📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Re:Heroine trong Nhà Trắng - Jerry Cotton (Hết) 🔒

37 trả lời, 2.313 lượt xem — Trang 2 / 2
Tôi có cảm giác như mình đang là một chiến binh da đỏ Apache khi ra trận.
Tôi trườn mình dọc triền đá chênh chếch, thật chậm, từng centimet một. Khó khăn không nằm ở chỗ leo trèo, mà nằm trong sự cần thiết phải chuyển dịch sao cho hoàn toàn không gây một tiếng động. Đa phần thời gian tôi chỉ chạm vào đất qua các đầu ngón tay và đầu ngón chân, và tôi mừng khôn xiết vì ít nhất thì những dải bụi rậm xung quanh vẫn còn lụp đụp rụng nước.
Ở đâu đó phía bên kia con đường, Phil đang sẵn sang can thiệp nếu cần thiết.
Nhưng không được để chuyện đó xảy ra. Một vụ đọ súng là thứ cuối cùng mà chúng tôi cần tới lúc này. Thật thận trọng, tôi hé mắt nhìn qua mép tảng đá, và nhẹ nhàng thở ra khi thấy tên gangster vẫn còn quay lưng về phía mình.
Gã vẫn đang cảm thấy rất an toàn.
Ít nhất thì sự tập trung của gã cũng chỉ có mức độ. Gã thậm chí đã trùm phần mũ của chiếc áo choàng parka lên đầu để che gió lạnh. Điều này đối với tôi có hai ý nghĩa: thứ nhất là gã sẽ không nghe thấy tôi ở bước tiến cuối, và thứ hai là tôi phải ra đòn mạnh hơn trong kế hoạch, nếu không gã sẽ còn kịp thét lên cảnh báo.
Vài giây sau đó, tôi khom người ngồi trên tảng đá.
Khi nhìn sang bên, tôi biết trong trang trại vẫn chưa có gì rục rịch. Chiếc xe Malibu vẫn đứng bên cạnh hai chiếc xe khác trong nhà để xe đang mở cửa. Điều đó có nghĩa là, chúng tôi phải đối mặt với một số lượng địch thủ không nhỏ. Nhưng một khi đã đưa được đứa bé vào trong vòng an toàn, chúng tôi cũng đủ sức xử lý cả một nhóm đông.
Suy nghĩ về cô bé Ivy khiến da đầu tôi tê tê.
Tôi căng các cơ lên và ước lượng thật chính xác. Khuỵu gối lấy đà, nhảy bật lên cao rồi ném mình xuống trong thế báo vồ.
Gã chỉ nhận ra khi tôi đã hạ chân xuống, ngay sát sau lưng gã.
Đối thủ của tôi giật mình và rụt đầu vào giữa hai bờ vai. Chỉ sau một tích tắc, gã muốn xoay trở lại thật nhanh. Nhưng trong trường hợp này, kể cả tích tắc kinh hoàng ngắn nhất cũng đã là quá nhiều.
Cú chặt tay của tôi giáng đúng vào mục tiêu với sức mạnh đã được tính toán chính xác. Không một tiếng động, tên gangster gục xuống. Tôi thậm chí còn kịp tóm lấy khẩu súng máy để nó không đập xuống đất mà gây nên tiếng động.
Hai phút sau, tên gangster đã được trói gô lại và bị bịt mồm.
Tới lúc này thì các bạn đồng nghiệp của chúng tôi đã xiết vòng vây lại gần hơn và tìm cách bao quát trận thế. Qua điện đàm chúng tôi được biết rằng với một sác xuất rất lớn, trên toàn khuôn viên không có vọng gác thứ hai. Nhưng sự tin chắc bao giờ cũng tốt hơn là sác xuất lớn. Chúng tôi không thể chờ đợi cho tới khi đối phương nảy ý định cử người đến thay ca.
Phil và tôi cần tới mươi phút để lại gần tòa nhà, không tiếng động và không hình ảnh.
Ngoài chái nhà để xe, rõ ràng chỉ có tòa nhà chính đang được sử dụng. Các khung cửa sổ được bịt chặt từ phía bên trong bằng những tấm nhựa màu đen. Nấp vào bóng tối của khu chuồng ngựa giờ bỏ hoang, hai chúng tôi khe khẽ đánh giá tình hình. Cả hai cùng chú ý đến một cánh cửa thông hơi bằng gỗ nằm chênh chếch, kinh nghiệm cho chúng tôi biết rằng sau loại cửa này thường là một cầu trượt chuyển hàng, dẫn xuống tầng hầm.
Tôi lẻn về hướng đó. Phil lăm lăm súng yểm hộ cho tôi từ phía sau.
Chúng tôi không cần phải bàn bạc thêm lấy một lời. Việc mở ổ khóa móc ngoài không mấy dễ dàng vì tất cả đinh ốc đã rỉ sét. Một chút sau, khi Phil băng qua mảnh sân trong mọc đầy cỏ dại thì tôi đã mở được khuôn cửa gỗ ra và đang thầm nguyền rủa những tấm bản lề rỉ sét kêu cót két. Cũng may là tiếng nghiến của sắt rỉ không to lắm, ngoài ra, trong nhà đang vang lên tiếng radio. Tôi đoán rằng chưa một tên nào trong đám gangster nghe thấy những tiếng động đáng ngờ ngoài sân.
Lắng nghe hai giây đồng hồ, rồi tôi thận trọng trèo qua khung gỗ đứng chênh chếch đó, xuống dưới.
Phil bám theo tôi và xoay người đóng cửa lại. Bóng tối dày đặc phủ ập xuống. Tôi nháy đèn pin định hướng rồi tắt đi ngay, lướt sang phía một cánh cửa bằng gỗ rất dày.
Cả bản lề của cánh cửa này cũng rên lên cót két.
Thật bình tĩnh, tôi mở nó ra trong tốc độ của sên bò. Giờ đây thì mắt tôi cũng đã làm quen được với tỉ lệ ánh sáng mới. Bóng mờ yếu ớt tỏa ra từ một lỗ thông hơi nào đó ít nhất cũng cho người ta nhìn thấy những đường viền mờ ảo. Một khoảng hành lang dài, vài cánh cửa bên trái và bên phải. Một trong số đó bị khoét một lỗ nhỏ hình vuông, một dạng cửa nhìn đơn giản. Ánh đèn yếu ớt hắt ra từ căn phòng sau nó.
Tôi gật đầu về phía Phil rồi chuyển động tới.
Bạn tôi ở lại. Nếu gặp khó khăn, phải có ai đó đóng vai trò quân dự bị. Rón rén trên những đầu ngón chân, tôi chuyển động trên nền hành lang đúc bê tông, bị thu hút bởi khoảng hình vuông mờ sáng kia như có ma lực. Cuối cùng, tôi dừng lại, lắng nghe.
Những hơi thở. Những hơi thở nhẹ, nhanh,… một đứa bé!
Tôi nhìn qua khoảng hở hình vuông, khoảng hở rõ ràng đã được tạo ra rất tạm bợ bằng những đường cưa thô sù, vội vã, chỉ nhằm mục đích tạo lỗ quan sát. Trong căn phòng cửa sổ sau đó sáng một ngọn đèn trần yếu ớt. Tôi nhìn thấy vài tấm đệm, một mái tóc xoăn vàng và gương mặt nhỏ bé thanh thản đang chìm trong giấc ngủ, và tôi nhẹ nhõm mỉm cười.
Chỉ thoáng qua, tôi cũng biết ổ khóa thuộc loại đơn giản. Cây nạy với những ngạnh sắt dịch chuyển được là đủ cho tôi. Một tiếng ‘cách’ nho nhỏ vang lên khi lưỡi gà trong ổ khóa bật về. Tôi xoay nắm đấm và thận trọng mở cửa ra.
Chỉ sau ba bước chân tôi đã đến bên tấm đệm. Đồng thời, tôi thoáng nhận thấy qua khóe mắt dáng người thứ hai.
Như bị một con rắn độc cắn phải, tôi giật về. Bàn tay thoắt đưa lên bao súng. Mọi dây thần kinh trên cơ thể tôi đều căng lên như dây đàn. Thế rồi tôi chầm chậm thở ra.
Người đàn ông đang tựa người vào khoảng tường trong góc chết cạnh cánh cửa đó bị trói và bị bịt mồm!
Hai con mắt anh ta nhìn trân trân ra phía trước. Ánh mắt như đang nhìn xuyên qua tôi. Anh ta đang say thuốc phiện, rõ ràng là như thế. Một chiếc khăn len buộc ngang nửa mặt dưới để ngăn anh ta nhổ nùi giẻ bịt mổm ra, mặc dù vậy tôi vẫn nhận ra anh ta ngay lập tức.
Mel Corlet!
Vị công chức bị nghi là ngày hôm nay sẽ lén đưa một lượng heroin lớn vào Nhà Trắng!
Tôi không hiểu anh ta làm gì ở đây.
Và điều quan trọng hơn cả là tôi không linh cảm ra rằng, chính trong những giây phút này, các bạn đồng nghiệp của tôi vẫn tin chắc là họ đang quan sát một anh Mel Corlet thật.
Vì thế mà tuy tôi cũng ngạc nhiên đấy, nhưng không có được một phần nhỏ của mức độ cảnh giác mà lẽ ra tôi phải có.
 
