📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Truyện ngắn trên Đài tiếng nói Việt Nam

44 trả lời, 3.828 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:02:36conbo2>
Chuyện đời

Như Bình


Điện thoại hồi trưa, Đăng chỉ nói: "Tới chiều, khoảng 4 giờ, gặp nhau tại quán Sơn Lâm cạnh hồ Kẻ Dâu". Đăng có lối hẹn không cho người khác từ chối. Nghĩa là Đăng muốn thì bận gì người mời cũng phải tới.

Khi tôi hổn hển trèo lên mấy bậc tam cấp bằng đá "gấu ngựa", ngó vô quán Sơn Lâm thấy vắng teo. Ông chủ quán có gương mặt với những nếp hằn "điêu khắc" và cái lưng bè bè, gù gù đặc thù của người miền rừng nheo mắt cười chỉ tay vào phía rừng thông.

Tôi hì hụi bò ngược lên đoạn đường dốc đứng toàn đá lởm chởm mà không hiểu chuyện gì đã làm thay đổi lối sống không bao giờ có phút ngẫu hứng của hắn, ít nhất là lúc này. Đăng không ngồi một mình. Trên thảm cỏ có chiếc khăn ăn trải rộng, một người đàn bà còn trẻ ngồi xoã tóc bên cạnh. Suýt nữa tôi đánh rơi điếu thuốc trên tay khi nhận ra người đàn bà ấy chính là Thương. Sao lại Thương? Kể từ sau cú đấm tôi tặng cho Đăng trong lần nhậu lịch sử năm 1990, đã 10 năm rồi, hai chúng tôi không nhắc tới Thương một lần, không nói với nhau điều gì đáng kể. Thương ngồi bó gối trên thảm cỏ. Mái tóc dài xanh óng đổ tràn xuống hai bờ vai. Thương cũng bất ngờ không kém khi nhìn thấy tôi. Gương mặt Thương tái xanh, rồi đỏ lựng, hai bên thái dương phập phồng, mồ hôi rịn ra ươn ướt. Không cần quay lại Đăng cũng biết ai đang tới gần. Đăng cười rất tươi: "Bọn mình chờ cậu mãi. Nào, ngồi xuống đi! Sao cứ đứng như trời trồng vậy". Đăng rót rượu ra chén. Bây giờ tôi mới để ý thức nhắm đã bày sẵn gồm thịt dê nướng và lợn rừng bóp, chắc là lấy từ quán Sơn Lâm. Thì ra hắn nổi hứng đi picnic. Chuyện lạ. Nhìn thấy cái mặt nghệt của tôi, Đăng cười lớn. Nụ cười bật ra tự nhiên, giòn giã vang động cả khoảnh rừng yên tĩnh. Nụ cười của một kẻ bày đặt câu chuyện và lấy làm thích thú vì sự ngạc nhiên của những nhân vật chính trong câu chuyện ấy. Tôi chưa từng thấy ai có nụ cười quyền rũ và ấn tượng như Đăng. Cứ như thế cuộc đời này là một trò chơi và hắn luôn là kẻ thắng cuộc. "Nào cầm lấy chén. Thương sẽ uống một chút chứ. Hôm nay là một ngày rất đặc biệt. Mình đã chờ đợi ngày hôm nay quá lâu rồi. Hai bạn nhấp môi đi, mình tin đây sẽ là buổi chiều thú vị và đáng nhớ của cả ba chúng ta". Đăng vừa nói vừa giục mọi người nâng chén. Thương ngước nhìn tôi ngập ngừng. ánh mắt Thương không muốn chạm vào mắt tôi. Hình như Thương vẫn còn ngượng. Lần cuối cùng gặp Thương dễ tới mười năm rồi. Mười năm trong một đêm trăng lẻ. Tôi, thằng đàn ông khốn khổ nhất đi làm cái việc ngu xuẩn mà thằng bạn quý hoá của tôi nhờ cậy. Đêm ấy, Thương đã gieo mình vào tôi khóc đến mềm người. Hẳn mười năm trôi qua, Thương không còn nhớ nhưng tôi thì không quên. Nỗi đau khổ Thương trút cho tôi hôm đó đã làm cho thằng đàn ông vốn trầm tĩnh như tôi đủ nổi nóng để tống vào mặt Đăng cú đấm trời giáng. Vết sẹo nhớ đời trên môi Đăng vẫn còn. Hồng, vợ Đăng thỉnh thoảng nhắc tới vì tò mò. Có lần Hồng nói với tôi: "Anh Đăng nhà em kỳ lạ. Sắp làm đám cưới còn đi đánh nhau với người ta. Chú rể đón cô dâu với vết khâu trên môi còn sưng phồng, trông như mấy tay côn đồ, kinh lắm". Những lần như vậy tôi cố lảng sang chuyện khác, còn Đăng nhếch mép cười buồn.

Đăng đột nhiên trịnh trọng. "Đã lâu lắm rồi, chúng mình mới ngồi lại với nhau. Chén rượu này mình muốn nói với các bạn mình luôn cần có các bạn. Cuộc sống của mình chỉ thực sự có ý nghĩa khi các bạn luôn có mặt bên cạnh mình. Huy là bạn nối khố từ nhỏ, hai đứa coi nhau như anh em ruột thịt không nói làm gì. Còn Thương, xin hãy tha thứ cho mình và cho phép mình xem Thương như người bạn mãi mãi. Cuộc sống của mình coi như là tốt, nhưng điều làm mình vui nhất khi biết Thương của chúng ta có một cuộc sống rất thành đạt và hạnh phúc. Điều đó giúp mình đủ can đảm để gặp Thương hôm nay. Nếu Thương khổ, mình suốt đời sẽ không thanh thản. Hai bạn hiểu cho mình chứ. Nếu các bạn đồng ý, hãy cạn chén cùng với mình". Đăng ngửa cổ nuốt ực ly rượu. Đăng nói nhiều hoặc cố tình làm thế. Gương mặt Thương bừng đỏ, đôi mắt long lanh ngấn lệ. Tôi nhấm nháp những giọt rượu cay nồng. Cuộc đời kể cũng lạ lùng. Phải mất tới 10 năm người ta mới đủ can đảm để nói điều mà lẽ ra 10 năm trước họ đã phải nói. Mười năm trước, Đăng kéo tôi ra quán thản nhiên nhờ vả tôi cái việc khốn nạn nhất là báo cho Thương biết Đăng cưới vợ, và chuyển dùm Đăng lời xin lỗi. Đăng nhắn Thương đi lấy chồng nhớ phải chọn cho mình một người đàn ông giàu, có địa vị trong xã hội. Đăng không thể mang lại cho Thương một cuộc sống tốt, đủ đầy đáng ra Thương có quyền được hưởng. Cú đấm tôi giáng vào mặt Đăng hôm đó không hề làm tan đi dù chút ít sự lạnh giá trên gương mặt Đăng. Gương mặt có đôi mắt trống hoác như không phải mắt người nữa.

... Đăng ngã người xuống bãi cỏ im lặng hút thuốc lá. Thỉnh thoảng Đăng cong cong ngón tay út gảy nhẹ vào tàn thuốc. Điếu thuốc cháy bỗng bặt văng ra xa. Tôi hỏi Đăng: "Mày tìm gặp Thương từ bao giờ thế? Nếu là tao, không bao giờ còn muốn nhìn mặt mày nói gì tới tha thứ". Đăng nheo mắt nhìn tôi rồi cười phá lên khoái trá. "Mày quên thằng Đăng bạn thân của mày, không có việc gì nó không làm được sao? Với đàn bà, chinh phục tình yêu hay làm cho nàng quên đi mối thù hận đều dễ như nhau. Quan trọng người đàn ông phải tìm cho ra lối đi riêng và lối đi ngắn nhất". Đăng lại cười. Chuỗi âm thanh khoẻ khoắn bật ra từ lồng ngực vang động cả khoảng rừng, xáo trộn một buổi chiều không yên tĩnh.

Tôi và Đăng phi xe một mạch về thị xã. Tôi không có cách gì thoát khỏi ý muốn của Đăng lúc này là tiếp tục nhậu và chuyện trò với hắn. Nhà Đăng ven rìa thị xã. Ngôi nhà hai tầng rộng rãi và thoáng mát xây theo kiểu biệt thự nằm quay lưng ra bờ rông. Ông Thể, bố của Hồng xây ngôi nhà này với ý định sau này về hưu nhường ngôi nhà mặt phố cho vợ chồng Đăng, còn hai ông bà lui về đây ở ẩn. Ông bà Thể có hai con. Cậu út giờ đã yên vị ở Trung tâm Bưu chính Viễn thông Hà Nội. Đang yên đang lành làm ăn tấn tới, ông Thể bạo bệnh rồi mất. Ông mất vì tai biến mạch máu não. Hôm đưa tang bố vợ xong, Đăng đến gõ cửa phòng tôi trong trạng thái say mèm. Hắn cầm chai rượu Remy Martin lăm lăm trong tay, hai mắt đỏ ngầu chẳng biết do khóc nhiều hay do khói nhang khi đứng canh linh cữu bố vợ. Hắn ngồi bệt xuống bậu cửa phòng tôi tu cả chai rượu chẳng nói chẳng rằng y như một thằng khùng. Đêm đó, Đăng ngủ lại chỗ tôi. Lần đầu tiên từ khi lấy vợ Đăng đi qua đêm. Đêm, Hồng vừa gọi điện thoại vừa khóc nhờ tôi đi tìm. Biết Đăng ở chỗ tôi, Hồng đang đêm mũ áo khăn xô tất tả chạy đến. Hồng phân bua: "Em sợ nhà đang có chuyện này lại xảy ra chuyện kia. Anh Đăng có bao giờ như thế này đâu. Tội nghiệp, anh ấy đang bị sốc vì thương ông cụ quá". Hồng vừa nói vừa chùi nước mắt. Đăng nằm im như không hề hay biết điều gì. Đăng đã quá say hoặc giả hắn cố tình làm vậy. Sáng hôm sau tôi kể Đăng nghe chuyện hồi đêm, hắn im lặng chẳng nói gì.

... "Tới nhà rồi. Thế nào, địa thế hơi bị hẹp, hơi bị ngon nhỉ?". Đăng liến thoắng. "Hôm bà Thể cho vợ chồng tao ngôi nhà trên phố, tao dứt khoát không lấy. Tao thuyết phục bà già, ngôi nhà kia là để dành cho cậu út sau này qua lại hương khói thờ ông bà tổ tiên. Bà già thấy có lý, sang tên ngôi nhà này cho vợ chồng tao. Bây giờ xem ra nó chưa có giá trị bằng nhà mặt phố nhưng mai kia thị xã mở rộng, với biệt thự hơn 200m2 xây dựng và 300m2 kia làm vườn, trị giá bạc tỷ như chơi. Tôi nhìn theo tay Đăng chỉ và thầm thán phục. Địa thế quá lý tưởng. Phía trước là con đường chạy qua chiếc cầu xi măng dài vừa xây xong nối liền thị xã với vùng biển. Phía sau lưng nhà là con sông Ngàn Mọ uốn khúc như dải lụa bạc ôm lấy xóm làng. Nhà Đăng ở sát ngay bến nước với cây gạo cổ thụ sum suê bóng mát. Đăng phổng mũi. "Lúc nào chán làm quan, tao về đây mở quán đặc sản. Dân thị xã xuống biển tắm xong, quay về đây ăn, quá tiện. Mà chức quan của tao kể làm chó gì. Không đủ tiền tiêu vặt, chán bỏ mẹ. Bây giờ phải nghĩ cho ra việc gì làm có mùi đô la mới bõ". Chiếc xe chồm lên rồi phanh kít ở sân. Hồng vợ Đăng chạy từ trong nhà ra đon đả. "Anh đã về. Ô anh Huy! Lâu ngày quá, dạo này trông anh mập ra một chút đấy". Đăng cười. "Thằng này rồi còn nguy cơ mắc chứng mập phì. Máy phải kiếm lấy một con vợ cho nó hành hạ may ra mới đỡ". Hồng lườm Đăng. "Cái anh này, ăn với chả nói". Đăng cởi chiếc áo đang mặc ném cho vợ. "Kiếm cái gì cho bọn anh nhậu. Bày mâm lên ban công tầng hai, bọn anh muốn yên tĩnh để bàn công việc". Hồng rụt rè "Em đã dọn cơm sẵn đây rồi. Em đang đợi anh về cùng ăn luôn". Đăng gắt. "Đã bảo đến bữa không thấy người ta về thì cứ ăn cơm trước đi, biết người ta lúc nào về mà chờ với đợi". Hồng đáp lý nhí. "Em chờ anh về ăn cơm cho vui, nhà ít người ăn trước ăn sau làm gì cho buồn". Đăng xẵng giọng. "Công việc của anh bận bịu, anh về lúc nào ăn lúc ấy, em đừng đợi sốt cả ruột". Hồng cun cút đi xuống bếp lúi húi bày mâm nhậu. Tôi cười nháy mắt với Đăng. "Cái cách giữ chồng mà Hồng đang vận dụng xem ra có hiệu quả đấy chứ. Sự chờ đợi của các bà vợ sẽ làm mủi lòng những ông chồng ham chơi". Đăng cười khẩy. "Ngu lâu hết sức. Tình yêu đâu có phải thứ muốn là được. Không có tình yêu, cái có lý cũng sẽ trở thành vô lý. Nói thật đôi khi sự hăng hái thái quá của các bà vợ đối với chồng cũng làm họ mệt mỏi". "Mày thấm thía rồi hả?". Đăng thản nhiên. "Đương nhiên là không. Nếu phải làm lại từ đầu tao sẽ lựa chọn như đã làm". Tôi nhìn Đăng lắc đầu. "Dạo này tao thấy Hồng có vẻ buồn hơn. Hình như mày đối xử với cô ấy không như trước nữa phải không. Trước đây tao thấy mày chu đáo ngọt ngào với vợ con lắm kia mà". Đăng dằn ly rượu xuống mâm cười nhạt. "Vai diễn đã kết thúc. Hồng tự phải biết cuộc đời cô ấy may mắn biết bao khi lấy được một người chồng như tao. Bây giờ cô ấy còn có ai để dựa dẫm nữa đâu. Đã đến lúc tao mới là kẻ thống trị, Hồng tự biết lấy vai trò của tao và vị trí cô ấy là ở đâu. Tao là thằng xuất thân từ nông dân nghèo khổ thật đấy nhưng không vì thế tao đánh mất tao, tao không còn là thằng Đăng bản lĩnh chưa biết sợ ai, chưa từng khuất phục cái gì trên đời này. Tao không bao giờ để mày phải thất vọng vì tao đâu, tao hứa đấy". "Bây giờ tao mới thực sự dám tin mày bỏ Thương để cưới Hồng hoàn toàn không phải vì mày yêu Hồng mặc dù nói thật, tao không muốn nghĩ về mày thế đâu". Đăng ngửa cổ cười lớn. Nụ cười của một kẻ hiếu thắng kẻ cả trước cuộc đời. "Mày không yêu vợ, thậm chí mày coi thường và chán vợ nữa, sao vẫn cứ sống cùng nhau?". Đăng trố mắt nhìn tôi. "Ơ hay! Hai thứ đó thì có liên quan gì tới nhau. Chán nhau là một chuyện, còn sống với nhau lại là chuyện khác. Cuộc đời có những lô gích cực kỳ phi lô gích. Chính tao mới không hiểu đến bao giờ mày mới ngộ ra". Tôi cụng ly với Đăng. "Và tao kịp ngộ ra thằng bạn yêu quý của tao cũng là một kẻ khốn nạn và giả dối, đúng không?". Đăng bật cười thành tiếng. Cả tôi cũng không dứt được cơn buồn cười không hiểu vì lẽ gì. Hai thằng cứ thế cười như điên đến nỗi cô con gái của Đăng đang ngủ ở tầng dưới giật mình khóc thét lên hai thằng mới thôi.

Tôi và Đăng ở cùng làng, học với nhau từ cấp một đến cấp ba, chơi với nhau thân thiết như anh em ruột, nhưng hai thằng hai tính cách đối lập. Đăng mạnh mẽ, thông minh nhanh nhẹn bao nhiêu, tôi e dè, trầm tĩnh bấy nhiêu. Nếu Đăng luôn là người chủ trò mọi chuyện, thì tôi chiều ý Đăng cả những thứ mà tôi không thích lắm.

Ba năm lên thị xã, là khoảng thời gian cả Đăng và tôi khởi đầu những thấm thía sự nghèo khổ của người xuất thân từ nông dân. Trong khi bọn thị xã phần lớn con cán bộ hoặc con nhà buôn bán, ăn rồi chỉ mỗi việc học thì bọn nhà nông chúng tôi một buổi vừa đi học một buổi về đi làm ruộng. Là con trai lớn trong gia đình nên mọi việc nặng nhọc như cày, bừa, gặt hái, gieo cấy hay gánh gồng đều đến phần hai đứa. Khổ nhất là ngày mùa bố mẹ bắt buộc tôi và Đăng nghỉ học cả tuần để tranh thủ thời tiết thuận lơị mà thu hoạch mùa màng. Từ tinh mơ đã ra đồng đi gặt, trưa về ăn cơm nắm bên ruộng, ăn xong lại cắm mặt gặt cho đến tối mịt mới về. Về nhà ăn qua loa cho nhanh để còn phải trực tuốt lúa đến đêm. Hồi đó đâu có máy tuốt như bây giờ. Cứ sau ngày mùa đứa nào đứa ấy hốc hác đen nhẻm, đi học cứ ngủ gà ngủ gật. Xấu hổ nhất là hôm nào lớp có buổi học ngoài trời phải ở lại, bọn con nhà nông chúng tôi không dám giở cơm nắm ra vì không đứa nào có nổi miếng cá hay miếng thịt. ám ảnh về sự nghèo khổ còn đeo bám suốt cả mấy năm đi học đại học. Nhà nghèo không có tiền, không có quà cáp, hai đứa đói dài cổ, đói triền miên, lúc nào cũng trong tình trạng không một xu dính túi. Ngày đó Đăng chỉ có một niềm đam mê là học thật giỏi với hy vọng sau này đổi đời. Đăng chọn ngành kinh tế để thi. Suốt mấy năm học đại học, người duy nhất Đăng tới chơi và duy trì mối quan hệ bạn bè là tôi và Thương. Thương cùng học sư phạm một khoá với tôi ở Hà Nội. Chuyện tôi thi vào Sư phạm theo ý thích đã làm Đăng giận tôi mất mấy tháng. Đăng chửi tôi ngu lâu, vào sư phạm sau này khổ vẫn hoàn khổ, đói vẫn hoàn đói. Tôi chiều ý Đăng mọi thứ riêng chuyện này thì không. Còn với Thương, nửa học kỳ hai lớp 12, Đăng tuyên bố yêu Thương. Thương học cùng lớp với chúng tôi, người thị xã chính hiệu và quan trọng hơn Thương là đứa con gái mà hầu hết bọn con trai lớp 12A chúng tôi mơ ước. Thương yêu Đăng thực lòng. Người con gái dịu dàng xinh đẹp và thuỳ mị như Thương khi đã đem lòng yêu ai thì người đó sẽ là vị thần cho nàng thờ phụng. Đăng không hề giải thích vì sao Đăng lại chính là người phản bội lời thề của cả nhóm. Tôi đã nghi ngờ Đăng vì tính sĩ diện hão mà cố tình làm như vậy. Hoá ra tình yêu mà Đăng có với Thương kéo dài suốt cả 4 năm đại học. Tôi đã tin không có gì chia cắt nổi mối tình ấy. Thế mà đùng một cái, Đăng tuyên bố chia tay với Thương đột ngột làm hệt như khi Đăng báo chuyện yêu Thương. Đăng chỉ giải thích không muốn Thương khổ, mà đem lại cuộc sống đủ đầy như mong muốn cho Thương thì Đăng không thể làm được lúc này. Đăng vẫn thường nói với tôi: "Mày phải nhớ cho sâu, cho kỹ. Làm thằng nông dân là hèn, là khổ, là nhục suốt đời. Đời mình phải bằng mọi giá vươn lên thoát khỏi kiếp nông dân nghèo khổ".

Đăng bắt đầu kế hoạch thực hiện những toan tính, dự định mới. Ra trường, Đăng không nghĩ tới chuyện đi xin việc. Theo Đăng, với tấm bằng kỹ sư kinh tế loại ưu, thêm tiếng Anh và vi tính khá, cùng lắm vào được một cơ quan Nhà nước tầm tầm. Không có ô dù, không người nâng đỡ giỏi mấy cũng chỉ làm được một thằng công chức bí bét, coi như xong một đời đèn sách". Phải mất tới 3 tháng săn lùng và truy cập mọi tin tức về giới quan chức trong tỉnh, Đăng chọn được đối tượng cần tiếp cận là ông Thể, Trưởng ban Đối ngoại tỉnh có cô con gái lớn hai lần thi trượt đại học. Đăng sửa soạn kỹ lưỡng mọi hành trang thu nhận được trong 4 năm đại học và trường đời, đến gõ cửa phòng làm việc ông Thể và bày tỏ nguyện vọng của mình. Ông Thể đã bị chàng trai có vẻ ngoài khôi ngô, nói tiếng Anh như gió, kiến thức rộng, sự am hiểu khá toàn diện chinh phục. Đăng xuất hiện vừa lúc ông Thể và một đồng nghiệp đang gặp rắc rối nhỏ trong việc xử lý lập trình dự án phát triển kinh tế khu vực cảng biển trên máy vi tính. Sự thông minh nhanh nhẹn của Đăng khiến ông Thể rất hài lòng. Ngay lập tức ông dành tình cảm đặc biệt cho chàng trai dễ mến này. Cơ quan không còn biên chế, nhưng ông vẫn cứ hẹn Đăng thỉnh thoảng qua lại chỗ ông chơi, nếu có cơ hội ông sẽ giúp. Những ngày sau đó Đăng thường đến cơ quan ông Thể chơi vào cuối giờ làm việc. Đăng giúp ông những việc vặt như dịch một vài tài liệu luận chứng kinh tế bằng tiếng Anh. Hoàn thiện dự án lập trình xây dựng khu kinh tế cảng biển. Đăng làm tất cả những việc đó vô tư, tận tâm mà không một chút đòi hỏi. Cảm kích trước tấm lòng chân thành của Đăng, ông Thể kể cho Đăng nghe nỗi phiền muộn về cô con gái lớn là Hồng. Đăng thuyết phục ông Thể từ bỏ ý định điên rồ bắt con gái khả năng có hạn của mình phải đậu đại học. Đăng trở thành gia sư tin học và tiếng Anh cho Hồng. Sau gần 1 năm tận tuỵ, Đăng được ông Thể nhận vào Ban dự án cơ quan kinh tế đối ngoại. Hồng cũng được ông bố trí xin vào làm ở văn phòng Uỷ ban Nhân dân tỉnh.

Trước lễ cưới, Đăng gọi tôi đi uống rượu. Đăng uống quá say, hai đứa ngồi với nhau trọn đêm. Trọn đêm, Đăng đã không giấu giếm tôi điều gì. Đăng thú nhận: "Trong đời tao chỉ cho phép một lần thất bại duy nhất đó là Thương. Ban đầu tao yêu Thương chỉ vì muốn hạ nhục phe nhóm học sinh thị xã, để lòng tự ái của một thằng đàn ông xuất thân từ nông dân nghèo khổ được ve vuốt bởi sự chiến thaứng. Có hai thứ không đùa được, một trong hai thứ đó là tình yêu. Mày hiểu không? Chỉ có Thương là người con gái duy nhất tao muốn cưới làm vợ. Tao đã yêu Thương nhiều hơn tao tưởng". Hôm đó là buổi tối tháng 10 mưa phùn dườn dượt, bầu trời lạnh giá. Tôi đã thương hại Đăng, đã nổi khùng lên vì hắn. Tôi không thể nói được gì thay vì cú đấm. Vết sẹo cũ vẫn còn trên môi nhưng câu chuyện về Thương, hai đứa không nhắc tới nữa.

