Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thám tử Hercule Poirot - Agatha Christie (Finished) 🔒

91 trả lời, 18.172 lượt xem — Trang 1 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-21 05:36:00khachxa>
Agatha Christie
Thám tử Hercule Poirot
Truyện trinh thám
Người dịch: Trần Bình
Nhà Xuất bản Công an Nhân dân - 2004









SỰ BIẾN MẤT CỦA ÔNG DAVENHEIM


 
Poirot và tôi ngồi bên bàn nước đợi thanh tra cảnh sát Japp, một người bạn cũ, đã hẹn tới uống trà cùng chúng tôi.
Một tiếng động khô khan tiếp liền việc đến đột ngột của Japp.
-       Hy vọng rằng tôi không tới muộn, anh chào chúng tôi và nói tiếp, không giấu giếm gì các anh, tôi phải làm việc với Miller, ông thanh tra phụ trách vụ Davenheim.
Tôi giỏng tai lên nghe. Từ ba ngày nay, báo chí đều đăng tin về vụ biến mất lạ lùng của ông Davenheim, một thành viên quan trọng của hãng Davenheim và Salomon gồm những nhà tài phiệt và chủ ngân hàng danh tiếng. Ông đi khỏi nhà hôm thứ bảy tuần trước và cho đến nay vẫn chưa trở về. Tôi nóng lòng muốn nghe ở Japp một vài chi tiết bổ ích.
-       Tôi cho rằng – Tôi nói – Không thể có chuyện biến mất trong thời buổi này được.
Poirot đẩy chiếc đĩa đựng những chiếc bánh rán nhỏ phết bơ ra và hăng hái nói:
-       Hãy nói cụ thể, anh bạn. Anh hiểu biến mất là thế nào? Anh đang nói đến loại biến mất nào đây?
-       Những vụ biến mất đều đã được phân loại và dãn nhãn ư? – Tôi cười và hỏi lại.
-       Nhưng đúng là chúng đã được làm như vậy. Chúng gồm ba loại: loại thứ nhất, loại thường được biết đến, là biến mất một cách cố ý; thứ hai đó là do sự mất trí và mất nhân cách, trường hợp hiếm nhưng vẫn xảy ra; thứ ba là giết người, thủ tiêu xác chết ít nhiều không khéo. Anh cho rằng không có những trường hợp ấy ư?
-       Phải, gần như không thể. Người ta có thể mất trí, nhưng chắc chắn rằng đến một ngày nào đó người ta nhận ra anh, nhất là đối với một nhân vật quan trọng như Davenheim. Sau nữa, đối với thi hài, người ta không thể cho nó bay vào không trung được, sớm hoặc muộn chúng cũng phải ra khỏi nơi ẩn giấu, từ một chiếc hòm hay từ một góc rừng… vụ giết người được khám phá. Với những phương tiện giao thông hiện đại người ta cũng chẳng đã bắt được những người chạy trốn ra nước ngoài đó sao? Những nhà ga, những bến cảng được canh chừng chặt chẽ…
-       Bạn thân mến – Poioirot nói – Anh đã nhầm. Anh không hiểu được trí xảo của một người muốn thủ tiêu một người khác, hoặc thủ tiêu mình, tuy rằng ít khi xảy ra,là một người có phương pháp. Hắn có thể dùng toàn bộ trí khôn và tất cả tài năng cần thiết vào công việc để tính toán cẩn thận tới từng chi tiết nhỏ: và trong trường hợp ấy thì tại sao hắn không thể đánh lừa được cảnh sát?
-       Đánh lừa được cảnh sát thì có thể, nhưng còn anh? – Japp nói với giọng đầy nhiệt thành và cặp mắt tỏ vẻ ranh mãnh – Người ta không thể làm cho Hercule Poirot nhầm lẫn được.
Nhà thám tử cố gắng tỏ ra khiêm tốn:
-       Có thể chứ, đối với tôi cũng vậy thôi. Tại sao lại không? Đúng là tôi tiếp cận loại vấn đề  này với một khoa học chính xác, một sự xác định toán học mà than ôi rất hiếm thấy ở những thám tử trong thế hệ mới này.
Japp cười hớn hở:
-       Có thể là như vây. Nhưng Miller phụ trách việc này là một tay lão luyện trong nghề. Anh có thể tin chắc rằng không một dấu tay nào, không một chút tàn thuốc lá, một vụn bánh mì, một vết bùn trên thảm chùi chân hoặc một sợi lông mèo ở dưới gầm giường nào có thể lọt qua mắt ông ta. Anh không thể không công nhận giá trị của những chi tiết nhỏ chứ?
-       Không bao giờ. Những cái đó đều rất có ích, mỗi thứ về một phương diện. Nguy hiểm là chúng được quá coi trọng hơn bản thân chúng. Hầu hết những chi tiết đều vô nghĩa; chỉ một hoặc hai cái có tầm quan trọng căn bản mà thôi. Đó là bộ óc, là chất xám… - Anh  vỗ vào trán – mà ta phải tính đến. Cảm giác thường bị nhầm. Sự thật biểu hiện ở trong chứ không phải ở ngoài chúng ta.
-       Pooirot, liệu anh có thể nói rằng anh có thể khám phá ra một vụ mà không rời khỏi ghế ngồi không?
-       Có chứ, đây đúng là điều tôi muốn nói. Tôi sẽ làm với điều kiện là người ta cho tôi biết rõ mọi sự kiện. Tôi coi mình là một nhà chuyên môn để người ta tra vấn.
Japp xoa tay với một vẻ tinh anh.
-       Tôi muốn bị treo cổ nếu không nhận lời anh, Poirot. Tôi đánh cuộc năm bảng Anh rằng anh không thể đặt tay, hoặc làm cho tôi đặt tay, vào ông Davenheim, dù còn sống hay đã chết, trong một tuần lễ, kể từ ngày hôm nay.
-       Hừ… Một tuần lễ, anh nói như thế chứ?
-       Phải, bảy ngày, bắt đầu từ chiều nay.
-       Rõ, anh bạn, tôi nhận. Thể thao, đó là cái thú của các anh, những người Ăng-lê. Và bây giờ nếu anh muốn cung cấp cho tôi những sự kiện.
-       Thứ bảy tuần trước, theo thói quen, ông Daveiheim từ Victoria, đi chuyến xe lửa mười hai gờ bốn mươi đến Chingside, nơi ông có ngôi nhà ở vùng Cèdres. Sau bữa ăn trưa, ông đi dạo và chỉ bảo công việc cho những người làm vườn. Mọi người đều nói ông ở trạng thái tuyệt đối bình thường. Sau khi dùng trà, ông mở cửa buồng của bà vợ nói là ông đi vào làng để bỏ một vài lá thư vào thùng thư bưu điện. Ông nói thêm là ông đang đợi một ông Lowen nào đó vì ông phải dẫn khách vào văn phòng và nói ông này đợi mình. Ông Davenheim đi ra bằng cửa lớn, bước chậm chạp trên lối đi chính rồi ra khỏi cổng và sau đó người ta không thấy ông đâu nữa. Từ lúc ấy, ông ta tan biến trong giới tự nhiên.


1
-       Một bức tranh đẹp: vùng Cèdres… vườn… một trạm bưu điện trong làng… Sự bí mật được lồng trong một cái khung đáng mến – Poirot lẩm bẩm – Nhưng anh bạn hãy nói tiếp đi, tôi không muốn ngắt lời anh.
-       Khoảng mười lăm phút sau, một người đàn ông cao lớn, tóc nâu,có ria mép đen, bấm chuông ở cửa lớn và nói rằng mình có cuộc hẹn với Davenheim. Người ấy xưng tên là Lowen, và theo lời dặn của ông chủ người ta dẫn khách vào văn phòng. Một tiếng đồng hồ trôi qua, ông Davenheim vẫn chưa về. Cuối cùng thì ông Lowen bấm chuông và nói rằng mình không thể chờ được nữa vì chuyến tàu trở về sắp chạy. Bà Davenheim xin lỗi về sự vắng mặt của chồng, điều mà bà rất khó giải thích vì trước khi đi chồng bà có nói là đang đợi một ông khách sắp tới. Ông Lowen nói về sự đáng tiếc của mình và ra đi. Thời gian trôi nhanh… Và mọi người không thấy Davenheim trở về nhà. Sáng sớm chủ nhật hôm sau người ta báo việc này cho cảnh sát, nhưng cảnh sát cũng không tìm ra ông ta. Hình như ông Davenheim đã bay đi mất. Người ta không thấy ông ấy đi vào làng, cũng không thấy ông ấy đến trạm bưu điện. Nhà ga cũng nói là không thấy ông ấy đi chuyến xe lửa nào. Ô tô vẫn nằm trong nhà để xe. Nếu ông ta thuê một chiếc xe ô tô để đi đến một nơi vắng vẻ nào đó thì người lái xe hẳn đã đến để báo tin những điều anh ta biết để nhận được số tiền thưởng đã hứa cho mọi tin tức. Nếu đúng là ông ta đã đi bộ đến Enfield cách đấy năm ki-lô-mét để đến nhà ga thì ông ta không thể không bị nhận ra trong đám đông. Ảnh của ông đã được in trên các báo với thông báo về tướng mạo đầy đủ, nhưng vẫn không có ai cho biết tin tức. Sáng  ngày thứ hai có một sự khám phá giật gân: phía sau cánh cửa văn phòng ông Davenheim có một chiếc két sắt nhỏ. Chiếc két đó đã bị đục ra và bị lấy đi hết mọi thứ bên trong. Các cánh cửa sổ đều được gài phía bên trong, chi tiết đó loại trừ việc trộm cắp thông thường; ít nhất nếu không phải là một vụ thông đồng đã được một người tay trong gài cửa sổ lại, đúng là như vậy. Mặt khác, cần chú ý, hôm ấy là ngày nghỉ cuối tuần, trong nhà có thể có những náo động, nên việc mất trộm xảy ra vào hôm thứ bảy nhưng đến thứ hai mới được biết đến.
-       Rõ – Poiroit đột ngột cắt ngang – Vậy cái người quấy rầy là ông Lowen đã bị bắt giữ rồi chứ?
-       Chưa. Nhưng cảnh sát đã canh chừng ông này.
Poirot ngẩng đầu hỏi bằng giọng thờ ơ:
-       Người ta đã lấy gì ở trong két sắt? Anh có ý kiến gì không?
-       Chúng tôi đã cùng một nhân vật chủ chốt thứ hai của hãng và bà Davenheim tìm hiểu việc này. Hình như đã mất một khoản tiền lớn gồm những séc vô danh, tiền mặt mới rút ra. Cũng có thể có cả một số đồ trang sức đắt tiền. Tất cả đồ nữ trang của bà Davenheim cũng để trong két ấy. Thời gian gần đây chồng bà rất thích mua sắm đồ trang sức. Cách đây một tháng ông ta đã cho vợ xem những viên đá quý có giá trị lớn.
-       Tóm lại đây là một mẻ lưới lớn – Poirot suy nghĩ nói – Bây giờ thì cái ông Lowen ấy ra sao? Người ta đã biết chiều hôm ấy ông ta định bàn bạc công việc gì với Davenheim chưa?
-       Hình như hai người ấy không thân thiết với nhau lắm. Lowen là một kẻ đầu cơ khét tiếng. Cần chú ý là ông ta đã có một đôi lần kình địch với Davenheim. Đã từ rất lâu hai người không nhìn mặt nhau nữa. Công việc kinh doanh ở Nam Mỹ đã khiến ông chủ ngân hàng ấy hẹn gặp gỡ người này.
-       Davenheim có những lợi ích ở Nam Mỹ ư?
-       Phải, tôi cho là như vậy. Bà Davenheim có cho tôi biết là mùa thu vừa qua chồng bà đi Buenos Aires.
-       Cuộc sống gia đình của vợ chồng nhà ấy không có chuyện gì. Họ ăn ở với nhau ra sao?
-       Chúng tôi cho rằng hai người sống yên ổn và không có chuyện gì. Bà Davenheim là một người dễ chịu và thông minh lắm. Tôi thấy cá nhân bà ta là không có nghĩa lý gì.
-       Vậy đây không phải là chỗ cho ta tìm lời giải của bài toán. Ông ta có kẻ thù chứ?
-       Ông ấy có nhiều đối thủ tài chính, và tất nhiên những người bị ông tước đoạt không muốn điều tốt cho ông ấy. Nhưng tôi không thấy có một người nào có thể thủ tiêu ông; và nếu thế thì xác chết ở đâu?
-       Cái khó là ở đó! Như anh Hastings đã nói, những xác chết có thói quen tái hiện sau một thời gian dài tai hại.
-       Về điều này thì một người làm vườn cho rằng mình đã nhìn thấy một người nào đó đã từ trong nhà đi ra vườn. Có một cửa văn phòng đi ra vườn và ông Davenheim thường ra vào qua lối này. Nhưng người làm vườn ở rất xa, đang bận làm giàn cho những cây dưa, nên anh ta không thể nói chắc chắn đó có phải là ông chủ của mình không.
-       Và ông Davenheim đã rời khỏi nhà vào lúc…
-       Khoảng năm giờ rưỡi chiều.
-       Phía ngoài thửa vườn còn có gì nữa?
-       Một cái hồ.
-       Có mái che cho những con thuyền du ngoạn chứ?
-       Phải, có hai chiếc thuyền đang neo ở đấy. Tôi giả thiết rằng anh đang nghĩ về một vụ tự sát, Poirot? Đây: xin báo tin cho anh rõ ngày mai Miller cho tát cạn hồ. Tôi không ngạc nhiên gì về việc làm của ông thanh tra ấy, ông ta sẽ cho vét bùn và soi những lá cây củ súng bằng kính lúp đấy.
1
Poirot nở một nụ cười khó hiểu và quay sang phía tôi:
-       Hasting, anh vui lòng đưa cho tôi tờ báo Daily Telegraph. Nếu tôi không nhầm thì trên báo có ảnh của người mất tích.
Tôi đứng lên và đưa tờ báo cho Poirot. Anh chăm chú nghiên cứu bức hình.
-       Hừ  - Poirot lẩm bẩm  - Tóc dài và lượn sóng, râu mép rậm, râu cằm nhọn… lông mày cũng rậm, mắt đen…
-       Phải, phải, đúng thế.
-       Râu, tóc đã đốm bạc rồi chứ?
Nhà thám tử gật đầu khẳng định điều đó.
-       Thế nào Poirot? Anh cho rằng việc này là đơn giản ư?
-       Ngược lại. Rất phức tạp.
Người nhân viên của Scotland Yard tỏ vẻ sung sướng:
-       Nhưng nó cho tôi nhiều hy vọng giải quyết vấn đề – Poirot trầm tĩnh nói.
-       Thế nào?
-       Tất nhiên. Khi vụ án còn trong bóng tối, đó là một dấu hiệu tốt. Nếu vấn đề đã rõ như ban ngày thì anh hãy coi chừng, sẽ có một người bị một người khác đánh lừa.
Japp thở dài nhẫn nhục:
-       Một tuần lễ chứ, Poirot…
-       Anh sẽ thông báo cho tôi mọi tin tức khám phá được, đặc biệt là những kết quả công việc của viên thanh tra cần mẫn của anh.
-       Đồng ý. Đã thỏa thuận xong.
Japp ra về.
-       Này – Poirot nói khi chúng tôi còn lại hai người – Các anh muốn đùa cả Poirot đó phải không?
Anh ấy giơ ngón tay lên dọa tôi.
-       Các anh không tin chất xám của tôi sao? A, đừng có khó chịu và chúng ta hãy bàn bạc về vấn đề nhỏ này khi những dữ kiện của nó còn chưa đầy đủ. Tôi chấp nhận vì nó có đôi điểm thú vị.
-       Cái hồ nước ư – Tôi nói bằng giọng tinh quái.
-       Còn hơn cả cái hồ đó là cái mái che những con thuyền du ngoạn.
Tôi liếc mắt nhìn Poirot: anh có nụ cười khó hiểu nhất. Tôi nghĩ rằng lúc này thật là vô ích nếu hỏi anh nhiều hơn nữa.
Chúng tôi không có tin tức gì của Japp cho đến tối hôm sau khi anh ấy đến, vào lúc chín giờ. Nhìn mặt anh tôi biết ngay là anh có một vài tin quan trọng và thú vị.
-       Thế nào, anh bạn có gì mới không? – Poirot hỏi – Chắc rằng anh sẽ nói là không thấy xác ông Davenheim ở dưới hồ. Tôi đã nói trước với anh là tôi không tin có chuyện ấy.
-       Chúng tôi không tìm thấy xác nhưng lại tìm thấy quần áo của ông ấy! Quần ào mà ông ta mặc trong cái ngày ông ấy biến mất ấy. Anh nói xem, thế là thế nào, Poirot.
-       Bây giờ thì tôi không nói gì cả. Anh cho biết đây có phải là quần áo lấy trong nhà ra không?
-       Tuyệt đối là không. Người hầu của ông ta có thể xác nhận: quần áo trong tủ vẫn đủ bộ, nguyên vẹn. Chúng tôi đã cho bắt giam Lowen. Một trong những cô hầu trong nhà khai rằng khi cô ta đang đóng cửa sổ trong nhà thì thấy ông khách từ ngoài vườn đi vào. Lúc ấy là mười giờ mười lăm phút, mười phút trước khi ông khách ra về.
-       Và ông Lowen đã trả lời sao?
-       Đầu tiên ông ta chối cãi rằng mình không hề rời khỏi văn phòng. Nhưng khi cô hầu khẳng định điều đó thì ông ta khai rằng mình đã quên không nói là ông đã ra khỏi cửa để xem một bông hoa hồng lạ. Chứng cứ hơi yếu! Lại còn một chuyện nữa: ông Davenheim thường đeo ở ngón tay út phút một chiếc nhẫn vàng có mặt kim cương. Chiếc nhẫn đó đã được mang tới một cửa hàng cầm đồ ở Londres đêm hôm thứ bảy. Người mang nhẫn đi cầm tên là Billy Kellett: một tên trộm cắp vặt, đã bị đi tù ba tháng vào mùa thu năm ngoái vì đã ăn cắp một chiếc đồng hồ quả quít vàng của một cụ già. Hắn đã mang chiếc nhẫn đi gạ bán ở ít nhất là năm cửa hàng trước đó. Được tiền hắn đi uống rượu say túy lúy ở nhiều quán hàng khác nhau, rồi cãi nhau với một người khuân vác trên tàu và người này đã mang hắn đến đồn cảnh sát. Tôi và Miller đã đến nhà giam ở Bowstreet. Hắn đã tỉnh rượu và chúng tôi gần như chết đứng khi nghĩ rằng hắn lại có thể bị truy tố vì tội giết người. Đây là câu chuyện của hắn. Hãy chú ý nghe, anh Poirot, nó khá kỳ cục:
-       “Hôm thứ bảy, Kellett đến vùng Enfield để rình cuỗm một chiếc ví tiền hơn là ăn cắp một con ngựa. Hôm ấy thật đen đủi, hắn không có chút hy vọng nào. Tới con đường Chingside hắn ngồi vào một chiếc hố để nghỉ ngơi trước khi vào trong làng. Một vài phút sau hắn thấy một người đi vào làng. Một nhà quý tộc, da sạm ria mép rậm. Phải thấy là hắn sốt ruột như thế nào, không phải là một lão trọc phú nông thôn… không, không… Đây là một Rockerfeller. Hắn đã thấy hiện lên chiếc xe Rolls – Royce và hắn ngửi thấy mùi trứng cá muối từ xa hai mươi mét…
-       “Kellett giấu nửa người xuống đống cát, sỏi. Khi đi qua hắn, ông kia cảnh giác nhìn xung quanh (lúc này đường vắng người), sau đó lấy trong túi ra một vật nhỏ và ném nó qua bụi cây. Xong việc, ông ta đi ra phía nhà ga. Vật bị ném đi rơi vào đống sỏi với một tiếng vang nhỏ thúc đẩy tính tò mò của người ngồi dưới hố. Hắn đã quì trên cỏ để tìm và cuối cùng hắn thấy chiếc nhẫn ấy. Đây là lời khai của Kellett mà tôi thuật lại đúng từng lời một. Theo tôi, hắn đã gặp Davenheim trên đường và giết ông ta để cướp của”.
0
Poirot lắc đầu:
-       Không thể như vậy được, anh bạn. Hắn không có cách nào để thủ tiêu xác chết, người ta sẽ tìm ra. Thứ hai, cái cách mà hắn công khai đi bán chiếc nhẫn là khác thường, tỏ ra là mình đã phạm tội giết người. Thứ ba, loại ăn cắp vặt ấy thường không phải là kẻ sát nhân. Thứ tư: vì hắn đã bị bắt giam hôm thứ bảy thì có một sự trùng hợp để hắn có thể mô tả đúng Lowen.
Japp ra hiệu tán thành ý kiến ấy:
-       Tôi không nói rằng anh không có lý. Nhưng anh cũng biết là các quan tòa sẽ chú ý đến lời làm chứng của một tên trộm vặt. Cái làm tôi lạ lùng là Lowen lại không tìm một cách khôn ngoan hơn để vứt bỏ chiếc nhẫn.
Poirot nhún vai.
-       Nhưng tại sao hắn lại thủ tiêu xác chết? – Tôi kêu lên.
-       Chắc có lý do gì đó – Japp nói – Anh có biết là phía sau hồ có một cánh cổng đi ra một quả đồi và từ đấy chỉ đi mất ba phút người ta gặp một hố tôi vôi lớn.
-       Trời! – Tôi kêu lên – Anh cho rằng vôi tôi có thể làm tiêu tan xác người, có thể ăn mòn được cả chiếc nhẫn ư?
-       Đúng là như vậy.
-       Cái đó làm đảo lộn tất cả, tôi cho là như thế. Một tội ác kinh khủng.
Cùng một nhịp, cả hai chúng tôi quay lại nhìn Poirot. Anh thở dài nhìn Japp và hỏi:
-       Anh bạn, anh có biết ông bà Davenheim ngủ chung một phòng hay ngủ ở hai phòng khác nhau?
Câu hỏi hình như rất nực cười, lạc đề, khiến tôi và Japp nhìn nhau một lúc mà không nói gì. Sau đó Japp cười lớn:
-       Khỉ gió cái anh Poirot này! Tôi trông mong ở anh một cái gì lỗi lạc kia. Tôi không thể trả lời câu hỏi của anh vì lý do tuyệt diệu là tôi không biết.
-       Anh không thể tìm kiếm được ư?
-       Ồ không phải, chắc chắn là tôi biết nếu nó rất cần cho anh.
-       Cảm ơn, anh bạn. Tôi sẽ mang ơn anh nếu anh cung cấp cho tôi cái tin ấy càng nhanh càng tốt.
Japp nhận lời với vẻ ngạc nhiên, nhưng hình như Poirot quên hẳn sự có mặt của chúng tôi. Viên cảnh sát buồn bã lắc đầu, nhìn tôi rồi thì thào: “Ông già khốn khổ! Chiến tranh đã giáng xuống ông ấy một đòn nặng nề!”. Sau đó anh ta ra về.
Vì hình như Poirot đang đi sâu vào trong giấc mộng, tôi lấy ra một tờ giấy và tôi ghi lên đó những điều cần chú ý về vụ này. Tiếng nói của bạn tôi làm tôi giật mình. Anh đã ra khỏi cơn mộng mị và trở nên tươi tỉnh và nhanh nhẹn.
-       Anh đang làm gì đấy, Hasting?
-       Tôi đang ghi lại những điều thú vị trong chuyện này.
-       Đấy, anh trở nên một người làm việc theo phương pháp khoa học rồi – Poirot nói với vẻ đồng tình.
Tôi cố gắng che giấu sự hài lòng của mình.
-       Anh có muốn tôi đọc cho anh nghe không?
-       Đọc đi…
Tôi hắng giọng:
-       Thứ nhât: Dù thế nào đi nữa thì cũng chính Lowen là kẻ đã phá chiếc két sắt. Thứ hai: Hắn muốn thủ tiêu Davenheim. Thứ ba: Hắn đã dối trá khi nói là mình không hề rời khỏi văn phòng. Thứ tư: Nếu công nhận lời khai của Billy Kellett là đúng thì Lowen phải bị tố cáo. Tôi dừng lời và hỏi: thế nào? Vì tôi cảm thấy mình đã nắm chắc trong tay những sự kiện chủ yếu.
0
Poirot nhìn tôi với vẻ thương hại và lắc đầu:
-       Bạn thân mến! Anh chưa quen việc. Anh không nhận ra cái chi tiết quan trọng nhất. Và lập luận của anh cũng bị đổ nhào nữa.
-       Tại sao?
-       Để tôi nói lại bốn điểm cơ sở này. Trước hết Lowen không thể biết trước được là hắn có thời cơ mở cái két sắt hay không. Hắn tới vì công việc kinh doanh. Hắn không dự đoán được là Davenheim sẽ đi gửi lá thư và để hắn ngồi một mình trong văn phòng.
-       Ông ta có thể lợi dụng cơ hội chứ – Tôi gợi ý.
-       Nhưng còn những dụng cụ? Một người thành thị không mang theo trong mình những đồ vật của một tên ăn trộm để chờ một dịp may bất ngờ. Chiếc két sắt không thể bị mở bằng một lưỡi dao nhỏ.
-       Đúng. Còn điểm thứ hai sao?
-       Anh nói rằng Lowen muốn thủ tiêu Davenheim. Anh muốn nói hắn đã một hoặc hai lần mâu thuẫn với ông này. Chắc chắn đây là vấn đề lợi lộc. Thông thường thì người ta không làm hại người mà người ta bòn rút được tiền bạc. Mà trái lại. Nếu có vấn đề trả oán thì cái đó thuộc về Davenheim.
-       Anh không chối cãi rằng chính Lowen đã nói rằng mình không hề rời khỏi văn phòng chứ?
-       Không, nhưng có thể do hắn đã sợ hãi. Anh hãy nhớ: quần áo của người biến mất được tìm thấy ở dưới hồ. Tất nhiên thì cuối cùng hắn đã nói đúng sự thật.
-       Và điểm thứ tư?
-       Đây là theo ý anh: nếu câu chuyện của Kellett là đúng thì Lowen phải bị tố cáo. Điều đó làm cho vụ này trở nên thú vị đấy!
-       Như vậy tôi có tìm ra được điểm nào là chủ yếu không?
-       Có thể, nhưng anh đã quên mất cái điều rất quan trong: cái chìa khóa của toàn bộ vụ án là ở đâu?
-       Theo anh thì cái đó là gì?
-       Thứ nhất: tính ham mê chơi đồ trang sức của Davenheim gần đây. Thứ hai: chuyến đi Buenos Aires của ông ta mùa thu năm trước.
-       Poirot, anh chế giễu tôi đấy ư?
-       Ngược lại, tôi rất nghiêm chỉnh. A! Miễn là Japp không quên cung cấp cho tôi cái tin ấy!
Nhưng vào mười một giờ sáng hôm sau nhà thám tử đã hài lòng nhận được nó. Người ta mang tới cho Poirot một bức điện tín. Theo yêu cầu của anh, tôi mở ra và đọc: “Người chồng và người vợ ngủ ở hai căn phòng khác nhau từ mùa đông năm trước”.
-       A! A! – Poirot kêu lên – Bây giờ đang giữa tháng sáu. Bài toán đã được giải.
Tôi ngạc nhiên nhìn anh.
-       Anh bạn, anh có tiền tửi ở Ngân hàng Davenheim và Salomon không? – Poirot hỏi tôi.
-       Không – Tôi ngỡ ngàng hỏi lại anh – Tại sao?
-       Vì rằng tôi sẽ khuyên anh rút ngay ra trước khi quá muộn.
-       Tại sao? Anh chờ đợi điều gì?
-       Tôi dự đoán một sự sụp đổ ghê gớm trong một vài ngày nữa, có thể là sớm hơn. Tôi nghĩ rằng chúng ta phải lịch sự gửi cho Japp một bức điện. Làm ơn đưa cho tôi cái bút chì. Đây: “Khuyên anh rút nhanh số tiền đã gửi vào ngân hàng của Davenheim”. Cái này sẽ làm cho Japp tốt bụng băn khoăn đây! Anh ta sẽ trố mắt lên. Anh ta sẽ không hiểu gì cả cho đến ngày mai hoặc ngày kia.
Tôi hoài nghi nhưng hai ngày sau tôi buộc phải công bằng mà nhận ra khả năng phán đoán kỳ diệu của bạn tôi. Trên tất cả các báo đều đưa tin với đầu đề in chữ to sự sụp đổ chấn động của Ngân hàng Davenheim và Salomon. Sự mất tích của người chủ ngân hàng đã tạo ra ánh sáng cho sự phát giác mọi việc làm gian dối của ngân hàng này.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-07-22 17:13:50khachxa>
Khi chúng tôi đang dùng bữa sáng thì cánh cửa đột ngột mở ra và Japp lao vào như một cơn lốc. Tay trái cầm tờ báo, tay kia cầm bức điện của Poirot, anh ta ngồi phịch xuống ghế trước mặt bạn tôi.
-       Sao anh biết trước được, Poirot? Anh là phù thủy hay là gì?
Poirot trầm tĩnh cười:
-       A! Anh bạn, sau bức điện của anh, tôi đã tin chắc. Ngay từ đầu việc chiếc két sắt bị nạy tung tôi đã thấy là một điều lạ lùng. Đồ trang sức, séc vô danh, giấy bạc, tất cả những cái đó đều tiện lợi… rất tiện lợi. Điều có thể thấy ngay được là mọi việc đều đã được chuẩn bị từ trước. Còn cái cách mua đồ trang sức của hắn cũng rất đơn giản. Của cải xoay xở được hắn chuyển sang đồ trang sức, hắn thay thế vào đó, bằng những giấy tờ giả. Chắc chắn là như vậy. Thế rồi hắn gửi vào một nơi chắc chắn dưới một cái tên giả một tài sản lớn để sau này hưởng thụ. Khi người ta đã trả lại tự do cho hắn. Chuẩn bị mọi việc xong xuôi, hắn hẹn gặp Lowen (chắc chắn hắn đã quên việc đã một hai lần va chạm với ông này), hắn khoét một lỗ trên két sắt, ra lệnh cho người nhà dẫn ông này vào văn phòng rồi ra đi. Đi đâu? – Poirot ngừng nói, giơ tay lấy một quả trứng luộc nửa chín. Anh ta chau mày: - Thật là không thể tưởng tượng được. Những con gà mái đẻ ra những quả trứng to nhỏ khác nhau. Như vậy sự cân đối trên bàn ăn sẽ như thế nào? Ít nhất thì nhà hàng phải có sự phân loại trước chứ!
-       Mặc kệ những quả trứng – Japp sốt ruột nói – Những con gà mái đẻ ra những quả trứng vuông cũng dược! Anh cho chúng tôi biết lão ta rời Cèdres để đi đâu? Đây là điều ít nhất, nếu anh biết…
-       Đúng, tôi biết cái đó. Hắn đến thẳng nơi ẩn nấp. A! Cái lão Davenheim này! Có thể là hắn có một vài tật xấu trong xà lim màu xám ấy, nhưng hắn thuộc loại thượng thặng đấy, người ta cần biết rõ cái đó.
-       Lão ta núp ở đâu? – Japp kêu lên.
-       Trong một chỗ rất thông minh.
-       Vì tình yêu của Thượng đế, Poirot, ở chỗ nào, anh nói đi!
Nhà thám tử cẩn thận chất những mảnh vỏ trứng vụn vào một chiếc bát và đặt vỏ trứng lên trên. Sau khi làm xong công việc tỉ mẩn ấy anh cười một cách hài lòng. Anh quay về phía chúng tôi, vẻ mặt rạng rỡ:
-       Này, các anh, các anh là những người trí thức, các anh hãy trả lời câu hỏi mà tôi đã đặt ra cho mình: “Nếu ta ở vào vị trí của con người ấy, ta sẽ trốn ở đâu?” – Hasting, anh trả lời đi.
-       Tôi cho rằng tôi chằng phải nấp ở đâu cả. Tôi ở lại Londres ở ngay trung tâm thành phố. Tôi sẽ đi xe buýt, đi tàu điện ngầm như mọi người khác. Có đến chín phần mười may mắn là tôi sẽ không bị nhận ra. Không có cách nào chắc chắn hơn là sống giữa đám đông.
Poirot quay sang nhìn Japp với cặp mắt dò hỏi.
-       Tôi không tán thành ý kiến ấy. Đi xa ngay lập tức, đó là sự may mắn độc nhất. Tôi có nhiều thời gian chuẩn bị từ trước cho cuộc chạy trốn đó. Tôi sẽ lên một chiếc thuyền buồm đã chờ sẵn ở bờ biển nước Anh và đến một góc hẻo lánh của thế giới trước khi lệnh truy nã được phát ra.
Chúng tôi nhìn Poirot.
-       Còn anh? Anh sẽ làm gì?
Anh ấy nhìn chúng tôi một lúc. Một nụ cười khác thường nở trên môi.
-       Các ban, nếu tôi phải ẩn nấp vào cơ quan cảnh sát thì các bạn bảo tôi phải nấp ở đâu? Ở nhà tù!
-       Thế… Thế nào?
-       Các anh tìm Davenheim để ném hắn vào trại giam, nhưng các anh đã không nhìn xem hắn đã ngồi trong ấy chưa. Anh nói rằng bà Davenheim là một phụ nữ không thông minh lắm. Bây giờ các anh dẫn bà ta đến nhà tù Bowstreet, cho bà ta gặp một người có tên là Billy râu ria, tóc rối bù và mặc quần áo nghèo khổ. Một người đàn bà bao giờ cũng nhận ra ngay chồng mình dù những người khác lầm lẫn về hắn.
-       Billy Kellett ư? Anh điên rồi, Poirot!
-       Anh đã chẳng nói với tôi rằng Kellett đã bị tống giam rồi đó sao? Anh đã chẳng nói với tôi rằng Davenheim là một người đặc biệt thông minh đó sao? Hắn đã chuẩn bị cho sự vô can của hắn từ lâu. Hắn không ở Buenos Aires trong mùa thu năm ngoái, lúc ấy hắn còn bận sắm vai Billy Kellett, làm cho mình phải ở tù ba tháng mà cảnh sát không hề nghi ngờ gì cả. Hắn dự vào một trò chơi lớn: một tài sản khổng lồ sẽ xuất hiện cùng với lúc hắn được trả tự do. Cái đó còn cao giá hơn nhiều so với sự cực khổ trong thời gian ở tù. Chỉ cần…
-       Sao?
-       Đây, sau đó hắn bỏ bộ râu giả và mớ tóc giả, hắn có thể trở lại nguyên hình của mình, các anh xem. Và đi ngủ với bộ râu giả thì không dễ dàng gì, người ta có thể biết. Hắn sẽ chỉ rủi ro nếu ngủ chung cùng phòng với vợ. Anh đã cho tôi biết sáu tháng nay, hoặc ít nhất từ ngày hắn nói là hắn ở Buesnos Aires về, hắn và bà Davenheim ngủ ở hai phòng khác nhau. Thế là tôi không nghi ngờ gì nữa. Tất cả đã rõ ràng. Người làm vườn có lý khi anh ta nói đã gặp người chủ của mình, Davenheim đã tới chỗ mái che thuyền buồm. Mặc bộ quần áo “đi đường” vào. Anh chắc chắn hiểu đây là việc che giấu những người giúp việc. Hắn ném quần áo cũ xuống hồ và đi bán chiếc nhẫn một cách công khai, sau đó hắn gây chuyện đánh nhau với một người phu khuân vác ở giữa đám đông để rồi bị giam trong nhà tù Bowstreet, nơi mà mọi người không hề có ý định lục soát tới.
-       Thật là không thể tưởng tượng nổi! – Japp lẩm bẩm.
-       Đi bảo vợ hắn ta làm công việc ấy đi – Bạn tôi cười nói.
Hôm sau một chiếc phong bì gửi theo lối bảo đảm được đặt dưới đĩa ăn của Poirot. Anh mở phong bì và một tờ giấy bạc năm bảng Anh rơi ra. Bạn tôi nhíu cặp lông mày lại:
-       A! Trời đất! Tôi đã làm gì thế này! Anh chàng Japp khốn khổ – A! Tôi có một ý kiến! Chúng ta sẽ tổ chức một bữa ăn trưa thịnh soạn cho cả ba người. Cái đó sẽ an ủi tôi. Vụ này tìm ra rất dễ dàng. Tôi thẹn vì đã được cuộc như thế. Đúng là giật một cái kẹo từ miệng một đứa trẻ con không có cách nào để tự vệ cả. Hastings, anh có bao giờ làm như vậy không?
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-06 15:25:25khachxa>
THỪA MỘT CHỨNG TÍCH PHẠM TỘI
 
