📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

TUYẾT BỎNG (YURI VASSILIEVITCH Bondarep) 🔒

121 trả lời, 31.983 lượt xem — Trang 2 / 5

Chương tám

Vào hồi ba giờ đêm, sư đoàn của đại tá Đê-ép sau khi hành quân trên chặng đường hai trăm ki-lô-mét đã đến địa điểm quy định-bờ phía bắc con sông Mư-scô-va-và không hề nghỉ ngơi bắt tay ngay vào công việc phòng ngự, đào đất đóng băng cứng như sắt. Lúc này mọi người đều biết mục đích việc chiếm lĩnh dải bờ sông này, trở ngại cuối cùng của địch trên đường tới Xta-lin-grát.
Tiếng ì ầm rên rỉ của trận đánh ở xa luôn luôn vọng tới phía trước mặt, rộ to lên vào lúc bốn giờ sáng. Bầu trời ở phía Nam hơi sáng lên, một dải màu hồng bị bóng đêm ép sát xuống chân trời và trong những khoảnh khắc lặng đi ngắn ngủi ở phía đó, nơi đang có một cái gì vô hình, chưa rõ rệt nhích lại gần, nghe rõ trên khắp bờ sông, tiếng xẻng bập chan chát vào nền đất cứng như đá, tiếng choòng lịch kịch, tiếng hô khẩu lệnh, tiếng ngựa hí. Hai tiểu đoàn bộ binh, ba khẩu đội thụoc trung đoàn pháo và một tiểu đoàn chống tăng độc lập được điều qua sông trên chiếc cầu duy nhất nối liền một làng sang bờ sông bên này, đào công sự ở đây và chốt lại ở phía trước lực lượng chính của sư đoàn. Bị kích động trước công việc mới mẻ, chốc chốc mọi người lại văng tục, nhìn về phía chân trời rực cháy, sau đó quay nhìn lại bờ phía Bắc, những ngôi nhà lấm chấm trên đồi, chiếc cầu gỗ trên đó người ta đang kéo những khẩu pháo đến muộn của trung đoàn pháo sang sông.
Còn con sông Mư-scô-va ngăn đôi làng này, nằm ở phía dưới, ánh lên màu xanh dưới trời sao. Từ trên những bờ cao con sông bụi tuyết cuốn mù mịt, cơn gió thốc thổi là là mặt đất, xoắn xuýt, lướt trên mặt băng, cuốn xung quanh những cọc mố cầu đóng trên băng.
Khẩu đội pháo của trung úy Đrô-dơ-đốp-xki được đặt ở vị trí bắn trực tiếp, phía sau đội cảnh giới chiến đấu. Anh em đào công sự ngay trên bờ sông và sau ba giờ lao động mệt bã người, các khẩu pháo đã được đặt sâu xuống lòng đất đến một cán xẻng rưỡi.
Trung úy Cu-dơ-nét-xốp người nóng bừng, đẫm mồ hôi, thoạt đầu cũng cảm thấy hăng say trước công việc gấp rút, như tất cả mọi người. Nghe tiếng súng ì ầm nhỏ dần vì khoảng cách ở phía khoảng trời rực sáng ai cũng hiểu rằng trận đánh đang nhích lại gần, nhất định sẽ lan tới đây và nếu như không đào công sự, không được đất che đỡ thì sẽ phơi mình trên bờ sông tuyết phủ. Nhưng xẻng không bập được xuống đất lạnh cứng, chỉ có những nhát choòng thật mạnh mới khoan được những cái lỗ, gặm từng tí đất, làm tung những mảnh vụn cứng như đá lửa.
Cơn gió thốc là là thổi khắp bờ sông, hình bóng các chiến sĩ pháo binh và anh em bộ binh ở bên cạnh động đậy trong màn sương trắng đục; những lá chắn thẫm đen của các khẩu pháo rải rác giữa họ.
Đêm càng khuya, băng giá tăng thêm đến mức khó thở, không thể trò chuyện được: mọi người vừa khụt khịt vừa thở, sương giá thoắt bám một lớp dày trên những khuôn mặt đẫm mồ hôi, băng đọng trên mi mắt nếu ai ngừng tay làm việc trong giây phút. Khát nước ghê gớm, anh em vốc những nắm tuyết cứng, bẩn vì lẫn đất vụn trên bờ công ự để nhai; chất nước nhạt nhẽo làm lạnh cuống họng, lạo xạo trong hàm răng. Người đẫm mồ hôi, trung úy Cu-dơ-nét-xốp liên tục nện choòng xuống đất, anh không thể nào dừng lại để lấy lại hơi sức được. Cái ớn lạnh bò ngoằn ngoèo trên thân mình ẩm ướt, dưới chiếc áo va rơi dính chặt vào lưng. Cũng như mọi người, Cu-dơ-nét-xốp nhai tuyết nhưng miệng anh khô khốc và anh bị ám ảnh bởi ý nghĩ không dứt về thứ nước giếng trong vắt, thơm thơm mà anh muốn vục cả cằm vào xô uống cho mát.
-Đồng chí nhai quá nhiều tuyết rồi đấy, trung úy-Tri-bi-xốp rụt rè nhắc nhở, bác vụng về dùng xẻng xúc đất do choòng của Cu-dơ-nét-xốp đào lên.-Phải làm sao để ngực đừng bị lạnh. Tuyết chỉ đánh lừa mình thôi. Được độc có cái mẽ ngoài!…
-Việc quái gì!-Cu-dơ-nét-xốp thở phào và gọi:-U-kha-nốp!
Thượng sĩ U-kha-nốp không mặc áo choàng, chỉ vận có chiếc áo bông, vừa hắng giọng vừa đào những rãnh nhỏ cùng với trắc thủ Nết-trai-ép, nghe gọi, vứt cái choòng xuống, nhảy ngay tới vị trí đặt pháo hãy còn nông,
-Công việc thế nào, đồng chí trung úy? Cánh mình có dễ dàng chui vào lòng đất không?
Anh thở hổn hển, nóng bừng vì làm việc, mồ hôi toát ra nồng nặc, khuôn mặt ẩm ướt bóng nhẫy.
-Có lẽ không tồi lắm,-Cu-dơ-nét-xốp thốt lên-cử ai ra sông đi… Tìm hố nước trên băng. Và đem hai cặp lồng nước về đây.
-Ý hay đấy,-U-kha-nốp, đồng ý, đưa tay lau mồ hôi trên má.-Chứ không có thì lũ quỷ chúng nó nốc hết tuyết xung quanh công sự. Sẽ chẳng biết lấy gì mà ngụy trang… Nào có chàng trai nông thôn nào thạo cái món tìm hố nước trên băng không nào? Tri-bi-xốp, anh đi được không? Xuống dưới sông, mang theo chiếc choòng nhỏ!
-Được, được tôi đi được… Chứ ở sát bên sông thế này mà lại không có nước uống à? Tôi đi ngay, rồi mọi người sẽ được uống thỏa thuê, đồng chí trung úy ạ,-Tri-bi-xốp cất tiếng nói dồn dập như hát và mọi người đều thấy ở bác vẻ sốt sắng đặc biệt.
-Tại sao lại là Tri-bi-xốp? Bác ta còn chưa phới sang bên kia đâu!-Có người nói, cười hềnh hệch vẻ ngờ vực.-Bác ấy biết phương hướng rõ đấy chứ?
-Ê-mi-li-a, cậu nói nhảm rồi! Nghĩ vớ vẩn!
-Không, tôi đã nói: người ta chỉ nghe rõ mệnh lệnh lúc ở hậu phương thôi!
Tuy vậy Tri-bi-xốp vẫn cầm lấy cái choòng nhỏ, leo lên bờ lũy, lặng lẽ đi tập tễnh đến chỗ khẩu pháo để lấy cặp lồng.
-Lão nông dân này láu tôm láu cá lắm,-lại có tiếng cười hềnh hệch.-Ngốn như hùm beo, làm như mèo mửa!
-Tại sao anh lại công kích bác ấy? Anh không muốn uống nước à? Hay là Tri-bi-xốp đã quyến rũ mất vợ của anh? Bác ấy là nông dân cần cù, hiền như đất. Thế mà anh cứ tru tréo lên!
-Thôi đi, anh em! U-kha-nốp quát lên.-Không được động đến Tri-bi-xốp! Còn cậu, Ru-bin, tốt hơn là cậu hãy lo trông nom ngựa, việc đó liên quan đến cậu nhiều hơn. Không được nghỉ hút thuốc! Cậu hãy đào đất đi, nếu không chúng ta sẽ bị đè bẹp gí ở đây như những con rệp! Hay tôi còn phải nhắc lại, hả?
Mọi người lại bắt tay đào đắp công sự, tiếng xẻng rít ken két, tiếng choòng đập thình thịch đơn điệu vào nền đất cứng. Cu-dơ-nét-xốp nhặt cái choòng của mình ở đất lên nhưng lại buông nó ra rồi leo lên lũy đất nhìn về phía đám cháy rực sáng ở phía bên trái những ngôi nhà thưa thớt, đen sẫm của ngôi làng hoang vắng đông cứng trong bóng đêm xanh mờ
0
.
-Lại đây U-kha-nốp,-Cu-dơ-nét-xốp nói.-Cậu có nghe thấy gì không?
-Gì thế trung úy?
-Cậu nghe xem…
Phía trời rực sáng bỗng im lìm kỳ lạ, như chết lặng đi, từ đó không thấy vẳng lại một tiếng ồn, tiếng súng nào cả. Trong cảnh im lìm khó hiểu đó càng nghe rõ và nổi bật hơn tiếng xẻng, tiếng choòng ở phía đằng trước, tiếng nói xa xa của anh em bộ binh trong đội cảnh giới chiến đấu, tiếng ô tô, pháo binh rồ máy trên những điểm cao phía sau, ở bờ sông bên kia, nơi sư đoàn phòng ngự.
-Hình như lắng dịu đi,-Cu-dơ-nét-xốp thốt lên.-Hoặc là ta đã chặn được quân địch lại hoặc là bọn Đức đã đột phá được…
-Còn về phía bên phải?…-U-kha-nốp hỏi.-Cũng có cái gì ấy.
Xa xa ở phía chân trời, mé bên phải chỗ rực sáng, ngay sát trên các mái nhà trong làng ở bờ phía Nam, một quầng sáng thứ hai xuyên lên trời và những tin sáng đo đỏ lặng lẽ bùng lên, tỏa ra như những vòng tròn sáng, trườn vào những đám mây bay là là phía dưới. Nhưng cả ở phía đó cũng im lìm nặng trĩu.
-Giống như tên lửa,-Cu-dơ-nét-xốp nói.
-Giống lắm,-U-kha-nốp đồng tình.-Như thể chúng đã đột phá được. Bên mé phải ấy. Ngay trước mắt bọn mình. Chúng ráng hết sức lao tới Xta-lin-grát, hả trung úy? Thế là rõ rồi. Chúng muốn cứu đồng bọn thoát khỏi vòng vây. Để rồi lại dang rộng cánh.
-Có lẽ thế.
Có người nói ở sau lưng, giọng ngạc nhiên vui vẻ:
-Anh em ơi, sao im lìm thế nhỉ? Hình như bọn Đức đã rút chạy. Trời sáng rực thế mà lại im lìm! Có lẽ chúng đã nghĩ lại, không định phá vây nữa chăng? Cậu có hiểu không hả?
-“Chúng đã rút chạy”, nói dễ nghe gớm…
-Láo toét! Có lẽ bọn tướng tá Hít-le đã suy nghĩ nát óc và chúng quyết định: đã đến lúc phải hủy bỏ lệnh cũ!
-Này chúng sẽ cho cậu “nát óc” đến nỗi không còn một chiếc khuy áo đâu!-Một giọng nói hằn học móc máy kết luận.-Đến cái khuy quần cũng chả còn đâu!
-Làm đi, anh em ơi, đào đất đi, dùng cả răng mà giũi đất!… Na… ào!…
Cu-dơ-nét-xốp và U-kha-nốp im lặng nghe mọi người trò chuyện ở sau lưng, tiếng thở phì phò; trong cái im lặng mênh mông bao trùm khắp bầu trời phương Nam nghe rõ tiếng choòng sắc nhọn nện choang choang vào đất rắn như sắt. U-kha-nốp trầm ngâm hỏi như có ý dò đoán:
-Chúng còn xa không nhỉ? Thế nào, trung úy? Một giờ? Hai giờ? Hả?
-Ai mà biết được!-Cu-dơ-nét-xốp đáp và bẻ cổ áo choàng xuống cái cổ ướt đẫm: chưa hết ớn lạnh, nó vẫn ấp vào lưng anh một tấm mạng nhện lạnh ngắt, mồm anh vẫn khô và nóng như trước.-Cần phải đào công sự như điên! Đằng nào chả thế! Một giờ hay hai giờ nữa thì cũng thế thôi!
Họ lại im lặng. Sự im lặng dường như cảm thấy được, lan nhanh trên thảo nguyên và từ phía hai khoảng trời rực sáng trong đêm tối đen ngòm len lách tới khẩu đội một cách gở lạ. Tiếng nói của anh em chiến sĩ ở các vị trí đặt pháo bắt đầu mất hứng thú, đứt quãng rồi lặng đi. Sự im lặng đè nặng lên mọi người…
-Có lẽ… còn một việc nữa…-U-kha-nốp nhìn Cu-dơ-nét-xốp, cài lại khuy áo bông.-Lẽ ra còn một việc nữa phải làm: xé xác anh chàng chuẩn úy với cấp dưỡng ra. Cơm nước đâu? Một anh em pháo thủ nào thử tụt lại sau một ngày đêm xem-người ta sẽ đưa ngay ra tòa án binh xét xử như một tên đào ngũ! Ấy thế mà bọn cấp dưỡng và ông chuẩn úy ấy vẫn cứ nhởn nhơ như không.-Rồi U-kha-nốp lắc lư người trên đôi chân vòng kiềng, đi tới chỗ mặt bằng để pháo, ở đó trong bóng tối các chiến sĩ vừa khụt khịt, thở dốc, vừa dùng choòng giũi đất và ném đất vụn lên bờ công sự.
-Công việc của người lính cũng như cái bánh xe ấy anh em ạ, không đầu, không cuối!-Tiếng U-kha-nốp vang lên ở bên dưới.-Quay bánh xe đi anh em, ta sẽ tới thiên đàng đấy!
-Tri-bi-xốp đâu? Tri-bi-xốp đã mang nước về chưa?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi, mệt mỏi vì miệng khô khốc, kinh sợ nghĩ rằng rồi lại phải nuốt thứ tuyết nhạt nhẽo, làm cho cổ họng lạnh toát một cách khó chịu.
-Hay là thằng cha tù binh ấy vù về hậu phương rồi?-Anh coi ngựa Ru-bin từ dưới lòng chiếc hố thốt lên một cách cay độc.-Lão ấy chuồn về đằng sau và ném cặp lồng xuống rìa đường. Chú còn gì nữa! Cậu làm sao mà thở phì phò thế Xec-gu-nen-cốp? Lại muốn khóc hả?
-Này đồ ngốc, đừng có nói điêu!-Chiến sĩ coi ngựa Xec-gu-nen-cốp bực tức gào lên, hình như chưa quên và vẫn chưa thể tha thứ cho hành động độc ác của Ru-bin lúc anh ta được gọi tới để bắn chết con ngựa bị quỵ trên đường hành quân.
-Ru-bin,-Cu-dơ-nét-xốp thốt lên nghiêm khắc,-Phải suy nghĩ trước khi nói. Anh nói toàn những chuyện chẳng đâu vào đâu.
-Ôi, tôi phát chán anh rồi đấy, Ru-bin ạ!-U-kha-nốp lên tiếng bằng một giọng không hứa hẹn điều gì tốt lành.-Tôi báo trước: tôi chán ngấy rồi!
Cu-dơ-nét-xốp rút bao tay ra, đưa tay chộp lấy một nắm tuyết sắc như thủy tinh vụn, đưa vào mồm nhai lạo xạo rồi nuốt. Trong giây lát anh tưởng như đỡ khát, cảm thấy toàn thân như tỉnh táo dễ chịu hơn,
-Nào!-anh nói.-Đào thêm một cán xẻng nữa…
Rồi anh nhảy từ trên bờ công sự xuống mặt bằng để pháo, vớ lấy cái choòng dùng hết sức thọc mũi choòng xuống đất, mạnh đến nỗi đầu anh rung lên, máu dồn lên thái dương. Cu-dơ-nét-xốp bập choòng hết lần này đến lần khác, đứng choãi chân ra để khi vung choòng lên không bị lảo đảo vì mệt mỏi. Năm phút sau cơn khát trước đây, bị nắm tuyết đánh lừa, lại bắt đầu thiêu đốt anh và anh nghĩ: “Tri-bi-xốp… Nhanh lên đi Tri-bi-xốp… Bác ấy làm gì ở đằng ấy nhỉ? Giá có nước ngay bây giờ… Mình làm sao thế nhỉ? Miễn sao đừng ốm?”.
Qua tiếng xẻng chan chát anh nghe thấy mẩu chuyện rời rạc về người chuẩn úy, về chuyện nhà bếp nhưng chỉ mới nghe đến thức ăn, tới mùi thơm của món cháo kê anh đã thấy lợm giọng.
Vào quãng bốn giờ sáng thì xe nhà bếp tới, lúc ấy toàn tiểu đoàn đã kiệt sức trên những mặt bằng để pháo nhưng cũng đã đào được những hầm đất trong bờ sông dốc đứng. Xe nhà bếp dừng lại ở gần nơi đặt pháo của trung đội hai. Chiếc xe nhô lên như một vết đen thẫm trên nền tuyết trắng, tỏa mùi thơm ngào ngạt, ống thông gió đỏ rực, nóng hổi. Không tụt khỏi ghế ngồi, chuẩn úy Xcô-rích gào lên một cách hú họa: “Có ai đấy không?”-Nhưng không thấy trả lời bèn nhảy xuống đất và người sĩ quan đầu tiên mà anh gặp tại các vị trí hỏa lực này là trung úy Đa-vla-chi-an. Liếc nhìn hai khoảng sáng lờm cờm đang lan rộng ở chân trời, chuẩn úy hỏi bằng giọng trịch thượng liến thoắng:
-Đại đội trưởng đâu, đồng chí trung úy?… Tôi cần gặp Đrô-dơ-đốp-xki. Ở đâu?
-Hãy nghe đây… chuẩn úy-Đa-vla-chi-an bắt đầu nói, thậm chí hơi líu lưỡi vì phẫn nộ.-Sao anh không biết xấu hổ hả? Các anh làm sao thế, điên rồ cả rồi à? Từ bấy đến giờ các anh ở đâu? Tại sao lại chậm trễ thế?
-Xấu hồ gì mới được chứ?-Xcô-rích hầm hầm đáp lại có ý công kích một cách ngạo mạn vì từ lâu anh ta đã hiểu rằng vị trí vững chắc của mình không phụ thuộc vào các trung đội trưởng mặc dầu họ mang quân hàm trung úy.-Vì sao mà xấu hổ nào? Kho hàng tụt lại tận đâu ấy.. Rồi lại còn phải đi lĩnh các khẩu phần, và rượu… Không phải chỉ có mình đồng chí chiến đấu đâu, trung úy! Nghe mà tức cười. Cứ làm như người ta là quân tốt đen không bằng!
Xcô-rích nguyên là một khẩu đội trưởng, người duy nhất trong tiểu đoàn đã được thưởng huy chương “Vì lòng dũng cảm” quý giá đối với người lính, hồi năm ngoái trong các trận chiến đấu ở gần Mát-xcơ-va và do phần thưởng đó cũng như do mẽ ngoài hấp dẫn, anh đã được đề bạt lên làm chuẩn úy và rất hài lòng nhận trách nhiệm này. Cố nhiên anh đã sinh ra để làm nhiệm vụ của người chuẩn úy. Trong thâm tâm anh coi mình cao hơn các trung đội trưởng, đặc biệt là anh chàng Đa-vla-chi-an xanh lướt, mũi nhọn và gầy gò này, viên trung úy nhãi nhép chưa ngửi mùi thuốc súng trong quãng đời còn ngắn ngủi của mình, chỉ cần hắt hơi một cái cũng đủ xẻ anh ta ra làm đôi. Đáp lại sự phẫn nộ của anh ta, chuẩn úy chỉ cười khẩy. Tay trung úy nhãi nhép này chả có gì đáng chú ý, hoàn toàn không xứng đáng, thế mà cũng lên mặt ta đây, làm như ngực mình đầy huân chương, có nhiều quyền hành lắm đấy… Với lại không ai trong khẩu đội có quyền trách móc Xcô-rích điều gì vì anh có thể làm như vô tình phanh áo choàng ra, phô trương tấm huy chương, rút chiếc bật lửa ra không phải từ túi quần mà từ túi ngực trên áo khoác. Chỉ có đối với Đrô-dơ-đốp-xki, đại đội trưởng, Xcô-rích mới tỏ ra kính cẩn đặc biệt và hơi e dè.
-Chả lẽ anh không xấu hổ à, chuẩn úy!-Đa-vla-chi-an nhắc lại, hơi bối rối vì cái giọng trâng tráo và nụ cười ngạo mạn của Xcô-rích.-Anh cười gì như tay hề ở rạp xiếc thế? Thế mà còn cười được! Anh thấy mình đúng à? Anh có thể dềnh dàng suốt ngày đêm ở hậu phương ư?
Lúc này ở gần trung đội của Đa-vla-chi-an không có một pháo thủ nào cả ngoài người chiến sĩ gác là trắc thủ Ca-xư-mốp. Như để kiểm tra, Ca-xư-mốp đã đi mấy vòng trong bóng tối xung quanh xe nhà bếp ấm áp, sực nức mùi thức ăn ngào ngạt, xuất hiện bất ngờ tại các vị trí đặt pháo này cùng với người cấp dưỡng ngồi nấp ở trên xe như người có lỗi. Và đột nhiên, anh điên cuồng rít lên, lên đạn lách cách, chĩa khẩu súng các-bin vào người cấp dưỡng:
-Đi đi! Cút!… Không phải là bếp của chúng tôi! Đây không thể là bếp của chúng tôi được! Mày là ma quỷ! Và chuẩn úy cũng là ma quỷ! Đi đi! Mày là quân Đức chứ không phải một người Xô-viết! Mọi người không có đến một mảnh bánh mì để cho vào bụng!… Mày ngủ ở đâu, đồ khốn kiếp! Cả tiểu đoàn đói mềm!… Tao giết mày!…
-chính phủ!-Đa-vla-chi-an hét lên giọng the thé.-Anh làm gì thế?
-Tôi sẽ bắn chết đồ khốn này!…
0

Nghe tiếng thét ở gần, trung úy Cu-dơ-nét-xốp chạy tới chỗ các khẩu pháo của mình tới các hỏa điểm của Đa-vla-chi-an, nơi xe nhà bếp đứng giữa sương mù trăng trắng phớt xanh. Lập tức anh trông thấy con ngựa sợ hãi khi thấy Ca-xư-mốp vung súng các-bin lên, nó lồng sang một bên, làm cái nồi kêu loảng xoảng, anh cấp dưỡng dáng người thấp bé từ trên ghế rơi bịch xuống đất, cắm mình trong tuyết. Ngồi trên mặt đất anh rền rĩ thảm hại bằng cái giọng nam cao có ý van xin:
-Gì đấy?… Vì sao? Cậu điên à?…-Và anh chồm dậy, lao tứi chỗ con ngựa túm lấy dây cương nói: “Pru, đồ khốn kiếp, mày làm sao thế…”
-Có chuyện gì thế, Đa-vla-chi-an?-Cu-dơ-nét-xốp hét to.-Vì sao ầm ĩm lên thế? Ca-xư-mốp!…
-Cậu nhìn kia kìa… bây giờ các ngài ấy mới hạ cố tới đây,-Đa-vla-chi-an đáp, nói lắp bắp vì xúc động.-Cậu biết đấy, Cu-dơ-nét-xốp suốt một ngày đêm không thấy tăm hơi nó đâu, suốt cả ngày đêm! Chúng nó ì ra ở phía sau!
Ca-xư-mốp tụt xuống bờ công sự, đặt khẩu các-bin trên đầu gối, đu đưa người và nói như hát:
-Tệ lắm, trung úy ạ, tệ lắm… Chúng nó không còn là người nữa… Lũ người này sẽ bảo vệ Tổ quốc một cách tồi tệ lắm. Chúng không biết yêu thương những người khác…
-À, rõ rồi, các ngài quý tộc ở hậu phương đã tới,-Cu-dơ-nét-xốp nói một cách chế giễu.-Thế nào, tình hình hậu phương ra sao? Địch có bắn không? Sao lại đứng đờ ra thế, chuẩn úy? Hãy kể cho anh em nghe đi: các anh đào công sự phòng ngự cho nhà bếp ở đó như thế nào? Lâu lắm không được gặp các anh! Dễ thường từ đầu cuộc hành quân cơ đấy nhỉ?
Xcô-rích nhếch mép cười, cặp mắt nheo sát xuống tận tinh mũi, vẻ nanh ác nhìn Cu-dơ-nét-xốp long xòng xọc.
-Đồng chí giáo dục chính trị cho các chiến sĩ kém đấy, trung úy ạ, như thế là không theo đúng điều lệnh, để cho các chiến sĩ chống lại chuẩn úy à? Tôi sẽ khiếu nại lên tiểu đoàn trưởng Đrô-dơ-đốp-xki. Kia kìa, Ca-xư-mốp đã dùng súng dọa nạt tôi.
-Anh muốn khiếu nại ai tùy thích, khiếu nại với quỷ cũng được!-Cu-dơ-nét-xốp thốt lên, không còn giữ được giọng bình tĩnh như trước.-Bây giờ đi ngay xuống mé dưới, tới chỗ anh em pháo thủ! Cho anh em trong tiểu đoàn ăn, nhanh lên!
-Đừng ra lệnh tôi quá quắt như thế, đồng chí trung úy. Tôi không phải là chiến sĩ trong trung đội đồng chí… Tôi trực thuộc Đrô-dơ-đốp-xki, trực thuộc tiểu đoàn trưởng chứ không phải đồng chí. Đồng chí có thể cứ việc nhận khẩu phần của mình, tôi không phản đối, còn như bêu riếu tôi và làm ầm ỹ lên thì không được đâu, tôi cũng là người biết tự trọng và thuộc điều lệnh. Xê-mê-nu-khin!-Xcô-rích oang oang gọi cấp dưỡng đúng như điều lệnh.-Phát khẩu phần cho trung úy!
-Tôi đã nói: đi xuống mé dưới, cho anh em trong tiểu đoàn ăn! Đồng chí có hiểu không? Hay là không hiểu?-Cu-dơ-nét-xốp sôi sùng sục.-Nhanh lên, đồng chí… con người am hiểu điều lệnh.
-Đồng chí không được quát tháo tôi như vậy! Trước tiên tôi có trách nhiệm đưa thức ăn cho tiểu đoàn trưởng. Đài quan sát ở đâu?
-Ở mé dưới, tôi đã nói rồi! Đến đó đồng chí sẽ biết rõ ngọn ngành! Đưa cả bếp xuống dưới đó. Đường xuống dốc ở gần cầu. Trung úy Đa-vla-chi-an! Anh hãy chỉ cho đồng chí ấy biết tiểu đoàn ở đâu. Kẻo không đồng chí ấy lại lạc mất một ngày đêm nữa!
Sau khi thấy chuẩn úy rất chững chạc đường hoàng đi theo Đa-vla-chi-an tới bờ sông, ngồi trên càng pháo đã căng ra, cố trấn tĩnh. Anh cảm thấy lo âu lạ lùng như thể còn có gì đó chưa trọn vẹn, chưa làm xong. Sau nhiều giờ đào đắp công sự, các bắp thịt và cánh tay nhức nhối, cổ như muốn gãy, chai tay rộp lên trong lòng bàn tay. Trên làn da lưng mà anh tưởng đã bong ra khỏi người mình, cơn ớn lạnh vẫn luồn vào châm như kiến đốt và anh không muốn nhúc nhích.
“Hay là mình ốm?”-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ và anh tìm thấy ở dưới càng súng cặp lồng nước do Tri-bi-xốp lấy từ ngoài sông về, khoan khoái đưa lên môi.
Trước bóng tối, những mảnh băng vô hình, mảnh như những cái kim, va vào thành cặp lồng đựng nước sông có mùi gỉ sắt, chúng lờ mờ gợi cho anh nhớ tới ngày tết xa xưa của tuổi thơ, tiếng lanh canh dịu dàng vô cùng của những đồ chơi bằng bạc, tiếng lách tách êm dịu của giấy trang kim trên cây thông, ngày tết vui nhất về mùa đông giữa hương thơm của cành thông và cây quít, giữa những ngọn nến sáng rực trong căn phòng ấm áp giờ đây đã xa xắc la lơ… Cu-dơ-nét-xốp uống mãi và khi nước lạnh ngắt thiêu đốt lồng ngực anh, anh tự nhủ sự uể oải lúc này rồi sẽ qua đi và mọi việc sẽ trở nên trong sáng và thật.
Ở chỗ anh em bộ binh-phía bên phải và bên trái các khẩu pháo-yên tĩnh.
Trên thảo nguyên phía trước mặt, những quầng sáng vẫn rực lên trên những khoảng trời rộng như trước đây. Ánh hồng trên bầu trời càng làm cho những mái nhà thấp và những cây liễu đông cứng của xóm làng lặng lẽ thẫm đen lại. Gió lộng là là thổi sát thành công sự, tuyết vung vãi làm trắng những hòn đất ngổn ngang.
-Đồng chí trung úy!… Ca-xư-mốp lên tiếng ở bên cạnh.
Anh rời khỏi quầng sáng trên trời, nhìn Ca-xư-mốp đang ngồi trên càng súng, khẩu các-bin kẹp giữa hai chân. Dưới ánh lửa đáng lo ngại ở chân trời xa, bộ mặt nhẵn nhụi không râu ria ngăm ngăm đen trông có vẻ ảm đạm.
-Tôi chả hiểu tại sao tôi lại làm như thế… Vì sao chuẩn úy xúc phạm mọi người như vậy? Đồng chí ấy không yêu tiểu đoàn. Con người hoàn toàn xa lạ, dửng dưng.
-Đồng chí đã làm đúng,-Cu-dơ-nét-xốp nói.-Thôi đừng nghĩ tới chuyện đó nữa. Đồng chí hãy ra chỗ bếp, ăn uống đi. Tôi ngồi đây một lát.
-Không.-Ca-xư-mốp lắc đầu.-Tôi còn phải gác hai giờ nữa. Có thể chịu đựng được. Ở miền Nam Ca-dắc-xtan cũng có tuyết. Trên núi tuyết phủ đầy. Nhưng tôi không bị cóng.
-Chắc tuyết ở đó khác chứ?-Chẳng hiểu vì sao Cu-dơ-nét-xốp hỏi, bất chợt anh muốn hình dung cuộc sống hạnh phúc yên tĩnh, chói trang ánh mặt trời mà anh chưa hề biết ở miền đất xa xôi phía Nam Ca-dắc-xtan huyền ảo như ở đầu bên kia của địa cầu, nơi không thể có thứ băng giá tàn nhẫn, cóng lạnh, gió thổi ào ào trên thành công sự, đất lạnh cứng như xi măng và những quầng sáng mênh mông rực lên ở chân trời.-Quê đồng chí ấm áp lắm nhỉ? Nhiều nắng chứ?-Anh lại hỏi tuy biết rằng Ca-xư-mốp sẽ xác nhận, xem đó như một niềm vui xa xôi đang tồn tại ở một nơi nào đó trên thế giới.
-Ấm áp lắm. Nắng chói chang. Thảo nguyên. Núi đồi-Ca-xư-mốp nói và bẽn lẽn mỉm cười với chính mình.-Về mùa xuân cỏ mọc xanh um. Nhiều hoa lắm. Một đại dương xanh rờn. Sáng sáng không khí trong veo… Hít thở rất nhẹ nhõm. Những dòng sông bắt nguồn từ núi trong suốt… Với tay ra cũng bắt được cá…-Anh im bặt, trầm ngâm đu đưa người trên càng khẩu pháo. Có lẽ anh tưởng rượng rõ rệt và thả hồn mình về đất quê hương nằm giữa các rặng núi, nơi suốt ngày ánh nắng chói trang tỏa trên những lùm cỏ xanh mượt mà, những dòng sông trong vắt như thủy tinh, bắt nguồn từ trong núi chảy xiết, đầy tôm cá.
-Ánh nắng và những dòng sông bắt nguồn từ trong núi,-Cu-dơ-nét-xốp nhắc lại, anh cũng hình dung ra cảnh tượng đó.-Giá tôi được nhìn ngắm cảnh đó thì hay quá.
-Đồng chí mà đến thăm quê tôi thì sẽ mê miền núi, không dứt ra về được đâu,-Ca-xư-mốp nói.-Thiên nhiên phong phú lắm. Mọi người đều tốt bụng… Tôi có thể chết vì quê hương tươi đẹp của mình. Hồi đầu chiến tranh tôi cứ nghĩ: có lẽ nào bọn Đức lại mò được tới vùng mình? Tôi vội vã gia nhập quân đội. Tôi nói ở phòng tuyển quân: hãy ghi tên tôi, tôi xin đi chiến đấu… Còn đồng chí sống ở Mát-xcơ-va?
-Phải, ở khu Da-mô-scơ-vô-rét-si-ê, Cu-dơ-nét-xốp đáp và khi xướng lên tên gọi đó anh hình dung rõ rệt những ngõ hẹp yên tĩnh, những cây cổ thụ rườm rà cạnh cửa sổ trong các sân, bầu trời hoàng hôn tháng Tư màu xanh ngắt với những ngôi sao đầu tiên dịu dàng lấp lánh trên thành phố ấm áp, cuộc chơi bóng chuyền muộn màng, bóng va vào hàng rào, ánh đèn xe đạp nhấp nháy trên hè phố,-anh tưởng như trông thấy rõ tất cả những cái đó đến nỗi anh nghẹn ngào vì những hồi ức xô nhau tới và anh nói to lên:-cả lớp tôi đã tòng quân năm bốn mốt…
-Gia đình anh còn ai ở nhà không?
-Còn mẹ và em gái.
-Ông cụ mất rồi à?
-Bố tôi bị cảm chết trên công trường xây dựng nhà máy Ma-gơ-nhi-tơ-goóc-xcơ. Ông là kỹ sư.
-Ái dà, không có bố thì gay lắm! Còn tôi thì đủ cả bố, mẹ, bốn chị em gái. Một gia đình lớn. Phải đến cả một trung đội ngồi quanh bàn ăn. Hết chiến tranh, mời đồng chí đến thăm chúng tôi, trung úy. Đồng chí sẽ phải mê phong cảnh vùng tôi. Và rồi đồng chí muốn ở hẳn lại đó.
-Không, tôi sẽ không đánh đổi Da-mô-scơ-vô-rét-si-ê của tôi lấy bất cứ cái gì, Ca-xư-mốp ạ,-Cu-dơ-nét-xốp phản đối.-Cậu biết không, mỗi tối mùa đông ngồi trong căn phòng ấm ấp, chiếc lò sưởi kiểu Hà Lan cháy rực, tuyết rơi ngoài cửa sổ. Còn mình ngồi đọc sách dưới đèn trong lúc mẹ mình đang làm gì đó trong bếp… Chẳng hiểu sao mình thích như thế.
-Tuyệt quá,-Ca-xư-mốp mơ mộng lắc lắc đầu.-Thật là tuyệt khi có một gia đình êm ấm.
Họ im lặng. Phía đằng trước và phía bên phải các khẩu pháo lại vang lên tiếng cuốc xẻng đào đất bình bịch của anh em bộ binh. Ở phía đó không ai đi trên thảo nguyên nữa và không nghe thấy một tiếng động nào từ các khẩu đội bên cạnh.
chỉ có ở mé bên dưới, từ phía bờ sông nơi khẩu đội một đào hầm đất trên sườn dốc bờ sông cho anh pháo thủ, thỉnh thoảng bay tới những giọng nói đứt quãng của anh em chiến sĩ và tiếng cặp lồng khẽ loảng xoảng. Còn ở phía bên kia sông, chiếc ô tô vẫn đơn độc kéo ở sân bên trong phía Bắc khu làng, nhưng tất cả những tiếng động đó dường như bị chìm lút trong cái im lặng mênh mông đang tỏa rộng từ phía Nam thảo nguyên.
-Im lặng kỳ lạ…-Cu-dơ-nét-xốp nói.-Tôi không thích cảnh im lặng này từ năm bốn mốt.
-Tại sao chúng nó không bắn nhỉ? Quân Đức lặng lẽ tiến tới đây à?
-Đúng, chúng không bắn.
0