 
  * * *
0
Hai giây đồng hồ sau, tôi đã gỡ nùi bịt mồm cho người đàn ông kiệt sức, nhợt nhạt đến phát sợ.
Anh ta thèm thuồng hít không khí. Nửa như còn tỉnh nửa như đã muốn ngất đi. Nhưng vẻ đờ đẫn trong hai con mắt ít nhất cũng cam đoan với tôi rằng anh ta sẽ không tru tréo rung chuông báo động. Tôi tóm lấy vai anh ta và khẽ lắc người anh ta.
- FBI, - tôi nói hối hả. – Chúng tôi sẽ đưa anh ra khỏi đây, Corlet. Anh hãy im lặng thêm vài phút nữa, được không?
Tôi không biết liệu anh ta có nghe rõ lời tôi.
Dù sao, anh ta cũng tự động tự xoa cổ tay mình, sau khi tôi đã cắt dây trói ra. Thận trọng, tôi cúi mình xuống tấm đệm và gạt một vài lọn tóc vàng ra khỏi trán cô bé. Cô bé đang ngủ, chắc chắn là dưới hiệu quả một loại thuốc nghiện nào đó. Tôi mở mí mắt của cô bé lên kiểm tra và nhận thấy hai con ngươi đang đảo lên trên, cô bé chắc chắn sẽ không tỉnh dậy giữa chừng. Nhưng chừng nào mà mạch còn đập mạnh và hơi thở còn đều đặn, báo cho tôi biết là cô bé không bị đau ốm gì, thì giấc ngủ say này rất thích hợp với kế hoạch của chúng tôi.
Tôi lắng nghe vài giây đồng hồ. Rồi tôi bế xốc thân hình nhẹ bỗng đó lên tay và trườn ra ngoài hành lang.
Phil đang chờ ở căn phòng bên dưới cầu trượt. Suốt thời gian qua anh đã căng thẳng quan sát toàn bộ hành lang. Giờ anh nhẹ nhõm thở ra.
- Cô bé ổn chứ? – Anh hỏi ngắn.
- Có vẻ thế.
- Thế thì thoát khỏi đây nhanh…
- Chầm chậm đã, anh bạn già! Corlet còn ở trong này!
- Corlet?- Phil hỏi, sững sờ cực độ.
- Đừng hỏi mình tại sao! Bản thân mình cũng không biết. Đầu tiên đưa cô bé về nơi an toàn, rồi quay trở lại đây! Trong thời gian đó, mình tìm cách đánh thức anh ta dây. Anh ta cũng đang bị say thuốc phiện.
- Mỗi một lúc một khó hiểu hơn, - Phil vừa lẩm bẩm vừa trèo ngược cầu trượt lên trên và mở nắp đậy bằng gỗ ra.
Tôi trao cho anh cô bé đang ngủ say. Rồi tôi lại đóng cửa gỗ lại. Phần việc thứ nhất hầu như đã được hoàn tất. Giờ chỉ còn Corlet, người đã đột ngột xuất hiện trong tư cách tù nhân của bọn người đối nghịch. Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa thể hiểu nổi chuyện này, và tôi không có ấn tượng rằng người đàn ông này trong vòng hai hay ba tiếng đồng hồ nữa sẽ đủ khả năng cung cấp cho tôi lời giải thích.
Khi tôi quay trở về tới phòng giam thì người đàn ông đó vẫn còn đờ đẫn ngồi xổm bên tường.
Tôi kéo anh ta dậy và phải đưa tay đỡ, vì đầu gối anh ta như muốn gập lại bất cứ lúc nào. Ra đến hành lang, tôi thoáng dựa người anh vào tường rồi với tay đóng cửa lại. Nếu một trong những tên gangster bất ngờ đi xuống dưới này, chúng tôi không nên để cho gã nghi ngờ ngay từ cái nhìn đầu. Hiện trong nhà vẫn còn yên tĩnh. Tôi mím môi lại rồi gắng sức kéo Mel Corlet, vất vả đi qua khoảng hành lang, về phía căn phòng có chiếc cầu trượt.
Phil đã quay trở lại. Các bạn đồng nghiệp của chúng tôi bây giờ chắc chắn phải tiến đến gần trang trại lắm rồi. Corlet mềm nhũn ra trong cánh tay đỡ của tôi, anh ta dường như sắp ngất. Không, chắc chắn anh ta sẽ không thể nhanh chóng kể cho chúng tôi nghe một điều gì, trừ trường hợp bác sĩ tìm ra anh ta đã bị xử lý bằng loại thuốc phiện nào và tìm được cách cắt ngang hiệu ứng của nó. Hiện thời, chúng tôi phải lấy làm mừng rằng ít nhất thì phản xạ của nạn nhân vẫn còn hoạt động tốt, đủ tốt để anh ta phần nào tự trèo được lên trên, dọc theo những thanh gỗ nằm chắn ngang cầu trượt.
Tôi đẩy từ dưới. Phil tóm lấy hai cánh tay Corlet và thận trọng kéo anh ta lên cao. Chúng tôi không thể không gây một vài tiếng động. Nhưng điều đó giờ không còn quan trọng nữa. Phil giơ tay đỡ lấy thân hình Mel Corlet đang nghiêng ngả rồi chờ tôi bên miệng hầm. Chính trong giây phút này, tôi nghe thấy tiếng một cánh cửa mở ra ở đâu đó trong tầng hầm.
- Có đứa tới! – Tôi rít lên. – Đưa Corlet đi, rồi ra hiệu cho quân tràn vào!
- Nhưng mà…
- “Chia ra và chiến thắng”, - tôi trích dẫn. – Cesar đã nói thế, mà chắc chắn ông ta là một chiến lược gia vĩ đại. Những gì mình làm ở dưới này đâu có cản trở công việc của các cậu trên đấy, đúng không?
Phil không nghĩ tới chuyện phản kháng nữa.
- Rõ, - anh nói ngắn.
Trong tích tắc sau đó, anh đưa Mel Corlet biến ra khỏi tầm nhìn của tôi. Nhưng tôi biết rằng chẳng bao lâu nữa bạn tôi sẽ xuất hiện trở lại.
 
