📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA NGUYỄN CHU NHẠC

44 trả lời, 252 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.10.2020 04:53:35 bởi tamvanvov>
Đi chợ Cốc pài 

Thơ Nguyễn Chu Nhạc

[size="+1"]
[/size]

Nào em đi chợ Cốc pài 
Tìm mua một chút sương mai mang về...

Tìm rau, rau mãi trong khe
Tìm lá, lá vẫn ngủ mê trong rừng 
Tìm trám, trám rụng đầu thung 
Tìm hoa, hoa nở ở lưng chừng trời 
Tìm ngũ sắc đã đồ xôi 
Tìm vò rượu đã đầy vơi nỗi lòng 
Tìm mật, mật ủ trong ong 
Tìm bạc, bạc đã đeo vòng cổ ai, 

Ngẩn ngơ váy áo Cốc pài 
Mặt trời lên đỉnh sương mai chẳng còn.



Lời bình của Nguyễn Thanh Vân



Thế là lão Chu đã đi chợ. Lão không đi chợ với vợ , làm người xách làn theo sau để tô điểm hạnh phúc gia đình. Lần này lão đi công tác, lão đi chợ vùng cao với người tình xưa:
Nào em đi chợ Cốc pài 
Tìm mua một chút sương mai mang về...

Đọc kỹ thì lão đi một mình. Nào em là lão tưởng tượng ra thôi, hoặc cùng lắm là một cô gái đi đường nào đó. Lão đi mua một chút sương mai để mai về xuôi. Sương thì ở đâu chả có. Nhưng sương những vùng núi cao hạt rất to, rất trong và ai đã từng nếm sẽ thêm cảm giác mát lành . Mà lão đâu có nói về sương, lão qua hạt sương mai để nói về cốt cách trong sáng đẹp đẽ của con người vùng cao, nói về một mối tình đẫm sương mai lão đã đánh mất từ thời sinh viên.
Chợ vùng cao chỉ có cỏ cây, hoa lá, rượu, mật ong, vải thổ cẩm, vòng bac v.v… những thứ trao đổi giản đơn cho những cuộc đời đơn giản của đồng bào dân tộc. Lão tả chợ trong cái háo hức đi tìm hiểu cái lạ của con người miền xuôi lên miền ngược:
Tìm rau, rau mãi trong khe
Tìm lá, lá vẫn ngủ mê trong rừng 
Tìm trám, trám rụng đầu thung 
Tìm hoa, hoa nở ở lưng chừng trời 
Tìm ngũ sắc đã đồ xôi 
Tìm vò rượu đã đầy vơi nỗi lòng 
Tìm mật, mật ủ trong ong 
Tìm bạc, bạc đã đeo vòng cổ ai,

Ban đầu đọc những câu này tôi thấy chẳng có gì đặc sắc. Cứ tả như thế này thì kéo dài hàng trang được. Nhưng tôi đã nhầm. Người xưa từng nói, cái đẹp, cái hay đều nằm trong cái giản dị. Việc sắp xếp các thứ cần mua của lão đi từ rẻ đến đắt, đi từ vật chất đến tinh thần. Rau, lá, trám là vế thứ nhất. Hoa, rượu, ngũ sắc, mật, bạc là vế thứ hai . Nó rất đúng với tâm lý của người đi chợ. Mua cái rẻ trước, sau đó xem ước số tiền mang theo để mua những cái đắt hơn. Vật chất có trước , tinh thần có sau. Và những thứ cần mua liệt kê ra là những thứ đặc trưng của phiên chợ vùng cao. Có thể đảo các câu thơ với nhau, nhưng sẽ mất đi thứ tự mà tác giả đã chủ ý sắp đặt.
Chữ tìm cứ lặp đi lặp lại để lão mãi miết đi tìm. Tìm mua cái gì thì người khác đã mua mất rồi . Có lẽ do lão cò kè bớt một thêm hai. Hoặc tiền ít mà lão tham mua cả chợ. Những câu thơ ngao ngán nỗi lòng :
Tìm mật, mật ủ trong ong 
Tìm bạc, bạc đã đeo vòng cổ ai,

Có lẽ lão đã gặp cô người yêu xưa đi chợ. Và lão bổng hiểu ra tất cả. Cái cốt cách, cái phẩm chất, cái đẹp trong giọt sương mai cần tìm không cần mua thì sáng sớm vẫn còn rất nhiều trên cành lá. Và khi chợ tàn, mệt mỏi vì chọn lựa, vì mặc cả, sực nhớ cái ban đầu định mua là giọt sương mai thì trời đã trưa và giọt sương đã tan mất. Đứng núi này trong núi nọ, tham bát bỏ mâm, đẽo cày giữa đường là vậy đó.
Thông điệp bài thơ thật hay được chuyển tải trong mười hai câu thơ lục bát giản dị về hình ảnh và câu chữ. Giản dị nhưng rất thanh cao, nho nhã. Rượu trong lòng, mật ủ trong ong , bạc đeo vòng cổ, những thứ muốn mua,thậm chí mua rất nhiều tiền cũng không ai bán. Viết được như thế thật khó lắm thay.
Đăng nhập để trả lời
0
Chút Thu, mà chia hai nửa.[/size]..


( Về tập thơ CHÚT THU của Nguyễn Chu Nhạc- NXB Văn học 2011 )

Nguyễn Đình Xuân


Nhà thơ Vũ Đình Văn đã từng viết “Nếu phải chia cho người yêu một nửa/Thì em ơi, nhận lấy khoảng đời đầu/Cái khoảng đời vời vợi nhìn nhau/Đằm thắm thời gian không mùa ranh giới”. Sau thế hệ với Vũ Đình Văn chút ít, anh Nguyễn Chu Nhạc – hiện đang công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam dường như chia cuộc - đời - thơ của mình làm hai nửa, một nửa đằm thắm niềm yêu và một nửa của miền ký ức. Đấy là tôi muốn nói đến tập thơ “Chút thu” của anh mới được NXB Văn học ấn hành quý 4 năm 2011. “Chút thu" được nhà thơ Trần Đăng Khoa, cũng là một người cùng thế hệ với Nguyễn Chu Nhạc viết lời giới thiệu. Trong “Mấy lời mở sách”, nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận định: “Chút Thu, có thể xem như tuyển tập thơ của cả một đời Nguyễn Chu Nhạc, cho đến thời điểm này. Đọc thơ anh, tôi luôn thấy thấp thoáng sau những con chữ là bóng của một ông đồ. Không phải ông đồ khăn xếp áo the với cây bút lông xưa cũ trong thơ Vũ Đình Liên, mà rất hiện đại với com-lê, cà-vạt và cả dàn vi tính trong tay. Trần Đăng Khoa cho rằng, thơ Nguyễn Chu Nhạc chỉn chu, mực thước, thâm thúy, mơ mộng nhưng vẫn tỉnh táo. Tóm lại là thơ anh đa dạng, biến hóa và “không biết đó là ánh sáng hắt xuống từ trời mây, hay tỏa lên từ sông nước, hoa cỏ”. “Chút thu” chia cuộc đời thơ Nguyễn Chu Nhạc cho đến thời điểm này, thành hai nửa, hai con người. Con người thi sĩ lãng mạn đi suốt hành trình thơ của mình và con người của miền ký ức anh đã trải qua với trách nhiệm công dân để nhìn nhận hiện tại và tương lai. Theo năm tháng hành trình trên đường công tác, anh dành trọn niềm yêu cho người thân và cho người mình yêu: “Bài thơ viết ra hành trình mải miết/ Xui những tâm hồn đồng điều đến tìm nhau” (Có một ngôi sao). Sự lãng mạn của anh, chỉ người trẻ tuổi mới có: “Không hiểu vì sao tôi cứ tin/em là nàng công chúa ngủ mê trong lâu đài cổ/tôi là chàng hoàng tử hôn lên đôi môi hé mở/mình dắt tay nhau đi thức cả xứ Hoa hồng”. (Không hiểu vì sao tôi cứ tin). Bài thơ viết khi anh ở tuổi đôi mươi, chứ ở tuổi “tri thiên mệnh” bây giờ thì sao anh có thể viết với cảm xúc trong trẻo, dạt dào được như thế? Con người lãng mạn Nguyễn Chu Nhạc bộc lộ ở từng cử chỉ, từng trạng thái, “Anh xa vào lúc cuối thu” thì nhớ đã đành, ở gần cũng nhớ: “Sáng sớm, em ra đi/Anh mở cửa ra,/căn phòng tràn trề nhịp trái tim rạo rực/nên tiếng đàn bồi hồi, thổn thức/trước sự sinh sôi” (Sáng sớm, em ra đi). Bài thơ phản ánh cuộc sống sinh hoạt thường ngày, em đi làm mỗi sáng, thế mà anh vẫn nhớ. Hóa ra ngày dài là bởi nhớ, bởi yêu tha thiết quá. Nguyễn Chu Nhạc có trái tim đa cảm. Những thứ bất chợt hoặc rất bình thường xung quanh, anh cũng rung động thành thơ, huống chi những “Mưa ngâu”, “Nắng thu”, “Rét nàng Bân”, “Rét muộn”, nơi có “em váy ngắn chân trần len giữa phố đông”, để “ta tần ngần/đắm vào ánh chiều thăm thẳm”. Bằng trái tim đa cảm, Nguyễn Chu Nhạc viết nên những câu thơ tinh tế: “Đêm nao buồn vẳng câu chèo/Cầu sông ai tắm trăng neo giữa dòng” (Nỗi quê); “Lá thuyền dán xuống mặt sông/Vết chân quết vạt cỏ đồng phù sa” (Đồng tháng sáu); “Quê nhà, ổi thơm cuối vụ/kịp về chắc hẳn còn sen?” (Bất chợt)... Từng làm kỹ sư canh nông, rồi làm báo, Nguyễn Chu Nhạc đi đến nhiều nơi, nhiều vùng đất, từ đồng bằng châu thổ sông Hồng, đến đồng bằng sông Cửu Long, qua dằng dặc khúc ruột miền Trung, đến Viên Chăn đất Lào... Dù miền đất quen, hay vùng quê xa ngái, đến đâu anh cũng có thơ. Đọc “Chút thu” để biết mưa miền Trung, mưa Huế, đến được Cửa Tùng, đi xe ngựa Bảy Núi, ngược lên Tây Bắc đến Điện Biên, dự chợ phiên Cán Cấu, qua Xi-ma-cai rồi ngược nguồn sông Mã... Không chỉ cảm cái đẹp của từng vùng đất, mà ở đó, Nguyễn Chu Nhạc còn khẳng định trách nhiệm công dân của mình, gửi những ước vọng, mong mỏi từng địa phương phát huy thế mạnh du lịch, đặc sản vùng, để nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của người dân. Ở tuổi vào thu, Nguyễn Chu Nhạc lấy cảm hứng thơ từ sự trải nghiệm cuộc đời, để đánh giá những được mất một thời đã qua. Đầu tiên là anh trở về miền ký ức tuổi thơ, về làng quê và những con phố anh đã từng sống, qua đó để thấy sự đổi thay “một đi không trở lại”. Niềm yêu của anh ở “khoảng sau cuộc đời” cũng khác, cái nhìn đã khác “Xưa còn nước chảy chân cầu/Nay thì chỉ thấy một màu hoang vu” (Nắng lắm thì lại mưa nhiều); “len lén thở dài nhịp tâm thiếu phụ/tỉnh giấc đêm muông chợt tiếc xuân thì” (Thu). Những thi ảnh mùa thu, với những tâm trạng khác nhau, từ cảm hứng thu, ngỡ thu đến nắng thu, cuối thu, rồi thu vớt, chút thu... cho thấy Nguyễn Chu Nhạc trải lòng đau đáu với số phận con người. Cảm hứng mang âm hưởng sử thi, trường ca qua các bài thơ “Chút thu”, “Con sông tuổi thơ”, “Nơi ngọn nguồn sông Mã”, “Tây bắc thương nhớ” của Nguyễn Chu Nhạc rất đáng chú ý. Đó là sự trải nghiệm qua thăng trầm đời người, đi từ cái cụ thể đến sự khái quát, từ một làng quê đến một vùng đất, từ sông ra biển, từ một cuộc đời đến những cuộc đời. Triết lý nhân sinh trong sự biến thiên thời gian cuối cùng còn lại, theo Nguyễn Chu Nhạc là cái bản ngã sâu thẳm của con người, bên trong con người. Đấy là lý do để anh viết:“Một chút / anh / một chút / em / thêm phố xá / là thành / nỗi nhớ / thêm / nỗi nhớ / nữa / thành ngọn lửa / cháy / bập bùng / soi / dọc thời gian”...
Hà Nội 15-6-2012
Đăng nhập để trả lời
0
[size="+1"]Đọc Tống biệt của Vương Duy[/size]

Chủ bút:
Hàng ngày, công việc ở cơ quan, sau những lúc họp hành, bận rộn, muốn xả stress, tôi thường xuống tầng 4, gõ cửa vào phòng Trần Đăng Khoa, hoặc lại thang máy lên tầng 10, tán gẫu với Nguyễn Trọng Huân cho nhẹ đầu...
Chiều nay, theo thói quen, tôi bấm thang máy định lên tầng 10 thì chợt nhớ l Nguyễn Trọng Huân đã đi nhiệm sở Văn phòng VOV Tây Bắc t Sn La từ hôm qua rồi... Bần thần, quay trở về phòng mình, tự nhiên một câu thơ của Vương Duy vang lên trong đầu " Hạ mã ẩm quân tửu/ Vấn quân hà sở chi ?"...
Thế là mang tuyển thơ Đường ra xem, nhẩn nha với " Tống biệt " của Vương Duy. Mặc dù, hiểu lão Trọng Huân đi Tây Bắc là đi lập nghiệp, không giống cảnh của người xưa trong bài thơ ... Song giờ đây, vắng lão ở cơ quan, cũng thấy nhơ nhớ, thiêu thiếu...


Nói đến thơ Đương, thiên hạ thường nhắc đến 3 nhà : Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Song với riêng tôi, còn có Vương Duy, và tôi xem 4 nhà này là Tứ trụ Đường thi.
Về thân thế và sự nghiệp của Vương Duy khá phức tạp, song có thể tìm được những dòng tóm tắt về nhà thơ này như sau :
" Vương Duy: 王维 (701-761), tự Ma Cật, người huyện Kỳ, Tấn Trung, Sơn Tây, Trung Quốc. Ông là một nhà thơ, một họa sĩ, một nhà viết thư pháp và một chính khách nổi tiếng đời Đường. Ông còn được người đời gọi là Thi Phật. Cùng với Lý Bạch (Thi Tiên) và Đỗ Phủ (Thi Thánh) và Bạch Cư Dị là bốn người nổi tiếng về tài thơ ca thời Đường. Ngày nay còn giữ được khoảng 400 bài thơ của ông, với phong cách tinh tế, trang nhã. Vương Duy còn là một nhạc sĩ, một nhà thư pháp, đặc biệt là một họa sĩ nổi tiếng. Ông cũng là người tinh thông về Phật học và theo trường phái Thiền tông. Trong Phật giáo có Duy Ma Cật kinh, là kinh sách do Duy-ma-cật dùng để giảng dạy cho môn sinh. Vương Duy là người kính trọng Duy-ma-cật do ông có tên là Duy, tự là Ma Cật.
Năm Khai Nguyên thứ 9 (721) thời Đường Huyền Tông, Vương Duy đỗ tiến sĩ, nhận chức quan đại nhạc thừa, sau phạm điều cấm, bị khiển trách và phải đến Tế Châu làm tham quân[1]. Năm Khai Nguyên thứ 14 (726), ông từ bỏ quan chức, nhưng sau đó lại nhận chức hữu thập di, thăng tới giám sát ngự sử. Năm 40 tuổi, được thăng lên điện trung truyền ngự sử. Năm Thiên Bảo thứ 14 (755), An Lộc Sơn chiếm Trường An. Vương Duy bị An Lộc Sơn bức bách ra làm quan, nhưng sau không được như ý, ông đã lui về ở tại biệt thự Lam Điền, sáng tác thơ ca để biểu đạt lòng mình. Sau khi An Lộc Sơn thất bại, nhờ có em trai là Vương Tấn khi dó đang giữ chức quan cao nên Vương Duy được miễn tội và được phong chức thái tử trung doãn, sau thăng tới thượng thư hữu thừa, vì thế người đời còn gọi ông là Vương hữu thừa...".
Bài thơ Tống biệt là một trong số bài thơ tiêu biểu nhất của Vương Duy.

Nguyên bản chữ Hán :
送別

下馬飲君酒,
問君何斫之?
君言不得意,
歸臥南山陲。
但去莫復問,
白雲無盡時。

Phiên âm
Tống biệt 

Hạ mã ẩm quân tửu,
Vấn quân hà sở chi ?
Quân ngôn bất đắc ý,
Quy ngọa Nam Sơn thùy.
Đản khứ mạc phục vấn,
Bạch vân vô tận thì!

Dịch nghĩa :
Tiễn biệt

Xuống ngựa mời nhau rượu
Hỏi anh định về đâu
Anh bảo đời đã ngán ngẩm
Thôi thì về ẩn núi Nam 
Bạn ơi xin đừng hỏi nữa
Mây trắng chẳng ngừng trôi....

Hiện có nhiều bản dịch thơ, nên tôi không đưa ra đây, có ý để anh em, bạn bè xem và dịch thơ theo ý của riêng mình...
Đăng nhập để trả lời
0
[size="+1"]Thu giang tống khách[/size]

Chủ bút: 
Đầu hạ vừa rồi, tôi đi công tác miền Đông Bắc, trên đường có ghé thăm họa sĩ Đặng Đình Nguyễn. Nhà anh thuộc khu vực một vùng đất nằm giữa ngã ba sông. Trước đây, muốn ra vùng đất này, phải đi đò từ thị xã Quảng Yên sang, nay có cây cầu cứng nên giao thông thuận tiện. Đặng Đình Nguyễn tâm sự, cả tuổi thơ và thời thanh niên của mình, anh luôn ám ảnh bởi tiếng gọi đò, nhất là vào những buổi chiều đống tháng giá. Giờ đây, lâu lâu trong giấc ngủ, tiềm thức vẫn thảng thốt tiếng gọi đò. Với riêng mình, mấy tháng qua, tôi liên miên với những chuyến công tác dọc miền Trung, miền Đông Nam Bộ và cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long... Mùa mưa, nước nổi, sông suối chứa chan. Mỗi khi băng qua một cây cầu, lặng nhìn dòng nước cuộn chảy, xa xa là những con đò chơi vơi trên sông nước, tôi lại nhớ đến tâm sự của Đặng Đình Nguyễn về tiếng gọi đò khuya sớm... Hình như, mỗi khúc sông, bến đò trên mặt đất này, dù Đông Tây, Nam Bắc, đâu cũng gắn với những mối tình đánh mất, gắn với những cuộc chia tay, tiễn đưa lưu luyến thì phải ?...
Lại nhớ, Bạch Cư Dị có bài thơ Thu giang tống khách rất chi là tuyệt hảo... Tuyệt nhất là 2 câu kết " Bất tuý Tầm Dương tửu,/Yên ba sầu sát nhân ". Ôi, thật khổ là rượu muốn uống cho say để quên hết cái sự đời, mà càng uống lại càng tỉnh. Thêm nữa, khói sóng trên sông thì buồn đến chết người... Ừ, mà sao, các bậc tiền nhân thời Đường, cứ bị ám ảnh bởi quang cảnh khói sóng trên sông lúc hoàng hôn thế nhỉ ? Bài thơ Hoàng Hạc lâu, Thôi Hiệu đã chẳng thấm thía, nén nỗi buồn mà bật ra "Yên ba giang thượng sử nhân sầu " ( Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai- Tản Đà dịch ) là gì ?


Về tiểu sử tóm tắt: "Bạch Cư Dị, chữ Hán: 白居易) (772-846) tự là Lạc Thiên (樂天, hiệu là Hương Sơn cư sĩ là nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng thời nhà Đường. Tác phẩm nổi tiếng của Bạch Cư Dị ở Việt Nam có lẽ là bài Tỳ bà hành, Trường Hận Ca. Danh tiếng của ông ngang với Lý Bạch (701-762), Đỗ Phủ (712-770) và Vương Duy ( 701-761 )... Tổ tiên ông là người gốc Thái Nguyên, Sơn Tây, sau di cư tới huyện Vị Nam, Thiểm Tây. Ông là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Đối với một số người yêu thơ văn thì người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Mười lăm tuổi ông đã bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động. Năm Trinh Nguyên thứ 16 (năm 800), ông thi đỗ tiến sĩ được bổ làm quan trong triều, giữ chức Tả thập di. Do mâu thuẫn với tể tướng Lý Lâm Phủ, ông chuyển sang làm Hộ Tào tham quân ở Kinh Triệu. Năm Nguyên Hòa thứ 10 (815), do hạch tội việc tể tướng Vũ Nguyên Hành bị hành thích và ngự sử Bùi Độ bị hành hung, nhóm quyền thần cho là ông vượt qua quyền hạn, đày làm tư mã Giang Châu. Giai đoạn từ năm 821 tới năm 824 làm thứ sử Hàng Châu, năm 825 làm thứ sử Tô Châu, sau được triệu về kinh làm Thái Tử thiếu phó. Năm Hội Xương thứ 2 (842) về hưu với hàm thượng thư bộ Hình, sau mất tại Hương Sơn, Lạc Dương. Những năm đầu, ông cùng Nguyên Chuẩn ngâm thơ, uống rượu, được người đời gọi là Nguyên Bạch. Sau này, khi Nguyên Chuẩn mất, lại cùng Lưu Vũ Tích, hợp thành cặp Lưu Bạch...",
Sau đây là bài " Thu giang tống khách"
* Nguyên bản tiếng Hán
秋江送客
秋鴻次第過,
哀猿朝夕聞。
是日孤舟客,
此地亦離群。
蒙蒙潤衣雨,
漠漠冒帆雲。
不醉潯陽酒,
煙波愁殺人。
* Bản âm Hán Việt
Thu giang tống khách
Thu hồng thứ đệ quá,
Ai viên triêu tịch văn.
Thị nhật cô chu khách,
Thử địa diệc ly quần.
Mông mông nhuận y vũ,
Mạc mạc mạo phàm vân.
Bất tuý Tầm Dương tửu,
Yên ba sầu sát nhân.


* Dịch nghĩa :
Sông thu tiễn khách
Mùa thu, chim hồng lần lượt bay qua
Vượn hôm mai kêu thảm thiết
Ngày ấy, khách trên thuyền cô quạnh
Nơi đây cũng là nơi chia lìa

Mưa ướt thấm dần vào áo
Mây man mác chắn cánh buồm
Rượu Tầm Dương ( uống ) mãi chẳng say
Khói sóng ( thì ) buồn đến chết người

* Dịch thơ
Nhạn thu lần lượt bay qua
Thảm thương tiếng vượn hôm đà lại mai
Ngày nào một chiếc thuyền ai
Nước non này cũng chia phôi cánh đàn
Mưa dầm vạt áo như chan
Buồm ai man mác mây ngàn đón ngang
Chẳng say chén rượu Tầm Dương
Khỏi sao sóng khói sầu thương chết người 

Tản Đà )
Thu về, hồng sải cánh,
Sớm tối vượn nỉ non.
Ngày nao, con thuyền lẻ,
Cũng chốn đây chia lìa.
Mưa dầm dề ướt áo,
Mây man mác theo buồm.
Rượu Tầm Dương uống mãi,
Khói sóng lút sầu thương.

Ngô Văn Phú )
Đăng nhập để trả lời
0
[size="+1"]Lữ tức, nỗi tha hương của Đỗ Mục[/size]

Chủ bút:
Thời trẻ, khi chưa làm báo, tôi đã phải xa nhà, biền biệt gần chục năm trời nơi đồng đất Tây Nam Bộ. Đến khi làm nghề báo, tháng đôi lần công tác. Thôi thì, gặp đâu ngủ trọ đó. Thời bao cấp khó khăn, đi cơ sở, đêm ngủ lại nhà kho HTX, trụ sở UBND xã, nhà khách Ủy ban, thôi thì đủ kiểu... Sau này, kinh tế xã hội phát triển, mới có khách sạn... Đi công tác xa cũng đỡ vất vả. Thường là đi nhiều, cũng dễ ngủ. Mệt, đặt lưng xuống là ngủ. Bữa cơm tối, có chén rượu mời, hay anh em đi cùng, gọi chút cay đưa cơm, ngà ngà một chút, lại càng dễ ngủ. Nói vậy thôi, chuyện thao thức canh khuya nơi đất khách quê người, nằm nhớ nhà, điểm việc chung riêng cũng là chuyện thường thấy... Lại nhớ câu "Hàn đăng tư cựu sự,/Đoạn nhạn cảnh sầu miên", giống như Đỗ Mục xưa, thi thoảng cũng từng...

Đỗ Mục là người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây). Nội ông là Tể tướng Đỗ Hựu, từng là một viên quan giỏi về lý tài (coi về tiền bạc), và là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh ông là Phò mã Đỗ Sùng, từng trải đến chức Tiết độ sứ, rồi Tể tướng. Theo tài liệu, Đỗ Mục có dáng thanh tú, tính thích ca vũ, và có tài văn ngay từ lúc nhỏ. Năm 828 đời Đường Văn Tông, ông thi đỗ Tiến sĩ lúc 25 tuổi, lại đỗ luôn khoa Hiền lương phương chính, được bổ chức Hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi lần lược trải các chức: Đoàn luyện tại Giang Tây, Thư ký cho Tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ ở Hoài Nam, Giám sát ngự sử ở Lạc Dương. Sau đó, ông lần lượt giữ chức Thứ sử tại Hoàng Châu, Từ Châu và Mục Châu. Về sau, ông được triệu về triều làm chức Khảo công lang, Tri chế cáo, rồi làm Trung thư xá nhân. Năm 853 đời Đường Tuyên Tông, Đỗ Mục lâm bệnh mất lúc 50 tuổi. Đỗ Mục được đánh giá là người tài hoa, lãng mạn, nhưng cương trực có khí tiết, không hay để ý chuyện nhỏ nhặt, và xem thường lễ giáo. Trong thư gửi cho Lý Trung Thừa, ông đã nói về mình như sau: "thích rượu, thích ngủ, đã thành cố tật, thường đóng của hàng chục ngày, việc thăm viếng mời mọc cũng nhiều thiếu sót"...
Sau đây là bài Lữ tức :
* Nguyên bản chữ Hán :
旅宿
旅館無良伴,
凝情自悄然。
寒燈思舊事,
斷雁警愁眠。
遠夢歸侵曉,
家書到隔年。
滄江好煙月,
門系釣魚船。
*Bản âm Hán Việt:
Lữ quán vô lương bạn,
Ngưng tình tự tiễu nhiên.
Hàn đăng tư cựu sự,
Đoạn nhạn cảnh sầu miên.
Viễn mộng quy xâm hiểu,
Gia thư đáo cách niên.
Thương giang hảo yên nguyệt,
Môn hệ điếu ngư thuyền.

*Dịch nghĩa :
Nơi quán trọ không bầu bạn
Tự lòng buồn ( mà ) sinh ngẩn ngơ
Trước ngọn đèn lạnh nhớ hoài chuyện cũ
Tiếng nhạn động giấc sầu
Cứ mộng đi xa về cho đến sáng
Thư nhà ( thì) mất một năm mới đến
Sông biêng biếc trăng khói tỏa 
Cửa ngoài buộc chiếc thuyền câu.
*Dịch thơ :
Quán trọ không bầu bạn
Ngẩn ngơ lòng quặn đau
Đèn lạnh nhớ chuyện cũ
Nhạn bay tỉnh giấc sầu
Mơ xa về tận sáng
Thư đến một năm sau
Sông biếc đẹp trăng khói
Trước nhà, buộc thuyền câu
( Ngô Văn Phú ).
Bạn bè lữ quán có đâu
Nỗi lòng tự biết, nỗi sầu ngẩn ngơ
Ngọn đèn lạnh, nhớ việc xưa
Lo đêm không ngủ, nhạn thưa đó mà
Cách năm mới được thư nhà,
Sáng ngày thấy mộng đi xa trở về
Sông xanh trăng khói mọi bề,
Mé ngoài trước cửa buộc kề thuyền câu
( Trần Trọng Kim )
Anh em, bạn bè, nhất là những ai hay phải đi xa, nếu có nhã hứng, xin mời dịch thơ cùng...
Đăng nhập để trả lời
0
Người duyên nợ với mùa thu
 
Hoa Mai với Nguyễn Chu Nhạc quen nhau trên mạng thấm thoắt mà đã gần 2 năm và cũng đã gặp nhau vài lần trong đời thực tại Sài Gòn. Nhà báo, nhà đài, nhà văn, nhà thơ… Ôi nhiều “nhà” quá! Biết gọi sao cho chính xác nhỉ? Thôi thì tôi cứ gọi
là nhà thơ Chu Nhạc vì bài này tôi viết về những bài thơ của anh – một người nặng duyên nợ với mùa Thu.
Trong vòng nửa năm nay, anh tặng tôi 4 cuốn sách, 2 thơ, 2 văn xuôi. Trừ cuốn Hiên lan ra thì 3 cuốn kia tựa đề đều có chữ thuChút thu (NXBVH – 2011); Cho thu dùng dằng thêm chút nữa (NXBVH – 2014); Khi lòng ta chợt nhớ thu (NXBLĐ – 2014). Tôi hỏi thẳng: “Sao Chu Nhạc thích mùa thu đến thế?” Anh trả lời ngay: “Vì tôi mạng Hỏa nên thích những gì êm ái, dịu dàng như mùa thu vậy!” Có lý! Nhưng tôi thầm nghĩ chắc anh có nhiều kỷ niệm tình yêu gắn với mùa thu.
Anh xa vào lúc cuối thu
Đồng hoe hoe sắc chim gù thung hoa
Muộn màng bão mới đi qua
Bình yên choàng xuống mái nhà thôn quê.
Anh xa vào lúc gió se
heo may chín rực bờ tre. Ráng chiều,
bên trời ai lẩy câu Kiều
lặng yên mía ngọt từ nhiều đắng cay.
Anh xa vào lúc hương bay
Cỏ thơm đến nỗi đắm say đất trời
Sen tàn giữ lá còn tươi
Dành cho hạt cốm một đời sắc hương.
Anh xa vào lúc mờ sương
hàng cây trơ trụi ven đường khẽ run
vòm trời tai tái màu hun
lẻ loi con én cô đơn cuối trời,
Anh xa thương nhớ em ơi
dọc đường câu hát nhắn người thiết tha
gừng cay muối mặn ngày qua
chớ quên ở chốn quê nhà ai mong
.
Bài thơ Anh xa vào lúc cuối thu này anh viết từ năm 1981, in trong tập thơ đầu tayChút thu (NXBVH- 2011) khi là chàng kỹ sư nông nghiệp mới ra trường được vài năm và đang công tác tận miền Tây Nam Bộ. Nhân vật trữ tình là “Anh”, kể lại việc mình đi xa vào lúc cuối thu, trong khung cảnh thân thuộc của một miền quê đồng bằng Bắc Bộ với bao hình ảnh thân quen: cánh đồng hoe hoe sắc, tiếng chim gù đây đó, những mái rạ bình yên, heo may se lạnh, hương cỏ thơm, lá sen gói cốm ủ hương mùa hạ, hàng cây trơ trụi ven đường run rẩy trong sương lạnh lúc sớm mai và cả vòm trời tai tái lúc bình minh chưa rạng. Người đi như cố thu hết vào trong tầm mắt, ghi khắc vào trong tim óc tất cả những gì yêu dấu của quê hương trước lúc đi xa.
Anh giấu người mà anh muốn san sẻ nỗi niềm đến tận cuối bài mới cho hiện diện qua mấy từ emngười và ai:
Anh xa thương nhớ em ơi
dọc đường câu hát nhắn người thiết tha
gừng cay muối mặn ngày qua
chớ quên ở chốn quê nhà ai mong.

Đó là người con gái gắn bó với anh gừng cay muối mặn những tháng năm qua. Anh tự nhủ lòng: chớ quên ở chốn quê nhà ai mong. Cảm nhận quê hương và con người quê hương tinh tế đến thế. Lòng tự dặn lòng chân thành như thế, hẳn người ra đi phải là người sâu sắc, thủy chung.
Thì ra Hoa Mai đoán mò mà… trúng! Hì...
***
Năm nay, thu đến quá muộn với Hà Nội nói riêng và miền Bắc nói chung nhưng lại có dấu hiệu ra đi sớm vì gió Bắc đã lởn vởn ở trên cao. Tôi chia sẻ nỗi buồn mong đợi thu của Chu Nhạc bằng bài thơ Hà Nội giờ này chưa có mùa thu. Có lẽ tình yêu mùa thu của anh từ trước đến nay đã thể hiện khá rõ trong bài thơ nhỏ có tựa đề hơi dài và cũng hơi điệu đàng: Cho thu dùng dằng thêm chút nữa. Đây cũng là tên một tập thơ của anh do NXBVH xuất bản vào đầu năm 2014. 
Bài thơ vỏn vẹn 4 câu:
Cho thu dùng dằng thêm chút nữa,
Để lá rớt buồn mái phố rêu
Ô cửa nhà ai vờ khép mở
Dáng thu mờ tỏ cứ như trêu…

Vậy là hồn thu của thi nhân đang năn nỉ Tạo Hóa hãy để cho thu dùng dằng thêm chút nữa bởi luyến tiếc mùa thu đang chuyển sang đông. Dùng dằng là cái thế đã tới lúc đi rồi nhưng còn bâng khuâng, bịn rịn chưa nỡ rời chân. Đem cái động thái, cái tâm thế của người mà gán cho thu thì đã là cao hơn nghệ thuật nhân hóa nhiều rồi. Thu đã là một hình hài có linh hồn tựa người thu! Năn nỉ là bởi lòng yêu thu chưa thỏa và cũng bởi một lý do thật dễ thương:
Ô cửa nhà ai vờ khép mở
Dáng thu mờ tỏ cứ như trêu

Rõ là dáng thu hữu ý nên mới vờ khép mở để thu hút ánh nhìn của thi nhân. Sự ỡm ờ, bỡn cợt rất tình tứ nằm trong hai trạng thái tương phản khép&gt;mở và mờ&gt;tỏ. Cái ảo bao giờ cũng đẹp hơn, hấp dẫn hơn cái thật và cái ảo cứ như trêu ngươi tính tò mò, hiếu kì cố hữu của nòi thi sĩ đa tình. Sợ thu đi nhanh, cánh cửa sổ kia sẽ khép chặt ngăn gió đông về và bóng dáng thu sẽ mất hút thì chao ôi là tiếc! Người đọc cũng phải bật cười trước tâm trạng phức tạp của nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Nếu thơ đúng là người thì khi viết những dòng này, tôi cảm thấy một Chu Nhạc thật sự đang hiện diện bên tôi với vóc dáng thư sinh, vẻ mặt tư lự và đôi mắt thăm thẳm một chiều sâu suy nghĩ về thế thái nhân tình cùng với nụ cười tủm tỉm... Không ồn ào sôi nổi mà chân thành, đằm thắm, ấy là tính cách Chu Nhạc - ông bạn văn chương trên blog tiếng Việt của Hoa Mai. Đấy là Hoa Mai "rẩm riu" nghĩ thế!
Sài Gòn 11-10-2014

Đăng nhập để trả lời
0
[size="+1"]Điểu minh giản, tâm sự của Vương Duy[/size]
 
Đây là bức thư pháp của nhà thư pháp Trần Thịnh mà tôi tìm được trong dịp tết nguyên đán Ất Mùi tại Văn Miếu, chép bài thơ " Điểu minh giản " của Vương Duy, một trong tứ trụ Đường thi. Đây là một trong những bài thơ hay nhất của ông, thể hiện nỗi niềm tâm sự trong cuộc đời làm quan đầy truân chuyên của nhà thơ này.
Bản âm Hán Việt:
Nhân nhàn quế hoa lạc, 
Dạ tĩnh xuân sơn không,
Nguyệt xuất kinh sơn điểu
Thời minh xuân giản trung,
Dịch nghĩa:

Người nhàn hoa quế rụng rơi
Đêm yên tĩnh, núi xuân quạnh hiu
Trăng mọc ( làm ) chim chóc trong núi kinh sợ
Chốc chốc lại cất tiếng kêu trong khe núi xuân.
Trong cuộc đời làm quan của mình, Vương Duy, nhà thơ nổi tiếng đời Đường gặp phải loạn An Lộc Sơn, đành làm quan với triều mới, rồi sau khi nhà Đường lấy lại từ An Lộc Sơn, ông may mà được miễn tội theo kẻ phản loạn. Chính vì thế, sau nay, khi được hưởng thanh bình, lâu lâu nghĩ lại vẫn thấy bàng hoàng, bất an trong lòng bởi sai phạm của mình. Bài thơ " Điểu mình giản " cho thấy tâm sự ẩn sâu trong nỗi lòng của ông. Thế nên, núi quạnh hiu trong đêm thanh vắng, vậy mà " trăng mọc ", chim rừng kinh động, chốc chốc kêu như sự bất an... Và có lẽ, sau này, ông nghiêng về Phật giáo, cũng là sự giải thoát đi tìm sự bằng an, tịnh thái chăng ?...

Đăng nhập để trả lời
0
[size="+1"]Lý Thương Ẩn-"Tiêu sầu hựu kỷ thiên".[/size]
 
Cả tuần rồi mưa gió không ngừng. Suốt một dải từ Đông Bắc-Việt Bắc-Tây Bắc mưa như trút, cao hàng mét nước. Lũ ống, lũ quét, sạt núi, sạt đường, nhà cửa, của nả của người dân trôi nổi. Thôi cũng đành oằn mình mà chống chọi với thiên tai. Cánh nhà báo cũng chia nhau chạy đôn chạy đáo, đưa tin, viết bài, nối cầu trực tiếp...
Hai ngày cuối tuần, Hà thành cũng mưa dầm dề. Đành quanh quẩn xó nhà, lâu lâu điện hỏi thăm, động viên anh chị em PV nhà VOV nơi Đông Bắc, Tây Bắc đang vất vả tác nghiệp. Rồi lại hỏi thăm chú em Kiều Thiện khi biết hắn " quần đùi đi khắp thế gian " đưa tin, viết bài, chụp ảnh, bình luận cho bản báo nhà hắn. Bảo hắn, xong bài thì làm quách ly rượu cho giãn xương cốt, xoa dịu tình thần, rồi khoèo một giấc, tỉnh dậy sẽ thấy trời đất khác,... 
Khuyên hắn, rồi đến bữa, nhìn dọc nhìn ngang mình cũng rót một ly đầy, nhưng mà, rượu một mình, một ly cũng ngà ngà say... Vậy mà cụ Lý Thương Ẩn xưa bảo "Tiêu sầu hựu kỷ thiên"
 ( muốn tiêu sầu thì phải mua cả ngàn quan tiền mà uống ). Ôi chao, cái sầu của tiền nhân mới lớn làm sao !...
@ Bản chữ Hán:
風雨
李商隱

淒涼寶劍篇,
羈泊欲窮年。
黃葉仍風雨,
青樓自管絃。
新知遭薄俗,
舊好隔良緣。
心斷新豐酒,
銷愁又幾千。

@ Bản âm Hán Việt:
Phong Vũ
Thê lương Bảo Kiếm thiên * !
Ki bạc dục cùng niên.
Hoàng diệp nhưng phong vũ,
Thanh lâu tự quản huyền.
Tân tri tào bạc tục,
Cựu hảo cách lương duyên.
Tâm đoạn Tân Phong tửu **,
Tiêu sầu hựu kỷ thiên.
Chú thích: 
+ Tác giả Lý Thương Ẩn có tài (đậu tiến sĩ, thơ để lại 3 quyển gồm 571 bài) nhưng không gặp thời, nên đường công danh vô cùng lận đận (giữ toàn chức nhỏ, ở nơi xa kinh thành) cho tới khi mất ở tuổi mới 46 ( Thân thế, sự nghiệp đã giới thiệu kỹ ở bài viết " Thiền, tâm sự kiếp ve & nỗi lòng Lý Thương Ẩn " trong mục Thơ Đường của blog này ).
+ Bài thơ Phong Vũ, nói lên phần nào những bất hạnh của đời ông. 
* Bảo kiếm thiên, tướng quân Quách Nguyên Chần đời sơ Đường ( Võ Hậu ) viết, mượn vật là thanh kiếm quý, để ngụ ý mình, có tài mà không được trọng dụng. Bài này vốn được Lý Thương Ẩn tâm đắc, nên nhắc tới đầu tiên. 
** Tân Phong, một địa danh gần kinh thành Trường An, nơi có nhiều quán rượu ngon nổi tiếng.
@ Dịch nghĩa:

Gió mưa

Bài thơ Kiếm báu thê lương làm sao !
(Ta) sống gần hết cuộc đời mà vẫn long đong
(Như) lá vàng đã rơi mà gió mưa vẫn vùi dập ;
Vậy mà lầu xanh kia ( đám ca kỹ ) vẫn không ngưng đàn sáo.
Người mới biết đều hạng quen thói đời bạc bẽo;
Bạn tri âm cũ thì lại duyên tình cách trở.
Đã định bụng thôi uống rượu Tân Phong;
Giờ muốn giải sầu lại phải cả ngàn quan tiền mua mà uống.

Đăng nhập để trả lời
0
Chùm thơ Thu của Nguyễn Chu Nhạc
( Tác giả: Hoa Mai )
Lời ngỏ : Tối 12-8 vừa rồi, anh chị em Xóm Nam gặp gỡ nhà báo Chu Nhạc tại NH Hồng Hải và mỗi người được anh tặng một tập thơ mới xuất bản có tên là Một chiếc lá vàng động cả thu. Hoa Mai đã đọc vài lần và bước đầu xin giới thiệu với bà con trong Xóm Lá những bài thơ mà Hoa Mai thích.
BAO GIỜ
Có duyên
chớt chát nên duyên
Vô duyên
luễnh loãng
dạt miền hoang vu,
Bao giờ
về tới mùa thu
Để người
se lạnh
ta bù ấm êm,

Bao giờ
đêm
mới là đêm.
Ta
thì ấm nóng
còn em
ngọt ngào...

GIỌT THU

Tinh mơ
tách trà lài
mình ướp
từ độ chớm thu...

