📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Truyện ngắn trên Đài tiếng nói Việt Nam

44 trả lời, 3.827 lượt xem — Trang 1 / 2
Vào trang vov.org.vn thấy có khá nhiều truyện ngắn, khuân về cho pà con cùng thưởng thức
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chữ người tử tù


Nguyễn Tuân



Nhận được phiến trát của Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường, viên quan coi ngục quay lại hỏi thầy thơ lại giúp việc trong đề lao:

-Này, thầy bát, cứ công văn này, thì chúng ta sắp nhận được sáu tên tù án chém. Trong đó, tôi nhận thấy tên người đứng đầu bọn phản nghịch là Huấn Cao. Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao? Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?

Thầy thơ lại xin phép đọc công văn.

-Dạ, bẩm chính y đó. Dạ, bẩm có chuyện chi vậy?

-Không, tôi nghe tên quen quen và thấy nhiều người nhắc nhỏm đến cái danh đó luôn, thì tôi cũng hỏi thế thôi. Thôi, cho thầy lui. A, nhưng mà thong thả. Thầy bảo ngục tốt nó quét dọn lại cái buồng cuối cùng. Có việc dùng đến. Thầy liệu cái buồng giam đó có cầm giữ nổi một tên tù có tiếng là nguy hiểm không? Thầy có nghe thấy người ta đồn Huấn Cao, ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khóa và vượt ngục nữa không?

-Dạ bẩm, thế ra y văn võ đều có tài cả. Chà chà!

- ờ, cũng gần như vậy. Sao thầy lại chặc lưỡi?

-Tôi thấy những người có tài thế mà đi làm giặc thì đáng buồn lắm. Dạ bẩm, giả thử tôi là đao phủ, phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc.

-Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời. Nhỡ ra lại vạ miệng thì khốn. Thôi, thầy lui về mà trông nom việc dưới trại giam. Mai, chúng ta phải dậy sớm để cho có mặt ở cửa trại trước khi lính tỉnh trao tù cho mình lĩnh nhận. Đêm nay, thầy bắt đầu lấy thêm lính canh. Mỗi chòi canh, đều đặt hai lính. Chòi nào bỏ canh, hễ mỗi vọng canh ngủ quên không đánh kiểng đánh mõ, thầy nhớ biên cho rõ, cho đúng để mai tôi phạt nặng. Chớ có cho mấy thằng thập nó đánh bạc nghe!

Thầy thơ lại rút chiếc hèo hoa ở giá gơm, phe phẩy roi, đi xuống phía trại giam tối om. Nơi góc chiếc án thư cũ đã nhợt màu vàng son, một cây đèn đế leo lét rọi vào một khuôn mặt nghĩ ngợi. Ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dơng. Tiếng trống thành phủ gần đấy đã bắt đầu thu không. Trên bốn chòi canh, ngục tốt cũng bắt đầu điểm vào cái quạnh quẽ của trời tối mịt, những tiếng kiểng và mõ đều đặn tha thướt. Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ đẫm sương, vẳng từ một làng xa đưa lại mấy tiếng chó cắn ma. Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen thẳng lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân giời không định. Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kiểng mõ canh nổi lên nhiều nhiều. Bấy nhiêu thanh âm phúc tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ.

Nơi góc án thư vàng đã nhợt, son đã mờ, đĩa dầu sở trên cây đèn nến vợi lần mực dầu. Hai ngọn bấc lép bép nổ, rụng tàn đèn xuống tập giấy bản đóng dấu son ty Niết. Viên quan coi ngục ngấc đầu, lấy que hương khêu thêm một con bấc. Ba cái tim bấc được chụ nhau lại, cháy bùng to lên, soi tỏ mặt người ngồi đấy.

Người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đá ngả màu. Những đường nhăn nheo của một bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn. ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ. (1)Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bổ.

Ông Trời nhiều khi hay chơi ác đem đầy ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâm điền tốt và thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt.

Ngục quan lấy làm nghĩ ngợi về câu nói ban chiều của thầy thơ lại. "Có lẽ lão bát này, cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi. Một kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình. Ta muốn biệt đãi ông Huấn Cao, ta muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại, nhng chỉ sợ tên bát phẩm thơ lại này đem cáo giác với quan trên thì khó mà ở yên. Để mai ta dò ý tứ hắn lần nữa xem sao rồi sẽ liệu".

Sớm hôm sau, lính tỉnh dẫn đến cửa ngục thất sáu tên tù mà công văn chiều hôm qua đã báo trước cho ngục quan biết rõ tên tuổi làng xóm và tội hình. Sáu phạm nhân mang chung một chiếc gông dài tám thước. Cái thang dài ấy đặt ngang trên sáu bộ vai gầy. Cái thang gỗ lim nặng, đóng khung lấy sáu cái cổ phiếu loạn, nếu đem bắc lên mỏ cân, có thể nặng đến bảy tám tạ. Thật là một cái gông xứng đáng với tội án sáu người tử tù. Gỗ thân gông đã cũ và mồ hôi cổ mồ hôi tay kẻ phải đeo nó đã phủ lên một nước quang dầu bóng loáng. Những đoạn gông đã bóng thì loáng nh có người đánh lá chuối khô. Những đoạn không bóng thì lại sỉn lại những chất ghét đen sánh. Trong khi chờ đợi cửa ngục mở rộng. Huấn Cao, đứng đầu gông, quay cổ lại bảo mấy bạn đồng chí:

- Rệp cắn tôi, đỏ cả cổ lên rồi. Phải dỗ gông đi.

Sáu người đều quỳ cả xuống đất, hai tay ôm lấy thành gông đầu cúi cả về phía trước. Một tên lính áp giải đùa một câu:

- Các người chả phải tập nữa. Mai mốt chi đây sẽ có người sành sõi dẫn các người ra làm trò ở pháp trường. Bấy giờ tha hồ mà tập. Đứng dậy không ông lại phết cho mấy hèo bây giờ.

Huấn Cao, lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh "thuỳnh" một cái. Then ngang chiếc gông bị giật mạnh, đập vào cổ năm người sau, làm họ nhăn mặt. Một trận mưa rệp đã làm nền đá xanh nhạt lấm tấm những điểm nâu đen.

Cánh cửa đề lao mở rộng.

Sáu người né mình tiến vào như một bọn thợ nề, thận trọng khiêng cái thang gỗ đặt ngang trên vai.

Trái với phong tục nhận tù mọi ngày, hôm nay viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành. Lòng kiêng nể, tuy cố giữ kín đáo mà cũng đã rõ quá rồi. Khi kiểm điểm phạm nhân, ngục quan lại còn có biệt nhỡn đối riêng với Huấn Cao. Bọn lính lấy làm lạ, đều nhắc lại:

- Bẩm thầy, tên ấy chính là thủ xướng. Xin thầy để tâm cho. Hắn ngạo ngược và nguy hiểm nhất trong bọn.

Mấy tên lính, khi nói chữ "để tâm" có ý nhắc viên quan coi ngục còn chờ đợi gì mà không giở những mánh khóe hành hạ thường lệ ra. Ngục quan ung dung:

- Ta biết rồi, việc quan ta đã có phép nước. Các chú chớ nhiều lời.

Bọn lính dãn cả ra, nhìn nhau mà không hiểu. Sáu tên tử tù có ngạc nhiên về thái độ quản ngục.

Suốt nửa tháng, ở trong buồng tối, ông Huấn Cao vẫn thấy một người thơ lại gầy gò, đem rượu đến cho mình uống trước giờ ăn bữa cơm tù. Mỗi lúc dâng rượu, với thức nhắm, người thơ lại lễ phép nói: "Thầy quản chúng tôi có ít quà mọn này biếu ngài dùng cho ấm bụng. Trong buồng đây, lạnh lắm".

Ông Huấn Cao vẫn thản nhiên nhận rượu và ăn thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm. Rồi đến một hôm, quản ngục mở khoá cửa buồng kín, khép nép hỏi ông Huấn:

- Đối với những người như ngài, phép nước ngặt lắm. Nhưng biết ngài là một người có nghĩa khí, tôi muốn châm chước ít nhiều. Miễn là ngài giữ kín cho. Sợ đến tai lính tráng họ biết, thì phiền lụy riêng cho tôi nhiều lắm. Vậy ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất (2).

Ông đã trả lời quản ngục:

- Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.

Khi nói câu mà ông cố ý làm ra khinh bạc đến điều, ông Huấn đã đợi một trận lôi đình báo thù và những thủ đoạn tàn bạo của quan ngục bị sỉ nhục. Đến cái cảnh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này. Ngục quan đã làm cho ông Huấn bực mình thêm, khi nghe xong câu trả lời, y chỉ lễ phép lui ra với một câu: "Xin lĩnh ý". Và từ hôm ấy, cơm rượu lại vẫn đưa đến đều đều và có phần hậu hơn trước nữa; duy chỉ có y là không để chân vào buồng giam ông Huấn. Ông Huấn càng ngạc nhiên nữa: năm bạn đồng chí của ông cũng đều được biệt đãi như thế cả.

Có nhiều đêm, ngoài việc nghĩ đến chí lớn không thành, ông Huấn Cao còn phải bận tâm nghĩ đến sự tươm tất của quản ngục. "Hay là hắn muốn dò đến những điều bí mật của ta?". "Không, không phải thế, vì bao nhiêu điều quan trọng, ta đã khai bên ty Niết cả rồi. Ta đã nhận cả. Lời cung ta ký rồi. Còn có gì nữa mà dò cho thêm bận".

Trong đề lao ngày đêm cửa tử tù đợi phút cuối cùng, đúng như lời thơ xưa, vẫn đằng đẵng như nghìn năm ở ngoài. Viên quản ngục, không lấy làm oán thù thái độ khinh bạc của ông Huấn. Y cũng thừa hiểu những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù. Quản ngục chỉ mong mỏi một ngày rất gần đây ông Huấn sẽ dịu bớt tính nết, thì y sẽ nhờ ông viết, ông viết cho... cho mấy chữ trên chục vuông lụa trắng đã mua sẵn và can lại kia. Thế là y mãn nguyện.

Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỷ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo, là có một vật báu trên đời. Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp lại mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất.

Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục tái ngợt người đi sau khi tiếp đọc công văn. Quan Hình Bộ Thượng thư trong Kinh bắt giải ông Huấn Cao và các bạn đồng chí ông vào Kinh. Pháp trường lập ở trong ấy kia. Ngày mai, tinh mơ, sẽ có người đến giải tù đi.

Viên quản ngục vốn đã tin được thầy thơ lại, cho lính gọi lên, kể rõ tâm sự mình. Thầy thơ lại cảm động nghe xong chuyện, nói: "Dạ xin ngài cứ yên tâm, đã có tôi". Rồi chạy ngay xuống phía trại giam ông Huấn, đấm cửa buồng giam, hớt hơ hớt hải kể cho tử tù nghe rõ nỗi lòng quản ngục, và ngập ngừng báo luôn cho ông Huấn biết việc về Kinh chịu án tử hình.

Ông Huấn Cao lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười: "Về bảo chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh trại về nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và một bó đuốc xuống đây rồi ta cho chữ. Chữ thì quý thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi. Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đi phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ".

Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buổi tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột phân gián.

Trong một không khí khói toả như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, họ dụi mắt lia lịa.

Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực. Thay bút con, đề xong lạc khoản, ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc bảo:

- ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn tươi tắn, nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?... Tôi bảo thực đấy: thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.

Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo.

Ba người nhìn bước chân, rồi lại nhìn nhau.

Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: "Kẻ mê muội này xin bái lĩnh"./.


------------
Chú thích:

(1)Kiểm duyệt thời Pháp thuộc bỏ mất bảy dòng chưa tìm ra được.

(2)Kiểm duyệt thời Pháp thuộc bỏ mất sáu dòng chưa tìm ra được.

美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Mùa lạc

Nguyễn Khải


Sáng, mây bốc mù chân núi vây quanh lấy cánh đồng Điện Biên, nhưng trên đỉnh chóp lại hết sức trong trẻo đến nỗi trông thấy rõ những thân cây đứng trơ trụi, và thấp thoáng một vật trắng của mái nhà người Mèo.

Bãi trồng lạc ở cánh đồng phía Tây Hồng Cúm trải ra từ chân khu nhà ở của đội sản xuất số 2 mênh mông cho mãi tới giáp rừng. Giữa cái màu xanh lặng lẽ của lá lạc, lá cỏ nghệ, và rút đồng, nổi lên một miếng vàng sẫm của mấy mảng cỏ gianh và lá cót đan lẫn lên nhau. Đấy là điểm sinh động nhất của toàn bãi: tiếng chân đạp lên bàn gỗ rình rịch, tiếng vòng trục quay ù ù của ba cái máy tuốt lạc, tiếng bào cào rê lạo xạo trên mình vỏ lạc thu gọn lại ở khoanh giữa; mùi hăng của thân lạc tươi mới nhổ xếp lớp lớp trên các cáng và mùi ẩm ướt nồng nồng của những cây lạc đã tuốt đánh đống phơi mưa suốt đêm qua. Bụi bốc mờ mờ từ cả mấy phía, và những chấm cánh nâu của con sâu ban miêu bay sè sè vụt qua vụt lại. Mồ hôi đã thấm hết lần áo ngoài những người đạp máy, khuôn lấy hình người hằn rõ những mảng thịt ở ngực, ở bả vai và vế đùi. Chiếc máy giữa và chiếc máy phía tay trái do sáu người đạp, còn chiếc máy bên phải chỉ có Huân tổ viên tổ 1 và Đào tổ viên tổ 4 đứng. Đào thuộc loại người gặp một lần có thể nhớ mãi, rất dễ phân biệt với những chị em khác. Hai con mắt hẹp và dài đưa đi đưa lại rất nhanh, gò má cao đầy tàn hương, và hàm răng trên đen nhờ nhờ hơi nhô ra ngoài môi. Chị bịt đầu bằng chiếc khăn vải kẻ ô vuông một vệt dài phía sau khiến những nét thiếu hoà hợp trên mặt càng trở nên thô, càng đỏng đảnh. Đứng cạnh người đàn bà ít duyên dáng ấy là Huân, một đoàn viên thanh niên chưa tròn hăm nhăm tuổi, rất khoẻ và đẹp trai. Anh đưa cặp mắt màu nâu nhạt ẩn dưới đôi lông mày đen và mịn như nét vẽ sang phía Đào. Mồ hôi đã thấm ướt vành khăn, chảy từng giọt dài xuống kẽ mắt, sống mũi. Cái thân người sồ sề của chị như nở to ra, hổn hển, cặp chân ngắn khoẻ đạp xuống bàn gỗ đã bắt đầu uể oải, nhưng hai bàn tay có những ngón rất to vẫn thoăn thoắt quờ ra phía sau lượm những bó lạc, và bằng một cử chỉ rất nhanh chị uốn hai cổ tay xiết những rễ cây đầy củ lạc già lên vòng trục. Huân vứt những thân cây đã tuốt hết củ sang một bên, nói khẽ:

- Xem ra mệt lắm rồi nhỉ?

Đôi mắt dài lóng lánh của Đào liếc sang Huân, phần dưới mắt hếch hẳn lên:

- Hỏi mình ấy. ý chừng muốn nghỉ chứ gì!

Huân cười rất to, hai hàm răng đều trắng loá.

- Trông đây này!

Anh dún mạnh chân trái xuống lập tức nhịp đạp nhanh hẳn lên, vòng trục xiết vào rễ cây xin xít, củ lạc bắn rào rào xuống đống lạc ở khoảnh giữa. Cả người Đào cùng nẩy bật lên theo, thớ thịt trên bả vai khẽ rung rung, hai bàn tay xoay đi xoay lại càng vội vã. Chị đã quá mệt nhưng đôi gò má đầy tàn hương vẫn nhọn hoắt bướng bỉnh và hai con mắt nhỏ tí vẫn ánh lên thách thức. Vừa lúc đến giờ nghỉ mười lăm phút, Huân đã bước ra. Đào vẫn còn dún thêm mấy đạp, rồi hai tay chống vào cạnh sườn chị nhìn mọi người lơ láo:

- Nghỉ hử, tại sao hôm nay lại rức đầu đến thế, chân tay cứ bủn nhủn ra!

Chị quay sang nhìn mái tóc xanh mỡ của Huân cười mỉm:

- Chịu thua thanh niên thôi!

Lâm tổ trưởng tổ một nháy con mắt, nói ướm:

- Chị... à quên, cô cũng còn đang lứa tuổi thanh niên chứ đã già gì... Tương lai chán!

Đấy là câu nói đùa cửa miệng của nhiều người đối với Đào, nhưng lần nào nghe thấy câu ấy chị cũng buồn tủi như được biết lần đầu về mình, người mất hết đà, quay cuồng, và chỉ trong chốc lát nét mặt chị thay đổi khác hẳn. Chị nhìn Lâm hờn dỗi, rồi ngồi tựa lưng vào đống thân lạc, giọng cay chua:

- Trâu qua xá, mạ qua thì, hồng nhan bỏ bị còn gì là xuân nữa, hử các anh?

Lâm liếc nhìn Huân cười tinh quái:

- Thế mà vẫn cón nhiều người yêu say đắm đấy!

Huân vuốt tóc ra phía sau, cặp mắt hơi nâu rất đẹp của anh lim dim nhìn Đào trìu mến. Đôi gò má cao của chị ửng đỏ, đôi môi định mím lại nhưng không chặt, vừa vui sướng vừa như cưỡng lại sự vui sướng ấy. Chị thở rất mạnh, với lấy một cây lạc bứt từng củ một:

- Các anh đã biết đời em rồi đấy. Mỗi năm một tuổi, cái tuổi nó đuổi xuân đi. Nồi nào vung ấy, em đã có nhà cháu dưới xuôi rồi, nay mai nhà cháu cũng lên đây xây dựng xã hội chủ nghĩa cùng với em đấy.

Rồi như chợt nhận ra cái trò chơi độc ác của mọi người bằng cách đem ghép chị là người xấu nhất của đội sản xuất với Huân, người đẹp trai nhất, chị thấy tiếc sự thành thật của mình, việc gì phải tủi, phải nhún mình, người nào mà chả có cái phần tốt đẹp. Chị nhổm dậy, đi vài bước tới trước mặt Huân, ngâm nga:

- Huê thơm bán một đồng mười

Huê vàng úa giữa giá đôi lạng vàng.

Giá đôi lạng vàng chứ chưa vị tất đã bán đâu anh Huân ạ...

Chị còn định nói thêm vài câu nữa, nhưng khi Huân ngẩng lên, nhe hàm răng trắng bóng ra cười thì chị lại muốn quên hết, lại ao ước mình được trẻ lại, như không bao giờ có cuộc đời đã qua, mà chỉ có lúc này, một nữ công nhân trên nông trường Điện Biên Phủ, một người có quyền được hưởng hạnh phúc như mọi người con gái may mắn khác.

Đào lên nông trường Điện Biên vào dịp đầu năm, ngoài tết chừng nửa tháng, với tâm lý con chim bay mãi cũng mỏi cánh, con ngựa chạy mãi cũng chồn chân, muốn tìm một nơi hẻo lánh nào đó, thật xa những nơi quen thuộc để quên đi cuộc đời đã qua, còn những ngày sắp tới ra sao chị cũng không cần rõ, đại khái là cũng chẳng hơn gì trước mấy, có thể còn gặp nhiều đau buồn hơn. Quân tử gian nan, hồng nhan vất vả, số kiếp đã định thế, trước sau vẫn chỉ một con đường ấy, không thể nào tránh được. Chị quê ở Hưng Yên, nhà không có ruộng, vẫn làm nghề đậu phụ, thời địch tạm chiếm lại xoay sang úp men, nấu rượu. Lấy chồng từ năm mười bảy tuổi, nhưng chồng cờ bạc, nợ nần nhiều bỏ đi Nam, đến đầu năm 1950 mới trở về quê. ăn ở lại với nhau được đứa con trai lên hai thì chồng chết. Cách mấy tháng sau đứa con lên sài bỏ đi để chị ở một mình. Từ ngày ấy chị không có gia đình nữa, đòn gánh trên vai, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường, mùa hè vài cái áo cánh nâu vá vai, mùa đông một chiếc áo bông ngắn đã bạc, ngày mưa, ngày nắng, bàn chân đã từng đi khắp mọi nơi không dừng lại một buổi nào. Cũng có ngày đau ốm, nằm nhờ người nhà quen, bưng bát cơm nóng, nhìn ngọn đèn dầu lại sực nhớ trước đây mình cũng có một gia đình, có một đứa con, sớm lo việc sớm, tối lo việc tối. Còn bây giờ bốn bể là nhà, chỉ lo cho thân mình sao được cơm ngày hai bữa, chân cứng đá mềm. Mái tóc óng mượt ngày xưa qua năm tháng đã khô lại, đỏ đi, như chết, hàm răng phai không buồn nhuộm, soi gương thấy gò má càng cao, tàn hương nổi càng nhiều - Muốn về sống lại ở quê, nhưng quê hương nào còn có ai. Thôi đành cứ đi mãi, ngày khoẻ đã vậy, ngày ốm chưa biết ra sao, muốn chết nhưng đời còn dài nên phải sống. Chị sống táo bạo và liều lĩnh, ghen tị với mọi người, và hờn giận cho thân mình. Chị về đội sản xuất số 3 chưa đầy một tháng đã quen khắp mặt, duy chỉ thân có mỗi Huân, vì tuy anh chưa từng trải bằng chị, nhưng lại tỏ ra rất thông cảm với cuộc đời của chị. Lần đầu tiên hai người quen nhau vào một buổi sáng chị đi qua nhà ban chỉ huy đội, thấy Huân đang hý hoáy pha màu vẽ cho tờ báo tường. Chị đứng khuỳnh tay, ngắm nghía khen: "Anh vẽ khéo tay nhỉ!". Huân nhìn chị cười: "Chị có bài thơ nào đưa lên báo không?". Câu hỏi ấy vừa nói cho vui, vừa hơi châm biếm. Chị gật đầu nhận lời ngay: "Được thôi, thế bao giờ đưa nộp". Huân thầm nghĩ: "Cô này biết đùa đây", nhưng cứ dặn thêm: "Phải là thơ hay đấy!". Chị trả lời ngang ngược: "à, chắc không đến nỗi dở". Chị vốn được học chữ từ ngày nhỏ, lại thuộc lòng nhiều truyện thơ cổ, các câu ca, hát ví xưa, khi nói chuyện chị cũng hay vận thành vần, ví von, nên chỉ có một buổi trưa chị đã làm xong bài thơ "Đường lên nông trường Điện Biên". Ai ngờ bài thơ lại hay, đưa lên báo có vài buổi đã nhiều người ngâm nga đọc thuộc. Anh em thấy một đôi bạn trái ngược nhau cả về hình thức lẫn tính nết liền đem họ ra gán ghép. Song chẳng qua là câu chuyện đặt cho vui để trêu chọc chị thôi. Vì kể về tuổi thì năm nay chị đã hai mươi tám, còn nhìn ngoài mà so sánh thì tưởng chị phải hơn Huân ít ra gần chục tuổi. Hơn nữa Huân đã có người yêu và cặp ấy rất xứng đôi, còn chị là gái goá chồng không hy vọng gì được yêu một người con trai chưa từng có vợ. Những mỗi buổi đi làm cùng nhổ lạc ở một khoảnh, cùng đứng tuốt ở một máy ngắm nhìn hai cánh tay cuồn cuộn những thớ thịt cháy nắng của Huân chị lại bừng bừng thèm muốn một cảnh gia đình hạnh phúc, lại hy vọng cuộc đời của mình chưa phải đã tắt hẳn, một cái gì chưa rõ nét lắm nhưng đầm ấm hơn, tươi sáng hơn những ngày đã qua cứ lấp lánh ở phía trước. Có thể đấy là cuộc đời còn lại của chị chăng?

Mặt trời đã lặn từ lâu. Trời trong xanh như ngọc thạch, những vệt mây màu khói, màu hồng nhạt, màu tím nhạt cứ ưng ửng lên ở bốn phía, đan vào nhau, tô điểm cho nhau rồi lại nhạt dần đi, trong mãi, thành một màu xanh mờ mờ cao tít. Những ngọn đèn nhỏ dờn dợt vàng kéo thành một dãy dọc các khung cửa của khu nhà bộ đội thấp thoáng như một dãy phố nhỏ nào đó ở vùng quê. Khu nhà nữ công nhân rộn rịp người ra vào, nhộn nhạo những tiếng cười, tiếng mời chào, cả tiếng la hét. Đào không đi chơi đâu. Một lá thư mới nhận làm chị bàng hoàng. Ông trung đội trưởng già phụ trách lò gạch của nông trường mới gặp chị có vài bận mà đã dám ngỏ lời táo bạo. Mới đọc được mươi dòng chị giận dữ tưởng như có thể xé vụn từng mảnh được, người ta coi thường chị đến thế kia ư. Nhưng khi gập lá thư lại thì một cảm giác êm đềm cứ lan nhanh ra, như mạch nước ngọt rỉ thấm vào những thớ đất khô cằn vì nắng hạn, một nỗi vui sướng kỳ lạ rào rạt không thể nén lại nổi, khiến chị ngây ngất, muốn cười to một tiếng nhưng trong mí mắt lại như đã mọng đầy nước mắt chỉ định trào ra. Từ ngày goá bụa đến nay chưa ai nói được với chị một câu nào yêu thương, một lần gắn bó, chưa ai khao khát đến chị, coi chị là nguồn hạnh phúc của họ, là niềm an ủi cho họ. Những dòng, những chữ trong bức thư xa lạ ngân vang mãi trong lòng chị, vang dội đến tận những kẽ ngách sâu kín nhất, thức tỉnh nỗi khao khát yêu đương, khao khát hạnh phúc mà chị cố hắt hủi, vùi nén một cách bất lực từ ngót chục năm nay. Cho đến lúc này chị vẫn chưa có ý định gì rõ ràng với ông trung đội trưởng mới quen biết, nhưng trong cái dòng nghĩ miên man thế nào chị lại hình dung ra cách đối đãi với đứa con riêng của người rồi đây sẽ gọi là chồng. Nó sẽ yêu quý chị hay thù ghét chị? Chị sẽ để nó ở dưới xuôi hay đem lên trên này? Và khi những hình ảnh ấy rõ nét quá chị vội nhỏm dậy, thầm chê trách mình: "Rõ hay chưa, đã ra thế nào mà cứ nghĩ vớ vẩn".

Giường nằm của Đào kê sát giường của Duệ, cách nhau có một cái bàn đóng bằng tre. Duệ, một cô gái ở ngoại thành Hà Nội cũng mới lên nông trường Điện Biên vào dịp ngoài tết, đang ghé mặt vào sát giường vuốt ve một bên mái tóc, rồi quay lại nhìn Đào cười ngượng nghịu:

- Chị không đi chơi à?

Đào nhìn đôi mắt tròn to của Duệ có những sợi lông mi rất thưa và hai cái bím tóc thưa nhỏ có buộc chỉ đỏ ở đầu, khẽ nói:

- Anh ấy sắp xuống chơi đấy.

Duệ đưa mắt nhìn xuống hai bàn tay nhỏ nhắn nhưng các ngón đá vàng sẹm lặng im một lát:

- Mặc người ta chị ạ, em không thích nói chuyện ấy đâu.

Hai bên mép Duệ khẽ nhếch lên, đầu lắc lư rồi Duệ quay đi nhìn phía khác. Từ cánh cửa bên Huân đã bước vào, tay cầm ống tiêu dài, chào mọi người rồi ngồi xuống giường của Đào, nhìn Duệ hỏi gượng gạo:

- Duệ tập nốt bài "Tình ca Tây Bắc" hôm này còn hát chứ!

Hai cái đuôi bím buộc chỉ đỏ vẫn đưa đi đưa lại trên ngực. Huân nhắc lại:

- Thế nào?

Duệ đáp lí nhí:

- Em không tập đâu.

- Chịu khó một chút.

- Em không biết hát.

- Thì cứ hát như hôm nọ là được, chỉ cần luyện thêm một chút nữa thôi.

Duệ thở dài:

- Nhưng em không thích hát nữa.

Huân đưa tay lên vuốt mái tóc óng mượt, anh định cười thật tự nhiên, nhưng môi đã đờ ra và hàm răng lạnh buốt.

- Cô giận tôi đấy ư?

- Anh có gì mà em giận.

Huân thở dài rất nhỏ, nhìn Đào, đùa gượng một câu:

- Chị không đi chơi đâu một lúc cho đỡ buồn.

Đôi mắt hẹp của Đào loang loáng nhìn sang Duệ, cặp môi như muốn mím chặt lại, gò má càng dồ lên đanh đá:

- à, khi buồn non nước cũng buồn. Khi vui gánh đá lên nguồn vẫn vui.

Lúc chị nhìn Huân định hỏi một thì anh đã chạy ra đến ngoài rồi.

Huân không về thẳng nhà, anh rẽ sang nhà kho, trèo lên cái bệ cao giát nứa, hai chân buông thõng xuống, chống tiêu lên đùi, nhìn ra cánh đồng lạc mờ mờ xanh nhạt ánh sao ở phía trước. Tình yêu giữa anh và Duệ mới nhóm lên đã nguội tắt rồi sao? Ngay buổi nói chuyện đầu với cô gái mảnh khảnh, rụt rè, Huân đã có cảm giác rằng cô ta sống không thể thiếu anh được. Cách sống ào ạt, sôi nổi của anh sẽ bù đắp cho cách sống rút rát lo âu và cô độc của Duệ. Cái khoẻ mạnh về tinh thần và về thể chất của anh sẽ là chỗ dựa tin cậy cho cái vóc mảnh dẻ của một người mới bước vào đời. Anh muốn đem lại nhiều hạnh phúc cho người yêu mà không hề đòi hỏi được trả lại. Nhưng chính cái trách nhiệm với người mình yêu đã đem lại cho anh sự say sưa làm việc chưa từng có, sự sung sướng được đưa tay ra nâng một người khác lên ngang tầm với mình, và lòng tự hào về cái tình yêu rất trong sáng đó.

Trăng đã bồng bềnh nổi lên qua dãy núi Pú Hồng. ánh trăng lọc qua lớp sương mỏng uyển chuyển như khói khiến khung cảnh cứ mờ nhạt một cách huyền ảo. Huân lại thổi bài tiêu ưa thích nhất của mình "Tình ca Tây Bắc". Anh không thích hát, vì những bài mà anh thuộc đều nhạt nhẽo, vô vị, nhưng khi những chấm nhạc không có linh hồn được âm thanh của tiếng tiêu điêu luyện chắp cánh cho bay lên thì cả một thế giới tâm hồn hiển hiện, những kỷ niệm xa xưa tưởng đã quên lãng từ lâu phút chốc lung linh kéo đến, những khao khát, những ước mơ đốt cháy trái tim, hình ảnh này chưa kịp mờ đi, hình ảnh khác đã hiện lên rõ nét, hình ảnh nào cũng kích thích, khêu gợi khiến người anh như tan đi, bay theo tiếng tiêu nhập vào những ngày đã qua đầy luyến tiếc và tới những ngày sắp tới rạo rực say mê... Qua dãy núi này, qua mấy cánh rừng nữa là sang đất Thượng Lào rồi. Đất Lào những ngày kháng chiến, hành quân trong rừng hàng trăm cây số, đêm ngủ lại trên những sườn đồi chon von, phải đào huyệt để giữ người khỏi lăn xuống vực thẳm. Những ngày rét buốt xương, há mồm không nói được, vê điếu thuốc cũng không chặt, cầm que diêm rơi mà không biết, có người đặt lưng nằm xuống là cứ nằm như thế mãi... Cũng chẳng ai ngờ khu pháo binh tây Hồng Cúm của giặc năm xưa lại là bãi trồng lạc của đội sản xuất số 2. Mới mùa xuân năm ngoái đất này còn ngợp lên một rừng cây chó đẻ, dây thép gai, mìn, vỏ đạn đại bác, nhừ nát vì những hố bom, những giao thông hào. Rải rác còn có những đoạn xương người, những mảnh vải nhựa, vài lưỡi xẻng hoen rỉ, một gói tiền bọc vải đã mục nát, những khẩu súng ngắn và tiểu liên, dấu vết còn lại của những người anh hùng Điện Biên ngày trước. Mấy tháng trời liền lưỡi xẻng đi trước, vết chân người theo sau san rừng, đào cây, gỡ mìn. Có người đã hy sinh, có người mang thương tật, dây thép gai chọc nát bàn tay, mồ hôi thấm rách từng loạt quần áo, da thịt héo quắt vì nắng, vì gió Lào, mồm lở, chân phù vì thiếu rau xanh, mùa xuân còn đầy thương tích chiến tranh, cuối hạ, đầu thu nước lũ tràn ngập, mùa đông buốt giá. Một năm đã đi qua. Mùa xuân thứ hai đã đến. Màu xanh thẫm của đỗ, của ngô, của lạc, màu xanh non của lá mạ, màu đỏ tươi của ớt chín lấn dần lên các thứ màu nham nhở, man rợ khác của đất hoang... Một mảnh vải trắng làm rèm che cửa, một giàn liễu leo có những chấm hoa đỏ thắm như nhung ở mé hiên phía trước, bóng lá loáng mướt của dặng chuối, màu vàng ửng của khóm đu đủ, mấy con ngỗng bì bạch ở mé nhà, tiếng guốc đi lẹp kẹp, bóng dáng nặng nề của những chị có mang ở khu gia đình, những ngọn đèn le lói, mảng thuốc bay qua ánh đèn trông rõ từng sợi xanh. Tiếng cười the thé, tiếng thủ thỉ, tiếng la hét, tiếng trẻ con khóc. Người ta làm việc, người ta thân thiết nhau, yêu nhau, và làm cho nhau đau khổ. Những nỗi niềm, những tâm sự, những mong ước. Cuộc sống vĩ đại đã trở lại rồi. Nhìn công việc làm mỗi ngày tưởng như con người bất lực, nhìn lại cả một năm không ngờ sức vóc mình lại có thể thay đổi cuộc sống nhiều đến thế. Mỗi chiều đi làm về ngâm mình xuống dòng sông Nậm Rốm, ngắm bộ ngực dồ cao, những thớ thịt tròn trĩnh, nhẵn nhụi, đỏ rực đầy tia máu, Huân không thể ngờ thân hình mình vẫn giữ mãi được vẻ đẹp ngày trước. Những mũi gai thép đâm, những vệt nứa cứa, những chấm đen ở lỗ chân lông của bệnh sốt rét rừng, màu xanh của thiếu ăn và bệnh tật đều đã được những tế bào mới, những dòng máu mới xoá mờ đi, thay thế, soi mặt mình trong gương anh không thấy đổi khác mấy, có lẽ chỉ thêm vài vết nhăn ở mi dưới mắt, ở cạnh sống mũi, còn thì vẫn mái tóc dày mượt ấy, đôi mắt hơi nâu ấy, và hàm răng đều trắng. Nhưng ngồi nói chuyện với Duệ thì anh cảm thấy ngay rằng anh đã thay đổi nhiều, chiến tranh, gian khổ năm tháng đã luyện cho tâm hồn anh một cái gì rất trong sáng đến nỗi anh soi vào mình mà thấy được cả tâm tư của người khác. Một nghị lực mà chỉ những lúc gặp khó khăn mới thấy được hết sức mạnh của nó, và sự hy sinh hồn nhiên, giản dị cho lý tưởng của mình, cho những người khác cùng đi với mình trên một con đường...

Chợt có tiếng chân giẫm sào sạc lên đống vỏ lạc ở phía sau, Huân giật mình ngừng thổi quay lại. Từ mé trái của đầu nhà kho nhô ra một bóng người thấp lùn, cái áo cánh trắng hớt vạt ra phía trước. Ai nhỉ? Bóng người tiền lại phía anh: Đào. Anh định nhảy xuống, nhưng rồi bối rối tự hỏi: "Chị này ra đây làm gì nhỉ? Định gặp mình hay sao?". Đào đã đứng trước mặt anh, hỏi nhỏ:

- Anh thổi tiêu đấy ư, em thích nghe lắm đấy nhé!

- Chắc vì tiếng tiêu chị mới biết ra đến đây, hỏi gì ỡm ờ thế, lại xưng em, cô này bắt đầu thiếu đứng đắn rồi. Đào đứng tựa người vào cột bương, cả thân người trên bị mái gianh che tối, tiếng nói dịu đi như một hơi thở:

- Anh Huân ạ, em muốn tâm sự với anh một câu chuyện.

Huân hầu như không nghe thấy gì, anh luống cuống vì nỗi lo: "Có người ta bắt gặp thì chết, tình ngay lý gian. Liệu mà về thôi". Nhưng anh vẫn ngồi im. Giọng của Đào thật mềm, thật nhỏ:

- Anh biết anh Dịu chứ?

- Ông thiếu uý lò gạch ấy à? Có biết! Sao?

- Anh ấy viết thư cho em, định xây dựng gia đình với em, em khó nghĩ quá... Anh thấy anh Dịu là người thế nào?

à, ra là một chuyện khác. Anh là người đầu tiên được Đào thổ lộ cái tin vui ấy. Anh phải có trách nhiệm với sự tin cẩn của người bạn gái mà anh vốn mến. Nhưng biết trả lời thế nào?

Đào đứng nhích thêm về phía Huân, chị vắt một tay lên sạp nứa, hơi thở dồn dập dưới cái áo cánh trắng còn thoảng mùi khét của xà phòng.

- Em xem ra anh ấy cũng là người thành thật còn thằng con của anh ấy mình quý nó tất nó phải quý mình... Chẳng ai ở vậy được suốt một đời, chẳng ai muốn đi vất vưởng mãi, ai cũng muốn có một quê hương. Em nghĩ mãi rồi anh ạ, em định không về dưới xuôi nữa, em ở mãi đây với các anh. Anh nghĩ xem có được không?

Quê hương thứ nhất của chị ở đất Hưng Yên, quê hương thứ hai của chị ở nông trường Hồng Cúm. Hạnh phúc đã mất đi, ai ngờ chị lại tìm thấy ở một nơi chiến tranh đã xảy ra ác liệt. ở đây trong các buổi lễ cưới người ta tặng nhau một quả mìn nhảy đã tháo kíp làm giá bút, một quả đạn cối tiện đầu, quét lượt sơn trắng làm bình hoa, một ống thuốc mồi của quả bom tấn để đựng giấy giá thú, giấy khai sinh cho các cháu sau này, và những cái võng nhỏ của trẻ con tết bằng ruột dây dù rất óng. Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy...

Đầu thu với những hơi gió mát dịu bay lướt lên những khóm lá xanh thẫm của cây cỏ nghệ, những cụm ké đồng tiền, những nụ hoa trắng của cây rau tàu bay, và những bông hoa rền tía đỏ thắm hình tháp bút. Mùa thu hoạch lạc đã vào chặng cuối. Những vệt đường mờ ngổn ngang những bụi cỏ bị nhổ đã héo rễ kéo về khu máy tuốt. Đào và Huân phụ trách một cáng. Cái đầu bịt chiếc khăn kẻ ô vuông nhọn hoắt của chị thấp thoáng sau những đống lạc chất cao. Hai bàn tay to và đen choàng lấy từng ôm chuyển lên cáng. Mồ hôi chảy từng giọt dài lên gò má nham nhở vết đất, những thớ thịt như căng ra xé rách mảng áo nâu mỏng mặc ngoài. Lúc nào chị cũng có cái dáng vừa thoăn thoắt vừa lững thững. Huân chạy ra trước cáng, anh quàng đoạn dây máy bằng vải bạt qua vai, cúi rạp xuống, chiếc quần ướt đẫm mồ hôi căng theo thớ thịt, khuôn lấy cặp đùi rất tròn của anh, hai bàn tay đỏ tía bám chắc lấy đầu cáng và anh nhấc bổng người lên, chiếc cáng nhẹ bẫng lao về phía trước, Đào chạy lắc lư ở phía sau, chị kêu to lên:

- Ông mãnh ơi, đi ngắn bước chứ!

Gió vẫn thổi rào rạt khắp cánh bãi. Huân vừa bước những bước dài, vừa nói to:

- Gió mát quá nhỉ. Thế là năm nay ở đất Điện Biên không có gió Lào!

Cái đầu nhọn hoắt của Đào vẫn đưa sang phải, sang trái, chị đắng hắng rồi hát véo von ở phía sau:

... Tháng giêng phay phảy gió may

Tháng hai gió bấc, tháng ba gió nồm

Tháng tư là gió dâng lên

Gió đóng cửa đền, gió động năm cung

Tháng năm cát gió đùng đùng

Bước sang tháng sáu gió rồng phun mưa

Tháng bảy thì gió vừa vừa

Bước sang tháng tám gió đưa đòng đòng...

Giờ nghỉ sáng nay có thêm một rá lạc luộc. Cả mấy tổ cùng kéo lại ăn chung, trò chuyện cho vui. Lâm ngồi dạng chân, tay tách lạc, mắt nhìn Đào nhấm nháy!

- Thế nào cô em, bao giờ cô em về dưới xuôi đấy.

Đào vênh hẳn một bên mặt, môi chúm lại, mắt đưa đẩy:

- Về là về cửa về nhà. Một trăm năm nữa mới đà về quê.

Lâm nói đầy ngụ ý:

- Thay đổi thái độ rồi phải không, cũng mau nhỉ! Huân ơi làm một tiết mục văn nghệ mừng bà chị, mày...

Huân bước ra, lật cái mũ bịt đầu khâu bằng vải trắng như của thầy thuốc, cúi xuống rất thấp chào mọi người.

Đào liếc nhìn Huân tủm tỉm:

- Lại sắp, lại sắp...

Nét mặt Huân nghiêm trang hẳn lên, anh bước lên một bước, một tay chống nạnh, hệt như lối đứng của Đào, một tay uốn éo đưa ra phía trước, một đoạn kịch vui sắp bắt đầu. Duệ cùng với hai cô nữa cắp giành đi mót lạc cũng vừa đến. Chị đặt chiếc giành trắng xoá những mầm lạc tươi vào một góc, khẽ lách người đứng cạnh chiếc máy tuốt. Hai con mắt có những sợi lông mi thưa cứ chớp lia lịa. Lúc bình thường Huân hay có tính thẹn, nhất là trước mặt người mình yêu, nhưng khi đã bước ra một khoảng trống, hàng trăm con mắt dồn vào, anh trở nên bạo dạn, hoạt bát. Tất cả những người đứng trước mặt chỉ là những khán giả ham chuộng tài nghệ của anh. Thấy Duệ nhìn mình Huân khẽ nhún đầu gối xuống, một mảng tóc đen nhánh xoà xuống trước trán. Tất cả vỗ tay coi đó là tiết mục mở màn.

... Tôi lạy ông Cầu, bà Quán

Phù hộ cho mẹ đĩ nhà tôi

Nó ăn nó chơi

Nó tươi nó cười

Như con ngựa ngáp

Làm ăn chậm chạp

Có tính nỏ mồm

Đi chợ bao nhiêu khoai lang củ từ cũng chứa

Vớt bèo thì ngứa

Xay thóc rức đầu...

Duệ yêu Huân cũng bắt đầu từ những cuộc biểu diễn văn nghệ trong giờ nghỉ. Cô mê say anh bởi cặp mắt dịu dàng, quyến rũ, cái miệng rất có duyên, một thân hình khoẻ mạnh, cân đối. Đôi khi cô cũng thích âm sự với anh vì anh rất hiểu tâm tình của người khác, biết an ủi và khuyến khích đúng lúc. Nhưng ngoài những nét đáng yêu của Huân mà bất cứ ai mới gặp anh lần đầu đều nhận thấy ngay, Duệ còn nhìn thấy những gì khác? Cô chẳng hiểu thêm được chút nào nữa, vì một người mới bước vào đời như cô chưa thể hiểu được, và cũng chưa thể đánh giá được cái phần cao quý trong tâm hồn một chiến sĩ cách mạng. Tình yêu của Duệ đối với Huân bồng bột và bề ngoài, dễ thay đổi. Có lúc cô thấy yêu Huân tha thiết, có lúc lại lưỡng lự vì câu hỏi: anh ấy có thể đảm bảo cho đời mình được sung sướng không? Mình còn có thể gặp được một người nào hơn thế nữa? Duệ thèm khát hạnh phúc vì từ bé đến lớn sống với chú dượng cô chỉ thấy tủi nhục, vất vả, lo âu, cô sợ cho tương lai, nhưng lại muốn phó thác tương lai của mình cho người khác. Cùng trung đội Huân, Duệ còn có cảm tình với Hào, trẻ hơn Huân vài tuổi, là giáo viên văn hoá của đội, lại sắp được về Hà Nội thi vào đại học Nông lâm.

Hiện nay anh ấy chỉ là một chiến sĩ bình thường nhưng ba năm nữa anh ấy đã trở thành một cán bộ kỹ thuật, một kỹ sư biết đâu. Hai người cùng đi nhổ lạc với nhau nhiều buổi, đã trò chuyện với nhau mấy tối ở mé nhà kho. Nhưng Duệ vẫn lo lắng vì Hào tỏ ra quá khôn ngoan trong tình yêu, anh ta dè dặt trong cả câu nói ngay những lúc tình cảm sôi nổi nhất. Anh khuyên Duệ đừng vội đưa vấn đề này ra công khai, chỉ nên coi anh như người bạn trai thôi, sau này anh tốt nghiệp rồi, có công tác rõ ràng lúc ấy hai người sẽ bàn đến chuyện xây dựng cùng nhau cũng vẫn vừa. Nhưng đến cái ngày xa xôi và mỏng manh ấy liệu anh có còn nhớ đến lời hứa năm trước không? Ba năm nữa anh ấy sẽ quen thêm bao nhiêu cô bạn mới, xinh đẹp hơn Duệ nhiều, học cao hơn Duệ nhiều.

Huân vừa đi quanh theo một đường tròn vừa nói lối hai tay uốn éo, nhưng nét mặt vẫn nghiêm nghị, thật là một tay hề đại tài. Các cô cứ ôm lấy nhau cười rũ ra, nước mắt giàn giụa, còn các người khác thì vỗ tay làm nhịp cho câu nói:

... Nay lần mai lữa

Cô giống tính ai...

Lâm hất đầu về phía Đào gào to: "Giống tính cô Đào". Phải như mọi khi Đào đã bật dậy, tìm một câu thật cay chua để đón lại, nhưng hôm nay chị sẵn sàng tha thứ cho mọi câu đùa tinh nghịch khác. Tất cả đều là những người đáng yêu, tất cả đều vun xới cho hạnh phúc của chị, đấy là anh em, là người làng, là họ nhà gái cả. Vui vẻ nữa đi rồi lại bắt tay vào công việc. Cái mảnh đất này, cái khoảng trời này đối với chị quen thuộc và thân yêu biết bao. Hai người sẽ có con, những đứa con ấy sẽ lớn lên ở nông trường. Chúng có thể đi học ở Hà Nội, ở những nơi xa xôi khác, nhưng những ngày nghỉ chúng lại trở về đây với bố mẹ già, với quê hương, với các chú các thím, và biết bao nhiêu anh chị em cùng tuổi với nó mà hiện nay chưa có mặt. Chúng nó sẽ làm việc ở đây, dựng vợ gả chồng ở đây, sinh con đẻ cái, cứ thế mà tiếp nối mãi đời này qua đời khác. Duệ ngồi ghé lên trên nắp máy tuốt, hai chân đu đưa, cái đuôi bím buộc chỉ đỏ vẫn ngọ nguậy trước ngực. Chị chẳng chú ý gì đến lời hát, cứ mỗi lần Huân bước chéo sang phía khác, chị lại đưa mắt nhìn anh, nhưng khi Huân quay mặt về phía chị thì chị lại cúi xuống lúng túng và có cảm giác hai tai mình đỏ chín. Cái giọng cố làm ra ẽo ợt của Huân cứ loang loáng bên tai.

... Nhà thì có giỗ

Luộc gà hai mề

Thổi cơm thì khê

Rang vừng thì cháy

Con mắt nhấp nháy...

Tối thứ bảy. Gian nhà của vợ chồng Lâm ở khu gia đình chật ních người. Một ngọn đèn dầu khêu to ngọn hắt sáng lên mấy đĩa kẹo lạc, kẹo vừng, bánh khảo. Nước chè mạn nóng. Người ngồi vây quanh cái bàn nhỏ và trên chiếc giường tre. Huân ngồi ở một góc trịnh trọng uống từng hớp rượu nhỏ. Mỗi một hớp môi anh lại mím lại, đôi lông mày mịn và đen nhánh khẽ nhướn lên. Ngồi cạnh anh là Lộ, tay lái máy cày của nông trường, vừa đến đội sản xuất số 2 sáng nay để cày bãi lạc, chuẩn bị cho vụ gieo trồng. Nét mặt mọi người mờ đi sau màn khói thuốc lá. Có người đề nghị chị chủ nhà hát tặng anh em một khẩu chèo, vì chị ấy trước đã ở trong đội chèo của xã. Vợ Lâm ngồi ở mé sau giường, tóc vấn trần, với rất nhiều cặp tóc lớn nhỏ sáng nhoáng vội vàng kéo cánh màn che lấy mặt mình. Cô em chồng lôi tay chị dâu năn nỉ:

- Kìa, chị Lựu hát đi một bài cho chúng em nghe nào!

Hai con mắt Lựu sáng rực lên lóng lánh, chị co rúm người lại, cười ngặt nghẽo:

- Các anh ơi, em không biết hát đâu!

Cái giọng miền trong ỏn ẻn, lên bổng xuống trầm, mới nói thường đã rất dễ nghe. Lộ nói không cười:

- Cứ hát như câu vừa rồi là được, cũng còn hay hơn giọng chúng tôi nhiều.

Lựu đằng hắng, mím chặt môi để khỏi cười, nhưng các bắp thịt trên mặt chị vẫn động đậy.

- Vậy thì em xin hát hiến dâng các anh một bài.

Chị vừa hát được hai câu cải lương cô em chồng đã chạy vào một góc nhà bưng miệng cười rúc rích. Lựu không hát nữa, gục đầu vào vai người ngồi cạnh, rồi nằm lăn ra giường, hai tay bưng lấy mặt rên rỉ. Cô em chạy lại phát vào mông chị:

- Chị Lựu, chị làm trò hề đấy ư!

Lựu vẫn nức nở trong cơn cười bị nén lại.

- ối giời ôi, em ơi, sao em lại nỡ bảo chị thế!

Vừa lúc ấy Đào và Duệ đứng lấp ló ở ngoài nhìn vào. Lâm đang pha nước vội đặt ấm xuống chạy ra, mồm mời liến thoắng, hai tay kéo hai người. Lựu ngồi phắt dậy, vấn lại tóc.

- Chị Đào ơi, chị vào nhà em chơi, nay mai vợ chồng em lại đến nhà chị.

Đào mặc chiếc áo cán bộ màu xanh nhạt, tóc búi trễ. Duệ mặc chiếc áo màu hồng nhạt, cổ bẻ vạt, hai bím tóc vừa mỏng, vừa ngắn ve vẩy ở phía sau. Đào ghé ngồi xuống cái ghế kê sát vách, mắt nhìn thấy Huân liền bước vội vào ngồi một mé giường quay lại phía bàn nói chuyện với Lựu. Nhưng hai người nói với nhau những gì Duệ chỉ còn nhớ mấy câu đầu. Mọi giác quan của cô hầu như bị tê liệt ở mặt trước, nhưng lại rất thính nhạy ở mặt sau. Cô cảm thấy rất rõ một ánh mắt đang ve vuốt hai cái bím tóc của mình, mơn trớn những sợi tóc tơ ở gáy và chạy lướt trên những thớ thịt ở lưng. Bên tai Duệ chỉ còn lại một tiếng thì thào rất quen thuộc: "Em ơi, em phải tin vào em, em phải tin vào anh, hạnh phúc ở trong tay chúng ta kia mà. Em hãy vui lên đi". Và trong lòng Duệ cũng muốn thủ thỉ: "Em không thể xa anh được, anh đừng để em sống một mình. Đời em bị đầy ải nhiều rồi. Em sợ phải khổ lắm anh ơi!...". Lựu nhìn nét mặt Duệ biến đổi rất lạ lùng, chị mỉm cười tinh quái:

- Cô Duệ người khó chịu phải không?

Tự nhiên nước mắt Duệ chảy giàn giụa cô gục đầu vào cánh tay mình:

- Em về đây, người em làm sao thế này.

Lâm dúi vào tay Duệ mấy cái kẹo:

- Cô lại sợ chúng tôi bắt cô hát chứ gì?

Huân cũng ngước đôi mắt ánh nâu nhìn Duệ, nói dịu dàng:

- Hãy còn sớm Duệ ạ, ngồi chơi một lát đã.

Chỉ một cái nhìn trìu mến ấy, một lời nói thương yêu ấy Duệ đã thấy chân tay mình rời rã. Huân vẫn yêu cô, và cô càng thấy đời mình từ nay gắn bó với anh, cô muốn kêu lên: "Em đến chơi với anh từ lúc nãy sao anh không nói với em một câu nào? Anh giận em hay sao?". Nhưng cô không thể làm theo được ý mình, chỉ đưa mắt nhìn xuống rồi trả lời lúng túng:

- Xin phép các anh, em phải về.

Tuy không ai nói nhưng mọi người đều rõ câu chuyện của hai người. Trông đẹp đôi thế ai ngờ cũng có những trắc trở. Gian nhà đang ồn ào bỗng lắng hẳn đi. Lộ nhìn Đào cất tiếng hỏi trước:

- Chị Đào vẫn giữ lời thề ngày trước đấy chứ?

Đào nghiêm mặt nhìn phía người hỏi, mắt chị lóng lánh:

- Thề gì nào?

Tất cả cười phá lên, Lộ vẫn nói thủng thỉnh:

- Thề ở vậy suốt đời ấy mà?

Lựu hễ có dịp trêu chọc ai lại trở nên hoạt bát hẳn:

- Anh Lộ mà hỏi lần nữa thì chị ấy đã có cháu rồi.

Đào cũng múm mím cười, gò má đỏ ửng. Lộ uống một hớp nước nói tiếp:

- Chuyện ấy bọn tôi đã rõ cả rồi. Thế mới phải. Anh ấy bàn với tôi là định sau mùa lạc đấy. Chị nghĩ thế nào?

Kể ra ở cái cảnh hàn nối cũng chẳng ai muốn kéo dài thời kỳ thư đi mối lại làm gì. Nhưng sau mùa lạc thì vội vã quá. Dạo đi trảy đỗ chị mới gặp đồng chí thiếu uý lò gạch lần đầu hai bên nói chuyện với nhau cũng dửng dưng. Hôm nay bắt tay vào vụ gieo ngô, số phận hai người đã gắn bó làm một. Đoạn đời từ hôm qua trở về trước đã lùi về quá khứ, cái tia hy vọng mỏng manh như không thể có thực sẽ là những ngày sống hiện nay. Chị nhìn mọi người với ánh mắt biết ơn, vì mặc dù họ đùa bỡn họ chế giễu nhưng tất cả đều hoan hỉ vun đắp hạnh phúc cho hai người. Chị nhìn Huân đang ngồi hút thúc lá ở một góc, thầm nghĩ: "Anh Huân ơi, Duệ nó có hạnh phúc hơn tôi nhiều vì nó có được một người chồng như anh. Tôi hiểu lòng anh hơn nó, nhưng tôi không ghen với nó đâu. Nó có quyền được hưởng cái hạnh phúc tốt đẹp ấy. Nó yêu anh lắm, anh hãy bạo dạn lên đi..."./.






美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-29 22:32:07ct.ly>
Tân cảng




Nguyễn Thị Thu Huệ


Ba giờ.
Căn nhà của họ một tầng, rộng hai trăm năm mươi mét vuông, năm phòng nằm trên con đường gần phi trường, bên cạnh vài chục biệt thực của những thương gia đang giàu lên thời cơ chế thị trường. Mặt tiền của căn nhà rộng mười bốn mét, chia làm hai phần lệch nhau. Bên nhỏ dành cho đường ôtô vào gara, bên to là hàng rào thưa và cao, màu xanh lá cây thẫm. Sau hàng rào là khoảng vườn rộng, trồng cỏ và hoa.

Mùa hè.
Những bụi hoa mẫu đơn ba màu mượt mà bên những hàng tóc tiên. Có một cây xoài cao vượt quá mái nhà, cành thưa nhưng trái lại nhiều. Mỗi chùm có từ năm đến bảy trái. Những trái xoài xanh ngắt phần đuôi nhưng lại vân đỏ phần cuống, mịn màng phấn như má con giá 16. Dọc thân cây xoài là những giò phong lan rủ dài với những cánh hoa, đẹp như không có thật.
Qua vườn là phòng khách được ngăn bởi hai tấm cửa kính cao từ đất lên tới trần. Bộ sa lông anh mang từ Hy Lạp, những hoạ tiết vằn vện nâu vàng như thảm hoa cúc gấm dọc đường Nghi Tàm khi Tết đến. Mỗi khi ngồi lên thảm hoa êm ái đó, như có cảm giá dịu êm của nhiều bàn tay vô hình vuốt ve. Một cánh cửa kính lớn để sang phòng ngủ của họ, những cửa sổ trông ra vườn. Bình minh lên. Ánh sáng hồng nhạt rồi vàng dần hắt từ ngoài vườn. Từ những tán lá xanh của bụi mẫu đơn lóng lánh đủ màu. Từ những hạt sương đêm đọng lại hay của những giọt nước sau cơn mưa rào hiếm hoi nhanh đến nhanh đi của trời Sài Gòn. Và đêm đến. Trăng lên. Khu vườn như nhuộm bạc. Mờ ảo lắm nhưng cũng rõ ràng lắm. Và khi cơn gió đi qua, tất cả trở nên ma quái.
Cạnh phòng của anh chị là phòng các con. Anh chị lấy nhau mười năm thì tám năm nghèo. Lúc nào họ cũng hớt hải, vội vàng chả đâu vào đâu. Có được ít tiền hay mua được một thứ đồ gì là mừng cuống lên như thể niềm vui đó bất diệt hơn mọi niềm vui trên đời.
Rồi bỗng dưng anh nhận được từ bạn bè một hợp đồng đi làm cố vấn luật cho vụ kinh doanh ở Hy Lạp- một đất nước xa xôi anh rất yêu và hiểu về nó qua những gì anh đã đọc và đã biết.
Hai năm sau. Anh mang về từ gạch lát nền, gạch lát tường buồng tắm, những bộ bàn ghế, những chiếc đèn bàn, đèn ngủ. Và mua được mảnh đất vuông vắn cũng do bạn tốt bán lại. Anh xây một cung điện cho bốn người sau bao năm sống trong môi trường công cộng.
Ba năm sau ngày họ có căn nhà, cuộc sống này. Họ còn lại một ngày.
*

Bốn giờ.
Chị và thằng lớn học lớp bảy về căn nhà chị đã ra đi gần một năm trên một chiếc xe hơi thể thao đời mới màu xanh - lại màu xanh chị thích. Màu xanh từ hàng rào, từ những tay vịn cửa, từ chân những chiếc đèn ngủ, đến những chiếc khăn bông trong nhà tắm.
Thằng em lên sáu cười toét miệng chạy từ phòng khách ra khi xe của chị đỗ ở cửa, chứng tỏ nó đã đợi từ lâu. Nó líu lưỡi hét vào trong nhà gọi chị giúp việc: " Chị Ba, mở cửa cho má với anh".
Chị giúp việc trên bốn mươi tuổi, nhỏ bé, gọn gàng như thanh lương khô chạy ra, tay lắc chùm khoá xủng xoảng, lập cập tra chìa vào ổ.
Vừa kéo rộng cánh cổng sát, vừa hỏi :" Mợ cho xe vô luôn?" Chị lắc đầu lôi trong xe ra một bọc to tướng: " Thôi khỏi, để xe về bên kia".
Hai thằng bé đã theo nhau vào trong phòng riêng và khép cửa lại.
Chiếc giường tầng của chúng giờ xếp những bọc chăn mền và quần áo lạnh. Ngày xưa. Buổi tối. Thằng anh nằm học thuộc lòng tầng trên. Thằng em ngồi chơi xếp hình tầng dưới, lẩm bẩm đọc theo thằng anh giống một con yểng. Khi chuông đồng hồ thả 9 nhịp chuông, chị ngó vào, nháy mắt với 2 thằng, ngó nghiêng một lượt chờ thằng anh xếp gọn sách vở vào cặp rồi tắt điện. Đóng cửa. Trong căn phòng vàng nhạt, mờ ảo, thằng anh nằm sấp, thò hai tay xuống nắm lấy hai bàn tay bé xíu của thằng em, kéo nó lên dần dần qua những bậc thang sắt, thì thào " Giữ chặt tay anh". Yên ấm cạnh nhau rồi, thằng anh hỏi: " Hôm nay bác mua chuyện gì?" " Chuyện ông huyện về quê". Thằng em cười rinh rích " Bác mua bao nhiêu lần rồi ăn không chán à". " Không bao giờ tôi chán ông lão đánh cá cả". " Ngày xưa.... ở một bờ biển kia...có một ông lão đánh cá"... " Nhà ông rất nghèo, không có cái gì ngoài một chiếc máng cỏ...". Giọng thằng em tiếp theo.
Đấy là ngày xưa.

