📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chuyến Tàu Định Mệnh - AGATHA CHRISTIE - Hết

34 trả lời, 3.294 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-12-18 01:16:17HanAn>
CHUYẾN TÀU ĐỊNH MỆNH
(Nguyên tác: Murder on the Orient Express)
Tác giả: AGATHA CHRISTIE
Người dịch: Đào Đăng Trạch Thiên
Nhà Xuất Bản Văn Học 2002


Án mạng trên chuyến tàu tốc hành Phương Đông (tiếng Anh: Murder on the Orient Express) là một tiểu thuyết hình sự của nhà văn Agatha Christie được nhà xuất bản Collins Crime Club phát hành lần đầu tại Anh ngày 1 tháng 1 năm 1934.[1] Tại Hoa Kỳ cuốn này được nhà xuất bản Dodd, Mead and Company phát hành lần đầu cũng vào năm 1934 dưới tựa đề Murder in the Calais Coach (Án mạng trên toa xe Calais).[2][3] Tác phẩm nói về vụ án mạng kỳ lạ xảy ra trên chuyến tàu tốc hành Phương Đông chạy từ Istambul về Calais mà thám tử Hercule Poirot tình cờ có mặt. Đây được coi là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Agatha Christie và nó đã hai lần được chuyển thể thành phim và một video game.
• Nạn nhân: Một hành khách trên toa Istambul-Calais của chuyến tàu tốc hành phương Đông.
o Samuel Edward Ratchett, một người Mỹ trung niên có vẻ ngoài của một nhà từ thiện nhưng ánh mắt lại bộc lộ sự dữ tợn và nguy hiểm.
• Nghi phạm: Bao gồm tất cả hành khách còn lại cùng toa Calais với Ratchett.
o Hector Willard MacQueen, một thanh niên người Mỹ dong dỏng cao, thư ký và phiên dịch riêng của Ratchett.
o Edward Henry Masterman, một người Anh luôn tỏ vẻ khó chịu với những người nước ngoài, người hầu của Ratchett.
o Pierre Michel, một người Pháp trung niên hiền lành, trưởng toa Istambul-Calais.
o Mary Hermione Debenham, một phụ nữ trẻ người Anh có dáng vẻ cao, lạnh lùng, trở về nước sau khi kết thúc công việc gia sư ở Bagdad.
o Đại tá Arbuthnot, một sĩ quan quân đội người Anh, trở về nước từ Ấn Độ.
o Natalia Dragomiroff, một công nương người Nga đã có tuổi.
o Hildegarde Schmidt, nữ hầu gái người Đức của công nương Dragomiroff, một phụ nữ ở tuổi trung niên có vẻ nhút nhát.
o Rudolph Andrenyi, bá tước và nhà ngoại giao người Hungary, một người đàn ông đẹp trai, lịch thiệp với lối ăn mặc theo kiểu Anh.
o Elena Andrenyi, phu nhân của bá tước, một phụ nữ trẻ có dáng vẻ xinh đẹp nhưng yếu đuối.
o Greta Ohlsson, nữ truyền giáo người Thụy Điển, một phụ nữ trung niên luôn tỏ ra là một con chiên ngoan đạo đáng tin cậy.
o Caroline Martha Hubbard, góa phụ người Mỹ trở về nước sau chuyến thăm con gái ở Trung Đông, một phụ nữ lẩm cẩm nói chuyện luôn mồm về con gái.
o Antonio Foscarelli, nhà kinh doanh xe hơi người Ý nhưng đã ở Mỹ lâu năm, một người đàn ông trung niên có nước da ngăm đen và dáng vóc to lớn, luôn tỏ ra vồn vã trong các cuộc nói chuyện.
o Cyrus Bethman Hardman, nhà buôn người Mỹ nhưng thực tế là một thám tử tư lên tàu điều tra theo đề nghị của Ratchett.
• Nhóm điều tra:
o Hercule Poirot, thám tử người Bỉ, luôn làm người khác ấn tượng bởi bộ ria mép lớn và chiếc áo khoác lù xù để chống lạnh
o Ngài Bouc, giám đốc công ty điều hành tàu Phương Đông, bạn của thám tử Poirot, người đã sắp xếp cho thám tử một chỗ trên toa Istambul-Calais (vốn không nhận thêm khách)
o Bác sĩ Constantine, bác sĩ, hành khách cùng phòng với ngài Bouc



📎 CTDMenhpic
Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN MỘT
MANH MỐI

Chương MỘT
NHÂN VẬT QUAN TRỌNG ĐÁP TÀU TỐC HÀNH TAURUS


Syrie, năm giờ sáng sớm một ngày mùa đông. Dọc theo sân ga Aleppo, con tàu Tốc hành Taurus bệ vệ ngự trị trên đường ray. Tàu kéo theo một toa nhà bếp, một toa nhà ăn, toa giường nằm và hai toa tàu chợ.
Đứng trên bậc thềm toa tàu giường nằm, một sĩ quan trẻ tuổi đang trao đổi vài mẩu chuyện với một người đàn ông nhỏ thó, cổ áo vén sát mang tai chỉ để vừa đủ thấy cái mũi đỏ với hai chòm ria rậm vểnh ngược hai bên mép.
Trời lạnh cóng thế này mà lãnh trách nhiệm đưa tiễn nhân vật quan trọng thì thật không ham chút nào, vậy mà Trung úy Dubose hăng hái thi hành nhiệm vụ dược giao. Những lời chúc tụng nhã nhặn được thốt ra bằng thứ tiếng Pháp thật lịch sự. Gã chẳng hiểu đầu đuôi câu chuyện. Nhưng chuyện đồn dại thì lúc nào cũng vậy. Ông tướng, vị tướng của gã tính tình nay đổi khác tệ hơn xưa. Có thêm một vị khách lạ người Bỉ, hình như ông ta vừa từ bên Ăng-lê qua đây. Suốt cả tuần lễ, một tuần lễ sôi động đến khác thường.
Vụ tự tử và một vụ từ chức trong hàng ngũ sĩ quan quân đội, những bộ mặt ưu phiền xưa nay bỗng chốc xóa đi hết mọi dấu vế phiền muộn, các biện pháp canh phòng được nới lỏng. Còn ông Tướng - vị chỉ huy trực tiếp của Trung úy Dubose - vẻ mặt trẻ lại được mươi tuổi.
Dubose nghe lỏm dược câu chuyện giữa ông Tướng với vị khách lạ đã cứu vớt chúng tôi, "ông bạn thân mến”. Giọng ông đầy vẻ xúc động, hàm ria mép bạc trắng khẽ nhúc nhích "Ngài đã cứu vãn danh dự quân đội Pháp - tránh được một cuộc đổ máu! Làm sao tôi nói cho hết tấm lòng biết ơn trước sự đáp ứng của ngài? Đến nay thì..."
Nghe xong người khách lạ (có tên là ông Hercule Poirot), đáp lại ngay như thế này: "Nếu tôi nhớ không nhầm Ngài cũng đã từng cứu mạng tôi thì phải?". Ông Tướng không chần chừ nói rằng hãy quên chuyện cũ, rồi ông nhắc lại chuyện về nước Pháp, Bỉ những lần thắng trận, được tuyên dương, cả hai tâm đầu ý hợp ôm chầm lấy nhau thật chân tình thắm thiết, câu chuyện đến đó thì hết.
Người sĩ quan trẻ, Trung úy Dubose được cất nhắc, dù gã được giao nhiệm vụ đưa tiễn ông Poirot đáp tàu Tốc hành Taurus, gã đã hoàn thành nhiệm vụ chu đáo của một cấp thừa hành, tương lai nhiều hứa hẹn.
- Hôm nay chủ nhật - Dubose nói - Tối mai, thứ hai, ông sẽ đến Istanbul.
Không phải lần đầu gã sĩ quan nhìn thấy cảnh tiễn đưa. Những cuộc trao đổi trên sân ga trước giờ tàu chạy thường xưa nay vẫn vậy.
- Phải đấy - Poirot gật.
ông định ở lại vài bữa, có phải vậy không
- Có chứ. Ta chưa biết thành phố Istanbul. Bỏ qua thì tiếc thật. Thế đấy - ông búng tay ra dấu đắc ý - Chả cần phải vội, ta sẽ ở lại vài bữa, như khách du lịch.
- Tôi nghe kể chỗ La Sainte Sophie đẹp lắm - Người sĩ quan vừa nói, dù chưa hề đến đó.
Gió hắt ngược lạnh cóng trên sân ga, cả hai run rẩy. Trung úy Dubose khẽ liếc nhìn đồng hồ. Năm giờ kém năm, chỉ còn năm phút phù du!
Lo sợ có kẻ theo dõi mình liếc nhìn đồng hồ, gã sĩ quan vội nói cho xong.
- Mùa này ít có khách du lịch - Gã nói, mắt ngước nhìn về phía cửa sổ trên toa tàu giường nằm.
- À mà phải - Poirot gật.
- Cầu mong sao ông không phải bị kẹt lại trên tàu giữa đợt tuyết này.
- Có vậy sao?
- Chuyện đó bình thường mà. Năm nay thì chưa thấy gì.
- Ta mong là đừng có - Poirot đáp khẽ - Thông báo thời tiết Châu âu xấu.
- Trời xấu lắm. Tuyết rơi dày đặc trong vùng Balkan.
- Ở bên Đức cũng có, ta nghe báo lại.
- Mà này - Trung úy Dubose vội vàng cất tiếng e rằng không nói được hết câu - Bảy giờ bốn mươi tối mai ông sẽ có mặt tại Constantinople.
- Phải - Poirot đáp khẽ chợt ông hăm hở nói - La Sainte Sophie, ta nghe nói nơi đó đẹp lắm.
- Tuyệt vời nữa là đằng khác .
Bên trên toa tàu giường nằm, tấm màn che khung cửa vừa kéo qua, bóng một người đàn bà ló đầu nhìn ra.
Mary Debenham vừa chợp mắt được chút đỉnh từ lúc rời bến tàu Badghdad thứ Năm tuần trước. Nàng ghé qua mấy nơi, như lúc còn trên tàu ở Kirkuk, hay lúc ở lại nhà khách tại Mosul và đêm qua ngủ lại trên tàu cũng không yên giấc.
Đang lúc mệt mỏi vì thao thức trong toa tàu nóng bức, nàng chồm ngay dậy nhìn ra ngoài.
Đây có phải là ga Alepo. Trời tối mù chẳng nhìn thấy gì phía trước. Chỉ nhìn thấy leo lét ánh đèn soi trên đường tàu dài hun hút xen lẫn giọng nói tiếng Ả Rập đang cãi lộn quanh đâu đó. Nàng nhìn xuống về phía chỗ hai người đàn ông đang trao đổi mấy câu tiếng Pháp. Một người là sĩ quan trung đội Pháp, và người kia một người đàn ông có bộ ria mép rập rạp. Nàng nhếch miệng khẽ cười một tiếng. Nàng chưa từng nhìn ra một người nào ăn mặc đồ ấm che kín cả người. Vậy là trời đang trở rét dữ dội. Bên trong toa tàu được sưởi ấm đến nóng rực. Nàng cố níu cửa sổ xuống thật sát mép cửa mà không sao xê dịch thêm chút nào.
Người phụ trách toa bước đến chỗ hai người đàn ông đang đứng. Tàu sắp rời ga, ông ta báo mời quý khách bước vô trong. Người đàn ông nhỏ ngả mũ chào. Kìa cái đầu kỳ dị hình quả trứng. Dù đang lúng túng Mary Debenham nhếch mép mỉm một nụ cười. Anh chàng nhỏ thó trông bộ mặt thật buồn cười. Cái con người nhỏ thó ai mà quan tâm đến làm gì.
Trung úy Dubose vừa nói mấy lời chào tiễn đưa người đi. Gã đã chuẩn bị câu nói trong đầu từ trước chờ đến phút cuối mới nói. Một câu giã từ thật lịch sự, nghe êm tai.
Không hấp tấp, ông Poirot đáp lại giọng tử tế.
- Mời quý khách lên tàu - Người phụ trách toa tàu cất tiếng.
Với bộ điệu ngập ngừng trông thấy rõ, Poirot cũng phải bước lên tàu. Người hướng dẫn bám theo sau. Piorot vẫy tay chào. Trung úy Dubose chào với theo. Con tàu gầm gừ rồi chậm rãi chuyển động theo.
- À đây rồi - ông Piorot khẽ nói.
- Ừ, ừ… lạnh quá đến nỗi Trung úy Dubose rên.
- Xin mời ngài - Người hướng dẫn chỉ vô toa của Poirot trong bộ điệu như người đóng kịch - chỗ ngủ tiện nghi, hành lý xếp gọn. Chiếc vali nhỏ của ngài tôi đã xếp vô ngay chỗ này.
Gã đưa tay ra ngụ ý một việc. Hercule Poirot giúi vô tay gã tờ bạc xếp gấp.
- Cám ơn, ngài - Gã tỏ vẻ hớn hở trúng mánh - Tôi giữ vé hộ ngài và cả giấy thông hành. Ngài dừng lại ga Istanbul phải không ạ?
Ông Piorot gật.
- Mùa này ít du khách, tôi cho là vậy - Piorot vừa nói.
- Thưa không; Ngài ạ. Tôi còn chỗ cho hai du khách nữa, người Ăng-lê cả. Một ông đại tá từ Ấn Độ về nước và một bà người Ăng-lê từ Badgdad về quê. Ngài còn dặn thêm gì nữa không ạ?
Ông Poirot dặn mang lại một chai Perrier.
Năm giờ sáng đáp tàu kể ra cũng bất tiện. Mãi đến hai giờ nữa trời mới sáng tỏ. Biết là đêm qua ít ngủ còn lo công tác sắp tới, Poirot vội tìm một chỗ trong góc toa thu người co ro đánh một giấc.

* * *

Ông thức giấc sáng hôm sau lúc đồng hồ chỉ chín giờ ba mươi phút, vội vã chạy xuống toa hàng ăn gọi một ly cà phê đen nóng hổi.
Giờ này mới chỉ có một vị khách, đó là người đàn bà Ăng-lê ông nghe người hướng dẫn kể đêm trước. Một dáng người cao mảnh khảnh, nước da sậm trong độ tuổi hai mươi tám đổ lại. Nhìn cách ngồi ăn và cách gọi món cà phê ta thấy đó là một quý bà, nàng mặc một chiếc áo loại hàng mỏng, sẫm màu, mốt thời trang du lịch khi ngồi trong toa tàu nóng bức.
Ông Poirot giết thì giờ, nhìn theo nàng từng đường đi nước bước.
Ông đoán nàng là một phụ nữ trẻ biết tạo mọi nhu cầu cho chính mình một cách thoải mái. Nàng tự tin, có bản lĩnh. Ông có vẻ thích ngắm những nét cân đối với nước da nhợt nhạt. Ngắm mãi không chán mái tóc đen nhánh uốn dợn sóng, đôi mắt nâu, vẻ nhìn hờ hững lạnh lùng. Nhìn xong ông mới phán xét có thể gọi nàng là một người đàn bà đẹp.
Vừa lúc đó một hành khách bước vô nhà ăn. Người đàn ông cao ráo xê xích trong độ tuổi bốn mươi đến năm mươi, dáng dấp rắn rỏi, da nâu sẫm, chòm tóc hai bên thái dương lốm đốm trắng muối tiêu.
- Ngài Đại tá từ Ấn Độ về - Poirot nói thầm.
Ông khách mới đến khẽ cúi đầu chào người đàn bà.
- Chào cô Debenham.
- Chào Đại tá Arbuthnot.
Ngài Đại tá còn đứng đó tay vịn thành ghế trước mặt.
- Cô cho phép tôi ngồi chức? - ông mở lời.
- Dạ được chứ. Mời Ngài ngồi.
- Ồ, cô biết mà buổi ăn sáng không phải lúc để bàn chuyện.
- Em đâu nghĩ vậy. Nhưng em không nói tầm bậy.
Ngài Đại tá ngồi vô bàn.
- Bồi - ông gọi giọng quan lớn.
Ông gọi món trứng và cà phê.
Chợt ông ghé mắt nhìn về phía Hercule Poirot, cái nhìn hờ hững. Poirot đoán ra ngay ông đại tá đang nghĩ gì trong đầu, biết vậy ông nói một mình “Cũng mấy tên người nước ngoài quỷ quái”.
Đúng là dân Ăng-lê chính tông, ngồi vô bàn ăn không tán gẫu. Sau khi trao đổi vài câu thăm hỏi, cô nàng đứng dậy lui về trong toa tàu.
Giờ ăn trưa hai người đồng hương lại ngồi chung bàn, không màng đến người khách lạ thứ ba. Câu chuyện trưa nay rôm rả hơn lúc ăn sáng. Ngài Đại tá Arbuthnot đang kể chuyện ở bang Punjab, chợt ngài hỏi thăm về Baghdad nơi nàng đang làm gia sư. Kể vài câu chuyện mà hai người cảm thấy gần gũi thân mật hơn trước, không còn giữ vẻ kiểu cách. Hai người khách kể cho nhau nghe chuyện thiên hạ. Ngài Đại tá muốn biết nàng đi chuyến tàu suốt về Ăng-lê hay còn ghé lại Istanbul.
- Không, em đi thẳng về Ăng-lê.
- Vậy thì tiếc quá phải không?
- Hai năm trước em có đi một lần và ghé lại Stamboul ba hôm.
- Ồ, ta hiểu. Vậy là, em cùng đi một chuyến tàu suốt như ta.
Ông nghiêng đầu khẽ chào hơi vụng về, vẻ mặt có một chút ửng đỏ.
- Ngài Đại tá coi vậy mà được - Hercule Poirot nghĩ trong đầu, vẻ thích thú.
- Đi tàu sắt cũng có khi gặp nguy như đi tàu biển.
Nàng Debenham cảm thấy như vậy là ổn cả. Nàng có vẻ biết kiềm chế.
Hercule Poirot để mắt theo dõi ngài Đại tá đi cùng nàng trở vô trong toa xe. Một lát sau hai người đi một vòng nhìn ngắm con tàu Taurus lộng lẫy. Từ bên trong họ nhìn về phía cổng Cilician Gates, nàng chợt buông một tiếng thở dài. Poirot đứng gần bên nghe rõ giọng nàng thì thầm.
- Đẹp tuyệt vời. Em ước gì... ước gì...
- Hả?-
- Em ước gì được tận hưởng giây phút này!
Arbuthnot đứng im không nói. Gương mặt chữ điền của ngài như đanh lại, nghiêm nghị.
- Ta cầu ơn Trên, em đừng theo nghề cũ - Ngài nói.
- Suỵt, đừng nói. Suỵt.
- Ồ! Rồi đâu vào đó - Ngài đưa mắt nhìn vẻ phiền muộn về phía Poirot đang đứng. Rồi ngài nói tiếp - Ta lại không muốn em làm nghề gia sư để cho mấy bà mẹ ác ôn sai khiến, làm mọi lũ trẻ khó dạy.
Nàng phá ra cười quên cả phép tắc.
- Ngài không nên nghĩ vậy. Chuyện gia sư bị ức hiếp đã lỗi thời. Em cam đoan với ngài chính em mới là người khiến các bậc cha mẹ lo sợ.
Cả hai lặng thinh. Ngài Arburthnot có vẻ xấu hổ.
- Nhìn xem họ đối thoại ta tưởng chừng như một đoạn hài kịch ngắn lố bịch.
Về sau Ngài sẽ nhớ lại cái ý tưởng ngày hôm nay.
Tàu ghé lại ga Konya lúc nửa đêm. Hai vị khách người Ăng-lê lội bộ trên sân ga, thư giãn đôi chân, họ dạo một vòng sân ga phủ đầy tuyết.
Từ bên trong cửa sổ toa xe, Poirot quan sát hoạt động nhộn nhịp trên sân ga. Được mười phút, ông nghĩ nên ra ngoài hít thở khí trời cũng hay. Ông sửa soạn đồ mặc ấm đầy đủ. Cẩn thận trùm tấm vải cao su quanh đôi giày cho khỏi ướt. Quần áo chỉnh tề xong xuôi, ông rón rén bước xuống sân ga đi bộ dọc theo đường tàu. Ông đi bộ ra tới đầu tàu.
Chợt có tiếng nói của hai người lạ mặt đứng khuất sau toa tàu. Arbuthnot đánh tiếng:
- Mary...
Nàng chặn lại:
- Chưa phải lúc này. Chưa phải lúc. Chờ xong việc đã. Lúc mọi việc đã qua rồi thì...
Poirot âm thầm quay đi nơi khác. Đang còn ngơ ngác, ông chưa thể đoán ra điều gì qua giọng nói lạnh lùng, quả quyết của nàng Debenham.
- Lạ thật - ông nghĩ trong đầu.

* * *

Qua đến hôm sau ông còn mải theo cái ý tưởng có thể hai người tranh cãi về việc gì đó. Bỗng dưng họ ít nói. Người đàn bà có vẻ lo lắng. Mắt cô thâm quầng.
Đến hai giờ rưỡi chiều tàu đỗ lại một sân ga. Đầu người lố nhố nhô ra ngoài cửa sổ. Một nhóm mấy người xúm lại một phía cúi xuống nhìn khắp bên dưới gầm toa xe hàng ăn.
Poirot nhô đầu ra ngoài hỏa với theo người phụ trách toa giường nằm đang bước vội ngang qua. Nghe xong ông xoay người trở vô thì suýt đụng phải Mary Debenham đứng phía sau.
- Có việc gì vậy? - nàng hỏi một câu tiếng Pháp nghe như bị ngắt quãng - Sao tàu phải dừng lại?
- Chẳng có việc gì, cô em. Dưới gầm toa xe hàng ăn có bốc khói. Không đáng ngại. Dập tắt hết rồi, thợ đang sửa chữa. Không có gì phải lo sợ, ta bảo cô em yên chí.
Nàng chợt trở người như cố xua đi cái ý tưởng lo sợ vẩn vơ chẳng cần quan tâm.
- Dạ phải, em hiểu ý ông muốn nói. Nhưng còn thời gian.
- Thời gian à?
- Dạ, ta trễ mất rồi.
- Có thể là vậy, phải đấy - Poirot gật.
- Ta ráng chịu trễ một chút vậy! Tàu phải dửng lại đúng 6-55, ta còn vượt qua chặng eo biển Bosphore để bắt kịp chuyến tàu tốc hành đi Orient Express bên kia bờ vào lúc chín giờ. Nếu trễ một đến hai giờ ta không đến kịp chuyến tàu chuyển tiếp.
- Có thể là vậy, phải - Poirot nghe theo ý kiến đó.
Ông nhìn về phía nàng một cách lạ thường. Tay nàng vịn vào mép cửa sổ không vững, đôi môi nàng khẽ run.
- Nếu chẳng may trễ tàu có làm em nguy khốn, hở em ?- Poirot hỏi lại.
- Dạ, dạ có ạ. Em, em phải đón kịp chuyến tàu.
Nàng quay mặt đi qua lối hành lang gặp ngài Đại tá đang chờ.
Nàng làm gì mà phải lo lắng đến thế. Mười phút sau tàu lại lăn bánh. Tàu ghé lại ga Haydapassar trễ mất năm phút, bù lại thời gian cho chuyến sau.
Chặng đường vượt eo biển Bosphore gập ghềnh,ông Poirot không được yên chút nào. Ông lui về một nơi không nhìn thấy những vị khách quen.
Vừa đến ga Galata Bridge, ông đón xe đi thẳng một mạch đến khách sạn Tokatlian Hotel.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương HAI
TẠI KHÁCH SẠN TOKATLIAN


Đến khách sạn Tokatlian, Poirot thuê một phòng có buồng tắm. Ông bước ra cổng bảo vệ hỏi có thư từ gì không.
Người ta gởi cho ông ba cái thư, một bức điện. Ông khẽ nhướng mày lúc vừa liếc nhìn bức điện. Thật không ngờ.
Ông thong thả mở ra xem như thường lệ. Bức điện hiện rõ những hàng chữ in.
«Diễn biến vụ án Kassner case theo như ông dự đoán thành công bất ngờ, yêu cầu ông về lại nhiệm sở ngay».
- Thật là phiền - Poirot phát cáu nói khẽ một mình.
Ông ngước nhìn đồng hồ treo tường.
- Ta đi cho kịp chuyến tàu đêm nay- ông vừa nói với người bảo vệ - Bao giờ tàu chạy vậy hả anh ?
- Dạ thưa ông, đúng chín giờ.
- Anh đăng ký cho tôi một vé giường nằm.
- Dạ có ngay, thưa ông. Lúc này đăng ký giữ chỗ cũng nhanh. Tàu ít khách. Ông đăng ký vé hạng nhất, hạng nhì?
- Vé hạng nhất.
- Xong rồi, thưa ông. Ông đi đến ga nào?
- Tôi đi London.
- Tôi nghe, thưa ông. Tôi ghi vé đi London và dành sẵn một chỗ giường nằm đủ tiện nghi cho ông trong toa Stanboul - Calais.
Poirot ngước nhìn đồng hồ một lần nữa.
- Còn dư giờ ăn tối chứ?
- Dạ ông cứ yên tâm, thưa ông.
Ông khách nhỏ thó người Bỉ khẽ gật đầu. Ông rời chỗ, chưa dặn phòng vội bước qua bên nhà hàng ăn uống.
Ông vừa cho gọi món ăn chợt một bàn tay đặt xuống ngay vai.
- Ô kìa, ông bạn mình, thật là một vinh hạnh bất ngờ - giọng nói phát ra từ phía sau lưng ông.
Người đang nói thật lùn, bệ vệ, đã đứng tuổi, tóc hớt đầu đinh. Ông nở một nụ cười khoái trá.
Poirot đứng phắt dậy.
- Ông Bouc.
- Ông Poirot.
Ông Bouc người Bỉ, giám đốc Công ty toa xe giường nằm Quốc tế, ông gặp lại người bạn cố tri là nhân viên hàng đầu lực lượng cảnh sát Bỉ.
- Hôm nay ông mới đi xe nhà ông bạn hiền - ông Bouc nói.
- Tôi đi có chút việc qua Syrie.
- Ồ thế hả. Ông đang trên đường về, chừng nào vậy.
- Tối nay.
- Thế thì tuyệt! Tôi cùng đi với ông chuyến này, xa hơn, tới vùng Lausanne lận, đi có việc cần. Vậy là ông cũng di tàu Simplon - Orient, phải không?
- Phải. Tôi vừa đặt một chỗ vé nằm. Tôi có ý định ở lại mấy bữa, nhưng mới vừa nhận bức điện gọi về bên Ăng-lê có việc khẩn cấp.
- Ối giời - ông Bouc thở dài - Công việc, công việc. Còn ông, ông có chức quyền, ông bạn mình.
- Có thể tôi đã thành công một vài vụ - Hercule Poirot cố giữ vẻ khiêm nhường mà không được.
Bouc cười vang.
- Hẹn gặp lại - ông bạn nói.
Hercule Poirot đang chải chuốt hàm ria không để dính vào món xúp đang ăn.
Xong rồi, ông nhìn quanh một lượt, chờ món ăn mới dọn ra. Nhà hàng lưa thưa không đến mười thực khách, trong số chỉ có hai người khách nhìn theo Hercule Poirot.
Hai người khách ngồi ở một bàn gần đó. Một người trẻ tuổi khá dễ thương độ tuổi khoảng ba mươi, dân Mỹ chính cống. Còn người kia, chính người này mới khiến cho nhà trinh thám tài ba để mắt tới.
Ông ta tuổi độ sáu, bảy mươi. Từ xa nhìn tới vẻ mặt ông có nét hao hao một nhà hảo tâm. Cái đầu hơi sói một chút, trán vồ, miệng ông cười để lộ rõ hàm răng giả trắng muốt, tất cả toát ra một nhân cách từ tâm. Chỉ trừ cặp mắt gây ấn tượng trái ngược điều ước đoán về ông. Mắt nhỏ sâu hoắm vẻ nhìn giảo quyệt. Nhưng còn một điểm nữa. Ông ta đang nhắc nhở anh chàng trẻ tuổi mắt cứ nhìn khắp gian phòng chợt dừng lại chỗ Poirot đang ngồi một lúc, trong cái khoảnh khắc đó, ánh mắt ông chợt lóe sáng một tia nhìn hiểm ác, như bị dồn nén từ bên trong. Ông ta đứng phắt dậy.
- Trả tiền đi, Hector - ông nói.
Giọng ông như khàn đục, nghe là lạ nửa kỳ dị nửa dìu dịu pha lẫn chút độc địa.
Poirot trở tại phòng đợi vừa lúc hai kẻ lạ mặt cũng đang rời khỏi khách sạn. Hành lý được mang xuống, chuyển ra ngoài. Gã thanh niên đứng theo dõi đồ đạc hành lý. Ngay lúc đó gã đưa tay mở cánh cửa kính nói với theo:
- Xong xuôi cả rồi, thưa ông Ratchett.
Ông sếp nghe, miệng càu nhàu rồi bước ra ngoài.
- Này - Poirot nói - ông biết gì về hai người lạ mặt kia?
- Bọn đó dân Mỹ - Bouc đáp.
- Đúng là dân Mỹ rồi. Ý tôi muốn biết lai lịch bọn đó ra sao?
- Tên trẻ tuổi coi bộ dễ chịu hơn.
- Còn tên kia?
- Nói thật với ông tôi chả cần biết hắn như thế nào. Hắn gây cho tôi một ấn tượng không đẹp mắt. Còn ý ông nghĩ sao?
Hercule Poirot nghĩ ngợi một lúc mới trả lời.
- Tôi có một ý tưởng lạ lắm. Tôi nghĩ đến một loài dã thú, sống man rợ, hung bạo. Ông hiểu ý tôi nói, tôi mới vừa nhìn thấy thoáng qua trước mắt.
- Nhưng nhìn hắn ta có vẻ trịnh trọng lắm kia mà.
- Đúng quá rồi! Cái thân xác, cái cũi sắt, nhìn thấy đã khiếp, bên trong khung sắt lại hiện nguyên hình con dã thú.
- ng cứ nghĩ chuyện hoang dường, bố già ơi - Bouc nói.
- Biết đâu đấy. Tôi không thể gạt bỏ cái ý tưởng loại yêu quái đang chờn vờn quanh người tôi.
- Cái ông khách Mỹ khả kính kia đó sao?
- Chính cái ông Mỹ khả kính đó đó.
- Ồ... - giọng Bouc vui vẻ - Cứ cho là vậy đi. Thế gian này còn lắm yêu quái.
Chợt cánh cửa xịch mở, người bảo vệ bước vào. Gã nhìn nghiêm nét mặt ra vẻ biết.
- Lạ lắm, ông ơi - gã vừa nói cho Poirot nghe.
- Không còn một vé nằm hạng nhất nào, hết sạch rồi.
- Sao cơ? - ông Bouc quát to - Mới lúc này mà đã vậy? Ồ, thảo nào, chắc là có đoàn báo chí ? Mấy vị chính khách?
- Dạ, tôi không rõ, thưa ngài - Người bảo vệ cung kính nhìn ông vừa nói - Như vậy đó.
- Được, được rồi - ông Bouc quay qua nhìn Poirot - Đừng lo, ông bạn. Ta sẽ tìm cách xoay sở. Tàu nào cũng còn dành lại một chỗ - toa số 16, còn để trống. Trưởng tàu phải biết chứ - ông mỉm cười ngước nhìn đồng hồ treo tường - Nghe đây - ông nói - Đến giờ tàu chạy.

* * *

Đến sân ga, ông Bouc được người trưởng tàu trong bộ đồng phục màu nâu đón tiếp nồng hậu.
- Xin chào quý ngài. Mời ngài đến toa số l.
Lão cho gọi phu bốc xếp đẩy xe hành lý dừng ngay giữa toa tàu có một tấm bảng treo ghi rõ.
ISTANBUL TRIESTE CALAIS
- Chuyến tàu đêm nay chật ních, có phải vậy không?
- Thật không thể tưởng, thưa ông. Mọi người đổ xô đi chuyến tàu này.
- Dù sao, ông phải để dành cho ông bạn tôi một chỗ. Bạn tôi đấy. Ghi vé toa số 16 được mà.
- Đã có khách rồi, thưa ông.
- Thế nào hả? Toa số 16?
Mọi người nhìn nhau thông cảm, người trưởng tàu mỉm một nụ cười. Lão người thấp lùn, nước da nhợt nhạt, độ tuổi trung niên.
- Dạ, đã có người, thưa ông. Tôi nói thật mà, chật ních cả rồi, kín mít không còn một chỗ trống.
- Có việc gì vậy? - ông Bouc nôn nóng muốn biết - Sắp có một hội nghị? Và hôm nay mở tiệc?
- Không đâu, thưa ông. Chuyện tình cờ. Nhiều hành khách muốn đi chuyến tàu này.
Ông Bouc phát cáu lầm bầm trong miệng.
- Đến Belgrade - ông ta nói - Sẽ có tàu nhanh từ Athens qua. Còn thêm tàu Bljcarest-Pans, nhưng đến sáng mai chúng tôi mới đi Belgrade. Trước mắt phải giải quyết ngay đêm nay. Không còn chỗ giường nằm hạng nhì sao?
- Dạ, còn toa giường nằm hạng nhì, mời ông.
- Được rồi.
- Nhưng chỉ dành riêng cho mấy bà. Một bà hầu phòng người Đức đang ở bên trong.
- Thôi, thôi, quả là xui xẻo - ông Bouc nói.
- Đừng giận, ông bạn - Poirot đỡ lời - Tôi cũng phải mua vé hạng bình dân đây này.
- Không dám, không dám - Chợt ông quay về phía người trưởng tàu - Hành khách đầy đủ cả rồi chứ?
- Dạ đủ cả - Trưởng tàu đáp - Còn chờ một hành khách chưa đến kịp
Giọng lão chậm rãi ra vẻ lưỡng lự.
- Cứ nói đi.
- Toa giường nằm số 7, vé hạng nhì. Giờ này ông ấy vẫn chưa đến, chín giờ kém bốn phút.
- Ai vậy?
- Một người Ăng-lê - Trưởng tàu dò lại danh sách - Một ông có tên là Harris.
- Tên nghe có vẻ điềm lành - Poirot nói - Tôi khấn là ông Harris sẽ không đến.
- Cho hành lý ông ấy về toa số 7 - ông Bouc ra lệnh - Ông Harris đến tôi sẽ nói lại quá trễ rồi, không để dành chỗ được, tôi sẽ dàn xếp sau. Ta cần gì phải lo cho cái ông Harris đó nhỉ?
- Tùy ý Ngài - Trưởng tàu đáp.
Lão chỉ đường cho nhân viên phục vụ hướng dẫn Poirot đến toa tàu.
Lão đứng nép qua một bên, Poirot bước vô trong.
- Đi hết dãy, thưa ngài - lão cất tiếng - Toa gần chót.
Poirot bước lần theo lối đi, chầm chậm, hành khách đang còn đứng bên ngoài.
Poirot mồm cứ nói «Xin lỗi quý vị» ra vẻ lịch sự, ông đang đứng trước toa được chỉ định.
Bên trong đã có người đang chất hành lý, một người Mỹ cao lớn ở khách sạn Tokatlian.
Gã chau mày nhìn Poirot vừa bước vô trong.
- Xin lỗi ông - gã nói - ông đã nhầm chỗ rồi.
Rồi gã chuyển qua nói tiếng Pháp giọng khó nghe.
- Tôi nghĩ là ông đi lộn chỗ.
Poirot nói lại bằng tiếng Anh.
- Có phải là ông Harris?
- Không, MacQueen là tôi. Tôi…
Ngay lúc đó người trưởng tàu nói vọng qua vai ông Poirot, giọng hổn hển ra vẻ biết điều.
- Thưa ông, không còn chỗ giường nằm. Ông khách đây cũng đi theo toa này.
Lão đang đứng ở ngay cửa sổ toa tàu và cố nhấc hành lý Poirot vô trong.
Poirot lắng nghe lời đối thoại ra vẻ thích thú. Hẳn là ông khách được bù thêm tiền nếu chịu nhường chỗ lại. Dù có nhận thêm món tiền hậu hĩ cũng không bằng bởi lúc đó vị giám đốc đang có mặt trên tàu ra lệnh dàn xếp cho được.
Trưởng tàu đang ở trong toa, chất hành lý vô khoang.
- Thưa ngài, xong cả rồi - lão nói - Vậy là đâu vào đấy. Vé thường của Ngài tầng trên, số 7. Một phút nữa tàu chạy.
Lão lao nhanh ra phía hành lang. Phải ghi lại vé tàu cho Poirot.
- Chuyện nghĩ cũng lạ - giọng ông vui vẻ - Trưởng tàu lo sắp xếp hành lý. Ta chưa từng nghe.
Ông bạn đồng hành mỉm một nụ cười. Bởi không còn phái phiền, có lẽ ông cho là chẳng nên coi trọng mấ\y chuyện vặt vãnh, cứ phớt lờ là xong.
- Tàu chật ních những khách - ông ta nói.
Tiếng còi tàu vừa rít vang xa. Đầu máy tàu phát ra tiếng rền nghe buồn thảm. Hai vị khách bước ra ngoài hành lang.
Bên ngoài sân ga có tiếng ra lệnh.
- Tất cả lên tàu.
- Ta rời bến - MacQueen nói.
Tàu vẫn chưa nhúc nhích. Tiếng còi tàu lại vang xa hơn.
- Thưa ngài - bỗng dưng gã hành khách cất tiếng - Nếu như ngài có thể trở lại giường dưới, dễ thôi, vậy là tôi yên tâm.
Anh chàng coi vậy mà dễ chịu.
- Không, không được - Poirot không chịu - Ta có đuổi cậu đi đâu.
- Vậy thì chả sao.
- Cậu thật tử tế.
Hai bên cùng tỏ ra lịch sự.
- Tôi chỉ cần ở lại một đêm - Poirot phân bua - Đến ga Belgrade.
- Ồ, thảo nào. Đến ga Belgrade ông xuống.
- Chưa hẳn vậy, cậu biết đấy.
Tàu chợt lắc lư. Cả hai thò đầu ra ngoài nhìn theo đường tàu chiếu sáng dài hun hút đang lướt qua từng chập từng chập.
Tàu tốc hành Phương Đông bắt đấu chuyến đi qua châu Âu ba ngày.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương BA
POIROT BỎ QUA MỘT VỤ ÁN


Qua bữa sau, ông Hercule Poirot ghé vào phòng ăn trưa có hơi trễ. Sáng ông dậy sớm ăn sáng một mình, xong rồi ông bỏ nguyên buổi dò lại vụ án tính gọi ông về lại London. Ông không rảnh đến thăm hỏi người bạn đồng hành.
Ông Bouc đang ngồi đó, ra dấu mời bạn đến ngồi vào chiếc ghế để trống trước mặt. Poirot ngồi vô bàn, ngay vị trí thuận lợi, đã dọn ra một xuất món ăn đặc sản. Món ăn kể ra cũng cầu kỳ.
Đến lúc dọn món kem phó mát ra thì ông Bouc mới mở đầu câu chuyện không dính dáng việc ăn sáng. Ông đã ngán mấy món ăn rồi.
- Ồ - ông thở dài một hơi - Giá mà tôi có thể viết được như Balzac, tôi sẽ kể lại hết chuyến đi này.
Ông giơ tay ra làm dấu.
- Cũng là một ý kiến, thế đó - Poirot nói.
- Ồ, ông hiểu tôi nói? Chưa xong đâu, tôi cứ cho là vậy. Hơn nữa, câu chuyện có hơi hám trữ tình đấy ông bạn ạ.
«Ta đang sống giữa nhiều tầng lớp người, đủ mọi dân tộc, tuổi tác khác nhau. Chỉ trong ba bữa tất cả đều tập họp lại thành một khối. Cùng ăn ở dưới một mái toa tàu mà không thể xa rời nhau. Hết ba ngày mỗi người một ngã, không hẹn gặp lại.
- Và rồi - Poirot nói - giả sử tàu gặp sự cố?
- Ồ, không đâu, ông bạn.
- Theo như ông nghĩ, đó mới là chuyện không may, tôi đồng ý. Nhưng chỉ trong một khoảnh khắc, ta giả sử là như vậy. Vậy là, có thể tất cả chúng ta trên tàu phải chịu chung số phận.
- Uống thêm nữa đi - ông Bouc nói, tay rót rượu ra.
- Ông yếu trong người, ông bạn ơi. Có thể do ăn không tiêu.
- Phải đấy - Poirot gật - Đồ ăn ở Syrie này không hợp tì vị của tôi.
Ông nhấp một ngụm rượu, ngả người về phía sau. Ông đảo mắt quan sát quanh toa hàng ăn. Cả thảy là mười ba thực khách, đủ mọi thành phần dân tộc, đẳng cấp như ông Bouc đã nhận xét. Poirot bắt đầu quan sát từng người.
Bên kia bàn là ba người đàn ông. Ông đoán chừng là khách độc thân, người phục vụ hàng ăn khéo sắp xếp vô một bàn. Một gã người Ý to béo da ngăm đen khoái chí ngồi xỉa răng. Bên kia là một gã Ăng-lê gầy gò ăn mặc tươm tất, mặt cứ tỉnh bơ như một tên nô bộc. Sát bên là một gã người Mỹ mặc bộ đồ sặc sỡ. Chắc là hành khách nhà buôn.
- Mày bỏ cây tăm đi, thằng béo - gã thét bằng giọng mũi.
Gã hành khách người Ý tay lấy tăm ra múa vung vít.
- Được thôi - gã đáp - Đúng, ta đang bắt nhịp bài hát.
Gã Ăng-lê nhìn qua cửa sổ húng hắng ho.
Poirot vẫn để mắt theo dõi.
Ngồi ở chiếc bàn nhỏ đằng kia là một phụ nữ già khọm xấu xí ông chưa từng thấy. Xấu đến nỗi, khiến ta phải chú ý hơn là ghét bỏ. Bà ngồi ở tư thế lưng thẳng đứng. Cổ đeo xâu chuỗi hạt trai to quá cỡ, mắt nhìn khó mà tin nhưng mà đúng là hàng thật. Mấy ngón tay đeo đầy nhẫn. Chiếc áo lông chồn đắt tiền xệ xuống phía sau vai, đầu đội chiếc mũ toquet nhung đen loại đắt tiền, không xứng vẻ mặt xấu xí vàng vọt.
Bà đang nói vài câu với người hầu bàn, giọng lịch sự nhưng ra vẻ kẻ cả.
- Phiền anh có rảnh thì mang vô chỗ tôi một chai nước suối, và thêm một ly cam vắt thật lớn. Nhờ anh dọn món gà nấu không cần nước chấm và món cá hấp để ăn tối.
Gã hầu bàn lễ phép gật đầu làm theo ý bà.
Bà chỉ khẽ ngả đầu cám ơn rồi đứng dậy. Rà đảo mắt liếc nhìn về phía Poirot cái nhìn hờ hững của dân phong lưu đài các.
- Công chúa Dragomiroff đó - ông Bouc khẽ nói cho Poirot nghe - Công chúa Nga. Chồng bà ta hái ra bộn tiền trước cuộc cách mạng, gởi ra nước ngoài. Giờ bà giàu sụ. Sống nay đây mai đó.
Poirot nghe xong gật đầu. Ông đã từng nghe qua chuyện công chúa Dragomiroff.
- Bà là một nhân vật có tiếng tăm - ông Bouc nói - Xấu như quỷ, coi vậy mà có chí vai vế, ông đồng ý với tôi chứ?
Poirot gật.
Mary Debenham đang ngồi bên chiếc bàn ăn rộng rãi. Chung với hai bà lạ mặt. Một người cao lớn, tuổi độ sồn sồn, mặc áo choàng len, váy vải sọc. Tóc vàng nhạt búi cao trông kệch cỡm, đeo kính râm, mặt dài thượt khả ái như con cừu non. Bà nghe người ngồi bên kể chuyện, một bà to béo già nua mặt mũi dễ nhìn, bà đang kể giọng chậm rãi đơn điệu như không muốn dứt.
- Và rồi đến lượt con gái tôi nói - «Sao vậy?» nó lại hỏi - «Mẹ không thể đem lối học Mỹ qua đây được. Dân ở đây quen tính thờ ơ - nó nói - Tất cả thiếu một vẻ hoạt bát sôi nổi. Dù sao mẹ cũng nên hiểu là trường học ở đây ra sao. Có cả một đội ngũ giáo viên khá. Ở đây việc học được đề cao. Ta cứ việc áp đặt mô hình giáo dục phương Tây dạy cho người Phương Đông hiểu ra như thế nào». Con gái tôi nói.
Tàu chui qua đường hầm. Tiếng nói đơn điệu êm ả như chìm lắng xuống.
Ngài Đại Tá Arbuthnot đang ngồi một mình ở chiếc bàn nhỏ kề bên. Ông chỉ nhìn thấy nàng Mary Debenham. Họ không ngồi chung bàn. Vậy thì có dễ ăn nói. Sao vậy kìa ?
Poirot nghĩ là có lẽ nàng còn ngần ngại. Người làm gia sư lúc nào cũng tỏ ra dè dặt. Phải giữ gìn cái vẻ ngoài đạo mạo. Nàng luôn tỏ ra kín đáo.
Ông đảo mắt nhìn qua nơi khác. Cuối dãy gần sát chân tường ở xa xa, một bà độ tuổi sồn sồn mặc đồ đen, vẻ mặt như người mất hồn. Dân Đức hay dân Bắc Âu đây, Poirot đang còn nghĩ chưa ra. Có thể đấy là bà người hầu dân Đức.
Rồi đến lượt một cặp tình nhân ngồi ngả người ra trước nói chuyện huyên thuyên vui nhộn. Gã đàn ông ăn mặc đúng mốt Ăng-lê may vải sọc, nhìn kỹ không phải dân Ăng-lê. Poirot đứng từ xa chỉ nhìn thấy phía sau ót, ông không đoán ra được nhìn qua cái dáng khuất hai vai. Ông đoán chừng là một gã đàn ông chững chạc.
Chợt gã nghiêng đầu một bên, Poirot nhìn thấy rõ bề ngang. Một gương mặt điển trai, tuổi ngoài ba mươi, để hàm ria mép rậm gọt tỉa cẩn thận.
Ngồi bên kia bàn, nhìn qua là một cô gái rất đỗi bình thường tuổi độ đôi mươi, mặc chiếc áo và bộ váy vải đen ôm sát, người khoác áo blouson vải xa tanh trắng đầu dội mũ toquet đen đúng mốt để lệch một bên thật táo bạo. Cô gái có một nét đẹp lai, nước da trắng bệch, đôi mắt nâu mở to với mái tóc dài đen nhánh. Miệng nàng ngậm cái ống đót dài gần một đầu điếu thuốc đang nhả khói, móng tay sơn đỏ chói. Tay nàng đeo chiếc vòng ngọc bích viền bạch kim. Liếc nhìn nói năng đỏng đảnh.
- Nàng đẹp, ăn mặc đúng mốt - Poirot nói khẽ một mình - Chắc là hai vợ chồng, ờ nhỉ.
Ông Bouc nghe, gật đầu.
- Người của Sứ Quán Hungrary, chắc vậy - lão nói.
- Một cặp xứng đôi vừa lứa.
Còn lại hai thực khách nữa. McQueen ở cùng toa với Poirot và ông chủ của hắn là ngài Rattchett. Lão đang ngồi trước mặt Poirot. Một lần nữa ông có dịp quan sát bộ mặt khó coi, thấy rõ cái vỏ ngoài giả nhân nghĩa qua vầng trán và con mắt nhỏ ti hí độc địa.
Ông Bouc nhận ra ngay thần sắc biến đổi trên gương mặt người bạn.
- Ông đang nhìn con ác thú phải không? - lão chợt hỏi.
Poirot gật gù.
Cà phê vừa mang đến, ông Bouc vội đứng dậy. Ông đã dùng xong trước lúc Poirot đến ngồi vô bàn.
- Tôi về lại phòng - lão nói - Rảnh thì đến gặp tôi.
- Rất hân hạnh.
Nhấp mấy ngụm cà phê xong, Poirot gọi thêm rượu.
Người phục vụ bàn đi gom tiền từng người. Chợt bà người Mỹ kêu rên than phiền.
- Con gái tôi đã dặn: «Cầm sẵn cuốn phiếu mua món ăn thì mọi việc đâu vào đấy. Giờ thì không phải vậy. Người ta tính thêm mười phần trăm phục vụ đến cả cái chai nước suối chất lượng không ra gì. Không có được loại Evian hay Vichy tôi rất cần».
- Lẽ ra họ phải, như bà vừa nói, dùng hàng nội địa chứ - bà có gương mặt con cừu nói.
- Thế đấy, tôi cần mấy thứ đó.
Lúc vừa nhìn thấy một mớ tiền lẻ đặt trên bàn, bà tỏ vẻ bất bình :
- Coi kìa họ mang thối lại cho tôi toàn tiền bạc cắc. Thế đấy, bạc cắc. Một mớ rác rưởi. Con gái tôi nó nói vậy.
Mary Debenham kéo ghế lùi ra sau đứng dậy, khẽ nghiêng đầu chào hai người rồi bước ra ngoài.
Ngài Đại Tá Arburthnot đứng dậy tiếp theo sau.
Gom hết mới tiền lẻ, bà người Mỹ lục đục bước theo sau.
Hai người Hungary đã rời chỗ trước. Toa hàng ăn còn lại ba người Poirot, Ratchett và MacQueen.
Ratchett nói với gã thanh niên, hắn đứng dậy rời khỏi bàn. Đến lượt ông ta bước ra định theo MacQueen, nghĩ sao lão bỗng dưng ngồi xuống nhìn qua bên phía ông Poirot.
- Nhờ ông cho mượn hộp quẹt mồi thuốc? - lão nói, giọng mũi nho nhỏ đủ nghe - Tên tôi là Ratchett.
Poirot khẽ nghiêng đầu. Ông thò tay vô túi lấy ra bao diêm đưa cho khách, lão đỡ lấy chưa vội đánh.
- Tôi cho là - lão nói tiếp - mình hân hạnh được tiếp chuyện ông Hercule Poirot. Phải không?
Poirot lại khẽ nghiêng đầu.
- Vậy là ông biết rõ rồi, thưa ông.
Nhà thám tử thấy hết mọi ý nghĩ trong ánh mắt sắc sảo của người khách lạ trước khi ông ta định nói tiếp.
- Ở nước tôi - lão nói - người ta phán đoán mọi việc nhanh chóng. Này ông Poirot, tôi nhờ ông một việc.
Hercule Poirot khẽ nhướng mày.
- Hiện nay hiếm khi tôi gặp một thân chủ. Lâu lâu mới nhận vài vụ.
- Sao vậy? Dĩ nhiên là tôi hiểu mà. Nhưng lần này, thưa ông Poirot, việc to tiền lắm - Lão lặp lại ý đó, giọng nhỏ nhẹ ra vẻ thuyết phục - To tiền lắm đấy.
Hercule Poirot giữ im lặng một lúc rồi mới nói.
- Vậy là ông muốn tôi giúp ông một việc, ông, ờ mà, Rachett?
- Này ông Poirot, tôi giàu có, nhiều tiền, giàu to. Người như tôi phải sợ có kẻ oán thù. Tôi đang gặp một kẻ ân oán.
- Chỉ một tên thôi?
- Có phải ông muốn ám chỉ điều tôi vừa nói? - Rachett hỏi lại, vẻ gắt gỏng.
- Này ông bạn, theo kinh nghiệm tôi cho là một người đang gặp phải có kẻ ám hại mình thì không thể nào tự giải quyết chỉ một kẻ đó mà thôi.
Ratchett thấy người nhẹ nhõm khi vừa nghe Poirot giải bày. Lão nói ngay.
- Sao, kìa, tôi hoan nghênh ý kiến đó. Một hoặc nhiều kẻ ám hại, cũng không thành vấn đề. Chủ yếu là lo sao bảo toàn tính mệnh.
- Bảo toàn tính mệnh?
- Tính mạng tôi đang bị đe dọa, thưa ông Poirot. Từ giờ phút này lúc nào tôi cũng chăm lo cho thân mình.
Lão lôi trong túi áo blouse ra một khẩu súng ngắn tự động rồi cất vô ngay. Giọng lão nghiêm nghị hơn:
- Tôi không cho mình là nạn nhân đáng cho qua. Ngẫm lại, tôi thấy điều đó càng đúng hơn. Tôi đang tưởng tượng ông là một nhân vật tống tiền, ông Poirot. Và nên nhớ cho - một món tiền kếch xù.
Poirot chăm chú nhìn lão một lúc. Vẻ mặt như người mất hồn. Lão không thể đoán ra ông đang nghĩ ngợi gì trong đầu.
- Tôi lấy làm tiếc, thưa ông - cuối cùng Poirot mới chịu nói - Tôi không dám đòi hỏi.
Lão nhìn Poirot như hiểu thấu tâm can.
- Ông ra giá đi nào - lão nói.
Polrot lắc đầu.
- Ông chưa hiểu, thưa ông. Tôi rất mát tay trong nghề. Tôi chỉ làm kiếm vừa đủ tiền tiêu xài, vui chơi. Tôi chỉ nhận vụ nào mà tôi thấy thích.
- Ông có cái đầu tỉnh táo - Ratchett nói - Hai chục ngàn đô được chứ?
- Tôi không cần.
- Nếu ông ra giá thêm cũng chẳng được gì. Tôi biết người biết việc.
- Tôi cũng như ông, ông Ratchett.
- Lời đề nghị tốt còn sai sót chỗ nào?
Poirot đứng phắt đậy
- Nếu ông bỏ lỗi cho lời nói đụng chạm - tôi ghét cái vẻ mặt của ông, ông Rachett - Poirot nói thật.
Vừa dứt lời Poirot bước ra ngoài.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương BỐN
TIẾNG THÉT TRONG ĐÊM VẮNG