Đợi
ly đen
nhùng nhằng giọt
trời đẹp nhường kia
chẳng việc chi sốt ruột,
cũng không đi đâu xa
mà vội mà vàng,
sáng cuối tuần
thư giãn không gian...

thủng thẳng
remote
song tấu
piano
Duo d' arcord
giọt giọt
bầu không
dâng lên ăm ắp
chợt nhớ
con đường xa tít tắp
tuổi ấu thơ
chầm chậm quay về...

Tin báo gió mùa
cafe đã lưng ly,
giọt giọt
đàn
giọt giọt
thu đi...

LANG THANG GẶP BẠN DỌC ĐƯỜNG
Lang thang gặp bạn dọc đường
Ta đi
dù có gió sương ngại gì,

Tình đời là cái chi chi
Đi rồi,
thấy gỉ gì gi cũng tình,
Vây quanh nào những ta, mình
Bạn bầu,
những xỉnh xình xinh nụ cười,

Bao nhiêu khó nhọc cuộc đời
Gặp nhau chốc lát
chia vơi nỗi niềm
Đường xa chân cứng đá mềm
Cầm tay ta bạn
nhân thêm tình người...

(Chu Nhạc ơi là Chu Nhạc ! Phải chi tối hôm nọ anh đọc bài thơ này tại buổi gặp gỡ thì... "thôi rồi Lượm ơi!". Quá hợp cảnh, hợp tình bởi nó phản ánh tình cảm chân thành mà anh dành cho bạn bè Xóm Lá trên khắp đất nước !)
Sài Gòn 15-8-2015
Đăng nhập để trả lời
0
Bạch Cư Dị, bịn rịn với xuân....
 
Chủ bút: 
Những ngày tháng Chạp này, các tỉnh phía Bắc thường xuyên có những đợt không khí lạnh từ lục địa Trung Hoa dồn xuống, tạo thành gió mùa đông bắc lạnh giá. Mỗi khi gió mùa đi lệch đông, ngang qua Vịnh Bắc Bộ thì miền Bắc thường có mưa do không khí lạnh mang hơi ẩm từ biển vào đất liền. Những ngày giáp tết nguyên đán, gió mùa đông bắc hay kèm theo mưa phùn, mưa bụi, mà ta quen gọi là mưa xuân. Mùa đông chưa qua, nhưng xuân đã lấp ló... Trong màn mưa bụi, cây cối sau khi rụng lá, cành trơ, đã bắt đầu cựa mình, nứt mắt để nảy lộc đâm chồi... 
Trước thiên nhiên lúc chuyển mùa, năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến, lòng người cũng bâng khuâng khác lạ, rồi chộn rộn cùng thiên nhiên... Lại nhớ, Bạch Cư Dị, nhà thơ đời Đường xưa kia, từng bịn rịn với cảnh xuân ở Tây Hồ ( Hàng Châu, Chiết Giang ) mà thốt lên rằng: "... Vi năng phao đắc Hàng Châu khứ,/ Nhất bán câu lưu thị thử hồ."...
@ Bản tiếng Hán:
春題湖上

湖上春來似畫圖,
亂峰圍繞水準鋪。
松排山面千重翠,
月點波心一顆珠。
碧毯線頭抽早稻,
青羅裙帶展新蒲。
未能拋得杭州去,
一半勾留是此湖。

@ Bản âm Hán Việt:
Xuân đề hồ thượng
Hồ thượng xuân lai tự họa đồ,
Loạn phong vi nhiễu thủy bình phô.
Tùng bài sơn diện thiên trùng thúy,
Nguyệt điểm ba tâm nhất khỏa châu.
Bích thảm tuyết đầu trừu tảo đạo,
Thanh la quần đái triển tân bồ.
Vi năng phao đắc Hàng Châu khứ,
Nhất bán câu lưu thị thử hồ.

@ Dịch nghĩa:
Xuân về, cảnh hồ như một bức tranh
Núi lô nhô bao quanh mặt nước phẳng lặng
Ngàn thông trên núi trập trùng xanh ngắt
Ánh trăng rọi sóng nước như muôn hạt ngọc châu
Lúa sớm trổ bông trải như tấm thảm biếc
Cỏ bồ mới nảy tựa dải quần lụa xanh
(Ta) chưa thể bỏ Hàng Châu đi ngay được
Phân nửa vì bịn rịn cảnh hồ này.

Đăng nhập để trả lời
0
Bức tranh tuyết sơn của Lưu Trường Khanh,
 
  Bài thơ Phùng tuyết túc Phù Dung sơn là một bài thơ điển hình của Lưu Trường Khanh thời Thịnh Đường ( Trung Hoa cổ đại ). Thơ theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Câu chữ chắt lọc, hàm súc. Ý tứ sâu xa. Mượn cảnh mình nhỡ độ đường phải gõ cửa xin ngủ nhờ qua đêm trên núi Phù Dung vào mùa đông tuyết lạnh, thấy cảnh chủ nhân là người nghèo khó nhưng có tấm lòng, Lưu Trường Khanh qua gia cảnh và hình bóng chủ nhân, cảnh núi non mùa đông lạnh giá, mà bày tỏ nỗi lòng mình, và qua đó, phác họa nên bức tranh của thời đại mình đang sống...
Thiển ý, bài thơ này, cùng với "Phong Kiều dạ bạc" của Trương Kế, "Lương Châu từ" của Vương Hàn, "Xuân hiểu" của Mạnh Hạo Nhiên, "Tĩnh dạ tư" của Lý Bạch, "Điểu minh giản" của Vương Duy... là những tuyệt bút thi ca đời Đường...
Nhân mùa đông còn chưa qua, bàn đôi điều về tuyệt bút này.
 
Theo sử sách: Lưu Trường Khanh 劉長卿 (709-780), tự Văn Phòng 文房, người Hà Gian (nay là huyện Hà Gian, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 21, đời Đường Huyền Tông, làm quan đến Giám sát ngự sử... Tính tình ông cương trực, từng bị vu oan, bị biếm quan, và tù ngục... Tác phẩm có "Lưu Tuỳ châu tập". Sở trường của Lưu Trường Khanh là thể Ngũ ngôn, nên đương thời có biệt hiệu là Ngũ Ngôn trường thành...
 
Nguyên bản chữ Hán:
 
逢雪宿芙蓉山
 
日暮蒼山遠,
天寒白屋貧。
柴門聞犬吠,
風雪夜歸人。
 
Bản âm Hán Việt:
 
Phùng tuyết túc Phù Dung sơn,
 
Nhật mộ thương sơn viễn,
Thiên hàn bạch ốc bần.
Sài môn văn khuyển phệ,
Phong tuyết dạ quy nhân.
 
          Dịch nghĩa:
 
Mặt trời đã lặn, thấy núi sẫm xa xa,
Trời thì lạnh, mà nhà chủ lại trống trải, nghèo nàn.
Nghe tiếng chó sủa bên ngoài cổng,
Người ( chủ nhân ) trở về nhà trong bóng đêm đầy gió tuyết.
 
Một số bản dịch của người yêu thơ Đường:
 
Núi xa mặt trời lặn
Nhà trống trải nghèo nàn
Nghe chó sủa ngoài cổng
Người về trong tuyết đêm
( Trần Mỹ Giống )
 
Núi xa... bóng gác non tà
Gió xiêu, trời lạnh, căn nhà trống trơ
Vẳng nghe tiếng chó...ngẩn ngơ
Ùa theo người... gió...! Đêm mờ tuyết bay!
( Nguyễn Lâm Cẩn )
 
Mặt trời lặn khuất núi xa
Gió hun hút thổi cửa nhà trống trơn
Cổng ngoài tiếng chó sủa om
Giữa đêm mưa tuyết chủ nhân trở về
( Hoa Mai )
 
Ngày tàn xám núi xa
Trời lạnh trống tuyềnh nhà
Tiếng chó đón ngoài ngõ
Người về lộng tuyết sa.
( Trần Khấu )
 
1.
Chạng vạng non xa sẫm
Túp nghèo lạnh lẽo thêm
Cổng ngoài nghe chó sủa
Gió tuyết chủ về đêm
 
2.
Núi xanh xa tắt nắng chiều
Căn nhà trống trải cảnh nghèo tái tê
Cổng ngoài chó sủa vừa nghe
Ào ào gió tuyết người về trong đêm.
( Nguyễn Hữu Thăng )
 
Ác tà bóng núi xa xa
Trời Đông lạnh giá căn nhà trống trơn
Cổng ngoài chó sủa từng cơn
Người về kéo cả tuyết sơn ập vào
( Trần Nhạc )
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.02.2017 10:59:30 bởi tamvanvov>
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
 
  Hầu hết người yêu thơ Việt Nam, khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du đều biết câu thơ: " Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông ". Cụ Nguyễn tả tâm trạng chàng Kim ( Kim Trọng ), trở lại vườn xưa, nào đâu thấy bóng nàng Kiều, chỉ thấy hoa đào phơ phất trong gió đông. Thấy cảnh, nhớ người, chẳng biết người xưa phiêu bạt nơi nao, là thế…
          Khi viết câu thơ ấy, là Nguyễn Du đã mượn ý thơ Đường.
          Người yêu thơ Đường, hẳn cũng biết đến câu thơ : " Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong ". ( hiểu nghĩa là: Gương mặt người giờ chẳng biết ở phương nào/ Nơi đây chỉ thấy có hoa đào như cười trong gió đông ).
          Đây chỉ là hai câu kết trong bài tứ tuyệt Đề tích sở kiến xứ của Thôi Hộ, một nhà thơ đời Đường. Bài thơ còn có tên Đề đô thành Nam Trang.
          Sách " Đường Thi " của học giả Trần Trọng Kim, chú thích như sau:
          Truyện chép rằng: Thôi Hộ là một người đẹp trai, tính quả hợp, ít giao du. Một ngày thanh minh, đi chơi một mình đến phía nam kinh thành, thấy một nhà có vườn đào nhiều hoa, bèn gõ cửa, xin nước uống. Một người con gái đẹp và đoan trang ra hỏi họ tên thi sĩ, rồi lấy nước mời khách uống. Sang tiết thanh minh năm sau, Thôi Hộ lại đến nhà ấy, thấy cửa đóng kín bưng, tức cảnh đề bài thơ này lên cánh cửa bên tả. Cách mấy hôm sau đến lại, chợt nghe trong nhà có tiếng khóc, rồi có ông lão ra hỏi. " Anh có phải là Thôi Hộ không? Con gái tôi đọc bài thơ của anh rồi nhịn ăn, vừa mới chết ". Nghe vậy, Thôi Hộ vào nhà, khấn nàng , thì người còn gái ấy sống lại, bèn lấy làm vợ. Sau, Thôi Hộ đỗ tiến sĩ vào niên hiệu Trinh Nguyên (đời Đường ), làm quan đến chức Lĩnh Nam tiết độ sứ.
 
@ Bản chữ Hán:




 
  @ Bản âm Hán Việt:
      
 Khứ niên kim nhật thử môn trung
  Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
  Nhân diện bất tri hà xứ khứ
  Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
 
Dịch nghĩa là :
Hôm nay, trở lại nơi năm ngoái đã đến, thì thấy cửa đóng then cài
          Người mà ta đã gặp ấy, gương mặt tươi hồng sánh ngang sắc hoa đào
          Vậy mà, gương mặt ấy, giờ không biết ở nơi nao ?
          Chỉ thấy mỗi hoa đào là vẫn như năm ngoái đang cười với gió đông.
 
Học giả Trần Trọng Kim dịch thơ như sau:
 
Đề chỗ đã trông thấy năm trước
 
                   Hôm nay, năm ngoái, cửa cài.
                   Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi
                   Mặt người chẳng biết đâu rồi
                   Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông.
 
          Kẻ vãn bối này, xin nôm na mà dịch như sau :
 
                   Ngày này, năm ngoái, cửa kín bưng
                   Đào hoa, mặt ánh sắc tươi hồng
                   Nhủ lòng người ấy giờ đâu nhỉ ?
                   Chỉ thấy hoa đào giỡn gió đông.
 
          Nôm na vậy, song chưa thỏa, bèn đưa bài viết này được đưa lên blog cá nhân, và sau một thời gian, có mấy người bạn quen gửi đến bản dịch thơ. Xin được trưng ra để mọi người cùng tham khảo :
 
Nhà cũ, cài then - nay vắng không
Nhớ ai gương mặt ánh đào hồng
Ngẩn ngơ tự hỏi người đâu nhỉ ?
Chỉ thấy Đào xưa cợt gió Đông
( Nguyễn Xuân Sinh dịch )
 
Năm ngoái ngày này cửa đứng trông
Hoa đào- ánh mặt sắc tươi hồng
Nhủ lòng người ấy giờ đâu nhỉ ?
Chỉ thấy hoa đào giỡn gió đông.
( Đặng Đình Nguyễn dịch )
 
Năm xưa nay đến cửa then cài
Sắc thắm hoa đào má đỏ hây
Vắng bặt biết tìm đâu má thắm
Đào cười như cũ gió đông hay.
( Nhược Mộng dịch )
Đăng nhập để trả lời
0
Tất cánh thị thùy xuân,
 
 
Tiết xuân tết Đinh Dậu năm nay thật tươi đẹp. Những ngày cuối năm tết đến, lạnh vừa, trời khô ráo, trưa thêm chút nắng ấm cho mọi người thoải mái du xuân chơi tết. Qua chính tết, đúng ngày lập xuân lại thêm chút mưa, ấy là tiết thuận. Mà tiết thuận thì trời đất quang cảnh tươi nhuần, cấy cối tốt tươi, lòng người, lòng xuân đều thơ thới...
Lại chợt nhớ một câu thơ của Lý Thương Ẩn xưa, trong bài thơ Tảo khởi, rằng "Tất cánh thị thùy xuân?" ( hiểu nghĩa: Cảnh xuân đẹp này đâu của riêng ai ? )
 
@ Nguyên bản chữ Hán:
 
早起
 
風露澹清晨,
簾間獨起人。
鶯啼花又笑,
畢竟是誰春。
 
@ Bản âm Hán Việt:
 
Tảo khởi
 
Phong lộ đạm thanh thần,
Liêm gian độc khởi nhân.
Oanh đề hoa hựu tiếu,
Tất cánh thị thùy xuân?
 
@ Dịch nghĩa:
 
Dậy sớm,
 
Trời lặng sương giăng, vẻ mai thanh mát
Rèm trong có người đã tỉnh giấc
Chim oanh hót vang, hoa đua cười
Cảnh xuân đẹp này đâu phải của riêng ai ?
 
@ Bản dịch thơ của người yêu thơ Đường:
 
Trời lặng tinh sương đẹp vẻ mai
Rèm trong, tỉnh giấc, nghé bên ngoài
Oanh hót hoa cười, lòng xuân nhỉ,
Cảnh xuân phơi phới của riêng ai ?
( Nguyễn Chu Nhạc dịch )
 
Sớm mai gió lặng, trời xanh
Có người lặng lẽ sau mành trông ra
Chim Oanh ríu rít bên hoa
Ngậm ngùi tự hỏi, xuân là cho ai ?'
( Bùi Gia Tỷ Muội dịch )
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.08.2017 04:06:22 bởi tamvanvov>
Tủm tỉm Lê Đình Cánh.
 
         1. Một chỗ trong chiếu thơ Lục bát.
         Ấy là cái chiếu thơ lục bát Việt Nam thời nay, mà tôi xin được trải ra, để mời mấy nhà thơ vào ngồi, mỗi người một góc, mà ở đó có nhà thơ Lê Đình Cánh.
          Trong bài viết Chính danh gọi Tễu, hay chân dung nhà thơ Phạm Công Trứ, tôi đã mạo muội, từ nhận định cá nhân, xin trải ra cái chiếu thơ lục bát hiện tại xứ ta và mời bốn nhà thơ vào ngồi, ấy là: Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn.
          Nếu định danh vậy, có nghĩa là, với Lê Đình Cánh, chí ít, phải thành danh với Thơ, mà cụ thể lại là Thơ lục bát
          Nói như vậy, cũng đồng nghĩa với việc, trong giới văn chương Việt Nam hiện đại, người ta biết đến tư cách nhà thơ của Lê Đình Cánh, mặc dù, theo liệt kê, đến nay, trong tổng số 11 tác phẩm in riêng, thì có 4 tập thơ, mà có tới 7 tập bút ký văn học; và tập thơ đầu tay Đất lành do NXB Thanh Niên ấn hành năm 1986, lại ra sau tập bút ký văn học Vùng đất sẽ có tên ( NXB Thanh Hóa, năm 1985 ).
          Với riêng tôi, biết đến tên tuổi nhà thơ Lê Đình Cánh, ấy là khi ông được giải thưởng cao cuộc thi thơ của Báo Văn Nghệ ( năm 1976 ) với 2 bài thơ “Mẹ ra Hà Nội“ và “Trên cao nguyên Tà Phình”. Câu thơ “Lên thang chẳng dám bước dài/ Vào khu tập thể gặp ai cũng chào“ (bài Mẹ ra Hà Nội) và câu “Nắng lành như mắt cừu non/ Long lanh sương sớm như còn ngậm trăng“ (bài Trên cao nguyên Tả Phình), ấy là những câu thơ hay, mà sau này, mỗi khi nói đến Lê Đình Cánh và thơ của ông, người ta đều nhớ... Thậm chí, trong vài cuộc trà dư tửu hậu, cao hứng văn thơ, có ai đó đã đưa ra nhận định, rằng đấy là những bài thơ, câu thơ đã đóng đinh nhà thơ Lê Đình Cánh vào nền thi ca Việt Nam hiện đại...
          Theo tôi, một khi xếp nhà thơ Lê Đình Cánh ngồi vào một góc chiếu thơ lục bát hiện tại xứ ta, thì có nghĩa, thơ thể lục bát của ông phải nhiều, phải nhuần nhuyễn, tài tình, chứ đâu riêng chỉ vài ba bài thơ, câu thơ ấy. Để đóng đinh được Lê Đình Cánh gắn chặt vào nền thi ca Việt Nam hiện đại, phải cần nhiều “đinh” hơn thế. Chẳng qua, mấy bài thơ,  câu thơ nọ, là dấu ấn đầu tiên khiến người ta bắt đầu nhận diện ra riêng một Lê Đình Cánh, trong số rất nhiều nhà thơ và người làm thơ ở xứ ta mà thôi.
          Vậy, cùng với “Mẹ ra Hà Nội“ và “Trên cao nguyên Tà Phình”, Lê Đình Cánh còn có những gì? Chắc chắn, ông còn có nhiều bài thơ khác, đặc biệt là thơ lục bát hay. Thực ra, nói rằng ông có một chỗ trong cái chiếu thơ lục bát thời nay, chỉ là một cách nói vui hình tượng, chứ từ lâu nay, Lê Đình Cánh đã thành danh với thơ lục bát. Người ta viết về ông với thể thơ này rất nhiều, những đánh giá, nhận định thê nọ, rồi trích dẫn thế kia, tất cả đều nhằm minh chứng một điều, ông đã thành công, đắc địa với thơ lục bát...
          Mặc dù không muốn nhắc lại bài này bài nọ, trích dẫn những câu thơ lục bát hay của ông mà nhiều người khác đã nhắc, song cũng không thể không làm cái việc ấy. Thôi thì, tôi xin nhặt nhạnh theo cái nhìn của mình vậy. Ngay như, trong bài thơ “Mẹ ra Hà Nội’, cùng với câu thơ mọi người đã nói, còn có các câu thơ khác hay không kém, như : “Khoác vai mẹ chiếc đãy nghèo/ Năm xưa thắt lại bao điều dắng cay” và “Sào tre đêm gõ nhịp gày/ Ba khoang đò dọc chở đầy ước mong”.
Tựu chung, có thể thấy, thơ ông luôn cấu tứ chặt chẽ, lập ý rõ ràng
Về tính chất, đầy sự hóm hỉnh, dí dỏm, cái tưng tửng, têu tếu, ít nhiều lạc quan, ở đây là sự lạc quan có trách nhiệm, kể cả những bài thơ gam buồn; không có cái buồn da diết, bi lụy.
Về hình thái, lục bát nhuyễn, cả ngôn từ và nhịp điệu, câu chữ chắt lọc, tinh tế, linh hoạt, hoán đổi ...
          Vậy là, khi mang những nhận định trên mà áp vào thơ ca nói chung, nhất là thơ lục bát của Lê Đình Cánh, sẽ thấy ông có khá nhiều bài thơ, câu thơ hay. Theo tôi, cùng với những bài thơ hay, từng được giải, lèm nên tên tuổi Lê Đình Cánh như: Mẹ ra Hà Nội, Trên cao nguyên Tà Phình, Một mình anh đi Trăng nở nụ cười,... còn có những bài thơ hay khác như: Quán Sứ bên này, Đền thờ hạt lúa, Em đi, Ai mua chổi rơm, Lời thề cỏ xanh, Chợ Mơ, Gọi đò, Chùa bà Đanh, Ga Vinh, Về hưu, Tiểu sành, Sông Cầu chày, Sương sa trắng đầu, Đêm sông Chùy, Cõi xưa,  Bến quê, Trở lại Ba Lòng, Rượu tăm, Một nửa, Nỗi oan Thị Màu, v.v...
          Cũng theo đó, người ta có thể tìm thấy rất nhiều những khổ thơ, những câu lục bát hay rải rác đâu đó ở các bài thơ, dọc quá trình sáng tạo thi ca của Lê Đình Cánh.
Xin được viện dẫn, như :
 
Mải lo cơm đủ áo lành
Còn đâu lúc rỗi để thành vọng phu
( Gió đất )
Ở rừng từng hát ru nhau
Lá trầu chị héo, quả cau em già
( Em đi )
Tình yêu như thể chơi đề
           Đợi con độc đắc lại về trắng tay...
... Đố ai hết nợ đàn bà
Để tôi cắt tóc bỏ nhà đi tu
( Chợ tình )
Chốn quê vẹo cột vênh kèo
Ốc cam phận ốc lại đèo kiếp rêu.
( Chợ người )
Đố ai hết nợ đàn bà
Để tôi cắt tóc bỏ nhà đi tu
Xế tà tháp lặn vào mây
Vầng trăng chính sử hao gày hoàng hôn
( Lời xưa )
Sau già là cõi xa xăm
Nén hương đỏ lửa mỗi năm đôi lần.
( Hỏi đất )
Giếng làng mưa bão vẫn trong
Chợ quê rớt già vẫn đong đếm đầy
( Thú quê )
Đao đình cong nỗi phế hưng
Một thời lá rụng dửng dưng sân chùa
( Phận rùa )
Tuổi già như thể nắng hanh
Vừa long lanh sớm. Đã mong manh chiều
( Về hưu )
Ơi người áo mũ cân đai
Nắm xương có xếp vào hai tiểu sành
( Tiểu sành )
Nắm tay củ ấu vẫn tròn
Người ơi vẫn ngọt bồ hòn trên môi
( Chợ Mơ )
Giả vờ có ngủ được đâu
Nằm chong chong mắt lâu lâu lại ngồi
( Ngủ nhờ )
Ngày xưa xe lộn về Bần
Mấy phen tuột xích quãng gần Khoái Châu
( Về Phố Hiến )
Nẻo đường bồ bịch cong cong
Vừa lo thoát khỏi. Vừa mong nhảy vào...
( Nẻo đường cong cong )
Bắt chồng em có chọn anh
Như kim chọn chỉ vá lành áo nâu
Như là đồng đất chọn trâu
Nương cao cũng kéo ruộng sâu cũng cày
Chọn anh như cối chọn chày
Canh khuya giã sắn rạng ngày đâm ngô
( Bắt chồng )
Thân cò trở lại nghề nông
Rời cây súng biết tay không có gì
Mấy đồng hưu trí thấm chi
Cảnh nhà vơi bát lắm khi mụ người
( Anh lại đi cày )
Nứa mai thưng hở vách lều
Rừng khô xao xác nai kêu lẻ bầy
Mưa bay như thể sương dầy
Sàn khuya thương ngọn nến gày lắt lay
( Gặp ở Mường Tè )...
          Vẫn còn khá nhiều những câu thơ, khổ thơ lục bát hay như thế. Và nếu chỉ nghĩ, nhà thơ Lê Đình Cánh có riêng “chiếc đũa thần“ mặc sức điều khiển thơ lục bát tài tình như vậy, thì không hẳn. Ở những bài thơ không phải lục bát, bắt gặp đó đây những bài thơ, câu thơ hay không kém. Vẫn chất suy tư thế sự, vẻ hóm hỉnh, tinh quái, ý thức trách nhiệm với đời, khiến người ta phải suy nghĩ, day dứt...
Chẳng hạn, như:
Thế cờ nghiêng về đâu
Pháo mã thành vô dụng
Sĩ tượng thành thất sủng
Tốt đen cười sang sông
( Nắng Hàm Tân )
Ai biết được ma nào ăn cỗ
Ai dại gì công bố chuyện đi đêm
( Vợ Ba )
Gặp bạn tình lòng đã thấy no
Rượu chưa nhắp lời đà có lửa
Trưa đứng nắng bồn chồn vó ngựa
Chợ lim rim một nửa sang chiều.
( Chợ Bắc Hà )
Đường một chiều cứ thế tôi đi
Tôi biết dại làm người nhụt chí
Cái đáng vứt lại cất làm của quý
Cái phải chôn đi lại để trưng bày
( Đường Bà Triệu )
Đâu đá lát lên đền Tam Tổng
Lạnh khói hương thông thốc giữa trời
Hai hộ pháp vẫn muôn đời gác cổng
Ông Ác cười! Ông Thiện toát mồ hôi...
... Tôi trở về tuổi trẻ chẳng về theo
Thời gian như nước ngầm băng hoại
Trái tim tôi càng sống càng nghèo
( Quê ngoại )
Mùa khô Đồng Văn trơ gió
Gió khê lời đá thở dài
Gió như tiền vào nhà khó
Một đời gió thổi trần ai
( Mùa khô Đồng Văn )
 v.v..
Khi bắt đầu sang thời đổi mới, nhiều giá trị phong tục, tập quán cũ dần mai một, mất đi, còn những giá trị mới hoặc chưa hình thành, hoặc đã manh nha song còn chưa được khẳng định, xã hội sinh nhiều chuyện nhiễu nhương, Lê Đình Cánh đã không bỏ qua. Vẫn bằng thể thơ lục bát từng khiến ông thành danh ngày nào, giờ ông lại dùng “chiếc đũa thần” của mình, khoắng một hồi, ra nhiều bài thơ hay về chủ đề mới này. Có thể kể tên các bài thơ sau đây: Toa máy lạnh, Hát Karaoke, Hồ Tây, Vàng xám, Qua cầu Long Biên, Phố Làng v.v...:
Ví như :
Đèn mờ nửa đỏ nửa xanh
Để êm đỡ trẻ. Để anh đỡ già
( Hát Karaoke )
Phố làng xóa sổ nông dân
Quán quê lai ghép công nhân nửa mùa
Lượn lờ chào bán gọi mua
Dật dờ chai cốc được thua với đề
( Phố Làng )
Mảnh bằng bán tận châu Phi
Tiền lương đếm lại nhiều khi mủi lòng
Ước mơ xé lẻ từng đồng
Thương con liệt sĩ lấy chồng thương binh,
Vết thương như kẻ vô tình
Tấy lên những lúc gia đình ăn vay.
( Vàng xám ) v.v...
Dù thời trước hay thời nay, dù mảng đề tài nào, thể thơ nào, thơ Lê Đình Cánh vẫn nguyên giá trị, những gì đã làm nên thơ ông, thành danh cùng với ông, theo cách nghĩ của tôi. Quan trọng là, ông đã có ít nhiều đóng góp cho sự phát triển của nền thi ca Việt Nam hiện đại, nhất là thể thơ lục bát cổ truyền, riêng có của xứ ta !...
Hơn thế nữa, Lê Đình Cánh đâu chỉ có thơ...
( còn nữa )

Đăng nhập để trả lời
0
Nâng niu trái ngọt mùa thu.
 
Hoa Mai Trần Thị Thìn,
 
Thưa các bạn!
Sau những ngày háo hức chờ đợi, giờ thì Hoa Mai đã có trong tay cuốn RONG CHƠI MIỀN ĐƯỜNG THI mà người biên soạn là nhà báo Chu Nhạc - một blogger quen thuộc của BTV - tức Xóm Lá thân yêu của chúng ta !
Với phương pháp của mình, HM đã đọc xong 2 lần và thích thú bởi nhiều điều mà cuốn sách này đem lại. Nói tới thơ Đường là nói tới một kho tàng đồ sộ của văn chương Trung Hoa xưa với hàng vạn bài thơ và vài trăm tác giả. Vốn không phải là nhà nghiên cứu phê bình hay là một dịch giả chuyên nghiệp nên Chu Nhạc khiêm tốn đặt tên cuốn sách như trên. Vâng! Đó chỉ là một cuộc rong chơi đầy ngẫu hứng của những con người yêu mến Đường thi mà thôi!
Nói như thế không có nghĩa là Chu Nhạc không nghiêm túc với công việc biên soạn của mình. Ngần ấy năm tham gia BTV, anh đã khởi xướng dịch nhiều bài thơ Đường của các thi hào nổi tiếng như Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Đổ Phủ, Vương Duy (tứ đại thụ), bên cạnh đó còn rất nhiều thi hào khác ít nổi tiếng hơn như Vương Xương Linh, Thôi Hộ, Đào Vũ Nương, Sầm Tham, Lý Hạ, Lý Tần, Ôn Đình Quân... Mỗi bài thơ đều gắn với một tâm trạng, hoàn cảnh cụ thể của anh khi giới thiệu và dịch. Lời cảm nhận hoặc bình luận của anh ở mỗi bài đều nhẹ nhàng, suy tư mà không kém phần lãng mạn, chứng tỏ khả năng thưởng thức với trình độ khá cao.
Điều thú vị thứ nhất là anh chị em blogger đủ mọi thành phần, nghề nghiệp khác nhau nhưng cùng chung tình yêu với thơ Đường đã ủng hộ việc làm rất có ý nghĩa của Chu Nhạc nên nhiệt tình cùng tham gia dịch. Một bài thơ chữ Hán với dăm người dịch ra thơ tiếng Việt bằng những thể loại khác nhau : thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, ngũ ngôn và cả lục bát nữa... Thật phong phú và đa dạng!
Trong cuốn sách này, chúng ta sẽ gặp những gương mặt thân quen của Xóm Lá như Nguyễn Chu Nhạc, Hoa Mai, Phan Lan Hoa, Sáu Miệt Vườn, Nguyễn Vĩnh Tuyền, Nguyễn Hữu Thăng, Việt An, Đặng Đình Nguyễn, Trần Quê, Vạn An, Thuyền Thơ, Trần Mỹ Giống, Đỗ Xuân Đào, Thái Xuân Nguyên, Phan Thị Thanh Minh, Giác Minh Nguyễn Đình Diệm, Ngô Minh Vương, Kiều Thiện, Trần Khẩu, Nguyễn Lâm Cẩn, Nguyễn Vạn An, Miền Mây Trắng, Hương Đất Bãi, Bùi Gia Tỷ Muội (VTR), Trần Nhạc, Nguyễn Vạn An, Đom Đóm Kim Chi, Trương Thị Màu... và một vài blogger nữa. Xét về mặt địa lý thì người Nam, người Trung, kẻ Bắc, người trong nước, người sinh sống ở nước ngoài... đều góp mặt.
Điều thú vị thứ hai là những "dịch giả" tay ngang này không hề ngán sợ thế hệ dịch giả tiền bối mà tên tuổi sừng sững như Thái Sơn : Nhượng Tống, Trần Trọng Kim, Tản Đà, Khương Hữu Dụng... cách đây sáu, bảy thập kỷ. Anh chị em Xóm Lá dịch với mục đích thử sức, để bày tỏ lòng mến yêu thơ Đường và để vui là chính.
Điều thú vị thứ ba chính là lòng say mê thực sự và thái độ nghiêm túc của nhà báo Chu Nhạc trong quá trình làm việc. Rất cảm ơn anh đã cần cù sưu tập, biên soạn để cho ra đời cuốn sách này - một trái ngọt mùa thu! Điều đó góp phần khẳng định những gì anh chị em Xóm Lá đã làm trong thời gian qua là không vô ích.
Cuốn sách RONG CHƠI MIỀN ĐƯỜNG THI bìa đẹp, trình bày chuẩn và kỹ thuật in tốt, cầm lên là đã thấy trang trọng, gây ấn tượng tốt đẹp. Hoa Mai trân trọng giới thiệu với bà con Xóm Lá để cùng chia vui nhé!
Sài Gòn 28-10-2017 những ngày cuối thu Đinh Dậu

      36 cảm nhận


Đăng nhập để trả lời
0
Tủm tỉm Lê Đình Cánh ( II )
2. Nhà thơ, khỏe viết văn xuôi.
Lê Đình Cánh được bạn đọc cả nước biết đến qua Thơ, đặc biệt Thơ lục bát; bản thân ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam với tư cánh nhà thơ; còn công việc cơ quan, ông có nhiều năm là Trưởng phòng, Phòng Văn học Thiếu nhi của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), song thể loại sung sức nhất của ông lại là bút ký-ký sự-tản văn. Bằng chứng, kể từ tập văn xuôi đầu tiên, Vùng đất sẽ có tên được NXB Thanh Hóa ấn hành năm 1985, cho đến nay, tập văn xuôi mới nhất, Miền chầu văn do NXB Hội Nhà văn xuất bản cuối năm 2015, con số đã là 7.
Không rõ, Lê Đình Cánh đã từng có ý định viết dài, như tiểu thuyết, hay hồi ký hay chưa, song với văn xuôi ngắn, ông đẻ sòn sòn, cứ vài ba năm một tập? Mặc dù, làm việc ở một đơn vị chuyên về văn học nghệ thuật, nhưng lại thuộc cơ quan báo chí lớn của quốc gia, nên tự thân Lê Đình Cánh, với tư cánh là một người cầm bút, thì dù đi viết bài như một phóng viên, ở nhà làm biên tập viên, và cả khi chịu trách nhiệm xuất bản trong tư cách người quản lý (ở đây là chữ ký phát sóng), thì ông luôn ý thức về tính thời sự vốn có của báo chí. Có lẽ vậy, để đáp ứng các yêu cầu này, ông đã lựa chọn cách viết ngắn? Và như thế, cùng với Thơ, loại hình văn học đã ám vào con người ông để thành nghiệp, ông sáng tác bút ký, ký sự văn học và tản văn. Mà viết khỏe, lại đa dạng...
Mạo muội, tôi lần theo các trang văn xuôi của ông. Dù chỉ có trong tay 3 tập: Đường xuân (NXB Quân đội nhân dân, 2003), Nắng Nghi Sơn (NXB QĐND, 2013) và Miền chầu văn (NXB Hội Nhà văn, 2015), và khi đọc, cái kỹ, cái lướt, song tôi nghĩ, chí ít cũng có thể khái quát để nhận diện một văn xuôi Lê Đình Cánh. 
Thực ra, trong nhiều năm qua, Lê Đình Cánh viết bút ký, ký sự, tản văn rải rác, đều tay, cả khi ông còn làm việc hay khi đã nghỉ hưu. Đa phần, các tác phẩm văn xuôi của ông đều được đọc, phát sóng trên các Chương trình phát thanh Văn nghệ của Đài Tiếng nói Việt Nam, hoặc trước hoặc sau, các tác phẩm này được đăng trên Báo Văn nghệ, các báo và tạp chí văn học khác ở trung ương và địa phương. Vậy nên, cơ bản là tôi đã đọc, nghe các tác phẩm văn xuôi của Lê Đình Cánh. Sở dĩ, hầu hết các tác phẩm văn xuôi của ông được sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng, các tờ báo và tạp chí chuyên ngành, trước hết, là do chất lượng và tính thời sự của chúng; thêm nữa, uy tín của chính tác giả cũng góp phần vào. Mấy chục năm qua, phải chăng, không riêng gì tôi, nhiều bạn yêu văn học nghệ thuật, cũng có thể nhận ra, cùng với lục bát thơ Lê Đình Cánh, còn có bút ký Lê Đình Cánh? Vậy nên, ông đã ít nhiều thành công ở lĩnh vực văn xuôi thể loại này!... 
Theo đó, tôi thử định dạng văn xuôi Lê Đình Cánh.
Thứ nhất, chiếm phần lớn trong các tập văn xuôi của ông, ấy là bút ký, ký sự từ những chuyến đi. Lại nói, những chuyến đi của Lê Đình Cánh. Thường là, phóng viên nhà Đài, đi công tác theo sự phân công của cơ quan, hoặc theo lời mời của các cơ quan, ban ngành, tổ chức, đơn vị nào đó, hoặc phối hợp từng nhóm phóng viên từ các cơ quan báo khác nhau, hoặc đi ngẫu hứng theo ý thích, ý đồ riêng. Với Lê Đình Cánh, ông từng đi theo tất cả cách thức vậy, nhưng phần lớn là theo lời mời trân trọng từ phía các cơ quan, đơn vị bên ngoài, bởi uy tín riêng ông có. Nếu là phóng viên thời sự, hay chuyên đề khác, sau chuyến đi, sản phẩm sẽ là tin, là phóng sự thu thanh, là phỏng vấn, còn ông, là bút ký, ký sự. Và một khi đã vậy, gì thì gì, khó tránh khỏi sự minh họa chiều lòng nhau trong quan hệ chủ-khách. Lê Đình Cánh không phải là ngoại lệ, tuy nhiên, ông luôn biết cách, mà theo lối nói chữ là “phản chủ vi khách“, ấy là biến chủ thành khách, còn mình từ khách thành chủ, ở đây, nên hiểu là sự chủ động trong thông tin, viết bài theo ý mình, tránh sự nể nang, lệ thuộc vào chủ nhà, không mô tả cứng nhắc như báo cáo, không nói một chiều ... Đọc một loạt các bài viết kiểu này, thấy được, Lê Đình Cánh đã khá khôn khéo, biết thoát khỏi tính báo chí thông thường để gia tăng hàm lượng văn chương cho bài biết, hay nói cách khác, là ông đã biết mềm hóa bài viết bằng những thông tin bên lề, từ sự lao động quá khứ, từ kiến thức của mình về thiên nhiên, địa lý và lịch sử phát triển của vùng đất... làm phong phú cho bài viết... Ấy, cũng là sự khác biệt của ông với nhiều cây bút chuyên ký sự khác cùng thời... 
Thứ hai, Lê Đình Cánh hay chọn cách thể hiện quan điểm, kiến thức, kiến văn của mình thông qua các tản văn, tạp bút, luận bàn mang tính khảo cứu, nhân một sự kiện hay hiện tượng nào đó, nhân dư luận xã hội này nọ, hoặc nhân câu chuyện đời sống xảy ra thường ngày... Ta có thể kể tên một số bài viết dạng này, khá thành công, như: Hoa sen, Miền chầu văn, Vầng trăng Lũng Nhai, Thị xã núi Thúy sông Vân, Ngàn Nưa, Nắng gió Kênh Than, Vài cách đến, Có một thể thơ , v.v...
Ở dạng này, Lê Đình Cánh cho thấy kiến thức uyên thâm của mình trong nhiều lĩnh vực, bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội; lập luận vấn đề logic và khá linh hoạt. Thật khó khi muốn tranh luận hoặc bắt bẻ ông điều gì đó. Thêm nữa, ngôn từ rất hoạt, cùng sự hóm hỉnh, dí dỏm trong cách chọn chi tiết, trong hội thoại, trong vận dụng vốn dân gian như ca dao, tục ngữ, phương ngữ, thành ngữ... đặng tạo ra diện mạo riêng cho các sáng tác của mình. Theo tôi, chính những bài viết kiểu này, cơ bản làm nên một Lê Đình Cánh văn xuôi !... 
Thứ ba, theo cách nói vui cửa miệng của giới trẻ bây giờ, ấy là: Thích thì viết thôi. Lê Đình Cánh có khá nhiều tản văn, tạp bút được viết với ý muốn và tâm thế như vậy. Với ông, quả là, quan tâm thì viết, thích thì viết. Vậy thôi. Có thể, viết ra để cho ai đó, cũng có khi, chỉ để trải lòng mình, để nói ra bằng chữ nghĩa những điều mình nghĩ, mình hiểu. Với sự thôi thúc vậy, nên trong các bài viết ở dạng này, tuy vẫn bời bời thông tin, kiến thức, song giọng văn lại không tung tảy như vốn dĩ, mà cẩn trọng, có gì đó như ngầm phô diễn sự hiểu biết, nửa lặng thầm gửi gắm thông điệp gì đó, chứa đựng ý thức trách nhiệm với đời, cứ như ông tự nhủ lòng mình vậy. Điểm qua, thấy nhiều bài hay, như : Nụ tầm xuân, Cây núc nác, Cò lửa, Rau má ruộng, Chim rẻ quạt, Chuối hột, Bèo ong, Củ mài, v.v...
Và như thế, dù sáng tác văn xuôi ở dạng nào, nhà thơ Lê Đình Cánh đã có những đóng góp đáng kể cho văn xuôi Việt Nam hiện đại ở thể loại bút ký, ký sự văn học !... (còn nữa)
 
Đăng nhập để trả lời
0
Nguyễn Chu Nhạc, chỉ lửa là rất thật
 
“Chỉ lửa là rất thật
Bừng lên cháy hết lòng
Em một thời má đỏ
Ta một thời long đong”
Chẳng hiểu, Nguyễn Chu Nhạc có ngụ ý cho đấy là “tuyên ngôn” hay không nhưng việc anh chọn khổ thơ đó để in ở bìa 4 tập thơ mới của mình và anh cũng lấy luôn tên của bài thơ đó để làm tên chung cho cả tập thơ thứ 6 của mình, cũng khiến tôi phải đoán già đoán non “người báo, người văn, người thơ” này có “ứng” vậy không? Mà ứng hay không thì chưa biết nhưng có điều chắc chắn rằng với “lửa”, với “long đong” thì chừng như thấy đúng.
Lần đầu tiên, chúng tôi gặp lại nhau sau mười sáu năm xa mái trường phổ thông. Mà lần gặp lại ấy cũng đã gần ba mươi năm rồi.
Nguyên là, sau tết năm 1975 thì tôi đi bộ đội liền tù tì hơn mười năm. Cùng đó, Nguyễn Chu Nhạc đỗ vào trường đại học nông nghiệp, và tốt nghiệp, anh đi một mạch vào An Giang công tác. Lần gặp lại nhau khá bất ngờ và bất ngờ đến nỗi tôi chẳng kịp nhận ra người bạn học cũ nữa. Số là, buổi ấy, mấy chúng tôi trong nhóm văn chương “Bông hồng vàng”  rủ nhau đến Nhà Thái Học trong Văn Miếu ngồi đàm đạo thơ văn cho nó sang (như cách nói vui của cánh viết văn trẻ hồi đó). Nguyễn Chu Nhạc được mời đến và người chủ trì cuộc vui đã giới thiệu ngắn gọn “Nhà văn Nguyễn Chu Nhạc nói thấy nhóm anh em bọn mình tụ họp nên đến chơi cùng”. Tôi tròn mắt nhìn cái “ông” vóc người nho nhỏ nhưng đã là “nhà văn” ấy rất ngưỡng vọng. Tiếp đó, người chủ trì cuộc vui chỉ tay lần lượt giới thiệu từng người, người ấy chỉ tay vào tôi định nói thì Nguyễn Chu Nhạc cười thân thiện “Khỏi phải giới thiệu. Tôi với ông này học cùng nhau”. Kinh ngạc. Tôi cố vắt óc nhớ lại xem mình có “vinh hạnh” được học cùng với ông “nhà văn” này ở đâu. Chịu. Nguyễn Chu Nhạc không nhận ra điều đó. Anh vẫn nói cười vui vẻ trước những câu hỏi đầy thán phục của “bọn tập viết”.
Mãi mấy năm sau, khi về trường cấp 3 Bần Yên Nhân (Mỹ Hào, Hưng Yên) họp khóa phổ thông tôi mới “giật mình”. Thì ra cái thằng Nhạc bé con con nhưng là học sinh giỏi văn cấp tỉnh, học sinh giỏi văn toàn quốc năm nào đúng là học cùng lớp với tôi thật. Đâu như lứa học sinh giỏi văn toàn quốc ấy có Trần Đăng Khoa, có Trịnh Bá Ninh, có Trương Nhuận và có mấy người nữa tôi đều quen biết. Tôi bắt tay Nguyễn Chu Nhạc và ngượng nghịu nói câu “đánh lảng” về “sự quên bạn”  hôm nào.
 