Còn bây giờ. Thằng em đổ vào tay thằng anh một đống những miếng nhựa, ngọng líu:" Bố mua Lêgô cho em xếp đấy, giống nhà mình cực". " Ừ, xếp lên sẽ giống nhà mình". Thằng anh gật gù.
Trong lúc đó, thằng em chui vào các xó, hì hục lôi tất cả những đồ chơi nó có, chất thành từng đồng như cửa hàng không thiếu một cái gì. " Cái tàu điện này dài ơi là dài". Nó nói. Rồi đưa tay thằng anh chiếc điều khiển " Chạy nhanh cực, vừa thay hai cục pin liền". Mắt nó tròn nhay nháy như hai hạt nhãn chờ đợi thằng anh bật điều khiển. Chiếc tàu điện với đầu tầu kéo hơn ba chục toa nhỏ chạy như con sâu trên đuờng ray mỏng mảnh. Thằng em sung sướng nhìn thằng anh để chia sẻ sự thích thú chứ không phải nó thích đoàn tàu. Tất cả những thứ này với nó quá quen. Ngoài giờ đến trường. Nó sống một mình với những đống đồ chơi ngày càng hiện đại, những băng phim hoạt hình và tivi mở suốt ngày. Giờ thì nó có anh để chia sẻ sự thích thú. " Cái ôtô cứu hoả này kêu hơi bị sướng tai". Thằng em nói và bấm nút điều khiển chiếc ô tô. Chiếc xe rú còi chạy rầm rầm đâm thẳng vào bức tường, cỏi rít lên như xuyên thẳng vào tai.
*

Năm giờ.
Chị ngồi bệt dưới thảm. Nhìn ra vường.
Chiều xuống thong thả. Nhẹ nhàng. Khu vườn nhuộm màu vàng sậm, ánh chút đỏ phía góc trời.
Anh vào. Trên tay là chiếc khay có 2 cốc nước trong suốt màu nâu tím, vài viên đá tròn xoe nhảy nhót. Họ im lặng.
Đẩy khay nước về phía chị, anh quay sang bật tivi. Bản tin thời sự chiều. Tình hình chiến sự ác liệt đẫm máu ở Côsôvô. Bom đạn trùm lên thành phố. Nhà đổ. Người chết. Những đoàn người già, trẻ ngơ ngác chạy loạn. Những đứa trẻ nằm thoi thóp trên giường bệnh, hai mắt trắng đục.
Chị rùng mình.
Anh tắt tivi. Và bật nhạc.
Tiếng hát Tuấn Ngọc, từ tốn, mạch lạch nhưng da diết vang lên. Căn phòng trở nên ấm áp, bình yên " Thôi. Xin hãy cho tôi tạ từ. Xin hãy cho tôi qua đời em"...
Chị lại rùng mình.
Anh không tắt nhạc mà đứng dậy. Đi ra.
*

Sáu giờ.
Thằng anh đã lắp lại tất cả chân tay của bọn siêu nhân bị rụng và xếp chúng lại thành những hàng trật tự.
Thằng em ra chỗ để tivi, đẩy một cuốn băng video vào. Và bật lên. Một tiếng nổ long trời lở đất. Và trong luồng hói, một siêu nhân áo trắng lao ra, múa kiếm như điên. " Đây là siêu nhân bé tí". Thằng em giảng giải và bày ra một chồng đĩa trước mặt anh " Bố mua cho em nhiều lắm, xem không bao giờ chán". - Thằng anh lật lật đám đĩa hình, lắc đầu :" Xem nhiều không tốt đâu, hại mắt lắm". " Chả sao đâu. Em thuộc hết". Thằng em hãnh diện.
Chỗ ổ cắm điện, có tiếng lách cách. Thằng anh cau mặt, tắt tivi, rút phích cắm. Rồi nó lấy mũi kéo vặn chặt óc lại, vẻ mặt hài lòng. Thằng em nhìn anh thán phục. " Còn 2 thằng người máy rụng đầu", thằng em thì thào, mắt tròn xoe, chờ đợi. Thằng anh gật, vẫn cắm cúi xếp những chú siêu nhân. " Cả chiếc xe bánh đà này tự nhiên chẳng chạy gì cả" " Còn cái gì hỏng nữa không, em mang ra hết đây". Thằng em xuýt xoa, cuống lên " Thế thì nhất em còn gì".
*

Bảy giờ.
Anh hỏi chị:" Mai cô bay mấy giờ?"
Chị ngoảnh hẳn ra vườn, cúi lau nước mắt. " Mười rưỡi sáng" " Còn gì vướng không?". Chị thở dài. " Nó phải học chậm một năm?" Anh hỏi tiếp. Chị thở dài. " Rồi cô thì sao?" " Học một năm xong sẽ đi làm" " Lão ta sẽ phải nuôi 2 người?". Chị thở dài. Và im lặng. Nhạc cũng đã tắt. Cuối chiều. Tất cả bỗng mênh mang. Mọi tiếng động như xa xôi hơn. Căn nhà của họ như lạc vào một cõi nào đó rất sâu trong một thế giới không tồn tại.
Rồi tấm cửa kính bật mở. Gió bên ngoài ùa vào xua tóc chi bay rối lên. Gió làm những nan thuỷ tinh của chiếc đèn chùm va lanh canh.
Ngày trước. Khi đêm xuống. Khuya dần. Anh đi vắng. Chị nằm trên giường và nhìn qua cửa sổ. Khu vườn phủ một màu vàng rượi của những ngọn đèn đường như vườn cổ tích. Khuya lắm, anh về. Vẫn nguyên quần áo hội nghị. Anh pha một cốc nước giải nhiệt với những vị thuốc nam, một hai lát sâm mỏng, thơm ngai ngái " Em uống rồi ngủ trước. Anh phải chuẩn bị cho cuộc họp ngày mai". Chị đỡ cốc nước và nhìn vào mắt anh. Khẽ thở dài khi anh quay đi ra. Anh không nghe thấy tiếng thở dài tức ngực của người chưa đến bôn mước tuổi, da thịt mát lạnh, thơm tho của sự đầy đủ, nhàn hạ dần đang cần sự yêu chiều ve vuốt. Anh không kịp thấy chị đợi anh bằng chiếc váy sa tanh bóng mát lịm như miếng thạch mới mua. Và anh cũng chẳng kịp thấy một lọ hoa chị cắm góc phòng đang dịu dàng toả hương. Tất cả. Tất cả đều đầy đủ và hoàn thiện. Chỉ đợi có anh.
Còn anh. Anh luôn luôn thấy hài lòng và yên tâm khi săn được những hợp đồng mới. Không gì sướng bằng chưa xong việc này đã có việc khác. Để khi về nhà, đi vào qua cánh cửa, bỏ lại xã hội ngoài đường, anh có chị. Có hai thằng bé với một căn nhà như thiên đường trên mặt đất. Anh tưởng thế là đủ. Đủ lắm cho một gia đình cho đến khi chị đi. Đi hẳn. anh m?i bừng tỉnh.
Chị ngoảnh lại. Nhìn anh rất nhanh. Rồi nhìn ở đầu giường, chỗ để chiếc đèn ngủ. Có cái cặp tóc nhỏ và một lọ sơn móng tay màu hồng, hỏi " Tháng sau, cô ta sẽ về đây?" Anh thở dài. " Cô ta có ghét thằng bé không?". Anh thở dài. "Thằng bé có ghét cô ta không?" Anh lại thở dài và gật. " Sẽ ra sao?" Anh im lặng. Lại thở dài. Rồi nói " Sẽ quen".
Chị lại quay ra vườn.
Không hiểu từ đâu nhỉ? Từ lúc nào bắt đầu của chuyện này? Chị rùng mình " Sẽ quen". Mọi thói quen đều bắt đầu bằng vô thức. Vô thức tồn tại thành thói quen. Thói quen thành ngôn ngữ. Thói quen tạo ra tác phong cho cá nhân và phong tục cho cả cộng đồng. Thó quen làm thành số phận và con người phải gánh số phận bằng chính hai vai mình.
Từ đâu nhỉ? Chắc là từ hôm chị bay ra Hà Nội họp. Một hợp đồng ký thành công với phía đối tác và chị là người đóng góp không nhỏ. Đêm liên hoan. Chị uống rượu. Ba ly rượu vang khai vị chua chua. Nhẹ nhàng say lúc nào không biết. Chị lâng lâng tỉnh và thấy mình đang ngồi ghế sau trong một chiếc ôtô sang trọng. Bên cạnh một chàng người Pháp đẹp trai, lịch lãm. Vô thức nói. Vô thức cười. Vô thức thấy lòng chộn rộn. Vô thức thấy rạo rực đôi môi. VÀ tim vô thức đập nhanh. Mọi thứ đều vô thức. Chắc tại một thứ không vô thức là bản năng đàn bà khao khát trỗi dậy bên trong. Gặp rượu vô thức. Gặp trời Hà Nội se lạnh vô thức. Gặp những động chạm thân xác vô thức. Nó bỗng thành ý thức đánh thức chị dậy. Đến khi chỉ còn chị và người đàn ông đó, mọi thứ như nổ tung ra.
*

Tám giờ.
" Em đói". Thằng em lăn ra sàn giang thẳng chân tay. " Sắp xong rồi". Thằng anh vẫn cặm cụi chữa chiếc ôtô. Phía bên chữa xong, mọi vật xếp ngay ngắn, thẳng hàng. Phía bên hỏng chỉ còn hai khẩu súng. Giữa phòng một khu nhà Lêgô xếp hình tuyệt đẹp giống nhà của chúng ở. Ôtô đậu ở ngoài đường. Tàu hoả chạy ngoài đường. Những siêu nhân dũng mãnh đủ màu đứng xếp hàng bảo vệ ngoài đường. Gấu bông, chó bông đứng chơi loanh quoanh. Thằng em đăm đăm ngắm tác phẩm, vẻ mãn nguyện. Nó không biết rằng thằng anh đang mím môi làm, hai bên thái dương tóc ướt mồ hôi bết lại. Thỉnh thoảng liếc nhanh vào chiếc đồng hồ con gấu đang thong thả đành nhịp. Nó thở dài.
Thằng em chợt ngồi nhổm dậy. Hỏi" Anh thích ôtô không? Em cho anh chọn đấy". Thằng anh nhìn em đăm đăm, rồi gật " Anh lấy chiếc điều khiển từ xa này này, chạy hơi bị nhanh đấy". Thằng anh lắc đầu. Mắt nó lia qua mấy chục chiếc ôtô từ to rồi đến chiếc bé nhất. Cầm gọn trong tay. Thằng em cầm một chú siêu nhân màu trẳng, đưa và tay anh " Thằng trắng này đánh nhau hơi bị kinh đấy, nó sẽ chiến đấy bảo vệ anh khỏi bọn hắc tình tình". Thằng anh cầm lấy chú siêu nhân trắng và chiếc ôtô. Thằng em nhìn anh. Hỏi" Bao giờ mẹ lại cho anh đến chơi với em?". Thằng anh im lặng. Thằng em lại hỏi:" Mẹ có hay cho anh đi siêu thị không?". Thằng anh lắc đầu. " Anh chỉ đi theo mẹ nhặt bóng thôi à?". Thằng anh gật đầu. Thằng em chui vào gậm giường, lôi những quả bóng tennít vàng ra say sưa " Nhiều chưa?". Thằng anh nhìn em. Rùng mình...
Những buổi tối. Mẹ đưa nó đến sân bóng. Mấy đứa trẻ con chơi với nhau còn bố mẹ chúng thì đánh bóng. Sân bóng rộng. Qua sân bóng là khu vườn ven sông Sài Gòn. Buổi tối. Dọc sông thanh niên nam nữ ngồi tâm sự và uống giải khát, trong không khí mát rượi của gió sông mênh mang. Thường những lúc nghỉ giữa trận, mẹ cùng nó ra bờ sông ngồi. Mẹ mặc váy trắng, áo pull trắng, tóc cặp cao, hai má đỏ hồng, uống một hơi hết hai cốc nước chanh. Mẹ nói khi cả hai cùng nhìn về phía Tân Cảng:" Con thấy cuộc sống ở đó không? Suốt ngày đêm tàu ra vào tấp nập. Đấy là bến cho các con tàu đến, rồi đi". Quay sang phía khác, tờ mờ trong bóng tối bên kia sông là làng xóm, âm thầm tĩnh lặng. Mẹ lại bảo: " Đấy là các gia đinh tối đến quây quần, loanh quanh rồi ngủ để ngày mai dậy sớm đi làm".
Nó lặng lẽ nhìn sâu vào vùng tối yên bình đó. Bên kia. Phía đằng sau. Tân Cảng sáng trắng ánh đèn và tiếng động cơ của những con tàu làm mặt nước như cuộn sóng lên. Nó hỏi " Tân Cảng là gì ạ?" " Là cảng mới. Bao giờ cũng cần bến mới cho những con tàu!".
Rồi tiếng những người bạn gọi mẹ ra chiến đấu tiếp. Vớ chiếc vợt và đôi giày trắng nhảy nhót trên thảm cỏ, mẹ chạy đi như một thiếu nữ. Thiếu nữ ấy bỏ lại tờ 50.000 đ cho nó " cứ ngồi đây cho mát, con nhé". Nó khẽ vâng và nhặt tờ tiền cất vào túi. Những lần sau nó mang theo ông nhòm. Nhòm về phía Tân Cảng. Chỉ thấy tàu và xà lan chở đủ các thứ vào bến. Rồi đi. Thỉnh thoảng có chiếc xà lan chở than trôi lừ lừ trên sông như lưng một con cá sấu khổng lồ. Rồi lại soi về phía làng xóm. Thỉnh thoảng chỉ thấy một ánh đèn điện lấp loé sau rặng cây. Tân Cảng. Bao lần ngồi một mình, uống nước đợi mẹ, nó đều ước giá có em ngồi cùng. Thằng bé sẽ chạy chơi trên những bãi cỏ xanh và khô. Nó sẽ gọi cho em một cốc kem to để thằng bé chén bởi kem là thứ nó thích nhất. Sẽ cùng em đếm những chuyến tàu vào ra mê mải. Vậy mà đến giờ. Chưa một lần nó cho em đến được Tân Cảng.
*

Chín giờ.
Chị đứng lên.
Đằng sau. Anh đốt thuốc khói phả mù mịt, đặc quánh. Ngày trước. Đêm động phòng ngủ mới. Anh bảo phòng ngủ của mình chỉ có hương hoa và mùi da thịt chị. Anh bảo hút thuốc lá trong phòng ngủ là không văn minh, và bẩn thỉu...
Chị nói. Giọng khản dặc " Sang đó, ba năm tôi có thể đón con". Anh lắc đầu, cười rất nhạt trong những quầng khói đục: " Đến ngày mai thế nào còn chẳng dám nói trước huống hồ những ba năm sau". " Con ở với mẹ vẫn tốt hơn". Chị cố gắng. Anh lắc đầu. Cười mai mỉa chế giễu trên khuôn mặt trẳng bệch. Và bấm nút điều khiển tivi. Kênh VTV1 của đài THVN dang phát những hình ảnh về cuộc chiến ở Nam Tư. Từng đoàn người chạy tản cư sang các nước bạn và ách tắc ở biên giới. nhà cửa, đồ đạc bỏ lại. Họ lếch thếch chạy thoát thân. Chạy để tìm cuộc sống.
Lần này thì chính chị đứng lên và tắt tivi. Những người dân Nam Tư đó. Những cuộc di tản khốc liệt dưới bầu trời đầy bom đó không quan trọng với chị bằng việc chỉ còn một giờ đồng hồ nữa. Chị phải đi khỏi căn nhà này. Phải xa những gì lâu nay là máu thịt của chị. Xa đứa con trai bé bỏng thơm như một chiếc bánh ga tô mới ra lò. Không có một điều gì làm chị xúc động hơn chính bản thân bão tố trong lòng chị lúc này. Chiến tranh đã nổ ra. Bom đã rơi vào chính chị. Và chị cũng phải chạy đi. Đến một cảng mới để làm lại từ đầu.
Xung quanh họ. Bỗng im lặng đáng sợ. Ngoài vườn. Có tiếng gió rất nhẹ. Nhẹ đủ để thỉnh thoảng lùa vào làm những nan thuỷ tinh va lanhh tanh. Im lặng đến nỗi thập thõm ở đâu đó, có lẽ rất xa, tiếng dương cầm của một bé gái đang tập. Chỉ một vài nốt nhạc bắt đầu của một bản nhạc. Lúc nặng, lúc nhẹ. Vẳng đến rồi lại mất đi.
Chị lặng lẽ vào trong.
Đến cửa phòng hai đứa trẻ thì dừng lại.
Thằng anh đặt chiếc ô tô bé xíu và thằng siêu nhân xuống sàn nhà. Kéo chiếc ba lô và lôi một chiếc máy bay khá to, với hai cuốn chuyện tranh " Chú lính chì dũng cảm" và " Bé tìm hiểu luật giao thông". Thằng anh kéo thằng em vào lòng mình. Nói:" Ngày mai, em bảo chị Ba đọc cho nghe nhé. Đây là quyển sách dạy về luât đi đường. Em phải thuộc cho kỹ để mai kia đi học đỡ bị xe đâm. Còn quyển này. Em nhớ để có lòng dũng cảm " như chú lính chì". Thằng em gật gù. Say sưa nhìn hai cuốn truyện. " Còn đây là chiếc máy bay". Giọng thằng anh run run. Nghẹn tắc. Lấy tay nắm lấy bàn tay bé xíu của thằng em, đặt vào một chấm trắng trên thân máy bay, tượng trưng cho ô cửa sổ. Nói: " Anh sẽ ngồi ở đây. Coi như anh là ô số 5 này. Mỗi lần muốn nói chuyện với anh, em nhìn vào sẽ thấy". Và di ngón tay đếm đi. Một. Hai. Ba. Bốn. Năm. Thằng em quay lại nhìn anh. Mặt láu lỉnh. " Anh là số ba để em đếm cho nhanh". Thằng anh lắc đầu:" Em lại lười học rồi. Em phải chăm học. Em càng học giỏi, anh em mình càng chóng gặp lại nhau". " Em chán học lắm". Thằng em thở hắt ra. " Phải chăm học. Em có nghe anh không?". " Em chỉ thích chơi với anh thôi". " Thì em cứ để chiếc máy bay này bên mình, coi như là anh đang chơi với em". " Thế thì em là thằng siêu nhân trắng, em ở bên cạnh anh suốt ngày"." Anh sẽ mang siêu nhân bé tí này theo".
*

Mười giờ.
Chị đứng ở cửa vào.
Thằng anh đeo ba lô đứng bên cạnh. Anh đứng đối diện chị, bế trên tay thằng em đang díp mắt buồn ngủ. Tay cầm chặt chiếc máy bay. Chị cúi lại gần thằng bé. Rúc khuôn mặt đầy nước mắt vào cổ, hít một hơi dài như muốn nuốt mùi da thịt thơm tho của nó vào lòng.
Anh cúi xuống. Thằng anh đang im lặng nhìn ra vườn. Những bụi cây rung rung. Đưa vào tay nó mấy tờ 100 USD. Anh lầm bầm:" Con cất đi, sang đó còn có tiền tiêu". "Con xin". Thằng anh nói rồi cất tiền vào một ngăn của ba lô. " Anh cố gắng chăm sóc con. Nó còn bé lắm". Chị chùi nước mắt. Mặt méo xệch. " Cô xin cho con học trường Trung tâm, cố tìm chỗ có nhiều người Việt Nam cho con có bạn".
Thằng anh nhìn thằng em. Lúc này nó mới khóc. Tiếng khóc ri ri. Đau đớn như muốn nuốt ngược vào trong. Như bị oan ức không thanh minh được.
Chị cúi mặt. Cắn chặt môi. Bất giác chị đưa tay ra nắm lấy tay anh đang bóp chặt. " Xin lỗi anh. Xin lỗi con trai của mẹ...". "Tôi mới là người có lỗi. Cái lỗi của tôi...là sống với cô mà không hiểu cô cần gì... Nên cô mới bỏ đi...". Anh nghẹn giọng. Rồi đặt tay lên vai con trai. Lầu bầu trong miệng: " Tha lỗi cho bố, thanh niên".
Thằng anh ngẩng đầu nhìn bố. Nhìn thằng em đang ngủ gà ngủ gật. Gật đầu.
*

Buổi sáng. Phi trường.
Gió thổi hào phòng trên những khoảng sân rộng mênh mông. Chiếc máy bay Boeing 747 dài và to như một con cá voi khổng lồ đang gầm rú. Những luồng khói đặc phụt mạnh ra sau bị gió thổi sóng sánh lại. Những chiếc cánh quạt quay tít. Nhà ga náo động tiếng động cơ. Tiếng loa đọc lịch trình các chuyến bay. Tiếng người nhí nhéo, hỗn độn.
Chị và thằng anh đứng gần cửa máy bay. Mặt hai người đều thất thần hoảng loạn. Người chồng mới hớn hở vác đồ bên cạnh. Nhìn anh ta, thấy rõ sự chân thành và độ lượng của người đang yêu và được đền bù. Hai mẹ con dừng lại chân cầu thang. Và vô thức cùng ngoảnh lại nhà chờ. Chưa bao giờ chị đẹp và khuôn mặt lại nổi hình khối lên như thế. Tất cả lên cầu thang máy bay và chui vào trong khoang. Tiếng máy bay rú ro như muốn nổ tung.
Mặt thằng anh thất thần, hoảng loạn. Nó đi vào giữa hai hàng ghế. Chăm chăm đếm như không cần biết có ai bên mình. Một. Hai. Ba. Bốn. Và năm. Nó dừng lại. Bên ô cửa sổ. Một người đang ông ngoại quốc mặt đầy râu, mắt đen nháy đang ngồi phưỡn bụng thở. Ông ta chắc phải hơn một trăm cân. Chị và người chồng mới vẫn đi tiếp xuống giữa khoang rồi đứng lại. Ông mở cánh cửa trên đầu và xếp những va li nhỏ vào dó. Còn chị thì chui vào ghế, và quay lại. Thằng anh cứ đứng ở hàng thứ 5 như bị thôi miên bởi ông béo bụng. Chị gọi "Con ơi, ghế của mình ở đây cơ mà. Xuống đây". Thằng anh nhìn mẹ mắt đầy nước.
Nó lắc đầu tuyệt vọng. " Dưới này cơ mà con". Chị lại gọi. Nó vẫn lắc đầu, nhìn người đàn ông đầy vẻ kinh hãi. Rồi chị nhìn. Nói " Con hẹn với em là ngồi ở đây. Ô cửa số 5".
Chị thử dài đánh sượt và ngồi phịch xuống ghế. Nước mắt ràn rụa trên khuôn mặt méo xệch. Người chồng mới đã xếp xong đò, chui vào ghế trong. Chị cắn chặt môi, ngó ra vẫy thằng anh " Xuống đây con".
Thằng anh vẫn lắc đầu. Nó nhìn mẹ bằng đôi mắt mở to chưa từng thấy bao giờ. Rồi lại nhìn qua ô cửa đã bị lão béo kéo sập tấm chắn nắng xuống và đang nhắm mắt ngủ. Thằng anh chồm người qua mọt người khách bên ngoài. Chồm qua lãi béo. Đấm như điên vào ô cửa tròn đã đóng. Lão béo giật mình. Ngơ ngác và hiểu ra. Rồi lấy tay đẩy tấm nhựa trắng lên.
Ngoài trời. Nắng vàng ong. Mùa khô đã đến. Phía nhà chờ, cửa kính sáng loáng như gương.
Thằng anh vừa đấm vào ô cửa, vừa hét trong những giọt nước mắt: " BÉ ơi, có thấy anh không. Anh đang ở đây này".
Phía sau.
Chị cúi gục, khóc ngất đi.
*

Sau những khuôn cửa lớn sáng choang. Anh và thằng em đứng dán người vào cửa kính. Tay thằng bé cầm chiếc máy bay, một tay nắm chặt tay bố. Nó nhìn chiếc máy bay to đùng đang gào rú ngoài xa. Rồi cúi xuống chiếc máy bay ở tay. Rút bàn tay nhỏ xíu khỏi tay bố. Nó lấy ngón trỏ chỉ vào những chấm trắng trên thân máy bay. Lẩm bẩm đếm. " Một. Hai. Ba. Bốn... Năm. Anh ngồi đây. Đây là anh mình".
Mắt anh nhoè nước. Tai anh như có một luồng khí đặc quánh phủ lấp. Sao lại thế này nhỉ? Bao năm nay. Từ lúc linh cảm mách bảo về sự ra đi của chị. Ban đầu là thể xác. Rồi đến tinh thần. Lúc nào anh cũng bị ám ảnh về chuyện này để rồi bây giờ, anh lại chẳng hiểu tại sao?
" Một. Hai. Ba. Bốn... Năm", thằng em vẫn lẩm bẩm đếm. Chăm chỉ một cách kỳ lạ.
Tại sao? Tại sao? Hôm qua anh không vứt bỏ lòng tự ái, sự ghen tuông và tha thứ cho chị. Thậm chí van xin chị nghĩ lại? Tại sao anh luôn lường ra những rủi ro cho những hợp đồng ký với đối tác cả Ta lẫn Tây mà lại không lường được cái rủi ro ngày hôm nay? Tại sao đến hôm qua anh vẫn nghĩ là sự chia tay này sẽ không có thật? Chỉ là một câu chuyện đùa? Tại sao cơ chứ?
*

Trên máy bay.
Lão béo như hiểu được tình cảm của thằng anh, liền ngồi thẳng dậy óp bụng lại cho thằng anh đến sát được ô cửa. Vòng tay ra cho nó lọt vào lòng. Ông ta nhún vai, trìu mến nhìn nó.
Thằng anh mở to mắt nhìn xuống, một tay nắm chặt thằng siêu nhân trắng.
Bên dưới. Phía xa. Chỉ thấy nắng chiếu vào ô cửa kính laong loáng như những tấm gương trời. Người đi tiễn bé xíu với những cái đầu đen như hạt đỗ.
Nó lùi người lại. Chùi nước mắt. Đi ra đứng giữa hai hàng ghế, và nhìn mẹ. Mẹ nó đang cúi gục xuống khóc.
Chiếc máy bay lạnh lùng chạy một vòng ra xa và dừng lại. Rú to lên. Rồi nhấc hẳn lên khỏi mặt đất.
*

Đằng sau những tấm kính. Thằng em vẫn đứng với chiếc máy bay trên tay, lấy ngón trỏ chỉ vào những chấm trắng bé xíu và đếm " Một. Hai. Ba. Bốn... Năm"./.

Đã mang vào thư viện rồi
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-30 09:28:57conbo2>
Những con đường không đến Seattle

Phan Triều Hải


- Nếu không thể đi xa, anh vẫn hy vọng về sự bao la mà anh chưa biết đến. Còn nếu anh đã biết đến sự bao la ấy có giới hạn như thế nào, liệu còn thèm muốn nữa không...Mọi thứ ở đây chỉ có một màu. Màu xám. Công nhân xây dựng mặc áo phản quang đang im lặng làm việc dưới tầng ngầm sân bay, giữa những chiếc cột lớn loang lổ thép và xi măng. Chúng tôi đi chầm chậm ngang qua họ, không nghe thấy tiếng xe của mình, chỉ nghe tiếng rì rì nho nhỏ, không rõ là âm thanh của những chiếc máy sưởi gắn dọc theo tường hay tiếng hơi thở đùng đục dưới những chiếc nón bảo hộ trơn tuột kia. Tất cả mơ hồ như những hình người loà nhoà phía bên ngoài cửa kính xe mịt mờ hơi nước.

Mưa rơi rả rích, và chắc chắn sẽ còn tiếp tục rả rích như thế trong những ngày tới. Mây xám cuồn cuộn trên đầu ùn ùn kéo về phía đất liền hết lớp này đến lớp khác, nhiều đến nỗi có cảm giác rồi đến hết năm cũng không cạn mây được. Tôi đang ở sát bờ đông của Thái Bình Dương, chỉ chừng một quãng chạy xe ngắn nữa thì đến bờ biển Oregon. Đứng ở bờ biển đó nếu nhìn ngút mắt qua hết cái đại dương mênh mông không núi non nào cản trở tầm nhìn, (một chuyện hoang tưởng bởi chỉ cần bay bằng Boeing 747 cũng mất hơn nửa ngày trời), thì tôi sẽ gặp được bờ biển thân thuộc của đất nước mình. Chính xác như thế. Bởi cái bờ biển cong cong nơi mà vào những ngày hè, ngày lễ tháng tư, tháng năm, mọi người vẫn thích đáp xe lửa đi suốt đêm để được vùng vẫy, hay thả người trôi lều phều ngắm san hô ngoài chân mấy hòn đảo con con, chính là bờ tây của cái đại dương đang phả hơi nước ngập ngụa cái thành phố buồn tẻ tôi đang ghé ngang đây. Rốt cuộc thì chuyện đã trở nên đơn giản quá chừng, đã thu hẹp lại trong lòng một bàn tay, ngắn gọn như thể một quãng đường dài năm phút đi xe máy từ nhà đến sở làm và ngược lại.

Tôi bảo:

- Nếu chỉ nghĩ thôi thì rất đơn giản, nhưng thực tế là một chuyện khác. Bởi vì như anh muốn đến một bờ của đại dương, anh phải làm hộ chiếu, phải có thị thực nhập cảnh, phải khai báo ở mỗi nơi anh đi qua. (Quyền lực đôi khi chỉ thể hiện đơn giản ở những cánh cửa nhỏ, hay có nơi chỉ là những thanh gạt bằng inox lạnh lẽo màu sáng choang). ở bờ tây, anh phải khai có đem theo văn hoá phẩm đồi truỵ phản động gì không, phim ảnh thì được tạm giữ, tốt xấu sẽ được phân định sau. Còn ở bờ đông thì người ta sẽ hỏi cái gì trong túi của anh thế, trái cây khô hay tươi, anh đem vào đây thứ thực phẩm nào. Vâng, hiểu theo khoảng cách địa lý thì đơn giản lắm, chỉ việc đem dây ra mà đo, nhưng có những khoảng cách khác không đo lường được. Bởi thế, người mới không là chim.Xe chạy chậm rãi trên con đường đẫm nước. Hai bên đường là nhà thấp đèn đẹt, lạnh lẽo. Những ngôi nhà làm từ những container chứa hàng cũ, đứng lún trong cỏ dại, những dòng chữ điện màu đỏ chạy ngoằn ngoèo bên ngoài, xa xa nhìn nhoè nhoẹt như mực viết lên tờ giấy ẩm.

Keith nói:

- Nếu chạy thẳng mãi con đường này, chúng ta sẽ đến Seattle.

Nước mưa chảy trên những hộp thư dáng tổ chim bồ câu đứng một chân bên đường làm thẫm lên những vệt sơn vằn vện màu vỏ trứng. Keith nhìn chăm chú về phía trước, bắp tay cuồn cuộn. Tôi nhớ bàn tay My nhỏ xíu, mảnh dẻ như một chiếc lá non với những ngón tay mềm. Ai cũng bảo, đó là số sướng. Muốn biết chắc trong tương lai có sướng thật hay không thì phải nhìn thêm gót chân (tôi phải mất gần cả năm trời mới nhìn được gót chân My), gót chân nhỏ, mịn, mà không nứt nẻ gì là yêu cầu tối thiểu. Nhưng với My thì khác, nàng viết cho tôi: Đây là dịp để cho anh đi khắp nơi mà anh muốn. Anh phải đi thật nhiều, và thư kết thúc rất con gái: Sướng nhé! Cái thư ấy bây giờ đang nằm trong túi áo của tôi đây, nấp dưới năm tầng bảy lớp những áo khác bởi tôi không quen được với kiểu lạnh ẩm này, cứ cóng lên như những ngày tháng chạp mưa phùn Hà Nội.

Keith hỏi:

- Anh đã xem Mất ngủ ở Seattle chưa? ít ra một con phố lát đá đọng nước, hay một chiếc ghế gỗ dài ven đường ở đó có thể cho anh một chút tình cảm nào đó, khác với nơi đây.

Đó quả là một gợi ý hấp dẫn, bởi vừa bước xuống sân bay tôi đã thấy thất vọng với Oregon rồi. Đất Mỹ mà còn có một nơi như vậy sao, buồn bã quá chừng. Chỉ nhìn cái màu xam xám này thôi cũng đủ biết những ngày tới sẽ buồn như thế nào. Vả lại, đây cũng là một dịp để tôi kiểm chứng xem đời thường trong cái phim ấy thật đến đâu, dịu dàng đến đâu, để tôi có thể kể với mọi người rằng tôi đã từng đi trên những vỉa hè sạch bong và im lặng của Seattle, đã từng ngồi chiếc ghế nơi Meg ghé ngang qua trong chuyến đi tìm cuộc tình định mệnh của mình. Và trên hết, với thêm một nơi đến ấy, tôi sẽ làm thêm được một điều cho mơ ước của My, (chi tiết dặn dò nằm trong lá thư dưới áo), cho bạn bè tôi, (những người lúc nào cũng dặn: Đi nhớ chụp hình. Về nhớ kể chuyện nghe!). Nếu bây giờ tôi nói, ừ, ta đi đi, thì không ngần ngại gì Keith sẽ cho xe lao về phía trước, bởi ở đây, nối nơi này với nơi kia thẳng tắp một con đường.Keith nói:

- Thật ra, quan trọng hơn cả chính là cảm giác thực hiện được điều ta muốn. Ví như anh không thích nơi này tôi sẽ đưa anh đến nơi khác, không thích Seattle thì sẽ đi tiếp đến thành phố khác xa hơn nữa. Đôi khi, không vui không buồn, tôi vẫn thích ngồi vào xe và đi mãi như vậy, không phải vì nhu cầu biết thêm một nơi mà vì cảm giác choáng ngợp rằng, con đường ấy kéo dài vô tận, nhưng nếu muốn, tôi sẽ tự đi hết cái vô tận ấy.ờ, thì tôi cũng từng nghĩ về một cảm giác như thế khi đi từ bờ đông sang bờ tây, khi đi xuyên ngang miền Trung nước Mỹ. Tôi đã đi thật nhiều. Tôi đi máy bay, tôi đi xe, tôi đi bộ. Thậm chí còn đôi ba ngày còn lại, tôi cũng tìm cách ghé ngang đây tham lam cóp nhặt thêm một nơi chốn để rồi phát hiện ra có một Oregon như thế ở miền Tây Bắc, heo hút, ảm đạm. Trong khi Keith nói, tôi nhìn qua cửa. Cảnh vật lặng lẽ bên ngoài khiến tôi như mềm nhũn ra. Tôi quá mệt mỏi vì những chuyến đi dài rồi chăng? Hay tôi đã quá mong muốn về nhà? Cái nhịp điệu đột nhiên chùng xuống lúc này khiến tôi nhận ra rằng dường như những ngày vừa qua tôi đang cắm cúi thực hiện cái điều toi nghĩ là ước muốn của nhiều người, trước khi có đủ thời gian cho chính tôi thật sự mơ ước về nó. Tôi tóm lấy từng cơ hội, vội vàng và manh mún, (đã là cơ hội thì không thể sắp đặt trước sau được), chứ không phải làm cái công việc mua sắm với phong thái thong dong của người có tiền trong tay.Keith vẫn đang lái xe về phía Bắc. Con đường dài hun hút trôi tuột về sau, lướt thướt như một dòng sông. Lúc này mùa đông đã bắt đầu được hai tuần. Cây hai bên đường xơ xác, vừa trụi lá vừa ướt át. Thỉnh thoảng, vài ngôi nhà nhỏ xuất hiện rồi mất hút, không một bóng người. Mây từ phía đại dương vẫn ùn ùn thổi ngang trên đầu. Mưa trên con đường thẳng tắp này và hẳn cũng đang mưa trên dãy núi cao kia. Chúng tôi đang đi dần vào vùng núi đồi. Tôi chợ nhớ một người bạn chỉ quen biết qua điện thoại nhưng hầu như năm nào cũng có dịp trò chuyện vài lần. Anh ta nói địa chỉ nơi anh ta ở đơn giản là thị trấn Núi Đèo, Hải Phòng. Tôi chưa từng đến đó, không biết trong thị trấn ấy có những con đường ngoằn ngoèo vắt ngang qua đồi núi giống nơi đây không, nhưng đó thật sự là cái tên thơ mộng.

- Chúng ta quay về. Tôi bảo với Keith. Nếu tôi đến được Seattle, tôi sẽ muốn đến thị trấn kế tiếp cách đó năm dặm, rồi đến Vancouver, rồi cứ như thế mãi, xa hơn nữa. Anh không thể suốt ngày ngồi lái xe cho tôi, mà tôi thì không biết tôi đang làm gì, đến một nơi, hay chỉ để thoả mãn rằng tôi đang muốn và tôi đang đến. Thật ra, trong tôi lúc này cả hai thứ đó đều không có.ở nhà giờ này My đang ngủ ngon. Sáng mai khi thức dậy nàng sẽ theo con đường thẳng tắp và lớn nhất của Sài Gòn để đến sở làm, tất cả mất mười bảy phút. Tất nhiên, có những lúc chậm hơn thế bởi phố sá ngày càng đông đúc và lúc nào cũng sẵn sàng tắc nghẽn với với một xe bánh mì đẩy dạo bên đường hay một chiếc xe rác nặng nề xoay trở với công việc chưa kịp làm xong. My luôn mơ ước về những cuộc đi xa, (lá thư đầy những chi tiết dặn dò lại cộm lên), nhưng thật ra chưa bao giờ nàng nghĩ đến việc đi xa hơn một chút, khoảng 30 phút chẳng hạn, để băng qua một cây cầu ra đến ngoại ô thành phố, nơi có không khí trong lành hơn, cây lá xanh tươi hơn. Không lúc nào My nghĩ đến việc đi thêm một lúc nữa, ra khỏi con đường mỗi ngày, cũng như những người khác, tất cả chỉ có một nghĩa vụ lớn là sống đúng giờ. Đi và về. Tôi hoàn toàn không có lỗi gì nếu không đến được Seattle.Keith quay sang nói, giọng tình cảm:

- Đôi điều không làm được ấy sẽ giúp ta sống vui hơn. Nếu không thể đi xa, anh vẫn hy vọng về sự bao la mà anh chưa biết đến. Còn nếu anh đã biết đến sự bao la ấy có giới hạn như thế nào, liệu còn thèm muốn nữa không.

Và thế là chúng tôi quay lại với ngoại ô của Portland, vẫn những con đường ướt, vẫn những ngôi nhà một tầng hình hộp màu xám nay đã thẫm màu trong đêm tối mênh mông của Miền Tây Bắc. Những dòng chữ điện đỏ nhoè nhoẹt. Dancers. Restaurant. Parking. Motel. Tất cả chậm rãi mọc lên, rồi lui dần về phía sau, từng thứ một, im lìm, lạnh lẽo, ướt át. Mùa này đêm xuống nhanh. Vẫn mưa. Chúng tôi tìm một quán ăn nhỏ nằm lọt thỏm trong một bãi đậu xe lớn rào sơ sài bằng kẽm gai, nhưng không có một chiếc xe nào ghé lại. Một quán Philippines. Bên trong, bàn ghế gỗ tróc lên những lớp vỏ màu nâu thẫm và cửa kính dày đọng nước thành dòng. Người phụ nữ chủ quán, tóc đen nhánh, hơi xuềnh xoàng và khó đoán tuổi, lịch sự lùi lại đứng im lặng sau quầy.

Keith hỏi:

- Rồi anh sẽ tiếc vì không đến Seattle?

Tôi hướng về Keith, một nửa khuôn mặt của anh chìm trong bóng tối:

- Một ngày nào đó tôi sẽ đến.

Keith nói:

- Nếu anh nghĩ sẽ đến, thì việc sẽ diễn ra như thế.

Trong chiếc ghế bành bọc bằng vải nỉ cũ kỹ đặt ở góc nhà, một đứa bé con nằm lọt thỏm, hai chân quấn trong chiếc chăn mỏng, hai tay nhỏ xíu đặt sấp lên nhau đỡ lấy chiếc cằm bụ bẫm, mắt nhìn tư lự mơ màng ra phía cửa. Đôi mắt nó trầm lặng và buồn dẫu tôi chắc rằng nó chưa thể biến buồn là gì, bởi nó còn bé quá, chỉ mới chừng năm tuổi. Thỉnh thoảng, đứa bé đưa mắt về phía chúng tôi, ánh mắt không nói lên điều gì cả, chỉ to tròn, đen láy, ươn ướt như mắt con Lem, con chó con ở nhà mà tôi rất yêu quý dù đám lông trắng dài của nó thường xuyên vón cục như sữa bột. Đứa bé vẫn im lìm bất động như thế suốt bữa ăn, trong khi mưa ngoài trời cứ rả rích với cùng nhịp điệu không đổi từ sáng đến giờ. Nếu trời cứ mưa mãi như thế này đến hết ngày mai, hết ngày kia, mưa hết năm này cho đến sang năm khác, thì đứa trẻ ấy sẽ lớn lên ra sao, sẽ đi về đâu nhỉ? Nó sẽ sống một đời sống lu mờ giữa bao nhiêu cuộc đời khác, hay sẽ trở thành một tay chơi nhạc rock, một nhà thơ? Tôi không biết. Bây giờ tôi thấy tôi sẽ không biết gì hết. Ngay khi tôi bước qua cửa ra về, đứa bé sẽ ở lại, sẽ nằm im lìm như thế ít nhất cho đến hết ngày vô tư lự này. Và trong hiểu biết còn lại của tôi, mãi mãi đó vẫn là một đứa bé nằm trong ghế bành. Mãi mãi như thế. Nhiều năm sau nữa, nếu tôi vẫn còn nghĩ về Seattle, có thể tôi sẽ đến được thật, nhưng với đứa bé này thì tôi không bao giờ gặp lại, cho dù tôi muốn biết tường tận số phận nó biết bao. Nó sẽ lưu lạc đâu đó, nó sẽ lẫn vào đám đông. Đứa bé khác với Seattle, đó là một cuộc đời. Nơi chốn thì ở lại để chờ đợi, nhưng một cuộc đời thì không.

Người phụ nữ chủ quán hỏi chúng tôi ăn có ngon Myệng không. Tôi gật đầu. Trên tường tờ lịch đã bị xé vội đến ngày mai, ngày 21/11. Sau hai ngày nữa,, ngày 23/11, tôi sẽ đi làm, sẽ đi lại trên con đường quen thuộc, sẽ sống một đời sống khác cách đây nửa vòng trái đất, song hành với bao nhiêu cuộc đời khác xuất hiện lặng lẽ và biến mất lặng lẽ nơi này, nơi kia. Bên ngoài trời đen và sâu thăm thẳm, đó là bầu trời mà tất cả mọi người đang cùng chia sẻ, cũng như cùng chia sẻ những lần nước xuống, những lần nước lên, những lần trăng tròn, những lần trăng khuyết. Mọi người cùng sống và cùng chia sẻ với nhau bao nhiêu điều, nhưng tôi vẫn thấy có cái gì đó xa cách, không hẳn chỉ vì một tiếng gọi từ bờ đông đại dương này không đến được với bờ tây của chính nó, mà là một điều khác, một điều gì đó thật mơ hồ nhưng mệnh hệ như thể liên quan đến số phận của mỗi con người. Bên trong, Keith chậm rãi đi về phía góc phòng, xoa đầu đứa trẻ với bàn tay to lớn đen nhẻm của anh. Bà mẹ người Philippines nhìn theo mỉm cười. Keith bảo:

- Trông nó dễ thương quá. Cứ như một chú chim non bị ướt hết cánh rồi./.

---------------------
Đôi nét về tác giả:

Sinh 13/2/1969 tại Quy Nhơn

Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh năm 1991

Truyện ngắn đầu tay: Vào đời (đăng trên báo "Tuổi trẻ" chủ nhật năm 1994)

Đã xuất bản (Tập truyện hoặc truyện dài):

Vào đời

Những linh hồn lạc

Quán bò rừng

Có một người nằm trên mái nhà

Đi học

Điều mong muốn nhất: viết một tác phẩm "không tiểu thuyết" rất nhiều hiện thực nhưng mang tính văn chương.

Tôi vẫn có một ý nghĩ rằng hầu hết những truyện của Phan Triều Hải luôn gợi cho người đọc nhịp điệu chậm rãi, thủ thỉ của người kể chuyện, dẫu câu chuyện ấy có như thế nào: thâm trầm hay hóm hỉnh, dịu dàng hay đắng cay. Lướt qua một vài truyện ngắn của anh: Có một người nằm trên mái nhà, Đường về miền Tây, Phía sau nỗi buồn...đều mong manh nỗi cô đơn của con người trong xã hội hiện đại; đôi khi có những cái kết bỏ lửng lơ, khiến người đọc mơ hồ cảm thấy một sự hẫng hụt, một sự mất mát (Đợi chuyến tàu đêm), nhưng đôi khi cũng chỉ là một cái gì đó đã xảy ra, đã đến và đã đi - một khoảnh khắc trong luỹ thừa n khoảnh khắc ở cuộc đời này, chợt sáng lên nhắc nhớ rằng đã có một điều gì đó tồn tại (Dịch nói)...

Từng học chuyên ngành Địa lý kinh tế của trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và công việc đang làm hiện tại cũng không liên quan gì đến văn chương, nhưng dường như văn chương đã chọn Phan Triều Hải để biểu hiện một tiếng nói khác, một khát khao khác trong mỗi con người, bằng lối viết cứ như nhàn tản thế, chậm rãi thế! Mặc dầu những bạn văn cùng lứa với anh như Phan Thị Vàng Anh, Trần Thanh Hà... khi khởi nghiệp thường được nhắc tên trong các cuộc thi văn chương trong nước, nhưng cái tên Phan Triều Hải lại được bạn đọc biết tới và đón đợi chỉ bởi những truyện ngắn mà thời kỳ đầu hầu hết anh đều đăng trên tờ Tuổi trẻ chủ nhật. Hành trình đến với văn học không ồn ào, nhưng người đọc có thể nhận ra một dấu ấn truyện Phan Triều Hải. Từ truyện ngắn đầu tiên "Vào đời" đến những truyện dài sau này, những điều mà Phan Triều Hải viết cho thấy với anh không có một "cuộc chơi văn chương", không có việc dạo qua chốc lát mà văn chương là thực sự thôi thúc kiếm tìm, thôi thúc sáng tạo tự thân. Và chính bởi sự thôi thúc tự thân như thế, dù muốn hay không, văn chương sẽ đem đến cho anh trọn vẹn những buồn vui của người làm nghề.

Có một điều may mắn hơn của thế hệ những nhà văn như Phan Triều Hải, đó là họ có thể tiếp xúc, cảm nhận trực tiếp với những tác phẩm văn học lớn của thế giới, nhanh chóng tiếp nhận được những thông tin mới, những hướng đi mới của văn học thế giới hiện đại. Đi nhiều, giỏi ngoại ngữ, đó là một lợi thế, nhưng "điều quan trọng với một người viết văn vẫn là ở khả năng sáng tạo từ những câu chữ". Mong "thoát ra" khỏi ba chữ "nhà văn trẻ" bị báo chí đặt thành quen. Vừa được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam. Những tiểu tiết đời thường như thế có phác hoạ được một nét chân dung Phan Triều Hải? Truyện ngắn Những con đường không đến Seatle anh viết sau chuyến đi "chơi mà học" ở trường viết văn Writing Workshop, bang Iowa (Mỹ) trở về.

Phi Hà
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-30 19:33:01ct.ly>
Trung úy về quê

Hồ Tĩnh Tâm


Tùng xuống xe, đến bến đò vào lúc 6 giờ chiều. Chuyến đò cuối đã chạy trước đó 30 phút. Hơn mười cây số đường đất vừa mới đắp cao lên để chuẩn bị lót đan, còn ướt nhẹp, làm sao đi bây giờ? Anh vào quán nước, tính hỏi bà chủ xem ở đây có đò thuê bao hay không. Bao đò vào buổi chiều trời âm âm như vầy, dám bị khía là cái chắc. Nhưng biết làm sao được. Gần sáu tháng trời cùng đồng đội lo phá án, giờ mới được mấy ngày nghỉ phép, giá nào cũng phải về.

Bà chủ quán như đọc được ý nghĩ của Tùng, hỏi:

- Nếu chú về xóm Bàu thì cứ ngồi uống nước, chút xíu tôi nói nhỏ với cháu cho quá giang. Nhà nó ở xẻo Quýt, xóm Bàu.

Vậy là Tùng được quá giang. Mừng muốn hết lớn. Mà lớn gì nữa. Năm nay anh đã 26 tuổi, đã tốt nghiệp Đại học Cảnh sát được hơn ba năm, đã tham gia phá tới mấy vụ án. Kinh nghiệm vui buồn lủ khủ cùng mình. Lần này quá giang tam bản của cô gái trắng như bông bưởi, không biết sẽ rút ra bài học gì nữa đây.

Cô gái hỏi:

- Anh ở trên tỉnh về phải hôn?

Thấy anh gật đầu, cô gái hỏi lại:

- Mà ở trển anh làm gì cà?

- Tui làm việc cho nhà nước.

- Hổng lẽ anh làm ráo trọi mọi việc sao?

- Tui làm một việc còn không xong, đâu dám bao đồng như cô hỏi. Mà... bộ cô là công an sao mà hỏi như điều tra vậy?

- Hổng dám đâu! Ngồi không thì hỏi cho đỡ buồn. Coi bộ anh cũng khó quá hà! Dòm mặt tưởng công an hình sự.

- Cứ cho là công an thì sao?

- Thì cũng người xóm Bàu như em chứ sao.

Tùng thấy thích cô gái. Chẳng biết cô con nhà ai mà bạo mồm bạo miệng. Vóc vạc như vầy, ở làng chắc nhóc nhách người chết mê chết mệt. Tùng tò mò muốn hỏi cho biết cô tên gì, con ai nhưng thấy ngài ngại. Nghiệp vụ khai thác lấy cung, anh được xếp vào loại giỏi, vậy mà trước bông bưởi non nõn này, anh thấy lúng túng như gà mắc tóc.

- Cô ba à?

- Em thứ năm, tên Năm Thắm.

- Ừa, cô Năm này, nhà cô ở khúc nào xóm Bàu vậy?

- Đã biết ở xẻo Quýt rồi còn hỏi. Ngay bến câu còng chớ đâu.

- Vậy cô con bà Tám à?

- Sao anh biết?

- Là tôi đoán vậy. Nhìn mặt chắc cô khoảng mười tám, hai mươi là cùng.

- Trật lất! Em hăm hai.

- Dạy học phải không?

- Sao anh hỏi vậy?

- Thì... coi mặt bắt hình dong mà.

- Vậy thì đúng công an rồi nghen! Chắc công an chìm quá hà?

- Ừa, tui có nổi bao giờ đâu mà không chìm. Mắt cô Năm đẹp như hồ nước ấy.

- Bắt đầu tán rồi phải hôn? Trai xóm Bàu lên tỉnh làm việc, ai cũng tán dễ sợ luôn.

- Nói nghe trớt người. Tán giỏi thì tui đâu có ế vợ tới giờ.

- Khôn róc tổ chưa? Ai hỏi mà anh khai. Em đã có tới mấy đứa cháu lận.

- Tui cũng cháu trai, cháu gái nhóc nhách. Nói vậy là cô Năm còn đang tư lệnh phòng không chứ gì?

Cả hai đang vui chuyện thì trời chuyển dông vần vũ đen sầm, hơi nước lạnh ngăn ngắt như luồn vào da thịt mà xoa. Rồi mưa xối ầm ầm như nghiêng trời trút nước. Đã vậy chiếc ghe còn chết máy. Quả là ông trời chơi ác. Mà có khi ông cố tình để hai người kéo dài thời gian làm quen. Chàng trung úy lúc này đã tự tin lắm. Ràng ràng là Năm Thắm còn gái son. Cổ là con bà Tám thì chắc ăn, hổng bà con ruột già gì. Vấn đề là cần phải điều tra xem cổ có bồ chưa. Không khéo bé cái nhầm thì chết. Hồi còn học ngoài Hà Nội, có lần Tùng đến thăm một cô công nhân nhà máy dệt. Trời xui đất khiến thế nào cô lại chưa đi chợ về. Mẹ cô ở nhà. Bà trẻ tới mức Tùng cứ tưởng là chị của cô gái. Vậy là anh gọi chị xưng tôi, ngồi tán hươu tán vượn chuyện con gái Hà thành ai cũng đẹp. Còn bà thấy anh mặc sắc phục, lại cứ tưởng Tùng là cảnh sát khu vực mới được bổ nhiệm. Bây giờ người trong Nam ra Bắc làm việc thiếu gì. Chừng cô gái về tới, giới thiệu Tùng với mẹ, Tùng mắc cỡ muốn chết nên đã tìm cách đánh bài chuồn. Hai người từ đó không gặp nhau nữa.

Lần này là người làng, về tới nơi hỏi thăm lối xóm làm sao mà không biết Năm Thắm đã có nơi nào dạm hỏi hay chưa. Có điều lạ thiệt. Đã sang tháng 12 rồi mà con mưa dông là làm sao. Mưa rớt vụ là năm nay trúng mùa hoa mai vàng rực. Nhà Tùng có tới mấy cây mai thế, mai kiểng. Ông nội quý lắm bởi nó là mai tổ, tuổi vài trăm năm có dư. Có nhiều khách từ Sài Gòn xuống gạn hỏi để mua, trả tới mười mấy cây vàng. Ông nội không hề quý vàng như họ tưởng. Ông nói: "Nhờ linh cây mai tổ mà con cháu mới học hành đỗ đạt, mới nên người trong thiên hạ. Muời cây chứ cả trăm cây cũng không bán được".

Gió ngược, nước ngược, hai người cũng ráng sức quạt mái dầm cỡ nào, chiếc tam bản cũng cứ ì ra. Cuối cùng Tùng bàn tấp ghe vô bờ để sửa máy.

- Cô Năm che áo mưa để tui trị nó mới được. Tới máy xe đò tui còn trị nổi nữa là máy dầu.

Năm Thắm cúi người che máy cho Tùng sửa. Nhưng gió giật dữ quá, cái áo mưa cứ tung lên phành phạch. Nhìn thấy cái chòi canh rẫy trên bờ, Tùng bàn với Năm Thắm khiêng máy lên đó để sửa. Hai người hè hụt khiêng máy. Gần lên tới bờ đất, Năm Thắm bị trượt chân, chới với mấy cái rồi buông máy, té ùm xuống nước. Tùng bỏ chiếc máy, cúi xuống nắm tay Năm Thắm kéo lên. Anh kéo mạnh tới mức Năm Thắm đổ sập vào người anh. Vậy là cả hai lại rơi tùm xuống nước.

Lúc leo được lên bờ, Năm Thắm nói:

- Mai mốt em phải bắt thường anh làm tội em té xuống nước hai lần đó. Giờ phải lo sửa máy cho kịp không thì hết thấy đường luôn.

Năm Thắm giúp Tùng tháo banh chiếc máy ra sửa. Té ra sự hỏng hóc cũng không ghê gớm gì. Chỉ lui hui một lúc, tiếng máy đã nổ rộn rã.

- Cô Năm thấy chưa? Tui tội thì cô phạt, còn công của tui thì cô có thưởng hông?

Năm Thắm chẳng nói chẳng rằng, hôn chụt một cái vào má Tùng. Trời đất! Sao mà ấm nóng đến rần rật vậy trời. Làm như nụ hôn của con gái có điện hay sao ấy. Tùng đứng sững người ra một lúc rồi chợt nhớ mình là con trai, anh nắm lấy tay Năm Thắm, nâng lên hôn.

Bất ngờ Năm Thắm nói:

- Anh Tùng, em là con dì Sáu, kêu anh bằng cậu lận. Nhà em có nghề xay bột và nấu tào hủ, anh không biết sao. Hồi anh học lớp 12, em học lớp 10, anh đâu có chơi với lớp nhỏ tụi em. Bởi biết anh nên em mới dạn chuyện.

Ôi trời ơi! Vậy là chết nữa rồi. Sao mình hậu đậu làm vậy! Ngoài đường ngoài xá người ta hay nói giỡn chơi, làm sao mình vội tin Năm Thắm là con bà Tám. Mà kỳ thiệt. Cơn cớ gì mình lại không biết con dì Sáu nấu tào hủ là bà con à! Có khi mình đi học trường huyện từ nhỏ, lớn lên lại đi xa nên không biết Năm Thắm là bà con. Chuyến này ràng ràng là mắc đại họa giữa đường rồi. Trung úy cảnh sát hình sự mà điều tra không tới nơi tới chốn.

Xìu xuống như cái bánh tráng nhúng nước, từ đó Tùng chìm luôn cho tới lúc về tới tận nhà.

Khi mấy đứa em đã tắt đèn đi ngủ, Tùng mới hỏi mẹ:

- Má à! Má có biết Năm Thắm con dì Sáu xay bột, nấu tào hủ không?

- Biết chớ sao không! Con nhò đó tao rành sáu câu. Nó mới ra trường về dạy học hơn nửa năm nay. Lắm chỗ nhắm nhe rồi mà nó vẫn chưa chịu chỗ nào.

