Bài 1: Từ Việt văn minh Việt
Tôi là kẻ không biết chút gì về ngôn ngữ học chỉ bằng cảm tính mà viết bài này, nếu có gì không đúng mong bạn đọc lượng thứ.
Trong bài ‘đôi điều về ngôn ngữ Việt – Hoa’ tôi đã nêu: không có từ Hán Việt mà trong khối từ vựng Việt chỉ có những từ riêng của người Việt Nam và những từ dùng chung trong khối Bách Việt mà thôi. Truy nguyên nguồn gốc bằng ngôn ngữ cho chúng ta nhiều điều bất ngờ lý thú ....
1. Đất - đá tiến lên đồng.
Văn minh Trung Hoa có 3 bảo khí bằng đồng, gọi là bảo khí vì chúng là cột trụ của phần tâm linh trong văn hoá Trung Hoa.
1. Chung hay chuông đồng.
2. Đỉnh hay vạc đồng và
3. Cổ hay trống đồng.
Trong lịch sử văn minh nhân loại nguyên liệu dùng chế tạo vật dụng được coi là nấc thang đánh dấu bước thăng tiến của con người, lịch sử văn minh được phân kỳ thành thời đồ đá, thời đồ đồng, đồ sắt...
Ở nấc thang sau những vật dụng tuy đã thay đổi vật liệu dùng chế tạo ra nó và hình dạng cũng có thể thay đổi đôi chút cho phù hợp với tính chất của vật liệu mới nhưng thường được gọi bằng tên cũ như:
a- Chung - chum
Chung tức chuông mang hình dạng nguyên thủy của cái chum sành là vật dụng dùng chứa trữ thường dùng đựng nước hay ngũ cốc. Nhưng với chum đồng thì công năng đã thay đổi ... nó được treo ngược lên làm khí cụ phát ra âm thanh, tuy vẫn giữ hình dạng cũ nhưng công dụng đã khác hẳn ; những người sáng tạo ra nó căn cứ vào hình dáng vẫn gọi nó với cái tên cũ là cái chum sau âm ‘chum’ biến âm thành ‘chuông’, Hán Việt đọc là ‘chung’.
b - Vạc - vại
Vạc chỉ là đồ dùng nấu nướng thông thường trong dân gian nhưng khi dùng như khí cụ hành lễ theo nghi thức tế lễ của thiên tử thì trở thành cái đỉnh, đỉnh là vật dụng nấu đồ cúng tế trời đất của vua vì vậy đỉnh trở thành bảo khí tượng trưng cho quyền lực tối cao của hoàng đế, ai nắm giữ được 9 cái đỉnh đồng người ấy là vua thiên hạ. Từ ‘vạc’ thực ra chỉ là biến âm của ‘vại’ cũng là thứ vật dụng của người Việt bằng đất nung hay sành sứ dùng để chứa trữ.
‘Chum sành vại sành’ tiến lên biến thành ‘chuông đồng vạc đồng’ là bước nhảy hoàn toàn hợp quy luật biến đổi ngôn ngữ trong quá trình phát triển. Chum – chuông được Hán văn ký âm thành ‘Chung’, từ vạc thì giữ nguyên âm Việt, người Hoa thường gọi cái vạc bằng tên khác là đỉnh hay đảnh.
c- Cổ – cối
Sách cũ Trung hoa cho biết người Lạc Việt xưa khi có người chết thì dã cối để báo cho mọi người. Như vậy cái cối đã được dùng như 1 khí cụ âm thanh. Dân tộc học cũng cho biết người Việt không đánh trống đồng mà dã trống như dã cối vậy.
Ở Việt Nam nhiều nơi các cụ già vẫn gọi trống đồng là ‘cối đồng’. Từ ‘cối’ ký âm Hán tự biến thành ‘cổ’, từ cái cối Việt Nam khi sang bên tàu đã biến thành cổ là cái trống...
Chung, đỉnh hay vạc và đồng cổ ‘thoát thai’ từ chum đất vạị sành và cối đá đã chỉ ra: chuông đồng, đỉnh đồng và trống đồng đều là phát minh của người Việt... lý do rất đơn giản là tên gọi của nó nguyên thủy là từ Việt hay rõ hơn là từ Nôm.
2. Ấn chỉ.
Ấn là in, cái ấn là con dấu điều đó có lẽ ai cũng biết. Nhưng ít người để ý : từ ‘ấn’ là động tự Việt ngữ có nghĩa là đè xuống. Khác với quy tắc biến đổi ‘đất đá tiến lên đồng’. Ở đây hình thành quy tắc khác : động từ biến đổi thành danh từ. Trong nền văn hóa Hạ Long gần 2000 năm trước công nguyên đã tìm được nhiều con dấu dùng ̣để ‘ấn’ vào đất xét trước khi nung tạo các ‘dấu ấn’tức hoa văn trên đồ đất nung.
Khảo cổ học Việt gọi là ‘dấu Hạ Long’, về sau kỹ thuật tạo dấu ấn này được cải tiến và phổ biến trong nền văn minh Trung Hoa đã nổi tiệ́ng như 1 công cụ hữu hiệu của nền hành chánh quốc gia.
Từ đời Chu được nâng cấp biến thành điều linh thiêng : con dấu của hoàng đế gọi là ‘Ấn truyền quốc’. Dù dùng tạo ‘dấu ấn’ trên đất sét, trên lụa hay trên giấy thì kỹ thuật vẫn là khắc hoa văn ngược trên con dấu để khi ‘ấn’ xuống sẽ để lại hoa văn thuận chiều như ý muốn. Chính kỹ thuật này đã tạo ra công nghệ in sau này, chữ được khắc ngược trên miếng gỗ gọi là mộc bản sau đó phết mực và ‘ấn’ xuống lụa hay giấy tạo thành những bản in, tên của quy trình được gọi ngắn gọn là ‘ấn’ phản ánh nguyên tắc hoạt động nguyên sơ của nó.
‘Ấn’ nguyên thủy là động từ tiếng Việt đã biến thành một danh từ của Hoa ngữ, người Việt biến âm đi gọi là ‘in’ để phân biệt rõ ràng quy trình và sản phẩm. Chính từ ‘ấn’ đã xác định nơi phát minh ra ngành ‘in-ấn’ mà ứng dụng khiến thay đổi bộ mặt thế giới. Cái quy trình đơn sơ ‘ấn’̣ để tạo thành ‘dấu ấn’ chỉ mất địa vị khi kỹ thuật in laser ra đời ở cuối thế kỷ 20.
Kỹ thuật in vẫn được coi là một phát minh sáng chói của người Tàu được toàn nhân loạiốử dụng và được coi là cuộc cách mạng trong lãnh vực văn hoá thông tin, hiệu dụng của nó đã kiến tạo nên bộ mặt thế giới ngày nay.
Nhưng với khám phá từ ‘ấn’ là từ Việt hoàn toàn thì vấn đề phải xem xét lại. Chính người họ HÙNG mới là nhà phát minh vĩ đại đem lại lợi ích cho toàn thể nhân loại không phải là người Tàu như đã lầm tưởng.
Trong cuộc cách mạng văn hoá thông tin còn 1 sự kiện quan trọng không kém, đó là việc phát minh ra giấy, người Tàu gọi là ‘chỉ’, với những thông tin đang biết thì người phát minh ra cách chế tạo giấy là một người Việt tên Thái Luân, quy trình công nghệ là xay giẻ tức vải vụn với vỏ cây tươi làm chất phụ gia kết dính tạo thành giấy.
Công dụng trong đời sống đặc biệt trong lãnh vực văn hoá truyền thông thì khỏi phải bàn nữa, nó sâu rộng như thế nào chúng ta ai cũng biết. Bài viết này xin kiện chứng thông tin : giấy là phát minh của người Việt qua bằng chứng ngôn ngữ, người Việt đã dùng tên vật chất cũ là ‘giẻ’ nguyên vật liệu chính dùng chế biến để đặt tên cho vật chất mới tạo thành từ nó là ‘giấy’, người Tàu gọi là ‘chỉ’ ; 2 từ này chỉ là sự biến âm theo 2 hướng từ 1 âm gốc là ‘giẻ’.
Giẻ → gỉ →chỉ (âm Hán Việt) Giẻ→ gié→gió→ giấy (người Việt biến ‘gió’ thành tên riêng một loại giấy gọi là ‘giấy gió’)
Khi 1 sản phẩm mới ra đời ‘tên gọi’ của nó chắc chắn thuộc về ngôn ngữ của dân tộc đã sáng tạo ra sản phẩm mới đó. Điều này tự nhiên đơn giản nhưng vững chắc không thể bác bỏ ; Như vậy cùng với in-ấn ; giấy cũng là phát minh của người họ HÙNG. Sự đóng góp của tiền nhân người Việt vào tiến trình văn minh nhân loại là vô cùng to lớn, con cháu họ HÙNG ngày nay có quyền tự hào về những thành tựu trí tuệ tuyệt vời của cha ông mình.
3. Xe thuyền.
Xe thuyền là phương tiện vận chuyển người hoặc hàng hóa từ nơi này tới nơi khác 1 trên bộ và 1 dưới nước.
Xe tiếng Việt từ Hán Việt đọc là xa còn bản thân người Hoa (Quảng Đông) cũng phát âm là xe hay che ; như vậy Việt và Hoa hoàn toàn giống nhau trong cách gọị tên phương tiện vận chuyển trên bộ này, truy nguyên nguồn gốc từ ‘xe’ có thể khẳng định phát minh ra cái xe là của người Việt.
Việt ngữ có động từ ‘Xê’, nghĩa là dời đổi vị trí 1 vật, khi sáng chế ra phương tiện để dời đổi vị trí 1 vật từ nơi này đ̣ến nơi khác ở trên bộ người ta gọi nó là ‘cái xê’ có nghĩa là phương tiện thực hiện sự dời chuyển.
Ở đây động từ xê đã biến thành danh từ Xe.
• Xê→xe - xa ;
Bởi vì xê là từ thuần Việt nên xe cũng là từ Việt ; như đã nói ở phần trên bản thân tên nguyên thủy vật dụng thuộc về ngôn ngữ nào thì dân tộc đó chính là người đã sáng tạo ra nó. Tới đây thì đã có thể xác định chắc chắn cái xe là phát minh của người họ HÙNG.
Tương tự với xe, từ thuyền cũng có gốc gác Việt, từ ‘Chuyên’ trong tiếng Việt có nghĩa là đem một vật gì đi nơi khác, người Việt thường dùng đi đôi với ‘chở’ thành từ thuần Việt ‘chuyên chở’. Có vì vua thời thái cổ Trung hoa tên có thể đọc là Chuyên Húc đồng thời cũng có thể là Xuyên Húc, từ Chuyên tiếng Việt trên cũng có biến đổi như thế :
• Chuyên→ thuyên→thuyền, tiếng Quảng đọc là Thoàn.
• Chuyên→xuyên→xuông→xuồng.
Tiếng Việt miền bắc dùng chữ ‘thuyền’, miền nam dùng chữ ‘xuồng’ cùng chỉ phương tiện di chuyển trên mặt nước, với mẹ là động từ chuyên, bản thân tên gọi vật thể là thuyền hay xuồng đủ xác định nơi sinh chốn đẻ của nó là đất Việt.
Trong quá khứ đã có thời đất nước Việt to rộng vô cùng, trí tuệ người họ Hùng đã từng là đỉnh cao của nhân loại, tiền nhân chúng ta đã có sự đóng góp vô cùng lớn lao cho văn minh của loài người.
Ngày nay với tư cách là truyền nhân chính thức của dòng giống Hùng người Việt có quyền tự hào một cách chính đáng, nhưng trong niềm phấn khích vô bờ đó quan trọng hơn cả là phải làm sao khôi phục địa vị như của cha ông trước đây trong cộng đồng nhân loại..
Bài 2:
CHÍN CHÂU VÀ VĂN MINH NHÀ HẠ
Kinh thư thiên Vũ cống viết : vua Vũ chia đất thành 9 châu Ký Dự Thanh Từ Kinh Dương Cổn Ung Lương ...., địa giới chạy từ Hà Nam tới Hoàng Hải ở phía đông, phía nam xuống tới Hồ Nam Giang Tây, Chiết Giang ngày nay, giới sử học Trung Quốc ấn định 9 châu trên bản đồ :
Nhưng theo kết quả nghiên cứu khoa học tổng hợp ngày nay thì : với trình độ khoa học kỹ thuật nói chung và trình độ sản xuất lạc hậu lúc đó nói riêng thì lãnh thổ nhà Hạ phải thu hẹp ít ra hơn 10 lần, chỉ khoảng vài ba trăm ngàn km2 bên bờ Hoàng Hà ở quãng tỉnh Hà Nam – Sơn Tây là cùng.
Bản đồ lãnh thổ nhà Hạ theo khoa học lịch sử
Nhưng nếu như thế thì sự ấn định của khoa học đã phủ nhận hoàn toàn những thông tin ghi chép trong kinh Thư ?
Đọc kỹ thiên Vũ cống :
1- Lãnh thổ 9 châu nhà Hạ phía đông giáp biển, phải chăng chính từ địa hình này mà hình thành từ biển đông ngày nay ? Nếu lãnh thổ nhà Hạ bên bờ Hoàng Hà quãng Hà Nam - Sơn Tây thì làm gì có biển.
2- Phương tiện vận chuyển chính của người nhà Hạ là thủy vận. Phần lớn các châu mang cống phẩm về kinh đô đều theo đường sông đổ ra “hà”. Giới sử học Trung Quốc mặc nhiên coi ‘Hà’ là Hoàng Hà dù chẳng thấy có chữ Hoàng nào ? Rất nhiều khả năng Hà - Hồ - Hải chỉ là biến âm của nhau. Tiếng Việt có cặp số GIÊNG -HAI trong Dịch học đồng nghĩa với GIANG-HỒ ;
• Hồ → Hà, Hải.
Trăm sông đổ ra biển rất có thể chữ ‘Hà’ trong kinh THƯ này dùng để chỉ biển cả, nơi truyền thuyết Việt gọi là Động Đình Hồ ?
Những nghiên cứu khoa học ngày nay xác nhận thời cổ đại thủy vận không phát triển ở Hoa Bắc, ngược lại rất phát triển ở Đông Nam Á và Hoa Nam.
3 – Nói thật rõ ràng thì dân sống ở 9 châu nhà Hạ trồng ‘lúa nước’, kinh Thư dùng chữ Điền là ruộng lúa ; nhưng chỉ canh tác lúa nước người ta mới đắp bờ ̣để giữ nước trong ruộng. Chính hình ảnh bờ ruộng đã tạo thành đường nét của chữ Điền. Như thế từ ‘Điền’ phải hiểu chính xác và trọn vẹn là ruộng nước hay ruộng trồng lúa nước chứ không thể là ruộng chung chung...
Vùng Hoàng Hà thời Hạ trồng Kê là chính do đặc điểm địa lý khí hậu và trình độ kỹ thuật thời đó không cho phép trồng lúa nước. Ngày nay người ta đã di thực cây lúa nước lên vùng Hoàng Hà nhưng năng suất vẫn rất thấp và 1 năm chỉ trồng được 1 vụ.
4 – Lãnh thổ 9 châu nhà Hạ nằm trong vùng địa lý tự nhiên có loài VOI sinh sống vì trong những cống phấm của 9 châu có ngà voi .... Nhưng vùng ven Hoàng Hà từ cổ chí kim chưa nghe nói đến voi, mãi đến thế kỷ 15-16 khi nhận được voi cống từ miền Đông Nam Á vua Tàu còn vội vã trả lại vì sợ loài vật lạ chưa từng có nên không cho nhập vào nước Tàu.
5 – Kinh thư cho thấy trên lãnh thổ Trung hoa nhà Hạ có rất nhiều tre lớn gọi là bương hay giang hay nứa. Loài tre lớn thường mọc tự nhiên ở xứ nóng mà 9 châu nhà Hạ không những có tre mà còn có cả nền thủ công đan lát vật dụng bằng tre.
Càng về phía bắc tre càng nhỏ lại, trong tập tính sinh hoạt thì ‘tre’ không có điạ vị trong đời sống dân Hoa Bắc trái lại ở Tây Nam Trung Hoa và Việt Nam tre là loại cây vô cùng thân thiết. Người Việt có thể làm mọi thứ vật dụng cần thiết bằng tre, có thể nói không ngoa tre là nền tảng của văn hóa vật thể Việt nên rất nhiều khả năng “trúc thư” (sách thẻ tre) cũng ra đời ở đây hay nói rộng hơn và chắc hơn là : trong ‘vùng văn hóa Bách Việt’.
6 – Cây đay là cây á nhiệt đới, còn cây dâu tằm (loại mọc quanh năm) đòi hỏi độ ấm và đ̣ộ ẩm cao. Đặc điểm sinh lý loài tằm năng suất cao cũng không thích hợp với vùng Hoàng Hà, các nghiên cứu khoa học cho thấy vùng sông Tứ hay Châu Giang có thể nuôi 8 lứa tằm trong 1 năm, lên vùng Trường Giang chỉ có thể nuôi 3 lứa đến Hoàng Hà thì chỉ còn 1 lứa. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày nay còn như thế hỏi thời nhà Hạ thì 9 châu có thể nuôi tằm - dệt lụa một cách phổ biến hay không ? (nghề dệt lụa đã có từ thời Hoàng đế mấy trăm năm trước nhà Hạ).
Thông thường thì cây - con mà người ta nuôi trồng bao giờ cũng bắt đầu từ những cây con hoang dã trong thế giới tự nhiên nên nơi nào địa lý khí hậu đáp ứng tốt nhất cho điều kiện sinh lý của cây con đó thì nơi này chính là địa bàn phát sinh giống loài đó. Về sau mới phát tán theo bước chân di cư của con người, do nhu cầu thiết yếu và tập tính sinh hoạt con người vẫn nuôi trồng cây con cũ ở nơi định cư mới dù phải thu hoạch kém hơn do hoàn cảnh thiên nhiên không còn sự đáp ứng tối ưu.
7 – Trong cống phẩm của 9 châu có loại đá dùng làm khánh ; một loại nhạc cụ, kinh thư cũng viết:
• Ông Quỳ tâu với vua Thuấn: “tôi gõ vào đá, vỗ vào đá muôn loài đến nhảy hót ...”
Như vậy kinh thư cho ta thấy nền âm nhạc nhà Hạ dùng bộ gõ và nhạc cụ bằng đá, phải chăng ngày nay gọi là đàn đá ? Loại nhạc cụ độc đáo này chưa phát hiện được ở Trung Quốc nhưng ở Việt Nam có những dân tộc thiểu số hiện vẫn còn đang sử dụng và các nhà khảo cổ cũng đã tìm được những bộ đàn đá hoàn hảo xưa đến mấy ngàn năm tuổi.
8 – Kinh Thư thiên vũ cống còn nói đến cống phẩm là đá dùng làm mũi tên ; “thạo nghề cung nỏ” là đặc điểm của người Việt cổ, sách Tàu xưa đã viết như thế. Người Việt không những biết dùng cung nỏ mà còn biết nâng cấp hiệu quả của cung nỏ như làm mũi tên bằng đá để tăng khả năng xuyên thấu, đến thời đồ đồng thì thay mũi tên đá bằng mũi tên đồng. Các nhà khảo cổ Việt Nam đã tìm được nhiều hiện vật cổ là mũi tên bằng đá đúng như Kinh thư đã chép. Còn bên Tàu biết có hay không ?
Thực kỳ lạ và trớ trêu khi vùng đất Việt Nam và lân cận ngày nay vừa thoả cho điều kiện khắt khe của khoa học về quy mô - diện tích lãnh thổ lại có đầy đủ những gì của 9 châu đã ghi chép trong Thiên Vũ cống - Kinh Thư.
Chính sự kỳ lạ này là cơ sở để ‘Sử thuyết họ HÙNG’ xác định vị trí 9 châu thời vua VŨ nhà Hạ là miền Bắc và Bắc Trung Việt cộng với vùng đất lân cận ngày nay.
Bài 3: Bức thông điệp ngàn năm
Trống đồng có nhiều hình dạng, nhiều thời do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau, bài này viết về thông điệp trên mặt trống đồng NGỌC LŨ.
Mặt trống gồm 1 tâm và 3 vòng đồng tâm.
A. Tâm trống và vòng đồng tâm số 1 : nhân sinh quan VIỆT.
Tâm trống là mặt trời đang chiếu sáng, vòng tròn số 1 là cảnh sống, sinh hoạt của con người.
Tâm trống đồng luôn luôn là mặt trời, mọi kiểu trống mọi thời đại đều như thế ; điều này cho thấy có sự thống nhất và xuyên suốt nguyên tắc cơ bản trong hệ tư tưởng Việt: Mặt trời là trung tâm vũ trụ cũng chính là hình ảnh đại diện cho ‘ông trời’ siêu hình.
Ông Trời là đấng tối cao mà quyền năng chi phối tất cả nhưng lại thân thiết gần gũi như cha mẹ nên người Việt hay gọi “Trời đất ơi - cha mẹ ơi.”
Mặt trời phát ra ánh sáng cũng là phát ra sự sống, trong tiếng Việt ‘sáng’ và ‘sống’gần như là một âm. Phần hồn tức anh linh nơi con người chính là 1 phần của cái khối sáng vĩ đại ấy đến trái đất nhập vào thân xác vật chất thành ra con người sống động có thần. Thần tính ấy được quẻ Kiền gọi là Long hay con Rồng, 6 hào là hình ảnh tượng trưng của 6 giai đoạn bay lên từ đất tới trời cao.
Khi đã đi hết đoạn đường trần thế thì xác trả về cho đất hồn trở về trời chính vậy mà mặt trời với người Việt trở thành chốn linh thiêng vì tổ tiên ông bà ngự nơi đấy, quẻ Lôi địa Dự viết: ‘lôi xuất địa phấn tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức ân tiến chi thượng đế dĩ phối tổ khảo’ cũng là lẽ này ; câu dâng lên trời mà cũng là để ông bà mình hưởng đã chỉ ra : anh hồn tổ tiên đang ở chung với ông trời hay đấng tối cao...
Cuộc sống miên trường không bao giờ dứt có chăng chỉ là chuyển đổi dạng thức tồn tại từ dương sang âm mà thôi hay nói theo dân gian là chuyển địa chỉ từ dương trần sang âm phủ.
Cuộc sống vẫn tiếp nối chỉ chuyển dạng tồn tại mà thôi đấy là triết lý về sự sống - chết của người Việt đã được kinh Dịch thể hiện hay nói cách khác: tâm và vòng đồng tâm thứ nhất của mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện ‘nhân sinh quan’ của người Việt. Cuộc sống sinh động nhưng hữu hạn vì có sinh có biến đổi ắt có tử duy nhất chỉ nơi tâm vòng tròn là bất biến nên bất tử, ‘sinh’ là từ cõi Hằng bước sang cõi ‘Biến’ qua 1 thời gian dạo chơi trần thế để biết mùi ‘đời’ rồi ‘tử ’ tức là trở về nơi đã ra đi. Người đời nói ‘sinh ký tử quy’ nghĩa là vậy, nhưng ta phải luôn nhớ không phải ra đi làm sao thì trở về làm vậy, vì qua thời gian ở cõi ‘biến’ ta đã thành người khác, sáng hơn hay tối hơn là tùy những gì ta đã làm nơi dương trần với tư cách con người có ý thức và chủ động trong hành vi của mình.
Ngày ‘về’ ai cũng đè nặng trên vai 1 bao tải đựng “nghiệp” tức thành tích của mình nơi trần thế, trình diện các cụ rồi mở bao ra thấy toàn án tòa và ‘mail’ nguyền rủa của người đời thì lập tức cút xéo. Thế là vĩnh viễn trở thành kẻ thất sở thân sơ.
Với nhân sinh quan như vậy nên người Việt là dân tộc có hiếu nhất thế giới, chữ hiếu được nâng hẳn lên thành 1 tôn giáo: gọi là đạo ‘Hiếu’ hay đạo thờ ông –bà.
- Cao nhất là thờ ông ‘Thiên’ tổ của cả loài người, với quốc gia thì thờ quốc tổ, làng thì thờ ‘thành hoàng’, tộc họ thì có nhà thờ họ và trong mỗi nhà đều có bàn thờ ‘gia tiên’.
Trong nhân sinh quan người Việt thì quá khứ - hiện tại - tương lai sống và chết là sự biến đổi tiếp nối tuần hoàn không có chấm dứt. Thế nào rồi cũng có ngày phải về gặp các cụ, lúc đó ăn làm sao nói làm sao ? Chính vì vậy nên phải lo liệu ngay từ bây giờ, công đức tạo nên không phải chỉ để cho đời này mà là công đức cho mọi đời. Ngoại trừ những tay ‘siêu bịp’ thì ai được kính trọng ở đời này ắt cũng được kính trọng ở đời sau và ngược lại kẻ bị người đời nguyền rủa thì cũng sẽ bị nguyền rủa đời đời.
B. Vòng đồng tâm thứ 2 : xướng danh dân tộc.
Là người Việt không ai mà không biết huyền tích Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ con gái Động Đình Quân.
Như đã nói ở những bài trước trong sử thuyết họ HÙNG, Kinh Dương Vương nghĩa là vua phương Nam, Long Nữ hay Long Mẫu con gái Động Đình Quân vua phương Đông, sự hợp huyết 2 dòng phương Nam và phương Đông là sự hoàn tất việc đúc kết tạo nên người Việt, cũng vì lẽ này người Việt rất đỗi tự hào khi nhận mình là ‘con Rồng cháu Tiên’.
Những thông tin tạo nên tuyền thuyết này ̣đều xuất phát từ Hà thư.
Trong đồ hình Hà thư số 6 hay 6 nút trắng nằm ở phía nam, số 8 nằm ở phía đông.
Phương Nam ngoài số 6 còn có số 1 nên phương nam còn là phương của đế Tiên hay bà Vũ Tiên vì lẽ này người Việt mới nhận mình là ‘cháu Tiên’.
Theo hậu thiên bát quái phương Nam số 6 còn là phương của nước tức quẻ Khảm.
Nước tiếng Việt cổ là nác-lác → Lạc. Đây chính là từ Lạc trong Lạc Long Quân và Lạc Việt.
Trong Hậu thiên bái quái phương đông số 8 là quẻ Chấn hay Thìn tức con Rồng, Hoa ngữ là Long.
Tới đây đã rõ câu : con cháu Tiên-Rồng hay dòng giống Lạc - Long là chỉ sự hợp nhất giữa 2 dòng người họ Hùng ở phương Nam số 6 và phương Đông 8 theo Hà thư vào thời Hùng Việt Vương - Tuấn lang. Mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện những thông tin lịch sử này ở vòng tròn thứ 2 bởi nửa vòng tròn khắc hình 6 con chim và 10 con nai và nửa vòng tròn còn lại là 8 con chim và 10 con nai. Ở đây tiền nhân người Việt đã sử dụng những nút số của Hà thư, đặc biệt số 10 lại không được coi là 10 (số chẵn) mà coi như là 2 số 5 là số lẻ.
Các nút trắng - chẵn của Hà thư được thay thế bằng hình Chim và nút đen - lẻ được thay thế bằng con nai.
Nhìn lại Hà thư với các nút chẵn :
10 con nai và 6 con chim chỉ người họ Hùng phương nam: con cháu của Kinh Dương Vương.
10 con nai và 8 con chim chỉ người họ Hùng phương Đông con cháu của Long Nữ hay Long Mẫu.
Ý nghĩa thể hiện ở vòng tròn đồng tâm thứ 2 trên mặt trống đồng chính là sự tự xưng danh của chủ nhân trống đồng Ngọc Lũ, dân tộc ấy chính là dòng giống Tiên - Rồng hay Lạc - Long, Tiên - Long. Xác lập bởi các cặp số số (6/10) và số (8/10).
Nếu không có số 10 chỉ dùng số 6 và số 8 sẽ bị hiểu là : người nước ngoài ở phía nam và ̣đông nước ta ;
Người Việt xưa đã thêm mẫu số 10 để nói rõ đấy là : người cùng dòng giống HÙNG thuộc chi Trung - Nam và chi Trung- Đông.
C. Vòng đồng tâm thứ 3 : ước vọng Dân tộc trường tồn.
Vòng đồng tâm thứ 3 của mặt trống đồng có tổng cộng 18 cặp chim, mỗi cặp có 1 chim lớn đang tung cánh bay và 1 con chim nhỏ đang tung tăng trên mặt đất, từng cặp như vậy nói lên sự nối tiếp liên tục hễ tre già thì măng mọc, cha mẹ già khuất núi thì con cháu lớn lên cứ như thế mà tiếp nối mãi.
Trong Dịch học Chim Hạc hay Hồng hạc là chữ của Điểu thú văn chỉ Trời cao, thời gian và những yếu tố văn hóa phi vật thể, Hà → hạc.
Con nai Hoa ngữ là Lộc biến âm của lục là số 6 cũng là Đất cũng là chữ điểu thú văn dùng chỉ : đất, không gian và những yếu tố văn hóa hữu hình hữu thể.
Trong 18 đời Hùng vương thì Hùng Việt Vương - Tuấn Lang chính là Sơn Tinh hay Tản Viên Sơn Thánh Quốc Chúa Đại Vương. ‘Tuấn’ là tên chữ ký âm của ‘Tản’ tiếng Việt.
Sơn Tinh cũng là 1 Kinh Dương vương (canh=6, giêng = 1) nghĩa là chúa phương nam vì trong Tiên thiên bái quái quẻ Cấn là sơn - núi chỉ phương nam.
Truyền thuyết nói Kinh dương vương kết duyên cùng Long nữ như đã xác định ở vòng tròn thứ 2 mặt trống đồng Ngọc Lũ phải chăng là nói về sự thống nhất dòng Tiên và Rồng để tạo ra ‘dòng giống tiên Rồng’ ở triều đại Hùng Việt Vương – Tuấn Lang ? ( xin xem Sử thuyết họ HÙNG ), từ người VIỆT bắt đầu có từ đây.
Những cặp chim ở vòng tròn thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là loài chim DIỆC.
DIỆC là phát âm của người nam bộ, âm bắc là VIỆT. Chính là từ Việt trong đế hiệu Hùng Việt Vương - Tuấn Lang ?
Số 9 là cửu, cửu cũng có nghĩa là lâu dài, 18 là trùng cửu ( 9x2 ) đồng âm với trường cửu nghĩa là mãi mãi bất tận. Điều này xin đừng vội cho là cưỡng ép vô lối vì chính người Hoa cũng hay dùng lối đồng âm gán nghĩa này như : họ kiêng số 4 vì đọc là tứ cận âm với tử là chết, bạn cũng đừng ngạc nhiên khi họ tặng bạn chiếc quan-tài vì quan ở đây được hiểu là sự thăng quan tiến chức, tài hiểu là tấn tài tấn lộc nghĩa là chúc có thêm tiền ....
Chim diệc ̣đang tung cánh bay là chỉ dân tộc Việt trong vòng thời gian.
Mỗi cặp chim 1 trưởng thành 1 còn non chỉ sự nối tiếp kế thừa.
18 cặp là Trùng cửu (2 lần 9) cũng là trường cửu.
Vòng đồng tâm thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ với 18 cặp̣ chim Diệc là bản văn ngắn gọn nhưng rất rõ ràng :
“DÂN TỘC VIỆT ĐỜI SAU NỐI ĐỜI TRƯỚC CỨ NHƯ THẾ TỒN TẠI MÃI MÃI”
Tới đây thì ta hiểu rõ tại sao vua Đông Hán ra lệnh cho mặt ngựa (Mã Diện hay Viện) tịch thu và phá hủy cho bằng hết trống đồng của người Việt ; ý đồ của chúng là biến người Việt thành đám con hoang không cội nguồn đồng thời chặt đứt ước nguyện trường tồn của dân tộc này. Nhưng trời cao có mắt...
Việc giải mã được những thông tin chứa trên mặt trống đồng Ngọc lũ đưa đến hệ qủa hết sức quan trọng với người Việt :
1. ‘Con Rồng cháu Tiên’ không còn là truyền thuyết lịch sử mà chính thức trở thành lịch sử, một lịch sử được ghi chép rõ ràng trên sách ‘đồng’ bằng ngôn ngữ Dịch học đã phổ biến - lưu truyền 3000 năm nay.
2. Truyền thuyết lịch sử Việt không phải chỉ có 1 chuyện ‘con rồng cháu tiên’ mà là cả 1 hệ thống những truyền thuyết tương đối hoàn chỉnh chứa đựng những thông tin của 1 thời gian dài mà ngày nay gọi là thời tiền sử. Chỉ cần minh xác được 1 đoạn trong cái chuỗi thông tin liên hoàn ấy cũng đủ để ta lượng giá về tính xác thực của cả hệ thống truyền thuyết lịch sử đang lưu truyền.
3. Lịch sử và văn minh Việt có liên hệ ‘máu thịt’ với dịch lý từ khi người Hán chưa đặt chân tới mảnh đất này, những trống đồng cổ nhất có đến 3000 năm tuổi đã trở thành vật chứng chắc chắn - rõ ràng nhất giúp khẳng định : Dịch lý là thành tựu trí tuệ tuyệt vời của tiền nhân người Việt ngày nay ..
Bài 4: Kinh Dịch và mái nhà VIỆT
Mái nhà cong là 1 nét đặc trưng của văn hóa vật thể Á đông; Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và những nơi chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa có kiến trúc phần mái nhà cong tạo nên 1 miền văn hóa khác hẳn với những nơi khác.
Mái nhà cong tiêu biểu của điện tam thế chùa Bái Đính - Ninh Bình - Việt Nam.
Mái cong ở Thành cổ Lạc dương Trung Hoa
Tại sao mái nhà lại cong lên và kiểu mái cong độc đáo đó xuất phát từ đâu là những câu hỏi được đặt ra từ lâu nhưng mãi tới nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Theo cảm tính người ta thường gọi đó là mái nhà Trung Hoa có thực như thế không ? Nếu quả thực người Trung Hoa đã sáng tạo ra kiểu mái nhà cong đó thì vẫn còn phải xem xét vì ngược về quá khứ ngàn năm trên phần đất Trung Quốc ngày nay có 2 thành phần cư dân khác biệt nhau cả về nhân chủng lẫn nền tảng văn hóa: người Bách Việt phía nam và những sắc dân thuộc chủng Mongoloid ở phía bắc; Như vậy ai đã sáng tạo ra nét văn hóa này?
Suy nghĩ bình thường thì Mái nhà cong không xuất phát từ công dụng thực sự, mái cong không làm tốt chức năng của cái mái nhà hơn là mái phẳng ngoài ra với những nét cong thì mái nhà về mặt kỹ thuật khó thi công hơn nhiều và chắc chắn về mặt kinh tế nó tốn kém hơn cái mái nhà phẳng, như vậy là: xét các mặt công dụng, kỹ thuật và kinh tế đều không phải là nguyên do. Thế tại sao mái nhà Á đông vẫn cứ cong, các góc của mái cứ chỉa lên trời một cách kỳ lạ.
Tìm hiểu sâu hơn về văn hóa Á đông sẽ nhận ra:
Những Điều sau đây khẳng định người Hoa Nam và người Đông Nam Á chính là chủ thể sáng tạo ra nét văn hóa mái nhà cong độc đáo:
• Mái nhà cong đã được khắc họa trên trống đồng hàng ngàn năm trước công nguyên khi người Hán và văn hóa Hán chưa bén mảng đến vùng đất Đông Nam Á.
Nhà cổ mái cong khắc trên trên trống đồng.
Ngày nay trong những dân tộc sống tương đối cô lập so với tiến trình văn minh chung ở Đông Nam Á không hề có chút liên hệ với văn minh Trung Hoa vẫn còn bảo lưu nét văn hóa truyền thống mái nhà cong độc đáo.
Mái nhà cong ở Batak indonesia.
Tìm hiểu rộng rãi hơn có thể khẳng định không phải chỉ những nước theo văn hóa Trung hoa mới có mái nhà cong mà những nước đông nam Á theo văn hóa Ấn Độ như Miến Thái Lào .v.v. cũng có mái nhà cong nhưng không phải cong thực sự mà nét cong được thể hiện bằng hoa văn tháp gắn vào...
Mái nhà cong hoa văn ở 1 ngôi Chùa Thái.
Có thể nói Đây là nét văn hóa có cơ tầng sâu thăm thẳm trong trong tâm trí cư dân Đông Nam Á bao gồm cả Hoa Nam, sự phổ quát 1 nét văn hóa chung trên 2 cộng đồng người mà hiện nay cho là hoàn toàn khác nhau trong tiến trình lịch sử là điều rất khó hiểu, phải chăng Đông Nam Á và Hoa Nam ở thời tiền sử là 1 khu vực thống nhất về dân tộc và văn minh ? Những Hình khắc trên trống đồng và mái nhà cong của những dân tộc thiểu số ở Đông Nam Á đã khiến không thể suy nghĩ khác được, dựa vào ‘hình hài’ cái mái nhà dù là cong thực hay cong hoa văn thì vẫn là đường nét để người ta thể hiện điều gì đó, nói lên ý nghĩa nào đó ...
Khi nguyên do khiến cho cái mái nhà Á đông cong lên không tìm được trong các khía cạnh vật chất thì chỉ còn con đường tìm trong chủ đạo văn hóa của cư dân nơi đó.
Phải chăng đường nét cong đã khắc họa trong chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn để rồi thể hiện ra trên vật thể tạo tác bởi bàn tay con người?
Dịch lý là nền tảng tư tưởng của người Hùng Việt, nơi người Việt những nguyên lý Dịch học chi phối hoàn toàn não bộ khi suy tư và mọi kiến giải về sự biến đổi trong vũ trụ bao la đều mang dấu ấn của dịch học, tự nhiên như nước chảy ra từ khe đá không cần ‘vận’ chi cả mà vẫn ‘dụng’ được cứ như là từ khi cha sinh mẹ đẻ não bộ đã được lập trình sẵn nên không cần học mà vẫn biết vẫn dùng hằng ngày. Ví dụ như khi mong cho con ‘khôn lớn’ ... là đã dụng Dịch rồi vì Khôn - lớn là ý của 2 quẻ Càn và Khôn.
Trong ngôn ngữ Việt chỉ 1 từ kép đơn giản như ‘che-chở’ thôi đã chứa ý nghĩa rất thâm sâu của dịch lý: Che là bảo bọc chở là nâng đỡ, trời che - đất chở cho người tức Thiên ở trên Địa ở dưới Người ở giữa chính là Tam tài của dịch học. Trong 1 cái nhà thì phần mái để che là thuộc về Trời quẻ Kiền, phần sàn hay nền nhà thuộc về Đất qủe Khôn, quan niệm của Dịch lý là Thiên viên - Địa phương hay trời tròn - đất vuông, trời nét cong đối xứng với đất nét thẳng ...
Có nhà nghiên cứu cho là mái nhà cong mang dáng dấp của cái thuyền giống như hình thuyền khắc trên trống đồng. Điều này khó chấp nhận vì chức năng của thuyền là ‘chở’ như thế thuộc về địa mang nét thẳng làm sao có thể lộn ngược đất thành trời được.
Qua những gì đã xem xét có thể kết luận không sợ nhầm lẫn:
Chính do quan niệm triết lý ‘tròn - vuông’, trời nét cong đối với đất nét thẳng mà mái nhà của người Hùng Việt cong lên hướng về Trời, có thể nói mái nhà Á đông và Đông Nam Á là sản phẩm văn hóa vật chất mang nặng dấu ấn Dịch học, nét văn hóa mái nhà cong độc đáo này đã khởi phát từ đất tổ của họ Hùng sau mới lan toả rộng ra chung quanh cụ thể là cả vùng Đông Nam Á và những nơi ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa đế quốc Trung Hoả.
Hợp cùng với trống Đồng mái nhà cong trở thành bằng chứng vật chất không thể phủ nhận: chính người họ Hùng đã phát minh Dịch học làm nền tảng cho văn minh phương Đông trong đó muôn vàn ứng dụng làm ích cho con người đều phát ra từ cái gốc Dịch Lý.
Người Việt ngày nay có quyền tự hào về những thành tựu trí tuệ tuyệt vời của cha ông nhưng đồng thời cũng phải nghiêm chỉnh dốc sức thực hiện lời căn dặn ghi trong kinh Dịch: “Kế minh chiếu tứ phương” sao cho cơ đồ của cha ông ngày một thêm rạng rỡ.
Bài 5: Nôm na là cha mách qué .
Trong thành ngữ tiếng Việt có câu: “ Nôm na là cha mách qué” xưa nay nhiều người biết, nhiều người dùng nhưng ý nghĩa thực của câu này là gì ? Chưa thấy có ai giải thích cặn kẽ.
Tìm hiểu kỹ mới thấy câu ‘’Nôm na là cha mách qué’ có nghĩa rất đặc biệt ; chính là câu thần chú giúp ta mở cánh cửa vào toà lâu đài Dịch học.
Xin giải nghĩa :
• Nôm là biến âm của ‘Nam’ chỉ nước Việt người Việt. Từ Nôm trong câu này chỉ chữ Nôm, từ Nôm hay âm Nôm nói chung ý trong câu là chỉ tiếng nói của người Việt Nam. Ngày nay thường hiểu từ Nam là chỉ riêng người Việt Nam; thực ra đây là từ chỉ chung cả khối ‘Bách Việt’, thời Nguyên Mông đại để thì người phía bắc sông Dương tử gọi là người Hán, phía nam Dương Tử gọi là người Nam. Na tức ‘na ná’ nghĩa là gần giống với.
• Cha đồng nghĩa với thày cũng có thể hiểu là thày dạy học, người chỉ dẫn.