Cu-dơ-nét-xốp đứng dậy, vươn thẳng tấm lưng, ê ẩm vì lao động và anh lập tức nhớ tới cặp lồng nước. Anh không muốn uống nữa tuy miện vẫn khô như trước. Anh bị cóng lạnh nhiều vì gió thổi lồng lộng trên bờ sông cao. Giá lạnh xuyên thấu quần áo lót ẩm ướt, chiếc áo va rơi mặc trên người và anh thoáng rùng mình. “Mình mệt mỏi đến thế sao? Hay là mình đã bị cóng. Có lẽ phải làm tí Vốt ca cho ấm người!”-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ và anh bước đi trên những mô đất đông cứng tạo lạo xạo về phía bờ sông, nơi có những bậc lên xuống trổ vào bờ dốc.
Xe nhà bếp đậu ngay trên mặt băng trên sông, món đậu nghiền tỏa hương thơm ngào ngạt; dưới cái nồi mở vung, hơi bốc mù mịt, ngọn lửa vẫn khẽ bập bùng cháy đỏ. Tiếng gáo va vào cặp lồng loảng xoảng. Anh em pháo thủ túm tụm xung quanh bếp, hòa thành một đám đen thẫm, vây quanh người cấp dưỡng đang múc thức ăn. Có tiếng của những người lính không hài lòng nhưng đã ấm bụng và phấn chấn lên nhờ chút rượu Vốt ca, trò chuyện với nhau.
-Lại cái món đậu nghiền, chán ngắt! Họ không nghĩ ra được món gì khác cả!
-Nào múc đi, múc đi, hay lại tơ tưởng đến bà xã? Anh em này, vì sao mà mọi tay cấp dưỡng đều bủn xỉn thế nhỉ?
-Chết nghẹn vì đậu! Cậu có biết nếu ngốn nhiều đậu quá thì sẽ xảy ra chuyện gì không?
-Thuộc ngành sản xuất có độc hại phải được uống sữa chứ!
-Ba hoa vừa vừa chứ, đồ lưỡi không xương… Lại còn khôn ngoan tưởng tượng ra cả sữa nữa.-anh cấp dưỡng hằn học trả lời tứ phía.-Vì sao các anh trách móc nào? Đối với các anh, tôi là con bò sữa chăng?
Cu-dơ-nét-xốp hít thở không khí lạnh giá trong lành của dòng sông đóng băng cùng với mùi xúp đậu bén lửa và anh cảm thấy buồn nôn. Anh quay người tránh xa xe nhà bếp, trong bóng tối dưới chân bờ dốc, anh vấp phải cuốc xẻng để ngổn ngang. Một khe sáng hẹp thẳng đứng chợt lóe lên trước mắt anh, từ chỗ có ánh sáng vọng ra tiếng cười nói. Anh đưa tay sờ soạng, gạt tấm vải bạt ra và nước vào căn hầm đầy mùi đất sét ẩm và lại thấy cả mùi thức ăn nữa.
Trong căn hầm đào sâu ngập đầu người, ngọn đèn làm bằng vỏ đạn đại bác đặt trên đáy thùng tỏa ra ánh sáng trắng bập bùng. Những cái cặp lồng đựng xúp bốc khói đặt bên cạnh những ca rượu trên tấm vải bạt trải rộng. Trung úy Đa-vla-chi-an và hạ sĩ Nết-trai-ép nằm quay đầu về phía đèn. Đầu gối thu vào dưới tấm áo choàng ngắn, Dôi-a ngồi hơi nghiêng, gặm miếng lương khô, thận trọng xem quyển an bom nhỏ nào đó đóng bằng thứ da mềm màu đen, có chiếc khuy bấm tròn vàng chóe như kiểu an bom-ví đựng tiền.
-Cu-dơ-nét-xốp!… Thế là rốt cuộc cậu đã tới…-Đa-vla-chi-an kêu to, mặt đỏ lên sau khi ăn uống. Mặt anh như gầy hơn sau công việc mệt mỏi lúc ban đêm còn chiếc mũi nhọn và cặp mắt anh lóng lánh như mắt chuột nhìn lửa.-Cậu mất hút ở đâu thế hả? Ngồi với bọn mình đi! Cặp lồng của cậu đây. Bác Tri-bi-xốp tận tâm của cậu mang tới đấy!
-Cám ơn.-Cu-dơ-nét-xốp đáp và sau khi sửa lại cổ áo choàng, ghé nằm cạnh Đa-vla-chi-an vừa nhích ra nhường chỗ. Từ bóng tối ở ngoài trời bước vào, anh thấy nhức mắt khi nhìn vào ngọn đèn thấp bằng dầu xăng.-Có cái ca nào bỏ không không?
-Lấy ca cả ai chả được,-Nết-trai-ép nói và nhát cặp mắt nâu về phía Dôi-a.-Mọi người đều khỏe mạnh cả.
-Ca của mình đây, Cu-dơ-nét-xốp,-Đa-vla-chi-an mời và cũng nhìn về phí Dôi-a, những ngón tay nhỏ nhắn, lấm đất cầm cái ca đầy rượu chia cho bạn.-Cậu biết không, lúc này mình chẳng thích uống gì cả, chắc là rượu bị pha, có mùi quái quỷ gì ấy. Thậm chí hình như có cả mùi dầu hỏa.
-Đúng thế,-Nết-trai-ép nói, nụ cười khẩy rung rung dưới làn ria mép.-món hỗn hợp. Rượu pha với nước hoa. Chỉ giành cho con gái thôi.
Cố giữ cho tay khỏi run. Cu-dơ-nét-xốp đưa cái ca lên miệng, ngửi thấy mùi rượu nhưng anh cố gượng, nghĩ rằng tí nữa cơn ớn lạnh sẽ qua, rượu Vốt ca sẽ làm cho cơ thể nóng lên, nhẹ nhõm, anh nói một cách gượng gạo.
-Nào thì uống… Cầu cho bọn Đức xâm lược chết quách đi!
Anh cố gượng uống thứ nước cháy bỏng có pha mùi gỉ sắt và ho sặc sụa. Anh căm ghét rượu Vốt ca, không tài nào làm quen được với khẩu phần rượu hàng ngày ở ngoài mặt trận.
-Thứ nước kinh khủng thật!-Đa-vla-chi-an kêu lên.-Không thể uống nổi. Khác nào tự sát! Tôi đã bảo mà…
-Nhắm món xúp đậu đi, đồng chí trung úy.-Nết-trai-ép nhếch mép cười, đậy nắp cặp lồng lại.-Rồi khắc quen. Sẽ không thấy rát họng.
-Có lẽ thế,-Cu-dơ-nét-xốp đáp hầu như rất khẽ nhưng anh không đụng tới cặp lồng thức ăn, với lấy mẩu lương khô làm bằng bột mì đen trên tấm vải bạt và tựa lưng vào vách hầm, bắt đầu nhai.
Dôi-a không ngửng đầu lên, nói:
-Anh Nết-trai-ép này, anh lấy quyển an bom này ở đâu thế? Anh giữ nó làm gì? Một quyển an bom kỳ lạ…
“Tại sao cô ấy lại ở đây chứ không đi với Đrô-dơ-đốp-xki nhỉ?-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ, tựa hồ như anh nghe thấy tiếng Dôi-a từ xa, cảm thấy bụng ấm dần lên.-Mình chả hiểu những chuyện này”.
-Dôi-e-sca, hình như cô không tin tôi dẫu cô rất khó chịu vì không tin. Chắc cô nghĩ tôi là tay công tử bột ngoài vỉa hè. Một tay ba hoa láo toét,-Nết-trai-ép nói bằng giọng vui vẻ đáng tin cậy.-Cô hãy cho phép tôi trình bày chi tiết. Lúc đang thành lập trung đoàn tôi đã đổi một bó thuốc lá cho một anh ở mặt trận về lấy quyển an bom này. Anh ta bảo anh ta đã lấy được ở một con mẹ Đức bị giết gần Vô-rô-ne-giơ trong chiếc xe tham mưu. Kể ra cũng thú vị thật. Tôi thích nên giữ lại. Không phải là con mụ Đức mà là người đàn bà to như cái bồ sứt cạp. Cô giở tiếp mà xem.
-Kỳ lạ,-cô nói, trầm ngâm giở quyển an bom.-Rất kỳ lạ…
-Kỳ lạ cái gì, Dôi-e-sca?-Nết-trai-ép chống khuỷu tay nhích lại gần Dôi-a.-Rất thú vị.
-Người đàn bà Đức đẹp thật! Khuôn mặt, vóc dáng… Cái ảnh này, lúc mụ ta vận bộ đồ tắm. Mụ ta có cấp bậc gì không?-Dôi-a nhìn tấm ảnh và hỏi.-Anh nhìn xem, mụ ấy mặc quân phục trông kiêu căng làm sao. Căng ra như thể mặc mỗi chiếc áo con vậy.
-Lính SS đấy,-Nết-trai-ép quả quyết.-Có tư thế gớm, ngực ưỡn thẳng! Bộ ngực ghê chưa, Dôi-e-sca!
-Anh thích hở?
-Không thích lắm. Nhưng chẳng sao. Một mẫu người.
Trung úy Đa-vla-chi-an có những vết tàn nhang nổi bật trên má nghển cổ, nghếch đôi mắt màu mận chín nhìn vào an bom. Cu-dơ-nét-xốp tựa lưng vào vách hầm, từ trong bóng tối nhìn Dôi-a, khuôn mặt nghiêng xuống dưới ánh sáng ngọn đèn dầu và ký ức của anh căng thẳng một cách kỳ lạ cố sức tìm trên hàng mi dài của cô, trong đôi mắt nhìn xuống của cô, trong quyển an bom đóng bằng da mềm đó một cái gì quen thuộc đã qua, không nắm bắt được, tựa hồ như anh đã có lúc nào đó trông thấy rõ, Dôi-a, trong cảnh tĩnh mịch ấm áp vô chừng, vào lúc tuyết rơi buổi chiều ngoài cửa sổ, trong căn nhà được sưởi nóng thuận tiện để nghỉ đêm, cạnh cái bàn phủ khăn sạch sẽ trắng tinh để đón ngày lễ, quyển an bom của gia đình mở rộng trên khăn giải bàn và ngọn đèn bàn soi sáng những khuôn mặt nào đó thân thương, còn ở đằng sau, ở ngoài vòng ánh sáng là khoảng tranh tối tranh sáng mịn như nhung của căn phòng, là sàn nhà bốc lên mùi xà phòng cọ rửa, giá gương cũ với chiếc khung chữ nhật sẫm màu phản chiếu cái giường mạ kền và giá gương cổ kính đó là những vật đặt trong một căn hộ ở Mát-xcơ-va, trên phố Pi-at-nit-xcai-a, anh chỉ có thể được nhìn thấy mẹ và em gái anh một cách gần gũi như thế, thân thuộc như thế, thanh bình như thế chưa chưa bao giờ anh có thể nhìn thấy trong căn phòng này, khuôn mặt nghiêng xuống của Dôi-a ngồi bên bàn cạnh mẹ anh và em gái anh, cạnh giá gương hào nhoáng, cổ kính và khôi hài đã ố vàng vì thời gian, niềm kiêu hãnh duy nhất của mẹ là kỷ niệm về bố anh: ông đã mua giá gương này trong ngày cưới, hình như của một anh giàu nào đó phất lên trong thời kỳ chính sách kinh tế mới và ông cực kỳ hài lòng về món quà tặng cồng kềnh của mình…
0

-Có lẽ mụ này thuộc một gia đình giàu có. Anh nghĩ thế nào, Cu-dơ-nét-xốp? Sao anh lại im lặng thế?
-Không, tôi không im lặng đâu.-Cu-dơ-nét-xốp rũ bỏ cơn mơ màng nhẹ nhõm làm anh đờ đẫn. Dôi-a nhìn anh với nụ cười dò hỏi,-Cô muốn nói… về mục Đức này ấy à?-Anh hỏi.
-Đúng thế.
Anh đã trông thấy những tấm ảnh của mụ Đức bị giết này từ trước đấy, khi đang hành quân, quyển an bom được truyền tay, vì không có việc gì làm, Nết-trai-ép đã đưa cho cả trung đội xem. Và bây giờ khi nghe Dôi-a hỏi, Cu-dơ-nét-xốp nhích người khỏi vách hầm, nhìn vào những tấm ảnh, không có hứng thú gì đặc biệt. Người đàn bà Đức tóc vàng, vận bộ quân phục bó sát người, cười trong ống kính, sung sướng một cách trêu ngươi giữa những người trong gia đình đang mỉm cười, ngồi thành hình vòng cung trên những chiếc ghế bành bằng mây, cạnh cái bàn nhỏ thấp đặt giữa một bãi cỏ xanh tươm tất. Trên cái ảnh khác là một bãi biển vàng chóe, những cánh buồm trắng lóa giữa biển xanh, những cái lều trắng trên bờ biển và người đàn bà Đức nước da rám nắng màu sô cô la vận áo tắm đứng theo tư thế kiêu hãnh và hơi có vẻ kịch, choàng lấy vai người bạn gái có khuôn mặt nhỏ, dịu dàng như búp bê, tấm khăn tắm sặc sỡ phủ tấm thân trần, mớ tóc bồng xõa trên vai. Tiếp đó là hàng loạt những khuôn mặt đàn bà căng thẳng và nghiêm nghị, nhiều kẻ ưỡn ngực trong những bộ quân phục đứng trước trại lính. Rồi đến vài tấm ảnh nữa chụp trên biển; một cánh buồm no gió trên chiếc thuyền buồm lệch hẳn đi; người đàn bà Đức tóc vàng đó với bộ hông nở nang bị những tia nước làm cho ướt át, mụ ta táo bạo kéo chiếc dây chão trên đầu người bạn gái có mớ tóc bồng, bị con sóng xô tới tóe nước lên, sợ hãi ôm chặt lấy đôi chân rám nắng tròn trĩnh của mụ.
-Người đàn bà tóc vàng này… chắc là được đàn ông ưa thích,-Dôi-a nói, không rời mắt khỏi quyển an bom.-Dẫu sao trông cũng đẹp… Còn anh có thích không, Đa-vla-chi-an?
-Trung úy Đa-vla-chi-an đang mải ăn xúp, không dè bị hỏi, nuốt vội và bực tức thốt lên:
-Xúp của vị cấp dưỡng đáng kính của chúng ta nhạt như nước ốc! Nuốt không nổi. Đến nghẹn mất… Một bộ mặt kinh tởm!-Anh liếc nhìn tấm ảnh và phát biểu.-Có gì ở đây có thể làm cho thích thú? Trông cũng biết ngay đây là một con mẹ SS ngốc nghếch. Mụ ta cười như con mèo cái. Tôi căm thù những cái mõm phát xít ấy! Sao mụ ta có thể cười được nhỉ?
”Phải rồi, cậy ấy nói đúng,-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ.-Tại sao mình cũng vậy, hễ trông thấy một cái gì đó của bọn Đức là lập tức cổ họng thấy nghèn nghẹn?”
-Không thể tranh cãi về thị hiếu được, Dôi-e-sca ạ!-Nết-trai-ép cười khanh khách, nói.-Tôi đã xé bỏ trang cuối cùng. Giá các anh trông thấy những tấm ảnh đó của mụ ta thì có thể chết được! Đủ kiểu trụy lạc khác nhau, đặc biệt là của nữ giới. Các cậu có biết nữ thi sĩ Xa-phô không? Ở Rô-ma ấy mà…
-Thế thì sao?-Dôi-a ngạc nhiên dướn cặp lông mày lá liễu nhìn anh.-Chỉ có điều không phải ở Rô-ma mà ở Hy Lạp cơ. Rồi thế nào nữa?
-Anh lại bắt đầu giở trò à? Anh nói với Dôi-a về sự trụy lạc nào hả, Nết-trai-ép?-Đa-vla-chi-an đỏ mặt chỉnh.-Anh có cái thói kỳ quặc thật! Hay là anh đã uống quá một trăm gam rượu?
-Tôi chỉ uống suất của tôi thôi, đồng chí trung úy ạ. Và tỉnh táo như một nữ tu sĩ.
-Đa-vla-chi-an, anh bảo vệ tội đấy à?-Dôi-a nói một cách âu yếm và đặt lòng bàn tay lên vai anh, khẽ vuốt ve.-Anh là chú bé kỳ diệu thật! Anh không biết gì về tất cả những chuyện đó ư?… Còn tôi đã trông thấy cái trò bẩn thỉu đó trên một chiếc xe bọc thép của Đức ở gần Khác-cốp… khi chúng tôi thoát được ra khỏi vòng vây. Khắp thành xe đều dán kín những tranh ảnh kiểu đó.
Đa-vla-chi-an bối rối nhoài lưng ra khỏi những ngón tay vuốt ve dịu dàng và hạ cố của Dôi-a rồi anh đỏ mặt, đầu tóc bù xù, buông sõng:
-Xin hãy bỏ ngay những nhận xét không đúng chỗ của mình đi, nữ đồng chí cứu thương! Tôi không phải là một chú bé. Và xin đừng vuốt be tôi. Tôi không thích…
-Thôi được, được. Thế là tôi biết rõ rồi,-Dôi-a nói.
“Không, cậu ấy quả thực là một chàng trai tuyệt vời, cái anh chàng Đa-vla-chi-an ấy,-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ, cảm thấy hơi ấm do uống chút rượu Vốt ca lan khắp cơ thể một cách dễ chịu và anh không tham gia vào câu chuyện.-Bao giờ mình cũng ưa thích cậu ấy”.
-Dôi-e-sca!-Nết-trai-ép nói và bỏ cái mũ lông ra, mỉm cười mân mê, nghiêng mái đầu to đẹp, tóc đen của mình.-Trung úy Đa-vla-chi-an đã có vợ chưa cưới, còn tôi thì lẻ loi một mình. Chỉ có bà mẹ ở Vla-đi-vô-xtốc. Trai chưa vợ. Cô cứ vuốt ve đi, tôi sẽ chịu đựng được tôi thích chịu đựng như thế.
-Vớ vẩn, cái anh Nết-trai-ép này,-Dôi-a nhún vai đùa cợt đáp.-Vuốt ve thì có ích gì cho anh nào? Anh vẫn cứ không hiểu đúng mọi chuyện. Với lại ở Vla-đi-vô-xtốc anh được các nữ hoàng và vũ nữ ba lê vây quanh cơ mà… Không, Đa-vla-chi-an này, chả lẽ anh có vợ chưa cưới thật à?-Cô lại hỏi một cách âu yếm.-Thế mà tôi không biết.
-Dôi-e-sca thân mến, tôi sẽ hiền như cục đất,-Nết-trai-ép cầu xin một cách khá nghiêm chỉnh tuy với một giọng say mê quấy rầy, đầu cúi xuống.-Cô hãy chạm đầu ngón tay vào đi… Hay là cô ghê sợ? Nếu không ngày mai tôi có thể bị giết mà không được biết những ngón tay của cô dịu dàng như thế nào?
-Sao lại nói như vậy ở đây… Ngốc nghếch thật!-Đa-vla-chi-an phẫn nộ, nháy mắt lia lịa nhìn Nết-trai-ép.-Anh hãy chấm dứt những trò đê tiện vỉa hè không hợp thời của mình đi hạ sĩ! Đó là cái trò gì vậy? Chả lẽ anh không dùng đầu óc mình vào việc gì khác được à? Kỳ quặc thật! Ở vào địa vị Dôi-a có lẽ tôi sẽ cho anh ấy cái bạt tai! Chúng mình… là những thằng ngốc thế nào ấy, chả hiểu mô tê gì cả. Đúng thế!
-Cám ơn trung úy…
Dôi-a cười vang đồng thời cô ghìm tiếng cười, cắn môi, đôi mắt rực sáng của cô nheo lại chằm chằm nhìn Đa-vla-chi-an đang bối rối.
Nết-trai-ép đội mũ lên đầu, rõ ràng là bực bội vì người ta ngăn cản trò chơi giải trí thú vị của mình, khuôn mặt công tử bột lấm chấm mấy cái bớt mượt mà của anh ta lộ vẻ bực bội, anh nói:
-Uổng công vô ích, đồng chí trung úy ạ. Tôi muốn thử Dôi-e-sca, thế mà đồng chí lại sinh chuyện!… Cô ấy đóng đủ các vài: nào là đã có chồng, nào là đã ba mươi tuổi, nào là cái gì cũng biết còn bản thân cô ta… là một bó hoa bồ công anh!…
Nhưng bắt gặp tia mắt của cô, anh chợt im bặt.
-Những gì tôi đã trải qua anh còn chưa được nếm trải đâu, anh Nết-trai-ép ạ!-Dôi-a mạnh bạo nói.-Anh hãy đổ hộ rượu Vốt ca vào tay tôi.-Cô ra lệnh bằng cái giọng như thể cô có quyền ra lệnh cho Nết-trai-ép.-Sau khi xem quyển an bom của anh, ngón tay tôi nhớp nháp kinh khủng. Anh hãy giấu quyển an bom đi. Và khi nào muốn thử thách mình, anh hãy nhìn vào con mẹ Đức trần truồng này vào giây phút khó khăn!
Nết-trai-ép cười khanh khách có ý tự vệ, chống khuỷu tay nhổm dậy, tìm chiếc ca của cô và với vẻ độ lượng có ý báo thù, anh đổ tất cả chỗ rượu Vốt ca cho đến giọt cuối cùng lền lòng bàn tay Dôi-a khum lại làm gáo.
-Tất nhiên là tôi tiếc số rượu này nhưng vì cô, Dôi-e-sca.
-Vì tôi thì không cần phải làm gì cả. Cám ơn.-Dôi-a chụm đầu gối lại, tà áo choàng ngắn tỏa tròn quanh đầu gối, đưa tay về phía ngọn đèn dầu bập bùng rồi ngoái nhìn Cu-dơ-nét-xốp.-Hình như anh ngủ phải không, trung úy? Thật kỳ lạ khi một con người im lặng. Như người tỉnh táo giữa đám say rượu. Anh không muốn ăn à?
-Tôi có ngủ đâu,-Cu-dơ-nét-xốp lên tiếng, ngồi im trong bóng tối, tựa lưng vào vách hầm.-Chẳng qua là tôi ngồi hưởng cái ấm áp…
Quả thực sau khi uống chút rượu Vốt ca, anh cảm thấy khoan khoái vì cái ấm áp dễ chịu của căn hầm đất, hơi ẩm ngột ngạt của nó, ánh sáng lung linh của ngọn đèn tự làm lấy, tiếng trò chuyện, những bóng người xiêu vẹo trên vách hầm ươn ướt. Cơn ớn lạnh bên trong đã qua. Tuy mồ hôi nhễ nhại vì dùng choòng đào đất anh vẫn cứ bị cóng lạnh hết cả người bên bờ sông lộng gió, cái lạnh vẫn luồn vào tận xương bả vai nhưng anh không muốn thay đổi tư thế, không có sức để đụng đậy. “Cô ấy đã bị bao vây ở Khác-cốp? Cô ấy đã chiến đấu? Khuôn mặt của cô ấy kỳ lạ thật.-anh lờ mờ nghĩ đến khi nhìn Dôi-a.-Nói chung không đẹp. Chỉ được đôi mắt. Và nét mặt hay thay đổi. Nhưng cả Nết-trai-ép, cả U-kha-nốp cũng như mình đều ưa cô ấy… Giữa cô ấy với Đrô-dơ-đốp-xki có chuyện gì nhỉ? Tất cả những cái đó thật lạ lùng…”.
Đa-vla-chi-an cắt ngang dòng suy nghĩ thanh thản của anh:
-Này, Cu-dơ-nét-xốp! Tại sao cậu không ăn? Xúp nguội hết cả rồi!
-Ai bảo xúp nguội?-Một giọng trầm oai nghiêm vang lên ngoài tấm vải bạt che căn hầm.-Xúp nóng bỏng ấy chứ! Có vào được không?
-Được chứ, xin mời chui!-Giọng U-kha-nốp vang lên ở bên ngoài. Vào đi!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-11 15:45:37ct.ly>
Có tiếng chân bước nặng nề ở gần cửa hầm, tiếng hòn đất lăn xuống mé dưới, có người lần sờ tấm vải bạt che cửa hầm, tìm thấy mép tấm bạt, khuôn mặt hẹp của anh mọng lên, rát bỏng vì sương giá, cặp mắt như mắt chim, hơi nanh ác; cái mũ lông anh đội trên đầu cách lông mày hai đốt ngón tay đúng như điều lệnh.
-Anh không lạc đấy chứ, chuẩn úy?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi, chỉ trông thấy chiếc mũ mới trên đầu Xcô-rích cũng đã nhớ ngay tới sự chậm trễ của viên chuẩn úy.-Anh cần gì?
-Đồng chí nghiêm khắc quá đấy, trung úy. Có thể nói nghiêm khắc hơn cả tiểu đoàn trưởng!-Chuẩn úy lên tiếng với giọng châm chọc xứng với địa vị vững chãi của mình và nói thêm:-Đây, các anh hãy nhận khẩu phần phụ đi, và có lệnh triệu anh và trung úy Đa-vla-chi-an tới gặp đại đội trưởng… Cả cô nữ cứu thương nữa. Tôi từ chỗ đại đội trưởng…
-Anh hãy để khẩu phần phụ lại đây rồi đi đi.
-Tôi không thể để ba lô lại được. Sau rồi đó có tìm được vết tích. Mà người khác thì không lăn lộn trên đất.
-Anh vào đây nhanh nhanh lên và tháo ba lô ra!
Chuẩn úy lách người chui vào hầm đất, mang theo cái lạnh ở bên ngoài vào, đặt ba lô thực phẩm trên tấm vải bạt và cố ra vẻ đàng hoàng rút bánh lương khô, bơ, đường, thuốc lá-cả một kho báu mà giờ đây Cu-dơ-nét-xốp dửng dưng. Sau khi uống một chút rượu Vốt ca và ăn miếng bánh lương khô, anh lầm tưởng là mình đã no.
-Của hai người đấy!-Chuẩn úy nhắc.-Của trung úy Đa-vla-chi-an và anh.
-Anh đi đi,-Cu-dơ-nét-xốp ra lệnh.-Chúng tôi sẽ liệu cho nhau. Hay anh còn muốn nói gì nữa?
-Rõ…
chuẩn úy gấp ba lô lại, ôm chặt nó vào ngực, đi giật lùi ra khỏi hầm đất, đầu cúi xuống, liếc cặp mắt như mắt chim bất mãn nhìn Dôi-a lúc đó ngồi im, giận dữ gạt tấm vải bạt ra, tỏ cho mọi người thấy rõ rằng anh ta không muốn Dôi-a có mặt ở đây. Tiếp đó lại nghe thấy giọng nói của U-kha-nốp vang lên ở gần cửa hầm:
-Ôi tôi yêu cả anh nữa, chuẩn úy ạ! Tôi không biết vì sao tôi mê anh lắm, anh như bố đẻ của chúng tôi, người trông nom việc hậu cần cho chúng tôi. Tôi kính trọng anh vì sự cần mẫn và vì thái độ dịu dàng của anh với toàn khẩu đội.
-Anh ba hoa cái gì thế, thượng sĩ?-Giọng nam trầm của chuẩn úy vang lên ngoài cửa hầm.-Sao anh lại ăn nói như thế? Anh cười cái gì? Nghiêm!
-Khẽ khẽ chứ chuẩn úy!-U-kha-nốp cười vang.-Sao lại ầm ĩ lên thế! Đứng nghiêm ở chỗ nào được?
-Các trung đội trưởng đã buông lỏng các hạ sĩ quan, không còn thể thống gì nữa! Rồi tôi sẽ cho anh biết tay, thượng sĩ!-Chuẩn úy gầm lên ở phía ngoài tấm vải bạt và rõ ràng là anh nói điều đó không chỉ với U-kha-nốp mà cả với hai vị trung úy hẳn là ngồi trong hầm cũng nghe thấy.-Rồi các anh sẽ phải phục tùng!… Tôi đã trừng trị những tay cứng đầu cứng cổ hơn thế cơ! Tôi không chấp nhận thói quân hồi vô phèng như vậy trong khẩu đội!…
-Chỉ có điều đừng gào lên như thế, chuẩn úy ạ, chừng nào tôi còn chưa ngẫu nhiên đụng đến anh!-U-kha-nốp vui vẻ khuyên nhủ.-Vì sự quan tâm như của người cha, chuẩn úy ạ… con người vàng ngọc của chúng tôi ạ, anh hãy lo giáo dục các cấp dưỡng của mình. Họ sẽ hiểu ngay. Tôi đã nói hết.
Một phút sau, U-kha-nốp vén tấm vải bạt loạt xoạt bước vào trong hầm, nét mặt hầu như hoàn toàn bình thản. Anh tháo đôi bao tay bám đầy đất, xoa tay trên ngọn đèn, nhìn khắp lượt mọi người bằng cặp mắt táo bợn, dường như lúc nào cũng chống đối. Chiếc răng cửa bịt bạc lóe sáng một cách lạnh lùng khi thượng sĩ nói hoặc mỉm cười làm cho vẻ mặt của anh đặc biệt có vẻ táo tợn.
-Công việc đã xong, trung úy ạ, còn lại hai giờ nữa,-nhân tiện anh báo cáo với Cu-dơ-nét-xốp.-Thế nào, ăn sáng, ăn trưa và ăn tối cùng một lúc à? Hay đấy nhỉ! Nếu các anh tưởng là tôi no thì nhầm to đấy. Cái cặp lồng kếch xù của mình đâu nhỉ, Nết-trai-ép?
Căn hầm đất trở nên chật chội ngay vì vóc người to lớn, lực lưỡng của U-kha-nốp, vì giọng nói oang oang của anh, vì bóng anh choán mất nửa vách hầm, vì mùi sương giá hăng hắc thấm vào từng sợi trên chiếc áo choàng của anh, từ lúc bắt đầu công việc đến giờ anh chưa hề được sưởi ấm.
-Thượng sĩ, cái chính là anh em lạnh cóng cả.-Nết-trai-ép rót rượu Vốt ca từ cặp lồng vào ca một cách hậu hĩ.-Mọi người chờ đợi mãi.
-Tôi đi đây, các bạn nhé,-Dôi-a vừa nói vừa cài khuy móc áo choàng ngắn.
-Dôi-a này…-U-kha-nốp ngồi gần Dôi-a ở chỗ thuận tiện trước những to để trên tấm vải bạt.-Dôi-a hãy bỏ tất cả mọi thứ đi và chuyển sang đây với chúng tôi. Tôi xin hứa sẽ không để ai xúc phạm đến Dôi-a. Anh em ở chỗ tôi dễ chịu lắm. Chúng tôi sẽ đào cho Dôi-a một hầm đất riêng.
-Tôi không phản đối,-Cu-dơ-nét-xốp nói và nhổm ngay dậy. Anh không biết vì sao lại nói như vậy, vì sao câu đó buột ra khỏi miệng anh và để che giấu sự lúng túng trước Dôi-a, anh chỉnh lại bao súng ngắn đeo trên dây lưng và hỏi:-Cô đi tới chỗ tiểu đoàn trưởng đấy à, Dôi-a?
Cô ngạc nhiên nhìn cả hai người.
-Anh muốn bảo vệ tôi chống lại ai? Chống bọn Đức à? Tự tôi có thể làm được. Thậm chí không cần vũ khí. Đây này, móng tay tôi sắc lắm!-Và cô mỉm cười gượng gạo, dùng móng tay gãi tay U-kha-nốp. Anh không rụt tay lại, chỉ thấy cái răng bạc của anh sáng lóe lên. Cô hỏi:-Thế nào, tự vệ tốt chứ?
-Những móng tay tốt đối với người làm nghề trang điểm móng tay,-U-kha-nốp kết luận.-Cô sẽ dùng móng tay đó để làm gì?
-Để rồi xem!
-Chà, Dôi-e-sca, cô rất dũng cảm,-Nết-trai-ép ngọt ngào nói chen vào, dường như từ lúc U-kha-nốp tới anh bị mờ đi rõ rệt.-Móng tay của cô thì ăn thua gì nếu như có kẻ nghĩ tới chuyện ám muội? Cô sẽ cào cấu à? Cắn xé à? Chắc trông sẽ buồn cười lắm!
-Lại sinh chuyện đấy hả?-Đa-vla-chi-an không chịu nổi nữa thét lên.-Anh lại nói chuyện vớ vẩn gì thế! Thật khó nghe! Dôi-a, xin mời…
Anh vén tám vải bạt ở cửa hầm, nhường cho Dôi-a ra trước.

( Đã mang hết chương 8)
0
Chương chín

Họ đi trong bóng đêm tràn đầy tiếng cuốc xẻng lục cục và tiếng đất rơi rào rào. Chiếc xe nhà bếp vẫn còn in bóng đen thẫm trên mặt băng ở bờ sông, nhưng lò lửa của nó đã tắt và chiếc muôi của anh cấp dưỡng không còn khua lên lanh canh nữa, xung quanh bếp chẳng còn ai. Đứng lâu bị cóng, con ngựa duỗi chân, thở phì phì và nhai thức ăn để trong cái rọ đeo ở mõm.
Bầu trời phía trên bờ để rực lên vì những quầng sáng. Ánh hồi quang màu trắng trải dài trên đầu các đụn tuyết. Một lần nữa Cu-dơ-nét-xốp lại cảm thấy khó chịu vì sự yên tĩnh trên thảo nguyên cứ loang sâu mãi trong bóng đêm, vì sự câm lặng bí ẩn ở phía bọn Đức. Anh im lặng. Đa-vla-chi-an và Dôi-a cũng im lặng. Nghe rõ tiếng băng vỡ khẽ lạo xạo dưới đế ủng.
“Thế ra Dôi-a cũng được lệnh tới gặp đại đội trưởng”,-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ. Anh biết rõ trách nhiệm cứu thương độc lập của Dôi-a trong đại đội, tình trạng thoải mái của cô khiến cô có thể tới bất cứ trung đội nào và anh cảm thấy buồn bực vì dẫu sao giờ đây, cô vẫn đang ngoan ngoãn đi tới căn hầm đất của Đrô-dơ-đốp-xki, con người hình như có quyền đặc biệt bắt cô phải phục tùng. Thật không thể hiểu được.
-Dôi-a này, chắc lúc ấy cô nói đàu đấy chứ?-Cu-dơ-nét-xốp không chịu được lên tiếng hỏi.-Cô bảo rằng cô đã có chồng.
Họ leo trên mặt bang ở sườn dốc tối thẫm của bờ đê trắng xanh màu tuyết dưới ánh sao, lúc này họ đi gần bên nhau trên con đường mòn do nhiều bước chan binh sĩ tạo thành dọc bờ đê.
-Nghiêm chỉnh đấy chứ!-Giọng cô run lên như thể cô bị vấp chân trên bờ dốc trơn, nhưng cô lập tức giữ thăng bằng:-Tôi không nói đùa đâu…
-Tại sao cô lại lừa dối chúng tôi? Hoàn toàn không phải như thế!-Đa-vla-chi-an tuyên bố và bước chậm ở phía sau Dôi-a, anh kêu lên:-Cu-dơ-nét-xốp này, dòng sông ở đây y như cái rãnh chống tăng ấy. Tuyệt thật! Nếu xe tăng địch xông đến đây chúng nó sẽ bị tắc nghẽn ngay. Chúng có nhiều pháo mà đi trên băng thì không được vì băng sẽ sụt lở! Lúc này Xta-lin-grát ở phía nào nhỉ? Ở phía Bắc?
-Khoảng bốn mươi lăm ki-lô-mét về phía Đông Bắc,-Cu-dơ-nét-xốp nói.-Nếu như chúng xông đến bờ sông bên kia thì như thế là quá xa… mình không thích như thế.
Dôi-a dừng lại. Chiếc áo choàng ngắn màu trắng của cô, khuôn mặt cô hòa lẫn trong bóng đêm với tuyết màu trắng xanh trên bờ dốc đứng, chỉ có đôi mắt cô hình như quá thẫm màu, dướn lên nhìn dải quầng sáng trên bờ sông.
-Nếu chúng xông được đến đó…-cô nhắc lại và đợi Đa-vla-chi-an tiến lên kịp, cô hỏi một câu chẳng có liên quan gì lứm với câu chuyện đang nói:-Thế còn anh, Đa-vla-chi-an, anh không sợ chết tí nào chứ?
-Tại sao tôi lại sợ chết?
-Anh có vợ chưa cưới. Và chắc anh giống cô vợ chưa cưới của mình. Cô ấy cũng dễ thương như anh chứ? Một con mèo đáng yêu phải không?
-Điều ấy chẳng quan trọng!-Đa-vla-chi-an cau mày đáp.-Hoàn toàn không quan trọng… Tại sao cô lại nói là tôi dễ thương? Tôi chả dễ thương đâu… với lại nói chuyện mèo ở đây để làm gì? Tôi không thích mèo. Nhà tôi không nuôi mèo bao giờ cả.
-Thế anh sống ở đâu, ở Ác-mê-ni à? Anh đi học ở đấy chứ?
-Tôi học ở Xvéc-lốp-xcơ. Bố tôi là người Ác-mê-ni, còn mẹ tôi là người Nga. Rất tiếc là tôi chưa đến Ác-mê-ni lần nào cả. Thậm chí đến tiếng cũng không biết.
-Đa-vla-chi-an này, nếu có thể được, anh hãy nói tên cô vợ chưa cưới của anh xem nào? Chắc là Na-ta-sa hoặc Di-na. Tôi đoán có đúng không?
-Mua-rơ-ca. Con mèo Mua-rơ-ca. Meo-meo-meo… Đấy, tất cả chỉ có thế.
-Sao anh lại cáu, Đa-vla-chi-an? Thật tình tôi không muốn làm anh phiền lòng.-Cô buồn bã mỉm cười.-Chẳng qua là tôi chỉ muốn bắt chuyện với anh. Trông kìa, Cu-dơ-nét-xốp cũnh cứ nhìn tôi lạ lùng thế nào ấy. Tại sao các anh lại nhìn tôi một cách ủ dột như thế? Chả lẽ tôi đáng bị như vậy à?
-Đó là cô tưởng tượng ra đấy thôi, Dôi-a ạ.-Đa-vla-chi-an đấu dịu.-Chúng tôi không nhìn cô một cách ủ dột đâu!
-Hình như bọn mình đến nơi rồi,-Cu-dơ-nét-xốp ngắt câu chuyện.-Các cậu có ngửi thấy mùi khói không? Hình như họ đốt lò sưởi. Họ đào đâu ra lò sưởi nhỉ?
-Ai, đứng lại!-Có tiếng hô uể oải ở phía trước, đằng sau lũy đất và từ trong bóng đêm người lính gác nhô ra cách họ chừng ba bước.-Hình như cô cứu thương phải không?
-Các trung đội trưởng và cô cứu thương,-Cu-dơ-nét-xốp đáp.- Đại đội trưởng có đây không?
-Đồng chí ấy đang chờ. Các đồng chí đi lối này. Cửa ra vào đây.
0