- Cổ bà con với mình sao vậy má?

- Bà con gì! Ba mày họ Trần, tao họ Nguyễn còn má nó họ Lê, tía nó họ Huỳnh. Có mà bà con từ thời khỉ mới hóa người thì có.

Trời ạ! Thật là năm con khỉ. Trung úy cảnh sát hình sự mà bị cô giáo mới ra trường gạt cho chìm lỉm.

Tùng lên giường, buông mùng nằm chong mắt nhưng không thể nào ngủ được. Chỗ má được Năm Thắm hôn cứ nóng lên rần rật. Anh tưởng tượng ra ngày trả phép, sẽ mặc bộ quân phục cảnh sát, đeo hàm trung úy, khi tới bến ước gì "chuyến" đò cuối cùng đã chạy. Anh sẽ lại được cho Năm Thắm đi quá giang... và sẽ lại có một cơn dông bất ngờ ập đến... Khi chữa máy xong, nhất định anh sẽ chủ động hôn nàng... Hẳn là đôi má trắng như bông bưởi của Năm Thắm sẽ hồng rực lên má cho mà coi... Nghĩ tới đó, bất giác Tùng bật cười một mình giữa đêm khuya./.


Hai truyện của Phan Triều Hải và Hồ Tĩnh Tâm

đã được mang vào thư viện
Thân ái
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chủ hiệu tân dược

Nguyễn Chu Nhạc


Ngót năm chục tuổi đầu, tôi trở thành ông chủ tiệm bán tân dược. Tuy theo nghề này, với tôi chỉ là sự bất đắc dĩ, cực chẳng đã mà thôi, song nó lại là nguồn sống chính của tôi. Hàng ngày, tôi phải trần ra những 14 tiếng đồng hồ làm việc. Cái vòng quay luẩn quẩn và mòn mỏi. Sáng, 8 giờ có mặt ở hiệu thuốc. Trưa đi ăn và nghỉ ngả lưng đôi chút. Chiều bán hàng đến hơn 6 giờ tối mới mò về tới nhà. Tắm qua loa và ăn cơm tối, ngó nghiêng nhà cửa, hỏi vợ con dăm câu ba điều. Và 8 giờ tối lại phóng xe đến cơ quan làm tròn bổn phận của một anh bảo vệ đêm. Lúc này thì tôi mệt rã rời, ngồi gật gù với cái ti vi mà chẳng hiểu người ta nói gì ở đó. Bóng đá hấp dẫn là thế mà tôi cũng không tài nào xem nổi hết trận, bởi ngủ thiếp đi, chẳng biết tỷ số ra sao. Đêm ngủ lại mộng mị. Sáng hôm sau, 7 giờ sáng dậy về nhà và bắt đầu một vòng quay mới.

Cuộc đời có những bước ngoặt không ngờ. Trước khi trở thành ông chủ hiệu tân dược, tôi đã làm đủ thứ nghề. Cầm cái bằng kỹ sư canh nông, tôi được nhồi vào đồng bằng Nam Bộ làm quy hoạch nông nghiệp, chán chê dăm năm tôi cầy cục xin ra một nông trường ngoài Bắc, được hai năm, tôi bỏ đi xuất khẩu lao động nước ngoài. Ba năm ở Đức, tôi phải làm mỗi một việc là giữ chân cầm bàn là điện trong dây chuyền là độc mỗi phần cổ áo trước khi chúng được ráp vào thân. Đơn điệu và nhàm chán đến mức thành tật, sau này mỗi khi thấy chiếc áo là mắt tôi nhìn xoáy ngay vào cổ, và khi cầm nó trên tay thì bàn tay tôi quen nếp sờ sờ phần cổ áo xem có phẳng phiu không. Đã có lần tự tôi bật cười khi nghĩ mình giống hệt cái tay công nhân chuyên bắt vít trong một bộ phim câm do Charles Chaplin đóng. Số phải dính vào lao lý, cái đận nước Đức hợp nhất, dân lao động ta đổ xô đi buôn, tôi cũng đi buôn, bị cảnh sát tóm ngay lần đầu. Thế là ra hầu toà, ngồi nhà giam ít ngày rồi bị trục xuất về nước. Phú quý giật lùi, lại qua đủ thứ việc, từ chân áp tải xe hàng đến chân bán lẻ ở một cửa hàng lương thực, cuối cùng dừng ở chân bảo vệ đêm ở cơ quan.

Để trở thành ông chủ hiệu tân dược, tôi gặp không ít khó khăn. Thoạt đầu, vợ tôi, một dược sĩ cao cấp đang làm trong một cơ quan nhà nước hùn vốn với người chị, họ thuê một cửa hàng nhỏ mở hiệu tân dược. Hiệu nằm kề với một cái chợ, chợ kiểu chợ xanh chợ cóc thường thấy. Những buổi đầu là làm quen mặt thuốc, phụ giúp họ bán hàng ngoài giờ hành chính. Tranh thủ học thêm một lớp sơ cấp dược. Và rồi, tôi trở thành người bán chính.

Thế nhưng, việc gì cũng có cái khó của nó. Hồi đầu, khi mới đứng chân phụ bán, thỉnh thoảng tôi lấy thuốc cho khách, thấy khách chỉ mua hàng toàn những xi lanh và nước cất thôi, thì tôi chỉ nghĩ họ bị bệnh gì đó phải tiêm thuốc tự điều trị nên mua vậy. Sau dần tôi cũng hiểu ra, khách mua hàng kiểu ấy phần đông là dân xài ma tuý, nhất là khi quan sát kỹ dáng vẻ của khách. Nghĩ thế song tôi cũng không hỏi chủ cửa hàng vì hiểu mình là phận làm thuê, không nên tò mò những gì không nên biết. Đến lúc thay chủ cũ đứng chủ hiệu thuốc thì việc này trở nên rõ ràng. Tôi có thể vừa bán hàng, vừa ngầm quan sát, thậm chí hỏi han họ đôi ba câu. Thường là họ đến rất nhanh, ít nói, vào cửa hiệu, móc túi thẩy mấy đồng bạc lẻ lên mặt quầy, lạnh tanh hỏi nhỏ mua vài ba ống nước cất và xi lanh, chờ lấy hàng xong, nhét vội vào túi áo và vội bỏ đi rất nhanh.

Khi bán hàng cho cánh này, quả thật lòng cứ phân vân không yên. Như thế liệu có phải là tiếp tay cho tệ nạn nghiện hút hay không? Mà không bán cho họ thì cũng không được. Nếu không, biết đâu có kẻ trong số họ gây sự, lấy kim chính chọc cho mình một cái thì có phải thêm hoạ lo nhiễm HIV? Hoặc giả, đêm hôm khuya khoắt, có kẻ thù oán đổ chai xăng vứt mồi lửa thì toi ngay cửa hiệu. Thật tiến thoái lưỡng nan. Một lần, khi ngồi uống rượu với anh bạn nối khố thửa học trò với nhau hiện là nhà báo, tôi mang chuyện này ra tâm sự. Anh bạn tôi gạt phắt, bảo rằng: "Ông cứ yên trí đi! Bán bơm kim tiêm cho dân xài ma tuý là ông đang làm một việc hữu ích, đóng góp cho sự nghiệp ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS đấy. Ông không biết à, thế giới người ta làm việc này từ tám hoánh rồi…". Tôi vẫn băn khoăn: "Nhưng mà… như thế thì làm sao mà ngăn chặn được nạn nghiện hút?". Anh bạn tôi rồ lên: "Trời ơi! Vậy ông tưởng, ông không bán thì không có người bán bơm kim tiêm cho họ sao? Mà nếu họ không mua được, họ sẽ dùng chung bơm kim tiêm, và ông có biết khi ấy sao không? HIV sẽ lan truyền nhanh hơn gấp bội, ông rõ chửa…?". Thấy tôi có vẻ đồng tình, anh bạn ôn tồn giảng giải: "Ông ạ, việc ngăn chặn người nghiện hút, cai nghiện là một việc, còn với người đang xài ma tuý, thì việc hướng họ tới hành vi sử dụng bơm kim tiêm riêng là việc nên làm… Thì cũng như cái việc sử dụng bao cao su với khách làng chơi ấy… Đấy cũng là những hành vi bất đắc dĩ song an toàn…".

Khi mọi chuyện vỡ lẽ ra, tôi yên tâm bán hàng. Thái độ cũng tự nhiên vui vẻ, cởi mở hơn khi tiếp xúc với cánh xài ma tuý. Tôi đã có thể hỏi han, trao đổi với họ đôi ba câu ngoài chuyện mua bán. Lâu ngày, gần như tôi thuộc mặt họ gần hết. Trong số đó, tôi chú ý đến vài ba người…

Người thứ nhất là Quý. Có lần vui miệng, tôi đã mời anh ta một chén trà nóng và anh ta cũng vui vẻ xưng tên cho tôi biết. Quý độ chừng hơn tôi vài ba tuổi, thường đi chiếc xe Vespa đã cũ song còn tốt và bao giờ cũng quần áo xơ vin gọn gàng, giày tất tinh tươm. Sau lần ấy, lâu lâu, Quý không cần tôi mời và tự động vào hẳn trong hiệu thuốc, xin nước trà và tán gẫu với tôi. Tôi e dè nhưng cũng không nỡ đuổi khách. Có bận, thấy trên mặt bàn nước của tôi lổng chổng mấy cuốn truyện dã sử, truyện chưởng Kim Dung, Quý cầm lên lật lật xem qua quýt rồi vanh vách nói chuyện ra chừng thông thạo. Tôi từ ngạc nhiên đến thích thú. Hoá ra cha này cũng chịu khó đọc sách ra phết. Nghĩ vậy, tôi thử kiểm tra vốn sách vở của Quý bằng cách nói đến những tác phẩm văn hoá, văn học cổ điển Tây Tàu khác, Quý đều có thể góp chuyện được. Cha này khá thật. Nhưng sao hiểu biết vậy mà y cũng xài ma tuý nhỉ, tôi cứ tự hỏi mình? Dần dà, tôi biết Quý từng tốt nghiệp trường Nhạc viện hẳn hoi, và hiện anh ta đang có chân trong dàn nhạc của một nhà hát có tiếng nào đó. Ngoài ra, Quý còn chơi săc xô phon cho một vài bar, sàn nhảy nào đó để kiếm thêm. Phải rồi, nghiện hút như thế, ngày mấy cữ thì có mà tiêu tiền như hủi ăn thịt mỡ. Quý thật khác với hình dung của tôi về dân xì ke ma tuý bệ rạc, bởi anh ta luôn giữ được dáng vẻ phong lưu trí thức của mình. Lâu ngày, vô hình chung, Quý gần như trở thành người bạn tâm giao của tôi. Chỉ trừ khi quá vội, do công việc và cũng có thể sắp đến cữ chích, Quý mới nhoẻn miệng cười trừ phóng xe đi ngay, còn đâu bao giờ cũng dùng dằng tán gẫu với tôi hàng giờ. Những lần như thế, đã thành thói quen, vì tôi bận bán hàng nên Quý thường tự lãnh phần pha ấm trà mới, tráng đĩa chén cẩn thận rồi mới rót nước. Tôi được biết thêm, Quý có một gia đình tương đối đầy đủ, chí ít là về mặt hình thức, vợ làm kế toán của một công ty, hai con, gái đầu trai sau cùng trong độ tuổi đi học. Đã có lần, tôi thấy ngày nghỉ, Quý chở vợ con trên xe máy đi đâu đó phóng ngang qua hiệu thuốc của tôi. Nhìn họ, tôi không khỏi thắc mắc, Quý nghiện hút như vậy, liệu gia đình họ có êm ấm, hoà thuận không, và rồi anh ta sẽ dạy bảo các con như thế nào, bởi dẫu sao anh ta cũng không thể làm tấm gương tốt cho các con noi theo? Quý đã từng vui chuyện kể cho tôi biết là anh ta đã từng cai nghiện tới năm lần rồi mà vẫn thất bại hoàn thất bại. Tôi có hỏi Quý, khi bập vào ma tuý hẳn phải có nguyên do của nó, cứ cho là bất khả kháng đi chăng nữa, nhưng còn cai nghiện, mà nhất là cai đến lần thứ năm thì phải có mục đích và quyết tâm cao độ, vậy sao vẫn không cai nổi. Quý trầm ngâm hồi lâu mới trả lời, diễn giải lòng vòng, song tôi có thể lọc ra từ mớ lý luận của Quý những ý tứ. Nghĩa là, với người khác thì thế nào không rõ, chứ với anh ta cai nghiện không được, nguyên do từ sức chịu đựng kém, cái mà người đời vẫn gán cho mỹ từ là nghị lực, chỉ thứ yếu thôi, điều quan trọng hơn cả thuộc về quan niệm sống. Quý bảo, anh ta mang trong mình trái tim và dòng máu nghệ sĩ, rất nhạy cảm và cũng dễ đổ vỡ, cho nên, trong cuộc đời lao động và tận hưởng mọi lạc thú, niềm vui phải cân bằng nhau. Tội gì mà lao lực để rồi nhịn ăn nhịn chơi cơ chứ. Với lại sau khi dùng ma tuý, chơi kèn sẽ phê hơn do tâm thần bay bổng, quên hết sự đời và tự li ti huyết quản chỉ còn có âm thanh giai điệu mà thôi. Như thế mới là hết mình cho nghệ thuật. Tôi lấy làm buồn cười về lý sự của Quý. Tôi nghĩ, có lẽ lúc đầu bập vào ma tuý anh ta không qua niệm chi hết, sau rồi mới bao biện, là để lý giải cho cái sự lân khân không muốn từ bỏ ma tuý mà thôi. Tôi thử tìm cách bác bỏ quan niệm của Quý, anh ta không phản đối, đột ngột hỏi tôi xem ngày ăn mấy bữa. Tôi trả lời thật thà mà vẫn thầm cảnh giác. Quý lại hỏi tôi, ngày hút bao nhiêu thuốc lá, uống cà phê mấy lần, có hay xem phim kịch bản gì không, thậm chí tuần mấy lần ngủ với vợ, có bồ bịch hay karaoke giật giải bàn tay vàng không? Tôi cười trừ, trả lời mập mờ vì biết anh ta sẽ bẫy mình chi đây. Quả nhiên Quý bảo: "Thì cứ cho rằng anh đầy đủ tất cả những thứ đó, song anh vấn kém tôi, bởi anh không xài ma tuý. Nếu xài rồi anh sẽ thấy tất cả những cái anh đang có hàng ngày kia chẳng ra quái gì cả, rằng từ trước đến giờ anh chưa từng sống, nói đúng ra là anh đã sống uổng phí, kiểu sống chất lượng thấp…". Vừa nói, Quý vừa cầm chiếc bật lửa rip po đặt xuống mặt bàn nước: "Đây này, anh đang sống ở dưới mặt bàn, còn tôi đang sống ở cấp độ cao hơn, trên mặt chiếc bật lửa đấy!". Đến đây thì tôi cười to, ngửa đầu ra sau ghế mà cười, đến chảy nước mắt. Quý cũng cười, vớt vát: "Anh cứ cười đi. Cười cho cái sự uổng phí đến ngốc nghếch của anh…". Tôi đột ngột hỏi: "Vậy tại sao lại cai, mà cai đến những năm lần?". Không cần nghĩ ngợi, Quý bật luôn: "Là tôi nghĩ đến vợ con. Sung sướng một mình là ích kỷ… là có lỗi. Tiền bạc còn để nuôi các con ăn học… Nếu chỉ có một thân một mình thì…". Tôi bảo: "Anh nghĩ là mình mắc lỗi với vợ con… thì tôi tin đến một ngày nào đó anh sẽ thay đổi…". Quý lảng sang chuyện khác, mà tôi cũng không truy vấn nữa.

Người thứ hai tên Sáng. Đó là một thanh niên mới lớn. Tôi chú ý đến cậu ta trước hết bởi dáng vẻ sinh viên với gương mặt sáng sủa, thông minh. Lần đầu cậu ta đến hiệu thuốc của tôi, đi có một mình. Cậu ta đứng tựa người vào tủ kính, không nhìn vào mặt tôi mà mắt lướt đâu đó trên tủ giá đựng thuốc hai bên. Tôi hỏi mua gì thì cậu ta ngần ngừ không nói, lúng búng mãi mới chìa tiền ra hỏi mua mấy cái xi lanh kèm theo nước cất. Chắc là nhận biết được vẻ ngạc nhiên xen chút thất vọng nơi tôi, cậu ta vơ vội hàng và tiền lẻ thối lại nhét nhanh vào túi áo khoác rồi quay người cắm đầu bước như chạy. Tôi nhìn theo và thầm xót xa thay, con cái nhà ai, cha mẹ dạy dỗ thế nào, trẻ trung và dáng vẻ thông minh như vậy, lại sớm dính vào ma tuý thế. Rõ ràng, cậu ta không hề có vẻ gì của đám công tử dởm con nhà giàu đua đòi chơi bời phá tiền của cha mẹ cả. Những lần sau, Sáng dần bình thản, lạnh lùng hơn, cả khi đi một mình hay cùng hội nghiện hút choai choai. Có lần, cậu ta cưỡi xe @ đèo bạn, xỉa tiền ra một đống hàng chắc để dùng dần hoặc chơi cả hội chi đó. Khi ấy, Sáng ra vẻ ta đây dân chơi sành điệu, trông thật kệch cỡm, đáng ghét. Quả thật, tự thâm tâm, tôi cũng có chút cảm tình, đúng ra là cảm cảnh với nó. Thật thất thường, tuần trước thì vậy, tuần sau nó đã lại thành kẻ bệ rạc ngay. Sáng đến, bảo mua mỗi loại một, rồi nó nhăn nhó: "Hôm nay cháu chẳng còn một xu dính túi. Cho cháu chịu tiền, lần sau cháu trả cả thể…". Tôi bực mình lắm, không phải vì sợ mất mấy nghìn bạc mà vì nghĩ đến thái độ kên kên hôm nào của nó. Tôi đành nặn ra câu trêu: "Dạo này bết thế à? Mới đây còn cưỡi xe xịn cơ mà?". Sáng bảo: "Có đâu chú… Xe của thằng bạn cháu đấy. Bố nó là cục trưởng cục… gì đó. Nhà nó giàu lắm. Nhưng mà giờ biết nó mắc nghiện, papa, mama nó quản chặt, không cho nhiều tiền nữa…". Sau trận ấy, tới hàng tháng không thấy Sáng lai vãng. Bỗng một hôm trời mưa trở rét, tôi ngồi hêu từ sáng mãi gần trưa chẳng có khách, gặm chiếc bánh mỳ patê nuốt không trôi, định đóng cửa hiệu ngủ trưa vì cả đêm trước thức xem bóng đá C1 thì Sáng xộc đến, tự mở cửa ngăn quầy vào hẳn bên trong. Mưa đang nặng hạt nên tôi không nỡ cản. Chiếc áo khoác ngoài trên người nó ướt lướt thướt, nhểu giọt xuống nền nhà. Sáng móc túi, lôi ra một chiếc điều khiển tự động ti vi, chẳng biết của nhà hay mới chỉa được, bảo là gửi đấy làm tin khi nào có tiền thì chuộc lại và còn đòi mua thêm dụng cụ chích. Tôi bực lắm nhưng không dám to tiếng vì sợ rầy rà. Nói ngồi rụi ngay xuống một xó tủ hàng khuất lấp, lẩy bẩy pha thuốc. Tôi sợ tái mặt, vội xua đuổi. Sáng mặc kệ, không đếm xỉa, chỉ tập trung vào việc làm sao chích của mình. Hình như nó bắt đầu lên cơn nghiện. Khi nhìn thấy mũi kim chọc vào mạch, tôi ngoảnh mặt đi không dám nhìn. Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến tận mắt kẻ chích ma tuý, ngoài phim ảnh. Thật khó tả sự chộn rộn trong lòng tôi. Có lẽ, nỗi sợ là lớn nhất. Tôi sợ nhỡ ai đó bước vào, hoặc giả chủ nhà cho thuê nhà biết, họ sẽ nghĩ là tôi chứa chấp kẻ xài ma tuý, thậm chí còn nghi là tôi bán ma tuý nữa không chừng. Tôi nhớn nhác hết nhìn vào trong lại ra ngoài cửa và thầm cầu mong không có ai. Mưa vẫn sầm sập, mờ mịt trời đất. Đầu óc tôi ong ong như người sốt. Rồi tôi giật mình hốt hoảng vì thấy Sáng rời kim chính khỏi tay, lịm người đi từ bao giờ. Chẳng biết nó có sao không? Ngộ nhỡ chích ma tuý quá liều mà tử vong thì tội vạ chút hết lên đầu tôi mất. Tôi luống cuống song không dám chạm vào người nó mà chỉ gọi, khẽ thôi vì lo ai đó nghe thấy. May sao, Sáng từ từ mở mắt, nhìn tôi. Cái nhìn xa lạ, trống rỗng. Tôi thở phào: "Nhãi, không sao chứ? Thật hú vía cho tao… Thôi ông ranh, nhanh chóng đi đi cho tôi nhờ…". Sáng ngồi hẳn dậy: "Đã quá… chú ạ". Tôi làu bàu: "Sướng mày nhưng mà khổ cái thân tao. Này nghe đây, không có lần sau đâu nhớ!…". Sáng tỉnh như sáo, hoạt miệng: "Cháu xin lỗi chú… Dạo này đói thuốc. Nãy vì trời mưa, mới lại cháu cũng chẳng đủ sức đi đâu cả, thôi đành vậy… Phiền chú quá!". Thấy tôi đã bình tĩnh trở lại, Sáng dẻo mỏ: "Cháu đói quá… Chú có gì măm được không?". Từ bực giận, thấy nó xin ăn tôi lại cám cảnh, giọng chân tình: "Còn nửa cái bánh mỳ đây, tao vừa ăn dở, nếu mày không chê…". Nó đón nửa chiếc bánh mỳ, ăn ngấu nghiến, ngon lành. Tôi thấy lúc này có thể gợi chuyện được, bèn hỏi: "Này… thế mày không học hành gì à? Mày chắc còn đang trong độ tuổi đi học?…". Sáng bảo: "Cháu đang học đại học năm thứ ba thì bị đuổi". Tôi bảo: "Hẳn vì tội dùng ma tuý? Trường nào dám chứa tụi bay?". Nó không giận trêu lại tôi: "Chú nói hệt tay hiệu trưởng trường cháu… nhưng mà thân thiện hơn". Tôi lại bảo: "Mày tên Sáng, chẳng hiểu tên thật hay giả, nhưng mà nếu đúng như thế thì sao mày u tối vậy?…" Sáng vẫn bông lơn: "Chú đừng rủa cháu như thế… Chú mà dính vào, có khi còn máu hơn cả cháu". Tôi căng giọng: "Điều quan trọng là đừng bao giờ để dính vào, mày hiểu chứ?". Nó nhìn tôi chằm chằm: "Chú nói như sách… Vâng, cháu cũng đã từng nghĩ như chú… Nhưng, đời mà chú, đâu phải lúc nào cũng cuộc đời vẫn đẹp sao… Có ai nắm tay được từ sáng đến tối đâu?…". A, thằng cu này hùng biện, còn biết nói chữ kia đấy, gớm thật, tôi thầm nhủ.

Và rồi, Sáng kể cho tôi nghe chuyện nhà nó và cả việc nó dính vào ma tuý như thế nào. Sáng con nhà lương thiện, bố mất sớm, mẹ là công nhân về hưu non. Sáng học giỏi, đỗ những hai trường đại học. Đến năm thứ hai thì đàn đúm với hội con nhà giàu. Hội này lười học, lắm tiền, chơi bời rượu mạnh, sàn nhảy, đua xe. Phần đông chúng đều hút chích, đơn giản vì chúng coi việc xài ma tuý như việc dán nhãn mác con nhà phú quý vào người, như để phân biệt với dân thường. Lúc đầu, chúng cho Sáng ăn ngon, cho mặc đồ hàng hiệu và chỉ lo mỗi việc làm bài tập của trường cho chúng chép lại đối phó. Sau một lần bị chích ma tuý cưỡng bức vì muốn Sáng không thể tách rời chúng, Sáng lao vào việc hút chích còn bợm hơn cả tụi chúng. Có bận, vì sĩ diện không muốn bị bọn chúng xem thường con nhà nghèo, Sáng đã bán chiếc xe đạp mẹ dành dụm từ tiền bán bánh rán, chuối rán mua cho để khao ma tuý cả hội. Bị bắt quả tang chích ma tuý tập thể, cả hội bị kỷ luật, song tụi chúng lo chạy chọt được, riêng Sáng bị đuổi học. Từ con nhà lành học giỏi, Sáng nhanh chóng thành kẻ cù bơ cù bất. Bà mẹ biết chuyện song chẳng thể làm gì, cứ còng lưng làm thêm nuôi báo cô đứa con hư hỏng… Chẳng biết Sáng kể chuyện nhà, thật giả thế nào thì tôi không rõ, song cứ lấy làm tiếc cho một thân phận… Nghe chuyện, tôi hỏi Sáng: "Thế mày không thương mẹ mày à?". Nó nhìn tôi như người biết lỗi: "Có chứ!… Cháu thương mẹ cháu lắm… Dạo này mẹ cháu gày yếu quá… Bữa cơm ở nhà, vẫn chỉ toàn ăn thịt mỡ, phần cháu thịt nạc…". Tôi bực: "Vậy mà mày nuốt trôi sao?". Nó bảo, giọng rân rấn: "Nhưng mà cháu không ăn thì mẹ cháu bỏ cơm luôn, nên cháu đành…". Tôi than thở: "Con thì bất hiếu… mà mẹ mày cũng không biết dạy con… chỉ hy sinh một cách vô lối… Thôi sáng đầu óc ra thì liệu đường mà cai nghiện đi còn kịp…".

Nghe chừng, sau đấy Sáng có chuyển biến. Một lần, Quý đang huyên thuyên nói chuyện với tôi về một bộ chưởng mới đọc thì Sáng đến. Tôi lạnh tanh: "Mỗi thứ mấy đây?". Sáng bảo: "Cháu chỉ mua thuốc bổ cho mẹ cháu thôi". Tôi ngạc nhiên và cảm động. Tôi hỏi tỉ mỉ tình trạng sức khoẻ mẹ Sáng và hướng dẫn nó mua các loại thuốc bổ dưỡng, tiền thuốc cũng lấy vốn mà thôi. Sáng đi rồi, tôi đem chuyện nó kể cho Quý nghe. Quý bảo: "Nó khác, tôi khác… Nó trẻ ranh, đua đòi, còn tôi thuộc về quan niệm…". Thấy tôi không phản ứng, Quý cao hứng: "Đấy cứ như thằng cha Lệnh Hồ Xung trong Tiểu ngạo giang hồ, nghiện rượu, mê gái đẹp, đời tiêu sái biết bao nhiêu… Tóm lại trong đời con người ta cứ phải nghiện một cái gì đấy… Tôi xài ma tuý thì thôi rượu, chừa gái… còn như anh không nghiện gì cả… biết đâu lại chơi gái thành thần… Đời người sống có một lần, tội gì phải khuôn phép, quy quy củ củ… Hay ho cái khỉ gì… Cứ vô chiêu mà thắng hữu chiêu như cha Lệnh Hồ Xung, gặp đâu ứng phó đó… Ha ha…!…". Tôi cáu tiết, cho rằng kẻ nghiện ngập thì chẳng có quan niệm nào bênh vực được, chẳng qua ích kỷ hại nhân mà thôi. Bình tĩnh lại, tôi kể chuyện cha tôi cai nghiện như thế nào để bác bỏ lại Quý.

Cha tôi vốn là một kiến trúc sư thời Tây. Ông kiếm tiền như rác, ngoài việc mua mấy chục mẫu ruộng ở quê cho bà nội tôi trông coi thì ông vẫn thừa tiền để cô đầu nhà hát, hút thuốc phiện rồi ngả đầu lên đùi mấy ả đào tơ ở Khâm Thiên để mơ màng nghe "hồng hồng tuyết tuyết… mới ngày nào chưa biết cái chi chi, mười lăm năm thấm thoắt có ra gì…". Đến khi cách mạng tháng Tám nổ ra, ông cũng hăng hái cùng các trí thức bạn bè tham gia, nhưng khi toàn quốc kháng chiến thì vì nghiện ngập nên ông không dứt bỏ nổi để theo kháng chiến, đành ở lại thành làm nghề cũ. Sau hoà bình lặp lại, Nhà nước trưng dụng trí thức cũ, ông đi làm. Lúc ấy, ông biết chế độ mới không thể dung tha người nghiện thuốc phiện nên quyết chí đi cai. Ông đã đánh vật với chính mình, ròng rã ba tuần liền, mỗi đêm bách bộ đến cả chục cây số để chống lại cơn thèm thuốc đến khi kiệt sức. Sau này, khi mang gia đình hồi hương làm ruộng, thỉnh thoảng ông lại mang chuyện cai nghiện của mình ra kể cho con cái nghe, nhằm giáo dục, động viên mấy chị em chúng tôi vượt khó. Câu chuyện ấy đã ăn sâu vào tâm trí tôi, động viên mấy chị em chúng tôi vượt khó. Câu chuyện ấy đã ăn sâu vào tâm trí tôi, giúp tôi nỗ lực hơn trong những lúc đường đời khúc khuỷu.

Quý nghe rồi bảo: "Quả là ông cụ nhà anh đáng nể trọng… Nhưng mà vì cụ quyết chí cai… Tôi cũng đã nhiều lần cai, song cũng chỉ là để thử xem sức chịu đựng của con người ta đến mức nào?… Tôi chưa sa vào hoàn cảnh cụ cụ… Nói vô phép, có lẽ khi ấy, tôi cũng sẽ làm được như vậy chăng?. Quý nhìn tôi cười: "Gì thì gì cũng chưa phải là lúc này!…". Tôi biết Quý cùn nên không tranh luận nữa. Nhưng có một chuyện, tôi giấu anh ta không kể hết. Chuyện này thì tôi cũng mới biết gần đây, do chính người anh rể tôi ở quê kể lại nhân ngày giỗ cha tôi. Rằng, cha tôi cũng đã dùng thử lại thuốc phiện sau mấy chục năm cai. Trước khi mất vài năm, khi đã ở độ tuổi gần thất thập, sức khoẻ cha tôi giảm sút nhiều. Ông chú họ tôi hay buôn bán ở mạn ngược, có đem về ít thuốc phiện sống dành khi đau bụng gió máy thì uống chữa bệnh, đưa cha tôi một chút bảo ông dùng thử biết đâu khỏe lại và còn máh cho chỗ còn bàn đèn để hút. Không hiểu ông đã nghĩ gì mà nghe theo. Để hút được, ông đã ngầm nhờ người anh rể tôi, nguyên là bộ đội chống Mỹ phục viên về khi ấy đang là bí thư đảng uỷ xã đưa đi. Tuy sợ lộ chuyện, song vì chiều bố vợ nên anh đành bấm bụng đèo xe đạp đưa cha tôi đi hút thử. Sau hai lần như thế, không thấy sức khoẻ khá hơn, sợ nghiện lại nên ông kiên quyết dứt hẳn cho đến khi ốm nặng qua đời. Anh rể tôi đã hỏi tôi rằng, nếu ở vào hoàn cảnh ấy, tôi sẽ làm thế nào. Quả là tôi không biết mình sẽ xử trí ra sao, song có một điều toio biết rõ, cha tôi giấu biệt là có ý tránh để lại một tấm gương xấu cho con cái. Tấm lòng ấy của cha, tôi hiểu và thầm biết ơn ông.

Tôi đã giấu Quý không phải tôi sợ đuối lý trong cuộc tranh luận chưa có hồi kết, mà tự thâm tâm tôi tôn trọng tâm nguyện của cha mình. Con người ta, tôi cũng vậy thôi, đầy rẫy những sai phạm, quan trọng là ở cái tâm phục thiện. Sau lần tranh luận nhằm ra ngô ra khoai không phân thắng bại đó, Quý vẫn qua lại mua hàng, song chỉ chào hỏi qua loa thôi. Còn Sáng thì biệt tăm tích. Một chiều, tôi vừa đi nhập thuốc về, đang bận rộn xếp hàng vào quầy thì Quý đến. Thấy tôi tất bật, Quý bảo không vội, đợi tôi xong việc. Xếp thuốc xong, tôi pha ấm trà xả hơi và mời Quý cùng uống. Quý cầm chén trà nóng, mân mê trên tay không thấy uống, vẻ mặt khang khác, cũng chẳng mau miệng như mọi khi. Tôi gợi: "Đói thuốc hay cãi nhau với vợ đấy?". Quý bảo: "Không đâu… Anh nhớ thằng cu tên Sáng chứ?…". Tôi chợt nhớ ra sự vắng mắt của nó lâu nay: "Sao? Nó làm sao? Hút chích hay trộm cắp bị bắt à?". Quý vẫn rầu rầu: "Nó vừa suýt chết. Đúng ra là chết đi sống lại". Và Quý cho tôi biết, nghe đâu dân nghiện ở khu này kháo nhau, là Sáng đã dùng ma tuý quá liều, xỉu ở gầm cầu thang một chung cư. May có người phát hiện đưa đi cấp cứu. Quý trầm ngâm: "Chẳng hiểu nó đói thuốc lâu ngày hay bị nhiễm HIV rồi, nên nói bi quan muốn chết cho rảnh?…". Tôi bảo: " Thì vẫn thấy nó mua bơm kim tiêm sạch mà?". Quý trề môi: "Anh thì chỉ biết nửa vời… Làm sao hiểu được dân nghiện bọn tôi, khi cơn lên thì có kể gì, dao kề cổ, súng kề tai cũng mặc, miễn sao đưa thuốc vào máu càng nhanh càng tốt…". Tôi thừ người thở dài: "Thương nó thì ít, mà thương mẹ nó thì nhiều". Quý bảo: "Anh thật cải lương mùi mẫm. Dẫu sao anh cũng hiểu chúng tôi đôi chút… Người ngoài bình thường thì không chịu, nhìn chúng tôi như tội phạm đáng chém đầu, chỉ đòi hỏi ở chúng tôi thôi. Lúc nào cũng mang luân lý, đạo đức ra dạy bảo… Chúng tôi cũng có những nỗi khổ tâm…". Tôi chăm chú nhìn Quý, chẳng thấy vẻ tiêu sái mà anh ta vẫn nguỵ trang thường ngày đâu nữa. Tôi lựa lời: "Thế nào?… Anh thử cai lần nữa chứ?…". Quý ầm ừ hồi lâu mới lộc cộc: "Để xem". Nói rồi Quý chào tôi, lên xe phóng vụt đi.

Tôi định bụng lúc nào rảnh đến thăm Sáng. Song tôi chợt nhận ra, mình vẫn chưa biết nhà nó ở đâu, và hiện đang nằm cấp cứu ở bệnh viện nào!… Tôi nhìn quanh quất tủ thuốc bên mình và đâu cũng thấy những gương mặt Quý, Sáng và bao nhiêu con nghiện khác lúc nguyên vẹn lúc méo mó./.




美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chín Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu và Bóng Rổ

Hồ Anh Thái


Ba cô gái. Vừa mới hết năm thứ nhất khoa diễn viên thì họ nhận được vai. Thực ra người ta chỉ chọn một cô để giao vai chính. Nhưng cô này không chịu đi đóng phim nếu hai cô bạn không có vai diễn. Ở vào hoàn cảnh khác thì người ta bái bai cô em, chúng anh không có chế độ ăn theo, chúng anh không bán vé kèm trẻ em, bao nhiêu siêu sao đang trông đợi chúng anh mỏi mòn ra kia. Nhưng đây là phim hợp tác. Với Việt kiều. Ông Việt kiều trả tiền để làm phim về mối tình thời trai trẻ của ông. Cô gái chính là hình bóng người yêu của ông bốn mươi lăm năm trước. Người yêu đã rủ ông cùng trốn ra vùng kháng chiến nhưng ông không đi. Thế là đôi người đôi ngả. Người thành Việt kiều yêu nước. Người thành cán bộ cách mạng lão thành.

Ông Việt kiều đồng ý cho thêm vào bộ phim hồi ký hai cô bạn gái của người yêu. Người yêu được trả chín triệu. Hai cô bạn, một cô ba triệu, một cô hai triệu. Cả ba cô sẽ trở thành những diễn viên nổi tiếng, ta chẳng nên gọi tên thật của họ ra làm gì. Cứ đơn giản gọi họ là Chín Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu, mặc dù dùng tiền nong để đặt tên nhân vật đâu có hay gì.

Ba cô rủ nhau ra đảo Cát Bình trước. Năm ngày nữa đoàn phim mới tới. Năm ngày đủ cho họ đi tắm biển, đi dạo chơi và làm quen với khung cảnh họ sẽ phải xuất hiện. Chính ở đây họ đã gặp Bóng Rổ. Các cô đặt tên cho người đàn ông là Bóng Rổ vì anh ta cao lớn, dáng vẻ như một vận động viên bóng rổ. Anh là con rể của một cán bộ cấp cao, ta chẳng nên gọi tên thật của anh ra làm gì. Cứ đơn giản gọi anh là Bóng Rổ. Mà thực ra anh cũng đã mất tên từ lâu, từ khi bị cái bóng của ông bố vợ phủ lấp lên. Ở đâu người ta cũng trịnh trọng giới thiệu anh là con rể ông Y, thế là đủ, họ không cần giới thiệu học vị nghề nghiệp chức vụ của một gã X vô danh vô nghĩa.

Trên bãi biển chỉ có một người đàn ông. Đấy là trong mắt ba cô gái mười tám. Thực ra bãi tắm khá đông người. Nhưng người đàn ông nổi bật vóc dáng ngoại cỡ, gương mặt phảng phất buồn và cặp mắt nâu xa xăm hướng nội. Anh ta chỉ xuống biển tắm một lát, rồi lên ngồi một mình bên chiếc bàn ở chỗ khuất. Ba cô đi qua vẫy tay cười với anh. Anh ta cười đáp. Gương mặt đẹp méo xệch đi vì nụ cười lịch sự đáp lễ.

Vẻ mặt hắn đầy âm mưu như đang tính chuyện vượt biển sau một vụ án. Ba Triệu nói. Hắn giống một kẻ thành đạt rửng mỡ vừa bị một đòn suy sụp. Hai Triệu nói. Hình như cả hai cậu đều đúng, mà hình như không. Chín Triệu nói. Cả ba cô đều nói. Cả ba cô đều phân tích tâm lý nhân vật theo lý thuyết. Chưa cô nào có người yêu.

Chẳng rõ cô nào đầu tiên nghĩ ra cái trò ấy. Họ sẽ dàn dựng một vở kịch tình yêu với Bóng Rổ. Ít ra cũng biết được anh ta thuộc loại nào trong mấy loại người nêu trên. Thì cứ coi đây là một tiểu phẩm bài tập mà ba cô vẫn cùng làm với nhau ở trường.

Chín Triệu là nhân vật nữ chính. Ba Triệu là trợ lý đạo diễn. Hai Triệu là đạo diễn. Vẫn thường như vậy, kẻ kém giá nhất vẫn thường chỉ đạo kẻ đắt giá thực hành diễn xuất.

Các cô họ nhà Triệu có năm ngày để dàn dựng tiểu phẩm. Trên thực tế có thể coi màn kịch kết thúc sau bốn ngày.

Ngày thứ nhất.

Thời gian: Từ 3 giờ đến 6 giờ chiều. Địa điểm: Bên bãi tắm, chỗ chiếc bàn ở góc khuất.

Sau sáu giờ, Chín Triệu kể lại toàn bộ câu chuyện với hội đồng các tác giả kịch bản và đạo diễn.

"Anh ấy bảo rằng tôi gấp đôi tuổi em. Mình hỏi sao anh biết. Bóng Rổ nói em kể vừa mới hết năm thứ nhất Tổng Hợp, tức là em chừng mười tám tuổi. Tôi ba mươi sáu tuổi, tức là tôi gấp đôi tuổi em...".

- Vừa mới mở màn đã bóc mẽ tuổi tác nhau ra thì diễn kịch tình yêu làm sao được nữa.

Hai Triệu lắc đầu chê.

"Bây giờ anh ấy rất sợ tình yêu, anh ấy luôn chạy trốn tình yêu".

- Giọng tà lưa của mẹ mìn ái tình đấy.

Ba Triệu bảo.

- Không đúng, như mình đây này, mình cũng luôn chạy trốn tình yêu.

Chín Triệu phản đối, rồi kể tiếp. Bóng Rổ nói anh vừa mắc một sai lầm nghiêm trọng. Chín Triệu không tiện hỏi sai lầm gì. Anh cũng không nói, mà chuyển sang kể chuyện tình yêu tuổi mười tám của mình. Anh yêu cô bạn gái cùng tuổi cùng lớp ở trường đại học. Họ yêu nhau thắm thiết sáu năm, quãng thời gian xưa nay hiếm trong thời buổi tốc độ này. Rồi họ lấy nhau, có một con gái năm nay mười một tuổi. Cũng cần phải biết rằng vợ Bóng Rổ là con gái của ông Y lừng danh.

- A, hắn ta là một tay đào mỏ - Ba Triệu đắc thắng reo lên - Yêu cha mà lấy con. Đào mỏ sẽ chết vì sập hầm lò con ơi.

Không đúng, Bóng Rổ khi yêu nào có biết người yêu là con nhà cán bộ hay bình dân. Bạn bè và những người xung quanh cũng xì xào đàm tiếu. Nhưng anh đâu có lỗi vì người yêu sinh ra trong một gia đình như thế. Người yêu của anh cũng đâu có lỗi. Mặc dù cũng phải thừa nhận rằng nhờ rơi vào vòng ân sủng của gia đình ông Y mà mọi việc đều êm xuôi ở cơ quan của anh, ở những cơ quan anh đến liên hệ công tác.

- Vợ anh ta có đẹp không nhỉ?

Hai Triệu băn khoăn buông một câu hỏi trống không.

- Những gã điển trai thường hay sa lưới của những đứa con gái xấu xí.

Ba Triệu nhận xét. Cô là người duy lý và tỉnh táo hơn cả. Xinh đẹp, giàu có, danh tiếng, thế lực là những thứ ông trời ban nhỏ giọt cho con người, mỗi người chỉ được đúng một giọt, rất công bằng, chẳng ai hơn ai. Kẻ nào chẳng may đớp được hai ba giọt khác thì phải trả giá theo kiểu ăn trước trả sau, rất thảm khốc. Từ kết luận này của Ba Triệu thì dứt khoát con ông to không đẹp. Vợ Bóng Rổ không đẹp. Đấy là điều Chín Triệu phải xác minh ở màn thứ hai.

Ngày thứ hai.

Thời gian: Buổi sáng từ 6 giờ 30 đến 8 giờ 30. Địa điểm: Bên bãi tắm. Hai diễn viên phụ giỡn sóng ngoài xa. Buổi chiều từ 2 giờ 30 đến 5 giờ 45. Địa điểm: Ngồi bên cầu tàu, nhìn ra vịnh biển.

Hóa ra là vợ Bóng Rổ đẹp mê hồn. Anh đưa cho Chín Triệu xem tấm ảnh vợ gài trong cuốn sổ nhỏ ở túi áo ngực.

- Có thể chỉ là chị ta ăn ảnh. Có thể chỉ là chị ta mông má tân trang quá nhiều - Ba Triệu phỏng đoán rồi khẳng định - Đàn ông thông minh thì không bao giờ lấy vợ đẹp.

- Như cậu nói thì hoặc là anh ta ngốc ngếch, hoặc là thực sự chị ta không đẹp?

Hai Triệu hỏi lại.

Chín Triệu không tham gia cuộc tranh cãi. Rốt cuộc cô đã biết được và kể lại cho hai bạn nghe về sai lầm của Bóng Rổ. Vợ anh đi học ở Pháp. Được một thời gian, ông bố vợ định gửi nốt Bóng Rổ sang Pháp, nhưng anh từ chối. Anh đã nghe khá nhiều lời đồn đại và không muốn mang tiếng nấp bóng nhà vợ. Anh đi công tác biệt phái ở miền Nam. Anh gặp một người đàn bà có những nét giống vợ mình. Anh yêu người đàn bà giống vợ mình.

- Đi với người khác mà vẫn cảm thấy như đang đi với vợ. Đấy là tâm lý tự lừa dối mình để xua đi mặc cảm tội lỗi.

Ba Triệu nói.

Anh nghĩ sao nếu vợ anh ở bên kia cũng tìm được một người đàn ông nhang nhác giống anh? Chín Triệu hỏi. Bóng Rổ buồn bã gật đầu. Một vài người bạn cũng hỏi anh điều đó. Nhưng anh hoàn toàn tin tưởng. Vợ anh không phải loại người đi tìm nguồn vui tạm bợ. Chị thích những giá trị bền vững. Thỉnh thoảng vào ban đêm anh gọi điện thoại cho vợ. Sung sướng cực độ dù chỉ là gửi một cái hôn gió qua điện thoại.

- Mình tin rằng con mụ kia cũng chẳng chịu thua kém để một mình chồng ngồi nhà ăn chả ăn nem như thế. Có vợ mà cho đi Tây, như rim không khoá để ngay Bờ Hồ.

Ba Triệu bảo.

- Đừng có nghĩ về con người cay nghiệt như vậy.

Chín Triệu nhắc.

Ba Triệu nghi ngờ nhìn bạn. Xem ra cô nàng diễn viên - điệp viên này đã bắt đầu bị đối tượng hấp dẫn. Cô ta sẽ quên vai trò đang đóng của mình để mê muội nhập thân vào nhân vật. Hai Triệu ủng hộ lối diễn xuất nhập thân hết mình, có như vậy mới chân thực, mới không gây cảm tưởng giả tạo. Stanilavsky đã chủ trương như thế. Nhưng Ba Triệu theo trường phái Bertolt Brecht. Một lần Brecht đến nghĩa trang, thấy hai nấm mồ cạnh nhau, một tấm bia ghi Nơi đây an nghỉ một diễn viên đích thực, tấm bia thứ hai ghi Nơi đây an nghỉ một khán giả đích thực. Hỏi mới biết trong một buổi diễn, một khán giả thình lình đứng bật dậy, rút súng bắn chết nhân vật vô lại trên sân khấu. Ngay lập tức ông ta nhận ra mình nhầm, bèn quay súng tự sát. Brecht bảo hãy thay dòng chữ trên bia mộ thành Nơi đây an nghỉ một diễn viên tồi nhất, và mộ kia: Nơi đây an nghỉ một khán giả tồi nhất. Brecht cho rằng nhập vai đến mấy thì cũng phải để một khoảng gián cách, để cho diễn viên và người xem đồng thời xúc động mà vẫn tỉnh táo ý thức được rằng họ đang diễn kịch và xem kịch.

- Chớ dại mà mê muội theo nhân vật mình đang đóng.

Ba Triệu nhắc nhở Chín Triệu.

Ngày thứ ba.

Thời gian: Suốt buổi sáng. Địa điểm: Hang Tùng Cau. Chín Triệu và Bóng Rổ tách ra đi riêng với nhau. Hai cô bạn gái loanh quanh bên bờ vịnh chờ điệp viên trở về.

Bóng Rổ đang bận rộn với công việc biệt phái và người đàn bà trông giống vợ anh ở Sài Gòn, thì người vợ pháp lý lặng lẽ từ Paris về Hà Nội. Chị ta vội vã bán nhà, vội vã phân tán tài sản, vội vã tuyên bố ly thân. Chị ta không biết gì về người đàn bà giống mình ở Sài Gòn. Lý do ly dị chỉ là không hợp về mọi mặt. Lý do thực sự lại là một gã điển trai cùng du học và cùng phiêu lưu tình ái. Gã này đã húc thẳng vào chị ta sau một lần đánh cuộc với đám bạn bè đàn ông. Gã đang bị kỷ luật vì những lý do tài chính không minh bạch. Gã sẽ bị gọi về nước. Công danh sẽ đứt gánh giữa đường. Chỉ có người cha của chị ta mới cứu được gã. Gã lao sầm sầm vào chị như một cái máy xúc. Chị bị húc đổ ngay, như thể đến bây giờ mới khám phá ra một tình yêu đích thực. Chị lao ngay về Hà Nội như thực hiện một cuộc tập kích chiến lược bằng hàng không. Chị tập kích cho tan tành căn nhà và mái ấm gia đình vun vén bấy lâu. Chị tập kích vào người cha để ông phải hứa sẽ đưa tay cứu vớt gã nhân tình sẽ cưới chị. Sau trận không tập, chị lao vút trở lại Paris. Cặp tình nhân chờ đợi mỏi mòn để cuối cùng nhận được quyết định của ông bố. Ông sẽ không cứu bất cứ kẻ nào dính líu vào vụ này. Ngắn gọn. Chắc nịch.

Gã nhân tình thoang chốc trở mặt. Trong cơn điên khùng, gã thẳng tay đánh đập chị ta. Gã định bỏ trốn nhưng không thoát. Chị ta cứ lăn lóc đòi bỏ học để theo gã bị dẫn độ về nước. Đến lúc ấy, Bóng Rổ mới biết chuyện. Anh gọi điện sang cho vợ. Em hãy quên hết mọi chuyện đi, anh tha thứ cho em. Tôi không quên, tôi cứ nhớ, anh là cái thá gì mà tha thứ cho tôi, người ta muốn hại anh ấy, muốn biến anh ấy thành kẻ ăn mày, thế thì tôi sẽ đi theo anh ấy làm một con ăn mày cho xứng đôi. Bóng Rổ không ngờ người yêu dịu dàng e lệ ngày xưa, người vợ khôn khéo nhẫn nại ngày nay thoắt xù lông một con sư tử cái mà gầm lên như thế. Chị ta bỏ học, về nước để nhằng nhẵng bám theo gã nọ, để bị gã đánh đuổi, để rồ dại theo gã đi khắp nơi khiếu nại cái quyết định kỷ luật. Hai năm trời Bóng Rổ kiên trì dỗ dành người vợ đang tự huỷ hoại thành thân tàn ma dại. Không một lời nào lọt tai chị ta nữa. Mới rồi, Bóng Rổ đành phải ký vào cái đơn ly dị. Ký xong, anh bỏ ra đây.

Ký xong, anh nghĩ rằng mình đã sai lầm. Anh vẫn tin vào bản tính có thể cảm hoá của con người.

- Anh ta sẽ tuyệt vọng thôi. Mụ vợ sẽ như thiêu thân lao vào lửa, cho đến khi nào bị thiêu cháy hoàn toàn.

Hai Triệu nói.

- Anh ấy thật đáng thương.

Chín Triệu lẩm bẩm như nói với mình.

- Đừng có thương cảm vớ vẩn. Hãy nhớ đến Brecht, hãy tự ý thức rằng cậu đang đóng một vai kịch.

Ba Triệu nghiêm giọng.

Chín Triệu biến theo cùng Bóng Rổ suốt cả buổi chiều. Tám giờ tối thì Hai Triệu không dám bảo vệ quan điểm diễn xuất phải hoàn toàn nhập vai được nữa. Hai cô gái đâm bổ ra bãi tắm. Đêm không trăng. Gốc dừa, gốc phi lao, bờ bụi nào cũng có từng đôi từng đôi nằm ngồi ngả nghiêng. Con này liều thật. Con này gớm thật. Thằng cha Bóng Rổ tàu nhanh thật. Các cô xuýt xoa, các cô làu bàu, rồi các cô gọi, cũng chẳng dám gọi to, chỉ gọi thì thầm. Chín Triệu ơi, Chín Triệu ơi. Tất nhiên các cô gọi tên thật của Chín Triệu cơ, nhưng ta đã thoả thuận từ trước là không viết tên thật của bất cứ một nhân vật nào trong câu chuyện này.

Hai cô nản chí quay về, đã thấy Chín Triệu ngồi trong phòng. Gương mặt hoàn toàn phẳng lặng. Như vậy có nghĩa là cô đang diễn một bộ mặt phẳng lặng. Cô lảng tránh câu hỏi của hai người bạn và nói rằng suốt cả buổi chiều nay suốt cả buổi tối nay không có một chuyện gì đáng để kể lại. Ra vậy, đó là một lớp kịch chỉ lưu hành hội bộ mà không được công diễn.

Ngày thứ tư.

Sáng sớm có tiếng tàu thuỷ hù lên ngoài bến. Trầm đục thở than. Chín Triệu vùng dậy, chạy tới bên cửa sổ nhìn ra ngoài cảng. Con tàu dùng dằng đi dưới trời mưa như trút và mặt biển nghi ngút bốc hơi.

- Anh ấy đi rồi.

Chín Triệu thẫn thờ lẩm bẩm.

- Chẳng nhẽ màn hạ ở đây?

Đạo diễn Hai Triệu có vẻ băn khoăn với một cái kết như vậy.

Con tàu mờ nhoà trên mặt biển trắng mờ sương khói.

Thốt nhiên, cả ba cô gái thấy Bóng Rổ che một chiếc ô xanh thẫm chạy qua sân. Anh chạy dọc theo hành lang, về phía căn phòng của ba cô. Chín Triệu vội mở cửa, chạy ù ra sau nhà, đứng dưới mái hiên.

Hai cô gái niềm nở mời Bóng Rổ vào phòng. Chín Triệu bỏ đi, tức là nó không muốn gặp anh. Anh có cần nhắn gì, cứ nói với chúng em.

- Bỏ đi? À, cô ấy có lý do để lảng tránh. Có lẽ cũng vì lý do đó mà tôi phải hoãn chuyến tàu ngày hôm nay. Tôi chưa đi được, vì phải nói với cô ấy một điều...

Bóng Rổ rất thông cảm với cơn sốc hiện nay của Chín Triệu. Một ông già Việt kiều mới đây tìm về gặp lại mẹ cô để biết rằng bà mẹ đã mất cách đây ba năm. Ông bảo cô giống hệt người mẹ gần nửa thế kỷ trước. Thì ra bà mẹ cuối đời nghiện ngập của cô cũng đã có một thời thanh xuân đầy sự kiện. Sự xuất hiện của ông Việt kiều khơi lại nỗi đau chưa nguôi của cô về người mẹ...

Ba Triệu nhếch mép. Hai Triệu thầm xuýt xoa trong lòng, cô bạn gái quả đã nhập vai hết mình. Hai Triệu rụt rè lên tiếng:

- Thế này, anh Bóng Rổ ạ...

- Cô gọi tôi là Bóng Rổ?

- Vâng, chả là chúng em thấy anh giống một vận động viên bóng rổ.

- Bóng Rổ cũng được, tuỳ các cô. Nhưng tôi thích chơi tennis và đi bơi. Còn nghề của tôi là sản xuất bút chì.

Khó mà hình dung một người đàn ông cao lớn như thế lại loay hoay tỉ mẩn với những chiếc bút chì nhỏ xíu.

- Anh Bóng Rổ, chúng em xin lỗi về chuyện này. Ba đứa chúng em là diễn viên. Đây chỉ là màn kịch chúng em tập dượt cho bộ phim khởi quay vào ngày mai. Sáng mai anh sẽ thấy đoàn làm phim của chúng em tới. Mong anh thứ lỗi.

Hai Triệu thu hết can đảm nói liền một hơi.

- Diễn kịch ư? Đóng phim ư?

Bóng Rổ ngồi lặng đi. Bất chợt anh bật lên phản ứng. Nhưng chuyện mẹ cô ấy say rượu, khoá trái cửa để hoả thiêu căn nhà, hoả thiêu cả hai mẹ con thì không thể là kịch. Bà mẹ chết cháy. Cô ấy được hàng xóm cứu ra. Lưng cô vẫn còn một vết sẹo bỏng khá lớn. Điều này thì Bóng Rổ biết rõ.

Hai Triệu sững sờ đưa mắt nhìn Ba Triệu.

- Tôi đã định đi chuyến tàu sáng nay, nhưng chợt hiểu không thể lẳng lặng ra đi như thế được. Tôi muốn quay lại nói rằng tôi đi không phải vì hoảng sợ cái sẹo trên lưng cô ấy.

Anh thở một hơi thật dài rồi mới nói tiếp.

- Cũng nhờ nhắn với cô ấy rằng đừng vì mặc cảm cái sẹo mà lẩn tránh bạn trai có thiện ý.

Bóng Rổ lại đi dưới trời mưa trở về khách sạn của anh. Hai cô bạn gái vòng ra sau nhà, đến bên Chín Triệu đang thẫn thờ đếm những hạt mưa giọt trướcban công. Ba Triệu bất đồ tốc vạt áo sau của Chín Triệu lên.

Một tảng sẹo chằng chéo trên lưng như chiếc lá bàng đỏ.

Hai cô bạn run rẩy lặng câm. Học với nhau một năm nay mà các cô không biết gì về bạn.

Chẳng biết nói sao, các cô quay ra trách trời trách đất đang yên lành nắng đẹp bỗng sụt sùi tuôn xuống một trận mưa. Mưa gió thế này quay phim làm sao được. Sáng mai đoàn làm phim đến, các cô sẽ tranh thủ đạo diễn xem ông bỏ phiếu cho phe nào, phe Stanilavsky hay phe Brecht. Cái con bé Chín Triệu vừa Stanilavsky vừa Brecht thì đang khổ sở thế này.

Để rồi xem, các cô sẽ đấu tranh với đạo diễn để bỏ phắt cái cảnh Chín Triệu phải mặc bộ đồ tắm hai mảnh đi trên bãi biển. Nửa thế kỷ trước trên bãi tắm Việt Nam bói đâu ra bộ đồ tắm hai mảnh cơ chứ./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Cha và con

Anh Đào


Hắn ra tù. Tự biết không có ma nào đến đón, đành dứt khoát bước đi. Xe Honda ôm vào giờ này không thiếu, nhưng hắn thích đi bộ. Lững thững đi hoài như người rảnh rang lắm, trời tối mịt mới đến thị xã.

"Khách sạn công viên" trước Cung thiếu nhi, khi xưa là chỗ ngủ tốt nhất của dân bụi đời. Trong một năm hắn ở tù, khu vực này đã sửa sang, trồng trọt đủ thứ hoa kiểng. Lại thêm nhiều đèn chùm đầy màu sắc, đứng xếp hàng nối dài khoe đẹp khoe sáng.

10 giờ đêm. Hắn lại quảy túi đi... Rồi cũng phát hiện ra chỗ ngủ lý tưởng. Cái thềm xi măng sát tường rào bệnh viện, có tàn cây phượng vĩ che khuất ánh đèn, giúp lại khoảng thềm tôi tối cỡ ánh sáng đèn ngủ. Hắn nghĩ: "Chỗ này chắc nhiều muỗi, nhưng ngủ rất êm không bị xe cộ ồn ào". Moi từ cái túi ra tấm vải xanh cũ bèo nhèo, có thể gọi tạm là mền, trải ra, kê túi gối đầu lên, hắn nhắm mắt. Đi bộ mệt mỏi cả ngày nên hắn ngủ rất ngon.

Gần sáng, hắn giật mình tỉnh giấc, lạnh toát với cảm giác nghĩ có con gì đó quấn quanh cổ. Hắn nằm im định thần. Sát ngực hắn là một làn hơi thở nhẹ và một trái tim ai đó đập đều nhịp, cánh tay của người ấy vòng quanh cổ hắn. Hắn lẩm bẩm:

Con mẹ nào đây?