• Mách là chỉ bảo, chỉ dẫn nghĩa như trong mách bảo, mách nước .v.v.
• Qué ở đây biến âm của từ Quái trong Hoa ngữ hay quẻ trong tiếng Việt chỉ 8 quẻ căn bản của Dịch học, quẻ đơn là Kiền Đoài ly Chấn tốn khảm Cấn Khôn.
Tóm lại nghĩa của câu ‘Nôm na là cha mách qué’ là: Na ná hay gần giống với từ Nôm là thày chỉ bảo về ý nghĩa các quẻ Dịch.
Có thể viện dẫn :
1. Quẻ Kiền hay Càn chỉ sức mạnh hay sự to lớn có gốc từ tiếng Việt là ‘cồng - kềnh’ hay ‘ kềnh càng’.
2. Quẻ Đoài, đoài là biến âm của điều hay đào tức màu đỏ.
3. Quẻ Ly biến âm của quẻ ‘lửa’ tượng trưng cho sức nóng, ánh sáng và mặt trời.
4. Quẻ Chấn, Chấn là biến âm của ‘sấm’ Hoa ngữ là Lôi.
5. Quẻ Tốn hay Toán tức tính - toán trong tiếng Việt chữ cổ còn gọi là tán.
6. Quẻ Khảm còn gọi là Cống, thực ra là ‘cóng’ tiếng Việt thường dùng từ kép ‘lạnh cóng’.
7. Quẻ Cấn còn gọi là căn nghĩa tiếng Việt là ‘cán’ là cái để nắm lấy mà điều khiển như cán dao, cán cuốc .v.v.
8. Quẻ Khôn chỉ sự khôn ngoan nơi con người, chỉ khả năng nhận xét của não bộ tức khả năng nhìn nhận và phán đoán sự việc.
Xem xét kỹ thì : Không chỉ riêng Bát quái mà Thập can cũng do ‘Nôm na’ mà ra như:
Giáp - chắc trong chắc chắn.
Ất - óp như trong óp ép.
Bính - bấn, bấn loạn.
Đinh - đanh cứng như đanh .
Mậu - mẹ.
Kỷ - cả.
Canh - canh (nước), cánh, cạnh, cành, chỉ trục ngang.
Tân - tâng, tưng, tung lên chỉ trục đứng.
Nhâm - nhũn, nhung (mềm như nhung)
Quý hay Khang - khăng, khăng khăng không đổi.
Thực kỳ lạ tên các thành tố của Dịch học như Thập can, Bát quái... không mang 1 ý nghĩa gì trong Hoa ngữ, nó thuần là các tên để gọi mà thôi. Ngược lại khi ‘Nôm na’ thì ý nghĩa Dịch lý lại nằm ngay chính trong tên gọi của nó. (xin đọc Dịch học họ HÙNG). Thậm chí những từ khoá trong nguyên lý cơ bản “sinh sinh chi vị dịch” cũng có gốc từ ‘Nôm na’ mà ra : “thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái ...” ; cực nghi tượng quái... đều là những ‘đặc từ’ chỉ dùng trong dịch học phải có công ‘tu luyện’ mới thấu đáo.
Ngược lại khi dùng ‘nôm na pháp’: “1 cục hay cuộc sinh 2 ngôi, 2 ngôi sinh 4 tạng hay dạng, 4 tạng sinh 8 quả”. Rồi cả 3 toà 5 hình 9 chỗ thì ra tất cả là những danh từ thông thường dùng trong cuộc sống hàng ngày người ‘bình dân’ ai gặp cũng hiểu ngay chẳng phải là ‘đặc ngữ đặc từ’ chi cả ; có thể nói : khi ‘Nôm na’ thì Dịch học rất gần gũi đời sống thường nhật của con người trái hẳn với Dịch học siêu đẳng của Hoa ngữ: nói toàn chuyện trên mây như chỉ dành cho các bậc thánh triết mà trên cõi đời này hỏi có được mấy vị ? Ngược lại bọn buôn thần bán thánh kiếm sống dựa dẫm vào thứ Dịch học ‘siêu đẳng’ này thì đông đến tám tạ thiên khênh ....
Tóm lại dựa vào yếu tố ngôn ngữ có thể khẳng định : Kinh Dịch chứa đựng những hiểu biết về sự vận động và biến đổi của mọi vật trong Không và Thời gian là thành tựu trí tuệ của người NAM hay Bách Việt mà chi duy nhất còn lại đại diện cho cả dòng giống là Lạc Việt tức người Việt Nam ngày nay.
Bài 6: Giải mã chữ VIỆT bộ Mễ.
Chữ VIỆT tên nước do Triệu Đà lập ra ở Quảng đông là chữ Việt bộ mễ 粵 ; cấu tạo bởi chữ mễ 米 đóng khung đặt trên chữ Việt. 粤
Đó là cách nhìn thông thường ngày nay.
Còn 1 cách nhìn khác mang tính địa lý lịch sử khá quan trọng đối với lịch sử Trung Hoa. Mổ xẻ chữ Việt bộ mễ để giải mã :
粤
* Phần đầu.
粤
Với những vật hình tròn mang số 6 và số 9 thường phải có 1 dấu hiệu để xác định đầu trên tránh sự lẫn lộn giữa 2 số.
Tương tự như vậy phía trên khung hình vuông của chữ Việt bộ Mễ cũng có 1 nét bút nhằm xác định hướng mặt trời, nếu đặt đứng thì hướng về thiên đỉnh, còn khi đặt nằm thì đầu quay về hướng Xích đạo.
* Phần thân.
Người xưa với quan niệm “trời tròn đất vuông” nên một lãnh thổ hay 1 miền đất luôn được biểu diễn bằng 1 hình vuông và để chỉ vùng trung tâm người ta thêm vào các đường nam - bắc, đông - tây và đường nối 4 góc, giao điểm của các đường này gọi là GIAO CHỈ hay CHỖ GIỮA, những đường nối này được mô phỏng thành nét chữ Mễ.
* Phần chân :
Bộ phận dưới cùng là chữ VIỆT dùng xác định âm đọc.
Tách phân tự dạng chữ Việt bộ Mễ như trên gợi ra:
1. Ý thứ nhất.
Khi đặt chữ Việt bộ mễ nằm ngang theo trục Bắc- Nam ta nhận ra được cách thức người xưa đã dùng để cấu tạo nên nó ; hết sức thực tiễn và giản đơn :
Nước VIỆT có trung tâm nằm ở phía nam GIAO CHỈ chính là thông tin mang trong lòng chữ VIỆT bộ MỄ, chùm thông tin này được cô đọng thành nước NAM VIỆT.
Có thể xem đây chính là sơ đồ xác định vị trí trên quả đất Quốc gia do Triệu Đà khai lập. Từ khám phá này kết hợp với những thông tin về việc khai quật lăng mộ của Triệu Văn Đế ở Quảng Đông ta khẳng định:
Đất NAM GIAO và GIAO CHỈ trong cổ thư Trung Hoa là có thực.
Hướng BẮC - NAM xưa thời Triệu Đà nay đã bị đảo ngược : bắc thành nam và nam thành bắc.
Điều này tưởng là việc ‘nhỏ’ nhưng thực ra không nhỏ chút nào vì làm sao xử lý cả núi thông tin về các nước hay quốc gia trong cổ sử Trung Hoa ? Nước nào cũng có các thông tin về địa lý nam giáp, bắc giáp... bây giờ lộn ngược tất cả thì làm sao định vị được trên bản đồ ?
2. Ý thứ nhì.
Chữ Việt 粵 cũng dùng trong danh hiệu Hùng Việt Vương - Tuấn Lang vì vua tổ của vương quốc họ Hùng, chữ Việt ở đây là tên triều đại hay như truyền thuyết Việt gọi là : ‘đời’ Hùng Vương.
Nước vẫn là một Hữu Hùng quốc tức nước của người họ Hùng,Việt Vương - Tuấn Lang là vua sáng nghiệp truyền thuyết dùng làm danh xưng chỉ cả đời hay triều đại Hùng Vương thứ 8, là triều đại bản lề chuyển mình từ : thời lập quốc bước sang thời vương quốc, từ thời : tiền sử sang Sơ sử.
Cấu tạo chữ Việt như đã tách phân xem xét ý tứ ở trên :
Việt 粵 là cái rìu, cái búa đẽo chỉ là mượn âm để đọc.
Chữ mễ 米 đặt trong cái khung vuông chỉ trung tâm 1 vùng đất :
Thực ra đây chỉ là sự biến hình tạo chữ từ hình vẽ nơi giao cắt của các đường kẻ nối 4 phương 8 hướng chỉ nơi mà Việt ngữ gọi là ‘chỗ giữa’, Hoa văn biến thành ‘Giao Chỉ’.
粵
Liên Kết 2 phần biểu âm và biểu ý nhận ra Ý nghĩa thứ nhì chữ Việt bộ Mễ :
Việt là tên 1 triều đại (đời Hùng vương thứ 8 Hùng Việt vương – Tuấn Lang) của vương quốc trung tâm (Giao Chỉ) thiên hạ .
Bài 7: Hà thư và văn minh VIỆT.
1. Những con số thiêng của người Việt.
Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng con số 18 trong 18 đời HÙNG vương là con số thiêng.
Sử thuyết họ HÙNG đã minh xác đó là con số thực của lịch sử Việt, 18 triều đại Hùng Vương với những thông tin tuy chưa đầy đủ nhưng cũng đã có thể lấy làm căn cứ để trên cái nền ấy tiếp tục đào sâu bổ chứng thông tin biến sử thuyết thành Lịch sử họ HÙNG ; Lịch sử của quốc gia lâu đời nhất trên hành tinh này.
Không phải số 18 nhưng Trong văn minh họ HÙNG có những con số thiêng khác, những con số gắn liền với dân tộc và rất đặc biệt những con số này đều xuất phát từ Hà thư - Lạc đồ tức Thiên thư - địa đồ hiểu theo ngôn từ hiện nay :
Hãy xem.
Số 100.
Là người Việt chẳng có ai không biết chuyện bố Rồng mẹ Tiên và bọc trăm trứng, người họ HÙNG gọi nhau là “đồng bào” thực thiêng liêng và huyền nhiệm, “Bách Việt” cũng xuất phát từ huyền tích này. Cả không và thời gian mênh mông được tóm thâu vào 100 nút số của Hà - Lạc dân gian gọi là ‘khoanh’ và ‘đốm’, người xưa đã khéo chuyển những ý niệm lung linh mờ ảo uyên thâm của triết học thành hình ảnh rất dân giã rất đời thường: 100 quả trứng, Hà 55 và Lạc 45 quả, 100 quả trứng Hà - Lạc nở thành người là sự khởi đầu của dòng giống HÙNG. Thực ra không có con người ‘vật thể’ nào chui ra từ trứng cả nhưng tất cả người họ HÙNG ‘phi vật thể’ đều từ đó mà ra.
Hà thư và Lạc đồ chính là khởi nguyên của tri thức trong màn đêm tăm tối thời ‘ăn hang ở lỗ’ thánh nhân họ HÙNG đã khái quát hóa được những hình ảnh trực quan thành hệ thống dấu hiệu con người bắt đầu tư duy về sự biến hóa đổi thay trong thế giới vật chất bằng những mối tương quan của dấu hiệu 1 thế giới hoàn toàn mới được hình thành. Đó là “thế giới thông tin”.
Hà thư - Lạc đồ là cái nền của tri thức. Đấy mới là ý nghĩa đích thực của câu chuyện Rồng –Tiên trăm trứng mà chỉ riêng người họ HÙNG mới thấu suốt.
Số 5.
Đế Minh cháu 3 đời của vua Thần nông tuần du đến Ngũ Lĩnh gặp một nàng tiên kết thành vợ chồng và sinh ra Lộc Tục, Lộc tục sau là Kinh Dương Vương vì vua đầu tiên của nước Việt. Nhiều nhà nghiên cứu ḷịch sử căn cứ vào truyền thuyết này mà cho là quê hương ban đầu của người Việt tận Ngũ Lãnh ở Hồ Nam Trung Quốc.
Với dịch học họ HÙNG thì Lạc đồ cũng là địa đồ, số 5 ở trung tâm của Lạc đồ chính là Ngũ lĩnh trong truyền thuyết ; ‘ngũ lãnh’ chỉ nghĩa là vùng đất chính giữa thiên hạ không phải là tên riêng.
Lãnh thổ của 1 nước tuỳ theo vận nước thịnh suy mà có lúc nở ra và cũng có khi thu hẹp lại ; biên cương thay đổi thì ‘Ngũ lãnh’ cũng đổi theo, lại còn tùy theo sắc tộc nào là chủ thể của triều đại mà Ngũ lãnh cũng thay đổi, ngũ lãnh của nhà Chu không phải là ngũ lãnh của nhà Thương... Trong văn minh Trung Hoa thì quốc thổ Trung Hoa xưa được gọi là ‘Thiên hạ’ , ngũ lãnh là trung tâm của thiên hạ nên khi nói Ngũ lãnh thì phải nói ngũ lãnh của nước nào - thời nào - triều nào, ngũ lãnh thời đế Minh vua khai quốc người Việt tuần du dứt khoát không phải là ngũ lãnh ở Hồ Nam Trung Quốc.
Mỗi thời có mỗi ngũ lãnh, số 5 chỉ là con số thiêng tượng trưng cho vùng trung tâm quốc thổ. Không hề có một Ngũ lãnh tên riêng vĩnh cửu. Xin đừng hoài công theo đuổi mãi một giả thuyết lịch sử Việt không có hồi kết.
Số 15.
Số 5 trung tâm Lạc đồ chỉ vùng chính giữa tứ phương thiên hạ thì số 15 trung tâm Hà thư chỉ cộng đồng người là chủ vùng đất chính giữa ấy, truyền thuyết nói vua Hùng đóng đô ở Phong châu chia nước thành 15 bộ ; một số nhà nghiên cứu sửa thành 15 bộ lạc hay bộ tộc và còn có người đang cố gắng xác định cụ thể những bộ lạc ấy trên đất Việt Nam.
Thực ra 15 là con số thiêng, thiêng tức là không có thực mà đó chỉ là dấu hiệu tượng trưng cho dòng giống Hùng thuở khai quốc ; số 15 không chỉ một tập thể của những cá nhân mà chỉ một cộng đồng người đã được tổ chức thành 1 thực thể chính trị tức cộng đồng ấy đã vượt qua thời liên minh bộ lạc với các tộc trưởng để bước sang thời vương quốc của vua HÙNG.
Trung tâm Hà thư cũng là trung tâm của Ngũ hành nơi điều khiển - kiểm soát toàn bộ qúa trình tương tác - diễn biến của sự vật. Con số 15 là số thiêng ý nói: cộng đồng người họ HÙNG là thành phần chính yếu cai quản và dẫn dắt toàn thiên hạ.
Hà thư và Lạc đồ hai đồ hình của dịch học nút số đã để lại dấu ấn đậm nét trên lịch sử và văn minh người họ HÙNG bằng những con số thiêng:
Số 100 là biểu tượng của dòng giống HÙNG.
Số 5 tượng trưng cho lãnh thổ nhà HÙNG.
Số 15 chỉ một thực thể chính trị gọi là nhà nước hay quốc gia họ HÙNG với sự lãnh đạo của các HÙNG Vương.
Điều kỳ lạ không hiểu nổi là : tại sao lại có sự liên quan giữa các nút số của Hà - Lạc và nền văn minh người họ HÙNG tiền nhân của người Việt ngày nay ?
2 - Thủ lãnh Việt và Hà thư.
Trong bài ‘Tản mạn về ngôn ngữ Việt –Hoa’ trước đây đã nói đến 5 tước của qúy tộc Trung Hoa.
o Không - 0 - Công
o Hầu - 2 - hai
o Bá - 3 - ba
o Tử - 4 - tư
o Nam - 5 - năm
Đây không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên vì bên cạnh sự việc này còn nhiều điều khác. Nhìn vào tâm Hà thư ở trên.
Cũng như màu vàng của ngũ sắc, tâm của Hà thư có địa vị chí tôn chi phối toàn cục, các dịch tượng khác phải thông qua nó mới có thể tương tác tạo ra diễn trình biến đổi sự vật nên những dịch tượng trung tâm của đồ hình dịch học được người Việt vận dụng tạo thành những từ chỉ THỦ LÃNH của cộng đồng.
Dù chỉ thấy có hai số 5 và 10 thực ra tâm Hà thư có tới 3 con số nhưng vì là dịch học nút số nên không thể biểu diễn số ‘không’ bằng các nút được. Tương tự như với màu vàng trong ngũ sắc : Vàng → vương, chuyển ngữ sang Hán văn là ‘hoàng’
3 con số của tâm Hà thư cũng có sự liên quan rất kỳ lạ với cách gọi các thủ lãnh của người Việt :
Số 0.
‘không’ biến âm thành tước công đã biết nhưng ‘không’ còn có từ đồng nghĩa là ‘vô’, trước đây cứ ngỡ ‘vô’ là từ Hán Việt nhưng nay với điều ‘vô’ biến âm thành ‘vua’ thì phải xét lại rất có thể đấy là 1 từ Việt cổ nay không còn dùng ?
Vua là từ cao qúy nhất trong các từ dùng chỉ thủ lãnh, Hán văn ký âm VUA thành VŨ.
Trong lịch sử Trung Hoa chỉ vị thủ lãnh nào có công khai sáng 1 quốc gia hay 1 triều đại mới được mang tước hiệu là VUA, công ở đây là công với quốc dân còn phường dã tâm “tranh bá đồ vương” chỉ biết việc chiếm đoạt ngôi vị thì không được gọi là vua. Người họ HÙNG suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước duy nhất có 1 HÙNG VŨ người Việt gọi là vua HÙNG, trong truyền thuyết 18 đời Hùng vương được chép là đời Hùng vương thứ 5:Hùng Vũ vương - Hiền Đức Lang xác định ngài là vị Hùng vương khai quốc. Còn trong lịch sử Trung Quốc thì ông “Vũ” có vị thế rất cao trọng, ông không những là tổ nhà Hạ mà còn là tổ của tất cả các vương triều Trung Hoa.
Số 5.
Năm biến âm thành lăm rồi biến thành lang [5] năm→ lăm → lang.
Trước đây cứ ngỡ từ LANG là từ chỉ thủ lãnh của những dân tộc Mường, Thái Nay với sự soi sáng của Hà thư thì rõ ràng vô là từ Việt chính tông.
Lang không những là thủ lãnh của người Việt mà qua trung gian của âm ‘Long’ là con rồng trong Hoa ngữ. Lang còn bước vào chễm chệ ngự trên ngai vàng của đấng con trời Trung Hoa.
Hậu Hán thư có đọan ngắn nói đến Lạc Việt: con trai vua gọi là ‘quan lang’ con gái vua là ‘mỵ nương’. Và thật lạ lùng các con trai vua nhà Đường cũng được gọi là LANG: đại lang, nhị lang, tứ lang .v.v. hay là nhà Đường Trung Hoa học theo văn minh Lạc Việt xưa ?
Sử Trung Quốc không biết vô tình hay cố ý mà rất nhiều chữ ‘Lang’ bị đổi thành chữ ‘nam’ nghĩa là phương nam, 1 từ chỉ thủ lãnh bị thay bằng từ chỉ phương hướng gây nên sự nhiễu loạn lịch sử ghê gớm sai lầm chồng chất lên sai lầm khiến cả 1 thời gian dài người họ Hùng không nhận ra chính mình.
Người Mông Cổ chia dân trên đất Trung Quốc bị chiếm đóng thành dân của ‘hãn’ và dân của ‘lang’, đám sử gia mắt kèm nhèm chép thành dân Hán và dân Nam. Văn Lang biến thành Vân Nam, đất Hải Lang biến thành Hải Nam, Chu Lang Thiệu Lang biến thành Chu Nam Thiệu Nam rồi chuyển ngữ thành Chu Công Thiệu Công.... Như thế hỏi còn ai có thể nhận ra nổi lịch sử Trung Hoa thực, hơn nữa đây không phải là trường hợp duy nhất...
Trong Hán sử còn có :
o Nhiều chữ ‘quan’ nghĩa là nom (nhìn-trông) bị thay bằng chữ quang là sáng sủa, từ ‘nom’ trong Việt ngữ cũng chính là nam tức phương nam, Quan vũ là vua nước ở phương nam biến thành Quang Vũ - tên riêng của vua Đông Hán. Nước Quan 1 nước chư hầu phương nam của nhà Ân biến thành nước Quang lơi khơi không nghĩa ngọn gì.
Tương tự kiểu ‘thất bổn’ này với Chữ ‘tiếp’ nghĩa trong tiếng Việt là ‘chạm vào nhau’ đồng nghĩa với giáp, dân gian thường nói kép ‘tiếp – giáp’. Trong ngôn ngữ dịch học thì tiếp là điểm giao giữa 2 chu kỳ trước và sau, trong một ngày là lúc nửa đêm, một năm là ngày đông chí về phương hướng là chính nam ; không hiểu sao trong cổ thư Trung Quốc nhiều chữ ‘tiếp’ bị biến thành ‘tiết’ như: đế Tiếp ý chỉ thủ lãnh của đất phương nam bị biến thành đế Tiết - tên riêng. (Theo cổ sử thì Tiết là tên ông tổ của dân Trung Hoa phương nam).
Trong 64 quẻ trùng thì cặp quẻ đối ứng ‘Tiếp - Hoán’ bị biến thành ‘Tiết - Hoán’. Tiếp còn có nghĩa là gặp gỡ, có gặp gỡ thì mới trao đổi (Hoán) được chứ, 2 vật không chạm (tiếp) vào nhau thì làm sao trao đổi (Hoán) nhiệt ? Ý nghĩa của cặp quẻ Tiếp-Hoán rõ ràng như thế còn ‘Tiết – Hoán’ thì xin chịu thua không hiểu nổi.
Số 10.
Số 10 mười trong hệ thống số đếm Việt nam còn được gọi là CHỤC.
Chục → chủ rồi thành ‘chúa’ sang tiếng Thái - Lào là ‘chậu’, hiện người dân quanh thành Cổ Loa xưa vẫn cho là thành có tên là “thành chủ”. Thực ra gọi là thành chủ nghĩa là thành của vua đồng nghĩa với hoàng thành chứ nào phải tên riêng. Các vua Chiêm thành ký âm Hoa ngữ thành Chế Mân, Chế Củ, Chế Bồng Nga v.v. tưởng đâu Chế là 1 họ của người Chăm nhưng khi so sánh về âm với các từ Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Tiên... triều Nguyễn Việt Nam mới vỡ lẽ Chế Mân nghĩa là vị chúa vị chủ tên là Mân ...
Đặc biệt do ảnh hưởng của vị trí trung tâm Hà thư nên ngoài nghĩa ‘thủ lãnh’ số 5 năm và 10 - chục trong văn minh Việt còn biến âm thành những từ khác khá lý thú :
o 5- năm →lăm → lang → làng
o 10 – chục → chủ → chạ
Với câu vè khá nổi tiếng của người Việt ’’trình làng trình chạ’’ thì làng và chạ có nghĩa là 1 cộng đồng người, là đơn vị hành chánh cơ sở của quốc gia, làng và chạ biến thành Làng - xã ngày nay. Nhưng với câu ’’ăn lang ngủ chạ’’ thì lang và chạ lại mang nghĩa là chốn công cộng nơi chung chạ tức của chung mọi người.
Những nút số của Hà đồ- Lạc thư đã có mặt trong sách ‘Hoàng đế nội kinh tố vấn’ nghĩa là tuổi đời của Hà - Lạc ít nhất cũng bằng tuổi Hoàng đế (đế màu vàng) Viêm đế (đế phương nóng) cách nay 5000-6000 năm, thời điếm này thì dân tộc Trung Hoa còn là 1 nhóm nhỏ sống lanh quanh ở mảnh đất cỏn con bên bờ Hoàng Hà.
Người họ Hùng lập quốc ở vùng đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh cũng đã 5000-6000 ngàn năm nay dĩ nhiên từ ‘vua’ cũng xuất hiện cùng thời điểm ấy còn các từ ‘lang và chạ’ chỉ thủ lãnh thời bộ tộc chắc tuổi còn cao hơn nhiều thậm chí có thể đến cả vạn năm. Hai dân tộcâhi nền văn minh cách nhau vạn dặm tại sao lại có sự tương thông như thế : người Việt tạo từ chỉ thủ lãnh dân tộc mình dựa trên 3 nút số của tâm Hà thư Trung Hoa.
Thực kỳ lạ ! Không thể có sự giải thích nào khác hơn là xem xét lại toàn bộ lịch sử cổ đại Việt và Hoa.
Bài 8: Kim chỉ nam.
Trong bài ‘đôi điều về ngôn ngữ Việt – Hoa’ tôi đã nêu: không có từ Hán Việt mà trong khối từ vựng Việt chỉ có những từ riêng của người Việt Nam và những từ dùng chung trong khối Bách Việt mà thôi. Truy nguyên nguồn gốc bằng ngôn ngữ Kim chỉ nam cho chúng ta nhiều điều bất ngờ lý thú ....
Sự đóng góp có tính quyết định của kim chỉ nam vào việc hình thành bộ mặt thế giới ngày nay không ai có thể phủ nhận....
‘Kim chỉ nam’ là cụm từ thuần Việt ngữ, ý nghĩa rất rõ ràng: cái kim có đầu chỉ hướng nam (ngày xưa theo Dịch lý ngược với ngày nay). Người Hán coi ‘chỉ nam’ là tên tức danh từ riêng nên khi dịch sang Hán văn đã để nguyên chỉ ký âm thành ‘Chỉ nam châm’. Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ khẳng định kim chỉ nam là phát minh của người họ Hùng vì nếu là phát minh của người Tàu thì tên gọi đã là 'tư nam châm' hoặc ‘Nam chỉ châm’ (chỉ = hướng về là trạng từ) chứ không thể là ‘chỉ nam châm’. Kim chỉ nam là phát minh của tiền nhân người Việt như vậy 4 phương trời đương nhiên là từ Việt mà gốc gác được xác định bằng ý nghĩa mang trong các đồ hình Dịch lý.
Phương Bắc.
Biến âm của bức - nóng chỉ hướng Xích đạo (Việt Nam và Trung Quốc đều ở bắc
bán cầu), xích là màu đỏ biến âm thành ‘sóc’ nghĩa là phương bắc, ngày nay lộn ngược chỉ hướng lạnh lẽo của địa cực ...
Phương Nam.
Biến âm của ‘non-yếu’ ngược với lớn mạnh, non cũng là ‘núi’ là hình tượng của quẻ Cấn trấn phương Nam trong Bát quái tiên thiên. Ngôn ngữ Môn-Khơme là B’nâm, Nam trong Thái ngữ là sông nước cũng là dịch tượng của phương nam ; người Việt gọi là Nác→ nước.
Nam cũng là ‘nom’ là hướng nhà vua nhìn về theo lễ chế Trung Hoa vì nơi ấy có ‘thần’ và ‘dân’ của vua. Người Tàu dịch thành ‘quan’, như vậy ‘quan’ phải là hướng NAM nhưng trôi dần theo những biến cố lịch sử ngày nay ‘quan’ biến thành phương bắc, Quan thoại = bắc phương thoại ....
Phương Tây.
Riêng tư người việt còn gọi là ‘riêng tây’ nghĩa là cá nhân hay riêng mỗi con người. Tây cũng là số 4 trấn phương tây trong đồ hình Hà thư, Hoa ngữ đọc là Tứ đồng âm với tử là chết vì phương tây là hướng mặt trời lặn, ‘tư’ còn có ngĩa là suy nghĩ vì theo hậu thiên bát quái quẻ Ly tức lý lẽ trấn phương tây. Riêng với văn minh Việt phương tây còn gọi là phương Đoài hay Đoạt, từ kép ‘quyết định’ hay ‘định đoạt’ đều xuất phát từ dịch tượng này của phương tây về sau rút gọn chỉ còn 1 chữ ‘quyết’.
Phương Đông.
Số đông hay đám đông là sự đối phản với riêng - tây, Hà thư đặt phía tây là phương của cá thể, 1 tinh thần trong 1 thể xác thành 1 con người ; ở đây dịch học xem xét mối tương tác của các dịch tượng ở tầm vi mô, ngược lại phía đông là cộng đồng người được xem xét ở tầm vĩ mô mang tính trường cửu trong thời gian, sợi chỉ xuyên suốt nối kết con người là tình cảm tượng trưng bởi quẻ Khảm nghịch với quẻ Lý của phương tây, tình cảm là sự thương yêu hay từ ái nên ‘thương’ hay ‘ái-yêu’ trở thành tên gọi khác của phương đông. Lịch sử Trung Hoa đặt cơ sở trên Dịch lý nên có triều Thương đất ở phía đông, ngược với nhà Chu hay Chiêu ở phía tây.
Xét trên khía cạnh khác phương đông mang tính động như ta thường nói ‘Chấn động’ ngược lại với phương tây là tịnh hay định. Chấn động ngôn ngữ bình dân Việt gọi là ‘rung rinh’.
Kim chỉ nam truyền sang phương tây chưa rõ vào thời gian nào đã mang theo cả 4 phương nên rất có thể tên gọi phương hướng trong Anh ngữ ngày nay là ký âm latinh tên gốc 4 phương của ‘Bách Việt ngữ’.
1. Sóc phương ký âm thành South
2. Nác hay nước thành north
3. Quyết thành west
4. Ái thành east
Ngoài ra còn phương đông là Orient ký âm của Rung hay Rinh chỉ phương đông theo dịch học.
Ở bắc bán cầu South=Sóc chỉ hướng xích đạo hay nóng bức khớp đúng với viêm thiên trong cửu thiên ; đây là sự chỉ dẫn rõ ràng: phương bắc nay đã lộn ngược thành phương nam.(Sóc là phương bắc)
North=nước = nam hay nậm nghĩa là sông nước theo Thái ngữ; B’nâm trong ngôn ngữ Môn khơme là núi -non, cả sông và núi trong dịch học là quẻ Khảm và Cấn đều là dịch tượng của phương Nam đối nghịch với Hồ-hải quẻ Đoài chỉ phương bắc, chữ Nho âm ‘Sơn’ và ‘Xuyên’ rất gần nhau và là đồng âm của ‘sông’ tiếng Việt đã khẳng định gốc gác dịch lý trong sự kiến tạo những từ này. Nhưng thực là khó hiểu khi ngày nay north = nước – non lại biến thành phương bắc.
Sự lộn ngược bắc - nam có hệ quả vô cùng lớn là thay đổi toàn bộ những thông tin địa lý- lịch sử Trung Hoa. Vị trí tất cả các nước trong cổ sử đều phải xem xét xác định lại như thế cũng đồng nghĩa với việc phải viết lại lịch sử Trung Hoa.
Bài 2:
CHÍN CHÂU VÀ VĂN MINH NHÀ HẠ
Kinh thư thiên Vũ cống viết : vua Vũ chia đất thành 9 châu Ký Dự Thanh Từ Kinh Dương Cổn Ung Lương ...., địa giới chạy từ Hà Nam tới Hoàng Hải ở phía đông, phía nam xuống tới Hồ Nam Giang Tây, Chiết Giang ngày nay, giới sử học Trung Quốc ấn định 9 châu trên bản đồ :
Nhưng theo kết quả nghiên cứu khoa học tổng hợp ngày nay thì : với trình độ khoa học kỹ thuật nói chung và trình độ sản xuất lạc hậu lúc đó nói riêng thì lãnh thổ nhà Hạ phải thu hẹp ít ra hơn 10 lần, chỉ khoảng vài ba trăm ngàn km2 bên bờ Hoàng Hà ở quãng tỉnh Hà Nam – Sơn Tây là cùng.
Bản đồ lãnh thổ nhà Hạ theo khoa học lịch sử
Nhưng nếu như thế thì sự ấn định của khoa học đã phủ nhận hoàn toàn những thông tin ghi chép trong kinh Thư ?
Đọc kỹ thiên Vũ cống :
1- Lãnh thổ 9 châu nhà Hạ phía đông giáp biển, phải chăng chính từ địa hình này mà hình thành từ biển đông ngày nay ? Nếu lãnh thổ nhà Hạ bên bờ Hoàng Hà quãng Hà Nam - Sơn Tây thì làm gì có biển.
2- Phương tiện vận chuyển chính của người nhà Hạ là thủy vận. Phần lớn các châu mang cống phẩm về kinh đô đều theo đường sông đổ ra “hà”. Giới sử học Trung Quốc mặc nhiên coi ‘Hà’ là Hoàng Hà dù chẳng thấy có chữ Hoàng nào ? Rất nhiều khả năng Hà - Hồ - Hải chỉ là biến âm của nhau. Tiếng Việt có cặp số GIÊNG -HAI trong Dịch học đồng nghĩa với GIANG-HỒ ;
• Hồ → Hà, Hải.
Trăm sông đổ ra biển rất có thể chữ ‘Hà’ trong kinh THƯ này dùng để chỉ biển cả, nơi truyền thuyết Việt gọi là Động Đình Hồ ?
Những nghiên cứu khoa học ngày nay xác nhận thời cổ đại thủy vận không phát triển ở Hoa Bắc, ngược lại rất phát triển ở Đông Nam Á và Hoa Nam.
3 – Nói thật rõ ràng thì dân sống ở 9 châu nhà Hạ trồng ‘lúa nước’, kinh Thư dùng chữ Điền là ruộng lúa ; nhưng chỉ canh tác lúa nước người ta mới đắp bờ ̣để giữ nước trong ruộng. Chính hình ảnh bờ ruộng đã tạo thành đường nét của chữ Điền. Như thế từ ‘Điền’ phải hiểu chính xác và trọn vẹn là ruộng nước hay ruộng trồng lúa nước chứ không thể là ruộng chung chung...
Vùng Hoàng Hà thời Hạ trồng Kê là chính do đặc điểm địa lý khí hậu và trình độ kỹ thuật thời đó không cho phép trồng lúa nước. Ngày nay người ta đã di thực cây lúa nước lên vùng Hoàng Hà nhưng năng suất vẫn rất thấp và 1 năm chỉ trồng được 1 vụ.
4 – Lãnh thổ 9 châu nhà Hạ nằm trong vùng địa lý tự nhiên có loài VOI sinh sống vì trong những cống phấm của 9 châu có ngà voi .... Nhưng vùng ven Hoàng Hà từ cổ chí kim chưa nghe nói đến voi, mãi đến thế kỷ 15-16 khi nhận được voi cống từ miền Đông Nam Á vua Tàu còn vội vã trả lại vì sợ loài vật lạ chưa từng có nên không cho nhập vào nước Tàu.
5 – Kinh thư cho thấy trên lãnh thổ Trung hoa nhà Hạ có rất nhiều tre lớn gọi là bương hay giang hay nứa. Loài tre lớn thường mọc tự nhiên ở xứ nóng mà 9 châu nhà Hạ không những có tre mà còn có cả nền thủ công đan lát vật dụng bằng tre.
Càng về phía bắc tre càng nhỏ lại, trong tập tính sinh hoạt thì ‘tre’ không có điạ vị trong đời sống dân Hoa Bắc trái lại ở Tây Nam Trung Hoa và Việt Nam tre là loại cây vô cùng thân thiết. Người Việt có thể làm mọi thứ vật dụng cần thiết bằng tre, có thể nói không ngoa tre là nền tảng của văn hóa vật thể Việt nên rất nhiều khả năng “trúc thư” (sách thẻ tre) cũng ra đời ở đây hay nói rộng hơn và chắc hơn là : trong ‘vùng văn hóa Bách Việt’.
6 – Cây đay là cây á nhiệt đới, còn cây dâu tằm (loại mọc quanh năm) đòi hỏi độ ấm và đ̣ộ ẩm cao. Đặc điểm sinh lý loài tằm năng suất cao cũng không thích hợp với vùng Hoàng Hà, các nghiên cứu khoa học cho thấy vùng sông Tứ hay Châu Giang có thể nuôi 8 lứa tằm trong 1 năm, lên vùng Trường Giang chỉ có thể nuôi 3 lứa đến Hoàng Hà thì chỉ còn 1 lứa. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày nay còn như thế hỏi thời nhà Hạ thì 9 châu có thể nuôi tằm - dệt lụa một cách phổ biến hay không ? (nghề dệt lụa đã có từ thời Hoàng đế mấy trăm năm trước nhà Hạ).
Thông thường thì cây - con mà người ta nuôi trồng bao giờ cũng bắt đầu từ những cây con hoang dã trong thế giới tự nhiên nên nơi nào địa lý khí hậu đáp ứng tốt nhất cho điều kiện sinh lý của cây con đó thì nơi này chính là địa bàn phát sinh giống loài đó. Về sau mới phát tán theo bước chân di cư của con người, do nhu cầu thiết yếu và tập tính sinh hoạt con người vẫn nuôi trồng cây con cũ ở nơi định cư mới dù phải thu hoạch kém hơn do hoàn cảnh thiên nhiên không còn sự đáp ứng tối ưu.
7 – Trong cống phẩm của 9 châu có loại đá dùng làm khánh ; một loại nhạc cụ, kinh thư cũng viết:
• Ông Quỳ tâu với vua Thuấn: “tôi gõ vào đá, vỗ vào đá muôn loài đến nhảy hót ...”
Như vậy kinh thư cho ta thấy nền âm nhạc nhà Hạ dùng bộ gõ và nhạc cụ bằng đá, phải chăng ngày nay gọi là đàn đá ? Loại nhạc cụ độc đáo này chưa phát hiện được ở Trung Quốc nhưng ở Việt Nam có những dân tộc thiểu số hiện vẫn còn đang sử dụng và các nhà khảo cổ cũng đã tìm được những bộ đàn đá hoàn hảo xưa đến mấy ngàn năm tuổi.
8 – Kinh Thư thiên vũ cống còn nói đến cống phẩm là đá dùng làm mũi tên ; “thạo nghề cung nỏ” là đặc điểm của người Việt cổ, sách Tàu xưa đã viết như thế. Người Việt không những biết dùng cung nỏ mà còn biết nâng cấp hiệu quả của cung nỏ như làm mũi tên bằng đá để tăng khả năng xuyên thấu, đến thời đồ đồng thì thay mũi tên đá bằng mũi tên đồng. Các nhà khảo cổ Việt Nam đã tìm được nhiều hiện vật cổ là mũi tên bằng đá đúng như Kinh thư đã chép. Còn bên Tàu biết có hay không ?
Thực kỳ lạ và trớ trêu khi vùng đất Việt Nam và lân cận ngày nay vừa thoả cho điều kiện khắt khe của khoa học về quy mô - diện tích lãnh thổ lại có đầy đủ những gì của 9 châu đã ghi chép trong Thiên Vũ cống - Kinh Thư.
Chính sự kỳ lạ này là cơ sở để ‘Sử thuyết họ HÙNG’ xác định vị trí 9 châu thời vua VŨ nhà Hạ là miền Bắc và Bắc Trung Việt cộng với vùng đất lân cận ngày nay.
Bài 3: Bức thông điệp ngàn năm
Trống đồng có nhiều hình dạng, nhiều thời do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau, bài này viết về thông điệp trên mặt trống đồng NGỌC LŨ.
Mặt trống gồm 1 tâm và 3 vòng đồng tâm.
A. Tâm trống và vòng đồng tâm số 1 : nhân sinh quan VIỆT.
Tâm trống là mặt trời đang chiếu sáng, vòng tròn số 1 là cảnh sống, sinh hoạt của con người.
Tâm trống đồng luôn luôn là mặt trời, mọi kiểu trống mọi thời đại đều như thế ; điều này cho thấy có sự thống nhất và xuyên suốt nguyên tắc cơ bản trong hệ tư tưởng Việt: Mặt trời là trung tâm vũ trụ cũng chính là hình ảnh đại diện cho ‘ông trời’ siêu hình.
Ông Trời là đấng tối cao mà quyền năng chi phối tất cả nhưng lại thân thiết gần gũi như cha mẹ nên người Việt hay gọi “Trời đất ơi - cha mẹ ơi.”
Mặt trời phát ra ánh sáng cũng là phát ra sự sống, trong tiếng Việt ‘sáng’ và ‘sống’gần như là một âm. Phần hồn tức anh linh nơi con người chính là 1 phần của cái khối sáng vĩ đại ấy đến trái đất nhập vào thân xác vật chất thành ra con người sống động có thần. Thần tính ấy được quẻ Kiền gọi là Long hay con Rồng, 6 hào là hình ảnh tượng trưng của 6 giai đoạn bay lên từ đất tới trời cao.
Khi đã đi hết đoạn đường trần thế thì xác trả về cho đất hồn trở về trời chính vậy mà mặt trời với người Việt trở thành chốn linh thiêng vì tổ tiên ông bà ngự nơi đấy, quẻ Lôi địa Dự viết: ‘lôi xuất địa phấn tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức ân tiến chi thượng đế dĩ phối tổ khảo’ cũng là lẽ này ; câu dâng lên trời mà cũng là để ông bà mình hưởng đã chỉ ra : anh hồn tổ tiên đang ở chung với ông trời hay đấng tối cao...
Cuộc sống miên trường không bao giờ dứt có chăng chỉ là chuyển đổi dạng thức tồn tại từ dương sang âm mà thôi hay nói theo dân gian là chuyển địa chỉ từ dương trần sang âm phủ.
