📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tây tiến 55 năm 🔒

59 trả lời, 9.691 lượt xem — Trang 1 / 2
Tây tiến 55 năm


Lời nói đầu


Nhân dịp kỷ niệm 55 năm Ngày truyền thống của Trung đoàn Tây Tiến (E 52)-ngày thành lập Trung đoàn cũng như ngày lên đường nhận nhiệm vụ Tây Tiến (27-2-1947 _ 27-2-2002) và kỷ niệm 55 năm Ngày thương binh liệt sĩ (27-7-1947 _ 27-7-2002) Ban liên lạc truyền thống Cựu chiến binh Trung đoàn Tây Tiến (e 52) xuất bản tập sách Tây Tiến 55 năm để phục vụ nhu cầu hiểu rõ thêm về một đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam với đặc thù riêng biệt trong nhưng năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp trên một chiến trường đầy khó khăn gian khổ và cũng không kém phần ác liệt.

Trong cuốn sách được xuất bản lần này (tiếp theo cuốn Tây Tiến một thời để nhớ 1995 và Tây Tiến 50 năm nhìn lại 1997) chúng tôi cho in lại một số tư liệu lịch sử để bạn đọc hiểu thêm về truyền thống của Trung đoàn.
Tuy nhiên phần trọng tâm của cuốn sách là giới thiệu những gương mặt của các cán bộ chiến sĩ trên mặt trận miền Tây chiến lược, từ các cán bộ chỉ huy, lãnh đạo Mặt trận đến người chiến sỹ bình thường, là những họat động xây dựng và chiến đấu của các đơn vị cơ sở, là những tình cảm đoàn kết quân dân trên một vùng chiến lược, địa bàn rừng núi đông đồng bào các dân tộc thiểu số, là những éo le trong cuộc sống đời thường của các chiến sỹ thông qua những mối tình kháng chiến, là tinh thần đoàn kết đặc biệt thủy chung giữa quân đội hai nước anh em Việt-Lào được nẩy nầm rất sớm ngay từ những ngày đầu cách mạng thành công năm 1945 của hai nước.

Cuốn sách dành một phần quan trọng để thể hiện cảm xúc của các Cựu chiến binh Tây Tiến khi về thăm lại chiến trường xưa, nơi hàng trăm đồng đội đã nằm xuống vĩnh viễn trên biên cương heo hút và ngay cả trên đất bạn Sầm Nưa, nơi mà vong linh họ đã bay lãng đãng suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Những người còn sống hôm nay, dù bận trăm công nghìn việc đời thường, vẫn canh cánh bên lòng những tình cảm mặn nồng mỗi khi nhắc tới các địa danh Hòa Bình, Mẫn Đức, Cao Phong, Lương Sơn, Đà Bắc, Kỳ Sơn, Mộc Châu, Mường Lát, Tân Lạc, Mường Bi, Lạc Sơn, Chợ Bờ, Suối Rút, Mai Châu, Phố Vãng, Vụ Bản, Châu Trang v.v... như nói về quê hương của mình. Hòa Bình, Tây Bắc đang trong quá trình đổi mới lớn lao của Tổ Quốc Việt Nam, vững bước trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là niềm mơ ước của các chiến sỹ Tây Tiến, cũng là ước vọng ngàn đời của đồng bào các dân tộc Miền Tây chiến lược. Các thế hệ chiến sỹ Tây Tiến e 52 ngày nay, tiếp tục con đường cách mạng truyền thống của cha anh vẫn vững tay súng ra sức xây dựng Trung đoàn Tây Tiến lớn mạnh, hòan thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên vùng đất Tây Nguyên anh hùng.

Ban liên lạc đã nhận được hơn một trăm bài của các bạn chiến đấu Tây Tiến, có bạn viết ba bốn bài, viết khá công phu, nhiều tư liệu qúy của những người trong cuộc. Tuy vậy còn nhiều nhân chứng lịch sử chưa nói hết được những kỷ niệm sâu sắc của một thời Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc.

Với tấm lòng trân trọng các giá trị lịch sử sống động và sâu lắng qua những trang sách có phần nặng về tình cảm hơn là nghệ thuật điêu luyện, Ban liên lạc xin mời bạn đọc đón nhận như một món quà nhỏ của Thế kỷ mới và châm chước cho những gì còn khiếm khuyết.

Đông Xuân - 2001 2002

Ban liên lạc truyền thống
Cựu chiến binh Trung đoàn Tây Tiến E 52


Sau đây là nội dung cuốn sách, mời các bạn đón đọc:


Mục lục
1. Lời nói đầu (đã post ở bên trên)
2. Thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
3. Bộ trưởng Bộ quốc phòng kính gửi các chiến sĩ trong bộ đội Tây Tiến
4. Truyền thống lịch sử Trung đoàn 52 Tây Tiến
5. Sơ đồ bố trí các đơn vị Tây Tiến 1945 - 1947
6. Mệnh lệnh đổi số hiệu Trung đoàn Tây Tiến - E 52
7. Hành trang của CCB Tây Tiến bước vào thế kỷ 21
8. Bộ đội Tây Tiến nhũng ngày đầu cách mạng ở Tỉnh Hủa Phăn - Lào
9. Trung đoàn 52 Tây Tiến anh hùng làm tốt công tác dân vận trong năm 2001
10. Nhớ về Anh: Khu trưởng Hoàng Sâm
11. Từ đội trưởng Đội VNTTGPQ đến chỉ huy trưởng Mặt trận Tây Tiến
12. Kỷ niệm về Tiểu đoàn trưởng Mạnh Quân và Chính trị viên Lê Minh
13. Vị tướng tài bình dân
14. Nhớ mãi Kim Tuấn
15. Gương sáng đảng viên người dân tộc Mường
16. Từ dòng sông tuổi thơ
17. Người thầy thuốc "đa sĩ "
18. Một chiến sĩ Tây Tiến
19. Một lão chiến sĩ Tây Tiến làm kinh tế giỏi
20. Quang Dũng - Quang Khải - Quang Thọ - Ba nghệ sĩ Tây Tiến
21. Sâu nặng mối tình Xô - Việt
22. Chân dung Hồ Chủ tịch trên cao nguyên Phiêng Sa
23. Những ngày đầu ở Sở chỉ huy Mặt trận Tây Tiến
24. Nhớ lại lần tiếp xúc với gia đình họ Đinh Công ở Châu Lương Sơn năm trước
25. Những ngày vui Tết đón xuân Bính Tuất 1946 ở Sầm Nưa
26. Tình quân dân cá nước
27. Nhớ ngày ra đi
28. Nhiệm vụ của đội VTTT B được hoàn thành
29. Dự hội luyện quân: Hội núi sông
30. Chuyện tình Tây Tiến
31. Ông trưởng động người Dao Toàn Sơn
32. Vào địch hậu huyện Lạc Sơn
33. Những kỷ niệm đáng nhớ
34. Những kỷ niệm ở Sầm Nưa đã ghi sâu trong ký ức của tôi
35. Nhớ người năm ấy
36. Nhớ lại một thời làm lính thông tin ở đoàn quân Tây Tiến




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0

Thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp



BỘ QUỐC PHÒNG
*** Ngày O1 tháng 02 năm 1947
Số : ..................

Bộ trưởng Bộ quốc phòng

Kính gửi : Các chiến sĩ trong bộ đội Tây Tiến!

Các đồng chí,

Hôm nay các đồng chí lên đường lãnh nhiệm vụ tiến về hướng Tây, theo gót một số đã sớm tiến trên các mạn Điện biên phủ, Sơn la, Mộc châu, Sầm nưa hay miền lân cận Xiêng khoảng, Sê Pôn.

Tôi viết thư này cho tất cả các đồng chí, người hiện đã ở tiền tuyến miền Tây cũng như người vừa nhận được lệnh lên đường, mong vạch rõ được nhiệm vụ nặng nề thiêng liêng mà nước nhà đã giao phó. Tôi lại muốn kêu gọi các đồng chí chuẩn bị tinh thần cho đầy đủ để ứng phó với tất cả những khó khăn hiểm nghèo đang đợi chờ các đồng chí ở nơi chiến địa.
Miền Việt Tây đối với nước ta có một vị trí chiến lược rất quan trọng.
Hùng cứ được vùng đó, không những quân địch ở vào cái thế cứ cao lâm hạ có thể uy hiếp hậu phương chúng ta, mà chúng lại mong thực hiện cái âm mưu ác độc dĩ Việt chế Việt chia rẽ các anh em thiểu số, lập bộ đội người Việt thiểu số để tiến đánh chúng ta.

Cái âm mưu chính trị lẫn quân sự ấy chúng đă thực hiện ở miền Nam bằng cách chiếm cứ cao nguyên Trung bộ và lợi dụng anh em dân tộc thiểu số ở đó. Ngày nay sở dĩ bộ đội ta ở miền Nam Trung bộ nhiều nơi phải chiến đấu trong những điều kiện khó khăn, sở dĩ trên các mặt trận chúng ta thấy cái cảnh cốt nhục tương tàn, một số anh em Rađê (Rhadé) làm tay sai cho Pháp là vì lúc mới khởi hấn, chúng ta không đủ lực lượng hoặc hành động không kịp thời để ngăn ngừa quân Pháp tiến chiếm vùng cao nguyên.

ở miền Bắc Việt Nam thực dân Pháp cũng sẵn cái ý định khống chế các vùng dân tộc thiểu số từ Lai châu đến Thanh, Nghệ để tiến đánh Hòa Bình, Phú Thọ, Thanh Hoá, Nghệ An và mong dùng chính sách lừa gạt và đàn áp để lập nên xứ Thái "tự trị", xứ Mường "tự trị" dưới gót sắt của chúng.

Do những nhận xét nói trên các đồng chí thấy rõ nhiệm vụ bảo vệ biên cương phía Tây của chúng ta là quan trọng đến chừng nào. Mỗi tấc đất miền Tây là một tấc đất của Tổ quốc Việt Nam, chúng ta không thể để cho địch dễ dàng giẫm lên được. Mỗi một đồng bào miền Tây là một người dân nước Việt, chúng ta không thể không bảo vệ quyền lợi của đồng bào, không thể để đồng bào ta bị quân địch dầy xéo hay lung lạc. Hơn nữa, bảo vệ được lãnh thổ và nhân dân miền Tây tức là gián tiếp bảo vệ được đại hậu phương chúng ta, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuối cùng.
Trên con đường về miền Tây, các đồng chí sẽ phải lặn lội nơi rừng xanh suối bạc, ở những địa phương hàng nửa ngày đường không thấy một bóng người, thủy thổ không quen thuộc,vật chất thiếu thốn, ngôn ngữ bất đồng, nước độc ma thiêng. Chỉ một việc cất chân lên đường tiến về hướng Tây là đủ tỏ cái chí hy sinh, cái lòng kiên nghị của các đồng chí. Các đồng chí biết rằng trên mặt trận này bộ đội ta sẽ phải đương đầu với nhiều hiểm nghèo, khổ sở. Những sự hiểm nghèo, khổ sở có bao giờ chinh phục được lòng anh dũng của những thanh niên hăng hái, có bao giờ chinh phục được chí hướng của một dân tộc.

Tôi có mấy lời căn dặn các đồng chí, các đồng chí ghi nhớ.

Một là đối với đồng bào thiểu số, các đồng chí cần phải ăn ở tốt, lấy nói năng cử chỉ, giúp đỡ hằng ngày mà chứng minh rằng chúng ta là đồng bào một nước, bao giờ cũng yêu thương nhau như anh em ruột thịt, từ những điều họ nghe thấy hàng ngày mà đưa họ đến chỗ giác ngộ. Trước hết chúng ta phải đánh tan cái thành kiến cho rằng anh em thiểu số miền Tây chưa có tinh thần dân tộc, không thể giác ngộ, chỉ biết phục tùng sức mạnh. Không có một con người nào là không thể tiến bộ, không có một dân tộc nào là không biết yêu nhà cửa ruộng nương của mình, không biết yêu nước và ghét quân thù. Kinh nghiệm Việt Bắc đã chứng tỏ điều này. Những việc đã làm được ở Việt Bắc trong hòan cảnh khó khăn hơn, không lẽ gì lại không thực hiện được ở miền Tây.

Hai là đối với sức khoẻ của mình, cần phải ra sức giữ gìn, không bao giờ quên nhãng nguyên tắc vệ sinh thường, không ăn quả xanh, không uống nước lã, vừa hành quân về không nên tắm nước suối, nơi nào có thể chặt cây lấy lá làm chỗ nằm thì không nên ngủ đất, lại phải vận động luôn, phải luôn luôn vui vẻ. Làm được như thế thì bệnh họan có thể tránh được một phần.

Ba là phải có sáng kiến và kiên tâm trong việc vận động nhân dân cũng như trong việc tiến đánh địch. Nếu có sáng kiến và kiên tâm thì những sự khó khăn của ta về lương thực đường sá sẽ trở nên những khó khăn của địch, những dễ dàng của địch trong khi chúng tập kích ta sẽ trở nên những dễ dàng cho ta để tiến đánh chúng.

Vạn nhất trong cuộc hành binh các đồng chí có dịp gặp anh em Lào hay Mèo thì phải đứng trên lập trường bình đẳng tương trợ giúp đỡ cuộc vận động giải phóng của họ, mà tiếp xúc và giải quyết mọi vấn đề.

Chúc các đồng chí hăng hái khoẻ mạnh.

Công đức của các đồng chí, đồng bào và Tổ quốc sẽ ghi nhớ. Dưới sự điều khiển của Bộ chỉ huy Tây Tiến, các đồng chí mạnh tiến lên trên con đường vinh quang thắng lợi. Nếu trong cuộc kháng Nhật chúng ta đã thành công với khu giải phóng Việt Bắc thì trong cuộc kháng Pháp chúng ta phải thành công với công cuộc Tây Tiến.

Chào quyết thắng

Võ Nguyên Giáp







http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Truyền thống lịch sử Trung đoàn 52 Tây Tiến


Sinh ra từ cuộc kháng chiến gian khổ kiên cường chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân Miền Tây Bắc bộ vào mùa xuân Đinh Hợi (1947), từ đó đến nay, Trung đoàn 52 Tây Tiến đã trải qua một chặng đường chiến đấu và xây dựng hơn nửa thế kỷ: tám năm kháng chiến chống thực dân Pháp, mười ba năm xây dựng bảo vệ miền Bắc và chi viện chiến trường chống Mỹ, tám năm trực tiếp tham gia chiến đấu giải phóng miền Nam và làm nhiệm vụ ở tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh, hai mươi sáu năm xây dựng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Đoàn quân Tây Tiến đã bước đi khắp mọi nẻo đường đất nước, có mặt trên các chiến trường: Mặt trận Tây Tiến, Thượng Lào, đồng bằng Bắc Bộ, Trị Thiên, Tây Nguyên, Khu 5, Sài Gòn-Gia Định, Tây Ninh, Việt Bắc và nước bạn Campuchia.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà trực tiếp là Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến khu 2, Liên khu 3, khu Hữu Ngạn, khu Tả Ngạn, Quân khu 3, mặt trận Trị Thiên, Quân khu 5, mặt trận Tây Nguyên-Quân đoàn 3 và Đảng ủy chỉ huy Sư đoàn 320, được Đảng bộ chính quyền và nhân dân các địa phương hết lòng giúp đỡ, cưu mang, đùm bọc Trung đoàn 52 Tây Tiến đã nhanh chóng trưởng thành, vững mạnh, liên tiếp lập nên những kỳ tích trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng nhiều thành tích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trung đoàn đã được Hồ Chủ tịch tặng lá cờ "Quyết chiến, Quyết thắng", vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao qúy "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" và tặng thưởng hàng chục Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công các hạng. Trung đoàn có tiểu đoàn 6, Đại đội 14 và hai đồng chí: Trương Công Man, Nguyễn Văn Ngữ được tuyên dương Anh hùng, hàng chục đơn vị được tặng danh hiệu Thành đồng quyết thắng, hàng trăm lượt cán bộ chiến sĩ được tặng Huân chương Chiến công, hàng nghìn đồng chí được tặng bằng khen, giấy khen và nhiều phần thưởng vinh dự khác.

Chặng đường 55 năm qua của Trung đoàn 52 Tây Tiến là chặng đường chiến đấu và xây dựng của một trung đoàn chủ lực cơ động, gắn liền với lịch sử hào hùng của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành lại hòa bình, độc lập, tự do cho Tổ quốc, gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong chặng đường lịch sử sáng chói chiến công và thành tích xây dựng toàn diện, bằng sức lực, trí tuệ máu xương, lớp lớp cán bộ chiến sĩ đã xây nên truyền thống tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, đoàn kết thống nhất, quyết chiến quyết thắng của Trung đoàn Tây Tiến anh hùng
Truyền thống tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, đoàn kết thống nhất của trung đoàn được hình thành từ rất sớm. Buổi đầu thành lập, Trung đoàn 52 Tây Tiến là hình ảnh thu nhỏ nhưng vô cùng sinh động của các lực lượng vũ trang cách mạng Chiến khu 11 Hà Nội, Chiến khu 3 và Chiến khu 2. Cán bộ chiến sĩ đều là những chiến sĩ Giải phóng quân từ Việt Bắc về Thủ Đô chuyển thành Vệ quốc đoàn, tự vệ chiến đấu, công nhân, nông dân, trí thức, dân nghèo thành thị, binh sĩ chế độ cũ giác ngộ và cả những nhà sư... có lòng nồng nàn yêu nước, chí căm thù quân xâm lược Pháp và lũ bán nước, tự nguyện đứng trong hàng ngũ Mặt trận Việt minh, quyết đem xương máu bảo vệ non sông, giữ vững lời "Thề độc lập", không cam chịu sống đời nô lệ một lần nữa. Thuở ban đầu, trình độ giác ngộ của họ không đều, vũ khí trang bị còn thiếu thốn thô sơ, kiến thức quân sự và khả năng tổ chức còn hạn chế. Phần lớn cán bộ chiến sĩ trung đoàn đã được rèn luyện thử thách qua cao trào Cách mạng Tháng Tám, 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ thủ đô Hà Nội và đánh địch ở mặt trận Hải-Kiến trước và sau ngày Toàn quốc kháng chiến.

Nhưng cũng có nhiều đồng chí xuất thân từ học sinh, trí thức Thủ Đô, thông minh, tài hoa, dũng cảm tuy nặng lòng yêu nước nhưng vẫn vương vất chút thư sinh lãng mạn thị thành. Đặc biệt, trong hàng ngũ cán bộ và chiến sĩ hoả lực nòng cốt có không ít những người xuất thân từ binh sĩ chế độ cũ; có người vốn trước đây là những tay "anh chị" khét tiếng ở chợ Sắt, bến Bính thành phố cảng Hải Phòng tuy đi theo cách mạng nhưng vẫn mang theo dư âm một thời "iêng hùng", "hảo hán", "đại ca". Thậm chí có cán bộ đại đội trưởng như Văn Dương ở Đại đội bạch binh Đề Thám (121) vẫn nhận thức Chủ nghĩa Cộng sản là "cộng vợ, cộng con, cộng gia cư điền sản", khâm phục lãnh tụ Nguyễn ái Quốc nhưng không biết đó chính là Hồ chủ tịch và kiên quyết đi theo Việt Minh đánh giặc cứu nước nhưng không biết do Đảng cộng sản lãnh đạo; xạ thủ trung liên Tăng Nguyên có thời đi lính cho Pháp nay theo cách mạng chiến đấu gan dạ dũng cảm nhưng không chịu sự chỉ huy, khi địch đến gần đốt hương khấn vái khẩu súng rồi mới bắn. Nhưng trong quá trình chiến đấu, khâm phục những đảng viên cộng sản, họ đã giác ngộ chính trị. Từ một chỉ huy độc đoán từng gây khó dễ cho chi bộ Đảng đơn vị, họ đã học tập chính trị từ chính người liên lạc của mình để cuối cùng được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy hầu hết các trận đánh, đối tượng tác chiến của Trung đoàn 52 là những đội quân nhà nghề, trang bị vũ khí tối tân, có xe tăng, máy bay, đại bác, tàu chiến, quân đông lại được huấn luyện chuyên nghề đánh giết; những tướng tá chỉ huy nổi tiếng nước Pháp và Tây Âu trong cuộc Chiến tranh Thế giới thứ hai, có thành tích đàn áp phong trào cách mạng ở Bắc Phi... nhưng đều thất bại trước các chiến sĩ Tây Tiến đoàn kết chiến đấu vô cùng dũng cảm. Trong cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ ác liệt ấy, các cấp ủy Đảng và đội ngũ đảng viên của Trung đoàn luôn là chỗ dựa cho người chỉ huy, là linh hồn của đơn vị, là chất keo bền vững gắn bó bộ đội thành một khối thống nhất cả ý chí và hành động. Với đội ngũ Đảng viên, cán bộ chính trị làm nòng cốt, công tác giáo dục tuyên truyền động viên bộ đội được tiến hành liên tục dưới nhiều hình thức phong phú, đã làm cho tinh thần bất khuất yêu tự do không chịu sống đời nô lệ trong mỗi chiến sĩ hòa quyện với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của cách mạng, làm cho mọi cán bộ chiến sĩ nhận thức rõ ràng muốn đánh thắng đế quốc, ngoại xâm, giành lại tự do cho Tổ quốc thì chỉ có con đường duy nhất đúng là xiết chặt đội ngũ chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng, của Bác Hồ. Cảm phục trước tinh thần chiến đấu hy sinh dũng cảm tuyệt vời của những Đảng viên cộng sản trong cơn hiểm nghèo giữa trận ỷ Na, Hòang Long, trong trận chiến khốc liệt ở Xóm Trại... trong suốt tám năm kháng chiến chống Pháp, cán bộ chiến sĩ Tây Tiến tuyệt đối trung thành tự nguyện chiến đấu dưới lá cờ Đảng, vượt mọi chông gai, hòan thành thắng lợi nhiệm vụ xây dựng cơ sở, mở dân ở Hòa Bình, tác chiến trong vùng sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ; góp phần quan trọng đánh bại các cuộc hành binh lớn của nhiều binh đoàn cơ động Âu Phi với những cái tên kỳ dị: Hoa Tuy líp, Mưa phùn, Xe lội nước, Thủy ngân, Lạc đà, Cá măng, Chim hải âu.

Phát huy truyền thống tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, đoàn kết gắn bó trong cuộc kháng chiến chống Pháp, trong mười ba năm xây dựng, chiến đấu bảo vệ miền Bắc và chi viện chiến trường đánh Mỹ, Trung đoàn 52 đã hòan thành tốt nhiệm vụ tiếp quản khu 300 ngày ở thành phố Hải Phòng, lập nhiều chiến công góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá họai bằng không quân và hải quân ra miền Bắc, kịp thời chi viện chiến trường. Trong năm 1968 trung đoàn hòan thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu ở Cửa Việt, Đường 9 Quảng Trị. Khi toàn trung đoàn chi viện cho chiến trường miền Nam, Trung đoàn 46 thay thế và vẫn mang tên Trung đoàn 52 Tây Tiến trong đội hình Sư đoàn 320. Mặc dù lúc đầu có không ít cán bộ chiến sĩ băn khoăn muốn giữ lại tên cũ nhưng trước trách nhiệm và tình cảm cách mạng ai cũng đều vui vẻ chấp thuận phát huy truyền thống Trung đoàn Tây Tiến và Trung đoàn 46 vào xây dựng đơn vị. Chính vì vậy, Trung đoàn 52 đã hòan thành tốt nhiệm vụ chiến đấu ở Trị Thiên, Tây Nguyên, Khu 5 cùng quân dân cả nước tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Đất nước hòa bình thống nhất, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ trung đoàn, cán bộ chiến sĩ đoàn Tây Tiến đoàn kết thành một khối, thống nhất ý chí và hành động ra sức thi đua xây dựng đơn vị chính quy hiện đại, truy quét FULRO. Tiếp đó, đơn vị hòan thành thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế. Trong những năm cơ động làm nhiệm vụ trên các hướng chiến lược của Tổ quốc, mặc dù gặp vô vàn gian nan vất vả, địa bàn nhiệm vụ thay đổi, quân số luôn biến động... nhưng với truyền thống và sức mạnh đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng, Trung đoàn 52 luôn hòan thành tốt mọi nhiệm vụ; cán bộ chiến sĩ không chút chao chạnh ngả nghiêng cho dù tình hình diễn biến trong nước và trên thế giới có nhiều phức tạp không theo chiều hướng thuận lợi. Chỉ có sự đoàn kết thống nhất chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng với lòng trung thành tuyệt đối và niềm tin vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng mới tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn lao chiến thắng mọi kẻ thù. Và cũng chỉ có chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng sức mạnh của lòng yêu nước, yêu tự do, tài năng của mỗi cán bộ chiến sĩ mới được phát huy cao độ đến thế! Diệu kỳ đến thế!

*


Là một trung đoàn chủ lực có truyền thống "Quyết chiến, Quyết thắng", cán bộ chiến sĩ Trung đoàn Tây Tiến phát huy truyền thống đánh giặc của ông cha, cách đánh phong phú của dân tộc; những chiến sĩ thông minh quả cảm đã sáng tạo tìm ra nhiều phương pháp chiến đấu vô cùng phong phú đa dạng của chiến tranh nhân dân, chiến thắng kẻ thù có ưu thế hơn hẳn ta về quân số, vũ khí, phương tiện kỹ thuật chiến tranh. Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Hồ Chủ Tịch: "Chúng ta phải dùng tinh thần hăng hái của toàn dân để tìm cách giải quyết sự thiếu kém về vật chất", trong tám năm kháng chiến chống Pháp, Trung đoàn 52 không ngừng phát triển về mặt chiến thuật, tiến bộ vượt bậc về cách đánh. Là đơn vị bộ đội chủ lực cơ động của Chiến khu 2, ngay từ khi mới ra đời chưa đầy hai tháng, lực lượng vừa tụ hội từ vùng biên giới Việt-Lào về và từ Hà Nội, Hải Phòng lên, trung đoàn đã tổ chức đánh tập trung, kịp thời cùng quân dân Mai Châu, Đà Bắc, đánh chặn cuộc hành binh đầu tiên của quân Pháp chiếm lại Hòa Bình. Nhiều trận chiến không cân sức đã diễn ra ở Phương Lâm, Kỳ Sơn, Dốc Cun, Chợ Bờ, Suối Rút, Vạn Mai, Cao Phong, Mường Bi, Mường Lồ và các trận Chiềng Sại, Bãi Sang trên đường số 15. Khi thực hiện họat động phân tán vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung trình độ tác chiến của các đơn vị ngày càng nâng lên rõ rệt, các hình thức tác chiến như tập kích, phục kích, chống càn quét, lùng sục của địch được vận dụng phổ biến và ngày càng tiến bộ. Từ khi đứng chân trong đội hình Đại đoàn 320 chiến đấu ở vùng sau lưng địch, vùng đồng bằng Bắc Bộ, lúc đầu trung đoàn tổ chức thành công nhiều trận đánh phục kích cấp tiểu đoàn giành chiến thắng vang dội ở Yên Ninh, Yên Thổ, chợ Cầu Đôi, chợ Cổng, chợ Mới, Tầm Phương, Hạ Đồng; sau đó tổ chức luồn càn thắng lợi tránh mũi nhọn cuộc hành binh lớn Thủy Ngân của 5 binh đoàn địch. Đặc biệt, trong cuộc càn quét Hải Âu, địch sử dụng 5 binh đoàn cơ động có nhiều xe tăng thiết giáp. pháo lớn, máy bay yểm trợ lên vùng tự do của ta ở Nho Quan, Ninh Bình; Trung đoàn 52 đã đảm nhiệm đánh địch trên một hướng của Đại đoàn 320, cùng quân dân địa phương đánh bại một hướng tiến công của địch. Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, Trung đoàn 52 không những giỏi đánh phục kích tập trung toàn đoàn giành thắng lợi vang dội ở Vọng Doanh-Giáp Giá, mà còn tiến lên đánh thắng những trận công kiên lớn diệt cụm cứ điểm công sự vững chắc Đông Biên. Cùng với sự phát triển của các hình thức chiến thuật: phục kích, tập kích, tiến công cụm cứ điểm, phòng ngự trận địa và luồn càn; các thủ đoạn tác chiến như vu hồi, chia cắt, thọc sâu, luồn sâu, đánh gần, kỳ tập, hoá trang, độn thổ, nội ứng, đội bèo bơi sông đánh cầu, kết hợp giữa tác chiến và binh địch vận... cũng được vận dụng linh họat và thu được nhiều kết quả. Chính vì vậy, trung đoàn với trang bị vũ khí bộ binh mang vác, còn chênh lệch so với đối tượng tác chiến là các binh đoàn Âu Phi cơ động vẫn liên tiếp giành chiến thắng. Bên cạnh yếu tố chủ yếu là tinh thần của người chiến sĩ, yếu tố quan trọng của trang bị kỹ thuật vũ khí, thì cách đánh thông minh sáng tạo, chủ động dũng cảm, phong phú của trung đoàn là một nhân tố rất lớn để làm nên chiến thắng. Chính vì vậy, Trung đoàn 52 Tây Tiến đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng lá cờ "Quyết chiến, Quyết thắng".

Kế thừa truyền thống và kinh nghiệm tác chiến phong phú trong cuộc kháng chiến chống Pháp, lại được huấn luyện chu đáo, nên khi tác chiến trực tiếp ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngay từ đầu Trung đoàn 52 đã lập chiến công vang dội diệt Mỹ ở Mai Xá Thị, Lâm Xuân, diệt gọn tiểu đoàn ngụy ở Lại An, làm nên chiến thắng vang dội ở Đại Độ-Xóm Soi, Thượng Nghĩa-Đình Tổ bên bờ sông Cửa Việt. Sau đó lại giành thắng lợi ở Động Tri, Ba Hồ diệt tiểu đoàn "Trâu điên". Khi vào chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, tinh thần quyết chiến quyết thắng phát triển đến cao độ trong trận tiến công tiểu đoàn dù 2 ở điểm cao 1049 bên bờ tây sông Pô Cô, mở đầu chiến dịch Xuân hè năm 1972 ở Tây Nguyên. Tiếp đó, trung đoàn diệt gọn căn cứ biệt kích Kleng, rồi phát triển tiến công địch ở tây bắc thị xã Kon Tum. Mùa mưa năm 1972, mặc dù nhận lệnh gấp, Trung đoàn 52 vẫn chấp hành nghiêm mệnh lệnh rời Tây Nguyên về đánh địch ở tây Quảng Ngãi. Trong gần ba năm họat động ở Quảng Ngãi, Quảng Nam, lữ đoàn 52 đánh liên tục hàng trăm trận, có nhiều trận đánh toàn lữ đoàn, mức độ chiến đấu vô cùng ác liệt, nhưng đơn vị đã hòan thành thắng lợi giải phóng Ba Tơ, Đá Bàn, Giá Vụt, phòng thủ thắng lợi ở Nghĩa Hành, rồi cơ động tiến công Quảng Nam, giải phóng thị xã Quảng Ngãi, tiến vào Sài Gòn-Gia Định trong đội hình quân đoàn 4. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trung đoàn (lữ đoàn) 52 đã vận dụng linh họat sáng tạo nhiều cách đánh: phục kích, tập kích, vây lấn tiến công, tiến công địch có công sự vững chắc trên điểm cao, tiến công địch trong cụm cứ điểm có công sự vững chắc, phòng ngự khu vực, phòng ngự trận địa, tiến công trong hành tiến... giành thắng lợi giòn giã; đánh thắng nhiều sắc lính: thủy quân lục chiến Mỹ, cơ giới ngụy, lính dù, biệt động biên phòng, chủ lực quân đoàn 2 ngụỵ... Hầu hết các trận đánh của trung đoàn đều có quy mô tiểu đoàn, trung đoàn, lữ đoàn có hiệp đồng bộ-pháo, nhiều trận có xe tăng và đơn vị bạn, địa phương phối hợp. Trình độ tổ chức chỉ huy và khả năng tác chiến của bộ đội ngày một nâng lên, cán bộ chiến sĩ trưởng thành mọi mặt. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, nhiều hình thức, cách đánh và kinh nghiệm trong kháng chiến chống Mỹ được vận dụng sáng tạo phù hợp điều kiện đối tượng, địa hình mới.

Truyền thống "Quyết chiến, Quyết thắng" của trung đoàn còn được thể hiện sinh động trong xây dựng hòa bình. Từ năm 1975 đến năm 2000 Trung đoàn 52 đã di chuyển 10 lần qua các địa điểm: Sài Gòn-Phú Yên-Đồng Dù, Ninh Hòa, Buôn Ma Thuột-Tây Ninh-Campuchia-Đại từ-Vĩnh Phú-Ayunpa-Pleiku. Mỗi lần đến địa điểm mới là lại bắt đầu xây dựng cơ ngơi từ hai bàn tay trắng, với biết bao gian lao, vất vả, nhọc nhằn. Nhưng với truyền thống quyết chiến quyết thắng, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 52 không hề so đo tính toán, dũng cảm bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ và chỉ một thời gian ngắn lại hòan chỉnh một doanh trại khang trang gọn đẹp.
Hơn nửa thế kỷ qua, từ đội quân ban đầu được tập hợp từ các đơn vị ở hầu khắp các chiến trường Bắc Bộ, vũ khí trang bị nghèo nàn, thiếu thốn, thô sơ, kiến thức quân sự còn ấu trĩ, nhưng với lòng nồng nàn yêu nước, chí căm thù giặc cao độ, những người lính Tây Tiến đã nhanh chóng lớn vụt lên trong lửa đạn chiến tranh, trở thành những chiến binh dũng cảm, đánh giặc giỏi, lập bao chiến công hiển hách trên khắp các chiến trường, đánh thắng các đội quân nhà nghề của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ được trang bị đến tận răng. Từ chiếc nôi Tây Tiến đã góp phần đào luyện nên biết bao người con ưu tú cho Đảng, quân đội, đất nước. Nhiều đồng chí đã trở thành những tướng lĩnh thao lược, những nhà khoa học quân sự uyên thâm, những nhà văn hoá tài ba... có nhiều cống hiến xuất sắc cho cách mạng.

*


Là một đội quân chiến đấu, xây dựng giỏi, Trung đoàn 52 Tây Tiến còn là một đội quân công tác giỏi, luôn gắn bó máu thịt với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các địa phương. Vốn sinh ra từ nhân dân, do dân nuôi dưỡng và chiến đấu vì dân, ngay từ buổi đầu thành lập, các chiến sĩ Tây Tiến đều là con em của nhân dân lao động hợp thành đã sống trong lòng dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình, Thanh Hoá. Các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung được chính quyền và nhân dân địa phương nuôi dưỡng, giúp đỡ họat động, đánh giặc. Nhiều chi bộ Đảng là chi bộ ghép giữa các đảng viên của Đội tuyên truyền Tây Tiến với đảng viên địa phương, họat động rất gắn bó có hiệu quả cao. Đặc biệt, trong những tháng năm chiến đấu vô cùng ác liệt ở Miền Tây, nhiều cán bộ chiến sĩ Tây Tiến mắc bệnh hiểm nghèo, bị thương phải nằm điều trị tại bệnh xá trung đoàn ở Châu Trang vô cùng thiếu thốn. Biết tin, những người mẹ Phó Khôi, Tài Thọ, Phẽm Nhỡ, Lý Mô, Ký Đông, Lý Nõn tự đi tìm hiểu và giúp đỡ bộ đội; tiếp đó một phong trào vận động rộng rãi giúp đỡ trạm quân y Tây Tiến đã được các đoàn thể phụ nữ, thanh niên, phụ lão, thiếu nhi ủng hộ nhiệt thành. Tấm lòng nhân ái cao đẹp của đồng bào Hòa Bình mãi mãi không phai mờ trong ký ức của bao cán bộ chiến sĩ Tây Tiến, tiếp thêm nguồn sức mạnh lớn lao cho bộ đội dũng cảm xông lên tiêu diệt quân thù, giải phóng quê hương, tổ quốc.

Trong cuộc chiến đấu gian khổ ở vùng sau lưng địch bên Tả Ngạn và Hữu Ngạn sông Hồng, bộ đội Tây Tiến sống trong lòng dân Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên. Đảng bộ, chính quyền lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương đã không tiếc sức người, sức của giúp bộ đội xây dựng công sự, chiến đấu. Hàng ngàn lượt người dân được huy động chở bộ đội vượt qua sông Đáy, sông Hồng, không quản hiểm nguy; hàng vạn dân công phục vụ bộ đội chiến đấu, tải đạn, cứu thương; hàng trăm tấn lương thực được huy động cho quỹ kháng chiến; nhiều đội du kích, nhiều người dân tự nguyện nắm địch, làm tai mắt cho bộ đội. Trong những ngày tháng chiến đấu gian nan ác liệt đó nhiều đồng bào đồng chí đã ngã xuống khi giúp bộ đội Tây Tiến chiến đấu sống mái với quân thù. Đồng thời cán bộ chiến sĩ Tây Tiến không quản nguy hiểm ác liệt hy sinh để bảo vệ nhân dân luồn càn, cất giấu tài sản chống địch cướp phá và bắt lính, tiến lên giải phóng hòan toàn quê hương. Trận chống địch càn lên Móng Lá, Nho Quan, nữ du kích Quách Thị Khế tuy mới 17 tuổi đã băng qua hiểm nguy tải đạn giúp bộ đội, khi cả khẩu đội đại liên thương vong chị đã một mình một súng đánh lui đợt tiến công của địch.

