúng ta bị khóa lại ở bên ngoài rồi. - Cô bé chỉ vào khe nhét thẻ an toàn một bên cửa. Một ánh đèn đỏ đang sáng lên. Bằng cách nào đó hệ thống khóa an toàn của cửa lại hoạt động trở lại. - Xem kìa. Anh ngốc quá! Anh khóa chúng ta ở ngoài.
Tim nhìn dọc theo hành lang. Cậu thấy mấy cửa khác, nhưng mỗi cửa đều có một ánh đèn đỏ nháy sáng một bên cửa. Có nghĩa là tất cả các cửa đều khóa chặt. Chúng không còn phòng nào để vào được nữa.
Rồi cậu thấy một đống gì lù lù nằm ở cuối hành lang. Đấy là xác chết của người bảo vệ. Một chiếc thẻ an toàn màu trắng gài nơi thắt lưng.
- Nào, đi. - cậu thì thầm và kéo tay em chạy tới xác người gác
Tim lấy chiếc thẻ và quay lui. Nhưng dĩ nhiên mấy con raptor đã thấy chúng. Mấy con thú gần như đã đứng chắn đường trở lại phòng điều khiển. Chúng bắt đầu dàn rộng ra theo hình rẻ quạt trong hành lang để bao vây Tim và Lex. Mấy chiếc đầu bắt đầu giật giật nhịp nhàng.
Chúng sắp sửa tấn công.
Tim chỉ làm điều duy nhất có thể làm được. Cậu dùng thẻ mở chiếc cửa phòng gần cậu nhất và đẩy Lex vào. Khi chiếc cửa bắt đầu từ từ đóng lại sau lưng chúng, mấy con raptor rít lên và tấn công.
0
KHU NHÀ NGHỈ
     Ian Malcolm kéo từng hơi thở tưởng chừng như mỗi lần thở là lần cuối cùng. Ông nhìn những con raptor với cặp mắt buồn bã. Harding bắt mạch ông, cau mày, và bắt lại lần nữa. Ellie thì người quấn trong một chiếc mền, lạnh và run rẩy. Muldoon ngồi trên nền nhà, dựa vào tường. Hammond nhìn lên mái nhà, không nói lời nào. Tất cả mọi người đều lắng tai nghe máy vô tuyến. Hammond lên tiếng:
     - Có việc gì xảy ra cho Tim chăng? Vẫn không có lời nào?
     - Tôi không rõ.
     - Kỳ cục thật phải không? Thật là kỳ cục. - Malcolm thều thào.
     Hammond lắc đầu:
     - Ai mà tưởng tượng được có ngày lại xảy ra cơ sự như thế này.
     Ellie:
     - Rõ ràng là tiến sĩ Malcolm đã tưởng tượng được đấy chứ.
     Malcolm:
     - Tôi không tưởng tượng. Tôi đã tính toán.
     Hammond thở dài:
     - Thôi đừng nói đến chuyện này nữa. Ông ta lại cứ "Tôi đã bảo ông như thế" cả giờ cho mà xem. Nhưng chẳng có ai muốn sự việc như thế này xảy ra.
     Malcolm:
     - Đấy không phải là việc muốn hay không. - ông nhắm mắt lại vì tác dụng của thuốc - Đấy là việc ông cho là ông có thể làm được. Khi một người thợ săn dầm mưa đi vào rừng để kiếm thực phẩm cho gia đình, anh ta có trông mong là sẽ điều khiển thiên nhiên không? Không. Anh ta tưởng tượng là thiên nhiên ở ngoài tầm tay anh ta. Ngoài sự hiểu biết của anh ta. Ngoài sự điều khiển của anh ta. Có lẽ anh ta cầu nguyện thiên nhiên, cầu nguyện sự hào phóng thiên nhiên đã cung cấp cho anh ta. Anh ta cầu nguyện vì biết mình không điều khiển được. Anh ta tùy thuộc vào sự ban ơn của thiên nhiên.
     Nhưng ông thì ông khẳng định là mình không tùy thuộc vào ân huệ của thiên nhiên. Ông khẳng định là ông sẽ điều khiển thiên nhiên và từ lúc đó ông lún sâu vào sự rắc rối, bởi vì ông không thể điều khiển được. Nhưng ông đã tạo nên những hệ thống đòi hỏi ông điều khiển. Và ông không thể điều khiển - và ông chưa từng - và ông sẽ không bao giờ điều khiển được. Đừng có nhầm lẫn những điều này. Ông có thể làm một chiếc tàu, nhưng ông không thể tạo nên đại dương. Ông có thể làm một chiếc máy bay nhưng ông không thể chế tạo không khí. Sức mạnh của ông yếu hơn nhiều so với những ước mơ lý luận mà ông sẽ tin tưởng vào.
     Hammond lại thở dài:
     - Ông ta lại làm tôi lạc lối. Thằng Tim nó đi đâu được nhỉ? Nó có vẻ là một đứa nhỏ biết trách nhiệm mà.
     Malcolm:
     - Tôi tin chắc là nó đang cố gắng kiểm soát được tình huống. Cũng như mọi người khác.
     - Và cả ông Grant nữa. Việc gì xảy ra cho Grant?
*
     Grant đến được cửa sau của khu nhà khách, chỗ cửa ông đã đi ra cách hai mươi phút trước. Ông kéo tay nắm: cửa khóa. Rồi ông thấy ánh đèn đỏ. Hệ thống an toàn các cửa đã hoạt động trở lại. Chó đẻ thật! Ông chạy tới cửa trước, và đi qua cửa gương vỡ vào tiền sảnh, dừng bên cạnh chiếc bàn của người bảo vệ. Ông có thể nghe tiếng xè xè khô khan của máy vô tuyến của mình. Ông vào nhà bếp, tìm mấy đứa nhỏ nhưng cửa bếp mở, hai đứa trẻ đã di mất.
     Ông đi lên lầu, đến khu cửa kính, cửa đã khóa. Ông cầm một thẻ an toàn để mở cửa đi vào xa hơn.
     Ở một nơi nào đó dọc theo hành lang, ông nghe tiếng mấy con raptor gầm gừ.
*
     Làn da nhám của loài bò sát chạm vào mặt Tim, mấy vuốt chân cào rách áo sơ mi, và Tim té nằm ngửa, kinh hãi thét lên.
     - Anh Tim. - Lex la lớn.
     Tim loạng choạng đứng dậy. Con velociraptor non đáp trên vai cậu kêu chíp chíp vì sợ. Tim và Lex lúc này ở trong phòng nuôi thú mới nở, sơn màu trắng. Mấy món đồ chơi lăn lóc trên nền nhà: một quả bóng màu vàng, một con búp bê, một chiếc cào bằng nhựa. Lex chỉ con thú đang bấu chặt vào vai anh:
     - Đấy là con raptor con đấy.
     Con raptor con rúc đầu vào cổ Tim. Con vật tội nghiệp có lẽ đang đói, Tim nghĩ bụng.
     Lex đến gần hơn và con thú con nhảy qua vai cô bé. Nó cọ đầu vào cổ Lex, cô hỏi anh:
     - Tại sao nó làm thế này? Nó có sợ không?
     - Tao chả biết.
     Cô bé trao con raptor cho anh. Con thú non kêu chíp chíp, nhảy lên nhảy xuống trên vai Tim một cách kích động. Nó không ngừng nhìn quanh, đầu cử động nhanh nhẹn. Không nghi ngờ gì nữa, con thú non đang sợ hãi và…
     - Anh Tim? - Lex la lên nho nhỏ.
     Cánh cửa mở ra hành lang không đóng lại sau khi chúng vào phòng nuôi thú non. Bây giờ mấy con velociraptor lớn đang đi vào. Con thứ nhất rồi con thứ hai.
     Rõ ràng là bị chao động, con thú nhảy nhót và kêu chíp chíp trên vai Tim. Tim biết cậu phải thoát đi. Có lẽ con raptor con làm chúng chú ý. Dù sao chăng nữa, đấy cũng là một con con. Cậu gỡ con thú khỏi vai và ném nó ngang qua căn phòng. Con thú con rúc vào giữa chân mấy con thú lớn. Con raptor thứ nhất hạ thấp mõm xuống, khịt khịt mũi ngửi vào con thú con vẻ vừa ý như đang ngửi một món ăn ngon lành.
     Tim nắm tay Lex kéo em vào sâu trong phòng nuôi. Cậu phải tìm một cánh cửa, một lối thoát.
     Có tiếng kêu xé tai. Tim nhìn lui và thấy con thú con trong hàm của con thú lớn. Con velociraptor thứ hai tiến đến và cắn vào con con, cố giật con thú non khỏi miệng con thứ nhất. Hai con thú lớn giành nhau con thú con trong khi nó kêu thét. Máu bắn tung tóe thành từng giọt lớn trên nền nhà.
     - Chúng ăn nó. - Lex nói.
     Hai con raptor giành nhau phần còn lại của con thú non. Tim tìm được cửa - cửa không khóa. Và đi qua, kéo em theo.
     Hai đứa ở trong một phòng khác, và qua ánh sáng màu lục đậm, Tim nhận ra đấy là phòng thí nghiệm rút chất DNA, với các dãy kính hiển vi điện tử, những mẫu nghiệm chờ phân giải, những hình ảnh đen trắng của những côn trùng khổng lồ. Những con ruồi và muỗi đã từng cắn con khủng long hàng triệu năm trước, hút máu chúng để giờ đây được dùng để tái tạo lại những con khủng long trong công viên. Hai đứa chạy qua phòng thí nghiệm, và Tim có thể nghe tiếng khịt mũi, tiếng gầm gừ của mấy con raptor đuổi theo chúng, càng lúc càng đến gần, và rồi cậu bé đi ra phía sau phòng thí nghiệm xuyên qua một cửa hẳn phải có hệ thống báo động, bởi vì trong hành lang hẹp một hồi còi lanh lảnh hú từng hồi khi lên cao khi xuống thấp, và đèn trên cao chớp tắt đỏ. Chạy về phía cuối hành lang, Tim như bị ném vào bóng tối - rồi lại sáng - rồi tối lại. Qua âm thanh báo động, cậu nghe tiếng raptor khịt mũi khi chúng đuổi theo cậu. Lex thì đang khóc thút thít và rên rỉ. Tim thấy một cửa khác phía trước, có bảng đề phòng thí nghiệm sinh học, cậu xô sầm vào cửa, lọt qua bên kia và đột nhiên chạm vào một vật gì to lớn. Lex hét lên trong kinh hãi.
     - Nào bình tĩnh lại đi, hai cháu. - Một giọng nói cất lên.
     Tim chớp mắt không tin được. Đứng một bên cậu là tiến sĩ Grant. Và kế ông ta là ông Gennaro.
     Ở ngoài hành lang, Grant mất gần hai phút mới nghĩ ra rằng người bảo vệ chết nằm dưới tiền sảnh có thể có một thẻ an toàn mở cửa. Ông đã đi lui để lấy thẻ, rồi lên lại hành lang tầng trên, đi nhanh về phía cuối các phòng. Ông đã đi theo tiếng gầm gừ của mấy con raptor và thấy chúng đánh nhau trong phòng nuôi. Ông biết chắc là hai đứa bé sẽ chạy qua phòng kế và lập tức đi vào phòng thí nghiệm rút DNA. Và ông đã gặp hai đứa nhỏ ở đấy.
     Bây giờ, hai con raptor đang tiến về phía họ Mấy con thú dường như do dự trong chốc lát, ngạc nhiên vì thấy có thêm người xuất hiện.
     Grant đẩy hai đứa bé vào tay Gennaro và bảo:
     - Đem chúng lui vào một nơi nào thật an toàn.
     - Nhưng…
     - Đi qua chỗ kia. - Grant chỉ tay lui qua vai về phía một cánh cửa đằng xa - Đem chúng vào phòng điều khiển nếu có thể được. Tất cả sẽ an toàn ở đấy.
     - Ông định làm gì?
     Mấy con raptor đứng gần cửa, Grant lưu ý thấy chúng chờ cho cả bọn đến đủ rồi mới tiến tới trước, thành một nhóm. Tập tính săn mồi theo bầy. Grant rùng mình. Ông bảo Gennaro:
     - Tôi đã có kế hoạch. Ông đem chúng đi đi.
     Gennaro dẫn hai đứa bé đi. Mấy con raptor tiếp tục tiến chầm chậm về phía Grant, đi ngang các máy super computer, ngang các màn hình nhấp nháy liên tục những chuỗi mã số. Mấy con raptor tiến tới không chút do dự, mũi khịt khịt ngửi nền nhà, đầu nhấp nhô lên xuống.
     Grant nghe tiếng cửa gài "tách" sau lưng mình và nhìn lui. Ba người đã đứng qua bên kia cánh cửa gương, đang nhìn ông. Gennaro lắc đầu. Grant hiểu Gennaro muốn nói gì. Không có lối đi đến phòng điều khiển. Gennaro và hai đứa trẻ mắc kẹt trong ấy.
     Mọi thứ tùy thuộc vào ông lúc này.
     Grant đi chầm chậm, sát quanh tường phòng thí nghiệm, dẫn mấy con raptor đi xa chỗ Gennaro và hai đứa bé. Ông có thể thấy một cửa khác, ghi TO LABORATORY. Cho dù nó có ý nghĩa gì, ông đã có một ý nghĩ, và ông hy vọng ông nghĩ đúng. Cánh cửa có dấu hiệu thí nghiệm sinh vật màu xanh. Mấy con raptor đến gần hơn. Grant quay người xô mạnh cánh cửa ấy và lọt người qua, vào một căn phòng dài, ấm và yên lặng.
     Ông quay lại.
     Đúng thế. Ông đã vào chỗ muốn vào, trong phòng ấp trứng: dưới ánh sáng hồng ngoại, các chiếc bàn dài, với những dãy trứng và những đám khói mù trắng bao phủ. Máy lắc trên mấy dãy bàn kêu tanh tách và xáo trứng trong chuyển động đều đặn. Đám khói trắng bao lấy hai bên mép bàn và rồi là đà trôi xuống nền nhà, ở đấy chúng bay tản đi và bốc hơi.
     Grant chạy thẳng tới cuối phòng ấp, vào một phòng thí nghiệm, vách ngăn bằng gương, thắp sáng bằng ánh sáng tử ngoại, áo quần ông trở nên màu xanh tím. Ông nhìn quanh những dụng cụ thí nghiệm bằng kính, những ống cắm đầu các ống nghiệm, những đĩa thủy tinh… tất cả đều là những dụng cụ thí nghiệm dễ vỡ…
     Mấy con raptor tiến vào phòng, thoạt tiên rất thận trọng, ngửi vào khoảng không khí ẩm ướt, nhìn vào các chiếc bàn đầy trứng đang lắc lư. Con vật dẫn đầu đưa chi trước chùi đôi hàm dính đầy máu bằng lưng bàn tay. Yên lặng, mấy con raptor di chuyển giữa những dãy bàn dài. Chúng đi ngang qua căn phòng theo đội hình hàng ngang, thỉnh thoảng cúi đầu nhìn xuống dưới các dãy bàn.
     Chúng đang tìm ông. Grant bò xuống, và chuyển đến phía sau phòng thí nghiệm, nhìn lên, và thấy một nắp hộc bằng sắt có vẽ dấu sọ người và hai khúc xương chéo. Một hàng chữ ghi: Cẩn thận độc chất AH. (Thận trọng trước khi dùng). Grant nhớ lại là Regis nói đấy là chất độc cực mạnh. Chỉ một vài phân tử thôi là giết chết…
     Chiếc nắp đậy nằm sát với mặt bàn thí nghiệm. Grant không thể nào luồn tay dưới nắp được. Ông thử mở, nhưng có khuy khóa, không có tay kéo, không thấy có gì… Grant đứng lên từ từ và ngoái nhìn gian phòng chính. Mấy con raptor vẫn di chuyển giữa các dãy bàn.