-       Nhất là… nhất là, ông đừng cho công bố trên báo chí!
Ông Marcus Hardman đã nhắc đi nhắc lại có dễ đến hai chục lần lời van xin bằng giọng cao đã khản tiếng như vậy. Ông vừa tổ chức một cuộc gặp mặt bạn bè theo thói quen. Ông tiêu pha rất nhiều trong số thu nhập của mình cho việc tiếp bạn và việc sưu tầm những khăn đăng ten cũ, quạt và những đồ trang sức cổ tầm thường, cũng không phải là hiện đại. Đáp lại lời yêu cầu khẩn thiết của ông Hardman, Poirot và tôi đã tới gặp và thấy ông đang trong tình trạng bồn chồn quá đỗi. Ông cho chúng tôi biết là ông quyết định không báo cho cảnh sát, nhưng ông cũng không muốn mất toàn bộ số đồ trang sức của mình. Cuối cùng ông phải cầu cứu Poirot.
-       Những viên hồng ngọc của tôi, ông Poirot!... Chiếc vòng ngọc bích trước kia chắc chắn là của Catherine de Médicis, công chúa nước Pháp ở thế kỳ thứ XVI. Ôi chiếc vòng ngọc bích của tôi!
Poirot cắt đứt những lời than vãn của ông bằng cách hỏi nhẹ nhàng:
-       Ông hãy thuật lại trường hợp mất đồ vật quý giá ấy xem nào, ông Hardman.
-       Đây! Đây! Chiều hôm qua, tôi đã tổ chức một buổi tiệc trà… bình thường, tôi chỉ mời sáu người bạn. Tôi đã tổ chức một hoặc hai bữa tiệc như thế trong mỗi mùa. Không phải kiêu ngạo, nhưng những buổi gặp gỡ ấy rất thành công. Hôm qua tôi đã mời nhà chơi đàn dương cầm Nacora và nữ danh ca người Úc Katherine Bird tới giúp vui. Họ đã cho chúng tôi nghe những bản nhạc tuyệt diệu trong phòng nghe nhạc. Sau đó tôi đã đưa những đồ trang sức thời Trung cổ đựng trong một chiếc két sắt gắn vào tường mà ông thấy ở kia cho các bạn tôi xem. Bên trong chiếc két được lót nhung để đặt những viên đá quý. Sau đó các bạn tôi đến xem những chiếc quạt bày trong một tủ kính ở phía đối diện chiếc két. Cuối cùng chúng tôi trở lại phòng hòa nhạc. Chỉ đến khi họ ra về thì tôi mới nhận ra vụ mất trộm. Tôi cho rằng tôi đã quên không khóa két sắt, một kẻ nào đó đã lợi dụng việc ấy để lấy nhũng của quý ấy đi. Một bộ đồ trang sức, ông Poirot! Tôi muốn lấy lại những thứ đó! Nhưng ông nhớ cho là không được để lộ ra cho báo chí! Xin ông hiểu cho, ông Poirot, đây là những khách mời, những bạn bè thân thiết của tôi! Đăng tin trên báo có thể trở ngược thành một vụ bê bối.
-       Ông có để ý ai là người rời khỏi phòng này sau cùng, khi mọi người đã trở lại phòng hòa nhạc không?
-       Ông Johnston, nhà triệu phú Nam Mỹ. Có thể là ông biết ông ấy chứ? Ông ấy vừa thuê một ngôi nhà của Abbotbury ở phố Park Lane. Tôi nhớ rằng ông ấy đi ra sau chúng tôi một vài phút. Nhưng ông ấy không thể là tên ăn trôm được, ông biết đấy!
-       Có người nào đã quay lại phòng này dưới một lý do gì đó không?
-       Tôi đã nghĩ tới điều đó, ông Poirot, có ba người. Bà bá tước Vera Rossakoff. Ông Barnard Parker và phu nhân Rucorn.
-       Ông biết những gì về họ?
-       Nữ bá tước Rossakoff là người Nga và là một phụ nữ xinh đẹp ngay từ dưới chế độ cũ. Bà mới tới sống ở nước Anh. Hôm qua bà đến chào tạm biệt tôi. Tôi ngạc nhiên khi thấy bà sững người trước bộ sưu tập quạt của tôi. Càng nghĩ, tôi càng thấy đó là việc lạ lùng. Quan điểm của ông thế nào, ông Poirot?
-       Tôi cũng thấy có chuyện khác thường. Nói sang hai người khác, thưa ông.
-       Còn Parker thì đi tìm một chiếc cát-sét nhỏ để tôi đưa cho phu nhân Rucorn xem.
-       Thưa ông, bà này là người thế nào?
-       Phu nhân Rucorn là người có cá tính và hào hiệp trong những công việc từ thiện. Bà ấy tới đơn giản chỉ là lấy cái túi xách tay bỏ quên trên ghế.
-       Được rồi, thưa ông. Như vậy chúng ta có thể nghi ngờ bốn người: bà bá tước người Nga, phu nhân người Anh, nhà triệu phú Nam Mỹ và ông Barnard Parker. Nhưng ông Parker là người thế nào?
Câu hỏi hình như làm cho ông Hardman bối rối: ông ngập ngừng trả lời.
-       Đó là một người trẻ tuổi… một người trẻ tuổi mà tôi quen biết.
-       Tôi cần hiểu rõ hơn. Người trẻ tuối ấy làm nghề gì?
-       Đó là người cũng như mọi người khác… và nếu tôi có thể dùng một khái niệm, thì đó là một “Con người mây gió”.
-       Tôi muốn biết anh ta ra nhập nhóm bạn bè ông như thế nào?
-       Thế nào! Hừ… đã một hoặc hai lần anh ấy giúp tôi trong một vài công việc nhỏ.
-       Xin ông nói tiếp cho.
0
Harman nắm chặt hai bàn tay lại. Đó là cách cuối cùng ông ta muốn làm thỏa mãn tính tò mò của bạn tôi. Nhưng Poirot vẫn yên lặng nên ông buộc phải nói tiếp:
-       Ông thừa biết rằng tôi có điều kiện trở thành nhà sưu tầm những của quý. Đôi khi thấy cần thiết phải bán bớt đi một vật gì đó mà không muốn quá lộ liễu hoặc bị rơi vào tay một kẻ mua đi bán lại, tôi thu xếp việc bán những thứ đó. Parker coi sóc những chi tiết về tài chính, quan hệ với người mua, tránh cho mọi lo ngại cho cả hai bên. Ví như nữ bá tước có một vài của quý từ nước Nga mang tới và đang muốn bán, bà sẽ nhờ Parker tìm một người mua.
-       Theo tôi, thì ông hoàn toàn tin tưởng ở người trẻ tuổi ấy phải không?
-       Cho đến bây giờ thì tôi không có điều gì phải than phiền về anh ta.
-       Thưa ông Hardman, trong bốn người ấy thì ông nghi ngờ ai?
-       Ôi! Thưa ông Poirot. Một câu hỏi ác quá. Đây là những bạn thân của tôi, tôi đã nói rồi. Trong số họ tôi không nghi ngờ ai… hoặc là nghi ngờ tất đó là cách tốt nhất để trả lời ông.
-       Xin lỗi. Chắc hẳn ông chỉ nghi ngờ một người trong sô họ. Nếu không phải là bà bá tước Rossakoff, không phải ông Parker thì chắc chắn là phu nhân Rucorn hoặc ông Johnston phải không?
-       Ông hiểu cho, ông Poirot. Tôi cố gắng tránh một chuyện bê bối. Phu nhân Rucorn thuộc về một dòng họ lâu đời ở Anh quốc. Nhưng chẳng may bà thường bị tai tiếng vì bà có một người cô, bà Caroline, mắc một bệnh đáng sợ. Mọi người đều biết rõ bà này đi đâu cũng lấy cắp những đồ vật người ta để sơ sểnh. (Ông Harmand thở dài). Tôi ở trong một hoàn cảnh tế nhị, ông lưu ý giúp cho.
-       Như vậy phu nhân Rucorn có một bà cô ăn cắp vặt. Hừ… Thú vị đấy… Xin phép ông cho tôi quan sát chiếc két sắt, được chứ?
Ông Hardman gật đầu và Poirot mở cánh cửa sắt để xem xét cái lỗ hổng trống hoác.
-       Không hiểu tại sao cái cánh cửa lại khó khép lại thế này, anh ta lẩm bẩm tay lắc lắc cánh cửa. A! Cái gì đây? Một chiếc găng tay nằm ở khe. Một chiếc găng tay đàn ông.
Anh đưa cho Hardman và ông này trả lời ngay.
-       Không phải của tôi.
-       Này, tôi còn thấy một vật gì nữa đấy.
Anh cho tay vào trong chiếc két sắt và lôi một chiếc hộp đựng thuốc lá.
-       Hộp đựng thuốc lá của tôi!
-       Tôi cho rằng không phải như vậy, thưa ông, vì chữ khắc trên hộp không phải là tên ông.
Anh chỉ vào hai chữ lồng nhau trên hộp.
-       Ông có lý. Chiếc hộp thì rất giống, nhưng chữ khắc thì khác. Xem nào “P” và “B”… Trời ơi… Parker!
-       Vâng… đúng như vậy. Người trẻ tuổi đó thật là bất cẩn. Nếu chiếc găng tay cũng là của ông ta, thì ông ấy đã cho chúng ta hai chứng tích.
-       Barnard Parker! – Hardman thở dài – Tôi thú nhận rằng việc tìm kiếm này làm tôi yên lòng. Thưa ông Poirot, tôi để tự ông tìm giúp số của cải ấy cho tôi. Nếu thấy cần thiết thì ông có thể nhờ đến cảnh sát… với điều kiện ông tin chắc rằng Parker là thủ phạm.
-       Anh bạn, anh đã thấy – Poirot nói với tôi khi chúng tôi rời khỏi nhà của người sưu tập của quý – có một luật pháp với tầng lớp quý phái và một luật pháp đối với những người bình thường. Tôi chưa được phong tước nhưng tôi thích con người bình thường và thấy rất khó hiểu về tay Parker. Toàn bộ việc này thật là lạ lùng, anh có nhận thấy không? Hardman nghi ngờ phu nhân Rucorn, tôi chỉ nghĩ về bà bá tước và Johnston, thế mà anh chàng bí ẩn Parker lại là thủ phạm.
-       Tại sao anh lại nghi ngờ hai người ấy?
-       Trời ơi! Muốn có danh hiệu nữ bá tước Nga và triệu phú Nam Mỹ thì đó là điều rất dễ dàng. Ai là người nói dối? Thôi bây giờ chúng ta đã tới phố Bury nơi ở của người bạn lơ đễnh của chúng ta. Chúng ta phải rèn sắt khi nó còn đang nóng chứ?
0
Một người hầu cho chúng tôi biết rằng ông Barnard đang ở nhà. Chúng tôi thấy anh ta nằm dài trên đống gối đệm, đắp người bằng một chiếc áo mặc trong nhà màu đỏ tươi và màu vàng da cam. Lập tức tôi có ác cảm mạnh mẽ với người trẻ tuổi mặt xanh xao, nhu nhược vừa nói ngọng, vừa làm điệu này.
Poirot không chờ đợi, đi ngay vào cuộc chiến đấu.
-       Chào ông. Tôi vừa ở nhà ông Hardman về đây. Hôm qua có một kẻ nào đó đã ăn trộm hết đồ trang sức quý giá của ông ấy vào buổi chiều. Thưa ông, xin phép ông cho hỏi, thưa ông… có phải đây là chiếc găng của ông không?
Ông Parker tỏ ra chậm hiểu. Anh ta nhìn chằm chằm vào chiếc găng tay như là để tập trung trí nhớ.
-       Ông thấy nó ở đâu?
-       Có phải nó là của ông không, thưa ông?
-       Không, không phải của tôi.
-       Và chiếc hộp thuốc lá này nữa?
-       Cũng chắc chắn là không phải. Chiếc hộp của tôi bằng bạc kia.
-       Rất tốt, thưa ông. Tôi đã không định báo việc này cho cảnh sát.
-       Ở địa vị ông thì tôi không làm gì cả – Parker nói – Những con người ấy thật là lạ lùng. Tôi đi gặp ông Hardman đây, này, thưa ông… ông đợi cho một lát.
Nhưng Poirot đã rút nhanh.
Trên hè phố, anh cười lớn với tôi.
-       Chúng ta đã làm cho anh chàng phải trù tính công việc. Ngày mai chúng ta sẽ xem họ nói với chúng ta thế nào.
Buổi tối chúng tôi lại khám phá ra một việc mới trong vụ mất trộm ở nhà ông Hardman, một bóng người sột soạt, đầu đội một chiếc mũ lớn, đứng trước cửa nhà chúng tôi làm cho một làn gió lạnh ùa vào (trời lạnh như tiết tháng sáu của nước Anh). Chúng tôi nhanh chóng biết rằng đây là nữ bá tước Rossakoff có một nhân cách hơi lộn xộn.
-       Ông là Hercule Poirot phải không? – Bà ta nói thành Poirrot – Thật là xấu hổ! Ông đã làm gì vậy? Tố cáo một chàng trai khốn khổ. Thật là xấu xa, thật là bê bối! Bardman là một thiên thần, một con cừu… Anh ấy không hề ăn trộm. Anh ấy đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Và tôi cần ở lại đây để nhìn thấy anh bị hành hạ, tàn sát như là hoàng tử Zatkhoune dưới những con dao găm của bọn sát nhân.
-       Thưa bà, có phải đây là hộp thuốc lá của anh ta không?
Poirot đưa cho bà vật tìm thấy trong két sắt bị mất trộm.
Bà ta yên lặng ngắm nhìn rồi nói:
-       Phải, đúng là của anh ấy. Tôi biết. Ông đã thấy nó ở nhà ông Hardman ư? Chúng tôi ai cũng thấy nó. Tôi cho rằng anh ấy đánh rơi nó. A! Các ông là cảnh sát, các ông cũng tồi tệ như bọn cảnh sát Nga.
-       Đây có phải găng tay của ông ta không, thưa bà?
-       Tại sao ông muốn biết nó là của ai? Một chiếc găng tay thì giống mọi chiếc găng tay khác. Này các ông đừng cản đường tôi… Tôi muốn rằng anh ấy vô can. Vì tiếng tăm của anh ấy tôi có thể sẽ bán tất cả những đồ trang sức của tôi và đưa cho ông rất nhiều tiền.
-       Thưa bà…
-       Đã quyết định! Tôi đã nói! Không, không, xin đừng vật nài tôi nữa! Chàng trai khốn khổ! Anh ấy đã đến gặp tôi… Hãy cứ để Vera giải quyết công việc này. Bây giờ tôi xin hứa với ông lời hứa của người quí phái.
Bà ta biến mất như lúc bà ta đến, để lại một mùi nước hoa thơm nức theo sau.
-       Người đàn bà kỳ lạ! - Tôi kêu lên – Anh có chú ý tấm da lông thú quàng cổ của bà ta không?
-       Phải, nó là loại thật. Một nữ bá tước giả hiệu liệu có quàng lông thú loại thật không? Một lời giải nhỏ, Hastings. Tôi cho rằng đúng bà ta là người Nga. Như vậy thì Bernard đã tới để khóc thút thít với bà ấy. Hộp thuốc lá đúng là của anh ta. Tôi còn đang tự hỏi có phải chiếc găng tay…
Poirot cười và lấy trong túi ra một chiếc găng tay thứ hai rồi đặt bên cạnh chiếc găng tay kia. Chúng thành một đôi.
-       Anh đã tìm thấy chiếc thứ hai ở đâu vậy, Poirot?
-       Nó bị để quên trên chiếc giá gỗ bên cạnh chiếc can trong ngôi nhà ở phố Bury. Đúng là Parker là một con người cẩn thận. Anh bạn… Chúng ta sắp sửa kết thúc vụ này. Về hình thức, tôi cần tới thăm một ngôi nhà khác trên phố Park Lane.
Không cần phải hỏi thêm gì, tôi đi theo bạn tôi. Johnston đi vắng nhưng người thư ký riêng của ông ta đã tiếp chúng tôi và cho chúng tôi biết rõ là ông ta vừa ở Nam Mỹ tới và đây là lần đầu tiên ông ta tới  Anh quốc.
-       Ông ấy thích tìm kiếm đá quý phải không, tôi cho là như vậy – Poirot nói hơi lấp lửng.
Người thư ký cười vang và trả lời:
-       Nói đúng ra là những mỏ vàng!
Kết thúc câu chuyện Poirot ra về với vẻ nghĩ ngợi. Đến tận khuya tôi còn thấy anh chăm chú đọc cuốn ngữ pháp tiếng Nga.
-       Trời ơi, Poirot! Anh định học tiếng Nga để trực tiếp nói chuyện với bà bá tước ấy ư?
-       Tôi cần nói rằng bà ta đã không chú ý lắm đến tiếng Anh của tôi.
-       Nhưng những người Nga trong các gia đình quyền quý đều nói tiếng Pháp kia mà!
-       Hastings anh là nguồn thông tin không bao giờ cạn. Thôi tôi cũng chẳng cần đi vào những chuyện phức tạp của bảng chữ cái của tiếng Nga nữa.
Anh ném cuốn sách đi với vẻ rất kịch. Tôi không tin câu nói ấy của anh vì tôi đã trông thấy mắt sáng lên. Đó là một dấu hiệu không thể chối cái: Hercule Poirot hài lòng về việc làm của mình.
-       Có phải anh nghi ngờ rằng bà ta không phải là người Nga không? – Tôi hỏi bằng một giọng tin chắc. Anh sẽ thử thách bà ta chăng?
-       Không, không, tôi không nghi ngờ gì về quốc tịch của bà ấy.
-       Nhưng…
-       Nếu anh muốn đi sâu vào việc này thì tôi khuyên anh nên đọc cuốn “Ngữ pháp tiếng Nga”, một cuốn sách có giá trị lớn.
Anh cười và từ chối không nói rõ hơn ý định của mình. Anh nhặt cuốn sách, lật từng trang và hình như không có ý định trả lời câu hỏi của tôi.