Tàu tốc hành Phương Đông Simplon đến ga Belgrade lúc chín giờ kém mười lăm tối. Chín giờ mười lăm sẽ tàu khởi hành chạy tiếp. Poirot đang bước xuống sân ga, ông không ở lâu. Rét cắt da. Thềm ga được bảo vệ kỹ dù tuyết rơi từng lớp dày. Poirot quay lại tàu.
Lão trưởng tàu đang đứng giậm chân, xoa tay lấy hơi ấm, nói với theo.
- Hành lý ông đã dời qua, thưa ông, toa số 1, chỗ ông Bouc.
- Ông Bouc đâu rồi?
- Ông chuyển qua toa tàu từ Athens đến vừa nối xong.
Poirot vội đi tìm ông bạn. Ông Bouc không chống báng, dẹp qua mọi chuyện.
- Không sao cả. Không sao cả. Ở đây cũng được thoải mái. Ông đi thẳng qua Ăng-lê, ông nên đi chuyến suốt đến ga Calair. Còn tôi, ở đây cũng dược rồi, không khí yên tĩnh lắm. Toa chỉ có tôi với một bác sĩ người Hy Lạp. Ồ, ông bạn, một đêm tuyệt vời! Mọi người đều biết là lâu lắm không thấy tuyết dày đặc như vậy. Hy vọng chúng ta không bị kẹt lại. Nếu vậy thì chán lắm, nói cho ông hay.
Đúng 9 giờ 15 tàu chuyển bánh rời ga. Một lát sau, Poirot đứng dậy chúc ông bạn ngủ ngon, ông bước ra ngoài hành lang trở về chỗ phía trước toa hàng ăn.
Cuộc hành trình qua hai ngày, mọi cách biệt không thấy nữa. Ngài đại tá Arburthnot đang đứng ở cửa toa nói chuyện với MacQueen.
Đang nói, chợt MacQueen cắt ngang câu chuyện, gã nhìn thấy Poirot bước tới. Vẻ mặt như kinh sợ.
- Sao vậy - gã thét to - Tôi tưởng ông xuống tàu rồi kia mà. Ông đã nói trước đến ga Belgrade ông xuống.
- Anh chẳng hiểu gì cả - Poirot mỉm một nụ cười mới nói - Ta nhớ lại, tàu khởi hành từ Stamboul như mọi người đã biết.
- Nhưng, mà này ông bạn, hành lý của ông đã chuyển đi trước.
- Đã chuyển qua toa khác mà thôi, chỉ có vậy.
- Ồ, tôi hiểu.
Gã trở lại câu chuyện với ngài Arbuthnot, còn ông Poirot rảo bước ra ngoài hành lang.
Cách chỗ toa ông hai phòng là bà người Mỹ đang đứng nói chuyện với một bà người Thụy Điển có vẻ mặt hiền lành. Bà Hubband dúi vô tay bà kia tờ báo đang đọc.
- Không, bà cầm lấy đi mà - bà vừa nói - Tôi còn rất nhiều sách báo nữa. Trời lạnh quá phải không?
Bà nghiêng đầu chào tỏ ý thân thiện với Poirot.
- Bà tử tế quá - người Thụy Điển nói.
- Có gì đâu. Chúc bà ngủ ngon, sáng dậy tỉnh lại ngay.
- Tại trời lạnh. Tôi phải pha trà uống.
- Bà uống thuốc Aspirin chưa? Khỏe rồi chứ? Thuốc tôi còn nhiều. Thôi, chúc bà ngủ ngon.
Bà quay qua muốn nói chuyện với Poirot lúc bà kia cáo lui.
- Khổ thân cho bà ấy, dân Thụy Điển đó. Tôi đoán chừng bà ấy truyền đạo, nghề giảng dạy. Bà dễ thương, nói được chút đỉnh tiếng Anh. Bà thích nhất được nghe chuyện đứa con gái.
Đến đây Poirot đã nghe kể hết về dứa con gái bà Hubband. Ai nghe hiểu được tiếng Anh đều biết cả. Đó là câu chuyện về hai vợ chồng bà làm việc tại một trường học đồ sộ, ở Smyrna và đây là lần đầu bà đáp tàu về phương Đông, bà nghĩ thế nào về những người Thổ Nhĩ Kỳ, đường sá không tốt ở nơi đây.
Cửa phòng kế bên mở nhìn thấy người phục vụ mặt mũi nhợt nhạt bước ra. Poirot nhìn vô thấy Ratchett đang nằm trên giường. Ông nhìn ra thấy Poirot, sắc mặt biến đổi giận sôi gan.
Bà Hubband nắm tay kéo Poirot xích qua một bên.
- Ông biết đấy, tôi ghét cay ghét đắng cái ngữ ấy. Ồ, không phải tên hầu phòng đâu, ông kia - ông chủ của nó. Đúng rồi, ông chủ. Tay này có vấn đề đấy. Con gái tôi nó để ý, tôi thường có linh tính biết trước mọi việc - “Mỗi khi mẹ có linh tính y như rằng là việc đó không sai trật” - con gái tôi nó thường nói vậy. Nay thì tôi có linh tính không hay cho cái ngữ ấy. Lão ở sát vách, tôi không thích chuyện đó. Tôi phải néo chặt lối cửa ăn thông hai bên. Tôi sực nghe tiếng khua động ngay ở cái chốt tay nắm cửa. Ông nghe rõ, tôi chẳng ngại nếu quả thật lão là một tay giết người, bọn ăn cướp tàu đó mà, tôi dám nói. Lúc đó tôi thật ngốc nghếch, nhưng dường như là vậy. Tôi sợ hắn thật đấy. Con gái tôi cho đây là một chuyến đi vui vẻ, nhưng tôi chẳng thấy vui chút nào. Thật ngớ ngẩn, nhưng tôi cho là có vấn đề đấy. Chắc là có. Và làm thế nào mà anh chàng đó lại là người thư ký cho lão ấy được.
Từ đàng xa ngài Đại tá Arbuthnot và MacQueen đang hướng về phía hàng lang.
- Mời ngài bước vô trong - MacQueen vừa nói - Chỗ ngủ chưa dọn. Nào bây giờ tôi cần được nghe công việc của ngài lúc đến Ấn Độ là…
Ngài Đại tá đi ngay về phía hành lang tới chỗ ở của MacQueen.
Bà Hubbard chào Poirot rồi đi ngủ.
- Tôi vô giường nằm đọc sách - bà nói - Ngủ ngon nhé.
- Chúc bà ngủ ngon.
Poirot trở lại toa giường nằm, bên chỗ ở của Ratchett.
Ông cởi đồ lên giường nằm khoảng ba mươi phút rồi tắt đèn ngủ.
Chỉ vài giờ sau ông thức giấc, ngỡ ngàng mở mắt ra nhìn. Ông hiểu được lý do khiến ông chợt thức giấc. Tiếng rên la nghe rất rõ, như gào thét, gần lắm. Ngay lúc đó ông nghe có tiếng dóng leng keng liên hồi.
Poirot ngồi dậy bật đèn. Ông chợt nhận ra tàu đã dừng lại một chỗ, tại một nhà ga.
Tiếng thét khiến ông kinh hoàng. Ông chợt nhớ Ratchett đang ở phòng sát bên. Ông bước xuống giường, đến mở cửa vừa lúc trưởng tàu đang hối hả chạy dọc theo dãy hành lang đến gõ cửa toa Ratchett. Poirot bước đến để cửa mở ngồi đó nhìn. Lão gõ một lần nữa. Chợt có tiếng chuông và ánh sáng đèn mở toang ở một chỗ toa khác đàng xa. Trường tàu ngoái nhìn lại.
Và lúc đó toa bên cạnh có một tiếng gọi vọng ra.
- Không có gì. Tôi báo động nhằm.
- Dạ, tôi nghe - Lão trưởng tàu lật đật chạy vội lại toa tàu đang mở đèn sáng trưng.
Poirot trở về giường nằm, ông thở phào rồi tắt đèn ngủ lại. Ông liếc nhìn đồng hồ. Một giờ mười ba phút.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương NĂM
MỘT VỤ ÁN


Ông lại thấy khó ngủ hơn. Dễ hiểu bởi ông không còn nghe con tàu lắc lư. Nếu đây là ga sao lại yên tĩnh đến lạ kỳ như vậy. Hơn nữa bên trong tàu không khí chộn rộn khác thường. Ông lắng nghe tiếng bước chân Ratchett lui tới buồng gần bên, tiếng sột soạt trong chậu lavabô rửa mặt, tiếng vòi nước nghe lao xao, vòi nước đóng lại lách cách. Bên ngoài dãy hành lang tiếng bước chân người ngược xuôi, tiếng dép kéo lê trên sàn.
Hercule Poirot nằm trên giường, nhìn về phía nóc toa. Đến ga rồi mà sao yên tĩnh thế này. Cổ họng khô đắng. Ông đã quên dặn một chai nước suối, lại nhìn đồng hồ. Một giờ mười lăm. Lẽ ra thì ông định nhấn chuông gọi phụ trách toa đặt một chai nước suối. Vừa đặt tay chợt ông nghe trong không gian tĩnh lặng có tiếng chuông leng keng. Ngay lúc này gã không thể nghe theo tiếng gọi cửa hành khách được.
Reng... reng... reng.
Chuông gióng từng hồi một. Phục vụ toa ở đâu.
Hành khách sốt ruột.
Reng...
Vậy là có người đang nhấn nút chuông liên tục.
Người phục vụ hối hả leo theo từng nấc cầu thang. Gót giày nện nghe thình thịch, tiếng gõ cửa dồn dập cách chỗ Poirot không xa lắm.
Giọng nói người phục vụ nghe như khác đi, biết điều với khách, rồi giọng nói bên trong vọng ra của một bà nghe như dồn dập hối thúc.
Bà Hubbard!
Poirot lắng nghe rồi mỉm cười một mình.
Nếu đây là một vụ cãi lộn thì chắc là một lúc rồi thôi. Phần chắc là do bà Hubbard. Không thể nào là người phụ trách toa. Sau đó việc dàn xếp xong.
Poirot lắng nghe rõ từng tiếng.
- Chúc bà ngủ ngon - cánh cửa đóng sập lại.
Poirot giơ tay nhấn chuông.
Người phục vụ toa đến ngay, vẻ lo lắng bối rối.
- Nhờ ông mang đến giúp chai nước suối.
- Dạ thưa có ngay.
Poirot nháy mắt một cái khiến gã như trút được gánh nặng.
- Cái bà người Mỹ...
- Hả?
Gã lấy khăn lau mồ hôi trán.
- Ông cứ tưởng tôi đã bỏ công vì chuyện của bà ấy! Bà cứ nhất mực, nhất mực cho là có một người đàn ông ở trong này! Ông cứ tưởng đi, thưa ông. Cái buồng chỉ bằng này - Lão xoa tay - Người lạ mặt núp ở chỗ nào mới được? Tôi đang tranh cãi, và giải thích là không thể có chuyện đó. Bà cứ nhất mực cho là có. Lúc thức giấc bà đã thấy người đàn ông ở đó từ lúc nào. Vậy là, tôi hỏi lại bà, làm thế nào cái ngữ đó đi ra ngoài mà cửa bên trong thì đã khóa? Vậy mà bà không nghe theo. Dường như là chuyện đó cũng chưa khiến chúng tôi phải bối rối. Tuyết lại rơi.
- Tuyết sao?
- Dạ phải, thưa ông. Ông không nhìn thấy sao? Tàu dừng lại từ lâu. Tàu đang ngập trong lớp tuyết dày đặc. Chỉ có trời mới biết ta còn kẹt lại đây bao lâu nữa. Tôi còn nhớ một lần tàu phải neo lại do bão tuyết bảy ngày.
- Ta đang ở đâu?
- Đang ở giữa ga Vincovi và Brod.
- Ấy ấy - Poirot nói giọng chán nản.
Gã quay đi mang chai nước suối lại cho ông.
- Chào ông.
Poirot rót một ly nước uống rồi đi ngủ lại.
Vừa thiu thiu ngủ chợt ông lại thức giấc. Lần này ông nghe rõ tiếng một vật rơi nặng trịch gần ngay cánh cửa.
Ông ngồi vụt ngay dậy bước đến mở cửa nhìn ra ngoài. Chẳng thấy gì. Vậy mà nhìn qua bên tay phải, đầu phía hành lang ông thấy một người đàn bà quấn quanh mình chiếc áo Kimono đang tránh khỏi cặp mắt ông. Ở mút đầu xa, lão trưởng tàu ngồi trên chiếc ghế nhỏ đang ghi chép vô một trang giấy lớn. Không khí yên tĩnh đến rợn người.
- Rõ ràng ta đang rối loạn tinh thần.
Poirot nói một mình, ông quay lại giường nằm. Và ngủ một giấc cho đến sáng. Khi ông trở mình thức dậy, tàu còn kẹt cứng một chỗ.
Ông hé màn nhìn ra ngoài. Quanh thân tàu là một hàng rào tuyết.
Ông liếc nhìn đồng hồ: đã hơn chín giờ.

* * *

Mười giờ kém mười lăm, quần áo tươm tất bảnh bao, ông bước vô phía toa hàng ăn, tiếng kêu than vãn khắp nơi.
Lúc này hành khách không còn cái vẻ xa lạ cách biệt. Tất cả đoàn kết lo đối phó với tai họa không chừa một ai. Bà Hubbard lớn tiếng oán trách.
- Con gái tôi đã biết trước tuyến đường tàu này thông suốt. Cứ ngồi một chỗ đợi tàu ghé ga Parru. Vậy mà ta lại phải chịu bó chân từ ngày này qua ngày khác - bà kêu rên - Ngày kia tôi lại phải lên tàu. Làm thế nào cho kịp chuyến đấy? Sao vậy, tôi không còn cách nào đánh điện yêu cầu hoãn lại. Tôi điên mất.
Người khách Ý cho hay có việc cần đang chờ y bên Milan. Gã chỉ còn trông tàu chạy nhanh bù giờ.
- Còn chị em tôi, mấy đứa cháu trông tôi về - người đàn bà Thuỵ Điển vừa nói vừa khóc lóc - Tôi không thể nào nhắn tin về nhà. Mọi người sẽ nghĩ sao? Chắc họ sẽ nghĩ tôi gặp chuyện chẳng lành.
- Ta còn kẹt lại đây bao lâu nữa? - Mary Debenham chợt hỏi - Đã có ai hay biết gì chưa?
Trông nàng có vẻ sốt ruột, Poirot nhìn nàng chẳng có vẻ gì phải lo cuống cuồng đến như vậy chờ kiểm tra con tàu tốc hành Taurus mới biết được.
Bà Hubbard lại giở giọng bôi bác.
- Trên tàu chẳng ai hay biết chuyện gì. Chẳng ai làm được việc. Tất cả một lũ vô dụng. Sao, nếu tàu còn ở tại chỗ xuất phát thì đã có người lo toan giải quyết mọi việc.
Ngài đại tá nhìn về phía Poirot, ông nói giọng pha nửa Anh nửa Pháp.
- Ông là giám đốc đường sắt, tôi đoán chừng có phải vậy. Nhờ ông cho chúng tôi biết.
Mở một nụ cười, Poirot chỉnh lại.
- Không, không đâu - ông nói tiếng Anh - Không phải tôi. Ông nhầm tôi ra ông Bouc, là bạn tôi.
- Ồ, tôi xin lỗi.
- Có gì đâu. Chuyện thường tình. Tôi đang ở tại chỗ buồng của ông ấy trước đây.
Ông Bouc chưa thấy đến toa hàng ăn. Poirot nhìn khắp một vòng xem còn thiếu ai.
Không thấy công chúa Dragominoff và cặp tình nhân Hungary. Lại thêm Ratchett và người hầu, một bà hầu phòng người Đức.
Bà khách Thụy Điển đang lấy khăn lau mắt.
- Tôi thật ngớ ngẩn - bà vừa nói - Tôi khóc như trẻ con. Cầu cho vạn sự an lành.
Nói vậy như một người công giáo chẳng có ai chia sẻ.
- Đây là xứ sở nào? - Bà Hubbard hỏi cho ra lẽ, nước mắt ràn rụa.
Được biết đây là xứ Nam Tư bà mới nói.
- Ồ, cái xứ sở vùng Balkan. Ta còn chờ gì đây?
- Cô em mới là người kiên nhẫn, cô biết đấy - Poirot vừa nói cho cô nàng Debenham biết.
Nàng khẽ nhún vai.
- Người ta phải liệu tính sao đây?
- Cô em là một nhà triết học, phải đấy.
- Ông phải hiểu là một thái độ lạnh lùng. Tôi nghĩ lại càng ích kỷ hơn. Tôi đã biết cách giữ lấy cảm xúc vô vị.
Nàng không nhìn ông. Nàng đảo mắt rồi nhìn ra cửa sổ, tuyết đang chồng chất từng lớp dày đặc.
- Cô em là một người có cá tính độc đáo - Poirot nói giọng vỗ về - Cô mới thật sự xứng đáng là người nổi bật nhất trong những người quanh đây.
- Ồ không, không phải vậy đâu. Tôi biết một người còn hơn tôi nữa kia.
- Và đó là?
Bỗng dưng nàng nghĩ lại, sực nhớ đang đối diện với một người lạ mặt nước ngoài mới sáng nay nàng chỉ nói qua loa dăm ba câu chuyện.
Chợt nàng phá ra cười, cái cười biết tự trọng nhưng lại vô tình.
- Ồ, cái bà ấy là một. Hẳn ông đã nhìn thấy một lần. Cái bà già xấu xí già chụm. Coi vậy mà cũng thú vị lắm. Bà chỉ nhấc ngón tay út hỏi chuyện rất lịch sự, cả đoàn tàu chạy theo.
- Tàu cũng chạy theo lệnh ông Bouc, bạn tôi - Poirot nói theo - Nhưng chạy được bởi vì ông là giám đốc tuyến đường sắt, chứ không phải vì cái oai của ông ta.
Mary Debenham mỉm một nụ cười.
Buổi sáng chóng qua. Poirot và một vài vị khách còn ngồi lại trong toa hàng ăn. Cuộc sống chung đã hết, mọi người thong thả dư thì giờ tiêu khiển. Ông lại nghe kể những chuyện về con gái bà Hubbard, chuyện thói quen của ông Hubbard nay đã chết, thường ăn sáng mấy món ngũ cốc cho đến cả thói quen giờ phút chót đi ngủ còn mang bít tất bà Hubbard đan riêng cho ông.
Đang lúc Poirot lắng nghe câu chuyện đầy ắp về những chuyến đi truyền đạo của người đàn bà Thụy Điển, chợt một nhân viên phụ trách toa giường nằm bước vô bên trong đứng chống tay trên bàn.
- Xin lỗi Ngài
- Hả?
- Ông Bouc gởi lời thăm Ngài và rất hân hạnh được gặp Ngài trong ít phút.
Poirot đứng ngay dậy ngỏ lời xin lỗi bà khách Thụy Điển và theo người phụ trách toa bước ra ngoài.
Người này trông cao lớn hơn người phụ trách toa của Poirot.
Ông bước theo sau đi về phía hành lang trước mặt qua hết dãy buồng kế bên. Gã gõ cửa, đứng xích một bên cho Poirot bước vô.
Đây không phải toa dành cho ông Bouc. Một toa hạng nhì. Được cái chỗ ở có rộng rãi hơn. Nhìn vô ta cứ tưởng là chỗ đông người.
Ông Bouc đang ngồi chờ ở cuối góc đàng kia. Còn ở một góc gần cửa sổ nhìn qua phía ông ngồi là một người nhỏ thó, nước da sậm đang nhìn xem cảnh tuyết rơi. Vừa nhác thấy, ông ta vội đứng dậy không đợi Poirot tiến lại gần, người ông vạm vỡ trong bộ đồng phục xanh lơ (đó là trưởng tàu) bên cạnh là nhân viên phụ trách toa giường nằm.
- Ồ, ông bạn thân - ông Bouc vừa kêu - Đến đây. Chúng tôi đang trông.
Người đàn ông nhỏ thó bên cửa sổ vội xoay người trên chỗ ngồi. Poirot chen qua hai người đến ngồi vô bàn nhìn qua ông bạn.
Vẻ mặt của ông bạn khó mà đoán ra ngay lúc này. Rõ ràng có việc gì khác thường.
- Có chuyện gì vậy? - Poirot hỏi.
- Ông khéo hỏi thật. Trước là chuyện tuyết - ta phải kẹt lại. Kế đến là...
Ông dừng lại, chợt một giọng nói như bị nghẹn từ miệng người phụ trách toa tàu.
- Kế đến là thế nào?
- Và kế đến là chuyện một hành khách bị đâm chết ngay trên giường.
Ông Bouc nói với giọng như có vẻ tuyệt vọng.
- Một hành khách ? Khách nào vậy?
- Một khách Mỹ. Đó là... là... - ông nhìn về phía trước cố nhớ lại - Ratchett, đúng rồi, Ratchett mà?
- Dạ đúng, thưa ông - người phụ trách toa tàu nuốt nước bọt.
Poirot nhìn gã. Vẻ mặt hắn trắng bệch.
- Ông mời hắn ngồi xuống - Poirot nói - Kẻo không hắn té xỉu mất.
Ông sếp tàu xê dịch thân mình, người phụ trách toa tàu quỵ xuống trong xó góc, tay bưng mặt.
- Khiếp thật - Poirot nói - Tình thế căng thẳng.
- Căng thật đấy. Thoạt đầu, một vụ án, một tai họa ghê gớm. Nhưng chưa hết, tình huống có vẻ khác thường. Hiện nay ta đang bị kẹt lại một chỗ. Sẽ chịu khổ qua nhiều giờ nữa. Nhẩm lại không thể tính bằng giờ, còn dài ngày nữa kia! Ta còn đối phó tình huống mới. Tàu chạy qua nhiều nước, mỗi nước có một lực lượng cảnh sát bám theo tàu. Nhưng ở Nam Tư thì không, ông hiểu chưa?
- Tình thế này thật khó xử - Poirot nói.
- Càng khó hơn thế nữa. Tôi quên một việc, tôi chưa kịp giới thiệu. Bác sĩ Constantine. Ông Poirot, đây là Bác sĩ Costantine.
Người đàn ông nhỏ thó, nước da rám đen nghiêng đầu chào, ông Poirot đáp lễ.
- Bác sĩ Constantine đoán án mạng xảy ra vào lúc khoảng một giờ sáng.
- Những vụ như thế này không thể xác định đúng thời điểm - Bác sĩ nói - Tôi thì biết chắc vụ án xảy ra từ nửa đêm tới hai giờ sáng.
- Vào khoảng một giờ kém hai mươi, Ratchett còn nói chuyện với người phụ trách toa - ông Bouc cho hay.
- Rất là chính xác - Poirot nói - Lúc đó tôi còn nghe thấy động tĩnh. Đó là những bằng chứng cuối cùng chăng?
- Đúng.
Poirot nhìn qua ông bác sĩ, ông kể tiếp:
- Cửa sổ buồng ông Ratchett mở toang, ta đoán được hung thủ thoát qua đường này. Theo tôi cửa sổ để mở như vậy nhằm đánh lừa mọi người. Nếu thoát ra ngõ này phải để lại dấu vết trên mặt lớp tuyết. Rõ ràng không có dấu vết.
- Vụ án được khám phá vào lúc nào?- Poirot hỏi.
- Này Michel?
Người phụ trách toa đứng dậy. Vẻ mặt tái nhợt, run rẩy.
- Anh thuật lại toàn bộ câu chuyện cho ông này rõ - ông Bouc ra lệnh.
Giọng gã nói nghe cà giựt.
- Sáng nay người hầu phòng đập cửa nhiều lần không nghe tiếng trả lời. Cách đây nửa giờ người phục vụ toa hàng ăn đi tới. Gã hỏi có phải ông chủ gọi món ăn sáng, lúc đó là mười một giờ, ông nhớ cho.
«Tôi dùng chìa riêng đến mở cửa buồng. Bên trong cột sợi dây xích, không mở ra được. Không nghe tiếng trả lời, bên trong hoàn toàn lặng lẽ, không khí lạnh, lạnh lắm.
«Cửa sổ để mở, tuyết dồn vô toa tàu. Tôi ngỡ ông chủ bị trúng gió. Tôi phải đi báo ngay cho ông sếp tàu. Chúng tôi phá dây xích mở cửa vô trong. Ông chủ đã… Ôi! Khiếp thật!
Nói xong gã lại bưng mặt.
- Cửa khóa, bên trong cột dây xích - Poirot vừa nghĩ ngợi vừa nói - Không phải một vụ tự tử, ờ nhỉ?
Ông bác sĩ người Hy Lạp cười mỉa.
- Có phải một người muốn tự sát bằng cách tự đâm vô người - mười - mười hai - mười lăm nhát dao? - Ông hỏi lại.
Poirot mắt mở to.
- Vậy thì quá dã man - ông nói.
- Phải có bàn tay đàn bà - ông sếp tàu mở lời, lần đầu ông góp ý - Thêm một yếu tố nữa, phải có bàn tay đàn bà nhúng vô. Chỉ có tay đàn bà mới đâm theo kiểu đó.
Bác sĩ Costantine vẻ mặt nhăn rúm nghĩ ngợi.
- Vậy phải là một người đàn bà còn khỏe lắm - ông nói - Tôi không muốn giở nghề nghiệp ra nói, chỉ làm rối thêm - nhưng tôi đoán chắc là có một hai nhát dao ghim thật sâu như xé đứt thịt, thấu xương.
- Rõ ràng đây không phải một vụ án có tính toán trước - Poirot nói.
- Lại càng không phải do tay chuyên nghiệp - Bác sĩ Costantine nói thêm vô - Nhát dao đâm bừa bãi loạn xạ. Có vài nhát đâm sướt qua, vết thương cạn. Hung thủ dường như điên cuồng nhắm mắt đâm bừa liên tục.
- Có bàn tay đàn bà - ông sếp tàu nói - Đàn bà là vậy đó. Lúc nó điên dại sức nó càng khỏe - ông gật gật ra vẻ tay rành đời, ai cũng nghĩ ông có đủ kinh nghiệm.
- Tôi có vài điều bổ sung thêm vô kiến thức của ông - Poirot nói - Mới hôm qua tôi còn nghe ông Rachett kể chuyện. Ông tiết lộ, tôi nên hiểu giùm cho ông ấy rằng ông đang bị đe dọa đến tính mạng.
- Đòi mạng ông. Nói theo kiểu Mỹ thì đúng hơn, vậy đó - ông Bouc nói - Vậy là không có bàn tay đàn bà. Chỉ có bọn găng tơ hay ta gọi đó là bọn đấu súng?
Ông sếp tàu bị một vố đau điếng, vậy là lý lẽ ông đưa ra chẳng có ai nghe theo.
- Nếu quả thật như vậy - Poirot nói - Thì hung thủ thuộc loại tội phạm Mỹ.
Giọng ông bài bác đúng lý lẽ người chuyên nghiệp.
- Trên tàu có một khách Mỹ to lớn - ông Bouc nói, không thay đổi ý kiến - đó là một gã trông cũng bình thường, ăn mặc xốc xếch. Miệng hắn nhai kẹo cao su lơm bơm. Anh có biết hắn là ai?
Người phụ trách toa gật gù.
- Dạ có, thưa ông, ở buồng số 16. Nhưng chẳng lẽ là hắn. Tất nhiên tôi phải nhìn thấy hắn vô ra chứ.
- Có thể anh không trông thấy. Không thấy thật. Chúng tôi sẽ đến đó ngay. Bây giờ ta phải tính sao đây? - ông nhìn về phía Poirot.
Poirot đứng đó nhìn lại.
- Đi theo tôi, ông bạn - ông Bouc mở lời - ông phải hiểu tôi đang muốn hỏi ông một việc. Tôi biết rõ ông có đủ bản lĩnh. Ta phải làm chủ tình thế. Này ông đừng tử chối. Ông phải hiểu giùm tình thế gay lắm. Tôi nhân danh hiệp hội toa xe giường nằm nói với ông đấy. Chờ lúc bọn cảnh sát Nam Tư đến kịp đâu có dễ gì ta nói là đã giải quyết xong? Mặt khác ta còn lo đối phó nhiều chuyện phiền phức bất tiện nữa. Ai có thể biết trước được điều gì xảy ra cho những người vô tội. Lẽ ra - chính ông phải lật tẩy điều bí ẩn! Ta phải nói - Một vụ án vừa xảy ra trên tàu - đây là thủ phạm!
- Giả sử tôi không thể giải quyết được?
- Ông bạn - ông Bouc chuyển qua giọng thân mật - Tôi biết rõ tiếng tăm của ông, cả phương pháp làm việc của ông. Đây là vụ án điển hình ông nên biết. Phải truy nguyên tông tích tất cả những người trên tàu, biết ai có thành tâm - chuyện đó phải mất một thời gian lâu dài, vô cùng bất tiện. Nhưng mà tôi từng nghe ông kể muốn giải quyết một vụ án ly kỳ ta chỉ cần ngồi dựa lưng vô thành ghế rồi trầm ngâm nghĩ ngợi. Ông nên làm theo đó. Thẩm vấn tất cả hành khách đi tàu, xem xét toàn thân, lần ra tất cả manh mối không bỏ sót.
«Vậy là tôi chỉ còn trông nhờ ông. Tôi dám chắc ông không hề khoa trương. Ông hãy ngả người tựa lưng ghế, làm sống lại (như tôi đã từng nghe ông kể), từng sợi tế bào li ti của chất xám, vậy là ông sẽ thấy hết.
Ông ngả người ra trước, thân ái nhìn ông bạn của mình.
- Ông đặt hết niềm tin nơi tôi, thật cảm động ông bạn ơi - giọng Poirot đầy vẻ chân tình - ông đã từng nói vụ án này có gì khó đâu. Đêm qua, chính tôi… Thôi, ta hãy khoan nói chuyện đó. Nói thật với ông, vụ này nó lôi cuốn tôi nhào vô. Tôi chợt nhớ lại cách dây không đầy nửa giờ ta còn nhiều lo âu phiền muộn trước mắt vì tàu phải kẹt lại một chỗ. Lúc này đây, tôi đã có việc làm.
- Vậy là ông nhận chứ? - ông Bouc nói giọng thành khẩn.
- Dĩ nhiên, ông giao hết cho tôi.
- Được chúng tôi chờ lệnh ông.
- Trước hết cho tôi một sơ đồ tàu Istanbul Calais, ghi rõ tên hành khách trong toa, vé và giấy thông hành.
- Tôi sẽ gọi Michel mang lại cho ông.
Người phục vụ toa tàu bước ra ngoài.
- Còn ai khác nữa không? - Poirot hỏi lại.
- Trong toa này còn bác sĩ Constantine và tôi. Toa xe Bucaret là một ông khách già khụ què một chân. Người phục vụ toa biết rõ ông ta. Ngoài ra là những toa vãng lai, chúng tôi không lo, sau bữa ăn tất cả vô buồng, cửa khóa. Phía trước toa xe Istanbul - Calais chỉ có một toa hàng ăn.
- Vậy thì - Poirot chậm rãi nói - Ta cần lưu ý đến thủ phạm ở ngay trong toa tàu Istanbul-Calais - ông quay nhìn Bác sĩ - Đấy có phải bằng chứng ông đã đoán trước, đúng không?
Ông Bác sĩ gật.
- Sau nửa giờ đêm tàu gặp bão tuyết phải dừng lại. Không ai ra khỏi tàu từ lúc đó.
Ông Bouc nghiêm giọng nói.
«Thủ phạm đang ở quanh đây, ngay trên tàu...»
Đăng nhập để trả lời
0
Chương SÁU
CÓ PHẢI NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐÓ?


- Trước tiên - Poirot mở lời - Tôi muốn có đôi lời ngỏ với anh chàng MacQueen. May ra gã có thể cung cấp những thông tin mới lạ hơn.
- Hiển nhiên - ông Bouc nói.
Ông quay về phía ông sếp tàu.
- Mời anh chàng MacQueen đến đây.
Ông sếp tàu bước ra ngoài.
Người phụ trách toa trở lại, trên tay là một chồng vé và giấy thông hành. Ông Bouc đưa tay đỡ lấy.
- Cám ơn Michel. Anh có thể trở lại chỗ làm việc được rồi đấy. Chúng tôi sẽ nghe lời khai cụ thể sau.
- Thưa ông tôi nghe.
Đến lượt Michel lại lui ra ngoài.
- Khi đã gặp MacQueen rồi - Poirot nói - thế nào ông bác sĩ cũng phải đi cùng tôi xem xét toa giường nằm của nạn nhân
- Đương nhiên.
- Chờ cho xong hết việc ở đây.
Ngay lúc này ông sếp tàu vừa trở lại đi cùng với Hector MacQueen.
Nhác thấy, ông Bouc đứng ngay dậy.
- Chỗ này hơi chật - ông thong thả nói - Vô đây ngồi MacQueen. Ông Poirot ngồi phía trước, đó.
Ông quay lại nhìn ông sếp tàu.
- Mời tất cả khách ra ngoài toa hàng ăn - ông ra lệnh - Dành chỗ cho ông Poirot. Ông tự nhiên làm công việc thẩm vấn ngay tại đây nhé, ông bạn?
- Như vậy tiện lợi biết mấy - Poirot hài lòng.
Mcc Queen đang còn đứng một chỗ nhìn khắp mọi người, không làm sao nói cho trôi chảy một câu tiếng Pháp.
- Chuyện gì thế này? - gã nói một cách lúng túng,
- Tại sao vậy?
Poirot chỉ định gã bước đến ngồi một xó góc. Gã nhìn qua rồi lại nói.
- Tại sao? - rồi nhìn lại mình, gã lại nói một giọng điệu riêng - Trên tàu có chuyện gì thế? Có việc chẳng lành hả?
Gã lại nhìn khắp mọi người.
Poirot gật.
- Có đấy. Có vấn đề. Ông nên chuẩn bị tinh thần trước. Rachett, người ông giúp việc cho, đã chết.
MacQueen mím môi đánh chật một tiếng. Trong lúc mắt gã chợt sáng, vẫn điềm nhiên không lộ vẻ đau đớn.
- Vậy là đã tìm thấy xác - gã nói.
- Anh nói rõ hơn cho chúng tôi nghe ý anh vừa nói, MacQueen.
MacQueen ngần ngừ.
- Vậy thì anh cho là - Poirot nói - Ratchett đã bị giết chết?
- Không phải sao? - lúc này Mcc Queen mới lộ vẻ kinh ngạc - Sao, hả - gã nói giọng chậm rãi - Tôi thì cho là như vậy rồi. Hay là ông muốn nói nạn nhân chết đang lúc còn ngủ trên giường? Sao lại một người khỏe như lão, khỏe như...
Gã còn đang lung túng tìm cách nói.
- Không, không đâu - Poirot nói - Điều ước đoán của anh hoàn toàn đúng. Ratchett đã bị giết chết. Bị giết chết bằng dao. Tôi muốn biết rõ vì sao ông lại cho lão bị giết chết mà không phải chết một cách bình thường.
MacQueen chần chừ.
- Tôi muốn biết rõ hơn - gã nói - ông là ai? Và ông từ đâu tới đây?
- Tôi làm đại diện hãng toa giường nằm Quốc tế - ông dừng lại rồi nói tiếp - Tôi là Hercule Poirot, nhà trinh thám.
Nếu ông chờ đợi một sự phản hồi, điều đó sẽ không có. MacQueen chỉ nói vỏn vẹn:
- Ô, thế hả?
Gã đợi ông tiếp tục câu chuyện.
- Anh biết tên rồi chứ?
- Sao vậy, tên nghe như quen quen, tôi thì cho đó là tên một hiệu may của mấy bà.
- Không ngờ được - ông nói.
- Không ngờ là thế nào?
- Không có việc gì. Ta bàn chuyện trước mắt. Tôi muốn là, này anh MacQueen, nói cho tôi biết rõ về nạn nhân. Anh có quen biết với lão?
- Không, tôi là, trước đây tôi là thư ký riêng của ông ấy.
- Anh làm việc được bao lâu rồi?
- Mới ngoài một năm.
- Anh cứ kể cho tôi nghe những việc anh đã biết.
- Vậy là, cách dây hơn một năm tôi gặp ông Ratchett tại Persia.
Poirot cắt ngang.
- Lúc đó anh đang làm nghề gì?
- Từ New York, tôi qua đó xem xét việc khai thác dầu mỏ. Tôi cho là ông không có ý định nghe hết mấy chuyện đó. Tôi và bạn tôi đã chán lắm rồi. Lúc đó ông Ratchett đang ở tại khách sạn. Giữa ông và người thư ký riêng có xích mích nhau. Ông ta mời tôi nhận việc, lúc đó tôi đang rảnh rỗi, vả lại có một việc làm lương tháng hậu hĩ thì còn gì bằng.
- Rồi từ đó đến nay?
- Ông chủ và tôi tổ chức đi du lịch. Ông Ratchett thích chu du khắp thế giới. Ông thì không biết ngoại ngữ. Vậy là tôi chuyển qua làm hướng dẫn du lịch thay vì làm thư ký. Cuộc sống cũng dễ chịu.
- Anh có thể kể hết chuyện ông chủ đi nào.
Gã nhún vai. Vẻ mặt nhớn nhác.
- Không phải dễ nói.
- Anh nhớ hết họ tên ông chủ?
- Samuel Edward Ratchett.
- Ông chủ người Mỹ.
- Ông ở bang nào?
- Tôi không rõ.
- Thôi được, anh cứ kể những gì anh biết.
- Sự thật là, thưa ông Poirot. Tôi chẳng biết gì cả. Ông Ratchett không bao giờ nói về mình, về cuộc sống trên đất Mỹ.
- Sao anh lại cho là như vậy?
- Tôi không hiểu sao. Tôi cho là ông ta có mặc cảm về những ngày hàn vi. Vẫn có người nghĩ như vậy.
- Có phải chuyện đó khiến anh hài lòng?
- Nói thật ra, không phải vậy.
- Ông ta có bà con?
- Chưa có lần nào tôi nghe ông kể lại.
Poirot xoáy sâu vô trọng tâm.
- Anh phải biết đặt ra một số giả thiết, MacQueen.
- Ồ, được chứ. Giả thiết ban đầu tôi cho là cái tên Ratchett chưa phải là tên thật. Tôi cho là ông bỏ nước Mỹ ra đi vì lý do vướng bận một người hay một việc gì đó. Tôi nghĩ ông dã đạt được ý nguyện, cho đến lúc cách nay mấy tuần lễ.
- Và rồi thế nào?
- Ông nhận được nhiều thư, thư hăm doạ.
- Anh có xem qua?
- Có. Đó là phần việc thường ngày, tôi xem xét thư từ liên lạc. Cái thư đầu gởi cách nay hai tuần.
- Thư đã hủy hết?
- Không. Tôi còn lưu lại mấy cái, một cái trong cơn tức giận Ratchett đã xé toang. Ông có cần xem không?
- Nếu anh có lòng tốt.
MacQueen đi ra ngoài. Mấy phút sau gã quay lại đặt xuống trước mặt Poirot hai trang giấy viết thư bám đầy dấu bụi bặm.
Cái thư gởi đến lần đầu nội dung:
«Nên nhớ là mi giở ngón phản phé, bỏ ta trốn đi, có phải vậy không ? Đừng có hòng. Ta đang ra tay THỊT mi, Ratchett, ta Sẽ THỊT mi nay mai!»
Thư không ký tên.
Poirot nhướng mày không nói gì, ông lật qua cái thư kế tiếp.
«Ta định đánh lừa mi một vố đó, Ratchett. Hãy đợi đấy Ta sẽ THỊT mi, nhớ chưa?»
Poirot đặt thư xuống bàn.
- Cũng một giọng điệu như nhau - ông nói - Lại còn phải xem từng chữ viết nữa.
MacQueen nhìn vô mắt ông.
- Anh không thấy rõ sao - Poirot nói, giọng cởi mở - Vấn đề đòi hỏi ta phải có cặp mắt tinh tường. Cái thư này không phải do một người viết, MacQueen ạ. Chữ viết này là của hai hoặc ba người, mỗi người viết một tuồng chữ. Hơn nữa, thư được in lại vì vậy cho nên việc tra tự dạng lại khó hơn.
Ông ngừng một lúc rồi nói thêm.
- Anh có biết là ông Ratchett đã cầu cứu đến tôi?
- Cầu cứu ông à?
Giọng gã có vẻ kinh ngạc khiến Poirot nghĩ ngay là anh chàng này chẳng biết gì chuyện đó. Ông gật.
- Có chứ, ông chủ đã được báo trước. Anh phải cho tôi biết cảm tưởng của ông chủ lúc nhận được cái thư lần đầu như thế nào?
MacQueen nghĩ ngợi.
- Khó nói quá. Ông chủ… ông liếc nhìn thoáng qua rồi cười thầm theo cách thường ngày của ông. Nhưng dù sao - chợt gã rùng mình - Tôi cho là tiếng cười thầm đó có nhiều ý nghĩa lắm.
Poirot gật gù. Chợt ông hỏi một câu không dè.
- Này anh MacQueen, cứ nói thật anh nghĩ thế nào về ông chủ? Anh có thích ông ta không?
Hector MacQueen nghĩ ngợi một lúc mới nói.
- Không - gã dứt khoát - Tôi không nói ra được.
- Sao vậy?
- Tôi không biết nói sao cho phải. Cuộc sống của ta lúc nào cũng thoải mái - Gã chợt dừng rồi lại tiếp - Tôi sẽ kể hết cho ông nghe, ông Poirot. Tôi không thích và lại còn nghi ngờ ông ta nữa. Tôi cho ông ta là một người độc địa gian ác. Tôi cho là không thể nói thêm được nữa.
- Cám ơn, anh MacQueen. Tôi hỏi thêm một câu - lần cuối anh còn gặp ông Ratchett là lúc nào?
- Hình như tối qua - gã đang nhẩm - Lúc mười giờ, phải đấy. Lúc đó ghé lại chỗ ông ghi thêm mấy số liệu.
- Về khoản nào?
- Mấy loại gạch ngói và đồ gốm cổ ông chủ mua bên nước Iran. Mấy món gởi đi không do ông đứng ra mua. Chuyện liên lạc bằng thư từ còn nhiều cái phiền phức.
- Anh nhớ đó là lần cuối gặp ông chủ?
- Dạ, chắc là vậy.
- Anh còn nhớ rõ lần cuối ông Ratchett nhận được cái thư hăm đoạ vào lúc nào?
- Ngay buổi sáng ngày chúng tôi rời Constantinople.
- Thêm một câu hỏi nữa, này MacQueen, anh vẫn thân thiện với ông chủ chứ?
Mắt gã chớp chớp.
- Nhắc đến đây tôi sợ rởn ốc. Nói cho đúng như loại truyện sách bán chạy nhất &lt;ông không hơn gì tôi đâu&gt;. Giữa tôi và ông Ratchett vẫn thân thiện.
- Vậy thì, MacQueen, anh có thể cho tôi biết rõ họ tên và địa chỉ nhà anh bên Mỹ -.
MacQueen đọc tên: Hector William MacQueen và địa chỉ ở New York.
Poirot tựa đầu vô thành ghế.
- Trước mắt là, MacQueen - ông nói - tôi nhờ anh một việc, anh giữ kín chuyện ông Ratchett trong một thời gian ngắn.
- Còn gã hầu phòng, Masterman, hắn phải biết.
- Chắc là hắn đã biết rồi - Poirot nói giọng khô khốc - Nếu quả thực, anh báo hắn phải kín miệng.
- Khó gì đâu. Hắn là người Ăng-lê, hắn vẫn sống theo lối đèn nhà ai nấy sáng. Hắn chẳng biết gì về người Mỹ, càng mù tịt về chuyện những người xa lạ hơn nữa.
- Cám ơn anh MacQueen.
Ông khách Mỹ bước ra ngoài.
- Thế nào rồi? - ông Bouc hỏi - ông tin lời hắn nói, cái anh chàng đó?
- Hắn ta có vẻ thành thật, ngay thẳng. Hắn không ra vẻ giả vờ có thiện cảm với người chủ như hắn nghĩ. Quả thực ông Ratchett không nói cho gã hay biết chuyện theo dõi việc làm của tôi mà cũng chẳng đi tới đâu, tôi không dám chắc đây là một tình huống khả nghi. Tôi cho là Ratchett, một người đứng đắn biết giữ mồm giữ miệng.
- Vậy ông cho ít ra có một người hoàn toàn vô tội - ông Bouc vui cười nói.
Poirot nhìn lại ông vẻ trách móc.
- Với tôi, phải theo dõi kẻ tình nghi cho đến phút cuối - Poirot nói - Dù sao, tôi phải nhìn nhận cái anh chàng MacQueen lõi đời này không điên dại gì phạm tội giết người kiểu một loạt mười mấy nhát dao. Nghĩ như vậy là không hiểu đúng tâm lý của hắn, hoàn toàn không.
- Không đâu - Bouc vừa nghĩ ngợi vừa nói - Hung thủ đã ra tay hành động do một sự căm thù nung nấu đến điên dại - càng chính xác hơn nữa hung thủ thuộc giống dân tộc La tinh. Hay có thể nói như ông bạn chúng ta, ông sếp tàu, hung thủ có thể là một người đàn bà.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương BẢY
XÁC CHẾT