Hắn nhè nhẹ ngồi lên, nheo mắt nhìn. Hoá ra là một thằng nhỏ chừng hơn 10 tuổi. Mặc cái áo rách bươm bày ra bộ ngực lép kẹp, đã giành muốn hết cái mền của hắn. Nó cũng thuộc dạng không nhà như hắn, đang ngáy pho pho ngon lành, chẳng hay biết thằng cha nằm kế bên đã thức giấc, đang nhìn mình chăm chăm.

Hắm dợm người đứng lên, định bỏ đi tìm chỗ khác ngủ. Nhưng nghĩ gì đó, hắn nằm trở xuống, xoay lưng về phía thằng nhỏ, đưa tay kéo lại cái mền. Hắn nhắm mắt cố dỗ giấc nhưng không tài nào ngủ lại được. Hắn ngồi dậy móc thuốc hút, chợt thấy cái mền bỏ không, trong khi thằng bé bị sương xuống lạnh, càng lúc càng co tôm lại. Hắn bất giác chửi thề, rồi kéo mền đắp lên người thằng nhỏ.

Hút hết điếu thuốc, hắn nằm xuống thiếp được một lúc, tới khi thức dậy thằng nhỏ bỏ đi mất tiêu. Hắn hốt hoảng thọc tay vào túi quần kiểm tra, số tiền vẫn còn nguyên. Hắn thở phào, xếp mền bỏ vào túi, quàng lên vai bước đi.

Cả ngày hắn đi tìm việc làm nhưng không ai mướn, đành xài thật dè xẻn từng đồng. Xong, trở lại nơi tối qua nằm ngủ.

Hắn còn hút thuốc thì thằng nhỏ lại về. Nó thò lõ mắt nhìn, trách hắn:

Sao ông giành chỗ ngủ của tui hoài vậy?

Chỗ nào của mầy?

Thì đây chứ đâu?

Vậy hả? Thôi để tao ngồi chơi một chút rồi đi, trả chỗ cho.

Thằng nhỏ thấy người đàn ông vạm vỡ nhưng có vẻ biết điều, liền tới ngồi cạnh hỏi chuyện. Bỗng nhiên hắn trút hết tâm sự với thằng nhỏ. Từ chuyện bỏ làng ra đi, đến chuyện ở tù hai lần, cả việc từng ăn ở với đàn bà lang thang và bây giờ là không tìm được việc làm.

Nghe xong, thằng nhỏ phán một câu xanh rờn:

Dám chừng tui là con ông lắm à?

Nói bậy! - Hắn nạt thật sự - Mầy con của ai?

Má tui làm gái, gặp ông nào đó ở với bả. Bả có bầu thì đẻ ra tui. Bả bệnh chết rồi. Mấy năm trời tui sống với một bà già mù, dắt đi ăn xin lay lất. Rồi bả cũng chết luôn. Còn mình tui.

Vậy mà nói là con tao?

Biết đâu được?

Mầy làm nghề gì mà lúc nào cũng về muộn?

Buổi sáng tui đi khiêng cá biển, tiếp bà chủ làm khô. Buổi chiều tui đi bán thêm vé số, tới khuya mới về đây ngủ.

Sao mầy hổng ngủ ở chỗ làm khô luôn, từ bến cảng đi tới đây xa bộn?

Ông khờ quá! - Thằng nhỏ đập muỗi cái bộp, rồi nói tỉnh queo - Muốn kiếm được việc làm bộ dễ lắm sao, mình cù bơ cù bất ai muốn? Phải nói dóc: Nhà ở xóm Bánh Tằm, có ba má đàng hoàng, tại nghèo mới đi kiếm việc làm tiếp gia đình, tối về nhà chớ bộ.

Mầy giỏi hơn tao - Hắn buột miệng khen, hỏi tiếp - Mầy làm đủ sống không?

Dư! Cho ông biết tui lấy vé số bằng tiền mặt đàng hoàng. Còn tiền gởi cho ông chủ thầu cất giùm một số nữa.

Quá xạo!

Hổng tin thì thôi - Thằng nhỏ nằm xuống, ngáp vắn ngáp dài – Ông ngủ đây với tui cũng được, ngủ chung với ông ấm hơn.

Tự dưng hắn cảm thấy mình bị xúc phạm khi phải ngủ nhờ thằng nhỏ, dù rằng thềm xi măng là của bệnh viện. Nhưng rõ ràng thằng nhỏ oai hơn hắn ở chỗ đầy vẻ tự tin và có việc làm đủ sống. Hắn ôm túi đứng lên bỏ đi. Thằng nhỏ vòng tay ra sau ót, nhóng cổ nói:

Dân bụi đời mà còn bày đặt tự ái.

Hắn đảo một vòng nhỏ, kết cuộc đành trở lại. Thằng nhỏ cười hi hi:

Tui nói rồi. Chỗ này là ngon lành nhất thị xã, ngủ lạng quạng tổ bảo vệ lôi về khu phố phạt tiền là chết – Nó lăn người xích qua, nhường phần cho người đàn ông nằm xuống bên cạnh, thì thào – Tôi chỉ cho ông chỗ ngủ ngon lắnm.

Ở đâu?

Trong bệnh viện. Vô ngủ ngoài hành lang người ta tưởng đâu mình đi nuôi bệnh, hổng ai thèm đuổi.

Hắn thở dài trong bóng tối:

Sao mầy hổng vô đó ngủ, xúi tao?

Tui ghét mùi thuốc sát trùng.

Tao cũng vậy.

Sáng ra, thằng nhỏ lại thức sớm đi trước, hắn tiếp tục quẩn quanh với một ngày không có việc làm. Hắn không dám ăn cơm chỉ ăn bánh mì, uống một bọc trà đá, dành tiền cho những ngày sau.

Đêm nay, phố thị buồn mênh mang theo tâm trạng. Hắn bắt đầu chùn ý chí, nghĩ thầm: "Lúc mới ra tù còn ít tiền, giá cứ tìm nơi nào đó gần trại giam ở lại, lầm thuê làm mướn chắc dễ dàng hơn".

Hắn nghe sống mũi cay cay, hình như một vài giọt nước đòi rơi ra từ mắt, hắn không kiềm giữ cứ để nó tuôn trào.

Bàn tay thằng nhỏ sờ vào mắt hắn:

Ngủ rồi hả? Ý trời, sao ông khóc, chưa kiếm được việc làm phải không?

Hắn gượng cười:

Tao khóc hồi nào? Tại ngáp chảy nước mắt thôi.

Thằng nhỏ ra vẻ sành sỏi:

Má tui nói bụi đời mà còn biết khóc là bụi đời lương thiện. Tui khoái ông rùi đó, ngồi dậy "hưởng xái" với tui cái bánh bao nè.

Hắn ngồi lên sượng sùng:

Mầy sang quá.

Ờ! Tui ăn sang lắm, hổng ăn sao đủ sức đi làm suốt ngày! – Nó ngừng lời ngoạm một miếng lớn bánh bao, rồi nói nhẹ xều – Ông chịu để tui giúp, chắc sẽ tìm được việc làm.

Làm gì? - Hắn có vẻ không tin, thờ ơ hỏi.

Trước tiên, ông chịu làm ba tui nghen?

Hắn lắc đầu nguầy nguậy:

Thân tao lo chưa xong, làm sao nuôi mầy?

Ai bắt ông nuôi tui, tui nuôi ông thì có. Tui giới thiệu với bà chủ ông là ba tui. Nếu được nhận vô làm khô cho bả, sức ông mạnh, kiếm tiền nhiều hơn tui là cái chắc.

Làm gì?

Khiêng cá, gỡ khô ngoài nắng, vác khô lên xe - Thằng nhỏ ngừng lời đưa tay nắm cổ tay hắn bóp bóp – Ông bụi đời mà sao hổng ốm, lại khoẻ mà còn hiền nữa chứ!

Một năm ở tù, tao lao động tốt mà - Hắn tự hào khoe, nói tiếp – Ai mới ở tù ra mà hổng hiền, có người sau khi được cải tạo thành tốt luôn, có người hiền được vài ba bữa.

Nè! Ông nhớ việc cần thiết là: Nhà mình ở xóm Bánh Tằm, vợ ông bán bún cá, tui còn hai đứa em gái đang đi học. Mà ông có bộ đồ nào mới hơn bộ này không, ngày đầu đi xin việc phải đẹp trai, ít te tua một chút.

Hắn vỗ vỗ tay vào cái túi du lịch:

Có, tao còn một bộ hơi mới. Mầy tên gì, sao má mầy ở xóm Bánh Tằm mà bán bún?

Thì nói mẹ nó vậy. Tui tên Tèo nghe ba?

Tao chịu cách xin việc của mầy, nhưng tao ghét có con lắm. Ở chỗ làm mầy kêu tao bằng ba, ngoài ra thì xưng hô như bây giờ.

Ông cà chớn chết mẹ, người ta giúp cho mà còn làm phách - Thằng Tèo nhe răng cười hì hì – Ăn bánh bao vô khát nước quá ta.

Tao mua cho - Hắn đứng lên đi lại quán mua hai bọc Pepsi.

Thằng Tèo nhăn mặt:

Chưa có việc làm mà sài sang quá vậy ba?

Hắn nghiêm mặt:

Mầy còn kêu như vậy, tao không nói chuyện đâu. Đây là tao đãi mầy, cảm ơn công giúp tao có việc làm.

Biết đâu người ta hổng nhận thì sao?

Thì kệ, coi như phá huề cái bánh bao với mầy.

Đêm đó hắn khó ngủ, lầm thầm nghiền ngẫm cái hoàn cảnh gia đình và địa chỉ do thằng Tèo đặt ra giúp hắn.

Vóc dáng khoẻ mạnh của hắn làm vừa mắt bà chủ. Hắn có việc làm, lương tháng kha khá, bèn bàn với thằng Tèo hùn nhau kiếm một chỗ trọ, thằng Tèo đồng ý.

Cái chỗ ở nhỏ xíu như cái hộp, ban ngày nắng nóng một ngộp thở, nhưng cũng sướng hơn ngủ ở thềm rào bệnh viện. Hơn nữa, ban ngày "cha con" nó có ở nhà đâu mà sợ nóng. Hắn và thằng Tèo có vẻ thương nhau nhiều hơn, nhưng không ai chịu bày tỏ điều đó. Nếu không phải ở chỗ làm khô mà thằng Tèo lỡ miệng kêu ba, là hắn cau mày khó chịu. Thằng Tèo không ưa cái kiểu bực bội của hắn, nên nói chuyện với hắn trống không, hổng ông hổng ba gì hết.

Hắn những tưởng cuộc sống êm trôi với công việc tanh tưởi cá biển. Nhưng sự đời thật không đơn giản, tới tháng làm thứ năm thì có chuyện xảy ra.

Sáng nay mới vác cần xé cá từ tàu lên bờ, thấy xôn xao trên nhà chủ, hắn vội đi lên.

Thằng Tèo đang bị bà chủ nắm áo. Bà ngoác cái miệng tô môi son đỏ chót gào lên:

Nó ăn cắp bóp tiền, tui mới để đây xoay lưng đi vô, quay ra đã mất. Có mình nó đứng đây, ai vào lấy chớ?

Thằng Tèo nước mắt ngắn nước mắt dài, mũi dãi lòng thòng quẹt lấy quẹt để:

Tui không ăn cắp đâu. Tui tốt nào giờ bà chủ biết mà?

Nghèo mà tốt gì mày? Ba mầy hổng biết dạy con, tao tốt với cha con mầy quá, sao trả ơn vậy hả?

Hắn đứng im không thanh minh, mặc cho bà chủ xỉa xói chửi không ra gì cái thằng cha là hắn. Hắn đi lại bên thằng Tèo hỏi ngọt ngào:

Mầy có lấy tiền của bà chủ không?

Tui thề có trời, tui không lấy.

Một bên bà chủ sang trọng nói mất, một bên là thằng con hờ bảo không lấy. Hắn còn đang lúng túng thì hai anh công an phường tới. Mỗi lần gặp công an hắn lại nhớ tới trại giam. Hắn nghĩ thằng Tèo mới hơn mười tuổi mà phải chịu tiếng tù tội, sẽ ảnh hưởng tới tương lai sau này của thằng nhỏ không ít và hằn sâu trong ký ức nó khó nguôi quên. Như bản thân hắn đây! Có thể nó lỡ dại một lần, nhưng làm sao nỡ để nó bị bắt, khi thực bụng hắn thương nó như con.

Hắn vẹt đám người hiếu kỳ bu xung quanh, đi tới trước mắt hai anh công an thú tội:

Tui ăn cắp tiền của bà chủ, lỡ tay đánh rơi xuống nước, chắc là trôi ra biển mất rồi.

Hắn im lặng đi theo đà đẩy của người công an, không thèm nhìn thằng Tèo đang há hốc miệng trông theo hắn. Lòng hắn nặng trĩu nhớ tới tiền án có sẵn. Nhưng rồi hắn chuyển sang niềm hy vọng: "Chắc chắn các anh công an sẽ tìm ra thủ phạm và mình được trả về".

Thằng Tèo thấy niềm thương cảm dâng lên đầy ứ ngực, nó tốc chạy theo, hai tay đưa về phía trước chới với. Giọng nó khàn đục, gào tha thiết:

Ba ơi, ba bỏ con sao ba?

Bất giác hắn xúc động tột cùng, cảm giác thương yêu chạy dọc sống lưng làm ớn lạnh. Hắn giật phắt người, quay lại hỏi bằng giọng âu yếm:

Con kêu ba hả Tèo?

Công an đưa hắn lên xe. Thằng Tèo chạy theo, luồn lách trong dòng xe cộ, hụp hử trong khói bụi sau xe. Nó chạy luôn tới trụ sở công an, lảng vảng đứng ngoài chờ mà không biết chờ cái gì. Không thể làm gì hơn, thằng Tèo chửi cha chửi mẹ kẻ nào ăn cắp bóp tiền của bà chủ và nó tin tưởng các chú công an sẽ bắt được thằng ăn cắp.

Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, thằng Tèo đang ngồi dựa lưng vào tường, nhắm mắt ngủ gà ngủ gật, thì một bàn tay ai đập mạnh vào vai. Nó giật mình dụi mắt. Bà chủ nách kẹp cái bóp, đứng ngó nó cười toe toét:

Đi vô lãnh ba mầy ra. Cái bóp dì mang theo lúc đi tiểu, bỏ quên trong toa lét mà tưởng mất. Dì đãng trí quá.

Vậy là "ba" thằng Tèo được thả. Nó nhào tới thót lên cổ ba để ba cõng nó tưng tưng trên lưng miệng liến thoắng:

Ba thấy chưa? Ở hiền gặp lành mà!

Bà chủ đi sát bên, đưa tặng cha con nó chút tiền với thái độ của người có lỗi. Hắn lắc đầu không nhận vì đây chỉ là sự hiểu lầm. Thằng Tèo đột ngột dùng cả hai tay giật phắt nắm tiền, nói gọn hơ:

Con cảm ơn bà chủ. Tiền này cha con mình xài cả tháng đó ba.

Trước hành động đường đột của thằng Tèo, hắn còn biết làm gì hơn là cảm ơn bà chủ. Rồi quay sang rầy "con""

Con thiệt mất dạy quá, chắc phải cho đi học thôi.

Ông nói cái gì? - Thằng Tèo khom người xuống nhìn hắn hỏi gằn.

Hắn lặp lại:

Ba nói con phải đi học để cô giáo dạy những điều hay lẽ phải mới mong lên người.

Thằng Tèo đang ngồi trên lưng đột ngột tụt xuống. Nó lặng im đi miết lên phía trước. Hắn đuổi theo nó, hỏi:

Sao vậy? Bộ con hổng muốn đi học hả?

Không quay người lại, thằng Tèo chúm chím cười, trả lời:

Ba hổng biết gì hết trơn, tui đang khoái chớ bộ.

Gió từ biển thổi lộng vào mát rượi. Hắn mỉm cười nhủ thầm: "Gió nhiều thật dễ thở"./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chiếc mũ

Nguyễn Hoài Nam


Nàng mượn tôi chiếc mũ. Tôi ngại ngần nhìn nàng. Chiếc mũ mềm tôi thường hay đội, nó cũ cũ, nhầu nhầu dầm mưa dãi nắng nên bạc mầu và thấm mồ hôi, hẳn là không được sạch sẽ cho lắm.

Thấy tôi cỏ vẻ như không nhiệt tình, nàng dẩu môi, nhăn mặt quay đi. Tôi vội vã theo nàng bảo nhỏ: "Để anh chạy ù ra ngoài mua cho em mũ khác đi". Nàng lắc đầu: "em thích cái này cơ". Chiếc mũ theo nàng hết ngày này sang ngày khác. Đôi khi nó được đội quay ngược lại, lúc ấy trông nàng ngồ ngộ. Nàng thấy tôi nhìn chăm chú, liền vênh cái mặt lên, chiếc mũi hếch xinh xinh như một dấu chấm hỏi làm tôi phì cười. Tôi bảo nàng: "Này nuợn lâu rồi đấy, trả mũ đây". “Còn lâu". Nàng buông thõng một câu rồi ù té cứ như sợ tôi lấy mất.

Khi ấy là mùa hạ, một mùa hạ chói chang, nắng lắm mưa nhiều. Có một hôm tôi đi giữa trưa hè đổ lửa. Bất chợt, cơn mưa ào tới, tôi vẫn vội vã đi. Tối về, chợt thấy rét run và cơn sốt ập tới. Tôi không nghĩ bất hạnh lại phủ bóng xuống đời tôi. Suốt cả tháng trời vật lộn với những cơn mê sảng, khi tỉnh lại tôi thấy khuôn mặt nàng hiện ra trước mắt tôi. Tôi yếu ớt nhìn quanh thấy trên chiếc tủ con đặt cạnh giường bệnh một lọ hoa tươi và thật lạ, cạnh đó là chiếc mũ. Nó vẫn thế, cũ cũ nhầu nhầu. Nàng mỉm cười, một nụ cười rầu rĩ cứ như tôi vừa mới ở thế giới bên kia trở về. Chỉ tới khi tôi hốt hoảng thấy đôi chân không còn cử động được nữa, nàng mới mím chặt môi, cố nén tiếng nấc nghẹn ngào nắm chặt lấy bàn tay tôi thì thầm bảo: "Em yêu anh và sẽ theo anh suốt đời". Tôi kinh hoàng khi hiểu ra rằng vậy là tôi bị liệt, suốt đời sẽ gắn mình trên xe lăn. Khi ấy, tôi cứ nghĩ nàng làm thế chỉ là để an ủi tôi thôi và tôi gào lên như một kẻ mất trí: "Không, không, không thể thế được, cô cút đi cho tôi nhờ”. Nàng tái mặt, chạy vội ra ngoài và suốt cả một quãng thời gian dài tôi không sao quên được tiếng khóc nghẹn ngào nức nở của nàng vọng vào qua khe cửa. Tôi cứ nghĩ tôi đã mất nàng vĩnh viễn và cảm thấy hả hê cứ như vừa mới được trả thù đời. Ngày hôm sau tôi ra viện, trong lòng tràn ngập nỗi đau đớn bi quan, chán nản. Tôi yêu cầu gia đình không tiếp bất cứ ai đến thăm. Nhìn ánh mắt lạnh lùng ráo hoảnh của tôi, cả nhà tôi im lặng. Cha khẽ thở dài, mẹ vội quay đi giấu những giọt nước mắt tuôn rơi, còn em gái tôi, trong đôi mắt trong veo của nó đọng lại một vệt đen tối sẫm. Suốt cả tháng trời, tôi chìm đắm trong nỗi cô đơn cay đắng hận đời.

Đã qua mùa hạ rồi, trời trong xanh, nắng vàng rực rỡ. Qua khung cửa sổ nhỏ tôi nhìn ra bên ngoài, làn gió thu nhè nhẹ thổi vào mơn man, tôi khẽ rùng mình chợt nhận ra mình đang sống. Dầu sao thì vẫn cứ phải sống bởi vì ta đang tồn tại tức là ta đang sống. Thời gian thật kỳ lạ, nó là phép màu để người ta phải quên đi thực tại dù là thực tại đen tối nhất. Tôi biết rằng đằng nào thì số phận cũng đã giáng cho tôi một đòn chí mạng, dù sao đi chăng nữa cũng chẳng thể nào thay đổi được số phận. Tôi cất tiếng gọi mẹ. Chao ôi, nghe tiếng chân mẹ lập cập đi lên cầu thang mà lòng tôi xót xa ân hận. Những ngày qua, hẳn là mẹ đau đớn biết nhường nào, vậy mà tôi... Nhìn ánh mắt rạng rỡ của mẹ tôi biết mẹ mừng khôn tả. Và thật lạ lùng khi mẹ đưa cho tôi xem một vật. Nó đấy, cái mũ cũ cũ nhầu nhầu mà nàng đã mượn tôi không trả. Tôi cầm lấy nó sững sờ khi nhìn thấy trong lòng mũ một dòng chữ "I love you" và in lên đó là một chiếc môi thắm đỏ. Tôi ôm khư khư chiếc mũ vào lòng còn hơn ôm một báu vật nhưng rồi lại thảng thốt buông rơi. Mẹ đau đớn nhìn nét mặt thất thần của tôi, ôm tôi vào lòng vuốt nhẹ mái tóc rồi thì thầm bảo tôi: "Dũng cảm lên con. Thảo nó yêu con lắm đấy". Có cái gì để tôi tin vào lời mẹ không nhỉ?! Không, chẳng có gì hết và với tấm thân tật nguyền này tôi có gì để mà cho nàng. Tôi lạnh giọng bảo mẹ: "Con không gặp Thảo đâu mãi mãi".

Tôi đi học trở lại nghiến răng mà học theo đúng nghĩa của từng từ. Đó là những ngày cơ cực nhất mà mẹ đã trải qua. Mẹ xin nghỉ làm, bán hàng nước vỉa hè để có thời gian đẩy xe cho tôi tới trường... Cầm tấm bằng đỏ kỹ sư tin học trên tay, nước mắt mẹ hoà cùng nước mắt tôi.

Một ngày mới đã bắt đầu, nhưng trong lòng tôi lại tràn ngập cảm giác trống rỗng. Ngồi bên khung sổ, tôi thẫn thờ nghĩ tới một ngày mai không biết sẽ ra sao, bao giờ tôi mới hết trở thành gánh nặng của gia đình. Và khi ấy, ô hay sao lại là chiếc mũ đong đưa nơi khung cửa sổ. Nó vẫn thế, cũ cũ nhầu nhầu. Nhưng dòng chữ ấy và hình chiếc môi đỏ thắm vẫn còn đó vẹn nguyên tươi mới như thể mới chỉ là ngày hôm qua. Tôi thét lên một tiếng như muốn vỡ cả lồng ngực: "Thả…o…o!!!".

Ôm nàng vào lòng, niềm hạnh phúc trong tôi là vô bờ. Ngả đầu vào nơi bờ vai tôi, nàng thì thầm kể cho tôi nghe những tháng ngày đằng đẵng, thui thủi một mình mang theo tình yêu vô vọng để sống, để học hành, để nhớ thương vơi đầy. Đã biết bao lần nàng đứng lặng bên góc phố dõi nhìn theo bóng xe lăn mà lòng rưng rưng. Sau này tôi mới biết, suốt những năm tháng qua, tất cả những đồng tiền bé nhỏ mà nàng kiếm được khi đi làm gia sư đều được nàng dành dụm gửi mẹ đỡ đần cho tôi.

Có một cuộc đời nào vừa bất hạnh lại vừa may mắn như tôi không. Khi tôi nắm tay nàng đi giữa cuộc đời tôi không biết mình đang mơ hay thực. Chỉ biết là tôi đang có một nàng tiên ở bên cạnh. Ngày chúng tôi cưới nhau, bên chiếc xe lăn và chùm hoa cưới, chiếc mũ treo trên thành xe. Nó vẫn thế, cũ cũ nhầu nhầu nhưng trong lòng tôi dòng chữ và chiếc môi đỏ thắm cứ lấp lánh như những vì sao. Nàng cúi xuống bên tôi, đôi môi thăm đỏ lướt nhẹ trên má tôi, tim tôi đập liên hồi bởi tôi quá đỗi yêu nàng. Hạnh phúc chẳng ở đâu xa, nó ở quanh đây trong mỗi con người chúng ta. Bạn hãy tin đi, chẳng bao giờ trên đời này hết chuyện cổ tích đâu./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Những truyện
- Chín triệu, ba triệu, hai triệu và bóng rỗ
- Chủ hiệu tân dược
- Con chúa
- Cha và con

Đã được mang vào thư viện, cảm ơn conbo2 đã góp sức với VNTQ nhé

Chúc conbo2 luôn vui
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-15 16:36:12conbo2>
Chị Phi

Tôn Nữ Thanh Yên[/size]


Hai chị em mua hai căn nhà sát vách nhau làm láng giềng gần, lành rách đùm bọc, vui buồn chia sẻ, vì vậy tình ruột thịt thân quyến rất mặn mà khăng khít.

Cô Tư tôi là một góa phụ, buôn bán lanh lợi, chịu ở vậy nuôi con. Cô có hai người con gái là chị Thoa và chị Phi. Con gái hai nhà qua lại chơi với nhau tâm đầu ý hợp. Đó là nói giữa chị Thoa, chị Phi với chị Qui, chị Hương nhà tôi chứ tôi thuộc hàng con nít, kém xa các chị những mười ba, mười bốn tuổi. Đi học, các chị gọi nhau ơi ới; đi chơi lại ơi ới gọi nhau. Buổi tối, các chị thường tập họp trên gác nhà cô Tư, chuyện trò ríu ran. Bốn ông anh của tôi cũng có bè có bạn, đâu ai thèm chơi với đứa em gái út ít, nên tôi chỉ còn biết chơi vẩn chơi vơ một mình, hoặc bám lấy mẹ. Thảng hoặc, tôi có theo các chị lên gác thì cũng lủi thủi, chẳng ai để ý hay có nhớ tới thì cũng để nhắc nhở tôi đừng phá phách, tọc mạch. Các chị thì cứ nói nói cười rôm rả với nhau.

Mẹ tôi thường đánh giá con gái nhà người ta để lấy làm tấm gương cho con gái nhà mình soi vào. Trước mắt, gần gũi nhất vẫn là chị Thoa và chị Phi. Mẹ tôi nói, chị Thoa da dẻ trắng trẻo, môi hồng cánh sen nhưng nhìn kỹ thì vô duyên. Chị Thoa ăn nói bộp chộp, hay hứa mà không giữ lời và điều được chị quan tâm hàng đầu là các món ăn ngon. Nói về chị Phi, mẹ tôi có phần thiện cảm hơn. Chị Phi nước da ngăm ngăm nhưng mắt sáng long lanh, tầm ngầm cái duyên của một nội tâm mạnh mẽ.

Chị Phi tính tình ngổ ngáo, trực tính như một nam nhi. Các chị các anh nhà tôi mỗi khi ngồi quanh mâm cơm vẫn hay kể cho ba mẹ nghe chuyện về chị Phi… lén lấy chìa khóa xe hơi của Luật sư Tuyển - một người đang chết mê chết mệt chị Thoa - chị Phi mở máy cho xe lao đi một đoạn chừng ba mét, suýt tông phải một bà bán chè đang gồng gánh ngang qua, may sao chị cũng biết hãm phanh, nhưng bà bán chè thì thất kinh hồn vía, quăng cả gióng gánh mà chửi! Báo hại luật sư Tuyển mở lòng hào hiệp đền tiền chén bể chè đổ, lại phải tốn tiền sửa mũi cho chiếc xe mới tậu (vì khi hãm phanh, chị Phi đã cho xe đâm dúi vào trụ cổng nhà chị)… Cũng mặc áo dài trắng đi học như ai, nhưng chị Phi lại ưa xắn tay áo lên mấy lớp như sẵn sàng hành động. Lần ấy, đi học về ngang qua đám người bu quanh một cuộc ẩu đả, chị Phi dừng lại hỏi han nghe ngóng, biết được đây là hai cha con hùa nhau đánh một thằng con nít, chị liền chen vào can thiệp. Lôi được thằng nhỏ thoát ra, chị còn dơ nắm đấm dứ dứ về phía cha con nhà kia. Các chị nhà tôi trố mắt nhìn chị Phi lúc đó thấy muốn mắc cười lắm nhưng trong lòng rất khâm phục. Nghe chuyện này, ba tôi lướt nhìn các anh tôi, hỏi: "Có đứa nào dám làm tương tự như chị Phi?". Chỉ có anh Phong kề tôi hăng hái nói: "Con dám làm", còn các anh lớn chỉ cười cười… Các anh rất nể phục chị Phi. Chị học giỏi hai môn Anh văn và Tin học; là gia sư tình nguyện cho các anh, chị Phi có quyền được véo tai véo mũi cậu học trò đáng thương nào không thuộc, không làm được bài. Những lúc đó, chị nheo nheo mắt mà cười ra vẻ hả hê lắm! Các anh tôi còn kể, chị Phi hút thuốc, ngậm khói trong họng rồi nhả ra từng vòng khói chữ o đẹp mắt. Nghe vậy, mẹ tôi lo lắng: "Chết rồi, con gái mà hút thuốc coi sao được! Anh qua bên đó mà khuyên bảo cháu bỏ đi kẻo con nhà mình bắt chước thì nguy". Ba tôi ừ ừ rồi lừ mắt nhìn các anh tôi, buông một câu: "Ba cả đời không động đến điếu thuốc”… Chuyện kể về chị Phi hãy còn dài.

Tối hôm đó, tôi lẽo đẽo theo các chị lên gác nhà cô Tư. Trời nóng nực nên các chị kéo nhau ra ngồi ngoài ban công. Tôi ngồi hóng chuyện, nghe toàn là chuyện của "chàng và nàng", chán và buồn vì chẳng hiểu gì, tôi ngáp ngắn ngáp dài. Lò mò đi vào trong, tôi đến trước cái tủ đựng sách của chị Phi mà nghểnh cổ ngắm mấy con búp bê trưng trong ngăn kính. Tình cờ, thấy hai cánh cửa tủ bên dưới chỉ khép hờ, tôi táy máy mở ra. Bên trong chỉ thấy những sách cùng vở. Nhìn sang mặt trong cánh cửa bên phải thấy có ghi mấy dòng chữ… Đang độ tuổi học thuộc lòng, tôi lẩm nhẩm giây lâu, chữ nghĩa chui vào bụng ngay. Tôi quay ra chỗ các chị, cất giọng nghêu ngao:

Tự dưng mà muốn khóc

Khi ngắm mây lưng trời

Yêu anh từ dạo ấy

Mấy mùa xuân của tôi

Các chị phá lên cười. Chị Phi véo tai tôi, mắt trợn lên, nói: "À ạ, ai cho mày đọc lén, mày biết gì mà đọc?". Cùng với cái véo tai đau điếng, bài thơ đi vào trí nhớ của tôi. Trưa hôm sau, trong bữa cơm, chị Hương nhắc tôi đọc bài thơ đọc trộm cho ba mẹ nghe. Tôi đắc ý đọc liền tù tì. Ba tôi cười: "Con Phi mà cũng tự dưng mà muốn khóc à!". Mẹ tôi cười: "Chà, Phi cũng làm thơ nữa à! Mà nó quen cậu nào rồi?". Chị Qui, chị Hương đều nói: "Con chẳng biết nữa, có thấy anh nào đến nhà chơi đâu! Chị ấy muốn giữ kín đó mà…".

Chị Thoa chọn lọc trong ba người danh giá địa vị theo đuổi mình bấy lâu, lấy một người làm chồng, khiến cô Tư yên lòng đẹp dạ. Chị Phi cũng không làm cô tôi thất vọng khi đem về hai văn bằng cử nhân của hai môn mà chị học rất giỏi. Chị Phi đi làm ở một công ty nước ngoài, lương bổng cao nhưng công việc ngập đầu. Cô Tư hãnh diện khoe với ba mẹ tôi, nhưng rồi cô vẫn than: "Sao chẳng thấy nó có bạn trai!?". Chị Qui, chị Hương lần lượt tốt nghiệp, đi làm rồi lần lượt lấy chồng. Chị Phi vẫn một thân một mình. Cô Tư nhắc nhở, hối thúc hoài cũng khiến chị Phi phải thổ lộ. Chị Phi muốn kết hôn với một vận đôïng viên bơi lội, giỏi nghề điện tử và lại thích làm thơ. Cô Tư ôm đầu kêu trời, cấm chị Phi không được đưa người đó về ra mắt và dọa sẽ tự tử nếu chị Phi còn quan hệ với một người không bảo đảm tương lai cuộc sống cho mình. Trong lúc cô Tư tru tréo dằn dỗi, chị Phi ngồi im mà nghe không cãi lại một lời. Hồi lâu, nhìn đồng hồ đeo tay, chị Phi thản nhiên hỏi: "Mẹ nói xong chưa? Trễ giờ rồi, con phải đi làm đây". Cô Tư cụt hứng, không nói gì được nữa, chỉ còn biết qua nhà tôi mà kể lể than thở… Biết mẹ có bệnh cao huyết áp, chị Phi không làm điều trái ý mẹ để gây kích xúc cho bà. Nhưng, bảo lấy chồng thì chị chẳng chịu ai cả. Ngày ngày, chị vẫn đi làm, áo quần theo mốt theo mùa, đi đứng nói năng tự tại. Mắt chị vẫn sáng long lanh; chị không thở dài, không than buồn bao giờ. Chị em gái cùng trang lứa ở xa và lịu địu chồng con cả rồi, chị Phi vơ lấy tôi làm bạn (mặc dù chị cũng có vài người bạn đồng nghiệp chơi thân). Tôi khi ấy chỉ mới mười ba tuổi. Buổi tối, tôi thường qua nhà chị. Căn gác im ắng, không còn nghe tiếng cười giọng nói của những nàng con gái hồn nhiên. Tôi thường bắt gặp chị Phi nằm dài trên giường, mắt nhắm nghiền như đang ngủ. Bước len lén, tôi đến bên chị, chị đã mở mắt ra, ngồi bật dậy: “Đi chơi!”. Chị chở tôi vòng vòng các đường phố, ngang qua các công viên rồi vào quán kem, quán chè. Trò chuyện với tôi, chị Phi chỉ nói những đề tài thời trang, ca nhạc, món ăn thức uống… tuyệt nhiên chị không nói đến chuyện tình yêu. Chị vẫn coi tôi là một đứa em bé bỏng. Một lần, tôi bắt gặp chị nằm ngửa, mắt nhìn lên trần nhà, trong tay là một điếu thuốc cháy đỏ. Không thấy những vòng khói chữ o, chỉ thấy mũi chị thở ra khói như một hơi thở dài. Thấy tôi, chị Phi liền dụi điếu thuốc. Tôi không nói gì cả. Tôi nghĩ gì về chị, tôi cũng không nói ra. Thương mến chị tôi cũng chỉ biểu lộ bằng cái ôm eo hông chị mỗi khi được chị chở đi chơi.

Ngày tháng trôi qua… Đột ngột, sau một vụ bể hụi mất đứt bảy chục triệu đồng, cô Tư lên cơn tai biến mạch máu não. Chị Phi tức tốc đưa mẹ vào bệnh viện. Sáu ngày đêm mẹ nằm hôn mê, chị Phi túc trực một bên, bơ phờ hốc hác thấy rõ. Thuốc men chữa trị không được, cô tôi mất. Cả nhà tôi kéo qua lo việc tang. Chị Thoa về chịu tang, trong bụng đang mang thai đứa thứ hai, đi đứng ì ạch nặng nề, chỉ biết ngồi một chỗ mà sụt sịt. Chị Phi đeo kính đen che giấu đôi mắt sung húp vì khóc. Gương mặt ngăm ngăm chừng như nhợt nhạt đi, chị có thể lả người đi bất cứ lúc nào, vậy mà vẫn gắng gượng lễ lạy, tiếp đón khách đến viếng tang. Trong con người chị Phi có một thứ nghị lực tiềm ẩn, cứng cỏi mà mềm dẻo… lúc có việc như thế này mới biết chị Phi có quan hệ giao tiếp tốt đẹp, bạn bè đến thăm hỏi, giúp đỡ chật cứng cả nhà… Tôi lăng xăng chạy đi mua những thứ linh tinh cần thiết trong tang lễ, về đến cổng thì gặp một người cao lớn vạm vỡ hỏi tìm chị Phi. Mời anh ta vào sân, tôi vào nhà báo cho chị Phi biết. Chị đi ra với dáng vẻ chậm chạp mệt mỏi. Hai người đứng yên nhận ra nhau. Khách bước dấn tới cầm lấy hai bàn tay của chị Phi, thầm thì điều gì không ai nghe được. Chỉ thấy chị Phi đột nhiên gục đầu vào khuôn ngực rộng của người ấy mà khóc nức nở. Chị Thoa và các anh chị nhà tôi đưa mắt nhìn nhau. Còn tôi, tự dưng thấy mắt mình rơm rớm. Dù tuổi mười lăm non nớt, tôi cũng cảm nhận được tình huống thật đặc biệt này./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Cảm xúc

Phạm Thị Ngọc Liên


Có lẽ chúng tôi không còn cơ hội để có đứa con thứ hai.

Chúng tôi có đứa con thứ nhất cách đây đã mười năm. Sau đó cô ấy đi học nước ngoài trong suốt năm năm. Thời gian xa cách và những bức thư ngày càng ngắn dần tạo cho chúng tôi một thứ cảm xúc bình thản. Đến nỗi khi cô ấy báo tin về nước, tôi đã đọc và quên khuấy đi ngay. Cô ấy đã tự đón taxi về nhà. Lúc đó tôi đang ngủ.

Bữa cơm đầu tiên của chúng tôi không phải là bữa cơm đón người đi xa trở về. Nó vẫn chỉ là một món canh và một món mặn như hai cha con tôi thường dùng. Vợ tôi muốn thế. Trong lúc cô ấy ăn và hỏi han con gái, tôi lặng lẽ quan sát và tìm tòi những thay đổi ở cô. Trong suốt năm năm, cô chỉ gửi về cho tôi hai tấm ảnh và so với chúng, cô chẳng thay đổi là bao. Vẫn mảnh mai như cũ, vẫn da trắng, má hồng. Nhưng tiềm ẩn trong vóc dáng không thay đổi ấy là một điều gì đó, một điều gì thuộc phạm trù tinh thần mà trước kia cô không có. Điều ấy khiến tôi cảm thấy cô hoàn toàn xa lạ.

Đêm ấy chúng tôi nằm bên nhau như đôi bạn. Tệ hơn nữa, như đôi bạn không thân. Tôi xin lỗi cô ấy vì đã quên ra đón và cô ấy phẩy tay. Chúng tôi nói năng thật khách sáo, chỉ hỏi han nhau về gia đình, người thân, công việc mà không đả động gì đến tình cảm của cả hai. Gần hai năm nay, những lá thư của chúng tôi đã ngưng viết những lời nhớ thương mong mỏi. Dường như có một bức tường vô hình nào đó ngăn giữa chúng tôi. Không hiểu nó được tạo dựng bằng gì?

Tôi là người đàn ông đàng hoàng. Ở một phương diện nào đó, nó có nghĩa là người đàn ông nghiêm chỉnh trong các mối quan hệ. Trong suốt năm năm vợ tôi vắng nhà, tôi chỉ tìm vui với việc chăm sóc đứa con nhỏ. Không thiếu gì những cám dỗ xung quanh tôi nhưng tôi vẫn không sa ngã. Có thể vì đó là tính cách của tôi. Trước kia có lần vợ tôi đã phê bình tôi thuộc tuýp đàn ông lạnh. Tình dục đối với tôi chẳng có gì hấp dẫn. Đã có lần tôi từ chối đáp lại sự yêu thương của cô ấy. Tôi không thích phải ngưng công việc của mình để chiều theo tình cảm của bất cứ ai. Sau lần đó, vợ tôi có vẻ hiểu. Cô ấy không còn biểu lộ những cảm xúc nồng nàn như trước nữa. Cô tập trung vào công việc hơn và chẳng bao lâu đã được chọn đi học ở nước ngoài. Thư cô gửi về, âu yếm nhất là câu – Em rất nhớ anh, nhớ con. Ngoài ra, không hề có một lời nghi ngờ, ghen tuông gì cả. Cô tin tôi.

Tôi cũng tin vợ tôi. Cô ấy là người đàng hoàng. Nhưng cô nồng nàn và ngọt dịu lắm. Cô thuộc tuýp đàn bà cháy ngầm. Cô còn là người nhạy cảm và lãng mạn nữa. Có thể trong những ngày xa cách chồng con, một mình nơi xứ lạ quê người, tính cách cô đã thay đổi chăng? Nhưng bây giờ cô đang ở bên tôi, bên cạnh người chồng mà cô rất đỗi yêu thương, tại sao cô vẫn lạnh lùng như thế? Nói gì thì nói, nằm bên cô, hít mùi hương quen thuộc, tôi nhớ những cảm xúc ngọt ngào ngày cũ và muốn ôm cô vào lòng. Nhưng vẻ dửng dưng của cô đã làm tôi chùn lại. Và rồi cô ngáp dài. Quay lưng lại phía tôi, cô nói - Ngủ đi anh.

Những ngày sau đó, chúng tôi đi thăm bà con họ hàng, đưa con đi du lịch. Ngoài mặt thì chúng tôi là một lứa đôi hạnh phúc. Không ai biết là chúng tôi đã ngủ riêng. Ngay đêm thứ nhì về nước, vợ tôi đã sang ngủ chung với con gái. Cô nói vì xa đứa nhỏ quá lâu, cô muốn gần gũi nó hơn để bồi đắp tình mẫu tử. Tôi biết đó chỉ là lý do. Nhưng là một lý do hợp lý. Tôi không có cách gì để phản đối cả.

Vô hình chung, giữa hai chúng tôi, bức tường ngăn cách ngày càng dày thêm. Đến nỗi trong giao tiếp hàng ngày, bên bàn ăn, trong phòng khách, chúng tôi chỉ nói những lời xã giao, chỉ hỏi han những câu đẹp đẽ. Đứa con gái ngây thơ của chúng tôi quả thật ngây thơ. Nó rất thú vị vì phong cách chúng tôi cư xử với nhau. Nó nói – Ba mẹ giống như trong mấy phim cổ trang của Trung Quốc. Chàng thử dùng món này đi, ngon lắm. Nàng cũng dùng đi để giữ sức khoẻ. Ta rất lo cho nàng. Hi hi… Tụi bạn con nói ba mẹ xứng đôi vừa lứa nhất trong số phụ huynh. Con thích lắm. Vợ tôi khẽ liếc mắt nhìn tôi rồi cúi xuống, cô gắp thức ăn vào chén cho con bé và nạt nó một cách dịu dàng – Thôi ăn đi cô, nói huyên thuyên mãi.

Thấm thoắt đã gần một năm trôi qua. Tôi đã bắt đầu cảm thấy bức bối khó chịu. Hình như vợ tôi cũng thế. Cô luôn luôn làm đổ bể đồ vật trong nhà và hay gắt gỏng bởi những chuyện không đâu. Tôi cảm thấy mình không thể kéo dài chuyện này nữa. Lợi dụng một hôm đứa con gái đi cắm trại, ở nhà chỉ có hai vợ chồng, tôi đã hỏi thẳng cô ấy - Thật ra em muốn gì?

Cô muốn ly hôn. Chẳng vì lý do nào hết.

Đôi khi tôi tự hỏi sự rạn nứt giữa chúng tôi phát sinh từ đâu? Yêu nhau từ thời trung học, mối tình của chúng tôi suôn sẻ và đi tới hôn nhân một cách hoàn mỹ. Chồng tôi là người đàn ông lý tưởng cho cuộc sống gia đình. Anh ấy không rượu chè, cờ bạc, không trai gái, hút xách, hầu như không vướng vào bất cứ một thứ gì mà những người đàn ông khác dễ dàng vướng phải. Ngày hai buổi anh ấy đi làm, về nhà, loanh quanh đọc sách hoặc đứng xem tôi nấu nướng. Buổi tối, nếu tôi thích, anh ấy sẽ đưa tôi ra phố, kiên nhẫn chờ tôi lựa món hàng này đến món hàng khác. Sau đó, chúng tôi ra về, lên giường ngủ rất bình yên. So với chúng bạn, tôi là người đàn bà đầy diễm phúc, được chồng quan tâm, lo lắng cuộc sống đến từng chi tiết nhỏ. Tôi hãnh diện và tự hào vì điều đó.

Bản thân tôi là người vô tư lự. Có thể còn hơi đoảng một chút. Khác với sự ngăn nắp, nề nếp của chồng, tôi sống hồn nhiên như cây cỏ. Tôi không thích ngồi ru rú mãi trong nhà. Tôi không thích những bữa cơm giống nhau, bắt đầu và kết thúc đúng vào một giờ nhất định. Tôi không thích ngày nào cũng "bên em vá áo, bên chàng đọc thơ" như trong sách vở, nhất là khi tôi chẳng có cái nào phải vá, và thơ của chồng tôi chỉ là những cuốn sách nghiên cứu, khảo luận dày cộm. Vì vậy, tôi luôn thay đổi cuộc sống vợ chồng chúng tôi bằng nhiều cách. Ban đầu, chồng tôi có vẻ vui thích với những bữa ăn diễn ra dưới tàn cây xanh của một nhà hàng nào đó và khi tôi giật cuốn sách ra khỏi tay anh, trèo lên lòng, ôm cổ anh âu yếm như thuở vừa mới yêu, anh cũng hưởng ứng nồng nhiệt. Thế nhưng, sau vài lần như vậy, anh bắt đầu nhắc nhở tôi về các khoản chi tiêu ngoài kế hoạch, anh từ chối "những bữa ăn vô bổ dưới tàn cây xanh", anh giữ chặt cuốn sách trong tay và nói với tôi rằng anh cần phải làm việc. Tất cả những câu nói đó, anh đều nói nhỏ nhẹ, dịu dàng và hết sức có lý. Đến nỗi tôi thấy những ý thích của tôi thật là điên rồ, thật là có lỗi.

Cảm giác có lỗi ấy luôn ám ảnh tôi. Để chuộc lại, tôi bắt đầu quan sát anh ấy - một hành động tôi chưa hề nghĩ ra kể từ thuở mới yêu cho đến bây giờ. Tôi phát hiện chúng tôi có nhiều điểm khác hẳn nhau. Tôi sôi nổi còn anh trầm lặng. Tôi lãng mạn còn anh nghiêm trang. Tôi vô tư còn anh tính toán… Một lần, rồi nhiều lần tôi đã lẩn thẩn tự hỏi không hiểu tình yêu của chúng tôi có chung một điểm nào? Không biết chúng tôi có yêu nhau thật không?

Câu trả lời là có. Tôi vẫn cảm thấy không thể thiếu anh trong đời. Còn anh, đã nói anh là người đàn ông mẫu mực. Anh không biết, không quan tâm đến bất cứ một người phụ nữ nào khác, ngoài tôi và mẹ của anh.

Ép buộc mình phải xóa bỏ đi con người thật của mình để sống theo khuôn khổ của một người khác thật là khó khăn. Đúng vào lúc tôi cảm thấy mọi ẩn ức cố nén không còn nén được nữa và chuẩn bị một cuộc gây gổ lớn với chồng thì nhận ra mình mang thai. Mầm sống bé bỏng này giống như một thiên thần cứu chuộc, nó chia sẻ với tôi tất cả những điều bí ẩn trong tâm hồn. Nó làm tôi thanh thản, nhẹ nhàng trong cuộc sống. Tôi nhìn chồng tôi bằng con mắt độ lượng. Đó là cha của đứa con tôi. Tính cách ngăn nắp, cẩn thận của anh có thể không hợp cho tôi, nhưng sẽ là môi trường rất tốt để nuôi dưỡng và chăm sóc đứa con nhỏ. Tôi bằng lòng quên mình.

Đó chi là ảo tưởng. Sức sống và lòng khao khát được hoà nhập với người mình yêu luôn âm ỉ trong tôi. Tôi ao ước nhiều thứ lắm. Chồng tôi là một người cha tuyệt vời. Con tôi là một đứa trẻ sung sướng. Cuộc sống gia đình chúng tôi thật tròn trịa. Nhưng giữa tôi và chồng tôi đã manh nha một bức tường ghẻ lạnh. Mặc dù chúng tôi vẫn có những giây phút chia sẻ trên giường ấm áp. Mặc dù chồng tôi không hề thay đổi, tôi không hiểu tại sao mình lại có cảm giác này?

Được sự khuyến khích của chồng, tôi đi du học. Tôi thanh thản giao con lại cho anh chăm sóc mà không hề lo ngại điều gì. Anh ấy là người đàn ông mà tôi tin cậy. Suốt năm năm xa cách, tôi biết anh ấy không hề làm điều gì có lỗi với tôi.

Cả tôi cũng vậy. Suốt năm năm, ngoài những giờ học và hành, tôi chỉ ngắm nhìn tấm ảnh gia đình mình. Đó là chồng và con tôi. Đó là hạnh phúc có thực của tôi. Tôi nhìn ngắm và tưỏng nhớ nó hàng ngày.

Rồi tôi bàng hoàng nhận ra mình chỉ nhớ con mà không nhớ chồng. Ánh mắt tôi chỉ lướt qua gương mặt anh ấy để nhìn sâu vào nụ cười thơ trẻ của đứa con. Nhiều lần, khi bắt mình phải nghĩ về anh, tôi chỉ có một cảm giác dửng dưng và sợ hãi. Tôi sợ phải tiếp tục cuộc sống bên anh - người đàn ông khốn khổ, người mà suốt thời gian xa cách, tôi chẳng hề khát khao gặp lại.

Năm năm. Tôi biết mình đã đằm thắm hơn, đã sâu sắc hơn, đã chín chắn hơn. Tôi có thể giấu kín mọi cảm xúc của mình để sống phù hợp với hoàn cảnh. Tôi cũng không phải là người thiếu trách nhiệm. Ngoài những cảm xúc riêng tư của chính mình về mối quan hệ vợ chồng, tôi biết còn nhiều mối quan hệ khác trong cuộc sống mà mình phải giữ gìn sao cho tốt đẹp. Tự hứa với mình điều ấy, tôi trở về.

Một năm đã trôi qua. Tôi cứ tưởng mình sẽ chịu đựng được lâu dài hơn một cuộc sống chỉ còn tình nghĩa và thiếu hẳn tình yêu. Chồng tôi là người đầy tự trọng, anh ấy không phàn nàn, thắc mắc về thái độ của tôi cả. Anh bình thản sống, bình thản chờ đợi, tôi biết thế. Lạ lùng, anh ấy càng bình thản thì tôi càng bức bối. Hình như có cái gì đó trong tôi quẫy động. Tôi không hiểu tôi nữa. Nhưng tôi ước ao nhận được một thái độ khác của chồng tôi…

Khi tôi đề cập tới chuyện ly hôn, chồng tôi bàng hoàng. Anh ấy im lặng quay đi trong khi trái tim tôi gào thét, van nài anh hãy thọi vào mặt tôi một cái. Chính lúc ấy, tôi hiểu mình muốn gì. Tôi vẫn yêu chồng tôi. Tôi không hề dửng dưng với anh chút nào cả. Tôi chỉ muốn anh khác đi. Thô bạo, xốc nổi, bất công, vô lý, ăn chơi… bất cứ một điều gì đó xấu xa mà một người đàn ông bình thường dễ dàng thể hiện. Có thể tôi điên rồ nên mới mong chồng mình làm những điều mà mọi người đàn bà khác không hề muốn chồng họ mắc phải. Có thể tôi sai, nhưng đó là cảm xúc rất thật, tôi không muốn sống với một ông thánh, tôi chỉ muốn sống với một người đàn ông bình thường, có thể cho tôi những khoảnh khắc sung sướng, đau khổ bình thường, nhất là không bao giờ tôi phải chui rúc trong cảm giác chỉ riêng mình có lỗi…./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chuyện nhỏ trong chiến tranh

Trần Thanh Hà


Nói là chuyện gì ghê gớm thì quả không phải. Chuyện một người, hai người, chuyện vài người... trong mịt mù bom đạn thuở đó, rồi cũng nhỏ cả.

Khi đó Thịnh đang dạy học dưới Phú Vang, vùng chợ Nọ. Khi đó Nguyên không còn ở Huế nữa, Nguyên về Nọng, dạy lớp một ở cái làng tít tắp ngoài gần Phá Cầu Hai. Biết vậy chứ Thịnh chưa lần nào tới, chưa biết thực ra Nguyên sinh sống thế nào.

Trước, Thịnh đi xe đạp gần chục cây số từ Phú Cam về chợ Nọ, trưa đi chiều tối về. Sau gom được ít tiền Thịnh mua chiếc xe bảy tám, chạy hai chục phút hết quãng đường từng đi xe đạp cả giờ đồng hồ. Chiếc xe máy cũ, nổ bành bạch, qua đoạn đường mùa mưa nhiều ổ nước, lúc nào cũng bám bùn đất trông rất bẩn. Kệ, bởi tầm năm, sáu giờ ngược lên thành phố, Thịnh thêm thời gian la cà trong quán cà-phê Hạ Trắng.

Quán nằm góc đường Ðiện Biên, hơi sâu, trồng nhiều chanh và sapôchê, lúc nào cũng âm sầm tối lẫn lộn nhiều thứ mùi, mùi những chòi lá lên mối, mùi quả sapôchê, mùi lá chanh, mùi cà-phê, thuốc lá, thoang thoảng mùi rác bốc dưới sông Bến Ngự lên nữa. Thịnh chỉ tới đó vào mùa mưa, ngày mưa lớn, lụt, đường qua Ðập Ðá ngập, quán nghỉ, Thịnh cũng ra ngồi cả ngày. Chiều lòng khách quen, ông chủ quán đặt đĩa nhạc, thường là Trịnh Công Sơn với giọng Khánh Ly não nuột. Không có chỗ nào trong thành phố khiến Thịnh nghĩ và nhớ Nguyên nhiều như chỗ đó. Thịnh ngồi trong chòi lá cuối vườn, trên một con ghế, kéo thêm một con ghế để kế nhìn mưa nhỏ từ mấy giọt lá tranh lúc to lúc nhỏ, nghĩ ngày nào Nguyên ngồi đây, vai hai đứa chạm nhau, đôi khi muốn quàng tay ôm Nguyên thấy Nguyên im lặng lại thôi. Thịnh không quen bày tỏ tình cảm, Nguyên cũng vậy, ngồi với nhau im lặng nhiều hơn nói, từ hồi nào cả hai học chung đến mấy năm ra đi dạy, đều thế. Ngồi vậy mà nghe trong lòng dễ chịu, bữa nào lạnh Thịnh đưa tay cầm tay Nguyên thấy tay Nguyên ấm dần lên... Khi Nguyên bỏ chuyến bay đi California trốn tàu hỏa về đây, Nguyên hẹn Thịnh tới, Thịnh tới ngồi cầm tay Nguyên hỏi buồn không, Nguyên nói buồn chi, ở lại với anh, chi buồn. Thịnh thấy Nguyên tội, muốn có một cử chỉ tỏ ý biết ơn Nguyên, nhưng rồi cũng chỉ ngồi cầm tay thế yên lặng. Nguyên bỏ gia đình vì Thịnh, nhưng lại bỏ Thịnh, bỏ luôn Huế vì lẽ khác...

Những ngày mưa ở Huế rất dài, sáng mở mắt ra đã thấy mờ mịt bên ngoài, đi ra khỏi nhà, trưa về ngủ vùi một giấc tỉnh dậy, chiều đi ra, tối đi ra, lúc nào cũng thấy mờ mịt như thế. Mưa giăng giăng mịt mùng suốt từ tháng bảy qua tháng hai năm sau, mưa lụt rồi mưa phùn, mưa sập trời đất, nước kéo qua các phố, ẩm ướt, sụt sùi. Mưa như Khánh Ly hát, làm người ta tuyệt vọng, chỉ muốn từ nay gục xuống. Thịnh ngồi nhìn mưa, thỉnh thoảng bỏ xe đi bộ ra quãng đường Lê Lợi ngược lên phía ga. Quãng đường đó nhiều cây me trồng hai bên. Ngày mưa phùn, trong tầng mưa lá me rụng là đà xiên lẫn nhau như sợi nước, ẩm ướt, nhẹ tênh dính đầy trên tóc vai khách qua. Thịnh đi vì cái xúc cảm của Nguyên nhiều năm trước, Nguyên rùng mình khi qua cổng nhà số 5, chỗ đó Nguyên nói, ông nội Nguyên đã chết. Thịnh hình dung người đàn ông mặt gầy mang kính trắng ngồi sau cái bàn trong văn phòng Thủ hiến, như thường ra mở cửa tiếp khách, vừa đưa tay bắt thì bị bắn vô ngực. Thịnh hình dung thế, Thịnh thấy ông ngã xuống ghế, chết ngồi, máu sũng vạt áo, kính trễ xuống mũi nhưng không rớt. Thịnh nói quên chuyện đó đi, chuyện từ thời nào mồ ma người Pháp, bây giờ hết chiến tranh, chúng ta đã ở vào thời đại khác, chuyện đó đến ba Nguyên cũng không chứng kiến huống chi Nguyên. Nguyên gạt mấy lá me, ừ, đâu có nghĩ, nhưng có cái gì vô hình thỉnh thoảng làm mình nhớ tới hình ảnh thực ra mình không biết. Nhiều năm sau, đi một mình qua quãng đó, Thịnh không cưỡng được ham muốn bước vào ngôi nhà kia, tìm đến căn phòng có cửa sổ trông ra sân, ngồi vào cái ghế ông nội Nguyên đã ngồi, thử bước ra mở cửa, thử cảm giác viên đạn phóng tới ngực... Thịnh chỉ ham muốn nhưng không lần nào lọt được vào cổng số 5, nó đã thành một nhà bảo tàng nhưng mấy năm liền người ta chăng bạt sửa chữa, không đón khách. Rồi Thịnh cứ đi qua đi qua, không gì hơn ngoài thả một tiếng thở dài.

Thịnh nhớ người đàn ông gầy ốm buồn rầu trong khung kính ở nhà Nguyên. Ông là nhân viên văn phòng. Nhân viên văn phòng thì có giữ bí mật gì ghê gớm không, có nợ máu không... Thịnh không biết, song cái chết của ông để lại mối hận thù nơi người con trai, tức ba Nguyên, thì Thịnh biết. Nhiều năm trước, giỗ nào của ông nội Nguyên cũng gọi Thịnh sang. Lần đó Thịnh sang, gặp lúc ba Nguyên từ trại cải tạo về tới, lầm lỳ, mắt ngun ngút một nỗi tàn khốc. Ông làm hồ sơ đi H.O đợt đầu tiên. Ngày sắp đi, ông gặp Thịnh bảo, anh tha con bé đi, về gia cảnh, không hợp, anh không lo nổi cho nó miếng ăn, vậy đừng nghĩ tới nó. Thịnh đạp xe về Phú Cam nằm, nghĩ mình cũng hận thù người đàn ông đó đi, nhưng không được, Thịnh chỉ thấy lòng trống rỗng. Sự giàu sang quý tộc của nhà Nguyên ngày nào Thịnh chưa từng thấy, những đồ gia bảo đã lần lượt ra đi, khi quen nhau Thịnh đã chứng kiến việc mạ Nguyên ngồi chợ Ðông Ba, Nguyên đi bỏ mối thuốc lá, tấm áo dài cũng nhịn không dám may. Vài lần lui tới, Thịnh thành người đàn ông duy nhất trong ngôi nhà toàn đàn bà con gái, tự nhiên xắn áo bổ củi, xách nước hay dọi lại mái nhà dột. Khi ấy, ông trung tá không lực ở đâu...