Đăng đã tắm xong, đang thong thả lên tầng hai, nơi Hồng vợ Đăng đã bày sẵn chai Black và một đĩa chân gà nướng thơm dậy. Đăng mặc độc một chiếc quần cộc, lồng ngực vạm vỡ, mái tóc chải ngược ra sau để lộ vầng trán cao và đôi mắt sáng. ở độ tuổi ba mươi lăm, trông Đăng thật cường tráng và hấp dẫn. Đăng ngồi xuống rót rượu ra chén, nhón một chiếc chân gà lên. Thứ gà công nghiệp có đôi chân dày thịt, ướp kỹ lá chanh và gia vị sau đó mới nướng, nhìn đã ứa nước miếng. Đăng thong thả tách chân gà và bắt đầu câu chuyện. "Chủ nhật này tới nhà Thương ăn cơm mày tính mang quà gì cho tay Lâm nhỉ?". "Lâm nào?". "Lâm, Phó bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng vừa mới được đề bạt khoá này đấy". Tôi ngớ ra. "Hả! Chồng của Thương làm to như vậy ư?". "Mày đúng là cụ đồ, ông mọt sách". Đăng tợp một ngụm rượu. Đăng có một cái nết uống rượu khó ai bì. Càng uống mặt mũi càng hồng hào tươi tỉnh. Bạn bè của Đăng vẫn khen Đăng có tướng "vinh hoa phú quý". "Mày tính nhờ cậy gì Lâm mà bày đặt chuyện quà cáp, hay cái đầu đầy mưu mô của mày đã kịp nghĩ ra trò gì mới rồi? Hoá ra, gặp lại Thương buổi chiều hôm nay là không phải vô tư phải không?". Cả tôi và Đăng cùng phá lên cười. Hồi lâu sau, Đăng trầm giọng xuống. "Mày đừng chất vấn tao. Tao chỉ có mày là thằng bạn chí thân, mày phải cố mà hiểu tao chứ. Tao không muốn Thương mang trong lòng mối hận cũ với tao. Còn chuyện tiếp cận với Lâm tao đã có ý định từ lâu rồi. Đây là dịp tốt nhất, đúng là có chuyện tao muốn nhờ cậy lâm một số việc. Mình là bạn cũ của Thương, Thương là vợ của Lâm, mình có cớ để làm quen, tiếp cận". "Lâm có biết mày là người yêu cũ của Thương không?". "Đương nhiên là không. Tao nghĩ mày cũng nên xoá cái khái niệm cũ rích ấy trong bộ nhớ của mày đi. Chuyện thời sinh viên xa xưa ấy nhắc lại làm gì, khéo lại hỏng việc". Tôi cười lớn. "Thế là tốt rồi, tao cứ sợ mày vẫn ngày đêm mang mộng tưởng đấy chứ!". Đăng đặt ly rượu xuống mâm vừa cười vừa rủa. "Thằng điên đừng có mà suy nghĩ vớ vẩn". Tôi rót rượu cho Đăng, hai đứa cụng ly. "Mày làm gì cũng được nhưng đừng kéo Thương vào chuyện này". "Mày yên tâm đi, Thương không liên quan gì". "Tao nghĩ, với chức trưởng phòng dự án mày còn mơ cái gì nữa". Đăng hạ thấp giọng, rít thuốc lá sâu vào ngực, thở dài. "Ông Thể chết vỡ hết mọi kế hoạch. Trong dự định của ông ấy, ít năm nữa sẽ bố trí cho tao lên làm phó ban bằng mọi cách cho tao trúng Tỉnh uỷ viên sau này sẽ thay chân ông khi ông nghỉ hưu, ai ngờ hoạ vô đơn chí". "Bây giờ mày muốn gì?". "Tao nghĩ kỹ rồi, tao không thể bỏ cuộc. Chẳng lẽ mục đích của tao ở đời này là đạt được cái ghế trưởng phòng. Tao không dễ dàng chấp nhận thua cuộc như vậy". "Mày định tiếp cận Lâm với ý gì". "Chết đuối thì phải vớ lấy cọc bằng mọi cách. Tay Lâm này sống quảng đại, có tình có lý lắm. Tao tính nhờ Lâm giới thiệu với những người cao nữa. Phải tìm mọi cách leo lên một chức vụ nào đó đáng kể". "Mày nghĩ kỹ chưa, đừng vội vàng đốt cháy giai đoạn. Mày giỏi, có năng lực, trong quá trình làm việc tự khắc quần chúng sẽ ủng hộ mày lên, vội gì phải chạy vạy, bày mưu tính kế cho nó mệt!". Đăng cười lớn, "ông giáo ơi, ngu lâu hết sức, đến bao giờ mày hiểu hết được quy luật vận động phức tạp của cuộc đời này".

Tôi không biết nói với Đăng thế nào. Xét cho cùng mỗi người có một cách sống, lối nghĩ, hướng đi riêng. Tôi không thể áp đặt cho Đăng ý nghĩ của tôi và ngược lại. Những ngày sau đó Đăng đã kéo tôi vào câu chuyện của Đăng. Đó là tìm mọi cách để tiếp cận với Lâm chồng Thương, tạo ra mối thiện cảm tuyệt đối như Đăng đã từng làm với ông Thể.

Người đàn ông say mê công việc như Lâm sẽ không bao giờ tìm cách để chạm tới những phần khuất nẻo trong tâm hồn phức tạp và kín đáo của người đàn bà anh yêu nếu nàng không tự nguyện bày tỏ. Cuộc sống sung túc Lâm mang đến cho Thương không đủ để Thương quên đi những ngày tháng tẻ nhạt khi Lâm vùi đầu vào công việc, với những chuyến công tác dài ngày. Hơn nữa, tình yêu là thứ gì đó không giải thích nổi. Lâm xứng đáng để nhận tình yêu của Thương hay của hàng trăm ngàn phụ nữ khác mơ ước. Thế mà trong trái tim Thương chỉ có hình bóng của Đăng, người đàn ông mà đã hơn một lần làm Thương đau đớn. Việc Đăng xuất hiện và những cuộc vui bè bạn, những lần hội hè đã làm cuộc sống của Thương thay đổi. Thương vui hơn, yêu đời hơn, hoạt bát hơn. Dường như Thương đã tìm lại được những tháng ngày đã mất, lấy lại được những gì đã qua. Thấy Thương vui, Lâm càng yên tâm với hạnh phúc của mình. Sự tốt bụng phóng khoáng và nhân hậu của Lâm đã tạo cho Đăng quá nhiều cơ hội. Sau những bữa cơm thân mật tại gia đình Lâm có vợ chồng Đăng là những bữa tiệc chiêu đãi ở gia đình Đăng có vợ chồng Lâm. Đăng nhanh chóng tạo được thiện cảm và sự tin cậy ở Lâm - một người bạn mới. Sự lọc lõi khôn ngoan, sự sành điệu trong cuộc sống và trí thông minh hơn người của Đăng một lần nữa lại hạ gục đối thủ. Rất nhanh Lâm và Đăng trở thành một cặp song trùng. Hễ có tiệc chiêu đãi, hay bất cứ một cuộc vui nào, Lâm cũng phôn gọi cho Đăng và muốn Đăng cùng tham gia. Lâm đã không ngần ngại giới thiệu Đăng với giới quan chức trong tỉnh. Từ đó Đăng có thêm nhiều mối quan hệ chân rết trong giới lãnh đạo.

Lũ học trò của tôi sau khi căng lều trại lên, chúng toả ra xung quanh rừng nhặt cành khô về đốt lửa nướng sắn và nướng thịt rừng. Tôi đang nằm gối đầu lên một hòn đá nhẵn thín thì thấy lũ học trò chạy về hớt hải mách. "Thầy giáo ơi! ở ngôi nhà đằng kia có tiếng phụ nữ khóc ghê lắm, hình như người phụ nữ bị người đàn ông trong đó xúc phạm hoặc làm nhục hoặc có thể đang bị hành hạ. Bọn em nghe thấy tiếng quát của đàn ông rất rõ, phải làm gì hả thầy?". Tôi chưa từng rơi vào hoàn cảnh như thế này bao giờ. Lũ học trò ngước cặp mắt lo lắng nhìn tôi. Tôi trấn an các em rằng đừng lo, ở trong đó chỉ là những cặp tình nhân và sự khóc lóc ấy không ngoài sự giận dỗi của những người yêu nhau, cứ để mặc họ. Các em nghe tôi giải thích vậy, vui vẻ tản ra, đứa nhóm lửa, đứa hí húi xiên thịt để nướng. Tôi không còn tâm trí nào để đọc sách. Tiếng nức nở của người phụ nữ trong nhà sàn ám ảnh tôi, tôi thả bộ và bước tới gần. Các em học sinh đã nói đúng, có ai đó đang khóc. Tiếng khóc không kìm nén được của người đàn bà nào đó bật ra như thác đổ. Tôi rùng mình. Một giọng đàn ông vang lên lạnh lùng. "Thôi em về đi, anh không muốn chúng mình gặp nhau nữa, gặp nhau như thế này quá nguy hiểm cho cả anh và em. Nếu em không bằng lòng với cuộc sống hiện nay của em, anh cũng đành chịu. Anh không thể phá bỏ những gì anh đã một đời kiếm tìm và tạo dựng. Em hiểu cho anh. Anh không muốn mối quan hệ của chúng ta lộ ra". Giọng nói ấy sao quen lạ, cả tiếng khóc kia nữa. Đang bối rối vì trí nhớ của mình thì bỗng cửa ngôi nhà bật mở. Một người đàn bà xoã tóc chạy vụt ra. Trời ơi! Thương. Tôi đứng như chôn chân tại chỗ. Thương không nhận ra tôi, hoặc cô ấy đã cố tình không thèm nhìn bất cứ ai trước mắt mình. Gương mặt sưng mọng, hai mắt hoe đỏ và nước mắt nhập nhoà trên má. Thương vừa chạy vừa khóc. Một lúc sau, có tiếng xe máy dưới quán Sơn Lâm lao vụt đi.

Người đàn ông còn lại trong căn phòng nhỏ kia là Đăng, tôi không muốn tin như vậy. Một thoáng ngạc nhiên và bối rối khi Đăng nhìn thấy tôi. Đăng lôi tuột tôi vào nhà sàn hổn hển nói: "Mày đã nhìn thấy hết rồi, tao cũng chẳng còn gì để giấu mày nữa. Mày chưa lập gia đình có thể mày không hiểu được cuộc sống những người đàn ông đã có vợ, nhất là những người đàn ông không có tình yêu với người đàn bà sống cùng dưới một mái nhà như tao. Tao xin mày, mày hiểu và tha thứ cho tao. Những người đàn ông khác họ tìm cách bù lấp những khoảng thiếu hụt đó bằng việc đến với gái điếm, hoặc bạn tình. Còn tao, tao chỉ có Thương. Tất nhiên lẽ ra người đàn bà ngoài vợ của tao không phải là Thương, nhưng mày cũng biết là tao không quên được Thương, chỉ Thương là người đàn bà tao muốn. Chuyện đó xảy ra cách đây hai năm. Có điều Thương vẫn chỉ là trẻ con, không lớn lên được. Thực sự tao rất yêu Thương nhưng làm sao với địa vị tao bây giờ, ly dị Hồng để sống với Thương được". Tôi gần như tê dại trước tất cả những thứ cảm xúc chợt đến từ khi nhận ra Thương. Tôi hầu như không hiểu được điều gì trong mớ lùng nhùng ngôn ngữ Đăng đang nói.

Tôi đang ngon giấc thì bị dựng dậy bởi hồi chuông điện thoại réo vang. Điện thoại của Đăng. Giọng Đăng có vẻ mệt mỏi. "Đi uống rượu cùng tao bây giờ đi. Tao đang chán đây". Tôi ngạc nhiên. "Vào giờ này ư? Mày đang ở đâu thế". "Tao đang ở cơ quan". "Sao không về nhà?". Đăng cười lục khục trong điện thoại. "Còn đâu nhà nữa mà về, con vợ tao giở chứng một mực đòi ly dị, không cho tao ở chung nữa. Tao bây giờ chưa kiếm được chỗ ở mới nên đang ở tạm tại cơ quan". Tôi sửng sốt. "Sao lại có chuyện Hồng đòi ly dị mày?". Đăng ngán ngẩm. "Có trời mà biết được. Tao không đòi ly dị nó thì thôi, ai ngờ nó cả gan làm chuyện đó. Nó nói tao không yêu nó, tao giả dối với tất cả mọi người trong gia đình nó để đạt được mục đích như hiện nay. Mày đang nghe tao nói đấy chứ! A lô, cái thằng hâm này, chắc lại ngủ quên rồi hả". Đăng cứ gào lên trong máy, nhưng tôi không muốn trả lời hắn nữa./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-29 13:37:51conbo2>
Chuyến tàu đời

Hạnh Hoa


Tàu S3 từ Hà Nội đến ga tôi lên đã gần nửa đêm, lại bị mất điện. Tôi tìm mãi mới thấy toa 9 khoang 6 giường 21 của mình. Tôi đặt vali và vội trèo lên giường. Vừa nhún người, bỗng nghe thấy tiếng thét của phụ nữ ở giường dưới làm tôi giật nảy mình. Thì ra tôi dẫm phải ngón tay của vị khách ấy. Khổ quá mất điện nên có nhìn thấy gì đâu. Xin lỗi xong, từ ấy tôi nằm im thin thít cho đến sáng.

Sáng ra, tôi trèo xuống giường đi rửa mặt. Trời ơi, lại dẫm phải chân của cái người ở giường tầng dưới đêm qua. Lần này không những thét lên mà chị ta còn xỉ vả tôi "Người đâu mà vô ý tứ! Chưa đi tàu bao giờ à?". Rồi chị ta xuýt xoa vì đau. Tôi chỉ còn biết xin lỗi cuống quýt rồi lặng thinh vì xấu hổ. Từ đó tôi và người phụ nữ kia như mặt trăng và mặt trời trong khoang tàu, nàng ta lạnh lùng. Gương mặt đã già lại tỏ vẻ cong tớn mỗi khi nhìn thấy tôi khiến tôi rất ngại ngùng những lúc phảỉ trèo xuống giường bắt gặp ánh mắt của nàng. Khổ nữa là điện thoại di động của tôi thỉnh thoảng lại réo lên vì công việc ở cơ quan cần sự chỉ đạo. Mỗi lần tôi nghe và nói chuyện điện thoại nàng ta lại giở mình đầy vẻ khó chịu ở giường dưới. Rồi nàng ta nói bâng quơ: "Hôm nay ra ngõ bước chân trái".

Vào lúc tàu dừng, tôi thấy nhớ Huệ đến cồn cào. Tôi và Huệ tỏ lời yêu nhau đã gần 1 tháng do Câu lạc bộ kết bạn trăm năm giới thiệu, sau khi cả hai cùng đăng ký tên tuổi, gia cảnh, sở thích... để tìm nhau trên báo. Chỉ có điều cả hai đều chưa biết mặt nhau. Nàng đề nghị: "Đừng tặng ảnh trước, cứ đợi đến ngày lành tháng tốt mới "ra mắt". Thế mới bất ngờ, thú vị và tình yêu mới tăng thêm vẻ lãng mạn". Tôi đồng ý tuy vẫn lo. Chỉ sợ gặp phải người xấu hình xấu nết thì khổ cả đời. Mà tuổi tôi đã "cao cao bên cửa sổ" rồi chứ trẻ gì nữa mà cứ đi tìm hoài.

Đợt này tôi có dịp vào Nam công tác. Bố tôi xem ngày, bấm độn và bảo tôi ngày 18 tới là ngày rất tốt, tốt nhất cho những việc khai trương, ra mắt, mở hàng... Tôi quyết định nhân chuyến công tác này sẽ "ra mắt" nàng. Thế cũng là bất ngờ, lãng mạn chứ sao. Để thoả nỗi nhớ nhung, tôi xuống sân ga gọi điện trò chuyện với Huệ. Tiếng Huệ réo rắt yêu thương, làm tôi xúc động quên cả không khí căng thẳng với người phụ nữ trên tàu. Lúc ấy nhớ đến mụ, tôi liếc vào cửa sổ khoang tàu của mình, thấy người phụ nữ kia cũng đang áp "Mobiphone" vào tai trò chuyện với ai đó. Thấy mụ cũng vui vẻ "thỏ thẻ cành vàng", mất hẳn vẻ cong cớn, đáo để với tôi lúc trước. Tôi bĩu môi nghĩ ngay "thì ra mụ cũng có di động, cũng nói chuyện rôm rả tự nhiên trong khoang. Thế mà mình phải lịch sự ôm máy ra ngoài nghe, sợ phiền hà".

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm gọi điện cho Huệ ra ga đón tôi. Tôi thấy thích thú trong trò ú tim này. Thử xem em có tìm thấy nửa vầng trăng của em không? Thử xem tôi có nhận ra một nửa của mình không? Chao ôi! Nếu mà thấy được nhau thì quả là ông Tơ bà Nguyệt thần tiên, diệu huyền.

Tôi hồi hộp, thắc thỏm bấm máy 090... vừa xong lúc đó thì cái máy "con khỉ" của mụ kia ở tầng dưới cũng reo lên. Bực mình tôi áp máy vào tai và trèo vội xuống khỏi giường tầng rồi chạy ra ngoài khoang tàu nghe kẻo máy của mụ lấn át hết. Đứng bên cửa sổ khoang tàu, tôi thông báo với Huệ rất hãnh diện:

- 3 tiếng nữa, anh sẽ có mặt ở thành phố. Ra ga đón nhé!

Huệ reo lên:

- Trời ơi! Sao giống nhau thế. 3 tiếng nữa em cũng có mặt ở thành phố. Em đang đi tàu vào.

- Trời đất! Sao lại "đi tàu vào"? Em đang ở trong thành phố ấy kia mà?

Tôi gần như hét lên hỏi và đầu kia Huệ cười khanh khách.

- Không, em ở Hà Nội viết phịa địa chỉ trên báo vậy thôi.

Tôi lại hét lên trong máy vì mừng và bất ngờ.

- Vậy em đang đi tàu nào vào đấy?

- Tàu S3.

- Trời đất ơi! S3. Nhưng toa nào, khoang nào?

- Toa 9, khoang 6, giường số 20.

- Hả? Giường 20? Tôi trợn mắt lên vì đánh rơi máy di động. Đoàn tàu như trật bánh. Đất trời như sụp cả dưới chân tôi.

Còn chút hơi sức, tôi lao vội vào khoang có chiếc giường 21 của tôi. Bi hài chưa! "Mụ khách" giường số 20 bên dưới đang áp Mobiphone vào tai. Nàng cũng đang hét lên: "Alô! Cưng đâu rồi? Anh ơi, anh đang nói cơ mà? Sao lại bỏ máy thế? A lô, Huệ đây, em sẽ đón anh, nhất định em sẽ nhận ra anh!".

Lúc ấy tôi đứng như trời trồng trong khoang tàu nhìn nàng. Đoàn tàu vẫn đang băng băng lao về ga cuối./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Hai truyện ngắn của Con Bo mang từ VoV .ORG cũng đã được mang vào thư viện

Chúc Con Bò nhiều thần công lực, để phi thân, xa hơn để mang về nhiều truyện hay nữa nhen

Mời con bo uống tí nước ngot cho đở mệt há
Ủa nhà hết nước ngọt rồi
thôi Ct.Ly chạy ra quán mua cho CB beer ướp lạnh nà, uống đở nha [8D]

📎 beer
Đăng nhập để trả lời
0
Bên mồ liệt sĩ vô danh

Nguyễn Thị Ngọc Trâm


Mai Sơn len lỏi hết dãy mộ này tới dãy khác không thấy mộ của Trần Quang. Thêm một giờ tìm kiếm nữa trôi qua, rồi anh cũng reo lên khi thấy tấm bia tên Trần Quang, nhưng đọc hết thì Trần Quang này quê ở Quảng Trị, bạn anh là người Lâm Đồng kia mà.

Mai Sơn thở hắt ra thật mạnh, ngẩng lên cao xanh nhìn những đám mây rách tả tơi đang lang thang không định hướng. Anh sang khu mộ bên trái định tìm tiếp thì ngẩn ra vì các dãy mộ giống nhau tựa những dãy nhà nhỏ không tên phố, không số nhà như thách đố. Anh ngếch mặt nhìn bức phù điêu như muốn hỏi: “Trần Quang nằm đâu ?” . Nắng, mỏi, buồn, Mai Sơn ngồi tụt xuống dưới chân bức phù điêu như đứa trẻ ăn vạ, mắt ngó nghiêng mông lung. Bỗng mắt anh chợt gặp một vật gì đó trắng như khăn tang đang lay động bên nấm mộ cuối dãy. Mai Sơn thận trọng bước tới, há hốc mồm nhận ra một phụ nữ chừng ba mươi tuổi. Nắng trải lên bộ quần áo màu hoàng yến của chị trắng xoá, chị đang phủ phục hai tay dang rộng ôm lấy ngôi mộ.

- Xin lỗi … Hình như chị không được khỏe. Tôi có thể giúp gì không?

Người phụ nữ ngỡ ngàng quay lại lúng túng:

- Dạ… tôi không sao.

- Tôi là Mai Sơn ở Đoàn ca nhạc Quân đội - Sơn mở lời giới thiệu trước.

- Con tôi là Ngọc Thủy ở Quân y viện.

- Tôi nhân dịp chuyến lưu diễn tại thành phố Hồ Chí Minh tranh thủ lên đây tìm mộ người bạn, nhưng… không thấy – Giọng anh lo lắng.

Ngọc Thủy đang nhặt bông cỏ may tua tủa ở ống quần bỗng dừng tay ngó Mai Sơn hỏi:

- Không thấy?

- Vâng, chỉ còn khu mộ không có tên bên này. Đây là những dãy mộ liệt sĩ vô danh.

Sơn nhìn ngôi mộ bên cạnh người phụ nữ. Chị nói:

- Tôi đi tìm mộ người chồng chưa cưới… cũng như anh … không thấy. Khi tới ngôi mộ cuối cùng này không hiểu sao tôi cảm giác như chính anh ấy nằm đây níu chân tôi lại. Trên một giờ đồng hồ, tôi nằm bên anh ấy - Chị rờ tay lên thành mộ như thói quen đặt lên tay người thân, mắt buồn như khói nhang.

- Nhưng … Xin lỗi. Nếu không phải là mộ của anh ấy thì sao?

Thuỷ không trả lời thẳng vào câu hỏi:

- Trước đây tôi cũng ở một đơn vị Thanh niên xung phong phục vụ hỏa tuyến, khi miền Nam giải phóng đơn vị chúng tôi phục vụ tiếp mặt trận phía Tây Nam, tôi rất hiểu những người lính khi xa nhà cầm súng đi theo chiều dài đất nước, lăn lóc trên bờ dưới ruộng, đói ăn, thiếu ngủ trong rừng, gội nắng, tắm mưa, vẫn hát, vẫn cười, vẫn một lòng thắng giặc. Vậy mà có những chiến sĩ khi ngã xuống vẫn chưa biết đến một nụ hôn - Chị xoay xoay bó hoa trên tay, giọng run rẩy – Tôi chỉ muốn lúc này có thật nhiều cô gái nữa đến đây để mỗi liệt sĩ vô danh có một cô gái ngồi bên như thế này.

Ngọc Thủy ôm bó hoa hồng bạch lẳng lặng đặt lên mỗi ngôi mộ một bông. Mai Sơn cũng chia bó hoa bất tử tỏa ra những dãy mộ khác rồi hai người tới cắm nhang vào lư đồng phía trước tượng đài. Mai Sơn nhìn bức phù điêu ẩn hiện trong khói nhang nghi ngút hỏi Ngọc Thủy:

- Chồng chưa cưới của chị người tỉnh nào?

- Người địa phương này anh ạ.

***

Mùa xuân năm 1975, Ngọc Thủy bị thương nằm ở trạm quân y tiền phương ở Xuân Lộc. Thỉnh thoảng vừa ngồi khâu áo cho bệnh binh Thủy vừa hát những làn điệu quan họ Bắc Ninh. Mỗi lần hát lại thấy một thanh niên bước ra khỏi lán ngồi nghe. Một buổi chiều đúng ngày sinh nhật, Thủy bỗng thấy nhớ Hà Nội, cô tới mỏm đá ngồi chờ xem hoàng hôn ở miền Đông màu gì thì người thương binh kia bỗng xuất hiện trước mặt đột ngột chìa bó hoa ra:

- Tặng Thủy nè. Hoa của cây cao su nhưng thơm lắm. Ong rừng vẫn nhào vô hút nhụy đó.

Thủy sững người ngập ngừng đỡ bó hoa, mỉm cười thay lời cám ơn rồi xích một bên chừa chỗ cho anh thương binh. Hai người mải trò chuyện quên cả hoàng hôn hôm đó màu gì. Anh tên là Lâm, sanh ở Tuyên Đức. Ba và mẹ anh là người Bắc Ninh vào Nam từ những năm 1935 rồi làm ở đồn điền cao su trên Đăk Lăk, nhưng cực quá lại chuyển đến Tùng Nghĩa trồng café thuê cho ông chủ người Pháp trên Đà Lạt. Năm 1958 mới sanh ra anh...