Mà cũng tại tôi, thường xuyên đọc báo hồi cuối những năm tám mươi đầu những năm chín mươi thấy dường như tuần nào cũng có bài tản văn của tác giả Nguyễn Chu Nhạc. Khi thì ở báo Hà Nội mới, khi thì trên báo Nhân dân chủ nhật, lúc lại báoNgười Hà Nội... thấy hay hay mà tại sao tôi lại không quan tâm đến tác giả ấy là người như thế nào. Những bài tản văn ngăn ngắn, xinh xinh, có giọng điệu dễ tiếp nhận, diễn đạt chân thật, nội dung lại nhẹ nhàng, gần gũi cứ như thấy làng thấy xóm vậy, tôi rất thích thú. Thích thú quá đến nỗi tôi tự cho rằng người viết những bài tản văn thế này chắc chắn phải “xa xôi” lắm nên mình đâu có vinh hạnh được quen biết. Người ta “giỏi” thế kia mà.
 
Hồi học phổ thông tôi vốn nghịch ngợm nên nói đến học là “lảng”, vậy thế, dù rất biết Nguyễn Chu Nhạc học văn giỏi, nhưng tôi cũng chẳng  mấy “mặn mà”, hì, bọn lười học là như vậy đó. Cứ nghĩ, kết thân nó, có khi lại cho là mình “nhăm nhăm” liếc sang chép bài; Kết thân với nó hóa ra là mình hết được nghịch được chơi ư? Nghĩ thế, nên tôi với Nguyễn Chu Nhạc cũng sơ sơ, là học cùng lớp mà thôi. Kể cũng lạ nhỉ, Nguyễn Chu Nhạc học văn rất giỏi, sinh ra ở Hà Nội, về quê học sơ tán vậy mà chẳng hiểu sao cậu ta lại thi vào học ngành nông nghiệp? Không lẽ, cái chữ “nghiệp” trong nông nghiệp lại ứng với “lửa” và với “long đong” như Nguyễn Chu Nhạc “tuyên bố”. Ồ, vậy mà chuẩn không cần chỉnh. Này nhé: “Ngô đang mùa vào hạt/ mặc đá trơ dưới chân/ nắng lửa trên đầu/ đêm đêm/ đá toát mồ hôi/ cùng người rạo rực...”.
Ở An Giang đâu như dăm bảy năm gì đó thì Nguyễn Chu Nhạc bất ngờ “rẽ ngoặt” cuộc đời. Chàng “kỹ sư canh nông” người bé nhỏ, những tưởng an phận với ruộng với đồng thuần nhất chợt thành “ông nhà báo”. Mà lại bước một bước dài từ xa tắp tận vùng Tứ giác Long Xuyên ra Thủ đô Hà Nội mới tài. Nguyễn Chu Nhạc về đầu quân cho Đài Tiếng nói Việt Nam và cuộc đời nhà báo đã ứng với “long đong” thật. Làm báo nên anh được đi nhiều nơi, được đến nhiều vùng. Cũng có thời kỳ, Nguyễn Chu Nhạc đi thường trú mấy năm ở Đà Nẵng nữa kia.
Đó là những tháng năm “cây bút” Nguyễn Chu Nhạc tỏ ra sung sức. Tôi đã “trách nhầm”, khi cho rằng, anh quyết định thi vào đại học nông nghiệp là “sai lầm”. Thì ra, tôi đã thiển cận trước những bước đi của cuộc đời. Gắn bó với ruộng đồng, mê mải với những lần đi cơ sở tìm hiểu và viết báo, đó là những thời gian “vàng” để anh thu thập thông tin, lưu trữ tư liệu, để viết văn. Tôi không muốn đề cập nghề báo của Nguyễn Chu Nhạc bởi đơn giản đã là nhà báo thì dĩ nhiên phải làm báo, đấy là trách nhiệm, là việc “làm công ăn lương”, mà tôi muốn nói về văn chương của anh. Cái gốc năng khiếu học văn của cậu học sinh giỏi văn năm nào, chỉ “tạm lánh” đâu đó, để rồi gặp đất là bùng lên mạnh mẽ, bùng lên dữ dội, và cuối cùng là Nguyễn Chu Nhạc dấn thân sâu sắc vào con đường văn chương đầy long đong và cũng đầy lửa nóng.
Thì ra, “Giữa những ngày giá rét/thèm chút lửa bếp quê/thèm bát canh dưa nóng/cá niêu đất kho khê/ Thèm ngắm em áo ấm/khăn choàng đỏ bờ vai/khẽ nghiêng đầu tư lự/ta mơ về trẻ trai” lại là câu nói tự đáy lòng. Thoạt đầu, tưởng chỉ là sự “tiếc nuối”, ấy vậy mà nó lại trở thành “mục tiêu” phấn đấu của anh. Nguyễn Chu Nhạc viết báo để nuôi mộng viết văn và viết văn để khẳng định việc viết báo. Còn nhớ, có lần, Nguyễn Chu Nhạc nói vui nhưng rất thật rằng “Ông ạ, viết văn sống làm sao được. Viết báo lấy tiền để làm vốn cho viết văn”.
Từ năm 1993, Nguyễn Chu Nhạc bắt đầu tập hợp những bài tản văn, những truyện ngắn đã viết và đã in để in sách. Lại nữa, chẳng hiểu “tính” thế nào mà anh chọn một cái tên cũng rất “quê mùa” nghĩa là cũng rất “long đong” cũng rất “lửa cháy” để đặt tên cho cuốn sách đầu tay. Tập truyện ngắn “Đêm nguyệt thực” ra đời với những câu chuyện cứ như lấy từ gan ruột mình, lấy từ quê mình, lấy từ trường mình ra vậy. Văn xuôi, in mấy tập, song phải mãi cho tới năm 2011, Nguyễn Chu Nhạc mới cho in tập thơ đầu tiên. Tập thơ “Chút thu” này lại cũng cho ta cái cảm giác hình như cái ý nghĩ “long đong và lửa” vẫn lẩn khuất đâu đó. Kể từ đó, anh làm thơ nhiều hơn, xuất bản thơ đều đều. Thơ của Nguyễn Chu Nhạc giản dị và chân thật và dường như, anh gắn liền thơ với mùa thu. Phải chăng mùa thu, mùa chim làm tổ lại chính là “cái mùa” cho thơ nẩy nở. Một loạt các tập thơ được in sau đó đều có “thu” mới biết Nguyễn Chu Nhạc dù có long đong hay lửa nóng thì vẫn “chung tình”. Chuyện chung tình ở một thi nhân quả là “xưa nay hiếm”? Những tên sách, đại loại như “Cho thu dung dằng thêm chút nữa” hay “Một chiếc lá vàng động cả thu”, rồi “Ừ nhỉ, thu thật rồi đấy” ta đều thấy đâu đó bóng dáng của hoài niệm và thương nhớ.
Phải đến năm 2017, năm mà lứa chúng tôi đều đến tuổi nghỉ hưu thì Nguyễn Chu Nhạc cho in tập thơ “Chỉ lửa là rất thật”. Tôi đã thật thà đồ rằng, hình như anh muốn cho ta thấy ở cõi đời này mọi thứ đều “phù phiếm” mọi thứ đều thành “hư vô”; chỉ có lửa mới là thật. Đúng quá rồi, bạn thơ của tôi ơi: “Rồi thì người cũng đến/mang theo cả mùa đông/mặc ai ngoài kia lạnh/ riêng ta ấm trong lòng”. Đúng quá rồi, Nhạc ạ: “Ta hiểu rồi như lửa/ nóng mấy cũng tàn phai/ nhưng giờ chưa phải lúc/ kệ mùa đông bên ngoài”.
Tập “Chỉ lửa là rất thật” khá dầy dặn cả về số trang và cả về số bài, đã cho thấy, dường như có sự “tổng kết” ở đây? Cũng cho ta thấy sự “long dong” bởi những chuyến đi..., cho ta thấy “lửa” bởi những đau đáu trong hồn thi nhân. Dường như, ở đây, Nguyễn Chu Nhạc muốn đưa ra những ghi chép thực tế của mình, muốn “thơ hóa” mọi ngóc ngách của nghề báo, bởi bóng dáng cuộc sống với từng hơi thở đậm nét trong nhiều câu thơ?
Chỉ lửa là rất thật” cho ta thấy một Tây Bắc mờ sương, một Tây Nguyên nắng gió, một xứ Huế mộng mơ, thấy hình bóng quê nhà ở “Cuối năm ta lại về quê”, những hồi ức tuổi thơ chưa khi nào nguôi ngoai trong tâm tưởng, để rồi, thấy nhuốm vẻ long đong. Ta còn thấy những hoa sen, hoa đại, hoa đào rừng, thấy hoa lộc vừng đỏ, hoa gạo đầu làng... những màu hoa nhường ấy cũng toàn là màu của lửa...
Thế mới biết “tuyên ngôn” của Nguyễn Chu Nhạc là thật. Lời nói của anh thật như là lửa vậy. Ngọn lửa tâm hồn đang bốc lên, những mong được cháy mãi...
Giờ đây, ngọn lửa thật ấy, lại bập bùng đâu đó, nơi cuốn văn xuôi mới mà Nguyễn Chu Nhạc đang cho xuất bản, tập “Rong chơi với một chữ Tình”. Hãy chờ xem, ngọn lửa chân tình ấy bừng cháy... ./.
( Nguyễn Trọng Văn )
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Nhà văn Nhật  Tuấn, con chim biết chọn hạt,
 Con chim biết chọn hạt, ấy là tên một truyện vừa của nhà văn Nhật Tuấn, đã được chuyển thể thành phim truyện, mà tôi từng đọc và xem. Ngày ấy, Nhật Tuấn là một cây bút truyện ngắn sung sức, đáng chú ý... Thú thực, cùng Con chim biết chọn hạt, thì Trang 17 và một số truyện của Nhật Tuấn đăng tải ở báo chí văn chương tôi đã đọc ngày đó, thì tôi không được đọc thêm các tác phẩm khác của ông, kể cả tiểu thuyết từng gây tiếng vang là Đi về nơi hoang dã. Còn ngoài đời, tôi cũng chỉ gặp nhà văn Nhật Tuấn đôi lần, lúc trà dư tửu hậu, nên có thể nói, là chưa mấy biết về ông, thì thử hỏi, tôi viết chân dung ông thế nào đây?...
May mắn thay, tôi nghĩ vậy, tôi có duyên với nhà văn Nhật Tuấn là nhờ mạng xã hội. Dạo ấy, chừng cuối năm 2010, Nhật Tuấn vào mạng Blog Tiếng Việt (blogtiengviet,net) ghi cảm nhận cho một bài viết của tôi, dạng khách đọc, dưới cái tên Người qua đường, và ngay lập tức, ông đã gây ra sự chú ý của cộng đồng mạng. Ngày ấy, xứ ta chưa biết đến Facebook, mà chỉ có một số mạng xã hội dạng Blog thôi, nên số người trở thành blogger và khách xem ở Blog này hay Blog khác rất đông. Tôi đến với Blog Tiếng Việt (BTV) như một sự ngẫu nghiên. Khi ấy, tôi đi luân chuyển công tác, làm giám đốc Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại khu vực miền Trung (VOV-MT) có văn phòng ở Đà Nẵng. Một lần ra Hà Nội họp cơ quan, gặp nhà văn Nguyễn Trọng Huân, một đồng nghiệp, giới thiệu với tôi về BTV và bảo tôi nên lập trang cá nhân ở đấy để giao lưu cho vui. Thực lòng, tôi không mấy thích nên ừ à cho qua. Nhưng rồi, một hôm, Nguyễn Trọng Huân gọi điện bảo là đã nhờ một người biết IT lập trang cá nhân cho tôi rồi, địa chỉ mạng thế này, thế nọ. Tôi cảm ơn xã giao nhưng cũng chẳng buồn vào. Rồi ngày đầu thu 2009, khởi đầu mùa mưa miền Trung, tôi ngồi trong phòng làm việc nhìn mưa rơi tầm tã cả ngày, nhớ ngoài Bắc, bỗng nảy tứ thơ, lúc ấy mới chợt nhớ ra mình cũng có blog, bèn lần mò mở xem. Ở đấy, Nguyễn Trọng Huân đã chọn đăng liền mấy truyện ngắn của tôi  rồi. Cái duyên của tôi với blog như thế đó...
Nhưng còn cái duyên của tôi với nhà văn Nhật Tuấn thì sao ?
Đấy là nhờ BTV, kỹ thuật tin học hiện đại đã cho phép tôi lưu giữ dấu tích đầu tiên Nhật Tuấn vào đọc trang blog của tôi và để lại cảm nhận, ấy là lúc 18h33 ngày 01,3,2011. Đại khái, ông khen trang của tôi vui, bảo rằng là qua tôi mà biết Trần Đăng Khoa cũng có blog ở đây, rồi ông phán là trang của tôi, bình luận nghe xôm trò hơn văn chương, và hứa sẽ năng vào đọc. Điều này cho thấy, ông đã đọc nhiều bài biết của tôi trước đó và các cảm nhận cho mỗi bàn viết, nên mới đưa ra nhận định như vậy. Đặc biệt là trước đó, ngày 27.2.2011 tôi đăng bài giới thiệu một bài thơ ứng tác của Trần Đăng Khoa từ hồi 1975, khi chung đội tuyển Học sinh giỏi Văn lớp 10 (hệ 10/10) của tỉnh Hải Hưng (cũ) tham dự kỳ thi học sinh giỏi toàn miền Bắc, thì Nhật Tuấn mới thấy cần thiết phải xuất hiện (01.3,2911), tuy nhiên, ông tránh không sa vào việc tranh luận mà ông cho là vô bổ đối với mình. Số là, bài giới thiệu này của tôi có rất đông người đọc và ghi cảm nhận, tranh luận, khen chê búa xua. xung quanh việc bài thơ ứng tác này của Trần Đăng Khoa không tuân thủ luật bằng trắc của thơ Đường luật. Cứ thế, mọi người bàn qua bàn tới sôi nổi lắm, cho đến khi chính Trần Đăng Khoa cũng phải ngỏ lời này nọ, còn tôi thì lên tiếng thưa gửi cẩn trọng. Có lẽ vậy, nên Nhật Tuấn né việc tranh luận chăng? Bởi chỉ ít lâu sau, ông bộc lộ sự chán chường với thi ca hiện tại, trong những lời cảm nhận trang văn thơ của tôi, cùng như lời khuyên răn thẳng thắn, chân tình,...
Ở thời điểm này, khi vào cảm nhận ở trang của tôi, Trần Đăng Khoa và Nguyễn Trọng Huân cùng một số blogger khác, Nhật Tuấn không xuất đầu lộ diện, ông đều đứng dưới cái nick Người qua đường. Có cảm nhận ghi ở trang của tôi, ông lại chê sáng tác của người khác, tôi ái ngại việc này nên để cảm nhận ấy ở chế độ ẩn. Ngay lập tức, Người qua đường phản ứng, vì tưởng tôi xóa đi, bảo rằng, tôi có xóa thì vẫn cứ nói thẳng, rằng việc chê văn người này người nọ, cũng được ghi bên trang của họ rồi, nên không việc gì phải ngại, và nhắn rằng "Tôi không phải kẻ phá đám đâu. Rất yêu các ông". Thẳng thắn và chân tình như vậy đấy.
Dịp này, tôi có đăng liền 2 truyện ngắn của mình là Giải thoátNgười nổi tiếng, Trần Đăng Khoa đọc, khen chê này nọ, Người qua đường vào ghi "Ý kiến của Trần Đăng Khoa rất xác đáng. Rất tinh. Chỉ có vài chục chữ mà ra cả một vấn đề. Cậu này làm biên tập rất chuẩn. Thảo nào hắn luôn được mời làm giám khảo các cuộc thi văn chương từ trung ương đến địa phương....". Đọc cảm nhận này, tôi cảm thấy ngay vị khách này phải thuộc hàng cao thủ văn chương thì mới dám dùng lời lẽ vậy để nói về Trần Đăng Khoa. Và suy đoán này của tôi không sai, khi chỉ sau đó một ngày, vị khách này lại vào ghi cảm nhận, lúc 22h49 ngày 15.3,2911: "Quả thật từ ngày có Lão Khoa nhập hội, Quán lá Blog sinh động hẳn lên. Tôi cũng vì hay theo dõi lão này, nên theo chân lão vào đây và không ngờ lại thấy rất nhiều văn nhân tài tử. Nhiều tay bợm ra trò. Tôi uống rượu với Chu Nhạc hai lần. Một lần ngồi cùng bàn, một lần ngồi cách bàn, nhưng hồi đó tôi không chú ý đến Chu Nhạc lắm, vì trong chú rất thư sinh, và văn chương cũng mang đầy phong thái học trò. Bây giờ thì khác. Chu Nhạc đi được một bước xa đấy. Tôi không quan tâm lắm đến thơ Chu Nhạc đâu, đáy không phải thế mạnh của Chu Nhạc. Mà nhìn chung, thơ bây giờ đã mất vị thế. Trừ một vài người có tài. Số này ít lắm, còn toàn ca dao hò vè nhăng nhít. Đám truyền thống thì cũ mèm, lần thẩn. Đám cách tân thì bệnh hoạn. Đều hỏng cả. Thời chiến tranh, người ta dùng ca dao hò vè để hô hào, cổ động, động viên nên thơ còn có chỗ đứng. Bây giờ không cần hò lơ nữa nên thơ cũng mất độc tôn. Nhạc nên dồn tâm sức cho văn xuôi và phê bình. Thế mạnh của chú ở đó. Đừng phí sức vì thơ, để cho mấy anh vô công rồi nghề nó vầy nghịch. Vầy mãi tự họ sẽ chán, chứ người đọc chẳng quan tâm.". Tôi đọc rồi vừa mừng vừa lo. Mừng bởi vị khách này đã từng uống rượu với tôi đôi lần, vậy là người quen rồi. Còn lo, bởi vị khách này thẳng toẹt chê thơ của thiên hạ. Thế nào cũng sóng to gió lớn đây.
Quả nhiên, ngay lập tức, kế ngay cảm nhận của vị khách khó tính, liền mấy cảm nhận khác bày tỏ sự bực bội, khó chịu với nhận xét chung về thơ và người làm thơ ở xứ ta, theo sự đánh giá của Người qua dường. Không những thế, họ còn bực lây sang tôi, và có người còn thẳng thắn khuyên tôi, chớ có nhẹ dạ cả tin nghe theo cái nhận xét coi thường thi ca của vị khách nọ. Tôi lúng túng chưa biết xử trí ra sao, may thay, Trần Đăng Khoa cứu tôi bằng cách quăng cho tôi cái phao cứu sinh, ấy là danh tinh thật của vị khách khó tính này.
Trần Đăng Khoa đến uống trà với tôi, ngỏn ngoẻn cười duyên: "Đấy là nhà văn Nhật Tuấn, ông ấy bỏ Hà Nội vào Sài gòn sống rồi".
Chẳng là, Trần Đăng Khoa vốn được xem là con ma xó của văn chương đất này, lại thêm, lão ta là Trưởng ban Ban công tác hội của Hội Nhà văn Việt Nam khi ấy, nên cái gì trong làng văn Việt cũng biết cả. Nghe vậy, tôi à lên sung sướng, và liền có ngay lời kính thưa, để lọt tai Nhật Tuấn mà không mất lòng bạn bè, công chúng mạng: "Chủ nhà xin có mấy lời thưa cùng mọi người như thế này, mong tránh những hiểu lầm không cần thiết, vì có thể làm mất bầu không khí vui vẻ của Làng Blog Tiếng Việt,...Thứ nhất, blog là chỗ giao lưu vui vẻ, không phải là diễn đàn chính thức của hội này hội nọ, mà nó như một gia đình lớn vậy. Chính thế, khi trò chuyện giao lưu, tùy tính cách từng người và hoàn cảnh, nên lời nói cũng lúc căng, lúc trùng, lúc mặn lúc nhạt, thế thôi...Thứ hai, riêng về vị khách Người qua đường (NQĐ), gần đây có vào thăm nhà của Lão Khoa và Chu Nhạc tôi, với những lời góp ý thẳng thắn và chân tình về thơ văn của chúng tôi và nhìn chung diễn đàn văn chương hiện nay, về cơ bản không có gì sai ...nên hai chúng tôi rất tôn trọng ý kiến của bác ấy. Thêm nữa, về vị khách NQĐ, cả tôi, nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà văn Nguyễn Trọng Huân đều biết. Riêng tôi, đã uống rượu với bác ấy đôi lần rồi cơ mà... Tôi biết rõ bác ấy, vốn nhà một nhà văn chuyên nghiệp, xuất hiện trên văn đàn gần bốn mươi năm nay, có nhiều tác phẩm văn xuôi (tiểu thuyết và truyện ngắn) được giải cao, được dựng thành phim. Từ lâu nay, bác ấy luôn là niềm kính trọng của tôi (và cả với TĐK nữa). Chính vì thế, khi bác ấy vào nhà Khoa hay nhà tôi, đều đưa ra lời nhận xét thẳng tưng của một nhà văn lão làng với góc độ của nhà phê bình nghiêm ngặt, nên về phương diện cá nhân, tôi chấp nhận một cách vui vẻ, và xem như lời khuyên của một bậc huynh trưởng với em út. Còn như, nếu trong lời bàn với tôi (và Khoa nữa) có gì đó khiến mọi người chạnh lòng này nọ, thì cũng xem như là bác ấy chỉ nói với riêng tôi, và phần lỗi, là thuộc về Nguyễn Chu Nhạc tôi cả. Kính mong mọi người hiểu, và mong mọi người vẫn ghé thăm, trò chuyện vui vẻ như cũ. Gọi là có mấy lời trần tình. Kính.". Quả nhiên, lời trần tình của tôi có hiệu lực tức thì, bạn bè và người quên trên mạng vui vẻ bỏ qua, Xóm Lá (tên gọi thân mật của BTV) yên ổn trở lại...
Còn Nhật Tuấn, cũng thấy bùi tai, ông phúc đáp: "Cám ơn chú Chu Nhạc đã rất hiểu tôi. Tôi cảm nhận vào trang chú với chú Khoa, chú Huân cũng vì quý ba chú. Chứ tôi đọc Blog nhiều lắm. Những tiếng nói thật bây giờ, phần lớn ở Blog, nhưng vào rồi ra, không để lại một dấu vết nào, vì cũng không có gì để nói... Văn chương lại là chốn rất nghiêm túc. Chú có chút tài, nên tôi hy vọng chú thành một tác giả đích thực. Chỉ tiếc chú chưa thực sự ý thức về điều này, dù đã ra đến cả chục tập sách. Vì vậy, mà tôi nhắc chú thôi, nếu gặp chú thì tôi nói miệng, chẳng viết làm gì, Nhưng hiện tôi ở xa, mãi Thủ Đức, mà chú thì ở Hà Nội, thành thử mới phải nhắn qua bức thư ngỏ, với cái tên rất hiện đại là cảm nhận. Chúc chú thành công.". (lúc 08h48, ngày 17.3.2011).
Khi đã biết vị khách Người qua đường là nhà văn Nhật Tuấn, thì mọi sự với tôi đều sáng tỏ. Tôi nhớ lại, từ vài chục năm trước, khi tôi theo đòi nghiệp văn chương thơ phú, thì Nhật Tuấn đã vang danh rồi. Ngày ấy, nhờ truyện ngắn Trang 17 của ông mà tôi hiểu tại sao, tất cả các cuốn sách trong hệ thống thư viện nói chung, để ấn định bất kỳ một bản sách nào thuộc quyền sở hữu của thư viện nào đó, người ta lại đóng con dấu của thư viện đó vào chân trang sách số 17, đơn giản bởi trong kỹ thuật in sách, mỗi tay sách gồm 16 trang, nên trang số 17 là trang đầu của tay sách thứ 2 trong văn bản sách đó. Mặc nhiên, đấy là quy định chung của ngành thư viện trên khắp thế giới. Cũng chính vì vỡ nhẽ điều này, sau đó, tôi bắt chước, khắc một con dấu gỗ tên mình để đóng vào trang 17 toàn bộ sách trong thư viện mi-ni của mình. Ngay truyện vừa Con chim biết chọn hạt của Nhật Tuấn, ông cũng cho bạn đọc hiểu một việc mà rất ít người biết, ấy là sự ứng dụng mang tính sáng tạo của ngành thư viện, lưu trữ văn bản nước ta, trong việc sử dụng phiếu đục lỗ cho việc lưu trữ, tìm kiếm, tra cứu tài liệu văn bản tiện lợi dễ dàng hơn. Sau này, tin học phát triển, tôi nghĩ, phải chăng, việc sử dụng phiếu đục lỗ ngày đó, chính là một dạng ứng tin học đơn giản trong thực tế đời sống?
Và rồi, tôi cũng nhanh chóng biết được, Nhật Tuấn có người anh ruột là nhà văn hải ngoại Nhật Tiến, và việc này cũng ít nhiều gây phiền hà cho ông. Bạn bè văn chương cũng gửi cho tôi đọc những bài phê bình văn học của ông, với bút danh Trần Ngọc Lãng. Ở đó, ông thẳng tưng đánh giá sự nghiệp sáng tác, cùng mức độ đóng góp của một số tác gia thuộc hàng đầu làng văn chương xứ Việt thời hiện đại, cho sự phát triển chung của nền văn học nghệ thuật nước nhà. Đọc rồi, ngẫm nghĩ, so sánh này nọ, mới thấy cái dũng khí và năng lực phê bình ở ông không nhỏ chút nào,... Vậy nên, việc ông ghi cảm nhận này nọ trong Blog Tiếng Việt, vẫn một tâm thế và giọng điệu Trần Ngọc Lãng, thì chỉ như cái khẽ gảy móng tay của Nhật Tuấn mà thôi. Nghĩ thế, tôi thấy mình may mắn vì được ông đoái hoài, nhận xét và khuyên răn này nọ.
Và cũng mừng, mình đã đôi lần uống rượu với Nhật Tuấn. Nhớ lại, khi ấy nơi làm việc của tôi và nhà văn Nguyễn Hiếu, Nguyễn Trọng Huân ở 41-43-45 Bà Triệu, cũng gần nơi làm việc của Nhật Tuấn là Nhà xuất bản Văn học ở góc phố Hàng Bài-Trần Hưng Đạo, liền kề với Trụ sở Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam- 51 Trần Hưng Đạo. Tháng vài ba lần, ba anh em chúng tôi rủ nhau đi ăn cơm bụi buổi trưa, và quán cơm bình dân Anh Đào ở gần góc phố Hàng Bài-Hàm Long là nơi chúng tôi hay chọn ăn. Ở quán này, chúng tôi thường chạm mặt dân báo chí, văn chương Hà thành. Một lần, đang ăn ở đây thì Nguyễn Hiếu chợt nhận thấy Nhật Tuấn ngồi ăn cách một bàn, bèn mang chén rượu sang cụng ly với Nhật Tuấn và thực khách bên ấy, rồi Nguyễn Hiếu lôi Nhật Tuấn về bàn mình, giới thiệu ông với chúng tôi và ngược lại. Ấy là lần đầu tiên tôi giáp mặt Nhật Tuấn. Lần sau, cũng tại quán cơm đó, chúng tôi đến sau, thấy Nhật Tuấn và bạn ông đã ngồi ăn và Nguyễn Hiếu liền ghép vào chúng tôi vào chung một bàn. Cụng ly dăm bận, rượu vào lời ra, chuyện làng văn rôm rả. Tôi mạnh dạn thưa với nhà văn đàn anh rằng tôi đã đọc Trang 17 và Con chim biết chọn hạt, cùng một số truyện ngắn của ông trên báo chí. Ông lúc gật gù, lúc sảng khoái, bảo là có biết tên và cũng đã đọc mấy truyện ngắn và tản văn của tôi trên báo, này nọ khen chê đôi chút. Ngày ấy, tôi sung sức và chịu khó cày báo chí văn chương này nọ đặng kiếm nhuận bút thêm thắt nuôi con nhỏ, nên truyện và tản văn của tôi đăng khá đều trên các báo Văn Nghệ, Người Hà Nội, Hà Nội mới cuối tuần,Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, Pháp Luật cuối tháng... Lần gặp ấy, ông để lại trong tôi thiện cảm về tính bộc trực và sự gần gũi, thân thiện của nhà văn đàn anh. Vậy mà, bẵng đi dăm bảy năm, trong khi tôi không mấy nhớ, thì Nhật Tuấn vẫn nhớ và nhắc lại chi tiết. Thực lòng, tôi cảm thấy gì đó như có lỗi với ông...
Khi tôi đăng bài viết "Đào Chìm & nghệ thuật xây dựng không gian truyện" trên trang cá nhân, mọi người ào ào vào ghi cảm nhận, chủ yếu là khen bài viết tốt, trong đó có các cao thủ như PGS.TS Minh Tâm, một số nhà văn hải ngoại như Vũ Thư Hiên, Vũ Trọng Trường và đặc biệt Vũ Hoàng Địch (con của nhà thơ Vũ Hoàng Chương), Đại tá Trần Trọng Trí, vị cựu thuyền trưởng tàu HQ05-nguyên mẫu của chính trị viên Thuận trong Đảo Chìm, cùng các thùy thủ thuộc quyền một thời của ông và nhiều bạn đọc khác. Tựu chung, mọi người khen bài viết gọn gàng, súc tích, có sử dụng thi pháp khá nhuần nhuyễn, và quan trọng làm sáng tỏ và tôn trọng giá trị đích thực của tác phẩm này. Trần Đăng Khoa lấy đó làm vui, và đương nhiên, không thể thiếu nhận xét của Nhật Tuấn, ông viết: "Tôi cũng đã đọc Đảo chìm của Khoa, do ông Nguyễn Khải cho mượn. Đọc vì tò mò. Khoa viết chân dung văn học thì giỏi, nhưng văn xuôi chưa chắc, vì nó là một thể loại khác. Nhưng đọc thì giật mình. Quả đây là một cuốn sách độc đáo. Kể vui vui, như chơi, nhưng ý tứ thâm hậu. Cái ý ngầm Khoa muốn nói, bạn đọc cũng đã nhận ra. Tôi cũng rất nể mấy vị cảm nhận. Sâu sắc và am tưởng. Khoa hạnh phúc hơn rất nhiều người viết khác, trong đó có cả tôi là có bạn đọc và có người chia sẻ. Nhận xét của Chu Nhạc cũng rất mới, cũng là một phát hiện, mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng nhìn ra. Ngay rất nhiều lời bàn, trong đó có không ít ý kiến đặc sắc, nhưng cũng không phải ai cũng có sự phát hiện như Nhạc. Tiếc là viết vội, vì mới là cảm nhận, hứa hẹn đây sẽ là một tác phẩm phê bình hay. Tôi vẫn nói Nhạc dồn tâm lực trí tuệ cho văn xuôi và phê bình, vì chú có tài, dấn lên là có sự nghiệp đặc sắc đấy".
Thực lòng, tôi vui vì nhận xét của các bậc cao thủ văn chương, nhưng vui nhất là nhận xét của Nhật Tuấn, bời vượt qua sự nhận xét thông thường, ông còn chỉ ra những điểm mạnh yếu của tôi và có lời khuyên chân tình. Riêng về lời khuyên của Nhật Tuấn và các bậc đàn anh văn chương, đẩy bài viết này lên thành một nghiên cứu về thi pháp tiểu thuyết của Trần Đăng Khoa, thì tôi nghe làm vui thôi, bởi tự thân, tôi không có ý dấn thân vào lĩnh vực lý luận phê bình, mà xem đó như một thú rong chơi thôi. Thể loại yêu thích của tôi vẫn là truyện ngắn và tản văn...
Tôi đăng bài thơ Đón đợi, viết từ gần hai chục năm trước, Nhật Tuấn cảm nhận: "Chú Nhạc. Tôi không bàn về bài thơ này của chú đâu, dù trong đó cũng có đoạn được, thậm chí có thể gọi là hay, như cái đoạn đợi chờ, trời đất vắng hết, ngẩng lên chỉ còn mỗi vầng trăng thôi. Nhưng đó cũng vẫn là cái hay ở dạng nhàng nhàng.Tất nhiên thơ in trên báo Văn nghệ, trên tạp chí Nhà Văn, thậm chí trên cả một tạp chí chuyên biệt giành riêng cho thơ là tạp chí Thơ cũng chẳng hơn thơ chú đấu, nhiều bài còn thua xa thơ chú. Gần đây, nhà phê bình X, nhà văn Y cũng nhảy sang làm thơ là thế giới thi ca ngậu xị rồi... Có thể lảy thơ Ông Cụ : Nhà nhà làm thơ/ Người người làm thơ/ Vè nhất định thắng/ Thơ nhất định thua... Thế thì chú còn xông vào cái sa tràng bại trận "nhất định thua" đó làm gì. Tôi vẫn thấy chú rất mạnh ở mảng văn xuôi và phê bình. Bài nào cũng có một cái gì đó lấp lánh. Cái độ lấp lánh này mật độ không dày và không chuyên nghiệp như thằng Khoa, nhưng rất khá, và có điểm chú còn chói hơn  Khoa. Nhưng Khoa hơn chú vì nó chuyên tâm và có ý thức vì điều đó, vì thế, nó mới thành nó. Còn chú thì cho đến giờ phút này vẫn đếch thành cái gì cả. Tôi tiếc cho chú mà nhắc chú thôi, vì chú có tài. Tôi rất quý những thằng có tài, nên cứ nói. Đấy cũng có khi là bệnh của người già. (Tôi đã hơn 70 rồi). Mặc dù nói thế này, có thể những người hâm mộ chú thái quá có thể lại chửi tôi, nhưng vì quý chú mà tôi cứ nói. Hôm vừa rồi, tôi ra Hà Nội, có đến thăm chú và thằng Khoa, nhưng cả hai thằng đều đi vắng. Tôi có nhìn thấy cậu Huân, nhưng tôi không làm phiền cậu ấy. Từ ngày có chú và thằng Khoa tham gia Blog, nhất là khi có sự xuất hiện của Khoa, giới Blog rất sinh động và có sinh khí, hay hẳn. Thế mới lạ chứ. Khoa đưa ra trò độc, thiên hạ cũng chiềng ra toàn của độc, chất văn chương thì họ không bằng Khoa, nhưng tài có chỗ cũng không kém Khoa đâu. Nhiều chiêu độc ở cái Xóm lá này, đáng nể lắm. Tôi thực sự bái phục đấy.". (17.04.11@07:26).
Tôi mừng, vì Nhật Tuấn tuy vẫn tỏ ra khó chịu với thơ ca hiện nay, song ông cũng phải thừa nhận, nhiều người tham gia mạng Blog Tiếng Việt thực tài, khiến ông phải bái phục.
Tâm phục khẩu phục, song cẩn trọng không thừa, tôi phúc đáp: "Kính bác. Em luôn lắng nghe bác. Và có thể nói, tự thâm tâm, luôn mong đợi những lời góp ý của bác. Em thấy bác nói đúng (về em, về Khoa và nói chung văn học hiện nay) . Em cũng nghe Khoa nói về những bài viết của bác về văn học. Điều đó, càng khiến em nể trọng bác. Tuy nhiên, khi tham gia blog, ngoài chuyện văn chương, còn mang nhiều yếu tố giao du vui vẻ, cho nên "món ăn trên mâm cơm blog" cũng cần có nhiều món. Vả lại, với thơ, từ trước đến nay, em (và chắc nhiều người khác) cũng chỉ xem như sự giải tỏa thôi... Với riêng em, thơ chưa bao giờ là một sự nghiệp cả. Thế nên, việc có in tập hay không thì chỉ là chuyện "cả làng cùng vui". Thêm nữa, em tự biết mình, cái mạnh không phải là thơ, có chăng ít nhiều ở văn xuôi và phê bình, chân dung văn học... Hơn nữa, blog chưa phải là phản ánh đầy đủ mình, bởi nhiều cái đưa lên đây không tiện, bác ạ. Tiếc là hôm em và Khoa vào Sài Gòn, biết bác ở Thủ Đức, song không biết cụ thể ở đâu nên khó liên lạc, vả lại, bác cũng lại ra Hà Nội. Nếu có thể, bác cho em (hoặc Khoa) biết số điện thoại liên lạc, để khi có điều kiện thì alô đến thăm bác. Cả em và Khoa đều hay đi Sài gòn. Mong bác vào blog của em thường xuyên, và cứ nhận xét thẳng tưng. Em thích vậy, bác ạ. Xóm Lá này cũng rất đáng nể trọng và đáng yêu lắm đấy. Nhiều người có tài và có tâm, như bác thấy và đã nhận xét...".
Vậy là, tôi và nhà văn Nhật Tuấn đã hiểu nhau hơn, và có thể, mọi người trong Xóm Lá cũng thông cảm, mà không phản ứng thái quá với những nhận xét khó nghe của ông.
Ngày 27.4.2011, tôi đăng bài thơ Chiêm bao, Nhật Tuấn vào cảm nhận: "Chú Nhạc. Tôi vừa đọc một bài viết hay, rất cảm động bên chú Khoa, sang chú lại gặp chú vày thơ. Tôi định không đọc. Nhưng tò mò xem thế nào thì thấy hay. Đây là bài hay nhất của thơ chú mà tôi được đọc. Chú nên chữa một câu kết thì thành một bài thơ hoàn chỉnh. Chú thay chữ "ngỡ" thành chữ "thấy", khẳng định, và thay chữ "đâu" thành chữ "đang". Chiêm bao khi đang tỉnh mới tuyệt. "Tiếng động nào hiên ngoài chênh chao/ Sực tỉnh thấy mình đang chiêm bao...". Tuyệt vời chú Nhạc ạ." . (30.04.11@22:53)
Phải nói, tôi mừng, vì rốt cuộc, ông nhà văn kiêm nhà phê bình khó tính này, cũng phải buột miệng khen thơ. Ngay sau đó, Trần Đăng Khoa vào cuộc: "Đồng ý với đại ca, bài thơ lênh phênh chênh chao này là bài hay nhất của Nhạc. Hay vì nó lạ, giai điệu lạ, thoát khỏi cái thông thường. Bác tinh đấy, không phải chỉ trong văn xuôi mà cả thơ nữa. Mấy góp ý của bác rất chuẩn. Cao thủ. Tất nhiên ý Nhạc cũng như ý bác thôi, vẫn là chiêm bao trong lúc tỉnh, nhưng thay hai chữ, diễn đạt như bác thì câu thơ sáng hơn, cao thủ hơn. Nhưng ý thì vẫn là một. Nhạc viết bài này là ứng tác, nhân đọc một bài thơ của bạn rồi viết ngay một bài theo tư duy khác hẳn. Vì ứng tác, nên câu chữ không thể chuẩn ngay được. Trong bếp núc sáng tạo, nhiều khi rất thú vị như thế đấy. Viết đùa, viết chơi thì lại hay, thậm chí có những câu lóe sáng bất ngờ, còn cứ gò gẫm, có ý thức làm một tác phẩm để đời thì có khi tác phẩm lại hỏng, những con chữ còng queo chết ngay khi vừa nhô ra khỏi ngòi bút hay bàn phím. Thú vị thật!". (01.05.11@11:10).
Nhật Tuấn đang hăng, tiếp đã đàm luận văn chương: "@TĐK. Chú nói đúng. Trong sáng tạo, cần tự do. Tự do lớn nhất vẫn là tự do trước chính mình. Nhiều thi sĩ nổi tiếng, đùa hoặc ký tên nhắng thì rất hay, ký tên mình và cố gò gẫm theo kiểu "thôi - xao" thì dở ẹt. Chứ tự do không phải là chuyện o ép của chính quyền như một số anh cứ lu loa. Chả có thời nào bị bóp nghẹt và mất tự do như thời phong kiến, mà sao vẫn có Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương. Bây giờ thì tự do đấy, ai cấm ai đâu, viết xong là tự xuất bản, đưa lên Blog, đi toàn cầu, có cha còn tự dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, in song ngữ, cũng như cái cậu gì ấy tự phong thần đồng, mà sao vẫn không mọc mũi sủi tăm lên được. Tôi nghĩ thời này là thời rất hay. Không đổ lỗi cho ai được. Có tài thì sẽ nổi danh ngay" (01.05.11@21:51)
Cái hay, cái thích ở đây, là hai cao thủ Nhật Tuấn và Trần Đăng Khoa mượn cớ bài thơ Chiêm bao của tôi để bàn về lý luận thi ca nói chung, súc tích mà dể hiểu. Quan trọng nữa, Nhật Tuấn đã khảng khái đưa ra nhận định về tài năng văn chương, điểm chính yếu để làm nên tên tuổi tác phẩm-tác giả, chứ không vìn vào này nọ, hoặc đổ lỗi cho thời cuộc như nhiều nhà văn, nhà thơ khác. Thấm luận điểm này của Nhật Tuấn trong văn chương xứ ta, tôi lại nhớ đến cái truyện hài hước Giá không có ruồi của nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ là Azit Nê-xin...
Ngay sau đó, tôi chỉnh sửa bài thơ Chiêm bao theo như góp ý của Nhật Tuấn, nghĩ thế thôi, không ngờ ông vào xem và không quên động viên: "@Chú Nhạc. Đọc lại bài chỉnh của chú rồi. Chuẩn. Gửi cho báo Văn nghệ hoặc Tạp chí Thơ Hội Nhà văn nó in cho. Tôi cũng có đọc bài này của chú cho mấy thằng nghe rồi, chúng đều khen cả. Không có gì giống Bích Khê và Xuân Diệu cả, dù họ cũng làm thơ theo kiểu độc vận và dùng toàn âm bằng. Chú là một dạng khác hẳn. Tôi cũng đã vào đọc cái bài khơi nguồn cho chú. Nhưng thấy nó chẳng ra cái lý cố gì cả. Nhạt toẹt. Mừng chú". (01.05.11@21:39). Mặc dù chỉ là động viên cho phải phép, khi đàn em nghe lời mình, nhưng Nhật Tuấn vẫn không quên cài thêm ý kiến phê bình của mình về thơ ca nói chung. Có cảm giác, Nhật Tuấn đang ở vào thời kỳ sung mãn về lý luận, phê bình, nên mọi cảm quan của ông về lĩnh vực này tràn ứ, cứ muốn ứa ra mỗi khi ai đụng đến ông hay ông va quệt vào ai vậy?...
Bẵng đi một dạo, không thấy ông xuất hiện nơi Xóm Lá, cho đến khi tôi đăng bài thơ Mưa Ngâu, Trần Đăng Khoa ghi cảm nhận, khen: "Ai hiểu đời tư Chu Nhạc sẽ thấy bài thơ này rất hay. Mình tin một cô giáo mà Nhạc cứ lo em cóng lạnh đôi tay trên bục giảng khi mùa ngâu về ấy, chắc sẽ khóc khi đọc lại những trang kỷ niệm này. Có một vài chữ, mình tin ông vi tính sai, chứ một con cáo già trong văn chương như Chu Nhạc không thể ngớ ngẩn như vậy. Có mấy câu mình thích:"Nước mắt nở những chùm hoa ngâu/ thơm lặng thầm như ai nhớ thương nhau." Hay . "Mưa ngâu ướt lạnh cây vườn/ hoa ngâu thơm cả ngoài hiên trong nhà/ mà người thì vẫn mãi xa," (17.06.11@06:51). Dường như chưa thỏa mãn, Trần Đăng Khoa bồi tiếp: "@CN. Nói thêm một chút nữa. Hai câu này rất hay và rất tinh tế: "Nước mắt nở những chùm hoa ngâu/ thơm lặng thầm như ai nhớ thương nhau". Bốn câu cuối đổ lục bát cũng rất đắc địa. Trong và xót. Có lẽ vì tránh lặp chữ "thì" mà Nhạc dùng chữ "cho", nhưng chữ ấy lại quá quen. Có thể tránh chữ "thì" ở bên trên được không? "Mưa ngâu ướt lạnh cây vườn/ hoa ngâu thơm/ cả ngoài hiên trong nhà/ mà người vẫn mịt mù xa,/ đến khi bạc tóc thì ta gặp mình...". Rất hay Nhạc ạ. À báo cho bạn bè Xóm lá biết, Lão Chu Nhạc động rồ sắp ra một tập thơ khoảng 100 bài hay đến khủng khiếp. Nhiều chị em sẽ khóc như mưa. Lão Khoa đang đọc và viết tựa"- Trần Đăng Khoa tếu táo.
Thấy đừng chẳng đặng, Nhật Tuấn cảm nhận: "@TĐK. Chú Khoa rất tinh nghề. Bài thơ của Nhạc hay. Tôi rút lại ý kiến là Nhạc chỉ nên dồn sức cho văn xuôi. Chờ đọc tập thơ mới của chú ".
Mặc dù, tự thâm tâm, tôi chưa từng nghĩ, thơ là sự nghiệp trong nghề cầm bút của mình, song tôi yêu nó. Từ những ngày tập tọng làm thơ lúc còn đi học, là tôi noi theo, bắt chước Trần Đăng Khoa, nghĩ mình làm thơ cho vui, vì mơ ước của tôi khi ấy là nghề kiến trúc sư, đặng theo nghề của cha tôi. Song cuộc đời có những khúc ngoặt không ngờ tới, ấy là việc tôi thì không đõ và trường Kiến trúc, và sau đó theo học Đại học nông nghiệp. Những năm tháng lang bạt kỳ hồ ở miền Tây Nam bộ, thời gian rảnh rỗi, tôi viết báo nghiệp dư, đặng học nghề báo và gây chút tên tuổi với mong ước trở thành người làm báo chuyên nghiệp. Làm báo, tức là cầm bút, thế là chút mầm mống thi ca văn chương này từ thời đi học, ngỡ thui chột, bất ngờ sống lại, tươi mới và đầy khát vọng lớn thành cây. Lại thơ, lại truyện ngắn, bút ký, tản văn, hầu như tôi không nề hà và đều thử sức mình ở các thể loại. Khi đã trở thành người làm báo chuyên nghiệp, lại được làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), thì mầm cây văn chương trong tôi nhanh chóng bật lớn. Song hành với nghề làm báo, nghề chính kiếm cơm. đặng nuôi thân và gia đình, thì văn chương thơ phú là gia vị bổ trợ, cho mình rèn rũa ý tứ, câu chữ, tâm tính, là chỗ dựa tinh thần... Và rồi, văn chương nó ám vào mình lúc nào không biết, để thành nghiệp. Mà một khi đã thành nghiệp, thì có đánh đến chết cũng không từ bỏ được, còn hơn cả kẻ nghiện ma túy vậy!... Kim cổ đông tây, đã từng cho thấy, biết bao kẻ kiệt quệ về thân xác, ngẩn ngơ về tinh thần là vì văn chương thơ phú đó sao?!...
Vậy nên, tôi vui vì Nhật Tuấn đã rút lại lời khuyên tôi bỏ thơ, chỉ tập trung trí lực và văn xuôi và phê bình, không những thế, ông còn chờ mong tôi xuất bản thơ nữa kia. Tôi tin là Nhật Tuấn thật lòng, bởi đơn giản, tôi chỉ là chú em nhỏ của ông thôi, chẳng việc gì ông phải nói lấy lòng, trong khi, bằng khả năng phê bình sắc sảo và trực tính của mình, ông đã từng hạ bệ, nếu không muốn nói mạnh là lật nhào, nhiều tượng đài tên tuổi của làng văn chương đất Việt hiện đại là gì !?... Ngày ấy, khi làm việc tại Văn phòng phía Nam của Nhà xuất bản Văn học, Nhật Tuấn đã bày tỏ thái độ đồng tình với nhà thơ Xuân Sách khi xuất bản tập Chân dung nhà văn, mà ở đó, theo Nhật Tuấn, không chỉ là chân dung đơn thuần một cách hài hước, ấy là chân tướng của các vị...
Sau cảm nhận vào bài thơ Mưa ngâu, Nhật Tuấn mất tăm, không để lại dấu tích gì thêm trên trang cá nhân của tôi, nhưng theo Trần Đăng Khoa, thi thoảng ông vẫn vào ghi cảm nhận đâu đó trên trang Lão Khoa (tên trang cá nhân của nhà thơ Trần Đăng Khoa ở Blog Tiếng Việt). Tôi nghĩ, có thể Nhật Tuấn vẫn vào xem, nhưng thấy không cần thiết ý kiến ý cò gì thêm nữa, hoặc giả, ông chán chường với thứ mà ông cho là khen chê cho phải phép, lấy lòng nhau trên không gian ảo này rồi ?...
Bẵng đi, thảng tôi vẫn nhớ Nhật Tuấn và thèm được đọc những cảm nhận mang chất gây sự của ông, cho đến một hôm, vào đầu giờ làm việc một ngày thu tháng mười, Trần Đăng Khoa gõ của vào phòng làm việc của tôi, vừa bước vào, buồn buồn thông báo: "Nhạc à, Nhật Tuấn vừa mới mất...". Tôi lặng người đi. Tôi và Trần Đăng Khoa, chén trà trên tay mà chẳng biết tiếp câu chuyện thư thế nào. Tự dưng, ký ức về Nhật Tuấn ùa về. Ông mất đột ngột vì chứng viêm cấp hành tá tràng vào ngày mồng 6 tháng 10 năm 2015, và ngẫu nhiên, trùng với sinh nhật lần thứ 58 của tôi. Chuyện về Nhật Tuấn, chúng tôi nói về các sáng tác chính của ông, đặc biệt là loạt bài phê bình đánh giá lại một số tên tuổi văn chương Việt hiện đại,  và không quên nhắc chuyện ông từng quấy động Xóm Lá ngày nào. Trần Đăng Khoa bảo, với trọng trách, tình cảm cá nhân và lòng kính trọng dành cho Nhật Tuấn, sẽ bay vào Nam để cùng gia đình và Hội Nhà văn tổ chức tang lễ cho ông...
Giờ đây, lần giở từng trang mục của mình trên Blog Tiếng Việt, bao chuyện cũ sống lại, và trong đó, hình bóng của hai con người, chỉ là khách vãng lai trên các trang mục blog của tôi, ấy là đại tá Trần Trọng Trí, cựu thuyền trưởng tàu HQ05 Hải quân Trường Sa và nhà văn Nhật Tuấn là đậm nét nhất. Thâm tâm, tôi kính trọng và yêu quý hai con người này, dù người trước người sau, đã cùng vân du về cõi thiên thu...
Tôi đã viết chân dung đại tá Trần Trọng Trí (Người thơ tôi chưa từng gặp mặt-Tập chân dung Trời đất thu hay lòng ta thu-Nxb Dân trí 2016), và với riêng tôi, Trần Trọng Trí mãi là Người thơ của biển. Nay ký họa chân nhà văn Nhật Tuấn, như một sự tri ân với người đàn anh văn chương, với bậc đại ca (như cách gọi vui mà tôi từng thưa gửi với Nhật Tuấn), mặc dù, ông không cần và cũng chẳng biết điều đó. Với tôi, Nhật Tuấn xứng đáng là Con chim biết chọn hạt trong lĩnh vực phê bình văn học, như ý đồ ông đã định ra từ hơn ba mươi năm trước. Nhân đây, tôi có đôi điều thưa với đại ca Nhật Tuấn rằng,...
Thứ nhất, tôi vẫn sáng tác đều, các thể loại mà tôi thấy mình có thể, tuy nhiên, bới bản tính ngại quan hệ tiếp xúc này nọ, nên mặc dù có đến vài chục cuốn sách xuất bản, vẫn xem như chưa thành danh và sự nghiệp gì... Vậy nên chăng, đại ca ơi?
Thứ hai, chuyện xứ ta, nhà nhà làm thơ, người người làm thơ, âu cũng là một sự đặc biệt của xứ sở này, mà chẳng nơi đâu trên trái đất này có được... Chẳng hay lắm sao?! Với lại, người dân Việt mình yêu thơ, thích làm thơ là mang tính truyền thống đất chứ? Người làm thơ nói chung, đa phần, chẳng màng chuyện thành danh hay nên sự nghiệp gì, mà là để giải tỏa nỗi lòng, để giao lưu bạn bè, để dưỡng dục tinh thần mình, đặng trụ vững trên mảnh đất chiến tranh liên miên và đầy rẫy bất trắc... Thêm nữa, trong cái vườn thi ca toàn dân trăm hoa đua nở này, có nhiều loại hoa quý, hương sắc lạ, mà dễ gì giới văn thơ chuyên nghiệp có được, đại ca nhỉ?!...
 
