Môi trường sống và hoạt động xã hội luôn luôn phát sinh ra những tình huống stress. Vai trò của nhân cách và tình trạng cơ thể có liên quan đến việc chống đỡ với stress. ở Việt Nam, mạng lưới ngành tâm thần phát triển rộng khắp trong cả nước, ngày càng được nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng. Tuy nhiên, công tác điều trị còn gặp khó khăn do tính chất bệnh phức tạp, liệu pháp tâm lí còn ít được sử dụng.
Khái niệm chung về stress
Stress là một thuật ngữ tiếng Anh được dùng trong vật lí học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng. Ðến thế kỷ thứ 17, stress được dùng với nghĩa là một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra phản ứng căng thẳng. Hiện nay stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi.
Tuy nhiên, nhiều tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau. Theo Hans Selye: "Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng". Theo J. Delay: "Stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đang đe dọa".
Khái nhiệm chung về stress cho cả hai ý nghĩa bao gồm:
1. Tình huống stress dùng để chỉ tác nhân xâm phạm hay kích thích gây ra stress (stresseur).
2. Ðáp ứng stress dùng để chỉ trạng thái phản ứng với stress (reaction).
Stress bình thường là một tình huống stress nhẹ, đối tượng chịu đựng được và phản ứng thích nghi tốt. Ðối tượng thu xếp được cân bằng mới thỏa đáng.
Stress trở nên bệnh lí khi tình huống stress xuất hiện bất ngờ và quá mạnh hoặc không mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần, vượt khả năng chịu đựng của đối tượng, gây ra các rối loạn cơ thể, tâm thần và ứng xử gọi là các rối loạn có liên quan đến stress (RLLQS).
Cơ chế gây bệnh của stress
Hàng ngày hàng giờ, mỗi cá nhân trong xã hội phải chịu tác động của nhiều loại stress. Ví dụ: điều kiện sống khó khăn, làm việc quá tải và căng thẳng, thất vọng trong sự nghiệp, mâu thuẫn trong gia đình, vợ chồng, con cái, mâu thuẫn với hàng xóm, với đồng nghiệp...
Tuy nhiên stress có gây bệnh hay không còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố phức tạp. Có hai nhân tố chính đó là: đặc điểm gây bệnh của stress và sức chống đỡ của nhân cách.
1. Ðặc điểm gây bệnh của stress
- Stress gây bệnh thường là những stress mạnh và cấp diễn (người thân chết đột ngột, tổn thất về kinh tế nặng nề). Có những stress tuy không mạnh và cấp diễn nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần gây căng thẳng nội tâm cũng có khả năng gây bệnh.
- Thành phần gây bệnh của stress là ý nghĩa thông tin chứ không phải là cường độ của stress (ý nghĩa gây bệnh của đám cháy không phải là cường độ ngọn lửa mà là giá trị của tài sản bị thiêu hủy và hậu quả cụ thể đối với mỗi cá nhân).
- Những stress gây xung đột nội tâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát cũng thường gây bệnh (một đôi vợ chồng mâu thuẫn gay gắt và kéo dài nhưng không thể ly dị được vì đang còn lo nghĩ về những đứa con).
- Stress đập vào một cá nhân thường gây bệnh nhiều hơn stress đập vào một cộng đồng (cơ chế chia sẻ gánh nặng, nỗi buồn)
2. Sức chống đỡ của nhân cách:
Nếu đối tượng nhận thức tình huống stress không nguy hiểm và có thể chống đỡ được thì sẽ có một phản ứng thích hợp bình thường. Ngược lại nếu đối tượng nhận thức tình huống là nguy hiểm và không thể chống đỡ được thì sẽ xuất hiện một phản ứng bệnh lí.
Cảm xúc không ổn định, lo âu, căng thẳng, né tránh cũng là những nét nhân cách dễ bị tổn thương.
Cùng một stress, tùy theo phương thức phản ứng của đối tượng mà có thể biểu hiện bệnh lý khác nhau: lo âu, trầm cảm, khó thở, rối loạn tiêu hóa, cao huyết áp...
