📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

TUYẾT BỎNG (YURI VASSILIEVITCH Bondarep) 🔒

121 trả lời, 31.981 lượt xem — Trang 3 / 5

Ông không muốn trấn an, bào chữa, lừa dối bản thân mình-ông tới điểm cao này với mệnh lệnh đã được chuẩn bị, nghiền gẫm kỹ, hoàn toàn tin tưởng rằng mệnh lệnh nhẫn tâm có ý thức đó là giải pháp duy nhất có thể được trong tình hình hiện nay, ông đã hình dung trước tổn thất của các trung đoàn mặc dầu rằng có thể là một giờ sau ông sẽ liều đưa ra một mệnh lệnh khác: đưa thê đội hai của quyết định hoặc lực lượng dự trữ của tập đoàn quân vào chiến đấu. Nhưng cả Bét-xô-nốp cũng như không có một người nào khác có thể thấy trước được tình hình biến động sẽ diễn ra như thế nào sau một, hai giờ nữa, nghĩa là tình hình chung của toàn bộ tập đoàn quân, lúc không còn có thể sửa chữa cái gì được nữa.
Giống như một người làm ăn thua lỗ bị mất hết những đồng tiền cuối cùng, biết rằng không còn gì dự trữ nữa, khi đưa lực lượng dự trữ vào trận, bao giờ Bét-xô-nốp cũng cảm thấy sự bấp bênh nào đó của tương lai, khoảng trống không gì lấp được sau lưng ông. Lúc ấy ông tưởng như tất cả đều bấp bênh, tay không. Chính vì thế ông hết sức keo kiệt giữ lực lượng dự trữ của mình đến hết mức, giữ cho tới lúc tình thế trở nên liều lĩnh không thể chịu đựng được, giống như một sợi dây đàn căng quá, sắp đứt đến nơi và không làm sao sửa lại được. Trước đây ông đã thành công. Trước đây ông đã gặp may. Và Bét-xô-nốp nói tiếp:
-Đó là toàn bộ mệnh lệnh cho tới lúc này, đại tá ạ. Tôi sẽ ở lại đài quan sát của anh cho tới lúc cuộc chiến đấu kết thúc. Phải bám trụ tới người cuối cùng trên các tuyến đã chiếm lĩnh. Đối với tất cả mọi người, không trừ một ai chỉ có thể có một nguyên nhân khách quan khiến phải rời bỏ vị trí: đó là cái chết…
Ông thốt những lời đó lên bằng giọng nói quen thuộc mà Ve-xnin đã nghe thấy trong lần gặp người lính xe tăng trên đường hành quân, cái giọng thẳng thừng và thậm chí nhỏ nhẹ dường như phát ra làn sóng chết người của những mệnh lệnh và khi nghe giọng nói đó của ông, Ve-xnin muốn ngoảnh mặt đi, không dám nhìn vào khuôn mặt đanh cứng, ốm yếu với chiếc miệng nhòn nhọn của ông.
“Thì ra anh ấy là người như thế! Nghĩa là mìng không nhầm. Chính do thế mà trước khi anh ấy tới tập đoàn quân đã loang đi tin đồn về sự tàn nhẫn của anh ấy”,-Ve-xnin nghĩ, đưa mắt nhìn Đê-ép đang lặng lẽ đưa tay lên chào sau khi nghe mệnh lệnh của Bét-xô-nốp. Và để bào chữa cho Bét-xô-nốp ông lại nghĩ: “Không, có thể là anh ấy không cần phải đi sâu vào chi tiết. Đúng thế, anh ấy muốn tuyên bố rằng anh ấy sẽ thẳng tay với tất cả mọi người, kể cả đối với chính bản thân mình…”.
Và lúc ấy như thể vô tình, gián tiếp làm dịu nhẹ cái mệnh lệnh vừa phát ra một cách lạnh lùng đanh thép, Bét-xô-nốp khẽ mỉm cười với Đê-ép.
-Đi đi, đồng chí đại tá. Anh hãy hoàn thành nhiệm vụ của mình đi nếu như anh đã hiểu rõ tất cả.
-Tôi đã hiểu rõ cả, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự,-Đê-ép đáp bằng giọng nam trung, đưa đầu bao tay chạm vài thái dương màu hơi hung hung dưới chiếc mũ lông nhàu nát đội lệch.
Tiếp đó các sĩ quan khác cũng giải tán, tản về các vị trí của mình. Căn hầm vắng teo.
-Có lẽ cần phải làm sao tế nhị hơn, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích ạ…-Ve-xnin nói giọng trách móc khi chỉ còn lại hai người với nhau.
-Tôi thấy không cần phải tìm một hình thức khác để diễn đạt vì nội dung cũng chỉ là một mà thôi. Tôi không thể làm khác được, Vi-ta-li I-xa-ê-vich ạ! Tôi cho rằng kết cục của chiến dịch này không chỉ lệ thuộc vào chúng ta, như anh đã nói rất đúng, mà còn lệ thuộc vào một cái gì lớn lao hơn nhiều, cho nên không thể nói đến chuyện ngọt ngào được!
Bét-xô-nốp đứng bên cạnh kính ngắm và Ve-xnin lại trông thấy khuôn mặt lạnh lùng, xa lạ, khó gần của ông.
Thiếu tá Bô-gi-scô đứng cách ông hai bước, theo dõi vị tư lệnh với vẻ mặt ngoan ngoãn sẵn sàng chấp hành ngay bất kỳ mệnh lệnh nào, dựa theo cử chỉ nhỏ nhặt của Bét-xô-nốp, theo cái gật đầu của ông hoặc chỉ một lời nói của ông. Từ lúc hành quân anh đã cảm nhận thấy sự kiên quyết cứng rắn của thủ trưởng và đã biết cách xử sự thích hợp. Chính vì thế Ve-xnin thấy khó chịu vì ông đã biết Bô-gi-scô từ lâu, cũng có lòng quý mến anh thấy anh nổi bật lên trong đám sĩ quan tùy tùng bởi tính tình cởi mở, thoải mái.
Trong lúc ấy Bét-xô-nốp rụt đầu trong cổ áo choàng nhìn hồi lâu về phía chiến trường ở bên dưới, phía trước điểm cao. Tất cả khoảng không ở bên kia, những khúc sông ngoằn ngoèo, mặt băng trên sông bị bom đạn cày xới thành những vết đen lỗ chỗ, dải bờ sông cao, từ đó các khẩu đội của ta liên tiếp nhả đạn, những triền dốc thoai thoải của điểm cao bên kia cái khe rộng ở bên trái ngôi làng, nơi những làn đạn xe tăng bùng lóe lên trong làn khói kéo dài khắp mặt trận,-tất cả chìm ngập trong ánh hoàng hôn đỏ như máu, tất cả xáo trộn, chuyển dịch, đan kết vào nhưu thành những ngọn lửa lớn nhỏ, sắt thép, dầu mỡ, xăng cháy trên mặt đất, những lưỡi lửa tang tóc, tạt xiên kéo dài như những dải áo và tưởng chừng như do những đám cháy và do ánh hoàng hôn tuyết cũng bùng cháy lên.
Cảnh hỗn loạn đó, cảnh trái phá bay ngang dọc đó ở gần bờ sông và không xa, ngay phía trước điểm cao, nơi đặt đài quan sát của sư đoàn-toàn bộ quang cảnh trận đánh nhìn thấy trong tầm mắt và khó phân biệt vì chìm trong khói ở phía Bắc khu làng, nơi xe tăng Đức đã đột nhập tới và mới đây các khẩu “Ca-chiu-sa” đã nã vào tất cả những cái đó đối với Ve-xnin tưởng như đã quá rõ ràng, không còn nghi hoặc gì nữa đến mức ông thấy thật khó hiểu vì sao lúc này Bét-xô-nốp im lặng, còn khuôn mặt gầy gò, nhuộm đỏ ánh hoàng hôn của ông lại tỏ vẻ kinh tởm lạ lùng. Và Ve-xnin cũng chả nói gì, ông xúc động không phải vì nỗi hiểm nguy đang vây quanh mình, không phải vì sợ nguy hiểm mà vì ông tưởng chừng như cả Bét-xô-nốp cũng như Bô-gi-scô đều chưa cảm thấy và chưa trông thấy những gì ông đã trông thấy và cảm thấy trong giây phút đó.
Ve-xnin nhìn thấy xe tăng địch ở bên kia sông phía trước điểm cao đang tiến theo hình vòng cung tới bờ sông, vượt qua sông ở phía bên trái, bò trong đám khói mờ mịt, ngày càng thọc sâu vào dải phòng ngự của sư đoàn, ông thấy pháo chống tăng ở bờ sông phía Bắc nã súng vào đám xe tăng đó và một vài khẩu pháo ở bờ phía Nam bị địch vòng qua bỏ lại sau lưng cũng quay hẳn nòng pháo lại, bắn vào chúng từ phía sau. Xe tăng địch vẫn cứ tiến, những cái bóng xám đỏ vẫn cứ bò từ đám sương mù sang sáng ra, vượt sông sang bờ phía Bắc qua chiếc cầu đã bị phá hủy một nửa ở phía bên trái điểm cao. Tiếp đó ngọn lửa lan ra, đỏ lòe ở trên cầu-một chiếc xe tăng Đức bốc cháy giữa cầu nhưng lập tức chiếc xe tăng khác bò tiếp lên cầu, đang đà chạy nó dùng đầu húc vào chiếc xe bị cháy khiến chiếc xe này rơi ùm từ trên cầu xuống mặt băng trên sông, chìm trong hố băng to, nhô chiếc tháp đen ngòm, còn những chiếc xe tăng khác vẫn cứ tiếp tục đi trên chiếc cầu đã được giải tỏa.
Lúc ấy Ve-xnin quay nửa người lại và ông lại trông thấy một bên má cạo nhẵn thín, loáng ánh hoàng hôn của Bét-xô-nốp vẫn đứng gần kính ngắm, ông nói với vẻ bồn chồn không che giấu:
-Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích, anh hãy nhìn lên cầu mà xem! Tôi không hiểu sao công binh lại không kịp phá cầu nhỉ? Hay là bọn Đức đã bắc lại?
Bét-xô-nốp đưa đôi mắt nặng như chì, có sức áp đảo, lướt nhìn về phía cầu, từ khi ông đến đài quan sát này, cái nhìn đó tựa hồ như đè nén và đẩy mọi người xa ông; giọng ông vang lên mệt mỏi:
-Tôi cũng vậy, tôi đứng và nghĩ: tại sao họ vẫn chưa phá hủy chiếc cầu? Có thể làm việc đó được không? Yêu cầu chủ nhiệm pháo binh lại gặp tôi!
-Chủ nhiệm pháo binh lại gặp trung tướng,-mọi người truyền đạt mệnh lệnh trong hầm.
Chủ nhiệm pháo binh của sư đoàn, một đại tá vóc người tầm thước với khuôn mặt trí thức, phương phi, bước lại gần Bét-xô-nốp, hai tay duỗi thẳng bên sườn, thận trọng nhìn Ve-xnin mà ông ta quen biết từ hồi thành lập đơn vị, và đáp lại cái nhìn dò hỏi đó, Ve-xnin vội nói, tránh giải thích chi tiết:
-Vị thần chiến tranh ạ, lúc này mọi hy vọng đều đặt vào anh đấy! Anh hãy cho bắn vào chiếc cầu! Hãy đốt cháy, tiêu diệt chiếc cầu này! Anh có trông thấy những gì đang xảy ra ở đó không?
Rất tiếc là chúng ta vẫn còn chưa giũ bỏ được thói quen chiến đấu dựa vào may rủi như hồi bốn mốt!-Bét-xô-nốp hướng về phía chủ nhiệm pháo binh nói cũng bằng một giọng mệt mỏi như vậy.-Dẫu sao cũng có thể dùng pháo binh phá hủy lối qua sông trước đi nếu như công binh không làm kịp chứ? Anh nghĩ thế nào, đại tá? Hay đó là chuyện ngoài sức tưởng tượng?
-Thưa đồng chí trung tướng,-chủ nhiệm pháo binh nói, cố gắng tỏ ra là một người am hiểu công việc của mình khi trả lời Bét-xô-nốp,-chiếc cầu này luôn luôn nằm dưới tầm hỏa lực của chúng tôi nhưng bọn Đức đã khôi phục lại. Xin đồng chí hãy nhìn ra chỗ qua sông. Đại bác 152 mi-li-mét của ta bắn liên tục. Tôi hy vọng rằng…
Nhưng Bét-xô-nốp ngắt lời ông:
-Nếu như xe tăng địch qua cầu được thì như thế có nghĩa là, đại tá ạ, chiếc cầu còn hoàn toàn nguyên vẹn. Tôi tin vào những gì mắt tôi nhìn thấy.-Ông dùng cái gậy trỏ về phía chiếc cầu đã chìm trong khói.-Luật tán xạ à? Xác suất trúng đích ít à? Thế tại sao luật tán xạ của bọn Đức…
Ông không nói hết câu, tiếng đạn súng cối sáu nòng của địch nổ chói tai át tất cả mọi tiếng nói trên điểm cao. Đuôi đạn dài như sao chổi thiêu đốt, che khuất khoảng trời hoàng hôn ở phía Tây. Điểm cao như bị nứt ra vì động đất, ngọn lửa nóng bỏng vun vút quay tròn như đu quay trên triền dốc. Đúng lúc ấy có người ép mạnh ông vào vách hầm đang rung lên để che chở cho ông: đó là thiếu tá Bô-gi-scô. Anh nói với cái giọng có phần nghiêm khắc, kiên quyết:
-Đồng chí trung tướng, nằm xuống!…
Lập tức Bét-xô-nốp nhận thấy sự chăm chú bất chợt của mọi người ở trong hầm, những cặp mắt nhìn chằm chặp vào ông như có ý hỏi: “Đồng chí có nằm xuống hay không? Nếu đồng chí nằm chúng tôi cũng sẽ nằm. Có mặt cấp trên mà vội vã hôn đất quá có thể sẽ bị hiểu lầm”.
Còn chủ nhiệm pháo binh không rời khỏi bờ công sự nửa bước, nhìn chằm chằm về phía chiếc cầu, thậm chí ông cũng không khom lưng và cúi đầu; sau đó ông đi trong hào giao thông về phía những chiếc máy điện thoại của mình với cái vẻ dường như hoàn toàn dửng dưng trước những tiếng nổ rung chuyển trên điểm cao.
-Đại tá!-Ve-xnin kêu lên trách móc.-Sao anh lại đi dưới bom đạn như một chú bé mới đến trường thế hả!-Và ông khom người xuống diềm thành công sự.
0

Trong giây phút đó Bét-xô-nốp bực bội với mình và càng bực bội hơn với các sĩ quan đang chờ đợi, với vi chủ nhiệm pháo binh khi nghĩ rằng họ không muốn vội vã ẩn nấp trước mặt ông, ông khẽ gạt Bô-gi-scô ra, cau mặt, ì ạch ngồi xuống đáy hầm, mệt mỏi nheo mắt lại, ra lệnh:
-Không được đứng! Mọi người vào hầm trú ẩn!
Ông không rõ mọi người có nghe rõ mệnh lệnh của ông giữa tiếng nổ ầm ầm trêm điểm cao hay không, nhưng mọi người đều đã nằm xuống. Bét-xô-nốp hé mi mắt nhìn vào một điểm trước mặt-vào chiếc ủng của Bô-gi-scô là người nằm ép xuống cạnh chân ông và một ý nghĩ kỳ quặc, khó chịu cứ ám ảnh ông: “Vì sao đôi khi vào những lúc như thế này chúng ta lại cứ sợ biểu lộ tình cảm một cách thành thực nhỉ? Tại sao nhiều lúc chúng ta muốn tỏ vẻ can trường một cách ngu ngốc, giả dối, chúng ta muốn lòe đời? Tại sao chúng ta giấu giếm tất cả những gì bình thường, có chất người? Họ nghĩ gì về mình nhỉ? Một cái máy đầy quyền uy không có tim và thần kinh chăng? Hạnh phúc quân nhân của mỗi người đều lệ thuộc vào ý kiến của mình và thậm chí cả đến nỗi hiểm nguy trước cái chết cũng không thể làm cho chúng ta bình đẳng hay sao? Họ có nghĩ về mình như vậy hay không?
Nhưng khi ngồi trong chiến hào, nêu lên những câu hỏi đó cho chính bản thân mình ông đồng thời cũng hiểu rõ rằng không bao giờ ông cho phép ai lăng xăng quá mức ở đài quan sát và chắc ông sẽ không tha thứ cho việc bổ nhào quá vội vã xuống đất lúc địch bắn phá cũng như chắc ông sẽ không tha thứ, bỏ qua cho sự chậm chạp không được phép trong chiến đấu,-dù họ biết hay không biết điều đó ông cũng không thể làm một người khác thế.
Chiếc ủng của Bô-gi-scô dính đầy đất, động đậy trên đáy hầm ngay trước mắt ông mỗi khi có tiếng nổ lại cố duỗi ra cho thoải mái hơn, Bét-xô-nốp lại nghĩ tới cái cầu chưa bị phá hủy, ông không thể nén được nỗi buồn bực gần như tức giận, khẽ nói:
-Gọi đại tá Đê-ép tới gặp tôi.
Tiếng nói đó của ông buộc Bô-gi-scô phải chồm dậy-chiếc ủng lấm đất sét biến khỏi mắt ông trong chốc lát. Sau đó Bô-gi-scô quay lại, ngồi trên đáy hầm, vội vã báo cáo: “Mọi việc đều ổn cả, thưa đồng chí tư lệnh”, vừa lúc đó đại tá Đê-ép lom khom chạy từ ngách hào giao thông tới gần Bét-xô-nốp, ngồi thụp xuống mặt đất-chiếc mũ lông nhàu nát bám đầy đất, cái cổ đỏ gân guốc nhô khỏi cổ áo choàng ngắn, đôi lông mày màu hung nhúc nhích. Đê-ép không hấp tấp nói: “Tôi đã có mặt theo lệnh của đồng chí, thưa đồng chí trung tướng”. Vì nói như thế là không tiện trong tư thế ngồi trên mặt đất và Bét-xô-nốp đã đứng trước ông:
-Tôi nảy ra ý nghĩ như thế này, đại tá-môi ông hơi chành ra để cho những người ngồi bên cạnh không nghe tiếng-chẳng hiểu sao luật tán xạ lại không ngăn cản bọn Đức bắn khá chính xác vào điểm cao. Anh có nghĩ rằng nếu như bọn Đức ngồi trên đài quan sát này còn xe tăng của ta đi ở phía dưới đó thì liệu chúng có tìm được cách gì đó để phá hủy cầu hay không? Anh không nghĩ tới chuyện đó à?
-Tôi cũng thoáng nghĩ tới, thưa đồng chí tư lệnh. Nhưng vấn đề là ở chỗ…
Đạn địch rít lên nổ thành những vòng tròn quay tít trên khắp điểm cao, tiếng gang nổ chát chúa xoáy vào đầu, đất vụn rơi từ phía trên ập xuống hầm, sỏi đá rơi rào rào trên vai Bét-xô-nốp, những tia nước bẩn chảy trên cổ áo bằng lông cừu của Đê-ép, trên ngực ông và ông cau có giũ những cục tuyết sẫm màu khỏi chiếc áo choàng ngắn.
-Đồng chí cứ nói tiếp đi.
-Thưa đồng chí tư lệnh,-sau cùng Đê-ép nói,-vấn đề là ở chỗ, bọn Đức đã chở công binh đi theo xe tăng. Và lối qua sông được bọn này khôi phục ngay mỗi khi pháo binh ta bắn hỏng cầu.-Ông dừng lại một lát.-Chỉ còn lại một cách, thưa đồng chí tư lệnh: đưa hai giàn “Ca-chiu-sa” tới bắn thẳng, cố nhiên nếu như không bị xe tăng đột kích của địch phá hủy trên đường vào làng.
-Thế nếu như các giàn “Ca-chiu-sa” giờ đây không thể tiếp cận được chiếc cầu thì sao?-Ve-xnin hỏi, ông lau cẩn thận đôi mắt kính bị những vết bùn nóng bỏng đặc quánh rơi xuống hầm bắn vào.-Lúc ấy thì sao?
-Đúng, đúng là chúng ta có thể mất chúng, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự. Chúng ta liều mất mấy giàn “Ca-chiu-sa”.
-Anh hãy liều đi,-Bét-xô-nốp nổi xung lên, cao giọng.-Tôi cho anh một phút để suy nghĩ về sự liều lĩnh đó! Anh được tự do.
Tuy nhiên, một phút đối với Đê-ép cũng là quá nhiều. Ông bò từ chỗ Bét-xô-nốp tới chiếc máy điện thoại gần nhất và lập tức từ chỗ đó vang lên giọng nam trung trầm lắng:
-Hãy ghi nhớ kỹ lấy, hỡi vị thần chiến tranh! Xin lỗi, một cái dằm đâm vào tay bao giờ cũng khó chịu đấy! Anh hãy gọi hai giàn “Ca-chiu-sa” tới bắn thẳng vào chiếc cầu. Chúng ta sẽ liều! Địch sẽ nhìn rõ pháo của ta khi ta đi ngay trước mũi xe tăng chúng! Anh hiểu ý tôi chứ? Phải làm thế nào để sao hai mươi phút không còn ai nhắc nhở gì tới chiếc cầu đó nữa! Để sau hai mươi phút không còn vết tích gì của chiếc cầu đó nữa! Rõ chưa? Tôi không muốn nghe nói tới nó nữa,-Đê-ép say sưa và hung dữ nói rõ hơn và Bét-xô-nốp ngoảnh mặt đi tránh không nhìn cái cổ trẻ trung gân guốc phồng lên vì la hét, cái gáy đỏ lưng của Đê-ép, ông cảm thấy khó chịu vì tuy cho phép mình xẵng giọng nhưng ông lại không thể nào chịu đựng được sự xẵng giọng ở người khác, ông nghĩ bụng: “Chả lẽ Đê-ép bắt chước mình?”.
-Giọng của đồng chí Đê-ép ghê thật, át hàng trăm máy hát và tiếng đạn pháo như chơi,-Ve-xnin ngạc nhiên nói đùa và ông đưa mắt quan sát vách hầm phía Bắc đang rỉ ra những tia đất.
0