Hôm sau Ngọc Thủy nghe trộm ở đâu một tin nóng hổi liền kéo Lâm ra một chỗ thì thào:

- Nghe nói sắp có đánh lớn anh ạ.

- Ừa, anh cũng nghe…Vậy mà nằm bẹp dí ở đây muốn khùng lên được .

- Anh dám trốn khỏi đây không?

- Bộ em cũng khùng hơn anh hả ? Trốn về, đơn vị lại đuổi trả lại đây, quê chết được.

- Anh mới khùng hơn em ấy. Trốn đi đánh giặc có gì mà "quê" ? Mọi người đã đi ăn cơm chiều rồi, thương binh nặng thì đang ngủ. Bây giờ em hô một … hai … ba, là cùng chạy vào lấy ba lô rồi … cưỡi “đằng vân” đi diệt yêu quái nhé.

Cả hai nhún đầu gối khẽ đếm “một, hai, ba” rồi rón rén về lán.

Sau ngày miền Nam giải phóng, Thủy về mặt trận phía Tây, còn Lâm ở lại miền Đông.

Mùa mưa năm 1978, Thủy đang phơi quần áo thì có tiếng còi ô tô te te inh ỏi, mấy cô chiến sĩ gái ùa ra reo lên: "Thủ trưởng tới", rồi tranh nhau mở cửa xe nhao nhao hỏi: "Thủ trưởng, có gì mới không ạ?" Đến khi nghe tiếng hô như gào "nghiêm" đám con gái mới tha cho thủ trưởng tự do đi vào lán xê bộ. Thủy thấy vậy không khỏi phì cười cái cảnh thủ trưởng bị "bọn tiểu yêu" quấy nhiễu. Vậy mà trong công tác đứa nào cũng được khen là dũng cảm không kém phái mày râu. Đang định quay trở vào thì Thủy nhìn trân trân vào một thanh niên vừa chui trong xe ra, cô thất thanh gọi lạc giọng:

- Anh Lâm!

- Ủa ! Thủy … Ngọc Thủy. Lâm ôm chầm lấy Thuỷ.

- Ơ ơ … Người ta nhìn thấy. Thủ trưởng ngồi trong kia kìa... Thuỷ bối rối nói.

- Bộ thủ trưởng không biết yêu sao ? – Giọng Lâm tỉnh queo, anh níu tay Thủy ngồi xuống thân cây khô gần đó. – Sáng nay nghe ở đây súng đạn nổ rầm trời đất. Đánh nhau dữ vậy, em cực quá hả?

- Lại chuyện “đánh nhau”.

- Ừa há… đánh nhau hoài, giờ gặp em lại “đánh nhau”, hà hà … ghét anh lắm hả. Vậy anh đi liền nha?

Thủy bật cười theo, nói:

- Ngày xưa chắc anh cũng là quỷ loại ba, quậy tưng bừng ở trường học. Thích bỏ em đi thì cứ thử coi nào.

Họ chẳng có nhiều thời gian bên nhau: "Thủ trưởng ở đây, còn anh phải về liền... Những giây phút chúng ta gặp nhau thế này hiếm hoi quá. Em hát đi, làn điệu của tụi mình đó".

Thủy khe khẽ hát:

Người ơi người ở đừng về … Người ơi … Người ở … đừng về …

Người về, em vẫn í i ì í i … có… a … mấy khóc á a thầm …

- Sau này về Hà Nội, em tính làm gì?

- Em sẽ học ngành y để chữa cho anh hết bệnh sốt rét.

- Thủy à. Đây là …

- Gì vậy anh?

- Nhẫn tơ hồng … là nhẫn đính hôn. Đưa tay đây – Lâm nhẹ nhàng đeo nhẫn vào tay Thủy - Em đồng ý chứ?

- Em sẽ đợi anh! - Lấy trong túi áo mảnh giấy nhỏ, Thuỷ ngẹn ngào – Đây là địa chỉ của em ở Hà Nội. Nhưng còn anh nay đây mai đó làm sao em gặp được anh?

Lâm không nói gì lẳng lặng lấy cây viết ghi địa chỉ vào lòng bàn tay Thủy. Còi xe te te mấy tiếng gọi. Lâm đứng lên:

- Địa chỉ của ba má anh đó. Thôi, anh đi nha.

- Anh ráng giữ gìn sức khỏe nhá …

Không ngờ đó là lần gặp cuối cùng của họ với nhau.

***

Tới bậc tam cấp gần chân đài tưởng niệm, Mai Sơn và Ngọc Thủy dừng lại. Mai Sơn nói:

- Còn bạn của tôi... Tôi và Quang gặp nhau có hai lần, nhưng Quang đã gây ấn tượng rất sâu sắc trong tôi.

- Bạn anh ở đơn vị nào ạ?

- Công an.

Hạ tuần tháng bảy năm tám mươi, Mai Sơn cùng đơn vị đi lưu diễn một số tỉnh cao nguyên. Sau khi diễn ở Đà Lạt, đoàn đi phục vụ tại một xã ở huyện Lạc Dương. Ủy ban xã bố trí cho đoàn ở tạm dãy nhà bỏ trống sát trụ sở công an nằm ráp ranh cánh rừng, không có điện, không có đài phát thanh. Suốt mấy ngày ở đó trời mưa dầm dề không biểu diễn được buổi nào ở ngoài trời. Một buổi tối Mai Sơn đang ngồi thổi sáo thì có tiếng gõ cửa, một thanh niên chừng ba mươi tuổi ngó đầu vào.

- Tôi là Quang ở phòng bên nghe anh thổi sáo hay quá. Tôi vào được không?

- Mời vào. Mưa suốt, buồn quá.

- Đang mùa mưa mà. Có ngày mưa hai bốn trên hai bốn giờ đó anh.

- Có anh sang chơi là thú vị rồi.

- Vừa rồi anh thổi sáo bài gì đó?

- "Bèo dạt mây trôi", một làn điệu dân ca của đất kinh Bắc đấy.

- Anh chơi cho tôi nghe bài "Người ở đừng về” nha?

- Anh ở vùng sơn cước mà cũng thích quan họ Bắc Ninh à? – Mai Sơn dướn cao cặp lông mày hỏi.

- Đó là giai điệu tình yêu của tụi tôi đó.

- Á à … Bồ của anh là người miền Bắc hay hát bài ấy phải không?

- Mỗi lần nhớ cô ấy tôi lại hát, nhưng hát hoài hổng được.

Bên ngoài cửa sổ, một bàn tay đen mốc thếch đang xoa lên ô cửa kính mờ hơi nước, hiện ra khuôn mặt râu tóc rậm rì đang nâng họng súng ngang tầm mắt. Mai Sơn nhìn qua ánh đèn dầu nhíu mắt lẩm bẩm:

- Ai ngoài cửa sổ thế nhỉ?

Một tiếng nổ “đoành!" lẫn tiếng kính vỡ rơi loảng xoảng. Quang đè đầu Sơn xuống nói nhanh:

- Nằm xuống! Fulro đó. Anh không được ra ngoài - vừa bật nắp bao súng bên hông vừa lao ra cửa - Bọn phỉ khốn kiếp. Trời mưa cũng quậy!

- Anh Quang cẩn thận! - Mai Sơn nói với theo.

Quang lao hút theo tên Fulro hô: "Đứng lại!" nhắm súng vào bóng đen phía trước. Nghe tiếng hô, một số anh em trong công an xã cũng bủa ra thành thế gọng kìm bao vây tên Fulro, hắn bị Quang bắn vào chân không thoát kịp đành đứng lại đặt hai tay lên đầu, miệng nói hổn hển:

- Tôi đau quá … Đừng bắn. Tôi làm theo lệnh thôi mà. - Hắn nói lơ lớ tiếng Kinh.

Đích thân ông Nghi là trưởng công an xã hỏi cung. Hắn khai vì Quang đã thu phục nhiều lính Fulro trở về bản lại còn vận động bà con không vô rừng tiếp tế cho chúng nên "Tư lệnh trưởng” của hắn lệnh cho hắn đi ám sát thiếu úy Quang và treo giải thưởng: nếu giết được sẽ được đi Mỹ.

Sáng hôm sau đoàn của Mai Sơn trở lại Đà Lạt chuẩn bị phục vụ hội nghị kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ của tỉnh. Tiết mục của Mai Sơn độc tấu sáo trúc bài “Tấm áo mẹ vá năm xưa". Trước giờ biểu diễn, anh chuẩn bị nhạc cụ thì không thấy cây sáo đâu. Hoảng quá, ở trên xứ lạnh mà toát cả mồ hôi, anh bần thần đứng ngồi không yên cố nhớ xem tại sao lại như thế. Anh định tìm đoàn trưởng báo cáo và xin đổi tiết mục, đang loanh quanh sau cánh gà thì có tiếng gọi dè dặt:

- Anh Mai Sơn.

- Kìa, anh Quang. Tới xem ca nhạc à?

- Hôm qua anh để quên cái này - Quang chìa trước mặt cây sáo.

- Cây sáo trúc! - Mai Sơn thảng thốt rồi ôm chầm lấy Quang, rơi nước mắt – Anh quả là tuyệt vời, ngọn gió kỳ diệu nào đưa anh tới đây đúng lúc quá. Ở đây coi bọn mình biểu diễn luôn nhé. Mấy hôm trước mưa tầm tã chẳng diễn được đêm nào cho các bạn xem.

- Các anh đã đờn ca hàng chục bài cho tụi tôi nghe cũng đã lắm rồi. Bây giờ mình phải về liền – Quang bắt tay Sơn rồi quay đi - Đêm nay mình phải trực.

- Biết bao giờ mình lại gặp nhau nữa? Xem xong bạn phóng xe về chừng nửa giờ là về tới đơn vị thôi mà.

- Mình chạy xe tới hồ Suối Vàng thì hư phải gởi nhà dân rồi chạy bộ. Bây giờ chạy hết tốc lực cũng phải giờ rưỡi mới có mặt ở đơn vị.

Tiếp tục đi bộ sao?

- Lội bộ, chẳng cách nào hơn. Mưa lớn, xe ngựa không chạy về ngoại vi thành phố. Thôi, tạm biệt.

Đơn vị cậu gần rừng, phải đi cẩn thận nhé. Nguy hiểm lắm. Quang cũng hiểu mình đang là tầm ngắm trước họng súng của bọn Fulro. Dù nguy hiểm cũng không thể xa rời dân. Mỗi lần đến thăm hỏi dân bản, nếu thấy gia đình nào thiếu người sẽ hiểu ngay họ đã đi vào rừng tiếp tế cho Fulro. Phải có cách nói sao họ hiểu để vận động con em trở về nhà làm ăn lương thiện. Đây là cuộc chiến, nếu sợ nguy hiểm thì mình về nhà đuổi gà cho em gái còn hơn. Quang mỉm cười cảm giác tiếng hát Người ơi người ở đừng về vẳng bên tai.

***

Ngọc Thủy phát hiện một người đàn ông đang bước lên từng bậc thang một cách nặng nhọc nhưng không nghỉ nửa chừng. Người này chắc từng là cán bộ, nhưng nét mặt khô khan quá. Tới nơi, ông ngồi tựa vào cái lư đồng lấy thuốc ra hút.

Chào chú ạ - Thủy và Sơn cùng bước tới chào

- Ủa !Chào anh chị. Hà hà … Lần này lên đây tôi không trơ trọi đơn độc nữa rồi - Chẳng cần hai người có hiểu hay không, ông nhìn khói thuốc với giọng tâm trạng - Tôi chọn ngày thường lên đây để tránh đông người. Cứ mỗi lần lên thăm cậu ấy là lòng tôi tan nát như mất một đứa con.

- Khi mất một người tri ân lòng ai cũng vậy đó bác - Sơn nói.

- Cũng có sự mất mát không gì đắp đổi được, chú ạ - Thủy thở dài.

Sơn chợt nhíu mày nhìn kỹ ông già.

- Chú ạ. Cháu thấy chú quen quá.

- Không chừng ta từng nhậu với nhau ở đâu rồi – Ông ngước nhìn Mai Sơn. - Á à… Anh mang lon trung tá văn công, nói giọng Bắc thì không quen nhau rồi.

- Cháu đã từng lên Lâm Đồng biểu diễn ở một số huyện vùng sâu đấy.

- Vậy có lần nào tới huyện Lạc Dương không?

- Chính xác là hạ tuần tháng Bảy năm tám mươi. Chúng cháu nghỉ tại trụ sở công an xã.

Ông già reo lên :

- Chu cha… Tôi là Nghi trưởng công an xã đây.

- Mới mấy năm mà thấy chú khác quá. Phải rồi, chính chú là người đã hỏi cung tên Fulro bị anh Quang bắn què chân trong đêm mưa ấy. Chú, còn chị này, tên là Ngọc Thủy...

Sơn nói chưa hết câu thì bất ngờ ông Nghi mừng rỡ reo lên:

- Ngọc Thuỷ- Vợ chưa cưới của cậu Quang hả. Quang vẫn thường kể về cô Ngọc Thuỷ hát quan họ Bắc Ninh...

Mai Sơn và Ngọc Thuỷ cùng sửng sốt. Không lẽ, Lâm và Quang, chỉ là một người sao? Sức mạnh thần bí, linh thiêng nào đã đưa chân Mai Sơn và Ngọc Thuỷ tới đây?

Ông Nghi cất tiếng chậm rãi:

- Vậy là cậu Quang đã cho chúng ta có duyên gặp nhau tại đây rồi. Người trẻ chết là thiêng lắm. Hèn chi, sáng nay cái chân đau khớp của tôi nó nhức lắm mà tôi vẫn quyết đi, thế là gặp được cả hai người.

- Nhưng chúng cháu không tìm được mộ của anh ấy.

Ông già trầm ngâm: Mãi sau mới tìm ra mộ của Quang, phòng thương binh xã hội chưa kịp làm bia. Sơn ạ, đoàn của anh chuyển đi buổi sáng thì ngay đêm đó…

Đêm đó, đến giờ trực không thấy Quang về ông Nghi đã phải trực thay, ông cho rằng Quang bỏ trực đêm để đi chơi. Nhưng mấy ngày sau vẫn không thấy Quang về đơn vị. Ông lại đoán anh trốn ra Hà Nội thăm người yêu, vì trước đó anh xin nghỉ phép nhưng ông không cho vì đơn vị đang thiếu người. Chừng hơn mười ngày sau cũng không thấy Quang về. Ông liền dẫn một số chiến sĩ đón lõng một tên Fulro ở cửa rừng, bắt về hỏi cung thì được biết: Ngay đêm ấy, bọn chúng lén về xã chờ gia đình Tơ Nhang ngủ để trộm heo, gà, lương thực. Nhưng mới đi khỏi xã thì đụng phải Quang, anh chặn chúng lại liền bị chúng dùng gậy gộc tấn công... Một mình đối chọi với cả toán Fulrô. Tên phỉ này lúc đó nghe tiếng súng bỏ chạy không tham gia giết Quang nên không biết xác anh ở đâu. Ông Nghi phối hợp với xã bên truy tìm mộ của Quang gần một tháng trời mới thấy. Xác anh được một già làng thay bộ đồ dân tộc rồi bọc anh trong tấm nylon kín đáo đem chôn, hàng ngày lén thắp nhang như phong tục người Kinh.

- Thưa chú. Tại sao thời gian ở quân đội anh ấy tên Lâm, khi sang ngành công an lại tên là Quang ạ - Thủy thắc mắc.

- Tên thật cậu ấy là Trần Quang Lâm, thời sinh viên tham gia phong trào xuống đường đấu tranh chống khủng bố của Nguyễn Văn Thiệu nên đã lấy tên là Quang. Khi từ quân ngũ về công tác tại địa phương nên anh em vẫn quen gọi tên Quang .

Ông Nghi đưa hai người đến ngôi mộ của Trần Quang Lâm, chính là ngôi mộ mà Thủy đã dừng chân ngồi khi sáng. Khói nhang nghi ngút giăng giăng như tấm voan mỏng quện tiếng thông reo mang theo tâm linh khấn nguyện trong tiếng mõ cầu kinh của ngôi chùa nào đó như tưởng niệm những liệt sĩ yên nghỉ nơi này. Tượng đài soi bóng trên hồ nước in đậm màu trời xanh ngắt như chứng minh rằng sẽ tồn tại mãi với thời gian./.


美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Bệnh nhân số 13

Võ Thị Hạnh Thuỷ


Ngày mai nông trường sẽ họp kỷ luật em. Tôi là người quyết định kỷ luật. Lúc chiều em đi ngang qua tôi, không một lời nói, không một nụ cười, không một cái nhìn đằm thắm, không một ánh mắt hờn giận, không một khoé môi mỉa mai. Em vô cảm. Gương mặt ấy của em làm tôi hoảng sợ.

Hai hôm trước mẹ em lên. Qua khe cửa tôi thấy em quỳ xuống, quỳ mãi trước mặt mẹ. Bà tát em, bà xỉ vả em, bà dúi em vào góc nhà. Em không khóc. Chỉ có bà khóc. Bà khóc rồi ôm lấy em, vùi em vào ngực mình. Lúc này tôi mới nhìn thấy em khóc, những giọt nước mắt lăn dài trên má, bết vào mái tóc dày mịn của em. Mái tóc mà bao đêm khuya tôi vùi mặt vào, mát rượi. Tôi nhìn bầu trời qua mái tóc em, những kẻ sao lung linh, những niềm vui lấp lánh. Em để mặc tôi chảy trôi với những đam mê cuồng dại trên cơ thể ngọt ngào của em.

Ngày mai tôi sẽ kỷ luật em. Tôi sẽ tra hỏi: "Cái bào thai trong bụng cô là ai?". Tôi sẽ gằn giọng "là của ai?" như tôi từng lục vấn bao nhiêu người con gái khác ở nông trường này. Lúc ấy em sẽ làm gì, sẽ nói gì? Em sẽ bị bủa vây trước 160 con mắt. Trong đó có những người từng trải qua - họ sẽ cảm thông với em - số ấy quá ít ỏi so với những người ganh ghét em. Họ sẽ xé nát em, băm vằm em bằng con mắt của họ. Lúc ấy em ra sao? Có giữ gương mặt vô cảm như đi ngang qua tôi không?

Ba năm trước, lúc em vừa mới lên, đêm nào tôi cũng thấy em ngồi lặng lẽ một mình trên mỏm đá, xoã tóc ngắm trăng. Hương tóc em bay toả vào không gian, quyện chặt vào tâm hồn tôi, da thịt tôi. Con gái nông trường phần lớn đều là thanh niên xung phong về, một đời họ trinh tiết, trinh tiết cả khi mái tóc điểm hoa râm. Tóc họ gần như rụng hết, trơ cả mảng da đầu. Chỉ có em mái tóc ken dày, mượt như lụa, mùa hè mát như nước khe, mùa đông ấm như lửa củi. Tôi không biết em đã giữ mái tóc ấy như thế nào trong những ngày tháng bom dày đạn xéo ấy. Em vừa lên nông trường người ta tụm năm tụm ba, moi móc lý lịch của em. Người ta vừa thương, vừa thích chí khi biết em bị phụ bạc. Chàng trai em yêu không đủ sức khoẻ để đi bộ đội nhưng đủ sức khoẻ để ở nhà làm một người chồng. Người ta đã cướp chồng của em khi em đang nằm trong rừng lửa. Em vừa thương vừa giận con người đó:

- Cô tưởng ở hậu phương bọn tôi sống sướng hơn cô ở chiến trường sao? Cô đối mặt với súng đạn, với cái chết từ bên ngoài. Bọn tôi ở nhà đối mặt với cái chết gặm nhấm từ bên trong. Cô tưởng…

Em lặng lẽ bỏ đi. Người đàn bà kia bỏ lửng câu nói, ngơ ngác nhìn theo cái dáng xiêu vẹo của em. Em lên nông trường. Đàn bà ở đây lấy nỗi đau của em để xoa dịu nỗi đau của họ. Họ chưa được nếm trải tình yêu. Họ thấy em từng được yêu họ ghét, thấy em bị phụ tình họ vui. Em đã tìm được tôi để sẻ chia, dựa dẫm. Đêm đêm trên cỏ ướt hương chè thoảng bay, em vùi mặt vào cánh tay tôi thắc mắc:

- Các anh chị nông trường mình định sống cô độc đến suốt đời sao anh?

Rồi như chợt nghĩ lại mình, em khóc. Nước mắt chảy xuống vai tôi lạnh buốt. Tôi ghì chặt lấy em, cố bao bọc chở che cho em trong vòng tay của mình. Nhưng trái tim em rộng lớn, tôi chẳng thể nào che chở nổi.

- Em có lỗi với vợ anh. Một mình ở quê chắc chị ấy buồn lắm! Hay anh chuyển về quê công tác cho gần gia đình.

Tôi im lặng, chẳng tìm được câu trả lời cho em. Đi bộ đội về, mẹ đã chọn cho tôi một cô vợ đảm đang, tôi không thể từ chối. Một tay vất vả nuôi con, tôi mang ơn cô ấy. Tôi lên nông trường hy vọng tìm kiếm tình yêu trong công việc, đúng hơn, kiếm được danh vọng trong sự nghiệp. Tôi không có tình yêu, tôi nghĩ mình phải có được một cái gì khác.

Nhưng khi gặp em tôi hiểu tôi đã có tình yêu, tôi đã tìm được nửa kia của tâm hồn mình. Em không như những người đàn bà khác, em không xui tôi bỏ vợ. Em âm thầm nhận đau khổ về mình. Mà thú thật em có xui tôi cũng không bỏ được. Tôi còn mẹ già, tôi còn hai con thơ. Vợ tôi nuôi mẹ cho tôi, nuôi con cho tôi. Vợ tôi một mình gánh hết hai thế hệ. Tôi còn công danh sự nghiệp. Cái ghế giám đốc đang chờ tới tay. Vả lại những người đàn bà khác ở nông trường họ còn sống buồn tủi hơn em. Ngày họ làm quần quật, đêm họ co ro ôm gối, hết nhìn 10 ngón chân cáu bẩn, ngả màu, xỉn lại, rồi lại đưa chiếc lược sừng ra chải đi chải lại mái tóc thưa. Đến khuya họ chui vào màn nằm vật vã.

Họ cũng thèm được như đội 3. Mười hai chị bỗng dưng có 12 đứa con, mỗi đứa ra đời vào một thời điểm khác nhau, nhưng đều giống nhau như đúc khuôn. Họ lần lượt bị kỷ luật, bêu rếu. Họ sống câm lặng, bao bọc nhau bằng đồng lương ít ỏi của mình. Mà những ai bêu rếu đội 3 - chính họ. Những người đàn bà nông trường không có hạnh phúc được làm vợ, làm mẹ. Những người đàn bà bất hạnh, ngày đêm chỉ biết mài sắc lưỡi dao cay độc của mình.

Đối diện với dãy nhà lụp xụp của đội 3 là dãy nhà ở của gia đình. Có mười lăm hộ thì có tám hộ là gia đình thương binh. Chồng hoặc cụt tay, hoặc cụt chân. Nhưng những bà vợ thì giữ rịt lấy chồng, xoè mình ra như nhím để giữ chồng. Mỗi lần em đi ngang qua khu nhà ấy em cũng sợ, em không dám liếc mắt vào. Em mỏng manh như giọt nước. Ngày mai tôi sợ em sẽ bị tan biến, sẽ chìm vào đất.

Ngày em hớn hở khoe mình có thai tôi vã mồ hôi, rụng rời cả tay chân. Tôi lo sợ cho cả tôi, cả em. Ngày mai… Còn mấy canh giờ nữa thôi, lúc này em đang làm gì? Tháng trước tôi đã cắt phép cho em, khuyên em đi giải quyết. Em hốt hoảng nhìn tôi, ngỡ ngàng như nhìn thấy một người khác, như vừa khám phá ra tôi là kẻ độc ác, tôi là kẻ nhẫn tâm, tôi không phải là người em từng ôm ấp yêu thương. Tôi chạy theo em, van nài em chuyển công tác. Đã hết thời hạn ở nông trường, em có quyền chuyển về xuôi. Nhưng giống như những người đàn bà khác ở nông trường em lắc đầu từ chối, Em xem tôi như là người dưng từ dạo đó.

Ngày mai… Còn hai canh giờ nữa trời sẽ sáng. Hội đồng sẽ kỷ luật em. Tôi sẽ ngồi trên ghế cao, dõng dạc tra khảo, dõng dạc tuyên án em. Tôi muốn biết gương mặt em lúc ấy sẽ thế nào? Tôi cố hình dung ra em. Đầu tôi ong lên. Thần kinh tôi như sợi dây đàn căng, chỉ cần ai gẩy nhẹ nó sẽ đứt, cây đàn cũng nứt toác ra.