Đăng nhập để trả lời
0
  1. Tủm tỉm Lê Đình Cánh ( III )  
 3. Tủm tỉm Lê Đình Cánh,
           Dẫu biết đến tên tuổi nhà thơ Lê Đình Cánh đã lâu, nhưng cho đến khi về đầu quân cho nhà Đài (VOV), tôi mới giáp mặt ông. Khi ấy, đơn vị biên tập của tôi ở chung, gần nơi làm việc của Ban Văn học nghệ thuật tại trụ sở 58 Quán Sứ. Tôi về Đài Tiếng nói Việt Nam từ mùa thu năm 1987, song phảI hàng năm sau, khi làm thân với nhà thơ Trương Hữu Lợi, tôi mới bén mảng đến Phòng Văn học thiếu nhi, mà lúc ấy, nhà thơ Lê Đình Cánh làm Trưởng phòng (còn Trương Hữu Lợi làm Phó trưởng phòng). Hồi đó, có thể nói, Ban Văn học nghệ thuật Đài TNVN, cùng với Báo Văn nghệ (Hội Nhà văn VN), Tạp chí Văn nghệ Quân độiTạp chí Văn học (Viện Văn học Việt Nam) tạo thành tứ trụ vững chắc cho cả nền văn học nước nhà. Vì thế, ai đó theo nghiệp văn chương, đều mơ ước được làm việc tại bốn cơ quan này. Với tôi, mới tập tọng văn chương thơ phú, tuy cùng cơ quan, nơi làm việc lại gần nhau là thế, nhưng đến khi theo nhà thơ Trương Hữu Lợi bước chân vào Phòng Văn học thiếu nhi, tôi vẫn khép nép lắm. Song ngay từ lần gặp đầu tiên, thái độ cởi mở và cách nói năng hóm hỉnh của Lê Đình Cánh, nhanh chóng làm tôi cảm thấy thoải mái, tự tin hơn. Tôi nhớ, lúc ấy, biết tên tôi, ông còn phân biệt tôi với Lê Cảnh Nhạc, người trùng tên, một cây bút trẻ về văn học thiếu nhi mới nổi. Ông còn bảo tôi, nếu có sáng tác gì về văn học thiếu nhi thì hãy đưa ông và anh chị em trong Phòng xem, đặng sử dụng phát sóng nếu đạt yêu cầu. Được lời như cởi tấm lòng, nên sau đó, tôi đã có một số tản văn, tạp bút, truyện ngắn cho thiếu nhi được phát sóng, để sau này, tôi đủ để tập hợp thành một tập sách có tên “Công cống mùa thu”, được NXB Kim Đồng ấn hành năm 1999.
          Đấy là những gì Lê Đình Cánh dành cho tôi từ buổi ban đầu. Sau này, khi tôi có nhiều truyện ngắn được đăng trên Báo Văn nghệ, Báo Người Hà Nội, Văn nghệ Tp.Hồ Chí Minh và một số báo khác, và cả khi tôi có vài ba tập truyện được xuất bản, thì với Lê Đình Cánh, ông vẫn xem tôi là một cây bút có nhiều sáng tác cho thiếu nhi. Ông khuyên tôi, dù có thế nào đi chăng nữa, cũng đừng quên, đừng bỏ viết cho thiếu nhi, bởi đây là đối tượng đặc biệt đáng cần văn học dẫn dắt, như cái cách sau này, nhà thơ Phạm Hổ-ông trùm của văn học thiếu nhi nước nhà đã khuyên nhủ tôi. Cũng chính nhà thơ Lê Đình Cánh đã lựa chọn, bảo lãnh giới thiệu và động viên tôi tham dự một Trại sáng tác văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Và nhờ tham gia Trại viết đó, tôi được gặp gỡ, làm quen với một số cây bút trong lĩnh vực này như Thai Sắc, Thái Vĩnh Linh, Hoài Khánh, Lê Minh Hoài và Phong Điệp khi đó còn rất trẻ... Hơn thế, tôi còn được tiếp xúc, được nghe nói chuyện, và trao đổi với các nhà văn mà tôi vốn kính nể là Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Phạm Hổ, v.v... Tôi đã viết về chuyện này trong chân dung văn học “Phạm Hổ, người thắp lửa”, nên không nhắc lại ở đây. Thành thật, tất cả những gì mà nhà thơ Lê Đình Cánh từng ưu ái dành cho tôi, ngày ấy, bây giờ, tự thâm tâm, tôi biết ơn ông về hết thẩy!...
          Như tôi đã định tính, ấy là cái sự “tủm tỉm” của nhà thơ Lê Đình Cánh. Có thể nói, Lê Đình Cánh là người lạc quan, và biết cách làm lạc quan cho người khác, kể cả trong văn chương lẫn cuộc sống thường ngày. Có cảm giác, với ông, trong công việc và đời sồng, chẳng có gì là khó khăn đến mức không thể làm nổ, việc khó đến mấy, rồi ra cũng có cách giải quyết của nó. Thế nên, không việc gì phải khổ sở, bi lụy cả. Tiếp xúc với ông và đọc văn thơ ông, người ta thấy, sự lạc quan thường trực nơi ông, qua cái cười tủm tỉm. Ngay cả trong khung cảnh thật vui, chung và riêng, chẳng mấy khi, nếu không muốn nói là chẳng bao giờ, thấy ông phá lên, cười ha hả, khoái trá... Lê Đình Cánh tư chất thông minh, bản thân học chuyên Vật lý, rồi tham gia cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, thạo tiếng Anh, thêm tu nghiệp báo chí, nên kiến văn phong phú, đa dạng. Trong công việc và cuộc sống, tự thân, ông là người cẩn trọng, chu đáo, nhưng với người khác lại dễ cảm thông, chia sẻ, nên chẳng bao giờ ông đao to búa lớn, mà giải quyết mọi việc đều nhẹ nhàng, tinh tế, dễ chịu... Người sao, văn vậy, cứ cảm giác như Lê Đình Cánh tủm tỉm cười trong mỗi bài thơ, câu thơ, câu văn, kể cả khi bài thơ, tản văn ấy thuộc gam buồn đi chăng nữa. Vậy thôi, song khó lắm thay. Người hóm hỉnh, hài hước như ông, trước hết là người thông minh, có phông văn hóa cao, và nữa, biết cách không quan trọng hóa vấn đề. Đàm luận hoặc chuyện phiếm với Lê Đình Cánh thật thích. Ông đọc nhiều, cộng thêm trí nhớ tuyệt vời, nên khi đàm thoại, ông có thể viện dẫn “thiên kinh vạn quyển”. Có cảm giác ông như một cái kho chứa đựng bao nhiêu thứ, khi cần thứ gì, cứ rút các ngăn kiến thức, vốn sống mà ra cả ... Lê Đình Cánh biệt tài về thiên văn địa lý, lịch sử và vốn văn hóa dân gian.  Cùng với đí, chịu đi và đi nhiều, chịu khó tìm tòi từ cuộc sống, nên ông rất thực tế, chứ không phải chỉ sách vớ lý thuyết suông. Ông có thể kể vanh vách quy trình này, cách thức nọ để tạo nên, làm ra các thứ... Ông có thể khiến người đối thoại với mình từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác về sự am tường của ông. Tôi cứ rẩm riu nghĩ, Lê Đình Cánh vốn cùng quê với Cống Quỳnh (người được đồng hóa, gán với  nhân vật Trạng Quỳnh trong giai thoại dân gian), nên cảm giác, ông phảng chất Trạng Quỳnh trong người. Đặc biệt, Lê Đình Cánh khi đàm thoại, ông hùng biện một cách hóm hỉnh, lập luận một cách minh triết, ứng biến linh hoạt, diễn đạt mạch lạc, đầy sức lôi cuốn và có tính thuyết phục cao. Ấy vậy, một khi đã đàm thoại cùng Lê Đình Cánh, thật khó mà dứt ra được ... Người ta bảo, thường ở đời, được cái này thì hỏng cái kia, và hình như trong văn chương cùng vậy; từng thấy nhiều người nói năng thì ậm ừ song khi viết lại đầy ma lực, lại có người, tài nói năng khư khướu nhưng viết ra thì nhạt toẹt,... Riêng với Lê Đình Cánh thì được cả đôi, ông đã mang được cái duyên nói năng ngoài đời vào văn thơ của mình...
          Vào một sáng cuối tuần cuối xuân Đinh Dậu, tôi đến thăm ông, tại nhà riêng ở số 168 Đường Trường Chinh, Hà Nội. Từ nhiều năm nay, gia đình ông sống tại biệt thự kiến trúc Pháp cổ này, ngôi nhà do Nhà nước cấp cho ông nhạc (bố vợ) Lê Đình Cánh, đại tá Đặng Tính, một sĩ quan cao cấp của Quân đội, huyền thoại một thời gắn với Đường Trường Sơn, của cuộc chiến tranh chống Mỹ giải phóng dân tộc thống nhất non sông ngày nào. Vài ba năm nay, gặp lại, thấy ông gày đi và tuổi tác thêm một chút, song vẻ tinh anh trong ánh mắt nhìn, cùng nụ cười nửa miệng thì vẫn đấy....
          Sau những xã giao thông thường, bập vào chuyện văn chương, thời thế, lại thấy ngay một Lê Đình Cánh ngày nào, như khi ông còn làm việc sung sức. Và cũng ngay đó, tôi như lạc vào mê trận mà ông giăng mắc trong những câu chuyện đời sống xã hội và văn chương, giữa hiện thực và hoài niệm, giữa cái chung và cái riêng, giữa tôi và ông, và... Trí nhớ ông vẫn tốt, minh mẫn và khúc chiết, cảm giác như ông chẳng quên một thứ gì. Quan sát cách bài trí, nhìn ngắm những bức thư pháp đẹp do nhà thư pháp Lê Xuân Hòa, vốn đồng hương, đồng họ, thủ bút tặng ông, rồi đó là chiếc xe đạp hiệu Pha-vô-rít, chiếc xe máy Honda DD đỏ ngày nào ông dùng để đi làm, được xếp gọn gàng phủ bụi thời gian để chung nơi cất giữ các vật lưu niệm khác từ thời là người của nhà Đài (VOV), cho thấy, ông vẫn đang sống với quá khứ. Còn hiện tại, ở tuổi 76, ông sống chung với các con. Thêm nữa, những phương tiện hiện đại như truyền hình cáp, vi tính nối mạng đã giúp ông cập nhật thế giới hàng ngày.
Chuyện trò, vẫn thấy ở ông vẻ hóm hỉnh xưa. Biết là, mấy năm gần đây, dần tuổi cao, bệnh tật, thêm nỗi ưu tư, cùng những lo lắng về sự biến động ngoài xã hội, có lạc quan đến mấy thì cũng là sự gắng gỏi tinh thần thôi. Phảng phất đâu đó trong cái nhìn xa xôi và nụ cười mỉm, cảm nhận nơi thẳm sâu tâm can ông, nỗi buồn ẩn chứa, ý thức trách nhiệm với văn chương, với gia đình, với cuộc đời này !...
Ra về, tự nhủ lòng, mình sẽ viết về ông sao đây ?...
 
Đăng nhập để trả lời
0
Quang Dũng & bản hùng ca Tây Tiến,
      Quang Dũng, là một nhà thơ xuất sắc của nền thi ca Việt Nam hiện đại, tôi nghĩ vậy. Có thể, ai đó không đồng tình, đương nhiên, mỗi người có cái quyền đánh giá của riêng mình, song tôi tin, với phần lớn người yêu văn thơ ở xứ sở này, thì Quang Dũng, chỉ với bài thơ Tây Tiên, ông đã xứng đáng là nhà thơ xuất sắc của nền thi ca Việt Nam hiện đại rồi…
Song Quang Dũng không phải là nhà thơ dạng “một bài” mà thành danh như vài ba nhà thơ khác cùng thế hệ với ông. Cùng với Tây Tiến, ông còn có Đôi mắt người Sơn Tây, Mây đầu ô, Đường trăng, Bố Hạ, Đêm Bạch hạc …
Cho dù, Quang Dũng còn sống đến mài sau này (ông mất năm 1988), nhưng tôi không có duyên gặp gỡ, mặc dù khi đó, tôi đã trưởng thành và là người yêu văn chương. Rất đơn giản, ngày ấy, các nhà thơ nhà văn, là của hiếm, là những cao nhân, được cã xã hội coi trọng, nên không phải cứ muốn là gặp được. Vậy nên, những người như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận. Chế Lan Viên, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài và Quang Dũng… đều được kể lại qua người này kẻ nọ, được thêu dệt, “giai thoại hóa” như những huyền thoại sống vậy…
Phải  đến khi, tôi đã thành một cây bút trẻ, đã có vài ba tập sách được xuất bản, và khi ấy, bầu không khí báo chí văn chương khá cởi mở, thì mọi người mới được biết những câu chuyện đằng sau, những chuyện bếp búc, thậm chí những chuyện mà trước đây được xem là cấm kỵ, là “thâm cung bí sử” của Làng Văn Việt được công bố trên báo chí, thì người ta mới “à ra thế”, mới vỡ lẽ, rằng…Và Quang Dũng, là một người như vậy…
Chuyện kể rằng, hồi tham gia Đoàn quân Tây Tiến và làm cán bộ tuyên huấn, Quang Dũng hào hoa lắm. Trai ven đô, được học hành tử tế, có trình độ học vấn, giỏi chữ Hán (có thông tin là học trường sĩ quan Hoàng Phố, chẳng rõ thực hư) và biết tiếng Pháp, thêm tài thơ phú là oách lắm, cùng đó, dáng người to cao, nên phong độ hào hoa là phải thôi. Không những được thuộc cấp nể phục, đi đến đâu cũng được bà con, nhất là phái nữ địa phương quý mến, ngưỡng mộ…
Cũng lại chuyện kể, giai thoại rằng, dạo ông công tác ở địa bàn Thanh Hoa (có lẽ thời gian ông làm cán bộ tuyên huấn, và văn nghệ Liên khu III), mỗi khi đi công tác đâu, Quang Dũng diện quân phục chỉn chu, cưỡi trên lung ngựa, trông oai hùng lắm. Thế nhưng, dáng vè hào hoa phong nhã đó, là một lợi thế, song cũng đem lại cho ông không ít phiền toái, ấy là sự ghen ghét đố kỵ của một số người, ngay cả những chiến hữu, đồng đội của mình. Gì chứ, tai tiếng phong cách tiểu tư sản là cái chắc, nhất là với ông, vốn chân thực, không quen thói quanh co biện hộ. .
Còn về đời sống, nhất là quãng thời gian dài, Quang Dũng chịu án Nhân Văn Giai Phẩm, và làm biên tập viên của Báo Văn nghệ, rồi Nhà xuất bản Văn học, cả thời gian ông nghỉ hưu của thời chiến tranh và bao cấp, có rất nhiều câu chuyện và giai thoại về ông. Tôi đọc được đâu đó khá nhiều câu chuyện, nhưng nhớ và ám ảnh hơn cả là chuyện ông thường xuyên quét lá khô trong công viên Thống Nhất về đun nấu;  là chuyện ăn cơm nhai kỹ vừa thấy ngon và đỡ tốn gạo; và câu chuyện ứa nước mắt, ấy là khi được một ai đó mời ăn quà xôi ở một hàng xôi ngon nổi tiếng Hà thành, ông giữ lễ ăn cầm chừng mặc dù vốn ăn khỏe và vẫn thèm ăn nữa… Ôi, thật chẳng biết nói gì nữa, chỉ thấy thương cảm và ái ngại cho một người như tài năng và hào hoa như ông…
Đọc tác phẩm của Quang Dũng, chưa từng gặp mặt, và nghe kể, cùng xem nhiều giai thoại về ông. nhưng giờ đây, tất cả những gì tôi biết về ông, bỗng sống dậy, hiển hiện mồn một trong tôi, khi tôi đến thăm Khu di tích về Trung đoàn Tây Tiến được khánh thành vài năm nay tại Thị trấn Mộc Châu (Sơn La),… Ở đó, trưng bày khá nhiều hiện vật, tài liệu, hình ảnh về Binh đoàn Tây Tiến, song đậm nét hơn cả là những gì liên quan đến Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến của ông. Bức tượng bán thân nhà thơ  Quang Dũng trong phục quân đội, áo trấn thủ, đầu mũ ca-nô đội lệch, nên dáng vẻ người chiến sĩ oai hùng pha chút hào hoa lãng tử. Ngắm nhìn bức tượng, ngẫm thấy đúng chất con người nhà thơ-chiến sĩ Quang Dũng- cái cá thể-lại đúng chất người chiến sĩ của Binh đoàn Tây Tiến thực tế ngày đó,- cái nét chung,- ấy là những chiến sĩ vốn là các chàng trai Hà Nội hào hoa, kiến thức, sẵn sàng lên đường bất chấp hiểm nguy… 
Chất Quang Dũng-Tây Tiến còn thể hiện ở kết cấu của Khu di tích Tây Tiến, đó chính là bài thơ,vốn mang tính chất và hơi thở của Tây Tiến, vừa thể hiện quá trình hoạt động của Binh đoàn, thế nên, người thiết kế đã có ý tưởng lấy thơ ra để mô hình hóa công trình này… Thật tài tình thay, là sự hòa quyện tuyệt vời giữa các yếu tố: Người-Thơ-Ý tưởng-Công trình, là một. Vậy nên, từ phòng trưng bày, bước ra không gian tưởng niệm, mỗi bước, mỗi ngẫm nghĩ, thấy hiện lên mồn một từng câu thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Càng thấy được ý tưởng và sự hợp lý, khi nước chân vào Khu di tích, thoạt đầu nghe hướng dẫn viên đọc bài thơ Tây Tiến, tiếp đó là phong trưng bày với điểm nhấn là tượng nhà thơ Quang Dũng với văn bản bài thơ của ông, ấy là cái cách làm cho khách tham quan thức dậy cảm xúc về Tây Tiến trong lòng trước khi hòa mình vào không gian trải ra của bài thơ Tây Tiến được mô hình hóa thành cảm quan chung của khu tưởng niệm, và rồi để lắng lại vào tâm khảm về một quá khứ hào hùng…
Tôi đã cảm nhận về Binh đoàn Tây Tiến và nhà thơ Quang Dũng, cùng những đồng đội của ông ngày ấy, được hình tượng hóa trong bài thơ xưa và không gian di tích, tưởng niệm hôm nay… 
Chắc chắn, bài thơ Tây Tiến về Binh đoàn Tây Tiến bi hùng,”đoàn quân không mọc tóc” ngày ấy, sẽ còn sống mãi, và như vậy, tác giả bài thơ đó, một trong số những bài thơ hay nhất của nền thi ca hiện đại Việt Nam, nhà thơ Quang Dũng, cùng những bài thơ khác của ông, cũng sẽ sống trong lòng nhân gian…
 
Và như vậy, người đời sẽ kể tiếp thành huyền thoại về nhà thơ Quang Dũng và thơ ca của ông!... 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Người rong chơi cùng văn chương,
 1. Khai mở
Đấy là Nguyễn Xuân Sinh, bút danh trên các mạng xã hội (Blog Tiếng Việt và Facebook) là Việt An, Nguyễn Việt An, và đây cũng là tên doanh nghiệp gia đình của anh. Việt An, quê ở Yên Phụ, Kinh Môn, Hải Dương, là anh cả trong một gia đình đông con, có bố là giáo viên. Hiện gia đình Việt An sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
Ở xứ ta, người yêu văn chương, thơ phú nhiều vô kể, thậm chí, nói theo một cách của một nhà phê bình văn học "Nhà nhà làm thơ/ người người làm thơ/ vè nhất định thắng...", song với Việt An thì lại khác. Chí ít, từ cái xuất xứ văn chương của anh. 
Ngày học phổ thông, Việt An là người học giỏi toàn diện, vì có bố là giáo viên, nên anh được rèn rũa khá kỹ, học hành nền nếp, nghiêm chình. Song môn Văn học trội hơn, nên được nhà trường chọn đi thi học sinh giỏi môn học này năm lớp 10 (hệ 10/10), và trúng tuyển vào Đội tuyển học sinh giỏi của tỉnh Hải Hưng (cũ) niên khóa 1974-1975, để dự kỳ thi giỏi môn Văn toàn miền Bắc (khi ấy chưa giải phòng niền Nam thống nhất đất nước). Đổi tuyển được tập trung về Trường cấp 3 Hồng Quang (thị xã Hải Dương) để bồi dường môn Văn, chừng 2 tháng, trong số đó có nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa, Trịnh Bá Ninh (sau này là Phó tổng biên tập Báo Nông nghiệp Việt Nam), tôi (Nguyễn Chu Nhạc) và Việt An... Ngày ấy, bồi dưỡng chúng tôi, Ty giáo dục Hải Hưng đã lựa chọn một số giáo viên được xem là giáo viên giỏi môn Văn từ các trường cấp 3 trong tỉnh. Cùng với môn Văn, chúng tôi vẫn phải học các môn khác, đặng theo kịp chương trình học, còn thi tốt nghiệp phô thông nữa. Già nửa số thành viên trong đội tuyển (có tôi, Trịnh Bá Ninh, Việt An...) học tốt cả Toán Lý, nên thời gian rảnh rồi, nhóm này hay mang những bài toán khó (sưu tầm được, hoặc lấy từ Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ) thách đố nhau, hoặc chụm đầu cùng giải. Việt An thuộc diện khá thông minh trong cách giải toán...
Thế rồi, kỳ thi giỏi văn toàn miền Bắc năm ấy, Đội tuyển Hải Hưng không ai được giải, kể cả Trần Đăng Khoa, lý do, đề ra mở, khiến mọi người lúng túng không biết chọn thể loại nào để làm bài. Nhưng chưa hết, khi thi vào đại học, không một ai trong chúng tôi chọn chuyên ngành Tổng hợp Văn, hay Sư phạm Văn cả, mà phần lớn là ngành kỹ thuật (Xây dựng, Bách khoa), Sư phạm Toán, Ngoại giao, Ngoại thương... Tôi và Trịnh Bá Ninh học Đại học Nông nghiệp, Việt An học cơ điện, riêng Trần Đăng Khoa nhập ngũ rồi học Trường sĩ quan lục quân... 
Trần Đăng Khoa vào bộ đội, tham gia huấn luyện và đi học trường sĩ quan lục quân, rồi đi chiến trường Campuchia theo quân tình nguyện Việt Nam giải phóng Phnompenh, lật đổ chế độ Khmer Đỏ tàn bạo, sau lại về Bộ Tư lệnh Hải Quân ra Trường Sa, trước khi về Hà Nội học ngoại ngữ để sang Liên Xô (cũ) học khoa Sáng tác ở Đại học Gorky. Dù ở đâu, thì Trần Đăng Khoa cũng vẫn là đi thực tế để sáng tác, và như vậy, gắn liền với môi trường văn chương.
Trịnh Bá Ninh theo nghề làm báo chuyên nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp đại học, khi được nhận về làm phóng viên Báo Nông nghiệp. Đây là điều kiện, để anh sớm có vài bài bút ký được trao giải thưởng của một số cơ quan báo chí tổ chức thi thể loại bút ký. Cùng với bút ký là sở trường, Trịnh Bá Ninh thi thoảng làm thơ, những không cho đăng ở đâu, chỉ đọc chơi lúc cao hứng trà dư tửu hậu. Thơ anh giàu chất suy tưởng. Quan trọng, Trịnh Bá Ninh nhanh chóng được đề bạt chức danh Phó tổng biên tập, chuyên về nội dung, từ khi còn khá trẻ, và có thể nói, anh là một người làm báo giỏi...
Còn Việt An, học ngành điện, vào bộ đội và làm việc đúng với sở học của mình, ấy là chuyên về điện thuộc đại đội doanh trại sân bay quân sự ở Tân Sơn Nhất. Vậy thì dính dáng gì đến văn chương, khi nói anh là người rong chơi cùng văn chương ?
Hãy nghe anh tự bạch:
 
Việt An không cửa không nhà
Có người vui miệng gọi là “Việt gian”
Tuổi thơ nghèo khó, cơ hàn
Lớn lên đốc chứng dở gàn, dở ương
 
Quê nhà ở tận Hải Dương
Hà Nội đi xuống theo đường số 5
Nghề nghiệp đúng trăm phần trăm
Là nghề “điên nặng” hỏi thăm biết liền
 
Xấu trai, mốc cả mặt tiền
May trời chiếu cố, vợ hiền con ngoan
Tuổi đời Mậu Tuất không oan
Khôn đâu chẳng thấy, thấy toàn…dở hơi
 
Buồn vui một chút với đời
Câu thơ tếu táo nói lời tâm can !
 
2. Trần tình,
Sau khi đọc bài tản văn của tôi Thời gian không trở lại, đăng trên blogtiengviet.net, Việt An đã trần tình:
Các bạn của tôi ơi , thời gian không bao giờ trở lại . Chỉ có ký ức là ở lại và mãi tươi nguyên. Vậy thì, sự tiếc nuối hẳn không vô ích, khi mà, Gió đã mang đi ngày hôm qua ?!...”(Nguyễn Chu Nhạc)
          Đúng vậy ! Thời gian không bao giờ trở lại, chỉ có ký ức là mãi tươi nguyên. Thế hệ chúng tôi sinh ra và lớn lên vào thời gian khó. Bây giờ kể lại, lớp trẻ sẽ cảm thấy như nghe như chuyện cổ tích. Hình như một thời gian khó, làm người ta yêu quí nhau, và nhớ nhau nhiều hơn thì phải ? Văn chương là cơ duyên, giúp cho chúng tôi trở thành bạn học của nhau, dù mỗi người ở mỗi huyện, rải rác khắp tỉnh Hải Hưng cũ. Vào đời, tôi chọn cho mình con đường đi không còn bóng dáng văn chương. Đã mấy chục năm, tôi gần như không còn đọc các tác phẩm văn học. Cuối năm 2008, tình cờ khi lướt web, tôi đặt chân đến làng Blogtiengviệt. Nơi tôi ghé thăm đầu tiên là blog của Phạm Tâm An. Văn chương với tôi bây giờ, thực sự chỉ là những thoáng dạo chơi. Tôi viết cảm nhận tếu táo, với vài bài mang tính giao lưu. Việc đó mang lại cho tôi những người bạn mới, và cả những niềm vui nho nhỏ.
           Tình cờ khi giao lưu blog, tôi gặp lại bạn tôi- nhà báo Nguyễn Chu Nhạc. Nhưng, người làm tôi hiện diện trước cộng đồng, lại là nhà báo Nguyễn Trọng Huân (người mà tôi cảm mến qua những bài viết của anh), khi anh đã hơn một lần công khai nhắn tìm tôi trên blog, như “tìm trẻ lạc”. Thế giới ảo xa mà gần. Đó là duyên cớ để tôi xuất hiện ở bài viết này của Nguyễn Chu Nhạc. Những năm tuổi trẻ, có lẽ tôi và Chu Nhạc khá long đong. Một chút sai lầm, đã làm việc học hành của tôi bị chia làm 2 khúc, trước khi có được mảnh bằng đại học. Chu Nhạc có thuận hơn, nhưng ra trường lại đi xa biệt, mãi vùng biên giới của tỉnh An giang. Lúc đó tôi đang trong quân ngũ. Muốn vào khu vực đóng quân phải đi qua ít nhất 2 trạm gác được kiểm soát khắt khe. Thật sự chúng tôi ít có dịp gặp nhau... kỷ niệm về những năm tháng đã qua, vẫn còn nguyên vẹn.
Năm 2004, tôi ra Hà Nội, đến nhà Trịnh Bá Ninh (hiện là Phó tổng biên tập  Báo Nông nghiệp Việt Nam). Ninh nhấc máy điện thoại thông báo cho các bạn, rồi quay sang nói với tôi: “Bây giờ không còn thiếu thốn gì, nhưng tóm được thằng bạn đến nhà nhậu cũng khó, vì ai cũng bận việc”. Ngoài trời rét đậm. Mưa nặng hạt. Nhìn các bạn khoác áo mưa, đi cả chục km đến, tôi xúc động chẳng biết nói gì. Hôm sau, chúng tôi tụ họp tại nhà hàng Rambo, đường Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội. Đang vui, bỗng nhà thơ Trần Đăng Khoa trầm ngâm: “Kinh thật ! Ba mươi năm rồi đấy!" Vâng, chính xác lúc đó là 29 năm, kể từ khi chúng tôi rời ghế nhà trường phổ thông. Đến giờ (năm 2010) là 35 năm rồi ! 35 năm, mà như mới hôm qua.         Nhớ lúc Nguyễn Chu Nhạc xin được việc ở Đài TNVN, Trịnh Bá Ninh hấp háy bảo tôi : “Thấy anh Nhạc về đài, các bà chưa chồng ngoài 40 mừng lắm ! Bà nào cũng nhủ thầm, khéo lần này đến lượt mình !??” Dù rằng lúc đó Chu Nhạc mới chỉ 30 tuổi. Dân văn chương vốn hóm hỉnh. Có vô vàn câu chuyện chọc ghẹo nhau tương tự.
         Lại nhớ, Trịnh Bá Ninh là người lấy vợ sớm hơn cả. Hai vợ chồng Ninh ở một phòng chỉ rộng 9m2, trên tầng 2, do Báo Nông Nghiệp cho mượn, hay cấp chẳng rõ. Khi tôi đến, Ninh ngồi giữa nhà, với tay lôi ra 1 bao lạc củ, miệng nói: “Quà “hối lộ” của nông trường , của hợp tác xã nông nghiệp đấy, ông ạ”! Chúng tôi ngồi bóc lạc để rang. Lại với tay, Ninh lôi từ gầm giường ra 1 cái bếp dầu, 1 can rượu trắng cùng mấy cái chén nhỏ, rồi nói: “Ở nhà chật, sướng thế đấy. Mình ngồi giữa nhà, mà “điều hành” được mọi việc” !? Căn phòng nhỏ của vợ chồng nhà báo Trịnh Bá Ninh, là kỷ niệm đáng nhớ một thời của không ít bạn bè, trong đó có Nguyễn Chu Nhạc. Nhạc và vài người bạn nữa, từng lưu trú tại căn phòng đó nhiều ngày, trước khi xin được việc làm. Tôi cứ thắc mắc, không biết tay Ninh “sáng tác” vào lúc “quái” nào, trong khi mấy thằng bạn chưa vợ “nằm phục” ngay cạnh giường ? Vậy mà “hắn” vẫn “sáng tác” được mới lạ !? Tác phẩm đầu tay là cậu con trai khôi ngô, tuấn tú, hiện đang làm luận án Tiến sĩ tại Mỹ. Trong hoàn cảnh khó khăn lúc ấy, tôi thật sự cảm phục tấm lòng của Mai (vợ anh Ninh), đối với mấy ông bạn “nửa văn thơ, nửa báo chí” của chồng.
          Lại nhớ thời đi học “miếng cháy to hơn điểm 10”. Nhớ thời đạp xe đạp tìm đến thăm nhau, khi Nguyễn Chu Nhạc và Trịnh Bá Ninh còn học ở trường Đại học Nông Nghiệp I. Mỗi sáng dậy, chen nhau hứng nước đánh răng. Bao nhiêu con người xúm vào cái vòi nước chảy như thằn lắn đái. Câu “Nhất bát, nhì ca, thứ ba cà mèn” xuất phát từ đây.
Lại nhớ bài thơ đầu tay “Núi Đôi buổi sớm” của Nguyễn Chu Nhạc, đăng trên báo Văn nghệ, khi anh còn là sinh viên, được lấy cảm hứng từ chuyến đi cùng Ninh, đến vùng Núi Đôi thăm tôi…Lại nhớ, những lá thư viết bằng giấy học trò của bạn bè, với những bao thư tự chế…
          Có vô vàn điều để nhớ…đã giúp chúng tôi luôn nhớ và biết sống một cách cố gắng. Tôi vui và tự hào về các bạn của mình. Thay cho lời cảm ơn, một lần nữa, tôi xin mượn lời của Nguyễn Chu Nhạc để kết lại cảm nhận này: “Các bạn của tôi ơi , thời gian không bao giờ trở lại . Chỉ có ký ức là ở lại và mãi tươi nguyên. Vậy thì, sự tiếc nuối hẳn không vô ích, khi mà, Gió đã mang đi ngày hôm qua ?!...”(Nguyễn Chu Nhạc)"...
 
