<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-21 05:36:00khachxa>
Agatha Christie
Thám tử Hercule Poirot
Truyện trinh thám
Người dịch: Trần Bình
Nhà Xuất bản Công an Nhân dân - 2004

SỰ BIẾN MẤT CỦA ÔNG DAVENHEIM
Poirot và tôi ngồi bên bàn nước đợi thanh tra cảnh sát Japp, một người bạn cũ, đã hẹn tới uống trà cùng chúng tôi.
Một tiếng động khô khan tiếp liền việc đến đột ngột của Japp.
- Hy vọng rằng tôi không tới muộn, anh chào chúng tôi và nói tiếp, không giấu giếm gì các anh, tôi phải làm việc với Miller, ông thanh tra phụ trách vụ Davenheim.
Tôi giỏng tai lên nghe. Từ ba ngày nay, báo chí đều đăng tin về vụ biến mất lạ lùng của ông Davenheim, một thành viên quan trọng của hãng Davenheim và Salomon gồm những nhà tài phiệt và chủ ngân hàng danh tiếng. Ông đi khỏi nhà hôm thứ bảy tuần trước và cho đến nay vẫn chưa trở về. Tôi nóng lòng muốn nghe ở Japp một vài chi tiết bổ ích.
- Tôi cho rằng – Tôi nói – Không thể có chuyện biến mất trong thời buổi này được.
Poirot đẩy chiếc đĩa đựng những chiếc bánh rán nhỏ phết bơ ra và hăng hái nói:
- Hãy nói cụ thể, anh bạn. Anh hiểu biến mất là thế nào? Anh đang nói đến loại biến mất nào đây?
- Những vụ biến mất đều đã được phân loại và dãn nhãn ư? – Tôi cười và hỏi lại.
- Nhưng đúng là chúng đã được làm như vậy. Chúng gồm ba loại: loại thứ nhất, loại thường được biết đến, là biến mất một cách cố ý; thứ hai đó là do sự mất trí và mất nhân cách, trường hợp hiếm nhưng vẫn xảy ra; thứ ba là giết người, thủ tiêu xác chết ít nhiều không khéo. Anh cho rằng không có những trường hợp ấy ư?
- Phải, gần như không thể. Người ta có thể mất trí, nhưng chắc chắn rằng đến một ngày nào đó người ta nhận ra anh, nhất là đối với một nhân vật quan trọng như Davenheim. Sau nữa, đối với thi hài, người ta không thể cho nó bay vào không trung được, sớm hoặc muộn chúng cũng phải ra khỏi nơi ẩn giấu, từ một chiếc hòm hay từ một góc rừng… vụ giết người được khám phá. Với những phương tiện giao thông hiện đại người ta cũng chẳng đã bắt được những người chạy trốn ra nước ngoài đó sao? Những nhà ga, những bến cảng được canh chừng chặt chẽ…
- Bạn thân mến – Poioirot nói – Anh đã nhầm. Anh không hiểu được trí xảo của một người muốn thủ tiêu một người khác, hoặc thủ tiêu mình, tuy rằng ít khi xảy ra,là một người có phương pháp. Hắn có thể dùng toàn bộ trí khôn và tất cả tài năng cần thiết vào công việc để tính toán cẩn thận tới từng chi tiết nhỏ: và trong trường hợp ấy thì tại sao hắn không thể đánh lừa được cảnh sát?
- Đánh lừa được cảnh sát thì có thể, nhưng còn anh? – Japp nói với giọng đầy nhiệt thành và cặp mắt tỏ vẻ ranh mãnh – Người ta không thể làm cho Hercule Poirot nhầm lẫn được.
Nhà thám tử cố gắng tỏ ra khiêm tốn:
- Có thể chứ, đối với tôi cũng vậy thôi. Tại sao lại không? Đúng là tôi tiếp cận loại vấn đề này với một khoa học chính xác, một sự xác định toán học mà than ôi rất hiếm thấy ở những thám tử trong thế hệ mới này.
Japp cười hớn hở:
- Có thể là như vây. Nhưng Miller phụ trách việc này là một tay lão luyện trong nghề. Anh có thể tin chắc rằng không một dấu tay nào, không một chút tàn thuốc lá, một vụn bánh mì, một vết bùn trên thảm chùi chân hoặc một sợi lông mèo ở dưới gầm giường nào có thể lọt qua mắt ông ta. Anh không thể không công nhận giá trị của những chi tiết nhỏ chứ?