Những nét nhân cách sau đây dễ bị tổn thương: dễ xúc động, khó làm chủ bản thân, bi đát hóa các tình huống stress; đánh giá cao các khó khăn và đánh giá thấp bản thân.
Những nét nhân cách sau đây có sức chống đỡ với stress: sớm làm chủ được tình huống stress, có ý chí và tinh thần trách nhiệm, có khả năng thích nghi, mềm dẻo.
3. Môi trường và nhân cách tác động qua lại cảm ứng lẫn nhau rất mật thiết, khi cảm ứng những nét tiêu cực có thể gây ra trạng thái bệnh lý tập thể, khi cảm ứng những nét tích cực thì mỗi nhân cách trong tập thể lại được tăng thêm sức mạnh để chống đỡ stress.
4. Cơ thể khỏe mạnh hỗ trợ tốt cho nhân cách chống đỡ với stress.
* Quan niệm và phân loại các RLLQS
Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ tâm căn (neurosis, nevrose) là William Cullen (1769). Neurosis của Cullen bao gồm nhiều trạng thái bệnh lí khác nhau, có chung một chẩn đoán âm tính là: không sốt, không có tổn thương khu trú. Nó là biểu hiện của rối loạn hệ thần kinh gây trở ngại chủ yếu đến cảm giác và vận động.
Thuật ngữ neurosis được nhiều nhà tâm thần học sử dụng, nhưng mỗi tác giả lại đưa ra những quan niệm riêng của mình.
1. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết phân tâm (Freud):
Xuất phát từ lí thuyết về ưu thế của vô thức trong hoạt động tâm thần với thành phần chủ yếu là bản năng tình dục. Freud chia ra 2 loại neurosis chính: neurosis hiện thời và neurosis chuyển di (tức chuyển từ những xung đột vô thức thành những triệu chứng neurosis). Freud còn đưa ra loại neurosis tự yêu, khác với neurosis chuyển di ở chỗ xung đột vô thức không chuyển di được, cố định vào bản ngã.
Học thuyết phân tâm về neurosis ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm của các nhà tâm thần học trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương Tây trong gần nửa đầu của thế kỷ 20.
2. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết Pavlov:
Pavlov cho rằng neurosis xuất hiện do sự mất thăng bằng của hai quá trình hưng phấn và ức chế trong hoạt động của vỏ não, trên những loại hình thần kinh đặc biệt, tâm căn hysteria trên loại hình thần kinh nghệ sĩ yếu, tâm căn suy nhược tâm thần (psychasthenia) trên loại hình thần kinh lí trí yếu, tâm căn suy nhược trên loại hình thần kinh trung gian yếu.
Học thuyết Pavlov về neurosis có ảnh hưởng lớn đến các nhà tâm thần học ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ trong gần nửa thế kỷ trước đây.
ở nước ta, trước khi có ICD-10, chủ yếu áp dụng cách phân loại của Liên Xô cũ và các RLLQS được áp dụng trong lâm sàng tâm thần học gồm có:
- Tâm căn suy nhược.
- Tâm căn hysteria.
- Tâm căn ám ảnh.
- Tâm căn suy nhược tâm thần.
- Các bệnh cơ thể tâm sinh.
- Các trạng thái loạn thần phản ứng.
3. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết tập tính hay hành vi:
Dựa vào những thành công trong thực nghiệm về neurosis, học thuyết tập tính cho rằng các triệu chứng neurosis là những tập tính đã bị thâm nhiễm trong quá trình đáp ứng với kích thích của môi trường trong cơ chế khái quát hóa kích thích ban đầu, các tập tính này có thể làm mất đi bằng phương pháp khử tập nhiễm.
- Học thuyết tập tính không đưa ra cách phân loại riêng về neurosis, không quan tâm đến cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh, chỉ quan tâm đến cơ chế tập nhiễm và các phương pháp khử tập nhiễm.
