<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-03 03:13:22hac_thu>
Dale Carnegie
Quẳng gánh lo đi và vui sống
(How to stop worrying and start living)
Một buổi trưa hè, chúng tôi đương đàm đạo tại nhà anh Đ., bỗng bạn tôi ngừng câu nói dở, chỉ ra ngoài cửa, bảo:
- Các anh coi kìa, nữ bác sĩ lái xe đi chích thuốc.
Chúng tôi nhìn ra. Một người đàn bà còn trẻ, tóc bù xù, mặt lem luốc, cặp mắt láo liêng, miệng cười toe toét, vừa đi vừa vòng hai tay ra phía trước, xoay đi xoay lại như người lái xe hơi, thỉnh thoảng ngừng chân, tay như cầm vật gì nhỏ, đưa lên đưa xuống.
Anh Đ. giảng: “Nữ bác sĩ chích thuốc đấy. Ngày nào cũng vậy, mưa cũng như nắng, đi đủ ba lần, qua đủ bốn, năm con đường quanh đây... Nhiều thân chủ, dữ ta!”.
Nhưng rồi anh vội sầm nét mặt: “Tội nghiệp, nhà khá giả, lại con một, mà như vậy...!”.
Ngừng một chút, anh tiếp: “Nhưng nghĩ kỹ, chị ta có thấy khổ đâu? Trái lại mỗi khi lái xe, tin mình là bác sĩ, chắc sung sướng lắm...
Sướng hơn chúng ta nhiều! Chính chúng ta mới đáng thương!”.
Ai nấy đương vui, bỗng buồn bã, lẳng lặng gật đầu. Chao ôi, trong số anh em ngồi đó, phần nhiều đều được thiên hạ khen sang và giàu, biết bao nhiêu người khao khát địa vị, mà chính họ tự thấy khổ hơn một mụ điên!
“Chính chúng ta mới đáng thương!” Nếu vậy thì đời quả là bể khổ mà bốn câu thơ này của Đoàn Như Khuê thiệt thâm thúy vô cùng:
“Chính chúng ta mới đáng thương!”.
Nếu vậy thì cái bề ngoài vui tươi kia chỉ là cái vỏ của một tâm hồn chán nản, bị phiền muộn, ưu tư, ganh ghét, hờn oán dày vò! Mặt biển phẳng lặng, phản chiếu màu trời rực rỡ đấy, nhưng dưới đáy có những lượn sóng ngầm đủ sức cuốn cát và lay đá. Cánh đồng tươi thắm cười đón gió xuân đấy, nhưng trong hoa, sâu đã lẳng lặng đục nhụy và hút nhựa không ngừng.
Phải ngăn những đợt sóng oán hờn ấy lại, diệt con sâu ưu tư đó đi, nếu không, chúng ta sẽ diệt ta mất, và chẳng sớm thì chầy, ta sẽ sinh ra cáu kỉnh, chán chường, đau tim, đau bao tử, mất ngủ, mất ăn, mắc bệnh thần kinh và loạn óc.
Dale Carnegie viết cuốn Quẳng gánh lo đi... và vui sống (1) này chính để chỉ cho ta cách diệt những kẻ thù vô hình ấy. Ta thiệt khó thắng vì chúng ngự trị ngay trong thâm tâm ta, nhưng ta phải thắng, vì thắng mới có thể SỐNG được.
Đọc bài tựa cuốn Đắc nhân tâm: bí quyết của Thành công, bạn đã được biết qua về đời sống, mới đầu long đong, sau thành công rực rỡ của Dale Carnegie; ở đây chúng tôi không nhắc lại nữa, chỉ kể cách ông viết cuốn Quẳng gánh lo đi... và vui sống này.
Hồi mới bắt đầu dạy môn nói trước công chúng tại hội Thanh niên theo Thiên Chúa giáo (2) ở Nữu Ước (3), ông thấy cần phải chỉ cho học sinh của ông - hầu hết là những người có địa vị quan trọng trong đủ các ngành hoạt động xã hội - cách thắng ưu tư và phiền muộn. Ông bèn tìm trong thư viện lớn nhất ở Nữu Ước hết thảy những sách bàn về vấn đề ấy và ông chỉ thấy vỏn vẹn có 25 cuốn, còn sách nghiên cứu về... loài rùa thì có tới 190!
Thiệt lạ lùng! Đối với một vấn đề quan trọng cho cả nhân loại như vấn đề diệt nỗi lo lắng để cho bể thảm vơi bớt đi, đời người được vui tươi hơn, mà loài người thờ ơ như vậy? Trách chi những người bị bệnh thần kinh chiếm hết phân nửa số giường trong các dưỡng đường Âu Mỹ. Trách chi hết thảy chúng ta dù sang hèn, giàu nghèo, đều phải phàn nàn rằng chính những kẻ điên mới là hạng người sung sướng trên đời!
Đọc hết 25 cuốn sách ấy, không thấy cuốn nào đầy đủ, khả dĩ dùng để dạy học được, ông đành bỏ ra 7 năm để nghiên cứu hết các triết gia cổ, kim, đông, tây, đọc hàng trăm tiểu sử, từ tiểu sử của Khổng Tử tới đời tư của Churchill, rồi lại phỏng vấn hàng chục các danh nhân đương thời và hàng trăm đồng bào của ông trong hạng trung lưu. Nhờ vậy sách ông được đặc điểm là đầy những truyện thiệt mà bất kì ai cũng có thể kiểm sát.
Những điều thu thập được trong sách và đời sống hàng ngày ấy, ông sắp đặt lại, chia ra làm 30 chương để chỉ cho ta biết:
* Những ảnh hưởng của ưu tư tai hại cho tinh thần, cơ thể ta ra sao?
* Cách phân tích các ưu tư.
* Cách diệt chứng ưu tư.
* Cách luyện cho có một thái độ bình tĩnh, vui vẻ, thản nhiên.
* Cách diệt 3 nguyên nhân chính sinh ra ưu tư là sự mỏi mệt - sự chán nản về nghề nghiệp - sự túng thiếu (4).
Vậy ông đã “thuật nhi bất tác” (5) đúng như lời của đức Khổng Tử, mà nhận rằng trong sách của mình không có chi mới hết. Toàn những quy tắc mà ai cũng biết và nếu chịu áp dụng thì không một nỗi ưu phiền nào không diệt được, từ những ưu tư về gia đình, tài sản, tình duyên, đến những lo lắng về tính mệnh, công danh, bệnh tật liên miên (6). Nhưng tiếc rằng rất ít người áp dụng nó, cho nên ông phải viết cuốn này, để gõ cửa từng nhà như lời ông nói - khuyên chúng ta đề phòng bệnh ưu uất, làm cho cứ mười người thì có một người bị bệnh thần kinh, cứ hai phút lại có một người hóa điên, và giết hại loài người một vạn lần hơn bệnh đậu mùa! Tóm lại, ông chỉ có công nhắc lại những quy tắc rất thông thường và cố “nhồi nó vào óc ta” để ta thi hành thôi.
Tuy nhiên tác giả đã nhồi vào óc ta một cách tuyệt khéo, nhờ lời văn có duyên của ông. Từ trang đầu đến trang cuối, toàn là những truyện thiệt, cổ kim, đông tây, cũng như trong cuốn Đắc nhân tâm: Bí quyết của Thành công. Nếu xét kỹ, ta thấy văn ông có chỗ điệp ý, lại có đoạn ý tứ hơi rời rạc, nhưng chính vì vậy mà lời rất tự nhiên, đột ngột, khiến đọc lên ta tưởng tượng như có ông ngồi bên cạnh, ngó ta bằng cặp mắt sâu sắc, mỉm cười một cách hóm hỉnh, mà giảng giải cho ta, nói chuyện với ta vậy.
Sở dĩ ông có lối văn vô cùng hấp dẫn ấy - từ trước chúng tôi chưa được đọc một tác giả nào bàn về tâm lý mà vui như ông - có lẽ nhờ hoàn cảnh tạo nên.
Có hồi ông bán xe cam nhông, thất bại thê thảm vì tính ghét máy móc lắm, ông bèn xin dạy khoa “nói trước công chúng” trong hội “Thanh niên theo Thiên Chúa giáo”. Hội bằng lòng nhận, nhưng không tin tài của ông, không chịu trả mỗi tối 5 Mỹ kim (7), mà chỉ cho ông chia lời thôi, nếu có lời. Học sinh thì toàn là những người lớn tuổi, có công ăn, việc làm, muốn học sao cho có kết quả ngay và học giờ nào mới trả tiền giờ ấy. Ông phải đem hết tâm lực ra soạn bài học sao vừa vui vừa bổ ích thì mới hòng giữ họ lâu và mình có đủ tiền độ nhật (8). Vì vậy ông không thể dùng những sách khô khan của nhà trường để dạy, đành phải kiếm nhiều thí dụ thực tế kể cho học sinh để họ mê man nghe từ đầu giờ tới cuối giờ. Nhờ đó ông luyện một lối văn tự nhiên rõ ràng, có duyên, hấp dẫn một cách lạ lùng.
Chúng tôi tưởng lối văn ấy phải là lối văn của thế kỷ thứ XX này. Đọc những sách triết lý viết từ thế kỷ thứ XVII, ta thấy thiệt chán: văn trừu tượng quá, nghiêm quá, gọn quá, bắt ta phải suy nghĩ nhiều quá. Ta không được rảnh rang như hồi xưa - mỗi tuần ta phải đọc một hai cuốn sách, chín mười số báo - lại quen với lối văn tiểu thuyết và phóng sự, cho nên lối văn nghiêm nghị của những thế kỷ trước không còn hợp với phần đông chúng ta. Một ngày kia, trừ một số sách viết cho các nhà chuyên môn, có lẽ hết thảy các sách phải viết bằng lối văn tựa như phóng sự, mới mong có người đọc, dầu là sách học cho người lớn hay cho trẻ em.
Ông Dale Carnegie đã mở đường trong công việc viết sách cho người lớn bằng lối văn ấy. Vì sách của ông không khác chi những tập phóng sự cả. Ông đã thành công rực rỡ, sách ông bán rất chạy. Cuốn Quẳng gánh lo đi... và vui sống này chỉ trong 3 năm (1948 - 1950) đã tái bản tới lần thứ tư.
Riêng chúng tôi, từ khi vì duyên may được đọc cuốn ấy, đã thấy tâm hồn nhẹ nhàng, khoáng đạt hơn trước kia nhiều. Và mỗi lần có điều gì thắc mắc, mở sách ra, là thấy ngay cách giải quyết, chẳng khác Tôn Tẫn (9) khi xưa mỗi lúc lâm nguy mở cẩm nang của thầy cho, tìm phương thoát nạn.
Nếu đời người quả là bể thảm thì cuốn sách này chính là ngọn gió thần đưa thuyền ta tới cõi Nát bàn (10), một cõi Nát bàn ở ngay trần thế.