Căn hầm ngầm đã đào xong hoàn toàn, cuốc xẻng cắm trên bờ đất, choòng nằm vương vãi. Một ống khuỷu của cái lò sưởi bằng sắt tây nhô ra ở bức vách cạnh cửa ra vào bằng gỗ, phả ra một làn khói thơm ngát, ấm cúng. Chắc anh em trinh sát và thông tin đã kiếm được chiếc lò thuận tiện này ở trong làng.
“Chà, lại có cả lò sưởi nữa”,-Cu-dơ-nét-xốp ngạc nhiên nghĩ.
Cánh cửa nhỏ cọt kẹt y như ở làng quê và họ bước vào một căn hầm trú ẩn rất rộng, cao ngang đầu người, đầy mùi ẩm ướt ngột ngạt, mùi sắt cháy khét-chiếc lò sưởi để ở góc bị nung đến đỏ lừ lên-với ngọn đèn dầu to, những bệ nằm phủ vải bạt,-tất cả trông sạch sẽ, dễ chịu, và thuận tiện khác kiểu ngoài mặt trận. Ở góc hầm cạnh lò sưởi, anh chiến sĩ thông tin đang mắc máy trên chiếc hòm đựng đạn, miệng thổi phù phù vào ống nghe.
Trung úy Đrô-dơ-đốp-xki mặc áo choàng phanh cúc đang ngồi xem bản đồ giữa ba chiến sĩ trinh sát ở cạnh bàn. Mái tóc màu rơm sáng của anh đã được chải cẩn thận như sau khi tắm vậy. Ngọn đèn đặt rất gần soi rõ khuôn mặt đẹp, nghiêm khắc của anh, hàng mi rậm và dài như hàng mi phụ nữ tỏa bóng phía dưới đôi mắt đang nhìn bản đồ.
-Trung đội trưởng trung đội một đã tới theo lệnh đồng chí.-Cu-dơ-nét-xốp báo cáo, giữ đúng giọng như điều lệnh, sau cuộc hành quân anh đã quyết định nói chuyện với Đrô-dơ-đốp-xki bằng cái giọng đó: như thế sẽ thuận tiện và dễ chịu hơn đối với cả hai người.
-Trung đội trưởng trung đội hai đã tới theo lệnh đồng chí!-Đa-vla-chi-an sung sướng hét lên và ngạc nhiên vì cách bài trí hào nhoáng của căn hầm, anh cười vang:-Hầm của anh cứ như cung điện ấy, đồng chí trung úy ạ, có thể chứa cả tiểu đoàn đấy!
-Ở đây đã có sẵn một cái hầm, giống như một cái hang… chúng tôi đã mở rộng thêm chút ít,-một chiến sĩ trinh sát giải thích.-Không nên để mất phía Bắc.
Đrô-dơ-đốp-xki ngước đôi mắt sáng xanh trong veo như cục băng khỏi tấm bản đồ. Thậm chí anh cũng không nhìn Dôi-a ngồi gần lò sưởi, tựa hồ như không có mặt cô ở trong căn hầm, anh đưa mắt nhìn Cu-dơ-nét-xốp từ đầu đến chân và nói:
-Nừa giờ trước đây tôi đã đi kiểm tra các hỏa điểm. Đường dây liên lạc giữa các khẩu pháo được trang bị qua quít. Tại sao các anh lại tung tất cả mọi người ra đào hầm trú ẩn? Ngồi trong hầm thì không trông thấy xe tăng được. Có lẽ U-kha-nốp chỉ huy trung đội chứ không phải anh, có đúng thế không?
-Hầm trú ẩn cũng cần thiết,-Cu-dơ-nét-xốp phản đối.-Tiện thể cũng xin nói rằng nhất định là U-kha-nốp cũng có thể chỉ huy được một trung đội không kém gì những người khác. Anh ấy cũng đã tốt nghiệp trường pháo binh như chúng ta. Chỉ có điều là anh ấy không được phong hàm sĩ quan.
-Cũng may mà anh ta không được phong sĩ quan,-Đrô-dơ-đốp-xki nói tiếp.-Tôi biết, Cu-dơ-nét-xốp ạ. Tôi biết quan hệ thân tình của anh với thượng sĩ U-kha-nốp!
-Anh ám chỉ cái gì?
Dôi-a ngồi bên chiếc lò sưởi đang phụt ra những tia hoa cà hoa cải vì bị nung cháy bỏng, cô bỏ mũ lông ra, giũ mái tóc, tóc xõa trên cái cổ trắng của chiếc áo choàng lông ngắn, lặng lẽ mỉm cười với anh chiến sĩ thông tin đang nhìn cô và anh này cũng lập tức mỉm cười với cô. Đrô-dơ-đốp-xki vẫn không thay đổi nét mặt nghiêm khắc, anh chú ý đến Dôi-a trong giây lát rồi nhắc lại:
-Tôi biết hết, trung úy Cu-dơ-nét-xốp ạ.
-Nói đến chuyện thân tình ở đây để làm gì?-Đa-vla-chi-an nhún vai, chiếc mũi nhọn của anh càng nhọn thêm, dường như nó hung hăng chĩa về phía Đrô-dơ-đốp-xki.-Xin đồng chí thứ lỗ cho, Đại đội trưởng ạ, như tôi đây chẳng hạn, chắc tôi sẽ lấy làm vui mừng nếu như trong trung đội của tôi có được một khẩu đội trưởng như thế. Vả chăng tất cả chúng ta đều được đào tạo từ cùng một trường pháo binh cả.
Đrô-dơ-đốp-xki nhăn trán lại tỏ ý không muốn nghe Đa-vla-chi-an nói lúc này và không để cho anh nói hết đã lên tiếng.
-Về U-kha-nốp rồi chúng ta sẽ nói sau. Tôi yêu cầu các đồng chí lại gần bàn và giở bản đồ ra!
“Thế nghĩa là có tin mới đây,-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ,-Chắc anh ấy đã được biết tin gì đó”.
Họ bước lại bên bàn, rút bản đồ từ túi dã chiến ra, trải chúng lên mặt bàn dưới ánh sáng ngọn đèn dầu nhấp nháy. Im lặng, Cu-dơ-nét-xốp nhìn lên bản đồ, thái dương anh cảm thấy chiếc thông phong nóng bỏng. Lúc ấy anh nhìn Đrô-dơ-đốp-xki thật gần và thấy rất rõ, tưởng như anh chưa nhìn thấy bao giờ: khóe miệng thẳng, đầy vẻ tự tin, hàng lông tơ thanh xuân mịn màng trên má, đôi tai nhỏ, tròng mắt cứng đơ trong mắt không bao giờ mỉm cười của anh, đôi mắt xanh trong veo như nước hồ khiến người ta không thể không nhìn ngắm.
-Một giờ trước đây sở chỉ huy trung đoàn đã gọi điện cho tôi,-Đrô-dơ-đốp-xki lên tiếng rành rọt.-Như các đồng chí đã biết, tình hình phía trước mặt chúng ta hoàn toàn không ổn định. Theo như tôi hiểu có lẽ bọn Đức đã đột nhập được tới vùng ven đường cái lớn. Ở chỗ này, phía bên phải làng này, con đường dẫn tới Xta-lin-grát.-Anh chỉ lên bản đồ, đôi bàn tay của anh chưa được kỳ cọ sạch sẽ cho lắm, có những vết xước đã mang vẩy ở đầy những móng tay hẹp.-Nhưng cho đến nay chưa có tin tức chính xác. Bốn giờ trước đây sư đoàn bộ binh đã cử một đội trinh sát đi. Rõ chưa.
-Hầu như đã rõ,-Cu-dơ-nét-xốp đáp, không rời mắt khỏi đầu móng tay bị xước măng rô của Đrô-dơ-đốp-xki.
-“Hầu như”-đó là cách nói hào nhoáng trong thơ cả của Chi-út-trép hay Phi-ét (Các nhà thơ trữ tình Nga cuối thế kỷ XIX),-Đrô-dơ-đốp-xki nói.-Các đồng chí hãy nghe tiếp. Nếu mọi việc ổn thỏa thì đến rạng sáng đội trinh sát sẽ quay về. Họ sẽ nhắm chiếc cầu làm chuẩn để rút về. Đây, dọc theo cái khe này, ở về phía Đông làng này. Đó là khu vực của tiểu đoàn ta. Tôi xin báo trước: quan sát nhưng không được nổ súng vào khu vực này ngay cả trong trường hợp bọn Đức bắt đầu bắn. Bây giờ rõ chưa?
-Rõ.-Đa-vla-chi-an thì thào lên tiếng.
-Rõ cả.-Cu-dơ-nét-xốp đáp.-Chỉ xin hỏi một điều: bọn Đức có thể nổ súng bằng cách nào khi mà chúng còn chưa có mặt ở trong làng phía trước?
Đôi mắt xanh lạnh ngắt của Đrô-dơ-đốp-xki chằm chằm nhìn Cu-dơ-nét-xốp.
-Lúc này thì không có chúng, nhưng năm phút sau chúng có thể có mặt,-anh thốt lên với vẻ hoài nghi như thể anh muốn đánh giá xem câu hỏi này của Cu-dơ-nét-xốp là sự chống đối lại mệnh lệnh của anh hay chỉ là một câu hỏi tự nhiên nhằm rõ thêm.-Rõ chưa, Cu-dơ-nét-xốp? Hay còn điều gì chưa rõ nữa nào?
-Bây giờ thì rõ.-Cu-dơ-nét-xốp cuộn bản đồ lại.
-Còn anh thế nào, Đa-vla-chi-an?
-Rất rõ, thưa đồng chí đại đội trưởng.
-Các anh có thể đi-Đrô-dơ-đốp-xki đứng thẳng người lên bên cạnh bàn.-Một giờ sau tôi sẽ tới các khẩu đội kiểm tra tất cả.
Các trung đội trưởng bước ra khỏi hầm. Ba chiến sĩ trinh sát trong trung đội chỉ huy đứng gần bàn đưa mắt nhìn nhau, dường như họ cảm thấy sau lưng mình là Dôi-a và họ hiểu rằng lúc này sự có mặt của họ trong căn hầm là thừa, đã đến lúc nên đi ra đài quan sát. Nhưng trái với lệ thường, Đrô-dơ-đốp-xki không giục giã họ, lặng lẽ nhìn chằm chằm vào một điểm vô hình ở trước mặt.
-Xin phép cho chúng tôi ra đài quan sát, đồng chí trung úy.
-Các anh đi đi. Cả anh nữa.-Anh hất đầu ra hiệu cho chiến sĩ thông tin.-Bảo Gô-lô-va-nốp là phải đào rãnh thật nghiêng. Anh đi đi. Khi tôi có mặt ở đây thì không cần phải trực máy điện thoại. Lúc nào cần tôi sẽ gọi.
0

Cánh cửa cọt kẹt mở vào bóng đêm, tiếng bước chân của các chiến sĩ trinh sát và thông tin trên đường bờ sông ngày xa dần căn hầm và chìm vào đêm tối hoang vắng, câm lặng.
-Sao im lặng quá!-Dôi-a nói và thở dài.-Anh có nghe tiếng bấc nổ lép bép không?…
Giờ đây chỉ còn lại hai người trong căn hầm lặng lẽ, chìm sâu trong lòng đất, giữa bầu không khí ấm áp được sưởi nóng, với tiếng bấc nổ lép bép của ngọn đèn nóng bỏng. Đrô-dơ-đốp-xki không đáp, anh vẫn nhìn chằm chằm vào một điểm vô hình trước mặt và khuôn mặt tái nhợt của anh trở nên chăm chú và hung hãn. Anh bỗng thốt lên, dằn từng tiếng một cách khó chịu:
-Tôi muốn biết việc này rồi sẽ kết thúc như thế nào đây!
-Anh nói việc gì cơ?-Dôi-a hỏi một cách thận trọng và ngả đầu ra đằng sau.-Lại bắt đầu đấy phải không, Vô-lô-đi-a.
Dôi-a ngồi trên chiếc hòm đạn rỗng quay nghiêng về phía anh, tay hơ trên lò sưởi sắt đỏ rừng rực, áp đôi bàn tay nóng ấm vào má, từ trong bóng tối lờ mờ của căn hầm cô dịu dàng mỉm cười với anh như thể báo cho anh biết trước rằng cô biết anh sắp nói chuyện gì.
-Tôi muốn biết suốt từ bấy đến giờ cô ở đâu?-Đrô-dơ-đốp-xki hỏi bằng giọng ghen tuông và nghiêm khắc của một người có quyền được hỏi cô như thế, còn cô thì không có quyền phản đối. Khi thấy cô hơi nhún vai thay cho câu trả lời, anh nói tiếp:-Đúng, tôi muốn cô đừng đem quan hệ của chúng ta ra khoe với anh em trong đại đội nhưng cô đã làm việc đó một cách quá quắt! Tôi không hề ghen nhưng tôi không thích quan hệ của cô với trung đội của cái tay Cu-dơ-nét-xốp ấy. Vạn bất đắc dĩ, cô có thể chọn Đa-vla-chi-an!
-Vô-lô-đi-a…
-Tôi thử hình dung xem nếu như không phải là tôi mà Cu-dơ-nét-xốp chỉ huy đại đội này thì tình hình sẽ như thế nào? Tôi hình dung rất rõ!…
Anh đứng lên vẻ nhanh nhẹn, linh hoạt, bước lại gần Dôi-a, dáng người thẳng, cân đối như một nhà thể thao, tuy không cao lớn: chiếc áo choàng ôm khít lấy người, mái tóc màu rơm vàng óng chải lật trên vầng trán bóng lồ lộ, được màu tóc làm cho dịu dàng. Hai tay đút túi, anh dò tìm trên khuôn mặt căng thẳng đang ngẩng lên của cô, trong nụ cười như hơi có vẻ nhận lỗi của cô cái điều khiến anh cảnh giác nghi ngờ. Cô hiểu và hất chiếc áo choàng ngắn khoác trên vai ra, cô vươn dậy bước tới bên anh, ôm lấy anh trong tấm áo choàng phanh ra, cọ má vào những chiếc khuy đồng lành lạnh trên ngực anh. Anh đứng đó, không rút tay ra khỏi túi áo và cô áp má vào ngực anh, nghe rõ tim anh đập thình thịch, ngửi thấy mùi mồ hôi từ chiếc áo khoác của anh. Sợ rằng tóc anh có mùi khói, cô khẽ ngửa đầu ra đằng sau.
-Em với anh giống nhau.-Dôi-a nói.-Anh không thấy em trong ba giờ qua chứ gì? Và em cũng không thấy anh… Nhưng chúng ta không giống nhau ở một phương diện khác, Vô-lô-đi-a ạ. Và anh biết rõ điều ấy.
Cô nói không có ý định chống đối, phê phán, đôi mắt dịu hiền, như vâng theo ý chí của anh, nhìn vào vầng trán trong trắng, không một nếp nhăn, lấp lóa dưới mái tóc vàng của anh. Cô tưởng như vầng tráng thanh xuân trong trắng đó có cái gì yếu đuối như trẻ thơ.
-Về phương diện nào nhỉ? À, tôi hiểu rồi!… Tôi có gây ra chiến tranh đâu. Và tôi cũng chả biết làm thế nào trước tình hình này. Tôi không thể ôm hôn co trước mặt anh em trong toàn đại đội! Cô muốn để tất cả mọi người biết mối quan hệ của chúng ta à?
Đrô-dơ-đốp-xki gỡ tay cô ra, dùng sức hơi quá để đẩy cô rồi vừa cài qua loa khuy áo choàng anh vừa bước lùi lại một bước, môi dẩu lên. Cô ngạc nhiên nói:
-Mặt anh nhắn nhó khiếp chưa kìa! Anh làm sao, cảm thấy khó chịu hả? Tại sao anh nắm tay em đau thế?
-Thôi đi: Cô biết quá rõ tất cả những chuyện đó,-Đrô-dơ-đốp-xki nói và bực bội đi đi lại lại trong hầm đất, bóng anh trượt dài và xuệch xoạc trên vách hầm.-Không một ai trong đại đội nên biết tới quan hệ của tôi với cô. Có lẽ cô lấy thế làm khó chịu, nhưng tôi thì không muốn để người ta đồn đại về tôi! Một vài tay sẽ tỏ ra hí hửng, chúng chỉ chờ đợi tôi bước hụt! Tại sao những thằng thò lò mũi ấy cứ quấn quít xung quanh cô?
-Anh sợ à?-Dôi-a hỏi.-Tại sao anh lại sợ người ta nghĩ về anh thế này thế nọ! Thế tại sao em không sợ!
-Thôi đi! Tôi chả sợ gì cả! Nhưng cô phải biết mọi chuyện đó ở đây sẽ hóa ra như thế nào chứ! Cô tưởng ở đại đội này ít bọn ngồi lê mách lẻo, những kẻ sẽ hể hả thóc mách về tôi với trung đoàn hoặc sư đoàn ư?… Thật là tuyệt!-Anh cười một cách khó chịu.-Chiến tranh-còn chúng nó thì nằm lăn lóc rên những tấm sạp! Đám chim câu yêu quý! Những anh chàng nhân tình ngoài hỏa tuyến!…
-Em không muốn lăn lóc cùng với anh trên tấm sạp như anh nói.-Dôi-a đấu dịu và hất chiếc áo choàng lông ngắn lên vai dường như cô cảm thấy cô cảm thấy lạnh.-Nhưng em không xấu hổ và em cũng chả sợ nếu như có người thích tọc mạch chuyện này và đem nói chuyện của chúng mình với trung đoàn trưởng và sư đoàn trưởng…-Cô nhắc lại lời anh, không có ý định chọc tức anh.-Đó không phải là điều chủ yếu, Vô-lô-đi-a ạ. Chẳng qua là anh ít yêu em và cung cách của anh kỳ quặc thế nào ấy. Em không hiểu vì sao anh cứ thích đem mối nghi hoặc nào đấy ra giày vò em. Anh không để ý chứ ngay cả khi hôn em anh cũng có vẻ đau lòng thế nào ấy. Vì sao anh trả thù em như thế?
Đrô-dơ-đốp-xki thôi không đi bách bộ nữa, dừng lại trước mặt cô, chiếc áo choàng của anh toát ra mùi ẩm ướt lạnh lẽo, môi anh nhăn nhúm lại.
-Tôi giày vò cô ư?-Đrô-dơ-đốp-xki thốt lên, giọng gây sự.-Cô coi thế nào là giày vò? Chớ có chế nhạo tôi! Sao tôi lại có thể báo thù cô nhỉ? Tôi hôn cô không đúng cách à? Thế nghĩa là tôi chưa học được cách hôn, người ta chưa dạy cho tôi làm cách khác!
-Có thật là em cũng không thể dạy được cho anh không?-Dôi-a lại nói đấu dịu và mỉm cười với anh.-Bản thân em cũng không biết cách. Nhưng phải chăng đó là điều chủ yếu? Anh hãy tha thứ cho em, Vô-lô-đi-a.
-Chuyện vớ vẩn!-Anh đi lại phía bàn và đứng ở đó nói lên bằng giọng chế giễu hằn học.-Nếu cô muốn thì đây: một mụ già ngu ngốc và điên rồ đã dạy cho tôi biết những chiếc hôn đầu tiên năm tôi mười ba tuổi? Cho đến bây giờ khi nhớ tới cái thần xác núc ních của mụ ta, tôi vẫn còn thấy lợm giọng!
-Mụ đàn bà nào?-Dôi-a hỏi bằng giọng thì thào lịm đi và cô cúi đầu xuống để anh không trông rõ mặt cô.-Anh nói chuyện đó để làm gì? Mụ ta là ai?
-Điều đó không quan trọng! Một người bà con xa, tôi đã trọ học ở nhà mụ ta hai năm tại Ta-sken, khi bố tôi hy sinh ở Tây Ban Nha… Tôi không vào nhà nuôi trẻ mồ côi và đã sống năm năm ở nhà những người quen, nằm ngủ trên những rương hòm như một con chó cún. Cứ thế cho đến khi học xong trung học! Tôi sẽ không bao giờ quên chuyện đó.
-Bố hy sinh ở Tây Ban Nha, còn mẹ lúc ấy cũng đã mất rồi hở anh Vô-lô-đi-a?
Cô lịm người đi, cặp mắt chan chứa yêu thương và xót xa nhìn vầng trán trắng hiền dịu của anh, mái tóc của anh không dám nhìn vào đôi mắt xanh thăm thẳm của anh.
-Ừ.-Anh đưa mắt liếc nhìn Dôi-a.-Phải rồi, cả hai người đều đã mất! Tôi yêu bố mẹ tôi lắm… Và các cụ đã để cho tôi bơ vơ… Cô có hiểu không? Bỗng nhiên còn lại một mình trong căn nhà trống trải ở Mát-xcơ-va cho đến lúc người từ Ta-sken tới tìm tôi. Tôi sợ rằng một ngày nào đó rồi cô sẽ phản bội tôi!… Để đi với một thằng cha thò lò mũi nào đó!…
-Anh thật ngốc nghếch, Vô-lô-đi-a ạ. Em yêu anh. Và sẽ không bao giờ phản bội anh. Anh đã biết em từ hơn một tháng nay. Đúng thế không?
Dôi-a không hiểu anh lắm vào những giây phút anh nghi ngờ vô cớ hoặc nổi cơn ghen kinh khủng lúc họ ngồi bên nhau, tuy chẳng có lý do gì mà nói tới chuyện ghen tuông, mặc dầu rằng từng giây, từng phút lúc nào cô cũng cảm thấy, nhìn thấy sự chú ý của cả tiểu đoàn đối với mình và để đáp lại họ cô đã chọn một biện pháp dùng trong mọi trò chơi mà cô xem là một hình thức tự vệ. Cũng có thể là anh biết rõ như thế nhưng trong những cơn ngờ vực của anh có cái gì đó do bất lực, do thường xuyên không tin vào cô, cứ như thể cô sẵn sàng phản bội anh để đi với bất kỳ ai trong đơn vị.
-Không! Không đúng như thế!-Đrô-dơ-đốp-xki không đồng ý.-Tôi không tin cô!…
Và Dôi-a bỗng sợ hãi nghĩ rằng lúc này cô không thể chứng minh gì được, không thể bào chữa được. Cô không đủ sức, cô không muốn bào chữa và để ngăn ngừa những lời phản bác bướng bỉnh của anh, cô đứng ngay trước mặt anh, nhìn vào vầng trán lồ lộ, phẳng lì, yếu đuối của anh mà cô muốn vuốt ve.
-Không, em yêu anh,-cô nói.-Anh không tưởng tượng nổi em yêu anh như thế nào đâu. Tại sao anh không tin em?
Anh bước về phía cô, rút tay ra khỏi túi áo.
-Cô hãy chứng tỏ, hãy chứng tỏ đi là cô yêu tôi! Cô không muốn chứng tỏ như thế!-Anh nói và với vẻ kích động, trìu mến, anh hùng hổ kéo vai Dôi-a lại phía mình.-Cần phải như vậy! Một tháng rưỡi rồi còn gì!… Cô hãy chứng tỏ rằng cô yêu tôi!
Đrô-dơ-đốp-xki ôm choàng lấy tấm lưng tròn lẳn, mềm mại của Dôi-a siết chặt cứng, hôn tới tấp lên miệng cô đến ngạt thở. Cô rên lên, nheo mắt lại như bị đau, ngoan ngoãn ôm lấy anh trong tám áo choàng không cài cúc, áp đầu gối vào anh, đồng thời cố dứt môi ra khỏi miệng anh đang làm cô ngạt thở.
Anh gạt đầu cô ra, tách mình khỏi cô.
-Anh sẽ tắt đèn ngay,-anh nói giọng khàn khàn.-Sẽ không có ai vào đây. Em đừng sợ. Sẽ chỉ có hai chúng mình thôi…
-Không, không, em không muốn… Hãy tha lỗi cho em, Vô-lô-đi-a.-Cô thốt lên, mắt nhằm nghiền và ngạt thở.-Chúng mình không nên làm như thế. Lúc này chúng mình không nên làm như thế…
-Anh không thể chịu nổi!… Em hiểu không, anh không chịu nổi!
-Nhưng mà em yêu anh, em yêu anh lắm,-cô cưỡng lại, hàm răng lập cập, thì thào vào ngực anh.-Chỉ có điều là không nên… Nếu không rồi chúng mình sẽ khinh ghét nhau. Em yêu anh mà!… Em không muốn chúng mình khinh ghét nhau…
Anh lại đột ngột kéo vai cô về phía mình.
-Tại sao? Tại sao?
-Em đã nói với anh rồi. Chúng mình đã thế một lần… Sau đó chúng mình không thể nhìn vào mắt nhau, Vô-lô-đi-a ạ. Em còn nhớ lúc đó anh cau có và hút thuốc liên miên… Anh hiểu cho em, Vô-lô-đi-a, lúc này không nên thế. Em xin anh. Giờ đây không thể, anh hiểu không? Thôi, hãy tha thứ cho em…
-Và vừa khẩn cầu bằng giọng nói, bằng mắt, cô vừa òa khóc, chả hiể vì sao mình khóc và như để xin anh tha thứ, như người có lỗi, cô vội vã run run hôn lên cằm anh, cổ anh.
-Ngớ ngẩn!… Tôi căm ghét cô! Cô nói láo chứ gì?… Tôi chán ngấy cô! Chán ngấy!
Vẻ mặt hằn học, Đrô-dơ-đốp-xki gạt cô ra và đội mũ lông vào, bước ra khỏi hầm, sập cánh cửa mạnh đến nỗi ngọn đèn dầu rung lên dưới chiếc thông phong ám khói.
0

Chương mười


Đrô-dơ-đốp-xki trèo lên các bậc ở sườn dốc leo lên mặt đường, cảm thấy có phần dịu đi do cơn gió lạnh buốt quất vào mặt, anh lẩm bẩm nhắc lại qua kẽ răng:
-Con ngốc, con ngốc! Ngớ ngẩn!
Anh vừa cảm thấy kinh tởm và căm ghét sự bất lực của mình, sự sợt sệt ngu ngốc của cô, việc cô phản đối không gần gũi anh như trong những ngày thành lập tập đoàn quân lúc cô trực một mình ở trạm cứu thương, anh vừa cảm thấy tức giận, hầu như muốn lăng nhục cô, muốn quay trở lại đánh cô để trả thù. Vừa khinh bỉ mình đồng thời anh vừa cảm thấy bị giày vò vì không đủ sức xóa bỏ tất cả trong tâm hồn mình: đôi cánh tay anh, thể xác anh có trí nhớ riêng của chúng-sau những cái vuốt ve của cô ở trạm cứu thương, đôi mắt nhắm nghiền, đầu gối run rẩy, những cử động của tấm thân mềm mại của cô, chẳng hiểu sao ký ức đó lúc này sẵn sàng đón nhận bất kỳ sự âu yếm nào có thể hạ thấp anh, miễn là có cô ở đây…
“Không, thế là hết, hết cả rồi!-Đrô-dơ-đốp-xki thuyết phục mình bằng cách nhớ lại tất cả những gì có thể làm tăng thêm ghê tởm, kích động lòng ghê tởm của anh đối với cô-miệng cô ta rộng, vẻ mặt sợ sệt, ngực bé quá và bắp chân quá to, cứ như thế nó bị nong chặt vào thân ủng hẹp; anh muốn tìm ở cô những gì khiến cho hai người tưởng như không thể hòa giải được.-Ừ, mình đã tìm thấy ở cô ta cái gì? Nào cô ta có đẹp đẽ gì cho cam… Chả có cái gì hết? Quan hệ ngu ngốc của mình với cô ta là cái gì? Phải chấm dứt, tất cả một lần cho xong. Chấm dứt luôn!”. Và anh nổi cáu lên, thở phì phò; giá lạnh thiêu đốt lồng ngực anh, hơi thở đọng lại như sương giá trên cổ lông chiếc áo choàng của anh.
Một lát sau Đrô-dơ-đốp-xki nhận ra rằng không khí và tuyết đã sáng lên, có cái vẻ khô khan lạnh lẽo, những chòm sao tháng Chạp đã hơi đổi chỗ trong hành trình vĩnh viễn của mình, rực sáng uy nghi, di chuyển trên trời cao lạnh giá như ánh sáng cuối cùng trước lúc rạng đông. Còn trên mặt đất, các mái nhà trong làng nhích sát lại nhau, nổi bật như những khối đen trên tuyết; hai quầng sáng ở phía trên làng mờ nhạt đi, chụm lại thành hình vòng cung, trùm lên khoảng trời phía Nam ở sau làng.
Tưởng chừng như ở hai đầu của vòng cung đó, ở đằng sau khe, đằng sau những điểm cao, có những tia sáng nào đó, có những dải sáng mờ mờ nào đó giống như hồi quang của những đèn pha ở xa đang di động ở chân trời. Tiếp đó anh tưởng như gió cuốn âm thanh hỗn hợp của các động cơ ô tô, xe tăng, xe kéo từ đó lại đây,-chả lẽ tập đoàn quân Đức đang di chuyển, đột kích vào đấy, vào làng này, vào tiểu đoàn của anh?…
Đrô-dơ-đốp-xki say sưa hút thuốc, rít liền vài hơi, giỏng tai nghe. Gió lùa và xua bụi tuyết bay mù mịt trên đường bờ sông vào các vị trí của tiểu đoàn; ở trên cao, những cành liễu trần trụi quấn quít lấy nhau như dây thép gai, ngả bóng trên mép bờ sông dựng đứng. Tiếng động cơ, tiếng rậm rịch của cuộc chuyển quân vô hình này đột nhiên ắng đi, biến mất.
“Ảo giác thôi!”,-anh nghĩ và đi về phía đài quan sát lúc này đã hiện rõ ở phía tay phải, trên khoảng đất nhô cao trong bầu không khí loãng dần.
Anh lần theo hào giao thông sâu đến đầu gối để đi tới điểm cao đó, nơi tiếng cuốc xẻng và choòng vẫn thình thịch, lục cục, nghe như tiếng chim gõ kiến, vẻ mặt anh lại kiên quyết đến lạnh lùng. Chuẩn úy Gô-lô-va-nốp, trung đội trưởng trung đội chỉ huy, con người to lớn, bộ ngực nở nang đang đặt ống nhòm lập thể trên thành công sự. Là người đầu tiên nhận ra Đrô-dơ-đốp-xki trong hào giao thông, chuẩn úy chạy hết sức nhẹ nhàng tới gần anh và báo cáo:
-Đồng chí trung úy, tôi vừa gọi điện cho đồng chí. Cô cứu thương nói: đồng chí đã ra khỏi hầm! Năm phút trước đây xe của sư đoàn trưởng đã đến khu vực quanh cầu. Có chuyện không ổn… Đội trinh sát của sư đoàn chưa thấy trở về…
-Tại sao anh báo cáo chậm thế?-Đrô-dơ-đốp-xki tức giận lên tiếng.-Tại sao anh không gọi điện từ năm phút trước đây?
-Tôi đã gọi điện rồi,-Gô-lô-va-nốp nói như lệnh vỡ.-Đúng là tôi đã gọi rồi. Đồng chí trung úy, vợ đồng chí… nghĩa là cô cứu thương đã trả lời rằng…
-Im ngay, Gô-lô-va-nốp! Anh không điên đấy chứ? Vợ nào?…-Đrô-dơ-đốp-xki nổi xung, anh hiểu rất rõ tính bộc trực của Gô-lô-va-nốp, hiểu rõ vì sao lúc này ba chiến sĩ trinh sát vẫn đào đất ở hào giao thông bên cạnh, giả đò như không nghe thấy gì.-Kẻ nào phao lên những lời đồn đại về tôi?-Đrô-dơ-đốp-xki hạ giọng nói.-Anh hả, Gô-lô-va-nốp? Hay là ai? Được rồi, đằng nào rồi tôi cũng sẽ biết, chuẩn úy ạ!-Ai ở sư đoàn tới thế?
-Ba chiếc xe con, đồng chí trung úy. Tôi nhận ra một chiếc của đại tá Đê-ép.
-Phải biết hết cả chứ, thế mà cũng đòi là trinh sát!
Đrô-dơ-đốp-xki sải bước đi về phía các khẩu pháo, ngang qua chỗ các chiến sĩ trinh sát cầm xẻng nép mình vào vách hào giao thông, đầu anh vẫn cứ ong ong lên mấy tiếng: “Vợ đồng chí… vợ đồng chí”,-và bỗng nhiên anh nhăn mặt khi nghĩ rằng có lẽ giờ đây cả đại đội đã biết rõ hết chuyện này.
Sau khi đã đi từ trên điểm cao xuống và chạy đến chỗ các khẩu pháo được bố trí ở bên trái sở chỉ huy, ngay trên mặt đường bờ sông, Đrô-dơ-đốp-xki vẫn còn trông thấy qua bầu không khí ban mai trong suốt ba chiếc con đậu cách chỗ họ khoảng ba trăm mét, và một đám người tụ tập xung quanh hỏa điểm của khẩu pháo thứ nhất. Anh em chiến sĩ đang dùng choòng đào hào giao thông nối giữa các hỏa điểm cùng nhìn về phía đó và một người trong bọn họ, bác Tri-bi-xốp nhỏ nhắn, mặc chiếc áo choàng cũn cỡn, cái mũ lót ướt đẫm mồ hôi trễ xuống tận mũi, ngoảnh khuôn mặt lưỡi cày râu ria tua tủa, giống như mặt con thú con bị săn bắt, về phía Đrô-dơ-đốp-xki đang chạy, bác báo tin:
-Đồng chí trung úy, đại tá và một vị tướng chống gậy… Họ đang đợi gì đấy. Hình như trận đánh bắt đầu rồi!
-Mũ lót của anh ướt đẫm cả rồi! Hãy chỉnh đốn lại đi.. Trông mà xấu hổ. Cứ như con gà bị nước mưa ấy!-Đrô-dơ-đốp-xki thốt lên.-Cu-dơ-nét-xốp đâu? Đa-vla-chi-an đâu?
-Ở đằng ấy cả,-Tri-bi-xốp làu bàu, khụt khịt mũi.
0

