Dự hội luyện quân: Hội núi sông
Trần Kỳ
Sau trận đánh Mường Bi tiểu đoàn 150 lui quân về Chợ Cầu, Nho Quan, Châu Sơn... củng cố huấn luyện.
Đại đội 121 có ba trung đội bạch binh, một trung đội trợ chiến. Đại đội có khoảng ba phần tư là súng, còn lại là kiếm, lựu đạn. Đã là bạch binh, thì giữ súng cũng được trang bị kiếm. Trung đội trợ chiến có hai khẩu trung liên Chiêu Hoà (Nhật), một khẩu min-nớp-xăng-keng (1915) và một cối 60 ly.
Trung đội trưởng trung đội 1 là Hồng Hương. Khi Thanh Sơn (sau này có thời gian là phó Tư lệnh quân khu Đông bắc) về thay, thì Hồng Hương lên làm quản trị trưởng đại đội, trung đội trưởng trung đội 2 là Thanh Tùng (Tùng cóc), trung đội trưởng trung đội 3 là Văn Thắng, trung đội phó Tạ Đình Chí. Trung đội trưởng trung đội trợ chiến là anh Huy, phó anh Chứ. Tôi là đội viên trong trung đội 3, tiểu đội Trường Vân và Nguyên Uyên.
Đại đội chúng tôi đang luyện tập đánh quân dù, thì được lệnh bổ sung quân số, nhận nhiệm vụ mới.
Đại đội trưởng Trịnh Xuân, chính trị viên Nguyễn Hoà (sau này là trung tướng Tư lệnh quân đoàn 1) lên trung đoàn nhận nhiệm vụ. Hồng Hương ở nhà thay mặt ban chỉ huy điều chỉnh các trung đội, rồi lên đường.
Đại đội trưởng, chính trị viên đón đơn vị ở cầu ỷ Na. Tới Xích Thổ, bộ đội dừng lại, ban chỉ huy trung đoàn đã có mặt ở đó. Trung đoàn trưởng An Giao trao nhiệm vụ cho toàn đơn vị. Anh nói đại ý:
- Đại đội 121 thay mặt cho trung đoàn đi dự hội thao luyện quân lập công toàn Liên khu. Đây là trách nhiệm và vinh dự. Đơn vị phải cố gắng đem thành tích về cho trung đoàn. Làm thế nào để toàn Liên khu biết Tây Tiến tuy gian khổ, vất vả, trang bị còn kém, nhưng vẫn oai hùng, đánh thắng giặc, làm quân thù khiếp đảm.
Trưởng ban quân nhu trung đoàn tiếp lời trung đoàn trưởng nói:
- Trung đoàn không có gì bồi dưỡng cho anh em. Tiêu chuẩn ăn như thường nhật cấp phát thống nhất mỗi người một bộ quần áo bà ba đen lấy của tiêu chuẩn cán bộ trung đội. Hội thao xong giặt sạch, trả lại cho trung đoàn để cấp phát trở lại. Mọi người nhìn nhau ngao ngán, riêng quản trị trưởng Hồng Hương cười hề hề (anh có kiểu cười rất khác người)
- Vậy là chết với tớ rồi!
Đại đội trưởng Trịnh Xuân quắc mắt hỏi Hồng Hương
- Thế là thế nào?
- Anh yên tâm, thống nhất thì cởi trần, mặc quần đùi cũng vẫn đẹp.
Nghỉ ở Xích Thổ hai ngày, lĩnh quân trang, chuẩn bị. Quản trị trưởng ra lệnh
- Quần áo chỉ còn một bộ cho vào chăn quấn tròn khoác qua vai. Trung đội không đủ chăn cho mọi người, thì tập trung cho một hoặc hai tiểu đội mang cho thống nhất. Mài kiếm thật sắc, lưỡi dao bào (nếu có) vốn đầu đã trọc, nay phải cạo thật nhẵn-Anh giải thích-Đây là đặc trưng của quân Tây Tiến-Vậy là cả đại đội đè nhau ra cạo, máu me be bét, chảy cả xuống mặt.