Chúng tôi xin trân trọng tặng nó cho hết thảy những bạn đương bị con sâu ưu tư làm cho khổ sở trằn trọc canh khuya, tan nát cõi lòng. Ngay từ những chương đầu, bạn sẽ thấy tư tưởng sầu thảm của bạn tiêu tan như sương mù gặp nắng xuân và bạn sẽ mỉm cười nhận rằng đời quả đáng sống. Kìa, đô đốc Byrd (11) đã nói: “Chúng ta không cô độc trên thế giới này đâu, cả những vật vô tri như mặt trăng, mặt trời, cũng cứ đều đều, đúng ngày, đúng giờ lại chiếu sáng cho chúng ta, lại cho ta cảnh rực rỡ của bình minh hoặc cảnh êm đềm của đêm lặng”.
__________
Tôi đọc thấy truyện này trên thư quán có nhiều chỗ thiếu sót, vậy tôi xin đăng lại ở đây truyện của NXB Văn hóa - Thông tin năm 2001, dựa theo bản dịch của Nguyễn Hiến Lê. Tôi có điền thêm một số chú thích của mình đề tên nick trong ngoặc để phân biệt với những chú thích của dịch giả, nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn, vì truyện ra đời đã lâu rồi.
(1) Tựa gốc là How to stop worrying and start living (hacthu).
(2) Tức Young Men’s Christian Association - YMCA (hacthu).
(3) Tức New York (hacthu).
(4) Ở cuối sách ông chép lại 32 truyện thiệt, chỉ cho ta biết những người trong truyện đã áp dụng cách nào để diệt ưu tư của họ. Vì sách đã dày quá và những cách ấy cũng không ngoài những điều ông đã chỉ trong những phần trên cho nên chúng tôi bỏ, không dịch.
(5) Tức là chỉ thuật lại chuyện cũ chứ không sáng tác ra điều gì mới (hacthu).
(6) Những bạn nào buồn rầu vì hay đau vặt nên đọc thêm bài: “La maladie, notre amie” (nghĩa là “Bệnh tật, bạn của chúng ta” - hacthu) của Bác sĩ Claude Fresnay trong tạp chí Guérir số 179 Novembre 1950, trong đó đại ý nói không người nào là cơ thể không có một vài tật. Khi ta đau tức là cơ thể của ta chống với những chứng đó; bệnh chỉ là một phản động của cơ thể mà cơ thể có mạnh thì mới phản động được, cho nên những người hay đau vặt thường là những người sống lâu hơn cả. Vậy đau vặt đã không đáng cho ta lo có phần lại đáng mừng nữa.
(7) Tức dollar Mỹ. Vào những năm 1910, ước tính 1 dollar Mỹ xấp xỉ bằng 20 dollar Mỹ hiện nay (hacthu).
(8) Độ nhật nghĩa là sống qua ngày (hacthu).
(8) Nhà quân sự nổi tiếng thời Chiến Quốc bên Tàu (hacthu).
(9) Một cách gọi khác của Niết bàn (hacthu).
(10) Tức Richard Evelyn Byrd (1888 - 1957), chuẩn đô đốc nổi tiếng của Mỹ (hacthu).
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG PHƯƠNG SÁCH CĂN BẢN ĐỂ DIỆT LO
(Fundamental Facts You Should Know About Worry)
Mùa xuân năm 1871, một thanh niên may mắn đọc được một câu văn ảnh hưởng sâu xa tới tương lai của chàng. Hồi ấy còn là sinh viên y khoa ở nhà thương Montréal (1), chàng lo đủ thứ: lo thi ra cho đậu, đậu rồi sẽ làm gì, làm ở đâu, sao cho có thân chủ, kiếm cho đủ ăn?
Nhờ câu văn đọc được trong sách của Thomas Carlyle (2) mà chàng trở nên một y sĩ có danh nhất thời đó. Chính chàng đã tổ chức trường y khoa Johns Hopkins hiện nổi tiếng khắp hoàn cầu, rồi làm khoa trưởng ban y khoa tại Đại học Oxford (3), một danh dự cao nhất trong y giới Anh (4). Về sau chàng lại được Anh hoàng phong tước và khi mất được người ta viết hai cuốn sách dày 1.466 trang để kể lại thuở sinh bình.
Tên chàng là William Osler (5). Còn câu văn mà chàng được đọc mùa xuân năm 1871, câu văn đã giúp chàng quẳng được gánh lo trong đời chàng là: “Những công việc ở ngay trước mặt ta phải được coi là quan trọng nhất, và đừng bận tâm tới những công việc còn mờ mờ từ xa”.
Bốn mươi hai năm sau, một đêm xuân ấm áp, trong khi trăm bông đua nở giữa sân trường, William Osler diễn thuyết trước sinh viên Đại học Yale, đã nói rằng thiên hạ đã lầm khi bảo một người như ông, làm giáo sư tại bốn trường Đại học và viết một cuốn sách nổi danh, tất phải có “bộ óc dị thường”. Vì những người thân của ông biết rõ “óc ông vào hạng tầm thường nhất”.
Vậy thì bí quyết thành công của ông ở đâu? Ông đáp bí quyết đó ở chỗ ông biết “chia đời sống ra từng ngăn, cách biệt hẳn nhau, mỗi ngăn là một ngày”. Ý ông muốn nói gì vậy? Vài tháng trước buổi diễn thuyết ở Yale, ông đã đáp một chiếc tàu biển lớn, vượt Đại Tây dương. Trên chiếc tàu đó ông thấy người thuyền trưởng, đứng ở cầu thang (6), chỉ nhấn vào một cái nút mà làm chạy một cái máy, tức thì ngăn thiệt kín những bộ phận chính trong tàu, không cho phần này thông qua phần khác, ví dụ vì tai nạn nước có tràn vào cũng không đắm tàu được. Rồi ông nói tiếp với các sinh viên: “Cơ thể chúng ta là một bộ máy kì dị hơn chiếc tàu đó nữa. Tôi khuyên các anh tập cách điều khiển bộ máy đó để sống ngày nào riêng biệt ngày ấy: đó là cách chắc chắn nhất để được yên ổn trong cuộc viễn hành. Nhấn một nút đi rồi nghe, trong mỗi đoạn đời, chiếc cửa sắt sập lại, ngăn hiện tại với quá khứ. Quá khứ đã chết, đừng cho nó sống lại nữa. Nhấn một nút khác và đóng kín cửa sắt của tương lai lại, cái tương lai nó chưa sinh. Như vậy các anh được yên ổn - yên ổn trong ngày hôm nay!... Đóng quá khứ lại! Để cho quá khứ đã chết rồi tự chôn nó... Đóng những ngày hôm qua lại, chúng đã bước mau về cõi chết. Để cho gánh nặng của ngày mai đè thêm vào gánh nặng hôm qua và hôm nay, thì kẻ mạnh nhứt cũng phải quỵ. Đóng chặt tương lai cũng như đóng chặt dĩ vãng lại. Tương lai là hôm nay... Không có ngày mai. Ngày vinh quang của ta là ngày hôm nay. Sự phung phí năng lực, nỗi ưu tư sẽ làm cho ta lảo đảo, nếu ta cứ lo lắng về tương lai... Vậy đóng kỹ những bức vách trước và sau đi, và luyện lấy tập quán «Đắc nhất nhật quá nhất nhật».”
Như vậy có phải Bác sĩ Osler muốn khuyên ta đừng nên gắng sức một chút nào để sửa soạn ngày mai không? Không. Không khi nào. Trong đoạn cuối bài diễn văn đó, ông nói rằng cách hay hơn hết và độc nhất để sửa soạn ngày mai là đem tất cả thông minh, hăng hái của ta tập trung vào công việc hôm nay.
Ông lại khuyên các sinh viên mỗi buổi sáng, mới thức dậy, đọc kinh “Lạy Cha”: “... Xin Cha cho chúng con hằng ngày dùng đủ...” (7)
Các bạn nhớ trong câu kinh đó chỉ xin cơm cho đủ ngày một thôi, chứ không phàn nàn về cơm ôi mà hôm qua đã phải nuốt đâu nhé. Mà cũng không xin: “Chúa thương con với. Mới rồi đã hạn hán dữ, mà còn có thể hạn hán được nữa - làm sao con có gạo ăn mùa thu tới đây được? - hoặc nếu mất việc thì con làm sao có gạo mà ăn?”.
Không, câu kinh đó chỉ cầu xin được cơm ăn cho đủ từng ngày mà thôi. Vì chỉ có cơm hôm nay mới là thứ cơm ta có thể ăn được.
Hồi xưa, một triết gia, túi không có một xu, thơ thẩn trong một miền núi đá mà dân cư sống rất vất vả. Một hôm, nhân thấy một đám đông quây quần chung quanh mình, trên một ngọn đồi, ông bèn đọc một diễn văn mà nhân loại đã trích lục nhiều hơn hết từ trước tới giờ. Trong diễn văn đó có câu này được lưu truyền muôn thuở: “Đừng lo tới ngày mai vì ngày mai ta phải lo tới công việc của ngày mai. Ta chỉ lo tới hôm nay thôi cũng đủ khổ rồi”.
Tôi xin nhắc bạn: Câu đó khuyên đừng “lo” tới ngày mai chứ không phải là đừng “nghĩ”. Bạn cứ nghĩ tới ngày mai đi, cứ cẩn thận suy nghĩ, dự tính, sửa soạn đi nhưng đừng lo lắng gì hết.
Trong chiến tranh vừa rồi (8), các nhà chỉ huy tối cao của quân đội ta luôn luôn dự tính cho ngày mai và cả những ngày còn xa hơn nữa, nhưng họ không bao giờ vì vậy mà ưu tư cả. Đô đốc Ernest J. King chỉ huy hải quân Hoa Kỳ nói: “Tôi đã đưa những khí giới tốt nhất cho những quân nhân tài cán nhất, và đã giao phó sứ mạng cho họ trong lúc tiện nghi nhất. Đó, tôi chỉ làm được có vậy thôi”. Đô đốc tiếp: “Một chiếc tàu bị đắm, tôi không thể trục nó lên được. Nếu nó đương đắm, tôi cũng không thể cứu nó được. Dùng thì giờ của tôi để tính công việc sắp tới, ích lợi nhiều hơn là ưu phiền về những lỗi lầm hôm qua. Vả lại nếu tôi nghĩ tới chuyện cũ hoài, chắc tôi không thể sống lâu”.
Trong thời loạn cũng như trong thời bình, khéo suy với vụng suy chỉ khác nhau ở chỗ này: Khéo suy là nghĩ kỹ về nhân quả rồi hành động một cách hợp lí, hữu ích; còn vụng suy chỉ làm cho thần kinh ta căng thẳng và suy nhược thôi.
