📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện ngắn Jeffrey Archer - A twist in the tale - Hết 🔒

118 trả lời, 16.538 lượt xem — Trang 3 / 4
Gần hai năm sau, Richard Moore nhận thánh chức và trở thành giám mục một giáo xứ tại một xóm nhỏ buồn tẻ, đó là Weddlebeach, tỉnh Suffolk. Ông thích thú với công việc của mình, và mặc dù hiếm khi nào nhắc đến những kinh nghiệm trận mạc với những giáo dân của mình, ông thường nghĩ về những năm tháng ở Nhật Bản.
“Những người tạo lập hòa bình đã được ban phước lành bởi vì họ sẽ…” Đức cha bắt đầu bài giảng đạo từ bục giảng kinh một buổi sáng ngày lễ Palm, ngày chủ nhật trước lễ Phục Sinh đầu những năm 1960, thế nhưng Đức cha không thể kết thúc được câu nói.
Những giáo dân của ngài lo lắng nhìn lên, chỉ thấy một nụ cười tươi tắn hiện ra rạng rỡ trên khuôn mặt Đức cha khi ngài chăm chăm nhìn xuống một người đang ngồi ở hàng ghế thứ ba.
Người đàn ông mà cha đang nhìn cúi đầu lúng túng và Đức cha lại nhanh chóng tiếp tục buổi giảng đạo.
Khi buổi lễ kết thúc, Richard Moore đứng đợi ở cửa Đông để có thể chắc chắn rằng đôi mắt của ông đã không đánh lừa ông, khi họ gặ lại nhau, mặt đối mặt, lần đầu tiên sau mười lăm năm, cả hai người đàn ông cùng cúi đầu chào và sau đó bắt tay nhau.
Trong bữa ăn trưa hôm đó ở nhà xứ, ông linh mục vui mừng được biết rằng “Đôi đũa” Sakata đã được phóng thích khỏi nhà tù chỉ sau năm năm, sau hiệp định của quân Đồng minh với Chính phủ mới được thành lập của Nhật Bản, nhằm thả tất cả các tù nhân, những người chưa phạm tội giết người. Khi ông Đại tá hỏi thăm về “Thịt Lợn Xào Chua Ngọt”, ông Thiếu tá thú nhận là ông đã mất liên lạc với Trung sĩ Akida (Ngọt), nhưng Hạ sĩ Sushi (Chua) và ông đang cùng làm việc cho một công ty điện tử. “Và bất cứ khi nào chúng tôi gặp nhau,” ông ta quả quyết với cha xứ, “chúng tôi lại nói chuyện về người đàn ông đáng kính đã cứu vớt cuộc đời chúng tôi, ‘con ễnh ương Anh Quốc’”.
*
* *
 
Năm tháng qua đi, ông linh mục và người bạn Nhật Bản của mình tiến bước trong nghề nghiệp mà họ đã chọn lựa và thường xuyên trao đổi thư từ, năm 1971, Ari Sakata được bổ nhiệm phụ trách một nhà máy điện tử lớn ở Osaka, và mười tám tháng sau, Richard Moore trở thành Đức cha vô cùng đáng kính Moore, Trưởng tu viện Giáo đường Lincoln Cathedral.
“Tôi đọc trong tờ Thời báo London rằng giáo đường của anh đang lạc quyên cho một cái mái mới,” Sakata viết từ quê hương của ông ta năm 1975.
“Việc đó không có gì khác thường,” vị Giáo chủ giải thích trong bức thư trả lời. “Không có một giáo đường nào ở nước Anh mà không bị hư hại do mục nát hay bom đạn. Điều thứ nhất,tôi e là vô phương cứu chữa; còn điều thứ hai, ít nhất cũng có một cơ hội.”
Vài tuần lễ sau, vị Giáo chủ nhận được một tờ séc trị giá mười ngàn bảng từ một công ty điện tử nổi tiếng của Nhật Bản.
0
Vào năm 1979 khi Đức cha tôn kính Richard Moore được cử giữ chức Giám mục Taunton, ông giám đốc điều hành mới của công ty điện tử lớn nhất Nhật Bản đã bay sang để dự lễ phong chức.
“Tôi thấy anh có thêm một vấn đề nữa về mái nhà,” Ari Sakata nhận xét khi ông ta nhìn lên những giàn giáo bao quanh bục giảng kinh. “Lần này sẽ tốn kém bao nhiêu đây?”
“Ít nhất là hai mươi lăm ngàn bảng mỗi năm,” vị Mục sư trả lời không cần suy nghĩ. “Chỉ để chắc chắn cái mái không đổ sụp xuống đầu giáo đoàn trong các bài giảng kinh nghiêm khắc cảu tôi.” Ông thở dài khi đi ngang qua những bằng chứng của công việc tái xây dựng khắp nơi xung quanh. “Ngay khi tôi nhận xong chức vụ mới, tôi dự định phát động một cuộc lạc quyên xứng đáng để đảm bảo chắc chắn người kế tục tôi sẽ không bao giờ lại phải lo lắng về cái mái nữa.”
Ông giám đốc điều hành gật đầu. Một tuần lễ sau, một tấm séc trị giá hai mươi lăm ngàn bảng được đặt trên bàn của vị linh mục.
Đức Giám mục đã cố gắng rất nhiều để biểu lộ lòng biết ơn của mình. Ông biết mình không bao giờ cho phép “Đôi đũa” cảm thấy rằng với sự rộng lượng, hào phóng của ông ta, ông ta có thể làm những điều sai trái, bởi vì điều này xúc phạm đến người bạn của ông và chắc chắn tình bạn của họ sẽ kết thúc. Bức thư này nối tiếp bức thư kia được thảo ra, nhằm bảo đảm rằng phiên bản cuối cùng của bức thư dài viết tay có thể được những quan chức Bộ Ngoại giao phụ trách bộ phận Nhật Bản thông qua. Cuối cùng bức thư đã được gửi đi.
Năm tháng qua đi, Richard Moore trở nên e ngại khi viết thư cho người bạn cũ nhiều hơn một lần trong năm, bởi vì mỗi bức thư lại là sự gợi ý một tấm séc lớn hơn. Và vào cuối năm 1986, khi viết thư gửi đi, ông không hề nhắc nhở tới quyết định của Trưởng Tu viện và Tăng hội chỉ định năm 1988 là năm lạc quyên của giáo đường này. Ông cũng không nói tới tình trạng sức khỏe suy sụp của chính mình, sợ quý ông Nhật Bản có thể cảm thấy có trách nhiệm. Bác sỹ đã cảnh báo rằng ông sẽ không thể mong đợi sẽ hồi phục hoàn toàn vì những gì ông đã trải qua ở Tonchan.
Đức Giám mục bắt đầu thành lập ủy ban lạc quyên của mình vào tháng giêng năm 1987. Hoàng tử xứ Wales trở thành mạnh thường quân đỡ đầu và ngài Quận trưởng đại diện cho Nữ hoàng làm chủ tịch. Trong bài phát biểu khai mạc với các thành viên ủy ban lạc quyên, Đức Giám mục hướng dẫn cho họ phải quyên góp được không dưới ba triệu bảng trong năm 1988. Một vài nét e ngại thoáng hiện trên nhiều khuôn mặt quanh bàn.
Ngày mười một tháng tám năm 1987, Đức Giám mục Taunton đang làm trọng tài cho một trận đấu cricket thì bỗng nhiên bị ngã gục vì một cú đột quỵ. “Hãy lo liệu để những tờ tuyên truyền lạc quyên được in ấn kịp thời cho buổi họp sắp tới,” là những lời cuối cùng của ông với người đội trưởng đội bóng địa phương.
Buổi lễ tưởng nhớ Giám mục Moore được tổ chức tại Giáo đường Taunton và do Đức Tổng Giám mục Canterbuy cử hành. Không thể tìm được một chỗ trống nào trong ngôi nhà thờ ngày hôm đó, và quả nhiên người tụ tập trong mỗi hàng ghế, đến mức cửa Tây được để ngỏ. Những người đến muộn phải lắng nghe bài phát biểu của Đức Tổng Giám mục phát chuyển tiếp qua loa đặt quanh quảng trường.
Những người ghé xem tình cờ chắc hẳn ngạc nhiên bởi sự có mặt của vài quý ông Nhật Bản đứng tuổi đang đứng đây đó quanh giáo đoàn.
0
Khi buổi lễ kết thúc, Đức Tổng Giám mục tổ chức một buổi gặp riêng tại phòng áo lễ của giáo đường với ông chủ tịch của công ty điện tử lớn nhất thế giới.
“Chắc ông là ông Sakata,” Đức Tổng Giám mục nói, nồng nhiệt bắt tay một người đàn ông vừa từ nhóm nhỏ người Nhật đang đứng đợi bước lên. “Cảm ơn ông đã không quản ngại viết thư và cho tôi được biết là ông sẽ tới. Tôi rất vui mừng được gặp ông. Đức Giám mục luôn nói về ông với một tấm lòng cực kỳ cảm mến và với tư cách là một người bạn thân – “Đôi đũa”, nếu tôi nhớ chính xác.”
Ông Sakata cúi thấp đầu.
“Và tôi cũng được biết ông ấy luôn luôn tự coi bản thân mình mắc nợ cá nhân ông vì lòng rộng rãi hào hiệp như thế trong biết bao nhiêu năm tháng.”
“Không, không, không phải tôi,” ông cựu Thiếu tá trả lời. “Tôi chỉ đại diện cho một người có quyền cao hơn, cũng giống như người bạn thân Giám mục quá cố của tôi thôi.”
Đức Tổng Giám mục tỏ ra bối rối.
“Ngài thấy đấy, thưa ngài,” Ông Sakata nói tiếp, “Tôi chỉ là tổng giám đốc cảu công ty. Tôi xin phép có vinh dự được giới thiệu vị Chủ tịch.”
Ông Sakata lùi ra sau một bước để cho một người bước lên trước. Anh ta thậm chí còn nhỏ bé hơn, ban đầu Đức Tổng Giám mục đã nghĩ đó là một nhân viên trong đám tùy tùng của Sakata.
Vị Tổng Giám đốc cúi thấp người và vẫn không nói câu nào, đưa một chiếc phong bì cho Đức Tổng Giám mục.
“Tôi xin phép được mở nó ra?” người lãnh đạo nhà thờ nói, không biết tục lệ Nhật Bản là phải chờ cho đến khi nào người cho đã đi khỏi.
Người nhỏ bé lại cúi đầu.
Đức Tổng Giám mục mở chiếc phong bì ra, và lấy ra một tờ séc ba triệu bảng.
“Đức Giám mục quá cố chắc hẳn là một người bạn rất thân thiết của ông,” là tất cả những gì Ngài có thể nghĩ được để nói ra.
“Không, thưa ngài,”vị Chủ tịch trả lời. “Tôi không có được cái đặc ân đó.”
“Vậy thì chắc ông ta đã làm một việc gì đó rất khác thường để có thể xứng đáng với một cử chỉ hào phóng đến như vậy.”
“Hơn bốn mươi năm về trước, ông ấy đã có một hành động đáng kính và giờ đây tôi cố gắng trả nợ một cách không xứng đáng.”
“Vậy thì chắc chắn ông ta còn nhớ ngài,” Đức Tổng Giám mục nói.
“Có thể ông ta còn nhớ tới tôi, nhưng nếu vậy thì chỉ như là nửa “Chua” của ‘Thịt Lợn Xào Chua Ngọt’.”
*
* *
Ở Anh Quốc có một tòa giáo đường chưa bao giờ thấy cần thiết phát động một cuộc vận động lạc quyên toàn quốc.
 
Hết
 
0
TAI NẠN DÂY CHUYỀN
 
Lần đầu tiên chúng tôi gặp Patrick Travers là vào kỳ nghỉ đông hàng năm ở Verbier. Khi chúng tôi đang đứng đợi thang máy trượt tuyết buổi sáng thứ bảy đầu tiên của kỳ nghỉ thì một người đàn ông tuổi ngoại tứ tuần đứng dẹp sang bên, nhường cho Caroline thế chỗ anh ta để chúng tôi có thể lên cùng nhau. Anh ta bảo đã kết thúc hai cua trượt buổi sáng hôm đó và có đợi một chút cũng không hề gì. Tôi cảm ơn anh ta và không nghĩ ngợi gì thêm về điều đó nữa.
Lên đến đỉnh là tôi và vợi tôi ai đi đường nấy ngay, cô ấy tới dốc A để gặp Marcel – người chỉ dạy những chân trượt trình độ cao – vợ tôi đã trượt tuyết từ khi lên bảy, tôi thì đến dốc B, và tìm bất cứ hướng dẫn viên nào đang rảnh rang – tôi mãi đến năm bốn mươi mốt tuổi mới học trượt tuyết. Thực ra thì dốc B vẫn còn quá tầm đối với tôi, cho dù tôi không dám thú nhận như vậy, đặc biệt là với Caroline. Thường thường chúng tôi gặp lại nhau trên đỉnh dốc, chỗ thang máy, sau khi đã hoàn thành những cua trượt của mình.
Buổi tối hôm đó chúng tôi chạm trán Travers tại quầy rượu khách sạn. Vì anh ta dường như chỉ có một mình nên chúng tôi mời anh ta cùng ăn tối với chúng tôi. Travers chứng tỏ mình là một bạn đồng hành đầy thú vị và chúng tôi đã có một buổi tối khá vui vẻ. Anh ta lịch thiệp tán tỉnh vợ tôi mà không hề vượt quá ranh giới, còn vợ tôi tỏ ra phấn khích vì sự chú ý đó. Qua năm tháng, tôi đã dần quen với việc đàn ông dễ bị cuốn hút bởi Caroline, và không khi nào lưu tâm xem mình may mắn ra sao. Trong bữa tối, chúng tôi được biết Travers là chủ một nhà băng nhỏ có một văn phòng trong thành phố và một căn hộ ở Quảng trường Eaton. Anh ta kể rằng năm nào cũng tới Verbier từ khi anh tat ham gia một khóa học hồi cuối thập kỷ năm mươi. Travers vẫn tự hào là người đầu tiên lên đỉnh dốc vào mỗi buổi sáng, hầu như luôn tung hoành trên các ngọn dốc trước các chân trượt địa phương.
Travers tỏ ra thực sự quan tâm tới việc tôi có một gallery mỹ thuật nhỏ tại khu West End. Hóa ra, bản thân Traverrs cũng là một nhà sưu tập chuyên về các tác gia nhỏ thuộc trường phái ấn tượng. Anh ta hứa sẽ ghé xem buổi triển lãm tiếp theo của tôi khi trở về London.
Tôi nhhiệt tình mời mọc nhưng chẳng hề nghĩ gì đến việc đó nữa. Sự thực là cho tới khi kết thúc kỳ nghỉ đó, tôi cũng chỉ thấy Travers có đôi lần, một lần đang trò chuyện với cô vợ của một người bạn tôi, chủ một gallery chuyên về thảm phương Đông, và lần thứ hai là khi anh ta đang trượt rất diệu nghệ theo sau Caroline xuống con dốc A đầy trắc trở.
*
* *
0
Phải mất sáu tuần lễ cộng với môt vài phút, tôi mới thấy lại Travers tại phòng tranh của tôi tối đó. Tôi lục tìm bộ phận ghi nhậ tên tuổi trong não bộ, một kỹ năng mà các chính trị gia phải trông cậy đến hàng ngày.
“Gặp được anh thật tốt quá, anh Edward,” anh ta nói. “Tôi thấy có bài về anh trên tờ Independent và nhớ ra lời mời ân cần của anh đén dự cuộc triển lãm cá nhân.”
“Rất vui anh đã đên xem, anh Patrick,” tôi trả lời, nhớ ra cái tên vừa đúng lúc.
“Bản thân tôi không phải là một gã ham rượu sâm panh đâu,” anh ta bảo tôi, “nhưng mà tôi sẵn sàng vất vả để được chiêm ngưỡng một bức Vuillard.”
“Anh đánh giá cao ông ta sao?”
“Ồ, vâng. Tôi đánh giá ông ta còn trên cả Pissarro và Bonnard, dù ông ta vẫn là một trong số các bậc thầy bị đánh giá thấp nhất của trường phái ấn tượng.”
“Tôi đồng ý,” tôi trả lời. “Tuy nhiên pòng tranh của tôi đã nhìn nhận như thế về Vuillard khá lâu rồi.”
“Bức Quý bà bên khung cửa sổ giá bao nhiêu?” anh ta hỏi.
“Tám mươi ngàn bảng,” tôi nói khẽ.
“Nó gợi cho tôi nhớ tới một bức tranh cảu ông ta tại bảo tàng Metropolitan,” Travers nói, trong lúc xem xét bức chụp lại trong catalogue.
Tôi hơi ngạc nhiên, bảo Travers rằng bức tranh của Vuillard ở New York đã được vẽ cách bức tranh mà anh ta hâm mộ chưa đầy một tháng.
Anh ta gật đầu. “Còn bức khỏa thân nhỏ?”
“Bốn mươi bảy ngàn,” tôi bảo.
“Bà Hensell, bà vợ của người buôn bán tranh cho ông ta, và nếu tôi không nhầm bà ta là cô nhân tình thứ hai của Vuillard. Những người Pháp luôn luôn văn minh hơn chúng ta rất nhiều trong những chuyện như thế. Nhưng mà bức tranh tôi ưa thích tại cuộc triển lãm này,” Travers nói tiếp, “chắc chắn có thể sánh được với những kiệt tác xuất sắc nhất của ông ấy.” Anh ta quay sang, hướng vào một bức sơn dầu lớn vẽ một thiếu nữ đang chơi dương cầm, người mẹ cô gái đang cong người lật giở khuông nhạc.
“Tuyệt tác,” anh ta thốt lên. “Tôi mạo muội hỏi nó đang giá bao nhiêu nhỉ?”
“Ba hảy mươi ngàn bảng,” tôi bảo, băn khoăn tự hỏi không biết cái giá như thế có quá tầm với của Travers không.
“Bữa tiệc tuyệt vời quá, Edward à,” một giọng nói cất lên phía sau lưng tôi.
“À! Percy!” tôi thốt lên, quay đầu a\lại. “Tớ cứ tưởng cậu bảo cậu không thể đến được.”
“Ờ, quả có thế thật, ông bạn ạ, nhưng tớ đã quyết định không thể cứ một mình ở nhà mãi được, nên tớ đã đến để dìm nỗi đau trong rượu sâm panh.”
“Đúng quá còn gì,” tôi bảo. “Thật đáng tiếc về Diana.” Tôi nói thêm khi Percy đi khỏi. Khi tôi quay đầu lại để tiếp tục câu chuyện với Patrick Travers thì không trông thấy anh ta đâu nữa. Tôi tìm quanh gian phòng và thấy anh ta đang đứng ở góc xa phòng tranh, chuyện trò với vợ tôi, với một ly rượu sâm panh trên tay. Caroline bận một bộ váy áo xanh lá cây hở vai mà tôi cho là hơi quá hiện đại. Đôi mắt của Travers dường như gắn chặt vào một điểm phía dưới cặp vai. Lẽ ra tôi đã không để ý đến điều này nếu như anh ta nói chuyện với một ai khác trong buổi tối hôm đó.