Bét-xô-nốp thấy vẻ mặt ông có vẻ chăm chú, y như thể Ve-xnin đã nắm bắt được hoặc muốn nắm bắt điều mà Bét-xô-nốp không nghe thấy trong tiếng rít và tiếng ầm ầm xói trên nóc hầm của những quả đạn tên lửa do súng cối sáu nòng của địch phóng từ bên kia sông sang.
-Khô-khơ-lốp!-Ve-xnin kêu to, đôi mắt cận thị của ông chỉ về phía vách hầm phía Bắc.-Xe tăng T.34 của ta đang ầm ầm kéo vào làng. Nghe tiếng tôi biết! Chà chà, thằng địch lúc này rồi gay đây!…
“Đúng, hai mươi mốt chiếc xe tăng”-Bét-xô-nốp nghĩ, ông hình dung cuộc phản công của trung đoàn giữa các đường làng và không đáp. Việc trung đoàn xe tăng của Khô-khơ-lốp ra trận cố nhiên không thể làm thay đổi tình hình một cách cơ bản, không thể loại trừ, thủ tiêu mối nguy cơ thật sự đang lơ lửng trên đầu sư đoàn đang bị bao vây, nỗi hiểm nguy trên cánh phải của tập đoàn quân. Và ông cũng không muốn tự lừa dối để trấn an tinh thần: cuộc phản công của Khô-khơ-lốp chỉ đủ sức kìm chân xe tăng Đức đã đột kích được sang bờ phía Bắc trong một thời gian nào đó, buộc chúng sa lầy trong những cuộc chiến đấu trên đường làng-chứ không làm hơn được. Nhưng như thế cũng dễ chịu lắm rồi. Và nhiều điều phụ thuộc vào việc đó. Như trong một ván bài với một vài dữ kiện, Bét-xô-nốp luôn luôn bị giày vò vì điều ông chưa nắm được rõ: có đúng là bọn Đức vào buổi chiều đã tung ra cả một sư đoàn xe tăng nguyên vẹn lấy từ lực lượng dự trữ hay không và nếu như chúng đã đưa ra thật thì trong tay chúng còn cái gì nữa, và còn phải chờ đợi ngón đòn gì của chúng nữa, chúng định dùng cái gì làm chủ bài? “Lúc này chúng đang quyết định điều gì ở chỗ Man-sten?”-Bét-xô-nốp nghĩ, ông nhìn Bô-gi-scô đang nạy đất khỏi thân ủng và ông tiếc rẻ nhớ tới đội trinh sát của sư đoàn không trở về, ông dướn cặp mi nặng trĩu lên nhìn vào khuôn mặt trầm ngâm của Ve-xnin đang rất chăm chú và tựa hồ như tin tưởng lắng nghe những âm thanh mới của trận đánh ở trong làng, nơi trung đoàn Khô-khơ-lốp mưu toan chặn đứng, kìm chân xe tăng địch đang tiến sang bờ phía Bắc.
“Đợt pháo kích này sẽ kéo dài bao lâu? Năm phút chăng? Hay mười phút? Chúng nó bắn không tiếc đạn…”.
-Mời đồng chí tư lệnh tới nghe điện thoại!-Có tiếng nói vang lên trong hầm, Bô-gi-scô lập tức nhắc lại ngay:
-Có điện gọi đồng chí, thưa đồng chí tư lệnh!…
“I-a-xen-cô!-Bét-xô-nốp đoán ra và lo lắng nhúc nhích người.-Mãi không có liên lạc. Tình hình ở chỗ đồng chí ấy thế nào? I-a-xen-cô sẽ nói gì lúc này?”.
Cố gắng để không đè lên cẳng chân bị thương tê dại, ông đứng dậy, lúc ấy thiếu tá Bô-gi-scô hết sức ân cần đỡ lấy khuỷu tay ông, vẻ mặt như có ý yêu cầu: “Đồng chí trung tướng, tôi chỉ xin đồng chí đừng đứng thẳng người lên” và Bét-xô-nốp nhếch mép cười, nói:
-Tôi xin báo trước cho anh biết, Bô-gi-scô, anh đừng chăm nom tôi quá quắt như chăm nom một phu nhân già vậy và cũng đừng coi tôi như một ông lão lụ khụ.
-Đâu phải thế ạ, thưa đồng chí tư lệnh!-Bô-gi-scô đáp, giọng phấn khởi và rõ ràng là viên sĩ quan tùy tùng nói dối: căn cứ vào cách đi đứng của Bét-xô-nốp và những nếp nhăn mệt nhọc, vào cái giọng rin rít, vào vẻ mặt ốm yếu khô khan anh chàng thiếu tá hai mươi bảy tuổi cố nhiên đã coi ông như một ông lão-và cũng không thể nào làm khác được, không phải có sự cách biệt về tuổi tác ngăn cách họ.
Trước khi bước lại gần căn hầm ngầm thông tin, Bét-xô-nốp dừng lại và nhìn một lần nữa qua bờ công sự, hy vọng nắm bắt được những thay đổi trên chiến trường. Những đám cháy phần phật trên thảo nguyên hòa quyện với hoàng hôn rừng rực còn chưa tắt lụi ở chân trời. Và ở tít xa về phía đó, trong ánh hoàng hôn, từng tốp máy bay tiêm kích sáng lóa của ta và của địch đang nhào xuống, vút lên như một bầy muỗi, quyện chặt vào nhau. Trận không chiến vẫn diễn ra trong những dải khói đen bắt chéo nhau, từ mặt đất nhìn lên thấy thật khó hiểu. Còn ở phía dưới thấp hơn, máy bay cường kích của ta vẫn lao đi từng cặp một, tưởng chừng như chúng nhào vào nơi tận cùng của thế giới.
Gần hơn, phía trước mặt điểm cao và trên các triền dốc của cái khe, xe tăng địch đi thành hình vòng cung rộng vẫn cứ từ từ siết lấy bờ sông ngày càng chặt hơn. Hoàn toàn không thể nhìn rõ chiếc cầu ở phía tay trái, bị chùm lút trong tiếng nổ dày đặc, trong khói lửa mịt mù sôi sục. Hàng chục chiếc xe tăng cụm lại phía trước chiếc cầu đã bị bắn cháy rụi. Hai giàn “Ca-chiu-sa” của ta cháy rừng rực ở rìa làng, có lẽ đó là các giàn căn cứ đã được gọi tới.. Xe tăng địch tản ra rồi lại bò tới chỗ qua sông dưới hỏa lực trực tiếp của các tiểu đoàn chống tăng bắn từ bờ Bắc sang, còn từ bờ phía Nam, ngay trên bờ sông cao, một khẩu pháo bắn tới tấp, quay ngược hẳn nòng lại và khói đạn địch bắn trả trùm kín lên nó. Khẩu pháo đó biến mất, chìm lút trong bóng tối rồi lại xuất hiện, những phát súng lóe lên từ đó…
Bét-xô-nốp nghĩ chắc lúc rạng sáng ông đã có mặt ở chính cái khẩu đội nơi giờ đây có một khẩu súng đơn độc đang bắn đó và ông muốn nhớ lại cái họ quen thuộc của người chỉ huy khẩu đội.
Nhưng ông không nhớ ra được và cũng không cố nhớ. Một ý nghĩ khác đã gạt bỏ mọi ý nghĩ trong đầu ông: cảm thấy thắng lợi, bọn Đức vội vã dấn sâu và mở rộng cuộc đột kích trước khi trời tối. Và ông còn nghĩ rằng có lẽ tình hình trận đánh đã tới lúc nguy kịch nhất, đã lên tới cực điểm, lúc sợ dây đã căng hết mức chỉ chực đứt tung ra.
0

Chương mười lăm


Căn hầm ngầm nằm dưới ba lớp súc gỗ dày vì thế nên luôn luôn yên tĩnh, mọi âm thanh của trận đánh vọng qua các súc gỗ dày và đất đá yếu đi rõ rệt. Ở đây có thể nghe rõ tiếng người một cách bình thường. Ban đêm, hai ngọn đèn “con dơi” cháy sáng. Giống như những ngọn đèn pha nhỏ, hai ngọn đèn lồng lúc lắc đều đều dưới lớp đất, gỗ dày, chiếu ánh sáng vàng xuống những khuôn mặt râu ria tua tủa, những chiếc bản đồ và những chiếc máy điện thoại đặt trên hai cột lớn.
Chủ nhiệm pháo binh vừa nói chuyện với trung đoàn trưởng trung đoàn súng cối bắn đạn tên lửa, đặt ống nghe lên bản đồ, quay nửa người lại định báo cáo. Nhưng Bét-xô-nốp gật đầu ra hiệu chặn ông ta lại vì biết rằng ông ta sẽ báo cáo về việc dùng mấy giàn “Ca-chiu-sa” bắn cháy chiếc cầu rồi ông đi giữa những cặp mắt chăm chú dõi theo của anh em phụ trách máy về phía ngách hầm ở xa nơi đặt máy điện thoại và vô tuyến giữ liên lạc với bộ tham mưu tập đoàn quân.
Là một sĩ quan tùy tùng từng trải, đã được huấn luyện kỹ, Bô-gi-scô không bước vào ngách hầm, khép cửa lại sau lưng Bét-xô-nốp và đứng ở ngay gần lối vào. Với vẻ mặt vui nhộn của một chàng trai xởi lời, anh nháy mắt với anh chàng thiếu úy thông tin trẻ tuổi đang tò mò nhìn anh. Anh xoa mạnh hai bàn tay vào nhau rồi rút ở túi áo choàng ra bao thuốc lá “Pu-sca” choáng lộn, rút một điếu.
-Hút thuốc đi, thiếu úy!-Bô-gi-scô nói bằng một giọng vừa thân ái vừa bí ẩn, rồi đột ngột chuyển sang xưng hô cậu cậu, mình mình một cách thân tình như đã quen nhau từ lâu.-Cậu khỏe chứ?
-Cũng thường thôi, đồng chí thiếu tá ạ. Gì cơ anh?-Thiếu úy lóng ngóng rút điếu thuốc, chưa hiểu rõ lắm nguyên nhân cuộc trò chuyện này.-Cám ơn đồng chí thiếu tá.
-Quang cái kiểu gọi “thiếu tá” của cậu đi. “Thiếu tá” nghĩa là cái gì?-Bô-gi-scô nói khẽ.-Suốt đời cậu tơ tưởng được là thiếu tá à? Tên cúng cơm của mình là Ghen-na-đi… Cậu đã đi xem xiéc bao giờ chưa? Chưa xem à? Trông đây này.
Bô-gi-scô mỉm cười một cách bí hiểm, khẽ vung cánh tay lên và xòe các ngón tay ra trước mặt anh chàng thiếu úy đang nhấp nháy mắt-bao thuốc lá đã biến mất, sau đó anh lại vung tay trong không khí-bao thuốc lá lại xuất hiện trong lòng bàn tay. Anh chàng thiếu úy không biết rằng Bô-gi-scô bải hoải, rã rời vì không hoạt động cho nên anh ta vui đùa cho thỏa chí. Chẳng hiểu sao anh sĩ quan thông tin đâm bối rối:
-Đồng chí là nghệ sĩ, thiếu tá? Chắc đồng chí là nhà ảo thuật?
-Chuyện vặt ấy mà. Nghiệp dư thôi. Từ ngày xửa ngày xưa kia,-Bô-gi-scô nói và tung cái bật lửa lên không, bật lửa châm thuốc. Này, thiếu úy, chỗ các cậu có chuyện tiếu lâm hiện đại không? Hay là toàn chuyện cũ rích? Câu chuyện gần đây nhất nói về việc E-vơ Brao-nơ và Gốp-ben-xơ vào thiên đường đã đến tai các cậu chưa?
-Chư-ưa,-thiếu úy lại cảm thấy lúng túng.-Nói về E-vơ nào cơ? Về cái bà… về cái bà E-vơ ở trong kinh thánh ấy à, đồng chí thiếu tá?
-Cậu ngốc nghếch thật! Kinh thánh quái gì!… Các chú mình nằm ườn ở đây đâm ra dốt nát. Hãy nghe đây này. Thiên đường, những khu vườn mê đắm, vầng thái dương, những chiếc lá nho…-Bô-gi-scô bắt đầu nói khẽ, muốn giải trí trong cảnh không hoạt động, lấy làm hể hả vì đã bất ngờ tìm được một người chịu chuyện dốt nát. Tuy vậy anh chợt im bặt khi nghe thấy tiếng Bét-xô-nốp vọng ra ngoài cửa, sau đó anh thân mật nháy mắt với thiếu úy, vỗ vai anh ta: “Thôi để sau nhé”-và sửa lại thắt lưng da đeo chéo, đặt tay lên ngực, miệng ngậm thuốc lá đứng ở cửa.
… Bét-xô-nốp quả không nhầm: tham mưu trưởng , thiếu tướng I-a-xen-cô đã gọi điện cho ông. Trung tá Cu-rư-sép, chủ nhiệm trinh sát sư đoàn cũng có mặt ở đây, trong ngách hầm nơi đặt vô tuyến điện và đường dây liên lạc trực tiếp với bộ tham mưu tập đoàn quân và các quân đoàn. Chủ nhiệm trinh sát đứng ở gần chiếc bàn nhỏ, khuôn mặt thông minh, sạm lại vì lo âu và mệt mỏi quá sức trông thật nghiêm nghị. Ông trò chuyện qua điện thoại với I-a-xen-cô, nhắc lại bằng một giọng đều đều: “Vâng, thưa đồng chí Năm. Tôi hiểu, thưa đồng chí Năm” và những ngón tay vàng khè khói thuốc của ông lướt chiếc bút chì trên tấm bản đồ. Người phụ trách vô tuyến điện ngồi lặng lẽ trong một góc tối, nghiên người trên máy, tưởng chừng như cả tấm lưng, cái gáy anh ta cũng đang lắng nghe cuộc trò chuyện này với sở chỉ huy của tập đoàn quân.
-Xin mời đồng chí, thưa tư lệnh,-trung tá Cu-rư-sép nói và chìa ống nghe.
-Cám ơn.
Giọng trầm kiểu nhà binh của I-a-xen-cô vang lên rành rõ như thường lệ và tuy vì tôn trọng nguyên tắc bảo mật khi nói chuyện qua điện thoại, ông báo cáo tình hình diễn ra cho tới lúc xế chiều bằng một thứ tiếng lóng khó hiểu dùng trong quân đội. Bét-xô-nốp dễ dàng chuyển dịch báo cáo của ông sang ngôn ngữ thông thường. Bọn Đức vẫn đang tiến công vào cánh phía Nam và phía Bắc của tập đoàn quân với sự hỗ trợ dày đặc của không quân. Cho tới lúc chiều, cuộc tiến công vẫn chưa ngừng, chưa yếu đi và bằng một đòn mạnh gồm hơn sáu chục xe tăng chúng đã đẩy lùi được vài cây số sư đoàn ở cánh trái; những trận đánh ác liệt đang diễn ra trong tung thâm của dải phòng ngự thứ nhất, bọn Đức đã thọc sâu được vào tung thâm khoảng gần hai ki-lô-mét. Đã phải đưa một lữ đoàn bộ binh cơ giới và một lữ đoàn xe tăng thuộc quân đoàn cơ giới số mười bảy đang phòng ngự cánh trái ra trận, nhưng tình hình cho đến nay vẫn chưa khôi phục lại được. Ở trung tâm phòng ngự của tập đoàn quân tình hình có thể coi là ổn định. Lực lượng dự trữ của Đại bản doanh-quân đoàn xe tăng số một và quân đoàn cơ giới số năm vẫn chưa có mặt tại các khu vực tập kết. Mấy giờ trước đây trinh sát của tập đoàn quân “Sông Đông” của Đức phát đi, bộ tham mưu của nó có lẽ đã ở Nô-vô-tréc-cát-xcơ; bức điện không ghi bằng mật mã, do đích thân Man-sten ký, gửi lên ban tham mưu của Pao-luýt-xơ bị bao vây nhằm hợp lực với xe tăng của Man-sten. Vận tải đường không của Đức tăng lên rõ rệt-Chúng ném nhiên liệu và đạn dược cho Pao-luýt-xơ mặc dầu rằng không quân ta bủa vây mạnh mẽ các sân bay của Đức. Trong khu vực bọn Đức bị bao vây thấy rõ sự chuyển xe tăng về phía Tây Nam lòng chảo, phía Ma-ri-nốp-ca.
Bét-xô-nốp không ngắt ngang lần nào bản báo cáo cầu kỳ của tướng I-a-xen-cô-sau khi dựng chiếc gậy vào mép bàn, ông đứng im lặng, tựa tay vào máy. Mãi khi qua giọng nói của tham mưu trưởng , thấy báo cáo sắp kết thúc, Bét-xô-nốp mới mở móc cài cổ áo, ngồi xuống chiếc ghế tựa, chậm rãi hỏi:
-Anh nói xong chưa?
Và ông hình dung ra I-a-xen-cô cao lớn, đầu cạo trọc đang ngồi bên tấm bản đồ dưới ánh sáng chói lọi của những ngọn đèn điện chạy bằng ắc-qui, giữa các cán bộ tác chiến, da má ông cạo nhẵn bóng, chiếc lót cổ áo sạch bong, đôi bàn tay mập mạp đã cọ rửa cẩn thận. Đoán trước câu trả lời của I-a-xen-cô, Bét-xô-nốp nói:
-Thật rõ như ban ngày là chúng giáng đòn chủ yếu ở đây còn đòn ở phía bên trái chỉ có tính chất hỗ trợ.
-Tôi cũng tin chắc rằng chúng muốn chọc thủng một hành lang dẫn đến chỗ Pao-luýt-xơ ngang qua các vị trí của Đê-ép. Tôi nghĩ rằng Man-sten sẽ không thay đổi chiến thuật của mình-y sẽ chọc thủng trận địa phòng ngự của ta trên một khu vực hẹp và ở chỗ gần mục tiêu hơn.
-Tôi đồng ý.
-Tôi sẽ cố gắng tìm hiểu cặn kẽ hơn tình hình ở chỗ Pao-luýt-xơ lúc này. Tình hình các đơn vị cơ động của y như thế nào? Liệu y có khả năng đánh phá vây để đón gặp Man-sten hay không? Đó là điều không kém phần quan trọng lúc này, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích.
-Đó là điều rất quan trọng,-Bét-xô-nốp khẳng định và nói thêm:-Tôi còn quan tâm tới việc bao giờ thì quân đoàn số một và số năm sẽ tới. Anh hãy giục họ đi mau lên!
-Tôi giục luôn đấy, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích ạ,-I-a-xen-cô nói giọng trầm trầm và cảm thấy khó thở, điều đó chứng tỏ ông hồi hộp và bực bội vì các quân đoàn xe tăng và cơ giới được biên chế vào tập đoàn quân vẫn chưa tới khu vực tập kết đã qui định.-Bao giờ đồng chí trở về?
-Lúc này đừng chờ đợi. Chỗ này là điểm đau đầu nhất, như người ta thường nói đấy, Xê-men I-va-nô-vích ạ.
I-a-xen-cô húng hắng ho và im lặng.
-Nhưng căn cứ vào tình hình, có lẽ đồng chí không nên dùng dằng lâu ở chỗ Đê-ép, phơi mình ra trước…-I-a-xen-cô thở phì phò trong ống nghe.-Trong trường hợp này tôi không có quyền khuyên, nhưng có lẽ đồng chí chuyển về đài quan sát của tập đoàn quân thì hợp lý hơn.
-Xê-men I-va-nô-vích,-Bét-xô-nốp ngắt lời, không nghe và cau mày,-Tôi yêu cầu anh hãy hết sức quan tâm tới cánh trái trong lúc này tôi còn ở đây. Phản công không ngừng!
Ông đưa tay trái lên trán, ngón tay ẩm, run lên vì mệt mỏi, cảm thấy cẳng chân đau tê dại đi giật giật, lúc địch dùng súng sáu nòng pháo kích ông đã vụng về đè phải nó khi nằm nhoài trên đáy hào giao thông.
0