Cuộc sống vẫn tiếp nối chỉ chuyển dạng tồn tại mà thôi đấy là triết lý về sự sống - chết của người Việt đã được kinh Dịch thể hiện hay nói cách khác: tâm và vòng đồng tâm thứ nhất của mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện ‘nhân sinh quan’ của người Việt. Cuộc sống sinh động nhưng hữu hạn vì có sinh có biến đổi ắt có tử duy nhất chỉ nơi tâm vòng tròn là bất biến nên bất tử, ‘sinh’ là từ cõi Hằng bước sang cõi ‘Biến’ qua 1 thời gian dạo chơi trần thế để biết mùi ‘đời’ rồi ‘tử ’ tức là trở về nơi đã ra đi. Người đời nói ‘sinh ký tử quy’ nghĩa là vậy, nhưng ta phải luôn nhớ không phải ra đi làm sao thì trở về làm vậy, vì qua thời gian ở cõi ‘biến’ ta đã thành người khác, sáng hơn hay tối hơn là tùy những gì ta đã làm nơi dương trần với tư cách con người có ý thức và chủ động trong hành vi của mình.
Ngày ‘về’ ai cũng đè nặng trên vai 1 bao tải đựng “nghiệp” tức thành tích của mình nơi trần thế, trình diện các cụ rồi mở bao ra thấy toàn án tòa và ‘mail’ nguyền rủa của người đời thì lập tức cút xéo. Thế là vĩnh viễn trở thành kẻ thất sở thân sơ.
Với nhân sinh quan như vậy nên người Việt là dân tộc có hiếu nhất thế giới, chữ hiếu được nâng hẳn lên thành 1 tôn giáo: gọi là đạo ‘Hiếu’ hay đạo thờ ông –bà.
- Cao nhất là thờ ông ‘Thiên’ tổ của cả loài người, với quốc gia thì thờ quốc tổ, làng thì thờ ‘thành hoàng’, tộc họ thì có nhà thờ họ và trong mỗi nhà đều có bàn thờ ‘gia tiên’.
Trong nhân sinh quan người Việt thì quá khứ - hiện tại - tương lai sống và chết là sự biến đổi tiếp nối tuần hoàn không có chấm dứt. Thế nào rồi cũng có ngày phải về gặp các cụ, lúc đó ăn làm sao nói làm sao ? Chính vì vậy nên phải lo liệu ngay từ bây giờ, công đức tạo nên không phải chỉ để cho đời này mà là công đức cho mọi đời. Ngoại trừ những tay ‘siêu bịp’ thì ai được kính trọng ở đời này ắt cũng được kính trọng ở đời sau và ngược lại kẻ bị người đời nguyền rủa thì cũng sẽ bị nguyền rủa đời đời.
B. Vòng đồng tâm thứ 2 : xướng danh dân tộc.
Là người Việt không ai mà không biết huyền tích Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ con gái Động Đình Quân.
Như đã nói ở những bài trước trong sử thuyết họ HÙNG, Kinh Dương Vương nghĩa là vua phương Nam, Long Nữ hay Long Mẫu con gái Động Đình Quân vua phương Đông, sự hợp huyết 2 dòng phương Nam và phương Đông là sự hoàn tất việc đúc kết tạo nên người Việt, cũng vì lẽ này người Việt rất đỗi tự hào khi nhận mình là ‘con Rồng cháu Tiên’.
Những thông tin tạo nên tuyền thuyết này ̣đều xuất phát từ Hà thư.
Trong đồ hình Hà thư số 6 hay 6 nút trắng nằm ở phía nam, số 8 nằm ở phía đông.
Phương Nam ngoài số 6 còn có số 1 nên phương nam còn là phương của đế Tiên hay bà Vũ Tiên vì lẽ này người Việt mới nhận mình là ‘cháu Tiên’.
Theo hậu thiên bát quái phương Nam số 6 còn là phương của nước tức quẻ Khảm.
Nước tiếng Việt cổ là nác-lác → Lạc. Đây chính là từ Lạc trong Lạc Long Quân và Lạc Việt.
Trong Hậu thiên bái quái phương đông số 8 là quẻ Chấn hay Thìn tức con Rồng, Hoa ngữ là Long.
Tới đây đã rõ câu : con cháu Tiên-Rồng hay dòng giống Lạc - Long là chỉ sự hợp nhất giữa 2 dòng người họ Hùng ở phương Nam số 6 và phương Đông 8 theo Hà thư vào thời Hùng Việt Vương - Tuấn lang. Mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện những thông tin lịch sử này ở vòng tròn thứ 2 bởi nửa vòng tròn khắc hình 6 con chim và 10 con nai và nửa vòng tròn còn lại là 8 con chim và 10 con nai. Ở đây tiền nhân người Việt đã sử dụng những nút số của Hà thư, đặc biệt số 10 lại không được coi là 10 (số chẵn) mà coi như là 2 số 5 là số lẻ.
Các nút trắng - chẵn của Hà thư được thay thế bằng hình Chim và nút đen - lẻ được thay thế bằng con nai.
Nhìn lại Hà thư với các nút chẵn :
10 con nai và 6 con chim chỉ người họ Hùng phương nam: con cháu của Kinh Dương Vương.
10 con nai và 8 con chim chỉ người họ Hùng phương Đông con cháu của Long Nữ hay Long Mẫu.
Ý nghĩa thể hiện ở vòng tròn đồng tâm thứ 2 trên mặt trống đồng chính là sự tự xưng danh của chủ nhân trống đồng Ngọc Lũ, dân tộc ấy chính là dòng giống Tiên - Rồng hay Lạc - Long, Tiên - Long. Xác lập bởi các cặp số số (6/10) và số (8/10).
Nếu không có số 10 chỉ dùng số 6 và số 8 sẽ bị hiểu là : người nước ngoài ở phía nam và ̣đông nước ta ;
Người Việt xưa đã thêm mẫu số 10 để nói rõ đấy là : người cùng dòng giống HÙNG thuộc chi Trung - Nam và chi Trung- Đông.
C. Vòng đồng tâm thứ 3 : ước vọng Dân tộc trường tồn.
Vòng đồng tâm thứ 3 của mặt trống đồng có tổng cộng 18 cặp chim, mỗi cặp có 1 chim lớn đang tung cánh bay và 1 con chim nhỏ đang tung tăng trên mặt đất, từng cặp như vậy nói lên sự nối tiếp liên tục hễ tre già thì măng mọc, cha mẹ già khuất núi thì con cháu lớn lên cứ như thế mà tiếp nối mãi.
Trong Dịch học Chim Hạc hay Hồng hạc là chữ của Điểu thú văn chỉ Trời cao, thời gian và những yếu tố văn hóa phi vật thể, Hà → hạc.
Con nai Hoa ngữ là Lộc biến âm của lục là số 6 cũng là Đất cũng là chữ điểu thú văn dùng chỉ : đất, không gian và những yếu tố văn hóa hữu hình hữu thể.
Trong 18 đời Hùng vương thì Hùng Việt Vương - Tuấn Lang chính là Sơn Tinh hay Tản Viên Sơn Thánh Quốc Chúa Đại Vương. ‘Tuấn’ là tên chữ ký âm của ‘Tản’ tiếng Việt.
Sơn Tinh cũng là 1 Kinh Dương vương (canh=6, giêng = 1) nghĩa là chúa phương nam vì trong Tiên thiên bái quái quẻ Cấn là sơn - núi chỉ phương nam.
Truyền thuyết nói Kinh dương vương kết duyên cùng Long nữ như đã xác định ở vòng tròn thứ 2 mặt trống đồng Ngọc Lũ phải chăng là nói về sự thống nhất dòng Tiên và Rồng để tạo ra ‘dòng giống tiên Rồng’ ở triều đại Hùng Việt Vương – Tuấn Lang ? ( xin xem Sử thuyết họ HÙNG ), từ người VIỆT bắt đầu có từ đây.
Những cặp chim ở vòng tròn thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là loài chim DIỆC.
DIỆC là phát âm của người nam bộ, âm bắc là VIỆT. Chính là từ Việt trong đế hiệu Hùng Việt Vương - Tuấn Lang ?
Số 9 là cửu, cửu cũng có nghĩa là lâu dài, 18 là trùng cửu ( 9x2 ) đồng âm với trường cửu nghĩa là mãi mãi bất tận. Điều này xin đừng vội cho là cưỡng ép vô lối vì chính người Hoa cũng hay dùng lối đồng âm gán nghĩa này như : họ kiêng số 4 vì đọc là tứ cận âm với tử là chết, bạn cũng đừng ngạc nhiên khi họ tặng bạn chiếc quan-tài vì quan ở đây được hiểu là sự thăng quan tiến chức, tài hiểu là tấn tài tấn lộc nghĩa là chúc có thêm tiền ....
Chim diệc ̣đang tung cánh bay là chỉ dân tộc Việt trong vòng thời gian.
Mỗi cặp chim 1 trưởng thành 1 còn non chỉ sự nối tiếp kế thừa.
18 cặp là Trùng cửu (2 lần 9) cũng là trường cửu.
Vòng đồng tâm thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ với 18 cặp̣ chim Diệc là bản văn ngắn gọn nhưng rất rõ ràng :
“DÂN TỘC VIỆT ĐỜI SAU NỐI ĐỜI TRƯỚC CỨ NHƯ THẾ TỒN TẠI MÃI MÃI”
Tới đây thì ta hiểu rõ tại sao vua Đông Hán ra lệnh cho mặt ngựa (Mã Diện hay Viện) tịch thu và phá hủy cho bằng hết trống đồng của người Việt ; ý đồ của chúng là biến người Việt thành đám con hoang không cội nguồn đồng thời chặt đứt ước nguyện trường tồn của dân tộc này. Nhưng trời cao có mắt...
Việc giải mã được những thông tin chứa trên mặt trống đồng Ngọc lũ đưa đến hệ qủa hết sức quan trọng với người Việt :
1. ‘Con Rồng cháu Tiên’ không còn là truyền thuyết lịch sử mà chính thức trở thành lịch sử, một lịch sử được ghi chép rõ ràng trên sách ‘đồng’ bằng ngôn ngữ Dịch học đã phổ biến - lưu truyền 3000 năm nay.
2. Truyền thuyết lịch sử Việt không phải chỉ có 1 chuyện ‘con rồng cháu tiên’ mà là cả 1 hệ thống những truyền thuyết tương đối hoàn chỉnh chứa đựng những thông tin của 1 thời gian dài mà ngày nay gọi là thời tiền sử. Chỉ cần minh xác được 1 đoạn trong cái chuỗi thông tin liên hoàn ấy cũng đủ để ta lượng giá về tính xác thực của cả hệ thống truyền thuyết lịch sử đang lưu truyền.
3. Lịch sử và văn minh Việt có liên hệ ‘máu thịt’ với dịch lý từ khi người Hán chưa đặt chân tới mảnh đất này, những trống đồng cổ nhất có đến 3000 năm tuổi đã trở thành vật chứng chắc chắn - rõ ràng nhất giúp khẳng định : Dịch lý là thành tựu trí tuệ tuyệt vời của tiền nhân người Việt ngày nay ..
Bài 4: Kinh Dịch và mái nhà VIỆT
Mái nhà cong là 1 nét đặc trưng của văn hóa vật thể Á đông; Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và những nơi chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa có kiến trúc phần mái nhà cong tạo nên 1 miền văn hóa khác hẳn với những nơi khác.
Mái nhà cong tiêu biểu của điện tam thế chùa Bái Đính - Ninh Bình - Việt Nam.
Mái cong ở Thành cổ Lạc dương Trung Hoa
Tại sao mái nhà lại cong lên và kiểu mái cong độc đáo đó xuất phát từ đâu là những câu hỏi được đặt ra từ lâu nhưng mãi tới nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Theo cảm tính người ta thường gọi đó là mái nhà Trung Hoa có thực như thế không ? Nếu quả thực người Trung Hoa đã sáng tạo ra kiểu mái nhà cong đó thì vẫn còn phải xem xét vì ngược về quá khứ ngàn năm trên phần đất Trung Quốc ngày nay có 2 thành phần cư dân khác biệt nhau cả về nhân chủng lẫn nền tảng văn hóa: người Bách Việt phía nam và những sắc dân thuộc chủng Mongoloid ở phía bắc; Như vậy ai đã sáng tạo ra nét văn hóa này?
Suy nghĩ bình thường thì Mái nhà cong không xuất phát từ công dụng thực sự, mái cong không làm tốt chức năng của cái mái nhà hơn là mái phẳng ngoài ra với những nét cong thì mái nhà về mặt kỹ thuật khó thi công hơn nhiều và chắc chắn về mặt kinh tế nó tốn kém hơn cái mái nhà phẳng, như vậy là: xét các mặt công dụng, kỹ thuật và kinh tế đều không phải là nguyên do. Thế tại sao mái nhà Á đông vẫn cứ cong, các góc của mái cứ chỉa lên trời một cách kỳ lạ.
Tìm hiểu sâu hơn về văn hóa Á đông sẽ nhận ra:
Những Điều sau đây khẳng định người Hoa Nam và người Đông Nam Á chính là chủ thể sáng tạo ra nét văn hóa mái nhà cong độc đáo:
• Mái nhà cong đã được khắc họa trên trống đồng hàng ngàn năm trước công nguyên khi người Hán và văn hóa Hán chưa bén mảng đến vùng đất Đông Nam Á.
Nhà cổ mái cong khắc trên trên trống đồng.
Ngày nay trong những dân tộc sống tương đối cô lập so với tiến trình văn minh chung ở Đông Nam Á không hề có chút liên hệ với văn minh Trung Hoa vẫn còn bảo lưu nét văn hóa truyền thống mái nhà cong độc đáo.
Mái nhà cong ở Batak indonesia.
Tìm hiểu rộng rãi hơn có thể khẳng định không phải chỉ những nước theo văn hóa Trung hoa mới có mái nhà cong mà những nước đông nam Á theo văn hóa Ấn Độ như Miến Thái Lào .v.v. cũng có mái nhà cong nhưng không phải cong thực sự mà nét cong được thể hiện bằng hoa văn tháp gắn vào...
Mái nhà cong hoa văn ở 1 ngôi Chùa Thái.
Có thể nói Đây là nét văn hóa có cơ tầng sâu thăm thẳm trong trong tâm trí cư dân Đông Nam Á bao gồm cả Hoa Nam, sự phổ quát 1 nét văn hóa chung trên 2 cộng đồng người mà hiện nay cho là hoàn toàn khác nhau trong tiến trình lịch sử là điều rất khó hiểu, phải chăng Đông Nam Á và Hoa Nam ở thời tiền sử là 1 khu vực thống nhất về dân tộc và văn minh ? Những Hình khắc trên trống đồng và mái nhà cong của những dân tộc thiểu số ở Đông Nam Á đã khiến không thể suy nghĩ khác được, dựa vào ‘hình hài’ cái mái nhà dù là cong thực hay cong hoa văn thì vẫn là đường nét để người ta thể hiện điều gì đó, nói lên ý nghĩa nào đó ...
Khi nguyên do khiến cho cái mái nhà Á đông cong lên không tìm được trong các khía cạnh vật chất thì chỉ còn con đường tìm trong chủ đạo văn hóa của cư dân nơi đó.
Phải chăng đường nét cong đã khắc họa trong chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn để rồi thể hiện ra trên vật thể tạo tác bởi bàn tay con người?
Dịch lý là nền tảng tư tưởng của người Hùng Việt, nơi người Việt những nguyên lý Dịch học chi phối hoàn toàn não bộ khi suy tư và mọi kiến giải về sự biến đổi trong vũ trụ bao la đều mang dấu ấn của dịch học, tự nhiên như nước chảy ra từ khe đá không cần ‘vận’ chi cả mà vẫn ‘dụng’ được cứ như là từ khi cha sinh mẹ đẻ não bộ đã được lập trình sẵn nên không cần học mà vẫn biết vẫn dùng hằng ngày. Ví dụ như khi mong cho con ‘khôn lớn’ ... là đã dụng Dịch rồi vì Khôn - lớn là ý của 2 quẻ Càn và Khôn.
Trong ngôn ngữ Việt chỉ 1 từ kép đơn giản như ‘che-chở’ thôi đã chứa ý nghĩa rất thâm sâu của dịch lý: Che là bảo bọc chở là nâng đỡ, trời che - đất chở cho người tức Thiên ở trên Địa ở dưới Người ở giữa chính là Tam tài của dịch học. Trong 1 cái nhà thì phần mái để che là thuộc về Trời quẻ Kiền, phần sàn hay nền nhà thuộc về Đất qủe Khôn, quan niệm của Dịch lý là Thiên viên - Địa phương hay trời tròn - đất vuông, trời nét cong đối xứng với đất nét thẳng ...
Có nhà nghiên cứu cho là mái nhà cong mang dáng dấp của cái thuyền giống như hình thuyền khắc trên trống đồng. Điều này khó chấp nhận vì chức năng của thuyền là ‘chở’ như thế thuộc về địa mang nét thẳng làm sao có thể lộn ngược đất thành trời được.
Qua những gì đã xem xét có thể kết luận không sợ nhầm lẫn:
Chính do quan niệm triết lý ‘tròn - vuông’, trời nét cong đối với đất nét thẳng mà mái nhà của người Hùng Việt cong lên hướng về Trời, có thể nói mái nhà Á đông và Đông Nam Á là sản phẩm văn hóa vật chất mang nặng dấu ấn Dịch học, nét văn hóa mái nhà cong độc đáo này đã khởi phát từ đất tổ của họ Hùng sau mới lan toả rộng ra chung quanh cụ thể là cả vùng Đông Nam Á và những nơi ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa đế quốc Trung Hoả.
Hợp cùng với trống Đồng mái nhà cong trở thành bằng chứng vật chất không thể phủ nhận: chính người họ Hùng đã phát minh Dịch học làm nền tảng cho văn minh phương Đông trong đó muôn vàn ứng dụng làm ích cho con người đều phát ra từ cái gốc Dịch Lý.
Người Việt ngày nay có quyền tự hào về những thành tựu trí tuệ tuyệt vời của cha ông nhưng đồng thời cũng phải nghiêm chỉnh dốc sức thực hiện lời căn dặn ghi trong kinh Dịch: “Kế minh chiếu tứ phương” sao cho cơ đồ của cha ông ngày một thêm rạng rỡ.
Bài 5: Nôm na là cha mách qué .
Trong thành ngữ tiếng Việt có câu: “ Nôm na là cha mách qué” xưa nay nhiều người biết, nhiều người dùng nhưng ý nghĩa thực của câu này là gì ? Chưa thấy có ai giải thích cặn kẽ.
Tìm hiểu kỹ mới thấy câu ‘’Nôm na là cha mách qué’ có nghĩa rất đặc biệt ; chính là câu thần chú giúp ta mở cánh cửa vào toà lâu đài Dịch học.
Xin giải nghĩa :
• Nôm là biến âm của ‘Nam’ chỉ nước Việt người Việt. Từ Nôm trong câu này chỉ chữ Nôm, từ Nôm hay âm Nôm nói chung ý trong câu là chỉ tiếng nói của người Việt Nam. Ngày nay thường hiểu từ Nam là chỉ riêng người Việt Nam; thực ra đây là từ chỉ chung cả khối ‘Bách Việt’, thời Nguyên Mông đại để thì người phía bắc sông Dương tử gọi là người Hán, phía nam Dương Tử gọi là người Nam. Na tức ‘na ná’ nghĩa là gần giống với.
• Cha đồng nghĩa với thày cũng có thể hiểu là thày dạy học, người chỉ dẫn.
• Mách là chỉ bảo, chỉ dẫn nghĩa như trong mách bảo, mách nước .v.v.
• Qué ở đây biến âm của từ Quái trong Hoa ngữ hay quẻ trong tiếng Việt chỉ 8 quẻ căn bản của Dịch học, quẻ đơn là Kiền Đoài ly Chấn tốn khảm Cấn Khôn.
Tóm lại nghĩa của câu ‘Nôm na là cha mách qué’ là: Na ná hay gần giống với từ Nôm là thày chỉ bảo về ý nghĩa các quẻ Dịch.
Có thể viện dẫn :
1. Quẻ Kiền hay Càn chỉ sức mạnh hay sự to lớn có gốc từ tiếng Việt là ‘cồng - kềnh’ hay ‘ kềnh càng’.
2. Quẻ Đoài, đoài là biến âm của điều hay đào tức màu đỏ.
3. Quẻ Ly biến âm của quẻ ‘lửa’ tượng trưng cho sức nóng, ánh sáng và mặt trời.
4. Quẻ Chấn, Chấn là biến âm của ‘sấm’ Hoa ngữ là Lôi.
5. Quẻ Tốn hay Toán tức tính - toán trong tiếng Việt chữ cổ còn gọi là tán.
6. Quẻ Khảm còn gọi là Cống, thực ra là ‘cóng’ tiếng Việt thường dùng từ kép ‘lạnh cóng’.
7. Quẻ Cấn còn gọi là căn nghĩa tiếng Việt là ‘cán’ là cái để nắm lấy mà điều khiển như cán dao, cán cuốc .v.v.
8. Quẻ Khôn chỉ sự khôn ngoan nơi con người, chỉ khả năng nhận xét của não bộ tức khả năng nhìn nhận và phán đoán sự việc.
Xem xét kỹ thì : Không chỉ riêng Bát quái mà Thập can cũng do ‘Nôm na’ mà ra như:
Giáp - chắc trong chắc chắn.
Ất - óp như trong óp ép.
Bính - bấn, bấn loạn.
Đinh - đanh cứng như đanh .
Mậu - mẹ.
Kỷ - cả.
Canh - canh (nước), cánh, cạnh, cành, chỉ trục ngang.
Tân - tâng, tưng, tung lên chỉ trục đứng.
Nhâm - nhũn, nhung (mềm như nhung)
Quý hay Khang - khăng, khăng khăng không đổi.
Thực kỳ lạ tên các thành tố của Dịch học như Thập can, Bát quái... không mang 1 ý nghĩa gì trong Hoa ngữ, nó thuần là các tên để gọi mà thôi. Ngược lại khi ‘Nôm na’ thì ý nghĩa Dịch lý lại nằm ngay chính trong tên gọi của nó. (xin đọc Dịch học họ HÙNG). Thậm chí những từ khoá trong nguyên lý cơ bản “sinh sinh chi vị dịch” cũng có gốc từ ‘Nôm na’ mà ra : “thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái ...” ; cực nghi tượng quái... đều là những ‘đặc từ’ chỉ dùng trong dịch học phải có công ‘tu luyện’ mới thấu đáo.
Ngược lại khi dùng ‘nôm na pháp’: “1 cục hay cuộc sinh 2 ngôi, 2 ngôi sinh 4 tạng hay dạng, 4 tạng sinh 8 quả”. Rồi cả 3 toà 5 hình 9 chỗ thì ra tất cả là những danh từ thông thường dùng trong cuộc sống hàng ngày người ‘bình dân’ ai gặp cũng hiểu ngay chẳng phải là ‘đặc ngữ đặc từ’ chi cả ; có thể nói : khi ‘Nôm na’ thì Dịch học rất gần gũi đời sống thường nhật của con người trái hẳn với Dịch học siêu đẳng của Hoa ngữ: nói toàn chuyện trên mây như chỉ dành cho các bậc thánh triết mà trên cõi đời này hỏi có được mấy vị ? Ngược lại bọn buôn thần bán thánh kiếm sống dựa dẫm vào thứ Dịch học ‘siêu đẳng’ này thì đông đến tám tạ thiên khênh ....
Tóm lại dựa vào yếu tố ngôn ngữ có thể khẳng định : Kinh Dịch chứa đựng những hiểu biết về sự vận động và biến đổi của mọi vật trong Không và Thời gian là thành tựu trí tuệ của người NAM hay Bách Việt mà chi duy nhất còn lại đại diện cho cả dòng giống là Lạc Việt tức người Việt Nam ngày nay.
Bài 6: Giải mã chữ VIỆT bộ Mễ.
Chữ VIỆT tên nước do Triệu Đà lập ra ở Quảng đông là chữ Việt bộ mễ 粵 ; cấu tạo bởi chữ mễ 米 đóng khung đặt trên chữ Việt. 粤
Đó là cách nhìn thông thường ngày nay.
Còn 1 cách nhìn khác mang tính địa lý lịch sử khá quan trọng đối với lịch sử Trung Hoa. Mổ xẻ chữ Việt bộ mễ để giải mã :
粤
* Phần đầu.
粤
Với những vật hình tròn mang số 6 và số 9 thường phải có 1 dấu hiệu để xác định đầu trên tránh sự lẫn lộn giữa 2 số.
Tương tự như vậy phía trên khung hình vuông của chữ Việt bộ Mễ cũng có 1 nét bút nhằm xác định hướng mặt trời, nếu đặt đứng thì hướng về thiên đỉnh, còn khi đặt nằm thì đầu quay về hướng Xích đạo.
* Phần thân.
Người xưa với quan niệm “trời tròn đất vuông” nên một lãnh thổ hay 1 miền đất luôn được biểu diễn bằng 1 hình vuông và để chỉ vùng trung tâm người ta thêm vào các đường nam - bắc, đông - tây và đường nối 4 góc, giao điểm của các đường này gọi là GIAO CHỈ hay CHỖ GIỮA, những đường nối này được mô phỏng thành nét chữ Mễ.
* Phần chân :
Bộ phận dưới cùng là chữ VIỆT dùng xác định âm đọc.
Tách phân tự dạng chữ Việt bộ Mễ như trên gợi ra:
1. Ý thứ nhất.
Khi đặt chữ Việt bộ mễ nằm ngang theo trục Bắc- Nam ta nhận ra được cách thức người xưa đã dùng để cấu tạo nên nó ; hết sức thực tiễn và giản đơn :
Nước VIỆT có trung tâm nằm ở phía nam GIAO CHỈ chính là thông tin mang trong lòng chữ VIỆT bộ MỄ, chùm thông tin này được cô đọng thành nước NAM VIỆT.
Có thể xem đây chính là sơ đồ xác định vị trí trên quả đất Quốc gia do Triệu Đà khai lập. Từ khám phá này kết hợp với những thông tin về việc khai quật lăng mộ của Triệu Văn Đế ở Quảng Đông ta khẳng định:
Đất NAM GIAO và GIAO CHỈ trong cổ thư Trung Hoa là có thực.
Hướng BẮC - NAM xưa thời Triệu Đà nay đã bị đảo ngược : bắc thành nam và nam thành bắc.
Điều này tưởng là việc ‘nhỏ’ nhưng thực ra không nhỏ chút nào vì làm sao xử lý cả núi thông tin về các nước hay quốc gia trong cổ sử Trung Hoa ? Nước nào cũng có các thông tin về địa lý nam giáp, bắc giáp... bây giờ lộn ngược tất cả thì làm sao định vị được trên bản đồ ?
2. Ý thứ nhì.
Chữ Việt 粵 cũng dùng trong danh hiệu Hùng Việt Vương - Tuấn Lang vì vua tổ của vương quốc họ Hùng, chữ Việt ở đây là tên triều đại hay như truyền thuyết Việt gọi là : ‘đời’ Hùng Vương.
Nước vẫn là một Hữu Hùng quốc tức nước của người họ Hùng,Việt Vương - Tuấn Lang là vua sáng nghiệp truyền thuyết dùng làm danh xưng chỉ cả đời hay triều đại Hùng Vương thứ 8, là triều đại bản lề chuyển mình từ : thời lập quốc bước sang thời vương quốc, từ thời : tiền sử sang Sơ sử.
Cấu tạo chữ Việt như đã tách phân xem xét ý tứ ở trên :
Việt 粵 là cái rìu, cái búa đẽo chỉ là mượn âm để đọc.
Chữ mễ 米 đặt trong cái khung vuông chỉ trung tâm 1 vùng đất :
Thực ra đây chỉ là sự biến hình tạo chữ từ hình vẽ nơi giao cắt của các đường kẻ nối 4 phương 8 hướng chỉ nơi mà Việt ngữ gọi là ‘chỗ giữa’, Hoa văn biến thành ‘Giao Chỉ’.
粵
Liên Kết 2 phần biểu âm và biểu ý nhận ra Ý nghĩa thứ nhì chữ Việt bộ Mễ :
Việt là tên 1 triều đại (đời Hùng vương thứ 8 Hùng Việt vương – Tuấn Lang) của vương quốc trung tâm (Giao Chỉ) thiên hạ .
Bài 7: Hà thư và văn minh VIỆT.
1. Những con số thiêng của người Việt.
Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng con số 18 trong 18 đời HÙNG vương là con số thiêng.
Sử thuyết họ HÙNG đã minh xác đó là con số thực của lịch sử Việt, 18 triều đại Hùng Vương với những thông tin tuy chưa đầy đủ nhưng cũng đã có thể lấy làm căn cứ để trên cái nền ấy tiếp tục đào sâu bổ chứng thông tin biến sử thuyết thành Lịch sử họ HÙNG ; Lịch sử của quốc gia lâu đời nhất trên hành tinh này.
Không phải số 18 nhưng Trong văn minh họ HÙNG có những con số thiêng khác, những con số gắn liền với dân tộc và rất đặc biệt những con số này đều xuất phát từ Hà thư - Lạc đồ tức Thiên thư - địa đồ hiểu theo ngôn từ hiện nay :
Hãy xem.
Số 100.
Là người Việt chẳng có ai không biết chuyện bố Rồng mẹ Tiên và bọc trăm trứng, người họ HÙNG gọi nhau là “đồng bào” thực thiêng liêng và huyền nhiệm, “Bách Việt” cũng xuất phát từ huyền tích này. Cả không và thời gian mênh mông được tóm thâu vào 100 nút số của Hà - Lạc dân gian gọi là ‘khoanh’ và ‘đốm’, người xưa đã khéo chuyển những ý niệm lung linh mờ ảo uyên thâm của triết học thành hình ảnh rất dân giã rất đời thường: 100 quả trứng, Hà 55 và Lạc 45 quả, 100 quả trứng Hà - Lạc nở thành người là sự khởi đầu của dòng giống HÙNG. Thực ra không có con người ‘vật thể’ nào chui ra từ trứng cả nhưng tất cả người họ HÙNG ‘phi vật thể’ đều từ đó mà ra.
Hà thư và Lạc đồ chính là khởi nguyên của tri thức trong màn đêm tăm tối thời ‘ăn hang ở lỗ’ thánh nhân họ HÙNG đã khái quát hóa được những hình ảnh trực quan thành hệ thống dấu hiệu con người bắt đầu tư duy về sự biến hóa đổi thay trong thế giới vật chất bằng những mối tương quan của dấu hiệu 1 thế giới hoàn toàn mới được hình thành. Đó là “thế giới thông tin”.
Hà thư - Lạc đồ là cái nền của tri thức. Đấy mới là ý nghĩa đích thực của câu chuyện Rồng –Tiên trăm trứng mà chỉ riêng người họ HÙNG mới thấu suốt.
Số 5.
Đế Minh cháu 3 đời của vua Thần nông tuần du đến Ngũ Lĩnh gặp một nàng tiên kết thành vợ chồng và sinh ra Lộc Tục, Lộc tục sau là Kinh Dương Vương vì vua đầu tiên của nước Việt. Nhiều nhà nghiên cứu ḷịch sử căn cứ vào truyền thuyết này mà cho là quê hương ban đầu của người Việt tận Ngũ Lãnh ở Hồ Nam Trung Quốc.
Với dịch học họ HÙNG thì Lạc đồ cũng là địa đồ, số 5 ở trung tâm của Lạc đồ chính là Ngũ lĩnh trong truyền thuyết ; ‘ngũ lãnh’ chỉ nghĩa là vùng đất chính giữa thiên hạ không phải là tên riêng.
Lãnh thổ của 1 nước tuỳ theo vận nước thịnh suy mà có lúc nở ra và cũng có khi thu hẹp lại ; biên cương thay đổi thì ‘Ngũ lãnh’ cũng đổi theo, lại còn tùy theo sắc tộc nào là chủ thể của triều đại mà Ngũ lãnh cũng thay đổi, ngũ lãnh của nhà Chu không phải là ngũ lãnh của nhà Thương... Trong văn minh Trung Hoa thì quốc thổ Trung Hoa xưa được gọi là ‘Thiên hạ’ , ngũ lãnh là trung tâm của thiên hạ nên khi nói Ngũ lãnh thì phải nói ngũ lãnh của nước nào - thời nào - triều nào, ngũ lãnh thời đế Minh vua khai quốc người Việt tuần du dứt khoát không phải là ngũ lãnh ở Hồ Nam Trung Quốc.
Mỗi thời có mỗi ngũ lãnh, số 5 chỉ là con số thiêng tượng trưng cho vùng trung tâm quốc thổ. Không hề có một Ngũ lãnh tên riêng vĩnh cửu. Xin đừng hoài công theo đuổi mãi một giả thuyết lịch sử Việt không có hồi kết.
Số 15.
Số 5 trung tâm Lạc đồ chỉ vùng chính giữa tứ phương thiên hạ thì số 15 trung tâm Hà thư chỉ cộng đồng người là chủ vùng đất chính giữa ấy, truyền thuyết nói vua Hùng đóng đô ở Phong châu chia nước thành 15 bộ ; một số nhà nghiên cứu sửa thành 15 bộ lạc hay bộ tộc và còn có người đang cố gắng xác định cụ thể những bộ lạc ấy trên đất Việt Nam.
Thực ra 15 là con số thiêng, thiêng tức là không có thực mà đó chỉ là dấu hiệu tượng trưng cho dòng giống Hùng thuở khai quốc ; số 15 không chỉ một tập thể của những cá nhân mà chỉ một cộng đồng người đã được tổ chức thành 1 thực thể chính trị tức cộng đồng ấy đã vượt qua thời liên minh bộ lạc với các tộc trưởng để bước sang thời vương quốc của vua HÙNG.
Trung tâm Hà thư cũng là trung tâm của Ngũ hành nơi điều khiển - kiểm soát toàn bộ qúa trình tương tác - diễn biến của sự vật. Con số 15 là số thiêng ý nói: cộng đồng người họ HÙNG là thành phần chính yếu cai quản và dẫn dắt toàn thiên hạ.
Hà thư và Lạc đồ hai đồ hình của dịch học nút số đã để lại dấu ấn đậm nét trên lịch sử và văn minh người họ HÙNG bằng những con số thiêng:
Số 100 là biểu tượng của dòng giống HÙNG.
Số 5 tượng trưng cho lãnh thổ nhà HÙNG.
Số 15 chỉ một thực thể chính trị gọi là nhà nước hay quốc gia họ HÙNG với sự lãnh đạo của các HÙNG Vương.
Điều kỳ lạ không hiểu nổi là : tại sao lại có sự liên quan giữa các nút số của Hà - Lạc và nền văn minh người họ HÙNG tiền nhân của người Việt ngày nay ?
2 - Thủ lãnh Việt và Hà thư.
Trong bài ‘Tản mạn về ngôn ngữ Việt –Hoa’ trước đây đã nói đến 5 tước của qúy tộc Trung Hoa.
o Không - 0 - Công
o Hầu - 2 - hai
o Bá - 3 - ba
o Tử - 4 - tư
o Nam - 5 - năm
Đây không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên vì bên cạnh sự việc này còn nhiều điều khác. Nhìn vào tâm Hà thư ở trên.
Cũng như màu vàng của ngũ sắc, tâm của Hà thư có địa vị chí tôn chi phối toàn cục, các dịch tượng khác phải thông qua nó mới có thể tương tác tạo ra diễn trình biến đổi sự vật nên những dịch tượng trung tâm của đồ hình dịch học được người Việt vận dụng tạo thành những từ chỉ THỦ LÃNH của cộng đồng.
Dù chỉ thấy có hai số 5 và 10 thực ra tâm Hà thư có tới 3 con số nhưng vì là dịch học nút số nên không thể biểu diễn số ‘không’ bằng các nút được. Tương tự như với màu vàng trong ngũ sắc : Vàng → vương, chuyển ngữ sang Hán văn là ‘hoàng’
3 con số của tâm Hà thư cũng có sự liên quan rất kỳ lạ với cách gọi các thủ lãnh của người Việt :
Số 0.
‘không’ biến âm thành tước công đã biết nhưng ‘không’ còn có từ đồng nghĩa là ‘vô’, trước đây cứ ngỡ ‘vô’ là từ Hán Việt nhưng nay với điều ‘vô’ biến âm thành ‘vua’ thì phải xét lại rất có thể đấy là 1 từ Việt cổ nay không còn dùng ?
Vua là từ cao qúy nhất trong các từ dùng chỉ thủ lãnh, Hán văn ký âm VUA thành VŨ.
Trong lịch sử Trung Hoa chỉ vị thủ lãnh nào có công khai sáng 1 quốc gia hay 1 triều đại mới được mang tước hiệu là VUA, công ở đây là công với quốc dân còn phường dã tâm “tranh bá đồ vương” chỉ biết việc chiếm đoạt ngôi vị thì không được gọi là vua. Người họ HÙNG suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước duy nhất có 1 HÙNG VŨ người Việt gọi là vua HÙNG, trong truyền thuyết 18 đời Hùng vương được chép là đời Hùng vương thứ 5:Hùng Vũ vương - Hiền Đức Lang xác định ngài là vị Hùng vương khai quốc. Còn trong lịch sử Trung Quốc thì ông “Vũ” có vị thế rất cao trọng, ông không những là tổ nhà Hạ mà còn là tổ của tất cả các vương triều Trung Hoa.
Số 5.
Năm biến âm thành lăm rồi biến thành lang [5] năm→ lăm → lang.
Trước đây cứ ngỡ từ LANG là từ chỉ thủ lãnh của những dân tộc Mường, Thái Nay với sự soi sáng của Hà thư thì rõ ràng vô là từ Việt chính tông.
Lang không những là thủ lãnh của người Việt mà qua trung gian của âm ‘Long’ là con rồng trong Hoa ngữ. Lang còn bước vào chễm chệ ngự trên ngai vàng của đấng con trời Trung Hoa.
Hậu Hán thư có đọan ngắn nói đến Lạc Việt: con trai vua gọi là ‘quan lang’ con gái vua là ‘mỵ nương’. Và thật lạ lùng các con trai vua nhà Đường cũng được gọi là LANG: đại lang, nhị lang, tứ lang .v.v. hay là nhà Đường Trung Hoa học theo văn minh Lạc Việt xưa ?
Sử Trung Quốc không biết vô tình hay cố ý mà rất nhiều chữ ‘Lang’ bị đổi thành chữ ‘nam’ nghĩa là phương nam, 1 từ chỉ thủ lãnh bị thay bằng từ chỉ phương hướng gây nên sự nhiễu loạn lịch sử ghê gớm sai lầm chồng chất lên sai lầm khiến cả 1 thời gian dài người họ Hùng không nhận ra chính mình.
Người Mông Cổ chia dân trên đất Trung Quốc bị chiếm đóng thành dân của ‘hãn’ và dân của ‘lang’, đám sử gia mắt kèm nhèm chép thành dân Hán và dân Nam. Văn Lang biến thành Vân Nam, đất Hải Lang biến thành Hải Nam, Chu Lang Thiệu Lang biến thành Chu Nam Thiệu Nam rồi chuyển ngữ thành Chu Công Thiệu Công.... Như thế hỏi còn ai có thể nhận ra nổi lịch sử Trung Hoa thực, hơn nữa đây không phải là trường hợp duy nhất...
Trong Hán sử còn có :
o Nhiều chữ ‘quan’ nghĩa là nom (nhìn-trông) bị thay bằng chữ quang là sáng sủa, từ ‘nom’ trong Việt ngữ cũng chính là nam tức phương nam, Quan vũ là vua nước ở phương nam biến thành Quang Vũ - tên riêng của vua Đông Hán. Nước Quan 1 nước chư hầu phương nam của nhà Ân biến thành nước Quang lơi khơi không nghĩa ngọn gì.
Tương tự kiểu ‘thất bổn’ này với Chữ ‘tiếp’ nghĩa trong tiếng Việt là ‘chạm vào nhau’ đồng nghĩa với giáp, dân gian thường nói kép ‘tiếp – giáp’. Trong ngôn ngữ dịch học thì tiếp là điểm giao giữa 2 chu kỳ trước và sau, trong một ngày là lúc nửa đêm, một năm là ngày đông chí về phương hướng là chính nam ; không hiểu sao trong cổ thư Trung Quốc nhiều chữ ‘tiếp’ bị biến thành ‘tiết’ như: đế Tiếp ý chỉ thủ lãnh của đất phương nam bị biến thành đế Tiết - tên riêng. (Theo cổ sử thì Tiết là tên ông tổ của dân Trung Hoa phương nam).
Trong 64 quẻ trùng thì cặp quẻ đối ứng ‘Tiếp - Hoán’ bị biến thành ‘Tiết - Hoán’. Tiếp còn có nghĩa là gặp gỡ, có gặp gỡ thì mới trao đổi (Hoán) được chứ, 2 vật không chạm (tiếp) vào nhau thì làm sao trao đổi (Hoán) nhiệt ? Ý nghĩa của cặp quẻ Tiếp-Hoán rõ ràng như thế còn ‘Tiết – Hoán’ thì xin chịu thua không hiểu nổi.
Số 10.
Số 10 mười trong hệ thống số đếm Việt nam còn được gọi là CHỤC.
Chục → chủ rồi thành ‘chúa’ sang tiếng Thái - Lào là ‘chậu’, hiện người dân quanh thành Cổ Loa xưa vẫn cho là thành có tên là “thành chủ”. Thực ra gọi là thành chủ nghĩa là thành của vua đồng nghĩa với hoàng thành chứ nào phải tên riêng. Các vua Chiêm thành ký âm Hoa ngữ thành Chế Mân, Chế Củ, Chế Bồng Nga v.v. tưởng đâu Chế là 1 họ của người Chăm nhưng khi so sánh về âm với các từ Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Tiên... triều Nguyễn Việt Nam mới vỡ lẽ Chế Mân nghĩa là vị chúa vị chủ tên là Mân ...