  * * *
 
Gã đàn ông mà những người canh chừng tưởng là Mel Corlet đã làm việc trong một tiếng đồng hồ trong phòng của gã.
Gã hoàn toàn an ổn. Ngay cả khi gã rời Nhà Trắng cũng vậy. Giờ gã lại dừng chiếc xe Mercury Gougar màu xanh dương trước căn hộ của gã, bước xuống xe rồi vươn vai như một người đàn ông vui sướng vì vừa làm tròn trách nhiệm của mình.
Mà gã vui sướng thật.
Bởi cho tới giây phút cuối, gã đã luôn băn khoăn đến gần như tuyệt vọng rằng liệu những tính toán của Carlos Cameretti có bị nhầm lẫn chỗ nào chăng. Hoàn toàn có thể xảy ra khả năng các sĩ quan đặc nhiệm FBI không chọn con đường an toàn nhất, mà bắt giam người gọi là Mel Corlet ngay trong Nhà Trắng. Nhưng FBI phản ứng y hệt như Cameretti đã đoán trước, và tay Corlet giả bây giờ thở ra nhẹ nhõm khi thấy mình đã trèo được qua mỏm đã khó khăn nhất.
Theo thang máy, gã lên căn hộ “của gã”, đóng cửa lại và kéo kín tất cả các rèm cửa sổ.
Phòng tắm đằng nào cũng không có cửa sổ, không có cơ hội cho người quan sát từ phía ngoài. Thật nhanh, gã bỏ tóc giả xuống, thận trọng gỡ cặp kính sát tròng màu xanh ra khỏi mắt, rồi đổ một chất lỏng đăc biệt lên trên một cụm bông lớn, xóa đi màng keo đã làm thay đổi nét mặt. Chỉ năm phút sau, gã đàn ông lại trở về là chính gã, như cha sinh mẹ đẻ.
Nhưng trong trường hợp này, tẩy trang như thế là vẫn chưa đủ, bởi bản thân gã có ngoại hình giống Mel Corlet thật. Một loại chất lỏng thứ hai mang lại cho làn da gã cái màu xám xịt, bủng beo. Tấm độn má làm cho những nét mặt như sưng phù lên, hai mũi chích nhỏ với ông tiêm mini tạo ra hai ngấn mỡ bên dưới mi mắt, những ngấn mỡ sẽ lại tan ra trong vòng một tiếng đồng hồ. Một mái tóc giả với lần tóc xám đã bắt đầu thưa làm hoàn thiện chiếc mặt nạ. Tên gangster vội vàng thay đồ. Mười phút sau, gã rời căn hộ trong tư cách một người đàn ông sang trọng nhưng đã lớn tuổi, tấm lưng chớm còng dưới gánh nặng của thời gian.
Trên hành lang không có ai, gã đã xem trước.
Thang máy lại đưa gã xuống dưới. Bình tĩnh, gã đàn ông mở cửa vào nhà, thoáng ngẩng lên nhìn trời và thậm chí còn đủ tỉnh lạnh để đưa mắt nhình quanh.
Không một ai chú ý đến gã. Hay là có.
Gã nhận thức rằng đang có những ánh mắt kiểm tra gã nhanh chóng nhưng tập trung. Nhưng không một nét nào trong ngoại hình của gã khiến người ta nghi ngờ. Trong một tích tắc, ánh mắt gã dừng lại bên những cây thủy tiên đang nở hoa trong khoảng vườn trước nhà. Gã mỉm cười, giống hệt một ông già về hưu hiền lành đang vui sướng trước vẻ đẹp thiên nhiên. Thế rồi bằng những chuyển động hết sức chậm rãi và bình tĩnh, gã giương chiếc ô rất lớn màu đen lên, bước ra vỉa hè và xoay người sang phải. Không một chút vội vàng, gã đàn ông đi về phía ngã tư gần đó rồi rẽ ngoặt sang con phố nằm ngang.
Không một ai nhìn theo gã. Ngôi nhà mà gã bước ra có tất cả tám tầng. Mỗi tầng có hai căn hộ và ít nhất cũng phải có từng đó người sinh sống.
Các sĩ quan đặc nhiệm sẽ thề thốt rằng cái tay Mel Corlet vẫn đang còn ở giữa bốn bức tường của gã…
 
  * * *
 
0
Chúng có hai tên.
Tôi thoáng nhìn thấy những cái bóng nhảy nhót của chúng đang đổ dọc xuống những bậc cầu thang bằng đá.
Thế rồi chúng bật đèn dưới tầng hầm lên. Tôi lẳng lặng lùi về, rút khẩu P38 ra khỏi bao và chờ.
Những bước chân dậm thật mạnh dọc theo cầu thang đi xuống và tiến dọc hành lang.
- Diablo! – Một trong hai đứa cất tiếng chửi. – No me gusta…
Gã nói tiếng Tây Ban Nha. Tôi chỉ hiểu lõm bõm, vừa đủ để biết rằng tên này đang bực dọc chuyện gì đó.
- Que va! – Tòng phạm của gã gầm gừ. Rồi sau đó là một câu gì đó với “muerto” và “testigo” và “callado”. Chúng đang nói đến chuyện các nhân chứng bị chết là những người im lặng tốt nhất. Tôi hiểu ra rằng bọn này đang bước xuống tầng hầm để giết Mel Corlet.
Điều đó chỉ có nghĩa rằng chúng đã đạt được mục đích của chúng, dù đó là mục đích nào.
Hay gần như đã đạt được…
Tôi cắn môi, lách mình lại gần hơn cánh cửa. Trước mặt tôi là khoảng hành lang chìm trong ánh sáng nhợt nhạt của những ống đèn neon mà chắc là bọn gangster mới lắp vào. Một trong hai đứa con trai lúc lắc cụm chìa khóa trong tay. Hắn không nhìn kỹ ổ khóa, tôi nhận ra như thế. Vậy là hắn cũng không thể phát hiện ra cái vết xước rất nhỏ trên đó…
Hắn giơ tay về phía tay nắm.
Chính trong giây đồng hồ tên gangster muốn mở cửa ra, tôi chuyển động. Nhẹ nhàng như có thể, tôi trườn dọc hành lang. Tiếng kêu nửa như tắc nghẹn vì ngạc nhiên của tên gangster đứng bên cửa trợ giúp thêm cho tôi.
Gã đàn ông thứ hai phản ứng theo bản năng. Gã cũng tìm cách nhìn qua cánh cửa.
Mối tập trung của hắn được chĩa về phía trước. Trong tầng hầm vang lên một tràng chửi rủa tục tĩu và một mệnh lệnh gọn sắc bằng tiếng Tây Bann Nha. Đối phương của tôi muốn quay về. Nhung lúc đó tôi đã đứng sát phía sau gã và giơ khẩu P38 lấy đà.
Tiếng động của cú đập và tiếng rên của kẻ ăn đòn đủ để báo động cho tên gangster thứ hai.
Mặc dầu vậy, hắn vẫn phản ứng sai. Có thể hắn cảm thấy quá an toàn ở đây, và vì vậy mà thiếu khả năng chuyển công tắc nhanh lẹ để ý thức nỗi nguy hiểm. Khi tôi nhảy qua thân hình tên tòng phạm đã gục xuống của hắn thì tên gangster mới mù quáng nhào qua khuôn cửa, rồi giật trở về như thể gã vừa đâm phải một bức tường vô hình.
Sự ngạc nhiên mà gã không nuốt được ngay lập tức đã cướp đi của gã giây đồng hồ quyết định.
Gã đang cầm súng lục trong tay. Nếu gã bóp cò ngay lập tức, tình huống sẽ trở thành căng thẳng đối với tôi. Lúc bấy giờ tôi sẽ không còn cơ hội nào khác là cũng bóp cò. Nhưng như thế này, tôi đã có được một khoảng thời gian rất ngắn để né sang bên. Chỉ một nửa bước là đủ. Nhanh như chớp, bàn tay tôi chém mạnh, và khẩu súng lục của tên gangster bật xuống đất.
Hắn gầm lên.
- Bastardo! Pero! Hijo de Puta…
Vừa gầm hắn vừa nhào về phía tôi với hai quả đấm thúc loạn xạ. Gã đàn ông thở hộc lên vì giận dữ, và cú tấn công của hắn quả thật đủ dữ tợn để thúc tôi lùi về.
Thêm một lần nữa, tôi lại phải nhảy qua thân hình của tên gangster đã ngất. Đối phương của tôi mù quáng nhào theo. Giống như một cỗ máy chiến đấu, hắn bổ nhào về phía tôi và lấy đà, muốn thúc một cú quyết định vào chỗ hiểm trên cơ thể tôi. Nhưng đúng lúc đó, hắn vấp phải chân của tay tòng phạm.
Đồng thời, tôi né sang bên.
Tên gangster vừa la hét vừa lảo đảo lao ngang qua người tôi và vất vả chiến đấu để giữ thăng bằng. Một cú chặt karate chính xác cuối cùng khiến hắn gục xuống. Tên gangster không còn nghe được những tiếng ồn ào địa ngục nổ ra trong những giây đồng hồ sau đó.
Đột ngột, khuôn viên bao quanh ngôi nhà trở nên sống động.
Một giọng nói qua loa phóng thành gầm như sấm dậy. Giọng nói to đến nỗi nó rung vào tới từng ngóc ngách xa xôi nhất dưới tầng hầm.
“Chú ý, chú ý! Đây là lực lượng FBI! Toàn bộ ngôi nhà đã bị bao vây, mọi sự kháng cự đều là vô nghĩa. Các anh hãy giơ cao tay và lần lượt đi ra ngoài! Tôi nhắc lại…”
 