0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-03-07 08:45:02khachxa>
Dịp gặp gỡ kế tiếp với Travers diễn ra khoảng một tuần sau, khi tôi từ ngân hàng trở về với một ít tiền mặt. Lại một lần nữa anh ta đứng trước bức sơn dầu Vuillard vẽ bà mẹ và thiếu nữ bên cây dương cầm.
“Chúc buổi sáng vui vẻ, anh Patrick,” tôi nói khi đến bên anh ta.
“Dường như tôi không thể quên được bức tranh này,” anh ta nói khi tiếp tục ngắm nghía hai thân hình trong tranh.
“Cũng dễ hiều thôi.”
“Không hiểu anh có thể cho phép tôi sống với họ trong một hai tuần, cho đến khi tôi đi đến một quyết định cuối cùng được không? Đương nhiên tôi rất sẵn lòng đặt trước một khoản cược.”
“Tất nhiên là được,” tôi bảo. “Tôi muốn có một chứng nhận của ngân hàng nữa và khoản cược sẽ là hai mươi lăm ngàn bảng.”
Travers đồng ý với cả hai đề nghị không chút đắn đo, vậy nên tôi hỏi anh ta muốn bức tranh được chuyển đến đâu. Anh ta đưa cho tôi một tấm danh thiếp ghi địa chỉ của anh ta tại Quảng trường Eaton. Buổi sáng hôm sau các chủ nhà băng của anh khẳng định rằng ba trăm bảy mươi ngàn bảng không là vấn đề gì đối với thân chủ của họ.
Trong vòng hai mươi tư giờ đồng hồ, bức tranh Vuillard đã được mang tới và treo trong phòng ăn tại tầng một nhà anh ta. Travers gọi điện lại cho tôi vào buổi chiều để cảm ơn và hỏi xem liệu Caroline và tôi có thể đến dùng bữa tối với anh ta không; anh ta bảo muốn nghe ý kiến thứ hai về bức tranh.
Với ba trăm bảy mươi ngàn bảng đã đặt cược, tôi thấy mình không dễ gì từ chối lời mời này, và dù sao đi nữa Caroline cũng có vẻ sốt sắng chấp nhận, nói rằng nàng muốn xem ngôi nhà anh ta ra sao.
Chúng tôi ăn tối với Travers vào ngày thứ năm. Hóa ra chúng tôi là những vị khách duy nhất. Tôi còn nhớ là tôi đã rất ngạc nhiên vì không có một bà Travers nào cả, hay ít nhất cũng là một cô người yêu thường trú ở đó. Travers là một chủ nhà chu đáo và bữa ăn mà anh ta chuẩn bị rất tuyệt vời. Tuy nhiên, lúc đó tôi thấy anh ta có vẻ hơi quan tâm lo lắng quá cho Caroline, dù nàng tỏ ra thích thú với sự chú ý mạnh mẽ đó. Có lúc tôi tự hỏi nếu tôi tan biến vào không khí thì không biết có ai trong hai người nhận biết được không.
Đêm hôm đó, khi chúng tôi rời khỏi Quảng trường Eaton, Travers bảo tôi anh ta gần như đã quyết định về bức tranh. Tôi cảm thấy ít nhất buổi tối này cũng đã phục vụ được cho một mục đích nào đấy.
Sáu ngày sau, bức tranh được gửi trả lại phòng tranh của tôi với mấy lời nhắn kèm theo, nói rằng anh ta không cần đến nó nữa. Travers không nhọc lòng nêu lến lí do, mà đơn giản kết thúc lời nhắn, anh ta nói hy vọng một lúc nào đó sẽ ghé qua xem lại các bức Vuillard khác. Đầy thất vọng, tôi gửi trả lại tiền ứng trước, nhưng tôi cũng nhận thấy khách hàng thường hay quay lại, đôi khi hàng tháng, thậm chí hàng năm sau.
Thế nhưng Travers không bao giờ quay lại.
Khoảng chừng một tháng sau thì tôi biết lí do tại sao. Khi tôi đang ăn trưa tại chiếc bàn lớn đặt chính giữa câu lạc bộ của tôi, giống như tại những nơi dành cho đàn ông khác, chiếc bàn được giữ cho những thành viên đi một mình. Percy Fellows là người bước vào câu lạ bộ sau tôi nên anh ngồi xuống ghế đối diện. Tôi chưa gặp được anh để trò chuyện kể từ buổi triển lãm cá nhân tranh của Vuillard, và lúc đó chúng tôi cũng chưa thực sự nói hết câu chuyện. Percy là một trong những nhà buôn bán đồ cổ được kính trọng nhất tại Anh Quốc. Tôi đã có một lần đổi chác  thành công với anh, một chiếc bàn giấy của vua Charles Đệ Nhị đổi lấy một bức phong cảnh Hà Lan của Utrillo.

0
Tôi nhắc lại mình lấy làm tiếc về chuyện của Diana.
“Chuyện của chúng tớ chắc chắn sẽ kết thúc bằng một vụ ly hôn,” anh ấy giải thích. “Cô ta thông thạo mọi giường chiếu ở thủ đô London này. Tớ đã bắt đầu giống như một thằng ngốc bị cắm sừng, và cái gã Travers chết dẫm ấy là giọt nước cuối cùng.”
“Travers ư?” Tôi nói, không hiểu.
“Patrick Travers, cái thằng cha được nêu tên trong đơn ly dị của tớ. Cậu biết thằng đó à?”
“Tôi biết cái tên đó,” tôi ngập ngừng nói, muốn nghe thêm trước khi thú nhận mối quen biết sơ sơ của chúng tôi.
“Buồn cười thật,” anh ấy bảo. “Xin thề là tớ đã trông thấy hắn tại cuộc triển lãm cá nhân ở gallery của cậu.”
“Nhưng cậu định nói gì, hắn ta là giọt nước cuối cùng?” Tôi hỏi, gắng đưa tâm trí Percy ra khỏi buổi khai trương triển lãm.
“Chúng tớ gặp gã đó ở trường đua Ascot. Hắn nhập hội với chúng tớ cùng ăn trưa, rất vui mừng uống rượu sâm panh của tớ, ăn bánh kem dâu tây của tớ, rồi sau đó, chưa kết thúc tuần lễ đã đưa vợ tớ lên giường. Nhưng đó chưa là một nửa câu chuyện đâu.”
“Chưa được một nửa sao?”
“Gã đó còn dám vác mặt đến cửa hiệu của tớ, đặt cọc một khoản lớn cho một cái bàn kiểu Georgian. Rồi hắn mời hai chúng tớ đến ăn tối để ngắm nghía cái bàn. Sau đó khi đã có đủ thời gian làm tình với Diana, hắn gửi trả lại cả hai, hơi cũ đi một chút. Trông cậu sao thế, anh bạn,” Percy bỗng nhiên kêu lên. “Thức ăn có vấn đề hả, nó không được như trước nữa kể từ hồi Harry chuyển đến nấu cho Carlton. Tớ đã viết về việc này mấy lần cho hiệp hội rượu vang nhưng mà…”
“Không sao, tớ khỏe mà,” tôi bảo. “Tớ chỉ cần thoáng khí một chút. Tớ xin lỗi nhé, Percy.”
Trên đường từ câu lạc bộ trở về tôi quyết định tôi phải làm một cái gì đó với ông Travers.
*
* *
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-03-09 09:49:33khachxa>
Sáng hôm sau tôi đợi thư từ gửi đến và kiểm tra mọi phong bì gửi cho Caroline. Không có điều gì bất thường, thế nhưng tôi nghĩ Travers không ngu dại gì lại để lại cái gì đó trên giấy tờ. Tôi cũng bắt đầu nghe trộm điện thoại của nàng, nhưng hắn cũng không nằm trong số những người gọi điện thoại, ít nhất là trong lúc tôi còn ở nhà. Thậm chí tôi còn kiểm tra công tơ mét xe hơi của nàng xem nàng có đi đâu xa không, nhưng quảng trường Eaton thì đâu có xa xôi. Thường thường những điều ta không làm lại để lộ ra vấn đề, tôi rút ra quyết định đó: Chúng tôi đã không làm tình nửa tháng nay, và nàng chẳng mảy may đả động tới chuyện đó.
Tôi tiếp tục theo dõi Caroline cẩn thận hơn trong suốt nửa tháng sau, nhưng tôi thấy rõ ràng Travers đã mệt mỏi với nàng vào ngay thời gian mà hắn gửi trả lại bức Vuillard. Điều này càng làm tôi điên tiết.
Rồi tôi lên kế hoạch trả thù mà lúc đó tôi thấy rất tuyệt diệu, tôi tự nhủ rằng mất vài ngày tôi sẽ vượt qua được vụ này, thậm chí còn quên nó đi. Nhưng tôi không quên được. Dường như là ý nghĩ đó đã lớn lên thành một sự ám ảnh. Tôi bắt đầu tự thuyết phục mình, rằng trách nhiệm lớn lao của tôi là phải giải quyết Travers trước khi hắn ta bôi nhọ thêm bất cứ bạn bè nào của tôi.
Trong đời mình, tôi chưa bao giờ phạm pháp một cách có ý thức. Đỗ xe phạm luật làm tôi khó chịu, vứt rác lung tung làm tôi phật ý và tôi trả thuế VAT ngay ngày đầu tiên khi cái phong bì to tướng rơi vào thùng thư.
Tuy nhiên khi tôi đã quyết định cần làm việc gì thì tôi tỉ mỉ chuẩn bị kế hoạch. Đầu tiên, tôi cho rằng phải bắn Travers, rồi tôi nhận ra rất khó khăn mới có được một giấy phép sử dụng súng. Hơn nữa, nếu tôi thực hiện trôi chảy thì hắn chết rất ít đau đớn, mà điều này không nằm trong kế hoạch tôi dành cho hắn. Rồi trong đầu tôi nảy ra ý định đầu độc hắn – nhưng cái này liên quan đến nhân chứng kê đơn, mà tôi cũng không được chứng kiến cái chết từ từ tôi mong muốn. Bóp cổ chăng, tôi cho là phải vận dụng quá nhiều can đảm – và trong mọi tình huống, hắn ta to con hơn tôi, có khi tôi lại là người bị bóp cổ cũng nên. Chết đuối ư, có khi phải mất hàng năm hắn ta mới gần nước, mà tôi chưa chắc đã tiếp cận được hắn khi hắn lặn xuống nước lần thứ ba. Thậm chí tôi còn nghĩ đến cán chết thằng cha chết tiệt đó, nhưng lại thôi vì thấy cơ hội gần như bằng không, hơn nữa tôi không có thời gian xem hắn ta đã chết hay chưa. Tôi nhanh chóng nhận ra rằng thật là khó để giết một ai đó mà không một ai biết đấy là đâu.
Đêm đêm tôi thức đọc tiểu sử những kẻ giết người, nhưng tất cả bọn họ đều bị bắt, và bị kết án, nên tôi không an tâm. Tôi chuyển sang tiểu thuyết trinh thám, trong đó luôn luôn cho phép một sự tình cờ, may rủi, hay một sự kì diệu mà tôi không sẵn lòng mạo hiểm, cho đến khi tôi vớ được một câu của Conan Doyle: “Bất cứ nạn nhân tương lai nào có một thói quen thường ngày lập tức làm cho chính bản thân họ dễ bị nguy hiểm hơn”. Tôi nhớ đến thói quen thường ngày của Travers, mà vì nó hắn ta rất đỗi tự hào. Việc này cần mất thêm sáu tháng đợi chờ nữa, nhưng đó cũng là thời gian để tôi hoàn chỉnh kế hoạch. Tôi sử dụng rất có hiệu quả quãng thời gian này để củng cố kế hoạch, bởi vì mỗi khi Caroline đi vắng quá hai mươi tư giờ là tôi lại đăng ký học ngay buổi trượt tuyết tại con dốc khô ở Harrow.
Tôi thấy vô cùng dễ dàng để tìm hiều xem Traveers sẽ trở lại Verbier vào thời gian nào, và tôi có thể thu xếp kì nghỉ đông của mình sao cho trùng khớp, khoảng ba ngày thôi – một quãng thời gian đủ cho tôi thực hiện tội ác đầu tiên của mình.
*
* *
0
Caroline và tôi tới Verbier vào ngày thứ sáu thứ hai của tháng giêng. Nàng đã hơn một lần nhận xét về tính khi khác thường của tôi trong dịp lễ Noel, và hy vọng kì nghỉ sẽ giúp tôi thư giãn. Tôi có thể nào giải thích nàng hay rằng chính ý nghĩ về kì nghỉ này đã làm cho tôi căng thẳng. Khi máy bay đang trên đường bay tới Thụy Sĩ, nàng hỏi tôi liệ Travers sẽ tới đó năm nay không. Điều đó cũng không giúp ích gì cho tính khí của tôi.
Buổi sáng đầu tiên sau khi tới nơi, chúng tôi đi thang máy lên đỉnh dốc lúc khoảng mười giờ ba mươi, Caroline đến đăng kí ngay với anh Marcel. Khi nàng cùng anh ta đi dốc A, tôi quay lại dốc B để trượt một mình. Như thường lệ, chúng tôi thống nhất sẽ gặp lại nhau ở thang máy, hoặc nếu lạc nhau, thì ít nhất chúng tôi cũng gặp nhau trong bữa ăn trưa.
Trong những ngày sau đó, tôi duyệt qua duyệt lại nhiều lần kế hoạch tối ưu mà tôi đã hoàn chỉnh trong đầu và đã luyện tập siêng năng ở Harrow cho đến khi tôi đã chắc chắn là nó hoàn hảo. Kết thúc tuần lễ đầu tiên, tôi đã tự thuyết phục mình rằng tôi đã sẵn sàng.
*
* *
 
Buổi tối trước hôm Travers dự định sẽ tới, tôi là người cuối cùng rời khỏi con dốc. Ngay cả Caroline cũng nhận xét trình độ trượt của tôi đã tiến bộ và nàng gợi ý với Marcel rằng tôi đã sẵn sàng với con dốc A, với những khúc cua gấp hơn và độ dốc đứng hơn.
“Có lẽ phải đợi đến sang năm,” tôi bảo nàng, cố gắng tỏ ra bình thường, và quay lại dốc B.
Trong buổi sáng cuối cùng, tôi trượt đi trượt lại dặm đầu tiên của đường trượt, và bị cuốn hút vào đường trượt đến mức tôi hoàn toàn quên mất là phải gặp Caroline để ăn trưa.
Buổi chiều, tôi kiểm tra đi kiểm tra lại những chỗ cắm cờ đỏ đánh dấu đường trượt, và khi tôi tin chắc chân trượt cuối cùng đã về nghỉ tối, tôi thu hồi khoảng ba mươi cây cờ, và cắm chúng lại theo một đường trượt mới và tôi đã vạch ra một cách kỹ lưỡng. Nhiệm vụ cuối cùng là kiểm tra lại đoạn đường đã chuẩn bị đó rồi đắp một ụ tuyết lớn cách chừng hai mét phía trên cái điểm đã được lựa chọn. Sau khi hoàn thành việc chuẩn bị, tôi chầm chậm trượt xuống núi dưới ánh chiều tà.
“Anh định đoạt huy chương vàng Olympic hay sao?” Caroline hỏi tôi khi cuối cùng tôi đã mò về tới phòng. Tôi đóng cửa nhà tắm để nàng khỏi chờ đợi một câu trả lời.
*
* *
 
