📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện ngắn Jeffrey Archer - A twist in the tale - Hết 🔒

118 trả lời, 16.538 lượt xem — Trang 4 / 4
MÓN HỜI
 


Ông bà Christopher và Margaret Roberts luôn đi nghỉ hè rất xa nước Anh trong chừng mực họ có thể trang trải. Tuy nhiên, do ông Christopher là thầy giáo môn Văn học cổ Hi – La tại trường St. Cuthbert’s, một trường tiểu học nhỏ ở mạn phía Bắc của Yeovil, và bà Margaret là quản lý của ngôi trường đó, nên sự trải nghiệm của họ về bốn trong số năm châu lục chủ yếu gói gọn trong những tạp chí số ra hàng tháng như Tạp chí địa lý Quốc gia và Thời báo.
Kỳ nghỉ của gia đình Roberts thường vào tháng tám hàng năm, và nó quan trọng đến mức không thể thay đổi. Họ dành mười một tháng trong năm để dành dụm tiền, lập kế hoạch, và chuẩn bị cho sự chi tiêu xa xỉ đó. Quãng thời gian mười một tháng sau đó được dành để truyền đạt lại những khám phá của họ cho lũ “con cái”. Vợ chồng Roberts không có con, và họ coi tất cả các em học sinh trường St. Cuthberth’s như là các “con”.
Trong các buổi tối dài đằng đẵng, khi lũ “con” được sắp xếp đi ngủ trong buồng ngủ của chúng, ông bà Roberts thường miệt mài trên những tấm bản đồ, phân tích các ý kiến của các chuyên gia và rồi sau cùng, xem xét một bản danh sách đã được chọn lọc và rút ngắn. Trong những chuyến thám hiểm mới đây, họ đã đến được tận Na Uy, miền Bắc Italia và Nam Tư. Kết thúc chuyến thăm quan hồi năm ngoái là việc khám phá hòn đảo của vị thần Achilles, đảo Skyros, ngoài khơi phía Đông bờ biển Hy Lạp.
“Năm nay phải là Thổ Nhĩ Kì mới được,” ông Christopher nói sau khi đã cân nhắc kỹ.
Một tuần lễ sau, bà Margaret cũng đi tới kết luận tương tự, và thế là họ có thể chuyển sang giai đoạn thứ hai.
Mỗi cuốn sách viết về Thổ Nhĩ Kì trong thư viện địa phương đều được mượn, được đem ra thảo luận, được mượn lại và thảo luận lại. Mỗi một tập quảng cáo có thể mượn được từ Đại sứ quán Thổ Nhĩ Kỳ hoặc từ các đại lý du lịch địa phương, đều được họ nghiên cứu liên tục một cách kỹ lưỡng.
Đến ngày đầu tiên của học kỳ mùa hạ, các tấm vé đã được trả tiền, một chiếc xe hơi được thuê, nơi ăn chốn ở đã được đặt và mọi thứ có thể được bảo hiểm thì đã được lo liệu chu toàn. Kế hoạch của họ chỉ thiếu duy nhất một chi tiết cuối cùng.
“Vậy thì món hời của chúng ta năm nay sẽ là gì đây?” Ông Christopher hỏi.
“Một tấm thảm,” bà Margaret nói không do dự. “Tất nhiên là nó rồi, đã hơn một ngàn năm nay, Thổ Nhĩ Kỳ sản xuất ra những tấm thảm được người ta săn lùng nhiều nhất trên thế giới. Sẽ là ngu ngốc nếu như chúng ta xem xét bất cứ thứ gì khác.”
“Chúng ta sẽ tiêu bao nhiêu vào tấm thảm?”
“Năm trăm bảng,” bà Margaret nói, cảm thấy rất xa xỉ.
Thống nhất như vậy, họ một lần nữa lại nói chuyện về các “món hời” mà họ đã thực hiện được trong nhiều năm qua. Tại Na Uy, đó là một cái răng của cá voi được một nghệ nhân địa phương chạm khắc thành hình một chiếc thuyền buồm lớn. Tại Tuscany, đó là một chiếc bát gốm được tìm thấy tại một ngôi làng nhỏ, nơi mà họ đúc khuôn và nung chúng để đem bán ở Roma với giá cắt cổ: Một lỗi nhỏ, mà chỉ một chuyên gia mới có thể nhận thấy, làm cho nó thành “món hời”. Ở ngay ngoại ô thành phố Skopje, vợ chồng Roberts thăm quan một nhà máy thủy tinh địa phương và kiếm được một chiếc bình đựng nước ngay sau khi nó được thổi trước mắt họ. Và tại Skyros họ đã có một thắng lợi lớn nhất từ trước cho đến lúc này, họ đã tìm thấy ở gần một địa điểm khai quật cũ một mảnh vỡ của một chiếc lư. Vợ chồng Roberts ngay lập tức báo vật họ tìm thấy với chính quyền, thế nhưng các quan chức Hy Lạp không cho là mảnh vỡ đó đủ quan trọng để cần thiết ngăn cản nó được xuất khẩu sang St Cuthbert’s.
Trở về nước Anh, ông Christopher không thể cưỡng nổi việc đến ông giáo sư cao cấp về các môn học kinh điển tại trường alma mater cũ của ông để kiểm tra. Vị này khẳng định cái mảnh đó có lẽ thuộc thế kỷ mười hai. Cái “món hời” mới mẻ nhất này, giờ đây, đang hiện diện, được kê đỡ cẩn thận, trên mặt lò sưởi phòng khách của họ.
“Đúng, một tấm thảm sẽ là hoàn hảo,” bà Margaret ngâm nga. “Điều phiền phức là, mọi người đi Thổ Nhĩ Kỳ với ý nghĩ nhấc được một tấm thảm với giá rẻ. Vì vậy để tìm được một tấm thực sự là tốt…”
Bà ta quỳ xuống và bắt đầu đo đạc khoảng không gian nhỏ bé phía trước cái lò sưởi trong phòng khách của họ.
“Hai mét mốt khổ chín mươi sẽ ổn đây,” bà ta bảo.
*
* *
 
0
Học kỳ đã kết thúc được vài ngày, vợ chồng Roberts đi xe buýt tới sân bay Heathrow. Chuyến đi kéo dài lâu hơn một chút so với đi tàu hỏa, thế nhưng giá chỉ bằng một nửa.
“Số tiền dành dụm được là để mua tấm thảm đấy,” bà Margaret nhắc nhở ông chồng bà.
“Đồng ý, thưa bà Quản lsy,” ông Christopher bảo, cười lớn.
Khi tới sân bay, họ gửi hành lý lên chiếc máy bay họ đã mua vé, lựa chọn hai chỗ ngồi không được hút thuốc. Thấy còn thời gian rỗi rãi, họ ngắm nhìn những chiếc máy bay khác cất cánh bay đến những nơi mới lạ.
Chính ông Christopher là người đầu tiên trông thấy hai hành khách chạy ngang qua đường băng, rõ ràng là bị trễ chuyến bay.
“Hãy nhìn xem,” ông ta bảo, tay chỉ vào hai ông bà đang chạy. Bà vợ ông ta chăm chú xem xét cặp vợ chồng mập ú, nước da vẫn còn nâu nâu từ một kỳ nghỉ trước đó, khi họ hì hục trèo lên thang máy bay.
“Ông bà Kendal Hume,” bà Margaret nghi hoặc. Sau khi do dự giây lát, bà ta tiếp, “Tôi không muốn nghiệt ngã với bất cứ đứa nào trong đám trẻ, nhưng mà tôi thấy thằng cu Malcolm Kendall Hume là một...” Bà ta tạm dừng lời.
“Một thằng nhóc được nuông chiều hỗn xược?” Ông chồng bà gợi ý.
“Đúng như vậy,” bà Margaret nói. “Tôi không thể không bắt đầu nghĩ xem cha mẹ nó là người thế nào.”
“Rất thành đạt, nếu tin vào những câu chuyện của thằng bé,” ông Christopher nói. “Một loạt những gar a sửa xe từ Birmingham đến Bristol.”
“Ơn Chúa, họ không đi cùng máy bay với ta.”
“Tôi đoán là họ sẽ tới Bermuda hoặc Bahamas,” ông Christopher nói.
Một giọng nói phát ra từ chiếc loa không cho bà Margaret cơ hội nói thêm.
“Chuyến bay Olymic Airways 172 tới Istanbul đang đón khách lên máy bay tại cửa số 37.”
“Chúng ta đó,” ông Christopher vui vẻ nói khi họ bắt đầu đi bộ tới cửa khởi hành.
Họ là những hành khách đầu tiên lên máy bay, và khi đã được đưa đến chỗ ngồi, họ ngồi xuống để nghiên cứu những cuốn sách hướng dẫn du lịch về Thổ Nhĩ Kỳ và ba tập hồ sơ của họ.
“Chúng ta nhất định phải đi thăm quan lăng Diana khi chúng ta dến Ephesus,” Ông Christopher bảo, khi chiếc máy bay lăn bánh ra đường băng.
Đừng quên rằng đến lúc đó chúng ta chỉ còn cách ngôi nhà nổi tiếng của Đức Mẹ Mari đồng trinh có vài cây số,” bà Margaret nói thêm
“Bà nói cứ như một nhà sử gia thế,” ông Christopher nói, như thể đang phê bình một học sinh lớp bốn, thế nhưng bà vợ không hề nhận thấy vì đang quá mải mê với quyển sách của bà. Hai người lại tiếp tục nghiên cứu riêng, sau đó ông Christopher hỏi bà vợ đang đọc gì vậy.
“Cuốn ‘Những tấm thảm – thực tế và tưởng tượng’ tác giả Abdul Verizoglu – tái bản lần thứ mười bảy,” bà nói, tin rằng bất cứ sai lầm nào cũng đã phải được xóa bỏ trong mười sáu lần xuất bản trước kia. “Nhiều thông tin ghê gớm. Những mẫu tinh xảo nhất, dường như từ vùng Hereke và được người phụ nữ trẻ, thậm chí cả trẻ con làm cùng một lúc.”
“Tại sao là những người trẻ?” ông Christopher trầm tư. “Mọi người thường nghĩ kinh nghiệm sẽ rất quan tongjd dối với một công việc đòi hỏi sự tinh xảo như thế chứ.”
“Rõ ràng là không,” bà Margaret bảo. “Những tấm thảm Hereke được những con mắt trẻ trung dệt nên, có thể thấy rõ những kiểu mẫu phúc tạp, đôi khi không lớn hơn một mũi kim và có tới chính trăm nút trong một inch vuông. Một tấm như thế,” bà Margaret nói tiếp, “có thể lên tới mười lăm, thậm chí là hai mươi ngàn bảng.”
“Và những tấm thảm khác được những người đàn bà già nua dệt từ len cũ, dư thừa?” ông Christopher gợi ý và cũng là trả lời cho câu hỏi của chính mình.
“Chắc rồi,” bà Margaret bảo. “Đối với hầu bao nhỏ bé của chúng ta cũng có thể theo một số chỉ dẫn đơn giản.”
Ông Christopher nghiêng người sang bên để có thể nghe rõ những lời bà vợ nói qua tiếng ầm của động cơ.
“Các tấm có họa tiết đỏ và lam trầm trên nền xanh lục được coi là cổ điển và rất được các nhà sưu tập Thổ Nhĩ Kỳ khâm phúc, nhưng người ta thường tránh màu vàng và da cam sặc sỡ,” Bà vợ của ông đọc to lên. “Và không bao giờ xem xét một tấm thảm dệt hình thú vật, cá hay chim chó bởi vì chúng được sản xuất chỉ để thỏa mãn thị hiếu phương Tây mà thôi.”
“Họ không thích thú vật sao?”
“Tôi không cho đó là điểm chính,” Bà Margaret nói.
“Hồi giáo Sunni, là tôn giáo chính của nước này, luật của họ không tán thành các hình ảnh tạc khắc. Thế nhưng nếu chúng ta tìm kiếm cẩn thận ở các khu chợ, chúng ta vẫn có thê mua bán ở tầm vài trăm bảng.”
“Thật là một lý do tuyệt vời để dành cả ngày ngoài chợ.”
Bà Margaret mỉm cười, rồi tiếp. “Nhưng hãy nghe này. Quan trọng nhất là việc mặc cả. Cái giá ban đầu người bán đưa ra thường là gấp đôi số tiền mà anh ta mong muốn được nhận, và gấp ba lần giá trị của tấm thảm.” Bà ta nhìn lên từ cuốn sách. “Nếu như anh có bất cứ vụ mặc cả nào thì anh nhớ đấy, cưng à. Họ không quen với những việc kiểu như theesnayf tại các cửa hàng Marks & Spencer.”
Ông Christopher mỉm cười.
“Và cuối cùng,” Bà vợ ông ta lật tiếp một trang của cốn sách, “Nếu người bán hàng mời anh uống cà phê thì anh nên nhận lời. Nó có nghĩa là ông ta mong vụ mua bán diễn ra lâu lâu một chút, vì ông ta thưởng thức cả việc mặc cả cũng nhiều như việc bán được hàng vậy.”
“Nếu như sự việc xảy ra đúng như vây, họ nên có một cái phin pha thật to cho chúng ta,” Ông Christopher nói, nhắm mắt lại và bắt đầu suy nghĩ về những điều thú vị đang chờ đợi.
0
Bà Margeret chỉ gấp cuốn sách về thảm của bà lại khi máy bay chạm xuống đường băng sân bay Istanbul, và lập tức mở tập hồ sơ thứ nhất ra, nó có tựa đề “Tiền – Thổ Nhĩ Kỳ”.
“Một chiếc xe buýt chờ chúng ta ở phía bắc cửa ra. Nó sẽ đưa chúng ta tới chuyến bay nội địa,” Bà Margaret quả quyết với chồng lúc bà cẩn thận vặn đồng hồ sớm lên hai tiếng.
Vợ chồng Roberts đi ngay theo đám hành khách hướng về cửa kiểm tra hộ chiếu. Những người đầu tiên mà họ trông thấy lại chính là đôi vợ chồng đứng tuổi nọ mà họ nghĩ là đã đi đến những bãi biển xa lạ.
“Không biết họ định đi đâu nhỉ,” Ông Christopher nói.
“Tôi đoán là khách sạn Hilton Istanbul,” Bà Margaret nói khi họ bước lên một chiếc xe quá cổ lỗ của công ty xe buýt Glasgow quãng hai mươi năm trước. Nnos phụt phì phì ra làn khơi thải đen xì khi rồ ga, rồi lăn bánh về hướng chuyến bay địa phương THY.
Vợ chồng Roberts sớm quên hết về ông bà Kendall Hume khi họ nhìn ra ngoài những ô cửa sổ máy bay nho nhỏ để chiêm ngưỡng bờ biển phía Tây của Thổ Nhĩ Kỳ, nó nổi bật lên dưới ánh mặt trời đang tắt dần. Máy bay hạ cánh tại cảng Izmir đúng vào lúc quả cầu lửa óng ánh biến mất phía sau quả đồi cao nhất. Một chiếc xe buýt khác, thậm chí còn cổ lỗ hơn chiếc xe trước, đảm bảo rằng vợ chồng Roberts sẽ tới được ngôi nhà nghỉ nhỏ bé của họ kịp bữa tối muộn.
Căn phòng của họ chật, nhưng sạch sẽ và người chủ nhà trọ cũng có vè dễ chịu. Ông ta chào đón hai người bọn họ với những cử chỉ khá thân thiện và nụ cười rạng rỡ, đó là điềm báo trước tốt lành cho hai mươi mốt ngày sắp tới.
Sáng sớm hôm sau, vợ chồng Roberts kiểm tra những kế hoạch cụ thể của họ cho ngày thứ nhất trong tập hồ sơ thứ hai. Đầu tiên, họ sẽ nhận chiếc xe hơi Fiat đã được trả tiền thuê khi họ còn ở nước Anh, rồi sẽ lái xe qua những vùng đồi núi, tới pháo đài Byzantine cổ kính ở Selcuk vào buổi sáng, nối tiếp là lăng Diana vào buổi chiều nếu họ vẫn còn thời gian.
Sauk hi bữa ăn sáng đã được dọn đi và đã đánh răng, vợ chồng Roberts rời khu nhà nghỉ trước chín giờ vài phút. Trang bị chiếc phiếu thuê xe hơi và cuốn sách hướng dẫn du lịch, họ khởi hành hướng tới Gara Beyazik, nơi mà chiếc xe hơi được đặt trước đang đợi chờ họ. Họ rảo bước dọc theo những con phố nhỏ lát đá, ngang qua những ngôi nhà quét sơn trắng, tận hưởng những đợt gió biển, cho đến khi họ tới bên bờ vịnh. Ông Christopher đã trông thấy chiếc biển hiệu cả Gara Beyazik khi nó vẫn còn cách họ quãng chừng trăm mét phía trước.
Khi họ đi ngang qua những chiếc du thuyền tuyệt diệu thả neo dọc theo bờ cảng, họ cùng nhau kiêm tra quốc tịch của các lá cờ, cảm thấy không khác mấy những đưa “con cái” đang hoàn thành một bài kiểm tra địa lý.
“Ý, Pháp, Liberia, Panama, Đức. Không có nhiều tàu thuyền Anh,” Ông Christopher nói, nghe có vẻ yêu nước một cách bất thường. Ông luôn tỏ ra như vậy những lúc họ ra nước ngoài, bà Margaret nghĩ.
Bà Margaret nhìn chằm chặp vào dãy thân tàu bóng loáng xếp hàng như các xe buýt tại khu trung tâm Piccadilly trong giờ cao điểm: một vài chiếc thậm chí còn lớn hơn các xe buýt. “Tôi không biết liệu ai có thể trang trải cho sự xa xỉ như thế chứ?” bà hỏi và không chờ đợi câu trả lời nào.
“Ông bà Roberts, đúng không nhỉ?” một giọng nói vang lên từ phía sau lưng họ.
Hai người quay lại và thấy một bóng dáng quen thuộc. Ông ta bận một chiếc sơ mi và quần soóc trắng, đội một chiếc mũ trông chẳng khác viên thuyền trưởng đang vẫy vẫy họ từ mũi tàu của chiếc “Thần Ưng”, một trong những chiếc du thuyền lớn.
“Lên tàu đi, mấy vị,” Ông Kendall Hume sốt sắng nói, với một thái độ ra lệnh nhiều hơn là mời mọc.
Một cách miễn cưỡng, vợ chồng Roberts bước dọc theo những tấm ván cầu tàu.
“Nhìn xem ai đây này,” vị chủ nhân của họ hét xuống một cái lỗ lớn ở giữa con tàu. Lát sau, bà Kendall Hume xuất hiện từ phía dưới, mặc một tấm xà rông màu da cam trong mờ và một tấm bikini che ngực nhiều màu.
“Là ông bà Roberts – em có còn nhớ không, ở trường của thằng Malcolm đó.”
Kendall Hume quay lại đối mặt với đôi vợ chồng đang mất hết tinh thần. “Tôi không còn nhớ tên của các vị, còn tên của vợ tôi Melody và của tôi là Ray.”
“Chúng tôi là Christopher và Margaret,” Ông giáo nói khi họ bắt tay nhau.
“Hãy uống chút gì nhé? Rượu Gin, vodka hay?...”
“Ồ, không,” bà Margaret nói. “Xin cảm ơn nhiều, xin cho cả hai chúng tôi một ly cam vắt.”
“Cứ tự nhiên,” Kendall Hume bảo. “Các vị phải ở lại ăn trưa đấy nhé.”
“Nhưng chúng tôi không theerlamf phiền…”
“Tôi thực lòng mà,” Kendall Hume nói. “Vì chúng ta cùng đang đi nghỉ. Nhân tiện chúng tôi sẽ đi sang phía bên kia vịnh để ăn trưa. Có một bãi biển thiên thần ở bên đó, chúng ta có thể tắm nắng và bơi rất yên tĩnh.”
“Anh thật chu đáo quá,” ông Christopher bảo.
“Thế cậu bé Malcomlm đâu?” bà Margaret hỏi.
“Nó đang trong kỳ nghỉ hướng đạo ở Scotland, nó không thích lăn lộn trên tàu thuyền như chúng tôi.”
Lần đầu tiên ông Christopher nhớ ra là ông cũng cảm thấy có chút khâm phục nào đó đối với cậu bé. Lát sau động cơ nổ như sấm rền.
Trong chuyến du hành xuyên qua vịnh, Ray Kendall Hume trình bày chi tiết mớ lý thuyết của ông ta về “hãy quẳng gánh lo đi”. “Không có cái gì có thể đảm bảo sự riêng tư của chúng ta như một chiếc du thuyền, và chúng ta không phải dính dáng tới đám người trên kia.” Ông ta chỉ muốn những điều giản đơn của cuộc sống: ánh nắng, biển cả và một nguồn cung cấp vô tận thức ăn và đồ uống ngon lành.
Vợ chồng Roberts cũng chẳng hỏi thêm điều gì. Vào cuối ngày, cả hai người đều đang phải chịu đựng một cơn say nắng và cũng cảm thấy đôi chút say sóng. Cho dù đã được bà Melody cung cấp thoải mái các viên thuốc trắng, thuốc đỏ và thuốc vàng, cuối cùng, khi đã về lại được phòng mình đêm hôm đó, họ không tài nào ngủ được.
*
* *
 