Khi chiến đấu ở Quảng Trị, Vĩnh Linh, Trung đoàn 52 được chính quyền địa phương các xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Quang, Vĩnh Giang giúp đỡ, hàng trăm du kích, ông già, phụ nữ địa phương, bất chấp hiểm nguy băng qua toạ độ pháo bầy của quân Mỹ, dũng cảm dùng thuyền ba khoang đưa bộ đội vượt cửa Tùng trong đêm; được đồng bào Mai Xá Thị, Lâm Xuân giúp đỡ đã lập nên chiến công vang dội ở vùng Cửa Việt. Trên chiến trường Tây Nguyên và Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đoàn Tây Tiến luôn gắn bó mật thiết với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, cùng quân dân trong vùng chia ngọt sẻ bùi; cán bộ chiến sĩ luôn coi nhiệm vụ của địa phương như nhiệm vụ của chính mình.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Trung đoàn 52 Tây Tiến đến nơi nào chiến đấu là làm tốt nhiệm vụ đội quân chủ lực, đội quân "đàn anh" làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; đồng thời chăm lo dìu dắt lực lượng vũ trang tại chỗ, giúp địa phương xây dựng nhiều tiểu đoàn, đại đội bộ đội địa phương, huấn luyện và trang bị cho nhiều đội du kích. Ngoài ra còn san sẻ nhiều cán bộ xây dựng phong trào, phát triển chiến tranh nhân dân và xây dựng địa bàn vững mạnh.
Những tháng năm dài xây dựng trong hòa bình, trung đoàn vừa hòan thành tốt nhiệm vụ trong tâm là sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, bảo quản trang bị vũ khí... nhưng vẫn thường xuyên giúp đỡ chính quyền và nhân dân địa phương bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, củng cố các đoàn thể quần chúng, giúp dân khắc phục thiên tai, phục hồi sản xuất, đắp đập khai mương, làm đường giao thông, xây dựng trường sở, thực hiện nếp sống văn minh và chữa bệnh làm cho cuộc sống của nhân dân càng thêm đầm ấm bình yên. Với bản chất của bộ đội Cụ Hồ, trong thời gian làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, bộ đội Tây Tiến qúy trọng thương yêu nhân dân nước bạn như chính đồng bào mình, đã nhường cơm sẻ muối, cứu đói, chữa bệnh và giúp hàng vạn người tàn tạ dưới chế độ diệt chủng nhanh chóng trở lại quê hương hồi sinh cuộc sống; giúp bạn củng cố chính quyền, lập đội tự vệ bảo vệ phum sóc... làm sáng đẹp tinh thần quốc tế cao cả, tình nghĩa thủy chung son sắt được chính quyền và nhân dân bạn ghi nhớ mãi.

*


55 năm đã trôi qua, những chiến công oanh liệt của đoàn quân Tây Tiến oai hùng đã đi vào lịch sử. Nhưng những chiến tích và kinh nghiệm phong phú của lớp lớp thế hệ cha anh để lại mãi mãi là tài sản vô giá trong hành trang của cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 52 Tây Tiến hôm nay, nâng bước họ tiến nhanh trên con đường xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, theo hướng "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại", vững bước tiến vào thiên niên kỷ mới, viết nên những trang sử vàng rực rỡ hơn, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, của Bác Hồ và nhân dân./.

(Trích cuốn Lịch sử Trung đoàn 52 Tây Tiến
Nhà xuất bản QĐND-2002)





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0

Danh sách các đồng chí là trung đoàn trưởng (Lữ đoàn trưởng), chính ủy (Phó trung đoàn trưởng chính trị) và phó trung đoàn trưởng quân sự (Phó trung đoàn trưởng tham mưu trưởng) qua các thời kỳ (1947-2002)


A. Trung đoàn trưởng (Lữ đoàn trưởng)

1. Chu Đốc
2. An Giao
3. Ngô Lân
4. Phùng Thế Tài
5. Bùi Sinh
6. Hòang Văn Khánh
7. Nguyễn Hữu Ich
8. Đồng chí: Quế
9. Đặng Văn Đồng
10. Hòang Sĩ Lê
11. Cao Biền
12. Nguyễn Phú Vị
13. Bùi Đình Hoè
14. Trần Bính
15. Hồ Hải Nam
16. Phùng Căn
17. Nguyễn Chí Thuận
18. Nguyễn Qúy
19. Dương Văn Niên
20. Trần Văn Kế
21. Trần Công Thịnh
22. Nguyễn Minh Tác
23. Trần Quốc Phú
24. Dương Đình Quyền

B. Chính ủy (Phó trung đoàn trưởng chính trị)
1. Hùng Thanh
2. Lê Tư
3. Lê Khanh
4. Văn Doãn
5. Nguyễn Văn Hải
6. Trần Phòng
7. Phạm Tiến Khu
8. Vũ Trường Long
9. Đồng chí: Thưởng
10. Đồng chí: Lệnh
11. Đặng Ngọc Truy
12. Nguyễn Văn Trản
13. Nguyễn Thanh Thuần
14. Lê Nông
15. Chu Văn Chư
16. Nguyễn Xuân Hải
17. Đỗ Đình Lưu
18. Nguyễn Văn Tích
19. Trần Đình Hạng
20. Giang Lê Kiều
21. Trần Tranh
22. Nguyễn Mạnh Lực
23. Nguyễn Thọ
24. Nguyễn Văn Hồng

C. Trung (lữ) đoàn phó (Phó trung đoàn trưởng tham mưu trưởng)

1. Quốc Linh
2. Trần Quang Thường
3. Bùi Sinh
4. Bình Chuẩn
5. Hà Tiềm
6. Bùi Đình Hoè
7. Đoàn Văn Nghệ
8. Trần Bính
9. Đồng chí: Cẩn
10. Phùng Căn
11. Cao Niêm
12. Đồng chí: Chữ
13. Trần Văn Kế
14. Phạm Xuân Bưởng
15. Hòang Văn Hoặc
16. Đặng Xuân Chiến
17. Nguyễn Minh Tác
18. Đỗ Ngọc Viễn
19. Nguyễn Ngọc Phương
20.Vũ Duy Nhiệm




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Các đại đội tây tiến


Đại đội Nam Định
Đại đội Bắc Sơn
Đại đội Bế Văn Sắt
Đại đội Sơn Tây
Đại đội Hà Nam

Đại đội Ninh Bình
Đội VTTT Đông Tùng
Đại đội Phú Thọ
Đại đội Bắc Giang
Đại đội Kim Anh
Đại đội Anh Đệ

Chi đội 3 có 3d, 71, 90, 86 và d Kim Thành
Trung đoàn 52 có 4d, 150, 157, 164 và 60




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-03 13:10:20tieuboingoan>
Việt Nam dân chủ cộng hòa
Độc lập Tự do Hạnh phúc

Bộ tổng chỉ huy
Quân đội quốc gia và dân quân
Việt Nam


Mệnh lệnh



Kể từ khi nhận được mệnh lệnh này, các Trung đoàn đổi số hiệu như sau:

Trung đoàn Tây Tiến: Trung đoàn 52



Ngày 16 tháng 5 năm 1947

T/L Tổng chỉ huy

Tổng tham mưu trưởng

Hòang Văn Thái (đã ký)



Sao y bản chính
Trích hồ sơ lưu trữ tại Văn phòng Bộ quốc phòng




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Hành trang của cựu chiến binh Tây Tiến
bước vào thế kỷ 21


Việt Nam đã cùng cả nhân loại bước vào thế kỷ 21, thiên niên kỷ 3. ý Đảng lòng dân ta đã quyết tiếp tục giương cao ngọn cờ Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong cuộc Trường chinh 30 năm giành và bảo vệ độc lập tự do và ý chí kiên cường sáng tạo trong sự nghiệp đổi mới 15 năm qua thành động lực mạnh mẽ chiến thắng nghèo nàn lạc hậu phấn đấu 20 năm tới xây dựng nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp phát triển hội nhập bình đẳng với các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực.

Trong dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Trung đoàn 52 Tây Tiến năm 1997 Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã căn dặn các CCB Tây Tiến: "Tây Tiến xưa là mở đường tiến sang phía Tây phối hợp cùng Bạn chiến đấu đồng thời cũng là mở đường tiến quân về phía Nam sát cánh cùng quân dân miền Nam chiến đấu thực hiện phương châm "Đông Dương là một chiến trường", "Bắc Nam là ruột thịt", đập tan âm mưu chia để trị của giặc và giành được thắng lợi. Ngày nay đổi mới cũng là mở đường để ra khỏi bảo thủ, trì trệ, nghèo nàn lạc hậu. Mở đường trong đổi mới phải có kiến thức... "

Đầu xuân 2001 vừa qua trong cuộc họp mặt bạn chiến đấu Đại đoàn Đồng bằng 320, Đại tướng nhấn mạnh: "Cựu chiến binh, Cựu mà không cũ. Đã đổi mới phải đổi mới hơn nữa. Phải chăm lo tự nâng cao kiến thức và phát triển tiềm năng tri thức của thế hệ trẻ đã thể hiện rất xuất sắc trong các cuộc thi quốc tế về toán, lý, hoá, tin học nhiều năm qua"
CCB Tây Tiến chúng ta hầu hết đã ở tuổi 70, chúng ta mang theo hành trang gì để tiếp tục góp phần vào công cuộc đổi mới nhằm đạt mục tiêu của Đảng đã đề ra trong báo cáo chính trị của BCH Trung Ương Đảng trình Đại hội IX.

+ Trước hết đó là truyền thống và nghĩa tình của Đảng, của QĐND, của dân tộc Việt Nam anh hùng, của CCB Tây Tiến vẫn trọn vẹn là "Bộ đội Cụ Hồ", trung với Đảng hiếu với dân, thắng mọi kẻ thù, hòan thành mọi nhiệm vụ dù gian khổ hy sinh đến mấy vì lợi ích cách mạng, lợi ích nhân dân, tôn trọng pháp luật, bảo vệ chính quyền cách mạng chống âm mưu phá họai, lật đổ, diễn biến hòa bình, chống quan liêu tham nhũng.
Sống nghĩa tình với đồng chí, đồng đội với nhân dân nhất là các Bà mẹ Việt nam anh hùng, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, nhất là những người thuộc đối tượng trên đang gặp khó khăn.
+ Trau dồi kiến thức người cao tuổi, thể lực và trí lực có giảm sút song nếu không chăm lo luyện tập và học hỏi thì cái lão, cái bệnh càng đến sớm, cuộc sống không còn ý nghĩa thiết thực sẽ càng rút ngắn. Trí não, thân thể đều cần vận động thích hợp mới phát triển lành mạnh. Vận động trị liệu, dưỡng sinh, khí công đã giúp nhiều người bệnh khắc phục di chứng khôi phục vận động và trí nhớ.

Bể học mênh mông, học cả đời người không trọn, song không thể không học cái mình cần biết để sống làm việc có ích trước hết là thường xuyên thấu suốt đường lối, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước. Cũng chỉ có thể học những gì phù hợp với trình độ tiếp thụ của mình. Hãy tạo thói quen nghe và đọc để tự học hằng ngày qua sách báo, phương tiện truyền thông đại chúng, qua sinh họat câu lạc bộ... Cách học đó không thể giúp chúng ta đi sâu vào chuyên môn song có thể giúp ta có khái niệm cần thiết để hiểu những vấn đề cơ bản thiết thực của thời cuộc trên lĩnh vực chính trị, lịch sử, văn hoá, khoa học công nghệ v.v.. để có thái độ xử lý đúng đắn, tích cực không bàng quan lạc lõng.

Tóm lại, Cựu chiến binh Tây Tiến bước vào thế kỷ 21 với hành trang
- Truyền thống
- Nghĩa tình
- Kiến thức
là yêu cầu đối với mỗi chúng ta

Ghi chép của Ban liên lạc - Vũ Tuấn




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Bộ đội Tây Tiến những ngày đầu cách mạng
ở Tỉnh Hủa Phăn - Lào


(qua hồi ký của ông Phumi Vông Vi Chít
và lời kể của ông Phìa Hom)


Đào Văn Tiến

Về sự kiện Đoàn quân Tây Tiến sang Sầm Nưa-Hủa Phăn phối hợp với nhân dân và cán bộ chiến sĩ yêu nước Lào đánh Pháp, giành chính quyền cách mạng ngay sau khi ở Việt Nam tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 thành công, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã có một số người Việt Nam đề cập đến trong các bài viết của mình. Đáng chú ý là những bài viết của ban liên lạc CCB Trung đoàn 52 Tây Tiến.
Sự kiện đoàn quân Tây Tiến sang Sầm Nưa-Hủa Phăn về phía Lào có hai tư liệu quan trọng đảm bảo tính chính xác lịch sử được phía Lào công nhận đó là hồi ký của ông Phumi Vông Vi Chít và lời kể của ông Phìa Hom.
Hồi ký của ông Phumi Vông Vi Chít được công bố tại Viêng Chăn ngày 6 tháng 4 năm 1984. Lúc này ông là ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Trước cách mạng ông là tỉnh trưởng tỉnh Hủa Phăn. Sau đây là vài nét tiểu sử của ông có liên quan đến tỉnh Hủa Phăn trước cách mạng.
Cuối tháng 12 năm 1944 ông được quyết định bổ nhiệm làm tỉnh trưởng Hủa Phăn của Vương quốc Lào thuộc Pháp.
Ngày 2 tháng 1 năm 1945 ông cùng gia đình lên đường đi Hủa Phăn (trang 27 cuốn hồi ký)
Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp.
Ngày 11 tháng 4 năm 1945 lính Nhật vào Sốp Hào.
Ngày 12 tháng 4 năm 1945 chúng đến Mường Pua.
Ngày 13 tháng 4 năm 1945 Công sứ Pháp và toàn bộ công chức gia đình vợ con người Pháp bỏ Sầm Nưa đi Bản Púng. Trong ngày 13 tháng 4 năm 1945 lính Nhật đến Mường Liệt.
Ngày 14 tháng 4 năm 1945 Pháp rút lên Hủa Xiềng và bọn Nhật vào thị xã Sầm Nưa (trang 31 cuốn hồi ký). Nhật duy trì bộ máy chính quyền cũ, ông Phumi tiếp tục làm Tỉnh trưởng. Theo lệnh Nhật chính quyền tỉnh bắt phu để Nhật xúc tiến làm con đường nối liền Sầm Nưa với Xiêng Khoảng.
Tháng 9 năm 1945 con đường vừa xong thì cũng là lúc phát xít Nhật bại trận đầu hàng đồng minh. Cuối tháng 9 năm 1945 quân đồng minh vào Đông dương tước khí giới của Nhật. Quân Anh vào nam Lào, quân Tưởng Giới Thạch vào bắc Lào.
Quân Pháp trước đây chạy Nhật sang Xiêng Mao (Vân Nam-Trung Quốc) lục tục kéo về Lào.
Ngày 8 tháng 10 năm 1945 quân Pháp vào thị xã Sầm Nưa, quân số có một đại đội do đại úy CuiDê (Cuisinier) chỉ huy. Công việc của Pháp là trang bị vũ khí cho viên chức, thanh niên và lùng sục bắt tàn quân Nhật và tay sai của Nhật.
Lúc này ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã giành được chính quyền và tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Từ lúc Pháp trở lại Sầm Nưa, Việt kiều chạy về nước gần hết.
ở Viêng Chăn ngày 12 tháng 10 năm 1945 nhân dân đã nổi dậy giành quyền độc lập. Còn ở Sầm Nưa thì không được chính phủ mới chỉ đạo công việc, Sầm Nưa như tiểu quốc biệt lập với thế giới bên ngoài trong khi ở Luông Phabang quân đội Pháp do đại úy Imfeld chỉ huy đã theo chân quân Tưởng vào Kinh đô, viên chức cũ cũng như ông Phumi Vông Vi Chít vẫn được bọn Pháp sử dụng để nắm dân.
Ngày 18 tháng 10 năm 1945 một đơn vị quân Việt Nam quân số một đại đội tiến vào tỉnh Hủa Phăn. Pháp lo sợ xin viện binh, sau một tuần không có viện binh mà quân Việt Nam đã tiến gần thị xã, quân Pháp bỏ thị xã, ép tỉnh trưởng, huyện trưởng và một số quan chức khác rút lên Mường Hàm.
Cuối cùng chúng chạy lên Luông Phabang và ông Phumi Vông Vi Chít đã tìm cách tách được quân Pháp về với chính phủ Lào độc lập.
Cuối tháng 12 năm 1945 ông Phumi được Chính phủ Lào độc lập cử làm Tỉnh trưởng tỉnh Hủa Phăn để hợp tác với bộ đội Việt Nam. Chính phủ điều một đại đội bộ đội Lào ít Xa La đi theo để cùng hợp tác với bộ đội Việt Nam bảo vệ thị xã Sầm Nưa và tỉnh Hủa Phăn. Đại đội này do đại úy Khăm Kiêu chỉ huy.
Đến Mường Xon đoàn được tin có một đại đội lính Pháp đã đến đóng đồn tại Na Vơng ở gần bản Xốp Xang. Ông Phumi cho đại đội Khăm Kiêu đánh đồn Na Vơng diệt một số địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Sau khi nghỉ lại Mường Xon ba ngày rút kinh nghiệm trận đánh, ông Phumi viết: "Chúng tôi lên đường đi Sầm Nưa, đến bản Mường Dứt chúng tôi gặp đơn vị quân đội Việt Nam đến đón. Hai bên đã thông báo tình hình trong nước và trong tỉnh cho nhau biết, hai bên đồng tình hợp tác với nhau để chống quân thực dân xâm lược Pháp, bảo vệ độc lập dân tộc sau đó kéo quân về thị xã Sầm Nưa.
Nhân dân tập trung mấy trăm người cầm hoa đánh chiêng đánh trống chào mừng chúng tôi và cũng lần đầu tiên dân Sầm Nưa nhìn thấy lá cờ cách mạng Lào. Đêm hôm đó nhân dân thị xã, bộ đội Việt Nam tổ chức bữa cơm đoàn kết liên hoan mừng đón chúng tôi rất vui vẻ, long trọng.
Ngày hôm sau, ban phụ trách tổ chức cách mạng địa phương cùng đoàn cán bộ do Trung ương phái đến đã cùng Ban chỉ huy bộ đội Việt Nam mở cuộc hội nghị cùng nhau nhận định tình hình, đề ra nội dung kế họach công tác, kế họach bảo vệ thị xã, bảo vệ tỉnh Hủa Phăn chống lại sự xâm lăng của thực dân Pháp.
Trong cuộc họp này tôi có dịp gặp gỡ đồng chí Sơn ( ) người chỉ huy đại đội, đồng chí Hiến Mai ( ) người chỉ huy cao cấp của đội quân Việt Nam và một số đồng chí cán bộ người Việt khác nữa. Cuộc họp được tiến hành trong tình thân ái và hiểu biết lẫn nhau" (xem trang 50-51 cuốn hồi ký).
Giữa tháng 2 năm 1946 ông Phumi được Chính phủ Lào độc lập chuyển về Luông Phabang công tác, ông Thạo Uôn Chẩu Mường Xiềng Khọ được cử làm Tỉnh trưởng thay ông Phumi Vông Vi Chít.
Còn đây là những ý kiến của ông Phìa Hom cũng còn gọi là Xiêng Xinh. Ông Phìa Hom nguyên là đội trưởng đội du kích Nậm Nơn, ủy viên ẹy ban kháng chiến đông Lào, Chủ tịch ẹy ban mặt trận tỉnh Hủa Phăn, ủy viên ẹy ban trung ương mặt trận Lào ít Xa La trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ủy viên ẹy ban trung ương mặt trận Lào Hắc Xạt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
Trong buổi làm việc ngày 24 tháng 10 năm 1971 giữa đoàn cán bộ nghiên cứu của Văn phòng trung ương Đảng Nhân dân Lào với các chuyên gia Việt Nam về thời kỳ đầu cách mạng năm 1945 trong đó có việc cướp chính quyền ở Hủa Phăn, ông Phìa Hom cho biết ông vốn là nhân viên bưu điện ở thị xã Sầm Nưa từ năm 1934. Năm 1938 ông gặp một người Việt Nam tên gọi là Phán Kim (ông Kim làm thông phán), ông Kim tuyên truyền ông làm cách mạng, năm 1945 ông có liên hệ với ông Hanh, ông Tuệ.
Khi phát xít Nhật đầu hàng ông bị Pháp truy lùng và ông đã chạy về Việt Nam. Đến Thanh Hoá thì Thanh Hoá đã giành được chính quyền, sau ông ra Hà Nội và đã đi cùng đơn vị của ông Tuấn Sơn về cướp chính quyền ở Hủa Phăn. Sau khi Pháp chiếm Sầm Nưa năm 1946 ông về vùng Nậm Nơn tổ chức đội vũ trang, họat động đánh Pháp ở Hủa Phăn và Xiêng Khoảng. Tiếp đó ông liên hệ với nhóm du kích của các ông Thao Tu, Phay Đang, Nhia Vư rồi cùng về Việt Nam dựa vào phòng Biên chính Khu 4. Được sự giúp đỡ của Khu ủy Liên khu 4 ẹy ban kháng chiến đông Lào do ông Nuhắc Phum Xa Vẳn làm chủ tịch được thành lập, ông Phìa Hom là một ủy viên trong ẹy ban cùng các ông Thao Ma, Sing Ga Po, Phay Dang, Thao Tu, Thao Kê lãnh đạo phong trào kháng chiến các tỉnh Sầm Nưa (Hủa Phăn), Xiêng Khoảng, Khăm Muộn, Sa Vẳn Na Khệt.
Như vậy sự kiện bộ đội Tây Tiến sang Hủa Phăn tháng 10 năm 1945 phối hợp với lực lượng cách mạng Lào cướp chính quyền, hợp tác với nhau xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang và tổ chức các đoàn thể yêu nước, bảo vệ tỉnh Sầm Nưa tiến công tiêu diệt đồn binh Pháp đã được phía Lào xác nhận với những nhân chứng rất đáng tin cậy là các ông Phumi Vông Vi Chít và Phìa Hom./.






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Trung đoàn 52 Tây Tiến anh hùng
làm tốt công tác dân vận chính sách
trong năm 2001


Trung tá: Lê Xuân Lĩnh


Năm 2001 trước những diễn biến phức tạp của tình hình trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, đặc biệt là sự kiện ngày 2 và 3/2/2001 đã xảy ra cuộc biểu tình bạo loạn chính trị ở cường độ thấp trên địa bàn 2 tỉnh Gia Lai và Đắk Lắc. Đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch phản động trong và ngoài nước đã ngấm ngầm họat động gây rối an ninh chính trị trên phạm vi rộng, gây mất đoàn kết trong khối đại đoàn kết toàn dân, ngang nhiên đòi thành lập "Nhà nước Đê Ga" ở Tây Nguyên, lấy cớ đòi đất, đòi rừng là của người dân tộc, đuổi hết người Kinh về đồng bằng, thực hiện cuộc biểu tình bạo loạn chính trị ở cường độ thấp do bọn cầm đầu đạo Tin lành Đê Ga chỉ đạo, đứng đầu là tên Ksor Kok đại tá Fulro được Mỹ hỗ trợ, can thiệp. Phương pháp của chúng là dùng tiền, truyền đơn, lừa bịp đồng bào các dân tộc đi biểu tình gây ra hậu quả khó lường.
Sau sự kiện ngày 2 và 3/02/2001 Trung đoàn được lệnh thành lập đội công tác tuyên truyền đặc biệt và lâm thời thành lập Chi bộ làm công tác vận động quần chúng nhân dân trên địa bàn xã Hà Bầu, huyện Đăc Đoa tỉnh Gia Lai. Ngay sau khi có nhiệm vụ trên giao, Đảng ủy chỉ huy Trung đoàn đã có nghị quyết lãnh đạo chuyên đề, xây dựng nhiều chủ trương, biện pháp tích cực trong tiến hành công tác dân vận-công tác chính sách, đạt được kết quả tốt góp phần xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân dân cá nước.
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trên giao, Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn thường xuyên làm tốt công tác quán triệt, giáo dục, bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sỹ trong đội công tác dân vận, đội quy tập mộ liệt sỹ và tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, giáo dục bộ đội chấp hành nghiêm kỷ luật trong mối quan hệ quân dân, củng cố lòng tin yêu của nhân dân đối với Trung đoàn, giúp nhân dân trong sản xuất và đời sống, bảo vệ dân trong mọi hòan cảnh, tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh.
Quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận, công tác chính sách, cán bộ, chiến sỹ đã tích cực chủ động nghiên cứu nắm chắc tình hình địa bàn được phân công. Xác định tốt nhiệm vụ làm chỗ dựa vững chắc cho cấp ủy, chính quyền, ban ngành đoàn thể địa phương, phối kết hợp chặt chẽ với các lực lượng địa phương tuyên truyền vận động nhân dân có hiệu quả thiết thực. Coi trọng khâu kiểm tra sau những đợt, những lần vận động. Kịp thời rút kinh nghiệm tiếp tục tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương làm tốt hơn nữa công tác vận động quần chúng nhân dân. Kết hợp tuyên truyền vận động và hướng dẫn nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự an toàn địa bàn. Vận dụng linh họat lựa chọn những người có uy tín trong từng làng để làm đòn bẩy hỗ trợ, thúc đẩy công tác vận động quần chúng rộng rãi đạt kết quả cao. Tập trung vào các già làng, thôn trưởng, phụ nữ, đoàn viên, thanh niên, học sinh tốt để tuyên truyền.
Kết quả cụ thể:
Năm 2001 Trung đoàn tổ chức hai đội công tác dân vận theo đúng kế họach của cấp trên. Tại xã Hà Bầu huyện Đắc Đoa từ ngày 6/2/2001 đến nay luôn duy trì nghiêm túc và nắm chắc tình hình địa bàn. Phối hợp họat động giúp cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân giải quyết tốt những vấn đề mới nảy sinh. Tổ chức đội công tác gồm 8 đồng chí trong đó có 4 đồng chí sỹ quan thực hiện quan điểm 3 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân địa phương).
Giúp địa phương thống kê tình hình kinh tế xã hội, nắm hộ đói nghèo trong xã 53 hộ với 211 khẩu, cùng Sư đoàn ủng hộ và cấp gạo 1.500 kg, khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí cho nhân dân, học sinh được 185 hộ với 375 người.
Cùng nhân dân tiến hành vệ sinh tu sửa đường liên thôn, liên xã được 15 km với 250 ngày công, giúp các gia đình chính sách làm cỏ cà phê được 5 ha với 125 ngày công, sửa chữa 5 nhà đối tượng chính sách với 75 ngày công, giúp nhân dân thu họach lúa được 4 ha với 150 ngày công. Đặc biệt gặp gỡ tuyên truyền giáo dục cho 23 đối tượng thuộc diện quản lý của địa phương tham gia biểu tình đợt 2/2/2001 tại xã. Tổ chức thăm hỏi. tặng quà các trường nhân các ngày lễ Tết, thăm viếng cán bộ xã từ trần, tặng học sinh nghèo vượt khó học giỏi với số tiền 600.000 đ và 100 quyển vở học sinh.
Trước ngày Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khai mạc, Trung đoàn vinh dự được đón đồng chí Phạm Thế Duyệt ủy viên thường vụ, thường trực Bộ chính trị, Chủ tịch UBMT Tổ quốc Việt Nam cùng phái đoàn TW, tỉnh Gia Lai, huyện Đắc Đoa đến thăm, tặng quà và khen ngợi cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 52 Tây Tiến thường xuyên làm tốt công tác dân vận.
Đội công tác dân vận tại xã Hà Bầu và 2 cán bộ vinh dự được Hội đồng thi đua khen thưởng Quân đoàn xét tặng bằng khen, giấy khen vì đã hòan thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao. Đặc biệt được Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai tặng bằng khen.
Tại xã IaPnôm-huyện Đức Cơ, Trung đoàn được thực hiện một đội công tác dân vận gồm 8 đồng chí trong đó có 1 sỹ quan cùng với các đơn vị bạn (Trung đoàn 48, Trung đoàn 54) thực hiện tốt kế họach công tác dân vận của Sư đoàn giao trong thời gian 2 tháng (từ ngày 10/9 đến 10/11/2001) đã giúp nhân dân xã biên giới làm kênh mương thủy lợi, cải tạo đất, hướng dẫn nhân dân tiến hành gieo, cấy được 2,9 ha lúa nước với tổng số hàng trăm ngày công có kết quả cao, được cấp ủy Đảng, chính quyền nhân dân địa phương khen ngợi và tin yêu.
Trong năm Trung đoàn còn tổ chức đội quy tập mộ liệt sỹ gồm 6 đồng chí trong đó có 1 sỹ quan. Thực hiện nhiệm vụ quy tập mộ liệt sỹ trên địa bàn hai huyện Đắc Đoa, Mang Yang theo đúng kế họach của Sư đoàn giao. Đội đã quy tập được 14 mộ liệt sỹ đạt hiệu quả tốt.
Ngoài ra Trung đoàn còn tham gia đại hội thể dục thể thao huyện Đắc Đoa đạt kết quả tốt, quân số 14 đồng chí trong thời gian 3 ngày.
Trung đoàn tổ chức quyên góp ủng hộ người nghèo tỉnh Gia Lai, ủng hộ quỹ Về sự tiến bộ của phụ nữ và bảo vệ chăm sóc trẻ em, ủng hộ quỹ Đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ Ngày vì người nghèo với tổng số tiền là 8.209.000 đ.
Tặng phẩm liên hoan văn nghệ quần chúng cho các đơn vị, các trường kết nghĩa với số tiền 720.000 đ. Đặc biệt trong cuộc diễn tập "ĐT-01" cán bộ chiến sỹ tham gia quyên góp ủng hộ đồng bào các dân tộc thiểu số tại thôn 9 xã Đắc Pxi-huyện Đắc Hà-tỉnh Kon Tum với 50 kg gạo, 20 kg muối iốt thắm tình quân dân.
Năm 2001 và chuẩn bị đón Tết vui xuân năm 2002, Đảng ủy chỉ huy Trung đoàn luôn có chủ trương chăm lo bồi dưỡng cho cán bộ chiến sỹ. Làm quà Tết cho sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp trên 10 triệu đồng, trích quỹ tự có cho bộ đội ăn Tết nguyên đán trên 7 triệu đồng. Tổ chức thăm hỏi cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan chiến sỹ ốm đau, nằm viện, thăm viếng người thân của cán bộ từ trần hàng triệu đồng v.v...
Trung đoàn tự hào khẳng định năm 2001 cán bộ chiến sỹ luôn kế thừa và phát huy truyền thống Trung đoàn 52 Tây Tiến anh hùng. Tích cực chủ động nỗ lực phấn đấu vươn lên, nội bộ đoàn kết thống nhất cao, đoàn kết quân dân tốt, kỷ luật nghiêm, an toàn tuyệt đối, góp phần xây dựng Đảng bộ Trung đoàn đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng Trung đoàn vững mạnh toàn diện, hướng về truyền thống, thi đua lập công chào mừng kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Trung đoàn thân yêu (27/2/1947-27/2/2002)






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Nhớ về Anh: Khu trưởng Hoàng Sâm
(1915-1968)


Hoàng Sinh


Ở mặt trận Tây Tiến (1947-1948) có lẽ mọi người đều biết, thấy hoặc chí ít cũng là nghe được một chuyện về người chỉ huy của mình: anh Hòang Sâm.

Chúng tôi là những người có thời gian làm việc ở gần anh Sâm trong Ban bí thư Bộ chỉ huy Chiến khu 2 và Bộ tư lệnh Liên khu 3, mỗi lần gặp nhau thường ôn lại những chuyện cũ của một thời cách xa hơn 50 năm trước, cùng nhau nhớ lại những kỷ niệm đẹp về Anh như một người anh lớn trong những ngày kháng chiến gian khổ.

*


Một tuổi trẻ sôi nổi cách mạng:

Đồng chí Hòang Sâm, tên khai sinh là Trần Văn Kỳ, sinh năm 1915 trong một gia đình nghèo ở làng Lệ Sơn, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.
Sớm giác ngộ cách mạng, Trần Văn Kỳ là một trong số những thanh, thiếu niên ở Nghệ Tĩnh, Bình-Trị-Thiên được chọn đưa sang Đội thiếu niên ở Trường học sinh Việt kiều tại Thái Lan do những người cách mạng lập ra.
Năm 1928 khi Bác Hồ từ Châu Âu về Thái Lan họat động trong Việt kiều với bí danh Thầu Chín, chú thiếu niên Trần Văn Kỳ 13 tuổi được Bác chọn làm liên lạc. Trong hơn một năm, từ tháng 7/1928 đến cuối năm 1929 Kỳ đã theo Bác đi đến nhiều nơi trên đất Thái.
Cuối năm 1929 Bác Hồ rời Thái Lan đi Trung Quốc để mở hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, rồi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đổi là Đảng Cộng sản Đông dương (3/2/1930), Kỳ ở lại Thái Lan tiếp tục học văn hoá ở trường dạy trẻ em Việt kiều do Bác Hồ xây dựng.
Năm 1933 Kỳ vào Đoàn thanh niên Cộng sản và cùng năm đó, 18 tuổi anh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông dương, phụ trách địa điểm liên lạc, in và phát truyền đơn. Anh bị mật thám Thái Lan bắt ở Băng Cốc và bị giam một năm (1934-1935). Nhà cầm quyền Thái giao Kỳ cho lãnh sự Pháp ở Băng Cốc hỏi cung. Anh không khai báo gì nên chúng không có bằng chứng để buộc tội. Lãnh sự Pháp phải trả lại cho chính quyền Thái Lan. Kỳ bị trục xuất và anh đã sang Trung Quốc. Đến Nam Ninh, Quảng Tây anh gặp đồng chí Phùng Chí Kiên và được cử đi học tiếng Trung Quốc dưới tên mới: Hòang Sâm
Đầu năm 1937 được đồng chí Hòang Văn Thụ, xứ ủy Bắc kỳ cho về Cao Bằng, Hòang Sâm tham gia Tỉnh ủy Cao Bằng phụ trách cơ quan in và thường trực Tỉnh ủy. Vì không có thẻ thuế thân, anh lại bị Pháp bắt giam 6 tháng.
Năm 1938 Hòang Sâm cùng vài đồng chí nữa sang tham gia Đội du kích kháng Nhật của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Biên khu Điền-Kiềm-Quế nằm trong ba tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Qúy Châu. Đội du kích này khá lớn, họat động dọc biên giới Việt-Trung từ Trà Lĩnh, Long Bang đến Sóc Giang-Bình Mãng.
Mùa thu năm 1940 Hòang Sâm cùng một số đồng chí sang Tĩnh Tây (Trung Quốc) tìm bắt liên lạc với cấp trên đã tranh thủ học quân sự ở Trường quân sự do Trương Bội Công, người Việt Nam, tay sai của Quốc đân đảng Trung Quốc tổ chức để chuẩn bị cho kế họach "Hoa quân nhập Việt" của Tưởng Giới Thạch.

Tại đây các đồng chí Cao Bằng đã bắt liên lạc được với trên. Và cũng tại đây Hòang Sâm gặp lại Thầu Chín (Bác Hồ), lần đầu gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hòai Nam và đồng chí Phạm Văn Đồng bí danh là Lâm Bá Kiệt. Sau lần gặp gỡ quan trọng này gần 40 cán bộ của ta thôi học ở trường của Trương Bội Công mà quay về nước họat động.

*


Người chỉ huy nhiều đội quân du kích.

Cuối năm 1940 Bác Hồ cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh từ Quế Lâm về Làng Nậm Quang, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc cách biên giới Việt-Trung chừng 5 km. Tại đây đã có một lớp huấn luyện cán bộ về công tác tổ chức các đoàn thể quần chúng nhằm chuẩn bị thành lập một Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi. Hòang Sâm theo học lớp này đồng thời có chức vụ ẹy viên liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng.

Ngày 3 tháng 2 năm 1941 Bác Hồ về Pắc Bó (Cao Bằng). Tháng 5 năm 1941 Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp dưới sự chủ toạ của Bác Hồ. Hội nghị đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng của Cách mạng Việt Nam và bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư Đảng.