Mới rồi tôi được cái hân hạnh phỏng vấn ông Arthur Hays Sulzberger, chủ bút một tờ báo nổi danh nhất thế giới, tờ Nữu Ước Nhật báo (9). Ông nói với tôi rằng khi chiến tranh thứ nhì bùng lên ở Âu châu, ông gần như chết điếng, lo về tương lai đến nỗi mất ngủ. Nửa đêm ông thường tỉnh giấc, nhìn bóng trong gương rồi lấy bút, sơn tự vẽ mặt ông. Ông không biết chút gì về môn hội họa hết, nhưng ông cứ vẽ càn cho óc khỏi phải lo lắng. Mãi tới khi ông dùng câu hát dưới đây làm châm ngôn, ông mới thấy bình tĩnh trong tâm hồn. Câu đó trong bài Thánh ca:
“Xin Chúa chỉ đường cho con bằng ánh sáng của Chúa...”.
“Xin Chúa dắt con bước. Con chẳng mong được trông cảnh xa xa. Chỉ xin Chúa dắt con từng bước… Vì bước từng bước là đủ cho con rồi…”.
Đồng thời, một thanh niên Mỹ đang tùng chinh bên châu Âu, cũng học được một bài như vậy. Chàng tên là Ted Bengermino, bị lo lắng dày vò tới nỗi thần kinh suy nhược nặng.
Chàng viết: “Tháng tư năm 1945, vì quá lo nghĩ, tôi mắc một chứng bệnh trong ruột, đau đớn vô cùng. Nếu chiến tranh không kết liễu ngay lúc đó thì chắc là tôi nguy rồi. Tôi mỏi mệt quá lẽ. Lúc đó tôi làm hạ sĩ quan ở bộ binh, đội thứ 94 (10). Công việc của tôi là ghi tên những người hoặc tử trận, hoặc mất tích, hoặc nằm nhà thương. Tôi phải thu thập những đồ dùng của họ để gởi cho thân nhân họ, vì người ta trọng những kỷ niệm đó lắm. Tôi luôn luôn sợ vì lúng túng mà rồi lẫn lộn đáng tiếc chăng. Tôi lo lắng không biết có làm tròn phận sự không, có sống sót để về ôm đứa con một hay không - đứa con mới 6 tháng mà tôi chưa được biết mặt. Tôi lo lắng mệt nhọc tới nỗi mất 17 kí lô. Tôi hoảng hốt gần hóa điên. Tôi ngó tay tôi chỉ thấy còn da với xương. Nghĩ tới khi về nhà, thân hình tiều tụy mà sợ, khóc lóc như con nít. Tâm hồn bị rung động quá chừng, nên mỗi khi ngồi một mình là nước mắt tràn ra. Có một hồi, ít lâu sau trận Bulge (11), tôi khóc nhiều quá, không còn hi vọng gì tinh thần sẽ thư thái như xưa nữa”.
“Sau cùng tôi phải vào nằm nhà thương. Vị bác sĩ săn sóc tôi chỉ khuyên có vài lời mà làm thay đổi hẳn đời tôi. Sau khi khám kỹ cơ thể tôi, ông nhận rằng bệnh tôi thuộc loại bệnh thần kinh. «Này anh Ted, anh nên coi đời của anh như cái đồng hồ cát. Anh biết rằng phần trên đồng hồ đó có đựng hàng ngàn hột cát. Và những hột cát ấy, đều lần lần liên tiếp nhau, chui qua cái cổ nhỏ ở giữa để rớt xuống phần dưới. Không có cách gì cho nhiều hột cát chui cùng một lúc được, trừ phi là đập đồng hồ ra. Hết thảy bọn chúng ta đều như chiếc đồng hồ ấy. Buổi sáng thức dậy, ta có hàng trăm công việc phải làm trong nội ngày. Nhưng nếu chúng ta không làm từng việc một, chậm chạp, đều đều như những hột cát chui qua cái cổ đồng hồ kia, thì chắc chắn là cơ thể và tinh thần ta đồi bại mất».”
“Tôi đã theo triết lý đó từ ngày ấy. Mỗi lần chỉ có một hạt cát xuống thôi… Mỗi lần chỉ làm một việc thôi. Lời khuyên đó đã cứu thể chất và tinh thần tôi trong hồi chiến tranh, mà bây giờ còn giúp tôi trong công việc làm ăn nữa. Tôi là một viên kiểm soát số hàng dự trữ của một công ty ở Baltimore. Tôi thấy trong nghề buôn cũng có những khó khăn y như trong hồi chiến tranh: có cả chục công việc phải làm tức thì mà thời giờ rất hẹp. Nào lo làm những tờ mới, lo tính toán số dự trữ mới, nào lo những thay đổi địa chỉ, lo mở thêm hoặc đóng bớt những chi nhánh v.v… Nhưng tôi không nóng nảy và luôn luôn nhớ lời khuyên của bác sĩ: «Mỗi lần chỉ có một hột cát xuống thôi. Mỗi lần chỉ làm một việc thôi». Tôi tự nhắc đi nhắc lại câu đó và làm việc một cách rất hiệu quả, không hoảng hốt hay có cảm giác ruột rối như tơ vò nó đã làm cho tôi chết dở ở mặt trận khi xưa nữa”.
Một trong những tình trạng ghê gớm nhất của đời sống bây giờ là một nửa số bệnh nhân điều trị tại các nhà thương là những người mắc bệnh thần kinh hay loạn óc. Họ bị đè bẹp dưới sức nặng của những lo lắng về quá khứ lẫn với tương lai. Mà đại đa số những bệnh nhân đó đều có thể khỏe mạnh, đi đứng như thường, ngay từ hôm nay, sống một đời sung sướng, hay hơn nữa, một đời hữu ích nếu họ chịu nghe lời Đức Giê-su dạy: “Con đừng lo cho ngày mai”, hoặc nghe lời khuyên của William Osler: “Chia đời sống thành từng ngăn, cách biệt hẳn nhau, mỗi ngăn là một ngày”.
Bạn và tôi, ngay trong lúc này đây, chúng ta đứng tại chỗ hai cái vô tận gặp nhau: cái dĩ vãng mênh mông có từ thời khai thiên lập địa và cái tương lai nó bắt đầu từ tiếng cuối cùng mà tôi mới thốt. Chúng ta không thể sống trong cả hai cái vô tận đó được, dù là chỉ trong một phần giây. Mà hễ rán sống trong hai thời gian đó thì ta sẽ làm hại cho tinh thần và thể chất của ta liền. Vậy chúng ta hãy an phận chịu sống trong hiện tại vì ta chỉ có thể sống được trong hiện tại thôi. Robert Louis Stevenson (12) nói: “Bất kỳ ai cũng có thể làm công việc hằng ngày của mình được, dù công việc đó nặng nhọc tới bực nào đi nữa. Bất kỳ ai cũng có thể sống một cách êm đềm, trong sạch, kiên nhẫn, đầy tình thương chan chứa trong lòng, từ lúc mặt trời mọc cho tới khi mặt trời lặn. Đó, ý nghĩa của cuộc đời như vậy”.
Phải, đời chỉ đòi hỏi ta có bấy nhiêu thôi. Nhưng bà E. K. Shields ở Michigan lại thất vọng tới nỗi muốn tự tử, trước khi học được cách sống từng ngày một. Bà kể với tôi: “Năm 1937 nhà tôi mất, tôi đau đớn thất vọng lắm và gia tư gần như khánh kiệt. Tôi viết thư xin việc ông chủ cũ của tôi là ông Leon Roach ở công ty Roach Fowler và được cử làm lại việc cũ. Hồi xưa tôi đã bán sách cho các trường tỉnh và trường làng để kiếm ăn. Hai năm trước tôi bán chiếc xe hơi để lo thuốc thang cho nhà tôi. Nhưng tôi cũng ráng thu nhặt tiền nong để mua dài hạn một chiếc xe cũ rồi chở sách đi bán.
Tôi tưởng trở về nghề cũ như vậy sẽ bớt ưu phiền, tinh thần sẽ phấn khởi lên được; song tôi gần như không chịu nổi cảnh thui thủi một mình trên đường và trong quán trọ. Miền tôi bán sách dân tình nghèo khổ, ít người mua cho nên số lời không đủ để trả tiền xe.
Mùa xuân năm 1938, tôi đến bán ở gần Versailles (13). Ở đây trường học nghèo, đường xấu; tôi thấy cô đơn, thất vọng đến nỗi có lần muốn tự tử, cho rằng không sao thành công được hết. Ờ mà phải, làm sao đủ sống được? Mỗi buổi sáng khi tỉnh dậy, nghĩ tới nỗi phấn đấu với đời, tôi lo sợ đủ thứ: sợ không trả nổi tiền xe, sợ không trả nổi tiền phòng, sợ không kiếm đủ ăn, sợ rồi sẽ đau ốm không có tiền uống thuốc. Nhưng may có hai điều làm cho tôi không tự tử là nếu tôi chết thì em tôi sẽ khổ lắm và tôi không có đủ tiền để lại cho nó làm ma tôi.
Rồi một hôm ngẫu nhiên tôi đọc một bài báo nó kéo tôi ra khỏi cảnh thất vọng và khiến tôi đủ can đảm để sống. Tôi sẽ suốt đời mang ơn tác giả bài đó, người đã viết câu này: «Đối với một đạt nhân (14) thì một ngày mới là một đời sống mới». Tôi đánh máy lại câu ấy rồi dán lên tấm kính che mưa trong xe tôi, để trong khi cầm lái, lúc nào tôi cũng phải ngó tới. Từ đó tôi thấy chỉ sống từng ngày một thì đời sống không khó khăn gì cả. Tôi tập quên dĩ vãng và không nghĩ tới tương lai nữa. Mỗi buổi sáng tôi tự nhủ: «Ngày hôm nay là một đời sống mới». Nhờ vậy tôi thắng được nỗi lo sợ cảnh cô đơn, cảnh thiếu thốn, rồi tôi buôn bán phát đạt sung sướng, hăng hái và yêu đời. Bây giờ tôi biết rằng ta chỉ sống được nội ngày hôm nay thôi, không sống được thời dĩ vãng và tương lai, và «Đối với một đạt nhân thì một ngày mới là một đời sống mới»”.
Bạn có biết tác giả những câu thơ này là ai không?
Ý thơ có vẻ mới lắm, phải không bạn? Vậy mà câu đó, thi hào Horace đã viết 30 năm trước Thiên Chúa giáng sinh đấy.
Một trong những điều bi đát nhất là loài người có tánh muốn đẩy bỏ đời sống hiện tại đi. Hết thảy chúng ta đều mơ mộng những vườn hồng diễm ảo ở chân trời thăm thẳm mà không chịu thưởng thức những bông nở kề ngay bên cửa sổ.
Tại sao chúng ta điên như vậy? Điên một cách thê thảm như vậy?
Stephen Leacock (15) viết: “Lạ lùng thay cái chuỗi đời của ta. Con nít thì nói: «Ước gì tôi lớn thêm được vài tuổi nữa». Nhưng khi lớn vài tuổi nữa rồi thì sao? Thì lại nói: «Ước gì tôi tới tuổi trưởng thành». Và khi tới tuổi trưởng thành lại nói: «Ước gì tôi lập gia đình rồi ở riêng». Nhưng khi thành gia rồi thì làm sao nữa? Thì lời ước lại đổi làm: «Ước gì ta già, được nghỉ ngơi». Và khi được nghỉ ngơi rồi, lại thương tiếc quãng đường đời đã qua, và thấy như có cơn gió lạnh thổi trên quãng đó. Lúc ấy đã gần xuống lỗ rồi, còn hưởng được gì nữa. Khi ta biết được rằng đời sống ở trong từng ngày một, thì đã trễ quá rồi mà”.