  * * *
0
Những tiếng nổ!
Một tràng lửa ngắn từ một nòng súng máy. Rồi sau đó là một trận mưa chì, được phun ra từ những khẩu Magnum nặng nề trộn lẫn với sự đóng góp của những tay súng bắn tỉa. Tiếng nổ vang lên từ mọi hướng. Nhưng những loạt súng được bắn đầu tiên này chĩa lên tương đối cao, không ngắm chính xác, chỉ nhằm mục đích uy hiếp tinh thần bọn gangster trong những lỗ ẩn nấp của chúng.
Một tiếng động chợt thúc tôi quay về.
Tiếng bản lề cửa khẽ rít, rồi Phil Decker trườn vào khoảng hành lang với súng lục cầm sẵn trong tay. Anh thoáng cười khi nhìn thấy cả hai tên gangster ngất.
- Ít đi hai thằng! Bọn mình đưa chúng nó ra chỗ nào khuất mắt, trước khi bọn khác xuất hiện dưới này. Ở trên kia nhộn nhịp tưng bừng ngay bây giờ đấy.
- Khói cay?
Phil gật đầu và ném cho tôi một chiếc mặt nạ chống khí độc mà anh đã mang theo. Tôi chưa đeo vội, chỉ buộc nó lên cổ. Thật nhanh, chúng tôi kéo hai tên gangster đã ngất vào trong căn phòng nơi chúng đã giam giữ Mel Corlet và cô bé Ivy. Cùng thời gian đó, giọng nói ầm ào qua loa phóng thanh ở phía ngoài nhà lại một lần thứ hai kêu gọi đầu hàng.
Lần này, bọn gangster phun trả một cơn mưa chì.
Ít nhất là năm thằng, tôi đoán. Nếu không muốn nói là nhiều hơn! Nhưng chúng bắn tóa ra bốn phương. Có vẻ như chúng không biết chúng cần phải làm gì. Ít nhất thì đây cũng không phải là một luồng lửa đạn tập trung, chuẩn bị cho một cú đột phá chọc thủng vòng vây.
- Bắt đầu! – Phil nói khi những ngọn roi âm thanh của tiếng súng nổ trộn lẫn với tiếng loảng xoảng của kính cửa sổ vỡ.
Vài giây sau, chúng tôi nghe thấy bốn năm tiếng bong bóng vỡ liên tiếp. Những quả lựu đạn khói cay vỡ tung ra dưới nền đất. Tôi hầu như có thể nhìn thấy rõ trước mắt mình những dải sương mù màu trắng đang vừa rít lên vừa thoát ra ngoài và lan rộng ra. Ngay sau đó chúng tôi nghe thấy tiếng ho khổ sở đặc trưng, trộn lẫn với những câu chửi rua cay đắng. Những câu chửi rủa bằng tiếng Tây Ban Nha.
Tôi lại nhớ đến lời Tiến sĩ Mortimer, người thoạt đầu đã coi bọn bắt cóc con gái ông là dân miền Nam Italia, là bọn Mafia Ý. Tôi thoáng tự hỏi, liệu đối phương của chúng tôi có nằm trong các nhóm khủng bố của cái gọi là “Phong trào giải phóng Puerto Rica”. Nhưng hiện thời, tôi không có nhiều thời gian để nghĩ về chuyện này.
Tôi vẫy tay ra hiệu cho Phil. Chúng tôi chia tay nhau đi hai ngả. Bạn tôi đi về khoảng hành lang rẽ ngang. Tôi chui vào khoảng tối chân cầu thang tầng hầm. Giờ thì chắc chắn đã có một vài anh bạn đồng nghiệp khác lọt xuống căn phòng bên dưới cầu trượt. Nhưng họ chưa ra tay ngay, vì chưa bao quát được tình hình dưới này.
Phía bên trên ngôi nhà ở của trang trại đang có ít nhất một nửa tá đàn ông thi nhau ho rũ rượi.
Những bước chân vang lên rầm rầm và tiến đến gần cánh cửa dẫn xuống tầng hầm. Không một người nào có thể ở lâu trong một ngôi nhà đầy khói cay. Nhưng hiện thời đối phương của chúng tôi vẫn chưa sẵn sàng đầu hàng. Bởi chúng nghĩ là chúng đang nắm trong tay một món vũ khí tối thượng.
Đứa bé!
Chúng sẽ xuống đây để tóm Ivy Mortimer làm con tin. Và chúng thậm chí chưa thể tưởng tượng ra khả năng là cô bé đã được chúng tôi đưa đi từ lâu rồi.
Cánh cửa bật mở.
Phía bên trên kia vẫn có đạn bắn. Ít nhất là hai gã con trai đang dừng lại bên những khuôn cửa sổ và phun lửa ngăn các bạn đồng nghiệp của chúng tôi chiếm nhà.
Phần còn lại của băng đảng dậm thình thịch theo những bậc cầu thang lao xuống. Năm con người vừa ho vừa nghẹn vừa hổn hển, với những con mắt sưng vù đỏ quạch lã chã nước. Mù lòa, chúng nháo nhào đi qua khoảng hành lang. Chúng không gây ấn tượng là còn khả năng nghe được một âm thanh nào khác ngoại trừ tiếng rầm rì trong não bộ chúng.
Tôi lao lên.
Chỉ sau một cú nhảy dài, tôi đã đến sát bên gã đàn ông đi cuối cùng và đập gã gục xuống bằng một cú chặt tay nhanh, chính xác. Bọn kia không nhận ra điều gì. Tên con trai đi đầu đã đến bên cánh cửa có khoét lỗ nhìn. Gã nhìn qua cái lỗ đó, và thốt lên một tiếng kêu khan khan.
Chính trong giây phút này, tôi đã loại được tên gangster thứ hai ra khỏi vòng chiến.
Đồng thời, Phil xuất hiện từ khúc hành lang rẽ ngang. Chắc tên gangster thứ ba trong hàng phải nhận thấy qua kẽ mắt một chuyển động lạ. Nó xoay về. Khẩu súng lục trong tay nó xoay theo, nhưng không còn giúp cho chủ nhân được nữa. Cánh tay Phil gạt từ dưới lên, chặt đúng vào món vũ khí, và khẩu súng lục nặng nề đập thẳng vào mặt kẻ đang cầm nó.
Tên gangster lảo đảo lùi lại và va phải tên tòng phạm cũng đang xoay về của nó. Hai giây đồng hồ, hai đứa con trai làm vướng chân tay nhau. Không một đứa nào bóp được cò súng. Và những giây đồng hồ này đủ cho Phil và tôi tước vũ khí cả đôi.
Dáng các bạn đồng nghiệp hiện lên lờ mờ trong khoảng hành lang. Giờ đây thì những đám sương mù màu trắng đã từ trên nhà tuôn xuống đến cầu thang và chúng tôi quyết định đeo mặt nạ phòng hơi độc lên. Nhưng chỉ là cho một vài phút đồng hồ mà chúng tôi cần tới để kéo đối phương ra ngoài. Những bàn tay mạnh mẽ từ phía trên thò xuống đón lấy và kéo chúng theo cầu trượt lên. Vài giây đồng hồ sau, cả Phil và tôi đã lại đứng dưới bầu trời u ám đang lất phất mưa.
Vẫn còn hai tên gangster đang phun lửa.
Đứng sát bên khuôn cửa sổ, chắc chắn chúng cũng bị ảnh hưởng phần nào của khói cay. Nhưng chúng vẫn còn nhận được đủ không khí để giữ vị trí. Chỉ có điều đó là một vị trí ở phe chiến bại, và hy vọng chúng sẽ nhanh chóng hiểu ra điều đó.
Những khẩu súng chính xác của cánh bắn tỉa đã ngưng lại.
Cả những tên gangster giờ đây cũng bắt đầu tiết kiệm đạn, vì rõ ràng là chưa có dấu hiệu của một đợt tấn công ào ạt. Trong vài giây đồng hồ, màn tĩnh lặng hầu như gây ấn tượng ma quái. Thế rồi giọng loa lại gầm lên.
“Đây là lời yêu cầu cuối cùng! Hãy ném vũ khí của các anh ra khỏi cửa sổ và đầu hàng đi! Tất cả các tòng phạm của các anh dã bị bắt giam, toàn bộ tầng hầm bị chiếm giữ. Mel Corlet và đứa trẻ giờ đây đã được đưa về nơi an toàn. Các anh có tất cả ba phút đồng hồ để nghe theo lời yêu cầu này. Sau ba phút, ngôi nhà sẽ bị đánh chiếm bằng súng máy.”
Lại im lặng.
Chỉ trừ một đợt ho vật vã đang tóm chặt lấy một tên gangster. Tên thứ hai gầm gào cái gì đó trong tiếng Tây Ban Nha. Tôi nghe được hai cái tên Diego và Enrique. Giọng nghe tương đối tuyệt vọng. Khi không có câu trả lời vang lên, có vẻ như hai đứa con trai kia đã hiểu ra rằng khẳng định của chúng tôi không phải trò lừa bịp.
Một vài giây đồng hồ, chúng gào hét vào mặt nhau, hầu như đã nổi điên.
Thế rồi, một vật nặng nề màu đen bay ra từ khuôn cửa sổ, hiện rõ là một khẩu súng máy. Nó rơi xuống nền đất bùn của sân trang trại, rồi sau đó hai khẩu súng cầm tay khác cũng theo đường đó bay ra.
Cả hai tên gangster nhảy ra khỏi cửa sổ, vì chúng không còn dám đi xuyên qua những đám mây khói cay dày đặc để ra cửa chính.
Nhưng chúng chuyển động thật chậm rãi một cách đầy chủ đích và vất vả giơ cao hai tay lên. Đã rõ ràng là chúng không còn nghĩ đến chuyện phản kháng.
 