 
0
Travers nhận phòng khách sạn chừng một giờ sau đó.
Tôi chờ đợi cho trời tối hẳn rồi xuống quầy rượu gặp hắn và cùng uống. Hắn tỏ ra hơi căng thẳng khi mới trông thấy tôi, nhưng tôi nhanh chóng làm cho hắn thấy thoải mái. Vẻ tự tin trước đây của hắn trở lại ngay làm cho tôi càng thêm quyết tâm thực hiện kế hoạch của mình. Tôi bỏ hắn tại quầy rượu một vài phút trước khi Caroline xuống ăn tối để nàng khỏi thấy tôi và hắn ngồi với nhau. Sự ngạc nhiên thơ ngây sẽ là cần thiết một khi hành động đã được thực hiện.
“Ăn ít như vậy chẳng giống anh chút nào, hơn nữa anh còn bỏ bữa trưa nay,” Caroline nhận xét khi chúng tôi rời phòng ăn tối hôm đó.
Tôi chẳng bảo sao khi chúng tôi đi ngang qua Travers đang ngồi bên quầy rượu. Bàn tay hắn đang đặt trên đầu gối của một phụ nữ đứng tuổi vô tội khác. Đêm đó tôi không chợp mắt được một giây nào, tôi bước xuống giường trước sáu giờ sáng một chút, thận trọng để không đánh thức Caroline. Mọi thứ đều nằm trên sàng buồng tắm đúng như vị trí tôi đã sắp sẵn đêm trước. Một thoáng sau, tôi đã nai nịt sẵn sàng. Tôi bước xuống cầu thang phụ của khách sạn, tránh chiếc thang máy và tuồn ra ngoài theo “cửa thoát hiểm”, lần đầu tiên biết cảm giác của một tên trộm. Tôi đội một chiếc mũ len kéo xuống trùm hết tai và đôi kính trượt tuyết úp lên mặt: Ngay cả Caroline cũng sẽ không nhận ra tôi.
Tôi tới chỗ chân thang máy trước giờ mở cửa của nó bốn mươi phút. Đứng một mình phía sau căn phòng nhỏ chứa cỗ máy điện dùng để kéo thang, tôi biết rằng giờ đây tất cả mọi điều phụ thuộc vào sự tuân thủ thói quen của Travers. Tôi không dám chắc mình có hoàn tất công việc được hay không nếu như kế hoạch của tôi phải dịch chuyển sang ngày hôm sau. Trong lúc chờ đợi tôi giậm chân lên những bông tuyết tươi roi rói và đập hai bàn tay lên ngực để giữ ấm. Chốc chốc tôi lại nghiêng ngó xung quanh, hy vọng sẽ thấy hắn ta rảo bước về phía tôi. Bỗng loáng một cái, có cái gì đó xuất hiện tại chân đồi ven đường, một đôi ván trượt nằm trên đôi vai một người đàn ông. Nhưng rốt cuộc nếu không phải là Travers thì sao nhỉ.
Một chút sau, tôi bước ra từ phía sau căn phòng nhỏ đi tới chỗ người đàn ông ăn vận rất âm áp nọ. Đó chính là Travers và hắn ta không giấu nổi ngạc nhiên thấy tôi đang đứng ở đấy. Tôi bắt đầu bằng cách tán gẫu rằng đêm qua bị mất ngủ và nảy ra ý định nhân tiện trượt  một vài vòng trước giờ cao điểm. Giờ đấy tất cả những gì tôi cần là thang máy bắt đầu chạy đúng giờ. sau bảy giờ vài phút, một kỹ sư đến nơi và cỗ máy khổng lồ đầy dầu mỡ bắt đầu lanh canh chuyển động.
Chúng tôi là hai bị khách đầu tiên ngồi lên những chiếc ghế nhỏ bé chuyển động lên cao và ngang qua thung lũng sâu thăm thẳm. Tôi luôn ngoái cổ lại để kiểm tra phía sau xem có ai không.
0
“Tôi thường trượt hết một vòng ngon lành rồi mà người thứ hai vẫn chưa tới,” Travers bảo khi thang máy lên đến đỉnh. Tôi quay nhìn lại để chắc chắn rằng chúng tôi đã ra khỏi tầm nhìn của viên kỹ sư điều khiển thang máy, và nhìn xuống độ cao khoảng sáu mươi mét, tự hỏi không biết rơi cắm đầu xuống thung lũng thì sẽ cảm thấy thế nào nhỉ? Tôi bắt đầu thấy chóng mặt buồn nôn và ước gì mình chưa nhìn xuống.
Chiếc thang máy chầm chậm giật cục trên những dây cáp cho đến khi chúng tôi đến được điểm xuống thang.
“Chết tiệt,” tôi nói, khi chúng tôi nhảy xuống từ những chỗ ngồi nhỏ bé. “Marcel chưa có  mặt.”
“Tầm này thì chưa bao giờ,” Travers nói, đi về hướng dốc trượt cao cấp. “Còn quá sớm đối với anh ta.”
“Tôi nghĩ là anh sẽ trượt xuống cùng với tôi chứ?” tôi gọi với theo Travers.
Anh ta dừng lại và quay nhìn tôi đầy hồ nghi.
“Caroline cho là tôi đã sẵn sàng nhập hội với các vị,” tôi giải thích, “Thế nhưng tôi không vững tâm được như thế và tôi trân trọng một ý kiến thứ hai. Tôi đã tự phá kỉ lục của bản thân bên dốc B mấy lần rồi, nhưng tôi không muốn làm thằng ngốc trước mắt vợ tôi.”
“Ồ, tôi…”
“Tôi sẽ yêu cầu Marcel nếu anh ta có ở đây. Nhưng dù sao anh cũng là chân trượt giỏi nhất mà tôi biết.”
“À, nếu anh…” anh ta lên tiếng.
“Chỉ một lần thôi, rồi anh có thể trượt bên dốc A từ nay cho đến hết kỳ nghỉ. Anh thậm chí có thể coi đường trượt này là động tác làm cho nó ấm lên thôi mà.”
“Có lẽ cũng nên thay đổi một chút.”
“Chỉ một lần thôi mà,” tôi lặp lại. “Đó là điều tôi cần. Rồi sau đó anh có thể cho tôi biết tôi đã đủ trình độ hay chưa?”
“Ta đua tốc độ chứ?” anh ta bảo, làm tôi ngạc nhiên trong lúc tôi xỏ ván. Tôi không thể phàn nàn; tất cả mọi sách viết về những vụ giết người đã cảnh báo tôi phải chuẩn bị sẵn sàng với những điều bất ngờ. “Đó là một cách để biết anh đã sẵn sàng hay chưa,” anh ta thêm vào đầy vênh váo.
“Nếu anh muốn như vậy. Nhưng đừng quên, tôi già hơn và ít kinh nghiệm hơn anh,” tôi nhắc nhở anh ta. Tôi kiểm tra nhanh thanh ván trượt bởi vì tôi biết tôi phải xuất phát trước mũi hắn.
“Thế nhưng anh thuộc lòng dốc B từ sau ra trước,” hắn ta bật lại. “Tôi thì chưa bao giờ thấy nó.”
“Tôi sẽ đồng ý một cuộc đua nếu anh tán thành một vụ cá cược,” tôi trả lời.
Lần đầu tiên tôi thấy mình đã chọc đúng chỗ ngứa của hắn. “Bao nhiêu?” hắn hỏi.
“Ồ, tiền bạc thì trần tục quá nhỉ,” tôi bảo. “Người thắng cuộc phải nói cho Caroline biết sự thật.”
“Sự thật?” hắn nói, tỏ ra bối rối.
“Đúng vậy,” tôi trả lời và lao vút xuống đồi trước khi hắn ta kịp trả lời. Tôi mở đầu tốt khi tôi bay lượn giữa các ngọn cờ đỏ, nhưng nhìn lại qua lưng tôi thấy hắn đã rút ngắn khoảng cách nhanh chóng và đang đuổi tôi sát sạt. Tôi biết điều sống còn với tôi là phải dẫn trước hắn một phần ba đầu tiên của quãng đường trượt, nhưng tôi cảm thấy hắn đang rút dần khoảng cách.
Sau nửa dặm đường vừa lạng lách vừa bay lượn, hắn ta kêu to, “Anh phải trượt nhanh hơn nhiều nữa thì mới có hy vọng chiến thắng tôi.” Câu nói ngạo mạn của hắn càng đẩy tôi lên trước, tôi vẫn dẫn trước chỉ vì tôi có thuận lợi là thuộc lòng từng khúc ngoặt gấp gáp, lồi lõm của dặm đường đầu tiên đó. Khi tôi biết chắc chắn mình sẽ tới khúc đường sống còn đã được đánh dấu trước hắn, tôi bắt đầu thư giãn đôi chút. Tôi đã luyện tập hai trăm mét đường trượt phía trước mặt năm mươi lần mỗi ngày trong mười ngày qua, nhưng tôi cũng quá hiểu rằng chỉ riêng lần này mới quyết định.
Tôi liếc qua vai, thấy hắn ta chỉ còn cách mình chừng ba chục mét. Tôi hơi giảm tốc độ khi tiến gần đến ụ tuyết đã chuẩn bị sẵn, trong lòng hy vọng hắn không lưu ý hoặc nghĩ là tôi đã xuống tinh thần rồi. Tôi giảm tốc độ hơn nữa khi chạm tới đỉnh của đống tuyết cho tới khi hầu như nghe được tiếng thở của hắn ở sau lưng. Rồi đột ngột vào giây phút mà tôi đặt chân xuống tuyets, tôi cày hai chiếc ván trượt vào đống tuyết mà tôi đã đắp sẵn tối qua và dừng hẳn lại. Travers lướt qua tôi với tốc dộ bảy mươi km/h và vài giây sau đó bay cao lên không trung, ngang qua thung lũng với một tiếng thét mà không bao giờ tôi quên được. Tôi không bắt mình phải nhìn xuống rìa núi bởi vì tôi biết rằng hắn đã gãy từng khúc xương trên người khi đáp xuống nền băng tuyết cả trăm mét phía bên dưới.
Tôi cẩn trọng san phẳng ụ tuyết đã cứu mạng mình và ngược lên đỉnh núi với sự nhanh nhất có thể, gom ba mươi cây cờ mà tôi đã cắm trên con đường giả, rồi tôi trượt chéo từ bên này sang bên kia cắm lại đúng vị trí của chúng trên con dốc B cách đống tuyết tôi dựng lên khoảng một trăm mét. Xong việc, tôi trượt xuống núi, cảm thấy mình như một quán quân Olympic. Khi xuống tới chân dốc tôi kéo mũ che kín đầu và không tháo kính ra, tôi tháo bàn trượt và đủng đỉnh đi bộ về khách sạn. Tôi vào tòa nhà bằng cổng sau, lên giường lúc bảy giờ bốn mươi. Tôi kiềm chế nhịp thở, nhưng phải một một lúc, nhịp đập mới trở lại bình thường. Caroline tỉnh dạy sau đó mấy phút, quay sang ôm lấy tôi.
“Ôi, anh lạnh cứng này, anh đã ngủ không đắp chăn hay sao?”
Tôi cười to. “Chắc em đã kéo để hở anh ra lúc đêm rồi.”
“Dậy đi tắm nước nóng đi.”
Sau khi tôi tắm nhanh xong, chúng tôi làm tình và tôi mặc quần áo lại, kiểm tra thêm một lần nữa rằng tôi không để lại dấu vết nào của cú lượn sáng sớm nay rồi xuống ăn sáng.
*
* *
0
Khi Caroline rót ly cà phê thứ hai cho tôi, tôi nghe thấy tiếng hú còi xe cứu thương, lúc đầu chạy từ phía thành phố, rồi sau đó quay lại.
“Hy vọng đó không phải là một tai nạn tồi tệ,” vợ tôi bảo, khi nàng tiếp tục rót cà phê cho mình.
“Sao cơ?” Tôi nói hơi to, mắt rời khỏi tờ Thời báo của ngày hôm trước.
“Tiếng còi hú ấy, ngốc ạ. Chắc là có một tai nạn trên núi. Có lẽ là Travers,” nàng bảo.
“Travers sao?” Tôi nói, còn to hơn nữa.
“Patrick Travers. Em trông thấy hắn ta tại quầy rượu tối qua. Em đã không bảo với anh bởi vì em biết anh không ưa hắn.”
“Nhưng tại sao lại là Travers?” Tôi hỏi giọng căng thẳng.
“Chẳng phải hắn luôn tuyên bố mình là chân trượt đầu tiên trên đỉnh dốc vào mỗi buổi sáng sớm đó sao? Thậm chí còn qua mặt các giáo viên hướng dẫn nữa chứ.”
“Vậy sao?” Tôi nói.
“Anh phải nhớ chứ. Cái bữa chúng ta lên thang máy lần đầu hôm gặp hắn thì hắn đã trượt đến vòng thứ ba rồi còn gì.”
“Thế hả?”
“Sáng nay anh làm sao vậy, Edward à. Chắc anh ra khỏi giường không đúng chỗ hả?” nàng hỏi, miệng cười lớn.
Tôi không trả lời.
“Này, em chỉ hy vọng đúng là Travers,” Caroline nói thêm, nhấm nháp ly cà phê. “Em chưa bao giờ ưa hắn.”
“Sao lại không?” Tôi hỏi hơi sửng sốt.
“Hắn ta đã tán tỉnh em một lần,” nàng nói bình thản.
Tôi nhìn nàng chằm chằm, không thốt nên lời.
“Thế anh không hỏi điều gì đã xảy ra sao?”
“Anh bị choáng quá nên không biết nói sao,” tôi trả lời.
“Hắn ta săn đón em ráo riết buổi tối hôm đó tại phòng tranh, rồi mời em đi ăn trưa sau bữa chúng mình cùng ăn tối với hắn. Em bảo hắn biến ngay,” Caroline nói. Nàng khẽ chạm vào tay tôi. “Trước đây, em chưa nói cho anh biết là vì em nghĩ đó là lý do khiến hắn ta gửi trả lại bức Vuillard, và điều đó chỉ làm cho em cảm thấy mình có lỗi.”
“Nhưng người phải cảm thấy có lỗi chính là anh,” tôi nói, tay mâm mê mẩu bánh mỳ nướng giòn.
“Ồ, không đâu, anh yêu, anh không có lỗi gì hết. Dù sao nếu khi nào em quyết định không chung thủy thì  không phải với một con thằn lằn nhà như thế đâu. Trời phật chứng giám, không đâu. Diana đã bảo em hắn sẽ như thế nào rồi. Hoàn toàn không phải típ người em thích.”
Tôi ngồi nghĩ về Travers đang trên đường được đưa tới nhà xác, hay còn tệ hại hơn nữa, vẫn còn bị chôn vùi dưới tuyết, biết rằng tôi chẳng thể làm được gì về chuyện đó.
“Anh biết không, em nghĩ đã đến lúc anh giải quyết dốc A rồi,” Caroline nói khi chúng tôi kết thúc bữa sáng. “Anh tiến bộ quá sức đấy.”
“Ờ,” tôi trả lời, hơi đăm chiêu.
Tôi hầu như chẳng nói năng gì khi chúng tôi cùng nhau rảo bước đến chân núi.
“Anh có sao không, cưng?” Caroline hỏi khi chúng tôi ngồi trên thang máy đi len bên nhau.
“Tốt thôi,” tôi bảo, không thể nhìn xuống hẻm núi khi thang lên đến đỉnh. Phải chăng Travers vẫn còn ở dưới đó, hay đã ở trong nhà xác?
“Thôi đừng làm bộ sợ hãi như con nít nữa đi. Sau tất cả những gì anh làm được tuần vừa rồi, anh phải sẵn sàng hơn để nhập cuộc với em chú,” nàng nói quả quyết.
Tôi mỉm cười yếu ớt. Khi chún tôi lên tới đỉnh, tôi nhảy xuống khỏi thang máy hơi sớm một nhịp, và biết ngay rằng tôi đã bị bong gân mắt cá chân khi nhấc bước chân thứ hai.
0
Tôi không nhận được sự cảm thông nào từ Caroline. Nàng tin chắc tôi làm bộ để tránh phải cố gắng trượt ở dốc cao cấp. Nàng lướt qua tôi và phóng xuống núi trong khi tôi quay trở lại đầy xấu hổ bằng thang máy. Khi tôi xuống chân thang, tôi liếc nhìn viên kỹ sư nhưng ông ta chẳng hề để ý đến tôi. Tôi tập tễnh lê bước tới trạm sơ cứu và vào đăng ký khám. Caroline vào với tôi vài phút sau đó.
Tôi giải thích cho nàng hay rằng người phụ trách an toàn ca trực cho là tôi có thể bị rạn xương và gợi ý rằng tôi nên nhập viện ngay.
Caroline nhăn mặt, tháo bỏ ván trượt và đi kiếm một chiếc ta xi để đưa chúng tôi đến bệnh viện. Đoạn đường không xa, đó là đoạn đường mà tay ta xi đã chạy qua quá nhiều lần, có thể thấy rõ qua các cú ngặt điêu luyện anh ta thực hiện.
“Chắc em phải ăn tối ngoài tiệm cả năm về vụ này quá,” Caroline nói với tôi khi chúng tôi bước vào cánh cửa của bệnh viện.
“Xin bà vui lòng đợi bên ngoài, thưa bà?” một nam hộ lý yêu cầu khi tôi được đưa vào phòng X-quang.
“Vâng, nhưng liệu có bao giờ tôi được gặp lại ông chồng đáng thương của tôi nữa không?” nàng châm chọc khi cánh cửa đóng lại trước mặt nàng.
Tôi bước vào một căn pòng xếp đầy máy móc tối tân được một bác sĩ ăn mặc sang trọng điều khiển. Tôi bảo ông ta tôi bị đau ra sao và ông ta nhẹ nhàng đặt chiếc chân đau lên một chiếc máy X-quang. Giây lát sau, ông ta xem xét một phim âm bản lớn.
“Không có rạn xương,” ông ta trấn an, tay chỉ vào khúc xương. “Nhưng nếu ông còn đau một chút nào thì tốt hơn nên bó chặt mắt cá chân lại.” Rồi ông bác sỹ kẹp tấm phim X-quang của tôi bên cạnh năm tấm phim khác đang treo trên một sợi dây.
“Tôi đã là người thứ sáu ngày hôm nay sao?” Tôi hỏi, nhìn lên hàng phim X-quang.
“Không, không,” ông ta nói, cười to. “Năm tấm kia của cùng một người. Tôi cho là anh ta định cố gắng bay qua hẻm núi, cái thằng ngốc.”
”Qua hẻm núi á?”
“Đúng thế, khoe mẽ mà, tôi nghĩ vậy.” Ông ta vừa nói vừa quấn băng quanh mắt cá chân tôi. “Năm nào chúng tôi cũng có một vụ, nhưng anh chàng đáng thương này gãy cả hai chân và một cánh tay, và sẽ lĩnh một cái sẹo khá khó chịu trên mặt để nhắc nhở anh ta về sự ngu ngốc của mình. Theo tôi còn sống được là may mắn đấy.”
“May mắn còn sống sao?” tôi lặp lại yếu ớt.
“Đúng vậy, nhưng mà chỉ vì anh ta không biết mình đang làm gì. Thằng cháu mười bốn tuổi nhà tôi trượt veo qua khe núi đó và có thể hạ cánh như hải âu tiếp nước vậy. Còn anh này thì,” ông bác sĩ chỉ vào những tấm phim X-quang, “sẽ không thể trượt lại cho tới cuối mùa nghỉ. Thực tế là sẽ không thể đi lại được trong ít nhất sáu tháng tới.”
“Thật vậy sao?” Tôi nói.
“Còn về phần anh,” ông ta nói thêm, sau khi đã băng xong cho tôi, “chỉ cần ngâm chân trong nước đá ba tiếng một lần và thay băng ngày một lần. Anh sẽ lại ở trên dốc trượt chỉ sau vài ngày nữa thôi, ba ngày là tối đa.”
“Tối nay chúng tôi bay về,” tôi bảo ông ta khi gắng gượng đứng dậy.
“Dự trù thời gian tốt đấy,” ông ta bảo, mỉm cười.
Tôi khấp khểnh lê chân khỏi phòng X-quang, Caroline đang chúi mũi vào tạp chí Elle.
“Trông anh có vẻ tự hài lòng với bản thân,” nàng bảo, mắt nhìn lên.
“Đúng là như vây, rốt cuộc chỉ bị gãy hai chân, một tay và một vết sẹo trên mặt.”
“Em ngu thế không biết,” Caroline nói, “em đã nghĩ đó chỉ là một cú bong gân đơn giản.”
“Không phải anh,” tôi bảo nàng. “Là Travers – vụ tai nạn sáng nay, em còn nhớ chứ? Chiếc xe cứu thương đó. Tuy vậy, họ đảm bảo với anh là anh ta sẽ sống,” tôi nói thêm.
“Tiếc quá,” nàng bảo, quàng cánh tay nàng vào cánh tay tôi. “Sau tất cả những phiền phức mà anh phải chịu đựng, em đã hy vọng là anh sẽ thành công cơ đấy.”