Đặt ống nghe xuống, Bét-xô-nốp ngồi mãi như thể lơ đãng ngẫm nghĩ, thận trọng duỗi cẳng chân dưới bàn, chờ cho cơn đau qua đi để ông có thể đứng dậy được nhưng cơn đau không dịu đi.
-Anh chiến sĩ trinh sát đã thoát về được không báo tin gì mới à? Anh ta có tỉnh không? Anh ta ở đâu? Bét-xô-nốp hỏi Cu-rư-sép, cố lãng quên đầu gối nóng bỏng đang giật giật.
Nhìn vào tấm bản dồ đánh dấu nhằng nhịt, trung tá Cu-rư-sép bắt đầu nói cố gắng không để lọ sự mệt mỏi quá sức của một người phải lo âu quá lâu.
-Khi người ta chuyển đồng chí ấy từ khẩu đội pháo về, đồng chí ấy đang trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh, thưa đồng chí tư lệnh. Qua lời của đồng chí ấy có thể hiểu là các anh em trinh sát khác lúc trở về đã bị bọn Đức phát hiện, phải chiến đấu và cùng với “cái lưới” bắt được mắc kẹt lại đâu đó phía trước các chiến hào của đội cảnh giới chiến đấu. Đã đưa đồng chí ấy tới trạm cứu thương nhưng chưa chắc đồng chí ấy có thể nói thêm được điều gì mới… Vâng, tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về đội trinh sát.
-Thôi đi anh.-Bét-xô-nốp khẽ đập bàn tay lên mặt bàn.-Anh hãy chấm dứt thói tự hành hạ mình, đó là việc làm vô nghĩa và hoàn toàn không đúng lúc, trung tá ạ. Làm như thế chẳng giúp được gì cho anh cũng như cho tôi. Không bắt được tù binh và lúc này chắc không thể bắt được vì bọn Đức đang tiến công, vậy mà tôi cần một tù binh Đức nghiêm chỉnh, tầm cỡ và am hiểu nhiều. Nào, ta sẽ làm gì đây, trung tá?
-Đồng chí cho phép tôi suy nghĩ chứ ạ, thưa đồng chí tư lệnh?
Bét-xô-nốp gõ gõ ngón tay lên mặt bàn và trông thấy trung tá Cu-rư-sép khoan thai, và thận trọng dùng mu bàn tay vun những mảnh đất rơi từ trên trần xuống như vụn bánh mì vậy. Bét-xô-nốp thấy việc đó cũng gượng gạo, vô ích như chuyến trinh sát không thành công, như cơn đau tê tái, rát bỏng trong cẳng chân ông và ông chợt nghĩ: “Giá uống tí rượu Vốt ca đầu óc sẽ tỉnh táo, cơn đau dịu đi và chắc sẽ dễ chịu hơn!”. Nhưng lập tức chính ông ngạc nhiên trước mong ước bất ngờ đó, trước ý nghĩ về sự nhẹ nhõm đó và vẫn không đứng lên, ông ngồi đợi cho qua cơn đau nóng bỏng không dứt ở đầu gối, cơn đau cản trở ông tập trung suy nghĩ và khiến ông bực bội.
Súng cối sáu nòng của địch đã ngừng bắn vào đài quan sát nhưng căn hầm ngầm vẫn như một chiếc mảng bập bềnh trong bóng tối giữa những loạt đạn đại bác và tiếng nổ rung chuyển, giữa những làn sóng liên thanh quất liên tục ở phía trước trong bóng tối đó. Và chẳng hiểu sao trong căn hầm mà mọi âm thanh ở bên ngoài đều bị lụi hẳn đi di lớp nắm hầm dày, Bét-xô-nốp đặc biệt nhận ra rất rõ tiếng rền của xe tăng và tiếng súng tự động dày đặc, sôi động vọng từ phía Bắc và phía Nam tới, trùm lấy điểm cao mà ông tưởng như đã bị cắt rời khỏi tập đoàn quân, khỏi các quân đoàn, các sư đoàn-khỏi toàn bộ thế giới xung quanh.
-…Tôi đã bảo anh rằng: anh hãy bắn dù là bằng súng ngắn cũng được, nghe thủng chưa? Hãy đứng vững cho dù xe tăng địch lăn qua người anh, rõ chưa?
Bét-xô-nốp ngẩng đầu lên, da mặt ông giật giật, lộ vẻ đau khổ. Ở nửa bên kia của hầm ngầm tiếng máy điện thoại rù rù, vo vo, lấn át nhau, những giọng nói căng thẳng đứt quãng và giọng nam trung của Đê-ép át tất cả những tiếng ồn ào đó, anh đang gào lên, vừa ra lệnh vừa chen vào những lời sỉ vả, dọa dẫm:
-Nếu anh mà lùi một phân thì tốt hơn hết là anh hãy cho mình một phát đạn vào đầu, Trê-rê-pa-nốp! Nghe thấy không? Tất cả pháo binh, tất cả súng chống tăng đến chật ních ở chỗ anh cả đấy! Tôi cũng biết như anh rằng, địch đang bao vây nhưng “kêu cứu” mà làm gì mới được chứ? Phải bám trụ dù anh có ngoẻo chăng nữa!… Lối qua sông đã bị phá hủy thì xe tăng địch còn ở đâu tới nữa! Đừng có nói nhảm!…
Bét-xô-nốp lắng nghe và hiểu rằng trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh Trê-rê-pa-nốp báo cáo, là xe tăng địch đã đánh tạt sườn, trung đoàn gần như bị bao vây, xin tiếp viện nhưng Đê-ép chẳng những không hứa giúp đỡ mà còn trả lời bằng những lời lẽ phẫn nộ và đã khuyên nên lấy cái chết chọi với cái chết nếu như không cầm cự được… Còn Bét-xô-nốp vẫn ngồi ở đấy, trong ngách hầm tách biệt, khổ sở vì cơn đau ở đầu gối và không có quyền can thiệp vào, ông cũng không đi ra. Đê-ép đã thi hành mệnh lệnh của ông ban ra là phải bám trụ cho tới người cuối cùng và thật là quá sức người nếu nhìn thẳng vào mắt Đê-ép lúc này bởi vì Đê-ép cũng đang chờ đợi tiếp viện cho sư đoàn của mình mặc dầu Đê-ép đã hiểu rõ tầm quan trọng không thể chối cãi được của mệnh lệnh đó đối với các trung đoàn của mình đang phải chịu đựng toàn bộ cuộc đột kích khủng khiếp của xe tăng địch, do số phận run rủi như lệ thường trong chiến tranh, trong đó không có sự lựa chọn.
-Đừng có nỉ non như thế, Trê-rê-pa-nốp!-Đê-ép gào lên như bị kích động, xổ ra giọng tuyệt vọng.-Anh tưởng tôi không hiểu chắc? Tôi nói hết rồi đấy! Hãy siết chặt dây lưng lại và bám trụ cho vững! Pháo binh sẽ cật lực yểm trợ cho anh! Anh không thấy nhưng tôi thấy. Kêu ca làm gì, hãy chịu đựng! Hãm bám trụ, dù phải cào phải cấu như một cô gái yếu ớt nhưng hãy bám trụ cho vững! Và đừng gọi điện cho tôi về chuyện đó nữa! Tôi không muốn nghe đâu!…
“Đê-ép thiếu tá hành mệnh lệnh của mình, tuy vậy anh ta nghĩ gì khi phát đi mệnh lệnh đó?”-Bét-xô-nốp lại thoáng nghĩ.
Trong chốc lát, đôi mắt ông bắt gặp cái nhìn của chủ nhiệm trinh sát đang lặng lẽ đứng bất động ở bên bàn. Ông ta không còn phủi đất vụn khỏi bàn đồ nữa. Vẻ mặt thông minh và mệt mỏi của trung tá Cu-rư-sép vừa thể hiện sự phê phán lặng lẽ, không nói nên lời vừa thể hiện sự cầu xin giúp đỡ. Ông ta hiểu rất rõ tình hình đang diễn biến hiện nay tại sư đoàn, hiểu qua những âm thanh của trận đánh, qua những mệnh lệnh này của Đê-ép ở ngách hầm bên kia. Bét-xô-nốp đưa lòng bàn tay lau trán và nói ra không hẳn điều ông định nói, không hẳn điều ông nghĩ:
-Nói đi, trung tá. Tôi nghe đây.
-Thưa đồng chí tư lệnh,-Cu-rư-sép bắt đầu nói giọng đều đều,-hình như việc sư đoàn bị bao vây đã rõ…
-Anh tin chắc thế à?
-Vâng, theo ý tôi rồi xe tăng địch sẽ đi vòng qua đài quan sát này, thưa đồng chí tư lệnh.
Bét-xô-nốp ngồi im một lát và dường như sực tỉnh, ông mệt mỏi nhìn chủ nhiệm trinh sát, sau đó đứng dậy, thốt lên với vẻ tò mò nghiệt ngã:
-Anh đừng nói hết. Anh muốn nói là chính bản thân chúng ta có thể bị biến thành “những cái lưỡi” chứ gì? Hình như thế phải không, trung tá?
-Tôi nói về hoàn cảnh khách quan, thưa đồng chí tư lệnh,-trung tá giải thích bằng giọng đều đều như trước.-Qua một thời gian nữa bọn Đức có thể sẽ cắt đứt liên lạc của ta. Lúc ấy chúng ta sẽ mất đường dây chỉ huy.
-Cám ơn những lời lẽ khách quan của trung tá. Nhưng cho đến nay đường dây chỉ huy vẫn thông suốt,-Bét-xô-nốp nói.-Và tôi không thay đổi mệnh lệnh về việc bắt “một cái lưỡi”. Thậm chí ngay cả khi chúng ta bị bắt làm tù binh, một điều rất khó chịu.
Ông nhấc ống nghe điện thoại lên.
-Đồng chí chủ nhiệm pháo binh… đường dây hoạt động tốt chứ? Hay lắm! Gọi Lô-mít-dê cho tôi.
Sau khi nhận ra trong ống nghe giọng nói hơi oang oang, lơ lớ của tướng Lô-mít-dê: “Bọn Đức đã phát cuồng lên ở chỗ đồng chí phải không, thưa đồng chí số Một…”-Ông vội ngắt lời, hỏi:
-Liệu có thể sử dụng trung đoàn súng cối số 42 trên hướng của Đê-ép được không?
-Tôi sẽ ra lệnh, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích. Để chống lại xe tăng địch à? Tôi hiểu có đúng ý đồng chí không?
-Anh hiểu đúng đấy.
Bét-xô-nốp không dừng lại, nửa hầm ngầm bên kia mù mịt khói thuốc lá, trong đó tiếng máy điện thoại kêu vo vo và thấp thoáng bóng các sĩ quan đi đi lại lại. Ông chỉ nhận ra bóng dáng cao lớn của đại tá Đê-ép giữa các cán bộ tác chiến, không nói một lời nào, ông lấy gậy đẩy cửa, bước ra khỏi hầm ngầm. Thiếu tá Bô-gi-scô đi theo ông.
-Đồng chí tư lệnh!-Giữa tiếng máy điện thoại liên tục giọng nam trung khàn khàn của Đê-ép vang lên sau lưng.
-Bét-xô-nốp rảo bước vào hầm.
0

Trời chưa tối hẳn nhưng băng giá tăng lên kinh khủng. Ngọn gió sắc nhọn, rát bỏng thổi từ phía ráng chiều đỏ sẫm bị ép sát xuống mặt đất như một cái khe hẹp và tựa hồ như gió cuốn tiếng súng đạn vang ầm quay xung quanh điểm cao. Mảnh băng như mảnh thủy tinh vỡ bị gió hất mạnh khỏi bờ lũy chọc vào môi, vào mắt. Do ánh sáng đạn tên lửa pháo hiệu bị gió cuốn quay tròn xung quanh đài quan sát nên có cảm tưởng là điểm cao đang bồng bềnh trôi đi đâu đó trên những ngọn lửa và những đám cháy lan rộng ở phía dưới.
Ngôi làng phía trước sông cháy rừng rực như những giàn lửa lớn và ở bên kia sông, những chiếc xe tăng đen ngòm với những hình thập tự trắng ở trên mình trông như những con nhện độc nặng nề bò rải rác, dừng lại, thò những vòi pháo ra mò mẫm trên mặt tuyết đỏ ngầu như một chiếu màu, khạc lửa về phía trước dày đặc như mạng nhện. Lưới lửa dày đặc như mạng nhện đó tóe ra thành những đường ngoằn ngoèo kẹp chặt lấy khúc bờ sông ở phía trên, tại đó các khẩu pháo của ta nhả đạn đỏ lừ, hòa với đường đạn súng máy thành lưới lửa hình nan quạt ở phía trên điểm cao.
Thiếu tá Bô-gi-scô áp mình lên bờ lũy đất ngờ vực ngó nhìn xuống phía dưới, trước mặt dòng sông, như có ý định xem trận đánh đã lan tới gần đài quan sát hay chưa. Những quả đạn pháo sáng tắt lụi trong gió, rơi xuống các triền dốc của điểm cao, đạn viu víu như tiếng chim ngay trên bờ công sự-hình như bọn lính bắn súng máy tự động của địch đã sang được bờ sông bên này.
-Đồng chí tư lệnh, xin đồng chí cho phép nói.
Giọng nói khản đặc của đại tá Đê-ép bung ra, xói vào người Bét-xô-nốp như một nỗi đau thể chất, buộc ông phải quay người lại. Ông đứng giây lâu, không giục Đê-ép báo cáo, đoán xem anh ta sẽ nói gì. Bóng dáng của Đê-ép dường như to lớn, bất động, chắn hết cả lối đi trong đường hầm. Dưới ánh sáng đạn pháo sáng khuôn mặt trẻ trung của anh với cặp mắt rực lửa dường như tuyệt vọng dò tìm cái gì đó trên vẻ mặt Bét-xô-nốp-dò tìm sự chi viện, hy vọng làm cho tình hình của sư đoàn mình dễ thở hơn và khi ánh sáng pháo sáng vừa lụi tắt, bóng tối trùm kín nét mặt không thể chịu đựng được đó của Đê-ép, Bét-xô-nốp có cảm giác như có ngón tay ai bóp lấy cổ họng mình.
-Tôi thấy cả, đại tá Đê-ép ạ,-Bét-xô-nốp nói.-Anh muốn nói gì thêm?
-Thưa đồng chí tư lệnh,-Đê-ép lên tiếng bằng một giọng hạ thấp thiếu tự nhiên,-trung đoàn Trê-rê-pa-nốp, hai trung đoàn pháp và trung đoàn xe tăng của Khô-khơ-lốp đang chiến đấu trong vòng vây, đạn dược hết… các đại đội bị tổn thất lớn… bộ binh Đức đã đi xe bọc thép tới.-Những quả đạn pháo sáng liên tiếp vọt lên lại soi tỏ nét mặt có ý chờ đợi được Bét-xô-nốp chi viện, anh hít một hơi thật mạnh rồi khàn khàn nói tiếp:-Xe tăng địch đã tiến công sở chỉ huy trung đoàn của thiếu tá Trê-rê-pa-nốp. Hình như Trê-rê-pa-nốp bị thương. Liên lạc vừa mới bị đứt.-Đê-ép thở lấy hơi, nặng nề bước lại gần Bét-xô-nốp.-Thưa đồng chí tư lệnh, trong tình hình hiện nay… tôi e rằng trung đoàn Trê-rê-pa-nốp sẽ không cầm cự được một giờ nữa, sẽ bị tiêu diệt… Xin đồng chí thứ lỗi cho, thưa đồng chí tư lệnh, tôi xin đồng chí tự mình quyết định…
-Về việc gì nào?-Bét-xô-nốp hỏi cho rõ hơn.
Giọng Đê-ép rung lên bướng bỉnh:
-Xin đồng chí cho phép tôi rời đài quan sát của sư đoàn trong một giờ để tôi tới trung đoàn Trê-rê-pa-nốp tìm hiểu tình hình và quyết định tại chỗ, thưa đồng chí tư lệnh.
Những đường đạn đỏ lừ hắt ánh sáng xuống khiến mắt Đê-ép ánh lên trên khuôn mặt đỏ rực của anh Bét-xô-nốp chăm chú nhìn.
-Anh làm như thế nào? Anh sẽ đột nhập vào trung đoàn bị bao vây à? Hình như thế phải không?
-Từ điểm cao này tới chỗ các tiểu đoàn của Trê-rê-pa-nốp khoảng độ ba ki-lô-mét, thưa đồng chí tư lệnh.-Tôi sẽ đột nhập cùng với anh em xạ thủ tiểu liên. Ba đợt vọt tiến là đến nơi thôi. Đó mới là một nửa công việc, thưa trung tướng.
Ông bỗng cảm thấy trìu mến đối với Đê-ép-cảm giác này không quen thuộc và bất ngờ, khiến cổ họng ông lại nghèn nghẹn, ông không thể từ chối ngay. “Thì ra số phận đã ban cho mình người chỉ huy sư đoàn này”,-Bét-xô-nốp nghĩ, và ông ngước mắt lên nhìn ánh hồi quang thấp thoáng trong đôi mắt tuyệt vọng của Đê-ép rồi nhắc lại:
-Thế nghĩa là anh cùng với các xạ thủ tiểu liên đột nhập vào?
-Mới đây tôi hãy còn chỉ huy trung đoàn, thưa đồng chí trung tướng. Tại mặt trận Bri-an-xcơ. Tôi vẫn còn chưa mất thói quen.
-Anh bao nhiêu tuổi?-Bét-xô-nốp hỏi giọng khàn khàn.
-Hai mươi chín, thưa đồng chí tư lệnh.
-Tôi muốn rằng, anh ba mươi tuổi,-Bét-xô-nốp nói và đưa tay vát không khí.-Anh hãy đi đi và hãy làm tròn trách nhiệm của một sư đoàn trưởng chứ không phải là của một trung đoàn trưởng!
-Thưa đồng chí tư lệnh…-Đê-ép nói gần như Van-te nài,-xin đồng chí cho phép tôi…
Nhưng Bét-xô-nốp lại ngắt lời anh một cách nhẹ nhàng và dứt khoát:
-Anh hiểu ý tôi chứ? Tôi đã nói: anh đi đi và hãy làm tròn trách nhiệm của một sư đoàn trưởng. Cử ngay người tới liên lạc với Trê-rê-pa-nốp. Và hãy truyền đạt nhân danh tôi: tôi hy vọng vào sự kiên trì của anh ấy. Đứng vững, kiên trì chịu đựng cuộc phản kích đó, Đê-ép ạ. Không nên nghĩ rằng lực lượng dự trữ của địch là vô tận.
-Thưa đồng chí tư lệnh, tôi muốn…
-Đi đi, dât. Đừng bắt tôi phải nhắc lại.
-Rõ, thưa đồng chí tư lệnh,-Đê-ép nói bằng giọng ỉu xìu, thất vọng và vóc người to lớn tưởng chừng chắn hết cả lối đi trong hầm quay lại rất chậm chạp, rồi Đê-ép bước vào khoảng tối trong đường hào, biến vào trong hầm ngầm.
-Thật là một tay cừ, thưa trung tướng!-Bô-gi-scô phấn khởi thốt lên, có ý ganh tị nhìn về phía hầm ngầm.-Không phải bỗng dưng Đê-ép là một đại tá! Anh ấy bối rối ghê quá.. Mà quả thật chỉ ba đợt vọt tiến là đến đằng ấy!
Bét-xô-nốp không nhìn theo Đê-ép vì biết rằng mình sẽ không thay đổi quyết định. Tuy nhiên ông cũng nghĩ rằng anh chàng sư đoàn trưởng rất trẻ này cảm thấy thất vọng, uất ức lúc này vì về cơ bản, anh ta tin chắc rằng sẽ được tư lệnh cho phép đột nhập ngay tới trung đoàn bị bao vây với hy vọng, theo như anh ta nghĩ, cứu cái trung đoàn bị siết chặt trong gọng kìm xe tăng thoát khỏi tan rã và sỉ nhục.
-Quả thật đến chỗ Trê-rê-pa-nốp có xa gì đâu,-Bô-gi-scô lại nói.-Giá ta liều một cái!
Bét-xô-nốp lặng lẽ quan sát những chớp lửa hỗn loạn của các khẩu pháo bố trí trên khắp bờ sông phía Bắc, nơi ta đã đưa những tiểu đoàn pháo chống tăng tới và nơi giáp ranh trận địa phòng ngự của hai trung đoàn bộ binh và xe tăng, quan sát những khối xe tăng màu hồng của ta và xe tăng Đức hơi nhúc nhích trên các đường làng ở khu làng phía Bắc bờ sông. Các tiểu đoàn của Trê-rê-pa-nốp và trung đoàn xe tăng độc lập của Khô-khơ-lốp đã chiến đấu ngoan cường và rất ác liệt nhưng vẫn không thể chống chọi nổi đợt đột kích của xe tăng Đức. “Thế nghĩa là đã đến lúc phải đưa thê đội hai-sư đoàn 305 ra trận. Đưa ngay kẻo không lại muộn”.
0