*


0
Sáng hôm sau chúng tôi vẫn không có tin tức gì thêm. Cái đó không làm cho bạn tôi phật lòng và sau bữa ăn sáng anh nói ý định của mình là tới thăm ông Hardman. Chúng tôi ngồi ở gian phòng bên thường để tiếp khách. Gian phòng hình như yên tĩnh hơn là lúc chúng tôi rời khỏi đây hôm qua.
-       Ông Poirot, ông đã tìm ra một dấu vết rồi chứ?
Nhà thám tử nhỏ người đưa cho ông ta một mẩu giấy.
-       Đây là tên người đã lấy trộm những đồ trang sức của ông. Liệu tôi có nên giao việc này cho cảnh sát không? Hoặc ông muốn tôi lấy lại số của cải mà không cần báo cho các nhà chức trách.
Harman nhìn tờ giấy với vẻ hoảng hốt. Khi trấn tĩnh lại, ông ta nói một cách kiên quyết:
-       Tôi muốn tránh một vụ ầm ĩ. Tôi cho ông quyền tự do, ông Poirot. Tôi không nghi ngờ gì tính thận trọng của ông.
Khi ra khỏi nhà, Poirot gọi một chiếc tắc xi và yêu cầu người lái xe chở chúng tôi đến phố Carlton. Tới nơi, anh hỏi thăm phòng nữ bá tước Rossalkoff. Một lát sau một nhân viên phục vụ dẫn chúng tôi đến nơi ở của bà. Ăn vận mộc mạc, không trang điểm, người phụ nữ Nga tiến lại phía chúng tôi tay giơ ra.
-       Ông Hercule! Ông thành công chứ? Ông đã gỡ cho chàng trai khốn khổ ấy những nghi ngờ đê hèn rồi chứ?
-       Thưa bá tước phu nhân, ông bạn Parker của bà không có lý do gì mà sợ cảnh sát.
-       Ông thật là một người tốt bụng kỳ diệu!
-       Nhưng mặt khác, thưa bà bá tước, tôi đã hứa với ông Hardman là những đồ trang sức của ông phải được hoàn lại ông trong ngày hôm nay.
-       Rồi sao nữa?
-       Rồi, thưa bà, tôi phải yêu cầu bà, nếu thấy cần, bà giao chúng lại cho tôi ngay lập tức. Rất tiếc là phải thúc giục bà nhưng xe tắc xi đang chờ chúng tôi… trong trường hợp chúng tôi phải đến Sở Cảnh sát. Chúng tôi là những người Bỉ có bản chất là tiết kiệm. Tôi không muốn đồng hồ đo thời gian thuê xe chạy quá lâu.
Bà bá tước châm một điếu thuốc. Đột nhiên bà ta cười vang, đứng lên, đi về phía bàn giấy, lấy ra một chiếc túi lụa màu đen. Bà ta ném nó cho Poirot. Bằng một giọng đùa cợt và hoàn toàn yên tâm, bà ta tuyên bố:
-       Chúng tôi là những người Nga, ngược lại, chúng tôi rất hoang phí. Nhưng than ôi, cái đó đòi hỏi phải rất giàu. Không cần phải kiểm tra lại nữa, tất cả của cải còn nguyên trong đó.
Poirot đứng lên:
-       Chúng tôi khen ngợi trí thông minh và tính nhạy bén của bà, thưa bà.
-       Ôi không có sự lựa chọn nào khác, nhưng xe tắc xi đang đợi các ông.
-       Bà thật đáng mến. Bà có ý định ở lại Londres lâu dài chứ?
-       Than ôi, không… tại ông cả… con người đáng sợ.
-       Xin bà nhận những lời xin lỗi của tôi.
-       Có thể một ngày nào đó chúng ta gặp lại nhau.
-       Tôi hy vọng điều đó.
-       Còn tôi thì không! – Bà ta cười và kêu lên. – Tôi xin tỏ lòng khâm phục ông, thưa ông Poirot, vì trên đời này có rất ít người khiến tôi phải hoảng sợ mỗi khi gặp gỡ. Xin tạm biệt, ông Poirot.
-       Tạm biệt, bá tước phu nhân. A! Xin lỗi, tôi quên mất! Xin phép cho tôi gửi lại bà chiếc hộp thuốc lá.
Anh cúi đầu đưa cho bà ta chiếc hộp thuốc lá. Bà ta không ngần ngừ lâu; cầm lấy chiếc  hộp, hơi nhíu lông mày và khẽ lẩm bẩm: “Không có gì!”
*
- Một người đàn bà ghê gớm! – Poirot kêu lên khi chúng tôi rời khỏi ngôi nhà. – Trời đất! Một người đàn bà ghê gớm. Không có một lời chối cãi nào. Trong chớp mắt bà ta đã thấy rõ tính chất nghiêm trọng của tình thế, dễ dàng chấp nhận thất bại. Nói cho anh biết, một người như thế thì còn tiến xa hơn nữa! Bà ta rất nguy hiểm, bà ấy có dây thần kinh bằng thép, bà…
Anh vấp phải một bậc thang và ngừng nói.
-       Thôi hãy ngừng những lời khen ngợi, Poirot. Anh nghi ngờ mụ bá tước này từ lúc nào?
-       Anh bạn, chiếc găng tay và hộp đựng thuốc lá là hai chứng tích, chúng ta nói như vậy, làm tôi suy nghĩ nhiều. Barnard Parker rất dễ dàng để quên thứ này hay thứ khác, nhưng nếu quên cả hai thì phải là một người rất đãng trí. Mặt khác, nếu một kẻ nào đó đặt chúng vào đây để buộc tội chàng trai thì một thứ thôi cũng đã đủ. Hộp đựng thuốc lá hoặc chiếc khăn tay chứ không cần đến cả hai. Tôi đi tới một kết luận một trong hai thứ đó không phải là của Parker. Trước tiên tôi nghĩ nó là chiếc găng tay nhưng chỉ khi tìm thấy một chiếc nữa thì tôi mới yên tâm. Thế nhưng ai là chủ của hộp thuốc lá? Không phải là của phu nhân Rucorn, những chữ viết tắt ấy không phải là tên bà ta. Của ông Johnston ư? Chắc chắn ông ta tới Anh quốc dưới một cái tên mượn. Khi hỏi chuyện người thư ký của ông ta thì tôi biết ngay ông không liên quan gì đến vụ này. Người thư ký ấy không tìm cách che giấu quá khứ của ông chủ mình. Bà bá tước ư? Có lẽ bà ta sẽ mang những đồ trang sức ấy về Nga để bán. Một khi những viên đá quý được lấy ra khỏi cái khung của nó thì rất khó chứng minh chúng ở chiếc két sắt của ông Hardman mà ra. Rất dễ dàng đánh cắp chiếc găng tay của Parker và ném nó vào két sắt sau khi lấy hết của cải trong đó. Nhưng chắc chắn rằng bà ta không  có ý định để lại chiếc hộp thuốc lá của mình trong chiếc két ấy.
-       Nếu hộp thuốc lá đúng là của bà ta thì tại sao nó lại được khắc hai chữ “B.P”?. hai chữ đầu tiên của bà ta là “V.R.” kia mà.
Poirot nhếch mép cười với tôi:
-       Anh bạn, đúng là như vậy, nhưng trong bảng chữ cái tiếng Nga thì B là V và P là R.
-       Anh không thể hy vọng tôi đoán ra! Vì tôi không biết tiếng Nga!
-       Tôi cũng vậy, Hastings. Chính vì vậy mà tôi tìm đọc cuốn “Ngữ pháp tiếng Nga”… và tôi đã yêu cầu anh đọc thử.
Anh thở dài!
-       Bà bá tước ấy là một người đáng chú ý. Anh bạn, tôi có cảm giác, cũng có thể nói là tin chắc nữa, rằng tôi sẽ gặp lại bà ta. Ở đâu? Tôi chưa nghĩ ra…
-       Anh nhún vai: “Không có gì!”.
0
TỔ ONG VÒ VẼ
 