Học thuyết tập tính đã chiếm ưu thế ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ trong cuối thế kỷ 20 này.
Môi trường sống và hoạt động xã hội luôn luôn phát sinh ra những tình huống stress. Vai trò của nhân cách và tình trạng cơ thể có liên quan đến việc chống đỡ với stress. ở Việt Nam, mạng lưới ngành tâm thần phát triển rộng khắp trong cả nước, ngày càng được nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng. Tuy nhiên, công tác điều trị còn gặp khó khăn do tính chất bệnh phức tạp, liệu pháp tâm lí còn ít được sử dụng.
Khái niệm chung về stress
Stress là một thuật ngữ tiếng Anh được dùng trong vật lí học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng. Ðến thế kỷ thứ 17, stress được dùng với nghĩa là một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra phản ứng căng thẳng. Hiện nay stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi.
Tuy nhiên, nhiều tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau. Theo Hans Selye: "Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng". Theo J. Delay: "Stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đang đe dọa".
Khái nhiệm chung về stress cho cả hai ý nghĩa bao gồm:
1. Tình huống stress dùng để chỉ tác nhân xâm phạm hay kích thích gây ra stress (stresseur).
2. Ðáp ứng stress dùng để chỉ trạng thái phản ứng với stress (reaction).
Stress bình thường là một tình huống stress nhẹ, đối tượng chịu đựng được và phản ứng thích nghi tốt. Ðối tượng thu xếp được cân bằng mới thỏa đáng.
Stress trở nên bệnh lí khi tình huống stress xuất hiện bất ngờ và quá mạnh hoặc không mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần, vượt khả năng chịu đựng của đối tượng, gây ra các rối loạn cơ thể, tâm thần và ứng xử gọi là các rối loạn có liên quan đến stress (RLLQS).
Cơ chế gây bệnh của stress
Hàng ngày hàng giờ, mỗi cá nhân trong xã hội phải chịu tác động của nhiều loại stress. Ví dụ: điều kiện sống khó khăn, làm việc quá tải và căng thẳng, thất vọng trong sự nghiệp, mâu thuẫn trong gia đình, vợ chồng, con cái, mâu thuẫn với hàng xóm, với đồng nghiệp...
Tuy nhiên stress có gây bệnh hay không còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố phức tạp. Có hai nhân tố chính đó là: đặc điểm gây bệnh của stress và sức chống đỡ của nhân cách.
1. Ðặc điểm gây bệnh của stress
- Stress gây bệnh thường là những stress mạnh và cấp diễn (người thân chết đột ngột, tổn thất về kinh tế nặng nề). Có những stress tuy không mạnh và cấp diễn nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần gây căng thẳng nội tâm cũng có khả năng gây bệnh.
- Thành phần gây bệnh của stress là ý nghĩa thông tin chứ không phải là cường độ của stress (ý nghĩa gây bệnh của đám cháy không phải là cường độ ngọn lửa mà là giá trị của tài sản bị thiêu hủy và hậu quả cụ thể đối với mỗi cá nhân).
- Những stress gây xung đột nội tâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát cũng thường gây bệnh (một đôi vợ chồng mâu thuẫn gay gắt và kéo dài nhưng không thể ly dị được vì đang còn lo nghĩ về những đứa con).
- Stress đập vào một cá nhân thường gây bệnh nhiều hơn stress đập vào một cộng đồng (cơ chế chia sẻ gánh nặng, nỗi buồn)
2. Sức chống đỡ của nhân cách:
Nếu đối tượng nhận thức tình huống stress không nguy hiểm và có thể chống đỡ được thì sẽ có một phản ứng thích hợp bình thường. Ngược lại nếu đối tượng nhận thức tình huống là nguy hiểm và không thể chống đỡ được thì sẽ xuất hiện một phản ứng bệnh lí.
Cảm xúc không ổn định, lo âu, căng thẳng, né tránh cũng là những nét nhân cách dễ bị tổn thương.
