Tổng cộng 10 năm ngân sách Trung ương cấp 442,655 tỷ đồng (trung bình 44 tỷ đồng/năm, cao nhất 70 tỷ đồng/năm). Hàng năm trung bình có 20 tỉnh, cao điểm nhất có đến 55-59 tỉnh có đầu tư kinh phí của địa phương cho chương trình Phòng chống sốt rét. Nhờ có sự đầu tư hợp lý nên chương trình hàng năm đã đảm bảo tương đối đủ nhu cầu thuốc sốt rét, hóa chất, trang thiết bị và kinh phí cho các hoạt động từ trung ương đến địa phương.
vấn đề
ở Việt Nam vào những năm cuối thập kỷ 70 đầu 80, nhất là sau ngày giải phóng miền Nam, tình hình sốt rét biến động phức tạp, nhiều địa phương sốt rét quay trở lại và gây thành dịch lớn, tử vong do sốt rét tăng nhanh, trầm trọng nhất là năm 1991: cả nước có 144 vụ dịch sốt rét (SR), 4646 người chết do sốt rét và trên 1 triệu người mắc sốt rét. Nguyên nhân của tình hình phức tạp nêu trên là do di biến động dân cư lớn sau chiến tranh, thiếu nguồn lực do không còn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, mạng lưới y tế cơ sở xuống cấp và ở một số nơi bị tan rã. P.falciparum kháng thuốc ở hầu hết các tỉnh phía Nam và một số tỉnh phía Bắc, An. dirus, An. minimus, An. sundaicus trú ẩn ngoài nhà, riêng An. sundaicus đã kháng với DDT.
Ðể đẩy lùi bệnh sốt rét, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc miền núi, góp phần phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, từ năm 1991, Việt Nam đã chuyển chiến lược từ "thanh toán sốt rét" sang "phòng chống sốt rét", và chương trình phòng chống sốt rét (PCSR) được thành lập với mục tiêu khống chế tốc độ tăng, giảm tỷ lệ chết, giảm dịch SR, tiến tới ổn định tình hình SR vào năm 2000.
Kết quả phòng chống sốt rét Việt Nam 1991 - 2000
Ðánh giá chung về tình hình cho thấy: sau 10 năm phấn đấu không mệt mỏi, tình hình SR Việt Nam đã được cải thiện đáng kể:
- Tỷ lệ chết SR giảm 97,3% (0,19/7,13). Tất cả các tỉnh và thành phố đều giảm chết trên 80%, trong đó có 36 tỉnh giảm chết SR 100%, 7 tỉnh giảm trên 90%.
- Tỷ lệ mắc SR giảm 77% (3,84%o/ 16,75%o). Hầu hết các tỉnh đều giảm tỷ lệ mắc (trừ Tp. Ðà Nẵng, Bình Thuận, Quảng Trị, Ninh Thuận) trong đó có 20 tỉnh giảm trên 75%.
Diện lưu hành SR ngày càng thu hẹp (số xã có SR lưu hành giảm 67,3%). Trong 31 tỉnh báo cáo có giảm số xã lưu hành SR có 4 tỉnh giảm 100% (không còn xã có KST SR nội địa): Hà Tây, Thái Bình, Ninh Bình, Nam Ðịnh; có 10 tỉnh giảm trên 80%: Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Yên Bái, Ðồng Nai, Long An, An Giang.
- Số vụ dịch SR giảm 98,6%, không còn dịch SR lớn xẩy ra.
- So với mục tiêu do Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương đề ra đến năm 2000: giảm chết SR 80%, giảm mắc SR 50% so với năm 1992, Việt Nam đã giảm chết do SR 94,4%, giảm mắc SR 77,3%.
- So với một số nước khu vực sông Mekong (1998), Việt Nam có tỷ lệ chết và mắc SR thấp sau Trung Quốc và Malaysia
Những bài học kinh nghiệm
1. Công tác phòng chống SR được sự quan tâm và chỉ đạo của Ðảng và chính quyền các cấp:
- Chương trình phòng chống sốt rét được Chính phủ đưa vào một trong những chương trình y tế quốc gia ưu tiên từ năm 1991.
Sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các vị lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Chính quyền các cấp là nhân tố quyết định lớn đến sự thành công của chương trình.