3. Đối thoại văn chương,
          Ngày ấy, liền dăm năm (2009-2013), Blog Tiếng Việt (BTV) hưng thịnh lắm, bởi xứ ta chưa biết đến facebook, vả lại, BTV với cấu trúc, tính năng của mình rất phù hợp với văn chương thơ phú, tính tương tác lại cao, nên dân văn chương chữ nghĩa biết chút vi tính (IT) đều lập trang riêng ở đây. Việt An mầy mò vào đây đọc bài trước cả tôi. Tuy nhiên, Việt An chủ trương không lập trang riêng mà chỉ vào đọc bài và ghi cảm nhận khi thích với tư cách là bạn đọc. Anh không muốn phụ thuộc, bởi nếu là blogger thì phải thường xuyên đăng bài, rồi trả lời cảm nhận của người khác khi họ vào trang của mình, và cũng phải sang trang nhà họ chào hỏi cho phải phép. Đại khái, khá mất thời giờ và phiền hà, đấy là chưa kể "tai nạn" vì phát ngôn không khéo làm phật lòng người. Thích rong chơi với văn chương mà lại không muốn "chịu trách nhiệm", Việt An khôn ngoan chọn vai làm khách (bạn đọc). Trang cá nhân ở BTV thì ngàn vạn, nhưng Việt An thường chỉ vào đọc một số trang cá nhân của người quen, bạn bè mà anh quan tâm, quý mền như: nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà văn Nguyễn Trọng Huân, nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền (thân sinh nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến), nhà thơ Chử Thu Hằng, nhà thơ Trương Hữu Lợi, nhà văn Nguyễn Cao Thâm, nhà văn Lưu Quốc Hòa, nhà thơ Trần Hồng Giang ... và một số cây bút khác như Phạm Tâm An, Phạm Thu Hà, Phạm Huy Việt, Phan Bích Thủy, Nhược Mộng, Vũ Trọng Hoài, Nguyễn Tùng Quân, Văn Lâm An, Hoa Yến Lan, Thoại Lê v.v... Riêng với tôi, bạn học cũ và thân nhau nên Việt An hầu như không bỏ sót bài nào. Và một khi để lại bút tích, Việt An thấu đáo, sắc sảo lắm, chứ không phải khen đại khái cho đẹp lòng nhau như  mọi người hay làm..
          Chỉ bàn riêng trên trang của tôi (Ngẫm & Viết), Việt An đã để lại nhiều cảm nhận, mà thực ra nhiều trong số đó là những bài viết hay, cảm nhận văn chương cho thấy sự am tường, sâu sắc, nhiều khi không hẳn cho bài viết cụ thể nào, mà chỉ mượn cớ để rồi bàn về các vấn đề về văn hóa, văn học, lịch sử, khoa học thường thức, lối sống xã hội, ẩm thực... Có thể, phân biệt những cảm nhận của Việt An thành hai loại...
         Thứ nhất, đối thoại về văn hóa xã hội, và văn chương.
         Chẳng hạn, khi tôi đăng loại ký sự sau chuyến đi Nhật Bản, bàn về hội chứng ngại tiếp xúc xã hội của giới trẻ Nhật hiện nay, Việt An bàn góp: "Khi xã hội phát triển luôn có những hệ lụy của nó. Con người dường như lại cô đơn hơn trong xã hội hiện đại. Không chỉ ở Nhật, ngay ở Việt Nam thôi, ngày xưa nhận được lá thư là mừng lắm. Tình người như hiện lên qua nét chữ, màu mực. Bây giờ chỉ cần điện thoại, không mấy ai còn viết thư nữa. Có lúc tôi lại thèm nhận một lá thư với cái phong bì tự chế ngày xưa đấy".
          Hay như, tôi đăng bài luận Quần cư, Việt An bình:"Bây giờ, con người ta vẫn sống quần cư. Chỉ khác, cái quần cư bây giờ mang dáng dấp quần cư kiểu...đàn nhím. Những con nhím sống với nhau luôn giữ khoảng cách. Nó không xa nhau quá, làm mất đi hơi ấm lúc Đông về. Nó cũng không gần nhau quá. Khi quá gần nhau, gai con này có thể làm đau con kia, và đau luôn chính mình. Quần cư kiểu đàn nhím, ngày càng rõ nét hơn trong xã hội hiện đại. Hình như trong hôn nhân cũng có khá nhiều hạnh phúc kiểu...tổ nhím!"...
Về văn chương, khi tôi đăng mấy truyện Hiên mưaNgõ trúc và Chúa tể của núi tuyết, Việt An nhận xét: "Đọc văn mỗi người có cảm xúc rất riêng. "Hiên mưa", "Ngõ trúc" là cách viết tự sự , mang tính hoài niệm. Cảnh vật, con người, không gian, thời gian, quá khứ, hiện tại đan xem. Mọi thứ như rõ nét, lại như chìm đi, lãng đãng, mờ ảo, sương khói. Nhân vật chỉ thấp thoáng, ẩn hiện, lúc có, lúc không. Kết cấu như là lỏng lẻo, mong manh, kết lại với nhau chính bằng sự liên tưởng xuyên suốt. Sự liên tưởng ấy tạo nên cái lo-gic, suy tư, thấm đẫm xúc cảm kỉ niệm của con người, khi tìm lại dấu chân xưa...Chất thơ cũng phảng phất, ẩn giấu trong con chữ, mạch chuyện, tạo nên nét đẹp của thẩm mỹ văn chương, cũng như nét lãng mạn riêng. Nói chung, NCN viết văn giàu cảm xúc và chất thơ. "Hiên Mưa", hay "Chúa tể của núi tuyết", có nhiều đoạn làm người đọc, như bị cuốn theo, thả hồn cùng vẻ đẹp mộng mị của văn chương.... Đây là cách viết khó, thể hiện tác giả (NCN) là người cầm bút chắc tay. Kiểu văn này là văn dành cho "người đọc chậm". Cảm xúc người đọc chín dần cùng với sự ngẫm ngợi và suy tư...".
           Khi tôi đăng bài thơ Nợ quê (30.12.2009), Việt An bình: "Tôi đã nói, văn của tác giả là văn viết cho "người đọc chậm". Quả là thế, ẩn chứa trong những con chữ là sự ngẫm ngợi và suy tư. Chất thơ, sự lãng mạn thấm đẫm trong văn phong. Sự sâu lắng và lãng mạn bây giờ lại hiện diện trong thơ NCN. Với ngôn từ giản dị, không cầu kỳ, không làm dáng, mà sự truyền cảm cứ len vào lòng người đọc. Phạm Tâm An đã khá tinh, khi trích dẫn cặp lục bát rất hay của bài thơ :"Đời người sao lắm bến mê/ Một đi, một đợi, một quê, một tình!" Cuộc đời dù có bao nhiêu bến mê, thì quê hương vẫn là tất cả những bến mê cộng lại." 
           Hay như, tôi đăng bài thơ Cán Cấu chợ phiên (28.02.2010), Việt An bình: "Bài thơ “Cán cấu chợ phiên” của tác giả, tôi chợt nhớ đến bài thơ “Chợ tết” nổi tiếng của Đoàn Văn Cừ. Phiên “Chợ tết”, dưới ngòi bút của Đoàn Văn Cừ xưa hiện lên sống động, đầy cuốn hút. Sinh hoạt bình thường của “Chợ tết” trở nên thơ… đến bất ngờ :“Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha./ Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyêt./ Con gà sống mào thâm như cục tiết,/ Một người mua cầm cẳng dốc lên xem”(Đoàn Văn Cừ). Thơ “Chợ tết” của Đoàn Văn Cừ, mang nét quen thuộc của một phiên chợ tết vùng xuôi. Bài “Cán cấu chợ phiên” của NCN, mang đến một khám phá mới cho bạn đọc, về sinh hoạt chợ phiên, nguyên bản của vùng cao. Đó là điều mới mẻ và thú vị. Hơn thế, bút pháp thể hiện của tác giả (NCN) cũng khá lạ. Địa danh “Cán cấu” được lặp lại liên tục trong suốt bài thơ, mà không có cảm giác đơn điệu. Cứ sau mỗi từ “Cán cấu”, lại là nét phác họa lạ lẫm, mới mẻ về văn hóa chợ phiên vùng cao. Cách thể hiện này hay, nhưng khó. Nếu sự khắc họa sau mỗi điệp ngữ không rõ nét, không đủ sức lôi cuốn, bài thơ sẽ giảm sức hấp dẫn vì rơi vào cảm giác đơn điệu. Sự vững vàng trong cách thể hiện của tác giả, đã biến cái khó, thành cái hay, thành nét độc đáo riêng của bài thơ... Cán cấu chợ phiên”, là hình ảnh sinh hoạt văn hóa tươi rói, lấp lánh sắc màu, và đầy ắp sự kiện. Tôi thoáng chút bỡ ngỡ, như người đi lạc vào một thế giới đầy mê hoặc:“Cán Cấu leng keng sứ sành đồng sắt/ Cán Cấu gà quác, ngựa hý, chó sủa, lợn kêu/ Cán Cấu ngóc ngách tiếng cười rúc rích/ Cán Cấu Tây- Tàu, Mông- Việt hả hê”... Phảng phất ở đó là nỗi niềm riêng -vui, buồn riêng, tạo nên một khoảng lặng trong cái ồn ã náo nhiệt đời thường “Cán Cấu, ai đó cúi gằm ngậm ngùi tình cũ/ Cô giáo Kinh rơm rớm lén chùi nỗi nhớ xuôi/ Mẹ rồi con và ngựa đôi mỏi chờ mong ngóng chủ/ Cán Cấu chợ phiên còn lại mỗi mình tôi”... Lắng lại trong khổ thơ cuối là sự suy tư , như rõ nét, như mơ hồ…mở ra cho bạn đọc một khoảng mênh mông của sự liên tưởng, về cái còn, cái mất, cái đậm nét, cái nhạt phai, của văn hóa, của tâm hồn, và tình cảm trong mỗi con người."...
           Hay như, nhân một lần bàn về thơ sinh viên, thơ tình, Việt An viết lại mấy bài thơ của tôi và Trịnh Bá Ninh theo trí nhớ của mình, và sau đó đã xảy ra một cuộc đối thoại thơ khá thú vị giữa những người bạn với nhau trong BTV (tên gọi vui là Xóm Lá) Trần Đăng Khoa, Trần Hồng Giang, Chử Thu Hằng, và tôi. Việt An khơi mào: "Thơ Lục bát dễ về vần điệu, nhưng viết được hay rất khó. Xem như cái "rất khó" ấy đã được giải quyết bởi bài thơ "Tôi về lại xứ hoa Đào" của NCN".  Trần Đăng Khoa cũng khen bài thơ này, thì Trần Hồng Giang tếu táo chọc phá, Việt An chen ngang: "Trần Đăng Khoa khen Chu Nhạc là khen thật đấy. Dù Trần Đăng Khoa có là Thần Đồng thơ, thì tới thời điểm Chu Nhạc viết bài thơ trên, TĐK chưa có bài thơ tình nào khả dĩ. Không chỉ làm thơ tình yêu, mà việc biến thơ tình thành hành động "cách mạng" trong tình yêu, CN vẫn hơn TĐK vài bậc. Khoa không khen CN mới là lạ! Nói nhỏ, hồi đó TĐK, và cả Việt An còn rất i tờ trong tình yêu, thì CN đã có "của ăn của để" rồì"...  Trần Hồng Giang tiếp tục khiêu chiến: "Anh Việt An! Em có một anh bạn văn chương, một lần tán chuyện về nhà thơ Trần Đăng Khoa, anh này bảo: "Thằng cha này hầu như chả có bài thơ tình nào, mà có thì đọc cũng chả ra hồn, thế mà lấy được cô vợ xinh thế chứ! Hóa ra tán gái bằng thơ không ăn thua chúng mày ạ! ".  Việt An hùa vào chọc Trần Đăng Khoa: "Trần Hông Giang! Công bằng mà nói, bài "Thư tình của người lính Biển", rất đáng đồng tiền bát gạo. Bài đó được phổ nhạc và trở thành một  trong những bài tình ca hay nhất về lính biển. Không những thế, tụi "lính nhậu" cũng rất thích, vì nó được "tái chế" rất vui nhộn: "Sau chia tay, anh ngồi trong quán nhậu. Rượu 1 bên và bia 1 bên. Rượu nồng nàn, bia lại dịu êm. Anh như con tầu lắc sóng cả 2 thứ. Rượu và bia...còn em thì quên".  Nếu nói TĐK không có bài thơ tình nào ra hồn, thì cũng chưa hẳn đúng. Với bài "Thơ tình người lính biển", làm bạn đọc nghi ngờ: Có khi lão Khoa có cả kho thơ tình chưa công bố cũng nên.". Và Việt An lại mượn tôi trêu Khoa : "@Chu Nhạc! Tôi đang lấy bài "Thư tình của người lính biển" làm "lá chắn", che cái "gót chân Asin" của Lão Khoa, thì CN lại "tố khổ" giúp Lão Khoa.  Khoa viết rất ít thơ tình, mà vẫn cứ lấy được vợ trẻ, đẹp. Đúng như anh bạn của Trần Hồng Giang nói:"Hóa ra tán gái bằng thơ không ăn thua chúng mày ạ!".  Đến mức, Trần Đăng Khoa không nhịn nổi phải lên tiếng: "Bà con Xóm Lá! Tôi rất kính trọng bà con (không phải khen khéo hay khen đểu) vì sự thông minh lọc lõi đến kinh hồn. Thế mà toàn những bậc tiên đế quái quỷ trong từng trải lại bị ông đồ nỡm. Bài thơ này ông đồ mới làm, hoặc chỉnh lại từ cái khung cũ mờ nhạt hoặc méo mó. Nếu Nhạc có bài thơ này thì chắc lão đã khoe và Lão Khốt cùng Việt An biết ngay. Nếu Nhạc có bài này thì ngày xưa gái chết như rạ. Nhưng ngày ấy, Lão Chu Nhạc yêu nhiều nhưng chả "tóm" được ai. Gái bay hết, chỉ có lão héo hắt, sống dở chết dở. Thơ Lão ta hồi ấy như thơ ông cụ. Bây giờ lão mới nõn nường đấy.". Việt An đứng hẳn về tôi, bênh: "@Lão Khoa!Ừ nhỉ! Sao hồi đó Lão Chu Nhạc khoe bài thơ nhỉ. Giống như Lão Khoa khoe tiểu thuyết "Bước chân thứ nhất" ấy. May mà lão Khoa khoe từ ngày ấy. Nếu không, sau này mọi người bảo Lão Khoa nói dóc. Lão Nhạc không khoe, có thể vì lão ấy ngượng ngùng. Mới tí tuổi đã viết thơ tình, cũng ngại chứ. (Thời đó, con trai vừa mới lớn, mặt còn măng sữa, được "đứa" con gái nào đó gọi bằng anh, là sướng tê, sướng tái rồi. Sướng thộn cả mặt ra ấy chứ). Vì ngại, nên Lão Nhạc "biển thủ" thơ tình, để...đọc một mình. Bây giờ lão Nhạc dắt "con" ra trình làng, cũng phải cho "con" ăn mặc tươm tất một chút chứ. Miễn đúng là "con" lão Nhạc, sinh ra từ ngày ấy là được."... 
          Đại khái vậy. Thực ra, bỏ qua các chi tiết đùa vui tếu táo mang tính cá nhân, là những suy nghĩ nghiêm túc về văn thơ và mối tương tác của nó với cuộc sống... 

          Thứ hai, Việt An làm thơ bông lơn, hoặc tiếp nối thơ của Chủ bút, hoặc đối thoại thơ với một số blogger khác trong phần ghi cảm nhận của mình...
          Ví như, bài tản văn ngắn của tôi nhân đọc entry của blogger MTV (bài viết của Phạm Thu Hà) về hương vị đầu thu Hà Nội, Việt An đùa: "Cháu lớn lên rồi - xinh quá thôi/ Má hồng, mắt biếc - Thắm đôi môi/ Ước chi, chờ chú trăm năm nữa/ Khi ấy cùng già... sẽ xứng đôi.".
          Hay như, Việt An bông lơn cái bút danh của Nguyễn Vĩnh Tuyền (thân sinh nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến) là BẢO THƯ TUỆ NHÃN băng cách lấy từng chữ ra thành thơ: "BẢO ở nhà thiền lại đến đây/ THƯ phòng bỏ ngỏ nhện giăng mây/ TUỆ minh mấy chữ thơ thành phú/ NHÃN mãn nhìn nhau rượu rót đầy...", cũng là ngầm chọc ngoáy cái bệnh la cà thi phú của bậc đàn anh này...
           Hay như, Việt An đùa Trần Đăng Khoa: "Một trong những giai thoại "lùm xùm" nhất là chuyện TĐK lấy vợ. Chương trình "Gặp nhau cuối tuần" của Truyền hình VN, làm hẳn một buổi phát sóng về sự kiện này, theo cách nhìn hài hước. Khi TĐK có con, báo An Ninh Thế Giới có hẳn một bài viết kín cả trang báo. Kèm bài viết là bức hí họa, với hình ảnh TĐK vừa bế con, vừa quậy bột, Ngón chân cắp cái bàn là (ủi), đang là (ủi) quần áo... dưới nền nhà (!?)Nhìn cảnh huống đó, tôi bật cười, và táy máy ghi vào cạnh bức hí họa mấy câu: "Khoa ơi lấy vợ sướng chưa Khoa?/ Khói bếp cay cay - nước mắt nhòa/ Tay bế con thơ, tay quậy bột/ Hỏi rằng, có tiếc tháng ngày qua ?". Hỏi chơi vậy, tôi tin rằng TĐK luôn hạnh phúc với tổ ấm của mình.",
          Hay như, dịp xuân năm 2012, tôi đăng mấy bài thơ xuân Giêng haiUống rượu ở Sơn La, vào ghi cảm nhận, Việt An đã đối thơ với một nữ blogger ở Đà Nẵng-Mimosadn-đồng nghiệp với tôi. Lấy khổ kết bài Uống rượu ở Sơn La "... mong thời gian chớ qua mau/ nên câu thủ thỉ nên bầu tâm can/ kẻo đêm tỉnh giấc mơ màng/ em thì chẳng thấy bẽ bàng riêng ta...", Việt An nối vần "Quờ tay chạm phải vợ nhà/ Tiếc hùi hụi - rượu Sơn la nửa chừng...!", Mimosadn đùa: "Rượu Sơn La uống nửa chừng/ Uống vào rồi thấy... lừng khừng mới hay ...". Việt An tiếp: "Rượu nào mà rượu chả cay/ Uống vào mới thấy rất hay,... khi mà...". Mimosadn nối:"  Hăng lên, hào mốt, chẳng thà/ Năm xu, đỡ tốn, lại là... rất hay...". 
          Hay khi bàn vui với bài thơ Giêng hai của tôi, Mimosadn khiêu khích: "Giêng hai anh thả bùa thơ/ Để cho các chị nằm mơ ...giật mình!?", Việt An nhào vô, nối vần: "Riêng em nhớ chè Cung đình/ Dạo Phố Đà nẵng... thình lình gặp mưa/ Hỏi rằng, mưa ướt hết chưa/ Hay là chỉ ướt chỗ thưa... chỗ dầy?"...
          Nhớ một dạo, BTV bị rớt mạng, lỗi hệ thống, không hiển thị đến mấy tuần, mọi người nhắn tin cho nhau, thở ngắn than dài vì buồn chán, vì mất đường giao lưu,... Việt An trêu mọi người, làm bài thơ Tình Blog
Tưởng đâu “bờ lốc – bờ leo”
Phen này chắc bị phăng teo mất rồi
 
Lão ông nhấp nhổm đứng ngồi
Lão bà thắc thỏm như hồi đang yêu
Mấy ngày mới tạm treo niêu
Xem ra các lão tiêu điều ngẩn ngơ
 
Lão ông mặt mũi bơ phờ
Tay ôm bình rượu, tay sờ…củ khoai
Lão bà chẳng biết nhớ ai ?
Nửa đêm mở máy, bấm hoài mà rên!
 
May mà hết rủi lại hên
Lão ông lại được…ở bên lão bà
Canh khuya lại được qua nhà
Cứ như…đi bắt trộm gà - thích ghê!
 
Dẫu cho chẳng hẹn, chẳng thề
Ai yêu “bờ lốc” thì về với nhau…

          Đại khái, những cuộc bông lơn thơ phú kiểu như thế của Việt An trên Xóm Lá ngày ấy rất nhiều,... Sau này, Việt An tham gia Facebook, tôi để ý, Việt An vẫn sử dụng lối diễn đạt hài hước này, phần lớn để châm biếm một cách sâu cay và hiệu quả những thói hư tật xấu và các biểu hiện tiêu cực trong xã hội.... Âu cũng là hay!?...
 
4. Chút tình thơ văn.
          Là bạn thân với nhau ngần ấy năm, tôi biết, dù chủ trương không theo nghiệp bút nghiên, không bị bả văn chương quyến rũ, nhưng thâm tâm, văn chương vẫn theo đuổi, ám ảnh Việt An trong tiềm thức. Dù nén lòng, không bộc lộ, nhưng mỗi khi, vô tình hay hữu ý, tiếp xúc với môi trường văn chương, thì cái mầm non văn chương thơ phú thuở học trò, không lớn thành cây nhưng cũng không thui chột, nó lại cựa quậy trong lòng anh, lớn lên một chút. Việc Việt An nhớ và thuộc nhiều bài thơ của tôi và Trịnh Bá Ninh làm từ thời sinh viên, cả những bài thơ Trần Đăng Khoa xuất bản miệng lúc bạn bè vui đùa (mà chúng tôi đã quên, hoặc chỉ nhớ lòm bõm), điều đó, vô hình chung, tố cáo, rằng anh chưa bao giờ nguôi chuyện văn chương, mà chỉ cố tình lờ đi thôi. Chính Việt An là người đã giúp tôi tìm lại được một số bài thơ mà tôi sáng tác từ ngày trẻ trai, đặng nhuận sắc, đưa vào mấy tập thơ xuất bản (Chút Thu-NXB Văn học 2011, Hiên Lan-NXB Văn học 2012).
         Có lần, nhân bàn về thơ sinh viên, thơ tình, Việt An đã không cầm lòng nổi, trình làng một bài thơ của mình. 
          Bài thơ Em có về quê cũ?
          Em có về quê cũ không em ?
          Tối đón trăng lên, nước về - sông Đáy hát
          Lúa con gái đang thì - xanh bát ngát
          Cánh đồng quê hương cỏ dại thơm nồng

         Bờ dâu xưa - ngày ấy mẹ trồng
         Giờ đã biếc muôn ngàn con mắt lá
         Nong tằm chín - sợi tơ vàng óng ả
         Sớm mai hồng chim hót ở trên cao.

        Đêm mùa hè - sông Đáy rụng đầy sao
        Em gánh nước - gánh sao về lấp lánh
        Đi cùng lối, gặp nhau - em khẽ tránh
        Miệng cười giòn, ánh mắt cứ đung đưa

        Không biết bây giờ em lấy chồng chưa ?
        Mà lâu quá không về thăm quê cũ…
        Mái đình cong, cây đa già bóng rủ
        Ngôi chùa Hà cờ ngũ sắc tung bay…

        Mỗi dịp Xuân về trời đất như say
        Người trảy hội nối nhau về bến Đục
        Có em không giữa dòng người nao nức?
        Mà anh tìm - anh chẳng thấy em đâu ...

        …Về đi em - Anh đón ở bên cầu
         Bến xe khách vẫn ngay đầu phố huyện
         Về đi em - để một thời lưu luyến
         Sẽ ấm lòng những lúc phải xa quê…


          Bài thơ nhẹ nhàng, duyên dáng, song có phần dàn trải. Tôi nghĩ, đây không phải là cái tạng của Việt An. Phải chăng, anh cố làm khác đi, như thể muốn nịnh ai đó, nên vờ nói khẽ cười duyên, bởi Việt An là con người của lý trí, của sự súc tích và sâu sắc. Bằng chứng, trước khi lộ diện bài thơ này, anh đã phi lộ bằng mấy câu thơ trong một bài thơ nào đó của mình, như: "Một thời mái tóc em xanh/ Một thời sỏi đá cũng thành ngẩn ngơ..." và "Một thời như lạ như quen/ Một thời sóng sánh như men rượu nồng/ Ngày em cất bước theo chồng/ Nhớ em như thể - mình không phải mình...". 
          Bản tính này đã từng được Việt An thể hiện trong thẩm và bình luận văn chương, hay như trong dịch thơ Hán Nôm. Sau đây là mấy bản dịch thơ Đường của Việt An:

Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu)
Hạc vàng người cưỡi khuất xa rồi,
Hoàng Hạc lầu còn với nắng thôi
Muôn nhớ hạc xưa nay vắng bóng
Ngàn thương mây cũ vẫn còn trôi
Hán Dương mây tạnh cây soi bóng
Anh Vũ hương nồng cỏ tốt tươi
Bóng đổ chiều buông quê chợt nhớ
Sông buồn khói sóng dạ đơn côi.

Hay như bài Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương,
Đi xa từ nhỏ, già quay về
Tóc bạc, vẫn nguyên chất giọng quê
Lũ trẻ đứng nhìn đâu có biết
Chào cười hỏi phải khách sơn khê ?


Hay như bài Đề Đô thành Nam Trang của Thôi Hộ, 
Nhà cũ, cài then, nay vắng không
Nhớ ai gương mặt ánh đào hồng
Ngẩn ngơ tự hỏi người đâu nhỉ ?
Chỉ thấy đào xưa cợt gió Đông.


        
Việt An là người có kiến văn phong phú. Có lần, bàn luận về văn hóa ấm thực (Canh chua cá rô bông súng), tôi kết bài viết: "Mà đã là văn hoá, thì dù có mệnh danh văn hoá ẩm thực, cũng đâu phải chỉ là chuyện ăn uống đơn thuần, ở đó, còn có thổ ngơi, phong tục, hồn cốt, tính cách con người một vùng đất hun đúc mà thành!...".  Việt An khoái quá, bàn thêm: "Kết rất hay. Văn hóa bắt đầu từ những gì giản dị nhất. Đọc bài của bạn, tôi chợt nhớ đến món "mắm cáy" quê tôi. Mời bạn "nếm thử" nhé :  ...Mắm Cáy, được làm từ con cáy, tất nhiên rồi, không được lẫn cua, hay cá trong đó. Cách làm mắm ngon là cả một nghệ thuật dài dòng, nên tôi không nói đến ở đây. Tôi sẽ nói về chuyện thưởng thức mắm cáy. Mắm Cáy ngon, bỏ vào đó một vài trái ớt chỉ thiên, vắt chanh vào, dùng đũa quậy đều lên… Bạn nhớ quậy theo chiều kim đồng hồ nhé, nếu quậy ngược lại, sẽ không ngon đâu !!?. Bạn dùng nước mắm này để chấm rau muống luộc, hoặc ngồng cải luộc thì thật tuyệt vời. Rau muống ngon nhất, là rau hái sau một đêm mưa rào. Còn ngồng cải, là lọai chưa kịp trổ hoa kìa, chứ loại “cải ngồng nhuộm nắng chân đê”, nở hoa vàng rực rồi, không ăn được.
          Mắm Cáy - món ăn dân dã, không đơn thuần là món ăn, mà còn là văn hóa và triết lý sống. Chắc các bạn cũng từng nghe những câu thành ngữ: “Nhát như cáy”, hoặc “Dùi đục chấm mắm cáy”, hay như “Ăn cơm mắm cáy, ngáy o o. Ăn cơm với giò, lo ngay ngáy”. Những câu thành ngữ ấy, đều có nguồn gốc từ…mắm Cáy.
           Trai gái quê tôi, khi yêu nhau, những nụ hôn mà thiếu mùi mắm Cáy, thì cứ như thiếu đi sự mặn nồng, thấy nhàn nhạt làm sao ấy (!?). Bây giờ ở quê có internet rồi. Nghe đâu, dân làng tôi bàn nhau đưa mắm Cáy lên mạng, xây dựng hẳn một trang web hoành tráng, có tên miền là “Mắm Cáy chấm cơm” (Mamcay.com). Mong sao, mắm Cáy được đứng ngang hàng với các loại mắm trên thế giới…mắm...". 
           Chuyện ẩm thực, bàn chơi vậy...
           Bàn về thơ Việt Anngoài những câu thơ đùa vui tếu táo kiểu xướng họa, hẳn sẽ không thấy một Việt An sâu lắng, chắt lọc. Gần đây, vô tình, tôi lượm được vài bài thơ của anh, và nói kiểu vỗ đùi đánh đét rồi thốt lên "Có thể  chứ, tiên sư anh Tào Tháo".
           Vậy ta xem Việt An sâu lắng ra sao: 
           Thoáng quê xưa
 
Mỗi lần về lại quê xưa
Thấy người quen cũ - cứ thưa vắng dần
Bông hoa cúc nở tần ngần
Sắc vàng ngơ ngác - tắt dần cuối thu

Đồng xa vẳng tiếng chim gù
Chuồn kim đá nước, ao tù rêu xanh
Hoe vàng một chút nắng hanh
Đàn gà xao xác bên mành giậu thưa

Quê nghèo cháy nắng, bạc mưa
Mới về, lại thấy - như chưa được về
Cải ngồng nhuộm nắng chân đê
Thoảng hương cốm mới bay về trong mơ... 

( Mùa Thu 2007)
 
          Bài thơ gam buồn, thoảng như một tiếng thở dài nhè nhẹ, nhưng đọc lại, thì da diết làm sao. Việt An thầm nhủ lòng mình mà như nói cho tôi, cho bạn, cho biết bao người từng có thời đi học ở quê, lập thân xứ người, đi xa lâu ngày trở lại. thấy làng quê thay đổi không cưỡng nổi, khi mà ký ức tuổi thơ vẫn tươi nguyên...
 
          Và đây nữa. bài “ Gởi nhớ về quê
Cuối tuần em sẽ về quê
Thả hồn, tôi lại muốn về cùng em
Quê nghèo - chốn cũ - lạ quen
Chiều buông - khói tỏa - lửa nhen ấm lòng
 
Gởi về một chút nhớ mong
Ngọn tre treo mảnh trăng cong cuối trời
Ao làng chín mọng sao rơi
Mái gianh nghiêng cả một thời ước mơ.
 
Gửi về một thoáng tuổi thơ
Bạn bè một thuở, bây giờ nơi đâu
Nước sông còn vỗ chân cầu
Lá sen, ai có đội đầu che mưa ?
 
Tiếng gà còn có gáy trưa
Em còn nhớ lối rào thưa sang nhà?
Gửi em chút nhớ làm quà
Cay cay khóe mắt, nhạt nhòa bóng quê.
(08/2008)
 
Hay như, bài thơ Có khi, làm như đùa ai đó, lúc dỗi bõ nhau, nhưng ở đó, ta lại thấy chiều sâu tâm thức:
Có khi em rất dễ thương
Ngon như thể trái ổi ương đầu mùa
Có khi em nắng, em mưa
Đang bão táp, bỗng dạ thưa ngọt ngào

Có khi em, có khi nào,
Hai ta mụ mẫm lạc vào trong nhau?...

 
          Đã có đôi lần, lúc trà dư tửu hậu nhóm bạn thân với nhau, tôi đùa Việt An nhưng thật lòng "Ông nên lục kho, đào bới mọi xó xỉnh, lôi hết của nả của mình ra, lựa chọn, nhuận sắc, in một tập cho vui... Tôi sẽ viết lời Tựa sách". Việt An ngỏn nghẻn, nụ cười khó trên gương mặt vốn khắc khổ, nghiêm túc của anh: "Ờ... thì cũng khó... Tôi cũng đã từng nghĩ đến... nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu?... Bởi thơ tôi, như mọi người bảo, cứ cho là hóm hỉnh đi chăng nữa, song mỗi câu, mỗi bài đều gắn với cảnh huống của nó...". 
          Tôi thấu hiểu điều này, chia sẻ với Việt An: "Tôi biết bắt đầu từ đâu rồi... Ông hãy cứ bắt đầu bằng ý tưởng về một cuốn sách của mình... để tôi thử làm một phác thảo về ông cái đã ...". 
          Chẳng hay, rồi Việt An có dính bả văn chương, thơ phú? 
          Ta hãy cùng nghe Việt An giãi bày tâm can:
Văn chương nói chung và thơ ca nói riêng, vốn là một thế giới rộng lớn, mông lung, mà sự sáng tạo ở đó là không giới hạn. Với người ngoại đạo như tôi, thì thế giới ấy càng lạ lẫm. Riêng với thơ ca, đã có đủ cách định nghĩa, từ hàn lâm huyền bí, đến bình dân, và cả những định nghĩa tếu táo về thơ; càng đọc, tôi càng lơ mơ, không biết thực sự “Thơ là gì ?”. Đọc định nghĩa về thơ chưa đủ, tôi đọc thơ. Và thế là tôi rơi vào cái biển chữ, mà chẳng biết đâu là bờ. Đang loay hoay trong thế giới thơ, vừa hấp dẫn, vừa rối rắm ấy, tôi bắt gặp bài thơ “Vảy vàng” của nhà thơ Triệu Nguyễn. (Triệu Nguyễn, tên thật là Nguyễn Triệu, sinh năm 1947, quê Hải Dương, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam). 
           Bài thơ giản dị như  lời tâm sự, giãi bày về nghiệp thơ và về thơ. Bây giờ không còn là thời đại của thơ ca, bởi con người hiện nay bận rộn, và có nhiều điều cần quan tâm hơn. Nhưng, ngay cả khi người ta quan tâm tới thơ nhất, cũng không mấy ai sống được bằng thơ. “Thôi, đừng huyễn hoặc nữa/ Làm thơ mà làm gì?/ Thơ bày trong quán sách/ Bạn đọc nhìn … quay đi!”. Đó là thực trạng có thật, khi thơ nay trở thành món ăn  tinh thần khó bán. “Tất cả giá đều tăng/ Chỉ có thơ là rẻ/ Nhà thơ sống bằng chi?/ Nhuận bút ư? - Nghỉ khoẻ!”. Phàm là nhà thơ, không mấy ai có đời sống khá giả. Nếu có khá giả, cũng không phải khá giả từ thơ. Nhà thơ tinh tế trong con chữ, nhạy cảm trong giao tiếp, nhưng lại không mấy ai nhạy bén trong công cuộc mưu sinh. “Có nhà thơ đích thực/ Từng húp cháo cầm hơi/ Lênh đênh trên biển chữ/ Mung lung trong sự đời”. Thực tế đã chứng minh:“Dẫu đốt trăm thiên thạch/ Soi mặt các nhà thơ/ Ai kẻ giàu, hiếm thấy/ Tự ngàn xưa đến giờ?”. Đọc đến đây, hẳn bạn đọc không khỏi suy tư về nhà thơ, và nghiệp thơ của họ. Bài thơ “vảy vàng” thoáng một chút gì đó, như là chua xót, như là hài hước, mang tính trào lộng, cho sự trớ trêu của danh phận nhà thơ.
Nếu coi làm thơ là một nghề, thì đó là nghề mang tính duyên nợ, chứ không hẳn là nghề kiếm sống. Tuy vậy, thơ cũng đã làm vinh danh nhiều người, dù cái danh ấy không làm khá hơn đời sống vật chất của họ.Với một số người khác, thơ trở thành cơ duyên giúp họ hanh thông trên đường đời, với những công việc, khác với việc làm thơ. Trong nhiều trường hợp đặc biệt, thơ trở thành cứu cánh, nâng đỡ con người, giúp con người “vịn câu thơ mà đứng dậy”. Hiếm có nghề nào khốn khó, và đa đoan như nghề thơ; Cũng hiếm có nghề nào mà sự lao động lại tự nguyện và đam mê đến thế. “Ôi, cái nghiệp lạ lùng/ Đa đoan và khốn khó/ Đã vắt, vắt kiệt mình/ Mà yêu không thể bỏ”. Trong một ý nghĩa nào đó, thì nghề thơ còn là nghề của sự cô đơn. Thơ vốn dĩ không phải là sản phẩm của lao động tập thể. Dù hạnh phúc, hay khổ đau, thì nhà thơ, luôn là người độc hành trên con đường của mình.
Thơ mang trong nó vẻ đẹp quyến rũ đến mê hoặc. Thơ ẩn chứa niềm vui, hạnh phúc, nỗi đau, sự cô đơn của bao kiếp người; hòa vào trong đó là hương thơm của hoa, mùi ngai ngái của cỏ dại, mùi nồng của mồ hôi, vị mặn mòi của nước mắt…Thơ lấp lánh bình minh,  dịu ngọt ánh trăng,  óng ánh bùn đất…Thơ còn đó, màu mực của đêm, tiếng thét gào của bão tố. Thơ ôm trọn cõi nhân sinh và cả sự hỗn mang của vũ trụ…Thơ là tinh túy của nghệ thuật ngôn từ. Có lẽ vì thế, mà nhiều nhà thơ, yêu thơ đến quên mình, yêu đến ma mị – như là cái nghiệp đã vận vào thân vậy.
Với đa số người yêu thơ, thì thơ là người bạn tâm tình, biết lắng nghe, chia sẻ cảm xúc buồn vui…Thơ nâng giấc tâm hồn. Thơ lưu giữ cho nhau bóng hình kỷ niệm.  Có điều gì như là nghịch lý, khi nói bây giờ không phải thời đại của thơ ca, trong khi số người làm thơ, và số tập thơ in ra hàng năm, đạt mức kỷ lục. Theo thông tin báo chí, mỗi năm có cả ngàn tập thơ được in ra. Đó là chưa kể thơ không in thành tập, được đăng tràn ngập trên các trang web và blog cá nhân. Thơ vẫn như mạch nước ngầm,  âm thầm chảy, hiến dâng cho đời.
Gần đây, có nhiều người tìm cách làm mới thơ. Điều đó là cần thiết. Nhưng, không ít người, đã cố gắng “làm mới thơ” đến mức lập dị, thoát ly hoàn toàn khỏi những giá trị truyền thống. Những câu thơ tắc tị, tối mò kiểu bí hiểm, hoặc sáng choang, xoang xoảng như kèn đồng, có gây ra một chút tò mò ban đầu, nhưng chẳng mấy chốc rơi vào quên lãng; Những con chữ vô hồn, chết còng queo trên giấy trắng. Bây giờ người ta không chỉ đọc thơ, ngâm thơ, mà còn trình diễn thơ, phá cách như lên đồng. Có một số người còn muốn thần thánh hóa công việc làm thơ, để rồi tự huyễn hoặc mình. Họ biến thơ thành thần bí và rối rắm, tự tạo cho mình một lối sống lập dị, cao ngạo một cách hoang đường…May mắn thay, những người như thế không nhiều.
Với các nhà thơ,  thơ như là máu thịt, con tim, khối óc; thơ là đứa con tinh thần. Ở góc độ lao động, thì thơ là sản phẩm của lao động thơ, mà người lao động  không  định giá cho sản phẩm của mình, và cũng không định được vòng đời của sản phẩm. Khi bước ra xã hội, thơ có đời sống riêng. Người quyết định giá trị và số phận của tác phẩm thơ, lại  thuộc về công chúng. Với thơ, nhà thơ chẳng có gì để toan tính cho riêng mình. Thơ thanh tao và giản dị, đạm bạc mà cao sang – Cái cao sang của cốt cách con người và giá trị nhân văn ẩn giấu trong thơ. Thơ dường như thoát khỏi những tuyên ngôn mang tính hàn lâm, để cúi xuống thật gần với thân phận con người. Thơ mang ý nghĩa của sự hiến dâng. “Thơ gần với nước mắt hơn là tiếng cười, gần với khổ đau hơn là reo hát, gần với sẻ chia hơn là chiếm đoạt”(Nguyễn Trọng Tạo). Lao động thơ cũng là lao động hiến dâng. Nhà thơ “Như những người đãi quặng/ Chợt vảy vàng hiện ra/ Lại biếu không thiên hạ/ - Ấy là thơ đó mà!”. Ngay cả trong những bài thơ, được coi là viết cho riêng mình, nhà thơ cũng gửi vào đó, bao nỗi niềm trăn trở, riêng - chung.
Với cách lý giải giản dị, qua bài thơ “Vảy vàng”, tác giả đưa ra cách nhìn gần gũi về nghiệp thơ, và về thơ. Trong cuộc sống đời thường, nhà thơ, trước hết là một con người, với bao bề bộn lo toan của món nợ áo cơm. Nhà thơ cũng bình thường như bao người khác; Có khác chăng, chỉ là khác, bởi đặc thù riêng của nghiệp cầm bút. Nhà thơ, cả đời ám ảnh với những câu thơ, như một người mắc nợ. Họ cần mẫn, đa đoan, nhọc nhằn “như những người đãi quặng”, chắt lọc từng con chữ, để rồi dâng tặng cho đời cái tinh hoa của nghệ thuật - những “vảy vàng” lấp lánh và khiêm nhường - ấy chính là thơ. Thơ không chỉ là tinh hoa của nghệ thuật ngôn từ, chứa đựng trong đó những giá trị nhân văn,  mà hơn thế, thơ còn là tinh hoa của lao động nghệ thuật, đầy hy sinh và dâng hiến.”
Vậy là đã rõ. Còn như, làm một tập sách kiểu này, tôi nghĩ, chẳng qua vẫn chỉ là một thú rong chơi mà thôi !?... 
 