Ông Poirot đang hướng dẫn Bác sĩ Constantine đi đến toa tàu kế bên và đến ngay buồng của nạn nhân. Người phụ trách toa bước tới mở khóa.
Hai vị khách bước vô trong. Poirot nhìn Bác sĩ thắc mắc hỏi ngay.
- Như vậy thì mọi thứ bên trong này sẽ bị xáo trộn hết?
- Không nên sờ vô bất cứ một vật gì. Tôi đang khám nghiệm tử thi, không được xê xích một kẻ hở.
Poirot gật. Ông ta nhìn quanh một lượt.
Cảm giác dễ nhận ra ngay lúc này trong toa tàu lạnh ngắt.
- Ta đóng cửa sổ lại rồi vén cao màn để cho sáng sủa. Brrr… - Poirot lạnh run.
Ông Bác sĩ mỉm cười hiểu ý Poirot.
- Tôi nghĩ không nên đóng kín mít như vậy - ông vừa nói.
Poirot đang xem xét thật kỹ cánh cửa sổ.
- Ông nói đúng - Poirot đánh tiếng - Không có dấu vết người thoát ra lối này. Có thể hung thủ để cửa sổ mở ra như thế này cho mọi người ước đoán. Nếu quả vậy thì bằng chứng trên mặt lớp tuyết sẽ phá vỡ ý đồ của kẻ thủ phạm.
Poirot xem xét lại cửa sổ thật kỹ một lần nữa. Ông rút trong túi ra một chiếc hộp nhỏ rắc một chút bột trên bệ cửa.
- Không thấy một dấu tay nào cả - Poirot nói - Tất cả được xóa sạch. Vậy là, nếu còn lại dấu tay thì ta cũng chỉ biết sơ sài. Có thể là dấu tay của ông Ratchett hay người hầu phòng, người phụ trách toa. Thời hiện đại bọn tội phạm không để lộ tung tích kiểu đó.
- Nếu vậy thì - ông vui vẻ nói tiếp - Ta đóng cửa sổ lại. Rõ ràng là bên trong toa lạnh lắm.
Ông nói là làm ngay, quan sát thật kỹ một lần xác chết còn nằm nguyên trên giường.
Ratchett nằm ngửa mặt. Trên áo pyjama còn đọng những vết hoen gỉ, hung thủ cởi ra quăng lại đó.
- Để tôi xem xét vết thương như thế nào? - Bác sĩ giải thích.
Poirot gật. Ông cúi nhìn nạn nhân. Xong rồi đứng thẳng người lại vẻ mặt nhăn rúm.
- Khó coi quá. Có thể hung thủ đứng một chỗ đâm nạn nhân nhiều nhát liên tục. Ta thử đoán là bao nhiêu vết thương?
- Tôi đếm có mười hai vết. Một hai vết nhẹ như dấu xước. Trái lại chỉ cần ba nhát dao đủ giết chết nạn nhân.
Nghe ông Bác sĩ nói xong Poirot chợt nghĩ ngợi.
Ông chăm chú nhìn. Ông Bác sĩ người Hy Lạp nhỏ thó đang cau mày nhìn xác chết nằm đó.
- Ông có thấy dấu vết khác lạ, phải vậy không? - Poirot hỏi giọng nhỏ nhẹ - Ông nói cho tôi biết đi. Có vài dấu vết lạ khiến ông khó nghĩ?
- Ông nghĩ đúng - Bác sĩ nói.
- Dấu vết đó như thế nào?
- Ông nhìn hai vết thương này, đây và đây nữa - Bác sĩ lấy tay chỉ - Vết thương sâu, tổn thương đến mạch máu. Vậy mà vết thương lại không mở miệng. Không chảy máu như ta đã thấy.
- Vậy, nghĩa là?
- Nạn nhân đã chết trước đó, vài phút trước đó, lúc hung thủ còn cầm dao. Nhưng xem ra thật phi lý.
- Có thể là vậy - Poirot vừa nói vừa nghĩ.
- Trừ phi thủ phạm cho là chưa đã tay quay lại bồi thềm mấy nhát nữa; chuyện này càng phi lý hơn. Ông còn thắc mắc gì nữa thôi?
- Ồ, còn một việc nữa.
- Chuyện gì?
- Bác sĩ nhìn thấy ở đây một vết thương, dưới cánh tay phải, sát vai phải. Cầm lấy cây viết chì của tôi. Liệu ông có thể giáng một nhát như thế này được không?
Poirot giơ tay cao.
- Rõ ràng nhé - ông nói - Tôi hiểu ra. Nếu sử dụng tay phải rất khó, lại càng không thể. Vậy thì phải trở bàn tay lại, chỉ có cách đó. Còn nếu hung thủ sử dụng tay trái...
- Phải rồi, ông Poirot. Nhát dao đâm như thế, hung thủ phải sử dụng tay trái.
- Vậy hung thủ thuận tay trái sao? Không, lại càng khó ra tay hơn, phải vậy không?
- Này ông Poirot, như ông từng nói. Có mấy nhát dao hung thủ sử dụng tay phải.
- Trong vụ án này có dấu hai thủ phạm. Ta trở lại với giả thiết có hai thủ phạm - Nhà trinh thám nói khẽ.
Chợt ông đánh tiếng:
- Lúc đó bên trong đèn bật sáng?
- Khó nói quá. Ông biết đấy, mỗi buổi sáng khoảng mười giờ người phụ trách toa tắt hết đèn.
- Ta nhìn mấy núm công tắc là biết ngay - Poirot nói.
Poirot xem xét núm công tắc đèn trên trần và đèn đầu giường. Công tắc đèn trần đã đóng. Công tắc đèn giường thì khóa chặt từ lúc nào.
- Vậy là - ông còn nghĩ ngợi - Chúng ta giả thiết có hai thủ phạm, như trong vở kịch của Sếchxpia. Thủ phạm trước đâm chết nạn nhân rồi bỏ ra ngoài, tắt hết đèn. Thủ phạm sau bước vô trong bóng tối không hay biết hành vi đã gây ra trước đó đâm tiếp nạn nhân đã chết thêm ít nhất là hai nhát nữa. Vậy thì ông nghĩ thế nào về chuyện đó?
- Thật ly kỳ - ông Bác sĩ người nhỏ thó nói với vẻ thích thú.
Poirot mắt nhìn sáng rỡ.
- Ông cho là vậy sao? Tôi hài lòng. Nhưng nghĩ lại thấy cũng phi lý.
- Vậy ta có thể tìm ra một giải thích khác?
- Tôi đang nghĩ cách đây. Liệu có một sự trùng hợp nào chăng? Liệu có mâu thuẫn chăng khi nêu ra có hai thủ phạm trong vụ này?
- Tôi nghĩ là có. Mấy nhát dao đâm vô người nạn nhân có lúc bị yếu tay, do ở sức khỏe hoặc do thiếu kiên quyết. Có mấy dấu xước trên da thịt. Nhưng vết thương ở chỗ này, và chỗ này - Vị bác sĩ chỉ ra thêm - Mấy nhát chỗ này mạnh tay hơn, ăn sâu vô dưới bắp thịt.
- Vậy thì ông cho là do bàn tay một người đàn ông?
- Chắc là vậy.
- Không thể nào hung thủ là đàn bà sao?
- Có thể một người đàn bà sức khỏe như một vận động viên, nhất là lúc người này đang bị kích động, nhưng nghĩ lại không chắc là vậy.
Poirot nghĩ ngợi một lúc.
Ông Bác sĩ thì tỏ vẻ chưa yên tâm.
- Ông hiểu ý tôi nói chứ?
- Hiểu chứ - Poirot đáp - Nội dung vụ án sáng tỏ dần. Thủ phạm có thể là một tay có sức khỏe, một kẻ yếu ớt, một người đàn bà, một kẻ thuận tay phải, một kẻ thuận tay trái. Ô, tất cả như một trò cười.
Chợt ông buông một câu như để trút cơn giận.
- Còn nạn nhân. Ông ta phản ứng như thế nào? Cố kêu la? Cố vùng vẫy? Cố chống lại hung thủ?
Ông lần tay dưới gối lấy ra khẩu súng lục tự động mà ông Ratchett chỉ cho ông nhìn thấy ngày hôm trước.
- Súng đã nạp đạn, ông nhìn đây - Poirot nói.
Hai người nhìn quanh bên trong buồng. Quần áo mặc thường ngày của Ratchett còn treo trên giá ở vách tường. Trên chiếc bàn nhỏ làm bằng cái nắp chậu rửa mặt còn để lại mấy món - một ly nước đựng răng giả, một cái ly không, một chai nước suối, bình thủy và cái gạt tàn thuốc còn vương lại mấy mẩu thuốc xì gà, mấy mẩu giấy bị cháy xém, còn thêm hai que diêm đã quẹt.
Ông bác sĩ tay nhấc chiếc ly không kê mũi ngửi.
- Rõ ràng đây là bằng chứng thói quen của nạn nhân - giọng ông nhỏ nhẹ.
- Có pha ma túy?
- Có!-
Poirot gật đầu. Ông nhặt hai mẩu que diêm, xem xét ti mỉ.
- Vậy là ông có thêm manh mối - ông bác sĩ người nhỏ thó nôn nóng hỏi cho dược.
- Hai mẩu que diêm có hình dạng khác nhau - Poirot nói - Một cây to, một cây nhỏ. Ông thấy rõ chứ?
- Đó là loại diêm ông nhìn thấy trên tàu - ông Bác sĩ nói - loại diêm giấy.
Poirot lục tìm trong túi quần áo Ratchett. Ngay lúc đó ông lấy ra một bao diêm, ông so thật kỹ.
- Loại diêm tròn đầu là diêm ông Ratchett thường dùng - ông nói - Ta phải xem lại ông ta có dùng đến một loại diêm que dẹp nữa không?
Tìm mãi không thấy đâu.
Poirot đảo mắt nhìn khắp bên trong buồng. Mắt ông sáng như con chim cắt không bỏ sót một chi tiết. Ông kêu khẽ một tiếng rồi cúi người nhặt một vật ở dưới sàn.
Thì ra đó là mảnh vải vuông vức, mỏng manh, có thêu ở đầu góc một chữ H.
- Chiếc khăn tay của một phụ nữ - ông Bác sĩ nói - Vậy là ông bạn chúng ta, ông sếp tàu nói đúng. Trong vụ án này có một bà nhúng tay vô.
- Rõ ràng là chiếc khăn tay còn đó - Poirot nói - Không khác gì truyện hay phim trinh thám, và còn giúp cho công việc dễ dàng hơn, hung thủ để lại một chữ cái.
- Vậy là chúng ta may mắn quá - ông Bác sĩ kêu một tiếng.
- Không phải vậy sao? - Poirot hỏi lại.
Giọng nói ông có vẻ khiến cho Bác sĩ ngạc nhiên.
Vừa toan hỏi cho ra lẽ, Poirot lại cúi nhìn xuống sàn nhà.
Lần này ông nhặt được một cây xoi ống tẩu.
- Chắc là đồ nghề của ông Ratchett?- Bác sĩ đoán mò.
- Lục khắp các túi không tìm thấy ống tẩu, cũng không thấy cái bao đựng thuốc lá sợi.
- Vậy là thêm một manh mối nữa.
- Ồ, rõ ràng quá. Hung thủ để lại dấu vết thuận lợi. Lần này manh mối từ phía một người đàn ông, thấy chưa? Không thể trách vì sao ta chưa tìm thấy manh mối. Còn nhiều manh mối nữa kia. Mà này, ông nghĩ sao nếu hung thủ có sử dụng vũ khí?
- Ta không thấy bằng chứng thủ phạm sử dụng vũ khí, có thể hắn còn giữ trong người.
- Tôi còn thắc mắc - Poirot nghĩ trong đầu.
- Ồ - ông Bác sĩ đang thò tay vô túi áo pyjama nạn nhân.
- Vậy là còn sót chỗ này - ông nói - Tôi mở nút áo jacket kéo ngược ra sau.
Ông lấy ra chiếc đồng hồ bằng vàng nằm trong túi trước, vỏ đồng hồ bị hỏng nặng, kim đồng hồ chỉ một giờ mười lăm phút.
- Quý vị thấy chưa? - Constantine reo mừng.
- Vậy là ta biết được giờ hung thủ ra tay. Vậy là đúng như tôi dự đoán, khoảng nửa đêm đến hai giờ sáng, có thể là lúc một giờ sáng, dù chưa thể chính xác lắm. Mà này, đấy mới là chính xác. Một giờ mười lăm phút, giờ hung thủ ra tay .
- Có thể là vậy, phải. Chắc rồi.
Ông bác sĩ nhìn Poirot vẻ khác lạ.
- Xin lỗi, ông Poirot. Thật tình tôi chưa hiểu ý ông muốn nói.
- Tôi còn chưa hiểu tôi - Poirot nói - Tôi chẳng hiểu gì hết. ông có thể tưởng, tôi đang cân nhắc mọi việc.
Ông thở ra một hơi dài rồi cúi người xuống chiếc bàn nhỏ xem xét mẩu giấy bị cháy xém. Ông khẽ nói trong miệng.
- Ta đang cần ngay lúc này một cái túi xách đựng nón loại cổ lỗ sĩ.
Bác sĩ Cơnstantine cảm thấy có vẻ bối rối trước việc này.
Dù sao Poirot không cho ông có thời gian hỏi lại. Ông mở cửa nhìn ra phía ngoài hành lang, gọi tên người phụ trách toa.
Ông ta vội vàng chạy lại ngay.
- Trên toa này có bao nhiêu hành khách nữ?
Ông đếm trên đầu ngón tay.
- Một... hai... ba - sáu người cả thảy, thưa ông. Một bà già Mỹ, một bà Thụy Điển, một cô nàng Ăng-lê, bà bá tước Andreny và công chúa Dragonmiroff với một người hầu.
Poirot ngẫm nghĩ.
- Mọi người đều có túi xách cả chứ?
- Dạ có, thưa ông.
- Anh mang đến cho tôi xem - phải rồi, cái túi xách của một bà người Thụy Điển và của người hầu gái. Ta chờ bằng chứng ở hai người này. Anh dặn họ đây là thủ tục quan thuế, có một việc liên quan đến nhiệm vụ của anh.
- Dạ được ngay, thưa ông. Nhưng hai người hiện giờ không có mặt trong buồng.
- Vậy anh lo cho xong nhanh.
Người phụ trách toa lui ra. Gã quay lại trên tay cầm hai túi xách.
Poirot mở ra xem túi xách người hầu gái, xong vứt qua một bên. Ông xem đến túi xách của bà Thụy Điển, ông khẽ nói một câu vẻ hài lòng. Thật khéo, tay ông lấy nón ra xem, bên trong là một vòng dây lưới bằng kim loại.
- Ồ, cái ta đang tìm. Mười lăm năm trước túi xách đựng nón làm bằng vật liệu thế này. Anh thử ghim cây gài tóc này vào xem.
Ông vừa nói tay lần tháo hai sợi dây ràng. Xong rồi ông xếp thật gọn trở lại, nói với người phụ trách toa mang trả về ngay chỗ cũ.
Khép cửa lại rồi, ông quay về phía ông bạn đồng hành.
- Đây này, ông bạn Bác sĩ, tôi thì không cần phải dựa theo nghề nghiệp chuyên môn. Tôi dựa theo tâm lý người bị tình nghi, không cần tìm dấu tay, hoặc mẩu tàn thuốc. Trong vụ án này tôi phải nhờ đến phương pháp khoa học giúp sức. Trong gian buồng này, ta còn tìm ra nhiều manh mối, nhưng liệu tôi có dám chắc đó manh mối có ích cho cuộc điều tra?
- Tôi không hiểu ý ông, ông Poirot.
- Thôi được rồi, tôi đưa ra một ví dụ. Ta tìm thấy chiếc khăn tay của một người đàn bà. Ta đến hỏi có thật là một bà đánh rơi chiếc khăn tay đó? Hay thủ phạm, một người đàn ông, dàn cảnh là ta sẽ bày ra chuyện thủ phạm là một người đàn bà. Ta đâm nạn nhân nhiều nhát dao vô cớ thật nhẹ tay, ta bỏ chiếc khăn để tất cả mọi người trông thấy. Đó cũng là một tình huống.
“Kế đến là một tình huống mới. Có phải hung thủ là một ngừời đàn bà cố tình bỏ rơi lại cái cây xoi ống tẩu, giả dạng hung thủ một người đàn ông ?
“Hoặc ta có thể đi xa hơn nữa : thủ phạm gồm hai tên - một đàn ông một đàn bà - không dính dáng gì với nhau, mỗi tên vô ý để lộ tung tích? Trường hợp này có vẻ như một sự trùng hợp ngẫu nhiên, thế đó.
- Nhưng tôi cần biết rõ cái túi xách đựng nón này ở đâu vậy? - ông Bác sĩ chưa hiểu chuyện gì.
- Ồ, tôi sẽ kể ra đây. Tôi đã nói rồi, chiếc đồng hồ dừng lại ngay lúc một giờ mười lăm phút, rồi đến chiếc khăn tay, cái cây xoi ống tẩu, mấy vật đó có thể là thật hoặc có thể giả. Tôi chưa xác định được. Nhưng mà có một manh mối tôi có thể nói chắc - dù có thể lầm lẫn - đó là không thể giả được. Đây là bao diêm que giấy, thưa ngài Bác sĩ ạ. Tôi cho đó là bao diêm hung thủ mang theo sử dụng, không phải loại diêm quẹt mà ông Ratchett thường dùng. Một loại diêm hung thủ dùng để thủ tiêu chứng cứ phạm tội hoặc đại loại như vậy. Có thể đó là một mẩu giấy ghi chép. Như vậy thì mảnh giấy đó là chứng cứ một sai lầm có thể làm lộ tung tích thủ phạm. Tôi định dựng lại câu chuyện.
Poirot bước ra bên ngoài chợt ông quay lại ít phút sau đó mang theo bếp nấu cồn với một cây kẹp gắp.
- Tôi dùng để uốn hàm ria - ông vừa nói vừa trỏ vô chỗ hàm ria.
Ông Bác sĩ chăm chú nhìn theo. Poirot bóp dẹp mớ dây đồng rồi khéo tay luồn mẩu giấy bị cháy xem vô đó, lấy dụng cụ kẹp lại tất cả những mảnh vụn hơ quanh ngọn lửa cây đèn cồn đang thắp sáng.
- Phái nghĩ cách mà làm, thế đó - Poirot nghiêng đầu ngoái nhìn nói cho ông bạn nghe - Ta chờ xem phản ứng nó ra sao.
Ông Bác sĩ vẫn để mắt theo dõi từng thao tác của Poirot. Mớ dây đồng đỏ rực. Chợt Poirot nhìn thấy những tuồng chữ mờ nhạt - nét chữ hiện ra rõ dấn - nét chữ ẩn hiện trong ánh lửa.
Những mẫu chữ nhỏ li ti. Chỉ còn ba chữ đọc được cộng với một phần ghép của chữ đứt đoạn:
«Member con bé Daisy Armstrong»
- Ồ! - Poirot chợt kêu một tiếng khô khốc.
- Vậy là nó giúp ông đoán ra được? - ông Bác sì hỏi.
Poirot nhìn mắt sáng rỡ. Ông nhẹ tay đặt chiếc kẹp xuống bàn.
- Phải rồi - Poirot đáp - Tôi biết được tên thật của nạn nhân. Tôi hiểu vì sao ông ta bỏ nước Mỹ ra đi.
- Tên ông là gì?
- Cassetti.
- Cassetti - Constantine cau mày - Tôi chợt nhớ ra một điều. Đó là chuyện mấy năm về trước. Tôi không thể nhớ hết... Một vụ án bên nước Mỹ, phải vậy không?
- Phải -Poirot nói - Một vụ án bên nước Mỹ.
Ngoài ra thì Poirot lại không thích bàn tán cho lắm chuyện. Ông nhìn quanh một lúc, chợt cất tiếng.
- Ta lao vô việc này ngay đi. Trước hết phải nắm chắc thông tin đâu ra đó.
Nhanh như cắt và thật khéo léo ông đưa tay lục soát hết tất cả túi quần áo nạn nhân. Không tìm thấy manh mối nào cụ thể. Ông lại xem chỗ cửa ăn thông giữa hai buồng, cửa bên kia đã khóa chặt cứng.
- Tôi chưa hiểu ra một việc - Bác sĩ Constantine nói - Nếu hung thủ không thoát ra lối cửa sổ và nếu cửa buồng ăn thông bên cạnh lại khóa chặt, còn cửa trở ra ngoài phía hành lang vừa có khóa bên trong thêm sợi dậy xích. Vậy thì hung thủ ra đường nào?
- Chuyện đó ta hãy chờ thực tế khách quan đánh giá một người bị trói chặt chân tay nhốt trong tủ kín, lại trốn ra ngoài được.
- Ý ông bạn muốn nói là…
- Tôi muốn nói - Poirot phân bua - Hung thủ có ý đồ để chúng ta thấy hắn trốn khỏi lối cửa sổ và bày ra chuyện hai lối thoát kia bị ngăn chặn. Trở lại câu chuyện người tàng hình trong tủ khóa - Chẳng qua đó là một mưu mẹo. Công việc chúng ta là phải tìm cho ra cái trò chơi mưu mẹo đó.
Ông bước lại khóa một bên lối đi thông qua.
- Đề phòng nhỡ bà Hubbard lõi đời ghi nhớ trong đầu đòi moi cho được thông tin mới nhất của vụ án, bà viết thư cho con gái hay liền.
Poirot nhìn khắp một lượt lần cuối.
- Ta không nán ở lại đây làm gì nữa, thế thôi. Ta quay lại chỗ ông Bouc.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương TÁM
VỤ BẮT CÓC AMSTRONG


Ông Bouc vừa ăn xong món chả trứng.
- Tôi cho là tiện nhất ta nên đến toa hàng ăn dùng bữa trưa - ông nói - ăn xong dọn dẹp sạch sẽ ông Poirot mới bắt tay vô việc thăm dò hành khách trên tàu. Trong lúc chờ đợi tôi gọi mang đến thức ăn đủ cho ba người.
- Một sáng kiến nghe hay đấy - Poirot nói.
Hai người bạn ông chưa thấy đói, món ăn đã bày ra bàn, đến lúc dùng món càfê, ông Bouc mời nhắc chuyện ai nấy đang nghĩ trong đầu.
- Này - ông Bouc đánh tiếng.
- Này, tôi vừa tìm thấy lai lịch của nạn nhân. Điều đó khẳng định vì sao ông ta rời bỏ nước Mỹ.
- Ông ta là ai?
- Ông còn nhớ bài báo về chuyện đứa bé nhà Armstrong? Hung thủ giết chết đứa bé Daisy Armstrong - chính là Cassetti.
- Giờ tôi mới nhớ. Một vụ án chấn động, vậy mà tôi không nhớ hết chi tiết.
«Đại tá Armstrong một người Ăng-lê, phó lãnh sự. Ngài là dân Mỹ lai, mẹ là con gái ngài W.K.Van de Halt, nhà tỉ phú chứng khoán Wall Street. Ông có vợ là con gái nhà Linda Arden. Một nghệ sĩ bi kịch nổi tiếng người Mỹ thời đó. Hai vợ chồng sống trên đất Mỹ, sinh được một đứa con, con gái cưng của hai ông bà. Đứa bé bị bắt cóc lúc vừa ba tuổi. Bọn tội phạm đưa ra một giá chuộc mạng quá lớn. Tôi không muốn phiền ông phải lắng nghe câu chuyện ly kỳ này, tôi chỉ kể lại đoạn gia đình nộp đủ số tiền chuộc mạng quá lớn hai trăm ngàn đô la, để chỉ nhận lại được cái xác đã chết lâu hai tuần lễ. Dư luận quần chúng vô cùng phẫn nộ. Và thêm một chuyện xót xa hơn nữa. Bà Armstrong đang mang thai sắp sinh. Sau cái chết đau thương của đứa con bị bắt cóc, bà sinh một đứa nữa, lại chết non tháng, người mẹ chết theo. Trong cơn quẫn trí người chồng tự sát» .
- Lạy chúa, họa vô đơn chí. Tôi nhớ lại - ông Bouc chợt nói - Thêm một cái chết nữa, nếu tôi không nhầm.
- Phải rồi, cái chết đau thương của cô giữ trẻ người Pháp hay Thụy Sĩ gì đó. Cảnh sát cho là cô này biết rõ vụ án. Những lời chống chế của cô không làm cho cảnh sát tin hơn. Quá phẫn uất cô giữ trẻ đáng thương kia nhảy qua cửa sổ tự vẫn. Về sau mới biết cô hoàn toàn vô tội, không dính dáng đến vụ án.
- Ta không nên cho đó là một việc phải suy ngẫm - ông Bouc nói.
- Sáu tháng sau, Cassetti bị bắt vì can tội cầm đầu băng nhóm bắt cóc đứa trẻ. Chúng đang thực hiện một vụ bắt cóc như bài bản cũ. Nếu bị phát hiện có cảnh sát đang truy đuổi, bọn chúng sẽ giết chết nạn nhân, giấu xác, đòi món tiền chuộc rất lớn cho đến lúc bị phát hiện. Ông lắng nghe tôi nói hết, ông bạn Cassetti là một tên hảo hán! Hắn nắm giữ một tài sản kếch xù, có thế lực, áp đảo nhiều người nên đã qua được mấy vụ suýt chết. Tuy nhiên, hắn sẽ bị trừng trị theo luật giang hồ nếu không biết tôn trọng luật chơi một khi có ai đó mắc phải sai lầm.
«Nay tôi hiểu rõ mọi việc. Hắn thay tên đổi họ, trốn khỏi nước Mỹ. Hắn đóng vai một tay ăn chơi hào hoa, du lịch nước ngoài, sống nhờ đồng lời.
- Ôi, đồ súc sinh - Giọng ông Bouc đầy vẻ kinh tởm.
- Hắn có chết cũng đáng tội. Ta không ân hận gì hết.
- Tôi đồng ý với ông.
- Tuy nhiên, ta cần gì phải giết chết hắn ngay trên chuyến tàu Tốc hành Phương Đông. Còn nhiều chỗ khác hơn nữa.
Poirot nhếch mép cười. Ông Bouc lại có thiên kiến trong vụ này.
- Ta nên xét lại vụ việc - ông nói - Vụ án có thể là một cuộc thanh toán giữa các băng nhóm khi biết Cassetti phản phé, hay chỉ là do tư thù?
- Ông giải thích việc này căn cứ ở những chữ còn ghi lại trên mảnh giấy bị cháy xém?
- Nếu điều ước đoán hoàn toàn đúng, thì chính hung thủ định thủ tiêu mảnh giấy đó. Vì sao? Vì mảnh giấy còn sót mấy chữ Armstrong, là manh mối ta đang tìm cho ra.
- Còn những người thân của Annstrong, có ai sống sót?
- Ngặt một nỗi tôi không rõ. Tôi còn nhớ một lần được nghe bà Armstrong kể còn một người em gái.
Poirot nhắc lại mấy điểm trùng hợp giữa ý kiến của ông với Bác sĩ Constantine. Nhắc lại chiếc đồng hồ bị vỡ, ông Bouc mắt sáng rỡ.
- Đó là manh mối giúp ông ta xác định giờ khắc hung thủ thực hiện tội ác.
- Phải - Poirot nói - Thật là...
Giọng ông nói ẩn chứa một vẻ gì đó lạ thường, khiến hai ông bạn kia nhìn nhau chưa hiểu hết.
- Vậy là ông còn nhớ Ratchett đã nói với ông điều gì đó lúc một giờ kém hai mươi phút.
Poirot nhớ lại từng chi tiết.
- Vậy thì - ông Bouc vừa nói - điều này cho ta thấy ít ra là Cassetti hoặc Ratchett, ta cứ gọi tên hẳn là vậy đi, vẫn còn sống sót ở thời điểm một giờ kém hai mươi phút.
- Nhắc lại chính xác hơn, một giờ kém hai mươi ba phút.
- Vậy là nói cho đúng, lúc đó mười hai giờ ba mươi bảy phút, ông Ratchett còn sống. Đó cũng là một manh mối.
Poirot lặng thinh. Ông còn ngồi đó trầm ngâm nghĩ ngợi.
Chợt có tiếng gõ cửa, người phục vụ toa hàng ăn bước vô.
- Toa hàng ăn đang vắng khách, mời quý vị - gã nói.
- Ta đi qua đó - ông Bouc đứng dậy giục.
- Tôi đi cùng với ông được chứ? - Bác sĩ Constantine hỏi lại.
- Được chứ, ông bạn thầy thuốc. Nếu ông Poirot đồng ý?
- Không sao. Không sao cả - Poirot nói.
Các vị khách đang nhường nhau theo phép lịch sự
- Mời ông.
- Không dám, mời ông.
Các vị khách lục tục bước ra ngoài.
Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN HAI
CHỨNG CỨ

Chương MỘT
LỜI KHAI CỦA NGƯỜI PHỤ TRÁCH TOA


Toa hàng ăn bày biện gọn gàng.
Poirot và ông Bouc ngồi ở một góc bàn, ông Bác sĩ ngồi giữa lối đi.
Tấm sơ đồ toa xe đi Istanbul - Calais cùng với tên tuổi hành khách ghi mực đỏ đặt trên bàn trước mặt ông Poirot.
Thông hành, vé tàu xếp một chồng đặt bên cạnh.
Trên bàn có đủ giấy, viết, mực.
- Tuyệt - Poirot mở lời - Ta mở ngay một Ban Điều tra, không cần phải làm rùm beng. Trước hết ta lắng nghe lời khai của người phụ trách toa. Ta cần biết qua lai lịch của anh chàng này. Tư cách gã thế nào? Mấy lời gã khai có đủ sức thuyết phục không?
- Tôi có thể đoán chắc một việc. Pierre Michel làm việc cho hãng tàu mười lăm năm. Gã gốc người Pháp, sống quanh năm ở vùng Calais, gã thật thà ai cũng quý. Tuy gã không thông minh.
Poirot nghe xong gật gù hiểu cả.
- Được rồi - ông nói - Ta cho gọi gã đến đây
Pierre Michel thấy mình an tâm hơn, gã đang còn bàng hoàng.
- Tôi nghĩ là quý ông không gán cho tôi có phần lơ là - gã đang phân vân, đưa mắt nhìn Poirot qua đến ông Bouc - Một việc tai hại vừa xảy đến, tôi nghĩ là quý ông không nên đổ cho tôi.
Trước khi qua đến phần thẩm vấn, Poirot muốn xoa dịu gã. Ông hỏi rõ lai lịch chỗ ở Michel hiện nay, thời gian phục vụ, thời gian làm việc trên tuyến đường này. Gã biết rõ mấy điểm này, dù vậy cuộc thẩm vấn nhằm làm cho gã thấy yên tâm hơn.
- Đến đây - Poirot nói tiếp - ta trở lại sự cố đêm hôm đó. Ông Ratchett trở vô giường ngủ lúc mấy giờ?
- Ngay sau bữa cơm tối, thưa ông. Chính xác trước lúc tàu rời ga Belgrade. Đêm hôm trước cũng y như vậy. Trong khi ông đi dùng cơm tối, ông còn dặn tôi lo dọn giường, tôi làm theo lệnh ông.
- Sau giờ đó anh có trông thấy ai đi vô buồng?
- Chỉ có hầu phòng, thưa ông, và người thư ký riêng, thế đó.
- Còn ai khác nữa không?
- Không, thưa ông, tôi chỉ biết có vậy thôi.
- Được. Như vậy là những giây phút cuối cùng anh còn nghe thấy?
- Dạ không, thưa ông. Ông quên rồi, nên nhớ vào khoảng một giờ kém hai mươi ông ta có gọi chuông, vừa lúc tàu dừng lại ga.
- Anh còn nhớ rõ mọi việc xảy ra lúc đó?
- Tôi chạy đến gõ cửa nghe tiếng nói bên trong vọng ra, ông ấy gọi nhầm.
- Ông ta nói tiếng Anh hay tiếng Pháp?
- Tiếng Pháp.
- Anh còn nhớ rõ từng chữ?
- “Không sao cả. Tôi gọi nhầm”.
- Chính xác nhé - Poirot nói - Tôi cũng nghe rõ như vậy. Rồi anh bỏ đi ngay?
- Dạ phải.
- Và rồi anh trở lại chỗ cũ?
- Không, thưa ông, tôi chạy lại nơi vừa đang gọi chuông.
- Này, Michel, ta định hỏi anh một việc hệ trọng lắm. Lúc một giờ mười lăm phút anh ở đâu?
- Tôi à, thưa ông? Tôi ngồi tại chỗ của tôi ở cuối toa, nhìn về phía hành lang.
- Anh chắc chứ?
- Chắc mà, không sai.
- Hả?
- Tôi còn đi qua toa khác, toa tàu Athens, đến báo cho đồng nghiệp. Chúng tôi lo trời tuyết. Tôi còn nhớ lúc đó khoảng sau một giờ sáng. Nhưng mà không nói chắc đâu.
- Rồi anh trở lại chỗ cũ ngay, lúc mấy giờ?
- Tôi nghe tiếng chuông gọi, thưa ông. Tôi còn nhớ - tôi kể lại hết - chính cái Bà người Mỹ. Bà ấy nhấn chuông gọi mãi.
- Ta nhớ rồi - Poirot nói - Rồi sao nữa?
- Rồi sao hả ông? Tôi nghe tiếng gọi chỗ ông và tôi mang đến chai nước. Khoảng nữa giờ sau tôi qua buồng khác dọn lại chỗ ngủ, nơi ở của anh chàng thư ký riêng ông Ratchett.
- Lúc đó chỉ còn một mình hắn trong buồng?
- Lại có thêm một ngài Đại từ bên buồng số 15 qua. Họ đang ngồi nói chuyện.
- Anh trông thấy ngài Đại tá như thế nào lúc từ trong buồng trở ra?
- Ông trở về chỗ buồng riêng của ông.
- Buồng số 15, như vậy sát bên chỗ ngồi của anh đúng không?
- Dạ phải, thưa ông, buồng thứ hai tính từ cuối dãy hành lang trở đi.
- Lúc đó anh đã dọn xong giường?
- Dạ, thưa phải, ông ta đi ăn cơm còn tôi lo dọn chỗ ngủ.
- Anh còn nhớ lúc đó mấy giờ?
- Thật không nhớ rõ, thưa ông. Nhưng không quá hai giờ sáng, vậy đó.
- Rồi sao nữa?
- Sau đó thì tôi về ngồi lại ngay chỗ cũ cho đến sáng.
- Vậy anh không quay lại toa tàu Athens nữa sao?
- Dạ không .
- Tôi nghĩ lúc đó anh ngủ quên.
- Dường như không phải vậy, thưa ông. Tàu đang neo lại một chỗ nên tôi không thể ngủ gật như mọi khi.
- Lúc đó anh còn trông thấy người đi lại dọc theo dãy hanh lang?
Anh chàng chợt nghĩ ngợi.
- Có một bà đi vô phòng vệ sinh ở cuối dãy hành lang, thế đó.
- Anh còn nhớ rõ người đàn bà đó?
- Dạ không rõ, thưa ông. Vì ở mãi đầu mút kia, bà quay lưng lại. Bà mặc bộ Kimônô màu đỏ thắm có thêu hình con rồng.
Poirot gật.
- Sau đó nữa?
- Không còn thấy ai, thưa ông, cho mãi đến sáng.
- Anh chắc chứ?
- Ồ, tôi xin lỗi Ngài, tôi mở cửa nhìn ra ngoài trong chốc lát thôi.
- Được đấy, ông bạn - Poirot vừa nói - Tôi ngỡ là liệu anh có còn nhớ. Mà này, lúc đó tôi giật mình thức dậy và nghe tiếng va đập thình thịch ở ngoài cửa. Anh biết chuyện gì rồi chứ?
Anh chàng chăm chăm mắt nhìn ông.
- Không có ai cả, thưa ngài. Không có ai, tôi nói chắc với ngài.
- Vậy hóa ra tôi bị mộc đè - Poirot nói giọng triết lý.
- Chỉ trừ khi - ông Bouc nói - Nghe có tiếng động ở buồng bên cạnh.
Poirot không để tâm vô mấy việc đó. Bởi lúc này đang có mặt anh chàng phục vụ toa.
- Ta bàn qua chuyện khác đi - ông nói - Ta giả sử đêm qua một tên sát nhân đột nhập trên tàu. Chắc chắn hắn chưa trốn thoát ra ngoài đâu.
Pierre Michel lắc đầu.
- Hắn cũng không thể lẩn tránh đi đâu được.
- Đã lục soát khắp nơi rồi - ông Bouc nói - Thôi không nhắc chuyện đó nữa, ông bạn.
- Ngoài ra - Michel nói - Không ai lọt vô khu này mà tôi không hay biết được.
- Mai này tàu sẽ ghé lại ga nào?
- Ga Vincovci.
- Mấy giờ tàu chạy?
- Tàu phải chạy đúng lúc 11 giờ 58. Thời tiết xấu nên đã trễ mất hai mươi phút.
- Có thể là kẻ lạ đột nhập theo lối toa ghế ngồi?
- Không, thưa ông. Sau giờ ăn, lối đi qua hai toa ngồi và toa giường nằm khóa lại.
- Tới ga Vincovci anh phải xuống chứ?
- Dạ có. Tôi phải xuống như mọi khi, đứng chờ trên bậc thềm. Đến phiên người khác cũng vậy.
- Còn ở phía cửa toa hạng nhất như thế nào? Toa kế bên toa hàng ăn đó?
- Cửa đó luôn luôn có khóa bên trong.
- Nhưng giờ đó cửa lại không khoá.
Anh chàng kinh ngạc, chợt vẻ mặt hắn sáng rỡ.
- Vậy là có một hành khách đà tàu mở cửa nhìn xeem thời tiết bên ngoài.
- Cũng có thể lắm - Poirot nói.
Ông đặt tay gõ nhẹ lên mặt bàn một lúc.
- Vậy ra Ngài không gán tội cho tôi chứ? - anh chàng vừa nói giọng e ngại.
Poirot nhìn gã, ông nhếch miệng cười thân thiện.
- Thật là một điều không may cho anh - ông nói.
- Ồ, còn một điều nữa, anh còn nhớ chứ. Có người gọi chuông lúc anh chạy đến gõ cửa buồng ông Ratchett. Mà thật lúc đó tôi có nghe. Ai gọi anh giờ đó vậy?
- Đó là chuông gọi từ buồng của công chúa Dragomiroff. Bà ấy nhờ tôi gọi người hầu.
- Anh làm theo lời dặn?
- Dạ phải.
Poirot chăm chú nhìn vô tấm sơ đồ toa xe đặt trước mặt ông. Chợt ông nghiêng đầu về một bên.
- Vậy là xong - ông nói - ngay lúc này.
- Cám ơn ngài.
Anh chàng đứng dậy. Gã nhìn về phía ông Bouc.
- Anh đừng có nghĩ vớ vẩn - ông nói giọng thân mật - Ta không thấy anh sơ suất một điểm nào cả.
Mừng rỡ, Pierre Michel lặng lẽ bước ra ngoài.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương HAI
LỜI KHAI NGƯỜI THƯ KÝ


Poirot ngồi lặng thinh toan tính nghĩ ngợi.
- Tôi cho là - ông đánh tiếng - Ta nên nói thêm về anh chàng MacQueen này dựa theo những bằng chứng ta vừa mới thu thập.
Ngay lúc đó, gã thanh niên người Mỹ bước đến.
- Vậy là... - gã hỏi - công việc đến đâu rồi?
- Cũng tàm tạm. Sau lần thẩm vấn vừa rồi, tôi biết ra vài điều, đó là lai lịch của ông Ratchett.
Hector MacQueen nghiêng người chăm chú lắng nghe.
- Vậy à? - gã nói.
- Anh biết đấy, Ratchett là một biệt hiệu. Ratchett chính là tên Cassetti, cầm đầu các họat động chuyên bắt cóc, kể cả vụ bắt cóc cô bé Daisy Armstrong, gây xôn xao dư luận.
Vẻ mặt MacQueen kinh hoàng bỗng sa sầm lại.
- Tên bất lương chết tiệt - gã thét một tiếng.
- Anh không biết gì à, Mac Queen?
- Dạ không - gã quả quyết - Nếu tôi biết việc này tôi đã chặt đứt cánh tay phải để không phải ân hận là thư ký cho ông ta!
- Anh nghĩ sâu sắc vậy sao, MacQueen?
- Tôi có lý do riêng. Cha tôi là người quan tòa xét xử vụ án đó, thưa ông Poirot. Tôi từng gặp bà Armstrong một đôi lần, bà thật dễ mến. Người đàn bà dịu dàng đó phải chuốc lấy khổ đau - Vẻ mặt gã ủ rủ - Nếu một người được gọi tên đúng danh xưng thì đó là Ratchett hay Casstti cũng vậy. Tôi hài lòng ngày tàn ông ta đã điểm. Cái con người đó không đáng sống.
- Nghe anh nói tưởng chừng như anh chỉ muốn nhận việc tốt về phần mình
- Tôi là thế đó. Tôi… - gã dừng lại, vẻ mặt ửng đỏ như đang phạm một điều sai trái - Cảm thấy mình cũng mắc tội
- Anh khiến tôi càng ngờ hơn nữa, MacQueen, nếu như anh có vẻ mặt đau khổ quá sức trước cái chết của ông ta.
- Tôi không cho là vậy đâu, ngay cả để tự cứu mình khỏi ngồi ghế điện - MacQueen nói giọng đanh lại.
Gã nói cho hết.
- Tôi thì không phải hiếu kỳ, nhưng mà sao ông lại nghĩ ra chuyện đó. Lai lịch của tên Cassetti đó mà?
- Nó xuất phát từ mảnh giấy vụn tôi nhặt được bên trong buồng ngủ ông ta.
- Nhưng chắc, tôi muốn nói, một phần bất cẩn là do ở ông ta.
- Cũng còn tuỳ - Poirot nói - ở cách nhận định của ta.
Gã thanh niên nghe nói càng chưng hửng hơn. Gã trố mắt nhìn Poirot như muốn hiểu cho ra lẽ.
- Công việc trước mắt - ông Poirot nói - Là phải nắm vững hoạt động từng người trên tàu. Tránh không để sai phạm, anh hiểu chứ? Ta làm như công việc thường ngày vậy.
- Hẳn nhiên.
- Ta cần hỏi lại anh có buồng giường nằm số mấy? - Poirot vừa cười vừa hỏi - Ta ở tạm đó qua một đêm, đó là buồng hạng nhì, số 6 và 7 sau khi chuyển tàu thì anh ở lại một mình?
- Ông nói đúng.
- Này MacQueen, anh kể lại cho tôi nghe đêm qua sau khi rời toa ăn, anh làm gì?
- Có gì lạ đâu, tôi trở lại chỗ ngủ, đọc sách một lúc, xuống ga Belgrade dạo chơi, bên ngoài lạnh quá, tôi trở vô tàu. Tôi nói chuyện một lúc với người hành khách Ăng-lê ở buồng bên cạnh. Sau đó tôi lại nói chuyện với Ngài đại tá Arbuthnot, một người Ăng-lê. Rõ ràng lúc đó tôi thấy Ngài đi ngang qua. Tôi trở lại chỗ ông Ratchett. Ngài đã nghe kể rồi, ghi chép những số liệu để ông viết thư. Xong rồi tôi để yên cho ông ngủ. Lúc này Đại tá Arbuthnot vẫn còn đứng ngoài hành lang. Chỗ ngủ của ông đã dọn xong và tôi mời ông ghé qua chỗ tôi. Tôi gọi hai ly rượu cùng uống. Lúc đó chúng tôi bàn đến chuyện thời sự thế giới, chuyện khủng hoảng ở thị trường chứng khoán Wall Street. Tôi thì không thích người Ăng-lê, một bọn ngoan cố, chỉ riêng ông này tôi thích nói chuyện.
- Anh còn nhớ lúc ông ấy ra về là mấy giờ.
- Khuya lắm. Tôi nhớ khoảng hai giờ sáng.
- Anh nhớ lại xem, tàu vẫn còn neo tại ga?
- À, phải rồi. Chúng tôi lấy làm lạ, nhìn ra bên ngoài, mặt đất tuyết phủ dày đặc, nghĩ là chẳng có gì phải lo.
- Sau khi Ngài đại tá về lại chỗ ngủ có việc gì lạ hơn nữa không?
- Ngài đại tá trở lại chỗ ngủ, còn tôi nhờ người phụ trách toa dọn giường.
- Lúc đó ath đi đâu?
- Tôi đứng trước của ngoài hành lang hút thuốc.
- Và sau đó?
- Sau đó tôi đi ngủ một giấc cho tới sáng.
- Tối hôm đó anh còn nhớ xuống tàu vào lúc nào?
- Ngài Arbuthnot và tôi định xuống tàu nơi ga nào nhỉ, ga Vincovci, đi dạo cho thư giãn trong chốc lát. Nhưng lúc đó bên ngoài trời lạnh khủng khiếp, vì bão tuyết. Bọn chúng tôi trở lại tàu.
- Anh còn nhớ lúc xuống tàu ở cửa nào?
- Ở lối cửa gần buồng ngủ.
- Lối cửa sát bên toa hàng ăn chứ gì?
- Dạ phải.
- Anh nhớ lại đi, lối đi qua đó đã cài chốt mà?
MacQueen ngẫm nghĩ.
- Sao vậy kìa, ồ phải rồi, hình như là lối đi qua đó đã chốt lại. Có một cây then cài chắn ngang tay nắm vặn cửa. Ý ông muốn nói vậy chứ gì?
- Đúng. Vậy lúc trở lại toa tàu anh còn nhớ cài then lại chớ?
- Sao vậy. Ồ không, tôi không nhớ ra việc đó. Tôi đi sau chót. Không, tôi chẳng nhớ đến việc đó.
Chợt gã nói tiếp.
- Vậy đó cũng là một điểm cần ghi nhớ sao?
- Có thể là vậy. Này, tôi nói cho rõ thêm, lúc Ngài Đại tá Arbuthnot ngồi nói chuyện, anh có để ý cửa buồng ngủ trông ra hành lang còn để mở chứ?
Hector MacQueen gật.
- Tôi muốn được nghe anh kể lại việc này, anh còn nhớ lúc đó thấy ai đi ngang qua hành lang sau khi tàu rời ga Vincovci cho đến lúc anh trở vô buồng ngủ?
MacQueen chợt cau mày.
- Lúc đó chỉ còn người phụ trách toa - gã nói - đi lại từ phía toa hàng ăn. Và còn thêm một bà đi ngược về phía đó.
- Anh nhớ là ai không?
- Tòi không nhớ, cũng không để ý. Vả lại lúc đó mắc tranh cãi với Ngài đại tá Arbuthnot. Tôi có thể nhớ lúc đó thấp thoáng bóng một chiếc áo kimônô vải tơ màu đỏ thắm ngang qua cửa. Tôi không nhìn theo nên không thể nhớ khuôn mặt người đó. Ông biết mà, chỗ tôi ở nhìn ra phía cuối toa hàng ăn, nên người đàn bà thấp thoáng ngoài hành lang đi về hướng đó thì chỉ thấy được cái lưng.
Poirot gật.
- Bà ta đi vô phòng vệ sinh, chắc vậy?
- Tôi đoán chừng.
- Anh nhìn thấy bà quay trở lại?
- Ồ, không, ông nhắc tôi mới nhớ, tôi không để ý bà có quay lại không, nhưng chắc phải quay lại chứ?
- Tôi hỏi thêm một câu nữa. Anh có hút ống điếu không, anh MacQueen?
- Dạ không, tôi không hút thuốc.
Poirot chợt im bặt.
- Thôi, đến đây chỉ biết bấy nhiêu. Tôi cần gặp người hầu phòng ông Ratchett. Vậy thì có bao giờ ông ta và anh đi tàu vé hạng nhì?
- Ông thì có chứ. Tôi thường chỉ mua vé hạng nhất, nếu kẹt thì phải mua vé kế bên toa ông Ratchett. Tất cả hành lý ông gởi bên chỗ tôi. Tiện lợi mỗi khi cần có tôi. Nhưng lần này vé hạng nhất không còn chỗ trống, chỉ còn một vé duy nhất ông mua.
- Tôi hiểu rồi, cám ơn anh MacQueen.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương BA
LỜI KHAI NGƯỜI HẦU PHÒNG