- Chính phủ và chính quyền tỉnh đã đầu tư kinh phí hợp lý và hiệu quả:
Tổng cộng 10 năm ngân sách Trung ương cấp 442,655 tỷ đồng (trung bình 44 tỷ đồng/năm, cao nhất 70 tỷ đồng/năm). Hàng năm trung bình có 20 tỉnh, những năm cao điểm nhất có đến 55 - 59 tỉnh có đầu tư kinh phí của địa phương cho chương trình PCSR, tổng cộng 10 năm các địa phương đã đầu tư 68,021 tỷ đồng, đáng chú ý nhất là Nghệ An (mỗi năm 1 tỷ đồng) và các tỉnh Hà Giang, Sơn La,Thanh Hóa, Ðồng Nai. Nhờ có sự đầu tư hợp lý nên chương trình hàng năm đã đảm bảo tương đối đủ nhu cầu thuốc SR, hóa chất, trang thiết bị và kinh phí cho các hoạt động từ Trung ương đến địa phương.
2. Chương trình PCSR có một hệ thống quản lý điều hành chặt chẽ và có chiến lược PCSR thích hợp và sáng tạo.
2.1. Ban chủ nhiệm dự án Quốc gia PCSR do Bộ Y tế chỉ đạo:
- Ban chủ nhiệm dự án ở địa phương đặt dưới sự chỉ đạo của ủy ban nhân dân các cấp, lồng ghép trong Ban chỉ đạo Chăm sóc sức khỏe ban đầu.
- Lực lượng nòng cốt chỉ đạo và thực hiện các biện pháp chiến lược PCSR là hệ thống chuyên khoa phòng chống sốt rét, ký sinh trùng và côn trùng.
2.2. Chiến lược PCSR được tiến hành theo chiến lược của Tổ chức Y tế Thế giới, mục tiêu và biện pháp cụ thể thích hợp với từng thời kỳ và từng địa phương.
- Ðể phòng và giảm chết do sốt rét đã thực hiện các biện pháp:
+ Cung cấp thuốc SR miễn phí cho người bệnh, đảm bảo đủ thuốc SR cấp cho các tuyến đặc biệt là tuyến cơ sở (thôn bản, xã).
+ Ðẩy nhanh việc nghiên cứu sản xuất và sử dụng artemisinin và dẫn chất, trong 10 năm đã cung cấp trên 6.023.300 liều điều trị, góp phần chính trong việc giảm nhanh số lượng SRAT và chết do SR.
+ Thường xuyên giám sát tình hình KST kháng thuốc ở từng vùng, nghiên cứu và ứng dụng các phác đồ điều trị mới, hiệu lực cao như CV8, artemisinin + mefloquin.
+ Phát triển các điểm kính hiển vi giúp cho công tác phát hiện và điều trị sớm BNSR. Ðến năm 2000, cả nước có 2.350 điểm kính hoạt động, trong đó điểm kính hiển vi xã chiếm 22,4%.
+ Coi trọng phát triển y tế thôn bản, cũng cố y tế xã, bước đầu quản lý y dược tư nhân trong PCSR, đồng thời tăng cường các đội y tế lưu động để thực hiện "có thầy và thuốc tại chỗ".
- Ðể phòng và chống dịch sốt rét, đã áp dụng các biện pháp:
+ Tăng cường giám sát dịch ở các cấp (theo văn bản quy định giám sát dịch tễ sốt rét do Bộ Y tế ban hành).
+ Dự báo và chủ động điều tra khống chế các điểm có nguy cơ và dịch SR, không để dịch lớn xẩy ra.
+ Không ngừng nâng cao chất lượng thông tin dự báo dịch.
+ ở tuyến trung ương và khu vực luôn có dự trữ thuốc SR, hóa chất, dụng cụ, kinh phí và sẵn sàng lực lượng, phương tiện để hỗ trợ địa phương chống dịch kịp thời.
+ Khi dịch xẩy ra đã có sự chỉ đạo của chính quyền và y tế địa phương, huy động được nguồn lực cần thiết khống chế dịch kịp thời.