  * * *
0
Mười phút sau, toàn bộ băng đảng đã được trói lại bằng còng tay.
Một xe cứu thương đưa Mel Corlet và cô bé Ivy Mortimer vào bệnh viện. Corlet bây giờ đã thật sự ngất đi. Bác sĩ không tin rằng anh ta có khả năng nói được một câu rõ ràng trong vòng vài tiếng đồng hồ tới.
Dale Winnaker nhận nhiệm vụ gọi điện cho tiến sĩ Mortimer để báo tin rằng con gái ông đã được cứu. Phil và tôi trong thời gian đó quan sát kỹ hơn bọn quạ đen mà chúng tôi vừa bắt được.
Chín gã đàn ông với những cặp mắt đỏ quạch sưng vù.
Rõ ràng là người Nam Mỹ! Trong điểm này, tiến sĩ Mortimer có lý. Tất cả vẫn còn vất vả chống chọi với hiệu ứng của khói cay. Đa phần trong số chúng còn phải nuốt thêm ngọn đòn Knock-out do chúng tôi ban tặng. Mặc dù vậy, chúng vẫn có khả năng khai báo. Chỉ có điều chúng không nghĩ đến chuyện nói ra với chúng tôi một lời duy nhất.
Những gương mặt cay cú và những làn môi mím chặt – đó là phản ứng duy nhất trước những câu hỏi từ phía chúng tôi.
Một đám người cuồng tín. Bọn chúng sẽ im lặng, điều đó thể hiện rõ qua từng nét mặt. Chúng tôi khám người và xem xét giấy tờ của chúng. Cả những thứ đó cũng không ngay lập tức giúp chúng tôi tiến thêm được bước nào.
Những tấm hộ chiếu Brazil.
Visa du lịch cho nước Mỹ.
Những tấm hộ chiếu trông như thật, mặc dầu vậy tôi vẫn đột ngột biết rằng tôi đang cầm trong tay những bản hộ chiếu giả.
- Ngôn ngữ phổ biến ở Brazil là tiếng Bồ Đào Nha – tôi chầm chậm nói.
- Thì sao? – Bạn tôi hỏi ngắn.
- Bọn này nói tiếng Tây Ban Nha, Phil. Rất rõ ràng.
- Chẳng lẽ cậu nghĩ không có người Brazil nói tiếng Tây Ban Nha?
Tôi nhìn trân trân xấp hộ chiếu.
Những tấm hộ chiếu Brazil và một nhóm đàn ông nói tiếng Tây Ban Nha, vào nước Mỹ theo đường du lịch. Tôi đã hiểu ra hai cái tên người Diego và Enrique, nhưng không một tấm hộ chiếu và không một bản visa nào có đề tên Diego và Enrique.
Tại sao, ma quỉ dưới địa ngục, bọn con trai này lại sử dụng giấy tờ giả? Chỉ vì chúng là gangster? Có thể chúng đang bị truy nã.
Hay là chúng có một nguyên nhân xác định, không phải để che giấu nhân thân của chúng, mà đúng hơn để che giấu quốc tịch thật sự của chúng?
Một nỗi nghi ngờ lẩn khuất trong tâm não tôi.
Một cái tên, một cái tên đã được buông ra như tiện thể, trong một mối liên quan hoàn toàn không quan trọng nào đó. Sau này thêm một lần nữa, khi viên sĩ quan trực của lực lượng FBI Washington buột mồm  chửi rủa lúc chúng tôi lên kế hoạch ra quân lớn. Anh ấy có quá ít người, vì có quá nhiều việc phải làm. Cái dịch cúm khốn nạn… rồi biết bao nhiêu những biện pháp bảo an cho một chuyến viếng thăm tại Nhà Trắng…
Một tấm ảnh lóe lên trong trí nhớ như một tia chớp.
Tấm ảnh này tôi đã nhìn thấy trong tờ báo mà tôi sử dụng làm công cụ móc chìa khóa khi đột nhập vào căn hộ của viên công chức đã chết Gregory Thunes.
- Markyos, - tôi nói khẽ.
Phil ngẩng đầu lên.
Cái tên này đối với anh còn xa lạ hơn cả đối với tôi. Cùng lắm là anh cũng chỉ mới nghe nhắc tới nó có một lần, giờ tôi lại nhớ ra. Jonathan Willow là người đã nhắc đến nó, khi chúng tôi liên lạc với anh ta ngay sau khi đặt chân tới Washington. Vị công chức đã nhắc tới cái tên Nam Mỹ này chỉ để giải thích rằng vụ bê bối đang đe dọa nổ ra sẽ đến vào một thời điểm bất lợi tới mức nào.
- Markyos? – Phil nhắc lại. – Có phải đó là vị độc tài miền Nam Mỹ hiện đang được đón tiếp ở Nhà Trắng?
Tôi gật đầu. Những suy nghĩ của tôi đang khoan xoáy, tìm kiếm và nhào lộn chồng ập lên nhau. Nhưng tôi đơn giản là không thể sắp xếp chúng vào một mối liên quan rõ ràng.
- Ít nhất thì người dân của cái đất cộng hòa hòn đảo đó cũng nói tiếng Tây Ban Nha, - tôi nói như với bản thân mình.
- Hừm.  – Phil cắn cắn môi. – Và cậu nghĩ rằng, có thể đây là một cú chống lại Alvaredo Markyos? – Anh ngưng ngắn rồi lắc đầu.  – Sao thế được, Jerry? Theo những gì mình biết thì những biện pháp bảo an có thể nói là hoàn hảo. Bọn chúng nó hoàn toàn không có cơ hội chui lọt đâu.
Tôi nhún vai.
Sao tôi vẫn có cái cảm giác ngang chướng, như thể đang có những mối liên quan nằm lộ rõ, có thể giơ tay với tới chúng, chỉ có điều chúng đang được che giấu sau một lớp màn rất mỏng, lớp màn mà tôi phải xé ra.
- Mình không biết, - tôi nghiến răng thú nhận. – Nhưng chúng ta sẽ xem khi chúng ta quay trở lại Washington và quan tâm đến quý ông Alvaredo Marykyos kia…
 
  * * *
 
0
Chiếc xe Mustang màu xanh dương bám theo Đại Lộ Executive, ở phía Tây của quảng trường Lafayette.
Carlos Cameretti rít một hơi thuốc lá thật sâu, cho hơi thuốc ngấm vào phổi rồi lại thở ra, mà vẫn không rút điếu thuốc ra khỏi miệng. Những vệt khói ngoắn ngoèo thon mảnh màu xanh dương bị hút vào khoảng cửa sổ đang mở một khe rộng. Cơn mưa lất phất đã tạnh. Những đám mây bay ngổn ngang trên bầu trời, thỉnh thoảng lại để cho một vài tia nắng lọt qua.
Ánh mắt Cameretti dán chặt vào tòa nhà màu trắng đã được khắc sâu vào tâm khảm mỗi vị khách tới Washington bằng hàng trăm con đường khác nhau. Trên bưu thiếp, trên tranh vẽ, trên những cốc uống bia, cờ lọng, huy hiệu và vô vàn những đồ lưu niệm khác. Những tia nước cất cao từ bồn phun sáng nhóng nhánh và như đang xẻ từng tia nắng mặt trời thành vô vàn những đốm lửa trắng nhỏ, tinh nghịch. Con phố nằm ngăn giữa khuôn viên của Nhà Trắng và khu Executive Office. Từ phía xa, Cameretti có thể nhìn thấy những cây anh đào Nhật Bản đang nở hoa sum sê. Từ hai con mắt nheo nhỏ, gã quan sát dòng giao thông nhộn nhịp và tìm cách tưởng tượng ra nỗi kinh hoàng sẽ nổ ra. Mà cũng có thể sẽ chẳng có nỗi kinh hoàng nào, gã nghĩ thầm.
Bởi thời này đâu còn ai thèm chú ý đến một tiếng nổ giữa dòng giao thông? Nhưng không phải chỉ có một tiếng nổ ngắn gọn mà thôi đâu. Rồi những hồi còi sẽ tru lên… Xe cứu thương, xe cứu hỏa, hàng đoàn hàng đoàn phóng viên, các lực lượng bảo an sẽ nhộn nhịp hốt hoảng chạy chồng lên nhau như một đoàn kiến vỡ tổ và không còn hiểu điều gì nữa cả…
Carlos Cameretti mím làn môi mỏng, thoáng cười.
Ánh mắt gã rời khỏi vẻ tráng lệ của những đóa anh đào trắng muốt. Bàn tay trái của gã búng đầu mẩu thuốc lá qua khe cửa sổ. Bàn tay phải lần về hiện vật mà gã đã đút xuống bên dưới ghế phụ lái. Lần thép nghe lành lạnh.
Những ngón tay Cameretti lướt dọc nòng khẩu súng máy, vuốt cho tới đầu nòng, tiếp tục sờ nữa, rồi vuốt qua lần chăn len nhẹ mỏng, bên dưới đang hiện rõ những đường khía của vỏ ngoài một quả lựu đạn cầm tay. Đề phòng mọi trường hợp… Kế hoạch lần này không thể thất bại được nữa. Nhưng nếu có chuyện bất ngờ xảy ra, gã cũng đã được trang bị đầy đủ.
Gã nhìn trân trân sang cánh cổng đang đóng kín, sang phía những người lính gác mang vũ khí.
Một chút nữa thôi, cả khu này sẽ dầy đặc lính bảo an. Và mặc dầu vậy… Nếu có chuyện trục trặc, ít nhất cũng sẽ là một sự hỗn mang đầy hoảng hốt, điên khùng. Rất có thể thậm chí những chuyện không thể xảy ra sẽ xảy ra. Có thể…
Nhưng không thể có chuyện trục trặc được.
Tất cả đã được lên kế hoạch tới tận từng chi tiết nhỏ nhất. Một kế hoạch thiên tài. Hoàn hảo từ đầu cho tới cuối. Và nó đã hoạt động. Mọi tính toán đã tỏ ra trúng hồng tâm. Không còn một thứ gì trên đời này có thể ngăn chặn được thảm họa đó. Carlos Cameretti châm một điếu thuốc mới, rồi lại phun cho những làn khói mỏng bay về hướng khuôn kính cửa sổ, gã chờ…
 