     Ông quay lại chiếc nắp hộc. Ông thấy một nắp nhỏ nằm lún vào mặt bàn. Trông giống như một ô chứa nút bấm điện có nắp hình tròn đậy lại. Ông dỡ nắp lên, thấy một nút bấm. Ông ấn nút.
     Với tiếng xì xì nhẹ, chiếc hộc từ từ nâng lên.
     Ông thấy các ngăn kệ bằng kính trên cao, và những dãy chai lọ đánh dấu bằng sọ người với hai xương chéo. Ông nhìn vào các nhãn dán. Chất lỏng trong lọ có màu xám dưới ánh sáng cực tím. Cạnh đấy ông thấy một đĩa thủy tinh đựng các ống tiêm. Các ống tiêm nhỏ, mỗi ống chứa một lượng rất ít một chất lỏng sóng sánh. Bò xuống trong ánh sáng xanh tối, Grant với lấy đĩa đựng ống tiêm. Các kim tiêm đầu ống đều có đậy các nắp nhựa. Ông gỡ nắp một cái. Ông nhìn chiếc kim nhỏ.
     Ông chuyển mình tới phía mấy con raptor.
     Ông đã miệt mài hết cả đời mình để nghiên cứu khủng long. Vào lúc này ông có thể thấy mình đã thật sự hiểu chúng đến mức nào. Loài velociraptor là loài khủng long ăn thịt sống, giống như loài oviraptor hay dromacosaur, những con thú từ lâu đã được cho là có thói đánh cắp trứng. Cũng y như một số loài chim ngày nay chuyên ăn trứng các loài chim khác, Grant luôn luôn nghĩ rằng lũ velociraptor sẽ ăn trứng các khủng long khác nếu chúng có dịp.
     Ông bò tới chiếc bàn có đặt trứng gần nhất ở phòng ấp. Chầm chậm ông với tay lên đám hơi và lấy một quả trứng to ở chiếc bàn đang lắc lư. Quả trứng to gần bằng quả bóng đá, màu kem có vân màu hồng nhạt. Ông giữ quả trứng thật cẩn thận và đâm đầu kim qua vỏ trứng, tiêm vào đấy chất lỏng chứa trong ống tiêm. Quả trứng biến màu thành xanh nhạt.
     Grant lại cúi xuống bàn. Ở dưới bàn, ông thấy chân mấy con raptor và hơi bay từ trên bàn bay xuống. Ông lăn quả trứng óng ánh lên nền nhà, về phía mấy con raptor. Chúng ngẩng đầu, nghe tiếng lăn nhè nhẹ của quả trứng, đầu giật giật nhìn quanh. Rồi chúng trở lại việc tìm kiếm từ từ của chúng.
     Quả trứng dừng lại cách con raptor vài mét.
     Chó đẻ thật?
     Grant làm lại lần nữa: yên lặng lấy quả trứng khác, đem xuống tiêm chất thuốc vào, và lăn về phía mấy con raptor. Lần này quả trứng dừng lại bên chân của một con. Quả trứng lắc lư nhẹ, chạm vào ngón chân cái có vuốt to của con thú.
     Con raptor nhìn xuống, ngạc nhiên với món quà mới này. Nó cúi đầu ngửi khịt khịt vào quả trứng. Nó dùng mõm lăn lăn quả trứng trên nền nhà một lúc.
     Rồi bỏ qua.
     Con velociraptor đứng lên lại và tiến tới chậm chậm, tiếp tục tìm kiếm.
     Không tác dụng.
     Grant với lấy quả thứ ba tiêm vào một ống khác. Ông giữ quả trứng trong hai tay, và lăn lần nữa. Nhưng ông lăn quả này nhanh, như một quả bóng gỗ. Quả trứng kêu sột soạt lớn khi lăn qua nền nhà.
     Một con raptor nghe tiếng lăn - cúi đầu xuống - nhìn quả trứng lăn đến - và theo bản năng đuổi theo vật di động, nó lướt nhanh giữa đám bàn để chặn quả trứng lại. Đôi hàm lớn táp xuống cắn quả trứng, vỏ trứng vỡ.
     Con raptor đứng lên, lòng trắng trứng màu xám chảy giọt xuống từ đôi hàm. Nó liếm mép và khịt mũi. Nó cắn nữa, và liếm láp quả trứng giữa nền nhà. Nhưng dường như đấy chưa phải là cú cắn cuối gây tai họa cho nó. Nó lại cúi xuống, ăn thêm quả trứng vỡ. Grant nhìn xuống xem có việc gì xảy ra.
     Từ bên kia căn phòng, con raptor thấy ông. Nó nhìn ngay vào ông.
     Con velociraptor gầm gừ đe dọa. Nó di chuyển về phía Grant, đi ngang qua căn phòng với những bước dài và nhanh nhẹn khó tin được. Grant choáng người khi thấy sự việc xảy ra và tê cứng người trong sợ hãi. Bỗng con vật thở ngáp lên mấy tiếng ùng ục và thân hình to lớn nhào sấp xuống nền nhà. Chiếc đuôi bự đập phành phạch trong cơn co giật. Con raptor tiếp tục rít lên, chen lẫn những tiếng thét lên the thé. Nước bọt sùi ra từ miệng. Đầu giần giật. Đuôi giãy đành đạch.
     Một con, Grant nghĩ thầm.
     Nhưng con thú không chết liền. Dường như còn lâu nó mới chết. Grant với lấy một trứng khác - và thấy mấy con raptor kia trong phòng khựng lại trong một cử động nửa chửng. Chúng lắng nghe con vật giẫy chết. Một con ngóc ngóc đầu, rồi con khác ngóc. Con đầu tiên đến gần nhìn vào con raptor nằm giữa nhà.
     Con raptor hấp hối lúc này đang co rúm, toàn bộ thân hình run rẩy trên nền nhà. Nó rên rỉ đau đớn. Bọt trào ra ở miệng nó nhiều đến nỗi Grant không còn nhìn thấy đầu nó nữa. Nó quằn quại trên nền nhà và lại rít lên những âm thanh rên rỉ.
     Con raptor thứ hai cúi mình lên con raptor giẫy chết, xem xét. Nó có vẻ ngạc nhiên với tình trạng hấp hối đau đớn. Thận trọng, nó nhìn chiếc đầu đầy bọt, rồi nhìn xuống chiếc cổ đang co giật, mấy xương sườn phập phồng, hai chân.
     Và nó cắn một miếng vào chân sau.
     Con vật giãy chết gừ lên, và thình lình cất đầu lên, cong thân hình cắn phập hàm răng vào cổ con vật tấn công nó.
     Thế là hai con, Grant nghĩ thầm.
     Nhưng con thú đang đứng xoay mình giật ra được. Máu từ cổ nó chảy ra. Nó tấn công bằng chi sau, và với chỉ một động tác nhanh nhẹn, nó xé toang bụng con vật nằm. Những cuộn ruột lòi ra như những con rắn mập tròn. Tiếng thét của con vật hấp hối tràn ngập căn phòng. Con thú tấn công quay người đi, dường như thấy đánh nhau quá rắc rối .
     Nó đi ngang căn phòng, cúi đầu xuống, và ngẩng đầu lên với một quả trứng óng ánh nơi miệng! Grant nhìn con raptor cắn vào quả trứng, chất sóng sánh nhỏ giọt từ cằm nó.
     Giờ mới thật là hai con.
     Con thứ hai hình như gục ngay lập tức, hộc lên và nhào tới trước khi nó ngã, nó va nhằm một chiếc bàn. Hàng tá trứng lăn lông lốc khắp nền nhà. Grant nhìn các quả trứng, mất hết tinh thần.
     Vẫn còn một con thứ ba trong phòng.
     Grant còn một ống thuốc nữa. Với quá nhiều trứng trên nền nhà như thế, ông phải làm một điều gì khác. Ông đang cố nghĩ xem phải làm gì thì con thú cuối cùng khịt mũi khó chịu. Grant nhìn lên - Con vật đã nhìn thấy ông.
     Con raptor cuối cùng này không động đậy một lúc lâu, nó chỉ đứng nhìn. Và rồi nó từ từ, yên lặng tiến tới. Chặn bắt ông. Đầu nó nhấp nhô, nhìn xuống dưới bàn trước, rồi nhìn trên mặt bàn. Nó di chuyển cân nhắc, thận trọng, không hấp tấp như khi nó tấn công cùng với bầy. Chỉ một mình vào lúc này, nó phải cẩn thận. Nó không bao giờ rời mắt khỏi Grant. Grant nhìn quanh thật nhanh. Không có chỗ nào cho ông nấp được. Không có gì cho ông có thể…
     Cái nhìn của Grant gắn chặt vào con raptor, đang chậm chậm lách ngang. Grant cũng di chuyển. Ông cố giữ cho có nhiều bàn giữa ông và nó được chừng nào càng tốt chừng ấy khi con thú tiến tới từ từ chầm chậm, nó lách ngang qua phía trái…
     Con raptor chuyển tới trong ánh sáng mờ mờ đỏ tím của căn phòng ấp trứng. Hơi thở nó thoát ra thành những tiếng rít nhẹ.
     Grant nghe thấy tiếng trứng vỡ dưới chân ông, lòng trứng dính vào đế giày. Ông bò xuống, thấy chiếc máy vô tuyến căng lên trong túi mình.
     Chiếc radio.
     Ông lấy ra khỏi túi và bật lên.
     - Hello, đây là Grant đây.
     - Tiến sĩ Grant hả? - Giọng Ellie - ông Grant?
     - Nghe đây. - ông nói nhỏ - Cứ nói chuyện đi nhé.
     - Ông Grant? Phải ông đấy không?
     - Cứ nói đi. - ông nói lại lần nữa, và ông đẩy chiếc máy vô tuyến trên nền nhà ra xa người ông, về phía con raptor đang đi tới.
     Ông bò ra sau một chân bàn và chờ. Giọng Ellie:
     - Ông Grant, nói với tôi đi.
     Và rồi một tiếng rẹt, và im lặng. Chiếc radio lại im tiếng. Con raptor tiến tới. Tiếng thở phì phì.
     Chiếc radio vẫn im.
     Có chuyện bồi với cô ta vậy! Cô ta không hiểu sao? Trong bóng tối con raptor đến gần hơn.
     - …tiến sĩ Grant?
     Tiếng nói nho nhỏ từ chiếc máy vô tuyến làm con vật to lớn ngừng lại. Nó khịt mũi vào không khí, dường như đánh hơi thấy ai khác trong phòng.
     - Tiến sĩ Grant, tôi đây. Tôi không hiểu ông có nghe thấy tôi không?
     Con raptor quay khỏi Grant tiến về chiếc radio.
     - Ông Grant, hãy trả lời…
     Tại sao ông đã không đẩy chiếc radio ra xa hơn. Con raptor đi về phía chiếc máy, nhưng nó gần quá. Bàn chân to lớn bước tới quá gần ông. Grant có thể thấy làn da nhăn như vỏ hạt tiêu, màu lục nhạt óng ánh. Những yết máu khô trên mấy chiếc vuốt cong. Ông có thể ngửi thấy mùi tanh tanh của loài bò sát.
     - Tiến sĩ Grant, hãy nghe tôi, …tiến sĩ Grant?
     Con raptor cúi xuống, chọc mõm vào chiếc radio, vẻ suy nghĩ. Thân hình nó quay lui về phía Grant. Chiếc đuôi to lớn ngay trên đầu Grant. Grant với tới cắm ngập mũi kim tiêm vào bắp thịt đuôi, và đẩy thuốc.
     Con raptor gừ lên và nhảy. Với tốc độ kinh hoàng, nó quay lui về phía Grant, hàm mở rộng. Nó táp, đôi hàm ngậm vào mép bàn, đầu nó giật lên. Chiếc bàn bị hất tung lên, và Grant nhào lui, lúc này hoàn toàn lộ người ra. Con raptor mờ mờ trên người ông. Đầu nó chạm mạnh vào mấy bóng đèn cực tím phía trên, làm chúng đong đưa quay cuồng.
     - Tiến sĩ Grant?
     Con raptor thụt lùi, nhấc chân sau đầy móng vuốt lên dẫm tới. Grant lăn tròn tránh, và bàn chân dẫm mạnh xuống, chỉ hụt ông một tí. Ông cảm thấy đau như xé thịt dọc theo xương bả vai, máu lập tức chảy thấm qua lớp áo. Ông lăn ngang qua căn phòng, làm vỡ những quả trứng, vấy bẩn cả tay lẫn mặt. Con raptor lại đạp một cú nữa lên chiếc radio, tóe ra những tia lửa. Nó gừ lên trong cơn giận dữ và dẫm một cú thứ ba, Grant đã lăn đến chân tường, không còn lăn đi đâu được nữa. Con vật đưa chân lên lần cuối cùng.
     Và nó ngã nhào xuống.
     Con thú đang oằn oại, bọt từ miệng sùi ra.
     Gennaro và hai đứa bé bước vào phòng. Grant ra dấu cho hai đứa bé lùi lại. Lex nhìn con thú đang hấp hối, thốt lên:
     - Eo ơi!
     Gennaro giúp Grant đứng dậy. Cả bọn xoay người, chạy về phía phòng điều khiển.
0
ĐIỀU KHIỂN
     Tim ngạc nhiên thấy màn hình computer điều khiển lúc này đang nhấp nháy: SYSTEM START UP. Cậu thấy tiến sĩ Grant nhìn vào màn hình, thận trọng đưa tay về phía bàn phím. Ông lắc đầu:
     - Tôi chẳng biết gì về computer.
     Nhưng Tim đã ngồi vào ghế. Cậu sờ vào màn hình thật nhanh. Trên màn hình giám sát từ xa, cậu có thể thấy con tàu di chuyển gần hơn tới Puntarenas. Lúc này chỉ còn cách cảng chừng hai trăm mét. Trên màn hình giám sát khác, cậu thấy khu nhà nghỉ, với mấy con raptor đu người xuống từ trên trần nhà. Qua máy vô tuyến, cậu có thể nghe tiếng chúng gầm gừ. Lex la lên:
     - Làm cái gì đi anh Tim…
     Cậu bé đè tay lên SETGRIDS DNL, dù các ô lệnh đang nhấp nháy.
     Màn hình trả lời:
     Coi chừng - Lệnh thực hiện sẽ bị cắt nửa chừng - Năng lượng phụ sắp cạn
     - Thế này nghĩa là gì? - Tim hỏi.
     Gennaro gõ gõ mấy ngón tay:
     - Việc này trước đây có xảy ra. Nó có nghĩa là nhiên liệu máy phụ đã cạn. Cháu phải dùng năng lượng chính.
     - Cháu phải làm ?
     Cậu sờ vào ELECTRIAL MAIN. Màn hình nhấp nháy một menu khác. Tim rên lên. Grant hỏi:
     - Cháu đang làm gì vậy?
     Tim ấn vào MAIN của mệnh mới.
     Không có việc gì xảy ra. Màn hình tiếp tục nhấp nháy.
     Tim ấn MAIN GRID P. Cậu cảm thấy bao tử thắt lại.
     Mạng điện chính không hoạt động/Chỉ có năng lượng phụ
     Màn hình tiếp tục nhấp nháy. Cậu ấn MAIN SET 1: Nguồn năng lượng chính hoạt động.
     Tất cả đèn trong phòng sáng lên. Tất cả màn hình giám sát điều khiển từ xa ngừng nhấp nháy.
     - Ô! Được rồi!
     Tim ấn RESET GERDS (Điện vào các mạng điện) Không có gì xảy ra trong chốc lát. Cậu liếc nhìn các video giám sát, rồi nhìn lại màn hình điều khiển.
     Bạn muốn điện vào mạng nào
     Grant nói điều gì đó mà Tim không nghe rõ. Cậu chỉ nhận thấy sự căng thẳng trong giọng nói. Ông nhìn Tim lo lắng.