Thịnh không thôi Nguyên như cách ông trung tá muốn, nhưng cuối cùng Thịnh cũng không có được Nguyên.

*

Một bữa cuối năm, trời rất lạnh, gió bấc hun hút qua mặt sông Hương thổi vào thành phố, Thịnh chạy xe dưới chợ Nọ lên, mặt tê tái vì gió, vì một nỗi buồn bã như mắc nghiện đã ôm chùm lấy Thịnh những buổi chiều ngưng giảng nhìn đám học trò ríu rít túa ra đường. Dù cô em ban trưa dặn hôm nay về sớm nhà có giỗ thì quen lối Thịnh vẫn rẽ vào Hạ Trắng. Buổi nhập nhọa, quán có mình Thịnh, nhà quán nhẵn mặt không còn để ý, quen tay ấn một đĩa Khánh Ly rồi chừng nào Thịnh ngồi hay đi ra không cần. Nhưng bữa nay ngoài Thịnh thêm một người nữa, một người Tây lạ lẫm, đã phong sương hay đau đớn vì những sầu muộn đọng trên nét mặt. Người Tây ngồi y Thịnh, một mình ngổn ngang ghế, tách cà-phê nguội ngắt, mẩu thuốc tàn và mắt nhìn mung lung ngoài kia. Thịnh bỗng chạnh lòng, bắt chuyện không tiện, Thịnh bèn ngồi, coi cái sự ngồi của mình như một sẻ chia. Muộn quá, Thịnh sắp đứng lên thì chính người kia bỏ chòi sang chỗ Thịnh.

Thịnh không ngờ gặp thêm một nhân chứng của nhà số 5, có điều chuyện của người này lùi cách hai chục năm so với cái chết của ông nội Nguyên.

- Tôi là William Dubin, người Mỹ. Tôi đến Việt Nam lần này có ý tìm một người quen - ông ta giới thiệu, tự nhiên như đã quen thân lâu lắm, làm cử chỉ tỏ ý xin điếu thuốc từ gói của Thịnh, rồi nói, bằng một thứ tiếng Anh chuẩn xác, thỉnh thoảng xen đôi câu tiếng Việt.

- Năm 1967, tôi 30 tuổi, lần đầu tiên đến Việt Nam trong một nhóm nghiên cứu về môi trường. Gọi là nghiên cứu môi trường song thực chất tôi là người của Bộ Quốc phòng Mỹ, vì kết quả nghiên cứu của chúng tôi sẽ làm ra những cơn mưa nhân tạo trút xuống những miền rừng Việt Nam nhằm ngăn chặn bước tiến của quân Cộng Sản. Từ Sài Gòn tôi bay ra Huế chơi. Ở Morin tôi kết thân với vài người bạn.

Chúng tôi la cà ở các bar rượu, đánh bạc và cặp với rất nhiều vũ nữ. Một trong các vũ nữ ấy là cô Bé. Tôi thích cô, vì cô giữ cái tên quê mùa trong khi những người khác mang những cái tên rất mỹ miều. Nhưng cũng là thích như một đồ chơi. Nhiều đêm khuya, khi đã uống rất say, chúng tôi thường bắt cô nhảy và hát, hát cho thật vui, và nhảy sao để chúng tôi phải cười lên được. Tôi không biết bản chất mình có độc ác hay không, nhưng bấy giờ đang giữa thời binh lửa, tôi có thể an toàn hơn vì thời gian của tôi chủ yếu ở các văn phòng, giảng đường và phòng thí nghiệm, còn những gã bạn khác, một vài ngày chúng sẽ rời thành phố, và số phận chúng ra sao có trời mà biết được...

Tôi không biết tại sao tôi lại không rời Huế như dự định, nghĩa là trước dịp Tết Mậu Thân. Thành ra tôi đã chứng kiến toàn bộ sự biến thảm khốc của thành phố hồi mùa xuân đó... William nói. Và Thịnh, bỗng dưng thấy hiện lên trong tâm dấu ấn của cái thời khắc anh trải qua hồi thơ ấu.

Súng nổ vào đêm hai chín Tết, lúc trời sắp trở sáng. Cả thành phố im lìm trong cơn thiếp ngủ choàng thức bởi ba bề súng, súng rền phía Mang Cá, Phú Bài, trên cầu Mới, ở mọi điểm trong phố phường. Mạ dựng Thịnh dậy, mặc cho cậu con dãy đạp, mạ xù lên như một con mèo cái tha hai đứa con chạy vào nhà thờ Phú Cam, rồi ngay ngày hôm sau tiếp tục tha con chạy khỏi Phú Cam, nhào về Vỹ Dạ, từ đó qua Phú Vang, vòng sang Tây Linh, hơn tháng sau trở lại ngôi nhà cũ trong nỗi tơi tả và sợ hãi. Bằng cách đó mạ Thịnh đã cứu được hai đứa con nhỏ, nhưng người cha và người anh lớn thì bà không cứu được.

- Vậy ông thoát khỏi thành phố bằng cách nào? Thịnh hỏi.

- Tôi đâu có thoát. Tôi bị vây trong Morin cùng với Bé. Bé là người Việt, còn tôi là người Mỹ. "Anh tìm cách chạy trốn đi, nếu không anh sẽ bị họ bắn chết, hoặc là bị bắt. Còn tôi, tôi đi đây. Bây giờ thì tôi đổi đời rồi, nếu anh không bắn tôi ngay, lập tức tôi sẽ dẫn họ đến bắt anh. Tôi căm thù anh. Tôi khinh bỉ anh". Cô ta nói, bằng một giọng hả hê, đôi mắt nhìn cũng hả hê như thế, rồi bỏ đi.

Tôi cũng đã gắng ra khỏi khách sạn, tìm một sự chi viện nào đó, nhưng gần như lập tức tôi bị bắt. Khi đó trời đã sáng rõ và những cuộc đọ súng có vẻ càng căng thẳng hơn. Quân giải phóng đã chiếm một số cứ điểm dọc theo đường Julles Ferry, như tòa Ðại biểu Trung phần, trường Quốc Học, dinh Tỉnh trưởng... từ đó họ tiến đánh ga Huế và nhà lao Thừa Phủ. Trong đêm sau, họ giải phóng được Thừa Phủ, song ga tàu hỏa vẫn thuộc về quân Cộng Hòa cho đến ngày quân Mỹ từ Ðà Nẵng và Quảng Trị chi viện lấy lại Huế.

Tôi bị giam ở Quốc Học, sau đó bị giải đến nhà số 5 Julles Ferry, trụ sở Ðại biểu Trung phần. Có hai ông cố đạo người Pháp ở Dòng Cứu Thế cũng bị giam chung với tôi, nhưng họ được thả sau vài ngày. Còn lại mình tôi trong căn phòng nhỏ ở sâu trong tòa nhà, căn phòng rất trống, không bàn ghế, chăn nệm. Hằng đêm, tôi nằm còng queo trên sàn nhà, đắp một mảnh vải bạt mỏng. Trong các cuộc thẩm vấn tôi khai tôi là nhà khoa học, rằng ngoài vấn đề môi trường tôi không biết gì khác. Không tin tôi, nhưng những người chỉ huy không thèm hỏi tôi nữa, họ mặc kệ tôi. Thế là tôi cứ còng queo ở đó, ngày nhận hai bữa ăn, khi bánh chưng, lương khô hay cơm nắm, ngẫm nghĩ về quá khứ, về cô Bé cùng nỗi hả hê trước khi bỏ đi, nghe súng đì đùng, và đành phó mặc cho số phận. Nhưng cũng có những ngày đêm thành phố thật yên tĩnh, giống như hòa bình đã đến ở ngoài kia thật rồi, như cơn ác mộng cho xứ sở này đã chấm dứt. Chỉ có tôi, không biết kết cục với mình sẽ là thế nào đây... Thời gian chậm chạp trôi đi. Hai mươi mốt ngày kể từ khi tôi bị bắt. Sáng nọ, đích thân người chỉ huy mở cửa cho tôi. Ông ta, một con người tầm thước chừng ngoài bốn mươi, nói giọng Huế chuẩn, chất giọng chậm rãi và hơi chút gì muộn phiền... "Từ giờ phút này anh được tự do - ông ta nói - Anh cứ ra khỏi cổng rồi đi đâu tùy ý, miễn rằng - ông nhắc thêm - đừng làm gì chống lại chúng tôi, vì dẫu có chống lại thì chúng tôi cũng thắng thôi". "Nhưng tôi không muốn đi" - tôi nói. Tôi đã không chờ tự do theo kiểu này. Nghe tiếng súng, tôi biết ngoài phố lại đang chiến sự, và có lẽ người Mỹ đã bắt đầu muốn chiếm lại Huế. "Ði đi, ngài cố vấn - người chỉ huy nhìn tôi - chúng tôi đã không bắn ông thì bây giờ cũng không bắn. Chiến hữu của ông ở ga tàu đang kiểm soát đoạn đường phía trước chắc là không nhằm vào ông rồi. Ông cầm lấy cái này mà liên lạc với họ". Ông ta đưa tôi một cái khăn tay. Thì vậy, tôi đành ra đi, tôi được tự do từ giờ phút này, thì tôi cần phải đi tới chứ. Tôi vẫy chiếc khăn trắng cao trên đầu, từ từ bước khỏi tòa nhà, tiến ra phía cổng. Tôi là người Mỹ, Chúa ạ, những người lính cộng hòa đang ẩn nấp đâu đó phía ga tàu hẳn nhận ra tôi. Này bước đi, một, hai, ba... Nhưng mọi sự đều nằm ngoài ý niệm của tôi, khi tôi lồ lộ ngoài đường, thì trong yên ắng của buổi mai, một phát súng duy nhất, một phát súng gọn ghẽ đã vang lên. Tôi không nghe thấy, nhưng tôi biết mình đang ngã xuống...

Ngã xuống ư, một ngôn từ hợp lý để diễn tả những cảnh nằm xuống trong chiến tranh, nằm xuống, trên mặt đường, dưới bầu trời mưa rộng rãi, từng hạt li ti dịu ngọt nhưng sẽ thật buồn. Người ta thế nào lúc đó? Hẳn rằng người ta cô đơn, vì dẫu cho có nằm xuống một mình thì vẫn cô đơn xiết bao. Thịnh mơ hồ theo đuổi những ý nghĩ, cũng mơ hồ đầu óc anh trôi dạt về ngày mưa phùn năm 1968 đó. Anh nhớ anh chạy đi dưới nách mạ, không sợ chết, thấy mệt quá chừng đi, này mạ ơi, cho con nằm một chút, rồi con sẽ tỉnh dậy, rồi mạ bảo đi đâu con cũng đi, Thịnh rên rỉ. Mạ không nói không rằng, cứ xốc Thịnh lên, không cho dừng lại huống chi còn nằm xuống. Về sau, khi ba mạ con trở lại xóm đạo sau lưng Phú Cam, nghe nói người cha và anh cả trốn vào nhà thờ, ở lại trong đó với nhiều người khác. Thịnh hình dung họ xếp hàng nằm trên sàn phòng nguyện, thứ tự lần lượt người này đến người nọ, mắt nhắm cho thật chặt, dù bên ngoài súng nổ thì bên trong thành quách chuông vẫn rền vang. Họ nằm đó và không về nữa. Mạ Thịnh sấp xuống nền đất ẩm ướt của khu vườn chôn nhau cắt rốn, gào lên, như dồn tỏa đau thương muôn ngàn kiếp đầu thai lại trong bà. Nguyên, nhiều năm sau lên chơi gặp bữa mạ Thịnh lên cơn, cứ quỳ xuống mà khóc, cháu có tội, cháu phải làm gì, làm gì... Nguyên không nói gia đình Nguyên đã ở đâu hồi Tết đó, nhưng Thịnh biết ba Nguyên, sĩ quan không lực, đã bay dội Napan xuống những cánh rừng miền tây để trả thù cho thành phố bị tấn công hồi Tết.

Cảnh tàn sát những cánh rừng miền tây bằng B52, Napan và chất diệt cỏ, Thịnh nghe từ chính chị Duyên. Vào hồi Thịnh là bé con, chị Duyên đã lớn, kiều diễm lộng lẫy như một nhan sắc lạc lõng nơi xóm đạo đàn bà con gái đời nay qua đời khác không biết gì ngoài chằm nón, những lưng còng mặt cúi như định mệnh. Sau dịp Tết Mậu Thân, chị bỏ thành phố lên rừng theo quân giải phóng. Nhưng đời sống chừng nào cũng phi lý, chị nói, chị muốn trở về thành phố với một tư thế khác, cần ngẩng đầu lên, nào hay những cuộc chạy, chạy bom đạn, chạy biệt kích ở trong rừng đã làm chị hoang mang. Lần này bỏ rừng chị không bao giờ còn dám nghĩ tới đổi thay nữa. Quên đi nhan sắc, quên đi giấc mơ kiêu hãnh, chị ngồi xuống bên cái khung nón, ngày qua ngày đâm kim kéo chỉ lên nỗi lòng, để lòng càng lúc càng câm nín đi...

Nhưng người con gái đó, chị Bé nào đó đã đi đâu về đâu trong tháng ngày kia. Thịnh bất chợt rùng mình.

- Tôi có nghĩ về cô ta, nhưng không nhiều lắm nếu tôi không gặp lại cô ta. Một tình huống oái oăm - William kể tiếp - Vào khi tôi đã nằm trên mặt đường, tôi nghĩ tôi sẽ chết, mọi sự sẽ kết thúc tại đây, không vinh quang song cũng chẳng bi đát cho lắm. Nhưng bỗng dưng tôi thấy có bóng người lọt khỏi cánh cổng tôi vừa đi ra ban nãy, chạy về phía tôi. Tôi cảm thấy cả những luồng đạn líu ríu bay từ đâu đó nữa. Một người thật, một người con gái quỳ bên cạnh tôi, bàn tay mềm, vuốt lên gương mặt tôi, này Willic, anh nhận ra tôi không, tôi là Bé, cô Bé cave, cô ta nói, tôi đến để băng vết thương cho anh đây... Trong cơn mơ màng của cái chết đang đến gần, tôi thấy gương mặt dịu dàng của cô ở trong vành mũ, đôi mắt rộng lớn có những tia sáng ấm áp. Trong bầu trời mưa còn bay, và những chấm lá nhỏ theo mưa rơi xuống trên mặt tôi. Ngần ấy thời gian của cuộc đời, tôi chưa từng có buổi sáng nào tuyệt đẹp như thế...

- Sau đó thì sao, Thịnh hỏi.

- Sau đó ra sao tôi không biết. Tôi tỉnh dậy ở trong bệnh viện. Người ta nói quân giải phóng đã rút sạch rồi. Mổ vết thương xong, còn nằm nguyên trên băng ca, tôi bay về Mỹ...

*

Mất khá nhiều thời gian Thịnh mới tìm được người chỉ huy cánh quân giải phóng ở bờ nam sông Hương hồi mùa xuân 1968. Bấy giờ ông đã lên cấp tướng và đã về hưu. Cũng mất nhiều thời gian nữa Thịnh mới gợi ông nhớ lại hình ảnh ngôi nhà Ðại biểu Trung phần số 5 đường Julles Ferry.

- Chúng tôi là những người cuối cùng rút khỏi thành phố - ông ta nói - song chúng tôi đã bị thiệt hại rất nhiều.

Thịnh hỏi ông ta về người con gái tên Bé, một trong số bao nhiêu người Huế đã theo quân giải phóng năm đó. Ông trầm ngâm, rồi cũng nhớ được. Quả có một nữ cứu thương mang cái tên như thế. "Nhưng cô ta chết rồi, chết vào buổi cuối cùng trước khi rời bỏ thành phố. Cô ta muốn cứu một thằng Mỹ. Tôi bảo, mặc kệ hắn đi, chúng ta đâu có bắn hắn, chiến hữu của hắn bắn hắn đấy chứ, nhưng cô ta cứ đi. Và bọn lính cộng hòa ở ga tàu hỏa đã không bỏ lỡ cơ hội...". Giọng ông ta đều đặn, chậm rãi, thứ giọng William nói, hơi có chút gì muộn phiền, mà muộn phiền thật không, những câu chuyện, những phận người đã như lá bay qua, ở xứ sở lịch sử có quá nhiều bấn loạn này...

Rời nhà ông già, Thịnh đi bộ qua thành phố, về ngang Hạ Trắng. Dẫu khuya muộn quán vẫn chưa đóng cửa, trong im lìm, trong bao nhiêu mùi ngai ngái quen thuộc, trong một trạng thái ơ hờ không vồ vập mà chẳng bỏ lơi, Khánh Ly vẫn hát như nhiều năm về trước, như năm nào Nguyên còn ngồi đây vai khẽ chạm vào Thịnh, im lặng thôi nhưng sao dịu dàng thế, Người đã đến và Người sẽ về bên kia núi, từng câu nói và từng tiếng cười... Thịnh lặng đi, ồ người này, sao cứ ca hát không mỏi mệt về phận người. Còn lại gì, còn như lá kia bay đi... Thì sao Thịnh không thể coi chuyện đó như không, để gọi Nguyên về, giữa Huế, giữa những ngày không vui sướng gì mà thương xót bao nhiêu.

Thôi, sớm mai Thịnh sẽ về Nọng, về gặp Nguyên và nói rằng, thôi Nguyên, vậy, đời chúng mình cũng đã buồn lắm rồi./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-15 21:17:40ct.ly>
Cuộc trở về của đứa con lầm lỗi

Thái Bá Tân


1

Hàng năm, cứ vào ngày mồng bảy tháng Giêng âm lịch là cả làng D.T nhộn nhịp hẳn lên. Cái nhộn nhịp ấy còn lan sang những làng lân cận. Vào ngày ấy, từ sáng sớm, người ta í ới gọi nhau đi chợ, đến trưa thì nhà nào trên bàn thờ tổ tiên cũng có một mâm cỗ với những que hương trầm nghi ngút khói. Trong khi lũ trẻ hoặc đám thanh niên mới lớn vô tư cười nói bên cạnh, những người già đứng chắp tay trước bàn thờ, cúi đầu lầm rầm cầu khấn điều gì chỉ mình họ biết. Cuối cùng mâm cỗ được hạ xuống, một lần nữa, khi cánh trẻ ăn uống vui vẻ, những người già - thường ngồi riêng với nhau ở mâm trên, - vừa nhấm nháp uống rượu, vừa khe khẽ nhắc lại những gì đã xẩy ra vào cái ngày khủng khiếp ấy...

Đó là ngày mồng bảy tháng Giêng âm lịch năm 1954, nghĩa là lâu, lâu lắm rồi, đến mức bây giờ nhớ lại, người ta không khỏi không mâu thuẫn với nhau về chi tiết, thậm chí cả những chi tiết quan trọng. Mỗi người kể một cách, tất nhiên, ai cũng cho mình đúng. Đại khái sự việc xẩy ra thế này.

Vào độ năm giờ sáng cái ngày khủng khiếp ấy, một chiếc máy bay khu trục Pháp bất ngờ từ phía biển bay vào, ném một loạt năm quả bom xuống D.T. lúc ấy hẵng còn là một làng nhỏ nhà cửa đứng sát sít bên nhau. Chiếc máy bay ấy còn lượn thêm hai vòng nữa, sau mỗi vòng lượn nó lại chúc xuống ném những loạt bom dài và chính xác như trước. Rồi vút lên, nó bay mất hút về phía biển.

Sau đấy là một nỗi kinh hoàng thật sự. Làng D.T nằm dài thành một vệt, bị ba lần ném bom trúng ngay vào ba phần đầu, giữa và cuối, thành ra cả làng, hầu như không còn ngôi nhà nào nguyên ven. Số người chết lại càng khủng khiếp hơn, vì lúc ấy còn sớm, hoặc người ta ngủ chưa dậy, hoặc dậy rồi nhưng chưa đi đâu khỏi làng. Có người bảo chết hai trăm, có người bảo ba, cũng có người nói nhiều hơn. Còn việc vì sao làng D.T. bị ném bom chứ không phải làng nào khác, mà lại một cách dã man, mang tính hủy diệt như thế, trong khi suốt một thời gian dài trước đấy cả huyện Diễn Châu rộng lớn chưa bị ném bom lần nào, thì không ai hiểu nổi, mặc dù người ta đã đưa ra nhiều giả thiết khác nhau.

Từ đấy hàng năm đúng ngày mồng bảy tháng Giêng âm lịch là cả làng D.T nhà nào cũng có giỗ. Kèm theo giỗ là những câu chuyện rôm rả, những hồi tưởng đau buồn, những tiếng khóc...

2

Năm nay về D.T dự "giỗ làng" có thêm một người. Người ấy lập tức thu hút sự chú ý của dân làng. Đó là một ông già khoảng 65 tuổi, tóc bạc trắng, da dẻ trông hồng hào nhưng hình như không được khỏe lắm, vì ông phải dùng gậy để đi lại. Ông về làng trước ngày có giỗ hai hôm, tức là vào ngày mồng năm tháng Giêng. Không ai nhận ra ông, có lẽ ông cũng chẳng nhận ra ai quen trong làng, ít ra vào những phút đầu. Ông nói tên những người ông muốn gặp, người ta lắc đầu không biết. Ông phải tìm hỏi người cùng tuổi, tự giới thiệc mình là ai, từ đâu tới, vân vân, lúc ấy người ta mới đồng thanh "ồ", "à" cả lên.

Thì ra ông già là dân làng này, có điều ông đã xa nó hơn bốn mươi năm, và nay, sau bốn mươi năm dài ấy, ông mới trở lại thăm làng lần đầu. Không phải không muốn, ông nói, mà vì ông ở xa, rất xa, tận bên nước Thụy Sĩ hay gì gì ấy ở châu Âu. Còn những người ông hỏi gặp thì thuộc gia đình một địa chủ lớn ngày xưa ở vùng này. Có điều bây giờ cái gia đình ấy chẳng còn ai, trừ bà Sen, một bà già đơn độc sống cuối làng.

- Chết hết rồi, - người ta thở dài bảo ông. - Chết vào cái ngày khủng khiếp ấy. Máy bay ném bom... ông biết chứ? - Rồi như để an ủi, người ta ái ngại nhìn ông, nói thêm: - Không riêng gì gia đình nhà bác, mà cả làng, nhiều lắm...

- Có, tôi có nghe nói, - ông già lặng lẽ lấy khăn mù-xoa lau lau đôi mắt hoe đỏ vì xúc động. - Cũng vì thế mà tôi về đây xem thực hư thế nào. Kinh khủng quá! Trời! Kinh khủng quá...

Ông già lại lấy khăn chấm chấm vào mặt. Giọng ông run run. Đôi tay khô và nhăn nheo của ông cũng run run. Một chốc sau lũ trẻ dẫn ông chống gậy chậm chạp đi về phía nhà bà Sen.

Đêm hôm ấy, dĩ nhiên ông và bà Sen thức, trò chuyện với nhau rất lâu.

- Trời, bác ánh, không lẽ bác còn sống đấy à? - Bà Sen kêu lên khi nhận ra khách là ai. Bà và ông là con chú con bác với nhau, tuy ít hơn ông mấy tuổi, bà có vẻ già yếu hơn. - Chừng ấy năm bác ở đâu? Sống thế nào?

Không chờ khách trả lời, bà vội bỏ đi lấy ghế, múc nước. Còn ông già thì cố tỏ ra bình tĩnh. Ông thong thả đưa cả hai tay bê bát nước chè vối nguội lên tận miệng, rồi cũng thong thả như thế, ông uống từng ngụm nhỏ cho đến hết bát nước, trong khi bà Sen ngồi đối diện, vừa tò mò quan sát, vừa kiên nhẫn chờ nghe ông nói.

- Bà biết rồi đấy. Năm bốn mươi, tôi ra Hà Nội học. Rồi sang Pháp. Rồi lại về nước, làm cái thằng lính. Đến năm năm tư thì tôi theo người Pháp rời Việt Nam, sang sống với bố mẹ ở nước ngoài. Ờ, mà hai cụ chết đã lâu, hai mươi năm rồi. Còn tôi vẫn sống một mình, không vợ con, những tưởng chẳng bao giờ được thăm lại quê cũ, thế mà tôi vẫn lần được về. Tôi muốn biết...

- Vâng, - đoán hiểu ý ông, bà Sen vội tiếp lời, - ngày kia là giỗ làng rồi. Cả làng, cậu ạ, - những hai ba trăm người chết chứ đâu ít...

- Nhiều thế cơ à? - Ông Ánh khẽ hỏi.

- Vâng, thật khủng khiếp! Tờ mờ sáng, bác ạ. Một chiếc máy bay... ôi! - Bà Sen thở dài, rồi ngồi im, rơm rớm nước mắt.

- Hai cụ nhà cô cũng chết lần ấy?

- Vâng, cả chồng và con trai tôi nữa. Một quả bom rơi trúng nhà. May tôi lúc ấy ra vườn hái rau chuẩn bị làm cơm sáng nên mới thoát.

- Còn gia đình bác Vị ? (Bác Vị là anh trai cả của bố mẹ ông ánh, bà Sen).

- Cũng thế. Có điều bác gái bị thương, phải nửa năm sau mới chết được.

- Còn chú Xuân?

- Chú Xuân lúc ấy không ở nhà. Chú ấy trốn đi bộ đội từ hai năm trước, sau này hy sinh ở Điện Biên. Bác thấy đấy, làng xóm nhà nào cũng bị, không người này thì người nọ. Ngày kia giỗ, rồi bác xem.

Ông Ánh không hỏi gì thêm. Ông cúi đầu ngồi im, hai tay ôm mái tóc bạc. Ngoài sân, trời đã tối từ lâu. Trong ánh sáng đỏ nhờ của chiếc đèn dầu ma-dút, bà thấy ở khóe mắt ông có hai giọt nước lấp lánh đang mỗi lúc một to dần. Bà cũng ngồi im thẫn thờ, cho đến lúc bất chợt vụt đứng dậy vì sực nhớ phải làm cơm cho khách.

Đêm ấy hai người còn ngồi nói với nhau nhiều chuyện, nhưng như đã hẹn trước, ai cũng cố không nhắc tới đề tài lúc nãy.

Rồi cáo mệt, ông ánh lên giường. Từ buồng trong, bà Sen nghe rõ tiếng ông nằm trăn trở mãi, cho đến khi bà thiếp đi lúc nào không biết.

Hôm sau, tức là ngày mồng sáu, ánh nhờ bà Sen dẫn ra thăm mộ những người bị bom chết trong cái ngày xa xưa ấy. Đến nơi, ông bảo bà đi về để ông ở lại một mình. Tuy không hiểu ý ông muốn làm gì, bà Sen chẳng hỏi, lẳng lặng ra về.

Nghĩa địa Gia Quán nằm trên mé đồi thoai thoải bao quanh bởi những bụi gai còi cọc thấp tè. Mộ được xếp thành từng hàng dài, mỗi họ một khu, chiếc này dính liền chiếc kia như một luống khoai lớn, phía trên nổi lên những mô đất nhỏ để đánh dấu từng chiếc. Phần bị mưa xói, phần do trâu bò xéo, nhiều chiếc sụt lở, méo mó. Đất cằn, cỏ không mọc nổi, không bóng cây, không lăng bia, mộ chí. Nói chung quang cảnh khá tiêu điều và ảm đạm.

Ông ánh thận trọng chống gậy đi đến trước hàng mộ người thân của ông bà Sen vừa chỉ. Tay cầm hộp diêm, run run, ông bật lửa châm mấy bó hương mang theo, cắm xuống đấy năm que. Số còn lại ông chia đều cho tất cả những hàng mộ bên cạnh. Sau đó, ông chọn một hòn đá phẳng, ngồi xuống, hồi lâu thờ thẫn nhìn một điểm nào đấy trước mặt...

Tối đến, ông chống gậy đi hết nhà này sang nhà khác. Đến đâu ông cũng gợi để chủ nhà nói về cái sự kiện khủng khiếp kia đã xảy ra cách đây mấy mươi năm. Còn ông, ông chỉ im lặng ngồi nghe, thỉnh thoảng mới thêm đôi lời cốt giữ cho câu chuyện khỏi bị ngắt quãng.

Ai cũng ái ngại cho ông già sau chừng ấy năm xa cách nay trở lại quê hương, phải nghe những chuyện buồn như vậy.

3

Rạng sáng ngày mồng bảy, khi mặt trời chưa lên và sương mù còn dầy đặc, có một bà gánh rau cải xuống chợ bán sớm. Đến cây đa cụt cuối làng, vì mải nhìn xuống đường để tránh những vũng nước đọng lại sau cơn mưa, bà bỗng thấy đầu mình va phải cái gì đấy khô cứng.

Bà ngước nhìn lên, kêu to một tiếng vì ngạc nhiên và sợ hãi, rồi vứt gánh, ù té chạy trở lại. Chưa đầy mười lăm phút sau, có lẽ phải một phần ba dân làng D.T. đã có mặt. Mọi người đứng quanh cây đa cụt, sững sờ nhìn cảnh tượng trước mặt.

Trên cành cây choãi ra phía mặt đường, có một người treo cổ chết, xác lủng lẳng, mồm há hốc, đầu ngoẹo sang một bên, mớ tóc bạc lòa xòa dính bết vào trán - có thể vì mồ hôi, cũng có thẻ vì sương ướt.

Người đó là ông ánh. Chiếc gậy của ông để tựa gốc cây. Trên gậy là chiếc mũ dạ với một tờ giấy được gấp tư cẩn thận, to bằng lòng bàn tay. Theo yêu cầu của mọi người, một thanh niên rón rén lại gần gốc đa, cầm tờ giấy lên, đọc to:

"Thưa bà con dân làng,

Chính tôi là người lái máy bay ném bom làng ta ba mươi năm về trước. Tôi đã xin cấp trên được làm điều đó, vì nghe tin gia đình tôi bị Cộng Sản cướp hết ruộng đất và nhà cửa, chia cho dân nghèo. Lúc ấy tôi còn trẻ và nông nổi. Tôi thèm khát trả thù, lại sẵn bom đạn trong tay, thế là tôi đã gây nên tội ác khủng khiếp kia, cái mà từ ngày ấy cho đến nay không để lương tâm tôi thanh thản một phút nào. Tôi đã phạm một sai lầm không cứu vãn nổi, là tách rời khái niệm "Cộng Sản" khỏi khái niệm quê hương làng nước...

Bây giờ đã bốn giờ hai mươi phút, nghĩa là tôi còn phải chờ thêm mười phút nữa để tự kết liễu đời mình. Thực ra, tôi xem tôi đã chết vào đúng cài giờ phút ấy cách đây ba mươi năm, khi tôi bấm nút ném quả bom đầu tiên xuống khu làng đã sinh và nuôi tôi lớn.

Tôi chẳng dám xin được bà con tha thứ cho tôi, một đứa con tội lỗi sau bao nhiều năm lưu lạc, nay trở về quê cũ để tự đền tội. Trong túi tôi hiện còn ít tiền, nếu được, nhờ bà con cho thuê người chôn tôi ở nghĩa địa Gia Quán, cạnh những người tôi đã giết.

Nguyễn Văn Ánh”


Diễn Châu - Hà Nội, 1984


Đã mang vào thư viện những truyện đưoc post vào sau cùng
Thân ái
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Cỏ hát

Lý Lan


Mặt sông buổi chiều còn loang một vệt mặt trời mầu cam đỏ. Gió nồm thổi hiu hiu. Hai đứa tôi dắt tay nhau đi lững thững đến một bãi cỏ mé bờ sông. Hạnh đòi ngồi xuống. Cỏ xanh rì và ướt lạnh vì đang mùa mưa. Tôi loay hoay rút một chiếc dép lót ngồi. Hạnh xòe bàn tay vuốt nhẹ lên mặt cỏ, gương mặt trẻ trung sáng lên với cái nhìn trìu mến:

- Chị Hà có thích cỏ hôn? Em thích cỏ ghê nơi!

Có khi tôi cũng thích cỏ lắm. Cỏ nói chung thì đa dụng. Với cỏ người ta có thể làm thơ, làm thuốc nam, làm phân xanh, hay làm cái thứ gì nữa, chẳng biết. Nhưng bình thường thì tôi không cảm tình với cỏ nhiều. Nhất là những ngày nghỉ tôi về thăm ông ngoại và phải ra vườn làm cỏ với ông. Vừa làm cỏ, vừa nghe ông đọc thơ Lục Vân Tiên và giảng đạo lý làm người. Hạnh vẫn âu yếm đùa với những lá cỏ:

- Thế nào mỗi thứ cỏ cũng có một cái tên chứ, chị? Sao em chẳng thể nào biết tên các loài cỏ.

- Hồi xưa nhà chị có một bộ "Cây cỏ miền Nam", trong đó có vô số cỏ, thứ nào cũng có tên họ đàng hoàng. Có lần chị ra vườn nhỏ đủ loại cỏ vô giở sách ra xem chúng tên gì. Rốt cuộc, chị cũng chẳng nhớ được tên cỏ nào hết.

Hạnh trầm ngâm vài giây:

- Mai mốt xuất ngũ, em sẽ đi trồng cỏ.

Và Hạnh cười hồn nhiên, đôi mắt thoáng màu cỏ xanh mơ ước. Nhìn Hạnh, tôi không nghĩ đó là một câu nói đùa, nhưng tôi cũng không quan tâm đến cỏ cho lắm. Tôi hỏi:

- Chừng nào em xuất ngũ?

- Em không biết. Em chưa định xuất ngũ lúc này. Nhưng một lúc nào đó, thí dụ em không còn sức khỏe để phục vụ trong quân đội, hay chiến tranh chấm dứt chẳng hạn, thì em sẽ xin làm người trồng cỏ.

Tôi thở dài nhìn đứa em họ. Tóc Hạnh đã cắt ngắn. Còn vóc dáng, da dẻ vẫn bình thường. Hồi ở nhà, Hạnh cũng nhỏ nhắn, ngăm ngăm đen như vậy. Cái nhìn vẫn trong sáng, nụ cười vẫn thơ ngây. Vậy mà tôi nghĩ, sau ba năm đi bộ đội, chắc Hạnh đã trải qua những gì kinh khủng nhất của chiến tranh. Khi Hạnh vào bộ đội và xin sang công tác ở nước bạn, họ hàng tôi ai cũng phản đối và xem Hạnh như một đứa con gái bất bình thường. Chơi với Hạnh từ nhỏ đến lớn, tôi chỉ âm thầm cảm thông với những lý do đã thúc giục Hạnh hành động, chứ cũng chẳng dám nói gì. Người ta thường nói, ở lứa tuổi mười tám đôi mươi của đời người, có những ngọn lửa bùng cháy lên trong tim, rồi nhanh chóng lụi tàn đi, hoặc cháy mãi mãi, thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Những ai đã qua rồi cái tuổi đó, lỡ để tắt rồi ngọn lửa ấy, sẽ chẳng thể nào hiểu được những trái tim trẻ. Tôi chỉ hơn Hạnh một tuổi, những lúc nghĩ về Hạnh vẫn nghe lòng mình náo động những khao khát một cuộc sống anh hùng, một cuộc đời cao đẹp. Từ khi Hạnh đi đến giờ, hai đứa tôi mới lại được gặp nhau, khi tình cờ cùng về thăm ông ngoại. Hạnh trước mặt tôi, chẳng có nét gì của người nữ anh hùng như bà Trưng, bà Triệu, hay nữ thánh Jane, như phác họa trong trí tôi. Vẫn giọng nói nhỏ nhẹ, tiếng xưng em ngọt ngào, và nguyện vọng tầm thường nhất trong thiên hạ, "làm người-trồng-cỏ".

Nước triều đang dâng từ từ. Tôi thòng chân xuống, nói với Hạnh là chừng nào nước dâng ngập đến mắt cá chân tôi, thì mình phải về nhà. Lúc sẫm tối, gió ngoài sông thổi vào lạnh lắm. Nhưng Hạnh muốn ngồi chơi lâu hơn nữa, và nói chuyện hoài về những loài cỏ.

- Em chỉ biết tên cỏ-dế-ăn thôi. Tự vì hồi nhỏ em hay theo tụi bạn trai đi hái cỏ về cho dế ăn. Dế thích cỏ này lắm. Trông cỏ mảnh mai, dài thon thả, màu xanh biếc, ngon lành hết sức. Có lần em cũng thử ăn...

Hạnh đưa một cọng cỏ vào miệng nhấm nháp. Tôi biết là cỏ gấu, nhưng vẫn chấp nhận cái tên cỏ-dế-ăn của Hạnh. Mặt trời đã lặn tự bao giờ. Để Hạnh thôi nói về cỏ, tôi hỏi:

- ở bộ đội có gì vui, kể chị nghe với!

- Kể chị nghe chuyện gì?

Hạnh nhìn ra sông như tìm chuyện.

- Hồi ở Bộ tư lệnh là nhiều chuyện vui nhất. Cả đám nữ tụi em mới xa nhà, tha hồ nghịch ngợm, ca hát. Mấy chú biểu đồ con nít mà cũng bày đặt làm đơn xin ra biên giới.

- Rồi làm sao em lại được ra biên giới?

- Em xin riết phải cho. Đến khi ở bên nước bạn, nhiều khi em thèm một người bạn gái để nói dóc dễ sợ. Vì cả đơn vị chỉ có mình em là nữ. Có những điều của con gái chẳng biết chia sẻ với ai hết. Lần đầu tiên em hành quân, cả một đội quân đi dài thòng mà chỉ có một mình em là con gái, lại mới đến. Đường dài mười mấy cây số xuyên rừng và đồng lầy. Đang đi em mắc tiểu quá chừng mà chẳng biết làm sao. Em không dám kểu cả đội quân dừng lại chờ em đi tiểu. Em không dám một mình tụt lại phía sau. Em ráng đi lẹ lên, cử động nhiều cho đổ bớt mồ hôi ra. Bụng dưới cứ tưng tức anh ách khó chịu ghê đi. Em cố dụ lòng mình là ráng chút xíu, chút xíu nữa thôi. Càng bước, bụng em càng nhói nhói đau, muốn khóc luôn. Mà em không dám để lộ ra, không dám nhăn mặt nữa, sợ mấy anh cười, hiểu lầm em chưa quen đi bộ. Em mở mắt nhìn chỉ thấy hào quang đổ xanh đổ tím. Mấy bận em sợ điếng người luôn, cứ lo mình nín quá, bể bàng quang mà chết!

Hạnh bật cười như tự cười cái lo sợ của mình:

- Vậy mà rồi, em cũng đi tới nơi tới chốn. Dần dần em thấy sức chịu đựng của con người thiệt lớn. Có những điều khi chưa trải qua mình cứ tưởng tượng ra mà phát sợ. Nhưng bây giờ thì em hiểu rằng trên cõi đời này không có gì khủng khiếp cả, khi lòng mình vẫn còn tin yêu cuộc sống. Hồi trước em sợ bom đạn và nghĩ rằng nếu bị thương chắc chết quá. Đến khi chính em bị thương, em lại không thấy đau đớn như đã tưởng.

Tôi ngắt ngang Hạnh, tò mò:

- Em đã bị thương rồi sao?

Hạnh cười, lắc đầu:

- Nhẹ thôi, không đáng gì hết.

- Kể chị nghe đi.

Hạnh không chịu kể. Hạnh thích tiếp tục chuyện đang nói về cuộc sống ở bộ đội.

- Để lát nữa em kể. Năm ngoái em đóng ở một phum đã bị phá hoang tàn. Có một cái giống cái ao, vài cơn mưa đầu mùa đọng lại vũng nước trong đó. Các anh bộ đội vét đáy ao để chứa nước những cơn mưa sắp tới. Từ dưới lòng ao vét lên bao nhiêu là đầu lâu, xương tay, xương chân, xương sườn lớn nhỏ, dài ngắn đủ cỡ. Vậy mà hôm trước mới đến, thiếu nước dùng, cơm canh tắm giặt gì cũng ao nước đó. Lúc ấy em lại đang kỳ kinh nguyệt, cũng ao nước đó, rửa ráy, giặt giũ...

Tôi rùng mình, một cảm giác ớn lạnh chạy dọc xương sống. Hình như gió từ sông lớn thổi về rồi. Tôi kéo tay Hạnh:

- Thôi, về nhà. Tối rồi.

Hạnh đứng dậy, ngẩng nhìn bầu trời cao rộng mênh mông mới lác đác vài vì sao.

- ở nhà, chị có hay nhìn lên trời để đếm những vì sao không?

Tôi không thích đếm sao, vừa mỏi cổ, vừa nhức đầu. Những vì sao bình thường thì vẫn đâu ở đấy, nhưng khi mình đếm, chúng cứ chạy lung tung. Nhưng tôi vẫn đáp có. Hạnh nắm tay tôi đứng dừng bên bờ sông. Bàn tay Hạnh ấm, hay vì bàn tay tôi buốt lạnh, tôi cũng không rõ nữa. Hạnh chỉ cho tôi xem:

- Kia là sao chiến sĩ, mũi lưỡi kiếm chỉ hướng Nam. ở nước bạn, mỗi lần nhìn lên bầu trời em lại nghĩ rằng nếu mẹ mình, em mình, bạn bè mình đêm nay nhìn lên trời, sẽ thấy những vì sao sáng mà mình đang nhìn đây. Những lúc nghĩ vậy, em cảm động muốn khóc. Và thấy mình gần gũi với những người thân thuộc hết sức.

Hai đứa tôi đứng yên đến mấy phút để ngắm bầu trời thăm thẳm, nghe chung quanh bóng tối đen dần. Hai chị em, suýt soát tuổi nhau vẫn thường xem như đôi bạn. Hạnh chợt nắm chặt tay tôi, thấp giọng hỏi:

- Chị có sợ chết hôn?

Câu hỏi đột ngột, tôi không biết trả lời sao. Nghe nói, những người sống mãnh liệt nhất thì không sợ chết. Còn những kẻ sợ chết thì không sống bao giờ. Nhưng mà...

Tôi bỗng nghĩ đến những chiếc sọ người vét từ dưới đáy ao lên, bất giác quay đầu nhìn ra sau lưng. Gió thổi qua những ngọn dừa nghe xào... xào...

- Tụi mình về nhà đi. Vừa đi vừa nói chuyện cũng được.

Tôi cảm thấy bóng đêm không được an toàn lắm và thâm tâm cũng không muốn tiếp tục loại chuyện Hạnh đang hứng nói. Tôi không có khiếu triết lý. Tôi hài lòng với hiện tại, tự thấy mình là một con người bình thường, có một chỗ đứng vừa phải, đôi khi cũng được bầu lao động tiên tiến hay chức vụ phó này phó nọ. Cho nên nói chung thì tôi chưa thật sự tha thiết sống và cũng hơi sợ chết. Đối với những hành động anh hùng, những việc phi thường, những vấn đề cao xa... thái độ chung của tôi là "kính nhi viễn chi". Tôi những tưởng Hạnh sẽ có những chuyện dí dỏm hay là lạ kể nghe cho vui. Tôi cố tình lái câu chuyện về những cái có tính con gái nhất, như bếp núc chẳng hạn. Ngày còn ở nhà Hạnh vốn đảm đang, nhất là nấu nướng giỏi.

- Chắc ở bộ đội, em làm hậu cần?

- Một thời gian thôi, bây giờ em ở bên quân y. Hồi còn làm hậu cần, có lần em làm cá. ở "bển" có những con cá lóc bự thiệt bự, đầu cá bằng đầu gối em lận. Khi đập vô đầu cá em thấy con cá giãy lên đành đạch, vây mang vây lưng run lên như bơi chới với trong không khí, em tự nhiên thấy tay mình run theo. Em chờ con cá chết hẳn mới dám cầm lên lóc vảy. Vậy mà khi lưỡi dao phạm vào mình cá, nó vẫn còn giãy một cái mạnh đến nỗi văng cả thớt lẫn dao. Cứ nghĩ rằng có một sinh vật đang cố vùng vẫy tuyệt vọng trong tay mình để đòi được sống, em cảm thấy làm sao ấy! Cứ lợm giọng rùng mình hoài. Ngay cả sinh vật hạ cấp như loài cá cũng muốn sống, phải hôn chị? Ngay cả khi nó không hề ý thức gì về sự sống, nó cũng có những phản ứng sinh lý đòi sống huống chi là con người. Em cứ nghĩ là được sinh ra đời, con người tối thiểu phải có quyền được sống. Nhưng chị biết hôn, những cái sọ người vét dưới ao lên hầu hết đều bị bể, dấu vết của những cán cuốc đập vào đầu. Những người đã bị đập đầu chắc khi phải chết, họ còn muốn sống lắm. Càng trẻ người ta càng ham sống. Mà trong những cái sọ ấy có những cái sọ nhỏ của trẻ em. Chắc là khi bị đập đầu cho chết, họ cũng giãy giụa, cũng làm mọi cách để níu lấy cuộc sống. Và nếu là trẻ em, chắc chúng òa lên khóc và có đứa kêu cứu "má ơi!..."

Có một ngọn gió lạnh buốt thổi dọc xương sống tôi. Làm sao người ta có thể đập lên đầu đồng loại mình, thản nhiên như đập đầu cá lóc, hàng loạt, hàng loạt...

Trăng hạ tuần bây giờ mới lên. ánh trăng nhạt run run trong bóng lá cây rọi xuống con đường đất nhỏ. Những điều Hạnh nói hôm nay chắc là vẫn được xào đi nấu lại, trong đầu Hạnh rất nhiều lần. Có thể ngay cả trong giấc chiêm bao của Hạnh, những chiếc sọ người cũng hiện diện. Hai đứa tôi về đến nhà, ngồi trên thềm chơi. Mấy đứa nhỏ con cậu tôi hỏi hai chị có muốn đi bắt chim hôn? Chim ngủ trong bụi cỏ lau dọc bờ sông, mình bơi xuống nhè nhẹ sát vào bờ, bất thần rọi đèn soi vào, chim không kịp bay đi, mình bắt dễ ợt. Bắt chim về mai quay ăn. Hạnh từ chối nhưng dặn theo là nếu bắt được con nào dễ thương cho chị xin để nuôi. Tôi cười với Hạnh:

- Lúc này em coi bộ hiếu sinh dữ?

- Không phải em ở xứ Phật, mà sợ tội sát sinh. Nhưng chị đã từng cầm một con chim trong lòng bàn tay chưa? Chị sẽ nghe trái tim con chim đập trong tay chị, và lòng bàn tay chị sẽ ấm dần. Lúc ấy chị sẽ thấy đáng trân trọng, nâng niu một cuộc sống trong tay mình biết bao!

Bỗng nhiên Hạnh có vẻ đăm chiêu. Tôi cảm thấy ba năm mà Hạnh của ngày xưa hoàn toàn rơi mất theo thời gian. ở bên trong cái bề ngoài không thay đổi, tôi dần khám phá qua câu chuyện của Hạnh, một tâm hồn kỳ diệu. Những ngọn cỏ, những con chim... cũng gợi trong Hạnh những suy nghĩ về cuộc sống. Sao mà Hạnh luôn bận rộn với những điều mà chẳng mấy khi nào tôi quan tâm, dù luôn rảnh rỗi. Hạnh chợt trở lại câu chuyện:

- à, để em kể chị nghe lần em bị thương. Hôm ấy có một trận đánh với bọn tàn quân PônPốt. Trong một trận đánh có những tình huống không dự tính trước. Tình huống của em lúc đó là phải đưa một đồng chí bị thương ra khỏi chiến trường. Em không có phương tiện gì cả. Vết thương nặng và anh ấy đã mê man. Em thử cõng anh ấy, và kỳ lạ là em cõng nổi và đi được. Trong đủ các thứ tiếng chói tai của chiến trường, em vẫn nghe rõ tiếng trái tim anh ấy đập trên lưng em. Nhịp đập gấp, có lúc yếu dần đi rồi gấp dậy, dồn dập, như muốn nói điều chi tha thiết lắm; rồi bỗng yếu đi, yếu dần đi tưởng như im luôn; chợt sôi nổi trở lại như không đành yên, không thể yên. Trái tim ấy gắng gượng lần nữa, lần nữa, rồi kiệt sức hẳn. Khi không còn nghe nhịp đập trái tim trên lưng mình, em không tin. Em đặt anh nằm xuống. Đôi mắt anh vẫn mở, gương mặt trẻ và đẹp. Em áp sát tai mình vào ngực anh nghe thật lâu, nghe cả hai tai, vẫn không nghe thấy gì. Em không tin cả hai tai em. Em lại cõng anh lên, hy vọng lại nghe thấy trái tim anh còn đập trên lưng mình. Nhưng chỉ có trái tim trong lồng ngực em đập thảng thốt. Có thể nào chăng? Em đặt anh nằm xuống. Đôi mắt anh nhìn lên bầu trời cao thăm thẳm. Em không ngẩng nhìn lên, nhưng em nhìn vào đôi mắt ấy, và biết trời hôm đó xanh vô cùng. Em ngồi lặng yên, không nghĩ đến việc đưa tay vuốt cho đôi mắt ấy khép vĩnh viễn. Anh ấy còn trẻ lắm, độ bằng tuổi em thôi. Lần đầu tiên trong đời, một tình cảm gì, như nỗi căm hận, tiếc thương, từ từ dâng trào lên rồi dồn ứ ở cổ. Nào anh ấy có phải là người thân yêu gì của em đâu. Một hai lần em có gặp ảnh, nhưng chưa biết tên, chưa quen nhau. Vậy mà sao lúc ấy thấy gần gũi, mến thương kỳ lạ. Nếu không có bọn người đập đầu đồng loại bằng cán cuốc kia, chắc là ảnh sẽ gặp em ở một nơi khác hơn là nơi đây, một công viên đầy hoa chẳng hạn, biết đâu tụi em chẳng làm quen nhau, yêu nhau, cưới nhau, rồi sanh con đẻ cái... ừ! Tại sao không? Tụi em còn trẻ, đời còn dài, còn chứa chan ước vọng. Em đứng lên. Bỗng một cảm giác nhói đau, ở đâu đó gần vai, làm em lảo đảo ngồi xuống. Trong đôi mắt anh, đôi mảnh trời xanh bao la. Em muốn đưa tay vuốt đôi mắt ấy, nhưng không cử động cánh tay được nữa. Em được đưa về y viện như thế nào em cũng không biết. Vết thương không có gì ghê gớm lắm. Nhưng những ngày ở viện, em cứ nghĩa hoài đến những đồng chí mình đã hy sinh. Lúc ấy, có một ai nào đó đã đọc cho em nghe một bài thơ, không nhớ của ai nữa. Bài thơ đại ý nói là vào những năm bom Mỹ còn giội trên miền Bắc, những lề đường, những góc phố Hà Nội đã được đào lên làm hầm hào, công sự. ở những nơi đó, có những người đã chiến đấu, bắn máy bay, bảo vệ thủ đô, và đã hy sinh. Khi hòa bình, hầm hố được san lấp. Trên lề đường, công viên, người ta trồng lại cỏ. Và mỗi buổi chiều, từng lứa đôi dắt tay đi dạo, họ ngồi trên ghế công viên, tâm tình và nói đến tương lai, có khi họ trao nhau cái hôn đầu tiên nữa. Trên đầu họ, trời cao thanh thản, và dưới chân họ, cỏ xanh dịu dàng ca hát. Bài thơ làm em thao thức hoài. Em nghĩ đến màu cỏ xanh. Những bãi cỏ mượt mà tươi thắm, trải dài dưới chân mình bước. Những ngọn cỏ với sức vươn lên mãnh liệt. Em bỗng ước mơ mình sẽ là người đi trồng cỏ, và ước mơ ấy được ấp ủ trong lòng em cho đến bây giờ. Chị biết không, mỗi lần qua một phum sóc hoang tàn nào, là em lại tưởng tượng đến hình ảnh của một ngôi trường với một sân chơi nho nhỏ. Em sẽ trồng cỏ trên sân ấy, để trẻ em chơi có té ngã cũng không đau. Và trong lòng em cứ vang lên không thôi tiếng các em hồn nhiên nô đùa, không kinh hoàng hay nơm nớp lo sợ những lưỡi cuốc chỉ chực bổ xuống gáy mình...

Tôi đặt bàn tay mình lên vai Hạnh. Tôi hiểu chứ, khi còn trên trái đất này những kẻ đập đầu đồng loại bằng cán cuốc, thì còn cần những người tiêu diệt chúng. Nên Hạnh và bạn bè còn chịu đựng gian khổ, hy sinh. Nhưng khi không còn chúng nữa, sẽ cần nhiều, rất nhiều những người-trồng-cỏ.

Đêm lồng lộng những cơn gió từ sông lớn thổi về. Tôi nhìn ra vườn, dưới ánh trăng lợt lạt, không thấy cỏ mầu xanh. Sương đêm bắt đầu làm không khí ẩm lạnh. Lần đầu tiên tôi cảm thấy quả thật vạn vật không ngơi nghỉ về đêm. Hình như chung quanh tôi, cây cỏ đang nảy lộc, đâm chồi. Có thể ở bãi cỏ trước sân nhà ngoại tôi đây, đang mọc lên những ngọn cỏ mới, màu cỏ xanh non nhạt mà phơi phới sức sống. Sáng mai vô tình tôi sẽ giẫm qua mà không biết đau. Tự nhiên tôi nghe tim mình đập nhanh như đang thổn thức. Hạnh cầm bàn tay tôi ân cần:

- Chừng nào rảnh, chị qua nhà má em chơi. Mỗi lần em về, rồi đi, là má em làm mặt giận. Mà chị đừng kể cho má nghe chuyện em bị thương nghen. Má ưa lo này lo nọ lắm, nên em không hề cho má biết gì hết. Chị đừng kể nghen!

- Chị không kể đâu.

Từ trong đêm vọng lại tiếng "rào... rạt... rào...". Hai đứa tôi ngồi yên lắng nghe. Ngày mai Hạnh lại về đơn vị. Và lòng tôi lần đầu tiên thấy bồn chồn một nỗi gì. Tay Hạnh vỗ bàn tay tôi, tha thiết:

- Chị có nghe hôn? Con sông đang thở đó.

Tôi nghe. Chắc là con sông phải ngày đêm lao ra biển bằng tất cả sức lực của mình, nên mới thở dữ dội vậy. "Rào... rạt... rào". Tôi ngồi im nghe.

Hai giọt nước mắt không ngờ, ứa nơi khóe mắt tôi. Tôi để mặc nó rơi. Những giọt nước mắt tội nghiệp cho mình. Tôi ôm Hạnh muốn nói cám ơn mà không nói được. Bao lâu nay, tôi vẫn biết con sông chảy nhưng không hề nghĩ, không hề biết con sông với bộ mặt hiền hòa ấy đang sống, đang thở mãnh liệt đến như vậy. Mỗi ngày hai bận con nước triều lên xuống, tôi chỉ nghe tiếng sóng vỗ vào bờ "rào... rạt... rào". Và ngay đến cỏ, có bao giờ tôi nghĩ đâu rằng, cỏ vẫn ngày đêm âm thầm ngợi ca cuộc sống bất diệt, bằng chính màu xanh vĩnh viễn của mình./.

1981


美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Cửa sổ

Lê Minh Khuê


Hôm nào cũng đúng giờ này, cô gái xuất hiện. Bến chờ xe buýt hợp đồng gần cột điện lớn. Cô đến rất sớm. Không lại chỗ cột điện để đứng, cô ra chỗ gốc cây keo hoa vàng cách đó xa xa, đứng một mình. Phong thái độc lập. Bộ váy áo mặc vào hôm tiết trời hơi lành lạnh, khi mặt trời lên không khí vẫn phảng phất mùa hoa sữa từ phố cổ tràn tới. Mùi hoa sữa phủ đầy mùi thanh khiết lên khu phố mới. Hội ngồi bên bàn máy đang đánh dở mấy cái hợp đồng... mà thấy thời gian như bị trì lại khi cô gái tới. Tiếng tích tắc đồng hồ như lặng phắc. Tim Hội cũng chẳng có chút tín hiệu của sự chuyển động và thế giới lùi xa tít tắp như biến vào sương. Đặc biệt chỉ khi nào cô gái xuất hiện, mùi hoa mới nồng nàn như chưa bao giờ được nồng nàn đến thế. Cô gái đứng quay lưng lại phía cửa sổ mà Hội vẫn ngồi nhìn ra. Tóc cô chắc dài lắm, cuộn lên một búi to sau ót, cuốn hơi cao, phô ra cái cổ trắng kỳ lạ, cái mầu trắng không có tỳ vết như đá hoa cương, lại như một thứ đài hoa mọc trên mặt nước vươn cao về phía mặt trời để xa bùn và nước. Trước kia Hội vẫn phóng xe máy lao theo những cô gái bất ngờ phô ra trước mắt anh cái gáy cao trắng ngần. Lạ lùng lắm khi trông thấy sự trinh bạch ấy. ở trong ta dục vọng bị triệt tiêu. Chỉ còn sự xúc động nghẹn ngào như khi chiêm ngưỡng pho tượng miêu tả sự thánh thiện... Từ trong cửa sổ có che tấm màn gió trắng đục, Hội khoanh tay nhìn ra gốc cây keo hoa vàng. Hoa keo có hình dạng hơi giống hoa ngâu, nhưng không thơm như thế. Bù lại là cái mầu vàng kín đáo, như một thứ nắng chiều trải cánh đồng sắp gặt. Cô gái chắc yêu hoa keo vàng. Cô đến, không đọc sách báo, chẳng thay đổi dáng đứng, mắt đăm đắm nhìn con hồ nhỏ bên kia đường. Túi nhẹ khoác trên vai. Đôi chân trần cũng chẳng thua mầu trắng của cái cổ, xỏ trong đôi giày nhỏ như đôi hài cổ tích. Mùa thu ấy. Rồi mùa hè. Cô gái che lên mái tóc cái mũ cói trắng, đôi găng tay trắng kéo tới khuỷu, chiếc túi thay đổi theo bộ váy áo, lúc nào cũng đồng mầu với một trong những thứ trang phục. Mùa đông áo khoác che tấm thân mảnh như cây liễu nhỏ và tất cả như nở bừng lên khi những hạt mưa phùn nhè nhẹ rắc không khí Tết nhất xuống mọi vật. Xe buýt tới sau đó mươi phút. Cô gái thong thả đi tới, chờ cho mọi người lên hết, mình lên sau, ngồi xuống chiếc ghế đơn phía bên cửa sổ của Hội. Chẳng chuyện trò với ai. Xe buýt chuyển bánh.