Theo thói quen, Đrô-dơ-đốp-xki lướt các ngón tay kiểm tra khuy áo choàng, chạy về phía khẩu pháo thứ nhất và đưa mắt tìm các vị chỉ huy cao cấp trong nhóm người đứng đó, nhận ra trong đó những người quen đại tá Đê-ép và Bét-xô-nốp, anh đưa tay lên thái dương, chào. Cố nén cơn thở hổn hển, anh nói:
-Báo cáo trung tướng, đại đội trưởng đại đội một, trung úy Đrô-dơ-đốp-xki có mặt!…
Bét-xô-nốp mặc áo choàng ngắn, không đeo quân hàm, quay người lại. Vóc người tầm thước, gầy gò, trông ông chẳng có vẻ gì là tướng cả. Đôi mắt sắc sảo, cứng đờ với mi mắt hơi mọng lên của ông nhìn xoáy vào khuôn mặt nhợt nhạt sững sờ của Đrô-dơ-đốp-xki có ý dò hỏi. Đại tá Đê-ép đội cái mũ choàng lông của lính, thắt dây lưng, đầy sức vóc trẻ trung, mặt đỏ au, hơi dướn cặp lông mày hung hăng một cách bực bội, thốt lên bằng giọng nam trầm:
-Đồng chí mất hút ở đâu thế, đại đội trưởng?
-Thưa đại tá, tôi ở đài quan sát.-Đrô-dơ-đốp-xki đáp rành rọt từng tiếng.-Chúng tôi đang cố đào cho xong các hào giao thông.
“Họ đến đây vì lý do gì nhỉ?-anh lo lắng nghĩ.-Họ đang chờ đội trinh sát à? Hay là tới kiểm tra đại đội! Nhưng đích thân tư lệnh tập đoàn quân tới kia mà!”.
-Đrô-dơ-đốp-xki à?-Bét-xô-nốp nhắc lại bằng giọng rin rít.-Một cái họ quen thuộc tựa hồ như tôi đã nghe nói đến rồi.
Vẻ mặt lơ đãng, ông nhìn Đrô-dơ-đốp-xki chằm chằm, cố nắm bắt một hồi ức nào đó đã lướt qua đi nhưng hình như ông sực nhớ lại điều mà ông không muốn nhớ, ông chau mày, không nhìn Đrô-dơ-đốp-xki nữa, quay sang nói với Đê-ép:
-Vậy thì rốt cuộc đội trinh sát của đồng chí đang ở đâu, đại tá?
Tất cả mọi người đứng ở đây cùng với Bét-xô-nốp,-vị đại tá mệt mỏi, chủ nhiệm trinh sát của sư đoàn với tấm bản đồ gập lại để trong cặp và ủy viên Hội đồng quân sự Ve-xnin cao lớn, chân dài, đeo kính và thiếu tá Trê-rê-pa-nốp, một người còn rất trẻ, mũi hếch, mặt đầy tàn nhang trông buồn cuời, trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh đang phòng ngự ở quãng bờ sông này,-tất cả đều nhìn Đrô-dơ-đốp-xki khi Bét-xô-nốp nói với anh và đều rời ngay mắt khỏi anh khi tư lệnh hỏi về đội trinh sát. Mọi người đều nhìn về phía chân trời rực cháy nơi gió cuốn những tiếng ầm ì mơ hồ tới như những làn sóng, khi thì lộ rộ lên, có lúc lại lắng dịu.
-Ngay như không có tin tức của đội trinh sát ta cũng có thể thấy rõ đôi điều rồi đấy,-Bét-xô-nốp nói.-Anh nghĩ thế nào, Vi-ta-li I-xa-ê-vich?
-Tôi cũng nghĩ như vậy,-Ve-xnin đáp.-Ít nhiều đã rõ.
-Thật khó tin là họ thất bại, thưa đồng chí tư lệnh-đại tá Đê-ép nói nhỏ.-Đội trinh sát gồm toàn những chiến sĩ rất từng trải.
Đrô-dơ-đốp-xki đứng thẳng chờ đợi, răng nghiến chặt đến ê ẩm cả quai hàm. Anh hầu như tin chắc rằng trung tướng đã phục vụ trong quân đội từ trước chiến tranh không thể không biết tới họ của anh, nhưng hình như ông thấy đây không phải là lúc để hỏi xem Đrô-dơ-đốp-xki có quan hệ gì với một vị chỉ huy quân sự mà ông quen biết trước đây, cũng mang họ Đrô-dơ-đốp-xki. Ông đang mải bận tâm đến chuyện khác. Còn các trung úy Cu-dơ-nét-xốp và Đa-vla-chi-an đều đứng thẳng người, giờ đây họ gắn bó với nhau do trách nhiệm chung của những người chỉ huy trong cùng một đại đội, họ đưa mắt nhìn do một cách gắn bó, thông cảm. Lúc này linh cảm về trận đánh đang tới gần đã làm cho họ bình đẳng, gần gũi nhau. Trong những giây phút đó, Đrô-dơ-đốp-xki suy nghĩ, cân nhắc mọi lý do khiến tư lệnh tập đoàn quân và sư đoàn trưởng đến đại đội của anh, anh không để ý tới Cu-dơ-nét-xốp cũng như Đa-vla-chi-an, đồng thời anh cũng tự nhủ giống như họ: “Đúng rồi, chắc là sắp bắt đầu, có lẽ ngay lúc này đây… chỉ cốt sao chong chóng lên!”…
-Thưa trung tướng!-Đrô-dơ-đốp-xki bất chợt thốt lên bằng cái giọng quân nhân đặc biệt rành rọt trong đó thể hiện tinh thần sẵn sàng kiên quyết hoàn thành bất cứ mệnh lệnh nào.-Đồng chí cho phép báo cáo?
Vẫn với vẻ mặt đang cố nhớ lại điều gì như lúc này, Bét-xô-nốp đưa mắt nhìn vóc dáng cân đối, đứng thẳng theo điều lệnh, sẵn sàng hành động của người trung úy trẻ trung rồi quyết định một cách thờ ơ:
-Tôi nghe đây.
-Thưa trung tướng, đại đội sẵn sàng chiến đấu!
-Sẵn sàng chiến đấu?-Bét-xô-nốp hỏi lại, không rời đôi mắt chăm chú khỏi Đrô-dơ-đốp-xki.-Trung úy tin vào vận may à?
-Tôi không tin vào số phận, thưa trung tướng.
-Có thật thể không?-Bét-xô-nốp nói, lời nói cả ông chứa đựng cái ý nghĩa khó hiểu khiến Đrô-dơ-đốp-xki bối rối.-Vào tuổi anh tôi còn tin cả vào sự bất tử cơ… Trung úy ạ, anh có biết rằng đại đội của anh nằm trên hướng tiến công của xe tăng địch và sau lưng các anh là Xta-lin-grát không?
-Chúng tôi sẽ trụ ở đây cho tới người cuối cùng, thưa trung tướng!-Đrô-dơ-đốp-xki tin tưởng thốt lên.-Tôi biết đây là hướng tiến công nguy hiểm của xe tăng địch. Tôi muốn đoan chắc với đồng chí rằng, các chiến sĩ pháo binh của đại đội một sẽ không tiếc tính mạng mình và sẽ xứng đáng với lòng tin cậy của các đồng chí! Chúng tôi sẵn sàng chết, thưa trung tướng, ngay trên bờ sông này!…
-Tại sao lại chết?-Bét-xô-nốp cau mày.-Tôi muốn đáng lẽ dùng chữ “chết” anh nên dùng chữ “đứng vững” hay hơn. Không nên một mực kiên quyết chuẩn bị hy sinh như vậy, trung úy ạ. Đồng chí nghỉ.
Đrô-dơ-đốp-xki đã trả lời Bét-xô-nốp bằng một giọng quá ư kiên quyết, nhìn thẳng vào mắt ông một cách trung thành như các học viên sĩ quan ở nhà trường thường nhìn vào mắt vị chỉ huy yêu quý của mình khi báo cáo. Nhưng khi quay người lại để dịch ra xa, anh chợt cảm thấy sự trống trải lặng lẽ ở quanh mình và anh hiểu rằng hình như trung tướng có điều gì không vừa lòng khi nghe anh tuyên bố sẵn sàng kiên quyết chiến đấu, tựa như lời tuyên bố đó là khiên cưỡng, không hoàn toàn tự nhiên. Tuy nhiên đại tá Đê-ép dẫu sao cũng nháy mắt với anh tỏ vẻ hể hả, khuyến khích, khiến đôi hàng lông mày hung hung của ông nhích lại sát nhau, ủy viên Hội đồng quân sự Ve-xnin nhìn Đrô-dơ-đốp-xki qua mắt kính lấp lóa với vẻ quan tâm.
-Vì sao các đồng chí định chết, trung úy?-Ve-xnin hỏi, ông chưa đoán được đúng lắm nguyên nhân khiến người chỉ huy đại đội có tác phong như một học viên sĩ quan này tỏ ra kiên quyết một cách hào hứng như thế. Đời người chỉ sống có một lần, chẳng ai sống đến lần thứ hai. Đúng không nào? Vậy thì tốt hơn hết là dẫu sao ta cũng chỉ nên tính toán sắp xếp cho một cuộc sống thôi. Theo tôi, đồng chí trung úy ạ, ý nghĩa của mỗi một cuộc chiến đấu không phải là ở chỗ đem thân mình ra làm mồi cho giun dế ở dưới mồ vì muốn thế thì chả cần chiến đấu cũng có thể đạt được. Nói nghe có vẻ ngược đời đấy nhưng chiến đấu là để chống lại cái chết. Đó chẳng phải là chân lý hay sao?
Nhưng trung úy Đrô-dơ-đốp-xki không dối trá và không giả vờ. Từ lâu anh đã đinh ninh rằng, trận đánh đầu tiên mà anh chờ đợi sẽ có ý nghĩa đối với số phận anh hoặc là trận đánh đó đối với anh cũng là trận cuối cùng. Anh không tin là mình có thể chết cũng như không có ai tìn vào điều đó cả khi còn chưa nằm ở giới hạn tận cùng của cuộc sống, chưa ý thức được cái chết của một người nào đó như cái chết của chính bản thân mình phản ánh trong một người khác. Và Đrô-dơ-đốp-xki đáp:
-Thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự, tôi sẽ chết không đắn đo gì cả…
-Anh là đoàn viên thanh niên cộng sản?-Ve-xnin hỏi.-Chắc tôi không lầm?
-Không phải chỉ có mình tôi, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự. Tất cả các trung đội trưởng và quá nửa anh em trong đại đội là đoàn viên. Bí thư liên chi đoàn của đại đội là trung úy Đa-vla-chi-an…
-Thế thì càng tốt,-Ve-xnin, mỉm cười gật đầu với trung úy Đa-vla-chi-an như nói với một người quen biết, anh cũng mỉm một nụ cười rạng rỡ như trẻ thơ để đáp lại ông.-Toàn bộ cuộc đời của các anh ở phía trước. Chỉ có thể ghen tị với các anh thôi. Chiến tranh không kéo dài vĩnh viễn.-Rồi ông đi tới bờ công sự nơi chủ nhiệm trinh sát và sư đoàn trưởng đang đứng lặng lẽ
0
.
Lúc này không ai chú ý tới Đrô-dơ-đốp-xki nữa. Đại tá Đê-ép như thể không kiễn nhân được nữa, ngọ nguậy đôi vai chắc nịch, xem đồng hồ đeo tay rồi nhìn về phía nam ngôi làng, đưa đôi mắt cảnh giác nhìn về phía Bét-xô-nốp.
Bét-xô-nốp ngồi trên các hòm đạn, tay vịn trên gậy, mắt mệt mỏi lim dim dường như ông đang chăm chú lắng nghe tiếng ì ầm không đều, khi xa khi gần do cơn giớ ban mai cuốn theo trên thảo nguyên đã bừng sáng đó và trên trán ông hằn sâu hai nếp nhăn khiến Đê-ép sợ hãi coi đó là biểu hiện của sự không hài lòng.
-Vậy thì đội trinh sát của đồng chí ở đâu, đại tá?-Bét-xô-nốp hỏi.
-Tôi nghĩ rằng cần phải trở về đài quan sát,-Đê-ép đáp, cố hạ thấp giọng nam trung du dương của mình.-Rõ ràng là đội trinh sát đã gặp chuyện gì không ổn rồi, thưa đồng chí tư lệnh. Tôi thật khó giải thích…
-Đồng chí bảo sao?
Qua giọng nói của tư lệnh có thể biết chắc rằng câu hỏi của ông không hứa hẹn điều gì tốt đẹp cả, nhưng Đê-ép vẫn nói tiếp:
-Thưa đồng chí tư lệnh, chờ đợi đội trinh sát ở đây thật vô nghĩa.
-Thì tôi có chờ đợi nó đâu,-Bét-xô-nốp nói một cách bực dọc.-Rồi người ta sẽ chịu trách nhiệm về đội trinh sát đó, đại tá ạ, và rồi đồng chí sẽ biết rõ tin tức về nó!
-Sáng rồi,-Ve-xnin nói.
Nhấc cái ống nhòm của chủ nhiệm trinh sát sư đoàn đã đứng tuổi, trung tá Cu-ru-sép, ông tò mò giơ lên nhìn về phía những đám cháy ở chân trời và ngôi làng phía trước mặt lúc này đã trông thấy rất rõ. Nhưng dù không có ống nhòm thì tất cả mọi vật cũng đều đã có hình khối đen sẫm. Ở phía đại đội pháo, xa cũng như gần, nhô lên nào là những khuôn mặt dẹt, xam xám vì mất ngủ, trông như những cái mặt nạ, nào là những khẩu pháo, nào là những mô đất trên bờ công sự, nào là những bụi cây trên tuyết, cành khô trần trụi bị gió bẻ gẫy răng rắc. Rạng đông mong manh của tháng Chạp đã chuyển dần sang buổi ban mai và ở phương Đông, trời đã ửng hồng.
Và bỗng nhiên tất cả rung lên rõ rệt, tiếng ì ầm rung chuyển ngày càng tăng thêm ở khắp phía chân trời, tựa hồ như một quả cầu bằng gang khổng lồ đang lăn đi trên thảo nguyên. Ngay lúc đó từ giữa những quầng sáng vọt lên phía trên làng hàng loạt những trái hỏa tiễn hai màu, quả nọ bay tiếp quả kia thành hình vòng cung trông như một dòng thác ánh sáng xanh đỏ.
“Đó là điều chúng ta chờ đợi!… Đrô-dơ-đốp-xki kích động nghĩ.-Đó là pháo hiệu của bọn Đức… Chả lẽ chúng đến gần thế rồi ư? Tại sao chúng lại đến gần như thế? Và đây là tiếng ì ầm gì vậy?…”.
Tiếng ì ầm mới mẻ đó cứ loang dần, tràn ngập cả khoảng không gian giữa trời và đất. Tiếng ì ầm lúc này không còn giống tiếng quả gang lăn đi nữa mà khi thì giống như tiếng sấm nổ liền sát nhau từ xa, khi thì lịm tắt đi như những hồi âm mãnh liệt trên dòng sông sâu thẳm ở sau lưng, từ đâu đó tiếng ì ầm ấy vẫn cứ nhích dần lên phía trước một cách đáng sợ, không cưỡng lại được.
Tưởng chừng mặt đất rung lên như một cơ thể sống và những loạt hỏa tiễn xanh đỏ vẫn vun vút lao đi thành hình vòng cung phía trên ngôi làng như thể để làm hiệu cho tiếng ì ầm đó.
“Cái gì thế nhỉ-xe tăng hay máy bay? Lúc này bắt đầu rồi chăng… Hay là đã bắt đầu rồi? Phải ra lệnh “sẵn sàng chiến đấu” chứ nhỉ? Mình phải hành động ngay mới được!…”.
Vẫn cố gắng giữ bình tĩnh, chưa ra lệnh vội, Đrô-dơ-đốp-xki thấy tướng Bét-xô-nốp rầu rĩ đưa mắt nhìn lên trời, đại tá Đê-ép nhíu lông mày, chiếc ống nhòm sững lại trên tay Ve-xnin lúc ông đang hướng nó về phía ánh hồng ở chân trời. Sau đó Ve-xnin đưa trả ống nhòm cho chủ nhiệm trinh sát, gỡ kính mắt chẳng hiểu để làm gì và khi ông quay về phía Bét-xô-nốp, khuôn mặt không đeo kính của ông trông ngớ ra rất lạ lùng, có cái vẻ vội vã, vui vẻ của con người đang loan báo một tin tức chắc chắn:
-Chúng nó đang tiến, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích ạ. Bè lũ chúng nó…
Ở phía đó, có một vật gì đó màu hồng, đậm đặc lóe lên giữa quầng sáng, trông như một đám mây ở trên trời. Đám mây đó nhích lại gần, tiến thẳng đến đây, đến làng này, giữa tiếng ầm ầm vang động của động cơ và đường nét của những chiếc máy bay “Gioong-ke” chở nặng hiện rõ trong đám mây đó. Chúng bay từ phía Nam tới, thành từng bầy lớn kéo dài, bay qua và che khuất ánh hồng ở chân trời. Chúng nhiều đến nỗi Đrô-dơ-đốp-xki không thể đếm hết ngay được. Và càng thấy những chiếc máy bay đó rõ ràng và dứt khoát đang bay tới đây, tới làng này, tới đại đội này, càng thấy chúng nhích sát lại gần hơn, khuôn mặt Bét-xô-nốp càng đanh cứng hơn, quyết liệt hơn, hầu như sững lại thành đá. Đôi mắt cận thị của ủy viên Hội đồng quân sự Ve-xnin không chăm chú và thăm dò nhìn bầu trời nữa mà nhìn tư lệnh, những ngón tay để trần của ông-ông quên không đi găng tay, đôi găng thò ra trên miệng túi áo choàng ngắn-chùi và cọ vào mắt kính vào cổ áo lông.
Đrô-dơ-đốp-xki lại nghĩ: “Tại sao các đồng chí ấy đứng đó và không ra lệnh? Mình phải làm gì trước mặt họ?”.
Vừa lúc ấy thiếu tá Bô-gi-scô mặc áo choàng bảnh bao của sĩ quan tùy tùng lướt trên bãi đặt pháo, trên bờ công sự y như người trượt tuyết, chắc hẳn anh chạy từ chỗ để xe tới-và thét gọi Bét-xô-nốp với vẻ khẩn khoản kiên quyết của người sĩ quan tùy tùng cho phép mình, không như điều lệnh ghi, nhắc nhở và đôi khi yêu cầu nữa:
-Đồng chí tư lệnh, đưa xe lại đây chứ? Phải đi ngay, thưa đồng chí tư lệnh!
-Có lẽ ta chờ cho qua trận ném bom ở đây, thưa đồng chí trung tướng,-Đê-ép lên tiếng, từ dưới cặp lông mày hung hung đôi mắt anh theo dõi đường bay của máy bay địch.-Tôi e rằng chúng ta không kịp về đài quan sát trước khi…
-Tôi tin là chúng ta kịp đi, thưa đồng chí tư lệnh.-Bô-gi-scô thuyết phục, hứa hẹn và giải thích cho Đê-ép: chỉ có ba ki-lô-mét thôi mà. Chúng ta sẽ phóng nhanh…
-Cố nhiên ta sẽ phóng nhanh!-Ve-xnin sôi nổi lên, đeo kính vào mắt, ước lượng khoảng cách từ chỗ ánh hồng bị đám máy bay che khuất đến điểm cao nhô ra tròn xoe ở phía bên kia sông, nơi đặt đài quan sát của sư đoàn.-Chỉ độ bốn ki-lô-mét thôi, Bô-gi-scô ạ,-ông sửa lại cho đúng và xúc động hướng về phía Đê-ép:-đồng chí tin chắc là chúng sẽ bỏ bom ở đây à, đại tá? Không loại trừ khả năng chúng sẽ bay tới Xta-lin-grát à?
-Tôi không tin, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự…
Bét-xô-nốp nhếch mép cười, nói một cách chắc chắn:
-Chúng sẽ bỏ bom ở đây. Chính ở chỗ này. Hỏa tuyến. Dứt khoát như vậy. Bọn Đức không thích liều lĩnh. Không có máy bay yểm trợ chúng không tiến công. Thôi ta đi. Ba hay bốn ki-lô-mét thì đằng nào chả thế.-Và chỉ đến lúc này ông mới lại chừng như sực nhớ tới Đrô-dơ-đốp-xki đang đứng trong tư thế chờ đợi.-Thế nào nhỉ… cho mọi người vào trong hầm trú ẩn, trung úy. Sống cho qua trận ném bom, như người ta thường nói! Còn sau đó điều chủ yếu là: xe tăng địch sẽ tới. Thế nghĩa là họ của đồng chí là Đrô-dơ-đốp-xki, phải không trung úy?-Ông hỏi và lại cố lục lọi điều gi trong ký ức.-Một cái họ quen thuộc. Tôi nhớ ra rồi. Và tôi mong rằng còn được nghe nói về đồng chí, trung úy Đrô-dơ-đốp-xki! Không lùi một bước! Và tiêu diệt xe tăng địch. Đứng vững và hãy quên đi cái chết! Đừng nghĩ tới nó trong bất cứ hoàn cảnh nào! Đại đội của đồng chí có thể làm được nhiều việc ở đây, trung úy ạ. Tôi rất hy vọng…
0

Và vươn mình bước lên thành công sự, hơi khập khiễng, Bét-xô-nốp đi lại phía những chiếc xe con, theo sau ông là sĩ quan tùy tùng Bô-gi-scô, đại tá Đê-ép. Chủ nhiệm trinh sát của sư đoàn lưu lại hỏa điểm. Ông thong thả đặt một chân lên mép công sự, không rút tấm bản đồ đeo ở trong cặp ra, không buông ống nhòm khỏi tay, giơ lên soi khoảng trời trống trải ở phía trên làng. Ông không muốn rời khỏi đây một cách giản đơn, thoải mái như thế khi chưa chờ đợi để biết được tin tức về số phận đội trinh sát của mình. Lúc ấy Ve-xnin tỏ ra am hiểu và khẽ hích vào vai ông, nói với ông điều gì đó. Mãi đến lúc ấy vị trung tá mới lặng lẽ lê mình đến hào giao thông. Lúc đã đi cách khẩu pháo khoảng năm mét, trèo lên mô đất trên đường bờ sông, Ve-xnin dừng lại nói với Đrô-dơ-đốp-xki bằng giọng phấn chấn bị át đi trong tiếng gầm rú của máy bay:
-Này, tiểu đoàn trưởng, hình như sắp đến lúc ác liệt rồi đấy! Mới lần đầu có sợ không?
-Không, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự.
-Thế thì tuyệt! Chỉ huy đi, đại đội trưởng!…
Đrô-dơ-đốp-xki ghìm mình thêm mấy giây nữa sững người lại, toàn thân căng thẳng, nhưng các vị chỉ huy cấp trên vừa khuất sau lũy đất, anh dường như bị lóa mắt, nhìn lên bầu trời đen ngòm trong đó máy bay địch đang lồng lộn, gào rú và bỗng nhiên anh thét lên ra lệnh bằng một giọng đặc biệt vang, đứt quãng…
-Toàn khẩu đô-ội, xuống hầm trú ẩn!
Rồi anh chạy về đài quan sát của trung đoàn, lướt ngang qua những khuôn mặt trắng thấp thoáng bên các khẩu pháo, qua những cái lưng lom khom của anh em chiến sĩ như thể bị bầu trời náo động đè ép xuống.
0

Chương mười một


Tiếng động cơ gào rú mãnh liệt ở trên đầu, át hết mọi âm thanh trên mặt đất, rung lên, xói vào tai. Bầy máy bay đầu tiên đã thay đổi đội hình rõ rệt, vươn dài ra, xếp thành hình vòng tròn và Cu-dơ-nét-xốp trông thấy những trái hỏa tiễn của bọn Đức phụt ra những chùm ánh sáng xanh đỏ ở đằng sau những ngồi nhà trong làng. Rồi như để đáp lại, một trái hỏa tiễn phụt ra từ chiếc máy bay đi đầu, bùng lên đỏ lòe, để lại sau lưng một vệt khói, nhạt màu dần đi, rơi nhanh và tắt lụi trong không trung đang ửng hồng. Bọn Đức bắn pháo hiệu từ mặt đất và trên không xuống để xác định khu vực bỏ bom nhưng lúc này Cu-dơ-nét-xốp không còn phải tính toán xác định xem chúng sẽ bỏ bom ở đâu vì việc này đã rõ ràng. Những chiếc “Gioong-ke” lần lượt xếp thành một vòng tròn lớn, vòng quanh khu làng, toàn bộ khu bờ sông, các hào giao thông của bộ binh, các khẩu đội pháo ở bên cạnh,-tất cả các vị trí tiền tiêu của ta đã bị siết chặt trong cái vòng đai trên không trung đó, tưởng chừng như giờ đây không có thể nào thoát được ra khỏi vòng đai đó, trong khi ấy ở bờ sông bên kia thảo nguyên mênh mông đã sáng lóe lên dưới ánh mặt trời mới mọc, các điểm cao bình thản bắt nắng lúc sớm mai…
-Báo động!… Báo động!…-Người ta thét lên một cách vô nghĩa và đứt quãng trong đại đội và ở đâu đó mé dưới bờ sông.
Cu-dơ-nét-xốp đứng ở bên trái khẩu pháo, trong hào giao thông vùng với U-kha-nốp và Tri-bi-xốp, cái hào này chật chội đối với ba người. Họ cảm thấy đất rung lên ở dưới chân, tiếng gào rú của động cơ máy bay làm rung chuyển không trung, những mảnh đất cứng rơi lả tả từ thành công sự. Cu-dơ-nét-xốp nhìn thấy rất gần cặp mắt khiếp đảm đen như chì trên khuôn mặt lưỡi cày của Tri-bi-xốp đang ngẩng lên trời với vẻ nặng nề choáng váng, anh trông thấy sát cạnh mình cái cằm nghển lên, đôi mắt sáng hung dữ của U-kha-nốp đang đảo lia lịa đếm máy bay địch. Toàn thân anh co dúm lại thật chặt như trong một giấc mơ nặng nề khi người ta không thể nào nhúc nhắc rời khỏi chỗ trong khi có mối nguy cơ lớn lao, không tránh được đổ ập lên đầu. Chẳng hiểu sao anh sực nhớ tới chiếc cặp lồng đựng thứ nước thơm thơm lạnh buốt răng do Tri-bi-xốp lấy ở hố nước trên băng về và anh lại cảm thấy miệng khô cứng, khát đến cháy họng.
-Bốn mươi tám,-cuối cùng U-kha-nốp đã đếm được số máy bay địch, anh cảm thấy nhẹ nhõm và anh đưa đôi mắt trong sáng, chừng như không thông cảm nhìn Tri-bi-xốp, dùng vai khẽ hích vào bên vai đang co dúm của bác ta.-Sao run bần bật như cầy sấy thế bố già? Chẳng có cái gì khủng khiếp hơn cái chết đâu. Run rẩy như thế cũng chẳng ăn thua gì…
-Có phải tôi không biết đâu…-Tri-bi-xốp cố run rẩy mỉm cười.-Ấy thế nhưng… tự nhiên nó cứ run lên.. Giá như tôi có thể… tôi không thể trấn tĩnh được, cổ họng nghẹn lại…-Và bác chìa cổ họng ra.
-Bác cứ nghĩ là sẽ không có chuyện gì cả. Còn nếu như có xảy ra chuyện gì, thì cũng chả làm sao hết. Ngay cả sự đau đớn,-U-kha-nốp nói và không nhìn lên trời nữa, anh dùng răng rút găng tay ra, lấy túi đựng thuốc.-Làm một điếu, bác. Cho nó bình tĩnh lại. Tôi cũng hút cho bình tĩnh. Hút đi, trung úy. Sẽ cảm thấy dễ chịu hơn.
-Tôi không thích.-Cu-dơ-nét-xốp gạt túi thuốc ra.-Giá có cặp lồng nước… Tôi muốn uống.
-Chúng nó bay tới đay! Ngay trên đầu chúng mình!…
Tiếng la thét đó và cặp mắt ngây dại, nhớn nhác của Tri-bi-xốp khiến Cu-dơ-nét-xốp bất chợt ngẩng đầu lên. Tựa hồ như ngay lúc ấy hơi lửa từ trên trời phả thẳng vào mặt anh. Một vật gì đó rất to, lóe sáng với hình thập tự đen trắng trông khá rõ-Chả lẽ đó là chiếc “Gioong-ke” đi đầu?-Như thể đứng lại trong giây lát, chiếc máy bay khựng lại trong không trung rồi tàn bạo xòe những cái móng đen ngòm, tiếng gào rú như sắt nện trên sắt, nó lao hầu như thẳng đứng xuống dưới, lao thẳng vào tròng mắt Cu-dơ-nét-xốp, khối kim loại nặng hàng tấn đang lao nhanh xuống làm anh lóe mắt, nhìn từ dưới lên, chiếc máy bay bị chìm trong những tia nắng đỏ rực của vầng dương còn chưa nhô lên khỏi chân trời. Từ khối thép sáng lóe đang gào rú đó phụt ra những vật đen dài dài nặng nề rơi xuống mặt đất, tiếng rít chói tai át cả tiếng gào rú của chiếc “Gioong-ke”. Những quả bom rơi băng băng xuống mặt đất, vào các vị trí của khẩu đội, to dần lên rất rõ trước mắt mọi người, nặng nề đu đưa trong thinh không như những súc gỗ được bào nhẵn. Tiếp theo chiếc thứ nhất, chiếc “Gioong-ke” thứ hai tách ra khỏi vòng bay lao xuống phía bờ sông. Cu-dơ-nét-xốp thấy rùng mình ớn lạnh ở chỗ da bụng căng thẳng, anh tụt xuống chiến hào. U-kha-nốp vẫn theo dõi bom rơi, chốc chốc lại cúi đầu xuống như thể tránh những viên đá ném ra vung vãi.
-Nằm xuô-ống!-Cu-dơ-nét-xốp không nghe thấy tiếng rít kéo dài trong giọng nói của mình, anh chỉ cảm thấy mình đã dùng hết lực các ngón tay túm lấy tà áo choàng của U-kha-nốp kéo xuống.
U-kha-nốp ngã đè lên người anh, che khuất bầu trời và ngay lập tức một cơn bão lốc đen ngòm trùm lên chiến hào, giội hơi nóng từ phía trên xuống. Chiến hào ngả nghiêng, vặn vẹo, rung lên tưởng chừng như nó cất vó dựng đứng và chẳng hiểu sao nằm bên cạnh anh lại không phải là U-kha-nốp-bom nổ hất anh ra khỏi người Cu-dơ-nét-xốp-mà là khuôn mặt tái xám như đất với cặp mắt sững sờ của Tri-bi-xốp, miệng bác vẫn đang thều thào: “Chỉ mong sao nó đừng rơi vào đây, đừng rơi vào đây, lạy Chúa…”-và tựa hồ như từng sợi râu dựng đứng lên trên đôi má râu ria tua tủa của bác. Bác nằm lăn ra, hai cánh tay đè lên ngực Cu-dơ-nét-xốp, vai và lưng bác nép vào khoảng không gian chật hẹp không hề có giữa Cu-dơ-nét-xốp và vách hào đang đu đưa, bác rú lên cầu nguyện:
-Lũ con tôi!… Tôi còn có đàn con… Tôi không có quyền chết. Không!… Lũ con tôi!…
Cu-dơ-nét-xốp bị sặc vì mùi thuốc nổ giống như mùi hành tỏi, vì bị cánh tay Tri-bi-xốp đè nặng, anh muốn thoát ra, hớp không khí trong lành, thét lên: “Bác hãy im đi!”-nhưng hơi bom độc hại làm anh ho sặc sụa, cổ họng đau nhói. Anh chật vật gỡ tay Tri-bi-xốp ra, hất chúng khỏi ngực mình. Chiến hào ngập khói dày đặc, ngột ngạt, che lấp bầu trời. Bầu trời đen ngòm, đầy tiếng gào rú sôi sục, chỉ lờ mờ và thấp thoáng thấy thân hình những chiếc “Gioong-ke” nghiêng nghiêng, lóe sáng đang lao xuống: những chiếc móng đèn ngòm xiêu vẹo lăm lăm thò từ trên xuống qua làn khói, trong tiếng bom bổ ầm ầm, chiến hào vặn mình, cong lại, mảnh bom văng tứ tung gieo rắc cái chết, lớp lớp đất trộn với tuyết sụt lở ầm ầm.
“Sắp chấm dứt rồi,-Cu-dơ-nét-xốp tự nhủ, cảm thấy đất lạo xạo trong hàm răng, anh nhắm mắt lại, tưởng chừng như làm thế thời gian sẽ trôi qua nhanh hơn.-Còn mấy phút nữa thôi… Nhưng các khẩu pháo… các khẩu pháo thế nào nhỉ? Chúng được đưa tới đây để đánh giặc… Mảnh bom sẽ làm vỡ kính ngắm mất…”.
Anh hiểu rằng phải lập tức nhổm dậy, ngó xem các khẩu pháo thế nào, phải làm một việc gì đó ngay lúc này nhưng thân thể nặng trĩu của anh đã co dúm lại, bị ấn chặt vào lòng chiến hào, anh thấy đau ở ngực, ở tai, còn tiếng rú lồng lộn của máy bay, tiếng rít chát chúa của những mảnh bom trong bầu không khí nóng bỏng càng ngày càng đè mạnh anh xuống đáy chiến hào mong manh. Bị ám ảnh bởi ý nghĩ cần phải làm một việc gì đó, anh mở mắt ra và trông thấy gờ lũy công sự bị mảnh bom xén phẳng. Những hòm xam xám rơi trên vách hào, tung tóe xuống lòng chiến hào, lăn lông lốc trên chiếc lưng gù cong lên của bác Tri-bi-xốp đang nằm sấp mặt xuống.
0

Cu-dơ-nét-xốp biết rõ những hòn xám đó là cái gì nhưng không tài nào nhớ được tên gọi của chúng, nhớ được anh đã từng có lúc trông rõ thấy chúng ở đâu và ngay lúc ấy tiếng thét của U-kha-nốp vang lên qua những tiếng nổ ầm ầm: anh cũng nhìn vào lưng Tri-bi-xốp với vẻ chăm chú ngạc nhiên:
-Nhìn kìa trung úy, chúng nó ném bom làm cho chuột chạy loạn xạ! Hãy cứu lấy bác ấy! Nào!
Bàn tay hộ pháp của U-kha-nốp đeo chiếc bao tay xù xì chộp lấy những cục xam xám trên lưng Tri-bi-xốp bất chợt nhe răng giận dữ đó, rồi ném chúng ra khỏi chiến hào, vào đám khói mù mịt.
-Bác Tri-bi-xốp, nhúc nhắc người đi, lũ chuột nó ăn thịt bây giờ! Bố già không cảm thấy gì à?
-Kính ngắm!-Cu-dơ-nét-xốp thét to, không để ý tới Tri-bi-xốp và trong nháy mắt anh nghĩ rằng anh muốn và có thể ra lệnh cho U-kha-nốp-Anh có quyền làm như thế-Ra lệnh cho U-kha-nốp lên tháo kính ngắm, nghĩa là dùng quyền hành của trung đội trưởng bắt buộc anh ta phải nhảy ngay ra khỏi hầm dưới trận bom để chạy tới chỗ các khẩu pháo, còn bản thân mình thì ở lại trong chiến hào, nhưng anh không thể ra lệnh như thế được.
“Mình không có quyền,-anh nghĩ.-Làm như thế rồi mình sẽ chẳng bao giờ tha thứ được cho mình”.
Lúc này họ bình đẳng như nhau và mọi việc được đo bằng một cái duy nhất, lớn lao, dứt khoát, ngẫu nhiên và đơn giản: bằng một số nét gần hay xa, bằng sự tinh tường hay không của lũ giặc lái đang từ vòng bay gieo chết chóc lao xuống cả cái thế giới không được che đỡ, hoang vắng đến kỳ quái, không ánh mặt trời, không có con người, không có lòng tốt, không có lòng thương hại, cái thế giới đã bị thu hẹp hết mức trong khuôn khổ của một chiến hào đang bị bom đạn xô đẩy giữa ranh giới của cái sống và cái chết.
“Mình không có quyền làm như thế. Mình không có quyền! Đó là sự bất lực đáng khinh bỉ… Cần phải tháo kính ngắm ra! Mình sợ chết ư? Tại sao mình lại sợ chết? Một mảnh bom văng vào đầu chăng?… Không, mình sẽ vọt ra khỏi chiến hào ngay lúc này. Đrô-dơ-đốp-xki đâu?… U-kha-nốp biết rằng mình sắp ra lệnh… Để làm gì nhỉ? Kệ xác những chiếc kính ngắm đó! Mình không có đủ sức vọt ra khỏi chiến hào… Mình sẵn sàng ra lệnh, còn bản thân mình thì ngồi lì tại đây. Nếu mình vọt ra khỏi chiến hào, sẽ chẳng có cái gì che đỡ cho mình nữa. Và một mảnh bom nóng bỏng găm vài thái dương thì sao?… Thế là cái gì, điên à?”.
Tiếng sắt thép nổ chát chúa ở trên đầu làm cho chiến hào nghiêng vẹo đi, phả một làn khói đen ngòm xoáy tít vào mặt Cu-dơ-nét-xốp khiến anh lại ho sặc sụa, khói bom độc hại làm cho anh ngột ngạt.
Khi khói tan, U-kha-nốp lấy tay áo chùi đất khỏi môi, lắc lắc đầu. Những mảnh tuyết bẩn rơi lả tả từ mũ lông xuống. Anh lấy làm lạ, đưa mắt nhìn Cu-dơ-nét-xốp đang ho xù xụ và nhe chiếc răng thép sáng loáng, anh gào lên như thể cả hai người đều điếc:
-Trung úy!… Thở vào khăn tay ấy, sẽ thấy dễ chịu hơn.
“Đúng rồi, mình bị sặc hơi thuốc nổ. Mình quên và đã hớp phải nó vào mồm. Có mùi tỏi cháy khét và mùi sắt. Lần đầu tiên mình được ngửi thấy mùi này vào năm bốn mươi mốt. Và mình đã nhớ suốt đời… Cậu ấy nói cái gì nhỉ? Còn có thể có những chiếc khăn mùi soa nào nhỉ? Chỉ thấy ngực mình bị thắt lại, ho đến đau cả họng. Giá có tí nước, giá được hớp một ngụm nước lạnh…”.
-A-a! Vớ vẩn thật!-Cu-dơ-nét-xốp nén cơn ho, thét lên.-U-kha-nốp!… Cậu hãy nghe đây… Phải tháo kính ngắm ra! Kẻo không chúng đi đời nha ma mất! Chả biết đến bao giờ mới kết thúc?
-Tôi cũng nghĩ thế, trung úy ạ! Không có kính ngắm bọn mình sẽ trắng tay!…
U-kha-nốp ngồi trong lòng chiến hào, choãi chân ra, lấy bao tay đập đập lên mũ lông, đẩy mũ ngập sâu hơn xuống trán, anh tì tay vào lòng chiến hào định nhổm dậy, nhưng ngay lúc ấy Cu-dơ-nét-xốp ngăn anh lại:
-Dừng lại! Khoan đã! Hễ chúng dứt một đợt ném bom, chúng ta sẽ vọt ra, chạy tới chỗ khẩu pháo. Cậu chạy đến khẩu thứ nhất, mình đến khẩu thứ hai! Chúng mình sẽ tháo kính ngắm ra!… Cậu tháo ở khẩu thứ nhất, mình ở khẩu thứ hai! Rõ chưa, U-kha-nốp? Theo lệnh tôi, rõ chưa?-Và cố nén cơn ho, anh cũng choãi chân ra để dễ nhổm dậy hơn.
-Phải ra ngay, trung úy.-Cặp mắt sáng của U-kha-nốp từ dưới chiếc mũ đội sùm sụp trên trán nheo lại, nhìn lên trời.-Ra ngay…
Dựa theo tiếng những chiếc máy bay đã ngóc lên, cả hai người đều đồng thời cảm thấy rằng đã dứt một đợt bom. Khói nóng cuốn như cơn lốc từ sau bờ công sự. Sau khi lần lượt lao xuống cắt bom, những chiếc “Gioong-ke” ngóc lên phía trên bờ sông, lại xếp thành hình vòng tròn, như chiếc đu quay liên tục ở trên trời, cao hơn những đám khói đen đang cuồn cuộn bốc trên thảo nguyên. Ngôi làng ở cả hai phía bờ sông rừng rực như một đám cháy lớn, ngọn lửa loang ra khắp các đường ngõ, quay tròn, những mái nhà sụp xuống khiến tro và tàn than tung tóe lên những đám mây nóng bỏng, cửa kính vỡ nổ như súng bắn, mấy cái ô tô chưa kịp đưa xuống hầm trú ẩn, trúng mảnh bom bốc cháy ở ven làng. Xăng dầu bốc cháy và chảy lênh láng trên bờ dốc về phía sông. Làn khói dày đặc phủ trên trận địa của các khẩu đội, trên bờ sông, trên các hào giao thông của bộ binh như một bức màn tang.
Đứng trong hào, Cu-dơ-nét-xốp nhìn rõ tất cả, khi nghe tiếng động cơ đều đều của toán máy bay địch lại đang nhao từ đám khói xuống để ném bom, anh liền ra lệnh:
-U-kha-nốp!-Kịp đấy! Ta đi đi!… Cậu đến chỗ khẩu pháo thứ nhất. Mình đến khẩu thứ hai…
Cảm thấy thân mình nhẹ bỗng, anh vượt ra khỏi hào, nhảy qua bờ lũy công sự nơi đặt khẩu pháo thứ nhất, chạy băng băng trên đám tuyết đen ngòm vì hơi bom, trên khoảnh đất đầy những hố bom, lao tới khẩu pháo thứ hai, từ phía đó vọng tới tiếng thét của một người nào đó:
-Trung úy!… Lại đây với chúng tôi!
Toàn bộ hỏa điểm, các hốc trong thành công sự, các chiến hào đều bị khói dày đặc phủ kín, khắp nơi những hòn đất nóng bỏng bị hơi bom hất vung vãi, khắp nơi là tuyết đen sẫm và đất: trên tấm vải bạt phủ khẩu pháo, trên cò súng, trên những hòm đạn. Nhưng kính ngắm vẫn còn nguyên vẹn và Cu-dơ-nét-xốp vừa sặc sụa vì ho vừa đưa những ngón tay như phát sốt ra tháo kính, anh nhìn xuống các hào và thấy một mái đầu từ đó nhô lên như một cái bóng tròn trong khói rồi lại thụt xuống ngay.
-Ai đấy? Tru-ba-ri-cốp đấy à? Các anh còn sống cả chứ?
-Đồng chí trung úy, lại đây với chúng tôi!… Vọt lại chỗ chúng tôi đi!
Từ chiếc hào ở bên trái, đằng sau hốc đất đựng đạn, nhô ra một mái đầu đội chiếc mũ lông bám đầy đất, lệch hẳn về một bên tai. Mái đầu lắc lư trên cái cổ ngẳng như trên một thân cây, đôi mắt trố ra, ánh lên vẻ kích động, chào đón đó là người chỉ huy khẩu pháo thứ hai, hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp.
-Đồng chí trung úy, lại với chúng tôi đi! Có một cậu trinh sát ở chỗ chúng tôi!…
-Cái gì cơ?-Cu-dơ-nét-xốp thét to.-Tại sao các anh không tháo kính ngắm ra? Các anh tưởng có thể bắn không cần kính ngắm à?
-Đồng chí trung úy, cậu trinh sát bị thương. Cậu ấy đang nằm trong hào đây này! Cậu ấy từ đằng kia tới… Cậu ấy bị thương…
-Cậu trinh sát nào? Anh làm sao, bị chấn thương hở Tru-ba-ri-cốp?
-Không… Chỉ phải cái tai tôi bị ù như thể bị điếc ấy… Cơ mà cũng chả sao… Cậu trinh sát đã chạy đến chỗ chúng tôi!
-À! Trinh sát hả? Của sư đoàn chứ gì? Cậu ấy đâu?
Cu-dơ-nét-xốp nhìn lên trời-chiếc đu quay khổng lồ của đàn “Gioong-ke” lại siết thành những vòng tròn trên thảo nguyên. Anh nhảy qua cái hốc đất xuống hào, giúi kính ngắm vào ngực Tru-ba-ri-cốp. Anh này đưa hai tay đỡ lấy nó cặp lông mi đen nhánh như mực tàu nhấp nháy vì đà nhảy vọt đột ngột của Cu-dơ-nét-xốp, đoạn anh ta nhét kính ngắm vào bụng.
-Anh quên không nghĩ tới kính ngắm à, Tru-ba-ri-cốp? Cậu trinh sát đâu?
Trong chiến hào dài mấy người cố nép sát vào vách hào, chen chúc ngồi. Trắc thủ Ep-xtích-nê-ép, đám tóc bạc trắng ở thái dương và hai người mặc áo choàng bê bết đất sét đang vội vã hút lấy hút để những điếu thuốc lá to gộc. Các chiến sĩ coi ngựa Ru-bin và Xec-gu-nen-cốp không kịp ra chỗ để ngựa cũng trú ở đây. Cả hai người lầm lì cau có, căng thẳng nhìn về cùng một hướng. Họ nhìn về phía cuối hào nơi một thanh niên mặt nhợt nhạt trắng bệch nửa nằm nửa ngồi, anh mặc áo ngụy trang, không đội mũ lông, mái tóc quăn như người xư-gan rối bù lên, dính đầy đất và tuyết, đôi mắt co tròn lại trong cơn đau, gò má hẹp nhăn nhúm như những cái bướu. Cánh tay trái của chiếc áo ngụy trang và áo khoác của anh đẫm máu, người ta đã dùng dao cắt bỏ cánh tay áo đó sát tận vai, con dao cắm xuống đất gần chân anh. Miệng méo xệch, chàng thanh niên đưa những ngón tay xám ngắt, lấm máu vụng về quấn cuộn băng cá nhân vào chỗ gần vai rồi nghiến răng nói:
-Ôi, quân độc ác, quân độc ác!… Cho tôi gặp sư đoàn trưởng!… Cho tôi gặp đại tá…
-Hãy giúp đỡ cậu ấy, mau lên!-Cu-dơ-nét-xốp quát bảo Tru-ba-ri-cốp, anh này vẫn cứ lắc lắc mái đầu trên chiếc cổ ngẳng như thể anh ta định hất nước ở trong tai ra vậy.-Sao anh lại đứng đờ ra thế? Hãy băng bó lại cho cậu ấy đi!
-Cậu ấy không chịu,-chiến sĩ coi ngựa Ru-bin rầu rĩ lên tiếng, giụi điếu thuốc vào bãi nước bọt trong lòng bàn tay sần sùi rồi cất đầu mẩu thuốc lá vào điềm mũ lông.-Lính trinh sát đấy, chẳng cần ai giúp đâu! Kiêu ra phết! Đừng có mà đụng vào! Tay ấy la hét mọi người cứ như bị loạn thần kinh ấy… Trinh sa-át đấy!…
Xec-gu-nen-cốp bỗng cất tiếng nói rè rè, cặp mắt xanh thơ ngây của anh nhìn Cu-dơ-nét-xốp với vẻ ngạc nhiên và như muốn phân trần:
-Quanh đây đùng đùng náo động, lửa bùng khắo thảo nguyên… đất trời mờ mịt cả, đồng chí trung úy ạ. Còn cậu ta ấy mà, cậu ấy… đi như một người điên, người lắc lư, kêu thét gì đó… rồi ngã vật xuống… mình đẫm máu. Cậu ấy muốn gặp sư đoàn trưởng. Người của đội trinh sát đấy…
-Bọn mình là đồ ngốc hay sao mà đi tin vào lời nói. “Ở đội trinh sát đấy” thì làm quái gì!-Ru-bin nói, nhại lại Xec-gu-nen-cốp, ngoảnh khuôn mặt vuông chữ điền rám nắng của mình về phía anh trinh sát, anh này hình như không nghe được lời nào trong cuộc trò chuyện, vẫn cố gắng quấn cuộn băng bị tuột ra ở gần vai.-Phải kiểm tra giấy tờ của hắn thật nghiêm ngặt!… Chứ sao? Hắn có thể là người trong đội trinh sát của địch…
-Chuyện ngớ ngẩn! Cậu lảm nhảm cái gì thế hở Ru-bin?-Cu-dơ-nét-xốp cắt lời anh và lách mình qua nhưng người lính tới chỗ anh trinh sát, nói to:-Để tôi băng giúp cho!… Anh từ đâu tới? Anh trở về một mình à? Anh trinh sát định dùng răng siết chặt mảnh băng, giận dữ dứt băng khỏi chỗ gần vai, cặp mắt đen nhọn hoắt điên khùng xoáy vào khoảng không trên miệng hào, sùi bọt mép và mãi đến lúc này khi đã tới gần anh, Cu-dơ-nét-xốp mới nhận thấy những tia máu ri rỉ đã khô lại ở gần mang tai anh ta. Có lẽ anh ta bị chấn thương.
-Đừng đụng vào tôi! Xê ra, trung úy!-Anh trinh sát rên lên, hét to và nhe răng nói vội vã như bị sặc:-Đưa tôi tới gặp sư đoàn trưởng, anh hiểu không? Cho tôi gặp đại tá… Sao cứ nhìn tôi chằm chằm như nhìn đàn bà thế? Tôi thuộc đội trinh sát của sư đoàn, anh hiểu không? Hãy gọi điện… cho đại tá, trung úy! Sao các anh cứ nhìn tôi trừng trừng thế hở lũ khốn kiếp? Tôi mà ngất một cái là mọi tin tức đi tong! Tôi mà ngất!… Trung úy có hiểu không?-Và những gọt nước mắt đau đớn lăn ra từ cặp mắt hung dữ của anh.
Như người lên cơn thần kinh, anh ngả đầu ra đằng sau, dùng cánh tay lành rứt đứt cúc áo ở gần cỏ áo va rơi, áo bông ở trong áo ngụy trang, những ngón tay bê bết máu túm lấy xương quai xanh nhô ra sau cái áo may ô lính thủy đã sờn.
-Nhanh lên, nhanh lên! Chừng nào tôi còn tỉnh, hiểu không?… Hãy gọi điện cho đại tá, tôi là Ghê-oóc-ghi-ép. Hãy gọi điện nói là tôi cần nói chuyện với đồng chí ấy!
-Có lẽ phải đưa cậu ấy đi, đồng chí trung úy,-trắc thủ đứng tuổi Ep-xtích-nê-ép nói xen vào một cách hợp lý.
Cu-dơ-nét-xốp vẫn nhìn những ngón tay anh trinh sát đang túm chặt lấy xương quai xanh, giờ đây anh hiểu rõ rằng anh chàng lính thủy này là một chiến sĩ của đội trinh sát mà lúc rạng đông mọi người đã chờ đợi nhưng không thấy tăm hơi đâu.
-Có lẽ anh ấy bị thương ở đầu, mất máu nhiều,-hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp nói.-Làm thế nào nhỉ?… đưa anh ta về trung đoàn chứ, đồng chí trung úy? Có lẽ anh ta sẽ chết ở dọc đường…
-Chớ có gánh lấy hắn! Làm sao mà biết hắn ở đội trinh sát mới được chứ!..-Ru-bin xen vào bằng giọng thuốc lá, hằn học sau khi ục nhau một trận rồi hẵng… Lính thủy cơ đấy! Có lẽ lúc ở trên tàu chiến hắn ngốn toàn sô cô la với bánh mì trắng, còn bọn mình độc nốc canh bắp cải.. Lính trinh sát cơ đấy!…
-Ru-bin, hay là anh cõng anh ấy đi!-Cu-dơ-nét-xốp cắt ngang, nhìn sát vào khuôn mặt bè bè đỏ ửng của Ru-bin-Ai chỉ huy ở đây? Anh à, Ru-bin?
-Phải có đầu óc chứ, đồng chí trung úy…
-Có đầu óc như của anh chắc? Hay đầu óc của ai?-Cu-dơ-nét-xốp quát to và quay người về phía Tru-ba-ri-cốp:-Có liên lạc với Đrô-dơ-đốp-xki không? Điện thoại vẫn hoạt động chứ?
Tru-ba-ri-cốp chỉ hất đầu về phía vách hào ở đằng sau ra ý nói: có lẽ liên lạc ở phía đó.
-Băng bó cho anh ta, Tru-ba-ri-cốp đừng để anh ta giật băng đi! Tôi sẽ liên lạc với đài quan sát ngay bây giờ!…
-Khoan đã, đồng chí trung úy! Máy bay địch đang lao tới chỗ chúng ta! Đấy, chúng lại…-Xec-gu-nen-cốp hét to lên báo cho anh biết và bịt tai lại.
0