John Harrison từ trong hiên nhà đi ra và ngắm nhìn mảnh vườn trước mắt. Ông là một người khỏe mạnh nhưng mặt xương xương và nước da tái. Thông thường thì nét mặt ông nghiêm khắc, nhưng lúc này thì ông dịu dàng hơn, miệng cười mỉm có vẻ thích thú.
John Harrison rất yêu khu vườn của mình, rất đẹp trong buổi chiều mùa thu ấm áp này. Những cây hồng leo thật là tuyệt diệu, những cây đậu Hòa Lan làm bầu không khí thơm ngát.
Một tiếng kẹt cổng làm người đang mơ mộng quay lại. Ai đã đẩy cổng vườn? Một phút sau, nét mặt của ông Harrison tỏ vẻ rất ngạc nhiên vì người ăn mặc rất lịch sự đang đi tới phía ông chính là người cuối cùng mà ông muốn gặp ở chốn này.
-       Ông Poirot! Thật là một sự ngạc nhiên sung sướng.
Đúng đây là Poirot phi thường và tiếng tăm được cả thế giới biết đến.
-       Vâng, tôi đây. Ngày nọ ông đã bảo tôi: “Nếu ông đi qua vùng này, xin hãy tới nhà tôi!”. Nhớ lời ông… tôi tới đây.
-       Tôi rất mãn nguyện! Harrison nói rất tự nhiên – Mời ông ngồi và dùng một cốc.
Ông chỉ tay vào một chiếc bàn bên trên có nhiều chai và cốc ở hàng hiên.
Poirot ngồi xuống một chiếc ghế bành bằng mây.
-       Xin cảm ơn. Ông không có si-rô ư? Không à? Thôi chẳng có gì là quan trọng. Tôi xin một cốc sô-đa không có whisky – Anh nói với vẻ bất cần trong lúc chủ nhà đặt chiếc cốc trước mặt anh – Than ôi! Tôi mệt phờ râu. Trời nóng quá.
-       Ai đã đưa ông tới vùng hẻo lánh này? Một cuộc du ngoạn ư?
-       Không, ông bạn, tôi đang tiến hành một cuộc điều tra.
-       Trong vùng xa xôi này ư?
-       Nhưng đúng là như vậy. Mọi tội ác không phải chỉ xảy ra trong đám đông người, ông biết đấy.
Người tiếp chuyện cười:
-       Tôi rất ngạc nhiên. Ông điều tra loại tội ác nào ở đây… Ít nhất là tôi được phép hỏi như vậy.
-       Được chứ, được chứ, tôi muốn chúng ta bàn.
Harrison nhìn nhà thám tử với vẻ nghi ngờ.
-       Vụ này có nghiêm trọng không?
-       Rất nghiêm trọng.
-       Ông muốn nói rằng…
-       Đây là một vụ giết người
Giọng nói của Hercule Poirot làm Harrison giật mình và cái nhìn của anh làm ông bối rối. Ông ta phải cố gắng để hỏi lại:
-       Tôi không nghe người ta nói gì về một vụ giết người ở vùng này.
-       Cái đó không làm tôi ngạc nhiên
-       Ai bị giết?
-       Cho đến bây giờ thì chưa có ai cả…
-       Tôi không hiểu.
-       … Cái đó giải thích sự không hiểu biết của ông mà thôi. Tôi đang điều tra về một tội ác chưa xảy ra.
-       Không thể!
-       Nếu phải điều tra về một tội ác sẽ xảy ra thì rất thích thú vì có thể tôi có nhiều may mắn có dự kiến trước.
-       Này, ông Poirot, tôi không hiểu. Một tội ác trong làng này ư? Thật là khó tin!
-       Nhưng không thể tránh khỏi… nếu chúng ta không hành động kịp thời.
-       Chúng ta?
-       Tôi cần đến sự giúp đỡ của ông.
0
Một lần nữa Poirot lại nhìn chằm chằm vào Harrison khiến ông phải bối rối mà không hiểu tại sao.
-       Tôi ở đây, ông Harrison vì rằng… vì rằng ông có cảm tình với tôi – Anh chỉ vào một tổ ong vò vẽ trên một cây lớn trong vườn nói thêm – Tôi thấy ở kia có một tổ ong vò vẽ. Ông cần hủy nó đi.
Việc thay đổi đột ngột câu chuyện làm Harrison ngạc nhiên và chau mày. Ông nhìn theo tay nhà thám tử.
-       Đúng là tôi đã có ý định phá nó đi… anh Langton sẽ thay tôi làm việc này. Ông có nhớ  anh Claude Langton không? Anh ta cùng dự bữa ăn thân mật khi chúng ta làm quen với nhau ấy. Anh ấy vừa nói với tôi việc phá tổ ong. Anh ta quen việc này.
-       Anh ấy dùng cách nào?
-       Anh ta sẽ tưới ét-xăng bằng một vòi bơm trong vườn vào tổ ong. Anh ta sẽ mang chiếc vòi của mình tới, cái vòi bơm của tôi nhỏ quá.
-       Có một cách khác, dùng xianuya potatsium.
-       Tôi biết, nhưng thật là dại dột giữ chất độc đó ở trong nhà.
-       Đúng như vậy, nó là một chất độc chết người – Anh yên lặng một lúc rồi nhắc lại – Chất độc chết người.
-       Rất có ích để loại trừ một bà mẹ ghẻ, đúng chứ?
Ông ta cười. Poirot không hưởng ứng cách nói của ông.
-       Ông có tin chắc rằng Langton sẽ hủy tổ ong bằng ét-xăng không?
-       Tuyệt đối tin, tại sao?
-       Trưa hôm nay, tôi tới hiệu thuốc ở Barchester để mua thuốc, phải ký tên vào cuốn sổ mua các loại độc dược và nhận thấy loại thuốc người mua trước tôi ghi trong đó. Đúng là xianuya potatsium mà. Claude Langton đã mua – Langton đã nói chắc chắn với tôi là anh ta không đụng đến thứ thuốc mà anh không tán thành đó để phá một tổ ong.
Poirot ngắm những bông hồng. Bằng một giọng vô tư anh nêu câu hỏi:
-       Ông thấy mình có thiện cảm với Langton không?
Câu hỏi làm Harrison ngạc nhiên, ông lắp bắp:
-       Tôi… tôi… tất nhiên. Tại sao?
-       Đơn giản là tò mò thôi.
Vì người đối thoại không trả lời rõ nên Poirot tiếp tục hỏi:
-       Tôi tự hỏi là anh ấy cũng có cảm tình như vậy với ông không?
-       Ông muốn đưa câu chuyện tới đâu đây, thưa ông Poirot? Ông có một ẩn ý nào đó.
-       Tôi xin nói thật. Trước đây anh ta là vị hôn phu của cô Molly Deane, một cô gái đáng mến và rất xinh đẹp. Trước khi lấy ông cô ấy đã định kết hôn với Claude Langton, người mà sau này cô đã bỏ rơi để đi với ông.
Harrison gật đầu xác nhận.
-       Tôi không tìm cách giải thích những lý do của cô ấy, chắc chắn là cô ta đã suy ghĩ kỹ. Nhưng không phải là cường điệu khi giả thiết rằng Langton không thể quên và không thể tha thứ việc này.
-       Tôi xin thề rằng ông đã lạc hướng rồi đấy, ông Poirot. Langton thích thể thao. Anh ta biết cách cư xử đúng và vẫn giữ tình bạn tốt với tôi một cách ngạc nhiên.
-       Và cái đó không làm ông thấy là khác thường sao? Ông vừa dùng từ “ngạc nhiên” mà ông không thấy ngạc nhiên ư?
-       Ông muốn nói gì?
-       Một người đàn ông có thể giấu sự căm thù của mình cho đến lúc anh ta thấy thuận tiện.
-       Sự căm thù ư? – Harrison ngẩng đầu lên và cười.
Người thám tử bực mình:
-       Những người Ăng-le thật là ngốc nghếch. Họ tưởng rằng họ có quyền đánh lừa mọi người, còn những người khác không thể lừa dối họ. Thể thao… người tốt… không một ai nghĩ đến cái xấu của anh ấy. Vì rằng họ đều là những người can đảm và ngốc nghếch, họ chết một cách vô ích.
-       Ông muốn báo trước cho tôi… Bây giờ tôi đã hiểu… Ông tới đây với mục đích làm cho tôi cảnh giác đề phòng Claude Langton.
Poirot gật đầu và người đối diện như sắp muốn nhảy lên.
-       Ông đã phạm một sai lầm nghiêm trọng trong khi xét đoán, ông Poirot. Chúng ta đang ở Anh quốc, và ở đây, những kẻ âm mưu gây tội ác không bao giờ đâm dao vào lưng địch thủ và cũng không hèn hạ cho họ uống thuốc độc đâu. Ông nên hoàn toàn tin tưởng vào Langton. Chàng trai ấy không bao giờ giết hại một con ruồi.
-       Cuộc sống của những con ruồi không có gì là quan trọng. Trong khi ông cho rằng Langton không giết một con ruồi thì anh ta đang chuẩn bị để tối nay tiêu hủy hàng ngàn con ong.
Harrison không trả lời. Đến lượt mình, nhà thám tử đứng lên đặt tay vào vai người bạn. Anh thấy con người cao lớn này đang run rẩy.
-       Hãy tỉnh táo, ông bạn. Hãy tỉnh táo và hãy nhìn lên cây kia. Ông có thấy những con ong vò vẽ đang canh giữ nơi cư trú của chúng, bình tĩnh và mơ màng sau một ngày làm việc không? Sau đây chừng một tiếng đồng hồ nữa, tổ của chúng sẽ bị phá hủy và tất nhiên chúng chẳng biết gì hết. Không ai báo trước cho chúng. Tôi đã nói với ông, ông Harrison, điều tra tội ác là công việc của tôi, trước hoặc sau khi nó xảy ra. Langton sẽ tới phá tổ ong vào lúc mấy giờ nhỉ?
-       Anh ta sẽ tới vào lúc…
-       Mấy giờ?
-       Chín giờ. Nhưng tôi vẫn cho rằng ông đã nhầm, Langton không bao giờ…
-       Ôi, những người Ăng-lê này!
Poirot cầm lấy mũ và chiếc can đi dọc theo con đường và chợt dừng bước nói:
-       Tôi không ở lại để bàn về chuyện này thêm nữa. Cái đó làm tôi càng thêm thất vọng. Nhưng xin ông tin rằng tôi sẽ quay lại đây vào lúc chín giờ.
Harrison mở miệng nhưng nhà thám từ không để cho ông có thời gian nói.
-       Tôi biết ông định nói: Langton không bao giờ làm một việc như thế, vân vân… A! Anh ta không dám! Dù sao tôi cũng sẽ trở lại vào lúc chín giờ. Tôi rất thích thú nhìn tổ ong bị phá hủy. Tôi hình dung đây là một môn thể thao nữa của người Anh!
Không đợi câu trả lời, Poirot tiếp tục bước và đẩy cánh cổng kêu ken két. Ra đến đường cái, anh bước chậm lại. Sự lanh lợi của anh biến mất, nét mặt nghiêm nghị và dau khổ hiện ra. Anh lấy chiếc đồng hồ trong túi ra xem: tám giờ mười.
-       Còn năm mươi phút nữa – Anh lẩm bẩm – Ta tự hỏi có nên cứ ở lại trong nhà này không?
Anh dừng bước và sắp sửa quay lại thì một cảm giác sợ hãi mơ hồ làm anh giật mình. Anh tiếp tục đi vào làng. Lúc này vẻ mặt của anh vẫn còn tỏ ra lo lắng nhưng đã một hoặc hai lần anh ngẩng đầu tỏ vẻ đắc ý.
Trước chín giờ một chút anh tới gần nhà Harrison. Buổi tối trong sáng và yên tĩnh, không có ngọn gió nào lay động cấy cối. Có một cái gì thê thảm trong sự yên lặng xung quanh giống như sự tạm lắng trước một cơn bão.
Poirot rảo bước. Anh cảm thấy lo ngại và không chắc chắn mà không hiểu tại sao.
Cùng lúc ấy cánh cổng vườn bật mở và Claude Langton hiện ra. Anh ta đang bước vội và giật mình khi thấy Poirot.
-       Ôi! Xin chào.
-       Xin chào ông Langton. Ông tới trước ư? Ông phá tổ ong rồi chứ?
-       Không.
-       A!... Thế ông đã làm gì?
-       Tôi nói chuyện một lúc với ông Harrison. Bây giờ tôi rất vội. Tôi không biết rằng ông đã về vùng này, ông Poirot.
-       Tôi có một công việc cần giải quyết.
-       Thế ư? Ông sẽ gặp Harrison đang ngồi ở ngoài kia. Xin lỗi ông, tôi không thể ở lại lâu hơn.
0
Langton vội vàng đi. Poirot nhìn theo bóng người đi khuất. Một người nóng nảy, đẹp trai, nhưng hay lỡ miệng.
-       Như vây ta sẽ gặp Harrison ở ngoài hiên. Ta tự hỏi…
Anh qua cổng vườn và đi vào. Harrison đang ngồi không động đậy bên bàn ở ngoài hiên. Ông ta cũng không quay đầu lại khi Poirot tới gần.
-       A! Ông bạn. Ông bình yên vô sự chứ?
Yên lặng một lúc lâu, Harrison hỏi lại với giọng khác thường:
-       Ông nói gì?
-       Tôi nói: Ông bình yên vô sự chứ?
-       Bình yên vô sự ư? Tại sao tôi lại không như vậy chứ?
-       Ông không bị phản ứng thuốc chứ? Tôi rất hài lòng.
-       Ông nói thuốc gì?
-       Carbonat natri ấy!
Harrison giật mình đứng lên.
-       Thuốc muối ư? Ông nói như thế là thế nào?
Người thám tử có một cử chỉ xin lỗi.
-       Tôi rất tiếc, tôi đã cho thứ thuốc đó vào túi ông.
-       Nhưng nhằm mục đích gì?
Trước mắt người đối thoại đang hoảng hốt, Poirot nói bằng giọng đĩnh đạc như một ông giáo đọc một bài chính tả khó cho học sinh.
-       Ông nghe đây, một trong những thuận lợi hoặc khó khăn để trở thành một nhà thám tử là đối diện với tội ác. Và những kẻ gây ác có thể cho ta thấy những hành động lạ lùng và thú vị. Tôi đã gặp một tên móc túi bị người ta tố cáo một tội mà hắn không hề gây ra. Sau khi đã chứng minh sự vô tội của hắn tôi được hắn cảm ơn và được hắn kể cho nghe những mánh khóe trong nghề nghiệp của mình.
“Từ đó tôi có cái tài lục soát túi của nạn nhân mà hắn không hề hay biết gì cả. Tôi đặt tay lên vai hắn, tôi lay người hắn, tôi kêu tên hắn, nhưng hắn cũng không biết gì. Tôi cũng có thể lấy các đồ vật trong túi hắn để bỏ vào túi mình và nhét vào túi hắn những đồ vật khác, trong trường hợp người ta đang nói đó là chất carbonat natri.
“Ông biết đấy – Anh tiếp tục nói bằng giọng mơ màng – nếu một người có thuốc độc và có ý định bỏ thuốc độc vào một chiếc cốc mà không bị phát hiện, thì người đó luôn luôn giữ thuốc trong túi bên phải của áo khoác. Kết luận như vậy nên tôi đã thành công trong việc móc túi này”.
Anh lấy trong túi mình ra một nhúm những hạt trắng, ngắm nhìn và lẩm bẩm:
-       Thật là dại dột nếu giữ xuanuya potatsium theo cách này.
Bình tĩnh anh lấy ở một túi khác ra một chiếc chai rộng miệng cho thuốc vào đấy và đổ nước vào. Anh nút chai lại và lắc mạnh cho đến khi thuốc hoàn toàn tan trong nước. Harrison nhìn anh làm như bị thôi mien.
Hài lòng với kết quả công việc, Poirot tới chỗ tổ ong. Anh mở nút chai, quay mặt đi, đổ thuốc vào tổ ong, lùi lại vài bước và quay lại nhìn tấn bi kịch.
Một vài con ong run rẩy bò ra khỏi tổ và rơi xuống như bị sét đánh. Những con khác tìm đường lẩn tránh nhưng cũng chết ngay tại chỗ. Poirot gật đầu và đi vào hiên nhà.
-       Một cái chết nhanh chóng – Anh nhận xét đơn giản.
Harrison tìm lại được lợi ích của lời nói:
-       Đúng ra là ông biết những gì?
-       Như tôi đã nói với ông, tôi đã chú ý đến tên của Claude Langton trong cuốn sổ mua các độc dược. Cái mà tôi không cho ông biết là sau đó tôi có gặp anh ta một cách ngẫu nhiên. Anh ta cho tôi biết là anh đã mua xianuya potatsium theo yêu cầu của ông để phá tổ ong. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi ông nói đến lợi ích của việc dùng ét-xăng và xác nhận sự nguy hiểm của việc dùng xianuya potatsium vào việc này.
-       Ông nói tiếp đi.
-       Tôi đã trông thấy Claude Langton và Molly Deane ngồi với nhau ở một chỗ mà họ tin là không ai để ý đến. Tôi không biết chuyện cãi cọ về tình yêu của họ và chuyện gì đã xảy ra khiến cô gái ngã vào vòng tay của ông, nhưng khi nhìn họ tôi hiểu là họ đã quên mối bất hòa và cô Deane đã quay lại với mối tình cũ của mình.
-       Rồi sao nữa?
-       Tôi còn biết một việc nữa, ông bạn. Gần đây khi đi qua phố Harley, tôi thấy ông từ trong phòng khám của một bác sĩ, mà tôi biết rõ chuyên khoa của ông này, đi ra. Tôi nhìn rõ vẻ mặt ông lúc đó, vẻ mặt mà tôi đã nhìn thấy một hoặc hai lần trong đời mình. Ông giống như một người sắp sửa bị thi hành án tử hình. Tôi có nhầm không?
-       Bác sĩ nói tôi còn sống được hai tháng nữa.
-       Ông không nhận ra tôi vì ông đang mải suy nghĩ. Tôi còn đọc thấy trong ông một tình cảm mà mọi người thường muốn giấu đi: sự thù ghét. Ông không tìm cách giấu giếm điều đó vì ông không có đầu óc quan sát.
-       Xin nói tiếp.
-       Có nhiều chuyện có thể nói. Khi đi qua đây ngẫu nhiên tôi thấy tên của Langton trong cuốn sổ của hiệu thuốc, như đã nói, tôi lại gặp anh ta trước khi đến thăm ông. Tôi đã giăng bẫy, ông đã nói dối, không nói là đã nhờ Langton đi mua xianuya rồi sau đó làm bộ ngạc nhiên. Việc tôi đến thăm trước hết làm ông ngỡ ngàng, nhưng sau đó ông đã nhanh chóng thấy cái đó có thể làm công việc của ông được dễ dàng hơn do đó ông đã kích thích những nghi ngờ của tôi. Qua Langton tôi biết là anh ta sẽ tới đây lúc tám giờ ba mươi phút. Ông lại nói với tôi là chín giờ vì nghĩ rằng tôi sẽ tới để nhìn những tai họa đã xảy ra.
-       Tại sao ông lại tới đây? Tại sao?
Poirot đứng lên.
-       Tôi đã nói với ông điều đó rồi, vì điều tra vụ giết người là công việc của tôi.
-       Giết người ư? Ông muốn nói đến vụ tự vẫn chăng?
-       Ồ không! Tôi nói rõ: giết người. Cái chết của ông phải rất dễ dàng và nhanh chóng, nhưng cái mà ông dành cho Langton là cái tồi tệ nhất để hành hạ một con người. Anh ta đã đi mua độc dược, anh ta cần gặp ông, một mình anh ta ở lại với ông. Ông chết đột ngột, trong cốc nước của ông có chất xianuya và như vậy Claude Langton phải trả giá bằng mạng sống của mình. Đó là kế hoạch của ông phải không?
Một lần nữa Harrison rên rỉ:
-       Tại sao ông lại tới đây?
-       Vì đó là bổn phận của tôi. Cũng vì một lý khác nữa: tôi có cảm tình với ông. Xin nghe đây, ông Harrison, ông mắc một chứng bệnh không thể nào chữa khỏi đươc, ông mất cô gái mà ông yêu dấu, nhưng ông không có tài trở thành một kẻ gây tội ác. Bây giờ thì ông nói xem: ông được an ủi hay là ông lấy làm tiếc vì tôi đã tới đây.
Sau một lúc im lặng, Harrison đứng lên. Nét mặt ông trở lại vẻ đứng đắn, vẻ một con người đã chiến thắng sự hèn nhát của mình. Ông đưa tay qua mặt bàn.
-       Cám ơn Thượng đế, ông đã đến rất đúng lúc, ông Poirot!

 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-15 15:22:08khachxa>
MỘT VỤ VU KHỐNG
 
-       Câu chuyện thật là tế nhị, thưa ông Poirot.
Một nụ cười thoáng trên môi của nhà thám tử. Anh cố giữ để khỏi thốt thành lời: “Bao giờ cũng thế”.
Nhưng anh vẫn giữ bộ mặt kiểu cách và chăm chú nghe một cách dễ mến.
Ông George Conway tiếp tục nói một cách nặng nề. Những câu nói tới với ông một cách dễ dàng và đầy hình ảnh: câu chuyện thật là tế nhị của chính phủ, lợi ích công cộng… sự đoàn kết của đảng… Sự cần thiết phải thể hiện một mặt trận thống nhất… quyền của báo chí… sự phồn vinh của đất nước.
Tất cả những cái đó đều rất tốt… nhưng chúng cần phải được nói nhiều đến thế ư? Hercule Poirot cảm thấy quai hàm của mình sự đau đớn vì không thể ngáp được.
Anh cố kiên tâm. Ông George Conway rất có cảm tình với anh. Rất đúng là ông ta muốn tiết lộ với anh một điều gì đó, nhưng ông quên mất nghệ thuật nói chuyện đơn giản. Với ông lời nói không phải là cách làm sáng tỏ vấn đề mà là bưng bít nó.
Cuối cùng anh đỏ mặt ném một cái nhìn thất vọng sang một người đang ngồi ở đầu bàn: ông Edward Ferrier.
-       Rõ rồi George – Ông Ferrier cắt ngang – Tôi sẽ nói tiếp.
Hercule Poirot rời mắt khỏi ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, quay sang nhìn ông Thủ tướng. Anh rất quý Edward Ferrier nhất là anh đã được một cụ già tám mươi hai tuổi nói đến ông. Giáo sư Fergus Mac Leod sau khi thoát khỏi một tai nạn trong khi nghiên cứu một loại hóa chất. Đã có thời gian chuyển sang hoạt động chính trị. Khi ông John Hemmett danh tiếng và rất bình dân về nghỉ hưu, người ta đã yêu cầu người con rể ông là Edward Ferrier đứng ra lập nội các. Là một nhà chính trị thì ông này còn quá trẻ, chưa đến năm mươi tuổi. Ferrier là một trong những học trò của tôi, ông Mac Leod đã nói như vậy. Đó là một con người trong sạch.
Chỉ có thế thôi, nhưng đối với Poirot thì đã là đủ. Sự tín nhiệm của công chúng đã xác nhận trong sự đánh giá đó đối với người đã cưới con gái của John Hammett, người được mọi người dân Anh quốc thương mến. Ông có những phẩm chất nói lên: “Người ta công nhận Hammett là lương thiện”. Mọi người còn nhớ những mẩu chuyện về cuộc sống gia đình của ông. Hơn nữa khi người nói đến cái ô của Chamberlain([1]) thì người ta cũng nói đến cái áo đi mưa của Hammett, cái áo mà ông không bao giờ rời bỏ, một biểu tượng của khí hậu nước Anh.
Hơn nữa ông lại có oai phong. Cao lớn, luôn đi thẳng người, tóc vàng, mắt xanh. Mẹ ông là người Đan Mạch. Là người đứng đầu Bộ Hải quân trong nhiều năm nên người ta gọi ông ta là “Viking”. Nước Anh đã run lên khi thấy ông nghỉ hưu vì lý do sức khỏe. Ai là người sẽ ngồi vào chỗ của ông? Cả nước thở phào nhẹ nhõm khi biết người đó là Edward Ferrier, người con rể lý tưởng của ông. Hercule Parker ngắm con người trầm tĩnh, có giọng nói nghiêm trang dễ nghe, đang ngồi trước mặt mình. Hơi gầy, ông có vẻ mệt mỏi.
-       Ông Poirot, ông có biết tờ tuần báo “Những tia X” không?
-       Thỉnh thoảng tôi cũng đọc nó – Poirot vẻ khó chịu, thừa nhận.
-       Thế ông có biết nó được dùng vào việc gì không – Ông Thủ tướng nói – Một phần phỉ báng, một phần ám chỉ ít nhiều ẩn ý những bí mật quốc gia có phần đúng, có phần là bịa đặt, tất cả được dùng với vẻ hoa mĩ… Từ nửa tháng nay tờ báo ấy đã báo trước cho độc giả một sự khám phá lớn về một vụ bê bối nhất hạng trong giới chính trị cấp cao nhất, về những phát giác đáng ngạc nhiên về những thối nát và những vụ biển thủ công quỹ.
Hercule Poirot nhún vai.
-       Đó là mánh lới thường thấy. Cái ngày bị lật tẩy, độc giả thấy rõ thì họ sẽ hoàn toàn thất vọng.
-       Lần này thì sẽ không có chuyện đó – Ferrier đáp lại một cách khô khan.
-       Ông đã biết tính chất của những sự phát giác đó chứ?
-       Gần như là chính xác.
Edward Ferrier yên lặng một lúc trước khi giải thích một cách chậm chạp và thận trọng.
Câu chuyện ông kể không có gì đặc biệt. Việc xảy ra vẽ lên một ông cựu Thủ tướng không hay ho gì. Người ta tố cáo ông đã biển thủ quỹ của đảng, là một kẻ lừa bịp, lợi dụng hoàn cảnh để vơ vét cho cá nhân.