***

- Cái thai trong bụng cô là của ai? Tôi dằn giọng.

Em im lặng. Tôi cố kiên nhẫn:

- Cô khai ra, cô sẽ được giảm án kỷ luật, đứa con của cô cũng sẽ được nông trường bao bọc một phần.

Em im lặng. Tôi quát lên:

- Tôi đang hỏi cô. Cô điếc hay câm sao?

Nghe cả tiếng con ruồi bay vù vù từ mép bàn vào góc tường trái. Tôi đứng bật dậy, đấm nắm tay xuống bàn, gào lên giận dữ:

- Cô muốn chết hay sao mà không khai ra? Tôi sẽ thay mặt nông trường kỷ luật cô về quê. Tôi trực tiếp lấy ý kiến tập thể. Ai đồng ý kỷ luật đồng chí Lan về quê thì giơ tay lên.

Một phút, hai phút, ba phút… Lác đác vài cánh tay giơ lên. Vẫn im lặng. Một con ong vo ve bay về tổ ngay trên trần nhà Lan đứng. Con ong vòng đi vòng lại mấy vòng rồi chui tọt vào trong tổ, mất dạng. Tôi rướn cổ hỏi lại:

- Ai đồng ý để cô Lan chịu kỷ luật về quê thì giơ tay lên. Không một cánh tay nào giơ thêm cả, mấy cánh tay giơ lên trước đó trở lên lạc lõng, ngọng nghịu, họ rụt rè bỏ xuống. Một phút, hai phút, ba phút… Một người trong đội 3 bước ra, hai người, ba người, bốn người, năm người, sáu người, bảy người… Họ thành dòng lặng lẽ ra về. Tôi chết lặng. Ngước mắt nhìn về phía Lan, mặt em đầm đìa nước mắt. Tôi muốn lao xuống ôm ghì lấy em. Nhưng tôi nhấc chân không nổi. Tôi ngã nhào, mặt đập xuống bàn lim, máu nhoe nhoét. Tôi kêu rống lên như bị chọc tiết.

Tỉnh dậy, tôi sờ tay vào mặt mình. Chẳng có máu, chỉ có mồ hôi đang vã ra như tắm. Đã năm giờ sáng nhưng trời vẫn tối sầm.

Trời đang chuẩn bị một cơn giông.

***

Tôi lục tìm được câu chuyện này dưới đáy ba lô của bệnh nhân số 13. Tôi đọc, ngắm nhìn khuôn mặt hốc hác của anh ta mà khóc. Suốt đêm ấy tôi không ngủ, đôi mắt dại dại của anh ta bây giờ, đôi mắt trong trẻo của cô Lan trong truyện ám ảnh tôi. Sáng ra tôi xin nghỉ phép về quê. Một đêm không ngủ tôi như kẻ mất hồn. Vợ tôi ngạc nhiên nhìn tôi. Tôi đưa câu chuyện của bệnh nhân số 13 cho vợ tôi đọc. Vợ tôi khóc… Vợ tôi cũng từ nông trường về. Vợ tôi bảo:

- Anh nên đưa đăng báo đi. Biết đâu…

Vợ tôi bỏ lửng câu nói, mắt nhìn xa xăm. Quen với những trăn trở của chồng về bệnh nhân, tôi biết vợ tôi đang cầu mong một điều kỳ diệu sẽ đến với bệnh nhân số 13./.


美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Bông hồng lẻ loi

Phùng Cao Bảng


Chị bần thần ngắm bông hồng ủ rũ, mệt lả đi trong bàn tay mềm mại của mình. Rồi, với một niềm nuối tiếc vu vơ, chị ném chúng vào sọt rác nơi góc hè, để thay vào đó vài bông hồng tươi tắn nhất mà chị vừa chọn ra từ mấy bó hoa còn xếp đầy một góc bàn.
Căn phòng bỗng rực rỡ hẳn lên. Trong ánh mắt chị, chứa chan niềm thích thú, khác hẳn với tâm trạng đối nghịch mới đó còn vướng vất trong lồng ngực và tan biến theo một hơi thở dài thật khẽ khàng. Theo thói quen cố hữu, chị ngoái nhìn vào góc chiếc sa-lon, nơi anh thường ngồi, dường như để tìm kiếm mối đồng cảm trong sự im lặng đầy ấn tượng. Chị ngả đầu vào ngực anh, chờ đợi bàn tay ve vuốt, nghe hơi thở nồng nàn của anh. Cả hai cùng nhìn ngắm mấy bó hoa tươi rói xếp đầy nơi góc bàn và liên tưởng đến đêm biểu diễn thành công trở về. Khi tấm màn nhung vừa khép lại, anh chị quên hết mệt nhọc, quên cả những giọt mồ hôi chảy dài hai bên má và đưa tay đón nhận những bó hoa hồng mà số khán giả ái mộ dành cho mình.

Nhờ tài nghệ bẩm sinh, niềm say mê nghề nghiệp và những kiến thức đã học được nhiều năm ở một trường múa nước ngoài, anh chị đã sớm khẳng định được mình và gặt hái được nhiều thành công chẳng mấy ai bì kịp. Anh chị luôn múa sóng đôi bên nhau như một cặp uyên ương không thể rời nhau và cũng không ai có thể thay thế được mỗi khi vắng một trong hai người.

Thời gian cứ thế cuốn hút trong ánh đèn sân khấu rực rỡ sắc màu, giữa những tràng vỗ tay và những bó hoa. Và anh chị cũng chỉ có một nguyện vọng duy nhất là đem hết tài nghệ đóng góp cho nền nghệ thuật múa nước nhà. Là một nghệ sĩ múa tài hoa, chị hiểu rằng mình đang trèo lên chiếc thang không có nấc cuối cùng. Đó vừa là niềm hạnh phúc, vừa là nỗi bất hạnh mà bất cứ một ai đã trót phụng sự cho nghệ thuật, ít nhiều đều ý thức được. Phải lao động, lao động không ngừng cả trí óc và bằng cả sự vận động toàn thân theo những luật lệ riêng của nó.

Chị đâu ngờ rằng, niềm say mê cao quý đó đang âm thầm gặm nhấm cái khả năng sinh lý của người phụ nữ mà trời đã phú cho họ. Như bao người phụ nữ khác, nhiều khi chị cũng ao ước có được một đứa con. Nhưng chị lại phân vân, sợ như thế, cũng là một trở ngại, dẫu chỉ tạm thời, niềm vinh quang mà nhờ chị, anh mới có được. Cho tới một ngày tình cờ nào đó, khi nâng niu mấy bông hồng trên tay, chị đã mơ hồ nhận ra rằng, cái phần ẩn náu phía sau vẻ rực rỡ kia, mới thật sự là vẻ đẹp bản chất của chính nó. Chị cũng mơ hồ thấy mình đã khác xưa nhiều lắm. Cả cái khả năng tiềm ẩn được làm một người mẹ cũng theo thời gian mà cạn kiệt dần. Khi biết được việc đó thì đã quá muộn đối với chị. Nghe chị nói ra cái sự thật phũ phàng đó, anh im lặng nhìn chị bằng ánh mắt đầy tuyệt vọng. Lần đầu tiên chị thấy thiếu vắng sự thương cảm nơi anh.

Sau những đêm biểu diễn như thường lệ, chị lại trở về căn phòng cũ kỹ và quen thuộc năm xưa. Chị lại bần thần ngắm nhìn mấy bông hồng ủ rũ, lại ngoái nhìn vào góc chiếc sa-lon nơi anh vẫn ngồi. Với một thói quen vô thức, chị nâng niu mấy bông hồng mệt lả đi trong bàn tay mềm mại của mình. Cả căn phòng đầy ắp tiếng trẻ khóc. Chị ngây ngất nhìn khuôn mặt bầu bĩnh, hai má phúng phính ửng hồng và cặp môi chúm chím như những nụ hồng nơi kia. Đứa bé ngủ ngon lành, thỉnh thoảng lại toét miệng cười, đó là nụ cười bà mụ dạy cho nó, chị nghĩ thế. Chị khe khẽ cất tiếng ru, điệu ru con không rõ chị học thuộc từ khi nào. Chị ôm ghì con vào lòng, thảng thốt một nỗi lo niềm hạnh phúc mong manh sẽ tan biến đâu mất. Chị cuồng nhiệt hôn lên khắp khuôn mặt con, úp mặt vào bụng con và thiếp đi trong một giấc mơ kỳ lạ. Mãi tới khi thấy nhức buốt nơi cánh tay, chị mới chợt bừng tỉnh. Trong bàn tay mềm mại và ấm nóng của chị vẫn chỉ là mấy bông hồng ủ rũ có những cánh rơi lả tả một góc bàn. Hai cánh tay nhức buốt vì những chiếc gai nhọn cào xước bỗng rỉ ra những giọt máu đỏ chảy thành từng dòng. Góc chiếc sa-lon, nơi anh thường ngồi, giờ chỉ còn là một khoảng trống vô tận không sao khỏa lấp được./.

美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Ba người đàn bà

Bích Ngân


Quyên lại sẩy thai. Chồng Quyên thất vọng ra mặt. Anh ta tỏ ra dửng dưng như thể tác giả của cái bào thai vừa rõ hình hài ấy là của ông hàng xóm. Người hộ sinh có mái tóc điểm bạc, mang cái tên Hồng Lê trước ngực, thì khác, bà ân cần chăm sóc Quyên như một người ruột thịt.

Sau khi lướt qua thăm hỏi khắp lượt năm người đàn bà mang cái bụng kềnh càng chờ giờ khai hoa nở nhuỵ, bà Lê lại đến với Quyên. Bà ngồi xuống mép giường, hỏi chị có đỡ đau và có thể chườm nước ấm chỗ bụng được chưa? Quyên trả lời: cái đau vẫn còn bám chặt bụng da, còn chườm nước thì từ từ, chờ mẹ chị từ Cần Thơ lên thăm. Chị cũng không giấu cái cảm giác đói, muốn được ăn hay uống chút gì.

Lúc đó, chồng Quyên xách cái cà mèn đựng thức ăn bước vào. Không biết vô tình hay cố ý, anh ta đặt cà mèn một cái "cạch" lên góc tủ sát đầu nằm của vợ. Đứng lựng bựng và nhìn lơ láo một chút, anh ta quay lưng, bước thẳng ra cửa. Quyên biết, với anh ta, những lúc như thế này, đám bia bọt có sức lôi kéo mạnh hơn. Quyên chỏi tay định chồm dậy. Chị muốn dằn hắt, muốn nói một lời độc địa, muốn gào lên một tiếng... Cánh tay Quyên nặng trịch không đưa cao được. Cái miệng khô khát cũng không thốt nổi lời nào. Chị chỉ đủ sức vói tay, đẩy cái cà mèn ra xa một chút và nuốt cục tức xuống ngực.

Bà Lê pha cho Quyên một ly sữa. Uống được nửa ly sữa, Quyên nằm xuống. Chị không sao duỗi thẳng được đôi chân, phải dựng đầu gối lên, cái đau âm âm lan khắp người. Bà Lê gấp cái mền làm tám dằn lên bụng Quyên. Trước khi đi, bà bảo Quyên ráng chợp mắt một chút.

Chừng non một tiếng sau, bà Lê quay lại. Tay bà cầm một cái ca nhựa có nắp đậy màu đỏ và chai nước ấm ủ trong chiếc khăn bông. Bà đặt cái ca đỏ cạnh cái cà mèn nguội lạnh và chai nước dưới chân Quyên. Bà đỡ Quyên ngồi dậy, để chị tựa lưng vào chiếc gối mềm kê sát tường. Bà múc ra lưng chén cháo thơm nức tiêu hành đưa cho Quyên. Bưng chén cháo, khói nóng bốc lên, mùi thơm bốc lên, không chút e dè, chị vừa thổi vừa húp ngon lành. Bà Lê lấy khăn chậm mồ hôi rịn ra trán, mặt, cổ Quyên. Cử chỉ chăm chút ấy làm Quyên muốn nghẹn. Chị đặt cái chén cạn cháo xuống, ngập ngừng:

- Chắc cô cũng có... con gái?

Bà Lê như không nghe câu hỏi của Quyên, chậm rãi múc thêm cháo vào chén đưa cho chị, nói:

- Một lần sẩy bằng bảy lần đẻ, cháu ráng ăn để lấy lại sức!

Quyên nhẩm tính: "Bốn lần sẩy bằng" "28 lần". Chị rùng mình, muỗng cháo ngắc ngứ chỗ cổ. Cái bụng chửa giường bên cạnh có lẽ sắp leo lên bàn sinh. Chị ta kêu oai oái, mặt mũi đau đớn thảm hại trông như người không may bị nạn hơn là người sắp làm tròn cái thiên chức mà người đàn bà nào ở dưới gầm trời này cũng mong muốn. Bà Lê lật đật đứng lên, vội chạy đến với người đàn bà không biết kiềm nén cơn đau. Mấy phút sau, Quyên thấy bà Lê hấp tấp theo sau chiếc băng ca cáng người đàn bà sang dãy nhà đối diện để vào phòng sinh.

Quyên lấy gòn nhét kín tai và lấy vuông khăn mỏng đắp kín mặt. Thật lâu, chị vẫn không chợp được mắt. Quyên bồn chồn kéo vuông khăn ra khỏi mặt và hé mắt nhìn một lượt khắp căn phòng lao nhao người thăm nuôi. Giường nào cũng có vài ba người đứng ngồi quanh người sắp đẻ. Họ nói, họ cười. Họ dỗ dành. Họ nâng niu. Họ trông đợi. Giường cạnh chị cũng đã có một người đàn bà chửa khác vừa đến. Đó là người đàn bà mặn mà nhan sắc, còn trẻ và được yêu chiều. Cô ta được chồng dìu đi từng bước một. Đi loanh quanh khắp phòng rồi đi ra cửa, đi thêm một đoạn hành lang rồi trở lại. Bước chân chầm chậm của họ tới tới lui lui. Đi một hồi coi bộ mỏi chân, người chồng dìu vợ trở lại giường, đặt vợ nằm xuống và nhè nhẹ xoa bóp chân tay vợ. Cô như sắp khóc: "Em mỏi quá!", đòi chồng đỡ dậy và tựa hẳn người vào đôi vai vạm vỡ của chồng. Một đôi vai che chở vững chãi mà Quyên khao khát có.

Quyên không nghĩ đến đôi vai lỏng khỏng có lẽ đang là chỗ ngả ngớn chốc lát của một ả nào đó trong một căn phòng sực mùi thuốc lá, bia rượu, nước hoa mà nghĩ đến đôi vai gầy của mẹ. Đôi vai có lúc tưởng không còn sức để gồng gánh. Đôi vai luôn là chỗ dựa duy nhất cho chị. Rồi Quyên cũng ngủ thiếp đi dù vùng bụng vẫn âm ỉ đau và tiếng xuýt xoa rên rỉ không ngớt ở chung quanh. Giấc ngủ mỏi mệt, chập chờn những giấc mơ bất an.

Quyên mơ thấy mẹ. Mẹ nhìn Quyên. Hình như bà không nhận ra con gái mình. Giữa chị và mẹ lởn vởn một làn sương mảnh như khói bếp. Bà đưa tay phả phả màn sương và ngoái lại nhìn Quyên một lần nữa, rồi lặng lẽ quay lưng bước xuống xuồng. Mẹ không mặc chiếc áo bà ba màu tro quen thuộc. Mẹ mặc chiếc áo blue rộng thùng thình của bà Lê hộ lý. Mái tóc đen mượt của mẹ không búi cao mà lại cắt gọn như mái tóc của bà Lê. Đôi tay mẹ đẩy mái chèo. Chiếc xuồng như chiếc lá nhẹ lướt trên dòng sông lao xao sóng. Mẹ xa dần. Quyên chạy theo, chạy mãi theo cái chấm nhỏ trên dòng sông dài hun hút.

- Mẹ! - Quyên thảng thốt gọi.

- Con có sao không? - Mẹ Quyên cúi xuống bên con gái.

- Vậy mà con tưởng mình nằm mơ! - Quyên nhổm dậy, nhìn mẹ, nhìn túi xách còn đeo trên vai mẹ, mừng quýnh - Sao mẹ lên sớm quá vậy?

- Biết con trông, mẹ đi xe 2 giờ sáng, tài xế chạy ẩu quá, mấy lần hồn vía lên mây, vái trời khấn đất, tưởng không còn được gặp con!

Quyên đâm hoảng:

- Con năn nỉ mẹ hoài, mẹ đừng đi xe đêm. Mẹ có bề gì con biết làm sao!

- Đừng nịnh mẹ, con còn chồng, còn con, còn...

Thấy con gái lặng thinh, bà mẹ bỏ dở câu nói. Bà lấy chiếc khăn mềm nhúng vào chậu nước ấm được đổ ra từ phích nước, vắt nhè nhẹ và đưa con gái lau mặt. Lau xong, Quyên được mẹ dìu vào buồng vệ sinh. Mẹ đỡ chỉ ngồi lên bàn cầu, âu yếm vỗ vỗ vào cái mông trần của con gái. Quyên ngồi trong đó một hồi, nước mắt rân rấn. Thương thân ít, thương mẹ nhiều. Khi được mẹ dìu trở lại giường. Quyên kéo tay mẹ:

- Liệu con còn cơ hội được làm mẹ không mẹ?

Mẹ đắn đo rồi nói:

- Bốn lần sẩy là có cái gì đó không bình thường, lần này khoẻ lại mẹ đưa con tìm bác sĩ giỏi để trị, chớ không có con chồng con không chịu được đâu!

Nhìn gương mặt rầu rầu của mẹ, Quyên thương mẹ quặn thắt ruột gan. Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến người chồng và đặt cái vị trí độc tôn của người đàn ông lên cao hơn hết thảy, dù bà đã phải trả giá về sự hy sinh đó. Ba Quyên đã rời bỏ người vợ quá chu toàn để đến với một người đàn bà khác mà theo lời mẹ người đàn bà đó kém bà về nhan sắc, thua bà tài nội trợ; chỉ khác mẹ là bà ta đến với ba Quyên với tư cách của một người bạn tình chứ không phải là một con hầu. Mẹ hận ba. Lúc ba nằm trong quan tài, mẹ cũng không tha thứ cho ba và trừng phạt cái người đàn bà đã dám toòng teng với chồng bà bằng cách cấm cửa, không cho bà ta bén mảng đến đám tang của ông. Chính tay bà vặt sạch bó hoa lạ đặt bên mộ ba mà bà nghi là của người đàn bà đã đánh cắp tình yêu của người. Mẹ hận ba, hận người đàn bà ấy và dồn hết yêu thương cho chị em Quyên.

Má có một lũ con mà ba...

Biết lỡ lời, Quyên im bặt.

- Ba con thì khác!

Từ khác mẹ Quyên hạ giọng, nói nhỏ, nhẹ và rất khác. Quyên nhìn sững mẹ, lấy làm ngạc nhiên. Trong giọng nói, như thể mẹ còn muốn thanh minh cho ba, biện hộ cho ba. Giọng nói mẹ dường như còn hàm chứa cái mong muốn được khôi phục lại cái hình ảnh người cha đã méo mó đi phần nào trong tình cảm của các con, lòng tự trọng của người mẹ bị tổn thương. Quyên đưa tay mân mê làn da nổi gân xanh nơi mu bàn tay của mẹ, muốn nói với mẹ cái điều chị lờ mờ cảm nhận. Một bàn tay mẹ đặt lên tay Quyên. Chị lại do dự không nói được cái điều muốn nói mà lại buột miệng:

- Mẹ, con đói! - Quyên thấy mình vòi vĩnh như đứa trẻ lên năm.- ấy chết, mẹ quên, trời sáng bạch nãy giờ rồi, để mẹ đi mua cái gì cho con ăn!- Cả mẹ nữa, chắc mẹ còn đói hơn con!- ờ phải, bụng mẹ cũng đánh lô tô rồi - Mẹ Quyên đứng lên, kéo kéo sửa sửa áo quần cho ngay ngắn rồi xăng xái bước ra khỏi cửa.Nắng sớm tràn đến dãy hành lang hẹp, nơi đã lao xao tiếng nói, bước chân của người thăm nuôi. Bà Lê bước vào cửa phòng, tay xách chiếc cà mèn thức ăn. Đến chỗ giường Quyên, bà Lê đặt cái cà mèn lên đầu tủ và hỏi:

- Đêm qua cháu khó ngủ lắm phải không?

Bà Lê vừa hỏi vừa múc cháo ra chén cho Quyên. Mẹ Quyên trở vào, tay lỉnh kỉnh thức ăn. Quyên chưa kịp giới thiệu với mẹ về người hộ lý đã ân cần chăm sóc chị thì đã nghe tiếng nói như rít của mẹ:

- Thì ra là cô! Đúng là trời cao thiếu mắt! Tôi tưởng cô đã...

- Mẹ, cô ấy đã rất tốt đối với con!

- Phải, tốt đến nỗi đã giết chết ba con!

- Ba con chết vì tai nạn...

- Nếu không phải vì người đàn bà này thì ba con đâu phải hộc tốc lên xe đi đêm hôm để phải chết thê thảm giữa đường giữa xá...

- Mẹ, đừng nói nữa, người ta nghe thấy!

- Thì đã sao nào...

Căm hận còn bốc lên ngùn ngụt. Quyên không ngờ thù hận chỉ trong một phút chốc đã biến người mẹ hiền dịu chịu thương chịu khó của cô trở thành kẻ lạnh lùng đáng sợ.

- Xin chị bớt giận! Em có lỗi với chị, có lỗi với cháu đây nhưng nhưng em thương anh ấy và anh ấy cũng thiệt lòng.

- Thiệt lòng! Mẹ Quyên bĩu môi, cười gằn - cũng may là cô không đẻ đái được!

Quyên nhăn mặt. Sao mẹ có thể ác miệng độc mồm đến thế? Chị nhói lòng: "Con gái mẹ đây chẳng biết đang may hay rủi!". Đời dường như là thế! Luôn là cuộc đánh đố nghiệt ngã. May và rủi, được và mất, phúc và hoạ... không ngừng đuổi bắt nhau, đổi chỗ cho nhau.

Quyền nhìn bà Lê mặt mày tái xanh, lủi thủi, vừa đi vừa khóc; chị thấy giận mẹ đến... no ngang. Chị đẩy thức ăn của mẹ mua ra xa:

- Con nuốt không nổi!

- Mày không thèm ăn thức ăn tao mua thì mày cũng không được đụng đến chén cháo này!

Mẹ Quyên đột ngột thay đổi cách xưng hô với con gái và bưng chén cháo còn bốc khói đổ ụp vào cái bô vệ sinh để dưới gầm giường.

Quyên không nỡ nhìn thù hận giương móng vuốt cào cấu giằng xé người vợ không nguôi tình yêu đối với chồng, ngay cả khi bị ruồng bỏ. Chị rót ly nước đưa cho mẹ:

- Con biết mẹ không thể quên được nhưng... nhưng mẹ có thể tha thứ mà, hơn nữa cô ấy cũng đau khổ, đơn độc và yêu thương ba con thiệt lòng.

Khi nói với mẹ điều đó, Quyên chợt tự hỏi: Liệu mình có quên được cái thái độ thất vọng không cần che đậy của chồng và cả việc anh ta bỏ mặc vợ một mình... vượt cạn. Liệu chị có bỏ qua, có tha thứ được cái nỗi đau có lẽ còn đeo bám suốt cuộc hành trình số kiếp.

- Mẹ cũng muốn như thế lắm nhưng...

Mẹ Quyên không nói hết câu. Đôi môi rung lên, nước mắt trào ra, bà gục đầu vào vai con gái. Quyên giữ yên đầu mẹ trên vai mình và để cho bà được thoả thê khóc, không màng đến những đôi mắt tò mò quanh đó./.






美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Bài học ngoài giáo án

Uất Kim Hương


Vào giờ ra chơi, Thục gặp tôi nơi phòng Ban giám hiệu, nét mắt vẫn nghiêm nghị như tự bao giờ. Nhận lấy ly trà nóng tôi rót mời, Thục hớp một ngụm, đặt ly xuống cái cạch, nói:- Thằng Hưng em ông khá đó chớ?

Tôi nhíu mày, hơi chột dạ, vì cứ sợ thằng em cà chớn của mình, đang học lớp 11A2 mà Thục là giáo viên chủ nhiệm, gây ra chuyện phiền phức bực bội gì đó đối với thầy giáo. Tôi nhìn người bạn đồng nghiệp, ái ngại và lo lắng, hỏi:
- Sao rồi? Có chuyện gì xảy ra chăng?