Cùng một stress, tùy theo phương thức phản ứng của đối tượng mà có thể biểu hiện bệnh lý khác nhau: lo âu, trầm cảm, khó thở, rối loạn tiêu hóa, cao huyết áp...
Những nét nhân cách sau đây dễ bị tổn thương: dễ xúc động, khó làm chủ bản thân, bi đát hóa các tình huống stress; đánh giá cao các khó khăn và đánh giá thấp bản thân.
Những nét nhân cách sau đây có sức chống đỡ với stress: sớm làm chủ được tình huống stress, có ý chí và tinh thần trách nhiệm, có khả năng thích nghi, mềm dẻo.
3. Môi trường và nhân cách tác động qua lại cảm ứng lẫn nhau rất mật thiết, khi cảm ứng những nét tiêu cực có thể gây ra trạng thái bệnh lý tập thể, khi cảm ứng những nét tích cực thì mỗi nhân cách trong tập thể lại được tăng thêm sức mạnh để chống đỡ stress.
4. Cơ thể khỏe mạnh hỗ trợ tốt cho nhân cách chống đỡ với stress.
* Quan niệm và phân loại các RLLQS
Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ tâm căn (neurosis, nevrose) là William Cullen (1769). Neurosis của Cullen bao gồm nhiều trạng thái bệnh lí khác nhau, có chung một chẩn đoán âm tính là: không sốt, không có tổn thương khu trú. Nó là biểu hiện của rối loạn hệ thần kinh gây trở ngại chủ yếu đến cảm giác và vận động.
Thuật ngữ neurosis được nhiều nhà tâm thần học sử dụng, nhưng mỗi tác giả lại đưa ra những quan niệm riêng của mình.
1. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết phân tâm (Freud):
Xuất phát từ lí thuyết về ưu thế của vô thức trong hoạt động tâm thần với thành phần chủ yếu là bản năng tình dục. Freud chia ra 2 loại neurosis chính: neurosis hiện thời và neurosis chuyển di (tức chuyển từ những xung đột vô thức thành những triệu chứng neurosis). Freud còn đưa ra loại neurosis tự yêu, khác với neurosis chuyển di ở chỗ xung đột vô thức không chuyển di được, cố định vào bản ngã.
Học thuyết phân tâm về neurosis ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm của các nhà tâm thần học trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương Tây trong gần nửa đầu của thế kỷ 20.
2. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết Pavlov:
Pavlov cho rằng neurosis xuất hiện do sự mất thăng bằng của hai quá trình hưng phấn và ức chế trong hoạt động của vỏ não, trên những loại hình thần kinh đặc biệt, tâm căn hysteria trên loại hình thần kinh nghệ sĩ yếu, tâm căn suy nhược tâm thần (psychasthenia) trên loại hình thần kinh lí trí yếu, tâm căn suy nhược trên loại hình thần kinh trung gian yếu.
Học thuyết Pavlov về neurosis có ảnh hưởng lớn đến các nhà tâm thần học ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ trong gần nửa thế kỷ trước đây.
ở nước ta, trước khi có ICD-10, chủ yếu áp dụng cách phân loại của Liên Xô cũ và các RLLQS được áp dụng trong lâm sàng tâm thần học gồm có:
- Tâm căn suy nhược.
- Tâm căn hysteria.
- Tâm căn ám ảnh.
- Tâm căn suy nhược tâm thần.
- Các bệnh cơ thể tâm sinh.
- Các trạng thái loạn thần phản ứng.
3. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết tập tính hay hành vi:
Dựa vào những thành công trong thực nghiệm về neurosis, học thuyết tập tính cho rằng các triệu chứng neurosis là những tập tính đã bị thâm nhiễm trong quá trình đáp ứng với kích thích của môi trường trong cơ chế khái quát hóa kích thích ban đầu, các tập tính này có thể làm mất đi bằng phương pháp khử tập nhiễm.