Ông Edward S. Evans quá cố ở Detoit gần tự hủy đời ông cho tới khi ông học được rằng: “Đời sống ở trong hiện tại, ở trong ngày đang sống, trong giờ đang sống”. Sinh trong một gia đình nghèo, nghề đầu tiên của ông là bán báo rồi làm công cho một tiệm tạp hóa. Sau ông giúp việc trong một thư viện, để nuôi một gia đình 7 người. Lương ít mà không dám bỏ sở. Sau tám năm do dự, ông mới quyết định tạo lại cuộc đời. Mới ra với số vốn là 55 Mỹ kim mượn của bạn, ông phát đạt ngay và mỗi năm kiếm được 20.000 Mỹ kim (16). Rồi thì ông gặp một chuyện rủi, tai hại đến nỗi giết ông được. Ông cho một người bạn vay một số tiền lớn và người bạn đó vỡ nợ.
Rồi họa vô đơn chí: nhà ngân hàng ông gởi tiền cũng vỡ nợ. Sự nghiệp tiêu tan hết, ông còn mắc thêm món nợ 16.000 Mỹ kim nữa. Đau đớn quá, ông chịu không nổi. Ông nói: “Tôi ăn không được, ngủ không được. Tôi đau một chứng kỳ dị mà nguyên nhân chỉ là ưu phiền chứ không có chi khác. Một hôm đang đi, tôi té xỉu trên lề. Từ lúc đó tôi không cất chân được nữa. Tôi phải nằm liệt giường, mụt mọc đầy mình. Những mụt đó sưng mà không vỡ, nhức nhối quá, nằm không được. Mỗi ngày một yếu, sau cùng bác sĩ nói rằng tôi chỉ sống được hai tuần nữa thôi. Tôi lo sợ lắm, viết di chúc rồi nằm đợi chết. Từ lúc đó, tôi hết phải lo lắng, phấn đấu nữa. Tôi bỏ tuốt cả, nghỉ ngơi rồi thì yên chí đợi chết, tôi ngủ được. Đã hàng tuần trước đây, chưa bao giờ tôi ngủ được luôn hai giờ; nhưng lúc ấy biết chắc sẽ giũ sạch nợ đời, tôi ngủ li bì như một em bé. Hết lo thì tôi cũng hết mệt, ăn được và lên cân.
Vài tuần sau, tôi chống nạng đi được. Rồi sau sáu tuần tôi đi làm lại. Trước kia tôi kiếm 20.000 Mỹ kim một năm, bây giờ kiếm được mỗi tuần 30 Mỹ kim mà tôi thấy hài lòng. Tôi đã học được một bài mới, không còn lo lắng, không còn tiếc thời phong lưu trước, không lo về tương lai nữa. Tôi đem hết thời giờ, nghị lực và hăng hái để làm nghề mới của tôi”.
Thế rồi ông Edward S. Evans lại lên như diều. Chỉ trong vài năm được làm hội trưởng công ty. Những chứng khoán của công ty ông được sở Hối đoái Nữu Ước cho là có giá trị. Cho đến năm 1945 ông mất, thì đã là một trong những nhà doanh nghiệp mau phát đạt nhất ở Mỹ. Nếu bạn ngồi máy bay tới Greenland, phi cơ của bạn có thể đáp xuống phi trường Evans, một phi trường mang tên ông.
Ta phải kết luận rằng: Chắc chắn không khi nào ông Edward S. Evans được hưởng cái thú thành công như vậy, nếu ông không biết đường diệt ưu tư, nếu ông đã không học được cách chia đời sống cho ra từng ngày một, ngày này cách biệt hẳn với ngày khác.
Năm trăm năm trước khi Thiên Chúa giáng sinh, triết gia Hy Lạp Héraclite (17) bảo đệ tử rằng: “Mọi vật đều thay đổi (18). Các đệ tử không thể tắm hai lần trên một khúc sông”. Vì khúc sông mỗi giây một thay đổi mà người tắm trên khúc sông đó cũng vậy. Đời sống là một cuộc biến đổi không ngừng. Chúng ta chỉ chắc chắn một điều là ta đang sống trong hiện tại. Thế thì tại sao lại nằng nặc đòi giải quyết những vấn đề về tương lai, để làm phai mờ cái đẹp của hiện tại? Tương lai còn bị bao phủ trong những biến dịch không ngừng, những biến dịch mà không ai đoán được kia mà!
Người La Mã hồi xưa cũng có một tiếng để diễn ý đó. Thiệt ra là hai tiếng “Carpe diem”, nghĩa là “Vui ngày hôm nay đi”, hay là “Nắm lấy ngày hôm nay đi”. Phải, nắm lấy ngày hôm nay và tận hưởng cái thú của nó đi.
Đó cũng là triết lý của ông Lowell Thomas (19). Mới rồi tôi lại chơi nhà ông vài ngày và nhận thấy có hai câu này trong thánh thi (Psaume CXVIII) đóng khung treo trên tường phòng để ông được thường thấy nó.
“Ngày hôm nay là ngày Thượng Đế đã ban cho ta, ta hãy vui vẻ và sung sướng hưởng nó đi” (20).
Ông John Ruskin đặt trên bàn giấy của ông một phiến đá nhỏ trên đó có khắc hai chữ: “Hôm nay”. Tôi không có phiến đá kia trên bàn, nhưng tôi có một bài thơ dán trên tấm gương trong phòng tắm để mỗi buổi sáng tôi trông thấy một lần, khi cạo râu. Bài thơ đó do nhà soạn kịch trứ danh ở Ấn Độ là ông Kalidasa làm và ông William Osler chép lại, luôn luôn để trên bàn giấy ông:
Hãy chăm chú vào ngày hôm nay
Vì nó là đời sống, chính là sự sống của đời sống...
Nó tuy ngắn ngủi
Nhưng chứa tất cả chân lý về đời ta:
Sự sung sướng khi tiến phát,
Sự vẻ vang của hành động,
Sự rực rỡ của thành công.
Vì hôm qua chỉ là một giấc mộng,
Và ngày mai chỉ là một ảo tưởng,
Nhưng hôm nay, nếu sống đầy đủ, ta sẽ thấy hôm qua là một giấc mộng êm đềm,
Và ngày mai là hình ảnh của hy vọng.
Vậy ta hãy chăm chú kỹ vào hôm nay!
Lời chào bình minh của tôi là vậy đó.
Vậy phương sách thứ nhất để trị ưu phiền là bắt chước William Osler:
1. Khóa chặt dĩ vãng và tương lai lại để sống trong cái phòng kín mít của ngày hôm nay.
Tại sao bạn không tự hỏi những câu này và chép lại những lời bạn tự đáp?
1. Tôi có cái thói quên hiện tại để lo về tương lai hoặc mơ mộng “một khu vườn hồng diễm ảo ở chân trời xa xăm” không?
2. Tôi có thường nghĩ tới quá khứ mà làm cho hiện tại hóa ra chua xót không? Quá khứ đó đã qua rồi và thiệt chết rồi.
3. Sáng dậy tôi có quyết “Nắm lấy ngày hôm nay” để tận hưởng 24 giờ đó không?
4. Sống trong “cái phòng kín mít của ngày hôm nay” có lợi cho đời tôi không?
5. Và bao giờ tôi bắt đầu sống như vậy? Tuần sau?... Ngày mai?... Hay hôm nay?
__________
(1) Nguyên văn “Montréal General Hospital” (hacthu).
(2) Thomas Carlyle (1795 - 1881) là một tác giả và nhà sử học người Scotland (hacthu).
(3) Nguyên văn “Regius Professor of Medicine”. Regius Professor là một chức vụ được bổ nhiệm bởi Anh hoàng ở 6 (xưa là 7) trường đại học danh tiếng của Vương quốc Anh và Ireland (hacthu).
(4) Nguyên văn “British Empire”. Canada thời xưa (chàng sinh viên này từng học ở Montréal) thuộc Đế chế Anh (hacthu).
(5) Đầy đủ hơn phải là ngài William Osler (có nơi đề là Osier), vì về sau chàng được Anh hoàng phong tước, nên trước tên có thêm danh hiệu “Sir” (hacthu).
(6) Nguyên văn “bridge”, từ chuyên môn trong hàng hải có nghĩa là chỗ chỉ huy của thuyền trưởng (hacthu).
(7) Nguyên văn “Give us this day our daily bread” (hacthu).
(8) Tức Thế chiến II, nên nhớ sách này xuất bản lần đầu năm 1948 (hacthu).
(9) Tức The New York Times (hacthu).
(10) Nguyên văn “the 94th Infantry Division”, tức sư đoàn bộ binh 94 (hacthu).
(11) Trận đánh này diễn ra tháng 12 năm 1944 đến tháng 1 năm 1945 (hacthu).
(12) Nổi tiếng với tác phẩm Treasure Island, tức Đảo giấu vàng (hacthu).
(13) Một nơi ở Mỹ (Missouri - hacthu), đừng lộn với Versailles gần Paris (Pháp).
(14) Nguyên văn “a wise man” (hacthu).
(15) Một tác giả hài hước nổi tiếng đầu thế kỉ XX trong thế giới Anh ngữ (hacthu).
(16) Vào những năm 1910, ước tính 1 dollar Mỹ xấp xỉ bằng 20 dollar Mỹ hiện nay (hacthu).
(17) Tức Heraclitus, Héraclite là phiên âm tiếng Pháp (hacthu).
(18) Nguyên văn “everything changes except the law of change”, tức “mọi vật đều thay đổi, ngoại trừ quy luật của sự thay đổi”. Không hiểu sao dịch giả Nguyễn Hiến Lê lại lược bỏ phần sau (hacthu).
(19) Một nhà văn, nhà làm phim người Mỹ. Ông nổi tiếng với các cuốn sách và thước phim về T. E. Lawrence (1888 - 1935), góp phần làm nên tên tuổi của Lawrence với biệt danh “Lawrence of Arabia”.
(20) Nguyên văn “This is the day which the Lord hath made; we will rejoice and be glad in it” (hacthu).
Quẳng gánh lo đi và vui sống
(How to stop worrying and start living)
Quân tử thảng đãng đãng
Tiểu nhân trường thích thích
Khổng Tử
Tiểu nhân trường thích thích
Khổng Tử
TỰA
Một buổi trưa hè, chúng tôi đương đàm đạo tại nhà anh Đ., bỗng bạn tôi ngừng câu nói dở, chỉ ra ngoài cửa, bảo:
- Các anh coi kìa, nữ bác sĩ lái xe đi chích thuốc.