- Đâu có gì! - Thục nhướng mắt - Nó học khá thông minh, lanh lợi và mạnh dạn phát biểu, lại ngoan ngoãn, lễ phép, nên tôi khen ngợi một tiếng thật lòng cho ông vui.

- Thật vậy à? - Tôi không giấu được kinh ngạc.

- Ô kìa, sao ông lại lộ vẻ ngạc nhiên vậy? Bộ tôi đùa trêu ông à? Nó đang và sẽ là đứa học trò được tôi quan tâm, cưng nhất đó!

Tôi sững sờ thoáng chốc, rồi phì cười. Thục lại tự rót trà ra ly, mắt đăm đăm nhìn tôi, nước tràn ra bàn mà không hay, tôi chồm tới chặn tay Thục lại, nói:

- Khen quá té hen ra ngoài. Đầy quá thì đổ, ông ơi!

Thục cười khoái trá, gục gặc hỏi:

- Tôi khen không đúng hay sao? Không lẽ tôi khen thằng em của ông để được lòng thằng anh của nó? Lợi gì mà khen?

Tôi biết tính Thục ưa đùa cho vui, nên thản nhiên nói:

- Ông chẳng lợi gì mà có khi còn bị hại. Ông khen thằng em tôi khá giỏi, ngoan hiền... đó là theo cái nhìn hạn hẹp của ông. Tôi nghe ông khen, tôi không mừng, lại lo, và buồn nữa!

- Tại sao?

- Tôi lo có thể ông đang bị thằng em tôi nó gạt. Nó gạt bằng sự giả dối của nó. Nếu quả thật nó ngoan giỏi như ông khen thì... quá tốt. Nhưng, tôi buồn vì tôi không được diễm phúc có được một đứa em như vậy khi ở nhà. ở nhà, nó là một đứa em cà chớn, bướng bỉnh, hỗn láo với anh mình. Thật nực cười, tôi cũng là một người thầy như ông, nhưng tôi không dạy bảo nó được, cũng không được nể trọng như nó nể trọng ông...- à à à... ra vậy!Thục ngả người ra ghế, đăm chiêu. Tôi thở dài:

- Bụt nhà không thiêng. Tôi dạy được biết bao đứa học trò qua nhiều năm theo nghề, có đứa từ dốt đặc hoá thành thông minh, có đứa hoang đàng chi địa trở nên siêng năng ngoan ngoãn, vậy mà... khi về nhà, chỉ mỗi một thằng em trai nhưng tôi đã không thể dạy, khuất phục được nó, và bao năm bất lực nhìn con ngựa chứng không cương chạy nhảy trong nhà, trước mắt mình. Tôi buồn là vì vậy!

Thục trầm ngâm khi nghe được tâm sự kín đáo của tôi vừa bộc bạch. Anh ta hớp từng ngụm trà nóng với vẻ ưu tư, day dứt, một lúc lâu, khẽ hỏi:

- Đại loại, ông có một đứa em ứng xử với ông thế nào?

- Bảo học thì nó cứ đưa cái bản mặt khinh khỉnh lên, bỏ đi chơi. Nói gì cũng cãi. Bài vở làm sai, tôi chỉnh, tôi giảng, vậy mà nó vẫn cãi cối cãi chày, tỏ vẻ bất cần đến sự chỉ giáo của tôi. Do thói quen từ nhỏ, đến hôm nay nó vẫn gọi tôi bằng tên: "Thịnh ơi, Thịnh ơi!". Bảo nó sửa, nó đâu chịu. Lớn rồi, phải tập tánh tự lập cho quen, nhưng nó không hề biết giặt quần áo là gì, cứ bắt mẹ tôi lo, nhiều lần tôi dạy bảo nhưng nó ngoan cố. Ôi chao... còn cả trăm thứ đáng chê trách, kể sao cho hết. Thế nên, ông khen nó giỏi này ngoan nọ, tôi cứ tưởng mình nghe lầm, hoặc đang... chiêm bao!

Thục cười méo xệch cả miệng, lắc đầu ngao ngán nói:

- Tôi nghĩ, đây không phải là trường hợp "Bụt nhà không thiêng", mà là "Khôn nhà dại chợ". Đời phải có những nghịch lý tréo ngoe như vậy mới là cuộc đời, phải không, ông anh tội nghiệp của học trò tôi?

Tôi nhún vai, nhướng mắt như để chấp nhận những nghịch lý phải tồn tại giữa cuộc đời mà mình phải đương đầu, chịu đựng.

***

... Qua năm ngày liên tục, tôi ngẩn ngơ đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác, cứ như đi trong giấc mộng dài êm ả, có những tia nắng óng ả, những tiếng nhạc réo rắt, những cơn gió thoảng dịu dàng, và những kỳ hoa dị thảo hương đưa ngào ngạt... Tôi cứ lo sợ giật mình tỉnh giấc, để rồi đối diện với sự thật nhỡn tiền đầy xót xa bứt rứt mà mình đã bao năm phải kiên nhẫn đối diện. Nhưng tôi không phải đang đi vào mộng mơ huyền ảo. Tôi đang chứng kiến một sự thay đổi kỳ lạ có thật. Thằng Hưng gọi tôi bằng "Anh Thịnh". Nó mời tôi ăn cơm, nó tự giặt đồ, nó cầu cứu tôi giảng giải những bài tập, những thắc mắc mà nó chưa thông hiểu. Nó nhìn tôi bằng đôi mắt khác lạ - đôi mắt chứa đầy sự nể nang, kính phục - với nhiều thiện cảm... Tôi tưởng nó đóng kịch, nên thoạt đầu rất nghi ngại và thận trọng dò xét. Nhưng tôi biết nó đang sống thật. Sự thay đổi nơi nó thật tự nhiên, không gượng gạo, gò ép. Tôi sướng lắm, vui lắm, cảm thấy cuộc đời sao mà dễ dàng, đơn giản đến thế! Tôi không hỏi nó một tiếng, chỉ âm thầm đón nhận những món quà tặng tình cảm từ đứa em trai bất trị. Tôi như vừa mới tìm lại được của quý báu bị đánh mất bao năm, trưa nằm trăn trở, đêm nằm thao thức nghĩ về sự thay đổi của Hưng. Có lẽ ai trong cuộc mới hiểu được niềm vui khoan khoái kỳ lạ trong tôi, khi mỗi sáng đến trường hai anh em tôi chở nhau, rủ nhau cùng đi, trò chuyện vui vẻ. Chuyện chưa từng xảy ra. Tôi vui lắm, và nghĩ đến Thục. Tôi dám chắc Thục đã nhúng tay vào chuyện này. Khi bị tôi tra hỏi, Thục ngơ ngác lắc đầu:

- Tôi không hề nói năng gì với thằng em ông hết. Thầy trò tôi đâu có rảnh rang mà nói chuyện riêng. Vả lại, ông là anh của nó, ông không dạy nổi, thì tôi là người dưng sao đủ trình độ để làm một đứa cứng đầu bất trị giác ngộ mau mắn như vậy?

Tôi vẫn nghi ngờ, nói:

- Nhất định là ông đang chối. Không phải ông, thì chẳng còn ai dính dấp vào cái vụ tình cảm riêng tư của anh em nhà tôi!

Thục cười trừ, nói lảng sang chuyện khác.

***

Bất chợt, Hưng hỏi tôi khi hai anh em đang ngồi trong rạp chiếu bóng ế ẩm vào tối thứ bảy:

- Thầy Thục có thằng em trai học lớp của anh à?

Tôi trố mắt ngạc nhiên, nhưng hiểu ngay vấn đề, vội hỏi:

- Ai nói với em như thế?

- Thầy Thục nói. Tụi em nghe thầy kể về người em trai đang học lớp 11A5 do anh làm chủ nhiệm. Nghe nói thằng đó đến trường học giỏi lắm, lại ngoan ngoãn lễ phép, được thầy cô, bạn bè thương mến. Nhưng khi về nhà, nó lại hiện yêu hiện quỷ, cứng đầu lỳ cổ, hỗn láo xấc xược với anh chị em trong nhà, nhất là đối với chính thầy Thục, một người thầy giáo được bao học trò kính trọng...

- Thầy Thục kể vậy à? - Tôi hứng thú hỏi tới - Rồi sao nữa?

- Sở dĩ thầy kể về thằng em trai cà chớn đó, là vì đang giảng câu tục ngữ "Khôn nhà dại chợ", thầy cười đau khổ nói rằng em của thầy thực ra là "Dại nhà khôn chợ", ở nhà hỗn láo với người thân là dại, ra đường hay đến trường lễ phép ngoan ngoãn với người dưng là khôn...

- Thầy Thục có tính ưa đùa, hay ăn nói như vậy.

- Tụi em nghe thầy tâm sự mà tức anh ách, xót xa và buồn giùm thầy. Thầy đã thực lòng nói: "Tôi được hàng nghìn học trò kính nể, dạy cho hàng nghìn học sinh trở nên khôn ngoan, vậy mà không dạy được chỉ mỗi một đứa em trong nhà mình, đó là nỗi đau, một nỗi nhục trong nhà chưa tẩy xoá được!". Nghe mà tội nghiệp cho thầy quá. Em và mấy đứa bạn định hỏi thăm cho biết mặt thằng em của...

- Để làm gì? - Tôi ngắt.

- Hăm nó, nếu cần thì... dạy cho nó một bài học nên người.

Tôi cố nén tiếng cười không bật ra, đồng thời nuốt cục nghẹn vì xúc động xuống, hỏi khẽ Hưng:

- Em tin lời thầy Thục không?

- Tin chớ. Nhưng... sao anh hỏi vậy?

- Vì lớp 11A5 không hề có đứa học sinh nào là em trai của thầy Thục cả. Em gái cũng không. Bởi nếu có thì anh đã biết, như thầy Thục đã biết em là em trai của anh vậy!

- Vậy ra... thầy Thục bịa đặt?

Tôi tủm tỉm, gật đầu:

- Nói xạo là một tính xấu. Nhưng đôi khi điều đó cũng đẹp, nếu dùng vào mục đích tốt, có lợi cho người bị nghe xạo. Thầy Thục làm điều đó với lớp 11A2, ấy là muốn dạy cho các em một bài học về đạo đức, cái xạo của thầy là một cái xạo rất thánh thiện, vượt lên trên khỏi những cái xạo của người đời phàm tục. Các em được nghe thầy nói vậy, đừng nên chê trách thầy, mà phải cám ơn, phải càng kính trọng thầy hơn, ngay cả anh cũng phải nghiêng mình ngả nón mà cảm ơn thầy Thục của em. Không chỉ các em học được bài học quý báu từ thầy Thục, mà thầy giáo Thịnh này, anh của em đây, cũng được một bài học ngoài sách vở, ngoài giáo án văn tự.

Đèn tắt. Rạp chìm trong bóng tối. Nhưng tôi vẫn thấy rõ một gương mặt nghiêm nghị hiện ra, nhoẻn miệng cười, nheo mắt với tôi. Tôi nhắm mắt lại, vẫn thấy gương mặt ấy, thấy rõ hơn khi mở mắt, gương mặt sáng ngời trí tuệ, rất điềm tĩnh giữa bóng đêm mịt mù. Gương mặt người đồng nghiệp của tôi, Thục, có lẽ cũng đang chập chờn lảng vảng trước mắt, trong đầu óc, và trong trái tim của Hưng em tôi đang trong giờ phút màn bạc hiện lên những hình ảnh nửa hư nửa thực của cuộc đời. Tôi nhìn sang Hưng. Mắt nó long lanh. Tôi nắm lấy bàn tay em trai. Hưng siết chặt bàn tay tôi, nói:

- Thầy Thục xạo ve kêu luôn!

Tôi phì cười, hỏi:

- Em có giận thầy Thục không?

- Dạ không. Thầy làm thế rất hay, vui, lạ và ... bổ nữa!

- ừ, em cứ xem như ở lớp 11A5 của anh có một học sinh là em của thầy Thục đang hiện hữu. Phải có một tấm gương tốt, và một tấm gương xấu để tự mình soi lấy mình, em trai ạ!Hưng gật gù, chân tình:

- Đúng vậy. Em trai của thầy Thục là có thật, và vẫn còn đó. Nhưng, em trai thầy Thịnh thì đã biến mất rồi. Phải vậy không anh?

Tôi cười, siết chặt tay Hưng nhìn lên màn bạc mà không hề thấy gì. Tôi ôm nỗi vui sướng ngồi cho đến khi đèn sáng hết phim, ra khỏi rạp, bước ra đường phố với một giáo án mới toanh mang theo.../.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Bức họa

Trọng Huân


Nhà hoạ sĩ trông ra hồ Gươm. Ngôi nhà cổ bờ mái rêu cáu cạnh, ngói xô vỡ nhiều chỗ. Cây sấu già sù sì đè trĩu càng làm căn nhà thêm thấp bé. Phòng nhỏ treo tranh, tranh bày cả tường hiên trước cửa: tranh cánh đồng chiều quê, tranh cô gái vùng cao gùi nước, tranh phố cổ Hà Nội ngõ nhỏ sâu hút... Phòng tranh mang vẻ tĩnh lặng như chính họa sĩ già đang trầm ngâm ngắm cảnh hồ. Dòng người qua lại, mưa rơi lất phất, có người vội vã, có người thư thả. Ai đó dừng lại ngó tranh, bước đi. Người đứng lại lâu hơn, ngắm. Họ mang tranh ông đi, một người sưu tầm chơi tranh, một nhà kinh doanh phát đạt, một du khách ngoại quốc muốn có kỉ vật về phong tục, tập quán xứ sở mình đã qua. Khoảng trống để lại trên tường, họ đã mang đi từng phần đời họa sĩ. Nhìn khách qua đừơng, dạo hồ, họa sĩ nghĩ ngợi: ừ, cuộc đời trôi nhanh hay chậm là suy nghĩ của mỗi người. Có cuộc đời băng qua vội vã; có cuộc đời bước đi thong thả, nhởn nha. Song nó vẫn là trôi. Ông từ một cậu bé ở cái phố phủ Ninh Giang bên dòng sông Luộc, tuổi thơ qua đi êm đềm. Lớn lên bước vào cuộc chiến tranh. Lúc nửa đầu hoa râm, đất nước thanh bình, tranh là suy ngẫm của ông, suy ngẫm cuộc đời. Người ta nói, đời người như bức tranh, vậy không thể có sự trôi nhanh hay chậm, mà chỉ có bức vẻ với mảng mầu sẫm tối, khắc họa rõ ràng, bức nhạt nhòa không phân biệt đâu tối, đâu sáng, hay những bức gam màu xám xịt. Cuộc đời ta thuộc loại bức tranh nào? Thời Phục Hưng có một họa sĩ sống chuỗi ngày vất vưởng. Tranh ông vẽ đổi từng bữa ăn, đổi bánh mỳ đổi củi sưởi. Họa sĩ chết trong cảnh đói rét. Người đời đâu ngờ rằng, vài trăm năm sau, một tác phẩm của ông bằng gia tài nhà triệu phú. Cuộc đời họa sĩ đó thuộc loại bức tranh nào?Từ góc phố bà cụ ăn mày lần gậy bước. Cụ già lắm, mái tóc trắng đục. Năm tháng khắc họa khuôn mặt cụ ngàn vạn nếp nhăn. Một cuộc đời vất vả- họa sĩ nghĩ. Vai cụ quàng bị, gậy khua lốc cốc, cánh tay già khẳng khiu giơ ra cầu xin cuộc đời. "Kìa, sao cụ chìa xin cả chốn không người, những cánh cửa nhôm khách sạn sáng lạnh, dãy xe hơi im ỉm." Cảnh tượng làm hoạ sĩ chạnh lòng. " Nếu mẹ ta còn sống, nay trăm tuổi. Mẹ ta may mắn hơn cụ già kia. Có phải bà là người mẹ được nhận nhiều ư? Từ chồng, từ con, từ...? Lúc mẹ ta mất có hàng trăm vòng hoa viếng, đấy cũng là lần mẹ được nhận chăng?" Cụ già ăn mày bước trên phố vắng, bàn tay cứ chìa ra. "Có người đi suốt cuộc đời trong khổ đau. Ông trời không công bằng, không gượng nhẹ đến quãng cuối cùng, cái mà Người đã tạo hóa..." Họa sĩ thấy cay cay sống mũi!

- Lạy ông! ...lạy bà!... Xin thương kẻ già nua...

- Cụ ơi, đường có ai đâu. Mời cụ vào đây nghỉ chút cho đỡ rét

- Xin ông! Lạy ông...

- ấy, con chỉ đáng tuổi con cháu cụ...- Vâng! Lạy ông... Ông thương cảnh già...

Cầm chén nước hoạ sĩ mời, tay bà cụ run run. Run vì giá rét hay cái run trước một tấm lòng? Một người mẹ cả đời chỉ cho, chưa được nhận bao giờ, nay được chút lòng đã bao xúc động? Phút giây ấy chợt bừng lên trong họa sĩ niềm cảm hứng. Họa sĩ cầm bút nét phác họa cụ già hiện nhanh trên nền giấy. Đêm ấy căn phòng họa sĩ ánh đèn tỏa sáng suốt đêm, tâm trí ông hút vào bức phác họa. Người vợ mấy lần thức giấc, lo lắng nhìn chồng. Bao năm chung sống, rất hiểu phút đam mê của người nghệ sĩ, bà thở dài...

Sáng sớm. Hồ chưa một người dạo ngắm Tháp Rùa. Lác đác người nhận giao ca sớm, đi về. Hoạ sĩ ngồi lặng bên giá vẽ. Ông say sưa ngắm bức hoạ đã hoàn thành. Khuôn mặt, ánh mắt ngàn vạn nếp nhăn. Nhìn bức chân dung cụ già như thấy nỗi nhọc nhằn cô quạnh một kiếp người. Thoáng nghe bước chân sau lưng, hoạ sĩ biết đêm qua vợ mất ngủ, bà lo lắng cho chồng. Hoạ sĩ đợi lời trách móc. Im lặng... Ông quay lại... thấy vợ đăm đăm ngắm bức hoạ. Mắt bà như rớm lệ. Nhẹ bước lại ông quàng tay ôm vợ, hai người già lặng ngắm tranh. Bức họa Người Mẹ- hoạ sĩ đặt tên như vậy, ông đem treo trang trọng nơi phòng tranh. Bức hoạ không có giá. Từ hôm ấy khách vào phòng tranh, ai đó lơ đãng nhìn, kẻ dừng lại đôi chút, người đứng lại rất lâu. Họa sĩ thoáng nghe những tiếng thở dài nho nhỏ.

*

* *

- Chào bố!

Cái mặt nó nhăng nhít, lại thoả thuê, hắn là gã lái tranh, kẻ mang tranh ông đi nhiều nhất. Cũng từ hôm bức hoạ treo lên, hắn xoắn lấy. Kể cũng lạ, thứ hắn mà thoáng nhìn đã thấy ngay cái thần, cái giá của bức hoạ.

- Con biết bố ghét con (hắn cười). Mâu thuẫn! Tại sao bố lại không ưa con nhỉ? Chính con là người mua tranh của bố nhiều nhất, trả giá cao nhất. Con hỏi bố nhé, không có những người như chúng con thì các vị nghệ sĩ như bố sống ra sao? Chưa kể chúng con còn lăng xê để bao vị trở nên nổi tiếng. Bố sẽ quảng bá cái triết lý và nghệ thuật của mình đến công chúng bằng cách nào? Nếu không có chúng con?

Hắn từng nói với họa sĩ như vậy.

*

* *

Vị khách ấy bước vào phòng tranh. Ông họa sĩ ngồi ngắm Tháp Rùa, ngắm dòng người qua lại như mọi khi. Khách dừng lại trước bức chân dung Người Mẹ. Ông khách trạc ngoài năm mươi, tóc muối tiêu, một vị khách sang trọng. "Ngoại quốc hay người Việt? Khuôn mặt thì điển hình người Việt, nhưng nước da ngăm ngăm" - họa sĩ nghĩ. Ngắm khách kỹ hơn: -"Một khuôn mặt đàn ông không đẹp nhưng có nét đáng chú ý, dễ gây cảm hứng - một khuôn mặt có đặc điểm. Hình như mình đã gặp ông ta ở đâu rồi nhỉ, trông quen quen. Qua góc nghiêng, họa sĩ cảm nhận, ông ta xúc động. Sau phút giây trầm ngâm ngắm tranh, khách bước về phía họa sĩ:

- Thua ong... Xin hoi...

Từ ngữ, cách phát âm tiếng Việt chưa chuẩn, người ngoại quốc. Khách hỏi về tác giả, về giá bán bức họa. Ông ta như thoáng buồn khi nghe nói bức chân dung không bán. Khách lại tần ngần ngắm tranh. "ừ, đúng là mình đã gặp ông ta ở đâu? Đôi mắt, cái nhìn...?"- hoạ sĩ nghĩ. Lúc sau vẻ cương quyết, khách lại đề nghị mua bức chân dung, tuỳ họa sĩ định giá. Qua những câu lộn xộn, thiếu mạch lạc, và xen vào những câu tiếng Pháp, hoạ sĩ biết ông ta gốc Việt, tha hương hơn năm chục năm rồi, đây là lần đầu tiên về thăm quê hương bản quán. Nghe họa sĩ nói bức họạ gắn với một kỷ niệm, nên không bán, ông khách rất thất vọng. Thời gian trôi đi vẫn thấy khách lặng lẽ ngắm tranh, mắt ông ta còn như nhoà lệ. Hoạ sĩ chợt nhận ra, đôi mắt, cái nhìn của khách giống cụ già trong tranh đến kì lạ. Một lần nữa ông Việt kiều bước về phía hoạ sĩ. Lần này ông ta đặt câu hỏi về người mẫu- chắc bà cụ có uẩn khúc hay hoàn cảnh éo le chăng? Cụ hiện ở đâu? Tại sao hoạ sĩ để vết sẫm trên trán, cần thiết phải tạo mảng màu ấy không? Sao bàn tay cụ già trong tranh nắm gậy vẻ không tự nhiên? Nghe khách hỏi hoạ sĩ ngạc nhiên- ông khách quả có cái nhìn tinh tế, am hiểu hội hoạ. Bức vẽ gần như nguyên mẫu, trên trán, dưới chân tóc bà cụ người mẫu có bớt đậm, ngón tay trỏ của cụ bị tật. Nghe họa sĩ giải thích, thần sắc khách như khác lạ, ông ta hấp tấp hỏi, hỏi nhiều lắm. Hoạ sĩ nhớ: "Bà lão nói tên làng, một cái tên nôm chỉ còn trong trí nhớ người già, tên gì nhỉ...? à đúng rồi... làng Đún..."- Làng Đún... làng tôi đấy! (ông khách nắm tay hoạ sĩ lắc lắc). Tôi về Việt Nam tìm mẹ.

Hoạ sĩ bàng hoàng. Sự trùng hợp hay ngẫu nhiên chăng? Số phận run rủi? Đúng! Đôi mắt bà cụ, đôi mắt ông ta giống nhau đến kì lạ. -"Cụ hiện không nơi nương tựa. Đêm đêm ngủ ở một chân cầu nào đó trong thành phố..." Nghe kể, nước mắt khách chảy dài trên má. Hơn 50 năm trước họ xa nhau. Hoàn cảnh túng đói người mẹ để lại đứa con còn đỏ hỏn, đi Hải Phòng làm vú nuôi, lấy tiền nuôi con và gia đình. Hơn năm sau bỗng người làng đồn, bà đã chết, đồn bà làm lẽ ông chủ buôn nước mắm bà làm vú nuôi ở nhà ông ta. Chuyện đồn về làng đến sợ. Chẳng ai rõ ra sao, nhưng chuyện lâu rồi, bà không có tin về làng là sự thật. Người chồng và đứa con cũng rời làng. Số phận xô đẩy đến mức họ trôi dạt đến tận xứ người, một đồn điền giữa hòn đảo nơi đại dương mênh mông, quê hương là phía mặt trời lặn. Trước lúc nhắm mắt nơi đất khách, ông bố trăng trối cho con:Về quê hương tìm mẹ. Người con chính là vị khách ngoại quốc. Bao công sức ông mới tìm ra làng Đún. Giờ chẳng ai gọi tên ấy nữa. Làng khác xưa rồi, không như lời bố ông trăng trối. Dân làng ít người biết chuyện gia đình ông hồi đó. Sau này bà mẹ có trở lại. Cái đận đói bốn lăm chết vãn làng, lại bước vào cuộc chiến tranh, mỗi người ly tán một phương, biết sao số phận của nhau! Không chồng, không con, không cả họ hàng gần gũi, bà chẳng quay về làng lần nào nữa.