Cái đầu trọc đặc trưng của quân Tây Tiến vốn xuất phát từ câu chuyện rất thực tế.
ở rừng quần áo nhất bộ, muốn giặt quần áo phải ngâm mình dưới suối, hong quần áo dưới nắng, quần áo khô mới lên mặc. Xà phòng không có, rận chấy chùm sung, bộ đội lấy kéo, lấy kiếm cạo trọc cho gọn. Một lần, anh em hong quần áo, ngâm mình dưới suối thì Tây đến. Kẻ địch bất ngờ nhào xuống định bắt sống anh em ta. Tây ôm được chiến sĩ trong tay, người trần truồng, Tây không giữ được. Quân địch tóm lấy tóc thì cũng trơn như mỡ. Vậy là, quân ta tồng ngồng chạy thoát vào rừng. Chuyện được truyền trong cả trung đoàn. Từ đó, từ Trung đoàn trưởng đến đội viên đầu trọc long lóc và bỗng nhiên, cái đầu trọc trở thành biểu trưng của trung đoàn. Vì vậy, trong trường thi của nhà thơ Huyền Kiêu trong đợt luyện quân, lập công toàn Liên khu năm đó có câu
... Rừng miền Tây có đoàn vệ trọc
Bao năm dòng khó nhọc gian lao...
Sau hai ngày chuẩn bị, đại đội lên đường. Tới nơi trung đoàn bộ đóng quân, thì Như Trang xuất hiện. Vết thương còn đau, chân anh đi tập tễnh. Anh chuẩn bị đi nhận nhiệm vụ tiểu đoàn phó tiểu đoàn 150. Nghe tin đơn vị về dự đại hội luyện quân lập công toàn Liên khu, anh đi theo với tư cách là khách của đơn vị.
Qua sông Hoàng Long, Chi Nê, tới đỉnh dốc Bòng bong, một vùng đồi núi, ruộng đồng, sông nước hiện ra. Mấy năm làm bạn với núi rừng, ra khỏi nhà là đèo, là dốc. Mũi chạm vào núi, tay đụng phải lá. Hôm nay được nhìn thấy khoảng bát ngát, mênh mông mút mắt, ai cũng xúc động, đứng lặng.
Hơn nửa tiếng sau, đại đội thu đủ quân số, đổ dốc tới Khả Phong, đại đội lại rồng rắn hai, ba ki lô mét. Một trận mưa như trút, quần áo ướt đẫm. May quá, tới bờ sông Đáy trời nắng hửng. Từng tiểu đội vượt sông bằng chiếc đò gỗ.
Tập kết bên bờ sông Hùng, phó quản trị trưởng xếp sắp đội hình, hô bộ đội đi đều qua phố Hồng Phú.
Bà con hai bên dãy phố ngạc nhiên thấy một đội quân áo quần hổ lốn, mũ mãng lộn xộn: nón, mũ Nhật, mũ Ta-bo rộng vành, mũ lá, mũ Sanh-ga-po, bê rê... người bủng beo, có anh bụng báng to đùng, mắt nhìn thẳng, tay vung chân bước rầm rập trên đường phố.
Hết dãy phố hết hơi, đội hình đơn vị lại rồng rắn kéo dài. Gần tới Sở Kiện có tiền trạm đón. Các đơn vị tới trước lều bạt dựng san sát ở bãi tập kết. Những dẫy nhà bạt ngang hàng thẳng lối, cờ xí bay phấp phới.
Đoàn Thăng Long biểu trưng trên nóc cổng chào là tháp rùa và anh Vệ nghỉ. Đoàn Trung Dũng là một quầng lửa và đoàn tàu bị lật. Đoàn Tất Thắng là thanh kiếm, khẩu súng bắt chéo với ngọn lửa bốc cao. Đoàn 66 với anh bộ đội cầm mác xung phong...