***
Hội thích ngắm cô vào mỗi buổi sáng. Đã gần hai năm. Chẳng chú ý lắm tới buổi chiều khi cô từ xe xuống, bước vội vã, tay xách nào rau nào hành mua vội ở đâu đó. Cô qua đường đi về khu nhà hai tầng. Khu dân cư ấy hình thành cách đây 5 năm, lúc nào cũng mịt mù vôi cát. Người ta cứ bóc tường, phá cửa, thay đổi xoành xoạch chừng ấy mét vuông. Rồi chẳng hài lòng, lại cơi nới, lại thay đổi. Khu dân cư ấy thu hút sự chú ý của anh khi cô gái xuất hiện... Cách đây vài năm Hội còn phóng xe máy trên đường. Đi nhảy điệu cha cha ưa thích ở tiệm "cà phê Ly". Đánh bóng bàn. Nhảy lò cò một chân trêu con chó suốt ngày bị nhốt ở nhà ông Hoạch. Còn cùng lũ bạn giữa buổi trưa chạy tới biệt thự của nhà ông Nghệ, bấm chuông ở cổng. Ông Nghệ có cái dáng của một chàng sumô hiện đại, lạch bạch từ trên gác hai xuống, lục tìm trong chùm hàng trăm cái chìa khóa để tìm chìa khóa cổng. Mở cổng. Nhìn ra chỉ có gió và hàng cây. Ông Nghệ bị hố mấy lần. Nhưng ông vẫn như khắc khoải chờ đợi cái gì. Nghe chuông ông cứ ra mở cửa dù bị lừa. Có hôm ông dãy bành bạch làm cái bụng sệ mỡ kêu tý tóp: tiên sư bọn quỷ sứ! Ông chửi bằng cái giọng đặc trưng của quê ông. Nghe nói thời thanh niên ông là kiện tướng làm thủy lợi ở quê. Rồi sao đó mà lúc này biệt thự ông to nhất phố có chó giữ cửa và ông đi đâu cũng có xe đón rước. Trêu ông Nghệ thành trò chơi hấp dẫn của bọn thanh niên trong phố. Đến nỗi khi không thể chơi cái trò ấy nữa, Hội cứ nghĩ hoài đến cái chuông trên cửa nhà ông.

***

Những trò đùa. Những trêu chọc. Những vui vẻ bất tận và đời sống vô tư của chàng trai hiếm hoi con nhà khá giả. Tất cả như một đoạn phim bị đứt phựt sau một tiếng phanh kít chói tai. Chiếc xe tải tông thẳng vào một cái cây lớn. Xe máy của Hội kịp chui vào bánh xe tải. Hội văng sang bên kia vỉa hè, xương sống cũng đứt sau đó?

Tai nạn thông thường của thời hiện đại!

***
Khi ngồi trên xe đẩy, thế giới biến đổi và chầm chậm quay trước mắt anh. Khi anh phóng xe máy, gió đẩy lùi khỏi tai mọi lời thở than của những sự không may trong cuộc sống. Anh còn trẻ, học giỏi, cao 1m76, chiếc quần được tôn thêm vẻ cao ngạo khi nó khoác trên đôi chân thể thao của Hội. Những cô gái đẹp hồi hộp, tim đập như phát cuồng khi Hội hờ hững nhìn. Hội ra trường đi làm, chẳng chú ý tới ai. Tốc độ cuốn hết tâm trí của anh.

Ngồi trên xe đẩy rồi, mầu mây cũng tác động đến vui buồn. Hôm nay trở trời cái chân hay thấp khớp của bố chắc lại cắn rứt ông cả đêm. Và ban đêm tiết trời khó chịu. Hội đẩy cái xe sang phòng mẹ vì có tiếng mẹ rên. Cánh tay phải của tuổi già hành hạ.

"Mẹ, con lấy dầu xoa cho mẹ nhé!".

Ngồi trên xe đẩy rồi, nghe ai đó nói về bệnh tật, Hội lắng nghe. Chia sẻ vài lời thông cảm. Cũng trên xe đẩy, anh thường đi qua nhà người đàn bà một mình nuôi hai đứa con ở góc phố. Chị ta già như bà lão ở tuổi ba sáu, cứ mỗi khi lên cơn nghiện rượu, ông chồng về hạch tiền đấm đá vợ, tóc chị thêm sợi bạc. Khi còn phóng xe máy, Hội bỏ ngoài tai tiếng khóc của chị. Bây giờ anh bứt rứt khi chị tấm tức không dám khóc to. Hai đứa con quấn vào nhau chui trong xó nhà chỉ sợ bố. Đời sống còn bao nhiêu chuyện mà ngồi trên xe máy tốc độ cao anh chẳng quay nhìn.

***
- Mẹ ơi, chẳng có ai thương con bằng cha mẹ, bằng chị. Đời con chẳng ra gì rồi. Người mẹ, người đàn bà đã từng đèo mì đèo gạo sau xe đạp, đi đến trường học của con gái. Rồi giữa trưa lại đi đến chỗ sơ tán của con trai. Đêm đêm mở trộm đài phía bên kia để dò làn sóng hay loan tin những người tử trận hoặc bị bắt. Nghe xong lại thở hắt ra: lạy trời phật phù hộ cho chồng con trở về!

Bà đi làm ở nhà máy, cuối tuần, dưới bầu trời đe dọa, bà đi đến với các con. Ngày ấy Hội được gửi trong lớp mẫu giáo của nhà máy... Người mẹ ấy ôm lấy đầu người con trai cao lớn: con không được đầu hàng. Con phải sống. Con phải làm cái gì chứ!

Những chiếc computer được chở về nhà. Một chiếc kê gần cửa sổ. Ngày ngày trên xe đẩy, Hội đánh máy, in, chụp những văn bản, hợp đồng, những nghị quyết, những bản quyết toán dài dặc, và đôi khi, cả thơ. Đời sống bắt đầu như được sưởi ấm khi thấy mình không thừa thãi và nắng, gió ngoài kia, có cả sự ngọt ngào, lại có đắng cay. Lúc này Hội nhìn rõ hết.

***
Người con gái vẫn đều đặn đứng quay lưng lại phía cửa sổ của Hội. Đều đặn lên chuyến xe buýt hợp đồng với từng ấy người, xe đều đặn trả lại họ về khi chiều tối.

Một buổi sáng mùa hè, trận giông bất chợt xuất hiện từ phía đông, thổi tung cái màn cửa sổ. Tập giấy bay như cơn lốc, tung vào khoảng không cái bản hợp đồng xây dựng mà Hội đánh suốt đêm. Mọi người chạy đi trú mưa.

Cô gái quay nhìn vào cửa sổ mọi lần chăng tấm rèm trắng đục. Hội tuyệt vọng chỉ tay vào những tờ giấy. Cô gái xốc lại cái túi, đi thu gom bằng hết những tờ giấy. Cô chạy tới cửa sổ khi những hạt mưa lộp độp rơi rất to trên nền đường. May quá là may! Hội đón tập giấy trên tay cô. Không nói cảm ơn. Chỉ ngước nổi cặp mắt của một chàng trai có khuôn mặt đẹp nhìn lên. Trong một thoáng, anh biết ngay cô gái đang ở thời kỳ phóng xe máy tốc độ cao. Đôi chân tật nguyền của anh như cái lá rơi trên đường, cô chẳng bận tâm. Nghĩ thế rồi anh nhạt nhẽo: thôi cảm ơn cô! Không chú ý rằng mình bắt đầu có sự giận lẫy của người thua thiệt. Giận dỗi bất cứ ai. Nhưng từ đó, cho đến suốt mùa hè, cô gái chờ xe không đứng ở gốc cây keo hoa vàng. Cô đến bên cửa sổ. Cái cửa cũng không chăng tấm màn trắng đục nữa. Những phút chờ xe của cô là thời gian đẹp nhất của Hội. Hóa ra cô không phải là người đi lướt qua nỗi đau.

- Cha em là thương binh đấy. Đưa ông về nhà chăm sóc mấy năm rồi. Anh thấy đấy, chả lúc nào em đi chơi ở đâu.

Hội biết mình ích kỷ. Nhưng anh thầm cảm ơn người cha của cô. Ông là lý do để cô gái quay nhìn nỗi đau của người khác.

- Em làm cho công ty liên doanh. Cũng công việc như anh ấy.
Cái tên của cô gợi nhớ đến sự ấm áp: Thoa. Thậm chí bộ váy áo cô vẫn mặc có cái gì trái ngược với tên Thoa. Những bộ váy áo vô tư lự, sạch sẽ. Cái cổ cao trắng ngần như của thế giới tiền bạc chỉ sản sinh ra trang trọng. Mặc dù có tất cả những cái ấy, tên cô vẫn là Thoa. Hội thích cái tên ấy. Hội ngạc nhiên không nhiều trước sự hồn nhiên và tốt bụng của Thoa. Thoa phải là như vậy. Những câu chuyện của cô làm cho mùa hè mát mẻ như đầy hơi nước. Mùa thu năm ấy, Hội nghĩ rằng mình có quyền hy vọng. Vì thấy cô để tay lên tay anh. Cô để những ngón tay mềm mại của mình như muốn cảm thụ được sự cô đơn của thế giới xe đẩy. Và những chuyến xe buýt buổi sáng vẫn đón cô đi như đem hy vọng của anh xa cả một ngày. Chỉ có điều bây giờ Hội trông ngóng buổi chiều. Thoa xuống xe, lại bên cửa sổ với lỉnh kỉnh các thứ bếp núc trên tay. Tay kia thế nào cũng... có cái gì đấy.
Anh ăn trái cóc này. Ngon tuyệt!./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Con nuôi

Triệu Huấn


Bố em mất sớm vì một bệnh hiểm nghèo. Thương người vợ trẻ, nhà nghèo một nách hai con nhỏ, trước khi nhắm mắt bố em căn dặn lại:

- Số anh đen bạc không thể cùng em chung sống nuôi con đến ngày đầu bạc. Em mới ngoài ba mươi, nếu có ai thương yêu nên sớm đi thêm bước nữa cho các con có chỗ nương tựa. Có như thế vong linh anh mới thanh thản được.

- Dở hơi! Anh phải yên tâm thuốc thang, còn nước còn tát, chưa chi đã gở mồm gở miệng!

- Bệnh máu trắng đến thời kỳ hung phát có ai qua được đâu, không dặn trước sợ phút lâm chung luống cuống quên mất.

Mẹ tôi ôm mặt khóc òa.

- Con đẻ đứt ruột nuôi đến chín mười tuổi bỗng dưng đem cho một người chưa biết tâm tính họ ra sao để đi lấy chồng, có khác gì bỏ mồi bắt bóng. Em không nghe anh đâu!

- Thương chồng quý con em nói thế, nhưng phải nghĩ đến mình nữa chứ... Chị Bao không chồng không con, sống độc thân muốn có đứa con nuôi. Chị ấy bóng gió xin chúng mình một đứa. Nếu em thấy có thể thì nhận lời.

- Ôi cái bà giám đốc không có trái tim đó! Em hận bà ấy!

- Chị ấy khô khan, nhưng thẳng thắn, cho hay không là quyền em, anh chưa hứa hẹn gì đâu.

Cha tôi qua đời, nỗi đau cũng dần dần nguôi ngoai theo năm tháng. Bà giám đốc thỉnh thoảng đến thăm hỏi cho chút quà bánh lặt vặt nhưng không dám đặt vấn đề xin con nuôi với mẹ em. Còn em thì chẳng thích thú gì những cuộc viếng thăm đó. Bà Bao tuổi ngoài bốn mươi, vóc dáng đẫy đà oai vệ. Trong cặp kính trắng, đôi mắt bà tinh anh nghiêm trị đầy lý trí. Tính khí thâm trầm điềm đạm, buồn vui không biểu lộ làm bà thiếu đi cái duyên dáng đa cảm của phái yếu. Có lẽ vì thế mà đàn ông sợ không dám gần (?).

Có một ông ngoài sáu chục tuổi, tên là Quang, góa vợ, cũng hay đến thăm mẹ em. Trai gái, dâu rể ông đều ở lớp tuổi bố mẹ em. Họ thành đạt, khá giả, con cái đông đúc. Ông Quang nhàn rỗi dong chơi nên lúc nào cũng hồn hậu vui tươi yêu đời. Tuy tóc bạc phơ nhưng vẫn nhanh nhẹn, phóng xe máy veo veo, cười nói hóm hỉnh. Có lẽ vì đoán ra động cơ "không trong sáng" của ông nên mẹ em cũng có ý lẩn tránh.

Một bữa ông xuất hiện ngoài cửa, mẹ vội bảo hai chị em:

- Ông Quang hỏi mẹ, các con bảo đi vắng nhé.

Ông khóa xe bước vào, hai chị em chắp tay lễ phép:

- Chúng cháu chào ông ạ!

- Chào các cháu. - Ông cười. - Trông ta giống ông già Nô-en lắm phải không?

Thằng Tuấn, em em liến láu trêu ông:

- Chẳng giống tí nào! Ông già Nô-en mỗi năm đều đến cho quà một lần vào đêm Giáng Sinh. Còn ông tuần nào cũng đến, lần nào cũng cho quà. Mẹ cháu ái ngại vì sợ ông làm hư chúng cháu!

Nét mặt ông Quang bỗng ỉu xìu.

- Có đúng là các cháu đã hư đi từ ngày ta đến thăm không?

Thằng Tuấn lúng túng không biết nói sao, em đành trả lời thay:

- Thưa ông, ấy là mẹ cháu lo xa. Lần nào đến ông cũng tốn tiền quà cáp. Các cháu quen thân, đến khi ông nghèo không có quà cho thì sao? Liệu chúng cháu có trách móc, vòi vĩnh không? Tình cảm dựa trên sự ban phát sợ không bền!

Ông Quang vừa ngạc nhiên vừa thất vọng.

- Xin lỗi các cháu, ta hoàn toàn chưa nghĩ đến điều đó. Ta cứ quan niệm là các cháu còn bé, mồ côi và thiếu thốn. Còn ta thì khá giả và những chi tiêu đó chẳng thấm tháp gì. Ta muốn chia sẻ niềm vui dư dật của mình cho ba mẹ con thôi. Không ngờ các cháu đã thực sự lớn khôn nhạy cảm, hiểu biết lẽ đời, tự trọng chín chắn hơn ta tưởng. Ta nghĩ chuyện tặng quà cho trẻ không hẳn là xấu. Có lẽ ta phải xin phép mẹ trước khi đưa cho các cháu! Hôm nay cũng có quà đây, nhưng đành chờ thôi!

Nói rồi ông quay sang chuyện học hành của hai chị em. Thằng Tuấn đem mấy bài toán hắc búa nhất ra "thử tài" ông già. Ông giương mục kỉnh xem kỹ rồi kiểm tra nó trước. Sau đó ông mới gợi ý cho nó tự đi tới đích. Thằng bé phục quá hỏi.

- Ông ơi, ông có làm thầy giáo bao giờ chưa mà ông nhớ dai thế?

- Ta là kỹ sư như bố cháu. Nhưng ta phải giúp đỡ cho các con rồi cả lũ cháu học hành nên không quên.

Rồi đến lượt em cũng đem bài ra hỏi ông, thời gian kéo dài, mẹ em không đủ kiên nhẫn trốn trong bếp mãi, đành xuất hiện.

- Cháu chào bác ạ!

- Chào cô Yên! Sao các cháu bảo cô đi vắng?

Mẹ em cười lúng túng như thú tội.

- Cháu có chút việc định đi, dặn các cháu nói thế để dãn khách! không ngờ...

- Không ngờ lại vớ được ông khách ngồi dai hơn đỉa! Xin lỗi cô Yên nhé! Nếu vội sẵn xe để tôi lai cô đi cho nhanh.

- Dạ cũng không vội lắm, cháu đạp xe đỡ phiền bác.

- Tôi chỉ rong chơi chứ có bận việc gì đâu mà ngại phiền?

Thấy mẹ lưỡng lự em khuyến khích:

- Nhờ ông lai đi cho nhanh. Cơm nước ở nhà chúng con lo cho. Ông và mẹ về là vào bàn ăn được ngay!

- Cảm ơn cháu Hiền! Mẹ chưa mời mà ta đã muốn nhận lời rồi đấy!

Khi hai người đi rồi thằng Tuấn hỏi em:

- Xui ông Quang lai mẹ đi không sợ à? Ông ấy muốn lấy mẹ mình đấy!

Em ngạc nhiên về nhận xét của thằng bé. Em mười ba nên đã có chút hiểu biết về đàn ông, đàn bà. Còn bé mới mười tuổi, sao đã nhạy cảm thế! Em mắng át đi.

- Ranh con! Không được ăn nói lung tung! Mẹ mình không lấy chồng đâu. Nhưng mẹ cũng cần có những người bạn tốt giúp đỡ.

- Chị có nghĩ ông Quang là người bạn tốt bụng?

- Cũng chẳng tồi. Ông ấy quan tâm đến chúng mình đấy chứ. ít ra chị em ta cũng có thể hỏi bài. Mày kết bạn với ông ấy được đấy!

- Hí hí! Kết bạn với ông già khốt-ta-bít! Liệu em có thể búng tai, béo mũi, chơi trò cưỡi ngựa với ông ấy được không?

- Đối với ông bạn già đùa nhả như vậy là hỗn láo, thiếu tế nhị. Song em có thể nghe truyện cổ tích, đánh cờ, hỏi bài hoặc đi chơi công viên.

Thằng bé ngẫm nghĩ rồi nói:

- Nhưng sợ mẹ lại cấm như chuyện nhận quà mất thôi. Em về phe mẹ, em nghe lời mẹ!

* * *

Xe lăn được một đoạn ông Quang mới quay lại hỏi.

- Cô Yên định đi đâu bây giờ?

Chị giật mình vì chẳng có chỗ nào cần đến. Chuyện nói dối cứ theo đà lao đi một cách tùy hứng.

Thấy cô lúng túng chưa hỏi được địa chỉ, ông Quang liền đề nghị.

- Hôm nay chủ nhật mọi việc đều xếp lại, cho phép tôi đưa cô đi Hồ Tây ăn bánh tôm!

- Cháu xin khất bác bữa khác. Các cháu đã nấu cơm chờ ông con mình về. Ăn bánh tôm ngang dạ bỏ cơm các cháu không bằng lòng đâu.

Ông Quang rất thích câu nói đó. Ông đang muốn gây được mối thiện cảm ấm áp trong cái gia đình bé nhỏ này. Ông liền chuyển chủ đề.

- Em có lũ con ngoan quá. Anh cho quà hai đứa không nhận lại còn cho anh một bài học đấy!

- Nhóc con mà dám "lên lớp" cho ông thì hư quá, cháu xin lỗi bác!

- Không có lỗi gì đâu! Chúng nó thật thông minh và đáng yêu...

Ông kể lại câu chuyện buổi sáng khiến chị cũng phải bật cười. Một loáng họ đã đến đường Thanh Niên. Ông dừng xe đưa chị vào nhà hàng nhưng chị nhất định từ chối.

- Thôi đi dạo mấy phút rồi về.

Ông Quang thỏa hiệp, gửi xe cùng Yên sóng đôi tản bộ ven hồ. Họ đến một ghế trống. Ông ngồi còn Yên vẫn đứng thơ thẩn nhìn trời nhìn nước. Ông Quang giục.

- Ngồi xuống đi cô. - Ông nói vui. - Đứng thế có người đến chiếm mất chỗ đấy.

- Bác yên vị rồi còn ai dám đến!

- Có đấy! Không tin cô cứ ngồi đây, tôi lảng ra chỗ kia mấy phút. Sẽ có vài anh đến bám quanh cô ngay cho xem.

Yên mỉm cười nhẹ nhàng ngồi xuống bên ông.

- Bác có vẻ quen thuộc chỗ này lắm.

- Quen chứ! Tôi sống tự do, đâu vui thì đến, thích chỗ nào thì ngồi. Cô cũng tự do, chỉ có điều là không tận dụng hoàn cảnh của mình thôi.

- Cháu ạ? Một mình quần quật nuôi hai con ăn học, làm gì còn thời gian nghĩ đến tự do!

- Tự do giống như con mồi khôn ngoan, phải săn lùng, tìm kiếm mới thấy được. Ngồi chờ nó săn mình thì khó gặp!

- Nghe bác nói rất hay nhưng cháu tối dạ không hiểu được.

- Hãy làm bạn săn với tôi đi. Mọi chuyện sẽ trở thành dễ hiểu.

Chị Yên cúi đầu yên lặng vân vê tà áo. Thực lòng chị cũng đã hiểu những lời ẩn dụ của ông Quang. Ông ngồi nhích lại gần Yên và tiếp tục câu chuyện.

- Yên xưng cháu, lũ trẻ gọi bằng ông làm tôi già đi. Liệu có thể "tân trang, hạ cấp" được không?

Chị bật cười khúc khích.

- Quen mồm rồi, gọi khác thì ngượng lắm. Biết nói với lũ trẻ thế nào?

- Chỉ cần Yên chấp nhận thôi, với lũ trẻ anh sẽ có cách!

Chị ngước mắt nhìn ông nói nhỏ:

- Thực ra... cháu cũng chỉ bằng con đầu của bác thôi.

- Yên chê anh già chứ gì? - Ông cười. - Đến khách sạn vẫn được mấy cô tiếp viên trẻ măng kêu bằng "anh" ngọt xớt!

Chị Yên bỗng cau mày, vẻ khó chịu.

- Bác coi cháu như mấy cô hầu phòng sao?

- Ôi xin lỗi, tôi kể lại sự thật chứ không có ý gì xúc phạm em.

- Xem ra bác cũng sành sỏi chuyện nhà hàng quán trọ lắm!

- Từ ngày vợ mất, đi du lịch, nghỉ mát nơi đâu cũng chỉ có một mình. Người đàn ông độc thân thường là vị khách dễ được mời chào săn đuổi. Đêm đêm có nhiều cú điện thoại nặc danh gọi đến chào hàng... (ông thì thầm vào tai Yên làm chị đỏ mặt quay đi). Không ai quản nên dễ hư thân lắm Yên ạ!

Chị mỉm cười chua chát:

- Cháu không ngờ bác cũng là tay ăn chơi có hạng, là gã nguyệt hoa sành sỏi đấy!

- Chưa sành sỏi nhưng cũng chẳng ngù ngờ. Tuy nhiên không bao giờ sa đà trụy lạc thiếu nhân cách. Em có tin tôi không?

- Sao bác không kiếm lấy bà hai? - Yên trả lời bằng một câu hỏi. - Nếu muốn cháu làm mối cho. Gái tân hẳn hoi nhé!

- Ai thế?

- Chị Bao, giám đốc xí nghiệp cháu đấy!

- Thôi tôi xin lạy cả nón! Bà ấy làm sếp giỏi, nhưng không biết làm vợ! Người giàu quyền lực thường lại nghèo tình cảm!

- Đã thử đâu mà vội kết luận! Có khi bác chưa biết làm chồng lại hay kén chọn!

- Đúng là anh kén mãi và giờ đây quyết định chọn Yên. Em bằng lòng lấy anh không?

- Cháu trai gái đủ rồi, lấy chồng đẻ thêm khổ lắm, cháu không muốn.

- Đúng là con cái chúng ta đều đầy đủ. Nhưng em còn trẻ, không nên phí hoài tuổi xuân. Chúng ta cam kết không sinh con nữa!

* * *

Khi biết mẹ em đã có bạn tình, bác Bao mới ngỏ lời xin em về làm con nuôi. Mẹ em nói mình không có quyền, cần phải hỏi họ hàng nhà chồng và ý kiến em. Bác Bao phải bàn thêm.

- Yên ạ, mình không có tham vọng biến con bạn thành con mình. Cháu mười bốn tuổi rồi, nó đủ lý trí để xét đoán thân phận, dòng dõi huyết hệ. Mình cô đơn, nếu được sống với cháu mình sẽ hạnh phúc hơn. Và mình cũng có điều kiện để nuôi dưỡng dạy dỗ để cùng bạn bồi đắp cho tương lai Thu Hiền. Mình cam kết sẽ bàn bạc với Yên mọi chuyện lớn liên quan đến cuộc đời cháu. Mình hy vọng nó sẽ mãi mãi yêu mến cả hai chúng ta. Đây không phải cho đứt mà phải hỏi gia tộc. Chỉ cần cháu bằng lòng là đủ.

Khi mẹ gợi ý em chấp nhận ngay. Em vâng theo lời bố trăng trối. Em muốn mẹ thanh thản đi thêm bước nữa. Mình Tuấn ở với bác Quang là đủ.

Em sẽ yêu quý bác Bao nếu bác thực sự thương em như con. Em cũng sẽ tận tụy nếu bác xem em như đứa trẻ giúp việc. Em cần vừa học vừa làm để đỡ lấy gánh nặng cho mẹ. May sao những ngày đầu đi làm nghề nghĩa nữ, mọi chuyện đều êm xuôi. Thực ra bác Bao không phải con người không có tim! Bác nghiêm khắc, lạnh lùng nhưng tuân thủ lý lẽ, không đổi trắng thay đen, tiền hậu bất nhất! Hiểu tính bác là rất dễ sống. Biết em nhớ mẹ thương em, tuần nào bác cũng kèm xe về nhà. Bác ngồi chơi chốc lát rồi cáo từ hẹn giờ đến đón. Bác muốn em nói chuyện riêng tư với mẹ, với dượng, với Tuấn được thoải mái tự nhiên. Chính mẹ em cũng phải thay đổi định kiến với bác.

Bác Bao đã dồn hết tâm sức cho em thi vào đại học. Em đỗ khiến mẹ đẻ, mẹ nuôi, bố dượng, em trai đều rất vui mừng. Tối hôm đó bác Bao đến ngồi bên và quàng tay lên vai em khiến em vô cùng xúc động. Tuy nói là con nuôi nhưng em vẫn chưa bao giờ gọi bác là mẹ. Có đôi lần bác gọi em là con nhưng em vẫn xưng là cháu nên bác đành đổi lại như cũ. Có lẽ vì em cố giữ khoảng cách nên bác cũng không chầm vập vỗ về âu yếm như mẹ em ở nhà. Bác nhẹ nhàng nói với em:

- Hôm nay cháu đã đi được một đoạn đường quan trọng, bác cứ lo lắng phấp phỏng mong chờ, nhưng bữa nay bác yên tâm vì đã làm được một phần lời hứa với bố cháu. Cũng phải nói năm năm qua bác đã cố gắng kèm cặp nuôi dưỡng cháu, nhưng về mặt tình cảm bác chưa xứng đáng thay vị trí một người mẹ...

Em vội vàng ôm chặt và gục đầu vai bác.

- Ôi không phải thế đâu bác ơi! Bác đã chăm sóc thương yêu con hơn rất nhiều người mẹ thông thường. Trong thâm tâm con cũng yêu quý bác như mẹ Yên con. Chỉ có điều trước khi đến đây mọi người đều nói bác là người nghiêm khắc, khó tính. ấn tượng đó in hằn vào tâm trí trẻ thơ của con khiến con không dám biểu hiện lòng mình bằng những cử chỉ chầm vập sôi nổi. Con muốn lấp bằng cái hố ngăn cách tình cảm đó nhưng không dám. Xin bác tha thứ cho con!

Cánh tay bác xiết chặt vai em, những giọt nước mắt nóng hổi lăn trên trán em. Lần đâu tiên em thấy bác khóc.

- Bác mới chú ý nuôi dưỡng dạy dỗ chứ chưa quan tâm đến cách ăn mặc, chăm chút nhan sắc, chưa yêu chiều con như những bà mẹ khác vì bác nghĩ con còn bé. Nay con đã thực sự thành cô gái, bác hứa sẽ lo cho con bằng chị bằng em, bác yêu con, Hiền ơi! - Mẹ không sinh ra con, nhưng nghe con gọi, mẹ cảm thấy thực sự hạnh phúc như những bà mẹ khác. Đêm nay con gái ngủ với mẹ nhé!

- Vậy con sẽ ngủ bên mẹ!

Đây cũng là đêm đầu tiên em nằm chung giường với bà. Hai mẹ con chuyện trò rất khuya. Em bạo dạn hỏi bà.

- Con có điều thắc mắc muốn hỏi. Mẹ và mẹ Yên con hình như có chuyện gì lấn cấn với nhau nên mẹ con có định kiến không hay với mẹ?

Mẹ Bao thở dài suy nghĩ rồi nói.

- Có đấy. Mẹ không định nói nhưng con đã lớn khôn nên mẹ cũng muốn tâm sự cùng con. Xưa kia bố con và mẹ yêu nhau tới mức (như người ta nói) già nhân ngãi, non vợ chồng, chỉ chờ ngày cưới. Lúc đó mẹ Yên là thư ký giúp việc cho mẹ. Có thể Yên cũng tình cờ bắt gặp những trò âu yếm lả lơi giữa mẹ và bố con. Rồi một lần khám bệnh bác sĩ phát hiện chứng vô sinh của mẹ. Ông khuyên không nên lập gia đình nếu muốn tránh những trục trặc về sau. Mẹ rất đau khổ, vừa thương mình vừa thương bố con. Cuộc sống càng buông tuồng, ân tình càng sâu nặng. Nếu cứ lặng lẽ đi đến hôn nhân thì mẹ vẫn lừa dối được bố, nhưng nỗi ân hận sẽ theo mẹ suốt đời. Nói thực ra để rút lời đính ước sợ bố không nghe. Còn như bố thấy mẹ vô sinh mà bỏ cuộc thì còn đau đớn cho mẹ hơn. Thế là mẹ đành dứt tình với bố. Đầu tiên là thờ ơ rồi lánh mặt. Mẹ đẩy cô thư ký ra tiếp. Nhiều lần như thế khiến bố con nghi ngờ dò hỏi cô Yên xem mẹ có kiếm được đám nào "thơm" hơn không! Dĩ nhiên cô Yên chẳng biết gì nhưng lại thấy thương thương anh chàng kỹ sư thất tình. Khi nhận thấy mối giao cảm giữa hai người đã khá nồng thắm mẹ mới vờ nổi cơn ghen đẩy bố ra khỏi cuộc đời mình. Mẹ còn viết luôn quyết định điều mẹ con xuống đơn vị sản xuất làm thợ học việc. Dù có vô sinh dị tật thì mẹ cũng là người đàn bà. Mẹ có thể hy sinh hạnh phúc của mình giải thoát cho người tình. Nhưng mẹ vẫn ghen tuông khi nhìn thấy các cô gái khác nép mình trong vòng tay người mình yêu. Có lẽ vì thế mà cho tới ngày sinh con hai người không bao giờ muốn gặp mẹ.

- Con nghĩ bố không đến nỗi tệ bạc như mẹ nghĩ đâu. Trước khi chết bố cũng muốn cho con về với mẹ.

- Đúng thế! Khi sinh con rồi, một lần gặp nhau trong công việc mẹ hỏi thăm gia đình, bố mới trách mẹ hành sự độc đoán, phi lý khiến cuộc tình tan vỡ. Mẹ chỉ cười. Bố căn vặn tại sao chưa lấy chồng mẹ đành kể chuyện vô sinh ra để thanh minh cho mọi hành vi trong quá khứ. Bố con ôm lấy mẹ ứa nước mắt và trách mắng mẹ mãi. Mẹ cầu mong bố hạnh phúc và sinh giúp mẹ một đứa! Bố con đã nhớ điều này đến phút lâm chung. Bố giấu kín chuyện bệnh tật hy vọng mẹ không bị ế chồng! Đôi lần bố lén lút đến thăm người tình cũ nhưng không qua được mắt mẹ Yên. Ghen tuông thù hận biến thành định kiến cũng là chuyện thường tình. Nhưng mẹ con cũng biết nghe lời chồng nên mới chịu cho con về với mẹ.

Một buổi tối em lai xe mẹ Bao về thăm nhà. Mọi người vui mừng ngạc nhiên. Dượng Quang reo lên.

- Ôi Thu Hiền! Con thực sự là cô gái khôn lớn rồi! Đã biết lai mẹ đi chơi kia đấy!

Mẹ Bao trả lời thay em:

- Xưa đi xe mẹ, mẹ phải lai con. Nay đi xe của con, con phải lai mẹ. Có thế mới an toàn!

Em khoe:

- Con thi đỗ nên mẹ Bao thưởng cho con chiếc Dream mới nguyên đấy mẹ ạ!

- Chúc mừng con!

Nói rồi mẹ Yên quay đi để che giấu nỗi buồn. Có thể bà tủi thân vì nghèo chẳng có gì cho con.

Cũng có thể bà tưởng đã hoàn toàn mất em về tay người mẹ nuôi mà bà không mấy thiện cảm.

Chờ cho mẹ Bao mải chuyện với dượng Quang, em kéo mẹ vào buồng kể hết câu chuyện ngày xưa cho mẹ nghe. Sắc mặt bà bỗng bái nhợt. Bà chạy ra ôm lấy mẹ Bao khóc òa.

- Chị Bao ơi, em xin lỗi chị. Gần hai chục năm qua do hiểu lầm nên em đã hận chị. Nay nghe con em nói mới thấy hết nỗi đau, lòng vị tha và đức bao dung của chị. Xin chị hãy tha thứ cho em.

- Nín đi Yên! Chị vẫn yêu em như xưa chúng ta sống bên nhau. Có lúc chị tưởng mình đã mất hết. Mất tình yêu, mất em, mất cả tương lai. Nhưng giờ đây chị đã có Thu Hiền, có Tuấn, có em...

Dượng Quang ngạc nhiên trước cảnh tượng vô thường này.

- Có chuyện gì thế hai bà? Bố con tôi không sao hiểu nổi.

Mẹ Bao gạt nước mắt mỉm cười:

- Không sao đâu anh Quang ạ. Chắc thấy "người đàn bà không tim" này chảy nước mắt anh lo có chuyện động trời! Phái yếu chúng tôi đau buồn khóc, vui mừng cũng khóc. Nhưng hôm nay là những giọt nước mắt hạnh phúc!

- Đúng thế đấy dượng ạ. - Em vui mừng khẳng định. - Dượng kiên nhẫn đợi chờ, đêm nay thế nào mẹ con cũng chia vui với dượng!

- Ôi con gái của hai bà mẹ tuyệt vời làm sao!

- Anh Quang ạ, chúng ta đều không có diễm phúc sinh ra Thu Hiền. Nhưng cả hai đều có quyền tự hào vì con đấy!

Nhận những lời khen em hơi ngượng nhưng cũng rất sung sướng. Em cố sao cho cả nhà không bao giờ thất vọng vì mình./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chim vịt kêu chiều

Nguyễn Đình Bổn


Ngay từ hôm đầu tiên, khi thuê được một căn phòng nhỏ ở tận trong một hẻm sâu và có nhiều nhánh, nhiều "xuyệc", tôi lại cảm thấy mừng vì như vậy mình không phải chịu đựng hằng ngày tiếng ồn ào và khói bụi của xe cộ như ngoài mặt tiền. Vài hôm sau, qua cánh cửa sổ nhỏ, tôi càng mừng hơn vì nghe tiếng chim sẻ lích chích trên những ngọn dừa, ngọn mít. Căn phòng tôi thuê nằm cạnh những căn nhà ven kinh Nhiêu Lộc. Nơi đây vẫn còn sót lại những khoảng đất trống nhỏ nhoi có trồng cây ăn trái, vì vậy buổi sáng, buổi chiều giữa một thành phố lớn mà môi trường đã bị ô nhiễm, vẫn nghe được tiếng chim ríu rít, đã là một hạnh phúc! Rồi một buổi chiều, đang nằm lơ mơ với những trang viết dở dang, bỗng nghe "vip... vip... vip", tôi bật dậy ngay. Phải chăng tôi vừa nghe tiếng chim vịt?
Tôi bám chặt tay vào những song sắt, dán người vào cửa sổ nhìn thật kỹ ngọn dừa trước mặt. Vip... vip... vip..., vip, vip, vip, vip... vip... Ba tiếng đầu kéo dài và những tiếng sau nhanh hơn, thấp xuống, buồn buồn. Một con chim vịt đang kêu chiều. Không còn gì nghi ngờ nữa! Và trên tàu dừa xanh đang đung đưa trước gió, tôi đã nhìn thấy nó. Thân hình bé nhỏ, dài hơn con chim sâu một chút, con chim thân thương ấy đứng một mình và cứ cách khoảng lại buông ra những tiếng kêu buồn bã...

Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau...

Câu ca dao quen thuộc bỗng như bật ra từ lòng tôi làm hồi sinh bao kỷ niệm của thời ấu thơ đầy vất vả và ngọt ngào như cuộc đời và tấm lòng của mẹ. Vip... vip... vip..., vip, vip, vip... Tôi nghe nhồn nhột trong tim. Cả buổi chiều hôm ấy và nhiều chiều sau nữa, con chim vịt vẫn kêu. Cái tiếng kêu với âm điệu gợi buồn ấy những lần sau không còn làm tôi rơi nước mắt nhưng thật lạ là nó như giúp tôi tin tưởng, yêu đời hơn một chút... Tôi thầm cảm ơn mảnh đất nhỏ nhoi còn sót lại mà vẫn đầy bao dung nuôi dưỡng một vài cây mít, cây dừa thân thuộc để có một con chim đồng quê bay về cất lên tiếng gọi của mình giữa lòng phố xá. Có ai mang tâm trạng như tôi trong buổi chiều này? Rồi mùa mưa đến. Mưa Sài Gòn đổ từng cơn ào ạt vào bất kỳ thời khắc nào trong ngày. Tôi cần có một chuyến đi... Tôi về đồng bằng và trở lại thành phố trong một chiều mưa lớn đến nỗi rất nhiều đường phố thành sông. Thế nhưng chỉ ngày hôm sau là nắng đã đẹp rỡ ràng. Buổi chiều, tôi lôi mấy cuốn sổ tay ra, cố khơi gợi cảm xúc từ những tứ đã ghi lại để mong viết một cái truyện ngắn cho một tờ báo quen. Thế nhưng... Tôi không viết được. Tôi cảm thấy như mình đang chờ đợi. Vẫn không nghe tiếng chim vịt kêu chiều! Nắng xế dần bên khung cửa sổ. Vẫn không nghe. Nắng phai. Vẫn không. Chỉ có vài tiếng chim sẻ lích chích tìm chỗ ngủ. Một vài nhà đã bật đèn. Vậy là hết. Không còn nữa tiếng chim vịt đã thành thân quen, đã thành cần thiết!
Tôi vẫn bám chặt những song sắt, dán mình vào cửa sổ nhìn mãi lên ngọn dừa xanh thẫm. Không còn có con chim nhỏ nào bay về đây để cất lên tiếng kêu chân chất, gợi buồn... Tôi nghe có gì đó nghèn nghẹn dâng lên trong lòng làm cay cay mắt. Một góc trời phía trước bỗng đen kịt. Rồi mưa ập xuống rất nhanh. A... Như một kẻ sắp chết đói bỗng phát hiện cả một rẫy khoai, tim tôi bừng lên một niềm vui và lòng tôi nhẹ nhõm. Đúng rồi, chính mùa mưa đã làm chú chim thân thương ấy bay đi? Mùa mưa ơi! Mùa mưa sẽ còn kéo dài nhưng tôi vẫn mong chính mưa là lý do duy nhất làm vắng tiếng chim vịt kêu chiều của tôi giữa lòng thành phố. Lần đầu tiên, tôi có một mong ước da diết như vậy cho một con chim bởi vì tôi không thể quên rằng, buổi trưa trước ngày đi đồng bằng, tôi đã nhìn thấy hai chàng trai vừa chớm tuổi thanh niên, mặc áo thun, quần soóc, miệng nhai kẹo cao su, đi vào con hẻm này với một cây súng hơi... Niềm cầu mong của tôi liệu có lắm mong manh?./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Căn nhà trong vườn nhãn

Đoàn Minh Tuấn


Đêm nguyên tiêu sau Tết Mậu Thân, Duy lội qua đường để vào thị xã Bạc Liêu. Anh chuẩn bị chờ đợt tiến công mới! Gần đến một trạm gác ngã ba một vườn nhãn, đầu ấp, các gia đình người Hoa cúng rằm khói hương bay tỏa một vùng cây trái thơm lừng. Những chùm nhãn trái mùa dơi bay về ríu rít - xào xạc trong gió xuân. Duy vừa thay quần áo của một cậu học sinh mới cho lúc ban chiều, bỗng nghe tiếng mìn nổ. Lệnh báo động ồn ào, nhốn nháo trong các phố gần ngoại vi. Xe nhà binh, còi cảnh sát rộn ràng hốt hoảng.

Duy vội núp trong một góc vườn, nơi có ánh đèn nhỏ xíu như tàn thuốc lá của căn nhà ngói vừa mới xây xong. Anh biết đây là căn nhà của một chủ vườn giàu có. Duy chẳng dám vào cổng chính, mà rẽ vào cánh cửa rào thép gai nhỏ bên góc vườn, nơi có căn nhà nhỏ lụp xụp phía sau, có lẽ đây là nhà của người coi vườn. Đèn điện trong thị xã tắt ngấm từ lâu. Nhưng trăng rằm vẫn sáng. Anh không vội vào nhà. Một lúc không có động tỉnh gì, đèn bật sáng. Tiếng xe tuần tiễu đã im ắng. Thế là Duy đã lỡ giờ hẹn. Anh định đến điểm hẹn 8 giờ đêm. Nhưng đã 9 giờ, trễ hàng tiếng đồng hồ. Sợ đến không ai đón lỡ cả kế hoạch và có thể bị bắt. Thế nào anh cũng phải chờ lại đêm nay và đến ngày mai xem tình hình sẽ tìm về cơ sở cũ.

Anh đánh bạo bước vào căn nhà lá nghèo nàn nhưng gọn ghẽ, sạch sẽ. Đây có lẽ là nơi ở của đầy tớ, hoặc người làm công trông coi vườn nhãn. Duy run lẩy bẩy thấm lạnh, khi vượt qua cánh đồng nước mặm ướt mềm.

Trong nhà một cụ ông đẹp lão có lẽ gần bảy mươi, râu dài, mắt sáng tinh anh, ngạc nhiên định hỏi to. Nhưng ông cụ nhìn thấy cách ăn mặc của người lạ có vẻ như học trò trên tỉnh, thành ra cụ dịu giọng:

- Đêm luôn báo động, chú đi đâu thế này? Chú mầy có biết đang thiết quân luật đó không?

Biết ông lão thiệt thà, chất phác. Duy thưa thiệt:

- Thưa tía, con là giải phóng quân, đêm nay về thị xã hoạt động, nhưng vì báo động lỡ đường đi chưa tiện, dạ xin tía che chở cho.

ông cụ suy nghĩ một lúc, những nếp nhăn trên trán gấp lại thêm. ông cụ quả là đang lúng túng vì quá bất ngờ, nhưng rồi vẫn nhẹ nhà nói:

- Cháu vào thay áo quần đi, kẻo lạnh.

- Dạ thưa tía, quần áo con đã khô rồi, đỡ lạnh nhiều!

ông cụ ra khép cửa lại và ngồi pha trà uống. Thong thả ông cụ nói thiệt:

- Này cháu, cháu đi lầm nhà rồi! ông có thằng cháu ngoại thiếu úy quân cảnh trên trạm gác gần ngã tư Đinh Tiên Hoàng đó! Có thể đêm đêm nó về đây, cha nó làm kho bạc tỉnh về hưu, hiện ở cái nhà ngói mới xây trong vườn này đó.

Duy nghe đến đây người lạnh toát, anh định thoát ra sau vườn nhãn, băng qua đồng để ra đi. Nhưng ông già đã nhanh ý ngăn lại:

- Cháu đã vào nhà, thôi cứ ở lại đêm nay. Ta cũng có thằng út đi tập kết ngoài Bắc. Tuổi già, lên ở với con gái. Chúng nó bảo vào ở trong phố, nhưng ta ở đây trông coi vườn nhãn. Thôi, không sao đâu, có gì ta liệu. Còn đĩa xôi vừa cúng rằm, để ta đi lấy cho cháu ăn đỡ.

- Ấy, dạ thưa tía, làm phiền và lụy đến tía, con chẳng dám, con xin đi đây!

- Không đâu, ta ưng cháu ở đây mươi bữa, nửa tháng cũng được, huống chi một đêm. Có gì ta bảo cháu là con người bạn ở Gia Rai lên giúp làm cỏ lúa.

Duy cảm thất yên tâm. Coi bộ ông già phúc hậu và là người quyết đoán, cho nên anh đi vào phòng trong, định ngủ một đêm cho lại sức, vì đã ba đêm phải thức suốt mà chưa vào được cơ sở. Duy vội giấu khẩu súng ngắn dưới gối và đưa mắt nhìn ra cửa sổ. ánh trăng nhặt thưa trên những tàn nhãn như những chiếc dù lớn lay động đầu thềm. Anh đưa mắt đảo quanh, anh lại nhìn lên vách sau cửa bếp. Một bộ quần áo quân cảnh đã hơi cũ treo trên móc áo.

Anh chợt nghĩ ra: hay ta nhờ ông cụ để lại cho bộ quân phục cũ này để dễ bề đi lại coi như lính giải ngũ. Anh nói vọng ra ngoài.

- Dạ thưa tía, bộ áo quần này của ai vậy?

- Thằng cháu ngoại nó mặc cũ, nó cho ta đấy!

- Thưa, nó độ bao nhiêu tiền?

- Tiền nong gì, cũ rồi, may mới chưa đến vài ngàn.

Cũng may đêm ấy thằng cháu ngoại quân cảnh không về. Nhưng có tiếng gõ vội vàng. Thì ra Phượng, cô cháu gái hàng xóm, đến xin ít gừng về cho má nó đau bụng. Cô gái xét nét dò la.

- Ngoại ơi, có ai vừa vào nhà phải không?

ông cụ đánh trổng lảng:

- Ai đâu, thằng Ba ở Giá Rai lên giúp ông làm cỏ lúa ấy mà!

- Cháu biết ông Năm rồi. Nó nói nhỏ bên tai ông - ông Năm dấu Việt Cộng - rồi cười hì hì...

- ấy, tầm phào, cha mày, vu oan giá họa cho ông à!

Từ nãy giờ, Duy định ngủ cho lại sức, nhưng qua cuộc đối thoại của hai ông cháu, Duy cảm thấy lo lo. Anh dòm ra khe cửa, Phượng - cô gái mà ông lão gọi tên - chưa đến 20 tuổi, áo bà ba đen, mặt tròn sáng bừng như trăng rằm nguyên tiêu. Duy chợt nghĩ đến bé Loan, em gái nhỏ của mình năm nay cũng mười chín, đôi mươi, mà đã thoát ly làm xã đội phó du kích rồi! Thế rồi để thanh minh cho lời nói của mình, ông cụ gọi Duy ra. Cô gái tinh nghịch mắc cỡ, thẹn thùng đứng nép vào góc tủ không nói gì. ông cụ thấy đôi trai gái liếc mắt nhìn nhau mỉm cười. ông lại đùa vui:

- Thôi, cháu Phượng về đi. Khi nào giải phóng Bạc Liêu, ông cho mày thằng "Việt cộng" mà dắt về.

Cô gái bẽn lẽn cầm vội củ gừng chạy biến dưới ánh trăng trong vườn nhãn, tiếng cười vui trong trẻo vọng lại sau nhà.

Rồi Duy chợp mắt được vài giờ. Tỉnh dậy thấy ánh trăng lồng lộng nhặt thưa dọi bóng xuống hàng nhãn cổ thụ đầu hè. Lòng Duy bỗng cảm thấy thư thái, tâm hồn anh chiến sĩ thơ mộng lại trỗi dậy. Anh khẽ ngâm bài thơ của Bác Hồ mà thầy giáo Mai đã giảng cho cả lớp Duy nghe vào năm 1963 khi anh còn học ở Bến Tre vùng giải phóng.

Duy càng nghĩ càng thương cho Bác, cả thời trai trẻ lặn lội khắp bốn biển, năm châu lo cho dân, cho nước. Trong hoàn cảnh nào, Bác cũng lạc quan tin tưởng ở ngày mai. Giữa rừng già Pác Bó gian nan, "sớm ra bờ suối, tối vào hang" mà Bác vẫn ung dung lãnh đạo đấu tranh giành quyền sống cho dân tộc.

Cho nên cái gian khổ của Duy có thấm vào đâu, nghĩ vậy mà Duy phấn chấn và thêm sức mạnh.

Sáng dậy, Duy ra chào ông cụ để lên đường và để lên bàn số tiền 2.000 đồng của đơn vị cấp ăn đường. ông cụ thân tình bảo:

- Tụi bây đi làm nhiệm vụ, ta không dám giữ, nhưng còn tiền nong trên bàn đó là cái gì?

- Con nhờ tía mua bộ đồ khác, con xin bộ áo quần này đi đường phòng thân để lọt qua các trạm gác.

- Thôi mặc vào, ta cho cháu đấy! Bao giờ xong nhiệm vụ về đây lão tổ chức cưới vợ cho. Vài nghìn chứ trăm nghìn ta cũng không lấy. Thằng cháu ngoại ta, ta khắc có cách nói, với nó cũng thương mẹ, thương ông không dám làm điều thất đức đâu! Để rồi hôm nào nó về ông liệu bảo nó quay súng về với chánh nghĩa.

Duy chào ông lão ra đi. Căn nhà nhỏ ở góc vườn nhãn đã gieo vào anh một hình ảnh tuyệt đẹp của một tình cảm lớn lao. Anh vác cuốc vượt đồng đi một quãng xa mà vẫn còn ngoái cổ lại. Những cành nhãn chìa ra như những bàn tay vẫy gọi, và hương nhãn thơm lừng vẫn theo gió xuân tiễn chân anh bộ đội giải phóng./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chàp conbo2

Truyện
- Cỏ hát của Lý lan
- Cửa Sổ của Lê Minh Khuê
Con Nuôi - Triệu Huấn
- Chim Vịt Kêu Chiều - Nguyễn Đình Bổn
- Căn nhà trong vườn nhãn - Đoàn Minh Tuấn

Đã được mang vào thư viện

Chúc conbo2 luôn dzui và hạnh phuác trong an lành




Đăng nhập để trả lời
0
Con lợn đất

Tống Trung


Y lảo đảo đứng lên. Nhà vắng ngắt. Y mỉm cười với cơ hội chống đói. Lật đầu giường. Lục tung hòm, tủ. Nỗi thất vọng khiến y lảo đảo, ngáp đến chảy nước rãi. Y quyết định đi ra phố, giờ này rất dễ làm ăn. Giờ này người lớn đi làm, trẻ con đi học. Y lau rớt rãi, chỉnh trang quần áo. Cảm giác mình là một lương dân, y đàng hoàng ra ngõ.

Sự đàng hoàng lương dân chỉ tồn đọng đủ cho y ra khỏi ngõ nhà. Cơn đói thuốc là kẻ láu lỉnh tinh ranh và liều lĩnh. Nó đưa y đến một hẻm vắng. Y nhằm ngôi nhà đầu lối. Vừa chạm tay vào đầu ổ khoá, y giật nảy mình nhảy lùi. Phía trong cánh cổng, một con bẹc giê cỡ bốn, năm chục cân chồm lên, chờ đợi vị khách không mời. Không ổn rồi! Y trở bước hạ quyết tâm - cố nhịn về. Vài bước, quyết tâm lớn của y không đủ sức vượt qua cơn lốc đói thuốc. Y lảo đảo, mồ hôi toát ra, rớt rãi lòng thòng. Cơn đói là thằng người lì lợm. Y ngoắt trở lại. Y dễ dàng lọt vào ngôi nhà cuối hẻm. Thật xui xẻo! Vài bộ quần áo cũ, cái xẻng gẫy cán, đôi thúng đen nhẻm màu than... không đủ nửa thuốc. Chủ nhân có nhẽ còn nghèo hơn cả y. Cơn đói thuốc thúc y thêm một lần sục sạo. Y tiến lại góc nhà có chiếc bàn học sinh, chồng sách vở. Đôi mắt y sáng lên! Có thế chứ! Biết đâu vàng, cả những tờ xanh lại chẳng ở trong bụng con lợn đất kia. Bây giờ người ta nguỵ trang, nghi binh tài lắm. Bố mẹ y là một ví dụ về tài năng ấy. Y đã từng tìm thấy sợi dây chuyền, lôi ra cả bọc tiền trong cái xoong bẹp vứt gầm tủ. Rất đàng hoàng y cầm lên con lợn đất, lắc cắc, y liếm mép. Con lợn khá nặng phát ra những tiếng kêu đùng đục. Y cười, cỡ này thả phanh mà lên tiếp. Y áp con lợn lên môi hun chùn chụt và như trò đùa y đưa "Hòm của quý" lên qua đầu, buông rơi. Bục! Con lợn đất vỡ ra năm, sáu mảnh. Y choáng váng, của quý là những đồng một trăm, hai trăm. Đồng mới, đồng cũ. Tất thảy đều có màu xỉn xỉn, kết quả của việc con lợn đất bị lắc nhiều lần. Y ngồi xuống nhặt, vuốt những đồng tiền vụn. Cơn đói thuốc ập đến. Mồ hôi rịn ra, rớt rãi ròng ròng. Hai mắt nổ hoa cà hoa cải. Đưa tay y dụi mắt. Y há hốc mồm. Thế này là thế nào! Mình nằm mơ chăng. Mình đang ở đâu? Y không sao lý giải nổi. Trước mắt y là hai đứa trẻ ngồi vuốt ve con lợn đất. Đứa trai xoè trước mắt đứa gái tờ hai trăm cáu bẩn: "Anh bán vỏ chai đấy...", đứa em cười: "Em có năm trăm cơ. Mẹ cho nhưng em ứ ăn kem... anh em ta cho lợn ăn nhé...". Y không tin ở mắt mình nữa. Hai đứa bé biến mất. Lại một đứa khác xuất hiện. Cậu bé khóc rưng rức, nhặt những mảnh vỡ gom lại. Y nhìn xói vào gương mặt cậu bé, cảm thấy quen thuộc như đã gặp ở đâu đó. Cậu bé thôi khóc, lau nước mắt nhìn y: "Người không nhận ra ta ư! Ta chính là người đấy. Ngày xưa người nuôi lợn đất đó thôi. Ngày xưa người chẳng đã khóc ròng vì có ai đó đập trộm lợn đất. Ngày xưa...".

Cậu bé vụt biến mất. Cơn đói thuốc lên tới đỉnh điểm cùng một lúc với ý nghĩ chợt loé lên. Cái ý nghĩ chợt đến hỗ trợ y chống trả thằng người ba trợn. Y nhặt từng đồng tiền, vuốt phẳng, xếp gọn, móc túi còn hai tờ hai trăm bỏ cả vào xếp tiền lẻ, y nhặt những mảnh lợn đất.

- Xin chào!

Y giật nảy mình nhìn ra cửa. Y chợt nhận ra thằng bạn nghiện cùng phố. Nó lảo đảo, rớt rãi lòng thòng. Cũng y như nó đang đi "tìm kiếm" chống đói...

- Có đủ vài liều không!

- Không! Đi chỗ khác mà tìm.

-Đừng đùa nhau thế, người anh em. Đống tiền vụn kia đủ vài liều đấy. Đi thôi.

- Không! Đây là tiền tiết kiệm của em bé.

- Bé lớn gì! Tiền là thuốc. Có đi không thì bảo?

- Không! Mày cút đi.

Y đứng bật lên, thủ thế. Thằng đói vồ lấy cái ghế, vung lên. Y lao thẳng vào thằng đói. Cú đá khiến y ngã ngửa, đập đầu vào tường. Thằng đói cười hô hố ngồi xuống với những mảnh vỡ, xếp tiền vụn. Y gượng đứng lên với lấy chiếc compa nhọn. Chiếc ghế bay sát đầu đập vào cái bàn học sinh. Y dồn hết sức khom người lao vào thằng đói và ngã đè lên những mảnh vỡ, những đồng tiền vụn. Cảm giác có những bàn tay bé nhỏ, ấm áp, mềm mại, xoa xoa trên ngực, trên khắp người làm y tỉnh hẳn. Ngoài phòng y tá trực có tiếng trẻ con: "Thưa cô chung con không có tiền chẵn, cô thông cảm thu dùm chỗ tiền vụn này"./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 17:48:55conbo2>
Chiếc máng trùm bạt đỏ

Hải Miên


Trong thời gian đang theo học cao học thì nàng mang bầu. Từ chỗ khoảng cách giữa bàn và ghế ở lớp học quá xa so với vóc người mảnh mai của nàng đến chỗ trở nên quá gần, cái bụng tròn vun của nàng muốn đội gầm bàn lên, chật chội đến mức đứa con trung bụng lâu lâu tức mình đạp nàng một cái và nàng nắm lấy bàn chân bé nhỏ của nó bóp lại một cái rõ đau, là cả tám tháng trời. Đến tháng thứ chín thì nhà trường phải cấp cho nàng một chiếc ghế tựa để ngồi riêng. Lúc này chồng nàng bảo em nên xin nghỉ ở nhà vì không biết bể bầu lúc nào. Nàng không chịu. Nghỉ học quá lâu sẽ phải bảo lưu. Mai đẻ nay nghỉ cũng còn kịp, ít nhất có được một tháng để ở nhà chăm con và dưỡng sức mà vẫn đuổi kịp bạn bè.

Nhưng đứa bé không biết điều được như vậy. Nó toài mình, một hai đòi thoát ra khỏi ổ bụng chật chội của mẹ nó khi nàng đang ngồi uống nước dưới căng tin trường. Không kịp đến chạy lên lớp lấy sách vở, không kịp đến nhắn nhủ ai lấy một lời, nàng tức tốc ngoắt xích lô đưa nàng đi bệnh viện để nàng cho ra đời một thằng cu mình mẩy mặt maỳ tèm lem cát bụi, vì ông bảo vệ hách dịch, lề mề đã khiến nàng đẻ rớt ngay ngoài cổng bệnh viện.

Lúc đã nằm yên ổn trên giường, ôm đứa con được lau rửa sạch sẽ trong tay, nàng mới nhớ đến chồng, người vừa mới đây được thăng chức cha. Nàng không biết làm cách nào để báo tin cho chồng biết em đang ở đây và con chúng ta vừa mới chaò đời, con trai, giống anh y hệt. Nhà vợ chồng nàng ở tút hút trong con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo rắc rối, ở mút đuôi con chuột, không có số không có điện thoại, những nhà hàng xóm lao động kế bên nàng cũng vậy. Chồng nàng làm một công việc tầm thường, suốt ngày chạy long sòng sọc ngoài đường, anh không có nhắn tin, di động, cũng không thuộc về cơ quan đoàn thể nào để có số điện thoại.

Chiều tối hôm đó chồng nàng về nhà, thấy bếp núc lạnh tanh, anh quăng mình lên giường đánh một giấc tới 10 giờ đêm, giật mình dậy vẫn không thấy nàng đâu, anh lo phát cuồng, nổ xe chạy tìm khắp thành phố cho tới khi hết xăng mà trên đường chẳng còn ai thức bán xăng, anh đành tắp xe vô một hàng hiên trằn trọc tới tờ mờ sáng, còn suýt hai lần đánh nhau với hai cô gái ăn sương vì cứ bám theo anh, nằn nì...