Nhân chứng người Mỹ vừa kết thúc lời khai, đến lượt nhân chứng người Ăng-lê, vẻ mặt trông đờ đẫn. Trước đó một bữa Poirot đã nhìn thấy y. Gã nghiêm chỉnh đứng chờ đến lượt mình. Poirot ra hiệu mời gã ngồi.
- Anh là người hầu phòng ông Ratchett, đúng chứ?
- Dạ phải
- Tên anh là gì?
- Edward Henry Masterman.
- Mấy tuổi?
- Ba mươi chín.
- Địa chỉ cư trú?
- 21 phố Friar Street, Clerkenwell.
- Anh có hay tin ông chủ bị giết chết chưa?
- Dạ có. Một cái chết thương tâm.
- Vậy anh còn nhớ lần cuối nhìn thấy ông Ratchett lúc mấy giờ?
Người hầu phòng ngẫm nghĩ.
- Khoảng chín giờ tối qua, thưa ông. Có thể quá gì đó.
- Anh có thể nói rõ hơn sư việc xảy ra như thế nào?
- Như mọi khi, tôi vô buồng ông Ratchett chờ ông sai khiến.
- Nhiệm vụ của anh mỗi ngày làm gì?
- Thu dọn quần áo, thư ông. Súc rửa hàm răng giả và làm mấy việc lặt vặt buổi tối.
- Cách cư xử của ông bình thường như mọi bữa chứ?
Gã chần chừ một lát.
- Thưa ông, thế này, ông chủ tôi gặp lúc khó ở.
- Anh nói rõ hơn, thế nào, khó ở?
- Chuyện là sau khi ông nhận được một cái thư. Ông hỏi có phải tôi mang thư đến giùm cho ông. Rõ ràng không phải việc của tôi, vậy mà ông mắng tôi một lúc và đổ lỗi cho tôi.
- Tính ông khác hơn mọi khi?
- Ồ, không phải vậy. Ông ta dê nổi giận, tôi biết mà, tùy lúc chuyện gì đó khiến ông thấy khó ở, thế đó.
- Ông chủ có sử dụng thuốc ngủ?
Bác sĩ Constantine hơi ngả người về phía trước.
- Lúc đi tàu ông có dùng, nếu không thì khó mà ngủ.
- Anh biết ông chủ thường dùng thuốc nào?
- Tôi không nhớ, nói thật dấy. Chai thuốc không ghi nhãn hiệu chỉ ghi vẻn vẹn “Thuốc ngủ dùng mỗi tối”.
- Tối qua ông chủ có uống không?
- Dạ có. Tôi rót ra ly để sẵn trên bàn ở đầu giường.
- Chính mắt anh không nhìn thấy ông chủ uống?
- Dạ không .
- Rồi sau đó?
- Tôi hỏi ông cần thứ gì nữa, đến mấy giờ sáng thì gọi ông thức dậy. Ông dặn lúc nào cần ông nhấn chuông gọi.
- Ông có thường dặn vậy không?
- Dạ vẫn thường. Ông nhấn chuông nhờ người phụ trách toa gọi tôi lúc ông thức dậy.
- Ông thường dậy sớm hay trễ?
- Tùy bữa, ông có khỏe hay không. Có bữa ông thức sớm ăn sáng, có bữa thì không. Có bữa ông dậy trễ tới giờ ăn trưa luôn.
- Vậy là anh không được báo trước mỗi buổi sáng lúc nào không cần đến anh?
- Dạ không phải vậy.
- Anh có biết ai oán thù gì ông chủ?
- Dạ có.
Gã kể giọng thản nhiên.
- Làm thế nào anh biết được?
- Tôi nghe được ông bàn chuyện với MacQueen về mấy cái thư gửi đến.
- Vậy anh thấy thân thiện với ông chủ không, Masterman?
Vẻ mặt Masterman trông dửng dưng hơn bao giờ hết.
- Thật tình khỏi phải nói, thưa Ngài. Ông chủ tôi rất hào phóng.
- Vậy mà anh lại không thích ông ta?
- Phải nói lại là tôi không thích người Mỹ, thế đó.
- Anh đã từng sống ở Mỹ chưa?
- Dạ chưa.
- Anh còn nhớ tin đăng báo vụ bắt cóc Armstrong chứ?
Vẻ mặt gã đỏ ửng.
- Dạ có. Cái con bé gái đó mà, đúng không ? Đó là vụ án thương tâm.
- Vậy anh có biết Ratchett, ông chủ anh, là kẻ chủ mưu vụ bắt cóc?
- Dạ không, tôi hoàn toàn không biết - Giọng gã nghe ra có phần thương xót - Tôi không ngờ sao lại có chuyện đó, thưa Ngài.
- Vậy mà có thật đấy. Ta bàn qua việc làm của anh tối qua, công việc thường ngày đó mà. Sau khi ra khỏi buồng thì anh còn làm việc gì nữa?
- Tôi đến nhắn MacQueen có ông chủ hắn gọi. Tôi về lại buồng riêng nằm đọc sách.
- Buồng anh ở là…
- Buồng cuối cùng toa hạng nhì, thưa Ngài. Kề bê toa hàng ăn.
Poirot đảo mắt nhìn sơ đồ toa xe.
- Tôi hiểu, anh nằm ở giường nào?
- Giường dưới, thưa Ngài.
- Vậy là giường số 4?
- Dạ phải.
- Ngoài anh ra còn có ai ở chung không?
- Dạ có. Một người Ý, to béo.
- Ông ta biết nói tiếng Anh?
- Ô, tôi nghe ông ta nói một thứ tiếng Anh, thưa Ngài - giọng gã nghe như lúng túng - ông ta đã từng ở Mỹ - ở Chicago - theo như tôi biết.
- Anh thường nói chuyện với ông ta chứ?
- Dạ không. Tôi thì thích đọc sách.
Poirot nhếch mép cười. Ông nhớ lại hoàn cảnh lúc đó, gã người Ý ăn nói ba hoa. Và cái vẻ khinh khỉnh của anh chàng hầu phòng.
- Anh đang đọc truyện gì vậy? - Poirot hỏi.
- Tôi đang xem giữa chừng cuốn Love’s Captire của bà Arabella Richardson.
- Chuyện hay chứ?
- Tôi thấy hay hay.
- Thôi được, ta tiếp tục. Anh về chỗ ngủ và đọc truyện cho đến lúc nào?
- Khoảng mười giờ rưỡi, thưa Ngài. Ông khách người Ý buồn ngủ. Người phụ trách toa đến dọn giường.
- Lúc đó anh cũng ngủ?
- Nằm trên giường, chưa ngủ.
- Sao lại chưa ngủ ngay ?
- Tôi đang đau răng, thưa Ngài.
- Ôi, thôi thôi, nhức nhối lắm
- Nhức ghê gớm, thưa Ngài.
- Anh làm gì cho đỡ nhức?
- Tôi xức dầu gió cho đỡ, khó ngủ quá. Bật đèn đầu giường tôi lại coi truyện tiếp, cố quên đi chuyện đau răng.
- Vậy là anh không chợp mắt được?
- Dạ phải. Đến bốn giờ sáng mới thiu thiu được một chút.
- Còn ông kia, thế nào?
- Cái ông người Ý đó hả ? Ồ, ông ta ngáy khò khò.
- Cả đêm ông ta không đi ra ngoài sao?
- Dạ không.
- Còn anh?
- Dạ cũng không.
- Ban đêm anh có nghe động tĩnh gì không?
- Chẳng nghe thấy gì, thưa Ngài. Mọi việc bình thường. Tàu neo lại một chỗ nên rất yên tĩnh.
Một thoáng lặng thinh rồi ông Poirot hỏi tiếp.
- Tôi nghĩ còn một vài việc cần làm cho rõ thêm. Anh thì chưa rõ lắm đâu phải không?
- Tôi e là vậy, tôi lấy làm tiếc, thưa Ngài.
- Theo như anh biết giữa ông chủ của anh và MacQueen có xích mích gì không?
- Ồ. thưa không. MacQueen là một anh chàng lịch sự.
- Trước khi về đây thì anh làm gì? Ở đâu?
- Tôi làm việc cho Ngài Henry Tom Linson ở Grosvenor Square.
- Sao anh lại bỏ về đây?
- Ngài lo việc bên Đông Phi, không nhờ đến tôi nữa. Tôi tin Ngài sẽ nói giúp tôi. Tôi phục vụ cho Ngài được mấy năm.
- Anh về làm cho ông Ratchett được bao lâu?
- Được chín tháng, thưa ngài.
- Cám ơn anh, Masterman. Còn một việc nữa: anh có hút ống điếu không?
- Dạ không. Tôi chỉ hút thuốc lá.
- Cám ơn anh. Vậy là đầy đủ.
Poirot ra dấu giải tán.
Người hầu phòng chờ nán ở lại.
- Ngài bỏ lỗi cho, tôi thấy tuồng như người đàn bà Mỹ già nua kia đang trong tình trạng bị kích động. Bà khoe biết rõ lai lịch bọn tội phạm trên tàu. Bà dao động tinh thần ghê lắm.
- Việc này - Poirot vừa nói vừa nhếch mép cười - Ta sẽ gặp bà ấy sau.
- Ngài có cần tôi nói giúp không? Bà yêu cầu được gặp người có trách nhiệm bàn bạc nhiều việc trong thời gian thật lâu. Hiện người phụ trách toa đang khuyên bà nên yên tâm.
- Cho gọi bà ấy đến gặp tôi, ông bạn - Poirot nói - Ta sẽ lắng nghe bà kể lể.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương BỐN
LỜI KHAI CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ MỸ


Bà Hubbard bước vô toa hàng ăn như bị kích động, hơi thở hổn hển, thật khó khăn mới nói được từng câu.
- Quý vị có thể cho biết ai là người chịu trách nhiệm ở đây ? Tôi có nhiều thông tin sốt dẻo, rất là hệ trọng, thật đấy, tôi muốn thuật lại cho người có thẩm quyền ngay. Quý vị nào…
Bà vội đảo mắt quanh một lượt ba người. Chợt ông Poirot nghiêng người ra phía trước.
- Bà cứ nói, tôi nghe đây - Poirot mở lời - Trước tiên xin mời bà ngồi vô chỗ.
Bà Hubbard ngồi phịch xuống ghế nhìn về phía ông Poirot.
- Tôi chỉ muốn kể một việc như vầy. Tôi đã nhìn thấy thủ phạm tối qua, hắn ở ngay trong buồng ngủ chỗ tôi đang ở.
Bà ngưng một lúc trông như muốn bi thảm hóa câu chuyện.
- Bà nhớ chắc chứ, thưa bà?
- Dĩ nhiên là chắc chắn rồi! Còn phải hỏi! Tôi biết rõ việc tôi sắp trình bày ra đây. Tôi thấy sao nói vậy.
«Tôi đang ngủ chợt giật mình tỉnh dậy, quanh chỗ tôi nằm tối om, vậy mà, tôi biết có một người đàn ông xâm nhập vô chỗ tôi ở. Quá hoảng sợ tôi không dám kêu la, ông thông cảm giùm tôi. Tôi nằm trên giường nghĩ ngợi - Lạy chúa, tôi chết mất - Tôi không biết nói sao để ông hiểu ngay lúc đó tôi đang nghĩ gì. Tôi căm hận biết mấy những chuyến tàu như thế này. Tôi lại nghĩ là - ô, dù sao hắn không cướp hết tư trang của tôi được, bởi tôi cất hết trong chiếc bít tất giấu kỹ dưới gối, còn nằm gọn đó hơi cộm cộm. Vậy mà nhìn quanh tôi chẳng thấy đâu. Tôi đang ở đâu đây?
- Vậy là bà cho rằng, thưa bà, có một người đàn ông xâm nhập vô trong buồng ngủ.
- Dạ có, tôi nằm nhắm mắt trên giường, làm gì lúc bấy giờ, tôi lại nghĩ - Thôi được dù sao tôi cũng xin cám ơn vì con gái tôi chưa hay biết cảnh ngộ éo le này.
“Vậy là tôi cố sức bình tĩnh, tay lần tìm ra chỗ nút chuông gọi ngay người phục vụ toa. Tôi nhấn máy lượt, không thấy người chạy đến, tôi phải kể cho ông nghe tim tôi lúc đó muốn ngừng đập. Lạy chúa - Tôi nói trong đầu - Bọn chúng đã giết sạch mọi người trên tàu rồi. Cả một khoảng trống bên trong buồng như ngừng tiếng, rợn cả người. Tay tôi nhấn nút chuông dồn dập, và ô kìa, tôi nghe tiếng bước chân phía bên ngoài hành lang chạy đến gõ cửa - Vô đi, tôi gào thét, tay bật đèn sáng. Vậy mà ông có tin được không, chẳng nhìn thấy ma nào cả.
Rõ ràng bà Hubbard đang ở trong tâm trạng lơ lửng trên mây xanh chứ không phải đang ngồi nơi đây.
- Rồi sau đó bà còn nhìn thấy gì khác hơn, thưa bà Hubbard?
- Sao, tôi kể lại cho anh chàng phục vụ toa, gã còn không tin. Gã cho tôi quá tưởng tượng mà ra. Tôi chỉ chỗ dưới gầm giường, anh chàng nói một người không thể chui lọt vô được. Rõ ràng kẻ đột nhập đã bỏ trốn đi, nhưng phải có người lẻn vô đây, tôi sợ hoảng vía hơn vì nghe anh chàng phục vụ toa an ủi. Tôi không bịa chuyện, thưa ông. Tôi chưa biết tên ông.
- Tôi là Poirot, thưa bà, và đây ông Bouc, giám đốc đường sắt, còn đây Bác sĩ Constantine.
Bà Hubbard nói thêm.
- Tôi rất hân hạnh gặp gỡ quý vị, hân hạnh lắm.
Mắt lơ đãng nhìn về phía ba vị khách, bà lại lao vô câu chuyện.
- Tôi không tự cho mình lúc nào cũng sáng suốt. Tôi còn nhớ như in trong đầu người đàn ông từ buồng bên cạnh, bạn đồng hành của ông ta đã bị giết chết. Tôi nhờ anh chàng phụ trách toa nhìn lối cửa thông qua hai buồng, rõ ràng cửa không gài chốt. Vậy là đã rõ, tôi nhờ anh chàng khóa lại ngay, xong rồi gã bước đi, tôi lại lấy va li chặn cho chắc ăn.
- Lúc đó mấy giờ, bà Hubbard?
- Ồ, làm sao tôi nhớ được. Tôi có nhìn đồng hồ đâu, tôi hoảng vía không biết gì hết.
- Giờ bà nghĩ ra chưa?
- Sao, tôi xác nhận chuyện đó rõ ràng như vậy. Người lạ mặt tôi nhìn thấy đó chính là thủ phạm. Còn ai khác hơn nữa?
- Xong rồi hắn quay trở lại chỗ ở sát bên này?
- Làm thế nào tôi biết được hắn đi đâu? Tôi sợ, nhắm nghiền mắt.
- Hắn chỉ còn cách chuồn ra ngoài qua lối hành lang mà thôi.
- Ồ, tôi không dám nói. Ông nhớ là lúc đó tôi còn nhắm nghiền mắt.
Bà Hubbard thở ra một hơi chưa hết bàng hoàng.
- May quá, tôi còn run! Giả sử con gái tôi nó hay được…
- Bà không cho là, thưa bà, chính đó là tiếng bước chân người dang ở trong buồng bên cạnh, buồng của nạn nhân?
- Không, không phải vậy, thưa ông, ông gì nhỉ?
- Poirot.
Kẻ lạ mặt đang ở ngay đây trong buồng tôi. Còn gì nữa, tôi thấy rõ ràng mà.
Vẻ đắc thắng, bà quăng ra giữa bàn cái túi xách rồi lục tất cả bên trong.
Bà nhặt từng món: hai chiếc khăn mù soa, cặp kính đeo mắt, một lọ thuốc Aspirin, một gói đựng muối gia berit, ống thuốc nước bạc hà, một xâu chìa khóa, một cái kẹo, một tập séc ngân hàng, một tấm ảnh đứa trẻ, mấy lá thư, năm xâu chuỗi hạt giả, một hột nút làm bằng kim loại.
- Ông biết loại nút này chứ? Lạ thật, tôi không có chiếc nút nào như vậy. Tôi nhặt được sáng hôm nay, lúc vừa thức dậy.
Bà đặt chiếc nút trên bàn, ông Bouc nghiêng người tới trước nhìn xem, ông chợt la to:
- Nhưng mà đấy là chiếc nút áo choàng của người hầu phòng.
- Đó cũng là một cách giải thích giản đơn - ông Poirot nói.
Ông hơi nghiêng người về phía bà khách.
- Cái nút này, thưa bà, cũng có thể là trong bộ đồ đồng phục của người phụ trách toa, lúc anh chàng vô lục soát trong buồng, hoặc là lúc anh ta lo dọn giường tối qua.
- Việc làm mấy người trên tàu tôi không biết tới. Dường như là ông không có hành động tích cực, chỉ nêu ý kiến phản bác suông. Ông lắng nghe tôi kể đây, tối qua trước khi đi ngủ tôi đọc báo. Xong rồi tôi cất nó trên cái tủ nhỏ kê gần cửa sổ, tắt đèn. Quý vị nghe rõ cả chứ?
Các vị khách đều nghe.
- Vậy mà lúc này. Người phụ trách toa bước đến đứng ở gần cửa nhìn xuống dưới gầm giường ngủ, xong rồi anh chàng bước đến cài chốt cửa ăn thông qua buồng bên cạnh, mà lại không đi tới gần chỗ cửa sổ. Lạ thật, cái nút áo được tìm thấy ở trên mặt tờ báo sáng hôm nay. Quý vị nhận định thế nào về việc đó, cho tôi biết ý kiến?
- Việc đó thưa bà, chúng tôi cho là một bằng chứng - Poirot nói.
Câu trả lời xua tan mọi nghi ngờ bà đang nghĩ trong đầu.
- Nó khiến cho tôi đau điếng hơn bị ong chích nữa là - bà nói.
- Cám ơn bà đã giúp chúng tôi có thêm bằng chứng quý giá - Poirot nói giọng vỗ về - Vậy thì bà cho phép chúng tôi hỏi thêm vài câu nữa?
- Sao vậy, có nghĩa gì đâu.
- Làm thế nào, bởi vì hoảng sợ cái ông Ratchett, bà không lo gài chốt cửa thông qua hai buồng.
- Tôi có gài mà - Bà Hubbard nhanh miệng đáp.
- Ồ, vậy bà có gài cửa?
- Đấy, tôi nói thật mà, tôi có hỏi cái bà người Thụy Điển - bà vui tính - đã gài cửa chưa, bà nói đã gài cả rồi.
- Vậy sao bà không tự tay gài lấy?
- Lúc đó tôi buồn ngủ, cái túi dựng đồ vệ sinh cá nhân còn treo ở tay nắm cửa.
- Bà nhớ lại lúc đó mấy giờ?
- Để tôi nghĩ lại xem. Đầu vào khoáng mười giờ rưỡi hay mười một giờ kém gì đó. Bà ấy còn ghé lại hỏi thăm tôi đã uống thuốc Aspirin chưa. Tôi chỉ chỗ bà đến lấy thuốc đựng trong cái túi nhỏ.
- Lúc đó bà đang nằm trên giường?
Bà chợt phá ra cười.
- Đáng thương cho bà ấy, bà cũng đang khủng hoảng. Ông biết đó, bà mở cửa nhầm buồng bên cạnh.-
- Buồng ông Ratchett?
- Dạ phải. Ông nên hiểu cho thật là một điều không may, bà phải đi dọc theo tàu, tất cả cửa đều khóa. Bà mở nhầm cửa buồng, lúc đó bà mới hoảng hồn. Tôi nghe tiếng ông ta cười to, và sau đó chắc là có nói gì đó khiến bà phật ý. Khổ cho bà, khiếp thật. Ôi chao, tôi gõ nhầm buồng - bà kể lại - tôi thấy xấu hổ. Một người bất lịch sự - bà nói - Ông ta mở miệng - Bà già quá mà.
Bác sĩ Constantine nhếch mép cười khẩy, liền tức thì bà Hubbard lạnh lùng liếc nhìn ông.
- Ông ta không phải hạng người biết điều - bà nói - Lại ăn nói với một phụ nữ những lời khiếm nhã. Bởi vì đó không phải là chuyện để cười nhạo người ta.
Bác sĩ Constantine vội vàng xin lỗi.
- Kế đó bà nghe có tiếng động bên trong buồng ngủ ông Ratchett? - Poirot hỏi lại.
- Ồ, cũng không rõ.
- Ý bà như thế nào?
- Thế này - bà chưa nói hết - Tôi nghe tiếng ngáy.
- Ồ, ông ấy ngáy à?
- Khiếp quá. Cả đêm tôi không chợp mắt.
- Sau đó bà không còn nghe tiếng ngáy vì quá sợ hãi một kẻ lạ đột nhập vô chỗ ngủ?
- Sao cơ, ông Poirot, làm sao mà tôi còn nghe? Ông ta đã chết!
- Ồ, đúng rồi - Poỉrot nói. Lần này vẻ mặt ông bối rối.
- Bà còn nhớ vụ bắt cóc con bé nhà Armstrong, thưa bà Hubbard?- ông hỏi.
- Dạ, còn nhớ chứ. Vậy là thủ phạm cao chạy xa bay. Ối giời, giá mà tôi tóm được hắn.
- Hắn không thoát đi đâu. Hắn chết rồi. Mới chết tối qua.-
- Ông không nói...? - bà Hubbard vừa nhớm người khỏi ghế vẻ kinh ngạc.
- Tôi nói thật, phải mà. Chính hắn là Ratchett.
- Vậy là…Vậy là tôi nên nghĩ lại! Phải viết thư cho con gái tôi ngay. Này có phải tối qua tôi đã kể cho ông nghe kẻ lạ mặt đó trông hắn gian ác? Tôi nói có sai đâu, ông thấy đó. Con gái tôi vẫn nói là: «Mỗi khi mẹ có linh tính chuyện gì đó thì cầm chắc là y như rằng không sai đâu được».
- Bà có quen biết ai bên nhà Armstrong, thưa bà Hubbard?
- Dạ không. Lúc bấy giờ họ sống như dân thượng lưu. Tôi thường nghe kể bà Armstrong là một phụ nữ được mọi người mến chuộng kể cả người chồng cũng tôn sùng bà.
- Vậy là, bà Hubbard đã giúp chúng ta nhiều điều bổ ích. Có thể hơn nữa là đằng khác. Bà có thể cho chúng tôi biết rõ họ tên?
- Ồ, được chứ. Caroline Martha Hubbard.
- Bà ghi lại địa chỉ theo đây nhé!
Bà Hubbard ghi lại ngay, bà nói thêm.
- Tôi còn chưa hết kinh hoàng. Vụ Cassetti! Ngay trên tàu. Tôi có linh tính chính hắn là thủ phạm có đúng không, ông Poirot?
- Dạ, đúng thưa bà. Vậy thì xin hỏi bà, bà có may một chiếc áo dài vải tơ màu đỏ thắm?
- Ô kìa ông hỏi nghe lạ thật! Sao! Tôi không hề mặc loại áo đó. Tôi chỉ mang theo hai cái áo dài: một bằng vải Hannel hồng chỉ mặc những lúc đi tàu và một chiếc con gái tôi tặng, vải tơ màu tím. Tôi lấy làm lạ sao ông lại hỏi mấy cáo áo dài làm gì?
- Ồ, việc như thế này, thưa bà tối qua có một người phụ nữ mặc bộ kimônô màu đỏ thắm bước vô buồng ngủ của bà hay là của ông Ratchett. Chưa rõ là ai. Theo lời bà kể lại lúc đó các cửa buồng đều khóa nên không thể nào nhìn ra buồng của ai.-
- Vậy là chẳng có ai mặc áo kimônô đỏ thắm vô buồng ngủ của tôi.
- Nếu vậy thì bà đó vô buồng ông Ratchett.
Bà Hubbard mím môi lại bà nói giọng chắc nịch.
- Chuyện đó chẳng khiến tôi ngạc nhiên chút nào.
Poirot ngã người tới trước.
- Vậy ra bà có nghe được tiếng nói của một bà ở buồng bên cạnh?
- Tôi không rõ vì sao ông đoán được, ông Poirot. Tôi nghĩ không ra. Nhưng, mà này, thật sự là tôi có nghe đấy.
- Vậy mà lúc tôi hỏi có nghe tiếng động ở buồng bên cạnh bà nói chỉ nghe tiếng ngáy của ông Ratchett.
- Ồ, vậy thì đúng chứ sao. Ông chỉ ngáy một lúc đó thôi, trước và sau đó… - Vẻ mặt bà Hubbard chợt đổi sắc ửng hồng - Nói ra thì chẳng nên.
- Bà còn nhớ lúc đó mấy giờ?
- Tôi không nhớ. Tôi thức giấc một lúc và nghe có tiếng nói của một bà, có thể xác định rõ vị trí. Lúc đó tôi nghĩ trong đầu - thảo nào, chính ông ta chứ còn ai. Ồ, ta không nên ngạc nhiên. Tôi đi ngủ lại. Tôi nghĩ không nên nhắc lại chuyện đó trước mặt quý vị ở đây trừ khi quý vị hỏi tới.
- Vậy là trước hay sau khi có kẻ lạ mặt đột nhập vô buồng khiến bà hoảng sợ?
- Sao, thì y như ông đã hỏi lúc này đấy? Nếu ông ta chết thì có còn nghe tiếng của bà nào nữa đâu, phải vậy không?
- Xin lỗi, vậy là bà cho tôi ngớ ngẩn quá chứ gì.
- Vậy mà có lúc ông làm mọi chuyện rối beng hơn. Tôi còn chưa hết bàng hoàng chuyện lão Cassetti. Con gái tôi nó sẽ ăn nói sao đây…
Poirot khéo tay giúp bà nhặt mấy món đồ bỏ vô túi xách đưa tiễn bà ra vế.
Ngừng một lúc, ông mới nói.
- Bà lại làm rơi khăn mùi soa, thưa bà.
Bà Hubbard liếc nhìn thấy chiếc khăn nhỏ, vải phin ông đang cầm trên tay.
- Không phải của tôi, khăn tôi đây rồi.
- Xin lỗi bà. Vì tôi thấy những nét thêu chữ H.
- Ồ, vậy hả, lạ thật, cũng không phải của tôi đâu. Cái của tôi thêu C.M.H. hàng thường thôi mà, không phải hàng Paris mắc tiền. Chiếc khăn tay ấy liệu có ích gì lại để rơi trước mắt mọi người?
Ba vị khách không ai nói câu nào, đến lượt bà Hubbard dõng dạc bước ra ngoài vẻ tự hào.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương NĂM
LỜI KHAI NGƯỜI ĐÀN BÀ THỤY ĐIỂN


Ông Bouc đang cầm trên tay chiếc nút của bà Hubbard bỏ quên lại.
- Chiếc nút áo này thật khó hiểu. Vậy là anh chàng Pierre Michel có dính dáng vô đây? - ông mở lời.
Ngừng một lúc ông nói tiếp, Poirot vẫn lặng thinh.
- Ông thấy thế nào, ông bạn?
- Chiếc nút áo này có vấn đề đấy - Poirot vừa trầm ngâm vừa nói - Ta chờ thẩm vấn thêm người đàn bà Thụy Điển để xem bằng chứng đó như thế nào.
Ông lục trong đống giấy thông hành xếp ngay trước mặt
- Ô, đây rồi. Greta Ohlsson, bốn mươi chín tuổi.
Ông Bouc chỉ chỗ cho người hầu bàn, rồi đến lượt người đàn bà tóc vàng nhạt búi cao vẻ mặt hiền khô được mời vô. Bà giương mắt chăm chú nhìn ông Poirot, vẻ mặt bình tĩnh ẩn đằng sau cặp kính.
Mọi người biết bà nghe và nói được tiếng Pháp. Vậy là cuộc thẩm vấn trao đổi qua lại bằng tiếng Pháp.
Poirot mở đầu một câu hỏi mà ông đã đoán trước câu trả lời: tên tuổi và địa chỉ. Ông hỏi đến nghề nghiệp của bà.
Bà khai làm nghề y tá trưởng tại một trường học nhà dòng gần Istanbul, là một y tá được đào tạo chính quy.
- Thưa cô nương, chắc cô đã biết mọi việc xảy ra tối qua rồi chứ?
- Biết chứ. Thật là khủng khiếp. Một bà người Mỹ kể lại hung thủ ở ngay trong buồng ngủ của bà.
- Theo chỗ tôi biết cô là nhân chứng sau cùng nhận dạng được hung thủ?
- Tôi không biết việc đó. Mà có thể là vậy.
- Tôi mở cửa nhầm buồng ngủ của ông ta, lúc đó tôi mắc cỡ. Một nhầm lẫn thật tai hại.
- Và cô nhìn thấy rõ mặt?
- Dạ có. Ông ta đang đọc truyện. Tôi nhanh miệng xin lỗi lui ra ngay.
- Ông ta có nói gì với cô?
Vẻ mặt nghiêm trang của cô ửng hồng.
- Ông ta cười, nói vài câu gì đó. Tôi, tôi không còn nhớ rõ.
- Sau đó như thế nào, thưa cô nương? - Poirot hỏi lại khéo léo xoay chiều câu chuyện.
- Tôi đến buồng người đàn bà Mỹ, bà Hubbard. Tôi hỏi xin bà mấy viên thuốc Asprine, bà lấy đưa cho tôi.
- Bà ấy có hỏi có cửa thông qua hai buồng đến chỗ ở ông Ratchett đã gài chốt lại chưa?
- Dạ có.
- Vậy là đã gài chốt lại rồi?
- Dạ.
- Rồi sau đó?
- Sau đó tôi về lại chỗ ngủ, uống thuốc rồi vô giường nằm.
- Đúng lúc đó là mấy giờ?
- Tôi vô giường nằm đúng mười một giờ kém năm, tôi nhìn đồng hồ rồi chỉnh lại giây thiều.
- Cô ngủ liền ngay sau đó?
- Cũng khá lâu. Tôi cảm thấy nhẹ đầu, nằm thức giấc một hồi.
- Vậy là tàu ngừng lại cô mới chợp mắt ngủ?
- Tôi không nhớ rõ. Tàu dừng lại ga, tôi đoán ra là vậy, lúc đó tôi cảm thấy buồn ngủ.
- Có lẽ tàu đến ga Vincovci. Cô nhìn đây, thưa cô nương, có phải buồng ngủ của cô? - ông chỉ tay về phía tấm sơ đồ.
- Chỗ đó, phải.
- Cô ở tầng trên hay dưới?
- Tầng dưới, giường số 10.
- Cô có bạn đồng hành chứ?
- Dạ có, một cô người Ăng-lê rất dễ thương, đẹp nữa, cô từ Baghdad qua.
- Tàu rời ga Vincovci rồi, cô bạn có đi ra ngoài không?
- Không. Tôi dám chắc điều đó.
- Sao cô dám chắc nếu lúc đó cô đang ngủ?
- Tôi ngủ ít thôi. Hễ có tiếng động tôi thức giấc ngay. Chắc chắn lúc cô ấy từ giường trên bước xuống tôi phải thức giấc ngay.
- Cô có ra khỏi giường trong đêm?
- Không tôi ngủ cho tới sáng.
- Cô có một bộ Kimônô màu đỏ thắm mà?
- Ồ, không làm gì có. Tôi có chiếc áo dài dệt bằng lông chim biển rất tốt.
- Còn cô bạn, cô nàng Debenham? Cô ấy mặc áo dài màu gì?
- Áo màu hoa cà nhạt mua ở mấy nước Đông phương.
Poirot gật. Chợt ông đổi giọng thân mật.
- Sao cô lại đi theo chuyến tàu này? Cô được nghỉ phép ?
- Dạ phải. Tôi nghỉ phép về thăm nhà. Tôi ghé qua Lausanne trước thăm người chị, ở lại một tuần có thể lâu hơn.
- Cô có thể ghi lại đây địa chỉ người chị?
- Dạ được.
Ông đưa giấy và viết chì cho cô ghi lại địa chỉ yêu cầu.
- Cô đã sống ở Mỹ lần nào chưa, thưa cô?
- Dạ không. Hình như định đi một lần. Lúc đó tôi đi theo một bà bị thương tật, giờ chót chuyến đi phải hoãn lại. Tôi tiếc lắm. Những người bạn Mỹ rất tốt. Họ giúp tiền xây trường học bệnh viện. Họ sống rất là thực tế.
- Cô có nghe qua vụ bắt cóc đứa bé nhà Armstrong?
- Dạ không, chuyện thế nào?
Ông Poirot kể lại.
Greta Ohlsson phẫn nộ. Toàn thân cô rung động.
- Trên đời này lại có người độc ác vậy sao? Không còn tin nhau để sống. Đáng thương cho người mẹ. Tim tôi đau nhói.-
Người đàn bà Thụy Điển rời khỏi chỗ ngồi, mặt đỏ bừng, mắt ướt đẫm.

* * *

Poirot đang hí hoáy ghi chép vô giấy.
- Ông đang viết gì đấy, ông bạn? - ông Bouc hỏi.
- Này ông, tính tôi lúc nào cũng lo cho gọn gàng ngăn nắp. Tôi đang soạn một thời gian biểu sinh hoạt thu gọn trên chuyến tàu này.
Viết xong ông đưa cho ông Bouc coi lại.
9.15 - Tàu rời ga Belgrade.
Khoảng 9.40 - Người hầu phòng ông Ratchett bước ra ngoài mang theo chai thuốc ngủ.
Khoảng 10.00 - MacQueen từ trong buồng Ratchett đi ra.
Khoảng 10.40 - Greta Ohlsson còn nhìn thấy Ratchett (lần cuối còn sống sót). Ghi chú: Lão đang nằm đọc sách.
0.10 - Tàu rời ga Vincovci (trễ giờ)
0.30 - Tàu mắc kẹt do bão tuyết.
0.37 Ratchett gọi chuông. Người phụ trách toa trả lời. Ratchett nói là: “Không sao cả. Tôi gọi nhầm”
Khoảng 1.17 - Bà Hubbard phát hiện kẻ lạ đột nhập vô buồng ngủ. Gọi chuông báo người phụ trách toa.
Ông Bouc coi xong gật đầu.
- Vậy là chính xác quá rồi- ông nói.
- Ông không thấy có điểm nào đáng ngờ?
- Không, mọi việc rõ như ban ngày. Vậy là hung thủ ra tay vào lúc 1 giờ 15. Trước hết là bằng chứng chiếc đồng hồ được tìm thấy hợp với lời khai của bà Hubbard. Theo tôi, có thể đưa ra lời ước đoán về lai lịch thủ phạm. Tôi đoán là, này ông bạn, hung thủ là tay người Ý to cao đó. Hắn từ Mỹ - từ Chicago đến đây - và nhớ lại con dao hắn sử dụng là hàng của Ý, hắn đâm nhiều nhát dao chứ không phải một.
- Đúng vậy rồi.
- Có thể cầm chắc ta đã giải được điều bí ẩn. Rõ ràng không chối cãi vào đâu được. Hắn và Ratchett cùng trong băng nhóm chuyên bắt cóc. Ratchett có tên khác, Cassetti là tiếng Ý. Có thể là Ratchett giở trò phản phé. Hung thủ người Ý truy lùng ra dấu vết và gửi thư hăm dọa. Sau đó hắn đã rửa được mối thù một cách tàn bạo. Chuyện đời là vậy đó.
Poirot lắc đầu chưa tin.
- Không đơn giản vậy đâu, tôi còn nghi ngờ - ông nói khẽ.
- Còn tôi, thì tin là chắc rồi - ông Bouc nói, ông cho là lời ước đoán của mình có giá trị tuyệt đối.
- Còn anh chàng hầu phòng bị nhức răng cam đoan là tên thủ phạm người Ý không hề bước ra khỏi buồng ngủ.
- Rắc rối là chỗ đó.
Poirot mắt sáng rỡ.
- Đúng rồi, rắc rối đấy. Thật không may cho lời suy đoán của ông, còn tên hung thủ người Ý thì lại may mắn hết sức, lúc đó tên hầu phòng Ratchett đang bị nhức răng.
- Rồi ta sẽ hiểu - ông Bouc nói chắc như đinh đóng cột.
Poirot lại lắc đầu.
- Không, chuyện không đơn giản chút nào - ông lại nói thầm một mình.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương SÁU
LỜI KHAI CỦA CÔNG CHÚA


- Ta chú ý nghe Pierre Michel kể lại trường hợp chiếc nút áo này - ông Bouc nói.
Người phụ trách toa nhớ lại. Anh chàng nhìn khắp mọi người lạ lẫm.
Ông Bouc đằng hắng.
- Michel - ông mở lời - Đây là chiếc nút áo bộ đồng phục của anh. Nó được tìm thấy trong buồng ngủ của một bà hành khách Mỹ. Anh có thể kể lại cho mọi người nghe việc này được chứ?
Người phụ trách toa sờ lại bộ đồng phục đang mặc trên người.
- Không mất chiếc nút nào hết, thưa ông - gã vừa nói - Có thể người ta nhầm.
- Lạ kỳ thật.
- Tôi không có ý kiến gì về việc đó, thưa ông.
Anh chàng càng ngạc nhiên hơn. Tuy không có dấu hiệu là anh có lỗi hay ngỡ ngàng trước việc này.
Ông Bouc nói ra luôn.
- Cần có vài bằng chứng cụ thể được tìm thấy, chắc chắn là chiếc nút áo này là của một người đang ở trong buồng ngủ của bà Hubbard tối hôm qua ngay lúc bà nhấn chuông gọi.
- Nhưng thưa ông, không có ai ở đó cả. Bà khách chỉ tưởng tượng đó thôi.
- Bà ta không tưởng tượng đâu, Michel. Hung thủ giết chết Ratchett di qua lối này đây và đánh rơi một chiếc nút áo.
Trước lý lẽ ông Bouc trình bày đã rõ ràng, lúc này Pierre Michel mới nổi cơn thịnh nộ.
- Không phải vậy, thưa ông, không phải vậy! - gã gào thét - ông đừng buộc tội cho tôi. Lẽ nào tôi? Tôi vô tội, hoàn toàn vô tội. Sao tôi lại phạm tội giết một người tôi không hề quen biết?
- Vậy lúc bà Hubbard nhấn chuông gọi anh đi đâu?
- Xin thưa ông, lúc đó tôi qua toa tàu kế cận nói chuyện với người bạn đồng nghiệp.
- Chúng tôi sẽ mời anh ta đến ngay.
- Thưa ông, tôi van xin ông gọi anh ta đến.
Người phụ trách toa kế cận được mời đến, xác nhận lời khai Pierre Michel đúng sự thật và lúc đó còn có người phụ trách ở toa tàu Bucharest đến. Ba nhân viên trên tàu chỉ nói đến chuyện tuyết rơi. Câu chuyện chỉ nói qua trong vòng mười phút cho đến lúc Michel nghe tiếng chuông gọi. Lúc gã mở cửa ăn thông qua hai đầu toa xe mọi người còn nghe rõ tiếng chuông gọi dồn dập. Michel lao nhanh đến nơi cửa buồng toa xe.
- Ngài thấy đó, tôi vô tội - Michel vò đầu gào thét.
- Còn đây chiếc nút áo đồng phục của người phụ trách toa, anh giải thích thế nào đây?
- Tôi không thể giải thích, thưa ngài. Tôi hoàn toàn mù tịt chuyện đó. Những chiếc nút áo trên bộ đồ này tôi đang mặc còn đủ cả. Còn hai người kia cũng không mất một chiếc nút áo nào hết và họ cũng không bước vô trong buồng ngủ bà Hubbard giờ đó.
- Anh yên tâm, Michel - ông Bouc nói - Anh nhớ lại lúc chạy đến nơi cửa buồng bà Hubbarđ, anh có nhìn thấy ai bên ngoài hành lang?
- Dạ không.
- Vậy anh có trông thấy ai đi ngược chiều trở lại không?
- Dạ cũng không có.
- Lạ thật - ông Bouc vừa nói.
- Không phải vậy đâu - Poirot nói xen vô - Ta nên đặt lại vấn đề thời gian, lúc đó bà Hubbard thức dậy dò tìm kẻ lạ trong buồng. Bà nằm im bất động mắt vẫn nhắm. Có thể ngay lúc đó hung thủ lẻn ra ngoài phía hành lang. Bà nhấn chuông báo động. Người phụ trách toa chưa đến ngay. Đến hồi chuông thứ ba thứ tư gì đó gã mới nghe. Tôi có thể kết luận là đã có một khoảnh khắc dôi ra.
- Để làm gì? Để lâm gì, ông bạn mình? Bạn nên nhớ là lúc đó quanh con tàu tuyết phủ đày đặc.
- Hung thủ tàng hình trốn ra ngoài theo hai lối - ông Poirot chậm rãi nói - Hoặc là hắn lẻn trốn ra theo đường ở buồng vệ sinh hoặc băng qua buồng ngủ khác.