         Hà Nội, tháng 6 năm 2019.
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Nguyễn Tùng Quân-
Niềm riêng và những điều còn lại
(Tựa tập thơ cùng tên)
 
 Tôi biết đến và quen thân Nguyễn Tùng Quân đã hơn chục năm nay. Ngày ấy. mạng xã hội chưa mấy phong phú như bây giờ. Mùa thu năm 2009, tôi lập trang riêng Ngẫm & Viết trên nền tảng Blog Tiếng Việt (blogtiengviet.net), và ngay sau đó, tôi biết đến Nguyễn Tùng Quân, khi anh sang ghi cảm nhận (comment) bên trang của tôi. Và để trở thành bạn thân với nhau, tôi cũng thường xuyên sang đọc trang của anh. Blog của Nguyễn Tùng Quân chọn tên một ca khúc nổi tiếng của Trịnh Công Sơn làm đề từ - Để gió cuốn đi, điều này phần nào cho thấy quan niệm và xu hướng sáng tác của anh. Như vậy, cứ đều đếu, tháng đôi ba bài viết mới, chủ yếu là thơ, và cho đến thời điểm tạm dừng trang cá nhân của mình vào đầu năm 2018. Nguyễn Tùng Quân đã đăng ở đây khoảng 120 bài thơ, mà đa phần được anh tập hợp thành tập thơ Niềm riêng và những điều còn lại, mà bạn đọc có trên tay hôm nay.
Song trước khi bàn đôi điều về thơ Nguyễn Tùng Quân, tôi lại muốn bạn yêu thơ làm quen với con người thơ.
Nguyễn Tùng Quân quê xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, tuổi Kỷ Hợi, chuyên ngành đào tạo về khoa học tự nhiên. Mặc dù, Nguyễn Tùng Quân từng công tác trong ngành văn hóa, nhưng có lẽ, thời gian làm việc, phụ trách Nhà chiếu hình Vũ trụ ở Nghệ An lại cho anh cảm xúc sáng tác nhiều nhất. Hình như, hằng đêm, quan sát bầu trời mênh mang hằng ha sa số tinh tú lấp lánh, tâm hồn anh lại rạo rực niềm cảm hứng thi ca, những xúc cảm đó chẳng phải là thứ tình cảm viển vông gửi vào vũ trụ bao la, mà là tình cảm chân thật về tình yêu đôi lứa, tình yêu con người trong đời sống thường nhật quanh mình...
Cùng với những người anh em bạn bè yêu văn chương quê Nghệ An với Nguyễn Tùng Quân, có Văn Lâm An, một kỹ sư xây dựng và cựu đại tá Phạm Huy Việt, một người từng làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học quân sự. Tuổi đời cao thấp chênh nhau nhưng họ rất yêu quý, nể trọng nhau. Tôi thân quý cả ba người, chỉ phần nhỏ vì sở thích văn chương thơ phú, mà phần lớn là sự thẳng thắn, chân thật, đặc  biệt là “cái chất gàn đồ Nghệ” của họ. Tôi khá tâm đắc với chút cảm nhận về thơ Nguyễn Tùng Quân của cựu đại tá Phạm Huy Việt, nên ghi nguyên văn ra đây:
 
Tôi đã “cách ly” thơ vài năm nay.
          Họ nói với tôi rằng thơ đang bùng nổ, thơ đang lạm phát.
           Tôi cho rằng thơ đang suy thoái, thậm chí đang bị lãng quên.
           Cái đang bùng nổ, đang lạm phát đâu phải là thơ. Nó là “văn nói ngắt đoạn” hay “văn xuôi xuống dòng” mà thôi. Thơ là tình yêu đã rũ bỏ trần tục. Thơ trong dòng chảy văn học nghệ thuật như mỹ nữ trong dòng cuộc sống, không lẽ lẫn lộn “mỹ nhân” và “xú nhân”.
           Dù muốn “cách ly”, nhưng khi Nguyễn Tùng Quân nhờ đọc bản thảo thì tôi nhận lời; vì tôi biết anh từ lâu, cũng đã đọc một số bài. Cảm nhận ban đầu thì đó là thơ.
           Cũng cần nói ngay, tôi là người yêu thơ, nên chỉ “thẩm” thơ thôi, những mong giúp cho bạn hữu chút gì đó khi đọc thơ Nguyễn Tùng Quân.
Thơ Nguyễn Tùng Quân dù không gò ép hay “đánh võng” vần điệu, nhưng cũng không buông thả hay rẻ rúng từ ngữ; không “lên gân” câu chữ để làm cho câu thơ se sắt. Những cái đó tựa như là tiêu chí bất thành văn hồi đầu của Phong trào Thơ mới (1932 – 1945), khi các nhà thơ giác ngộ muốn phá bỏ niêm luật chặt chẽ của thơ cũ. Điều đó đáng trân trọng.
Thơ Nguyễn Tùng Quân như gồm hai mảng chính, thơ đờithơ tình.
          Thơ đời của anh giản dị mộc mạc có phần “nhà quê”, nhưng trong đó anh đã khéo léo hình tượng hóa và khái quát hóa để dẫn dắt người đọc đến bức tranh sống động hiện thời. Trong khi, đa phần người ta bàng quan lướt nhẹ giữa “mây chiều vần gió”:
“Chiều nghĩa trang tăm tắp những hàng bia
Nén hương thơm lập lòe cháy đỏ
Những hàng bia không tên đứng đó
Đội ngũ những người HAI LẦN HY SINH…”
(Hai lần hy sinh)
Lời trong ký ức: “bạn đừng sợ kẻ thù – cùng lắm nó hại bạn; đừng sợ bạn mình – cùng lắm nó phản bội; hãy sợ sự bàng quan – đó là nguyên cớ của phản bội và giết chóc”. Phải chăng bàng quan chính là cái chết khi còn sống. Với thơ, sự bàng quan cũng là cái chết của thơ vậy...
Thơ tình của Nguyễn Tùng Quân lại thích lối viết ẩn dụ.
Cũng là ẩn dụ, nhưng nếu là thơ thời cuộc thì đa phần không được hoan nghênh, như, bởi đó là sự “né tránh”. Còn như, với thơ tình. lối viết ẩn dụ về cơ bản lại được hoan nghênh, tán thưởng, cho rằng lời thơ có cánh,... Cũng đúng thôi, nói bóng gió là nghệ thuật tỏ tình mà lại như “sở nguyện” của đối tác. Vậy đó. trong tình yêu, những cái cần nói thì không nói được, ẩn dụ là “thay lời muốn nói”, thế nên:
“Thơ tình anh đã viết rồi
Chỉ mong em
Hiểu những lời
… Lặng câm…”
(Thơ chung)
Đọc thơ Nguyễn Tùng Quân, như người lần đầu uổng rượu “xịn”, ngỡ rượu nhẹ vì uống ngon, êm, mềm môi, mà say lúc nào không hay, tỉnh dậy thoáng buồn, vì còn đi thăm “vườn quê” của Hoàng Thi Thơ:
“Em gái vườn quê,
Cuộc đời trong trắng,
Dầm mưa dãi nắng
Mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm…”
 
Tôi xin nhắc lại, ý kiến nêu trên của cựu đại tá Phạm Huy Việt chỉ là một cảm nhận theo dòng cảm xúc của ông, chứ chưa phải là sự đánh giá thơ Nguyễn Tùng Quân với tư cách một bài phê bình văn học. Tôi hiểu, việc đánh giá, nhận đình thơ Nguyễn Tùng Quân thế nào đang thuộc về bạn đọc yêu thơ, bởi mỗi người đọc đều là một nhà phê bình kia mà !...
Tôi và Phạm Huy Việt. Văn Lâm An có ý nhắc Nguyễn Tùng Quân tập hợp thơ đã đăng tải nhiều năm nay để thành tập, xuất bản, thì anh có vẻ lưỡng lự. Nguyễn Tùng Quân tâm sự, ý anh là thơ mình toàn là thơ tình. Tôi nghĩ, thơ tình thì có sao đâu. Tình yêu con người, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu cuộc sống và tình yêu đôi lứa,... tình nào mà chẳng là tình, đều đáng quý cả.
Điều đáng sợ, ấy là thói vô tình.
Ở đời, xưa nay, hữu tình vô hạn kia mà !... ./.
 
                                                                   Nguyễn Chu Nhạc
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
NHỚ NHÀ VĂN “bây giờ là mùa thu
 
Gió tháng tám vu vơ rồi sẽ thổi về
Cánh bãi sẽ ngô mềm vai áo
Lá sẽ mượt sau những ngày giông bão
Nhịp tim mình rồi mạch lạc như xưa...

Sẽ đến ngày tóc mình ngả vào thu
Hoa bèo tím chẳng mong manh như trước
Chim nhạn sẽ bay về thưa thớt
Cay đắng phai dần thành những bâng khuâng

 
          Tôi tin rằng, nhiều bạn yêu thơ sẽ nhớ những câu thơ này trích từ bài thơ Bây giờ là mùa thu của nhà thơ Vũ Đình Minh.
Với Vũ Đình Minh, gọi ông là nhà văn hay nhà thơ đều đúng, bởi ông viêt đều tay và có những thành công đáng kể cả văn xuôi (truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện ký, bút ký,...) và thơ.
          Mùa thu này, tôi nhớ và viết về ông như một sự tri ân với người đàn anh thân thiết, người thày về báo chí, văn chương đáng kính.
          Chục năm trước, hồi Vũ Đình Minh mới về cõi hạc, tôi viết chân dung ông-“Dung dị Vũ Đình Minh” đăng trên trang blog cá nhân của mình ở Blog Tiếng Việt, sau đó Báo Nông nghiệp Việt Nam đăng số Tết nguyên đán và sau cùng tập hợp trong một tập sách của tôi. Đặc biệt, khi bài về chân dung Vũ Đình Mình đăng trên mạng xã hội Blog Tiếng Việt. đã có rất nhiều bạn đọc, nhà báo, bạn văn chương vào cảm nhận. cung cấp một số chi tiết về Vũ Đình Minh. Ngay cả người con trai của ông, nhà báo Vũ Đình Thành cũng ghi cảm nhận và cung cấp thêm tư liệu về đời tư và sự nghiệp sáng tác văn chương của ông. Trên cơ sở những chi tiết và tư liệu này, tôi gom góp và xâu chuỗi lại, đặng khắc họa đậm nét hơn bức chân dung về Vũ Đình Minh.
Theo nhà báo Vũ Đình Thành, con trai ông, thì Vũ Đình Minh sinh ngày 30 tháng 12 năm 1944 tại quê, Tráng Việt, Mê Linh, Vĩnh Phúc. Năm 1965, tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, ông tình nguyện xung phong lên miền rừng núi Cao Bằng dạy học. Cả thời thanh xuân đầy khát khao, ông cống hiến cho vùng đất hoang vắng này, sau đó chuyển công tác về Vĩnh Phúc, Phú Thọ dạy học ở Trường cấp 3 Đoan Hùng. Vì có năng khiếu và tham gia sáng tác văn học, nên Vũ Đình Minh được điều về làm Thường trực Hội Văn học Nghệ thuật tình Vĩnh Phú. Từ năm 1979, ông chuyển công tác về làm biên tập ở Ban Văn nghệ Đài Phát thanh truyền hình Hà Nội. Là người có năng lực, ông lên đến cương vị Trưởng ban, năm 2004 thì nghỉ hưu, sống tại Hà Nội đến khi qua đời.
 
          Trở lại chuyện cũ, mùa thu năm 1987, tôi từ vị trí kỹ sư nông nghiệp ở huyện miền núi biên giới Trị Tôn (An Giang) về làm báo tại Đài Tiếng nói Việt Nam (Đài TNVN) thì Vũ Đình Minh đã là Trưởng ban Văn nghệ Đài Phát thanh Hà Nội rồi. Khi ấy. Đài Hà Nội chưa ra truyền hình, nên các chương trình văn nghệ của Đài rất được người làm chăm chút và thính giả đón nhận. Có lẽ, các chương trình văn nghệ ở đây hay chẳng mấy kém chương trình văn nghệ của Đài trung ương. Vậy nên, Vũ Đình Minh cũng rất được đám văn nghệ sĩ Hà Nội nể trọng, cầu thân, đặng mong được phát bài. Nhuận bút ít ỏi, song thời buổi cả nước thiếu thốn, đói kém nên đồng nhuận bút quý bao nhiêu. Tôi tập tọng nghề mói, tiếng nhà báo cũng oai đấy, nhưng túi thường nhắn khi chưa hết tháng. ngoài công việc chuyên môn ở cơ quan, tôi dành thời gian viết báo vặt để kiếm tiền và tối đi học ngoại ngữ, tiếng Pháp ở trung tâm nơi góc phố Nhà Chung. Viết báo vặt thì phải chịu khó, ngó các báo trung ương, đía phương, bao ngành, thấy tờ nào có mục mà mình có thể viết được là mần thôi. Anh bạn thân, nhà báo Trịnh Bá Ninh làm phóng viên báo Nông nghiệp chỉ dẫn này nọ, đặng giới thiệu làm quen với một số nơi. Ngoài nhà văn Trần Nguyên Vấn (Trần Phương Trà) ở Ban Văn nghệ Đài TNVN mà tôi làm quen từ hồi còn ở trong Nam, nay thành người cùng cơ quan, thì Trịnh Bá Ninh dắt tôi đến giới thiệu làm quen với Vũ Đình Minh. Cơ quan ông ở góc phố Hàng Dầu, gần chỗ bức phù điêu "Quyết từ cho tổ quốc quyết sinh", Hồ Gươm (nay người ta sửa thành "Cảm tử cho tổ quốc quyết sinh"), nên tôi hay mò sang thăm ông. Lân la, tôi quen luôn cả nhóm bộ tứ của ông. Cao tuổi và trưởng nhóm là nhà thơ Trinh Đường, mà mọi người quen gọi vui là “Trinh Đoàn trưởng". kế đến là nhà văn Trần Nguyên Vấn, hai anh sàn sàn nhau là nhà thơ Nguyễn Thái Vận (lam biên tập ở Nhà xuất bản Lao Động) và Vũ Đình Minh. Với nhà thơ Trinh Đường thì tôi chỉ ra mắt xã giao, vì ông có độ chênh lệch tuổi tác, cương vị, nên không dám gần, cứ kính nhi viên chi thôi. Nhà thơ Nguyễn Thái Vận bảnh người, nói năng nhỏ nhẹ và lịch sự, song cảm nhận ở nơi anh có vẻ lành lạnh hơi khách khi nên tôi ngài ngại, giữ khoảng cách đủ độ ấm. Còn nhà văn Trần Nguyên Vấn thì thành người một nhà rồi. Riêng Vũ Đình Minh nhỏ người, trông xâu xấu trai như mình, dáng vẻ quê quê kiểu thầy giáo làng, tính tình lại dễ chịu, xuề xòa và khi vui là đến sáng khoái, tôi thấy hợp nên thân ngay. Tôi nằm bàn ở Trụ sở cơ quan 58 Quán Sứ sang Hàng Dầu cơ quan anh cũng gần nên hầu như tuần nào cũng ghé. Hơn nữa, Vũ Đình Minh còn hứa "Tao sẽ để ý, thấy con bé nào đường được thì giới thiệu cho mày làm người yêu...". Tôi gần với Vũ Đình Minh, còn bởi, tôi độc thân chưa vợ, hết giờ làm việc và ngày nghỉ chủ nhật chẳng biết đi đâu, các vị kia thì gia đình vợ con dầm ấm đề huề ở Hà Nội cả, riêng Vũ Đình Minh mặc dù mua được căn nhà cấp 4 xóm nơi chân dốc phố Lò Đúc nhưng vợ con ông vẫn ở quê bên Mê Linh, tháng đôi lần đạp xe thồ đèo lủng củng đồ hàng về quê, khi ra lại nặng xe thồ đèo nông sản, những ngô khoai sắn rau cỏ... Tôi hay đến đây, vui chuyện, anh em khi cao hứng thì cạch chén tợp đôi ba chén rượu lạc rang, tóp mỡ, đậu rán chấm nước mắm. rau thơm giải sầu...
Ít lâu sau, Vũ Đình Minh xin việc cho người em ruột về làm cùng Đài Hà Nội và cho gia đình họ ở ghé căn nhà ấy, thì tôi bớt lui tời vì cảm thấy phiền, mà chỉ ghé cơ quan ông thôi.
          Thời thế, hoàn cảnh gia đình mỗi người đổi thay, Vũ Đình Minh đưa cả vợ con từ quê ra Hà Nội ở chung, chuyển nhà mới xuống mãi đường Tam Trinh nối dài, còn tôi thì lập gia đình, vợ tôi cũng không phải là một cô gái nào mà Vũ Đình Minh thấy đường được mai mối cho tôi như ông đã tứng đùa vui, và tôi cũng được cấp vài chục thước nhà tập thể cơ quan lấy chỗ chui ra chui vào, nên anh em chúng tôi có phần xa nhau hơn trước. Thi thoảng vẫn gặp nhau ở đâu đó vì công việc làm báo, hay lâu lâu điện thoại hỏi thăm thôi, chứ chẳng có thời gian mà ngồi đối ẩm cạch chén cao hứng đàm luận văn chương như ngày xưa cũ...
          Rồi Đài Phát thanh Hà Nội ra thêm truyền hình, cơ quan rời khỏi Hàng Dầu đến trụ sở mới to đẹp nhưng mãi tận phố Huynh Thúc Kháng, nên hai anh em đã xa lại càng xa. Vũ Đình Minh rất hân hoan và bận mải vì làm truyền hình, nên viết văn, làm thơ ít đi. Song chính quãng thời gian này, Vũ Đình Minh đã đi tiên phong trong việc làm phim tài liệu chân dung các văn nghệ sĩ, các nhà văn hóa thuộc hàng gạo cội của Việt Nam. Ồng làm hàng trăm phim chân dung, trong đó có những phim hay như nhà thơ Hoàng Hữu, nhà viết lịch Tào Mạt, nhà thơ Huy Cân, Vũ Cao, nhạc sĩ Văn Cao, căp vợ chồng nhà thơ Lưu Quang Vũ-Xuân Quỳnh v.v... được bạn bè đồng nghiệp và khán giả xem phim đánh giá cao. Phát hiện và thực hiện ý tưởng đó, Vũ Đình Minh và các đồng nghiệp ở Đài Phát thanh truyền hình Hà Nội còn đi trước cả đài trung ương bởi sau đấy ít năm, Đài Truyền hình Việt Nam mới làm phóng sự chân dung văn nghệ sĩ. Công việc vào trớn, hanh thông, Vũ Đình Minh lại thêm niềm vui, cưới vợ cho con trai. Hôm cưới, tôi đến muộn, khách khứa đã vừa mâm hết, tôi phải dợi mãi, ăn cùng mâm với gia đinh hai họ. Vũ Đình Minh vừa vui, vừa mệt, kiểu mừng của người vừa làm xong một việc lớn, ông cứ cốc bia trên tay, lẫm chẫm như con trẻ, la cà các bàn, cụng lý cảm ơn quan khách. Bữa ấy, ngắm nhìn Vũ Đình Minh, tôi mừng cho ông đã vượt qua những tháng năm vất vả, gian khó...
          Nhóm bạn “bộ tứ huyền ảo” của Vũ Đình Minh cũng rệu rã bởi nhà thơ Trinh Đường tuổi cao sức yếu ít ra ngoài, nhà thơ Nguyễn Thái Vận thì mất sớm vì bệnh tim, chỉ còn mỗi nhà văn Trần Nguyên Vấn là hay đây đó. Vũ Đình Minh lại lần nữa chuyển nhà lên phố, gần nơi cơ quan. Ngày ấy chưa có điện thoại di đông, liên lạc qua máy bàn công sở hay nhà riêng. Có lần, tôi điện thoại phiền ông, một sự việc Đài của ông nêu, liên quan đến việc tranh chấp đất đai của một người bạn tôi. Ông bảo, ban ông không làm trực tiếp song ông có biết, vụ này khó bởi ông phó chủ tịch thành phố, người được giao xem xét đã xử lý, giải quyết vụ việc theo hướng đó rồi, Đài ông cũng chỉ nói theo chỉ đạo mà thôi, không thể nào khác được. Chuyện công việc xong, ông đùa tôi, hỏi đã thăng tiến đến chức vụ nào rồi, đem tôi so sánh với người này kẻ nọ. rồi ông cười sảng khoái lắm.
          Trước lúc Vũ Đình Minh nghỉ hưu, tôi gặp ông một lần. Đợt ấy, Hội đồng hương văn nghệ sĩ quê Hải Hưng tổ chức gặp mặt đầu xuân ở Hội trường Đài PT&TH Hà Nội, do nhà văn Đào Quang Thép (Phó giám đốc Đài) chịu trách nhiệm. Tôi đến dự, tan cuộc, ra về, đến cổng đài thì thấy Vu Đình Minh đứng đấy. Tôi vội xuống xe, chào ông. Lâu ngày gặp nhau, tay bắt mặt mừng, tranh thủ hỏi thăm đủ thú chuyện. Vũ Đình Minh vẫn cười đấy, nhưng nụ cười heo héo, và tôi thấy khi sắc ông không vượng. Ông bảo: “Mày ạ... Sắp tới. tao về hưu rồi. Xả hơi một chút rồi viết lại. Mấy năm rồi, bận chương trình của Đài, hết kịch bản này đến kịch bản khác, nổi tiếp nhau , tối cả mặt mày, chả viết được mấy”.
Bẵng đi một dạo, nghe đâu sức khỏe ông xuống nhanh, nhất là sau khi ái nữ của ông lâm trọng bệnh, chữa trị khắp nơi nhưng không qua khỏi. Ông buồn nhiều và suy sụp cũng rất nhanh... Đúng thời gian này, tôi phải xa Hà Nội hai năm theo quyết định điều động vào phụ trách văn phòng Đài TNVN khu vực miền Trung tại Đà Nẵng nên anh em ít liên hệ với nhau.
Trở lại chuyện thơ văn của Vũ Đình Minh. Chính yếu, Vũ Đình Minh là tác giả văn xuôi với gầm chục tập truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện ký, truyện cho thiếu nhi (Ông già ngồi dưới vòm cây gạo, Đi qua bão tố, Mặt đất và bầu trời, Mùa cạn, Trả giá cuối cùng, Một giớ làm quan, Chiếc diều nằm trên cỏ... ), song bạn đọc lại luôn nhớ đến ông-một Vũ Đình Minh Thơ. Ngay trong phần tư liệu về cha mình gửi cho tôi, Vũ Đình Thành thống kê tên 2 tập thơ của ông là Gió đồng, Mưa trước cửa nhà, và tập thơ in chung Lời từ đất. Cẩn thận, Vũ Đình Thành còn chọn gửi cho tôi 5 bài thơ (Hội Lim, Sang năm con lên bảy, Ý nghĩ ngày mưa, Mùa đông nhớ bạn, Bây giờ là mùa thu). Có lẽ, đây là những bài thơ hay mà Vũ Đình Thành lựa chọn theo ý cá nhân mình, hay theo ý cha mình và bạn đọc nói chung, xem đó là những bài thơ hay nhất. tiêu biểu làm nên giọng điệu, phong vị thơ Vũ Đình Minh ?!...
Cứ chiểu theo ý nhận xét, đánh giá của bạn đọc là khách quan nhất, những người tôi quen biết, ý kiến khá nhất quán. Xin nêu ra đây để tham khảo, như nét khắc họa:
Ông Bùi Hải Đăng, một nhà phong thủy, làm thơ và yêu thơ ở Gia Lộc, Hải Dương viết: “Tôi quen bác Vũ Đình Minh những năm 1975- 1978 khi bác BT thơ ở hội văn nghệ Vĩnh Phú... Năm 1978 tôi đi sông Đà rồi chuyển về Hải Phòng, rồi nghỉ mất sức, đã gần 40 năm chưa gặp lại bác Minh...Trong tâm trí của tôi bác là người hiền lành, giản dị, khiêm cung và dễ gần. Hồi đó ông sống thật bình lặng. Bài thơ "Hội Lim" là kỷ niệm buồn về cuộc yêu không thành có thật trong ông với một cô giáo vùng Kinh Bắc.... Tôi đọc thơ ông từ chùm thơ được giải của báo"Người giáo viên nhân dân" khi đó ông còn dạy học vùng cao... Năm 1975 ông đi dự trại viết ở Quảng Bá khi kết thúc trại mang về một chùm thơ hay. nồng nàn cảm xúc. Năm 1976, có thời gian chỉ hai tháng ông viết được đến 4 truyện ngắn. Khi đó tôi ở công trường dệt Minh Phương, có tối sang chỗ Hội chơi, ông thường trải chiếu ra sân sỏi nói chuyện dưới trăng... một lần đọc thơ ông đến đoan: "Em đi qua nghiêng nón khẽ chào/ Tôi thơ thẩn mái đình nhiều ngói quá!/ Cây ổi bờ ao cong cành xanh đặc quả/ Đến bao giờ ổi chín hở em?”. Thấy tôi ngẫm ngợi ông bảo:”Tớ học ca dao đó” ... Thoáng chốc như vừa đâu đây, Hoàng Hữu, Nguyễn Đình Ảnh và Ông giờ đã thành người thiên cổ cả rồi...Ôi kiếp người quả là ngắn ngủi..”.
:Nhà thơ Nguyễn Thị Tuyết ở Đông Anh, Hà Nội, một giáo viên nghỉ hưu từng nhiều năm dạy học ở Hà Giang: “Người đọc hiểu thêm nhiều về nhà văn, nhà thơ Vũ Đình Minh -tác giả của nhiều bài thơ được đông đảo bạn đọc yêu thích -Riêng mình rất tâm đắc bài HỘI LIM của nhà thơ Vũ Đình Minh...”.
Nhà văn Trần Tâm ở Cẩm Phả, Quảng Ninh: “Tôi cũng đã biết và gặp ông ngày ông làm việc tại Đài phát thanh Hà Nội. Tôi như được gặp lại mấy người anh, bạn văn chương, những Trinh Đường, Ngô Quân Miện, Nguyễn Thái Vận, Vũ Đình Minh... Đó là những con người bằng xương bằng thịt mà tôi đã vinh dự được gần gũi gắn bó. Trong số đó, có người tôi gặp gỡ, ghé qua như một buổi dạo chơi, có người góp sức nâng đỡ tôi như một người thày tận tụy. Có người đã đi về miền sương khói, có người đã vào tuổi cổ lai hy...
Ông Lê Minh Dung, bạn yêu thơ ở Tp Hồ Chí Minh: “Tôi cũng thích thơ của anh Vũ Đình Minh, nhiều bài hay, như Hội Lim, Bây giờ mùa thu,...”Bây giờ đã vào thu, nhịp tim đập bình yên/ anh lại nhớ mùa hè nông nổi ấy/ hoa bèo tím mỏng manh lắm đấy/ nhưng điều này chẳng nói với hai ta…”.
Nhà văn Thái Sinh ở Lào Cai: “Từ rất lâu rồi tôi chép bài thơ: Mùa đông nhớ bạn của Vũ Đình Minh: Bạn ở Nà Giàng mùa đông về sớm hơn/ Học trò có nhớ mang rơm cho thầy về trải ổ/ Cái lạnh căm căm từ trong hang đá/ Cái lạnh run tay tỏa từ trong mưa... Bài thơ 7 khổ, câu nào cũng chan chứa tình thầy trò, đúng với tâm trạng và việc làm của những thầy giáo vùng cao chúng tôi vào những năm 1975. Chống gậy leo đèo lặn lội rừng sâu. Gọi các em mấy ngày bỏ lớp...”.
Có hai bạn đọc ở miền Trung nhận xét ngắn gọn, một ghi “Tôi rất xúc động trước tình cảm tác giả bài viết dành cho nhà thơ Vũ Đình Minh. Tôi cũng đã từng xúc động trước Thơ của Vũ Đình Minh”; và một là nữ giáo viên: “Cảm ơn tác giả bài viết về Vũ Đình Minh, ông có những vần thơ giản dị viết về nghề giáo mà tôi phải trăn trở suốt đời: "Mở trang sách, ánh mắt nhìn khao khát/ Tôi biết tôi không được nói những lời thừa...".
Phần nhiều, bạn đọc cảm tình với Vũ Đình Minh qua thơ, nhưng cũng có những người yêu thích văn xuôi của ông, nhất là bút ký. Chẳng hạn như, nhà văn Nguyễn Cao Thâm (Hà Nội) nhận xét: “Tôi cũng đã đọc thơ, ký, truyện ngắn của bác Vũ Đình Minh. Ấn tượng nhất với tôi là những bài ký của bác ấy đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam”. Hay như họa sĩ Đặng Đình Nguyễn ở Quảng Yên (Quảng Ninh): “Tôi ấn tượng với những bài ký của bác Vũ Đình Minh:,
Riêng nhà văn Nguyễn Ngọc Chiến (Hội văn học nghệ thuật Quảng Trị) lại cho biết một thông tin hay: “Tôi vẫn giao lưu cùng anh Vũ Đình Minh khi anh có blog ở vnweblogs, nhưng chỉ được đọc lẻ của anh chứ chưa đọc trọn tập bao giờ... Chủ lực của Vũ Đình Minh là truyện ngắn!”.
Thì rõ rồi, Vũ Đình Minh chủ lực là truyện ngắn, không có gì phải bàn, nhưng Nguyễn Ngọc Chiến tiết lộ chi tiết là từng giao lưu với Vũ Đình Minh trên mạng xã hội vnweblogs thì tôi ngạc nhiên. Vậy là ông rất chi hiện đại. Ông tiếp cận với mạng xã hội, với văn học mạng còn trước cả tôi, người kém tuổi ông những hơn già một tuần con giáp.
Tôi nhớ, lâu lắm rồi, một lần, báo Văn nghệ ra, tôi và Vũ Đình Minh có truyện ngắn in chung một số. Truyên ngắn “Ông già ngôi dưới vòm cây gạo” của Vũ Đình Minh giới thiệu trang bìa, còn truyện ngắn “Vĩnh biệt những mùa trăng” của tôi in ở trang ruột. Khi ấy, niềm vui trong tôi thật khó tả, Anh em, thày trò nghề văn thân nhau có truyện đi chung một sô báo, thật sướng. Tiếc là tôi không giữ được số báo lưu đó đến giờ.
Riêng tôi, học được ở ông nhiều, cả quan điểm về sáng tác. Hơn một lần, lúc trà dư tửu hậu, Vũ Đình Minh vỗ vai tôi bảo: “Này chú em, tao nói cho mà biết... Nghê viết, chớ có kén cả chọn canh. Mình chir viết thể loại nào.... bất kể, truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết. thơ ca, kịch phim, hay gì gì đi chăng nữa... cứ thấy mình viết được, và có thể viết hay... là viết...:. Ông đã làm thế, và đáng mừng là ở thế loại nào Vũ Đình Minh cũng có những thanh công nhất định.
Vậy là, đã mười năm ông rời cõi tạm. Ông mất vào mùa thu năm 2010, sau một thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư vòm họng. Hôm tiễn biệt ông ở Bệnh viện Thanh Nhàn, tôi đi cùng nhà văn Trần Nguyên Vấn, hòa trong đám đông những đồng nghiệp, bạn hữu, người thân của ông, lòng xúc động, nhớ về những ngày tháng đầy gian khó của anh em...
Chẳng hiểu vô tình hay hữu ý, tôi, người đàn em văn chương, người học trò nghề của Vũ Đình Minh, cũng như ông, thử sức mình ở các thể loại, y lời tâm sự chân thành của ông ngày nào!...
 
 



 
 
          Tôi tin rằng, nhiều bạn yêu thơ sẽ nhớ những câu thơ này trích từ bài thơ Bây giờ là mùa thu của nhà thơ Vũ Đình Minh.
Với Vũ Đình Minh, gọi ông là nhà văn hay nhà thơ đều đúng, bởi ông viêt đều tay và có những thành công đáng kể cả văn xuôi (truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện ký, bút ký,...) và thơ.
          Mùa thu này, tôi nhớ và viết về ông như một sự tri ân với người đàn anh thân thiết, người thày về báo chí, văn chương đáng kính.
          Chục năm trước, hồi Vũ Đình Minh mới về cõi hạc, tôi viết chân dung ông-“Dung dị Vũ Đình Minh” đăng trên trang blog cá nhân của mình ở Blog Tiếng Việt, sau đó Báo Nông nghiệp Việt Nam đăng số Tết nguyên đán và sau cùng tập hợp trong một tập sách của tôi. Đặc biệt, khi bài về chân dung Vũ Đình Mình đăng trên mạng xã hội Blog Tiếng Việt. đã có rất nhiều bạn đọc, nhà báo, bạn văn chương vào cảm nhận. cung cấp một số chi tiết về Vũ Đình Minh. Ngay cả người con trai của ông, nhà báo Vũ Đình Thành cũng ghi cảm nhận và cung cấp thêm tư liệu về đời tư và sự nghiệp sáng tác văn chương của ông. Trên cơ sở những chi tiết và tư liệu này, tôi gom góp và xâu chuỗi lại, đặng khắc họa đậm nét hơn bức chân dung về Vũ Đình Minh.
Theo nhà báo Vũ Đình Thành, con trai ông, thì Vũ Đình Minh sinh ngày 30 tháng 12 năm 1944 tại quê, Tráng Việt, Mê Linh, Vĩnh Phúc. Năm 1965, tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, ông tình nguyện xung phong lên miền rừng núi Cao Bằng dạy học. Cả thời thanh xuân đầy khát khao, ông cống hiến cho vùng đất hoang vắng này, sau đó chuyển công tác về Vĩnh Phúc, Phú Thọ dạy học ở Trường cấp 3 Đoan Hùng. Vì có năng khiếu và tham gia sáng tác văn học, nên Vũ Đình Minh được điều về làm Thường trực Hội Văn học Nghệ thuật tình Vĩnh Phú. Từ năm 1979, ông chuyển công tác về làm biên tập ở Ban Văn nghệ Đài Phát thanh truyền hình Hà Nội. Là người có năng lực, ông lên đến cương vị Trưởng ban, năm 2004 thì nghỉ hưu, sống tại Hà Nội đến khi qua đời.
 