HẾT

0
KẼ HỞ
 
“Đó không phải là câu chuyện mà tôi đã nghe kể lại,” Philip nói.
Một trong những thành viên câu lạc bộ đang ngồi bên quầy rượu liếc nhìn về phía có những giọng nói đã bắt đầu lớn tiếng. Thế nhưng khi trông thấy những người liên quan thì ông ta chỉ mỉm cười và tiếp tục cuộc trò chuyện của mình.
Câu lạc bộ gôn Haslemere khá đông vào buổi sáng thứ bảy. Và sắp tới giờ ăn trưa thì thường khá khó khăn để kiếm được một chỗ ngồi trong gian nhà rộng rãi này.
Từ khá lâu trước khi căn phòng bắt đầu trở nên đông đúc, hai thành viên câu lạc bộ đã gọi chầu nước thứ hai và thu xếp được chỗ ngồi ở cái góc phòng thụt vào, trông ra lỗ gôn đầu tiên. Philip Masters và Michael Gilmour đã kết thúc ván chơi buổi sáng thứ bảy của họ sớm hơn thường lệ, và giờ thì dường như đang mải mê chuyện trò.
“Thế anh đã nghe kể lại thế nào nào?” Michael Gilmour hỏi khẽ, nhưng bằng một giọng nói âm vang.
“Rằng anh không hoàn toàn không có lỗi trong vấn đề này.”
“Tôi dường như chắc chắn đã có lỗi hả,” Michael nói. “Thế anh định có ý gì đây?”
“Tôi chẳng có ý gì hết,” Philip nói. “Nhưng mà đừng quên, anh không bịp được tôi đâu. Chính tôi đã có một thời thuê mướn anh, và tôi đã biết anh quá lâu rồi để mà chấp nhận tất tật mọi điều anh nói ở giá trị bề ngoài.”
“Tôi chẳng cố bịp bất cứ ai cả,” Miahcel nói. “Mọi người ai cũng biết là tôi bị mất việc. Tôi chưa bao giờ nói khác cả.”
“Đồng ý. Nhưng cái điều mà không phải ai ai cũng biết là anh đã bị mất việc như thế nào và tại làm sao mà anh vẫn chưa thể tìm được việc làm mới.”
“Tôi không thể tìm được một việc làm mới vì một lý do đơn giản là công việc không dễ dàng gì tự đến với ta vào thời buổi này. Và nhân tiện, không phải là lỗi của tôi, chính là ở anh – một điển hình thành công và là một tay triệu phú chết tiệt.”
“Không phải lỗi của tôi khiến cho anh không có một xu dính túi và luôn luôn thất nghiệp. Thực tế là công ăn việc làm cũng dễ đến với người có thể đưa ra chwngsn hận tư cách làm việc do ông sếp gần nhất viết.”
“Cứ nói toẹt ra, anh đang định ám chỉ điều gì vậy?” Michael hỏi.
“Tôi chẳng ám chỉ điều gì cả.”
Một vài thành viên câu lạc bộ đã ngừng tham gia vào những cuộc nói chuyện trước mặt, vì họ đang cố lắng nghe cuộc hội thoại sau lưng.
“Điều tôi đang nói,” Philip tiếp tục, “là sẽ không có ai thuê mướn anh, bởi cái lý do đơn giản là anh không thể tìm được bất cứ ai sẽ cung cấp cho anh một bản xác nhận tư cách làm việc – và mọi người, ai cũng biết điều đó.”
Tất cả mọi người đều không biết điều đó, nó giải thích tại sao hầu hết tất cả mọi người trong phòng giờ đây đang cố sức để lắng nghe.
“Tôi bị liệt vào loại dư thừa,” Michael khăng khăng bảo.
“Trong trường hợp của anh, dư thừa chỉ là một mỹ từ của đuổi việc. Chẳng có ai giả bộ khác đi lúc đó cả.”
“Tôi bị liệt vào loại dư thừa,” Michael lặp lại, “vì cái lý do đơn giản là lợi nhuận của công ty sụt giảm xuống mức hơi thất vọng một chút trong năm nay.”
“Hơi thất vọng một chút? Sang thế. Làm gì có lợi nhuận.”
“Đơn giản chỉ vì họ bị mất một hay hai lợi ích chính yếu vào tay các đối thủ cạnh tranh.”
“Những đối thủ cạnh tranh á, tôi được biết là họ rất vui sướng trả tiền cho những thông tin nội bộ nho nhỏ.”
Đến lúc này thì hầu hết các thành viên câu lạc boojd dã cắt ngắn những câu chuyện của chính họ để tì, vẹo quay và gập người với mọi cố gắng bắt được từng lời nói phát ra từ phía hai người đàn ông ngồi bên khung cửa sổ ở góc phòng thụt vào của gian phòng.
“Những tồn thất đó đã được giải thích đầy đủ trong bản báo cáo  dành cho các cổ đông tại Cuộc họp tổng kết thường niên năm nay,” Michael nói.
“Thế nhưng nó có giải thích cho chính những cổ đông đó làm cách nào một nhân viên có thể mua được một chiếc xe hơi chỉ mấy ngày sau khi bị đuổi việc không?” Philip tiếp tục. “Một chiếc xe hơi thứ hai, tôi có thể nói là như thế.” Philip uống một hớp nước cà chua ép.
“Đó không phải là một chiếc xe mới.” Michael nói, giọng thủ thế. “Đó là một chiếc Mini cũ, và tôi mua nó bằng một phần của số tiền trợ cấp dư thừa nhân công họ trả cho tôi, khi tôi phải trả lại chiếc xe hơi của công ty. Và dù sự việc xảy ra như thế nào, anh biết là Carol cần chiếc xe cho công việc tại ngân hàng mà.”
“Nói thẳng thắn nhá, tôi thật kinh ngạc là Carol vẫn còn bấu víu lâu dài đến vậy sau tất cả những gì mà anh đã gây ra cho cô ấy.”
0
“Tất cả những gì mà tôi đã gây cho cô ấy. Anh đang bóng gió điều gì hả?” Michael hỏi.
“Tôi chẳng bóng gió bất cứ điều gì cả,” Philip trả miếng. “Thế nhưng thực tế là có một cô gái trẻ trung nào đó, mà cô ta ở trong tình trạng vô danh” – mẩu thông tin này có vẻ như làm hầu hết những người nghe lỏm thất vọng – “vào thời điểm đó cũng sẽ trở thành dư thừa, ấy là chưa kể còn có chửa nữa.”
Người chủ quán chưa được gọi rót rượu đã gần bảy phút rồi, và cho tới giờ thì chỉ có rất ít thành viên vẫn giả bộ không lắng nghe cuộc đấu khẩu giữa hai người đàn ông. Một số người thậm chí còn công khai nhìn chòng chọc một cách nghi hoặc.
“Nhưng mà tôi có quen biết cô ta đâu,” Michael phản đối.
“Như tôi đã nói đấy, đó không phải là câu chuyện mà tôi đã được nghe kể lại. Thêm nữa, tôi được biết là đứa trẻ mang những nét giống kinh khủng…”
“Này, anh đi quá xa rồi đấy…”
“Anh việc gì phải giấu diếm,” Philip nói dứt khoát.
“Anh biết là tôi không có gì cần phải giấu giếm mà.”
“Thậm chí với những sợi tóc vàng mà Carol đã tìm thấy ở khắp cả hàng ghế sau của chiếc xe hơi mới cũng không cần hả. Cô gái ở chỗ làm là cô gái có mái tóc vàng, không phải sao?”
“Đúng thế, nhưng mà đó là những cái lông của một con chó săn lông vàng.”
“Anh không có một con chó săn lông vàng.”
“Tôi biết thế, nhưng mà con chó đó thuộc về người chủ cuối cùng của chiếc xe.”
“Con chó cái đó không thuộc về người chủ cuối cùng, và tôi không tin là cái mẹo cũ rích ấy qua mắt được Carol.”
“Cô ấy tin bởi vì đó là sự thật.”
“Tôi e rằng sự thật là thứ mà anh đã xa rời khá lâu rồi. Anh bị đuổi việc; thứ nhất bởi vì anh không thể để yên tay mình đừng rờ rẫm vào cái ở trong một cạp váy dưới bốn mươi, thứ hai bởi vì anh không thể để các ngón tay mình đừng rờ rẫm những ngăn kéo đựng tiền. Tôi phải biết chứ. Đừng quên tôi đã phải cho anh biến đi cũng vì những lý do tương tự.”
Michael nhảy dựng lên, cặp má đỏ gần như cái màu của ly cà chua ép của Philip. Anh ta giơ cao nắm đấm và sắp sửa nện cho Philip một cú, thì đại tá Mather, ông chủ tịch câu lạc bộ, xuất hiện bên cạnh anh ta.
“Xin chúc buổi sáng tốt lành, thưa ngài,” Philip bình tĩnh nói, đứng lên chào ông Đại tá.
“Xin chao, anh Philip,” ông Đại tá hét to. “Các anh thấy cái vụ hiểu lầm nho nhỏ dẫn đến nước này còn chưa đủ hay sao?”
“Hiểu lầm nho nhỏ ư?” Michael phản đối. “Thế ông không nghe anh ta đang nói những gì về tôi à?”
“Tôi nghe không bỏ sót một lời, thật không may, cũng y như mọi thành viên có mặt ở đây,” ông Đại tá nói. Quay lại với Philip, ông ta nói thêm, “Có lẽ hai người các anh nên bắt tay nhau như những chiến hữu thân thiện và nghỉ ngơi thôi.”
“Bắt tay cái gã dối trá, vô lương tâm, tán gái như cuội kia hử?” Không bao giờ,”” Philip nói. “Tôi nói cho ngài biết, ngài Đạ tá, anh ta không xứng là thành viên của câu lạc bộ này đâu, và tôi có thể cam đoan với ngài rằng ngaofi mới chỉ nghe được nửa câu chuyện thôi đó.”
Trước khi ông Đại tá cố gắng thử thêm một vòng đàm phán ngoại giao nữa, Michael đã xông vào Philip, và phải nhờ đến bat rang nam nhi trẻ trung hơn vị chủ tịch câu lạc bộ mới tách rời được họ ra. Ông Đại tá ngay lập tức ra lệnh cho cả hai người phải rời khỏi câu lạc bộ, cảnh cáo họ rằng những hành vi của họ sẽ được báo cáo lên ủy ban câu lạc bộ tại cuộc họp hàng tháng sắp tới. Và từ nay cho đến khi cuộc họp đó diễn ra, cả hai người tạm thời bị treo gậy.
Viên thư ký câu lạc bộ, Jeremy Howard, áp giải hai người ra khỏi câu lạc bộ và dõi theo Philip ngồi lên chiếc xe hơi Rolls Royce rồi bình thản lái xe ra đường ra vào, chạy qua cánh cổng ra ngoài. Ông ta phải đứng mất mấy phút trên những bậc thềm câu lạc bộ đợi cho Michael đi khỏi trên chiếc xe hơi Mini. Anh ta đang ngồi trên ghế trước xe hơi và dường như đang hý hoáy viết lách cái gì đó. Sau cùng khi anh ta đã chạy xe qua cánh cổng câu lạc bộ, ông thư ký quay gót và rảo bước trở lại quầy bả. Họ làm gì nhau sau khi đã rời khỏi sân gôn thì chẳng phải phận sự của ông ta.
0
Trở lại gian phòng câu lạc bộ, ông thư ký thấy rằng các cuộc trò chuyện vẫn chưa trở lại đề tài về nhân vậ có vẻ sẽ chiến thắng trong giải đấu Cây gậy chơi gôn của Chủ tịch, vấn đề các hạt giống trong giải đấu phụ nữ tranh cúp Ladies Handicap Cup, và ai sẽ là người thắng thế để tài trợ cho giải đấu Thanh niên của năm nay.
“Dường như họ còn vui nhộn lắm khi tôi đi ngang qua chỗ họ ở lỗ mười sáu mới lúc sáng nay mà,” ông đội trưởng câu lạc bộ nói với ông Đại tá.
Ông Đại tá thú nhận là bản thân ông cũng bối rối khó hiểu. Ông ta đã biết cả hai người từ cái ngày họ gia nhập câu lạc bộ này gần mười lăm năm trước. Họ không phải là mấy gã tồi tệ đâu, ông cam đoan với ông đội trưởng. Trên thực tế ông còn khá ưa thích họ. Đã từ lâu lắm rồi, họ thường chơi gôn trọn một vòng vào mỗi buổi sáng thứ bảy, như hết thảy mọi người đều còn nhớ, và chưa hề có một lời lẽ khó nghe nào được thốt ra giữa họ với nhau.
“Thật là đáng tiếc,” ông Đại tá bảo. “Tôi đã hy vọng mời được Masters tài trợ giải đấu Thanh niên năm nay.”
“Ý kiến hay đấy, nhưng mà tôi không thể để anh làm điều đó lúc này.”
“Tôi không thể tưởng tượng ra họ đang theo đuổi cái gì.”
“Có thể đơn giản là vì Philip là một hình mẫu thành công đến như thế trong khi Michael thì lại rơi vào thời kỳ cơ hàn?” ông đội trưởng đưa ra giả thuyết.
“Không, có chuyện gì trong đó chứ chẳng giản đơn thế đâu,” ông Chủ nhiêm trả lời. “Hoạt cảnh sáng nay cần một lời giải thích đầy đủ hơn đấy,” ông nói thêm vẻ hiểu biết.
*
* *
Hết thảy mọi người trong câu lạc bộ đều biết rằng Philip Masters đã gây dẹng nên công ty từ sự tặn tiện sau khi từ bỏ công việc đầu tiên là một anh bán thiết bị bếp. Công ty “Bếp lắp sẵn” đã khởi đầu từ một trái nhà kho phía cuối mảnh vườn của Philip, và kết thúc là một nhà máy ở phía bên kia của thành phố, thuê mướn trên ba trăm công nhân. Sau khi công ty chuyển sang cổ phần, giới báo chí tài chính cho rằng chỉ riêng những cồ phần của Philip cũng đã có giá trị đến vài triệu. Năm năm sau, khi công ty này được sát nhập với công ty John Lewis Partnerhsip, thì mọi người đếu biết rằng Philip đã có một vụ thỏa thuận làm ăn với một tấm sec trị giá mười bảy triệu bảng, và một hợp đồng dịch vụ năm năm mà một ngôi sao nhạc pop cũng phải hài lòng. Một phần số của cải trời cho này được tiêu vào một ngôi nhà tráng lệ kiểu Goergian nằm giữa hai mươi tư héc ta đất rừng ở ngay ngoại ô Haslemere: anh ta thậm chí có thể trông thấy sân gôn từ phòng ngủ của mình. Philip đã lấy vợ từ hơn hai chục năm nay. Vợ anh ta – Sally, là một Thẩm phán, và cũng là chủ tịch chi nhánh vùng của Quỹ cứu trợ Trẻ em. Con trai của họ vừa mưới giành được một vị trí tại Trường đại học St. Anne’s, thuộc Viện đại học Oxford.
Michael là cha đỡ đầu của chàng trai này.
Michael Gilmour lại ở trong một tình trạng trái ngược hẳn. Sau khi ra trường, nơi Philip là người bạn thân nhất, anh ta đã trải qua hết việc làm này đến việc làm khác. Khởi sự ở vị trí là một nhân viên vừa học vừa làm tị công ty Watneys, thế nhưng công việc đó chỉ kéo dài có vài tháng rồi anh ta chuyển sang làm đại diện cho một hãng xuất bản. Giống như Philip, anh ta cưới cô người yêu thở niên thiếu, Carol West, con gái của một bác sỹ địa phương.
Khi đứa con gái của họ chào đời, Carol than phiền về thời gian mà Michael phải sống xa gia đình, cho nên anh từ bỏ công việc xuất bản và ký một hợp đồng làm việc với vị trí giám đốc điều phối cho một công ty nước giải khát địa phương. Anh tại vị được vài năm cho đến khi tay phó được thăng chức vượt mặt anh, thành giám đốc vùng. Cùng lúc với quyết định này, Michael rời bỏ công ty trong cơn bực tức. Sau đợt lĩnh trợ cấp thất nghiệp đầu tiên, Michael làm việc cho một công ty đóng gói ngũ cốc, thế nhưng anh lại phát hiện ra mình bị dị ứng với ngô. Sau khi được cấp một giấy chứng nhận y tế chứng mình việc đó, anh nhận được tấm séc dư thừa nhân công lần đầu tiên. Sau đó, anh làm việc cho Philip với tư cách người đại diện bán “Bếp lắp sẵn”. Nhưng Michael lại rời bỏ công ty mà không một lời giải thích sau khi công ty được sát nhập chừng gần một tháng. Lại thêm một đợt thất nghiệp nữa trước khi anh được nhận làm công việc giám đốc bán hàng cho một công ty sản xuất lò vi sóng. Sau cùng, có vẻ như anh cũng đã ổn đinh, cho đến khi anh được liệt vào danh sách dư thừa nhân công mà không hề có một sự cảnh báo nào. Quả thực là lợi nhuận công ty trong năm đó bị giảm xuống một nửa, và các ông lãnh đạo công ty cảm thấy rất tiếc để Michael ra đi – hoặc ít ra đó là cách diễn đạt trong tờ tạp chí nội bộ của họ.
Carol không thể giấu nổi nỗi tuyệt vọng của cô khi Michael bị liệt vào dạng dư thừa nhân công lần thứ tư. Đáng lẽ họ đã có một cuộc sống ổn định, giờ đây cô con gái của họ đã có được một vị trí tại trường nghệ thuật.
Philip là cha đỡ đầu của cô bé đó.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-03-21 07:33:23khachxa>
*
* *