Cuối năm 1941 Đội du kích đầu tiên của Cao Bằng gồm 12 người được thành lập ở Pắc Bó do đồng chí Lê Thiết Hùng làm đội trưởng, đồng chí Lê Quảng Ba làm Chính trị viên và đội phó là đồng chí Hòang Sâm. Đội du kích nhỏ bé này vừa làm nhiệm vụ bảo vệ khu căn cứ, bảo vệ Bác Hồ vừa họat động xây dựng cơ sở cách mạng, tiễu phỉ trừ gian ở vùng biên giới Việt-Trung thuộc tỉnh Cao Bằng. Từ giữa năm 1942 đến giữa năm 1943 đồng chí Hòang Sâm làm đội trưởng thay đồng chí Lê Thiết Hùng đi "Nam tiến".

Từ giữa năm 1943 phong trào cách mạng ngày càng phát triển tiến về xuôi. Nhiều tổ xung phong "Nam tiến" được thành lập. Đội du kích Cao Bằng phân tán mỗi người một nhiệm vụ mới. Đồng chí Hòang Sâm tổ chức Đội bảo vệ các Đội xung phong Nam tiến.

Ngày 22-12-1944 thực hiện chỉ thị của Bác Hồ, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Sam Cao thuộc huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng (nay thuộc xã Cẩm Lý, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng). Hòang Sâm được cử làm Đội trưởng. Đồng chí đã chỉ huy các trận đánh Phai Khắt-Nà Ngần-Đồng Mu rồi Nà Ngần lần thứ hai. Đó là những trận đầu nổi tiếng. Đội được mở rộng thành Đại đội và Hòang Sâm được cử làm Đại đội trưởng. Một thời gian sau đại đội phát triển thành chi đội (tương đương tiểu đoàn hiện nay) Hòang Sâm làm Chi đội trưởng.

Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 Hòang Sâm tham gia xây dựng và bảo vệ khu giải phóng, chỉ huy đánh quân Nhật ở Bắc Cạn và Thái Nguyên. Sau đó chi đội Hòang Sâm tiến về Vĩnh Yên diệt bọn Việt Nam quốc dân đảng phản động Đỗ Đình Đạo. Kết thúc nhiệm vụ ở Vĩnh Yên, Hòang Sâm nhận lệnh đưa bộ đội về Sơn Tây củng cố chính quyền cách mạng ở một vùng đất quan trọng là Miền Tây chiến lược. Cuối năm 1945 Hòang Sâm là Khu trưởng Chiến khu 2 gồm 8 tỉnh: Lai Châu-Sơn La-Hòa Bình-Sơn Tây-Hà Đông-Hà Nam-Nam Định-Ninh Bình. ở đó mặt trận nóng bỏng nhất và gian khổ nhất là Tây Tiến. Người chỉ huy mặt trận đó là: anh Sâm

*


Có nhiều người nói: anh Sâm có biệt tài về uống rượu và bắn súng. Điều đó có phần đúng và có phần hơi quá đi một chút cho ly kỳ.

ở vùng biên giới Việt-Trung có nhiều toán thổ phỉ vũ trang hòanh hành làm cho đời sống nhân dân các dân tộc luôn luôn căng thẳng. Mọi người đã khổ vì quan Tây, quan Châu áp bức bóc lột lại càng khổ vì nạn phỉ cướp phá, giết chóc. Bởi vậy, chống phỉ để bảo vệ nhân dân, bảo vệ khu căn cứ cách mạng là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Nếu cách mạng không dẹp được phỉ thì khó mà động viên được nhân dân hăng hái tham gia cách mạng.

Năm 1939 Châu ủy Hà Quảng đã phát động nhân dân lập Hội chống phỉ và đề ra sách lược đối phó là kiên quyết trừng trị đi đôi với giáo dục thuyết phục, tranh thủ lôi kéo những người vì nghèo đói đi theo phỉ trở về làm ăn lương thiện, tiêu diệt các toán phỉ nhỏ đồng thời cô lập dần các toán phỉ lớn.

Song thuyết phục những toán phỉ lớn không phải dễ. Bọn này đông người, nhiều súng, tàn bạo họat động ngoài vòng pháp luật và coi thường mọi đạo lý xã hội. Những tên trùm phỉ này sống ngang tàng "anh hùng hảo hán" nhưng cũng kiêng nể những người can đảm, tài ba. Trong bọn trùm phỉ nổi tiếng hồi đó có anh em tên Voòng A Sáng, Voòng A Sinh, có Châu Slam Tha (Châu ba mắt) có Lỳ Xíu v.v...

Hồi đó Hòang Sâm có bí danh là Trần Sơn Hùng nổi tiếng là một người gan dạ, có tài bắn súng ngắn cả hai tay. Bọn trùm phỉ nghe danh cũng phải kiêng nể. Chúng thường thích thi gan đọ sức với những cán bộ cách mạng như đồng chí Hòang Sâm. Một hôm trùm phỉ Lỳ Xíu kéo quân đến Pắc Bó đòi gặp hai ông Trần (Hòang Sâm) và Lê (Lê Quảng Ba). Hắn cho người mời hai đồng chí đến uống rượu và thi bắn súng, ném lựu đạn. Quả đúng như lời đồn, trong cuộc thi tài này Lỳ Xíu phải chịu thua.

Những tên trùm phỉ này gốc người Trung Quốc có tục lệ qúy trọng người đồng hương, đồng họ, đồng môn, đồng tuổi, đồng liêu.
Đồng chí Hòang Sâm vào tận sào huyệt bọn phỉ Voòng A Sáng để thuyết phục chúng, hòa hoãn với chúng. Nghe tiếng từ lâu nay gặp mặt, lại thấy Hòang Sâm cùng họ với mình (Hòang, phát âm theo tiếng Quảng Đông là Voòng) trùm phỉ họ Voòng hết sức qúy trọng đồng chí Hòang Sâm, bầy tiệc khoản đãi. Trong tiệc rượu nhắm với óc khỉ sống, hai anh em họ Voòng đề nghị kết nghĩa huynh đệ với Hòang Sâm.

Nhờ những họat động kiên quyết và khôn khéo ấy ta đã hạn chế được sự phá phách, cướp bóc của thổ phỉ, nhân dân tin tưởng vào cách mạng, vì thế các Hội cứu quốc theo Việt Minh ngày càng phát triển.

Trên đường lên Tây Tiến năm 1945 anh Sâm đã có một cuộc thi uống rượu với Liên trưởng Tàu Tưởng ở thị xã Hòa Bình. Kết quả Khu trưởng ta thắng Liên trưởng Tầu Tưởng và chúng đã phải bàn giao 300 khẩu súng bộ binh của Pháp do Nhật tịch thu được sau sự kiện 9/3/1945 (chuyện đã kể trong Tây Tiến tập 2)

Chuyện lại kể rằng:

Ở gần anh, cùng ăn cơm hàng ngày với anh chị và cháu Lan (chưa đầy năm) suốt nhiều tháng trời, bữa cơm cũng bình thường như một nhà dân bình thường, không cao lương mỹ vị, trong thời điểm "bi bon" của năm 1948-1949 (tiếng Pháp "bi bol" nghĩa là hai bát), thấy anh chỉ uống vài chén con rượu thuốc để đưa cơm chứ không bao giờ say bí tỉ.

Và anh cũng rất kiềm chế bản thân.
Mùa hè 1949, sau khi đi kiểm tra Tiểu đoàn bộ đội địa phương ở Phát Diệm, một Đoàn cán bộ quân sự của Liên khu 3 đã vào thăm Cố vấn Chính phủ, Tổng giám mục Lê Hữu Từ trong nhà thờ Phát Diệm. Đoàn đã dự một buổi lễ do Cha Lê giảng đạo. Trưa hôm đó Tổng giám mục Lê Hữu Từ mời cơm đoàn trong tư dinh của Toà giám mục.

Bữa ăn rất thịnh soạn như một tiệc đặc sản ngày nay. Mâm khách đặc biệt chỉ có 4 người: chủ là Cố vấn Tổng giám mục Lê Hữu Từ, khách là anh Hòang Sâm, cụ Ngô Tử Hạ một thân sĩ công giáo và người kể chuyện này. Còn mấy mâm khác ở gian cạnh, đèn điện sáng trưng. Chủ khách chén tạc chén thù và chủ yếu là trao đổi tình hình cuộc kháng chiến đã bước sang giai đoạn tích cực cầm cự chuẩn bị chuyển mạnh sang Tổng phản công. Rượu hảo hạng có nhiều loại nhưng cả chủ lẫn khách cũng chỉ nhấp môi mỗi thứ một ngụm cho phải phép. Tiệc tan chủ nhân cúi rạp người bắt tay tiễn khách.

Còn về chuyện bắn súng thì sao?

ở Chiến khu 2 và Liên khu 3 nhiều người biết đến tên tuổi một xạ thủ bắn súng hai tay như một, có thể bắn tắt điếu thuốc lá trên vành môi người đứng xa vài chục mét. Đó là Tạ Đình Đề!

Hôm mới từ Tây Tiến về Liên khu bộ làm bí thư cho anh Hòang Sâm, tôi mặc bộ bà ba đen, đầu trọc lốc đội mũ nồi đen. Sau khi báo cáo ra mắt khu trưởng, tôi quay ra bàn bên cạnh, nơi anh Bằng già (vệ sĩ của anh Sâm) đang loay hoay mở khoá nòng khẩu súng ngắn Walther 7,65 m/m mới trang bị cho anh. May thay hồi Tổng khởi nghĩa tôi đã sử dụng một khẩu như thế này, tôi bèn cầm lấy khẩu súng, kéo vòng cò ra (thay chốt hãm) và mở khoá nòng để lau chùi. Anh Sâm chú ý theo rõi thấy quân của mình cũng am hiểu vũ khí nên anh cũng vừa lòng rồi giao cho tôi khẩu các bin báng gập và còn cho phép thỉnh thoảng được bắn đạn thật cho quen tay "văn ôn vũ luyện" mà.

ít hôm sau, chừng muốn để thử súng mới lại đúng dịp anh "xạ thủ" nổi tiếng Tạ Đình Đề có mặt ở Bộ tư lệnh Liên khu để báo cáo tình hình Biệt động đội Thành phố Hà Nội, anh Sâm đã gọi xạ thủ Tạ Đình Đề ra thi bắn. Chúng tôi được làm trọng tài chứng kiến cuộc thi bắn không hẹn hò trước này. Mục tiêu là chùm sung rừng ở cách xa 20 mét, mỗi người bắn 3 viên. Kết quả xạ thủ Tạ Đình Đề thua điểm.

*


Nhớ những ngày ở Bộ tư lệnh Liên khu 3

Anh Sâm rất quan tâm đến phong trào dân quân du kích (sau này ta gọi là chiến tranh nhân dân địa phương) nên anh thường cử người đi theo sát tình hình các Tỉnh đội, Huyện đội và luôn nhắc nhở các địa phương chăm lo đến phong trào dân quân rộng rãi nhưng không thoát ly sản xuất và củng cố đội du kích nòng cốt của làng xã để tạo thế đứng chân cho bộ đội địa phương và chủ lực cơ động đánh địch. Phong trào chiến tranh du kích, đại đội độc lập được anh chỉ đạo từ những tháng năm ở Mặt trận Tây Tiến đã tỏ ra có hiệu lực.

Sau các chiến dịch như XNP chống địch vây quét trên khu tam giác Xuân Mai-Nho Quan-Phủ Lý và chiến dịch 12-21/6 dọc các quốc lộ kể trên đến chiến dịch tiến công Lê Lợi trên Sông Đà, anh Sâm đã quan tâm đến những đòn của bộ đội chủ lực. Anh đã viết trên báo Vệ quốc quân Liên khu 3 là đã đến lúc cần phải có "trận căn bản" làm xoay chuyển cục diện chiến trường với những điều kiện có ý nghĩa quyết định là:

Một ưu thế tuyệt đối về chính trị-tinh thần và
Một ưu thế tương đối về quân sự
mà sau này ta gọi là trận quyết chiến chiến lược.

Anh Sâm thường đi sát các mặt trận theo rõi trận đánh của các đơn vị gần như là trực tiếp. Năm 1949 ở Tế Tiêu-Cầu Dậm địch vừa đi khỏi mấy chục phút anh đã có mặt ở ngã ba đường, nơi một du kích quân đang kể lại trận đánh vừa qua mà bom chôn dưới đất đã không nổ. Anh du kích dậm chân tiếc rẻ mãi, quả bom vẫn còn chôn dưới chỗ mà mọi người cùng anh Sâm đang đứng trên lưng nó.

Anh thường nhắc nhở chúng tôi đi lại ăn uống, ngủ đêm tránh thành quy luật nhất định mà cần luôn thay đổi bất ngờ để chủ động trong mọi tình huống và có những lần chúng tôi đã ngủ qua đêm trong một điếm canh đê.

Đối với cán bộ anh chú trọng phát hiện chỗ mạnh của từng người để khuyến khích phát huy mà không hề thành kiến đối với những mặt yếu của cấp dưới. Anh thường khen anh T. một Trung đoàn trưởng (rất nóng tính với cấp dưới) là có tinh thần chấp hành mệnh lệnh rất nghiêm cách và đấy mới là thực chất bản lĩnh để hòan thành nhiệm vụ.

Tin anh hy sinh trên chiến trường Trị-Thiên B4 ngày 15/12/1968 đến với chúng tôi thật là đột ngột. Suốt cuộc đời từ lúc 12 tuổi cho đến 53 tuổi anh đã liên tục công tác và chiến đấu, luôn hòan thành tốt mọi nhiệm vụ Đảng và quân đội giao cho.

Xin có mấy hàng chữ kể về anh, người chỉ huy Mặt trận Tây Tiến được mọi người tin yêu và mến phục: anh Hòang Sâm

Tháng 5 năm 1999






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-03 13:25:31tieuboingoan>
Từ Đội trưởng Đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân đến Chỉ huy trưởng
Mặt trận Tây Tiến
NGUYỄN CHÍNH
Nguyên chánh văn phòng Mặt trận Tây Tiến


Lê Tiến Thịnh

Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày 22 tháng 12 năm 1944 là một mốc son chói lọi: ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân mà anh Hòang Sâm được cử làm Đội trưởng.
Một bữa cơm nhạt không rau không muối thể hiện đức tính giản dị và tinh thần chịu đựng gian khổ của người chiến sỹ cách mạng nhưng lại rất giầu tình cảm đoàn kết quân dân và gắn bó đồng chí đã mở đầu họat động của một quân đội anh hùng. Mọi người vừa ăn vừa chuyện trò xoay quanh buổi lễ trang nghiêm vừa diễn ra, đã xác định đây là một đội quân vũ trang tuyên truyền họat động theo phương châm “chính trị trọng hơn quân sự” với họat động tác chiến “lai vô ảnh khứ vô tung”.

Trong tâm trí mỗi người đều in sâu những lời thề còn nóng hổi và đã đến lúc họ ngồi tâm sự, kể cho nhau nghe về cuộc đời của mình để mọi người thông cảm tâm tư và hòan cảnh của đồng đội. Ngồi quanh đống “Lửa du kích” toàn đội bước vào cuộc tâm tình lịch sử. Mở đầu, anh Hòang Sâm bước ra giữa sân, tay khoanh trước ngực hiên ngang vai đeo khẩu súng pặc hoọc, bên hông giắt con dao đi rừng, anh kể rõ rành mạch tóm tắt cuộc đời mình từ lúc nhỏ đã sớm giác ngộ cách mạng, đã nhiều năm được theo Bác Hồ ở Thái Lan rồi sang Trung Quốc họat động, đã từng tổ chức vũ trang đánh vào quân tuần tiễn Pháp và thu phục bọn phỉ ở vùng biên giới... Cuộc tâm sự kéo dài đến khuya.
Sau hai trận Phay Khắt và Nà Ngần, anh Hòang Sâm cùng anh Xích Thắng, Hòang Văn Thái đến chỗ anh Văn để rút kinh nghiệm chiến đấu. Cuộc họp đã đi đến những kết luận chính: chỉ trong vòng 14 giờ, với 34 chiến sĩ và 16 khẩu súng, ta đã đánh thắng hai trận, ý nghĩa to lớn không thể tính bằng tù binh đã bị bắt, số chiến lợi phẩm đã thu được mà bằng cái nó đã gieo mầm về những nguyên tắc tư tưởng quân sự cho đội quân cách mạng còn non trẻ... Sau đó đến lễ thành lập Đại đội tuyên truyền giải phóng quân do anh Hòang Sâm là Đại đội trưởng, anh Xích Thắng là Chính trị viên. Chương trình họat động trong dịp Tết ất dậu 1945 do anh Hòang Sâm đề ra lấy tên là “Mùa Tết chiến đấu”.

Trong thời kỳ “tiền khởi nghĩa” Đại đội VNTTGPQ đã vào giải phóng Chợ Rã (huyện Ba Bể ngày nay) lập chính quyền cách mạng đầu tiên của cấp huyện vào ngày 20-3-1945. Tháng 8-1945 anh Hòang Sâm là cán bộ chỉ huy xông xáo, dũng cảm, mưu lược trong các trận đánh Nhật ở Bắc Cạn-Thái Nguyên rồi tiếp đến các trận đánh trấn áp bọn phản động Việt nam quốc dân đảng ở Vĩnh Yên-Bạch Hạc-Việt Trì.
Sau ngày 23-9-1945 ngày quân Pháp khởi hấn ở Nam bộ, chính phủ ta tổ chức lại các lực lượng quân sự cách mạng thành lập các chiến khu. Chiến khu 2 gồm 8 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Bộ chỉ huy có anh Hòang Sâm là Khu trưởng, anh Văn Tiến Dũng là Chính trị ủy viên, anh Phạm Ngọc Mậu là Khu phó, anh Lê Hiến Mai là Tham mưu trưởng. Bộ chỉ huy Chiến khu 2 đã khẩn trương xây dựng nhiều đơn vị Nam tiến như Chi đội Vi Dân lên đường tháng 11-1945, Chi đội Độc lập, Phân đội Kim Bảo của Đại đội Việt-Mỹ... đều lên đường vô Nam ngay sau đó tại ga Ghềnh Ninh Bình. Cùng thời gian này anh Lê Hiến Mai với trách nhiệm mới là Đặc phái viên Chính phủ đã dẫn đầu một đội quân nhỏ nhẹ, nhanh chóng tiến lên Miền Tây rồi quặt sang giải phóng Sầm Nưa (Lào), lập nên một chốt chặn án ngữ sườn phía tây của Miền Tây chiến lược.

Cuối năm 1945 đầu năm 1946 vùng Tây bắc Chiến khu 2 là một mặt trận nóng bỏng vì quân Pháp từ Côn Minh Vân Nam (Trung Quốc) tràn xuống Bắc Lào rồi chiếm Lai Châu-Điện Biên Phủ làm bàn đạp để đánh xuống Sơn La, Hòa Bình. Các anh Hòang Sâm và Lê Hiến Mai là linh hồn của Bộ chỉ huy Mặt trận này đã theo sát diễn biến và điều quân đối phó linh họat với cả quân Pháp và quân Tầu Tưởng.

Cho đến toàn quốc kháng chiến tháng 12-1946 thì Chiến khu 2 đã xây dựng lực lượng quân sự khá vững vàng trên một địa bàn chiến lược vừa là tiền tuyến tiến công địch vừa là hậu phương ổn định đảm bảo là chỗ dựa an toàn cho cơ quan lãnh đạo và chỉ huy tối cao khi cả nước chuyển vào thời chiến đồng thời là địa bàn cất giấu nhiều kho tàng, xưởng máy để phục vụ kháng chiến lâu dài.

Trong 60 ngày đêm chiến đấu để bảo vệ Thủ đô Hà Nội, nhiều đơn vị của Chiến khu 2 đã sát cánh cùng quân dân Thủ đô chiến đấu rất dũng cảm, hòan thành vượt mức yêu cầu cầm chân quân Pháp một thời gian để cả nước chuyển vào chiến tranh một cách chủ động (lúc này là khu 11 Hà nội được sáp nhập vào Chiến khu 2)

Sau Tết Đinh hợi 1947 Mặt trận Tây Tiến được thành lập do các anh Hòang Sâm và Lê Hiến Mai trực tiếp chỉ huy. Sở chỉ huy mặt trận đặt ở Mường Hịch (Mai Châu). Bộ chỉ huy triệu tập ngay hội nghị quân chính từ cấp đại đội trở lên để quán triệt chỉ thị của Bộ Tổng chỉ huy về tổ chức đại đội địa phương cấp huyện và Tiểu đoàn tập trung ở cấp tỉnh vận dụng vào hòan cảnh thực tế của Tây Tiến trước hết là phải chuyển hẳn tư tưởng chỉ đạo tác chiến của các đơn vị đang chiến đấu ở Tây Bắc.

Cần khắc phục ngay khuyết điểm nghiêm trọng nhất là rải quân lập phòng tuyến trên các trục đường giao thông đối đầu với "mũi dùi" của địch nên đã bị đối phương tập trung ưu thế binh hoả lực vừa đánh vỗ mặt vừa vu hồi sau lưng, lần lượt phá vỡ từng phòng tuyến của quân ta. Biện pháp hữu hiệu là phải gấp rút củng cố lại chủ lực, tổ chức các đơn vị nhỏ, vũ trang tuyên truyền vừa tác chiến vừa bám sát dân, hòa vào dân, vừa luyện tập vừa tổ chức dân quân du kích ở cơ sở bản làng, lại luồn sâu vào vùng địch phát động du kích chiến tranh thật mạnh mẽ và rộng khắp giành lấy quyền chủ động trong giai đoạn chiến lược cầm cự.

Anh Hòang Sâm còn phân tích thêm âm mưu của Pháp muốn củng cố bàn đạp Lai Châu, Sơn La, Thượng Lào để đánh chiếm toàn bộ Tây Bắc nhằm bao vây cô lập căn cứ địa Việt Bắc hòng mau chóng đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Cho nên ta phải càng đoàn kết với quân dân Lào vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng của cả hai nước Việt-Lào cùng đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc.

Sau đó lễ trao cờ cho Đội vũ trang tuyên truyền liên quân Việt-Lào được tổ chức trọng thể. Đội vũ trang tuyên truyền Việt Nam do Đoàn Hải và Phúc Thảo chỉ huy sát cánh Đội vũ trang tuyên truyền Pathét Lào do Thao Ma và Thao Hanh chỉ huy đã trở thành Đội vũ trang tuyên truyền chung của hai dân tộc Việt-Lào anh em. Tiếng quân nhạc hào hùng vang dội núi rừng Mai Châu khích lệ các chàng trai ưu tú của hai nước anh em quyết tâm vượt mọi gian khổ hy sinh một lòng một dạ hòan thành nhiệm vụ.
Tháng 3-1947 quân Pháp đánh thông đường số 6, tiến công vào vùng núi Mai Châu từ hướng Suối Rút lên và Mộc Châu xuống phối hợp với quân nhảy dù hòng đánh úp vào Sở chỉ huy Mặt trận Tây Tiến. Anh Hòang Sâm đã quyết định chuyển Sở chỉ huy về Mường Bi, quân y xá rời về Lạc Sơn và tổ chức chiến đấu ở khu vực Chiềng Sại-Bãi Sang và Dốc Đẹt. Các đơn vị toàn mặt trận, kể cả các cán bộ chiến sỹ nhân viên cơ quan cũng cầm súng đánh địch làm cho chúng không thực hiện được âm mưu đen tối. Trận Bãi Sang, Dốc Đẹt đã đi vào huyền thọai vì có những tay súng có biệt tài bách phát bách trúng như Tạ Đình Đề ... làm cho quân Pháp phải co cụm về Chiềng Sại.

Lúc này Trung đoàn 52 Tây Tiến đã đảm đương nhiệm vụ họat động trên địa bàn Hòa Bình với đầy đủ 4 tiểu đoàn nên cơ quan Bộ chỉ huy Mặt trận Tây Tiến được giải thể. Anh Hòang Sâm trở về Khu bộ chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới: thiếu tướng Tư lệnh Liên khu 3.

Ngày 15-12-1968 anh Hòang Sâm đã hy sinh anh dũng ngay tại quê hương đất mẹ-chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa-ở cái tuổi 53 đầy định mệnh.

Vĩnh biệt anh và vô cùng mến tiếc người chỉ huy từng trải, có uy tín trong phong trào cách mạng quần chúng, có bản lĩnh và giầu kinh nghiệm về tổ chức vũ trang quần chúng thực hành chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân địa phương. Hình ảnh của anh vẫn còn mãi mãi trong trái tim nhiều anh chị em chúng ta nhất là anh chị em trong Trung đoàn 52 Tây Tiến.



Kỷ niệm về tiểu đoàn trưởng Mạnh Quân
và chính trị viên tiểu đoàn Lê Minh tiểu đoàn 164,
trung đoàn 52 Tây Tiến




Tôi kể lại vài mẩu chuyện về Tiểu đoàn trưởng Mạnh Quân sau này là Tư lệnh phó mặt trận Tây Nguyên nay đã qua đời, còn Chính trị viên tiểu đoàn Lê Minh cũng đã đi xa từ lúc còn trẻ ở tuổi đang sung sức. Đây là những người lãnh đạo tiểu đoàn tôi trong những ngày đầu kháng chiến ở Thủ đô và sau này lên Tây Tiến. Các anh đã để lại trong tôi những hình ảnh trân trọng, thân thương. Lúc này tôi mới là cán bộ trung đội.

Chưa được gặp ban chỉ huy tiểu đoàn nhưng "tiếng lành đồn xa" cán bộ đại đội liên lạc, trinh sát trên tiểu đoàn xuống công tác đều nói là các anh ấy rất trẻ, vui tính, hăng hái, rất kỷ luật.

Luyện quân ngay trên trận địa, tranh thủ lúc chưa tác chiến là điều anh nhắc chúng tôi khi xuống kiểm tra chiến đấu. Một lần ở mặt trận Thủ Đô, Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên cùng xuống kiểm tra đơn vị tôi đang bố trí chặn địch ở một đoạn trên tuyến đê Cầu Diễn-Chèm sau khi rút từ Bưởi ra. Vũ khí ban đầu trang bị còn thô sơ có đến nửa là súng khai hậu. Anh Mạnh Quân kiểm tra một số khẩu từ nòng súng đến đường ngắm. Một chiến sỹ vui miệng kể trận đánh Hồ Khẩu Bưởi vừa qua súng khai hậu bắn chậm quá nên không tiêu diệt được nhiều địch. Anh ôn tồn giải thích cho anh em và nhấn mạnh phải luyện tập sử dụng cho thật thành thạo, lấy đường ngắm nhanh và chính xác, tốc độ nạp đạn phải nhanh, thật bình tĩnh. Phải tranh thủ tập luyện ngay trong lúc đang bố trí ở trận địa chưa có địch như hiện nay vì chúng ta có ít thời gian tập lắm. Anh hỏi rất kỹ chiến sỹ về sử dụng bom ba càng, kiểm tra động tác chiến đấu và quay ra hỏi cán bộ trung đội về phương án phục kích đánh địch tuần tiễu từ Bưởi, Hòai Đức lên Cổ Nhuế-Chèm. Trung đội đã chọn trận địa phục ở ngay đầu làng Cổ Nhuế, sử dụng bom ba càng đánh xe tăng, có tổ hoả lực yểm trợ đánh bộ binh. Hai ngày sau trận đánh diễn ra đúng như dự kiến đã báo cáo với Tiểu đoàn trưởng. Chiến sỹ ôm bom ba càng xuất kích ra đâm vào xe tăng nhưng lại trượt rồi bị địch bắn bị thương, hoả lực với súng trường khai hậu đã bắn xối xả vào xe ô tô chở lính đi sau. Địch bị chết mấy tên hoảng sợ quay cả ô tô chạy về Bưởi. Nhớ lại lời dặn của Tiểu đoàn trưởng tuy vũ khí thô sơ nhưng biết cách đánh, với tinh thần yêu nước, sử dụng thành thạo vũ khí dù có thô sơ chúng ta vẫn có thể tiêu diệt được địch với trang bị hiện đại. Trận phục kích hôm nay là một ví dụ sinh động. Chúng tôi rút kinh nghiệm và chuẩn bị trận phục kích khác trên đường Bưởi-Cổ Nhuế. Tiếc là chưa thực hiện được thì chúng tôi được lệnh rút và chuẩn bị lên đường đi Tây Tiến luôn.

Tác chiến ở Thủ đô, sớm chiều nhìn về phía Tây thấy các dãy núi cao trùng trùng điệp điệp, lính trẻ đồng bằng thành phố chúng tôi nghĩ về miền núi bao điều bí ẩn, mới lạ, không hề nghĩ đến những năm tháng gian khổ sắp phải trải qua. Lên đến chiến trường Miền tây mới biết đến sốt rét hết cơn này đến cơn khác hầu như khắp lượt. Quân số ốm tăng nhanh. Trung đội chỉ còn dưới 20 người. Hành quân chiến đấu liên tục, ăn uống kém, sốt không dứt. Lúc này chăm lo chữa bệnh, khôi phục sức khoẻ, giữ gìn quân số phải được người chỉ huy và đơn vị coi trọng như nhiệm vụ chiến đấu. Có thời kỳ bệnh xá của tiểu đoàn bệnh nhân đông, chữa dứt sốt thì đưa về các đại đội để hồi phục sức khoẻ. Trung đội tôi hầu hết là lính ốm. Chưa huấn luyện quân sự được chúng tôi bố trí cho anh em đi bộ ra ngoài đầu Bản cho dẻo chân và học tập nhẹ nhàng. Một buổi sáng anh Mạnh Quân và hai liên lạc đến thăm đơn vị. Hai cậu liên lạc mang theo hai hoa chuối, một thân chuối và một gói to. Anh Mạnh Quân nói là kiếm hái được trên đường đi từ tiểu đoàn xuống. Cậu liên lạc kể lại qua một bãi chuối rừng trên sườn đồi, ba "thầy trò" leo đồi, công kênh nhau lên chặt được hai hoa chuối, chặt luôn một thân cây và nhặt ít mùi tàu làm quà cho anh em ốm một bữa rau tươi. Một cậu liên lạc định bớt lại một nửa cho tiểu đoàn bộ nhưng anh Mạnh Quân bảo đi thăm người ốm đã chẳng có gì, có chút rau kiếm hái, thôi làm quà tất cả. Bữa trưa ấy Tiểu đoàn trưởng ở lại cùng ăn cơm với trung đội. Có hoa chuối rừng nộm, có món củ chuối om với mẻ và miếng móng lợn của anh nuôi, đấy là một bữa ăn tươi. Việc tuy nhỏ nhưng đầy tình nghĩa đồng đội làm chúng tôi rất cảm kích và nhớ mãi.

Vũ khí tuy còn thô sơ nhưng khẩu hiệu của bộ đội là một viên đạn một quân thù đòi hỏi chúng tôi phải rất yêu qúy súng đạn giữ gìn và sử dụng rất tiết kiệm. Một hôm tập quân sự ném lựu đạn thật, có hai quả thối ngòi không nổ. Cậu liên lạc đại đội tinh nhanh đã nhặt giấu đi và lên tiểu đoàn xin bằng được anh quân khí viên kíp và dây cháy chậm. Hai cậu lính trẻ hì hục tháo lựu đạn lấy thuốc nổ bọc thành một quả bộc phá rồi rủ nhau cùng một số ở các trung đội đi ném cá ở suối xa thị trấn Vụ Bản kiếm một bữa cá để cải thiện. Đại đội trưởng Thái Phận thấy liên lạc báo là ném được mươi cân cá liền cho mang biếu tiểu đoàn bộ một phần. Mọi người đang hoan hỉ với bữa cá cải thiện thì có lệnh tiểu đoàn gọi Đại đội trưởng và tôi chính trị viên lên. Đến nơi bước lên nhà sàn đứng nghiêm chào mà Tiểu đoàn trưởng Mạnh Quân và Chính trị viên Lê Minh vẫn ngồi im tiếp tục làm việc. Thật là tiến thoái lưỡng nan. Lát sau anh Mạnh Quân mới quay ra và cho một bài lên lớp về kỷ luật quân đội, về qui định sử dụng vũ khí. Anh Lê Minh không nói nhưng nghiêm nét mặt nhìn chúng tôi. Coi như bị phạt mươi phút "đứng nghiêm" sau đó cho về với lời cảnh cáo cuối cùng "từ sau không được làm như thế". Từ tiểu đoàn về đại đội, tôi và đại đội trưởng Thái Phận chẳng ai nói một lời. Đến đơn vị, anh liên lạc nói khẽ với tôi, cá tiểu đoàn trả lại em đã giao cho anh nuôi. Anh Thái Phận nghe tiếng lườm chú liên lạc khiến chú vội rút ngay. Anh em trong đại đội đều hiểu rằng ban chỉ huy hôm nay bị tiểu đoàn chỉnh về hành động vô kỷ luật dùng vũ khí ném cá. Ăn mất ngon. Cuộc họp quân chính tiểu đoàn sau đó Tiểu đoàn trưởng còn nhắc lại và kèm theo một bài lên lớp. Các đại đội bạn đi họp nhìn chúng tôi làm ngượng chín cả người.

Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên sâu sát trong chiến đấu, gương mẫu trong chỉ huy đấy là phẩm chất tốt đẹp của các anh. Chúng tôi được lệnh sang Mai Châu tác chiến. Vùng Mai Châu từ khi chủ lực rút về bên Lạc Sơn chỉ còn có một đội vũ trang tuyên truyền họat động. Địch rất chủ quan. Lần này quay trở lại Mai Châu phối hợp với đội vũ trang tuyên truyền tại chỗ diệt tề trừ gian, vận động nhân dân và đánh vào đồn Chiềng Sại. Hành quân vượt Trường Sơn đi hai ngày mới tới vị trí tập kết. Đến gần nơi qui định đã thấy Trung đoàn trưởng Chu Đốc và tiểu đội trinh sát đến trước. Anh Chu Đốc vẫy chúng tôi ra hiệu đi nhanh lên vì trời đã sáng. Tới một bản nhỏ có ba bốn nhà đã thấy mấy anh liên lạc tiểu đoàn đi đi lại lại. Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên cùng ra gặp chúng tôi. Trong đại đội có mấy anh sốt rét tái phát và đau chân được tiểu đoàn cho lên nhà sàn để điều trị còn thì phân tán ra bìa rừng trú quân nghỉ ngơi vì phải đi một đêm nữa, đổ một dốc dài mới tới đồn Chiềng Sại.

Mấy anh lính ở tiểu đoàn, trung đoàn và của cả đại đội vốn quen nhau từ mặt trận Thủ đô đã nói nhỏ với nhau, Trung đoàn trưởng và Tiểu đoàn trưởng đã đi trước nắm tình hình địch, bố trí kế họach tác chiến, các cậu phán đoán lần này đánh lớn và còn kháo nhau cả một tiểu đoàn bạn cùng tham gia tác chiến. Thấy các cấp chỉ huy sâu sát như vậy chúng tôi rất tin tưởng. Suốt ba ngày trên một tuyến dài các đơn vị đã phá được nhiều tề, tuyên truyền nhân dân trên một địa bàn rộng dọc đường Vạn Mai, Mai Hạ, Chiềng Sại. Chúng tôi tập trung đánh đồn Chiềng Sại.

Tiểu đoàn với hai đại đội đã bao vây được đồn, diệt được một bộ phận địch ở vòng ngoài nhưng rồi không công phá được công sự nên không diệt được đồn. Được lệnh rút, đại đội tôi có hai thương binh phải cáng và vài anh yếu phải dìu. Về đến Bản trên đỉnh Trường Sơn thì đã gặp một bộ phận quân y tiểu đoàn tăng cường điều trị cho thương bệnh binh. Một đồng chí bị thương nặng đã qua đời. Nhờ dân bản giúp đỡ, Chính trị viên tiểu đoàn cũng có mặt dự lễ an táng. Anh Lê Minh không quên tự mình đến bà Mế ở bản nhờ trông nom phần mộ của đồng đội và cảm ơn sự giúp đỡ của Bản. Tổ chính trị của đại đội đã nhanh chóng hòan tất một tấm bia bằng gỗ cắm lên mộ. Người chiến sĩ trẻ trước lúc ra đi chỉ dặn lại "nhớ báo cho bố mẹ ở quê biết và còn một bộ quần áo ai vừa thì mặc".

Cho đến năm 1995 đoàn cựu chiến binh Tây Tiến có dịp về thăm chiến trường xưa, chúng tôi quay lại Mai Hạ, Chiềng Sại. Lãnh đạo huyện cho biết tất cả các liệt sỹ chôn rải rác dọc Sông Mã đến trên đỉnh Trường Sơn đều đã quy tụ về nghĩa trang liệt sỹ huyện Mai Châu. Chỉ tiếc là bia bằng gỗ lâu ngày mục nát nên khi quy tập không ghi được tên và quê quán liệt sỹ.