Ông khách ngoại quốc lang thang khắp thành phố, đêm đêm tới các chân cầu mái hiên tìm mẹ. Thỉnh thoảng ông lại quay về phòng tranh, thẫn thờ nhìn bức họa. Trước bức chân dung khách lầm rầm như là tâm sự. Nhìn vào mắt khách họa sĩ biết, đứa con lạc mẹ kia, dù khó khăn đến đâu cũng sẽ tìm thấy mẹ. Xúc động, hoạ sĩ tặng bức chân dung cho khách. Đời nghệ sĩ của mình, nhiều lần tặng tranh, bán tranh, đây là lần trao tranh cho người ông thấy thanh thản nhất. Phần đời của ông có người giữ gìn, trân trọng.

*

* *

- Kìa bức tranh đâu rồi?

Gã lái tranh sững sờ khi không trông thấy bức họa.

- Bố nói vô giá, không bán. Chắc có kẻ trả hơn con. Bố đá bao nhiêu? Năm hay bảy vé?

- Tôi tặng.

- Tặng?... Con không nghe nhầm chứ(?) Bố già lẩm cẩm rồi. Vài chục vé đấy.

- Vài chục vé thôi à

Ông họa sĩ cười. Ngày ngày vẫn thấy hoạ sĩ trầm ngâm ngắm cảnh hồ, nhìn dòng đời qua lại. Trong mắt ông thấy cả sự hy vọng, đợi chờ. ý tưởng bức hoạ mới đang hình thành trong ông: một sáng, cảnh hồ yên tĩnh, rặng cây ven hồ đổi màu xanh biếc, những tia nắng ban mai chiếu rọi, cụ già tóc trắng bạc, người con trai dìu mẹ bước, nét mặt ông ta rạng rỡ. Họa sĩ chợt nghĩ, ai là người được nhận?./.
9/1996







美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chất xám dùng để mua tiền

Nguyễn Quang Huy


Khi tôi mang số báo có đăng truyện ngắn của tôi về, vợ tôi cầm nó lên, như cầm một mớ rau, hỏi:

- Được bao nhiêu?

- Hai mươi ngàn!

- Tám cân gạo.

Thị đánh một câu gọn lỏn, rồi bỏ xuống bếp.

Đúng là thời buổi bùng nổ thông tin và đồng tiền mất giá! Tôi đành chịu thua cái kiểu tính nhẩm rất thực tế ấy, và thấy rằng tốt nhất là đừng nói gì thêm. Bảo rằng viết văn là nghề cao quý ư? Chắc chắn là sẽ được nghe một lý lẽ không thể chối cãi được như thế này từ miệng thị: "Cái gì quý cũng đắt! Nghề của anh rẻ như bèo!".

Nhưng tai họa vẫn chưa hết.

Lúc rỗi rãi, thị giở cái truyện ngắn ấy của tôi, và phán gọn lỏn:

- Ngắn thế này, hai mươi ngàn là phải!

Tôi đành ngậm tăm.

***

Mấy hôm sau, liếc cái truyện ngắn khác của tôi vừa mới viết xong, thị định giá ngay:

- Truyện này phải đòi "nó" ba chục!

- Cũng thế thôi...

- Thế, là thế nào! Dài hơn truyện trước!

Tôi lại chịu thua. Phải nghĩ cách khác. Tôi bèn lấy giọng thật "nhẹ nhàng và tình cảm" giảng giải cho thị thế nào là "chất xám", và viết được một chuyện ngắn thì khó nhọc, khổ tâm thế nào, và kiếm được đồng tiền, thì vất vả thế nào.

Thị cảm động thực sự, thở dài:

- Thôi đừng viết nữa! Anh chỉ việc nhịn hút thuốc đi, bớt uống rượu đi là được! Đỡ tốn!

Lần này, thì cái "nhịn hút thuốc, nhịn uống rượu", không chỉ liên quan đến cái hại sức khoẻ và tốn tiền như mọi lần thị vẫn ca cẩm, mà còn có một tình cảm ái ngại của thị. Nó vượt lên trên đồng tiền trần trụi. Tôi hiểu, thị tính đến phạm trù "khấu hao". Thị thương tôi phải khổ nhọc và phải thức đêm thức hôm vì vợ con, mặc dù thị hoàn toàn không hiểu được cái "chất xám" nó hình thù thế nào và sự hao tổn của nó đến đâu, nếu không được bù đắp - mà đấy là sự khấu hao lớn nhất.

***

Nhưng ở đời, có quy luật bù trừ.

Con bé gái tôi rất quý bố, nhất là những lúc bố cặm cụi viết. Có lẽ vì nó chưa đầy ba tuổi, chưa đi học, nên chưa biết chán sự có chữ nghĩa ở thời buổi này. Nó chỉ thấy trong lúc bố làm việc, có cái gì đó ngộ nghĩnh, hay hay, và bắt chước. Cũng bút, cũng giấy, dĩ nhiên chỉ là những đường loằng ngoằng. Nó còn "vẽ chữ" cả ra tay, chân, bụng. Chán, thì nó đến kéo áo bố, giằng giấy bút, cất biến vào tủ: "Chuột chí nó tha mất rồi!". Thế là, tôi phải dẫn nó đi chơi...

Và nhờ vậy, tôi - một người bố - đã phát hiện con mình là một tài năng.

Một lần, trời sắp mưa, nó nhìn lên và bảo:

- Bố ạ! Giời mặc quần rách!

Đúng vậy! Những đám mây đen kịt đang tụ lại từng mảng nên trời chỗ trắng, chỗ đen, giống cái quần cũ của nó.

Một lần khác, mải làm việc, tôi đặt ấm nước, dặn nó:

- Nếu nước sôi, con gọi bố nhá!

Nó thích lắm, quanh quẩn bên bếp để coi. Bỗng nó cuống quýt:

- Bố ơi, bố! Nước nó động đậy rồi! Nước nó động đậy!

Rồi một lần khác, tôi đang ngồi viết, thì mất điện. Nó bảo:

- Hết điện rồi! Bố đi vay điện đi!

Nó đã quen với việc mẹ nó thường hay sang hàng xóm vay gạo, vay dầu.

Những câu ngộ nghĩnh của nó, làm tôi vừa buồn cười, vừa vui. Chợt một ý nghĩ nảy ra: tại sao mình không góp nhặt những câu đó, gửi cho mục "ngộ nghĩnh trẻ thơ"?

Và tôi làm thế thật! Ba mẩu, được năm ngàn!

Vậy là tôi đã kiếm tiền bằng cái trí óc non nớt của con tôi. Chính nó mới là tác giả, cần phải trả "thù lao chất xám" xứng đáng! Và tôi liền mua cho nó một lạng rưỡi giò!



***

Từ đấy, tôi cứ rình xem nó có nói thêm được câu nào ngộ nghĩnh kiểu như vậy nữa không, nhưng tôi thất vọng. Chắc là chất xám không được tiếp tục nuôi dưỡng! Vì tôi chỉ còn đủ tiền đưa cho mẹ nó mua rau dưa, mắm muối.

Một hôm, có lẽ thèm giò lắm, nó thủ thỉ nhắc:

- Bố mua giò cho con!

Đấy là một mệnh lệnh, không thể không chấp hành nghiêm chỉnh. Tôi não lòng:

- Bố hết mất tiền rồi, con gái ạ!

Nó không tin, khoắng tay vào túi áo bố, lặng đi mấy giây. Bàn tay bé xíu của nó để thõng trong túi áo rỗng không. Rồi, nó an ủi tôi:

- Mai, bố lại đi “mua” tiền nữa nhá, để mua giò cho con!

Tôi phì cười:

- Ừ, mai bố sẽ đi “mua” tiền nữa!

Đúng là, thoạt nghe con nói, tôi phì cười vì sự ngộ nghĩnh trẻ thơ. Nhưng càng nghĩ, tôi càng thấy con tôi là một nhà kinh tế thiên tài. Nó đã phát hiện được một nghịch lý của nền kinh tế hàng hoá lúc phôi thai.

Thường, muốn mua cái gì, kể cả chất xám, phải dùng tiền. Nhưng, những người làm nghề như bố nó, lại không có tiền, nên phải dùng chất xám để "mua" tiền. Mà, dù "mua" tiền có đắt, cũng phải mua!

Bởi chất xám không ăn được, còn thức ăn của chất xám, lại là tiền!./
1990





美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Salut con bo2

-Truyện Bệnh nhân số 13
-( Ba người đàn bà
- Bài học ngoài giá án
- Bến phà đen lặng gió
- Bức họa
- Chất xám dùng để mua tiền

Đã được mang vào thư viện rồi
- Bông hồng lẻ loi; thì đã có trong thư viện

Cảm ơn Conbo2 nhiều nhé

Chúc Conbo2 luôn vui
Đăng nhập để trả lời
0
Salut hiệp sĩ
mấy truyện này CB2 cứ lấy về thui, hiệp sĩ cứ biên tập thôi, nếu có truyện nào không hay thì hiệp sĩ đừng đưa vào thư viện nha, không lại chật hết cả tủ sách, không còn chỗ để các truyện khác, thế nha
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Chị tôi

Trọng Huân


Tôi thở phào nhẹ nhõm vì ở quê mọi chuyện bình thường, chị Gái lên chỉ cốt đón chúng tôi về quê ăn Tết.

Đúng là tôi sơ ý quá, không báo trước làm chị vất vả, Tết này chúng tôi đã có kế hoạch về quê. Tôi thấy ân hận, lâu nay mải mê công việc, bận bịu chuyện gia đình, đâm lơ là, ít về thăm nom chị. Lần này chị lên, linh tính mách bảo, chắc chị còn việc gì nữa, mà chưa tiện nói ra.

Việc gì thế nhỉ? Hay câu đùa của tôi lúc chị em mới gặp nhau là thật, chị sắp xây dựng gia đình. Đang miên man, chợt tiếng chị cắt dòng suy nghĩ của tôi: "Lâu nay... em có nhận được thư của thầy và dì không?". Tôi giả vờ như không nghe rõ, lại thấy chị hỏi tiếp:

- Em có biên thư cho thầy và dì không? Vẫn còn giận thầy sao? Thầy năm nay tuổi đã cao, ngoài sáu mươi rồi. Đến bao giờ chị em mình mới gặp lại được thầy?... Nhiều lúc nghĩ, chị thấy thương thương thầy quá!"

Chị vẫn nghĩ tôi còn giận ông, chị đang thuyết phục em gái. Không, tôi có còn giận nữa đâu. Có đêm mơ, tôi gọi thành tiếng: Thầy ơi! Khi tỉnh giấc thấy nước mặt chảy dài trên gò má. Song tôi cố lấy giọng gay gắt:

- Thì có ai bắt thầy phải vậy đâu. Chính thầy đã gây ra như thế. Em không thể quên được cảnh chị em mình ôm nhau khóc và u ngồi lặng. Ông ấy - thầy... thầy đã bỏ chị em mình, bỏ u. Vì thầy mà u, mà chị...

- Kìa Tý... em - chị ngắt lời tôi - Nếu u còn sống, chắc u cũng không còn giận thầy nữa!

*

Ngày ấy tôi đã giận thầy tôi lắm. Mãi sau này khi đã làm cha làm mẹ tôi mới hiểu. Mỗi khi chợt nghĩ đến ông, trong tôi cảm giác tui tủi và hờn dỗi của đứa con sớm mồ côi mẹ và bằn bặt xa cha từ khi mới lên bảy, lên tám tuổi.

Với tôi, tuổi thơ trôi qua thật nặng nề. Dù lúc đó còn nhỏ, tôi vẫn cảm nhận thấy không khí gia đình mình. Thầy tôi lạnh lùng với vợ. Tuy chưa một lần nghe ông quát tháo, nhưng cũng không bao giờ nghe thấy một lời ngọt ngào của ông với u tôi. Tôi biết, bà rất sợ và yêu chồng.

U tôi, một người đàn bà nhu mì, lại không được khoẻ. Sau này tôi mới biết, nguyên nhân đau ốm của bà. Lần sinh nở tôi, ca sinh khó khăn, phải mổ, u tôi không còn khả năng sinh đẻ nữa. Và rồi tuổi thơ ấy, dù là nặng nề cũng có được kéo dài đâu, nó quá ngắn ngủi, kết thúc thật bất ngờ.

*

Tết năm ấy nhà tôi đụng nửa đùi lợn, có gói giò, nấu nồi thịt đông.

Sáng hai chín Tết, thầy tôi đi đâu đó, tôi hỏi, không thấy u tôi nói ông đi đâu, chỉ nghe tiếng bà thở dài, nom bà đến tội nghiệp.

Biết mẹ buồn, tôi không dám hỏi nữa. Lúc mẹ cùng chị Gái lúi húi gói bánh chưng ngoài sân, tôi quanh quẩn nghịch rá gạo và nồi đậu xanh. Tôi làm gạo đỗ vương vãi và lộn xộn đám lá dong. Chị Gái hết dỗ dành sẽ gói cặp bánh đẹp, luộc rền cho tôi, rồi đến hứa mừng tuổi cho em Tý đồng năm xu mới bỏ ống, để tôi ra ngõ chơi, tôi vẫn không chịu. Đến khi tôi làm đỗ rổ lá, bực quá chị phát cho một cái.

Đúng lúc ồn ã đó, thì cánh cổng xịch mở, thầy tôi xuất hiện. Cùng về với ông có người đàn bà lạ, tôi chưa lần nào nhìn thấy bà ta. Thấy tôi đang ăn vạ lăn lộn trên sân, gạo đỗ thì vung vãi, thầy tôi quắc mắt:

- Khốn nạn. Tưởng sung sướng lắm mà mày còn hành...

Sau mỗi tiếng quát là những cái phết của ông. Đau thì ít, tủi thân thì nhiều, tôi nấc lên, khóc không thành tiếng. U tôi thương con van vỉ xin chồng và người đàn kia cũng vậy. Bất chợt tiếng chị tôi thất thanh:

- U, u ơi, u làm sao thế!

Còn đang tức tưởi tôi vẫn kịp nhận ra tiếng kêu lạc giọng của chị, tôi ngoái đầu nhìn về phía u và chị Gái. Kìa, sao mặt u tôi xanh xám, người mềm oặt, ngồi dựa nghiêng vào chị Gái. Thấy ồn ào, hàng xóm đổ sang, mọi người xúm vào lay gọi u tôi, một bà hàng xóm cầm bát chạy đi xin nước tiểu trẻ con, mấy bà tìm tóc rối. Chỉ loáng sau bà hàng xóm bê bát nước tiểu tới, người ta thả búi tóc vào bát nước giải, rồi múc từng thìa, cố đổ vào miệng u tôi. Mãi mới thấy mắt u tôi he hé. Rất lạ, cảnh tình như vậy mà thầy tôi lại thờ ơ. Suốt cả thời gian hàng xóm cứu chữa u tôi, ông và người đàn bà kia không hề ló ra sân. Tôi loáng thoáng nghe người lớn nói, u tôi ngất vì ghen. Tôi không hiểu ghen là cái gì và tại sao bà phải ghen.

Khi u tôi đã tỉnh, hàng xóm tản về hết rồi, tôi thấy thầy tôi bực dọc bước ra sân, người đàn bà lạ bẽn lẽn bước theo ông, họ lặng lẽ ra đi, cả hai không một lời nói với chúng tôi.

Mấy ngày Tết không thấy ông về, còn u tôi nằm bệt giường. Gần rằm tháng giêng mới thấy thầy tôi về, theo sau vẫn là người đàn bà hôm trước. Nhưng lần này thầy tôi có vẻ buồn, ánh mắt ông nhìn chúng tôi là lạ. Ông nói qua chị Gái tôi, bảo có chuyện muốn nói với u con tôi. Trong lúc chị Gái còn lưỡng lự, chưa vào buồng gọi, thì u tôi húng hắng ho, vịn cửa bước ra. Thầy tôi ngập ngừng, dáng vẻ căng thẳng, mấy lần châm lửa mà ông hút không xong điếu thuốc.

- U cái Gái... tôi có chuyện muốn nói...

Tiếng ông trầm và nhỏ:

- Chắc u nó cũng biết... nào tôi muốn cảnh này đâu. Bận sinh con Tý, u nó phải mổ, không sinh nở được nữa. Nhà lại chỉ hai mụn con gái. Tôi đã buồn, biết u cái Gái còn buồn khổ hơn. Mà thôi, không nhắc tới chuyến ấy nữa. Lâu nay, chưa nói ra, thì u nó đã biết... đây là cô ấy, người làng Hạ. Con Gái, con Tý chúng nó sẽ gọi bằng... dì. Cô ấy không ở đây đâu mà u con mày lo. Thầy và cô ấy sẽ đi xa, đi vùng kinh tế mới Sơn La. Thủ tục xong xuôi rồi. Hôm nay thầy về gặp mẹ con mày, chiều thầy và dì ra ga, ngược chuyến tầu tối. Thầy đã tính rồi, nhà cửa ruộng vườn thầy để lại hết mẹ con mày. Giờ cái Gái đã lớn, thầy đi rồi mày phải giúp u, bảo ban em Tý.

Chị tôi nức lên, còn u tôi lặng đi, không nói nên lời, mắt bà nhoà lệ, những giọt nước mắt thánh thót nhỏ xuống vạt áo.

Tuy mới bảy tám tuổi tôi vẫn cảm nhận được điều bất hạnh đang xảy ra với mẹ con tôi. Thầy tôi lục lục xếp xếp đám quần áo. Ông làm khá vội vã và cố giấu vẻ mất bình tĩnh của mình. Tôi kịp nhận thấy, khuôn mặt ông cũng nhoà trong nước mắt, mấy lần ông để tuột dây gói túi đồ. Người đàn bà - tức là dì - phải giúp ông thắt buộc lại. Bất ngờ tôi lao về phía thầy tôi, ôm ghì lấy ông. Thầy tôi hai tay giữ đôi vai bé bỏng của con gái đang rung lên:

- Tý ơi, con còn giận thầy phải không? Hôm trước thầy nóng, thầy đánh Tý, Tý đau không? Thầy có muốn thế này đâu. Bao giờ các con lớn, các con hiểu, các con sẽ tha thứ cho thầy...

Thầy tôi tay ôm, vai xách mấy gói quần áo, người đàn bà líu ríu khoác tay nải bước sau. Trước đó tôi nghe bà ấp úng mấy câu gì đó, hình như là chào và xin u tôi tha thứ.

Tôi nghe tiếng chị Gái nấc thành nhịp, tôi cố vùng ra mà không thoát nổi cánh tay ghì siết của chị. Ghì mãi, ghì mãi, tận khi thầy tôi đi đã khá xa, chị mới buông ra và cả hai cùng vọt ra sân. Chị em tôi đứng lặng nhìn theo bóng thầy tôi. Tôi còn nhớ, ông và người đàn bà bước vội vã, họ đi như là chạy trốn. Chúng tôi trân trân ngó theo, tận khi hai người khuất sau rặng cây xa xa trên cánh đồng...

Hình ảnh ấy khắc sâu trong đầu óc non dại và qua suốt những năm tháng cuộc đời của tôi.

Sau dịp ấy, sức khoẻ u tôi suy giảm rất nhanh, vài tháng sau thì bà mất.

Chị tôi phải nghỉ học. Mười ba tuổi chị thành lao động chính, nuôi mình và nuôi em ăn học. Nhờ có người chị tần tảo mà tôi tiếp tục được đến trường, tôi là người đầu tiên ở làng bước chân vào đại học.

Mấy năm học xa nhà, những dịp nghỉ hè, nghỉ Tết, tôi biết có người đang theo đuổi chị, không hiểu sao, chị không nhận lời. Tôi hỏi thì chị chỉ ập ừ, trả lời cho qua chuyện hay chị lảng sang chuyện khác. Trong thâm tâm tôi biết, lý do - chị quyết chí nuôi em ăn học đến nơi đến chốn.

Bao năm đằng đẵng nuôi em ăn học, em ra trường và xây dựng gia đình, chị vẫn phòng không. Người con gái có cái núm đồng tiền rất duyên và đôi mắt đen thăm thẳm năm nào, nay đã qúa tuổi xuân.

*

Lại nói về thầy tôi. Sau ngày ông bỏ đi xây dựng kinh tế mới Sơn La, chúng tôi thỉnh thoảng nhận được thư ông. Cuộc sống của ông bà khá khó khăn, lại sinh nở nhiều, chúng tôi có thêm bốn em gái và hai em trai nữa. Rồi thư ông cũng thưa dần, năm hay vài ba năm một lá. Có thể do thư về mà không có thư đi, chúng tôi giận ông, nhận được mà không một lần đáp lại.

Trên chuyến xe về quê ăn Tết, bất chợt tôi nghe chị Gái nói, mới nhận được thư trên ấy. Cậu em trai lớn của chúng tôi vừa sinh cháu thứ hai, còn cậu út mới lập gia đình... Tôi buột miệng:

- Thôi thế thì thầy và dì giờ cũng đỡ vất vả. Chắc cuộc sống đã ổn định. Tuổi già của thầy sẽ đỡ khổ.

Nghe tôi nói vậy chị có vẻ rất vui, tiếng chị nho nhỏ:

- Thế là em không còn giận thầy và dì nữa. Chị lên chuyến này bảo các em về quê ăn Tết cũng là chuyện ấy...

Từ lúc nghe chị nói vậy tôi thấy sốt ruột quá, rất muốn rõ chuyện gì.

Về đến nhà, cổng ngõ không khép, giữa sân có đôi trai gái vừa gói bánh vừa chí choé đùa nhau. Hai đứa con gái tôi, ủn chị, ỉn em lanh tranh chạy trước, thấy cảnh đó chúng dừng cả lại. Quá bất ngờ tôi thấy thầy tôi đang đứng trên hiên nhà. Hơn ba mươi năm rồi tôi vẫn không quên khuôn mặt ông. Tôi đứng như trời trồng, không rõ có thốt nên câu gì không, kể cả câu chào cha. Tận khi chị Gái thảng thốt giục, tôi mới nhớ:

- Thầy!

Lâu lắm rồi tôi mới được gọi lại câu gọi ấy. Với tôi, tuổi thơ quá thiếu thốn tình cảm, tình cảm của cha, của mẹ, chợt nay nó mới đến, đến trong muộn mằn. Lâu lắm rồi tôi mới thấy chị Gái vui như vậy. Chị như trẻ đi đến chục tuổi. Nhìn chị Gái cười tôi lại thấy cái núm đồng tiền rất duyên và đôi mắt thăm thẳm như xưa./.