          Trở lại chuyện cũ, mùa thu năm 1987, tôi từ vị trí kỹ sư nông nghiệp ở huyện miền núi biên giới Trị Tôn (An Giang) về làm báo tại Đài Tiếng nói Việt Nam (Đài TNVN) thì Vũ Đình Minh đã là Trưởng ban Văn nghệ Đài Phát thanh Hà Nội rồi. Khi ấy. Đài Hà Nội chưa ra truyền hình, nên các chương trình văn nghệ của Đài rất được người làm chăm chút và thính giả đón nhận. Có lẽ, các chương trình văn nghệ ở đây hay chẳng mấy kém chương trình văn nghệ của Đài trung ương. Vậy nên, Vũ Đình Minh cũng rất được đám văn nghệ sĩ Hà Nội nể trọng, cầu thân, đặng mong được phát bài. Nhuận bút ít ỏi, song thời buổi cả nước thiếu thốn, đói kém nên đồng nhuận bút quý bao nhiêu. Tôi tập tọng nghề mói, tiếng nhà báo cũng oai đấy, nhưng túi thường nhắn khi chưa hết tháng. ngoài công việc chuyên môn ở cơ quan, tôi dành thời gian viết báo vặt để kiếm tiền và tối đi học ngoại ngữ, tiếng Pháp ở trung tâm nơi góc phố Nhà Chung. Viết báo vặt thì phải chịu khó, ngó các báo trung ương, đía phương, bao ngành, thấy tờ nào có mục mà mình có thể viết được là mần thôi. Anh bạn thân, nhà báo Trịnh Bá Ninh làm phóng viên báo Nông nghiệp chỉ dẫn này nọ, đặng giới thiệu làm quen với một số nơi. Ngoài nhà văn Trần Nguyên Vấn (Trần Phương Trà) ở Ban Văn nghệ Đài TNVN mà tôi làm quen từ hồi còn ở trong Nam, nay thành người cùng cơ quan, thì Trịnh Bá Ninh dắt tôi đến giới thiệu làm quen với Vũ Đình Minh. Cơ quan ông ở góc phố Hàng Dầu, gần chỗ bức phù điêu "Quyết từ cho tổ quốc quyết sinh", Hồ Gươm (nay người ta sửa thành "Cảm tử cho tổ quốc quyết sinh"), nên tôi hay mò sang thăm ông. Lân la, tôi quen luôn cả nhóm bộ tứ của ông. Cao tuổi và trưởng nhóm là nhà thơ Trinh Đường, mà mọi người quen gọi vui là “Trinh Đoàn trưởng". kế đến là nhà văn Trần Nguyên Vấn, hai anh sàn sàn nhau là nhà thơ Nguyễn Thái Vận (lam biên tập ở Nhà xuất bản Lao Động) và Vũ Đình Minh. Với nhà thơ Trinh Đường thì tôi chỉ ra mắt xã giao, vì ông có độ chênh lệch tuổi tác, cương vị, nên không dám gần, cứ kính nhi viên chi thôi. Nhà thơ Nguyễn Thái Vận bảnh người, nói năng nhỏ nhẹ và lịch sự, song cảm nhận ở nơi anh có vẻ lành lạnh hơi khách khi nên tôi ngài ngại, giữ khoảng cách đủ độ ấm. Còn nhà văn Trần Nguyên Vấn thì thành người một nhà rồi. Riêng Vũ Đình Minh nhỏ người, trông xâu xấu trai như mình, dáng vẻ quê quê kiểu thầy giáo làng, tính tình lại dễ chịu, xuề xòa và khi vui là đến sáng khoái, tôi thấy hợp nên thân ngay. Tôi nằm bàn ở Trụ sở cơ quan 58 Quán Sứ sang Hàng Dầu cơ quan anh cũng gần nên hầu như tuần nào cũng ghé. Hơn nữa, Vũ Đình Minh còn hứa "Tao sẽ để ý, thấy con bé nào đường được thì giới thiệu cho mày làm người yêu...". Tôi gần với Vũ Đình Minh, còn bởi, tôi độc thân chưa vợ, hết giờ làm việc và ngày nghỉ chủ nhật chẳng biết đi đâu, các vị kia thì gia đình vợ con dầm ấm đề huề ở Hà Nội cả, riêng Vũ Đình Minh mặc dù mua được căn nhà cấp 4 xóm nơi chân dốc phố Lò Đúc nhưng vợ con ông vẫn ở quê bên Mê Linh, tháng đôi lần đạp xe thồ đèo lủng củng đồ hàng về quê, khi ra lại nặng xe thồ đèo nông sản, những ngô khoai sắn rau cỏ... Tôi hay đến đây, vui chuyện, anh em khi cao hứng thì cạch chén tợp đôi ba chén rượu lạc rang, tóp mỡ, đậu rán chấm nước mắm. rau thơm giải sầu...
Ít lâu sau, Vũ Đình Minh xin việc cho người em ruột về làm cùng Đài Hà Nội và cho gia đình họ ở ghé căn nhà ấy, thì tôi bớt lui tời vì cảm thấy phiền, mà chỉ ghé cơ quan ông thôi.
          Thời thế, hoàn cảnh gia đình mỗi người đổi thay, Vũ Đình Minh đưa cả vợ con từ quê ra Hà Nội ở chung, chuyển nhà mới xuống mãi đường Tam Trinh nối dài, còn tôi thì lập gia đình, vợ tôi cũng không phải là một cô gái nào mà Vũ Đình Minh thấy đường được mai mối cho tôi như ông đã tứng đùa vui, và tôi cũng được cấp vài chục thước nhà tập thể cơ quan lấy chỗ chui ra chui vào, nên anh em chúng tôi có phần xa nhau hơn trước. Thi thoảng vẫn gặp nhau ở đâu đó vì công việc làm báo, hay lâu lâu điện thoại hỏi thăm thôi, chứ chẳng có thời gian mà ngồi đối ẩm cạch chén cao hứng đàm luận văn chương như ngày xưa cũ...
          Rồi Đài Phát thanh Hà Nội ra thêm truyền hình, cơ quan rời khỏi Hàng Dầu đến trụ sở mới to đẹp nhưng mãi tận phố Huynh Thúc Kháng, nên hai anh em đã xa lại càng xa. Vũ Đình Minh rất hân hoan và bận mải vì làm truyền hình, nên viết văn, làm thơ ít đi. Song chính quãng thời gian này, Vũ Đình Minh đã đi tiên phong trong việc làm phim tài liệu chân dung các văn nghệ sĩ, các nhà văn hóa thuộc hàng gạo cội của Việt Nam. Ồng làm hàng trăm phim chân dung, trong đó có những phim hay như nhà thơ Hoàng Hữu, nhà viết lịch Tào Mạt, nhà thơ Huy Cân, Vũ Cao, nhạc sĩ Văn Cao, căp vợ chồng nhà thơ Lưu Quang Vũ-Xuân Quỳnh v.v... được bạn bè đồng nghiệp và khán giả xem phim đánh giá cao. Phát hiện và thực hiện ý tưởng đó, Vũ Đình Minh và các đồng nghiệp ở Đài Phát thanh truyền hình Hà Nội còn đi trước cả đài trung ương bởi sau đấy ít năm, Đài Truyền hình Việt Nam mới làm phóng sự chân dung văn nghệ sĩ. Công việc vào trớn, hanh thông, Vũ Đình Minh lại thêm niềm vui, cưới vợ cho con trai. Hôm cưới, tôi đến muộn, khách khứa đã vừa mâm hết, tôi phải dợi mãi, ăn cùng mâm với gia đinh hai họ. Vũ Đình Minh vừa vui, vừa mệt, kiểu mừng của người vừa làm xong một việc lớn, ông cứ cốc bia trên tay, lẫm chẫm như con trẻ, la cà các bàn, cụng lý cảm ơn quan khách. Bữa ấy, ngắm nhìn Vũ Đình Minh, tôi mừng cho ông đã vượt qua những tháng năm vất vả, gian khó...
          Nhóm bạn “bộ tứ huyền ảo” của Vũ Đình Minh cũng rệu rã bởi nhà thơ Trinh Đường tuổi cao sức yếu ít ra ngoài, nhà thơ Nguyễn Thái Vận thì mất sớm vì bệnh tim, chỉ còn mỗi nhà văn Trần Nguyên Vấn là hay đây đó. Vũ Đình Minh lại lần nữa chuyển nhà lên phố, gần nơi cơ quan. Ngày ấy chưa có điện thoại di đông, liên lạc qua máy bàn công sở hay nhà riêng. Có lần, tôi điện thoại phiền ông, một sự việc Đài của ông nêu, liên quan đến việc tranh chấp đất đai của một người bạn tôi. Ông bảo, ban ông không làm trực tiếp song ông có biết, vụ này khó bởi ông phó chủ tịch thành phố, người được giao xem xét đã xử lý, giải quyết vụ việc theo hướng đó rồi, Đài ông cũng chỉ nói theo chỉ đạo mà thôi, không thể nào khác được. Chuyện công việc xong, ông đùa tôi, hỏi đã thăng tiến đến chức vụ nào rồi, đem tôi so sánh với người này kẻ nọ. rồi ông cười sảng khoái lắm.
          Trước lúc Vũ Đình Minh nghỉ hưu, tôi gặp ông một lần. Đợt ấy, Hội đồng hương văn nghệ sĩ quê Hải Hưng tổ chức gặp mặt đầu xuân ở Hội trường Đài PT&TH Hà Nội, do nhà văn Đào Quang Thép (Phó giám đốc Đài) chịu trách nhiệm. Tôi đến dự, tan cuộc, ra về, đến cổng đài thì thấy Vu Đình Minh đứng đấy. Tôi vội xuống xe, chào ông. Lâu ngày gặp nhau, tay bắt mặt mừng, tranh thủ hỏi thăm đủ thú chuyện. Vũ Đình Minh vẫn cười đấy, nhưng nụ cười heo héo, và tôi thấy khi sắc ông không vượng. Ông bảo: “Mày ạ... Sắp tới. tao về hưu rồi. Xả hơi một chút rồi viết lại. Mấy năm rồi, bận chương trình của Đài, hết kịch bản này đến kịch bản khác, nổi tiếp nhau , tối cả mặt mày, chả viết được mấy”.
Bẵng đi một dạo, nghe đâu sức khỏe ông xuống nhanh, nhất là sau khi ái nữ của ông lâm trọng bệnh, chữa trị khắp nơi nhưng không qua khỏi. Ông buồn nhiều và suy sụp cũng rất nhanh... Đúng thời gian này, tôi phải xa Hà Nội hai năm theo quyết định điều động vào phụ trách văn phòng Đài TNVN khu vực miền Trung tại Đà Nẵng nên anh em ít liên hệ với nhau.
Trở lại chuyện thơ văn của Vũ Đình Minh. Chính yếu, Vũ Đình Minh là tác giả văn xuôi với gầm chục tập truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện ký, truyện cho thiếu nhi (Ông già ngồi dưới vòm cây gạo, Đi qua bão tố, Mặt đất và bầu trời, Mùa cạn, Trả giá cuối cùng, Một giớ làm quan, Chiếc diều nằm trên cỏ... ), song bạn đọc lại luôn nhớ đến ông-một Vũ Đình Minh Thơ. Ngay trong phần tư liệu về cha mình gửi cho tôi, Vũ Đình Thành thống kê tên 2 tập thơ của ông là Gió đồng, Mưa trước cửa nhà, và tập thơ in chung Lời từ đất. Cẩn thận, Vũ Đình Thành còn chọn gửi cho tôi 5 bài thơ (Hội Lim, Sang năm con lên bảy, Ý nghĩ ngày mưa, Mùa đông nhớ bạn, Bây giờ là mùa thu). Có lẽ, đây là những bài thơ hay mà Vũ Đình Thành lựa chọn theo ý cá nhân mình, hay theo ý cha mình và bạn đọc nói chung, xem đó là những bài thơ hay nhất. tiêu biểu làm nên giọng điệu, phong vị thơ Vũ Đình Minh ?!...
Cứ chiểu theo ý nhận xét, đánh giá của bạn đọc là khách quan nhất, những người tôi quen biết, ý kiến khá nhất quán. Xin nêu ra đây để tham khảo, như nét khắc họa:
Ông Bùi Hải Đăng, một nhà phong thủy, làm thơ và yêu thơ ở Gia Lộc, Hải Dương viết: “Tôi quen bác Vũ Đình Minh những năm 1975- 1978 khi bác BT thơ ở hội văn nghệ Vĩnh Phú... Năm 1978 tôi đi sông Đà rồi chuyển về Hải Phòng, rồi nghỉ mất sức, đã gần 40 năm chưa gặp lại bác Minh...Trong tâm trí của tôi bác là người hiền lành, giản dị, khiêm cung và dễ gần. Hồi đó ông sống thật bình lặng. Bài thơ "Hội Lim" là kỷ niệm buồn về cuộc yêu không thành có thật trong ông với một cô giáo vùng Kinh Bắc.... Tôi đọc thơ ông từ chùm thơ được giải của báo"Người giáo viên nhân dân" khi đó ông còn dạy học vùng cao... Năm 1975 ông đi dự trại viết ở Quảng Bá khi kết thúc trại mang về một chùm thơ hay. nồng nàn cảm xúc. Năm 1976, có thời gian chỉ hai tháng ông viết được đến 4 truyện ngắn. Khi đó tôi ở công trường dệt Minh Phương, có tối sang chỗ Hội chơi, ông thường trải chiếu ra sân sỏi nói chuyện dưới trăng... một lần đọc thơ ông đến đoan: "Em đi qua nghiêng nón khẽ chào/ Tôi thơ thẩn mái đình nhiều ngói quá!/ Cây ổi bờ ao cong cành xanh đặc quả/ Đến bao giờ ổi chín hở em?”. Thấy tôi ngẫm ngợi ông bảo:”Tớ học ca dao đó” ... Thoáng chốc như vừa đâu đây, Hoàng Hữu, Nguyễn Đình Ảnh và Ông giờ đã thành người thiên cổ cả rồi...Ôi kiếp người quả là ngắn ngủi..”.
:Nhà thơ Nguyễn Thị Tuyết ở Đông Anh, Hà Nội, một giáo viên nghỉ hưu từng nhiều năm dạy học ở Hà Giang: “Người đọc hiểu thêm nhiều về nhà văn, nhà thơ Vũ Đình Minh -tác giả của nhiều bài thơ được đông đảo bạn đọc yêu thích -Riêng mình rất tâm đắc bài HỘI LIM của nhà thơ Vũ Đình Minh...”.
Nhà văn Trần Tâm ở Cẩm Phả, Quảng Ninh: “Tôi cũng đã biết và gặp ông ngày ông làm việc tại Đài phát thanh Hà Nội. Tôi như được gặp lại mấy người anh, bạn văn chương, những Trinh Đường, Ngô Quân Miện, Nguyễn Thái Vận, Vũ Đình Minh... Đó là những con người bằng xương bằng thịt mà tôi đã vinh dự được gần gũi gắn bó. Trong số đó, có người tôi gặp gỡ, ghé qua như một buổi dạo chơi, có người góp sức nâng đỡ tôi như một người thày tận tụy. Có người đã đi về miền sương khói, có người đã vào tuổi cổ lai hy...
Ông Lê Minh Dung, bạn yêu thơ ở Tp Hồ Chí Minh: “Tôi cũng thích thơ của anh Vũ Đình Minh, nhiều bài hay, như Hội Lim, Bây giờ mùa thu,...”Bây giờ đã vào thu, nhịp tim đập bình yên/ anh lại nhớ mùa hè nông nổi ấy/ hoa bèo tím mỏng manh lắm đấy/ nhưng điều này chẳng nói với hai ta…”.
Nhà văn Thái Sinh ở Lào Cai: “Từ rất lâu rồi tôi chép bài thơ: Mùa đông nhớ bạn của Vũ Đình Minh: Bạn ở Nà Giàng mùa đông về sớm hơn/ Học trò có nhớ mang rơm cho thầy về trải ổ/ Cái lạnh căm căm từ trong hang đá/ Cái lạnh run tay tỏa từ trong mưa... Bài thơ 7 khổ, câu nào cũng chan chứa tình thầy trò, đúng với tâm trạng và việc làm của những thầy giáo vùng cao chúng tôi vào những năm 1975. Chống gậy leo đèo lặn lội rừng sâu. Gọi các em mấy ngày bỏ lớp...”.
Có hai bạn đọc ở miền Trung nhận xét ngắn gọn, một ghi “Tôi rất xúc động trước tình cảm tác giả bài viết dành cho nhà thơ Vũ Đình Minh. Tôi cũng đã từng xúc động trước Thơ của Vũ Đình Minh”; và một là nữ giáo viên: “Cảm ơn tác giả bài viết về Vũ Đình Minh, ông có những vần thơ giản dị viết về nghề giáo mà tôi phải trăn trở suốt đời: "Mở trang sách, ánh mắt nhìn khao khát/ Tôi biết tôi không được nói những lời thừa...".
Phần nhiều, bạn đọc cảm tình với Vũ Đình Minh qua thơ, nhưng cũng có những người yêu thích văn xuôi của ông, nhất là bút ký. Chẳng hạn như, nhà văn Nguyễn Cao Thâm (Hà Nội) nhận xét: “Tôi cũng đã đọc thơ, ký, truyện ngắn của bác Vũ Đình Minh. Ấn tượng nhất với tôi là những bài ký của bác ấy đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam”. Hay như họa sĩ Đặng Đình Nguyễn ở Quảng Yên (Quảng Ninh): “Tôi ấn tượng với những bài ký của bác Vũ Đình Minh:,
Riêng nhà văn Nguyễn Ngọc Chiến (Hội văn học nghệ thuật Quảng Trị) lại cho biết một thông tin hay: “Tôi vẫn giao lưu cùng anh Vũ Đình Minh khi anh có blog ở vnweblogs, nhưng chỉ được đọc lẻ của anh chứ chưa đọc trọn tập bao giờ... Chủ lực của Vũ Đình Minh là truyện ngắn!”.
Thì rõ rồi, Vũ Đình Minh chủ lực là truyện ngắn, không có gì phải bàn, nhưng Nguyễn Ngọc Chiến tiết lộ chi tiết là từng giao lưu với Vũ Đình Minh trên mạng xã hội vnweblogs thì tôi ngạc nhiên. Vậy là ông rất chi hiện đại. Ông tiếp cận với mạng xã hội, với văn học mạng còn trước cả tôi, người kém tuổi ông những hơn già một tuần con giáp.
Tôi nhớ, lâu lắm rồi, một lần, báo Văn nghệ ra, tôi và Vũ Đình Minh có truyện ngắn in chung một số. Truyên ngắn “Ông già ngôi dưới vòm cây gạo” của Vũ Đình Minh giới thiệu trang bìa, còn truyện ngắn “Vĩnh biệt những mùa trăng” của tôi in ở trang ruột. Khi ấy, niềm vui trong tôi thật khó tả, Anh em, thày trò nghề văn thân nhau có truyện đi chung một sô báo, thật sướng. Tiếc là tôi không giữ được số báo lưu đó đến giờ.
Riêng tôi, học được ở ông nhiều, cả quan điểm về sáng tác. Hơn một lần, lúc trà dư tửu hậu, Vũ Đình Minh vỗ vai tôi bảo: “Này chú em, tao nói cho mà biết... Nghê viết, chớ có kén cả chọn canh. Mình chir viết thể loại nào.... bất kể, truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết. thơ ca, kịch phim, hay gì gì đi chăng nữa... cứ thấy mình viết được, và có thể viết hay... là viết...:. Ông đã làm thế, và đáng mừng là ở thế loại nào Vũ Đình Minh cũng có những thanh công nhất định.
Vậy là, đã mười năm ông rời cõi tạm. Ông mất vào mùa thu năm 2010, sau một thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư vòm họng. Hôm tiễn biệt ông ở Bệnh viện Thanh Nhàn, tôi đi cùng nhà văn Trần Nguyên Vấn, hòa trong đám đông những đồng nghiệp, bạn hữu, người thân của ông, lòng xúc động, nhớ về những ngày tháng đầy gian khó của anh em...
Chẳng hiểu vô tình hay hữu ý, tôi, người đàn em văn chương, người học trò nghề của Vũ Đình Minh, cũng như ông, thử sức mình ở các thể loại, y lời tâm sự chân thành của ông ngày nào!...
 
 



 
Đăng nhập để trả lời
0
DỤ TRĂNG THEO VỀ NHÀ
Nguyễn Hưng Hải
(Ủy viên Ban Văn học chuyên đề, Hội Nhà văn Việt Nam)
 
(Đọc tập thơ “Xương rồng khô đã lên xanh” của Nguyễn Chu Nhạc -NXB Hội nhà văn, 2019).
 
Xương rồng khô đã lên xanh”, cái tên mà Nguyễn Chu Nhạc đặt cho cả tập thơ đã là một thông điệp, nó cũng như một sự khẳng định sự sống là bất diệt và cây xương rồng khô ấy đã vượt qua được mọi thử thách, đã không sao cả trong mọi thời tiết, mọi tình huống, và đã tốt tươi trên hoang cằn khắc nghiệt.
Tôi thích ẩn dụ này cũng như nhiều ẩn dụ khác trong cả tập thơ, càng đọc càng thấy có lý khi xương rồng khô đã lên xanh, cuộc sống lại trở lại như xưa, và trên thân cành gai góc ấy những bông hoa lại nở. Nơi ấy chất chứa bao nỗi niềm đâu chỉ của cây xương rồng.
Là một nhà báo nên Nguyễn Chu Nhạc có mặt ở khắp mọi miền quê trên đất nước và cả ở những phương trời tuyết trắng trên nhiều châu lục. Đó cũng là thuận lợi để ông biết được lịch sử, văn hóa ở những nơi ông từng đặt trên đến, cho ông có thêm vốn sống, sự trải nghiệm và thăng hoa trong sáng tác.
Bên bến thời gian, cái bến mà không ai nhìn thấy có cây xương rồng khô đã lên xanh ấy, Nguyễn Chu Nhạc đã gặp những ai, đã tâm sự điều gì với cỏ cây hoa lá lúc trăng lên, khi buồm mở cánh? Có lẽ chỉ ông mới trả lời được, mới biết được cách nào để dụ trăng theo về nhà: “Thuyền trăng buông mấy mái chèo/ Biết làm sao dụ trăng theo về nhà/ Đêm thì sâu, trăng thì xa/ Bến thời gian chốn bao la đất trời”.
Giữa cái chốn bao la ấy có trời mà biết: “Đời người ta mấy con sào/ Cuộc tình chỉ giấc chiêm bao thôi mà…/ Bến thời gian vớt trăng ngà/ Chỉ ta mới hiểu lòng ta thế nào?...”
Nguyễn Chu Nhạc thi sĩ là ở chỗ này đây, chỗ mà không ai nhìn thấy, không ai biết ngoài ông: “Trái tim quen thói đa mang/ Thương người tình cũ đã sang theo đò…”
Sang theo đò biết có còn ngoái lại hay không, biết có còn thương mình như mình thương người tình cũ hay không, chả cần câu trả lời, bởi trả lời là sẽ chẳng còn vằng vặc chờ mong và nhớ thương gì nữa.
Khách lãng du, thi sĩ đa tình Nguyễn Chu Nhạc đã theo thuyền trăng đến những đâu và ở cái bến Ninh Kiều rất nên thơ này, ông đã nhìn thấy, đã nghe được gì: “Cần Thơ chiều  vắng mưa giăng/ Ninh Kiều bến cũ buồn lằng lặng lên/ Thuyền con lầm lụi mưa xiên/ Lục bình trôi dạt về miền hoang sơ/ Đàn kìm ai nảy tiếng tơ/ Người đi mở đất tỏ mờ tâm can/ Dấn thân vì cõi giang san/ Mấy trăm năm vọng vô vàn nhớ thương”
Đọc mà thèm được như ông, vào đúng cái lúc buồn lằng lặng lên ấy thì em đến, nhưng hình như không phải mà Nguyễn Chu Nhạc vẫn chỉ một mình: “Hết loanh quanh lại tần ngần/ Ghé ra cửa sổ đầy sân lộc giời”.
Quẩn quanh vẫn mấy con đò, Nguyễn Chu Nhạc ngồi đợi hay sang ngang, hay đi đò dọc giữa mùa thu sương khói ấy: “Đằng đẵng đợi cánh chim Ô Thước/ Có khi nào người đan áo vì nhau”.
Không đan thì dụ trăng theo về nhà làm gì, còn trăng ấy đang tròn hay đã khuyết chỉ có Nguyễn Chu Nhạc mới hay: “Nhà bên quên chưa cất/ Chăn mền phơi ướt rồi/ Chỉ khóm xương rồng khát/ Đỏ hoa gội mưa thôi”
Xương rồng khát hay ông khát, hay đâu khát: “Lại cà phê sáng một mình/ Rủ vài chiếc lá theo rình mùa thu/ Xa nhau lấy nhớ làm bù/ Lại như cõi ngục cầm tù trái tim”
Nói là nói vậy thôi ai cầm tù được trái tim thi sĩ Nguyễn Chu Nhạc, ngay cả khi: “Cuối mùa lạnh cũng lạnh vờ/ Lá năm cũ rụng xác xơ cả ngày/ Búp non khô đỏ ngọn cây/ Riêng ta thì vẫn đong đầy nhớ ai”
Không nhớ sao được lúc đã dụ được trăng theo về nhà: “Giọt vô ý, giọt tình cờ/ Giọt là hiện thực, giọt mơ giấc nồng/ Giọt như vợ, giọt như chồng…”
Giọt ấy là giọt trăng hay giọt nào mà buồn mà gợi đến vậy: “Thật buồn không biết nói gì/ Mưa xuân biêng biếc đến thì cỏ non/ Vậy mà,sao dạ héo hon/ Chi chi chẳng biết có còn hay không”.
Thì vẫn cứ còn cả đây, mưa xuân tí tách cả đêm khi Nguyễn Chu Nhạc đã dụ được trăng theo về nhà để “trả ơn” cho vợ: “Anh ốm, em càng tất bật/ Lại thêm nỗi lo cho chồng/ Xong việc nhà rồi vào viện/ Mà vẫn nhẹ nhàng như không”.
Đằng sau sự thành công nào của người đàn ông cũng luôn có bóng dáng một người phụ nữ nên dù có lãng tử đến mấy, có mê đắm theo trăng đến mấy, gia đình vẫn là nơi yên ổn nhất, gắn bó nhất và cũng nhiều nặng nợ, yêu thương nhất. Nguyễn Chu Nhạc đã giúp bao người khi đau ốm chỉ có vợ bên bên cạnh, cây xương rồng khô bên cạnh, không thấy trăng đâu: “Mới hiểu không riêng là vợ/ Em bao dung như mẹ ta/ Ân cần như là người chị/ Nặng lòng như người tinh xa.”
Thi sĩ Nguyễn Chu Nhạc thật thà mà không ngoan đến thế là cùng.
Công viên Văn Lang, Việt Trì sáng 09/10/2020
Nguyễn Hưng Hải.
 
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.01.2021 09:41:55 bởi tamvanvov>
Xương rồng khô đã lên xanh  
Mãi đến khi 63 tuổi Nguyễn Chu Nhạc mới cầm trên tay “Thẻ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam”. Gặp ông bữa Hội tổ chức gặp mặt hội viên nhân dịp Tết Canh Tý tại Bảo tàng Văn học Việt Nam ở Quảng Bá, Hà Nội, tôi đã đùa “Thiên hạ người ta thi nhau viết đơn xin vào Hội còn ông thì cứ đủng đỉnh viết văn, làm thơ và viết báo”. Nhà văn Nguyễn Chu Nhạc cười, ông tủm tỉm theo kiểu đủng đỉnh vốn có, rồi thong thả đọc “Thiên hạ chơi đông chơi tây/ riêng ta ngày lễ ngủ say, kệ người/ cà phê muộn, rồi rong chơi/ về miền ký ức một thời đã xaCười với nhau cho nó sướng rồi chúng tôi kéo nhau ra một góc, Nguyễn Chu Nhạc nhấc chiếc túi đang đeo bên vai xuống và lấy ra một cuốn sách thơm phưng phức, ông kê cuốn sách đó lên đùi hí hoáy viết lời đề tặng rồi đưa cho tôi. “Kinh” – tôi nhận sách và nói – “Dạo này lão làm thơ như suối chảy ấy”. Đó là tập thơ in gần đây nhất của ông. Liếc qua cái tên tập thơ tôi hơi “giật mình” bởi nghe như một “thông điệp” vậy. Tập thơ Xương rồng khô đã lên xanh cứ như câu trả lời cho câu hỏi đã có lần tôi hỏi ông: “Ông định bao giờ mới vào Hội đây?” năm nảo năm nào.
 
Chỉ lửa là rất thậtBừng lên cháy hết lòngEm một thời má đỏTa một thời long đongChẳng hiểu Nguyễn Chu Nhạc có ngụ ý cho đấy là “tuyên ngôn” hay không nhưng việc anh chọn khổ thơ đó để in ở bìa 4 tập thơ của mình và anh cũng lấy luôn tên của bài thơ đó (Chỉ lửa là rất thật) để làm tên chung cho cả tập thơ thứ 6 của mình, khiến tôi phải đoán già đoán non “người báo, người văn, người thơ” này có “ứng” vậy không? Mà ứng hay không thì chưa biết nhưng có điều chắc chắn rằng với “lửa”, với “long đong” thì chừng như thấy đúng…
Lần đầu tiên, chúng tôi gặp lại nhau sau mười sáu năm xa mái trường phổ thông. Mà lần gặp lại ấy cũng đã ba mươi năm rồi. Còn nhớ, sau tết năm 1975 thì tôi đi bộ đội. Cùng năm đó, Nguyễn Chu Nhạc thi đỗ vào trường Đại học Nông nghiệp 1. Tốt nghiệp, nhận tấm bằng kỹ sư nông nghiệp ông đi một mạch vào An Giang công tác. Lần gặp lại nhau khá bất ngờ này khi tôi nghĩ Nhạc vẫn đang ở miền Tây Nam bộ vi vu sông nước kia nên thấy bất ngờ, bất ngờ  đến nỗi tôi chẳng kịp nhận ra người bạn học cũ nữa.
Số là, buổi ấy, mấy chúng tôi trong nhóm văn chương “Cánh buồm” rủ nhau đến Nhà Thái Học trong Văn Miếu ngồi đàm đạo thơ văn cho nó sang (như cách nói vui của cánh viết văn trẻ hồi đó). Nguyễn Chu Nhạc được mời đến và người chủ trì cuộc vui đã giới thiệu đã vắn gọn “Nhà văn Nguyễn Chu Nhạc nói thấy nhóm anh em bọn mình tụ họp nên đến chơi cùng”. Tôi tròn mắt nhìn cái “ông” vóc người nho nhỏ nhưng đã là “nhà văn” ấy rất ngưỡng vọng. Tiếp đó, người chủ trì cuộc vui chỉ tay lần lượt giới thiệu từng người, người ấy vừa chỉ tay vào tôi định nói thì Nguyễn Chu Nhạc cười thân thiện “Khỏi phải giới thiệu. Tôi với ông này học cùng nhau”. Kinh ngạc. Tôi cố vắt óc nhớ lại xem mình có “vinh hạnh” được học cùng với ông “nhà văn” này ở đâu. Chịu. Nguyễn Chu Nhạc không nhận ra điều đó. Ông vẫn nói cười vui vẻ trước những câu hỏi đầy thán phục của “bọn tập viết”.
Mãi mấy năm sau, khi về trường cấp 3 Bần Yên Nhân (Mỹ Hào, Hưng Yên) họp khóa phổ thông tôi mới “giật mình”. Thì ra cái thằng Nhạc bé con con nhưng là học sinh giỏi văn cấp tỉnh, học sinh giỏi văn toàn quốc năm nào đúng là học cùng lớp với tôi thật. Đâu như lứa học sinh giỏi văn toàn quốc ấy có Trần Đăng Khoa, có Trịnh Bá Ninh, có Trương Nhuận và có mấy người nữa tôi đều quen biết. Tôi bắt tay Nguyễn Chu Nhạc và ngượng nghịu nói câu “đánh lảng” về “sự quên bạn” hôm nào.
Mà cũng tại tôi, thường xuyên đọc báo hồi cuối những năm tám mươi đầu những năm chín mươi thấy dường như tuần nào cũng có bài tản văn của tác giả Nguyễn Chu Nhạc. Khi thì ở báo Hà Nội mới, khi thì trên báo Nhân dân chủ nhật, lúc lại báo Người Hà Nội... thấy hay hay mà tại sao tôi lại không quan tâm đến tác giả ấy là người như thế nào. Những bài tản văn ngăn ngắn, xinh xinh, có giọng điệu dễ tiếp nhận, diễn đạt chân thật, nội dung lại nhẹ nhàng, gần gũi cứ như thấy làng thấy xóm vậy, tôi rất thích thú. Thích thú quá đến nỗi tôi tự cho rằng người viết những bài tản văn thế này chắc chắn phải “xa xôi” lắm nên mình đâu có vinh hạnh được quen biết. Người ta “giỏi” thế kia mà.
Hồi học phổ thông tôi vốn nghịch ngợm nên nói đến học là “lảng”, vậy thế, dù rất biết Nguyễn Chu Nhạc học văn giỏi, nhưng tôi cũng chẳng  mấy “mặn mà”, hì, bọn lười học là như vậy đó. Cứ nghĩ, kết thân nó, có khi nó lại cho là mình “nhăm nhăm” liếc sang chép bài. Kết thân với nó hóa ra là mình hết được nghịch được chơi ư? Nghĩ thế, nên tôi với Nguyễn Chu Nhạc cũng chơi với nhau sơ sơ, chỉ đại loại là bạn học cùng lớp mà thôi.
Kể cũng lạ nhỉ? Nguyễn Chu Nhạc, quê gốc ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, học văn rất giỏi, sinh ra ở Hà Nội, về quê tôi học sơ tán vậy mà chẳng hiểu sao cậu ta lại thi vào học ngành nông nghiệp? Không lẽ, cái chữ “nghiệp” trong nông nghiệp lại ứng với “lửa” và với “long đong” như Nguyễn Chu Nhạc “tuyên bố”. Ồ, vậy mà chuẩn không cần chỉnh. Này nhé: “Ngô đang mùa vào hạt/ mặc đá trơ dưới chân/ nắng lửa trên đầu/ đêm đêm/ đá toát mồ hôi/ cùng người rạo rực...”. Hóa ra, ở An Giang đâu như dăm bảy năm gì đó thì Nguyễn Chu Nhạc bất ngờ “rẽ ngoặt” cuộc đời. Chàng “kỹ sư canh nông” người bé nhỏ, những tưởng an phận với ruộng với đồng thuần nhất chợt thành “ông nhà báo”. Mà lại bước một bước dài từ xa tắp tận vùng Tứ giác Long Xuyên ra Thủ đô Hà Nội mới tài. Nguyễn Chu Nhạc về đầu quân cho Đài Tiếng nói Việt Nam và cuộc đời nhà báo đã ứng với “long đong” thật. Làm báo nên ông được đi nhiều nơi, được đến nhiều vùng. Cũng có thời kỳ, Nguyễn Chu Nhạc đi thường trú mấy năm ở Đà Nẵng nữa kia….
Đó là những tháng năm “cây bút” Nguyễn Chu Nhạc tỏ ra sung sức. Tôi đã trách nhầm, khi cho rằng ông quyết định thi vào đại học nông nghiệp là sai lầm. Thì ra, tôi đã thiển cận trước những bước đi của cuộc đời. Gắn bó với ruộng đồng, mê mải với những lần đi cơ sở tìm hiểu và viết báo, đó là những thời gian “vàng” để ông thu thập thông tin, lưu trữ tư liệu, để viết văn, để làm thơ. Tôi không muốn đề cập nghề báo của Nguyễn Chu Nhạc bởi đơn giản đã là nhà báo thì dĩ nhiên phải làm báo, đấy là trách nhiệm, là việc “làm công ăn lương”, mà tôi muốn nói về văn chương của ông. Cái gốc năng khiếu học văn của cậu học sinh giỏi văn năm nào, chỉ “tạm lánh” đâu đó, để rồi gặp đất là bùng lên mạnh mẽ, bùng lên dữ dội. Và cuối cùng là Nguyễn Chu Nhạc dấn thân sâu sắc vào con đường văn chương chữ nghĩa đầy long đong và cũng chất chứa lửa nóng.
Thì ra “Giữa những ngày giá rét/ thèm chút lửa bếp quê/ thèm bát canh dưa nóng/ cá niêu đất kho khê/ Thèm ngắm em áo ấm/ khăn choàng đỏ bờ vai/ khẽ nghiêng đầu tư lự/ ta mơ về trẻ trai” lại là câu nói tự đáy lòng. Thoạt đầu, tưởng chỉ là sự “tiếc nuối”, ấy vậy mà nó lại trở thành “mục tiêu” phấn đấu của ông. Nguyễn Chu Nhạc viết báo để nuôi mộng viết văn và viết văn để khẳng định việc viết báo. Còn nhớ, có lần, Nguyễn Chu Nhạc nói vui nhưng rất thật rằng “Ông ạ, viết văn sống làm sao được. Viết báo lấy tiền để làm vốn cho viết văn”.
Từ năm 1993, Nguyễn Chu Nhạc bắt đầu tập hợp những bài tản văn, những truyện ngắn đã viết và đã in để in sách. Lại nữa, chẳng hiểu “tính” thế nào mà ông lại chọn một cái tên nghe cũng rất “quê mùa”, nghĩa là cũng rất “long đong”, cũng rất “lửa cháy” để đặt tên cho cuốn sách đầu tay. Tập truyện ngắn Đêm nguyệt thực ra đời với những câu chuyện cứ như lấy từ gan ruột mình, lấy từ quê mình, lấy từ trường mình ra vậy. Văn xuôi, in đã mấy tập song phải mãi cho tới năm 2011, Nguyễn Chu Nhạc mới cho in tập thơ đầu tiên. Tập thơ Chút thu lại cũng cho ta cái cảm giác hình như cái ý nghĩ “long đong và lửa” vẫn lẩn khuất đâu đó. Kể từ đó, ông làm thơ nhiều hơn, xuất bản thơ đều đều. Thơ của Nguyễn Chu Nhạc giản dị và chân thật và dường như ông gắn liền thơ với mùa thu. Phải chăng mùa thu, mùa chim làm tổ lại chính là “cái mùa” cho thơ nẩy nở. Một loạt các tập thơ được in sau đó đều có “thu”, thế mới biết Nguyễn Chu Nhạc dù có “long đong” hay “lửa nóng” thì vẫn “chung tình” với cái “thú” văn chương vốn ngấm sâu vào máu. Chuyện chung tình ở một thi nhân quả là “xưa nay hiếm”? Những tên sách, đại loại như Cho thu dung dằng thêm chút nữa hay Một chiếc lá vàng động cả thu, rồi Ừ nhỉ, thu thật rồi đấy ta đều thấy đâu đó bóng dáng của hoài niệm và thương nhớ.
Năm 2017, năm mà lứa chúng tôi đều đến tuổi nghỉ hưu thì Nguyễn Chu Nhạc cho in tập thơ Chỉ lửa là rất thật. Tôi đồ rằng Nhạc muốn cho ta thấy ở cõi đời này mọi thứ đều “phù phiếm” chỉ có lửa mới là thật. Đúng quá rồi, bạn thơ của tôi ơi: “Rồi thì người cũng đến/ mang theo cả mùa đông/ mặc ai ngoài kia lạnh/ riêng ta ấm trong lòng”. Đúng quá rồi, Nhạc ạ: “Ta hiểu rồi như lửa/ nóng mấy cũng tàn phai/ nhưng giờ chưa phải lúc/ kệ mùa đông bên ngoài”.
Tập Chỉ lửa là rất thật cho ta thấy một Tây Bắc mờ sương, một Tây Nguyên nắng gió, một xứ Huế mộng mơ, thấy hình bóng quê nhà ở Cuối năm ta lại về quê, nghe thôi đã thấy nhuốm vẻ long đong. Ta còn thấy hoa sen, hoa đại, hoa đào rừng, hoa lộc vừng đỏ, hoa gạo đầu làng mà những màu hoa nhường ấy cũng toàn là màu của lửa. Dường như, ở đây Nguyễn Chu Nhạc muốn đưa ra những ghi chép thực tế của mình, muốn “thơ hóa” mọi ngóc ngách của nghề báo….
Định kết bài viết thì lại được Nguyễn Chu Nhạc tặng sách. Tập Rong chơi với một chữ Tình in năm 2018. Tập tản văn này mang một cái tên thoạt nghe đã thấy “long đong” nhưng hứa hẹn những trang viết chân thật bởi những chuyến đi của một nhà báo có tâm và những câu chữ mang nhiệt huyết của một tâm hồn lửa cháy.
Lại nữa, năm 2019, tập thơ Xương rồng khô đã lên xanh mới tỉnh tình tinh mà cái tên không chỉ là “nỗi nhớ” về một thời mũ lá trên đầu, quần sắn tới gối, lội ruộng đồng dọc mà vẻ như đó còn là một “thông điệp”; ông đã viết rằng “Vậy là đã sáu mươi rồi/ Trẻ thì chả phải, già thờ cúng chưa/ Tính tình quen thói dây dưa/ Linh tinh thơ phú, đung đưa cái tình/ Nói vậy thôi, lượng sức mình/ Có thêm cũng chỉ dập dình cho sang/ Mình còn bao chuyện lỡ làng/ Bao đồng thiên hạ dễ dàng chi đâu” để gửi tới bạn bè,  đồng nghiệp.
Vậy đấy, người viết văn làm thơ không lấy cái danh hư vinh, chỉ lấy cõi lòng để giãi bầy, để tri âm tri kỷ, như “Đôi lời, bạn của tôi ơi/ Lòng thành là chốn con người gặp nhau/ Thôi thì thơ phú mấy câu/ Cứ đây đó lại bên nhau chung tình.
(Nguyễn Trọng Văn)



 
Đăng nhập để trả lời
0

NGUYỄN CHU NHẠC
Bên trong có một nỗi đau dịu dàng.
( Nhà thơ Ngô Đức Hành )
——-
Sinh 1957, tuổi Đinh Dậu - “gà bới cỏ vàng” nhưng Nguyễn Chu Nhạc chỉ làm đến Vụ trưởng thì chưa phải to lắm. Tuổi Đinh Dậu thường phải làm từ Thứ trưởng trở lên.
Ông anh này đã xuất bản đến 20 tác phẩm, trong đó có 7 tập thơ. “Xương rồng khô đã lên xanh” là tập thơ mới nhất. Không dày lắm nhưng hoá ra có đến 132 bài và có tới 66 bài lục bât.
Theo DTN cái hay của “Xương rồng khô...” lại nằm trong 66 bài lục bát này. Đọc đều nhặt ra được những câu thơ thú vị:
Đời người ta mấy con sào
Cuộc tình chỉ giấc chiêm bao thôi mà
(Bên bến thời gian)
Bên ngoài cửa sổ mưa ngâu
Bên trong có một nỗi đau dịu dàng
(Bên ngoài cửa sổ mưa ngâu)
Chắc chắn Nguyễn Chu Nhạc có một mối tình nào đó, “mưa ngâu” chỉ được sử dụng khi nói về tình yêu. Nỗi đau thất tình, lỡ tình, hụt tình...thì đúng là “dịu dàng”, không dễ chịu.
Mấy ai dò được nhân tâm
Làm sao để biết đâu mầm gian ngoan
(Biết mình còn phải biết người)
Quẩn quanh vẫn mấy con đò
Lòng người thăm thẳm ai đo được nào
(Cần Thơ chiều vắng mưa giăng)
Triết lý, nhân sinh trong thơ Nguyễn Chu Nhạc cứ thế, nhẹ nhàng nốt và cũng buồn. Nhưng với lãng tử Nguyễn Chu Nhạc, ông kệ, buông bỏ:
Thấm nhân gian những khóc cười
bao mùa thay lá rụng rơi chẳng màng
(Cây bồ đề trước cửa chùa Quán sứ)
Thong dong đâu cũng là nhà
Một khi lòng biết bỏ qua phiền đời
(Chi chi)
Búp xanh đã trổ bời bời
cafe dấm dẳng, ta ơi, một mình
(Cà phê sáng một mình)
Bây giờ đang chuẩn bị mùa Xuân, lộc đất trời đang trổ; nhiều người vừa “hái lộc”, nhiều người cay đắng vì “hụt lộc” sau một “mùa thay lá” vĩ đại. Kệ thôi, “ta ơi, một mình”! Một mình có khi cũng là hạnh phúc, có chi mô nơ?!
Cám ơn nhà văn Nguyễn Chu Nhạc đã tặng thơ!
7/2/21

Đăng nhập để trả lời
0
Thế nào là Thơ,...
 
Quả thực, tôi đã định làm ngơ, không bàn luận gì,...
Hôm nay, đã là ngày thứ ba kể từ khi Báo Văn Nghệ tổ chức lễ trao giải cuộc thi Thơ của mình,.. Mấy ngày qua, và vẫn tiếp diễn, người ta chê cười, nhạo báng, thậm chí xả vả ... cái Ban Giám khảo đã trao Giải Nhì (giải cao nhất) cuộc thi thơ kéo dài hơn 2 năm của tờ Báo danh giá bậc nhất của làng văn chương Việt. Nguyên do, vì đã quyết định trao giải cho chùm thơ 3 bài của tác giả Tòng Văn Hân (Mẹ tôi chửi kẻ trộm,Làm rể, Nhà trên nhà dưới). Chàng tác giả được giải này không có lỗi gì khi làm thơ dở. Lỗi là ở Ban Giám khảo kia, 
Đọc thơ được giải, rồi đọc các bài bình luận, những comment của Làng Phây, tôi tự hỏi: Thế nào là Thơ? Thế nào là thơ hay?...  Chịu, chẳng biết nói sao....
Những lời chê trách, nhạo báng có thể hơi quá, nhưng không sai. Tôi nghĩ là thế,
Công bằng mà nói, về ý tưởng, chúng có chất nhân văn... Nhưng thơ nào mà chẳng có chất nhân văn? ... Cười khuẩy,...
Xét về nghệ thuật thơ,... thì giả bộ ngô ngọng, nghi ngơ, không vần điệu... chẳng thật thà dân tộc như vị giám khảo nào đó nhận định (thực chất, láu cá, dân tộc giả cày),... Và dĩ nhiên, nó chằng có giá trị gì về nghệ thuật, đơn giản, đó không phải là Thơ!...
Chỉ buồn một điều, một Ban Giám khảo gồm toàn các nhà thơ nhà văn có tiếng là Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Bình Phương, Khuất Quang Thụy, mà lại quyết định như vậy, thì thử hỏi, thi ca xứ Việt mình lấy chuẩn mực ở đâu?...
Trớ trêu, buổi sáng tổ chức lễ trao giải tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, tôi tình cờ đến đấy, thấy người ta đang xướng tên các tác giả được giải, tôi không vào hội trường mà sà vào đám trà dư tửu hậu với nhà nhà văn nhà thơ Hà Phạm Phú, Minh Chuyên, Quang Hoài, Nguyễn Đức Dũng, và Phạm Công Trứ... Chuyện huyên thuyên nhưng lạ là không một ai trong số đó nhắc đến việc trao giải cả. Vậy là các nhà chằng quan tâm, hoặc vờ không quan tâm?
Ngắm nhà thơ Phạm Công Trứ già nua bệnh tật, thấy thương nhớ về một thuở sung sức đầy tài hoa của ông đã qua. Rồi lẩn thẩn thương nhớ một thời thi ca, văn chương được xem như ngôi đền thiêng của xứ sở này, cũng đã qua!...
Giờ thì thi ca, văn chương dễ dãi, nôm na, mách qué, nhộm nhoạm quá, ai ai vào ra cũng được,...
Vậy thì thế nào là Thơ,
Thế nào là Thơ hay?... 
 