Thăm lại chiến trường xưa hình ảnh các anh Mạnh Quân, Lê Minh đều đã đi xa và đồng đội đã hy sinh tại đây nhắc lại bao kỷ niệm hào hùng, thân thương, sâu sắc, không thể nào quên của Tây Tiến. Đến hôm nay kẻ còn người mất chúng tôi thắp một nén hương cho mỗi phần mộ để tưởng nhớ tới tất cả các anh với tấm lòng biết ơn sâu sắc.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Vị tướng tài bình dân


Đó là Trung tướng Nguyễn Anh Đệ, trước lúc từ trần là Tư lệnh binh chủng Đặc công.

Ông sinh ra từ một gia đình nông dân nghèo. Vì cha mẹ mất sớm, ông được bà con nuôi nấng. Để kiếm sống ông phải đi ở, làm thuê. Nhờ lòng hiếu học và sáng dạ, người thiếu niên ngày làm, đêm tự học. Hồi ấy, con dân nghèo nước ta có mấy ai được cắp sách tới trường. Ông tới học nhờ ở các bè bạn cùng tuổi có may mắn được học ở trường làng. Sự cần mẫn và thông minh đã giúp cậu thiếu niên này dần dần đọc thông viết thạo, làm toán, học văn. Rồi lớn lên ông vào làm việc cho một xí nghiệp tư nhân.
Cao trào cách mạng những năm bốn mươi đã cuốn hút người thanh niên đầy nhiệt tình yêu nước và ý chí tự cường này. Anh say mê đọc sách báo xuất bản bí mật của Đảng. Nhờ đó, anh được giác ngộ cách mạng và tích cực tham gia các phong trào yêu nước của quần chúng đấu tranh đánh Pháp đuổi Nhật. Anh trở thành một trong những hạt nhân của phong trào quần chúng ở địa phương, tổ chức đội du kích họat động bí mật theo sự chỉ đạo của Đảng, và anh đã được vinh dự đứng trong hàng ngũ chiến đấu của Đảng từ tháng 3-1943. Sau các trận thắng ở Nhã Nam, Bố Hạ, Đồn Trã và Hiệp Hòa, anh đã trở thành một người chỉ huy dũng cảm, có kinh nghiệm và linh họat ứng biến trong các tình huống. Đặc biệt là việc giải phóng tỉnh Bắc Giang. Anh đã đặt kế họach cùng đồng chí Do vào trực tiếp gặp tên tỉnh trưởng tuyên truyền thuyết phục và nghi binh áp lực nên giải phóng được thị xã không bị đổ máu trong những ngày Cách mạng Tháng Tám. Sau đó, anh cùng đồng chí chỉ huy khác đã tuyên truyền vận động lập được một lực lượng tự vệ chiến đấu gồm hơn 400 chiến sĩ trở thành quân giải phóng.

Cách mạng Tháng 8 thành công, người chỉ huy đội du kích này đã là một đại đội trưởng Vệ quốc đoàn, mà người chỉ huy là Vương Thừa Vũ (về sau là Trung tướng, Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam). Ngay sau đó, đơn vị của anh đứng trong hàng ngũ của đoàn "Tây Tiến" do các đồng chí Hòang Sâm và Lê Hiến Mai chỉ huy, đã vượt hơn 300 ki-lô-mét núi rừng sang Sầm Nưa đánh địch.

Sau cuộc "Tây Tiến" đầu tiên thắng lợi, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Anh Đệ đưa quân về họat động vùng Hà Đông-Hà Nội, rồi lên Việt Bắc chỉ huy trung đoàn bảo vệ Bộ Tổng tư lệnh và các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau đó, trung đoàn 64 của ông cùng trung đoàn 42 phối hợp chặt chẽ đánh địch ở vùng Thái Bình-Hưng Yên, lập được nhiều thành tích xuất sắc.

Hơn 10 năm làm lính Cụ Hồ vì sự nghiệp cách mạng bây giờ người chỉ huy 30 tuổi này mới nghĩ tới việc lập gia đình. Giữa năm 1950, ông xin phép lên Việt Bắc để cưới vợ, thì xảy ra một "trục trặc" đầy thử thách trong đời mình: những ngày này ở vào giai đoạn gay go, ác liệt nhất của đơn vị mà người chỉ huy là ông lại vắng mặt. Ông đã phải chấp nhận một kỷ luật rất nặng: bị giáng chức, cảnh cáo toàn quân và khai trừ lưu Đảng 6 tháng.
"Ta hãy làm lại, cố gắng phấn đấu vươn lên". Ông suy nghĩ với quyết tâm của mình. Được sự giúp đỡ của cấp trên, được sự động viên của các bạn chiến đấu, ông không một lời thanh minh, đã cần mẫn hòan thành mọi nhiệm vụ, dù là bình thường nhất. Ông đã vượt qua mọi thử thách, những mặc cảm, làm việc hết mình. Nhất là thời gian nhận nhiệm vụ trưởng ban tác chiến ở Sư đoàn 320-Sư đoàn "Đồng Bằng" nổi tiếng, mà vị chỉ huy là Đại tướng Văn Tiến Dũng hiện nay. Và rồi chẳng bao lâu, ông được trở lại cương vị của mình và còn hơn thế nữa.

Chín năm kháng chiến gian khổ chống Pháp kết thúc, ông cùng đơn vị tiếp quản Hải Phòng, rồi chuyển qua công tác ở quân khu Hữu Ngạn, được học ở các trường trung-cao cấp để bổ túc và nâng cao trình độ văn hoá-chính trị và quân sự.

Cuộc kháng chiến thứ hai lại bắt đầu, gay go, phức tạp và khốc liệt hơn. Ông được cử đi công tác B. Cuối những năm sáu mươi và đầu những năm bảy mươi, ông ở cương vị Phó tư lệnh B5 rồi phụ trách B5-là chiến trường khốc liệt nhất. Từ Đường Chín, Khe Sanh, rồi khắp Quảng Trị, Thừa Thiên đến tận A Sầu, A Lưới, không nơi nào trên mảnh đất đầy khói lửa bom đạn này là không in dấu chân ông. Và ở đâu ông cũng hòan thành tốt nhiệm vụ được giao với cương vị của mình.

Tổ quốc được hòa bình thống nhất, thì quân đội phải ngày càng được chính quy, hiện đại để bảo vệ thành quả cách mạng. Có mấy lần ông được cử đi học bồi dưỡng ở nước ngoài. Từ 5-1974, ông được cử làm Cục trưởng Cục quân lực. Trong những ngày căng thẳng ở biên giới phía Bắc, ông được cử làm Tư lệnh đặc khu Quảng Ninh, một vị trí chiến lược sơn-thủy-bộ trọng yếu của Tổ quốc. Mấy năm sau ông được chuyển sang làm Tư lệnh binh chủng Đặc công.

Để đảm trách bộ đội đặc công, ông đã phải ngày đêm tìm kiếm tài liệu trong và ngoài nước nhằm mở rộng kiến thức về binh chủng đặc biệt này. Học ở tài liệu, ở các chiến hữu, rút những bài học từ binh nghiệp của mình... Do đó khi về binh chủng này nhận nhiệm vụ, ông đã đảm nhận tốt trọng trách của mình, được cộng sự, các sĩ quan cấp dưới và chiến sĩ kính trọng, qúy mến. Đặc biệt, ở đây ông cũng là hạt nhân đoàn kết nội bộ từ bộ chỉ huy binh chủng xuống các đơn vị và chiến sĩ.

Vào cuối 1984 đầu 1985 ông bị bệnh nặng. Tập thể giáo sư bác sĩ Viện quân y 108 hết lòng cứu chữa, nhưng không qua được. Ông đã từ giã bà con ruột thịt, các bạn chiến đấu và binh sĩ của mình giữa lúc đất nước bước vào thời kỳ đổi mới mà ông chưa được một ngày nào thư thả, thảnh thơi. Thậm chí ông đã được phong hàm Trung tướng mà chưa một lần nào mặc quân phục có hai sao trên vai mình.

Nằm trên giường bệnh, trong lúc mê sảng, ông nói như đang thảo luận sôi nổi về kế họach các trận đánh sau Hiệp định Pa-ri với các cán bộ chỉ huy các cấp... cho đến hơi thở cuối cùng ông cũng hết lòng vì binh nghiệp.
Và một trong những điều nổi bật ở ông là tính thẳng thắn, giản dị và liêm khiết.

Một lần vào mùa hè 1982, ông về Hà Nội họp rồi tiện thể ghé về nhà đúng lúc trận chung kết World-Cúp-82 ở Tây Ban Nha. Đang xem những pha gay cấn và hấp dẫn thì chiếc tivi đen-trắng 14 inh của nhà "ọc ạch", nhấp nháy... Mọi người xem lo lắng và có phần bực bội. Anh cần vụ phàn nàn:

- Người ta đã phân cho thủ trưởng được mua một chiếc tivi mới theo tiêu chuẩn mà thủ trưởng lại từ chối, cứ nhường nhịn mãi... (anh nói như vừa giận vừa thương).
- Thôi, nó có "ọc ạch" như thế nhưng nhà mình đã có dùng rồi còn hơn các đồng chí khác chưa có... Kìa, kìa tay Rô-xi đang đi bóng...
Ông trả lời thư thả như không có gì xảy ra.

Một lần khác, ông được phân 5 mét vải "pho" cao cấp để may bộ lễ phục cấp tướng theo tiêu chuẩn. Nhưng ông gửi trả lại đồng chí phụ trách hậu cần của đơn vị, với lý do: Khi đi học ở Liên Xô ông đã được phát một bộ y phục cấp tướng rồi, để món đó cho người khác.

Trong thời gian công tác ở Hà Nội với cương vị Cục trưởng Cục quân lực, ông vẫn ăn ở khu tập thể của Bộ Quốc phòng. Vì ông muốn sớm tối có thêm thời gian để đọc tài liệu, học tập nghiên cứu thêm. Thi thoảng, sáng chủ nhật, ông đạp xe đạp về nhà (tận mãi khu tập thể quân đội ở Hà Đông) thăm vợ con, chăm tỉa mấy luống rau, hốc bí... rồi tờ mờ sáng thứ hai đã phải đạp xe đi. Hồi ấy, theo tiêu chuẩn, gia đình ông được chuyển ra Hà Nội (với người thường đó là một điều quá ư khó khăn, ngoài tầm với tới), nhưng ông không muốn làm phiền hà cho tổ chức. "ở đâu chả là đất Việt Nam"-ông nói thế.

Với những người giúp việc trực tiếp: lái xe, cần vụ, thư ký, bảo vệ... ông đối xử cởi mở và thân mật như người nhà, như anh-em, chú-cháu, cha-con, không có gì cách biệt. Mỗi lần có chút gì "cải thiện", ông mời tất cả cùng ngôi quây quần với ông và các thành viên trong gia đình.

Một hôm ngày chủ nhật, tôi đến thăm ông, thấy ông mình đẫm mồ hôi đang xây lại bức vách bếp. Anh cần vụ và tôi cùng xông vào: "Thủ trưởng để chúng em giúp một tay cho nhanh". Ông liền gạt ra, rồi nói như ra lệnh:

- Thôi, các cậu về nghỉ đi, tý nứa là tớ làm xong thôi. Ngày chủ nhật đối với thanh niên tơ như các cậu cũng là vàng ngọc đấy!

Chúng tôi đành tuân lệnh nhưng với một tình cảm thắm đượm mến yêu người thủ trưởng rất mực tình cảm và tế nhị này.

Đã hơn mười năm qua mà hình ảnh vị tướng giản dị, liêm khiết và đầy lòng nhân ái này vẫn còn mãi lưu giữ trong ký ức những người bạn chiến đấu, các chiến sĩ và những người ruột thịt thân yêu.

Người viết bài này kính chúc ông thanh thản tâm hồn nơi cõi vĩnh hằng.

Nguyễn Hữu Dy




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Nhớ mãi KIM TUẤN


Tú Hào


Khi đến với Mặt trận Tây Tiến, lớp cán bộ đại đội chúng tôi ngày ấy đa số còn ở tuổi trên dưới đôi mươi.

Có người ở các đại đội độc lập rải rác khắp biên cương miền Tây, có người lại ở đơn vị tiểu đoàn tập trung, lâu lâu mới có dịp gặp nhau ngắn ngày tại một cuộc họp do trung đoàn triệu tập.

Ngoài mấy bậc văn nghệ sĩ mà tên tuổi sẽ còn được nhắc đến dài lâu, như nhà thơ Quang Dũng với bài thơ Tây Tiến bất hủ, như Doãn Quang Khải với khúc quân ca hùng tráng Vì nhân dân quên mình, hay như các họa sĩ Văn Đa, Quang Thọ, chiến sĩ Tây Tiến thường vẫn nhắc đến Như Trang, Việt Hổ, Vạn Thắng ...

Phần tôi, tôi còn nghĩ đến một đồng đội nữa, một con người làm tôi nhớ mãi, dù ít khi được gần gũi trên trận địa hay trong sinh họat đời thường về sau này, đó là Kim Tuấn. Anh cùng lứa với chúng tôi.

Trong mỗi con người tôi cứ nghĩ đều có một đặc điểm, một nét duyên thầm, nếu được phát hiện hoặc đã bộc lộ ra thì khó có thể bị phai mờ qua thời gian và không gian. Xin lấy ví dụ về con người Kim Tuấn, từ nụ cười đến tính cách của anh.

Gần 55 năm đã qua, nghĩa là hơn nửa thế kỷ, nụ cười rộng mở hết sức là hồn nhiên của anh vẫn hiển hiện ngay lên trong trí nhớ của tôi, mỗi lần có dịp nhắc đến anh. Mới hôm qua hôm kia, khi nói chuyện với chị Tú Khuê, vợ Kim Tuấn, tôi được biết đó cũng là ấn tượng không thể bao giờ nhạt nhòa đối với chị và với cả hai người con của anh chị.

Cô con gái lớn, cháu Thanh Hà năm qua đã bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ về y đức, hiện là thượng tá chủ nhiệm khoa Tâm lý, Học viện quân y. Cậu út cũng là thượng tá, công tác ở cơ quan thuộc Bộ quốc phòng. Chị Tú Khuê cho tôi biết, các cháu Thanh Hà và Nguyễn Công Hiệu từ nhỏ lớn lên, đi học rồi ra làm việc trong lúc bố các cháu cứ biền biệt xa nhà, nhưng tính tình vẫn thừa hưởng được từ bố các cháu vốn rất thuần hậu.
Theo suy ngẫm của tôi, nét thuần hậu dễ gần của Kim Tuấn chỉ để dành cho người thân, cho bạn bè, đồng đội. Trong con người anh còn bộc lộ một tính cách khác rất nổi trội: tính quyết đoán trong ứng xử, trong chỉ huy chiến đấu.

Tôi nhớ mãi hồi chiến dịch Tây Nam Ninh Bình(1953) tôi đã trực tiếp chứng kiến cuộc hành quân tốc chiến của tiểu đoàn Tiên Yên dưới quyền chỉ huy của Kim Tuấn, chỉ ít phút sau khi nhận lệnh trực tiếp của anh Văn Tiến Dũng từ sở chỉ huy tiền phương Đại đoàn 320.

Các đơn vị trong tiểu đoàn Tiên Yên cấp tốc xốc lại hành trang, vừa chạy vừa chỉnh đốn hàng ngũ. Tiểu đoàn trưởng Kim Tuấn vượt ngay lên đầu hàng quân, ra tận mặt đường cái Kim Tân đi Rịa để chỉ thị cụ thể, giao nhiệm vụ ngắn gọn cho cấp dưới với thái độ rất quyết đoán, lắp ghép được đơn vị nào đủ biên chế, trang bị xong là cho lệnh xuất phát ngay tức khắc...

Tiếng súng lớn nhỏ nổ ran lên ở phía trước và Sở chỉ huy tiền phương đã nhận được qua máy bộ đàm giọng nói trầm tĩnh quen thuộc của Kim Tuấn: "Báo cáo, Tiểu đoàn Tiên Yên vừa hòan thành nhiệm vụ".

...22 năm sau

Ngay sau khi nghe tin chiến thắng Ban Mê Thuột mở đầu Chiến dịch Tây Nguyên lịch sử, được biết Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm đánh tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy và lực lượng sử dụng gồm Sư đoàn bộ binh 320 được tăng cường, chúng tôi đều hết sức vui mừng. Riêng tôi như có linh tính mách bảo, tôi vững tin là anh Dũng, tư lệnh chiến dịch đã giao cho Kim Tuấn, sư trưởng nhiệm vụ "băng rừng cắt đường giao thông và chặn đánh buộc địch ùn lại ở cả hai phía Đông-Tây". Y hệt như 22 năm trước, Kim Tuấn cũng từng một lần nhận mệnh lệnh tương tự của anh Dũng...

Tôi đã có dịp được hỏi anh Dũng về chuyện đó và anh xác nhận đúng vậy. Sau này anh Dũng có viết: "...Sư đoàn 320 sau khi nhận lệnh đã hành quân cấp tốc trong đêm 16 tháng 3. Sáng 17 tháng 3 năm 1975 một đơn vị đã nhanh chóng băng rừng, cắt đường số 7, chặn được quân địch ở phía đông Phú Bổn... 16 giờ ngày 17 tháng 3, đơn vị đi đầu của Sư đoàn ra tới đường số 7, chặn đánh địch ở đông nam Cheo Reo 4km... Cuộc đuổi đánh quân địch đã kết thúc thắng lợi... Ta đã tiêu diệt tập đoàn rút chạy của Quân đoàn 2 ngụy..." (Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước-Đại tướng Văn Tiến Dũng-NXB CTQG 1996)

Vị tướng quân tư lệnh một quân đoàn chủ lực lừng danh, người liệt sĩ Anh hùng quân đội Kim Tuấn mãi mãi là đồng đội thân thiết của Tây Tiến, đoàn binh không mọc tóc chúng ta!





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Chân dung Hồ Chủ Tịch
trên cao nguyên Phiêng Sa


Bùi Quý Bẩy


Tôi là một cán bộ cũ của trung đoàn 148 sống và chiến đấu trong đội hình của Trung đoàn từ tháng 5 năm 1946 đến tháng 12 năm 1952. Trong suốt cuộc đời tham gia và phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, có hai kỷ niệm sâu sắc đối với tôi, trùng hợp ngẫu nhiên vào hai ngày hội lớn của dân tộc, trong năm đầu tiên của nước Việt Nam độc lập:

1-Ngày 19 tháng 5 năm 1946, toàn dân tộc tưng bừng trong ngày hội mừng lần đầu tiên ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng ngày đó, hồi 19 giờ, tại Xuân Mai-Hà Đông đơn vị chúng tôi hành quân ra mặt trận chiến đấu (lên Sơn La).

2-Đầu tháng 9 năm 1946, nhân kỷ niệm lần đầu tiên Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tôi mang bức chân dung Hồ Chủ tịch sang Lào tặng nhân dân cao nguyên Phiêng Sa.

Cách đây 49 năm, tháng7-1946 tôi được điều về phụ trách Đại đội phòng thủ vùng biên giới Việt-Lào, từ bản Chiêng On-Phiềng Phắt-Bó Rồm đến Mư Tưi thuộc xã Tú Lang. Mộc Châu, đối diện với cao nguyên Phiêng Sa thuộc nước bạn Lào.

Khi về chỉ huy đơn vị này, tôi thường được thống lý Phiêng Sa nhắn mời sang thăm (ông ta gọi tôi là quan ba Chiềng On, vì đại đội bộ đóng ở Chiềng On). Tôi có nhận lời, nhưng chưa sang ngay.

Đầu tháng 9 năm 1946, đồng chí Đức Sơn, chính trị viên tiểu đoàn 86, đến thăm đại đội và trao tặng đại đội bức ảnh chân dung Hồ Chủ tịch (cỡ 9x12 cm). Đồng chí nói: “Nhân kỷ niệm năm đầu Quốc khánh, dưới xuôi gửi lên một số ảnh chân dung Bác, Trung đoàn gửi tặng mỗi đơn vị một tấm để cán bộ, chiến sĩ chiêm ngưỡng”.

Tiếp nhận chân dung Bác từ tay đồng chí Đức Sơn trao cho, tôi vô cùng xúc động, đồng thời nảy ra một ý nghĩ: “đây là cái cớ và là bửu bối để mình sang Lào thăm và tuyên truyền, vận động thống lý Phiêng Sa theo cách mạng, lập kế “ly gián” giữa ông ta với Pháp”...

Sau khi nghiên cứu, tìm hiểu, hiểu được ý đồ của thống lý Phiêng Sa, muốn tìm hiểu chủ trương, chính sách của cách mạng Việt Nam, tôi hạ quyết tâm sang một mình và sẽ sang đột ngột, không báo trước. Tôi nghĩ mình sang bên đó, thông qua công tác tuyên truyền giác ngộ, vận động được ông ta theo cách mạng, thì nhân dân cả vùng dân tộc Hmông này sẽ theo ông ta, có lợi cho cách mạng của hai nước biết bao! Nếu chẳng may, bị ông ta lừa, có lòng phản trắc, chặt đầu nộp cho Tây lấy thưởng, thì cũng sẵn sàng hy sinh cho cách mạng, mình có bị hy sinh, ít nhất cũng có tác dụng làm cho một số người có cảm tình với cách mạng Việt Nam, hiểu được bộ mặt phản trắc của ông ta.

Sau khi cân nhắc kỹ, chọn ngày quang mây vào trung tuần tháng 9 năm 1946, tôi cùng đồng chí Khoát, chiến sĩ bảo vệ lên đường chính thức sang Lào thăm Thống lý và nhân dân cao nguyên Phiêng Sa. Đó cũng là chuyến xuất dương ra nước ngoài đầu tiên của tôi.

Khoảng 10 giờ, hai anh em chúng tôi lên đến cao nguyên bao la núi, đồi của Phiêng Sa. Đi độ nửa giờ đến đầu bản Hua Pú, nơi ở của thống lý, đã thấy lố nhố mười người đứng đầu bản chờ đón tiếp. Vào bản, đồng chí Dự trinh sát viên của đại đội cho biết: “Khi thấy các anh lên đến cao nguyên, người gác chạy về báo rằng phía Việt Nam sang có một người cưỡi ngựa, một người đi bộ, ông Thống lý đang nằm hút thuốc, ngồi bật dậy nói: “Có lẽ quan ba Chiềng On sang thăm đấy” rồi giục mọi người cùng ra đón tiếp. Cách chỗ người đứng chừng 10 bước, ông Thống lý bước ra trịnh trọng chào hỏi và tự ông ta giữ dây cương cho tôi xuống ngựa.

Chào hỏi xã giao xong, ông Thống lý ra lệnh cho người đội trưởng: “anh cử ngay người đi canh gác các ngả, thấy Tây về phải báo ngay, nếu để xẩy ra chuyện gì đối với Quan ba, thì các anh chết đấy! Đồng thời cho gọi ngay dân về đón tiếp và chào Quan ba.

Nghe ông nói, tôi hỏi đồng chí Dự, đồng chí đã dịch lại. Đồng chí Dự là Việt kiều tại Lào, khi nước nhà giành được chính quyền, đồng chí về nước tham gia Quân đội, nên đồng chí rất thông thạo tiếng Lào và Hmông. Hiểu được những điều ông nói, tôi yên tâm và nói: “Rất cám ơn ông thống lý, ông không phải gọi dân về, để yên bà con làm việc. Chiều, cơm nước xong, đề nghị ông mời bà con đến, để tôi được thăm hỏi và nói chuyện với bà con”.

Vào nhà,thăm hỏi xong,tôi trịnh trọng đưa bức ảnh chân dung Bác cho ông thống lý và nói:

"Vừa qua, ngày 2 tháng 9, nhân dân cả nước chúng tôi, mừng ngày Hội lớn của dân tộc-kỷ niệm lần đầu tiên của năm thứ nhất Quốc khánh của nước Việt Nam độc lập. Nhân dịp này, Chính phủ Trung ương gửi lên một số ảnh chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà để tặng thưởng những người có công với cách mạng. Nhân dịp này chúng tôi xin gửi tặng nhân dân Phiêng Sa, ghi nhận công lao của ông Thống lý và nhân dân đã giúp đỡ và ủng hộ Quân đội Việt Nam được cử đến hoạt động ở vùng biên giới Việt-Lào. Hôm nay tôi sang thăm ông thống lý và nhân dân Phiêng Sa, tôi có trách nhiệm thân chinh mang bức chân dung của Hồ chủ tịch và chuyển lời thăm hỏi và cám ơn của chúng tôi đến nhân dân Phiêng Sa và ông Thống lý..."

Tiếp nhận bức chân dung Hồ chủ tịch trên tay tôi và nghe những lời tôi nói, ông Thống lý rất xúc động. Đôi mắt ông thấy hoe hoe đỏ. Với giọng xúc động. ông nói: “Cám ơn ngài Quan ba!”. Rồi ông ngắm nhìn chân dung một cách tôn kính, xong chuyền tay cho thân nhân trong gia đình có mặt trong buổi tiếp cùng chiêm ngưỡng.

tôi bắt đầu nói chuyện về cách mạng Việt Nam và âm mưu của thực dân Pháp tái xâm lược ba nước Đông Dương bao gồm những nội dung sau: ý nghĩa thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, một nhà nước nước do nhân dân tự làm chủ vận mệnh của đất nước, không cho ngoại bang cai trị; Thân thế, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Thể chế của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; Nhiệm vụ của quân đội Việt Nam, phòng thủ biên giới Việt-Lào và âm mưu xâm lược Việt Nam của Quân đội Pháp chiếm đóng ở Lào: ý nghĩa của từ “đồng chí”

Buổi tối bà con dân bản đến, có nam, có nữ, chừng 30 người, ngồi quanh đống lửa giữa nhà Thống lý. Sau lời giới thiệu, tôi thăm hỏi và nói chuyện với bà con, nói những điều mà tôi đã nói với ông thống lý hồi ban ngày. Nói xong, ông Thống lý chuyền tay cho mọi người xem chân dung Hồ chủ tịch.

Mặc dầu bà con dân tộc Hmông của nước Lào chưa biết Hồ Chí Minh là ai. Lần đầu tiên, được nghe tôi nói về thân thế sự nghiệp và công lao to lớn của Người đối với cách mạng và nhân dân Việt Nam và được chiêm ngưỡng chân dung của Người, bà con tỏ thái độ rất tôn kính. Qua ánh lửa hồng, ông Thống lý phát hiện, đôi mắt Hồ chủ tịch có hai con ngươi, ông chỉ và nói với tôi: “Này ngài Quan ba, ngài có thấy không, đôi mắt Hồ chủ tịch có hai con ngươi, khác người thường. Người hiểu thấu khát vọng của mọi người dân, bất kể người đó ở đâu, bất kể người đó là dân tộc nào, như Ngài đã kể về lòng nhân nghĩa cao cả của Người”. Nghe ông Thống lý nói, nhiều bà con xin được xem lại chân dung Bác và rì rầm trao đổi với nhau.

Sau khi bà con xem chân dung Bác xong, tôi nói tiếp: Từ khi cách mạng Việt Nam giành được chính quyền đến nay, Nhà nước chúng tôi vốn rất nghèo lại phải chăm lo nhiều việc cho dân nên không có khả năng in để tặng mỗi gia đình một tấm hình của Hồ chủ tịch mà chỉ gửi tặng được một tấm tượng trưng để tỏ lòng biết ơn về sự ủng hộ quý báu của bà con cũng như ông Thống lý đối với cách mạng và quân đội Việt nam.

Vậy, bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh này, ai là người có vinh dự được bà con trao cho trông giữ? Tôi đề nghị bà con trao bức chân dung này cho ông Thống lý được thay mặt bà con giữ gìn. Bởi vì ông Thống lý là người đứng đầu Phiêng Sa. Hằng ngày ông Thống lý treo bức chân dung này trên tường bà con có đến, đều được chiêm ngưỡng. Nhưng khi nghe có Tây về, ông Thống lý phải cất giấu, đừng để Tây nó thấy.

Nghe tôi đề xuất, bà con đồng thanh nhất trí. Ông Thống lý cũng vui vẻ nhận sự tín nhiệm của bà con trao cho và xin hứa, giữ gìn thật chu đáo chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau buổi nói chuyện ông Thống lý đứng dậy thay mặt bà con nói:
..."Nhân dân Phiêng Sa chúng tôi, tuy có giúp đỡ một số anh em bộ đội Việt Nam được cử sang hoạt động, sự giúp đỡ đó chưa đáng là bao mà đã được bộ đội Việt Nam biết đến và coi chúng tôi là những người có công với cách mạng và Quân đội Việt Nam. Ân đức này chúng tôi xin ghi nhớ không bao giờ quên. Một lần nữa chúng tôi xin trân trọng bộ đội Việt Nam. Chúng tôi cũng nhờ ngài Quan ba chuyển lời cám ơn đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam”...

..."Còn hoàn cảnh của nhân dân chúng tôi hiện nay như thế nào, xin trình bày để ngài Quan ba biết. Từ khi quân Pháp trở lại chiếm đóng nước Lào và về đóng quân ở bản Hùm Báo, hàng tuần chúng về bắt chúng tôi cung cấp lương thực, thực phẩm và cũng nhiều lần hứa sẽ cung cấp muối cho Phiêng, nhưng cho đến nay nhân dân cả Phiêng cũng chưa được một hạt muối nào của chúng. Vậy nếu có thể được, nhờ ngài Quan ba, nói với chính phủ địa phương bên đó, bán cho chúng tôi ít muối để phân phối cho nhân dân có muối dùng”...

Nghe ông nói xong, tôi nói: “tưởng việc gì to tát, chỉ có việc này, sao ông Thống lý không cho tôi biết trước đây. Bây giờ ông thông báo cho bà con toàn Phiêng, mỗi gia đình cần bao nhiêu cân muối, ông cho tổng hợp lại, tôi sẽ về Mộc Châu báo cáo và đề nghị với thượng cấp”.

Độ tuần lễ sau, được tiểu đoàn báo lên, uỷ ban huyện Mộc Châu nhận cung cấp muối cho Phiêng Sa. Nhận được tin Phiêng Sa đã cử một đoàn sang Mộc Châu nhận chuyến muối viện trợ đầu tiên của chính quyền cách mạng Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của nhân dân cao nguyên Phiêng Sa.

Ngay khi nhân dân Phiêng Sa nhận được chuyến muối viện trợ (trên một tấn) ông Thống lý cử người sang mang theo một con ngựa, có cả yên cương mới, chuyển lời cám ơn đến tôi và nói: “Ông Thống lý cho mang con ngựa sang để ngài Quan ba sử dụng cho an toàn. Vì ngựa của người Hmông chúng tôi đi núi cao, núi đá thạo hơn ngựa của người Thái".

Đầu năm 1947, tôi nhận được lệnh của trung đoàn trưởng Lê Trọng Tấn, gọi về trung đoàn nhận nhiệm vụ khác. Con ngựa trên, tôi để lại đại đội.
Đầu năm 1949, tôi trở lại Sơn La, phụ trách đại đội độc lập hoạt động ở Mộc Châu, đóng quân tại khu căn cứ du kích xã Tú Lang. Anh Đông Tùng, chính trị viên đội võ trang Lào Bắc, từ căn cứ cách mạng Phiêng Sa về xuôi họp, qua khu căn cứ gặp tôi. Tôi chưa kịp chào anh, anh đã nói luôn, Thống lý Phiêng Sa vẫn thường xuyên hỏi thăm cậu đấy. Và anh nói qua quá trình tham gia hoạt động cách mạng của ông ta và nhân dân cao nguyên Phiêng Sa hiện nay ông Thống lý là khu trưởng khu hành chánh của khu căn cứ cách mạng Phiêng Sa.

Được nghe anh Đông Tùng nói về sự giác ngộ của Thống lý và nhân dân các dân tộc cao nguyên Phiêng Sa trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc của cách mạng Lào, lòng tôi tràn đầy niềm vui và liên tưởng lại những suy nghĩ về việc làm bình thường của mình trước đây, không ngờ, đã đem lại lợi ích to lớn cho cách mạng Lào ngày nay.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Những ngày đầu ở Sở chỉ huy mặt trận Tây Tiến


Nguyễn Chính


Tôi được chỉ định phụ trách văn phòng Bộ chỉ huy mặt trận Tây Tiến, và cử đi trước bằng xe ôtô chở khách của bác Tài Tuế đã xin hiến cả xe theo bộ đội Tây Tiến. Trên xe bác Tài Tuế có tiểu đội cảnh vệ mang theo hòm đạn, hòm lựu đạn, có tiểu đội nhạc binh mang theo kèn hơi, trống to, trống nhỏ, có bộ phận nuôi quân lủng củng rổ rá nồi chảo.

Chúng tôi đến Mường Hịch, nơi đặt sở chỉ huy mặt trận Tây Tiến, được các Mế, các anh chị em dân quân du kích đón tiếp nồng nhiệt như đón người thân, ánh mắt tràn đầy vui mừng tin tưởng rồi phân nhau đưa chúng tôi lên nhà. Chúng tôi đi đường xóc ổ gà ê ẩm vừa mệt, vừa rét, vẫn cố trấn tĩnh giữ tư thế mạnh mẽ của anh bộ đội Tây Tiến niềm nở chào mừng các Mế, các anh chị trong nhà rồi quay vào huơ tay trước bếp củi giữa nhà sàn và vui đón bát nước chè nóng đậm đà tình quân dân.

Sớm hôm sau, chúng tôi cùng bà con trong bản làng làm tổng vệ sinh thì thấy Chỉ huy trưởng Hoàng Sâm, Chính uỷ Lê Hiến Mai đi bộ vào, theo sau là cán bộ tuỳ tòng giữa tiếng hò reo của bà con và chúng tôi. Bộ chỉ huy hỏi thăm trò chuyện với bà con rất cởi mở thắm thiết.
Chúng tôi được biết là Bộ chỉ huy hành quân cả đêm bằng xe Zeep "tòng tọc" trống tuyềnh toàng lại mưa rét do anh Phong chiến sĩ văn phòng rất trẻ lái, đang theo bác Tài Tuế mang xe vào rừng cất giấu.

Đồng chí Hoàng Sâm không nghỉ, làm việc ngay, tôi báo cáo ngắn gọn, đồng chí Hoàng Sâm lệnh cho triệu tập hội nghị quân chính ngay. Tôi làm nhiệm vụ thể hiện ý tưởng của đồng chí Hoàng Sâm dưới dạng văn bản kế hoạch thực hiện chỉ thị của Bác và Bộ Tổng tư lệnh, về việc phải chuyển hẳn tư tưởng tác chiến của bộ đội Tây bắc mà khuyết điểm nghiêm trọng nhất của một số đơn vị Tây Bắc lúc đó là đã rải lực lượng lập phòng tuyến trên các trục đường giao thông đương đầu với "mũi dùi" chủ lực của địch, nên đã bị quân địch tập trung lực lượng vừa đánh vỗ mặt, vừa vu hồi đánh ở sau lưng, lần lượt phá vỡ từng phòng tuyến của quân ta.

Trước tình hình đó, Bộ Tổng tham mưu đã ra lệnh bỏ cách dàn quân giữ đất mà phải chuyển biến sang đánh du kích vận động chiến.

Cũng chính vì thế mà Bộ đã quyết định thành lập Bộ chỉ huy mặt trận Tây Tiến II.
Vậy biện pháp củng cố lại chủ lực, chuyển các đơn vị này làm tốt các nhiệm vụ vừa tác chiến vừa bám sát dân, hoà vào dân; vừa luyện tập, vừa tổ chức dân quân du kích, vừa phân nhỏ đơn vị luồn vào vùng địch phát động du kích chiến tranh thật mạnh mẽ rộng khắp. Có làm được như vậy, ta mới có điều kiện chủ động đánh địch và thắng địch.

Sau đó, tôi lấy ngựa đưa Bộ chỉ huy đi quan sát một số bản làng Phố Vãng, Chiềng Sại, Mai Hạ.
Bộ chỉ huy quyết định:

- Lập kho lương thực ở rừng Chiềng Sại, giao anh Thanh Tùng và chị Nhạn (Nguyên) đảm nhiệm.
- Lập quân y xá ở Chiềng Sại, địa điểm thứ hai là Mai Hạ, giao bác sĩ Đức làm Trưởng.
- Làm cầu Bãi Sang, sửa những đoạn đường lầy đảm bảo ôtô chuyển hàng quân đội thông suốt, giao Nguyễn Chính và Phó ty giao thông công chính được Uỷ Ban Hoà Bình cử đến đôn đốc.
Ngay tối ấy tổ chức buổi lửa trại vui văn nghệ ở Mường Hịch phục vụ bản làng mà diễn văn là đơn vị cảnh vệ, là các chàng trai quân nhạc, thổi kèn, đánh trống khuấy động cả vùng núi rừng.
Vài tháng sau, máy bay Đa cô ta của địch liên tục bay lượn rất thấp vùng trời Mộc Châu, Vạn Mai, Suối Rút. Bộ chỉ huy nhận định là địch đã biết ta hành quân lên Tây Bắc muốn tìm sở Chỉ huy để đánh úp, nhất là từ tháng 3-1947 địch đã đánh thông Hà Đông, Hoà Bình, Sơn La, chuẩn bị lập "Xứ Mường tự trị" cùng quân nhảy dù xuống Mộc Châu-Bộ chỉ huy quyết định quân y xá rời từ Mai Hạ sang Châu Trang qua dốc Văn, dốc Đẹt chờ lệnh, 2 đầu máy ôtô cho chôn cất giấu vào rừng tại Bãi Sang.