Đặc biệt do ảnh hưởng của vị trí trung tâm Hà thư nên ngoài nghĩa ‘thủ lãnh’ số 5 năm và 10 - chục trong văn minh Việt còn biến âm thành những từ khác khá lý thú :
o 5- năm →lăm → lang → làng
o 10 – chục → chủ → chạ
Với câu vè khá nổi tiếng của người Việt ’’trình làng trình chạ’’ thì làng và chạ có nghĩa là 1 cộng đồng người, là đơn vị hành chánh cơ sở của quốc gia, làng và chạ biến thành Làng - xã ngày nay. Nhưng với câu ’’ăn lang ngủ chạ’’ thì lang và chạ lại mang nghĩa là chốn công cộng nơi chung chạ tức của chung mọi người.
Những nút số của Hà đồ- Lạc thư đã có mặt trong sách ‘Hoàng đế nội kinh tố vấn’ nghĩa là tuổi đời của Hà - Lạc ít nhất cũng bằng tuổi Hoàng đế (đế màu vàng) Viêm đế (đế phương nóng) cách nay 5000-6000 năm, thời điếm này thì dân tộc Trung Hoa còn là 1 nhóm nhỏ sống lanh quanh ở mảnh đất cỏn con bên bờ Hoàng Hà.
Người họ Hùng lập quốc ở vùng đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh cũng đã 5000-6000 ngàn năm nay dĩ nhiên từ ‘vua’ cũng xuất hiện cùng thời điểm ấy còn các từ ‘lang và chạ’ chỉ thủ lãnh thời bộ tộc chắc tuổi còn cao hơn nhiều thậm chí có thể đến cả vạn năm. Hai dân tộcâhi nền văn minh cách nhau vạn dặm tại sao lại có sự tương thông như thế : người Việt tạo từ chỉ thủ lãnh dân tộc mình dựa trên 3 nút số của tâm Hà thư Trung Hoa.
Thực kỳ lạ ! Không thể có sự giải thích nào khác hơn là xem xét lại toàn bộ lịch sử cổ đại Việt và Hoa.
Bài 8: Kim chỉ nam.
Trong bài ‘đôi điều về ngôn ngữ Việt – Hoa’ tôi đã nêu: không có từ Hán Việt mà trong khối từ vựng Việt chỉ có những từ riêng của người Việt Nam và những từ dùng chung trong khối Bách Việt mà thôi. Truy nguyên nguồn gốc bằng ngôn ngữ Kim chỉ nam cho chúng ta nhiều điều bất ngờ lý thú ....
Sự đóng góp có tính quyết định của kim chỉ nam vào việc hình thành bộ mặt thế giới ngày nay không ai có thể phủ nhận....
‘Kim chỉ nam’ là cụm từ thuần Việt ngữ, ý nghĩa rất rõ ràng: cái kim có đầu chỉ hướng nam (ngày xưa theo Dịch lý ngược với ngày nay). Người Hán coi ‘chỉ nam’ là tên tức danh từ riêng nên khi dịch sang Hán văn đã để nguyên chỉ ký âm thành ‘Chỉ nam châm’. Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ khẳng định kim chỉ nam là phát minh của người họ Hùng vì nếu là phát minh của người Tàu thì tên gọi đã là 'tư nam châm' hoặc ‘Nam chỉ châm’ (chỉ = hướng về là trạng từ) chứ không thể là ‘chỉ nam châm’. Kim chỉ nam là phát minh của tiền nhân người Việt như vậy 4 phương trời đương nhiên là từ Việt mà gốc gác được xác định bằng ý nghĩa mang trong các đồ hình Dịch lý.
Phương Bắc.
Biến âm của bức - nóng chỉ hướng Xích đạo (Việt Nam và Trung Quốc đều ở bắc
bán cầu), xích là màu đỏ biến âm thành ‘sóc’ nghĩa là phương bắc, ngày nay lộn ngược chỉ hướng lạnh lẽo của địa cực ...
Phương Nam.
Biến âm của ‘non-yếu’ ngược với lớn mạnh, non cũng là ‘núi’ là hình tượng của quẻ Cấn trấn phương Nam trong Bát quái tiên thiên. Ngôn ngữ Môn-Khơme là B’nâm, Nam trong Thái ngữ là sông nước cũng là dịch tượng của phương nam ; người Việt gọi là Nác→ nước.
Nam cũng là ‘nom’ là hướng nhà vua nhìn về theo lễ chế Trung Hoa vì nơi ấy có ‘thần’ và ‘dân’ của vua. Người Tàu dịch thành ‘quan’, như vậy ‘quan’ phải là hướng NAM nhưng trôi dần theo những biến cố lịch sử ngày nay ‘quan’ biến thành phương bắc, Quan thoại = bắc phương thoại ....
Phương Tây.
Riêng tư người việt còn gọi là ‘riêng tây’ nghĩa là cá nhân hay riêng mỗi con người. Tây cũng là số 4 trấn phương tây trong đồ hình Hà thư, Hoa ngữ đọc là Tứ đồng âm với tử là chết vì phương tây là hướng mặt trời lặn, ‘tư’ còn có ngĩa là suy nghĩ vì theo hậu thiên bát quái quẻ Ly tức lý lẽ trấn phương tây. Riêng với văn minh Việt phương tây còn gọi là phương Đoài hay Đoạt, từ kép ‘quyết định’ hay ‘định đoạt’ đều xuất phát từ dịch tượng này của phương tây về sau rút gọn chỉ còn 1 chữ ‘quyết’.
Phương Đông.
Số đông hay đám đông là sự đối phản với riêng - tây, Hà thư đặt phía tây là phương của cá thể, 1 tinh thần trong 1 thể xác thành 1 con người ; ở đây dịch học xem xét mối tương tác của các dịch tượng ở tầm vi mô, ngược lại phía đông là cộng đồng người được xem xét ở tầm vĩ mô mang tính trường cửu trong thời gian, sợi chỉ xuyên suốt nối kết con người là tình cảm tượng trưng bởi quẻ Khảm nghịch với quẻ Lý của phương tây, tình cảm là sự thương yêu hay từ ái nên ‘thương’ hay ‘ái-yêu’ trở thành tên gọi khác của phương đông. Lịch sử Trung Hoa đặt cơ sở trên Dịch lý nên có triều Thương đất ở phía đông, ngược với nhà Chu hay Chiêu ở phía tây.
Xét trên khía cạnh khác phương đông mang tính động như ta thường nói ‘Chấn động’ ngược lại với phương tây là tịnh hay định. Chấn động ngôn ngữ bình dân Việt gọi là ‘rung rinh’.
Kim chỉ nam truyền sang phương tây chưa rõ vào thời gian nào đã mang theo cả 4 phương nên rất có thể tên gọi phương hướng trong Anh ngữ ngày nay là ký âm latinh tên gốc 4 phương của ‘Bách Việt ngữ’.
1. Sóc phương ký âm thành South
2. Nác hay nước thành north
3. Quyết thành west
4. Ái thành east
Ngoài ra còn phương đông là Orient ký âm của Rung hay Rinh chỉ phương đông theo dịch học.
Ở bắc bán cầu South=Sóc chỉ hướng xích đạo hay nóng bức khớp đúng với viêm thiên trong cửu thiên ; đây là sự chỉ dẫn rõ ràng: phương bắc nay đã lộn ngược thành phương nam.(Sóc là phương bắc)
North=nước = nam hay nậm nghĩa là sông nước theo Thái ngữ; B’nâm trong ngôn ngữ Môn khơme là núi -non, cả sông và núi trong dịch học là quẻ Khảm và Cấn đều là dịch tượng của phương Nam đối nghịch với Hồ-hải quẻ Đoài chỉ phương bắc, chữ Nho âm ‘Sơn’ và ‘Xuyên’ rất gần nhau và là đồng âm của ‘sông’ tiếng Việt đã khẳng định gốc gác dịch lý trong sự kiến tạo những từ này. Nhưng thực là khó hiểu khi ngày nay north = nước – non lại biến thành phương bắc.
Sự lộn ngược bắc - nam có hệ quả vô cùng lớn là thay đổi toàn bộ những thông tin địa lý- lịch sử Trung Hoa. Vị trí tất cả các nước trong cổ sử đều phải xem xét xác định lại như thế cũng đồng nghĩa với việc phải viết lại lịch sử Trung Hoa.
Bài 9: Ngũ sắc Dịch Lý và Trung Quốc.
Theo Dịch học Trung hoa thì sắc màu ứng với các phương ngày nay:
• Phương Bắc sắc Đen.
• Phương Nam sắc Đỏ.
• Phương Đông sắc xanh.
• Phương Tây sắc Trắng.
Trên cơ sở phân màu này có Cửu thiên tương ứng:
• Trời sắc đỏ là Viêm thiên.
• Đen là Huyền thiên.
• Xanh là Thanh thiên.
• Và Trắng là Hạo thiên.
Như vậy chữ Huyền trong huyền thiên nào phải ‘huyền vi tinh diệu‘ gì đâu mà chỉ nghĩa là đen thủi đen thui, Viêm thiên thì đúng với nghĩa ‘ lửa hồng‘, Thanh thiên là trời trong nhưng âm Thanh cũng là màu xanh, Hạo thiên trời sáng rực hoàn toàn đúng với ý phương tây số 4= bốn, bóng, bóng láng....
ĐEN trong tiếng Việt còn là MUN, Ô, MỰC như mèo mun, qụa ô, chó mực .v.v.
Từ ‘MUN’ nguyên thủy chỉ có nghĩa là màu đen trong ngũ sắc dần dần bị chuyển hoá thành MAN, ‘man rợ’ chỉ trình độ văn hóa thấp kém hiểu như là từ phản nghĩa với Văn minh và người Tàu ‘lạm dụng’ tạo thành từ NAM MAN.
Trong dịch lý phương sắc ĐEN đồng vị đồng tính với những ý niệm khác: Đen, mờ, lu, tối, mù (manh) lạnh, cóng, thấp, bé, hèn, mọn, mặn ...
Chuyển ngữ sang từ Hán gốc Việt thì thành: Mông (mờ tối), Mãn - Minh (mỉn = đen-tối), Nguyên (trứng nước), Kim (căm – rét), Hàn (lạnh), Liêu (Lu).
Nếu xét theo thực địa bản đồ Trung Quốc ngày nay thì phải nói ngược lại là BẮC MAN vì vùng sắc đen là vùng của các nước: Mông Cổ, Mãn Châu và Hàn Quốc ; cũng là vùng trung đô của nhà MINH ...
Nhưng cổ thư Trung Hoa lại chỉ có NAM MAN là 1 trong tứ di không hề có BẮC MAN ?
Phải chăng trục BẮC –NAM nay đã bị lộn ngược ?
Sử Trung hoa viết: Lưu Triệt tức Hiếu Vũ nhà Tây hán đã ấn định Hà Nam là SÓC phương tức phương BẮC ngày nay. Như vậy trước Hiếu Vũ thì sóc phương ở đâu ?
Bài 10: Tứ tạng - Tứ Linh
Dịch học người Tàu chuyển ngữ tứ Tạng thành tứ tượng.
Dịch học họ Hùng đã chỉ ra Luật sóng đôi hay lưỡng lập; tức khi đã có 1 lưỡng nghi thì đồng thời cũng có 1 lưỡng nghi sóng đôi với nó:
• 4 Tạng = 2 (2 ngôi)
Hán Tự : Tứ Tượng = 2 (Lưỡng Nghi)
• 1 lưỡng nghi là: Thái âm – Thái dương
• 1 lưỡng nghi là: Thiếu âm – Thiếu dương
Đồ hình 4 dạng hay Tạng
Về căn bản tứ tượng là biểu hiện 4 trạng thái của sự vật trong 1 chu trình tuần hoàn. Quan niệm của dịch học họ Hùng ngược với Dịch học Tàu :
Dương là những gì hữu hình, vì hữu hình nên hữu hạn được tượng trưng bởi vạch đứt – chấm đen, ngoài ra Dương cũng là sự cô đọng vật chất nghĩa là mật độ đậm đặc hơn, vật thể có trọng lượng nặng hơn, trong thang nhiệt độ là lạnh.
Âm là những gì vô hình, như năng lượng vô hình nhưng vẫn tồn tại Dịch học tượng trưng bằng vạch liền – chấm trắng, Âm cũng là vật chất phát tán nên nhẹ, về nhiệt là sức nóng .v.v.
Một đơn vị của Tứ tượng được xác định bởi liều lượng và chiều vận đông của 2 thứ khí cơ bản là âm và dương:
Thái Âm là thuần âm, là vị trí khí âm đến đỉnh và bắt đầu đảo chiều vận động đi xuống hay giảm bớt, Dịch học gọi là âm tiêu và dĩ nhiên hễ âm tiêu thì dương trưởng.
Thái Dương tương tự như thái âm nhưng ở tình trạng và chiều vận động ngược lại. Đây là vị trí khí âm đảo chiều bắt đầu đi lên, đặc biệt Thái dương được coi là nơi tiếp nối của 2 chu kỳ trước và sau.
Thiếu âm về liều lượng thì khí âm nhiều hơn nhưng đang tiêu, khí Dương đang trưởng.
Thiếu Dương ngược lại với Thiếu Âm con số tuyệt đối là Dương nhưng Âm đang trưởng và Dương đang tiêu.
Khái niệm Tứ tượng vận dụng vào chu kỳ sống của con người và vạn vật là :
Thiếu Dương là: ban sáng, mùa xuân khí trời mát mẻ, cây cối đâm chồi nảy lộc, mọi sinh vật hăng hái sống động.
Thái Âm là: ban trưa, mùa hè, trời nóng nực vì mặt trời ở thiên đỉnh nên nguồn bức xạ tuôn xuống mặt đất mạnh mẽ nhất.
Thiếu Âm là: ban chiều, mùa thu khí trời dịu, cây rụng lá là lúc vạn vật bắt đầu nghỉ ngơi.
Thái Dương là: ban đêm, mùa đông, trời lạnh gía đây là lúc giao thời kết thúc chu kỳ trước và bắt đầu chu kỳ sau.
Thời thái cổ khi ngôn ngữ còn chưa phức tạp tổ tiên người Việt đã đánh dấu và đặt tên Tứ tượng bằng 4 từ mà vết tích còn có thể nhận ra ở ngày nay :
Thiếu dương ban sáng mùa xuân là: rung tức động, sống động.
Thái Âm ban trưa mùa hè là: phồng nghĩa là trương nở lớn ra ở đây chỉ khí âm tức sức nóng đến cực đại.
Thiếu Âm ban chiều mùa thu là: lì tức ù lì không hoạt động.
Thái Dương ban đêm mùa đông là: quay nghĩa là trở đầu đảo chiều Âm Dương tiêu trưởng để bắt đầu 1 chu kỳ mới.
Xuất phát từ Dịch học 4 từ Việt ngữ của 1 vòng Âm Dương tuần hoàn trở thành Tứ linh trong văn minh Trung Hoa.
1. Từ Rung - Long
Rung là động biến âm ra rồng trong tiếng Việt ngày nay ..
Rung ký âm Hán tự là Lung, phát âm Hán Việt là Long. Điểu thú văn lấy con rồng làm dấu hiệu chỉ tượng Thiếu Dương, phương Đông, mùa Xuân.
Dịch học quan niệm phương đông là phương động cũng nghĩa là sống động, là phương của quẻ Chấn hay Thìn, Chấn là động và Thìn cũng là Rồng.
2. Từ Phồng – Phụng.
Phồng có những biến âm như Phùng như trong phùng mang trợn má ...
Phỏng chỉ chỗ phồng lên do bỏng nhiệt.
Trong Điểu thú văn Phồng - phùng biến thành Phụng tức chim Phụng hoàng hay Phượng hoàng là thần điểu tượng trưng cho Thái Âm. Mặt trời ở trên cao được tượng trưng bởi loài chim thần. Phụng hoàng là chủ bầu trời chính là dấu hiệu vật thể tiên khởi của ký hiệu để rồi dần dần sau cùng biến thành ký tự hay chữ viết ngày nay.
3. Từ Lì – Ly.
Động từ Lì chỉ sự bất động là đồng âm của từ Lửa, Hoa ngữ là Hoả, thần thú biểu tượng cho Thiếu Âm, phương tây mùa Thu thần thú biểu tượng là con LY – LỶ - LỬA.
Nguyên thủy là con ly – lửa, Hoa ngữ là Hỏa biến âm thành Hổ, Cả Việt và Hoa đều gọi là Hổ, Hổ là Hoả, hoả là lửa –lỉ – ly chỉ là một.
Tại sao Ly còn gọi là con Lân hay Kỳ Lân ?
Theo Phép phiên thiết Hán văn :
Lân tri = Ly
Người Hoa làm rớt mất âm ‘Tri’ để chỉ còn lại ‘Lân’ thế là con lửa hay Ly biến thành con Lân 1 thần thú thoát thai từ con vật thật là loài Hổ. Người Hán đang cố gắng làm chuyện nhập nhèm biến Hổ thành sư tử khi mà dân Trung Hoa ở Nam Dương Tử bé tới lớn có lẽ chỉ thấy con sư tử ở sở thú mà thôi.
Lân còn gọi là Kỳ Lân có học ‘giả’ cố ý phịa ra: Lân là con cái, Kỳ là con đực như thế Kỳ Lân là 1 cặp chứ không phải 1 con thú ....
Thực ra Kỳ Lân cũng là Kỳ Ly, Ly –lửa ở đây cho ta thông tin về con Hổ loài thú được người LA coi như thần bản mệnh của dân tộc mình. Hiện nay người dân ở chung quanh Côn Minh Vân Nam vẫn rất kính trọng loài thú này, người La sách vở Tàu viết thành Liêu hay Liêu tử tên khoa học thường dùng là người Kadai, từ Kỳ chỉ đất Kỳ hay đầy đủ là Kỳ Chu – Cùi Chu cách đọc khác của Quý châu ở miền Tây Nam Trung hoa, Kỳ Chu nơi có Kỳ Sơn cũng chính là tên đất gốc tổ của nhà Chu Trung Hoa.
Chỉ là tên 1 con thú mà người xưa đã ký thác cả tên đất và tên tộc người vào đấy hỏi không là thần sao được.
4. Từ Quay – quy.
Nhiều đền thờ ở Việt Nam vẫn dành vị trí trang trọng cho tượng chim Hạc đứng trên lưng Rùa tượng trưng cho trời và đất - âm và dương, con Rùa loài sinh vật rất tầm thường luôn sống ở sát mặt đất sao lại được coi trọng xếp vào hàng tứ linh ?
Trong văn minh sử Trung Hoa thì con rùa có vị trí rất đặc biệt ; từ đời nhà Thương chữ đã được khắc trên mai và yếm rùa, mang chữ trên người con Rùa đã trở thành công cụ truyền bá văn minh, một nhiệm vụ hết sức cao cả không con vật nào có được vinh dự như thế.
Thái Dương là vị trí Âm tiêu đến cùng cực là số không và bắt đầu đi lên chính sự quay đầu của khí âm bắt đầu cho chu trình Âm Dương tiêu trưởng mới khiến cổ nhân chọn con Quy làm đại biểu cho tượng Thái dương, chỉ có tên Quy là từ phát âm gần với Quay nhất không có con vật nào gần hơn nữa.
Trong văn minh Việt Tứ linh chỉ là 4 chữ của Điểu thú văn mà thôi.
Tứ Linh: Long –Ly - Quy - Phụng là biểu tượng sáng chói của nền văn minh Trung Hoa, nó bàng bạc ở mọi nơi mọi chỗ trong đời sống từ đền thờ miếu mạo cho tới cái thiệp cưới... điều không thể ngờ ;
Khó có ai dám nghĩ là : Long – Ly- Quy – Phụng thực ra chỉ là biến âm của những từ Việt chính gốc : rung - lì - quay - phồng, những từ này xem ra rất tầm thường nhưng cái vỏ tầm thường dân giả Việt Nam ấy bên trong lại chứa cái vô cùng vĩ đại là Tứ tượng của Dịch học, cái học uyên thâm tới nỗi bậc thánh nhân như Khổng Tử mà phải than sao không sống lâu hơn để tìm hiểu suy ngẫm thêm nữa.
Từ điều kì lạ mới biết này ta kết luận sao đây về nền văn minh Trung Hoa.
Bài 11: Ngày giỗ tổ HÙNG VƯƠNG
Lịch phương đông còn gọi là lịch CAN-CHI là lịch dùng 2 hệ Can và Chi để định danh các đơn vị thời lượng như ngày giờ, tháng năm...
Thập Can là: Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
Thập nhị địa chi là: Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
Với đơn vị năm thì Thứ tự 1 Can phối với 1 Chi tạo thành tên gọi, 60 năm là 1 kỷ rồi quay lại từ đầu.
Nguồn gốc của 12 địa chi chính là 12 tuần trăng tức 12 tháng trong 1 năm nên Hoa ngữ gọi tháng là Nguyệt (mặt trăng), Địa chi sau được sử dụng như hệ số đếm cơ số 12, ứng dụng tạo ra phần Chi trong tên gọi của năm.
Nguồn gốc của thập can không có gì chắc chắn chỉ ức đoán có thể xuất phát từ bàn tay 5 ngón của con người, đây là hệ số đếm cơ số 5 tương tự hệ số đếm của người Khơme hiện nay, 1-2-3-4-5 đến số 6 là 5+1, 7 là 5+2... cho đến 10 là 5+5. Điều này thật thú vị khi trở thành nguyên tắc tạo ra số sinh, số thành của Hà Đồ (Thư):
Vòng Sinh 1-2-3-4 cộng với số 5 ở Trung tâm tạo ra vòng số Thành 5+1=6, 5+2=7, 5+3=8, 5+4=9 sau cùng là 5+5 ra 10 ở Trung tâm coi như số kết thúc của 1 vòng tuần hoàn và cũng chính là số bắt đầu của vòng kế tiếp... Vì thế Hoa ngữ gọi 10 là Thập hay Sập, tiếng Việt là Chập tức gấp đôi lên...
Hai vòng số sinh và số thành thống nhất tạo ra hệ số đếm cơ số 10 thông dụng hiện nay.
Thứ tự của Thập can hiện đang dùng:
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Qúy (Khang).
Là tên chữ Nho, đọc theo phát âm Hán Việt. Tên gốc hay tên Nôm của chúng là:
Chắc óp bấn đinh mẹ cả cóng tâng nhũn căng
Điều này cũng tương tự như tên Chữ và tên Nôm của các làng quê Việt. Thứ tự 10 can như trên là thứ tự đã biến đổi (chưa rõ nguyên do) so với nguyên thủy, vì nó không hợp lý khi đối chiếu với các nguyên lý của Dịch học.
Căn cứ để sắp xếp thập can trong dịch học là các định luật của dịch học:
Nhất viết thủy, nhị viết hỏa,tam viết mộc (mềm), tứ viết kim (cứng).
Hỏa viêm thượng nghĩa là Lửa thì bốc lên trên.
Thủy nhuận hạ: nước thì thấm xuống dưới.
Cương nhu tương ma sinh Động tịnh nghĩa là cứng mềm cọ sát sinh ra động tịnh.
Lập thành đồ hình.
Đối chiếu với Hà đồ (thư)
Dựa vào sự tương ứng vị trí và ý nghĩa của tên gọi các CAN trong tiếng Việt ta xác định:
khi vận dụng sự liên kết đối chiếu này ̣để giải mã đồ hình HÀ THƯ, ta có thứ tự 10 can đúng là:
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Giáp Ất Nhâm Khang Mậu Canh Tân Bính Đinh Kỷ - Kỵ.
Âm Việt ngữ là:
Chắc óp nhũn căng mẹ canh tưng bấn đinh cả.
Trung hoa xưa có 3 loại lịch, lịch nhà Hạ, Lịch nhà Thương và Lịch nhà Chu, âm lịch đang dùng ngày nay là lịch nhà Hạ, nhà Hạ kiến Dần tức lấy tháng Dần là tháng Đầu năm tức tháng Giêng:
Tên các tháng âm lịch:
Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu
Giêng 2 3 Tư 5 6 7 8 9 10 11 Chạp
Bách Việt là tên gọi của 1 siêu tộc người có địa bàn cư trú khắp Đông Nam Á, miền Hoa Nam và bang ASSAM của Ấn Độ.
Tại đền thờ quốc tổ Hùng Vương ở Phú Thọ có câu đối:
Vế phải:
“Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ”.
Vế trái:
“Quang nhạc hiệp linh cố cung thành tụy miếu, tam giang khâm đái thượng triều tôn”.
Dịch nghĩa:
“Sách trời đã định chính thống dựng kinh đô non sông Bách Việt đã có tổ. Núi sáng linh thiêng cố cung lập thành miếu, ba sông một dải hướng về nguồn”.
(Dịch và hiệu đính: Nguyễn Hữu Mùi, Đỗ Thị Hảo - Viện nghiên cứu Hán Nôm)
Câu đối trên đã xác định: Vua Hùng hay Hùng Vương là tổ của cả dòng giống Bách Việt, Người Việt nam ngày nay là hậu duệ của chi tộc LẠC VIỆT, là chi duy nhất bảo lưu quốc thống của tổ tiên dòng giống HÙNG.
Theo truyền thuyết thì có 18 đời vua HÙNG, ta lưu ý chữ ‘đời vua’, 1 đời vua là 1 triều đại hay nôm na là 1 nhà như nhà Lê, nhà Nguyễn, nhà Hạ, nhà Thương... Mỗi triều đại lại có nhiều vua, ít nhất là 1 nhiều thì có thể tới vài chục, truyền thuyết ghi 18 đời Hùng Vương có tổng cộng 180 vua.
Nhưng tại sao chọn ngày ‘giỗ vua tổ’ là ngày trọng đại coi như ngày khai sinh đất nước mà không chọn ngày sinh hay ngày lên ngôi của ngài ?
Nghiên cứu cổ sử Trung Hoa mà Sử thuyết họ Hùng cho là Bách Việt sử ta thấy: vua Hạ Vũ được tôn là tổ của nhà Hạ nhưng ông Khải mới chính là vua đầu tiên của nhà Hạ, ông Cơ Xương vẫn được coi là tổ nhà Chu nhưng thực ra con ông là Cơ Phát mới là vua đầu của nhà Chu.
Như thế suy ra ngày giỗ của vua tổ chính là ngày lên ngôi của vua đầu khai sáng triều đại.
Tương tự quốc gia của người họ Hùng cũng thế, trước khi trở thành 1 vương quốc bao giờ cũng có thời lập quốc, ngày kết thúc thời lập quốc cũng chính là ngày bắt đầu của thời vương quốc, cả thời gian lập quốc được người Việt ‘siêu nhiên hoá’ thành thời trị vì của vua tổ, ngày vua tổ mất chính là ngày lên ngôi của vua đầu tiên tức mốc thời gian bắt đầu có quốc gia dân tộc hay là ngày khởi đầu của lịch sử quốc gia.
Đã thông ý nghĩa ngày giỗ tổ rồi tiếp tới câu hỏi: có thật ngày 10 tháng 3 là ngày mất của quốc tổ Hùng Vương như lưu truyền xưa nay ?
Ở trên đã nói quốc tổ là sự ‘siêu nhiên hóa’ cả thời kỳ tổ tiên lập quốc chứ không phải 1 nhân vật lịch sử, 1 con người sống để có ngày sinh ngày mất thực ...
Vậy ngày giỗ tổ 10 tháng 3 âm lịch ở đâu ra ? Điều này quan trọng lắm đấy vì kể từ năm Canh dần 2010 chính thức trở thành ngày quốc lễ, ngày trọng đại của mọi người Việt, từ đương kim nguyên thủ quốc gia tới người đang lưu vong xa xứ, từ người cầm búa tới người cầm bút, từ nông thôn tới thành thị, từ người mặc áo vàng tới người áo đỏ... không sót một ai.
Có thể nói ngày 10 tháng 3 hàng năm là ngày duy nhất có được của toàn thể người Việt mà sự hân hoan tự nhiên phát ra từ đáy lòng, là ngày giờ linh thiêng khiến giữa tất cả người Việt với nhau thực sự không có sự ngăn cách nào dù mong manh nhất.
Xin thưa những ngày tháng này đều rút từ ruột của Dịch học.
Số 3 trong tháng 3 giỗ tổ là số của Địa chi.
Số 10 trong ngày 10 là số của Thiên can.
Ở phần trên đã chỉ ra tháng 3 âm lịch là tháng Thìn theo lịch nhà Hạ, Thìn là con rồng, Hoa ngữ đọc là LUNG, âm Hán Việt là LONG, Lung và Long là đồng âm của LANG, chính vì điều này con Rồng được dùng tượng trưng cho Vua.
Năm là số trung cung của Hà - Lạc nơi điều hoà ngũ hành nên được dùng chỉ thủ lãnh, vua, người cầm đầu.
Trong tiếng Việt: năm hay lăm → lang.
Ngôn ngữ Thái và Mường hiện nay từ lang cũng có nghĩa là Thủ lãnh, người cầm đầu.
Tóm lại: ý nghĩa của số 3 - Thìn chính là Lang là vua.
Số 10 là can KỶ; đi hết 1 vòng trở về khởi đầu là Kỷ, nên ngày KỶ cũng là Kỵ, ngày KỴ tức ngày Giỗ.
Số 10 và số 3 căn cứ trên 2 hệ Can - Chi theo Dịch học họ HÙNG giải mã ra là: KỴ LONG ý tứ rất rõ ràng nghĩa là ngày GIỖ VUA.
Vua ở đây là vua tổ như đã trình bày ở trên, ngày giỗ của vua tổ cũng chính là ngày lên ngôi của vua đầu tiên, ngày khởi đầu của vương triều thứ nhất, ngày bắt đầu của Lịch sử quốc gia, từ cổ xưa đến nay Việt Nam có lẽ là nơi duy nhất trên quả đất này ngày giỗ quốc tổ lại chính là ngày hân hoan vui mừng của toàn dân tộc.
Từ ngày tháng này trở đi sau không biết là bao năm mạch sống từ cội nguồn lại tuôn về; cứ ngày 10 tháng 3 âm lịch là tiếng trống đồng lại vang vọng khắp non sông, nơi nơi chốn chốn đàn con Việt hợp lòng cùng nhau hướng về đền HÙNG cầu xin tiên tổ phù trợ khiến quốc thái dân an, người người hạnh phúc, nguồn mạch tâm linh ấy một khi đã tuôn chảy rồi sẽ không bao giờ dứt.
Bài 12: Mặt trời - trống Đồng và đạo Hiếu.
Trống đồng có nhiều hình dạng, nhiều thời do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau, bài này viết về thông điệp trên mặt trống đồng NGỌC LŨ. Nhìn hình mặt trống Đồng Đông Sơn :
Mặt trống gồm 1 tâm và 3 vòng đồng tâm.
‘sinh sinh chi vị Dịch’ có 2 chuỗi luận:
1→2→4→8 .
1→3→5→9.
Hình ảnh trên mặt trống đồng :
Mặt trời ở tâm chỉ Thái cực.
Vòng tròn trong cùng là vòng Lưỡng nghi – Tam tài.
Vòng giữa là vòng Tứ tượng - Ngũ hành.
Vòng ngoài cùng là vòng Bát quái – Cửu trù.
Về ý nghĩa các vòng đồng tâm trên mặt trống đã viết trong bài ‘Giải mã thông tin mặt trống đồng’, nay chỉ xin bàn thêm về Mặt trời ở tâm.
Mặt trời trung tâm - chủ đạo tư tưởng : Thái cực ═ nguồn sáng-chính giữa.
Như trong bài Giải mã thông tin mặt trống đồng: Tâm trống đồng luôn luôn là mặt trời, mọi kiểu trống mọi thời đại đều như thế ; điều này cho thấy có sự thống nhất và xuyên suốt nguyên tắc cơ bản trong hệ tư tưởng người họ Hùng.
Hình ảnh gỉan đơn này không thuần mô tả vật thể mà còn mang ý nghĩa triết lý rất thâm sâu của Thái cực trong Dịch Lý.
Mặt trời là tượng trưng của tâm vũ trụ ═ chính giữa ═ Trung.
Mặt trời cũng chính là nguồn sáng là cái gốc của mọi hiểu biết hay tri thức, là cội nguồn của văn minh loài người ═ nguồn sáng ═ hỏa.
Hiện nay từ Trung - Hoa được chính người Trung Quốc giải thích là sự giản hóa của cụm từ: Trung Quốc Hoa Hạ.
Trung là trung tâm còn Hoa là đẹp đẽ - Hoa lệ.
‘Trung – hoa’ ; Chốn trung tâm và đẹp đẽ thì chẳng dính dáng gì đến chủ đề tư tưởng triết lý thâm sâu cả, nó thường thường như mọi sự thường thường khác và chẳng liên quan gì đến người họ Hùng.
‘Trung – hỏa’ ; nguồn sáng - chính giữa mới là chủ đạo tư tưởng từ ngàn xưa của người họ Hùng.
Hình ảnh mặt trời ở tâm mặt trống Đồng là 1 dấu hiệu vật thể mang thông tin có thể coi là loại chữ ‘tiền tượng hình’, là hình thái tối sơ của ký tự hay chữ viết về sau.
Ngoài nghĩa lý trong luận lý học ‘Trung – Hoả’ – ‘nguồn sáng - chính giữa’ thể hiện bởi hình ảnh ‘Mặt trời trung tâm’ mặt trống đồng về mặt tâm linh cũng chính là hình ảnh đại diện cho ‘ông trời’ siêu hình là cha đẻ của cả loài người nên ở Việt Nam mới có có tục thờ ông Thiên, nay thì chỉ còn ở chốn làng quê nhưng ngày xưa chắc chắn nhà nào cũng có bàn thờ ông thiên ở ngoài sân.
Đạo thờ tổ tiên ngày nay thường được nhìn ở phạm vi ‘cá thể’ chỉ thể hiện nơi bàn thờ gia tiên trong nhà vào dịp giỗ tết cưới xin, thực ra đạo tổ tiên có tầm bao quát rộng lớn hơn nhiều, là đạo của cả dân tộc Việt.
Nhìn tổng quát vào việc thờ cúng tổ tiên có thể thiết lập hệ đẳng cấp hàng dọc của đạo Hiếu hay đạo thờ tổ tiên như sau :
1. Trên hết là thờ ông Thiên – bà Trời, cha chung của cả loài người, xưa nhà nào cũng thờ ở bàn thờ ‘Thiên’ ngoài sân nhà.
2. Kế đến là quốc tổ Hùng Vương, cả nước Việt thờ chung ở đền Hùng, theo thiển ý khi nói thờ Hùng Vương là có ý thờ cả 18 đời vua Hùng tức thờ hết thảy tiên vương gian nan thời dựng nước mà lịch sử chỉ mù mờ truyền lưu, còn nếu thờ riêng quốc tổ thì phải nói đền thờ quốc tổ Hùng Vũ. Vũ là ký âm Hán tự của từ VUA, Hùng Vũ tức vua Hùng, trong văn minh Trung Hoa chỉ vương khai sáng cơ nghiệp mới được gọi là VŨ tức VUA, Hùng Vũ là vương khai sáng cơ nghiệp họ Hùng nói chính xác ngài không phải là ‘vua’ khai sáng 1 ‘nhà’, vua của 1 đời mà là vua của cả dòng giống Hùng, là vua trên hết các vua nên mới có tôn hiệu quốc tổ.
3. Dưới nữa là Thần thành hoàng thờ ở đình làng.
4. Ông tổ dòng họ và Tiên nhân dòng họ nói chung thờ ở nhà thờ tộc.
5. Sau cùng là những đời gần gũi nhất: ông bà cha mẹ gọi là gia tiên thờ ở mỗi nhà.
Bàn thờ lộ thiên để có sự nối thông tới tận trời cao không bị bất cứ vật gì gián cách, lễ thì cực kỳ ‘mọn’ chỉ có nén nhang và tấm lòng thành, hình thức bề ngoài thì người ta còn giữ nhưng cái hồn ở trong của nghi lễ thì đa phần đã quên mất rồi.
Nhìn dưới ánh sáng Dịch lý thì :
Nếu chỉ có nén nhang không trên bàn thờ là thiếu hẳn 1 nửa của nghi thức, dưới chân nén nhang luôn phải có chung rượi cũng có thể thay bằng chung trà hay ‘mọn’ hơn nữa là chung nước lã mới là đủ lễ.
Nén nhang cháy ở trên là ‘lửa’ tức quẻ Ly tượng trưng cho phần ‘âm’ vô hình.
Chung nước ở dưới là quẻ ‘Khảm’ tượng trưng cho Vật chất hữu hình.
Đơn giản như thế nhưng cũng đủ trọn câu ‘nhất Âm nhất Dương chi vị đạo’.
Dịch lý trong đời sống người Việt là cực ‘giản’, giản tới mức không phải nghĩ gì cả cứ bình thường như hít thở không khí vậy.
Ông Thiên là đấng tối cao trong tâm linh Việt, đạo mẫu gọi là Mẫu Thiên hay bà Thiên Hậu, bà chúa Thiên Hậu ; đây là dấu vết còn lại của thời Mẫu quyền, đẳng cấp cao nhất là ‘bà Trời’, rất có thể đạo Mẫu là hình thái sơ nguyên của đạo Hiếu hay đạo thờ tổ tiên ngày nay.
Không biết gọi là Đạo ‘Hiếu’ hiểu theo nghĩa là 1 tôn gíáo liệu có đúng không ? Hay đây chỉ là 1 nếp văn hóa, 1 truyền thống nặng tính nhân bản từ trong gốc, tiêu biểu cho nền văn minh độc nhất vô nhị hình thành trên hệ tư tưởng Dịch học.
Nguồn sáng – chính giữa ═ trung – hỏa ═ Thái cực là đầu mối của đạo.
Thần thánh chính là tiên tổ của mình với phẩm trật từ xa tới gần ; xa nhất cao nhất là ông trời – Thái cực tượng trưng bởi hình ảnh mặt trời, gần nhất là ông bà cha mẹ những người đã trực tiếp sinh ra và nuôi dưỡng mình.
Không tăng lữ, không kinh kệ tất cả là tấm lòng thành nên ‘vô ngôn’ khi dâng tế riêng mình, còn khi tế tập thể thì người đại diện đọc ‘văn tế’ tự soạn không cần khuôn phép bài bản sẵn có nào cả miễn nội dung là sự hiệp thông của mọi ‘tấm lòng thành’ đang có mặt cùng tế bái là được....
Đạo ngoài hệ dọc kể trên nơi này chốn khác tùy cảm nhận của nhóm người có thể nhỏ cũng có thể vô cùng to mà lập đền thờ ‘tiên liệt’. Vua anh minh có, dũng tướng đánh giặc giữ nước có, người khai hoang mở đất cũng được thờ, bác học và thi nhân thày thuốc cũng có nơi thờ... Nói chung rất phong phú đa dạng nhưng nhất quán tiêu chí có công với tập thể hoặc là với cả dân tộc, đạo Hiếu của người Việt thờ tổ tiên và tiên liệt vì 1 lẽ chung hết sức giản đơn ’’uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây’’.
Có thể nói thời tính rất đậm nét trong tâm thức Việt điều này có thể nhận ra trong ý tưởng Mặt trời chính là khởi nguồn cuả cả Sử và Đạo, với hình ảnh mặt trời ở tâm mặt trống đồng đã chỉ ra lịch sử dân tộc truy nguyên đến ngọn nguồn là tận thời điểm hình thành vũ trụ ; ông ‘Bản cả’ (Bàn Cổ) tạo ra vũ trụ chính là sự thể hiện nguyên lý Thái cực sinh Âm – Dương vào trong lịch sử dân tộc…Chất nhẹ của ‘Khí’ bay lên thành trời, chất nặng lắng xuống thành đất, rõ ràng với người Việt thì Đạo và Sử chung 1 khởi nguồn : mặt trời –Thái cực cũng là ông Trời và cũng là ông Bản cả ‘thủy’ thủy tổ của mình.
Nặng thời tính nên chỉ trong nền văn minh Việt Đạo và Sử mới quyện chặt vào nhau. Nói khác đi người Việt có thể viết Sử thông qua các thần của đạo thờ tổ tiên nếu trả lời được cho câu hỏi :
1. Vua cha ngọc hoàng thượng đế và đệ nhất tiên thiên thánh mẫu là ai ?
2. Nam triều thánh tổ ngọc hoàng thượng đế và đệ nhị thượng ngàn thánh mẫu là ai ?
3. Tản viên sơn thánh quốc chúa đại vương là ai ?
4. Ngũ vị tôn ông và tứ vị triều bà là ai ?
Là người Việt đã có thông tin đích xác về dòng giống mình ở thời kỳ gọi là ‘tiền sử’và ‘sơ sử’.
Cái cây không mọc từ thinh không mà phải mọc trên cái rễ của mình, nhìn trong chuỗi thời gian thì ‘hiện tại’ chỉ là điểm cuối của quá khứ, một dân tộc đánh mất quá khứ chắc chắn sẽ không có tương lai.
Người họ Hùng xưa là ánh đuốc soi đường cho cả thiên hạ. Giờ tôi và bạn hãy nhìn vào hoa văn mặt trống đồng để thấy di ngôn của tiền nhân để lại: Chữ ‘Trung – hoả’ rõ mồn một nơi hình mặt trời ở tâm.
Lặng lẽ thắp nén nhang để mùi thơm lan đến trời cao mà cúi đầu nào dám ngước mắt nhìn anh linh tiên tổ.
Tại sao, tại sao ngày nay con cháu họ Hùng lại như thế này ???