Đoàn Tây Tiến được đóng quân trong nhà dân. Đại đội tập hợp ở sân nhà thờ, rồi phân tán về các nhà. Các mẹ, các chị đứng cạnh đường nhìn anh em thương cảm.
- Chúng nó như cọp, như beo. Các con ốm yếu, xanh xao, gầy còm, bủng beo thế này địch sao nổi.
Tiểu đội tôi đóng quân trong căn nhà năm gian khá rộng. Cửa được tháo ra làm giường. 5 giờ sáng, tiếng kèn đồng lưng núi đã vang lên. Chúng tôi được ăn hai bát cơm vừng, món ăn quá sang trọng lúc đó. Cụ Bài tổ trưởng hoả thực tuyên bố "Bồi dưỡng sức quân"
Ngoài bãi tập, cờ xí rợp trời, khẩu hiệu căng la liệt. Trên đỉnh mấy ngọn núi sừng sững mấy khẩu 12,7, mấy khẩu ca-nông vanh (20mm) các xạ thủ ở vị trí sẵn sàng nhả đạn. Những băng đạn vàng choé lấp loá ánh nắng.
Gần ngày khai mạc hai chiếc cổ ngỗng (King cobra) vừa chạm vòng hoả lực lập tức mấy khẩu cao xạ, trọng liên nổ súng. Chúng cắp đít cút thẳng. Từ đó không có chiếc máy bay nào lai vãng tới nữa.
Chủ trì cuộc hội thao là Thiếu tướng Liên khu trưởng Hoàng Sâm.
Có điều lạ, gần 10 ngày hội thao rầm rộ sôi nổi, thách thức như vậy mà ngoài hai chiếc máy bay gần hôm diễn tập, kẻ địch không hề có phản ứng gì.
Nơi đây hội tụ đủ mặt anh tài.
Về thơ văn, kịch có Huyền Kiêu, Lê Đại Thanh, Lê Văn Trương, Trần Kim Lung, Hoàng Cầm, Ngọc Giao...
Vẽ có Quang Thọ, Văn Đa...
Nhạc có Canh Thân, Huy Du, Tạ Tấn, Tô Vũ, Việt Lang...
Mở đầu hội thao là tháo lắp các loại súng. Thấy những khẩu La-mi Braoninh, đại liên Hôt-kit, trọng liên 12 li 7, ca-nông 20 mm... các chiến sĩ Tây Tiến đã phát ngốt. Tiếp đó, được nhìn thấy cách tháo lắp, rồi bịt mắt tháo lắp. Tiếng kim khí, tiếng lò xo xoành... xoạch... chỉ ba phút, hàng chục bộ phận được tháo rời, sắp xếp trật tự. Năm phút các bộ phận lại về nguyên vị trí. Anh em Tây Tiến hết sức khâm phục, lo lắng.
Ngày thứ hai là ngày biểu diễn võ tự chọn. Đại đội trưởng Trịnh Xuân hỏi quản trị trưởng.
- Thế nào cậu, khéo ta đội sổ mất?
Hồng Hương mỉm cười
- Đừng lo anh ạ, ta còn ối võ.
Anh lôi bộ đội ra sân Hồng Phú, nơi sẽ diễn ra buổi thao diễn ngày mai
Hôm sau đại biểu đoàn Trung Dũng biểu diễn võ dân tộc, đoàn Tất Thắng vật tự do, lò vật Nam Định, đoàn Thăng Long võ Việt Nam. Đoàn 66 võ giu-đô tiếng huỳnh huỵch... hự... hự vang lên, sôi động.
Đến đoàn Tây Tiến ra quân
ấn tượng đầu tiên với mọi người là một đội quân đội hình vuông vức, đầu cạo nhẵn bóng, quần áo bà ba đen đồng phục, kiếm khoác chéo sau lưng, súng xách tay, mặt ngẩng cao bước đều ra giữa bãi tập.