(11.4.2021)
 
Đăng nhập để trả lời
0
PHẠM HỒNG NHẬT,
 từ nhiệt huyết minh họa cuộc sống
đến những nỗi niềm cõi nhân gian...
( Đọc tập thơ Đàn bò lạc vào thành phố, Nxb Hội Nhà văn 2016 )
                                                                       Nguyễn Chu Nhạc
 
Tôi biết đến nhà thơ Phạm Hồng Nhật, con người và thơ ông trong một lần gặp tình cờ ở văn phòng của nhà thơ Trần Đăng Khoa tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam. Hôm ấy, Phạm Hồng Nhật và Trần Đăng Khoa nói chuyện về các nhà thơ, nhà văn của vùng đất Đông Bắc một thời với những tên tuổi Trần Nhuận Minh, Lý Biên Cương, Tô Ngọc Hiến, Dương Hướng, Sỹ Hồng, Yên Đức (Quàng Ninh), Đào Cảng, Thanh Tùng, Nguyễn Tùng Linh (Hải Phòng) v.v... Qua câu chuyện, tôi biết được Phạm Hồng Nhật làm thơ khá sớm, cùng thời với Trần Nhuận Minh, Sỹ Hồng, Phạm Doanh và khi ấy đã từng được các nhà thơ đàn anh nổi tiềng là Nguyễn Xuân Sanh, Hoàng Trung Thông khen ngợi. Vậy có thể xem, Phạm Hồng Nhật sớm thành danh. Trong câu chuyện hôm ấy, Trần Đăng Khoa và Phạm Hồng Nhật còn nhắc đến một kỷ niệm, ấy là trận lụt lịch sử ở miền Bắc năm 1971, khi đó, Trần Đăng Khoa mới học lớp 6, kỳ nghỉ hè, ra đất mở chơi thăm người anh trai là nhà thơ Trần Nhuận Minh, rồi mắc kẹt ở đó vì mưa lũ. Trần Nhuận Minh đã gửi Khoa nhờ Phạm Hồng Nhật đưa từ Quảng Ninh về Hải Phòng, tá túc nhà người quen, rồi tiếp chặng nữa từ Hải Phòng về tận quê Nam Sách (Hải Dương). Đường về quê, nhiều đoạn bị lũ ngập nên hai anh em phải dắt xe băng qua những đoạn ngập sâu, Phạm Hồng Nhật dắt xe đạp, còn Trần Đăng Khoa bì bõm tay bám booc-ba-ga lội theo sau. Nhắc lại chuyện cũ, để thấy một thời gian khổ và mối thân tình của các nhà thơ từ ngáy ấy.
          Thực tình, trước khi gặp Phạm Hồng Nhật và đọc tập thơ Đàn bò lạc vào thành phố (Nxb Hội Nhà văn, 2016), tôi không biết gì về thơ ông, mặc dù ông sáng tác và có thơ đăng báo cùng thời với nhiều nhà thơ khác trưởng thành ở vùng đất ven biển Đông Bắc mà tôi biết đến tên tuổi (Trần Nhuận Minh, Sỹ Hỗng, Yên Đức, Đào Cảng, Thanh Tùng, Nguyễn Tùng Linh...).
          Ấy là, Phạm Hồng Nhật sớm bị bứt khỏi vùng đất mỏ sôi động, môi trường sống, làm việc và sáng tác thân thuộc của mình về thủ đô Hà Nội làm công tác quản lý. Ông lạ lẫm và bận rộn với công việc mới, rồi những lo toan chuyện gia đình, nhà cửa mà xao nhãng thơ phú. Quen môi trường mới rồi, cuộc sống lại biến động, khi Phạm Hồng Nhật được điều sang Liên Xô (cũ) làm công tác quản lý cộng đồng người Việt Nam sinh sống, học tập và làm việc cả một vùng rộng lớn thuộc lãnh thổ Ukraina, Vậy là, cả quãng thời gian dài khoảng hai chục năm trời, ông vắng bóng trên thi đàn nước nhà, trong khi các bạn thơ cùng thời với ông ngày nào thì vẫn đều đặn làm thơ, đăng báo, xuất bản tập thơ, thậm chí gặt hái được các giải thưởng thi ca, nâng cấp từ nhà thơ địa phương lên nhà thơ trung ương, được người yêu thơ quen mặt, biết tên. Ngỡ như mất tăm, tắt hẳn một người làm thơ tên Phạm Hồng Nhật. Thì chính ông cũng từng nghĩ vậy, ngay cả khi quãng năm hai nghìn, ông từ nước ngoài trở về Việt Nam sinh sống, làm việc. Phạm Hồng Nhật bảo rằng, nhờ các bạn thơ và người thân động viên đừng bỏ thơ, nên ông sáng tác trở lại. Ông biết ơn bạn bè vì điều này, bởi đã góp phần hồi sinh một nhà thơ tên Phạm Hồng Nhật. Rõ ràng, sự cách quãng môi trường thi ca nước nhà một thời gian dài, đến đầu thế kỷ 21 này, môi trường văn chương, xã hội đã khác nhiều so với thời ông bắt đầu sáng tác vào những năm 70 của thế ký trước, đã khiến ông phải nghĩ khác và viết khác đi...
          Tôi cho rằng, Phạm Hồng Nhật đã may mắn, khi ông có một khoảng thời gian khá dài bứt khỏi môi trường thi ca nước nhà. Đấy là một khoảng lặng cần thiết, đủ để cho riêng Phạm Hồng Nhật, hay chăng mỗi cây bút, không phải vật vã để thoát ra khỏi chính mình? Nghĩ khác, viết khác đi, ấy là quá trình làm mới bản thân, chí ít đúng với trường hợp Phạm Hồng Nhật.
          Mặc dù, tập thơ Đàn bò lạc vào thành phố, không ghi rõ là tuyển thơ, nhưng nội dung thơ và thời điểm sáng tác các bài cho thấy tính chất tuyển tập. Ở đây, ta thấy các sáng tác của Phạm Hồng Nhật có dấu ấn rõ từng thời kỳ sống, làm việc và sáng tác của ông.
          Thời kỳ đầu, có thể xem là vùng đất ươm mầm thơ Phạm Hồng Nhật, ấy là vùng mỏ Quảng Ninh và vùng quê Hải Phòng. Vào những năm 60, 70 của thế kỷ 20, cả một vùng đất duyên hải Đông Bắc tổ quốc (Quảng Ninh, Hải Phòng) là vùng đất công nghiệp sôi động bậc nhất của đất nước. Giới văn học nghệ thuật nước nhà đổ xô đi thực tế, sáng tác về vùng đất này, trong đó, người ta không quên việc tìm kiếm, phát hiện, động viên, giúp đỡ các cây bút trẻ, xuất thân công nhân, người lao động địa phương, sáng tác từ thực tế đời sống ở đây. Như vậy, ở vào thời điểm ấy, Phạm Hồng Nhật và một số cây bút văn thơ cùng trang lứa đã tập hợp thành dàn đồng ca, với bầu nhiệt huyết tràn trề, mặc sức thi ca minh họa cuộc sống....
          Điểm những bài thơ sáng tác trong giai đoạn đầu trong tập thơ này, khi Phạm Hồng Nhật đang làm việc ở vùng mỏ Đông Bắc, tức là khoảng thời gian những năm sáu mươi, bảy mươi, như Than trên băng chuyền, Thời gian, Thị xã nơi tôi yêu, Về với mỏ, Một mai kia, Mối tình cô thợ hàn, Thợ gò, Trực chiến trên đồi, Nhà máy trong rừng v.v... cho thấy bầu nhiệt huyết mình họa cuộc sông của tác giả. Thơ nặng về kể chuyện, có không khí đấy, song dường như, thơ hết câu thì bài thơ cũng tắt luôn ở đấy, chẳng mấy dư ba. Và điều này, không riêng thấy ở thơ Phạm Hồng Nhật, mà khá phổ biến trong thơ của nhiều cây bút khác cùng thời kỳ.
          Như tôi đã nói, cuộc sống biến động, bứt Phạm Hồng Nhật khỏi vùng sáng tác, khiến ông hụt hẫng, đứt mạch thi ca. Những bươn chải cuộc sống ở thủ đô, rồi sau đó, ông được điều sang nước ngoài làm công tác quản lý nhân sự và tư tưởng, bận rộn và phức tạp, đã ít nhiều làm thay đổi cách nhìn nhận cuộc đời ở nơi ông. Nói đứt mạch thơ, không có nghĩa là Phạm Hồng Nhật bỏ thơ, thi thoảng. túc tắc, ông vẫn sáng tác. Song ở thời điểm này, ông sáng tác không phải là sự thúc ép từ ý thức mình phải làm thơ để trở thành nhà thơ, hay vì chạy theo thực tế phong trào lao động sản xuất của xã hội, hay chính cả sự ganh đua với các bạn thơ cùng thời ... Phạm Hồng Nhật chỉ sáng tác khi chính lòng mình có tâm sự, muốn được giãi bày. Thế nên, thơ ông  sáng tác ờ thời điểm này, ý tứ rõ, hàm súc hơn, câu chữ chắt lọc hơn, và như thế, người ta thấy được sự ẩn chứa những nỗi niềm tâm sự và thân phận con người trong thơ ông.
          Nỗi trăn trở viết khác đi, viết như sự lột xác, làm mới mình được Phạm Hồng Nhật bộc lộ:
          Trước ngọn đèn đêm đang về phía sáng
          gà nhà ai đã gáy mấy lần rồi
          giấy vẫn trắng, bút trên bàn vẫn đợi
          chưa tìm ra một câu chữ thơ tôi...
 
Nhiều lúc nghĩ suy gác bút an bài
          lại tiếc muối ra vào bao tư lự
          viết là biết gánh vào nỗi khổ
          đã buông ra là lại nắm tay vào...
          (Trước ngọn đèn)
 
Nếu vài chục năm trước, thuở ban đầu làm thơ, viết là niềm hân hoan, thì giờ đây, Phạm Hồng Nhật ý thức, viết như đeo đẳng một nỗi khổ ải. Vậy mà vẫn không thể không viết, ấy là sự chia sẻ nỗi niềm cõi nhân gian, trong đó có thân phận chính mình:
          Chén lưng, chén vực cũng là
          nửa thì nắng quái, nửa sa bãi bồi
          vàng chìm, phận nổi, bèo trôi
          dễ đâu thiên hạ một người hiểu ta,
          (Uống rượu một mình)
 
          Quả là, khi cái nhìn đã khác, thì đương nhiên nhận thức cũng khác, ngày cả khi gặp lại cái cũ, cái thân quen:
          Thuyền đã khác xưa, ngày để chỏm
          lá buồm căng như một sự dối lừa
          máy thuyền nổ âm vang là có thật
          con đò ngang mái chèo gác trên bờ,
          (Tiếng gọi đò trên bến Hà Châu)
 
          Bỗng một ngày, Phạm Hồng Nhật nhận ra sự đổi mới trong mình, ông mừng, ngỡ ngàng, như muốn reo lên:
          Khác nhiều rồi, tất cả đã khác xưa
          và anh nữa khác xa anh thuở trước
          cát cứ một vùng như ông Vua một nước
          nhìn đám thảo dân như muông thú một bầy
          (Đổi mới)
 
Sự đổi mới, trước hết là quá trinh tự nhận thức, rổi ra sự nhìn nhận cuộc sống bên ngoài.
Mọi xa xôi hóa nên gần
mọi lớn rộng chỉ ban chân xỏ vừa...
Cuối chiều như tỉnh nhiw mơ
Vừa buông tay sáng vừa quờ đêm đen.
(Cuối chiều)
 
Khi ngộ ra điều ấy, thì nhìn vào đâu, người ta cũng thấy được bản chất cùng sự khác biệt trong mỗi sự vật, hiện tượng, và qua đó, thấy được thân phận, nỗi niềm của con người, nó đâu mấy khác nỗi niềm trong lòng ta, nên dễ cảm thông, chia sẻ...
Hương thơm giữa thảo nguyên Nga
mà nghe như thể quê nhà gần hơn
lão nông cày máy nổ ròn
mải mê thu hái cả vòm trời sao
Tuyết rơi trắng phủ hôm nào
đất đồng thành đá cây cao trụi cành
mẹ già tóc bạc như tranh
ngồi bên bếp lửa mong manh gió lùa...
(Bây giờ là tháng năm)
 
Thân cò, phận hạc cánh chuồn
ở nơi xa xứ ngỡ mòn ngày qua,
thương cho số phận người ta
quay vào thì lụy, bước ra đời tàn,
Phận nghèo bèo bọt thế gian,
chắc là phúc mỏng, Niết Bàn bỏ quên...
Xứ người vận hội mong manh
bao nhiêu ước vọng cũng thành khói sương,
dẫu chưa đến bước cùng đường
nhìn ai trên tuyết mà thương cả mình.
(Phận ngưỡi xa xứ)
 
Lạnh dưới bao nhiêu
nóng trên bao độ
chị tôi chỉ biết cầm gậy mò sò...
chị mò đáy biển, mò ngã ba sông
mò mặt trời lặn, mò mặt trăng rơi...
Mò sâu rốn biển, mò chìm lòng sông
chỉ bàn tay biết,
bao nhiêu miệng ăn,
đứa con thất nghiệp...
(Chị tôi đi mò sò)
 
Ba năm rượu ủ men nồng
mắt lung kinh cả ở trong then cài
kể già những tháng riêng hai
mầm cây ươm cả ở ngoài nắng nôi
Rét gì cái rét trời ơi
mình em cứ việc đi vơi về đầy
khăn ngang ngực lẳng lơ cài
nửa trong rừng rực nửa ngoài bão giông,...
(Gái góa)
 
Và nếu không dám nghĩ khác, viết khác lối viết tụng ca hoan hỉ ngày nào, thì chắc Phạm Hồng Nhật chẳng thể buông ra những câu thơ khái quát kiểu này:
          Nông thôn mỗi khi qua đò
          chờ cho đông khách giả vở quên xu
          gà què nhốt trong lồng bu
          điềm nhiên ra chợ bán mua đàng hoàng
          Nông thôn ngại việc đồng làng
          dép lê mũ cối bước sang chợ trời
          thiếu tiền đem bán cả người
          ai mua tôi bán lấy vài ba xu...
          (Nông thôn)
 
          Khom lưng quỳ gối chờ thời
          Tù mù lẫn lộn mặt người trắng đen
          mặc cho ai đó đêm đêm
          thân tàn lặn lội kiếm tìm miếng cơm
          mặc bao giọt lệ phơi sương
          cửa tòa đầu gối đi mòn nỗi oan...
          (Thành thị)
 
Đại loại vậy, Phạm Hồng Nhật có nhiều câu thơ khái quát, cảm thông và chia sẻ với những nỗi niềm, thân phận con người...
          Phạm Hồng Nhật đã ý thức “viết là biết gánh vào nỗi khổ” mà vẫn  viết, vẫn làm thơ, vậy có nghĩa là ông chấp nhận thân phận của người cầm bút hay lo chuyện bao đồng của thiên hạ, tự mình giăng mắc trong cuộc kiếm tìm “tôi lại tìm tôi” như ông tâm sự trong bài thơ Kiếm tìm. Hay đâu, trong bài thơ Đàn bò lạc vào thành phố, được lấy lầm tên cho tập thơ này, Phạm Hồng Nhật đã mượn hỉnh mượn ý để nói tâm sự mình:
          Bò vào thành phố bao nhiêu thổ lộ
          thay đổi niềm tin, bớt đi nỗi khổ
          mắt nai mở tròn, bàn tay vỗ vỗ...
          Tôi người xa lạ, lạc vào thành phố,
 
          Giờ ở tuổi bảy mươi nhăm, làm thơ khá sớm, bôn ba cũng nhiều, sướng khổ cũng lắm, hiểu trước nhìn sau, Phạm Hồng Nhật đủ độ từng trải, đủ bản lĩnh con người, bản lĩnh thơ để tiếp tục chia sẻ những nỗi niểm buồn vui, đau khổ của cõi nhân gian. Phạm Hồng Nhật nhắn nhủ và cũng là tự nhủ:
          Đời người như dòng sông trôi ấy
          khúc ngoặt khúc cong tối mặt mày,
          nước xanh đường rộng trời cao thẳm
          thì có bao giờ buồn chán. Tôi...
          (Ngõ nhỏ vòng vèo)
 
Bài thơ Tờ lịch của ông như một tuyên ngôn cho mình:
          Mỏng tang tờ lịch trên tay
          chỉ bao la là lấp đầy khoảng không
          lật sang tờ lịch ngày hồng
          nghe thời gian rồng ở trong gió lùa
 
          Bạc đầu lại nhớ ngày xưa,
          tuổi xanh nghĩ đến tóc vừa hoa râm
 
          Bao nhiêu tờ lịch trong năm
          biết bao tờ lịch nằm trong tro tàn.
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Có một nhà thơ tên là Ma Bích 
(hay Người thơ, ngơ ngác như thằng mất trâu,...)
 
 
          Người thơ ấy là Ma Bích,
          Còn thơ Ma Bích thì tôi chỉ nhớ mỗi câu “Đồi xưa bẻ lá em nằm/Nay qua ngơ ngác như thằng mất trâu,”...
          Ma Bích tên thật là Hà Hồng Vanh, dân tộc Mường, quê xã Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Thông tin này, tôi lấy theo nguồn của nhà thơ Trương Thị Mầu, hội viên Hội Văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số Việt Nam, Bác sĩ Ưu tú, giám đốc Phòng khám đa khoa Lương Điền, Bá Thước, Thanh Hóa.
          Tôi biết nhà thơ Ma Bích từ ngót chục năm nay, tại cuộc gặp gỡ, giao lưu thơ văn đầu xuân hằng năm tại gia nhà văn Trịnh Tuyên ờ Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Những lần như thế, Ma Bích theo xe của nhà thơ Trương Thị Mầu xuống Cẩm Thủy. Thú thật, trong những cuộc vui như vậy, thơ văn hòa rượu tuôn ào ào, tôi không thuộc nổi câu thơ nào của Ma Bích, ngoài việc thuộc tên nhớ mặt nhau. Ấn tượng của tôi về ông kể từ ngày đầu gặp gõ, ấy là cách nói năng và những bài thơ ngắn ngẫu hứng đọc tại chỗ có giọng điệu đúng chất người dân tộc thiểu số...
          Cho đến mùa hạ năm 2019, nhóm chúng tôi có nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền, nhà văn Nguyễn Trọng Huân, họa sĩ Lã Minh Kính và một vài bạn hữu vào Bá Thước, rồi cùng Trương Thị Mầu, Ma Bích và vào bạn hữu du ngoạn Pù Luông, ngủ đêm lại đó trong nhà sàn homstay, tôi mới có điều kiện trò chuyện và nghe Ma Bích đọc nhiều thơ của ông.
          Chuyến ấy, theo lời mời từ mấy năm trước còn chưa thực hiện được của nhà thơ Trương Thị Mầu, chúng tôi đến thẳng Phòng khám đa khoa Lương Điền. Đây là phòng khám chữa bệnh Đa khoa do Trương Thị Mầu lập sau khi cô nghỉ hưu với chức danh giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Bá Thước. Khi còn làm việc, nữ nhà thơ này được phong Bác sĩ ưu tú, cô là một người giỏi chuyên môn và quản lý, sớm có y định xây dựng một trung tâm y tế nhằm phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân địa phương bới đây là một huyện miền núi biên giới điều kiện giao thông khó khăn. Bữa đó, Mầu làm thịt cả một con lợn cắp nách để đãi bạn văn chương thủ đô. Lên mâm, chỉ thấy có Mầu và mấy nữ nhân viên y tế, tôi nhìn quanh. Mầu hiểu ý cười: “Các anh yên trí, em đã mời anh Ma Bíchm anh ấy nhận lời rồi”. Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền vui đùa “Đến Bá Thước mà thiếu bạn thơ Ma Bích thì coi như vắng một nửa”. Dứt lời, đã thấy ngay Ma Bích xuất hiện ngoài cửa tay cầm chai rượu thuốc tự ngâm.
          Theo chương trình xếp trước, chiều ấy tất cả  đi Pù Luông. Xe dừng ngoài ngõ để Ma Bích tranh thủ ghé nhà báo cáo vợ và lấy thêm tư trang vì đoàn ngủ qua đêm ở Pù Luông. Đường lên Pù Luông quanh co những dốc, trong xe chuyện thơ văn rôm rả. Nhiều thửa ruông bậc thang của đồng bào Mường đã bắt đầu gặt Chốc chốc, dừng xe để mọi người chụp ảnh check in, nhất là nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền vốn say món tự sướng. Ma Bích chỉ cười hiền ngắm bạn thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền txoay chóng cả mặt.  Khi rẽ vào Bản Đôn thuộc xã Thành Lâm chiêm ngưỡng ruộng bậc thang thì trời cơn giông kéo lên đen ngòm, rồi mưa như trút. Mưa sầm sầm, trắng cả đất trời, khiến các đoàn xe của khách du lịch dồn ử cả đống. Cả vùng ruộng bậc thang mờ mịt trong mưa, nên chúng tôi chỉ có thể ngồi yên trong xe chụp ảnh qua cửa kính. Lúc quay ra, mấy cái đập tràn nước đã dâng lên nhanh mấp mé, may mà xe còn qua được. Khi lên đến khu nhà sàn homestay thì trời tạnh hẳn, mây quang quẻ, hửng chút nắng hoàng hôn rất đẹp,... Ma Bích ngắm hoàng hôn, miệng lẩm bẩm gì đó, hinh như nhẩm thơ...
          Tiệc tối, món ăn theo phong cách cơm Mường địa phương, hấp dẫn với món thịt vịt Cổ Lũng béo mềm và ốc đá hấp lá gừng, cá suối rán giòn. Rau thì toàn món rau rừng chúng tôi không rõ tên. Rượu nhắm cũng là thứ rượu ngâm trái rừng rất đặc biệt không đâu có. Rượu vào lời ra, Nguyễn Vĩnh Tuyền và Ma Bích thay nhau đọc thơ. Mâm bên có cặp vợ chồng trẻ người Mỹ cũng bị lôi vào cuộc... Đêm, khách ngủ chiếu sàn gỗ. Tôi thao thức mãi không ngủ được, phần vì lạ cảnh, vì tách cà phê đen lúc chiều và phần vì bên cạnh, Ma Bích ngủ ngáy khá to. Thêm nữa, tiêng nước suối đâu đó tạo thác đổ ầm ào suốt đêm. Tôi thiếp đi mộng mị. Trờ dậy tảng sáng, nhóm của Trương Thị Mầu và Ma Bích chào vội để về thị trấn Bá Thước vì Mầu phải dự một cuộc họp gì đó...
          Năm 2020, dịch covid bùng phát, lỗi hẹn với xứ Thanh,  đợi qua năm 2021. Lần này, vào Thanh đã chớp chới hè. Chúng tôi tả qua Cẩm Thúy thăm nhà văn Trịnh Tuyên rồi cùng anh ngược Bá Thước. Vẫn một Truong Thị Mầu ân tình và chu đáo, một Ma Bích hiền hòa ấm áp. Mọi người du ngoạn Duồng Cốc, một vùng hồ nước đúng chất sơn thủy hữu tình ẩn sâu trong rừng núi Bá Thước ít người biết. Bữa cơm tối tại đây theo kiểu cơm Mường, cá nướng măng tươi xôi nếp nương. Trần ngập rượu và thơ, ngẫu hứng thì đũa gõ bát làm nhịp mà hát/ Ma Bích đọc thơ, nhưng tồi chỉ nhớ mỗi câu thơ “Đồi xưa bẻ lá em nằm/nay qua ngơ ngác như thằng mất trâu” vì thấy thú vị. Sự thú vị ở đây là cái cách ví von giữa việc mất người yêu như việc mất trâu. Thoáng qua tưởng ví thế là thô. Nhưng với người dân tộc thiếu số, con trâu to lắm, gần như là thứ của cải lớn nhất trong nhà, nên mất trâu coi như mất cơ nghiệp, tiếc lắm chứ. Vậy mà, mất người yêu từ ngày còn trẻ, đến giờ thăm lại nơi tình tự ngày xưa vẫn “ngơ ngác như thằng mất trâu”, thì thử hỏi. ngày xưa đau đớn đến thế nào?... Cách diễn đạt như vậy, thật thà mà hài hước, đúng nếp nghĩ và lối diễn đạt của người dân tộc thiểu số. Ngẫm kỹ, rồi đem so sánh với trường hợp giả ngô ngọng thật thà mách qué trong một bài thơ về cái sự chửi vừa được trao giải cao, mà thấy buồn cười....
          Không ngờ, cái đêm giao lưu thơ nhạc ấy, là lần cuối cùng tất cả chúng tôi gặp Ma Bích. Non tháng sau, ngày 13.4. 2021, Ma Bích đột ngột ra đi vĩnh viễn sau một cơn đột quỵ khi đang khỏe mạnh bình thường, bời ngay trước đó, ông còn đi xe máy chở vợ đi khám bệnh ở Bênh viện đa khoa huyện và ngủ lại bệnh việc chăm vợ...
          Đọc tin báo và bài viết vội của nhà thơ Trương Thị Mầu về Ma Bích, mới thấy cái tình, người và thơ của ông để lại trong lòng và tâm trí những người thân thiết, không hề nhỏ !...
          ***
          Tôi lần giở lại toàn bộ trang cá nhân của Ma Bích trên Facebook, cả thông tin va bài viết không nhiều. Thơ cũng vậy. Ông cho thấy không phải là người thạo công nghệ, nên gặp khó khăn trong việc đăng bài viết và thơ phú của mình. Thế nhưng. với ngần ấy thôi, thêm hồi tưởng về những lần gặp gỡ Ma Bích, cũng đủ cho tôi phác thảo nên một người thơ Ma Bịch,...
          Có lẽ, Trương Thị Mầu là người cùng dân tộc Mường, lại là bạn thơ lâu năm thân thiết với Ma Bích, nên chị hiểu và thích thơ ông hơn chăng? Ngôn ngữ Mường cổ và cách diễn đạt rất Mường. Còn cảm tính, ấy là hồn vía Mường, không chỉ nằm trong ý tứ, câu chữ bài thơ mà ở cả trong cái cách ứng xử, trong biểu cảm khi Ma Bích đọc thơ và diễn giải nguồn gốc từ ngữ bắt nguồn từ phong tục dân tộc mình,...
          Cũng theo nhà thơ Trương Thị Mầu thì Ma Bích làm thơ muộn, khi đã lớn tuổi. Song cũng không vì thế mà sốt ruột, ào ạt cho nhanh, mà rỉ rả kể chuyện mình, chuyện phong tục dân tộc mình, trước hết cho chính minh, rồi ra có cái để mà chơi với thiên hạ. Với ý thức đó, ông không vội vàng là thế, chỉ lấy thơ nói hộ lòng mình khi cần phải vậy, nên số lượng thơ ông không nhiều, nhưng cũng vì thế mà thơ Ma Bích không đểnh đoàng, khá chắt lọc và quan trọng là có giọng điệu riêng. Cái chất Mường trong thơ Ma Bích cũng không giống chất Mường trong thơ của một vài nhà thơ người dân tộc Mường khác. Nó là của riêng ông. Ví như, bài thơ Lóng la, thì cùng với việc nói cái tình riêng, Ma Bích còn lục kho ngôn ngữ, lôi ra, đặng gột rửa cụm từ Mường cổ lóng la. Theo nhà thơ Trương Thị Mầu, trong tiếng Mường “lóng” là cây chuối rừng, nhưng “la” thì là một từ không cụ thể, song khi kết hợp thành “lóng la” thì người ta hiểu ấy là ngàn rừng, một khái niệm rộng lớn hơn nhưng không rõ ràng. Trở lại bài thơ:
          “Tôi về thăm Lóng La/ Mưa hoàng hôn tất tưởi/ Gió San mười chạm với/ Tìm mường hoa Lóng La/ Tìm vệt trăng bay xa/ Em xòe tay khung cửi/ Trập trùng hoa cỏ núi/ Thắm biếc tình hai ta/ Rồi hẹn không gặp hẹn’ Rồi thương gặp lũ ngàn/ Ta Lóng La trắc trở/ Nhịp cồng chùng lâu san/ Con chim kêu khản tiếng/ Sao bạn tình không lên/ Anh ở miền gió lửa/ Ôm vú cồng thức đêm/ Nhớ nhau Lóng La nhé/ Gọi nhau Lóng La ơi/ Cây chày anh lỡ nhịp/ Cối nương em đầy vơi...”
 
Vậy là, Ma Bích đã biến cụm từ lóng la thành địa danh, một nơi vữa xa vừa gần, nửa thật nửa ảo, mà ở đó, người thơ có cái tình với mộr bóng hình nào đó, trắc trở, không nên ngãi, để bây giờ nên nhớ thương, day dứt.
Hay như, bài thơ Tặc ven em cùng dạng thức như vậy:
 “Lâu rồi không gọi tặc ven/ Nỗi nhớ quên theo ngày tháng/ Dây rừng - chạng vạng/ Xập xoè tặc ven.../ Đừng đau tặc ven ơi/ Nếu như ngàn năm không gặp lại/ Đá lở non mòn, ruộng sâu đồng bãi/ Cha mẹ đi ta vẫy Tặc ven đi”.
Cũng theo ý nhà thơ Trương Thị Mầu, “tặc-ven” là một khái niệm không cụ thể trong tiếng Mường cổ, mà chỉ cho người ta hình dung là đám cỏ bợ, dây rợ lằng nhằng ven bờ, góc ruộng, xó rừng... Đưa “tặc ven” vào thơ, Ma Bích muốn gòi thành tên, đặng nhắc nhở mọi người, nhất là giới trẻ chớ quên từng có một xứ Mường nguyên bản, không pha tạp, và cho dù theo xu thế phát triển chung của thời đại mới. càng cần thiết gìn giữ bản sắc Mường trong đa dạng văn hóa Việt Nam.
Dường như, ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa Muờng thường trực trong con người Ma Bích, nên thơ tình cũng là cái tình Mường của riêng ông: “Anh bây giờ không nhớ cả tên anh/ không biết mình năm nay bao nhiêu tuổi/ Mường nọ chòm kia mấy sông mấy suối.../còn mấy vần thơ gác bếp lửa hong phơi/ anh buộc lá Làn Ai gửi cho người tri kỷ/ Đá dựng thành lời, lá bay thành ý/ Ta mây bạc trắng trời lãng đãng phiêu du...” (Phiêu du). Hay như: “Sợ say ta trốn vào nhau/ Sợ câu xường lạc truông vầu không lên/ Xin đừng gọi vía kêu tên/ Mà đau võng bạc tre đền Mường Ai/ Chát nồng ăn lá giêng hai/ Neo trong suối lũ thung dài tìm xưa” (Tìm Xưa”... Ma Bích từng có gần chục năm sống ở Tây Nguyên, ông dần hòa nhập vào đời sống trên vùng đất mới, nhưng nỗi nhớ Mường vẫn canh cánh trong lòng: “Mẹ gùi câu khặp theo cha/ Đi làm người mường khác/ Câu Xường cũ sấm rền rung cuối thác/ Con nhặt về buộc lại vía ngày xa... (Thư gửi con) .
Ma Bích tạo được giọng điệu riêng, nên thơ ông làn về đề tài rừng có nhiều người đã làm, thi ông vẫn có cái của riêng mình, để không lẫn vào người khác:
Chiều nay qua Thành Nhà Hồ
Nhìn tan nát một cơ đồ mà đau!
Sân rồng ngập vết chân trâu
Đâu vườn Thượng Uyển, đâu cầu vua qua
Ngai vàng nắng táp mưa sa
Triều đình còn lại một ta giữa đường...
Liêu xiêu leo dốc ngược mường
Qua truông ra gặp người thương không chào...
(Qua thành Nhà Hồ)
 
Đến rồi đang giữa tháng ba
Sao mà ngồi nhớ người ta thế này
Nhớ mái tóc nhớ bàn tay
Và đôi ánh mắt những ngày còn xưa...
Xa xưa lay lá lay mưa
Người còn lên lại Pha Dùa hay thôi
Miền biên viễn nở hoa rồi
Sáo ai hổn hển đất trời đang yêu
Một mình ôm chiếc khăn piêu
Đùm cơm cháy lá dong chiều... Đêm buông?
(Tháng Ba)
 
Theo tôi, đây là những bài tho hay của Ma Bích. Bởi lẽ, nếu là người khác mà không phải là người Mường-Ma Bích, thì dễ gì có những câu kiểu này: “Triều đình còn lại một ta giữa đường.../ Liêu xiêu leo dốc ngược mường/ Qua truông ra gặp người thương không chào...”(Qua thành Nhà Hồ); Hay như: “Xa xưa lay lá lay mưa/ Người còn lên lại Pha Dùa hay thôi/ Miền biên viễn nở hoa rồi/ Sáo ai hổn hển đất trời đang yêu/ Một mình ôm chiếc khăn piêu/ Đùm cơm cháy lá dong chiều... Đêm buông?” (Tháng Ba), ...
Như một tiền định, mới gần đây thôi, ngày 20.11.2020, ngày Nhà giáo Việt Nam, Ma Bích làm thơ nhớ thầy giáo cũ, người ngày xưa từng dạy ông lúc còn đi học, ông đã viết: “Thầy giáo đi rồi còn lại mình em/ Lớp học ngày xưa không còn ai nhớ nữa/ Mái lá sàn tre rét run cánh cửa/ Em tìm về cách biệt âm dương.../ Chúng em lớn lên đứa lấy vợ gả chồng / Nay tóc trắng như tóc thầy ngày ấy/ Mỗi lần gặp nhau khi nào cũng vậy/ Hay nhắc về thầy, thầy có nghe không./ Còn riêng em thích luyện bút văn phong/ Ghét kẻ bất lương thương người nghèo khó/ Rồi một ngày kia em sẽ về dưới cỏ/ Lại đến tìm thầy xin đọc để Người nghe”. (Thầy giáo).Ma Bích mong rằng, đến một ngày kia nào đó, ở thế giới bên kia, ông được đọc thơ cho thầy giáo cũ của mình nghe...
Giờ thì Ma Bích đã toại nguyện, ông được “về dưới cỏ” để rồi “lại đến tìm thầy xin đọc để Người nghe” !... ./.
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
 
 Lãng du giữa cõi tình,...
 
 Tôi biết đến anh với bút danh Lê Lãng Du không lâu.
Cách đây độ dăm bảy năm, tôi biết đến cái tên này là qua trang blog của anh trên Blogtiengviet.net (Blog TV). Đọc thông tin cá nhân, biết anh cỡ tuổi với tôi, là cán bộ ngành thương  nghiệp, sinh sống ở gần thành phố Buôn-mê-thuột, Tây Nguyên.
Bài đăng trên trang của anh phần lớn là thơ. Anh thay bài mới khi mau khi thưa, song không bỏ cuộc hoặc ngắt quãng như nhiều người khác. Tôi bận bịu, phần bản tính không mấy vồ vập người chưa quen, song vẫn giữ lễ, nên thơ anh, bài đọc, bài không, và thi thoảng tôi ghi chút cảm nhận, mang tính xã giao là chính. Tuy nhiên, cũng cảm thấy, thơ anh, có bài khá, rồi đó đây ở bài này bài nọ có những câu thơ hay…Với người lấy thơ làm khuây, được như vậy là ổn.
          Rồi một lần tôi vào Tây Nguyên, đang mùa mưa, buổi tối ở khách sạn buồn hiu hắt, ngoài trời thì mưa ràn rạt, lúc mau lúc thưa, mùi cà phê quán đèn mờ ngoài phố thoảng vào thơm ảo não. Buồn thì mở Blog TV, đọc lướt qua các trang và tôi đã dừng lại ở trang của Lê Lãng Du. Lúc ấy, cái địa chỉ cá nhân Buôn-mê-thuột của anh đã thu hút tôi. Theo số điện thoại ghi trên đó, tôi bấm máy gọi và đầu kia anh nghe máy, trả lời. Sau màn chào hỏi, giới thiệu, chúng tôi trò chuyện thân tình ngay, vì thực ra, giữa chúng tôi, đã biết nhau qua mạng cũng vài ba năm rồi. Anh nói là ở cách thành phố vài ba chục cây số, và hẹn hôm sau sẽ lên Buôn-mê-thuột gặp tôi, đặng anh em biết mặt nhau.
          Y hẹn, gần trưa hôm sau, anh báo đã đến khách sạn tôi đang ở. Cùng đi với anh có một phụ nữ cũng đã luống tuổi, anh giới thiệu là bạn gái của mình. Chúng tôi có khoảng một tiếng trò chuyện, hàn huyên đủ thứ. Anh mời tôi ra quán dùng bữa trưa với hai người. Tôi đành từ chối vì đã có hẹn rồi. Chia tay nhau với chút lưu luyến, hẹn dịp khác sễ ngồi với nhau, để nâng chén và bàn về thơ phú. Tôi tặng anh vài tập thơ của tôi mang theo…
          Lần đầu gặp gỡ là vậy. Song đấy cũng là cái cớ để sau đó, tôi đọc thơ anh đều, cẩn thận và chăm ghi comment hơn. Cứ thế, mà thành thân thiết, và mỗi lần, tôi vào Tây Nguyên, nếu thu xếp được thời gian, là à ới gọi nhau. Tôi cũng đã vài lần cùng các đồng nghiệp ở Tây nguyên đến thăm tệ xá của Lê Lãng Du. Còn anh, khi ra Hà Nội, cũng đã một lần tìm đến thăm tôi ở trụ sở cơ quan, 58 Quán Sứ, có thêm nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền, cùng bù khú, chuyện văn chương thơ phú.
          Có lẽ, nhờ vậy, để giờ đây, khi có ý định in thơ, Lê Lãng Du gửi cho tôi tập bản thảo dày dặn, tôi đọc và nhận diện được ngay khuôn mặt thơ anh.
          Đọc thơ Lê Lãng Du, tôi mạn phép gọi anh là Người lãng du giữa cõi tình. Đành rằng, người làm thơ thường là người nệ tình, song với riêng Lê Lãng Du, anh chìm đắm vào cõi tình, đánh mất cả bản thân. Anh lang thang, la cà đây đó trong mảnh vườn tình ái do mình tạo ra, không biết để tìm ai, tìm cái gì ở đó ?... Theo dấu chân anh, hồi lâu, cảm giác anh sa đà mà thành lạc lối chăng? Nhưng đến khi tưởng như anh mất tăm đâu đó trong cõi tình, thì Lê Lãng Du chợt tỉnh lại, ý thức được rằng, mình đang ở đâu trên cõi thực, mình đã từng và đang có ai, có cái gì, dù là mong manh thôi, song đang ở ngay bên mình, phải biết níu giữ, kèo không, rồi một ngày mất nốt, thì lại hối tiếc! Anh có dành cái tình của mình cho người thân, quê hương bản quán, phong cảnh sông núi, gió trăng, song như vậy, cũng là để dồn tụ về cái tình riêng của mình dành cho người tình đã có, đang có và sẽ có ! ?...
Để hiểu tâm tư, hiểu cõi tình của Lê Lãng Du, thiết nghĩ, nên biết đôi điều về cuộc đời anh. Tên thật, Lê Lãng, quê gốc Quảng Trị, mảnh đất khô cằn đầy nắng gió ấy đã từng sinh ra nhiều thi nhân. Anh phiêu bạt đó đây rồi trụ lại với mảnh đất Tây Nguyên, theo nghề thương nghiệp sinh sống. Anh có gia đình, con cái đề huề, nhưng rồi vợ chồng chia tay nhau. Dường như, để tìm sự thiếu hụt, để cân bằng mình, anh làm thơ, cũng đeo đuổi một vài bóng hồng đâu đó, nhưng không thành, bù lại, anh có chút lưng vốn thơ tình … Rồi một ngày nọ, cách đây chừng dăm năm, anh làm quen qua không gian ảo, một người phụ nữ đã luống tuổi, gốc gác Hà thành, cũng từng có gia đình con cái riêng, nhưng lại bị thiệt thòi đường gia thất. Và rồi, họ bập vào nhau thành đôi, mà nên ngãi vợ chồng. Hiện anh chị sống riêng với nhau trong căn hộ mặt phố tại một thì trấn cách thành phố không xa, có cửa hàng photocopy nhỏ. Đã vài lần thăm nhà và dùng cơm với anh chị, quan sát cách họ chăm sóc nhau, tôi hiểu là họ yêu quý, tôn trọng nhau, và hẳn là hài lòng với cuộc sống này…
          Khi yên bề gia thất, Lê Lãng Du vẫn làm thơ đều đều. Có điều, giờ chủ đề thơ anh đa dạng hơn, thực tế hơn. Ở đấy, có bóng dáng, tình cảm của anh dành cho người phụ nữ của mình:
 
Về đây mở quán để mưu sinh
Phố nhỏ vùng ven thật thanh bình
Sớm mai chồng vợ cùng thức dậy
Mở cửa dọn hàng đón bình minh
 
Vợ quét nhà, chồng ra nấu nước
Người rửa ly, người dọn loanh quanh
Kê vài chiếc ghế màu nho nhỏ
Bày lên bàn ấm chén trà xanh
 
Lòng vui khi thấy vài khách đến
Đon đả mời chào chẳng lạ quen …
 
Song đâu đó, người thơ vẫn nén tiếng thở dài, dường như tiếc nuối chi, từ trong sâu thẳm quá khứ:
 
Đắm say một chút duyên hờ
Mong manh tơ tưởng bến bờ tương tư…
 
Khát khao tình đã cuối chiều
Miên man trăng gió hồn xiêu cuối trời
Giờ bùa yêu đã phai rồi
Em quay về chốn xa xôi thủa nào
Mình ta đêm gió lao xao
Nhớ nhung bóng cũ nghẹn ngào cảm thương ..
 
Lại nữa, mơ tưởng, mộng ảo… hình bóng nào đó còn lởn vờn phía sau và chờn vờn ở phía trước:
 
Tương tư tóc bạc lưng trời
Ngất ngây như vướng bùa người bỏ ta
Cỏ tình cỏ lạ xót xa
Sao ta tìm hái để mà vương mang?
 
Như tôi đã nhận định, Lê Lãng Du là người nệ tình, chính vì vậy, cứ có cảm xúc là viết. Anh không chủ ý lập tứ, hoặc có tứ đi chăng nữa thì khi thể hiện ra thành câu chữ cũng không mấy rõ. Tình cảm và chữ nghĩa theo nhau tràn ra. Cứ như anh viết lấy được. Thơ thường dài dòng, giọng điệu kể chuyện, và nhiều khi thực quá, nên cảm giác bài thơ bề bộn, ngổn ngang câu từ. May mà, trong cái thực có cái tình, vậy nên, bài thơ có chỗ bấu vứu để mà đứng được. Cái quý của thơ Lê Lãng Du là vậy. Nói thế, không có nghĩa là thực, là kể hết, bất chợt, ta thấy anh biến ảo, và chìm đắm vào cõi mộng:
Thả vào em một chiều mong
Hay:
Tương tư tóc bạc lưng trời,
 
Hoặc lòng nặng trĩu những ưu tư:
 
Sớm nào quán vắng buồn man mác
Nhìn ra quan lộ ngóng xe qua
Vội vàng xuôi ngược về đâu đó?
Quạnh nhớ về nơi chốn quê nhà,
 
Còn nhiều lắm những bài thơ được, những câu thơ hay, song tôi chỉ viện dẫn một chút, đặng ký họa chân dung Lê Lãng Du-con người thơ… Bao nhiêu cũng chẳng là đủ, mà thêm một chút sẽ là thừa, tôi nghĩ vậy.
Lê Lãng Du thích uống rượu và uống được rượu, song anh không ham hố men cay, chỉ uống khi có bạn hữu chơi nhà. Khi say, anh thật nhất. Và có lẽ, trong một lần say, anh dốc bầu tâm sự, nỗi niềm ẩn chứa trong lòng mình, bấy lâu nay, về cuộc đời, tình cảm luyến ái, văn chương  thơ phú…
 
Say thì cũng đã say rồi
Liêu xiêu mấy bước lại ngồi xuống đây
Giả vờ một chút thơ ngây
Lả lơi, hờ hững vừa đầy hồn hoa
 
Cho người khờ khạo cùng ta
Se se áo mỏng ngọc ngà trong nhau
Chút thương giấu dưới nỗi đau
Ươm ươm môi chín úa nhàu tâm tư.
 
Cõi tình của anh là đây chăng, ơi người lãng du ?
Và cũng là chân dung tự họa của Lê Làng Du.
Tôi nghĩ vậy !..../.
 
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»