Đạn hỏa tiễn vẫn réo vù vù, quất mạnh, bùng lên thành những đám tia lửa trên các triền dốc của điểm cao và có vẻ như bọn xạ thủ tiểu liên Đức đã đánh thọc sườn đài quan sát từ phía Tây, chúng lọt từ trong làng ra tiến về phía chân điểm cao!
-Chúng nó đang bò ở chỗ nào đó ngay trước mũi ta!…-Bô-gi-scô nói với vẻ ngờ vực, tần ngần.-Chúng nó định càn quét điểm cao này chăng, thưa trung tướng? Quân súc sinh láo xược đến thế là cùng!
-Giá như quả thật chỉ cần ba đợt vọt tiến là có thể phá vỡ được vòng vây xung quanh trung đoàn tr,-tiếng Ve-xnin vang lên ngay ở bên cạnh và khi quay người lại, Bét-xô-nốp trông thấy ông cách đó hai bước.-Chà Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích, tôi hiểu rõ ruột gan Đê-ép lắm! Thật không tài nào nhìn được cánh trung đoàn Trê-rê-pa-nốp bị tiêu diệt ngay trước mắt chúng ta!
Ve-xnin cũng cao lớn nhưng so với Đê-ép to như hộ pháp thì trông ông vẫn nhẹ nhõm hơn trong chiếc áo choàng ngắn trăng trắng, dây da đeo chéo căng trước ngực, ông xoay xoay chiếc kính trong tay và tưởng chừng như hàm răng của ông đang cắn môi dưới, sáng xanh lên.
-Tình hình của Trê-rê-pa-nốp quả thực là rất nguy kịch,-Ve-xnin bước lại gần Bét-xô-nốp hơn, nói tiếp.-Tổn thất ở các tiểu đoàn lớn lắm. Và bọn Đức chẳng có vẻ gì là sắp hết hơi… Chúng nó cứ ào ào xông tới.-Đã đến lúc ta phải đưa sư đoàn 305 ra chi viện cho Đê-ép chăng? Quả thật đã đến lúc rồi!
-Anh hãy đeo kính vào đi, Vi-ta-li I-xa-ê-vich,-Bét-xô-nốp bỗng nói và cảm thấy tất cả cái gánh nặng kinh nghiệm dè dặt của mình cũng như vẻ nhẹ nhõm trẻ trung đáng thèm muốn của Ve-xnin nhạy cảm. Rồi ông nói thêm:-Bọn xạ thủ tiểu liên Đức đang bò lên điểm cao. Như vậy chúng ta có thể không chết một cách ngẫu nhiên đâu… Còn về sư đoàn 305 thì đồng chí quả không nhầm, đã đến lúc rồi. Đúng thế, đã đến lúc phải đưa nó ra rồi. Và chúng ta hy vọng,Vi-ta-li I-xa-ê-vich…
-Tôi sống bằng hy vọng, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích,-Ve-xnin nói và nhắc lại:-Không, bọn chúng nó chưa hết hơi ở đây ngay đâu. Đối với chùng thì cứ hoặc là thế này hoặc là thế kia…
-Đối với chúng ta cũng vậy,-Bét-xô-nốp chậm rãi nói.
Điểm cao rung lên ầm ầm dưới những đợt gió quất vun vút giữa tiếng súng đạn, khi thì tưởng như nó bay vút lên bầu trời sáng chói nơi đạn pháo sáng rực rỡ lóa sáng tóe ra như mưa, khi thì chìm trong bóng tối; ánh sáng và bóng tối lướt nhanh qua điểm cao, trên đường hầm, soi sáng các khuôn mặt và lụi tắt, làm cho bóng tối ập ngay vào mắt.
-Thưa đồng chí trung tướng! Xin đồng chí vào hầm ngầm ngay! Xin vào hầm ngầm ngay!-Bô-gi-scô thét to và chồm ngay lên, lao vào trong hào giao thông, điên cuồng gào lên để ngăn chặn kẻ nào đó:-Đứng la-ại! Ai đó?
Trong hào giao thông ở phía dưới rõ ràng có tiếng đi lại ồn ào, nghe rõ tiếng la thét lo lắng của các gác, tiếp đó có những bóng người chụm lại trong đường hào hẹp và Bô-gi-scô chạy lại khúc ngoặt của đường hầm, súng tiểu liên lên đạn sẵn, anh lại quát lên bằng giọng đe dọa, hung dữ!
-Đứng la-ại không tôi bắn! Ai đó?
Tất cả lặng đi ở phía dưới đó, những bóng người ngừng động đậy, giọng nói đơn độc của chiến sĩ gác từ phía dưới báo tin:
-Có người từ bộ tham mưu tập đoàn quân tới gặp tư lệnh. Cho cho lên không?
-Đợi đấy!-Bô-gi-scô chặn lại và vừa chăm chú nhìn xuống và chạy xuống phía dưới.
-Ai vừa ra lệnh thế? “Đợi đấy” là thế nào?-một giọng khác vang lên trong hào giao thông.-Thiếu tá Bô-gi-scô đấy à? Làm gì mà gào lên ghê thế? Tư lệnh đâu? ủy viên Hội đồng quân sự đâu?
-À, đồng chí đại tá!-Bô-gi-scô nói, kéo dài giọng và cười vang.-Thế mà tôi cứ tưởng bọn Đức bò đến! Đồng chí đến chỗ chúng tôi có việc gì thế, đại tá? Buồn chán quá à?
-Tôi buồn nhớ anh lâu rồi, thiếu tá Bô-gi-scô ạ. Với cái giọng như hùm beo thế lẽ ra anh không nên đi làm sĩ quan tùy tùng mà nên xuống đơn vị chỉ hy bộ binh. Trung tướng ở đây à? Cả ủy viên Hội đồng quân sự nữa chứ?
-Cha mẹ sinh ra thế biết làm thế nào, đồng chí đại tá. Chỉ huy bộ binh thì cũng chả sao… Các đồng chí ấy ở đây cả. Anh vào đi.
Đại tá Ô-xin trưởng phòng phản gián của tập đoàn quân bước từ hào giao thông vào đường hầm, phải bụi trên người, nhanh chóng sửa lại dây lưng, bao súng ngắn, túi dã chiến. Tất cả mọi thứ trên người ông đều xộc xệch y như thể ông đã chạy, đã ngã, đã bò từ lâu qua các đụn tuyết. Người sĩ quan tùy tùng của ông mang theo khẩu tiểu liên, toàn thân anh suốt từ đầu đến chân như bị vùi trong tuyết, đó là một người thấp bé, mập mạp, cúi đầu xuống mỗi khi nghe tiếng đạn rít trên đầu. Anh đứng ở phía sau và thận trọng giúp Ô-xin gạt những lớp tuyết bám ở lưng, ở cạnh sườn. Bô-gi-scô chăm chú đưa mắt nhìn họ và khẽ mỉm cười. Ở phía sau đường hầm còn ba người nữa cũng thở hồng hộc, giậm chân bành bạch: thiếu tá Tít-cốp vạm vỡ, vóc người đanh chắc như đô vật và hai xạ thủ tiểu liên cao lớn, lực lưỡng-họ đều thuộc đội bảo vệ của Bét-xô-nốp mà ông đã để lại ở đài quan sát của tqd.
-Các cậu cũng ở đằng ấy đến đây à?-Bô-gi-scô ngạc nhiên hỏi đồng thời có ý ghen tị.-Các cậu được triệu đến à?
-Sao tò mò thế? Anh muốn biết nhiều điều thừa quá đấy, Bô-gi-scô!-Ô-xin chặn ngay những lời dò hỏi đó và sau cùng khi đã lấy lại hơi, ông gạt tay người sĩ quan tùy tùng đang tận tụy cào tuyết trên chiếc áo choàng ngắn.-Thôi, Ca-xi-an-kính ngắm, thế được rồi! Đừng uổng công phí sức! Cậu ở lại đây với đội bảo vệ, đừng đi theo tôi.-Và ông hất đầu về phía đường hầm sâu hun hút. Thiếu tá Bô-gi-scô, anh hãy dẫn tôi tới gặp ủy viên Hội đồng quân sự. Hầm ngầm của đồng chí ấy ở đâu?
-Đồng chí ấy cùng với tư lệnh hiện ở trên đài quan sát, thưa đồng chí đại tá.
-Dẫn đường đi, thiếu tá!-Ô-xin nói buông xõng như ra lệnh và rắn rỏi đi theo Bô-gi-scô, dáng đi vững chãi, với vẻ uy nghi của một người biết rõ giá trị của mình, biết hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách nghiêm túc và êm thấm. Các sĩ quan không quen biết trong sư đoàn mà ông gặp trong đường hầm đều ngước mắt nhìn theo cố đoán xem ông là ai và theo lệnh nào tới đây vào giờ này.
Khi họ tới gần, Bét-xô-nốp đang lom khom người bên ống kính ngắm lập thể và chẳng hiểu sao Bô-gi-scô báo cáo về sự có mặt của trưởng phòng phản gián bằng một giọng vui vẻ pha lẫn ngạc nhiên, tấm lưng hẹp của Bét-xô-nốp hơi động đậy, ông quay người lại, tựa trên chiếc gậy, chăm chú nhìn khuôn mặt bóng nhẫy mồ hôi với đôi má phúng phính của Ô-xin, như thể không nhận ra, thong thả một lát rồi ông thốt lên vẻ ngờ vực:
-Tôi khô-ông hiểu… Anh đến đây làm gì, đại tá?
-Tôi muốn biết tình hình ở chỗ đồng chí như thế nào, thưa đồng chí tư lệnh!-Ô-xin đáp bằng thổ âm trơn Tru-ba-ri-cốp, nhẹ nhõm, thanh lịch của người miền Bắc, ông cười đôn hậu và đưa bàn tay lau mồ hôi trên má.-Người ta toàn nói tới tình hình ở chỗ Đê-ép nên tôi chịu không ngồi yên được. Thoạt đầu chúng tôi đi ô tô, còn lúc vào trong làng thì bò và chạy từng đợt ngắn… kể cũng hơi gay. Chúng nó bắn tứ phía nhưng chúng tôi đã đi trót lọt!
-Anh ở chỗ ban tham mưu tập đoàn quân đến thẳng đây đấy à?-Bét-xô-nốp hỏi.
-Lúc ở bộ tham mưu ra tôi có ghé qua đài quan sát của tập đoàn quân rồi đi thẳng từ đó tới đây.-Ô-xin theo dõi những đường đạn tóe vụn ra trên điểm cao, nụ cười tan biến dần trên đôi môi đen mọng của ông.-Bọn Đức làm gì thế không biết? Chả lẽ chúng hy vọng đột nhập được vào tận chỗ Pao-luýt-xơ hay sao, đồng chí tư lệnh?
Bét-xô-nốp không hứng giải thích, ông vẫn còn chưa hiểu rõ lý do việc đi tới đây của đại tá Ô-xin mà ông còn ít biết và cho rằng hoàn toàn không cần thiết ở đây, ông đáp cụt lủn:
-Anh nói đúng đấy, đại tá.
-Đồng chí Ô-xin đấy à?-Ve-xnin hỏi, ông cũng băn khoăn về sự xuất hiện bất ngời của trưởng phòng phản gián, ông bước từ bóng tối đường hầm lại phía anh ta, tay giữ gọng kính, lông mày dướn lên.-Anh có việc gì ở đài quan sát thế? Có việc quan trọng à?
-Thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự…
Ô-xin không nói hết câu, khuôn mặt khỏe mạnh tròn trĩnh của anh bỗng tỏ vẻ nghiêm nghị và đưa mắt ra hiệu qua vai về phía các sĩ quan đang đứng ở phía sau đường hầm, về phía Bô-gi-scô đang tựa một khuỷu tay vào lũy đất, vẻ đường hoàng nghịch nghịch, bật lách tách quai đeo súng tiểu liên, rồi anh thốt lên, không nói hết ý của mình:
-Thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự, tôi hiểu rằng tôi là người khách hiếm hoi ở đài quan sát, tuy vậy… tôi không muốn làm phiền tư lệnh, xin phép nói chuyện với đồng chí, được không ạ? Xin nói đúng ba phút thôi.
Bét-xô-nốp nhăn mặt: lúc này ông ít quan tâm tới công việc nghiệp vụ của đại tá Ô-xin, ông muốn biết rõ một điều khác quan trọng hơn nhiều: làm thế nào anh ta lại đi qua được khu làng, nơi cuộc chiến đấu đang diễn ra ở khắp các khu vực.
-Anh làm thế nào qua làng được, đại tá?
-Chúng tôi đi xuyên ngang rìa làng ở phía Tây Bắc,-Ô-xin đáp như thể anh rất chú ý tới ý nghĩa câu hỏi của Bét-xô-nốp.-Đó là con đường duy nhất còn có thể đi qua được, thưa đồng chí tư lệnh. Tôi đã đích thân kiểm nghiệm.
-Anh liều thế thật vô ích, đại tá.-Bét-xô-nốp nói một cách dửng dưng và lạnh lùng, ông đặt chiếc gậy tựa vào vách hầm, nghiêng mình vào kính ngắm, cố ý tỏ cho biết rằng cuộc trò chuyện đã chấm dứt rồi nhếch mép cười thầm: “Anh chàng Ô-xin này chẳng phải là tay vừa đâu”.
Bô-gi-scô đưa tay lên môi che nụ cười. Đại tá Ô-xin vươn thẳng người đứng nghiêm, nhìn vào lưng Bét-xô-nốp.
-Ta đi đi, đồng chí Ô-xin, mời đồng chí theo tôi,-Ve-xnin giục giã, không tỏ vẻ hài lòng nhưng bằng giọng nói của mình ông muốn giảm nhẹ sự thờ ơ lạnh nhạt dễ làm mất lòng của Bét-xô-nốp và chỉ tay vào cuối đường hầm.-Hầm ngầm ở kia.
Ông kéo khuỷu tay Ô-xin đang ngạc nhiên ngoái nhìn Bét-xô-nốp ở phía sau, hình bóng bất động của Bét-xô-nốp thẫm đen lại bên cạnh ống kính ngắm, hòa lẫn với vách hầm.
0

Chương mười sáu


Ở đây, căn hầm ngầm nhỏ, trống trải, thoang thoảng mùi đất đông cứng, có lẽ do anh em pháo binh đào ở đầu mút đường hầm, được ngọn đèn “con dơi” treo trên nóc hầm chiếu sáng. Đất vụn trôi từ nóc hầm xuống, rơi lách cách vào bóng đêm làm cho nó khẽ đu đưa.
Ve-xnin ngồi xuống cạnh cái bàn làm bằng hòm đạn, ném bao thuốc lá lên mặt bàn, rút một điếu và nói:
-Tôi nghe đây, đồng chí Ô-xin. Nếu có thể được xin giải thích cụ thể hơn.
Đại tá Ô-xin liếc mắt lướt nhìn khắp hầm ngầ, các góc tối trong hầm, đưa tay sờ đống vải bạt bị ném vào bên cạnh các bao phủ la bàn và ống kính ngắm rồi kéo tấm vải bạt che cửa ra vào, xong rồi anh mới ngồi vào bàn, bỏ mũ lông ra, tháo móc trên của chiếc áo choàng ngắn-anh cảm thấy nóng nực, người hãy còn đầy mồ hôi sau khi bò và chạy vọt tiến trong tuyết-anh bắt đầu nói, hạ thấp giọng:
-Thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự, xin đồng chí tha lỗi cho câu hỏi không cần thiết của tôi: đồng chí đánh giá như thế nào tình hình của sư đoàn vào lúc này?
-Vấn đề chẳng đã rõ rồi sao?-Ve-xnin bóp chặt điếu thuốc mềm ra, quẹt diêm, hút.-Chắc anh đã rõ tình hình của sư đoàn vào lúc chiều tối. Vậy anh hỏi để làm gì?
Đại tá Ô-xin ngồi thẳng người lên.
-Bản thân tôi đã biết rõ, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự…
-Tôi nghe anh…-Ve-xnin rít một hơi thuốc lá nhưng không phải để ngắt lời Ô-xin mà giục giã anh và ông nhả khói lên phía ngọn đèn “con dơi”, gật đầu ra hiệu cho anh quả thật vẫn như ban nãy ông không hiểu rõ trưởng phòng phán giản tới đây vì lý do gì: anh ta không có trách nhiệm phải tới đài quan sát trong lúc chiến đấu.-Ừ, anh nói tiếp đi. Cụ thể là anh đến về việc gì nào? Đó là điều tôi quan tâm. Anh cũng hiểu đấy, việc này xem ra khác thường lắm.
Đại tá Ô-xin trầm ngâm suy nghĩ, đưa nắm tay lên vầng trán ẩm ướt, mái tóc màu sáng xoăn tít bết lại với nhau, gò má nhô cao, cạo nhẵn nhụi của anh trông như màu gạch. Anh dùng mũi hít không khí, nói bằng giọng rắn chắc:
-Chắc đồng chí lấy làm lạ khi thấy tôi đến, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự. Nhưng không phải tôi chỉ lo lắng về tình hình của sư đoàn Đê-ép lúc này. Tôi cũng đã được nghe cả ý kiến của tướng I-a-xen-cô cũng như của ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân Gô-lup-cốp.
-Vậy thì có việc gì nào?-Ve-xnin dướn lông mày lên.-Anh nói gì về Gô-lup-cốp nhỉ? Đồng chí ấy ở bộ tham mưu tập đoàn quân à? Anh đã gặp đồng chí ấy à?
-Vâng, đồng chí ấy đã tới… và đồng chí ấy cũng tỏ ra lo ngại về tình hình phức tạp ở sư đoàn. Lúc ấy Gô-lup-cốp không ở chỗ bộ tham mưu mà tới đài quan sát của tập đoàn quân. Đồng chí ấy muốn gặp đồng chí, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự, nhưng đồng chí lại ở đây…
Đại tá Ô-xin đưa bàn tay to bè lên vuốt mặt bàn xù xì về phía tay phải và phía tay trái, mỉm cười như xin lỗi Ve-xnin bằng cặp mắt hơi xanh xanh, nhìn như xoáy vào mắt ông. Trong ánh mắt đó không có cái vẻ chất phác, giữ ý kiểu quê mùa như khi anh nói chuyện với Bét-xô-nốp mà thể hiện ý muốn tế nhị không muốn làm mếch lòng người khác, không muốn vượt qua những ranh giới nhất định do cấp bậc quy định.
-Có ý kiến cho rằng để cho việc chỉ huy chiến đấu được thuận tiện hơn, đồng chí và tư lệnh tập đoàn quân lúc này nên ở nơi nào có thể bảo đảm được an toàn cho các đồng chí. Ở đài quan sát của tập đoàn quân chẳng hạn.
-Nghĩa là thế nào? Rời bỏ đài quan sát của sư đoàn để về đài quan sát của tập đoàn quân à? Ngay lúc này?
-Vẫn có thể đi xe xuyên qua rìa làng phía Tây Bắc để về đài quan sát của tập đoàn quân. Chính tôi đã đi theo đường đó. Mạn ấy hãy còn tương đối yên tĩnh. Không có con đường nào khác. Chính mắt tôi đã trông thấy xe tăng Đức trên đường làng. Nhưng địch có thể cắt đứt con đường đó bất cứ lúc nào…
-Anh nói là phải chuyển về đài quan sát của tập đoàn quân à? Anh có trách nhiệm quan tâm đến việc đó hay sao?-Ve-xnin hỏi và nhún vai.
-Thưa, đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự,-Ô-xin đáp, hơi mếch lòng và tỏ ý trách móc, ngạc nhiên trước sự thật thà ngây thơ của Ve-xnin,-trong trường hợp này, như tôi đã nói, đây không phải là ý kiến cá nhân tôi. Nhưng đôi khi một vài sự lắt léo của cuộc chiến đấu bắt buộc tôi phải lo ngại.
-À, chà chà,-Ve-xnin kéo dài giọng.-Chà, chà, lo ngại… nhưng tôi cũng lo ngại, đồng chí Ô-xin ạ. Và tư lệnh cũng lo ngại không kém gì tôi. Đó là điều tự nhiên thôi. Theo ý tôi đồng chí ấy cũng biết rõ rằng bộ binh là cánh tay, xe tăng là cẳng chân và tướng lĩnh là cái đầu… Mất đầu là mất tất. Bét-xô-nốp không phải hạng người không có đầu óc, liều lĩnh một cách vô ích.
Sau khi đã nói như thế một cách có dụng ý, ông chăm chú nhìn giây lâu vào mái tóc sáng, xoăn tít, hãy còn ẩm, bị mũ làm hơi rối lên của Ô-xin, vầng trán rộng của anh, cái mũi hơi hếch, khuôn mặt tròn vành vạnh tràn trề sức khỏe của một con người bẩm sinh cường tráng, khí huyết điều hòa, thần kinh vững chãi; ông tưởng như lần đầu tiên trông thấy hàng lông mi trắng thẳng tắp và ánh mắt xanh xanh bướng bỉnh lạnh lùng của viên đại tá mà mỗi lời nói ra đều dịu ngọt. Hai má Ve-xnin bắt đầu bừng bừng, ửng đỏ và một cảm giác khó chịu, gần như nỗi chán chường dâng lên trong lòng ông chống lại Ô-xin-chống lại cái sức khỏe chắc nịch của anh ta, vầng trán rộng, cặp lông mi trắng, chống lại những lời khuyên lấp lửng tưởng như vô thưởng vô phạt đó của anh ta và chống lại cái lối dè dặt, lịch thiệp nhằm che giấu một sự thận trọng nào đó, che giấu khéo léo việc mình gắn bó với một quyền lực bảo hộ đặc biệt mà do nhiều hoàn cảnh cần phải bảo tồn tại bên cạnh, trong cùng một tập đoàn quân với Ve-xnin, quyền lực đó hoàn thành những chắc năng tất yếu của mình, không bao giờ can thiệp vào tình hình trận đánh và Ve-xnin nén giận, đứng dậy.
Mặt ửng đỏ, Ve-xnin thọc tay vào túi áo choàng, đi đi lại lại trong hầm ngầm và nói:
-Như thế nghĩa là, đồng chí Ô-xin, do tình hình hiện nay của sư đoàn, tướng Bét-xô-nốp và tôi cần phải rời bỏ đài quan sát này phải không? Nhưng nói cho cùng chính đồng chí cũng biết rằng trong chiến tranh không ở đâu, không bao giờ, không ai có thể được bảo đảm trước bom đạn. Cả ở đài quan sát của tập đoàn quân cũng như ở đài quan sát của sư đoàn.-Ve-xnin bỗng trông thấy cái gáy phủ tóc vàng của Ô-xin, cái cổ trong nhẫn, đôi tai bẹp gí, tinh tường và chăm chú, và ông nổi giận đùng đùng, nói tiếp:-Anh nói với tôi chuyện vớ vẩn gì thế? Ai khuyên anh nói thế, Gô-lup-cốp à? Tôi không tin rằng đồng chí ấy có thể khuyên anh như vậy! Tôi không tài nào tin được!
-Thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự, xin đồng chí thứ lỗi cho, nhưng bịp bợm không phải là cung cách của tôi. Hơn thế nữa, ngoài nhiệm vụ do đồng chí Gô-lup-cốp giao phó, tôi còn có một việc nữa cần nói với đồng chí. Việc hơi khác một chút…
Giọng nói nhỏ nhẹ, khêu gợi đó của đại tá Ô-xin khiến Ve-xnin dừng chân ở trước bàn; ánh mắt ngước lên như muốn kiểm tra cái gì đó và màu xanh biếc lạnh như băng trong đôi mắt nhấp nháy dưới ánh đèn của trưởng phòng phán giản như thoáng làm cho ông lạnh toát người. Lúc ấy ông đi lại gần bàn, tì ngón tay lên mặt bàn và hỏi một cách nghiêm khắc:
-Chuyện gì thế anh?
Ngước lên ánh đèn, đôi mắt Ô-xin như bị che bởi một cái mạng bằng thủy tinh, nhìn xoáy vào mặt Ve-xnin, Ô-xin im lặng, tựa hồ như bằng cái nhìn đó anh ta đồng thời cảnh giác cân nhắc cái gì đó ở trong bản thân mình cũng như trong Ve-xnin, anh ta còn chưa quyết định nói, chưa vượt qua một trở ngại nào đó.
-Anh nói đi!-Ve-xnin đòi hỏi.
0