0
Tránh mặt vợ chồng Kendal Hume trong suốt hai mươi ngày sau không phải dễ. Beyazik xưởng gara nơi họ thuê chiếc xe hơi nhỏ đợi họ vào buổi sáng và được đem trả lại vào mỗi tối, chỉ có thể đến được đó khi băng qua mảnh đất bên rìa cầu cảng, nơi chiếc du thuyền gắn mô-tơ của vợ chồng Kendall Hume thả neo, giống như một thanh barie không thể nào vượt qua tại một cuộc thi thể thao. Hầu như không có ngày nào là vợ chồng Robers không phải dành một phần thời gian quý báu của họ bập bềnh trên những con sóng lớn của bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, ăn những đồ ăn nhiều dầu và bàn bạc chuyện một tấm thảm phải to cỡ nào mới lấp đủ gian phòng tiền sảnh của gia đình Kendall Hume.
Mặc dù vậy, họ vẫn cố hoàn thành được phần lớn chương trình thăm quan cuarminhf và quyết tâm dành ra cả ngày cuối cùng của kỳ nghỉ để tìm bằng được một tấm thảm. Bởi vì họ không cần chiếc xe hơi Beyazik để đi vào thành phố, họ cảm thấy tin tưởng rằng ít nhất trong ngày hôm đó, họ có thể an toàn tránh được người tra tấn họ.
Vào buổi sáng cuối cùng, họ dậy muộn hơn một chút so với kế hoạch. Sau khi ăn sáng, họ cùng rảo bước xuống con đường nhỏ lát đá, ông Christopher cầm cuốn sách  tái bản lần thứ mười bảy “Những tấm thảm – thực tế và tưởng tượng”, bà Margaret thì cầm một cái thước dây và năm trăm bảng bằng séc du lịch.
Khi ông giáo và bà vợ tới khu chợ, họ bắt đầu xem xét xung quanh vo số các cửa hiệu nhỏ, băn khoăn không biết nên bắt đầu chuyến phiêu lưu từ đâu. Những người đàn ông đội mũ đuôi sao cố gắng mời chào họ vào cửa hiệu của mình, nhưng vợ chồng Roberst muốn dành tiếng đồng hồ đầu tiên đơn giản chỉ để làm quen với bầu không khí và khu chợ.
“Tôi đã sẵn sàng bắt đầu cuộc tìm kiếm rồi đây,” bà Margaret nói to át cả những tiếng rì rầm xung quanh.
“Thế thì chúng tôi tìm được các vị đúng lúc rồi,” một giọng nói họ nghĩ là đã thoát khỏi cất lên.
“Chúng tôi đang định…”
“Thế thì đi theo tôi.”
Trái tim của vợ chồng Roberts như đập chậm lại khi họ bị Ray ol Hume dẫn ra khỏi khu chợ và quay chở lại thành phố.
“Cứ tin tôi đi, chắc chắn các vị sẽ có một cuộc mặc cả tuyệt vời đấy.” Kendall Hume bảo đảm với cả hai. “Tôi đã nẫng được một số vật phẩm tuyệt mỹ thực sự từ mọi miền của thế giới với cái giá các vị không thể tin nổi đâu. Tôi vui sướng để các vị được hưởng lợi thế trọn gói từ những kiến thức tinh thông của tôi mà không tính thêm phụ phí đâu.
“Tôi không thể ngờ làm sao các vị lại chịu đựng được tiếng ồn ào và những mùi vị khó ngưởi của khu chợ đó,” bà Melody bảo, rõ ràng là mừng rỡ được quay trở lại với những dấu hiệu quen thuộc của Gucci, Lacoste và Saint Laurent.
“Chúng tôi thích…”
“Được giải thoát kịp thời nhé,” Ray Kendaal Hume nói. “Và tôi được biết cái nơi ta cần phải khởi hành và về đích, nếu ta muốn mua một tấm thảm nghiêm túc, là cửa hiệu Osman.
Bà Margarets nhớ lại cái tên đó từ cuốn sách về thảm: “Chỉ nên thăm viếng nếu như tiền bạc không phải là vấn đề, và bạn biết chính xác bạn đang tìm kiếm thứ gì.” Buổi sáng cuối cùng tối quan trọng xem chừng đi tong rồi, bà nghĩ khi đẩy cánh cửa kính to lớn của hiệu Osman để bước vào khu tầng trệt, có diện tích cỡ một sân đánh tennis. Căn phòng được che phủ bằng các tấm thảm: trên sàn, các bức tường, các bậu cửa sổ, và thậm chí là các mựt bàn. Bất cứ nơi đâu một tấm thảm có thể trải ra, thì đã có nó ở đó đế xem rồi. Cho dù vợ chồng Roberts nhận ran gay rằng, không có tấm thảm nào ở đây nằm trong tầm chi trả của họ, chỉ vẻ đẹp lộng lẫy, mê ly của cuộc trưng bày thôi cũng đã hớp hồn họ.
Bà Margaret chậm rãi bước quanh phòng, ghi nhớ trong đầu những đo đạc về những tấm thảm nhỏ để bà có thể tính toán trước loại hàng mà họ có thể tìm kiếm khi họ đã thoát khỏi chỗ này.
Một người đàn ông cao, dáng thanh nhã, đôi tay giơ cao như thể đang cầu nguyện và ăn vận hoàn hảo không chê vào đâu, trong bộ đồ sợi len, mà có thể do Savile Row cắt may, tiến lên chào đón họ.
0
“Xin chúc buổi sáng tốt lành, thưa quý ngài,” ông ta nói với Ông Kendall Hume, không mấy khó khăn chọn lựa ra người tiêu pha phóng khoáng. “Tôi có thể giúp được gì?”
‘Anh chắc chắn có thể giúp được đấy,” Kendall trả lời. “Toi muốn được xem những tấm thảm xin nhất của anh, nhưng tôi không định trả những cái giá xịn nhất của anh.”
Người bán hàng mỉm cười lịch thiệp và vỗ tay. Sáu tấm thảm nhỏ được bangwowif giúp việc mang vào, họ trả chúng ra giữa phòng. Bà Marjrgaret thấy yêu ngay một tấm với nền xanh dương thanh nhã, với những ô vuông đỏ nhỏ xíu dệt viền quanh thảm. Mẫu mã tinh xảo đến mức bà không thể nào rời mắt khỏi nó được. Bà đo tấm thảm vì thích thú: chính xác hai mét mốt khổ chín mươi.
“Bà có khiếu thẩm mỹ tuyệt vời, thưa bà,” người bán hàng nói. Bà Margaret, hơi đỏ mặt, nhanh chóng đứng dây, lùi ra sau mọt bước và giấu cái thước dây đằng sau lưng.
“Em cảm thấy cái lô này thế nào, cưng?” Kendall Hume hỏi, phẩy tay mọt cái qua sáu tấm thảm.
“Không có cái nào đủ lớn,” bà Melody trả lời, chỉ thoáng liếc qua chúng.
Người bán hàng vỗ tay lần thứ hai, những tám phẩm trưng bày được cuộn lại và đem đi khỏi đó. Bốn tấm lớn hơn nhanh chóng thế chỗ chúng.
“Các vị có muốn uống chút cà phê không?” người bán hàng hỏi ông Kendall Hume khi những tấm thảm mới đang nằm trả ra dưới chân họ.
“Không có thời gian,” Kendall Hume nói cụt lủn. “Đến đây để mua thảm. Nếu tôi muốn uống cà phê, tôi luôn có thể đến quán cà phê,” ông ta nói với tiếng cười khùng khục khoái trá. Bà Melody mỉm cười đồng lõa.
“À vâng, tôi muốn uống một chút cà phê,” bà Margaret nói, quyết định phản kháng đôi chút trong kỳ nghỉ.
“Rất hân hạnh, thưa bà,” ông bán hàng nói, và một người giúp việc đi khỏi để thực hiện yêu cầu của bà trong khi vợ chồng Kendall Hume nghiên cứu những tấm thảm mới.
Cà phê được mang đến sau giây lát. Margaret cảm ơn người giúp việc trẻ tuổi và bắt đầu nhấm nháp chầm chậm thứ dung dịch đen đậm đặc. Ngon tuyệt, bà nhigx, và mỉm cười thừa nhận với người bán hàng.
“Vẫn chưa đủ lớn,” Bà Kendall Hume khăng khăng nói. Ông bán hàng khẽ thở dài và lại vỗ tay lần nữa. Thêm một lần nữa, những người giúp việc bắt đầu cuộn lại những hàng hóa bị chối từ. Rồi ông ta nói với một trong những người nhân viên của mình bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Anh giúp việc này nhìn sư phụ mình đầy nghi haowcj nhưng ông bán hàng gật đầu dứt khoát, và vẫy tay bảo anh ta đi đi. Người giúp việc quay trở lại sau một thoáng, với một tiểu đội nhỏ những người giúp việc hạng thấp hơn, đem theo hai tấm thảm, cả hai tấm này, khi trải ra, choán gần hết toàn bộ sàn nhà. Bà Margaret không ưa chúng, thậm chí bằng những tấm mà bà vừa mới được cho xem, nhưng bởi vì không được  hỏi ý kiến, nên bà không nói gì.
“Có vẻ được hơn rồi đấy,” Ray Kendaal Hume bảo. “Có vẻ đúng cái kích cỡ của gian tiền sảnh, em bảo sao nhỉ, Melody?”
“Hoàn hảo,” bà vợ ông ta trả lời, không hề đo một cái nào
“Anh rất vui mừng chúng ta thống nhất,” Ray Kendall Hume bảo. “Nhưng mà tấm nào, hả cưng? Tấm đỏ và lam nhạt, hay tấm vàng và da cam rực rỡ?”
“Tấm vàng và da cam,” bà Melody nói không chút do dự. “Em thích kiểu cách những con chim màu sắc sặc sỡ chạy nhảy ở bên ngoài.”
Ông Christopher nghĩ ông ta trông thấy người bán hàng nhăn mặt.
“Vậy thì tất cả việc còn lại chúng ta phải làm bây giờ là thống nhất một cái giá,” Kendall Hume nói. “Tốt honwn em nên ngồi xuống, cưng à, bởi vì có thể mất một lúc đó.”
“Em hy vọng là không,” Bà Kendall Hume bảo, cương quyết cứ đứng. Vợ chồng Roberts vẫn yên lặng.
“Thật không may, thưa ngài,” người bán hàng bắt đầu, “Bà vợ ngài đã lựa chọn một trong số những tấm thảm đẹp nhất trong bộ sưu tập của chúng tôi, và do đó, tôi sợ rằng sẽ không thể điều chỉnh lại giá nhiều được nữa.”
“Bao nhiêu?” Kendall Hume nói.
“Ngài thấy đấy, thưa ngài, tấm thảm này được dệt ở Demirdji, tỉnh Izmir, do hơn một trăm người thợ dệt dệt và họ phải mất hơn một năm để hoàn thành nó.
“Đừng nói với tôi cái chuyện vớ vẩn đó,” Kendall Hume nói, nhấm nháy mắt với Christopher. “Hãy chỉ cho tôi biết tôi phải trả bao nhiêu đây.”
“Tôi cảm thấy là trách nhiệm của tôi phải chỉ ra, thưa ngài, rằng tấm thảm này không nên có mặt ở đây chút nào,” Người Thổ nói buồn rầu ai oán. “Nó ban đầu được làm ra cho một ông hoàng Ảrập. Ông ta đã không thể mua nó khi giá dầu sụt giảm.”
“Thế nhưng chắc ông ta đã đồng ý với một cái giá vào lúc đó chứ hả?”
“Tôi không thể tiết lộ con số chính xác, thưa ngài. Tôi thấy bối rối khi nêu nó lên.”
“Nó không làm tôi bối rối,” Kendall Hume nói. “Thôi nào, nói đi, giá bao nhiêu?” ông ta khăng khăng vặn hỏi.
“Ngài muốn mua bằng tiền loại nào?” Người Thổ hỏi.
“Đồng bảng”
Người bán hàng lấy ra một chiếc máy tính mỏng từ trong túi áo jacket, nhập mấy con số vào đó, rồi buồn rầu nhìn về phía vợ chồng nhà Kendall Hume.
Ông Christopher và bà Margaret vẫn giữ im lặng, giống như những đứa học trò sợ hãi ông thầy hiệu trưởng có thể vặn hỏi chúng một câu hỏi mà chúng không thể nào biết câu trả lời.
“Nào, nhanh nào, anh muốn bao nhiêu?”
“Tôi nghĩ ngài chắc phải chuẩn bị cho mình một cú sốc, thưa ngài,” người bán hàng nói.
“Bao nhiêu?” Kendall Hume sốt ruột nhắc lại.
“Hai mươi lăm ngàn.”
“Bảng?”
“Bảng.”
“Chắc anh đang đùa hả,” Kendall Hume nói, đi vòng quanh tấm thảm và sau cùng đứng bên cạnh bà Margaret. “Các vị sẽ biết được nguyên nhân tại sao tôi lại được coi là người chặt chẽ trong ngành buôn bán ô tô vùng trung du miền Đông,” ông ta nói khẽ với bà. “Tôi sẽ không trả quá mười lăm ngàn cho tấm thảm kia.” Ông ta quay lại để giáp mặt với người bán hàng. “Ngay cả khi cuộc sống của tôi phụ thuộc vào nó.”
 
0
“Vậy thì tôi e rằng thời gian của ngài đã bị phí hoài, thưa ngài,” người Thổ trả lời. “Bởi vì đây là một tấm thảm chủ ý chỉ dành cho những người sành điệu. Có thể quý bà sẽ xem xét tấm đỏ và lam chứ?”
“Chắc chắn là không,” Kendell Hume nói. “Màu sắc của nó phai nhạt hết rồi. Anh không thấy sao? Rõ ràng anh đã để nó trên cửa sổ quá lâu, và mặt trời đã tác động đến nó. Không được, anh sẽ phải xem xét lại giá cả của anh nếu anh muốn cái tấm da cam và vàng được kết thúc ở ngôi nhà của một tay sành chơi.”
Người bán hàng thở dài khi các ngón tay ông ta bấm bấm lại vào chiếc máy tính.
Trong lúc cuộc mua bán vẫn tiếp diễn, bà Melody lơ đãng, thỉnh thoảng nhìn ra ngoài khung cửa sổ về phía vịnh.
“Tôi không thể bớt một xu dưới hai mươi ba ngàn bảng.”
“Tôi sẽ sẵn lòng tăng lên tới mười tám ngàn,”Kendall Hume nói, “nhưng không thêm một xu nữa đâu.”
Vợ chồng nhà Roberts dõi theo người bán hàng nhấn số vào chiếc máy tính.
“Số tiền đó thậm chí chưa đủ cho chi phí mà chính tôi đã phải trả cho nó,” ông ta nói với vẻ đáng tiếc, nhìn chằm chặp xuống các con số đang sáng ánh lên.
“Anh đang ép tôi đấy, nhưng đừng có đi quá xa nhé. Mười chín ngàn,” Kendall Hume bảo. “Đó là con số cuối cùng tôi đưa ra đó.”
“Hai mươi ngàn bảng là con số thấp nhất mà tôi có thể xem xét,” người bán hàng trả lời. “Một cái giá cho đi, thề trên mộ mẹ tôi đó.”
Kendall Hume móc chiếc ví ra và đặt nó lên mặt bàn bên phía người bán hàng.
“Mười chín ngàn bảng và anh đã giành được cho mình một vụ làm ăn rồi đó,” ông ta bảo.
“Thế thì làm sao tôi nuôi được các con tôi đây?” người bán hàng nói, hai cánh tay ông ta giơ lên cao quá đầu.
“Cũng giống y như tôi nôi các con tôi vậy thôi,” Kendall Hume nói, cười to. “Bằng cách làm ra một lợi nhuận kha khá.”
Người bán hàng tạm dừng lời như thể đang suy tính lại, rồi nói. “Tôi không thể làm thế được, thưa ngài. Tôi xin được thứ lỗi. Chúng tôi phải cho các vị xem những tấm thảm khác vậy.” Những nhân viên giúp việc tiến lên trước theo hiệu lệnh.
“Không được, đó là tấm mà tôi muốn,” Bà Kendall Hume bảo. “Đừng cãi cọ vì một ngàn bảng, cưng à.”
“Hãy tin lời tôi nói, thưa quý bà,” người bán hàng nói, quay sang bà Kendall Hume. “Cả nhà tôi sẽ chết đói nếu như chúng tôi chỉ bán cho những khách hàng giống như đấng phu quân của quý bà.”
“OK, anh có hai mươi ngàn bảng, nhưng với một điều kiện.”
“Điều kiện?”
“Hóa đơn của tôi phải được ghi thanh toán là mười ngàn bảng. Nếu không, tôi sẽ phải trả chênh lệch thuế hải quan.”
Người bán hàng cúi thấp đầu, cứ như thể tỏ ra rằng ông ta không thấy yêu cầu này lạ lùng chút nào.
Ông Kendall Hume mở ví và rút ra mười ngàn bảng bằng séc du lịch và mười ngàn bảng tiền mặt.
“Như anh thấy đấy,” ông ta bảo, cười rạng rỡ, “Tôi đến đã có chuẩn bị sẵn sàng.” Ông ta rút ra thêm năm ngàn bảng nữa và vẫy vẫy tập tiền trước mặt người bán hàng, tiếp lời, “và tôi đã có thể vui lòng trả nhiều hơn nữa.”
Người bán hàng nhún vai. “Ngài mặc cả chắc quá, thưa ngài. Thế nhưng ngài sẽ không phải nghe tôi phàn nàn đâu, giờ đây vụ mua bán đã thỏa thuận xong.”
Tấm thảm khổng lồ được bó và gói ghém lại, một hóa đơn mười ngàn bảng được viết khi những tấm séc du lịch và tiền mặt được trả.
Vợ chồng nhà Roberts đã không thốt lên một tiếng nào trong hai mươi phút vừa qua. Khi họ thấy số tiền được đổi chủ, trong đầu bà Margaret hiện lên ý nghĩ rằng khoảng tiền này nhiều hơn cả hai vợ chồng họ kiếm được trong một năm.
“Đã đến giờ quay lại du thuyền,” Kendall Hume nói. “Hãy nhớ nhập bọn với chúng tôi ăn trưa nếu các vị chọn được một tấm thảm đúng giờ.”
“Xin cảm ơn anh,” Vợ chồng nhà Roberts đồng thanh. Họ đợi cho vợ chồng nhà Kendall Hume đi khuất, hai người giúp việc khiêng tấm thảm da cam và vàng đi theo sau, rồi mới cảm ơn người bán hàng vì tách cà phê và lần lượt đi về phía cửa.
0
“Các vị đang tìm kiếm loại thảm như thế nào?” người bán hàng hỏi.
“Tôi e rằng giá của ông vượt tầm chúng tôi quá xa,” ông Christopher nói lịch thiệp. “Nhưng dù sao cũng xin cảm ơn.”
“À vâng, ít nhất hãy để tôi tìm hiểu. Ông hoặc vợ ông đã nhìn thấy một tấm nào mà các vị ưa thích chưa?”
“Có,” bà Margaret trả lời, “tấm thảm nhỏ, thế nhưng mà… »
“À vâng,” người bán hàng bảo. “Tôi nhớ được ánh mắt của quý bá khi trông thấy tấm thảm Hereke.”
Ông ta bỏ lại họ ở đó, giây lát sau quay lại với tấm thảm màu nhã, nền xanh dương với những ô vuông bé nhỏ mà vợ chồng nhà Kendall Hume đã kiên quyết từ chối. Không chờ được giúp đỡ, ông ta tự mình trải nó ra để cho vợ chồng nhà Roberts xem xét kỹ lưỡng hơn.
Bà Margaret nghĩ nó thậm chí còn đẹp lộng lẫy hơn nữa trong lần thứ hai này và e rằng mình không thể hy vọng tìm được tấm nào sánh ngang với nó trong một vài giờ còn lại của họ.
“Thật hoàn hảo,” bà thừa nhận không hề e ngại.
“Vậy thì chúng ta chỉ còn phải bàn bạc về giá cả thôi,” ông bán hàng nói tử tế. “Các quí vị định tiêu bao nhiêu, thưa bà?”
“Chúng tôi đã có kế hoạch tiêu ba trăm bảng,” ông Christopher nói xen vào. Bà Margaret không thể giấu nổi sự ngạc nhiên của mình.
“Nhưng mà chúng ta đã đồng ý…” bà ta bắt đầu nói.
“Em yêu, anh nghĩ anh sẽ xử lý vấn đề này.”
Ông bán hàng mỉm cười và quay lại với việc thỏa thuận giá cả.
“Tôi sẽ phải tính với các vị sáu trăm bảng,” ông ta bảo. “Thấp hơn một tý nào sẽ là sự cướp đoạt.”
“Bốn trăm bảng là giá cuối cùng của tôi,” ông Christopher cố gắng nói bình tĩnh.
“Năm trăm bảng là giá sàn của của tôi đấy,” người bán hàng nói.
“Tôi mua nó!” ông Christopher kêu lên.
Một người giúp việc bắt đầu vẫy vẫy đôi cánh tay và nói rất to với người bán hàng bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Người chủ cửa hiệu giơ một bàn tay lên để phủ nhận những lời phản đối của anh thanh niên trong khi vợ chồng nhà Roberts sốt ruột dõi theo.
“Thằng con trai tôi,” người bán hàng giải thích, “không vui với giá cả như thế, nhưng tôi sung sướng khi biết rằng cái tấm thảm nhỏ này sẽ ở trong ngôi nhà của những người rõ ràng sẽ biết thưởng ngoạn giá trị thực của nó.”
“Xin cảm ơn,” ông Christopher nói khẽ.
“Các vị cũng sẽ yêu cầu một tấm hóa đơn với giá tiền khác đi chứ?”
“Không đâu, xin cảm ơn,” Christopher nói, đưa ra mười tờ giấy bạc năm mươi bảng rồi chờ đợi cho đến khi tấm thảm được bọc lại và ông ta nhận được tấm hóa đơn ghi đúng số tiền như vậy.
Người bán hàng dõi theo đôi vợ chồng nhà Roberts rời khỏi cửa hiệu, giữ chặt lấy món hàng mới mua được, người bán hàng mỉm cười một mình.
Khi họ tới được cầu cảng, con tàu của vợ chồng nhà Kendall Hume đã đi tới giữa vịnh, hướng tới bãi biển yên tĩnh. Vợ chồng nhà Roberts cùng thở phào nhẹ nhõm và quay trở lại khu chợ để ăn trưa.
 