- Nhưng tất cả các lối đều phong tỏa.
- Đúng.
- Vậy là ông muốn nói hắn đang còn trốn ngay tại chỗ?
Poirot gật.
- Đúng logic, đúng quá - ông Bouc nói khẽ - Trong khoảnh khắc mười phút không có mặt người phụ trách toa, hung thủ từ bên trong buồng ngủ lẻn qua giết chết Ratchett, xong khóa cửa, ràng sợi dây xích bên trong. Hắn lẻn ra ngoài tìm cách đột nhập chỗ ngủ bà Hubbard rồi trở về lại buồng của hắn êm ru không ai hay biết. Vừa lúc đó người phụ trách toa mới trờ tới.
Poirot nói nhỏ.
- Chuyện không đơn giản như ông tưởng đâu, ông bạn. Rồi đây,ông bác sĩ bạn đồng hành của ta sẽ kể cho ông nghe.-
Ông Bouc ra hiệu để cho ba người phụ trách toa trở về chỗ cũ.
- Ta còn phải thẩm vấn thêm tám hành khách đi tàu - Poirot nói - Năm người trên toa hạng nhất - công chúa Dragomiroff, vợ chồng bá tước Andrengi, ngài Đại tá Arbuthnot và ông Hardman. Còn thêm 3 khách đi vé hạng nhì: nàng Debenham, Antonio Foscarelli và người hầu gái Fraulein Schmidt.
- Ông cần gặp ai trước - một người Ý?
- Sao, anh nhắc mãi cái tên người Ý đó. Không, ta sẽ thẩm vấn theo thứ tự từ trên xuống. Ta thấy nên dành chút thời gian với bà Công chúa trước đã. Anh mang giấy mời này đến đó, Michel.
- Dạ, tôi nghe - Người phụ trách toa nói xong bước đi ngay.
- Bảo với bà công chúa chúng ta có thể đến chỗ nếu bà không thể qua đây được - ông Bouc nói với theo.
Nghe báo lại công chúa Dragomiroff từ chối. Bà tự mình đến toa hàng ăn, khẽ nghiêng đầu cúi chào và bước tới ngồi vô bàn nhìn ông Poirot.
Nhìn khuôn mặt nhỏ nhắn xấu xí của bà vàng vọt hơn ngày hôm trước. Trông bà xấu xí thật, nhưng còn đôi mắt sáng long lanh tựa như hạt kim cương, sâu thẳm, kiêu hãnh.
Giọng nói trầm đục rất đặc trưng mới nghe qua trông như khó lọt vô lỗ tai.
Bà cắt ngang lời xin lỗi văn hoa của ông Bouc.
- Quý vị chứ nên nói lời xin lỗi. Tôi đã biết rõ vụ án trên tàu. Dĩ nhiên quý vị cần thẩm vấn tất cả hành khách đi tàu. Tôi sẵn sàng giúp quý vị một tay.
- Bà thật tử tế quá, thưa công chúa - Poirot nói.
- Có gì đâu, chẳng qua đó là nghĩa vụ. Quý vị cần biết thêm gì nữa?
- Chúng tôi cần biết tên họ đầy đủ và địa chỉ cư trú. Bà có thể viết ra đây cho tiện.
Poirot bày giấy viết chì ra bàn, bà công chúa khoát tay qua một bên.
- Ông viết giùm cho - bà nói - cũng dễ thôi, Natalia Dragomiroff, 17 Đại lộ Kleber, Paris.
- Vậy là từ Constantinople bà đáp tàu về nước?
- Phải, tôi ở lại sứ quán nước Áo. Có người hầu đi theo.-
- Bà có thể nhớ lại trong chốc lát, tối qua từ sau giờ ăn bà làm gì?
- Được chứ. Tôi yêu cầu người phụ trách toa lo dọn ging trong lúc tôi còn ở bên trong toa hàng ăn. Sau bữa ăn thì trở lại buồng ngủ ngay, đọc sách mãi đến mười một giờ xong tắt đèn. Tôi khó ngủ vì đau nhức cả người. Đến một giờ kém mười lăm nhấn chuông gọi người hầu đến xoa bóp đọc truyện cho tôi nghe cho đến lúc buồn ngủ, cũng không nhớ lúc bà ta ra khỏi buồng ngủ là mấy giờ. Có lẽ độ khoảng nửa giờ đêm hay trễ hơn một chút.
- Lúc đó tàu dừng lại chưa?
- Tàu dừng lại rồi.
- Vậy là bà có nghe thấy tiếng động khác thường ngay lúc đó?
- Tôi không nghe thấy gì lạ cả.
- Người hầu gái tên là gì?
- ldegarde Schmidt.
- Đã giúp việc cho bà được lâu chưa?
- Được mười lăm năm.
- Bà có nghĩ người hầu tâm phúc?
- Chắc vậy. Họ là những người sống trong vùng trang trại của chồng tôi bên nước Đức.
- Bà đã từng sống ở Mỹ chưa?
Câu chuyện chuyển qua một hướng khác khiến bà ngạc nhiên nhướng mày.
- T đã đến Mỹ nhiều lần.
- Bà đã từng quen biết gia đình nhà Armstrong ở bên đó, họ là nạn nhân một vụ án thương tâm?
Giọng bà nghe có vẻ xúc động.
- Ông muốn nhắc đến bạn bè của tôi, thưa ông.
- Vậy là bà quen biết ngài Đại tá Armstrong?
- Tôi không quen thân lắm, Sonia Armstrong vợ ông ta, tôi nhận làm con dỡ đầu. Tôi quen thân với mẹ nàng, Linda Arden, một nghệ sĩ sân khấu bi kịch xuất sắc nhất không ai qua nổi trong vai Macbeth hoặc Magda. Tôi là khán giả mộ điệu đồng thời cũng là bạn thân.-
- Bà ta đã chết?
- Chưa, chưa, bà còn sống, sống cách biệt một nơi riêng. Sức khỏe suy yếu, bà chỉ nằm một chỗ trên chiếc ghế sofa suốt ngày.
- Tôi biết rõ bà ta còn một người con gái nữa?
- Dạ có, nhỏ tuổi hơn bà Armstrong.
- Còn sống chứ?
- Hẳn nhiên.
- Bà ấy hiện đang ở đâu?
Bà công chúa liếc nhìn ông với cặp mắt sắc sảo.
- Tôi muốn được hỏi lại ông nội dung các câu hỏi ông vừa nêu. Mọi người dã nghĩ ra cách đối phó vấn đề trước mắt, là vụ án trên chuyến tàu này?
- Nó liên can như thế này, thưa bà, nạn nhân bị giết chết chính là thủ phạm vụ bắt cóc và chính hắn giết chết bé nhà Armstrong.
Vầng trán thông minh chợt nhíu lại. Công chúa Dragomiroir chuyển tư thế ngồi ngay thẳng lại.
- Theo tôi nghĩ, vụ án này thật đáng làm cho mọi người khâm phục. Ông bỏ lỗi cho tôi nếu tôi nghĩ có phần lệch lạc.
- Không sao cả, thưa bà. Bây giờ ta trở lại câu chuyện còn dang dở. Bà có biết giờ này người con gái út của bà Linda Anden, người chị em của bà Armstrong hiện đang ở đâu ?
- Thành thật mà nói tôi không biết việc đó. Từ lâu tôi không còn quan tâm đến thế hệ trẻ sau này. Tôi được biết nàng lấy chồng người Ăng-lê và qua bên đó lập nghiệp, hiện nay tôi không nhớ ra tên.
Bà ngừng một lúc rồi kẽ tiếp.
- Quý vị còn cần hỏi thêm điều gì khác?
- Còn một việc nữa, thưa bà, việc riêng tư thôi. Bà có một chiếc áo dài màu gì?
Công chúa khẽ nhướng mày.
- Tôi nghĩ quý vị có lý do nào khác mới đặt ra câu hỏi đó. Tôi có chiếc áo dài vải sa tanh màu xanh lơ.
- Vậy là đầy đủ, thưa bà. Chúng tôi thành thật cảm ơn bà đã giải đáp các thắc mắc suôn sẻ.
Bà giơ tay khoát một cử chỉ nặng nề.
Bà vừa đứng dậy, mọi người cũng đứng, chợt bà dừng lại.
- Ông bỏ lỗi cho, thưa ông - bà vừa nói - Tôi chưa được biết quý danh? Rằng ông có vẻ quen lắm thì phải.
- Thưa bà tên tôi là Hercule Poirot, chờ lệnh bà.
Công chúa lặng thinh một lúc mới nói.
- Hercule Poirot - bà mới nói - Đúng rồi, tôi nhớ mà. Phải chăng là định mệnh, người đâu gặp gỡ làm chi.
Bà bước ra ngoài, dáng đi thẳng đứng như một bức tượng.
- Đúng là người quyền quý - ông Bouc chợt mở miệng - Ông nghĩ thế nào, ông bạn?
Poirot chỉ biết đứng đó lắc đầu.
- Tôi chưa hiểu gì cả - ông nói - ý bà ta muốn nói Định mệnh là thế nào?
Đăng nhập để trả lời
0
Chương BẢY
LỜI KHAI BÁ TƯỚC ANDRENGI VÀ PHU NHÂN

Bá tước Andrengi và phu nhân là hai nhân chứng sau cùng. Khi đến toa hàng ăn chỉ có mỗi mình ngài Bá tước.
Rõ ràng Ngài là một Bá tước điển trai. Thân hình cao đến hơn mét tám. Vai rộng, bụng thon. Ngài ăn mặc đúng theo mốt Ăng-lê và trông có thể nhầm là dân Ăng-lê nếu không có bộ ria đài quá cỡ và hai gò má lộ.
- Thưa quý vị - Ngài nói - Tôi có thể giúp gì cho quý vị?
- Ngài biết đó - Poirot mở đầu - Dựa theo sự việc như vậy tôi cần phải thẩm vấn tất cả khách đi tàu.
- Hay lắm, hay lắm - Ngài Bá tước vui vẻ nói - Tôi thông cảm với nhiệm vụ của quý ông. Tôi xin nói thật liệu có giúp gì được không. Nhớ lại lúc đó chúng tôi đang ngủ ngon giấc, chẳng nghe thấy gì cả.
- Ngài biết rõ lai lịch nạn nhân chứ?
- Tôi biết ông ta, một người Mỹ cao lớn, vẻ mặt khó coi lắm. Ông ta thường ngồi ăn ngay chỗ bàn đó.
Ngài gật đầu nhìn về phía bàn nơi Ratchett và MacQueen đến dùng bữa.
- Dạ, dạ phải đó, thưa Ngài. Tôi muốn hỏi là Ngài biết tên ông ta chứ?
- Không - Ngài Bá tước có vẻ lúng túng trước câu hỏi của Poirot.
- Nếu quý ông cần biết tên - Ngài nói - thì xem trong sổ thông hành.
- Tên trong sổ thông hành là Ratchett - Poirot nói - Nhưng mà, thưa Ngài không phải là tên thật. Lão tên là Cassetti, cầm đầu băng đảng chuyên bắt cóc hành hạ con tin bên Mỹ.-
Poirot nhìn theo từng nét biểu lộ trên vẻ mặt Ngài Bá tước, chẳng thấy một chút đổi thay. Ngài trố mắt để nhìn cho rõ hơn.
- Ồ... - Ngài nói - Hình như có vấn đề đấy. Một tên nông dân Mỹ kỳ lạ.
- Vậy là Ngài đã từng sống bên Mỹ, thưa Bá tước?
- Tôi sống một năm ở Washington.
- Vậy có thể Ngài biết dòng họ nhà Armstrong?
- Armstrong, Armstrong, tôi không nhớ ra. Tôi quen nhiều người.
Ngài nhếch mép cười, khẽ nhún vai.
- Ta trở lại vấn đề ban nãy đi, ông bạn - Ngài nói - Tôi còn có thể giúp được gì nữa cho quý vị không?
- Ngài còn nhớ đã trở lại chỗ ngủ vào lúc mấy giờ, thưa Bá tước?
Hercule Poirot khẽ liếc nhìn bản sơ đồ. Bá tước và phu nhân ở buồng số 12 và 13 liền nhau.
- Lúc đến toa hàng ăn chúng tôi dặn người lo dọn một buồng. Lúc trở lại chúng tôi ngồi chờ buồng kế bên?
- Buồng số mấy?
- Buồng số 13. Chúng tôi ngồi chơi cờ Picquet. Đến mười một giờ vợ tôi đi ngủ trước. Người phụ trách toa dọn buồng xong rồi tôi cũng đi ngủ đánh một giấc cho tới sáng.
- Vậy ngài có hay tàu đang dừng lại ga?
- Đến sáng mới hay.
- Còn phu phân có biết không?
Ngài Bá tước mỉm một nụ cười.
- Mỗi khi đi ngủ thì vợ tôi thường dùng thuốc ngủ. Ngày ba cữ.
Ngài im lặng.
- Rất tiếc tôi chẳng giúp gì được cho quý vị.
Poirot chìa ra một trang giấy và một cây viết.
- Cám ơn ngài Bá tước. Đây là vấn đề thủ tục, nhờ Ngài ghi lại tên và địa chỉ.
Ngài Bá tước thong thả đặt bút ghi lại cẩn thận.
- Đấy là tôi ghi lại giúp cho quý vị - Ngài vui vẻ nói - Tên miền quê tôi đọc nghe lạ tai với những người chưa quen.
Ngài trả giấy cho ông Poirot rồi đứng dậy.
- Vậy thì vợ tôi không cần phải đến đây? - Ngài nói - Bà ấy cũng chỉ biết có bằng ấy thôi.
Poirot nhìn Ngài mắt sáng rỡ.
- Dạ chắc quá, chắc quá rồi - ông nói - Dù sao tôi cũng phải thưa đôi lời cùng phu nhân chứ.

- Tôi nghĩ là quý vị không nên.
Giọng Ngài nói ra vẻ một người quyền thế.
Poirot trân trọng nhìn Ngài.
- Đó chỉ là thủ tục thôi - ông nói - Nhưng Ngài nên xét lại giùm để tôi ghi vô biên bản.
- Thôi được rồi.
Ngài Bá tước miễn cưỡng nghe theo. Ngài khẽ nghiêng đầu theo lối người nước ngoài rồi bước ra ngoài.
Ông Poirot giơ tay với lấy tấm giấy thông hành. Tên và tước hiệu của Ngài. Đọc tiếp một đoạn - đi cùng với phu nhân. Tên thánh Elena Maria; tên riêng Goldenberg, hai mươi tuổi. Giấy thông hành còn dính vết dầu do sơ suất của người bảo quản.
- Giấy thông hành ngoại giao - ông Bouc nói - Ta nên cẩn thận hơn, tránh ngộ nhận. Nhân vật này không liên can gì đến chuyện thủ phạm gây án.
- Ông yên chí, ông bạn. Ta cần phải khéo hơn. Thủ tục đó thôi.
Chợt ông im tiếng vừa lúc phu nhân Bá tước Andregi bước vô toa hàng ăn. Trông bà có vẻ ngại ngùng dù rất duyên dáng.
- Quý vị mong gặp tôi thì phải?
- Chỉ là vấn đề thủ tục, thưa phu nhân - ông Poirot đứng ngay dậy vẻ cung kính mời bà ngồi ngay ghế phía trước mặt - Chỉ để xác nhận có phải phu nhân đã nghe thấy động tĩnh gì đêm qua, giúp chúng tôi làm rõ vấn đề.
- Tôi không nghe thấy gì cả, thưa quý vị. Tôi ngủ ngon giấc.
- Và cũng không nghe một tiếng động nào từ buồng bên cạnh? Bà khách người Mỹ lúc đó trong tình trạng hoảng loạn tinh thần, bà nhấn chuông báo động dồn dập gọi người phụ trách toa đến.
- Tôi không nghe thấy gì, thưa ông. Ông đã biết tôi đang dùng thuốc ngủ.
- Ồ, tôi hiểu. Vậy thì không nên để phu nhân ngồi lại đây lâu hơn nữa.
Phu nhân thong thả đứng dậy.
- Mong bà dành cho một phút, những người này, tên tuổi địa chỉ kể luôn các chi tiết có đúng vậy không?
- Rất đúng, thưa ông.
- Nhờ phu nhân ký vô biên bản xác nhận đúng, vậy đó.
Phu nhân đặt bút ký thật nhanh, nét chữ xiên xiên đẹp mắt: Elena Andregi.
- Phu nhân đã từng theo Ngài Bá tước qua Mỹ lần nào chưa?
- Dạ chưa - Bà mỉm cười, vẻ mặt ửng đỏ - Lúc đó chúng tôi chưa lấy nhau, mới lấy nhau được một năm.
- Ra là vậy, xin cám ơn bà, một việc nữa, Bá tước có hút thuốc không?
Phu nhân liếc nhìn ông định cất bước.
- Hút ống điếu?
- Không, thuốc điếu và xì gà.
- Vậy, xin cám ơn phu nhân.
Phu nhân chưa vội đi, bà nhìn ông như chưa hiểu ra một điều. Đôi mắt lá răm đen láy đẹp như tiên, hàng mi dài cong vuốt đổ xuống hai gò má xanh xao. Đôi môi mọng đỏ thật khác thường như đang hé mở. Phu nhân có một sắc đẹp kỳ ảo lạ lùng.
- Sao ông hỏi đến việc đó?
- Thưa phu nhân - Poirot khoát một dấu hiệu vu vơ - Những nhà trinh thám thường đặt ra nhiều cách hỏi khác nhau. Cụ thể là tôi đang cần biết màu áo dài của phu nhân thường mặc?
Phu nhân nhìn ông chăm chăm, chợt bà phá ra cười.
- Tôi có chiếc áo dài vải lụa màu vàng cúc. Có can hệ gì hở ông?
- Can hệ lắm, thưa bà.
Bà muốn biết rõ hơn.
- Vậy ông là nhà thám tử sao?
- Đúng vậy, thưa phu nhân.
- Tôi cho là đi tàu theo tuyến đường Nam Tư không cần đến nhân viên mật thám, chí đến khi tàu qua nước Ý.
- Tôi không phải nhân viên thám tử nước Nam Tư, thưa bà. Tôi là nhà thám tử quốc tế.
- Vậy là ông ở trong tổ chức Hội Quốc Liên?
- Tôi là người của thế giới, thưa phu nhân - Poirot nói giọng huênh hoang. Rồi ông kể tiếp - Tôi chỉ hoạt động ở Lon don. Bà nói tiếng Anh được chứ? - ông hỏi bằng tiếng Anh.
- Tôi nói được chút ít thôi.
Giọng nói phu nhân dễ nghe.
Ông Poirot lật nghiêng người cúi chào.
- Chúng tôi không thể để bà chờ lâu hơn nữa. Sự việc không đến nỗi khủng khiếp lắm.
Phu nhân nở một nụ cười, khẽ nghiêng đầu chào ra về.
- Phu nhân là một người đẹp - ông Bouc mở miệng khen.
Chợt ông thở ra một hơi dài.
- Rồi cũng chẳng thu thập gì hơn.
- Không phải đâu - Poirot nói - Đã có hai nhân chứng khai không nghe thấy gì hết.
- Ta có nên gặp ngay hành khách người Ý?
Poirot không nói gì. Ông đang còn mãi nghĩ ngợi về cái vết dầu còn đọng lại trên tấm giấy thông hành ngoại giao Hungary.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương TÁM
LỜI KHAI NGÀI ĐẠI TÁ ARBUTHNOT


Poirot khẽ nhoài người đứng dậy. Ông chợt chớp mắt khi nhìn thấy vẻ nôn nóng của ông Bouc.
- Ô, ông bạn vong niên - ông đánh tiếng - ông biết không, người ta đang gán cho tôi là kẻ trưởng giả học làm sang. Ta nên thẩm vấn hành khách toa hạng nhất trước, rồi qua hạng nhì sau. Kế đến, ta sẽ thẩm vấn Ngài đại tá điển trai Arbuthnot.
Biết Ngài đại tá chỉ nói trọ trẹ tiếng Pháp, Poirot hỏi bằng tiếng Anh: tên tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp trong quân ngũ đã rõ, Poirot hỏi tiếp:
- Có phải Ngài đáp tàu từ Ấn Độ về quê nghi phép. chúng tôi gọi là được cấp phép, đúng không?
Ngài Đại tá chẳng quan tâm đang ngồi đối diện biết bao nhiên người lạ mặt, ông trả lời vỏn vẹn.
- Phải.
- Vậy là Ngài không đi theo chuyến tàu thủy P.Q.O?
- Không.
- Sao vậy?
- Tôi thích đi trên đất liền.
Và đây là cung cách của Ngài thay cho câu trả lời “tôi chỉ nói riêng cho ông nghe, khác nào dòm ngó đời tư tôi rồi đấy”
- Ngài đi thắng từ Ấn Độ qua?
Ông Đại tá đáp giọng khô khốc.
- Tôi ghé lại thăm thành phố Ur of the Chaldeer một đêm, ở lại Baghdad ba ngày chơi với gia đình A.O.C là bạn cố tri.
- Ngài ở lại Baghdad đến ba ngày. Tôi được biết cô nàng người Ăng-lê, Debenham cũng từ Baghdad qua. Vậy có thể Ngài đã gặp cô ta?
- Không. Tôi không thấy. Tôi chỉ gặp nàng Debenham một lần trên chuyến tàu hàng từ Kirkuk qua Nissibin.
Poirot hơi nghiêng người tới phía trước. Ông đang bị lôi cuốn vô câu chuyện và có vẻ khác hơn thường ngày.
- Thưa ngài, tôi đang cần đến Ngài. Trên chuyến tàu này chỉ có hai người Ăng-lê, Ngài và cô nàng Debeham. Tôi mong được nghe ý kiến riêng của mỗi người.
- Chuyện mới lạ chứ - Giọng ông đại tá nghe hờ hững.
- Dạ không phải vậy. Ngài biết là trong vụ này thủ phạm có thể là nữ tặc. Nạn nhân bị đâm ít nhất không dưới mười hai nhát dao. Tôi từng nghe ông trưởng tàu phát biểu như vậy “thủ phạm là nữ”. Vậy thì tôi phải tính thế nào đây? Phải làm theo cách người Mỹ gọi là “kiểm tra đột xuất” tất cả hành khách nữ trên tàu Stamboul-Calais. Nhưng phán đoán một hành khách nữ người Ăng-lê khó thật. Dân Ăng-lê có cuộc sống thu mình đè dặt. Vậy nên tôi mong ngài vì lợi ích bảo vệ công lý, Ngài có thể cho biết cô nàng Debenham là người như thế nào? Ngài hiểu thế nào về cô ta?
- Cô nàng Debenham - Ngài vừa nói giọng nhiệt tình - là con nhà quyền quý.
- Ồ - Poirot chợt kêu một tiếng vẻ hài lòng lắm lắm - Vậy Ngài không nghĩ là cô nàng có dính líu đến chuyện vụ án?
- Ông nghĩ thật phi lý - Ngài Arbuthnot nói - Hung thủ là một kẻ xa lạ hoàn toàn, nàng chưa từng nhìn thấy hắn.
- Vậy là cô nàng đã cho Ngài hay trước ?
- Có đấy. Trông thấy bộ mặt kỳ dị của hắn thì nàng đã báo cho tôi hay nếu trong vụ án này có nghi ngờ thủ phạm là nữ, (theo tôi nghĩ là không có đủ bằng chứng, đó chỉ là suy đoán suông vậy thôi), tôi tin chắc là nàng Debenham không phải là người ta cần đặt nghi vấn.
- Ngài đã nhiệt tình theo dõi vụ này - Poirot nhếch mép cười nói với ông khách.
Ngài Arbuthnot nhìn ông vẻ lạnh lùng.
- Thú thật tôi chưa hiểu ý ông muốn nói gì - Ngài nói.
Poirot lúng túng. Ông cúi xuống bàn tìm trong đống giấy tờ xếp trước mặt.
- Như vậy là - ông nói - Ta nên nhìn nhận và đi tới kết luận. Ta có đủ bằng chứng về vụ án này xảy ra vào lúc một giờ kém mười làm tối qua. Ta cứ lần lượt hỏi qua mọi người trên tàu giờ đó họ đang làm gì.
- Phải đấy. Đúng thời điểm đô tôi còn ngồi nói chuyện với người khách trẻ người Mỹ, thư ký riêng của nạn nhân.
- Ồ! Vậy là Ngài đang ở bên trong buồng hắn hay là hắn đã qua bên chỗ Ngài?
- Tôi đang ngồi bên trong buồng của hắn.
- Cô phải anh chàng tên là Mac Queen? Ngài quen biết hay là bạn của Ngài?
- Không phải. Tôi chưa hề gặp hắn lần nào. Tình cờ tối qua tôi ngồi nói chuyện nên cảm thấy thân mật. Tôi thì chẳng thích người Mỹ. Có lợi ích gì đâu?
Poirot cười, nhớ lại Mac Queen chê dân Ăng-lê.
-… nhưng tôi thấy cảm tình với anh chàng đó. Hắn có ý nghĩ thật lạ lùng về nước Ấn Độ, dân Mỹ như hắn tệ thật, đó là những người sống vì tình cảm, chạy theo lý tưởng. Lúc đó, hắn thích thú lắng nghe chuyện tôi kể. Tôi có ba mươi năm kinh nghiệm hiểu biết về đất nước Ấn Độ. Còn tôi thì chăm chú nghe hắn kể về hoạt động tài chính ở Mỹ. Xong rồi qua đến chuyện chính trị thế giới. Tôi nhìn đồng hồ ngạc nhiên đã kém mười lăm đầy hai giờ.
- Lúc đó Ngài phải bỏ dở câu chuyện?
- Phải.
- Rồi Ngài làm gì?
- Trở về chỗ ngủ.
- Giường nằm đã dọn sẵn?
- Phải.
- Chỗ này đây, để xem, buồng số 15, cách một buồng đến toa hàng ăn dãy cuối.
- Đúng.
- Lúc trở về buồng, Ngài có để ý người phụ trách toa đang đứng ở chỗ nào?
- Gã đang ngồi ở đầu góc chiếc bàn nhỏ đàng kia. Rõ ràng là lúc đó tôi nghe chuông gọi từ chỗ Mac Queen.
- Sao lại gọi gã giờ đó nhỉ?
- Chắc là đến dọn giường. Buổi tối chưa làm kịp.
- Bây giờ, thưa ngài Arbuthnot. Ngài nghĩ cho kỹ, tối hôm đó lúc đang nói chuyện ngài nhìn nên ngoài có thấy ai đi ngang qua dãy hành lang?
- Có đông người lắm, tôi nhớ. Nhưng mà tôi không để ý là ai.
- Ồ! Tôi muốn nhấn mạnh thời gian, tiếng rưỡi đồng hồ nói chuyện. Đến ga Vincovci, Ngài xuống phải không?
- Phải, nhưng chỉ chốc lát thôi, bên ngoài có bão tuyết. Lạnh khiếp quá. Tôi đành quay lại với không khí ngột ngạt nóng bức bên trong con tàu.
Ông Bouc thở ra một hơi.
- Thật khó làm vừa lòng mọi người - ông nói - Người Anh cởi mở, còn những người khác họ làm ngơ khó nói.
Poirot và Ngài Dại tá Arbuthnot chẳng ai thèm nghe ông ta nói.
- Nào, thưa Ngài, ta trở lại chuyện ban nãy - Poirot nhắc nhở động viên - Bên ngoài trời đang rét, Ngài phải trở lại tàu. Ngài tìm chỗ ngồi, hút thuốc - có lẽ hút vài điếu thuốc hay là hút ống điếu?
Ngài im lặng một lúc.
- Tôi hút ống điếu. Còn Mac Queen hút thuốc lá.
- Tàu lại chuyển bánh. Ngài còn hút ống điếu, ngồi bàn chuyện bên Châu Âu, chuyện thế giới. Lúc đó đã khuya. Mọi người đã ngủ cả. Có còn ai đi lại ngoài kia không? Ngài nhớ chứ?
Arbuthnot nhíu trán cố nhớ cho hết.
- Thật khó nhớ - Ngài nói - ông biết mà, tôi chẳng để ý mấy chuyện đó.
- Nhưng Ngài có cách nhìn theo kiểu người lính. Nhìn vấn đề rất tinh.
Ngài Đại tá ngẫm nghĩ rồi lắc đầu.
- Tôi không thể nhớ. Chỉ nhớ còn người phụ trách toa ngoài kia. Hàng khoan đã nào, tôi nhìn thấy một bà, thế đó.
- Ngài nhìn thấy rõ. Già hay trẻ?
- Tôi nhìn không rõ. Bởi người bà ta không quay về hướng này. Tôi thoáng nghe tiếng xào xạt vào một mùi hương.
- Mùi hương? Mùi hương thơm phức?
- Ồ, mùi thơm trái cây, ông nên nhớ là tôi muốn kể lại một mùi hương thoang thoảng nhớ mãi dù đã xa cả trăm mét. Ông nhớ cho - Ngài Đại tá nói vội - Đó là chuyện xảy ra lúc chập tối. Ông nhớ lại đi, việc ông có nói nhận xét vấn đề rất tinh vi. Tối hôm đó tôi nhớ lại có lúc tôi nghĩ trong đầu, phụ nữ - mùi hương - nhập lại làm một? Nhưng khi đã nhận ra được, không biết có đúng vậy không, chỉ trừ... sao, ô kìa, đó là lúc rời ga Vincovci.
- Sao vậy?
- Bởi tôi chợt nhớ, bị nghẹt mũi, ông nhớ cho, là lúc đang nói về chuyện kế hoạch năm năm thời Stalin bị phá sản. Tôi hiểu cái ý tưởng - phụ nữ - nhớ như in hình tượng người phụ nữ Nga trong đầu. Và rồi nhận ra mình chưa từng đến nước Nga bao giờ cho đến gần cuối câu chuyện.-
- Ngài không thể gò ép thật đúng thời điểm được.
- Kh... không. Lúc đó là vào khoảng nửa giờ sáng.
- Vậy là sau khi tàu dừng lại ga?
Ông Bouc gật.
- Phải. Tôi chắc là lúc đó.
- Thôi được ta qua chuyện khác. Ngài đã từng sống ở Mỹ, thưa Đại tá Arbuthnot?
- Chưa. Tôi không thích qua đó.
- Vậy Ngài có nghe nói đến Đại tá Annstrong?
- Armstrong... Annstrong, tôi biết có hai hoặc ba người tên Armstrong. Có phải Tommy Armstrong vào khoảng năm 1960. Có phải ông nhớ ra người này? Và Selby Armstrong, chết ở mặt trận ở Somme.
- Tôi muốn nói Đại tá Armstrong có vợ người Mỹ. Họ có đứa con bị bắt cóc và bị giết chết.
- Ồ, phải đó, tôi nhớ có nghe qua chuyện này, một câu chuyện rơi nước mắt. Tôi nhớ là chưa từng gặp người này, dù là tôi đã nghe nói đến ông ta, Toby Armstrong. Một người bạn chân thành, ai cũng mến, có nhiều thành tích nổi bật và được tặng thưởng huân chương.
- Còn nạn nhân bị giết chết đêm qua chính là thủ phạm vụ bắt cóc và giết chết đứa bé con gái ngài Đại tá Armstrong.
Vẻ mặt Ngài Arbuthnot sa sầm.
- Tôi nghĩ hắn chết là phải rồi. Thật ra thì tôi muốn thấy hắn phải chịu án hình treo cổ mới xứng hoặc phải chịu châm điện.
- Thú thật, thưa Ngài Đại tá. Ngài vẫn tin vào luật pháp và công lý hơn là ân oán giang hồ?
- Được rồi, vậy ông không thích chuyện trả nợ máu đâm chém như bọn băng đảng Mafia với bọn đảo Corse? - Ngài Đại tá nói - Ngài cứ nói phải phép, xét xử theo luật lệ là chuyện cần bàn đến.
Poirot lặng thinh nhìn Ngài Đại tá trong thoáng chốc.
- Đúng rồi - Poirot nói - Tôi nghĩ đó sẽ là quan điểm của Ngài. Vậy là, thưa Ngài Đại tá chúng tôi không còn thắc mắc gì nữa. Nhớ lại đêm qua, còn việc gì khiến Ngài phải lo ngại? Chúng tôi có thể nói là khiến cho Ngài phải kinh ngạc vì còn nghi ngờ?
Ngài Arbuthnot nghĩ ngợi.
- Không đâu - Ngài nói - Chẳng có gì phải ngạc nhiên, lo ngại. Chỉ trừ khi...
- Ngài chưa nói hết ra, xin Ngài nói hết đi mà.
- Được rồi chả có gì để nói hết - Ngài Đại tá thong thả nói - Mà này ông còn nhớ đã hỏi tôi có biết gì không.
- Dạ, phải. Xin Ngài nói tiếp.
- Ồ, chẳng có gì đâu. Chuyện nhỏ thôi. Lúc đó tôi trở lại chỗ ngủ, chợt thấy cửa buồng trên kia mở, buồng ở cuối dãy, ông nhớ rõ mà.
- Dạ có, buồng số 16.
- Đấy cửa buồng đó còn để hé mở. Tôi nhìn thấy anh chàng nhìn ra ngoài vẻ lấm lét. Chợt hắn vội khép cửa lại. Dĩ nhiên là tôi chẳng nhìn thấy gì bên trong. Nhưng mà sao tôi cảm thấy cái gì đó là lạ. Tôi nghĩ nếu người ta bình thường mở cửa thò đầu ra ngoài nhìn xem có ai quen. Nhưng đàng này nhìn thấy gã có vẻ lấm lét nên tôi mới tò mò.
- Dạ ... phải - Poirot nói nửa tin nửa ngờ.
- Tôi nhắc lại với ông tôi chẳng thấy gì lạ bên trong - Ngài Arbuthnot nói như để phân bua - Nhưng ông biết là gì rồi, trời gần sáng, mọi vật tĩnh lặng và khoác một vẻ kỳ quái như trong truyện trinh thám. Tất cả mọi thứ trơ trơ, vậy đó.-
Ngài đứng phắt ngay dậy.
- Vậy là nếu quý vị không còn nhờ đến tôi nữa...
- Cám ơn Ngài Arbuthnot, không còn điều gì nữa.
Ngài còn chần chờ, cái cảm giác bị người lạ quấy rầy đã xua tan hết.
- Còn một điều nữa, cô nàng Debenham - giọng Ngài nghe có vẻ kỳ quái - ông cứ yên chí tin những lời tôi nói. Nàng là một công nương.
Ngài kiếu từ ra về vẻ mặt hơi ửng đỏ.
- Thế nào? - Bác sĩ Constantine chợt hỏi - Công nương là nghĩa gì?
- Nghĩa là - Poirot đáp - Cha anh của nàng Debenham là những người cùng một đẳng cấp như Ngài Đại tá Arbuthnot.
- Ô - Bác sĩ Constantine kêu một tiếng như thất vọng - Vậy đâu có dính dáng gì tới vụ án.
- Quả là như vậy - Poirot nói.
Ông thả hồn đi xa, hai tay gõ nhẹ trên mặt bàn.
Chợt ông ngước nhìn mọi người.
- Ngài Đại tá hút ống điếu - Poirot nhớ lại - Tôi nhặt được cây soi ống điếu trong buồng lão Ratchett. Còn lão thì chỉ hút xì gà.
- Ông cho là...
- Chỉ có mỗi mình ông ta nhận là có hút ống điếu. Hơn nữa lại biết có một ông Đại tá Armstrong. Có lẽ ông biết Ngài, nhưng Ngài không nhận có chuyện đó.
- Vậy ra ông cho rằng có thể là...
Poirot lắc đầu quầy quậy.
- Đúng như lời ông, làm thế nào được, không thể được. Một công dân Ăng-lê hiền lành, chân thật thêm phần ngốc ngếch nữa là thủ phạm vụ giết người với mười hai nhát dao? Ông bạn có đồng ý với tôi chuyện đó thật là phi lý?
- Chuyện đó nó thuộc phạm trù tâm lý - ông Bouc nói.
- Vậy ta phải tôn trọng tâm lý chung. Vụ án này có một dấu hiệu riêng, chắc không phải là dấu hiệu của Ngài Đại tá Arbuthnot. Đến lượt ta thẩm vấn qua người kế tiếp.
Lần này ông Bouc không nhắc tên hành khách người Ý nữa. ông đang nghĩ đến chính Ngài Đại tá.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương CHÍN
LỜI KHAI LÃO HARDMAN

Ngườicuối cùng trên toa hạng nhất được mời đến thẩm vấn - Lão Hardman - một người Mỹ ăn mặc đỏm dáng ngồi chung bàn với hành khách người Ý và một người hầu.
Lão mặc bộ vét vải cam, áo sơ mi hồng, cài chiếc kẹp cà vạt chói lọi, mồm nhai bỏm bẻm lúc trông thấy lão bước vô toa hàng ăn. Khuôn mặt lão béo tròn trông thô kệch, nhìn qua biết là người vui tính.
- Chào quý vị - lão nói - Tôi có thể giúp gì được cho quý vị đây ?
- Chắc ông đã biết một vụ án vừa xảy ra trên tàu, ông... ờ, Hardman?
- Biết chứ.
Lão nhai miếng kẹo cao su trong mồm thật khéo.
- Chúng tôi đang cần thẩm vấn tất cả hành khách trên tàu.
- Tôi đồng ý. Chỉ còn mỗi cách đó thôi.
Poirot lấy ra một tấm thông hành xếp trước mặt.
- Tên ông là Cyrus Bethman Hardman, công dân Mỹ, bốn mươi mốt tuổi, doanh nhân đi du lịch, mua bán hàng ruy băng máy đánh chữ.
- Ok, thông hành của tôi đó.-
- Ông đi từ Stamboul qua Paris?
- Đúng vậy.
- Lý do?
- Kinh doanh.
- Vậy là ông thường mua vé toa hạng nhất?
- Đúng vậy. Mọi chi phí do hãng đài thọ.
Lão chớp mắt.
- Này ông Hardman, ta trở lại câu chuyện tối qua.
Lão gật.
- Ông có thể cho biết ý kiến trước?
- Thật tình tôi chẳng biết gì hết.
- Ồ, tiếc thật. Vậy thì, ông Hardman, ông có thể kể lại thật rõ sinh hoạt suốt đêm qua sau giờ cơm tối?
Lần này người khách Mỹ có vẻ không sốt sắng.
Nghĩ rồi lão lại kể.
- Xin lỗi quý vị, tôi muốn biết quý vị là ai đây? Ông cho tôi biết ngay.
- Đây là ông Bouc, giám đốc công ty toa giường nằm đường sắt. Còn đây là ông bác sĩ đang khám nghiệm tử thi nạn nhân.
- Còn ông thế nào?
- Tôi là Hercule Poirot. Tôi được công ty thuê mướn lo điều tra vụ án.
- Tôi có nghe qua chuyện ông - lão Hardman nói. Một thoáng nghĩ ngợi - Chắc tôi phải nói hết.
- Ông nên kể lại hết những gì ông đã nghe thấy.
Giọng Poirot nghe khô khốc.
- Tôi được ông yêu cầu kể lại mọi chuyện tôi có nghe thấy. Vậy mà tôi chẳng hay biết gì hết, tôi nói thật. Vậy mà tôi cũng phải biết. Điều này khiến tôi đau lòng. Tôi buộc phải.
- Ông cứ bình tâm mà nói, ông Hardman.
Lão thở ra một hơi dài, nhả bỏ mẩu kẹo cao su rồi đút vô túi quần. Dường như lão có một chút thay đổi ở bề ngoài. Lão đã lột bỏ cái vỏ đóng kịch để lộ nguyên hình người thật. Giọng mũi nghe càng rõ hơn ban nãy.
- Tấm thông hành đó ghi không phải là tên thật đâu - lão vừa nói - Đây mới đúng là tên thật.
Poirot xem xét kỹ tấm thông hành vừa hất về phía ông. Ông Bouc liếc nhìn từ phía sau lưng.
Cyrus B. Hardman
Hãng thám tử tư McNeil's
New York.
Poirot nhận ra ngay cái tên này. Một hãng thám tử tư nổi tiếng ở New York.
- Này, ông Hardman - Poirot nói - Ta hãy xem nghĩa là nó như thế nào.
- Tôi nghe. Chuyện như thế này. Tôi qua Châu Âu có nhiệm vụ theo dõi hai tên lừa đảo - không liên qua đến chuyện làm ăn của tôi. Cuộc truy lùng đến chặng Stamboul thì kết thúc. Tôi điện xin ý kiến chỉ huy cho về lại nhiệm sở cũ và vừa có ý định trở về bên New York thì nhận được lệnh mới.
Lão chìa ra cái thư.
Trên đầu trang giấy ghi Địa chỉ khách sạn Tokatlian Hotel.
«Thưa ông. Được biết ông là nhà trinh thám của hãng thám tử tư Mc Neil. Yêu cầu ông điện về chỗ ở của tôi cho biết rõ sự việc ngay nội chiều hôm nay».
Dưới là chữ ký - S.E. Ratchett.
- Thế nào?
- Tôi điện về ngay cho kịp giờ và ông Ratchett báo cho tôi biết rõ nội vụ. Ông gửi cho tôi xem lại cái thư ông vừa nhận được.
- Ông ta có hoảng hốt không?
- Ông ta giả đò như không, nhưng tôi biết là có vấn đề đấy. Ông đề nghị là tôi nên đáp cùng một chuyến tàu qua tới ga Parrus, ở đó chẳng ai bắt bớ gì đâu. Vậy mà thưa quý vị tôi đang đi cùng một chuyến tàu với ông ta và đáng lý đã có tôi ở đó ông ta vẫn bị bắt giữ. Tôi cảm thấy đau xót lắm. Thật là một điều không may cho tôi.
- Vậy ông ta có chỉ vẽ cho ông nếu đi theo tuyến đường đó không?
- Có chứ. Ông ta đã nắm vững mọi việc trước. Ông còn đề nghị tôi đi theo toa tàu kế bên. Vậy mà không còn chỗ nào. Tôi chọn được một chỗ sót lại thôi, toa giường nằm số 16, cũng phải bon chen mới lấy được chỗ. Tôi nghĩ là người phụ trách toa muốn giữ chỗ này lại. Thật ra thì chuyện đó chẳng ăn nhằm gì. Rồi nhìn quanh một lượt tôi mới nhận ra chỗ buồng 16 này tiện lợi. Chỉ có một toa hàng ăn phía trước toa giường nằm đi Istaboul, cửa thông ra ngoài thềm sân ga ở dãy cuối, ban đêm được chốt chặn lại. Chỉ còn một lối xâm nhập được là chỗ cửa sau phía cuối toa thông ra thềm sân ga hoặc qua lối dọc theo hông tàu ở đàng đuôi. Cả hai nơi đều phải băng ngang qua trước chỗ tôi ở.
- Vậy ông không để ý đến hình dạng của thủ phạm lúc đi ngang qua đó.
- Ồ, tôi nhìn ra hắn ngay. Ông Ratchett đã báo trước cho tôi biết.
- Thế nào hả?
Cả ba vị khách cùng nhướng người tới phía trước.
Hardman kể tiếp.
- Đó là một người vóc dáng thấp đậm. Giọng nói nghe the thé. Tôi thuật lại lời dặn của Ratchett kể. Ông còn nhắc tôi chưa hẳn là phải qua một đêm. Có thể hai hoặc ba đêm nữa.
- Ông ta còn biết gì hơn nữa không? - ông Bouc hỏi.
- Chắc phải biết nhiều hơn những chuyện đã kể cho người thư ký riêng - Poirot nói xen vô vẻ trầm ngâm.
- Ông ta đã kể cho anh nghe có ai oán hận gì không? Hoặc là tại sao lại có kẻ hăm dọa ông ta?
- Không, ông kín miệng không hề nói cho ai biết. Ông chỉ nhắc chừng có kẻ đòi trả thù và giết ông.
- Có một kẻ lạ, da ngăm đen nói giọng the thé như dân lại cái - Poirot đang nghĩ ngợi chợt nói xen vô.
Ông xoáy tầm nhìn về phía Hardman, mới nói.
- Vậy là ông biết rõ ai rồi đó, phải mà?
- Ai cơ, thưa ngài?
- Ratchett. Ông biết rõ hắn mà.
- Tôi chưa hiểu ông muốn nói gì?
- Ratchett tức là Cassetti đó, thủ phạm giết người vụ Armstrong.
Lão Hardman thở ra một hơi thật dài mới nói:
- Tôi lấy làm lạ - Lão nói - Phải đấy, thưa ngài. Không, tôi không quen biết ông ta. Lúc đó tôi đang đi về miền Tây. Tôi muốn nói là đã nhìn thấy ảnh chụp trên báo, còn bức ảnh chụp mẹ tôi do một phóng viên báo ảnh thì tôi hoàn toàn không nhận ra. Vậy thì, tôi tin là những ai nhìn thấy hình ảnh của Cassetti chắc là căm giận lắm.
- Vậy ông còn quen biết ai có liên can đến vụ án Armstrong, trả lời câu hỏi chi tiết - thấp đậm có giọng nói the thé như dân lại cái?
Lão Hardman đang hồi tưởng lại.
- Thật khó nhớ cho ra. Hầu như họ đã chết cả rồi.
- Có một người con gái nhảy qua cửa sổ tự tử, ông nhớ ra chứ?
- Có. Đấy là một manh mối. Cô ta là một người hoàn toàn xa lạ. Có thể là dân Ý cù bơ cù bất. Và ông cũng nên nhớ còn nhiều vụ tương tự như vụ Armstrong. Cassetti có lúc đã từng tham gia vô băng đảng bắt cóc tống tiền. Ông không nên chỉ quan tâm đến một vụ.
- Ô kìa, ta có đủ lý do tin là vụ án này có liên can đến vụ Armstrong.
Lão Hardman nhìn có vẻ ngờ ngợ. Poirot ngồi lặng thinh. Lão Hardman lắc đầu.
- Làm sao nhớ hết nhân chứng trả lời câu hỏi nhận dạng hung thu vụ án Armstrong - lão Hardman chậm rãi nói - Tất nhiên là tôi không liên can nên không biết gì hết.
- Thôi được, ông kể đến phần sau, ông Hardman.
- Chẳng nhớ được bao nhiêu. Ban ngày tôi phải ngủ, ban đêm thức. Đêm đầu chưa thấy gì, cho đến đêm vừa rồi, đêm cuối cũng không thấy gì. Tôi để cửa mở hé canh chừng. Cũng chẳng thấy ai di ngang qua.
- Ông có chắc là vậy không, ông Hardman?-
- Chắc quá đi rồi. Không có kẻ lạ nào dám tìm cách xâm nhập vô đây từ phía đuôi tàu. Tôi cam đoan với quý vị.
- Từ chỗ ông nhìn và có thấy người phụ trách toa?
- Có chứ. Gã ngồi ngay chỗ đó thu hẹp lại ngang với tầm nhìn từ cửa buồng.
- Tàu dừng lại ga Vincovci, lúc đó ông trông thấy gã đi đâu?
- Có phải là ga cuối? Sao vậy kìa, gã nghe mấy hồi chuông gọi, có lẽ lúc tàu dừng lại một chỗ rất lâu. Một chập sau tôi trông thấy gã đi ngang qua đến buồng cuối tàu và ở đó khoảng mười lăm phút. Có tiếng chuông gọi dồn dập như thúc giục, gã chạy ngược trở lại. Tôi bước ra ngoài hành lang xem có việc gì không, tôi hơi bị choáng váng, ông thông cảm giùm, nhưng chỉ nhìn thấy một bà người Mỹ đứng đó. Bà giơ cao chuông kêu gọi gì đó. Tôi nhìn và cười khà một tiếng. Rồi gã qua đến buồng khác, trở lại chỗ cũ lấy một chai nước suối cho khách. Xong rồi gã quay về chỗ ngồi cho đến lúc phải lo dọn giường cho buồng ngủ ở cuối toa tàu. Sau đó tôi không biết gã còn đi đâu cho mãi đến năm giờ sáng nay.
- Gã có buồn ngủ không?
- Tôi đâu biết được. Cũng phải buồn ngủ chứ.
Poirot gật. Ông tự tay vuốt thẳng trang giấy đặt trên bàn. Ông nhặt lấy tấm thông hành xem một lần nữa.
- Ông vui lòng ký tắt vô đây.
Lão Hardman làm theo.
- Không có ai cả, chắc vậy, có thể xác nhận lai lịch của ông,ông Hardman?
- Trên tàu này? Ồ, chưa chắc đâu. Chỉ trừ có gã MacQueen. Tôi biết rõ hắn, đã từng gặp nhau trong văn phòng của cha hắn ở New York, nhưng không chắc hắn còn nhìn ra tôi trong số nhưng thám tử tư này. Không đâu thưa ông Poirot, ông phải điện qua New York ngay khi nào tuyết đã tan. Vậy là xong rồi nhé. Tôi chưa kể hết câu chuyện. Thôi xin chào, hẹn gặp lại. Hân hạnh được gặp ông, Poirot.
Poirot chìa gói thuốc ra mời.
- Chắc ông thích hút ống điếu hơn?
- Không, tôi không.
Lão tự tay rút một điếu rồi cất bước đi ra.
Ba vị khách nhìn nhau.
- Ông cho lão ấy là người thật? - Bác sĩ Constantine cất tiếng hỏi.
- Đúng, đúng. Tôi nhận dạng ra lão ngay. Chuyện lão kể nghe qua rồi bỏ đi.
- Lão đã giúp chúng ta một bằng chứng đáng khen ngợi - ông Bouc nói.
- Phải đấy chứ.
- Dáng người thấp, đậm, giọng nói the thé - ông Bouc vừa trầm ngâm vừa nói.
- Cách nhận dạng đó không tìm đâu ra cho đúng người đi trên chuyến tàu này - Poirot phán một câu.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương MƯỜI
LỜI KHAI MỘT HÀNH KHÁCH NGƯỜI Ý