Ô-xin đứng dậy, đi về phía cửa hầm ngầm, dứng lại đó một lát, rồi lại quay vào ngồi xuống ghế, mặt ghế cọt kẹt dưới sức nặng thân hình chắc nịch của anh. Và một lần nữa cặp mắt như đeo cái mạng bằng thủy tinh cùng với giọng nói hạ thấp của Ô-xin chờn vờn quanh Ve-xnin.
-Xin đồng chí hiểu đúng ý tôi, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự. Vì sao đồng chí và tư lệnh tập đoàn quân lại quên mất cảnh giác khi mà không thể quên được? Tôi biết tính khí của tư lệnh, chắc đồng chí ấy không muốn nghe tôi, vì vậy tôi nói với đồng chí, với đại diện có uy tín của Đảng, nói một cách hoàn toàn cởi mở.
-Được. Anh nói tiếp đi,-Ve-xnin nói và nghiêng người thấp hơn nữa trên mặt bàn, nhìn vào tròng mắt Ô-xin và cũng vẫn chưa đoán được hết cái gì đó lấp lửng mà trưởng phòng phán giản không nói ra có lẽ do thói quen dè dặt hoặc là do e ngại ông, ủy viên Hội đồng quân sự, người nắm quyền lực hết sức lớn.
-Thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự,-Mắt Ô-xin vẫn chưa hết vẻ đắn đo, đôi lông mày màu sáng hơi cụp xuống.-Đối với đồng chí chẳng có chuyện gì bí mật, đồng chí biết rất rõ những biến cố tai hại xảy ra trên mặt trận Vôn-khốp vào tháng sáu năm nay. Chắc đồng chí hãy còn nhớ.
-Nghĩa là thế nào?-Ve-xnin đột ngột nhấc ngón tay khỏi bàn, thọc tay vào túi áo choàng, đi vài bước trong hầm ngầm, ông bỗng chốc cảm thấy cóng lạnh và không rút tay ra khỏi túi.-Rốt cuộc tôi càng không hiểu gì cả! Anh muốn nói về tập đoàn quân xung kích số Hai phải không?
-Vâng, về những biến cố xảy ra tại tập đoàn quân xung kích số Hai. Không thể nào quên chuyện đó được. Chính là…-Ô-xin nhắc lại một cách đầy ý nghĩa và nhìn lên nóc hầm ngầmệnh lệnh: nóc hầm kẽo kẹt vì những tiếng đạn nổ gần trên điểm cao, ngọn đèn “con dơi” chao đảo ở trên đầu.-Đồng chí hãy nhìn xem: Xe tăng địch vẫn đang nã súng vào đài quan sát…
Ve-xnin ngồi phắt xuống ghế, rút ngay tay ra khỏi túi áo và vươn người về phía bao thuốc lá dính đất rơi ở trên trần xuống nhưng lập tức ông đẩy ngay bao thuốc ra, xoa thái dương như thể làm cho đầu đỡ đau và bất ngờ ngạc nhiên nhìn thẳng vào Ô-xin. Có một cái gì đó đã bung ra trong người ông, ông cảm thấy mình sắp nổi khùng lên, sắp đấm tay xuống bàn nhưng ông chỉ tức giận thốt lên:
-Vậy thì tất cả những chuyện đó có quan hệ gì? Anh, Ô-xin, anh lo ngại… anh sợ rằng nếu như sư đoàn bị bao vây hoàn toàn thì chưa biết sẽ xảy ra chuyện quái quỉ gì với Bét-xô-nốp và tôi chứ gì? Do đâu anh có sự thận trọng này?
-Ấy, sao lại thế, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự?
Ô-xin cụp đôi lông mi trắng xuống, nói một cách thành thực và có ý dỗi:
-Sao đồng chí lại nói thế? Tôi biết rõ tinh thần dũng cảm của tướng Bét-xô-nốp và biết rõ đồng chí, và tôi không thể hiểu được tại sao đồng chí, xin thứ lỗi cho, lại coi tôi là một kẻ quá ngu ngốc như vậy, thưa đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự? Tôi không muốn bị hiểu lầm.
-Thế nghĩa là phải hiểu như thế nào?
-Tôi muốn nói về những sự ngẫu nhiên. Chắc đồng chí còn chưa biết rõ về số phận bi thảm của con trai tư lệnh, thiếu úy Bét-xô-nốp?
Tiếng đạn trái phá nổ xô mạnh căn hầm ngầm, ngọn đèn lại chao đảo dưới nóc hầm vặn mình răng rắc, những mảnh đất vụn rơi bồm bộp trên mặt bàn. Có tiếng chân người bước nặng nề, có người thét to, chạy dọc theo đường hầm gần căn hầm ngầm, những giọng đáp lại không rõ vang lên, nhưng Ve-xnin không chú ý đến những tiếng ồn ào trong đường hầm.
-Không,-ông đáp.-Tôi có biết chuyện con trai của tư lệnh bị mất tích trên mặt trận Vôn-khốp. Thế anh có tin gì thêm.
Ô-xin quay đầu về phía cửa vào hầm ngầm, lắng nghe tiếng nổ trên điểm cao, những giọng nói trong đường hầm, rồi không thật quả quyết lắm anh đặt lên bàn chiếc túi dã chiến căng phồng, mới tinh, không một vết xước rồi mở túi ra. Ngón tay anh lục lọi đám giấy tờ sột soạt.
-Đồng chí hãy xem, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, một tài liệu mới nhất. Tờ truyền đơn này tôi vừa mới nhận được và quyết định báo tin ngay để đồng chí biết. Đồng chí hãy xem đi…
Ô-xin thận trọng rút tờ truyền đơn từ kẹp giấy để trong túi và chìa sang bên kia bàn đưa cho Ve-xnin, tờ truyền đơn hình chữ nhật màu vàng nằm trên mặt bàn xù xì trước mặt ông. Trên tờ truyền đơn, tấm ảnh như một vết sẫm mầu, in trên giấy báo rẻ tiền, đập ngay vào mắt cùng những hàng chữ đậm nét phía trên bức ảnh: “Con trai của một vị chỉ huy quân sự Bôn-sê-vich nổi tiếng đang điều trị tại một bệnh viện quân y Đức”. Trên ảnh là một chú bé gày gò, như thể đã phải chịu đựng một căn bệnh làm cho kiệt sức, đầu cạo trọc, mặc áo va rơi có đeo quân hàm thiếu uý, chẳng hiểu sao cổ áo lại mở banh ra để lộ rõ chiếc cổ giả mới tinh đính xiên xẹo vào, chú bé ngồi trong chiếc ghế bành đặt sau cái bàn nhỏ, xung quanh là hai sĩ quan Đức quay mặt về phía chú, mỉm cười gượng gạo. Chú bé cũng mỉm cười một cách đau khổ, kỳ quặc, đưa mắt nhìn những ly rượu chân cao đặt ở giữa bàn, một chiếc nạng tựa vào tay vịn của ghế bành.
-Đây không phải là đồ giả mạo chứ? Hay đây đúng là con trai của tướng Bét-xô-nốp?-Ve-xnin thốt lên còn cố cưỡng lại mình, chưa tin rằng chú bé cạo trọc dường như bị kiệt sức vì bệnh thương hàn đó có thể là con trai của Bét-xô-nốp và sau khi hỏi, ông đưa mắt nhìn Ô-xin như ngầm báo trước cho anh biết rằng ông sẽ không tha thứ cho sự lầm lẫn.
-Tất cả đều đã được kiểm tra, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự,-Ô-xin với cái vẻ trang trọng và nghiêm nghị của một con người biết rõ trách nhiệm của mình.-Riêng về tấm ảnh thì tuyệt đối không có sự nhầm lẫn. Đồng chí hãy đọc đoạn văn xem, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự.
Ô-xin ngả người ra đằng sau khiến chiếc ghế làm bằng hòm đạn cọt kẹt, mũi thở mạnh ra.
Ve-xnin đưa mắt lướt qua đoạn văn ngắn ở phía dưới tấm ảnh, chật vật mãi vẫn không hiểu ngay được ý nghĩa của nó, ông đọc đi đọc lại mấy lần những câu nói cay độc quen thuộc, xông lên cái mùi vị xa lạ, lối tuyên truyền dối trá quen thuộc, đã thành nếp của bọn phát xít, ông không thể nào tập trung, chăm chú đọc đoạn văn đó được. Ông ngừng đọc, nhìn vào tấm ảnh trông như một vết sẫm đen đó, nhìn nụ cười đau khổ của chú bé đầu cạo trọc, chiếc nạng dựa vào tay vịn ghế bành, cái cổ áo giả sạch sẽ đính xiên xẹo vào chiếc cổ áo không cài khuy và nhìn vào cái cổ trẻ trung gầy gò đến thảm hại của con trai tướng Bét-xô-nốp. Đoạn văn có mấy câu khiến Ve-xnin chú ý: “Con trai nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng Bét-xô-nốp-như mọi người đều biết, ông từng chỉ huy một trong những cánh quân từ hồi đầu chiến tranh-đã tuyên bố với các đại biểu của bộ chỉ huy Đức rằng người ta đã ném cái đại đội huấn luyện và trang bị kém do anh ta chỉ huy, vào lò sát sinh. Trận đánh cuối cùng thật không thể nào chịu đựng nổi… Thiếu uý Bét-xô-nốp bị thương nặng, đã chiến đấu dũng cảm, hầu như cuồng tìn, anh cũng đã tuyên bố rằng: “Tôi rất ngạc nhiên khi được đưa vào điều trị tại viện quân y. Tôi đã thấy nhiều tù binh Xô viết ở đây. Họ được điều trị chu đáo. Lối tuyên truyền của chính phủ Xô-viết về sự man rợ của người Đức là không phù hợp với thực tế. Tại đây, trong viện quân y tôi có thì giờ để hiểu rằng người Đức là một dân tộc nhân đạo, có trình độ văn minh cao, muốn khôi phục tự do ở nước Nga sau khi lật đổ chế độ Bôn-sê-vich…”.
-Đồng chí đã xem rồi chứ ạ, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự?--Giọng nói trang trọng của Ô-xin vang lên, anh đã theo dõi thấy Ve-xnin đọc lâu.-Xin đồng chí cho phép tôi lấy lại tờ truyền đơn.
“Thế ra là con trai Bét-xô-nốp đây, nó hãy còn sống và bây giờ thì rõ quá rồi,-Ve-xnin nghĩ, ông vẫn chưa đủ sức rời mắt khỏi tấm ảnh xám, in mờ của chú bé hốc hác đeo quân hàm thiếu uý đó.-Bét-xô-nốp không biết chuyện này. Có lẽ anh ấy đoán ra nhưng không biết rõ. Thế nghĩa là thế nào? Đoạn văn rõ ràng là giả mạo. Chắc chắn là giả mạo, chúng nó thiếu gì cái trò này. Một thằng khốn nạn nào đó bị bắt làm tù binh cùng với thằng bé đã chỉ cho bọn Đức biết: ấy, tay đại đội trưởng ấy là con trai một vị tướng đấy. Phải, chắc là như thế. Đúng hơn cả là như thế. Không thể nào khác được. Rồi sau đó nó bị đưa vào viện quân y. Ngay trong cuộc hỏi cung đầu tiên, chúng nó đã chụp ảnh và bịa ra đoạn văn này. Không thể nào khác được! Nó là chú bé học sinh được Đoàn thanh niên cộng sản, được chính quyền Xô-viết giáo dục kia mà! Không, mình không tin vào một cách lý giải khác, mình không thể tin được!”.
-Thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, chính đồng chí cũng hiểu rõ ràng không thể đem tờ truyền đơn này ra phổ biến được. Nghĩa là… tôi rất không muốn để tư lệnh biết việc này.
-Khoan đã.
“À phải, Bét-xô-nốp, Bét-xô-nốp… Anh ấy đã nói là người ta chỉ thông báo cho anh ấy biết rằng con trai anh ấy đã bị mất tích. Nó không có tên trong danh sách những người bị chết và bị thương… Mà tờ truyền đơn này đề ngày tháng nào nhỉ? 14 tháng Mười năm 1942. Gần hai tháng trước”.
-Thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, xin đồng chí thứ lỗi cho. Đồng chí hãy trả lại cho tôi tờ truyền đơn. Tư lệnh có thể bất chợt vào đây.-Chúng ta không có quyền làm cho đồng chí ấy chấn thương về tinh thần…
“Lúc Bét-xô-nốp ở Mát-xcơ-va người ta đã biết việc này hay chưa biết? “Tờ truyền đơn này, bản thân đồng chí cũng biết đấy, không phải để phổ biến”… ”Chúng ta không có quyền làm chấn thương”. Thế nghĩa là có một người nào đó đang bằng cách này hay cách khác ngăn chặn không để tư lệnh biết tấn thảm kịch thật sự đã ụp lên đầu con trai ông. Nhưng để làm gì? Ý nghĩa của việc làm đó.
-Đồng chí Ô-xin này, đồng chí tin vào tờ truyền đơn này à?-Ve-xnin hỏi khẽ.-Đồng chí tin rằng chú bé này… đã phản bội?...
-Tôi không suy nghĩ,-Ô-xin đáp và khoát tay một cách khinh khỉnh. Sau đó anh ta chữa lại:-Nhưng… trong chiến tranh mọi việc đều có thể xảy ra. Tất tật mọi sự, tôi cũng biết rõ như vậy.
-Anh cũng biết?-Ve-xnin nhắc lại và cố không để lộ các ngón tay đang run, ông gấp tờ truyền đơn làm tư, mở khuy áo choàng, đút nó vào trong túi ngực.-Tôi sẽ giữ tờ truyền đơn, như anh nói, “không phải để phổ biến”.-Ve-xnin đặt những nắm tay siết chặt lên bàn.-Bây giờ tôi khuyên anh thế này: anh hãy lập tức rời khỏi đây! Anh hãy đi khỏi đài quan sát ngay lúc này. Như thế sẽ hay hơn. Anh hãy đi ngay đi!
Rồi tựa nắm tay lên bàn, Ve-xnin đứng lên.
Ô-xin cũng đứng dậy nhưng vì quá vội vã nên cụng đầu gối vào bàn; khuôn mặt hơi bầu bĩnh, đỏ đắn khoẻ mạnh chợt trắng bệch, da mặt căng lên.
-Còn nếu như có xảy ra chuyện gì trong vòng vây, đại tá Ô-xin…-Ve-xnin dằn giọng nói tiếp,-nếu như có xảy ra chuyện gì thì sự an toàn… là ở đây,-và ông đưa tay ra vỗ vỗ vào bao súng ngắn đeo trên dây lưng ở cạnh sườn.-Ở đây này…
0

Họ đứng im lặng hồi lâu ở hai đầu bàn. Xe tăng địch bắn như giã gạo lên điểm cao, tưởng như đạn pháo đã xê dịch căn hầm ngầm về một phía, đất chảy như suối từ nóc hầm xuống vách hầm, rơi rào rào lên phản, ngọn đèn “con dơi”, lúc lắc trên nóc hầm mờ tối đi, thông phong bị ám khói. Ve-xnin đã định rời khỏi hầm ngầm đi ra đường hầm nơi có nhiều người đứng, có tiếng ra lệnh, và giọng người nói sôi nổi, ra để hít thở chút khí trời lạnh giá sau cuộc trò chuyện này, ông trông thấy cặp môi dày của Ô-xin hơi mỉm cười còn cặp mắt xanh xanh của anh chẳng cười chút nào, ông bèn thốt lên, ghê sợ ngay cả giọng nói gay gắt của mình:
-Bét-xô-nốp sẽ không biết một tí gì về cuộc trò chuyện này!
Ô-xin im lặng một cách lễ độ. Không một giây phút nào anh ta quên trọng trách của Ve-xnin, những quan hệ tốt đẹp của ông với uỷ viên Hội đồng quân sự phương diện quân Gô-lup-cốp, anh ta không hề quên rằng Ve-xnin có quyền liên lạc trực tiếp với Mát-xcơ-va và đồng thời anh ta cho rằng Ve-xnin là một người quá nóng nảy, thiển cận, thiếu thận trọng, thậm chí nhu nhược,-những người như thế không thể làm cho người ta tin vào địa vị vững chắc của họ. Ô-xin biết rất rõ về ông, anh ta biết rằng Ve-xnin không phải là sĩ quan chuyên nghiệp mà là cán bộ dân sự, ông vốn là cán bộ giảng dạy ở trường Đảng cao cấp và Học viện chính trị; anh ta nhớ rõ rằng bà vợ thứ hai của ông, người Ac-mê-ni-a là giáo viên hoá học, đứa con gái bà vợ trước tên là Nhi-na lên mười, anh ruột người vợ trước của ông bị kết án vào cuối những năm ba mươi, do việc đó Ve-xnin đã bị cảnh cáo nghiêm khắc và mãi trước khi xảy ra chiến tranh việc cảnh cáo đó mới bị bãi bỏ; anh ta biết rằng năm bốn mươi mốt ông đã là chính uỷ sư đoàn, đã vượt khỏi vòng vây của địch ở gần E-nhi-a và dẫn theo hầu như cả một trung đoàn nguyên vẹn; anh ta còn biết có và còn nhớ nhiều điều mà có lẽ chính bản thân Ve-xnin đã quên từ lâu. Nhưng sau khi cân nhắc tất cả cái đó trong trí nhớ ngồn ngộn và dai dẳng của mình, theo thói quen Ô-xin đã náu mình sau một nụ cười mỉm không biểu lộ cảm xúc gì. Và anh ta đã trả lời Ve-xnin bằng một thái độ mập mờ như vậy:
-Bản thân tôi không hề nhấn mạnh vào một điểm nào cả, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự. Tôi chỉ làm tròn trách nhiệm của mình… Trách nhiệm của sĩ quan và của người đảng viên.
-Và một khi trách nhiệm của anh đã được hoàn thành, anh chẳng còn việc gì để làm ở đây nữa,-Ve-xnin rầu rĩ nói.-Tôi nhắc lại lần nữa: anh hãy đi ngay khỏi đài quan sát và đừng lo sợ những chuyện ngẫu nhiên! Tôi không thể tưởng tượng được một cái gì vô lý hơn sự thận trọng của anh! Chả lẽ chỉ có mỗi một tiếng “bao vây” đủ để gây ra những nỗi khiếp sợ huyền bí hay sao!
Ve-xnin bước lại gần bàn, mắt kính loé sáng nhìn đại tá Ô-xin, với tay cầm bao thuốc lá dính đất ở bàn rồi khom người qua cửa hầm ngầm bước ra ngoài bóng tối lờ mờ dưới ánh sáng đạn pháo sáng, bước giữa tiếng ầm ầm của những loạt đạn súng máy, của những phát đại bác bị gió cuốn trên bờ luỹ đất của đường hầm.
0

Chương mười bảy


Ở hầm ngầm ra, Ve-xnin không tìm được đường hầm dẫn tới chỗ Bét-xô-nốp, tiếng súng máy như sát bên tai khiến tai ông bị ù đặc. Tới một khúc ngoặt trong đường hầm, ông nhận ra mấy người đang dứng trên luỹ đất nã tiểu liên xuống phía dưới. Không dừng lại, ông hỏi một cách máy móc:
-Các anh đã phát hiện ra cái gì thế? Các anh bắn đi đâu?
-Chúng nó đang bò trên các triền dốc!-Có người từ luỹ đất trả lời ông.-Chúng nó định lẻn vào, quân khốn…!-Rồi anh ta nã một tràng dài, lòng bàn tay vuốt lách cách trên băng đạn.-Xin lỗi đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự.
Ve-xnin đã nhận ra thiếu tá Bô-gi-scô; chiếc mũ lông lắt lẻo ở sau gáy để lộ rõ mảng đầu hói sớm của anh, toàn bộ khuôn mặt anh ánh lên vẻ say sưa vui vẻ.
-Việc gì phải xin lỗi. Tôi đâu có phải là cô gái đẹp mà anh ngượng,-Ve-xnin nhếch mép cười và nói:-Trái lại tôi cám ơn vì tinh thần phấn chấn của anh. Tư lệnh đâu?
-Ở quá đây một chút, trong đường hầm, cùng với Đê-ép,-Bô-gi-scô đáp và tò mò hỏi:-Còn Ô-xin thế nào ạ? Anh ta đâu? Anh hùng thật đấy: vừa đi vừa chiến đấu, đột nhập được tới tận đài quan sát! Chỉ có điều không biết anh ấy tới để làm gì? Định kiểm tra tấm huân chương đeo vào ngực vì đã tham gia chiến đấu chăng? Ca-xi-an-kin cũng không biết rõ, không lộ bí mật quân sự! Tay cừ thật!
Bị kích động vì vừa nã súng, Bô-gi-scô nói một cách không tự nhiên, không che giấu thái độ tin cậy quen thuộc của mình khi trò chuyện với Ve-xnin và sau khi nói về Ca-xi-an-kin anh vỗ vào vai người nào đó đang nằm như một mô đất sẫm ở bên cạnh trên bờ công sự rồi anh cả cười:
-Tôi đang thuyết phục Ca-xi-an-kin phải giết chí ít là một tên xâm lược, như nhà thơ nói, để sau chiến tranh còn có chuyện mà kể, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, ấy thế mà anh ta lại bảo tôi là anh ta không thích thơ. Không sao, Ca-xi-an-kin, rồi mình sẽ dạy dỗ cậu, Ca-xi-an-kin ạ, cậu mài đũng quần chưa ăn thua gì đâu. Xin đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự tha lỗi cho cách nói thô lỗ của tôi… Hãy học hỏi đi. Ca-xi-an-kin, chừng nào tôi còn sống! Nã ít loạt đạn ngắn về phía kia đi!
-Thôi để cho tôi yên, đồng chí thiếu tá!-Ca-xi-an-kin cằn nhằn bằng giọng bối rối.-Thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, thiếu tá Bô-gi-scô không có quyền chỉ huy tôi và trách móc sau lưng…
-Anh vẫn còn ở đây đấy à, Ca-xi-an-kin? Ve-xnin nói.-Tại sao lại ở đây?
Vốn thường quen với tác phong giản dị và lối mỉa mia nhẹ nhàng của anh chàng Bô-gi-scô xởi lởi, Ve-xnin không chú ý tới những lời đùa cợt của anh ta. Sau khi trò chuyện với Ô-xin, được biết rõ câu chuyện đau lòng bất ngờ phơi trền số phận của con trai Bét-xô-nốp, khi trông thấy Ca-xi-an-kin ông chỉ nghĩ tới việc Ô-xin vẫn chưa đi khỏi đài quan sát. Bởi vậy khi Ca-xi-an-kin trườn từ bờ luỹ công sự xuống, sửa lại dây lưng, giũ đất khỏi mình, vẻ mếch lòng, Ve-xnin đã nói bằng cái giọng ra lệnh xa lạ đối với chính bản thân ông :
-Ca-xi-an-kin, anh hãy nghe cho rõ đây: đi tìm đại tá ngay bây giờ. Anh ấy đang chờ anh trong căn hầm ngầm của pháo binh. Ở cuối đường hào. Và lập tức quay trở về bộ tham mưu tập đoàn quân ngay. Đi đi. Chạy nhanh lên.
-Xin tuân lệnh, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự.-Ca-xi-an-kin hét to, rõ ràng là phấn khởi. Anh ta thấy dễ chịu khi nghe mệnh lệnh đó và sau khi chào, anh lúng túng lao mình vào đường hào sáng lên dưới những quả đạn pháo sáng.
-Có chuyện gì thật sao, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự?-Bô-gi-scô nghiêm chỉnh trở lại, hỏi.-Hay là bí mật ạ?
Ve-xnin nói:
-Cái lối hài hước của anh ấy mà, Bô-gi-scô ạ, tôi có thể hiểu được vì tôi biết rõ anh. Nhưng anh chớ có tưởng rằng mọi người đều hiểu cả đâu. Anh có biết rằng có những người coi chuyện đùa là thật một cách quá nghiêm chỉnh không?
-Cám ơn đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự. Xin lỗi đồng chí chứ tôi thây kệ những tay nghiêm chỉnh ấy! Lý lịch của tôi trong veo như thuỷ tinh.-Bô-gi-scô vui vẻ nói.-Tôi sống một thân một mình ở trên thế gian này như một cái đinh. Và tuyệt lắm. Chẳng mất qua một tí gì ngoài những cái vạch trên quân hàm. Còn Ca-xi-an-kin là kẻ dốt nát và ngốc nghếch, hắn làm việc hùng hục như một cái rìu bổ củi, đến là nực cười. Hắn định dựa vào tình thân giữa các sĩ quan tuỳ tùng với nhau.
-Nghĩa là thế nào?-Ve-xnin không hiểu và cau mày.-Cụ thể là gì?
-Hắn là một chiếc rương to đấy, đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự ạ,-Bô-gi-scô cười vang.-Nhưng lạ lắm cơ… Hắn bảo tôi: “Anh sống với tư lệnh thế nào, ông tướng ấy cũng vầy vậy đấy chứ, ông ấy có bắt anh tháo giày không? Ông ấy có uống rượu Vốt ca không?”. Tôi mới bảo hắn: “Cậu có biết bài thơ: “Hãy giết tên giặc Đức” không? Cậu có biết cầm súng tiểu liên không? Người ta cầm súng như thế nào, cắp ở nách hay là ở phía dưới thắt lưng?”. Hắn lại nói: “ông tướng trông lầm lì lắm, ông ấy sống với chính uỷ thế nào, hoà thuận hay là mâu thuẫn?”. Tôi bảo hắn: “Cậu không đội nhầm cái bình đất có quai thay cho mũ sắt đấy chứ?”. Chúng tôi nói chuyện một cách cở mở, tuyệt lắm đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự ạ!
0