- Học thuyết tập tính không đưa ra cách phân loại riêng về neurosis, không quan tâm đến cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh, chỉ quan tâm đến cơ chế tập nhiễm và các phương pháp khử tập nhiễm.
Học thuyết tập tính đã chiếm ưu thế ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ trong cuối thế kỷ 20 này.
Khái niệm chung về stress
Stress là một thuật ngữ tiếng Anh được dùng trong vật lí học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng. Ðến thế kỷ thứ 17, stress được dùng với nghĩa là một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra phản ứng căng thẳng. Hiện nay stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi.
Tuy nhiên, nhiều tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau. Theo Hans Selye: "Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng". Theo J. Delay: "Stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đang đe dọa".
Khái nhiệm chung về stress cho cả hai ý nghĩa bao gồm:
1. Tình huống stress dùng để chỉ tác nhân xâm phạm hay kích thích gây ra stress (stresseur).
2. Ðáp ứng stress dùng để chỉ trạng thái phản ứng với stress (reaction).
Stress bình thường là một tình huống stress nhẹ, đối tượng chịu đựng được và phản ứng thích nghi tốt. Ðối tượng thu xếp được cân bằng mới thỏa đáng.
Stress trở nên bệnh lí khi tình huống stress xuất hiện bất ngờ và quá mạnh hoặc không mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần, vượt khả năng chịu đựng của đối tượng, gây ra các rối loạn cơ thể, tâm thần và ứng xử gọi là các rối loạn có liên quan đến stress (RLLQS).
Cơ chế gây bệnh của stress
Hàng ngày hàng giờ, mỗi cá nhân trong xã hội phải chịu tác động của nhiều loại stress. Ví dụ: điều kiện sống khó khăn, làm việc quá tải và căng thẳng, thất vọng trong sự nghiệp, mâu thuẫn trong gia đình, vợ chồng, con cái, mâu thuẫn với hàng xóm, với đồng nghiệp...
Tuy nhiên stress có gây bệnh hay không còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố phức tạp. Có hai nhân tố chính đó là: đặc điểm gây bệnh của stress và sức chống đỡ của nhân cách.
1. Ðặc điểm gây bệnh của stress
- Stress gây bệnh thường là những stress mạnh và cấp diễn (người thân chết đột ngột, tổn thất về kinh tế nặng nề). Có những stress tuy không mạnh và cấp diễn nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần gây căng thẳng nội tâm cũng có khả năng gây bệnh.
- Thành phần gây bệnh của stress là ý nghĩa thông tin chứ không phải là cường độ của stress (ý nghĩa gây bệnh của đám cháy không phải là cường độ ngọn lửa mà là giá trị của tài sản bị thiêu hủy và hậu quả cụ thể đối với mỗi cá nhân).
- Những stress gây xung đột nội tâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát cũng thường gây bệnh (một đôi vợ chồng mâu thuẫn gay gắt và kéo dài nhưng không thể ly dị được vì đang còn lo nghĩ về những đứa con).
- Stress đập vào một cá nhân thường gây bệnh nhiều hơn stress đập vào một cộng đồng (cơ chế chia sẻ gánh nặng, nỗi buồn)
2. Sức chống đỡ của nhân cách:
Nếu đối tượng nhận thức tình huống stress không nguy hiểm và có thể chống đỡ được thì sẽ có một phản ứng thích hợp bình thường. Ngược lại nếu đối tượng nhận thức tình huống là nguy hiểm và không thể chống đỡ được thì sẽ xuất hiện một phản ứng bệnh lí.
Cảm xúc không ổn định, lo âu, căng thẳng, né tránh cũng là những nét nhân cách dễ bị tổn thương.
Cùng một stress, tùy theo phương thức phản ứng của đối tượng mà có thể biểu hiện bệnh lý khác nhau: lo âu, trầm cảm, khó thở, rối loạn tiêu hóa, cao huyết áp...
Những nét nhân cách sau đây dễ bị tổn thương: dễ xúc động, khó làm chủ bản thân, bi đát hóa các tình huống stress; đánh giá cao các khó khăn và đánh giá thấp bản thân.