Khi đã nhảy lên vị trí đặt pháo Cu-dơ-nét-xốp ngước mắt nhìn lên trời. Chiếc đu quay khổng lồ của những chiếc “Gioong-ke” quay tròn trên phía bờ sông rồi chiếc đi đầu tách ra khỏi vòng lượn, phơi thân hình sáng lóe dưới vầng mặt trời bị che lấp, đâm bổ xuống các hào giao thông của bộ binh ở phía xa.
Khi Cu-dơ-nét-xốp nhảy xuống một chiếc hào nhỏ hẹp, nông choèn, bất tiện của bộ phận thông tin, anh lính giữ điện thoại Xvi-a-tốp đang ngồi, cúi đầu xuống máy, một tay giữ lấy ống nghe được buộc vào đầu anh ta bằng một chiếc dải nhỏ. Nép chặt mình trong chiếc hào nhỏ chật chội, Cu-dơ-nét-xốp buộc phải ép đầu gối mình sát vào đầu gối Xvi-a-tốp và bất chợt sự đụng chạm ngẫu nhiên đó khiến anh hoảng hốt: anh không hiểu được ngay là đầu gối mình hay đầu gối anh chiến sĩ thông tin đang run lên bần bật và anh cố hết sức nhích người về phía vách hào.
-Có liên lạc được với đài quan sát không? Đường dây không bị đứt chứ? Đưa ống nghe đây Xvi-a-tốp.
-Liên lạc được, đồng chí trung úy ạ. Chỉ có điều chẳng thấy ai…
Xvi-a-tốp ép chặt hai đầu gối vào nhau để khỏi run, ngẩng khuôn mặt choắt quê mùa, trăng trắng, bị giá lạnh làm cho nhăn nheo lại, kéo căng dải vải buộc ống nghe, tuy vậy anh ta vẫn không tháo dải vải ra, chỉ chìa ngón tay ra, chúi khuôn mặt choắt vào máy.
-Xe tăng!… Có ai đó trong tiểu đoàn thét to nhưng tiếng thét bị chìm lút trong tiếng gào rú ầm ầm của máy bay.
Đồng thời với tiếng thét đó, trận động đất do bom nổ rền lan theo bờ sông tới chỗ tiểu đoàn, tất cả rung lên, dựng đứng. Chiếc hào hẹp chao đảo hất tung Cu-dơ-nét-xốp khỏi mặt đất. Anh trông thấy thân hình với dấu thập ngoặc của những chiếc “Gioong-ke” lao dọc con sông giữa tiếng nổ ầm ầm ở phía dưới, lửa đạn súng máy của chúng lóe lên chói mắt. Máy bay địch xúm xụm lại bám chặt lấy bờ sông, bay dọc các hào giao thông của bộ binh xông thẳng đến các trận địa các khẩu đội. Một lát sau anh thấy đôi môi của Xvi-a-tốp thì thào gì đó trước mặt anh, đầu gối hắn run rẩy, mảnh vải quấn chân hắn tung ra một đầu lõng thõng bò như con rắn trong lòng chiến hào.
-Xe tăng! Xe tăng! Đôi môi đỏ chót của anh chiến sĩ thông tin thì thào.-Anh có nghe thấy không? Đã có lệnh.
Cu-dơ-nét-xốp muốn quát lên: “Anh hãy quấn lại giẻ quấn chân ngay!”-Và anh quay người lại để khỏi nhìn thấy cặp đầu gối run rẩy của hắn, nỗi sợ hãi không cưỡng lại được của hắn, như một cơn gió, nỗi khiếp sợ này nhói vào người anh như một căn bệnh khi nghe tiếng “xe tăng” vang lên ở đâu đó, anh cố chống lại, không để mình bị cuốn vào nỗi sợ hãi đó và nghĩ: “Chả có lẽ nào! Có người nhầm lẫn tưởng tượng ra… Xe tăng đâu nào? Ai la lên báo tin đó nhỉ? Mình sẽ ra khỏi hào ngay bây giờ… Mình muốn tự mình xác định cho rõ! Xe tăng đâu nào?”.
Nhưng anh không thể bò ra khỏi hào được: máy bay địch lần lượt bay nghiêng và thấp, ánh lửa mù mịt che khuất khoảng trời trên đầu họ, chúng lượn ngoằn ngoèo, loanh quanh, xả súng máy cỡ lớn xuống.
-Xvi-a-tốp!-Cu-dơ-nét-xốp quát to giữa những loạt đạn súng máy đùng đùng của địch và lay vai anh chiến sĩ thông tin đang gục giấu mặt trong đầu gối.-Bắt liên lạc với đài quan sát, với Đrô-dơ-đốp-xki! Ở đằng ấy ra sao? Nhanh lên!
Xvi-a-tốp ngẩng khuôn mặt choắt sững sờ, cặp mắt đảo lia lại, loay hoay vận hành chiếc máy điện thoại dã chiến, thổi vài ống nghe, gào lên: “Đài quan sát, đài quan sát đâu? Ồ, sao không thấy trả lời?… Nhưng tiếng gào rú nóng bỏng của một chiếc máy bay đang bổ nhào đã ép sát cả hai người xuống mặt đất, thân hình đồ sộ, tối thẫm của nó bay ở ngay phía trên cái hào nhỏ. Nó nã một tràng súng máy trên đầu họ, đất đá rơi rào rào vào vách hầm, vào máy điện thoại. Đồng thời một ý nghĩ hầu như đắc thắng lóe lên trong đầu Cu-dơ-nét-xốp vốn đang chờ đợi đạn địch xói vào lưng, vào đầu: “Trượt rồi, trượt rồi!”.
Bàn tay Xvi-a-tốp lật bật giũ những mảnh đất vụn khỏi máy, môi anh hé mở, liên tục thở phù phù vào ống nghe: “Đài quan sát… đài quan sát… Các đồng chí không làm sao chứ?” Và bống nhiên cặp mắt anh lác xệch và dại đi.
-Xe tă-ăng!-Có tiếng kêu hoảng hốt ở phía trên thành công sự.
Đôi môi Xvi-a-tốp thều thào mấy tiếng nhát ngừng:
-Đồng chí trung úy… đã tới bên máy. Liên lạc được rồi… Đrô-dơ-đốp-xki đang nghe. Mệnh lệnh: xe tăng, xe tăng địch đang tiến. Chuẩn bị chiến đấu!… Đồng chí, đồng chí!… Đại đội trưởng gọi!-Anh đưa tay giũ chiếc mũ lông nhàu nát, làm đứt sợi dây buộc ống nghe vào mái đầu trẻ thơ trong trắng của mình anh chìa cái ống nghe cùng với đoạn dây rợ lằng nhằng đó cho Cu-dơ-nét-xốp…
-Tôi nghe. Trung úy Cu-dơ-nét-xốp đang ở bên máy!
Qua ống nghe thấy rõ hơi thở hổn hển của Đrô-dơ-đốp-xki như sau một cuộc chạy đường dài, hơi thở đó như thể bật ra khỏi màng rung, nóng hổi xuyên vào lỗ tai:
-Cu-dơ-nét-xốp!… Xe tăng địch đang tiến thẳng tới đấy! Các khẩu pháo sẵn sàng chiến đấu! Có tổn thất không? Cu-dơ-nét-xốp!… Người và pháo thế nào?
-Cho tới lúc này tôi vẫn chưa thể nói chính xác được.
-Hiện nay anh ngồi ở đâu?… Anh có biết tình hình ở chỗ Đa-vla-chi-an không?
-Tôi đang ngồi ở chỗ cần phải ngồi, đồng chí đại đội trưởng,-ở gần các khẩu pháo,-Cu-dơ-nét-xốp đáp, làm đứt quãng hơi thở hổn hển đang réo trong màngrung.-Cho tới bây giờ chưa liên lạc được với Đa-vla-chi-an. Những chiếc “Gioong-ke” đang bay trên đầu.
-Bom địch rơi thẳng vào vị trí của Đa-vla-chi-an, phá hủy một khẩu pháo,-giọng của Đrô-dơ-đốp-xki rít lên.-Hai người chết. Năm người bị thương. Toàn bộ anh em pháo thủ ở khẩu thứ tư.
“Thế là bắt đầu rồi! Bắt đầu nhanh quá.-Đầu Cu-dơ-nét-xốp ong ong lên nóng ran.-Nghĩa là đơn vị của đơn vị đã bị tổn thất, mất bảy người. Và một khẩu pháo. Bắt đầu rồi!”.
-Những ai chết?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi, tuy anh chỉ biết mặt và họ tên anh em thuộc khẩu pháo thứ tư chứ không am hiểu cuộc sống của từng người trong bọn họ.
-Biết hay không cũng thế thôi!-giọng Đrô-dơ-đốp-xki ngạt đi trong ống nói.-Chuẩn bị chiến đấu, Cu-dơ-nét-xốp! Xe tăng địch đang tiến!
-Rõ,-Cu-dơ-nét-xốp nói.-Tôi muốn báo cáo anh một việc. Có một cậu trinh sát bị thương lần về được chỗ chúng tôi.
-Cậu trinh sát nào nữa thế?
-Cái cậu ở trong đội trinh sát mà người ta đã chờ đợi ấy. Cậu ta yêu cầu chuyển cậu ta tới ban tham mưu sư đoàn.
-Chuyển ngay lập tức!-Đrô-dơ-đốp-xki hét lên.-Đến chỗ đài quan sát của tôi!
Cu-dơ-nét-xốp ném ống nghe vào tay Xvi-a-tốp, vụt đứng dậy trong cái hào nhỏ, nhìn về bên tay phải nơi đặt các khẩu pháo của Đa-vla-chi-an. Một ô tô chờ đầy đạn bốc cháy ở đó, khói chùm kín bờ sông, che lấp các vị trí, tỏa ra sông, quyện vào ngọn lửa đám cháy các ngôi nhà ở ven làng. Đạn để trong xe nổ bùng bục, vọt lên trời thành hình vòng cung như những pháo hoa.
0

Chiếc đu quay gồm các máy bay địch đã chuyển chỗ, giờ đây đang quay tít ở phía sau, bên kia sông, những chiếc “Gioong-ke” đảo lên đảo xuống trên những con đường qua thảo nguyên ở đằng sau các điểm cao, sau khi bỏ bom, một bộ phận máy bay địch với tiếng gào mệt mỏi bay về phương trời phía Nam ánh nhe đồng thau, phía trên ngôi làng đang bốc cháy.
Và mặc dầu những chiếc “Gioong-ke” vẫn còn bỏ bom ở phía sau, và ở đó vẫn còn có người chết, Cu-dơ-nét-xốp cảm thấy dễ chịu trong chốc lát, tựa hồ như anh đã thoát ra khỏi cái trạng thái u uất, bất lực và bị lăng nhục trái tự nhiên mà trong chiến tranh người ta gọi là sự đợi chờ cái chết.
Nhưng ngay giây phút đó anh trông thấy những trái hỏa tiễn màu đỏ và xanh lam vụt lên trên thảo nguyên ở phía trước và rơi xuống như những chiếc cầu vồng vào các đám cháy ở gần đó.
Toàn bộ cái chóp rộng và mặt dốc thoai thoải của bình nguyên trên khe ở phía trái ngôi làng bị phủ kín trong màn khói xanh lam, hòa lẫn vào nhau, động đậy, thay đổi đường nét rõ rệt vì sự chuyển động dày đặc và chậm rãi của những khối màu xám và vàng vàng gì đó ở phía ấy, chừng như những khối này hoàn toàn không nguy hiểm, chúng hòa thành một cái bóng khổng lồ trên tuyết, được ánh sáng ban mai của cái vầng mặt trời đã vươn khỏi chân trời trên thảo nguyên chiếu rọi lờ mờ qua sương mù.
Cu-dơ-nét-xốp hiểu rằng đó là xe tăng địch, tuy nhiên anh còn chưa cảm thấy thật sắc bén mối nguy cơ mới đó sau khi vừa trỉ qua đợt oanh kích của những hiếc “Gioong-ke” và còn chưa tin rằng có nguy cơ đó.
Cảm giác sắc nhọn về nguy cơ đó đến ngay trong giây phút sau: tiếng gào rú trầm trầm run rẩy, tiếng rung của rất nhiều động cơ đột nhiên vang lên, xuyên qua màn sương phủ trên những dải đất thấp và đã thấy rõ hơn đường nét của những khối hình vuông đó, của cái bóng đen lớn, sít chặt, hình tam giác kéo dài mà đỉnh xuyên vào làng, vào đỉnh của bình nguyên.
Cu-dơ-nét-xốp trông thấy những chiếc xe tăng đi đầu nặng nề lắc lư, những đám tuyết tả tơi vun vút bốc lên mù mịt, quay tròn quanh xích sắt của những chiếc đi ở bên cạnh đang phụt những tia lửa ra khỏi các ống xả.
-Về vị trí!-Cu-dơ-nét-xốp hét to ra lệnh bằng cái giọng hết sức vang mà anh thấy dường như đáng sợ, xa lạ, đanh thép đối với chính mình và với những người khác.-Chuẩn bị chiến đấu!…
Ở khắp mọi chỗ, những mái đầu nhô lên khỏi chiến hào, đụng đậy trên thành công sự. Rút chiếc kính ngắm ở bụng ra, hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp là người đầu tiên leo lên vị trí đặt pháo. Anh vươn cái cổ dài, đôi mắt trố ra, sợ sệt nhìn bầu trời bên kia sông nơi những chiếc “Gioong-ke” còn lại vẫn nã súng máy xuống những con đường ở phía sau trên thảo nguyên.
-Chuẩn bị chiến đấu!…
Tựa như được mệnh lệnh đó thúc đẩy, các chiến sĩ bắt đầu lao tới các khẩu pháo. Lúc này không ai có thể đánh giá đúng tình hình một cách thực tế, họ chỉ đưa tay máy móc lột vải bạt che pháo, mở các hốc để hòm đạn, gạt những mảnh đất do trận ném bom làm vung vãi, kéo các hòm đạn lại gần càng pháo đã giương ra.
Hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp tháo găng tay, các ngón tay nhanh nhẹn của anh lắp kính ngắm vào ổ, đưa mắt giục giã các pháo thủ đang loay hoay với những quả đạn. Trắc thủ Ep-xtích-nê-ép đã bắt đầu lau chùi cẩn thận và kiên nhẫn chỗ men đen ở kính ngắm, như thể giờ đây đó là việc cần thiết.
-Có chuẩn bị đạn phá không, đồng chí trung úy?-Có người từ trong hốc để đạn thét hỏi bằng giọng đứt quãng.-Có cần không? Hả? Đạn phá ấy mà?…
-Nhanh lên, nhanh lên!-Cu-dơ-nét-xốp giục giã, không để ý là anh đang đập găng tay nọ vào tay kia đến đau cả lòng bàn tay.-Để đạn phá lại đó! Chỉ đem đạn chống tăng ra thôi! Chỉ lấy đạn chống tăng thôi!
Lúc ấy anh nhìn thấy hai mái đầu từ chiến hào nhô lên, trông như một trở ngại đáng chán ngán. Đó là các chiến sĩ coi ngựa Xec-gu-nen-cốp và Ru-bin đang vươn thẳng mình trong hào, đứng nhìn cáo pháo thủ chứ không leo ra ngoài. Xec-gu-nen-cốp do dự, thở hổn hển để nén xúc động. Ru-bin ngước nhìn lên, cặp mắt nhỏ nặng trĩu trên khuôn mặt to bè màu hung.
-Gì thế?-Cu-dơ-nét-xốp vội bước về phía hào.-Cậu trinh sát thế nào rồi?
-Chúng tôi đã băng bó lại cho cậu ta.. có lẽ cậu ấy mất máu nhiều.-Cậu ấy đang hấp hối. Nằm lặng đi…
-Cậu ấy có hấp hối đâu! Tại sao cậu ấy lại hấp hối?-Ru-bin gầm lên với vẻ dửng dưng của con người chán ngán chuyện này.-Cậu ấy vẫn mê sảng, nói rằng hãy còn bảy người nữa ở lại đằng ấy, phía trước mặt bọn Đức. Những người yêng hùng đấy!… Thế mà cũng gọi là đi trinh sát. Thật nực cười.
Anh trinh sát vẫn nửa nằm nửa ngồi trong hào như trước, đầu gục xuống, mắt nhắm nghiền, tất cả chiếc áo ngụy trang dính đầy những vết máu sẫm màu, chỗ bả vai anh đã được băng bó lại.
-À này, hai anh nâng cậu trinh sát lên và đưa tới đài quan sát, chỗ Đrô-dơ-đốp-xki!-Cu-dơ-nét-xốp ra lệnh.-Ngay lập tức!
-Thế còn ngựa thế nào, đồng chí trung úy?-Xec-gu-nen-cốp kêu lên.-Chúng tôi phải đến với lũ ngựa… Khéo chúng bị bom cũng nên. Chúng đứng một mình ở đó…
-Nghĩa là xe tăng địch đang tiến à?-Ru-bin cau có hỏi.-Bây giờ người ta đem đến cho một con sáo! Thế mà cũng gọi là đội trinh sát!-Và anh đưa đôi vai vuông vức thô lỗ hích Xec-gu-nen-cốp.-Ngựa nghẽo gì! Im đi cho được việc. Cứ lải nhải mãi! Rồi người ta sẽ hỏi anh về ngựa ở thế giới bên kia, ở trên thiên đường, trước mặt Chúa!…
Cu-dơ-nét-xốp chưa kịp trả lời Ru-bin những điều anh nghĩ về số phận các chiến sĩ trinh sát, về sự hằn học của Ru-bin thì bất chợt thấy khuôn mặt của Tru-ba-ri-cốp hướng về anh, như có ý hy vọng tìm tòi gì đó. Rôì anh trông thấy các pháo thủ ấp mình vào càng pháo, cò pháo, những quả đạn xếp chật cứng vào đầu gối họ, những tấm lưng lom khom dưới lá chắn và trắc thủ đứng tuổi Ep-xtích-nê-ép đang hà hơi sưởi ấm các ngón tay đặt trên máy. Quang cảnh đó vừa có cái gì yếu đuối tội nghiệp trước khi bắn phát súng đầu tiên và đồng thời cũng thể hiện sự sẵn sàng hết mức chấp hành mệnh lệnh đầu tiên như sẵn sàng đón nhận số phận đang chuyển dịch từ từ về phía họ cùng với tiếng rú của xe tăng đang lăn trên thảo nguyên.
0

-Đồng chí trung úy! Tại sao chúng không bắn?… Tại sao chúng im lặng? Chúng đang tiến đến chỗ chúng ta!…
Tiếng động cơ ngày càng rộ to, vẻ mặt thăm dò của Tru-ba-ri-cốp cùng giọng nói của anh ta, tư thế trầm uất của anh em binh sĩ và mệnh lệnh phát hỏa sẵn sàng bật ra từ cổ họng khô cháy của anh-chỉ mong sao không phải chờ đợi lâu!-cơn ớn lạnh ở sống lưng, cơn khát nước lại haàn hạ anh-tất cả những cái đó tựa hồ siết chặt lấy ngực Cu-dơ-nét-xốp và anh ráng sức thét bảo Tru-ba-ri-cốp:
-Chớ có hấp tấp!… Chỉ bắt đầu nổ súng khi đã ngắm bắn cố định! Thước ngắm cố định, anh có nghe rõ không?… Phải chờ đợi! Anh có nghe rõ không? Chờ đợi!…
Vừa lúc ấy toàn bộ khoảng không gian ở phía bên trái ngôi làng đang rực cháy đã mù mịt khói dày đặc, đen sẫm lại vì mũi nhọn của khối xe tăng khổng lồ hình tam giác thọc tới. Những khối vuông màu xám vàng vàng thấp thoáng ẩn hiện trong sương mù, tháp pháo xe tăng lắc lư trên làn khói. Xích xe tăng cuốn tuyết bay mù mịt như bão trên thảo nguyên, tốc độc xe đi như cơn lốc, những tia lửa bay tới tấp. Tiếng sắt thép va nhau ken két, nóng bỏng, nhích dần lại và giờ đây đã nhìn thấy rõ hơn những nòng pháo xe tăng lắc lư, những vết tuyết bám trên bỏ xe.
Nhưng lạ một cái là bọn địch ngồi sau kính ngắm trong những chiếc xe tăng đang tiến lại gần họ vẫn kiên trì chờ đợi, không nổ súng, tin chắc vào sức tiến công của chúng, buộc các khẩu đội của ta phải lộ mình trước tiên.
Một quả pháo hiệu đỏ bất ngờ vọt lên từ khối xe tăng đang ầm ầm lăn đi đó và khối xe tăng hình tam giác bắt đần tản ra thành đội hình chữ chi ngoằn ngèo. Đèn pha như những mắt chó sói xuyên thủng màn sương lóe lên rồi tắt ngấm.
-Tại sao chúng lại bật đèn pha nhỉ?-Tru-ba-ri-cốp hỏi, quay khuôn mặt ngơ ngác lại. Chúng muốn khiêu chiến à? Để làm gì cơ chứ?…
-Lũ chó sói,-trắc thủ Ep-xtích-nê-ép nói nhẹ như hơi thở, anh đang quỳ trước kính ngắm.-Hệt như một bầy thú đang vây lùng chúng ta!…
Cu-dơ-nét-xốp nhìn vào ống nhòm: khói của các đám cháy từ trong làng tỏa ra thảo nguyên, lay động một cách kỳ lạ, tàn nhang nhấp nháy man rợ như những tròng mắt đỏ; tiếng gào rú rung chuyển của động cơ; đèn pha tắt rồi lại bật, những cái bóng thấp và rộng thấp thoáng giữa màn sương xuệch xoạc, di động dưới làn khói về phía các hào giao thông của đội cảnh giới chiến đấu. Cu-dơ-nét-xốp cảm thấy căng thẳng đến nỗi các cơ bắp cứng đờ ra, anh hối hả muốn nổ súng mau mau, chỉ cốt sao không phải chờ đợi, không phải ngồi đếm những giây phút ngắn ngủi chết người này, miễn là làm một việc gì đó!
-Đồng chí trung úy!…-Tru-ba-ri-cốp không chịu đựng được nữa, anh trườn sấp trên thành công sự tránh những cặp mắt rực lửa đang bò tới, lại quay khuôn mặt trẻ trung dươờn như lạnh cóng của mình lại, đầu anh lúc lắc trên chiếc cổ mảnh khảnh.-Chín trăm mét… đồng chí trung úy… ta vẫn cứ đợi à?…
-Tôi chưa thấy rõ xe tăng, hạ sĩ ạ! Khói che mắt tôi…-Ep-xtích-nê-ép la lên, rời kính ngắm.
-Còn phải chờ địch tiến gần thêm hai trăm mét nữa.-Cu-dơ-nét-xốp đáp bằng giọng khản đặc, tự thuyết phục mình rằng dù thế nào cũng phải chờ đợi, không nổ súng vội và đồng thời anh ngạc nhiên trước sự ước đoán chính xác của cặp mắt Tru-ba-ri-cốp.
-Đồng chí trung úy! Đại đội trưởng gọi đồng chí… Đồng chí ấy hỏi: tại sao không nổ súng? Có chuyện gì xảy ra vậy? Tại sao không nổ súng?
Chiến sĩ thông tin Xvi-a-tốp nhổm mình lên, nhô người ra khỏi hào của mình, chiếc mũ lông lắt lẻo trên mái đầu trắng, bị vướng chiếc dải buộc vào ống nghe. Anh đưa bao tay lên bịt một tai lại và như thể dùng mồm hớp lấy mệnh lệnh truyền qua điện thoại rồi ngâm nga nhắc lại:
-Lệnh nổ súng! Lệnh nổ súng!
“Không, hãy đợi đã. Còn phải chờ đợi! Ở đằng ấy, cậu ấy không trông thấy gì hay sao? Cậu ấy không biết thế nào là những phát bắn đầu tiên à?… Chúng ta phơi mình ra ngay-và thế là hết!”
-Đưa đây, để tôi nói, Xvi-a-tốp!-Cu-dơ-nét-xốp lao mình về phía hào thông tin, dứt chiếc ống nghe khỏi vành tai đỏ ửng của anh chiến sĩ thông tin, sau khi nghe những mệnh lệnh nóng hổi bật lên từ màng rung, anh hét to:-Bắn vào đâu? Vào đám khói à? Bộc lộ vị trí của trung đoàn trước hay sao?
-Anh có trông thấy xe tăng không, trung úy Cu-dơ-nét-xốp? Hay là anh không trông thấy?-Đrô-dơ-đốp-xki đùng đùng nổi cáu trong ống nghe.-Bắn! Tôi ra lệnh: bắn!… Ngay lập tức! Bắn!
-Ở đây tôi nhìn rõ hơn!-Cu-dơ-nét-xốp khẽ trả lời rồi ném ống nghe vào tay Xvi-a-tốp.
Anh ném ống nghe cho Xvi-a-tốp và lại nghĩ như trước đây: “Nếu chúng mình không kiên nhẫn chờ đợi và bộc lộ vị trí của đại đội trước thì địch sẽ nghiền nát chúng mình ở đây”,-anh vừa mới nghĩ thế thì ở phía bên phải tiểu đoàn không khí bị xé tung ra vì quầng sáng và tiếng ầm ầm. Quả đạn trái phá lao vút đi trên thảo nguyên rồi đâm bổ xuống đất, lụi đi trong ánh đèn nhấp nháy như mắt cho sói ở phía trước. Đó là phát đạn của một khẩu đại bác ở chỗ Đa-vla-chi-an. Và lập tức ở phía bên phải, nơi ta vừa bắn, vang lên phát đạn bắn trả của xe tăng địch. Những ánh lửa đỏ khè của xe tăng địch nảy xóc lên xuyên thủng màn sương lễnh loãng trước mặt tiểu đoàn, bóng dáng nặng nề của một vài chiếc đã trườn ra khỏi làn khói. Đèn pha của chúng nhấp nháy một cách hung ác, quay về phía các hỏa điểm của Đa-vla-chi-an và khẩu pháo để ở chỗ xa nhất của anh chìm lút ngay vào những tiếng nổ ầm ầm sôi sục, mịt mù lửa khói.
-Đồng chí trung úy… Hình như trung đội hai đã nổ súng!…-Có tiếng người thét to từ một chiến hào.
“Sao cậu ấy nổ súng sớm thế nhỉ,-Cu-dơ-nét-xốp tức giận khi anh trông thấy những chiếc xe tăng ấy xông ngay tới chỗ tiếp giáp giữa các khẩu pháo của anh và trung đội Đa-vla-chi-an, tuy nhiên anh vẫn không tin rằng địch lại có thể tiêu diệt được hết mọi người ở chỗ đó nhanh đến thế. Trong khoảnh khắc anh hình dung ra các pháo thủ nằm ép sát xuống đất ở chân bờ công sự dưới ngọn lửa và những mảnh đạn đang văng ở trên đầu và bỗng nhiên anh nghe thấy giọng nói chói tai của mình:
-Nhằm vào những chiếc xe tăng phía bên phải… ngắm chiếc đi đầu… thước ngắm mười hai, đạn chống tăng…-Trong giấy phút ngắn ngủi đó anh khó chịu cảm thấy mình không kiên trì được, đã hô “bắn”, khiến đơn vị phơi mình ra trước địch, anh hiểu rằng anh đã không chờ được cho địch đến gần hơn nữa, rằng giờ đây anh đã bộc lộ trước vị trí các khẩu pháo của mình trước xe tăng địch, nhưng bây giờ anh không có quyền chờ đợi nữa. Và Cu-dơ-nét-xốp lấy hơi hô lên tiếng cuối cùng trong mệnh lệnh:-Ba-ắn!…
Sóng của quả đạn giội vào tai anh đau nhói nóng bỏng.
Anh không nhìn rõ đường đi chính xác quả đạn của mình. Quả đạn lóe lên như một tia lửa màu tím rồi tắt lụi trong đám xe tăng xám xịt đang ngọ nguậy như những con nhện lớn bám lấy nhau. Không thể căn cứ vào quả đạn đó để hiệu chỉnh chính xác được, anh vội vã hô lệnh mới vì biết rõ rằng chậm trễ tức là chết. Và khi quả đạn thứ hai lao đi, xoát vào đám khói nóng bỏng, mọi vật ở phía trước bỗng cùng một lúc nhấp nháy, lóe sáng dữ dội và những quả đạn khác bùng lên tới tấp hỗn loạn. Tiếp theo sau Cu-dơ-nét-xốp và gần như cùng một lúc với anh, các khẩu đội bên cạnh từ toàn tuyến bờ sông đều nhả đạn, không trung vang ầm, vỡ ra, xoáy tít và vụn nát. Những đường đạn chống tăng lao đi và mất hút giữa những chớp lửa đùng đùng đỏ lòe của pháo xe tăng địch bắn trả.
0

Với niềm vui điên cuồng vì đã thoát khỏi cảnh cô độc, với cổ họng bỏng rát vì hô mệnh lệnh, Cu-dơ-nét-xốp chỉ nghe thấy những phát súng bắn từ các khẩu pháo của mình chứ không nghe thấy những tiếng nổ gần ở sau bờ công sự. Gió nóng quất vào mặt anh. Cùng với những chấn động nóng bỏng đó, mảnh đạn rít viu víu ở trên đầu. Anh chỉ vừa kịp cúi mình xuống: hai miệng phễu đen ngòm, bốc khói cách lá chắn của khẩu pháo hai mét, toàn bộ anh em pháo thủ nằm nhoài ra, úp mặt xuống đất, lưng họ rung lên sau mỗi tiếng nổ ở ngoài bờ công sự. Chỉ có một mình trắc thủ Ep-xtích-nê-ép không có quyền rời bỏ kính ngắm, anh quỳ lom khom trước lá chắn, đưa thái dương tóc lốm đốm bạc lên cọ một cách kỳ quặc vào mắt kính ngắm còn tay anh cứng đờ ra nắm chặt lấy bộ phận xoay kính ngắm. Anh liếc cặp mắt rực lửa nhìn anh em pháo thủ đang nằm như có ý muốn dùng mắt để thét hỏi một điều gì đó.
-Hạ sĩ…
Hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp nhô đầu ra khỏi hầm chỉ huy, vọt ra ngoài, khom người lại làm đất rơi lả tả, chiếc ống nhòm đeo lủng lẳng trên ngực, anh khuỵu xuống gần chỗ khẩu pháo, bò lại phía Ep-xtích-nê-ép, lay vai anh ta y như định đánh thức anh ta vậy.
-Ep-xtích-nê-ép, Ep-xtích-nê-ép!
-Ù tai à?-Cu-dơ-nét-xốp hét to, anh bò lại phía trắc thủ.-Sao thế, Ep-xtích-nê-ép? Anh có ngắm được không?
-Được, tôi ngắm được…-Ep-xtích-nê-ép thốt lên một cách chật vật, lắc lắc mái đầu.-Tai tôi ù đặc rồi. Anh hãy ra lệnh to lên, thật to!… Rồi anh đưa tay áo lên lau tia máu đỏ từ tai rỉ ra và không nhìn vết máu, anh lại dán mắt vào kính ngắm.
-Đứng dậy! Tất cả lại bên pháo!-Cu-dơ-nét-xốp ra lệnh, giọng sốt ruột giận dữ, sẵn sàng dùng tay đẩt các chiến sĩ đến cạnh khẩu pháo, cảm thấy có cái gì nhoi nhói, ngột ngạt ở cổ họng.-Tất cả đứng dậy! Đứng dậy!… Tới bên pháo!… Tất cả đến bên pháo!… Nạp đạn!…
Đội hình khổng lồ của xe tăng địch nhô ra, chuyển dịch trên toàn mặt trận tới tuyến phòng ngự của ta từ phía bên phải vây bọc rìa làng đang cháy rực. Những cái đèn pha vẫn nhấp nháy giữa làn khói như trước đây. Những đường đạn trái phá tóe lửa đan chéo nhau, chụm lại và tỏa ra như những hình chóp nón, vấp phải những ánh lửa dồn dập, gay gắt của xe tăng địch bắn trả.
Giữa tiếng đại bác bổ vang trời, tiếng súng chống tăng ở các chiến hào bộ binh vang lên ùng ục, khô khan, yếu ớt. Ở phía bên trái, xe tăng địch đã vượt qua được cái khe, tiến về phía bờ sông, bò trên hào giao thông của đội cảnh giới chiến đấu. Các khẩu đội ở bên cạnh và các khẩu đội bố trí ở bên kia sông đã linh hoạt bắn chặn địch. Còn có thể thấy rõ ở phía trước, đằng sau làng, các tốp máy bay tiêm kích của ta lặng lẽ bay trong bầu trời mờ mịt khói, từ trên không tiến công vào lớp xe tăng thứ hai của địch lúc này còn chưa trông rõ. Nhưng những gì không xảy ra ngay trước mặt tiểu đoàn chỉ được phản ánh vào ý thức lúc này như một mối nguy hiểm xa xôi. Tốp xe tăng thứ nhất vận động theo đường chữ chi, tạo thành hình vòng cung bao vây trận địa phòng ngự ở bờ sông, giờ đây đèn pha của chúng rọi thẳng vào mắt, vào các khẩu pháo. Và Cu-dơ-nét-xốp đã phân biệt được rất rõ trong làn khói những thân hình xam xáp của tốp xe tăng đi đầu, anh thét to khẩu lệnh cho anh pháo thủ đang lao tới bên pháo, và sau khi phát đạn được bắn đi, anh lập tức thấy ngay trong ống kính ngắm là đường đạn đi thấp hơn khối xe tăng đang ầm ầm từ sương mù xông ra.
-Cao hơn! Nhanh lên, Ep-xtích-nê-ép! Cao hơn! Bắn!
Tuy nhiên anh chẳng cần phải giục giã mọi người. Anh đã thấy những quả đạn trái phá thấp thoáng ở phía trên ổ cò súng, những bàn tay đang kéo tay xoay cò súng về phía sau, những thân hình với tiếng khụt khịt và hự hự nằm đè lên càng súng lúc súng giật. Hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp tiếp nhận và nhắc lại mệnh lệnh, anh quỳ bên Ep-xtích-nê-ép đang không rời mắt khỏi kính ngắm.
-Ba quả đạn… bắn nhanh!…-Cu-dơ-nét-xốp thét lên trong niềm hân hoan hung dữ, trong sự gắn bó say sưa, mãnh liệt với anh em pháo thủ, như thể trên đời này không có cái gì có thể gắn bó họ lại với nhau một cách thân thiết như vậy.
Trong giấy phút đó anh tưởng như chiếc xe tăng đi đầu, tháp pháo cắt ngang làn khói, đang đi bỗng nhiên vấp phải cái gì đó, động cơ của nó điên cuồng rú lên, nó quay đi quay lại tại chỗ tựa hồ như một mũi khoan cùn khổng lồ đang khoan xuống đất vậy.
-Trúng xích xe tăng rồi!…-Tru-ba-ri-cốp ngạc nhiên, vui sướng hét lên, đầu lắc lư trên chiếc cổ dài ngoẵng và anh vỗ bao tay vào sườn bồm bộp như kiểu các bà.-Đồng chí trung úy!
-Bốn quả đạn, bắn nhanh!-Cu-dơ-nét-xốp ra lệnh trong trạng thái ngây ngất, anh nghe nhưng không hiểu Tru-ba-ri-cốp nói gì và anh chỉ nhìn thấy những chiếc vỏ đạn bốc khói vọt ra từ ổ đạn, sau mỗi lần bắn anh em pháo thủ lại đè người lên càng pháo nảy chồm chồm khi súng giật.
Còn chiếc xe tăng vẫn cứ quay tại chỗ, dải xích đứt bật phăng ra. Tháp của nó cũng quay, giật mạnh nòng pháo dài nhằm về phía hỏa điểm của ta. Nòng súng của nó khạc ra ngọn lửa tạt nghiêng và đồng thời với tiếng nổ, với tiếng rít nóng bỏng của những mảnh đạn trái phá, một khối lửa sáng chói trùm lên vỏ xe tăng. Tiếp đó ngọn lửa trườn đi như những con rắn nhanh nhẹn. Và cũng với vẻ say sưa cuồng nhiệt, hân hoan và căm thù như thế, Cu-dơ-nét-xốp thét lên:
-Ep-xtích-nê-ép!… Cậu cừ quá! Hoan hô!... Cừ quá!…
Chiếc xe tăng mù quáng giật nhanh về phía trước và nghiêng sang một bên, nó rùng mình như một sinh vật bị ngọn lửa thiêu đốt ruột gan, rồi khựng lại, phơi cái sườn màu vàng có vẽ cây thập tự trắng ra trước họng súng của anh. Trong khoảnh khắc đó chiến trường đầy ắp xe tăng địch đang xông lên tiến công, tiếng súng bắn của các khẩu đội bên cạnh-tất cả dường như đã lùi xa, biến mất, tất cả đều hòa vào một điểm, đều chỉ chụm lại trên chiếc xe tăng đi đầu và khẩu pháo của anh nã không ngừng vào sườn xe hãy còn sống đó có vẽ cây thập tự trắng, tưởng như nã vào một con nhện khổng lồ, gây nguy hiểm chết người từ hành tinh khác tới.
0