- Ðể phòng và giảm mắc SR, đã áp dụng các biện pháp:
+ Mở rộng diện dân số được bảo vệ, số dân được bảo vệ bằng phun tẩm hoá chất diệt muỗi tăng nhanh từ 4,3 - 7,8 triệu người/năm (1991 - 1993) đến 10,4 - 10,9 triệu người/năm (1994 - 1995), 12 - 13,8 triệu người/năm (1996 - 1999). Tổng cộng 10 năm đã bảo vệ 104.202.078 lượt người. Bình quân hàng năm bảo vệ cho hơn 30% dân số nguy cơ SR, ở những vùng SRLH nặng, tỷ lệ dân được bảo vệ bằng hóa chất lên tới 60 - 80%.
+ Tăng cường cấp màn cho dân nghèo và huy động dân tự mua màn để PCSR. Trong 10 năm dự án đã hỗ trợ 1.055.000 màn (chưa kể số màn do các dự án hợp tác quốc tế hỗ trợ)
2.3. Ðẩy mạnh xã hội hóa và giáo dục truyền thông trong PCSR:
ở tuyến trung ương và hầu hết các địa phương đã phối hợp tốt với Hội Liên hiệp Phụ nữ, Ðoàn thanh niên, Hội nông dân, ngành văn hóa thông tin, giáo dục, quân y và các tổ chức khác để vận động nhân dân tham gia công tác PCSR.
2.4. Xây dựng và củng cố y tế cơ sở, coi trọng việc đào tạo, góp phần xây dựng hệ thống chăm sóc sức khoẻ ban đầu và nâng cao năng lực PCSR cho các tuyến:
- Ðến năm 2000, tỷ lệ thôn bản vùng SR có y tế là 60,46%, trong đó có 21 tỉnh đạt tỷ lệ từ 90 - 100% là: Sơn La, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nam, Quảng Trị, TT Huế, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận, Kon Tum, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, An Giang, Trà Vinh.
- Hàng tháng Dự án Quốc gia PCSR đã hỗ trợ 20.000đ cho y tế thôn bản, 60.000đ cho y tế xã, 180.000đ cho đội lưu động huyện.
- Chương trình đào tạo lại về PCSR cho các tuyến được đẩy mạnh, thống kê chưa đầy đủ từ năm 1993 đến năm 2000 đã có 6.153 lớp đào tạo lại với 155.536 lượt người dự, trong đó trên 60% là y tế cơ sở.
2.5. Gắn liền công tác nghiên cứu khoa học với việc xác định chiến lược và kế hoạch PCSR:
- Trong 10 năm qua, riêng Viện Sốt rét Ký sinh trùng Côn trùng Trung ương đã thực hiện 50 đề tài nghiên cứu khoa học, trong đó có 2 đề tài cấp Bộ, 28 đề tài cấp cơ sở, đồng thời đã tiến hành 67 đề tài hợp tác quốc tế.
- Các Viện khu vực, các bệnh viện và cơ sở nghiên cứu khoa học của dân và quân y cũng đã tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về PCSR.
- Các Trung tâm PCSR cấp tỉnh, thành phố cũng đã tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu về PCSR, theo số liệu báo cáo trong thời gian qua đã có 42 tỉnh tiến hành 190 đề tài nghiên cứu.
- Hầu hết các đề tài đều xuất phát từ đòi hỏi thực tế của công tác PCSR, các kết quả nghiên cứu đã áp dụng phục vụ ngay cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả PCSR.
2.6. Tranh thủ và hợp tác tốt với các dự án hợp tác quốc tế:
Ðến năm 2000 có 31 tỉnh (100% tỉnh thuộc vùng sốt rét trọng điểm) đã có dự án hợp tác quốc tế, đây là một nguồn lực quan trọng hỗ trợ cho dự án QG PCSR bao gồm cả kinh phí, vật tư, trang bị kỹ thuật, đào tạo cán bộ.
2.7. Coi trọng công tác đánh giá hiệu quả hoạt động dự án, động viên khen thưởng kịp thời các cá nhân và đơn vị điển hình:
- Hội nghị đánh giá định kỳ 6 tháng và một năm được duy trì đều đặn từ tuyến trung ương đến tuyến cơ sở (huyện).
- Trong quá trình thực hiện dự án QG PCSR 10 năm qua, nhiều tập thể và cá nhân đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động các loại, Cờ thi đua và bằng khen của Chính phủ, Bộ Y tế và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố.
Theo tạp chí thông tin y dược tháng tư năm 2002
★
★
★
★
★
0