  * * *
 
Tôi lái chiếc xe đi xuyên qua dòng sông giao thông buổi chiều.
Không phải xe thuê nữa, mà là xe công vụ của FBI Washington. Bên cạnh tôi, Phil vừa mới móc microphone trở lại giá máy. Anh lắc đầu chầm chậm:
- Cậu nhầm rồi, Jerry, - anh nói. – Alvaredo Markyos hiện thời đang họp cùng các chuyên gia tài chính và ngoại giao. Mọi việc đều rất ổn. Hoàn toàn không có những sự kiện đặc biệt, và những người chịu trách nhiệm thề sống thề chết rằng dây chuyện các biện pháp bảo an không có lấy một lỗ thủng nhỏ nhất. – Anh ngưng rồi cười nhẹ. – Mà khi đã ngồi giữa Nhà Trắng rồi, ông ta đâu có thể gặp chuyện gì tệ hại, đúng không? – Anh thêm vào.
Tôi giật mạnh tay lái.
Dây thắt an toàn của Phil rít lên. Ở làn đường bên phải có ai đó hoảng hốt bấm còi. Bạn tôi nhìn tôi trân trân. Chắc là mặt tôi bây giờ đã trắng thành vôi.
- Chúng nó bắt cóc Mel Corlet! – Tôi phun ra.
- Nhưng mà cái gì…
- Thử nghĩ đi! – Tôi không ngăn được, giọng tôi rung lên. – Chúng nó bắt có một đứa bé, để ép buộc một vị bác sĩ danh tiếng phải tiêm heroin giả làm thuốc hỗ trợ hệ tuần hoàn vào cơ thể các công chức và chính trị gia cao cấp. Chúng nó dựng lên một nữ nhân chứng, Marylyn Rivers. Chúng nó giết bốn con người để không một ai còn nghi ngờ vào sự tồn tại của một dây chuyền thuốc phiện trong Nhà Trắng. Và chúng nó tạo dựng Mel Corlet thành tay cung cấp thuốc phiện, kẻ duy nhất biết tay sếp vắng mặt kia. Chúng nó thậm chí còn cung cấp ngày tháng chính xác, nơi Corlet sẽ lén đưa một khối heroin vào Nhà Trắng. Đó là một khối heroin mà anh ta có thể để ở bất kỳ ngóc ngách nào mà sẽ không bị một ai sờ đến, vì tất cả đều chỉ căng thẳng ở vòng ngoài, chờ tay sếp cỡ lớn kia xuất hiện.
Im lặng.
Hai, ba giây đồng hồ.
- Chó chết! – Phil nói khẽ.
- Chúng nó bắt cóc Corlet và bơm thuốc phiện vào người anh ấy, - tôi nói tiếp. – Chúng nó muốn gửi anh ấy đi cùng với một quả bom, dưới ảnh hưởng của thôi miên hoặc là cái gì khác tương tự. Và sẽ không một ai ngăn anh ấy lại, Phil. Không một ai. Anh ấy có thể xách cặp đi xuyên qua cả Nhà Trắng và đặt cặp xuống ngay bên dưới ghế ngồi của Alvaredo Markyos. Và ai cũng tin rằng cái tay sếp bí ẩn kia đang có mặt trong số những người ngồi họp với Markyos.
Giờ đến lượt Phil cũng nghệt mặt ra.
- Đúng, - anh thẫn thờ. – Đúng một trăm phần trăm! Chính xác nó sẽ diễn ra như thế.
Tôi đưa cùi tay chùi mồ hôi trán.
Nỗi kinh hoàng vẫn còn tiếp tục thấm vào đến xương tủy. Rõ là chúng tôi vừa tới kịp trong tích tắc cuối cùng. Cuộc họp với Alvaredo Markyos đã bắt đầu rồi. Nếu không bị chặn tay, đối phương của chúng tôi chắc chắn sẽ không chần chừ lâu nữa. Và cái suy nghĩ về những con người vô tội có thể sẽ bị giật cho nổ tung khiến lưng tôi rởn lên.
Một vài phút sau đó, chúng tôi dừng xe ở phía sau Nhà Trắng.
Những biện pháp bảo an đã được tăng cường kể từ sự có mặt của vị thủ lĩnh quốc gia miền Nam Mỹ. Chúng tôi nhận ngay ra điều đó qua vẻ xăm xoi kỹ lưỡng mà người ta áp dụng đối với chứng minh thư của chúng tôi. Anh bạn đồng nghiệp Roy Farell bước tới và dắt chúng tôi đi qua các trạm kiểm tra. Trong một căn phòng nhỏ, được tạm thời sử dụng sai mục đích, đích thân sếp FBI Washington đang chờ chúng tôi tới.
Một nếp nhăn rất sâu khắc hằn trên trán người đàn ông. Dĩ nhiên là ông đã được nghe thuật lại câu hỏi của chúng tôi về Markyos. Dù mọi việc có được đảm bào là hết sức ổn thỏa đi chăng nữa, một chút lo lắng vẫn còn đọng lại. Và cả một chút miễn cướng nữa, tôi thoáng nhận ra như thế.
- Những người đi bảo vệ ông Markyos đang rất bực dọc, chắc anh cũng đoán ra, Jerry. Điều gì đã khiến anh nẩy ra sáng kiến đó? Chẳng qua chỉ là sự kiện bọn gangster buôn thuốc phiện là những kẻ nước ngoài nói tiếng Tây Ban Nha?
- Đó không phải là bọn gangster thuốc phiện, thưa ngài, - tôi bình tĩnh nói. – Đó là những kẻ khủng bố, những phần tử phiến loạn, dù gọi bằng tên gì chăng nữa. Họ đang định ám sát Alvaredo Markyos, và cụ thể là với sự trợ giúp của Mel Corlet, người mà họ định sự dụng nhằm mục đích…
- Corlet? – Câu ngắt lời vang ra nhọn sắc như một cú roi quật. Tôi mỉm cười. Mối quan hệ mà tôi phải căng thẳng rất lâu mới tìm ra có vẻ như đã sáng lên trong óc não vị sếp khu vực như một tia chớp.
- Corlet… - người đàn ông nhắc lại, rồi đột ngột đến cả hai vành môi ông cũng chuyển màu trắng.
- Vâng, thưa ngài. Nhưng giờ hoàn toàn không còn nguy hiểm nữa. Mel Corlet đã được đưa vào bệnh viện và…
- Không, Jerry!
Đầu tôi gật lên.
Tôi có cảm giác như mình đang nghe lầm.
- Thưa ông, đích thân tôi đã…
- Mel Corlet đang ở trong căn hộ của anh ta, - giọng vị sếp khu vực giờ đã mất hết sức sống. – Trước đây ba tiếng đồng hồ anh ta đã mang đến đây một chiếc cặp tài liệu màu đen và để nó vào một phòng họp. Chính cái phòng họp nơi hiện thời Alvaredo Marykyos và các đối tác thương thuyết của ông ta đang ngồi…
 