[1] Arthur Neville Chamberlain (1869-1940) Thủ tướng nước Anh 1937-1940
0
Ông Thủ tướng im lặng và cuối cùng ông Bộ trưởng Nội vụ gầm lên.
-       Thật là ghê tởm! – Ông quát to – Ghê tởm! Thằng bất lương, cái thằng giẻ rách Perry ấy cần mang xử bắn đi.
-       Như vậy có nghĩa là những lời tố cáo ấy sẽ được dùng trong tờ Những tia X phải không? Poirot hỏi.
-       Phải.
-       Ông sẽ sử dụng những biện pháp đề phòng nào?
-       Những cái đó sẽ hình thành lời tố cáo chống lại John Hammett – Ferrier chậm rãi nói – Ông có thể chống lại tờ báo bằng cách kiện về tội phỉ báng.
-       Liệu ông ấy có làm như thế không?
-       Không! Đúng là những kẻ đó muốn như vậy. Báo sẽ phát hành với một số lượng lớn. Mọi việc đã được phơi ra dưới ánh sáng của những ngọn đèn chiếu cực mạnh.
-       Lần này nếu chúng thua thì chúng phải trả một giá rất đắt.
-       Chúng không thể thua được! – Ferrier trả lời bằng giọng âm thầm.
-       Tại sao?
-       Theo tôi… - ông George bắt đầu nói.
Nhưng Ferrier đã cắt ngang lời.
-       Vì họ đã có ý định công bố… Đúng như vậy.
-       Edward thân mến! – Ông George kêu lên, bực mình một cách rõ ràng, ít có tính chất nghị viện.
Một nụ cười thoáng hiện trên đôi môi của Ferrier.
-       Khốn nỗi, George, có lúc sự thật cần được nói ra. Đây là trường hợp này.
-       Ông hiểu cho, ông Poirot, tất cả những chuyện này đều là tuyệt mật. Không một lời nào – Ông George bối rối nói.
-       Ông Poirot hoàn toàn hiểu rõ – Ferrier nói xen vào -  Nhưng có thể ông ấy không hiểu đảng Nhân dân đang bị thử thách. John Hammett tức là đảng. Đối với nhân dân Anh, ông ấy tượng trưng cho sự trong sạch, sự thật thà. Chúng tôi không có quá khứ tốt đẹp để trở thành những con người nổi bật, nhưng có thanh danh để làm chúng tôi thành những người thật thà. Và điều bất hạnh muốn rằng người đứng đầu của chúng tôi, người thật thà của nhân dân, trở thành một kẻ bất lương tồi tệ trong thế hệ của mình.
Một lần nữa ông George lại gầm lên.
-       Ông không hiểu gì về chuyện này hay sao? Poirot hỏi.
Nụ cười buồn rầu hiện lên trên nét mặt mệt mỏi của ông Thủ tướng.
-       Có thể là ông không tin tôi, nhưng cũng như những người khác, tôi đã bị lợi dụng. Tôi không hiểu thái độ lạ lùng của vợ tôi đối với thân phụ mình… bà ấy biết rõ tính nết của ông cụ. Chúng tôi đã buộc ông cụ phải nghỉ việc vì lý do sức khỏe, nhưng chúng tôi cũng đã thấy trước. Rồi chúng tôi bắt tay vào quét dọn…
-       Những chuồng bò của Augias[1]! – Ông George càu nhàu.
Poirot hơi giật mình.
-       Nhưng công việc thật là quá sức với chúng tôi – ông Ferrier tiếp tục nói – Khi những sự việc được đưa ra công khai, cả nước sẽ quay lưng lại với chúng tôi. Chính phủ sẽ đổ. Everhard và đảng của hắn sẽ lên nắm quyền. Ông biết cái chính trị của Everhard là như thế nào không? Hắn khôn khéo nhưng tàn bạo, hiếu chiến và không biết tự giới hạn mình. Những người ủng hộ chúng thì bất lực và nhu nhược… cái đó sẽ dẫn đến sự chuyên chính.
-       Chỉ cần bóp nghẹt được tất cả những cái đó! – Ông George nói.
Ông Thủ tướng lắc đầu một cách chậm chạp.
-       Ông không tin là những cái đó có thể xảy ra chứ? – Poirot hỏi.
-       Ông Poirot, tôi mời ông tới vì ông là niềm hy vọng cuối cùng của tôi. Công việc rất quan trọng, rất nhiều người biết, khó mà nghĩ đến việc bưng bít nó đi. Dùng bạo lực ư? Mua chuộc ư? Không thể được và rất vô ích. Ông Bộ trưởng Bộ nội vụ đã ví nó với những chuồng bò của Augias. Phải, cần có một dòng nước sông tràn nước… một sự kỳ lạ.
-       Ông cần đến một Hercule – Poirot hài lòng xác nhận – Hercule là tên tôi, ông không nên quên…
-       Ông có thể tạo ra được những điều kỳ lạ ư, ông Poirot?
-       Chắc rằng ông đã cho điều ấy là có thể vì ông cho gọi tôi đến.
-       Đúng như vây… Tôi nghĩ rằng sự cứu giúp, nếu có, không thể nào tới bằng những biện pháp thông thường, John Hammett là một kẻ bịp bợm. Liệu người ta có thể xây dựng được một ngôi nhà trên một nền móng mục nát không? Tôi không biết. Nhưng tôi cố thử. Ông cười với vẻ cay đắng – Những nhà chính trị, rõ ràng là như vậy, muốn yên vị bằng những lý do chính đáng.
Hercule đứng lên.
-       Thưa ông – Anh nói – Theo kinh nghiệm thì tôi ít thích những nhà chính trị. Nếu John Hammett có ý đồ ấy với họ, tôi sẽ không ra tay. Nhưng với ông, tôi hiểu điều mà một nhà bác học đương thời đã nhận xét. Ông là một người trong sạch. Tôi sẽ làm việc này với năng lực của tôi.
Anh cúi đầu chào và rời khỏi phòng.

[1] Theo thần thoại Hy Lạp thì Augias, con trai thần mặt trời, có một chuồng chăn nuôi súc vật nhiều năm không được coi sóc. Hercule phải đào hai nhánh sông vào chuồng bò để quét dọn - ND
[/align] [/align]
0
-       A! Như thế đấy, đột ngột làm sao – Ông George kêu lên.
-       Đó là một lời khen – Ông Edward Ferrier nói.
Khi Poirot đang bước xuống cầu thang thì một người đàn bà tóc vàng, cao lớn đến trước mặt anh.
-       Thưa ông Poirot, xin ông vui lòng quá bộ tới chỗ tôi, được không?
Anh đi theo bà vào một căn phòng. Bà cẩn thận đóng cửa phòng lại. Bà chỉ cho anh một chiếc ghế và mời anh một điếu thuốc.
-       Ông vừa gặp chồng tôi, phải không? – Bà nói bằng giọng bình tĩnh – và ông ấy đã cho ông biết câu chuyện liên quan đến cha tôi.
Poirot nhìn bà với vẻ chăm chú. Bà ta xinh đẹp, nét mặt bà lộ ra là con người có tính cách và thông minh. Là phu nhân của Tổng thống, đó là một bộ mặt bình dân, là nghĩa nữ của John Hammett, bà ta lại càng bình dân hơn.
Đó là một người vợ quên mình, một người mẹ tinh ý. Bà quan tâm đến cuộc sống hàng ngày trong vai trò một người phụ nữ. Bà ăn mặc đẹp nhưng không phải là theo mốt mới nhất. Bà tham gia nhiều công tác từ thiện và bà có chân trong chương trình giúp đỡ vợ con của những người thất nghiệp. Dân trong nước kính trọng và yêu mến bà. Đó là một trong những con chủ bài của đảng.
-       Chắc bà đã phải đau khổ nhiều, thưa bà – Poirot nói.
-       Ồ! Vâng… ông không thể biết như thế nào đâu. Đã nhiều năm nay, tôi đã sợ… một cái gì đó xảy ra.
-       Bà không biết rõ đó là chuyện gì ư?
-       Không, không hiểu chút nào. Tôi chỉ biết rằng thân phụ tôi không phải… như cái mà người ta đã tưởng. Từ khi còn rất trẻ tôi đã biết rõ… đó là một kẻ lừa dối.
Giọng bà bắt đầu run lên:
-       … Gả tôi cho Edward… và Edward bắt đầu mất tất cả.
-       Thưa bà, bà có những kẻ thù chứ? – Poirot bình tĩnh hỏi.
Bà ta nhìn anh một cách ngạc nhiên:
-       Kẻ thù ư? Tôi không tin.
-       Tuy nhiên tôi thì tôi tin là có đấy – Poirot trầm ngâm nói.
Và anh bắt đầu nói với vẻ sôi nổi:
-       Bà có can đảm không, thưa bà? Người ta đang chuẩn bị một cuộc chiến tranh chống lại chồng bà… cả bản thân bà nữa. Bà cần sửa soạn một sự chống lại.
-       Đối với tôi thì chẳng có gì là quan trọng cả! - Bà kêu lên – Chỉ có Edward phải đề phòng mà thôi!
-       Nói người này tức là người ta nói người khác. Thưa bà, bà nên nhớ là vợ của một vị Hoàng đế đấy.
Anh thấy mặt bà tái nhợt
-       Ông định nói gì với tôi đây? – Bà ta nói và cúi đầu về phía anh.


*

 
Percy Perry, chủ bút tờ Những tia X, ngồi trước bàn giấy khói thuốc bay nghi ngút.
Hắn người nhỏ thó và có cái đầu như đầu con chồn.
-       Phải – Hắn nói bằng giọng êm dịu nhưng nhớp nhúa – Người ta sẽ cung cấp cho chúng những thứ rác thải. Chúng sẽ có những cái đó! Thật là thú vị phải không ông bạn.
Người trợ lý trẻ tuổi của hắn, đeo kính mát, nhìn hắn với vẻ lo ngại.
-       Ông không nóng nảy đấy chứ? – Anh ta hỏi lại.
-       Anh chờ một sự phản ứng bằng bạo lực ư? Không sợ gì cả. Không ai có gan làm thế đâu. Hơn nữa, làm như vậy thì họ đạt được gì? Bây giờ thì người ta đã chuẩn bị tất cả rồi, ở lục địa này cũng như ở châu Mỹ nữa.
-       Họ sẽ phải lăn lộn trong cái thùng nhào bột. Nhưng họ cũng phải làm một cái gì chứ?
-       Chắc chắn là như thế, họ sẽ phải cử một người đến thương lượng một cách nhũn nhặn…
Cùng lúc ấy chuông điện thoại reo lên. Percy Perry nhấc máy.
-       Ai vậy? Được, cho vào.
Hắn đặt máy, cười nửa miệng.
-       Họ giao công việc cho tên người Bỉ kỳ cục này! Hắn nhập cuộc. Hắn muốn biết cuộc chơi của chúng ta.
Hercule Poirot xuất hiện. Anh ăn mặc một cách cẩn thận: một chiếc áo khoác trắng cài cúc đàng hoàng.
-       Rất hân hạnh được làm quen với ông, ông Poirot – Percy Perry nói – Ông muốn tham dự cuộc đua ngựa ở Ascot ư? Không à? Ồ! Tôi cứ tưởng như vậy.
-       Tôi được khen ngợi nhiều quá – Nhà thám tử trả lời – Người ta thích có những ấn tượng tốt – Anh nói thêm và nhìn một cách vô tư vẻ mặt khó coi cùng cách ăn mặc cẩu thả của nhà báo, nhất là khi anh có những ưu thế tự nhiên.
-       Ông muốn gặp tôi về vấn đề gì vậy? – Perry lạnh lùng cắt ngang.
Poirot cúi đầu về phía trước, vỗ vào cái đầu gối mềm của chủ nhà, cười tinh quái:
-       Tống tiền.
-       Ông muốn nói cái quỷ gì vây?
-       Một con chim nhỏ nói với tôi rằng… vào một lúc nào đó, ông sẽ đưa ra một vài bài có trọng lượng lớn trên tờ báo của mình một cách dí dỏm, tài khoản trong nhà băng của ông sẽ lớn lên đột ngột… Nhưng đó chỉ là những lời nói suông thôi, chứ thực tế thì không có những bài báo như vậy.
Poirot ngồi thẳng lên với vẻ hài lòng.
-       Ông cho đây là một sự thóa mạ ư? – Chủ nhà hỏi.
Poirot cười một cách thận trọng:
-       Tôi tin chắc là ông không làm như thế.
-       Ngược lại! Dù thế nào đi nữa tôi cũng thách ông chứng minh được là tôi tống tiền họ!
-       Không, không, tôi tin ông. Ông hiểu sai rồi. Tôi không đe dọa ông. Tôi chỉ có một câu hỏi đơn giản: bao nhiêu?
-       Tôi không biết ông muốn nói gì.
-       Về một đại sự quốc gia, thưa ông Perry.
-       Tôi là một nhà cải cách, thưa ông Poirot. Tôi muốn cọ rửa cái phía dưới của nền chính trị. Tôi phản đối tệ hối lộ. Ông có biết môi trường chính trị của đất nước hiện giờ như thế nào không? Đó là những cái chuồng của Augias, không hơn, không kém.
-       Này! Trong đó có cả ông nữa…
-       Và người ta phải cọ rửa những chuồng bò ấy, đó là những làn sóng trong sạch của ý nguyện công chúng.
Hercule Poirot đứng lên.
-       Tôi vỗ tay khen ngợi những tình cảm của ông – Anh nói – Nhưng thật là thiệt hại vì ông không cần đến tiền.
-       Này, đợi cho một phút – Người kia vội vàng nói – Tôi không cho là như thế…
Nhưng Hercule Poirot đã ra khỏi phòng.
Anh không ưa những kẻ tống tiền và đó là sự chối từ của anh với những công việc tiếp theo của họ.


*
 
0
Everit Dashwood, một chàng trai mặt tròn trĩnh của tờ báo Cành Cây thân mật nắm tay Hercule Poirot bằng cả hai bàn tay của mình.
-       Toàn bùn là bùn, thưa ông. Ở chỗ chúng tôi là bùn sạch… có thế thôi.
-       Tôi không coi ông giống như Perry.
-       Cái con quỷ hút máu người ấy. Đó là sự nhục nhã trong làng báo của chúng tôi. Nếu có thể, chúng tôi dã cho hắn trôi luôn.
-       Đúng là lúc này đây, lúc mà tôi có trách nhiệm làm sáng tỏ một vụ om sòm chính trị.
-       Và đồng thời cọ rửa những cái chuồng bò của Augias nữa phải không? Thật là quá sức ông, ông bạn. Chỉ có một cách: làm cho dòng sông Tamise chảy ngược vào trụ sở Quốc hội.
-       Ông nói hơi quá đáng.
-       Tôi biết rõ con người, thế thôi.
-       Tôi có cảm giác ông là người mà tôi cần. Ông là con người mạnh bạo, ông biết cách hài hước và ông yêu mến những cái xuất phát từ sự bình thường.
-       Nhưng những cái đó sẽ đến đâu kia chứ?
-       Có một âm mưu cần phải lột mặt nạ. Đây sẽ là một nguồn tài liệu cho tờ báo của ông.
-       Rất tốt!
-       Đây là một âm mưu làm ô danh một phụ nữ.
-       Càng tốt. Những câu chuyện giật gân bao giờ cũng đắt giá.
-       Vậy thì ông ngồi xuống và lắng nghe…


*


Mọi người bàn tán:
-       Không, tôi không tin chút nào. John Hammett từ xưa tới nay vốn là người thật thà. Ông ta không giống những nhà chính trị khác.
-       Đó là cái mà người ta nghe nói về bọn đê tiện trước khi người ta lột mặt nạ chúng.
-       Trong vụ dầu hỏa ở Palestine lão ta kiếm được hàng triệu đồng. Đúng là một sự lường gạt.
-       Everhard không làm những chuyện như vậy. Ông ta theo trường phái cũ.
-       Tôi không muốn tin John Hammett là một tên kẻ cướp. Báo chí nói không một câu nào đúng sự thật cả.
-       A! Thế ư? Vợ của Ferrier là con gái của ông ấy. Và anh đã đọc những điều người ta viết về bà ta chưa? (Một bài báo của tờ Những tia X được truyền tay nhau: Vợ một hoàng đế ư? Chúng tôi nghe nói rằng một phu nhân cấp cao trong giới chính trị đã cùng đi với một tên đĩ đực tới một nơi đáng nghi vấn. Ôi! Dagmar Dagmar, tại sao ngươi lại như vậy?)
-       Bà Ferrier không bao giờ như thế, một tiếng nói chậm chạp và nghiêm chỉnh. Một tên đĩ đực ư? Đó là một loại trai nhảy đầm Nam Mỹ.
-       Ồ! Một giọng nói khác chen vào – Với phụ nữ thì người ta không bao giờ hiểu rõ được. Họ có thể làm mọi chuyện.


*


- … Đúng thế đấy, anh yêu, em cam đoan rằng cái đó tuyệt đối đúng. Mini nghe Paul nói lại chuyện Andy đã kể cho anh ta nghe. Bà ta hoàn toàn đồi bại rồi.
- Bà ta có vẻ khờ dại và đáng mến trong các cuộc lạc quyên từ thiện kia mà.
- Đó là một sự ngụy trang đơn giản thôi, anh yêu. Bà ta có vẻ bất kham. Chỉ cần đọc báo Những tia X là rõ cả. Thật là khủng khiếp. Em tự hỏi là họ lấy ở đâu ra những tin tức ấy?
- Anh bảo đây là một vụ om xòm chính trị ư? Người cha đã biển thủ quỹ của đảng thì sao?


*


- Bà Rogers ạ, tôi không muốn nghĩ đến chuyện này chút nào. Tôi bao giờ cũng cho rằng bà Ferrier là một người xinh đẹp.
- Bà có tin rằng những điều kinh khủng ấy là sự thật không?
- Tôi nhắc lại: tôi không muốn nghĩ đến chuyện này. Bà ta đã tham gia  một cuộc bán đấu giá lấy tiền góp quỹ từ thiện ở Pelchester hồi tháng Sáu vừa rồi. Tôi ngồi gần bà ta như tôi đang ngồi với bà đây. Bà ta có nụ cười đáng mến.
- Phải, chắc chắn là như thế, nhưng không có lửa thì sao lại có khói kia chứ.
- Tất nhiên. Chỉ có Thượng đế mới biết rõ thôi…


*


Edward Ferrier mặt tái nhợt, những nết nhăn sâu xuống, quay về phía Poirot.
-       Những đòn đánh vào vợ tôi! Thật là huyên náo… bạo loạn! Tôi sẽ khởi tố những cái giẻ rách nhơ bẩn ấy!
-       Tôi không khuyên ông làm điều ấy.
-       Nhưng phải chặn đứng những lời dối trá đê hèn ấy!
-       Ông có chắc chắn rằng đây chỉ là những lời dối trá không? Vợ ông sẽ nói sao?
Ferrier tỏ ra lúng túng trong một khoảnh khắc.
-       Vợ tôi cho rằng tốt hơn cả là không chú ý đến việc này nữa… nhưng tôi không thể… mọi người đều nói…
-       Vâng, mọi người đều nói.