Bộ chỉ huy lệnh cho anh Chu Đốc triển khai ngay phương án tác chiến số 1 như đã định-giao nhiệm vụ anh Phúc Thảo cho phá sập cầu Bãi Sang và chặn địch phía Suối Rút lên; anh Thanh Tùng cho phân tán kho lương thực Chiềng Sại cho đồng bào bản làng đã quy định như kế hoạch và về Mường Bi-Lạc Sơn chuẩn bị địa điểm đóng quân.

Tin tình báo là địch đã nhảy dù xuống Suối Rút.

Cùng lúc một trung đội của anh Trung đoàn trưởng Chu Đốc cử đến tăng cường bảo vệ Sở chỉ huy.

Đồng chí Hoàng Sâm ân cần dặn dò Trung đội này cấp tốc đến chân núi Văn tăng cường bảo vệ và giúp đỡ quân y xá di chuyển, còn Sở chỉ huy đã có Chỉ huy trưởng Hoàng Sâm cùng cảnh vệ và cơ quan chiến đấu tự bảo vệ là bảo đảm tốt rồi.

Quân y xá di chuyển vô cùng vất vả; đường cái bị địch bao vây, trên trời máy bay lùng tìm. Thương bệnh binh nặng được vận chuyển bằng cáng, có đồng chí bị thương chân, lấy hai tay cầm 2 chiếc quốc lê lên dốc một bên núi đá, một bên suối và vực thẳm. Những đồng chí bị sốt rét chống gậy run lẩy bẩy. Đồng chí Lê Hiến Mai đón gặp động viên, được dân quân du kích Mường Bi mang cơm nắm đến tiếp tế và thay anh em Mai Hạ để cáng tiếp về Châu Trang. Một số thương bệnh binh trình bày đã khoẻ xin được ở lại chiến đấu. Đồng chí Lê Hiến Mai đồng ý giao bác sĩ đến kiểm tra lại nếu đã khoẻ cho tăng cường vào tiểu đội cảnh vệ làm nhiệm vụ cảnh giới từ xa đề phòng địch tiến theo sườn núi đá lên đỉnh đánh sau lưng ta...

Tôi và anh Tạ Đình Đề thay phiên nhau chiến đấu ở gần chân dốc Đẹt, cứ địch lọt vào đường hẻm chờ thật gần là nổ súng, bằng một viên đạn một quân thù là biệt tài của Tạ Đình Đề, đã gây kinh hoàng cho giặc. Suốt một ngày căng thẳng giữ vững trận địa... rồi chờ... chờ mãi không thấy địch nhô lên... Tạ Đình Đề sốt ruột mò xuống chân dốc Đẹt thì địch đã co cụm về phố Vãng để vào Chiềng Sại, bỏ cả xác Tây!

Kế hoạch tác chiến đánh Chiềng Sại, chủ yếu là lực lượng của tiểu đoàn Mạnh Quân, bao vây công hãm Vạn Mai Tú Lệ và kìm chặt là lực lượng Tiểu đoàn Tuấn Sơn; đại đội 61 nhổ xong bốt giặc ở bản Đậu, cấp tốc ra Bãi Sang tìm địa điểm phục kích chặn địch vào cứu viện Chiềng Sại; đồng chí Chu Văn Yêm đi với đại đội 61 chỉ đạo tác chiến, lấy lại đồng hồ đúng giờ G nổ súng giành thắng lợi.

Bộ đội Tây Tiến theo phương thức đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung đã thực hành chiến tranh du kích, được nhân dân các dân tộc trong vùng địch tạm chiếm ở Hoà Bình, dù bị o ép và bị thiếu đói vẫn hết lòng cưu mang nuôi dưỡng và góp sức cùng bộ đội đánh giặc.

Đầu năm 1996, sinh thời anh Tạ Đình Đề trao đổi với tôi cùng viết "Kể chuyện chiến đấu dốc Đẹt của tướng quân Hoàng Sâm" rồi cùng vui nói chỉ một đoạn là hết chuyện: Tướng quân chiếm thế cao cho bắn tỉa xuống dưới, ở dốc Đẹt độc đáo cheo leo, bên là vực thẳm, Tây nào muốn phơi xác thì cứ mò lên! Tạ Đình Đề vẫn quen cách nói vui: cứ kể chỉ một mình Tạ Đình Đề là đủ, đồng chí Hoàng Sâm lại để những 5 lính bắn tỉa, rồi cười rộ nói tiếp đồng chí Hoàng Sâm là một nhà thiện xạ nổi tiếng, trực tiếp chỉ huy chặn địch nếu Tây bò lên đánh sau lưng chỉ có nộp mạng, mà phải kể cả mặt trận Tây Tiến nữa chứ và kết quả chiến đấu ngày ấy là:

- Âm mưu địch đánh úp Bộ chỉ huy Tây Tiến không thành!

- Về ta; quân y xá về Châu Trang, Sở chỉ huy về Mường Bi an toàn!

Chuyện chiến đấu dốc Đẹt thời đó của Tướng Quân Hoàng Sâm đã đi vào huyền thoại cùng với Phai Khắt, Nà Ngần./.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Gương sáng đảng viên người dân tộc mường


Nguyễn Hữu Duyên


Sinh ngày 7/3/1907 tại xóm Ngái, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, ông Quách Hy thuộc dòng tộc nhà lang cai quản vùng Mường Khói, nhưng là ngành thứ, gọi là lang Đạo chứ không phải ngành trưởng lang Cun (chế độ nhà lang là biến dạng của chế độ tù trưởng thời An Dương Vương, được cát cứ một vùng của dòng họ để duy trì chế độ cai trị, cha truyền con nối theo tập tục lâu đời của dân tộc Mường trong thời phong kiến) nhưng bố anh Quách Linh là con trưởng chết sớm, nên trong dòng tộc cử ông Quách Hy là người có văn hoá Hán học, biết chữ quốc ngữ và ít nhiều có biết tiếng Pháp. Cái chính là ông có đạo đức, tư chất tốt, không cờ bạc, không nghiện hút, hưởng lạc như người khác, nên nhân dân địa phương rất kính trọng ông gọi là ông Khói, thay lang Cun Mường Khói đã mất.
Ngay từ thuở còn đi học, ông đã có ý thức dân tộc, nên rất ghét bọn Tây áp bức bóc lột dân tộc ta. Thầy đồ nho dạy ông thường bảo: "Ta không thể làm tớ thằng Tây mãi được, chúng nó ác lắm, phải đánh đuổi chúng nó đi" với giọng nói đầy căm hờn. Những câu chuyện chống Pháp của các bậc tiền bối từ thế kỷ trước cứ đeo đuổi, theo ông mãi cho đến tuổi trưởng thành.
Năm 1938 chế độ phong kiến cử ông làm chánh tổng tổng Lạc Thành, phía nam châu Lạc Sơn. Ông chỉ bằng mặt với quan trên, còn bên trong có hành động chống đối ngầm, lại không độc ác với dân nên rất được uy tín trong Châu. Vào khoảng tháng 6 năm 1941, đồng chí Phan Bổng là cộng sản họat động bí mật ở nhà máy dệt Nam Định bị lộ, cầm lá thư của ông Vũ Đức Hiếu là bạn học cũ của ông Quách Hy ở Hà Nội mang lên Mường Khói, để xin nương náu. Ông đã bố trí cho đồng chí Bổng làm giáo học cho các con, cháu Mường Khói và ở nhà một bà con tin cẩn được hơn một năm.
Ông và đồng chí Bổng đã có nhiều lần trao đổi chuyện trò về mục đích làm cách mạng là vận động toàn dân đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật, để giành độc lập tự do cho dân tộc và các gương sáng về sự họat động cách mạng ở một số tỉnh. Đồng chí Bổng đã giác ngộ cho ông hiểu về phong trào cộng sản ở Việt Nam và thế giới. Không may, vào đầu năm 1942 bọn chó săn đánh hơi thấy tung tích đồng chí Bổng, bất thần ập đến bắt đưa đi tù đày làm ông có thêm bài học với bọn cướp nước và bán nước. Thế là từ năm 1941, ông đã "làm việc cho Cộng sản-Việt Minh", nên bọn Tây và phong kiến dùng thủ đoạn "thăng chức" bổ ông làm Bang tá Triều thủy cai quản cả vùng trong Châu Lương Sơn (huyện Kim Bôi hiện nay) đặt ở Kim Truy. Ông biết đây là mẹo "điệu hổ ly sơn" nhằm cách ly ông với cách mạng. Bực mình ông định bỏ về quê cày ruộng, thì năm 1943 đồng chí Bổng ra tù, đến khuyên ông cứ làm tiếp tục chức vụ địch trao để có điều kiện giúp đỡ cách mạng. Đúng như vậy, khoảng giữa năm 1944 đồng chí Bổng dẫn đồng chí Vương Thừa Vũ đến chỗ Bang tá-Kim Truy gặp ông Hy, đặt vấn đề mở lớp huấn luyện quân sự cho xứ ủy Bắc kỳ. Được cách mạng tín nhiệm, ông phấn khởi nhận lời và viết thư cho con cả là anh Quách Rưỡng thay ông đang cai quản vùng Mường Khói làm việc hệ trọng của Đảng giao, tìm nơi có địa hình địa vật thuận lợi, kín đáo để mở "Trường sơn kháng Nhật học hiệu". Từ đó, gia đình ông là địa điểm đưa đón học viên và các cán bộ như đồng chí Thơ, Dần, Lang, Bản, Long, Lê và nhiều đồng chí khác.
Đầu tháng 8 năm 1945 ông ra tỉnh họp thường kỳ của các quan lang thì đồng chí Vũ Thơ đến tìm ông cho biết: "Sắp có một cuộc họp của đại biểu cả nước bàn việc đánh Tây đuổi Nhật, ông có muốn đi không?". Ông vội trả lời đồng ý và cáo bệnh, bỏ họp quan lang để đi ngay, theo cách mạng. Đồng chí Vũ Thơ (sau này là bí thư tỉnh ủy Hòa Bình) dẫn ông đến Vạn Phúc (Hà Đông) rồi giao cho ông cùng đồng chí Phan Lang đi tiếp lên Tân Trào dự họp Quốc dân đại hội. Trên đường đi từ Bắc Giang đến Tân Trào, Tuyên Quang, ông Hy đã được đồng chí Trần Huy Liệu là nhà tuyên truyền cách mạng uyên thâm, hùng biện giảng giải về Tây-Nhật đá nhau, về vận nước đã đến với cách mạng giành độc lập chủ quyền của Việt nam, về Liên Xô thắng phát xít Đức-Nhật, về lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tới đại hội ông được đồng chí Võ Nguyên Giáp tiếp đón như người thân. Trong cuộc họp ông đã được thấy các đồng chí lãnh đạo Đảng như Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng... nhất là được thấy lãnh tụ Hồ Chí Minh mà từ năm 1941 đồng chí Bổng đã nói về người lãnh tụ anh minh tài giỏi này. Ông đã được nghe các báo cáo về sự họat động của Đảng cộng sản Đông Dương và gần 20 đồng chí khác báo cáo tình hình cách mạng ở các địa phương, nhất là lời Bác Hồ căn dặn các đại biểu về địa phương ngay để lãnh đạo nhân dân cướp chính quyền và giữ chính quyền, làm cho lòng người sục sôi như bếp lửa được đổ thêm dầu và hứa quyết tâm làm đúng như lời Bác Hồ căn dặn. Từ đó ông Hy vứt bỏ chức Chánh tổng, Bang tá và tập tục chế độ nhà Lang đầy thối nát của thời thực dân phong kiến để nhận lấy trọng trách nặng nề của một cán bộ cách mạng. Ngày 19/8 ông cùng đoàn đại biểu Hòa Bình về tỉnh báo cáo lại lệnh tổng khởi nghĩa với ẹy ban dân tộc giải phóng dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự để cướp chính quyền ở Châu Lạc Sơn. Ngày. 20/8/1945 đã có lực lượng vũ trang cách mạng từ chiến khu Mường Khói (do con ông là anh Quách Rưỡng chỉ huy dưới sự lãnh đạo của ẹy ban khởi nghĩa Châu Lạc Sơn) cùng đồng bào thị trấn Vụ Bản và các bản Mường xung quanh rầm rộ tiến về Châu lỵ cướp chính quyền. Ngày 21/8 đoàn quân khởi nghĩa thắng lợi tiến ra phối hợp với các cánh quân khác cướp chính quyền Châu Kỳ Sơn, tỉnh lỵ, rồi đến các Châu khác.
Đầu tháng 9 đến cuối tháng 9 năm 1945, Ban cán sự phân công ông về tham gia Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng Châu Lạc Sơn rồi làm Phó chủ tịch UBND cách mạng tỉnh Hòa Bình cùng với đồng chí Trương Đình Dần lo trăm công nghìn việc, khi chính quyền còn non trẻ cần phải xây dựng và củng cố. Mặt khác còn phải lo đối phó với nhiều tổ chức, nhiều thế lực phản động từ các nơi khác liên tiếp kéo đến nhằm chống phá chính quyền cách mạng như bọn Quốc dân đảng, quân đội Tưởng Giới Thạch với lý do sang giải giáp quân đội Nhật ở lỳ và đòi yêu sách trong cả tháng 9 năm 1945. Sang tháng 10 năm 1945, tổ chức Đại việt duy dân do tên Lý Đông A cầm đầu đảng, đặt tổng hành dinh ở Diềm, âm mưu cướp chính quyền ở toàn tỉnh cũng bị lực lượng cách mạng bắt gọn ở bên bờ phải Diềm và ở Châu Lương Sơn rồi bọn lang đạo phản động như Đinh Công Tuân, Quách Bửu, Chinh, Liên, Đội Quỳ... chúng xúi giục các Lang Mường khác chống đối cách mạng.
Đầu năm 1946, Ban cán sự giao nhiệm vụ cho ông và trưởng ty công an Dương Quang Giới về Lạc Sơn bắt Đinh Thế Chinh (Bi), Quách Bửu (Vang), ông đã hăng hái nhận nhiệm vụ cùng các đồng chí công an đi ngay để tổ chức bắt hai tên phản động thành công, đưa về trại giam tỉnh Hòa Bình. Ngày 14/4/1947 Tây nhảy dù chiếm lại thị xã Hòa Bình, bọn phản động lợi dụng thời cơ trốn thoát vào cuối năm 1947 ở Thạch Yên, sau đó chúng đã tập trung về Bình Hẻm (phía đông huyện Lạc Sơn), tên Chinh đã lén lút về Mường Bi để họat động, thành lập xứ Mường tự trị. Chị Tỉn là con gái ông Hy làm dâu trong Bình Hẻm biết được việc đi lại của Chinh, chị Tỉn báo cho cha biết. Thời gian này ông Hy đã là Đảng viên chính thức, được Ban cán sự cử về tham gia huyện ủy Lạc Sơn, giữ chức chủ tịch huyện từ tháng 4 năm 1947 đến tháng 3 năm 1948, ông đã tổ chức lực lượng tiêu diệt tên Chinh theo Quốc dân đảng (đã bị toà án cách mạng xử án vào tháng 8 năm 1946, nhưng Chinh trốn tù và vẫn theo Pháp chống phá cách mạng )để tránh hậu họa cho kháng chiến. Trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh Hòa Bình, ông được tham gia đón tiếp cụ Huỳnh Thúc Kháng (tháng 9 năm 1946) thay mặt Bác Hồ và chính phủ lên thăm Hòa Bình. Ông và đồng chí Dần được tiếp cơm cùng cụ Huỳnh và nghe lời căn dặn: "Các thầy phải gắng sức vì đất nước đang gặp nhiều nguy nan... Cụ Hồ còn ở Pháp chưa về..." Cuối tháng 2 năm 1947, hội nghị toàn thể Đảng viên tại nhà ông phó Viễn (đỉnh Cun), chỉ có trên dưới 30 đồng chí, trong đó chỉ có hai ông Hy và Hậu là người dân tộc Mường. Nội dung cuộc họp bàn về phát triển Đảng viên người dân tộc, đối tượng trẻ trong cán bộ thanh niên, phụ nữ, công an có gốc rễ cơ bản, sống trong bản Mường...
Thời gian này cơ quan kháng chiến của tỉnh chuẩn bị sơ tán vào Mường Vang, huyện Lạc Sơn rồi chuyển sang vùng Kim Truy, Kim Bôi.
Tháng 5 năm 1948 tỉnh ủy họp đại hội để thảo luận về quân sự, kinh tế ổn định đời sống và sản xuất cho đồng bào tản cư, đập tan âm mưu lập "xứ Mường tự trị" của giặc Pháp và tay sai, xây dựng Đảng đi vào giai đoạn củng cố đội ngũ 700 đảng viên và mở lớp huấn luyện... Đại hội bầu Ban chấp hành có 7 đồng chí, có 2 là người dân tộc (Quách Hy và Đinh Công Hậu) và 2 đồng chí dự khuyết của quân đội địa phương. Trong thời gian này giặc Pháp và bọn Tuân, Bửu tăng cường đánh phá vùng Lạc Sơn, tỉnh lại điều ông Hy về làm Chủ tịch huyện và tham gia huyện ủy Lạc Sơn. Trong thời gian này ông đã lãnh đạo lập làng chiến đấu, phối hợp và tạo mọi điều kiện cho các đơn vị trinh sát, địch vận và quân chủ lực của Trung đoàn Tây Tiến (E52) về việc vận động các lang ở vùng địch hậu giúp đỡ bộ đội có hậu cần tại chỗ, phát triển lực lượng du kích để chuẩn bị mở chiến dịch Lê Lợi 1949-1950, đánh các đồn Bình Hẻm, Vang, Ngọc Lâu, Toàn Thắng, Địch Giáo, Vụ Bản... góp phần giải phóng Hòa Bình lần thứ nhất năm 1950. Sau đó ông được phân công về tỉnh làm thường vụ tỉnh ủy và trực tiếp làm Chủ tịch mặt trận Liên-Việt đến tháng 8 năm 1953. Sang tháng 9/1953 đến tháng 10/1955 ông được cử đi học trường Đảng cao cấp, đặt nhờ ở bên Trung Quốc. Trở về tỉnh, ông được phân công phụ trách Bí thư Đảng đoàn chính quyền tỉnh, Đại biểu quốc hội khoá II, Phó bí thư thường trực tỉnh ủy rồi bí thư huyện Lạc Thủy và làm Chủ tịch mặt trận tổ quốc tỉnh Hòa Bình cho đến lúc nghỉ hưu (1968). Còn từ năm 1948 đến 1968 ông vẫn là người tỉnh ủy viên lâu năm.
Với tấm lòng yêu nước vô hạn, dẫn đến cuộc đời họat động trước và sau Cách mạng tháng 8 thành công, xây dựng kinh tế trong thời kỳ chống Mỹ của ông Hy là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần chiến đấu vì quyền lợi của dân tộc, của giai cấp và của nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình. Kể từ sau khi được giác ngộ cách mạng và rèn luyện trong phong trào cách mạng đầy sóng gió và khoa học gần 30 năm, trên mọi cương vị công tác được giao, ông Quách Hy đã vượt mọi khó khăn hòan thành nhiệm vụ một cách xuất sắc để cống hiến cao nhất cho cách mạng. Khi xét về công lao thành tích thi đua ái quốc, ông đã được Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận tổ quốc Việt Nam... tặng bằng khen.
- Tháng 6 năm 1946 Tổng bộ Việt Minh tặng đồng tiền vàng; tổ quốc ghi công.
- Tháng 4 năm 1948 Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu III tặng bằng khen về thành tích chỉ huy đánh giặc trên địa bàn huyện Lạc Sơn.
- Tháng 7 năm 1948 đồng chí Trần Đăng Ninh đặc ủy đoàn của Chính phủ ký bằng khen ông có công đánh giặc giữ làng.
- Tháng 7 năm 1960 ông được tặng bằng khen của UBHC Bắc Bộ khen ông có công xây dựng chính quyền.
- Chính phủ tặng bằng: Có công với nước.
- Chủ tịch nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhất.
Và sau 24 năm ngày mất của ông, Nhà nước ta đã truy tặng ông Huân chương độc lập hạng II
Trong cả quá trình công tác, ông được các đồng chí trong Ban cán sự và Tỉnh ủy, Khu ủy tin tưởng vào lòng trung thành tuyệt đối của ông (là người quan lang đầu tiên giác ngộ cách mạng) qua các đức tính hy sinh, lòng dũng cảm, cùng với ý thức kỷ luật cao, tính khiêm tốn, đạo đức và tác phong mẫu mực... đã ăn sâu vào lòng các đồng chí như một tấm gương sáng để mọi người học tập, noi theo.
Đối với gia tộc, ông có đôi mắt tinh đời và thật sáng suốt trên khuôn mặt cương nghị và phúc hậu để chọn con đường mới-Con đường tiến bộ và khoa học để định hướng cho anh em, con cháu tham gia cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, gia đình ông đã cống hiến cho cách mạng 2 liệt sỹ và 2 con trai cùng là đồng chí với ông đi tiên phong, mẫu mực của xứ Mường Hòa Bình! Thật là tự hào cho gia tộc và nhân dân địa phương!
Tôi đến thăm khuôn viên đất-nhà ông, nay đã được Bộ văn hoá quyết định là một vị trí xếp hạng vào danh mục văn hoá và lịch sử một thời chống Pháp ở chiến khu Mường Khói quê ông, nhân dịp ngày gia tộc tổ chức lễ đón nhận Huân chương độc lập đúng vào ngày giỗ của ông trong sự xúc động, trang nghiêm khi có mặt của các đồng chí Vũ Thơ, Trương Đình Dần, Hòang Lương, Nguyễn Hữu Lê, Vũ Đình Bản, Nguyễn Văn Hậu cùng với đại diện huyện ủy và ủy ban các cấp đến dâng hương trước mộ phần ông trong sự bồi hồi, thương tiếc người-Một thời oanh liệt đã khuất. Để kết thúc bài viết tôi xin kính tặng gia tộc anh Quách Đồng hai câu đối của người xưa:
- Nhiếp hồ đại quốc chi gian
- Ngật như cự nhân chi chí
Tạm dịch:
- Nắm quyền một vùng trong nước lớn
- Chí cao ngất như bậc đại nhân
Để có thể ghi vào văn bia hay trên bức tường hậu lăng (sau phần mộ chí), hai vế câu đối trên cho xứng đáng với công lao của ông cha, để hậu thế noi theo gương người tiên liệt./.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-24 16:48:43tieuboingoan>
Từ dòng sông tuổi thơ


Tú Hào


Trong tập kỷ yếu của học sinh niên khoá cuối cùng trường Cao đẳng tiểu học Đông Dương Đỗ Hữu Vị, nhà văn Lưu Hương có đoạn viết: "...Trong lúc có nhiều người còn tự nêu câu hỏi liệu có đánh được Mỹ và đánh bằng cách nào, khi mà các siêu cường hồi đó còn kiềng mặt nhau nữa là... thì Nguyễn Hòa đã cùng đơn vị hạ đo ván, tiêu diệt một binh đoàn thiện chiến của Mỹ. Tướng Nguyễn Hòa chẳng xa lạ gì với lớp chúng ta, anh cùng học một lớp ở 4B EPSI ngày trước..."
Còn Nguyễn Hòa, trong bài viết của mình cũng in trong tập kỷ yếu, lại chỉ viết: "...Đời tôi không phải chỉ biết có sông Hồng. Ngay từ hồi nhỏ, tôi còn nhớ đã cùng các bạn ra bơi thi trên một con sông rất đẹp chảy qua làng, rồi lại nhảy từ trên cầu cao 4-5 mét xuống dòng sông quê hương. Hai cuộc chiến tranh đã qua đi, tôi đã từng qua biết bao nhiêu dòng sông từ Bắc đến Nam, những sông Đà, sông Mã, sông Thao, sông Lô, sông Lam, sông La, sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và cả sông Sài Gòn đến cửa biển Vũng Tầu..."
Hầu như Nguyễn Hòa không muốn nhắc về những trận chiến đấu mà anh tham gia, những cương vị mà anh từng trải. Ngay lần gặp nhau mới đây, anh có tâm sự về suy nghĩ của anh, nguyện vọng của anh là những chuyện chiến đấu và hy sinh anh dũng của bộ đội ta, của đồng bào ta ở cả ngoài Bắc trong Nam cần được tiếp tục sưu tập, vì còn biết bao nhiêu tấm gương quên mình và lập công cực kỳ hiển hách của chiến sĩ và nhân dân ở mọi vùng đất nước, trước hết là của những anh hùng, liệt sĩ, suốt hai cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm ròng rã, vẫn còn chưa được công bố, giới thiệu rộng rãi, đầy đủ hết đâu...
Kỷ niệm về những dòng sông mãi mãi để lại dấu ấn sâu sắc trong anh. Ngay từ đầu năm 1945, khi đã họat động trong phong trào Việt Minh, anh tham gia lãnh đạo cuộc bãi khoá của lớp học hồi đó theo trường sơ tán về Hưng Yên. Trên con thuyền lớn xuôi sông Hồng khi định trốn về Hà Nội, anh em lớp chúng tôi bị bắt giữ ở bến đò Mễ Sở và sau đó bị dẫn giải đưa về giam tại nhà lao thị xã. Đến ngày có đảo chính Nhật-Pháp 9-3-1945, chúng tôi được người nhà đến bảo lĩnh nhận về, riêng Nguyễn Hòa còn bị dẫn về tra khảo tại Sở Liêm phóng Hà Nội.
Cách đây dăm sáu năm, hai chúng tôi có dịp về thăm lại xã Mễ Sở, nơi chúng tôi bị bắt giữ đêm hôm ấy trong chuyến xuôi sông Hồng bất thành. Chủ nhân trước đây của căn nhà mênh mông toà ngang dẫy dọc là cháu ba đời cụ Chu Mạnh Trinh, cảm kích trước cảnh ngộ của chúng tôi, đã cho gia nhân thổi xôi để chúng tôi lót dạ trước lúc bị giải tiếp về đồn Bần...
Ngày toàn quốc kháng chiến, khi giặc Pháp nổ súng ở Hà Nội, Nguyễn Hòa nhận chỉ thị của anh Vương Thừa Vũ vào gặp trung đoàn trưởng Hòang Siêu Hải để nắm tình hình. Anh đã men theo sông Hồng, từ mạn Yên Phụ qua Phúc Xá, luồn qua gầm cầu Long Biên tạt vào Cột đồng hồ (quãng chân cầu Chương Dương bây giờ), xuyên qua ngõ Sầm Công, chợ Gạo để tới được chỉ huy sở Liên khu I
Rồi Nguyễn Hòa lại đã đến với sông Đà, sông Mã của mặt trận Tây Tiến, khi trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội. Thời gian này, tôi ghi lại hai sự kiện đáng nhớ về anh, thứ nhất là anh được giao chỉ huy đại đội gồm các chiến sĩ ưu tú chọn lọc của Tây Tiến về dự Hội thao luyện quân năm 1948 toàn Liên khu ở Hồng Phú (Phủ Lý). Đại đội Tây Tiến đã gây được ấn tượng rất mạnh mẽ về trình độ xạ kích xuất sắc, về tác phong thao diễn và nếp sinh họat suốt quá trình hội thao, và nhất là những cái đầu cạo trọc từ chỉ huy đến chiến sĩ. "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc" là một trong những nét điển hình nói lên sự cam go, gian khổ của cuộc chiến đấu một mất một còn trên mặt trận Tây Tiến, sự hy sinh anh dũng của chiến sĩ Tây Tiến.
Sự kiện thứ hai tôi muốn ghi lại, là vào tháng 3-1949, Nguyễn Hòa được điều từ Đoàn vũ trang công tác miền Tây về làm Tiểu đoàn phó Phó Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn 162. Tiểu đoàn trưởng Đinh Công Niết, vốn dòng họ Lang rất có thế lực ở vùng Lương Sơn (Hòa Bình), sau cách mạng tháng Tám 1945 đã cùng cả gia đình ủng hộ chính quyền mới. Năm 1946 Hồ Chủ Tịch có viết hai bức thư gửi cho hai anh em ông (người anh ruột là Đinh Công Huy từng làm Tuần phủ Hòa Bình) vừa cổ vũ, khơi gợi lòng yêu nước vừa kêu gọi hai ông tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tiểu đoàn 162, còn được gọi là tiểu đoàn Đinh Công Niết, đã chủ động đánh tiêu hao địch hàng ngày vận chuyển từ Xuân Mai lên Hòa Bình, dần dần trưởng thành tiến lên đánh lấn bắn tỉa vào một số đồn bốt như Đễnh, Rậm, Mát, Đồng Bến, chọc thủng nhiều đoạn trên đường số 6, bảo đảm giao liên thông suốt giữa trung ương với các địa phương.
Tháng 9-1949, Đinh Công Niết được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Nguyễn Hòa có bộc lộ: "với riêng tôi, tôi tự coi là đã được nhận phần thưởng là giới thiệu đúng đắn đồng chí Đinh Công Niết, một người có đủ tiêu chuẩn và tư cách vào Đảng" (chính trị viên Lê Minh và Nguyễn Hòa là hai người giới thiệu Đinh Công Niết vào Đảng).
Sau khi rời khỏi mặt trận Tây Tiến, Nguyễn Hòa đã đến với nhiều đơn vị, nhiều chiến trường.
Anh đã chỉ huy chiến đấu các trận Vô Tình, Đục Khê, Yên Vĩ, Phát Diệm diệt nhiều đồn phòng ngự then chốt kiên cố của giặc ven sông Đáy, sông Hồng.
Anh đã cùng nhiều đơn vị của Đại đoàn 320 vượt sông Hồng, vượt sông Thái Bình luồn sâu vào vùng sau lưng địch, dưới sự chỉ huy trực tiếp, tại chỗ của anh Văn Tiến Dũng và các anh Phạm Ngọc Hồ, Lê Ngọc Hiền.
Rồi những năm chống Mỹ, Nguyễn Hòa đi chiến trường xa cùng đồng đội chiến đấu ở những mặt trận nóng bỏng B2, B5, đường 9 Nam Lào, đường Trường Sơn v.v...
Để kết thúc, xin được ghi thêm đôi dòng tiểu sử đoạn áp chót của Nguyễn Hòa: Trong chiến dịch Hồ Chí Minh anh là Tư lệnh Quân đoàn 1 có nhiệm vụ đánh thốc vượt sông Sài Gòn vào thẳng nội đô.
Anh cũng đã nhận trách nhiệm làm Tổng cục trưởng Dầu khí rồi chuyển sang Quốc hội và làm quyền Chủ nhiệm ủy ban kế họach và ngân sách (QH khoá 8)
Anh đã được phong quân hàm Trung tướng, được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều huân chương cao qúy khác.
Hiện nay anh đang ở căn hộ khu nhà tập thể D4-Thành Công, Hà Nội.
Nhiều bạn học và đồng đội cũ vẫn thường gặp gỡ anh. Còn tình nghĩa giữa hai chúng tôi trước sau luôn luôn trọn vẹn, như những ngày tuổi xanh học chung một lớp, gần 60 năm về trước./.






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Một chiến sĩ Tây Tiến


Nguyễn Hữu Duyên

Năm trước tôi có được xem một tài liệu về đào tạo y tế công cộng. Thực ra đó là một công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh và cô đúc, đề cập đến khái niệm về lý thuyết và thực tiễn, đề cập đến nhiệm vụ và những thách thức đặt ra đối với sự nghiệp y tế công cộng (YTCC).
-Sở dĩ đánh giá tài liệu này là một công trình nghiêm chỉnh và cô đúc, là bởi nội dung của nó hàm chứa nhiều vấn đề trong và ngoài nước đã và đang còn phải quan tâm, trước hết là của giới khoa học chuyên ngành, xuất phát từ một khái niệm được tổ chức y tế thế giới xác lập từ năm 1973: "YTCC đề cập đến những vấn đề sức khoẻ của một quần thể, tình trạng sức khoẻ của nhân dân, những dịch vụ vệ sinh môi trường, những dịch vụ y tế tổng quát và quản lý các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ..."
Đến kẻ ngoại đạo như tôi cũng bị cuốn hút vào cách đặt vấn đề toàn diện mới hơn về YTCC, chú ý đến tính chất xã hội của con người, bên cạnh tính chất sinh học...
Tác giả của tài liệu được đăng trên tạp chí Họat động khoa học tháng 11 năm 1993 đó là PGS, PTS Lê Hùng Lâm, Hiệu trưởng Trường cán bộ quản lý y tế, Bộ y tế (nay là Trường đại học y tế công cộng).
Lê Hùng Lâm là một chiến sĩ Tây Tiến, thuộc lớp đầu tiên từ Hà Nội khói lửa đi lên Mặt trận miền Tây. Lúc đó anh vừa bước sang tuổi 17.
Anh rất nhớ và vẫn thường nhắc đến những gương mặt tiêu biểu của Tây Tiến, đến những chỉ huy trực tiếp của anh như Tuấn Sơn, Như Trang.
Đặc biệt anh trân trọng những kỷ niệm với một vị trí thức lớp trước mà anh coi như một người anh cả, một người thầy: BS Phạm Ngọc Khuê. Cũng như đối với nhà thơ Quang Dũng, người bạn lớn vong niên của chiến sĩ Tây Tiến chúng tôi, Lê Hùng Lâm đã dành trọn vẹn tình cảm thương yêu, đồng cảm và cả sự trân trọng bền lâu.
Anh đã kể và đã viết về người trí thức của Trung đoàn Tây Tiến, với cách vào đề theo cách cảm nhận riêng, hợp với xu hướng của chính anh: "Khác với nhiều bác sĩ tốt nghiệp từ thời Pháp thuộc chỉ chú ý tới bệnh tật, Phạm Ngọc Khuê thích nghiên cứu về sức khoẻ con người, hăng hái tuyên truyền giáo dục sức khoẻ. Các cuốn sách trong bộ sách "Sức khoẻ mới" của ông xuất bản năm 1942-1943 gồm 8 chủ đề: Một sức khoẻ mới-Nguồn sinh lực-Nghị lực-Yêu đời-Ăn uống-Thở-Vận động-Tinh lực-Huấn luyện thần kinh-Nghĩ-Cảm xúc-Hành động, mỗi quyển dày hàng trăm trang, bàn bạc, lý giải, thuyết phục thanh niên Việt Nam cải tạo sinh lực..."
Qua hồi ức của mình, Lê Hùng Lâm đã nói lên thiện cảm, hoặc có thể cho đó là thứ "tâm phục, khẩu phục" trước một tấm gương tận tụy, gắn bó với nhân dân, trong mọi hòan cảnh dù khó khăn đến mấy, nghiệt ngã đến mấy, vẫn sống thủy chung, giữ trọn niềm tin và định hướng cuộc đời mình.
Tôi chưa tiện hỏi, nhưng tôi tin rằng Lê Hùng Lâm đã chắt lọc được từ thuở ban đầu, ngay khi mới bước chân vào bộ đội, với chiếc túi thuốc có phần lép kẹp của chú cứu thương thuộc đơn vị Tuấn Sơn trong chiến đấu ở các trận Sốp Hào, Chiềng Cồng..., cũng như ấn tượng đẹp về người trí thức Phạm Ngọc Khuê, đã giúp anh sau ngày hòa bình lập lại đã tiếp tục học, dấn thân vào chuyên khoa y tế công cộng.
Tốt nghiệp đại học y, anh đã lại chọn một tỉnh miền núi nữa ở mạn cực Bắc-Hà Giang để phục vụ. Anh thuộc lớp trưởng ty y tế tỉnh trẻ tuổi nhất ở ta, vào lúc vừa qua tuổi 30
Con đường học vấn của anh thêm rộng mở, sau khi đã bảo vệ luận án phó tiến sĩ y khoa bên Hung-ga-ri.
Anh giảng dạy tại Đại học y Hà Nội và còn được mời sang thuyết trình tại Mỹ.
Tháng 10 năm 1998, Viện Hàn lâm Khoa học Nữu Ước đã phong tặng GS Lê Hùng Lâm danh hiệu Thành viên tích cực của Viện.
Mỗi một người chiến sĩ Tây Tiến đều thuộc, đều coi bài thơ Tây Tiến là của mình, viết về chính mình qua một thời hết sức gian khổ nhưng cũng vô cùng vẻ vang.
Lê Hùng Lâm còn là một trong số không nhiều chiến sĩ Tây Tiến gắn bó với Quang Dũng mãi đến sau này, kể cả khi nhà thơ đã bệnh nặng. Anh là người đầu tiên báo cho đồng đội biết tình trạng sức khoẻ nguy ngập của anh Quang Dũng, để rồi cũng có mặt đông đủ đúng lúc anh Quang Dũng nhắm mắt ra đi.
Trong cuộc họp bàn xây dựng Đài tưởng niệm liệt sĩ Tây Tiến ở Châu Trang, Lê Hùng Lâm lại là người hưởng ứng tích cực đầu tiên với một đề xuất chọn bốn câu thơ trong bài thơ Tây Tiến để khắc ghi vào bia đá tưởng niệm.
Chuyến sang thăm lại chiến trường xưa trên đất bạn Lào, khi thắp hương tưởng nhớ đồng đội, những liệt sĩ vô danh trong trận công đồn Sốp Hào, ven bờ sông Mã, cũng lại chính anh đã thành kính đọc trọn vẹn bài thơ Tây Tiến, giữa khoảng mây trời sông nước mênh mang và tất cả anh chị em trong đoàn đều khóc.
Một vị tướng quân lẫy lừng chiến công đánh Pháp, đánh Mỹ vốn là chiến sĩ Tây Tiến cũ, đã hòan toàn nhất trí với người viết bài này rằng: Khi đánh giá về mặt trận Tây Tiến, cũng như khi xem xét những phẩm chất của người chiến sĩ Tây Tiến ngày trước, không chỉ dừng ở những phần gian khổ, mất mát, hy sinh và anh dũng còn phải nêu cao tình quân dân cá nước, tình đồng đội đồng chí được thử thách qua thời gian. Rồi còn những gương phấn đấu vươn lên trong công cuộc xây dựng đất nước, trên các lĩnh vực...
Hai chúng tôi bảo nhau, viết về một chú cứu thương trưởng thành lên đến một nhà khoa học đầu đàn, lại mãi mãi gìn giữ hình ảnh và cốt cách người chiến sĩ Tây Tiến, quả là một việc nên làm lắm đấy!
P.T.H.