  * * *
0
Những mái đầu đồng loạt ngẩng lên khi hai cánh cửa rộng bản bằng gỗ mở ra.
Alvaredo Mayrkos đang ngồi cùng với phái đoàn của mình ở một đầu bàn, với một chồng giấy trước mặt, một nụ cười hơi gượng ép trên bờ môi. Có vẻ như vụ hội thảo này không lấy gì làm thành công lắm đối với ông ta, tôi thoáng nghĩ. Bực dọc vì sự khuấy đảo, ông ta nhăn trán. Chuyên gia tư vấn của ông ta nhảy lên, rõ ràng là mất bình tĩnh. Những người ngồi họp khác ngạc nhiên nhìn chúng tôi trân trân.
- Xin lỗi các quý vị, thưa các quí ngài, - vị sếp khu vực nói ngắn gọn. – Vì những lý do nhất định, chúng tôi cần thiết phải chuyển cuộc họp ngay lập tức sang một địa điểm khác.
- Qué? – Markyos rít lên, cả một khối lượng không khí bị nén lại giờ bực bội xì ra theo.
- Nhưng mà như thế thì… - một trong các chính trị gia bực bội kêu lên.
- Có hiểm họa đánh bom! – Chúng tôi không muốn trình bày rõ nội dung sự việc, nhưng mỗi giây bây giờ  đều mang tính quyết định. Vị sếp khu vực vẫn tiếp tục mỉm cười. – Không cần phải lo lắng, thưa các quí ngài, nhưng mặc dầu vậy chắc các quí ngài sẽ hiểu…
Tới đây, Alvaredo Markyos đã nhảy dựng lên.
Gương mặt người đàn ông đã đánh mất mọi màu sắc. Trong hai con mắt thẫm màu nằm rất sát nhau cháy bùng lên một nỗi sợ hãi, chắc chắn đã ăn vào tới tận xương tủy ông ta. Vội vàng, ông ta chen ra phía cửa. Tư vấn bảo an và những người còn lại đi theo, đã bị lây phải cơn xúc động của người đàn ông Nam Mỹ.
Chỉ sau vài giây đồng hồ, phòng họp vắng tanh.
Điều đó không có nghĩa là không còn nguy hiểm nữa.
Chúng tôi không biết đối phương đã dùng loại thuốc nổ nào, và chúng tôi không biết sức mạnh của vụ nổ có thể sắp xảy ra. Có quỉ mới biết được chuyện gì sẽ xẩy ra. Chỉ sau ba, bốn bước chân tôi đã đến bên chiếc cặp tài liệu màu đen, đứng tựa ngay đằng sau ghế của Alvaredo Markyos, rôi tôi nghiến răng khuỵu gối ngồi xuống.
Một ngòi châm hẹn giờ.
Chắc chắn nó phải là một ngòi châm hẹn giờ. Không thể là thứ khác, vì sẽ không một ai can thiệp đến chiếc cặp tài liệu này. Hay một tín hiệu vô tuyến? Có thể hiện thời ở đâu đó gần Nhà Trắng đang có một kẻ ngồi trong một chiếc xe, và ngón tay đang để sẵn lên những nút bấm của một chiếc máy phát sóng bán dẫn và…
Mặc kệ!
Trong trường hợp nào, chắc chắn nó cũng không phải là một ngòi châm do sức kéo hoặc sức dập. Vậy là tôi không cần phải cư xử với cái cặp tài liệu đáng nguyền rủa này một cách đặc biệt cẩn thẩn.
Những cái khóa kêu ‘Click’và mở ra gọn gang. Tôi cắn môi, mở nắp cặp lên. Một đống ngổn ngang giấy tờ. Hai quyển vở màu xanh và màu vàng. Một quyển sách dày với cái tựa đề dài dòng “Phân tích mối quan hệ Mỹ - Trung Quốc kể từ cái chết của Mao Chủ Tịch” và…
Quyển sách!
Hoàn toàn không đáng nghi đối với một nhân viên bảo an, người chỉ quen ném một cái nhìn thoáng qua vào trong cặp. Và đây là hiện vật duy nhất đủ lớn để chứa một lượng thuốc nổ.
Hai bàn tay tôi nhơm nhớp mồ hôi.
Thật thận trọng, tôi đưa tay về phía quyển sách. Khi nâng nó lên, ngay lập tức tôi nhận thấy nó quá nặng. Nó là một quyển sách giả! Và sau đó, khi đặt nó xuống nền thảm trải phòng, tôi cũng nghe thấy tiếng tích tắc nhè nhẹ.
Mối quan hệ Mỹ - Trung Quốc…
Mãi sau này, tôi mới nhận ra cái vẻ hài hước thâm sâu nằm trong sự kiện lại chính là cái tựa đề sách này che đậy cho quả bom. Tôi mở bìa sách lên và cắn chặt môi.
Một khối vô hình thù màu xám – thuốc nổ dẻo.
Những sợi dây rất mảnh cắm vào trong khối chất dẻo đó và dẫn đến ngòi chậm. Một ngòi châm hẹn giờ, đúng như tôi đã đoán trước. Thứ đang vang lên tiếng tích tắc là một chiếc đồng hồ, loại đồng hồ hình tròn với chỉ duy nhất một cây kim, thứ mà người ta thường dùng trong những lò bếp tự động của các căn bếp hiện đại bây giờ. Mỗi một giây đồng hồ, cái kim lại nhích lên một vệt kẻ li ti, và từ kim cho đến điểm 0 màu đỏ bây giờ chỉ còn chính xác ba vạch kẻ.
Ba giây đồng hồ!
Và quỷ sứ mới biết được chuyện gì sẽ xảy ra, nếu tôi làm hỏng cái kim này, nếu toàn bộ bộ máy này hoạt động không chính xác, nếu…
Tôi ngưng không nghĩ nữa.
Thận trọng tôi đưa tay phải về phía trước và giơ móng tay giữ cây kim đứng lại. Rồi cũng thận trọng như thế, tôi bắt đầu đẩy nó lùi về. Tiếng chả xát của kim loại như xuyên vào đến tủy sống. Nhưng không có chuyện gì xảy ra. Đây là một ngòi châm hẹn giờ bình thường. Và tôi đã giữ được nó trong cơ hội cuối cùng, chỉ ba giây đồng hồ trước cú nổ lớn!
Dùng bàn tay trái, tôi cẩn thận rút những sợi dây ra khỏi khối thuốc nổ.
Rồi tôi chầm chậm đứng lên, ngòi nổ chậm cầm chắc chắn trong bàn tay phải. Khi quay về, tôi mới nhận thấy mồ hôi đang phủ dày trên trán. Ánh mắt tôi va phải Phil và vị sếp FBI Washington. Ra hai người đã ở lại trong phòng này và nhìn tôi làm việc.
Tôi không biết chình xác lúc đó tôi đã nói gì. Chắc là một câu mắng mỏ, rằng cả hai người chắc đã điên mất rồi. Nhưng tôi tin rằng họ không hề giận tôi lấy một chút.
 