“Anh định sẽ xử lý chuyện đó thế nào?” Carol lo lắng hỏi khi Michael kể cho cô biết điều gì đã xảy ra tại câu lạc bộ.
“Chỉ có mỗi một điều mà anh có thể làm,” Michael trả lời. “Bởi vì anh cũng phải quan tâm đến danh dự của mình chứ. Anh sẽ kiện thằng con hoang đó.”
“Đó là cách kinh khủng để nói về người bạn lâu năm nhất của anh. Và dù sao đi nữa, chúng ta không thể trang trải cho một vụ kiện,” Carol bảo. “Anh Philip là một triệu phú và chúng ta chẳng có một xu.”
“Không còn cách nào khác” Michael nói. “Anh sẽ phải làm tới cùng vụ này, thậm chí ngay cả khi phải bán đi mọi thứ.”
“Và thậm chí cả khi mọi người trong gia đình cũng phải chịu đựng cùng với anh sao?”
“Không có ai trong chúng ta sẽ phải chịu khổ khi mà cuối cùng hắn ta phải trả tất cả những chi phí của anh cộng với số tiền bồi thường danh dự khổng lồ.”
“Nhưng mà anh có thể thua kiện,”Carol nói. “Đến lúc đo, chúng ta sẽ trắng tay – mà có thể còn tệ hơn.”
“Điều đó không thể xảy ra,”Michael nói. “Hắn ta đã mắc một sai lầm là nói ra những điều đó trước mặt tất cả những người sẽ là nhân chứng. Chắc phải có trên năm chục thành viên tại câu lạc bộ sáng nay, kể cả ông chủ tịch câu lạc bộ và ông tổng biên tập tờ báo địa phương, và họ không thể không nghe thấy tất cả những lời của hắn ta.”
Carol vẫn không tin, nhưng cô cảm thấy nhẹ nhõm trong suốt mấy ngày sau đó, Michael không hề nhắc đến tên cửa Philip một lần nào. Cô hy vọng rằng anh chồng mình đã tỉnh ra và cách tốt nhất là quên đi vụ việc này.
Haslemere Chronicle đã cho in cuộc cãi vã giữa Michael và Philip. Dưới hàng tít “Ẩu đả nổ ra tại câu lạc bộ gôn” là một bài tường thuật những sự việc xảy ra vào ngày thứ bảy tuần trước với các từ ngữ được sử dụng cẩn thận. Ông tổng biên tập của tờ báo Haslemere Chronicle biết quá rõ rằng các cuộc cãi vã, tự thân nó là không thể nào được in ra trừ phi ông ta cũng mong muốn bị kiện, thế nhưng ông ta đã xoay xở cho thêm những câu bóng gió, ẩn ngữ vào trong bài báo để gia giảm cho dậy mùi những điều xảy ra vào buổi sáng hôm đó.
“Đó là giọt nước cuối cùng,” Michael nói, khi anh đọc xong bài báo lần thứ ba. Carol nhận ra rằng, giờ đây, cô có nói gì hay làm gì đi nữa cũng không thể nào ngăn cản chồng mình.
Ngày thứ hai tuần sau, Michael tiếp xúc với một viên luật sư địa phương, Reginald Lomax, một người đã từng học cùng trường với cả hai người bạn họ. Trang bị bằng bài báo, Michael kể ngắn gọn cho Lomax nghe về cuộc cãi lộn mà tờ báo Chronicle đã biết là họa có ngu ngốc thì mới cho xuất bản rõ ràng đến từng chi tiết. Michael cũng miêu tả cụ thể những điều đã xảy ra tại câu lạc bộ sáng hôm đó, và trao cho viên luật sư bốn trang giấy viết tay để ông ta hiểu được thực chất của vấn đề.
Lomax cẩn thận nghiên cứu những trang giấy này.
“Anh viết những cái này khi nào?”
“Trong xe hơi của tôi, ngay sau khi chúng tôi bị treo gậy.”
“Anh thận trọng đấy,” Lomax bảo. “Cực kỳ thận trọng.” Anh ta nhìn chằm chằm giễu cợt vào thân chủ của mình qua phía trên của cặp kính bán nguyệt. Michael không nói gì. “Tất nhiên anh phải biết luật pháp là một trò giải trí đắt tiền,” Lomax tiếp tục. “Kiện tụng những hành động thóa mạ, vu khống sẽ không rẻ đâu, và thậm chí kể cả với bằng chứng mạnh mẽ như thế này” – anh ta gõ gõ vào tờ giấy trước mặt – “anh vẫn có thể thua kiện. Tội vu khống phụ thuộc rất nhiều vào những người khác, quan trọng hơn, là những điều họ thừa nhận còn nhớ được.”
“Tôi biết rất rõ điều đó,” Michael nói. “Nhưng tôi quyết tâm theo kiện đến cùng. Có hơn năm mươi người trong câu lạc bộ chứng kiến vụ cãi lộn đó.”
“Vậy đấy,” Lomax bảo. “Thế thì tôi sẽ yêu cầu năm ngàn bảng tạm ứng như là những khoản chi phí bất thường đủ để trả những phí tổn tức thời và công việc chuẩn bị cho một vụ án trước tòa.
Lần đầu tiên Michael có vẻ đắn đo.
“Tất nhiên khoản tiền đó có thể được hoàn trả lại, nhưng chỉ khi nào anh thắng kiện vụ này.”
Michael lấy ra tập séc và viết ra một con số, anh cho là nó chỉ vừa vặn với số tiền còn lại của khoản trợ cấp dư thừa nhân công mà anh được trả.
Trát đòi kiện buộc tội Philip Master vu không được hãng luật Lomax, Davis và Lomax phát ra vào sáng ngày hôm sau.
Một tuần sau trát đòi được một công ty luật khác trong cùng thành phố, mà thực tế là trong cùng tòa nhà chấp nhận.
*
* *
 
0
Trở lại câu lạc bộ, các cuộc tranh luận đúng sai của vụ việc Michael Gilmour kiện Philip Masters không hề lắng xuống mặc dù nhiều tuần lễ đã trôi qua.
Các thành viên câu lạc bộ ngầm thì thầm với nhau, không biết liệu họ có bị gọi ra trước tòa để làm chứng trong vụ xét xử hay không. Một vài người đã nhận được thư từ hãng luật Lomax, Davis và Lomax yêu cầu chi tiết về những điều họ có thể nhớ lại về những gì hai người đàn ông đó tranh cãi vào sáng hôm đó. Rất nhiều người lấy cớ là có bệnh quên hoặc bệnh điếc, nhưng cũng có một vài người tường thuật rất rõ ràng về vụ cãi lộn. Như được khích lệ, Michael dấn sâu vào vụ kiện trong sự suy sụp tinh thần của Carol.
Khoảng chứng một tháng sau, vào một buổi sáng, sau khi Carol đã rời nhà đến ngân hàng. Michael Gilmour nhận được một cú điện thoại của Reginald Lomax. Anh được thông báo rằng các luật sư của bên bị đơn yêu cầu một cuộc hội ý “không có gì tổn hại”.
“Chắc chắn anh chẳng hề ngạc nhiên về việc đó sau tất cả những bằng chứng mà chúng ta đã thu thập được chứ?” Michael trả lời.
“Đó chỉ là một cuộc hội ý thôi mà,” Lomax nhắc.
“Mặc kệ hội ý hay không, tôi sẽ không chấp nhận cái giá dưới một trăm ngàn bảng đâu.”
“À, tôi thậm chí còn không biết được rằng họ…” Lomax tiếp.
“Tôi biết, và tôi cũng biết rằng trong suốt mười một tuần lễ vừa qua tôi đã không thể có được, thậm chí là một cuộc phỏng vấn để xin một việc làm vì cái thằng con hoang đó,” Michael nói khinh miệt. “Một trăm ngàn bảng không thiếu một cắc, anh có nghe thấy không?”
“Tôi cho rằng anh đang hơi lạc quan trong tình hình này đấy,” Lomax bảo. “Nhưng mà tôi sẽ gọi điện lại và cho anh biết câu trả lời của phía bên kia ngay khi xong cuộc gặp.”
Michael kể cho Carol cái tin vui đó vào buổi tối, nhưng giống như Reginald Lomax, cô tỏ ra nghi ngờ. Tiếng chuông điện thoại reo vang ngắt quãng cuộc trò chuyện của họ về vấn đề này. Michael, với Carol đứng bên cạnh, lắng nghe chăm chú thông báo của Lomax. Dường như Philip đã sẵn sàng giải quyết vụ việc với hai mươi lăm ngàn bảng và đồng ý thanh toán phí tổn cho cả hai phía.
Carol gật đầu chấp nhận với vẻ hài lòng, thế nhưng Michael chỉ nhắc lại với Lomax rằng sẽ phải cương quyết đòi không dưới một trăm ngàn. “Anh không thấy thằng Philip đã mường tượng ra nó sắp sửa phải chịu phí tổn bao nhiêu nếu như vụ này kết thúc ở tòa án à? Và nó biết quá rõ là tôi không bỏ cuộc đâu.”
Carol và Lomax vẫn không tin. “vụ việc nhẹ nhàng hơn là anh tưởng đấy,” viên luật sư bảo anh ta. “Ban hội thẩm Tòa án Tối cao có thể sẽ xem những lời nói đó chỉ có ý định đùa giỡn giễu cợt thôi.”
“Giễu cợt? Thế còn trận ẩu đả tiếp sau trò giễu cợt đó thì sao hả?” Michael nói.
“Anh ra tay trước mà,” Lomax nhắc. “Hai mươi lăm ngàn là một con số khá tốt trong hoàn cảnh này đấy,” anh ta nói thêm.
Michael không lay chuyển và kết thúc cuộc nói chuyện bằng cách lặp lại yêu sách đòi một trăm ngàn bảng.
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-03-27 08:23:49khachxa>
Hai tuần lễ trôi qua, rồi phía bên kia đưa ra năm mươi ngàn để đổi lấy một sự thỏa thuận nhanh chóng. Lần này Lomax không ngạc nhiên khi Michael từ chối thẳng thừng lời đề nghị này. “Tiên sư cái thỏa thuận nhanh chóng ấy. Tôi đã nói với anh là tôi sẽ không xem xét nếu ít hơn một trăm ngàn mà.” Lúc này, Lomax đã biết rằng bất cứ lời khuyên nên thận trọng nào cũng sẽ lọt thỏm trong một đôi tai bị điếc.
Phải mất thêm ba tuần lễ và mấy cuộc điện đàm giữa các luật sư nữa, trước khi phía bên kia chấp nhận họ sẽ trả tròn một trăm ngàn bảng. Reginald Lomax gọi điện thoại thông báo cho Michael tin này vào một tối khuya, cố gắng tạo ra giọng điệu có vẻ như chiến thắng đã đạt được là do cá nhân anh ta. Anh ta đảm bảo với Michael những giấy tờ cần thiết sẽ được thảo ra ngay lập tức và thỏa thuận sẽ được ký trong vài ngày tới.
“Đương nhiên tất cả những phí tổn của anh cũng sẽ được tính đến,” anh ta nói thêm.
“Dĩ nhiên là vậy rồi,” Michael bảo.
“Vậy thì bây giờ tất cả mọi việc còn lại mà anh phải làm là đồng ý đưa ra một lời tuyên bố.”
Một tuyên bố ngắn được viết ra và với sự đồng ý của cả hai bên, được phát hành trên tờ báo hàng ngày Haslemere Chronicle. Tờ báo in nội dung này trên trang nhất vào ngày thứ sáu kế tiếp. Tờ Chronicle tường thuật “Vụ kiện tội vu khống giữa Golmour và Masters đã được rút đơn với sự nhất trí của cả hai bên sau một dàn xếp quan trọng bên ngoài tòa án. Philip Masters đã rút lại hoàn toàn những điều đã nói tại câu lạc bộ buổi sáng hôm xẩy ra vụ việc. Ông đã đưa ra một lời xin lỗi vô điều kiện, và cũng hứa rằng sẽ không bao giờ lập lại những lời đó nữa. Ông Philip Masters đã thanh toán toàn bộ những phí tổn của bên nguyên đơn.”
Philip viết cho ông Đại tá trong cùng ngày, cho rằng có lẽ anh ta đã uống hơi quá chén vào buổi sáng đó. Anh ta hối tiếc về cơn bốc đồng của mình, xin lỗi và cam đoan với ông Chủ tịch câu lạc bộ điều đó sẽ không bao giờ lặp lại nữa.
Carol là người duy nhất tỏ ra buồn rầu về kết quả của vụ việc.
“Có điều gì vậy, em yêu?” Michael hỏi. “Chúng ta đã thắng, và điều quan trọng hơn là nói đã giải quyết những vấn đề tài chính của chúng ta.”
“Em biết,” Carol bảo, “thế nhưng mà có đáng phải mất đi người bạn thân thiết nhất của anh để lấy một trăm ngàn bảng không?”
Vào ngày hôm sau, buổi sáng thứ bảy, Michael vui vẻ thấy nằm giữa những thư tín bưu điện buổi sáng của mình là một chiếc bì thư có in biểu tượng Câu lạc bộ gôn. Anh hồi hộp bóc và rút ra một tờ giấy. Tờ giấy viết rằng:
Ông Gilmour thân mến,
Tại cuộc họp ủy ban hàng tháng tổ chức thứ tư tuần trước, ông Đại tá Mather đã nêu vấn đề về hành vi của ông ở phòng câu lạc bộ vào buổi sáng thứ bảy, ngày 16 tháng tư.