Tự nhiên, anh bị mất tích bà vợ sắp bể bầu suốt 3 đêm 4 ngày. Trong thời gian đó, anh vừa chạy khắp nơi tìm kiếm, vừa rà soát lại bản thân xem mình có làm gì cho nàng giận dỗi đến mức bỏ nhà đi không? Anh gọi điện cả về quê, làm náo động hai bên họ hàng. Chỉ có khả năng hiện giờ nàng đang nằm ở một bệnh viện nào đó cùng với đứa con trong tay là không hề xuất hiện trong đầu anh.

Đến ngày thứ năm, anh đã định đi báo công an thì chiều hôm đó, trở về nhà, chưa kịp tắt máy xe đã nghe từ trong tổ chim cu của mình vọng ra tiếng khóc gắt gỏng của con nít và tiếng vợ anh ru nựng đứa trẻ. Nâng con trên tay như cách người ta bưng trái dưa bở, anh ngượng ngùng: "Ngó ngộ quá há!".ở cữ được 1 tháng, nàng để con ở nhà cho chồng ôm sách vở lên giảng đường, chuẩn bị cho đợt thi học kỳ. Anh tạm ngưng việc chạy long sòng sọc ngoài đường kiếm tiền, ở nhà nuôi con thay vợ. Cứ đến gần 9 giờ sáng và 3 giờ chiều, ngày hai cữ anh cột nôi con sau yên xe, chạy lên trường vợ đậu trước quán cà phê Văn Khoa chờ chuông reo giải lao, vợ anh chạy xuống cho con bú. Lâu lâu có các học viên cùng lớp với nàng đi ngang qua, họ dừng lại bẹo má thằng nhỏ, nựng nịu, vài chú làm bộ ngó kỹ mặt đứa bé xong ngạc nhiên hỏi: "Sao không giống chú chút nào hết dzậy con?". Vợ chồng anh vui vẻ đối đáp lại với các cô các chú, cười rần rần làm thắng nhỏ nhả vú mẹ, ngước mắt thỏ lên nhìn không chớp. Chuông reo vào tiết, đứa bé bú no nê thoả mãn, anh lại nổ máy chở con về. Đến bữa thứ năm, chiếc nôi mây to lớn cồng kềnh của cha con anh quẹt phải chiếc xe đạp của chị mua bán dây kém gai cuốn thành từng bó lùm xùm tua tủa gai sắt. Nếu chiếc nôi mây không bị những túm gai sắt kia khều lấy, treo lơ lửng thì thằng con vừa tròn tháng của anh đã lăn lông lốc xuống đường như một lon Coca vừa tuột khỏi tay...Anh bỏ ngay ra một ngày mua gỗ về đóng chiếc nôi kiểu dáng tự chế. Khi chiếc nôi gỗ thành hình, nàng ôm con nhận xét: "Sao ngó giống chiếc máng cho heo ăn, quá anh?". Anh bào chữa: "Kệ nó em. Miễn tiện lợi, an toàn thôi mà!". Nàng tự tay khâu chiếc chăn nhỏ bọc bông gòn lót kín lòng máng, anh làm một cái lồng chụp, chụp lên để che nắng và cản khói bụi trên đường. Đều đặn ngày hai cữ anh đặt thằng cu vào lòng máng êm ái, cột sau yên xe máy chở lên trường nàng cho nó bú mẹ. Nhiều phen người đi đường dồn mắt nhìn anh kinh dị khi nghe tiếng con nít khóc tu oa phát ra từ chiếc máng cho heo ăn cột sau yên xe. Hai lần anh bị cảnh sát vịn, kè xe bắt chạy về đồn công an vì ngờ anh có hành tung ám muội như bắt cóc con nít chẳng hạn. Thôi thì thanh minh, thanh nga chứng tỏ tình phụ tử, rồi thì năn nỉ mấy anh công an ngó kỹ mặt cha con tôi, ai cũng nói nó giống tôi y hệt mà. Nhưng thật khó để tìm ra nét giống nhau y hệt giữa một thắng bé còn bú sữa mẹ với một người đàn ông đã quá 30 tuổi đầu. Nhưng cuối cùng rồi họ cũng phải để cho anh chở con về vì thằng nhỏ tới cữ bú sữa khóc la váng óc. Từ đó trong túi áo ngực anh không bao giờ thiếu hai tờ giấy: giấy hôn thú của hai vợ chồng và giấy khai sinh của thằng bé.

Nàng thương anh, thương cả đứa con bé bỏng vì bà mẹ ham học mà phải chịu trần ai, bàn với anh hay là để nàng nghỉ ở nhà, bảo lưu kết quả học tập đến sang năm. Anh gạt: "Hồi nào anh với cu Tí chịu hết nổi, anh sẽ tức khắc lên tiếng".

Mùa nắng hết, mùa mưa tới với cha con anh không đường đột nhưng làm anh đầy ngạc nhiên và bất mãn. Nàng may thêm cho con tấm bạt ni lông màu đỏ tươi cắt ra từ chiếc áo mưa rách của nàng. Nhiều lần nàng chuồn ra trước giờ giải lao, đứng dựa lan can ngóng từ tầng bốn xuống đường, tìm nhìn chiếc máng trùm áo mưa đỏ chót nổi bật giữa dòng xe cộ, trôi trong làn mưa mịt mùng.

Vào một chiều cũng mưa gió như vậy, nàng ra ban công dõi tìm hoài chiếc nôi đỏ thắm với ông "thuyền trưởng" tội nghiệp của mình mà không thấy. Mạch đập của nàng nghẽn lại từng chặp. Ngóng hết giờ giải lao, chuông reo vào tiết, nàng chạy vô lớp ôm sách vở lao sầm ra cửa suýt va vào ông giảng viên già. Không nhớ ra để xin phép ông một lời, nàng chỉ hơi né người rồi chạy hai bước một xuống cầu thang...

Đạp xe về tới ngõ, đôi dép mủ đứt quai ngả màu lạ lẫm nằm trước cửa, kề đôi sandal của chồng nàng thậm chí cũng không kịp báo động cho nàng điều gì, cho tới khi qua tiếng mưa rơi lắc rắc, nàng nghe trong nhà vọng ra giọng bà già quê mắng yêu cháu: "Thằng chó con của bà khát sữa, khóc dữ há. Con mẹ mày hư quá mà, đi chợ gì cả buổi chưa về. Để nó về đây...". Nàng rụng rời. Má chồng nàng vô! Không kịp nghĩ ngợi, nàng chụp lấy túi sách vở trước giỏ xe, vứt xoạch trước hiên nhà hàng xóm. Rồi nàng quay xe, cắm cổ đạp muốn đứt hơi ra chợ, từ đầu chợ vô cứ gặp đâu mua đó như mộng du, không biết, không nghĩ ra mình tính nấu những món gì.

Rồi cũng đến lúc má chồng nàng than nhớ nhà, than ăn không ngồi rồi mỏi mệt quá, đòi về. Tới lúc xe đò nổ máy nhằm hướng miền Trung chạy tới, cái nón của má chồng nàng thò ra cửa xe đã thôi ngoắt ngoắt và khuất dạng, vợ chồng nàng mới nhìn nhau thở phào, bụm miệng cười, nghĩ về bao nhiêu lời nói dối trí trá mà trong suốt tuần qua, cả hai đã phải dựng lên để đối phó với bà má chồng tuy hiền lành nhưng lại gánh trên vai cả ký quan niệm cổ hủ. Trên đường chở nhau từ bến xe về nhà, vợ chồng nàng đã phải dừng xe táp vô lề để cười cho đã khi nàng nhắc lại anh đã trả lời hết sức dài dòng và quyết liệt với bà má khi bà tỏ ý muốn xin cái máng lót nệm của con trai nàng để đem về quê làm ổ cho chó đẻ. Trước khi ra về, bà còn giận dỗi: "Cái máng tụi bây nói bỏ không mà tao xin cũng không cho". Nàng cứ bíu lấy áo chồng mà nói hoài: "Mừng quá! Mừng quá! Rốt cục má về mà cũng không biết gì về chuyện em đi học. Em cứ lo má phát hiện ra, thì công sức của em với anh và cu Tí chịu cực bấy lâu nay thành công cốc hết".

Trước hôm trường nàng làm lễ tốt nghiệp thạc sĩ cho học viên khoá Y hai ngày, có một nữ phóng viên chắc được thần đèn giúp sức, tìm được tới tận nhà nàng sau hai tiếng đồng hồ quần qua đảo lại cách hẻm nhà nàng có... bốn cái quẹo trái quẹo phải nữa. Cô phóng viên trẻ mới vô nghề, đề nghị nàng, thủ khoa của năm nay, giúp cô có được bài chân dung thủ khoa và một tấm hình của nàng đăng lên báo kịp ngày báo ra. Nàng cười, chỉ lên đức ông chồng đang đánh đu trên xà nhà giặm lại miếng ngói bể, mặt mày bám bồ hóng đen thui, nói: "ổng mới đúng là người chị cần để phỏng vấn, vì không có ổng thì thạc sĩ cũng chẳng có chứ đừng nói tới thủ khoa". Anh cười, phô hàm răng trắng bóng, nói vọng từ trên cao xuống ồm ồm như thần Sấm: "Em quên công của một người rồi. Cu Tí nó cũng...". Anh chưa dứt câu, cu Tí đang ngủ say không hiểu có nỗi niềm gì, khóc váng lên, dõng dạc hiếm có, như để chứng tỏ sự có mặt của mình là không ai được quên.../.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chú bé bán báo

Đặng Anh Đào


- Báo mới đây! Báo mới đây! Ngàn lẻ một vụ ly dị! Phỏng vấn con bệnh sida đây! Cô dâu đã xử sự thế nào trong đêm tân hôn?...

Chú bé hoa chiếc loa, gào lên bài học thuộc lòng. Xe bus sắp chuyển bánh. Một hành khách lưỡng lự, rồi quyết tâm móc tiền, chìa ra cho chú bé. Tức thì mấy người ngồi quanh như bị lây, cũng móc túi lấy tiền mua báo. Một bà béo rút khăn chấm nước mắt: "Ôi! ở đây người ta viết nẫu cả ruột! Lấy nhau rồi bỏ nhau, đứa bé đi bụi đời!". Ông đeo kính ngỏng cổ cò, giơ ngón tay, đặng hắng, giọng nghiêm khắc: "Năm 1994 là năm gia đình! Quốc tế bảo vệ gia đình!".

Chú bé lần đầu tiên nhìn vào tờ báo. Xưa nay nó đi bán báo nhưng không bao giờ xem báo. Nó đọc thuộc lòng những tít giật gân mà chẳng để ý xem mình đang nói gì. Một khách ngồi ở cuối xe đưa trả lại tờ Model 94: "Này! Bán cho tao tờ báo giống của bà kia cơ!". Chú nhìn chồng báo: đang còn một tờ, cái tờ báo đã làm bà béo thút thít. Nhưng nó ngẩng đầu: "Cháu hết số ấy rồi!".

Nó tụt xuống xe, lao tới cái nhà ấy, quên cả bán báo. Nắng trút lửa, rồi cơn giông ập xuống. Sao hôm nay ông ấy về muộn thế? Nó đói, nó lo báo ướt, lo không bán nốt được chỗ báo còn lại. Trước đây 4 năm, khi bỏ mẹ con nó, ông ấy nói với nó: "Bố không muốn cướp nốt con của mẹ đi. Mẹ chỉ còn con làm chỗ dựa"... Giờ thì đúng như vậy. Mẹ nó ốm, nó đi bán báo. Hai mẹ con sống trong một gian phòng mỏng manh ọp ẹp, như làm bằng giấy báo.

Đến quá trưa, ông ấy mới về, đỡ thằng con nhỏ từ trên xe bước xuống. Ông nhìn thằng bé bán báo sụp chiếc mũ cói gần kín mặt đang chìa tờ báo. Ông có đọc thứ này bao giờ? Nhưng thằng con nhỏ đã cầm lấy một tờ... Họ đã bước vào, thằng bé bán báo vẫn nhìn trân trân vào ngôi nhà. Chợt cánh cửa sổ mở tung. Ông ấy và đứa bé thò đầu ra cửa sổ. Một cánh thuyền bằng giấy báo - tờ báo viết về "Ngàn lẻ một vụ ly dị" - từ từ trôi ra, cùng tiếng cười giòn tan trong mưa rơi. Có tiếng đàn bà dịu dàng: "ồ! Anh đóng cửa lại đi! Mưa tạt ướt hết nó rồi!".Chiếc thuyền dúm dó, lềnh bềnh trôi ra cống. Thằng bé bán báo lấy mũ cuộn chặt mấy tờ báo còn lại, chạy ra giữa trời, giọng rao khản đặc:

- Báo đây! Báo mới đây! Ngàn lẻ một vụ ly dị!.../.

美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chiếc áo Tết

Lê Nguyên Ngữ


Khi biết mình không còn làm chủ tay lái được nữa thì... "rầm" một tiếng, hai chị em cô gái trên xe đạp bắn ra và tôi cùng chiếc xe đạp của mình nhập thành một... đống nơi đầu hẻm. Người qua đường vào tháng tết bu lại. Thằng bé ngồi sau cô chị choàng ngay dậy, ngoác miệng cười khì với tôi và mọi người. Cô chị thì đứng lên sau, mặt đỏ dần vì ngượng. Tôi rối rít xin lỗi hai chị em cô. Vụ đụng xe tưởng "sứt đầu mẻ trán", hoá ra lại chẳng ai việc gì. Mọi người đều thở phào, tản đi lo cái tết sắp đến của mình. Chúng tôi kiểm lại chiếc xe cũng chẳng cong vành, téc vỏ gì, duy chiếc áo dài của cô chị - trạc tuổi tôi thì bị rách đi một chỗ gần nơi quả bóng thêu trên ngực, màu xanh. Nụ cười của thằng bé bỗng tắt ngay khi thấy chị đưa tay che ngực áo. Lúc tận mắt thấy chỗ rách, nó bỗng chảy nước mắt, rồi khóc lên. Miệng thằng bé lúc bắt trớn trông y như miệng trâu trên mấy tờ tranh Tết, chỉ có điều trâu cười mà nó thì... lại khóc! Tôi hoảng hồn ôm lấy đầu nó, hỏi dồn:

- Em có làm sao không đấy?

Thằng bé lắc đầu và tiếp tục chảy nước mắt, nhìn trân trối vào cái áo của chị nó. Ra là xót của! Là thợ may, dư biết công xá của việc làm lành lại chỗ rách như vậy trên một chiếc áo dài, tôi vội rút tờ giấy mười nghìn dúi vào nó:

- Em chịu khó cầm, về mạng lại áo cho chị giùm anh.

Chị thằng bé vẫn chưa hết ngượng, nên còn vờ tiếp tục xem xét chiếc xe. "Anh cho nhiều quá thế!", thằng bé giọng đầy nước mắt, lí nhí. Chỉ nhờ có vậy, rồi mặc cho hai chị em với tờ bạc mười nghìn, tôi vội lên xe đạp biến vào hẻm. Tuần sau, đang mỏi mắt với việc vẽ, cắt quần áo Tết, vừa ngẩng lên, tôi giật thót người và rơi cây kéo đánh"xoảng" xuống mặt bàn. Thằng bé hôm tông xe bỗng lại lò dò đến, tay khư khư cái bọc như vừa ở bệnh viện về. Cùng đi với một người áng chừng là mẹ nó. Lạy Chúa! Chỉ còn mấy ngày nữa là sẽ qua được "năm tuổi" của tôi, thế mà...!

- Xin lỗi! Tiệm này có còn... nhận hàng may nữa không ạ? Câu hỏi của bà đi với thằng bé làm tôi mừng đến đớ lưỡi, quên phắt là hiệu mình đã thôi nhận hàng trên tháng nay:

- Dạ... Còn! Chi vậy bác?

- Cậu ạ, chẳng là... tôi muốn cậu may giùm cho em nó... cái áo để mặc Tết mà... - Bà vừa nói vừa ngượng nghịu mở gói giấy từ tay thằng bé cười khóc thất thường hôm đụng xe, đưa tôi.

- May theo kiểu chiếc áo này ư? Còn vải đâu, hở bác? - Tôi hỏi và xoè tay ra với bà.

Gương mặt già nua nhăn nheo của bà bỗng đỏ rần lên:

- Là... là tôi nói muốn nhờ cậu may cho em nó cái áo sơ mi từ... chiếc áo dài này. Xin cậu cảm phiền giúp, vì nhà nghèo mà... các cháu lại đông quá!

Ra thế! Dẫu sao thì sự kỳ vọng của bà và nhất là của thằng bé khiến tôi cầm lòng không đậu. Nếu là người nào khác..., đằng này... Vụ đụng xe nơi đầu hẻm lại hiện lên trong trí tôi. Tôi lặng lẽ xổ chiếc áo ra. Đấy là chiếc áo dài tuy giữ gìn còn mới, song loại vải chắc có đâu từ hồi tôi chưa... ra đời. Tôi bỗng giật mình bàng hoàng khi dưới tay hiện ra quả bóng thêu màu xanh và mấy vết rách trên ngực áo. Thấy tôi lặng mãi đi khi nhìn vào vết rách, bà mẹ rụt rè phân trần:

- Cái áo này của con chị ra Tết nghỉ học luôn, bảo mặc giữ gìn để còn sửa lại cái áo Tết cho em mà chẳng may bị té rách vậy đó cậu. Vải áo cũng còn mới! Cậu ráng sửa giùm. - Sợ tôi từ chối, bà liếc qua thằng bé đứng bên nói tiếp: - Từ hôm chiếc áo bị rách, sợ không có đồ mặc Tết nên em nó cứ khóc hoài!

Nghe đến đây, tôi chợt hiểu cái khóc không cầm được của thằng bé khi thấy chỗ rách trên áo dài chị, nơi đầu hẻm hôm nào. Không biết thằng bé có nhận ra tôi không? Tôi vội đưa chiếc áo lên vờ xem để giấu đi sự xúc động của mình. Qua lần ánh sáng khi giơ lên, tôi lại phát hiện thêm mấy lỗ thủng nữa ẩn bên trong quả bóng thêu.

- Trong quả bóng này cũng có thêm mấy lỗ rách nữa đấy bác!

- Dạ, phải đó cậu! Nguyên trước đó là chiếc áo dài của cô chị cả, bị gián nhấm nên may chuyển xuống cho con em, lúc nó vào học cấp 3. Trường bắt mặc đồng phục, bây giờ...

Thằng bé tỏ ra lo lắng vô cùng, nó hết nhìn tôi lại nhìn cái thước dây đang xoay qua lại xoay về trên chiếc áo dài cũ. Tôi "hạo" sơ diện tích còn sử dụng lại được của chiếc áo và ra hiệu cho cậu bé đến gần để lấy số đo người. Biết là có ít nhiều hy vọng nên thằng bé hớn hở ra mặt.

Khi ướm lại, tôi thấy thật khó kiếm được một sơmi mặc Tết trên chiếc áo dài có hai lỗ thủng rách liền nhau, nơi phần ngực trước này. Loại vải cũng không thể "trở trái làm mặt" để cho chỗ rách ẩn vào túi áo trên. Giá tôi đừng làm rách thêm một lỗ nữa hôm đụng xe, việc chuyển chiếc áo xuống cho thằng bé sẽ dễ dàng hơn nhiều. Cái miệng nửa mếu nửa cười như trâu của thằng bé hôm nào nơi đầu hẻm và trận đá bóng ầm ĩ của bọn trẻ bên ngoài vọng vào hốt nhiên khiến tôi nghĩ ra được cách chuyển xuống sơ mi từ chiếc áo dài trước mặt một cách tuyệt vời. Phải, chỉ có trận bóng đá với thủ môn ngộ nghĩnh với một người thợ thêu tài hoa mới đem lại được mùa xuân cho chiếc áo đã qua hai "đời" người mặc này.

"Thôi được rồi!", nghe tôi thốt lên vậy, những nếp nhăn lo âu trên mặt bà mẹ giãn ra. Thằng bé cũng vui mừng không kém và vội giục mẹ về. Có lẽ cậu ta sợ nán lại, biết đâu tôi sẽ chẳng khám phá ra thêm chỗ rách nào nữa trên chiếc áo vừa trở thành niềm hy vọng của mình...

Bây giờ thì trước mặt tôi, thằng bé đang dang hai vai, xúng xính trong chiếc áo mới. Nơi ngực áo, một con nghé thêu len nâu sậm, bằng động tác rất chi là điệu nghệ của thủ môn loại nhà nghề, đang quơ hai cặp sừng vừa che vết rách, vừa báng trả quả bóng màu xanh. Tất nhiên là để che cho được những vết rách này, cặp sừng của chú nghé hơi vươn dài ra một chút. Nhưng nào có hề gì! Ngược lại, chú bé còn tỏ vẻ rất hài lòng về cách đón bóng bằng sừng của con nghé thủ môn, nên vội giục mẹ đưa tiền trả, thưởng công tôi. Tôi vội ngăn lại khi thấy bà mẹ lấp ló tờ mười nghìn đồng trong tay, lí nhí "Gửi cậu gọi là...". Cũng rất có thể đấy chính là tờ giấy bạc tôi đưa nơi đụng xe đầu hẻm hôm nào. Thấy tôi từ chối, bà mẹ ngẩn ra không hiểu tại sao, cuối cùng đành rối rít cám ơn. Bà miết tay mãi vào con nghé thủ môn mới mướt tơ len và cười. Cái cười mãn nguyện của người mẹ lo được cái áo Tết cho con. Con nghé chặn lại được một quả bóng có nguy cơ thủng lưới trên ngực áo thằng bé, thực sự đã mang lại niềm vui không những với mẹ con bà mà còn cho cả chính tôi.

"Chà... xem con nghé đón bóng đẹp chưa kìa!". Lẫn trong tiếng reo của bọn trẻ ngoài đường vọng vào là lời của bà mẹ nói với thằng bé. "Nghé đẹp, con mặc phải giữ gìn cho khéo, để Tết sang năm nếu áo ngắn, lại còn chuyển... xuống cho em con nữa đấy". Phố phường vô Tết cứ vang vọng vào những niềm vui như bất tận. Cuối cùng thì chẳng phải tôi, nhưng chính con nghé đang hua sừng đón bóng trên ngực áo kia mới là thủ môn giữ cho mùa xuân không bị "thủng lưới" và mang lại niềm vui cho cậu bé, Tết này./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Cau non

Nguyễn Thị Phước

++ Chị em gái như trái cau non
(Tục ngữ)


Lâu lắm tôi mới về quê. Đàn bà con gái khổ thế, vài trǎm cây số, xe cộ cà rịch cà tàng đến đón khách trả hàng thì cũng đi chiều đến, vậy mà không bạc cũng thành bạc. Điện thoại, mẹ tôi nói: "Bận quá thì thôi", nhưng tôi biết mẹ mong tôi về. Giỗ cha tôi nǎm nào cũng được đứa Nam thiếu đứa Bắc. Lần này, Bắc - Nam về đủ, chẳng lẽ lại thiếu đứa ở miền Trung là tôi? Vả lại, thị thành ngột ngạt nóng rét, tôi cần thoát khỏi nó vài ngày. Phải lấy lại cái bình thường cho một sợi nào đó trong hệ thần kinh vì tôi cảm thấy nó không ổn lắm. Bứt khỏi cái guồng quay cuộc sống thường nhật thật không dễ.

Hai ngày để chuẩn bị cho chuyến đi. Gạo, dầu, mắm, muối, tắm gội cho con, giặt là cho chồng, trǎm thứ bà rằn. Biết là chẳng có tác dụng gì vẫn dặn dò đủ thứ. "Anh thấm rồi, em cứ yên tâm về". "Tuyệt đối đừng cho con lại gần giếng". "Em đã có câu đó nǎm sáu lần rồi!". "Anh phải đổi món cho con đấy!". "Đã bảo nhớ rồi"... Trằn trọc, thấp thỏm, không biết có còn quên dặn gì? Vừa thiu thiu ngủ, cái đồng hồ báo thức nhà bên đã khua roong roong: Lâu nay chẳng biết trách ai, tôi đâm ra hận cái ông nào đã phát minh cái chuông báo thức ấy. Tiếng gì cứ như tiếng gươm giáo chặt nhau trong đầu. Thà chọc béng một nhát vào ngực còn hơn. Không bật đèn cũng biết 4 giờ. Thế là toi một đêm. Tôi nằm nghe bố con, cậu cháu nhà họ chửi nhau như róc nứa, chán, lại đến tiếng dao thớt, soong nồi, bát đĩa. ở khu tập thể lại còn quay đít ra mặt đường, chẳng sinh hàng sinh quán cũng uổng.

Mình phải kiếm lấy một xó mà bốc ra. Làm cái nghề khốn khổ, cả vợ lẫn chồng, thức đêm thức hôm, lại còn bị tra tấn thế này nữa, nǎm này tháng khác, chịu không thấu. Cày cho hết báo này tới đài kia, mà mấy nǎm rồi chưa được cái công trình phụ. Tôi đâm quạu cả ông chồng làm thơ làm vǎn: Nhà thơ cũng có, chỉ nhà ở là không. Bạn bè cứ thúc. Nội, ngoại cứ mong. Hai quầng mắt tôi cứ sâu thêm, đậm thêm sau mỗi đêm. Kem phấn thế nào cũng không che nổi.

Làng tôi giống hệt một con thuyền nằm giữa biển lúa. Cha tôi bảo cụ tổ của chúng tôi lánh nạn về đây lập làng này. Ông ngờ mình là cháu con họ Mạc, bởi khi ráp gia phả họ Chu chúng tôi với họ Chu làng Thượng mà chúng tôi vẫn còn là nhánh trên, lại không khớp. Không ai để ý lời ông. Chỉ mình ông mang mãi trong lòng ý định tìm kiếm, nhưng không đầu mối. Phút lâm chung, ông gọi riêng tôi, dặn: "Nhắc - thằng - Trung - chuyện - họ - Mạc, khéo... không - mồ - cha - không khóc... lại - khóc - đống mối...". Và ông máy môi như còn định nói điều gì đó, nhưng không kịp. Anh Trung dǎm nǎm mới về một lần, nhà được mỗi ông con trai, thì sống tận Sài Gòn, lại bị vợ giữ rịt chẳng tha cho về một mình, bởi sợ cái lằng nhằng tình cũ nghĩa xưa... Hai bà chị làm cái việc chỉ liên quan đến tiền.

Cô em út là giáo viên thì quá môđéc. Tôi thương nó nhất nhà. Ai cũng bảo mặt mũi hai đứa chúng tôi giống nhau như đúc. Hai chị em tôi lǎn lóc dưới hầm mà cứ lớn phổng như khoai lang trồng đất cát pha mầu mỡ. Chúng tôi dẫn nhau đi theo đoàn người già trẻ con, sơ tán hết làng này sang xã khác. Từ khi tắm ở giếng làng còn cởi truồng, chúng tôi đã phải quen với tiếng gào rú của máy bay Mỹ, tiếng kêu khóc của những gia đình có người thân bị bom;

Và chị Tâm khóc không ra tiếng trong buồng vì mới cùng cả chi đoàn đi bới đất, bới nhà, nhặt từng mẩu thịt, nắm tóc... Làng tôi ở gần trạm giao liên. Ngày ngày từng đoàn xe tải dỡ hàng, bốc hàng. Máy bay cứ nghiêng qua, ngó lại, có khi đạp bừa dǎm ba trái. Vậy mà chẳng có mảnh đất nào bỏ hoang. Cấy sáng trǎng, gặt sáng trǎng, trẻ con đội đất mà lớn. Nhà tôi cũng một lần hứng đủ ba trái. "Phúc nhà to bằng cái bình vôi - mẹ tôi thường nói - nó tránh đúng cái hầm". Tôi còn nhớ như in cái cảm giác sắp chết ngạt của hai lǎm nǎm trước. Từng tổ kiến càng rụng xuống người, xâu vào cắn xé. Con út bảo: "Em chẳng nhớ gì". Nó mới ba tuổi mà. Vừa bằng cái phích, bây giờ đã là cô giáo, đã có chồng...

Tôi về đến cổng thì đã nghe mấy trái cau non đang chuyện nhao nhát trong nhà. Lại cả anh Trung về nữa. Mà về một mình.

- Nhà giáo và nhà báo được miễn. Còn lại - mỗi vị một triệu. Nhất trí như ủy ban chưa? Lâu không gặp, tôi nghe giọng chị Tâm tôi là lạ, Hà Nội hơn, có gang có thép hơn.

"Hoan hô trưởng nữ. út nữ này xin đa tạ thịnh tình của tỉ tỉ". út Thảo chắp tay trước ngực, nháy tôi. Quỷ sứ chứ cô giáo gì mà nói nǎng như bọn choai choai nghiện phim Hồng Kông. Thì em nghiện thật chứ sao. Chị không thấy họ giỏi à? Ra chợ xem, hàng Trung Quốc hơn nửa chợ!

Đêm, anh Trung nằm nhà ngoài đốt thuốc là liên tục. Thỉnh thoảng có tiếng dép lạt xạt. Chắc anh đi thắp hương. Có cái gì đó khác lạ trong anh, tôi không dám hỏi. Mấy chị em tôi chuyện rầm rì đến khuya. Chuyện làng chuyện xóm mà nghe cứ như tiểu thuyết. Trước kia, chuyện cả làng đi đào đá đỏ bỏ ruộng hoang rất ly kỳ. Bây giờ chuyện hậu đá đỏ hay không kém. Chồng tôi mà về chắc viết được cả pho. Nhiều chuyện cười xong, thấy muốn khóc. Cả chuyện con út lấy chồng cũng vậy. Nó và cậu Bảo yêu nhau, đã mấy nǎm - hai nhà đi lại. Đùng cái, thôi nhau. Cả hai nhà ngẩn tò te. Vậy mà hai đứa tỉnh queo. Rồi em đi lấy chồng, anh lấy vợ. Có thứ tình yêu nào vậy chớ? Thịt cắt còn đau nữa là... Nó bảo: "Bà cụ non ơi, phải yêu để kịp chán nhau trước khi ra trường, chứ cứ như bà, hai nǎm cầm tay, bốn nǎm mới sờ tóc, mất ǎn, mất ngủ dầu - hao - trǎng - khuyết, để ra thân tàn ma dại à? Lỡ không lấy được lại tự tử tự tiếc, rách việc!". "Khiếp, cô giáo gì như mày..." Tôi nói chưa xong đã nghe nó ngáy. Nó ngủ trông mới xinh làm sao. Nó là đứa tự buộc chân mình bên gốc chuối cho chúng tôi yên bụng đi xa.

Mùi hương trầm đầy nhà, khiến tôi nhớ cha tôi. Người thích đến nghiện ngập mùi này. Có khi không kịp quấn để thắp, ông xoa bột lên tay để hít hà.

Rễ hương tự ông rửa, phơi, giã riêng bằng cái cối đá nhỏ. Chu hương ông cũng tự tay chẻ, phơi trên cao. Thắp hương, đợi tàn ông mới đứng dậy. Có việc ra khỏi nhà là ông đóng cửa, giữ mùi thơm lại, thành thử chǎn, màn, quần áo, nhà chỗ nào cũng mùi trầm. Đôi khi bây giờ tôi cũng làm vậy. Đi làm về, mở cửa ra, thơm nức mũi, rất thích. Thế là ngày mai cha ở nhà xi mǎng. Chắc là lạnh lẽo, cô đơn, nhưng sẽ yên ổn hơn. Kín cổng cao tường, khỏi lo đạo tặc quấy phá, người trần làm ô uế, thất lạc. A, nhưng còn khói hương? Chắc sẽ khó vào được nơi người! Có lẽ vì thích mùi trầm quá mà cụ đặt tên chúng tôi là Thơm, Thảo...

Tôi vẫn không ngủ được. Lại sắp hết một đêm nữa. Ngoài kia anh Trung cũng không ngủ. Tôi chỉ biết mang máng rằng vợ chồng anh trục trặc, lại vào cái lúc đã xế chiều. Con Hiền tốt nghiệp xong không chịu nhận công tác, tha về một anh chàng vô công rồi nghề, hai đứa suốt ngày nằm đườn đưỡn, xem ti-vi, nghe nhạc. Thằng Dũng rớt đại học, đua đòi hút sách. út Thảo mắng trộm với tôi: "Đi ra, hò hét lính tráng được, thế mà về nhà có mụ vợ với hai đứa ranh con lại không dạy nổi. Cứ ném về đây cho em, trị trắng xương, ngoan liền". "Có phải đơn giản như em nghĩ!". "Cứ cố làm nó rối rắm làm gì. Làm khổ nhau cho lắm vào rồi cũng ra đất ra nước cả". "ừ, em cũng có lý. Mà sao chị vẫn thấy lo lo cho em". "Em chẳng khổ đâu. Tiền bạc có chồng kiếm, dạy về - quǎng mình xuống đệm, bật quạt, gọi ǎn thì dậy ǎn. Sau này có con - nuôi vú em". Cái con, cứ bộp bạp thế mà lại mau nước mắt. Anh Trung ốm sơ sơ, nó khóc như cha tôi mất...

*
* *

- Chị Thơm ơi, về thôi. ở đây, chị nghe cánh thợ nói tục không quen đâu - Thảo gọi tôi - Chị em xem cái nghĩa địa làng mình giờ sang không? Y như cái thành phố, nhỉ? Cũng nhà tầng, tường bao, tím vàng xanh đỏ. Toàn dân đi làm ǎn xa gửi tiền về xây đấy. Ai chưa xây được là như ngồi trên chảo rang. Người chết cũng tranh mặt đường. Chưa chết đã tranh đất xây mộ...

- Kể cũng hay. Bây giờ lại có cái thành phố của người chết! Giá có thật một cái chợ mà người sống người chết gặp nhau được như trong truyện thì hay nhỉ?

Dường như không thèm chấp cái lối nghĩ ngợi vẩn vơ của tôi, Thảo im lặng bước. Cái bím tóc mập mà đen lánh vắt qua vắt lại trên cặp mông tròn đầy. Cả nhà, mỗi mình nó có mái tóc đẹp thế, càng cắt lại càng nhanh dài. Chả bù cho tôi, nuôi thế nào cũng chỉ được như cái đuôi bò, thành thử cứ phải đến thợ uốn tóc.

*

Thế là xong xuôi mọi việc. Coi như ổn được một bề.

Rồi cũng phải chǎm cho bọn trẻ về quê, để còn biết cái gốc gác của mình. Với lại để bà cháu, dì cháu ríu rít với nhau, kẻo nữa lại nhìn nhau như khách. Mẹ tôi dạo này trông lạ hẳn đi. Cái vẻ tinh tướng không hiện rõ trên mặt nữa. Tóc bà như nhiều sợi bạc hơn, từng lời nói cũng không ném choang choang. Tôi tính soạn sửa để sáng mai đi sớm thì mẹ tôi gọi. Đợi đông đủ một lát, bà nói, giọng nghèn nghẹt:

- Tôi có chuyện ni phải nói cho út và cả nhà biết:

O đào Vân ốm nặng lắm, chắc không qua...

Thì có can hệ gì tới chúng tôi mà bà có vẻ quan trọng thế?

Bao nǎm nay nhà này có thấy nhắc đến bà già tội nghiệp ấy đâu? Cái nghề hát bà đã bỏ hơn bốn chục nǎm rồi mà cái nghiệp vẫn chưa hết. Nhà vǎn hóa huyện đưa người xuống dựng bà dậy nằn nì để học hát. ốm lên ốm xuống mà cũng bò dậy, dạy các o múa hát, mà như sống lại, đôi mắt già bỗng lóng lánh. Có kẻ ác miệng dèm: "Sắp xuống lỗ còn lắm chuyện". Bác chẳng sợ, cứ hát, cứ múa, còn lên sân khấu, đi hội diễn... ấy là tôi nghe cô bạn phóng viên kể thế!

Chẳng lấy được người tử tế, bà chịu gãy gánh nửa đường, không kịp có nổi mụn con mà ru, đành ru nhờ con thiên hạ, vậy mà không chịu đi bước nữa.

Nổi tiếng khắp vùng một thời về thanh, sắc; lại biết lắm điệu nhiều lời, cuộc hát nào có đào Vân là không khí khác hẳn. Cha tôi là thầy dạy hát của bà, là ông bầu của gánh hát, cũng phải nể trọng. Cha tôi mê hát, lại được ông nội tôi truyền nghề cẩn thận nên những ngón đàn điệu hát của ông cả vùng không dễ mấy ai sánh kịp. Đến quan phủ quan huyện cũng không dám cậy quyền cậy thế. Vậy mà vật đổi sao dời, ông bỗng thành người khác hẳn. Chúng tôi cũng chẳng biết đến cái quá khứ say người của ông. Thỉnh thoảng tôi nghe ông ca ư ử như sợ ai nghe: "Ngồi thử ngẫm trǎm huê (hoa) ai nuốm (nhuộm)... ư... hư... một huê là riêng một ứ... sắc ứ... hương (*)". Bây giờ thì tôi biết ông đã đau rứt rứt ruột khi phải mang theo hàng chục làn điệu ca trù xuống đất. Ông không dạy chúng tôi. Mà có dạy chắc gì chúng tôi chỉ hát hò láo nháo là giỏi, có biết ca trù nó hay nó đẹp thế nào đâu. Cứ thấy u hừ a hà thế thì chán chết!

- út ơi! Bà Vân là mẹ đẻ con đó... - mẹ tôi khó nhọc trút từng tiếng.

Chưa để chúng tôi kịp hoàn hồn vì quả bom ấy, bà đã lấy hơi nói liền một mạch như sợ sẽ không còn nói được:

- Gần ba chục nǎm rồi... mẹ có tội với con, với bà Vân.

Mẹ hồi đó là cán bộ. Mẹ buộc bà Vân phải bỏ làng mà đi cho đến ngày sinh con, giao nó cho mẹ mới được về ở làng, với lời thề sẽ mang điều bí mật ấy xuống mồ. út Thảo ngồi như bị đóng đinh xuống phản. Dưới ánh điện, gương mặt nó như nặn bằng sáp. Bất ngờ nó đứng vụt dậy, hét lên một tiếng: "Mẹ!" rồi đâm bổ ra ngõ. Tôi lao theo nó. Tôi rớt sau nó xa lắm mà vẫn nghe tiếng khóc tức tưởi của nó.

Tôi chạy mãi về cuối làng. Mệt quá, tôi dừng lại. Chợt nghĩ ra mình không nên có mặt ở đó lúc này. Tôi quay về, người hững hụt, chân thấp, mấy lần suýt ngã vào bụi, mặc dù đường làng vẫn sáng điện hắt ra từ mỗi nhà. Đến ngõ, tôi nghe anh Trung đang trách mẹ: "... Chuyện ghen tuông đàn bà còn không dám trách, nhưng bấy nhiêu nǎm bà Vân sống vò võ, hơn bảy mươi còn phải làm lụng nuôi mình, thế mà mẹ chịu được!". Mẹ tôi phân bua: "Mẹ sợ mất con Thảo. Mẹ thương nó như con đẻ, chǎm mớm cho nó từng thìa nước cháo từ khi nó còn đỏ hỏn". Với lại để bà Vân nuôi con, mẹ sợ bố anh đi lại nữa. Bà Vân đẹp, lại hát hay, một thời đàn ông ai cũng mê, nhưng bà ấy lại chỉ mê mỗi ông nhà ta. Mà cứ như có ma, hễ bà Vân ốm đau là y như ông ấy nằm liệt giường, cháo đút không chịu nuốt, dù không ai báo cho ông biết. Mọi tin tức về bà Vân mình giữ kín như bưng mà cũng vẫn rứa.

Tôi chợt nhớ cái trừng mắt lạnh người của mẹ tôi khi trong bận ǎn tôi đã nhắc tới bà Vân. Tôi cũng nhớ lại cái phút lâm chung cha tôi nhìn tôi như cầu cứu. ánh mắt ông lạ lắm, như hờn tủi xót xa, lại như bi phẫn, cam chịu đến tuyệt vọng. Bao nǎm trời ông sống như cái bóng, vợ đảm con ngoan ríu rít đầy nhà vẫn cô đơn. Tôi lần đầu tiên dám nhìn thẳng vào gương mặt loang loáng của mẹ. Cứ ngỡ bà khóc, hóa ra không phải. Đấy là ánh sáng phản chiếu từ những khung kính treo đầy trên tường. Đúng là mẹ tôi đã mất cha tôi từ khi phải mang cái bầu giả. Hay chưa bao giờ bà có được ông?

Tự nhiên, cái ước mơ về một ngôi nhà có công trình phụ hoàn hảo trong tôi không còn ráo riết để bám như trước nữa, nếu không nói là biến mất. Cả cái điều tôi định hỏi mẹ - rằng bây giờ chúng tôi phải dậy dỗ con thế nào cho chúng nó sợ, cũng vậy. Chẳng hiểu sao tôi bỗng thấy thèm được như út Thảo. Tôi cảm thấy yêu quý nó hơn bao giờ. Và chuyến về nhà ấy - tôi đã quên nhắc lời trǎn trối của cha tôi cho anh Trung.

Tháng 7-79
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chuyện riêng với bão

Mai Ly


Gần hết giờ làm việc buổi chiều thì trời nổi gió. Hôm qua nàng nghe dự báo thời tiết là sẽ có bão, một cơn bão trái mùa. Trời âm u suốt từ sáng làm nàng đợi mãi. Nàng thích những cơn bão vào ban ngày hơn là vào đêm. Tuy nhiên bão đêm cũng được. Ngắn gọn lại là nàng thích bão. Mọi người trong phòng vội vàng chuẩn bị áo mưa và về sớm. Còn nàng thì chẳng vội gì. Nàng có một lý do chính đáng để nói với mọi người: "Em không mang áo mưa và nhà em xa, sợ về không kịp".

Mọi người đã về hết, ai đó đã đóng cửa sổ: cả cửa kính và cửa chớp. Nàng nghe thấy tiếng gió vọng bên ngoài. Trong phòng kín như hòm nhưng nàng thấy hơi lạnh. Nàng mở cửa đi ra hành lang. Cả tầng hai không có một ai. Đến khi nàng mở cánh cửa ở đầu hồi khu nhà thì gió thốc vào. Nàng ngột thở nhưng vẫn cố đi ra và nhìn xuống đường. Trời tối sầm lại nhưng vẫn nhìn rõ mọi thứ. Gió thổi ào ào. Lá cây cũng rụng ào ào. Mọi thứ đều bị gió thổi. Gió làm quần áo nàng dính chặt vào người, tóc rối tung. Bụi đập vào mặt nàng rát như kim châm. Một tấm tôn ở mái bếp nhà nào bay xuống đường kêu rầm một cái, át cả tiếng gió. Rồi giấy vụn, quần áo và cả bụi nữa, tất cả nháo nhào trong không trung. Vẫn những cảnh của một cơn bão nhưng nàng thấy thật thích thú. Nàng nhớ đến tuổi thơ của mình. Hồi đó nhà nàng ở trong một khu chung cư. Mỗi lần có bão là nàng sẽ được nghỉ học. Nàng cũng sẽ cuống quít chạy theo bố mẹ để đóng cửa khi trời bắt đầu nổi gió. Sau đó nàng sẽ ngồi trên chiếc giường kê sát cửa sổ, quấn chiếc vỏ chăn quanh người, dán mắt vào cửa kính để xem thiên hạ vội vội vàng vàng, để xem gió bứt những tấm liếp trong chợ, tung lên rồi đập xuống, để xem mưa đổ xuống đường trắng xóa, để xem bọn trẻ con cởi trần tắm mưa. Thế nào nàng cũng đòi mẹ mở cửa để gió thổi vào nhà và thế nào mẹ cũng không đồng ý. Nàng sẽ giả vờ dỗi và ngồi xuống bậu cửa, giơ tay vào khe cửa để hứng gió, vì thế gió của bão bao giờ cũng chỉ đủ làm mát bàn tay nhỏ xíu của nàng khi đó mà thôi. Khi bão tan, nàng sẽ cùng bọn trẻ hàng xóm trốn mẹ xuống gác để lội bì bõm trong cái thứ nước bẩn mà bão làm dâng lên hoặc để thả thuyền giấy trong cái "hồ" ấy, thậm chí còn té vào nhau cái thứ nước ấy nữa. Bão của tuổi thơ thật tuyệt. Cô bé con là nàng khi đó chẳng bao giờ nghĩ đến giá gạo có tăng không, bao nhiêu ngôi nhà bị sập, bao nhiêu người bị chết. Sau này khi lớn lên một chút, có lần nàng nói với bố: "Con thích bão lắm bố ạ".

Bố nàng vội vàng: "ấy đừng con ạ! Bão thì người nông dân khổ lắm. Ông bà ở quê mất mùa đấy". Nàng ngúng nguẩy: "ứ ừ! Nhưng mà con vẫn thích bão". Rồi nàng lại nhớ đến cơn bão số 5 của mùa hè năm kia. Nàng nhớ rõ là cơn bão số 5, mà cũng là cơn bão lớn nhất trong năm bởi vì hôm đó cuộc thi chung kết Hoa hậu toàn quốc được tổ chức ở thành phố nàng. Biết rằng sẽ có bão nhưng nàng vẫn đi. Thực ra nàng cũng chẳng thích lắm các cuộc thi sắc đẹp nhưng cô bạn thân của nàng được ai cho một đôi vé, cứ rủ nàng đi bằng được. Ngồi trong nhà hát ấm áp ba tiếng đồng hồ, đến khi ra ngoài bất ngờ bị gió và mưa thốc vào mặt, ai cũng rét run. Hai đứa mang có một cái ô mà mười hai giờ đêm rồi thì còn núp ở đâu được. Cô bạn nàng cầm lái, còn nàng ngồi sau cầm ô che. Cái xe 50 của bạn nàng cứ ỳ ra trước gió, còn nàng cắn chặt răng vì rét, hai chân kẹp chặt vào xe, hai tay căng ra để giữ ô. ược một lúc thì tay chân mỏi nhừ, hàm cũng mỏi nhừ mà người thì ướt sạch. Nàng thu ô vào mà cảm thấy thật khó khăn. Hóa ra cán ô đã bị gió làm cong như hình cánh cung. Quả thật đấy là lần đầu tiên nàng đi trong mưa bão và cũng là lần đầu tiên nàng cảm thấy mình thật nhỏ nhoi.

Có vài hạt bụi bay vào mắt làm nàng bừng tỉnh. ưa tay lên dụi mắt xong thì trời đã bắt đầu mưa. Mưa hắt vào làm ướt mặt và tóc nàng. Mẹ mà ở đây thì mẹ sẽ bắt nàng vào nhà ngay lập tức. Nhưng mà mẹ lại đang ở nhà! Bất giác nàng mỉm cười sung sướng. Cuống lên về sớm thì có phải sẽ không được thoải mái thế này không! Trời vẫn chưa tối hẳn. Nàng đưa mắt nhìn sang bên kia đường. Đã có một đôi trai gái đứng tránh mưa ở đấy từ bao giờ. Gã trai đưa tay vuốt tóc cô gái và ôm lấy cô ta. Nàng chợt thấy khô cổ và bỗng thèm có một người đàn ông nào đấy đứng bên cạnh, ôm lấy nàng và cùng nhau ngắm mưa. Nàng chưa bao giờ được ở bên cạnh ai để ngắm mưa. Rất ít người biết sở thích này của nàng, mà có biết thì hoặc là mặc kệ, hoặc cho là nàng dở hơi. Nàng cảm thấy rất rõ tim mình nhói lên. Đôi trai gái kia yêu nhau lắm thì phải. Còn nàng thì không biết yêu. Nói chính xác là không biết yêu say đắm, không biết yêu hết mình. Chỉ những khi mưa to gió lớn thế này tim nàng mới mềm ra, còn không tình yêu say đắm đối với nàng thật sự chỉ là ảo tưởng mà những kẻ mù quáng nghĩ ra với nhau. Mà nàng cũng chẳng bao giờ tin rằng có ai đó yêu nàng say đắm cả. Nàng thật sự không hiểu tại sao người ta lại đắm đuối nhau, lại có thể chết vì nhau. Có người bảo nàng quá thực tế nên không thể yêu được. Nhưng nàng cũng yêu đấy chứ, nàng yêu chồng nàng, yêu như là số phận đã sắp đặt trước. Số phận cho nàng một gia đình hạnh phúc, bố mẹ cưng chiều, công ăn việc làm ổn định, thêm một ông chồng chiều nàng hết mực. Và chắc sau này sẽ là những đứa con ngoan. Nàng có được mọi thứ mà chẳng phải cố gắng gì. Nàng chẳng mơ cũng vẫn được những thứ mà người khác mơ ước. Có điều mà nàng mơ thì chẳng bao giờ thành hiện thực. Có người bảo nàng là lạnh lùng, khô khan và một loạt những tính từ đại loại như vậy. Có người bạn còn đùa rằng nàng là con người khô khan đến mức chỉ ăn cơm mà không ăn canh. Nàng mà khô khan ư? Cũng có thể. Nhưng những lúc thế này liệu có ai biết nàng mong muốn điều gì không? Nàng chợt rùng mình vì lạnh và cô độc. Nàng lắc đầu thật mạnh và tự bảo mình rằng xem bão thế đủ rồi, vào nhà cho ấm, đứng ở đây suy nghĩ lung tung làm gì cho mệt người.

Nàng quay về phòng, bước những bước thật dài. Và nàng bất ngờ đến giật mình khi thấy anh ta ngồi ở bàn làm việc. Trời mưa bão thế này không về với vợ con còn tỏ ra mẫn cán thế làm gì. Nàng mở cửa bước vào phòng và hỏi: "Ơ thế anh chưa về à?". "Tôi có chút việc đang làm dở. Em đi đâu về mà ướt thế kia?". Nàng cười không trả lời, lấy báo ra đọc. Mở tờ báo ra nhưng nghe tiếng ì ầm bên ngoài nàng lại muốn chạy đi. Ngồi đây chán chết, chẳng có tí lãng mạn nào! Anh ta lên tiếng: "Ra đây ngồi nói chuyện bé ơi! Tờ báo ấy hôm qua tôi thấy em đọc rồi mà, đọc làm gì kỹ thế". Nàng cười như bị bắt quả tang, nói lảng: "Anh xong việc rồi à?".

Câu chuyện lúc đầu hơi gượng ép, nhưng đến khi đề về thời sinh viên thì anh ta sôi nổi hẳn lên. Đôi lúc anh ta nhìn và nói với nàng thật dịu dàng. Nàng có cảm giác nàng đã làm anh ta nhớ đến ai đó trong quá khứ. Anh ta có một thời trai trẻ hào hoa, đa tài để mà nhớ, để mà tự hào. Còn nàng thì chẳng có gì để nhớ cả. Tất cả đều êm ấm, bình lặng như từ trước đến giờ thì liệu sau này bằng tuổi anh ta nàng có gì để kể đây? Chỉ có những cơn bão là làm khuấy động trời đất, khuấy động tâm hồn nàng, nhưng chẳng lẽ lại đi kể chuyện bão? Nàng chợt nhớ ra ngoài kia vẫn đang mưa. Nàng nghĩ giá mà anh ta là người tình của nàng thì nàng sẽ kéo anh ta ra ngoài mưa cùng với nàng ngay lập tức. Nhưng tất nhiên đó chỉ là tưởng tượng bởi vì nếu là người tình của anh ta thì hoặc là phải thông minh hơn nàng thật nhiều, hoặc là phải ngốc nghếch hơn nàng một chút. Hình như anh ta cũng có một cô "tình nhân bé nhỏ" ở đâu đó thì phải. Cô ta hay gọi điện thoại đến văn phòng vào lúc sáng sớm hoặc chiều muộn. Mỗi khi thấy anh ta hạ giọng và vui mừng: "Em đấy à?" thì nàng biết ngay là cô ta. Có đôi lần nàng đang ngồi trước mặt anh ta trao đổi công việc thì có điện thoại. Thường thì anh ta bảo: "Chút nữa anh gọi lại cho em nhé", nhưng cũng có lần anh ta mặc kệ nàng, xoay người qua hướng khác, tựa lưng vào ghế và thản nhiên nói chuyện làm nàng không còn cách nào hơn là đứng dậy. Những lúc như thế nàng rất muốn trêu anh ta vài câu nhưng ngay lập tức nàng lại nhớ ra vị trí của mình. Không hiểu sao những lúc ngồi nói chuyện phiếm với anh ta thì nàng hay quên mất điều đó nhưng khi nói chuyện công việc hoặc có ai đó nữa thì nàng ý thức rất rõ nàng phải vợ, chẳng phải tình nhân, chỉ là một nhân viên quèn, cấp dưới của anh ta và chẳng có ý nghĩa gì với anh ta để mà ghen tuông hay tức giận, nàng chỉ là kẻ mà thỉnh thoảng anh ta buông vài câu tán tỉnh vô thưởng vô phạt mà thôi. Anh ta là người thừa khôn ngoan để có thể vừa thương vợ quý con, vừa yêu một cô bồ trẻ trung xinh xắn lại vừa tán tỉnh vài cô ngu ngốc như nàng. ở bên anh ta, nàng luôn cảm thấy mất tự tin. Anh ta thông minh hơn nàng quá nhiều làm nàng lúc nào cũng nơm nớp sợ anh ta khiển trách, sợ anh ta chê mình ngu dốt. Mặc dù thế nàng vẫn thích được làm việc cùng anh ta vì nàng học được ở anh ta nhiều điều. Nàng biết đó chính là động lực khiến nàng cố gắng: không phải vì đồng lương, không phải vì danh vọng mà chính là vì nàng muốn một lúc nào đó nàng hoàn toàn tự tin trước anh ta. Bất giác nàng quay sang nhìn anh ta. Nàng thích khuôn mặt của anh ta khi nhìn nghiêng. Anh ta cũng quay sang nhìn nàng và lẩm bẩm một câu bằng tiếng Anh: "Tôi muốn hôn lên đôi môi em". Thế đấy, anh ta không bao giờ giấu giếm rằng nàng có đôi môi đẹp và anh ta rất muốn hôn đôi môi nàng nhưng chưa bao giờ anh ta nói rằng anh ta thích nàng cả. Nàng giả vờ ngạc nhiên: "Sao anh lại đùa thế?". Bất ngờ anh ta cười phá lên: "Em giống hệt cô bạn gái của tôi ngày xưa, cho dù tôi có nói thì nói thầm cô ấy cũng vẫn hiểu, còn những câu tôi nói rõ ràng mạch lạc thì lại chẳng hiểu gì cả". Nói xong anh ta lại cười. Nàng ngượng nhưng phải tự thú nhận rằng nàng rất thích tiếng cười của anh ta: tiếng cười thật vang, thoải mái, phóng khoáng và rất ngạo mạn. Có mấy ai cười được như anh ta?Tiếng chuông điện thoại cắt đứt câu chuyện. Ai gọi đến giờ này không biết! Nàng thấy anh ta nhấc máy và ừ ừ một hồi, quay sang nói với nàng: "Tôi về trước nhé, bà xã tôi mang áo mưa đến rồi".

Anh ta về. Nàng ngồi một mình, cảm thấy như bị bỏ rơi. Và nàng biết rất rõ tại sao nàng lại không chọn anh ta làm người tình. Nàng đã quen được đàn ông săn đón, chiều chuộng, mà đó lại chính là điều nàng không bao giờ nhận được từ anh ta. Trận mưa to năm ngoái, chồng nàng - khi đó mới là người yêu của nàng thôi - mang áo mưa đến cho nàng và đưa nàng về nhà. Bố mẹ nàng đã rất hài lòng vì cậu con rể tương lai chu đáo, thương vợ. Thế mà bây giờ đã hơn bảy giờ rồi vẫn không thấy tăm hơi đâu. Nàng nghĩ hay là chồng nàng cũng đang ướt như chuột lột ở đâu đó rồi. Nàng gọi điện đến công ty thì không có ai nghe máy, gọi điện về nhà thì "ông xã" hỏi luôn: "Em không về còn ở đấy làm gì? - Mưa á? Mưa thì mua áo mưa mà về chứ còn đợi gì nữa?". Nàng vâng gọn lỏn rồi cúp máy. Đây là lần đầu tiên từ khi cưới chồng nàng nói với nàng bằng cái giọng lạ lùng ấy. Nàng cảm thấy hơi thất vọng. "Hơi" thôi bởi vì trước khi cưới nàng đã được các bậc đàn chị đi trước cảnh báo về các ông chồng trong tương lai rồi và vì thế nàng đã chuẩn bị tinh thần từ trước là sẽ có lúc sẽ nhận được câu nói này. Nàng gọi điện cho bố. Bố nàng vẫn chưa về: "Bố đang định về đây, con chưa về à? - Không có áo mưa à? - Sao con không mua một bộ mà về? - Không chạy ra mà mua được à? Thế thì đợi chút nữa ngớt mưa rồi hãy về không ốm đấy! - à hay là con cứ ở đấy đi, tẹo nữa bố mang áo mưa đến cho. Bố có mỗi một bộ, bố ra kia mua cho con bộ nữa rồi hai bố con cùng về - ừ! ói hả! Hôm nay ở lại bố mẹ ăn cơm, bao giờ hết mưa nó sang đón rồi về. Thế nhé!". Nàng cúp máy và cảm thấy hạnh phúc lại tràn đầy. Nàng vừa hát vừa bật máy tính lên chơi điện tử. Vừa chơi được một lúc thì lại có điện thoại. Hay là ông chồng yêu quí của nàng nghĩ lại rồi không biết. Đầu dây đằng kia là một giọng đàn ông, không phải giọng chồng nàng, không phải giọng bố, mà là giọng anh ta: "Tôi mang áo mưa đến cho em nhé". Nàng từ chối và đột nhiên cảm thấy giận dữ. Anh ta làm như thế để làm gì cơ chứ. Anh ta biết thế nào nàng cũng từ chối còn giả vờ giả vĩnh làm gì. Nếu mà nàng có đồng ý thì anh ta cũng đâu có dám đội mưa mà mang áo đến cho nàng! Nàng biết anh ta lắm chứ. Thế rồi câu cuối cùng trong máy điện thoại là: "ừ thế thôi nhé, chút nữa tạnh mưa rồi hãy về. Hôn em thật nhiều!". Nàng nghĩ thầm: "Vâng thưa sếp, 12 giờ đêm mới tạnh mưa".

Nàng tiếp tục chơi điện tử nhưng không được tập trung lắm. Nàng nghe thấy tiếng mưa rơi bên ngoài liền mở cửa đi ra. Trời đã tối lắm rồi. Mưa to làm ánh đèn đường nhòe đi. Nàng lắng nghe tiếng mưa. Dường như mưa đã ngớt rồi thì phải. Nàng cảm thấy có ai đó gọi tên mình, lẫn trong mưa. Nàng chạy xuống mấy bậc cầu thang, ghé tai vào cửa sổ. Đúng là bố gọi rồi! Nàng chạy hai bậc một xuống tầng trệt. Bố nàng mặc áo mưa kín mít làm nàng thiếu chút nữa thì không nhận ra. Nàng nghe loáng thoáng tiếng bố lẫn trong tiếng mưa: "Mặc nhanh lên rồi hai bố con cùng về".