  * * *
 
Một nửa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đứng trên Quảng Trường Tổng Thống.
Chúng tôi không tin rằng chúng tôi đã tóm được toàn bộ nhóm quân khủng bố đó tại trang trại bỏ hoang kia. Đám người này là những kẻ cuồng tín. Vì thế mà tôi tin phải có một vài đứa trong số chúng bây giờ đang rình mò quanh đây, muốn tận mắt chứng kiến thành công của vụ ám sát.
Đã quá ba mươi phút so với thời điểm hẹn trước của quả bom.
Nếu chúng thật sự có mặt ở đây, thì giờ bọn con trai này chắc chắn phải tỏ ra nôn nóng rồi. Phil và tôi không phải là những người duy nhất quan sát toàn bộ khu vực. Nhiều bạn đồng nghiệp khác cũng đang căng mắt canh chừng. Họ đi tuần trong cả những khu quanh đó, sẵn sàng can thiệp nếu thấy kẻ nào cư xử đáng ngờ.
Qua tư vấn bảo an của Alvaredo Marykyos, chúng tôi được biết rằng kẻ cầm đầu của nhóm khủng bố đó có tên là Carlos Cameretti. Chúng tôi thậm chí còn được xem một tấm ảnh của gã đàn ông. Sau này sẽ có những nhân chứng khai rằng họ đã nhìn thấy chính gã đàn ông đó đi cùng với Marilyn Rivers, và họ khẳng định rằng gã đã có quan hệ thân mật với cô nữ thư ký đó và cô đã tôn sùng nghe lời gã như một nữ nô lệ.
Giờ chúng tôi biết là chúng tôi phải tóm được gã! Gã đã giết bốn con người: Marilyne Rivers, Linda Huggins, Gregory Thunes và anh chàng nhà báo Chuck Miller. Dù gã có tự coi mình là một nhà cách mạng, thì đối với chúng tôi gã chỉ là một tay sát nhân tàn nhẫn.
Ánh mắt tôi vuốt qua những chiếc xe đang lăn bánh và những khách bộ hành đang thong thả dạo bước trong ánh mặt trời.
Có không ít người đang quan sát Nhà Trắng một cách thích thú. Một kẻ quan sát bí mật, đang chờ một sự kiện nhất định, có thể trà trộn trong số họ. Tôi xăm xoi những gương mặt người, đi tìm những đường nét cứng rắn, một làn da rám nắng mà chiếc ảnh đã chỉ ra. Liệu gã có dám tới gần như vậy không? Hay là gã đã tìm cách bỏ trốn đi từ lâu, sau khi hiểu rõ rằng cái kế hoạch thật ra được tạo dựng rất tinh quái của gã giờ đây đã thất bại?
- Marykyos, - Phil lẩm bẩm bên cạnh tôi.
Tôi xoay đầu về.
Quả đúng như vậy. Phía bên kia của thảm cỏ rộng là một người mặc bộ đại lễ màu trắng đang bước ra từ bóng tối giữa những cây cột nhà. Chiếc xe chống đạn Rambler Ambassador đã đứng sẵn sàng, nhưng những người đi cùng vị độc tài đó đang hối hả chạy vòng quanh. Có vẻ như họ không biết chắc chắn xem có nên lăn bánh ngay lập tức hoặc nên chờ cho tới khi dòng giao thông trên Quảng trường Tổng Thống đã bị chặn lại và tất cả các biện pháp bảo an lại được áp dụng đầy đủ.
Tôi có cảm giác là cảnh nhốn nháo này tương đối điên khùng. Và như một mũi kim châm, một suy nghĩ xuyên qua não bộ tôi rằng đây chính là cái tình huống mà một vài con người sẵn sàng liều mạng rất có thể tận dụng để…
Có tiếng mãy xe gầm lên. Ở đâu đó phía bên kia con phố, đằng kia, nơi rẽ vào Đại Lộ Executive.
Tiếng phanh xe nghiến chát chúa.
Có một tiếng còi chói gắt. Tiếng sắt lá loảng xoảng khi một chiếc xe thúc vào xe đằng trước. Khi xoay đầu về, tôi ngưng thở.
Một chiếc xe Mustang màu xanh thẫm đang lao ra từ Đại Lộ Executive như một chiếc tên lửa cất cánh.
Bất chấp tất cả, nó lao xuyên qua làn đường và phóng thẳng về phía cánh cổng dẫn vào khoảng công viên của tòa Nhà Trắng trong một góc rất hẹp. Tôi nhìn thấy lờ mờ gương mặt méo mó của kẻ lái xe đằng sau mảng kính bóng lộn đằng trước. Và tôi còn nhìn thấy thêm một thứ nữa: bàn tay mà gã đang thò ra từ khuôn cửa sổ để mở, bàn tay cầm một vật tròn tròn, óng ánh màu đen.
- Lựu đạn! – Tôi thét lớn.
Vừa thét tôi vừa ném mình sang trái và chạy thẳng về phía chiếc xe đang lao tới. Tôi biết gã trai muốn làm gì. Và tôi tuyệt vọng hiểu rất rõ rằng cái hành động tự tử điên khùng này thậm chí rất có cơ hội thành công. Dừng lại, ném lựu đạn, thúc xe húc đổ hàng rào!
Rồi sau đó sẽ là một cuộc đọ súng tay đôi đẫm máu. Câu hỏi ai sẽ bóp cò đầu tiên: các nhân viên bảo an hoặc là gã điên, kẻ bây giờ đang đạp chân xuống dưới bàn phanh và lấy đà.
Tiếng bánh xe nghiến! Chiếc Mustang dừng lại khi đã chờm được một nửa lên vỉa hè! Các nhân viên bảo an bên cổng đờ người ra như hóa đá. Tôi nhìn thấy vẻ hể hả hoang dã trên mặt Carlos Cameretti.
Giữ nguyên tốc độ chạy, tôi tiếp tục lao về phía trước rồi nhảy vọt tới.
Với cả hai bàn ty, tôi tóm vào nắm đấm của tên sát nhân và cảm giác lần thép lành lạnh của quả lựu đạn cầm tay đã được rút chốt. Người tôi đập mạnh vào xe. Cameretti gầm lên, vì suýt nữa tay gã bị tôi giật trật ra khoi khuỷu. Nhưng gã không buông tay. Gã thà để cho quả lựu đạn xé tan xác cả gã và tôi, thay vì đầu hàng.
Dồn hết sức lực trong cơn tuyệt vọng, tôi ép chặt hai bàn tay đang bao quanh nắm đấm của gã và ấn chặt ngón tay cái của gã vào thanh sắt nhỏ, thanh sắt sẽ gây ra vụ nổ nếu nó được buông ra. Tiếng bước chân vang lên loạn xạ. Những giọng người hốt hoảng gào chéo lên nhau. Tôi hầu như không nghe thấy. Tôi chỉ nhìn thấy một gương mặt nhăn nhúm màu nâu đỏ, hai ánh mắt đen thấm bừng cháy trong vẻ cuồng tín, và tôi nhìn thấy bàn tay phải của Cameretti thọc xuống bên dưới áo veston.
Từ phía bên kia xe, thoáng một bóng đen xuất hiện.
Phil đang định mở cửa và thúc vào lưng gã…
Nhưng tên sát nhân nhận ra điều đó. Gã hầu như có khả năng đánh hơi ra đối thủ. Với một tiếng thét thịnh nộ điên rồ, gã xoay về. Gã không thèm chú ý đến cánh tay trái suýt bị giật trật ra khỏi khớp xương bả vai. Với một cú giật, gã rút được khẩu súng lục ra khỏi bao, chĩa về phía bạn tôi. Giờ tôi không còn sự lựa chọn nào khác.
Nhanh như chớp, tôi rút một bàn tay ra khỏi quả lựu đạn.
Bàn tay trái của tôi vẫn còn ấn lên ngón cái của Cameretti trên thanh sắt nhỏ. Bàn tay phải giật là là qua không khí.
Không phải cú chặt Atemi quen thuộc của tôi, lần này là một quả đấm thôi sơn giáng cực mạnh vào gáy Cameretti. Khi tên giết người gục xuống tôi lại ngay lập tức giơ cả bàn tay phải lên cùng bóp bên ngoài quả lựu đạn.
Gạt bàn tay đã mềm thỉu của Cameretti ra, tôi ấn ngón cái của chính mình lên thanh sắt nhỏ và cứ giữ chắc như thế quả trứng bằng thép, cho tới khi có người đến đón nó cho tôi.
Cameretti nằm ngất trong xe của gã và đã được đeo còng tay. Những tiếng la thét hốt hoảng, tiếng phanh nghiến và tiếng còi tru tréo trộn thành một địa ngục tiếng ồn. Vài giây đồng hồ, tôi có cảm giác mình đang đứng giữa trung tâm của một cơn bão xoáy.
Mười phút sau đó, con phố bị chặn. Vẻ yên tĩnh dần dần quay trở lại. Phil và tôi cũng rút lui, cùng với vị sếp FBI Washington. Đầu tiên chúng tôi cần một suất lớn Whisky. Rồi sau đó tôi nhận được tin rằng nhà độc tài Alvaredo Markyos có nhu cầu phải được bắt tay những người vừa cứu mạng ông ta trước ống kính của các phóng viên, nhưng người ta đã cố gắng lắm mà chẳng tìm thấy chúng tôi tại hiện trường. Thực lòng mà nói, tôi chẳng mấy tiếc về chuyện đó.
 
  * * *
 
Jonathan Willow, Mel Corlet, James Watson và cả hai người đã bị giết đều được khôi phục danh dự hoàn toàn.
Tiến sĩ Sheldon Mortimer không hề biết rằng những nạn nhân heroin của ông sẽ bị giết chết. Các thẩm định viên chứng nhận rằng sau khi đứa con gái nhỏ bị bắt cóc, bản thân vị bác sĩ cũng bị sốc, ở trong một tình trạng không có khả năng quyết định cho đúng đắn, tức là gọi điện cho FBI. Tiến sĩ Mortimer được tuyên bố trắng án, nhưng người đàn ông đó đã tình nguyện thôi không hành nghề bác sĩ.
Tên khủng bố, kẻ đã đóng giả Mel Corlet, bị bắt một ngày sau tên tòng phạm của gã, tại phi trường quốc tế Dulles.
Gã, Carlos Cameretti cùng những kẻ khác phải trả lời trước tòa vì tội cùng nhau giết người trong bốn vụ và tìm cách giết người trong nhiều vụ khác.
 
HẾT TRUYỆN
 
 
0
Heroine trong Nhà Trắng - Jerry Cotton
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn Khach xa cç chúc bạn một năm Giáp Ngọ nhiều hạnh phúc, may mắn và như ý
 

📎 chucmungnammopi




0
«« « 1 2 » »»