Quản trị trưởng cao giọng
-Thành đội hình thao diễn kiếm thuật, dãn cách ngang dọc, trên dưới ba bước, tản ra.
Rập... rập, đại đội trưởng, chính trị viên dẫn đầu hàng quân hiên ngang, oai hùng.
Đội hình triển khai xong, Hồng Hương lại hô
- Giá súng sau đó tuốt kiếm. Những lưỡi kiếm cùng lúc vung lên, loé sáng. Cả thao trường hàng ngàn con người đang im phăng phắc bỗng sôi động, trầm trồ.
- Đường gươm Tây Tiến! Thao diễn bắt đầu! Một! Hai! Ba! Bốn! ...
Những lưỡi kiếm bắt ánh nắng toé lửa. Bài kiếm "Mãn Đường Hồng" như những con rắn bạc xoắn lấy từng chiến sĩ. Khi dồn dập như mưa sa, chớp giật, khi khoan nhặt như gió thoảng mây bay. Đường gươm Tây Tiến quả có sức rung cảm mãnh liệt toàn đấu trường. Gươm thu lại bái tổ, thì tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay oà lên như sấm.
Thiếu tướng Liên khu trưởng cười rung cả vai.
Như Trang bỗng xuất hiện với bộ ka-ki ăng lê bóng nhoáng, cái đầu trọc nhẵn bóng, khẩu côn-bát và con dao găm sệ hông bước ra giữa đấu trường. Anh tung khẩu súng Mút-cơ-tông lên cao, đón lấy, sỏ ngón tay trỏ vào vòng cò. Khẩu súng trong tay anh quay tít như chong chóng. Khẩu súng chong chóng lúc lên cao, lúc xuống thấp, rít gió vù vù, quay đủ bốn phía. Khi khẩu súng được thu về, và,... pắp, tiếng vỗ báng súng chào ban giám khảo thì tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô lại nổi lên rào rào.
Đoàn trọng tài chấm điểm ưu cho đoàn Tây Tiến vì ba lẽ.
- Dân tộc, hùng tráng, hấp dẫn và rất đẹp.
- Đậm đà tính thực tế chiến đấu.
- Tập thể toàn đơn vị.
Ngày hội thao thứ ba là vận động 7 km có vũ trang, xử lý các tình huống chiến đấu.
Đại đội trưởng Trịnh Xuân nêu vấn đề:
- Bộ đội các đơn vị to khoẻ, trang bị mạnh, giầy xăng đá cướp được của Tây. Anh em ta sao?
- Chưa chắc ai hơn ai, các đơn vị bạn có ưu thế khoẻ mạnh, nhưng trang bị nặng. Anh em mình gọn nhẹ. Ăn nhau cái trí anh ạ-Hồng Hương cười nói. Anh lại lôi anh em ra bãi tập. Sau khi thống nhất động tác, anh ra lệnh:
- Tất cả những ai có giầy xăng đá cướp được của Tây (chỉ có vài cán bộ trung đội trở lên có) bỏ lại. Chỉ được đi giầy mõm trâu (của Nhật), dép cao su con hổ, dép xăng đan, giầy ba-ta, và... chân đất. Yếu chạy phía trước, khoẻ chạy sau cấm không được vượt. Trong từng tiểu đội, trung đội hỗ trợ lẫn nhau.
Đi chân đất vốn là truyền thống của quân Tây Tiến. Ngoài cán bộ cấp trung đội trở lên, cấp tiểu đội, đội viên hầu hết là đi chân đất. Lớp da dưới chân tôi qua những năm tháng leo đèo lội suối, dẫm đạp lên những nhũ đá tai mèo, đá dăm đường 12 đã thành một lớp sừng dầy, gai đâm không thấu.