     Tim nghe tim đánh thình thịch trong ngực mình. Lex đang la hét với cậu. Cậu không muốn nhìn vào các video giám sát nữa. Cậu có thể nghe các thanh sắt bị uốn cong trong khu nhà nghỉ, và tiếng mấy con raptor gầm gừ. Cậu nghe tiếng Malcolm "Chúa ơi". Cậu bấm LOGE. Màn hình hỏi:
     Cho biết số mạng điện.
     Trong mấy giây khựng người tưởng như dài vô tận, cậu không thể nhớ con số, nhưng rồi cậu nhớ F4, và cậu bấm. Màn hình:
     Mạng điện F4 khu nhà nghỉ hoạt động
     Trên máy video giám sát từ xa, cậu thấy nổ tóe các tia lửa điện, rơi tung tóe trên trần nhà căn phòng khách sạn. Màn hình trắng xóa. Lex la lớn "Anh làm gì vậy!" nhưng hầu như ngay lập tức các hình ảnh trở lại và họ có thể thấy hai con raptor bị kẹt giữa các thanh sắt, quằn quại và kêu thét lên giữa các tia lửa điện xẹt xuống như thác, trong khi Muldoon và các người khác reo mừng, giọng họ reo nghe văng vẳng qua radio.
     - Thế đấy! - Grant vỗ vào lưng Tim - Thế đấy! Cháu ngon lành lắm.
     Mấy người trong phòng điều khiển đều đứng và nhảy cẫng lên, trong khi Lex chợt hỏi:
     - Thế còn chiếc tàu thì sao?
     - Chiếc gì?
     - Chiếc tàu. - Cô bé trả lời và chỉ vào màn hình.
     Trên màn hình, những cao ốc phía bên kia con tàu dường như to hơn nhiều, và chạy dạt qua về phía phải trong khi con tàu quay  về phía trái và bắt đầu cập bến. Tim thấy các thủy thủ lên cả trên boong đi về phía đầu tàu chuẩn bị neo tàu.
     Cậu lại buông ngươi xuống ghế và nhìn vào màn hình với những ô lệnh START UP.
     Cậu đánh lệnh TELECOMRSD.
     Màn hình trả lời:
     Bạn có 23 cú gọi/ lời nhắn đang chờ. Bạn muốn nhận ngay không?
     Tim đánh lệnh NO. Lex bảo anh:
     - Có thể chiếc tàu là một trong những người đang chờ gọi. Có thể anh cho nói chuyện và nhờ đó biết được số điện thoại họ.
     Cậu giả lơ cô em. Màn hình trả lời:
     Cho biết số bạn muốn gọi hoặc bấm F7 để có hướng dẫn
     Cậu bấm F7 và đột nhiên tên và số lần lượt xuất hiện chạy ngược lên trên màn hình, một số lượng khổng lồ. Các tên không theo thứ tự abc. Phải mất một lúc cậu bé mới nhận ra được những gì cậu đang tìm. Bây giờ điều cậu phải làm là đoán ra cách quay số Cậu bấm một dãy nút ở đảy màn hình:
     - Quay ngay hay chốc nữa?
     Cậu bấm DIAL NOW. Màn hình trả lời :
     Xin lỗi cú gọi của bạn không thể thực hiện được như đã quay số.
     Nhầm lẫn.
     Xin làm lại.
     Cậu bấm lại.
     Cậu nghe tiếng quay số tự động liên tiếp nhau thật nhanh.
     - Thế được chưa? - Grant hỏi.
     - Tốt quá, anh Tim. - Lex bảo - Nhưng họ gần như vào bến rồi.
     Trên màn hình, họ có thể thấy mũi tàu đã vào sát cảng Punteneas.
     Họ nghe những âm thanh the thé, rồi một giọng cất lên:
     - A, hello, ông Hammond. Đây là Ferddy. Ông nghe tôi không?
     Lex bảo:
     - Trả lời đi.
     Lúc này người nào cũng nhấc ống nghe có trước mặt lên, nhưng họ chỉ nghe được tín hiệu quay số. Cuối cùng, Tim thấy một ống nghe đặt bên cạnh bàn điều khiển với ánh đèn đang nhấp nháy.
     - A, hello, phòng điều khiển. Đây là Ferddy. Anh nghe tôi không?
     Tim chụp lấy ống nghe:
     - Hello, đây là Tim Murphy, và tôi muốn ông…
     - À xin nói lại. Tôi không nghe được, ông Hammond.
     Tim nói lớn:
     - Đừng có cho tàu cập bến. Có nghe không?
     Một lúc yên lặng. Rồi một giọng nghe có vẻ ngạc nhiên:
     - Nghe như một ranh con nào.
     Tim hét:
     - Đừng có cập bến. Hãy cho tàu trở lại đảo ngay!
     Những giọng nói nghe xa xa và lao nhao:
     - Nó nói… tên… Murphy? - Một giọng khác - Tôi không - rõ tên.
     Tim nhìn như điên vào mấy người khác. Gennaro cầm lấy ống nghe:
     - Để bác nói cho. Cháu biết tên ông ta không?
     - …là một lời đùa hay… gì đó. Một đứa chết rấp nào… đấy .
     Tim xoay sang bàn phím. Có thể có một cách nào đó để biết Ferddy là ai…
     - Này, ông có nghe tôi không? - Gennaro nói vào ống nghe - Nếu nghe rõ tôi, hãy trả lời ngay.
     - Cậu nhóc ơi - Giọng trả lời kéo dài - Chúng tôi chẳng biết nhóc là ai cả. Nhưng nhóc đừng có đùa. Chúng tôi sắp cập bến và còn khối việc để làm. Nào, cho biết nhóc là ai hay cúp máy đi.
     Tim nhìn màn hình khi dòng chữ xuất hiện: FARRELL, FEREDERICK D. ( CAPT).
     - Nghe đây để biết chúng tôi là ai, - Gennaro nói, mắt nhìn màn hình - Thuyền trưởng Ferederick. Nếu ông không quay tàu ra biển và quay lại đảo này ngay lập tức, ông sẽ bị truy tố là vi phạm điều khoản 509 của bộ luật hàng hải quân vận, ông sẽ bị bắt buộc phải hủy bỏ giấy phép đăng ký tàu, sẽ bị phạt 50.000 đôla và ngồi tù 5 năm. Ông nghe rõ chứ?
     Một lúc yên lặng.
     - Nghe rõ chưa, thuyền trưởng Ferederick Farrell?
     Và rồi xa xa, họ nghe tiếng nói trả lời:
     - Tôi nghe rõ rồi. - và một tiếng khác - Tất cả lên khoang lái. - Chiếc tàu bắt đầu quay mũi khỏi cảng.
     Lex bắt đầu reo mừng. Tim sụm người xuống ghế, chùi mồ hôi. Grant hỏi:
     - Bộ luật hàng hải quân vận là luật gì?
     - Nào ai biết đấy là luật gì? - Gennaro cười to.
     Cả bốn người nhìn màn hình với vẻ thỏa mãn. Con tàu đã quay đầu rời bờ bể một cách dứt khoát. Gennaro nói:
     - Tôi cho rằng phần gay go đã chấm dứt.
     Grant lắc đầu:
     - Phần gay go chỉ mới bắt đầu.
0
PHẦN BẢY
PHÁ HỦY THẾ GIỚI
     Họ chuyển Malcolm qua một phòng khác trong khu nhà nghỉ, nằm trên một giường sạch sẽ. Hammond dường như vừa chết đi sống lại, và bắt đầu đi loanh quanh, đứng thẳng người.
     - Ấy, ít nhất là tai ương cũng đã bị lật ngược.
     - Đây là tai ương gì đây? - Malcolm thở dài.
     - Ấy, chúng không thể thoát ra và ngự trị quả đưa đất.
     Malcolm chống cùi tay ngồi dậy:
     - Ông có lo lắng về chuyện ấy?
     - Chắc chắn là có tính đến chuyện ấy. Những con thú này, những con thú ăn thịt, có thể thoát ra và hủy diệt hành tinh.
     - Ông là một lão điên với cái tôi mọc rễ trong người. - Malcolm nổi giận - Ông có suy nghĩ gì về điều ông nói không? Ông nghĩ là ông có thể hủy diệt được hành tinh này? Ôi, ông phải có một sức mạnh độc hại nào trong con người ông. - Malcolm nằm xuống giường - Ông không thể nào hủy diệt hành tinh này. Ông không thể ngay cả động chạm đến nó.
     Hammond vẫn cứng đầu:
     - Tất cả các chuyên gia đều đồng ý hành tinh chúng ta đang gặp rắc rối.
     Malcolm thở dài:
     - Để tôi nói ông nghe về hành tinh chúng ta. Tuổi nó đã bốn tỉ  rưỡi. Cuộc sống cũng đã có trên hành tinh này từ lâu. Ba phẩy tám tỉ năm. Từ lúc có con vi khuẩn đầu tiên. Và sau đó, những sinh vật đa bào đầu tiên, rồi những con thú phức tạp đầu tiên trên mặt đất, dưới biển. Rồi thời đại của những con thú lần lượt đi qua - loài  lưỡng cư, loài khủng long, loài động vật có vú, mỗi thời đại kéo dài từ triệu năm này qua triệu năm khác. Những triều đại khổng lồ của những sinh vật dấy lên, sinh sôi nẩy nở, rồi tàn lụi đi. Tất cả những điều này xảy ra trong một cảnh biến động tàn bạo và liên tục, những rặng núi trồi lên rồi bị xói mòn, những đại dương dâng cao rồi rút xuống thấp, toàn bộ các đại lục di chuyển… Những thay đổi tàn khốc bất tận… Thậm chí ngày nay, nét điển hình nhất về địa lý trên hành tinh xuất phát từ hai lần va chạm rất lớn của các lục địa, làm đất ùn lại tạo nên dãy Himalaya qua bao nhiêu triệu năm nay. Hành tinh chúng ta đã sống sót vượt qua mọi biến đổi, mọi thời gian. Nó chắc chắn sẽ cứu thoát chúng ta.
     Hammond cau mày:
     - Chỉ vì nó kéo dài thời gian thì không có nghĩa là vĩnh cửu. Nếu như có một tai nạn phóng xạ…
     - Ta hãy giả sử là có một vụ phóng xạ tệ hại, và tất cả các cây cỏ và động vật chết hết, và quả đất bị cháy nóng qua một trăm ngàn năm. Mầm sống sẽ sống ở một nơi nào đó - ở dưới đất hay đóng băng lại ở Bắc cực. Và sau bao nhiêu năm như thế, khi hành tinh đã ổn định, cuộc sống sẽ lại lan tràn khắp nơi. Quá trình tiến hóa lại bắt đầu. Có thể mất vài tỉ năm để cuộc sống lấy lại những đa dạng như hiện nay. Và dĩ nhiên nó sẽ rất khác với những gì bây giờ. Nhưng quả đất sẽ sống sót qua những công trình điên loạn của chúng ta. Chỉ có chúng ta - Malcolm bảo - nghĩ rằng nó sẽ không qua khỏi.
     - Vâng, nếu tầng ôzôn mỏng đi.
     - Thì sẽ có nhiều bức xạ cực tím đến được trái đất. Rồi sao?
     - Ấy, nó sẽ gây hoại tử da.
     Malcolm lắc đầu:
     - Tia bức xạ tím rất tốt cho sự sống. Đấy là một năng lượng mạnh mẽ. Nó làm tăng sự đột biến, sự thay đổi. Nhiều hình thức của sự sống sẽ phát triển mạnh khi có nhiều tia bức xạ cực tím hơn.
     - Và nhiều hình thức sống khác sẽ chết mất tiêu.
     - Ông cho rằng đây là lần đầu tiên một việc như thế xảy ra? - Malcolm thở dài - Ông có biết gì về oxy không?
     - Tôi biết nó rất cần cho sự sống.
     - Đấy là bây giờ kia. Nhưng oxy thật sự là một chất thải độc. Nó là loại khí gặm mòn, giống như fhiorine, dùng để khắc vào thủy tinh. Và khi thoạt tiên oxy được sản sinh ra như là một chất thải của một số tế bào thực vật nào đó - vào khoảng ba tỉ năm trước - nó đã làm phát sinh một cuộc khủng hoảng cho tất cả các sự sống trên hành tinh chúng ta. Những tế bào thực vật đó đã làm ô nhiễm môi trường bằng thứ khí độc chết chóc. Chúng tỏa ra thứ khí hủy diệt mầm sống, và tạo nên sự tập trung khí độc ấy. Một hành tinh như sao Venus có không đến một phần trăm oxy. Trên. quả đất, sự tập trung oxy tăng nhanh chóng - năm, mười, và cuối cùng, hai mươi phần trăm. Quả đất đã có một bầu không khí với toàn là khí độc. Không thích hợp với sự sống!
     Hammond có vẻ khó chịu:
     - Vậy quan điểm của ông là sao? Cái thứ gây độc hiện đại ấy sẽ cũng làm hại con người?
     - Không. - Malcolm đáp - Quan điểm của tôi là sự sống trên quả đất sẽ tự chăm sóc lấy nó. Trong sự suy nghĩ của một người, một trăm năm là một thời gian dài. Một trăm năm trước, chúng ta có xe hơi, không có máy bay, máy tính và thuốc tiêm chủng… Đấy là thế giới hoàn toàn khác. Nhưng đối với quả đất, một trăm năm không là gì cả. Một triệu năm không là gì cả. Hành tinh này sống và thở với mức độ rộng lớn hơn nhiều. Chúng ta không thể tưởng tượng được nhịp độ chậm chập mạnh mẽ của nó, chúng ta không có đủ khiêm nhường để thử tưởng tượng xem . Chúng ta chỉ là những cư dân sống ở đây chỉ trong một nháy mắt. Nếu ngày mai chúng ta biến mất, quả đất sẽ không thấy thiếu chúng ta.
     - Vậy chúng ta có thể biến mất đi cũng rất tốt thôi. - Hammond nói, giọng tức giận.
     - Đúng thế, chúng ta có thể biến mất.
     - Vậy ông đang nói gì? Chúng ta không cần phải bận tâm chăm sóc môi trường?
     - Không. Dĩ nhiên là không.
     - Rồi thì điều gì xảy ra?
     Malcolm ho lên và nhìn về phía xa xa:
     - Chúng ta hãy nói cho rõ. Hành tinh của chúng ta không lâm vào cảnh hiểm nghèo. Mà chính chúng ta đang lâm vào cảnh hiểm nghèo. Chúng ta không có được sức mạnh để hủy diệt hành tinh - hay cứu thoát nó. Nhưng chúng ta có thể có sức mạnh để tự cứu chúng ta.
0
DƯỚI SỰ KIỂM SOÁT
     Bốn tiếng đồng hồ đã trôi qua. Buổi chiều, mặt trời đang lặn. Máy lạnh đã chạy lại trong phòng điều khiển, computer lại hoạt động đâu vào đấy. Và gần đúng như họ đoán, trong số hai mươi bốn người trên đảo, tám người đã chết và sáu người còn mất tích. Khu nhà khách và khu nhà nghỉ Safari Lodge đều an toàn, khu vực phía bắc đảo dường như không còn khủng long. Họ đã gọi chính quyền ở San José yêu cầu giúp đỡ. Đội bảo vệ rừng của Costa Rica đang trên đường tới đảo, một chiếc máy bay tải thương đang bay đến đảo để chở Malcolm đi bênh viện. Nhưng qua điện thoại, đội bảo vệ Costa Rica đã rất thận trọng: rõ ràng là có những ai đó đã gọi qua lại nhiều lần giữa San José và Washington trước khi sự giúp đỡ rốt cuộc cũng được phái tới đảo. Và vào lúc này, ngày đã xế chiều, nếu trực thăng không đến sớm, họ phải chờ cho đến sáng mai.