- Không bao giờ. Những cái đó đều rất có ích, mỗi thứ về một phương diện. Nguy hiểm là chúng được quá coi trọng hơn bản thân chúng. Hầu hết những chi tiết đều vô nghĩa; chỉ một hoặc hai cái có tầm quan trọng căn bản mà thôi. Đó là bộ óc, là chất xám… - Anh vỗ vào trán – mà ta phải tính đến. Cảm giác thường bị nhầm. Sự thật biểu hiện ở trong chứ không phải ở ngoài chúng ta.
- Pooirot, liệu anh có thể nói rằng anh có thể khám phá ra một vụ mà không rời khỏi ghế ngồi không?
- Có chứ, đây đúng là điều tôi muốn nói. Tôi sẽ làm với điều kiện là người ta cho tôi biết rõ mọi sự kiện. Tôi coi mình là một nhà chuyên môn để người ta tra vấn.
Japp xoa tay với một vẻ tinh anh.
- Tôi muốn bị treo cổ nếu không nhận lời anh, Poirot. Tôi đánh cuộc năm bảng Anh rằng anh không thể đặt tay, hoặc làm cho tôi đặt tay, vào ông Davenheim, dù còn sống hay đã chết, trong một tuần lễ, kể từ ngày hôm nay.
- Hừ… Một tuần lễ, anh nói như thế chứ?
- Phải, bảy ngày, bắt đầu từ chiều nay.
- Rõ, anh bạn, tôi nhận. Thể thao, đó là cái thú của các anh, những người Ăng-lê. Và bây giờ nếu anh muốn cung cấp cho tôi những sự kiện.
- Thứ bảy tuần trước, theo thói quen, ông Daveiheim từ Victoria, đi chuyến xe lửa mười hai gờ bốn mươi đến Chingside, nơi ông có ngôi nhà ở vùng Cèdres. Sau bữa ăn trưa, ông đi dạo và chỉ bảo công việc cho những người làm vườn. Mọi người đều nói ông ở trạng thái tuyệt đối bình thường. Sau khi dùng trà, ông mở cửa buồng của bà vợ nói là ông đi vào làng để bỏ một vài lá thư vào thùng thư bưu điện. Ông nói thêm là ông đang đợi một ông Lowen nào đó vì ông phải dẫn khách vào văn phòng và nói ông này đợi mình. Ông Davenheim đi ra bằng cửa lớn, bước chậm chạp trên lối đi chính rồi ra khỏi cổng và sau đó người ta không thấy ông đâu nữa. Từ lúc ấy, ông ta tan biến trong giới tự nhiên.
Thám tử Hercule Poirot
Truyện trinh thám
Người dịch: Trần Bình
Nhà Xuất bản Công an Nhân dân - 2004

SỰ BIẾN MẤT CỦA ÔNG DAVENHEIM
Poirot và tôi ngồi bên bàn nước đợi thanh tra cảnh sát Japp, một người bạn cũ, đã hẹn tới uống trà cùng chúng tôi.
Một tiếng động khô khan tiếp liền việc đến đột ngột của Japp.
- Hy vọng rằng tôi không tới muộn, anh chào chúng tôi và nói tiếp, không giấu giếm gì các anh, tôi phải làm việc với Miller, ông thanh tra phụ trách vụ Davenheim.
Tôi giỏng tai lên nghe. Từ ba ngày nay, báo chí đều đăng tin về vụ biến mất lạ lùng của ông Davenheim, một thành viên quan trọng của hãng Davenheim và Salomon gồm những nhà tài phiệt và chủ ngân hàng danh tiếng. Ông đi khỏi nhà hôm thứ bảy tuần trước và cho đến nay vẫn chưa trở về. Tôi nóng lòng muốn nghe ở Japp một vài chi tiết bổ ích.
- Tôi cho rằng – Tôi nói – Không thể có chuyện biến mất trong thời buổi này được.
Poirot đẩy chiếc đĩa đựng những chiếc bánh rán nhỏ phết bơ ra và hăng hái nói:
- Hãy nói cụ thể, anh bạn. Anh hiểu biến mất là thế nào? Anh đang nói đến loại biến mất nào đây?
- Những vụ biến mất đều đã được phân loại và dãn nhãn ư? – Tôi cười và hỏi lại.
- Nhưng đúng là chúng đã được làm như vậy. Chúng gồm ba loại: loại thứ nhất, loại thường được biết đến, là biến mất một cách cố ý; thứ hai đó là do sự mất trí và mất nhân cách, trường hợp hiếm nhưng vẫn xảy ra; thứ ba là giết người, thủ tiêu xác chết ít nhiều không khéo. Anh cho rằng không có những trường hợp ấy ư?