Chúng tôi nhìn ra. Một người đàn bà còn trẻ, tóc bù xù, mặt lem luốc, cặp mắt láo liêng, miệng cười toe toét, vừa đi vừa vòng hai tay ra phía trước, xoay đi xoay lại như người lái xe hơi, thỉnh thoảng ngừng chân, tay như cầm vật gì nhỏ, đưa lên đưa xuống.
Anh Đ. giảng: “Nữ bác sĩ chích thuốc đấy. Ngày nào cũng vậy, mưa cũng như nắng, đi đủ ba lần, qua đủ bốn, năm con đường quanh đây... Nhiều thân chủ, dữ ta!”.
Nhưng rồi anh vội sầm nét mặt: “Tội nghiệp, nhà khá giả, lại con một, mà như vậy...!”.
Ngừng một chút, anh tiếp: “Nhưng nghĩ kỹ, chị ta có thấy khổ đâu? Trái lại mỗi khi lái xe, tin mình là bác sĩ, chắc sung sướng lắm...
Sướng hơn chúng ta nhiều! Chính chúng ta mới đáng thương!”.
Ai nấy đương vui, bỗng buồn bã, lẳng lặng gật đầu. Chao ôi, trong số anh em ngồi đó, phần nhiều đều được thiên hạ khen sang và giàu, biết bao nhiêu người khao khát địa vị, mà chính họ tự thấy khổ hơn một mụ điên!
“Chính chúng ta mới đáng thương!” Nếu vậy thì đời quả là bể khổ mà bốn câu thơ này của Đoàn Như Khuê thiệt thâm thúy vô cùng:
Bể thảm mênh mông sóng lụt trời!
Khách trần chèo một lá thuyền chơi,
Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió,
Coi lại cùng trong bể thảm thôi.
Khách trần chèo một lá thuyền chơi,
Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió,
Coi lại cùng trong bể thảm thôi.
“Chính chúng ta mới đáng thương!”.
Nếu vậy thì cái bề ngoài vui tươi kia chỉ là cái vỏ của một tâm hồn chán nản, bị phiền muộn, ưu tư, ganh ghét, hờn oán dày vò! Mặt biển phẳng lặng, phản chiếu màu trời rực rỡ đấy, nhưng dưới đáy có những lượn sóng ngầm đủ sức cuốn cát và lay đá. Cánh đồng tươi thắm cười đón gió xuân đấy, nhưng trong hoa, sâu đã lẳng lặng đục nhụy và hút nhựa không ngừng.
Phải ngăn những đợt sóng oán hờn ấy lại, diệt con sâu ưu tư đó đi, nếu không, chúng ta sẽ diệt ta mất, và chẳng sớm thì chầy, ta sẽ sinh ra cáu kỉnh, chán chường, đau tim, đau bao tử, mất ngủ, mất ăn, mắc bệnh thần kinh và loạn óc.
Dale Carnegie viết cuốn Quẳng gánh lo đi... và vui sống (1) này chính để chỉ cho ta cách diệt những kẻ thù vô hình ấy. Ta thiệt khó thắng vì chúng ngự trị ngay trong thâm tâm ta, nhưng ta phải thắng, vì thắng mới có thể SỐNG được.
Đọc bài tựa cuốn Đắc nhân tâm: bí quyết của Thành công, bạn đã được biết qua về đời sống, mới đầu long đong, sau thành công rực rỡ của Dale Carnegie; ở đây chúng tôi không nhắc lại nữa, chỉ kể cách ông viết cuốn Quẳng gánh lo đi... và vui sống này.
Hồi mới bắt đầu dạy môn nói trước công chúng tại hội Thanh niên theo Thiên Chúa giáo (2) ở Nữu Ước (3), ông thấy cần phải chỉ cho học sinh của ông - hầu hết là những người có địa vị quan trọng trong đủ các ngành hoạt động xã hội - cách thắng ưu tư và phiền muộn. Ông bèn tìm trong thư viện lớn nhất ở Nữu Ước hết thảy những sách bàn về vấn đề ấy và ông chỉ thấy vỏn vẹn có 25 cuốn, còn sách nghiên cứu về... loài rùa thì có tới 190!
Thiệt lạ lùng! Đối với một vấn đề quan trọng cho cả nhân loại như vấn đề diệt nỗi lo lắng để cho bể thảm vơi bớt đi, đời người được vui tươi hơn, mà loài người thờ ơ như vậy? Trách chi những người bị bệnh thần kinh chiếm hết phân nửa số giường trong các dưỡng đường Âu Mỹ. Trách chi hết thảy chúng ta dù sang hèn, giàu nghèo, đều phải phàn nàn rằng chính những kẻ điên mới là hạng người sung sướng trên đời!
Đọc hết 25 cuốn sách ấy, không thấy cuốn nào đầy đủ, khả dĩ dùng để dạy học được, ông đành bỏ ra 7 năm để nghiên cứu hết các triết gia cổ, kim, đông, tây, đọc hàng trăm tiểu sử, từ tiểu sử của Khổng Tử tới đời tư của Churchill, rồi lại phỏng vấn hàng chục các danh nhân đương thời và hàng trăm đồng bào của ông trong hạng trung lưu. Nhờ vậy sách ông được đặc điểm là đầy những truyện thiệt mà bất kì ai cũng có thể kiểm sát.
Những điều thu thập được trong sách và đời sống hàng ngày ấy, ông sắp đặt lại, chia ra làm 30 chương để chỉ cho ta biết:
* Những ảnh hưởng của ưu tư tai hại cho tinh thần, cơ thể ta ra sao?
* Cách phân tích các ưu tư.
* Cách diệt chứng ưu tư.
* Cách luyện cho có một thái độ bình tĩnh, vui vẻ, thản nhiên.
* Cách diệt 3 nguyên nhân chính sinh ra ưu tư là sự mỏi mệt - sự chán nản về nghề nghiệp - sự túng thiếu (4).
Vậy ông đã “thuật nhi bất tác” (5) đúng như lời của đức Khổng Tử, mà nhận rằng trong sách của mình không có chi mới hết. Toàn những quy tắc mà ai cũng biết và nếu chịu áp dụng thì không một nỗi ưu phiền nào không diệt được, từ những ưu tư về gia đình, tài sản, tình duyên, đến những lo lắng về tính mệnh, công danh, bệnh tật liên miên (6). Nhưng tiếc rằng rất ít người áp dụng nó, cho nên ông phải viết cuốn này, để gõ cửa từng nhà như lời ông nói - khuyên chúng ta đề phòng bệnh ưu uất, làm cho cứ mười người thì có một người bị bệnh thần kinh, cứ hai phút lại có một người hóa điên, và giết hại loài người một vạn lần hơn bệnh đậu mùa! Tóm lại, ông chỉ có công nhắc lại những quy tắc rất thông thường và cố “nhồi nó vào óc ta” để ta thi hành thôi.
Tuy nhiên tác giả đã nhồi vào óc ta một cách tuyệt khéo, nhờ lời văn có duyên của ông. Từ trang đầu đến trang cuối, toàn là những truyện thiệt, cổ kim, đông tây, cũng như trong cuốn Đắc nhân tâm: Bí quyết của Thành công. Nếu xét kỹ, ta thấy văn ông có chỗ điệp ý, lại có đoạn ý tứ hơi rời rạc, nhưng chính vì vậy mà lời rất tự nhiên, đột ngột, khiến đọc lên ta tưởng tượng như có ông ngồi bên cạnh, ngó ta bằng cặp mắt sâu sắc, mỉm cười một cách hóm hỉnh, mà giảng giải cho ta, nói chuyện với ta vậy.
Sở dĩ ông có lối văn vô cùng hấp dẫn ấy - từ trước chúng tôi chưa được đọc một tác giả nào bàn về tâm lý mà vui như ông - có lẽ nhờ hoàn cảnh tạo nên.
Có hồi ông bán xe cam nhông, thất bại thê thảm vì tính ghét máy móc lắm, ông bèn xin dạy khoa “nói trước công chúng” trong hội “Thanh niên theo Thiên Chúa giáo”. Hội bằng lòng nhận, nhưng không tin tài của ông, không chịu trả mỗi tối 5 Mỹ kim (7), mà chỉ cho ông chia lời thôi, nếu có lời. Học sinh thì toàn là những người lớn tuổi, có công ăn, việc làm, muốn học sao cho có kết quả ngay và học giờ nào mới trả tiền giờ ấy. Ông phải đem hết tâm lực ra soạn bài học sao vừa vui vừa bổ ích thì mới hòng giữ họ lâu và mình có đủ tiền độ nhật (8). Vì vậy ông không thể dùng những sách khô khan của nhà trường để dạy, đành phải kiếm nhiều thí dụ thực tế kể cho học sinh để họ mê man nghe từ đầu giờ tới cuối giờ. Nhờ đó ông luyện một lối văn tự nhiên rõ ràng, có duyên, hấp dẫn một cách lạ lùng.
Chúng tôi tưởng lối văn ấy phải là lối văn của thế kỷ thứ XX này. Đọc những sách triết lý viết từ thế kỷ thứ XVII, ta thấy thiệt chán: văn trừu tượng quá, nghiêm quá, gọn quá, bắt ta phải suy nghĩ nhiều quá. Ta không được rảnh rang như hồi xưa - mỗi tuần ta phải đọc một hai cuốn sách, chín mười số báo - lại quen với lối văn tiểu thuyết và phóng sự, cho nên lối văn nghiêm nghị của những thế kỷ trước không còn hợp với phần đông chúng ta. Một ngày kia, trừ một số sách viết cho các nhà chuyên môn, có lẽ hết thảy các sách phải viết bằng lối văn tựa như phóng sự, mới mong có người đọc, dầu là sách học cho người lớn hay cho trẻ em.
Ông Dale Carnegie đã mở đường trong công việc viết sách cho người lớn bằng lối văn ấy. Vì sách của ông không khác chi những tập phóng sự cả. Ông đã thành công rực rỡ, sách ông bán rất chạy. Cuốn Quẳng gánh lo đi... và vui sống này chỉ trong 3 năm (1948 - 1950) đã tái bản tới lần thứ tư.
Riêng chúng tôi, từ khi vì duyên may được đọc cuốn ấy, đã thấy tâm hồn nhẹ nhàng, khoáng đạt hơn trước kia nhiều. Và mỗi lần có điều gì thắc mắc, mở sách ra, là thấy ngay cách giải quyết, chẳng khác Tôn Tẫn (9) khi xưa mỗi lúc lâm nguy mở cẩm nang của thầy cho, tìm phương thoát nạn.
Nếu đời người quả là bể thảm thì cuốn sách này chính là ngọn gió thần đưa thuyền ta tới cõi Nát bàn (10), một cõi Nát bàn ở ngay trần thế.