     Trong lúc đó, chẳng có việc gì làm ngoài sự chờ đợi. Con tàu đã trở lại, đám thủy thủ đã phát hiện có ba con raptor non chạy loạn xạ vào một trong những khoang tàu phía cuối lái, và họ đã giết chết ba con thú. Trên đảo Isla Nubla, nỗi nguy hiểm tức thời dường như đã trôi qua; mọi người đều hoặc ở trong khu nhà khách hoặc khu nhà nghỉ. Tim đã khá thành thạo với computer, và cậu đang cho hiện lên một màn hình mới, tìm đếm số thú trong công viên.
     Màn hình cho biết số thú có là 292, số thú đếm được, 203.
     Gennaro hỏi:
     - Chuyện lạ gì thế này nữa? Bây giờ nó lại cho thấy là số thú ít hơn?
     Grant gật đầu:
     - Có thể như thế.
     Ellie:
     - Công viên sắp sửa ở trong sự kiểm soát.
     - Có nghĩa là thế nào?
     - Sự cân bằng. - Grant chỉ vào các màn hình giám sát. Trên một màn hình, những con hupsilophodont nhảy lên không trung khi một đàn velociraptor từ phía đông tiến vào cánh đồng.
     - Các hàng rào mất điện hàng bao nhiêu tiếng đồng hồ. - Grant tiếp - Lũ thú đã qua lại lẫn lộn với nhau. Số thú đạt đến tình trạng cân bằng - một sự cân bằng của kỷ Jurassic.
     - Tôi không cho rằng việc ấy có thể xảy ra. - Gennaro nói - Lũ thú không bao giờ được cho là sống lẫn với nhau.
     - Ấy thế, nhưng chúng sống lẫn lộn đấy.
     Trên một màn hình khác, Grant thấy một đàn raptor chạy hết tốc lực ngang qua một cánh đồng trống về phía một con hadrosaur nặng bốn tấn. Cơn hadrosaur quay người chạy trốn, và một trong mấy con raptor nhảy lên trên lưng nó, cắn vào chiếc cổ dài trong khi các con khác chạy tới trước, bao quanh nó, cắn vào chân, nhảy lên xé thịt ở bụng với những cặp hàm mạnh mẽ. Trong vòng mấy phút, sáu con raptor đã hạ con thú to hơn chúng nhiều.
     Grant nhìn chăm chú, yên lặng. Ellie hỏi:
     - Có phải đúng như điều mà tiến sĩ đã tưởng tượng không?
     - Tôi không nhớ tôi đã tưởng tượng những gì. - Grant nhìn màn hình giám sát - Không, không đúng thế.
     Muldoon trầm tĩnh nói:
     - Quý vị thấy đó, dường như lúc này tất cả các con raptor trưởng thành đều ra khỏi chỗ ở của chúng.
     Grant thoạt tiên đã chẳng chú ý gì nhiều. Ông chỉ quan sát các mô hình, những hoạt động qua lại của những thú lớn. Ở phía nam, con stegosaur đang vẫy chiếc đuôi đầy gai nhọn, thận trọng đi quanh con tyrannosaur non, con này đang nhìn nó, sửng sốt, thỉnh thoảng xông lại gặm vào mấy cái gai một cách chẳng có hiệu quả gì. Ở một góc cánh đồng phía tây, những con triceraptosian trưởng thành đang đánh nhau, gài sừng vào nhau. Một con thú đã nằm vì bị thương và đang hấp hối.
     Muldoon nói:
     - Chúng ta còn khoảng một tiếng đồng hồ còn lại của ngày hôm nay, tiến sĩ Grant. Nếu ông muốn thử tìm tổ trứng ấy.
     - Đúng đấy. Tôi muốn thử tìm xem.
     - Tôi đang suy nghĩ, khi người Costa Rica đến đây, có lẽ họ sẽ tưởng tượng rằng hòn đảo này là một vấn đề quân sự. Một cái gì đó phải phá hủy càng sớm càng tốt.
     - Đúng quá. - Gennaro nói.
     - Họ sẽ ném bom từ trên không. Có lẽ là bom xăng, hoặc là bom gây tê liệt. Nhưng từ trên không.
     - Tôi hy vọng họ làm thế. Hòn đảo này quá nguy hiểm. Mọi con thú phải được hủy diệt, càng sớm càng tốt.
     Grant đứng dậy:
     - Thật đáng tiếc! Nhưng chúng ta bắt đầu thôi.
     Gennaro:
     - Tôi cho là ông không hiểu, tiến sĩ Grant. Ý kiến của tôi là hòn đảo này quá nguy hiểm. Đảo phải bị phá hủy. Mọi con thú trên đảo này phải bị hủy diệt, và việc đó, đội bảo vệ Costa Rica sẽ làm. Tôi nghĩ là chúng ta nên để đảo cho họ xử lý với khả năng của họ. Ông có hiểu những gì tôi nói không.
     - Hoàn toàn hiểu. - Grant đáp.
     Gennaro:
     - Vậy vấn đề của ông là gì? Đấy là một cuộc hành quân quân sự. Hãy để cho hok làm việc đó.
     Lưng Grant đau nhức, ở chỗ con raptor đã cào ông:
     - Không. Chúng ta phải lo lấy vấn đề.
     Gennaro:
     - Hãy để cho các nhà chuyên môn.
     Grant nhớ lại mình đã tìm thấy Gennaro, cách đây sáu tiếng chui trốn và khiếp sợ đến thế nào trong cabin một chiếc xe tải trong tòa nhà bảo quản. Và đột nhiên ông mất bình tĩnh đẩy mạnh người luật sư đến sát tường, đè ông ta vào đấy:
     - Nghe đây, đồ khốn khiếp. Ông có trách nhiệm với tình trạng này và ông sẽ phải sống với tình trạng ấy.
     Gennaro ho lên:
     - Tôi chịu trách nhiệm.
     - Không. Ông không nhận trách nhiệm. Ông đã lẩn trốn, suốt từ lúc mới bắt đầu.
     - Làm gì có…
     - Ông bán cổ phiếu đầu tư vào một việc mà ông không hề giám sát được. Ông không kiểm soát những hoạt động của một người mà theo kinh nghiệm ông đã biết là một kẻ nói dối. Và ông cho phép con người ấy làm một việc nguy hiểm nhất trong lịch sử nhân loại. Tôi cho rằng ông đã lẩn tránh trách nhiệm.
     Gennaro lại ho lên:
     - Ấy, bây giờ tôi đang nhận lấy trách nhiệm.
     - Không. Ông vẫn còn trốn tránh. Và ông không thể lẩn tránh như thế được nữa.
     Grant buông Gennaro ra, ông này cúi người, lấy lại hơi thở. Grant quay sang Muldoon:
     - Chúng ta có gì để làm khí giới?
     Muldoon:
     - Chúng tôi có một số lưới điều khiển và gậy gây choáng.
     - Các gậy gây choáng tác dụng đến mức nào?
     - Chúng giống như gậy bắt cá mập. Gậy có một đầu gây chạm điện, gây một cú choáng khi tiếp xúc. Hiệu thế cao nhưng cường độ yếu không gây chết chóc, nhưng dứt khoát làm mất khả năng hoạt động.
     - Thứ này chẳng dùng được ở tổ trứng.
     Gennaro đằng hắng:
     - Tổ trứng nào?
     Ellie:
     - Tổ trứng raptor.
     - Tổ trứng raptor?
     Grant hỏi Muldoon:
     - Ông có dây tròng cổ phát sóng không?
     Muldoon lắc đầu. Grant bảo ông ta:
     - Thôi được, hãy kiếm thứ gì ông có thể kiếm được.
     Muldoon rời chỗ, Grant quay qua Gennaro:
     - Hòn đảo của ông là một nơi bát nháo, ông Gennaro. Những thí nghiệm của ông là một đống hổ lốn. Đảo cần phải được dọn dẹp sạch và điều đó có nghĩa là phải tìm các ổ trứng trên đảo. Đặc biệt là các ổ trứng raptor. Lũ này sẽ giấu kỹ. Chúng ta phải tìm cho ra, và xem xét, đếm số trứng. Phải đếm đủ mọi con thú sinh ra trên đảo này. Rồi đốt trụi đảo. Nhưng trước hết có một việc nhỏ phải làm.
     Ellie nhìn vào tấm bản đồ công viên, lúc này đang chỉ các phạm vi hoạt động của lũ thú. Tim đang làm việc với bàn phím. Cô chỉ vào bản đồ:
     - Mấy con raptor đang khu trú tại vùng phía bắc, gần chỗ mấy cánh đồng có hơi núi lửa. Có lẽ chúng thích khí hậu nóng.
     - Có chỗ nào ở vùng ấy lũ raptor có thể ẩn nấp được không?
     Hóa ra là có. Một công trình lớn đúc bê tông để kiểm soát nước lũ tràn về đất bằng ở phía nam. Một vùng nằm dưới mặt đất. Sẵn nước và bóng râm. Grant gật đầu:
     - Vậy chúng có thể ở đấy.
     Eilie nhận xét thêm:
     - Tôi cho là cogn một lối từ bờ biển vào nữa. - Cô quay qua bàn điều khiển, bảo Tim - Này, cho chúng tôi thấy những chỗ có đập nước xem. Nghe thấy không, Tim?
     Cậu bé dang chúi đầu vào bàn phím:
     - Chờ cháu một chút. Cháu đang thấy cái gì đấy.
     - Cái gì vậy?
     - Một kho cất dụng cụ nhưng không có dấu hiệu gì cả. Cháu không biết trong ấy chứa gì?
     - Vậy có thể đấy là kho vũ khí.
     Họ đang ở phía sau lán bảo quản, mở khóa một cánh cửa sập bằng sắt, nâng cửa lên cho ánh nắng chiếu vào, thấy bày ra một dãy bậc thang đi xuống lòng đất. Muldoon nói khi bước xuống bậc thang:
     - Ôi cái gã Arnold. Hắn hẳn biết có chỗ này từ lâu rồi.
     Grant:
     - Có lẽ anh ta không biết. Anh ta chẳng đến đây làm gì.
     - Vậy thì Hammond biết. Hay có ai đó biết.
     - Hammond bây giờ ở đâu?
     - Vẫn ở trong nhà nghỉ.
     Họ xuống đến bậc cuối, và bước đến bên một dãy mặt nạ phòng độc treo trên vách, đựng trong các túi ni lông. Họ chiếu đèn rọi vào sâu trong căn phòng và thấy nhiều hộp vuông bằng thủy tinh cao sáu tấc, đậy bằng nắp sắt. Grant có thể thấy những khối cầu màu đen đậm nằm trong hộp thủy tinh. Muldoon mở một nắp hộp, lấy ra một quả cầu. Ông đưa ra ánh đèn, cau mày:
     - Tôi thật đáng trách.
     - Gì vậy?
     - MORO – 12. - Muldoon đáp - Đấy là thứ khí gây tê liệt thần kinh. Đây là những quả lựu đạn. Nhiều, rất nhiều lựu đạn.
     - Vậy chúng ta bắt đầu thôi. - Grant nói, cương quyết.
*
     - Nó thích cháu. - Lex cười, nói với mọi người. Họ đang ở trong nhà xe của nhà khách, bên cạnh con raptor mà Grant đã bắt được trong đường hầm. Cô bé đang thò tay qua chấn song chuồng vuốt ve con vật. Nó cọ mình vào tay cô bé.
     Muldoon nói:
     - Còn bác thì phải cẩn thận. Chúng có thể cắn bị thương đấy.
     - Nó thích cháu. Tên nó là Clarence.
     - Clarence?
     - Vâng.
     Muldoon đang giữ chiếc dây tròng cổ có gắn một chiếc hộp nhỏ, Grant nghe tiếng bíp bíp trong bộ ống nghe mang ở đầu. Ông hỏi:
     - Tròng cổ con vật có khó lắm không?
     Lex vẫn đang vuốt ve con vật, tay đưa vào trong chuồng. Muldoon:
     - Bác thì chả dám. Chúng bất thường lắm.
     - Cháu chắc chắn là nó sẽ để cho cháu mang mà.
     Muldoon trao chiếc vòng da cho Lex và cô bé đưa cho con raptor ngửi sợi dây. Rồi cô bé từ từ choàng dây tròng quanh cổ con vật. Con raptor không phản ứng khi cô bé gài chặt khuy khóa, nhưng da nó biến đổi thành màu lục tươi, và khi cô bé buông tay, con vật chùn người lại và da lại thành màu xám.
     - Bác thật đáng chê. - Muldoon bảo.
     - Nó giống con tắc kè đổi màu.
     - Mấy con raptor kia không đổi màu như thế được. - Muldoon cau mày - Con raptor hoang này hẳn phải khác. - ông quay sang  Grant - Nhân thể, nếu chúng được tạo ra toàn cái, làm sao chúng sinh sản được. Ông chưa giải thích điều ấy, về DNA của ếch nhái.
     - Không phải là DNA của ếch nhái - Grant giải thích - Đấy là DNA của loài lưỡng cư. Nhưng hiện tượng xảy ra được ghi nhận đặc biệt ở loài ếch nhái. Đặc biệt là ếch nhái ở Tây Phi, nếu tôi nhớ kỹ.
     - Hiện tượng ấy như thế nào?
     - Hiện tượng chuyển giống. Thật ra đấy hoàn toàn là một sự thay đổi giới tính. - Grant giải thích là một số các cày cỏ và thú vật được biết là có khả năng thay đổi giới tính trong đời sống của chúng. Các loài lan, vài loài cá và tôm, và bây giờ là ếch nhái. Ếch được quan sát thấy sau khi đẻ trứng có khả năng thay đổi, qua một thời kỳ vài tháng, thành những con đực hoàn toàn. Thoạt tiên chúng phỏng theo cách sinh hoạt đấu đá của con đực, phát triển cách gọi bạn của con đực, chúng kích thích hormon và mọc thận của con đực, cuối cùng; chúng thành công trong công việc làm bạn với một con cái.
     - Nghe như ông đang nói đùa. - Muldoon nói - Cái gì làm điều đó xảy ra.
     - Rõ ràng là sự thay đổi được kích thích bởi môi trường trong đó tất cả các con thú đều cùng giới tính. Một số loài lưỡng cư trong tình huống ấy, sẽ đồng thời bắt đầu thay đổi giới tính từ cái thành đực.
     - Và ông cho rằng việc ấy đã xảy ra với lũ khủng long ở đây?
     - Cho đến khi chúng ta có cách giải thích tốt hơn thì, vâng. Tôi cho đấy là điều đã xảy ra. Bây giờ, chúng ta sẽ đi tìm trứng chứ.
     Họ chen nhau vào chiếc Jeep. Lex nhấc con raptor ra khỏi chuồng. Con thú có vẻ dễ chịu, hầu như đã thuần hóa trong tay cô bé. Lex vỗ nhẹ nó một cái cuối cùng, và rồi thả nó ra. Con thú không chịu chạy đi. Lex la:
     - Ê! chạy đi mày. Về tổ mày đi!
     Con raptor quay mình, bỏ chạy vào đám tàn lá.
     Grant giữ máy bắt sóng và mang bộ ống nghe. Muldoon lái xe. Chiếc xe Jeep nẩy xóc trên con đường chính, chạy về phía nam. Gennaro quay qua hỏi Grant:
     - Nó như thế nào, tổ trứng này?
     - Chẳng ai biết được.
     - Tôi tưởng ông đã từng đào được.
     - Tôi chỉ đào được những tổ trứng hóa thạch. Nhưng tất cả các hóa thạch đều đã bị biến dạng bởi sức nặng của nhiều triệu năm. Chúng tôi đặt nhiều giả thuyết, vài phỏng đoán, nhưng không một ai thật sự biết chúng ra sao.
     Grant lắng nghe tiếng bíp bíp trong headphone, và ra hiệu cho Muldoon lái xe ra xa hơn về phía tây. Càng lúc càng thấy có vẻ như Ellie đã nói đúng:
     - Tổ trứng nằm trong các cánh đồng núi lửa ở hướng bắc.