Cuộc thi tài thật sôi động. Ban giám khảo căn cứ vào kết quả của toàn đơn vị tới đích nhanh, đủ trang bị, xử lý tình huống chiến đấu hợp lý, có hiệu quả. Đường chạy là đoạn đường Phủ Lý, Lý Nhân. Con đường lổn nhổn đá dăm gần như đường 12. Giãn cách mỗi đơn vị 30 phút.
Các đoàn chạy trước, đoàn Tây Tiến chạy cuối cùng. Quả đúng như Hồng Hương dự đoán. Các đoàn xuất phát với tiếng giầy đinh rầm rập, hùng dũng, đại liên, trọng liên, súng cối trên vai, trên lưng. Cây số thứ nhất có vài anh đeo giầy lên cổ đi cà nhắc. Cây số thứ hai, thứ ba, hàng chục anh mồ hôi nhễ nhại, mũ ta-bo, áo vét tông Ca-na-điêng quăng xuống đất, ngồi xoa bóp, nhăn nhó. Giầy xăng đá lột từng mảng da nơi gót chân.
Đoàn Tây Tiến đại đội trưởng Trịnh Xuân dẫn đầu, chính trị viên chạy cuối, quản trị trưởng chạy giữa. Trang bị nhẹ cùng gót chân vạn dặm leo mòn đá tai mèo. Người khoẻ giúp người yếu, toàn đơn vị một khối chạy băng băng.
Tôi là người ít tuổi nhất đơn vị, được các anh lớn trong đơn vị cưng chiều. Chính trị viên Lê Phú còn gãi lưng cho tôi ngủ. Về trung đội chiến đấu, được các anh lớn dìu dắt, tuy trưởng thành nhưng tham gia cuộc chạy ma-ra-tông này quả thật vượt sức của tôi. Tiểu đội phó Nguyễn Uyên theo sát, anh giằng khẩu súng Nga quá đầu động viên tôi cố gắng theo kịp đơn vị. Chúng tôi về cuối cùng, chênh lệch với người về đầu 5 phút.
Tới bãi tập Hồng Phú tưởng thoát khỏi xử lý tình huống chiến đấu. Ai ngờ, ban tổ chức giả định-Máy bay địch lượn vòng, chuẩn bị bổ nhào đánh vào đội hình đơn vị.
May quá, tình huống đã được tập chiều hôm qua. Đại đội trưởng ra lệnh cho Hồng Hương chỉ huy đơn vị. Hồng Hương hô giật giọng.
- Trung đội hàng dọc, đại đội hàng ngang, cự li... gián cách... động tác bắn máy bay, nằm xuống.
Như một cỗ máy chạy rào rào, chiến sĩ trong trung đội nằm ngửa, gỡ nạng đã chuẩn bị, dựa lưng vào ba lô, chăn quấn vai, chân vắt chữ ngũ, súng đặt vào nạng và ngón chân, tư thế bắn máy bay.
- Máy bay địch bổ nhào bên phải. Như những con tằm hướng về phía có mùi lá dâu, toàn đơn vị rào rào chuyển động
- Máy bay địch bổ nhào bên trái,...
Thu quân, Thiếu tướng Liên khu trưởng rảo bước bắt tay đại đội trưởng, chính trị viên và quản trị trưởng. Ông biểu dương đoàn Tây Tiến ngay tại chỗ.
Đơn vị bạn 8, 9 giờ tối có anh chưa về tới đích. Anh em đơn vị bạn nói vui bọn mình đuổi Tây nên chạy chậm hơn...
Mấy ngày tiếp theo, bộ đội được nghỉ chuẩn bị liên hoan văn nghệ. Ngày đó chưa có loa phóng thanh, ngoài trời diện rộng nên theo thông lệ là kịch.