Đã có quyết định lập biên bản ghi chép những lời phê bình của một số thành viên. Nhưng trong dịp này, chúng tôi chỉ đưa ra một sự khiển trách nghiêm khắc đối với cả hai người các ông. Nếu sự việc tương tự lại lặp lại trong tương lai, tư cách thành viên của các ông sẽ tự động bị bãi bỏ.

Việc tạm thời treo gậy mà ông Đại tá Mather đưa ra hôm 16 tháng tư giờ được bãi bỏ.

Xin kính chào ông,

Thư ký câu lạc bộ

Jeremy Howard

*
* *
0
“Em đi mua sắm đây,” Carol nói to từ phía trên cầu tahng. “Thế kế hoạch của anh buổi sáng nay là gì?”
“Anh định sẽ chơi một vòng gôn,” Michael bảo, gấp bức thư lại.
“Ý kiến hay đấy,” Carol tự nói với chính mình, vì cô phân vân liệu Michael sẽ tìm được ai để mà chơi cùng trong tương lai.
*
* *
 
Có rất nhiều người nhận thấy Michael và Philip đánh bóng đi từ cái lỗ đầu tiên buổi sáng thứ bảy đó. Ông đội trưởng câu lạc bộ nói với ông Đại tá rằng ông vui mừng thấy là cuộc cãi lộn đã được giải quyết tốt đẹp, làm hài lòng tất cả mọi người.
“Tôi thì không,” ông Đại tá nói khẽ trong hơi thở. “Người ta không thể say được khi uống nước cà chua ép.”
“Tôi băn khoăn không biết họ đang trò chuyện về cái quái quỷ gì thế chẳng biết?” Ông đội trưởng câu lạc bộ nói khi ông chăm chú quan sát cả hai người qua khung cửa sổ. Ông Đại tá nâng ống nhòm lên để nhìn cho rõ hơn hai người đàn ông nọ.
*
* *
 
Làm thế nào mà anh lại đánh trượt một cú mét hai cơ chứ, hả chàng ngốc?” Michael hỏi khi họ tới thảm cỏ xanh đầu tiên. “Chắc anh lại say xỉn rồi hả.”
“Anh biết rõ là tôi không bao giờ uống rượu trước bữa tối cả,” Philip trả lời, “do đó, tôi cho rằng luận điệu của anh nói tôi lại say xỉn, không khác gì hơn là một sự phỉ báng.”
“Cứ cho là vậy, thế nhưng những nhân chứng của anh đâu?” Michael nói khi họ tiếp tục di chuyển đến chỗ đánh bóng thứ hai. “Đừng quên là tôi đã có hơn năm chục nhân chứng cơ đây.”
Cả hai người đều cười vang.
Cuộc nói chuyện của hai người đả động đến rất nhiều đề tài trong lúc họ đánh tám lỗ đầu tiên, song không hề một lần nhắc đến vụ cãi lộn trong quá khứ cho mãi đến khi họ tới được bãi cỏ xanh thứ chín, là điểm cách căn nhà câu lạc bộ xa nhất. Cả hai người đều kiểm tra xung quyanh để chắc chắn là không có ai có thể nghe được bọn họ. Người chơi gần nhất cũng còn đang loay hoay đánh bóng cách đó chừng hai trăm mét ở lỗ thứ tám đằng sau họ. Đến lúc này thì Michael lấy ra một phong bì thư màu nâu rất to từ chiếc túi chơi gôn và đưa nó cho Philip.
“Cảm ơn,” Philip nói, bỏ phong thư vào cái túi chơi goonc ảu anh ta và rút ra một cây gậy ngắn. “Một vụ nhỏ, tinh vi mà đã khá lâu rồi tôi mới làm đấy,” Philip nói thêm khi anh ta đánh quả bóng đi.
“Tớ nẫng một cú bốn mươi ngàn bảng,” Michael bảo, miệng cười toe toét, “Trong khi cậu chẳng mất cái gì hết.”
“Chỉ vì tớ đóng thuế ở mức cao nhất và vì thế mà có thể hạch toán vụ thua kiện như là một khoản chi làm ăn buôn bán hợp pháp,” Philip nói, “và tớ đã không thể nào làm được chuyện đó nếu mà tớ đã không một lần mướn cậu làm công cho tớ.”
“Và tớ, với tư cách là một người chiến thắng vụ kiện, không cần phải đóng tẹo tiền thuế nào cho những khoản đền bù thiệt hại trong một vụ án dân sự.”
“Một kẽ hở mà thậm chí ngài Thống đốc Ngân khố cũng không thấy được,” Philip cười.
“Tớ thấy đáng tiếc về những khoản lệ phí phải trả cho các luật sự, dù nó có rơi vào tay của Reggie Lomax,” Michael thêm.
“Chẳng có vấn đề gì đâu, cha nội. Những món đó một trăm phần trăm có thể đòi lại từ thuế. Do đó như cậu thấy đấy, tớ không mất một xu nào và cậu kết thúc với bốn mươi ngàn bảng miễn thuế.”
“Và chẳng có ai biết được,” Michael cười lớn.
*
* *
 
Ông Đại tá cất ống nhòm vào trong chiếc hộp.
“Ngài để ý đến người sẽ đoạt Cây gậy đánh gôn của vị Chủ tịch năm nay à, ngài Đại tá?” ông đội trưởng câu lạc bộ hỏi.
“Không phải,” ông Đại tá trả lời, “mà là người chắc chắn sẽ tài trợ cho Giải đấu Thanh niên năm nay.”
 
HẾT
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-03-28 08:30:17khachxa>
KHÔNG PHẢI THỨ THIỆT
 
Gerald Haskins và Walter Ramsbottom đã liên tục ăn bỏng ngô từ một năm nay.
“Tớ sẽ đổi tấm huân chương MC (bội tinh chiến công) và huy chương DSO (huy chương công trạng xuất sắc) của tớ lấy tấm VC (huy chương anh dũng) của cậu,” Walter bảo trên đường tới trường một buổi sáng.
“Không được,” Gerald nói. “Dù sao thì cũng phải mất mười cái vỏ bao để có một tấm huy chương VC và cậu chỉ cần hai vỏ bao cho một tấm MC hoặc một tấm DSO.”
Garald tiếp tục sưu tầm vỏ bao cho đến khi cậu ta có được mọi huân, huy chương từ mặt sau vỏ bao.
Walter không bao giờ có được tấm huy chương VC.
Cô bé Angela Bradbury cho là cả hai cu cậu đều là đồ ngốc.
“Những cái đó, chúng chỉ là huân, huy chương giả,” cô bé liên tục nhắc nhở hai cậu, “Không phải là thứ thiệt, và tớ chỉ quan tâm đến những cái thứ thiệt mà thôi,” cô bé kiêu ngạo bảo với bọn chúng.
Vào lúc đó, cả Gerald và Walter đều không coi ý kiến của Angela ra gì. Cả hai cậu bé vẫn còn chú ý đến những tấm huân, huy chương hơn là quan điểm của phái đẹp.
Chiến dịch khuyến mại huân, huy chương miễn phí của hãng Kellogg kết thúc vào mồng một tháng giêng, 1950, đúng lúc Gerald đã xoay xở có được đủ bộ.
Walter bỏ không ăn bỏng ngô nữa.
Bọn trẻ cả thập kỷ 50 khi đó có được cơ hội khám phá thế giới của Meccano. Meccno thậm chí còn yêu cầu ăn nhiều bỏng ngô hơn nữa, và thế là trong vòng một năm, Gerald đã sưu tầm được một bộ đủ lớn để xây các cây cầu treo, cầu phao, cần cẩu, và thậm chí cả một khu nhà văn phòng nữa.
Gia đình của Gerald tiếp tục nhai bỏng ngô một cách hào hiệp, nhưng khi cậu ta bảo với họ là cậu muốn xây dựng cả một thành phố – phần thưởng khuyến mãi cuối cùng của hãng Kellogg – thì hầu hết các bạn bè của cậu ở lớp năm Trường trung học Hull phải giúp đỡ cậu tiêu thụ những bữa sáng bằng ngũ cốc thì mới có thể hoàn thành tham vọng của cậu.
Walter Ramsbottom từ chối giúp đỡ.
Sự trợ giúp của Angela Bradbury không bao giờ được yêu cầu.
Cả ba người tiếp tục đi trên những con đường riêng của họ.
*
* *
0
Hai năm sau, Gerald Haskins giành được một vị trí tại Trường đại học tổng hợp Durham, không ai ngạc nhiên khi cậu chọn học môn cơ khí, và liệt kê việc sưu tập huân, huy chương như là thú vui chính của mình.
Walter Ramsbottom làm việc cùng với cha trong ngành kinh doanh kim hoàn của gia đình và bắt đầu tán tỉnh Angela Bradbury.
Đúng vào dịp nghỉ xuân trong năm học thứ hai của Gerald tại Đại học Durham thì cậu tình cờ gặp lại Walter và Angela. Họ đang ngồi cùng một hàng ghế tại một buổi biểu diễn giao hưởng tứ tấu âm chạc của Bach tại Đại sảnh tòa thị chính Hull. Walter bảo với cậu trong lúc nghỉ giữa giờ rằng họ mới làm lễ đính hôn nhưng chưa chọn được ngày cưới.
Gerald chưa gặp lại Angela  hơn một năm nay, nhưng lần này thì cậu nghe theo ý kiến của cô, bởi vì giống như Walter, cậu cũng yêu cô.
Cậu thay việc ăn bỏng ngô bằng cách liên tục mời Angela đi chơi, ra ngoài ăn tối, với nỗ lực giành lại được nàng từ tay tình địch.
Gerald đạt được thêm một thắng lợi nữa khi Angela hoàn trả lại chiếc nhẫn đính hôn cho Walter một vài ngày trước lễ Giáng sinh.
Walter tung ra tin đồn rằng Gerald chỉ muốn cưới Angela bởi vì bố cô ta là Chủ tịch Hội đồng công trình hạ tầng thành phố Hull, và Gerald đna ghy vọng có một chỗ làm trong hội đồng này sau khi nhận bằng của Trường đại học Durham. Khi thiệp mời đám cưới được gửi đi, Walter không có tên trong danh sách khách mời.
*
* *
 
Vợ chồng Haskins đi Multavia hưởng tuần trăng mật, một phần bởi vì họ không thể trang trải chuyến đi Nice và cũng không muốn đi nghỉ tại Cleethropes, mặc dù các đại lý du lịch tại địa phương đang mời chào một cơ hội đặc biệt cho những người đang cân nhắc một chuyến đi tới cái vương quốc nhỏ bé nằm kẹp giữa Áo và Tiệp Khắc.
Khi đôi vợ chồng mới cưới tới khách sạn của họ ở Teske, thủ đô của Multavia, họ mới khám phá ra tại sao điều khoản chi phí lại vừa phải như vậy.
Vào năm 1959, Multavia đang trải qua một cuộc khủng hoảng chính trị quyết định xem nó sẽ gắn bó vận mệnh của mình với nước nào. Nó đang nỗ lực chuyển đổi cho phú hợp thêm một hiệp ước nữa, do một luật sư người hà Lan tại Geneva thảo ra. Bản hiệp ước viết bằng tiếng Pháp, nhưng lại có sự ảnh hưởng của Nga và Mỹ. Nhờ có công lao của Đức Vua AlfonsIII, một vị quốc vương khôn ngoan và được ủng hộ, vương quốc này liên tục được thụ hưởng những viện trợ không ngớt từ phương Tây và những chuyến viếng thăm khá tốt từ phương Đông.
Tại thủ đô của Multavia, vợ chồng Haskins nhanh chóng biết được nhiệt độ trng bình là 92oF (Sấp xỉ 40oC) vào tháng sáu, không có mưa, và phần còn lại của hệ thống cống rãnh thoát nước đã bị cả hai phía ném bom tan tành từ năm 1939 đến năm 1944. Angela đã phải giơ tay bịt mũi khi cô rảo bước qua những dãy phố lát đá hộc. Khách sạn Nhân Dân quảng cáo là có bốn mươi lăm phòng, thế nhưng, điều mà tờ quảng cáo không chỉ ra là chỉ có ba phòng trong số đó có phòng tắm, và không phòng nào có nút bồn tắm. Rồi đến đồ ăn, hoặc không có đồ ăn hoặc là đồ ăn có vấn đề; lần đầu tiên trong đời mình Gerald sút cân.

Cặp vợ chồng hưởng tuần trăng mật cũng khám phá ra rằng đất nước Multavia không hề có một niềm kiêu hãnh nào.  Nó không có đài tưởng niệm, bảo tàng mỹ thuật, nhà hát hay rạp Opera xứng đáng với tên gọi, miền quê ngoại thành thì còn bằng phẳng hơn và không thú vị bằng những hàng giậu của Quận Cambridgeshire. Vương quốc này không có bờ biển và chỉ có một dòng sông duy nhất, dòng sông Plotz, bắt nguồn từ Đức và chảy vào Nga, do đó, có thể đảm bảo là không có người dân địa phương nào tin cậy nó.
Đến cuồi kỳ nghỉ tuần trăng mật, vợ chồng Haskins thấy quá vui mừng khi biết rằng đất nước Multavia cũng không có sự tự hào về một hãng hàng không quốc gia. Hãng hàng không Anh quốc đưa họ về nhà an toàn, và lẽ ra đến đây là những trải nghiệm của Gerald về đất nước Multavia kết thúc, nếu không có những cống rãnh thoát nước thải kia.
*
* *
0
Khi vợ chồng Haskins trở về dến Hull, Gerald nhận chức vụ mới được đề bạt ở vị trí trợ lý trong ban cơ khí của Hội đồng thành phố. Công việc đầu tiên của anh – một kỹ sư thứ ba với trách nhiệm đặc biệt đối với hệ thống thoát nước thành phố. Hầu hết những người trẻ tuổi, nhiều tham vọng sẽ chỉ coi một sự đề bạt như vậy không gì hơn chỉ là một bước tiến trên nấc thang cuội đời. Tuy nhiên, Gerald đã không nghĩ vậy. Anh lập tức liên hệ với tất cả những công ty thoát nước hàng đầu, những cố vấn của họ cũng như những người đồng sự ở khắp nơi trong tỉnh.
Hai năm sau, anh đã có thể đưa ra trước hội đồng của ông bố vợ một bản tường trình. Nó cho thấy làm cách nào hội đồng có thể tiết kiệm một lượng đáng kể tiền bạc của những người đóng thuế qua cách tái phát triển hệ thống cống rãnh thoát nước của thành phố.
Hội đồng thực sự bị gây ấn tượng và quyết định thực hiện những dự án của Haskins, cùng lúc để bạt anh làm kỹ sư thứ hai.
Đó là dịp thứ nhất Walter Ramsbottom ra tranh cử hội đồng nhưng không được lựa chọn.
Ba năm sau, khi hệ thống những đường hầm nhỏ và kênh rạch thoát nước đã được hoàn chỉnh, sự cần cù của Gerald được thưởng công bằng sự để bạt làm phó kỹ sư trưởng của thành phố. Cũng trong năm đó, ông bố vợ anh trwor thành Thị trưởng và Walter Ramsbottom trở thành hội đồng viên.
Giờ đây, những Ủy ban trên khắp đất nước thừa nhận Gerald như một nhân vật mà ý kiến của anh nên được tìm hieur nếu như họ có bất cứ một sự băn khoăn nào về hệ thống cống rãnh thoát nước của họ. Điều này kích thích những câu đùa cợt nhả không tôn trọng tại mọi bữa tiệc của Tổ chức nghề nghiệp toàn thể cộng đòng mà Gerald tham dự. Tuy nhiên, họ vẫn mặc nhiên chào đón anh như là một người uy tín tiên phong trong địa hạt của anh: lĩnh vực thoát nước thải.
Vào năm 1966, thành phố Halifax xem xét để đấu thầu xây dựng một hệ thống cỗng rãnh thoát nước mới. Đầu tiên họ hỏi ý kiến Gerald Haskins – Yorkshire là một nơi trên trái đất này mà một nhà tiên tri còn được tôn kính ở ngay trên mảnh đất của ông ta.
Sau khi thăm thú Halifax một ngày với ông kỹ sư cao cấp và biết được cần phải chi bao nhiêu cho hệ thống mới, Gerald nói với vwoj anh, không phải lần đâì tiên, “Nơi đâu có bùn thì nơi đó có xu.” Nhưng chính Angela là người có đủ khôn ngoan để tính toán ra chính xác số xu đó là bao nhiêu mà chồng cô có thể có được với rủi ro thấp nhất. Trong mấy ngày tiếp theo, Gerald xem xét đề nghị của vợ và khi anh ta quay trở lại Halifax vào tuần lễ sau đó, thì không phải đến thăm các phòng, ban của hội đồng mà tới ngân hàng Midland, Gerald không lựa chọn ngân hàng Midland một cách tình cờ; viên giám đốc ngân hàng này cũng là Chủ tịch của Ủy ban kế hoạch của hội đồng thành phố Halifax.
Một hợp đồng phù hợp với cả hai bên được thỏa thuận giữa hai người Yorkshire, và với sự ủng hộ của ngân hàng. Gerald xin từ chức phó kỹ sư trưởng thành phố và thành lập một công ty riêng. Khi anh trình gói thầu, với sự cạnh tranh của mấy tổ chức lớn của Luân Đôn, không có ai ngạc nhiên khi thấy công ty Hasinks of Hull được Ủy ban kế hoạch nhất trí lựa chọn để thực hiện công việc.
*
* *
 