     Grant lắc đầu, nói tiếp:
     - Chưa ai biết gì nhiều về tập tính đẻ trứng và ấp trứng của khủng long.
     Ông tìm cách giải thích về các loài bò sát hiện đại, như các loài cá sấu. Ngay cả cách ấp trứng của chúng cũng chưa được hiểu thấu đáo. Thật sự, cá sấu châu Mỹ được nghiên cứu tìm hiểu nhiều hơn cả, và trong trường hợp loài cá sấu này, chỉ có con cái canh giữ ổ trứng, và chỉ giữ cho đến khi trứng nở. Con đực trước đấy đã trải qua những ngày đầu mùa xuân nằm bên cạnh con cái làm thành một cặp, thổi bong bóng vào má con cái và làm những cử chỉ mời mọc khác của loài đực để cuối cùng con cái nhấc đuôi lên chịu giao phối. Vào thời kỳ con cái xây tổ, hai tháng sau đó, thì con đực đã bỏ đi từ lâu. Và mặc dầu con cái giữ tổ trứng, được xây bằng bùn theo hình nón cao gần một mét, sự chú ý chăm sóc trứng của nó dường như giảm dần, và nó thường bỏ rơi tổ trứng vào lúc các con sấu con bắt đầu cuộc đời của mình bằng cách tự kiếm sống, và vì lý do đó, bụng sấu con chứa đầy lòng đỏ trứng để nuôi sống nó những ngày đầu tiên.
     - Thế những con sấu lớn không bảo vệ con?
     - Chúng tôi nghĩ là không. Cả sấu cha lẫn sấu mẹ đều bỏ rơi đàn hậu duệ. Nhưng có một hình thức bảo vệ tập thể. Những con sấu con có một tiếng kêu cứu rất đặc biệt, mỗi khi nghe được thì bất cứ con sấu lớn nào - cha mẹ nó hoặc không phải - cũng sẽ tham gia cuộc tấn công quyết liệt và dữ dội. Không phải chỉ là dọa nạt. Mà là một cuộc chiến đấu thật sự.
     - Ồ. - Gennaro làm thinh.
     - Nói chung đấy là một tập tính nổi bật của loài bò sát. - Grant tiếp tục - vấn đề lớn nhất của cá sấu là giữ cho trứng luôn được mát. Các tổ trứng luôn được xây trong bóng râm. Một nhiệt độ ba  mươi bảy độ sẽ làm hỏng trứng cá sấu, vì thế con sấu mẹ hầu như giữ gìn trứng luôn được mát.
     Muldoon nói một cách chính xác:
     - Và khủng long thì không phải là loài bò sát.
     - Đúng thế. Tập tính ấp trứng của khủng long có thể liên quan nhiều hơn đến tập tính của một trong các loài chim.
     Gennaro nói, giọng không thỏa mãn:
     - Vậy ông muốn nói là ông không biết. Ông không biết tổ trứng khủng long sẽ thế nào chứ gì?
     - Không. Tôi không biết.
     Gennaro:
     - Ấy đấy. Các tay chuyên môn cũng chẳng được tích sự gì.
     Grant giả lơ. Ông đã ngửi thấy mùi lưu huỳnh và ngay phía trước, ông thấy các đám hơi bốc lên từ các cánh đồng núi lửa.
     Mặt đất chắc là nóng, Gennaro nghĩ thầm, khi ông ta bước tới. Quả thật mặt đất nóng. Và đó đây, những vũng bùn nổi bong bóng bắn tung tóe. Và hơi khí lưu huỳnh rất mạnh kêu xì xì phun lên thành tia cao ngang vai. Ông ta cảm thấy dường như mình đang đi ở địa ngục.
     Ông ta nhìn Grant, trong đôi bốt cao cổ, chiếc quần jeans và áo sơ mi, có vẻ rất bình tĩnh. Gennaro cảm thấy không yên tâm chút nào. Ông ta cảm thấy sợ hãỉ khi đi trong một chỗ bốc mùi khó chịu như địa ngục này, với lũ velociraptor quanh quẩn đâu đó. Ông ta không hiểu tại sao mà Grant lại có thể bình tĩnh như thế. Hay cô gái kia nữa, Ellie. Cô ta cứ đi theo, điềm tĩnh nhìn quanh.
     - Việc này không làm ông phiền à? - Gennaro hỏi - Tôi muốn nói, làm ông thấy lo lắng?
     - Chúng ta phải làm thôi. - Grant không nói thêm gì nữa.
     Họ tới giữa đám lỗ có khí phun lên làm bùn nổi bong bóng. Gennaro mân mê mấy quả lựu đạn giắt ở thắt lưng. Ông ta quay ra Ellie:
     - Tại sao ông ấy không lo lắng gì cả?
     - Có thể ông ấy đang lo. Nhưng ông ấy đã suy nghĩ về chuyện này suốt cuộc đời mình.
     Gennaro gật đầu, và tự hỏi không biết sự thể rồi sẽ ra sao. Liệu mình đã có được điều gì để chờ đợi cho suốt cuộc đời mình không. Ông ta khẳng định là không có gì cả.
     Grant nhấp nháy mắt trong ánh nắng. Phía trước, qua màn hơi, một con thú bò tới, nhìn họ. Rồi nó lỉnh đi. Ellie hỏi:
     - Phải con raptor không?
     - Tôi chắc vậy. Hay một con khác. Một con mới lớn.
     - Nó dẫn chúng ta đi?
     - Có lẽ.
     Grant đã được Ellie kể cho nghe về chuyện mấy con raptor đã giả vờ đùa giỡn để tập trung chú ý của cô như thế nào trong khi một con khác leo lên mái nhà. Nếu đúng như thế, một tập tính như vậy hàm ẩn một khả năng tinh thần vượt xa hầu hết các hình thức sống trên quả đất. Theo hiểu biết cổ điển, khả năng tạo ra và thực hiện được những kế hoạch như thế chỉ giới hạn trong ba chủng loại: vượn người, khỉ đột, và người. Bây giờ có khả năng là một con khủng long cũng có thể làm được điều đó.
     Con raptor lại xuất hiện, phóng ra ngoài ánh sáng, rồi nhảy đi với những tiếng kêu chít chít. Nó có vẻ muốn dẫn họ đi. Gennaro cau mày:
     - Chúng khôn ranh đến thế sao?
     - Nếu ông cho chúng là loài chim - Grant đáp - thì hẳn ông phải thắc mắc. Một số những nghiên cứu mới cho thấy là một con vẹt xám có những dấu hiệu về trí thông minh như loài vượn người. Và loài vượn người rõ ràng là có thể dùng ngôn ngữ. Bây giờ các nhà nghiên cứu nghĩ rằng loài vẹt có sự phát triển tình cảm của một đứa bé ba tuổi, nhưng trí thông minh của chúng thì, không còn nghi ngờ, vẹt dứt khoát là có thể lý luận được, nói một cách tượng trưng.
     Gennaro cau mày:
     - Nhưng tôi chưa bao giờ nghe ai bị giết bởi một con vẹt.
     Từ xa xa, họ có thề nghe thấy tiếng nước sủi bọt ở bờ biển. Những cánh đồng núi lửa đã ở sau lưng họ, và họ đang đối diện với một cánh đồng đá trọc. Con raptor nhảy lên một hòn đá, và rồi biến mất. Ellie hỏi:
     - Nó đi đâu được nhỉ?
     Grant đang lắng nghe headphone. Tiếng bíp bíp dừng lại. Họ đi vội tới trước, và tìm thấy giữa đám đá một lỗ nhỏ. Lỗ chừng sáu tấc đường kính. Khi họ dang nhìn, con raptor non lại xuất hiện, nhấp nháy đôi mắt trong ánh nắng, rồi lại lỉnh đi. Gennaro nhìn lỗ hang:
     - Không có đường. Tôi sẽ không xuống dưới đó được.
     Grant không nói gì. Ông và Ellie bắt đầu đem các dụng cụ ra chuẩn bị. Ông lấy một máy thu hình bằng từ nhỏ, gắn dây điều khiển từ xa vào. Ông buộc chiếc video camera vào một sợi thừng, bật cho hoạt động rồi thò vào lỗ.
     Gennaro:
     - Ông không thể thấy được gì bằng cách đó.
     - Cứ để thử xem ra sao.
     Ở gần mặt đất, ánh sáng có đủ để cho họ thấy bờ vách hang đất phẳng, và rồi đường hang bỗng bất ngờ rộng ra, qua micro họ nghe thấy tiếng chít chít. Rồi một âm thanh như tiếng hú, thật trầm. Có nhiều tiếng ồn khác, của rất nhiều con thú. Ellie lắng nghe:
     - Có vẻ đúng là tổ trứng rồi.
     - Nhưng quý vị không thể thấy được gì cả. - Gennaro nói và lau mồ hôi trán.
     - Không thấy nhưng tôi có thể nghe được. - Grant lắng nghe thêm một chốc lâu hơn, và rồi kéo chiếc camera lên, đặt trên mặt đất.
     - Chúng ta bắt đầu thôi.
     Ông đến bên miệng hang. Ellie đi lấy một đèn rọi và một gậy gây choáng. Grant mang mặt nạ phòng hơi độc vào mặt, và bắt đầu tụt người xuống hang.
     - Theo tôi. - Grant bảo Ellie trao cho ông cây gậy choáng. Ông tụt người xuống lỗ và lầu bầu - Lỗ hẹp quá.
     Grant hít vào, đưa hai tay ra phía trước, và nghe có thứ tiếng gì như đất sụt, và ông biến mất.
     Chiếc lỗ há miệng, trống trơn và đen thui.
     - Việc gì xảy ra cho ông ta rồi? - Gennaro hỏi, giọng cảnh giác sợ hãi.
     Ellie bước tới trước và cúi xuống sát gần lỗ, lắng nghe động tĩnh bên dưới. Cô bật radio, hỏi nho nhỏ:
     - Tiến sĩ Grant?
     Một lúc yên lặng thật lâu. Rồi cuối cùng, có giọng Grant trả lời nghe khác lạ, hầu như kinh ngạc:
     - Không hề gì! Tốt.
0
ĐỔI KHUÔN MẪU
     Trong khu nhà nghỉ Safari Lolge, John Hammond bước tới bước lui trong căn phòng của Malcolm. Lão ta đang sốt ruột và chẳng thoải mái chút nào. Từ khi dốc hết sức cho cú bộc phát cuối cùng, Malcolm đã lâm vào tình trạng hôn mê và theo Hammond, có lẽ sẽ chết thôi. Dĩ nhiên là một chiếc trực thăng đã được gọi, nhưng có Chúa biết khi nào nó mới đến.
     Ý nghĩ Malcolm sẽ chết trong lúc chờ đợi làm Hammond thấy mọi việc đều tồi tệ hơn vì lão chúa ghét nhà toán học. Hammond cảm thấy rằng cái chết của Malcolm, nếu mà xảy ra, sẽ là lời trách cứ cuối cùng dành cho lão, và đấy sẽ là điều nặng nề hơn bất cứ điều gì mà Hammond có thể chịu đựng. Nhưng dù thế nào, cái mùi vị hiện có trong phòng cũng có vẻ ma quái. Hoàn toán ma quái. Mùi hôi của thịt chết.
     Malcolm nẩy người lên vì chiếc gối, nói đứt quãng:
     - Mọi thứ… mẫu…
     Hammond hỏi:
     - Ông ta tỉnh lại rồi hả?
     Harding lắc đầu. Hammond hỏi tiếp:
     - Thế ông ta nói gì vậy?
     - Tôi không nghe kịp.
     Hammond bước tới thêm vài bước. Lão đẩy cửa sổ mở rộng hơn, cho không khí mát mẻ vào thêm. Cuối cùng, khi không còn chịu đựng nổi, lão nói:
     - Ở ngoài kia có vấn đề gì không, nếu đi ra ngoài một lát?
     - Tôi chắc là không việc gì đâu. - Harding trả lời - Tôi nghĩ quanh đây không can gì.
     - Vậy thì, trông chừng ông ta nhé. Tôi ra ngoài một chút.
     - Được rồi. - Harding điều chỉnh lại dây truyền trụ sinh.
     - Tôi sẽ trở lại ngay.
     - Được rồi.
     Hammond ra khỏi phòng, bước vào ánh nắng, tự hỏi tại sao mình lại báo cho Harding làm gì. Dẫu sao, ông ta cũng là người làm của mình. Lão cần gì phải giải thích.
     Lão đi ngang qua cổng hàng rào, nhìn quanh công viên. Trời đã quá nửa chiều, thời điểm các đám sương bay đã thưa đi, thỉnh thoảng mặt trời ló ra. Lúc này đang có ánh nắng, và Hammond cho đó là một điềm gở. Dù họ có nói gì, lão biết rằng công viên của lão rất hứa hẹn. Và cho dù gã điên Gưnnaro có quyết định đốt trụi đảo này thì điều đó cũng chẳng có gì thay đổi.
     Hammond biết rằng trong hai căn hầm khác nhau của bộ chỉ huy InGen ở Palo Alto có cất giữ mười hai tá phôi đông lạnh. Vấn đề nuôi chúng lớn lên chẳng có gì khó khăn, trên một hòn đảo khác, hay bất cứ nơi nào trên thế giới. Và nếu ở đây đã có những trục trặc thì lần sau họ sẽ giải quyết những trục trặc ấy. Đấy là tiến bộ. Bằng cách giải quyết trục trặc.
     Trong suy nghĩ, lão kết luận Wu chẳng phải thật sự là mẫu người cần cho công việc của mình. Wu rõ ràng là đã quá tùy tiện, quá bất thường với công việc vĩ đại anh ta nắm trong tay. Và Wu đã quá bận tâm với cái tư tưởng cải thiện. Thay vì tạo nên những khủng long, gã ta cứ muốn cải thiện chúng. Hammond nghi ngờ rằng đấy là lý do cho sự đổ vỡ của công viên.
     Wu là nguyên nhân.
     Cũng thế, lão phải thừa nhận rằng Arnold rất thích hợp cho công việc của kỹ sư trưởng. Arnold có được phẩm chất nghề nghiệp đáng thán phục, nhưng đến thời điểm này anh ta đã mệt mỏi trong nghề nghiệp của mình, và anh ta là một người luôn lo lắng cáu kỉnh. Anh ta không được hướng dẫn và đã bỏ sót nhiều điều. Những điều quan trọng.
     Thật ra, cả Wu lẫn Arnold không ai có được phẩm chất cần thiết, Hammond khẳng định: Tính cách nhìn ra sự việc. Sức tưởng tượng rộng lớn để gợi nên ý tưởng một công viên kỳ diệu, nơi mà lũ trẻ tì tay lên hàng rào, kinh ngạc với lũ sinh vật kỳ lạ trong sách đang sống động trước mắt. Khả năng nhìn trước vào tương lai. Khả năng sắp xếp những nguyên liệu hiện có để làm cho tương lai trong tưởng tượng biến thành sự thật.
     Không. Cả Wu lẫn Arnold không ai thích hợp với công việc như thế.
     Và, cũng thế, Ed Regis cũng là một sự lưa chọn nghèo nàn. Harding chưa phải là một lựa chọn xuất sắc, Muldoon là một lão say…
     Hammond lắc đầu. Lão sẽ làm tốt hơn ở lần tới.
     Đắm mình trong suy nghĩ, lão tiến về ngôi nhà nghỉ mát của mình theo con đường nhỏ từ khu nhà khách hướng về phía bắc. Lão đi ngang một trong mấy người làm công, anh ta gật đầu chào lão. Hammond chẳng đáp lại cái gật đầu chào ấy. Lão thấy rằng người làm công ở đây đều hỗn xược như nhau. Của đáng tội, việc chọn lựa hòn đảo ngoài khơi Costa Rica này đã chẳng mấy khôn ngoan. Lão sẽ không tái phạm những lỗi lầm như thế nữa…
     Có tiếng gầm của con khủng long bạo chúa, nghe gần một cách đáng sợ. Hammond quay mình nhanh đến nỗi lão ngã lăn trên con đường đi, và khi nhìn lui, lão thấy cái bóng của con T-rex thanh niên di chuyển trong đám tàn lá bên cạnh con đường lát đá, về phía lão.