Một lão chiến sỹ E52 Tây Tiến làm kinh tế giỏi

Tôi đến thăm anh và gia đình vào một buổi sáng đầu tháng 2 Canh thìn. Rẽ vào ngõ từ xa tôi đã nhận ra anh trong bộ quần áo xanh Sỹ-Lâm cao rộng đang đi thăm vườn ao cá.
Một ông già tuổi 74 bước đi còn vững chãi cũng như về cuộc đời làm ăn kinh tế ổn định. Nhìn tóc anh đã bạc nhưng đôi mắt anh còn tinh tường.
Anh vồn vã mời khách vào nhà pha nước mời tôi. Trên đường vào, tôi đã tranh thủ quan sát nếp nhà xây kiên cố, rộng khoảng 50 m2 và được tạo thành ba gian cách điệu. Phía trong là gian công trình phụ thông ra sân và bể nước. Nguồn nước ăn được lấy từ giếng đào bằng bơm điện chuyển về bể dự trữ và có đường ống bơm tiếp lên tầng trên tưới cho vườn đồi và sinh họat.
Bên trên nhà mái bằng tầng một là nếp nhà soan (thưng xung quanh toàn bằng gỗ soan xẻ ván) làm từ năm 1988 và được di chuyển cả nếp nhà này theo phương pháp con lăn toạ lạc trên mái bằng tầng một thành một nếp nhà hai tầng kết hợp thời hiện đại với thời nhà gỗ lợp ngói trước đây.
Từ ngoài vào cổng xây, đường lát gạch, có tường thấp hai bên để cây cảnh loại nhỏ. Trong sân được xây bao và láng xi măng cát. Nền nhà, bậc thang và cả hiên đều được ốp lát bằng gạch Trung Quốc mầu xanh. Toàn cảnh sạch và thoáng mát.
Đặc biệt sự bài trí nội thất nhà xây bên dưới và nhà gỗ bên trên là phương pháp đối xứng của thời gian.
+ Nhà dưới xây: Trên tường treo tranh các diễn viên phim Hòan Châu Cách Cách, giường tủ, bàn ghế xa lông gỗ lát, ấm pha chè búp, vô tuyến mầu của Nhật.
+ Trên nhà gỗ: Thưng gỗ xẻ, treo tranh Tầu chống Nhật, phản gỗ, hòm gian làm bàn thờ ông bà và người anh trai đã hy sinh. Bàn nước ghế ba nan, ấm ủ chè hoa hoè chống bệnh cao huyết áp. Đặc biệt anh giữ được bộ ảnh Mác-Ănghen-Lê Nin, Stalin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông nhưng anh trót bỏ đi từ thời chiến tranh phía Bắc. Thế mới biết chủ nhà là người tinh tế và biết chơi tương phản.
Sau nhà là chuồng gà 100 con to nhỏ. Hằng năm nuôi để ăn và bán đi khi cần tiêu, xong chủ yếu bán vào dịp Tết được 2,5 triệu đồng. Trước nhà anh mới lấp đi một ao hơn một sào để trồng khoai nước, còn bên dưới (qua đường xóm) là ao rộng 2000 m2. Thu họach vào dịp Tết và tháng 3 âm lịch được 3,5 triệu/năm.
Anh dẫn tôi lên vườn cây ăn quả. Nào là cam, chanh, vải thiều, nhãn... Năm đầu mới thu được 2,5 triệu. Tôi nhìn mùa xuân này độ ẩm lớn làm lá cây đang xanh mướt, hứa hẹn năm Canh thìn cho anh thu họach nhiều hơn.
Anh chỉ tay lên vườn rừng trồng luồng Thanh Hoá, mỗi năm thu được 350 cây, giá chỉ ba đến bốn ngàn một cây cũng được hơn một triệu. Phía đồi cao xa kia, diện tích 1,5 ha anh đã nhận của lâm nghiệp theo kế họach trồng cây để phủ kín đồi trọc. Tổng cộng các loại diện tích ao vườn, rừng cây bằng 3 ha. Do anh lên kế họach cùng gia đình tích cực chăm sóc, hàng năm thu được 10 triệu. Bình quân cho 6 nhân khẩu được 1.700.000 đ/người và 1118 m2 ruộng lúa hai vụ thu được hơn 1 tấn thóc/năm thì mỗi nhân khẩu được 2 tạ cũng đủ ăn là chưa kể đến ngô, khoai, sắn. Như vậy, đối với hộ nông dân ngoại ô thị xã Hòa Bình được như anh là đã xoá được đói, giảm được nghèo, vươn lên no đủ. Không những anh chị đã chăm lo cho 8 con ăn học đầy đủ mà còn dư dả tích luỹ để làm nhà và mua sắm tiện nghi sinh họat gia đình. Nay các cháu đều đã trưởng thành, đó là niềm hạnh phúc cho toàn gia đình anh sau 28 năm thoát ly và 17 năm từ quê vợ là chị Nguyễn Thị Thịnh xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An cùng 7 đứa con dắt díu nhau về quê anh ở xóm Gai, phường Tân Hòa, thị xã Hòa Bình này. Người cựu chiến binh ấy tên là Nguyễn Văn Mão, sinh năm 1927. Vào du kích năm 1945. Thoát ly đi bộ đội năm 1946. Năm 1947 được biên chế về trung đội anh Bôi, đại đội 72 anh Đạt thuộc E52 Tây Tiến. Những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, đơn vị anh chủ yếu là hành quân, vận động chiến đấu và mai phục, đánh địch ở Dốc Cun, Mường Lồ, Chợ Bờ... Năm 1951 anh bị thương ở chân trong trận đánh đồn Mường Đổn, anh được y tế tiền phương ở làng Sì-Diệc băng bó rồi đưa về bệnh viện hậu phương tại làng Kim Cương gần Đền Sòng-Phố Cát. Khi gần khỏi, anh được về trại thương binh ở Thanh Hoá rồi Nghệ An.
Năm 1955 thực hiện chính sách đón thương binh về làng, gia đình ông Nguyễn Duy Lương đã đón anh về nuôi. Khoảng năm sau anh lấy chị Thịnh, gia đình ông Lương lo cho anh chị ở riêng. Trong 17 năm sống ở Nghệ An, anh chị sinh được 7 cháu và nhận 1 cháu mất cha mẹ về làm con nuôi (sau lấy vợ ở lại Nghệ An) còn anh chị và 7 con, lớn 14 tuổi, con nhỏ còn phải bế trở về quê anh ở Hòa Bình lập nghiệp từ năm 1972.
Với hai bàn tay trắng, anh chị được chính quyền và bà con làng xóm tận tình giúp đỡ, cộng với lòng quyết tâm cao của cả gia đình, xây dựng mô hình kinh tế VAC thắng lợi. Nhất là từ khi xoá bỏ bao cấp, khoán 10 đã cứu cánh cho gia đình anh một cuộc sống no đủ. Năm 1975 anh chị sinh thêm cô út, nay đã 25 tuổi vẫn còn ở với anh chị. Con trai đầu của anh nay đã 42 tuổi và 5 cháu tiếp theo đều đã có vợ, chồng, con, nhà cửa ổn định. Cháu thứ 7 đang ở Cộng hòa liên bang Đức cũng chưa lập gia đình.
Thế là anh đi chiến đấu xa quê 28 năm, rồi trở về đời thường. Sống ở quê anh đến nay cũng 28 năm xây dựng gia đình làm ăn kinh tế và nuôi dạy con cháu bằng đạo đức tác phong của anh lính cụ Hồ. Cộng với tấm lòng cao cả hy sinh của chị Thịnh, người phụ nữ Nam Đàn, Nghệ An quê Bác. Thật là một tấm gương sáng của một cựu chiến binh dân tộc Mường giữa đời thường.






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0



Người thầy thuốc "Đa Sĩ"


Phạm Cường


Sở dĩ nói như vậy vì người ta có thể gọi ông là văn sĩ, thi sĩ, bác sĩ, binh sĩ và đúng hơn cả ông là kẻ sĩ. Hai cái sĩ đầu kể cũng hơi gượng ép nhưng thực ra ngay khi đang học ngành y ông đã cho xuất bản "Nguồn sinh lực mới" "Anh bạn về đâu ?" và một số sách "Sức khoẻ mới" gồm 8 quyển xuất bản năm 1942, 1943 ông làm nhiều nhưng đăng báo hay in thành sách cũng ít. Mới đây trong "Chân dung và tác phẩm" giáo sư Hòang Như Mai nói: "Tôi có được biết Phạm Ngọc Khuê cũng học y, cũng làm thơ. Nhưng thơ Phạm Ngọc Khuê là thơ trí tuệ, đầy ý chí, nghị lực "Khơi mạch sống ở trong lòng đất chết" (Thơ Phạm Ngọc Khuê)".
-Tôi sẽ quay lại cái "sĩ" này của ông sau. Binh sĩ thì khi chuyển ngành ông đã mang quân hàm Trung tá. Còn bác sĩ là nghề ông theo đuổi suốt đời và đã để lại nhiều dấu ấn đẹp trong cuộc sống. Trong kháng chiến chống Pháp ông từng làm giám đốc đầu tiên của bệnh viện tỉnh Hòa Bình rồi chuyển sang làm chủ nhiệm quân y Trung đoàn Tây Tiến-rất thân với Quang Dũng-ông được cán bộ và chiến sĩ của Trung đoàn rất qúy mến vì tác phong tận tụy, hết lòng với thương bệnh binh. Anh em thường gọi thân mật là "ông bác sĩ muối vừng" vì thói quen thích ăn cháy chấm muối vừng... Một lần trong chiến dịch, khi trạm xá di chuyển, thấy các chiến sĩ cáng thương binh mệt nhọc, ông liền giằng lấy một đầu cáng ghé vai khiêng và nói: "bây giờ đến lượt mình". Anh em cảm phục và yêu mến. Hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông từng kinh qua giám đốc bệnh viện Việt-Tiệp, trạm trưởng trạm chống lao Hải Phòng... Đến đầu năm 1977 thì ông bị tai biến mạch máu não và bị liệt gần hai chục năm trời.
Ông là con người đa "sĩ". Theo tôi được biết từ lâu thì phải xem ông là một người mang nặng tâm hồn nghệ sĩ mới đúng. Ngay khi còn học y và đỗ bác sĩ từ trước năm 1945, ông đã hay giao du và chơi thân với các nhà văn Nguyễn Đình Lạp, Nam Cao, Đồ Phồn... Có lần các vị rủ nhau đi chơi hát cô đầu ở Vạn Thái; cả nhà văn Tô Hòai cũng tham gia. Từ những năm 1940 Phạm Ngọc Khuê đã có những bài thơ hay đầy trí tuệ và nghị lực như Hòang Như Mai đã nhận xét. Trong bài "Con trâu" của ông có những câu:
"...Nay là lúc mang sức trâu mãnh liệt,
Kéo lưỡi cày rạch vỡ những ruộng nương.
Mở đường cho hạt thóc đương ương,
Khơi mạch sống ở trong lòng đất chết..."
Hay trong bài "Chí trai"
"...Cái trí làm trai như lửa đỏ,
Bừng bừng đốt cháy hết tâm can..."
Những ngày còn khoẻ, công tác ở Hải Phòng mỗi lần có dịp lên Hà Nội ông lại la cà đến thăm, bàn chuyện văn chương với các bạn văn nghệ sĩ như Sĩ Tiến, Phan Ninh, Nguyễn Tuân, Hòang Như Mai... có hôm ngủ luôn ở nhà bạn. Khi bị liệt nằm ở Hải Phòng, ông vẫn làm thơ gửi cho em trai là Phạm Như Chương-ngày ấy công tác ở nhà máy cơ khí Mai Động, Hà Nội-có những bài thơ ý tưởng rất hay như bài "Quà xuân" (gửi chú Chương)
Năm "bú dù" vừa qua
Rét ác ôn đã rút
Mừng xuân ta chúc ta
Gà bới cũng khai bút
Đừng ngoái lại những đường xưa, lối cũ
Dẫu vàng son, gấm vóc, cũng cho qua!
Bẩy mươi gần, khóc cười thôi tạm đủ.
Ngẩng đầu lên cho nhẹ cái thân già!
Hãy từ giã anh bạn vàng lẩm cẩm
Nằm co mình bàn thế sự lôi thôi.
Đời rộng lắm và tình người đầm ấm
Khắp năm châu còn dào dạt chưa vơi...
Xin nói một chút về ông Chương-em ruột Phạm Ngọc Khuê-cũng là con người thích làm thơ
Vào những năm đầu thập kỷ 40 khi biết anh mình thoát ly đi họat động, ông đã cảm khái viết:
"...Tôi tiễn đưa anh một quãng đường
Gọi là một phút lúc ly hương
Gió đông phơi phới lòng tôi lạnh
Một cánh đồng hoang mấy dặm trường..."
Nằm liệt một chỗ trên gác hai đường Cát Dài, Hải Phòng nhưng Phạm Ngọc Khuê vẫn có những vần thơ hóm hỉnh, lạc quan như bài "Cờ tướng"
"Thời sự đông tây mệt cả người
Bầy cờ xem gỗ choảng nhau chơi
Hung hăng khát nước xe đâm nhặng
Lúng túng co vòi tượng ghếch hòai
Rủ rỉ mã còm công lấp biển
Vênh vang sĩ béo tội tầy trời
Tốt biên mấy chú chừng lơ lửng
Trăm mối lo mong một nụ cười"
(8-8-1979)
Thơ của Phạm Ngọc Khuê còn nhiều. Nhân dịp sắp tới lần giỗ thứ tư của người bác sĩ đa tài, đã để lại bao kỷ niệm đẹp với đồng nghiệp, đồng chí, lại mang nặng tâm hồn nghệ sĩ ấy. Xin trân trọng hé mở mấy dòng này để thay nén hương thành kính./.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Quang Dũng, Quang Khải, Quang Thọ
Ba nghệ sĩ Tây Tiến quê xứ Đoài



Nguyễn Văn Vĩnh


Đó là ba thanh niên trưởng thành từ sau Cách mạng tháng 8-1945 ba anh bộ đội Cụ Hồ, ba chiến sĩ Tây Tiến. Quang Dũng là một nhà thơ với bài thơ Tây Tiến nổi tiếng. Quang Khải với ca khúc Vì nhân dân quên mình coi như quân ca và Quang Thọ một họa sĩ, một đại tá của Quân đội ta với tác phẩm tiêu biểu Từ nhân dân mà ra được giải thưởng triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1960. Ba nghệ sĩ này có lúc là nhạc sĩ có lúc là thi sĩ, có lúc là họa sĩ, ba tài năng đan xen với nhau và các anh đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật và giáo dục. Ba anh cùng vào quân đội những ngày đầu cách mạng thành công và cùng đi Tây Tiến đầu năm 1947. Quang Thọ quê ở Phượng Cách và Quang Khải quê Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai còn Quang Dũng quê Phượng Trì, Đan Phượng, người ta thường gọi Quang Dũng là nhà thơ xứ Đoài vì nhiều tác phẩm của anh hay nói đến miền Tây như Tây Tiến. Mắt người Sơn Tây, Những làng ta đi qua, Chiều Bất Bạt-Ba vì mờ cao... Trong tuyển tập thơ Việt Nam hiện đại Quang Dũng có bài thơ: Tây Tiến và Mắt người Sơn Tây được tuyển chọn. Mắt người Sơn Tây là nguyên mẫu đôi mắt của một thiếu nữ người huyện Quốc Oai, một người thân của họa sĩ Quang Thọ đã đến và vào thơ anh, người con gái này vẫn đang sống và đã ở tuổi gần 70, nhưng trải qua một nửa thế kỷ đôi mắt người Sơn Tây ấy vẫn lung linh trong thơ của anh:
Vầng trán em mang trời quê hương
Mắt em như nước giếng thôn làng
Và anh tự sự:
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương
Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại thôn Phượng Trì-Đan Phượng-Hà Tây. Anh là con người tài hoa từng làm thơ, viết văn, viết nhạc, vẽ tranh, tâm hồn rất phóng đãng, tình cảm rất đằm thắm và dung dị. Sau tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 anh được cử làm phái viên quân sự Bắc Bộ phụ trách công việc cất giấu máy móc ở chân núi Ba Vì, rồi chính trị viên cảnh vệ của Liên khu 2 sau đi học trường võ bị Sơn Tây. Năm 1947 Quang Dũng nhập đoàn quân Tây Tiến, đó là một đoàn binh mà hầu hết là thanh niên Thủ đô, Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Hải Phòng. Đến năm 1948 Quang Dũng tạm xa miền Tây ngồi ở thôn Phù Lưu Chanh viết bài thơ Nhớ Tây Tiến, sau đổi là Tây Tiến. Bài thơ viết liền trong một đêm với cảm xúc sâu sắc, mạch thơ rung động, sửa chữa rất ít. Bài thơ nổi tiếng và được các thế hệ thanh niên yêu thích bởi chất lãng mạn, hào hùng, giầu hình ảnh và nhạc điệu cũng như ngôn ngữ. Bài thơ được đưa vào tuyển tập thơ Việt Nam hiện đại, được đưa vào giáo trình văn học lớp 12 phổ thông và đặc biệt bài thơ được khắc vào bia đá đặt ở tượng đài nghĩa trang liệt sĩ Tây Tiến ở Mai Châu-Lạc Sơn-Hòa Bình. Nhà thơ Giang Nam, một nhà thơ quen biết của hai miền đất nước đã nói: "Cũng như bây giờ có người coi Tây Tiến là những phát hiện mới họ có biết đâu rằng giữa những phòng địch "Tố cộng-diệt cộng" ác liệt nhất ở miền Nam tôi đã mê "Tây Tiến", và "Mắt người Sơn Tây" qua các sách báo chống cộng do Ngô Đình Diệm in ra lúc bấy giờ. Điều này khi anh Quang Dũng còn sống tôi đã kể cho anh nghe. Quang Dũng còn là một nhạc sĩ, anh đã sáng tác bài hát "Ba vì mờ cao" mà một thời thế hệ trẻ rất ưa thích chứ không phải như ai nói nó lãng mạn rơi rớt tiểu tư sản, chính nó là hình ảnh của hồn quê, nó phác họa lên cảnh đẹp, người đẹp qua câu hát: "Ba vì mờ cao-làn sương chiều xa buông gió về hương núi thơm đưa hồn về đâu... Ba Vì ơi thu mùa xưa tà áo em màu lam".
Nhạc sĩ Doãn Quang Khải thì chỉ với một bài hát Vì nhân dân quên mình nay trở thành một quân ca, bài hát được thanh niên cả nước ưa thích và qua bình chọn của Báo thanh niên thì đó là một trong năm ca khúc hay nhất viết về lực lượng vũ trang nhân dân ta. Bài hát có sức sống dài lâu, được lấy làm nhạc hiệu cho chương trình phát thanh Quân đội và truyền hình Quân đội.
Quang Khải sinh năm 1925 tại Ngọc Mỹ-Quốc Oai-tỉnh Hà Tây vào bộ đội 1945 nhập đoàn quân Tây Tiến đầu 1947 sau những ngày tham gia chiến đấu ở mặt trận Hà Nội cuối năm 1946. Anh cùng tiểu đoàn 212 trấn giữ phía Nam Thủ đô rồi đi Tây Tiến. Anh sáng tác bài hát Vì nhân dân quên mình vào năm 1951 khi đang là học viên Trường sĩ quan lục quân. Lúc đó trình độ âm nhạc của anh còn hạn chế, anh phải đi tìm thầy, tự học qua những bản chép tay của các nhạc sĩ quen biết chuyền đạt cho anh ngày còn ở Xích Thổ Đầm Đa. Anh viết ca khúc này cũng chỉ trong vài giờ và anh tâm sự "Khi sáng tác bài hát Vì nhân dân quên mình trình độ hiểu biết âm nhạc của tôi chưa cao lắm nhưng tôi hạ quyết tâm không phải để lưu danh thiên cổ mà làm sao để xứng danh với anh bộ đội Cụ Hồ"
Doãn Quang Khải nhớ đến nhạc sĩ Huy Du trong đoàn văn nghệ Liên khu 3 những ngày ở ỷ Na đã khai sáng cho anh một phần về lý thuyết âm nhạc, rồi một người thầy vô danh đã mang đến cho anh một cuốn sách viết tay tên là Hòa âm sơ giải và Hòa ca diễn giải tặng lại cho Khải, Khải qúy hơn vàng và đến nay gần nửa thế kỷ vẫn chưa tìm thấy người vô danh ấy, chỉ biết ông là người bạn của ông Tạ Đình Đề. Khải còn nhờ cả nhạc sĩ Minh Phong đã kèm cặp cho anh từ những buổi học nhạc vỡ lòng. Quang Khải có nhiều kỷ niệm với Quang Dũng "lần đầu tôi gặp Quang Dũng ở cuộc họp cán bộ toàn trung đoàn Tây Tiến năm 1947 ở một bản Mường thuộc huyện Lạc Sơn-Hòa Bình nhân dịp tướng Hòang Sâm tư lệnh quân khu và ông Đỗ Mười ngày ấy là ẹy viên thường vụ liên khu ủy 3 đến thăm và động viên đoàn. Tôi ở xa nên đến chậm gần hết giờ làm việc buổi sáng, có lẽ vì một mình đến muộn nên được tất cả chú ý. Đang nhìn tìm người quen để ngồi cùng thì một đồng chí da hơi xanh, mắt hấp háy như luôn muốn cười với mọi người... vẫy tôi lại ngồi cạnh. Anh cao lớn, ngồi bệt trên sàn nhà mà anh vẫn cao hơn tôi nửa tấc. Thầm nghĩ: Đứng lên thì anh cao như Tây cũng nên! Tôi ngoan ngoãn ngồi xuống bên anh. Anh quàng tay lên vai tôi khẽ hỏi "Mệt lắm hả? Tớ biết là cậu phải chạy mới đến được sớm thế đấy. Nhưng thôi, tý nữa mình sẽ nói lại những gì đã xảy ra từ sáng đến giờ cho cậu nghe... Tớ tên là Dũng".
Đến giờ nghỉ trưa Dũng đưa tôi đi ăn cùng mâm, rồi đưa đến một nhà vắng người tâm sự với nhau. Dũng cao hơn tôi đến 10 cm, tôi đứng đầu chỉ trên vai anh một ít thôi! không tiện hỏi tuổi anh, nhưng thấy vẻ già dặn đàn anh của anh, tôi đoán anh khoảng 26, 27... Anh thân mật nói rằng: "Nhẽ ra cậu chẳng được dự cuộc họp đâu. Nhưng sáng nay xem các tờ báo tay của các đơn vị, anh Mười khen tờ báo của cậu trước đơn vị, anh Hùng Thanh không thấy có người đứng lên, bèn hỏi anh Lê Minh, mới biết cậu không được triệu tập. Và anh bảo anh Lê Minh (là chính trị viên tiểu đoàn) cho người đi gọi cậu"...
Họa sĩ Quang Thọ sinh năm 1929, quê Phượng Cách-Quốc Oai-Hà Tây, nguyên ẹy viên ban chấp hành Hội mỹ thuật khoá II, kiêm ủy viên Hội đồng nghệ thuật (1968-1984) tham gia cách mạng từ 3-1945 nhập ngũ 1946, trước lúc nghỉ hưu mang quân hàm đại tá, ông vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1948, trong cuộc đời nghệ thuật ông đã vẽ nhiều về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính, các tác phẩm tiêu biểu là: Đứa con đầu lòng-được giải thưởng triển lãm mỹ thuật 1960; Trò chơi ông cháu-giải ba mỹ thuật toàn quốc 1990 và các tác phẩm khác như: Nắng xuân 1975, Hà Nội những năm đánh Mỹ, Tiếng hát trên đảo, Nuôi giấu thương binh, Một cung đường Trường Sơn... Quang Thọ có công xây dựng xưởng Mỹ thuật quân đội và bồi dưỡng những thế hệ họa sĩ cho toàn quân. Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương độc lập hạng ba cùng với nhiều nghệ sĩ quân đội đã có cống hiến cho sự nghiệp cách mạng trong hơn nửa thế kỷ qua. Ông còn được tặng thưởng nhiều Huân chương cao qúy khác. Quang Thọ còn là một nhà thơ, một nhạc sĩ, tuy anh sáng tác ít nhưng thơ và nhạc để lại nhiều dấu ấn. Trong một dịp cùng Quang Khải đi học ở Trường lục quân vào khoảng 1950 làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí anh đã sáng tác bài hát "Vác súng ra tiền tuyến" trong hơn hai giờ, hôm sau anh mang lên hiệu bộ nhờ bác Nguyễn Xuân Khoát cho ý kiến, không ngờ bác Khoát xem song reo lên "được lắm!" rồi khuyến khích cứ thế mà làm, nhân có Hội nghị sơ kết về vận chuyển vũ khí, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát đã giới thiệu với toàn trường.
Quang Thọ có một bài thơ đặc sắc viết về một chính ủy đầu tiên của Trung đoàn Tây tiến đó là đồng chí Hùng Thanh. Một thanh niên xứ Nghệ học sinh trường Văn Lang Hà nội sớm tham gia cách mạng, đã tham gia cướp chính quyền ở Hà Đông sau là một cán bộ lãnh đạo huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông từ tháng 8-1945. Năm 1947 đồng chí Hùng Thanh là chính ủy đầu tiên của Trung đoàn Tây tiến. Năm 1994 rất đông các chiến sĩ Tây tiến đã tiễn đưa đồng chí Hùng Thanh về nơi an nghỉ cuối cùng, anh Quang Thọ đã làm bài thơ viếng ông trong đó có câu mở đầu:
Một chính ủy trung đoàn uống rượu ngâm thơ
Chỉ vậy thôi cũng đủ cho bao người thương nhớ
Ôi cái thuở ban đầu cờ rất đỏ
Những trái tim bốc lửa hoá thành men
Và khi kết thúc bài thơ anh hạ bút viết:
Ôi cái thuở ban đầu tươi đẹp ngọt ngào
Túy ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Ba nhà thơ, ba nhạc sĩ, ba họa sĩ và cũng là ba chiến sĩ Tây tiến, ba anh bộ đội Cụ Hồ xứ Đoài ra đi từ thuở tóc còn xanh. Nay những người còn sống đã ở tuổi "cổ lai hy". Họ vẫn sống bên nhau và thương nhớ Quang Dũng ra đi quá sớm. Ông mất tháng 10-1988 mà chưa được nhìn thấy những thành quả của công cuộc đổi mới mà Quang Dũng cũng như nhiều nghệ sĩ khác thường mơ ước. Họ như vẫn có trong nhau, những tâm hồn đồng điệu, những tài năng bẩm sinh, những tình yêu quê hương, tình yêu con người tha thiết.
Một chặng đường hơn nửa thế kỷ ba anh lính Cụ Hồ đã cầm bút, cầm súng và cùng sáng tạo nên những tác phẩm văn nghệ giàu chất nhạc và thơ.






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Sâu nặng mối tình Xô-Việt

Truyện về người phụ nữ Nga
vợ liệt sĩ Việt Nam


Bùi Đình Nguyên


BBT: Đặng Qúy là một thanh niên Hà Nội tham gia họat động cách mạng trước Cách mạng tháng Tám. Anh được trao nhiệm vụ đưa các sĩ quan quân đội Đồng minh từ Việt bắc về Hà Nội sau ngày Tổng khởi nghĩa.
Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ Đặng Qúy chỉ huy một đại đội Vệ quốc đoàn ở mặt trận nam Hà Nội, sau đó đi Tây Tiến.
Có hai anh em ruột cùng Tây Tiến: Anh Đặng Qúy và em Văn Đa (họa sĩ)

Vào những năm 1965-1970, trong số đồng nghiệp chúng tôi cùng công tác ở cơ quan Bộ tổng tham mưu-Bộ Quốc phòng có thiếu tá Đặng Qúy-nhiều bạn bè thường gọi anh với cái tên thân mật là "Qúy tây", vì tạng người anh to cao rất giống tây, hơn nữa anh vừa tu nghiệp ở Liên Xô về, nói tiếng Nga rất thạo. Đầu năm 1971 anh được điều động vào chiến trường, sau đó năm 1972 anh hy sinh ở mặt trận, khi ấy anh là thiếu tá, Phó phòng quân huấn của một Quân khu Miền Trung.
Cũng như bao người con hy sinh, đã để lại cho thân nhân mình nhiều đau thương mất mát ở quê nhà, nhưng trường hợp hy sinh của thiếu tá Đặng Qúy còn để lại nỗi đau cho một quả phụ cùng hai cháu mồ côi người Nga là vợ và con anh đang ở Liên Xô lúc bấy giờ và đến nay họ vẫn sống ở Nga.
Câu truyện về người phụ nữ Nga-vợ liệt sĩ Việt Nam sâu nặng mối tình Xô-Việt với nhiều tình tiết, đã thôi thúc tôi tìm hiểu từ đầu. Sau khi lần tìm tư liệu lưu trữ gần 30 năm qua và gặp những nhân chứng trong cuộc, xin cùng bạn đọc ngược dòng thời gian trở lại với câu truyện này bắt đầu từ những năm 1960.
Anh Đặng Qúy-còn có tên là Nguyễn Văn Định, sinh năm 1924 quê ở xã Thọ Nam, huyện Hòai Đức, tỉnh Hà Tây. Ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng 8-1945 cũng là lúc anh lên đường nhập ngũ. Đầu năm 1947 anh đã được kết nạp Đảng. Năm 1960 là sĩ quan cấp úy, được Bộ Quốc phòng cử sang đào tạo tại một học viện quân sự ở Liên Xô.
Trong thời gian đầu tu nghiệp ở Matxcơva, anh đã yêu cô thợ dệt người Nga Dôi-a Grigorevra sinh năm 1935 ở thành phố Riazan-Liên Xô. Năm 1962 được cơ quan ngoại giao hai nước cho phép, anh chị đã làm lễ thành hôn theo thủ tục của nước chủ nhà. Sau đó chị Dôi-a Grigorevra đổi tên là Dôi-a Nguyễn cùng họ với anh Đặng Qúy-tức Nguyễn Văn Định. Anh chị sinh được hai con, cháu trai đầu là Alexsei Nguyễn, đến cháu gái thứ hai là Vera Nguyễn. Cuộc sống gia đình anh chị ấm cúng, hạnh phúc, chan hòa nghĩa tình Xô-Việt.
Kết thúc thời gian học tập, năm 1965 anh Qúy tốt nghiệp loại ưu Học viện Phơ-run-de. Giữa lúc cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam của nhân dân ta ngày càng quyết liệt, nên cùng với đoàn sĩ quan Việt Nam du học nước ngoài, anh khẩn trương rời Liên Xô về nước. Lúc này chị Dôi-a Nguyễn và hai con rất muốn theo anh cùng về sống ở Việt Nam, nhưng hòan cảnh đất nước đang có chiến tranh không cho phép, anh đành phải tạm xa người thân trở về Tổ quốc, hẹn ngày sum họp.
Về nước anh được bố trí làm công tác nghiên cứu khoa học quân sự ở Bộ Tổng tham mưu từ những năm 1965-1970 và chúng tôi đã quen biết nhau từ lúc đó. Đầu năm 1971, cùng với nhiều sĩ quan ở Tổng hành dinh, anh được điều động vào chiến trường. Sau đó đến giữa năm 1972 anh đã hy sinh. Qua xác minh cụ thể, đến đầu tháng 8-1974 Cục cán bộ-Tổng cục chính trị đã có giấy báo tử số 384E/HN thông báo thiếu tá Đặng Qúy-tức Nguyễn Văn Định đã hy sinh ngày 28/7/1972 tại mặt trận phía Nam gửi chị Dôi-a Nguyễn ở Liên Xô và cơ quan thương binh-xã hội ta ở Việt Nam. Đầu năm 1975 anh Đặng Qúy được nhà nước ta xác nhận là liệt sĩ với bằng Tổ quốc ghi công. Vậy là anh không thực hiện được lời mong ước khi tạm biệt mẹ con chị Dôi-a Nguyễn ở Matxcơva hẹn ngày sum họp, mà anh đã vĩnh viễn nằm lại ở chiến trường, từ đây mẹ con chị trở thành mẹ goá, con côi. Tuy nhiên, như trong thư chị gửi cho bạn bè anh Qúy ở Việt Nam lúc bấy giờ, chị Dôi-a đã đau buồn viết: "Chiến tranh mà-biết làm sao được. Tôi bây giờ cũng như hàng chục triệu phụ nữ Liên Xô sau chiến tranh chống Phát xít. Niềm an ủi lớn nhất của mẹ con tôi là vinh dự có người chồng, người cha là chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh cho Tổ quốc, như bao chiến sĩ Hồng quân hy sinh cho đất nước Xô viết trong chiến tranh". Thật xúc động khi chúng tôi hồi niệm lại những dòng thư này của chị Dôi-a Nguyễn từ Liên Xô gửi đến lúc bấy giờ sau khi chị biết anh ấy đã hy sinh.
Theo chính sách hiện hành của Nhà nước ta đối với liệt sĩ, thì người thân là bố mẹ, vợ (chồng) khi nam đến tuổi 55, nữ đến tuổi 50 sẽ được hưởng chế độ tuất liệt sĩ, còn đối với các con thì bắt đầu hưởng đến trên 16 tuổi nếu còn đi học. Trường hợp của liệt sĩ Đặng Qúy thì bố mẹ anh ở Việt Nam đã qua đời, nên lúc này chỉ còn vợ con ở Liên Xô, nhưng năm 1975 chị Dôi-a Nguyễn mới 40 tuổi, nên trước hết hai cháu Alexsei và Vera Nguyễn bắt đầu được hưởng tuất liệt sĩ của bố. Vậy là ngày 22/11/1975, thay mặt lãnh đạo Bộ Thương binh-Xã hội (nay là Bộ Lao động-TBXH), Thứ trưởng Nguyễn Kiện đã ký quyết định số 438 trợ cấp tiền tuất lần đầu và trợ cấp tiền tuất hàng tháng tính đến hết 18 tuổi đối với hai con anh Đặng Qúy đang sống với mẹ và đi học ở Matxcơva. Với tổng số tiền tuất đã cấp, được đổi thành đồng Rúp để chuyển ngay sang Đại sứ quán ta ở Liên Xô nhờ trao lại cho các cháu. Tuy số tiền không nhiều nhưng thể hiện sự đền ơn đáp nghĩa chu đáo đối với gia đình liệt sĩ có công với nước dù họ đang ở đâu. Mẹ con chị Dôi-a Nguyễn đã nhờ Đại sứ quán ta chuyển lời chân thành cám ơn sự quan tâm của các cơ quan chính sách Việt Nam.
Thế rồi tình hình Liên Xô biến đổi, cuộc sống người dân Nga từ sau năm 1990 trở đi ngày càng khó khăn, trong hòan cảnh ấy chị Dôi-a không có việc làm và rồi đến tuổi nghỉ hưu với đồng lương không đủ sống. Chính lúc khó khăn này, chị đã nghĩ đến nhờ sự giúp đỡ của người anh em Việt Nam. Song đắn đo mãi đến cuối năm 1997 chị Dôi-a mới viết đơn gửi Bộ Lao động-TBXH Việt Nam. Đơn chị viết: "Tôi, Nguyễn Dôi-a Grigorevra là vợ thiếu tá liệt sĩ Nguyễn Văn Định (tức Đặng Qúy) sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam. Chồng tôi đã hy sinh năm 1972 khi làm nhiệm vụ chiến đấu giải phóng Tổ quốc. Kính đề nghị qúy Bộ xem xét giúp đỡ trợ cấp cho tôi theo tiêu chuẩn vợ liệt sĩ".
Đề nghị của chị Dôi-a thật chính đáng và khiêm tốn, vì đến năm 1997 chị cũng đã 62 tuổi rồi, đáng lý ra chị phải được hưởng tuất vợ liệt sĩ từ năm 1984 khi chị đến tuổi 50. Được biết Bộ LĐ-TBXH cũng hết sức quan tâm giải quyết khi nhận được đơn của chị. Tuy nhiên, cần có căn cứ hồ sơ chính xác nên phải có thời gian truy tìm lại giấy tờ cách đây 25 năm, kể từ khi anh Qúy hy sinh.
Vì cuộc sống ngày càng khó khăn, chị Dôi-a đã tiếp tục nhờ tuỳ viên quân sự Sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga giúp đỡ. Ngày 12 tháng 1 năm 2000, thay mặt sứ quán ta ở Nga, đại sứ Ngô Tất Tố đã gửi văn thư về Bộ trưởng LĐ-TBXH, trong đó có đoạn viết: "Hiện nay chị Dôi-a đã già yếu, đời sống vật chất khó khăn. Đại sứ quán tại LB Nga kính đề nghị qúy Bộ xét giải quyết chính sách sớm cho chị Dôi-a theo chế độ một lần và gửi qua Đại sứ quán Việt Nam tại LB Nga"
Sau khi nhận được văn thư này, Bộ trưởng Nguyễn Thị Hằng đã trực tiếp ghi giao cho Thứ trưởng Nguyễn Đình Liêu chỉ đạo Cục TBLS-người có công của Bộ khẩn trương giải quyết. Nhưng khi tiếp tục tra cứu hồ sơ lưu tại cơ quan Bộ thì vẫn chưa thấy có tên liệt sĩ Đặng Qúy (tức Nguyễn Văn Định). Vì vậy, ngày 16/6/2000, Bộ LĐ-TBXH đã gửi văn bản đến Sở LĐ-TBXH tỉnh Hà Tây (quê liệt sĩ Qúy) yêu cầu Sở kiểm tra xác minh và báo cáo về Bộ trước ngày 30/6/2000.
Nhưng chỉ sau đó một tuần, ngày 21/6/2000, Sở LĐ-TBXH tỉnh Hà Tây đã có báo đầy đủ chi tiết về nhân thân liệt sĩ Đặng Qúy (tức Nguyễn Văn Định) từ quê quán, năm sinh, năm nhập ngũ, nhập Đảng, ngày tháng năm hy sinh, tên bố mẹ, vợ, con, giấy báo tử, bằng tổ quốc ghi công... và tiền trợ cấp tuất một lần cho hai con liệt sĩ Đặng Qúy năm 1975 theo quyết định do Thứ trưởng Nguyễn Kiện ký. Tất cả đều có văn bản lưu trong hồ sơ tại Sở LĐ-TBXH tỉnh Hà Tây. Đối chiếu với đơn đề nghị của chị Dôi-a là hòan toàn đúng.
Sau khi đã hội đủ thủ tục giấy tờ và xác minh chính xác, thay mặt lãnh đạo Bộ LĐ-TBXH, Thứ trưởng Ts Nguyễn Đình Liêu đã ký quyết định số 708-QĐ với nội dung: "Trợ cấp truy lĩnh tuất liệt sĩ cho bà Dôi-a Grigorevra ở Liên bang Nga là vợ liệt sĩ Đặng Qúy (tức Nguyễn Văn Định) theo giấy báo tử số 384E/HN ngày 1/8/1974 của Cục cán bộ Tổng cục chính trị-Bộ Quốc phòng. Mức trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo quy định hiện hành và giải quyết một lần đối với bà Dôi-a Grigorevra kể từ tháng 1/1984 đến tháng 12/2001. Tất cả gồm 216 tháng x 90.000 đ/tháng = 19.440.000 đ/Việt nam. Số tiền này sau đó đã được Sở LB-TBXH tỉnh Hà Tây chuyển đến Đại sứ quan ta tại LB Nga để nhờ trao lại cho bà Dôi-a Nguyễn.
Giữa lúc bà Dôi-a đang gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, thì được đại tá Đinh Nho Hồng, tuỳ viên quân sự Việt Nam ta ở LB Nga mời bà đến trao lại số tiền tuất này. Bà Dôi-a hết sức xúc động và nhờ Đại sứ quán Việt Nam gửi lời chân thành cảm ơn Đảng, Nhà nước và cơ quan chính sách đã quan tâm giúp đỡ, nhất là trong lúc bà đã tuổi cao sức yếu. Với đồng lương hưu hơn 20 đô la/tháng (khoảng 300.000 đ/Việt nam) thì số tiền chừng 1.300 đô la này tuy không là bao, nhưng cũng bằng một số năm lương hưu của bà, thật là hết sức có ý nghĩa. Nhưng điều đáng trân trọng hơn cả như bà nói: "Đó là nghĩa tình thủy chung trọn vẹn đối với gia đình có công với nước, làm ấm lòng mẹ con tôi từ nước Nga tuy xa mà gần".
Được biết, từ sau khi Đặng Qúy hy sinh, bà Dôi-a Nguyễn vẫn ở vậy nuôi dạy hai con khôn lớn nên người. Hiện nay anh Alexsei Nguyễn là kỹ thuật viên vô tuyến điện, có vợ và hai con, chị Vera Nguyễn là giáo viên thể dục có chồng và hai con-cùng công tác ở Matxcơva. Trong chuyến công du sang Nga hồi đầu năm 2001, nhà văn Hữu Ước, Tổng biên tập Báo An ninh thế giới đã có dịp gặp chị Vera Nguyễn và nhà văn Hữu Ước đã ngỏ lời mời bà Dôi-a sang thăm Việt Nam./.