Các đơn vị chuẩn bị từ mấy tháng trước. Đoàn Thăng Long vở kịch thơ "Quán Thăng Long". Đoàn Tất Thắng vở "Hậu-Địch". Đoàn Trung Dũng vở "Du kích đồng bằng". Đoàn 66 vở "Bến Bình than". Có đoàn đem theo mũ mãng, cân đai, ngai vàng, kiếm bạc. Đoàn 66 đưa hẳn một chiếc thuyền đinh làm thuyền rồng lên sân khấu. Đoàn Thăng Long làm một chiếc quán khang trang thời cổ...
Liên khu trưởng Hoàng Sâm hỏi đến đoàn Tây Tiến, không có gì. Ông ra lệnh cho ban tổ chức làm thế nào thì làm, Tây Tiến phải có tiết mục dự thi.
Trưởng ban tổ chức hội diễn Văn Phác, các văn nghệ sĩ nháo nhào. Thời gian quá gấp. Nhà thơ Huyền Kiêu đề xuất.
- Gặp Hồng Hương, tay này có rất nhiều trò, chắc chắn cậu ta có nhiều ý kiến hay. Tìm Hồng Hương ở đâu? Đang là ngày nghỉ, anh em tan tác mỗi người một nơi.
Hoài Giao vỗ tay. Tay này rất "luyến" các em. Ra quán cà phê Biên Thuỳ may ra thì gặp.
Quả như rằng, Hồng Hương đang nhắm nhi li cà phê và vui vẻ với hai em ở quán Biên Thuỳ ngoài Hồng Phú.
Ngồi quanh bàn cà phê, một ý kiến đề xuất: "Hay chơi vở "Về Hồ", vở tủ của đại đội 121"
Hồng Hương lắc đầu: "Không được, vở đó không hay và cũng không được thực tế". Ngẫm nghĩ một chút, Hồng Hương rít hơi thuốc lá Cô-táp, lừng khừng: "Gấp quá, chỉ còn hai ngày nữa là đến lượt Tây Tiến. Làm kịch bản không kịp. Kịch cương mồm thôi. Nhất dạ sinh bá kế, các cậu để mình nghĩ một đêm, sáng mai sẽ trả lời"
Sáng tinh mơ hôm sau, Hồng Hương tóm cổ trung đội trưởng Thanh Tùng "Tùng cóc", tiểu đội trưởng Phượng, tôi, ông Bài tổ trưởng hoả thực và hai anh nữa tập theo lời cương của anh. Vở kịch cũng đơn giản, dễ nhớ nên cũng chóng nhập vai.
Gần trưa đoàn văn nghệ sĩ sốt ruột kéo tới. Chúng tôi tập đã hòm hòm. Hồng Hương bắt chúng tôi tập diễn như anh đã dựng. Ban tổ chức và mấy văn nghệ sĩ cười bò khen: "Nội dung tốt, chấp nhận được"
Thanh Tùng vai anh thanh niên dân tộc Mường gánh một gánh măng xuống chợ. Tiểu đội trưởng Phượng vai anh hàng nước mắm. Tôi cô hàng xén khăn mỏ quạ, yếm thắm, quần lĩnh đen. Ông Bài hoả thực đi mua thức ăn cho bộ đội. Mấy anh nữa làm người bán hàng và đi chợ. Hồng Hương tạm thời làm cô Mái gánh gạo, gà đi chợ. Chọn ai là cô Mái bán gạo, gà là rất khó. Hoài Giao chỉ vào ngực Hồng Hương: "Cậu chứ còn ai nữa". Hồng Hương giẫy như bị kiến lửa đốt "Da dẻ tớ đen đủi, đóng cô Mái có mà ma nó xem". Đừng lo "bọn mình sẽ ma kiê cho cậu. Cậu sẽ thành cô Mái xinh đẹp, ối người mê".
Mở màn vở diễn là cảnh chợ. Một cái cổng chợ khá to có ba chữ "Chợ Hồng Phú", bên cạnh là mấy áp phích "Thực hiện ba không là yêu nước", "Bảo nhau đi học chữ i, chữ tờ"...