Chúng tôi xin trân trọng tặng nó cho hết thảy những bạn đương bị con sâu ưu tư làm cho khổ sở trằn trọc canh khuya, tan nát cõi lòng. Ngay từ những chương đầu, bạn sẽ thấy tư tưởng sầu thảm của bạn tiêu tan như sương mù gặp nắng xuân và bạn sẽ mỉm cười nhận rằng đời quả đáng sống. Kìa, đô đốc Byrd (11) đã nói: “Chúng ta không cô độc trên thế giới này đâu, cả những vật vô tri như mặt trăng, mặt trời, cũng cứ đều đều, đúng ngày, đúng giờ lại chiếu sáng cho chúng ta, lại cho ta cảnh rực rỡ của bình minh hoặc cảnh êm đềm của đêm lặng”.
Long Xuyên,
một ngày đẹp trong 365 ngày đẹp
năm 1951
một ngày đẹp trong 365 ngày đẹp
năm 1951
__________
Tôi đọc thấy truyện này trên thư quán có nhiều chỗ thiếu sót, vậy tôi xin đăng lại ở đây truyện của NXB Văn hóa - Thông tin năm 2001, dựa theo bản dịch của Nguyễn Hiến Lê. Tôi có điền thêm một số chú thích của mình đề tên nick trong ngoặc để phân biệt với những chú thích của dịch giả, nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn, vì truyện ra đời đã lâu rồi.
(1) Tựa gốc là How to stop worrying and start living (hacthu).
(2) Tức Young Men’s Christian Association - YMCA (hacthu).
(3) Tức New York (hacthu).
(4) Ở cuối sách ông chép lại 32 truyện thiệt, chỉ cho ta biết những người trong truyện đã áp dụng cách nào để diệt ưu tư của họ. Vì sách đã dày quá và những cách ấy cũng không ngoài những điều ông đã chỉ trong những phần trên cho nên chúng tôi bỏ, không dịch.
(5) Tức là chỉ thuật lại chuyện cũ chứ không sáng tác ra điều gì mới (hacthu).
(6) Những bạn nào buồn rầu vì hay đau vặt nên đọc thêm bài: “La maladie, notre amie” (nghĩa là “Bệnh tật, bạn của chúng ta” - hacthu) của Bác sĩ Claude Fresnay trong tạp chí Guérir số 179 Novembre 1950, trong đó đại ý nói không người nào là cơ thể không có một vài tật. Khi ta đau tức là cơ thể của ta chống với những chứng đó; bệnh chỉ là một phản động của cơ thể mà cơ thể có mạnh thì mới phản động được, cho nên những người hay đau vặt thường là những người sống lâu hơn cả. Vậy đau vặt đã không đáng cho ta lo có phần lại đáng mừng nữa.
(7) Tức dollar Mỹ. Vào những năm 1910, ước tính 1 dollar Mỹ xấp xỉ bằng 20 dollar Mỹ hiện nay (hacthu).
(8) Độ nhật nghĩa là sống qua ngày (hacthu).
(8) Nhà quân sự nổi tiếng thời Chiến Quốc bên Tàu (hacthu).
(9) Một cách gọi khác của Niết bàn (hacthu).
(10) Tức Richard Evelyn Byrd (1888 - 1957), chuẩn đô đốc nổi tiếng của Mỹ (hacthu).
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG PHƯƠNG SÁCH CĂN BẢN ĐỂ DIỆT LO
(Fundamental Facts You Should Know About Worry)
CHƯƠNG NHẤT
ĐẮC NHẤT NHẬT QUÁ NHẤT NHẬT
(Live in "Day-tight Compartments")
ĐẮC NHẤT NHẬT QUÁ NHẤT NHẬT
(Live in "Day-tight Compartments")
Mùa xuân năm 1871, một thanh niên may mắn đọc được một câu văn ảnh hưởng sâu xa tới tương lai của chàng. Hồi ấy còn là sinh viên y khoa ở nhà thương Montréal (1), chàng lo đủ thứ: lo thi ra cho đậu, đậu rồi sẽ làm gì, làm ở đâu, sao cho có thân chủ, kiếm cho đủ ăn?
Nhờ câu văn đọc được trong sách của Thomas Carlyle (2) mà chàng trở nên một y sĩ có danh nhất thời đó. Chính chàng đã tổ chức trường y khoa Johns Hopkins hiện nổi tiếng khắp hoàn cầu, rồi làm khoa trưởng ban y khoa tại Đại học Oxford (3), một danh dự cao nhất trong y giới Anh (4). Về sau chàng lại được Anh hoàng phong tước và khi mất được người ta viết hai cuốn sách dày 1.466 trang để kể lại thuở sinh bình.
Tên chàng là William Osler (5). Còn câu văn mà chàng được đọc mùa xuân năm 1871, câu văn đã giúp chàng quẳng được gánh lo trong đời chàng là: “Những công việc ở ngay trước mặt ta phải được coi là quan trọng nhất, và đừng bận tâm tới những công việc còn mờ mờ từ xa”.
Bốn mươi hai năm sau, một đêm xuân ấm áp, trong khi trăm bông đua nở giữa sân trường, William Osler diễn thuyết trước sinh viên Đại học Yale, đã nói rằng thiên hạ đã lầm khi bảo một người như ông, làm giáo sư tại bốn trường Đại học và viết một cuốn sách nổi danh, tất phải có “bộ óc dị thường”. Vì những người thân của ông biết rõ “óc ông vào hạng tầm thường nhất”.
Vậy thì bí quyết thành công của ông ở đâu? Ông đáp bí quyết đó ở chỗ ông biết “chia đời sống ra từng ngăn, cách biệt hẳn nhau, mỗi ngăn là một ngày”. Ý ông muốn nói gì vậy? Vài tháng trước buổi diễn thuyết ở Yale, ông đã đáp một chiếc tàu biển lớn, vượt Đại Tây dương. Trên chiếc tàu đó ông thấy người thuyền trưởng, đứng ở cầu thang (6), chỉ nhấn vào một cái nút mà làm chạy một cái máy, tức thì ngăn thiệt kín những bộ phận chính trong tàu, không cho phần này thông qua phần khác, ví dụ vì tai nạn nước có tràn vào cũng không đắm tàu được. Rồi ông nói tiếp với các sinh viên: “Cơ thể chúng ta là một bộ máy kì dị hơn chiếc tàu đó nữa. Tôi khuyên các anh tập cách điều khiển bộ máy đó để sống ngày nào riêng biệt ngày ấy: đó là cách chắc chắn nhất để được yên ổn trong cuộc viễn hành. Nhấn một nút đi rồi nghe, trong mỗi đoạn đời, chiếc cửa sắt sập lại, ngăn hiện tại với quá khứ. Quá khứ đã chết, đừng cho nó sống lại nữa. Nhấn một nút khác và đóng kín cửa sắt của tương lai lại, cái tương lai nó chưa sinh. Như vậy các anh được yên ổn - yên ổn trong ngày hôm nay!... Đóng quá khứ lại! Để cho quá khứ đã chết rồi tự chôn nó... Đóng những ngày hôm qua lại, chúng đã bước mau về cõi chết. Để cho gánh nặng của ngày mai đè thêm vào gánh nặng hôm qua và hôm nay, thì kẻ mạnh nhứt cũng phải quỵ. Đóng chặt tương lai cũng như đóng chặt dĩ vãng lại. Tương lai là hôm nay... Không có ngày mai. Ngày vinh quang của ta là ngày hôm nay. Sự phung phí năng lực, nỗi ưu tư sẽ làm cho ta lảo đảo, nếu ta cứ lo lắng về tương lai... Vậy đóng kỹ những bức vách trước và sau đi, và luyện lấy tập quán «Đắc nhất nhật quá nhất nhật».”
Như vậy có phải Bác sĩ Osler muốn khuyên ta đừng nên gắng sức một chút nào để sửa soạn ngày mai không? Không. Không khi nào. Trong đoạn cuối bài diễn văn đó, ông nói rằng cách hay hơn hết và độc nhất để sửa soạn ngày mai là đem tất cả thông minh, hăng hái của ta tập trung vào công việc hôm nay.
Ông lại khuyên các sinh viên mỗi buổi sáng, mới thức dậy, đọc kinh “Lạy Cha”: “... Xin Cha cho chúng con hằng ngày dùng đủ...” (7)
Các bạn nhớ trong câu kinh đó chỉ xin cơm cho đủ ngày một thôi, chứ không phàn nàn về cơm ôi mà hôm qua đã phải nuốt đâu nhé. Mà cũng không xin: “Chúa thương con với. Mới rồi đã hạn hán dữ, mà còn có thể hạn hán được nữa - làm sao con có gạo ăn mùa thu tới đây được? - hoặc nếu mất việc thì con làm sao có gạo mà ăn?”.
Không, câu kinh đó chỉ cầu xin được cơm ăn cho đủ từng ngày mà thôi. Vì chỉ có cơm hôm nay mới là thứ cơm ta có thể ăn được.
Hồi xưa, một triết gia, túi không có một xu, thơ thẩn trong một miền núi đá mà dân cư sống rất vất vả. Một hôm, nhân thấy một đám đông quây quần chung quanh mình, trên một ngọn đồi, ông bèn đọc một diễn văn mà nhân loại đã trích lục nhiều hơn hết từ trước tới giờ. Trong diễn văn đó có câu này được lưu truyền muôn thuở: “Đừng lo tới ngày mai vì ngày mai ta phải lo tới công việc của ngày mai. Ta chỉ lo tới hôm nay thôi cũng đủ khổ rồi”.
Tôi xin nhắc bạn: Câu đó khuyên đừng “lo” tới ngày mai chứ không phải là đừng “nghĩ”. Bạn cứ nghĩ tới ngày mai đi, cứ cẩn thận suy nghĩ, dự tính, sửa soạn đi nhưng đừng lo lắng gì hết.
Trong chiến tranh vừa rồi (8), các nhà chỉ huy tối cao của quân đội ta luôn luôn dự tính cho ngày mai và cả những ngày còn xa hơn nữa, nhưng họ không bao giờ vì vậy mà ưu tư cả. Đô đốc Ernest J. King chỉ huy hải quân Hoa Kỳ nói: “Tôi đã đưa những khí giới tốt nhất cho những quân nhân tài cán nhất, và đã giao phó sứ mạng cho họ trong lúc tiện nghi nhất. Đó, tôi chỉ làm được có vậy thôi”. Đô đốc tiếp: “Một chiếc tàu bị đắm, tôi không thể trục nó lên được. Nếu nó đương đắm, tôi cũng không thể cứu nó được. Dùng thì giờ của tôi để tính công việc sắp tới, ích lợi nhiều hơn là ưu phiền về những lỗi lầm hôm qua. Vả lại nếu tôi nghĩ tới chuyện cũ hoài, chắc tôi không thể sống lâu”.
Trong thời loạn cũng như trong thời bình, khéo suy với vụng suy chỉ khác nhau ở chỗ này: Khéo suy là nghĩ kỹ về nhân quả rồi hành động một cách hợp lí, hữu ích; còn vụng suy chỉ làm cho thần kinh ta căng thẳng và suy nhược thôi.