*
* *
0
Đúng vào lúc họ đang chờ hành lý của mình xuất hiện trên băng chuyền tại sân bay Heathrow thì ông Christopher cảm thấy một cái vỗ nhẹ vào vai. Ông ta quay người lại đối mặt với ông Ray Kendaal Hume đang cười tươi như hoa.
“Không hiểu anh có thể giúp tôi một việc không, bạn mến?”
“Tôi sẽ làm nếu tôi có thể làm được,” ông Christopher nói, vẫn chưa hết hoàn hồn sau cuộc gặp gỡ cuối cùng của họ.
“Việc cũng đơn giản thôi,” Kendaal Hume bảo. “Tiểu thư già nhà tôi và tôi mang quá nhiều tặng phẩm về và tôi không biết liệu anh có thể mang một trong những món đồ đó qua hải quan được không. Nếu không chúng tôi chắc phải bị mắc kẹt lại cả đêm ở đây mất.”
Bà Melody, đang đứng đằng sau một chiếc xe đẩy chở va li chất nặng đầy, mỉm cười độ lượng với hai người đàn ông.
“Anh sẽ vẫn phải trả bất cứ khoản tiền thuế nào đánh vào món đồ đó,” ông Christopher quả quyết.
“Tôi sẽ không làm gì khác đâu,” Kendall Hume nói, vật lộn với một gói đồ lớn rồi đẩy nó lên chiếc xe đẩy của vợ chồng nhà Roberts. Ông Christopher muốn lên tiếng phản đối khi Kendall Hume lấy ra hai ngàn bảng và đưa số tiền đó cùng tấm hóa đơn cho ông giáo.
“Chúng tôi phải làm thế nào nếu như họ bảo tấm thảm của anh có giá trị lớn hơn mười ngàn bảng rất nhiều?” bà Margaret lo lắng hỏi, đến đứng bên cạnh ông chồng của bà.
“Cứ trả bù đi rồi tôi sẽ trả lại cho các vị ngay tắp lự. Nhưng mà tôi cam đoan với các vị là điều đó rất khó xẩy ra.”
“Tôi hy vọng là ông đúng.”
“Tất nhiên là tôi đúng mà,” Kendall Hume nói. “Đừng ngại, tôi đã từng làm những việc kiểu như thế này trước kia rồi. Và tôi sẽ không quên sự giúp đỡ của các vị trong buổi lạc quyên năm học tới,” ông ta nói thêm, bỏ họ lại với gói đồ khổng lồ.
Khi ông Christopher và bà Margaret nhận được những chiếc túi hành lý của họ, họ lấy thêm chiếc xe đẩy thứ hai và đứng xếp hàng trước tấm biển đỏ “Hàng hóa phải khai”.
“Các vị có mặt hàng nào trị giá trên năm trăm bảng không?” anh nhân viên hải quan trẻ lịch thiệp hỏi.
“Có,” ông Christopher nói. “Chúng tôi mua hai tấm thảm trong kỳ nghỉ của chúng tôi ở Thổ Nhĩ Kỳ.” Ông ta xuất trình hai tấm hóa đơn biên nhận.
Anh nhân viên hải quan xem các hóa đơn kỹ lưỡng, sau đó xin phép được tự mình xem xét những tấm thảm.
“Chắc chắn rồi,” ong Christopher nói, và bắt đầu công việc tháo dỡ các gói dồ lớn trong lúc bà Margaret làm việc với gói đồ nhỏ hơn.
“Tôi sẽ cần phải để một chuyên gia xem xét những tấm thảm kia,” anh nhân viên hải quan nói khi những gói đồ được cởi bỏ vỏ bọc. “Sẽ không mất quá mấy phút đồng hồ đâu.” Những tấm thảm nhanh chóng được mang đi chỗ khác.
“Mấy phút” đó biến thành hơn mười lăm phút, ông Christopher và bà Markaret sớm cảm thấy hối tiếc về qyết định giúp đỡ vợ chồng nhà Kendall Hume, bất kể nhu cầu về cuộc lạc quyên năm học mới có cần kíp đến đâu. Họ bắt đầu sa đà vào những chuyện vặt vãnh không đáng và nó không thể qua mắt được những thám tử cho dù là nghiệp dư nhất.
Sau cùng anh nhân viên hải quan quay trở lại.
“Tôi không biết liệu ông bà có thể trao đổi riêng đôi lời với người đồng nghiệp của tôi không?” anh ta hỏi.
“Cái đó có thực sự cần thiết hay không?” ông Christopher hỏi, mặt đỏ lựng lên.
“Tôi e là cần thiết, thưa ngài.”
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-04-27 10:47:07Ct.Ly>
“Tôi e là cần thiết, thưa ngài.”
“Chúng ta lẽ ra đã không nên đồng ý ngay từ ban đầu,” bà Margaret thầm thì. “Trước đây chúng ta chưa bao giờ gặp phải phiền phức với chính quyền bao giờ.”
“Đừng nói nữa, cưng à. Rồi mọi việc sẽ đâu vào đấy, chỉ mấy phút nữa thôi, bà sẽ thấy,” ông Christopher bảo, không tin chắc vào lời nói của chính mình. Họ đi theo người trẻ tuổi đi ra ngoài về phía đằng sau tòa nhà và bước vào một căn phòng nhỏ.
“Xin chức một ngày tốt lành, thưa ngài,” một người đàn ông tóc bạch kim, với mấy chiếc vòng vàng đeo quanh cổ tay áo, lên tiếng. “Tôi xin được thứ lỗi vì để các quí vị phải chờ đợi, nhưng viên chuyên gia của chúng tôi xem xét những tấm thảm của quý vị và ông ta cảm thấy chắc chắn đã có một sự nhầm lẫn.”
Ông Christopher muốn lên tiếng phản đối nhưng không thể thốt lên một lời nào.
“Một sự nhầm lẫn ư?” bà Margaret cố gắng thốt lên.
“Vâng, thưa bà. Những hóa đơn mà quý vị xuất trình chẳng có nghĩa lý gì đối với ông ta.”
“Không có nghĩa lý gì sao?”
“Không, thưa bà,” viên quan chức hải quan cao cấp nói. “Tôi nhắc lại, chúng tôi cảm thấy chắc chắn đã xảy ra một sự nhầm lẫn.”
“Nhầm lẫn gì vậy?” ông Christopher hỏi, sau cùng đã lấy lại được sự bình tĩnh.
“À, vâng, quý vị đã khai báo hai tấm thảm, một tấm giá là mười ngàn bảng, và tấm kia có giá là năm trăm bảng, theo những tấm hóa đơn kia.”
“Thì sao?”
“Hàng năm, có hàng trăm người quay trở về nước Anh với những tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ, do đó chúng tôi có những kiến thức nhất định về những vấn đề này. Ông cố vấn của chúng tôi thấy chắc chắn rằng các hóa đơn biên nhận đã bị làm sai.
“Tôi chưa hiểu mô tê gì hết…” ông Christopher nói.
“Thế này,” viên quan chức cao cấp giải thích, “tấm thảm lớn, chúng tôi tin chắc là nó đã được dệt với một con quay kéo sợi thô và chỉ có hai trăm mối, hay nút chỉ, trong một inh sơ vuông. Nên dù với kích cỡ lớn của nó, chúng tôi chỉ dự đoán giá trị của nó tầm năm ngàn bảng. Tấm thảm nhỏ, chúng tôi tính nó có chín trăm nút chỉ trong một inh sơ vuông, và là một ví dụ tinh xảo của thảm lụa dệt thủ công Hereke giàu truyền thống và chắc chắn có giá trị năm ngàn bảng. Bởi vì cả hai tấm thảm này đều từ cùng một cửa hiệu, chúng tôi cho là chắc có một sự nhầm lẫn nào đó trong việc ghi hóa đơn.”
Vợ chồng nhà Roberts vẫn không thốt lên lời.
“Nó sẽ khôgn tạo ra bất cứ thay đổi nào về số tiền thuế mà ông bà sẽ phải trả, thế nhưng chúng tôi thấy chắc chắn là ông bà muốn biết, vì những mục đích bảo hiểm ấy mà.”
Vợ chồng nhà Roberts vẫn không nói gì.
“Bời vì các vị được miễn trừ năm trăm bảng không phải trả thuế, số tiền thuế nội địa sẽ vẫn là hai ngàn bảng.”
Ông Christopher nhanh chóng đưa ra tập giấy bạc của vợ chồng nhà Kendall Hume. Viên hải quan cao cấp đếm số giấy bạc trong khi anh nhân viên dưới quyền của ông ta bọc lại hai tấm thảm.
“Xin cảm ơn các anh,” ông Christopher nói, khi họ được trao lại những kiện hàng hóa và hóa đơn biên nhận hai ngàn bảng vừa rồi.
Vợ chồng nhà Roberts nhanh chóng tống cái kiện hàng lớn lên chiếc xe đẩy fooif đẩy xe đi qua gian phòng đợi lớn của sân bay và ra tới vỉa hè bên ngoài, nơi vợ chồng nhà Kendaal Hume đang sốt ruột chờ đợi họ.
“Các vị ở trong đó thật là lâu,” Kendall Hume nói. “Có vấn đề gì không?”
“Không, họ chỉ đánh giá giá trị của những tấm thảm thôi.”
“Có chi phí phụ trội nào không?” Kendall Hume hỏi lo lắng.
“Không, hai ngàn bảng của anh chị đã trang trải tất cả mọi thứ,” ông Christopher nói, đưa ra cái biên lai.
“Vậy là chúng ta thoát rồi, bạn thân mến. Tuyệt quá. Một vụ mua bán quá tuyệt cộng thêm vào bộ sưu tập của tôi.” Kendall Hume xoay người để ấn cái kiện hàng khệ nệ vào trong cốp chiếc xe hơi Mercedes của mình, rồi khóa cốp xe lại và ngồi vào ghế sau tay lái. “Được lắm,” ông ta nhắc lại qua cánh cửa sổ mở, khi chiếc xe lao vút đi. “Tôi sẽ không quên dịp lạc quyên của trường học đâu.”
Vợ chồng nhà Roberts đứng và dõi theo chiếc xe màu xám bạc nhập vào dòng xe hơi rời phi trường.
“Tại sao anh không bảo cho ông Kendall Hume biết giá trị thực tấm thảm của ông ta?” Bà Margarets hỏi khi họ đã ngồi trên chiếc xe buýt.
“Anh đã suy nghĩ khá kỹ, nhưng anh rút ra kết luận rằng sự thật là điều cuối cùng Kendall Hume muốn được nghe.”
“Nhưng anh không cảm thấy một chút tội lỗi nào sao? Suy cho cùng, chúng ta đã phỗng tay trên…”
“Không tí nào đâu, em yêu. Chúng ta chẳng phỗng tay trên cái gì cả. Thế nhưng chúng ta đã vớ được “món hời” trời ơi chứ sao nữa.”
 