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Nhớ lại lần tiếp xúc với họ Đinh Công ...
ở Châu Lương Sơn 50 năm về trước (1946-1996)


Bùi Quý Bảy


Sắp tới, năm 1997 kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trung đoàn Tây Tiến (1947-1997), tuy không được cùng sống và chiến đấu trong đội hình của Trung đoàn, nhưng tôi cũng xin phép được ghi lại những kỷ niệm khó quên về lần đầu tiên tiếp xúc với gia đình họ Đinh Công ... ở Châu Lương Sơn, đồng thời tỏ lòng tưởng nhớ đến người bạn chiến đấu họ Đinh-Anh Đinh Công Niết của buổi ban đầu dựng nước ở Châu Lương Sơn, mà sau này anh đã từng sống và chiến đấu trong đội hình của Trung đoàn Tây Tiến năm xưa!
Khoảng thượng tuần tháng 4 năm 1946, nhận được tin bọn phản động Duy dân đảng địa phương nổi loạn kéo về cướp chính quyền ở Châu lỵ Lương Sơn, tôi đã trực tiếp chỉ huy một trung đội từ đồn điền Xuân Mai, khẩn trương hành quân vào chi viện cho lực lượng vũ trang của Châu truy quét bọn phiến loạn, bắt được một số tên đầu sỏ, đã cùng anh Đinh Công Niết Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, tra hỏi bọn phiến loạn này.
Sau khi cùng lực lượng vũ trang của Châu dẹp yên bọn phiến loạn, anh Hiển cùng nhập ngũ với tôi ở trại Bảo an binh, Hà Nội, anh được biệt phái về làm cán sự Việt Minh ở Châu Lương Sơn, gặp lại tôi, anh đề nghị: "... Nhân tiện anh vào đây, mời anh vào Bản thăm gia đình ông Đinh Công Huy, anh trai của anh Đinh Công Niết và giải thích thêm cho cụ Cố (mẹ ông Huy) về Hiệp định sơ bộ 6/3, tôi đã giải thích, nhưng cụ chưa thông suốt, còn nhiều thắc mắc...", được anh Đinh Công Niết cũng nhất trí.
Vài ngày sau, nhân anh Đinh Công Niết bắn được con hoẵng con, anh mang vào Bản, giao cho cô Nụ, em gái con bà cô làm bữa tiệc liên hoan mừng thắng lợi của cuộc truy quét bọn phiến loạn-Anh chính thức mời tôi vào Bản thăm cụ Cố.
Lần đầu tiên tôi được gia đình quan lại có uy tín lớn của tỉnh Hoà Bình và Châu Lương Sơn tiếp đón tại ngôi nhà sàn-dinh thự của quan Tuần sát, mọi tiện nghi nội thất thật là tráng lệ.
Lên hết cầu thang, qua cửa vào nhà đã thấy cụ Cố phương phi, đôn hậu ngồi giữa sập khảm trai, ông Đinh Công Huy ngồi ghế tựa bên cạnh sập.
Chào và thăm hỏi xã giao xong, cụ Cố trân trọng mời tôi ngồi trên sập, ông Huy chào hỏi xong ông cáo lui vào phòng trong. Anh Đinh Công Niết cũng xin cáo lui về Huyện, còn lại tôi và anh Hiển tiếp xúc với cụ Cố.
Sau lời giải thích mục đích của cuộc viếng thăm của anh Hiển, tôi bắt đầu giải thích về nội dung của Hiệp định 6/3, rồi kết luận: "Mục đích của tinh thần Hiệp định 6/3 là "Hoà hoãn với Pháp để gạt Tưởng" để "Khỏi một lúc phải đối phó với hai kẻ thù"; để tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến chống thực dân Pháp-Bởi vì, trước sau thực dân Pháp cũng không từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta lần nữa..."
Nghe tôi giải thích xong, cụ hỏi thêm một vài điều, tôi đã giải đáp trôi chảy-Cụ khoan thai uống hết chén trà nóng, tỏ thái độ hoan hỷ, cụ nói: "... Hôm nay được Ngài đến thăm và giải thích cho nghe Hiệp định 6/3, tôi hoàn toàn tán thành với chủ trương và đường lối của Chính phủ Cụ Hồ, thế mới biết âm mưu thâm độc của hai kẻ thù cùng bọn phản động trong nước, nếu không có sự lãnh đạo khôn khéo của Chính phủ Cụ Hồ, thì đất nước ta lại rơi vào tay bọn đế quốc và bọn phản động tay sai của chúng; không biết đến bao giờ mới giành lại được ?"
"Nếu chính quyền này do bọn Pháp và phản động cai trị thì không những nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân các dân tộc thiểu số chúng tôi lại muôn đời chịu kiếp ngựa trâu; cụ thể như mới vài ngày qua, bọn phản động địa phương đã nổi loạn định cướp lại chính quyền ở Châu Lương Sơn chúng tôi, may mà có quân đội cách mạng của các Ngài kịp thời đến trợ giúp, nhân dân chúng tôi mới được bình yên trở lại. Nhân Ngài vào thăm, cho tôi gửi lời vô cùng biết ơn Chính phủ Cụ Hồ và gia đình họ Đinh Công ... chúng tôi xin hứa với Cụ Hồ, một lòng một dạ tin tưởng và trọn đời đi theo Chính phủ Cụ Hồ!"
Chia tay với cụ Cố, hai anh em chúng tôi ra về, lòng tràn đầy niềm vui đã làm được một việc "ích nước, lợi dân" và tin tưởng lời hứa của người đại diện đầy quyền uy của gia tộc họ Đinh Công ... với cách mạng.
Đêm 19 tháng 5 năm 1946, trong khi cả dân tộc lần đầu tiên được hân hoan đón mừng ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập, đơn vị chúng tôi từ Xuân Mai, Hà Đông hành quân ra trận, qua Châu lỵ Lương Sơn, tôi nhắc đồng chí trực ban của Uỷ ban Châu, báo cho anh Đinh Công Niết, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Châu Lương Sơn biết là đơn vị chúng tôi hành quân đi Tây Tiến, nếu anh có điều kiện, mời anh lên thị xã Hoà Bình để cùng nhân dân Hoà Bình tiễn chúng tôi ra mặt trận.
Ngay ngày hôm sau, với tấm lòng yêu quý lực lượng vũ trang cách mạng, anh Đinh Công Niết đã đi thuyền lên thị xã Hoà Bình, mang theo lòng yêu thương của nhân dân các dân tộc Châu Lương Sơn và gia tộc họ Đinh Công, để tiễn đưa chúng tôi ra trận! riêng anh tặng tôi dăm bao thuốc lá ngoại, tiếp nhận quà anh tặng, tôi ý thức, đây cũng là quà tặng của gia tộc họ Đinh Công đối với tôi! Xin chân thành cảm ơn gia tộc họ Đinh Công ...!!
Năm 1948, tôi được điều sang hoạt động Đại đội độc lập ở Châu Đà Bắc, được biết ông Đinh Công Huy không có tên trong Chính quyền bù nhìn của thực dân Pháp và anh Đinh Công Niết là Tiểu đoàn trưởng d162, một đơn vị hầu hết là người Mường, Hoà Bình; nhân dân các dân tộc Châu Lương Sơn, tuy nằm trong vùng kiểm soát của địch, nhưng vẫn một lòng một dạ hướng về Chính phủ kháng chiến của Cụ Hồ, như lời hứa của người đại diện của gia tộc họ Đinh Công năm xưa!
Hà nội, tháng 12 năm 1996





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Những ngày vui tết đón xuân bính tuất 1946
ở Sầm Nưa


Nguyễn Văn Khuông


Nhân dịp Tết Tân Tỵ-2001, tôi muốn kể lại về những ngày vui Tết đón xuân Bính tuất 1946 ở Sầm Nưa không bao giờ quên.
Sau chiến thắng Mường Láp 20/10/1945 của Đại đội Anh Đệ-Tuấn Sơn tết "Nao bế chờ bùa" đưa lương thực, thực phẩm và bánh dầy quà ăn Tết của đồng bào về ủng hộ bộ đội tình nguyện quân Việt Nam vừa mới đánh thắng, đuổi Pháp khỏi tỉnh Hủa Phăn. Đặc biệt có bà con người Mèo bản Huối Thầu ở gần chân dốc Mường Liệt cách thị xã Sầm Nưa 10 km mang xuống tặng đoàn quân vừa đánh thắng bọn Tây, gồm bò, dê, lợn, gà và những gùi gạo nếp gạo tẻ, bánh dầy và cả những gùi khoai tây, thứ khoai này ở Sầm Nưa chỉ có nơi này mới trồng được và dành riêng cung cấp cho bọn Tây. Bà con đưa thẳng đến doanh trại đơn vị đóng quân và nhất mực đòi gặp cấp chỉ huy. Tôi và đồng chí Hoè giải thích đề nghị bà con mang đến tập trung ở cơ quan chính quyền huyện Sầm Nưa rồi bộ đội đến nhận. Bà con nói "Chúng tao đưa quà Tết cho những người vừa đánh thắng bọn Tây. Phải cho chúng tao gặp người chỉ huy". Đồng chí Tuấn Sơn đang bận việc nên cử đồng chí Lam Ngọc ra tiếp, thì trong số bà con có hai người đứng lên nói: "Không phải người này, thằng chỉ huy nó thấp hơn mà trắng đẹp trai cơ" tôi hỏi lại mới biết hai anh là Vừ A Sủa và Vừ A Dính, bị bọn Tây bắt đi làm "cu ly" gùi hàng khi chúng chạy khỏi Sầm Nưa. Khi bộ đội ta đánh vào Mường Láp hai anh này được giải thoát, các anh kể lại: "Chúng tao đang sốt rét mà thằng Tây vẫn bắt gùi hàng nặng. Chỉ huy bộ đội không bắt chúng tao gùi hàng mà còn cho người đến tiêm và cho thuốc chúng tao uống khỏi ốm để được về nhà. Chúng tao còn nhớ mặt nó mà"
Khi đồng chí Tuấn Sơn đến hai người cầm chặt lấy tay rồi nói: "Chúng tao đưa quà Tết để chúng mày cùng vui Tết với chúng tao và mày phải lên bản ăn Tết với chúng tao". Đồng chí Tuấn Sơn lệnh cho chúng tôi nhận và đồng chí bảo lấy tặng lại bà con mỗi người một ít thuốc và mảnh vải dù. Đồng chí nhận lời hôm sau sẽ lên ăn Tết với bà con. Bà con vui vẻ ra về còn anh A Dính và bốn người nữa cùng 5 con ngựa ngủ lại đón đồng chí Tuấn Sơn cùng đi. Tôi may mắn được đi theo đoàn để làm phiên dịch.
Dân tộc H'mông tục lệ uống rượu bằng một cái bát lần lượt uống quanh vòng, ai không uống được rượu là phải phạt ăn một miếng thịt đã ninh nhừ và miếng bánh dầy. Khi chúng tôi ra về phải một con ngựa thồ mới hết số thịt và bánh dầy bị phạt. Cả đời công tác ở cơ sở tôi nhớ bài học công tác dân vận đối với người H'mông ở Sầm Nưa: không gì có sức thuyết phục, tranh thủ lòng tin của họ bằng việc làm tốt và thật sự chân thành với họ, nói và làm luôn đi đôi.
Tiếp đến là đón xuân Bính Tuất 1946, Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, Tết độc lập đầu tiên của nhân dân ta, cũng nhiều việc phải làm và chuẩn bị. Bà con Việt kiều đề nghị nhà nào cũng được đón bộ đội về xông nhà và cùng gia đình vui Tết trong ba ngày. Uỷ ban cách mạng của Việt kiều chưa biết tổ chức thế nào cho vui và được lòng bà con, được việc của quân đội. Chúng tôi báo cáo với hai anh Lê Hiến Mai và Tuấn Sơn được các anh cho ý kiến tổ chức như sau:
Vận động tất cả các gia đình Việt kiều tập trung ra đền thờ Đức thánh Trần của kiều bào để đón giao thừa, đón nghe lời chúc Tết của Cụ Hồ, dâng hương lễ Thánh rồi chia làm ba đoàn đi theo hai bên dãy phố để bộ đội vào các gia đình xông nhà chúc Tết. Pháo nổ liên tục suốt đêm. Sáng mùng một đi chúc Tết các gia đình Hoa kiều và nhân dân Lào trên bản. Còn phần ăn Tết cũng chia làm ba khu, mỗi khu đăng cai một ngày. Gia đình nhà nào đã chuẩn bị thức ăn Tết những gì đưa đến tập trung ở doanh trại bộ đội cùng ăn và tối vui văn nghệ cùng bộ đội diễn kịch và đội chèo của Việt kiều phục vụ. Nhà nào có bao nhiêu rượu nội ngoại, pháo đều đưa ra dùng hết. Trong ba ngày pháo nổ liên tục, mọi người đều vui vẻ thoải mái.
Tiếp đến là mừng năm mới "Bun Pi May, Bun Huất Nậm" Tết té nước của dân tộc Lào vào tháng 4/1946. Đơn vị bộ đội Lào-Việt, nhân dân bản Sầm Nưa cùng bà con Việt kiều, Hoa kiều tập trung lên chùa làm lễ chào Quốc kỳ của hai nước rồi nhà sư làm lễ tụng kinh tắm cho tượng Phật, té nước chúc tụng nhau, sau đó chia ra nhiều đoàn đi các nơi do nhà sư dẫn đầu, đến đâu cũng cầu nguyện chúc điều tốt lành và té nước mừng tuổi nhau.
Trên đây là những cái Tết trên đất bạn mà tràn ngập niềm vui bởi tuổi chúng tôi đang xuân lại hoà nhập vào mùa xuân của đất trời, mùa xuân của đất nước bạn và ta đang rực sắc cờ hoa cách mạng đón độc lập và tự do mới giành được. Thật tươi đẹp, phấn chấn biết bao./.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-05 08:24:41tieuboingoan>
Tình quân dân cá nước


Nguyễn Hữu Duyên


1-Tấm lòng bà mẹ

Anh bộ đội ơi, anh bộ đội ơi!
Đó là tiếng gọi của bà Phó-Khôi nhà ở bến đò phố Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Bà chạy theo hai anh bộ đội đầu trọc, tay trái cầm nắm lá cây thay mũ che đầu, tay phải cầm túm quả Dâu-da-đất (loại quả xanh rất độc đối với người đang ốm sốt ngã nước) đưa lên mồm, nhằn vỏ ăn ngon lành.
Dân phố tưởng bà chạy theo hai anh bộ đội ăn hàng quên chưa trả tiền. Những không phải. Mục đích của bà là xin khéo hai túm dâu-da cho các anh khỏi ăn phải quả độc.
Các anh chưa biết tấm lòng bà mẹ, nên chỉ cho ít. Bà tỏ ra rất thèm, bà đòi đổi bánh gai hay kẹo vừng, kẹo lạc ở quán của bà và tay bà gỡ luôn được 2 túm quả Độc trong tay các anh, rồi bà kéo các anh vào quán nước nhà bà rất nhiệt tình.
Các anh ngỡ ngàng theo bà vào quán nước, bà bóc bánh gai nhà làm đưa mời các anh ăn thì mấy bà mẹ ở xóm phố cũng kéo sang làm quen với các anh. Một mẹ hỏi:
- Con quê ở đâu?
- Con quê ở phố Đội Cấn, Hà Nội; còn Huệ đây quê ở Nam Định.
- Một mẹ hỏi: các con ở Bộ đội nào?
- Chúng con là bộ đội Tây Tiến, mới đánh nhau với địch ở biên giới Việt-Lào chuyển về.
- Một mẹ nói: đồng bào Vụ Bản thương các con lắm-nhất là các mẹ biết các anh cũng vì bảo vệ độc lập của Tổ quốc mà các con xung phong đi biên giới, nơi rừng thiêng nước độc, thường bị sốt rét ngã nước thì các con phải biết giữ mình.
Các con không biết câu ca: "Một quả dâu-da bằng 3 chén thuốc" hay sao mà dám ăn cả một túm quả độc thế này và bà cầm hai túm quả vứt ra đường, quả rơi lăn ra tứ phía.
Việc mẹ Khôi vừa làm là để tránh cho các con không ăn phải quả độc.
Các con cần phải có sức khoẻ mới đánh được giặc Tây.
Nghe mẹ giải thích việc trên nhẹ nhàng, yêu thương chân thành như lời mẹ mình bảo ban. Một anh cảm động thưa:
- Sau khi cất cơn sốt, nghĩ đến món gì con cũng thèm, nhất là của chua. Nay được các mẹ bảo ban, chỉ cho biết tác hại, từ nay chúng con không ăn quả xanh, uống nước lã nữa.
Anh Huệ nói: Hôm nay chúng con vừa được xuất viện, trở về đơn vị chiến đấu. Một mẹ bảo:
- Các con gầy và da còn rất xanh, chứ đã khoẻ gì.
- Anh Trần Văn Dần nói: Bạn bè đồng đội chúng con còn bị nặng hơn chúng con mới phải nằm lại quân y xá trung đoàn ở trên Châu Trang ấy. Nhưng thuốc men vật chất thiếu. Một viên ký ninh pha vào cái chai, rót cho mỗi người một chén. Còn các bệnh thương hàn kiết lị cũng thiếu thuốc như vậy, nên có ngày chết đến 2,3 người đấy các mẹ ạ!
Đến lúc này các mẹ nhìn nhau rồi nước mắt tuôn rơi. Một mẹ bảo:
- Bà tài Thọ là thư ký phụ nữ phải bảo bà Ký Đông, Lý Nõn là hội trưởng tổ chức cho chị em lên thăm bệnh xá để chăm sóc, giặt giũ và động viên các anh nào kha khá ta nhận về nuôi, bồi dưỡng cho các anh ấy chóng khoẻ.
- Một mẹ bảo: Còn phải vận động toàn thể dân phố ủng hộ vật chất cho bệnh xá nữa chứ...
Đấy là tấm lòng của các bà mẹ chiến sĩ mặt trận Tây Tiến ở phố Vụ Bản, Lạc Sơn, Hoà Bình vào đầu năm 1947 lần đầu tiếp xúc với các anh bộ đội đi Tây Tiến của những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, quân đội ta gặp biết bao nhiêu khó khăn thiếu thốn mọi mặt, sinh ốm đau, bệnh tình độc ác đã cướp dần để tới 200 anh theo tiếng cồng quân y xá Châu -Chang tiễn biệt sau này.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
2-Bốn bà mẹ đến với bệnh xá trung đoàn

Ngay chiều hôm chia tay với hai bệnh binh Tây Tiến được "xuất viện", bốn bà mẹ bàn nhau sôi nổi:
- Bà Phẽm Nhỡ bảo phải báo cáo với hội phụ nữ.
- Bà Lý Mô bảo: bốn chị em mình hãy bí mật lên bệnh xá Châu-Chang thám thính xem thế nào? có đúng như hai anh ấy nói không đã. Rồi mới về nói với hội phụ nữ những điều mắt thấy tai nghe để Hội phụ nữ có cơ sở tuyên truyền, vận động dân phố ủng hộ bộ đội.
ý kiến trên được các bà cho là đúng nhất và sáng hôm sau mỗi bà bỏ một cái cân vào trong cái bị cói và những thứ cần thiết khác, khoác lên vai như người đi chợ đón, mua lâm thổ sản.
Các bà đi bộ từ Vụ Bản lên đến làng Chang là 9 km và bàn nhiều việc nói năng đối xử khi gặp cán bộ quân y và thương bệnh binh. Thế nhưng khi gặp bác sĩ Đức lại rất lúng túng trong cách xưng hô. Bà thì gọi là cụ Đức (vì tạng người bác sĩ Đức gầy nhỏ và đã già) bà Cai Ngà thì gọi là ông đốc...Nên anh Hằng y tá trưởng chữa bảo các bà cứ gọi chung là bác sĩ, như thưa bác sĩ...còn các chị Phương Lan, Kiều Thanh Thôn, Thanh Huyền gọi là y tá, cứu thương chứ không phải là bà sơ, cô sơ.
Sau khi các bà nói lên mục đích chuyến đi, bác sĩ Đức bảo anh Hằng đưa các bà đi từng phòng (thương bệnh binh nằm trên nhà sàn của dân) thì sự cảm động và tình thương của các bà mẹ Việt nam đối với các con bộ đội ốm đau trong hoàn cảnh ngày đầu kháng chiến thiếu thốn đủ mọi thứ thuốc men, dụng cụ y tế... không thể tả hết được.
Từ nhà sàn đơn sơ trống trải, sàn bương đầy lỗ rệp, dưới sàn nuôi trâu bò đầy bùn phân ngập ngụa, xông mùi lên sàn nhà có thương bệnh binh ốm nặng nằm ở trên, không chăn đệm nhà thương, người gầy còm xanh trong chiếc áo rách sờn, bệnh trọng. Cuối cùng anh Hằng đưa 4 bà đến nhà cách ly (gọi là phòng liệt) mà thực chất sức khoẻ các anh đã ở giai đoạn hấp hối (bị anh đã chết ôm chặt phải gỡ ra), có anh thấy các mẹ người Kinh như mẹ mình, các anh mừng gọi mẹ ơi chỗ này, mẹ ơi chỗ kia ríu rít (có anh đang sốt nóng hô xung phong). Các mẹ vội đến từng anh, nắm tay hỏi han, an ủi và cho các anh mỗi người một đồng bạc nhôm có hình nổi Bác Hồ, gọi là tấm lòng của mẹ. Nhưng tại phòng này có anh tay đã lạnh, hàm cứng rồi thở hắt ra chết trước mặt các bà và y tá trưởng Hằng vì thiếu thuốc men dụng cụ.
Đến lúc này (dự định các mẹ ở lại giặt giũ và chăm sóc thương bệnh binh không còn nữa vì muốn về ngay mua chiếu mang lên bó xác tử sĩ) các bà mẹ bị xúc động quá chỉ biết khóc và vuốt mắt cho các anh trước những hồi cồng báo hiệu cho dân quân làng Chang biết có bộ đội chết để làm quan tài bằng nứa đan thành phên, bó xác bằng lạt, khiêng các anh đi theo tiếng cồng tiễn biệt xa dần...về đất.
Được chứng kiến quang cảnh quân y xá trung đoàn 52 Tây Tiến ở làng Chang và sự ra đi của thương bệnh binh không được da ngựa bọc thây mà là những mảnh bương, nứa làm lòng các bà quặn đau ví như đứt từng khúc ruột.
Chiều hè đó, không gian làng Chang có mây đen vần vũ. Từng vầng mây cuồn cuộn bay đi gặp khí lạnh thành trận mưa hè, như nước mắt bà mẹ ở quê mong đợi con đi đánh giặc chưa trở về, bị tiếng cồng vang lên khoả lấp. Như tiếng sấm tan biến vào không trung, có tới gần 200 lần tiễn đưa người tử sĩ, có chiếu bọc thây, che chở cho những linh hồn bất tử thanh cao, không họ tên, ngày sinh, quê quán.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
3-Cuộc vận động ủng hộ quân y xá Châu-Chang

Đồng bào Vụ Bản là dân nghèo ở miền xuôi lên làm ăn ở phố Vụ Bản, được giác ngộ ngay từ ngày đầu cách mạng tháng 8 năm 1945. Có tinh thần yêu nước, lần đầu tiên trông thấy anh bộ đội Cụ Hồ, tiến lên miền Tây, chịu đưng bao gian lao vất vả, tuyên truyền giáo dục người dân tộc đoàn kết đấu tranh bảo vệ tổ quốc, nên đồng bào rất thương yêu các anh như con cái trong nhà và ủng hộ bộ đội là nhiệm vụ người đang tham gia kháng chiến do Bác Hồ phát lệnh từ ngày 19 tháng 12 năm 1946.
Bắt đầu từ bốn bà mẹ thăm quân y viện đã nói ở trên, các mẹ đã ủng hộ hết số tiền mang theo cho y tá Hằng ghi danh sách và số tiền để báo cáo trung đoàn. Riêng bà Tài Thọ nẩy ra sáng kiến nói là em Duyên thiếu nhi Vụ Bản gửi các bà lên ủng hộ quân y 5000 đồng (tiền tài chính mầu xanh, ở trong vẽ con trâu). Việc làm nhỏ, của một thiếu niên yêu nước, được hội phụ nữ dựa vào để vận động các đoàn thể nam phụ, lão ấu, quyên góp ủng hộ quân y viện Tây Tiến.
Số tiền thu được, các bà dùng để mua 100 đôi chiếu, gạo, đậu, đường nấu cháo và tiền mặt để quân y xá mua thực phẩm và thuốc phục vụ chữa bệnh hàng ngày cho bệnh binh.
Hội phụ nữ phố Vụ Bản giao nhiệm vụ cho bốn bà đã đi lần trước, thuê xe ngựa đem lên giao cho bác sĩ Đức tiếp nhận. Lại có cả chính trị viên trung đoàn Hùng-Thanh tiếp đón và tặng các bà, hội phụ nữ Vụ Bản giấy khen của Trung đoàn 52.
Từ đó, tình hình quân y đóng ở Châu Chang được cải thiện một phần. Sau khi thực dân Pháp nhảy dù ở thị xã Hoà Bình, quân y của Trung đoàn Tây tiến chuyển dần về làng Viến bên dòng sông Hoàng Long (đoạn dưới của sông Bùi chảy từ Chi Nê Hoà Bình xuống) địa phận huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Và khi quân Pháp theo đường 12 chiếm Vụ Bản thì đồng bào Vụ Bản đã đốt nhà đi tản cư về Nho Quan, Thanh Hoá, bất hợp tác với giặc.
Trong những năm 1948 và 1949 vẫn có những bà mẹ chiến sĩ Vụ Bản đến quân y xá của Trung đoàn 52 thăm những người chiến sĩ được các mẹ đỡ đầu... để sau chiến thắng đem lại độc lập cho dân tộc có biết bao nhiêu bà mẹ chiến sĩ trở thành Người mẹ Việt Nam anh hùng...
Nhưng đến nay, tuổi cao không còn trẻ, song tình quân dân cá nước vẫn còn đọng mãi trong các anh một lòng biết ơn các mẹ đã góp phần trong cuộc chiến đấu gian khổ giải phóng dân tộc.
Những người lính Tây Tiến đến nay đã thành các cụ, nên cũng còn vài trăm người mà đại diện là anh Quang Thọ hoạ sĩ quân đội nghỉ hưu đã nói và viết lên mặt báo văn nghệ tấm lòng người lính Cụ-Hồ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp như sau: “Trong cuộc đời mặc áo lính, các anh không thể nào quên được hình ảnh và công ơn của bà mẹ chiến sĩ hồi đó. Các anh nhờ Duyên thắp cho các cụ mấy tuần nhang”.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
4-Sau 52 năm thăm chiến trường xưa...

Vâng, sau 52 năm đúng bằng con số phiên hiệu Trung đoàn 52 Tây Tiến. Những cựu chiến binh Tây Tiến, hôm nay nhân ngày 22/12/1998 đã một lần nữa tổ chức đi thăm lại chiến trường xưa Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Trong cảm xúc dâng trào nhớ thương đồng đội đã vì nước hy sinh thân mình cho nền độc lập của Tổ quốc.
Lời cầu khẩn nhắn gửi chan hoà nước mắt của đồng đội, gọi tên người chiến sĩ vô danh qua làn khói hương nghi ngút từ lư hương chân đài tưởng niệm bốc lên kêu gọi: Bạn hỡi! Có linh thiêng thì hiển linh cho gặp và nhận những tình yêu thương của đồng ngũ còn sống sót sau 52 năm... Trong phút linh thiêng ấy Hồn các anh đã hiển linh Gặp gỡ cho lư hương tự bốc cháy reo vui trong âm hồn tưởng niệm, làm người còn sống mừng vui thoả mãn trong chuyến hành hương thắm tình gắn bó đồng đội và tình quân dân Châu Chang với bộ đội Tây Tiến mãi mãi còn lại bên đài tưởng niệm liệt sĩ Tây Tiến với chiếc Cồng của dân tộc Mường... hoành tráng để lại cho những thế hệ sau này./.