Cô hàng xén ra đầu tiên, lấy trong gánh ra mấy chiếc bút máy oa-rơ-vơ, vài quyển vở, mấy chiếc bật lửa, vài hộp díp đánh răng... Tiếp đến là anh thanh niên dân tộc Mường đặt gánh măng, mộc nhĩ xuống lấy nón quạt phe phẩy. Anh hàng nước mắm gánh hai thùng nước mắm ra ngồi đếm tiền, rồi lấy phễu, duộc ra đong đong, đếm đếm. Người đi mua là ông Bài và mấy anh nữa.
Ông Bài hỏi mua nước mắm. Anh hàng nước mắm hỏi
- Cho xem tiền nào? Ôi! rách quá không tiêu được. Đồng này được, nhưng lại là trâu xanh. Trâu trắng thì bán. Trâu xanh, tiền rách thì về.
Ông Bài quay sang hỏi anh thanh niên dân tộc Mường mua mấy cân măng cho bộ đội ăn. Anh thanh niên người dân tộc cầm nắm tiền trong tay trả lại:
- Tiền rách, trâu xanh tao không bán đâu mà. Trâu trắng, tiền lành tao bán cả gánh cho bộ đội mà. Eng ún bộ đội bằng lòng vậy nhé!
Ông Bài đang lúng túng thì cô Mái từ dưới đất gánh một gánh gà, gạo bước lên. Cô bước qua dòng suối chảy, ngơ ngác trước sân khấu. Khán giả ồn lên.
- Ai đóng mà xinh thế, xinh quá, hê.
Sự ngơ ngác rất tự nhiên của cô Mái giữa chốn đông người làm mọi người thích thú vỗ tay tán thưởng. Ông Bài trỏ bu gà.
- Bán cho eng ún bộ đội không, ún ơi?
- Bán chứ, bán mà, đi chợ được giá là bán thôi. Bộ đội mua đi.
- Tiền trâu xanh, tiền rách có lấy không?
Trâu xanh, trâu trắng, tiền rách là tiền của chính phủ cả mà, xem nào, có ảnh Bác Hồ không?-ảnh Bác Hồ đây mà. Bán cho eng ún bộ đội ăn no, đánh thắng giặc Tây thì trâu xanh cũng bán, trâu trắng cũng bán, tiền rách cũng bán mà, phải không bà con, các eng ún?. Mọi người trên sân khấu đều gật đầu tán thưởng...
Vở diễn mới tới đây, Thiếu tướng Liên khu trưởng mỉm cười đứng dậy, tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô cồn lên như vỡ chợ.
Kẻ địch bao vây, phá hoại kinh tế vùng kháng chiến sinh ra vụ trâu trắng, trâu xanh, tiền rách, chia rẽ bộ đội và nhân dân, bộ đội có tiền không mua được lương thực, thực phẩm. Vở kịch "Tiền rách, trâu xanh" đã phản ánh đúng thực chất, mang tính thời sự. Vở "Tiền rách, trâu xanh" của Tây Tiến tất nhiên được giải nhất.
Thay lời kết
Nửa thế kỷ đã qua. Nhớ lại và ghi chép của một người chưa đủ nói lên sự kiện hào hùng, lãng mạn, đầy khí phách của quân đội ta trong những ngày gian khổ, thiếu thốn mà lạc quan đó. Nhớ lại và ghi chép muốn gợi lại một số hình ảnh của đoàn vận động viên Tây Tiến trong hội thao "Luyện quân lập công" toàn Liên khu và lấy mấy chữ trong bài thơ dài của nhà thơ Huyền Kiêu ngày đó
... Các đồng chí từ phương xa nào lại
Nghe hiệu kèn về Hội núi sông đây...
làm tiêu đề cho bài viết. Rất biết ơn đồng chí Hồng Hương đã gây men, khuyến khích và sửa chữa những thiếu sót trong "Nhớ lại và ghi chép"
Xuân 1998