Tôi là kẻ không biết chút gì về ngôn ngữ học chỉ bằng cảm tính mà viết bài này, nếu có gì không đúng mong bạn đọc lượng thứ.
Trong bài ‘đôi điều về ngôn ngữ Việt – Hoa’ tôi đã nêu: không có từ Hán Việt mà trong khối từ vựng Việt chỉ có những từ riêng của người Việt Nam và những từ dùng chung trong khối Bách Việt mà thôi. Truy nguyên nguồn gốc bằng ngôn ngữ cho chúng ta nhiều điều bất ngờ lý thú ....
1. Đất - đá tiến lên đồng.
Văn minh Trung Hoa có 3 bảo khí bằng đồng, gọi là bảo khí vì chúng là cột trụ của phần tâm linh trong văn hoá Trung Hoa.
1. Chung hay chuông đồng.
2. Đỉnh hay vạc đồng và
3. Cổ hay trống đồng.
Trong lịch sử văn minh nhân loại nguyên liệu dùng chế tạo vật dụng được coi là nấc thang đánh dấu bước thăng tiến của con người, lịch sử văn minh được phân kỳ thành thời đồ đá, thời đồ đồng, đồ sắt...
Ở nấc thang sau những vật dụng tuy đã thay đổi vật liệu dùng chế tạo ra nó và hình dạng cũng có thể thay đổi đôi chút cho phù hợp với tính chất của vật liệu mới nhưng thường được gọi bằng tên cũ như:
a- Chung - chum
Chung tức chuông mang hình dạng nguyên thủy của cái chum sành là vật dụng dùng chứa trữ thường dùng đựng nước hay ngũ cốc. Nhưng với chum đồng thì công năng đã thay đổi ... nó được treo ngược lên làm khí cụ phát ra âm thanh, tuy vẫn giữ hình dạng cũ nhưng công dụng đã khác hẳn ; những người sáng tạo ra nó căn cứ vào hình dáng vẫn gọi nó với cái tên cũ là cái chum sau âm ‘chum’ biến âm thành ‘chuông’, Hán Việt đọc là ‘chung’.
b - Vạc - vại
Vạc chỉ là đồ dùng nấu nướng thông thường trong dân gian nhưng khi dùng như khí cụ hành lễ theo nghi thức tế lễ của thiên tử thì trở thành cái đỉnh, đỉnh là vật dụng nấu đồ cúng tế trời đất của vua vì vậy đỉnh trở thành bảo khí tượng trưng cho quyền lực tối cao của hoàng đế, ai nắm giữ được 9 cái đỉnh đồng người ấy là vua thiên hạ. Từ ‘vạc’ thực ra chỉ là biến âm của ‘vại’ cũng là thứ vật dụng của người Việt bằng đất nung hay sành sứ dùng để chứa trữ.
‘Chum sành vại sành’ tiến lên biến thành ‘chuông đồng vạc đồng’ là bước nhảy hoàn toàn hợp quy luật biến đổi ngôn ngữ trong quá trình phát triển. Chum – chuông được Hán văn ký âm thành ‘Chung’, từ vạc thì giữ nguyên âm Việt, người Hoa thường gọi cái vạc bằng tên khác là đỉnh hay đảnh.
c- Cổ – cối
Sách cũ Trung hoa cho biết người Lạc Việt xưa khi có người chết thì dã cối để báo cho mọi người. Như vậy cái cối đã được dùng như 1 khí cụ âm thanh. Dân tộc học cũng cho biết người Việt không đánh trống đồng mà dã trống như dã cối vậy.
Ở Việt Nam nhiều nơi các cụ già vẫn gọi trống đồng là ‘cối đồng’. Từ ‘cối’ ký âm Hán tự biến thành ‘cổ’, từ cái cối Việt Nam khi sang bên tàu đã biến thành cổ là cái trống...
Chung, đỉnh hay vạc và đồng cổ ‘thoát thai’ từ chum đất vạị sành và cối đá đã chỉ ra: chuông đồng, đỉnh đồng và trống đồng đều là phát minh của người Việt... lý do rất đơn giản là tên gọi của nó nguyên thủy là từ Việt hay rõ hơn là từ Nôm.
2. Ấn chỉ.
Ấn là in, cái ấn là con dấu điều đó có lẽ ai cũng biết. Nhưng ít người để ý : từ ‘ấn’ là động tự Việt ngữ có nghĩa là đè xuống. Khác với quy tắc biến đổi ‘đất đá tiến lên đồng’. Ở đây hình thành quy tắc khác : động từ biến đổi thành danh từ. Trong nền văn hóa Hạ Long gần 2000 năm trước công nguyên đã tìm được nhiều con dấu dùng ̣để ‘ấn’ vào đất xét trước khi nung tạo các ‘dấu ấn’tức hoa văn trên đồ đất nung.
Khảo cổ học Việt gọi là ‘dấu Hạ Long’, về sau kỹ thuật tạo dấu ấn này được cải tiến và phổ biến trong nền văn minh Trung Hoa đã nổi tiệ́ng như 1 công cụ hữu hiệu của nền hành chánh quốc gia.
Từ đời Chu được nâng cấp biến thành điều linh thiêng : con dấu của hoàng đế gọi là ‘Ấn truyền quốc’. Dù dùng tạo ‘dấu ấn’ trên đất sét, trên lụa hay trên giấy thì kỹ thuật vẫn là khắc hoa văn ngược trên con dấu để khi ‘ấn’ xuống sẽ để lại hoa văn thuận chiều như ý muốn. Chính kỹ thuật này đã tạo ra công nghệ in sau này, chữ được khắc ngược trên miếng gỗ gọi là mộc bản sau đó phết mực và ‘ấn’ xuống lụa hay giấy tạo thành những bản in, tên của quy trình được gọi ngắn gọn là ‘ấn’ phản ánh nguyên tắc hoạt động nguyên sơ của nó.
‘Ấn’ nguyên thủy là động từ tiếng Việt đã biến thành một danh từ của Hoa ngữ, người Việt biến âm đi gọi là ‘in’ để phân biệt rõ ràng quy trình và sản phẩm. Chính từ ‘ấn’ đã xác định nơi phát minh ra ngành ‘in-ấn’ mà ứng dụng khiến thay đổi bộ mặt thế giới. Cái quy trình đơn sơ ‘ấn’̣ để tạo thành ‘dấu ấn’ chỉ mất địa vị khi kỹ thuật in laser ra đời ở cuối thế kỷ 20.
Kỹ thuật in vẫn được coi là một phát minh sáng chói của người Tàu được toàn nhân loạiốử dụng và được coi là cuộc cách mạng trong lãnh vực văn hoá thông tin, hiệu dụng của nó đã kiến tạo nên bộ mặt thế giới ngày nay.
Nhưng với khám phá từ ‘ấn’ là từ Việt hoàn toàn thì vấn đề phải xem xét lại. Chính người họ HÙNG mới là nhà phát minh vĩ đại đem lại lợi ích cho toàn thể nhân loại không phải là người Tàu như đã lầm tưởng.
Trong cuộc cách mạng văn hoá thông tin còn 1 sự kiện quan trọng không kém, đó là việc phát minh ra giấy, người Tàu gọi là ‘chỉ’, với những thông tin đang biết thì người phát minh ra cách chế tạo giấy là một người Việt tên Thái Luân, quy trình công nghệ là xay giẻ tức vải vụn với vỏ cây tươi làm chất phụ gia kết dính tạo thành giấy.
Công dụng trong đời sống đặc biệt trong lãnh vực văn hoá truyền thông thì khỏi phải bàn nữa, nó sâu rộng như thế nào chúng ta ai cũng biết. Bài viết này xin kiện chứng thông tin : giấy là phát minh của người Việt qua bằng chứng ngôn ngữ, người Việt đã dùng tên vật chất cũ là ‘giẻ’ nguyên vật liệu chính dùng chế biến để đặt tên cho vật chất mới tạo thành từ nó là ‘giấy’, người Tàu gọi là ‘chỉ’ ; 2 từ này chỉ là sự biến âm theo 2 hướng từ 1 âm gốc là ‘giẻ’.
Giẻ → gỉ →chỉ (âm Hán Việt) Giẻ→ gié→gió→ giấy (người Việt biến ‘gió’ thành tên riêng một loại giấy gọi là ‘giấy gió’)
Khi 1 sản phẩm mới ra đời ‘tên gọi’ của nó chắc chắn thuộc về ngôn ngữ của dân tộc đã sáng tạo ra sản phẩm mới đó. Điều này tự nhiên đơn giản nhưng vững chắc không thể bác bỏ ; Như vậy cùng với in-ấn ; giấy cũng là phát minh của người họ HÙNG. Sự đóng góp của tiền nhân người Việt vào tiến trình văn minh nhân loại là vô cùng to lớn, con cháu họ HÙNG ngày nay có quyền tự hào về những thành tựu trí tuệ tuyệt vời của cha ông mình.
3. Xe thuyền.
Xe thuyền là phương tiện vận chuyển người hoặc hàng hóa từ nơi này tới nơi khác 1 trên bộ và 1 dưới nước.
Xe tiếng Việt từ Hán Việt đọc là xa còn bản thân người Hoa (Quảng Đông) cũng phát âm là xe hay che ; như vậy Việt và Hoa hoàn toàn giống nhau trong cách gọị tên phương tiện vận chuyển trên bộ này, truy nguyên nguồn gốc từ ‘xe’ có thể khẳng định phát minh ra cái xe là của người Việt.
Việt ngữ có động từ ‘Xê’, nghĩa là dời đổi vị trí 1 vật, khi sáng chế ra phương tiện để dời đổi vị trí 1 vật từ nơi này đ̣ến nơi khác ở trên bộ người ta gọi nó là ‘cái xê’ có nghĩa là phương tiện thực hiện sự dời chuyển.
Ở đây động từ xê đã biến thành danh từ Xe.
• Xê→xe - xa ;
Bởi vì xê là từ thuần Việt nên xe cũng là từ Việt ; như đã nói ở phần trên bản thân tên nguyên thủy vật dụng thuộc về ngôn ngữ nào thì dân tộc đó chính là người đã sáng tạo ra nó. Tới đây thì đã có thể xác định chắc chắn cái xe là phát minh của người họ HÙNG.
Tương tự với xe, từ thuyền cũng có gốc gác Việt, từ ‘Chuyên’ trong tiếng Việt có nghĩa là đem một vật gì đi nơi khác, người Việt thường dùng đi đôi với ‘chở’ thành từ thuần Việt ‘chuyên chở’. Có vì vua thời thái cổ Trung hoa tên có thể đọc là Chuyên Húc đồng thời cũng có thể là Xuyên Húc, từ Chuyên tiếng Việt trên cũng có biến đổi như thế :
• Chuyên→ thuyên→thuyền, tiếng Quảng đọc là Thoàn.
• Chuyên→xuyên→xuông→xuồng.
Tiếng Việt miền bắc dùng chữ ‘thuyền’, miền nam dùng chữ ‘xuồng’ cùng chỉ phương tiện di chuyển trên mặt nước, với mẹ là động từ chuyên, bản thân tên gọi vật thể là thuyền hay xuồng đủ xác định nơi sinh chốn đẻ của nó là đất Việt.
Trong quá khứ đã có thời đất nước Việt to rộng vô cùng, trí tuệ người họ Hùng đã từng là đỉnh cao của nhân loại, tiền nhân chúng ta đã có sự đóng góp vô cùng lớn lao cho văn minh của loài người.
Ngày nay với tư cách là truyền nhân chính thức của dòng giống Hùng người Việt có quyền tự hào một cách chính đáng, nhưng trong niềm phấn khích vô bờ đó quan trọng hơn cả là phải làm sao khôi phục địa vị như của cha ông trước đây trong cộng đồng nhân loại..
Bài 2:
CHÍN CHÂU VÀ VĂN MINH NHÀ HẠ
Kinh thư thiên Vũ cống viết : vua Vũ chia đất thành 9 châu Ký Dự Thanh Từ Kinh Dương Cổn Ung Lương ...., địa giới chạy từ Hà Nam tới Hoàng Hải ở phía đông, phía nam xuống tới Hồ Nam Giang Tây, Chiết Giang ngày nay, giới sử học Trung Quốc ấn định 9 châu trên bản đồ :
Nhưng theo kết quả nghiên cứu khoa học tổng hợp ngày nay thì : với trình độ khoa học kỹ thuật nói chung và trình độ sản xuất lạc hậu lúc đó nói riêng thì lãnh thổ nhà Hạ phải thu hẹp ít ra hơn 10 lần, chỉ khoảng vài ba trăm ngàn km2 bên bờ Hoàng Hà ở quãng tỉnh Hà Nam – Sơn Tây là cùng.
Bản đồ lãnh thổ nhà Hạ theo khoa học lịch sử
Nhưng nếu như thế thì sự ấn định của khoa học đã phủ nhận hoàn toàn những thông tin ghi chép trong kinh Thư ?
Đọc kỹ thiên Vũ cống :
1- Lãnh thổ 9 châu nhà Hạ phía đông giáp biển, phải chăng chính từ địa hình này mà hình thành từ biển đông ngày nay ? Nếu lãnh thổ nhà Hạ bên bờ Hoàng Hà quãng Hà Nam - Sơn Tây thì làm gì có biển.
2- Phương tiện vận chuyển chính của người nhà Hạ là thủy vận. Phần lớn các châu mang cống phẩm về kinh đô đều theo đường sông đổ ra “hà”. Giới sử học Trung Quốc mặc nhiên coi ‘Hà’ là Hoàng Hà dù chẳng thấy có chữ Hoàng nào ? Rất nhiều khả năng Hà - Hồ - Hải chỉ là biến âm của nhau. Tiếng Việt có cặp số GIÊNG -HAI trong Dịch học đồng nghĩa với GIANG-HỒ ;
• Hồ → Hà, Hải.
Trăm sông đổ ra biển rất có thể chữ ‘Hà’ trong kinh THƯ này dùng để chỉ biển cả, nơi truyền thuyết Việt gọi là Động Đình Hồ ?
Những nghiên cứu khoa học ngày nay xác nhận thời cổ đại thủy vận không phát triển ở Hoa Bắc, ngược lại rất phát triển ở Đông Nam Á và Hoa Nam.
3 – Nói thật rõ ràng thì dân sống ở 9 châu nhà Hạ trồng ‘lúa nước’, kinh Thư dùng chữ Điền là ruộng lúa ; nhưng chỉ canh tác lúa nước người ta mới đắp bờ ̣để giữ nước trong ruộng. Chính hình ảnh bờ ruộng đã tạo thành đường nét của chữ Điền. Như thế từ ‘Điền’ phải hiểu chính xác và trọn vẹn là ruộng nước hay ruộng trồng lúa nước chứ không thể là ruộng chung chung...
Vùng Hoàng Hà thời Hạ trồng Kê là chính do đặc điểm địa lý khí hậu và trình độ kỹ thuật thời đó không cho phép trồng lúa nước. Ngày nay người ta đã di thực cây lúa nước lên vùng Hoàng Hà nhưng năng suất vẫn rất thấp và 1 năm chỉ trồng được 1 vụ.
4 – Lãnh thổ 9 châu nhà Hạ nằm trong vùng địa lý tự nhiên có loài VOI sinh sống vì trong những cống phấm của 9 châu có ngà voi .... Nhưng vùng ven Hoàng Hà từ cổ chí kim chưa nghe nói đến voi, mãi đến thế kỷ 15-16 khi nhận được voi cống từ miền Đông Nam Á vua Tàu còn vội vã trả lại vì sợ loài vật lạ chưa từng có nên không cho nhập vào nước Tàu.
5 – Kinh thư cho thấy trên lãnh thổ Trung hoa nhà Hạ có rất nhiều tre lớn gọi là bương hay giang hay nứa. Loài tre lớn thường mọc tự nhiên ở xứ nóng mà 9 châu nhà Hạ không những có tre mà còn có cả nền thủ công đan lát vật dụng bằng tre.
Càng về phía bắc tre càng nhỏ lại, trong tập tính sinh hoạt thì ‘tre’ không có điạ vị trong đời sống dân Hoa Bắc trái lại ở Tây Nam Trung Hoa và Việt Nam tre là loại cây vô cùng thân thiết. Người Việt có thể làm mọi thứ vật dụng cần thiết bằng tre, có thể nói không ngoa tre là nền tảng của văn hóa vật thể Việt nên rất nhiều khả năng “trúc thư” (sách thẻ tre) cũng ra đời ở đây hay nói rộng hơn và chắc hơn là : trong ‘vùng văn hóa Bách Việt’.
6 – Cây đay là cây á nhiệt đới, còn cây dâu tằm (loại mọc quanh năm) đòi hỏi độ ấm và đ̣ộ ẩm cao. Đặc điểm sinh lý loài tằm năng suất cao cũng không thích hợp với vùng Hoàng Hà, các nghiên cứu khoa học cho thấy vùng sông Tứ hay Châu Giang có thể nuôi 8 lứa tằm trong 1 năm, lên vùng Trường Giang chỉ có thể nuôi 3 lứa đến Hoàng Hà thì chỉ còn 1 lứa. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày nay còn như thế hỏi thời nhà Hạ thì 9 châu có thể nuôi tằm - dệt lụa một cách phổ biến hay không ? (nghề dệt lụa đã có từ thời Hoàng đế mấy trăm năm trước nhà Hạ).
Thông thường thì cây - con mà người ta nuôi trồng bao giờ cũng bắt đầu từ những cây con hoang dã trong thế giới tự nhiên nên nơi nào địa lý khí hậu đáp ứng tốt nhất cho điều kiện sinh lý của cây con đó thì nơi này chính là địa bàn phát sinh giống loài đó. Về sau mới phát tán theo bước chân di cư của con người, do nhu cầu thiết yếu và tập tính sinh hoạt con người vẫn nuôi trồng cây con cũ ở nơi định cư mới dù phải thu hoạch kém hơn do hoàn cảnh thiên nhiên không còn sự đáp ứng tối ưu.
7 – Trong cống phẩm của 9 châu có loại đá dùng làm khánh ; một loại nhạc cụ, kinh thư cũng viết:
• Ông Quỳ tâu với vua Thuấn: “tôi gõ vào đá, vỗ vào đá muôn loài đến nhảy hót ...”
Như vậy kinh thư cho ta thấy nền âm nhạc nhà Hạ dùng bộ gõ và nhạc cụ bằng đá, phải chăng ngày nay gọi là đàn đá ? Loại nhạc cụ độc đáo này chưa phát hiện được ở Trung Quốc nhưng ở Việt Nam có những dân tộc thiểu số hiện vẫn còn đang sử dụng và các nhà khảo cổ cũng đã tìm được những bộ đàn đá hoàn hảo xưa đến mấy ngàn năm tuổi.
8 – Kinh Thư thiên vũ cống còn nói đến cống phẩm là đá dùng làm mũi tên ; “thạo nghề cung nỏ” là đặc điểm của người Việt cổ, sách Tàu xưa đã viết như thế. Người Việt không những biết dùng cung nỏ mà còn biết nâng cấp hiệu quả của cung nỏ như làm mũi tên bằng đá để tăng khả năng xuyên thấu, đến thời đồ đồng thì thay mũi tên đá bằng mũi tên đồng. Các nhà khảo cổ Việt Nam đã tìm được nhiều hiện vật cổ là mũi tên bằng đá đúng như Kinh thư đã chép. Còn bên Tàu biết có hay không ?
Thực kỳ lạ và trớ trêu khi vùng đất Việt Nam và lân cận ngày nay vừa thoả cho điều kiện khắt khe của khoa học về quy mô - diện tích lãnh thổ lại có đầy đủ những gì của 9 châu đã ghi chép trong Thiên Vũ cống - Kinh Thư.
Chính sự kỳ lạ này là cơ sở để ‘Sử thuyết họ HÙNG’ xác định vị trí 9 châu thời vua VŨ nhà Hạ là miền Bắc và Bắc Trung Việt cộng với vùng đất lân cận ngày nay.
Bài 3: Bức thông điệp ngàn năm
Trống đồng có nhiều hình dạng, nhiều thời do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau, bài này viết về thông điệp trên mặt trống đồng NGỌC LŨ.
Mặt trống gồm 1 tâm và 3 vòng đồng tâm.
A. Tâm trống và vòng đồng tâm số 1 : nhân sinh quan VIỆT.
Tâm trống là mặt trời đang chiếu sáng, vòng tròn số 1 là cảnh sống, sinh hoạt của con người.
Tâm trống đồng luôn luôn là mặt trời, mọi kiểu trống mọi thời đại đều như thế ; điều này cho thấy có sự thống nhất và xuyên suốt nguyên tắc cơ bản trong hệ tư tưởng Việt: Mặt trời là trung tâm vũ trụ cũng chính là hình ảnh đại diện cho ‘ông trời’ siêu hình.
Ông Trời là đấng tối cao mà quyền năng chi phối tất cả nhưng lại thân thiết gần gũi như cha mẹ nên người Việt hay gọi “Trời đất ơi - cha mẹ ơi.”
Mặt trời phát ra ánh sáng cũng là phát ra sự sống, trong tiếng Việt ‘sáng’ và ‘sống’gần như là một âm. Phần hồn tức anh linh nơi con người chính là 1 phần của cái khối sáng vĩ đại ấy đến trái đất nhập vào thân xác vật chất thành ra con người sống động có thần. Thần tính ấy được quẻ Kiền gọi là Long hay con Rồng, 6 hào là hình ảnh tượng trưng của 6 giai đoạn bay lên từ đất tới trời cao.
Khi đã đi hết đoạn đường trần thế thì xác trả về cho đất hồn trở về trời chính vậy mà mặt trời với người Việt trở thành chốn linh thiêng vì tổ tiên ông bà ngự nơi đấy, quẻ Lôi địa Dự viết: ‘lôi xuất địa phấn tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức ân tiến chi thượng đế dĩ phối tổ khảo’ cũng là lẽ này ; câu dâng lên trời mà cũng là để ông bà mình hưởng đã chỉ ra : anh hồn tổ tiên đang ở chung với ông trời hay đấng tối cao...
Cuộc sống miên trường không bao giờ dứt có chăng chỉ là chuyển đổi dạng thức tồn tại từ dương sang âm mà thôi hay nói theo dân gian là chuyển địa chỉ từ dương trần sang âm phủ.
Cuộc sống vẫn tiếp nối chỉ chuyển dạng tồn tại mà thôi đấy là triết lý về sự sống - chết của người Việt đã được kinh Dịch thể hiện hay nói cách khác: tâm và vòng đồng tâm thứ nhất của mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện ‘nhân sinh quan’ của người Việt. Cuộc sống sinh động nhưng hữu hạn vì có sinh có biến đổi ắt có tử duy nhất chỉ nơi tâm vòng tròn là bất biến nên bất tử, ‘sinh’ là từ cõi Hằng bước sang cõi ‘Biến’ qua 1 thời gian dạo chơi trần thế để biết mùi ‘đời’ rồi ‘tử ’ tức là trở về nơi đã ra đi. Người đời nói ‘sinh ký tử quy’ nghĩa là vậy, nhưng ta phải luôn nhớ không phải ra đi làm sao thì trở về làm vậy, vì qua thời gian ở cõi ‘biến’ ta đã thành người khác, sáng hơn hay tối hơn là tùy những gì ta đã làm nơi dương trần với tư cách con người có ý thức và chủ động trong hành vi của mình.
Ngày ‘về’ ai cũng đè nặng trên vai 1 bao tải đựng “nghiệp” tức thành tích của mình nơi trần thế, trình diện các cụ rồi mở bao ra thấy toàn án tòa và ‘mail’ nguyền rủa của người đời thì lập tức cút xéo. Thế là vĩnh viễn trở thành kẻ thất sở thân sơ.
Với nhân sinh quan như vậy nên người Việt là dân tộc có hiếu nhất thế giới, chữ hiếu được nâng hẳn lên thành 1 tôn giáo: gọi là đạo ‘Hiếu’ hay đạo thờ ông –bà.
- Cao nhất là thờ ông ‘Thiên’ tổ của cả loài người, với quốc gia thì thờ quốc tổ, làng thì thờ ‘thành hoàng’, tộc họ thì có nhà thờ họ và trong mỗi nhà đều có bàn thờ ‘gia tiên’.
Trong nhân sinh quan người Việt thì quá khứ - hiện tại - tương lai sống và chết là sự biến đổi tiếp nối tuần hoàn không có chấm dứt. Thế nào rồi cũng có ngày phải về gặp các cụ, lúc đó ăn làm sao nói làm sao ? Chính vì vậy nên phải lo liệu ngay từ bây giờ, công đức tạo nên không phải chỉ để cho đời này mà là công đức cho mọi đời. Ngoại trừ những tay ‘siêu bịp’ thì ai được kính trọng ở đời này ắt cũng được kính trọng ở đời sau và ngược lại kẻ bị người đời nguyền rủa thì cũng sẽ bị nguyền rủa đời đời.
B. Vòng đồng tâm thứ 2 : xướng danh dân tộc.
Là người Việt không ai mà không biết huyền tích Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ con gái Động Đình Quân.
Như đã nói ở những bài trước trong sử thuyết họ HÙNG, Kinh Dương Vương nghĩa là vua phương Nam, Long Nữ hay Long Mẫu con gái Động Đình Quân vua phương Đông, sự hợp huyết 2 dòng phương Nam và phương Đông là sự hoàn tất việc đúc kết tạo nên người Việt, cũng vì lẽ này người Việt rất đỗi tự hào khi nhận mình là ‘con Rồng cháu Tiên’.
Những thông tin tạo nên tuyền thuyết này ̣đều xuất phát từ Hà thư.
Trong đồ hình Hà thư số 6 hay 6 nút trắng nằm ở phía nam, số 8 nằm ở phía đông.
Phương Nam ngoài số 6 còn có số 1 nên phương nam còn là phương của đế Tiên hay bà Vũ Tiên vì lẽ này người Việt mới nhận mình là ‘cháu Tiên’.
Theo hậu thiên bát quái phương Nam số 6 còn là phương của nước tức quẻ Khảm.
Nước tiếng Việt cổ là nác-lác → Lạc. Đây chính là từ Lạc trong Lạc Long Quân và Lạc Việt.
Trong Hậu thiên bái quái phương đông số 8 là quẻ Chấn hay Thìn tức con Rồng, Hoa ngữ là Long.
Tới đây đã rõ câu : con cháu Tiên-Rồng hay dòng giống Lạc - Long là chỉ sự hợp nhất giữa 2 dòng người họ Hùng ở phương Nam số 6 và phương Đông 8 theo Hà thư vào thời Hùng Việt Vương - Tuấn lang. Mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện những thông tin lịch sử này ở vòng tròn thứ 2 bởi nửa vòng tròn khắc hình 6 con chim và 10 con nai và nửa vòng tròn còn lại là 8 con chim và 10 con nai. Ở đây tiền nhân người Việt đã sử dụng những nút số của Hà thư, đặc biệt số 10 lại không được coi là 10 (số chẵn) mà coi như là 2 số 5 là số lẻ.
Các nút trắng - chẵn của Hà thư được thay thế bằng hình Chim và nút đen - lẻ được thay thế bằng con nai.
Nhìn lại Hà thư với các nút chẵn :
10 con nai và 6 con chim chỉ người họ Hùng phương nam: con cháu của Kinh Dương Vương.
10 con nai và 8 con chim chỉ người họ Hùng phương Đông con cháu của Long Nữ hay Long Mẫu.
Ý nghĩa thể hiện ở vòng tròn đồng tâm thứ 2 trên mặt trống đồng chính là sự tự xưng danh của chủ nhân trống đồng Ngọc Lũ, dân tộc ấy chính là dòng giống Tiên - Rồng hay Lạc - Long, Tiên - Long. Xác lập bởi các cặp số số (6/10) và số (8/10).
Nếu không có số 10 chỉ dùng số 6 và số 8 sẽ bị hiểu là : người nước ngoài ở phía nam và ̣đông nước ta ;
Người Việt xưa đã thêm mẫu số 10 để nói rõ đấy là : người cùng dòng giống HÙNG thuộc chi Trung - Nam và chi Trung- Đông.
C. Vòng đồng tâm thứ 3 : ước vọng Dân tộc trường tồn.
Vòng đồng tâm thứ 3 của mặt trống đồng có tổng cộng 18 cặp chim, mỗi cặp có 1 chim lớn đang tung cánh bay và 1 con chim nhỏ đang tung tăng trên mặt đất, từng cặp như vậy nói lên sự nối tiếp liên tục hễ tre già thì măng mọc, cha mẹ già khuất núi thì con cháu lớn lên cứ như thế mà tiếp nối mãi.
Trong Dịch học Chim Hạc hay Hồng hạc là chữ của Điểu thú văn chỉ Trời cao, thời gian và những yếu tố văn hóa phi vật thể, Hà → hạc.
Con nai Hoa ngữ là Lộc biến âm của lục là số 6 cũng là Đất cũng là chữ điểu thú văn dùng chỉ : đất, không gian và những yếu tố văn hóa hữu hình hữu thể.
Trong 18 đời Hùng vương thì Hùng Việt Vương - Tuấn Lang chính là Sơn Tinh hay Tản Viên Sơn Thánh Quốc Chúa Đại Vương. ‘Tuấn’ là tên chữ ký âm của ‘Tản’ tiếng Việt.
Sơn Tinh cũng là 1 Kinh Dương vương (canh=6, giêng = 1) nghĩa là chúa phương nam vì trong Tiên thiên bái quái quẻ Cấn là sơn - núi chỉ phương nam.
Truyền thuyết nói Kinh dương vương kết duyên cùng Long nữ như đã xác định ở vòng tròn thứ 2 mặt trống đồng Ngọc Lũ phải chăng là nói về sự thống nhất dòng Tiên và Rồng để tạo ra ‘dòng giống tiên Rồng’ ở triều đại Hùng Việt Vương – Tuấn Lang ? ( xin xem Sử thuyết họ HÙNG ), từ người VIỆT bắt đầu có từ đây.
Những cặp chim ở vòng tròn thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là loài chim DIỆC.
DIỆC là phát âm của người nam bộ, âm bắc là VIỆT. Chính là từ Việt trong đế hiệu Hùng Việt Vương - Tuấn Lang ?
Số 9 là cửu, cửu cũng có nghĩa là lâu dài, 18 là trùng cửu ( 9x2 ) đồng âm với trường cửu nghĩa là mãi mãi bất tận. Điều này xin đừng vội cho là cưỡng ép vô lối vì chính người Hoa cũng hay dùng lối đồng âm gán nghĩa này như : họ kiêng số 4 vì đọc là tứ cận âm với tử là chết, bạn cũng đừng ngạc nhiên khi họ tặng bạn chiếc quan-tài vì quan ở đây được hiểu là sự thăng quan tiến chức, tài hiểu là tấn tài tấn lộc nghĩa là chúc có thêm tiền ....
Chim diệc ̣đang tung cánh bay là chỉ dân tộc Việt trong vòng thời gian.
Mỗi cặp chim 1 trưởng thành 1 còn non chỉ sự nối tiếp kế thừa.
18 cặp là Trùng cửu (2 lần 9) cũng là trường cửu.
Vòng đồng tâm thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ với 18 cặp̣ chim Diệc là bản văn ngắn gọn nhưng rất rõ ràng :
“DÂN TỘC VIỆT ĐỜI SAU NỐI ĐỜI TRƯỚC CỨ NHƯ THẾ TỒN TẠI MÃI MÃI”
Tới đây thì ta hiểu rõ tại sao vua Đông Hán ra lệnh cho mặt ngựa (Mã Diện hay Viện) tịch thu và phá hủy cho bằng hết trống đồng của người Việt ; ý đồ của chúng là biến người Việt thành đám con hoang không cội nguồn đồng thời chặt đứt ước nguyện trường tồn của dân tộc này. Nhưng trời cao có mắt...
Việc giải mã được những thông tin chứa trên mặt trống đồng Ngọc lũ đưa đến hệ qủa hết sức quan trọng với người Việt :
1. ‘Con Rồng cháu Tiên’ không còn là truyền thuyết lịch sử mà chính thức trở thành lịch sử, một lịch sử được ghi chép rõ ràng trên sách ‘đồng’ bằng ngôn ngữ Dịch học đã phổ biến - lưu truyền 3000 năm nay.
2. Truyền thuyết lịch sử Việt không phải chỉ có 1 chuyện ‘con rồng cháu tiên’ mà là cả 1 hệ thống những truyền thuyết tương đối hoàn chỉnh chứa đựng những thông tin của 1 thời gian dài mà ngày nay gọi là thời tiền sử. Chỉ cần minh xác được 1 đoạn trong cái chuỗi thông tin liên hoàn ấy cũng đủ để ta lượng giá về tính xác thực của cả hệ thống truyền thuyết lịch sử đang lưu truyền.
3. Lịch sử và văn minh Việt có liên hệ ‘máu thịt’ với dịch lý từ khi người Hán chưa đặt chân tới mảnh đất này, những trống đồng cổ nhất có đến 3000 năm tuổi đã trở thành vật chứng chắc chắn - rõ ràng nhất giúp khẳng định : Dịch lý là thành tựu trí tuệ tuyệt vời của tiền nhân người Việt ngày nay ..
Bài 4: Kinh Dịch và mái nhà VIỆT
Mái nhà cong là 1 nét đặc trưng của văn hóa vật thể Á đông; Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và những nơi chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa có kiến trúc phần mái nhà cong tạo nên 1 miền văn hóa khác hẳn với những nơi khác.
Mái nhà cong tiêu biểu của điện tam thế chùa Bái Đính - Ninh Bình - Việt Nam.
Mái cong ở Thành cổ Lạc dương Trung Hoa
Tại sao mái nhà lại cong lên và kiểu mái cong độc đáo đó xuất phát từ đâu là những câu hỏi được đặt ra từ lâu nhưng mãi tới nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Theo cảm tính người ta thường gọi đó là mái nhà Trung Hoa có thực như thế không ? Nếu quả thực người Trung Hoa đã sáng tạo ra kiểu mái nhà cong đó thì vẫn còn phải xem xét vì ngược về quá khứ ngàn năm trên phần đất Trung Quốc ngày nay có 2 thành phần cư dân khác biệt nhau cả về nhân chủng lẫn nền tảng văn hóa: người Bách Việt phía nam và những sắc dân thuộc chủng Mongoloid ở phía bắc; Như vậy ai đã sáng tạo ra nét văn hóa này?
Suy nghĩ bình thường thì Mái nhà cong không xuất phát từ công dụng thực sự, mái cong không làm tốt chức năng của cái mái nhà hơn là mái phẳng ngoài ra với những nét cong thì mái nhà về mặt kỹ thuật khó thi công hơn nhiều và chắc chắn về mặt kinh tế nó tốn kém hơn cái mái nhà phẳng, như vậy là: xét các mặt công dụng, kỹ thuật và kinh tế đều không phải là nguyên do. Thế tại sao mái nhà Á đông vẫn cứ cong, các góc của mái cứ chỉa lên trời một cách kỳ lạ.
Tìm hiểu sâu hơn về văn hóa Á đông sẽ nhận ra:
Những Điều sau đây khẳng định người Hoa Nam và người Đông Nam Á chính là chủ thể sáng tạo ra nét văn hóa mái nhà cong độc đáo:
• Mái nhà cong đã được khắc họa trên trống đồng hàng ngàn năm trước công nguyên khi người Hán và văn hóa Hán chưa bén mảng đến vùng đất Đông Nam Á.
Nhà cổ mái cong khắc trên trên trống đồng.
Ngày nay trong những dân tộc sống tương đối cô lập so với tiến trình văn minh chung ở Đông Nam Á không hề có chút liên hệ với văn minh Trung Hoa vẫn còn bảo lưu nét văn hóa truyền thống mái nhà cong độc đáo.
Mái nhà cong ở Batak indonesia.
Tìm hiểu rộng rãi hơn có thể khẳng định không phải chỉ những nước theo văn hóa Trung hoa mới có mái nhà cong mà những nước đông nam Á theo văn hóa Ấn Độ như Miến Thái Lào .v.v. cũng có mái nhà cong nhưng không phải cong thực sự mà nét cong được thể hiện bằng hoa văn tháp gắn vào...
Mái nhà cong hoa văn ở 1 ngôi Chùa Thái.
Có thể nói Đây là nét văn hóa có cơ tầng sâu thăm thẳm trong trong tâm trí cư dân Đông Nam Á bao gồm cả Hoa Nam, sự phổ quát 1 nét văn hóa chung trên 2 cộng đồng người mà hiện nay cho là hoàn toàn khác nhau trong tiến trình lịch sử là điều rất khó hiểu, phải chăng Đông Nam Á và Hoa Nam ở thời tiền sử là 1 khu vực thống nhất về dân tộc và văn minh ? Những Hình khắc trên trống đồng và mái nhà cong của những dân tộc thiểu số ở Đông Nam Á đã khiến không thể suy nghĩ khác được, dựa vào ‘hình hài’ cái mái nhà dù là cong thực hay cong hoa văn thì vẫn là đường nét để người ta thể hiện điều gì đó, nói lên ý nghĩa nào đó ...
Khi nguyên do khiến cho cái mái nhà Á đông cong lên không tìm được trong các khía cạnh vật chất thì chỉ còn con đường tìm trong chủ đạo văn hóa của cư dân nơi đó.
Phải chăng đường nét cong đã khắc họa trong chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn để rồi thể hiện ra trên vật thể tạo tác bởi bàn tay con người?
Dịch lý là nền tảng tư tưởng của người Hùng Việt, nơi người Việt những nguyên lý Dịch học chi phối hoàn toàn não bộ khi suy tư và mọi kiến giải về sự biến đổi trong vũ trụ bao la đều mang dấu ấn của dịch học, tự nhiên như nước chảy ra từ khe đá không cần ‘vận’ chi cả mà vẫn ‘dụng’ được cứ như là từ khi cha sinh mẹ đẻ não bộ đã được lập trình sẵn nên không cần học mà vẫn biết vẫn dùng hằng ngày. Ví dụ như khi mong cho con ‘khôn lớn’ ... là đã dụng Dịch rồi vì Khôn - lớn là ý của 2 quẻ Càn và Khôn.
Trong ngôn ngữ Việt chỉ 1 từ kép đơn giản như ‘che-chở’ thôi đã chứa ý nghĩa rất thâm sâu của dịch lý: Che là bảo bọc chở là nâng đỡ, trời che - đất chở cho người tức Thiên ở trên Địa ở dưới Người ở giữa chính là Tam tài của dịch học. Trong 1 cái nhà thì phần mái để che là thuộc về Trời quẻ Kiền, phần sàn hay nền nhà thuộc về Đất qủe Khôn, quan niệm của Dịch lý là Thiên viên - Địa phương hay trời tròn - đất vuông, trời nét cong đối xứng với đất nét thẳng ...
Có nhà nghiên cứu cho là mái nhà cong mang dáng dấp của cái thuyền giống như hình thuyền khắc trên trống đồng. Điều này khó chấp nhận vì chức năng của thuyền là ‘chở’ như thế thuộc về địa mang nét thẳng làm sao có thể lộn ngược đất thành trời được.
Qua những gì đã xem xét có thể kết luận không sợ nhầm lẫn:
Chính do quan niệm triết lý ‘tròn - vuông’, trời nét cong đối với đất nét thẳng mà mái nhà của người Hùng Việt cong lên hướng về Trời, có thể nói mái nhà Á đông và Đông Nam Á là sản phẩm văn hóa vật chất mang nặng dấu ấn Dịch học, nét văn hóa mái nhà cong độc đáo này đã khởi phát từ đất tổ của họ Hùng sau mới lan toả rộng ra chung quanh cụ thể là cả vùng Đông Nam Á và những nơi ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa đế quốc Trung Hoả.
Hợp cùng với trống Đồng mái nhà cong trở thành bằng chứng vật chất không thể phủ nhận: chính người họ Hùng đã phát minh Dịch học làm nền tảng cho văn minh phương Đông trong đó muôn vàn ứng dụng làm ích cho con người đều phát ra từ cái gốc Dịch Lý.
Người Việt ngày nay có quyền tự hào về những thành tựu trí tuệ tuyệt vời của cha ông nhưng đồng thời cũng phải nghiêm chỉnh dốc sức thực hiện lời căn dặn ghi trong kinh Dịch: “Kế minh chiếu tứ phương” sao cho cơ đồ của cha ông ngày một thêm rạng rỡ.
Bài 5: Nôm na là cha mách qué .
Trong thành ngữ tiếng Việt có câu: “ Nôm na là cha mách qué” xưa nay nhiều người biết, nhiều người dùng nhưng ý nghĩa thực của câu này là gì ? Chưa thấy có ai giải thích cặn kẽ.
Tìm hiểu kỹ mới thấy câu ‘’Nôm na là cha mách qué’ có nghĩa rất đặc biệt ; chính là câu thần chú giúp ta mở cánh cửa vào toà lâu đài Dịch học.
Xin giải nghĩa :
• Nôm là biến âm của ‘Nam’ chỉ nước Việt người Việt. Từ Nôm trong câu này chỉ chữ Nôm, từ Nôm hay âm Nôm nói chung ý trong câu là chỉ tiếng nói của người Việt Nam. Ngày nay thường hiểu từ Nam là chỉ riêng người Việt Nam; thực ra đây là từ chỉ chung cả khối ‘Bách Việt’, thời Nguyên Mông đại để thì người phía bắc sông Dương tử gọi là người Hán, phía nam Dương Tử gọi là người Nam. Na tức ‘na ná’ nghĩa là gần giống với.
• Cha đồng nghĩa với thày cũng có thể hiểu là thày dạy học, người chỉ dẫn.