Nguyễn Hữu Duyên





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Nhớ ngày ra đi


Đỗ Đăng Khoa


Sau 19-8-1945, tôi là Tự vệ thành đánh Pháp tại khu Đại La, Hà Nội, rồi trở thành người lính của đại đội 19-E80, đồng chí Đỗ Văn Tý là Đại đội trưởng; được ít lâu chuyển sang đại đội 74 (d164), đồng chí Nguyễn Hoà là Đại đội trưởng, đồng chí Mạnh Quân là Tiểu đoàn trưởng... Tôi theo đơn vị lên mặt trận Tây Tiến, chiến khu 2. Đại đội 74 chúng tôi lúc bấy giờ đa số là thanh niên Thủ đô, giàu lòng yêu nước, lạc quan lên đường đánh giặc.
Suốt chặng đường dài, khi thì ngày đi đêm nghỉ, khi thì ngày nghỉ đêm đi để giữ bí mật và tránh máy bay địch. Từ Thạch Thất-Sơn Tây lên miền tây Hoà Bình, đầu năm 1948 đại đội 74 được bổ sung vào đơn vị đồng chí Trần Sinh với danh hiệu "Đoàn vũ trang công tác miền Tây Bắc bộ-Liên khu III" tiếp tục sự nghiệp Tây Tiến mà Thiếu tướng Hoàng Sâm và Lê Hiến Mai giao lại.
Về tổ chức Đảng là Ban công tác miền Tây Bắc bộ do đồng chí Nguyễn Thế Tùng trưởng ban, các đồng chí Tuân (Hoà Bình) và Nguyễn Hồng là uỷ viên. Về chỉ huy quân sự có đồng chí Tuấn Sơn và Khuất Duy Kính. Đoàn vũ trang được chia nhỏ thành các đội mà đồng chí Tuấn Sơn đặt tên là đội Đ, đội I, K, O, P, Q, J (gọi tắt là Đikốp) và Đoàn bộ... Đánh dấu sự kiện này nhạc sĩ Cao Thưởng đã sáng tác bài hát: "Vũ trang công tác Miền Tây-Ta đi sâu trong lòng quần chúng...".
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giúp Thanh Hoá tiễu phỉ tiêu diệt căn cứ của tên tổng chỉ huy dân vệ thượng du Thanh Hoá là Đạo Thắng ở Điền Lư-Bá Thước thì rút về; đồng chí Khuất Duy Kính chuyển đi đơn vị khác.
Tham gia giúp Đoàn vũ trang công tác Miền Tây bắc bộ-Liên khu III có cố vấn Nguyễn Tỷ (trước ở Mai Châu) và một số cán bộ Pathét Lào như Thao Ma, Thao Ky, Thao Hênh, Thao Phin v.v..
Theo phương châm và chiến thuật của Khu uỷ, các Đội Đ, I, K, O, P đã toả đi các nơi vào sâu trong lòng địch thuộc hai tỉnh Sầm Nưa-Phong Sa Ly như Sầm Nưa, Sầm Tớ, Xiêng Khoảng, Pù Nhi, Pa Hoóc, Húa Mường v.v.. gặp bao gian nan nguy hiểm, có đồng chí hoá trang giả người Mẹo cạo tóc chỏm như đồng chí Phúc Khôi, Nguyễn Lợi v.v.. được dân thương yêu đùm bọc.
Đói lòng chia củ sắn lùi
Nắm cơm chấm muối ngọt bùi tình dân
Về hậu cần lúc bấy giờ muôn vàn khó khăn: quân trang thì dân tộc hoá địa phương, nuôi quân một phần dựa vào dân, một phần cung cấp cho các đơn vị chủ yếu là muối, thuốc lào, đá lửa, bật lửa, kim, chỉ (các màu)... để đổi lấy quần áo, lương thực, thực phẩm vừa gọn nhẹ lại hợp lòng dân. Các vật phẩm nói trên mà đến được tay chiến sĩ cũng không dễ dàng gì. Trong chúng ta, chắc có người còn nhớ: "Chiến dịch Sốp Hào, thuốc lào Văn Duy", nói lên nuôi quân đánh thắng giặc một phần dựa vào lon muối, bánh thuốc lào...
Vượt biết bao địa danh, rừng rậm, núi cao, suối hiểm trở; không ít đồng chí chúng ta ngã xuống trên đất nước Bạn và giáp biên giới Việt Lào như đồng chí Hiền, Giao (ở Sầm Tớ), Phạm Hà, Đình và nhiều đồng chí khác. Có những bà Mế và các cô gái Lào, Thái, Mường kết những vòng hoa Champa, hoa Ban thơm ngát bùi ngùi thắp nén nhang viếng người chiến sĩ trẻ nằm lại trong cánh rừng xanh xa quê hương đã góp phần giải phóng dần từng mảnh đất từ thôn, bản đến huyện, tỉnh nước Bạn.
Thu đông năm 1951, Ban cán sự Đoàn vũ trang giúp Bạn tổ chức Đại hội đại biểu Đảng nhân dân cách mạng Lào, tỉnh Sầm Nưa, có Hoàng thân Suphanuvông và đồng chí Singapo về dự ở bên bờ sông Mã lịch sử (giáp bến đò Piềng Mướp, huyện Quan Hoá).
Đầu năm 1952, tình hình chiến sự hai nước trên đà phát triển và thời cơ thuận lợi. Đoàn vũ trang công tác mặt trận Bắc bộ cùng một số đơn vị khác được tổ chức và biên chế thành các Đoàn cán sự phân khu A-B-C... Đoàn cán sự phân khu A ở Thượng Lào trực thuộc Bộ tư lệnh Tình nguyện quân Việt Nam ở Lào do Tư lệnh trưởng Tạ Xuân Thu chỉ huy. Sau thắng lợi lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ, lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam và quân đội Pathét Lào thực hiện tập kết theo địa điểm quy định của Hội nghị Genève.
Năm 1955, Đoàn cán sự Phân khu A-Thượng Lào cùng một số đơn vị trung, hạ Lào, phiên chế thành các Trung đoàn 81-82-83, sư đoàn 335, quân khu Tây bắc do Quân khu trưởng thiếu tướng Bằng Giang phụ trách. Thời kỳ này là thời kỳ luyện quân, tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật chiến đấu theo tình hình và nhiệm vụ mới.
Nói về chiến tích của Trung đoàn 52 Tây Tiến có nhiều. Lúc đầu Trung đoàn là đơn vị nòng cốt của bộ đội Tây Tiến, Chiến khu 2, toả đi các nơi và bổ sung cho nhiều đơn vị từ bán vũ trang đến các binh chủng chủ lực hoạt động khắp chiến trường miền Tây đánh thắng kẻ thù chung giành độc lập tự do cho hai dân tộc anh em.
Ngày nay các Cựu chiến binh Trung đoàn 52 Tây Tiến, phần đông đã thuộc lớp người cao tuổi, mỗi lần gặp nhau, mặc dù mái tóc đã pha sương, bạc trắng... nhưng tâm hồn vẫn như xưa, vẫn trẻ, vẫn tưởng như mình còn đang là anh lính Tây Tiến, anh lính vũ trang Miền Tây... nay trở lại với đời thường ôn lại những kỷ niệm đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ, một thời hào hùng vì nước, vì dân, vì tình đoàn kết quốc tế vô sản trong sáng./.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Nhiệm vụ của đội VTTT B được hoàn thành
bằng cả ý chí và trí tuệ của Đội


Nguyễn Văn Chí


Tiếp tục đọc “Tây Tiến 50 năm nhìn lại”. Tôi có dịp suy nghĩ sâu hơn chặng đường đã đi; qua đó càng cảm nhận được niềm tự hào rất xứng đáng và thấy phải viết tiếp những gì trước đây còn chưa đủ. Đó chính là tên đề cho đầu bài viết này.

Đầu năm 1948, khi giặc Pháp đã hoàn thành các điểm đánh chiếm tỉnh Hoà Bình thì tổ chức và nhiệm vụ chiến đấu lâu dài của Trung đoàn Tây Tiến cũng thay đổi. Nhiều đại đội độc lập và đội VTTT phân tán hoạt động đi sâu vào vùng sau lưng địch vận động nhân dân các dân tộc Hoà Bình củng cố phát triển cơ sở kháng chiến, phát động chiến tranh du kích rộng khắp. Đó là kế sách của chiến tranh nhân dân đánh lâu dài và toàn diện để chuyển yếu thành mạnh và chiến thắng địch. Trong đội hình chiến đấu của Trung đoàn có các đội VTTT A, B, C phối hợp hoạt động với các đại đội độc lập của Trung đoàn.

Đội VTTT B thực hiện nhiệm vụ đó, trên đường 12 từ xã Ngọc Mỹ huyện Lạc Sơn đến tận thị xã Hoà Bình, dài khoảng 40 km. Trước hết đơn vị phải có địa bàn đứng chân ngay trong vùng địch kiểm soát từ mọi phía. Tiếp đó là phải làm thế nào để đến được thị xã Hoà Bình thực hiện nhiệm vụ, mà trên đoạn đường đó, có xã Cao Phong là khu vực sào huyệt, quê hương của Đinh Công Tuân, tên lang phản động đầu sỏ tay sai của giặc Pháp lúc đó, với tất cả hệ thống phòng vệ cẩn mật nhất.

Địa bàn đứng chân ban đầu cũng như chỗ đứng chân sau đó, không những phải dễ tiếp cận thực hiện được các nhiệm vụ mở rộng cơ sở và đánh địch; tiến lui đều thuận, nhưng quan trọng hơn là phải có một điểm giống như hạt nhân của địa bàn cơ sở. Thông thường đây là địa bàn giáp ranh giữa các xã, các huyện và lại được nhân dân che chở, địch không thể dựa vào bọn phản động tay sai phát hiện ra, khi chúng đánh phá cơ sở của ta, thậm chí đánh phá nhiều lần mà địa bàn đó vẫn an toàn. Cố nhiên để có được hạt nhân như vậy phải dầy công xây dựng cơ sở, đề cao công tác bí mật, thẩm tra, tuyển lựa, bồi dưỡng nhất là sau lần đánh phá, bắt bớ để các tổ chức cách mạng được củng cố, phát triển, tiếp tục hoạt động có hiệu quả. ý chí và trí tuệ, nghị lực cần có cho những việc làm để cơ sở đứng vững và phát triển, cũng chẳng khác gì cần cho trận đánh thắng của một đơn vị chiến đấu, chỉ khác là trận đánh thắng được thể hiện chủ yếu qua các con số thất bại của địch trong việc ngăn chặn phá hoại cơ sở của ta, phá hoại lòng tin của nhân dân các dân tộc địa phương vào kháng chiến.

Sự phát triển cơ sở cách mạng chỉ đến địa bàn xã Cao Phong thì bị chững lại. Địch ra sức ngăn chặn; ta tìm nhiều cách thâm nhập, nhưng không kết quả mặc dù Trung đoàn Tây Tiến có tổ chức thêm đội VTTT C để thâm nhập vào Cao Phong theo hướng đông bắc từ xã Tú Sơn và các làng Thiều, làng Thá. Nhưng cả hai hướng đều bị chững lại, không vào được địa bàn hiểm yếu này, trong khi vùng xung quanh thị xã Hoà Bình ở phía trước không xa mà hơn 2 năm hãy còn đó.

Trước tình hình ấy mà cơ sở cũ đã đứng vững nên đội VTTT B đã tìm đường theo hướng Tây Bắc vòng qua Cao Phong đến xã Thung Nai và Bến Bưởi thuộc huyện Kỳ Sơn. Từ đây xây dựng cơ sở cách mạng theo hai trục, vừa theo trục đường số 6, vừa theo trục các xóm làng ven hữu ngạn Sông Đà để đến được các xóm làng ngay nách thị xã Hoà Bình, trong vòng 6 tháng. Hoạt động của đội trên cả hai trục đều thuận lợi và phát triển nhanh. Những nơi đây nhân dân các dân tộc sẵn sàng nghe theo cách mạng, tổ chức ra các đơn vị du kích, UBKC...mà địch không hề có hành động đối phó nào. Tuy thế đội VTTT B vẫn có kế hoạch đối phó với những đánh phá của chúng đối với cơ sở mới được mở rộng. Tình hình thuận lợi ấy tiếp tục phát triển đến tháng 11-1950 giặc Pháp và Đinh Công Tuân cùng bè lũ tay sai rút chạy, cả tỉnh Hoà Bình và xã Cao Phong được giải phóng, nhiệm vụ các đội VTTT cũng kết thúc.

Ngày nay nghe lại những việc làm ứng xử đó ta thấy hầu như đương nhiên là phải thế. Nhưng cách đây hơn nửa thế kỷ đối với những chàng trai lúc ấy mới 20-21 tuổi đời chưa qua trường lớp huấn luyện cơ bản nào, lại hoạt động độc lập xa cơ quan chỉ huy trung đoàn gần trăm km trong vùng rừng thẳm núi cao, dân thưa thớt bị địch kiểm soát mọi phía thật không đơn giản. Cả năm không hề có tin, không có ai cấp trên để hỏi và được chỉ bảo về những vấn đề chính trị, quân sự đầy nan giải như trên. Chỉ còn dựa vào niềm tin ở lòng dân và ý chí quyết hoàn thành nhiệm vụ của toàn đơn vị, người chỉ huy mới chọn được giải pháp đúng làm quyết tâm hành động, chính quyết tâm đúng đó đã đưa đội VTTT B vượt qua mọi trở ngại, đến đúng đích, gây dựng được cơ sở cách mạng vững vàng vào đầu năm 1950 hoàn thành nhiệm vụ được giao trong bối cảnh tự mình phải lo liệu. Đó chính là ý chí cách mạng tiến công và trí tuệ vốn là truyền thống của Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh mà lớp trẻ chúng tôi được thừa kế./.










http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Dự hội luyện quân: Hội núi sông


Trần Kỳ


Sau trận đánh Mường Bi tiểu đoàn 150 lui quân về Chợ Cầu, Nho Quan, Châu Sơn... củng cố huấn luyện.
Đại đội 121 có ba trung đội bạch binh, một trung đội trợ chiến. Đại đội có khoảng ba phần tư là súng, còn lại là kiếm, lựu đạn. Đã là bạch binh, thì giữ súng cũng được trang bị kiếm. Trung đội trợ chiến có hai khẩu trung liên Chiêu Hoà (Nhật), một khẩu min-nớp-xăng-keng (1915) và một cối 60 ly.
Trung đội trưởng trung đội 1 là Hồng Hương. Khi Thanh Sơn (sau này có thời gian là phó Tư lệnh quân khu Đông bắc) về thay, thì Hồng Hương lên làm quản trị trưởng đại đội, trung đội trưởng trung đội 2 là Thanh Tùng (Tùng cóc), trung đội trưởng trung đội 3 là Văn Thắng, trung đội phó Tạ Đình Chí. Trung đội trưởng trung đội trợ chiến là anh Huy, phó anh Chứ. Tôi là đội viên trong trung đội 3, tiểu đội Trường Vân và Nguyên Uyên.
Đại đội chúng tôi đang luyện tập đánh quân dù, thì được lệnh bổ sung quân số, nhận nhiệm vụ mới.
Đại đội trưởng Trịnh Xuân, chính trị viên Nguyễn Hoà (sau này là trung tướng Tư lệnh quân đoàn 1) lên trung đoàn nhận nhiệm vụ. Hồng Hương ở nhà thay mặt ban chỉ huy điều chỉnh các trung đội, rồi lên đường.
Đại đội trưởng, chính trị viên đón đơn vị ở cầu ỷ Na. Tới Xích Thổ, bộ đội dừng lại, ban chỉ huy trung đoàn đã có mặt ở đó. Trung đoàn trưởng An Giao trao nhiệm vụ cho toàn đơn vị. Anh nói đại ý:
- Đại đội 121 thay mặt cho trung đoàn đi dự hội thao luyện quân lập công toàn Liên khu. Đây là trách nhiệm và vinh dự. Đơn vị phải cố gắng đem thành tích về cho trung đoàn. Làm thế nào để toàn Liên khu biết Tây Tiến tuy gian khổ, vất vả, trang bị còn kém, nhưng vẫn oai hùng, đánh thắng giặc, làm quân thù khiếp đảm.
Trưởng ban quân nhu trung đoàn tiếp lời trung đoàn trưởng nói:
- Trung đoàn không có gì bồi dưỡng cho anh em. Tiêu chuẩn ăn như thường nhật cấp phát thống nhất mỗi người một bộ quần áo bà ba đen lấy của tiêu chuẩn cán bộ trung đội. Hội thao xong giặt sạch, trả lại cho trung đoàn để cấp phát trở lại. Mọi người nhìn nhau ngao ngán, riêng quản trị trưởng Hồng Hương cười hề hề (anh có kiểu cười rất khác người)
- Vậy là chết với tớ rồi!
Đại đội trưởng Trịnh Xuân quắc mắt hỏi Hồng Hương
- Thế là thế nào?
- Anh yên tâm, thống nhất thì cởi trần, mặc quần đùi cũng vẫn đẹp.
Nghỉ ở Xích Thổ hai ngày, lĩnh quân trang, chuẩn bị. Quản trị trưởng ra lệnh
- Quần áo chỉ còn một bộ cho vào chăn quấn tròn khoác qua vai. Trung đội không đủ chăn cho mọi người, thì tập trung cho một hoặc hai tiểu đội mang cho thống nhất. Mài kiếm thật sắc, lưỡi dao bào (nếu có) vốn đầu đã trọc, nay phải cạo thật nhẵn-Anh giải thích-Đây là đặc trưng của quân Tây Tiến-Vậy là cả đại đội đè nhau ra cạo, máu me be bét, chảy cả xuống mặt.
Cái đầu trọc đặc trưng của quân Tây Tiến vốn xuất phát từ câu chuyện rất thực tế.
ở rừng quần áo nhất bộ, muốn giặt quần áo phải ngâm mình dưới suối, hong quần áo dưới nắng, quần áo khô mới lên mặc. Xà phòng không có, rận chấy chùm sung, bộ đội lấy kéo, lấy kiếm cạo trọc cho gọn. Một lần, anh em hong quần áo, ngâm mình dưới suối thì Tây đến. Kẻ địch bất ngờ nhào xuống định bắt sống anh em ta. Tây ôm được chiến sĩ trong tay, người trần truồng, Tây không giữ được. Quân địch tóm lấy tóc thì cũng trơn như mỡ. Vậy là, quân ta tồng ngồng chạy thoát vào rừng. Chuyện được truyền trong cả trung đoàn. Từ đó, từ Trung đoàn trưởng đến đội viên đầu trọc long lóc và bỗng nhiên, cái đầu trọc trở thành biểu trưng của trung đoàn. Vì vậy, trong trường thi của nhà thơ Huyền Kiêu trong đợt luyện quân, lập công toàn Liên khu năm đó có câu
... Rừng miền Tây có đoàn vệ trọc
Bao năm dòng khó nhọc gian lao...
Sau hai ngày chuẩn bị, đại đội lên đường. Tới nơi trung đoàn bộ đóng quân, thì Như Trang xuất hiện. Vết thương còn đau, chân anh đi tập tễnh. Anh chuẩn bị đi nhận nhiệm vụ tiểu đoàn phó tiểu đoàn 150. Nghe tin đơn vị về dự đại hội luyện quân lập công toàn Liên khu, anh đi theo với tư cách là khách của đơn vị.
Qua sông Hoàng Long, Chi Nê, tới đỉnh dốc Bòng bong, một vùng đồi núi, ruộng đồng, sông nước hiện ra. Mấy năm làm bạn với núi rừng, ra khỏi nhà là đèo, là dốc. Mũi chạm vào núi, tay đụng phải lá. Hôm nay được nhìn thấy khoảng bát ngát, mênh mông mút mắt, ai cũng xúc động, đứng lặng.
Hơn nửa tiếng sau, đại đội thu đủ quân số, đổ dốc tới Khả Phong, đại đội lại rồng rắn hai, ba ki lô mét. Một trận mưa như trút, quần áo ướt đẫm. May quá, tới bờ sông Đáy trời nắng hửng. Từng tiểu đội vượt sông bằng chiếc đò gỗ.
Tập kết bên bờ sông Hùng, phó quản trị trưởng xếp sắp đội hình, hô bộ đội đi đều qua phố Hồng Phú.
Bà con hai bên dãy phố ngạc nhiên thấy một đội quân áo quần hổ lốn, mũ mãng lộn xộn: nón, mũ Nhật, mũ Ta-bo rộng vành, mũ lá, mũ Sanh-ga-po, bê rê... người bủng beo, có anh bụng báng to đùng, mắt nhìn thẳng, tay vung chân bước rầm rập trên đường phố.
Hết dãy phố hết hơi, đội hình đơn vị lại rồng rắn kéo dài. Gần tới Sở Kiện có tiền trạm đón. Các đơn vị tới trước lều bạt dựng san sát ở bãi tập kết. Những dẫy nhà bạt ngang hàng thẳng lối, cờ xí bay phấp phới.
Đoàn Thăng Long biểu trưng trên nóc cổng chào là tháp rùa và anh Vệ nghỉ. Đoàn Trung Dũng là một quầng lửa và đoàn tàu bị lật. Đoàn Tất Thắng là thanh kiếm, khẩu súng bắt chéo với ngọn lửa bốc cao. Đoàn 66 với anh bộ đội cầm mác xung phong...
Đoàn Tây Tiến được đóng quân trong nhà dân. Đại đội tập hợp ở sân nhà thờ, rồi phân tán về các nhà. Các mẹ, các chị đứng cạnh đường nhìn anh em thương cảm.
- Chúng nó như cọp, như beo. Các con ốm yếu, xanh xao, gầy còm, bủng beo thế này địch sao nổi.
Tiểu đội tôi đóng quân trong căn nhà năm gian khá rộng. Cửa được tháo ra làm giường. 5 giờ sáng, tiếng kèn đồng lưng núi đã vang lên. Chúng tôi được ăn hai bát cơm vừng, món ăn quá sang trọng lúc đó. Cụ Bài tổ trưởng hoả thực tuyên bố "Bồi dưỡng sức quân"
Ngoài bãi tập, cờ xí rợp trời, khẩu hiệu căng la liệt. Trên đỉnh mấy ngọn núi sừng sững mấy khẩu 12,7, mấy khẩu ca-nông vanh (20mm) các xạ thủ ở vị trí sẵn sàng nhả đạn. Những băng đạn vàng choé lấp loá ánh nắng.
Gần ngày khai mạc hai chiếc cổ ngỗng (King cobra) vừa chạm vòng hoả lực lập tức mấy khẩu cao xạ, trọng liên nổ súng. Chúng cắp đít cút thẳng. Từ đó không có chiếc máy bay nào lai vãng tới nữa.
Chủ trì cuộc hội thao là Thiếu tướng Liên khu trưởng Hoàng Sâm.
Có điều lạ, gần 10 ngày hội thao rầm rộ sôi nổi, thách thức như vậy mà ngoài hai chiếc máy bay gần hôm diễn tập, kẻ địch không hề có phản ứng gì.
Nơi đây hội tụ đủ mặt anh tài.
Về thơ văn, kịch có Huyền Kiêu, Lê Đại Thanh, Lê Văn Trương, Trần Kim Lung, Hoàng Cầm, Ngọc Giao...
Vẽ có Quang Thọ, Văn Đa...
Nhạc có Canh Thân, Huy Du, Tạ Tấn, Tô Vũ, Việt Lang...
Mở đầu hội thao là tháo lắp các loại súng. Thấy những khẩu La-mi Braoninh, đại liên Hôt-kit, trọng liên 12 li 7, ca-nông 20 mm... các chiến sĩ Tây Tiến đã phát ngốt. Tiếp đó, được nhìn thấy cách tháo lắp, rồi bịt mắt tháo lắp. Tiếng kim khí, tiếng lò xo xoành... xoạch... chỉ ba phút, hàng chục bộ phận được tháo rời, sắp xếp trật tự. Năm phút các bộ phận lại về nguyên vị trí. Anh em Tây Tiến hết sức khâm phục, lo lắng.
Ngày thứ hai là ngày biểu diễn võ tự chọn. Đại đội trưởng Trịnh Xuân hỏi quản trị trưởng.
- Thế nào cậu, khéo ta đội sổ mất?
Hồng Hương mỉm cười
- Đừng lo anh ạ, ta còn ối võ.
Anh lôi bộ đội ra sân Hồng Phú, nơi sẽ diễn ra buổi thao diễn ngày mai
Hôm sau đại biểu đoàn Trung Dũng biểu diễn võ dân tộc, đoàn Tất Thắng vật tự do, lò vật Nam Định, đoàn Thăng Long võ Việt Nam. Đoàn 66 võ giu-đô tiếng huỳnh huỵch... hự... hự vang lên, sôi động.
Đến đoàn Tây Tiến ra quân
ấn tượng đầu tiên với mọi người là một đội quân đội hình vuông vức, đầu cạo nhẵn bóng, quần áo bà ba đen đồng phục, kiếm khoác chéo sau lưng, súng xách tay, mặt ngẩng cao bước đều ra giữa bãi tập.
Quản trị trưởng cao giọng
-Thành đội hình thao diễn kiếm thuật, dãn cách ngang dọc, trên dưới ba bước, tản ra.
Rập... rập, đại đội trưởng, chính trị viên dẫn đầu hàng quân hiên ngang, oai hùng.
Đội hình triển khai xong, Hồng Hương lại hô
- Giá súng sau đó tuốt kiếm. Những lưỡi kiếm cùng lúc vung lên, loé sáng. Cả thao trường hàng ngàn con người đang im phăng phắc bỗng sôi động, trầm trồ.
- Đường gươm Tây Tiến! Thao diễn bắt đầu! Một! Hai! Ba! Bốn! ...
Những lưỡi kiếm bắt ánh nắng toé lửa. Bài kiếm "Mãn Đường Hồng" như những con rắn bạc xoắn lấy từng chiến sĩ. Khi dồn dập như mưa sa, chớp giật, khi khoan nhặt như gió thoảng mây bay. Đường gươm Tây Tiến quả có sức rung cảm mãnh liệt toàn đấu trường. Gươm thu lại bái tổ, thì tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay oà lên như sấm.
Thiếu tướng Liên khu trưởng cười rung cả vai.
Như Trang bỗng xuất hiện với bộ ka-ki ăng lê bóng nhoáng, cái đầu trọc nhẵn bóng, khẩu côn-bát và con dao găm sệ hông bước ra giữa đấu trường. Anh tung khẩu súng Mút-cơ-tông lên cao, đón lấy, sỏ ngón tay trỏ vào vòng cò. Khẩu súng trong tay anh quay tít như chong chóng. Khẩu súng chong chóng lúc lên cao, lúc xuống thấp, rít gió vù vù, quay đủ bốn phía. Khi khẩu súng được thu về, và,... pắp, tiếng vỗ báng súng chào ban giám khảo thì tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô lại nổi lên rào rào.
Đoàn trọng tài chấm điểm ưu cho đoàn Tây Tiến vì ba lẽ.
- Dân tộc, hùng tráng, hấp dẫn và rất đẹp.
- Đậm đà tính thực tế chiến đấu.
- Tập thể toàn đơn vị.
Ngày hội thao thứ ba là vận động 7 km có vũ trang, xử lý các tình huống chiến đấu.
Đại đội trưởng Trịnh Xuân nêu vấn đề:
- Bộ đội các đơn vị to khoẻ, trang bị mạnh, giầy xăng đá cướp được của Tây. Anh em ta sao?
- Chưa chắc ai hơn ai, các đơn vị bạn có ưu thế khoẻ mạnh, nhưng trang bị nặng. Anh em mình gọn nhẹ. Ăn nhau cái trí anh ạ-Hồng Hương cười nói. Anh lại lôi anh em ra bãi tập. Sau khi thống nhất động tác, anh ra lệnh:
- Tất cả những ai có giầy xăng đá cướp được của Tây (chỉ có vài cán bộ trung đội trở lên có) bỏ lại. Chỉ được đi giầy mõm trâu (của Nhật), dép cao su con hổ, dép xăng đan, giầy ba-ta, và... chân đất. Yếu chạy phía trước, khoẻ chạy sau cấm không được vượt. Trong từng tiểu đội, trung đội hỗ trợ lẫn nhau.
Đi chân đất vốn là truyền thống của quân Tây Tiến. Ngoài cán bộ cấp trung đội trở lên, cấp tiểu đội, đội viên hầu hết là đi chân đất. Lớp da dưới chân tôi qua những năm tháng leo đèo lội suối, dẫm đạp lên những nhũ đá tai mèo, đá dăm đường 12 đã thành một lớp sừng dầy, gai đâm không thấu.
Cuộc thi tài thật sôi động. Ban giám khảo căn cứ vào kết quả của toàn đơn vị tới đích nhanh, đủ trang bị, xử lý tình huống chiến đấu hợp lý, có hiệu quả. Đường chạy là đoạn đường Phủ Lý, Lý Nhân. Con đường lổn nhổn đá dăm gần như đường 12. Giãn cách mỗi đơn vị 30 phút.
Các đoàn chạy trước, đoàn Tây Tiến chạy cuối cùng. Quả đúng như Hồng Hương dự đoán. Các đoàn xuất phát với tiếng giầy đinh rầm rập, hùng dũng, đại liên, trọng liên, súng cối trên vai, trên lưng. Cây số thứ nhất có vài anh đeo giầy lên cổ đi cà nhắc. Cây số thứ hai, thứ ba, hàng chục anh mồ hôi nhễ nhại, mũ ta-bo, áo vét tông Ca-na-điêng quăng xuống đất, ngồi xoa bóp, nhăn nhó. Giầy xăng đá lột từng mảng da nơi gót chân.
Đoàn Tây Tiến đại đội trưởng Trịnh Xuân dẫn đầu, chính trị viên chạy cuối, quản trị trưởng chạy giữa. Trang bị nhẹ cùng gót chân vạn dặm leo mòn đá tai mèo. Người khoẻ giúp người yếu, toàn đơn vị một khối chạy băng băng.
Tôi là người ít tuổi nhất đơn vị, được các anh lớn trong đơn vị cưng chiều. Chính trị viên Lê Phú còn gãi lưng cho tôi ngủ. Về trung đội chiến đấu, được các anh lớn dìu dắt, tuy trưởng thành nhưng tham gia cuộc chạy ma-ra-tông này quả thật vượt sức của tôi. Tiểu đội phó Nguyễn Uyên theo sát, anh giằng khẩu súng Nga quá đầu động viên tôi cố gắng theo kịp đơn vị. Chúng tôi về cuối cùng, chênh lệch với người về đầu 5 phút.
Tới bãi tập Hồng Phú tưởng thoát khỏi xử lý tình huống chiến đấu. Ai ngờ, ban tổ chức giả định-Máy bay địch lượn vòng, chuẩn bị bổ nhào đánh vào đội hình đơn vị.
May quá, tình huống đã được tập chiều hôm qua. Đại đội trưởng ra lệnh cho Hồng Hương chỉ huy đơn vị. Hồng Hương hô giật giọng.
- Trung đội hàng dọc, đại đội hàng ngang, cự li... gián cách... động tác bắn máy bay, nằm xuống.
Như một cỗ máy chạy rào rào, chiến sĩ trong trung đội nằm ngửa, gỡ nạng đã chuẩn bị, dựa lưng vào ba lô, chăn quấn vai, chân vắt chữ ngũ, súng đặt vào nạng và ngón chân, tư thế bắn máy bay.
- Máy bay địch bổ nhào bên phải. Như những con tằm hướng về phía có mùi lá dâu, toàn đơn vị rào rào chuyển động
- Máy bay địch bổ nhào bên trái,...
Thu quân, Thiếu tướng Liên khu trưởng rảo bước bắt tay đại đội trưởng, chính trị viên và quản trị trưởng. Ông biểu dương đoàn Tây Tiến ngay tại chỗ.
Đơn vị bạn 8, 9 giờ tối có anh chưa về tới đích. Anh em đơn vị bạn nói vui bọn mình đuổi Tây nên chạy chậm hơn...
Mấy ngày tiếp theo, bộ đội được nghỉ chuẩn bị liên hoan văn nghệ. Ngày đó chưa có loa phóng thanh, ngoài trời diện rộng nên theo thông lệ là kịch.
Các đơn vị chuẩn bị từ mấy tháng trước. Đoàn Thăng Long vở kịch thơ "Quán Thăng Long". Đoàn Tất Thắng vở "Hậu-Địch". Đoàn Trung Dũng vở "Du kích đồng bằng". Đoàn 66 vở "Bến Bình than". Có đoàn đem theo mũ mãng, cân đai, ngai vàng, kiếm bạc. Đoàn 66 đưa hẳn một chiếc thuyền đinh làm thuyền rồng lên sân khấu. Đoàn Thăng Long làm một chiếc quán khang trang thời cổ...
Liên khu trưởng Hoàng Sâm hỏi đến đoàn Tây Tiến, không có gì. Ông ra lệnh cho ban tổ chức làm thế nào thì làm, Tây Tiến phải có tiết mục dự thi.
Trưởng ban tổ chức hội diễn Văn Phác, các văn nghệ sĩ nháo nhào. Thời gian quá gấp. Nhà thơ Huyền Kiêu đề xuất.
- Gặp Hồng Hương, tay này có rất nhiều trò, chắc chắn cậu ta có nhiều ý kiến hay. Tìm Hồng Hương ở đâu? Đang là ngày nghỉ, anh em tan tác mỗi người một nơi.
Hoài Giao vỗ tay. Tay này rất "luyến" các em. Ra quán cà phê Biên Thuỳ may ra thì gặp.
Quả như rằng, Hồng Hương đang nhắm nhi li cà phê và vui vẻ với hai em ở quán Biên Thuỳ ngoài Hồng Phú.
Ngồi quanh bàn cà phê, một ý kiến đề xuất: "Hay chơi vở "Về Hồ", vở tủ của đại đội 121"
Hồng Hương lắc đầu: "Không được, vở đó không hay và cũng không được thực tế". Ngẫm nghĩ một chút, Hồng Hương rít hơi thuốc lá Cô-táp, lừng khừng: "Gấp quá, chỉ còn hai ngày nữa là đến lượt Tây Tiến. Làm kịch bản không kịp. Kịch cương mồm thôi. Nhất dạ sinh bá kế, các cậu để mình nghĩ một đêm, sáng mai sẽ trả lời"
Sáng tinh mơ hôm sau, Hồng Hương tóm cổ trung đội trưởng Thanh Tùng "Tùng cóc", tiểu đội trưởng Phượng, tôi, ông Bài tổ trưởng hoả thực và hai anh nữa tập theo lời cương của anh. Vở kịch cũng đơn giản, dễ nhớ nên cũng chóng nhập vai.
Gần trưa đoàn văn nghệ sĩ sốt ruột kéo tới. Chúng tôi tập đã hòm hòm. Hồng Hương bắt chúng tôi tập diễn như anh đã dựng. Ban tổ chức và mấy văn nghệ sĩ cười bò khen: "Nội dung tốt, chấp nhận được"
Thanh Tùng vai anh thanh niên dân tộc Mường gánh một gánh măng xuống chợ. Tiểu đội trưởng Phượng vai anh hàng nước mắm. Tôi cô hàng xén khăn mỏ quạ, yếm thắm, quần lĩnh đen. Ông Bài hoả thực đi mua thức ăn cho bộ đội. Mấy anh nữa làm người bán hàng và đi chợ. Hồng Hương tạm thời làm cô Mái gánh gạo, gà đi chợ. Chọn ai là cô Mái bán gạo, gà là rất khó. Hoài Giao chỉ vào ngực Hồng Hương: "Cậu chứ còn ai nữa". Hồng Hương giẫy như bị kiến lửa đốt "Da dẻ tớ đen đủi, đóng cô Mái có mà ma nó xem". Đừng lo "bọn mình sẽ ma kiê cho cậu. Cậu sẽ thành cô Mái xinh đẹp, ối người mê".
Mở màn vở diễn là cảnh chợ. Một cái cổng chợ khá to có ba chữ "Chợ Hồng Phú", bên cạnh là mấy áp phích "Thực hiện ba không là yêu nước", "Bảo nhau đi học chữ i, chữ tờ"...
Cô hàng xén ra đầu tiên, lấy trong gánh ra mấy chiếc bút máy oa-rơ-vơ, vài quyển vở, mấy chiếc bật lửa, vài hộp díp đánh răng... Tiếp đến là anh thanh niên dân tộc Mường đặt gánh măng, mộc nhĩ xuống lấy nón quạt phe phẩy. Anh hàng nước mắm gánh hai thùng nước mắm ra ngồi đếm tiền, rồi lấy phễu, duộc ra đong đong, đếm đếm. Người đi mua là ông Bài và mấy anh nữa.
Ông Bài hỏi mua nước mắm. Anh hàng nước mắm hỏi
- Cho xem tiền nào? Ôi! rách quá không tiêu được. Đồng này được, nhưng lại là trâu xanh. Trâu trắng thì bán. Trâu xanh, tiền rách thì về.
Ông Bài quay sang hỏi anh thanh niên dân tộc Mường mua mấy cân măng cho bộ đội ăn. Anh thanh niên người dân tộc cầm nắm tiền trong tay trả lại:
- Tiền rách, trâu xanh tao không bán đâu mà. Trâu trắng, tiền lành tao bán cả gánh cho bộ đội mà. Eng ún bộ đội bằng lòng vậy nhé!
Ông Bài đang lúng túng thì cô Mái từ dưới đất gánh một gánh gà, gạo bước lên. Cô bước qua dòng suối chảy, ngơ ngác trước sân khấu. Khán giả ồn lên.
- Ai đóng mà xinh thế, xinh quá, hê.
Sự ngơ ngác rất tự nhiên của cô Mái giữa chốn đông người làm mọi người thích thú vỗ tay tán thưởng. Ông Bài trỏ bu gà.
- Bán cho eng ún bộ đội không, ún ơi?
- Bán chứ, bán mà, đi chợ được giá là bán thôi. Bộ đội mua đi.
- Tiền trâu xanh, tiền rách có lấy không?
Trâu xanh, trâu trắng, tiền rách là tiền của chính phủ cả mà, xem nào, có ảnh Bác Hồ không?-ảnh Bác Hồ đây mà. Bán cho eng ún bộ đội ăn no, đánh thắng giặc Tây thì trâu xanh cũng bán, trâu trắng cũng bán, tiền rách cũng bán mà, phải không bà con, các eng ún?. Mọi người trên sân khấu đều gật đầu tán thưởng...
Vở diễn mới tới đây, Thiếu tướng Liên khu trưởng mỉm cười đứng dậy, tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô cồn lên như vỡ chợ.
Kẻ địch bao vây, phá hoại kinh tế vùng kháng chiến sinh ra vụ trâu trắng, trâu xanh, tiền rách, chia rẽ bộ đội và nhân dân, bộ đội có tiền không mua được lương thực, thực phẩm. Vở kịch "Tiền rách, trâu xanh" đã phản ánh đúng thực chất, mang tính thời sự. Vở "Tiền rách, trâu xanh" của Tây Tiến tất nhiên được giải nhất.

Thay lời kết
Nửa thế kỷ đã qua. Nhớ lại và ghi chép của một người chưa đủ nói lên sự kiện hào hùng, lãng mạn, đầy khí phách của quân đội ta trong những ngày gian khổ, thiếu thốn mà lạc quan đó. Nhớ lại và ghi chép muốn gợi lại một số hình ảnh của đoàn vận động viên Tây Tiến trong hội thao "Luyện quân lập công" toàn Liên khu và lấy mấy chữ trong bài thơ dài của nhà thơ Huyền Kiêu ngày đó
... Các đồng chí từ phương xa nào lại
Nghe hiệu kèn về Hội núi sông đây...
làm tiêu đề cho bài viết. Rất biết ơn đồng chí Hồng Hương đã gây men, khuyến khích và sửa chữa những thiếu sót trong "Nhớ lại và ghi chép"

Xuân 1998





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
«« « 1 2 » »»