Những nét nhân cách sau đây có sức chống đỡ với stress: sớm làm chủ được tình huống stress, có ý chí và tinh thần trách nhiệm, có khả năng thích nghi, mềm dẻo.
3. Môi trường và nhân cách tác động qua lại cảm ứng lẫn nhau rất mật thiết, khi cảm ứng những nét tiêu cực có thể gây ra trạng thái bệnh lý tập thể, khi cảm ứng những nét tích cực thì mỗi nhân cách trong tập thể lại được tăng thêm sức mạnh để chống đỡ stress.
4. Cơ thể khỏe mạnh hỗ trợ tốt cho nhân cách chống đỡ với stress.
* Quan niệm và phân loại các RLLQS
Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ tâm căn (neurosis, nevrose) là William Cullen (1769). Neurosis của Cullen bao gồm nhiều trạng thái bệnh lí khác nhau, có chung một chẩn đoán âm tính là: không sốt, không có tổn thương khu trú. Nó là biểu hiện của rối loạn hệ thần kinh gây trở ngại chủ yếu đến cảm giác và vận động.
Thuật ngữ neurosis được nhiều nhà tâm thần học sử dụng, nhưng mỗi tác giả lại đưa ra những quan niệm riêng của mình.
1. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết phân tâm (Freud):
Xuất phát từ lí thuyết về ưu thế của vô thức trong hoạt động tâm thần với thành phần chủ yếu là bản năng tình dục. Freud chia ra 2 loại neurosis chính: neurosis hiện thời và neurosis chuyển di (tức chuyển từ những xung đột vô thức thành những triệu chứng neurosis). Freud còn đưa ra loại neurosis tự yêu, khác với neurosis chuyển di ở chỗ xung đột vô thức không chuyển di được, cố định vào bản ngã.
Học thuyết phân tâm về neurosis ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm của các nhà tâm thần học trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương Tây trong gần nửa đầu của thế kỷ 20.
2. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết Pavlov:
Pavlov cho rằng neurosis xuất hiện do sự mất thăng bằng của hai quá trình hưng phấn và ức chế trong hoạt động của vỏ não, trên những loại hình thần kinh đặc biệt, tâm căn hysteria trên loại hình thần kinh nghệ sĩ yếu, tâm căn suy nhược tâm thần (psychasthenia) trên loại hình thần kinh lí trí yếu, tâm căn suy nhược trên loại hình thần kinh trung gian yếu.
Học thuyết Pavlov về neurosis có ảnh hưởng lớn đến các nhà tâm thần học ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ trong gần nửa thế kỷ trước đây.
ở nước ta, trước khi có ICD-10, chủ yếu áp dụng cách phân loại của Liên Xô cũ và các RLLQS được áp dụng trong lâm sàng tâm thần học gồm có:
- Tâm căn suy nhược.
- Tâm căn hysteria.
- Tâm căn ám ảnh.
- Tâm căn suy nhược tâm thần.
- Các bệnh cơ thể tâm sinh.
- Các trạng thái loạn thần phản ứng.
3. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết tập tính hay hành vi:
Dựa vào những thành công trong thực nghiệm về neurosis, học thuyết tập tính cho rằng các triệu chứng neurosis là những tập tính đã bị thâm nhiễm trong quá trình đáp ứng với kích thích của môi trường trong cơ chế khái quát hóa kích thích ban đầu, các tập tính này có thể làm mất đi bằng phương pháp khử tập nhiễm.
- Học thuyết tập tính không đưa ra cách phân loại riêng về neurosis, không quan tâm đến cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh, chỉ quan tâm đến cơ chế tập nhiễm và các phương pháp khử tập nhiễm.
Học thuyết tập tính đã chiếm ưu thế ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ trong cuối thế kỷ 20 này.