     Con T-rex đang làm gì ở đây? Tại sao nó lại ra được bên ngoài hàng rào?
     Hammond cảm thấy một cơn giận bùng lên: và rồi lão thấy  một người làm công, đang hớt hải chạy để thoát thân, Hammond ráng đứng dậy lao thục mạng vào khu rừng bên kia đường. Lão đâm sầm vào bóng tối, lão loạng choạng và ngã, mặt lão chúi vào đám lá ướt và đất ẩm, lão lảo đảo đứng dậy, chạy tiếp tới, lại ngã, và lại chạy lần nữa. Lúc này lão vấp ngã không đứng dậy được, lăn tròn trên mặt đất mềm trước khi dừng lại ở chân đồi. Mặt lão đập vào một vũng nước cạn âm ấm.
     Lão dang nằm, mặt vục xuống một dòng suối nhỏ.
     Lão đã quá sợ! Thật là điên! Đáng lẽ lão đã đến căn nhà nghỉ mát của mình! Lão rủa thầm mình. Khi đứng dậy, lão cảm thấy đau đớn ở mắt cá bên trái đến chảy nước mắt. Lão mò mẫm ấn thử chỗ đau: có thể đã gãy xương. Lão cố sức đứng dậy dồn cả sức nặng lên chân phải, răng nghiến chặt.
     Hầu như chắc chắn gãy xương.
*
     Trong phòng điều khiển, Lex nói với Tim:
     - Em ước chi họ đem chúng ta đi đến chỗ tổ trứng.
     - Ở đấy quá nguy hiểm cho chúng ta. Bọn mình phải ở lại đây. Này em nghe đây. - Cậu bé bấm một nút và âm thanh ghi âm tiếng gầm của con khủng long bạo chúa vang khắp các loa trong công viên.
     - Nghe hay quá. - Lex reo lên.
     - Em cũng làm được. - Tìm bảo em - Và nếu em bấm nút này, sẽ có tiếng vọng.
     - Để em làm thử xem. - Cô bé ấn nút. Tiếng con khủng long bạo chúa gầm lên lần nữa - Chúng ta có làm cho nó kéo dài nữa không?
     - Xong, chỉ việc xoay núm này…
*
     Nằm ở chân ngọn đồi, Hammond nghe tiếng con tyrannosaur rống lên rung chuyển, xuyên qua khu rừng rậm.
     Chúa ơi! Lão rùng mình khi nghe âm thanh ấy. Thật kinh khủng, tiếng thét từ một thế giới bên kia nào đó. Lão chờ xem việc gì xảy ra. Con tyranosaur sẽ làm gì? Nó đã chụp được người làm công? Hammond chờ, chỉ nghe tiếng râm ran của lũ ve rừng, cho đến khi lão nhận ra là mình đang nín thở, và lão buông một tiếng thở dài.
     Với mắt cá bị thương, lão không thể nào leo lên đồi. Lão sẽ phải chờ dưới dáy khe. Sau khi con khủng long bạo chúa bỏ đi, lão  sẽ kêu cứu. Trong lúc đó, ở đây ít nguy hiểm hơn.
     Rồi lão nghe tiếng nói qua âm li:
     - Nào, anh Tim. Để em làm thử lần nữa. Nào? Để em bấm cho nó kêu.
     Mấy đứa nhỏ!
     Con khủng long bạo chúa lại rống lên, nhưng lần này nó phát ra một âm thanh như âm nhạc, giọng trầm, và có tiếng vọng kéo dài tiếp theo sau.
     Mấy đứa nhỏ chết tiệt!
     Đáng lẽ lão đừng có đưa mấy đứa nhỏ đến đây. Chúng chẳng được gì ngoài việc gây rắc rối ngay từ lúc bắt đầu. Chẳng ai muốn có chúng quanh quẩn một bên. Hammond mang chúng đến vì lão nghĩ sự hiện diện của chúng sẽ ngăn Gennaro phá hủy khu nghỉ mát này, nhưng dù vậy Gennaro vẫn sắp phá hủy. Hai đứa nhỏ rõ ràng là đã vào phòng điều khiển và bắt đầu phá đám - ai đã cho phép chúng làm?
     Lão cảm thấy tim mình bắt đầu dập như chạy đua, và cảm thấy hụt hơi thở. Lão bắt mình phải thư giãn. Chẳng sao cả.
     Hammond ngồi xuống mặt đất ẩm, lắng nghe những âm thanh của khu rừng quanh mình. Và rồi, sau một lúc, lão bắt đầu kêu cứu.
*
     Giọng Malcolm không lớn hơn tiếng thì thầm:
     - Mọi thứ… trông khác… ở phía bên kia.
     Harding cúi sát người bên Malcolm:
     - Ở phía bên kia. - Ông nghĩ là Malcolm đang nói về việc chết.
     - Khi… đổi chỗ.
     - Đổi chỗ?
     Malcolm không trả lời. Đôi môi khô của ông mấp máy. Và cuối cùng thốt lên:
     - Khuôn mẫu.
     - Đổi chỗ khuôn mẫu? - Harding nhắc lại. Ông có biết mấy từ này. Trong suốt hai thập kỷ vừa qua, chúng là những từ rất hợp thời để nói về sự thay đổi trong khoa học. "Khuôn mẫu" chi là một từ khác để chỉ mốt, model, nhưng khi các nhà khoa học dùng thuật ngữ này thì nó có nghĩa hơn thế, là một quan điểm về thế giới. Một cách nhìn rộng lớn hơn về thế giới. Đổi mới khuôn mẫu được xem là sẽ xảy ra một khi khoa học thực hiện một thay đổi chính trong quan điểm của mình về thế giới. Những thay đổi như thế tương đối hiếm, xảy ra chửng một thế kỷ một lần. Thuyết tiến hóa của Darwin đã thúc đẩy một đổi chỗ khuôn mẫu. Cơ học lượng tử cũng đã thúc đẩy một đổi chỗ khuôn mẫu nhỏ.
     Malcolm mấp máy môi:
     - Không… không… khuôn mẫu… vượt quá…
     - Vượt quá khuôn mẫu? - Harding cố hiểu.
     - Đừng bận, bận tâm về… những gì… nữa.
     Harding thở dài. Bất chấp mọi cố gắng, Malcolm đang nhanh chóng lâm vào tình trạng hôn mê lần cuối. Cơn sốt càng cao hơn, và họ thì xem như đã hết cả thuốc kháng sinh.
     - Ông không bận tâm về điều gì?
     - Bất cứ điều… gì. Vì… mọi thứ trông khác… ở phía bên kia.
     Malcolm mấp máy môi.
     Và ông mỉm cười.
0
XUỐNG HANG
     Gennaro ra lớn với Ellie, khi nhìn cô chống tay vào miệng hang để lọt người xuống:
     - Cô điên quá! Đừng có điên mà làm như thế!
     Ellie mỉm cười:
     - Có thể. - cô tụt người xuống nữa, tay chống hai vách hang và đột nhiên biến mất.
     Lỗ hang há miệng đen ngòm.
     Gennaro bắt đầu vã mồ hôi. Ông ta quay sang Muldoon đang đứng bên cạnh chiếc Jeep.
     - Tôi sẽ không làm như thế.
     - Làm chứ.
     - Tôi không thể làm thế. Tôi không thể leo xuống.
     - Họ đang đợi ông. Ông phải leo xuống.
     - Có chúa biết được cái gì dưới ấy. Tôi nói thật với ông đấy. Tôi không leo xuống đâu.
     - Ông phải leo xuống.
     Gennaro quay đi, nhìn xuống lỗ, rồi nhìn lui:
     - Tôi chịu thôi. Ông không thể bắt buộc được tôi.
     - Tôi chẳng bắt buộc gì ông. - Muldoon đưa lên một cây gậy sắt không rỉ - Có bao giờ ông chạm phải gậy choáng này chưa?
     - Chưa. - Gennaro nhìn cây gậy. - Ông sẽ chẳng dùng gậy đó với tôi.
     - Tôi nghĩ tốt hơn là ông leo xuống và đếm lũ thú ấy. Và tốt hơn nữa là ông phải xuống ngay.
     Gennaro nhìn lỗ hang, một cái lỗ đen ngòm, một cái miệng trên mặt đất. Rồi ông ta nhìn Muidoon, đứng đấy, to lớn và chẳng chút cảm xúc.
     Gennaro toát mồ hôi và đầu óc quay cuồng. Ông ta bắt đầu bước đến miệng hố. Đứng xa xa thấy nó nhỏ, nhưng khi đến gần dường như nó to thêm lên. Muldoon nói:
     - Thế chứ.
     Gennaro bắt đầu xuống hố theo cách thụt chân xuống trước nhưng rồi ông ta cảm thấy sợ hãi khi tiếp tục xuống theo cách ấy ý tưởng thụt xuống một nơi không biết có gì làm ông kinh sợ. Vì thế vào phút cuối, ông ta quay lại và leo xuống bằng cách thò đầu vào hang, tay dang rộng, chân đạp. Ông ta kéo mặt nạ xuống che mặt.
     Và đột nhiên Gennaro tuôn tới trước, tuột dài vào khoảng tối đen, nhìn vách hang biến mất vào bóng tối trước mặt, và rồi vách hang hẹp lại - hẹp nữa, hẹp một cách dễ sợ - ông ta cảm thấy đau đớn vì càng lúc càng bị ép người lại, bị ép tưởng đến bể phổi, ông ta chỉ lờ mờ nhận biết là con đường hầm hơi nghiêng, ông ta há miệng thở dốc, tóe đom đóm mắt, và đau đớn khắp người.
     Và rồi thình lình con đường lại nghiêng dốc xuống trở nên rộng hơn, Gennaro cảm thấy mật đất cứng, đúc xi măng, và khí mát lạnh. Thân hình ông ta bỗng nẩy lên, rồi rơi xuống, lăn tròn trên nền đúc bê tông.
     Có tiếng nói trong bóng tối. Mấy ngón tay sờ vào ông. Không khí mát lạnh như trong hang động.
     - Có làm sao không?
     - Ông ta có vẻ không hề gì.
     - Đang thở?
     - Vâng.
     Một bàn tay đàn bà xoa mặt ông. Đấy là Ellie. Cô thì thầm:
     - Ông nghe được không?
     - Tại sao mọi người thầm thì thế? - Gennaro hỏi.
     - Vì… - Cô đưa tay chỉ.
     Gennaro quay lại, lăn người, từ từ đứng dậy. Ông nhìn chăm chú khi mắt dần quen với bóng tối. Những thứ ông thấy đầu tiên, ánh lên trong bóng tối, là những con mắt. Những con mắt sáng rực màu lục. Hàng chục đôi mắt. Khắp xung quanh.
     Ông ta đang ở trên một bờ thành, giống như một bờ lề đường cao cách nền xi măng chừng hai mét. Có những thùng sắt lớn chồng chất nối tiếp nhau tạo cho họ một chỗ nấp, tránh được tầm nhìn của hai con velociraptor trưởng thành đang đứng ngay trước mặt họ, cách không quá một mét rưỡi. Mấy con thú màu lục đậm với vằn như vằn cọp màu nâu nhạt. Chúng đứng thẳng, lấy thăng bằng trên chiếc đuôi cứng duỗi dài. Chúng hoàn toàn yên lặng, nhìn quanh canh chừng với đôi mắt đen to. Ở chân mấy con trưởng thành, những con velociraptor con đang rúc rúc và kêu chíp chíp. Cách đấy xa hơn, trong bóng tối, mấy con raptor thanh niên nhào lộn đùa giỡn, phát ra những tiếng gừ gừ.
     Gennaro không dám thở. Hai con raptor!
     Gennaro chỉ cách đầu hai con thú chừng một, hai tấc. Hai con raptor xem như kề sát họ, đầu chúng ngóc lên ngóc xuống có vẻ bồn chồn. Thỉnh thoảng chúng khịt mũi như sốt ruột. Rồi chúng quay đi, về phía bầy chính.
     Khi mắt đã quen dần, lúc này Gennaro có thể thấy họ đang ở trong một loại cấu trúc rất khổng lồ dưới mặt đất, do người xây dựng, có những đường gờ đúc bê tông, và những cọc sắt lồi lên ở chỗ sẽ đúc tiếp. Và trong khoảng không gian rộng rãi này có rất nhiều con thú. Gennaro đoán chừng ít nhất cũng đến ba mươi con. Có lẽ còn nhiều hơn.
     Grant thì thào:
     - Cả một quần thể. Bốn hay sáu con trưởng thành. Những con còn lại là những con thanh niên hay con non. Ít nhất là hai lứa ấp. Một lứa năm ngoái và một lứa năm nay. Lũ con chừng bốn tháng tuổi. Có lẽ nở vào khoảng tháng tư.
     Một trong mấy con non, tò mò, nhảy lên bờ rìa đường, kêu chít chít và tiến về phía họ. Lúc này nó chỉ cách họ chừng ba mét. Gennaro thốt lên:
     - Ôi Lạy Chúa.
     Nhưng ngay lập tức, một trong mấy con trưởng thành tiến tới trước, cất đầu lên, và nhẹ nhàng dùng mõm hất con con quay lui. Con thú non kêu lên chíp chíp chống đối, rồi nhảy lên đứng trên sống mũi của con lớn. Con thú lớn cử động chầm chậm, cho con con leo lên trên đầu, xuống cổ, rồi xuống lưng. Từ vị trí được bảo vệ đó, con thú non quay lại, kêu chíp chíp thật to về phía mấy người đang xen vào chỗ của chúng.
     Mấy con lớn dường như chẳng chú ý gì đến họ cả. Gennaro thì thầm:
     - Tại sao chúng không tấn công chúng ta? Tôi không hiểu được.
     - Hẳn là chúng không thấy. Vào lúc này hình như chẳng còn cái trứng nào. - Grant lắc đầu, đáp.
     - Chúng ta còn ở đây bao lâu nữa?
     - Khi nào đếm xong trứng.
     Như Grant thấy, có ba lứa con non, được chăm sóc bởi ba cặp cha mẹ. Sự phân chia khu vực sinh hoạt tập trung quanh mấy ổ trứng, mặc dù đám con trưởng thành đối xử mềm mỏng với những con non, nghiêm khắc hơn với những con thanh niên, thỉnh thoảng táp táp vào mấy con lớn hơn khi chúng đùa giỡn quá hung dữ.
     Vào lúc này một con raptor tơ đến bên Ellie và cọ đầu vào chân cô. Ellie nhìn xuống và thấy chiếc tròng cổ với chiếc hộp đen. Chiếc dây tròng cổ đã làm trầy da cổ con thú.
     Con thú tơ kêu lên mấy tiếng nhỏ.
     Trong khoảng phòng rộng phía dưới, một trong mấy con thú trưởng thành tò mò quay mình về phía tiếng kêu.
     - Giáo sư nghĩ là tôi có thể tháo nó ra không? - Ellie nói với Grant.
     - Chỉ việc làm cho nhanh.
     - Ôkê. - Ellie ngồi xổm bên cạnh con thú. Nó lại kêu lên.
     Mấy con lớn khịt mũi, đầu ngóc lên ngóc xuống.
     Ellie vỗ về con thú tơ, gắng làm cho nó đừng kêu lên nữa. Cô đưa tay lần quanh chiếc dây tròng cổ, tới chỗ khuy gài để tháo ra. Con thú lại kêu lên một tiếng nhỏ. Mấy con lớn lại ngóc đầu.