-Bét-xô-nốp ở đằng kia à?-Ve-xnin hỏi, đưa mắt nhìn về phía đường hào nơi có những bóng người thấp thoáng ẩn hiện dưới ánh pháo sáng. Ông bước trong đường hào nhưng trái với ý mình, ông bước chầm chậm và chợt dừng lại trong cái hốc đựng la bàn vì ông thấy không đủ sức nói với Bét-xô-nốp ngay lúc này về điều mà ông, với tư cách là uỷ viên Hội đồng quân sự, và đại tá Ô-xin được biết, về điều mà Bét-xô-nốp không thể nào ngờ tới được: về số phận khủng khiếp lạ lùng của chú bé cạo trọc đầu, với nụ cười đau khổ, con trai Bét-xô-nốp, chú bé đã không bị giết và đã sống trong trại tù binh từ mấy tháng nay.
“Anh ấy có thể hỏi về lý do khiến Ô-xin tới đây. Mình sẽ trả lời thế nào? Bây giờ mình lại gần anh ấy rồi nhìn vào mắt anh ấy mà nói dối tuy rằng, là một con người mình không có quyền làm như thế chăng?-Ve-xnin nghĩ.-Lúc ấy quan hệ giữa chúng mình rồi sẽ như thế nào? Không được, mình không thể lại gần anh ấy và làm ra vẻ như không có chuyện gì xảy ra. Giữa chúng mình cần phải có sự thành thực và trong sáng tuyệt đối… Nhưng mình không đủ sức nói với anh ấy lúc này về con trai anh ấy. Mình chịu không thể…”.
Ve-xnin cảm thấy rằng trong lúc quan hệ giữa hai người thực tế là không đơn giản và căng thẳng, ông càng đặc biệt không có quyền gì lẩn tránh vấn đề theo kiểu ngoại giao, ông không thể làm thế nào giảm nhẹ câu chuyện, lảng tránh điều chủ yếu. Và ông cứ đứng như vậy trong hốc đựng la bàn, ông cảm thấy hổ thẹn kinh khủng, như thể ông đang nôn oẹ trước mắt mọi người vậy.
-Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích!-Ve-xnin bất ngờ bước ra khỏi hốc đựng la bàn, bước nhanh lại phía Bét-xô-nốp, đang đứng giữa các sĩ quan gần ống kính ngắm lập thể.-Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích…
-Kìa, tôi đang cần gặp anh, Vi-ta-li I-a-ê-vích,-Bét-xô-nốp nói và rời khỏi kính ngắm, lấy khăn mùi soa lau những bụi tuyết lấm tấm trên mặt.-Sư ba linh năm đã xuất kích. Bây giờ chúng ta xem tình hình sẽ như thế nào. Nhưng điều chủ yếu là thế này…-Ông vẫn lau mặt bằng mùi soa với vẻ trầm ngâm lơ đãng.-Điều chủ yếu là lúc này các quân đoàn xe tăng và cơ giới. Phải giục giã, giục giã bằng mọi cách cho các quân đoàn đó đi nhanh lên! Tôi đề nghị anh, Vi-ta-li I-a-ê-vích, đi đoán quân đoàn xe tăng tại khu vực tập kết và nếu như anh không phản đối, anh hãy ở lại đó để phối hợp hành động cho có kết quả. Tôi coi đó là việc rất cần thiết. Nếu tôi nhớ không nhầm thì hình như anh rất yêu mến các chiến sĩ xe tăng, phải không?
Ve-xnin thấy cổ họng nghèn nghẹn, ông chật vật đáp:
-Tôi sẽ làm tất cả mọi việc, Pi-ốt A-lếch-xan-đrô-vích… Tôi sẽ đi ngay…
-Anh đi đi. Chỉ có điều anh hãy luôn luôn chú ý khi vào trong làng: tình hình ở bờ phía Bắc chưa được khôi phục…
… Khi Ve-xnin tới chỗ đường hào mà ông vừa gặp thiếu tá Bô-gi-scô, anh này vẫn nằm bắn trên bờ công sự như trước đây. Những loạt đạn súng máy làm vai anh rung lên, chiếc mũ lông trật ra sau gáy.
-Thiếu tá Bô-gi-scô, tôi cần gặp anh!
Nghe tiếng gọi, Bô-gi-scô quay người lại, đưa nắm tay lên chỉnh lại chiếc mũ và hét to bằng giọng sau sưa vui mừng:
-Bọn Đức vẫn đang bao vây! Chúng đi xe bọc thép và bò lổm ngổm như những chiếc gọng kìm! Xin tuân lệnh, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự.
Ve-xnin đứng yên trong đường hào, cúi đầu.
-Anh hãy nghe tôi nói đây, Bô-gi-scô! Bây giờ tôi phải đi đến chỗ quân đoàn xe tăng. Anh chớ quên điều này: hãy bảo vệ tư lệnh như giữ gìn con ngươi của mắt. Tôi khuyên anh nên luôn luôn ở sát bên tư lệnh.
-Rõ, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự-Rồi Bô-gi-scô hạ tiểu liên xuống, hỏi lại:-Đồng chí đi ngay bây giờ? Xin đồng chí thứ lỗi cho nhưng liệu có nên đi ngay lúc này không?... Địch đang nã súng vào khắp nơi trên điểm cao.
-Đại tá Ô-xin và đội bảo vệ sẽ cùng đi với tôi.-Ve-xnin khẽ lắc bả vai Bô-gi-scô-Sợ quái gì. Sẽ đi theo đường mà Ô-xin đã đi. Rồi mọi việc sẽ đâu vào đấy, Bô-gi-scô. Nếu chẳng may…
-Chúc mọi sự may mắn, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự!
Ve-xnin mỉm cười, khoát tay:
-Anh đi đi, Bô-gi-scô!
0

Đại tá Ô-xin và Ca-xi-an-kin vẫn ngồi cạnh bàn trong căn hầm ngầm của pháo binh, lắng nghe tiếng súng, cau có, lầm lì chờ đợi cái gì đó. Ve-xnin bước vào căn hầm và không vội giải thích, ông chậm rãi đưa mắt thăm dò Ô-xin vừa đứng bật ngay dậy và nói bằng giọng oai nghiêm, có vẻ xa lạ đối với ông.
-Tôi sẽ lên đường cùng với anh, đại tá Ô-xin. Đi đến làng Gri-gô-ri-ép-xcai-a. Xe để đâu? Anh hãy gọi đội bảo vệ đi theo!
-Tôi rất mừng, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, rất mừng. Cám ơn. Các xe được nguỵ trang đậu ở nhà kho dưới chân điểm cao,-Ô-xin hể hả nói, nhấc chiếc túi dã chiến ở bàn lên và hỏi không phải là không thận trọng:-Thế còn… tướng Bét-xô-nốp? Đồng chí ấy thì thế nào? Đồng chí ấy ở lại đây?
Ve-xnin không kìm được nữa:
-Thế ra anh tưởng rằng tôi đi với anh vì mục đích an ninh cá nhân chăng? Chả lẽ anh đinh ninh như vậy à?
-Thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự,-Ô-xin động đậy hàng mi trắn có ý không bằng lòng,-Việc gì đồng chí phải giận dữ với tôi. Tôi nghĩ rằng đồng chí sẽ gặp uỷ viên Hội đồng quân sự phương diện quân tại đài quan sát của tập đoàn quân. Rồi chính đồng chí ấy sẽ bày tỏ với đồng chí mối lo ngại của mình.
-Đừng dềnh dàng nữa, Ô-xin. Anh hãy dẫn đường tới chỗ để ô tô!
-Chúng tôi sẽ đi qua rìa làng phía Tây Bắc,-Ô-xin nói.-Cho đến nay chỗ đó vẫn còn đi được.
Khi mấy chiếc xe để ở dưới chân điểm cao theo lệnh Ô-xin nổ máy, rẽ ngoặt vào đường làng, tăng nhanh tốc độ phóng về rìa làng phía Tây Bắc, Ve-xnin nghĩ rằng tình hình của sư đoàn Đê-ép quả thực không vững chắc và bấp bênh xiết bao. Nhìn từ trên cao, từ trên đài quan sát, tình hình trên bờ sông bên này dường như hơi khác, không đến mức nghiêm trọng và gay go cực độ như vậy.
Tiếng súng rất căng của trận đánh đã áp sát gần cứ liên tục xói vào tai.
Toàn bộ khu làng ở bờ sông phía Bắc đều bị chìm trong những đám cháy đang lan rộng, tất cả đều cong queo, sụp đổ, vặn vẹo, động đậy trong ngọn lửa do đạn trái phá nổ bùng lên giữa các ngôi nhà, những loạt đạn súng máy từ phía sau những nhà kho đang bốc cháy phụt ra những bó lửa hoa cà hoa cải, ngồi trong xe cũng ngửi thấy mùi không khí nóng bỏng hănghắc, đăng đắng. Không khí nóng bỏng lẫn với khói làm mắt cay xè, gây chảy nước mắt và ngứa họng. Người lái xe chốc chốc lại ho sù sụ áp ngực vào tay lái. Ve-xnin đã thoáng trông thấy những chiếc xe tăng ở cuối đường làng xa tít, chúng trườn đi như những tia hồi quang màu đỏ giữa các ngôi nhà, biến mất rồi lại hiện ra, đi xa dần xe của ông hay đúng hơn xe của ông đi xa khỏi chúng và không thể nào phân biệt được đó là xe tăng của bên nào.
-Tăng hết ga đi! Cứ đi theo xe của Tít-cốp, anh ấy thuộc đường lắm. Đi hết rìa làng rồi ngoặt về phía tay phải ngay!-Ô-xin hét to với vẻ kích động của một con người đang gánh chịu toàn bộ trách nhiệm rồi anh quay khuôn mặt bầu bĩnh, rắn chắc của mình về phía Ve-xnin.-Chúng ta sẽ phóng nhanh qua được, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự!
-Chắc là thế.
-Mọi việc sẽ đâu vào đấy,-Ô-xin xác nhận và hít hít không khí.-Phải vượt ba ki-lô-mét nguy hiểm…
Anh ta muốn nói chuyện nhưng hình như lúc này Ve-xnin không muốn nói.
Ông ngồi ở phía đằng sau, bên cạnh Ca-xi-an-kin đang lặng lẽ ngả lưng vào thành ghế; mỗi khi gặp ổ gà xe bị xóc, khẩu tiểu liên để trên đùi người sĩ quan tuỳ tùng lại thúc vào sườn Ve-xnin. Ca-xi-an-kin hết đưa mắt nhìn xuống con đường tuyết trắng rực sáng ven những ngôi nhà đang cháy. Nghe Ô-xin nói, Ca-xi-an-kin rùng mình khi hình dung ra chặng đường ba ki-lô-mét đó, đưa mắt sợ hãi nhìn sang bên phải và bên trái, Ve-xnin nghĩ: “Dẫu sao đây cũng là một anh chàng lôm côm. Hắn nhát gan quá mức thì phải!”.
-hãy giữ tiểu liên cho vững, Ca-xi-an-kin. Hay là đưa nó đây cho tôi,-Ve-xnin nói.-Tiếc rằng Bô-gi-scô đã không dạy được cho anh cầm súng cho đến nơi đến chốn.
-Dạ… để tôi cầm… tôi cầm, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự,-Ca-xi-an-kin đáp, giọng giật nẩy lên và gật đầu:-Xin đồng chí thứ lỗi cho.
-Úi chà, Ca-xi-an-kin! Rồi tôi sẽ luyện cho cái đầu óc anh…-Ô-xin thốt lên giọng hơi bực bội, quắc mắt lên lườm Ca-xi-an-kin rồi hướng về phía Ve-xnin ra ý dàn hoà:-Cám ơn đồng chí, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự vì đồng chí đã hiểu đúng ý tôi… liều lĩnh một cách vô lý như thế để làm gì! Bản thân đồng chí lúc này có thể thấy rõ là vẫn còn một con đường duy nhất tương đối an toàn. Con đường duy nhất còn giữ được…
-Tôi đã hiểu đúng đồng chí, đồng chí Ô-xin,-Ve-xnin cố bình tĩnh đáp.-Đúng tới mức lúc này chúng ta chả còn chuyện gì để nói cả. Rồi ta sẽ nói chuyện sau.
-Rõ, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự,-Ô-xin tán thành ngay với vẻ hiểu biết giả tạo và tựa hồ như cũng bình thản rồi anh xoay người lại một cách chậm chạp cố ý, thu xếp chỗ ngồi vững vàng trên ghế.
Ở phía bên phải, các đám cháy đã thưa thớt hơn, hình như sắp hết đường làng ở phía trước mặt. Xe chạy dọc bờ sông, điểm cao tròn trặn của đài quan sát sư đoàn đã nằm lại sau lưng, còn ở phía bên trái, trên nóc các ngồi nhà nhỏ, phía bên kia sông bầu trời vẫn sáng rực, nóng bỏng vì những quả đạn trái phá nổ tung và đạn pháo sáng toé ra vung vãi,-tất cả chìm lút trong tiếng ầm ầm dày đặc, đủ loại âm thanh.
0