Môi trường sống và hoạt động xã hội luôn luôn phát sinh ra những tình huống stress. Vai trò của nhân cách và tình trạng cơ thể có liên quan đến việc chống đỡ với stress. ở Việt Nam, mạng lưới ngành tâm thần phát triển rộng khắp trong cả nước, ngày càng được nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng. Tuy nhiên, công tác điều trị còn gặp khó khăn do tính chất bệnh phức tạp, liệu pháp tâm lí còn ít được sử dụng.
Khái niệm chung về stress
Stress là một thuật ngữ tiếng Anh được dùng trong vật lí học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng. Ðến thế kỷ thứ 17, stress được dùng với nghĩa là một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra phản ứng căng thẳng. Hiện nay stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi.
Tuy nhiên, nhiều tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau. Theo Hans Selye: "Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng". Theo J. Delay: "Stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đang đe dọa".
Khái nhiệm chung về stress cho cả hai ý nghĩa bao gồm:
1. Tình huống stress dùng để chỉ tác nhân xâm phạm hay kích thích gây ra stress (stresseur).
2. Ðáp ứng stress dùng để chỉ trạng thái phản ứng với stress (reaction).
Stress bình thường là một tình huống stress nhẹ, đối tượng chịu đựng được và phản ứng thích nghi tốt. Ðối tượng thu xếp được cân bằng mới thỏa đáng.
Stress trở nên bệnh lí khi tình huống stress xuất hiện bất ngờ và quá mạnh hoặc không mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần, vượt khả năng chịu đựng của đối tượng, gây ra các rối loạn cơ thể, tâm thần và ứng xử gọi là các rối loạn có liên quan đến stress (RLLQS).
Cơ chế gây bệnh của stress
Hàng ngày hàng giờ, mỗi cá nhân trong xã hội phải chịu tác động của nhiều loại stress. Ví dụ: điều kiện sống khó khăn, làm việc quá tải và căng thẳng, thất vọng trong sự nghiệp, mâu thuẫn trong gia đình, vợ chồng, con cái, mâu thuẫn với hàng xóm, với đồng nghiệp...
Tuy nhiên stress có gây bệnh hay không còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố phức tạp. Có hai nhân tố chính đó là: đặc điểm gây bệnh của stress và sức chống đỡ của nhân cách.
1. Ðặc điểm gây bệnh của stress
- Stress gây bệnh thường là những stress mạnh và cấp diễn (người thân chết đột ngột, tổn thất về kinh tế nặng nề). Có những stress tuy không mạnh và cấp diễn nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần gây căng thẳng nội tâm cũng có khả năng gây bệnh.
- Thành phần gây bệnh của stress là ý nghĩa thông tin chứ không phải là cường độ của stress (ý nghĩa gây bệnh của đám cháy không phải là cường độ ngọn lửa mà là giá trị của tài sản bị thiêu hủy và hậu quả cụ thể đối với mỗi cá nhân).
- Những stress gây xung đột nội tâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát cũng thường gây bệnh (một đôi vợ chồng mâu thuẫn gay gắt và kéo dài nhưng không thể ly dị được vì đang còn lo nghĩ về những đứa con).
- Stress đập vào một cá nhân thường gây bệnh nhiều hơn stress đập vào một cộng đồng (cơ chế chia sẻ gánh nặng, nỗi buồn)
2. Sức chống đỡ của nhân cách:
Nếu đối tượng nhận thức tình huống stress không nguy hiểm và có thể chống đỡ được thì sẽ có một phản ứng thích hợp bình thường. Ngược lại nếu đối tượng nhận thức tình huống là nguy hiểm và không thể chống đỡ được thì sẽ xuất hiện một phản ứng bệnh lí.
Cảm xúc không ổn định, lo âu, căng thẳng, né tránh cũng là những nét nhân cách dễ bị tổn thương.
Cùng một stress, tùy theo phương thức phản ứng của đối tượng mà có thể biểu hiện bệnh lý khác nhau: lo âu, trầm cảm, khó thở, rối loạn tiêu hóa, cao huyết áp...