Mới rồi tôi được cái hân hạnh phỏng vấn ông Arthur Hays Sulzberger, chủ bút một tờ báo nổi danh nhất thế giới, tờ Nữu Ước Nhật báo (9). Ông nói với tôi rằng khi chiến tranh thứ nhì bùng lên ở Âu châu, ông gần như chết điếng, lo về tương lai đến nỗi mất ngủ. Nửa đêm ông thường tỉnh giấc, nhìn bóng trong gương rồi lấy bút, sơn tự vẽ mặt ông. Ông không biết chút gì về môn hội họa hết, nhưng ông cứ vẽ càn cho óc khỏi phải lo lắng. Mãi tới khi ông dùng câu hát dưới đây làm châm ngôn, ông mới thấy bình tĩnh trong tâm hồn. Câu đó trong bài Thánh ca:
“Xin Chúa chỉ đường cho con bằng ánh sáng của Chúa...”.
“Xin Chúa dắt con bước. Con chẳng mong được trông cảnh xa xa. Chỉ xin Chúa dắt con từng bước… Vì bước từng bước là đủ cho con rồi…”.
Đồng thời, một thanh niên Mỹ đang tùng chinh bên châu Âu, cũng học được một bài như vậy. Chàng tên là Ted Bengermino, bị lo lắng dày vò tới nỗi thần kinh suy nhược nặng.
Chàng viết: “Tháng tư năm 1945, vì quá lo nghĩ, tôi mắc một chứng bệnh trong ruột, đau đớn vô cùng. Nếu chiến tranh không kết liễu ngay lúc đó thì chắc là tôi nguy rồi. Tôi mỏi mệt quá lẽ. Lúc đó tôi làm hạ sĩ quan ở bộ binh, đội thứ 94 (10). Công việc của tôi là ghi tên những người hoặc tử trận, hoặc mất tích, hoặc nằm nhà thương. Tôi phải thu thập những đồ dùng của họ để gởi cho thân nhân họ, vì người ta trọng những kỷ niệm đó lắm. Tôi luôn luôn sợ vì lúng túng mà rồi lẫn lộn đáng tiếc chăng. Tôi lo lắng không biết có làm tròn phận sự không, có sống sót để về ôm đứa con một hay không - đứa con mới 6 tháng mà tôi chưa được biết mặt. Tôi lo lắng mệt nhọc tới nỗi mất 17 kí lô. Tôi hoảng hốt gần hóa điên. Tôi ngó tay tôi chỉ thấy còn da với xương. Nghĩ tới khi về nhà, thân hình tiều tụy mà sợ, khóc lóc như con nít. Tâm hồn bị rung động quá chừng, nên mỗi khi ngồi một mình là nước mắt tràn ra. Có một hồi, ít lâu sau trận Bulge (11), tôi khóc nhiều quá, không còn hi vọng gì tinh thần sẽ thư thái như xưa nữa”.
“Sau cùng tôi phải vào nằm nhà thương. Vị bác sĩ săn sóc tôi chỉ khuyên có vài lời mà làm thay đổi hẳn đời tôi. Sau khi khám kỹ cơ thể tôi, ông nhận rằng bệnh tôi thuộc loại bệnh thần kinh. «Này anh Ted, anh nên coi đời của anh như cái đồng hồ cát. Anh biết rằng phần trên đồng hồ đó có đựng hàng ngàn hột cát. Và những hột cát ấy, đều lần lần liên tiếp nhau, chui qua cái cổ nhỏ ở giữa để rớt xuống phần dưới. Không có cách gì cho nhiều hột cát chui cùng một lúc được, trừ phi là đập đồng hồ ra. Hết thảy bọn chúng ta đều như chiếc đồng hồ ấy. Buổi sáng thức dậy, ta có hàng trăm công việc phải làm trong nội ngày. Nhưng nếu chúng ta không làm từng việc một, chậm chạp, đều đều như những hột cát chui qua cái cổ đồng hồ kia, thì chắc chắn là cơ thể và tinh thần ta đồi bại mất».”
“Tôi đã theo triết lý đó từ ngày ấy. Mỗi lần chỉ có một hạt cát xuống thôi… Mỗi lần chỉ làm một việc thôi. Lời khuyên đó đã cứu thể chất và tinh thần tôi trong hồi chiến tranh, mà bây giờ còn giúp tôi trong công việc làm ăn nữa. Tôi là một viên kiểm soát số hàng dự trữ của một công ty ở Baltimore. Tôi thấy trong nghề buôn cũng có những khó khăn y như trong hồi chiến tranh: có cả chục công việc phải làm tức thì mà thời giờ rất hẹp. Nào lo làm những tờ mới, lo tính toán số dự trữ mới, nào lo những thay đổi địa chỉ, lo mở thêm hoặc đóng bớt những chi nhánh v.v… Nhưng tôi không nóng nảy và luôn luôn nhớ lời khuyên của bác sĩ: «Mỗi lần chỉ có một hột cát xuống thôi. Mỗi lần chỉ làm một việc thôi». Tôi tự nhắc đi nhắc lại câu đó và làm việc một cách rất hiệu quả, không hoảng hốt hay có cảm giác ruột rối như tơ vò nó đã làm cho tôi chết dở ở mặt trận khi xưa nữa”.
Một trong những tình trạng ghê gớm nhất của đời sống bây giờ là một nửa số bệnh nhân điều trị tại các nhà thương là những người mắc bệnh thần kinh hay loạn óc. Họ bị đè bẹp dưới sức nặng của những lo lắng về quá khứ lẫn với tương lai. Mà đại đa số những bệnh nhân đó đều có thể khỏe mạnh, đi đứng như thường, ngay từ hôm nay, sống một đời sung sướng, hay hơn nữa, một đời hữu ích nếu họ chịu nghe lời Đức Giê-su dạy: “Con đừng lo cho ngày mai”, hoặc nghe lời khuyên của William Osler: “Chia đời sống thành từng ngăn, cách biệt hẳn nhau, mỗi ngăn là một ngày”.
Bạn và tôi, ngay trong lúc này đây, chúng ta đứng tại chỗ hai cái vô tận gặp nhau: cái dĩ vãng mênh mông có từ thời khai thiên lập địa và cái tương lai nó bắt đầu từ tiếng cuối cùng mà tôi mới thốt. Chúng ta không thể sống trong cả hai cái vô tận đó được, dù là chỉ trong một phần giây. Mà hễ rán sống trong hai thời gian đó thì ta sẽ làm hại cho tinh thần và thể chất của ta liền. Vậy chúng ta hãy an phận chịu sống trong hiện tại vì ta chỉ có thể sống được trong hiện tại thôi. Robert Louis Stevenson (12) nói: “Bất kỳ ai cũng có thể làm công việc hằng ngày của mình được, dù công việc đó nặng nhọc tới bực nào đi nữa. Bất kỳ ai cũng có thể sống một cách êm đềm, trong sạch, kiên nhẫn, đầy tình thương chan chứa trong lòng, từ lúc mặt trời mọc cho tới khi mặt trời lặn. Đó, ý nghĩa của cuộc đời như vậy”.
Phải, đời chỉ đòi hỏi ta có bấy nhiêu thôi. Nhưng bà E. K. Shields ở Michigan lại thất vọng tới nỗi muốn tự tử, trước khi học được cách sống từng ngày một. Bà kể với tôi: “Năm 1937 nhà tôi mất, tôi đau đớn thất vọng lắm và gia tư gần như khánh kiệt. Tôi viết thư xin việc ông chủ cũ của tôi là ông Leon Roach ở công ty Roach Fowler và được cử làm lại việc cũ. Hồi xưa tôi đã bán sách cho các trường tỉnh và trường làng để kiếm ăn. Hai năm trước tôi bán chiếc xe hơi để lo thuốc thang cho nhà tôi. Nhưng tôi cũng ráng thu nhặt tiền nong để mua dài hạn một chiếc xe cũ rồi chở sách đi bán.
Tôi tưởng trở về nghề cũ như vậy sẽ bớt ưu phiền, tinh thần sẽ phấn khởi lên được; song tôi gần như không chịu nổi cảnh thui thủi một mình trên đường và trong quán trọ. Miền tôi bán sách dân tình nghèo khổ, ít người mua cho nên số lời không đủ để trả tiền xe.
Mùa xuân năm 1938, tôi đến bán ở gần Versailles (13). Ở đây trường học nghèo, đường xấu; tôi thấy cô đơn, thất vọng đến nỗi có lần muốn tự tử, cho rằng không sao thành công được hết. Ờ mà phải, làm sao đủ sống được? Mỗi buổi sáng khi tỉnh dậy, nghĩ tới nỗi phấn đấu với đời, tôi lo sợ đủ thứ: sợ không trả nổi tiền xe, sợ không trả nổi tiền phòng, sợ không kiếm đủ ăn, sợ rồi sẽ đau ốm không có tiền uống thuốc. Nhưng may có hai điều làm cho tôi không tự tử là nếu tôi chết thì em tôi sẽ khổ lắm và tôi không có đủ tiền để lại cho nó làm ma tôi.
Rồi một hôm ngẫu nhiên tôi đọc một bài báo nó kéo tôi ra khỏi cảnh thất vọng và khiến tôi đủ can đảm để sống. Tôi sẽ suốt đời mang ơn tác giả bài đó, người đã viết câu này: «Đối với một đạt nhân (14) thì một ngày mới là một đời sống mới». Tôi đánh máy lại câu ấy rồi dán lên tấm kính che mưa trong xe tôi, để trong khi cầm lái, lúc nào tôi cũng phải ngó tới. Từ đó tôi thấy chỉ sống từng ngày một thì đời sống không khó khăn gì cả. Tôi tập quên dĩ vãng và không nghĩ tới tương lai nữa. Mỗi buổi sáng tôi tự nhủ: «Ngày hôm nay là một đời sống mới». Nhờ vậy tôi thắng được nỗi lo sợ cảnh cô đơn, cảnh thiếu thốn, rồi tôi buôn bán phát đạt sung sướng, hăng hái và yêu đời. Bây giờ tôi biết rằng ta chỉ sống được nội ngày hôm nay thôi, không sống được thời dĩ vãng và tương lai, và «Đối với một đạt nhân thì một ngày mới là một đời sống mới»”.
Bạn có biết tác giả những câu thơ này là ai không?
Ai kia sung sướng suốt đời
Vững lòng nói được “Của tôi ngày này
Ngày mai, mặc kệ: mai ngày
Vì tôi đã sống hôm nay, đủ rồi”.
Vững lòng nói được “Của tôi ngày này
Ngày mai, mặc kệ: mai ngày
Vì tôi đã sống hôm nay, đủ rồi”.
Ý thơ có vẻ mới lắm, phải không bạn? Vậy mà câu đó, thi hào Horace đã viết 30 năm trước Thiên Chúa giáng sinh đấy.
Một trong những điều bi đát nhất là loài người có tánh muốn đẩy bỏ đời sống hiện tại đi. Hết thảy chúng ta đều mơ mộng những vườn hồng diễm ảo ở chân trời thăm thẳm mà không chịu thưởng thức những bông nở kề ngay bên cửa sổ.
Tại sao chúng ta điên như vậy? Điên một cách thê thảm như vậy?