Cu-dơ-nét-xốp chỉ ngừng bắn khi chiếc xe tăng thứ hai ngoi ra từ làn khói, trong mấy giây trông to hẳn lên, nó tắt đèn pha, nấp sau chiếc xe tăng đi đầu đang bốc khói mù mịt, ngoặt sang phải, sang trái để tránh đạn của ta nhưng Cu-dơ-nét-xốp đã kịp bắn nó trước.
-Đạn chống tăng, nhằm vào chiếc thứ hai!…
Phát đạn xe tăng địch bắn trả gầm lên xé tung mặt đất phía trước bờ công cự. Sợ rằng xe tăng địch đã ở gần khẩu pháo của mình quá, Cu-dơ-nét-xốp bổ nhoài trên mặt bằng, bò về phía anh em pháo thủ đang nằm trong khói đạn mịt mù tỏa từ bờ công sự xuống, anh không nhận ra được ngay những khuôn mặt ám khói đen kịt quay lại phía anh, sững sờ sợ hãi chờ đợi phát đạn thứ hai của xe tăng địch, anh trông thấy Ep-xtích-nê-ép đang lảo đảo rời kính ngắm, vội phều phào, giọng khản đặc:
-Ngắm bắn đi! Không được chờ đợi!… Ep-xtích-nê-ép! Tru-ba-ri-cốp!…
Hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp nằm nghiêng trên bờ sông sự, đưa hai tay giụi mi mắt, bối rối nhắc lại:
-Tôi nhìn không rõ nữa… Cát bay vào mắt. Tí nữa tôi sẽ…
Phát đạn thứ hai của xe tăng làm cho những mảnh đất đá bay rào rào, mảnh đạn văng vào lá chắn và Cu-dơ-nét-xốp bị nghẹt thở vì khói súng gây buồn nôn cuồn cuộn bốc lên, anh đứt hơi, bò trên bờ công sự để quan sát xe tăng địch nhưng chỉ vừa ngó thấy nó thì một ý nghĩ xuyên vào anh như một dòng điện nóng bỏng: “Thế là hết! Bây giờ mọi việc sẽ kết thúc… Chả lẽ bây giờ ư?”.
-Ep-xtích-nê-ép, bắn! Bắn!
Anh em pháo thủ mặt đen bóng như mỡ tất bật vừa nằm vừa nạp đạn trong khói súng mịt mù, đè người lên càng pháo. Tưởng chừng như đôi bàn tay to bè đỏ lựng của Ep-xtích-nê-ép, đang dán chặt một mắt vào kính ngắm, đã bị tê cóng trên tay quay, thôi không cử động nữa. Cái mũ lông cản trở anh. Anh vẫn cứ ngọ nguậy và sau cùng đã dùng gờ cao su của kính ngắm hất được nó xuống. Cái mũ lông tuột khỏi mái đầu đẫm mồ hôi của anh, lăn trên lưng, rơi xuống. Ep-xtích-nê-ép lom khom quỳ xuống, hơi nước bốc ra từ cái gáy rộng mềm mại, từ mái tóc bết lại của anh. Rồi vai động đậy. Tay phải anh chới với trên không, mò mẫm tìm cò súng. Bàn tay nhúc nhích chậm chạp lạ thường. Nó khoan khoái chậm rãi tìm cò súng tựa hồ như không có trận chiến đấu, không có xe tăng địch và chỉ cần mò mẫm vuốt ve, tin chắc rằng chiếc cò đó hãy còn.
-Ep-xtích-nê-ép!… Hai quả đạn!… Bắn!
Những tràng súng máy cắm phầm phập vào bờ công sự làm đất bắn tung lên lá chắn. Tiếng gào rú lộng óc của động cơ ở ngay trên đầu hòa lẫn với tiếng xả hơi phùn phụt, tiếng sắt thép nghiến ken két dội vào ngực, vào tai, vào mắt, đè ép mọi người xuống đất, không thể ngóc đầu lên được. Trong nháy mắt Cu-dơ-nét-xốp hình dung ngay ra quang cảnh: thế là bây giờ xe tăng địch sẽ hùng hổ, tàn bạo xông vào vị trí khẩu pháo của anh, xích sắt của nó như những cái cẳng thép chà nát bờ công sự và sẽ không có ai kịp bò đi, bỏ chạy, la hét… “Mình làm sao thế nhỉ? Đứng dậy, đứng dậy, đứng dậy”.
-Ep-xtích-nê-ép, hai quả đạn, bắn!…
Hai phát đạn vọt liền ra một lúc, tiếng nổ đập dữ dội vào màng nhĩ, những cái vỏ đạn bốc khói bay từ ổ nạp đạn vào đống vỏ đạn đã nguội. Cu-dơ-nét-xốp bò lên thành công sự để kịp quan sát và hiệu chỉnh đường đạn của mình.
Có một cái gì đó nóng bỏng, rực lửa, nhọn hoắt tung tóe ập vào mặt anh, tựa hồ như có một hòn đá mài rất lớn quay tít trước mắt anh. Những tia lửa lớn bùng lên, bật ra từ vỏ xe tăng, những đường đạn khác ở chỗ khẩu pháo của U-kha-nốp nã vào phía sườn trái xe tăng, tiếp đó là một tiếng nổ khiến xe tăng rung lên, lùi lại, một cuộn khói dầu dày đặc bốc lên từ mình nó.
Với niềm tin mãnh liệt vào vận may của mình, Cu-dơ-nét-xốp ứa nước mắt, cảm thấy cổ họng nóng bỏng, dịu dàng nghẹn lại khi nhận ra tình đồng đội trong giây phút đó. Anh nhìn và hiểu ra ngày: khẩu pháo của U-kha-nốp đã tiêu diệt chiếc xe tăng địch sau khi nó đã bị khựng lại vì hai quả đạn bắn thẳng chính xác của Ep-xtích-nê-ép.
Ở phía trước, tất cả đều quyện lại thành một khối sẫm màu máu, đỏ khè, những đám cháy đã chùm lên khắp cả bờ sông bên trái, những loạt đạn liên tiếp của các khẩu đội đã chọc thủng khối lửa, tạo ra những lồ hổng đen ngòm, những tiếng nổ liên miên: khói của ngôi làng đang bốc cháy hòa lẫn với khói dầu mỡ đặc xịt tỏa lên phía trên vòng cung xe tăng lớn của địch, liên kết lại thành màn khói dày đặc trên thảo nguyên, dưới màn khói đó những cái xe bị cháy vẫn phụt lửa rừng rực, những chiếc xe tăng địch vẫn không dừng lại, kiên trì bò tới tấp lên, thu hẹp vòng cung xung quanh trận địa phòng ngự của ta trên bờ sông phía Nam. Cuộc tiến công của xe tăng địch không bị chặn lại, không yếu đi dưới hỏa lực liên tục của pháo binh ta, nó chỉ hơi bị chậm lại ở đỉnh vòng cung, chúng tăng cường và đồng thời tập trung các đòn đánh vào hai bên sườn. Ở đó các quả pháo sáng tới tấp vọt lên hết chiếc này đến chiếc khác và từng bầy xe tăng vươn dài quay ngoắt về bên phải, về điểm cao nơi đặt đài quan sát của đại đội và về phía bên trái, hướng tới chiếc cầu, nơi các đại đội bên cạnh bố trí ở phía trước.
-Xe tăng ở bên phải! Chúng đã thọc sâu vào!…
Tiếng thét đó như xuyên nhói vào ý thức Cu-dơ-nét-xốp và anh vẫn còn chưa tin khi anh đã nhìn thấy rõ điều mà anh không chờ đợi.
-Xe tăng xông đến đại đội!…-Lại có tiếng người la lên.
Khói trên thảo nguyên đã bao phủ bầu trời, đè bẹp và che khuất mặt trời, khói bị những phát đạn xé rách sôi sục lên vì những cột lửa như vọt ra từ lòng đất, khói tỏa trên các bờ công sự, bò vào vị trí đại đội và từ trong cái khối hỗn loạn sục sôi đó bỗng xuất hiện những bóng đen to lớn của ba chiếc xe tăng, ở phía bên trái trước mặt vị trí của Đa-vla-chi-an. Còn khẩu pháo của Đa-vla-chi-an thì câm bặt.
0

“Đằng ấy không còn ai ư? Họ còn sống không?”-Cu-dơ-nét-xốp thoáng nghĩ và tiếp đó là một ý nghĩ hết sức rõ ràng: nếu xe tăng địch vào được phía sau đại đội thì chúng sẽ lần lượt nghiền nát hết các khẩu pháo.
-Nhằm vào những chiếc xe tăng ở bên phải!…-anh thở dốc, nghẹn ngào thét to, hiểu rằng anh sẽ không thể làm gì được hết nếu như Đa-vla-chi-an giờ đây không nổ súng.-Quay nòng pháo lại!… Về bên phái, về bên phải! Nhanh lên! Ep-xtích-nê-ép! Tru-ba-ri-cốp!…
Anh lao đến chỗ anh em pháo thủ đang nhoai người ra lấy vai đẩy bánh xe, lá chắn, vừa văng tục vừa dùng hết sức giật đi giật lại càng pháo: họ cũng đã trông thấy xe tăng địch ở phía đó và định quay nòng pháo chếch bốn mươi lăm độ về phía tay phải. Những cánh tay vung lên tíu tít, những đôi ủng bước đi, ngọ nguậy, trượt trên nền đất. Cu-dơ-nét-xốp trông thấy những cặp mắt vằn tia máu đỏ, căng thẳng, trố ra, khuôn mặt đẫm mồ hôi của Ep-xtích-nê-ép dùng toàn thân đẩy bánh xe khẩu pháo, một dòng máu nhỏ vẫn chảy từ tai anh xuống cổ áo choàng, hình như màng nhĩ bị rách.
-Nhanh tí nữa!-Ep-xtích-nê-ép nói giọng khàn khàn.-Nào, nào! Dô ta nào!
-Quay nòng pháo sang phải!… Nhanh lên!
-Tí nữa!… Nào, nào!
Những chiếc xe tăng đã thọc sâu được về phía đại đội, từ những đám khói lửa đỏ quạch chúng xông ra, tiến thẳng tới hỏa điểm của Đa-vla-chi-an, theo đà xe đi, khói quyện chặt vào vỏ xe.
-Chả lẽ tất cả anh em ở đó bị giết cả rồi hay sao? Tại sao họ không bắn nhỉ?-Có người hằn học kêu lên.-Họ đâu?
-Nhanh nhanh tay lên! Tất cả hè nhau vào cùng đẩy một lúc!
-Sang phải tí nữa!… Tí nữa-Ep-xtích-nê-ép nhắc lại, giọng khản đặc.
Khẩu pháo đã được quay về bên phải, các súc gỗ đã được lèn vào dưới chân chống, Ep-xtích-nê-ép vội vã xoay xoay tay lái và máy móc cho nòng súng trườn nhanh lên bờ công sự. Đôi gò má bẩn, đẫm mồ hôi của anh bạnh ra. Nhưng lúc ấy tưởng như không thể nào chịu đựng nổ những giây phút chỉnh pháo kéo dài hầu như vô tận đó. Trong những giây phút qua đi nhoang nhoáng đó, Cu-dơ-nét-xốp chỉ nghe thấy tiếng hô ra lệnh của mình: “Bắn! Bắn! Bắn!”-Và mệnh lệnh khiến chính anh ù tai đó tựa hồ như dội vào lưng, vào gáy, vào vai, vào những cánh tay anh em pháo thủ đang làm việc ráo riết, không kịp vượt lên trước đà tiến của xe tăng.
“Chả lẽ bây giờ tất cả chúng ta đều phải chết hay sao?-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ.-Xe tăng địch đang đột nhập vào khẩu đội và chúng sẽ nghiền nát anh em pháo thủ cùng các khẩu pháo!… Tình hình Đa-vla-chi-an thế nào? Tại sao các cậu ấy không bắn? Ở đằng ấy họ còn sống không?… Không, không, mình phải làm một cái gì đó mới được!… Mà chết nghĩa là gì? Không, không nên giết mình!… Không, chỉ cần nghĩ rằng mình không bị giết, thế là mình sẽ không chết! Mình phải quyết định làm một cái gì đó! Ngay cả khi ở đằng ấy không còn ai gần chỗ khẩu pháo nữa!…”
Tiếng thét của Tru-ba-ri-cốp dội vào tai anh:
-Quay nòng súng thế chưa đủ… Đồng chí trung úy ạ!-Tru-ba-ri-cốp như thể ứa những giọt nước mắt đỏ lừ, lấy ngón tay giụi mi mắt và lắc lắc đầu nhìn Cu-dơ-nét-xốp.
-Bắn! Bắn! Bắn vào hai xe tăng! Cu-dơ-nét-xốp thét to và bỗng nhiên như có cái gì nâng anh đứng thẳng người lên, anh nhảy bổ ra, lao tới chiếc hào giao thông đào chưa xong, nông choèn.-Tôi tới đằng ấy! Tới trung đội hai! Tru-ba-ri-cốp chỉ huy thay tôi! Tôi đến chỗ Đa-vla-chi-an!…
Anh chạy trong hào giao thông nông choèn dẫn đến chỗ những khẩu pháo câm lặng của trung đội hai, lách mình qua những vách đất chật chội, vẫn chưa biết rõ mình sẽ làm được gì và có thể làm được gì ở chỗ Đa-vla-chi-an. Hào giao thông chỉ nông đến thắt lưng anh vì thế quang cảnh trận đánh rực lửa run rẩy hiện ra trước mắt anh: tiếng súng bắn, đường đạn bay, tiếng nổ, những cuộn khói dựng đứng trên bầy xe tăng, đám cháy ở trong làng. Còn ở phía bên phải ba cái xe tăng lắc lư đi vào cửa đột phá đã mở, đi tự do trong cái gọi là “khoảng không gian chết” nghĩa là chúng nằm ở ngoài khu vực bắn có hiệu lực của các đại đội bên cạnh. Chúng còn cách các vị trí của Đa-vla-chi-an chừng hai trăm mét, những chiếc xe tăng to rộng, sơn màu vàng như cát, nguy hiểm vì có vỏ thép dày. Tiếp đó ngọn lửa phụt ra từ những nòng súng dài của chúng. Tiếng đạn nổ ở bờ công sự dường như át cả tiếng gào rú của xe tăng và lập tức những loạt đạn súng máy bay rào rào ngay trên đầu Cu-dơ-nét-xốp.
“Miễn là không phải lúc này… chỉ cốt sao mình đừng bị thương trong hào giao thông!… Mình có thể làm được gì lúc này, làm được gì trong những giây phút này? Chỉ chạy đến chỗ khẩu pháo là xong hết sao?…”
Tuyệt vọng vì giờ đây anh không thể, không có quyền quay trở lại mà phải đâm đầu chạy vào đám xe tăng, chạy về phía cái chết tưởng như gần gũi của mình, Cu-dơ-nét-xốp cảm thấy máu ớn lạnh, anh thét gọi to khủng khiếp:
-Đa-vla-chi-an!… Tới bên pháo!…-Và toàn thân đẫm mồ hôi, người đen nhẻm trong cái áo choàng lấm đất sét, anh chạy từ cuối hào giao thông ra, nhoài mình trên mặt bằng hỏa điểm, nói giọng khàn khàn:-Tới bên pháo! Tới bên pháo!
Cảnh tượng anh trông thấy trên hỏa điểm này và những cảm xúc của anh lúc đó thật đáng sợ. Hai cái hố sâu như miệng phễu còn mới, một đống xác người nẳm giữa càng phái, giữa những vỏ đạn đã bắn, ở bên cạnh lũy đất. Anh em pháo thủ nằm trong tư thế bị chèn ép, không tự nhiên: những khuôn mặt trắng bợt với bộ râu đen trông như râu giả úp sấp xuống đất, những ngón tay trắn xòe ra, những cẳng chân gấp lại dưới bụng, những đôi vai co ro như muốn giữ lại hơi ấm cuối cùng của cuộc sống. Mùi tử khí lạnh lẽo bốc lên từ những xác chết ngoắc chặt vào nhau, từ những khuôn mặt trắng và đen đó. Nhưng ở đây hình như có người hãy còn sống. Anh nghe thấy tiếng rên, tiếng hừ hừ từ dưới hầm, tuy nhiên anh không kịp nhìn vào đó.
Anh nhìn vào bánh xe khẩu pháo bị trúng mảnh đạn: có hai người động đậy ở đó, dưới chân bờ công sự. Trắc thủ Ca-xư-mốp từ mặt đất thong thả trỗi mình dậy, khuôn mặt với gò má cao đẫm máu, đôi mắt hầu như chỉ còn lòng trắng, không nhìn rõ, một tay anh run rẩy bám lấy bánh xe, những móng tay đen ngòm bập vào lốp cao su. Hình như Ca-xư-mốp định đứng dậy, vươn mình về phía khẩu pháo nhưng không được, các ngón tay anh cào cào trên lớp cao su rách, không bám chặt được nhưng anh cúi người xuống, lại cố bám lấy bánh xe và kêu kêu lên những tiếng không ăn nhập đâu vào đâu:
-Đi đi, cô em, đi đi! Phải bắn… Sao lại chôn tôi? Tôi còn trẻ!… Đi đi! Tôi hãy còn sống… Tôi sẽ sống!
Tấm thân cường tráng của anh như thể bị gãy đôi ra ở thắt lưng, có cái gì đó chảy ra từ dưới sườn quấn băng, anh là một người bị thương đang lên cơn sốt, đang lâm vào trạng thái bất tỉnh dường như ngăn cách anh với cái chết.
-Dôi-a!…-Cu-dơ-nét-xốp kêu lên.-Đa-vla-chi-an đâu?
Dôi-a nằm bên cạnh Ca-xư-mốp ở dưới chân bờ công sự, cô giữ chặt lấy anh, vén tà áo bông của anh ra, vội vã đặt cuốn băng sạch lên bụng anh, ngay phía trên áo va rơi ướt đẫm những vết máu đỏ. Khuôn mặt cô nhợt nhạt, choắt lại với những vết muội khói đen sẫm, môi mím chặt, mái tóc buột ra khỏi mũ lông-một khuôn mặt xa lạ, thiếu đi sự nhẹ nhõm, một khuôn mặt không đẹp, trông như không quen biết.
Nghe tiếng kêu của Cu-dơ-nét-xốp, cô giật mình ngước ngay đôi mắt lên, kêu goi sự giúp đỡ, đôi môi mất sinh khí khẽ mấp máy nhưng Cu-dơ-nét-xốp không nghe thấy âm thanh nào cả.
-Đi đi, đi đi, cô! Tôi sẽ sống!…-Ca-xư-mốp la hét trong cơn mê sảng.-Tại sao cô lại chôn tôi? Cần phải bắn!…
Vì Cu-dơ-nét-xốp không nghe tiếng cô mà chỉ nghe tiếng la hét của Ca-xư-mốp đang giãy giụa trong cơn sốt, vì cả cô cũng như Ca-xư-mốp đều không thấy, không biết rằng những chiếc xe tăng thọc sâu của địch đang đi thẳng đến vị trí của họ cho nên anh lại cảm thấy cảm giác lạ lùng về sự huyễn hoặc không có thật. Tựa hồ như chỉ cần mình cố gắng một tí, lắc lắc mái đầu là anh sẽ có thể thoát khỏi cơn ác mộng để đắm mình vào buổi sớm mai yên tĩnh, thanh bình với ánh nắng rọi ngoài cửa sổ có giấy dán tường và anh thở dài nhẹ nhõm vì những điều anh vừa trông thấy chỉ là một giấc mộng.
Nhưng đó không phải là một giấc mộng.
Anh nghe thấy tiếng động cơ xe tăng xả hơi phùn phụt, lộng óc, gần sát ngay trên đầu mình và ở đó, ở phía đằng trước mặt khẩu pháo, loạt đạn súng máy vẫn tành tành chói tai như thế, tưởng như chúng bắn từ khoảng cách năm mét ở ngoài bờ công sự. Và chỉ có một mình anh ý thức được rõ ràng những âm thanh đó báo hiệu cái chết đang tới gần.
-Dôi-a, Dôi-a! Lại đây, lại đây! Nạp đạn đi! Tôi ngắm bắn, cô nạp đạn! Tôi yêu cầu cô!… Dôi-a!…
Cán trục kính ngắm trơn như mỡ, điểm cao su ẩm của kính ngắm dính vào phía trên lông mày, tay quay của bộ máy điều khiển trượt khỏi tay Cu-dơ-nét-xốp vì máu của Ca-xư-mốp túa ra trên tất cả các bộ phận đó, nhưng Cu-dơ-nét-xốp chỉ thoáng nghĩ tới điều ấy: những vạch đen cắt chéo lệch lên trên, xuống dưới rồi xoay nghiêng; bỗng nhiên anh nhìn rõ mồn một qua kính ngắm xích sắt xe tăng đang quay, trông to lạ lùng, với những mắt xích khi thì bám đầy tuyết, khi thì làm tuyết bay lả tả, trông nó gần đến nỗi tưởng như mọi vật nhòa đi, nó bò thẳng vào kính ngắm, che lấp, thậm chí như cào vào mắt. Giọt mồ hôi nóng bỏng che mắt anh và tất cả run lên trong kính ngắm, như trong màn sương vậy.
-Dôi-a, nạp đạn đi!
-Tôi không thể làm được… Tôi sẽ làm ngay bây giờ. Chỉ có điều… để tôi kéo anh ấy ra khỏi đây…
-Nạp đạn đi, tôi bảo mà! Một quả đạn!… Một quả đạn!
Và anh quay ngoắt người khỏi kính ngắm, cảm thấy bất lực: cô kéo thân hình nặng trĩu của Ca-xư-mốp ra khỏi bánh xe của khẩu pháo, đặt anh nằm dọc dưới chân bờ công sự và mãi đến lúc ấy cô mới đứng thẳng người lên, tựa hồ như không hiểu gì cả, nhìn vẻ mặt Cu-dơ-nét-xốp nhăn nhó vì bất lực và sốt ruột.
-Nạp đạn đi, tôi bảo kìa! Cô có nghe thấy không? Một quả đạn, một quả đạn!… lấy ở hòm đạn ấy! Một quả đạn!…
-Vâng, vâng, trung úy!…
Cô lảo đảo bước về phía hòm đạn đã mở nắp để gần càng pháo, đưa những ngón tay bám chặt móc quả đạn ra và lóng ngóng đẩy quả đạn vào ổ nạp đạn để ngỏ và khi đóng cò súng lạch cạch cô quỳ sụp xuống gần càng pháo, nhoe mắt lại.
Anh không nhìn thấy những hoạt động đó của cô-vòng xích xe tăng đen ngòm, to tướng lọt hẳn vào kính ngắm, ngọ nguậy trước mắt anh, tiếng động cơ xe tăng gào rú rộ lên ép chặt anh vào khẩu pháo, nhói vào ngực anh nóng bỏng, ngột ngạt, mặt đất rung lên, rền lên như tiếng gang vỡ. Anh tưởng như đó là đầu gối anh tựa vào mô đất đang run lên hoặc giả cánh tay anh sẵn sàng ấn cò súng đang run và những giọt mồ hôi run rẩy trên cặp mắt anh, cặp mắt không thể thấy được khi nheo mắt lại chờ đợi quả đạn lao đi. Tựa hồ như cô không trông thấy và không muốn trông thấy những chiếc xe tăng đang đột phá vào, chỉ còn cách khẩu pháo có năm mươi mét.
Kính ngắm đã không còn có thể bắt được một điẻm nào nữa: cái bóng đen to tướng và nghiến ken két đã trùm lên tất cả, che lấp cả thực hiện.
Anh siết cò súng và không nghe thấy tiếng súng bắn trả từ trên xe tăng địch.
0

Chương mười hai


Một sức mạnh khủng khiếp hất Cu-dơ-nét-xốp ra xa khẩu pháo khiến anh đập ngực vào một cái gì cứng như sắt; mụ mẫm cả người đi, đầu kêu ong ong, chẳng hiểu sao anh như nhìn thấy mình đứng dưới gốc cây đoạn tỏa lá cành râm mát ở gần thềm nhà, mưa rơi lộp độp trên tán lá cây và anh muốn biết rõ tại sao ngực anh lại bị giập đau một cách đáng căm giận như thế, tại sao mái tóc ở gáy anh lại nóng dội lên như thế. Anh buồn nôn nhưng không nôn được và chính nhờ cảm giác buồn nôn đó mà một ý nghĩ lờ mờ vụt lóe lên trong ý thức anh bảo rằng anh hãy còn sống và lập tức anh cảm thấy miệng mình đầy ứ cái gì mằn mặn và nóng ấm và nhìn thấy, như qua màn sương những vết đỏ trên cổ tay áo lấm đất, gấp sát vào mặt của mình. “Máu đây.-anh nghĩ.-Máu ở đâu ra nhỉ? Mình bị thương à? Thế nghĩa là thế nào?”
-Trung úy!… Anh thân mến! Trung úy!… Anh làm sao thế?…
Anh nhổ máu đi, ngẩng đầu lên cố hiểu xem chuyện gì đã xảy ra với anh.
“Tại sao trời mừa và mình lại đứng dưới gốc cây đoạn nhỉ?-Anh hồi tưởng lại.-Cây đoạn nào? Ở đâu nhỉ? Ở Mát-xcơ-va à? Trong thời thơ ấu à?… Mình đã tưởng tượng ra cái gì nhỉ?”
Anh nằm sấp ngực trên hòm đạn để ngỏ giữa những càng pháo, bị hơi đạn nổ hất đi cách lá chắn khẩu pháo hai mét. Mép bên phải lá chắn bị rách tung, vênh lên, lỗ chỗ những mảnh đạn. Phần bên phải bờ công sự bị san phẳng hoàn toàn, sâu hoắm xuống như cái phễu, lởm chởm những mô đất; còn ở bên ngoài lũy đất, cách đó chừng hai chục mét khối thép to lớn từng nghiến ken két bị chìm lút trong đám cháy lặng lẽ, cái khối sắt thép vừa mới đây còn hùng hổ xông vào khẩu pháo, che lấp cả thế giới.
Chiếc xe tăng thứ hai đứng gần sát đám cháy đó, xoay mình về bên trái, nòng pháo chúc xuống hướng về chiếc cầu; làn khói dầu ma dút phụt ra từ mình nó như những sợi chỉ dài.
Đạn trái phá nổ bùng bục trong chiếc xe tăng thứ nhất, tháp pháo rung lên, xích xe oằn oài, ken két y như thể chiếc xe tăng đó hãy còn sống vậy. Mùi thịt bị thiêu cháy dìu dịu, buồn nôn quyện lẫn với mùi dầu mỡ cháy lan tỏa trong không trung.
“Mình đã bắn hỏng hai xe tăng này,-Cu-dơ-nét-xốp đờ đẫn nhớ lại, sặc sụa vì cái mùi buồn nôn đó và cố hình dung mọi việc đã xảy ra.-Mình bị thương khi nào? Mình bị thương vào đâu? Dôi-a đâu? Cô ấy ở ngay bên cạnh”…
-Dôi-a!-Anh gọi và lại thấy buồn nôn.
-Trung úy… Anh thân mến!
Cô ngồi dưới chân bờ công sự, đưa hai tay dứt, mở các khuy áo trên ngực, hình như cô bị ù tai, mắt nhắm nghiền. Chiếc mũ lông trắng bảnh bao của cô không còn nữa, mái tóc dính đầy tuyết xõa trên mặt, trên vai, cô đưa răng hớp lấy tóc, cắn chặt, hàm răng trắng lóa.
-Dôi-a!-Anh khẽ nhắc lại và toan nhổm dậy, bứt thân mình nặng trĩu ra khỏi hòm đạn, khỏi những đầu lựu đạn chống tăng bằng thép đang đè lên ngực anh nhưng không thể nhổm ngay người lên được. Cô hất mái đầu gạt tóc ra và ngồi ở dưới ngước nhìn anh, cố khắc phục nỗi đau khổ và đau đớn, thì thào điều gì đó. Qua tiếng ong ong nặng trĩu ở trong tai anh không nghe rõ tiếng cô, sau đó anh chỉ nhận ra là mắt cô đã hướng về phía Ca-xư-mốp đang thò tay từ dưới bánh xe của khẩu pháo ra, lặng lẽ cào mặt đất bằng móng tay.
Và anh trông thấy một thân hình bất động như một mô đất sẫm, rúc đầu vào chân bờ công sự. Ca-xư-mốp không rên nữa. Anh nằm sấp mặt xuống. Chiếc áo bông của anh lỗ chỗ những vết đạn, những cục đất và tuyết bị hơi đạn nổ hất tung tóe, đen ngòm trên lưng anh, đôi ủng của anh bị vẹo đi, mũi cong vào bên trong. Chỉ còn một cánh tay động đậy. Và Cu-dơ-nét-xốp trông thấy những ngón tay đó cào đất.
Anh nuốt thứ nước ẩm mằn mặn ứa ra đầy mồn, muốn thét gọi Dôi-a nhưng một quả đạn nổ tung trên thành công sự khiến hai người bị choáng, ù tai còn Ca-xư-mốp đang hấp hối và cần phải đưa anh ta vào hốc đất ở đằng sau khẩu pháo, phải đưa ngay, đưa thật nhanh. Anh không hiểu tại sao lại phải làm như thế thật nhanh và tại sao Dôi-a chậm chạp khi không thể chậm chạp một phút nào được vì rằng chỉ còn lại hai người ở đây…
-Dôi-a!-Anh lại gọi và nhổ cục máu đi, anh lấy lại hơi thở, bò từ hòm đạn xuống chân bờ công sự, đưa hai tay túm lấy vai cô, vừa hy vọng vừa bất lực.-Dôi-a! Cô ù tai à? Dôi-a, cô có nghe thấy không? Cô bị thương à? Bị thường à?… Dôi-a!…
Cô để yên đôi vai trong cánh tay anh, chỉ có mắt cô cưỡng lại, môi cô mím chặt cạnh những món tóc xõa; bỗng nhiên cô quay ngược bao tay lại lau cằm cho anh và anh nhìn thấy máu mình trên bao tay của cô.
-Chuyện vặt thôi… tôi bị ù tai, bị hất vào hòm đạn!-Anh thét to vào mặt cô.-Dôi-a, cô xem Ca-xư-mốp thế nào! Cô có nghe thấy không? Nhanh lên! Tôi phải lại bên pháo!… Hình như Ca-xư-mốp…
Anh chật vật đứng dậy, lảo đảo vì hơi chóng mặt và bước về phía càng pháo, sẵn sàng lao về phía hòm đạn, về phía kính ngắm nhưng bỗng trông thấy Dôi-a bò dọc bờ công sự tới bánh xe khẩu pháo và anh nghe rõ tiếng cô:
-Trung úy, anh thân yêu, hãy giúp tôi!…
Cả hai người kéo Ca-xư-mốp vào hốc đất để đạn và Dôi-a vẫn cứ quỳ, nghiêng mình đưa tay thăm dò ngực anh, sờ lên những mảnh băng cũ bẩn màu hung phồng lên bị những mảnh đạn xé tướp ra trên bụng anh.
Sau cùng cô buông thõng tay xuống, vươn thẳng lưng lên, nhìn vào mặt Ca-xư-mốp, hiểu ra tất cả. Cu-dơ-nét-xốp cũng hiểu rằng có lẽ Ca-xư-mốp đã chết vì bị mảnh đạn văng vào ngực đúng vào lúc anh còn muốn trỗi dậy khi quả đạn cuối cùng nổ trên thành công sự.
Ca-xư-mốp nằm gối đầu trên hòm đạn, khuôn mặt trẻ trung rám nắng, không để ria mép của anh mới đây còn linh hoạt, lúc này trở nên cứng đờ trắnh bệch, thanh tú do vẻ đẹp xa lạ, kinh tởm của cái chết, ngạc nhiên đưa đôi mắt ẩm ướt màu anh đào hé mở nhìn vào ngực mình bi xé toạc ra từng mảng, nhìn chiếc áo may ô hải quân bị rách tướp ra như thể ngay cả sau khi đã chết anh cũng vẫn chưa hiểu được anh đã bị giết như thế nào và vì sao anh lại không thể đứng dậy được để lại đến bên kính ngắm. Trong cái nheo mắt chẳng trông thấy gì đó của Ca-xư-mốp có sự tò mò lặng lẽ đối với cuộc đời chưa sống trọng vẹn của mình trên trái đất và đồng thời những mảnh đạn nóng bỏng, đau nhói đẩy anh vào khi nó đập vào ngực anh đúng vào lúc anh toan vươn mình dậy để đi tới kính ngắm.
0