• Mách là chỉ bảo, chỉ dẫn nghĩa như trong mách bảo, mách nước .v.v.
• Qué ở đây biến âm của từ Quái trong Hoa ngữ hay quẻ trong tiếng Việt chỉ 8 quẻ căn bản của Dịch học, quẻ đơn là Kiền Đoài ly Chấn tốn khảm Cấn Khôn.
Tóm lại nghĩa của câu ‘Nôm na là cha mách qué’ là: Na ná hay gần giống với từ Nôm là thày chỉ bảo về ý nghĩa các quẻ Dịch.
Có thể viện dẫn :
1. Quẻ Kiền hay Càn chỉ sức mạnh hay sự to lớn có gốc từ tiếng Việt là ‘cồng - kềnh’ hay ‘ kềnh càng’.
2. Quẻ Đoài, đoài là biến âm của điều hay đào tức màu đỏ.
3. Quẻ Ly biến âm của quẻ ‘lửa’ tượng trưng cho sức nóng, ánh sáng và mặt trời.
4. Quẻ Chấn, Chấn là biến âm của ‘sấm’ Hoa ngữ là Lôi.
5. Quẻ Tốn hay Toán tức tính - toán trong tiếng Việt chữ cổ còn gọi là tán.
6. Quẻ Khảm còn gọi là Cống, thực ra là ‘cóng’ tiếng Việt thường dùng từ kép ‘lạnh cóng’.
7. Quẻ Cấn còn gọi là căn nghĩa tiếng Việt là ‘cán’ là cái để nắm lấy mà điều khiển như cán dao, cán cuốc .v.v.
8. Quẻ Khôn chỉ sự khôn ngoan nơi con người, chỉ khả năng nhận xét của não bộ tức khả năng nhìn nhận và phán đoán sự việc.
Xem xét kỹ thì : Không chỉ riêng Bát quái mà Thập can cũng do ‘Nôm na’ mà ra như:
Giáp - chắc trong chắc chắn.
Ất - óp như trong óp ép.
Bính - bấn, bấn loạn.
Đinh - đanh cứng như đanh .
Mậu - mẹ.
Kỷ - cả.
Canh - canh (nước), cánh, cạnh, cành, chỉ trục ngang.
Tân - tâng, tưng, tung lên chỉ trục đứng.
Nhâm - nhũn, nhung (mềm như nhung)
Quý hay Khang - khăng, khăng khăng không đổi.
Thực kỳ lạ tên các thành tố của Dịch học như Thập can, Bát quái... không mang 1 ý nghĩa gì trong Hoa ngữ, nó thuần là các tên để gọi mà thôi. Ngược lại khi ‘Nôm na’ thì ý nghĩa Dịch lý lại nằm ngay chính trong tên gọi của nó. (xin đọc Dịch học họ HÙNG). Thậm chí những từ khoá trong nguyên lý cơ bản “sinh sinh chi vị dịch” cũng có gốc từ ‘Nôm na’ mà ra : “thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái ...” ; cực nghi tượng quái... đều là những ‘đặc từ’ chỉ dùng trong dịch học phải có công ‘tu luyện’ mới thấu đáo.
Ngược lại khi dùng ‘nôm na pháp’: “1 cục hay cuộc sinh 2 ngôi, 2 ngôi sinh 4 tạng hay dạng, 4 tạng sinh 8 quả”. Rồi cả 3 toà 5 hình 9 chỗ thì ra tất cả là những danh từ thông thường dùng trong cuộc sống hàng ngày người ‘bình dân’ ai gặp cũng hiểu ngay chẳng phải là ‘đặc ngữ đặc từ’ chi cả ; có thể nói : khi ‘Nôm na’ thì Dịch học rất gần gũi đời sống thường nhật của con người trái hẳn với Dịch học siêu đẳng của Hoa ngữ: nói toàn chuyện trên mây như chỉ dành cho các bậc thánh triết mà trên cõi đời này hỏi có được mấy vị ? Ngược lại bọn buôn thần bán thánh kiếm sống dựa dẫm vào thứ Dịch học ‘siêu đẳng’ này thì đông đến tám tạ thiên khênh ....
Tóm lại dựa vào yếu tố ngôn ngữ có thể khẳng định : Kinh Dịch chứa đựng những hiểu biết về sự vận động và biến đổi của mọi vật trong Không và Thời gian là thành tựu trí tuệ của người NAM hay Bách Việt mà chi duy nhất còn lại đại diện cho cả dòng giống là Lạc Việt tức người Việt Nam ngày nay.
Bài 6: Giải mã chữ VIỆT bộ Mễ.
Chữ VIỆT tên nước do Triệu Đà lập ra ở Quảng đông là chữ Việt bộ mễ 粵 ; cấu tạo bởi chữ mễ 米 đóng khung đặt trên chữ Việt. 粤
Đó là cách nhìn thông thường ngày nay.
Còn 1 cách nhìn khác mang tính địa lý lịch sử khá quan trọng đối với lịch sử Trung Hoa. Mổ xẻ chữ Việt bộ mễ để giải mã :
粤
* Phần đầu.
粤
Với những vật hình tròn mang số 6 và số 9 thường phải có 1 dấu hiệu để xác định đầu trên tránh sự lẫn lộn giữa 2 số.
Tương tự như vậy phía trên khung hình vuông của chữ Việt bộ Mễ cũng có 1 nét bút nhằm xác định hướng mặt trời, nếu đặt đứng thì hướng về thiên đỉnh, còn khi đặt nằm thì đầu quay về hướng Xích đạo.
* Phần thân.
Người xưa với quan niệm “trời tròn đất vuông” nên một lãnh thổ hay 1 miền đất luôn được biểu diễn bằng 1 hình vuông và để chỉ vùng trung tâm người ta thêm vào các đường nam - bắc, đông - tây và đường nối 4 góc, giao điểm của các đường này gọi là GIAO CHỈ hay CHỖ GIỮA, những đường nối này được mô phỏng thành nét chữ Mễ.
* Phần chân :
Bộ phận dưới cùng là chữ VIỆT dùng xác định âm đọc.
Tách phân tự dạng chữ Việt bộ Mễ như trên gợi ra:
1. Ý thứ nhất.
Khi đặt chữ Việt bộ mễ nằm ngang theo trục Bắc- Nam ta nhận ra được cách thức người xưa đã dùng để cấu tạo nên nó ; hết sức thực tiễn và giản đơn :
Nước VIỆT có trung tâm nằm ở phía nam GIAO CHỈ chính là thông tin mang trong lòng chữ VIỆT bộ MỄ, chùm thông tin này được cô đọng thành nước NAM VIỆT.
Có thể xem đây chính là sơ đồ xác định vị trí trên quả đất Quốc gia do Triệu Đà khai lập. Từ khám phá này kết hợp với những thông tin về việc khai quật lăng mộ của Triệu Văn Đế ở Quảng Đông ta khẳng định:
Đất NAM GIAO và GIAO CHỈ trong cổ thư Trung Hoa là có thực.
Hướng BẮC - NAM xưa thời Triệu Đà nay đã bị đảo ngược : bắc thành nam và nam thành bắc.
Điều này tưởng là việc ‘nhỏ’ nhưng thực ra không nhỏ chút nào vì làm sao xử lý cả núi thông tin về các nước hay quốc gia trong cổ sử Trung Hoa ? Nước nào cũng có các thông tin về địa lý nam giáp, bắc giáp... bây giờ lộn ngược tất cả thì làm sao định vị được trên bản đồ ?
2. Ý thứ nhì.
Chữ Việt 粵 cũng dùng trong danh hiệu Hùng Việt Vương - Tuấn Lang vì vua tổ của vương quốc họ Hùng, chữ Việt ở đây là tên triều đại hay như truyền thuyết Việt gọi là : ‘đời’ Hùng Vương.
Nước vẫn là một Hữu Hùng quốc tức nước của người họ Hùng,Việt Vương - Tuấn Lang là vua sáng nghiệp truyền thuyết dùng làm danh xưng chỉ cả đời hay triều đại Hùng Vương thứ 8, là triều đại bản lề chuyển mình từ : thời lập quốc bước sang thời vương quốc, từ thời : tiền sử sang Sơ sử.
Cấu tạo chữ Việt như đã tách phân xem xét ý tứ ở trên :
Việt 粵 là cái rìu, cái búa đẽo chỉ là mượn âm để đọc.
Chữ mễ 米 đặt trong cái khung vuông chỉ trung tâm 1 vùng đất :
Thực ra đây chỉ là sự biến hình tạo chữ từ hình vẽ nơi giao cắt của các đường kẻ nối 4 phương 8 hướng chỉ nơi mà Việt ngữ gọi là ‘chỗ giữa’, Hoa văn biến thành ‘Giao Chỉ’.
粵
Liên Kết 2 phần biểu âm và biểu ý nhận ra Ý nghĩa thứ nhì chữ Việt bộ Mễ :
Việt là tên 1 triều đại (đời Hùng vương thứ 8 Hùng Việt vương – Tuấn Lang) của vương quốc trung tâm (Giao Chỉ) thiên hạ .
Bài 7: Hà thư và văn minh VIỆT.
1. Những con số thiêng của người Việt.
Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng con số 18 trong 18 đời HÙNG vương là con số thiêng.
Sử thuyết họ HÙNG đã minh xác đó là con số thực của lịch sử Việt, 18 triều đại Hùng Vương với những thông tin tuy chưa đầy đủ nhưng cũng đã có thể lấy làm căn cứ để trên cái nền ấy tiếp tục đào sâu bổ chứng thông tin biến sử thuyết thành Lịch sử họ HÙNG ; Lịch sử của quốc gia lâu đời nhất trên hành tinh này.
Không phải số 18 nhưng Trong văn minh họ HÙNG có những con số thiêng khác, những con số gắn liền với dân tộc và rất đặc biệt những con số này đều xuất phát từ Hà thư - Lạc đồ tức Thiên thư - địa đồ hiểu theo ngôn từ hiện nay :
Hãy xem.
Số 100.
Là người Việt chẳng có ai không biết chuyện bố Rồng mẹ Tiên và bọc trăm trứng, người họ HÙNG gọi nhau là “đồng bào” thực thiêng liêng và huyền nhiệm, “Bách Việt” cũng xuất phát từ huyền tích này. Cả không và thời gian mênh mông được tóm thâu vào 100 nút số của Hà - Lạc dân gian gọi là ‘khoanh’ và ‘đốm’, người xưa đã khéo chuyển những ý niệm lung linh mờ ảo uyên thâm của triết học thành hình ảnh rất dân giã rất đời thường: 100 quả trứng, Hà 55 và Lạc 45 quả, 100 quả trứng Hà - Lạc nở thành người là sự khởi đầu của dòng giống HÙNG. Thực ra không có con người ‘vật thể’ nào chui ra từ trứng cả nhưng tất cả người họ HÙNG ‘phi vật thể’ đều từ đó mà ra.
Hà thư và Lạc đồ chính là khởi nguyên của tri thức trong màn đêm tăm tối thời ‘ăn hang ở lỗ’ thánh nhân họ HÙNG đã khái quát hóa được những hình ảnh trực quan thành hệ thống dấu hiệu con người bắt đầu tư duy về sự biến hóa đổi thay trong thế giới vật chất bằng những mối tương quan của dấu hiệu 1 thế giới hoàn toàn mới được hình thành. Đó là “thế giới thông tin”.
Hà thư - Lạc đồ là cái nền của tri thức. Đấy mới là ý nghĩa đích thực của câu chuyện Rồng –Tiên trăm trứng mà chỉ riêng người họ HÙNG mới thấu suốt.
Số 5.
Đế Minh cháu 3 đời của vua Thần nông tuần du đến Ngũ Lĩnh gặp một nàng tiên kết thành vợ chồng và sinh ra Lộc Tục, Lộc tục sau là Kinh Dương Vương vì vua đầu tiên của nước Việt. Nhiều nhà nghiên cứu ḷịch sử căn cứ vào truyền thuyết này mà cho là quê hương ban đầu của người Việt tận Ngũ Lãnh ở Hồ Nam Trung Quốc.
Với dịch học họ HÙNG thì Lạc đồ cũng là địa đồ, số 5 ở trung tâm của Lạc đồ chính là Ngũ lĩnh trong truyền thuyết ; ‘ngũ lãnh’ chỉ nghĩa là vùng đất chính giữa thiên hạ không phải là tên riêng.
Lãnh thổ của 1 nước tuỳ theo vận nước thịnh suy mà có lúc nở ra và cũng có khi thu hẹp lại ; biên cương thay đổi thì ‘Ngũ lãnh’ cũng đổi theo, lại còn tùy theo sắc tộc nào là chủ thể của triều đại mà Ngũ lãnh cũng thay đổi, ngũ lãnh của nhà Chu không phải là ngũ lãnh của nhà Thương... Trong văn minh Trung Hoa thì quốc thổ Trung Hoa xưa được gọi là ‘Thiên hạ’ , ngũ lãnh là trung tâm của thiên hạ nên khi nói Ngũ lãnh thì phải nói ngũ lãnh của nước nào - thời nào - triều nào, ngũ lãnh thời đế Minh vua khai quốc người Việt tuần du dứt khoát không phải là ngũ lãnh ở Hồ Nam Trung Quốc.
Mỗi thời có mỗi ngũ lãnh, số 5 chỉ là con số thiêng tượng trưng cho vùng trung tâm quốc thổ. Không hề có một Ngũ lãnh tên riêng vĩnh cửu. Xin đừng hoài công theo đuổi mãi một giả thuyết lịch sử Việt không có hồi kết.
Số 15.
Số 5 trung tâm Lạc đồ chỉ vùng chính giữa tứ phương thiên hạ thì số 15 trung tâm Hà thư chỉ cộng đồng người là chủ vùng đất chính giữa ấy, truyền thuyết nói vua Hùng đóng đô ở Phong châu chia nước thành 15 bộ ; một số nhà nghiên cứu sửa thành 15 bộ lạc hay bộ tộc và còn có người đang cố gắng xác định cụ thể những bộ lạc ấy trên đất Việt Nam.
Thực ra 15 là con số thiêng, thiêng tức là không có thực mà đó chỉ là dấu hiệu tượng trưng cho dòng giống Hùng thuở khai quốc ; số 15 không chỉ một tập thể của những cá nhân mà chỉ một cộng đồng người đã được tổ chức thành 1 thực thể chính trị tức cộng đồng ấy đã vượt qua thời liên minh bộ lạc với các tộc trưởng để bước sang thời vương quốc của vua HÙNG.
Trung tâm Hà thư cũng là trung tâm của Ngũ hành nơi điều khiển - kiểm soát toàn bộ qúa trình tương tác - diễn biến của sự vật. Con số 15 là số thiêng ý nói: cộng đồng người họ HÙNG là thành phần chính yếu cai quản và dẫn dắt toàn thiên hạ.
Hà thư và Lạc đồ hai đồ hình của dịch học nút số đã để lại dấu ấn đậm nét trên lịch sử và văn minh người họ HÙNG bằng những con số thiêng:
Số 100 là biểu tượng của dòng giống HÙNG.
Số 5 tượng trưng cho lãnh thổ nhà HÙNG.
Số 15 chỉ một thực thể chính trị gọi là nhà nước hay quốc gia họ HÙNG với sự lãnh đạo của các HÙNG Vương.
Điều kỳ lạ không hiểu nổi là : tại sao lại có sự liên quan giữa các nút số của Hà - Lạc và nền văn minh người họ HÙNG tiền nhân của người Việt ngày nay ?
2 - Thủ lãnh Việt và Hà thư.
Trong bài ‘Tản mạn về ngôn ngữ Việt –Hoa’ trước đây đã nói đến 5 tước của qúy tộc Trung Hoa.
o Không - 0 - Công
o Hầu - 2 - hai
o Bá - 3 - ba
o Tử - 4 - tư
o Nam - 5 - năm
Đây không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên vì bên cạnh sự việc này còn nhiều điều khác. Nhìn vào tâm Hà thư ở trên.
Cũng như màu vàng của ngũ sắc, tâm của Hà thư có địa vị chí tôn chi phối toàn cục, các dịch tượng khác phải thông qua nó mới có thể tương tác tạo ra diễn trình biến đổi sự vật nên những dịch tượng trung tâm của đồ hình dịch học được người Việt vận dụng tạo thành những từ chỉ THỦ LÃNH của cộng đồng.
Dù chỉ thấy có hai số 5 và 10 thực ra tâm Hà thư có tới 3 con số nhưng vì là dịch học nút số nên không thể biểu diễn số ‘không’ bằng các nút được. Tương tự như với màu vàng trong ngũ sắc : Vàng → vương, chuyển ngữ sang Hán văn là ‘hoàng’
3 con số của tâm Hà thư cũng có sự liên quan rất kỳ lạ với cách gọi các thủ lãnh của người Việt :
Số 0.
‘không’ biến âm thành tước công đã biết nhưng ‘không’ còn có từ đồng nghĩa là ‘vô’, trước đây cứ ngỡ ‘vô’ là từ Hán Việt nhưng nay với điều ‘vô’ biến âm thành ‘vua’ thì phải xét lại rất có thể đấy là 1 từ Việt cổ nay không còn dùng ?
Vua là từ cao qúy nhất trong các từ dùng chỉ thủ lãnh, Hán văn ký âm VUA thành VŨ.
Trong lịch sử Trung Hoa chỉ vị thủ lãnh nào có công khai sáng 1 quốc gia hay 1 triều đại mới được mang tước hiệu là VUA, công ở đây là công với quốc dân còn phường dã tâm “tranh bá đồ vương” chỉ biết việc chiếm đoạt ngôi vị thì không được gọi là vua. Người họ HÙNG suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước duy nhất có 1 HÙNG VŨ người Việt gọi là vua HÙNG, trong truyền thuyết 18 đời Hùng vương được chép là đời Hùng vương thứ 5:Hùng Vũ vương - Hiền Đức Lang xác định ngài là vị Hùng vương khai quốc. Còn trong lịch sử Trung Quốc thì ông “Vũ” có vị thế rất cao trọng, ông không những là tổ nhà Hạ mà còn là tổ của tất cả các vương triều Trung Hoa.
Số 5.
Năm biến âm thành lăm rồi biến thành lang [5] năm→ lăm → lang.
Trước đây cứ ngỡ từ LANG là từ chỉ thủ lãnh của những dân tộc Mường, Thái Nay với sự soi sáng của Hà thư thì rõ ràng vô là từ Việt chính tông.
Lang không những là thủ lãnh của người Việt mà qua trung gian của âm ‘Long’ là con rồng trong Hoa ngữ. Lang còn bước vào chễm chệ ngự trên ngai vàng của đấng con trời Trung Hoa.
Hậu Hán thư có đọan ngắn nói đến Lạc Việt: con trai vua gọi là ‘quan lang’ con gái vua là ‘mỵ nương’. Và thật lạ lùng các con trai vua nhà Đường cũng được gọi là LANG: đại lang, nhị lang, tứ lang .v.v. hay là nhà Đường Trung Hoa học theo văn minh Lạc Việt xưa ?
Sử Trung Quốc không biết vô tình hay cố ý mà rất nhiều chữ ‘Lang’ bị đổi thành chữ ‘nam’ nghĩa là phương nam, 1 từ chỉ thủ lãnh bị thay bằng từ chỉ phương hướng gây nên sự nhiễu loạn lịch sử ghê gớm sai lầm chồng chất lên sai lầm khiến cả 1 thời gian dài người họ Hùng không nhận ra chính mình.
Người Mông Cổ chia dân trên đất Trung Quốc bị chiếm đóng thành dân của ‘hãn’ và dân của ‘lang’, đám sử gia mắt kèm nhèm chép thành dân Hán và dân Nam. Văn Lang biến thành Vân Nam, đất Hải Lang biến thành Hải Nam, Chu Lang Thiệu Lang biến thành Chu Nam Thiệu Nam rồi chuyển ngữ thành Chu Công Thiệu Công.... Như thế hỏi còn ai có thể nhận ra nổi lịch sử Trung Hoa thực, hơn nữa đây không phải là trường hợp duy nhất...
Trong Hán sử còn có :
o Nhiều chữ ‘quan’ nghĩa là nom (nhìn-trông) bị thay bằng chữ quang là sáng sủa, từ ‘nom’ trong Việt ngữ cũng chính là nam tức phương nam, Quan vũ là vua nước ở phương nam biến thành Quang Vũ - tên riêng của vua Đông Hán. Nước Quan 1 nước chư hầu phương nam của nhà Ân biến thành nước Quang lơi khơi không nghĩa ngọn gì.
Tương tự kiểu ‘thất bổn’ này với Chữ ‘tiếp’ nghĩa trong tiếng Việt là ‘chạm vào nhau’ đồng nghĩa với giáp, dân gian thường nói kép ‘tiếp – giáp’. Trong ngôn ngữ dịch học thì tiếp là điểm giao giữa 2 chu kỳ trước và sau, trong một ngày là lúc nửa đêm, một năm là ngày đông chí về phương hướng là chính nam ; không hiểu sao trong cổ thư Trung Quốc nhiều chữ ‘tiếp’ bị biến thành ‘tiết’ như: đế Tiếp ý chỉ thủ lãnh của đất phương nam bị biến thành đế Tiết - tên riêng. (Theo cổ sử thì Tiết là tên ông tổ của dân Trung Hoa phương nam).
Trong 64 quẻ trùng thì cặp quẻ đối ứng ‘Tiếp - Hoán’ bị biến thành ‘Tiết - Hoán’. Tiếp còn có nghĩa là gặp gỡ, có gặp gỡ thì mới trao đổi (Hoán) được chứ, 2 vật không chạm (tiếp) vào nhau thì làm sao trao đổi (Hoán) nhiệt ? Ý nghĩa của cặp quẻ Tiếp-Hoán rõ ràng như thế còn ‘Tiết – Hoán’ thì xin chịu thua không hiểu nổi.
Số 10.
Số 10 mười trong hệ thống số đếm Việt nam còn được gọi là CHỤC.
Chục → chủ rồi thành ‘chúa’ sang tiếng Thái - Lào là ‘chậu’, hiện người dân quanh thành Cổ Loa xưa vẫn cho là thành có tên là “thành chủ”. Thực ra gọi là thành chủ nghĩa là thành của vua đồng nghĩa với hoàng thành chứ nào phải tên riêng. Các vua Chiêm thành ký âm Hoa ngữ thành Chế Mân, Chế Củ, Chế Bồng Nga v.v. tưởng đâu Chế là 1 họ của người Chăm nhưng khi so sánh về âm với các từ Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Tiên... triều Nguyễn Việt Nam mới vỡ lẽ Chế Mân nghĩa là vị chúa vị chủ tên là Mân ...
Đặc biệt do ảnh hưởng của vị trí trung tâm Hà thư nên ngoài nghĩa ‘thủ lãnh’ số 5 năm và 10 - chục trong văn minh Việt còn biến âm thành những từ khác khá lý thú :
o 5- năm →lăm → lang → làng
o 10 – chục → chủ → chạ
Với câu vè khá nổi tiếng của người Việt ’’trình làng trình chạ’’ thì làng và chạ có nghĩa là 1 cộng đồng người, là đơn vị hành chánh cơ sở của quốc gia, làng và chạ biến thành Làng - xã ngày nay. Nhưng với câu ’’ăn lang ngủ chạ’’ thì lang và chạ lại mang nghĩa là chốn công cộng nơi chung chạ tức của chung mọi người.
Những nút số của Hà đồ- Lạc thư đã có mặt trong sách ‘Hoàng đế nội kinh tố vấn’ nghĩa là tuổi đời của Hà - Lạc ít nhất cũng bằng tuổi Hoàng đế (đế màu vàng) Viêm đế (đế phương nóng) cách nay 5000-6000 năm, thời điếm này thì dân tộc Trung Hoa còn là 1 nhóm nhỏ sống lanh quanh ở mảnh đất cỏn con bên bờ Hoàng Hà.
Người họ Hùng lập quốc ở vùng đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh cũng đã 5000-6000 ngàn năm nay dĩ nhiên từ ‘vua’ cũng xuất hiện cùng thời điểm ấy còn các từ ‘lang và chạ’ chỉ thủ lãnh thời bộ tộc chắc tuổi còn cao hơn nhiều thậm chí có thể đến cả vạn năm. Hai dân tộcâhi nền văn minh cách nhau vạn dặm tại sao lại có sự tương thông như thế : người Việt tạo từ chỉ thủ lãnh dân tộc mình dựa trên 3 nút số của tâm Hà thư Trung Hoa.
Thực kỳ lạ ! Không thể có sự giải thích nào khác hơn là xem xét lại toàn bộ lịch sử cổ đại Việt và Hoa.
Bài 8: Kim chỉ nam.
Trong bài ‘đôi điều về ngôn ngữ Việt – Hoa’ tôi đã nêu: không có từ Hán Việt mà trong khối từ vựng Việt chỉ có những từ riêng của người Việt Nam và những từ dùng chung trong khối Bách Việt mà thôi. Truy nguyên nguồn gốc bằng ngôn ngữ Kim chỉ nam cho chúng ta nhiều điều bất ngờ lý thú ....
Sự đóng góp có tính quyết định của kim chỉ nam vào việc hình thành bộ mặt thế giới ngày nay không ai có thể phủ nhận....
‘Kim chỉ nam’ là cụm từ thuần Việt ngữ, ý nghĩa rất rõ ràng: cái kim có đầu chỉ hướng nam (ngày xưa theo Dịch lý ngược với ngày nay). Người Hán coi ‘chỉ nam’ là tên tức danh từ riêng nên khi dịch sang Hán văn đã để nguyên chỉ ký âm thành ‘Chỉ nam châm’. Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ khẳng định kim chỉ nam là phát minh của người họ Hùng vì nếu là phát minh của người Tàu thì tên gọi đã là 'tư nam châm' hoặc ‘Nam chỉ châm’ (chỉ = hướng về là trạng từ) chứ không thể là ‘chỉ nam châm’. Kim chỉ nam là phát minh của tiền nhân người Việt như vậy 4 phương trời đương nhiên là từ Việt mà gốc gác được xác định bằng ý nghĩa mang trong các đồ hình Dịch lý.
Phương Bắc.
Biến âm của bức - nóng chỉ hướng Xích đạo (Việt Nam và Trung Quốc đều ở bắc
bán cầu), xích là màu đỏ biến âm thành ‘sóc’ nghĩa là phương bắc, ngày nay lộn ngược chỉ hướng lạnh lẽo của địa cực ...
Phương Nam.
Biến âm của ‘non-yếu’ ngược với lớn mạnh, non cũng là ‘núi’ là hình tượng của quẻ Cấn trấn phương Nam trong Bát quái tiên thiên. Ngôn ngữ Môn-Khơme là B’nâm, Nam trong Thái ngữ là sông nước cũng là dịch tượng của phương nam ; người Việt gọi là Nác→ nước.
Nam cũng là ‘nom’ là hướng nhà vua nhìn về theo lễ chế Trung Hoa vì nơi ấy có ‘thần’ và ‘dân’ của vua. Người Tàu dịch thành ‘quan’, như vậy ‘quan’ phải là hướng NAM nhưng trôi dần theo những biến cố lịch sử ngày nay ‘quan’ biến thành phương bắc, Quan thoại = bắc phương thoại ....
Phương Tây.
Riêng tư người việt còn gọi là ‘riêng tây’ nghĩa là cá nhân hay riêng mỗi con người. Tây cũng là số 4 trấn phương tây trong đồ hình Hà thư, Hoa ngữ đọc là Tứ đồng âm với tử là chết vì phương tây là hướng mặt trời lặn, ‘tư’ còn có ngĩa là suy nghĩ vì theo hậu thiên bát quái quẻ Ly tức lý lẽ trấn phương tây. Riêng với văn minh Việt phương tây còn gọi là phương Đoài hay Đoạt, từ kép ‘quyết định’ hay ‘định đoạt’ đều xuất phát từ dịch tượng này của phương tây về sau rút gọn chỉ còn 1 chữ ‘quyết’.
Phương Đông.
Số đông hay đám đông là sự đối phản với riêng - tây, Hà thư đặt phía tây là phương của cá thể, 1 tinh thần trong 1 thể xác thành 1 con người ; ở đây dịch học xem xét mối tương tác của các dịch tượng ở tầm vi mô, ngược lại phía đông là cộng đồng người được xem xét ở tầm vĩ mô mang tính trường cửu trong thời gian, sợi chỉ xuyên suốt nối kết con người là tình cảm tượng trưng bởi quẻ Khảm nghịch với quẻ Lý của phương tây, tình cảm là sự thương yêu hay từ ái nên ‘thương’ hay ‘ái-yêu’ trở thành tên gọi khác của phương đông. Lịch sử Trung Hoa đặt cơ sở trên Dịch lý nên có triều Thương đất ở phía đông, ngược với nhà Chu hay Chiêu ở phía tây.
Xét trên khía cạnh khác phương đông mang tính động như ta thường nói ‘Chấn động’ ngược lại với phương tây là tịnh hay định. Chấn động ngôn ngữ bình dân Việt gọi là ‘rung rinh’.
Kim chỉ nam truyền sang phương tây chưa rõ vào thời gian nào đã mang theo cả 4 phương nên rất có thể tên gọi phương hướng trong Anh ngữ ngày nay là ký âm latinh tên gốc 4 phương của ‘Bách Việt ngữ’.
1. Sóc phương ký âm thành South
2. Nác hay nước thành north
3. Quyết thành west
4. Ái thành east
Ngoài ra còn phương đông là Orient ký âm của Rung hay Rinh chỉ phương đông theo dịch học.
Ở bắc bán cầu South=Sóc chỉ hướng xích đạo hay nóng bức khớp đúng với viêm thiên trong cửu thiên ; đây là sự chỉ dẫn rõ ràng: phương bắc nay đã lộn ngược thành phương nam.(Sóc là phương bắc)
North=nước = nam hay nậm nghĩa là sông nước theo Thái ngữ; B’nâm trong ngôn ngữ Môn khơme là núi -non, cả sông và núi trong dịch học là quẻ Khảm và Cấn đều là dịch tượng của phương Nam đối nghịch với Hồ-hải quẻ Đoài chỉ phương bắc, chữ Nho âm ‘Sơn’ và ‘Xuyên’ rất gần nhau và là đồng âm của ‘sông’ tiếng Việt đã khẳng định gốc gác dịch lý trong sự kiến tạo những từ này. Nhưng thực là khó hiểu khi ngày nay north = nước – non lại biến thành phương bắc.
Sự lộn ngược bắc - nam có hệ quả vô cùng lớn là thay đổi toàn bộ những thông tin địa lý- lịch sử Trung Hoa. Vị trí tất cả các nước trong cổ sử đều phải xem xét xác định lại như thế cũng đồng nghĩa với việc phải viết lại lịch sử Trung Hoa.
Bài 2:
CHÍN CHÂU VÀ VĂN MINH NHÀ HẠ
Kinh thư thiên Vũ cống viết : vua Vũ chia đất thành 9 châu Ký Dự Thanh Từ Kinh Dương Cổn Ung Lương ...., địa giới chạy từ Hà Nam tới Hoàng Hải ở phía đông, phía nam xuống tới Hồ Nam Giang Tây, Chiết Giang ngày nay, giới sử học Trung Quốc ấn định 9 châu trên bản đồ :
Nhưng theo kết quả nghiên cứu khoa học tổng hợp ngày nay thì : với trình độ khoa học kỹ thuật nói chung và trình độ sản xuất lạc hậu lúc đó nói riêng thì lãnh thổ nhà Hạ phải thu hẹp ít ra hơn 10 lần, chỉ khoảng vài ba trăm ngàn km2 bên bờ Hoàng Hà ở quãng tỉnh Hà Nam – Sơn Tây là cùng.
Bản đồ lãnh thổ nhà Hạ theo khoa học lịch sử
Nhưng nếu như thế thì sự ấn định của khoa học đã phủ nhận hoàn toàn những thông tin ghi chép trong kinh Thư ?
Đọc kỹ thiên Vũ cống :
1- Lãnh thổ 9 châu nhà Hạ phía đông giáp biển, phải chăng chính từ địa hình này mà hình thành từ biển đông ngày nay ? Nếu lãnh thổ nhà Hạ bên bờ Hoàng Hà quãng Hà Nam - Sơn Tây thì làm gì có biển.
2- Phương tiện vận chuyển chính của người nhà Hạ là thủy vận. Phần lớn các châu mang cống phẩm về kinh đô đều theo đường sông đổ ra “hà”. Giới sử học Trung Quốc mặc nhiên coi ‘Hà’ là Hoàng Hà dù chẳng thấy có chữ Hoàng nào ? Rất nhiều khả năng Hà - Hồ - Hải chỉ là biến âm của nhau. Tiếng Việt có cặp số GIÊNG -HAI trong Dịch học đồng nghĩa với GIANG-HỒ ;
• Hồ → Hà, Hải.
Trăm sông đổ ra biển rất có thể chữ ‘Hà’ trong kinh THƯ này dùng để chỉ biển cả, nơi truyền thuyết Việt gọi là Động Đình Hồ ?
Những nghiên cứu khoa học ngày nay xác nhận thời cổ đại thủy vận không phát triển ở Hoa Bắc, ngược lại rất phát triển ở Đông Nam Á và Hoa Nam.
3 – Nói thật rõ ràng thì dân sống ở 9 châu nhà Hạ trồng ‘lúa nước’, kinh Thư dùng chữ Điền là ruộng lúa ; nhưng chỉ canh tác lúa nước người ta mới đắp bờ ̣để giữ nước trong ruộng. Chính hình ảnh bờ ruộng đã tạo thành đường nét của chữ Điền. Như thế từ ‘Điền’ phải hiểu chính xác và trọn vẹn là ruộng nước hay ruộng trồng lúa nước chứ không thể là ruộng chung chung...
Vùng Hoàng Hà thời Hạ trồng Kê là chính do đặc điểm địa lý khí hậu và trình độ kỹ thuật thời đó không cho phép trồng lúa nước. Ngày nay người ta đã di thực cây lúa nước lên vùng Hoàng Hà nhưng năng suất vẫn rất thấp và 1 năm chỉ trồng được 1 vụ.
4 – Lãnh thổ 9 châu nhà Hạ nằm trong vùng địa lý tự nhiên có loài VOI sinh sống vì trong những cống phấm của 9 châu có ngà voi .... Nhưng vùng ven Hoàng Hà từ cổ chí kim chưa nghe nói đến voi, mãi đến thế kỷ 15-16 khi nhận được voi cống từ miền Đông Nam Á vua Tàu còn vội vã trả lại vì sợ loài vật lạ chưa từng có nên không cho nhập vào nước Tàu.
5 – Kinh thư cho thấy trên lãnh thổ Trung hoa nhà Hạ có rất nhiều tre lớn gọi là bương hay giang hay nứa. Loài tre lớn thường mọc tự nhiên ở xứ nóng mà 9 châu nhà Hạ không những có tre mà còn có cả nền thủ công đan lát vật dụng bằng tre.
Càng về phía bắc tre càng nhỏ lại, trong tập tính sinh hoạt thì ‘tre’ không có điạ vị trong đời sống dân Hoa Bắc trái lại ở Tây Nam Trung Hoa và Việt Nam tre là loại cây vô cùng thân thiết. Người Việt có thể làm mọi thứ vật dụng cần thiết bằng tre, có thể nói không ngoa tre là nền tảng của văn hóa vật thể Việt nên rất nhiều khả năng “trúc thư” (sách thẻ tre) cũng ra đời ở đây hay nói rộng hơn và chắc hơn là : trong ‘vùng văn hóa Bách Việt’.
6 – Cây đay là cây á nhiệt đới, còn cây dâu tằm (loại mọc quanh năm) đòi hỏi độ ấm và đ̣ộ ẩm cao. Đặc điểm sinh lý loài tằm năng suất cao cũng không thích hợp với vùng Hoàng Hà, các nghiên cứu khoa học cho thấy vùng sông Tứ hay Châu Giang có thể nuôi 8 lứa tằm trong 1 năm, lên vùng Trường Giang chỉ có thể nuôi 3 lứa đến Hoàng Hà thì chỉ còn 1 lứa. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày nay còn như thế hỏi thời nhà Hạ thì 9 châu có thể nuôi tằm - dệt lụa một cách phổ biến hay không ? (nghề dệt lụa đã có từ thời Hoàng đế mấy trăm năm trước nhà Hạ).
Thông thường thì cây - con mà người ta nuôi trồng bao giờ cũng bắt đầu từ những cây con hoang dã trong thế giới tự nhiên nên nơi nào địa lý khí hậu đáp ứng tốt nhất cho điều kiện sinh lý của cây con đó thì nơi này chính là địa bàn phát sinh giống loài đó. Về sau mới phát tán theo bước chân di cư của con người, do nhu cầu thiết yếu và tập tính sinh hoạt con người vẫn nuôi trồng cây con cũ ở nơi định cư mới dù phải thu hoạch kém hơn do hoàn cảnh thiên nhiên không còn sự đáp ứng tối ưu.
7 – Trong cống phẩm của 9 châu có loại đá dùng làm khánh ; một loại nhạc cụ, kinh thư cũng viết:
• Ông Quỳ tâu với vua Thuấn: “tôi gõ vào đá, vỗ vào đá muôn loài đến nhảy hót ...”
Như vậy kinh thư cho ta thấy nền âm nhạc nhà Hạ dùng bộ gõ và nhạc cụ bằng đá, phải chăng ngày nay gọi là đàn đá ? Loại nhạc cụ độc đáo này chưa phát hiện được ở Trung Quốc nhưng ở Việt Nam có những dân tộc thiểu số hiện vẫn còn đang sử dụng và các nhà khảo cổ cũng đã tìm được những bộ đàn đá hoàn hảo xưa đến mấy ngàn năm tuổi.
8 – Kinh Thư thiên vũ cống còn nói đến cống phẩm là đá dùng làm mũi tên ; “thạo nghề cung nỏ” là đặc điểm của người Việt cổ, sách Tàu xưa đã viết như thế. Người Việt không những biết dùng cung nỏ mà còn biết nâng cấp hiệu quả của cung nỏ như làm mũi tên bằng đá để tăng khả năng xuyên thấu, đến thời đồ đồng thì thay mũi tên đá bằng mũi tên đồng. Các nhà khảo cổ Việt Nam đã tìm được nhiều hiện vật cổ là mũi tên bằng đá đúng như Kinh thư đã chép. Còn bên Tàu biết có hay không ?
Thực kỳ lạ và trớ trêu khi vùng đất Việt Nam và lân cận ngày nay vừa thoả cho điều kiện khắt khe của khoa học về quy mô - diện tích lãnh thổ lại có đầy đủ những gì của 9 châu đã ghi chép trong Thiên Vũ cống - Kinh Thư.
Chính sự kỳ lạ này là cơ sở để ‘Sử thuyết họ HÙNG’ xác định vị trí 9 châu thời vua VŨ nhà Hạ là miền Bắc và Bắc Trung Việt cộng với vùng đất lân cận ngày nay.
Bài 3: Bức thông điệp ngàn năm
Trống đồng có nhiều hình dạng, nhiều thời do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau, bài này viết về thông điệp trên mặt trống đồng NGỌC LŨ.
Mặt trống gồm 1 tâm và 3 vòng đồng tâm.
A. Tâm trống và vòng đồng tâm số 1 : nhân sinh quan VIỆT.
Tâm trống là mặt trời đang chiếu sáng, vòng tròn số 1 là cảnh sống, sinh hoạt của con người.
Tâm trống đồng luôn luôn là mặt trời, mọi kiểu trống mọi thời đại đều như thế ; điều này cho thấy có sự thống nhất và xuyên suốt nguyên tắc cơ bản trong hệ tư tưởng Việt: Mặt trời là trung tâm vũ trụ cũng chính là hình ảnh đại diện cho ‘ông trời’ siêu hình.
Ông Trời là đấng tối cao mà quyền năng chi phối tất cả nhưng lại thân thiết gần gũi như cha mẹ nên người Việt hay gọi “Trời đất ơi - cha mẹ ơi.”
Mặt trời phát ra ánh sáng cũng là phát ra sự sống, trong tiếng Việt ‘sáng’ và ‘sống’gần như là một âm. Phần hồn tức anh linh nơi con người chính là 1 phần của cái khối sáng vĩ đại ấy đến trái đất nhập vào thân xác vật chất thành ra con người sống động có thần. Thần tính ấy được quẻ Kiền gọi là Long hay con Rồng, 6 hào là hình ảnh tượng trưng của 6 giai đoạn bay lên từ đất tới trời cao.
Khi đã đi hết đoạn đường trần thế thì xác trả về cho đất hồn trở về trời chính vậy mà mặt trời với người Việt trở thành chốn linh thiêng vì tổ tiên ông bà ngự nơi đấy, quẻ Lôi địa Dự viết: ‘lôi xuất địa phấn tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức ân tiến chi thượng đế dĩ phối tổ khảo’ cũng là lẽ này ; câu dâng lên trời mà cũng là để ông bà mình hưởng đã chỉ ra : anh hồn tổ tiên đang ở chung với ông trời hay đấng tối cao...
Cuộc sống miên trường không bao giờ dứt có chăng chỉ là chuyển đổi dạng thức tồn tại từ dương sang âm mà thôi hay nói theo dân gian là chuyển địa chỉ từ dương trần sang âm phủ.