Stephen Leacock (15) viết: “Lạ lùng thay cái chuỗi đời của ta. Con nít thì nói: «Ước gì tôi lớn thêm được vài tuổi nữa». Nhưng khi lớn vài tuổi nữa rồi thì sao? Thì lại nói: «Ước gì tôi tới tuổi trưởng thành». Và khi tới tuổi trưởng thành lại nói: «Ước gì tôi lập gia đình rồi ở riêng». Nhưng khi thành gia rồi thì làm sao nữa? Thì lời ước lại đổi làm: «Ước gì ta già, được nghỉ ngơi». Và khi được nghỉ ngơi rồi, lại thương tiếc quãng đường đời đã qua, và thấy như có cơn gió lạnh thổi trên quãng đó. Lúc ấy đã gần xuống lỗ rồi, còn hưởng được gì nữa. Khi ta biết được rằng đời sống ở trong từng ngày một, thì đã trễ quá rồi mà”.
Ông Edward S. Evans quá cố ở Detoit gần tự hủy đời ông cho tới khi ông học được rằng: “Đời sống ở trong hiện tại, ở trong ngày đang sống, trong giờ đang sống”. Sinh trong một gia đình nghèo, nghề đầu tiên của ông là bán báo rồi làm công cho một tiệm tạp hóa. Sau ông giúp việc trong một thư viện, để nuôi một gia đình 7 người. Lương ít mà không dám bỏ sở. Sau tám năm do dự, ông mới quyết định tạo lại cuộc đời. Mới ra với số vốn là 55 Mỹ kim mượn của bạn, ông phát đạt ngay và mỗi năm kiếm được 20.000 Mỹ kim (16). Rồi thì ông gặp một chuyện rủi, tai hại đến nỗi giết ông được. Ông cho một người bạn vay một số tiền lớn và người bạn đó vỡ nợ.
Rồi họa vô đơn chí: nhà ngân hàng ông gởi tiền cũng vỡ nợ. Sự nghiệp tiêu tan hết, ông còn mắc thêm món nợ 16.000 Mỹ kim nữa. Đau đớn quá, ông chịu không nổi. Ông nói: “Tôi ăn không được, ngủ không được. Tôi đau một chứng kỳ dị mà nguyên nhân chỉ là ưu phiền chứ không có chi khác. Một hôm đang đi, tôi té xỉu trên lề. Từ lúc đó tôi không cất chân được nữa. Tôi phải nằm liệt giường, mụt mọc đầy mình. Những mụt đó sưng mà không vỡ, nhức nhối quá, nằm không được. Mỗi ngày một yếu, sau cùng bác sĩ nói rằng tôi chỉ sống được hai tuần nữa thôi. Tôi lo sợ lắm, viết di chúc rồi nằm đợi chết. Từ lúc đó, tôi hết phải lo lắng, phấn đấu nữa. Tôi bỏ tuốt cả, nghỉ ngơi rồi thì yên chí đợi chết, tôi ngủ được. Đã hàng tuần trước đây, chưa bao giờ tôi ngủ được luôn hai giờ; nhưng lúc ấy biết chắc sẽ giũ sạch nợ đời, tôi ngủ li bì như một em bé. Hết lo thì tôi cũng hết mệt, ăn được và lên cân.
Vài tuần sau, tôi chống nạng đi được. Rồi sau sáu tuần tôi đi làm lại. Trước kia tôi kiếm 20.000 Mỹ kim một năm, bây giờ kiếm được mỗi tuần 30 Mỹ kim mà tôi thấy hài lòng. Tôi đã học được một bài mới, không còn lo lắng, không còn tiếc thời phong lưu trước, không lo về tương lai nữa. Tôi đem hết thời giờ, nghị lực và hăng hái để làm nghề mới của tôi”.
Thế rồi ông Edward S. Evans lại lên như diều. Chỉ trong vài năm được làm hội trưởng công ty. Những chứng khoán của công ty ông được sở Hối đoái Nữu Ước cho là có giá trị. Cho đến năm 1945 ông mất, thì đã là một trong những nhà doanh nghiệp mau phát đạt nhất ở Mỹ. Nếu bạn ngồi máy bay tới Greenland, phi cơ của bạn có thể đáp xuống phi trường Evans, một phi trường mang tên ông.
Ta phải kết luận rằng: Chắc chắn không khi nào ông Edward S. Evans được hưởng cái thú thành công như vậy, nếu ông không biết đường diệt ưu tư, nếu ông đã không học được cách chia đời sống cho ra từng ngày một, ngày này cách biệt hẳn với ngày khác.
Năm trăm năm trước khi Thiên Chúa giáng sinh, triết gia Hy Lạp Héraclite (17) bảo đệ tử rằng: “Mọi vật đều thay đổi (18). Các đệ tử không thể tắm hai lần trên một khúc sông”. Vì khúc sông mỗi giây một thay đổi mà người tắm trên khúc sông đó cũng vậy. Đời sống là một cuộc biến đổi không ngừng. Chúng ta chỉ chắc chắn một điều là ta đang sống trong hiện tại. Thế thì tại sao lại nằng nặc đòi giải quyết những vấn đề về tương lai, để làm phai mờ cái đẹp của hiện tại? Tương lai còn bị bao phủ trong những biến dịch không ngừng, những biến dịch mà không ai đoán được kia mà!
Người La Mã hồi xưa cũng có một tiếng để diễn ý đó. Thiệt ra là hai tiếng “Carpe diem”, nghĩa là “Vui ngày hôm nay đi”, hay là “Nắm lấy ngày hôm nay đi”. Phải, nắm lấy ngày hôm nay và tận hưởng cái thú của nó đi.
Đó cũng là triết lý của ông Lowell Thomas (19). Mới rồi tôi lại chơi nhà ông vài ngày và nhận thấy có hai câu này trong thánh thi (Psaume CXVIII) đóng khung treo trên tường phòng để ông được thường thấy nó.
“Ngày hôm nay là ngày Thượng Đế đã ban cho ta, ta hãy vui vẻ và sung sướng hưởng nó đi” (20).
Ông John Ruskin đặt trên bàn giấy của ông một phiến đá nhỏ trên đó có khắc hai chữ: “Hôm nay”. Tôi không có phiến đá kia trên bàn, nhưng tôi có một bài thơ dán trên tấm gương trong phòng tắm để mỗi buổi sáng tôi trông thấy một lần, khi cạo râu. Bài thơ đó do nhà soạn kịch trứ danh ở Ấn Độ là ông Kalidasa làm và ông William Osler chép lại, luôn luôn để trên bàn giấy ông:
CHÀO BÌNH MINH
Hãy chăm chú vào ngày hôm nay
Vì nó là đời sống, chính là sự sống của đời sống...
Nó tuy ngắn ngủi
Nhưng chứa tất cả chân lý về đời ta:
Sự sung sướng khi tiến phát,
Sự vẻ vang của hành động,
Sự rực rỡ của thành công.
Vì hôm qua chỉ là một giấc mộng,
Và ngày mai chỉ là một ảo tưởng,
Nhưng hôm nay, nếu sống đầy đủ, ta sẽ thấy hôm qua là một giấc mộng êm đềm,
Và ngày mai là hình ảnh của hy vọng.
Vậy ta hãy chăm chú kỹ vào hôm nay!
Lời chào bình minh của tôi là vậy đó.
Vậy phương sách thứ nhất để trị ưu phiền là bắt chước William Osler:
1. Khóa chặt dĩ vãng và tương lai lại để sống trong cái phòng kín mít của ngày hôm nay.
Tại sao bạn không tự hỏi những câu này và chép lại những lời bạn tự đáp?
1. Tôi có cái thói quên hiện tại để lo về tương lai hoặc mơ mộng “một khu vườn hồng diễm ảo ở chân trời xa xăm” không?
2. Tôi có thường nghĩ tới quá khứ mà làm cho hiện tại hóa ra chua xót không? Quá khứ đó đã qua rồi và thiệt chết rồi.
3. Sáng dậy tôi có quyết “Nắm lấy ngày hôm nay” để tận hưởng 24 giờ đó không?
4. Sống trong “cái phòng kín mít của ngày hôm nay” có lợi cho đời tôi không?
5. Và bao giờ tôi bắt đầu sống như vậy? Tuần sau?... Ngày mai?... Hay hôm nay?
__________
(1) Nguyên văn “Montréal General Hospital” (hacthu).
(2) Thomas Carlyle (1795 - 1881) là một tác giả và nhà sử học người Scotland (hacthu).
(3) Nguyên văn “Regius Professor of Medicine”. Regius Professor là một chức vụ được bổ nhiệm bởi Anh hoàng ở 6 (xưa là 7) trường đại học danh tiếng của Vương quốc Anh và Ireland (hacthu).
(4) Nguyên văn “British Empire”. Canada thời xưa (chàng sinh viên này từng học ở Montréal) thuộc Đế chế Anh (hacthu).
(5) Đầy đủ hơn phải là ngài William Osler (có nơi đề là Osier), vì về sau chàng được Anh hoàng phong tước, nên trước tên có thêm danh hiệu “Sir” (hacthu).
(6) Nguyên văn “bridge”, từ chuyên môn trong hàng hải có nghĩa là chỗ chỉ huy của thuyền trưởng (hacthu).
(7) Nguyên văn “Give us this day our daily bread” (hacthu).
(8) Tức Thế chiến II, nên nhớ sách này xuất bản lần đầu năm 1948 (hacthu).
(9) Tức The New York Times (hacthu).
(10) Nguyên văn “the 94th Infantry Division”, tức sư đoàn bộ binh 94 (hacthu).
(11) Trận đánh này diễn ra tháng 12 năm 1944 đến tháng 1 năm 1945 (hacthu).
(12) Nổi tiếng với tác phẩm Treasure Island, tức Đảo giấu vàng (hacthu).
(13) Một nơi ở Mỹ (Missouri - hacthu), đừng lộn với Versailles gần Paris (Pháp).
(14) Nguyên văn “a wise man” (hacthu).
(15) Một tác giả hài hước nổi tiếng đầu thế kỉ XX trong thế giới Anh ngữ (hacthu).
(16) Vào những năm 1910, ước tính 1 dollar Mỹ xấp xỉ bằng 20 dollar Mỹ hiện nay (hacthu).
(17) Tức Heraclitus, Héraclite là phiên âm tiếng Pháp (hacthu).
(18) Nguyên văn “everything changes except the law of change”, tức “mọi vật đều thay đổi, ngoại trừ quy luật của sự thay đổi”. Không hiểu sao dịch giả Nguyễn Hiến Lê lại lược bỏ phần sau (hacthu).
(19) Một nhà văn, nhà làm phim người Mỹ. Ông nổi tiếng với các cuốn sách và thước phim về T. E. Lawrence (1888 - 1935), góp phần làm nên tên tuổi của Lawrence với biệt danh “Lawrence of Arabia”.
(20) Nguyên văn “This is the day which the Lord hath made; we will rejoice and be glad in it” (hacthu).
Tiêu dao tự tại