*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-20 14:56:10khachxa>
Rồi báo chí lại đưa tin: Vợ Ferrier bị chấn động thần kinh đã đi nghỉ ở Ecosse.
Phỏng đoán dị nghị, khẳng định: Bà Ferrier không có ở Ecosse, bà ta chưa bao giờ sống ở đây…


*


Những chi tiết gây ồn ào:
-       Em đã nói với anh là Andy đã nhìn thấy bà ta. Phải trong cái hộp đêm gớm guốc ấy! Bà ta đang say rượu hoặc say ma túy và bên cạnh bà có một anh chàng người Argentine…
Và câu chuyện được nhân lên:
Bà Ferrier bị một chàng kị sĩ người Argentine bắt cóc; người ta thấy bà say sưa ở Paris. Đã nhiều năm nay bà thường dùng chất kích thích này và bà uống rượu như một cái thùng không đáy.
Dần dần những người đàn bà tiết hạnh của Anh quốc, lúc đầu thì ngây thơ sau đó nổi loạn tin rằng câu chuyện hẳn là căn cứ vào một điều gì đó. Đó là phu nhân của Thủ tướng ư? Than ôi!
Sau đó lại có những tấm ảnh…
Bà Ferrier chụp ở Paris, trong một hộp đêm, tay ôm lấy cổ một chàng trai tóc nâu, mắt bối rối… sau đó, trên bãi biển, không mặc quần áo, đầu dựa vào chàng trai ấy.
Bà Ferrier trả giá đúng lúc, bài báo nói như vậy…

*

Bốn mươi tám tiếng đồng hồ sau, tờ Những tia X bị truy tố về tội phỉ báng.
Ông Mortimer, luật sư của Hoàng gia, đĩnh đạc, bất bình về câu chuyện, đại diện cho bên nguyên đơn. Bà Ferrier, luật sư nói, là nạn nhân của một âm mưu đê hèn mà người ta chỉ có thể ví câu chuyện “Chuỗi hạt ngọc của Hoàng hậu”, nhằm hạ uy tín của Marie Antoinette, dưới con mắt của nhân dân. Ở đây người ta muốn bôi nhọ, làm mất uy tín một phụ nữ quí phái, có đầy đủ đức tính và trên đất nước mà bà là vợ của một lãnh đạo cao nhất. Ông Mortimer nhắc nhở với kẻ căm ghét hành động của một vài đảng phái chính trị quá khích nhằm mục đích phá hoại nền dân chủ. Sau đó ông gọi các nhân chứng ra.
Người đầu tiên là linh mục ở nhà thờ Northumerland, ông Honderson, một trong những bộ mặt có uy tín của Nhà thờ Anh quốc. Với tính thanh liêm dễ tha thứ và là một nhà hùng biện có tài, ông được mọi người quen biết yêu mến và súng bái ông. Ông thề rằng vào thời gian viết trên báo chí thì bà Ferrier đang sống với vợ chồng ông. Bị mệt mỏi vì những công tác từ thiện mà bà đã tham gia, bà được lệnh của thầy thuốc là phải tuyệt đối nghỉ ngơi. Người ta đã giữ bí mật cuộc nghỉ này để tránh các cuộc phỏng vấn của báo chí.
Một ông thầy thuốc danh tiếng tiếp lời linh mục tuyên bố rằng ông đã khám bệnh cho bà Ferrier và đã ra lệnh cho bà nghỉ ngơi hoàn toàn, tránh mọi sự lo nghĩ.
Một thầy thuốc khác cũng nói là ông đã săn sóc sức khỏe cho bà Ferrier trong thời gian ở Northumberland.
Sau đó người ta gọi đến Thelma Andersen.
Những người tham dự phên tòa đều giật nẩy mình khi nhìn thấy người đàn bà này. Bà ta giống hệt bà Ferrier.
-       Bà tên là Thelma Andersen phải không?
-       Vâng.
-       Bà thuộc quốc tịch Đan Mạch ư?
-       Phải, tôi sinh ra ở Copenhague.
-       Và bà làm việc trong một quán cà phê tại đây, đúng không?
-       Đúng.
-       Xin bà vui lòng cho chúng tôi biết đã có việc gì xảy đến với bà ngày 18, tháng Ba vừa rồi?
-       Có một ông người Anh đến tìm tôi. Ông ấy nói với tôi rằng ông ta làm việc trong tòa báo Những tia X.
-       Bà có chắc chắn là ông ta nói Những tia X không?
-       Ồ! Chắc chắn chứ! Vâng, vì thoạt đầu tôi cho rằng đây là một tờ báo về y học. Nhưng thực ra thì không phải. Ông ấy nói với tôi rằng có một bà tài tử người Anh muốn tìm một người thay thế và tôi đúng là người mà bà ta cần. Tôi ít đi xem chiếu bóng nên tôi không nhớ cái tên mà ông ấy nói ra. Nhưng ông ấy nói rằng bà tài tử này bị ốm và bà cần một người nào đó xuất hiện trước công chúng thế chân bà ta và bà sẽ trả nhiều tiền cho công việc này.
-       Ông người Anh ấy đã trả cho bà bao nhiêu tiền?
-       Năm trăm bảng Anh. Lúc đầu tôi cho đây là chuyện đùa cợt… nhưng ngay lập tức ông ấy đưa cho tôi một nửa số tiền trên. Và tôi đã xin nghỉ phép nơi tôi làm việc.
0
Và người làm chứng tiếp tục kể lại việc mình đã làm. Người ta đã đưa bà đi Paris, cung cấp cho bà quần áo và giới thiệu bà với một “Chàng hiệp sĩ”.
Một người Argentine lịch sự, lễ phép và đáng mến.
Tất nhiên nhân chứng cảm thấy thoải mái. Trở về Londres, chàng trai có nước da nâu đã cho bà tới các hộp đêm và người ta đã chụp ảnh họ như thời gian ở Paris. Nhiều nơi họ tới mà nhà cửa không được đàng hoàng lắm thì người ta không chụp ảnh. Người ta bảo trước với bà rằng mọi bức ảnh sẽ được đăng báo và ngài Ramon bao giờ cũng đối xử lễ phép với bà.
Không, chưa bào giờ người ta nói với bà cái tên bà Ferrier và bà cũng chưa bao giờ nghĩ là mình đóng vai bà này. Bà đã hành động không một chút mánh lới nào.
Người ta đưa cho bà xem những tấm ảnh và bà nhận ngay đây là những bức ảnh người ta đã chụp bà khi ở Paris và ở Riviera.
Những lời khai của Thelma Andersen biểu lộ sự thành thật tuyệt đối. Đó là một người đàn bà đứng đắn nhưng hình như kém thông minh. Lúc này bà ta rất bực mình vì hiểu được người ta đã bắt bà phải đóng vai trò này.
Bên bị đơn không thuyết phục ai cả. Họ tuyên bố rằng mình không có quan hệ gì với nhân chứng. Văn phòng của họ ở Londres cũng nhận được những tấm ảnh như vậy và họ đã cho rằng đây là những ảnh thật.
Lời kết luận của ông Mortimer làm thỏa mãn mọi người. Ông nói đây chỉ là một âm mưu chính trị đê hèn hòng làm mất uy tín ông Thủ tướng và phu nhân. Tình cảm của mọi người đều hướng về bà Ferrier khốn khổ.
Bản án không kết tội ai và nó đã được sự tán thành nhiệt liệt của quần chúng và sự tốn kém của nó cũng rất to lớn.
Đám đông hoan nghênh bà Ferrier, chồng và thân phụ bà khi họ ra về.
Edward Ferrier nồng nhiệt nắm chặt tay của Poirot.
-       Ông Poirot, tôi chân thành cảm ơn ông. Dù sao đi nữa thì cái giẻ rách Những tia X cũng đã bị quét dọn. Cái đó dạy cho họ đừng có mưu toan làm những điều ô nhục như vậy nữa! Đánh vào Dagmar con người hiền lành nhất! Cảm ơn Thượng đế, ông đã thành công trong việc lật mặt nạ bọn chúng… Ai đã gợi ý cho ông rằng họ đã sử dụng một diễn viên đóng thay như vậy?
-       Cái đó chẳng có gì là mới. Cái đó đã được bà Jeanne de la Motte sử dụng thành công trước khi bà ta đóng vai Marie- Antoinette rồi.
-       Tôi phải đọc lại cuốn “Chuỗi hạt ngọc của Hoàng hậu” mới được. Nhưng mà làm thế nào mà ông tìm được người đàn bà mà họ dùng để thay thế?
-       Tôi đã tìm bà ta ở Đan Mạch và đã gặp bà ta ở đây.
-       Nhưng tại sao lại tìm ở Đan Mạch?
-       Vì bà nội của bà Ferrier là người Đan Mạch và bà Ferrier là người có những nét Đan Mạch nổi bật. Và còn vì những lý do khác nữa…
-       Sự giống nhau thật rõ ràng. Thật là một ý nghĩ quỉ quái! Tôi tự hỏi vì sao bà ta lại đi vào một vai trò bẩn thỉu này.
Poirot cười.
-       Nhưng bà ta không tự đi vào đây…
Và anh chỉ tay vào ngực mình.
-       Chính tôi đã nghĩ ra cái đó.
-       Tôi không hiểu. Ông muốn nói gì vậy?
-       Chúng ta phải nhớ lại một chuyện khác xa hơn chuyện “Chuỗi hạt ngọc của Hoàng hậu” đó là chuyện việc cọ rửa những chuồng bò của Augias, Hercule đã dùng cả một con song. Chúng ta hiện đại hóa câu chuyện. Chúng ta kể cho mọi người khác nghe một câu chuyện bê bối với một lực lượng khác của tự nhiên là người phụ nữ. Cái này cần đến dòng nước xoáy mạnh hơn là sự tranh cãi chính trị lặt vặt. Cũng như Hercule, tôi đã phải nhúng tay xuống bùn để đắp một con đê làm quay ngược dòng nước. Một người bạn làm báo đã giúp đỡ tôi. Anh ta đã đi Đan Mạch tìm một người đàn bà để sắm vai trò mong muốn. Anh ta đã gặp và nói chuyện với người đó và ra vẻ vô tình nhắc đến tờ báo Những tia X với hy vọng là bà ta nhớ lại việc đã làm. Bà ta đã làm việc đó thật. Sau đó thì việc gì xảy ra? Phải bóc nhiều lớp bùn bao bọc người vợ của Hoàng đế. Chuyện này thích thú với mọi người hơn là những chuyện om xòm chính trị. Kết thúc ra sao? Đạo đức bị xúc phạm. Người đàn bà hoàn toàn trong trắng. Một dòng thác tình cảm tốt đẹp đã cọ rửa những chuồng bò của Augias. Bây giờ thì mọi tờ báo trong nước có thể đăng những chuyện biển thủ tiền của ông John Hammett nhưng không một người nào tin có thực lấy một chữ.
Cánh mũi phập phồng, ông Edward Ferrier nắm chặt tay lại.
-       Vợ tôi! Ông đã dám cả gan dùng vợ tôi…
Chắc chắn là điều sung sướng đối với Poirot trong nghề nghiệp của mình là  không phải chịu một sự sửa sai nào khi bà Ferrier bước vào phòng.
-       Thế nào – Bà nói – Công việc tốt chứ.
-       Dagmar… Mình đã biết tất cả ư?
-       Nhưng chắc chắn là như vậy, anh yêu.
Và bà cười, một nụ cười đơn giản, có phần thân thiết của một người vợ chân chính.
-       Và mình không nói với tôi một lời nào!
-       Nhưng, Edward, anh đã chẳng để ông Poirot có toàn quyền hành động đấy ư?
-       Chắc chắn là không!
-       Thì đó là chúng tôi nghĩ ra.
-       Chúng tôi ư!
-       Ông Poirot và tôi… Tôi đã nghỉ an dưỡng tốt ở nhà ông linh mục. Bây giờ tôi rất khỏe khoắn. Người ta muốn tôi dự một buổi lễ đặt tên cho một con tàu ở Liverpool… đây là một việc tốt, tôi tin như vậy.

0
ĐÀN CỪU CỦA ANDERSEN
 


Tôi tha thiết xin lỗi ông, ông Poirot, tôi đã lạm dụng thời giờ của ông.
Bà Carnaby nắm chặt lấy chiếc quai của túi xách tay và lo lắng nói. Bà ta, như thường lệ, lúc nào cũng thở vội vàng.
-       Ông còn nhớ tôi đấy chứ, đúng không? – Bà ta hỏi.
-       Đối với tôi thì bao giờ bà cũng là kẻ phạm tôi khôn ngoan mà tôi chưa hề gặp – Poirot trả lời với vẻ tinh quái.
-       Ôi! Tại sao ông lại nói như vậy? Ông đã đối xử rất tốt với tôi. Chúng tôi thường nói về ông, Emily và tôi, và mỗi khi chúng tôi thấy một tờ báo viết về ông, chúng tôi cắt ra ngay lập tức và chúng tôi dán vào một quyển sổ riêng.
-       Rất cảm ơn. Thế còn con chó Auguste hiện nay ra sao?
-       Ô! Ông Poirot nó trở nên thông minh hơn bao giờ hết. Nó biết tất cả. Có một lần tôi mải ngắm một cháu nhỏ trong xe thì tôi thấy xe rung động mạnh, Auguste đã nhanh nhẹn cắn đứt dây an toàn buộc cháu bé ra. Thế có giỏi không? Chúng tôi đã học được ở nó một việc làm tốt. Chúng tôi bảo nó: Hãy sống chết vì Hercule Poirot! Và nó đã làm như thế.
-       Tôi có cảm giác rằng Auguste đã tham gia vào một tội ác nào đó với bà mà chúng ta sắp sửa nói đến.
Bà Carnaby không cười. Bộ mặt béo tốt của bà tối sầm lại.
-       Thưa ông Poirot – Bà ta nói với giọng có phần nghẹn ngào – Tôi đang rất lo ngại.
-       Có việc gì vây? – Nhà thám tử nhẹ nhàng hỏi.
-       Tôi sợ… một nỗi sợ hãi không thể dứt bỏ đươc! Tôi có những ý nghĩ!
-       Ý nghĩ về việc gì?
-       Ô! Những ý ngĩ lạ lùng nhất! Ví dụ như hôm qua, trong óc tôi nghĩ đến một kế hoạch tài tình để ăn cướp ở một trạm bưu điện. Tôi không chủ tâm! Tự dưng nó đến thôi! Tôi cũng đã nghĩ đến những thủ đoạn tinh vi để vận chuyển hàng cấm, hàng lậu… Tôi tin chắc rằng sẽ thành công.
-       Tôi không nghi ngờ gì về điều đó. Vì cái đó mà những ý nghĩ của bà đều nguy hiểm cả.
-       Cái đó làm tôi lo lắng vô cùng, nhất là khi nghĩ đến cái cách mà tôi đã làm. Cái đó chắc đã làm cho tôi có nhiều thích thú. Tôi đã rời bỏ nhà bà Hoggin và tới làm việc cho một bà già khác với chân đọc sách cho bà nghe và viết thư giúp bà. Thư từ thì viết nhanh thôi, còn đọc sách thì tôi bắt đầu đọc bà già đã ngủ rồi. Thế là tôi dùng thời gian để suy nghĩ. Tôi đã đọc một cuốn sách dịch từ tiếng Đức nói về những thủ đoạn phạm tội một cách tinh vi, loại trừ mọi sự xúc động. Do đó tại sao tôi tìm gặp ông.
-       A! ra thế đấy.
-       Ông thấy không, trong bản thân tôi có nhiều thói xấu, có nhiều mong muốn hành động! Cuộc dời khốn khổ của tôi rất nhàm chán. Thật thà mà nói tôi muốn sống như những con chó Bắc Kinh. Tôi hy vọng, nếu có thể được từ bỏ ý định hành động bằng những việc làm tốt.
-       A! Đó là vì muốn cộng tác với tôi mà bà tới đây ư?
Bà Carnaby đỏ mặt.
-       Đấy là điều tự hào về phần tôi, tôi hiểu điều đó. Ông đã là người rất tốt…
Bà ta ngừng lời. Người ta thấy trong cặp mắt xanh của bà một sự van nài âm thầm.
-       Đó là một ý định – Poirot chậm chạp nói.
-       Tôi không thông minh lắm. Nhưng tôi có… khả năng giả vờ rất giỏi. Như vậy rất cần thiết cho việc có một chỗ đứng. Tôi đã nhận thấy người ta thu được nhiều kết quả tốt nếu tỏ ra ngu ngốc hơn.
Hercule Poirot cười.
-       Thưa bà, bà làm tôi thích thú.
-       Ôi! Ông thật là một con người kỳ diệu! Như vây, tôi có thể hy vọng được chứ? Tôi được chia một phần gia tài nhỏ, ôi, rất nhỏ thôi, nhưng cái đó cho phép chúng tôi, cô em tôi và tôi, sống một cuộc sống đơn giản ngoài phần tôi kiếm thêm được.
-       Tôi phải nghĩ việc sử dụng những tài năng của bà một cách có ích nhất. bà đã có một suy nghĩ nào về việc này chưa?
-       Thưa ông Poirot, ông đúng là người đọc được tư tưởng của những kẻ khác. Một trong những người bạn tôi có những hành động làm tôi lo ngại và tôi muốn mang chuyện này đến hỏi ý kiến ông. Có thể ông cho đây là công việc lố bịch của một cô gái già chăng? Nhiều khi người ta cường điệu vấn đề, người ta nhìn sự cố ý như là một sự ngẫu nhiên.
-       Cái đó làm tôi ngạc nhiên, thưa bà. Nói xem bà đang suy nghĩ về việc gì?
-       Thế này. Tôi có một chị bạn. Một người bạn rất thân tuy rằng những năm gần đây tôi ít gặp chị. Chị ấy tên là Emmeline Clegg. Chồng chị qua đời để lại cho chị một số tiền kha khá. Nhưng cái chết của chồng làm chị rất khổ sở. Chị cảm thấy cô độc. Chị có phần nào nhẹ dạ, tôi sợ là như vậy. Tôn giáo có thể giúp chị nhiều… nhưng tôi thấy ở đây không phải là thứ đạo chính thống.
-       Bà muốn nói về Nhà thờ Hy Lạp ư?
0
Bà Carnaby hình như phật ý:
-       Ồ! Không, Nhà thờ Anh quốc! Tôi không tán thành lắm, nhưng tôi theo đạo Cơ đốc… không, tôi không nói về môn phái xuất hiện vào lúc này, lúc khác… tìm cách lôi kéo tư tưởng nhiều người, nhưng tôi cho rằng chúng vẫn có những yếu tố tín ngưỡng…
-       Bà cho rằng bạn bà là một nạn nhân của một môn phái kiểu đó phải không?
-       Đúng như vậy! Tôi tin chắc là như thế. Đó là “Đàn cừu của Mục sư”. Trụ sở của nó ở Devonshire… một tòa lâu đài đẹp bên bờ biển. Những thành viên của nó tập trung ở đây từng lúc mà họ gọi đây là thời kỳ ẩn cư. Mỗi đợt kéo dài mười lăm ngày để tiến hành những cuộc lễ dài. Có ba đợt như thế trong một năm: gieo cấy đồng cỏ, chăm bón đồng cỏ và thu hoạch đồng cỏ.
-       Thật là lạ lùng – Poirot bình luận – Vì người ta không thu hoạch đồng cỏ như thu hoạch lúa.
-       Tất cả đều lạ lùng – Bà Carnaby nói với giọng hăng hái – Cả môn phái quây quần xung quanh người mà họ gọi là Đại Mục sư. Một ông thày thuốc tên là Andersen nào đó. Một con người rất quyến rũ, đầy vẻ hấp dẫn.
-       Có phải tín đồ hầu hết là phụ nữ không?
-       Có ít nhất ba phần tư là phụ nữ, tôi thấy hình như thế. Còn đàn ông thì hầu hết là bọn tính nết kỳ quặc. Hoạt động của môn phái phụ thuộc vào phụ nữ vì chính họ là những người cung cấp tài chính.
-       A! Chúng ta đã biết rõ. Bà có cho rằng đây là một vụ lường gạt không?
-       Thật thà mà nói, tôi cho là như vậy. Tôi có cớ để lo ngại. Người bạn gái khốn khổ của tôi đã tin tưởng vào tổ chức này nên chị vừa làm bản di chúc để lại toàn bộ gia tài cho môn phái ấy.
-       Chính hắn là người… gợi ý chứ?
-       Không phải. Đó là ý kiến của chị ấy. Người Đại Mục sư chỉ hướng cho chị một cách sống mới… theo đó thì sau khi chết mọi thứ ta có đều trở về với cội nguồn của chúng. Nhưng đây chưa phải là điều tôi lo lắng nhất.
-       Là điều gì vậy?
-       Trong số những người sùng đạo có rất nhiều phụ nữ giàu có. Năm ngoái đã có ba người trong số họ qua đời.
-       Và đã để lại toàn bộ gia sản cho môn phái.
-       Đúng.
-       Người nhà của họ không phản đối ư?
-       Đó là những người độc thân, những người không có bà con xa, gần, bạn bè. Chắc chắn là không có một sự phản kháng nào. Theo tin tức tôi thu lượm được thì những cái chết đó không có nghi vấn gì. Một người chết vì bệnh cảm cúm sau đó chuyển thành sưng phổi. Một người khác bị ung thư dạ dày. Không có gì đáng ngờ và họ không chết ở thánh đường Green Hill mà chết ở nhà. Tất cả đều là chuyện thường tình, tôi không băn khoăn gì, nhưng bây giờ… tóm lại… tôi không muốn chuyện đó xảy ra với Emmeline.
Poirot yên lặng suy nghĩ. Khi anh lên tiếng thì đó là bằng giọng nghiêm trang:
-       Bà có thể ghi tên, tuổi và địa chỉ những người trong môn phái ấy đã chết không? – Anh hỏi.
-       Chắc chắn là được.
-       Tôi tin chắc rằng bà rất can đảm và quyết đoán. Và bà cũng giỏi đóng kịch. Liệu bà có thể đảm nhận một công việc có thể gọi là khá nguy hiểm được không?
-       Không có gì làm tôi thích thú hơn!
-       Tôi cũng xin báo trước nếu có điều rủi ro gì xảy ra thì nó sẽ là rất ghê gớm. Chúng ta chẳng đã chạm trán với bọn mất trí, bọn trộm cướp đó sao? Chỉ có một cách là nắm chặt được sự việc. Đó là gia nhập môn phái ấy. Rất tốt nếu bà thổi phồng số tài sản bà có. Bà rất giàu và sống chẳng có mục đích gì cả. Bà nói chuyện với bà bạn Emmeline của bà về thứ tôn giáo mới này. Bà tìm cách tỏ ra mình ngốc nghếch. Bà ta sẽ thuyết phục bà. Bà sẽ được rủ đến thăm thánh đường Green Hill. Ở đấy bà sẽ bị thất bại vì tài dụ dỗ và lôi kéo của tên thầy thuốc Andersen. Tôi cho rằng tôi có thể hoàn toàn tin tưởng bà.
Bà Carnaby cười.
-       Tôi tin rằng mình sẽ thắng cuộc!