Cuộc sống vẫn tiếp nối chỉ chuyển dạng tồn tại mà thôi đấy là triết lý về sự sống - chết của người Việt đã được kinh Dịch thể hiện hay nói cách khác: tâm và vòng đồng tâm thứ nhất của mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện ‘nhân sinh quan’ của người Việt. Cuộc sống sinh động nhưng hữu hạn vì có sinh có biến đổi ắt có tử duy nhất chỉ nơi tâm vòng tròn là bất biến nên bất tử, ‘sinh’ là từ cõi Hằng bước sang cõi ‘Biến’ qua 1 thời gian dạo chơi trần thế để biết mùi ‘đời’ rồi ‘tử ’ tức là trở về nơi đã ra đi. Người đời nói ‘sinh ký tử quy’ nghĩa là vậy, nhưng ta phải luôn nhớ không phải ra đi làm sao thì trở về làm vậy, vì qua thời gian ở cõi ‘biến’ ta đã thành người khác, sáng hơn hay tối hơn là tùy những gì ta đã làm nơi dương trần với tư cách con người có ý thức và chủ động trong hành vi của mình.
Ngày ‘về’ ai cũng đè nặng trên vai 1 bao tải đựng “nghiệp” tức thành tích của mình nơi trần thế, trình diện các cụ rồi mở bao ra thấy toàn án tòa và ‘mail’ nguyền rủa của người đời thì lập tức cút xéo. Thế là vĩnh viễn trở thành kẻ thất sở thân sơ.
Với nhân sinh quan như vậy nên người Việt là dân tộc có hiếu nhất thế giới, chữ hiếu được nâng hẳn lên thành 1 tôn giáo: gọi là đạo ‘Hiếu’ hay đạo thờ ông –bà.
- Cao nhất là thờ ông ‘Thiên’ tổ của cả loài người, với quốc gia thì thờ quốc tổ, làng thì thờ ‘thành hoàng’, tộc họ thì có nhà thờ họ và trong mỗi nhà đều có bàn thờ ‘gia tiên’.
Trong nhân sinh quan người Việt thì quá khứ - hiện tại - tương lai sống và chết là sự biến đổi tiếp nối tuần hoàn không có chấm dứt. Thế nào rồi cũng có ngày phải về gặp các cụ, lúc đó ăn làm sao nói làm sao ? Chính vì vậy nên phải lo liệu ngay từ bây giờ, công đức tạo nên không phải chỉ để cho đời này mà là công đức cho mọi đời. Ngoại trừ những tay ‘siêu bịp’ thì ai được kính trọng ở đời này ắt cũng được kính trọng ở đời sau và ngược lại kẻ bị người đời nguyền rủa thì cũng sẽ bị nguyền rủa đời đời.
B. Vòng đồng tâm thứ 2 : xướng danh dân tộc.
Là người Việt không ai mà không biết huyền tích Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ con gái Động Đình Quân.
Như đã nói ở những bài trước trong sử thuyết họ HÙNG, Kinh Dương Vương nghĩa là vua phương Nam, Long Nữ hay Long Mẫu con gái Động Đình Quân vua phương Đông, sự hợp huyết 2 dòng phương Nam và phương Đông là sự hoàn tất việc đúc kết tạo nên người Việt, cũng vì lẽ này người Việt rất đỗi tự hào khi nhận mình là ‘con Rồng cháu Tiên’.
Những thông tin tạo nên tuyền thuyết này ̣đều xuất phát từ Hà thư.
Trong đồ hình Hà thư số 6 hay 6 nút trắng nằm ở phía nam, số 8 nằm ở phía đông.
Phương Nam ngoài số 6 còn có số 1 nên phương nam còn là phương của đế Tiên hay bà Vũ Tiên vì lẽ này người Việt mới nhận mình là ‘cháu Tiên’.
Theo hậu thiên bát quái phương Nam số 6 còn là phương của nước tức quẻ Khảm.
Nước tiếng Việt cổ là nác-lác → Lạc. Đây chính là từ Lạc trong Lạc Long Quân và Lạc Việt.
Trong Hậu thiên bái quái phương đông số 8 là quẻ Chấn hay Thìn tức con Rồng, Hoa ngữ là Long.
Tới đây đã rõ câu : con cháu Tiên-Rồng hay dòng giống Lạc - Long là chỉ sự hợp nhất giữa 2 dòng người họ Hùng ở phương Nam số 6 và phương Đông 8 theo Hà thư vào thời Hùng Việt Vương - Tuấn lang. Mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện những thông tin lịch sử này ở vòng tròn thứ 2 bởi nửa vòng tròn khắc hình 6 con chim và 10 con nai và nửa vòng tròn còn lại là 8 con chim và 10 con nai. Ở đây tiền nhân người Việt đã sử dụng những nút số của Hà thư, đặc biệt số 10 lại không được coi là 10 (số chẵn) mà coi như là 2 số 5 là số lẻ.
Các nút trắng - chẵn của Hà thư được thay thế bằng hình Chim và nút đen - lẻ được thay thế bằng con nai.
Nhìn lại Hà thư với các nút chẵn :
10 con nai và 6 con chim chỉ người họ Hùng phương nam: con cháu của Kinh Dương Vương.
10 con nai và 8 con chim chỉ người họ Hùng phương Đông con cháu của Long Nữ hay Long Mẫu.
Ý nghĩa thể hiện ở vòng tròn đồng tâm thứ 2 trên mặt trống đồng chính là sự tự xưng danh của chủ nhân trống đồng Ngọc Lũ, dân tộc ấy chính là dòng giống Tiên - Rồng hay Lạc - Long, Tiên - Long. Xác lập bởi các cặp số số (6/10) và số (8/10).
Nếu không có số 10 chỉ dùng số 6 và số 8 sẽ bị hiểu là : người nước ngoài ở phía nam và ̣đông nước ta ;
Người Việt xưa đã thêm mẫu số 10 để nói rõ đấy là : người cùng dòng giống HÙNG thuộc chi Trung - Nam và chi Trung- Đông.
C. Vòng đồng tâm thứ 3 : ước vọng Dân tộc trường tồn.
Vòng đồng tâm thứ 3 của mặt trống đồng có tổng cộng 18 cặp chim, mỗi cặp có 1 chim lớn đang tung cánh bay và 1 con chim nhỏ đang tung tăng trên mặt đất, từng cặp như vậy nói lên sự nối tiếp liên tục hễ tre già thì măng mọc, cha mẹ già khuất núi thì con cháu lớn lên cứ như thế mà tiếp nối mãi.
Trong Dịch học Chim Hạc hay Hồng hạc là chữ của Điểu thú văn chỉ Trời cao, thời gian và những yếu tố văn hóa phi vật thể, Hà → hạc.
Con nai Hoa ngữ là Lộc biến âm của lục là số 6 cũng là Đất cũng là chữ điểu thú văn dùng chỉ : đất, không gian và những yếu tố văn hóa hữu hình hữu thể.
Trong 18 đời Hùng vương thì Hùng Việt Vương - Tuấn Lang chính là Sơn Tinh hay Tản Viên Sơn Thánh Quốc Chúa Đại Vương. ‘Tuấn’ là tên chữ ký âm của ‘Tản’ tiếng Việt.
Sơn Tinh cũng là 1 Kinh Dương vương (canh=6, giêng = 1) nghĩa là chúa phương nam vì trong Tiên thiên bái quái quẻ Cấn là sơn - núi chỉ phương nam.
Truyền thuyết nói Kinh dương vương kết duyên cùng Long nữ như đã xác định ở vòng tròn thứ 2 mặt trống đồng Ngọc Lũ phải chăng là nói về sự thống nhất dòng Tiên và Rồng để tạo ra ‘dòng giống tiên Rồng’ ở triều đại Hùng Việt Vương – Tuấn Lang ? ( xin xem Sử thuyết họ HÙNG ), từ người VIỆT bắt đầu có từ đây.
Những cặp chim ở vòng tròn thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là loài chim DIỆC.
DIỆC là phát âm của người nam bộ, âm bắc là VIỆT. Chính là từ Việt trong đế hiệu Hùng Việt Vương - Tuấn Lang ?
Số 9 là cửu, cửu cũng có nghĩa là lâu dài, 18 là trùng cửu ( 9x2 ) đồng âm với trường cửu nghĩa là mãi mãi bất tận. Điều này xin đừng vội cho là cưỡng ép vô lối vì chính người Hoa cũng hay dùng lối đồng âm gán nghĩa này như : họ kiêng số 4 vì đọc là tứ cận âm với tử là chết, bạn cũng đừng ngạc nhiên khi họ tặng bạn chiếc quan-tài vì quan ở đây được hiểu là sự thăng quan tiến chức, tài hiểu là tấn tài tấn lộc nghĩa là chúc có thêm tiền ....
Chim diệc ̣đang tung cánh bay là chỉ dân tộc Việt trong vòng thời gian.
Mỗi cặp chim 1 trưởng thành 1 còn non chỉ sự nối tiếp kế thừa.
18 cặp là Trùng cửu (2 lần 9) cũng là trường cửu.
Vòng đồng tâm thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ với 18 cặp̣ chim Diệc là bản văn ngắn gọn nhưng rất rõ ràng :
“DÂN TỘC VIỆT ĐỜI SAU NỐI ĐỜI TRƯỚC CỨ NHƯ THẾ TỒN TẠI MÃI MÃI”
Tới đây thì ta hiểu rõ tại sao vua Đông Hán ra lệnh cho mặt ngựa (Mã Diện hay Viện) tịch thu và phá hủy cho bằng hết trống đồng của người Việt ; ý đồ của chúng là biến người Việt thành đám con hoang không cội nguồn đồng thời chặt đứt ước nguyện trường tồn của dân tộc này. Nhưng trời cao có mắt...
Việc giải mã được những thông tin chứa trên mặt trống đồng Ngọc lũ đưa đến hệ qủa hết sức quan trọng với người Việt :
1. ‘Con Rồng cháu Tiên’ không còn là truyền thuyết lịch sử mà chính thức trở thành lịch sử, một lịch sử được ghi chép rõ ràng trên sách ‘đồng’ bằng ngôn ngữ Dịch học đã phổ biến - lưu truyền 3000 năm nay.
2. Truyền thuyết lịch sử Việt không phải chỉ có 1 chuyện ‘con rồng cháu tiên’ mà là cả 1 hệ thống những truyền thuyết tương đối hoàn chỉnh chứa đựng những thông tin của 1 thời gian dài mà ngày nay gọi là thời tiền sử. Chỉ cần minh xác được 1 đoạn trong cái chuỗi thông tin liên hoàn ấy cũng đủ để ta lượng giá về tính xác thực của cả hệ thống truyền thuyết lịch sử đang lưu truyền.
3. Lịch sử và văn minh Việt có liên hệ ‘máu thịt’ với dịch lý từ khi người Hán chưa đặt chân tới mảnh đất này, những trống đồng cổ nhất có đến 3000 năm tuổi đã trở thành vật chứng chắc chắn - rõ ràng nhất giúp khẳng định : Dịch lý là thành tựu trí tuệ tuyệt vời của tiền nhân người Việt ngày nay ..
Bài 4: Kinh Dịch và mái nhà VIỆT
Mái nhà cong là 1 nét đặc trưng của văn hóa vật thể Á đông; Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và những nơi chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa có kiến trúc phần mái nhà cong tạo nên 1 miền văn hóa khác hẳn với những nơi khác.
Mái nhà cong tiêu biểu của điện tam thế chùa Bái Đính - Ninh Bình - Việt Nam.
Mái cong ở Thành cổ Lạc dương Trung Hoa
Tại sao mái nhà lại cong lên và kiểu mái cong độc đáo đó xuất phát từ đâu là những câu hỏi được đặt ra từ lâu nhưng mãi tới nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Theo cảm tính người ta thường gọi đó là mái nhà Trung Hoa có thực như thế không ? Nếu quả thực người Trung Hoa đã sáng tạo ra kiểu mái nhà cong đó thì vẫn còn phải xem xét vì ngược về quá khứ ngàn năm trên phần đất Trung Quốc ngày nay có 2 thành phần cư dân khác biệt nhau cả về nhân chủng lẫn nền tảng văn hóa: người Bách Việt phía nam và những sắc dân thuộc chủng Mongoloid ở phía bắc; Như vậy ai đã sáng tạo ra nét văn hóa này?
Suy nghĩ bình thường thì Mái nhà cong không xuất phát từ công dụng thực sự, mái cong không làm tốt chức năng của cái mái nhà hơn là mái phẳng ngoài ra với những nét cong thì mái nhà về mặt kỹ thuật khó thi công hơn nhiều và chắc chắn về mặt kinh tế nó tốn kém hơn cái mái nhà phẳng, như vậy là: xét các mặt công dụng, kỹ thuật và kinh tế đều không phải là nguyên do. Thế tại sao mái nhà Á đông vẫn cứ cong, các góc của mái cứ chỉa lên trời một cách kỳ lạ.
Tìm hiểu sâu hơn về văn hóa Á đông sẽ nhận ra:
Những Điều sau đây khẳng định người Hoa Nam và người Đông Nam Á chính là chủ thể sáng tạo ra nét văn hóa mái nhà cong độc đáo:
• Mái nhà cong đã được khắc họa trên trống đồng hàng ngàn năm trước công nguyên khi người Hán và văn hóa Hán chưa bén mảng đến vùng đất Đông Nam Á.
Nhà cổ mái cong khắc trên trên trống đồng.
Ngày nay trong những dân tộc sống tương đối cô lập so với tiến trình văn minh chung ở Đông Nam Á không hề có chút liên hệ với văn minh Trung Hoa vẫn còn bảo lưu nét văn hóa truyền thống mái nhà cong độc đáo.
Mái nhà cong ở Batak indonesia.
Tìm hiểu rộng rãi hơn có thể khẳng định không phải chỉ những nước theo văn hóa Trung hoa mới có mái nhà cong mà những nước đông nam Á theo văn hóa Ấn Độ như Miến Thái Lào .v.v. cũng có mái nhà cong nhưng không phải cong thực sự mà nét cong được thể hiện bằng hoa văn tháp gắn vào...
Mái nhà cong hoa văn ở 1 ngôi Chùa Thái.
Có thể nói Đây là nét văn hóa có cơ tầng sâu thăm thẳm trong trong tâm trí cư dân Đông Nam Á bao gồm cả Hoa Nam, sự phổ quát 1 nét văn hóa chung trên 2 cộng đồng người mà hiện nay cho là hoàn toàn khác nhau trong tiến trình lịch sử là điều rất khó hiểu, phải chăng Đông Nam Á và Hoa Nam ở thời tiền sử là 1 khu vực thống nhất về dân tộc và văn minh ? Những Hình khắc trên trống đồng và mái nhà cong của những dân tộc thiểu số ở Đông Nam Á đã khiến không thể suy nghĩ khác được, dựa vào ‘hình hài’ cái mái nhà dù là cong thực hay cong hoa văn thì vẫn là đường nét để người ta thể hiện điều gì đó, nói lên ý nghĩa nào đó ...
Khi nguyên do khiến cho cái mái nhà Á đông cong lên không tìm được trong các khía cạnh vật chất thì chỉ còn con đường tìm trong chủ đạo văn hóa của cư dân nơi đó.
Phải chăng đường nét cong đã khắc họa trong chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn để rồi thể hiện ra trên vật thể tạo tác bởi bàn tay con người?
Dịch lý là nền tảng tư tưởng của người Hùng Việt, nơi người Việt những nguyên lý Dịch học chi phối hoàn toàn não bộ khi suy tư và mọi kiến giải về sự biến đổi trong vũ trụ bao la đều mang dấu ấn của dịch học, tự nhiên như nước chảy ra từ khe đá không cần ‘vận’ chi cả mà vẫn ‘dụng’ được cứ như là từ khi cha sinh mẹ đẻ não bộ đã được lập trình sẵn nên không cần học mà vẫn biết vẫn dùng hằng ngày. Ví dụ như khi mong cho con ‘khôn lớn’ ... là đã dụng Dịch rồi vì Khôn - lớn là ý của 2 quẻ Càn và Khôn.
Trong ngôn ngữ Việt chỉ 1 từ kép đơn giản như ‘che-chở’ thôi đã chứa ý nghĩa rất thâm sâu của dịch lý: Che là bảo bọc chở là nâng đỡ, trời che - đất chở cho người tức Thiên ở trên Địa ở dưới Người ở giữa chính là Tam tài của dịch học. Trong 1 cái nhà thì phần mái để che là thuộc về Trời quẻ Kiền, phần sàn hay nền nhà thuộc về Đất qủe Khôn, quan niệm của Dịch lý là Thiên viên - Địa phương hay trời tròn - đất vuông, trời nét cong đối xứng với đất nét thẳng ...
Có nhà nghiên cứu cho là mái nhà cong mang dáng dấp của cái thuyền giống như hình thuyền khắc trên trống đồng. Điều này khó chấp nhận vì chức năng của thuyền là ‘chở’ như thế thuộc về địa mang nét thẳng làm sao có thể lộn ngược đất thành trời được.
Qua những gì đã xem xét có thể kết luận không sợ nhầm lẫn:
Chính do quan niệm triết lý ‘tròn - vuông’, trời nét cong đối với đất nét thẳng mà mái nhà của người Hùng Việt cong lên hướng về Trời, có thể nói mái nhà Á đông và Đông Nam Á là sản phẩm văn hóa vật chất mang nặng dấu ấn Dịch học, nét văn hóa mái nhà cong độc đáo này đã khởi phát từ đất tổ của họ Hùng sau mới lan toả rộng ra chung quanh cụ thể là cả vùng Đông Nam Á và những nơi ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa đế quốc Trung Hoả.
Hợp cùng với trống Đồng mái nhà cong trở thành bằng chứng vật chất không thể phủ nhận: chính người họ Hùng đã phát minh Dịch học làm nền tảng cho văn minh phương Đông trong đó muôn vàn ứng dụng làm ích cho con người đều phát ra từ cái gốc Dịch Lý.
Người Việt ngày nay có quyền tự hào về những thành tựu trí tuệ tuyệt vời của cha ông nhưng đồng thời cũng phải nghiêm chỉnh dốc sức thực hiện lời căn dặn ghi trong kinh Dịch: “Kế minh chiếu tứ phương” sao cho cơ đồ của cha ông ngày một thêm rạng rỡ.
Bài 5: Nôm na là cha mách qué .
Trong thành ngữ tiếng Việt có câu: “ Nôm na là cha mách qué” xưa nay nhiều người biết, nhiều người dùng nhưng ý nghĩa thực của câu này là gì ? Chưa thấy có ai giải thích cặn kẽ.
Tìm hiểu kỹ mới thấy câu ‘’Nôm na là cha mách qué’ có nghĩa rất đặc biệt ; chính là câu thần chú giúp ta mở cánh cửa vào toà lâu đài Dịch học.
Xin giải nghĩa :
• Nôm là biến âm của ‘Nam’ chỉ nước Việt người Việt. Từ Nôm trong câu này chỉ chữ Nôm, từ Nôm hay âm Nôm nói chung ý trong câu là chỉ tiếng nói của người Việt Nam. Ngày nay thường hiểu từ Nam là chỉ riêng người Việt Nam; thực ra đây là từ chỉ chung cả khối ‘Bách Việt’, thời Nguyên Mông đại để thì người phía bắc sông Dương tử gọi là người Hán, phía nam Dương Tử gọi là người Nam. Na tức ‘na ná’ nghĩa là gần giống với.
• Cha đồng nghĩa với thày cũng có thể hiểu là thày dạy học, người chỉ dẫn.
• Mách là chỉ bảo, chỉ dẫn nghĩa như trong mách bảo, mách nước .v.v.
• Qué ở đây biến âm của từ Quái trong Hoa ngữ hay quẻ trong tiếng Việt chỉ 8 quẻ căn bản của Dịch học, quẻ đơn là Kiền Đoài ly Chấn tốn khảm Cấn Khôn.
Tóm lại nghĩa của câu ‘Nôm na là cha mách qué’ là: Na ná hay gần giống với từ Nôm là thày chỉ bảo về ý nghĩa các quẻ Dịch.
Có thể viện dẫn :
1. Quẻ Kiền hay Càn chỉ sức mạnh hay sự to lớn có gốc từ tiếng Việt là ‘cồng - kềnh’ hay ‘ kềnh càng’.
2. Quẻ Đoài, đoài là biến âm của điều hay đào tức màu đỏ.
3. Quẻ Ly biến âm của quẻ ‘lửa’ tượng trưng cho sức nóng, ánh sáng và mặt trời.
4. Quẻ Chấn, Chấn là biến âm của ‘sấm’ Hoa ngữ là Lôi.
5. Quẻ Tốn hay Toán tức tính - toán trong tiếng Việt chữ cổ còn gọi là tán.
6. Quẻ Khảm còn gọi là Cống, thực ra là ‘cóng’ tiếng Việt thường dùng từ kép ‘lạnh cóng’.
7. Quẻ Cấn còn gọi là căn nghĩa tiếng Việt là ‘cán’ là cái để nắm lấy mà điều khiển như cán dao, cán cuốc .v.v.
8. Quẻ Khôn chỉ sự khôn ngoan nơi con người, chỉ khả năng nhận xét của não bộ tức khả năng nhìn nhận và phán đoán sự việc.
Xem xét kỹ thì : Không chỉ riêng Bát quái mà Thập can cũng do ‘Nôm na’ mà ra như:
Giáp - chắc trong chắc chắn.
Ất - óp như trong óp ép.
Bính - bấn, bấn loạn.
Đinh - đanh cứng như đanh .
Mậu - mẹ.
Kỷ - cả.
Canh - canh (nước), cánh, cạnh, cành, chỉ trục ngang.
Tân - tâng, tưng, tung lên chỉ trục đứng.
Nhâm - nhũn, nhung (mềm như nhung)
Quý hay Khang - khăng, khăng khăng không đổi.
Thực kỳ lạ tên các thành tố của Dịch học như Thập can, Bát quái... không mang 1 ý nghĩa gì trong Hoa ngữ, nó thuần là các tên để gọi mà thôi. Ngược lại khi ‘Nôm na’ thì ý nghĩa Dịch lý lại nằm ngay chính trong tên gọi của nó. (xin đọc Dịch học họ HÙNG). Thậm chí những từ khoá trong nguyên lý cơ bản “sinh sinh chi vị dịch” cũng có gốc từ ‘Nôm na’ mà ra : “thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái ...” ; cực nghi tượng quái... đều là những ‘đặc từ’ chỉ dùng trong dịch học phải có công ‘tu luyện’ mới thấu đáo.
Ngược lại khi dùng ‘nôm na pháp’: “1 cục hay cuộc sinh 2 ngôi, 2 ngôi sinh 4 tạng hay dạng, 4 tạng sinh 8 quả”. Rồi cả 3 toà 5 hình 9 chỗ thì ra tất cả là những danh từ thông thường dùng trong cuộc sống hàng ngày người ‘bình dân’ ai gặp cũng hiểu ngay chẳng phải là ‘đặc ngữ đặc từ’ chi cả ; có thể nói : khi ‘Nôm na’ thì Dịch học rất gần gũi đời sống thường nhật của con người trái hẳn với Dịch học siêu đẳng của Hoa ngữ: nói toàn chuyện trên mây như chỉ dành cho các bậc thánh triết mà trên cõi đời này hỏi có được mấy vị ? Ngược lại bọn buôn thần bán thánh kiếm sống dựa dẫm vào thứ Dịch học ‘siêu đẳng’ này thì đông đến tám tạ thiên khênh ....
Tóm lại dựa vào yếu tố ngôn ngữ có thể khẳng định : Kinh Dịch chứa đựng những hiểu biết về sự vận động và biến đổi của mọi vật trong Không và Thời gian là thành tựu trí tuệ của người NAM hay Bách Việt mà chi duy nhất còn lại đại diện cho cả dòng giống là Lạc Việt tức người Việt Nam ngày nay.
Bài 6: Giải mã chữ VIỆT bộ Mễ.
Chữ VIỆT tên nước do Triệu Đà lập ra ở Quảng đông là chữ Việt bộ mễ 粵 ; cấu tạo bởi chữ mễ 米 đóng khung đặt trên chữ Việt. 粤
Đó là cách nhìn thông thường ngày nay.
Còn 1 cách nhìn khác mang tính địa lý lịch sử khá quan trọng đối với lịch sử Trung Hoa. Mổ xẻ chữ Việt bộ mễ để giải mã :
粤
* Phần đầu.
粤
Với những vật hình tròn mang số 6 và số 9 thường phải có 1 dấu hiệu để xác định đầu trên tránh sự lẫn lộn giữa 2 số.
Tương tự như vậy phía trên khung hình vuông của chữ Việt bộ Mễ cũng có 1 nét bút nhằm xác định hướng mặt trời, nếu đặt đứng thì hướng về thiên đỉnh, còn khi đặt nằm thì đầu quay về hướng Xích đạo.
* Phần thân.
Người xưa với quan niệm “trời tròn đất vuông” nên một lãnh thổ hay 1 miền đất luôn được biểu diễn bằng 1 hình vuông và để chỉ vùng trung tâm người ta thêm vào các đường nam - bắc, đông - tây và đường nối 4 góc, giao điểm của các đường này gọi là GIAO CHỈ hay CHỖ GIỮA, những đường nối này được mô phỏng thành nét chữ Mễ.
* Phần chân :
Bộ phận dưới cùng là chữ VIỆT dùng xác định âm đọc.
Tách phân tự dạng chữ Việt bộ Mễ như trên gợi ra:
1. Ý thứ nhất.
Khi đặt chữ Việt bộ mễ nằm ngang theo trục Bắc- Nam ta nhận ra được cách thức người xưa đã dùng để cấu tạo nên nó ; hết sức thực tiễn và giản đơn :
Nước VIỆT có trung tâm nằm ở phía nam GIAO CHỈ chính là thông tin mang trong lòng chữ VIỆT bộ MỄ, chùm thông tin này được cô đọng thành nước NAM VIỆT.
Có thể xem đây chính là sơ đồ xác định vị trí trên quả đất Quốc gia do Triệu Đà khai lập. Từ khám phá này kết hợp với những thông tin về việc khai quật lăng mộ của Triệu Văn Đế ở Quảng Đông ta khẳng định:
Đất NAM GIAO và GIAO CHỈ trong cổ thư Trung Hoa là có thực.
Hướng BẮC - NAM xưa thời Triệu Đà nay đã bị đảo ngược : bắc thành nam và nam thành bắc.
Điều này tưởng là việc ‘nhỏ’ nhưng thực ra không nhỏ chút nào vì làm sao xử lý cả núi thông tin về các nước hay quốc gia trong cổ sử Trung Hoa ? Nước nào cũng có các thông tin về địa lý nam giáp, bắc giáp... bây giờ lộn ngược tất cả thì làm sao định vị được trên bản đồ ?
2. Ý thứ nhì.
Chữ Việt 粵 cũng dùng trong danh hiệu Hùng Việt Vương - Tuấn Lang vì vua tổ của vương quốc họ Hùng, chữ Việt ở đây là tên triều đại hay như truyền thuyết Việt gọi là : ‘đời’ Hùng Vương.
Nước vẫn là một Hữu Hùng quốc tức nước của người họ Hùng,Việt Vương - Tuấn Lang là vua sáng nghiệp truyền thuyết dùng làm danh xưng chỉ cả đời hay triều đại Hùng Vương thứ 8, là triều đại bản lề chuyển mình từ : thời lập quốc bước sang thời vương quốc, từ thời : tiền sử sang Sơ sử.
Cấu tạo chữ Việt như đã tách phân xem xét ý tứ ở trên :
Việt 粵 là cái rìu, cái búa đẽo chỉ là mượn âm để đọc.
Chữ mễ 米 đặt trong cái khung vuông chỉ trung tâm 1 vùng đất :
Thực ra đây chỉ là sự biến hình tạo chữ từ hình vẽ nơi giao cắt của các đường kẻ nối 4 phương 8 hướng chỉ nơi mà Việt ngữ gọi là ‘chỗ giữa’, Hoa văn biến thành ‘Giao Chỉ’.
粵
Liên Kết 2 phần biểu âm và biểu ý nhận ra Ý nghĩa thứ nhì chữ Việt bộ Mễ :
Việt là tên 1 triều đại (đời Hùng vương thứ 8 Hùng Việt vương – Tuấn Lang) của vương quốc trung tâm (Giao Chỉ) thiên hạ .
Bài 7: Hà thư và văn minh VIỆT.
1. Những con số thiêng của người Việt.
Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng con số 18 trong 18 đời HÙNG vương là con số thiêng.
Sử thuyết họ HÙNG đã minh xác đó là con số thực của lịch sử Việt, 18 triều đại Hùng Vương với những thông tin tuy chưa đầy đủ nhưng cũng đã có thể lấy làm căn cứ để trên cái nền ấy tiếp tục đào sâu bổ chứng thông tin biến sử thuyết thành Lịch sử họ HÙNG ; Lịch sử của quốc gia lâu đời nhất trên hành tinh này.
Không phải số 18 nhưng Trong văn minh họ HÙNG có những con số thiêng khác, những con số gắn liền với dân tộc và rất đặc biệt những con số này đều xuất phát từ Hà thư - Lạc đồ tức Thiên thư - địa đồ hiểu theo ngôn từ hiện nay :
Hãy xem.
Số 100.
Là người Việt chẳng có ai không biết chuyện bố Rồng mẹ Tiên và bọc trăm trứng, người họ HÙNG gọi nhau là “đồng bào” thực thiêng liêng và huyền nhiệm, “Bách Việt” cũng xuất phát từ huyền tích này. Cả không và thời gian mênh mông được tóm thâu vào 100 nút số của Hà - Lạc dân gian gọi là ‘khoanh’ và ‘đốm’, người xưa đã khéo chuyển những ý niệm lung linh mờ ảo uyên thâm của triết học thành hình ảnh rất dân giã rất đời thường: 100 quả trứng, Hà 55 và Lạc 45 quả, 100 quả trứng Hà - Lạc nở thành người là sự khởi đầu của dòng giống HÙNG. Thực ra không có con người ‘vật thể’ nào chui ra từ trứng cả nhưng tất cả người họ HÙNG ‘phi vật thể’ đều từ đó mà ra.
Hà thư và Lạc đồ chính là khởi nguyên của tri thức trong màn đêm tăm tối thời ‘ăn hang ở lỗ’ thánh nhân họ HÙNG đã khái quát hóa được những hình ảnh trực quan thành hệ thống dấu hiệu con người bắt đầu tư duy về sự biến hóa đổi thay trong thế giới vật chất bằng những mối tương quan của dấu hiệu 1 thế giới hoàn toàn mới được hình thành. Đó là “thế giới thông tin”.
Hà thư - Lạc đồ là cái nền của tri thức. Đấy mới là ý nghĩa đích thực của câu chuyện Rồng –Tiên trăm trứng mà chỉ riêng người họ HÙNG mới thấu suốt.
Số 5.
Đế Minh cháu 3 đời của vua Thần nông tuần du đến Ngũ Lĩnh gặp một nàng tiên kết thành vợ chồng và sinh ra Lộc Tục, Lộc tục sau là Kinh Dương Vương vì vua đầu tiên của nước Việt. Nhiều nhà nghiên cứu ḷịch sử căn cứ vào truyền thuyết này mà cho là quê hương ban đầu của người Việt tận Ngũ Lãnh ở Hồ Nam Trung Quốc.
Với dịch học họ HÙNG thì Lạc đồ cũng là địa đồ, số 5 ở trung tâm của Lạc đồ chính là Ngũ lĩnh trong truyền thuyết ; ‘ngũ lãnh’ chỉ nghĩa là vùng đất chính giữa thiên hạ không phải là tên riêng.
Lãnh thổ của 1 nước tuỳ theo vận nước thịnh suy mà có lúc nở ra và cũng có khi thu hẹp lại ; biên cương thay đổi thì ‘Ngũ lãnh’ cũng đổi theo, lại còn tùy theo sắc tộc nào là chủ thể của triều đại mà Ngũ lãnh cũng thay đổi, ngũ lãnh của nhà Chu không phải là ngũ lãnh của nhà Thương... Trong văn minh Trung Hoa thì quốc thổ Trung Hoa xưa được gọi là ‘Thiên hạ’ , ngũ lãnh là trung tâm của thiên hạ nên khi nói Ngũ lãnh thì phải nói ngũ lãnh của nước nào - thời nào - triều nào, ngũ lãnh thời đế Minh vua khai quốc người Việt tuần du dứt khoát không phải là ngũ lãnh ở Hồ Nam Trung Quốc.
Mỗi thời có mỗi ngũ lãnh, số 5 chỉ là con số thiêng tượng trưng cho vùng trung tâm quốc thổ. Không hề có một Ngũ lãnh tên riêng vĩnh cửu. Xin đừng hoài công theo đuổi mãi một giả thuyết lịch sử Việt không có hồi kết.
Số 15.
Số 5 trung tâm Lạc đồ chỉ vùng chính giữa tứ phương thiên hạ thì số 15 trung tâm Hà thư chỉ cộng đồng người là chủ vùng đất chính giữa ấy, truyền thuyết nói vua Hùng đóng đô ở Phong châu chia nước thành 15 bộ ; một số nhà nghiên cứu sửa thành 15 bộ lạc hay bộ tộc và còn có người đang cố gắng xác định cụ thể những bộ lạc ấy trên đất Việt Nam.
Thực ra 15 là con số thiêng, thiêng tức là không có thực mà đó chỉ là dấu hiệu tượng trưng cho dòng giống Hùng thuở khai quốc ; số 15 không chỉ một tập thể của những cá nhân mà chỉ một cộng đồng người đã được tổ chức thành 1 thực thể chính trị tức cộng đồng ấy đã vượt qua thời liên minh bộ lạc với các tộc trưởng để bước sang thời vương quốc của vua HÙNG.
Trung tâm Hà thư cũng là trung tâm của Ngũ hành nơi điều khiển - kiểm soát toàn bộ qúa trình tương tác - diễn biến của sự vật. Con số 15 là số thiêng ý nói: cộng đồng người họ HÙNG là thành phần chính yếu cai quản và dẫn dắt toàn thiên hạ.
Hà thư và Lạc đồ hai đồ hình của dịch học nút số đã để lại dấu ấn đậm nét trên lịch sử và văn minh người họ HÙNG bằng những con số thiêng:
Số 100 là biểu tượng của dòng giống HÙNG.
Số 5 tượng trưng cho lãnh thổ nhà HÙNG.
Số 15 chỉ một thực thể chính trị gọi là nhà nước hay quốc gia họ HÙNG với sự lãnh đạo của các HÙNG Vương.
Điều kỳ lạ không hiểu nổi là : tại sao lại có sự liên quan giữa các nút số của Hà - Lạc và nền văn minh người họ HÙNG tiền nhân của người Việt ngày nay ?
2 - Thủ lãnh Việt và Hà thư.
Trong bài ‘Tản mạn về ngôn ngữ Việt –Hoa’ trước đây đã nói đến 5 tước của qúy tộc Trung Hoa.
o Không - 0 - Công
o Hầu - 2 - hai
o Bá - 3 - ba
o Tử - 4 - tư
o Nam - 5 - năm
Đây không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên vì bên cạnh sự việc này còn nhiều điều khác. Nhìn vào tâm Hà thư ở trên.
Cũng như màu vàng của ngũ sắc, tâm của Hà thư có địa vị chí tôn chi phối toàn cục, các dịch tượng khác phải thông qua nó mới có thể tương tác tạo ra diễn trình biến đổi sự vật nên những dịch tượng trung tâm của đồ hình dịch học được người Việt vận dụng tạo thành những từ chỉ THỦ LÃNH của cộng đồng.
Dù chỉ thấy có hai số 5 và 10 thực ra tâm Hà thư có tới 3 con số nhưng vì là dịch học nút số nên không thể biểu diễn số ‘không’ bằng các nút được. Tương tự như với màu vàng trong ngũ sắc : Vàng → vương, chuyển ngữ sang Hán văn là ‘hoàng’
3 con số của tâm Hà thư cũng có sự liên quan rất kỳ lạ với cách gọi các thủ lãnh của người Việt :
Số 0.
‘không’ biến âm thành tước công đã biết nhưng ‘không’ còn có từ đồng nghĩa là ‘vô’, trước đây cứ ngỡ ‘vô’ là từ Hán Việt nhưng nay với điều ‘vô’ biến âm thành ‘vua’ thì phải xét lại rất có thể đấy là 1 từ Việt cổ nay không còn dùng ?
Vua là từ cao qúy nhất trong các từ dùng chỉ thủ lãnh, Hán văn ký âm VUA thành VŨ.
Trong lịch sử Trung Hoa chỉ vị thủ lãnh nào có công khai sáng 1 quốc gia hay 1 triều đại mới được mang tước hiệu là VUA, công ở đây là công với quốc dân còn phường dã tâm “tranh bá đồ vương” chỉ biết việc chiếm đoạt ngôi vị thì không được gọi là vua. Người họ HÙNG suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước duy nhất có 1 HÙNG VŨ người Việt gọi là vua HÙNG, trong truyền thuyết 18 đời Hùng vương được chép là đời Hùng vương thứ 5:Hùng Vũ vương - Hiền Đức Lang xác định ngài là vị Hùng vương khai quốc. Còn trong lịch sử Trung Quốc thì ông “Vũ” có vị thế rất cao trọng, ông không những là tổ nhà Hạ mà còn là tổ của tất cả các vương triều Trung Hoa.
Số 5.
Năm biến âm thành lăm rồi biến thành lang [5] năm→ lăm → lang.
Trước đây cứ ngỡ từ LANG là từ chỉ thủ lãnh của những dân tộc Mường, Thái Nay với sự soi sáng của Hà thư thì rõ ràng vô là từ Việt chính tông.
Lang không những là thủ lãnh của người Việt mà qua trung gian của âm ‘Long’ là con rồng trong Hoa ngữ. Lang còn bước vào chễm chệ ngự trên ngai vàng của đấng con trời Trung Hoa.
Hậu Hán thư có đọan ngắn nói đến Lạc Việt: con trai vua gọi là ‘quan lang’ con gái vua là ‘mỵ nương’. Và thật lạ lùng các con trai vua nhà Đường cũng được gọi là LANG: đại lang, nhị lang, tứ lang .v.v. hay là nhà Đường Trung Hoa học theo văn minh Lạc Việt xưa ?
Sử Trung Quốc không biết vô tình hay cố ý mà rất nhiều chữ ‘Lang’ bị đổi thành chữ ‘nam’ nghĩa là phương nam, 1 từ chỉ thủ lãnh bị thay bằng từ chỉ phương hướng gây nên sự nhiễu loạn lịch sử ghê gớm sai lầm chồng chất lên sai lầm khiến cả 1 thời gian dài người họ Hùng không nhận ra chính mình.
Người Mông Cổ chia dân trên đất Trung Quốc bị chiếm đóng thành dân của ‘hãn’ và dân của ‘lang’, đám sử gia mắt kèm nhèm chép thành dân Hán và dân Nam. Văn Lang biến thành Vân Nam, đất Hải Lang biến thành Hải Nam, Chu Lang Thiệu Lang biến thành Chu Nam Thiệu Nam rồi chuyển ngữ thành Chu Công Thiệu Công.... Như thế hỏi còn ai có thể nhận ra nổi lịch sử Trung Hoa thực, hơn nữa đây không phải là trường hợp duy nhất...
Trong Hán sử còn có :
o Nhiều chữ ‘quan’ nghĩa là nom (nhìn-trông) bị thay bằng chữ quang là sáng sủa, từ ‘nom’ trong Việt ngữ cũng chính là nam tức phương nam, Quan vũ là vua nước ở phương nam biến thành Quang Vũ - tên riêng của vua Đông Hán. Nước Quan 1 nước chư hầu phương nam của nhà Ân biến thành nước Quang lơi khơi không nghĩa ngọn gì.
Tương tự kiểu ‘thất bổn’ này với Chữ ‘tiếp’ nghĩa trong tiếng Việt là ‘chạm vào nhau’ đồng nghĩa với giáp, dân gian thường nói kép ‘tiếp – giáp’. Trong ngôn ngữ dịch học thì tiếp là điểm giao giữa 2 chu kỳ trước và sau, trong một ngày là lúc nửa đêm, một năm là ngày đông chí về phương hướng là chính nam ; không hiểu sao trong cổ thư Trung Quốc nhiều chữ ‘tiếp’ bị biến thành ‘tiết’ như: đế Tiếp ý chỉ thủ lãnh của đất phương nam bị biến thành đế Tiết - tên riêng. (Theo cổ sử thì Tiết là tên ông tổ của dân Trung Hoa phương nam).
Trong 64 quẻ trùng thì cặp quẻ đối ứng ‘Tiếp - Hoán’ bị biến thành ‘Tiết - Hoán’. Tiếp còn có nghĩa là gặp gỡ, có gặp gỡ thì mới trao đổi (Hoán) được chứ, 2 vật không chạm (tiếp) vào nhau thì làm sao trao đổi (Hoán) nhiệt ? Ý nghĩa của cặp quẻ Tiếp-Hoán rõ ràng như thế còn ‘Tiết – Hoán’ thì xin chịu thua không hiểu nổi.
Số 10.
Số 10 mười trong hệ thống số đếm Việt nam còn được gọi là CHỤC.
Chục → chủ rồi thành ‘chúa’ sang tiếng Thái - Lào là ‘chậu’, hiện người dân quanh thành Cổ Loa xưa vẫn cho là thành có tên là “thành chủ”. Thực ra gọi là thành chủ nghĩa là thành của vua đồng nghĩa với hoàng thành chứ nào phải tên riêng. Các vua Chiêm thành ký âm Hoa ngữ thành Chế Mân, Chế Củ, Chế Bồng Nga v.v. tưởng đâu Chế là 1 họ của người Chăm nhưng khi so sánh về âm với các từ Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Tiên... triều Nguyễn Việt Nam mới vỡ lẽ Chế Mân nghĩa là vị chúa vị chủ tên là Mân ...