- Và bây giờ - Poirot vừa nói vừa chớp chớp mắt - chúng ta chiều theo yêu cầu của ông Bouc cho mời hành khách người Ý đến.
Antonio Foscarelli rón rén bước vô toa hàng ăn. Vẻ mặt gã rạng lỡ, điển hình là dân Ý chính cống, nước da rám nắng ngăm ngăn đen.
Gã nói tiếng pháp trôi chảy, giọng nghe hơi nhạt.
- Tên anh là Antonio Foscarelli?
- Dạ phải.
- Vậy anh là công dân Ý nhập tịch Mỹ?
Ông Bouc cười gằn.
- Dạ phải. Vì công việc kinh doanh.
- Anh là nhân viên hãng Ô tô Ford?
- Dạ phải, quý vị biết đó.
Tiếp theo là một loạt câu trả lời suôn sẻ. Cuối cùng ba vị khách mới thấy chuyện làm ăn của Foscareli, chuyến du lịch, mức thu nhập, và quan điểm về nước Mỹ của anh ta không đáng phải quan tâm. Gã không phải là đối tượng để khai thác. Gã cứ nhắm mắt nói hết.
Vẻ mặt ngây ngô hiền lành sáng ra niềm tự hào, rồi gã chợt dừng lại đó tay cầm khăn mù soa chậm trên trán.
- Quý vị biết đó - gã nói Tôi làm ăn lớn, theo kịp thị trường, biết nhiều khách.
- Mười năm trước đây thỉnh thoảng anh có đi qua Mỹ?
- Dạ có. Ồ! Không biết tôi còn nhớ cái ngày lần đầu đáp tàu đi Mỹ, đất nước xa xăm đó! Và mẹ tôi, em gái tôi….
Poirot chợt cắt ngang dòng hồi tưởng.
- Trong thời gian lưu lại Mỹ anh đã có lần nào gặp mặt nạn nhân?
- Không. Nhưng tôi còn nhớ ra dáng người ông ta. Ồ, đúng mà - Tay gã gõ nhẹ trên mặt bàn - Nhìn thì đó là một người đáng kính, ăn mặc gọn gàng, nhưng mà đó là bề ngoài. Còn mặt trái thì khác hẳn. Tôi biết ông ta là một tên bịp bợm có tiếng. Tôi biết sao nói vậy.
- Anh nói thì đúng quá rồi - Poirot nói giọng tưng tưng - Ratchett chính là Cassetti. Thủ phạm vụ bắt cóc.
- Tôi đã kể gì rồi nhỉ? Cần phải có nhận thức sắc bén mới được. Xét đoán con người qua nét mặt chủ yếu là thế đó. Chỉ có ở Mỹ ông mới học được cách thuyết phục.
- Anh còn nhớ vụ án Armstrong?
- Cũng không nhớ rõ lắm. Tên là gì nhỉ? Đó là một đứa bé gái, còn bé lắm, có đúng không?
- Đúng. Một câu chuyện thảm thương.
Chỉ có gã người Ý này là chưa muốn tin.
- Ồ, thế đó, vậy mà chuyện có thật - gã nói giọng đầy vẻ triết lý - Ở một nước văn minh như nước Mỹ.
Poirot chắn ngang câu chuyện.
- Vậy là anh đã từng gặp ai là thân nhân gia đình Armstrong?
- Không, tôi chắc là không. Không thể nhớ ra ngay bây giờ. Tôi chỉ có thể đưa ra một vài bằng chứng. Chỉ riêng năm vừa rồi tôi đã bán...
- Này ông bạn, anh nhớ cho đúng trọng tâm.
Gã vung tay ra dấu xin lỗi.
- Tôi thật là có lỗi.
- Anh kể lại cho rõ tối qua sau giờ ăn anh làm gì, ở đâu?
- Tôi xin thưa ngay. Tôi chỉ ở một chỗ, vậy mà thích hơn. Tôi ngồi tán gẫu với ông bạn Mỹ ở bàn ăn. Gã buôn bán ruy băng máy đánh chữ. Ăn xong tôi trở lại buồng, chẳng thấy ai bên trong. Anh chàng John Bull ở chung với tôi đang qua bên chỗ phục vụ cho ông chủ. Gã đã về lại, mặt mày buồn xo, không nói năng, trả lời nhát gừng. Làm dân Ăng-lê thật khổ, không có thiện cảm. Gã ngồi một chỗ khuất trong góc đang đọc sách. Người phụ trách toa đến lo dọn giường.
- Ở buồng số 4 và số 5- Poirot nói rất khẽ.
- Đúng, ở cuối dãy. Tôi ở giường trên. Mỗi khi thức dậy tôi hút thuốc đọc sách một lúc. Còn anh chàng Ăng-lê đang còn nhức răng, thế đó. Tôi thấy gã lấy ra chai thuốc có mùi khó ngửi. Gã còn nằm trên giường mồm rên rỉ. Rồi tôi đi ngủ. Thức giấc vẫn còn nghe gã rên ứ ứ.
- Vậy cả đêm anh có để ý thấy gã đi ra ngoài?
- Không, tôi không nghe gì cả. Nếu có, tôi biết chứ. Nếu bên ngoài hành lang đèn sáng, mọi người dậy ngay, cứ nghĩ là quan thuế đi kiểm tra.
- Anh có nghe gã nói ông chủ thế nào? Có oán thù người chủ?
- Báo cáo quý vị, tôi chẳng nghe gã nói gì hết. Gã không tỏ ra thiện cảm,lập dị lắm.
- Anh nói là có hút thuốc: hút ống điếu, thuốc lá hay xì gà?
- Tôi chỉ hút thuốc lá.
Poirot chìa gói thuốc ra mời gã một điếu.
- Anh đã đến Chicago lần nào chưa? - đến lượt ông Bouc hỏi.
- Ồ, có, thành phố đẹp. Tôi biết New York rõ hơn Washington và Detroit. Ông đã sống ở Mỹ chưa? Chưa? Ông nên qua đó, nơi đó…
Poirot chuồi trang giấy ra trước mặt gã.
- Yêu cầu anh ký vô đây, ghi lại địa chỉ hiện tại nhé.
Anh chàng đặt bút viết nét chữ bay bướm, xong rồi đứng ngay dậy, nở một nụ cười duyên.
- Vậy là xong cả chứ? Quý vị còn nhờ vả gì nữa? Chúc quý vị vui vẻ. Tôi mong chúng ta vượt qua bãi tuyết dày đặc. Tôi còn phải lo việc riêng ở Milan nữa - Gã lắc đầu buồn xo - Tôi lo sẽ mất cơ hội làm ăn.
Gã bước ra ngoài.
Poirot nhìn qua mấy vị khách cùng bàn.
- Hắn đã từng sống ở nước Mỹ một thời gian lâu dài - ông Bouc nói - Hắn là dân Ý, mà dân Ý thường sử dụng dao! Bọn này chỉ nói láo. Ta không ưa bọn Ý.
- Ông tự biết lấy - Poirot vừa nói vừa cười - Vậy là ông nghĩ cũng đúng, nhưng tôi muốn nhắc một điều, ông bạn, ta không thấy có bằng chứng buộc tội hắn.
- Vậy nếu xét về mặt phạm trù tâm lý thì sao? Có phải bọn người Ý thường sử dụng dao?
- Chắc quá đi rồi - Poirot đáp - Nhất là những lúc đang có xô xát cãi nhau. Nhưng lần này, vụ án có chiều hướng khác hơn. Tôi có ý như thế này, ông bạn, đây là một vụ án có tổ chức hẳn hoi, có bài bản. Vụ án được nghiền ngẫm toan tính sắc sảo. Nó không phải, tôi không biết nói thế nào cho đúng nghĩa? Một vụ án mạng của bọn người dân tộc La tinh, mà đây là do một khối óc sắc sảo, nhiều mưu mẹo, lạnh lùng nhào nặn ra. Tôi cho đó là một khối óc của giống người Nhật nhĩ man mới nghĩ ra được.
Ông cầm trên tay hai tấm thông hành còn sót lại.
- Đến lượt chúng ta - ông vừa nói - thẩm vấn cô nàng Debenham.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương MƯỜI MỘT
LỜI KHAI CÔ NÀNG DEBENHAM


Vừa lúc thấy Mary Debenham bước vô toa hàng ăn, Poirot yên chí những suy đoán về cô nàng là đúng hoàn toàn.
Nàng mặc bộ vét đen, áo sơ mi xám may theo kiểu thời trang Pháp. Mái tóc đen nhánh uốn gợn bóng mượt. Dáng dấp nàng trông bình thản như mái tóc trơn bóng không vướng bận ưu tư.
Nàng bước đến ngồi vô bàn nhìn qua phía ông Poirot và ông Bouc, cái nhìn của nàng như muốn hỏi cho ra lẽ.
- Cô tên là Mary Hermovne Debenham, hai mươi sáu tuổi đúng chứ? - Poirot mở đầu.
- Dạ phải.
- Công dân Ăng-lê?
- Dạ phải.
- Vậy cô em vui lòng ghi lại địa chỉ thường trú vô đây?
Nàng ghi vô giấy ngay. Nét chữ rõ ràng sáng sủa.
- Này, cô em có cần kể lại cho chúng tôi nghe câu chuyện tối hôm qua?
- Tôi có biết gì đâu mà kể. Tôi trở vô giường nằm ngủ ngay.
- Chuyện đêm vừa qua có làm cô buồn không, trên tàu vừa xảy ra một vụ án mạng?
Câu hỏi vừa nêu ra quá đột ngột. Nàng trố mắt nhìn qua bên kia bàn.
- Em chẳng hiểu ý ông muốn nói gì?
- Chỉ hỏi đơn giản vậy thôi, cô em. Tôi xin nhắc lại. Cô cảm thấy xót xa vì một vụ án mạng vừa xảy ra trên tàu đêm qua?
- Thật tôi không hề nghĩ ngợi gì cả. Không, bởi tôi có biết gì đâu mà xót xa.
- Một vụ án mạng đó mà, rõ như ban ngày mà cô em, ờ nhỉ?
- Chuyện không bình thường chút nào - Debenham nói khẽ.
- Cô mới đúng thật là nòi giống Ăng-lê xắc xông, bởi cô cứ thản nhiên phớt tỉnh Ăng-lê.
Nàng khẽ nhếch mép cười.
- Tôi không thể nào bộc lộ tình cảm một cách ngông cuồng như vậy được. Hơn thế nữa, chết chóc là chuyện thường ngày.
- Đó là chuyện người ta chết. Còn đây là một vụ án mạng hiếm thấy.
- Ồ, một vụ án mạng.
- Cô chẳng quen biết gì nạn nhân?
- Tôi mới vừa gặp ông ta trong giờ ăn trưa hôm qua.
- Ông ta có điểm nào khiến cô để ý?
- Tôi không hề dòm ngó đến ông ta.
- Cái dáng dấp dị hợm đó không khiến cho cô phải dòm ngó sao?
Nàng khẽ nhún vai.
- Thật tình tôi chẳng hay biết gì hết.
Poirot nhìn nàng như trách móc gay gắt.
- Tôi nhận thấy cô em có vẻ khinh khỉnh trước những câu hỏi tôi vừa nêu ra - Poirot nói, mắt chớp chớp - Cô em nghĩ là cách đặt câu hỏi kiểu Ăng-lê không hay sao. Mọi việc đã xếp đặt trước, ăn khớp với nhau, đó là một âm mưu có tính toán kỹ. Riêng tôi, tôi có cách tính toán riêng. Tôi dựa vô lời khai, sắp xếp theo từng tính cách mỗi người nam hoặc nữ, rồi soạn ra câu hỏi chất vấn. Chỉ mới vừa ban nãy thôi, tôi chất vấn một người cần trao đổi nhiều vấn đề với tôi. Vậy đó, với người này tôi chỉ cần nghe những câu trả lời thích đáng có hay không, thế này hoặc thế kia xong rồi đến lượt cô em đây. Tôi đoán ra ngay một nhân chứng sẽ trả lời thứ tự đầu đuôi, biết sao nói vậy, ngắn gọn có trong tâm. Nhưng có một điều, này cô em, người ta sinh ra trên đời không ai giống ai, nên tôi phải đưa ra nhiều câu hỏi ngược đời. Tôi hỏi cô cảm thấy thế nào, cô nghĩ gì? Vậy là cách hỏi không vừa ý cô em?
- Nếu ông có thể bỏ lỗi cho thì cách làm việc đó của ông chỉ là công toi vô ích. Dù tôi có thích hay không cái vẻ mặt của Ratchett, cũng chẳng giúp gì được để ước đoán ai là thủ phạm.
- Vậy thì cô em cứ cho biết con người thật của Ratchett như thế nào?
Nàng gật.
- Bà Hubbard đã kể cho mọi người nghe cả rồi.
- Vậy là cô em nghĩ thế nào vụ án Armstrong?
- Thật đáng ghê tởm - Giọng nàng đanh lại.
Poirot trầm ngâm nhìn về phía cô nàng.
- Từ thành phố Baghdad, cô em theo chuyến tàu đi du lịch, có phải không, Debenham?
- Dạ phải.
- Qua tới London?
- Dạ phải.
- Ở Baghdad cô em làm nghề gì?
- Tôi làm công việc người gia sư kèm hai đứa trẻ.
- Xong kỳ nghỉ phép, cô trở về chỗ cũ chứ?
- Tôi chưa rõ.
- Nghĩa là thế nào?
- Baghdad không phải là nơi hứa hẹn. Tôi đang tìm một chỗ ở London thích hợp với tôi.
- Tôi hiểu. Tôi nghĩ là cô em nên tính chuyện trăm năm là phải lúc rồi đó.
Nàng Debenham không nói gì. Nàng ngước nhìn ông cho đến lúc nhìn rõ từng nét trên khuôn mặt. Nàng nghĩ trong đầu: ông chứ có xấc xược
- Cô nhận xét thế nào về một hành khách ở chung buồng, cô nàng Ohlsson?
- Nàng vui tính dễ chịu.
- Nàng mặc áo dài màu gì vậy?
Nàng Mary Debenham chăm chăm nhìn ông.
- Hình như màu nâu xám, bằng sợi len.
- Ồ! Vậy thì tôi có thể nói không nhầm, mà chắc là vậy, tôi nhìn thấy em mặc một chiếc áo dài trên chặng đường từ ga Alippo đến Stamboul. Áo màu hoa cà nhạt, tôi nhớ mà.
- Dạ, ông nói phải.
- Cô em còn có chiếc áo nào khác nữa không? Một chiếc màu đỏ thắm chẳng hạn?
- Không, tôi không mặc chiếc áo đó.
Poirot nghiêng hẳn thân người ra phía trước, như thể con mèo xông tới vồ lấy chuột.
- Vậy thì ai mặc chiếc áo đó, kìa?
Cô nàng vội lùi về phía sau, ngỡ ngàng.
- Tôi không biết là ai. Ông nghĩ thế nào?
- Cô em không nói là: “không, tôi không có chiếc áo đó”, mà em lại nói “tôi không mặc chiếc áo đó” nghĩa là chiếc áo đó là của một người khác đang mặc?
Nàng gật.
- Vậy thì ai khác hơn trên tàu này?
- Dạ phải.
- Của người nào vậy kìa?
- Tôi nói cho ông nghe đây. Tôi không biết chuyện đó. Tôi thức giấc lúc năm giờ sáng và cảm thấy như tàu đã dừng lại từ rất lâu. Tôi mở cửa nhìn ra ngoài hành lang, chắc là tàu đang ghé vô ga nào đây. Tôi nhìn thấy một hành khách mặc áo kimônô màu đỏ thắm đằng phía cuối hành lang.
- Cô emkhông thể biết đó là người nào? Tóc vàng, tóc đen hay tóc bạch kim?
- Em không nhớ. Lúc đó người này đội mũ chụp trên đầu, em chỉ nhìn thấy phía sau ót.
- Vóc dáng như thế nào?
- Dáng cao mảnh khảnh, thế đó, khó nói chính xác được. Chiếc áo kimônô có thêu hình rồng.
- Phải rồi, đúng quá, thêu rồng.
Ông lặng thinh một lúc. ông nói khẽ một mình.
- Ta không hiểu được, không thể hiểu được. Tất cả đều phi lý.
Chợt ông ngước nhìn rồi đánh tiếng.
- Ta không muốn em ở lại đây lâu hơn nữa, cô em.
- Ồ! - Nàng chưng hửng rồi đứng ngay dậy.
Ra đến cửa chợt nàng ngập ngừng một lúc rồi quay lại
- Cô nàng người Thụy Điển, nàng Ohlsson, phải không? Nàng có vẻ lo âu. Nàng kể là ông cho hay nàng là người sau cùng còn nhìn thấy nạn nhân sống sót. Nàng cứ nghĩ ông nghi cho nàng dính dáng vô vụ án. Vậy thì em có thể nói lại nàng đã nghĩ nhầm được không? Hẳn nhiên ông biết nàng hiền như cục bột.
Nàng vừa nói vừa mở một nụ cười.
- Cô em còn nhớ lúc nàng đến buồng bà Hubbard xin mấy thuốc Aspirine là mấy giờ?
- Lúc ấy là mười giờ rưỡi.
- Nàng ở lại đó bao lâu?
- Khoảng năm phút.
- Tối nàng còn đi ra ngoài nữa không?
- Không.
Ông Poirot quay về phía Bác sĩ.
- Có thể là Ratchett bị giết cùng thời điểm đó?
Ông bác sĩ lắc đầu.
- Vậy thì em về nhắn lại cho người bạn đồng hành yên chí, nhé.
- Cám ơn quý vị - Chợt nàng mỉm cười, một nụ cười thân thiện - Cô nàng ấy hiền lành, thế đó. Cứ mãi lo lắng kêu rên.
Nói xong nàng quay đi.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương MƯỜI HAI
LỜI KHAI NGƯỜI HẦU ĐỨC


Ông Bouc quay qua nhìn người cộng sự vẻ thăm dò.
- Thật tình tôi chẳng hiểu gì vồ ông, ông bạn. Ông định làm gì đây?
- Tôi đang tìm chỗ nào còn sơ hở, ông bạn.
- Sơ hở?
- Phải, bên trong cái lớp vỏ điềm nhiên như không. Tôi muốn làm rung chuyển lớp băng giá.
- Có được gì không?
- Chưa thể nói ngay lúc này. Nhưng tôi biết một điều nàng chưa muốn tôi giải quyết cho xong.
- Ông nghi cho cô nàng. - ông Bouc chậm rãi nói - Sao vậy? Cô nàng trẻ đẹp duyên dáng thế kia. Người còn sót lại trên thế gian này để bị ghép tội dính dáng vô một vụ án.
- Tôi đồng ý - Constantine nói xen vô - Nàng có vẻ dửng dưng. Không một chút xao động. Làm thế nào nàng đâm chết một người đàn ông được, nàng sẽ kiện ông ta ra tòa.
Poirot ngồi đó thở ra một hơi.
- Quý vị chứ nên nghĩ đây là một vụ án không tính trước. Có hai lý do khiến tôi nghi ngờ cho cô nàng Debenham, một là tôi nghe lỏm được câu chuyện, và còn lý do nữa quý vị chưa nên biết vội.
Ông kể lại câu chuyện trao đổi giữa hai người tình cô ông nghe được trên chuyến tàu đi từ Aleppo.
- Nghe lạ đấy - ông Bouc nói vừa nghe hết câu chuyện - Tôi chờ được giải thích. Nếu quả thật như ông đã ngờ, vậy ra có cả hai người liên can, một là cô nàng và một gã người Ăng-lê lì lợm.
Poirot gật.
- Và điều đó hoàn toàn không căn cứ vô bằng chứng?
Poirot nói.
- Ông biết đó, nếu trong vụ này có thêm hai người, ta cần phải hiểu là, mỗi bên sẽ đổ qua đổ lại. Có phải vậy không? Nhưng chưa, cũng chưa hẳn là vậy. Lúc cô nàng Debenham không có ở đó sẽ là cái cớ để cô nàng Thụy Điển cho là chưa từng biết mặt nhau, còn Ngài Đại tá Arbuthnot sẽ là cái cớ để anh chàng MacQueen, người thư ký của nạn nhân, đưa ra để che đậy cho hắn. Không phải vậy, chuyện không đơn giản vậy đâu.
- Theo như lời ông kể còn một lý do khác để ông ngờ cho cô nàng - ông Bouc vừa nhắc.
Poirot lại cười.
- Ồ! Chuyện đó thuộc phạm trù tâm lý. Tôi tự nghĩ, có lẽ nào nàng Debenham, kẻ chủ mưu trong vụ án này? Vụ án được thực hiện do một khối óc thông minh, gan dạ, sâu sắc. Nàng Debenham có đủ tiêu chuẩn để ta nhận dạng.
Ông Bouc nghe rồi lắc đầu.
- Tôi cho là ông nhầm rồi đó, ông bạn. Tôi không hề nghi cho cô nàng Ăng-lê này là thủ phạm.
- Ồ, vậy là - Poirot nói, tay ông nhặt lấy tấm thông hành cuối cùng còn sót trên bàn - Đến lượt nhân chứng cuối cùng trong danh sách, Hildegarde Schmidt, người hầu.
Người phục vụ nghe theo lệnh cho mời nhân chứng tới. Hildegarde Schmidt bước vô bên trong toa hàng ăn nghiêm chỉnh đứng chờ.
Poirot ra dấu mời nàng ngồi.
Nàng bước đến ngồi vô bàn, khoanh tay lặng lẽ chờ đến lượt. Vẻ mặt nàng bình thản, rất là nghiêm trang, không phải vì quá thông minh.
Ông Poirot chất vấn Hildegarde Schmidt theo cách khác hơn lần trước với Mary Debenham.
Người được hỏi cảm thấy thoái mái tự nhiên bởi ông nói năng nhỏ nhẹ tử tế. Nàng ghi lại họ tên và địa chỉ xong ông mới đặt câu hỏi.
Lấn này ông nói tiếng Đức.
- Tôi chỉ muốn nghe em kể lại mọi việc xảy ra trong đêm vừa qua - ông mở lời - Tôi vẫn biết là em sẽ không kể lể dài dòng vụ án, tuy vậy em cũng có nghe thấy ít nhiều dù không dính dáng tới em nhưng chúng tôi rất cần biết lời khai của em. Em thông cảm chứ?
Nàng không tỏ một dấu hiệu rõ rệt. Vẻ mặt thản nhiên đến sững sờ, nàng nói:
- Tôi không biết chuyện gì cả, thưa ngài.
- Ồ, ví dụ như là em có biết đêm qua bà chủ cho gọi em đến có việc cần?
- Dạ có.
- Em còn nhớ lúc đó mấy giờ?
- Em quên, thưa ngài. Em đang ngủ, ông hiểu cho, chợt người phục vụ đến gọi.
- Đúng rồi. Có phải mọi đêm bà chủ đều gọi em như vậy?
- Dạ không, thưa Ngài. Bà chủ chỉ nhờ chăm sóc mỗi đêm. Bà khó ngủ.
- Vậy là lúc đó nghe gọi, em thức dậy ngay. Rồi em lấy áo dài mặc vô.
- Dạ không, em mặc áo thường. Không bao giờ em mặc áo dài lúc đi ngủ.
- Và em vẫn còn giữ một chiếc áo dài màu đỏ thắm, phải không?
Nàng chăm chăm nhìn vô ông.
- Một chiếc áo dài vải flannelle màu xanh đậm, thưa ngài.
- Ồ, em cứ nói tiếp. Tôi chỉ hỏi đùa vậy thôi. Em chạy đến ngay chỗ buồng công chúa. Em đến giúp được gì?
- Em xoa bóp, thưa Ngài, xong rồi đọc truyện, đọc thật to. Em không đọc được to cho lắm. Bà chủ bảo cứ đọc thật to. Rồi bà ngủ được. Bà buồn ngủ, bảo em ra về, em xếp sách xong quay về lại chỗ cũ.
- Lúc đó em còn nhớ mấy giờ?
- Dạ không nhớ.
- Thôi được rồi, em ở lại với công chúa bao lâu?
- Dạ khoảng ba mươi phút
- Rõ rồi. Em kể thêm nữa đi.
- Trước tiên em mang đến cho bà một tấm chăn thật dày. Bên trong tàu lạnh khủng khiếp dù đã có hệ thống sưởi ấm. Em đắp chân cho ấm, bà chúc em ngủ ngon. Em rót sẵn một ly nước suối, tắt đèn, rồi lui ra ngoài.
- Và sau đó?
- Không làm gì nữa, thưa Ngài. Em trở về buồng ngủ.
- Vậy em không còn nhìn thấy ai đi qua ngoài hành lang?
- Dạ không.
- Em cũng không nhìn thấy một bà mặc áo kimônô màu đỏ thắm có thêu hình rồng?
Nàng căng đôi mắt ngây thơ nhìn ông.
- Dạ cũng không thấy. Giờ đó chỉ còn người phục vụ. Mọi người ngủ cả rồi.
- Nhưng mà em còn nhìn thấy người phụ trách toa tàu?
- Dạ có.
- Anh chàng đang làm gì?
- Em thấy gã từ bên trong một buồng ngủ bước ra ngoài?
- Thế nào? ông Bouc nhoài người ra phía trước - Buồng số mấy?
Nàng Hildegarde Schmidt có vẻ kinh sợ, còn ông Poirot nhìn về phía ông bạn mình như trách móc.
- Chuyện thường ngày - ông nói - Người phụ trách toa có nhiệm vụ nghe chuông gọi hành khách có việc cần trong đêm. Em còn nhớ buồng số mấy gọi?
- Buồng ở khoảng giữa toa, thưa ngài. Cách buồng công chúa hai ba chỗ gì đó.
- Ồ! Em nói cho mọi người nghe chỗ nào, có việc gì lạ không?
- Anh chàng lao về hướng em đang đi tới, thưa Ngài. Đó là lúc em từ trong buồng bước ra mang tấm chăn đến cho bà công chúa.
- Và lúc đó suýt nữa gã đụng nhầm vô người em? Gã nhắm hướng nào đi tới?
- Hướng em đang đi, thưa Ngài. Gã xin lỗi rồi theo dãy hành lang tới chỗ toa hàng ăn. Chợt có tiếng chuông gọi và không biết gã có chạy lại nơi đó không?
Nàng dừng lại rồi kể tiếp.
- Em không biết là chuyện gì.
Ông Poirot nói vẻ tự tin.
- Đó là chuyện giờ giấc trên tàu - ông nói - Sinh hoạt thường ngày vậy thôi. Anh chàng phụ trách toa tất bật suốt cả đêm đánh thức em dậy xong rồi gã còn đến buồng khác nữa.
- Không phải anh chàng phụ trách toa đến gọi em thức dậy, thưa Ngài. Người này khác.
- Thế à, người khác? Em có nhìn thấy hắn bao giờ chưa?
- Dạ chưa.
- Ồ, vậy thì em có cho là sẽ nhận ra hắn ngay nếu đã nhìn thấy qua một lần?
- Dạ, em cũng cho là vậy.
Poirot ghé vô tai ông Bouc nói khẽ, ông đứng ngay dậy bước ra cửa gọi nhân viên đến.
Còn ông Poirot tiếp tục cuộc thẩm vấn thân mật cởi mở.
- Cô em đã từng qua Mỹ lần nào chưa, Hildegarde Schmidt?
- Dạ không. Nước Mỹ đẹp lắm thì phải.
- Em mới nghe kể lại chưa? Lai lịch nạn nhân là ai? Chính gã đã gây ra cái chết một đứa bé gái.
- Dạ, em có nghe kể. Thật ghê tởm và khiếp đảm. Trời không dung tha mấy chuyện đó. Ở nước Đức chưa từng có việc như vậy.
Nước mắt nàng rưng rưng. Phải chăng đó là nước mắt tình mẫu tử.
- Một vụ án người người căm giận - giọng ông Poirot gay gắt.
Ông lôi trong túi ra một mẩu vải mỏng đưa cho nàng xem.
- Đây có phải là khăn mù soa của em, Frau Schmidt?
Nàng lặng lẽ ngắm nhìn. Một thoáng qua nhanh, nàng ngước nhìn. Vẻ mặt nàng có khác đôi chút.
- Ồ! Khăn này không phải của em, thưa Ngài
- Có thêu một chữ H, đây này. Ta phải nghĩ là của em thôi.
- Ồ, thưa Ngài, chiếc khăn tay của một bà nào đó. Một loại hàng đắt tiền. Kiểu chữ thêu tay. Em biết là hàng mua ở Paris
- Không phải của em, và em cũng không biết là của ai?
- Của em sao? Ô, thưa Ngài, không đâu.
Trong ba vị khách chỉ mỗi ông Poirot đoán ra được vẻ ngập ngừng trong câu nói.
Ông Bouc nói như để Poirot vừa đủ nghe. Poirot gật, ông nhìn về phía người hầu.
- Ba nhân viên phụ trách toa đã đến. Em cứ nói ra cho chúng tôi biết ai là người em nhìn thấy tối qua lúc mang chăn đắp đến cho bà công chúa.
Ba nhân viên bước vô trong. Người đầu tiên là Pierre Michel, cao lớn tóc vàng phụ trách toa tàu Athens Paris, và một người phục trách toa Bucharest cao lớn lực lưỡng.
Nàng Hildegarde Schmidt nhìn qua một lượt rồi lắc đầu.
- Thưa Ngài, không phải - nàng vừa nói - Không phải mấy người này.
- Chỉ có bấy nhiêu người phụ trách toa mà thôi. Vậy là em đã nói sai.
- Em cam đoan, không sai, thưa ngài. Người đâu mà cao lớn dữ vậy. Em chỉ trông thấy một người vóc dáng thấp đậm. Gã có để ria mép. Em nghe gã nói xin lỗi, giọng the thé như lại cái. Em cam đoan nhớ rõ lắm mà, thưa Ngài.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương MƯỜI BA
TÓM TẮT LỜI KHAI NGƯỜI ĐI TÀU


- Một người nhỏ thó thấp đậm nói giọng the thé - ông Bouc vừa kể lể.
Ba nhân viên phụ trách toa và nàng Hildegarde Schmidt lui ra ngoài.
Ông Bouc có vẻ chán nản.
- Vậy mà tôi chẳng hiểu gì hết, chuyện chẳng ra gì! Hung thủ được Ratchett nhắc tới hiện đang còn ở trên tàu này sao? Hắn trốn ở đâu? Hắn đã cao chạy xa bay rồi chăng? Tôi điên cả cái đầu. Này ông bạn mình, tôi van nài ông nói đi. Ông làm ơn mách bảo giùm, tôi biến cái không thành cái có, được mà.
- Một ý kiến nghe hay đấy - Poirot nói - Cái không thể có thì chưa thấy, tuy vậy cái không thể lại hóa ra cái có thể dù ta không tin là có thực.
- Vậy ông mau mau kể ra chuyện gì xảy ra trên tàu tối qua?
- Tôi có phải phù thủy hóa phép được đâu, ông bạn. Tôi cũng như ông thôi, cũng đang điên cái đầu đây. Toàn bộ câu chuyện diễn biến thật kỳ quặc.
- Có diễn biến gì khác hơn đâu. Nó còn ì ra đấy.
Poirot lắc đầu.
- Không, ông nói không trúng vô đâu cả. Ta đã đi một bước dài, ta nắm vững đầu mối vụ án. Có được nhiều bằng chứng từ hành khách đi tàu.
- Mấy việc đó có giúp gì được. Chẳng được gì.
- Không tôi không nói như vậy đâu, ông bạn.
- Tôi phóng đại ra đó. Một người Mỹ là Hardman và một người hầu Đức, thế đó, đã cho ta biết khá nhiều manh mối. Phải nói là, bấy nhiêu bằng chứng đó khiến cho vụ án càng rắc rối hơn.
- Không, không, không phải vậy - Poirot nói cho ông bạn yên tâm.
Ông Bouc quay lại nhìn.
- Thì ông cứ nói hết cho mọi người biết là nhà trinh thám tài ba Hercule Poirot đây.
- Hẳn ông còn nhớ tôi đã nói là tôi cũng điên đầu như ông. Dù sao ta vẫn còn đối mặt được với sự việc xảy ra. Ta nên sắp sếp các manh mối có đầu đuôi lớp lang.
- Tôi van ông nói ra hết đi - bác sĩ Constantine nài nỉ.
Poirot đằng hắng, ông lấy tay vuốt thẳng một mẩu giấy thấm.
- Ta rà soát lại vụ án từ đầu một lần nữa. Trước tiên, ta tìm ra manh mối xác thực. Nạn nhân Ratchett còn có một cái tên khác là Cassetti bị đâm tới mười hai nhát dao, vừa chết tối hôm qua. Đó là manh mối đầu tiên.
- Tôi đồng ý với ông, tôi đồng ý, ông bạn - ông Bouc mỉa mai nói một hơi.
Poirot cứ điềm nhiên thong thả nói tiếp.
- Tôi sẽ không lập lại một số chi tiết mà trước đó Bác sĩ Constantine và tôi đã làm việc. Tôi sẽ nói sau. Manh mối được nói tới nữa là thời điểm xảy ra vụ án.
- Ông cứ nhắc lại việc mọi người đều biết cả rồi - ông Bouc nói - Vụ án xảy ra đúng một giờ mười lăm phút sáng nay. Ta có đủ bằng chứng để xác nhận là hoàn toàn đúng.
- Không phải đủ các bằng chứng. Ông nói hơi quá. Dĩ nhiên ta có đủ một số bằng chứng nhằm bảo vệ quan điểm vừa nêu.
- Tôi hài lòng cách nhìn nhận sự việc của ông.
Poirot bình thản nói tiếp.
- Trước mắt ta có đủ ba điều kiện cần.
- Một: vụ án xảy ra đúng như ông suy đoán lúc một giờ mười lăm. Nó được củng cố từ bằng chứng của người hầu Đức, Hildegarde Schmidt. Hoàn toàn phù hợp với bằng chứng do Bác Sĩ Constantine cung cấp từ chiếc đồng hồ không ăn khớp.
“Hai: thời điểm vụ án xảy ra trễ hơn, bằng chứng từ chiếc đồng hồ không ăn khớp.
“Ba: thời điểm vụ án xảy ra sớm hơn dự đoán nên bằng chứng vừa nêu cũng không đủ sức thuyết phục.
“Vậy thì ta nên chọn điều kiện cần thứ nhất bởi có nhiều khả năng hơn, có thể đứng vững hơn và còn phải dựa vô một vài manh mối bên trong đó nữa. Bây giờ ta trở lại từ đầu, nếu vụ án xảy ra đúng một giờ mười lăm, thủ phạm không thể trốn thoát khỏi tàu, câu hỏi nêu ra: Thủ phạm đang ở chỗ nào? Hắn là ai?
“Trước tiên ta kiểm tra bằng chứng thật kỹ. Ta nghe nói còn có một kẻ tình nghi, vóc người thấp đậm, giọng nói the thé, do nhân chứng Hardman khai. Lão kể lại Ratchett nhờ lão theo dõi kẻ lạ mặt. Lời khai của lão thiếu cơ sở làm bằng chứng. Ta chỉ nghe lão kể lại vậy thôi. Ta tiếp tục xét đến việc: có phải Hardman giả vờ đóng vai làm một người khác, một thám tử tư của hãng Thám tử New York?
“Trong vu này điều khiến tôi quan tâm nhất là chúng ta thiếu liên lại với ngành cảnh sát. Ta không thể nào khai thác được lòng nhiệt tình của tất cả hành khách đi tàu. Do đó ta chỉ ước đoán mà thôi. Vấn đề như vậy cần phải được quan tâm nhiều hơn. Bởi đó không phải là việc lập đi lập lại, mà phải hiểu một việc là cần vận dụng trí tuệ. Tôi nghĩ như thế này: Ta có nên tin vô lời khai của lão Hardman? Tôi tự quyết định và đưa ra lời giải đáp 'CÓ'. Tôi nghĩ chúng ta có thể chấp nhận lời khai của lão Hardman là đúng.-
- Bởi ông dựa vô thiên tư của một nhà trinh thám, người Mỹ gọi đó là sự dự cảm phải vậy không? - Bác sĩ Constantine nói.
- Không thể khái quát như vậy được. Tôi căn cứ vô sự kiện ước đoán. Lão Hardman sử dụng giấy thông hành giả mạo, bấy nhiêu đó khiến lão bị tình nghi. Lúc cảnh sát được phái đến, việc trước mắt là cần bắt giữ ngay Hardman, điện báo về nơi gốc gác của lão, truy tầm lai lịch. Trường hợp có nhiều hành khách được mời thẩm vấn khó nhận ra được người nào nhiệt tình khai báo, vậy thì ta không cần phải xoay sở mọi cách nếu không thấy có dấu hiệu khả nghi. Trong vụ Hardman tình tiết dễ nhận ra hơn. Dù lão có khai thật hay gian dối, tôi có thể khẳng định việc đâu còn đó.
- Vậy là ông không còn nghi ngờ lão?
- Không hắn là vậy. Ông chưa hiểu ý tôi. Theo tôi biết thì bất cứ một nhà thám tử Mỹ nào cũng có lý lẽ riêng của mình để giết chết Ratchett. Không, điều mà tôi muốn nói là chúng ta có thể chứng thực lời khai của chính lão. Lão kể lại Ratchett gặp lão và thuê mướn làm việc riêng, là chuyện có thể tin được, dù chưa chắc là một lời khai đúng sự thật. Nếu đã tin là đúng, ta nên xét lại lấy gì làm bằng.
“Ta lại thấy một điểm vô lý nữa đó là bằng chứng của nàng Hildegarde Schmidt. Nàng thuật lại nhìn thấy kẻ lạ mặt trong bộ đồng phục nhân viên phụ trách toa giường nằm ăn khớp với lời khai. Giữa hai lời khai có gì làm bằng chứng? Có đấy. Đấy là chiếc nút áo bộ đồng phục bà Hubbard nhặt được bên trong buồng bà ta. Và đây lại thêm một bằng chứng xác thực mà ông quên không đề cập.
- Thế là thế nào?
- Bằng chứng là cả hai người, Ngài Đại tá Arbuthnot và Hector MacQueen đều khai nhìn thấy người phụ trách toa đi ngang qua ngoài cửa. Chuyện đó không giúp gì thêm dược để củng cố bằng chứng. Mà này thưa quý vị, gã Pierre Michel khai là hắn không hề rời khỏi chỗ trừ khi có việc cấp bách, gã không đi qua tới cuối dãy toa ngang qua chỗ ở của Arbuthnot và MacQueen.
“Vậy thì chuyện một gã có vóc dáng thấp đậm, giọng nói the thé mặc bộ đồng phục nhân viên phụ trách toa giường nằm còn phải chờ thêm lời khai - thật thà hay quanh co - từ bốn nhân chứng.
- Thêm một điểm nữa - bác sĩ Constantine nói - Nếu lời khai của nàng Hildegarde Schmidt là đúng hoàn toàn, làm thế nào người phụ trách toa lúc đó không chịu nói ra có nhìn thấy nàng lúc gã chạy đến nơi vừa có chuông gọi ở buồng ngủ của bà Hubbard.
Ông Bouc kiên nhẫn ngồi chờ cho hết cuộc đối thoại.
- Phải đó, ông bạn - ông Bouc nóng lòng nói với Poirot - Tôi vẫn khâm phục sự kiên trì của ông, cho dù lối làm việc theo từng bước lần tới, tôi nhận thấy là ông chưa nắm vững vấn đề đang tranh luận. Tất cả chúng ta thừa nhận kẻ lạ mặt là có thực. Vấn đề đặt ra là hắn đang ở đâu?
Poirot lắc đầu vẻ trách móc.
- Ông mắc một sai lầm. Ông đem cày đặt trước mũi con trâu. Trước khi muốn nói: Gã lạ mặt này biến đi đâu mất? Tôi tự nghĩ trong đầu: Liệu gã có phải là một người bằng xương bằng thịt. Bởi, như ông biết đó, nếu ta bịa ra có gã - một sản phẩm của trí tưởng tượng - thì cũng dễ để cho gã biến mất! Vậy nên tôi cố tạo ra một người có thật bằng xương bằng thịt hẳn hoi.
- Để có được một chuyện thật như vậy. Mà này, gã biến đi đâu rồi?
- Có hai cách trả lời, ông bạn. Một là gã còn lẩn trốn một chỗ trên tàu, không ai có thể ngờ tới được hoặc chính gã chính là người hai mặt. Nghĩa là gã có đủ hai con người - một nửa khiến cho Ratchett phải khiếp sợ- còn một nửa kia, người khách đáp tàu khéo léo hóa trang đổi lốt đến nỗi Ratchett nhìn không ra.
- Có ý kiến cho là - ông Bouc nói, vẻ mặt rạng rỡ. Chợt mặt ông sa sầm xuống - Còn một ý kiến phán đối.
Poirot nói ra ngay.
- Khổ người của gã. Ý ông muốn nói vậy chứ gì? Không tính người hầu của Ratchett, hắn nhỏ con, những khách đi tàu người nào cũng to con: một người Ý, Đại tá Arbuthnot, Hector MacQueen, Bá tước Andrenyi. Vậy thì, chỉ còn anh chàng hầu phòng - không thể gán đơn thuần một giả thiết. Còn một khả năng nữa. Ta nên nhớ lại giọng nói the thé. Đó cũng là một hướng giải quyết. Gã có thể cái trang làm một người nữ, hoặc nói ngược lại chính hắn mới thực sự là một người nữ. Một người nữ cao lớn khi ăn mặc cái trang làm một người nam thấy nó nhỏ hẳn lại.
- Vậy chắc là Ratchett phải biết.
- Không chừng ông ta đã biết rồi. Có thể người nữ này định ám hại ông nên cải trang làm một nam nhân thật khéo để thực hiện ý đồ. Ratchett đoán là người này còn tiếp tục thi hành thủ đoạn nên đã báo cho lão Hirdman theo dõi kẻ lạ mặt đó. Và ông ta cũng nói trước là hắn có giọng nói the thé như người lại cái.
- Có thể lắm chứ - ông Bouc nói. Nhưng mà...
- ông lắng nghe tôi kể lại một số điểm mâu thuẫn mà Bác sĩ Constantine vừa nêu.
Ông kể tỉ mỉ các chi tiết trong vết thương nạn nhân mà giữa ông và Bác sĩ Constantine đã thảo luận qua.
Ông Bouc càu nhàu ngẩng cao đầu.
- Tôi biết mà - Poirot nói giọng thông cảm - Tôi biết ông nghĩ gì rồi. Trí óc ông đang quay cuồng, phải vậy không?
- Chuyện lạ đời - ông Bouc nói lớn tiếng.
- Đúng rồi. Thật phi lý, mong manh, không lấy gì làm chắc. Chính tôi phải nói ra điều đó. Và bây giờ, ông bạn đây này! Đừng cô hòng tránh né sự thật
- Thật điên rồ!
- Vậy sao? Điên thật, ông bạn à, vậy mà có lúc tôi bị ám ảnh bởi một chuyện tưởng là đơn giản.
- Nhưng đó chỉ là một vài ý tưởng rời rạc...
- Có đến hai thủ phạm - ông Bouc nói lầm bầm trong miệng - Và ngay trên con tàu tốc hành phương đông này.
Nghĩ đến đó ông ứa nước mắt.
- Thôi thì cứ thêu dệt cho câu chuyện nó ly kỳ hơn - Poirot nói đùa - Vậy là đêm qua có hai kẻ lạ mặt xuất quỷ nhập thần trên tàu. Một là người phụ trách toa giường nằm theo lời khai đã nhìn thấy lão Hardman, đến cô nàng Hildegarde Schmidt, Ngài Đại tá Arbuthnot và anh chàng MacQueen. Còn thêm một bà mặc áo kimônô đỏ thắm, dáng người cao gầy dựa theo lời khai của gã Pietre Michel và cô nàng Debenham, kể cả tôi, anh chàng MacQueen và kỳ lạ hơn nữa Ngài Đại tá đã ngửi thấy một mùi hương thoang thoảng! Bà là ai? Hành khách đáp không có ai mặc áo kimônô đỏ. Và chính người lạ mặt này cũng biến mất. Có phải tên phụ trách toa giả trang và người đàn bà lạ mặt này là một? Hoặc bà là một nhân vật khác thường? Bây giờ cả hai ở chỗ nào? Còn bộ đồng phục và chiếc áo kimônô đỏ thắm từ đâu ra?
- Ồ! Chuyện đã rõ phần nào - ông Bouc chợt đứng phắt ngay dậy, vẻ nôn nóng - Ta cho lục soát tất cả hành lý trên tàu. Đấy, may ra mới giải quyết được.
Poirot đứng dậy theo.
- Tôi sẽ đoán ra được ngay - Poirot vừa nói.
- Vậy ông biết ở chỗ nào?
- Tôi Có một ý kiến thế này.
- Vậy là đâu?
- Ông cứ tìm cho ra chiếc áo kimônô màu đỏ thắm, trong hành lý của một gã nào đó thì ông sẽ thấy ngay bộ đồng phục của người phụ trách toa nằm trong hành lý của cô nàng Hildegarde Schmidt.
- Hildegarde Schmidt à? Ông cho là...?
- Không phải chuyện ông đang nghĩ trong đầu. Tôi giả định nó là như vậy. Nếu thủ phạm chính là Hildegarde Schmidt ta sẽ tìm thấy là đồng phục trong hành lý cô nàng; còn nếu nàng vô tội thì lại càng chắc hơn.
- Nhưng mà làm thế nào? - ông Bouc vừa nói chợt khựng lại.
- Có tiếng ồn kia kìa - ông chợt la - hình như là đầu máy tàu đang khởi động.
Tiếng ồn nghe càng rõ hơn. Nó như là tiếng gào thét nhức cả tai từ miệng một bà nào đó. Chợt cách cửa cuối toa hàng ăn mở toang, bà Hubbard bước vô.
- Khiếp quá - bà thét to - Thật khủng khiếp. Trong túi xách du lịch. Cái túi xách du lịch. Một con dao to, dính đầy máu.
Bỗng dưng toàn thân bà đổ sụp, ngất xỉu ngay trên vai ông Bouc.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương MƯỜI BỐN
TANG VẬT THU NHẶT ĐƯỢC