*


0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-24 15:35:23khachxa>
- Thế nào, anh bạn, anh bạn gặp tôi có việc gì vây?
- Đúng là có việc đấy – Poirot nhăn mặt trả lời thanh tra Japp – Tôi ghê tởm cái bọn lang băm tóc dài, nhồi sọ những người đàn bà bằng những lời dối trá. Những tên này đã có những đề phòng. Không dễ gì mà lật tẩy hắn.
- Nhưng anh đã biết những gì về viên thầy thuốc Andersen này?
- Đó là một nhà hóa học tương lai, nhưng hắn đã bị một trường đại học nào đó ở Đức đuổi cổ đi. Vì mẹ hắn là người Do Thái, hình như thế. Hắn thích thú những chuyện hoang đường và những tôn ggiáo phương Đông. Hắn để mọi thời gian rảnh rỗi vào việc nghiên cứu và đã viết được một vài cuốn sách về vấn đề này… Về phần tôi, tôi không hiểu gì cả.
- Có thể lão ta là một tên cuồng tín chăng?
-  Cái đó đối với tôi là quá rõ ràng.
- Có liên quan gì đến những tên và địa chỉ mà tôi đã cung cấp cho anh không?
- Không. Cả ở đây cũng vậy. Bà Everitt chết vì bệnh viêm ruột. Theo bác sĩ chữa bệnh cho bà thì không có gì đáng nghi ngờ. Bà Lloyd thì chết do bị sưng phổi. Lady Western bị bệnh lao. Bà này bị bệnh từ nhiều năm… trước khi gặp tên lang vườn này. Bà Lee bị sốt rét sau khi ăn món  xà-lách ở phía Bắc nước Anh. Ba người trong số họ ngã bệnh và chết tại nhà. Bà Lloyd qua đời tại một khách sạn ở miền trung nước Pháp. Thoạt nhìn thì không một cái chết nào liên quan đến Đại Mục sư. Có thể đây đơn giản chỉ là một sự ngẫu nhiên.
Hercule Poirot thở dài:
-       Tuy nhiên, anh bạn, tôi có cảm giác rằng đây giống như công việc thứ mười của Hercule và tên thày thuốc Andersen giống như con quỷ Geryon mà tôi có trách nhiệm trừ khử hắn.
Japp nhìn anh với vẻ nghi hoặc:
-       Poirot, anh nói xem, anh vẫn chưa rời được những cuốn sách lạ lùng thời cổ hay sao?
-       Bao giờ cũng vậy – Poirot nói với vẻ đĩnh đạc, những ý kiến của tôi cũng xuất phát từ thiện tâm.
-       Anh có thể đưa ra một tôn giáo mới với lời tụng: Không ai thông minh hơn Hercule Poirot. Amen!...

*
 
-       Tôi thấy công việc thật là kỳ diệu nhờ vào sự yên tâm và bình tĩnh của mình – Bà Carnaby thở dài nói.
-       Tôi đã nói điều đó với chị rồi – Bà Emmeline Clegg lưu ý.
Hai người bạn gái đang ngồi trên một sườn đồi dốc về phía biển màu xanh thẳm. Cỏ màu xanh ngọc, đất màu đỏ. Thánh đường Green Hills nhô ra trên một mỏm đất nhỏ nối với đất liền.
-       Đất đỏ… - Bà Clegg lẩm bẩm – Mảnh đất vinh quang và hứa hẹn ở đây hộ tống ba định mệnh.
-       Đức ngài đã có nhiều lời nói đẹp trong buổi lễ tối qua! – Bà Carnaby thì thào.
-       Hãy đợi đến buổi lễ tối nay, lễ Chăm bón đồng cỏ!
-       Tôi rất ngóng đợi, tôi thú nhận điều đó.
-       Chị sẽ thấy một cuộc thí nghiệm kỳ diệu.
Bà Carnaby đã tới thánh đường Green Hills vào tuần lễ trước. Bà đã nói với người bạn gái: Tại sao lại như thế. Emmeline, một người thông minh như chị v.v…
Khi tiếp xúc lần đầu tiên với thày thuốc Andersen bà đã chú ý nói rõ ràng mọi vấn đề:
-       Cha tôi là giáo đồ Nhà thờ Anh quốc và lòng tin của tôi không bao giờ phai nhạt. Tôi không tin vào một tôn giáo nào khác.
-       Bà thân mến, bà là bạn của bà Clegg và là vị khách nồng nhiệt theo danh nghĩa ấy. Nhưng xin bà hãy tin chúng tôi, tôn giáo của chúng tôi không phải là một tà giáo.
-       Nó rất tốt đẹp – Bà Carnaby nói với bạn như thế sau khi tạm biệt Đức ngài.
-       Phải, và với một tinh thần cao cả, kỳ diệu.
Bà Carnaby cảm thấy rõ ràng ảnh hưởng của cái tinh thần siêu đẳng ấy. Bà giật mình. Bà không tới đây để chịu thất bại vì cái ảo giác ma quái của tên Đại Mục sư này! Để từ bỏ những ám ảnh xấu, bà nhớ lại những lời của Hercule Poirot. Anh hiện ra từ chốn rất xa xăm…
-       Này! Hãy nhớ lại, mi tới đây để làm gì? – Bà lẩm bẩm.
Nhưng, ngày qua ngày, bà cảm thấy sự thú vị của Thánh đường. Sự yên tĩnh, êm dịu, thức ăn đơn giản nhưng rất ngon. Sự phục vụ ân cần và những bài thánh ca về tình yêu, tài hùng biện của Đức ngài thức dậy ở mỗi người cái đẹp, cái tao nhã của nhân loại… Tất cả đã xóa sạch và ném đi cái xấu xa của đời thường.
 Tối nay sẽ có buổi lễ lớn… Tối nay, Amy Carnaby sẽ được khai sáng và trở thành một con chiên trong đàn.

*

0
Buổi lễ được tiến hành trong một tòa nhà quét vôi màu trắng toát gọi là “Chuồng cừu Thiêng liêng” rửa tội cho những người mới gia nhập môn phái. Mọi tín đồ đều tập trung ở đây đúng vào lúc mặt trời vừa lặn. Họ được đứng trên một chiếc bục đặt giữa phòng và mang trên người một loại áo khoác bằng da cừu. Andersen khoác chiếc áo dài màu xanh lá cây, tay cầm một chiếc gậy mục đồng bằng vàng. Râu tóc màu vàng, mắt xanh, vẻ đẹp trai, dáng người cao lớn, hắn tỏ ra rất đường bệ.
Hắn nâng chiếc gậy chăn cừu lên, sự yên lặng tuyệt đối được thiết lập.
-       Các con chiên của ta đâu?
-       Chúng con đang ở đây, ôi Mục sư! – Các con chiên đồng thanh trả lời.
-       Sự vui mừng của sự biết ơn tràn ngập trong tim của các con. Đây là ngày hội của sự vui mừng.
-       Ngày hội của sự vui mừng và chúng con rất sung sướng.
-       Không còn lo âu đối với các con, không còn thống khổ đối với các con nữa. Chỉ có sự vui mừng!
-       Mục sư có bao nhiêu cái đầu?
-       Ba cái đầu: một cái bằng vàng, một cái bằng bạc và một cái bằng đồng.
-       Mục sư có bao nhiêu cơ thể?
-       Ba cơ thể: một cái bằng xương thịt, một cái bằng đạo lý và một cái bằng ánh sáng.
-       Các con cống hiến cho môn phái bằng gì?
-       Bằng máu.
-       Các con đã sẵn sàng chưa?
-       Đã sẵn sàng!
-       Các con hãy bịt mắt lại và đưa cánh tay phải ra.
Rất dễ bảo, các tín đồ bịt mắt bằng một dải vải xanh mang theo. Cũng như những người khác bà Carnaby đưa cánh tay trần ra.
Viên Đại Mục sư đi qua hàng người. Người ta nghe thấy những tiếng kêu nhỏ vì đau đớn hoặc  vì ngây ngất.
-       Thật là buồn cười! – Bà Carnaby tự nhủ – Chứng cuồng loạn tập thể này thật đáng thương. Ta phải bình tĩnh quan sát những phản ứng của người khác. Ta không muốn để họ ảnh hưởng tới ta… không muốn cái đó.
Viên Đại Mục sư đã đi đến trước mặt bà. Bà thấy người ta nắm lấy cánh tay mình. Cảm thấy một sự đau đớn bất chợt như bị đâm vào tay bằng một mũi kim.
-       Việc hiến máu sẽ mang lại sự vui vẻ! – Người chủ lễ nói.
Hắn đi tiếp.
Rổi một mệnh lệnh vang lên.
-       Bỏ khăn ra và hãy hưởng thụ khoái lạc tinh thần.
Bà Carnaby nhìn xung quanh và đi theo đoàn người rời khỏi chuồng cừu. Bà cảm thấy người nhẹ nhàng, sung sướng. Tại sao bà đã tự cho mình là một phụ nữ cao tuổi, sống vô ích và không được yêu đương? Cuộc đời thật là kỳ diệu… Bản thân bà cũng thật là kỳ diệu! Bà ngồi lên một chiếc ghế dài đặt trên thảm cỏ xanh nhìn những tín đồ khác đối với bà lúc này hình như đông đảo hơn.
Hình như cây cối cũng đang di chuyển…! Bà giơ tay lên với về đầy quyền lực. Bà thấy mình có thể chỉ huy cả thế giới. Cesar, Napoleon, Hitler ư? Những nhân vật tí hon khốn khổ!  Họ có gì đáng kể nếu đặt bên Amy Carnaby? Ngày mai bà sẽ lập lại hòa bình trên toàn thế giới, thiết lập tình hữu nghị quốc tế. Không còn chiến tranh, không còn nghèo khổ, bệnh tật nữa.
Bà Amy Carnaby sẽ làm việc này!
Nhưng đi đâu mà vội vàng. Thời gian là vô tận. Bà Carnaby thấy chân tay rời rã nhưng đầu óc thì nhẹ nhàng, dễ chịu. Bà ngủ. Nhưng vừa ngủ bà vừa lập những dự án vĩ đại… Những cánh đồng xanh trải rộng…. Những tòa nhà đồ sộ… Một thế giới mới, kỳ diệu…
Nhưng rồi dần dần cái thế giới thai nghén ấy bị chao đảo và nhà sáng tạo ngáp dài, duỗi thẳng tay chân tê dại. Chuyện gì đã xảy ra từ lúc chập tối đến giờ? Bà đã nằm mơ ư?
Trăng sáng, bà Carnaby có thể nhìn rõ mặt đồng hồ đeo tay. Kim chỉ mười giờ kém mười. Bà biết mặt trời lặn lúc tám giờ mười. Như thế từ lúc ấy đến giờ chỉ có một giờ ba mươi nhăm phút thôi ư? Không thể như vậy được! Và lúc này…
Thật là huyền hoặc!


*


0
- Bà cần làm theo những chỉ dẫn của tôi một cách rất cẩn thận – Hercule Poirot nói.
- Ồ, ông có thể hài lòng về tôi.
- Bà đã nói về ý định hiến tài sản cho môn phái rồi chứ?
- Phải, tôi đã nói với Đức ngài… xin lỗi, với ông Andersen, một cách phóng đại và cảm động. Tôi nói năng không kém cỏi lắm… Tôi có cảm giác rằng mình rất thật thà. Thày thuốc Andersen là người rất đáng mến, hấp dẫn.
- Tôi biết rõ chuyện này!
- Ông ấy nói: Hãy hiểu những gì bà có thể làm. Tiền nong không làm ông ấy quan tâm, đúng là như thế. Ông ấy trả lời tôi với nụ cười kỳ diệu chứa đựng một điều bí mật gì đó: “Nếu bà không có gì, cái đó cũng không quan trọng. Dù thế nào, bà cũng đã gia nhập môn phái”. Tôi trả lời: Ồ tôi có thể! Một người bà con xa đã để lại cho tôi một số tiền lớn. Tôi chỉ sờ đến nó một lần khi làm các thủ tục cần thiết. Nhưng tôi không còn một ai thân thiết, tôi quyết định lập di chúc cho môn phái.
- Hắn nhận vật tặng của bà một cách vui vẻ chứ?
- Ông ấy nhận với vẻ thờ ơ, ông ấy bảo: “Tôi cũng không thể sống lâu được. Một cuộc sống tràn đầy những hoan lạc tinh thần đang chờ đợi tôi”. Ông ấy nói bằng giọng rất cảm động.
- Bà có nói cho hắn biết tình trạng sức khỏe của mình không? – Poirot khô khan hỏi.
- Có. Tôi nói là tôi đã từng bị đau phổi nhưng sau một thời gian nằm bệnh viện thì phổi đã ổn định.
- Rất tốt!
- Tôi không hiểu tại sao tôi phải nói như vậy trong khi hai lá phổi tôi rất bình thường?
- Đây là điều rất cần thiết. Bà có nói chuyện về người bạn gái của mình không?
- Có. Tôi đã tiết lộ với bà ấy, trước đó đã bắt bà phải giữ bí mật, rằng Emmeline được thừa hưởng gia tài của chồng sẽ còn được hưởng một tài sản lớn của một bà cô thân thiết nữa.
- Hy vọng rằng cái đó sẽ đặt bà Clegg khỏi vòng nguy hiểm trong một thời gian nữa.
- Ồ! Ông Poirot, ông cho rằng ở đây có một điều gì đó là gian dối chăng?
- Đó là cái mà tôi đang cố công khám phá. Bà có gặp một ông Cole nào đó trong Thánh đường không?
- Có, có một người có tên như vậy vào những ngày cuối… Một con người kỳ dị. Ông ta mặc quần soóc màu xanh lá cây và chỉ ăn có mỗi món rau thôi. Đúng là một tên cuồng tín.
- Được! Cái đó tiến triển tốt. Tôi khen bà về công việc đã hoàn thành. Bây giờ, tất cả đã sẵn sàng cho những buổi lễ mùa thu.


*


-       Bà Carnaby, xin bà vui lòng cho tôi gặp bà một chút – Ông Cole đuổi theo chân bà, mắt đỏ ngầu.
-       Tôi có cảm giác… Tôi cần phải kể lại với bà!
Bà Carnaby thở dài. Ông Cole và những ảo giác của ông làm bà sợ hãi. Đôi khi bà có cảm giác rằng đây là một người điên.
Mắt đỏ, môi run rẩy, ông Cole thuật lại câu chuyện một cách vội vàng:
-       Tôi suy nghĩ, tôi trầm tư về sự hoàn mỹ của cuộc sống, về sự sung sướng của bất tử và tôi đã nhìn thấy… Tôi thấy mụ phù thủy Elie từ trên trời rơi xuống trần gian bằng một cỗ xe rực lửa.
Bà Carnaby thở dài yên tâm. Cái ảo giác cuối cùng của ông Cole là ông đã đi dự một đám cưới giữa một ông tiên với một bà tiên… và bà đã chú ý nghe…
-       … Ở trên ấy – Ông Cole vẫn nói – người ta đã lập hàng trăm bàn thờ. Có tiếng gọi tôi. “Nhìn đây! Nhìn và chứng kiến những cái gì mi đã thấy rõ. Những cô gái đồng trinh xinh đẹp và trần truồng sẵn sàng hy sinh…”
Ông ta tặc lưỡi và bà Carnaby đỏ mặt.
-       Những thày tu rút dao và xả thịt các nạn nhân của mình.
Bà Carnaby bỏ chạy. Bà đến bên Lipscomb, người coi sóc nơi ăn ở và góp phần làm tăng sự phồn vinh của Green Hills. Bà đi theo hắn ta, nói với hắn là bà đã đánh rơi đâu một chiếc bàn chải. Với bản tính ít giúp đỡ mọi người, hắn nói đây không phải là công việc của hắn và tìm cách tránh bà. Nhưng bà chỉ rời khỏi hắn khi gặp Đức ngài vừa ở chuồng cừu ra. Được khuyến khích bởi nụ cười của hắn, bà nói với hắn về Cole: “Ông ta đúng là… hoàn toàn là…”
Đức ngài đặt một bàn tay lên vai bà.
-       Hãy xua đuổi sự sợ hãi của con đi. Tình yêu hoàn toàn thì không biết sợ hãi…
-       Nhưng con có cảm giác rằng ông Cole bị điên rồi. Những ảo giác của ông…
-       Bằng cặp mắt trần tục ông ấy sẽ còn những ảo giác. Một ngày nào đó ông sẽ nhìn thấy đức tối cao một cách trực diện.
-       Nhưng tại sao ông Lipscomb lại tỏ ra thô bạo như vậy?  - Bà mạnh dạn hỏi.
Một lần nữa đức ngài lại cười rất tươi.
-       Lipscomb là một con chó giữ nhà trung thành. Đó là một tâm hồn hơi thô kệch… nguyên thủy… nhưng tuyệt đối trung thành.
Sau đó hắn bỏ đi. Bà Carnaby thấy hắn đến bên ông Cole, đặt tay lên vai ông. Liệu ảnh hưởng của đức ông có thể chữa được chứng bị các ảo giác ám ảnh của ông ta không?
Dù thế nào đi nữa chỉ còn một tuần lễ nữa là đến dịp lễ mùa thu rồi.


*


0
Buổi lễ mùa thu sẽ diễn ra vào buổi tối thì trưa hôm đó bà Carnaby gặp Hercule Poirot trong một quán trà ở Newton Woodbury. Người phụ nữ có tuổi này đỏ mặt và bối rối hơn mọi ngày.
Poirot đặt ra cho bà rất nhiều câu hỏi nhưng bà chỉ trả lời nhát gừng.
-       Có bao nhiêu người tham dự lễ? – Anh hỏi thêm.
-       Tôi cho rằng có đến một trăm hai mươi người, Emmerline cũng có mặt ở đấy và cả ông Cole nữa, chắc chắn là như thế. Ông ta có những ảo giác. Ông đã thuật lại một số. Tôi không tin. Tôi sợ rằng ông ta bị điên. Sau nữa cũng có đến hai chục người mới gia nhập môn phái.
-       Tốt! Bà biết rõ những công việc mình phải làm chứ?
Bà Carnaby không trả lời ngay và khi trả lời thì giọng nói của bà trở nên rất kỳ lạ:
-       Tôi hiểu những điều ông đã nói với tôi, ông Poirot…
-       Rất tốt!
-       Nhưng tôi sẽ không làm như vậy đâu – Bà nói thêm một cách rõ ràng, rành mạch.
Herucle Poirot kinh ngạc nhìn bà ta. Bà bất chợt đứng lên.
-       Ông bảo tôi tới đấy để dò xét thày thuốc Andersen – Bà nói với vẻ giận dữ – Ông nghi ngờ ông ta đã làm những chuyện bẩn thỉu. Nhưng ông ta là một con người kỳ diệu. Tôi tin ông ta với cả trái tim mình. Tôi không làm những việc đê hèn này đâu thưa ông! Tôi là một con chiên của môn phái. Tôi đã thuộc về Đức ngài. Tôi trả phần nước trà tôi đã dùng.
Bà ta ném tiền lên mặt bàn và đi ra khỏi quán trà như một luồng gió.
-       Của quỷ! – Hercule Poirot nói.
Cô phục vụ phải tới hai lần thì anh mới hiểu ra là cô đưa tờ giấy thanh toán. Rồi anh lại nhận ra cái nhìn ngạc nhiên của một người có vẻ cau có. Anh đỏ mặt, trả tiền rồi ra khỏi quán. Óc anh đang suy nghĩ rất dữ.
*
Một lần nữa các con chiên lại tập trung ở chuồng cừu linh thiêng. Người ta đã đọc những câu nói và trả lời.
-       Các con đã sẵn sàng chưa?
-       Đã sẵn sàng!
-       …
-       Các con hãy bịt mắt lại và đưa cánh tay phải ra.
Người Đại Mục sư lộng lẫy trong chiếc áo khoác màu xanh từ trên bục bước xuống. Người bị ảo tưởng và chỉ ăn rau, ông Cole đứng bên cạnh bà Carnaby, rên khẽ vì ngây ngất.
Người Đại Mục sư đến trước mặt người phụ nữ đứng tuổi và nắm lấy cánh tay bà.
-       Không! Không tiêm đâu!
Những câu nói lạ lùng, không ai biết được. Một tiếng chửi rủa, một tiếng thét giận dữ. Người ta bỏ băng vải bịt mắt… để nhìn cái cảnh không thể giải thích được này. Đức ngài đang giãy giụa trong vòng tay của ông Cole, người đang được một số con chiếc khoác áo da cừu giúp sức.
Những bóng người lạ từ cửa chuồng cừu thiêng liêng chạy vào, những người ăn vận đồng phục.
-       Cảnh sát! – Một người nào đó kêu lên – Họ bắt Mục sư!
Sợ hãi, kinh hoàng nổi lên… Với mọi người ở đây, mục sư là một người tử vì đạo, đau đớn như những nhà tiên tri trước một đám đông dốt nát…
Trong lúc ấy, thanh tra cảnh sát Cole gói cẩn thận chiếc ống tiêm dưới da vừa lấy ra khỏi tay tên Đại Mục sư.
*
0
Buổi lễ mùa thu sẽ diễn ra vào buổi tối thì trưa hôm đó bà Carnaby gặp Hercule Poirot trong một quán trà ở Newton Woodbury. Người phụ nữ có tuổi này đỏ mặt và bối rối hơn mọi ngày.
Poirot đặt ra cho bà rất nhiều câu hỏi nhưng bà chỉ trả lời nhát gừng.
-       Có bao nhiêu người tham dự lễ? – Anh hỏi thêm.
-       Tôi cho rằng có đến một trăm hai mươi người, Emmerline cũng có mặt ở đấy và cả ông Cole nữa, chắc chắn là như thế. Ông ta có những ảo giác. Ông đã thuật lại một số. Tôi không tin. Tôi sợ rằng ông ta bị điên. Sau nữa cũng có đến hai chục người mới gia nhập môn phái.
-       Tốt! Bà biết rõ những công việc mình phải làm chứ?
Bà Carnaby không trả lời ngay và khi trả lời thì giọng nói của bà trở nên rất kỳ lạ:
-       Tôi hiểu những điều ông đã nói với tôi, ông Poirot…
-       Rất tốt!
-       Nhưng tôi sẽ không làm như vậy đâu – Bà nói thêm một cách rõ ràng, rành mạch.
Herucle Poirot kinh ngạc nhìn bà ta. Bà bất chợt đứng lên.
-       Ông bảo tôi tới đấy để dò xét thày thuốc Andersen – Bà nói với vẻ giận dữ – Ông nghi ngờ ông ta đã làm những chuyện bẩn thỉu. Nhưng ông ta là một con người kỳ diệu. Tôi tin ông ta với cả trái tim mình. Tôi không làm những việc đê hèn này đâu thưa ông! Tôi là một con chiên của môn phái. Tôi đã thuộc về Đức ngài. Tôi trả phần nước trà tôi đã dùng.
Bà ta ném tiền lên mặt bàn và đi ra khỏi quán trà như một luồng gió.
-       Của quỷ! – Hercule Poirot nói.
Cô phục vụ phải tới hai lần thì anh mới hiểu ra là cô đưa tờ giấy thanh toán. Rồi anh lại nhận ra cái nhìn ngạc nhiên của một người có vẻ cau có. Anh đỏ mặt, trả tiền rồi ra khỏi quán. Óc anh đang suy nghĩ rất dữ.