美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Con chùa

Cao Năm


Lần đầu họp các cựu thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước tỉnh, Hương không dự. Đơn giản chỉ là không nhận được thông báo. Bởi từ khi vào trường Phật học Hà Nội, rồi về trụ trì chùa Yên, Hương hầu như chưa gặp lại một ai trong đại đội thanh niên xung phong tỉnh những năm chống chiến tranh phá hoại ác liệt của Mỹ. Đến lần họp thứ hai hạnh ngộ sao Hương có việc lên chùa Côn Sơn. Trên chuyến xe khách từ thành phố đi, Hương ngồi cạnh một anh người đầm đậm, nói đầy mồm lưỡi, lại thêm cái tật ngọng dính ngọng dáng, toàn nói "nờ" ngắn thành "lờ" dài. Nhưng chỉ có thế Hương cũng không hỏi bản quán nơi nao. Chỉ đến khi thấy anh ta kéo liền một lúc ba mồi thuốc lào, lại toàn hút xong nuốt cả khói, Hương mới lờ mờ trong trí nhớ một nét quen quen, ngày xưa ở đơn vị cũng có anh hút thuốc lào kiểu nuốt cả khói thế này, vội sây hẳn người nhìn thẳng vào khuôn mặt chữ điền có cái cằm lẹm của anh, và bỗng thốt lên: "Ôi, anh Thành có phải không?". Người đàn ông đánh rơi chiếc điếu cày cầm trên tay, vội xoay hẳn người lại như dang cả hai tay ôm lấy người đàn bà mặc áo cà sa, đầu chít khăn nâu, chỉ để hở khuôn mặt có đôi mắt nhỏ và dài, với hàng mi cong thanh mảnh: "Hương, đúng Hương không?". Rồi rất nhanh, người đàn ông không nén được niềm vui gặp lại, hai tay đặt lên vai ni cô như thể chẳng hề có gì ngăn cản giữa kẻ phật người đời, nhưng cũng không làm hành khách trên xe ngỡ ngàng, vì họ hiểu hai người kia hẳn đã có với nhau một thời kỷ niệm. Cuộc gặp ngắn ngủi trên chuyến xe khách đủ đem đến cho hai người nhiều thông tin về bạn bè, đồng đội. Nhất là Hương, sau gần hai chục năm gần như cách hẳn với cuộc sống trần tục ngoài đời, hoặc có chăng cũng chỉ là những cuộc gặp mang đậm chất hành sử lễ giáo nhà Phật, chứ rất ít khi nói tới chuyện tình cảm, lại càng không thể nhắc tới những lời hẹn hò yêu đương, thì cuộc gặp Thành trên chuyến xe hôm ấy như làm sống dậy trong cõi lòng cả một thời tuổi trẻ. Nhưng điều đáng quý hơn là sau cuộc gặp Thành có mấy tháng, Hương nhận được giấy mời đích danh: "Đồng chí Đỗ Thị Thu Hương, tới dự cuộc gặp lần thứ hai các cựu thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước tỉnh". Cầm tờ giấy trên tay Hương nửa muốn đi, nửa e dè ngài ngại. Đi nhất định là vui rồi. Sau mấy chục năm hơn trăm con người trong đại đội thanh niên xung phong đầu tiên của tỉnh thành lập tháng ba năm ấy, mãi bây giờ mới có giờ mới có dịp gặp lại nhau. Ai mất, ai còn, ai giờ có gia đình đoàn tụ, ai đang phải gánh chịu bao thiệt thòi của di chứng chiến tranh. Có người Hương biết, nhưng cũng còn nhiều trường hợp Hương chưa tường. Ngay chính người mà mấy chục năm rồi Hương chưa khi nào nguôi nỗi nhớ, vậy mà hôm gặp anh Thành trên chuyến xe lên Côn Sơn, Hương săn đón hỏi gần hỏi xa: " Anh có biết tin tức gì về anh Vạn không?". Thành ngớ người ra mươi giây, rồi buột miệng hỏi: "Tôi tưởng cô phải biết tin cậu ấy hơn tôi chứ?". Hương phải thú thực với anh rằng, sau trận máy bay bắn tên lửa ở Khe Sâu đêm hôm ấy, chúng em không còn mặt mũi nào nhìn bạn bè đồng đội nữa, anh Vạn bị chuyển sang đơn vị khác, lùi sâu vào phía trong. Thời kỳ đầu dăm ba tháng còn có thư ra thư vào, nhưng rồi cùng với những trận đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ, thư từ đến tay nhau cũng thưa dần. Còn Hương. Những gì dành cho Vạn chỉ còn biết ủ kín trong tâm khảm, để mỗi lần nhớ đến khắp người lại như ngất ngây say trong niềm sung sướng đến tột cùng, và liền sau đó là một nỗi buồn đau quặn thắt nơi lồng ngực. Nhưng không biết thì thôi, đã biết tin có cuộc gặp như thế mà ngại không đi, cũng thấy áy náy thế nào. Mà việc gì phải ngại cơ chứ, số phận mỗi người đều do trời định sẵn, không thể cưỡng lại được mệnh trời. Huống hồ Hương không muốn cưỡng lại. Mười chín tuổi còn kém bốn tháng, học xong lớp mười, Hương làm đơn đi thanh niên xung phong. Được chấp nhận liền.Cũng chỉ năm ngày sau tập trung lên đường ngay. Mười một năm phục vụ trong quân ngũ, tròn ba mươi tuổi Hương khoác ba lô về địa phương, không một mảnh giấy xác nhận chế độ. Nhưng với Hương ngày đó chả là cái gì, cả nước là chiến trường, toàn dân là lính, có ai đòi hỏi chế độ cho riêng mình. Hương chỉ còn lại sự kiêu hãnh về những năm tháng sống bất chấp đạn bom, đói khát và một niềm mong đợi đến cháy lòng gửi ở nơi chàng trai miền biển có nước da ngăm đen, tiếng nói sang sảng như tiếng sóng ngay cả khi ngồi khuất bên bìa rừng tâm sự với người yêu. Hương yêu Vạn bằng cả sự trong trắng của một người con gái hai mươi ba tuổi đời, gần bốn tuổi quân, lại có học vấn hết cấp ba với môn văn luôn đứng nhất nhì toàn trường. Còn Vạn, Hương chỉ thấy ở anh một chàng trai hiền lành, thật thà như đếm và sự lì lợm đến liều lĩnh. Cũng bởi sự lì lợm, hay tình yêu đến lúc không còn kìm nén được nữa, mà trong chuyến đi lấy gạo ở trạm 67 về hôm ấy, đến khoảng rừng Khe Sâu, hai người lần chần thế nào tụt lại phía sau một quãng khá xa. Trời sập tối, đường không quen, Vạn và Hương bị lạc đường về. Đáng lẽ ra phải tìm lối có vết chân người mà ra, thì hai người lại dừng lại ngồi nghỉ chân trong rừng. Và cái gì phải đến với một đôi trai gái yêu nhau đến không thể giữ gìn được nữa, tất sẽ đến. Vạn vừa lì lợm ôm choàng lấy Hương, rồi không thể nén lại lâu hơn được nữa, cởi mà như dứt tung hàng cúc áo ngoài của Hương, làm Hương bỗng phá lên cười. Nhưng rồi chính Hương cũng oằn người lên khi Vạn đổ ập khuôn mặt chữ điền sạm đen lên bộ ngực ngồn ngộn trinh nguyên của Hương mà hà hít cuống cuồng. Cuộc dâng hiến thánh thần của Hương và Vạn đang vào cao trào, thì bất ngờ một chiếc F.111 chưa biết từ hướng nào bắn liền hai quả tên lửa xẹt qua đầu, rơi cách chỗ hai người chỉ chừng vài mét. Hương hoảng hồn vơ vội đống quần áo vất tung toé cạnh chỗ nằm, cũng chưa kịp nhìn cái nào của mình, cái nào của Vạn, cứ thế vừa té táp chạy, vừa che lấy cái chỗ cần phải che. Còn Vạn bình tĩnh hơn, nhưng cũng chỉ mặc vội được mỗi chiếc quần đùi là cắm đầu chạy. Hương cứ ôm đống vải luộm thuộm như thế chạy một mạch, thì hạnh ngộ sao, lại thấy một vùng quang quẻ như là mặt đường. Mà đường thật. Bỗng nghe một tiếng con gái hỏi giật giọng: "Ai? Đứng lại! Ơ, cái Hương! Sao lại tồng ngồng thế kia, hả con ranh?". Bấy giờ Hương mới hoàn hồn đứng sững, ngượng không để đâu hết ngượng. Còn mấy cô gái đang ngồi vác bom thì được mẻ cười vỡ bụng, nhất là khi nhìn thấy Vạn hớt hơ hớt hải đi ra với độc mỗi chiếc quần đùi trên người. Nhưng cười ba tháng, chứ ai đóng đám mà cười ba năm. Huống hồ từ bấy đến nay đã ba mươi năm có lẻ. Thôi cứ đi biết đâu…

Hương đến dự cuộc gặp lần thứ hai thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước tỉnh với một vẻ bên ngoài hoàn toàn nhà Phật. Cũng tấm áo cà sa với bộ tràng hạt màu cườm vòng quanh cổ, đầu đội chiếc khăn nâu rất đúng kiểu nhà chùa, chân đi đôi giày vải nhẹ như mỗi lần ni cô đi hành lễ. Nhưng trông ni cô Đàm Hương hôm ấy như trẻ lại đến dăm tuổi. Có lẽ ở khuôn mặt trái xoan trắng trẻo với đôi mặt nhỏ, dài và hàng lông mày thanh mảnh như hai đường chỉ cong uốn cong. Cũng có thể ở bộ tràng hạt như tôn thêm cái dáng cao ba ngấn nõn nà của cái cổ rất hợp với khuôn mặt trái xoan và thân hình cao ráo, lại thêm cái dáng thắt đáy lưng ong. Khi Hương từ trên chiếc xe máy của một đệ tử chùa Yên đưa đến, mọi người không khỏi ngỡ ngàng, dù nhiều người ở đây bằng cách này cách khác đều biết "Cái Hương giờ thành sư thầy chùa Yên rồi", nhưng sự có mặt của Hương là điều ít người nghĩ tới. Chỉ có một người chắc như đinh đóng cột rằng, không nhận được giấy thì thôi, nhận được thể nào Hương cũng đến. Dù mới cách đây năm ngày, Thành có việc ra Cẩm Phả thăm một người có họ xa ở ngoài đó, trong khi trò chuyện lại hoá ra ông này có quen một chú tên là Vạn, quê ở Vĩnh Tiên, đi làm kinh tế mới ra ngoài này từ năm 1978. Thành lùi ngày về, nhờ thằng con ông cùng họ đèo xe máy đến nhà Vạn nằm khuất trong thung lũng trên đường xuống Cửa Ông. Một ngôi nhà xây ba gian làm theo kiểu một thò hai chụt nằm dựa lưng vào sườn đồi, còn mặt tiền quay ra đường ô tô luôn bị những chiếc xe chở than từ trong mỏ ra tung lên từng nắm bụi đất, bụi than mù mịt. Thành vừa lên dốc vào ngõ, vừa réo đúng tên ông chủ ra mà gọi như gọi đò, nhưng cũng phải một lúc lâu Vạn mới lóp ngóp từ đám sắn khoai sau đồi tất tả đi xuống. Hai người đàn ông đều đã ngoài năm mươi mà vẫn ôm chầm lấy nhau, mới hỏi được câu trước câu sau: "Thành đấy ư. Có phải Thành thật không?". Còn người kia:" Mày trông như ông lão ngoài bảy mươi thế này ư Vạn!", đã vội buông nhau ra, rồi cả hai kẻ lấy cùi tay, người kéo vạt áo lau nước mắt. Cuộc gặp kỳ ngộ làm sống dậy trong lòng Thành và Vạn cả quãng đời thanh xuân với bao kỷ niệm buồn vui mà dẫu có nhắc lại cũng không biết bao giờ cho hết. Nhưng chuyện gì thì chuyện cuối cùng họ cũng dừng lại ở Hương. Vạn chì chiết mình: "Lỗi chính ở tôi. Thời gian ở trại điều dưỡng Bắc Hà, lẽ ra tôi phải thư từ tìm Hương, thì tôi lại dồn tình cảm vào một nữ y tá ở trại. Sau này biết Hương vẫn đợi tôi chứ chưa lấy ai, tôi lại càng hối hận đã làm hỏng cuộc đời một người con gái. Thật không còn mặt mũi nào nhìn thấy Hương trên cõi đời này nữa". Thành thấy Vạn nặng lời với chính mình cũng dấu biến chuyện Hương đi tu, sợ Vạn biết lại thêm trách cứ mình thêm nữa, chỉ nói qua với Vạn về mấy người bạn nam chí cốt của hai người và cuộc gặp lần thứ hai của cựu thanh niên xung phong tỉnh vào ngày ấy ngày nọ, thể nào cậu cũng phải về đấy nhá. Nhưng riêng cuộc gặp ấy, Vạn phải nói trước để Thành thông cảm là chưa chắc đã về được. Ừ, hoàn cảnh gia đình. Hân, vợ Vạn, cô y tá trại điều dưỡng thương binh nặng Hà Bắc năm nào, bị ung thư vú mới đi chữa ở bệnh viện Hà Nội về, giờ người vẫn yếu lắm, cơm cháo, giặt giũ chồng vẫn phải phục vụ tận nơi. Ừ ừ, cô ấy phục vụ mình lắm chứ mình phục vụ cô ấy được mấy. Nhưng vợ yếu đau cũng không lo bằng lo ông mãnh đang ở dưới bếp kia. Hử, làm sao lại ra nông nỗi ấy, mà từ lúc đến sao không nói ngay, lại chỉ kể mỗi bệnh tình của vợ. Nói anh cũng chẳng giúp được gì, mà có khi tôi lại thêm xấu hổ với bạn bè, người thân ở trong quê, rằng đưa vợ con ra ngoài "vùng vàng đen" tưởng thế nào, hoá ra lại đưa con vào con đường nghiện ngập ma tuý. Thành nghe, từ thương bạn quá chuyển thành giận bạn có những ý nghĩ nông nổi, liền mắng té tát: "Mày nghĩ chúng tao là hạng người nào hả, hả! Ở đời ai nắm tay được cả ngày. Có khổ có hạn thì xúm nhau vào mà cứu nhau, mới gọi là anh em chứ". Nhưng thực, khi nói thế, Thành cũng chưa biết cách xúm nhau vào cứu thằng con Vạn mới mười lăm tuổi như thế nào. Mà chỉ biết về đến nhà gửi ngay giấy mời họp cho Hương, đằng sau viết thêm một câu lấp lửng "Thể nào cũng đến, Hương nhé. Sẽ có bất ngờ cho Hương đấy". Rồi Thành tin, không nhận được giấy thì thôi, nhận được thể nào Hương cũng đến. Chỉ tiếc là Vạn không về. Vạn lo về quê họp đồng đội nhanh cũng mất ba ngày, không có ai ở nhà trông nom nổi thằng con nghiện ngập, nhỡ nó tháo được cửa ra thì không biết đường nào mà tìm nó chuyến này nữa. Thành cảm thông với hoàn cảnh của bận, dốc túi còn bao nhiêu tiền đưa cả cho Vạn, bảo cầm lấy bồi dưỡng cho vợ, thuốc thang cho con, mình về bàn với ban liên lạc cựu thanh niên xung phong tỉnh có cách gì giúp cậu vượt qua khó khăn này. Thành vừa nhìn Hương đang bị mấy anh chị cùng huyện vây chặt ở ngoài sân, vừa miên man vừa nghĩ đến Vạn, thì dường như Hương đã nhìn thấy anh, bất chấp cả lễ nghi nhà Phật, giơ tay gọi đến khản giọng: "Anh Thành, anh Thành ơi! Em đây mà!". Thành bước nhanh lại chỗ Hương. Vừa thấy anh, Hương đã hỏi dồn: " Anh Thành bảo sẽ có bất ngờ cho Hương, là bất ngờ gì, anh nói đi?". Nhưng Thành chỉ ư hừ, bảo Hương hãy nán đợi, tan buổi họp, anh em ngồi lại với nhau chuyện trò lâu.

Cho đến bây giờ Hương vẫn chưa quên cuộc gặp mặt thanh niên xung phong tỉnh năm ấy. Hay đúng hơn, Hương vẫn chưa quên cái cảm xúc rất khó diễn tả của mình khi hai anh em ngồi trong quán cà phê trước cửa thành đoàn, nghe anh Thành kể về Vạn và hoàn cảnh gia đình anh ấy. Hương nghe rất kỹ, hỏi rất kỹ cửa nhà, đường sá, xe cộ vào nhà Vạn cách Cửa Ông bao xa. Chỉ hỏi cách Cửa Ông thôi, vì Hương học cùng khoá với một ni cô giờ đang ở chùa Cửa Ông, hai người hay qua lại thăm nhau mỗi khi có dịp. Đến chùa Cửa Ông cũng coi như biết đường vào mỏ Mai Sơn, gần nhà Vạn. Thế nên khia chia tay ở trước quán cửa cà phê thành đoàn, anh Thành một hai hẹn nếu bố trí đi thăm Vạn thì nhớ nhắn anh lên dẫn đi cho khỏi phải hỏi đường, Hương chỉ dạ vâng cho anh yên tâm, chứ không nói gì. Mà thực tình khi ấy Hương cũng không biết nói gì, hay đúng hơn không còn lòng dạ nào mà nói. Vẫn biết con người ta mỗi người một số, không ai cưỡng được số trời. Nhưng Hương vẫn thấy có cái gì như sự bất công, một người ăn lành ở hiền như Vạn mà sao từ khi biết nhau, Hương chỉ thấy anh gặp toàn chuyện không may. Mỗi lần như thế, Hương đều như người đứng ở ngoài xa, chưa khi nào được chia sẻ cùng anh dù chỉ là một lời động viên an ủi. Lòng dạ rối bời, Hương trở lại chùa Yên trong tậm trạng mừng lo lẫn lộn. Mừng vì biết tin Vạn vẫn còn, lại đang sống ở cách nơi Hương trụ trì chưa đến ngày đường, lại vừa thấy phấp phỏng lo không biết Vạn còn nhận mình nữa hay không. Nhận thì vui quá rồi. Nhưng không nhận thì biết ăn nói thế nào. Một ni cô được đào tạo chính quy ở trường Phật học, nhập thiền đã hàng chục năm, vẫn còn lưu luyến bụi trần, cất công ngày đường ngang nước đi tìm người tình xưa cũ mà người ta lại không nhận. Nhưng bụng Hương không phải là cái hũ nút, nên tối ấy, sau buổi cầu kinh xong, Hương mời mấy ni cô và người quản trị chùa vào phòng khách, nói rõ cho mọi người biết tôi nghỉ việc nhà chùa vài hôm để ra ngoài Cửa Ông thăm một anh trong đơn vị thanh niên xung phong ngày xưa đang bị vợ ốm con đau ở ngoài đó. Quản trị chùa là một chị trước đi thanh niên xung phong mấy năm, có lẽ đoán ra cái người mà Hương đi thăm hẳn không ai khác chính là cái nhà anh cùng đơn vị thanh niên xung phong mà Hương đã có lần kể cho chị nghe. Chị sốt sắng xin cho đi cùng "không gì bằng đường xa có bạn đi cùng" - Chị bảo thế. Cuối cùng Hương cũng không thể từ chối lòng tốt của chị. Hai người đi tàu ra thẳng Cửa Ông, lên chùa thăm ni cô Đàm Lan. Với người bạn đồng giới này, từ ngày còn ở trường Phật học Hương đã không giấu chuyện mình, thì ai chả có một thời tuổi trẻ rực lửa yêu thương mà còn giấu. Thế nên cơm trưa xong, Hương xin phép vào trong Mai Sơn, gặp hay không, chiều tối thế nào cũng quay lại chùa nghỉ đêm nay. Từ Cửa Ông vào Mai Sơn chỉ hơn hai cây số, đi bộ cũng chỉ một giờ là cùng, nhưng ni cô Lan nhất định không để ni cô Hương và chị Thư đi bộ, vội nhấc máy điện thoại gọi taxi đưa hai người đi. Trời sui đất khiến thế nào, chiếc xe đưa hai người đi chỉ bằng người nấu chín chõ xôi rồi đã thấy quay ra. Hỏi thế nào Hương cũng không nói. Còn chị Thư đi cùng chỉ lùng bụng mỗi câu: "Mất lịch sự. Mất lịch sự quá chừng!". Nhưng cũng mãi đến khuya, chầu kinh xong về phòng nghỉ, Hương mới kể hết với Lan về những cái "mất lịch sự" mà chị Thư cứ lụng bụng dọc đường về. Hoá ra, khi hai người vào đến sân, vừa đánh tiếng đã thấy Vạn đi ra, nhưng có lẽ tưởng hai người nhà chùa đi hành khất nên lại vội quay vào. Thư thấy thế vội lên tiếng: "A di đà Phật! Thí chủ cho hỏi đây có phải là nhà ông Vạn?". Vạn vội quay ra: "Các sư hỏi Vạn nào, hay là nhầm Vạn chăng". Thư hơi ngớ người, vì thực chưa biết họ đương, quê quán cái nhà anh Vạn ấy ở đâu. Thì Hương như không nén được, vội lên tiếng: "Anh Vạn! Em, em Hương đây mà". Nhưng Vạn vẫn chỉ dương mắt nhìn Hương như thể người từ trên trời rơi xuống, chứ không thốt được lời nào. Hương vội bỏ chiếc nón trên đầu, nói như đã trào nước mắt: "Anh không nhận ra em ư!". Cùng lúc đó, có tiếng người đàn bà mệt mỏi từ nhà trong vọng ra: "Ai đến đấy, hả bố nó?" Hương vừa định bước vào, tức thì Vạn đứng chắn trước mặt: "Không, tôi không quen biết sư siếc nào. Xin các người đi đi cho". Thư vội đặt chiếc làn đường sữa, hoa quả lên bàn, quay ra nói như van: "Anh Vạn, đây chính là cô Hương, người…". Nhưng Vạn đã cắt ngang bằng một câu dứt khoát: "Đã bảo các người đi đi! Tôi không muốn gặp lại ai nữa". Đến nước ấy thì Thư chỉ còn cách dẫn Hương đang buồn nhão cả người thất thểu ra xe, trở lại chùa Cửa Ông. Nhưng hôm sau, mới mờ sáng, bà lão quét chùa đã vào tìm ni cô Lan, thưa có một ông xưng danh là Hương, đến hỏi sư Hương và một sư nữa chiều qua có đến đây không? Lan không hỏi Hương liệu có nên gặp, bảo ngay bà lão ra mời ông ấy vào phòng khách. Đặt chén nước, trước mặt người đàn ông, Lan hỏi mà như không cần người kia trả lời: "Anh là Vạn, trước kia ở cùng đơn vị thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước với cô Hương à?". Vạn xác nhận: "Vâng", rồi im lặng giây lát, lại tiếp lời: "Nhà sư biết cả rồi ạ". Lan nghe bỗng cười thầm, trong đầu vụt loé lên ý nghĩ tinh nghịch: "Bao năm mới gặp còn làm bộ tịch đuổi người ta đi. Đằng ấy mất lịch sự quá đấy. Giờ định đến xin lỗi à? Không xong đâu. Còn phải thế nào nữa kia". Vạn bụng bảo dự cứ chịu nước lép là xong, liền cất giọng trầm ngâm: "Tôi giờ cảnh nhà thật chẳng bằng ai, vợ thì bệnh tật nằm đấy, có mỗi thằng con lại mắc vào nghiện ngập, ở nhà thì thôi, đi ra ngoài trông thấy chúng bạn nghĩ mà xấu hổ. Thế nên hôm qua bất ngờ thấy cô Hương tìm đến nhà, thật tình khi ấy tôi hơi bị sốc, nên có phần nói năng cũng không phải. Đêm nằm không sao ngủ được, nghĩ mà giận mình, thương Hương quá chừng. Sáng ra nấu vội cho vợ con nồi cháo, rồi ba chân bốn cẳng đi thẳng xuống đây, chỉ lo cô ấy về rồi, không gặp, thì đúng lần này hận không để đâu hết hận". Người đàn ông nói những lời từ gan ruột, Lan nghe xong không cầm lòng, vội đặt chén nước vào tay Vạn: "Anh uống nước đi. Để tôi mời cô Hương ra". Hẳn Lan nói với Hương thế nào, nên chỉ thấy Hương ra phòng khách với Vạn bằng người nhai dập miếng trầu đã quay vào bảo Lan gọi cho chiếc taxi lên Mai Sơn.