“Thiên nhiên ở ta đẹp thật”,-Cu-dơ-nét-xốp nhớ lại và cùng với tử khí lạnh lẽo anh cảm thấy dấy lên trong lòng mình một cảm giác khó hiểu, cảm giác về sự bất phục tùng đối với bản thân mình. Ý nghĩ về việc lúc này anh cũng có thể bị giết chết, bị thương, cũng có thể mất khả năng cử động, chỉ còn bất lực nằm đờ ra đó, không trông thấy gì cả, không nghe thấy gì cả, đã khiến anh căm thù đối với sự bất lực có thể xảy ra của bản thân mình. Cảnh tượng hai chiếc xe tăng đang bốc cháy ở phía trước công sự, những đám lửa đan chéo nhau trên thảo nguyên, đám khói cuồn cuộn, dày dặc, sôi sục trong đó thấp thoáng hiện ra sườn màu vàng của những chiếc xe tăng ở phía trước khe, không khí rung lên nóng bỏng phả vào mặt anh, tiếng ầm ầm như sấm của cuộc chiến đấu dội vào tai anh-tất cả những cái đó dồn lại trong anh thành một cơn giận dữ điên cuồng không tuân theo lý trí, máu hăng say phá hoại, một cảm xúc gì đó bệnh hoạn, nôn nóng, tuyệt vọng, giống như cơn điên mà trước đây anh chưa biết tới.
“Bắn, bắn! Mình có thể bắn được! Bắn vào đám khói ấy, vào đám xe tăng. Vào những chiếc thập tự ấy, vào đồng cỏ ấy. Miễn là khẩu pháo hãy còn nguyên vẹn, miễn là kính ngắm không bị sứt mẻ…”-Đầu óc anh quay cuồng khi anh đứng dậy như một người say rượu và bước tới bên khẩu pháo. Anh nhìn ngắm, đưa tay sờ soạng kính ngắm, lo sợ sẽ thấy nó bị hư hại và khi thấy kính ngắm còn nguyên vẹn, anh đâm ra vội vã, các ngón tay của anh thậm chí run lên vì sốt ruột.
Anh ra lệnh, giọng khản đặc không thành tiếng, không nghe thấy chính mình: “Một quả đạn, một quả đạn!”-và sau khi nạp đạn anh vội vã, khao khát áp mình vào kính ngắm, các ngón tay anh bám chặt lấy tay quay để nâng và xoay cỗ pháo chặt đến nỗi tưởng như anh đã gắn chặt hẳn mình vào với nòng pháo như một sinh vật, ngoan ngoãn nghe theo anh và hiểu ý anh như một người thân thuộc.
-Bắn!…
“Mình điên rồi”,-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ, anh cảm thấy căm thù cái chết có thể đến với mình, cảm thấy sự gắn bó của mình với khẩu pháo, cơn điên cuồng giống như một lời thách thức và chỉ còn có chút ý thức mong manh hiểu được việc anh đang làm.
Đôi mắt anh sốt ruột chộp lấy trong kính ngắm những đám khói, những tia chớp lửa nhằng nhịt, những chiếc sườn xe tăng màu vàng đang lổm ngổm bò như những bầy súc vật bằng thép, bên phải và bên trái, phía trước khe. Cánh tay rung lên ném những quả đạn vào họng ổ nạp đạn đang bốc khói, các ngón tay run lên lật bật vội vã mò mẫm siết lên cò súng. Chiếc diềm cao su che mắt ở kính ngắm đẫm mồ hôi anh, vập vào phía trên lông mày anh và anh không kịp hiểu mỗi đường đạn của mình xuyên trong làn khói, trong những cột lửa đang cuồn cuộn bốc và trong đám xe tăng đang di động, anh không thể biết chắc đạn rơi xuống đâu. Nhưng anh đã không còn đủ sức suy nghĩ, tính toán, dừng lại và anh cứ bắn, tin chắc rằng ít ra cũng có một quả đạn chống tăng rơi trúng đích. Đồng thời anh suýt cười vang và sung sướng khi anh lao mình đến ổ nạp đạn và đang nạp đạn, thì trông thấy những hòm đạn, vui mừng vì thấy mình còn đủ đạn để bắn lâu.
-Quân súc sinh! Quân súc sinh! Tao căm thù!-Anh hét lên giữa tiếng pháo nổ ầm ầm.
Giữa các loạt đạn, khi nhảy ra khỏi kính ngắm anh bắt gặp đôi mắt Dôi-a mở rộng, ngạc nhiên, xa lạ nhìn xoáy vào anh, chặn anh lại. Lúc ban đầu thậm chí anh cũng không hiểu cô ở đây làm gì và tại sao cô lại ở đây với anh lúc này.
-Cô lạ nhỉ! Xuống hầm đi! Cô có nghe thấy không? Xuống ngay đi! Tôi ra lệnh cho cô!-Và anh bất chợt văng tục tuy anh chưa bao giờ văng tục trước mặt cô.-Đi đi, tôi đã bảo!
-Tôi sẽ giúp trung úy… Tôi đã từng nạp đạn… Tôi cùng với anh, trung úy…
Cô không nghe rõ tiếng văng tục thô lỗ của anh, chỉ chăm chú nhìn anh, như thể chưa gặp anh bao giờ hoặc không nhận ra anh, anh chàng trung úy người thành thị, lúc nào cũng dè dặt, còn hai tay cô ôm chặt quả đạn vào ngực. Sau đó cô nhếch mép cười gượng gạo:
-Không nên, không nên thế, trung úy! Anh không nên văng tục, trung úy ạ!
Cô xuống hầm đi! Cô chả có việc gì ở đây cả! Cô có nghe rõ không?
Cô nhìn anh ngạc nhiên tựa hồ như cô làm cho anh nguôi nguôi đi. Sự có mặt của cô, khuôn mặt cô, giọng nói của cô như tước đi một phần cơn giận dữ, căm thù ở trong anh, cái cảm xúc cần thiết, tất yếu đối với anh để anh có thể cảm thấy cái sức mạnh phá hoại của mình mà trong đời anh chưa từng bao giờ cảm thấy.
-Xuống hầm!… Cô có nghe thấy không?…-Cu-dơ-nét-xốp thét lên.-Tôi không muốn trông thấy chúng nó giết cô!
Và một lần nữa anh nhìn thấy hiện lên gần kinh khủng trong kính ngắm những đụn khói đặc quánh, những chiếc xe tăng bốc cháy rừng rực, những mũi xe tăng xuyên qua khói lửa đang nổ tung trời… Nhưng khi anh siết cò súng để bắn quả đạn vào đám xe tăng đang di động không ngừng đó, một ánh chớp lóe dẽ dội rạch ngang bầu trời, chụp lấy kính ngắm và phả ra mùi thuốc nổ nóng bỏng khét lẹt. Cu-dơ-nét-xốp bị hất nghiêng khói kính ngắm, nằm áp mình xuống đất, những mảnh đất rơi vung vãi trên lưng anh. Và khi đã nằm sóng sượt, trong đầu anh lóe lên ý nghĩ sung sướng hí hửng vì thấy lần này mình cũng thoát chết. Và một ý nghĩ khác bừng lên trong óc anh:
-Dôi-a! Xuống hầm đi! Xuống hầm đi!
Anh nhổm người lên gần càng pháo để nhìn xem cô ở đâu, nhưng ngay lúc đó một làn chớp lóe rung chuyển lại làm anh lóa mắt.
Có cái gì đó thúc vào ngực anh: Dôi-a ngã sát bên sườn anh, thở sát vào khuôn mặt đẫm mồ hôi của anh, ngó sát vào anh, hai tay túm chặt lấy tà áo choàng của anh, chặt đến nỗi anh cảm thấy đau và trông rõ đôi mắt cô nheo lại, mi mắt đen nhẻm vì thuốc súng; cô nép tấm thân lạnh cóng của mình vào người anh, tìm sự che chở.
-Miễn là đừng bị vào vụng, vào ngực… Mình chẳng sợ… ngộ nhỡ bỗng chốc… miễn là không bị vào những chỗ đó!…
Anh chỉ nghe loáng tháng thấy những lời cô nói, đôi môi gần như sát môi cô, nắm bắt một cách yếu ớt như trong cơn nửa thức nửa ngủ tiếng thì thào cầu khẩn của cô giữa cảnh ầm ầm náo động. Cứ mỗi tiếng nổ, thân cô lại càng đè nặng lên thân anh và lúc ấy anh nghiến răng lại, ôm chặt lấy cô với bản năng tự vệ cuối cùng trước số phận chung gắn bó họ, như một người lớn che chở giúp đỡ đứa trẻ, anh ghì chặt đầu cô vào cái cổ đẫm mồ hôi của mình. Và anh cứ ôm chặt cô như thế, chờ đợi phút giây cuối cùng, cảm thấy mái tóc Dôi-a phấp phơi như sóng đập vào mặt anh, hơi thuốc nổ nóng bỏng làm anh ngột ngạt và trong khoảnh khắc đó anh cảm thấy rõ bộ ngực cô, đôi bắp chân tròn trĩnh của cô, đôi môi lạnh ngắt của cô tì vào cổ anh, anh khiếp sợ nghĩ tới lúc thân mình Dôi-a lạnh toát trong tay anh vì bị một mảnh đạn cắm vào lưng. “Lại kìa, lại chỗ bánh xe của khẩu pháo… áp lưng vào bánh xe! Bánh xe sẽ ngăn mảnh đạn nếu như…”.
Anh muốn nhúc nhích để dịch cô lại chỗ bánh xe khẩu pháo nhưng lúc ấy có tiếng vang ngân dường như từ cõi vĩnh cửu sâu thẳm ùa đến tai anh; làn khói đen ngòm như địa ngục ép sát họ vào khẩu pháo đã tỏa ra ngoài bờ công sự, đọng lại ngoài vị trí đặt pháo. Tuy không khí đã nóng lên vì thuốc nổ, đất chao đảo ầm ầm, rung chuyển vì súng bắn nhưng làn không khí trong lành đã lùa vào nơi đặt pháo, vào khoảng cách chật hẹp, chật cứng giữa thân hình của họ.
Đó không phải là sự yên tĩnh mà là sự lắng dịu. Dôi-a ngả đầu ra, hé mở cặp mắt đen thẫm sâu thẳm khiến anh ngạc nhiên, hàng mi của cô bị thuốc súng làm đen nhẻm. Sau đó cô chậm rãi dứt ra khỏi tay anh, áp lưng vào càng pháo.
Và cũng chậm rãi như vậy, cô kéo chiếc áo choàng ngắn lên đầu gối và xoay ngược bàn tay lấm đất rẽ mái tóc ban nãy đã xòa vào mặt anh. Anh thốt lên giọng khàn khàn:
-Kết thúc rồi…
-Trung úy, trung úy,-cô thì thào giữa tiếng hít thở hổn hển.-Chắc anh không nghĩ về tôi như thế… Anh hãy nghe đây… Nếu như tôi bị thương vào ngực hay vào bụng, vào chỗ này này,-cô lấy tay chỉ vào dây lưng sĩ quan siết chặt lấy mình cô đến nỗi Cu-dơ-nét-xốp tưởng như eo lưng cô chỉ được hai chét tay,-thì tôi yêu cầu anh, nếu như tôi không tự làm lấy được… Đây này, ở trong túi xắc có một khẩu “Van-te” Đức. Người ta đã tặng tôi từ lâu. Anh hiểu không? Nếu như tôi bị vào đây… thì không cần băng bó…
Còn anh, mới mấy phút trước đã sợ hãi hình dung ra cảnh một mảnh đạn có thể bắn vào lưng làm cô bị thương giết chết cô, lúc này im lặng, không hiểu thật rõ vì sao cô lại nói một cách thẳng thắn với anh như vậy về cái điều trái tự nhiên, khủng khiếp có thể xảy ra nhưng đã không xảy ra. Cô sợ bị thương vào ngực hay vào bụng, cô sợ mình tỏ ra yếu đuối, thấp hèn trước lúc chết, cảm thấy xấu hổ vì lúc ấy người ta sẽ nhìn ngó cô, những bàn tay đàn ông sẽ động đến thân thể trần trụi của cô khi băng bó.
-Hiểu rồi,-Cu-dơ-nét-xốp thì thào.-Cô yêu cầu tôi cái gì nhỉ? Cô nhầm rồi: tôi có thuộc đội chôn cất tử sĩ đâu! Ai ra lệnh cho cô đến gần khẩu pháo? Cô không nên có mặt ở đây! Cuộc chiến đấu còn chưa kết thúc. Thế mà cô…
0

Anh chưa kịp nói nốt thì khoảnh khắc yên tĩnh ngắn ngủi đã bị những quả đạn nổ tung ở phía trước bờ công sự phá tan. Cu-dơ-nét-xốp lết đầu gối lại chỗ kính ngắm, chớp lửa của một phát đạn pháo chụp vào mặt anh như một mũi kim nóng bỏng, tưởng như nó ập vào ngay giữa kính ngắm và Dôi-a cùng với món tóc trên má cô, khẩu “Van-te” của cô, lời cầu xin kỳ lạ của cô-tất cả đã biến mất, tất cả đã bật ngay ra khỏi đầu óc anh và thế giới lại trở nên cực kỳ hiện thực, tàn nhẫn, không có lòng tốt, không có hy vọng vào lòng tốt, không có hoài nghi,
“Pháo tự hành,-anh nghĩ, chộp lấy tay quay,-Cạnh đâu đây thôi…”.
Trong những giây phút đó anh chỉ tin vào độ chính xác của kính ngắm đang dò tìm sườn xe tăng, vào lòng căm thù công phá mà anh lại cảm thấy khi áp mình vào khẩu pháo.
“Giá mình do tìm được cỗ pháo tự hành này… Nó bắn ở đâu ngay bên cạnh… Hình như từ ở đằng sau những chiếc xe tăng bị cháy. Nó ở đâu nhỉ?”.
Nhưng khi quay tay quay anh cảm thấy nó ì ra, cưỡng lại, có sự không ăn khớp nào giữa kính ngắm với nòng pháo và anh rút ra khỏi kính ngắm. Toàn bộ khối nòng pháo tuột về đằng sau. Một chất lỏng mầu nâu từ bộ phận chống giật vọt ra thành tia, phụt vào lá chắn đã bị hư hại, phụt lên nòng nóng bỏng.
-Quân súc sinh!… Đây là khẩu pháo tự hành bắn từ nơi ẩn nấp. Thật cứ như trêu ngươi…-Cu-dơ-nét-xốp hét lên, chẳng biết làm gì, gần như phát khóc vì bất lực và đấm tay xuống ổ nạp đạn đã tuột: hộp chống giật đã bị một mảnh đạn làm thủng.
Hai chiếc xe tăng vẫn cháy ngay phía trước khẩu pháo, ngọn lửa rừng rực trùm lên tháp pháo; ở phía bên phải, ngay sát trên bờ khe làn khói tạt xiên bốc lên từ chiếc xe tăng thứ ba. Và từ sau đám khói nhơm nhớp dầu mỡ đó một lưới lửa đan hình tam giác lao về phía bên trái trận địa của tiểu đoàn-về phía bố trí các khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp và U-kha-nốp. Nấp trong màn khói, khẩu pháo tự hành bắn xiên vào chỗ các khẩu pháo của ta, từ khoảng cách hai trăm mét, thấy khá rõ mục tiêu.
Xa hơn nữa, khoản một ki-lô-mét rưỡi về bên trái, ở chỗ vượt sông, xe tăng địch bò từ bờ khe lên, chui trong màn khói, băng ngang qua những chiếc xe tăng đang cháy một cách miễn cưỡng như những đống rơm ẩm. Các khẩu đội bên cạnh ở khu vực quanh cầu, hai khẩu pháo của trung đội anh và súng chống tăng từ các chiến hào bộ binh nhất loạt nổ súng: đường đạn trái phá chống tăng, tiếng lựu pháo nặng nề nổ ở trên cao, đạn pháo xe tăng sáng lòe như lân tinh, những tia lửa “Ca-chiu-sa” bắn từ bờ sông bên kia chụm lại, đan chéo nhau trước chỗ qua sông, hòa lẫn nhau ở đó.
Còn khẩu pháo tự hành đứng nấp đằng sau chiếc xe tăng vẫn đang chọn mục tiêu, đĩnh đạc bắn đúng yếu lĩnh vào sườn quân ta, Cu-dơ-nét-xốp nhìn rõ như vậy.
-Trung úy!…-Anh nghe tiếng kêu của Dôi-a.-Sao anh cứ đứng thế? Anh có trông thấy gì không?…
Nhưng Cu-dơ-nét-xốp không thể làm gì được lúc này.
Khẩu pháo tự hành bắn tới tấp vào chỗ khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp. Khẩu pháo đã ngừng bắn, biến mất trong màn sương đo đỏ đang dâng lên. Từ phía bên trái dưới màn sương đó một chiếc xe tăng xông ra, tiến rất nhanh, từ vỏ xe tóe ra những lưỡi lửa thấp. Có lẽ nó bị trúng đạn của Tru-ba-ri-cốp trước khi khẩu pháo tự hành kịp hỗ trợ và bắn trùm lên vị trí của anh và lúc này đây, những chớp lửa vây quanh khẩu pháo như một chiếc hàng rào, đứng gần đó không ai trông thấy chiếc xe tăng cả. Còn chiếc xe tăng vẫn cứ tăng tốc độ, ngày càng bị ngọn lửa bùng mạnh lên trùm khắp vỏ xe, nó lao như một mũi khoan vào bóng tối đang phủ kín khẩu pháo, bắt đầu quay tại chỗ sang phải, sang trái như thể muốn dùng sức nặng hàng bao nhiêu tấn của mình đè bẹp, san phẳng mọi thứ.
Rồi một tiếng nổ làm rung chuyển không khí. Một cột khói hình nấm vọt ra từ tháp xe, và chiếc xe tăng khựng lại, xệ nghiêng xuống trên một bên xích, đè lên khẩu pháo của ta. Từ phía bên cạnh, những làn đạn liên tiếp vun vút lao tới đống lửa vừa bùng lên đó, những làn đạn nhấp nhoáng suốt dọc mặt trận-đó là đường đạn của U-kha-nốp nã vào chiếc xe tăng, khẩu pháo của anh bố trí ở một đầu mút.
Cu-dơ-nét-xốp choáng váng bị áp đảo bởi một chiếc xe tăng rực cháy điên cuồng lao tới như một mũi khoan, đầu óc anh không còn phân biệt được gì nữa ngoài một điều hiển nhiên, chua xót, đó là cảnh bọn Đức liều chết tiến công trên cánh trái, mưu toan bằng mọi cách đột nhập tới bờ sông, tới chiếc cầu, là anh em pháo thủ ở chỗ Tru-ba-ri-cốp có lẽ đã hy sinh, bị xe tăng nghiến.-chắc không có người nào chạy thoát ra khỏi vị trí đặt pháo-và ở phía đó, phía bên trái chỉ còn lại một khẩu pháo của khẩu đội, đó là khẩu của U-kha-nốp.
-Dôi-a… tôi ra lệnh cho cô xuống hầm! Cô hãy rời khỏi đây, nghe rõ không? Tôi sẽ lại đằng kia, chỗ U-kha-nốp!-Cu-dơ-nét-xốp nói giọng khàn khàn và ngay lúc đó anh thấy Dôi-a cắn môi sưng phồng, hất túi cứu thương sang bên hông, đi như hơi nghiêng nghiêng rồi lao xuống chiếc hào giao thông đào dở dang, nối liền các khẩu pháo.
-Tôi đến chỗ Tru-ba-ri-cốp, đến chỗ Tru-ba-ri-cốp. Ở đó có thể có người còn sống! Tôi không tin rằng tất cả đều…-Và cô vén mái tóc, chìm mình trong hào giao thông như thể không nghe thấy mệnh lệnh của mình.
Anh tuyệt vọng nghiến chặt răng, chạy từ mặt bằng đặt pháo ra ngoài, ngoái nhìn những chiếc xe tăng đang cháy rực trên bờ khe, khẩu pháo tự hành ngọ nguậy ở đằng sau chúng, lúc này thấy bất lực, không có gì chống lại nó.
0
Chương mười ba


-Đứng la-ại! Đi đâu? Quay lại, Cu-dơ-nét-xốp! Đrô-dơ-đốp-xki chạy vọt trên bờ sông cao tới chỗ khẩu pháo; đôi ủng bám đầy tuyết của anh bay giữa các đụn tuyết; cái miệng há ra đen ngòm trên khuôn mặt trắng:
-Quay la-lại!…
Chiến sĩ coi ngựa Ru-bin và Xec-gu-nen-cốp chạy đằng sau anh, nhảy qua những hố đạn, cả hai đều hối hả tíu tít nhìn những chiếc xe tăng đang bốc cháy phía trước đại đội, nhìn đám cháy ở trong làng và Xec-gu-nen-cốp chốc chốc lại nhào người xuống mặt đất mỗi khi có tiếng nổ gần trên bờ sông.
-Đi đâu?… Quay lại! Quay lại! Cu-dơ-nét-xốp! Chuồn à? Vứt khẩu pháo lại à?-Tiếng thét của Đrô-dơ-đốp-xki bật ra nóng bỏng.-Tại sao các anh lại ngừng bắn? Chuồn à? Đứng la-ại!
Huơ khẩu súng ngắn trên đầu, Đrô-dơ-đốp-xki chạy lại gần, mắt long lên sòng sọc, đục ngầu, lỗ mũi phập phồng, giận dữ đến nỗi mặt tái nhợt, râu ria tua tủa hai ngày không cạo, vểnh ra,
-Đến chỗ khẩu pháo!-Đrô-dơ-đốp-xki ra lệnh và cánh tay trái của anh như một gọng kìm túm chặt lấy vai Cu-dơ-nét-xốp, kéo anh về phía mình.-Không được lùi một bước!… Ta-ại sao cậu lại vứt pháo bỏ chạy? Chạy đi đâ-âu?
-Anh không trông thấy gì sao?…-Cu-dơ-nét-xốp dùng sức hất tay Đrô-dơ-đốp-xki khỏi vai mình, liếc nhanh khẩu súng ngắn trong tay anh ta đang rung rung trước bụng, nói:-Anh hãy cất súng ngắn đi! Anh thử nhìn về phía đằng kia xem!-Và anh chỉ về phía khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp, nơi chiếc xe tăng đột kích đã bốc cháy trên vị trí đặt pháo, phụt ra những bó lửa hoa cà hoa cải.-Anh không nhìn thấy gì ở đằng kia à?…
Một loạt súng bắn thấp lóe lên như hình nan quạt trên các đụn tuyết: có lẽ bọn địch trên khẩu pháo tự hành nấp sau những chiếc xe tăng bị bắn cháy đã nhìn thấy có bóng người trên mô đất, vì thế chúng dùng súng máy nã về phía bờ sông.
-Đừng đứng thế!… Nằm xuống!-Cu-dơ-nét-xốp báo cho mọi người biết, còn anh không nằm, tuy nhiên anh cảm thấy hể hả như thể mình đã báo thù được khi trông thấy Đrô-dơ-đốp-xki khụy người xuống còn anh chiến sĩ coi ngựa Ru-bin quay khuôn mặt thô thô của mình về phía khẩu súng máy, nặng nề ngồi sụp xuống trên đôi cẳng chân ngắn chắc nịch; nghe thấy mệnh lệnh đó, anh chàng Xec-gu-nen-cốp gầy gò cố ngẳng lao ngay xuống dưới đụn tuyết và bò bằng khuỷu tay, dùng súng các bin gạt tuyết tới tấp ở chân bờ công sự quanh hỏa điểm.
-Sao cậu lại bò như chó thế hả?-Đrô-dơ-đốp-xki xỉ vả, vươn thẳng dậy, lấy chân đá vào ủng anh.-Đứng dậy! Tất cả lại bên khẩu pháo! Bắn!… Bắn…! Dôi-a đâu? Cô cứu thương đâu?
Khi bước về phía khẩu pháo, Đrô-dơ-đốp-xki lạ chụp lấy vai Cu-dơ-nét-xốp, ngờ vực xoáy cặp mắt trong suốt, thậm chí hình như trắng dã vào mặt anh.
-Cậu cử cô ấy đi đâu? Cô ấy vừa mới ở đây kia mà!
-Cô ấy đã chạy đi rồi,-Ru-bin ho rũ rượi nói.-Thế là đi đời nhà ma!…
-Lại bên pháo, Cu-dơ-nét-xốp! Bắn!…
Họ chạy vào chỗ để pháo, cả hai quỳ trước mặt khẩu pháo với lá chắn rách toang, ổ nạp đạn tuột về phía đằng sau, há hốc ra như một cái mõm đen ngòm và Cu-dơ-nét-xốp thốt lên trong cơn giận dữ chưa nguôi:
-Bây giờ anh hãy nhìn xem! Anh trông thấy hộp chống giật chưa? Khẩu pháo tự hành của địch nấp sau những chiếc xe tăng đang cháy bắn đấy! Hiểu rõ cả chưa? Dôi-a đến chỗ Tru-ba-ri-cốp! Ở đó có lẽ hãy còn có người…
Đrô-dơ-đốp-xki vội vã đút súng ngắn vào bao, hàng mi dài của anh kích động giật nảy lên, anh hỏi to:
-Ai bắn trúng xe tăng? Ca-xư-mốp đâu?
-Bị giết rồi. Ở kia kìa, trong hốc đất ấy. Cả ba pháo thủ nữa.
-Cậu bắn cháy xe tăng à? Cậu tiêu diệt chúng?
-Có lẽ thế…
Cu-dơ-nét-xốp đáp và nhìn Đrô-dơ-đốp-xki tựa hồ như nhìn qua một chiếc kính dày lạnh lẽo với cảm giác không thể khắc phục được một điều gì đó.
-Giá như không có khẩu pháo tự hành này… Nó núp trong khói, đằng sau mấy chiếc xe tăng bị cháy. Nó nã súng từ bên sườn vào chỗ U-kha-nốp… Phải đến chỗ U-kha-nốp, cậu ấy không nhìn rõ nó! Ở đây ta chẳng còn làm được việc gì!
-Khoan đã! Tại sao lại hoảng loạn lên thế?
Tì người vào khuỷu tay, Đrô-dơ-đốp-xki từ trong bờ công sự liếc nhanh ra ngoài, bờ công sự bị đạn băm nát và lỗ chỗ những mảnh đạn nhắn thín cắm ngập trong đất bị nung bỏng-Vừa lúc ấy hàng loạt đạn súng máy lại viu viu ở trên đầu.
0

Đạn nổ ở đỉnh các đụn tuyết đằng sau khẩu pháo, lóe lên những tia lửa xanh lè. Ngồi ở dưới bờ lũy đất Đrô-dơ-đốp-xki nheo mắt hối hả quan sát trận địa, toàn bộ khuôn mặt anh bỗng hóp lại, co hẹp, anh hỏi giọng nhát gừng:
-Lựu đạn đâu? Lựu đạn chống tăng đâu? Ở mỗi khẩu pháo đều được phát ba quả lựu đạn kia mà! Lựu đạn đâu, Cu-dơ-nét-xốp.
-Lựu đạn làm quái gì bây giờ! Khẩu pháo tự hành ở cách đây một trăm rưởi mét. Ném làm sao được tới đó? Thế anh không trông thấy khẩu súng máy của nó à?
-Vậy cậu nghĩ thế nào, ta sẽ chờ đợi chắc? Đưa lựu đạn ra đây mau lên! Đưa ngay ra đây… Trong chiến tranh chỗ nào chả có súng máy, Cu-dơ-nét-xốp!…
Khuôn mặt tái nhợt, xấu đi vì sốt ruột, co giật của Đrô-dơ-đốp-xki lộ vẻ sẵn sàng hành động, làm tất cả và giọng nói của anh bỗng trở nên the thé chói tai:
-Xec-gu-nen-cốp, đưa lựu đạn lại đây!
-Lựu đạn ở trong hốc đất. Đồng chí trung úy…
-Đưa lựu đạn lại đây!…
Và khi chiến sĩ coi ngựa Xec-gu-nen-cốp bò tới hầm đất, lôi từ trong đó ra hai quả lựu đạn chống tăng lấm đất và lấy ngay tà áo choàng lau, cọ sạch chúng tôi đem đặt hai quả lựu đạn đó xuống trước mặt Đrô-dơ-đốp-xki, anh này hơi nhổm người trên lũy đất ra lệnh:
-Nào, Xec-gu-nen-cốp! Cậu sẽ ném! Hoặc là ngực đỏ huân chương hoặc là… cậu hiểu tôi chứ, Xec-gu-nen-cốp?…
Xec-gu-nen-cốp ngẩng đầu lên, nhìn Đrô-dơ-đốp-xki bằng cặp mắt sững sờ, không nhấp nháy, rồi hỏi một cách không tin tưởng:
-Làm thế nào được… đồng chí trung úy? Nó nấp đằng sau xe tăng. Tôi… phải lại tận nơi à?…
-Bò về phía trước và ném hai quả vào xích của nó! Tiêu diệt khẩu pháo tự hành! Cho hai quả lựu đạn-và thế là hết đời con rắn độc!…
Đrô-dơ-đốp-xki nói một cách hách dịch, dứt khoát, anh đưa đôi cánh tay rung rung bất ngờ nhấc bổng những quả lựu đạn khỏi mặt đất, đưa cho Xec-gu-nen-cốp, anh này như cái máy xòe bàn tay ra đỡ lấy lựu đạn, suýt nữa đánh rơi chúng vì cảm thấy như chạm phải những chiếc bàn là nóng bỏng.
Hình như trong đời mình anh chưa bao giờ cạo râu, hàng lông tơ vàng óng phía môi trên sưng mọng trên cặp má trẻ trung của anh lúc ấy hình như sẫm lại, nhọn hoắt vì mặt anh nhợt nhạt như phấn. Cu-dơ-nét-xốp nhìn thấy rất gần cặp mắt xanh biếc dại hẳn đi, cái cằm mịn màng như trẻ con, cái cổ nhỏ nhắn và cũng mịn màng, nhô ra từ cổ áo choàng rộng thùng thình. Tiếp đó anh nghe tiếng anh ta nói khe khẽ:
-Nó nấp đằng sau xe tăng, đồng chí trung úy… Nó đứng ở xa…
-Cầm lấy lựu đạn!… Không được chậm trễ!
-Tôi hiểu…
Xec-gu-nen-cốp quờ quạng túm lấy đầu những quả lựu đạn nhét vào bụng, cặp mắt xanh biếc, trong sáng của anh lướt trên khuôn mặt luôn biến đổi, quả quyết của Đrô-dơ-đốp-xki, trên khuôn mặt Cu-dơ-nét-xốp, trên tấm lưng tròn trĩnh, tựa hồ dửng dưng của Ru-bin đang nửa nằm nửa ngồi giữa những càng pháo, sụt sịt nặng, mắt chằm chằm nhìn vào lũy đất.
Cu-dơ-nét-xốp không kìm được nữa:
-Tiểu đoàn trưởng này! Chả lẽ anh không thấy à? Phải bò một trăm mét đất trống! Anh không hiểu điều đó sao?
-Thế cậu nghĩ thế nào?!-Đrô-dơ-đốp-xki vẫn nói bằng giọng the thé như thế và đấm vào đầu gối mình.-Chúng ta sẽ ngồi nhìn à? Bó tay à?… Còn chúng sẽ đè bẹp chúng ta!-Rồi với vẻ hống hách anh quay ngoắt người lại phía Xec-gu-nen-cốp:-Đã rõ nhiệm vụ chưa? Bò vàvọt tiến đến chỗ khẩu pháo tự hành! Tiến lên!-Mệnh lệnh của anh vang lên như một phát súng.-Tiến lên!…
Cu-dơ-nét-xốp tưởng như chuyện vừa xảy ra không phải chỉ là một bước đi không lối thoát, tuyệt vọng mà còn là một nước cờ kỳ quái, vô lý, vô vọng và giờ đây Xec-gu-nen-cốp phải thực hiện nước cờ đó theo mệnh lệnh ”tiến lên” do những luật lệ đanh thép có hiệu lực trong lúc chiến đấu, không ai trong lúc này-cả Xec-gu-nen-cốp cũng như Cu-dơ-nét-xốp-có quyền thay đổi, hoặc không chấp hành và chẳng hiểu sao bất chợt anh nghĩ: “Giá như khẩu pháo còn nguyên vẹn và dù chỉ còn lại một quả đạn thôi thì chắc đã chẳng xảy ra chuyện gì, đúng thế, chắc đã chẳng xảy ra chuyện gì!”.
-Nghe này, Xec-gu-nen-cốp… Cậu cứ bò, ép sát mình xuống đất… đằng kia có nhiều bụi rậm, cậu bò về phía bên phải, cạnh cái hõm đấy ấy. Bò trong dải khói ấy, nghe rõ không? Cẩn thận nhé. Chớ ngẩng đầu lên!…
Cu-dơ-nét-xốp bò lại gần Xec-gu-nen-cốp, khẽ ra lệnh, siết chặt khuỷu tay anh, nhìn vào tròng mắt sâu thẳm, trong sáng như màu da trời nhưng không trông thấy gì của anh ta. Xec-gu-nen-cốp gật đầu, khẽ mỉm cười tỏ vẻ hiểu và không hiểu vì sao anh cứ luôn luôn lấy bao tay vỗ vỗ vào áo choàng bị lựu đạn làm căng phồng lên trên ngực tựa hồ như những lựu đạn đó thiêu đốt lồng ngực anh và anh muốn làm dịu mát chỗ bỏng đó.
-Đồng chí trung úy, tôi tha thiết yêu cầu đồng chí,-chỉ có môi anh thì thào,-ngộ nhỡ có chuyện gì xảy ra với tôi… Đồng chí hãy báo tin cho mẹ tôi, nói rằng tôi mất tích… Mẹ tôi chỉ có mình tôi…
-Đừng nghĩ tới chuyện đó!-Cu-dơ-nét-xốp kêu lên. Cậu có nghe thấy không, Xec-gu-nen-cốp? Chỉ bò thôi nhé! Náu mình vào trong tuyết!
-Đi đi thôi, Xec-gu-nen-cốp!-Đrô-dơ-đốp-xki vung tay lên.-Không chậm trễ! Tiến lên!…
-Sẵn sàng, đồng chí tiểu đoàn trưởng, tôi đi ngay…
Xec-gu-nen-cốp liếm đôi môi khô cứng, hớp không khí và chẳng hiểu sao anh lại sờ vào mấy quả lựu đạn để trong áo choàng rồi bò lên lũy đất, đôi ủng của anh làm cho những mảnh đất mới bị đạn cày xới, đen sạm rơi lả tả xuống lòng công sự, khi đã vươn tới đỉnh lũy đất, hình như còn quên điều gì, anh ngoái nhìn qua vai, đưa cặp mắt đã dại hẳn đi tìm khuôn mặt Ru-bin cau có, lịm đi, cứng đờ nghếch về phía anh, anh bỗng nói, giọng rất bình thường, thậm chí bình tĩnh:
-Ru-bin ạ, nếu cậu mà đầy đọa lũ ngựa, thì mình sẽ tìm cậu ở thế giới bên kia đấy. Thôi tạm biệt…
Cu-dơ-nét-xốp áp ngực vào bờ lũy công sự. Xec-gu-nen-cốp đã bò được khoảng năm trăm mét về phía các bụi rậm trên khoảnh đất chằng chịt những miệng phễu đen ngòm ở đằng trước khẩu pháo, anh vùi mình trong tuyết pha lẫn với đất do các vụ nổ làm tung lên. Trông thấy rõ thân hình gầy gò của anh ngoằn ngoèo nhích lên giữa những bụi cây trần trụi đã bị mảnh đạn phạt mất một nửa. Cu-dơ-nét-xốp vẫn cứ lo ngại những loạt đạn súng máy của địch từ sau mấy chiếc xe tăng lóe lên trước, bắn vào Xec-gu-nen-cốp. Khẩu pháo tự hành nhả đạn về phía bên phải, phía chiếc cầu, phía khẩu pháo của U-kha-nốp, nơi ngọn lửa đen sẫm và hồng hồng bùng lên, che kín những chiếc xe tăng đang tiến công và giờ đây kẻ địch đang chĩa súng máy vào Xec-gu-nen-cốp, mặc dù không trông thấy anh. Còn anh vẫn bò giữa những hố đạn như miệng phễu và những bụi rậm, khuất đi sau những đụn tuyết, lặn vào rồi lại ngoi ra, lấy cẳng tay, dùng đầu gạt tuyết, khoảng cách giữa anh và hai khối xe tăng đang bốc khói,-khẩu pháo tự hành núp ở đằng sau chúng-đã được rút ngắn rõ rệt.
“Miễn sao cậu ấy bò nhanh được tới dải khói,-Cu-dơ-nét-xốp hy vọng nghĩ, anh nằm trên bờ lũy công sự, tim đập thình thình, đếm từng mét trên đoạn đường tới khẩu pháo tự hành không trông rõ nấp sau xe tăng,-chỉ cốt sao vào được làn khói…”.
-Sao cậu ấy chậm chạp thế nhỉ? Chạy nhanh lên chứ!-Đrô-dơ-đốp-xki nói giọng đứt quãng, đưa những ngón tay đeo găng ra chộp lấy một cục đất đá cứng lại, bóp nát trên lũy công sự trong khi chờ đợi đợt vọt tiến cuối cùng tới khẩu pháo tự hành.
-“Chạy” làm sa-ao được! Tim cậu ấy có lẽ thót lại như tim chim sẻ.-Anh chiến sĩ coi ngựa Ru-bin nói qua kẽ răng và lời nói của anh tan biến đi, lẫn vào trong màn sương hầm hập.
-Im ngay, Ru-bin! Anh có nghe thấy không?
Cu-dơ-nét-xốp hầu như căm ghét nhìn nghiêng cặp lông mi dài của Đrô-dơ-đốp-xki đang giần giật lên trong khi chờ đợi cũng như bóng dáng trông nghiêng nghiêng như chì của Ru-bin đang áp tấm thân bè bè nằm sấp trên bờ lũy công sự, cái cổ mập mạp hung hung đỏ của anh ta rụt ở trong cổ áo. Cu-dơ-nét-xốp sực nhớ tới lúc anh ta định bắn chết con ngựa què khi hành quân. Ru-bin nhổ như điên qua bờ lũy công sự, cặp mắt nhỏ, sắc như lưỡi khoan của anh ta hướng về phía Đrô-dơ-đốp-xki trở nên ủ rũ, không chan hòa.
-Giá đồng chí ra lệnh cho tôi, đồng chí trung úy. Đối với tôi đằng nào cũng thế thôi. Tôi chẳng thiết bám lấy cuộc sống! Anh cũng biết đấy, tôi chẳng có ai để mà nhớ… Chẳng có ai sẽ khóc tôi.
Và lời nói của anh lại cháy vèo, tan biến vào trong màn sương hầm hập.
Cu-dơ-nét-xốp không nghe thấy gì nữa cả, anh quan sát khoảng trống trước những chiếc xe tăng đang cháy, khẩu pháo tự hành nấp ở đằng sau lưng. Con sâu nhỏ màu xám vẫn bò ngoằn ngoèo chậm chạp hơn, thận trọng hơn rồi sững lại, nằm dí người xuống đất cách những chiếc xe tăng khoảng chục mét. Không trông rõ lắm Xec-gu-nen-cốp đã làm gì ở đó; tiếp đó hình như anh hơi nhỏm người lên, từ mặt đất ngước nhìn lên khẩu pháo tự hành, một vai anh nhúc nhích như thể cánh tay anh đang vội vã giật, rút quả lựu đạn để ở gần bụng ra. Nhưng vì ở xa nên có lẽ đó chỉ là tưởng tượng và mắt Cu-dơ-nét-xốp không chớp được cái lúc Xec-gu-nen-cốp kéo chốt an toàn và ném quả lựu đạn đầu tiên.
0

Giữa tiếng súng đạn nổ ầm ầm, quả lựu đạn nổ yếu ớt như hạt trái cây bị đập vỡ. Một cột lửa màu da cam bẩn thỉu từ mặt đất vọt lên, khói phủ kín những chiếc xe tăng, khẩu pháo tự hành vẫn từ đó bắn về phía chiếc cầu như trước đây.
-Trượt rồi!..-Ru-bin thốt lên và lại nhổ qua lũy công sự, đưa nắm tay quệt môi, mi mắt đỏ lim dim.
-Cậu ấy làm sao thế nhỉ? Sao thế? Sao lại chậm chạp thế?…-Những ngón tay của Đrô-dơ-đốp-xki vẫn bóp nát mảnh đất, vẫn cứ tìm một điểm tựa nào đó trên bờ lũy.-Tiến lên, tới khẩu pháo tự hành… Hãy ném quả thứ hai!…
Khẩu pháo tự hành ngừng bắn. Rồi từ sau những chiếc xe tăng bốc khói hiện rõ một khối hình chữ nhật rộng, nó nhô ra, nặng nề quay người trong đám khói nhờn dầu mỡ. Và đúng lúc ấy con sâu màu xám bò vài mét về phía trước giữa những hố đất đen ngòm, co ngay người lại trên tuyết như một chiếc lò xo, toàn thân căng thẳng-và trong nháy mắt bóng người màu xám nhỏ tí đó bật dậy từ mặt đất to lớn, vụng về đang nhúc nhích trong đám khói ở đằng sau những chiếc xe tăng.
Đúng lúc ấy những làn chớp ngắn bay xiên và nhanh ra chặn cái bóng dáng nhỏ bé đang chạy về phía trước, tay giơ cao đó lại và cái bóng đó bị vấp, đầu ngật hẳn ra tựa hồ như nó đã bị các tia chớp giống như những lưỡi dao nóng bỏng xuyên vào ngực, bóng dáng đó đã biến mất, hòa mình với đất…
Quả lựu đạn nổ làm bùng lên một đám khói nhỏ tơi tả gần mô đất xám bất động trước mặt những chiếc xe tăng, khói bị gió cuốn đi. Súng máy lại từ trên cao nã xuống và những loạt súng dài nổ rền của chúng đã đẩy, xê dịch Xec-gu-nen-cốp, có lẽ đã chết, trên mặt đất; và hình như chiếc áo choàng bốc khói trên lưng anh.
-Chao, tôi nghiệp thằng bé, quân giặc khốn kiếp! Liều thật!… Bị giết rồi chứ?
Cu-dơ-nét-xốp nghẹn ngào, không thốt nên lời… đưa ngón tay lên rứt móc cổ áo choàng cho đỡ ngột ngạt vì nóng. ”Ai nói rằng cậu ấy đã bị giết rồi? Hình như là Ru-bin chăng?” Cu-dơ-nét-xốp không biết phải làm gì lúc này, tuy còn chưa tin hẳn nhưng anh đã nhìn thấy cái chết hiển nhiên, trần trụi, kỳ quái, rõ mồn một của Xec-gu-nen-cốp ở gần khẩu pháo tự hành. Anh nghẹt thở nhìn Đrô-dơ-đốp-xki, nhìn cái miệng méo xệch đau đớn chỉ thốt lên mấy tiếng: “Cậu ấy đã không chịu được, không làm được, cậu ấy đứng dậy để làm gì?…”-và như bị ớn lạnh, anh bỗng thốt lên bằng một giọng khô khốc xa lạ khiến chính anh cũng ngạc nhiên:
-Cậu ấy không thể hả? Thế nghĩa là cậu có thể làm được chứ gì? Ở trong hốc đất kia kìa hãy còn một quả lựu đạn nữa đấy, cậu có rõ không? Quả lựu đạn cuối cùng. Ở vào địa vị của cậu chắc mình đã vớ lấy quả lựu đạn và đi tới chỗ khẩu pháo tự hành. Xec-gu-nen-cốp đã không thể làm được! Cậu sẽ làm được! Cậu nghe rõ không?…
“Cậu ấy đã cử Xec-gu-nen-cốp đi, cậu ấy có quyền ra lệnh… còn mình là người chứng kiến-và mình sẽ suốt đời nguyền rủa mình về chuyện này!…-Một ý nghĩ lờ mờ, thấp thoáng trong đầu Cu-dơ-nét-xốp lúc này vẫn chưa hiểu rõ được ngọn ngành những điều anh nói cũng như chưa hiểu được mức độ hợp lý của các hành động của mình.
-Cái gì? Cậu nói cái gì?-Đrô-dơ-đốp-xki một tay túm lấy lá chắn khẩu pháo, tay kia bám vào đỉnh bờ lũy và vươn mình đứng thẳng dậy, hất khuôn mặt trắng, tái nhợt với những lỗ mũi thanh tú phập phồng lên.-Tôi muốn cho cậu ấy chết à?-Giọng Đrô-dơ-đốp-xki bung ra như một tiếng rít đẫm nước mắt.-Tại sao cậu ấy lại đứng dậy?… Cậu cũng đã trông thấy cậu ấy đứng dậy chứ? Để làm gì cơ chứ?
Trong giây phút nhìn vào cặp mắt bối rối, choáng váng của Đrô-dơ-đốp-xki, Cu-dơ-nét-xốp như thể ù tai không nghe tiếng súng của các khẩu đội bắn cũng như tiếng gào rú trầm trầm của xe tăng địch đang tiến công từ phía bên trái, tiếng nổ trên bở sông, trong ký ức anh chỉ còn lại hình ảnh chiếc áo choàng bốc khói trên người Xec-gu-nen-cốp, thân hình cậu ta bị những tràng súng máy hất xuống tuyết; chuyện xảy ra với Xec-gu-nen-cốp không giống cái chết của Ca-xư-mốp, thậm chí cũng không giống cái chết của anh em pháo thủ ở chỗ Tru-ba-ri-cốp, bị xe tăng nghiền nát bên cạnh khẩu pháo. Dẫu sao anh cũng vẫn cứ hình dung cái chết của Xec-gu-nen-cốp như một cái gì trần trụi và giản đơn là vô nghĩa…
Tôi không thể nhìn mặt anh được, Đrô-dơ-đốp-xki! Tôi không thể…
Cảm thấy như trời đất tối sầm nóng ran, Cu-dơ-nét-xốp bước xuống hào giao thông đi về phía khẩu pháo của U-kha-nốp ở tít mé bên trái. Anh đi, run lật bật như lên cơn thần kinh, tựa vào thành lũy đất rồi chạy và khi chạy anh cảm thấy nhẹ nhõm vì bản thân mình còn sống và còn có thể làm được việc gì đó lúc này.
Anh không phân tích những gì đã xảy ra với mình. Nhưng cũng như lúc anh bắn vào xe tăng địch, sau khi lại cảm thấy dâng lên ở trong mình cơn giận dữ không kiềm chế được lúc chiến đấu, anh tựa hồ như đã đánh mất giá trị đặc biệt và duy nhất của đời mình, cái giá trị chừng như không thuộc về anh và thậm chí anh cũng không dám nấm ngầm cân nhắc ý nghĩa của giá trị đó trong thâm tâm mình. Anh đã mất cảm giác về nguy cơ trầm trọng và nỗi sợ hãi bản năng trước xe tăng địch, trước cái chết hoặc việc bị thương, trước toàn bộ cái thế giới đang bắn giết đó, tựa hồ như anh trước đã được số phận ban cho cuộc sống vĩnh viễn, tựa hồ như trên thế gian đều lệ thuộc vào hoạt động của anh, vào sự khinh suất kiên quyết của anh, vào sự nhẹ bẫng kỳ lạ của toàn thân anh.
Khi anh chạy ra khỏi hào giao thông đã bị đất đá lấp đến một nửa và vọt lên hỏa điểm của U-kha-nốp, khẩu pháo đang bắn tới tấp, giật lùi lại và nhả vỏ đạn khỏi ổ nạp đạn, mọi người tíu tít bò gần càng pháo và không phân biệt rõ mặt anh em pháo thủ trong đám khói, Cu-dơ-nét-xốp ngã lên bờ công sự, thở hổn hển:
-U-kha-nốp! Mọi người còn sống cả chứ?…
Những chiếc vỏ đạn vừa bắn bốc hơi, lật ra lanh canh giữa các càng pháo.
-Trung úy! Đạn xuyên!… Chỉ còn có năm quả đạn chống tăng!… Đạn đâu? Đạn, trung úy!…
U-kha-nốp thét to nhưng khi nghe giọng nói, Cu-dơ-nét-xốp chật vật mới nhận ra anh ta. U-kha-nốp chỉ vận độc có chiếc áo bông, nằm soài trên bờ công sự, nhìn anh, cặp mắt nheo lại bừng lê trên khuôn mặt đen nhẻm, đẫm mồ hôi, chiếc áo bông mở cúc ở ngực, cổ áo va rơi banh ra, mạch máu phồng lên như những khúc dây chão trên cái cổ bẩn thỉu, khói súng bám vào mi mắt và lông mày.
-Đạn trái phá, trung úy! Đạn trái phá, tiên sư quân giặc!… Xe tăng địch đang đánh thọc sườn! Đạn trái phá!
Anh không hỏi Cu-dơ-nét-xốp về tình hình ở chỗ các khẩu pháo khác, không hỏi xem anh em ở đó còn sống không: có lẽ anh đã đoán ra, đã hình dung được tình hình xảy ra trong đơn vị bởi vì mới mấy phút trước đây anh còn nã súng bắn những chiếc xe tăng xông vào vị trí các khẩu pháo của ta, bản thân anh đã nhìn rõ hết cả và lúc này anh chỉ kêu gào về đạn trái phá, thiếu đạn thì anh và mọi người bên anh đều bất lực.
-Này, U-kha-nốp! Toàn thể pháo thủ… toàn thể anh em pháo thủ đi lấy đạn! Tới các khẩu pháo khác… ở đằng ấy hãy còn. Đưa hết đạn đến đây! Đi tất, không trừ một ai! Thấy cậu còn sống mình mừng lắm, U-kha-nốp ạ!...
-Viên đạn dành cho tôi còn chưa kịp đúc!-và U-kha-nốp nhổm người trên bờ công sự, đưa cặp mắt sắc sảo nhìn vào mắt Cu-dơ-nét-xốp hồi lâu, mạch máu trên cái cổ đẫm mồ hôi của anh càng căng phồng hơn lên.-Thế nghĩa là ở đằng ấy… bị ráo cả? Chỉ còn lại bọn mình thôi à, trung úy?
-Đi lấy đạn, tôi đã bảo! Tất cả mọi người còn sống đi lấy đạn!…
0