Chiếc xe tắm trong ánh sáng màu hồng, đi về phía tay phải, xa dần đám cháy lớn đó, xa dần cuộc chiến đấu bên kia sông, leo lên cả dốc ở rìa làng, đi ngang qua những ngôi nhà cuối cùng và Ve-xnin bất giác cảm thấy nhẹ nhõm như được giải thoát, giờ đây ông nhìn theo chiếc xe của đội bảo vệ đi ở phía trước đang phóng hết tốc lực trên con đường dốc bóng như gương dẫn tới bình nguyên ở phía sau rìa làng, nơi kết thúc ranh giới của cuộc chiến đấu. Ở đó đêm tối hơi ánh hồng lên. Thậm chí khi động cơ ô tô rú lên vì vấp phải ổ gà, xe lắc mạnh vì chạy nhanh và lướt giữa sương mù thoáng đãng ở phía trước trên thảo nguyên nơi bóng đêm im lìm phủ kín, Ve-xnin cảm thấy rằng chỉ mãi đến lúc này mới thoát khỏi hiểm nguy, lúc này khu vực chiến đấu, xe tăng Đức trong làng, dòng sông, đài quan sát của sư đoàn trên bờ sông đã nằm lại sau lưng họ; và bất chợt ông hình dung thấy rõ như thật khuôn mặt lạnh lùng, mệt mỏi của Bét-xô-nốp đang lắng nghe báo cáo của các sĩ quan ở đó, trên điểm cao. Sau khi không phải là không lo lắng nghĩ tới chuyện đó, ông lại nhìn vào kính trước xe tắm trong quầng sáng, tấm lưng chắc nịch của Ô-xin, cái tai nhỏ bé, đỏ ửng, bị chiếc mũ lông che lấp mất một nửa nhô lên trên chiếc cổ áo lông của anh ta và ông trông thấy hết sức rõ đuôi mắt căng thẳng cả anh ta nhìn chằm chặp vào người lái xe như có ý dò hỏi và cảnh giác. Còn người lái xe vẫn ho sù sụ, áp mình vào tay lái, co giật, rùng mình như lên cơn động kinh tuy không còn ngửi thấy mùi khói súng nữa.
-Anh làm sao thế? Anh điên à? Tại sao lại giảm tốc độ?-Ô-xin bất chợt thét to và tì cả người lên anh lái xe:-Gì thế? Gì thế?... Có việc gì thế?
-Đồng chí đại tá!... Đồng chí hãy nhìn xem!-Người lái xe chật vật nói qua cơn ho liên miên.-Đồng chí hãy nhìn, hãy nhìn về phía trước mà xem!...
-Tít-cốp… Hình như Tít-cốp đang cho xe quay lại…-Ca-xi-an-kin thều thào nói, vươn cổ về phía người lái xe, nhổm người lên, bám cả hai tay vào lưng ghế trước; khẩu tiểu liên của anh ta tuột ra, lăn từ trên đùi xuống sàn xe đang rung bần bật, nẩy bật vào chân Ve-xnin.
-Xe tăng!...-người lái xe nói giọng khản đặc, mắt nhớn nhác như điên dại.-Bọn Đức ở phía trước!...
-Đâu? Bọn Đức nào?-Ô-xin la lên.-Chúng nó từ đâu tới? Xe tăng T-34 của ta đấy chứ! Tiến lên!... Cậu điên rồi à, đồ lẩm cẩm! Dấn ga đi!...
Khẩu tiểu liên vẫn cứ đập đập vào chân Ve-xnin.
“Dẫu sao anh hãy cầm lấy khẩu tiểu liên chứ!”-Ve-xnin vẫn định nói với Ca-xi-an-kin nhưng không nói vì ông đã trông thấy những gì đang xảy ra trước mặt
Chiếc xe rú to khi lên dốc, đi vào bình nguyên ở sau rìa làng. Ở đây sương mù màu hồng dựng đứng như một bức tường chạy dài đến chân trời đen thẫm và giữa bóng tối được quầng sáng trên trời rọi chiếu, ngay trên bình nguyên phía trước, chiếc ô tô đi đầu chở đội bảo vệ chồm lên và giật lùi một cách hỗn loạn, hối hả rẽ ngoặt trước những cái bóng to tướng giống như những đống rơm; sau cùng nó cũng đã quay lại được và phóng vun vút trên ổ gà, chạy ngược lại phía chiếc xe thứ hai. Ô cửa bên phải chỗ lái xe ngồi bật ra, thiếu tá Tít-cốp nhô cả nửa người ra ngoài xe, hình như anh thét to điều gì đó, giơ tiểu liên lên trời. Rồi anh bắn một tràng dài.
-Thế bây giờ anh còn tin chắc rằng đây là T-34 hay không, Ô-xin?-Ve-xnin thốt lên một cách bình tĩnh bất ngờ trong hoàn cảnh này đến nỗi chính ông cũng không phân biệt được giọng nói của mình.
Đúng vào lúc ấy chiếc ô tô phanh đột ngột khiến ngực ông bị đập vào lưng ghế trước đau nhói, nhưng ông cũng đã kịp trông thấy những cái bóng đen to tướng dưới bầu trời lờ mờ màu hồng đang phụt ra những tia lửa xuống tuyết, tiếng gầm rú inh tai của động cơ xe tăng từ phía đó vọng lại. Và lập tức một quầng lửa đỏ bay về phía trước, nổ vang như sấm. Cột lửa hình chóp nón xoè rộng trước mặt chiếc ô tô chở đội bảo vệ, hất nó sang một bên, phơi sườn trên bình nguyên. Chỉ có một người vọt được ra khỏi ô tô trên con đường xuống dốc. Hình như anh ta la hét cái gì đó, giơ tiểu liên lên cao quá đầu.
-Quay lại!...-Ô-xin điên cuồng ra lệnh rồi buông người trên ghế ngồi ở sau lưng, đấm vào vai lái xe.-Quay xe! Nhanh lên! Xuống dốc! Vào trong làng!
-Bọn Đức! Bọn Đức!... sao lại thế nhỉ?...-Ca-xi-an-kin kêu toáng lên, nép mình trong góc ô tô, thậm chí tựa hồ như anh ta định co đầu gối vào bụng và do những cử động ngớ ngẩn ấy của anh ta, do cái giọng khiếp sợ ấy của anh ta, có một cái gì đó sắc nhọn như nỗi sợ hãi loang đi, nhói vào lòng Ve-xnin.
-Im nga-ay, Ca-xi-an-kin!-Ông phẫn nộ vẻ kinh tởm gạt đầu gối gấp lại run rẩy của anh ta, nhắc lại:-Anh hãy im ngay đi! Hãy giữ bình tĩnh!
-Chúng nó ở liền ngay bên cạnh rồi, liền ngay bên canh! Chúng ta bị phục kích rồi!...-Ca-xi-an-kin nức nở la lên.-Thế là thế nào?...
-Anh im đi, tôi đã bảo kìa!
Ve-xnin đã nghe thấy Ô-xin ra lệnh: “Quay lại sau! Nhanh lên! Phóng hết tốc lực!”-Và chẳng đúng lúc tí nào, người lái xe ho rũ rượi, tay và vai lật đật xoay tay lái, Ô-xin vươn người về phía trước như con mãnh thú, sốt ruột đấm tay xuống nắp sắt che động cơ. Qua cửa kính ở thành xe, Ve-xnin toan ngó nhìn đám xe tăng và ngay khoảnh khắc đó ông có cảm giác là chiếc ô tô rốt cuộc đã quay đầu lại được và chẳng hiểu sao nó xiên ngang, nổ lốp, lăn tuột xuống dốc, y như thể nó bị lóa mắt vì quầng lửa thứ hai đang bay thẳng về phía nó. Sương mù náo động dựng đứng ngay trước mắt, tiếng kính loảng xoảng, hơi nóng ngột ngạt như từ lò sưởi cháy rừng rực bốc lên. Một cái xóc khủng khiếp hất tung Ve-xnin ở trong xe, đẩy ông về phía một người nào đó đang lổm ngổm và la hét rền rĩ. Với mưu toan kỳ lạ định giải thoát khỏi sự bất ngờ của tai họa đã xảy ra với ông, Ve-xnin vẫn còn nghĩ một cách tỉnh táo: “Miễn sao lúc này mình không bị ngất! Ai la hét thế nhỉ? Ca-xi-an-kin à? Cậu ta bị thương à? Tại sao cậu ta la hét ghê thế?”.
Nhưng cú xóc mạnh lần thứ hai làm đầu ông va vào sắt cứng và hình như ông đã bị choáng mất một lúc. Ve-xnin tỉnh lại ngay vì tiếng kêu, vì có người động đậy ở dưới ông và ông không hiểu ra ngày được tại sao mình lại nằm đè lên một người kỳ quặc nào đó một cách kỳ quặc như vậy, cửa xe không ở bên phải mà lại ở trên đầu; ông lờ mờ đoán ra: chiếc ô tô đã bị lật nghiêng ở dưới chân gò dốc. Trong cơn choáng, tất cả trôi bập bềnh trước mắt ông, kính của ông đã bị văng mất. Tuy chưa tỉnh hẳn, ông đưa hai tay quờ quạng tìm kính; ông đã trông thấy lờ mờ đầu của người lái xe không mũ, bất động ngoẹo xuống ô cửa thấp ăn sâu trong đụn tuyết; tấm kính phía trước bị vỡ, nắp máy ô tô bằng sắt tây nhô lên-không khí giá lạnh cùng với tiếng ầm ầm khó hiểu, rất gần ùa vào trong ô tô, tiếng ầm ầm đó át cả tiếng rền rĩ, tiếng kêu khàn khàn của Ca-xi-an-kin bị ông đè lên và tất cả những cái đó làm cho ông tỉnh hẳn.
-Ca-xi-an-kin, anh bị thương à? Sao anh kêu khiếp thế?-Ve-xnin nói yếu ớt, đến chính ông cũng khó nghe thấy.
-Cẳng chân… Cẳng chân tôi-giọng nói của Ca-xi-an-kin đập vào tai.
-Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, đồng chí có bị thương không? Đồng chí hãy bò ra nhanh lên, nhanh lên! Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự…
Có bóng người to lớn chắn hết cả ánh sáng rực ở bên ngoài, người đó hối hả dùng sức rứt, giật, cố mở cửa xe ở trên đầu và khi đã mở được cửa, thò hai cánh tay xuống túm lấy vai Ve-xnin và ra sức kéo ông lên. Khuôn mặt trắng trẻo của Ô-xin thấp thoáng trước mắt ông, anh ra lệnh bằng giọng nghẹt thở:
-Nhanh lên, nhanh lên đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự phải đi ngay, đi ngay!... Nhanh lên! Đồng chí không bị thương chứ? Đồng chí có đi được không?
-Ô-xin… tốt hơn hết ãnh hay giúp đỡ Ca-xi-an-kin, hình như cậu ấy bị thương,-Ve-xnin thì thào và leo ra khỏi cửa xe, nhảy xuống đám tuyết rồi bám vào thành xe vì hơi chóng mặt.
-Ca-xi-an-kin!-Ô-xin giận dữ quát lên, gập hẳn người vào trong cửa xe.-Cậu bị thương à? Bị thương hay giả vờ đấy? Bò ra ngày! Rõ chưa? Dù ngắc ngoải cũng bò ra! Tiểu liên đâu? Tiểu liên đâu?
Giữa lúc ấy có người nhảy bổ lại phía Ve-xnin, thở hổn hển nóng hổi: “Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự!”-Và chưa dứt lời, người đó đã dùng những ngón tay cứng như sắt kéo giật ông xuống, thét lên ra lệnh bằng giọng nghèn nghẹn:
-Đồng chí hãy nằm xuống đằng sau xe, chỗ này này! Xin đồng chí đừng đứng thẳng người lên như thế!... Chúng ta đã vấp phải địch! Không hiểu xe tăng của chúng từ đâu tới đây? Chúng từ đâu tới đây? Trước làm gì có!...
Đó là thiếu tá Tít-cốp, đội trưởng đội bảo vệ. Ve-xnin nhớ ngay ra là chính Tít-cốp đã chạy từ chỗ xe bị bắn hỏng của anh tới chỗ ông, sau khi anh đã bắn một tràng súng báo hiệu và quả đạn đầu tiên của địch nổ tung. Lúc này sau khi đẩy Ve-xnin vào phía sau xe để bảo vệ ông, Tít-cốp cũng bổ nhào trên nắp xe, tì người lên ngực và khuỷu tay, chuyển khẩu tiểu liên sang tay trái đang đỡ băng đạn, chăm chú nhìn lên mép gò đất, từ đó vọng lại tiếng rú của động cơ xe tăng. Ve-xnin ngăn anh lại:
-Đừng bắn, Tít-cốp! Đợi cho xe tăng chúng nó đi qua! Đừng nóng vội! Anh định dùng tiểu liên chống lại xe tăng à?... Phải đợi thôi!...
-Tôi có lỗi với đồng chí, thưa đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự,-Tít-cốp nói, giọng nghẹn ngào.-Vì tôi chịu trách nhiệm về tính mạng của đồng chí…
-Xin đừng thanh minh nữa!-Ve-xnin nổi ũng lên.-Chính tôi chịu trách nhiệm về tính mạng của mình.
-Kia kìa, chúng nó kia kìa… chúng nó đánh tạt sườn vào làng từ phía bên trái!-Tít-cốp thốt lên.-Giá chúng không nhận ra… Mười hai xe tăng. Có cả xe bọc thép chở quân.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-20 14:28:24Ct.Ly>
Vì mất kính nên Ve-xnin không thể nhìn rõ tất cả những gì mà cặp mắt tinh như mắt mèo của Tít-cốp nhìn thấy. Bóng những chiếc xe tăng to lớn bồng bềnh, tiếng động cơ gào rú át hết cả mọi âm thanh, phụt những tia lửa tung tóe khỏi ống xả, thong thả chuyển dịch theo gò đất tối thẫm dưới quầng sáng trên trời lẫn vào làn sương mù hồng hồng trên thảo nguyên, cách bãi đất thấp nơi chiếc xe bị lật nghiêng chừng một trăm mét. Ve-xnin cảm thấy bất lực đến đau lòng nghĩ rằng có lẽ lúc này Bét-xô-nốp và Đê-ép ở đài quan sát vẫn còn chưa hay biết gì về những chiếc xe tăng đã đột kích vào đây, vào rìa làng phía Tây Bắc.
Ông vừa nghĩ tới đó thì một loạt đạn súng máy lóe lên như chớp bay vút phía trên xe và Tít-cốp là người đầu tiên trông thấy những gì mà đôi mắt cận thị của Ve-xnin không nhận ra. Khoảng một chục tên Đức đang đi từ chỗ gò đất tới đường cái: rõ ràng đó là đội trinh sát địch tới để kiểm tra xem trong xe có còn ai sống không.
Bọn Đức đi xuống phía dưới triền dốc một cách thận trọng; hai tên trong bọn chúng giữ khẩu súng máy trên đỉnh gò dốc và đứng bắn: một tên cúi xuống, tên kia đặt nòng súng máy lên lưng tên này như đặt trên giá súng vậy. Một giây trước Tít-cốp còn hy vọng rằng bọn Đức chỉ đi ngang qua đây thôi, lúc này anh hầu như tuyệt vọng nhìn Ve-xnin và muốn kêu lên một cách vô ích: “Thế nào chúng cũng đi tới đây!”. Nhưng Ve-xnin im lặng, tháo găng tay, rút khẩu súng ngắn ra khỏi bao. Ông đã đoán ra điều không thể tránh được: bọn Đức lại gần chiếc xe.
-Phải đi khỏi đây! Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, đồng chí hãy chạy lại phía những ngôi nhà nhỏ kia! Đồng chí hãy chạy khỏi đây! Chúng tôi sẽ yểm hộ! Ca-xi-an-kin, hãy dẫn uỷ viên Hội đồng quân sự đi! Ca-xi-an-kin, đứng dậy!... Đứng dậy, tôi ra lệnh!...
Đại tá Ô-xin lôi Ca-xi-an-kin từ trong xe ra, dùng cánh tay phải đẩy mạnh, định áp lưng người sĩ quan tuỳ tùng của mình vào nắp xe, tay trái nắm chặt khẩu tiểu liên của anh ta. Ca-xi-an-kin bò qua nắp xe, vặn vẹo người, vẫn cố ngồi trên đám tuyết, kêu lên ư ử, giọng van xin:
-Đồng chí đại tá… thân mến… cẳng chân, cẳng chân tôi bị trẹo… Tôi không thể nào đi được!...-Rồi anh ta giãy giụa gạt cánh tay Ô-xin ra, lắc lắc khuôn mặt méo xệch vì khóc.
Ve-xnin rùng mình.
-Thôi để cho anh ta yên!-Ve-xnin nói, thậm chí ông cảm thấy khiếp sống lưng ớn lạnh vì tiếng kêu la vô cùng khiếp sợ đó, vì tiếng súng bắn gieo rắc cái chết.
Lúc ấy Ô-xin hằn học, ghê tởm buông người Ca-xi-an-kin mềm nhũn như một cái túi ra, anh lao cả người về chỗ Tít-cốp và Ve-xnin giọng khản đặc, thở hổn hển, ra lệnh như một người chịu trách nhiệm về tất cả mọi việc:
-Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự, đồng chí hãy đi ngay tới những ngôi nhà nhỏ kia! Chạy, bò tới chỗ các ngôi nhà đó! Đồng chí hãy nấp ở đó! Khoảng hai trăm mét thì tới! Tít-cốp! Chúng ta ở lại đây! Không trông mong gì vào Ca-xi-an-kin được nữa…
Tiếng la như hấp hối của Ca-xi-an-kin vẫn vọng trong tai Ve-xnin tuy Ca-xi-an-kin chỉ rền rĩ, sụt sịt, lăn như một cục đen sẫm vào cạnh chiếc xe.
-Không được, Ô-xin,-Ve-xnin đáp, ông đứng ở phía sau xe và mở chốt an toàn súng ngắn.-Tôi sẽ không chạy đi đâu cả. Để làm gì? Đó không phải là lối thoát, Ô-xin ạ.
-Đồng chí chưa hiểu, đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự.-Ô-xin thét lên.-Đồng chí có hiểu thế nghĩa là thế nào không?...-Khuôn mặt trắng trẻo của anh ghé sát vào mặt Ve-xnin.
-Tôi hiểu… chúng ta sẽ chiến đấu ở đây, Ô-xin ạ.
Ve-xnin hết sức tỉnh táo hiểu rõ tất cả cái tình thế không còn chút hy vọng nào lúc này, ông hiểu rõ rằng ông sẽ không thể chạy kịp tới các ngôi nhà nhỏ với khoảng cách hai trăm mét trên bãi đất thấp được chiếu rọi dưới quầng sáng ở trên trời, ông hiểu rõ rằng không có lối thoát, rằng một điều khó tin, bất ngờ đã xảy ra trong đời ông, cái điều đã từng xảy ra với những người khác, cái điều khó mà tin được, như trong một cơn ác mộng, khi tất cả các cửa đều lần lượt đóng im ỉm trước mặt ông.
Ông hiểu rằng bọn Đức đang tới, chúng đang tụt theo triền dốc của gò đất tới chỗ chiếc xe và cuộc chiến đấu vô vọng này mà ông phải chấp nhận do tình thế không lối thoát sẽ chẳng kéo dài lâu. Nhưng dẫu sao ông cũng vẫn không hình dung được rằng mình lại có thể chết sau nửa giờ, một giờ nữa, rằng tất cả sẽ bất ngờ và mãi mãi biến mất và ông sẽ không còn nữa.
Ông đứng thẳng, nheo đôi mắt cận thị lại, tì tay cầm khẩu súng ngắn lên thành xe, cảm thấy cái lạnh toát của khẩu súng bằng thép không phải trong tay mà trong lồng ngực mình và đồng thời ông cũng cảm thấy vai của thiếu tá Tít-cốp và Ô-xin chèn chặt cứng lấy ông từ hai phía.
Tiếng xe tăng nghiến ken két, rú ầm ầm làm rung chuyển cả mặt đất, những chiếc xe tăng từ thảo nguyên tạt sườn vào làng, bóng những tên xạ thủ tiểu liên Đức rải rác trên gò cao, đang tụt xuống triền dốc đến chỗ xe, khẩu súng máy lúc này không bắn nữa. Hình như bọn Đức chỉ đinh bắn mấy loạt đạn đầu để thăm dò xem ở đây có ai còn sống không, vì thế chúng đi thẳng người, yên tâm trao đổi với nhau bằng giọng xì xồ khó hiểu.
-Ba-ắn!...-Ô-xin ra lệnh, và văng một câu tục, anh nằm ép bụng lên thành xe, nã một băng đạn dài đầu tiên khủng khiếp vào những cái bóng đang phơi mình ra đó; tiếng súng nổ tành tạch sôi sục làm cho gò má rắn đanh của anh lồi hẳn ra như một cái bưới.-Bă-ắn. Tít-cốp! Hãy giết quân súc sinh, đừng để cho chúng lại gần!... Bắn vào lũ chó đẻ ấy!... Giết chết ngay chúng đi, giết ngay!...
0

Tít-cốp cũng lia một băng dài ở phía bên trái Ve-xnin.
Tính từng viên đạn, Ve-xnin bắn hai lần vào những cái bóng đã gục trên nền gò đất đo đỏ-những cái bóng đó đã gục xuống hòa lẫn với đất. Một giây sau những tia lửa rít như xé không khí, lóe lên dày đặc từ sau đám tuyết, quất vào nóc xe; những đốm lửa xanh lè nổ tung rọi sáng con đường. Khẩu súng máy của Đức vẫn im lặng, còn bọn xạ thủ tiểu liên bắn gần đến nỗi tưởng như gió hất mất mũ lông ở trên đầu. Sau đó một giọng nói lại tai, lơ lớ cố hết sức gào lên giữa những loạt súng tiểu liên: “Thằng Nga đừng bắn nữa, đừng bắn nữa!” rồi một bóng người từ đụn tuyết nhô lên, lọt vào trước đầu rồi họng súng của Ve-xnin, hắn nã một tràng súng chỉ thiên để cảnh cáo, sau đó lại nghe thấy tiếng gào: “Thằng Nga đầu hàng đi, đầu hàng đi!”. Nhưng Ve-xnin đã bắn hai lần nữa vào kẻ có cái giọng lơ lớ lạ tai, đáng căm thù, đã hứa sẽ dung thứ cho họ, rồi ông lại bắn nữa, cắn chặt môi, nhằm cẩn thận, trong khi đó tiếng thét của Ô-xin như từ rất xa vọng vào tai:
-“Đầu hàng” cái con mẹ mày! Chúng mày không thoát được đâu, quân súc sinh phát xít, không thoát được đâu!
Khi khẩu trung liên nã thẳng hàng loạt đạn cách chiếc xe chừng hai chục mét, về phía bên kia đường. Ve-xnin vẫn còn chưa chịu chấp nhận rằng bọn Đức đã tới gần sát. Ý thức của ông lúc ấy đã cưỡng lại, đã gạt bỏ không chấp nhận điều không tránh được đang ập tới. Và khi cảm thấy khẩu súng ngắn vẫn còn giật ở trong tay mình ông vẫn còn tin, thuyết phục mình rằng điều không thể tránh được đó sẽ không tới lúc này, nó sẽ chỉ tới sau vài phút nữa, nó không tới ngay khi Ô-xin và Tít-cốp chưa hết đạn và khi ông hãy còn một viên đạn cuối cùng… “Mình còn mấy viên đạn nữa? Mấy viên?...-Ông nghĩ, bất giác kìm ngón tay trên cò súng.-Miễn sao bình tĩng, đừng hấp tấp, chỉ cần tính toán đúng…-Chắc hẳn Tít-cốp phải còn đạn dự trữ, hẳn là phải còn…”.
-Thiếu tá Tít-cốp, anh còn…
Và bỗng nhiên ông cảm thấy nghẹt thở-một phát đạn cứng đơ, nóng bỏng xói vào ngực, hất mạnh ông văng về phía đằng sau khiến những lời nói cuối cùng của ông bị nghẹn lại nhưng ông vẫn còn trông thấy cặp mắt của thiếu tá Tít-cốp quay về phía ông, như lặng lẽ la thét lên về nỗi bất hạnh tưởng như không thể nào xảy ra được. Và một giọng nói khác ở bên cạnh:
-Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự!... Đồng chí ủy viên…
“Cậu ấy thấy gì trên khuôn mặt của mình?-Ve-xnin thoáng nghĩ và ngạc nhiên trước vẻ tuyệt vọng, sửng sốt trong cặp mắt Tít-cốp, ông đưa bàn tay đã cầm khẩu súng ngắn ép chặt vào ngực tựa hồ như vẫn còn gạt bỏ điều không thể tránh được đã xảy ra với ông. Chả lẽ lúc này sao? Chả lẽ như thế ư?... Chả lẽ nó lại ập đến nhanh như thế?-Ve-xnin nghĩ. Ông cảm thấy nhẹ nhõm, từ ý thức, ông như bất ngờ hiểu rõ những gì đang xảy ra lúc này với ông, ông muốn nhìn cánh tay xem có thấy máu trên đó không… nhưng ông không nhìn thấy máu.
-Đồng chí uỷ viên Hội đồng quân sự! Đồng chí bị thương à? Bị thương vào đâu? Bị thương vào đâu?...-một giọng nói vừa quen thuộc và hoàn toàn lạ lẫm vang lên, tất cả đều mờ đi, mờ dần, đi, lùi xa vào một khoảng trống câm lặng, còn những làn sóng đỏ hông vẫn chập chờn trước mắt, lăn tới chỗ một cái gì đó lớn lao vô cùng, mờ mờ sẫm đen, không hẳn giống sa mạc cháy rụi nóng bỏng, không hẳn giống bầu trời đêm phương Nam thấp tịt. Và ông đau đớn cố tìm hiểu xem đó là cái gì, ông nhìn rõ như thật mình và cô con gái Nhi-na trong bóng đem ngột ngạt ở phương Nam, trên bờ biển gần Xô-tri, nơi ông đã đưa con gái tới nghỉ sau khi ly dị vợ và năm ba mươi tám. Chẳng hiểu sao ông lại mặc quần trắng, vận chiếc áo vét màu đen tang tóc đứng trên bãi cát của bãi biển hoàn toàn hoang vắng có bầy những chiếc ghế nằm lẻ lỏi như những vết ẩm sẫm màu, ông đứng đó, cổ họng đắng ngắt và nghẹn lại vì nhận ra lỗi lầm, biết rằng chính tại nơi đây, trên bãi biển này, sau những buổi đi dạo ban ngày với con gái ông đã gặp gỡ người đàn bà về sau trở thành người vợ thứ hai của ông. Còn Nhi-na như đoán ra điều gì đó, òa khóc, túm lấy, giật giật cái quần trắng của ông và ngước khuôn mặt thơ ngây đẫm nước mắt của mình về phía ông đòi về Mát-xcơ-va với mẹ, cầu xin ông đưa nó đi ngay: “Ba ơi, con không muốn ở lại đây nữa, ba ạ, con muốn về nhà, con muốn về với mẹ, ba đưa con đi nhé…”.
Khi cảm thấy cánh tay con gái run rẩy bám chặt, tấm thân yếu ớt của nó áp chặt vào ông, ông muốn bảo nó rằng không xảy ra chuyện gì cả đâu, rằng mọi việc sẽ tốt đẹp nhưng ông đã không thể nói, không thể làm được gì cả-mặt đất vững chắc đã sụt lở dưới chân ông…
Loạt đạn súng máy đã giết chết ông, sức mạnh của nó hất ông về phía sau hai bước và trong những giây phút Ve-xnin đưa những ngón tay còn nắm chặt khẩu súng ngắn áp vào chỗ ngực bị đạn bất ngờ xuyên thủng, ông nằm ngửa trên tuyết, máu ứa ra từ họng.
-Tít-cốp!... Uỷ viên Hội đồng quân sự làm sao thế? Sao thế?!
Ve-xnin đã không còn nghe và trông thấy, Ô-xin ngừng bắn, nhảy tới chỗ ông trong lúc thiếu tá Tít-cốp đã quỳ bên người ông, khuôn mặt lỗ vẻ kinh hãi, định thăm dò, thọc tay vào chỗ chiếc áo choàng dính nhơm nhớp, sẫm màu bị xé tướp ra trên ngực ông; ông cũng không còn nghe thấy lời đáp ngắn ngủi của Tít-cốp cũng như những tiếng kêu khản đặc, điên khùng man rợ của Ô-xin:
-Quân phát xít chó đẻ!... Thiếu tá Tít-cốp! Dù uỷ viên Hội đồng quân sự chết rồi cũng phải mang đi! Dù chết rồi!... Rõ chưa? Cậu mang đi! Tới những ngôi nhà nhỏ kia. Đi theo lề đường! Tôi sẽ đuổi theo cậu!...
Tít-cốp cắn chặt môi đến bật máu, lật tấm thân bị đạn súng máy xé nát của Ve-xnin lên tấm lưng rắn chắc của mình và cõng ông đi. Ô-xin còn nằm lại bên cạnh xe mấy phút nữa, bắn những loạt đạn dài về phía bọn Đức, thét to những lời chửi rủa khủng khiếp và khi khẩu súng máy Đức im tiếng anh vọt dậy, quật báng súng vào thành xe và điên cuồng quát vào gầm xe tối om nơi vẫn lọt ra những tiếng rên ư ử như trong cơn bất tỉnh vì choáng của Ca-xi-an-kin:
-Ca-xi-an-kin, đồ súc sinh hèn nhát, chúng nó đang giết người vậy mà mày vẫn còn sống à? Mày định quỳ gối trước bọn Đức hả? Bảo mạng hả? Cái cẳng chân cản trở mày bắn à? Bò ra, đồn khốn kiếp! Bò ra!
-Đồng chí đại tá thân mến, đồng chí đại tá!... Không nên thế! Tôi có tội tình gì đâu!...-Ca-xi-an-kin nức nở khóc, vẫn không bò ra khỏi gầm xe.-Hãy giết tôi đi! Hãy giết đi!...
-Câm mồm ngay!-Ô-xin thét lên, răng vẫn nghiến chặt. Bắn mày cho phí đạn! Bò ra, thằng hèn! Chạy theo Tít-cốp!... Nào! Chạy đi, đừng để tao đổi ý!...
Và một vật gì đó chẳng ra hình thù gì, run rẩy bò nhanh từ dưới gầm xe ra. Ca-xi-an-kin giương cặp mắt sững sờ, lải nhải mãi một giọng:
-Đồng chí đại tá, đồng chí đại tá…
-Câm ngay, đồ hôi thối! Chạy đi!...
Ô-xin khom người, vọt tiến rời khỏi chiếc xe, lao về phía lề đường, đuổi theo Tít-cốp vừa chạy vừa bò, vẫn cõng theo tấm thân Ve-xnin đã cứng lại trên lưng anh.
0