Đến bây giờ, dẫu thời gian đã trôi đi hai năm có lẻ, Hương vẫn chưa thể nào quên cái buổi sáng hôm ấy ở nhà Vạn. Chưa bao giờ trong lòng Hương lại rối bời cảm xúc yêu thương, giận dữ, bao dung, chia sẻ, rồi còn những gì gì nữa xốn xang cõi lòng mà không sao diễn tả được, làm Hương có lúc như không kìm nén được mình nữa. Ấy là lúc Vạn dẫn Hương và chị quản trị chùa xuống gian nhà dưới. Ba người đứng ở ngoài cửa, cách một chắn song, bên trong là thằng Vang, con Vạn, đang nằm còng queo, chân bị khoá chặt bằng cái khoá vòng xe đạp. Thằng bé khi ấy dường như rất khó nhận ra là đứa nghiện ma tuý, hay cơn nghiện đã qua mà nó tỉnh táo khác hẳn. Nhác thấy có người đến, nó ngỏng dậy, rồi cất tiếng rời rạc, khô khốc: "Cháu chào hai cô", xong lại dương đôi mắt thao láo nhìn người bố như van xin mở khoá cho con. Vạn như đã hiểu cái cử chỉ ấy của thằng con, vội quát: "Nằm yên đấy. Ra để lại biến đi hút hít hả!". Câu mắng con không lựa lời của Vạn như vô tình làm bật ra trong hộp não của nó một cảm giác thèm thuốc, bỗng nó oằn người, gào thốc lên: "Cho con ra. Không! Con chưa nghiện. Con mới hút thử vài lần… Dễ chịu lắm… ắm!". Rồi cứ thế, thằng bé đập chân, đập tay xuống cái giường con chiếu chăn bừa bộn như cái ổ. Vừa đập nó vừa vừa gào khóc, vừa chửi tục. Nhưng cứ sau mỗi lần đập đầu gào khóc, thằng con Vạn lại nhìn chằm chằm về phía Hương với đôi mặt nửa cầu xin, nửa tức giận, như có ngọn lửa bên trong. Cứ mỗi khi bắt gặp cái nhìn của nó, Hương lại không thể cầm lòng, vội quay ra lấy đầu khăn chấm mắt. Giây lát Hương bảo Vạn, hay là anh cho em vào với cháu một tý biết đâu em là người lạ đến, nó lại muốn nói gì sao. Vạn ngần ngại một giây, rồi có lẽ không nỡ chối từ lời thỉnh cầu bao nhiên năm mới có một lần của Hương, Vạn chậm chạp bước vào gian bếp bên cạnh cầm chiếc chìa khoá đi sang. Khi cái cánh cửa gỗ nặng nề vừa hé mở, Hương lách người trườn nhanh vào, hai tay ôm chặt lấy thằng Vang. Nó thực chưa biết người đàn bà mặc áo cà sa kia là ai mà lại được bố mở cửa cho vào, còn mình gào thét đến khản cổ cũng không được đoái hoài tới; nhưng nó lơ mơ hiểu người mặc trang phục nhà chùa đến hẳn không ngoài việc cứu nó ra khỏi nơi này. Khi chưa mắc vào ma tuý, Vang cũng nghe nói ở chùa này chùa kia, các thầy sư, bà vãi giàu lòng thương người đã đưa những đứa trẻ mồ côi lang thang, và cả người nghiện nữa, về chùa nuôi. Như hiểu được ý nghĩ của thằng bé, Hương vừa ôm nó vào lòng vừa cất giọng ngàn ngạt: "Cô là sư Hương, ở chùa Yên, trước cùng đại đội thanh niên xung phong chống Mỹ với bố Vạn cháu đây mà". Nghe đến đấy hai mắt thằng Vang như sáng lên, ngước nhìn chăm chăm vào khuôn mặt trái xoan, dẫu tuổi tác có làm tăng thêm những nếp nhăn, nhưng vẫn hiện rõ một khuôn mặt nhân hậu, bao dung, vị tha. Bỗng thằng Vang giơ cả hai tay đang còn khoá lên như muốn ôm chặt lấy Hương, còn cái miệng lại nghếch lên van nài: "Cô ơi, cô thương cháu, bảo bố cháu mở khoá cho cháu với!". Bấy giờ Hương mới sực nhớ tay chân thằng bé vẫn còn đang bị hai cái vòng nặng nề khoá chặt. Hương vừa quay ra định bảo Vạn mở khoá cho thằng bé, thì đã nghe tiếng Vạn nói như quát con: "Mở để mày lại biến đi hút hít à!". Thằng bé gào lên: "Con không hút… Con thề…!". Hương nâng đầu thằng Vang lên, nhìn thẳng vào đôi mắt nói, hỏi: "Cháu có hứa với cô là nếu được ra ngoài, cháu không mắc vào ma tuý nữa thì cô sẽ bảo bố Vạn mở khoá cho cháu?". Thằng bé như đổ ập vào người Hương, giọng lạc đi: "Cháu không hút hít gì nữa hàng tuần nay rồi. Nhưng bố cháu vẫn khoá chặt ở trong này, khổ lắm cô ơi!". Vạn đưa mắt nhìn thằng con đang nằm gọn trong tay Hương, giọng bùi ngùi chứ không quát tháo dữ dẵn như khi nãy: "Nhưng cho ra thì sớm muộn rồi lại tái nghiện con ạ. Thà con cứ tránh xa cái đám bạn nghiện ấy ra, yên tâm ở trong này ngày hai bữa bố cơm nước mang xuống tận nơi". Câu nói của Vạn như loé ra trong đầu Hương một ý nghĩ, Hương đặt thằng Vang nằm lại giường: "Thôi cháu nằm đây nghỉ, để cô lên nhà một lát". Trong khi Vạn còn đang mắc khoá vào cửa, thì Hương kéo chị Thư, quản trị chùa Yên ra góc sân. Hai người nói với nhau những gì, Vạn không tò mò nghe; nhưng khi quay ra, Hương liền gọi Vạn lại. Hương và Vạn, có cả chị quản trị chùa, đứng nói với nhau rất lâu ở sân trước lúc vào trong nhà nói chuyện với Hân, vợ Vạn vẫn còn yếu nằm trong nhà. Dẫu bao nhiêu lời nói, bấy nhiêu cuộc bàn, nhưng cuối cùng thì cả hai vợ chồng Vạn đều cầm lòng cho Hương đưa thằng con về ở với Hương dưới chùa Yên, chỉ với một lý do mà bất cứ ông bố, bà mẹ nào thực sự thương con cũng không thể chối từ: nhà chùa vắng vẻ, yên tĩnh, xa nơi đông người sẽ là môi trường tốt cho cháu tránh xa ma tuý, hoà nhập cộng đồng.

Nhà sư chùa Yên vừa kể cho tôi nghe đến đấy thì đột ngột dừng. Tôi vội hỏi: "Thế còn về sau, những ngày ni cô Hương và chị quản trị chùa đưa cháu Vang về làm thế nào mà cai được nghiện cho cháu, rồi lại cho cháu đi học bình thường mỗi năm một lớp, đến giờ cháu đang học năm cuối trung học phổ thông". Nhưng ni cô Hương chỉ lẳng lặng chiêu thêm nước sôi vào ấm trà, một lát nhìn tôi nói mà như hỏi: "Ông có thấy rằm tháng Bảy người ta cúng thập loại chúng sinh không? Đó là một tục lệ đẹp của nhà Phật. Vào những ngày đó nhà nào cũng cúng, nhưng không nhà nào kể với nhà nào rằng mình đã mua những thứ gì về cúng, cúng cho những người nào. Mà họ chỉ biết mỗi việc là cầu trời khấn phật phù hộ độ trì cho thập loại chúng sinh được thoát khổ, thoát nạn, làm người nhân từ độ thế mà thôi".

Tôi chỉ còn biết lắng nghe và tự hiểu từng ý trong mỗi lời ni cô nói, để giờ viết ra giấy trắng mực đen ngỏ hầu quý vị./.




美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Bến phà đen lặng gió


Triệu Bôn


Bà Đà thường đi làm từ sáng sớm, chiều chạng vạng mới về. Chiếc khăn thâm trùm cách nào đó mà bịt kín cả gáy cả cổ, ngoài cái khe rất nhỏ dành cho hai con mắt lấp loáng nhìn ra.

Dẫu là một người đẹp lộng lẫy mà trùm bịt như thế cũng thành khó hiểu, huống chi bà Đà là con người có thân hình cứng cỏi, vai ngang dáng đàn ông, mà tính nết cứ mưa, nắng, nắng mưa luân chuyển nhau không ngừng.

Chiều nào không thấy đồ nghề của ông Đà - chiếc gánh toòng teng một bên đựng bốn, năm hòn đá mài các loại, và một bên là cái chậu đồng sứt vành dùng đựng nước - để ngoài hè, bà Đà liền rít lên:

- Mất thây mất xác ở đâu giờ này chưa chịu vác mặt về!

Còn như, nếu thấy ông Đà ngồi hút thuốc lào trên cái giường do mấy tấm ván thùng kê sát nhau, việc đầu tiên của bà Đà là lấy từ chiếc túi xách ra chai rượu, thuồi xuống trước mặt ông, kèm theo một lời đay đả:

- Này mồ hồi của tôi đấy. Nước mắt của tôi đấy. Nốc đi!

Không mấy khi bà để cho ông uống rượu suông, mà thường có thêm vài thứ nhắm đạm bạc; miếng đậu phụ bôi nghệ nướng, một miếng vó bò, năm thì mười họa còn có quả trứng vịt lộn hoặc bộ lòng gà.

Mỗi tội thức nhắm càng ngon, ông Đà càng phải nghe nhiều lời nhiếc móc của vợ.

- Đội thúng than từ xà lan lên bãi được mấy, ông biết không? Ba hào! Thế mà một quả trứng vịt lộn những năm đồng. Không nhờ cái đận phát tiền năng suất thì có khối ra đấy mà hốc. - Bà Đà vừa nói chồng sa sả vừa móc túi lên vách, cởi khăn trùm, nhen bếp, bắc nồi, lấy gạo đi vo... Công việc thoăn thoắt trôi chẩy qua đôi bàn tay ngấm bụi than đen kịt của bà.

Chai rượu trước mặt ông Đà cạn, vừa lúc bà Đà bưng mâm cơm lên, hai vợ chồng cùng ăn. Bấy giờ bà Đà dù có nói trời nói đất, ông Đà cũng không lấy làm điều, thậm chí ông còn thấy khoái nữa. Nhịn đói suốt ngày, mỏi rạc cẳng đi diễu qua các phố xá, được nhấm chút rượu là chất men chạy rần rật như kiến bò mười đầu ngón tay ngón chân và làm tê dại mang tai ông, khiến người ông lâng lâng.

Tuy vậy đã vài bận ông Đà xô cả mâm cơm xuống đất rồi xông vào bà vợ khốn khổ mà đấm đá túi bụi. Đó là những lần bà Đà nhiếc ông là giết chết con để ăn một mình cho sướng mồm.

Cánh đàn ông hàng xóm tuy không phải là lũ ác bụng nhưng đều đồng thanh ủng hộ ông Đà thẳng tay trừng trị bà vợ tai quái.

- Thế! Giã nữa!

- Vợ tôi mà thế tôi tẩn nhừ xương!

- Đem mà trôi sông cái của nợ ấy đi!

Trước sự "chi viện" nhiệt tình ấy, ông Đà quắc mắt đáp lại:

- Việc nhà tôi, ai mượn các ông chõ vào? Người ta khổ quá rồi phải để người ta nói cho hả bớt cái khổ đi chứ!

Nói vậy nhưng sau mỗi lần xô xát, ông Đà sợ, không dám nhìn vào mặt vợ mấy ngày liền.

"... Cái năm Nhật kéo sang ta, ông Đà đương làm anh chân sào trên một chiếc thuyền đinh bề thế chẳng kém ngôi nhà ngói năm gian. Cứ bẩy ngày một lần ông chủ lại chất đầy gạo, muối, dầu tây, vải, lụa lên thuyền, cho nhổ sào ở bến Lục Dầu để ngược lên mạn Đồng Trâu, Hố Sếu, qua Ngàn Trâu Danh, lên tận Bãi Thải. Đến Bãi Thải, nhiều khi dỡ hàng xong không kịp nghỉ, đã nhận khách vội vàng để bắt con nước trở xuôi luôn.

Cánh chân sào thuyền gồm mười tay trai lực lưỡng, năm người chạy be tả, năm người chạy be hữu. Công việc bao giờ cũng bắt đầu từ phía mũi thuyền, hai hàng người nhất tề lao phập những cây sào trẩy dài đầu bịt sắt xuống lòng sông, đuôi sào tỳ vào hõm vai, một người cất giọng: "Bớ dô hò..." chín người kia "dô huậy", mặt nước trước mũi thuyền rẽ thành hai làn sóng trắng hình mũi tên, mấy người chân sào cúi gầm mặt, gò lưng bước xuôi để con thuyền nặng nề lao ngược dòng. Tới đuôi thuyền, tất cả lại nhất tề rút sào, trở về đằng mũi, và lại bắt đầu đúng y như thế.

Một buổi sáng thuyền về đến bến Lục Dầu, hành khách chen nhau qua mảnh ván cầu để lên chợ, có một cô gái cứ quẩn quanh dưới khoang. Đà bước lại gần cô, cất tiếng hỏi:

- Nhà chị này có hàng nặng, không ai đỡ, hử?

- Không không - Cô gái giật mình hoảng hốt - Tôi có hàng gì đâu!

- Sao còn loanh quanh mãi?

Cô gái bỗng òa khóc:

- Tôi sợ...

- Sợ gì?

- Sợ người ta đón bắt tôi trên ấy...

Đà hiểu ngay ra tình thế của cô gái:

- à. Lại trốn chúa lộn chồng chứ gì? Phải thế cứ nói thật thì tôi giúp...

Việc nên vợ nên chồng giữa hai người đã bắt đầu một cách rất đơn sơ. Tới năm giáp khởi nghĩa, gặp nạn đói khủng khiếp, khắp nơi người chết xếp chồng đống thì đứa con trai đầu lòng của vợ chồng ông Đà đã biết chạy lon ton theo bố mẹ đi xin ăn.

Vợ chồng ông Đà dẫn cu Thấn - tên đứa con - phiêu dạt từ Phả Lại lên Bắc Ninh, Bắc Giang, rồi quay xuống Hà Nội. Họ uống nước lã cầm hơi nằm ở sân ga một đêm, một ngày.

Tối hôm sau bà Đà nói với chồng:

- Cái chết là cầm chắc rồi. Nhà xem còn cách nào cứu lấy con?

Ông Đà lẳng lặng đứng dậy bỏ đi. Ông vào một cửa hàng ăn trước cửa ga đèn điện sáng trưng, đứng xòe hai bàn tay đợi hồi lâu không thấy ai cho mình chút gì. Ông đành liều thò tay vào thúng bún của chị chủ hàng, chộp một nắm. Nhưng ông vừa quay ra được vài bước, chưa xuống khỏi vỉa hè, đã ngã sấp mặt vì một cái ghế ném theo đúng giữa lưng. Vốc bún trên tay ông, không hiểu bị những người ăn mày chung quanh xô lại cướp hay bị chủ hàng giật lại lúc nào ông không hay.

Lê lết về được chỗ vợ con nằm, ông Đà nghĩ ra được một kế để họa may cứu sống được bé Thấn. Ông bế nó đến giữa chỗ đông hàng quán nhất, cắn con một miếng chảy máu ở má rồi bỏ nó lại, vùng chạy.

Suốt mấy chục năm, từ thời Nhật rồi Việt Minh, rồi Pháp tạm chiếm, tới ngày thủ đô được giải phóng và mãi tận bây giờ bà Đà trở thành công nhân ở cảng than, còn ông Đà vẫn chỉ làm độc một cái nghề đi mài dao thuê.

Chẳng ai nghĩ chuyện làm giầu bằng cái nghề nhỏ mọn này. Nhưng với ông Đà thì lại không thể bỏ mà tìm công việc khác. Ngoài cơm gạo ra, vợ chồng ông còn phải nuôi sống lẫn nhau bằng một nguồn hy vọng. Sáng sáng, ông quẩy chiếc gánh nhẹ tênh, một bên đá mài một bên chậu nước, thả bước đến khắp mọi ngõ ngách trong thành phố, gặp bất kỳ người đàn ông trai tráng nào vào trạc tuổi bé Thấn năm xưa ông cũng nhìm chằm chằm vào bên má phải của họ.

Bé Thấn "khi xưa" giống mẹ nhiều nên nó cao lớn, vai hơi ngang, mắt lá răm, khi cười có một lúm đồng tiền ở bên má bị bố cắn, chắc là thành sẹo.

Hai mẹ con giống nhau ở cái dáng đi lúc nào cũng vội vàng "chân không bén đất".

Ông Đà tin vào câu tục ngữ "trai giống mẹ thì khó ba đời". Nếu trời để bé Thấn qua cái nạn đói kinh sợ ấy mà còn tới ngày nay, may mắn nó chỉ đủ tay vo miệng lốm như bố mẹ nó là cùng. Vì vậy, hễ thấy có người đàn ông nào ăn mặc sang trọng lại có chút gì hao hao giống vợ mình là ông run lẩy bẩy vì hồi hộp. Ông như bị thôi miên, chân chạy theo, mắt nhìn, miệng lắp bắp: "Lạy trời! Biết đâu!..." Dĩ nhiên lát sau ông Đà lại ỉu xìu và tự nhủ: mình mơ tưởng thế làm gì, nên để mắt vào đám làm thuê làm mướn, chữa xe đạp, đánh xe trâu, quạt bễ lò rèn, gác cổng, thợ nề, thợ mộc... thì hơn.

Chẳng bao lâu kể từ khi ông Đà cất tiếng rao "Mài dao, mài kéo đây", ông đã có cả một đội ngũ bạn "áo ngắn" rải rác từ Gia Lâm xuống tới Ngã Tư Vọng, từ dốc Vĩnh Tuy lên tới làng Láng, làng Cót. Ông lân la nhờ các "chiến hữu" tìm thằng cu Thấn hộ mình. Những đứa trẻ bị cha mẹ bán, hoặc bị cha mẹ bỏ đường bỏ chợ trong nạn đói ất Dậu tới nay còn nhiều lắm, họ đều đã phương trưởng và đã có bố mẹ anh em gặp lại nhau. Duy có thằng cu Thấn màu da trắng, vai hơi ngang, và có nốt răng của bố để lại trên má, chưa ai gặp.

Ông Đà vẫn rong ruổi qua các phố xá nội thành, cả những làng ngoại ô. Buổi sáng, vợ chồng ông mỗi người mỗi ngả ra khỏi nhà với chút hy vọng cầu may, để rồi buổi chiều về thấy căn nhà lợp giấy dầu vẫn trống lạnh như xưa, làm bà Đà lại nổi tam bành, nhè ông chồng mà trút hết những lời cay độc.

Lâu dần hàng xóm đâm quen. Đám đàn ông thôi làm hậu thuẫn cho ông Đà "thi hành những biện pháp cứng rắn" đối với bà. Vài người phụ nữ vô công rồi nghề cũng thưa dần câu chuyện về bà trong những cuộc ngồi lê đôi mách. Mặc dù, khi tuổi mỗi ngày một nhiều thì sự căng thẳng giữa vợ chồng ông Đà lại càng ngày càng khó gỡ hơn.

Một ngày chủ nhật, bà Đà ở nhà một mình, ông vẫn quẩy gánh đi như mọi khi. Thoạt tiên bà lẩm bẩm nhiếc móc cho riêng mình nghe, sau đó ngọn lửa ma quái xông lên ngực bà, thế là bà bỏ hết mọi việc ngồi ghé mép giường mặc sức réo tên ông ra mà nguyền rủa.

"Cứ vác mặt về đây. Chuyến này thì bà xé xác!" - Bà tuyên án vắng mặt ông như thế, và nhăm nhăm đợi mặt trời chóng lặn để ông "vác mặt" về.

Bà Đà chẳng phải đợi lâu. Xế chiều hôm ấy ông Đà đã lử khử quẩy cái gánh thợ mài dao về. Ném cho bà một nắm tiền lẻ toàn loại năm xu, một hào, rồi ông đi nằm. Bà Đà thấy chồng khang khác, không những đã quên những lời đay nghiến được mài dũa suốt từ sáng, bà còn sờ tay lên trán ông. Người ông Đà nóng chín, làm bà Đà cuống cuồng. Mấy chục năm nay, đây là lần đầu bà Đà nói ra những lời dịu dàng với chồng:

- Nhà ơi. Tôi nấu cho nhà bát cháo đậu xanh ăn cho nó giã sốt, nhé?

Ông lắc đầu, mắt vẫn nhắm nghiền. Bà lại vuốt ve bộ râu lởm chởm bạc gần hết trên cằm ông.

- Dậy tôi bảo này! Chịu khó uống chén rượu. Nhé? Nhà bị cảm nắng đấy!

Ông Đà thương vợ, ứa hai hàng nước mắt. Ông muốn ngồi dậy nhích nhắc tay chân cho bà vui, nhưng sức ông đuối quá rồi.

Sáng hôm sau thì ông "đi". Bà Đà bật ngọn điện tù mù ở giữa nhà, ôm lấy thi hài ông mà lay, lắc, nhày nhã như đang đánh vật. Lúc đã kiệt sức mà vẫn không sao làm cho chồng sống lại được, bà Đà rú lên:

- Ông ơi là ông! Chai rượu tôi mua còn kia. Từ nay mua cho ai uống nữa hở trời!

Tiếng khóc xé ruột gan của bà Đà cất lên từ lúc còn tối đất. Nghe giọng bà, hàng xóm ngỡ ông bà lại xảy ra chuyện gì, nhiều người lẩm bẩm rủa bà vài tiếng rồi lại ngủ. Mãi lúc nghe kỹ, biết ông Đà đã chết, mọi người mới choàng dậy chạy túa sang.

Xưa nay cái cảnh góa bụa vẫn thường xảy ra cho loài người. Nỗi đau dội lên, uất lên một thời gian rồi dịu dần. Sự quên lãng là một trong những bản năng tự vệ giúp cho con người tồn tại được.

Nhưng hình như ở bà không có cái "bản năng tự vệ" ấy. Liền mấy tháng, đêm nào bà cũng kêu thét gọi ông suốt từ đầu hôm đến sáng. Trời thì đã sang đông, gió lạnh từ mặt sông Hồng thổi thốc vào căn nhà giấy dầu thủng tan hoang do chính tay chủ nhân của nó xô, đập, cào, xé.

Sang tới mùa xuân, giữa lúc cỏ cây đến con người đều xanh tươi trở lại thì bà Đà chỉ còn da bọc xương. Một đêm không nghe tiếng bà kêu thét, sáng hôm sau hàng xóm chạy sang đã thấy bà nằm bất tỉnh giữa những mảnh chăn rách, trên mình chỉ một tấm áo dệt kim đã mốc meo và chiếc quần bảo hộ lao động bạc phếch.

ở bệnh viện người ta hết lòng cứu chữa cho bà Đà. Vài ngày sau, bà tỉnh lại biết thều thào cảm ơn những người hàng xóm đã mang cam, mang đường và luân phiên vào chăm sóc bà.

"Khổ đến thế. Con người cay cực suốt đời. Khi cái sung sướng nằm trong tay thì lại lăn ra chết" - Cả khu phố bờ sông tới nay mỗi khi nhớ đến bà Đà, bà con lại chép miệng nói thế.

Số là, ở nơi bệnh viện bà Đà nằm cấp cứu, có một bác sĩ trưởng khoa tên là Dũng, tuổi xấp xỉ bốn mươi, vai hơi ngang, nước da trắng và đôi mắt dài rất linh lợi. Một lần, khi bà Đà đã qua khỏi cơn nguy kịch, bác sĩ Dũng đến khám bệnh cho bà theo thường lệ trong ngày. Bác sĩ bảo bà tháo áo để đặt ống nghe vào ngực bà. Anh đang chăm chú nghe tiếng tim dội thì thụp tự dưng bà già cứ nhổm người vừa nhìn sát mặt anh vừa sờ lên vết sẹo trên má anh. Bảo bà nằm yên mấy lần không được, bác sĩ Dũng phát bực gắt:

- Cụ làm sao thế!

Bà già không trả lời bác sĩ Dũng mà thét lên một tiếng: "Con!" làm cho cả phòng bệnh giật mình. Rồi bà tắt thở. Mọi cách cứu chữa của bệnh viện đều vô hiệu.

Khi phải tự thú nhận mình hoàn toàn bất lực, bác sĩ Dũng ngồi cạnh bà Đà, ôm mặt khóc rưng rức.

Dũng là con nuôi của một cán bộ trong quân đội. Ông có tới sáu người con, thêm Dũng là bảy. Những khi gia đình tụ hội, con cháu chật nhà, ông vẫn kín đáo dành riêng cho Dũng chút chăm sóc đặc biệt. Tuy nhiên, càng lớn lên Dũng càng thấy mình đang âm thầm ngóng đợi một con người, dù sớm muộn thế nào sẽ có một ngày con người ấy tìm ra anh...

Nhiều năm về sau, vào những ngày giỗ ông bà Đà, bác sĩ Dũng thường đưa vợ con về thăm những gia đình hàng xóm của ông bà, và thế nào anh cũng có quà đến thăm hỏi những người là bạn "hạt gạo cắn đôi" của bà Đà hiện đang nghỉ hưu trong khu tập thể của cảng.

Những người bạn của bà Đà đều gọi Dũng bằng con, và đối xử với anh đúng như cách xưng hô. Mặc dù bà Đà không còn, nhưng tình thương bầu bạn bà để lại vẫn còn khắp nơi nơi. Ngày nay hễ nhắc đến bà là những người bạn già của bà lại nghẹn ngào.

Họ kể rằng: vào tiết đông và tiết xuân, lòng sông Hồng cạn rặc, những cồn cát nổi vờ vờ bên dưới mặt nước lắng trong dần dần, ấy là những ngày trời đất gió thổi vô hồi. Cứ sáng ra, những người công nhân phát khổ lên vì những ngọn gió lạnh như dao cắt vào da thịt. "ấy nhưng mà cháu ạ - Các bà già nói với bác sĩ Dũng - cái buổi sáng mẹ cháu "đi", trên mặt sông cũng như trên bến cảng, trời bỗng dưng lặng phắc, không một hồi gió.

Như thế là hồn thiêng lắm!"./.

Hà Nội, 8-1985





美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»