Đặc biệt do ảnh hưởng của vị trí trung tâm Hà thư nên ngoài nghĩa ‘thủ lãnh’ số 5 năm và 10 - chục trong văn minh Việt còn biến âm thành những từ khác khá lý thú :
o 5- năm →lăm → lang → làng
o 10 – chục → chủ → chạ
Với câu vè khá nổi tiếng của người Việt ’’trình làng trình chạ’’ thì làng và chạ có nghĩa là 1 cộng đồng người, là đơn vị hành chánh cơ sở của quốc gia, làng và chạ biến thành Làng - xã ngày nay. Nhưng với câu ’’ăn lang ngủ chạ’’ thì lang và chạ lại mang nghĩa là chốn công cộng nơi chung chạ tức của chung mọi người.
Những nút số của Hà đồ- Lạc thư đã có mặt trong sách ‘Hoàng đế nội kinh tố vấn’ nghĩa là tuổi đời của Hà - Lạc ít nhất cũng bằng tuổi Hoàng đế (đế màu vàng) Viêm đế (đế phương nóng) cách nay 5000-6000 năm, thời điếm này thì dân tộc Trung Hoa còn là 1 nhóm nhỏ sống lanh quanh ở mảnh đất cỏn con bên bờ Hoàng Hà.
Người họ Hùng lập quốc ở vùng đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh cũng đã 5000-6000 ngàn năm nay dĩ nhiên từ ‘vua’ cũng xuất hiện cùng thời điểm ấy còn các từ ‘lang và chạ’ chỉ thủ lãnh thời bộ tộc chắc tuổi còn cao hơn nhiều thậm chí có thể đến cả vạn năm. Hai dân tộcâhi nền văn minh cách nhau vạn dặm tại sao lại có sự tương thông như thế : người Việt tạo từ chỉ thủ lãnh dân tộc mình dựa trên 3 nút số của tâm Hà thư Trung Hoa.
Thực kỳ lạ ! Không thể có sự giải thích nào khác hơn là xem xét lại toàn bộ lịch sử cổ đại Việt và Hoa.
Bài 8: Kim chỉ nam.
Trong bài ‘đôi điều về ngôn ngữ Việt – Hoa’ tôi đã nêu: không có từ Hán Việt mà trong khối từ vựng Việt chỉ có những từ riêng của người Việt Nam và những từ dùng chung trong khối Bách Việt mà thôi. Truy nguyên nguồn gốc bằng ngôn ngữ Kim chỉ nam cho chúng ta nhiều điều bất ngờ lý thú ....
Sự đóng góp có tính quyết định của kim chỉ nam vào việc hình thành bộ mặt thế giới ngày nay không ai có thể phủ nhận....
‘Kim chỉ nam’ là cụm từ thuần Việt ngữ, ý nghĩa rất rõ ràng: cái kim có đầu chỉ hướng nam (ngày xưa theo Dịch lý ngược với ngày nay). Người Hán coi ‘chỉ nam’ là tên tức danh từ riêng nên khi dịch sang Hán văn đã để nguyên chỉ ký âm thành ‘Chỉ nam châm’. Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ khẳng định kim chỉ nam là phát minh của người họ Hùng vì nếu là phát minh của người Tàu thì tên gọi đã là 'tư nam châm' hoặc ‘Nam chỉ châm’ (chỉ = hướng về là trạng từ) chứ không thể là ‘chỉ nam châm’. Kim chỉ nam là phát minh của tiền nhân người Việt như vậy 4 phương trời đương nhiên là từ Việt mà gốc gác được xác định bằng ý nghĩa mang trong các đồ hình Dịch lý.
Phương Bắc.
Biến âm của bức - nóng chỉ hướng Xích đạo (Việt Nam và Trung Quốc đều ở bắc
bán cầu), xích là màu đỏ biến âm thành ‘sóc’ nghĩa là phương bắc, ngày nay lộn ngược chỉ hướng lạnh lẽo của địa cực ...
Phương Nam.
Biến âm của ‘non-yếu’ ngược với lớn mạnh, non cũng là ‘núi’ là hình tượng của quẻ Cấn trấn phương Nam trong Bát quái tiên thiên. Ngôn ngữ Môn-Khơme là B’nâm, Nam trong Thái ngữ là sông nước cũng là dịch tượng của phương nam ; người Việt gọi là Nác→ nước.
Nam cũng là ‘nom’ là hướng nhà vua nhìn về theo lễ chế Trung Hoa vì nơi ấy có ‘thần’ và ‘dân’ của vua. Người Tàu dịch thành ‘quan’, như vậy ‘quan’ phải là hướng NAM nhưng trôi dần theo những biến cố lịch sử ngày nay ‘quan’ biến thành phương bắc, Quan thoại = bắc phương thoại ....
Phương Tây.
Riêng tư người việt còn gọi là ‘riêng tây’ nghĩa là cá nhân hay riêng mỗi con người. Tây cũng là số 4 trấn phương tây trong đồ hình Hà thư, Hoa ngữ đọc là Tứ đồng âm với tử là chết vì phương tây là hướng mặt trời lặn, ‘tư’ còn có ngĩa là suy nghĩ vì theo hậu thiên bát quái quẻ Ly tức lý lẽ trấn phương tây. Riêng với văn minh Việt phương tây còn gọi là phương Đoài hay Đoạt, từ kép ‘quyết định’ hay ‘định đoạt’ đều xuất phát từ dịch tượng này của phương tây về sau rút gọn chỉ còn 1 chữ ‘quyết’.
Phương Đông.
Số đông hay đám đông là sự đối phản với riêng - tây, Hà thư đặt phía tây là phương của cá thể, 1 tinh thần trong 1 thể xác thành 1 con người ; ở đây dịch học xem xét mối tương tác của các dịch tượng ở tầm vi mô, ngược lại phía đông là cộng đồng người được xem xét ở tầm vĩ mô mang tính trường cửu trong thời gian, sợi chỉ xuyên suốt nối kết con người là tình cảm tượng trưng bởi quẻ Khảm nghịch với quẻ Lý của phương tây, tình cảm là sự thương yêu hay từ ái nên ‘thương’ hay ‘ái-yêu’ trở thành tên gọi khác của phương đông. Lịch sử Trung Hoa đặt cơ sở trên Dịch lý nên có triều Thương đất ở phía đông, ngược với nhà Chu hay Chiêu ở phía tây.
Xét trên khía cạnh khác phương đông mang tính động như ta thường nói ‘Chấn động’ ngược lại với phương tây là tịnh hay định. Chấn động ngôn ngữ bình dân Việt gọi là ‘rung rinh’.
Kim chỉ nam truyền sang phương tây chưa rõ vào thời gian nào đã mang theo cả 4 phương nên rất có thể tên gọi phương hướng trong Anh ngữ ngày nay là ký âm latinh tên gốc 4 phương của ‘Bách Việt ngữ’.
1. Sóc phương ký âm thành South
2. Nác hay nước thành north
3. Quyết thành west
4. Ái thành east
Ngoài ra còn phương đông là Orient ký âm của Rung hay Rinh chỉ phương đông theo dịch học.
Ở bắc bán cầu South=Sóc chỉ hướng xích đạo hay nóng bức khớp đúng với viêm thiên trong cửu thiên ; đây là sự chỉ dẫn rõ ràng: phương bắc nay đã lộn ngược thành phương nam.(Sóc là phương bắc)
North=nước = nam hay nậm nghĩa là sông nước theo Thái ngữ; B’nâm trong ngôn ngữ Môn khơme là núi -non, cả sông và núi trong dịch học là quẻ Khảm và Cấn đều là dịch tượng của phương Nam đối nghịch với Hồ-hải quẻ Đoài chỉ phương bắc, chữ Nho âm ‘Sơn’ và ‘Xuyên’ rất gần nhau và là đồng âm của ‘sông’ tiếng Việt đã khẳng định gốc gác dịch lý trong sự kiến tạo những từ này. Nhưng thực là khó hiểu khi ngày nay north = nước – non lại biến thành phương bắc.
Sự lộn ngược bắc - nam có hệ quả vô cùng lớn là thay đổi toàn bộ những thông tin địa lý- lịch sử Trung Hoa. Vị trí tất cả các nước trong cổ sử đều phải xem xét xác định lại như thế cũng đồng nghĩa với việc phải viết lại lịch sử Trung Hoa.
Bài 9: Ngũ sắc Dịch Lý và Trung Quốc.
Theo Dịch học Trung hoa thì sắc màu ứng với các phương ngày nay:
• Phương Bắc sắc Đen.
• Phương Nam sắc Đỏ.
• Phương Đông sắc xanh.
• Phương Tây sắc Trắng.
Trên cơ sở phân màu này có Cửu thiên tương ứng:
• Trời sắc đỏ là Viêm thiên.
• Đen là Huyền thiên.
• Xanh là Thanh thiên.
• Và Trắng là Hạo thiên.
Như vậy chữ Huyền trong huyền thiên nào phải ‘huyền vi tinh diệu‘ gì đâu mà chỉ nghĩa là đen thủi đen thui, Viêm thiên thì đúng với nghĩa ‘ lửa hồng‘, Thanh thiên là trời trong nhưng âm Thanh cũng là màu xanh, Hạo thiên trời sáng rực hoàn toàn đúng với ý phương tây số 4= bốn, bóng, bóng láng....
ĐEN trong tiếng Việt còn là MUN, Ô, MỰC như mèo mun, qụa ô, chó mực .v.v.
Từ ‘MUN’ nguyên thủy chỉ có nghĩa là màu đen trong ngũ sắc dần dần bị chuyển hoá thành MAN, ‘man rợ’ chỉ trình độ văn hóa thấp kém hiểu như là từ phản nghĩa với Văn minh và người Tàu ‘lạm dụng’ tạo thành từ NAM MAN.
Trong dịch lý phương sắc ĐEN đồng vị đồng tính với những ý niệm khác: Đen, mờ, lu, tối, mù (manh) lạnh, cóng, thấp, bé, hèn, mọn, mặn ...
Chuyển ngữ sang từ Hán gốc Việt thì thành: Mông (mờ tối), Mãn - Minh (mỉn = đen-tối), Nguyên (trứng nước), Kim (căm – rét), Hàn (lạnh), Liêu (Lu).
Nếu xét theo thực địa bản đồ Trung Quốc ngày nay thì phải nói ngược lại là BẮC MAN vì vùng sắc đen là vùng của các nước: Mông Cổ, Mãn Châu và Hàn Quốc ; cũng là vùng trung đô của nhà MINH ...
Nhưng cổ thư Trung Hoa lại chỉ có NAM MAN là 1 trong tứ di không hề có BẮC MAN ?
Phải chăng trục BẮC –NAM nay đã bị lộn ngược ?
Sử Trung hoa viết: Lưu Triệt tức Hiếu Vũ nhà Tây hán đã ấn định Hà Nam là SÓC phương tức phương BẮC ngày nay. Như vậy trước Hiếu Vũ thì sóc phương ở đâu ?
Bài 10: Tứ tạng - Tứ Linh
Dịch học người Tàu chuyển ngữ tứ Tạng thành tứ tượng.
Dịch học họ Hùng đã chỉ ra Luật sóng đôi hay lưỡng lập; tức khi đã có 1 lưỡng nghi thì đồng thời cũng có 1 lưỡng nghi sóng đôi với nó:
• 4 Tạng = 2 (2 ngôi)
Hán Tự : Tứ Tượng = 2 (Lưỡng Nghi)
• 1 lưỡng nghi là: Thái âm – Thái dương
• 1 lưỡng nghi là: Thiếu âm – Thiếu dương
Đồ hình 4 dạng hay Tạng
Về căn bản tứ tượng là biểu hiện 4 trạng thái của sự vật trong 1 chu trình tuần hoàn. Quan niệm của dịch học họ Hùng ngược với Dịch học Tàu :
Dương là những gì hữu hình, vì hữu hình nên hữu hạn được tượng trưng bởi vạch đứt – chấm đen, ngoài ra Dương cũng là sự cô đọng vật chất nghĩa là mật độ đậm đặc hơn, vật thể có trọng lượng nặng hơn, trong thang nhiệt độ là lạnh.
Âm là những gì vô hình, như năng lượng vô hình nhưng vẫn tồn tại Dịch học tượng trưng bằng vạch liền – chấm trắng, Âm cũng là vật chất phát tán nên nhẹ, về nhiệt là sức nóng .v.v.
Một đơn vị của Tứ tượng được xác định bởi liều lượng và chiều vận đông của 2 thứ khí cơ bản là âm và dương:
Thái Âm là thuần âm, là vị trí khí âm đến đỉnh và bắt đầu đảo chiều vận động đi xuống hay giảm bớt, Dịch học gọi là âm tiêu và dĩ nhiên hễ âm tiêu thì dương trưởng.
Thái Dương tương tự như thái âm nhưng ở tình trạng và chiều vận động ngược lại. Đây là vị trí khí âm đảo chiều bắt đầu đi lên, đặc biệt Thái dương được coi là nơi tiếp nối của 2 chu kỳ trước và sau.
Thiếu âm về liều lượng thì khí âm nhiều hơn nhưng đang tiêu, khí Dương đang trưởng.
Thiếu Dương ngược lại với Thiếu Âm con số tuyệt đối là Dương nhưng Âm đang trưởng và Dương đang tiêu.
Khái niệm Tứ tượng vận dụng vào chu kỳ sống của con người và vạn vật là :
Thiếu Dương là: ban sáng, mùa xuân khí trời mát mẻ, cây cối đâm chồi nảy lộc, mọi sinh vật hăng hái sống động.
Thái Âm là: ban trưa, mùa hè, trời nóng nực vì mặt trời ở thiên đỉnh nên nguồn bức xạ tuôn xuống mặt đất mạnh mẽ nhất.
Thiếu Âm là: ban chiều, mùa thu khí trời dịu, cây rụng lá là lúc vạn vật bắt đầu nghỉ ngơi.
Thái Dương là: ban đêm, mùa đông, trời lạnh gía đây là lúc giao thời kết thúc chu kỳ trước và bắt đầu chu kỳ sau.
Thời thái cổ khi ngôn ngữ còn chưa phức tạp tổ tiên người Việt đã đánh dấu và đặt tên Tứ tượng bằng 4 từ mà vết tích còn có thể nhận ra ở ngày nay :
Thiếu dương ban sáng mùa xuân là: rung tức động, sống động.
Thái Âm ban trưa mùa hè là: phồng nghĩa là trương nở lớn ra ở đây chỉ khí âm tức sức nóng đến cực đại.
Thiếu Âm ban chiều mùa thu là: lì tức ù lì không hoạt động.
Thái Dương ban đêm mùa đông là: quay nghĩa là trở đầu đảo chiều Âm Dương tiêu trưởng để bắt đầu 1 chu kỳ mới.
Xuất phát từ Dịch học 4 từ Việt ngữ của 1 vòng Âm Dương tuần hoàn trở thành Tứ linh trong văn minh Trung Hoa.
1. Từ Rung - Long
Rung là động biến âm ra rồng trong tiếng Việt ngày nay ..
Rung ký âm Hán tự là Lung, phát âm Hán Việt là Long. Điểu thú văn lấy con rồng làm dấu hiệu chỉ tượng Thiếu Dương, phương Đông, mùa Xuân.
Dịch học quan niệm phương đông là phương động cũng nghĩa là sống động, là phương của quẻ Chấn hay Thìn, Chấn là động và Thìn cũng là Rồng.
2. Từ Phồng – Phụng.
Phồng có những biến âm như Phùng như trong phùng mang trợn má ...
Phỏng chỉ chỗ phồng lên do bỏng nhiệt.
Trong Điểu thú văn Phồng - phùng biến thành Phụng tức chim Phụng hoàng hay Phượng hoàng là thần điểu tượng trưng cho Thái Âm. Mặt trời ở trên cao được tượng trưng bởi loài chim thần. Phụng hoàng là chủ bầu trời chính là dấu hiệu vật thể tiên khởi của ký hiệu để rồi dần dần sau cùng biến thành ký tự hay chữ viết ngày nay.
3. Từ Lì – Ly.
Động từ Lì chỉ sự bất động là đồng âm của từ Lửa, Hoa ngữ là Hoả, thần thú biểu tượng cho Thiếu Âm, phương tây mùa Thu thần thú biểu tượng là con LY – LỶ - LỬA.
Nguyên thủy là con ly – lửa, Hoa ngữ là Hỏa biến âm thành Hổ, Cả Việt và Hoa đều gọi là Hổ, Hổ là Hoả, hoả là lửa –lỉ – ly chỉ là một.
Tại sao Ly còn gọi là con Lân hay Kỳ Lân ?
Theo Phép phiên thiết Hán văn :
Lân tri = Ly
Người Hoa làm rớt mất âm ‘Tri’ để chỉ còn lại ‘Lân’ thế là con lửa hay Ly biến thành con Lân 1 thần thú thoát thai từ con vật thật là loài Hổ. Người Hán đang cố gắng làm chuyện nhập nhèm biến Hổ thành sư tử khi mà dân Trung Hoa ở Nam Dương Tử bé tới lớn có lẽ chỉ thấy con sư tử ở sở thú mà thôi.
Lân còn gọi là Kỳ Lân có học ‘giả’ cố ý phịa ra: Lân là con cái, Kỳ là con đực như thế Kỳ Lân là 1 cặp chứ không phải 1 con thú ....
Thực ra Kỳ Lân cũng là Kỳ Ly, Ly –lửa ở đây cho ta thông tin về con Hổ loài thú được người LA coi như thần bản mệnh của dân tộc mình. Hiện nay người dân ở chung quanh Côn Minh Vân Nam vẫn rất kính trọng loài thú này, người La sách vở Tàu viết thành Liêu hay Liêu tử tên khoa học thường dùng là người Kadai, từ Kỳ chỉ đất Kỳ hay đầy đủ là Kỳ Chu – Cùi Chu cách đọc khác của Quý châu ở miền Tây Nam Trung hoa, Kỳ Chu nơi có Kỳ Sơn cũng chính là tên đất gốc tổ của nhà Chu Trung Hoa.
Chỉ là tên 1 con thú mà người xưa đã ký thác cả tên đất và tên tộc người vào đấy hỏi không là thần sao được.
4. Từ Quay – quy.
Nhiều đền thờ ở Việt Nam vẫn dành vị trí trang trọng cho tượng chim Hạc đứng trên lưng Rùa tượng trưng cho trời và đất - âm và dương, con Rùa loài sinh vật rất tầm thường luôn sống ở sát mặt đất sao lại được coi trọng xếp vào hàng tứ linh ?
Trong văn minh sử Trung Hoa thì con rùa có vị trí rất đặc biệt ; từ đời nhà Thương chữ đã được khắc trên mai và yếm rùa, mang chữ trên người con Rùa đã trở thành công cụ truyền bá văn minh, một nhiệm vụ hết sức cao cả không con vật nào có được vinh dự như thế.
Thái Dương là vị trí Âm tiêu đến cùng cực là số không và bắt đầu đi lên chính sự quay đầu của khí âm bắt đầu cho chu trình Âm Dương tiêu trưởng mới khiến cổ nhân chọn con Quy làm đại biểu cho tượng Thái dương, chỉ có tên Quy là từ phát âm gần với Quay nhất không có con vật nào gần hơn nữa.
Trong văn minh Việt Tứ linh chỉ là 4 chữ của Điểu thú văn mà thôi.
Tứ Linh: Long –Ly - Quy - Phụng là biểu tượng sáng chói của nền văn minh Trung Hoa, nó bàng bạc ở mọi nơi mọi chỗ trong đời sống từ đền thờ miếu mạo cho tới cái thiệp cưới... điều không thể ngờ ;
Khó có ai dám nghĩ là : Long – Ly- Quy – Phụng thực ra chỉ là biến âm của những từ Việt chính gốc : rung - lì - quay - phồng, những từ này xem ra rất tầm thường nhưng cái vỏ tầm thường dân giả Việt Nam ấy bên trong lại chứa cái vô cùng vĩ đại là Tứ tượng của Dịch học, cái học uyên thâm tới nỗi bậc thánh nhân như Khổng Tử mà phải than sao không sống lâu hơn để tìm hiểu suy ngẫm thêm nữa.
Từ điều kì lạ mới biết này ta kết luận sao đây về nền văn minh Trung Hoa.
Bài 11: Ngày giỗ tổ HÙNG VƯƠNG
Lịch phương đông còn gọi là lịch CAN-CHI là lịch dùng 2 hệ Can và Chi để định danh các đơn vị thời lượng như ngày giờ, tháng năm...
Thập Can là: Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
Thập nhị địa chi là: Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
Với đơn vị năm thì Thứ tự 1 Can phối với 1 Chi tạo thành tên gọi, 60 năm là 1 kỷ rồi quay lại từ đầu.
Nguồn gốc của 12 địa chi chính là 12 tuần trăng tức 12 tháng trong 1 năm nên Hoa ngữ gọi tháng là Nguyệt (mặt trăng), Địa chi sau được sử dụng như hệ số đếm cơ số 12, ứng dụng tạo ra phần Chi trong tên gọi của năm.
Nguồn gốc của thập can không có gì chắc chắn chỉ ức đoán có thể xuất phát từ bàn tay 5 ngón của con người, đây là hệ số đếm cơ số 5 tương tự hệ số đếm của người Khơme hiện nay, 1-2-3-4-5 đến số 6 là 5+1, 7 là 5+2... cho đến 10 là 5+5. Điều này thật thú vị khi trở thành nguyên tắc tạo ra số sinh, số thành của Hà Đồ (Thư):
Vòng Sinh 1-2-3-4 cộng với số 5 ở Trung tâm tạo ra vòng số Thành 5+1=6, 5+2=7, 5+3=8, 5+4=9 sau cùng là 5+5 ra 10 ở Trung tâm coi như số kết thúc của 1 vòng tuần hoàn và cũng chính là số bắt đầu của vòng kế tiếp... Vì thế Hoa ngữ gọi 10 là Thập hay Sập, tiếng Việt là Chập tức gấp đôi lên...
Hai vòng số sinh và số thành thống nhất tạo ra hệ số đếm cơ số 10 thông dụng hiện nay.
Thứ tự của Thập can hiện đang dùng:
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Qúy (Khang).
Là tên chữ Nho, đọc theo phát âm Hán Việt. Tên gốc hay tên Nôm của chúng là:
Chắc óp bấn đinh mẹ cả cóng tâng nhũn căng
Điều này cũng tương tự như tên Chữ và tên Nôm của các làng quê Việt. Thứ tự 10 can như trên là thứ tự đã biến đổi (chưa rõ nguyên do) so với nguyên thủy, vì nó không hợp lý khi đối chiếu với các nguyên lý của Dịch học.
Căn cứ để sắp xếp thập can trong dịch học là các định luật của dịch học:
Nhất viết thủy, nhị viết hỏa,tam viết mộc (mềm), tứ viết kim (cứng).
Hỏa viêm thượng nghĩa là Lửa thì bốc lên trên.
Thủy nhuận hạ: nước thì thấm xuống dưới.
Cương nhu tương ma sinh Động tịnh nghĩa là cứng mềm cọ sát sinh ra động tịnh.
Lập thành đồ hình.
Đối chiếu với Hà đồ (thư)
Dựa vào sự tương ứng vị trí và ý nghĩa của tên gọi các CAN trong tiếng Việt ta xác định:
khi vận dụng sự liên kết đối chiếu này ̣để giải mã đồ hình HÀ THƯ, ta có thứ tự 10 can đúng là:
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Giáp Ất Nhâm Khang Mậu Canh Tân Bính Đinh Kỷ - Kỵ.
Âm Việt ngữ là:
Chắc óp nhũn căng mẹ canh tưng bấn đinh cả.
Trung hoa xưa có 3 loại lịch, lịch nhà Hạ, Lịch nhà Thương và Lịch nhà Chu, âm lịch đang dùng ngày nay là lịch nhà Hạ, nhà Hạ kiến Dần tức lấy tháng Dần là tháng Đầu năm tức tháng Giêng:
Tên các tháng âm lịch:
Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu
Giêng 2 3 Tư 5 6 7 8 9 10 11 Chạp
Bách Việt là tên gọi của 1 siêu tộc người có địa bàn cư trú khắp Đông Nam Á, miền Hoa Nam và bang ASSAM của Ấn Độ.
Tại đền thờ quốc tổ Hùng Vương ở Phú Thọ có câu đối:
Vế phải:
“Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ”.
Vế trái:
“Quang nhạc hiệp linh cố cung thành tụy miếu, tam giang khâm đái thượng triều tôn”.
Dịch nghĩa:
“Sách trời đã định chính thống dựng kinh đô non sông Bách Việt đã có tổ. Núi sáng linh thiêng cố cung lập thành miếu, ba sông một dải hướng về nguồn”.
(Dịch và hiệu đính: Nguyễn Hữu Mùi, Đỗ Thị Hảo - Viện nghiên cứu Hán Nôm)
Câu đối trên đã xác định: Vua Hùng hay Hùng Vương là tổ của cả dòng giống Bách Việt, Người Việt nam ngày nay là hậu duệ của chi tộc LẠC VIỆT, là chi duy nhất bảo lưu quốc thống của tổ tiên dòng giống HÙNG.
Theo truyền thuyết thì có 18 đời vua HÙNG, ta lưu ý chữ ‘đời vua’, 1 đời vua là 1 triều đại hay nôm na là 1 nhà như nhà Lê, nhà Nguyễn, nhà Hạ, nhà Thương... Mỗi triều đại lại có nhiều vua, ít nhất là 1 nhiều thì có thể tới vài chục, truyền thuyết ghi 18 đời Hùng Vương có tổng cộng 180 vua.
Nhưng tại sao chọn ngày ‘giỗ vua tổ’ là ngày trọng đại coi như ngày khai sinh đất nước mà không chọn ngày sinh hay ngày lên ngôi của ngài ?
Nghiên cứu cổ sử Trung Hoa mà Sử thuyết họ Hùng cho là Bách Việt sử ta thấy: vua Hạ Vũ được tôn là tổ của nhà Hạ nhưng ông Khải mới chính là vua đầu tiên của nhà Hạ, ông Cơ Xương vẫn được coi là tổ nhà Chu nhưng thực ra con ông là Cơ Phát mới là vua đầu của nhà Chu.
Như thế suy ra ngày giỗ của vua tổ chính là ngày lên ngôi của vua đầu khai sáng triều đại.
Tương tự quốc gia của người họ Hùng cũng thế, trước khi trở thành 1 vương quốc bao giờ cũng có thời lập quốc, ngày kết thúc thời lập quốc cũng chính là ngày bắt đầu của thời vương quốc, cả thời gian lập quốc được người Việt ‘siêu nhiên hoá’ thành thời trị vì của vua tổ, ngày vua tổ mất chính là ngày lên ngôi của vua đầu tiên tức mốc thời gian bắt đầu có quốc gia dân tộc hay là ngày khởi đầu của lịch sử quốc gia.
Đã thông ý nghĩa ngày giỗ tổ rồi tiếp tới câu hỏi: có thật ngày 10 tháng 3 là ngày mất của quốc tổ Hùng Vương như lưu truyền xưa nay ?
Ở trên đã nói quốc tổ là sự ‘siêu nhiên hóa’ cả thời kỳ tổ tiên lập quốc chứ không phải 1 nhân vật lịch sử, 1 con người sống để có ngày sinh ngày mất thực ...
Vậy ngày giỗ tổ 10 tháng 3 âm lịch ở đâu ra ? Điều này quan trọng lắm đấy vì kể từ năm Canh dần 2010 chính thức trở thành ngày quốc lễ, ngày trọng đại của mọi người Việt, từ đương kim nguyên thủ quốc gia tới người đang lưu vong xa xứ, từ người cầm búa tới người cầm bút, từ nông thôn tới thành thị, từ người mặc áo vàng tới người áo đỏ... không sót một ai.
Có thể nói ngày 10 tháng 3 hàng năm là ngày duy nhất có được của toàn thể người Việt mà sự hân hoan tự nhiên phát ra từ đáy lòng, là ngày giờ linh thiêng khiến giữa tất cả người Việt với nhau thực sự không có sự ngăn cách nào dù mong manh nhất.
Xin thưa những ngày tháng này đều rút từ ruột của Dịch học.
Số 3 trong tháng 3 giỗ tổ là số của Địa chi.
Số 10 trong ngày 10 là số của Thiên can.
Ở phần trên đã chỉ ra tháng 3 âm lịch là tháng Thìn theo lịch nhà Hạ, Thìn là con rồng, Hoa ngữ đọc là LUNG, âm Hán Việt là LONG, Lung và Long là đồng âm của LANG, chính vì điều này con Rồng được dùng tượng trưng cho Vua.
Năm là số trung cung của Hà - Lạc nơi điều hoà ngũ hành nên được dùng chỉ thủ lãnh, vua, người cầm đầu.
Trong tiếng Việt: năm hay lăm → lang.
Ngôn ngữ Thái và Mường hiện nay từ lang cũng có nghĩa là Thủ lãnh, người cầm đầu.
Tóm lại: ý nghĩa của số 3 - Thìn chính là Lang là vua.
Số 10 là can KỶ; đi hết 1 vòng trở về khởi đầu là Kỷ, nên ngày KỶ cũng là Kỵ, ngày KỴ tức ngày Giỗ.
Số 10 và số 3 căn cứ trên 2 hệ Can - Chi theo Dịch học họ HÙNG giải mã ra là: KỴ LONG ý tứ rất rõ ràng nghĩa là ngày GIỖ VUA.
Vua ở đây là vua tổ như đã trình bày ở trên, ngày giỗ của vua tổ cũng chính là ngày lên ngôi của vua đầu tiên, ngày khởi đầu của vương triều thứ nhất, ngày bắt đầu của Lịch sử quốc gia, từ cổ xưa đến nay Việt Nam có lẽ là nơi duy nhất trên quả đất này ngày giỗ quốc tổ lại chính là ngày hân hoan vui mừng của toàn dân tộc.
Từ ngày tháng này trở đi sau không biết là bao năm mạch sống từ cội nguồn lại tuôn về; cứ ngày 10 tháng 3 âm lịch là tiếng trống đồng lại vang vọng khắp non sông, nơi nơi chốn chốn đàn con Việt hợp lòng cùng nhau hướng về đền HÙNG cầu xin tiên tổ phù trợ khiến quốc thái dân an, người người hạnh phúc, nguồn mạch tâm linh ấy một khi đã tuôn chảy rồi sẽ không bao giờ dứt.
Bài 12: Mặt trời - trống Đồng và đạo Hiếu.
Trống đồng có nhiều hình dạng, nhiều thời do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau, bài này viết về thông điệp trên mặt trống đồng NGỌC LŨ. Nhìn hình mặt trống Đồng Đông Sơn :
Mặt trống gồm 1 tâm và 3 vòng đồng tâm.
‘sinh sinh chi vị Dịch’ có 2 chuỗi luận:
1→2→4→8 .
1→3→5→9.
Hình ảnh trên mặt trống đồng :
Mặt trời ở tâm chỉ Thái cực.
Vòng tròn trong cùng là vòng Lưỡng nghi – Tam tài.
Vòng giữa là vòng Tứ tượng - Ngũ hành.
Vòng ngoài cùng là vòng Bát quái – Cửu trù.
Về ý nghĩa các vòng đồng tâm trên mặt trống đã viết trong bài ‘Giải mã thông tin mặt trống đồng’, nay chỉ xin bàn thêm về Mặt trời ở tâm.
Mặt trời trung tâm - chủ đạo tư tưởng : Thái cực ═ nguồn sáng-chính giữa.
Như trong bài Giải mã thông tin mặt trống đồng: Tâm trống đồng luôn luôn là mặt trời, mọi kiểu trống mọi thời đại đều như thế ; điều này cho thấy có sự thống nhất và xuyên suốt nguyên tắc cơ bản trong hệ tư tưởng người họ Hùng.
Hình ảnh gỉan đơn này không thuần mô tả vật thể mà còn mang ý nghĩa triết lý rất thâm sâu của Thái cực trong Dịch Lý.
Mặt trời là tượng trưng của tâm vũ trụ ═ chính giữa ═ Trung.
Mặt trời cũng chính là nguồn sáng là cái gốc của mọi hiểu biết hay tri thức, là cội nguồn của văn minh loài người ═ nguồn sáng ═ hỏa.
Hiện nay từ Trung - Hoa được chính người Trung Quốc giải thích là sự giản hóa của cụm từ: Trung Quốc Hoa Hạ.
Trung là trung tâm còn Hoa là đẹp đẽ - Hoa lệ.
‘Trung – hoa’ ; Chốn trung tâm và đẹp đẽ thì chẳng dính dáng gì đến chủ đề tư tưởng triết lý thâm sâu cả, nó thường thường như mọi sự thường thường khác và chẳng liên quan gì đến người họ Hùng.
‘Trung – hỏa’ ; nguồn sáng - chính giữa mới là chủ đạo tư tưởng từ ngàn xưa của người họ Hùng.
Hình ảnh mặt trời ở tâm mặt trống Đồng là 1 dấu hiệu vật thể mang thông tin có thể coi là loại chữ ‘tiền tượng hình’, là hình thái tối sơ của ký tự hay chữ viết về sau.
Ngoài nghĩa lý trong luận lý học ‘Trung – Hoả’ – ‘nguồn sáng - chính giữa’ thể hiện bởi hình ảnh ‘Mặt trời trung tâm’ mặt trống đồng về mặt tâm linh cũng chính là hình ảnh đại diện cho ‘ông trời’ siêu hình là cha đẻ của cả loài người nên ở Việt Nam mới có có tục thờ ông Thiên, nay thì chỉ còn ở chốn làng quê nhưng ngày xưa chắc chắn nhà nào cũng có bàn thờ ông thiên ở ngoài sân.
Đạo thờ tổ tiên ngày nay thường được nhìn ở phạm vi ‘cá thể’ chỉ thể hiện nơi bàn thờ gia tiên trong nhà vào dịp giỗ tết cưới xin, thực ra đạo tổ tiên có tầm bao quát rộng lớn hơn nhiều, là đạo của cả dân tộc Việt.
Nhìn tổng quát vào việc thờ cúng tổ tiên có thể thiết lập hệ đẳng cấp hàng dọc của đạo Hiếu hay đạo thờ tổ tiên như sau :
1. Trên hết là thờ ông Thiên – bà Trời, cha chung của cả loài người, xưa nhà nào cũng thờ ở bàn thờ ‘Thiên’ ngoài sân nhà.
2. Kế đến là quốc tổ Hùng Vương, cả nước Việt thờ chung ở đền Hùng, theo thiển ý khi nói thờ Hùng Vương là có ý thờ cả 18 đời vua Hùng tức thờ hết thảy tiên vương gian nan thời dựng nước mà lịch sử chỉ mù mờ truyền lưu, còn nếu thờ riêng quốc tổ thì phải nói đền thờ quốc tổ Hùng Vũ. Vũ là ký âm Hán tự của từ VUA, Hùng Vũ tức vua Hùng, trong văn minh Trung Hoa chỉ vương khai sáng cơ nghiệp mới được gọi là VŨ tức VUA, Hùng Vũ là vương khai sáng cơ nghiệp họ Hùng nói chính xác ngài không phải là ‘vua’ khai sáng 1 ‘nhà’, vua của 1 đời mà là vua của cả dòng giống Hùng, là vua trên hết các vua nên mới có tôn hiệu quốc tổ.
3. Dưới nữa là Thần thành hoàng thờ ở đình làng.
4. Ông tổ dòng họ và Tiên nhân dòng họ nói chung thờ ở nhà thờ tộc.
5. Sau cùng là những đời gần gũi nhất: ông bà cha mẹ gọi là gia tiên thờ ở mỗi nhà.
Bàn thờ lộ thiên để có sự nối thông tới tận trời cao không bị bất cứ vật gì gián cách, lễ thì cực kỳ ‘mọn’ chỉ có nén nhang và tấm lòng thành, hình thức bề ngoài thì người ta còn giữ nhưng cái hồn ở trong của nghi lễ thì đa phần đã quên mất rồi.
Nhìn dưới ánh sáng Dịch lý thì :
Nếu chỉ có nén nhang không trên bàn thờ là thiếu hẳn 1 nửa của nghi thức, dưới chân nén nhang luôn phải có chung rượi cũng có thể thay bằng chung trà hay ‘mọn’ hơn nữa là chung nước lã mới là đủ lễ.
Nén nhang cháy ở trên là ‘lửa’ tức quẻ Ly tượng trưng cho phần ‘âm’ vô hình.
Chung nước ở dưới là quẻ ‘Khảm’ tượng trưng cho Vật chất hữu hình.
Đơn giản như thế nhưng cũng đủ trọn câu ‘nhất Âm nhất Dương chi vị đạo’.
Dịch lý trong đời sống người Việt là cực ‘giản’, giản tới mức không phải nghĩ gì cả cứ bình thường như hít thở không khí vậy.
Ông Thiên là đấng tối cao trong tâm linh Việt, đạo mẫu gọi là Mẫu Thiên hay bà Thiên Hậu, bà chúa Thiên Hậu ; đây là dấu vết còn lại của thời Mẫu quyền, đẳng cấp cao nhất là ‘bà Trời’, rất có thể đạo Mẫu là hình thái sơ nguyên của đạo Hiếu hay đạo thờ tổ tiên ngày nay.
Không biết gọi là Đạo ‘Hiếu’ hiểu theo nghĩa là 1 tôn gíáo liệu có đúng không ? Hay đây chỉ là 1 nếp văn hóa, 1 truyền thống nặng tính nhân bản từ trong gốc, tiêu biểu cho nền văn minh độc nhất vô nhị hình thành trên hệ tư tưởng Dịch học.
Nguồn sáng – chính giữa ═ trung – hỏa ═ Thái cực là đầu mối của đạo.
Thần thánh chính là tiên tổ của mình với phẩm trật từ xa tới gần ; xa nhất cao nhất là ông trời – Thái cực tượng trưng bởi hình ảnh mặt trời, gần nhất là ông bà cha mẹ những người đã trực tiếp sinh ra và nuôi dưỡng mình.
Không tăng lữ, không kinh kệ tất cả là tấm lòng thành nên ‘vô ngôn’ khi dâng tế riêng mình, còn khi tế tập thể thì người đại diện đọc ‘văn tế’ tự soạn không cần khuôn phép bài bản sẵn có nào cả miễn nội dung là sự hiệp thông của mọi ‘tấm lòng thành’ đang có mặt cùng tế bái là được....
Đạo ngoài hệ dọc kể trên nơi này chốn khác tùy cảm nhận của nhóm người có thể nhỏ cũng có thể vô cùng to mà lập đền thờ ‘tiên liệt’. Vua anh minh có, dũng tướng đánh giặc giữ nước có, người khai hoang mở đất cũng được thờ, bác học và thi nhân thày thuốc cũng có nơi thờ... Nói chung rất phong phú đa dạng nhưng nhất quán tiêu chí có công với tập thể hoặc là với cả dân tộc, đạo Hiếu của người Việt thờ tổ tiên và tiên liệt vì 1 lẽ chung hết sức giản đơn ’’uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây’’.
Có thể nói thời tính rất đậm nét trong tâm thức Việt điều này có thể nhận ra trong ý tưởng Mặt trời chính là khởi nguồn cuả cả Sử và Đạo, với hình ảnh mặt trời ở tâm mặt trống đồng đã chỉ ra lịch sử dân tộc truy nguyên đến ngọn nguồn là tận thời điểm hình thành vũ trụ ; ông ‘Bản cả’ (Bàn Cổ) tạo ra vũ trụ chính là sự thể hiện nguyên lý Thái cực sinh Âm – Dương vào trong lịch sử dân tộc…Chất nhẹ của ‘Khí’ bay lên thành trời, chất nặng lắng xuống thành đất, rõ ràng với người Việt thì Đạo và Sử chung 1 khởi nguồn : mặt trời –Thái cực cũng là ông Trời và cũng là ông Bản cả ‘thủy’ thủy tổ của mình.
Nặng thời tính nên chỉ trong nền văn minh Việt Đạo và Sử mới quyện chặt vào nhau. Nói khác đi người Việt có thể viết Sử thông qua các thần của đạo thờ tổ tiên nếu trả lời được cho câu hỏi :
1. Vua cha ngọc hoàng thượng đế và đệ nhất tiên thiên thánh mẫu là ai ?
2. Nam triều thánh tổ ngọc hoàng thượng đế và đệ nhị thượng ngàn thánh mẫu là ai ?
3. Tản viên sơn thánh quốc chúa đại vương là ai ?
4. Ngũ vị tôn ông và tứ vị triều bà là ai ?
Là người Việt đã có thông tin đích xác về dòng giống mình ở thời kỳ gọi là ‘tiền sử’và ‘sơ sử’.
Cái cây không mọc từ thinh không mà phải mọc trên cái rễ của mình, nhìn trong chuỗi thời gian thì ‘hiện tại’ chỉ là điểm cuối của quá khứ, một dân tộc đánh mất quá khứ chắc chắn sẽ không có tương lai.
Người họ Hùng xưa là ánh đuốc soi đường cho cả thiên hạ. Giờ tôi và bạn hãy nhìn vào hoa văn mặt trống đồng để thấy di ngôn của tiền nhân để lại: Chữ ‘Trung – hoả’ rõ mồn một nơi hình mặt trời ở tâm.
Lặng lẽ thắp nén nhang để mùi thơm lan đến trời cao mà cúi đầu nào dám ngước mắt nhìn anh linh tiên tổ.
Tại sao, tại sao ngày nay con cháu họ Hùng lại như thế này ???