Những nét nhân cách sau đây dễ bị tổn thương: dễ xúc động, khó làm chủ bản thân, bi đát hóa các tình huống stress; đánh giá cao các khó khăn và đánh giá thấp bản thân.
Những nét nhân cách sau đây có sức chống đỡ với stress: sớm làm chủ được tình huống stress, có ý chí và tinh thần trách nhiệm, có khả năng thích nghi, mềm dẻo.
3. Môi trường và nhân cách tác động qua lại cảm ứng lẫn nhau rất mật thiết, khi cảm ứng những nét tiêu cực có thể gây ra trạng thái bệnh lý tập thể, khi cảm ứng những nét tích cực thì mỗi nhân cách trong tập thể lại được tăng thêm sức mạnh để chống đỡ stress.
4. Cơ thể khỏe mạnh hỗ trợ tốt cho nhân cách chống đỡ với stress.
* Quan niệm và phân loại các RLLQS
Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ tâm căn (neurosis, nevrose) là William Cullen (1769). Neurosis của Cullen bao gồm nhiều trạng thái bệnh lí khác nhau, có chung một chẩn đoán âm tính là: không sốt, không có tổn thương khu trú. Nó là biểu hiện của rối loạn hệ thần kinh gây trở ngại chủ yếu đến cảm giác và vận động.
Thuật ngữ neurosis được nhiều nhà tâm thần học sử dụng, nhưng mỗi tác giả lại đưa ra những quan niệm riêng của mình.
1. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết phân tâm (Freud):
Xuất phát từ lí thuyết về ưu thế của vô thức trong hoạt động tâm thần với thành phần chủ yếu là bản năng tình dục. Freud chia ra 2 loại neurosis chính: neurosis hiện thời và neurosis chuyển di (tức chuyển từ những xung đột vô thức thành những triệu chứng neurosis). Freud còn đưa ra loại neurosis tự yêu, khác với neurosis chuyển di ở chỗ xung đột vô thức không chuyển di được, cố định vào bản ngã.
Học thuyết phân tâm về neurosis ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm của các nhà tâm thần học trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương Tây trong gần nửa đầu của thế kỷ 20.
2. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết Pavlov:
Pavlov cho rằng neurosis xuất hiện do sự mất thăng bằng của hai quá trình hưng phấn và ức chế trong hoạt động của vỏ não, trên những loại hình thần kinh đặc biệt, tâm căn hysteria trên loại hình thần kinh nghệ sĩ yếu, tâm căn suy nhược tâm thần (psychasthenia) trên loại hình thần kinh lí trí yếu, tâm căn suy nhược trên loại hình thần kinh trung gian yếu.
Học thuyết Pavlov về neurosis có ảnh hưởng lớn đến các nhà tâm thần học ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ trong gần nửa thế kỷ trước đây.
ở nước ta, trước khi có ICD-10, chủ yếu áp dụng cách phân loại của Liên Xô cũ và các RLLQS được áp dụng trong lâm sàng tâm thần học gồm có:
- Tâm căn suy nhược.
- Tâm căn hysteria.
- Tâm căn ám ảnh.
- Tâm căn suy nhược tâm thần.
- Các bệnh cơ thể tâm sinh.
- Các trạng thái loạn thần phản ứng.
3. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết tập tính hay hành vi:
Dựa vào những thành công trong thực nghiệm về neurosis, học thuyết tập tính cho rằng các triệu chứng neurosis là những tập tính đã bị thâm nhiễm trong quá trình đáp ứng với kích thích của môi trường trong cơ chế khái quát hóa kích thích ban đầu, các tập tính này có thể làm mất đi bằng phương pháp khử tập nhiễm.
- Học thuyết tập tính không đưa ra cách phân loại riêng về neurosis, không quan tâm đến cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh, chỉ quan tâm đến cơ chế tập nhiễm và các phương pháp khử tập nhiễm.
Học thuyết tập tính đã chiếm ưu thế ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ trong cuối thế kỷ 20 này.