HẾT
 

Đã đem đến chương này
0
DANH DỰ GIỮA NHỮNG TÊN ĐẠI BỊP
 
Lần đầu tiên tôi gặp Sefton Hamilton là vào dịp cuối tháng tám năm ngoái, lúc đó vợ chồng tôi đang ăn tối với vợ chồng anh Henry và chị Suzanne Kennedy tại ngôi nhà của anh chị trên đường Quảng trường Warwick.
Hamilton là một trong số những người kém may mắn, được thừa hưởng vô số của cải, nhưng chỉ có thế. Anh ta nhanh chóng thuyết phục chúng tôi rằng anh ta có ít thời gian để đọc sách và không có thời gian để đi nhà hát, hay xem nhạc kịch. Tuy nhiên, điều đó không hề gây cản trở cho anh ta có nhiều những ý kiến bàn luận về mọi chủ đề, từ Shaw đến Pavarotti, từ Gorbachev cho tới Picasso. Chẳng hạn, anh ta luôn cho rằng những người thất nghiệp chẳng có điều gì mà phải phàn nàn bởi vì khoản trợ cấp của họ chỉ thấp hơn chút ít so với số tiền mà anh ta đang trả cho những người lao động trong trang trại của mình. Hamilton khẳng định với chúng tôi rằng họ chỉ tiêu nó vào bingo (một loại cờ bạc) và nhậu nhẹt mà thôi.
Bữa tiệc đã cho tôi làm quen với một vị khách khác của buổi tối hôm đó – ông Freddie Barker – chủ tịch Hiệp hội rượu vang, ông ta ngồi đối diện với vợ tôi, và không giống với Hamilton, ông ta chẳng nói gì nhiều. Trước đó, anh Henry đã quả quyết với tôi trên điện thoại rằng Barker không những đưa được Hiệp hội trở lại sự phồn thịnh về tài chính, mà còn được thừa nhận là một tên tuổi hàng đầu trong lĩnh vực chuyên môn của ông ta. Do vậy, tôi chờ đợi để cóp nhặt những mẩu kiến thức hữu ích và bất cứ khi nào Barker xen vào một lời nào đó, ông ta chỉ để lộ vừa đủ kiến thức về đề tài đang được thảo luận. Tôi tin chắc rằng ông ta sẽ là người rất thú vị nếu Hamilton chỉ cần im lặng đủ lâu để cho ông ta nói.
Trong lúc bà chủ nhà dọn ra món khai vị, thì món súp rau chân vịt tan biến trong miệng các thực khách, anh Henry đi vòng quanh bàn, rót cho mỗi người chúng tôi một ly rượu vang.
Bakrker hít hà ly rượu đầy tán thưởng: “Thật thích hợ cho dịp lễ kỷ niệm hai trăm năm này, và chúng ta đang được uống thứ Chablis của Australia với niên hiệu tuyệt vời đến thế. Tôi dám chắc rằng những thứ vang trắng của họ sẽ làm cho người Pháp bắt đầu nhìn vào cành nguyệt quế vinh quang của mình.”
“Rượu vang Australia hả?” – Hamilton ngỡ ngàng rồi đặt ly rượu xuống – “Làm thế nào mà một dân tộc toàn những gã nốc bia hiểu được cái mô tê gì để chế ra được một thứ rượu vang gọi là tạm chấp nhận được cơ chứ?”
“Tôi nghĩ là anh sẽ thấy” – Barker bắt đầu – “rằng những người Australia…”
“Đúng thực là Lễ kỷ niệm hai trăm năm rồi!” – Hamilton tiếp tục – “Nhưng hãy nhìn thẳng vào sự thật là chúng nó chỉ đang tổ chức ăn mừng hai trăm năm tại ngoại thôi.” Không ai cười ngoại trừ Hamilton. “Tôi vẫn cứ đóng gói gửi tất tật lũ tội phạm còn lại của chúng ta sang bên ấy, chỉ cần cho tôi một nửa cơ hội thôi.”
Không ai nói gì.
Hamilton ngập ngừng nhấm nháp chút rượu vang, giống như một người đang sợ sắp sửa bị đầu độc. Rồi anh ta bắt đầu giải thích lý do tại sao, theo quan điểm của mình, những vị quan tòa lại quá khoan dung, độ lượng với những kẻ tội phạm vặt vãnh…
Tôi thấy mình tập trung nhiều vào đồ ăn hơn là vào dòng chảy liên miên của anh chàng này.
Tôi hay thưởng thức món bò Wellington, chị Suzanne có thể nấu món bít tết không hề bị nhão khi cắt, và miếng bít tết mới mềm mại làm sao, đến mức khi người ta đã dùng xong một suất, thì Oliveer Twist hiện lên ở trong đầu. Điều này chắc chắn giúp tôi chịu đựng được cái điệu bộ tinh tướng của Hamilton. Barker thì đang cố gắng đưa ra một sự đánh giá tán thưởng chất lượng rất tốt của rượu vang đỏ với anh Henry, xen vào giữa những dòng quan điểm của Hamilton về những thời cơ của Paddy Ashdown nhằm phục hưng đảng Tự do, vai trò của Arthur Scargill trong phong trào nghiệp đoàn và không cho ai một cơ hội nào để trò chuyện.
0
“Tôi không cho phép các nhân viên của tôi tham gia vào bất cứ nghiệp đoàn nào,” – Hamilton tuyên bố, gằn ly rượu xuống – “Tôi kinh doanh một cửa hiệu “đóng cửa”. Anh ta lại cười hô hố tán thưởng câu nói đùa của chính mình và nâng cao chiếc cốc rỗng lên không trung, cứ như thể rồi nó sẽ được rót đầy bời phép màu nhiệm. Thực tế thì Henry cũng đã rót đầy nó với sự ý nhị đủ để khiến Hamilton phải xấu hổ – nhưng anh ta không nhận ra được điều đó. Trong phút tạm ngừng ngắn ngủi đó, vợ tôi nói rằng có lẽ phong trào nghiệp đoàn đã ra đời để đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội.
“Đó là một điều nhảm nhí, thưa bà,” – Hamilton bật lên – “Hãy đặc biệt lưu ý điều này, các nghiệp đàon đã và đang là những nhân tố đơn lẻ quan trọng nhất trong sự suy sụp của nước Anh. Như chúng ta thấy đấy, họ không hề quan tâm đến bất cứ ai ngoại trừ chính họ. Các vị chỉ cần nhìn vào gã Ron Todd và toàn bộ vụ thất bại của Ford thì sẽ thấy ngay điều đó.”
Chị Suzanne bắt đầu thu dọn bát đĩa và tôi nhận thấy chị tìm cách thúc cho Henry một khuỷu tay, và anh ấy lập tức thay đổi đề tài.
Lát sau, một chiếc bánh hoa đường mâm xôi phủ nước sốt khá đặc biệt được bưng ra. Thật đáng tiếc nếu phải cắt một tuyệt phẩm như thế, nhưng chị Suzanne khéo léo chia nó thành sáu phần đẹp mắt như một bà vú em chia phần cho lũ trẻ nhỏ. Trong lúc đó thì anh Henry bật nắp một chai Sauternes 1981. Barker liếm môi chờ đợi
“Còn một điều nữa,” Hamilton nói – “Thủ tướng đã có quá nhiều những nhân vật hỉ mũi chưa sạch trong nội các của bà ta, điều này làm tôi không thể chịu đựng nổi.”
“Thế anh định thay thế họ bằng ai đây?” Barker ngây thơ hỏi.
Danh sách mà quý ông Hamilton tiến cử cho thấy việc sát hại những con người vô tội chỉ đơn thuần là một việc làm mở rộng của chương trình chăm sóc trẻ em.
Một lần nữa, tôi trở nên hứng thú hơn với tài nấu nướng của chị Suzanne, đặc biệt lúc này chì đã dành cho tôi một điều thú vị: món cuối cùng là món ho mát Chđả được dọn ra làm món tráng miệng. Vừa nến, tôi biết ngay là nó được mua từ trang trại của an hem nhà Alvis ở Keynsham. Tất cả mọi người chúng ta đều phải hiểu biết sâu về một cái gì đó, và pho mát Cheddar là chuyên môn của tôi.
Để đi với món pho mát, anh Henry lấy ra một loại rượu bordeau, được dự tính là món nổi bật nhất của tôi hôm đó. “Sandeman 1970”, - Henry nói, kéo riêng Barker sang một bên khi anh rót những giọt đầu tiên vào chiếc cốc của nhà chuyên gia.
“Vâng, tất nhiên rồi,” – Barker nói, nâng ly lên đặt trước mũi – “Tôi sẽ nhận ra nó ở bất cứ đâu. Độ ấm áp đặc trưng của Sandeman như là có một cơ thể thực. Tôi hy vọng anh đã chôn di một ít rồi, anh henry à,” – ông ta nói thêm – “Anh sẽ lại thưởng thức nó thậm chí còn hứng thú hơn nữa khi anh về gài đấy.”
“Anh nghĩ anh là một chuyên gia về rượu vang, phải không nào?” Hamilton nói, câu hỏi đầu tiên mà anh ta hỏi trong suốt cả buổi tối.
“Cũng không hoàn toàn như vây,” – Barker nói – “Nhưng mà tôi…”
“Anh, chỉ là một loại bìm bịp, cùng tất tật những loại người như anh,” Hamilton lắp bắp. “Anh hít và anh lắc, anh nếm rồi anh khạc, rồi anh phụ ra một đống bầy nhầy, bạc nhạc và trông đợi chúng tôi nuốt trôi cái đó. Cơ thể với hơi ấm cái cóc khô gì. Anh nghĩ có thể lừa tôi dễ vậy sao.”
“Chẳng ai hơi đâu làm thế,” Barker nói hơi bực tức.
“Anh đã làm điệu bộ với chúng tôi suốt cả buổi tối hôm nay,” – Hamilton trả lời, - “Với cái câu của miệng của anh ‘Vâng, tất nhiên rồi, tôi sẽ nhân ra nó ở bất cứ nơi đâu’. Thôi nào, thừa nhận đi.”
“Tôi không có ý đó… Barker thêm.
“Tôi sẽ chứng minh điều đó, nếu anh thích,” Hamilton bảo.
Cả năm người chúng tôi nhìn chòng chọc vào vị khách khiếm nhã. Và, lần đầu tiên trong buổi tối hôm đó, tôi tự hỏi không biết sẽ xảy ra điều gì nữa đây.
“Tôi đã được nghe nói,” Hamilton tiếp lời, “Rằng lâu đài Sefton Hall lấy làm kiêu hãnh về một trong những hầm rượu vang ngon nhất ở nước Anh. Nó được cha tôi và ông nội tôi gây dựng nên. Mặc dù tôi thừa nhận là không có thời gian để kế thừa truyền thống đó.” – Barker gật gù – “Nhưng mà người quản gia của tôi biết chính xác tôi thích thứ gì. Do đó, tôi xin mời ngài, thưa ngài, đến chỗ tôi thưởng thức bữa trưa vào ngày thứ bảy tuần sau nữa, khi đó tôi sẽ đưa ra bốn loại rượu vang thuộc loại danh tiếng nhất để các vị xem xét. Và tôi xin đặt cược,” – anh ta nhìn thẳng vào Barker nói thêm – “Năm trăm bảng ăn năm mươi bảng một chai. Xét tỉ lệ ăn thua, tôi tin chắc ngài sẽ đồng ý, rằng ngài sẽ không tài nào gọi đúng tên một chai nào.” Anh ta nhìn chòng chọc đầy thách thức vào vị chủ tịch Hiệp hội rượu vang danh tiếng.
“Số tiền đó quá lớn, tôi không thể không xem xét…”
“Không sẵn lòng chấp nhận thách thức à, ngài Barker? Thế thì ngài là, thưa ngài, một tên hèn nhát cũng như một tên bịp bợm.”
Một phút nặng nề trôi qua, Barker trả lời, “Sẽ như ngài mong đợi, thưa ngài. Có vẻ tôi không còn cơ hội nào khác ngoại việc phải chấp nhận lời thách thức của ngài.”
Một nụ cười thỏa mãn hiện lên trên khuôn mặt người kia. “Anh phải đi cùng như một nhân chứng, anh Henfy à,” – Hamilton bảo, quay sang vị chủ nhà – “Và tại sao anh không kéo theo cả cái ông tác giả Ký thật kia? – anh ta chỉ tay vào tôi nói thêm – “Đến lúc đó anh ta sẽ thực sự có cái gì đó để mà thay đổi cách viết đi một chút.”
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-05-03 08:53:13khachxa>
Xét thái độ của Hamilton thì rõ ràng là cảm nghĩ của các bà vợ của chúng tôi đều không được lưu ý. Mary nhăn nhó cười chế giễu tôi.
Henry áy náy nhìn tôi, nhưng tôi hoàn toàn hài lòng được là một người quan sát của vở kịch đang hé mở này. Tôi gật đầu đồng ý.
“Tốt,” – Hamilton bảo và đứng lên, chiếc khăn ăn vẫn còn nhét dưới cổ áo – “Tôi mong được gặp ba người các vị tại lâu đài Sefton Hall vào thứ bảy sau nữa. Mười hai giờ ba mươi được không?” – Anh ta cúi chào Suzanne.
“Tôi e rằng sẽ không thể dự cùng các anh được,” – Suzanne nói, xóa đi bất cứ sự vấn vương nào có thể bao gồm cô ấy trong lời mời – “Tôi luôn dùng bữa trưa với mẹ tôi vào các ngày thứ bảy.”
Hamilton phẩy tay cho thấy rằng điều đó dù sao cũng không ảnh hưởng gì tới anh ta.
Sau khi vị khách kì khôi đã đi khỏi, chúng tôi ngồi yên lặng một lúc trước khi Henry đưa ra một lời xin lỗi. “Tôi lấy làm tiếc về tất cả những chuyện này. Bà mẹ của anh ta và bà dì tôi là bạn cũ, bà ấy đã yêu cầu tôi mời anh ta đến ăn tối cùng mấy lần. Có vẻ như là không có ai muốn làm việc này.”
“Đừng ái ngại,” – sau cùng Barker bảo – “Tôi sẽ cố gắng hết sức để không làm các bạn phải thất vọng. Và để đáp lại tấm thịnh tình này, hai bạn có thể thu xếp thời gian rỗi được vào tối thứ bảy không?” – ông ta giải thích. – “Có một tiệm ăn gần lâu đài Sefton Hall tôi đã muốn ghé thăm lâu này, đó là tiệm Hamilton Arms. Tôi cho là đồ ăn ở đó thì trên mức trung bình, nhưng mà thực đơn rượu vang thì…” – ông ta do dự – được các chuyên gia đánh giá là nổi trội đấy.”
Henry và tôi đều kiểm tra lại lịch trình làm việc và sẵn sàng nhận lời mời.
*
* *
 
0
Tôi suy nghĩ khá nhiều về Sefton Hamilton suốt trong mười ngày sau đó và chờ đợi bữa ăn trưa của chúng tôi với tâm trạng vừa e ngại vừa háo hức.
Buổi sáng thứ bảy, Henry lái xe đưa ba chúng tôi tới vườn Selton, chúng tôi tới nơi quá mười hai giờ ba mươi một chút. Thực ra chúng tôi đi qua chiếc cổng sắt tây được rèn bề thế đúng lúc mười hai giờ ba mươi, nhưng tới được cửa trước ngôi nhà thì đồng hồ chỉ mười hai giờ ba mươi bảy phút.
Cánh cửa lớn bằng gỗ sồi được một người đàn ông cao, dáng thanh nhã, mặc áo đuôi tôm cổ lớn và thắt nơ đen mở ra trước khi chúng tôi gõ cửa. Ông ta giới thiệu mình là Adams, người quản gia. Rồi ông ta hộ tống chúng tôi tới một gian phòng sáng sủa. Chúng tôi được chào đón bởi một lò sưởi đốt củi, phía bên trên đống lửa treo một bức tranh chân dung một người đàn ông trông khó ưa, người mà tôi đồ là ông nội của Sefton Hamilton. Trên những bức tường khác là một tấm thảm cực lớn mô tả trận đánh Waterloo và một bức sơn dầu khổng lồ về cuộc chiến tranh Crưm. Những đồ cổ rải rác khắp căn phòng và có một bức tượng được trưng bày – một lực sỹ Hy Lạp đang ném đĩa. Nhìn quanh phòng, tôi chợt có ý nghĩ là chỉ có chiếc máy điện thoại thuộc về thế kỷ này mà thôi.
Selton Hamilton xông vào phòng như một cơn bão đánh vào một thị trấn ven biển buồn chán. Ngay tức thì, anh ta đứng quay lưng lại ngọn lửa, che chắn hết mọi luồng hơi ấm mà chúng tôi đang thưởng thức.
“Whisky!” – Anh ta gào lên khi Adams một lần nữa xuất hiện – “Barker?”
“Đừng rót cho tôi,” – Barker nói với nụ cười nhạt.
“Ồ,” – Hamilton nói – “Ông muốn giữ vị giác được nhạy cảm nhất đó ư?”
Barker không trả lời. Trước khi ăn trưa, chúng tôi được giới thiệu về khu bất động sản có diện tích hai ngàn tám trăm hectare và có một số hoạt động săn bắn tuyệt vời nhất ở bên ngoài Xứ Ê-cốt. Lâu đài có một trăm mười hai phòng, một hai phòng trong số đó Hamilton chưa hề lui tới kể cả khi anh ta còn là một cậu bé. Sau cùng anh ta đảm bảo với chúng tôi rằng chỉ riêng cái mái lâu đài thôi cũng rộng 0,6 hectare, một con số sẽ đọng lại lâu dài trong trí óc tôi, bởi vì diện tích của nó vừa đúng bằng khu vườn của nhà tôi.
Chiếc đồng hồ hộp dài trong góc phòng điểm chuông một giờ. “Đã đến giờ cuộc thi bắt đầu,” – Hamilton tuyên bố và nghễu nghện đi ra khỏi căn phòng, như một vị tướng cho rằng những lính tráng của ngài sẽ đi theo sau vô điều kiện.
Chúng tôi đi theo, suốt quãng đường ba mươi mét dọc theo hành lang dẫn tới phòng ăn. Rồi bốn người chúng tôi ngồi xuống quanh một chiếc bàn gỗ sồi thế kỷ mười bảy có thể chứa thoải mái hai mươi người.
Trang trí ở giữa bàn là hai bình đựng rượu pha lê kiểu Georgian và hai cái chai không có nhãn mác. Chai thứ nhất chứa đầy một thứ rượu vang trắng, trong vắt, bình đựng rượu thứ nhất chứa một thứ vang đỏ. Chai thứ hai chứa một thứ rượu vang trắng đậm hơn, và chiếc bình đựng rượu thứ hai có một chất rượu đỏ nâu. Phía trước bốn loại rượu vang này là bốn tấm thiếp trắng. Bên cạnh mỗi tấm thiếp là một thếp mỏng những tờ bạc năm mươi bảng.
Hamilton ngồi xuốn chỗ của mình trong chiếc ghế lớn tại đầu bàn, Barker và tôi ngồi đối diện nhau ở giữa bàn, đối mặt với đám rượu vang, Henry chiếm chỗ ngồi cuối cùng, phía xa của chiếc bàn.
Người quản gia đứng cách một bước chân phía sau lưng ông chủ. Ông ta gật đầu và bốn người hầu xuất hiện, mang theo món ăn đầu tiên. Món cá và pa-tê tôm hùm dọn ra trước mặt mỗi người. Adams nhận được một cái gật đầu từ ông chủ, liền nhấc chai rượu đầu tiên lên và bắt đầu rót vào ly của Barker. Barker đợi cho người quản gia đi vòng quanh chiếc bàn và rót đầy ba ly rượu khác rồi ông ta mới bắt đầu thực hiện trình tự phán đoán.
Đầu tiên Barker lắc tròn ly rượu, cùng lúc đó xem xét nó một cách kỹ lưỡng. Rồi ông ta hít ngửi nó. Ông ta hơi chần chừ và một nét ngạc nhiên thoáng hiện trên khuôn mặt. Ông ta nhắp một hơi.
“Hừm,” sau cùng Barker nói. “Tôi xin thú thực, đây quả là một thử thách.” Ông ta lại hít lại để chắc chắn thêm. Rồi ông ta nhìn lên và mỉm cười thỏa mãn. Hamilton chằm chằm nhìn Barker, miệng hơi hé mở, cho dù anh ta vẫn yên lặng khác thường.
Barker lại nhấp thêm một hớp. “Montagny Tête de Cuvée 1985,” – ông ta tuyên bố với một sự tự tin của một chuyên gia – “Louis Latour đóng chai”. Tất cả chúng tôi đều hướng về Hamilton, trông sắc mặt anh ta khá căng thẳng, lộ vẻ không tán thành.
“Ngài đúng rồi,” Hamilton nói – “Nó do Latour đóng chai. Nhưng mà điều đó rõ ràng như thể bảo với chúng ta rằng Heinz đóng chai nước sốt cà chua. Và bởi vì cha tôi mất vào 1984 nên tôi có thể cam đoan với ngài rằng, thưa ngài, ngài đã sai rồi.”
Anh ta nhìn viên quản gia để khẳng định câu nói. Khuôn mặt của Adams vẫn bí hiểm. Barker lật tấm thiếp lên. Trên đó đề: “Chevalier Montrachet les Demorselles 1983”. Ông nhìn chòng chọc vào tờ giấy, có thể thấy được ông không tin vào mắt mình.
“Một sai và còn lại ba để chơi tiếp,” Hamilton tuyên bố như không hề nhận thấy phản ứng của Barker. Những người hầu lại xuất hiện và mang đi các đĩa đựng cá, và sau giây lát họ thế vào đó món gà gô trắng nấu tái. Trong lúc đồ uống đi kèm với nó đang được phục vụ, Barker không nói năng gì. Ông ta chỉ nhìn chăm chăm vào ba cái bình đựng rượu còn lại, thậm chí không nghe thấy vị chủ nhà của mình nói với Henry về các vị khách của anh ta sẽ là những ai trong cuộc săn đầu tiên của mùa săn vào tuần lễ sau đó. Tôi nhớ rằng những cái tên đó khá trùng hợp với tên những nhân vật mà Hamilton đã đề xuất cho Nội các lý tưởng của anh ta.
0
Barker nấm nháp món gà gô trong khi chờ đợi Adams rót đầy ly rượu từ chiếc bình thứ nhất. Ông chưa dùng xong món pa-tê sau khi phán đoán đầu tiên bị sai mà chỉ thỉnh thoảng nhấp nước lọc.
“Vì Adams và tôi đã bỏ ra thời gian đáng kể buổi sáng của chúng tôi để lựa chọn một số loại vang cho cuộc thách đố nhỏ này, chúng tôi hy vọng lần này ông có thể làm tốt hơn,” – Hamilton nói, không giấu nổi sự thỏa mãn.
Barker một lần nữa lại bắt đầu lắc tròn ly rượu vang. Lần này ông ta dường như mất nhiều thời gian hơn, hít ngửi chất rượu mấy lần trước khi đưa miệng ly chạm vào môi và sau cùng nhấm nháp nó.
Một nụ cười lập tức nở trên khuôn mặt Barker, và ông không do dự: “Château la Louvière 1978.”
“Lần này ngài đã nói đúng năm, thưa ngài, thế nhưng ngài đã xúc phạm loại rượu vang này,”
Lập tức Barker lật tấm thiếp lên và đọc một cách nghi hoặc: “Château Laffite 1978.”
Thậm chí ngay cả tôi cũng biết đây là một trong những lọai vang đỏ xịn nhất mà người ta có hy vọng được nếm. Barker rơi vào một trạng thái yên lặng nặng nề và tiếp tục nhấm nháp thức ăn. Hamilton có vẻ như đang tận hưởng chất rượu một cách ngất ngây cũng y như thưởng thức tỷ số hiệp một.
“Một trăm bảng về tôi, không có gì cho ông chủ tịch Hiệp hội rượu vang,” – Anh ta nói với chúng tôi.
Bối rối quá, anh Henry và tôi cố gắng giữ cho cuộc nói chuyện tiếp tục cho đến khi món thứ ba được dọn ra – một món sufflet chanh, nó không thể nào so sánh được về hình thức, hoặc sự tinh tế với bất cứ món nào chị Suzanne đã chiêu đãi chúng tôi.
“Chúng ta bước vào cuộc thách đố thứ ba của tôi chứ nhỉ?” – Hamilton hỏi đắc thắng.
Adams lại nhấc lên một bình rượu và bắt đầu rót. Tôi ngạc nhiên nhận thấy ông ta để sánh ra chút ít trong khi rót vào ly của Barker.
“Đừng vụng về như vậy,” – Hamilton gắt gỏng.
“Tôi thành thật xin lỗi, thưa ngài,” – Adams nói. Ông ta lau đi những giọt rượu sánh ra chiếc bàn gỗ bằng một chiếc khăn ăn. Trong lúc làm việc này, ông ta nhìn chăm chăm vào Barker nới một nỗi tuyệt vọng mà tôi tin chắc không hề liên quan đến việc làm sánh rượu ban nãy. Tuy nhiên, ông ta vẫn câm lặng khi tiếp tục đi vòng quanh bàn.
Lại một lần nữa Barker thực hiện các trình tự, lắc tròn, hít ngửi và sau cùng là nếm thử. Lần này ông ta còn lâu hơn nữa. Hamilton trở nên sốt ruột và gõ gõ các ngón tay mập mạp lên mặt chiếc bàn vĩ đại kiểu Jacob.
“Nó thuộc về dòng Sauternes,” – Barker bắt đầu.
“Bất cứ tay ấm ớ nào cũng có thể cho ta biết điều đó,” – Hamilton nói – “Tôi muốn biết năm và tên tuổi của nó.”
Vị khách của anh ta do dự.
“Château Guireaud 1976,” Barker nói quả quyết.
“Ít nhất thì anh cũng nhất quán,” Hamilton nói. “Anh luôn luôn sai”
Barker lật tấm thiếp lên.
“Château d’Yquem 1980,” – ông bật ra đầy hoài nghi.
Đây là một cái tên mà tôi mới chỉ trông thấy ở cuối các thực đơn uống tại các nhà hàng sang trọng, và chưa bao giờ có đặc quyền được nếm thử. Tôi cực kỳ bối rối về việc ông Barker có thể nhầm lẫn về nàng Monalisa của rượu vang.
Barker liền hướng về Hamilton để phản đối, và chắc là trông thấy Adams đang đứng đằng sau ông chủ, cả thân hình một mét chín mươi của ông ra run rẩy, ngay đúng lúc tôi trông thấy. Tôi muốn Hamilton rời ngay khỏi căn phòng để tôi có thể hỏi Adams điều gì đang làm ông ta sợ hãi đế như thế, nhưng mà chủ nhân của lâu đài Sefton Hall lúc này đang phấn khích tột độ.
0
Trong lúc đó, Barker nhìn chòng chọc vào người quản gia thêm chút nữa, và thấy sự mất bình tĩnh của ông ta, ông cụp mắt xuống và không góp thêm chuyện gì vào cuộc đàm luận cho đến khi một lần nữa chất rượu vang đỏ porto được rót ra, quãng hai mươi phút sau đó.
“Cơ hội cuối cùng để giúp ông tránh khỏi nhục nhã hoàn toàn,” – Hamilton nói.
Một mâm pho mát được đem ra, bày trên đó là mấy loại khác nhau, và mỗi vị khách tự chọn lấy cho mình. Tôi chọn món pho mát Cheddar và có thể nói với Hamilton là nó không được làm từ vùng Somerset.
Trong lúc này rượu porto được viên quản gia rót ra, thân hình ông ta lúc này trắng bệch như tờ giấy. Tôi phân vân liệu ông ta có sắp ngất xỉu đi hay không, nhưng mà dù sao ông ta cũng cố gắng rót đầy được bốn chiếc ly trước khi quay trở lại đứng cách một bước chân đằng sau lưng ghế của ông chủ. Hamilton thì không nhậy thấy có điều gì bất thường.
Barker uống li rượu Porto, không chú ý đến các bước mở đầu như trước nữa.
“Taylors,” – ông mở đầu.
“Đồng ý,” – Hamilton nói – “Nhưng bởi vì chỉ có ba nhà cung cấp rượu vang Porto đáng kể trên thế giới, năm tháng mới là điều quan trọng – như ông, ở địa vị cao quý của ông, chắc phải biết rõ, ông Barker.”
 Freddie gật đầu tán thành. “Một ngàn chín trăm bảy nhăm,” Barker nói quả quyết rồi lanh lẹ lật ngửa tấm thiếp lên.
“Taylors 1927”, - Tôi đọc ngược.
Lại một lần nữa Barker quay ngoắt về phía ông chủ nhà đang cười lớn rung cả người. Người quản gia liếc nhìn vị khách của ông chủ với ánh mắt như bị ma ám. Barker chỉ hơi do dự rồi rút ra một cuốn séc từ túi áo trong. Ông ta điền tên “Sefton Hamilton” vào, và con số 200 bảng. Ông ta ký tên và không nói một lời, chuyển tờ séc dọc chiếc bàn cho chủ nhà.
“Đó mới chỉ là một nửa cuộc mặc cả,” – Hamilton nói, thưởng thức từng giây phút của kẻ chiến thắng.
Barker đứng lên, hơi chần chừ, nói: “Tôi là một kẻ bịp bợm.”
“Ngài quả thực đúng là như vậy, thưa ngài,” – Hamilton nói.
Sau khi đã tiêu tốn ba tiếng đồng hồ khó chịu nhất trong cuộc đời mình, tôi đã thoát khỏi nơi đó cùng với Henry và Freddie Baker vào lúc hơn bốn giờ một chút. Trong lúc Henry lái xe rời khỏi lâu đài Sefton Hall, không ai trong chúng tôi thốt nên lời nào. Có lẽ cả hai chúng tôi cảm thấy rằng nên dành những lời bình luận đầu tiên cho Barker.
“Tôi e rằng, thưa các ông,” – Sau cùng ông ta nói – “Tôi sẽ không phải là người đồng hành tốt trong mấy giờ sắp tới, và vì vậy tôi xin phép các vị, được đi dạo một đoạn ngắn và sẽ gặp lại cả hai người để ăn tối tại tiệm Hamilton Arms quãng bảy giờ ba mươi. Tôi đã đặt sẵn một bàn vào lúc tám giờ.
Không nói thêm một lời nào, Barker ra hiệu cho Henry dừng xe, chúng tôi dõi theo ông ta bước ra và hướng tới một con đường làng. Henry dừng xe khi người bạn của anh đã hoàn toàn khuất dạng.
Tôi hết sức thông cảm với Barker, cho dù toàn bộ câu chuyện vẫn làm tôi băn khoăn. Làm sao một ông chủ tịch Hiệp hội rượu vang lại có thể vấp phải những sai lầm cơ bản đến như thế? Bởi vì, tôi có thể đọc một trang của Dickens và biết rằng nó không phải là của Graham Green.
Cũng giống như bác sĩ Watson, tôi cảm thấy tôi cần có một sự giải thích đầy đủ hơn.
 