Ông Bouc ráng hết sức dìu bà khách đang ngất xỉu đến chiếc bàn gần đó, đặt nằm đầu ngẩng cao. Bác sĩ Constantine cất tiếng gọi mấy người phục vụ đến ngay.
- Giữ đầu cho thẳng - Bác sĩ dặn dò - Nếu bà tỉnh lại cho uống một chút rượu congnac. Nghe rõ chưa?
Ông lao nhanh về phía hai ông bạn kia. Điều làm cho ông bận tâm lúc này là vụ án, chứ không phải là nạn nhân vừa bị ngất xỉu ban nãy.
Bà Hubbard hồi tỉnh lại rất mau. Mới có vài phút bà ngồi dậy được, nhấp mấy ngụm rượu cognac từ tay người phục vụ mang đến, bà nói ngay.
- Tôi không thể nói ra cho hết cái hình ảnh ghê gớm đó. Tôi không nghĩ còn có ai trên tàu hiểu được tâm trạng của tôi. Từ nhỏ tôi đã là một đứa bé rất rất là yếu bóng vía. Chỉ thoáng thấy vết máu - ôi, gớm quá nghĩ đến đó là thấy đầu choáng váng.
Người phục vụ mang đến một ly rượu nữa.
- Bà dùng thêm nữa nhé.
- Anh thấy tôi khá lại chưa? Từ lâu tôi đã cai rượu, không đụng tới một giọt rượu. Cả nhà tôi ai cũng kiêng rượu. Nhưng lúc này là một vị thuốc.
Bà nôi xong hớp một ngụm nữa.
Ngay lúc này Bác sĩ Constantine cũng bám sát theo hai người. Poirot và ông Bouc đang vội vã bước ra khỏi toa hàng ăn đi dọc theo hành lang đến ngay buồng của bà Hubbard.
Tất cả khách đi tàu bu lại đông nghẹt ngoài cửa.
Người phụ trách toa nhìn về phía họ vẻ cau có và mọi người lui vô trong.
- Có gì đâu mà nhìn ngó - gã nói, và còn dịch lại ra nhiều thứ tiếng nước ngoài khác.
- Cho tôi đi nhờ - giọng ông Bouc vừa nói.
Lách mình qua đám đông, ông bước vô bên trong, Poirot bước theo sau.
- Quý vị đến vừa kịp lúc, may quá - người phụ trách toa thở ra một hơi - Mọi người chen lấn tràn vô. Bà khách người Mỹ đó, miệng gào thét quá vậy. Tôi cũng tưởng bà bị giết chết! Tôi nghe tiếng thì chạy lại ngay nghe bà gào thét như điên dại là đòi được gặp ông cho bằng được thế là bà lao ra ngoài hò hét cho mọi người nghe thấy có việc như vậy.
Gã giơ tay ra dấu rồi nói tiếp.
- Cái đó nằm trung này. Tôi không dám đụng.
Cái túi xách du lịch còn treo ở tay nắm cửa buồng ngủ. Dưới sàn nơi bà Hubbard vừa làm rớt xuống là một con dao găm lưỡi thẳng, loại giả, rẻ tiền, cán dao có chạm hình một mũi dao thon nhọn. Nhìn kỹ lưỡi dao có dấu gỉ sét.
Ông Poirot lấy tay khẽ nhấc xem.
- Đúng rồi - ông nói thầm - Ta không nhầm đâu. Đây là loại hung khí ta đã để thất lạc, phải không ông bác sĩ?
Bác sĩ nhìn xem thật kỹ.
- Chẳng cần phải xem kỹ như vậy - Poirot nói - Không có dấu tay lạ khác hơn dấu tay bà Hubbard.
Bác sĩ Constantine xem qua vậy thôi.
- Đây là một hung khí - ông vừa nói - Nó đã gây ra bao nhiêu vết thương.
- Tôi van ông đừng nói như vậy, ông bạn.
Bác sĩ kinh ngạc nhìn người bạn mình.
- Biết bao nhiêu sự trùng hợp đã xảy ra. Bằng chứng là đêm qua có hai kẻ lạ mặt đòi giết ông Ratchett. Như vậy bọn chúng phải chọn hai hung khí giống hệt nhau. Nếu như vậy thì sự trùng hợp có chăng nữa cũng không sao - Bác sĩ Constantine vừa nói - Có nhiều loại dao găm giả xuất xứ từ các nước Đông phương được nhập vô bày bán ở mấy cửa hiệu bên Constantinople.
- Ông nói vậy như xoa dịu tôi phần nào - Poirot nói.
Ông đứng đó nhìn chăm chăm về phía cửa bên kia, chợt ông giơ tay nhấc cái túi du lịch, rồi vặn núm cửa, không thấy nhúc nhích. Phía trên đã cài then. Poirot kéo then cài mở cửa lại, cửa vẫn đóng cứng ngắt.
- Ta đã khép bên trong, ông nhớ chứ? - ông Bác sĩ nhắc lại.
- Đúng rồi - Poirot nói vu vơ. Ông đang nghĩ ngợi chuyện khác, nhíu mày lo ra.
- Đúng rồi, phải vậy không? - ông Bouc hỏi lại - Một kẻ lạ mặt đi ngang qua đây. Lúc đóng cửa hắn nhớ còn cái túi xách bên ngoài. Hắn chợt nhớ rồi đút giấu con dao còn dính máu vô trong túi xách. Vậy là, vô tình hắn đánh thức bà Hubbard dậy, hắn chuồn lẹ qua cửa bên kia phóng ra ngoài hành lang.
- Vậy là theo lời ông - Poirot vừa nói lầm bầm trong miệng - Làm thế nào có chuyện như vậy được?
Vẻ mặt ông còn nét băn khoăn.
- Thế là thế nào? - ông Bouc chợt hỏi - ông có việc chưa hài lòng?
Poirot liếc nhìn về phía ông ta.
- Cũng một việc đó không khiến ông ngạc nhiên sao? Không, chắc không. Vậy đó chỉ là chuyện nhỏ.
Người phụ trách toa nhìn vô bên trong buồng.
- Bà khách người Mỹ đang quay lại.
Bác sĩ Constantine tự cảm thấy mình có lỗi. Ông chi làm nghĩa vụ như một hiệp sĩ cứu người. Bà chẳng trách. Bà đang tập trung sức lực cho một việc khác.
- Tôi cần phải nói ngay lúc này - bà vừa thở hổn hển vừa nói ngay trước thềm cửa - Tôi không còn ở lại đây bao lâu nữa! Quý vị sẽ hỏi tại sao, cho dù có thưởng một triệu đô la tôi cũng không dám ngủ lại.
- Nhưng, thưa bà…
- Tôi đoán quý vị sẽ nói gì rồi, nên phải nói ra trước, tôi sẽ không ngủ lại! Sao vậy, tôi sẽ ngồi suốt đêm ở bên ngoài hành lang.
Chợt bà bật ra tiếng khóc.
- Ồ! Giá mà con gái tôi biết được chuyện này! Giá mà nó còn nhìn thấy tôi, sao...
Ông Poirot cắt ngang.
- Bà hiểu nhầm chúng tôi, thưa bà. Những điều bà vừa trình bày thật xác đáng. Chúng tôi sẽ chuyển hành lý qua buồng khác.
Bà Hubbard bỏ khăn mù soa xuống.
- Vậy à? Ồ vậy thì tôi sẽ yên tâm. Nhưng phải bảo đảm nếu không thì nhỡ có ai…
Ông Bouc nói ngay.
- Hành lý của bà sẽ chuyển hết một lần qua toa mới, ở một buồng khác chạy đến ga Belgrade.
- Sao, vậy thì hay quá. Tôi không thể là một người bị quấy nhiễu như vậy được, nhưng ngủ lại đây gần một bên người chết - Bà rùng mình - Tôi sẽ phát điên mất.
- Này Michel - ông Bouc vừa cất tiếng gọi - Chuyển tất cả hành lý này qua buồng ở bên toa tàu Athen-Paris ngay.
- Dạ, thưa ngài, cùng một số thứ tự, buồng số 3?
- Không phải - Poirot chặn ngang không để ông bạn kịp nói - Tôi nghĩ lại nên bố trí cho bà một buồng khác, như buồng số 12 kia.
- Dạ được, thưa ngài.
Người phụ trách toa nhấc hành lý trên tay, bà Hubbard quay lại nhìn ông Poirot biết ơn lắm.
- Ông thật là tử tế quá, tôi cám ơn ông, ông hiểu cho.
- Bà nói thật vậy à, thưa bà. Chúng tôi sẽ lo cho bà đến nơi đến chốn.
Ba vị khách đi cùng với bà Hubbard qua chỗ ở mới.
Bà nhìn mụ người, vẻ tự hào.
- Thế thì tuyệt vời.
- Bà yên chí nhé. Bà qua ở lại chỗ mới chẳng khác gì chỗ cũ.
- Vậy à? Chắc quay ra hướng khác. Chẳng sao, tàu chạy một chiều nối đuôi. Tôi cho con gái nó hay mẹ ở buồng đối diện đầu máy tàu, nó sẽ bảo: «Sao, mẹ, vậy thì hợp với mẹ, mẹ đi ngủ đầu này, lúc thức dậy tàu chạy đầu kia». Vậy là nó nói đúng. Sao kia, tối qua ta đang tới Belgrade đầu này còn đầu kia trở lui.
- Dù sao thì lúc này đây, bà được yên tâm hơn chứ?
- Ồ, không đâu, tôi muốn nói là ta đang mắc kẹt giữa đồng tuyết trắng, không có ai xoay sở được, chuyến tàu tôi đăng ký sẽ nhổ neo ngày mốt.
- Thưa bà - ông Bouc nói - ta cùng chịu chung một số phận, ai cũng như nhau.
- Ồ phải đấy - bà Hubbard cũng nghĩ như ông - Nhưng mà ngoài tôi ra không có ai nhìn thấy thủ phạm băng ngang qua buồng tôi đang ngủ lúc giữa đêm.
- Điều khiến tôi còn chưa hiểu được, thưa bà - ông Poirot nói - Đó là làm thế nào hung thủ lẻn vô buồng trong khi đó cửa ăn thông hai bên đã cài then chặt như lời bà khai. Bà cớ chắc cửa đã cài chốt lại rồi?
- Sao vậy, bà khách người Thụy Điển đã xem kỹ một lần nữa trước mắt tôi mà.
- Ta thử dựng lại hiện trường thu hẹp này xem sao. Bà đang nằm trên giường, thế đấy, bà chẳng thể nào nhìn thấy, theo đúng lời khai?
- Không, cũng vì cái túi xách du lịch. Ôi, trời, tôi phải sắm một cái mới. Nhìn thấy cái trước tôi muốn buồn nôn.
Ông Poirot dời cái túi xách du lịch qua treo bên trên núm cửa ăn thông đến toa sau.
- Đứng ngay chỗ đó, tôi đã nghĩ ra - ông vừa nói - Chốt then cài sát dưới tay nắm cửa, cái túi xách du lịch che khuất mất. Nằm trên giường bà không thể nhìn thấy dù cái then đã gài hay tháo ra.
- Sao vậy, chuyện đó tôi đã kể lại quý vị nghe rồi.
- Còn người khách Thụy Điển, nàng Ohlsson thì đứng ở khoảng cách giữa chỗ nằm tới cánh cửa. Nàng nắm thử rồi báo lại cửa đã cài chốt cứng.
- Dạ phải.
- Vậy thì, thưa bà, cô nàng cũng có lúc nhầm lẫn. Bà hiểu ý tôi nói chứ - Poirot phải khó khăn lắm mới giải thích rõ.
- Cái chốt cửa chỉ là một thanh sắt, vậy đó. Bật qua bên phải, chốt cài lại, bật qua bên trái, mở ra. Có thể lúc đó cô nàng thử nắm giật cửa, bên kia đã khóa nên tin chắc bên này cũng khoá.
- Ồ, vậy thì cô nàng này thật ngớ ngẩn.
- Thưa bà, người tử tế hiền lành thường ít khi lanh lợi.
- Vậy đó.
- Dù sao, thưa bà tôi muốn biết là bà đi du lịch qua Smyma chỉ mang theo có bấy nhiêu đó?
- Không, tôi đi theo tuyến Istamboul còn người quen của con gái tôi, anh chàng Johnson tử tế, dễ thương tôi sẽ giới thiệu ông sau, sẽ đón và hướng dẫn tôi tham quan Istamboul, một đô thị chẳng ra gì, tất cả chỉ là một đống đổ nát. Còn những ngôi thánh đường Hồi giáo kiavà chân mang giày dẫm đạp đống gạch vụn, nơi đó là đâu?
- Bà vừa nói là anh chàng Johnson sẽ ra đón tiếp bà.
- Dạ phải, hắn sẽ đón tôi trên tàu của hãng tàu biển Pháp cập bến Smyma, còn chồng nó chờ tôi trên bến cảng. Hắn nghĩ sao lúc nghe tôi kể lại câu chuyện trên tàu đêm qua. Con gái tôi nó bảo đó một cách tưởng tượng tốt nhất. 'Mẹ vẫn ngồi trong toa tàu,' nó mở đầu, 'đùng một cái tới bến Pamls có tàu Américan Express đón mẹ. Vậy là con ơi, làm sao mẹ báo cho kịp cho mọi người. Bây giờ chưa tính chuyện đó được. Khiếp quá!.
Bà Hubbard lại rưng rưng nước mắt.
Poirot cũng đang bối rối chụp ngay cơ hội.
- Bà đang sốc, thưa bà, lát nữa đây người phục vụ sẽ mang trà và bánh ngọt đến.
- Tôi lại không thích trà - Bà Hubbard rưng rưng nước mắt nói - Đúng là thói quen dân Ăng-lê.
- Vậy bà dùng cà phê. Bà cần uống một ly rượu cho khỏe.
- Uống cognac lại khiến tôi điên đầu. Thôi cho tôi một ly cà phê.
- Tuyệt. Bà sẽ tỉnh lại ngay.
- Trời ơi, kỳ lạ vậy sao.
- Trước hết, thưa bà một việc thường lệ. Bà cho phép khám xét hành lý?
- Để làm gì?
- Chúng tôi đang tiến hành khám xét hành lý tất cả khách đi tàu. Tôi không muốn để cho bà lại khó chịu vì chuyện cái túi xách du lịch vừa rồi.
- Trời ơi! Có lẽ ông đừng nên! Tôi không chịu nổi cái cảnh đó.
Cuộc khám xét rất nhanh. Bà Hubbard chỉ mang theo rất ít hành lý: một hộp đựng nón, một chiếc va li rẻ tiền, một túi hành lý đựng đủ món. Toàn bộ hành lý gọn gàng, cuộc khám xét không đầy vài phút nếu bà Hubbard không để chậm trễ, bà khoe mấy tấm ảnh chụp - con gái tôi- và hai đứa trẻ - kháu khỉnh - cháu ngoại tôi đấy- Trông bọn chúng dễ thương lắm chứ?
Đăng nhập để trả lời
0
Chương MƯỜI LĂM
TANG VẬT TRONG HÀNH LÝ KHÁCH ĐI TÀU


Dù có ý định lấy cớ nhiều lần và gọi người mang cà phê đến cho bà Hubbard, ông Poirot mới có thể ra ngoài đi cùng với hai người bạn đồng hành.
- Vậy là chúng ta chỉ toi công - ông Bouc nhắc nhở mọi người - Bây giờ đến lượt người nào?
- Dễ thôi, ta đi kiểm tra từng toa một. Trước tiên toa số 16, lão Hardman tử tế.
Lão Hardman miệng ngậm điếu xì gà niềm nở đón tiếp các vị khách.
- Mời quý vị bước vô trong, bạn mình với nhau cả. Hơi chật một chút đấy nhé.
ông Bouc phân bua lý do ghé lại đây, và nhà trinh thám tài ba gật đầu thông cảm.
- Được rồi mà. Nói thật, quý vị không lo làm nhanh cho xong. Chìa khóa đây, thưa quý vị nếu cần lục soát trong túi. Để tôi đỡ cái túi xách xuống giùm cho.
- Có người phụ trách đây. Này Michel.
Hai túi xách của lão Hardman được khám xét trước. Chỉ toàn là rượu. lão Hardman lim dim mắt.
- Qua biên giới cũng không có ai khám xét hành lý. Dù có lo lót nhân viên phụ trách toa. Nếu cần, dúi cho mớ tiền. Thế là xong ngay.
- Còn tới Paris thì thế nào?
Lão Hardman lại lim dim mắt.
- Lúc tàu ghé Paris - lão nói - Tôi cho nó vô chai dán nhãn hiệu ghi bên ngoài là dầu gội.
- Ông không tuân theo lệnh cấm rượu sao, ông Hardman - ông Bouc vừa hỏi vừa cười.
- Có - lão Hardman đáp - Tôi không dám nói là không tôn trọng luật lệ cấm rượu.
- Ồ - ông Bouc chợt cất tiếng - Dân buôn rượu lậu - ông nói chậm rãi từ tốn.
- Người Mỹ nói chữ hiểu ra được nhiều nghĩa, lạ tai - lão nói theo.
- Tôi à, tôi cũng muốn qua Mỹ - ông Poirot nói.
- Ông sẽ thấy được cái lối làm ăn táo bạo bên đó - Hardman nói - Cần phải đánh thức Châu âu dậy. Một vùng đất đang còn ngái ngủ.-
- Nước Mỹ là một nước đi đầu - ông Poirot cũng nghĩ vậy - Tôi rất khâm phục người Mỹ. Chỉ có tôi là lạc hậu, còn riêng tôi nhận thấy phụ nữ Mỹ không được duyên dáng bằng mấy nàng Ăng-lê. Còn mấy cô nàng Pháp, Bỉ hay làm dáng, dễ thương, không có ai dám đụng tới, thế đó .
Lão Hardman quay qua để mắt theo dõi lớp tuyết dày đặc ngoài kia trong chốc lát.
- Tôi nghĩ ông nói có lý, ông Poirot - lão nói - Mỗi nước người ta có sở thích về gái đẹp của họ.
Nhìn mãi lớp tuyết ngoài kia mắt lão muốn xốn.
- Mình bị chóa mắt, có phải không đây? - lão tự nghĩ - Mà thưa quý vị mấy chuyện vừa qua khiến tôi điên đầu. Nào là giết người, tuyết chặn đường, chẳng làm nên tích sự. Chỉ tốn thì giờ quanh quẩn. Ước gì có việc mà làm.
- Đó mới là tinh thần biết xoay sở của dân Tây phương - ông Poirot vừa nói vừa cười.
Người phụ trách toa xếp lại hành lý, các vị khách qua đến buồng khác.
Ngài Đại tá Arbuthnot đang ngồi ở một góc, miệng ngậm ống điếu đọc báo.
Poirot trình bày lý do. Ngài Đại tá không phản đối. Ngài chỉ có hai túi xách to bằng da.
- Tôi còn một mớ hành lý gởi tàu biển - Ngài vừa nói.
Đúng tác phong nhà binh, hành lý luôn luôn xếp gọn gàng. Mất vài phút, kiểm tra xong ngay. Poirot nhìn xem cái gói đựng cây xoi ống điếu.
- Ngài thường dùng một loại hàng này? - Poirot vừa hỏi.
- Lúc nào cũng vậy. Tôi mua được mang theo dùng -
- Ồ! - Poirot gật đầu.
Đúng là một loại hàng Poirot nhặt được trong buồng ngủ nạn nhân.
Ra đến ngoài hành lang, Bác sĩ Constantine xem lại cho rõ hơn.
- Giống y hệt - Poirot nói lầm bầm trong miệng - khó tin thật. Lối sống ông ta thường là không phải vậy, khi ông đã nói ra, ngu ý đã nói nhiều lắm rồi.
Cửa buồng kế bên khóa chặt. Buồng ngủ của Công chúa Dragomiroff. Có tiếng gõ cữa, công chúa nói vọng ra một giọng trầm:
- Xin mời vào.
Ông Bouc mở lời trước. Ông lịch sự trình bày lý do ghé qua đây.
Công chúa lặng thinh ngồi nghe, vẻ mặt xấu xí của bà như hờ hững.
- Chuyện phải nói là, thưa quý vị - Bà nói tiếp theo lời ông - Tất cả chỉ bấy nhiêu đó. Chìa khóa người hầu đang giữ và tùy quý vị sai khiến.
- Người hầu gái giữ chìa khóa như mọi khi, phải không? - Poirot chợt hỏi.
- Dạ phải.
- Vậy qua biên giới quan thuế xét hành lý, chìa khóa phải có ngay để mở chứ?
Bà công chúa khẽ nhún vai.
- Không hẳn là vậy. Đến lúc đó, thì người phụ trách toa chạy đi tìm giúp.
- Bà hoàn toàn tin tưởng người hầu, thế đó?
- Tôi đã báo cho ông rồi thì phải - bà công chúa lặng lẽ nói - Tôi không dùng người nếu thấy không tin tưởng.
- Phải đấy - Poirot vẻ trầm ngâm - Thời bây giờ chuyện tin người là trên hết. Thà dùng một người hầu thật thà hơn là mướn một người chỉ lo chưng diện, ai thể như mấy cô nàng đỏm dáng thành Paris.
Chợt ông để ý thấy đôi mắt đen láy sáng láng đảo qua một vòng rồi nhắm nghiền mắt lại.
- Này ông Poirot, ông thì nghĩ thế nào?
- Dạ thưa bà, chẳng nghĩ gì cả. Tôi ấy à? Cũng chẳng nghĩ gì.
- Nhưng đấy. Ông vừa nghĩ đến chuyện tôi mướn người giúp việc là dân Pháp lo việc trang điểm cho tôi kia mà?
- Chuyện cũng bình thường thôi, thưa Bà.
Bà Công chúa lắc đầu.
- Nàng hầu Schmidt nguyện theo tôi suốt đời, ăn ở hết lòng, thật quý hóa quá.
Người hầu gái vừa mang chìa khóa đến. Bà công chúa nói mấy câu tiếng Đức, cô nàng mở va li để các vị khách khám xét. Bà đứng ở hành lang nhìn ra ngoài trời lớp tuyết dày trắng xoá, ông Poirot đứng gần bên, còn ông Bouc lo khám xét hành lý.
Bà nhìn qua chỗ ông đứng rồi nhếch mép cười nhạt.
- Vậy ra, ông chẳng cần biết bên trong va li tôi đựng gì? - Poirot lắc đầu.
- Thưa bà đây là thủ tục phải làm.
- Ông nói chắc chưa?
- Riêng phần này thì chắc rồi.
- Đến giờ tôi vẫn còn nhớ thương Sonia Annstrong. Còn ông nghĩ thế nào? Có phải ông nghĩ tôi không thể làm bẩn tay giết chết tên bất lương Cassetti này sao? Ồ, vậy là ông nghĩ đúng.
Bà lặng thinh rồi nói tiếp.
- Đối với tên vô loại đó, ông biết tôi phải hành động như thế nào. Tôi phải cho gọi người giúp việc đến, ra lệnh: 'Quất cho nó một trận nhừ tử rồi đem quăng nó vô bãi rác'. Nếu còn là thời thanh niên tôi giải quyết như vậy đó, ông ạ.
Poirot chăm chú im lặng đứng nghe, không nói.
Bà nhìn qua ông ánh mắt sôi sục.
- Ông không nói gì sao, ông Poirot. Tôi vẫn chưa hỏi ông đang toan tính gì?
Poirot nhìn chăm chăm về phía bà công chúa.
- Thưa bà, tôi nghĩ là, sức mạnh của bà biểu lộ qua ý chí, không phải ở hai bàn tay.
Bà cúi nhìn hai cánh tay gầy guộc, đen đủi với hai bàn tay vàng vọt đeo đầy nhẫn.
- Ông nói đúng - bà đáp - Tôi không dựa vô sức mạnh ở hai tay, hoàn toàn không. Có phải vậy mà tôi phải tiếc hay nên mừng.
Chợt bà quay nhìn vô trong buồng, nàng hầu đang còn lo sắp sếp lại mớ hành lý.
Bà không để cho ông Bouc kịp nói lời xin lỗi.
- Ông không cần phải xin lỗi, thưa ông - Bà vừa nói - Vụ án đang còn đấy. Dù đã có theo dõi điều tra. Tất cả chỉ có vậy.
- Bà tử tế quá, thưa công chúa.
Hai vị khách lui ra, bà khẽ nghiêng đấu nhìn theo.

* * *

Đến hai buồng gần đó, cửa đóng kín mít. Ông Bouc dừng lại vẻ nghĩ ngợi ghê lắm.
- Quái thật - ông vừa nói - Chuyện mới là kỳ quặc. Đây là những tấm thông hành ngạo giao. Hành lý được miễn khám xét.-
- Theo thủ tục Hải quan thì miễn. Trong lúc truy tìm thủ phạm thì phải bỏ qua.
- Tôi hiểu. Dù sao, ta không muốn bày ra chuyện rắc rối.
- Đừng lo ngại, ông bạn. Vợ chồng Bá tước biết điều. Ta cứ nhìn Bà công chúa Dragomiroff ăn ở tử tế thì biết ngay.
- Công chúa là một bà quý phái. Hai bà cũng ngang hàng, Ngài Bá tước coi bộ hung tợn hơn. Ngài phẫn nộ nếu gặp người lạ đến quấy rầy hơn. Giả sử ta bỏ qua chỗ này, nhỉ. Vậy thì họ chẳng biết gì đến việc khám xét hành lý. Ta chẳng nên chuốc lấy phiền phức cho mình.
- Tôi không nghĩ như ông - Poirot nói - Tôi cho là Ngài Bá tước cũng biết điều. Dù sao ta nên thử xem.
Không đợi ông Bouc kịp nói, Poirot gõ nhẹ vô cánh cửa buồng số 13.
Một giọng nói nghe dõng dạc từ bên trong vọng ra:
- Xin mời vào.
Ngài Bá tước ngồi ở một góc cửa đang đọc báo. Bà phu nhân nằm co ro bên kia gần cửa sổ đầu kê trên gối như còn ngái ngủ.
- Xin phép Ngài Bá tước - Poirot mở lời - Ngài thứ lỗi cho chúng tôi đường đột tới đây, vì có việc phái khám xét hành lý khách đi tàu. Chẳng qua là vấn đề thủ tục, chúng tôi phải thi hành. Người đi cùng với tôi, ông Bouc, cho hay là nếu Ngài mang hộ chiếu ngoại giao thì miễn khám xét.
Ngài Bá tước nghĩ ngợi một lúc.
- Cảm ơn quý vị - Ngài nói - Tôi không hề tự cho là mình được miễn. Đến lượt tôi cũng phải chịu tuân theo lệnh khám xét.
Ngài quay lại nhìn phu nhân.
- Em không nghĩ khác hơn chứ, Elena?
- Ồ không.- phu nhân nói ngay không đắn đo.
Cuộc khám xét diễn ra nhanh chóng. Ông Poirot có vẻ như muốn che đậy vẻ bối rối nói lảng qua chuyện khác.
- Một cái nhãn hành lý thấm ướt nước, thưa phu nhân - Tay ông vừa nhấc chiếc va li xuống.
Phu nhân không để ý, bà cảm thấy bị làm rộn vì cuộc khám xét, bà vẫn nằm co ro ở một góc mơ màng, nhìn ra ngoài cửa sổ mặc cho hai ông khách khám xét hành lý buồng.
Cuối cùng Poirot với tay kê phía trên lavbô rửa món đựng bên trong - một miếng bô phấn, một cái chai dán.
Nhìn quanh một lượt vị khách cáo lui.
Đến lượt chỗ ở bà Hubbard bên phải và sau cùng buồng ngủ của ông Poirot.
Cuộc khám xét qua đến toa vé hạng nhì. Đầu tiên là buồng số 10 và 11 nơi ở của nàng Debenham, nàng đang nằm đọc sách, và cô nàng Greta Ohlsson còn ngái ngủ chợt tỉnh giấc lúc hai vị khách bước vô.
Poirot vẫn chào hỏi theo phép lịch sự. Cô nàng người Thụy Điển có vẻ bối rối nhưng nàng Mary Debenham tỉnh như ruồi.
Poirot tự giới thiệu với cô nàng người Thụy Điển.
- Xin lỗi cô nương, chúng tôi được phép đến đây khám xét hành lý cô nương trước, xong rồi nhờ cô đến thăm hỏi bà khách người Mỹ kia. Chúng tôi đã chuyển chỗ ở qua toa khác, bởi bà đang còn bối rối vì chuyện vừa qua. Chúng tôi cho người đưa cà phê tới nơi, nhưng tôi nghĩ ai muốn nói chuyện với bà ta phải là người đủ tư cách mới được.
- Người mà tôi gặp tỏ ra có thiện cảm - Bà đi theo đến nơi ngay - Tôi cảm thấy như bị sốc không hiểu sao bà phải bị kẹt lại trên tàu chưa thể gặp được con gái. Ồ, mà lẽ ra bà cần phải về ngay, vali chưa khoá, bà cần chút ít muối amoni ngửi cho tỉnh.
Bà vội đi ngay. Đồ dùng mang theo rất ít ỏi, và chưa hay bị mất mấy sợi dây đồng trong hộp đựng nón.
Nàng Debenham vừa đặt cuốn sách xuống, nhìn về phía ông Poirot đang đứng. Ông hỏi thì nàng giao chìa khóa, vừa nhấc chiếc va li xuống nàng hỏi lại ngay.
- Sao ông lại gọi cô ta đi nơi khác, ông Poirot?
- Tôi hả, cô nương? Sao vậy, để lo chăm sóc bà khách người Mỹ.
- Ông đặt điều hay đấy. Dù sao đó là một cái cớ.
- Tôi chẳng hiểu gì cả, thưa cô nương.
- Tôi nghĩ là ông hiểu lắm chứ.
Nàng nhếch mép cười.
- Ông muốn để tôi ở lại một mình, phải không?
- Cô nương lại đặt điều rồi, thế đó.
- Vậy là ông bịa ra chuyện đó? Không, không phải vậy. Tôi nghĩ sẵn trong đầu. Thế đó, đúng không?
- Thưa cô nương, ngạn ngữ có câu…
- «Không khảo mà xưng»; ông định nói vậy chứ gì? Lẽ ra ông nên mừng cho tôi hiểu biết việc đời. Vì lý do này nọ, ông tưởng tôi đã hay biết chuyện kinh khủng cái đêm hôm đó, vụ án giết người mà tôi chưa từng thấy.
- Cô nương quá tưởng tượng đấy thôi.
- Không, tôi không dám tưởng tượng đâu. Tôi nghĩ mình đã bỏ phí mất thời gian, không chịu khai báo sự thật, không nói thật lại quanh co.
- Và cô nương cũng không thích chuyện phí thì giờ. Không, tôi biết em muốn nói thật, nói đúng trọng tâm. Nhân tiện tôi muốn hỏi em một vài câu chữ mà tôi nghe lỏm được trên chặng đường từ Syrie. Đến ga Konya, tôi xuống tàu đi bộ cho 'thẳng cẳng' như người Ăng-lê thường gọi là vậy. Ban đêm tôi còn nghe thấy tiếng nói của em và Ngài Đại tá. Em nói như thế này: «Chưa phải lúc này. Chưa được. Chờ khi nào xong đã. Khi ta rời khỏi chỗ đó». Mấy câu nói đó nghĩa là thế nào, cô nương?
Giọng nàng thản nhiên.
- Ông cho là tôi muốn nói, giết người?
- Chính tôi mới là người muốn hỏi em thế đó?
Nàng thở một hơi dài, nghĩ ngợi một lúc. Chợt nàng có vẻ như bị kích động, mới nói như thế này.
- Mấy câu nói đó có nghĩa nhưng với ông tôi không nói ra. Tôi chỉ nói một lời danh dự rằng chưa bao giờ tôi nhìn thấy lão Ratchett cho đến lúc tôi tình cờ gặp lão trên tàu.
- Vậy là em khước tử giải thích mấy mẩu đối thoại bữa hôm đó?
- Dạ, nếu như ông cho là vậy, tôi không nói ra được. Đó là chuyện có liên quan tới công việc của tôi.
- Việc đó nay đã hoàn thành?
- Ông nói thế nào?
- Việc đã xong, phải vậy không?
- Sao ông lại cho là vậy?
- Này, nghe đây cô nương, tôi chỉ nhắc lại để em nhớ một việc. Em còn nhớ hôm tàu bị kẹt lại một chỗ trên chặng đường tới ga Stamboul. Hôm đó em hoảng hốt ghê lắm. Mọi khi em điềm tĩnh biết tự kiềm chế. Hôm đó em lại mất bình tĩnh.
- Tôi sợ trễ tàu.
- Em cho là vậy. Mà này, cô nương, tàu tốc hành Phương Đông mỗi ngày đều có chuyến khởi hành từ ga Stamboul. Nếu có trễ một chuyến chỉ mất công chờ thêm hai mươi bốn giờ nữa thôi.
Nàng Debenham không kềm chế được, lần đầu tiên nàng mất bình tĩnh.
- Ông không hiểu được chuyện một mình tôi phải để bạn bè chờ đợi ở London, một ngày chậm trễ bao nhiêu công việc bị xáo trộn.
- Ồ có chuyện đó à? Bạn bè đang mỏi mắt chờ em? Em không muốn phiền họ?
- Dĩ nhiên.
- Thôi bây giờ, chuyện coi bộ kỳ quặc.
- Kỳ quặc là thế nào?
- Ngay trên tàu này, ta lại bị kẹt một lần nữa. Lần này có nghiêm trọng hơn, bởi em không thể gửi điện cho bạn bè hay tin hoặc em để cho mọi người phải ngóng cổ trông chờ một người ở phương xa.
- Ông muốn nói điện thoại?
- Ồ đúng rồi, như cách nói điện thoại va li ở bên Anh
Nàng Mary Debenham cười ngượng.
- Điện thoại đường dài - nàng nói sửa lại - Dạ phải, thật là phiền, ở xa không được tin qua điện thoại cũng không cớ điện báo.
- Mà sao, cô nương lúc này đây thấy em khác hơn trước. Em không còn nôn nóng, mà lại trầm ngâm, đăm chiêu nghĩ ngợi.
Nàng Mary Debenham mím môi vẻ mặt ửng đỏ.
Nàng không thể cười nổi.
- Vậy là em không nói được, phải không?
- Em tiếc là. Em nghĩ chẳng còn gì để nói.-
- Em phải nói vì sao em lại khác hơn trước, thế đó.
- Ông định làm cho to chuyện hay sao, ông Poirot?
Poirot vội khoát tay muốn xin lỗi.
- Nhà trinh thám có khi cũng nhầm. Từ cứ nghĩ người ta phải thế này, thế nọ và không chấp nhận thay đổi thái độ bất ngờ.
Nàng Mary Debenham lặng thinh.
- Em quen biết Ngài Đại tá Arbuthnot lắm chứ?
Ông đoán là nàng sẽ cảm thấy nhẹ người vì câu chuyện đã chuyển hướng.
- Em mới nhìn thấy ông ta lúc đang ở trên lầu.
- Em có lý do để ngờ ông ta quen biết gã Ratchett?
Nàng lắc đầu quầy quậy.
- Chắc là không.
- Em chắc vậy sao?
- Nghe ông ta nói chuyện thì đoán.
- Đây này, cô nương, tôi nhặt được một cây xoi ống điếu ở dưới sàn trong buồng ngủ nạn nhân. Trên tàu chỉ mỗi Ngài Đại tá Arbuthnot hút ống điếu.
Ông quan sát nàng thật kỹ, vậy đó, nàng chẳng hé lộ một nét ngạc nhiên hay xúc động, chỉ đáp:
- Phi lý. Chuyện thật phi lý. Ngài Đại tá lại là người duy nhất dính dáng tới vụ án đêm qua, một vụ án nhiều vẻ kịch tính, thế đó.
Dù sao ông Poirot cũng phải thấy là mình sẽ đồng ý với cô nàng ở điểm này.
- Tôi nhắc lại cho em nhớ một điều em chưa biết gì về Ngài Đại tá bao nhiêu.
Nàng khẽ nhún vai.
- Em còn nhớ rõ tướng người ông ta.
Poirot nói giọng nhỏ nhẹ.
- Vậy em cũng chưa giải thích mấy câu nó kia. 'Cho đến khi ta rời khỏi chỗ đó’ là thế nào?
Giọng nàng lạnh tanh.
- Em chẳng thể nói gì hơn nữa.
- Chả có gì đâu - Poirot đáp - Rồi tôi sẽ tìm hiểu lấy.
Ông cúi đầu chào, lui ra ngoài, khép cửa lại.
- Ta làm như vậy không khéo thì… - ông Bouc vừa nói - Làm vậy khiến nàng phái cảnh giác, kế đến Ngài Đại tá phải lo giữ miếng.
- Này ông bạn, ông nên nhớ. Không vào hang cọp sao bắt được cọp con. Tôi cứ thế mà làm.
Hai vị khách qua chỗ ở người hầu Hildegarde Schmidt.
Cô ta đã chuẩn bị xong, vẻ mặt nghiêm trang không có vẻ gì lo lắng.
Ông Poirot liếc nhanh xem qua mấy món tư trang xếp gọn trong chiếc va li nhỏ đặt trên ghế. Ông ra lệnh cho người phục vụ mang chiếc va li to tướng trên giá đỡ xuống.
- Chìa khóa đâu? - ông vừa hỏi.
- Va li không có khóa đó, thưa ông.
Poirot kéo chốt mở nắp va li ra.
- Trời!- ông vừa kêu, rồi quay qua ông Bouc - ông còn nhớ hôm nào tôi đã nói? Nhìn đây thì biết ngay!
Trên nắp va li một bộ đồng phục màu nâu của người phụ trách toa xếp vội để lại đó.
Vẻ trầm lặng trên nét mặt người hầu Đức vụt biến mất.
- Ôi chao!- Cô ta thét to - Cái đó không phải của em. Em không xếp vô va li. Từ lúc rời ga Stamboul cũng chẳng ngó ngàng gì tới nó. Em nói thật, thật đấy.
Nàng nhìn hai vị khách như khẩn khoản.
Poirot giữ chặt lấy tay nàng an ủi:
- Không, không có gì. Chuyện đâu còn đó. Chúng tôi tin lời cô. Chớ có chộn rộn. Tôi tin là cô không cất giữ bộ đồ trong vali. Này, có phải cô là một người nấu ăn khéo, phải chứ?
Nàng nhìn ông, vẻ mặt còn bối rối, gượng cười.
- Dạ phải, mấy bà chủ ai cũng khen. Em...
Nàng im lặng, chợt nàng há hốc mồm, hoảng sợ.
- Không, đừng - Poirot nói ngay - Tôi cam đoan là em chớ có lo. Ta sẽ nói rõ cho em nghe chuyện thế này.
“Người phụ trách toa mà em đã trong thấy từ trong buồng nạn nhân bước ra. Hắn suýt đụng vô người em. Xui xẻo cho hắn tưởng giờ đó chẳng còn ai bên ngoài nhìn thấy. Hắn phải liệu tính chứ? Thế là hắn cởi bỏ bộ đồ. Giờ đây hắn là một tên đáng gờm, một mối đe dọa.
Poirot đứng nhìn từ chỗ ông Bouc qua đến ông Bác sĩ Constantine cũng chăm chú nghe ông kể lại.
- Lúc bấy giờ bên ngoài tuyết dày đặc, ngăn trở hành động của gã. Hắn định giấu bộ đồ ở chỗ nào? Nơi nào cũng có người ở. Không đâu, hắn cứ đi tới và nhìn vô thấy một buồng còn mở cửa không có ai bên trong. Có thể đây là buồng của một bà khách hắn vừa suýt đụng nhầm. Hắn lẻn vô trong, cởi bỏ bộ đồ, nhanh tay nhét bừa vô trong vali trên giá. Tôi đoán chỉ cách đây không lâu.
- Rồi sao nữa? - ông Bouc hỏi.
- Ta cần bàn cho ra lẽ - Poirot nói vẻ mặt luôn cảnh giác.
Ông giơ cao chiếc áo. Mất một cúc áo thứ ba từ trên xuống. Ông thò tay vô túi lấy ra chiếc chìa khóa chuyên môn mở được tất cả buồng ngủ trên tàu.
- Đây là bằng chứng cho thấy thủ phạm có thể đột nhập vô buồng dù cửa có khóa - ông Bouc kể - Câu hỏi chất vấn bà Hubbard là thừa. Cửa có khóa hay không thủ phạm dễ dàng đột nhập qua lối cửa thông mấy toa tàu. Vậy ta có thể kết luận nếu tìm thấy bộ đồ người phụ trách toa, dĩ nhiên phải có chìa khóa hành nghề trong túi.
- Hẳn nhiên rồi - Poirot nói.
- Ta hiểu là vậy. Hẳn ông còn nhớ gã Michel báo cáo lại cửa ăn thông qua hành lang đến buồng ngủ bà Hubbard có khóa lúc gã nghe chuông gọi?
- Dạ đúng vậy, thưa ngài - người phụ trách toa đáp.
- Bởi vậy nên tôi mới cho là bà khách này nằm mơ.
- Bây giờ chuyện đã rõ - ông Bouc kể tiếp - Chắc chắn là thủ phạm phải khóa lại cửa chứ, nhưng lúc đó gã nghe thấy động tĩnh hoảng hốt.
- Bây giờ ta - ông Poirot đánh tiếng - có cần tìm cho ra chiếc áo kimônô màu đỏ thắm.-
- Đúng quá rồi. Vậy mà hai buồng cuối toa lại là chỗ ở mấy ông.
- Ta cứ khám xét.
- Ồ, phái vậy thôi. Hơn nữa tôi còn nhớ lời ông nói.
Hector MacQueen tỏ vẻ sẵn lòng tham gia cuộc khám xét.
- Tôi sẽ theo sát quý vị- gã nói với nụ cười gượng - Tôi cảm thấy mình cũng là một đối tượng đang bị theo dõi trên tàu. Quý vị chỉ cần tìm ra manh mối khiến lão phải bỏ lại toàn bộ số tiền, khi đó thì sự việc sẽ rõ.
Ông Bouc khẽ liếc nhìn về phía gã vẻ nghi hoặc.
- Tôi nói đùa vậy thôi - MacQueen vội đỡ lời - Lão chẳng để lại một đồng xu. Dù tôi đã giúp lãi rất nhiều, bằng lời nói và các việc khác. Ông thật là đáng phàn nàn, ông thấy đó, nếu ông không biết gì khác hơn là tiếng Mỹ. Còn tôi không phải nhà ngôn ngữ nhưng biết nói mua hàng và đến ở lại khách sạn đúng điệu bằng ba thứ tiếng Pháp và Ý.
Giọng nói gã nghe dõng dạc hơn trước. Một phần vì gã có vẻ không hài lòng cuộc khám xét hành lý vừa qua.
Poirot đánh tiếng.
- Chẳng được gì - Chợt ông nói - Chẳng có xu nào!
Mac Queen thở dài.
- Ôi, tôi đã nhọc trí vì chuyện đó - gã nói giọng cay đắng.
Mọi người đi tới buồng cuối cùng. Cuộc khám xét hành lý của anh chàng cao lớn người Ý, của người bồi phòng chẳng thấy gì lạ hơn.
Ba người khách dừng lại ở cuối toa tàu nhìn nhau.
- Ta còn làm gì nữa? - ông Bouc chợt hỏi.
- Ta trở lại toa hàng ăn - Poirot nói - Ta đã thấy hết những gì ta cần biết. Đó là lời khai của khách đi tàu, tang vật trong hành lý và nhưng gì chính tai nghe mắt thấy. Ta không còn nhờ ai giúp được nữa. Đến lúc ta phải vận dụng trí tuệ nhiều hơn.
Ông thò tay vô túi tìm thuốc lá, không còn một điếu.
- Tôi sẽ quay lại ngay - ông nói - Tôi đi lấy thêm thuốc lá. Đến lúc này công việc có vẻ gay đấy, kỳ lạ lắm. Ai là người mặc chiếc áo kimônô đô thắm nhỉ? Bây giờ chiếc áo biến đi đâu? Ta cần biết ngay. Trong vụ án này có vấn đề khó hiểu, còn nhiều manh mối, ta chưa nắm vững. Đã rối lại càng rối thêm. Nhưng rồi ta sẽ bàn bạc cho dứt điểm. Xin phép quý vị tôi đi đây chốc lát.
Rồi ông ráo bước đi nhanh về phía hành lang đến chỗ ở. Ông chợt nhớ ra còn để dành một mớ thuốc lá trong mấy chiếc vali kia.
Ông mang xuống mở chốt va li ra.
Ông ngồi chồm hổm xuống sàn mắt chăm chăm nhìn.
Chiếc áo kimônô vải tơ mỏng manh màu đỏ thắm thêu rồng xếp gọn gàng đặt trên nắp va li.
- Vậy là - ông buột miệng nói khẽ - Ra là thế. Bọn mày giở trò khiêu khích ông. Cũng được thôi, ta lại lao vô cuộc.
Đăng nhập để trả lời
0
Dear Ct. Ly,

Truyện này trong diễn đà n đã có. ly xoá topic này giùm mình nhé.

Thanks,
Đăng nhập để trả lời
0
Đúng truyện này đã có rồi trong thư viện

Nhưng không cùng 1 dịch giả, cho nên CtLy cũng sẽ đem vào thư viện, cho độc giả có thể chọn lựa dịch giả mà

Cảm ơn HanAn nhiều
Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN BA
HERCULE POIROT NGỒI LẠI NGHĨ NGỢI


Chương MỘT
BỌN CHÚNG LÀ AI?


Lúc Poirot đi tới chỗ toa hàng ăn, ông Bouc và Bác sĩ Constantine ngồi lại cùng bàn bạc. Vẻ mặt ông Bouc mệt mỏi.
- Ông về kia rồi - vừa nhác thấy Poirot, ông kêu một tiếng.
Ông lại nói thêm vô.
- Nếu ông giải quyết xong vụ này, ông bạn, tôi cho là có phép lạ đấy?
- Vậy thì cái vụ này tôi làm cho ông phải lo?
- Hẳn nhiên, tôi lo lắm chứ. Bởi tôi chẳng hiểu đầu đuôi ra làm sao cả.
- Tôi cũng như ông - ông bác sĩ nói với theo.
Ông nghĩ ngợi nhìn qua Poirot.
- Nói thật - ông phân bua - Tôi không thể hình dung ra việc sắp tới ông còn phái đương đầu.
- Không à? - Poirot hỏi lại vẻ trầm ngâm.
Ông lấy gói thuốc châm một điếu hút. Mắt ông lim dim.
- Với tôi thì lúc này vụ án mới thực sự đáng quan tâm - ông nói - Chúng ta bị ngăn trở không còn cách xoay sở. Liệu tất cả những người chứng trên tàu khai thật hay láo? Ta không có cơ sở để ước đoán. Chỉ trừ mỗi một cách làm việc do ta sáng tạo ra. Đó là cách làm việc vận dụng trí tuệ chất xám.
- Vậy thì hay lắm - ông Bouc nói - Nhưng ông dựa vô cái gì làm bằng?
- Tôi nói cho ông nghe ngay. Ta có đủ bằng chứng của khách đi tàu cộng với bằng chứng tai nghe mắt thấy.
- Bằng chứng khá đầy đủ, từ phía khách đi tàu kể ra cũng chẳng giúp được gì.
Poirot lắc đầu.
- Tôi không đồng ý, ông bạn. Lời khai của khách đáp tàu giúp cho ta rất nhiều việc.
- Thật vậy sao - giọng ông Bouc còn hoài nghi - Tôi không dò xét kỹ.
- Là vì ông không chịu khó lắng nghe.
- Vậy thì, ông chỉ cho tôi thấy còn thiếu sót chỗ nào?
- Tôi nêu một ví dụ cụ thể. Ta đã nghe qua lời khai người chứng đầu tiên, đó là anh chàng MacQueen. Tôi còn nhớ như in trong đầu, một câu nói có hàm ý.
- Về chuyện mấy cái thư?
- Không, không phải mấy cái thư. Tôi còn nhớ hắn nói là - ‘chúng tôi đi du lịch đó đây. Lão Ratchett muốn chu du khắp thế giới. Lão có khuyết điểm không biết ngoại ngữ. Tôi phải làm thay công việc hướng dẫn du lịch hơn là làm việc thư ký’.
Ông nhìn một lượt từ chỗ ông Bác sĩ qua đến ông Bouc.
- Thế nào? Quý vị chưa nhận ra được sao? Chuyện đó không thể tha thứ được, thôi còn một cơ hội nữa quý vị nghĩ xem, hắn nói - 'ông mới là đáng phàn nàn bởi ông không biết nói thứ tiếng nào khác hơn tiếng Mỹ?'.
- Ông muốn nói là... - ông Bouc chưa hiểu hết.
- Ồ, vậy ra ông cần nghe những lời mộc mạc. Vậy thì đây, ông nghe! Lão Ratchett không nói được tiếng Pháp. Hơn nữa, đến lúc người phụ trách toa chạy từ chỗ buồng ngủ nghe lão nói giọng tiếng Pháp, lão nhầm, chuyện đó ngoài ý muốn, xin lỗi. Thật ra đó chỉ là một câu nói bình thường, chỉ cần biết sơ sơ vài tiếng Pháp cũng nói ra được, ‘Không có việc gì. Tôi gọi nhầm’.
- Đúng thật đấy - Bác sĩ Constantine kêu một tiếng vui mừng quá xá - Chúng ta cần hiểu điếu đó. Tôi nhớ rõ lúc ông nhấn mạnh vô chữ cần lập lại một lần nữa. Nay tôi mới hiểu vì sao ông lường là trước bằng chứng chiếc đồng hồ hư hỏng. Rõ ràng, Ratchett chết lúc một giờ kém hai mươi ba phút.
- Vậy là chính thủ phạm đã xác nhận!- ông Bouc nói giọng quả quyết.
Poirot khoác tay không tán thành.
- Ta không nên đi quá xa. Và cũng không nên suy đoán điều ta chưa thực sự nắm vững. Cách nói đúng nhất là lúc đó một giờ kém hai mươi ba phút, có kẻ lạ mặt đột nhập vô chỗ ở lão Ratchett, tên này có thể là một người Pháp, hoặc nếu không phải thì hắn có thể nói tiếng Pháp trôi chảy.
- Vậy là ông còn dê dặt, ông bạn?
- Ta nên tiến hành từng bước một. Bởi ta chưa nắm vững bằng chứng Ratchett đã chết đúng ở thời điểm đó.
- Ông nghe tiếng thét giật mình thức dậy.
- Đúng, một tiếng thét.
- Dù sao chăng nữa - ông Bouc trầm ngâm vừa nói - Chi tiết ông vừa mới nêu ra không ảnh hưởng gì đến vụ việc ông nghe có tiếng động ở buồng bên cạnh. Không hẳn đúng là Ratchett. Mà lại là một người khác. Chắc lúc đó thủ phạm đang lau sạch vết máu dính trên tay, phi tang, thiêu hủy bức thư hăm dọa. Hắn chờ nghe bốn bề yên tĩnh, và thấy coi bộ êm xuôi, gài lại chốt cửa khóa xích bên trong, mở cửa thông suốt hai toa vô tới buồng ngủ bà Hubbard rồi chuồn ra ngoài. Quả đúng như ta suy đoán - chỉ khác một điểm Ratchett bị giết chết nửa giờ trước đó, và chiếc đồng hồ vặn lại lúc một giờ mười lăm là một cái cớ để phủi tay nghi binh.
- Đó chưa phải là diệu kế - Poirot nói - Kim đồng hồ chỉ 1.15 - đó là giờ thủ phạm trốn khỏi hiện trường.
- Đúng quá - ông Bouc nói, vẻ hơi lúng túng - Vậy thì chiếc đồng hồ gợi cho ông một chi tiết nào mới lạ hơn?
- Giả sử kim đồng hồ được chỉnh lại, tôi chỉ nói giả sử, thì đúng thời điểm đó phải mang một dụng ý riêng. Phản ứng tự nhiên là phải ngờ ngay kẻ nào rồi đứng ngay cái thời điểm trước đó, thời điểm này là 1.15.
- Phải, phải - ông bác sĩ nói - lý lẽ thật vững vàng.
- Ta phải lưu ý hơn đến thời điểm hung thủ đột nhập vô buồng ngủ. Ta tính được lúc đó là thời điểm nào? Trừ phi ta suy đoán, người phụ trách toa là kẻ đồng lõa, hắn chỉ có một khoảng thời gian để tiếp tay: đó là lúc tàu dừng lại ga Vincovci. Sau khi tàu rời ga Vincoyci hắn vẫn ngồi ở chỗ nhìn ra dãy hành lang và mọi người đi ngang qua ít có ai để mắt nhìn, chỉ còn một người nhìn ra hắn là kẻ giả dạng đó chính là người phụ trách toa thứ thiệt. Nhưng trong lúc tàu dừng lại ga Vincovci thì người phụ trách toa đang có mặt dưới sân ga. Vậy là âm mưu trót lọt.
- Vậy là theo lý lẽ ban đầu, phải nghi ngờ thủ phạm là trong số hành khách đáp tàu - ông Bouc kết luận - Bây giờ ta trở lại câu chuyện đang bàn. Tới đâu rồi?
Poirot ngồi đó nhếch mép cười.
- Tôi soạn ra một bản danh sách - ông nói - Nếu quý vị muốn xem, để cho tinh thần bớt căng thẳng.
Ông Bác sĩ và ông Bollc săm soi nhìn vô trang giấy.
Bản danh sách soạn ra thật gọn theo thứ tự từ trước sau hành khách đáp tàu tham gia cuộc thẩm vấn.
HECTOR MacQueen - dân Mỹ. Buồng số 16. Toa hạng nhì.
Căn cứ: ước đoán là có thể quen biết với nạn nhân?
Cớ vắng mặt: Từ lúc nửa đêm tới 2 giờ sáng (từ nửa đêm tới 1.30 sáng có Ngài Đại tá Arbuthnot làm chứng, từ 1.15 tới 2 giờ sáng có người phụ trách toa làm chứng.)
Chứng cứ buộc tội: Không có.
Tình tiết nghi vấn: Không có.

Người phụ trách toa Pierre Michel - Dân Pháp.
Căn cứ: Không có
Cớ vắng mặt: Từ nửa đêm tới 2 giờ sáng (có người nhìn thấy ngoài hành lang cùng lúc đó trong buồng Ratchett có tiếng gọi ra lúc 12.37. Từ 1 giờ sáng tới 1.16 có hai người phụ trách toa làm chứng).
Chứng cứ buộc tội: Không có
Tình tiết nghi vấn: Bộ đồng phục được tìm thấy ở một nơi khác xóa tan nghi ngờ gã có tội.