     Và một con bắt đầu tiến về phía Ellie. Gennaro nín thở:
     - Ô chó thật.
     - Đừng có cử động. - Grant bảo ông ta - Cứ giữ yên.
     Con trưởng thành đi ngang chỗ họ, mấy chiếc vuốt cong gõ cong cóc trên nền bê tông. Con thú dửng lại trước mặt Ellie, cô vẫn ngồi xổm bên cạnh con thú non, đàng sau một hộp sắt. Con thú non lộ rõ nguyên cả thân hình, và tay Ellie vẫn còn nằm trên dây tròng cổ. Con thú lớn cất cao đầu, khịt mũi ngửi vào không khí; Chiếc đầu to lớn của nó rất gần với tay Ellie nhưng nó không thể thấy cô vì dãy thùng sắt kê tiếp nhau. Một chiếc lưỡi thò ra thăm dò.
     Grant đưa tay sờ một quả lựu đạn gây tê liệt, rút ra khỏi thắt lưng, đặt ngón tay cái lên, sẵn sàng rút chốt. Gennaro đưa một tay ra hiệu, lắc đầu, và rồi hất đầu về phía Ellie.
     Cô không mang mặt nạ.
     Grant để quả lựu đạn xuống, với tay lấy cây gậy choáng. Con thú lớn vẫn đứng sát Ellie.
     Ellie tháo chiếc dây da ra khỏi cổ con vật và thả xuống. Chiếc  khóa sắt kêu một tiếng cách trên mặt bê tông. Đầu con thú lớn ngóc nhanh rồi nghiêng về một phía, tìm tòi. Nó tiến tới lần nữa để thăm dò trong khi con thú tơ vui vẻ kêu chíp chíp nhảy đi chỗ khác. Con lớn vẫn đứng cạnh Ellie. Rồi cuối cùng nó quay mình, đi về phía tổ trứng.
     Gennaro buông một hơi thở dài:
     - Ôi, lạy Chúa. Chúng ta đi được chưa?
     - Không. Chúng ta còn phải làm vài ba việc.
     Trong ánh sáng huỳnh quang của kính nhìn đêm gắn vào mặt nạ, Grant từ chỗ của mình trên bờ đường, nhìn vào tổ trứng đầu tiên. Tổ được làm bằng bùn và rác tạo thành một chiếc tổ tròn, to, lõm xuống ở giữa theo hình một chiếc rổ. Ông đếm phần còn lại của mười bốn cái trứng. Dĩ nhiên ông không thể đếm được các vỏ trứng thật sự với một khoảng cách như thế, và dù sao thì cũng đã quá lâu kể từ khi chúng vỡ ra và các mảnh vỡ thì nằm rải rác khắp nền hầm, nhưng ông có thề đếm những vết lõm xuống bùn. Rõ ràng là mấy con raptor đã làm ổ một thời gian ngắn trước khi chúng đẻ, và mấy quả trứng còn để lại dấu trong bùn. Ông cũng thấy có bằng chứng là ít nhất có một quả bị vỡ ông tin là có mười ba con thú.
     Tổ trứng thứ hai bị gãy đôi . Nhưng Grant lượng đoán là tổ này có chín trứng. Tổ thứ ba có mười lăm trứng, nhưng cho thấy có ba trứng đã vỡ trước. Gennaro hỏi:
     - Tổng số bao nhiêu?
     - Ba mươi bốn con nở. - Grant đáp.
     - Ông thấy được mấy con?
     Grant lắc đầu. Lũ thú lớn nhỏ đang chạy nhảy khắp nơi trong khuôn nền các hầm, thoắt ra thoắt vào những chỗ có ánh sáng. Ellie bảo:
     - Tôi đang quan sát. Giáo sư hãy chụp ảnh để biết thật chắc. Mõm của các con thú con đều khác nhau. Tôi đếm được ba mươi ba.
     - Và những con tơ?
     - Hai mươi hai, nhưng giáo sư Grant, ông có thấy điều gì kỳ lạ nơi chúng không?
     - Điều gì? - Grant thì thầm.
     - Về cách chúng tự sắp chỗ đứng trong phòng. Chúng đang có những vị trí theo một mẫu mực nào đó hay một sự sắp xếp nào đó.
     Grant nhíu mày nhìn:
     - Hơi tối.
     - Không tối đâu. Giáo sư thử nhìn xem. Hãy trông những con nhỏ. Khi chúng đùa giỡn, chúng chạy chảy khắp mọi phía. Hãy chú ý cách chúng định hướng thân hình của chúng. Chúng xây mặt vào hoặc bức tường này hoặc bức tường kia. Giống như chúng sắp hàng vậy.
     - Tôi không hiểu, Ellie. Cô nghĩ là chúng có di căn của một quần thể? Như loài ong?
     - Không. Không đúng thế. Nó tinh vi hơn thế. Đây là một khuynh hướng.
     - Những con non làm như thế nào?
     - Không. Tất cả đều làm thế. Cả mấy con lớn nữa. Hãy nhìn chúng xem. Giáo sư thấy không, chúng đang sắp hàng.
     Grant nhíu mày. Dường như Ellie nói đúng. Mấy con thú làm đủ mọi cử chỉ, đủ mọi thái độ nhưng trong những lúc đứng yên, những lúc chúng nhìn nhau hay nghỉ xả hơi, chúng dường như định hướng thân hình theo những phương hướng đặc biệt, dường như có những con đường vô hình trên nền hầm.
     - Tôi cá đấy. Có thể có cơn gió…
     - Tôi có thấy gió gì đâu, giáo sư.
     - Chúng đang làm gì? Một loại tổ chức sống tập thể được biểu hiện theo kiểu chia chỗ ở?
     - Điều đó không có lý. Vì tất cả chúng đều làm như thế.
     Gennaro lật nắp đồng hồ đeo tay, dưới mặt đồng hồ là một la bàn.
     - Tôi biết là vật này sẽ có ngày được dùng.
     - Ông dùng nó làm gì ở tòa án?
     Gennaro lắc đầu và giải thích:
     - Vợ tôi tặng sinh nhật của tôi. - ông ta nhìn vào đồng hồ - Ấy, chúng không sắp hàng nhằm theo một vật gì… Tôi đoán chúng đứng theo hướng đông bắc - tây nam, hay hướng gì đại loại như thế.
     - Có thể chúng đang nghe cái gì đó, rồi quay đầu để nghe cho rõ. - Ellie góp ý.
     Grant cau mày. Ellie tiếp:
     - Hay đấy là một tập tính lễ nghi, một tập tính đặc biệt cùng chủng loại để nhận biết lẫn nhau. Nhưng có lẽ chẳng có ý nghĩa gì lớn hơn. - Ellie thở dài - Hoặc có lẽ đấy là một điều khó hiểu. Có thể khủng long là một loài khó hiểu. Hay đấy là một cách thông tin.
     Grant cũng đang suy nghĩ đến điều đó. Loài ong có thể thông tin với nhau trong không gian, bằng cách bay theo một điệu vũ nào đấy. Có lẽ khủng long cũng có thể làm theo cách ấy.
     Gennaro nhìn lũ thú và hỏi:
     - Tại sao chúng không đi ra ngoài?
     - Chúng là loài ăn đêm.
     - Vâng, nhưng chúng hầu như có vẻ đang ẩn núp.
     Grant nhún vai. Một lúc sau đó, những con non bắt đầu kêu chíp chíp và nhảy nhót xao động. Những con lớn nhìn có vẻ lạ lùng trong chốc lát. Và rồi, với những tiếng rúc và tiếng kêu vang dội trong khoảng không gian của căn hầm tối, tất cả các con khủng long quay đầu và chạy về phía cuối con đường hầm đúc bê tông, khuất trong bóng tối ở xa.
0
HAMMOND
     Hammond nặng nề buông mình ngồi xuống trên đám đất ướt của dốc đồi và cố lấy lại hơi thở. Lạy Chúa, nóng quá. Lão nghĩ. Nóng và ẩm ướt. Lão cảm thấy dường như mình đang thở qua một miếng bọt bể.
     Lão nhìn xuống con suối, lúc này ở phía dưới, cách chỗ lão ngồi mười hai mét. Dường như đã hằng giờ trôi qua từ khi lão trỗi dậy khỏi làn nước suối và bắt đầu leo lên ngọn đồi. Mắt cá của lão bây giờ sưng vù và bầm tím. Lão không thể đè sức nặng của mình lên đấy được nữa. Lão bắt buộc phải nhảy lò cò lên đồi bằng chân kia, mà bây giờ đang đau nhức vì phải chịu đựng quá sức.
     Và lão khát nước. Trước khi bỏ lại con suối phía sau lão đã uống nước suối, cho dẫu biết thế là không khôn ngoan. Bây giờ, lão cảm thấy choáng váng, và trời đất thỉnh thoảng quay cuồng quanh lão. Lão thấy khó khăn trong việc giữ thăng bằng. Nhưng lão biết lão phải leo lên ngọn đồi, trở lại con đường phía trên ấy.
     Có tiếng chít chít, và những hòn đất nhỏ lăn xuống đồi ngang qua lão. Có con gì đó đang tới. Rồi lão thấy một con thú màu lục đậm nhảy xuống đồi về phía lão - một con khác - và một con khác nữa.
     Compys, lão nghĩ thầm với nỗi ớn lạnh. Những con thú ăn xác chết.
     Các con compys trông không có vẻ nguy hiểm. Chúng lớn chỉ bằng con gà mái, chúng đi tới với chiếc đầu giật giật, như mấy con gà mái. Nhưng lão biết chúng là những con thú độc. Những vết cắn của chúng có chất độc tác dụng chậm, chúng dùng để giết các con thú què.
     Các con thú què, lão nghĩ, cau mày.
     Con đầu tiên của mấy con compys đứng trên sườn đồi, nhìn lão chăm chăm. Nó đứng cách lão chừng một mét rưỡi, ngoài tầm tay của lão, và chỉ nhìn lão. Mấy con khác đến ngay sau đó, và chúng đứng thành một hàng. Canh chừng. Chúng nhảy lên, nhảy xuống kêu chút chít, vẫy vẫy mấy bàn tay nhỏ có móng.
     - Suỵt! Cút đi! - Lão ném một hòn đá.
     Mấy con compys lùi lại, nhưng chỉ một, hai bước. Chúng không sợ. Chúng dường như biết lão không thể làm gì được chúng.
     Nổi giận, Hammond, bẻ một cành cây gần đấy và dứ về phía chúng. Mấy con compys né tránh, nắm mấy chiếc lá, kêu chút chít vui vẻ. Dường như chúng cho rằng lão đang đùa với chúng.
     Lão lại nghĩ về chất độc. Lão nhớ một trong mấy người chăm sóc thú đã bị một con compys trong chuồng cắn. Người này nói rằng chất độc giống như thuốc phiện - dịu dàng, êm đềm. Không đau.
     Người bị cắn chỉ muốn ngủ.
     Quỷ tha ma bắt với thứ đó, lão nghĩ bụng. Hammond nhặt một hòn đá, ngắm cẩn thận, và ném, trúng một con ngay ngực. Con thú nhỏ kêu lên sợ hãi khi nó bị té lui, lăn tròn trên chiếc đuôi. Những con kia lập tức dạt lui.
     Thế mới được chứ.
     Hammond quay đi, và lại bắt đầu leo lên đồi. Níu các cành cây bằng cả hai tay, lão nhảy lò cò bằng chân trái, cảm thấy đau nhức nơi vế. Lão đi chưa được mươi bước thì một con compys nhảy lên lưng lão. Lão quay tay thật mạnh, đánh con thú văng đi xa, nhưng mất thăng bằng tuột lui xuống đồi. Khi lão dừng lại được, một con compys thứ hai nhảy tới cắn vào tay lão. Lão nhìn vết cắn với nỗi kinh hoàng, thấy máu chảy qua mấy ngón tay. Lão quay người và bắt đầu khó nhọc leo trở lại lên đồi.
     Một con compys khác nhảy lên vai lão, và lão cảm thấy đau khi con vật cắn vào cổ lão. Lão thét lên và hất con vật đi. Lão quay lại đối diện với mấy con thú, thở mạnh, chúng đều đứng quanh lão, nhảy nhót, nhìn lão. Từ dấu cắn trên cổ, lão cảm thấy máu âm ấm chảy qua vai, xuống xương sống.
     Nằm ngửa trên sườn đồi, lão bắt đầu thấy thoải mái một cách kỳ lạ, trí óc bay bổng. Lão nhận thấy mình chẳng có điều gì sai trái cả. Không có một nhầm lẫn nào đã phạm phải. Malcolm hoàn toàn không đúng trong lối phân tích của lão ấy. Hammond nằm rất yên tĩnh, yên tĩnh như một đứa trẻ trong nôi, và lão cảm thấy êm đềm một cách kỳ diệu. Khi con compys kế đó nhảy đến cắn vào mắt cá lão, lão chỉ dùng sức của một nửa ý muốn để đá nó đi. Những con thú nhỏ mon men đến gần hơn. Chẳng mấy chốc, chúng kêu chút chít đầy xung quanh lão, như những con chim vui vẻ tìm được mồi. Lão cất đầu lên khi một con compys khác nhảy lên ngực lão, con vật nhẹ và dễ chịu một cách kỳ lạ. Hammond chỉ cảm thấy một tí đau nhẹ, rất nhẹ, khi con compys cúi đầu cắn vào cổ lão.
0
BỜ BIỂN
     Đuổi theo mấy con khủng long, theo những đường cong và những con dốc lên xuống đúc bê tông, Grant thình lình ló ra khỏi một miệng hang và thấy mình đứng trước một bờ biển, nhìn ra Thái Bình Dương. Khắp xung quanh ông, những con velociraptor đang nhảy nhót và đá vào cát. Những con này sau con kia, lũ thú đi lui vào bóng những cây cọ dừa qua một đầm nước, và chúng đứng đấy, sắp hàng theo một cung cách kỳ dị, trông chừng ra ngoài biển. Chúng nhìn bất động về phía nam. Gennaro:
     - Tôi không hiểu được.
     Grant:
     - Tôi cũng vậy, trừ cái điều rõ ràng là chúng không thích ánh nắng.
     Lúc này trên bờ biển không nắng lắm, một làn sương nhẹ bay, và ngoài biển có sương mù. Nhưng tại sao chúng bất thình lình bỏ tổ ra đi. Cái gì đã mang cả quần thể này đến bờ biển.
     Đằng sau bờ biển, sâu vào trong rừng, họ nghe tiếng u u của hàng rào điện. Eilie nói:
     - Ít nhất, chúng ta biết được bằng cách nào mà chúng thoát ra khỏi các hàng rào điện.
     Gennaro lật mặt đồng hồ nhìn vào la bàn, và quan sát cách đứng của lũ thú:
     - Tây nam. Đông bắc. Y như hồi nãy.
     Rồi họ nghe tiếng của một động cơ diezel tàu thảy. Qua làn sương mù, họ thấy một chiếc tàu xuất hiện. Một chiếc tàu chở hàng lớn, chầm chậm đi về phía bắc. Gennaro nói:
     - Có phải vì thế mà chúng ra đây?
     Grant gật đầu:
     - Hẳn chúng có nghe chiếc tàu đến.