0
Ba năm sau, Halifax có một hệ thống cống rãnh thoát nước mới tuyệt vời còn Ngan hàng Midland thì hài lòng khi nắm giữ tài khoản của Công ty Haskins ò Hull.
Trong suốt mời lăm năm tiếp theo, các thành phố Chester, Runcorn, Huddersfeild, Darlington, Macclesfield và York đều biết ơn những dịch vụ do Gerald Haskins, ông chủ của công ty Haskins & Co. plc đem lại.
Công ty quốc tế Haskins & Co. plc lúc này bắt đầu các hợp đồng ở Dubai, Lagos và Rio de Janeiro. Vào năm 1983, Gerald được nhận Giải thưởng Công nghiệp của Nữ hoàng do chính phủ trao tặng, và một năm sau anh được phong danh hiệu Người chỉ huy của đế chế Anh do một bậc đế vương phong tặng.
Lễ phong tặng diễn ra tại Cung điện Buckingham trong cùng một năm băng hà của Đức vua Alfons III xứ Multavia và ngai vàng được người con trai của ngài thừa kế, Đức vua Alfons IV. Vị quân vương mới được tấn phong quyết định sẽ làm một cái gì đó cho hệ thống cống rãnh thoát nước của thành phố Teske. Đó là niềm mong mỏi lúc lâm chung của cha ngài, rằng những thần dân của ngài không nên tiếp tục phải chịu đựng những mùi khó ngửi, và Đức vua Alfons IV không định truyền thừa kế vấn đề này lại cho con trai ngài.
Sau nhiều xin xỏ và vay mượn từ phương Tây, cùng nhiều cuộc thăm viếng, đàm đạo với phương Đông, vị quân vương mới được xức dầu thánh quyết định mời thầu cho hệ thống thoát nước mới cho thủ đô của vương quốc.
Tài liệu mời thầu gồm mấy trang cung cấp các chi tiết và liệt kê danh sách các vấn đề mà bất cứ viên kỹ sư nào muốn nhận thầu đề phải đối mặt. Nó được chuyển đánh uỵch đến hầu hết các bàn họp của các công ty cơ khí lớn trên thế giới. Khi các công tác văn bản giấy tờ đã được soi xét nghiêm túc và lợi nhuậ thực tế được xem xét, Đức vua Alfons IV chỉ nhậ được một số ít các câu trả lời. Mặc dù vậy, nhà vua cũng có thể thức trọn đêm nghiên cứu những hồ sơ thầu khả thi của ba công ty đã trả lời và đã vượt qua được vòng sơ khảo. Các vị quân vương cũng là người, và khi Alfons khám phá ra Gerald đã chọn lựa Multavia cho tuần trăng mật của anh quãng hai mơi lăm năm về trước thì điều này đã đánh lệch cán cân. Vào lúc Đức Vua Alfons IV chìm vào giấc ngủ buổi sáng hôm đó, ngài đã quyết định chấp nhận gói thầu của công ty quốc tế Haskins & Co. plc.
Do vậy, Gerald Haskins thực hiện chuyến thăm thứ hai đến Multavia, lần này anh được một giám đốc công trường, ba chuyên viên vẽ đồ án và mười một kỹ sư tháp tùng. Gerald có một buổi tiếp kiến riêng với nhà Vua, anh cam đoan với ngài là công việc sẽ được hoàn thành đúng thời hạn và đúng giá cả đã nêu. Anh cũng cho nhà Vua biết anh đã thích thú đến như thế nào chuyến đi thứ hai của mình đến đất nước này. Tuy nhiên, khi trở về nước Anh, anh đảm bảo với vợ là vẫn còn ít những cái có thể được miêu tả là vui chơi giải trí trước hoặc sau bảy giờ ở Multavia.
*
* *


0
Sau vài năm và một vài cuộc mặc cả khá ồn ào quanh việc tăng chi phí vật liệu, dự án cho thành phố Teske kết thúc với một trong những hệ thống thoát nước tốt nhất tại Trung Âu. Đức Vua sung sướng – cho dù ngài vẫn tiếp tục càu nhàu về việc làm sao mà công ty Haskins & Co đã vượt quá chi phí hợp đồng ban đầu. Cụm từ “chi tiêu bất thường” phải được giải thích cho vị quân vương mấy lần. Nhà Vua nhận thấy rằng món phụ phí hai trăm bốn mươi ngàn bảng sẽ phải lần lượt giải thích cho phương Đông và lại phải “vay mượn” từ phương Tây. Sau nhiều sự đe dọa úp mở và những bức thư đảm bảo “không có thiệt hại gì” từ các luật sư, công ty Haskins & Co mới nhận được khoản thanh toán cuối cùng, nhưng phải sau khi Đức Vua đã được nhận thêm một khoản trợ cấp nữa từ Chính phủ Anh, một khoản tiền trả nợ từ Ngân hàng Midland Bank, ở phố Slaone, chuyển tới Ngân hàng chi nhánh của nó, ở phố High, thành phố Hull, mà không bao giờ bàn tay của Multavia động chạm được vào khoản tiền đó. Điều này được Gerald giải thích cho vợ biết, là cách thức mà hầu hết các khoản viện trợ hải ngoại được phân phát.


*
* *
 
Đến đây thì câu chuyện về Gerald Haskins và những vấn đề cống rãnh thoát nowcs của thành phố Teske đã có thể kết thúc nếu như ngài Bộ trưởng Ngoại giao Anh quốc không quyết định đi thăm vương quốc Multavia.
Mục đích ban đầu của chuyến viếng thăm châu Âu của ngài Bộ trưởng Ngoại giao là đi thăm Vacxava và Praha, để xem xét sự dân chủ và cải tổ về kinh tế, chính trị đang diễn ra như thế nào tại những đất nước này. Thế nhưng khi Bộ ngoại giao biết được có bao nhiêu viện trợ đã được chuyển đến cho Multavia và sau khi họ giải thích cho ngài Bộ trưởng của họ vai trò của nó như là một nước đệm, ngài Bộ trưởng quyết định chấp nhận lời mời thường trực của Đức vua Alfons đến thăm vương quốc nhỏ bé này. Những chuyến viếng thăm như vậy tới những nước nhỏ hơn của các ngài Bộ trưởng Ngoại giao Anh quốc thường chỉ xảy ra trong các gian phòng đợi lớn của các sân bay, một thói quen người Anh bắt chước Henry Kissinger, và sau này là Gorbachov; thế nhưng điều đó không được áp dụng trong dịp này. Có cảm giác rằng chuyến thăm Multavia sẽ trọn vẹn một ngày.
Bởi vì các khách sạn mới chỉ được cải thiện chút ít kể từ tuần trăng mật của Gerald, ngài Bộ trưởng Ngoại giao được mời nghỉ tại cung điện. Ngài được Nhà vua đề nghị chỉ thực hiện hai công việc mang tính nghi lễ trong thời gian nghỉ ngơi ngắn ngủi: Đó là việc khánh thành hệ thống cống rãnh thoát nước mới của thủ đo và tham dự một bữa tiệc chiêu đãi chính thức.
Khi ngài Bộ trưởng Ngoại giao đồng ý với những đề nghị đó, Nhà vua mời Gerald và vợ anh tham dự buổi lễ khai trương – với chi phí tự lo liệu. Khi ngày khai trương đến, ngài Bộ trưởng đọc một bài phát biểu thích đáng cho dịp đó. Đầu tiên, ông ta ca ngợi Gerald Haskins về những thành tựu đáng kể trong truyền thống cơ khí Anh quốc vĩ đạu, sau đó tán dương đất nước Multavia vì sự khôn ngoan trong việc trao hợp đồng này cho một công ty Anh quốc ngay từ ban đầu. Ngài Bộ trưởng bỏ qua không nhắc đến thực tế là chính phủ Anh đã kết thúc bằng việc cam kết tài trợ trọn gói công trình này. Tuy vậy, Gerald rất cảm kích với những lời lẽ của ngài Bộ trưởng Ngoại giao và nói như thế với ngài Bộ trưởng sau khi ngài kéo cái cần mở cửa cống đầu tiên.
0
Đêm hôm đó trong cung điện có một bữa tiệc cho hơn ba trăm thực khách, bao gồm cả ngoại giao đoàn của ông Đại sứ và một vài nhà kinh doanh Anh quốc hàng đầu. Tiếp nối nhau là những bài phát biểu thông thường không ngớt về “những mối liên hệ lịch sử”, vai trò của Multavia trong mối quan hệ Anglo – Soviet và “mối quan hệ đặc biệt” với hoàng gia Anh Quốc.
Tuy nhiên, tiêu điểm của buổi tối lại diễn ra sau các bài phát biểu, khi nhà Vua thực hiện hai cuộc trao tặng. Đầu tiên là việc trao tặng Huy hiệu Con công hạng hai cho ông Bộ trưởng Ngoại giao. “Phần thưởng cao quý nhất mà một người bình thường được nhận,” Nhà Vua giải thích cho đám khánh thính giả đang tập hợp, “và Huy hiệu Con công hạng nhất thì được dành cho hoàng gia và các nguyên thủ quốc gia.”
Sau đó, Nhà vua tuyên bố cuộc trao tặng thứ hai, Huy hiệu Con công hạng ba sẽ được tặng cho Gerald Haskins – Người chỉ huy của đế chế Anh – dành cho công trạng của anh trong việc cải tạo hệ thống thoát nước của thành phố Teske. Gereald ngạc nhiên và vui sướng khi anh được dẫn từ chỗ của mình ở chiếc bàn gần nhất đến chỗ nhà Vua. Đức Vua tì thân mình về phía trước để đeo qua đầu vị khách của ngài một chiếc dây xích vàng lớn, được trang điểm những viên đá nhiều màu sắc và kích cỡ. Gerald lùi lại hai bước đầy kính trọng, cúi thấp đầu khi ngài Bộ trưởng Ngoại giao nhìn lên từ ghế ngồi của ngài và mỉm cười đầy khích lệ với anh.
Gerald là vị khách nước ngoài cuối cùng rời khỏi bữa tiệc tối hôm đó. Angela đã tự bỏ về một mình từ hơn hai giờ trước, và đã ngủ tít khi Gerald trở về phòng tại khách sạn. Anh đặt sợi xích lên giường, cởi bỏ quần áo, mặc bộ pajama vào, kiểm tra thấy vợ mình vẫn còn ngủ, rồi lại đeo sợi xích lên cổ để cho nó nghỉ ngơi trên đôi vai mình.
Gerald đứng, ngắm nghía mình trong gương buồng tắm suốt mấy phút. Anh sốt ruột không thể chờ đợi giây phút quay về nhà.
Khi anh về tới Hull, anh gửi ngay một bức thư cho Bộ Ngoại giao Anh, đề nghị cho phép anh đeo phần thưởnng mới trong những dịp các giấy mời đề nghị đeo các huân, huy chương. Bộ Ngoại giao theo đúng lệ, trình vấn đề này lên Cung điện. Nữ hoàng, một người họ hàng xa với Đức Vua Alfons IV, chuẩn y.
Dịp đại lễ chính thức kế tiếp, tại đó Gerald có được cơ hội đeo Huy hiệu Con công là dịp lễ phong Thị trưởng được tổ chức tại Tòa đại sảnh Thành phố Hull, được khởi đầu bằng bữa dạ tiệc tại Đại lễ đường Guildhall.
Gerald trở về từ Lagos nhân dịp này và thậm chí khi còn chưa kupj thay chiếc áo jacket đại lễ, không thể kiềm chế được một cái liếc mắt tới tấm Huy hiệu Con công. Anh mở chiếc hộp chứa phần thưởng của mình và nhìn chòng chọc, vẻ nghi ngời: Vàng đã bị hoen gỉ và một trong những viên đá trông có vẻ như đã lủng liểng. Bà Haskins ngừng trang điểm, liếc nhìn trộm tấm huy hiệu. “Nó không phải bằng vàng”, cô tuyên bố như có thể làm dừng bước Quỹ tiền tệ Quốc tế trên con đường của nó.
Gerald không hề bình luận gì và mau chóng gắn viên đá lỏng lẻo vào chỗ cũ bằng keo gắn, thế nhưng anh phải tự thừa nhận rằng kỹ năng tay nghề thủ công của mình không được giỏi. Trên đường tới Đại lễ đường thành phố, hai vợ chồng không ai nhắc lại chủ đề này nữa.
Một vài người trong số những vị khách của bữa tiệc do Thị trưởng mời tối hôm đó tại Đại sảnh đường Guildhall có hỏi về lịch sử của tấm Huy hiệu Con công hạng ba. Cho dù Gerald khá thỏa mãn khi anh giải thích lí do để đạt được phần thưởng và việc Nữ hoàng cho phép được đeo nó trong những dịp lễ long trọng, anh cảm thấy một hai người đồng nghiệp của mình đã không bị choáng ngợp bởi con công hoen rỉ. Gerald cũng cho là không may một chút khi anh phải ngồi chung bàn với Walter Ramsbottom, giờ đây đã là Phó Thị trưởng.
“Tôi cho là sẽ khó mà định được giá trị thực của nó,” Walter nói, nhìn chòng chọc với vẻ khinh rẻ sợi dây xích.
“Khó quá đi ấy chứ,” Gerald khẳng định.
“Tôi không có ý nói về giá trị vật chất,” Ông chủ tiệm kim hoàn bảo, với một nụ cười tự mãn. “Điều đó thì quá dễ để khẳng định. Tất nhiên, tôi muốn nói tới một giá trị tinh thần.”
“Tất nhiên,” Gerald nói. “Anh có mong sẽ trở thành Thị trưởng sang năm không đấy?” anh hỏi, cố gắng thay đổi chủ đề.
“Đã là một thông lệ,” Walter nói, “là ông phó lên kế nghiệp ông chánh Thị trưởng nếu như ông ta không làm tiếp năm thứ hai. Và cứ yên trí đi, anh Gerald, rằng tôi sẽ chú ý để anh được đặt ngồi bàn đầu trong dịp đó.” Walter tạm dừng lời. “Sợi dây xích của ngài Thị trưởng, anh biết không, là vàng mười bốn ca ra đó.”
Gerald sớm rời bỏ bữa tiệc tối đó, kiên quyết phải làm một cía gì đó về tấm Huy hiệu Con công trước khi đến lượt Walter làm Thị trưởng.
Không có người nào trong số những bạn bè của Gerald có thể nói anh ta là một người phung phí, và ngay cả cô vợ anh ta cũng ngạc nhiên trước ý thích xa hoa đột ngột xảy ra. Vào chín giờ sáng hôm sau, Gerald điện thoại đến văn phòng để báo rằng anh sẽ không đi làm  ngày hôm đó. Sau đó anh đi tàu đến Luân Đôn để thăm phố Bond mà cụ thể là một nhà kim hoàn có tiếng tăm.
*
* *
0
Cánh cửa hiệu kim hoàn phố Bond được một ông trung sỹ của Trung tâm bảo vệ mở ra cho Gegald. Khi bước vào bên trong, Gerald giải thích vấn đề của mình cho một quý ông cao, gầy, mặc một bộ complet đen, người đã tiến lên trước để chào đón anh. Sau đó, anh được dẫn tới bên một quầy hàng thủy tinh hình vòng cung nằm ở chính giữa cửa hiệu.
“Ông Pullinger của chúng tôi sẽ tiếp kiến ngài trong giây lát.”
Một lát sau, chuyên gia đá quý của cửa hiệu Asprey bước tới và sẵn lòng đồng ý đánh giá tấm Huy hiệu Con công theo yêu cầu của Gerald.
Ông Pullinger đặt sợi xích lên một chiếc gối nhung the đen rồi chăm chú nghiên cứu những viên đá qua một thấu kính nho nhỏ.
Sau một cái liếc mắt, ông ta nhăn mặt lại như sự thất vọng của một người đoạt giải ba tại trường bắn trên cầu tàu Blackpool.
“Vậy thì nó đáng giá bao nhiêu?” Gerald hỏi thẳng sau mấy phút trôi qua.
“Khó mà đánh giá một vật gì đó lạ thường” – Ông Pullinger do dự – “rắc rối và phức tạp đến như vậy.”
“Những viên đá quý thì là thủy tinh và vàng thì là đồng, đó là điều ông đang định nói, phải không?”
Vẻ mặt ông Pullinger cho thấy chính bản thân ông ta cũng không thể nào diễn đạt cô đọng hơn được nữa.
“Có thể anh sẽ nhận được vài trăm bảng từ người nào đó muốn sưu tập những vật dụng như vậy, nhưng mà…”
“Ồ, không,”Gerald nói,t ự ái ghê gớm. “Tôi không có ý bán nó. Mục đích của tôi đến Luân Đôn là để tìm hiểu xem liệu các vị có sao chép nó được không.”
“Sao chép nó?” Viên chuyên gia thốt lên nghi ngờ.
“Vâng,” Gerald nói. “Đầu tiên, tôi muốn mỗi một viên đá đều phải đúng thể loại căn cứ vào màu sắc của nó. Thứ hai, tôi muốn có một sự phối hợp mà phải gây được ấn tượng đối với một quận chúa. Và thứ ba, tôi yêu cầu người nghệ nhân kim hoàn giỏi nhất chế tác nó với chất liệu vàng không dưới mười tám ca ra.”
Mặc dù nhiều năm mua bán với các khách hàng Ả rập, viên chuyên gia của Asprey không thể giấu nổi sự ngạc nhiên của mình.
“Nó sẽ không rẻ đâu, ông ta thốt lên nho nhỏ: cái từ “rẻ” lafmootj trong những từ mà Asprey rõ là đang thất vọng.
“Tôi chưa giây phút nào nghi ngờ về điều đó,” Gerald nói. “Thế nhưng anh phải hiểu rằng đây là danh dự trong đời tôi. Này, thế bao giờ thì tôi có thể có được một dự toán?”
“Sau một tháng, nhiều nhất là sáu tuần,” Viên chuyên gia trả lời.
Gerald rời bỏ tấm thảm giàu có của hiệu Asprey đến với những cống rãnh thoát nước của Nigeria. Quãng chừng hơn một tháng sau, khi bay trở về Luân Đôn, anh đi đến khu Tây lần thứ hai gặp ông Pullinger.
Ông chủ kim hoàn chưa quên Gerald Haskins và cái yêu cầu kỳ lạ của anh. Ông ta nhanh chóng lấy ra từ quyển sách đặt hàng một mẩu giấy gấp gọn. Gerald mở nó ra và chậm rãi đọc: “Yêu cầu cho đề nghị của khách hàng: mười hai viên kim cương, bảy viên thạch anh tím, ba viên hồng ngọc và một viên bích ngọc, tất cả sẽ có màu hoàn hảo nhất và chất lượng cao nhất. Một con công sẽ được điêu khắc bằng ngà voi và được một nghệ nhân sơn. Taofn bộ sợi dây xích sau đó sẽ được đú bằng vàng mười tám ca ra tốt nhất. Dòng chữ cuối cùng ghi: “Hai trăm mười một nghìn bảng – chưa kể thuế VAT.”
Gerald – người không đăn đo, sẵn sàng cãi vã mặc cả tính toán vài ngàn bảng về vật liệu lợp mái hoặc là thuê mướn những trang thiết bị hạng nặng, hay thậm chí là một lịch trình chi trả – chỉ đơn giản hỏi, “Bao giờ thì tôi có thể nhận hàng?”
“Người ta không thể biết chắc chắn sẽ mất bao lâu để chế tác ra một vật tinh xảo như thế,” Ông Pullinger bảo. “Tìm kiếm những viên đá có sự hòa hợp về màu sắc, tôi e là phải mất thời gian một chút.” Ông ta tạm dừng lời. “Tôi cũng đang hy vọng nghệ nhân cao cấp của chúng tôi sẽ được rảnh để làm nhiệm vụ này. Gần đây, ông ta đã khá kẹt với những quà tặng cho chuyến viếng thăm sắp tới của Nữ Hoàng tới Ả rập Sauđi, vì thế tôi không cho rằng nó chỉ có thể được hoàn tất trước cuối tháng ba.”
Vừa đẹp cho bữa tiệc sang năm của ngài Thị trưởng, Gerald nghĩ. Ông Hội đồng viên Ramsbottom sẽ không thể chế giễu mình lần này. Vàng mười bốn carat à, có phải ông ta đã nói vậy không nhỉ.
*