*


Một lần nữa các con chiên lại tập trung ở chuồng cừu linh thiêng. Người ta đã đọc những câu nói và trả lời.
-       Các con đã sẵn sàng chưa?
-       Đã sẵn sàng!
-       …
-       Các con hãy bịt mắt lại và đưa cánh tay phải ra.
Người Đại Mục sư lộng lẫy trong chiếc áo khoác màu xanh từ trên bục bước xuống. Người bị ảo tưởng và chỉ ăn rau, ông Cole đứng bên cạnh bà Carnaby, rên khẽ vì ngây ngất.
Người Đại Mục sư đến trước mặt người phụ nữ đứng tuổi và nắm lấy cánh tay bà.
-       Không! Không tiêm đâu!
Những câu nói lạ lùng, không ai biết được. Một tiếng chửi rủa, một tiếng thét giận dữ. Người ta bỏ băng vải bịt mắt… để nhìn cái cảnh không thể giải thích được này. Đức ngài đang giãy giụa trong vòng tay của ông Cole, người đang được một số con chiếc khoác áo da cừu giúp sức.
Những bóng người lạ từ cửa chuồng cừu thiêng liêng chạy vào, những người ăn vận đồng phục.
-       Cảnh sát! – Một người nào đó kêu lên – Họ bắt Mục sư!
Sợ hãi, kinh hoàng nổi lên… Với mọi người ở đây, mục sư là một người tử vì đạo, đau đớn như những nhà tiên tri trước một đám đông dốt nát…
Trong lúc ấy, thanh tra cảnh sát Cole gói cẩn thận chiếc ống tiêm dưới da vừa lấy ra khỏi tay tên Đại Mục sư.


*


0
Poirot nắm chặt bàn tay của bà Carnaby và giới thiệu bà với thanh tra cảnh sát Japp.
-       Đây là người cộng tác can đảm của tôi!
-       Hạng nhất rồi, thưa bà – Japp nói – Không có bà thì chúng tôi không làm được gì.
-       Trời! Ông thật đáng mến. Nhưng, ông thấy tôi đang gần tới chỗ dễ chịu. Tôi gần như sắp trở thành những mụ điên khùng đấy! Trong quán trà có lúc tôi thấy quá kinh khủng. Tôi không biết phải xử trí ra sao nữa. Tôi đã phải tùy cơ ứng biến.
-       Bà thật là tuyệt diệu – Poirot nói nồng nhiệt – Có lúc tôi nghĩ ai trong chúng ta là người mất trí, vài giây đồng hồ sau tôi hiểu ra sự trung thực của bà.
-       Tôi đã bị một cú choáng mạnh khi qua chiếc gương soi tôi thấy tên Lipscomb đang ngồi phía sau tôi. Tôi chưa biết đây là hắn đi theo tôi hay chỉ là ngẫu nhiên. Tôi đã nói với ông đây là sự ứng phó của tôi và tin rằng ông hiểu được.
Poirot cười.
-       Tôi hiểu ngay sau đó. Đó là người độc nhất ngồi gần chúng ta để có thể nghe được câu chuyện. Khi ra khỏi quán tôi đã cho người theo dõi hắn. Khi biết rằng hắn trở về Thánh đường, tôi biết là bà không bỏ rơi tôi… Nhưng tôi vẫn sợ sự nguy hiểm sẽ đến với bà.
-       Tôi gặp sự nguy hiểm ư? Trong ống tiêm có gì vậy?
-       Tôi nói hay anh nói đây? – Japp hỏi.
-       Thưa bà – Poirot nói – Tên thày thuốc Andersen này đã bắt tay vào việc thiết lập một tổ chức giết người theo khoa học rất lỗi lạc. Hắn như đã để hết thời gian vào nghiên cứu vi khuẩn học. Dưới một cái tên khác ở Sheffield, hắn có một phòng nghiên cứu việc cấy những vi khuẩn khác. Hắn tiêm vào tín đồ một lượng nhỏ cần sa đủ gây cảm giác sung sướng, cái sung sướng mà đức tối cao đã hứa với các tín đồ.
-       Cái cảm giác thật là tuyệt vời – Bà Carnaby nói thêm.
-       Đây chỉ là một dạng tác động của nó thôi. Nhờ vào vẻ bên ngoài của mình và tác dụng của chất ma túy hắn đã gây được sự cuồng loạn tập thể có ích cho những ý đồ của hắn. Nhưng chỉ có phụ nữ vì sùng đạo, vì lòng biết ơn, đã lập di chúc cho môn phái thừa kế gia sản của mình thôi. Họ qua đời. Những cái chết bình thường, không uẩn khúc gì. Tôi sẽ không nói sâu về mặt khoa học với bà. Bà chỉ cần biết là người ta có thể tiêm vào cơ thể con người vi khuẩn thương hàn, vi khuẩn lao. Vi khuẩn lao vào một người khỏe mạnh thì không việc gì, nhưng vào một người đã từng nhiễm lao phổi… thì người đó sẽ chết mà không gây cho bác sĩ chữa bệnh một nghi vấn nào. Bà đã nói với hắn là bà đã từng mắc bệnh lao phổi. Chính ống tiêm đó chứa vi khuẩn lao. Hai lá phổi khỏe thì không nhiễm bệnh. Nhưng tôi sợ hắn tiêm vào người bà một loại vi khuẩn khác. Tôi kính phục lòng can đảm của bà và tôi đã để bà thử thách rủi ro…
-       Thật là hoàn hảo! Tôi thích thử thách với rủi ro. Tôi chỉ sợ mỗi bò tót thôi. Nhưng các ông đã có đủ chứng cớ để nhốt con quỷ dữ ấy không?
-       Ồ! Nhiều hơn nữa là khác – Japp trả lời – Chúng tôi đã khám phòng thí nghiệm và các dụng cụ linh tinh của lão!
-       Chắc chắn là hắn còn gây ra nhiều tội ác khác nữa – Poirot nói – Hắn không bị đuổi khỏi trường đại học nào ở Đức vì mẹ là người Do Thái. Đó chỉ là điều lừa bịp để gây cảm tình thôi.
Bà Carnaby thở dài.
-       Có chuyện gì vậy?
-       Tôi nghĩ đến giấc mơ trong buổi lễ thứ nhất… nhờ vào chứng cuồng loạn, tôi giả thiết là như vậy. Tôi thu xếp thế giới vào một cách rất tuyệt diệu! Không có chiến tranh, bệnh tật, những sự xấu xa, sự nghèo khổ.
-       Là mộng thì thật dễ chịu rồi – Japp nói vui.
Bất chợt bà giật mình.
-       Tôi phải về nhà. Emmeline đang lo lắng. Và hình như tôi vắng mặt quá lâu đối với con Auguste.
-       Chắc chắn là nó cũng nghĩ như Emmeline rằng bà đã chết vì Hercule Poirot đấy.
0
MỘT CHUYỆN TÌNH




Hercule Poirot giậm chân, thổi vào những đầu ngón tay cho ấm. Những mẩu tuyết trên ria mép anh đang tan thành nước.
Anh đập cửa và một người đàn bà hiện ra. Đó là một người phụ nữ nông thôn mạnh khỏe đang nhìn Hercule  Poirot với vẻ lạ lùng. Chắc hẳn là bà chưa bao giờ thấy một người nào giống anh.
-       Ông đã gọi cửa? – Bà ta hỏi.
-       Đúng. Xin bà cho nhóm lò sưởi.
Người đàn bà đi ra và quay trở lại với một ít củi khô và giấy vụn trên tay, quỳ trước lò sưởi và bắt đầu nhóm lò.
Hercule Poirot tiếp tục giậm chân và thổi ấm những đầu ngón tay. Anh đang lo ngại. Chiếc xe hơi của anh, một chiếc Mesaro Gratz đắt tiền, máy móc chưa đủ hoàn thiện theo đòi hỏi. Người lái xe của anh, một chàng trai được trả công hậu hĩnh, đang mày mò sửa chữa. Chiếc xe vẫn không chịu nhúc nhích trên con đường nhỏ cách đây hai kilomet, trong khi tuyết bắt đầu rơi. Nhà thám tử, đi đôi giày lịch sự đánh xi láng bóng, đã buộc phải đi bộ tới Hartly Dene, một ngôi làng nhộn nhịp vào mùa hè và hôn mê vào mùa đông này. Quán “Thiên Nga Đen” gần như hốt hoảng khi đón vị khách bất ngờ mới tới. Chủ quán cứ suy nghĩ mãi mà không hiểu tại sao ông khách không thuê một chiếc xe khác có sẵn trong cửa hàng cho thuê và sửa chữa xe trong làng để tiếp tục cuộc hành trình của mình.
Hercule Poirot cũng đã từ chối lời gợi ý không phù hợp với quan niệm về tiết kiệm của anh. Thuê một chiếc xe hơi? Anh cũng đã có một chiếc xe to, lịch sự. Và anh chỉ muốn đi đường với chiếc xe này chứ không phải với chiếc xe khác. Nếu việc sửa chữa được nhanh chóng thì nó cũng không thể chạy dưới trời tuyết rơi dầy đặc như thế này trước sáng ngày kia. Tuy không muốn, nhưng chủ quán vẫn phải xếp một phòng ngủ cho anh và cử một người phục vụ nhóm lò sưởi và chuẩn bị bữa ăn.
Một tiếng đồng hồ sau, chân duỗi thẳng trước lửa ấm, Hercule Poirot  nghĩ tới bữa ăn mà anh sắp dùng. Thịt bò rán chắc vô vị, khoai tây rắn như đá, còn pho mát thì không mềm và bánh bích quy thì không giòn. Lúc này Hercule Poirot đang nhìn lửa cháy và nghĩ, dù sao vẫn còn tốt hơn là lội trên tuyết với đôi giày đánh xi như thế này.
Có tiếng gõ cửa và bà phục vụ bước vào:
-       Thưa ông, có người ở xưởng sửa chữa xe muốn gặp ông.
-       Cho người ấy vào – Hercule Poirot trả lời bằng một giọng thân mật.
Người đàn bà đi ra. Nhà thám tử khoan dung nghĩ đây có thể là một đề tài bà ta có thể kể lại với bạn bè trong những ngày đông.
Có tiếng gõ cửa rụt rè.
-       Mời vào! – Poirot nói.
Một chàng trai xuất hiện. Vụng về, anh đứng ở ngưỡng cửa, tay xoay chiếc mũ cát két. Nhìn anh, Poirot tự nhủ là mình chưa bao giờ được ngắm một người đẹp đến như vậy. Một vị thần Hy Lạp ở con người ấy chăng?
-       Đó là vấn đề chiếc xe, thưa ông – Chàng trai nói bằng một giọng lơ đãng – Đã biết rõ vì sao nó không chạy được. Phải mất một tiếng đồng hồ để sửa chữa.
-       Hỏng gì vây?
Chàng trai hào hứng kể về những chi tiết kỹ thuật. Poirot gật đầu nhưng anh không hiểu gì cả. Sự hoàn thiện trong vẻ đẹp thể chất của anh là cái mà Poirot chú ý. Phải, anh tự nhủ, một người đáng mến, một vị thần Hy Lạp, một chàng chăn cừu Arcadie. Và chàng trai ngừng bặt.
Hercule Poirot chau mày. Cảm giác đầu tiên của anh hoàn toàn mới về phương diện thẩm mỹ…
-       Tôi hiểu – Anh nói – Phải tôi hiểu rõ. Người lái xe của tôi đã giải thích về những cái đó rồi.
Anh nhìn thấy mặt chàng trai đỏ lựng, tay nắm chặt chiếc mũ.
-       Vâng, thưa ông – Anh ta lắp bắp – Tôi hiểu…
-       Nhưng – Nhà thám tử nói dịu dàng – Anh thấy tốt hơn là trực tiếp nói với tôi những điều đó ư?
-       À… vâng, thưa ông, tôi thấy như vậy là tốt hơn cả.
-       Anh rất tận tâm. Xin cảm ơn anh.
0
Vì những lời cuối cùng của anh ta nói với giọng kéo dài nên Poirot tin rằng câu chuyện nói trên của anh ta không quan trọng gì. Anh không lầm. Chàng trai không động đậy. Anh ta vẫn vò chiếc mũ cát-két.
-       Ôi… Xin ông tha lỗi, thưa ông, nhưng có đúng ông là một nhà thám tử, có đúng ông là Hercule Poirot không?
-       Đúng!
Chàng trai trở nên vui vẻ.
-       Tôi đã đọc những bài báo nói về ông
-       A! Vậy ư?
Người ta có thể đọc thấy trong mắt chàng trai một vẻ buồn phiền. Hercule Poirot cảm thấy thương hại vì muốn giúp đỡ anh ta.
-       Thế nào? Anh nói đi. Anh muốn hỏi tôi điều gì?
Và những lời nói dồn dập:
-       Thưa ông, có thể ông cho tôi là lố bịch, nhưng thực ra tôi không thể bỏ lỡ dịp may như thế này. Do đã được đọc những câu chuyện ly kỳ về ông, tôi tự nhủ mình có thể hỏi ý kiến ông. Liệu ông có điều gì phật ý trong việc này không?
Hercule Poirot lắc đầu.
-       Anh muốn tôi giúp đỡ anh bằng cách nào đó.
-       Vâng – Chàng trai trả lời bằng giọng nhỏ nhẹ và vội vàng – Đó là vấn đề một cô gái… Nếu… nếu ông có thể tìm lại được cô ấy…
-       Tìm lại cô ta ư? Cô ta mất tích sao?
-       Thưa ông, vâng.
-       Có thể là tôi sẽ giúp anh – Poirot xác nhận – Nhưng trước hết anh phải yêu cầu cảnh sát đã. Đó là nghề nghiệp của họ và họ có nhiều điều kiện hơn tôi.
-       Tôi không thể, thưa ông. Đây là câu chuyện riêng tư.
Hercule Poirot chăm chú nhìn anh ta rồi chỉ vào một chiếc ghế.
-       Thế thì mời anh ngồi xuống. Tên anh là gì?
-       Williamson, thưa ông, Ted Williamson.
-       Ted, mời anh ngồi xuống và nói cho tôi nghe câu chuyện của anh đi.
-       Xin cảm ơn ông.
Chàng trai cẩn thận ngồi xuống mép ghế và ngước cặp mắt đáng thương nhìn Poirot.
0
- Nói đi – Nhà thám tử giục với giọng hiền từ.
Anh ta thở ra một hơi dài.
- Thế này, thưa ông. Tôi chỉ gặp cô ấy có mỗi lần ấy. Tôi cũng không biết tên thật của cô ấy là gì, nhưng lá thư của tôi đã được gửi trả lại và sau đó…
- Hãy kể từ đầu. Anh đừng vội vàng. Chỉ kể những chuyện gì đã xảy ra thôi.
- Thưa ông, vâng. Thế này. Hẳn là ông biết lâu đài Crasslawn, tòa nhà lớn bên sông, phải, bên kia cầu.
- Không, tôi không biết.
- Tòa nhà ấy là của ngài George Sanderfield. Nó được dùng làm nơi nghỉ cuối tuần và nơi tổ chức những buổi chiêu đãi. Ở đây không buồn chút nào! Có những nữ nghệ sĩ và mọi thứ. Tóm lại, lúc ấy vào tháng sáu… máy thu thanh bị hỏng và người ta cử tôi đến để sửa chữa. Tôi tới nơi. Ngài George đang chơi thuyền với khách khứa và người đầu bếp phải đi theo để sửa soạn đồ uống. Trong nhà nghỉ có cô gái ấy… đó là cô hầu phòng của một trong những bà khách. Cô ấy chỉ cho tôi chiếc máy thu thanh và ở lại bên tôi trong khi tôi làm việc. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện… Cô ấy nói với tôi tên cô ta là Nita và bà chủ của cô là một vũ nữ người Nga.
- Cô ta quốc tịch gì? Anh quốc ư?
- Không, thưa ông, cô ấy là người Pháp, tôi cho là như thế. Giọng cô hơi lơ lớ. Nhưng cô nói tiếng Anh rất thạo. Cô ấy… cô ấy rất đáng mến, và chỉ một lát sau tôi đã hỏi cô là tối nay cô có thể cùng tôi đi xem chiếu bóng được không. Cô ấy trả lời rằng chủ cô chắc là sẽ cần đến cô, nhưng có thể thu xếp để có thể được tự do từ tối nay vì mọi người chắc chắn chưa về nhà vào lúc chiều được. Tóm lại, tôi đã để cả buổi chiều không xin phép chủ xưởng (điều này có thể làm cho tôi mất việc làm) để đi chơi với cô ấy trên bờ sông.
Anh ngừng nói. Một nụ cười thoáng trên môi và đôi mắt thì mơ màng.
- Và cô ta rất đẹp, phải không? – Poirot dịu dàng hỏi.
- Người ta không thể tưởng tượng được là có ai đẹp hơn, thưa ông. Tóc như những sợi tơ vàng, xõa sang hai bên như đôi cánh… và cái cách đi đứng rất vui vẻ, nhẹ nhàng. Tôi… tôi yêu ngay cô ấy khi mới thoạt nhìn, thưa ông. Tôi không thể nào nói khác được.
Poirot ngắc đầu xác nhận.
- … Thế rồi – Chàng trai nói tiếp – Cô ấy bảo tôi rằng bà chủ cô dự định rời khỏi đây trong mười lăm ngày nữa và chúng tôi quyết định sẽ gặp lại nhau – Anh ngừng nói – Nhưng sau đó cô ấy đã không tới. Tôi đã đợi ở nơi hẹn mà không thấy cô. Thế là tôi quyết định tới nhà để hỏi cho rõ. Bà người Nga còn đang ở đấy và cô hầu phòng của bà cũng vậy, người ta bảo tôi thế. Người ta đã gọi cô hầu phòng. Nhưng khi người này xuất hiện thì đó không phải là Nita! Một cô gái da ngăm đen chạm trán với tôi! Anh muốn gặp tôi ư? Cô ta bối rối hỏi tôi. Chắc chắn là cô ta thấy tôi sửng sốt. Tôi nói với cô là không phải cô mà là cô hầu phòng khác của bà người Nga. Thế là cô ta bật cười. Cô kia vừa được cho thôi việc rồi. Cho thôi việc ư? Tôi nhắc lại. Vì sao kia chứ? “Này thưa ông, ông làm tôi ngạc nhiên”. Lúc này tôi chẳng biết nói gì thêm nữa. Sau đó, tôi quay trở lại gặp cái cô Marie da ngăm đen ấy và xin cô địa chỉ của Nita. Tôi không nói là tôi không biết họ của Nita. Tôi hứa là tôi sẽ biếu cô ta một cái gì đó nếu cô ta cho tôi địa chỉ. Đây không phải là loại người giúp việc không công. Cuối cùng thì cô ta cũng cho tôi địa chỉ ở Londres. Tôi đã viết thư cho Nita. Nhưng lá thư đã được gửi trả lại kèm theo dòng chữ của trạm bưu điện ghi trên phong bì: “Không còn ở địa chỉ này nữa”.
Ted Williamson ngừng bặt và nhìn thẳng vào Poirot bằng cặp mắt tối sầm.
- … Ông cho chuyện này là thế nào, thưa ông? Đây không phải là công việc của cảnh sát. Nhưng tôi muốn gặp lại cô ấy. Tôi không biết phải làm thế nào. Nếu… nếu ông có thể tìm cô ấy giúp tôi – Mặt anh ta ửng đỏ – Tôi… tôi dành dụm được ít tiền. Tôi có thể bỏ ra năm bảng Anh… nếu cần thì mười…
- Đừng có nói đến tiền nong lúc này – Poirot thân mật nói – Chúng ta hãy suy nghĩ đã: cô gái tên là Nita ấy. Cô ta biết tên anh và biết anh làm việc ở đâu chứ?
- Cô ấy biết, thưa ông.
- Cô ta có thể viết thư cho anh nếu cô ta muốn chứ?
Lần này thì Ted trả lời chậm chạp hơn:
- Thưa ông, vâng.
- Vậy anh không nghĩ rằng… có thể là…
Chàng trai ngắt lời anh.
- Ông muốn nói rằng tôi yêu cô ấy còn cô thì không yêu tôi phải không, thưa ông? Về mặt nào đó mà nói thì có thể là như vậy… nhưng, cô ấy mến tôi… cô ấy mến tôi… đây không phải là chuyện vui đùa trong chốc lát… và, thưa ông, tôi nghĩ rằng có một lý do nào đó sau câu chuyện này. Cô ấy sống giữa đám người lạ lùng. Có thể là cô ấy đang mắc kẹt chuyện gì đó, nếu ông muốn biết tôi đang nghĩ gì.
- Anh muốn nói rằng cô ta đang chờ đợi một cháu bé ư? Nó là con anh ư?
- Nếu có thì không phải đó là con tôi, thưa ông! – Ted trả lời – Chúng tôi không làm chuyện gì quá trớn.
Poirot nhìn anh, nghĩ ngợi.
- Cho dù cô ta có con… thì anh vẫn cứ muốn gặp lại cô ta ư?
- Vâng! Không có gì là phức tạp cả. Tôi muốn cưới cô ấy, nếu cô muốn. Và cái khó khăn của cô cũng không làm tôi thay đổi ý kiến. Ông có muốn tìm cô ấy giúp tôi không, thưa ông?
Hercule Poirot cười.
- Tóc xõa ra như đôi cánh bằng vàng – Poirot lẩm bẩm – Phải, hình như đây là công việc thứ ba của Hercule… nếu là nhớ không nhầm thì chuyện này xảy ra ở Arcadie…
Herucle Poirot cau mày đọc mảnh giấy mà Ted Williamson đã ghi cho anh một tên người và bên dưới là một địa chỉ.
- Cô Valetta, số nhà mười bảy, phố Upper Renfrew Lane.
Liệu anh có biết thêm điều gì với cái địa chỉ này không? Anh nghi ngờ cái đó. Nhưng Ted không thể cho anh một tài liệu nào khác.
*
0
«« « 1 2 3 4 » »»