- Phải, gần như không thể. Người ta có thể mất trí, nhưng chắc chắn rằng đến một ngày nào đó người ta nhận ra anh, nhất là đối với một nhân vật quan trọng như Davenheim. Sau nữa, đối với thi hài, người ta không thể cho nó bay vào không trung được, sớm hoặc muộn chúng cũng phải ra khỏi nơi ẩn giấu, từ một chiếc hòm hay từ một góc rừng… vụ giết người được khám phá. Với những phương tiện giao thông hiện đại người ta cũng chẳng đã bắt được những người chạy trốn ra nước ngoài đó sao? Những nhà ga, những bến cảng được canh chừng chặt chẽ…
- Bạn thân mến – Poioirot nói – Anh đã nhầm. Anh không hiểu được trí xảo của một người muốn thủ tiêu một người khác, hoặc thủ tiêu mình, tuy rằng ít khi xảy ra,là một người có phương pháp. Hắn có thể dùng toàn bộ trí khôn và tất cả tài năng cần thiết vào công việc để tính toán cẩn thận tới từng chi tiết nhỏ: và trong trường hợp ấy thì tại sao hắn không thể đánh lừa được cảnh sát?
- Đánh lừa được cảnh sát thì có thể, nhưng còn anh? – Japp nói với giọng đầy nhiệt thành và cặp mắt tỏ vẻ ranh mãnh – Người ta không thể làm cho Hercule Poirot nhầm lẫn được.
Nhà thám tử cố gắng tỏ ra khiêm tốn:
- Có thể chứ, đối với tôi cũng vậy thôi. Tại sao lại không? Đúng là tôi tiếp cận loại vấn đề này với một khoa học chính xác, một sự xác định toán học mà than ôi rất hiếm thấy ở những thám tử trong thế hệ mới này.
Japp cười hớn hở:
- Có thể là như vây. Nhưng Miller phụ trách việc này là một tay lão luyện trong nghề. Anh có thể tin chắc rằng không một dấu tay nào, không một chút tàn thuốc lá, một vụn bánh mì, một vết bùn trên thảm chùi chân hoặc một sợi lông mèo ở dưới gầm giường nào có thể lọt qua mắt ông ta. Anh không thể không công nhận giá trị của những chi tiết nhỏ chứ?
- Không bao giờ. Những cái đó đều rất có ích, mỗi thứ về một phương diện. Nguy hiểm là chúng được quá coi trọng hơn bản thân chúng. Hầu hết những chi tiết đều vô nghĩa; chỉ một hoặc hai cái có tầm quan trọng căn bản mà thôi. Đó là bộ óc, là chất xám… - Anh vỗ vào trán – mà ta phải tính đến. Cảm giác thường bị nhầm. Sự thật biểu hiện ở trong chứ không phải ở ngoài chúng ta.
- Pooirot, liệu anh có thể nói rằng anh có thể khám phá ra một vụ mà không rời khỏi ghế ngồi không?
- Có chứ, đây đúng là điều tôi muốn nói. Tôi sẽ làm với điều kiện là người ta cho tôi biết rõ mọi sự kiện. Tôi coi mình là một nhà chuyên môn để người ta tra vấn.
Japp xoa tay với một vẻ tinh anh.
- Tôi muốn bị treo cổ nếu không nhận lời anh, Poirot. Tôi đánh cuộc năm bảng Anh rằng anh không thể đặt tay, hoặc làm cho tôi đặt tay, vào ông Davenheim, dù còn sống hay đã chết, trong một tuần lễ, kể từ ngày hôm nay.
- Hừ… Một tuần lễ, anh nói như thế chứ?
- Phải, bảy ngày, bắt đầu từ chiều nay.
- Rõ, anh bạn, tôi nhận. Thể thao, đó là cái thú của các anh, những người Ăng-lê. Và bây giờ nếu anh muốn cung cấp cho tôi những sự kiện.
- Thứ bảy tuần trước, theo thói quen, ông Daveiheim từ Victoria, đi chuyến xe lửa mười hai gờ bốn mươi đến Chingside, nơi ông có ngôi nhà ở vùng Cèdres. Sau bữa ăn trưa, ông đi dạo và chỉ bảo công việc cho những người làm vườn. Mọi người đều nói ông ở trạng thái tuyệt đối bình thường. Sau khi dùng trà, ông mở cửa buồng của bà vợ nói là ông đi vào làng để bỏ một vài lá thư vào thùng thư bưu điện. Ông nói thêm là ông đang đợi một ông Lowen nào đó vì ông phải dẫn khách vào văn phòng và nói ông này đợi mình. Ông Davenheim đi ra bằng cửa lớn, bước chậm chạp trên lối đi chính rồi ra khỏi cổng và sau đó người ta không thấy ông đâu nữa. Từ lúc ấy, ông ta tan biến trong giới tự nhiên.