     Khi chiếc tàu hàng đi qua tất cả các con vật đều nhìn con tàu, đứng yên lặng, thỉnh thoảng mới nghe vài tiếng chíp chíp. Grant thấy kinh ngạc bởi tập tính phối hợp này, cách chúng di chuyển và hành động như một tập thể. Nhưng có lẽ điều này chẳng quá huyền bí. Trong trí ông, ông ôn lại chuỗi sự kiện nối tiếp nhau bắt đầu từ lúc trong hang. Thoạt tiên, các con thú non xáo động. Rồi các con trưởng thành chú ý. Và cuối cùng cả bầy thú chạy ra bờ biển. Chuỗi nối tiếp dường như hàm ý rằng những con thú trẻ hơn, với việc nghe ngóng nhậy bén hơn, đã phát hiện ra chiếc tàu trước. Rồi những con trưởng thành đã dẫn cả bầy ra biển. Và như Grant thấy, lúc này mấy con lớn đang nhận lấy trách nhiệm. Có một sự tổ chức phân chia vị trí rõ ràng dọc theo bờ biển, và khi lũ thú ổn định lại, chúng không lộn xộn mất trật tự, tùy tiện như khi còn trong hang. Đúng hơn, rất có quy tắc, hầu như rất kỷ luật. Những con lớn đứng cách nhau chừng mười mét hay khoảng đó, mỗi con trưởng thành có một nhóm các con nhỏ vây quanh. Những con thanh niên có vị trí ở khoảng giữa, hơi quá trước mấy con trưởng thành một chút.
     Nhưng Grant thấy những vằn phân biệt rõ dọc theo đầu một con cái, và nó đứng ngay điểm trung tâm của cả nhóm khi chúng sắp hàng dọc bờ biển. Cũng chính con cái đó đã đứng ở trung tâm ổ trứng trong hang. Ông đoán rằng, giống như các bầy khỉ, lũ raptor được tổ chức theo tôn ti trật tự mẫu hệ, và con cái có vằn đặc biệt này là con đầu đàn. Những con đực, ông nhận thấy sắp hàng theo vòng để bảo vệ cho cả bầy.
     Nhưng không giống bầy khỉ, vốn tùy tiện và lỏng lẻo trong cách tổ chức, lũ khủng long ổn định theo một sự bố trí khắt khe - hầu như một tổ chức quân sự, dường như vậy. Rồi, còn sự kỳ dị của việc định hướng tây nam - đông bắc trong không gian. Việc này ngoài sức hiểu biết của Grant. Nhưng về một ý nghĩa khác, ông không lấy làm ngạc nhiên. Các nhà cổ sinh vật đã đào được những bộ xương quá cổ. Qua chúng chỉ nhận được rất ít thông tin. Xương có thể cho chúng ta biết bề ngoài của một con thú, chiều cao và sức nặng của nó. Xương có thể biết được những tập tính thô thiển trong suốt cuộc đời của nó. Chúng có thể cho ta biết đầu mối của một vài bệnh tật gây ảnh hưởng lên xương. Nhưng một bộ xương là một điều gì thiếu sót, thật thiếu sót, để từ đó suy diễn toàn bộ tập tính của một sinh vật. Vì xương là tất cả những gì mà các nhà cổ sinh vật có được, cũng như các nhà cổ sinh vật khác, Grant rất tinh thông trong khi làm việc với xương. Và vào một nơi nào đó trong suốt đoạn đường, ông đã bắt đầu quên đi những điều khả dĩ không thể chứng minh được - rằng khủng long có thể thật sùm những con thú khác hẳn, rằng chúng có thể có được những tập tính và cuộc sống quần thể được tổ chức theo những cách hoàn toàn bí mật cho lũ động vật có vú hậu duệ của chúng sau này. Như thế, vì khủng long cơ bản là loài chim…
     - Ồ, lạy Chúa tôi. - Grant kêu lên.
     Ông nhìn vào lũ raptor, sắp hàng dọc theo bờ biển theo một tổ chức qui củ, yên lặng nhìn chiếc tàu. Và đột nhiên hiểu mình đang nhìn điều gì.
     - Mấy con thú đó - Gennaro nói, lắc đầu - rõ ràng chúng thất vọng vì không trốn thoát được nơi đây.
     - Không. - Grant nói - Chúng không muốn trốn thoát chút nào.
     - Chúng không muốn thoát?
     - Không. Chúng muốn di trú.
 
ĐẾN GẦN BÓNG ĐÊM
     - Di trú! - Ellie thốt lên - Thật kỳ dị.
     - Đúng thế - Grant cười.
     - Giáo sư giả sử là chúng di trú đi đâu? - Ellie hỏi.
     - Tôi không biết.
     Và rồi những chiếc trực thăng xuất hiện ló ra khỏi đám sương mù ngoài khơi. Động cơ rú rầm rầm. Dưới bụng các máy bay đầy các thứ bom đạn. Lũ raptor chạy tán loạn hoảng hốt trong khi một trong mấy chiếc máy bay bay vòng lui ra biển theo đường sóng đánh rồi bay vào đáp xuống trên bờ biển. Một cánh cửa mở ra, và mấy quân nhân mặc đồng phục màu ôliu chạy đến phía họ. Grant nghe một tràng âm thanh tiếng Tây Ban Nha và thấy Muldoon đã ở trên máy bay vời mấy đứa nhỏ. Một trong mấy người lính nói tiếng Anh:
     - Xin mời, quý vị lên đây với chúng tôi. Xin mời, không còn thì giờ ở đây nữa.
     Grant nhìn lại bãi biển nơi lũ raptor vừa ở đấy. Chúng đã đi mất hết. Tất cả lũ thú biến mất. Dường như chúng chưa hề tồn tại. Mấy người lính tới dứt khoát kéo ông đi, ông để mình bị kéo tới phía dưới hai cánh quạt đang quay và leo vào chiếc cửa lớn. Muldoon nghiêng người hét vào tai Grant:
     - Họ muốn chúng ta rời khỏi đây ngay. Họ sẽ làm việc ngay bây giờ!
     Mấy quân nhân đẩy Gennaro và Ellie vào chỗ ngồi và giúp họ buộc dây an toàn. Tim và Lex vẫy tay với ông và đột nhiên ông thấy chúng nhỏ bé chừng nào, và cũng kiệt sức đến chừng nào. Lex đang ngáp, và tựa đầu vào vai anh. Một sĩ quan tiến về phía Grant và hỏi:
     - Thưa ngài, có phải ngài là người có trách nhiệm ở đây không?
     - Không. Tôi không có trách nhiệm.
     - Ai có trách nhiệm, thưa ngài?
     - Tôi không biết.
     Người sĩ quan đến bên Gennaro và hỏi cùng câu hỏi:
     - Phải ngài là người có trách nhiệm đây không?
     - Không.
     Người sĩ quan nhìn Ellie, nhưng không nói gì với cô. Cửa vẫn để mở khi chiếc máy bay cất mình khỏi bờ biển, và Grant nhoài người để có thể nhìn lũ raptor một lần chót, nhưng chiếc trực thăng đã ở trên các ngọn cây cọ dừa, bay lên trên đảo về phía bắc.
     - Những người kia thì sao?
     Muldoon la to đáp lại:
     - Họ đã để Harding và một số các người làm công đi. Hammond gặp một tai nạn. Tìm thấy ông ta trên ngọn đồi gần khu nhà nghỉ mát của ông ta. Chắc là bị té.
     - Ông ta không can gì chứ?
     - Chết rồi. Lũ compys tấn công ông ta.
     - Còn Malcolm thì sao?
     Muldoon lắc đầu.
     Grant quá mệt không muốn suy nghĩ đến bất cứ điều gì nữa. ông quay đi, và nhìn lui qua cánh cửa. Lúc này trời đang tối dần và trong ánh sáng nhạt nhòa, ông có thể thấy một cách khó khăn con T-rex nhỏ, với đội hàm đầy máu, chồm lên một con hadrosaur bên cạnh hồ vịnh, nhìn lên chiếc trực thăng, và rống lên khi máy bay bay ngang.
     Một nơi nào đó phía sau họ nghe những tiếng nổ và từ phía trước họ thấy một chiếc trực thăng khác liệng tròn trong sương mù trên khu trung tâm nhà khách, và một chốc sau tòa nhà nổ bùng thành một khối cầu lửa màu vàng cam. Lex bắt đầu khóc, và Ellie đưa tay quàng quanh người cô bé, cố ngăn bé đứng nhìn.
     Grant đang nhìn xuống mặt đất, và ông thoáng thấy mấy con hypsilophodont, nhảy lên một cách uyển chuyển như những con hươu cao cổ, trước khi một cú nổ khác nhoáng lửa lên dưới bụng chúng. Trực thăng của họ lấy độ cao và rồi bay về phía đông trên mặt biển.
     Grant ngồi lui lại chỗ mình. Ông nghĩ đến mấy con khủng long đứng trên bờ biển, và ông tự hỏi không biết chúng sẽ di trú đến nơi nào nếu chúng có thể đi được, và ông nhận ra rằng ông sẽ chẳng bao giờ biết được, cùng một lúc, ông vừa cảm thấy buồn, vừa cảm thấy an tâm.
     Người sĩ quan tiến đến lần nữa, nghiêng người gần mặt ông:
     - Có phải ngài chịu trách nhiệm không?
     - Không.
     - Vậy thưa ngài, ai là người chịu trách nhiệm?
     - Không ai cả.
     Chiếc trực thăng lấy tốc độ khi hướng về phía đất liền. Lúc này trời hơi lạnh, và mấy người lính đóng cửa máy bay lại. Khi họ đóng Grant cố nhìn thêm một lần nữa, và thấy hòn đảo nổi bật lên nền trời màu tím, phủ trong một làn sương che mờ. Những đám nổ trắng vang lên thật nhanh, tiếng nổ này sau tiếng nổ khác cho đến khi toàn bộ hòn đảo sáng ngời rồi mờ dần trong đêm đen.
0
SAN JOSÉ
    Ngày ngày trôi qua. Chính quyền tỏ ra rất lịch sự, để họ ở trong một khách sạn ở San José. Họ được tự do đi lại, gọi điện thoại cho bất kỳ ai họ muốn gọi. Nhưng họ không được phép rời khỏi Costa Rica. Mỗi ngày, một người trẻ tuổi từ tòa đại sứ Mỹ đến thăm họ hỏi xem họ cần thứ gì, và cho biết là Washington đang làm đủ mọi điều có thể để họ sớm được ra đi. Nhưng sự việc rất rõ ràng là có nhiều người đã chết trên đất đai thuộc quyền sở hữu của Costa Rica. Sự việc rõ ràng là một tai họa về môi trường đã được thu gọn trong phạm vi hẹp.
    Chính quyền Costa Rica cảm thấy họ đã bị đánh lạc hướng và bị lừa dối bởi John Hammond và những kế hoạch của ông ta về hòn đảo. Với những tình huống như thế, chính quyền không được phép buông thả những người sống sót một cách vội vã. Họ thậm chí không cho phép chôn cất Hammond hoặc Ian Malcolm. Họ chỉ việc chờ.
    Mỗi ngày, dường như Grant được mời đến một văn phòng khác nhau của chính quyền, ở đấy ông được thẩm vấn bởi những nhân viên nhà nước rất thông minh, lịch sự. Họ bảo ông kể lại câu chuyện, kể đi rồi kể lại. Bằng cách nào mà Grant gặp Hammond. Grant biết gì về dự án. Làm thế nào mà Grant nhận được bản FAX từ New York. Tại sao Grant đến đảo. Những gì đã xảy ra ở đảo.
    Cứ những chi tiết như thế, lần này rồi lần khác, ngày này qua ngày khác. Cùng một câu chuyện.
    Trong một thời gian dài, Grant nghĩ ắt hẳn là họ đã cho là ông nói láo và có điều gì đó họ muốn ông nói cho họ biết, mặc dầu không thể tưởng tượng ra đấy là điều gì. Nhưng trong một đường lối kỳ dị nào đã họ dường như chờ đợi.
    Cuối cùng, khi Grant ngồi gần một hồ bơi trong khách sạn, nhìn Tim và Lex tạt nước đùa nhau thì một người Mỹ mặc kaki bước đến gần:
    - Chúng ta đã gặp nhau. Tên tôi là Marty Guitierrez. Tôi là một nhà nghiên cứu ở đây, làm việc tại trạm Carara.
    - Ông là người đã tìm ra một mẫu loại gốc của procompsognathus.
    - Đúng thế, vâng. - Guitierrez ngồi kế bên ông - Chắc là giáo sư mong muốn được về nhà?
    - Vâng. Tôi chỉ còn một số rất ít ngày để đào tiếp trước khi mùa đông đến. Ở Montana, ông biết đấy, những ngày tuyết rơi đầu tiên thường vào tháng tám.
    - Đấy là lý do tại sao công ty Hammond đã tài trợ cho những cuộc khai quật ở phía bắc? Bởi những chất liệu di truyền còn nguyên từ khủng long thường dễ có khả năng tồn tại ở các hóa thạch khai quật được ở các xứ lạnh?
    - Tôi phỏng đoán thế, vâng.
    Guitlerrez gật đầu:
    - Ông ta là một người thông minh, ông Hammond ấy.
    Grant không nói gì. Guitierrez dựa vào chiếc ghế cạnh hồ bơi. Cuối cùng, Guitierrez nói:
    - Chính quyền ở đây sẽ không nói với giáo sư. Vì họ sợ, và có lẽ họ phật ý với giáo sư về những gì giáo sư đã làm. Nhưng một điều gì đó rất kỳ dị đang xảy ra ở các miền quê tại đây.
    - Vụ cắn các trẻ sơ sinh?
    - Không phải. Cảm ơn Chúa, việc đó đã dừng lại rồi. Nhưng một việc khác. Mùa xuân này, ở vùng Isma Loya, nằm về phía bắc, có một số thú lạ ăn mùa màng bằng một cách rất kỳ lạ. Hàng ngày, chúng di chuyển theo một đường thẳng, thẳng tắp như một dây cung, từ bờ biển đi vào các ngọn núi, vào rừng.
    Grant ngồi thẳng dậy. Guitierrez nói tiếp:
    - Như một cuộc di trú. Giáo sư nghĩ sao?
    - Chúng ăn loại mùa màng gì?
    - Ấy cũng kỳ dị. Chúng thường ăn đậu agama và đậu soya, thỉnh thoảng bắt gà con.
    - Đấy là thực phẩm giàu chất lysine. - Grant nhận xét - Việc gì xảy ra cho mấy con thú này sau đó?
    - Phỏng đoán là chúng vào rừng. Tuy thế, chưa có trường hợp nào tìm thấy chúng. Dĩ nhiên, tìm cho thấy được chúng trong rừng rậm là một việc khá khó khăn. Một cuộc tìm kiếm có thể mất hàng năm trong dãy núi Isma Loya mà không tìm thấy được dấu hiệu gì của chúng.
    - Và chúng tôi đang bị giữ lại đây bởi vì…
    Guitierrez nhún vai:
    - Chính quyền thấy lo lắng. Có lẽ còn nhiều con thú nữa. Họ cảm thấy phải thận trọng.
    - Ông có nghĩ là có thêm nhiều thú lạ nữa không? - Grant hỏi.
    - Tôi không thể nói được. Ý kiến của giáo sư?
    - Có lẽ còn nhiều đấy.
    - Tôi cũng nghĩ thế.
    Guitierrez đẩy ghế đứng dậy. Ông vẫy Lex và Tim, đang chơi đùa dưới nước.
    - Có lẽ họ sẽ đưa mấy đứa trẻ về nhà. Không có lý do gì mà không làm thế. - Guitierrez mang kính mát lên - Hãy vui với những ngày lưu lại đây với chúng tôi, tiến sĩ Grant. Đây là một xứ sở đẹp đẽ đáng yêu.
    - Anh đang bảo là chúng tôi sẽ không được phép đi đâu?
    - Không một ai trong chúng ta đi đâu cả, tiến sĩ Grant. - Guitierrez mỉm cười. Và rồi ông ta quay mình đi trở lại lối vào khách sạn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-12-27 11:42:28Ct.Ly>
CÔNG VIÊN KHỦNG LONG KỶ JURA - MICHAEL CRICHTON

Đã mang vào thư viện,

Cảm ơn buihongvan đã góp sức cho thư viện

Chúc buihongvan một năm 2012 nhiều vui vẻ và vạn sự như ý




📎 bonne-annee-2012
0
«« « 1 2 » »»