*
* *
 
0
Barker nhận thấy chúng tôi đang ngồi bên đống lửa trong một góc kín đáo của tiệm rượu Hamilton Arms lúc hơn bảy giờ ba mươi vào buổi tối hôm đó. Sau khi đi bộ, ông ta xuất hiện trong khí sắc tốt hơn rất nhiều. Ông ta nói chuyện không đâu vào đâu và không hề nhắc đến những điều đã xảy ra vào bữa ăn trưa.
Mấy phút sau, khi quay sang xem giờ ở chiếc đồng hồ cổ treo ở phía trên cánh cửa, thì tôi trông thấy viên quản gia của Hamilton ngồi bên quầy rượu, đang sốt sắng chuyện trò với ông chủ tiệm. Lẽ ra tôi đã không nghĩ gì đến chuyện đó nếu tôi không nhận thấy vẫn cái vẻ sợ hãi mà tôi đã chứng kiến ban nãy lúc buổi chiều, khi ông ta chỉ tay về phía chúng tôi. Ông chủ tiệm cũng có vẻ lo lắng tương tự, cứ như thể ông ta bị một nhân viên thuế quan phát hiện phạm tội trốn lậu thuế.
Ông ta nhặt lên một thực đơn và bước tới bên bàn chúng tôi.
“Chúng tôi không cần những cái đó,” – Barker nói – “Tiệm của các anh đã rất nổi tiếng. Tùy các anh, bất cứ món gì các anh phục vụ chúng tôi đều rất hân hạnh được thưởng thức.”
“Xin cảm ơn, thưa ngài,” – Ông chủ tiệm nói và đưa cho ông chủ tiệc của chúng tôi tấm thực đơn rượu vang.
Barker xem nội dung bên trong tấm bìa da bọc lấy thực đơn một lúc, rồi ông ta tươi tắn nở một nụ cười.
“Tôi nghĩ tốt hơn là anh cũng nên lựa chọn hộ cả rượu vang nữa,” – Ông bảo – “Bởi vì tôi có cảm giác anh biết loại rượu mà tôi sẽ chọn.”
“Tất nhiên rồi, thưa ngài,” – Ông chủ tiệm nói, khi Freddie đưa trả lại thực đơn rượu vang. Điều này làm cho tôi hoàn toàn ngạc nhiên, nhớ rằng đây là chuyến viếng thăm đầu tiên của Barker tới tiệm ăn này.
Ông chủ tiệm đi vào trong bếp trong lúc chúng tôi tán gẫu, và quay trở lại sau chừng mười lăm phút.
“Bàn của các vị đã sẵn sàng, thưa các quý ngài,” – Ông ta nói.
Chúng tôi theo sau ông ta bước vào một phòng ăn liền cửa. Chỉ có khoảng hơn một chục chiếc bàn, nhưng bởi vì bàn của chúng tôi là chiếc bàn trống cuối cùng, nên chắc tiệm ăn này rất đắt khách.
Ông chủ tiệm đã chọn một món súp nước dùng nhẹ, sau đó là những lát thịt vịt mỏng, cứ như thể ông ta đã biết chắc rằng chúng tôi sẽ không thể ăn một bữa thịnh soạn nữa sau bữa ăn trưa tại lâu đài.
Tôi cũng ngạc nhiên nhận thấy rằng tất cả những loại rượu vang ông ta chọn đều được phục vụ trong những bình đựng pha lê. Do đó, tôi cho rằng ông chủ tiệm đã lựa chọn những loại rượu vang của bản tiệm. Khi mỗi loại rượu được rót ra và uống, tôi thừa nhận rằng, đối với khẩu vị tự nhiên không sành lắm của mình, chúng có vẻ quá xuất sắc hơn những thứ mà tôi đã được uống tại lâu đài Sefton Hall. Barker chắc chắn đã nâng niu thưởng thức từng hớp rượu đầy và một lần đã thốt lên đầy tán thưởng: “Đây mới đúng là loại McCoy thứ thiệt.”
Cuối buổi tối hôm đó, khi bàn ăn đã được dọn đi, chúng tôi thư giãn, thưởng thức một thứ vang porto tuyệt hảo và hút xì gà.
Đến lúc này, lần đầu tiên Henry mới đả động đến Hamilton: “Liệu anh có thể nói cho chúng tôi biết về điều bí ẩn gì thực sự đã xảy ra tại bữa ăn trưa này không?” – Anh hỏi.
“Bản thân tôi cũng chưa hoàn toàn chắc chắn,” Barker trả lời – “Thế nhưng tôi biết chắc một điều là ông bố của Hamilton là một người biết rõ rượu vang của mình, trong khi anh con trai ông ta thì không.”
Lẽ ra tôi đã thúc Barker nói thêm nữa về điều đó nếu như lúc đó ông chủ tiệm không đến bên cạnh ông ta.
“Một bữa ăn tuyệt vời,” – Barker tuyên bố – “Còn về phần rượu vang thì thật là đặc biệt.”
“Ngài thật tốt bụng, thưa ngài,” – Ông chủ tiệm nói khi ông ta đưa hóa đơn tính tiền.
Tính tò mò đã xâm chiếm tôi, và tôi rất tiếc phải thú nhận rằng tôi đã liếc mắt nhìn xuống cuối mẩu hóa đơn. Tôi không thể tin vào mắt mình nữa vì hóa đơn lên tới hai trăm bảng Anh.
Barker chỉ bình luận một câu khiến tôi quá kinh ngạc: “Rất phải chăng,” Ông ta viết một tờ séc và đưa nó cho ông chủ tiệm: “tôi chỉ được nếm rượu vang Château d’Yquem 1980 có một lần trước ngày hôm nay,”. Ông nói thêm. “Và Taylors 1927 thì chưa bao giờ.”
Ông chủ tiệm mỉm cười: “Tôi hy vọng ngài tán thưởng cả hai thứ, thưa ngài. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng ngài không muốn thấy chúng bị bỏ phí bởi một kẻ bịp bợm.”
Barker gật đầu tán thành.
Tôi dõi theo ông chủ tiệm rời khỏi phòng ăn và quay trở lại chỗ của ông ta phía sau quầy rượu.
Ông ta đưa tờ séc cho viên quản gia Adams, anh này xem xét nó trong giây lát, mỉm cười và xé vụn nó ra thành những mảnh nhỏ.
 
HẾT
 
0
CHRISTINA ROSENTHAL
 

Ông đạo sĩ Do Thái biết mình không hy vọng có thể bắt đầu buổi lễ chừng nào ông chưa đọc xong bức thư. Ông ngồi tại chiếc bàn giấy của mình đã hơn một tiếng đồng hồ, trước mặt là một tờ giấy trắng trơn và vẫn không thể nặn óc viết ra một câu nào. Gần đây ông không thể nào tập trung vào một công việc mà ông đã làm vào tất cả các buổi tối thứ sáu trong suốt ba mươi năm qua. Chắc họ đã nhận thấy, giờ đây, ông không còn chú tâm đến việc đó nữa.
Ông lấy bức thư ra khỏi phong bì và chậm rãi mở các trang thư. Rồi ông đẩy cặp kính bán nguyệt lên sống mũi và bắt đầu đọc.
Cha thương yêu của con,
“Thằng Do Thái! Thằng Do Thái! Thằng Do Thái!” là những câu đầu tiên mà con nghe thấy cô ta gào lên khi con chạy ngang qua cô ta tại vòng chạy đầu tiên của cuộc chạy đua. Cô ta đang đứng đằng sau những thanh hàng rào tại điểm bắt đầu của đoạn đường thẳng về đích, hai bàn tay cham quanh miệng để chắc chắn con có thể nghe thấy những lời gào hét đó. Chắc là cô ta đến từ một trường khác, bởi vì con không nhận ra cô ta, thế nhưng chỉ một thoáng liếc mắt là con thấy chính thằng Greg Reynolds đang đứng cạnh cô ta.
Sau năm năm phải chịu những lời chỉ trích cạnh khóe, thâm độc và sự ức hiếp của nó ở trường học, con đã muốn trả thù lại những gì “đồ phát xít, tên Quốc xã” đó đã làm. Thế nhưng cha đã luôn luôn dạy con vượt lên trên những sự khiêu khích như thế.
Con cố gắng gạt cả hai đứa nó ra khỏi tâm trí mình khi con tiến vào vòng chạy thứ hai. Con ước đã nhiều năm nay chiến thắng tại vòng đua một dặm của các giải quán quân trường Trung học West Mount, và con kiên quyết không để chúng nó làm bất cứ điều gì ngăn cản con.
Khi con tới được đoạn thẳng về đích lần thứ hai, con cố nhìn cô ta kỹ hơn. Cô ta đang đứng giữa một nhóm bạn bè, họ đeo những chiếc khăn quàng của trường dòng Marianapolis Covent. Cô ta chắc quãng chừng mười sáu tuổi, mảnh mai như một cây liễu.  Con phân vân không biết cha có phạt con không nếu như con đã muốn thét to lên, “Đồ ngực lép, ngực lép, ngực lép,” với hy vọng là việc này ít nhất sẽ khiêu khích cái gã đang đứng bên cạnh cô ta nhảy vào đánh lộn một trận. Đến lúc đó con có thể trung thực nói với cha rằng nó là người đánh đầu tiên, nhưng nếu cha biết được thằng ranh đó chính là thằng Greg Reynolds thì cha sẽ hiểu là con chẳng cần nhiều đến sự khiêu khích.
Khi con tới đoạn thẳng về đích, con chuẩn bị tinh thần một lần nữa đẻ nghe những lời gào thét. Việc hò hét tại các buổi thi điền kinh đã trở thành mốt ở giai đoạn cuối thập niên 1950, khi “Zatopeck, Zatopeck, Zatopeck” đã được hô vang để ca ngợi nhà quán quân Tiệp Khắc vĩ đại trên khắp các sân vận đồng điền kinh thế giới. Đối với con thì chắc chắn sẽ khong có câu hét vang “Rosenthal, Rosenthal, Rosenthal”.
“Thằng Do Thái! Thằng Do Thái! Thằng Do Thái!” cô ta thét to, nghe như một chiếc đĩa nhạc bị lỗi giật cục. Thằng bạn Greg của cô ta, chỉ là một sinh viên dự bị, bắt đầu cười to. Con biết nó đã hướng cô ta vào việc đó, và con mong muốn dập tắt cái nụ cười ngạo mạn trên khuôn mặt nó làm sao. Con đạt được điểm nửa dặm đường sau hai mươi phút mười bảy giây, đang ung dung nằm trong khoảng tốc độ cần thiết để phá kỷ lục của trường, và con cảm thấy đó là cách tốt nhất để đặt cô gái cay độc và cái thằng phát xít Reynolds vào vị trí của chúng. Lúc đó, con không thể không suy nghĩ rằng tất cả mọi việc thật bất công làm sao. Con là một người Canada thực thụ, được sinh ra và được nuôi dạy trên đất nước này, trong khi cô ta chỉ là một người nhập cư. Suy cho cùng, chính là cha, thưa cha, đã bỏ trốn từ Hamburg từ năm 1937, và khởi sự với hai bàn tay trắng. Cha mẹ cô ta mãi đến năm 1949 mới đặt chân lên bờ biển, vào thời gian này cha đã là một nhân vật được kính trọng tại cộng đồng.



0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-05-15 09:25:22khachxa>
Con cắn răng và cố gắng tập trung tư tưởng. Zatopek đã viết trong cuốn tự truyện của ông ta rằng vận động viên chạy tốc độ không bao giờ được phép để mất đi sự tập trung tư tưởng của mình trong một cuộc đua. Khi con tiếp cận đoạn đường cong áp chót, tiếng gào thét không thể tránh khỏi lại bắt đầu, nhưng lần này nó chỉ làm cho con tăng thêm tốc độ và thậm chí còn thêm quyết tâm để phá kỷ lục đó. Khi con lại an toàn tới được đoạn thằng về đích, con có thể nghe thấy mấy người bạn của con hô to “Cố lên, Benjamin, cậu làm được mà,” và người bấm giờ đọc to lên “Ba hai mươi ba, ba hai mươi bốn, ba hai mơi lăm” khi con chạy ngang qua chiếc băng rôn để bắt đầu vòng chạy cuối cùng.
Con biết rằng kỷ lục – bốn phút ba mươi hai – giờ đây đã nằm ngon lành trong tầm với của con, và tất cả những đêm tối mùa đông luyện tập bỗng dường như thật xứng đáng, khi con tới đoạn đường thẳng về đích, con ở vị trí dẫn đầu, và thậm chí còn cảm thấy mình có thể giáp mặt cô gái đó một lần nữa. Con dồn hết sức lực cho một cố gắng cuối cùng. Một cái liếc mắt nhanh ngang qua vai giúp con khẳng định đã vượt lên trước vài mét so với bất cứ đối thủ nào, do đó vấn đề chỉ là con chạy đua với chiếc đồng hồ. Thế rồi con nghe thấy tiếng gào, mà lần này nó thậm chí còn to hơn lần trước, “Thằng Do Thái! Thằng Do Thái! Thằng Do Thái!”. Tiếng gào thét còn to hơn vì cả hai đứa chúng nó giờ đây đang đồng thanh, và đúng lúc con đang ở vào khúc cua, Reynolds giơ cao cánh tay lên làm một động tác chào khốn kiếp của bon phát xít.