Edward Masterman - Dân Ăng-lê - Buồng số 4. Toa hạng nhì.
Căn cứ: Nghi ngờ có liên qua đến nạn nhân, gã là người bồi phòng.
Cớ vắng mặt: Từ nửa đêm tới 2 giờ sáng (có Antonio Foscarelli làm chứng).
Chứng cứ buộc tội: Không có, ngoài hắn ra không ai có thân hình cùng kích cỡ mặc vừa bộ đồ đồng phục người phụ trách toa.
Tình tiết nghi vấn: Đã vậy, hắn còn nói tiếng Pháp trôi chảy.

Bà Hubbard - Dân Mỹ- Buồng số 3. Toa hạng nhất.
Căn cứ: Không.
Cớ vắng mặt: Từ lúc nửa đêm tới 2 giờ sáng - không.
Chứng cứ buộc tội tình tiết nghi vấn: Lời khai - người lạ đột nhập vô buồng ngủ được Hardman và cô nàng Schmidt làm chứng.

Greta Ohlsson - Dân Thụy Điển. Buồng số 10. Toa hạng nhì.
Căn cứ: Không có.
Cớ vắng mặt: Từ lúc nửa đêm tới 2 giờ sáng. (Có nàng Mary Debenham làm chứng).
Ghi chú: Người cuối cùng còn nhìn thấy Ratchett.

Công chúa Dragomiroff - Dân nhập tịch Pháp. Buồng số 14. Toa hạng nhất.
Căn cứ: Có quen biết gia đình Armstrong, mẹ đỡ đầu cho bé Sonia Armtrong.
Cớ vắng mặt: Từ lúc nửa đêm tới 2 giờ sáng (có người phụ trách toa và người hầu gái làm chứng).
Chứng cứ buộc tội: Không có.
Tình tiết nghi vấn: Không.

Bá tước Andrenyi - Dân Hungari - Mang giấy thông hành ngoại giao. Buồng số 13. Toa hạng nhất.
Căn cứ: Không có.
Cớ vắng mặt: Từ nửa đêm tới lúc 2 gio72 sáng (có người phụ trách toa làm chứng - không tính thời gian từ 1 giờ tới l.15).

Bá tước phu nhân Andrenyi - Dân Hungari - Buồng số 12.
Căn cứ: Không có.
Cớ vắng mặt: Từ lúc nửa đêm đến 2 giờ sáng uống thuốc trional ngủ sớm (có chồng làm chứng. Chai thuốc còn cất trong tủ).

Ngài Đại tá Arbuthnot - Dân Ăng-lê - Buồng số 15. Toa hạng nhất.
Căn cứ: Không có.
Cớ vắng mặt: Từ lúc nửa đêm tới 2 giờ sáng. Nói chuyện với MacQueen tới 1.30. Trở lại buồng ngủ không ra ngoài nữa (Mac Queen và người phụ trách toa làm chứng.)
Chứng cứ buộc tội hoặc tình tiết nghi vấn: Một cây xoi ống điếu.

Cyrus Hardman - Dân Mỹ. Buồng số 16. Toa hạng nhì.
Căn cứ: Không rõ
Cớ vắng mặt: Từ nửa đêm tới 2 giờ sáng không ra ngoài (có MacQueen và người phụ trách toa làm chứng).
Chứng cứ buộc tội: Không có
Tình tiết nghi vấn: Không có

Antonio Foscarelli - dân Mỹ (gốc Ý). Buồng số 5. Toa hạng nhì.
Căn cứ: Không rõ.
Cớ vắng mặt: Từ lúc nửa đêm tới 2 giờ sáng (có Edward Masterman làm chứng).
Chứng cứ buộc tội, tình tiết nghi vấn: Không có, ngoại trừ một hung khí còn để lại nghi vấn có thể hắn sử dụng (xem đoạn đối thoại ông Bouc)

Mary Debenham - Dân Ăng-lê - Buồng số 11. Toa hạng nhì.
Căn cứ: Không có
Cớ vắng mặt: Từ nửa đêm tới 2 giờ sáng (có Greta Odlsson làm chứng.)
Chứng cứ buộc tội hoặc tình tiết nghi vấn: ông Hercule Poirot nghe lỏm được một đoạn đối thoại, nàng khước từ không thuật lại.

Hildegarde Schmidt - dân Đức. Buồng số 8. Toa hạng nhì.
Căn cứ: Không có.
Cớ vắng mặt: Từ lúc nửa đêm tới 2 giờ sáng (có người phụ trách toa và người hầu phòng làm chứng). Vô giường ngủ. Người phụ trách toa gọi dậy lúc khoảng 12 giờ 38 rồi đi tới buồng của bà Công chúa.

Ghi chú: Lời khai khách đáp tàu được người phụ trách toa xác nhận đúng, lúc đó không còn ai vô ra buồng ông Ratchett kể từ lúc nửa đêm tới một giờ sáng. (Lúc này lão đi qua buồng bên cạnh) và từ 1.15 cho tới 2 giờ sáng.
- Tờ trình này, ông phải biết đó - Poirot nói - Chỉ là tóm tắt những bằng chứng ta đã nghe qua, tôi sắp xếp lại cho có thứ tự trước sau.
Ông Bouc vẻ mặt nhăn rúm đưa trả lại tờ trình.
- Không có gì sáng sủa hơn - ông nói.
- Rồi, ông sẽ thấy nó đúng theo ý ông tới mức nào - ông Poirot nói, nhếch mép cười rồi đưa ra thêm một tờ trình nữa.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương HAI
MƯỜI CÂU HỎI


Tờ trình ghi lại:
Những vấn đề cần được giải thích rõ.
1. Chiếc khăn mù soa thêu chữ H. Vật này của ai?
2. Cây xoi ống điếu của Ngài Đại tá làm rơi? Hoặc của một người khác?
3. Ai mặc chiếc áo kimônô màu đỏ thắm?
4. Kẻ giả trang mặc đồng phục người phụ trách toa là nam hay nữ?
5. Tại sao kim đồng hồ chỉ đúng 1.15?
6. Có phải hung thủ hành động đúng thời điểm đó?
7. Hoặc có thể sớm hơn?
8. Hoặc trễ hơn?
9. Ta có nghi Ratchett chết do nhiều kẻ lạ mặt đâm?
10. Còn cách giải thích nào khác hơn các vết thương trên xác nạn nhân?
- Được rồi, ta xem nên tính thế nào đây - ông Bouc nói vẻ mặt sôi nổi như bị kích động - Ta lấy bằng chứng chiếc khăn mù soa xem trước. Phải theo thứ tự lớp lang.
- Phải vậy thôi - ông Poirot nói - gật gù ra vẻ hài lòng.
Ông Bouc nói tiếp, giọng dạy đời.
- Chữ H thêu có liên quan đến ba người. Bà Hubbbard, cô nàng Debenham còn có biệt hiệu là Hermione và người hầu gái Hildegarde Schmidt.
- Ồ! Vậy là cả ba?
- Khó nói quá. Tôi cho là cô nàng Debenham có phần đúng hơn. Bởi ai cũng biết, người ta thường gọi biệt hiệu nàng hơn là gọi tên. Ngoài ra còn một số tình tiết đáng ngờ nữa. Trong đoạn đối thoại ông nghe lỏm được, có đoạn «này bạn ơi» nghe hơi lạ tai, có phải vì vậy nàng khước từ không giải thích rõ?
- Tôi thì ngờ cho bà khách người Mỹ - Bác sĩ Constantine nói - chiếc khăn mù soa loại đắt tiền, người Mỹ nổi tiếng hay xài sang ai cũng biết.
- Vậy là hai ông không tính gì đến người hầu giúp việc - chợt ông Poirot hỏi.
- Có chứ. Nàng đã nói là chiếc khăn mù soa của một hành khách sang trọng kia mà.
- Qua vấn đề thứ hai - cây xoi ống điếu. Có phải Ngài Đại tá đánh rơi hay của một người khác?
- Gay đấy. Dân Ăng-lê không dùng dao giết người, ông nghĩ đúng. Tôi cho là có kẻ làm rơi cây xoi ống điếu, làm vậy để vu oan cho ông khách người Ăng-lê.
- Theo lời ông Poirot - ông Bác sĩ nói xen vô - khi ta thấy được hai manh mối rõ ràng có sự lơ đễnh. Tôi đồng ý với ông Bouc. Chiếc khăn mù soa để lại rõ ràng là do sơ xuất, không ai nhận của mình. Còn cây xoi ống điếu chỉ là cái cớ giả dạng. Để củng cố cho lập luận vừa nêu, ông nên lưu ý Ngài Đại tá Arbuthnot trả lời câu chất vấn vẻ tự nhiên là ông thường hút ống điếu và dùng độc mỗi một loại hàng cây xoi.
- Ông vận dụng lý lẽ thật tài tình - Poirot nói.
- Qua vấn đề thứ ba - Ai mặc chiếc áo kimônô? ông Bouc đặt vấn đề tiếp theo - về điểm này thú thật tôi không có ý kiến gì ráo. Các ông có ý kiến thì phát biểu. Bác sĩ Constantine thế nào ?
- Tôi không có ý kiến.
- Vậy ta tạm gác lại ở đây. Vấn đề kế tiếp có khả năng hơn. Ai là kẻ giả dạng người phụ trách toa, nam hay nữ? Vậy là ta có thể loại bỏ một số người không thể là đối tượng nghi vấn được. Đó là lão Hardman, Đại tá Arbuthnot, Foscarelli, Bá tước Andrenyi, Hector MacQueen là những người có chiều cao quá khổ. Bà Hubbard, nàng Hildegarde Schmidt và Greta Ohlsson, bề ngang to. Vậy còn lại, người hầu phòng Debenham, công chúa Dragomiroff và Bá tước phu nhân Andrenyi. Không ai giống ai, mỗi người một vẻ. Giữa Ohlsson và Antonio Foscarelli, cả hai cam đoan không hề thấy nàng Debenham và người hầu phòng đi ra ngoài. Nàng Hildegarde lúc đó đang ở trong buồng Bà Công chúa và Bá tước Andrenyi khai là vợ Ngài có dùng thuốc ngủ, không hay biết gì hết. Vậy thì không ai đáng ngờ cả. Phi lý thật!
- Một người quen biết cũ là Euclid cho biết - ông Poirot nói khẽ.
- Một trong bốn người đó thôi - Bác sĩ Constantine góp ý - Nếu không thì có kẻ lạ đột nhập còn lẩn trốn đâu đây, và như vậy lại càng phi lý hơn.
Ông Bouc chuyển qua vấn đề khác.
- Vấn đề thứ 5. Tại sao kim đồng hồ chỉ đúng 1.15. Tôi thấy có hai cách giải thích. Một là có thể do thủ phạm ngụy tạo cái cớ sau đó hắn không thoát ra ngoài được theo như ý đồ bởi lúc đó có tiếng bước chân người đi tới hoặc là, khoan đã, tôi chợt nảy ra một ý mới.
Hai ông bạn ngồi nghiêm chỉnh lắng nghe, ông Bouc tinh thần dao động vô cùng.
- Tôi có ý kiến - rồi ông cũng phải nói ra - rõ ràng không phải hung thủ giả dạng người phụ trách toa chỉnh lại kim đồng hồ. Chính kẻ ta gọi là thủ phạm. Thứ hai, thuận tay trái, nói đúng hơn một bà khách mặc áo kimônô màu đỏ thắm. Bà đến trễ nên vặn ngược kim đồng hồ lại nguy tạo cớ vắng mặt lúc xảy ra án mạng.
- Bravo, khá lắm - Bác sĩ Constantine vừa nói - Thật khéo tưởng tượng, thế đó.
- Đúng ra - Poirot đỡ lời - Bà đâm nạn nhân trong bóng tối, không biết ông ta đã chết từ lúc nào rồi đoán mò lão còn chiếc đồng hồ trong túi áo pyjama, lấy ra nhắm mắt vặn bừa kim đồng hồ cho lùi lại.
Ông Bouc vẻ mặt lạnh lùng nhìn Poirot.
- Ông còn có ý kiến nào tài tình hơn nữa? - Bouc hỏi.
- Lúc này hả? Chưa!- Poirot nói ngay.
- Dù sao - Poirot nói tiếp - Tôi không nghĩ là hai ông bạn có thật tình lưu ý một điểm chung quanh chiếc đồng hồ.
- Vậy câu hỏi thứ 6 giải quyết được chuyện đó không? - ông Bác sĩ vội hỏi.
- Câu hỏi này, có phải thủ phạm hành động đúng thời điểm 1.15, tôi trả lời ngay không phải.
- Tôi đồng ý - ông Bouc nói - Vậy thì sớm hơn giờ đó? Một ý kiến nữa. Tôi trả lời phải. Còn ông cũng đồng ý chứ, Bác sĩ?
Ông Bác sĩ gật.
- Dúng rồi, nhưng lại có ý kiến, có trễ hơn không? Cũng đúng thôi. Tôi đồng ý với ông, ông Bouc, nhưng rồi tôi nghĩ lại liệu ông Poirot có đồng ý dù ông không nói ra. Thủ phạm Số một xuất hiện trước 1.15, còn thủ phạm số hai xuất hiện sau 1.15. Còn kẻ thuận tay trái, ta không thể tìm được cách nào xác định trong số hành khách đi tàu ai thuận tay trái?
- Không phải tôi bỏ qua chuyện đó - Poirot vừa nói - ông cần phải lưu ý yêu cầu mỗi hành khách ký tên hoặc ghi lại địa chỉ trên giấy. Nhưng chưa phải là yếu tố quyết định, bởi còn có người khi thuận tay trái lúc thuận tay phải. Đó cũng là vấn đề. Đa số hành khách được thẩm vấn cầm viết tay phải, trừ công chúa Dragomiroff không chịu viết ra giấy.
- Công chúa Dragomiroff không làm như vậy - ông Bouc nói.
- Tôi không cho là công chúa tự tay mình viết theo lối tay trái - Bác sĩ Constantine nói vẻ dè dặt.
- Vết thương còn đó làm tiêu hao sức lực.
- Hơn cả một người phụ nữ phải bỏ sức ra?
- Không, tôi không cho là như vậy. Nó chỉ hơn được những người có tuổi, nhưng so với công chúa Dragomiroff thì yếu lắm rồi.
- Đó là chuyện tinh thần chi phối thể xác - Poirot vừa nói - Công chúa Dragomiroff có cá tính mạnh mẽ, ý chí cao. Thôi ta tạm gác qua một bên.
- Đến câu hỏi thứ 9 và 10. Liệu có chắc nhiều thủ phạm đã giết chết Ratchett, và vết thương trên xác nạn nhân có thể giải thích nhiều cách khác nhau? Theo tôi, xét về mặt y học, không có cách giải thích nào khác hơn các vết thương trên cơ thể nạn nhân. Ta cho là thủ phạm ban đầu yếu tay rồi mạnh tay hơn, ban đầu thuận tay phải, chuyển qua tay trái, sau khoảng nửa giờ ngừng tay do vết thương rướm máu. Ồ, chẳng ăn thua gì.
- Không đâu - Poirot nói - chẳng ăn thua gì. Vậy ông nghĩ phải có đủ hai thủ phạm mới ăn thua hay sao?
- Thì cũng như ông đã nói, ta còn cách giải thích nào khác hơn nữa.
Poirot nhìn thẳng về phía trước.
- Đó là điều tôi phải tự hỏi- ông nói - Đó cũng là điều tôi phải luôn luôn tự nhắc nhở mình.
Ông ngồi dựa lưng vô thành ghế.
- Từ nay trở đi, phải nhớ lấy chỗ này - ông giơ tay vỗ nhẹ vô trán - Chúng ta đã bàn cãi ra lẽ. Manh mối còn bày ra đó, sắp xếp thứ tự có lớp lang. Hành khách ngồi đó từng người một đưa ra lời khai. Ta biết rõ hết, từ những thông tin khác nhau…
Ông nở một nụ cười thân ái nhìn về phía ông Bouc.
- Nhớ lại việc làm chúng ta có lúc buồn cười đấy chứ, đó là việc chỉ ngồi mà nghĩ cho ra đúng sai? Thế đấy, tôi đang làm công việc biến ý tưởng thành hành động cụ thể ngay trước mắt quý vị đây. Cả hai ông phải đi theo con đường đó. Bây giờ cả ba chúng ta cùng nhắm mắt lại rồi ngẫm nghĩ.
“Thủ phạm giết chết Ratchett không phải chỉ có một. Bọn chúng là kẻ nào?
Đăng nhập để trả lời
0
Chương BA
MẤY ĐIỂM GỢI Ý

Mười lăm phút qua rồi, mọi người mới bắt đầu có ý kiến.
Trước tiên Bouc và Bác sĩ Constantine phát biểu y theo lời dặn của ông Poirot. Mọi người mong đợi như đang đi tìm ánh sáng cuối đường hầm.
Ông Bouc thì kể lể như thế này:
- Tôi tin chắc là. Dù câu chuyện như thế nào tôi đã đoán trước... Ông Poirot vẫn nghĩ là cô nàng người Ăng-lê có dính tới vụ án. Tôi không cho là như vậy được... Bởi dân Ăng-lê lúc nào mặt cũng lạnh như tiền... Vấn đề không phải ở chỗ đó. Cũng không khác là một người khách người ý, uổng thật. Giả sử là tên bồi phòng người Ăng-lê nói đúng bởi thủ phạm không ra khỏi chỗ ở? Nhưng sao lại là hắn? Bởi không dễ gì lo lót cho một người Ăng-lê, những người không thích giao thiệp. Thật là một điều không may cho ta. Bao giờ ta mới tìm đường thoát đi được. Phải có đội quân tiếp cứu chứ. Công việc cứu nạn ở những nước này quá chậm chạp ... phải mất nhiều thời gian mới có cách giải quyết được. Lực lượng cảnh sát thì chỉ lo đối phó mấy việc củng cố địa vị chức quyền. Họ sẽ làm cho to chuyện. Bởi từ lâu mới có một vụ như vậy. Báo chí sẽ làm rùm beng...
Đến đây ông Bouc vẫn kể lể một giọng điệu nhàm chán lặp đi lặp lại.
Còn Bác sĩ Constantine thì nghĩ là:
«Cái con người nhỏ thó này mới kỳ lạ làm sao. Ông đâu phải là thiên tài. Hay một người cố chấp? Liệu ông giải quyết được vấn đề hóc búa này? Khó lắm. Tôi nghĩ khó tìm đâu lối ra. Nó như là một mớ bòng bong. Tất cả mọi người nói phét, có lẽ... cho dù như vậy đi cũng không giúp gì được ngay lúc này. Nếu tất cả một bọn nói phét thì cũng khiến ta bối rối như lúc ta nghe kể mọi chuyện đều có thật. Nhưng vết thương trên thân xác nạn nhân thật là kỳ quặc. Tôi không hiểu ra sao cả… thà bị bắn chết còn dễ nhận ra hơn. Dù sao đã gọi là bọn găng tơ thì phải dùng súng. Nước Mỹ, một đất nước có lắm chuyện quái lạ, ta phải đến đó một lần thử xem. Có lắm chuyện hay ho. Về nhà tôi sẽ tìm ngay gã Demetrius Zagone. Hắn từng sống ở Mỹ, biết nhiều ý tưởng mới lạ ... Không biết giờ này hắn đang làm gì. Nếu vợ tôi mà hay được.
Tâm trí ông đang nghĩ chuyện đâu đâu.
Hercule Poirot ngồi lặng lẽ một mình.
Nếu nhìn vô, người ta tưởng ông đang ngái ngủ.
Hết mười lăm phút trôi qua trong bầu không khí tĩnh lặng, chợt ông nhướng mày thở ra một hơi dài. Ông vừa thở ra vừa nói:
- Nhưng rồi sao lại không? Nếu vậy, sao, nếu vậy, thì sẽ làm sáng tỏ mọi chuyện.
Mắt ông mở to, con ngươi trong vắt như mắt mèo. Giọng ông nhỏ nhẹ.
- Vậy thì tôi đã nghĩ ra được, còn quý vị thì thế nào?
Hai ông khách đang trầm ngâm nghĩ ngợi chợt nhanh miệng trả lời.
- Tôi cũng có nghĩ - ông Bouc vừa nói như biết mình có lỗi.
- Nhưng chưa quyết được. Muốn cho nội vụ sáng tỏ đó là nghề của ông, không phải tôi, ông bạn.
- Tôi cũng tha thiết cầu cho được việc - ông Bác sĩ nói toạc ra dù đã có lúc ông suy nghĩ lệch lạc - Tôi đã nghĩ ra nhiều giả thiết, nhưng chưa thấy hài lòng.
Poirot vui vẻ gật đầu, ý ông muốn nói:
- Hay lắm. Nói vậy là hợp tình, ông đưa ra ý kiến thật đúng lúc.
Poirot ngồi thẳng người, ưỡn ngực, vuốt ria mép rồi ông cất tiếng dõng dạc như một diễn giả thông thạo đứng trước công chúng.
- Thưa các bạn, tôi đã điểm lại các manh mối trong trí nhớ, xét kỹ bằng chứng lời khai những người đi tàu, kết quả là đây. Đến lúc này tôi nhận thấy một số lời khai còn mơ hồ khó hiểu. Nói thật nghe nó kỳ lạ lắm, thật hay giả chưa phân biệt được hết. Cần phải thử lại mới thấy.
«Trước mắt tôi nêu ra mấy điểm khả dĩ có thể tin được. Bắt đầu là một nhận xét, ông Bouc đưa ra ngay tại nơi này trong bữa ăn họp mặt lần đầu. Ông nêu ra một điểm là khách đi tàu đủ mọi thành phần, lứa tuổi, dân tộc khác nhau. Một chuyến tàu ở thời điểm này trong năm như vậy lạ lắm. Toa tàu chạy tuyến đường Athens - Paris và Bucharest - Paris ít khách. Lưu ý có một hành khách bỏ không đi. Theo tôi đó cũng là một điểm cần ghi nhớ. Ngoài ra còn mấy điểm lẻ tẻ nữa không thể bỏ qua: cái túi du lịch của bà Hubbard, tên người mẹ của bà Armstrong, cái lối hành xử như một nhà trinh thám của lão Hardman, lời khai của gã MacQueen cho hay Ratchett hủy mảnh giấy ghi chép bị cháy xém mà ta thu nhặt được, tên thật của bà Công chúa Dragomiroff, cái vết dầu đọng lại trên tấm hộ chiếu Hungari.
Cả hai ông bạn đồng hành nhìn chăm chăm về phía ông Poirot.
- Mấy chi tiết vừa nêu các ông có suy nghĩ gì không? - Poirot cất tiếng hỏi.
- Chẳng có điểm nào đáng lưu ý - ông Bouc thật tình nói.
- Còn ông Bác sĩ thế nào?
- Thật tình tôi không hiểu một chút nào cả.
Ông Bouc thì nhân đó chớp lấy ngay một chi tiết cụ thể mà ông bạn vừa nêu, lục tìm tấm hộ chiếu. Miệng nói thầm ông thò tay lấy ra tấm hộ chiếu Ngài Bá tước Andrenyi và phu nhân.
- Có phải tấm hộ chiếu này? Còn dính vết dầu đây?
- Đúng rồi, vết dầu còn mới toanh. Ông nhặt ở đâu ra ?
- Lúc nghe phu nhân Bá tước kể lại, tên thánh thì đúng quá. Thú thật tôi chưa hiểu gì cả.
- Tôi đang định tìm hiểu ở một khía cạnh khác. Ta quay trở lại nơi tìm thấy chiếc khăn mù soa. Ta đã lọc ra có ba người tên chữ đầu là H. Đó là Hubbard, cô nàng Debenham và người hầu phòng Hildegarde Schmidt. Lúc này ta xét chiếc khăn mù soa theo quan điểm mới. Các bạn biết đó là một loại hàng đắt tiền, hàng xa xí phẩm, thêu tay mua ở Paris. Ngoài ba người kể trên còn có hành khách nào khác dùng khăn mù soa? Không phải là bà Hubbard, một người phụ nữ đáng kính, không thích ăn mặc phô trương. Cũng không phải nàng Debenham, phụ nữ Ăng-lê xài khăn vải xanh mẫu mã xinh đẹp hơn, không dùng hàng mắc tiền tới hai trăm quan pháp. Còn người hầu phòng thì chắc chắn không phải rồi. Vậy mà trên tàu còn có hai hành khách nữ có thể là chủ chiếc khăn mù soa đó, ta xem thử có thể ghép vô trường hợp này với chữ H. Hai người đó là công chúa Dragomiroff.
- Tên thật nàng là Natalia - ông Bouc nói giọng mỉa mai.
- Đúng rồi. Cái tên thánh tôi mới vừa kể mới thật ý nghĩa. Một người nữa đó Bá tước phu nhân Andrenyi. Ngay lập tức nó gợi ra trong đầu chúng tôi...
- Ông nói sao?
- Chính tôi, thế đấy. Một vết dầu làm nhòa tên thật của phu nhân. Ta cứ cho đó là một sơ xuất. Ta nhìn lại cái tên thánh Elena. Giả sử thay vì Elena thật ra là tên Helena thì sao? Chữ H hoa có thể chuyển ra chữ E hoa không thấy chữ e nhỏ đứng kế bên - một vết dầu nhỏ xuống che khuất kẻ hở giữa hai chữ
- Helena - ông Bouc chợt kêu to - một ý tưởng lạ kỳ, thế đấy.
- Phải nói đúng là một ý tưởng tài tình! Tôi nhìn quanh để xem lấy gì củng cố cho ý tưởng đó, nó đây rồi. Tôi tìm thấy cái nhãn đề tên trên túi hành lý của phu nhân nhìn thấy dấu ẩm ướt. Trên nắp va li chữ cái đầu tiên cũng y như vậy. Nhãn bị bung tróc thay một cái khác vô.
- Ông đang tìm cách thuyết phục tôi thì phải - ông Bouc nói - nhưng phu nhân Andrenyi, đúng là...
- Vậy là ông bạn mình, ông thử xoay người lại đứng nhìn chiếc va li hướng khác. Làm thế nào việc đó lại phơi bày trước mắt mọi người như vậy? Ta không nên quên tuyết dày đặc ngăn trở ý đồ của thủ phạm. Ta thử hình dung khác đi nếu không bị kẹt giữa lớp tuyết, tàu cứ chạy bình thường. Vậy là, lúc đó, câu chuyện sẽ như thế nào?
- Ta có thể nói là sớm muộn rồi vụ án cũng sẽ bị phát hiện khi tàu qua tới biên giới nước Ý sáng nay. Cảnh sát Ý sẽ phát hiện ra nhiều bằng chứng. Như gã MacQueen sẽ đưa ra mấy cái thư hăm dọa, lão Hardman sẽ thuật lại rõ lai lịch của hung thủ. Và bà Hubbard sẽ sốt sắng thuật lại một kẻ lạ mặt đột nhập vô buồng, và chiếc nút áo rơi xuống sàn. Tôi chợt nghĩ ra có hai điểm khác biệt. Kẻ lạ mặt bên trong buồng của bà Hubbard có thể xuất hiện trước lúc một giờ, còn bộ đồng phục người phụ trách toa có thể vứt bỏ trong buồng vệ sinh.
- Ý ông muốn nói là?
- Ý tôi muốn nói vụ án được sắp xếp do một bàn tay từ bên ngoài. Hung thủ giả dạng xuống tàu ở ga Brod, tàu dự kiến đỗ lại lúc 00.58. Lúc này có thể hành khách sẽ nhìn thấy một kẻ lạ giả trang người phụ trách toa đang ở ngòa1 hành lang. Bộ đồng phục vẫn treo ở chỗ mọi người nhìn thấy chứng tỏ mưu mẹo của hung thủ thật cao tay. Hành khách đáp tàu không ai còn ngờ gì nữa. Đấy, ông thấy chưa, toàn bộ âm mưu khéo léo sắp xếp tưởng như do một kẻ bên ngoài đột nhập vô.
«Nhưng rồi sự cố tàu dừng lại đảo lộn mọi dự tính của hung thủ. Chúng ta có đủ lý do để nhận định thủ phạm còn lưu lại trong buồng nạn nhân một hồi lâu. Hắn còn phải đợi cho tàu chạy lại. Vậy là cuối cùng tàu không thể rời ga. Hắn phải tính kế khác. Lúc này hắn sẽ bịphát hiện đang ở trên tàu.
- Đúng, đúng- Giọng ông Bouc có vẻ mệt mỏi - Tôi hiểu mọi việc. Nhưng còn chiếc khăn mù soa do đâu mà ra?
- Tôi sẽ bàn lại việc đó, nó hơi quanh co một chút. Đầu tiên, ông phải nhớ là mấy cái thư hăm dọa theo kiểu giấu mặt. Có thể là những đoạn trích từ truyện trinh thám Mỹ. Đó là những lời dọa rỗng tuếch, nhằm khiêu khích bọn cảnh sát. Ta nên đặt vấn đề là 'có phải chúng đánh lừa Ratchett'. Bề ngoài thì câu trả lời là 'không'. Hắn dặn dò lão Hardman là hắn đang bị kẻ thù theo dõi, hắn biết mặt. Nếu ta chịu tin theo lời khai lão Hardman là đúng sự thật. Nhưng thật ra Ratchett chỉ nhận một cái thư nét chữ rất lạ nhắc lại chuyện đứa bé gái nhà Armstrong, chỉ còn một mảnh giấy viết chữ để rơi lại trên sàn trong buồng ngủ. Trường hợp Ratchett không phát hiện sớm, hắn phải biết rõ hơn ai hết có một tên đòi hăm dọa. Tôi đã cho hay trước cái thư không được lộ ra ngoài. Đầu tiên thủ phạm phải lo hủy cái thư. Đấy cũng lại thêm một cái cớ làm chậm lại. Trước đó do tuyết, tàu bị kẹt một chỗ, giờ ta nhặt được mảnh giấy ráp lại.
“Mảnh giấy được cho tiêu hủy cẩn thận để lộ ra một điều. Trên tàu hiện còn một người có quen biết với nhà Armstrong nên để lộ mảnh giấy này hắn sẽ bị theo dõi nghi ngờ.
«Bây giờ ta xem xét đến hai manh mối đã tìm thấy. Ta bỏ qua chuyện cây xoi ống điếu vì đã bàn nhiều rồi. Ta xét đến chiếc khăn mù soa. Ta nhìn từ khía cạnh dễ hiểu nhất, manh mối này nhằm vô người tên chữ đầu tiên là H, chính người này sơ ý làm rớt.
- Đúng - Bác sĩ Constantine nói - Bà ta làm rơi chiếc khăn mù soa rồi tìm cách xóa trắng chữ đầu tiên thật của mình.
- Ông đi quá xa. Ông kết luận nhanh hơn tôi tự cho phép mình làm như vậy.
- Còn cách nào hơn nữa?
- Còn chứ. Giả sử trường hợp ông phạm tội rồi tìm cách đổ tội kẻ khác. Đúng rồi, trên tàu còn một người quen biết nhà Armstrong - có thể là một phụ nữ. Bây giờ ta giả sử ông bỏ lại chiếc khăn mù soa của bà đó. Bà bị tình nghi, người ta sẽ hỏi bà có quen biết nhà Armstrong - mà thế đó. Đó là cái cớ - và có tang vật làn bằng chứng.
- Nhưng trong tình huống như vậy - ông Bác sĩ phản bác - Người này vô tội thì sao, bà chẳng cần phải kiếm cách che đậy lai lịch của mình.
- Ồ vậy à? Ông cho là như vậy sao? Đấy là thuộc về quan điểm của tòa xử vi cảnh. Nhưng tôi hiểu rõ người đời là vậy, ông bạn ơi, tôi nói ông biết, bỗng dưng bị ghép tội giết người, người vô tội cảm thấy mình bối rối sẽ biểu lộ hành vi không thể ngờ được. Không, không được, cái vết dầu và cái nhãn hành lý có xóa nhòa chưa phải là bằng chứng ghép tội, nó khiến cho Bá tước phu nhân Andrenyi càng lo thêm việc gì phải che dấu tên tuổi của mình.
- Ông có nghĩ là phu nhân quen biết nhà Armstrong? Bà cho hay là chưa hề đến nước Mỹ lần nào.
- Phải rồi, bà nói tiếng Anh dở ẹc, lại còn thêm cái vẻ bề ngoài kỳ cục. Muốn đoán ra bà là ai cũng không hề có gì khó. Giờ tôi kể ra tên tuổi mẹ của bà Armstrong, Linda Arden, bà từng là một diễn viên nổi tiếng - một trong những diễn viên kịch Shakespear. Ta nhớ lại vở kịch As you like it - một cảnh trong vở kịch là khu rừng Arden và Rosalinel. Chính từ đây bà nổi tiếng là một diễn viên kịch nói. Bà lấy tên Linda Arden nổi tiếng khắp thế giới, không phái tên thật của bà. Có lẽ còn một cái tên khác, Goldenberg - bà có dòng máu Trung Âu trong người - máu Do thái, có lẽ vậy. Nước Mỹ là nước đa chủng tộc. Tôi có ý kiến là, lúc đó người em gái bà Amstrong chỉ là một đứa bé tên là Helena Goldenbeng, con gái út của Linda Arden, sau lấy Bá tước Andreyi lúc còn làm tùy viên sứ quán ở Washington.
- Nhưng công chúa Dragomiroff cho biết chồng bà là người Ăng-lê?
- Chỉ có cái tên mà bà lại không nhớ. Tôi hỏi ông, ông bạn, thật vậy sao? Công chúa Dragomiroff ngưỡng mộ Linda Arden, đó là chuyện mấy bà quý tộc hâm mộ giới nghệ sĩ có tiếng tăm. Công chúa là mẹ đỡ đầu cho một đứa con gái. Chẳng lẽ bà lại quên bẵng tên đứa con gái đã có chồng kia đi? Không phải vậy đâu. Không, chúng tôi có thể cầm chắc một điều là công chúa Dragomiroff nói láo. Bà đã nhìn thấy Helena trên tàu, bà biết rõ. Bà hiểu rõ việc đó, ngay lúc hay tin Ratchett là ai rồi, có thể Helena lo lắng bị tình nghi. Vậy nên trong cuộc thẩm vấn khi nhắc đến người chị rõ ràng bà nói dối, mù mờ, không nhớ rõ, nhưng lại nói là mình nghĩ Helena có chồng người Ăng-lê - một chi tiết rất khác xa với thực tế.
Người phục vụ toa buồng bước vô trong đến gần bàn. Gã nhắn với ông Bouc.
- Đã đến giờ ăn, thưa ông, dọn ra được chưa? Các món ăn đã làm xong.
Ông Bouc nhìn qua phía poirot. Ông gật.
- Dù sao ta phải dùng bữa đi chứ.
Người phục vụ đi về phía cửa ở đàng kia. Gã gọi chuông rồi cất tiếng :
- Đến giờ cơm. Dọn món ăn ra bàn. Mời quý vị.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương BỐN
VẾT DẦU TRÊN TẤM HỘ CHIẾU HUNGARY

Poirot đang ngồi cùng bàn với ông Bouc và ông Bác sĩ.
Nhóm hành khách có mặt đông đủ trong toa hàng ăn rất là khiêm nhường. Nói khẽ vừa đủ nghe. Bà Hubbard mọi khi nói nhiều hôm nay im tiếng khác thường. Bà nói lầm bầm trong miệng.
- Tôi cảm thấy đắng mồm không thèm ăn uống, già cả.
Ấy vậy mà bà cũng phải ăn vì bà khách người Thụy Điển nài ép lo cho sức khỏe bà.
Trước giờ món ăn dọn ra bàn, Poirot kéo tay người tổ trưởng phục vụ lại nói lầm bầm gì đó tiếng với gã. Bác sĩ Constantine có tài đoán biết mọi việc, ông để ý thấy món ăn dọn ra cho vợ chồng Bá tước Andrenyi trễ hơn, ăn xong trả tiền chậm. Quả đúng là hai vợ chồng bá tước là những người rời bàn ăn sau chót.
Lúc hai người rời bàn đi ra cửa, Poirot đứng phắt ngay dậy bám theo.
- Xin lỗi, phu nhân, bà rơi chiếc khăn mù soa.
Ông đưa trả lại cho bà mảnh khăn vuông vức có thêu tên chữ tắt.
Bà đỡ lấy liếc nhìn một hồi mới trả lại ông.
- Ông nhìn lầm, thưa ông, khăn này đây không phải của tôi.
- Không phải của bà, chắc vậy không?
- Dạ, thưa ông.
- Mà này, thưa phu nhân, có thêu tên chữ tắt đây này - chữ H hoa.
Ngài Bá tước chợt xoay người lại. Poirot làm ngơ không hay biết. Ông nhìn chằm chằm vô mặt phu nhân.
Bà nhìn Poirot vẻ cương quyết mới nói:
- Tôi chẳng hiểu, thưa ông. Tên tắt của tôi là E.A.
- Không phải vậy. Phu nhân tên là Helena - không phải là Elena. Helena Goldenbeng, người con gái út của bà Linda Arden. Helena Goldenbeng chính là em bà Armstrong.
Một thoáng lặng lẽ như dìm mọi người. Cả hai vợ chồng Ngài Bá tước mặt mũi trắng bệch. Chợt Poirot nói giọng thân mật.
- Thôi đừng chối làm gì. Sự thật là vậy đó, phải chứ?
Ngài Bá tước vẻ mặt giận dữ.
- Tôi muốn biết, thưa ông, ông có quyền gì?
Phu nhân chặn ngang, lấy tay che miệng ông lại.
- Không được, Rudolph. Để em nói, ta chẳng cần phải chối bỏ làm gì trước những lý lẽ ông ta vừa nêu. Ta ngồi lại bàn cho ra lẽ.
Giọng nói phu nhân nghe khác hơn. Đúng giọng nói miền nam, nghe như sâu sắc chua cay. Lần đầu tiên ta được nghe một giọng Mỹ rặt.
Ngài Bá tước lặng thinh. Ông biết điều và hai người ngồi xuống nhìn qua Poirot bên kia bàn.
- Ông nói hoàn toàn đúng.- Phu nhân vừa nói - Tôi là Helena Goldenberg, em gái bà Armstrong.
- Vậy mà sáng nay bà không nói cho tôi biết, thưa phu nhân.-
- Không
- Nói thật, nhưng việc ông bà kể lại toàn là chuyện bịa.
- Này - ông Ngài Bá tước tức giận la lớn.
- Không nên, Rudolph. Ông Poirot đặt vấn đề có vẻ gay gắt, nhưng ta không bác bỏ những điều ông thuật lại.
- Tôi hài lòng được nghe phu nhân nói chân thật. Vậy phu nhân có thể kể lại cho tôi nghe lý do nào phải làm như vậy, kể cả việc sửa tên thật của mình?
- Chuyện đó do tôi làm ra - Ngài Bá tước nói.
Helena nói khẽ.
- Dĩ nhiên, thưa ông Poirot. Ông có thể đoán được lý do cả hai vợ chồng tôi. Nạn nhân bị giết chết chính là thủ phạm đã giết chết đứa cháu gái tôi, giết chết chị tôi, khiến cho người anh rể tôi đau đớn ê chề. Ba người mà tôi yêu thương nhất trên đời này đã tạo dựng một cơ ngơi - một thế giới riêng của tôi!
Phu nhân say sưa kể lại. Bà chính là người con gái mẹ hiền, người đã có những vai diễn làm xúc động người mộ điệu.
Phu nhân kể tiếp, giọng khẽ khàng.
- Trong số hành khách đáp tàu tôi là người duy nhất có đủ lý do để giết chết lão.
- Vậy mà phu nhân lại không ra tay giết lão, có phải vậy?
- Tôi cam đoan với ông, ông Poirot. Kể cả chồng tôi cũng biết việc đó, cam đoan, là, dù cho tôi có ý định giết lão tôi cũng không thèm nhúng tay vô.
- Tôi cũng vậy đó ông - Ngài Bá tước nói xen vô - Tôi lấy danh dự mà nói, buổi tối Helena không ra khỏi chỗ ngủ. Bà phải uống thuốc ngủ như tôi đã nói trước. Bà hoàn toàn vô tội.
Poirot nhìn khắp một lượt hai vợ chồng.
- Tôi lấy danh dự mà nói - Bá tước nhắc lại.
Poirot khẽ lắc đầu.
- Vậy là Ngài nhận trách nhiệm về mình việc xóa nhòa tên trong giấy hộ chiếu?
- Này ông Poirot - giọng Ngài Bá tước chân thành - ông hãy cân nhắc ở địa vị tôi. Ông nghĩ sao lúc mà tôi phải chứng kiến vợ tôi dính líu vô một vụ hình sự bẩn thỉu như vậy. Bà ấy vô tội, tôi xác nhận điều đó, những lời khai đúng sự thật. Bởi có quen biết nhà Armstrong nên vợ tôi dễ bị tình nghi. Bà phải chịu thẩm vấn xét hỏi, bị bắt giữ nếu cần. Bởi run rủi nên vợ chồng tôi đi trên chuyến tàu này có mặt lão Ratchett, tôi cam đoan chỉ biết có vậy thôi. Có một điều, thú thật, tôi đã nói dối, chỉ có bấy nhiêu trừ một điểm. Suốt buổi tối vợ tôi ở trong buồng.
Ngài kể lể chân thật khiến người nghe không thể nghĩ khác hơn.
- Tôi không nói là không tin lời ngài - Poirot chậm rãi đáp - Ngài thuộc một dòng dõi trâm anh có từ lâu đời. Thật là xót xa cho Ngài, phải chứng kiến cảnh tượng vợ dính dáng vô một vụ hình sự thật khó coi. Tôi thành thật bày tỏ nỗi niềm với Ngài. Vậy làm thế nào Ngài giải thích được chiếc khăn mù soa của vợ Ngài, rơi trên sàn trong buồng ngủ nạn nhân?
- Chiếc mù soa đó không phải của tôi - Phu nhân nói xen vô - Dù có thêu chữ. Tôi có nhiều khăn mù soa không khác gì khăn đó, nhưng đúng y chang như vậy thì không phải. Tôi cũng biết khó nói làm sao để ông tin, nhưng tôi cam đoan với ông chuyện chỉ có vậy. Chiếc khăn mù soa đó không phải của tôi.
- Vậy thì có kẻ mang đến bỏ lại đó vu oan cho bà?
Phu nhân khẽ nhếch mép cười.
- Ông làm đủ mọi cách tôi phải nhận tội, vậy chắc là của tôi? Mà này, ông Poirot, không phải là của tôi đâu.
Phu nhân đã nói hết với cả tấm lòng.
- Vậy thì, chiếc khăn mù soa đó không phải của bà, vậy có phải bà đã xóa nhòa chữ đầu cái tên trên nhãn hành lý?
Ngài Bá tước vội đỡ lời.
- Bởi chúng tôi vừa nghe nói tìm ra một chiếc khăn mù soa thêu chữ H đầu. Tôi bàn với vợ tôi, trước khi được thẩm vấn. Tôi dặn trước Helena nếu phát hiện ra tên thật của nàng với một chữ H đứng đầu, tất nhiên nàng sẽ bị chất vấn gay gắt hơn. Việc đó cũng dễ thôi, xóa chữ Helena ra chữ Elena.
- Thưa ngài Bá tước, Ngài có đủ trình độ đóng vai một tên tội phạm đại tài - Poirot đưa ra một lời nhận xét nghe lạnh tanh - Ngài có biệt tài và là một nhân vật dám thách thức đánh lừa công lý.
- Ồ không, không đâu - Phu nhân nghiêng người ra phía trước - Này ông Poirot, ông ta đã kể lại cho ông nghe như thế nào rồi - Phu nhân chợt đổi giọng đang nói tiếng Pháp chuyển qua tiếng Anh - Tôi kinh sợ, sợ khủng khiếp, ông biết đó. Nói thật khiếp quá, rất là ghê gớm, lần này cũng cái chuyện chết chóc đó. Mình lại bị tình nghi và có thể bị giam. Tôi sợ quá, ông Poirot. Ông hiểu tôi nói gì chứ?
Giọng bà nghe dịu dàng, sâu lắng, thật thà như van nài, rõ ràng giọng nói con gái nữ nghệ sĩ Linda Arden.
Poirot nghiêm sắc mặt nhìn về phía Bá tước phu nhân.
- Thưa bà, nếu tôi phải tin theo lời bà và tôi không nói là tôi sẽ không nghe lời bà khai, vậy bà phải giúp tôi một việc.
- Giúp ông?
- Phải đó. Chuyện tên thủ phạm xếp qua một bên, cái thảm kịch vừa qua, nguyên nhân nào khiến gia đình bà phân tán và cả một thời tuổi trẻ buồn tủi. Hồi tưởng lại bà hãy kể cho tôi nghe những chuỗi ngày gắn liền một thời tuổi trẻ để tôi có thể tìm ra manh mối làm cho mọi việc được sáng tỏ.
- Biết nói gì với ông đây? Tứ cố vô thân - Bà kể lể giọng buồn tủi - Không còn ai, chết rồi, Bert Sonia, Daisy thân yêu. Con bé dễ thương, vui tính, tóc quăn nhìn đẹp mắt. Mọi người điên đầu vì con bé.
- Vậy là còn thêm một nạn nhân nữa, thưa phu nhân, một nạn nhân không liên quan đến vụ án này?
- Tội nghiệp Susanne? Phải, tôi đã quên nó từ lâu. Cảnh sát hỏi thăm nó, nghi nó có liên quan. Có thể là vậy, mà nếu có, nó chỉ vô tội. Có thể con bé nhẹ dạ kể lại cho một người khác nghe, lúc Daisy đi dạo chơi. Vậy là câu chuyện tha hồ được nhào nặn. Con bé nó nghĩ mình phải chịu trách nhiệm - Phu nhân chợt rùng mình - Nó lao ra ngoài cửa sổ, ối trời, khiếp quá.
Bà úp hai bàn tay che mặt.
- Con bé người nước ngoài, thưa bà?
- Nó người Pháp.
- Họ nó là gì?
- Tôi quên mất không còn nhớ ra. Bọn tôi gọi tên con bé là Susanne, đẹp, có duyên lúc nào cũng tươi cười. Nó theo phục vụ cho Daisy hết mình
- Nó làm nghề giữ trẻ, phải vậy không?
- Phải.
- Vậy ai là người vú em?
- Người này được học nghề chính quy, tên là Stengelberz cũng phục vụ Daisy hết lòng, và cả người chị tôi.
- Đến đây, thưa phu nhân, bà nghĩ cho thật kỹ trước khi trả lời các câu hỏi. Từ lúc đi tàu đến nay bà có nhìn thấy ai quen?
Phu nhân chăm chăm nhìn ông.
- Tôi đấy à ? Không tôi không nhìn thấy ai quen.
- Còn bà Công chúa Dragomiroff thì sao?
- Ồ, bà ấy à? Tôi có quen biết. Tôi cho là ông đang nghĩ một người khác, một người, cùng thời đó.
- Bà nói đúng, thưa phu nhân. Đến đây bà nghĩ thật kỹ. Chuyện cách nay vài năm. Có thể nhìn không ra mặt mũi người ta.
Phu nhân Helena nghĩ ngợi hồi lâu chợt bà đánh tiếng.
- Không, tôi nói chắc là, không quen biết ai.
- Bà, chính là phu nhân đó - thuở đó còn là một cô bé, thuở đó không ai chăm sóc lo cho bà ăn học sao?
- Ồ, có chứ, nhà tôi cô một bà quản gia dữ tợn, bà vừa làm thư ký cho Sonia. Bà người Ăng-lê hay Tô Cách Lan gì đó, người to béo, tóc hung hung đỏ.
- Tên bà là gì nhỉ?
- Bà Freebody.
- Trẻ hay già?
- Với tôi thì nhìn ra bà ấy già lắm. Tôi còn nhớ đâu khoảng bốn mươi đổ lại. Bà Freebody lo giặt giũ và chăm sóc tôi.
- Vậy là còn ai khác ở chung nhà?
- Thảy đều là những người giúp việc.
- Vậy bà chắc, chắc lắm, thưa phu nhân. Bà không quen biết ai trên tàu?
Phu nhân đáp giọng chân thành.
- Không có ai, thưa ông. Không một ai.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»