* *
 
0
Lagos và Rio de Janeiro, cả hai đều có những hệ thống cống rãnh thoát nước cần được lắp đặt và vận hành, đã chiếm một thời gian khá lâu, trước khi Gerald có thể quay trở lại hiệu Asprey. Và anh chỉ được tận mắt mục kích phần thưởng độc đáo đó vài tuần trước ngày phong Thị trưởng.
Lần đầu tiên, khi ông Pullinger khoe với khách hàng của ông ta tác phẩm đã hoàn chỉnh, anh chàng người Yorshire há hốc mồm sung sướng. Tấm Huy hiệu tráng lệ đến mức Gerald thấy cần thiết phải mua một chuỗi hạt ngọc trai từ hiệu Aspreyb để giữ cho bà vợ im tiếng.
Trở về Hull, anh chờ cho tới tận sau bữa ăn tối mới mở chiếc hộp da xanh dương của hiệu Asprey và làm cô vợ ngạc nhiên với tấm Huy hiệu mới, “Xứng đáng với một bậc quân vương, bé à,” anh cam đoan với vợ mình, thế nhưng Angela có vẻ bị cuốn hút vào chuỗi ngọc trai hơn.
Sau khi Angela đã đi ra lo việc trang điểm, anh chồng vẫn còn tiếp tục ngắm nhìn cái vật trang sức đính kim cương đẹp đẽ được chế tác công phu và được chạm cắt thật siêu đẳng một lúc nữa rồi cuối cùng mời đóng nắp hộp lại. Buổi sáng hôm sau, Gerald miễn cưỡng đem món dồ tới nhà bằng và giải thích rằng nó phải được giữ gìn cẩn thận, khóa an toàn trong hầm bởi vì anh sẽ chỉ yêu cầu lấy nó ra một, có thể hai lần trong năm. Anh không thể cưỡng nổi đem khoe cái vật trang sức  mang lại niềm hạnh phúc với ông giám đốc nhà băng, ông Sedgley.
“Anh sẽ đeo nó trong ngày phong Thị trưởng chứ?” Ông Sedgley hỏi.
“Nếu như tôi được mời,” Gerald nói.
“Ồ, tôi tin chắc Ramsbottom sẽ muốn tất cả các bạn cũ của anh ta chứng kiến buổi lễ. Đặc biệt là anh đấy, tôi nghĩ thế,” ông ta nói thêm mà không hề giải thích.
*
* *
 
0
Gerald đọc mẩu tin trong mục Quan hệ của Triều đình trên tờ Thời Báo cho vợ nghe trong bữa ăn sáng. “Có thông báo từ Cung điện Buckingham rằng Đức Vua Alfons IV của Multavia sẽ đến viếng thăm chính thức Anh quốc từ mồng bẩy đến mười một tháng tư.”
“Không biết liệu chúng ta có cơ hội gặp lại nhà Vua không nhỉ,”Angela bảo.
Gerald không nói gỉ.
Trong thực tế, vợ chồng Gerald Haskins nhận được hai giấy mời có quan hệ với chuyến viếng thăm chính thức của Đức Vua Alfons, một mời đến ăn tối với Đức Vua tại nhà hàng Claridge – Đại sứ quán Multavia ở Luân Đôn không đủ rộng rãi cho một dịp như thế này – và cái thứ hai đến muộn hơn một ngày bằng đường chuyển phát đặc biệt từ Cung điện Buckingham.
Gerald sung sướng. Dường như, Con công sắp sửa có được ba chuyến ra ngoài hóng gió trong một tháng, bởi vì chuyến thăm Cung điện của họ diễn ra mười ngày trước khi Walter Ramsbottom được bổ nhiệm làm Thị trưởng.
Bữa tiệc tầm cỡ nhà nước tại Claridge rất đáng nhớ, và mặc dù còn có vài trăm vị khách khác nữa, Gerald vẫn xoay xở có được vài giây phút tiếp kiến vị chủ nhân, Đức Vua Alfons IV, và anh sung sướng nhận thấy, nhà Vua không thể rời mắt khỏi tấm Huy hiệu Con công hạng ba.
Chuyến thăm Cung điện Buckingham một tuần lễ sau là chuyến thăm thứ hai của Gerald và Angela, sau buổi lễ phong tặng năm 1984 cho Gerald với danh hiệu một vị Chỉ huy của Đế chế Anh. Gerald phục sức trang điểm cũng lâu gần bằng cô vợ cho buổi lễ quốc gia này. Anh mất khá thời gian vặn vẹo xoay xở cái cổ áo để tin chắc rằng tấm huân chương có thể được trông thấy với toàn bộ lợi thế của nó và Huy hiệu Con công hạng ba vẫn nằm ngay ngắn trên vai. Gerald nhờ anh thợ may của mình đính những vòng chỉ nhỏ vào chiếc áo đuôi tôm để cho tấm Huy hiệu không phải chỉnh trang lại thường xuyên.
Khi vợ chồng Haskins đến Cung điện Burkingham, họ đi theo một đám đông những quý ông ngực đầy huân, huy chương và những quý bà đội những viên ngọc sáng lung linh trên mũ, tới yến tiệc đường quốc gia. Một người hầu phân phát những tấm thiếp chỉ dẫn ghế ngồi cho từng vị khách. Gerald mở tấm các của mình ra thấy một mũi tên chỉ vào tên mình. Anh nắm lấy cánh tay vợ và dẫn cô tới chỗ ngồi của họ.
Anh nhận thấy đầu của Angela cứ luôn quay tới quay lui bất cứ khi nào trông thấy một viên ngọc trên một chiếc mũ nào đó.
Mặc dù họ ngồi cách Nữ Hoàng một khoảng khá xa, tai một nhánh của chiếc bàn tiệc chính, vẫn có một ông hoàng nhỏ ngồi bên tay trái của Gerald và ông Bộ trưởng bộ Nông nghiệp ngồi bên phải. Anh còn hơn cả thỏa mãn. Cả buổi tối trôi qua quá nhanh, và Gerald đã bắt đầu cảm thấy rằng ngày phong Thị trưởng sẽ là một cái gì đó hạ giá. Mặc dù vậy, Gerald vẫn tưởng tượng cảnh ông Hội đồng viên Ramsbottom ngưỡng mộ tấm Huy hiệu Con công trong khi anh kể cho hắn ta biết về buổi yến tiệc tại Cung điện.
Sau hai lời chúc trung quân ái quốc và hai bài quốc ca, Nữ Hoàng đứng lên. Bà nói về Multavia với tình cảm ấm áp khi diễn thuyết trước ba trăm thực khách của bà, và tỏ ý đầy thiện ý đối với người cháu họ xa là Đức Vua. Nữ hoàng nói thêm rằng bà hy vọng sẽ đi thăm vương quốc của nhà Vua vào một thời gian thuận tiện trong tương lai gần. Điều này được tán thưởng với tiếng vỗ tay nồng nhiệt. Đến đây bà kết thúc bài diễn thuyết bằng cách nêu lên bà có dự định thực hiện hai cuộc trao tặng.
Nữ Hoàng phong cho Đức Vua Alfons IV danh hiệu Hiệp sĩ Chỉ huy của Trật tự Hoàng gia, và sau đó là ông Đại sứ của Multavia tại Triều đình thánh James danh hiệu Người chỉ huy cũng của trật tự đó, cả hai đều là huy hiệu của riêng cá nhân vị đế vương. Một chiếc hộp màu xanh lam hoàng gia được một viên Quan thị thần Triều đình mở ra và các phần thưởng được đặt lên vai những người được phong tặng. Ngay khi Nữ hoàng kết thúc nghi lễ, Đức Vua Alfons đứng lên đáp lời.
“Muôn tâu Nữ hoàng,” Ngài nói tiếp sau khi thực hiện xong những thủ tục thông thường và những lời cảm ơn. “Tôi cũng muốn thực hiện hai cuộc phong tặng. Thứ nhất dành cho một người Anh, người đã có cống hiến lớn lao cho đất nước tôi qua sự tinh thông chuyên môn và sự cần cù của mình” – rồi Đức Vua liếc mắt về phía Gerald – “Một người,” Ngài tiếp lời, “đã hoàn thành các công trình vệ sinh một cách tài ba, mà bất cứ một dân tộc nào trên trái đất đều có thể tự hào. Thưa Nữ hoàng, điều này đã được ngài Bộ trưởng Ngoại giao của Nữ hoàng khai thông. Chúng tôi, thủ đô Teske sẽ chịu ơn công lao của ngài Bộ trưởng trong nhiều thế hệ sắp tới. Và do đó, chúng tôi xin trao tặng ông Gerald Haskins Huy hiệu Con công hạng hai.
Gerald không thể tin vào tai mình.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-04-19 12:04:02Ct.Ly>
Những lời tán thưởng ầm ĩ nổi lên chào đón Gerald đầy kinh ngạc, đứng lên tiến về phía Đức Vua. Anh đứng yên như trời trồng phía đằng sau những chiếc ngai nằm giữa Nữ hoàng Anh và Quốc vương Multivia. Nhà Vua mỉm cười với người thụ hưởng mới của tấm Huy hiệu Con công hạng hai khi hai người bắt tay nhau. Nhưng trước khi trao tặng cái danh dự mới cho anh, Đức Vua Alfons kiếng chân lên trước, hơi khó khăn, tháo từ vai của Geerald xuống chiếc Huy hiệu  Con công hạng ba của anh.
“Anh không cần đến cái này nữa,” Đức Vua thì thầm vào tai Gerald.
Gerald dõi theo kinh hãi khi phần thưởng quý báu của mình biến mất trong một chiếc hộp da đỏ được người thư ký riêng của Nhà vua cầm, người đàn ông đứng rất điềm tĩnh phía sau vị Quân vương của ông ta. Gerald vẫn tiếp tục nhìn chòng chọc vào viên thư ký riêng. Ông ta, nếu không phải là một nhà ngoại giao lỗi lạc, thì chắc là không hè biết tí gì về kế hoạch của Nhà vua, bởi vì nét mặt ông ta không để lộ bất cứ sự khác thường. Khi phần thưởng tráng lệ của Gerald đã được tháo xuống an toàn, chiếc hộp đóng sập lại giống như một chiếc két mà mã số của nó Gerald chưa được biết.
Gerald muốn phản đối, thứ nhưng cứ lặng thinh.
Thế rồi Đức Vua Alfons lấy ra từ một chiếc hộp khác tấm Huy hiệu Con công hạng hai rồi đặt nó lên trên vai Gerald. Gerald nhìn chăm chăm vào những viên đá màu sắc xoàng xĩnh, vô thưởng vô phạt, chần chừ một chút, rồi lảo đảo bước ra phía sau, cúi chào. Sau đó quay trở lại chỗ của mình trong gian phòng yến tiệc vĩ đại, anh không nghe thấy những làn sóng hoan hô vang dội đi cùng với mình, ý nghĩ duy nhất của anh là làm sao lấy lại đồ trang sức kia ngay khi các bài phát biểu kết thúc. Anh gục xuống trên chiếc ghế bên cạnh cô vợ.
“Và bây giờ,” Nhà vua tiếp lời, “Tôi muốn trao một đồ trang sức mà đã không hề được trao tặng cho ai, kể từ khi người cha đã quá cố của tôi qua đời. Tấm Huy hiệu Con công hạng nhất, nó đem lại cho tôi niềm vui sướng đặc biệt được trao tặng cho Người phụ nữ Cao quý, Nữ hoàng Elizabeth II.”
Nữ hoàng đứng lên khi người thư ký riêng của Nhà vua lại bước lên phía trước. Trong đôi bàn tay ông ta đang cầm chính chiếc hộp da đỏ mà nó đã đóng lại chắc chắn cái vật sở hữu độc đáo của Gerald. Chiếc hộp lại được mở ra, và Nhà vua lấy ra tấm Huy hiệu đẹp tráng lệ từ trong hộp và đặt nó lên trên bờ vai của Nữ hoàng. Những viên kim cương sáng lấp lánh trong ánh nến, các vị khách há hốc mồm kinh ngạc bởi vẻ đẹp huyền diệu của vật trang sức này.
Gerald là người duy nhất ở trong phòng biết giá trị thực của nó.
“Này, anh đã luôn bảo nó xứng đáng với một bậc đế vương còn gì,” Vợ anh nhận xét, khi sờ tay vào chuỗi ngọc trai của mình.
“À, ừ” Gerald bảo. “Nhưng mà Ramsbottom sẽ nói gì khi hắn ta trông thấy thứ này?” anh buồn rầu nói thêm, mân mê tấm Huy hiệu Con công hạng hai. “Hắn ta sẽ biết nó không phải là thứ thiệt.”
“Em không thấy có gì quan trọng lắm,”Angela bảo.
“Ý em là sao?” Gerald hỏi. “Anh sẽ thành trò cười cho cái thành phố Hull này vào hôm phong Thị trưởng mất thôi.”
“Anh nên bắt đầu đọc các tờ báo buổi tối đi, anh Gerald, và thôi đừng ngắm vuốt trong gương bởi anh sẽ biết là Walter sẽ không làm Thị trưởng trong năm nay.”
“Sẽ thôi không làm Thị trưởng nữa sao?” Gerald lặp lại.
“Thôi rồi. Ông Thị trưởng hiện thời đã được lựa chọn làm thêm nhiệm kỳ thứ hai, thế là Walter sẽ thôi không làm Thị trưởng cho tới tận sang năm cơ.”
“Đúng thế không?” Gerald nói, nở một nụ cười.
“Và nếu anh đang nghĩ ngợi cái điều mà em cho là anh đang nghĩ ngợi, Gerald Haskins ơi, lần này nó sắp tiêu tốn của anh một viên ngọc đấy.”
 
HẾT
 



Đã mang đến chương này
0
«« « 1 2 3 4 » »»