Nếu như con cứ tiếp tục thêm chừng hai mươi mét nữa thôi thì con đã đạt được sự an toàn của đoạn đường thẳng dẫn về đích trong tiếng hò reo chúc mừng của bạn bè con, đoạt chiếc cúp và lập kỷ lục. Thế nhưng chúng nó đã làm con tức giận đến mức con không thể nào kiểm soát được bản thân mình nữa.

Con phóng ra khỏi đường chạy và chạy ngang qua bãi cỏ, băng qua bãi nhảy xa và xông thẳng vào chúng. Ít nhất quyết định điên rồ của con cũng làm cho chúng nó ngừng kêu gào, bởi vì thằng Reynolds đã hạ thấp cánh tay xuống và chỉ đứng đó nhìn con chằm chặp đầy thảm hại từ phía đằng sau thanh hàng rào nhỏ bé bao quaynh vòng ngoài của đường chạy. Con nhảy qua thanh rào và hạ xuống ngay trước mặt địch thủ của mình. Với tất cả sức lực mà con đã để dành cho đoạn đường thẳng cuối cùng, con quai cho nó một cú trời giáng. Nắm đấm của con phang vào dưới mắt trái của nó chừng hai phân và nó oằn người, ngã vật xuống đất bên cạnh cô ta. Cô ta nhanh nhẹn quỳ xuống và ngước lên nhìn con với một sự căm ghét mà không lời lẽ nào sánh được. Khi con đã chắc chắn là thằng Greg sẽ không thể trở dậy được ngay, con chậm rãi bước quay lại đường chạy khi những vận động viên cuối cùng đang chạy khúc cua chót.

“Lại về bét rồi, thằng Do Thái,” Con nghe thấy cô ta thét lên khi con chạy nhập vào đoạn đường thẳng về đích, cách quá xa những người khác đến mức chẳng cần bận tâm ghi lại thời gian của con.

Đã từ lâu cha thường hay trích dẫn để dạy con những lời này: “Ta vẫn còn chịu đựng nó với một cái nhún vai nhẫn nại, bởi vì nhẫn nhục là dấu hiệu tượng trưng của bộ lạc chúng ta.” Tất nhiên là cha đúng, nhưng mà lúc đó con mới có mười bảy tuổi đầu, và thậm chí, sau khi con đã biết được sự thật về người cha của Christina, con vẫn không thể hiều làm sao mà một người ra đi từ một nước Đức thảm bại, một nước Đức bị toàn bộ phần còn lại của thế giới lên án vì sự đối xử đối với người Do Thái, vẫn còn có thể cư xử theo cung cách như vậy. Và hồi đó con thực sự tin rằng gia đình cô ta là những kẻ phát xít, thế nhưng còn còn nhớ cha đã kiên trì giải thích cho con rằng cha cô ta đã từng là một vị đô đốc trong hải quân Đức, và đã được tặng thưởng một Huân chương Chữ Thập Sắt cho việc đánh chìm những tàu chiến của quân Đồng minh. Cha có còn nhớ con đã hỏi làm sao cha có thể chịu đựng được một người như thế, chứ đừng nói cho phép ông ta định cư trên đất nước chúng ta.

Cha cứ tiếp tục bảo đảm với con rằng Đô đốc Von Braumer, một người xuất thân từ một gia đình theo Thiên chúa giáo cổ, có lẽ cũng khinh bỉ bọn phát xít nhiều như chúng ta, đã làm trọn bổn phận một cách danh giá với tư cách là một sỹ quan và một đức ông cống hiến trọn vẹn cuộc đời của ông ta trên cương vị một thủy thủ Đức. Thế nhưng con vẫn không thể chấp nhận quan điểm của cha, hoặc là không muốn chấp nhận điều đó.

Thưa cha, việc cha luôn nhìn trên quan điểm của người khác cũng chẳng giúp ích gì, và cho dù mẹ đã chết sớm bởi mấy kẻ tàn nhẫn, đáng khinh ấy, cha vẫn có thể tự tha thứ được.

Nếu như cha được sinh ra là một người Thiên chúa giáo, thì cha đã là một vị thánh.

 
*
* *

0
Ông đạo sĩ Do Thái đặt bức thư xuống, dụi dụi cặp mắt mệt mỏi trước khi lật sang trang khác, những trang thư được viết bằng nét chữ rất đẹp mà ông đã từng dạy dỗ cho thằng con trai duy nhất của mình bao nhiêu năm về trước. Benjamin đã luôn học rất sáng dạ, mọi thứ, từ văn tự tiếng Do Thái cho tới một phương trình đại số phức tạp. Thậm chí ông đã từng hy vọng cậu sẽ có thể trở thành một ông đạo sĩ Do Thái.
 
*
* *
 
Cha có nhớ con đã hỏi cha tối hôm đó tại sao mọi người không thể hiểu rằng thế giới đã đổi thay rồi? Cô gái đó không nhận thấy rằng cô ta cũng không hơn gì chúng ta sao? Con sẽ không bao giờ quên được câu trả lời của cha. Cha bảo cô ta hơn chúng ta rất nhiều nếu như cách thức duy nhất để con có thể chứng minh sự ưu việt của mình là đám vào mặt bạn của cô ta.
Con quay lại phòng mình, tràn đầy bực tức bởi sự yếu đuối của cha. Sẽ còn phải sau nhiều năm nữa con mới hiểu được sức mạnh của cha.
Mỗi khi con không phải chăm chỉ tập luyện trên đường chạy, con cũng chẳng có thời gian cho bất kỳ việc gì ngoại trừ phấn đấu học tập để có được một suất học bổng tại McGill, do đó thật bất ngờ là con đường cô ta theo đuổi lại sớm cắt ngang con đường của con.
Khoảng một tuần sau đó con trông thấy cô ta tại bể bơi địa phương. Khi con bước vào, cô ta đang đứng ở phần sâu của bể bơi, ngay phía dưới cầu nhảy. Mái tóc vàng để dài của cô ta đang tung bay, nhảy múa trên bờ vai, đôi mắt ngời sáng của cô ta đang hào hứng ghi nhận mọi vật xung quanh mình. Greg đang ở bên cô ta. Con hài lòng nhận thấy một mảng thâm tín, xám xịt còn đọng lại dưới mắt trái của nó để cho tất cả mọi người cùng thấy. Con cũng nhớ mình đã cười khoái trá bởi vì cô ta thực sự có một bộ ngực phảng phiu nhất mà con từng thấy ở một cô gái mười sáu tuổi, mặc dù vậy con cũng phải thú nhận cô ta có đôi chân đẹp tuyệt trần. Có lẽ cô ta là một kẻ đồng bóng quái gở, con thầm nghĩ. Con rẽ ngang để vào phòng thay đồ, nhưng loáng một cái, con bị rơi tõm xuống nước. Khi con nhô lên để thở, con không hề nhìn thấy bất cứ dấu hiệu nào để biết ai đã đẩy con xuống mà chỉ có một nhóm những khuôn mặt vô tội cười cợt. Con không cần một tấm bằng về luật pháp cũng có thể suy ra người nào đã làm việc đó, nhưng mà cha đã liên tục nhắc nhở con là không có chứng cớ thì không có xét xử… Lẽ ra con đã không phật lòng đến thế vì bị đẩy xuống bể bơi nếu như con không mặc bộ đò diện nhất của con, sự thật đó là bộ đồ duy nhất của con với cái quần dài, bộ đồ mà con mặc trong những ngày con đi lễ tại giáo đường Do Thái.
Con trèo lên khỏi bể nước, chẳng bỏ phí một tí thời gian nào để tìm kiếm thằng đó. Con biết đến lúc đó thì Greg đã cao chạy xa bay rồi. Con rảo bước về nhà qua các phố nhỏ, tránh đi xe buýt, đề phòng tường hợp có ai đó trông thấy con và nói lại với cha tình trạng của con lúc đó. Ngay khi về đến nhà, con nhón chân lẻn qua phòng của cha và lên cầu thang về phòng mình, thay đồ trước khi cha có cơ hội phát hiện ra điều gì đã xảy ra.
Lão Isaac Cohen nhìn con với con mắt bất bình khi con xuất hiện ở giáo đường Do thái sau đó một giờ, mặc một chiếc áo cộc tay và quần jeans.
Con đem bộ đồ tới tiệm giặt là vào buổi sáng hôm sau. Nó tiêu tốn của con ba tuần tiền bỏ túi để chắc chắn rằng cha không bao giờ biết điều đã xảy ra tại bể bơi ngày hôm đó.
 
*
* *
 
Ông giáo sĩ Do Thái nhặt tấm hình thằng con trai mười bảy tuổi của mình trong bộ đồ giáo dường Do Thái lên. Ông còn nhớ rõ thằng Benjamin đến dự buổi lễ của ông trong chiếc áo cộc tay và quần jeans và với lời khiển trách thẳng thừng của lão Isaac Cohen. Ông giáo sĩ rất biết ơn ông Atkins, giáo viên dạy bơi lội của Benjamin, đã điện thoại để báo cho ông về việc đã xảy ra buổi chiều hôm đó, do vậy ít nhất ông đã không thêm vào những lời chỉ trích gay gắt của ông Cohen. Ông tiếp tục ngắm nhìn tấm hình thật lâu trước khi quay trở lại bức thư.
 
*
* *
 
0
Dịp tiếp sau con thấy Christina – lúc này con đã biết được tên cô ta – tại buổi khiêu vũ cuối học kỳ được tổ chức tại phòng thể dục dụng cụ của trường. Con nghĩ trông con cũng khá bảnh trong bộ đồ là lượt phẳng phiu cho đến khi con trông thấy Greg đang đứng bên cạnh cô ta trong một chiếc áo dạ tiệc mới, lịch lãm. Lúc đó, con còn nhớ con đã băn khoăn tự hỏi không biết đến bao giờ con mới có thể mua được một chiếc áo dạ tiệc. Gã Greg đã được mời chào một suất học ở McGill và đang tuyên bố điều đó với bất kỳ ai muốn nghe, điều này làm cho con càng thêm quyết tâm giành được một suất học bổng ở đó vào năm học sau.
Con chăm chăm nhìn Christina. Cô ta mặc một chiếc váy dài màu đỏ, che kín hoàn toàn đôi chân đẹp tuyệt vời kia. Một chiếc thắt lưng vàng mỏng mảnh tôn lên phần eo thon thả và món đồ trang sức duy nhất mà cô ta đeo là một sợi dây chuyền vàng đơn giản. Con biết nếu chờ đợi thêm chút xíu nữa thôi, con sẽ không có đủ dũng khí để đi đến tận cùng. Con nắm chặt bàn tay, rảo bước đến chỗ họ đang ngồi, và theo cái cách cha dạy bảo con, con hơi cúi chào rồi hỏi, “Liệu tôi có được hân hạnh nhảy điệu này cùng cô?”.
Cô ta nhìn chằm chằm vào mắt con. Con xin thề nếu cô ta bảo con đi ra ngoài và giết chết một nghìn người rôi hãy dám hỏi lại cô ta điều đó thì con vẫn cứ làm.
Cô ta, thậm chí không nói gì cả, thế nhưng gã Greg tựa lên vai cô ta và nói, “Tại sao mày không đi tìm cho mày một con Do Thái hả?”. Con cho là đã trông thấy cô ta khẽ cau mày vì lời nói của nó, thế nhưng con chỉ đỏ bừng mặt lên giống như một tên kẻ cắp bị bắt mà trên tay còn cầm đồ ăn cắp. Con không nhảy với ai đêm hôm đó. Con bước thẳng ra khỏi phòng thể dục và chạy về nhà.
Khi đó, con đã tin tưởng rằng con rất căm ghét cô ta.
Tuần cuối cùng ấy của học kỳ, con phá kỷ lục chạy một dặm của trường học. Cha đã có mặt ở đó để theo dõi con chay, nhưng mà ơn trời, cô ta thì không. Đó là kỳ nghỉ chúng ta lái xe đi Ottawa nghỉ hè với dì Rebecca. Một người bạn cùng trường bảo cho con biết Christina đã đi nghỉ ở Vancouver cùng với một gia đình người Đức. Ít nhất thì gã Greg không đi cùng với cô ta, người bạn bảo đảm với con như vậy.
Cha luôn nhắc nhở con về tầm quant rọng của một nền tảng học vấn tốt, thế nhưng cha không cần phải thế, bởi vì cứ mỗi lần con trông thấy thằng Greg, con càng tăng thêm quyết tâm giành được suất học bổng đó.
Con lao vào học tập, thậm chí còn siêng năng hơn nữa trong mùa hè 1965. cha giải thích rằng đối với một người Canada, một vị trí tại McGill cũng giống như theo học tại Harvard hay Oxford và sẽ dọn sạch con đường tiến thân cho cả cuộc đời con sau này.
Lần đầu tiên trong đời con, môn chạy chiếm vị trí thứ hai.
Mặc dù con không thấy Christina nhiều trong học kỳ đó, song cô ấy lại thường hiện diện trong tâm tưởng con. Một số người bạn học cùng lớp bảo con rằng cô ấy và Greg thôi không còn gặp gỡ nhau nữa, nhưng không thể nói cho con biết tại sao bỗng nhiên có sự thay đổi tình cảm đó. Vào thời gian này con có một người có thể gọi là bạn gái, cái cô gái mà luôn luôn ngồi ở phía bên kia của giáo đường Do Thái – đó là Naomi Goldblatz, cha còn nhơ cô ta mà – thế nhưng chính cô ta là người hò hẹn con.
Khi kỳ thi đến gần, con rất biết ơn rằng cha luôn gắng sắp xếp được thời gian để xem xét những bài luận và bài kiểm tra của con sau khi con hoàn thành chúng. Điều mà cha không thể nào biết là con chắc chắn quay về căn phòng của mình để làm lại chúng lần thứ ba. Con thường thiếp đi trên bàn học. Khi con tỉnh dậy, con lại lật sang trang và tiếp tục đọc.
Thậm chí ngay cả cha, thưa cha, người không có một chút tự cao, phù phiếm nào trong tâm hồn, cũng thấy khó khăn khi che giấu những giáo dân của mình niềm tự hào mà cha cảm thấy với tám điểm “A” trung thực của con, và phần thưởng một suất học bổng cao nhất con giành được tại McGill. Con băn khoăn tự hỏi không biết Christina có biết việc này hay không. Chắc cô ta có biết. Tên con đã được ghi bằng những tấm lá vàng, tươi rói trên Bảng Danh dự vào tuần lễ sau đó, vì thế chắc chắn sẽ có ai đó bảo cho cô ta biết.
 