Chương mười bốn


Tới xế chiều. Cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục dai dẳng và nóng bỏng, căn cứ vào báo cáo của các quân đoàn và sư đoàn, có thể thấy rất rõ là mũi đột kích chủ yếu của xe tăng Đức hướng vào nơi tiếp giáp giữa tập đoàn quân của Bét-xô-nốp với đơn vị bên cạnh phía bên phái-đơn vị đã không chịu đựng được đợt công kíc-hướng vào cánh phải của sư đoàn Đê-ép, cho đến lúc xế chiều tình hình trở nên nguy ngập. Khoảng giữa trưa, sau những đợt tiến công liên tục, quân Đức đã chiếm được bờ phía Nam của ngôi làng và tại đây, xe tăng của chúng mưu toan cường tập qua sông ở hai chỗ nhằm mục đích tiến sang bờ phía Bắc sông Mư-scô-va, thọc hai mũi vào tung thâm, chia cắt và bao vây các đơn vị của ta đang phòng ngự trên bờ sông này.
Bét-xô-nốp ngồi bên máy điện thoại trong hầm ngầm được sưởi nóng, nơi đặt đài quan sát của tập đoàn quân, ông xem bản đồ trải rộng trên mặt bàn và nghe qua điện thoại báo cáo thường lệ của tướng I-a-xen-cô, vừa lúc ấy ủy viên Hội đồng quân sự Ve-xnin rõ ràng đang xúc động sải bước dài qua ngưỡng cửa bước vào hầm; mặt ông ửng đỏ, không nhìn rõ mắt vì mắt kính của ông phản chiếu ánh nắng chiều hôm rực hồng ngoài ô cửa sổ của hầm ngầm. Ve-xnin vội vã tháo găng tay, vẻ trầm ngâm bặm môi, bước lại gần chiếc lò sưởi bằng sắt.
“Kỳ lạ thật, trong con người anh ấy có cái gì thật trẻ thơ…-Bét-xô-nốp nghĩ và hầu như biết rõ Ve-xnin sắp nói gì, ông tạm ngắt báo cáo của I-a-xen-cô qua điện thoại.-Anh ấy tới đài quan sát làm gì nhỉ?”.
-Tôi nghe đồng chí, Vi-ta-li I-xa-ê-vich.
-Xe tăng địch đã thọc sâu sang bờ phía Bắc, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích! Chúng đã chiếm được một vài con đường trong khu làng ở bờ phía Bắc. Từ đài quan sát của Đê-ép có thể nhìn thấy rõ điều đó. Cuộc chiến đấu đã bắt đầu trên phía đó,-Ve-xnin đứng gần lò sưởi, nói.-Cụ thể là ở về phía Tây Nam chúng ta khoảng mười ki-lô-mét. Đê-ép đã quyết định phản công, đã đưa trung đoàn xe tăng độc lập của Khô-khơ-lốp vào trận. Nhưng cho đến lúc này vẫn chưa có kết quả tích cực…
-Hễ các quaâ đoàn xe tăng và cơ giới tới khu vực tập kết tôi sẽ chờ nghe thông báo của anh ngay, Xê-men I-va-nô-vích.-Bét-xô-nốp đặt ống nghe lên máy, tì tay lên ống nghe, nói thêm:-Đại diện diện Đại bản doanh to ra lo lắng về tình hình ở chỗ ta. Ngoài quân đoàn xe tăng ta còn được thêm một quân đoàn cơ giới. Lấy trong lực lượng dự trữ của Đại bản doanh.
-Lo lắng là phải,-Ve-xnin nói.-Tình hình rất là… Chúng o ép với sức mạnh điên cuồng.
Ve-xnin lau tay, động đậy đôi vai hơi gù, chân nọ đập vào chân kia; chắc lúc ngồi trong xe ông không được sưởi ấm và mãi đến giờ ông mới được sưởi sau khi đứng ngoài giá rét hai tiếng đồng hồ tại đài quan sát của sư đoàn Đê-ép.
-Thế nghĩa là địch đã đột nhập được sang bờ phía Bắc?-Bét-xô-nốp nhắc lại.-Ra thê-ế!
Tiếng người nói chuyện rì rầm, tiếng máy điện thoại vo vo ở nửa hầm bên cạnh-mọi việc hình như vẫn như trước đây, còn trong một nửa hầm bên này của đài quan sát mọi người chợt im lặng. Chuẩn úy thông tin có hàng ria mép rậm thận trọng quay máy điện thoại, cho máy ngừng sau cuộc trò chuyện giữa tư lệnh với tham mưu trưởng tập đoàn quân. Người phụ trách vô tuyến điện phát lên không trung những tín hiệu của quân đoàn ở cánh trái, bỗng hạ thấp giọng; thiếu tá Bô-gi-scô lơ đãng dùng giẻ lau kẹp đạn khẩu TT ngồi thu lu trong một góc trên tấm phản, đưa mắt thăm dò nhìn Ve-xnin, Bét-xô-nốp, anh cọ kẹp đạn nhẵn thín vào báng súng ngắn cho đến khi kẹp đạn sáng bóng lên rồi mới nhét khẩu TT vào bao. Cài bao súng một cách hăng hái, bằng toàn bọ vẻ mặt của mình, anh muốn chứng tỏ cho Bét-xô-nốp thấy rằng anh sẵn sàng chấp hành mệnh lệnh.Nhưng Bét-xô-nốp không chú ý tới Bô-gi-scô, ông ngồi sau bàn, đặt bàn tay nhỏ nhắn lên bản đồ, ngón tay gõ nhè nhẹ.
-Tình hình rõ lắm rồi,-sau cùng ông thốt lên, đôi mắt mệt mỏi không rời khuôn mặt ửng đỏ của Ve-xnin. Sau đó ông hỏi:-Vi-ta-li I-xa-ê-vich, anh muốn nói rằng Đê-ép không tin tưởng lắm vào cuộc phản công có kết quả của Khô-khơ-lốp phải không? Tôi chắc anh đã nói chuyện về việc này với Đê-ép?
-Quả thật thế, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích,-Ve-xnin hơi mỉm miệng cười, đáp, ông thổi phù phù vào lòng bàn tay, các ngón tay động đậy trước đôi môi dẩu ra; niềm vui của ông có lẽ là gượng gạo nhưng có thể thấy rõ một điều khác: đại tá Đê-ép tin cậy và cởi mở với Ve-xnin hơn là với Bét-xô-nốp, hình như Đê-ép sợ không dám bày tỏ nỗi lo lắng của mình trước vị tư lệnh mới và chỉ bộc lộ với Ve-xnin.
-Lúc anh ở đài quan sát, Vi-ta-li I-xa-ê-vich-Bét-xô-nốp nói bằng giọng rỉnít,-bộ tham mưu phương diện quân cho biết rằng không quân của Đức đã tăng cường các phi vụ ở chỗ đám quân Đức bị bao vây, ném đồ tiếp tế cho chúng. Có thể là chúng đang tích cực chuẩn bị đánh phá vây, đón gặp đạo quân của Man-sten. Anh nghĩ thế nào về chuyện đó, Vi-ta-li I-xa-ê-vich?
-Chắc mọi việc sẽ tùy thuộc vào tình hình ở đây diễn biến như thế nào,-Ve-xnin nói.-Từ tuyến đầu phòng ngự của ta tới Xta-lin-grát là bốn mươi ki-lô-mét. Nếu đánh phá vây thì chỉ phải vượt có một chặng đường.
-Ấy là đối với những đơn vị cơ động,-Bét-xô-nốp uốn nắn.-Nếu như chúng đánh phá vây. Trong trường hợp ấy thì đúng thế.
-Xin phép được vào, thưa đồng chí tư lệnh.
Tấm vải bạt ngăn lối vào nửa hầm bên kia được vén lên, để lọt ra ánh sáng đèn thắp bằng ắc qui và từ dải ánh sáng rực rỡ đó phó trưởng phòng tác chiến Gla-đi-lin, một thiếu tá nghiêm chỉnh, tuổi trạc bốn mươi, bước vào; vầng trán cao, trắng nõn của ông đẫm mồ hôi. Đáng lẽ nói thẳng tuột ra theo lẽ thường tình của con người nỗi lo lắng của mình: “Xe tăng địch đã ở trong làng rồi, thưa đồng chí tư lệnh!” thì Gla-đi-lin lại nói với một giọng dè dặt đặc biệt của một cán bộ tham mưu có kinh nghiệm hiểu rất rõ mình đang báo cáo điều gì và báo cáo với ai:
-Thưa đồng chí tư lệnh… theo những báo cáo miệng vừa nhận được của trung đoàn 97 và trung đoàn 336 thì xe tăng Đức đã cường tập qua sông nửa giờ trước đây, đột nhập vào…
-Tôi biết rồi thiếu tá ạ,-Bét-xô-nốp ngắt lời, lúc này ông hơi bực mình vì sự thông báo chậm trễ của phòng tác chiến cũng như vì cái giọng nhợt nhạt của viên thiếu tá, sự bình tĩnh giả tạo, gượng gạo của ông ta, cái hình thức giữ mình này, làm như ông, tư lệnh quân đoàn, đã buộc mọi người hễ thấy mặt ông ở đây là phải thận trọng và thiếu tự nhiên. Lần nào ông cũng bực bội khi cảm thấy cái hình thức giữ mình đó của các sĩ quan tham mưu thận trọng và đã được rèn luyện kỹ cũng như khi ông cảm thấy sự cô lập của ông mà người khác không nhận thấy, sự cô lập do uy quyền của ông đối với mọi người, do vị trí đặc biệt của ông khiến mọi người phải phục tùng gây ra. Ngón tay gõ nhịp trên bản đồ, ông quay người về phía ô cửa sổ nhỏ trong hầm ngầm: những đám cháy bùng lên khắp chân trời phía Tây Nam như một bức tường thàn bất động bị nung đỏ, tiếng súng bắn ầm ầm của trận đánh đang nhích lại gần làm cho cái bàn rung lên dưới tay ông, cây bút chì vót ngọn nảy lên trên tấm bản đồ.
“Thế là… chúng đã đột nhập được sang bờ sông phía Bắc,-Bét-xô-nốp nghĩ và khum bàn tay che chiếc bút chì.-Nghĩa là chúng đã sang được sông”.
Ve-xnin thọc đôi bàn tay đã được sưởi ấm vào túi áo choàng ngắn và nhô đôi vai hẹp lên, khẽ đu đưa ra phía trước và phía sau, trầm ngâm nhìn phó trưởng phòng tác chiến, nhìn Bét-xô-nốp, như thể ông đang nhớ lại chuyện gì đó. Thiếu tá Gla-đi-lin bị cắt lời nửa chừng đứng im trước bàn, vẻ chờ đợi và Bét-xô-nốp rời mắt khỏi ô cửa sổ.
-Nói tiếp đi, thiếu tá. Việc xe tăng địch đã đột nhập sang bờ phía Bắc thì hình như đã rõ rồi. Anh còn có thể nói thêm điều gì nữa. Tôi muốn nghe điều chủ yếu, vậy mà chưa được nghe, thiếu tá ạ.
-Một giờ trước đây trung đoàn xe tăng độc lập của Khô-khơ-lốp đã vào cuộc, thưa đồng chí tư lệnh, xe tăng ta đã bắt đầu chiến đấu nhưng kẻ thù vẫn không bị chặn lại, vẫn thọc sâu vào trận địa phòng ngự của ta,-thiếu tá Gla-đi-lin lên tiếng, những giọt mồ hôi long lanh rõ rệt trên vầng trán cao tái nhợt của ông.
-Thọc sâu, thọc sâu… những từ ngữ mỹ miều gớm!-Bét-xô-nốp không hài lòng nói.-Tôi muốn hỏi: bao nhiêu xe tăng? Một đại đội, một tiểu đoàn? Hay là hai chiếc xe tăng? Bao nhiêu nào?
-Có một giả đinh cho rằng, thưa đồng chí tư lệnh.-Gla-đi-lin đáp,-quân Đức đã đưa vào trận lúc chiều cả một sư đoàn xe tăng nguyên vẹn. Theo tôi có tới hai tiểu đoàn đã đột nhập, căn cứ vào…
-Hãy xác định ngay cho chính xác cái giả định của anh!-Bét-xô-nốp xê dịch bút chì trên tấm bản đồ, lại ngắt lời tuy nhận xét của Gla-đi-lin về việc quân Đức đưa vào trận một sư đoàn xe tăng nguyên vẹn phù hợp với giả định riêng của chính ông.-Tôi yêu cầu trước là chớ vội vã báo cáo khi chưa xác định chính xác mọi việc. Chúng ta thường rất hay nghe theo những ấn tượng đầu tiên. Anh đi đi, thiếu tá.
0


Thiếu tá lặng lẽ bước ra, đôi chân thẳng đơ; thậm chí cái gáy phủ tóc hoa râm, tấm lưng ông cũng biểu hiện sự phục tùng vô điều kiện; ông kéo tấm vải bạt, sửa lại mép tấm bạt, sau khi đã đưa cặp mắt mờ đục, sợ sệt nhìn Bét-xô-nốp. Và Bét-xô-nốp nghĩ rằng Gla-đi-lin phó trưởng phòng tác chiến này là một tiểu đoàn không còn trẻ trung gì nữa, mãi vẫn không được thăng chức cho phù hợp với chức vụ tham mưu của mình, rằng ông ta không phải là người ngốc nghếch, nhạy cảm nhưng sự nhu nhược và rụt rè của thiếu tá gây ra một cái gì giống như sự không hài lòng.
Bét-xô-nốp im lặng, mò mẫm vươn người về phía chiếc gậy tựa ở đầu bàn, dựa trên gậy, đứng lên. Tức thì Bô-gi-scô nhảy bật dậy-một giây trước tưởng như anh ta ngồi một cách hiền lành ngắm móng tay của mình-anh nhấc chiếc áo choàng ngắn của Bét-xô-nốp khỏi cái đinh ở gần cửa ra vào hầm ngầm. Giữa lúc mọi người im lặng, Ve-xnin xỏ găng tay, nói đùa:
-Tôi đã sẵn sàng chiến đấu từ lâu, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích.
Rồi ông nhìn Bét-xô-nốp đang vừa hắng giọng vừa xỏ tay vào ống áo choàng do người sĩ quan tùy tùng đưa.
Những tiếng nổ làm cho nền đất của hầm ngầm rung chuyển mạnh, chiếc bút chì đỏ lăn trên tấm bản đồ vì cái bàn nảy lên.
-Tới đài quan sát của Đê-ép,-Và Bét-xô-nốp khẽ gật đầu ra hiệu cho Ve-xnin:-Anh đi cùng xe với tôi chứ, Vi-ta-li I-xa-ê-vich?
-Có lẽ thế… Đi cùng xe tiện hơn.
-Xin cho phép gọi Tít-cốp cùng đi, thưa đồng chí tư lệnh.-Bô-gi-scô nhấc khẩu súng máy tự động ở ghế dài lên.
-Đừng mang theo bảo vệ. Cứ để họ ở đây. Họ cũng chả có việc gì làm ở đó.
Bét-xô-nốp đi về phía cửa ra vào hầm ngầm.
Họ đã nhanh chóng vượt qua chặng đường mười ki-lô-mét tới đài quan sát của Đê-ép.
Lúc họ bước ra khỏi xe, đi xuyên ngang con đường nhỏ ở trong làng chạy dọc bờ sông và bắt đầu theo hào giao thông trèo lên điểm cao dựng đứng, nơi đặt đài quan sát của sư đoàn, Bét-xô-nốp không nhìn thấy hết mọi chi tiết trên khắp chiến trường ở bờ sông bên kia, nhưng những gì mắt ông đã chứng kiến ở bên phải ngôi làng trên bờ sông bên này cũng đủ giải thích cho ông thấy rõ tất cả tính chất nghiêm trọng của tình hình ở đây. Ở phía Tây khoảng trời hoàng hôn giá lạnh hẹp như một cái khe bừng cháy rực rỡ, nóng bỏng, khu làng ở bờ sông phía Bắc cháy rừng rực, bốc khói dưới ánh chiều rực rỡ đó, những đám cháy do dạn cháy gây nên phần phật như những lò lửa riêng rẽ trên đường làng; tuyết đỏ lỏe độc hại, những tiếng nổ liên tiếp bùng lên đỏ chói giữa các ngôi nhà; những chiếc xe tăng khổng lồ nhìn thấy rõ gầm lên ở mé dưới, tiếng súng chống tăng rộ lên vang động khắp rìa làng.
Bốn chiếc xe tăng T-34 của ta vừa bị bắn cháy, chìm lút trong làn khói màu hồng ở phía bên phải, ngay trên bờ sông, thoạt đầu Bét-xô-nốp chưa nhìn thấy rõ xe tăng Đức tiến công từ đâu. Nhưng sau đó ông đã nhận ra. Xe tăng địch lần lượt bò từ dưới bờ sông lên, khạc lửa, phơi vỏ thép ra trước ánh sáng chói chang lúc chiều tà, đi vòng qua những chiếc T-34 đang bốc cháy rồi mất hút giữa những ngôi nhà trong làng.
-Đồng chí trung tướng, đồng chí hãy nhìn kìa.-Bô-gi-scô đi ở phía trước kêu lên, anh cảm thấy say sưa và bị kích động bởi cảnh hỗn loạn đã bắt đầu ở khắp nơi, bởi nỗi hiểm nguy hiển nhiên.-Đồng chí có nhìn thấy “Ca-chiu-sa” không, đồng chí trung tướng? Ở đằng sau các ngôi nhà ấy.-Và anh chỉ tay xuống đường làng chạy ngoằn ngoèo dọc bờ sông phía Bắc, ở phía bên phải điểm cao.
Bét-xô-nốp im lặng, còn Ve-xnin hỏi:
-Anh trông thấy gì ở đó thế hả Bô-gi-scô?
Họ đã lên tới lưng chừng con đường dốc dẫn lên điểm cao, ở đây, từ trên cao nhìn xuống thấy toàn bộ ngôi làng trải ra trước mắt, các khẩu pháo chống tăng của các khẩu đội bắn tới tấp vào các ngã tư đường, những dải hào giao thông tóe lửa đạn, những chiếc xe tăng T-34 của ta đứng sau các góc nhà, nã súng máy về phía bờ sông, tiểu đoàn “Ca-chiu-sa” vừa được đưa vào trận bố trí ở một bãi trống trong làng. Lúc ấy hai giàn “Ca-chiu-sa” ở hai bên rìa lăn bánh, đi về phía ngã tư đường ở đằng sau bộ binh và một loạt đạn nổ chói tai, rít lên đứt quãng, nhả lên trời đám khói tròn màu da cam. Không rõ họ bắn vào ai. Chỉ thấy ngọn lửa bốc lên cuồn cuộn trên các mái nhà giữa các đường làng.
Sau đó xe tăng địch bắn trả, đạn nổ tung dựng lên một cột lửa ngay cạnh một giàn “Ca-chiu-sa”… Ngọn lửa lóe sáng. Giàn “Ca-chiu-sa” thứ hai lùi lại, quay đầu phóng nhanh trên bãi trống. Những tiếng nổ nối tiếp nhau như cơn lốc cuồn cuộn trên đường cái đuổi theo nó, còn giàn “Ca-chiu-sa” thứ nhất nằm đờ ra bất động, đơn độc trên ngã tư. Anh em pháo thủ rời khỏi nó, chạy dọc ra các hàng rào.
-Chả lẽ chúng đã bắn trúng!-Bô-gi-scô thốt lên, vẻ thắc mắc buồn bực.-Chà, tổ sư chúng mày!…
-Đi đi, Bô-gi-scô,-Bét-xô-nốp giục giã phía sau anh,-Đừng dừng lại thế.
-Rõ, thưa trung tướng!
Và Bô-gi-scô rảo bước trong hào giao thông, tay giữ dây đeo súng tiểu liên nhưng cứ trông cái hình dáng nhẹ nhõm và chăm chú của anh cũng có thể thấy là anh hãy còn muốn ngóng nhìn về phía những chiếc xe tăng địch và về phía giàn “Ca-chiu-sa” bị bắn cháy ở gần các chiến hào bộ binh.
0

“Hóa ra Đê-ép đúng,-Giữa lúc ấy Bét-xô-nốp nghĩ, ông khổ sở, nghẹt thở vì phải leo dốc dựng đứng,-Khô-khơ-lốp có hai mươi mốt xe tăng-một trung đoàn xe tăng độc lập.. Vị tất trung đoàn đó có thể chịu đựng được cuộc đột kích, thay đổi được thế trận. Chỉ cốt sao kìm được chân chúng trong một hai giờ! Đằng nào thì cũng không thể dễ chịu hơn chừng nào các quân đoàn xe tăng và cơ giới chưa tới. Dù thế nào cũng phải cầm cự hết mức. Phải có lực lượng dự trữ. Để phản công. Phải giữ lực lượng dự trữ như giữ con ngươi trong mắt mình. Không được phân tán lực lượng. Chỉ cốt sao đừng xé lẻ lực lượng ra thành các phân đội để lấp chỗ trống! Còn Khô-khơ-lốp thì phải phản công, cho dẫu anh ta chỉ còn lạ có một xe tăng”…
-Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích!
Ve-xnin đi trước, sải bước nhanh trên đôi chân dài như chân sếu trong hào giao thông hẹp và khi ông dừng lại, Bét-xô-nốp suýt nữa vấp phải ông. Khuôn mặt trẻ trung đầy lo âu của Ve-xnin tỏ vẻ muốn nói điều gì đó, tựa hồ như ông hết bắn khoăn và Bét-xô-nốp với kính ngắm lọc lõi của mình hầu như đã đánh giá đúng tâm trạng của ông: phải rồi, có lẽ ủy viên Hội đồng quân sự đã ý thức đầy đủ được nguy cơ thật sự đang treo lơ lửng trên đầu sư đoàn Đê-ép ở khu làng phía Bắc bờ sông. Rồi Ve-xnin nói:
-Chà, tôi muốn được là một người lạc quan quá! Nhưng ai mà biết được rồi tình hình sẽ như thế nào! Nếu như chúng bất ngờ đột nhập được vào tung thâm của ta và liên hệ được với đám quân địch bị bao vây ở Xta-lin-grát thì như thế có nghĩa là triệt tiêu kết quả cuộc phản công tháng Mười Một của ta và thế là đi đời nhà ma niềm hy vọng vào bước ngoặt của chiến tranh sau đó mà chúng ta đã nói với nhau! Lại bắt đầu tất cả từ đầu chăng? Tôi không thể hình dung được… và cũng không muốn! Anh giải thích tất cả những chuyện đó như thế nào?
-Cho đến lúc này tôi cũng không lấy gì làm lạc quan lắm-tôi không muốn là một nhà tiên Tri-bi-xốp. Ma-ri-na-sten có ưu thế rõ rệt về xe tăng và không quân,-Bét-xô-nốp đáp.-Tuy vậy tôi nghĩ rằng Xta-lin-grát có tầm quan trọng hàng đầu đối với bọn Đức chỉ vì tình hình của chúng ở Cáp-ca-dơ không ổn. Chúng sợ bị chia cắt vì thế chiến dịch này có tính chất quyết định đối với chúng.
-Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích, tôi đang nói về quân ta cơ mà!-Ve-xnin sôi nổi.-Anh tha lỗ cho, chẳng hiểu vì sao giờ đây tôi không nghĩ tới Cáp-ca-dơ! À mà ngoài trung đoàn của Khô-khơ-lốp ta có nên rút dẫu chỉ một lữ đoàn trong quân đoàn cơ giới của ta để tung vào phản công không nhỉ? Anh thấy thế nào? Bởi vì việc này rất quan trọng!
-Tôi không tin chắc, tôi không thể phân tán xe tăng ra được. Quân Đức sẽ bị sa lầy ở đây nhưng anh thử nói xem, rồi chúng ta sẽ lấy gì để tiếp tục đánh chúng?-Bét-xô-nốp phản đối một cách chắc nịch tuy ông hiểu rõ động cơ thúc đẩy Ve-xnin đưa ra đề nghị này.
Ông cũng hiểu rằng không phải là các chỉ huy sư đoàn cũng như các chỉ huy quân đoàn mà chỉ có ông, tư lệnh tập đoàn quân và Ve-xnin, do cương vị của mình sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm như nhau trong trường hợp chiến dịch này bị thất bại một cách cay đắng, không lệ thuộc vào cái gì và vào ai cả. Hoàn cảnh đó đã gắn bó số phận của họ vào với nhau một cách kỳ lạ, khiến Bét-xô-nốp hơi dịu giọng đi nhưng đồng thời lại gây cho ông mối hoài nghi: trong tình hình tuyệt vọng không lối thoát liệu vị ủy viên Hội đồng quân sự trẻ tuổi này có thể ở lại cùng gánh chịu tránh nhiệm như nhau với ông hay không? Bét-xô-nốp nói:
-Anh có chú ý quá mức tới những vấn đề tác chiến hay không hở Vi-ta-li I-xa-ê-vich?
-Tôi không hiểu anh định nói gì,-Ve-xnin làu bàu nói và sửa gọng kính trên tinh mũi.-Tại sao lại quá mức?
-Tôi cho rằng anh phải băn khoăn nhiều hơn tới những vấn đề về tinh thần quân đội chẳng hạn.
-Quan hệ của chúng ta kỳ lạ thật, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích,-Ve-xnin lấy làm tiếc, nói khẽ.-Anh không để cho tôi gần bên anh đến một mi-li-mét. Vì sao? Để làm gì? Tôi hiểu rằng có thể dùng đầu đập vỡ bức tường thủy tinh dẫu mình bị thương, còn như bức tường bằng bông… giữa chúng ta có một bức tường bằng bông, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích ạ, đúng thế đấy! Thoạt đầu chúng mình xưng hô “cậu cậu mình mình” sau đó chuyển sang “anh anh tôi tôi”. Không hiểu sao anh đã chuyển sang xưng hô như thế mà không chú ý tới.
-Tôi không đồng ý hẳn. Nhưng có lẽ như thế tiện hơn, Vi-ta-li I-xa-ê-vich ạ. Cho cả anh và tôi… Đừng dùng đầu đập vỡ bức tường. Nhất là khi mỗi chúng ta chỉ có một cái đầu. Nằm xuống, chính ủy:…-Bét-xô-nốp khom người xuống, giật mạnh ống tay áo của Ve-xnin.
Những khẩu súng cối sáu nòng của bọn Đức bắn vào đâu đó bên phải, đằng sau điểm cao, tiếng đạn gào rú như súc vật bị bóp cổ, đuôi đạn tên lửa lóe lên ở chân trời, xuyên ngang ráng chiều đầy khói lửa. Đạn nổ trên chóp điểm cao, những cột lửa nóng bỏng xoáy cuồn cuộn. Điểm cao rung lên, chao đảo nặng nề. Mảnh đạn rít vù vù trong gió.
Bét-xô-nốp và Ve-xnin bổ nhào trên nền hào giao thông và nằm như vậy mấy giây, được đất che chở và đồng thời không được che chở trước số phận và sự may rủi. Ai biết được tên trắc thủ Đức có thể xê dịch mấy độ trên kính ngắm?… Bét-xô-nốp cảm thấy nằm như thế bất tiện vì cẳng chân đau của ông bị đè và đồng thời ông kinh tởm bản thân mình, cái thể xác của mình đang chịu đau đớn và sợ cơn đau có thể nhói lên lần nữa, ông trở mình trên mặt đất trước mắt người khác. Ve-xnin tháo kính ra, nhìn ông bằng cặp mắt cận thị với vẻ ngạc nhiên dò hỏi, như có ý nói: “Tướng quân cũng sợ chết cơ à? Hóa ra mọi người đều yếu đuối như nhau trước cái chết”. Nhăn nhó vì bị đau ở cẳng chân, vì sự sỉ nhục mà ông cảm thấy mỗi khi ông “phải hôn mặt đất”, Bét-xô-nốp chặc lưỡi nghiến răng lại như muốn trả lời cái nhìn đó của Ve-xnin: “Không đâu, chính ủy thân mến ơi, tôi không sợ chết đâu, có những sợ chỉ li ti buộc chặt tôi vào cuộc sống, anh bạn thân mến ạ. Tôi chỉ sợ những đau khổ vô nghĩa mà tôi đã nếm quá đủ sau khi bị một mảnh đạn làm vỡ xương cẳng chân”. Nhưng đồng thời ông cũng biết rằng mình sẽ không nói điều gì tương tự như thế với ủy viên Hội đồng quân sự cả: sự cởi mở đó chắc cũng vô nghĩa như việc bị thương hay cái chết trong hào giao thông lúc này.
-Bây giờ chúng không bắn từ phía Nam mà từ phía Tây tới, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích ạ,-Ve-xnin lên tiếng và thở vào mắt kính rồi dùng găng tay lau kính.-Dẫu sao chúng cũng đang đánh thọc sườn ta.
-Từ phía Tây, từ phía Tây à,-Bét-xô-nốp hỏi. Những cục đất lăn từ chiếc mũ lông của ông xuống.-Đứng dậy! Ta đi nào,-ông tự nhủ và lúc lắc đầu.
Khói đạn của địch phủ một lớp sương màu vàng lên các triền dốc của điểm cao, tiếng gọi lo lắng của Bô-gi-scô từ phía trước vọng lại:
-Đồng chí tư lệnh! Đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự! Không ai việc gì chứ?
Thiếu tá Bô-gi-scô chạy ngược hào giao thông lại chỗ họ.
-Còn sống, còn sống cả,-Bét-xô-nốp cau có đáp, không bằng lòng với chính bản thân mình, ông cầm lấy gậy, vươn người lên và không chờ Ve-xnin, quả quyết đi khập khiễng về phía Bô-gi-scô đang chạy lại.-Đừng la hét to thế, thiếu tá. Không cần phải làm như vậy.
-May quá, tôi cứ tưởng các đồng chí đã bị vùi kín, thưa đồng chí tư lệnh,-Bét-xô-nốp thở phào nhẹ nhõm nói.-Chúng bắn dày đặc khiếp! Và như thể bắn từ phía hậu phương vậy!…
Đại tá Đê-ép đã có mặt tại đài quan sát đặt ở ngay trên chóp điểm cao, ông đứng với một tốp sĩ quan gần ống ngắm lập thể, quan sát chiến trường ở bên kia sông nằm dưới ánh chiều tà hồng đang tắt lụi, vụn nát và sặc sỡ vì những chớp lòe muôn màu sắc của lửa đạn nổ tung tóe. Bét-xô-nốp vừa bước xuống hầm sâu của đài quan sát, các sĩ quan đứng nghiêm trước mặt ông, còn các chiến sĩ thông tin ngồi sau máy điện thoại ngẩng đầu lên, Đê-ép được người ở sau lưng báo trước: “Tư lệnh tới”-vội vã rời khỏi ống kính ngắm, hít một hơi thở thật sâu, ưỡn ngực làm căng chiếc thắt lưng da đeo chéo ngoài áo choàng ngắn để chuẩn bị báo cáo.
Ngọn gió nghiệt ngã gào rú trên điểm cao xé rách và cuốn tiếng súng đi khắp nơi. Mọi khuôn mặt đỏ ửng vì ráng chiều và bị gió quất đều lộ vẻ lo lắng chờ đợi, đồng thời đều cảm thấy lờ mờ về tội đã gây ra tình hình phức tạp trong dải phòng ngự của sư đoàn. Bét-xô-nốp lướt nhìn các khuôn mặt rồi nhìn thẳng vào Đê-ép.
-Thưa đồng chí tư lệnh!-Đê-ép bắt đầu báo cáo bằng giọng nam trung tươi trẻ (cái cổ chắc nịch như đúc bằng đồng của anh nhô ra từ cổ lông của chiếc áo choàng ngắn và Bét-xô-nốp thầm nhận xét rằng vị đại tá cao lớn, tóc hung hung đỏ với cái cổ và đôi vai chắc nịch, trẻ trung, như lực sĩ, chưa hề bị thương bao giờ có lẽ suốt đời chưa ốm lần nào).-Một giờ trước đây quân Đức đã đè bẹp các đơn vị của ta đưa sang bố trí ở phía trước, bên kia sông, đột kích qua tuyến hầm hào thứ nhất, dùng lực lượng tới hai tiểu đoàn xe tăng cường tập qua sông chếch về hướng Đông và Tây điểm cao, lọt được vào rìa làng ở bờ phía Bắc… Một lữ đoàn pháo chống tăng chống lại chúng. Trung đoàn xe tăng cũng đã được tung ra…-Đê-ép đột nhiên lúng túng.-Tình hình trên phía cánh trái của sư đoàn là nghiêm trọng, thưa đồng chí tư lệnh.
-Tôi biết, đại tá ạ,-Bét-xô-nốp nói.-Chỉ có điều đồng chí hãy nói nốt đi. Tình hình nguy ngập là do địch đánh lấn tới hay chúng vây bọc từ hậu phương ta? Có lẽ đúng như thế chăng? Chúng đã chọc thủng sườn của các anh? Hình như ở Học viện quân sự người ta dùng chữ như thế phải không nhỉ?
-Tôi chưa tốt nghiệp Học viện, thưa đồng chí tư lệnh.
-Đồng chí chưa tốt nghiệp à? Tiếc thật. Ấy thế nhưng dẫu sao…-Bét-xô-nốp bất ngờ liên tưởng tới cuộc trò chuyện dường như đã xa lắc xa lơ tại Đại bản doanh về những năm tháng học tập của mình tại Học viện quân sự, những câu hỏi về tướng Vla-xốp và ông cắm gậy xuống đất, bước về phía kính ngắm lập thể.-Vả chăng điều ấy giờ đây cũng không quan trọng lắm, đại tá ạ.-Và ông quay người lại phía các sĩ quan từ các ngách hầm lặng lẽ dồn tới.-Dẫu sao… quyết định đã được chấp nhận rồi, Đê-ép ạ. Trung đoàn xe tăng của Khô-khơ-lốp phải phản công để đánh bật xe tăng địch khỏi vị trí bàn đạp. Đưa toàn bộ trung đoàn tên lửa mặt đất tới đây. Và đồng chí hãy truyền đạt mệnh lệnh của tôi tới chỉ huy các trung đoàn bộ binh.-Bét-xô-nốp lại nhìn Đê-ép như thể ông dùng cái nhìn nặng trĩu đó để dằn từng lời một.-Các trung đoàn phải chiến đấu trong bất kỳ tình huống nào. Chiến đấu đến quả đạn cuối cùng. Đến viên đạn cuối cùng. Điều chủ yếu là kìm chân bọn Đức và tiêu diệt xe tăng. Bằng mọi phương tiện! Không được lùi một bước nếu không có lệnh của tôi! Tôi không cho phép rút lui! Tôi yêu cầu anh hãy luôn luôn nhớ lấy điều ấy! Rõ chưa, đại tá Đê-ép?
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»