Mưa lại đổ xuống. Hai bố con mỗi người một xe. Nàng co hai chân lên, để số một và bắt đầu biểu diễn tài nghệ "tay lái lụa", khoái chí khi thấy nước bắn tung toé sang hai bên. Bố chắc không chịu nổi nửa bánh xe. Trời đã ngớt mưa nhưng nước thì chẳng rút đi chút nào, lại thêm đông người đi lại làm cho nước sóng sánh, chao đảo giống như khi nàng cho cái muôi vào nồi múc canh vậy. Nàng cười thầm cái tính háu ăn của mình. Gần tám giờ rồi còn gì nữa mà không đói! Bao nhiêu chủ đề thì cuối cùng cũng quay lại ăn uống thôi!

Mưa thưa dần. Gần về đến nhà thì bố bảo nàng: "Trời ngớt mưa rồi lại tiện quần áo, con đi về luôn đi kẻo nó mong". Nàng đi một đoạn nữa thì trời tạnh hẳn. Thế là đã qua một cơn bão!./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Cố hương

Vũ Minh Thuý


Mẹ hối hả đến tìm tôi với bức điện: "Em chuẩn bị lên tàu, chiều mai sẽ về đến nhà".

- Đi đi con, có nhẽ bây giờ tàu đã về đến ga rồi - mẹ tôi giục.

Tôi cắm đầu cắm cổ đạp. Chiều lưng lửng buông từng giọt nắng hanh vàng qua kẽ lá, rơi xuống con đường làng lát gạch nghiêng. Nắng leo reo như những vụm lửa nhảy nhót trên tay tôi.

Từ đằng xa, tôi đã nhìn thấy cô. Cô đứng bên túi đồ đạc to tướng, ngóng lên đường. Sân ga tấp nập kẻ đưa người đón.

- Cô - tôi hét tướng, vừa chạy vừa dắt xe qua cửa ga, lao đến cô.

- Lê, bà sao rồi? - Cô hỏi hấp tấp.

- Bà đỡ nhiều rồi cô ạ - Tôi nói nhanh để cô yên tâm.

- Có thế chứ - cô thở phào - Ngồi trên tàu cô cứ nhấp nhổm như ngồi đống than. Chỉ sợ... không về kịp.

Nhìn cô bơ phờ, mắt đỏ hoe, tôi hiểu rằng cô đã khóc rất nhiều.

- Cô ra đây thì nhà cửa với các em thế nào? Hai mươi nhăm Tết rồi!

- Anh em nó lên bà nội ở, ngày ngày các chị đưa đi học. Nhà thì cô khoá, thi thoảng bà nội qua lại trông nom. Lê này, bà ốm đã lâu chưa?

- Dạ, đã vài tháng. Đợt rét vừa rồi bà quỵ hẳn, tưởng đi. Bố mẹ cháu bảo điện cho cô về. Hai hôm nay nắng ấm, bà khá nhiều, bữa ăn được lưng bát cháo.

- Lạy trời bà qua được mùa rét năm nay. Cô tính ở nhà lâu lâu chăm cho bà khoẻ hẳn. Sang xuân ấm lên là yên chí được rồi.

Tôi đèo cô đi lối tắt cho gần. Đến ao sen đầu làng cô bảo dừng xe để cô rửa chân tay. Nước trong văn vắt ngấn lên bắp chân cô trắng ngần. Cô đứng lâu, lâu lắm, ngắm nghía dậu cúc vàng rực, vấn vít những tơ hồng.

- Cô Hay về, chúng mày ơi, cô Hay về - Bọn trẻ vừa hò reo, vừa chạy theo cô cháu tôi. Chả hiểu ai bảo mà chúng nó biết tên cô nhanh thế!

- Ô, cô Hay phải không? Gớm, u cô mong mãi, về mau đi - bà Hà Hoè đon đả.

- Chào các bà, các bác, chào ông... cô tôi luôn miệng cười tươi.

- Cô ấy cứ đẹp ra, trẻ reo rẻo, trẻ hơn hồi năm kia đem thằng con về, các bà nhẩy! - Thím Xèng hể hả.

Bà mừng quýnh, đôi mắt mờ đục rớm nước, ánh lên những tia sáng. Cả xóm kéo đến chật nhà. Cô tôi chia kẹo khắp lượt cho bọn trẻ.

Cô tôi bây giờ là Huê - Thanh Huê. Hay là tên ngày xưa, trước khi cô tôi đi Nam. Bố tôi, cô tôi, chú tôi đều là anh em ruột, nhưng không phải con đẻ của bà tôi.

Trước khi lấy bà tôi, ông tôi nghèo lắm, chỉ được cái đẹp giai, lành nhất xóm, ai cũng quý, thường gọi là cu Tiếu. Bố mẹ ông tôi không một tấc đất cắm dùi, suốt đời đi cày thuê, cuốc mướn. Bà tôi sắc sảo khôn ngoan mà cao lớn trắng trẻo. Bà mê ông tôi lắm. Bao nhiêu đám ngấp nghé, bà chả thèm đếm xỉa, một mực chỉ lấy anh Tiếu! Cụ tôi bực lắm, gả bán qua quýt, gần như để bà theo không ông tôi. Sau sợ con gái đói khổ, cụ cho hai sào ruộng, bà tôi nhất quyết không nhận. Có đôi khuyên tai tích cóp làm vốn từ thời con gái, bà bán phăng, sắm một con thuyền gỗ, vợ chồng quanh năm rong buồm dọc sông Đáy, nước trong leo lẻo, len lỏi qua Kẽm Trống, Kiện Khê, Chùa Bà Đanh..., tháng Giêng nước xanh như ngọt; vào tận Nho Quan (Ninh Bình), Thanh Hoá. Khi vào thì chở muối, đường, mật, gạo, tương, cà, mắm tép... Khi ra thuyền chất đầy củi, sắn, ngô khoai, đỗ, lạc, măng... Dọc triền sông, vô số chợ quê sầm uất, trên bến dưới thuyền. Hàng hoá sẵn đấy, cái gì đắt thì bán, cái gì rẻ thì mua... lãi trông thấy. Thỉnh thoảng ông bà mới lên bờ về nhà nghỉ ngơi.

Làm ăn lên như diều, bà trích tiền mua dăm sào ruộng, mua cho ông chức Lý trưởng. Từ anh cu Tiếu, ông tôi trở thành ông Lý Tiếu. Một tay bà tôi gây dựng cơ nghiệp, sinh được mụn con giai, xóm giềng ai cũng khen. Nhưng bà tham việc ra đồng sớm, bà tôi bị sản hậu thập tử nhất sinh. Cởu con thiếu sữa sài đẹn, chưa đầy một năm đã bỏ ông bà mà đi. Bà tôi ngất lên ngất xuống. Sau chữa chạy mãi thì khỏi ốm, nhưng thầy thuốc bảo bà không thể sinh nở được nữa. Nhiều người khuyên ông bà xin con về nuôi, bà không chịu. Bà thương ông lắm.

- Ông ơi, ông nghe tôi, lúc thầy u khuất núi đã dặn vợ chồng mình phải cố gắng cho được thằng con giai nối dõi tông đường. Nay tôi không may đành phận, nhưng nhà ta quyết không thể tuyệt tự được.

- Đã bảo không là không. Vợ nọ, con kia, rồi sinh chuyện này chuyện nọ, làng xóm người ta cười vào mặt cho!

- "Nuôi con chồng hơn bồng con người", ông không nghe các cụ nói à. Ông yên chí, xưa nay chỉ có chuyện "Dì ghẻ con chồng", chứ tôi... tôi là mẹ già cơ mà!

- Bà chỉ vẽ chuyện! Không nói lôi thôi! - Ông khăng khăng.

- Tôi sẽ tìm vợ cho ông. Ông mà không chịu, tôi về nhà bố mẹ ở cho mà xem! - Bà khóc tấm tức.

Rồi bà làm thật. Cuối cùng ông cũng nhượng bộ, cưới bà Hai tôi. Bà Hai con nhà nghèo, không xinh lắm nhưng thuỳ mị, nết na, được bà tôi bảo ban như em gái. Chị em thân nhau lắm, ăn ở không có điều tiếng gì.

Về nhà chồng chưa đầy năm thì bà Hai sinh bố tôi. Bà tôi quý hơn vàng, ôm ấp nựng nịu như con đẻ ngày xưa. Bố tôi rúc đầu vào ngực bà, mút chùn chụt, tia sữa của bà tôi thông trở lại.

Chăm bẵm mẹ con cứng cáp, bà tôi bảo:

- Nhà khan tiền, tôi với ông ấy đi thuyền vài chuyến, chờ đến vụ gặt, dì ở nhà chăm con, ruộng đồng tốt xấu cứ mặc tôi. Đừng sốt ruột tham làm, rồi sản hậu như tôi ngày xưa thì khổ!

Một năm sau, bà Hai lại sinh cô tôi, đặt tên là Hay. Đợi con gái cứng cáp, ông bà tôi lại lên thuyền, bồng theo bố tôi. Người chống sào, người bẻ lái và trông con. Đêm đêm, bố tôi lại rúc vào ngực bà. Dòng sữa tuy ít nhưng vẫn ngọt ngào. Bà tôi ứa nước mắt vì hạnh phúc.

Cứ hết một chuyến hàng, ông bà tôi lại lên bờ. Bà tôi bảo ông ở nhà với bà Hai, trông nom ruộng vườn, còn bà thì rủ bà em họ, bồng bố lên thuyền. Khi cô tôi được 6 tuổi, bà Hai tôi mới sinh thêm chú Sơn. Bố tôi đã lên 7, ở nhà giúp mẹ trông em và đi học, còn cô tôi theo ông bà đi thuyền.

Cô tôi xinh xắn, ngoan ngoãn, được bà tôi yêu lắm. Cho đến tận bây giờ, cô vẫn nhớ như in những khúc sông lấp lánh đầy sao, gió nồm thổi mát rượi. Trong lòng bà tôi, cô tôi thiêm thiếp ngủ. Sáng dậy, bừng mắt thấy mênh mông sông nước, đôi bờ vàng rực màu hoa cải. Những khi thuyền neo bến lở, sung si lúc lỉu ngang đầu. Thú nhất là cô được bà tôi bế đặt lên mui thuyền, với tay hái những quả duối chín mọng, vàng óng, quả mâm xôi đỏ rực, tha hồ nhấm nháp. Những khi theo bà tôi lên chợ, hoa mắt ngắm nghía các bà, các cô dân tộc mặc váy xanh đỏ sặc sỡ, hàng hoá đủ các màu sắc, ăn đủ loại bánh trái, hoa quả.

Song những ngày tháng thần tiên ấy chẳng được bao lâu. Bà Hai tôi bị cảm, mất đột ngột, để lại chú Sơn mới có 5 tháng tuổi. Ông bà tôi quyết định bán thuyền, tập trung làm ruộng, nuôi nấng các con. Chú Sơn lớn lên bằng nước cháo và những hạt sữa cuối cùng của bà tôi. Chú vừa mút vừa khóc ngằn ngặt, sữa chỉ rớm môi, còn ngực bà tôi thì bỏng rát.

Vậy mà chẳng được bao lâu, ông tôi lại bỏ bà tôi vì ngã nắng giữa buổi cày. Bà tôi khóc cạn nước mắt. Nếu không vì 3 đứa con thơ dại thì bà đã liều mà đi theo ông tôi.

Từ đó, một mình bà tôi vật lộn với cuộc sống. Ban ngày làm đồng quần quật, tối về xay lúa giã gạo, cám bã lợn gà, cùng cục đến nửa đêm mới ngủ. Gà gáy canh ba đã vội vã thức dậy. Cực nhất là vào vụ gặt, ban ngày cắt lúa ngoài đồng, tối về đập lúa, sàng sảy thâu đêm suốt sáng.

Năm ấy, hai mươi chín Tết.

Tối nhọ mặt người, bà Ba xưng reo réo ngoài ngõ:

- Hớn ơi, u mày bảo cứ cho các em ăn trước đi, u mày còn cấy cố.

- Thím thấy u cháu còn mấy đóm mạ nữa? - Bố tôi vội vàng chạy ra.

- Ôi dào, tao lên bờ giời đã nhá nhem, rét cóng cả người, để ý gì. Nom như còn nửa lối cấy nữa cơ!

Bố tôi quay vào, giục cô tôi xới cơm bón cho chú Sơn. Mâm cơm nguội tanh nguội ngắt, có mỗi đĩa rau muống luộc đỏ quạch chấm tương. Chú tôi khóc èo ẹo đòi u.

Khoảng 8 giờ tối, có tiếng ông Hai Hoè hổn hển ngoài cổng:

- Thằng Hớn đâu, mau mang ôm rơm lên đây đốt cho u mày... sưởi!

Nhìn ông Hoè còng lưng cõng bà tôi, bố tôi run bắn người, vừa mếu máo vừa lập cập ra đống rút rơm.

- Đốt nhiều vào, để tao chạy về lấy chai rượu gừng.

Chưa giập bã giầu, cả xóm kéo đến chật nhà. Người bà tôi tím tái, lạnh giá. Xoa hết chai rượu gừng, đốt mấy ôm rơm, bà tôi mới hồi dần. Mọi người thở phào, ông Hai Hoè oang oang:

- Bà á, có nhẽ đến chết bà cũng không hết chứng tham. Rét cắn thịt, tối bưng mắt, nhìn thấy gì mà cấy mới chả hái. May mà con bé nhà tôi để quên cái bồ cào, tôi sợ nhỡ sáng ra có đứa nào thuổng mất, vấp phải bà ấy đang gục ở bờ ruộng, chứ không hôm nay bà ấy đi tong rồi.

Bà tôi cười nhợt nhạt:

- Vâng, tối quá, em chả nhìn thấy gì, cứ cấy phỏng chừng. Nhưng mà cũng đều ra phết đấy bác ạ. Nhận ruộng rồi, cố cho xong. Mai đã là ba mươi Tết rồi, em đã mua sắm được gì đâu!

- Thằng Hớn, hôm qua tao thấy u mày giã gạo nếp, mang rá vào buồng xúc cho tao dăm bơ, sáng mai tao gói bánh ninh một thể, nồi đương rộng. Đỗ nhà tao vô khối, nhân tha hồ ngon.

Bà Tuất bưng nồi cháo gừng thơm phức từ dưới bếp đi lên, đỡ bà tôi dậy:

- Nào, thím ăn cháo đi, húp thật lực mới lại sức. Còn thịt lợn, nếu thím chưa đụng với ai, bên tôi hẵng còn nửa đùi đấy. Tiền thì không phải lo, giêng hai hay lúc nào giả chẳng được. Khoai tây, măng miến, rau cỏ, mai tôi đi chợ mua hộ một thể, thế là được chứ gì? Cứ yên trí mà nghỉ ngơi nhá!

Bà tôi cảm động ứa nước mắt. Khi mọi người về cả, bà bảo bố tôi dọn dẹp qua loa rồi lên giường. Bà quàng tay ôm cả 3 đứa con vào lòng, nước mắt giàn giụa, bụng khấn: "Ông ơi, giời còn để mắt đến nhà ta, cho tôi được sống nuôi các con nên người. Ông khôn thiêng cố phù hộ cho mẹ con tôi, ông nhá!".

Rồi thì các con của bà tôi cũng theo nhau mà lớn lên. Lao động cật lực cùng nỗi đau đã vắt kiệt sức lực bà tôi. Chưa đến bốn mươi tuổi mà bà tôi tiều tuỵ quá. Năm bố tôi mười sáu tuổi, bà tôi cưới vợ cho con trai để thêm người đỡ đần việc nhà. Tôi là đứa con đầu lòng của bố mẹ tôi.

Giải phóng miền Nam, ông cậu ruột (em trai bà Hai tôi) từ miền Nam, xin bà tôi được đưa cô tôi vào thành phố Hồ Chí Minh rồi xin việc làm trong đó "để khỏi chân lấm tay bùn". Vào Nam, cô phụ giúp bà mợ bán hàng. Phố xá làm cô tôi mau nõn nà. Mấy tháng sau cô tôi lấy chồng - con một thiếu tá Nguỵ đã sang Mỹ dạo 30/4. Cưới được ít lâu, mẹ chồng cho cả hai ra ở riêng. Nhà mặt phố, cô bán lặt vặt cũng đủ sống, dư dật lại gom góp gửi về biếu bà và bố mẹ tôi. Bà bảo dành dụm để sửa nhà, và ngôi nhà lợp ngói nam mấy chục năm dột nát đã được sửa lại, thay bằng ngói ta đỏ tươi. Bà tôi về già lại béo khoẻ, hồng hào ra. Cả làng ai cũng bảo bà tôi hồng phúc, có được những đứa con hiếu thảo.

Được hai đứa con, ông bố bảo lãnh cho chồng cô tôi sang Mỹ và ở hẳn bên đó, thỉnh thoảng gửi tiền về. Cuộc sống sung túc trở nên nhạt nhẽo, cô tôi gửi thằng con lớn cho mẹ chồng, đem thằng nhỏ ba tuổi về quê chơi. Lần ấy, cô tôi cứ nấn ná mãi, không muốn đi. Cô bảo ở quê bây giờ sướng thật. Ngày xưa, nửa làng là nhà tranh, bây giờ toàn nhà ngói. Đường làng trải đá răm sạch sẽ, không còn lầy lội nữa. Mùa gặt, đồng được tháo kiệt nước, máy tuốt lúa mang ra tận ruộng. Ngày xưa, gặt lúa, ruộng bùn sút đến ngang lưng, ì ạch gánh từng gánh, đập lúa thâu đêm suốt sáng. Vậy mà còn mừng vì có hột ăn, mất mùa thì trắng tay. Tháng ba ngày tám đói dài, ăn củ đao, củ chuối là chuyện thường. Ngày xưa... Cô tôi cứ xuýt xoa mãi.

Rồi cũng đến lúc phải lên tàu về Nam. Tôi theo cô vào đó hai năm. Cuộc sống nhàn hạ, nhưng tôi thấy buồn nhớ quê, nhớ khung thêu da diết. "Nó bảo một lòng chờ con về, gái làng chả có ai vừa xinh vừa thêu giỏi như con" - mẹ tôi viết thư và bảo thế. Vậy là tôi về. Cô tôi khóc nhiều lắm! Ngày cưới tôi, cô tôi không về được, gửi đôi hoa tai làm quà mừng, nói là để hai vợ chồng làm vốn.

Hội làng năm nay mở đúng rằm tháng Giêng. Gần như suốt 3 ngày, cả nhà ngoại tôi có mặt ở ngoài đình. Bố tôi là chủ tế, mẹ tôi chỉ huy việc nước nôi, nấu nướng... Em gái tôi trong đội múa (gồm hai mươi cô trinh nữ), em trai tôi ở trong đội rước kiệu. Bà nắm tay cô tôi đi trong đám rước. Nét mặt bà tôi rạng rỡ, trông trẻ ra vài tuổi.

Đình làng tôi thờ ba vị tướng tài thời xưa, là ba anh em ruột có công giúp vua đánh giặc giữ nước. Vì thế, lễ rước gồm ba cỗ kiệu lớn: Kiệu ông Cả, kiệu ông Hai và kiệu ông Ba. Dẫn đầu là đội rồng-lân múa mở đường, khoan thai uyển chuyển, múa lượn trong nhịp trống trầm hùng. Đoàn rước đông nghìn nghịt, dài hàng nửa cây số, màu cờ sắc áo rực rỡ, dập dìu trên đồng lúa xanh non, rước về miếu Hai cô, rồi vòng trở về đình trên con đường chính giữa làng được lát gạch nghiêng. Có những lúc cả ba cỗ kiệu tự dưng quay tít trên đầu người khiêng rồi lướt nhanh như bay làm đôi kiệu chạy bở hơi tai, mặt người nào người nấy đỏ lựng, lấm tấm mồ hôi. Mọi người chạy theo ào ào, thầm thì: các ngài vui quá, đang đùa với con cháu đất! Có lúc kiệu dừng hẳn, đội kiệu cố sức cũng không nhích được bước nào. Lại tiếng thì thào: Ông Ba đùa đấy, ông Ba nhỏ tuổi nhưng thông minh, nghịchngợm nhất mà! Chả biết việc kiệu quay, kiệu dừng diễn ra trước mắt tôi có thật hiển linh hay không, hay là do tài nghệ "điều binh khiển tướng" của các cụ nhà ta đối với đội khiêng kiệu! Song sực thực thì chính điều đó làm cho lễ rước trở nên vừa trang nghiêm long trọng vừa tưng bừng náo nhiệt đến tột độ, làm nên phút thăng hoa trong tâm thức của cả một cộng đồng, gắn bó mọi người trong vẻ đẹp lộng lẫy mà tinh khiết, thánh thiện.

Kiệu dừng trước sân đình. Đội rồng, lân trình diễn những điệu múa ngoạn mục nhất, mời ông Cả, ông Hai, ông Ba vào đình.

Nhìn hai mươi cô trinh nữ má đào, yếm thắm, áo dài tứ thân bằng lụa hồng, thắt lưng hoa lý rộn ràng, uyển chuyển trong điệu múa xênh tiền, bà tôi thì thầm:

- Hay này, trông con Lụa giống hệt con và mẹ đẻ con ngày xưa!

- Vâng, may mà ngày ấy con may mắn được chọn vào đội. Nhưng mà bây giờ quần áo sắc màu đẹp hơn, lễ rước to hơn nhiều - cô tôi bồi hồi, se sẽ đáp.

Suốt ba ngày hội, không khí trong làng lúc nào cũng ồn ào, náo nhiệt. Hết phần tế lễ là phần hội: ban ngày thi bơi chải, kéo co, bắt vịt, vật, đánh cờ...; buổi tối các cụ đọc thơ, thi hát chèo, hát trống quân, hát đối... Cô tôi say sưa trong hơi ấm của hội làng.

Bà tôi không qua được vụ rét năm ấy. Người ra đi thanh thản giữa một chiều tháng hai rét ngọt.

Lo gọn ghẽ lễ cầu siêu bốn chín ngày rước vong hồn bà lên chùa, cô tôi mới lên tàu vào Nam.

Hơn mười năm sau, vào độ cuối tháng Chạp, bố mẹ tôi nhận được thư của cô tôi: "Em đã bán nhà để ra Bắc ở hẳn với anh chị và các cháu. Các con em đã ở bên Mỹ cả, chúng nó cũng nhất trí quyết định của em. Tiền của bố con nó gửi về sống dư dật, nhưng em ở trong này buồn lắm. Em sẽ về trước Tết, còn kịp dự hội làng"./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chiếc áo sơ mi đầu tiên

P.T.T


Trong dòng đời không ngừng trôi chảy hết ngày lại đêm, hết mưa lại nắng - sự tồn tại của nụ cười và cả những nước mắt thường đều bắt đầu từ nhịp đập của hai trái tim. Với tôi, đứa con gái 28 tuổi, dường như đã mỏi mòn đi tìm nửa phần còn lại của mình giống như một người lữ hành lỡ lạc đường vào sa mạc mênh mông, cứ nhắm mắt lại là thấy trước mặt mình một hồ nước trong. Hân nói với tôi: "Yêu, nghĩa là yêu trước đã". Tôi vẫn chưa hiểu Hân nói gì cho đến khi gặp Miên. ừ, nếu không gặp Miên thì sa mạc sẽ vẫn là sa mạc. Nhưng cơn nắng gió chết người biết đâu sẽ cuốn tôi cùng nó chết khô.

Hân là cô bạn thân duy nhất của tôi, hơn đúng một tuổi. Hân có mái tóc chỉ cắt vừa ngang ót, lộ ra chiếc cổ trắng ngần mà bất cứ ai cũng muốn nhìn. Hai đứa học chung lớp với nhau suốt cả 9 năm học phổ thông, hợp tính hợp tình với nhau nên trở thành bạn thân, có điều khác nữa là hai đứa đều sinh ra ở Thái Nguyên, rồi sau ngày giải phóng, cha mẹ cùng vào Nam làm việc, nên những kỷ niệm mơ hồ từ thuở chiến tranh càng khiến cho Hân và tôi thân nhau hơn. Tôi và Hân lại có cái nhìn khác nhau về tình yêu. Hân vẫn chủ trương chọn một anh chàng gốc gác Hà Nội để gửi thân. Hân nói: "Con trai Bắc ngó thế chứ nó chiều vợ lắm. Nó biết nấu cơm, chẻ củi, lau nhà, cho con ăn và cả... treo mùng cho vợ ngủ". Từ quan niệm đó, Hân chỉ chằm bẳm nhắm vào những anh chàng quê ở Hà Nội vào đây lập nghiệp. Rồi Hân cũng gặp hai anh gốc Hà Nội thật. Anh chàng đầu tiên là một kỹ sư nông nghiệp, tình nguyện vào miền Trung, lại chọn huyện miền núi Khánh Sơn để làm việc. Mới đi chơi với nhau hai lần, Hân lắc đầu nói với tôi: "Thất vọng lắm, Miên ơi, hắn nói tao có tiền cho hắn mượn mua cái xe, không thôi thì hắn mượn con nhỏ làm ở bên ngân hàng...". Tôi chẳng hiểu tại sao Hân lại giận dữ vì chuyện đó, sau mới biết là anh chàng nhờ cái mã đẹp trai, cái mác kỹ sư của mình đem đi tán gái, thực ra thì anh ta đã có một bạn gái hứa hôn ở Hà Nội, chàng dự định chịu khổ vài năm ở vùng đất nghe nói đang phát triển trồng cây cà phê, kiếm được ít tiền sẽ đưa cô vợ tương lai vào định cư luôn. Mất anh chàng kỹ sư, Hân vẫn tươi rói như chẳng có chuyện gì xảy ra, bởi nó hiểu ra sự ngộ nhận. Chàng thứ hai thì hiền như một thư sinh, có lợi thế là bà con họ xa với ba, với Hân ngoài Bắc. Anh chàng chẳng biết tìm cách nào đó đã có địa chỉ nhà Hân trong tay. Do Kim, tên ông anh họ xa bên nội chưa kịp có chỗ ở nên "tạm trú" tại nhà Hân cả tháng trời. Đó cũng là một anh chàng đẹp trai với hàm râu con kiến tỉa tót khá công phu. Tôi có đi uống cà phê chung với Hân và Kim vài lần. Tôi khó chịu thật sự về cái thói lẳng lơ của Kim, chỉ cần Hân lơ đễnh ngó mắt đi chỗ khác là ngay tức khắc chàng liếc mắt ỡm ờ với tôi. Có hôm, tôi đang ở nhà vào buổi chiều thứ bảy thì nhận được điện thoại của Kim, Kim nói là Hân nhắn tôi sang nhà Hân có chuyện. Tin thật, tôi tới nhà Hân thì chỉ thấy có mỗi mình Kim ở đó. Kim ngay tức khắc ôm chầm lấy tôi, may mà tôi né tránh được.

Hai mối tình ỡm ờ của Hân làm cho tôi thật sự thất vọng, tôi hồ nghi về cách yêu của họ. Yêu nghĩa là yêu trước đã, tôi hoàn toàn không chấp nhận kiểu yêu bắt cá hai tay, tính toán thiệt hơn với nhau. Vả lại, trong tình yêu làm gì có tiêu chuẩn Bắc Nam hay học vị? Tôi cũng thường nghe bạn bè và cả những cô gái trong các cuộc thi sắc đẹp thường phát biểu: "Người tôi yêu phải hơn tôi một cái đầu cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng".

Giờ đây thì Hân đã lập gia đình được một năm, chuẩn bị sinh con đầu lòng. Chồng Hân, Sinh lại chẳng dính líu gì đến những tiêu chuẩn mà Hân đưa ra. Thứ nhất là Sinh là dân Vĩnh Long, một miền đất có nhiều nhánh sông, nhiều vườn cây trái và vừa được dư luận quan tâm bởi sự kiện khánh thành cầu Mỹ Thuận. Sinh trắng trẻo, hiền lành, thật thà và hết thảy yêu Hân vô cùng. Hai người gặp nhau trên một chuyến đò từ Tam Kỳ về Nha Trang. Xe đò dừng lại ở ngã ba Thành khi đã 2 giờ đêm. Hân sợ phải leo lên một chiếc xe ôm xa lạ để về nhà khi đoạn đường cần đi khoảng 12 cây số. Sinh tình nguyện cùng theo xe đưa Hân về nhà. Mặc dù là dân gốc Vĩnh Long, nhưng Sinh lại đang học lớp chuyên môn về dạy Pháp Ngữ tại Nha Trang. Hân cũng tham dự lớp đó. Nếu hai anh chàng kia "ăn" Sinh cái mã đẹp trai thì Sinh lại chinh phục trái tim Hân bằng tình yêu thật sự của mình. Với Sinh, làm được việc gì cho Hân thì đó chính là niềm vui lớn của anh. Anh lo chép bài khi Hân bận việc, mưa gió nhưng nếu Hân chỉ bị nhức đầu là ngay tức khắc Sinh có mặt để đem thuốc cho Hân uống... Ngược lại, tôi chưa hề thấy ai được Hân lo lắng như lo cho Sinh. Sự hoà trộn thật khéo léo đã khiến cho hai người luôn ngập tràn hạnh phúc và tin yêu lẫn nhau. Ngay cả bây giờ, khi hai người đã về chung cùng một mái nhà. Tôi thấy Hân biết đi chợ, thỉnh thoảng lại làm món thịt luộc mắm tôm mà Sinh thích. Ngược lại, Sinh chú ý đến những buồn vui của vợ. Họ vì nhau nhiều hơn là vì mình.

Sinh và Hân là tấm gương soi rõ ràng cho tôi. Tôi vẫn suy nghĩ rằng có khi trên cuộc đời dẫu có hàng tỷ đàn ông, chưa chắc gì có một người đàn ông hết lòng vì mình. Dẫu rằng nếu so với đám đông, tôi thuộc loại đàn bà có nhan sắc. Nhưng nhan sắc để làm gì khi người đàn ông tìm tới mình chưa hẳn thật lòng với mình, bởi sự nghi hoặc trong tình yêu làm cho người đàn ông đau khổ và buồn phiền. Tôi gặp những người đàn ông săn săn đón đón, họ có vị trí trong xã hội, những chiếc điện thoại cực nhỏ bỏ trong túi áo, bộ râu con kiến tỉa tót và trong ví họ không hề có bạc lẻ. Ai cũng hứa với tôi là sẽ yêu thương thật lòng, nói là trong cuộc đời họ sẽ hiu quạnh đến chừng nào nếu không có tôi cùng sánh đôi. Tôi chưa kịp sóng đôi cùng họ thì họ đã có một người con gái khác. Những cuộc tình tìm tới rồi những cuộc tình tan không mệt mỏi trên thế gian này biến thành truyện ngắn, thành tiểu thuyết cho các nhà văn và cho tôi nhìn rõ ràng hơn bao đãi bôi miệng người.

Rất may là Miên xuất hiện, tôi và anh hẹn khi mùa mưa qua sẽ tổ chức. Đám cưới sẽ nhỏ như tình yêu nhỏ của chúng tôi với chừng 100 khách ở một nhà hàng nhỏ. Tôi biết sẽ có nhiều người từ chối tham dự tiệc cưới của chúng tôi. Bởi Miên là con số không dưới mắt họ - theo cách gọi của mọi người thì tôi hơn Miên một cái đầu chứ không phải anh hơn tôi một cái đầu. Nhưng với Miên, tôi biết anh sẽ không từ nương tay cho tôi bước đi trên con đường đầy sỏi đá. Anh sẽ đau khi trời trở gió tôi trở mình bởi vết thương do té xe gây ra. Anh sẽ không mồi lửa cho điếu thuốc trên môi bùng cháy bởi anh biết tôi không chịu được mùi khói thuốc. Hơn thế nữa, tôi biết rằng không có anh trên cuộc đời này quả thật cuộc sống rất hoang vu. Sự hoang vu của cuộc sống ấy rất may mắn đã không xảy ra với tôi. Tôi sẽ đi mua cho anh chiếc sơ mi sọc đen chiều nay bằng tiền lương vừa lãnh. Đó là chiếc sơ mi tôi mua đầu tiên cho một người đàn ông./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 15:49:07conbo2>
Chuyện không muốn kể

Đỗ Tiến Thuỵ


Nỗi đau thể xác của mẹ đã được khoét bỏ, nhưng nỗi đau trong lòng của mẹ thì lại đang nhức nhối. Mẹ vẫn thường dạy con, anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau, con đã vâng lời nên nhiều chuyện đau buồn của gia đình mình chưa ai biết. Nhưng bây giờ thì con phải nói...

Rét đồng chiêm mạ tía hơ tía hất

Mẹ ăn trầu nuốt cái lạnh vào trong

Thân mạ cắm xuống vạt bùn buốt cóng

Ngậm phèn chua bén rễ trổ đòng...

Mẹ bệnh. Một bên ngực mẹ, nơi tám chị em con bấu vào, hút kiệt và lớn lên đã được bác sĩ khoét bỏ. Khuôn ngực sáu mươi lép kẹp giờ lại thêm hõm xuống. Mẹ nằm đó, bàn chân sần sùi nứt nẻ, kẽ móng còn vương bùn đất đồng chiêm quá tương phản với giường ga trắng. Ngồi bên mẹ bây giờ chỉ có con, đứa mà mẹ đặt nhiều hy vọng và thương yêu nhất, mặc dù con chưa làm được gì cho mẹ ngoài "những bài thơ vô bổ" như lời các em con. Lúc này đây, dưới ánh đèn xám lạnh, mẹ đang trong trạng thái mê, nhưng mẹ ơi, mẹ hãy nghe lời trần tình của con.

Bà ngoại kể. Trong một chầu tổ tôm, ông lý trưởng và ông phó lý đã gật gù thoả thuận. Mẹ về làm dâu nhà ông con lúc tuổi mười lăm. Đêm tân hôn mẹ đóng chặt cửa buồng không cho cậu ấm mười tám tuổi vào động phòng hoa chúc. Ông lý trưởng đập tan tành chiếc điếu bát nõ vàng se bạc, sai người lên gọi ông phó lý. Bà ngoại tất tả mang trầu rượu xuống nhà thắp hương và quỳ sụp xuống lạy mẹ. Mẹ cuống cuồng nâng bà ngoại dậy. Cửa buồng được mở. Chúng con lần lượt ra đời...

Có một lần con xem một bộ phim hài. Có ông nhốt gà chờ vợ đẻ, và khi nghe tin con gái thì thả gà ra. Mọi người cười rần rần, còn con thì bật khóc. Con thấy bộ phim ấy như nói chuyện nhà mình. Nhưng chuyện nhà mình không được như phim. Lý, Sự, Sinh, Mong, Mỏi - năm chị em con ra đời trong sự hầm hè. Chỉ có con, con sinh ra trong tiếng bom rền và chớp lửa phòng không cùng sự hân hoan tột cùng của bố. Con sống trong sự tưng tiu, chằm bặp của cả nhà cho đến năm con vào lớp một. Một chiều con mang bộ mặt lem tím ngoét nhưng vô cùng hớn hở, nhảy chân sáo về nhà để khoe điểm mười đầu tiên. Nhưng chân con khựng lại. Nhà cửa tanh bành, nồi niêu vỡ. Năm chị của con ôm nhau rúm ró góc nhà. Lọ mực xách dây trên tay con rơi xuống sân tím toé. Bố vẫn đập bàn rầm rầm, hầm hố: "Họ nhà này mấy đời chưa có chịu độc đinh!". Mẹ ơi, đêm đó sáu chị em con đã gào khản giọng tìm mẹ khắp nơi. Mãi sau có người đi cấy về chỉ cho chúng con chạy lên Đồng Mả. Mẹ nằm vật vã, rũ rượi trên mộ ông ngoại, mười đầu ngón tay bứt cỏ máu bầm, mặt mẹ sưng húp, khóc không thành tiếng: "ới cha ơi, sao cha gả con như thế cha ơi!...". Các dì, các mợ và sáu chị em con ôm nhau khóc theo trong nghĩa địa đêm gió lùa hun hút. Mãi sau dì Thêm đứng phắt lên gạt nước mắt, gắt: "Chị cứ về tháo vòng ra mà đẻ, xem nó có nuôi được không". Hỡi ơi... Suốt ngày chỉ rượu với tổ tôm... đẻ nữa thì lấy gì cho chúng nó ăn...". "Nó đã tuyên bố thế, không đẻ mà yên được à?".

Và mẹ cắn răng mang bầu lần thứ bảy. Phú, Quý - hai em chào đời trên bờ ruộng mạ chiêm gió đông bắc lùa tím tái. Tiêu chuẩn ăn bồi dưỡng của mẹ là một ổ trứng gà mười quả và một tuần cơm không độn sắn. Mẹ ơi, đến tận bây giờ con vẫn không thể nào quên sau những buổi đi học về con trai lớn của mẹ vẫn được mẹ phần một bát cơm và nửa trứng. Trong căn buồng kín mít ấm sực khói gộc tre và khai nồng nước giải trẻ con, con ăn những miếng cơm ngon nhất trần đời, trong ánh mắt chứa chan của mẹ và nụ cười mụ dại của hai em. "Đàn ông chui vào buồng gái đẻ để cái đầu nó ngu như lợn à! Ma... a... ạt! Họ nhà này mạt đến nơi rồi!". Bố đang hỉ hả nhắm rượu với ngô rang đập bàn quá khiến con giật nảy, nhè miếng cơm nuốt giở. Bà nội lom khom chui vào mò mẫm dắt tay con ra ngoài, sịt soạt: "Đừng vào nữa cháu ơi, bố mày mà đánh thì bà cũng chịu chẳng dám can".

Mười lăm ngày mẹ đã phải ra đồng theo vụ cấy. Hai em Phú, Quý khóc ngằn ngặt trong tay chị Mỏi, chị Mong. Bà nội mắt toét nhoèm mang đĩa bột muối đen màu tro bếp ra dử dê. Hai em nhóp nhép được vài miếng lại ré lên oe oé. Buổi trưa mẹ quần xắn tận bẹn, bổ xấp bổ ngựa chạy về. Mẹ ngồi dựa lưng vào cột đỡ cho hai em bú cùng một lúc. Khi hai bầu vú xẹp lép, nổi gân xanh chằng chịt cũng là lúc mặt mẹ tái dại như dây khoai kiệt nước. Mẹ nói không ra hơi: "Mừng, con vào lấy sắn. Mẹ đói quá!". Bát sắn đen sì mang ra mẹ chưa kịp ăn thì bà Mão láng giềng bế thằng cháu bụ tròn như hạt mít sang, trên tay bà bát cơm trắng muốt: "Thím ăn rồi cho cháu tí nhờ. Cái con mẹ nó ăn thủng nồi trôi rế, béo ị như con trâu trương mà vẫn không có sữa". Mẹ bải hoải, đôi môi tái nhợt, lắp bắp: "Đợi... cháu nghỉ một tí...". Bà Mão dài môi ghé vào tai mẹ: "Thím Mừng này, mai sang nhà tôi lấy lúa về ăn. Người khác tôi lấy lãi dững năm phân, nhưng thím tôi chỉ lấy ba thôi". Mẹ nhắm mắt gật đầu, vén áo. Thằng bé háu đói ngoạm vú mút choàm choạp.

Bà Mão bế đứa cháu toe toét cười ra về, cố ý bỏ lại bát cơm. Bà vừa khuất cổng, mẹ vồ lấy bát cơm bốc vội vàng, nuốt lấy nuốt để. Bất ngờ bà Mão quay lại: "Còn cái bát...". Mẹ sững lại, miếng cơm nghẹn tắc nơi cổ phồng to như quả ổi, mắt giàn dụa nước.

Sau vụ cấy, mẹ bị một trận kiết lỵ đè cho ngã quỵ. Lá mơ lông và trứng gà vừa đỡ mẹ gượng dậy, mẹ đã phải vào rừng Găng đốn củi. Mỗi ngày mẹ gánh hai bó củi gồi to hơn người để đổi lấy một khăn vuông gạo nấu cháo cho bà và các em ăn. Một hôm tối mịt mà mẹ vẫn chưa về. Mọi người bổ đi tìm mãi sau mới ra. Một người Mường đã tìm thấy mẹ nằm gục bên bờ suối, cạnh mo cơm sắn rời rã. Thuốc thang mãi mẹ mới qua được đận ấy. Nhưng cũng từ đó mẹ mang trong mình một căn bệnh kinh niên.

Nhà thiếu đói, hai em con còi cọc, cớm rớm như cặp mèo đi kiết. Các dì, các mợ góp tiền mua sữa bột cho, thứ sữa bột đóng bao năm mươi cân thời đó thường vón cục do quá hạn. Các em con uống sữa bột đi ngoài như tháo cống. Thương con, mẹ cương quyết chỉ cho các em bú mẹ, bú đến tận 3 tuổi mới thôi. Kể từ khi biết ngồi, hai em Phú, Quý bú mẹ mỗi đứa quen một bên, đổi vú chúng dứt khoát không chịu bú. Mỗi lần trái gió trở trời, hai em cùng đau một lúc. Một ly thuốc chia đôi, mẹ cầm thìa khuấy leng keng rồi cho Phú uống trước. Đến lượt Quý, nó giãy nảy không chịu uống. Dỗ dành mãi nó mới ngọng nghịu: "Con uống cái leng keng cơ". Mẹ bật cười và lại khuấy. Leng keng, leng keng. "Nào, u ti tráng miệng nào!". Mẹ gọi, hai đứa ngồi chồm hỗm hai bên như hai con chó con kéo dài vú mẹ...

"Nhà này bảy đời đa đinh", bố gật gù mỗi ngày giỗ Tết. Những ngày đó, bốn bố con ngồi xấp bằng trên ghế phong thư với cỗ mâm đồng. Mâm chõng tre dưới đất là mâm đàn bà, cả bà nội bảy mươi tuổi cũng phải ngồi mâm đó. Và con là người đầu tiên phản đối việc này bằng việc lẳng lặng mang bát xuống ngồi mâm dưới. "Đồ mất dạy! Mày phá nề nếp gia phong nhà tao!". Xung đột giữa bố và con bắt đầu từ đó.

Con học giỏi nhờ những buổi trên lưng trâu đọc sách. Dưới tán phi lao chờ mãn buổi cày luôn có những hình vẽ toán học của con. Bố so bì: "Mày chẳng làm nên tang trạng gì sất. Nhìn thằng Thoan nhà Thụ kìa, mỗi buổi chăn trâu về nó còn bắt được mấy giỏ cua". Mẹ kêu lên: "Giời ơi! Có ai như ông không, khen đứa ham bắt cua hơn đứa ham học". Bố ngàu ngạu: "Mày có học nát xương lòi tỉ thì cũng không ai dùng mày". Lần đầu tiên mẹ văng tục để bênh vực con và nhận thêm một trận đòn nhừ tử. Còn con, con nhào vào bênh mẹ và nhận lấy cái bạt tai nổ đom đóm cùng với bao nhiêu "Chiến tranh và hoà bình", "Sông Đông êm đềm", "Dế mèn phiêu lưu ký", "Những bài toán dành cho học sinh giỏi"... bay vào hố xí. Lạ một điều là lần ấy mẹ không hề khóc. Mẹ gom góp gạo tiền cho con thi đậu cấp ba: "Con cứ học đi, ông nội ông ngoại con mang tiếng địa chủ nhưng chỉ tối ngày tổ tôm, không có nợ máu với cách mạng. Bố mày hận vì bị tịch thu tài sản. Đang sung sướng quen rồi mà". Bà nội thêm vào: "Bố mày dong dóng ăn chơi từ bé đến lớn, muốn gì được nấy. Có lần bố mày đòi ăn trứng Trời, bà phải lén bắc thang mang trứng gà đặt lên nóc nhà...".

Những tháng năm đói kém ấy con đã bấm tuột mười đầu ngón chân trên đường lầy để lên trường huyện học. Trời chưa sáng con đã phải dậy, đón từ tay bà hai củ khoai nỏng hổi hoải bò vào túi quần để vừa chạy vừa ăn cho kịp giờ vào lớp. Vào lớp rồi thì lại ngồi run. Hai củ khoai hết veo trên chặng đường năm cây số. Trong bụng thấy réo sôi lên, còn đầu thì loáng thoáng những phương trình, những tang, những sin, những cos. Con tưởng đã phải bỏ học nửa chừng nếu như mẹ không đi vay lãi mua cho con một chiếc xe đạp tòng tọc không chắn bùn, chắn xích. Lũ bạn ngoài phố huyện con nhà phe phẩy lượn lờ trên những chiếc xe Pơ-zô, Dia-man, Fa-vo-rit trề môi diễu con. Con có độc một bộ đồ xanh chéo, vừa đi học về là phải cởi treo lên ngay, chủ nhật mới đem đi giặt. Có đứa ngồi sau bàn con hỏi kháy: "Bố cậu là công nhân nhà máy dệt Nam Định hay sao mà diện độc một bộ thế?!". Con xấu hổ chống chế: "Tớ có hai bộ giống nhau thay đổi đấy". Nó không tin lén lấy bút đánh dấu rồi đem ra làm trò cười cho cả lớp. Cũng may con học giỏi hơn chúng nên chúng chưa dám khinh. Nhưng ghét thì có. ấy là từ buổi lao động ở chùa Tiên Phương. Sợ con xấu hổ với bạn bè nên mẹ cắt lá dong, lấy khuôn gói "bánh chưng sắn lát" cho con. Trưa ấy con lủi thủi ra sau gốc thông già giở "bánh chưng" ra ăn. Có đứa trông thấy, con vội vàng gói lại rồi bỏ đi, mặc cho lũ bạn con nhà phe phẩy cười hô hố gọi con là thằng ăn tham, có bánh chưng mà giấu ăn một mình. Con bị lũ bạn ghét mà đâu dám thanh minh. Thế nhưng mẹ biết chuyện. Khi hai em con đi học, mẹ thường đem chuyện này ra làm gương để các em noi theo. Bố chửi hất đi bằng điệp khúc cũ: "Có học nát xương lòi tỉ thì chế độ này cũng không dùng chúng mày. Học biết đọc biết viết là được". Nghe lời bố sau mỗi buổi học hai em con biết vác gàu ra đìa tát cá về cho bố nhắm rượu. Lớn thêm chút nữa, bố mua cho mỗi đứa một chiếc cần câu quăng ếch. Sau mỗi buổi câu về ba bố con quây quanh đĩa thịt ếch nấu chuối xanh, hai em Phú, Quý cùng tì tè uống rượu. "Tập cho chúng bay biết uống thì khi già tao mới có rượu uống". Mẹ gào tướng lên: "Giời ơi là giời! Ông làm hỏng con tôi mất!". Bố gầm lên: "Mày làm hỏng con ông thì có. Rồi xem. Hai thằng này sẽ khá hơn thằng nửa đời nửa đoạn kia!", bố ném ánh mắt hằn học về phía con. Mẹ thở dài kéo con ra ngoài: "Tuổi mày với bố mày xung khắc".Khi bà và mẹ bàn cho con nhập ngũ, con đồng ý tức thì. Trong đầu con lúc đó chỉ có duy nhất một ý nghĩ: thoát khỏi ngôi nhà ngột ngạt này càng nhanh càng tốt. Bố mỉa mai: "Lấy máu mà viết đơn! Hai thằng chú mày bỏ mạng ở chiến trường chưa đủ à?". Bà nội mắt đã mờ loà vịn cột đứng dậy quơ quào: "Trời cao đất dày ơi! Hai đứa nó chết nên mày mới có tiền mà đổ vào họng mỗi ngày đấy!".

Ngày con lên đường, bà lần giở bao tượng dúi vào tay con: "Bà cho. Tiền tuất tháng này của hai chú mày đấy. Giờ hết giặc rồi, mày vào đó thì cố mà học. ở nhà có đậu đại học thì mẹ mày cũng không đủ sức lo cho mày đâu".ở đơn vị, khi nghe tin bà mất con đã khóc mấy ngày liền. Và sau đó con lao vào ôn. Con về phép với tin thi đỗ Trường Lục quân. Bố khinh khỉnh: "Hữu danh, vô thực. Sĩ quan đói như ngan ấp, đang xin ra quân một lũ kia kìa". Còn mẹ thì mừng. Hai mắt mẹ ăm ắp nước.Hai em con học đì đẹt, hai năm một lớp. Hết lớp ba đã bỏ. Bố sắm cho mỗi đứa một chiếc xe đạp và một thùng xốp. Hai đứa nhận những que kem nước lã pha đường hoá học vào tận bản Mường để đổi ngô đổi nếp. Tận bây giờ con vẫn còn nghe văng vẳng tiếng còi "kem... mút" và tiếng rao dẻo quẹo của hai đứa: "Ai ăn kem nào. Kem dừa kem sữa, ngọt lử ngọt lừ, dừa quấn dừa quít, dừa vít cong que, già ăn trẻ lại, gái ăn đắt chồng. Ai ăn kem rẻ chạy khoẻ ra mua. Kem mậu dịch đơ...ây!". Mỗi buổi chiều về, từ thùng xốp bọc cót, hai đứa lôi ra đủ nấm hương, mộc nhĩ, có khi là cả một cặp sừng hươu nguềo ngoào. Mắt bố sáng rực lên, miệng cười tấm tắc. Lúc đó thì con còn đang đắm chìm trong những phạm trù triết học. Vật chất và ý thức, cái nào chi phối cái nào?

Khi con ra trường, khoác bộ quân phục sĩ quan thì hai em con đã biết chui vào mấy bãi xe do máy bay Mỹ bắn cháy ở Miếu Môn, móc ngoặc mua xăm lốp, phụ tùng bán kiếm lời. Chúng khụng khiệng trong áo bay quần bò mũ cối trước sự thèm thuồng xoa xuýt của trai làng. Làng bên có tin đồn: Cô Hoa bán quán đầu cầu đẻ con trai giống Phú, Quý y tạc. Mẹ áo khăn te tái "đi đón cháu về". Thằng Quý lừ mắt: "Bà già hâm tỉ độ. Nó ngửa cho cả trăm thằng, biết con ai?". Bố khà một tợp rượu đế vào: "ừ, sang mà đón về. Ông thì băm cho ngan nó ăn". Mẹ bất lực thở dài, chỉ dám thỉnh thoảng lén sang thăm và dúi cho cháu chút quà bánh nhỏ.Giỗ bà năm đó, hai em Phú, Quý mặt rượu đỏ cay đỏ cợi tuyên bố: "Mẹ kiếp Cái đất này giờ khó nhằn rồi. Hai thằng con tính vào Tây Nguyên thử xem sao". Bố rung đùi gật gù: "Có chí làm ăn lớn thế là tốt". Mẹ gàn: "Thôi, ở nhà no đói có mẹ có con. Chẳng đâu bằng quê hương mình".

Hai em đi, con năng về với bố mẹ hơn. Bố không còn hằn học với con nhưng cũng chẳng tỏ vẻ thân tình. Số phận đưa đẩy thế nào con lại chuyển qua làm báo. Mẹ tự hào về con lắm, đi khoe khắp làng. Bố xì một tiếng dài: "Tưởng theo nghiệp võ tao còn được trông cậy. Vẻ vang gì cái nghề ấy, như thằng mõ làng ngày xưa".

Mừng thọ mẹ tuổi sáu mươi, con cháu kéo về cả đàn cả lũ. Mẹ ngượng nghịu trong áo gấm dài thêu. Hai em Phú, Quý mang về biếu mẹ nhung hươu cao cổ. Mẹ thờ ơ nhận: "Mẹ bệnh đại tràng mãn tính, đâu có ăn được những thứ này". Con chẳng có gì biếu mẹ, chỉ có bài thơ đọc trước cả nhà. Thế mà mẹ vui mừng, nước mắt rưng rưng.

Bữa cơm, con hỏi chuyện làm ăn, hai em con tự hào khoe. Ban đầu vào buôn bán nhì nhằng, mua được miếng đất bỏ hoang rộng vung vinh bên đường 14. Đùng một cái tách tỉnh. Miếng đất ấy nghiễm nhiên trở thành trung tâm thị xã. Tấc đất tấc vàng, cứ việc cắt khoanh ra mà bán. Giờ giàu.

Một đứa là chủ tiệm kinh doanh Honda, một là chủ hiệu hàng kim khí điện máy. Hai đứa bảo con: "Ra quân, vào bọn tôi nhường cho miếng đất mà làm ăn. Ham hố đếch gì ba đồng lương chết đói!". Con tự ái: "Tao có lý tưởng sống của tao. Chúng mày mới giàu mà đã lên mặt dạy đời". Thằng Quý xì: "Ông chỉ được cái sĩ bọ. Ông đóng góp được đếch gì cho đất nước ngoài mấy bài báo hô hào cổ động suông? Bọn tôi đây này, thuê mỗi tháng hai triệu, chưa kể mấy ông công an, mấy thằng thanh niên, mấy mẹ phụ nữ... tháng nào cũng cử người đến xin xỏ tổ chức phong trào này nọ. Ông tưởng nhà báo mà to hả? Trong tôi ngày nào mà chả có mấy tay nhà báo đến kỳ kèo xin làm quảng cáo. thí cho mấy đồng thì bảo viết gì chả viết. Đây này...", nó móc ra một loạt bài báo cắt ép plastic đàng hoàng. Đủ những cái tít kêu như chuông: Doanh nghiệp tư nhân Hưng Phú - đơn vị đi đầu trong phong trào đền ơn đáp nghĩa; Nguyễn Hưng Phú - ông giám đốc hào hiệp với trẻ thơ; Nguyễn Hưng Quý - ông chủ doanh nghiệp giàu lòng nhân ái... "Đấy, nhà báo đấy". Mẹ gắt: "Hỗn nào! Anh mày nhờ làm nhà báo mới có tên trong Ban soạn thảo Hương ước của làng đấy". Thằng Phú bĩu môi: "Tưởng gì. Nếu mẹ thích, tên hai thằng con sẽ được khắc vào bia đá!". Nó nói và làm thật. Ngay ngày hôm sau, tấm bia đá có tên hai đứa với mức đóng góp tu bổ đình làng cao nhất: Mười triệu. Mẹ hỏi: "Mừng, sao con cũng đóng mà không được khắc?". Thằng Quý cướp lời con: "Ôi dào, ba đồng tẹp nhẹp ai khắc. Làng quy định rồi, dưới triệu ghi sổ vàng, trên triệu mới khắc vào bia đá". Mẹ kêu lên: "Giời ơi là giời! Làm thế thì bia đá toàn tên những đứa lắm tiền vô học à?". Thằng Phú vằn mắt quát: "Bà thích thì ôm thằng con lắm chữ mà húp cháo!". Mẹ điếng người, ôm ngực ho rũ rượi trước câu chửi giả bất thần. Mẹ tuyên bố từ cả hai thằng.

Suốt những tháng ngày sau đó, mẹ sống vật vờ như cái bóng. Con đã linh cảm sẽ có chuyện chẳng lành. Và đúng. Bao nhiêu mưa nắng gió sương cứ ngày ngày tích tụ dần trong người mẹ đã trở thành ung nhọt. Khi đưa mẹ từ phòng mổ ra, bác sĩ nói với bố: "Bà ấy tạm thời qua khỏi". Bố thủng thẳng: "Bà ấy sống là nhờ hai thằng con tôi, chứ như cái ngữ kia thì... có mà chôn sớm!". Con không biết nói thế nào, bởi những điều bố nói là sự thật. Đưa mẹ đi bệnh viện, túi con chỉ vẻn vẹn một tháng lương ứng trước. Tất cả chi phí cho ca mổ và giọt giọt những sự sống đang truyền vào cơ thể mẹ kia đều là tiền của hai em con gửi ra.

Mẹ ơi, khi vừa tỉnh, mẹ mở mắt nhìn khắp lượt sáu chị em con, và ánh mắt mẹ cứ lần tìm, mong mỏi. Con hiểu ý và đi gọi điện. Thằng Phú hỏi: "Mổ xong rồi hả? Thế thì ổn? Tôi nhờ ông một việc, ông nghỉ phép chăm sóc mẹ hộ bọn tôi nhé!". "Chú phải về. Lúc này mẹ cần đông đủ con cháu". "Căng quá! Độ này dân trúng mùa cà phê, mua xe nhiều lắm. Tôi về một ngày là mất đứt mấy triệu". Con điện cho Quý, nó hỏi: "Tôi đã gửi tiền về, anh nhận được chưa?". "Tiền tiền tiền! Chúng mày lúc nào cũng tiền. Mẹ không cần tiền lúc này nữa, mà cần chúng mày bên cạnh chăm sóc, hiểu chưa!". "Thì... có quái gì mà ầm lên thế? Được rồi, tôi nhờ ông thuê lấy một người đổ bô, giặt giũ cho mẹ, thế là được chứ gì?". "Khô...ông! Những thứ đó tao làm được hết. Tao cần chúng mày về thôi". "Nhưng... em không thể bỏ cửa hàng lúc này...".

Lần tỉnh thứ hai, mắt mẹ sáng lên, vì bên cạnh con còn có một người nữa. "Phú... Quý... phải không... con?". Thằng Hận, con chị Hoa, đứa trẻ ngày xưa mẹ te tái định đón về vội nhào đến ôm lấy mẹ mếu máo: "Bà nội ơi, bà đừng bỏ cháu...". Khuôn mặt mẹ giãn nở ra một chút rồi mẹ cười như mếu.

Và lần tỉnh thứ ba, con có cảm giác mẹ rùng mình khi thấy mình con bên cạnh. Các chị phải về với lũ con bìu ríu. Mẹ ú ớ và đưa tay ra dấu khiến con hoảng sợ vô cùng. Mẹ nghĩ mình sắp chết, mẹ cần gặp đông đủ các con trước lúc đi xa. Con cuống cuồng đi gọi điện. "Phú, anh van em, em về ngay. Mẹ rất mong các em. Nếu kẹt quá thì một đứa cũng được". Thằng Phú im bặt ra chiều nghĩ ngợi, trong máy vọng léo xéo "Anh Mừng, mẹ mổ vú nào?". "Vú trái". "Anh đợi em bàn với thằng Quý, có gì chút nữa em điện lại". Con đợi mãi chuông điện thoại mới reo. Tiếng thằng Quý hỏi độp con: "Anh Mừng, anh còn nhớ ngày xưa em bú vú nào không?". Con chưa hiểu nó định nói gì thì tiếng thằng Phú quát vòng vào máy: "Máy bú vú trái chứ còn ai nữa!". Con hiểu ra và con sững sờ. Còn bật khóc và con gào như vỡ máy: "Khốn nạn chúng mày! Chúng mày không phải về nữa đâu... ừ tao được bú cả hai bầu vú. Trách nhiệm với mẹ bây giờ là tao...". Con vùng chạy về bên mẹ nức nở. Mọi người tưởng con làm sao nên vội vàng chạy lại. Bác sĩ kiểm tra và động viên con: "Anh yên tâm. Nếu không để lại di căn, mẹ anh sẽ sống". Vâng, mẹ ơi, nỗi đau thể xác của mẹ đã được khoét bỏ, nhưng nỗi đau trong lòng của mẹ thì lại đang nhức nhối. Mẹ vẫn thường dạy con, anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau, con đã vâng lời nên nhiều chuyện đau buồn của gia đình mình chưa ai biết. Nhưng bây giờ thì con phải nói. Nỗi đau nhân luân của mẹ phải được biết đến. Phải được khoét bỏ. Con phải nói... Phải nói... Mẹ ơi!./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»