*
* *
 
0
Có lẽ phải đến ba tháng sau, khi con học kỳ thứ nhất tại McGill thì con mới thấy lại cô ta. Cha có nhớ đã dẫn con đi xem vở “Thánh Joan” ở Nhà hát Centaur không? Cô ta ngồi phía trước chúng ta, cách mấy hàng ghế, cùng với cha mẹ và một sinh viên năm thứ hai tên là Bob Richards. Ông đô đốc và bà vợ trông khá khắt khe và rất nghiệm nghị, nhưng không phải là không đáng mến. Trong thời gian nghỉ giữa giờ, con dõi theo cô ta cười đùa vui với họ, hiển nhiên cô ta đang vui vè, thoải mái. Con hầu như không xem vở “Thánh Joan”, và mặc dù con không rời mắt khỏi Christina, cô ấy vẫn không nhận thấy con lần nào. Con chỉ muốn được ở trên sân khấu diễn vai Dauphin để cô nàng sẽ phải nhìn vào con.
Khi ánh màn khép lại, cô ta và Bob Richards để lại cha mẹ cô và đi về phía lối ra. Con đi theo hai người bọn họ, ra khỏi phòng giải lao và vào sân đậu xe, dõi theo họ bước lên một chiếc xe hơi Thunerbird. Ôi, một chiếc Thunderbird cơ chứ! Con nhớ là đã mong có một ngày nào đó có thể đủ tiền sắm được một chiếc áo cánh, chứ đừng nói là một chiếc Thunderbird.
Kể từ giờ phút đó cô ta đã ở trong tâm trí con bất cứ khi nào con tập luyện, bất cứ nơi đâu con làm, và thậm chí cả khi con ngủ. Con tìm hiểu mọi điều mà con có thể về anh chàng Bob Richards và biết được rằng anh ta đều được mọi người quen biết quý mến.
Lần đầu tiên trong đời con căm ghét mình là một người Do Thái.
Lần kế tiếp khi con gặp Christina, con e sợ rằng có điều gì đó sẽ xảy ra. Đó là chặng khởi đầu của cuộc chạy đua một dặm với Viện Đại học Vancouver, với tư cách là sinh viên mới nhập trường, con đã may mắn được chọn làm đại diện cho trường Đại học McGill. Khi con ra tới đường chạy để làm ấm người lên, con nhìn thấy cô ta đang ngồi ở hàng ghế thứ ba trên khán đài, bên cạnh Richards. Họ đang nắm tay nhau.
Con là người nhào đi sau cùng khi khẩu súng của người phát lệnh khởi động nổ vang, nhưng khi chúng con nhập vào đoạn đường thẳng về đích con đã vượt lên ở vị trí thứ năm. Trước mặt là đám đông lớn nhất mà con từng chạy, khi con đến được đoạn thẳng về đích, con chờ tiếng hét: “Thằng Do Thái!”. Thế nhưng không xảy ra điều gì. Con phân vân tự hỏi phải chăng cô ta không nhận thấy con có mặt trong cuộc chạy đua. Nhưng mà cô ta đã nhận thấy, bởi vì khi con chạy tới khúc cua, có có thể nghe thấy giọng nói cô ta rõ ràng: “Cố lên, Benjamin, cậu phải chiến thắng!”, cô ta hét to.
Con muốn quay lại nhìn để chắc chắn chính Christina là người đã hét lên như vậy. Một phần tư dặm đường nữa thì con lại chạy ngang qua cô ta, vào lúc đó thì con đã vượt lên ở vị trí thứ ba, và con có thể nghe thấy cô ta rõ ràng: “Cố lên, Benjamin, cậu làm được mà!”.
Con lập tức dẫn đầu bởi vì tất cả những điều con muốn làm là quay lại với cô ta. Con cứ xông lên chẳng hề nghĩ ngợi ai đang ở sau lưng mình, lúc con chạy ngang qua cô ta lần thứ ba con đã vượt quá đội hình mấy mét. “Cậu sắp thắng rồi!” cô ta hét to khi con cứ thế chạy để có thể về đích trong vòng ba phút tám giây, nhanh hơn mười một giây so với bất cứ lần chạy nào trước kia. Con nhớ con đã nghĩ rằng ai đó nên đưa vào những cuốn sách hướng dẫn luyện tập là tình yêu có thể làm giảm hai đến ba giây cho một vòng chạy.
Con dõi theo cô ấy suốt quãng đường áp đích và khi con nhập vào khúc cua sau cùng lần cuối, đám đông đứng hết cả lên. Con ngoái đầu lại để tìm cô ấy. Cô ấy đang nhảy lên, nhảy xuống, miệng hô to: “Coi chừng! Coi chừng,” mà con không hiểu tại sao cho tới khi con bị quân chủ bài số một của Vancouver qua mặt từ đường chạy bên trong, ông huấn luyện viên đã cảnh báo trước cho con là anh ta nổi tiếng với cú nước rút đầy sức mạnh. Con tới đích ở vị trí thứ hai phía sau anh ta mấy thước, nhưng con cứ tiếp tục chạy cho đến khi đã an toàn trong phòng thay đồ. Con ngồi một mình bên cạnh ngăn tủ đựng đồ của mình. Bốn phút mười bảy giây, có ai đó bảo con: nhanh hơn sáu giây so với bất kỳ lần nào trước đây. Nhưng mà chẳng ích gì. Con đứng dưới vòi hoa sen thật lâu, cố gắng tìm hiểu xem điều gì có thể làm cho cô ấy thay đổi thái độ như vậy.
Khi con rảo bước quay lại đường chạy, chỉ có những nhân viên phục vụ sân là còn ở đó. Con nhìn qua lần cuối dải băng cán đích trước khi bước nhanh đến Thư viện Forsyth. Con thấy không thể đối mặt trong cuộc họp thông thường của đội nhà, do đó con cố gắng ngồi xuống để viết một bài luận về các quyền đối với tài sản của người phụ nữ đã lập gia đình.
Buổi tối thứ bảy đó, thư viện này gần như trống trơn, khi con đang làm tốt và chuyển sang trang thứ ba thì con nghe thấy một giọng nói vang lên, “Tôi hy vọng tôi không ngắt quãng những suy nghĩ của anh, thế nhưng anh đã không đến quán Joe’s.” Con nhìn lên và thấy Christina đang đứng ở phía bên kia chiếc bàn. Thưa cha, con chẳng biết nói gì nữa. Con chỉ có thể ngước nhìn chằm chặp vào sinh vật kiều diễm trong chiếc váy mini màu xanh lam rất hợp mốt và chiếc áo len bó sát người, tôn lên bộ ngực hoàn hảo nhất, và không thể nói gì.
“Tôi là người đã hét to “Thằng Do Thái” khi anh vẫn còn học ở trường trung học. Tôi đã cảm thấy rất xấu hỏ về việc ấy từ đó đến nay. Tôi đã muốn xin anh thứ lỗi vào cái đêm dạ hội khiêu vũ do trường trung học tổ chức, thế nhưng tôi đã không thể dồn đủ can đảm vì Greg có  mặt ở đó”. Con gật đầu tỏ ý hiểu – con không thể nghĩ ra được bất cứ lời lẽ nào cho có vẻ thích hợp. “Tôi đã không bao giờ chuyện trò lại với anh ta,” cô ta bảo. “Nhưng mà tôi không cho là anh, thậm chí còn nhớ đến Greg”.
Con chỉ mỉm cười, và hỏi: “Uống chút cà phê nhé?”, cố gắng tỏ ra như thể là con sẽ chẳng lấy làm phiền ngì nếu cô ấy trả lời, “Tôi xin lỗi, tôi phải trở lại với anh Bob”.
“Tôi rất thích uống cà phê,” cô ấy bảo.
Con dẫn cô ấy lại quầy cà phê thư viện, đó là tất cả khả năng trang trải của con lúc đó. Cô ấy chẳng hề bận tâm giải thích về điều gì đã xảy ra với Bob Richards, và con cũng không bao giờ hỏi.
Christina có vẻ biết nhiều về con đến mức con cảm thấy bối rối. Cô ấy xin con tha thứ cho những lời mà cô ấy hét tại đường chạy ngày hôm đó hai năm về trước. Cô ấy không hề viện cớ gì hết, không đổ lỗi cho bất cứ ai khác, chỉ hỏi xin được tha thứ.
Christina bảo con là cô ấy đang hy vọng cùng nhập học với con tại McGill vào tháng chín để theo học lấy bằng tiếng Đức. “Một cơ hội quá tuyệt,” cô ấy thú nhận, “bởi vì nó là ngôn ngữ mẹ đẻ của tôi mà”.
Chúng con luôn ở bên nhau trong suốt thời gian còn lại của mùa hè đó. Chúng con xem lại vở ‘Thánh Joan’, và thậm chí còn xếp hàng để xem bộ phim ‘Bác sĩ No’, đang tạo nên một cơn sốt vào thời gian đó. Chúng con làm việc bên nhau, ăn với nhau, chơi với nhau, thế nhưng chúng con vẫn ngủ riêng.
Con nói ít về Christina với cha vào thời gian đó, thế nhưng con sẵn sàng đặt cược là cha đã biết con yêu nàng đến mức nào; con không bao giờ giấu nổi cha điều gì. Và sau tất cà những dạy dỗ của cha về sự tha thứ và cảm thông thì làm sao cha có thể không tán thành điều đó cơ chứ.
*
* *
0
Bất cứ khi nào con tới nhà Christina, con luôn luôn dược đối xử một cách lịch thiệp, thế nhưng gia đình nàng không thể che giấu vẻ không tán thành. Họ thốt ra những từ ngữ với một cố gắng cho con thấy rằng họ không bài Do Thái, nhưng thực ra thì họ cũng không ưa, và bất cứ khi nào con đả động vấn đề này với Christina, nàng đều bảo rằng con phản ứng thái quá. Cả hai chúng con đều biết là con không như thế. Họ hoàn toàn giản đơn nghĩ là con không xứng đáng với con gái của họ. Họ đã đúng nhưng điều đó không liên quan gì tới việc con là người Do Thái.
Con sẽ không bao giờ quên được lần đầu tiên chúng con ngủ với nhau. Đó là vào ngày mà Christina biết được nàng đã giành được một vị trí ở McGill.
Chúng con vào căn phòng của con lúc ba giờ để thay đồ chơi một ván ten nít. Con ôm ghì lấy nàng trong vòng tay và nghĩ là một giây phút ngắn ngủi nhưng chúng con đã không rời được nhau cho đến tận buổi sáng hôm sau. Không có cái gì được lập kế hoạch từ trước. Nhưng mà làm sao có thể như thế được, khi đó là lần đầu tiên cho cả hai đứa chúng con?
Con bảo con sẽ lấy nàng làm vợ – Chẳng phải tất cả đàn ông đều nói như thế trong lần đầu tiên hay sao? – Chỉ có điều con chỉ ngụ ý như vây.
Thế rồi vài tuần lễ sau đó Christina thấy tắt kinh. Con van vỉ nàng đừng lo sợ; và cả hai chúng con cùng chờ đợi thêm một tháng nữa, bởi vì Christina sợ phải đi khám bất cứ bác sỹ nào ở Montreal.
Nếu như con đã nói cho cha biết mọi điều lúc đó, thưa cha, có thể cuộc đời con đã đi theo một hướng khác. Thế nhưng con đã không nói, và chỉ có mỗi bản thân mình để mà đổ lỗi thôi.
Con bắt đầu lên kế hoạch cho một cuộc hôn lễ mà cả gia đình của Christina và cha đều không thể chấp nhận được, thế nhưng chúng con chẳng cần. Tình yêu không phân biệt cha mẹ, và chắc chắn là không phân biệt tôn giáo. Khi Christina tắt kinh lần thứ hai, con đồng ý rằng nàng nên bảo cho mẹ biết. Con hỏi nàng có muốn con có mặt cùng vào thời điểm đó không, thế nhưng Christina chỉ lắc đầu, và giải thích rằng nàng cảm thấy phải tự mình giáp mặt với họ.
“Anh sẽ đợi ở đây đến khi nào em quay trở lại,” con hứa.
Nàng mỉm cười. “Em sẽ quay lại, thậm chí, trước khi anh có thời gian để thay đổi ý định lấy em làm vợ”.
Con ngồi trong căn phòng của mình tại McGill suốt buổi chiều hoom đó, đọc sách và đi tới đi lui – chủ yếu là bước tới bước lui – thế nhưng Christina không quay lại, và con không đi tìm nàng cho đến khi trời tối. Con lén lần tới nhà nàng, trong suốt quãng thời gian đó, cố gắng tự thuyết phục mình bằng một lời giải thích giản đơn nào đó cho việc tại sao nàng chưa quay trở lại.
Khi con tới con đường nhà nàng, con thấy ánh đèn duy nhất sáng trong phòng ngủ của nàng, do đó con nghĩ chắc là nàng đang ở nhà một mình. Con bước qua cánh cổng đi lên hàng hiên trước nhà, gõ cửa và chờ đợi.
Bố cô ấy ra mở cửa.
“Anh muốn gì?” ông ta hỏi, đôi mắt của ông không rời con, dù chỉ trong chốc lát.
“Cháu yêu con gái bác,” con nói với ông ta, “và cháu muốn cưới cô ấy làm vợ”.
“Con bé sẽ không bao giờ lấy một người Do Thái làm chồng,” ông ta nói một cách đơn giản và đóng cửa lại. Con nhớ ông ta không sập cửa; ông ta chỉ đóng nó lại, điều này dường như làm cho sự việc, thậm chí càng thêm tệ hại.
Con đứng bên ngoài, dưới đường, mắt nhìn đăm đắm lên căn phòng của nàng hơn một tiếng đồng hồ, cho đến lúc ánh đèn tắt đi. Con lê bước về nhà. Con mường tượng đêm đó có một trận mưa phùn nhẹ và có rất ít người ngoài đường phố. Con cố gắng suy nghĩ xem con nên làm việc gì lúc đó, mặc dù tình huống của con xem ra có vẻ tuyệt vọng. Đêm hôm đó đi ngủ, con hy vọng vào một phép màu nhiệm. Con đã quên mất là những phép màu nhiệm là để dành cho những người Thiên chúa giáo, chứ không phải cho người Do Thái.
Đến sáng hôm sau con đã nghĩ ra một kế hoạch. Con gọi điện đến nhà Christina lúc tám giờ và suýt nữa dập ông nói xuống khi nghe thấy giọng nói ở đầu dây bên kia.
“Bà Von Braumer đây”.
“Christina có ở đó không, thưa bác?” Con hỏi thì thầm.
“Không, không có,” câu đáp lại lạnh nhạt.
“Thưa bác, cô ấy sẽ trở về vào lúc nào?” con hỏi.
“Không nhanh đâu,” bà ta nói và rồi đường dây bị cúp.
“Không nhanh dâu” rốt cuộc thành hơn một năm. Con viết thư từ, gọi điện thoại, hỏi thăm bè bạn cả ở trường học cũ và trường đại học nhưng không thể tìm ra họ đã mang nàng đi đâu.
Rồi một hôm, không thông báo gì hết, nàng quay trở lại Montreal, theo sau là một ông chồng và đứa con của con. Con biết được những điều cay đắng này từ cô Naomi Goldblatz, người đã trông thấy và nhận ra ba người.
Con nhận được mấy dòng nhắn ngắn gọn của Christina quãng một tuần lễ sau đó, cầu xin con đừng cố gắng tiếp xúc với nàng một lần nào.
Con vừa bắt đầu năm học cuối cùng tại McGill và giống như một quý ông của thế kỷ mười tám, con thực hiện đúng điều mong ước của nàng không sai một ly và dành trọn tâm trí cho những kỳ thi cuối cùng. Nàng vẫn tiếp tục ám ảnh tâm trí con và con tự cho là mình may mắn vào thời điểm cuối năm học vì con nhận được một lời đề nghị vào học tại Trường luật Harvard.
Con rời Montreal đi Boston vào ngày 12 tháng 9 năm 1968.
Chắc cha băn khoăn muốn biết tại sao con không bao giờ về nhà lấy một lần trong suốt ba năm đó. Con biết sự không tán thành của cha. Nhờ có bà Goldblatz mà mọi người đều biết cha đứa con của Christina là ai và con cảm thấy sự cố tình vắng mặt như vậy có thể làm cho cuộc sống của cha dễ dàng hơn một chút.
 
*
* *
0
Ông giáo sĩ Do Thái tạm dừng khi ông hồi tưởng cảnh bà Goldblatz nói cho ông biết những điều mà bà ta suy nghĩ và cho là “trách nhiệm của bà ta”.
“Cô là một mụ chuyên thọc gậy bánh xe, gây chuyện bất hòa,” ông đã bảo bà ta như vậy. Đến thư bảy tuần đó, bà ta đã chuyển đến một giáo đường Do Thái khác và kể cho mọi người trong thị trấn biết rõ tại sao.
Ông tức giận bản thân mình hơn là đối với Benjamin. Lẽ ra ông nên đến thăm trường Harvard, để cho con trai ông biết rằng tình yêu của ông dành cho nó vẫn không thay đổi. Sức mạnh của lòng khoan dung, tha thứ ở ông là như vậy.
Ông lại một lần nữa cầm bức thư lên đọc.
 
*
* *
 
Trong những năm học tại trường luật, con có nhiều bạn bè cả nam lẫn nữ, thế nhưng Christina hiếm khi nào rời khỏi tâm trí con lâu hơn vài giờ đồng hồ. Con đã viết hơn bốn mươi bức thư cho nàng trong lúc con ở Boston, nhưng không hề gửi đi một lá nào. Con thậm chí còn gọi điện thoại, nhưng mà không bao giờ là giọng nói của nàng trả lời. Mà nếu đúng là giọng nói của nàng, thì con thậm chí cũng không biết chắc con có nói điều gì không. Con chỉ muốn được nghe thấy giọng nàng.
Cha có khi nào muốn biết về những người phụ nữ trong cuộc sống của con không? Con đã có những cuộc tình chóng vánh với những cô gái thông minh như Radcliffe, một cô gái ham đọc sách luật, sách lịch sử và cả khoa học tự nhiên, cho đến một cô gái nhân viên bán hàng, cô này thì chẳng bao giờ đọc bất cứ cái gì. Cha có thể tưởng tượng được không, trong chính cái hành động yêu đương ấy, con vẫn luôn nghĩ về một người đàn bà khác? Con dường như thực hiện công việc như một cái máy được lái tự động, và thậm chí sự đam mê nồng nhiệt của con với môn chạy suy giảm xuống chỉ còn một giờ chạy thể dục mỗi ngày.
Khá lâu trước khi kết thúc năm học cuối, những công ty luật hàng đầu của New York, của Chicago và Toronto đã tới để phỏng vấn chúng con. Những chiếc chuông Harvard có thể được tin cậy để gõ rền vang ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng dù vậy con vẫn rất ngạc nhiên trước cuộc thăm viếng của một thành viên cấp cao của Hãng luật Graham Douglas & Wilkins of Toronto. Nó không phải là một hãng nổi tiếng vì những thành viên Do Thái, thế nhưng con lại thích thú cái ý nghĩ rằng một ngày kia tiêu đề in trên đầu trang giấy của họ sẽ viết “Graham Douglas Wilkins & Rosenthal”. Thậm chí ngay cả cha của Christina chắc chắn cũng sẽ bị điều đó gây ấn tượng.
Và con tự thuyết phục bản thân nếu con sống và làm việc ở Toronto, chí ít nó cũng đủ xa xôi, cách trở để cho con có thể quên nàng đi, và biết đâu sự may rủi khiến con có thể tìm được ai đó mà con có thể nảy sinh tình cảm như vậy.
Công ty Graham Douglas & Wilkins tìm cho con một căn hộ rộng rãi, nhìn ra công viên và một mức lương khởi điểm rất tốt. Đáp lại, con làm việc tất cả mọi giờ mà Chúa của tất cả mọi người đã tạo ra. Con đã nghĩ họ đã quá thúc ép học hành tại McGill và tại Harvard, thì thưa cha, hóa ra đó mới chỉ là một cú tập rượt chay cho thế giới thực mà thôi. Tuy nhiên, con không phàn nàn. Công việc rất thú vị, và đạt được những phần thưởng vượt quá sự mong đợi của con. Giờ đây con đã có thể tậu được một chiếc xe hơi Thunderbird, thì con lại không muốn có nó.
Những cô bạn gái mới đến, rồi đi ngay khi họ nói tới cưới xin. Những cô gái Do Thái thường đề cập đến chủ đề này chỉ sau quãng một tuần lễ, những cô không phải Do Thái thì con thấy chờ đợi lâu hơn một chút. Con thậm chí bắt đầu sống với một cô gái trong số họ, đó là Rebecca Wertz, nhưng cuộc tình này cũng chấm dứt vào một ngày thứ năm.
Sáng hôm đó, khi con đang lái xe đến văn phòng, chắc lúc đó hơn tám giờ một chút, lúc này đã hơi muộn thì con trông thấy Christina ở phía bên kia con đường cao tốc tấp nập xe cộ. Một thanh barie ngăn cách chúng con. Nàng đang đứng tại một bến đỗ xe buýt, đang năm tay một cậu bé con, nó chắc là trạc năm tuổi – thằng con trai của con.


0
Xe cộ dày đặc buổi sáng cho phép con nhìn nàng thêm một lát đầy ngạc nhiên. Con nhận thấy con rất muốn nhìn thấy cả hai mẹ con họ cùng một lúc. Nàng mặc một chiếc áo choàng mỏng dài, cho thấy nàng vẫn giữ được một dáng hình đẹp mảnh mai. Khuôn mặt nàng thanh thản và điều này nhắc nhở con lý do vì sao hiếm khi nàng rời khỏi tâm trí con. Thằng con trai nàng – con trai của chúng con – mặc một chiếc áo khoác vải len thô, rộng quá khổ và đầu nó đội một chiếc mũ lưỡi trai bóng chày cho thấy thằng bé ủng hộ cho đội Cá heo Toronto. Thật là không may vì nó thực sự ngăn cho con không thấy được mặt mũi thằng bé coi ra sao. Con còn nhớ đã nghĩ: Nàng không thể ở Toronto được, đáng ra nàng phải ở Montreal chứ. Con nhìn theo hai mẹ con nàng qua chiếc gương bên khi  họ leo lên một chiếc xe buýt. Ngày thứ năm đặc biệt đó, chắc con phải là một luật sư kinh khủng đối với hết thảy mọi thân chủ tìm kiếm những lời khuyên của con.
Trong tuần lễ tiếp theo, mỗi buổi sáng con đều đi ngang qua bến đỗ xe buýt ấy trong thời gian vài phút suýt soát với giờ mà con đã trông thấy họ đứng ở đó, thế nhưng không bao giờ con trông thấy họ nữa. Con bắt đầu băn khoăn tự hỏi phải chăng mình đã tưởng tượng ra toàn bộ cảnh tượng đó. Thế rồi con lại trông thấy nàng, sau khi con đi thăm một thân chủ và đang quay trở về qua thành phố. Nàng chỉ có một mình và con đạp phanh dữ dội khi con trông thấy nàng đi vào một cửa hiệu trên phố Bloor Street. Lần này con đỗ xe cẩn thận và rảo bước nhanh nhẹn sang đường, cảm giác như một anh thám tử tư nhếch nhác, người dành cả cuộc đời mình nhìn qua những lỗ khóa.
Điều con trông thấy làm con ngạc nhiên. Không phải con tìm thấy nàng trong một cửa hiệu bán quần áo thời trang, mà con phát hiện ra đó là nơi nàng làm việc.
Lúc đó con thấy nàng dang phục vụ một khách hàng, con nhanh chóng quay trở lại xe. Khi con về đến văn phòng con hỏi cô thư ký của mình xem cô ta có biết một cửa hiệu tên là “Willing’s” không.
Cô thư ký của con cười lớn. “Ông phải đọc nó theo cách của người Đức, chữ W trở thành chữ V,” cô ta giải thích, “do đó phải là “Villing’s”. Nếu như ông đã lập gia đình thì ông sẽ biết nó là cửa hiệu quần áo đắt tiền nhất trong thành phố,” cô ta nói thêm.
“Cô có biết gì thêm về chỗ đó không?” Con hỏi, cố gắng giữ giọng bình thường.
“Không nhiều lắm,” cô ta bảo. “Chỉ biết nó do một quý bà người Đức tên là Klaus Willing sở hữu, bà ta thường hay được viết trong những tạp chí của phụ nữ”.
Con không cần phải hỏi cô thư ký của con thêm câu hỏi nào nữa và thưa cha, con sẽ không gây phiền phức cho cha vì những hoạt động thám tử của con. Được trang bị với những mẩu thông tin đó, con không mất nhiều thời gian để khám phá ra Christina ở đâu, rằng chồng nàng là một giám đốc hải ngoại của BMW, và họ chỉ có một đứa con.
 
*
* *
 
Ông giáo sĩ già thở nặng ngọc khi ông liếc nhìn lên chiếc đồng hồ trên mặt bàn, theo một thói quen hơn là muốn biết được giờ giấc. Ông tạm dừng một lát trước khi quay lại với lá thư. Ông đã tự hào đến thế về thằng con trai luật sư của mình lúc đó; tại sao ông đã không thiết lập những bước đầu tiên để hướng tới một sự hòa hợp? Ông ước muốn được trông thấy thằng cháu nội làm sao.
 
*
* *
 
0
Quyết định cuối cùng của con không đòi hỏi một bộ óc hiểu luật pháp sâu sắc, mà chỉ cần một chút lương tri – mặc dù một luật sư mà tự khuyên chính mình thì không nghi ngờ gì nữa, đó là một luật sư ngu dốt với các thân chủ. Con quyết định phải tiếp xúc trực tiếp và một bức thư là phương pháp duy nhất mà con cảm thấy Christina sẽ có thể chấp nhận.
Con viết một thông điệp đơn giản vào buổi sáng thứ hai đó, và viết đi viết lại mấy lần trước khi con điện thoại cho “chuyển phát nhanh Fleet”, nhờ họ đưa trực tiếp cho cô ấy tại cửa hiệu. Khi người thanh niên mang bức thư đi khỏi, con muốn đi theo anh ta, chỉ để chắc chắn anh ta sẽ trao nó cho đúng người. Con vẫn có thể lặp lại từng chữ một.
Christina thân yêu,
Chắc em biết anh sống và làm việc ở Toronto. Chúng ta gặp nhau được không? Anh sẽ đợi em tại phòng khách của khách sạn Royal York mọi buổi tối từ sáu đến bảy giờ tuần này. Nếu em không đến, em hãy cứ yên tâm anh sẽ không bao giờ làm phiền em nữa.
Benjamin.
Tối hôm đó con đến sớm gần ba mươi phút. Con nhớ con đã chọn một chỗ ngồi trong một căn phòng khách lớn độc lập bên cạnh gian sảnh chính và gọi cà phê.
“Có ai sẽ đi cùng ngài không, thưa ngài?” anh bồi hỏi.
“Tôi không biết chắc,” con bảo anh ta. Không có ai đến , nhưng con vẫn loanh quanh ở đó đến bảy giờ bốn mươi.
Đến thứ năm thì anh bồi thôi không hỏi có ai đi cùng con nữa không, con vẫn ngồi một mình, và thêm một tách cà phê nữa lại nguội lạnh. Cứ mấy phút con lại xem đồng hộ. Mỗi lần có một người phụ nữ tóc vàng đi vào gian sảnh, trái tim con lại nhảy dựng lên, nhưng đó không bao giờ là người đàn bà mà con hy vọng.
Sau cùng, vào lúc gần bảy giờ ngày thứ sáu, con thấy Christina đứng trên ngưỡng cửa. Nàng mặc một bộ đồ xanh lơ thanh nhã, cài khuy gần như đến tận cổ và một chiếc áo cánh trắng, trông nàng như đang trên đường tới dự một cuộc họi thảo kinh doanh mái tóc dài màu vàng của nàng được vuốt ra sau tai tạo một dáng vẻ nghiêm nghị, nhưng nàng có cố gắng thay đổi như thế nào chăng nữa, sắc đẹp của nàng vẫn không hề suy giảm. Con đứng dậy và giơ cao cánh tay lên. Nàng nhanh nhẹn bước tới và ngồi xuống bên cạnh con. Chúng con không hôn hay bắt tay nhau và thậm chí khong nói gì một lúc.
“Cảm ơn em đã đến,” con bảo.
“Em không nên đến, thật là ngốc ngếch.”
Một quãng thời gian trôi qua và cả hai chúng con vẫn ngồi yên lặng.
“Anh rót cà phê cho em nhe?” con hỏi.
“Vâng, cảm ơn”.
“Đen chứ?”
“Vâng”.
“Em vẫn không thay đổi.”
Tất cả mới tầm thường, vô vị làm sao nếu có ai đó nghe trộm được.
Nàng nhấp tách cà phê.
Con đáng lẽ phải ôm ghì nàng trong vòng tay ngay lúc đó nhưng con chẳng thể biết được nàng muốn gì. Trong mấy phút liền, chúng con nói về những chuyện chẳng đâu vào đâu cả, luôn tránh ánh mắt của nhau, cho đến khi bỗng dưng con nói, “Em có nhận thấy rằng anh vẫn còn yêu em không?”
Nước mắt dần dâng lên, nàng trả lời, “Tất nhiên là em biết. Em vẫn cảm thẫy như thế về anh lúc này đây, cũng như em đã cảm thấy vào cái ngày chúng ta chia lìa nhau. Và đừng quên em phải nhìn thấy anh hàng ngày, qua Nicholas.”
Nàng rướn người lên và nói gần như thì thầm. Nàng kể cho con về buổi nói chuyện với cha mẹ hơn năm năm trước mà cứ như thẻ chúng con chưa bị chia lìa trong khoảng thời gian đó. Cha nàng đã không tỏ ra tức giận khi ông ta biết nàng đã có thai, nhưng cả gia đình nàng vẫn chuyển đi Vancouver vào buổi sáng hôm sau. Tại đó, họ sống ở nhà gia đình Willings, một gia đình cũng đến từ Munich, họ là những người bạn cũ của gia đình von Braumers. Người con trai của họ, Klaus đã luôn mụ mẫm người vì yêu Christina, và không quan trọng gì việc Christina đã có mang, thậm chí thực tế là nàng chẳng có tình cảm gì với anh ta. Anh ta tin tưởng rằng, với thời gian, mọi việc sẽ đều trôi chảy và sẽ tốt đẹp.
Mọi việc đã không như vậy, bởi vì nó không thể nào như vậy được. Christina đã luôn luôn biết mọi sự sẽ không bao giờ ổn thỏa, cho dù Klaus cố gắng thế nào đi nữa. Họ thậm chí còn rời Montreal nhằm nỗ lực cải thiện tình hình. Klaus mua cho nàng một cửa hiệu ở Toronto và mọi thứ xa xỉ mà tiền bạc có thể mua được, thế nhưng cũng chẳng thay đổi được gì. Cuộc hôn nhân của họ rõ ràng là một sự giả tạo. Tuy nhiên họ không thể vì chính bản thân mình mà ly hôn để làm cho hai bên gia đình thêm đau khổ, thế là họ đã sống những cuộc sống riêng ngay từ đầu.
Sau khi Christina kết thúc câu chuyện của nàng, con đặt tay lên má nàng và nàng nắm lấy bàn tay con và hôn lên đó. Kể từ giây phút đó chúng con gặp gỡ nhau vào mọi khoảng thời gian rỗi rãi có thể lẻn đi được, bất kể ngày hay đêm. Đó là những năm tháng hạnh phúc nhất trong cuộc đời con, và con đã không thể che giấu bất cứ ai tình cảm của con.
Cuộc tình của chúng con – đó là cách mà các lời đồn đại đang miêu tả nó – không tránh khỏi trở thành công khai. Dù chúng con có cố gắng tỏ ra kín đáo đến thế nào chăng nữa, con nhanh chóng phát hiện Toronto là một nơi quá nhỏ bé, đầy rẫy những kẻ vui sướng trong việc kể cho những người mà chúng con cũng thương yêu, rằng thường hay bắt gặp chúng con đi với nhau, thậm chí rời khỏi nhà con vào sáng sớm.
Thế rồi bỗng nhiên chúng con hoàn toàn không có sự lựa chọn nào nữa: Christina bảo con nàng lại có mang lần nữa. Có điều lần này cả hai đứa chúng con đều không có gì phải sợ.
Khi Christina nói cho Klaus biết, việc thỏa thuận giải quyết diễn ra chóng vánh như khi viên luật sư cừ nhất của Graham Douglas & Wilkins có thể dàn xếp thương lượng. Chúng con tổ chức lễ thành hôn chỉ vài ngày sau khi các giấy tờ ly hôn cuối cùng được ký kết. Cả hai đứa chúng con đều thấy hối tiếc rằng cha mẹ Christina cảm thấy không thể tham dự lễ cưới, thế nhưng con không thể hiểu được tại làm sao cha đã không đến dự.
*
* *
0
Ông giáo sĩ Do Thái vẫn không thể tin sự không khoan dung và tầm nhìn thiển cận của chính mình. Những yêu cầu đối với một người Do Thái chính thống nên được từ bỏ nếu điều đó có nghĩa là mình mất đi thằng con trai độc nhất. Ông đã tra cứu cuốn Tamud (luật lệ và truyền thống Do Thái) một cách vô ích, hòng tìm bất cứ một trích đoạn nào đó sẽ cho phép ông phá bỏ lời nguyền của đời ông. Vô ích.

*
* *

Việc đáng buồn duy nhất của vụ giải quyết ly hôn là Klaus được trao quyền nuôi giữ đứa con của chúng con. Và để đổi lấy một vụ ly hôn nhanh chóng, anh ta cũng yêu cầu con không được phép gặp Nicholas trước sinh nhật lần thứ hai mươi mốt của nó, và con không được bảo cho nó biết chính con là cha đẻ của nó. Vào lúc đó, điều này như là một cái giá đắt phải trả, thậm chí cho một niềm hạnh phúc đến như thế. Chúng con đều biết không có sự lựa chọn nào khác là phải chấp nhận những điều kiện của anh ta.
Con thường tự hỏi làm sao từng ngày đang tới lại vui vẻ, hạnh phúc hơn những ngày qua đi đến thế. Nếu phải xa Christina lâu hơn một vài tiếng đồng hồ thì con luôn thấy nhớ nàng. Nếu công ty điều con đi công tác ra khỏi thành phố mất một đêm, con thường gọi điện thoại cho nàng hai, ba, có khi bốn lần, và nếu mà thời gian đó lâu hơn một đêm thì nàng sẽ đi cùng với con. Con còn nhớ một lần cha đã miêu tả tình yêu của cha dành cho mẹ con và phân vân liệu vào lúc nào đó con có thể hi vọng có được sự hạnh phúc như vậy.
Chúng con bắt đầu lập kế hoạch cho việc sinh nở đứa con của mình. Nếu đứa bé là con trai nàng sẽ chọn tên con là William; nếu đứa bé là con gái con sẽ chọn tên cho nó là Deborah. Con sơn căn phòng còn dư màu hồng, cứ như là con đã thắng cuộc rồi vậy.
Christina phải ngăn không cho con mua quá nhiều quần áo trẻ sơ sinh, thế nhưng con báo trước với nàng rằng sẽ hề hấn gì đâu, bởi vì chúng mình sắp sửa có thêm cả chục đứa con nữa. Con nhắc nàng nhớ rằng người Do Thái thường tin tưởng vào các triều đại.
Christina thường xuyên tham dự các buổi tập thể dục, ăn kiêng kỹ lưỡng, nghỉ ngơi rất hợp lý. Con bảo với nàng là nàng đang làm tốt hơn rất nhiều những điều được đòi hỏi ở một bà mẹ, thậm chí là dành cho con gái của con nữa. Con hỏi liệu con có được phép có mặt khi đứa trẻ của chúng con chào đời và bác sỹ phụ khoa của cô ấy dù ban đầu có vẻ miễn cưỡng, nhưng rồi đã đồng ý. Khi tới tháng thứ chín, qua những sự rối rít, nhặng xị mà con đã gây ra chắc ở bệnh viện họ nghĩ là họ đang chuẩn bị cho việc sinh nở một vị hoàng tử của hoàng gia.
Con lái xe đưa Christina vào bệnh viện Phụ nữ của trường Đại học Y, tọa lạc trên trục đường con đi làm vào thứ ba tuần trước. Mặc dù tiếp tục đi tới văn phòng làm việc, nhưng con thấy không tài nào tập trung tư tưởng cho được. Bệnh viện gọi tới vào buổi chiều để nói họ cho rằng đứa bé sẽ được sinh ra vào lúc gần tối hôm đó; rõ ràng là Deborah không muốn phá vỡ giờ giấc làm việc của Graham Douglas & Wilkins. Tuy vậy, con vẫn có mặt tại bệnh viện rất sớm. Con ngồi ở cuối giường của Christina cho đến khi những cơn co thắt đến với nàng trong từng phút, rồi sau đó con ngạc nhiên thấy họ yêu cầu con đi ra. Một nữ y tá giải thích họ cần phải làm vỡ màng ối. Con nhờ cô ta nhắc nhở bà đỡ rằng con muốn được có mặt để chứng kiến cuộc sinh nở.
Con đi ra ngoài hành lang, và bắt đầu đi đi lại lại, như cách các ông bố tương lai trong những bộ phim có cảnh sinh nở. Bác sĩ phụ khoa có mặt sau đó quãng nửa tiếng và dành cho con một nụ cười rất tươi. Con nhận thấy có một điếu xì gì trong túi áo ngực của ông ta, chắc chắn là để dành sẵn cho các ông bố tương lại. “Sắp sinh rồi đấy,” ông ta chỉ nói có vậy.
0
Một bác sĩ thứ hai, người mà con chưa từng biết mặt, xuất hiện sau đó một vài phút và nhanh chóng đi vào phòng của nàng. Ông ta chỉ gật đầu với con. Con cảm thấy con giống như một người đứng trước vành móng ngựa, chờ đợi nghe phán quyết của bồi thẩm đoàn.
Chắc phải ít nhất mười lăm phút trôi qua trước khi con thấy một nhóm gồm ba bác sỹ thực tập nội trú trẻ đang chuyển một cái gì đó dọc theo hành lang. Thậm chí họ không liếc mắt nhìn con lần thứ hai khi họ biến mất vào trong căn phòng của Christina.
Con nghe thấy những tiếng gào thét rồi bỗng nhiên nhường lại cho tiếng khóc rầu rĩ của một đứa bé vừa mới được sinh ra. Con cảm ơn Chúa của con và Chúa của nàng. Khi ông bác sĩ bước ra khỏi phòng nàng, con còn nhớ đã nhận ra rằng điếu xì gà đã không còn.
“Đó là một bé gái,” ông ta nói khẽ khàng. Con quá vui sướng. Cái ý nghĩ “Không cần phải quét sơn lại phòng ngủ ngay lập tức” lóe ngay lên trong đầu con.
“Tôi có thể vào với Christina bây giờ không?” con hỏi.
Ông ta nắm lấy cánh tay con và dẫn con đi ngang qua hành lang, bước vào văn phòng của ông ta.
“Anh có muốn ngồi xuống không?” ông ta hỏi. “Tôi sợ rằng tôi có tin buồn”
“Cô ấy ổn cả chứ?”
“Tôi rất lấy làm tiếc, thật vô cùng đáng tiếc, phải nói với anh rằng vợ anh đã chết.”
Ban đầu con không tin ông ta, con không thể tin ông ta. Tại sao? Tại sao? Con muốn gào lên.
“Chúng tôi đã cảnh báo cho bà ấy rồi,” ông ta nói thêm.
“Cảnh báo? Cảnh báo cô ấy về cái gì?”
“Rằng huyết áp của bà ấy có thể không chịu nổi việc sinh nở lần thứ hai.”
Christina đã không bao giờ nói cho con biết điều đó, ông bác sĩ tiếp tục giải thích “rằng việc sinh nở đứa con đầu tiên của chúng con đã là phức tạp, và rằng các bác sĩ đã khuyên nhủ cô ấy không nên có thai thêm lần nữa.”
“Tại sao cô ấy không nói cho tôi biết?” con hỏi. Thế rồi con nhận ra tại sao. Nàng đã mạo hiểm mọi thứ vì con – cái thằng ngu ngốc, ích kỷ, vô tâm là con đây – và cuối cùng, con đã giết chết chính người mà con yêu thương.
Họ cho phép con ôm bé Deborah trong vòng tay mình chỉ trong chốc lát trước khi họ đặt con bé vào trong một chiếc lồng nuôi trẻ đẻ non và bảo con là phải sau hai mươi bốn tiếng đồng hồ nữa thì con bé mới thoát khỏi tình trạng nguy cấp.
Cha sẽ không bao giờ biết được điều đó có ý nghĩa lớn lao đến như thế nào với con đâu, thưa cha, rằng cha đã đến bệnh viện nhanh chóng đến thế. Cha mẹ của Christina cũng tới nơi muộn hơn trong buổi tối đó. Họ thật cao quý. Cha nàng đã cầu xin sự tha thứ nơi con – cầu xin sự tha thứ của con. Ông ấy cứ luôn miệng nhắc lại việc này đã không bao giờ có thể xảy ra nếu như ông ấy đã không ngu ngốc và nặng nề thành kiến đến như thế.
Bà vợ ông ấy nắm lấy tay con và hỏi liệu bà ấy có được phép thỉnh thoảng đến thăm nom cháu Deborah. Tất nhiên con đã đồng ý. Họ đi khỏi ngay trước lúc nửa đêm. Con ngồi, đi lại, ngủ trong cái hành lang đó trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ kế tiếp, cho tới khi các bác sĩ bảo con rằng con gái con đã thoát khỏi tình trạng nguy ngập rồi. Con bé sẽ phải nằm trong bệnh viện thêm mấy ngày nữa, họ giải thích, nhưng con bé giờ đây đã có thể mút được sữa từ chai.
Ông bố của Christina đã lo liệu việc tang lễ rất tử tế.
Chắc cha đã băn khoăn tại sao con không xuất hiện và con nợ cha một lời giải thích. Con nghĩ con sẽ ghé qua bệnh viện trên đường tới dự tang lễ để con có thể ở với bé Deborah trong giây lát. Con đã sẵn sàng chuyển đổi tình yêu của mình.
Ông bác sĩ không thể thốt nên lời. Phải là một người can đảm lắm khi bảo cho con biết rằng trái tim của con bé đã ngừng đập một vài phút trước khi con tới nơi. Thậm chí ông bác sĩ phẫu thuật cấp cao cũng rớt nước mắt. Khi con rời khỏi bệnh viện, các hành lang đều đã trống rỗng.
Con muốn cha biết, thưa cha, rằng con yêu thương cha với tất cả trái tim mình, nhưng con không có khát khao mong muốn sống phần còn lại cuộc đời mình mà thiếu vắng Christina hay Deborah.
Con chỉ yêu cầu được chôn cất bên cạnh vợ và con gái con, và được tưởng nhớ như là một người chồng, người cha của họ. Theo cách đó, những người vô tâm có thể học được từ tình yêu của chúng con. Và khi cha đọc xong bức thư này, chỉ cần nhớ rằng con đã có được hạnh phúc trọn vẹn khi con được ở bên nàng đến mức cái chết không có gì đáng sợ đối với con.
Con trai của cha,
Benjamin



Ông giáo sĩ Do Thái già đặt bức thư xuống mặt bàn trước mặt mình. Ông đã đọc nó mỗi ngày trong suốt mười năm qua.

HẾT

0
MỤC LỤC

Vụ giết người hoàn hảo
Chiếu hết
Trên thực đơn
Chỉ là bạn tốt
Ignatius quét sạch sẽ
Đại tá ễnh ương
Tai nạn dây chuyền
Kẽ hở
Không phải thứ thiệt
Món hời
Danh dự giữa các tên đại bịp
Christina Rosenthal
0
Cảm ơn Khachxa đã góp sức cho thư viện

Truyện A twist in the tale - Jeffrey Archer

Đã mang vào thư viện



📎 thankyou
0
«« « 1 2 3 4 » »»