Chương mười tám


Khẩu pháo của U-kha-nốp, dường như do một phép lạ là khẩu duy nhất còn nguyện vẹn, đứng ở cách cái đầu cầu bị đạn trái phá đốt cháy rụi và làm cho vênh váo khoảng một ki-lô-mét rưỡi, đến chiều tối khẩu pháo cũng câm bặt khi bắn hết số đạn lấy được từ ba khẩu pháo bị bắn hỏng.
Cả Cu-dơ-nét-xốp lẫn U-kha-nốp đều không thể biết chắc chắn rằng xe tăng thuộc tập đoàn quân của thượng tướng Gốt đã cường tập vượt được qua con sông Mư-scô-va và ở hai địa điểm trên cánh phải của tập đoàn quân và không giảm sức tiến công, vào lúc chập tối đã thọc sâu vào tuyến phòng ngự của sư đoàn Đê-ép, chia cắt sư đoàn này ra, siết chặt trung đoàn Trê-rê-pa-nốp vào gọng kìm ở khu làng phía Bắc bờ sông. Nhưng họ biết rõ rằng một bộ phận xe tăng địch, khó đếm rõ là bao nhiêu chiếc, tới chiều đã đè bẹp các tiểu đoàn pháo bên cạnh, chà nát tuyến phòng ngự của các tiểu đoàn bộ binh ở phía trước và bên trái rồi xông tới các vị trí pháo binh của ta, trong đó có đại đội của Đrô-dơ-đốp-xki, đi qua cầu sang bờ sông bên kia, sau đó chiếc cầu này đã bị giàn “Ca-chiu-sa” của ta phá hủy và bắn cháy.
Điều khó hiểu hơn cả là lúc trời tối trận đánh bắt đầu lùi ra xa, dần dần lặng đi ở phía sau lưng họ, nơi quầng sáng dâng lên, phình ra đỏ lóe trên khắp dải bờ phía Bắc, mới đây hãy còn là hậu phương. Ở đây, trên dải bờ phía Nam, trước tường hào đầu tiên của bộ binh bị xe tăng địch cào xới lên khủng khiếp, trước những hỏa điểm bị đè bẹp của các khẩu đội, trận đánh cũng lặng đi một cách khó hiểu, các cuộc tiến công ngừng lại mặc dầu ngọn lửa vẫn cháy phần phật; ở khắp nơi xăng tổng hợp bùng cháy như những đảo lửa, những chiếc xe tăng đơn độc hoặc cụm lại từng đám vẫn cháy nốt trên các gò cao, những chiếc xe vận tải bọc thép trúng đạn trái phá bị cháy đen thui, ngọn lửa lan rộng trên những khung thép của các xe tải Ô-pen mà lúc chiến đấu Cu-dơ-nét-xốp không nhìn thấy, có lẽ chúng đi theo sau xe tăng.
Những bó tia lửa phụt ra từ các xe đang cháy bị gió cuốn lên bờ khe, tắt lụi trong gió tuyết mịt mù thổi sát đất; những mảnh tuyết nhọn hoắt và những ngọn lửa cháy lặng lẽ gở lạ đó trong thảo nguyên làm cho mắt cay xè. Ba chiếc xe tăng hãy còn bốc khói ngay phía trước hỏa điểm của trung đội từ vỏ thép cháy rụi thành than làn khói đặc quánh tuôn xuống đất và khắp nơi bốc lên nồng nặc mùi sắt tây, mùi cao su dìu dịu, mùi thịt người bị thiêu cháy.
Cái mùi lờm lợm gây buồn nồn đó xộc vào mũi làm cho Cu-dơ-nét-xốp tỉnh hẳn. Anh nôn ọe hồi lâu, nằm vắt mình qua bờ công sự, nghẹt thở, ho nhưng dạ dày trống rỗng, không thấy dễ chịu vì những cơn nấc làm thắt cả ngực lẫn họng. Sau đó anh lau môi, tụt khỏi bờ công sự, hoàn toàn không ngượng ngùng vì U-kha-nốp và anh em pháo thủ đã thấy được sự yếu đuối của anh, điều ấy chẳng có ý nghĩa gì.
Giờ đây hình như một người nào khác đã cảm nghĩ và làm tất cả những gì Cu-dơ-nét-xốp đã nghĩ và đã làm, anh đã mất đi những cảm giác trước đây,-tất cả đã thay đổi, bị đảo lộn trong ngày hôm ấy, tất cả đều đã được đo bằng những thước đo khác với hôm trước. Có cảm giác như tất cả đều bị bóc trần trụi hết mức.
-Tôi chịu không thể,-Sau cùng Cu-dơ-nét-xốp khẽ thốt lên.-Ruột gan cứ như bị lộn trái ra.
Vẫn chưa hiểu nổi sự im lặng đan lan tới trung đội, anh đưa tay xoa lồng ngực bị siết chặt một cách vô ích sau những quai da đeo chéo, đưa mắt nhìn anh em pháo thủ hầu như tai đã bị ù đặc khi chiến đấu.
Thượng sĩ U-kha-nốp ngồi trên mặt bằng hỏa điểm, mệt lả đến cùng cực, ngả đầu vào vách công sự, cặp mắt bất động hé mở tựa hồ như anh ngủ mà không nhắm mắt. Nửa giờ trước đây, sau khi Nết-trai-ép la lên rằng đạn đã hết, anh đã cất tiếng cười vang một cách lạ lùng, sụp xuống đất gần khẩu pháo và cứ ngồi như vậy với nụ cười vô nghĩa, chiếc ống nhòm lủng lẳng trên chiếc áo bông mở phanh, mắt đờ đẫn nhìn về phía chân trời rực lửa, nhìn những đường đạn thưa thớt ở phía bên kia sông nơi cuộc chiến đấu đã chuyển sang.
Nòng pháo nóng bỏng vì bắn nhiều tóe ra những tia lửa xanh lè, giống như những con đom đóm, bay đi và tắt lụi trong bóng đêm, những mảnh tuyết rơi lanh canh xuống lá chắn.
-U-kha-nốp!... Cậu có nghe thấy không?-Cu-dơ-nét-xốp gọi khẽ.
U-kha-nốp không nghe rõ tiếng gọi đó vì cũng bị ù tai lúc chiến đấu, anh rời cặp mắt dửng dưng khỏi đám cháy ở chân trời, nhìn Cu-dơ-nét-xốp hồi lâu rồi uể oải đưa một tay lên khoanh một vòng tròn trong không gian và Cu-dơ-nét-xốp gật gật mái đầu đang ong ong của anh như một người say rượu.
-Có thể nghe được,-anh đáp. Và anh thong thả liếc nhìn anh em pháo thủ, có ý tìm hiểu qua nét mặt xem họ có hiểu rằng cuộc chiến đấu dẫu sao cũng đã kết thúc rồi không.
Trong bảy anh em pháo thủ ở đây chỉ còn lại có hai người là Nết-trai-ép và Tri-bi-xốp, cả hai đã kiệt sức đến cùng cực, sau nhiều giờ chiến đấu, đã mất hẳn cảm giác hiện thực, thể lực suy sụp đến tột độ, họ không hỏi gì và cũng không nghe thấy gì cả. Trắc thủ Nết-trai-ép vẫn không rời khỏi kính ngắm, anh quỳ trước ống kính, trán tựa vào khuỷu tay gấp lại, ngáp đến sái cả quai hàm: “Á-á-á-á…”. Tri-bi-xốp nửa nằm nửa ngồi ở phía bên kia ổ nạp đạn, co ro, rụt đầu trong áo choàng, chỉ trông thấy một phần má bác râu ria lởm chởm, màu lơ xám, bẩn thỉu nhô ra khỏi cổ áo và chiếc mũ lót, miệng bác bật ra những tiếng phì phò mệt mỏi đều đều, rền rĩ, tựa hồ như bác cũng không thở được.
-Ôi lạy Chúa, lạy Chúa, tôi kiệt sức rồi…
Cu-dơ-nét-xốp nhìn Tri-bi-xốp đang nhắc lại những tiếng lảm nhảm đó như lời cầu kinh khi bất tỉnh nhân sự; anh cảm thấy mình bắt đầu bị cóng: quần áo lót dính chặt vào người, chiếc áo va rơi đã không còn ấm áp nữa, gió luồn qua áo choàng. Tiếng ngáp ngột ngạt của Nết-trai-ép, gió thổi lạnh buốt pha lẫn với mùi thịt cháy hăng hắc vẫn còn đọng trong không trung làm cho quai hàm anh co lại. Anh kinh tởm nuốt nước bọt, bước lại gần Tri-bi-xốp, khẽ hỏi:
-Bác Tri-bi-xốp, bác không ốm đấy chứ? Bác thấy trong người như thế nào?-Và anh bẻ cổ áo choàng che mặt cho bác.
Đôi mắt tròn xoe vì bất ngờ sợ hãi ngước nhìn lên như cái nhìn của kẻ bị săn đuổi nhưng lập tức mắt bác nhấp nháy, bác đã nhận ra Cu-dơ-nét-xốp, trông có vẻ tỉnh dần và những tiếng thét của Tri-bi-xốp vang lên làm cho chính bác cũng hết sức phấn khởi:
-Tôi khỏe, khỏe, đồng chí trung úy! Tôi vẫn đứng vững. Vì Chúa, xin đừng nghi ngại! Tôi phải đứng dậy à? Không à? Đứng dậy à? Tôi có thể bắn được…
-Chả có gì mà bắn,-Cu-dơ-nét-xốp thốt lên, lờ mờ nhớ lại hình ảnh Tri-bi-xốp lúc chiến đấu-những động tác của bác ở ổ nạp đạn khi kéo giật tay cò về phía sau, bộ mặt bối rối như thể chả còn chút sinh khí cuối cùng, khuôn trong lần mũ lót mà bác chưa hề tháo ra từ lúc hành quân và đồng thời cả tấm lưng của bác co rúm lại như thể sẵn sàng đón nhận điều khủng khiếp. Có lẽ bác nạp đạn không kém và cũng không hơn những người khác nhưng tấm lưng đó của bác đập vào mắt Cu-dơ-nét-xốp, làm nhói lên trong lòng anh một nỗi thương xót độc hại và khiến cho anh lúc nào cũng muốn la lên: “Sao bác cứ co ro thế, để làm gì hả?”-Nhưng lúc nào anh cũng nhớ rằng Tri-bi-xốp gấp đôi tuổi anh và có năm con.
-Lúc này thì chấm dứt rồi, bác Tri-bi-xốp ạ, bác hãy nghỉ ngơi đi.-Cu-dơ-nét-xốp nói và anh quay người đi, ngực thắt lại vì buồn nôn, đau đớn lặng người đi vì sự trống rỗng câm lặng ở xung quanh…
Đây là khẩu pháo duy nhất còn nguyên vẹn của cả trung đội hết sạch cả đạn và số phận đã mỉm cười với bốn người trong đó có cả anh, những người đã ngẫu nhiên may mắn sống sót qua suốt một ngày đêm chiến đấu liên tục, sống lâu hơn những người khác. Nhưng không thấy niềm vui sướng. Rõ ràng là bọn bọn Đức đã chọc thủng tuyến phòng ngự, cuộc chiến đấu hiện đang diễn ra ở hậu phương, sau lưng họ; trước mặt họ vẫn là những chiếc xe tăng Đức đã ngừng tiến công vào lúc chiều tối, còn họ thì chẳng còn một trái đạn nào. Sau tất cả những gì anh đã phải trải qua trong suốt một ngày đêm đó, anh, như bị bệnh, đã vượt qua một cái gì đó-và cái cảm xúc mới mẻ, hầu như có tính chất tiềm thức đó đã đẩy anh tới trạng thái căm thù say sưa, có sức hủy diệt, tới trạng thái khoái trá vì sức mạnh của mình mà anh đã trải qua khi anh bắn vào những chiếc xe tăng và thấy chúng bốc cháy.
“Cứ như là mê sảng ấy. Đã xảy ra một điều gì đó trong lòng mình,-Cu-dơ-nét-xốp ngạc nhiên nghĩ.-Chừng như mình lấy làm tiếc là cuộc chiến đấu đã kết thúc. Nếu như mình không nghĩ rằng chúng nó có thể giết mình thì có lẽ mình đã bị giết thật rồi! Hôm nay hoặc ngày mai…”. Ý nghĩ đó khiến anh nhếch mép cười, anh vẫn còn chưa đủ sức kiềm chế tình cảm mới đó ở trong mình.
-Trung úy!... Trung úy! Chúng mình sẽ sống hay sẽ chết như những con rệp, hả trung úy? Tôi đói mềm cả người!
0

Thượng sĩ U-kha-nốp kêu lên như vậy. Anh giật chiếc ống nhòm vô tích sự đeo ở cổ ra, quẳng nó lên bờ công sự rồi cài khuy áo bông lại, vươn người dậy, đi vòng kiềng lảo đảo, chiếc ủng nọ đá vào chiếc kia. Rồi anh suồng sã hích chân vào chiếc ủng của Nết-trai-ép vẫn đang co giật vì ngáp như ban nãy,-anh ta vẫn ngồi trước kính ngắm, trán tì vào cẳng tay.
-Sao mà ngáp dữ thế, chú lính thủy? Hãy chấm dứt công việc vô ích đó đi?
Nhưng Nết-trai-ép vẫn không rời trán khỏi căng tay, không đáp, tiếp tục ngáp không ngừng: anh đương ở trong trạng thái mơ mơ màng màng rất nặng, tiếng động cơ xe tăng vẫn dai dẳng rền vang trong tai anh, những vầng lửa nóng ran đỏ như máy bay vun vút từ bóng đêm hiện ra trong kính ngắm làm lóa mắt anh, mồ hôi ở mi mắt khiến anh ngắm không rõ và khi bắn mỗi phát súng, phơi mình trước cái chết, tay anh lại hối hả túm lấy, vuốt ve, căm ghét bánh lái kính ngắm. Sau nhiều giờ ngồi bên kính ngắm, anh đã hít phải nhiều khói súng và bây giờ anh bị thiếu dưỡng khí. Cố nhiên đây cũng là chuyện thần kinh.
-Giá bây giờ mà kể chuyện gì đó về đàn bà cho anh chàng ở Viễn Đông này nghe thì lập tức hắn vểnh ria ra tứ phía ngay,-U-kha-nốp nói một cách hiền lành và hích mạnh chân vào ủng của Nết-trai-ép.-Cậu có nhận ra mình không. Nết-trai-ép? Đứng dậy! Đàn bà đang đi từng đàn ở quanh đây kia kài!
-Đừng động đến cậu ấy, U-kha-nốp,-Cu-dơ-nét-xốp mệt mỏi buông xõng.-Cứ để cậu ấy ngồi. Đừng động đến ai cả. Cậu ở đấy nhé.-Và anh máy móc chỉnh lại bao súng ngắn đeo ở bên sườn.-Mình sẽ trở lại ngay. Mình đi quanh trung đội đây, nếu như bọn Đức không bò tới đó. Mình muốn đi xem tình hình thế nào.
U-kha-nốp vỗ bao tay vào nhau, giật giật đôi vai xo.
-Cậu muốn đi xem những ai còn lại à? Không còn một mống nào đâu. Chúng mình bị lọt thỏm trong vòng vây của xe tăng Đức, chúng mình ở đây, còn bọn chúng ở đằng kia. Chúng nó đã thọc sâu được vào bên phải và bên trái. Tình hình là thế này trung úy ạ: bọn Đức bị bao vây ở Xta-lin-grát, còn bọn mình thì bị vây ở đây. Một ngày vui đấy chứ hả? Người ta bảo không có địa ngục. Láo toét! Trung úy ạ, nói chung, chúng mình gặp may nhiều lắm đấy!-U-kha-nốp nói, tựa hồ như vui lên vì sự may mắn ấy.-Phải cầu nguyện mới được.
-Cầu nguyện ai?-Cu-dơ-nét-xốp lại quay nhìn Nết-trai-ép và Tri-bi-xốp đang nằm đờ ra ở hai bên càng pháo rồi nói thêm:-Nếu ban đêm xe tăng địch tới đây, chúng sẽ nghiến nát bọn mình trong tay không còn một quả đạn, chỉ năm phút. Mà rút đi đâu? Cậu hãy cầu nguyện số phận để xe tăng chúng đừng tới đây…
-Đúng thế,-U-kha-nốp cười khanh khách và lập tức kìm ngay tiếng cười của mình lại:-Anh đề nghị cái gì hả trung úy?
-Mình đi xem các khẩu pháo thế nào. Sau đó ta sẽ quyết định.
-Ta quyết định à? Anh sẽ quyết định cùng với tôi à? Thế Đrô-dơ-đốp-xki đâu? Anh chàng đại đội trưởng của chúng mình đâu? Chỗ liên lạc với đài quan sát ở đâu?
-Tôi sẽ cùng với cậu quyết định. Chứ còn với ai nữa!-Cu-dơ-nét-xốp xác nhận.-Sao cậu cứ nhìn mình thế? Chưa rõ à?
-Chúng ta sẽ tới chỗ các khẩu pháo.-U-kha-nốp quàng súng tiểu liên qua vai.-Rồi sẽ thấy. Nhưng dù sao thì cũng đã rõ rồi: đi xem hay không thì chúng ta cũng đã bị bao vây. Chỉ còn có điều này là chửa rõ. Ở phía trước mặt chúng ta, cách làng chừng bảy trăm mét hình như không có bọn Đức.
-Chúng đã chiếm được làng rồi, chúng còn cần quái gì đến cái thảo nguyên trần trụi này! Với lại bảy trăm mét đối với xe tăng có nghĩa lý gì! Chắc chúng nghĩ rằng chẳng còn ai sống sót ở đây. Nhất là khi chúng đã sang được bờ sông bên kia.
-Dẫu sao cậu cúng là tay kỳ quặc thật đấy, trung úy ạ, nhưng không sao. Có thể chiến đấu cùng với cậu được.
-Nghe cũng thú vị đấy. Cậu hãy nói nữa đi! Thêm một lời khen nữa là mình sẽ tan biến ra mất…
-Được thôi. Đồng ý. À này, thế còn cô gái của chúng ta thế nào nhỉ? Cô ấy đâu? Còn sống không?
-Ừ, đúng rồi. Cô ấy ở trong hầm đất với thương binh. Cô ấy đã kéo thương binh từ chỗ khẩu pháo của cậu đấy. Cậu không để ý à?
-Ngoài xe tăng ra tôi chả trông thấy gì cả. Và cũng chả suy nghĩ gì cả…
Khi họ rời khỏi hỏa điểm và rảo bước trong hào giao thông, sự yên tĩnh đó nặng như chì đè lên đầu họ. Cu-dơ-nét-xốp là ngươì đầu tiên dừng lại, anh lắc lắc màng nhĩ như khi lội xuống nước vậy-tiếng ong ong cứ rền rĩ mãi trong tai anh. Cả U-kha-nốp cũng bất chợt dừng lại ở đằng sau. Tiếng áo quần sột soạt, tiếng chân bước lặng hẳn đi. Một tràng súng máy đơn độc vang lên ở sau lưng, về phía quầng sáng, càng làm nổi rõ thêm sự im ắng nặng nề, khó tin đó. Rồi tất cả im lìm, chết lặng trong bóng đêm. Chỉ có giọng nói của U-kha-nốp phá tan sự tĩnh mịch trong lúc tai Cu-dơ-nét-xốp vẫn ong ong:
-Cậu thấy gì thế, trung úy? Một xạ thủ súng máy Đức ở sau lưng à?
-Tai cậu có ong ong lên không hả, U-kha-nốp?-Cu-dơ-nét-xốp do dự bỏ mũ lông ra, nghĩ rằng mình đã bị ù tai hoàn toàn-Cậu nghe thấy gì thế?
-Tiếng dế kêu ở trong đầu, trung úy ạ. Do bắn nhiều quá đấy…
-Có thế thôi à?
-Tôi thấy là cuộc chiến đấu ở bên kia sông đã chấm dứt. Chả lẽ chúng nó đã đột nhập được vào sâu hơn à?
-Khắp nơi im ắng.
-Im như chết,-U-kha-nốp nói.-Hình như chúng đã đẩy lùi quân ta đến tận Xta-lin-grát, đã chọc thủng mặt trận, chỉ có chúng mình thì tớt lại đây… Anh hãy nhìn về phía Đông Bắc mà xem, trung úy. Lửa cháy phía trên Xta-lin-grát. Cách đây chừng ba chục ki-lô-mét.
-Khoan đã!... Cậu hãy nghe mà xem…-Cu-dơ-nét-xốp áp mình vào bờ lũy, thận trọng vươn mình ra.-Hình như ở đằng trước có ai kêu… Hay đó chỉ là do tai mình?
Anh đã nghe thấy tiếng người kêu ở đâu đó sau các đường hào giao thông ở trên đồi, tiếng kêu lặng đi ngay trong bầu không khí tĩnh mịch, giữa đám tuyết đỏ lòe. Cu-dơ-nét-xốp nín thở, không đội mũ, lắng nghe qua tiếng ong ong trong tai, anh nhìn vào quầng sáng lóe lên trên bờ sông bên kia giữa cảnh im lặng khó hiểu, nhìn bầu trời sáng lờ mờ phía trên Xta-lin-grát ở mạn Đông Bắc, những đống lửa khét lẹt mùi gỉ sắt rải rác trên thảo nguyên: lửa, gió, những mảnh tuyết, những hình bóng lờ mờ gở lạ, của những chiếc xe tăng và xe bọc thép đang cháy ở trên đồi.
-Không có lẽ nào chúng lại đã chọc tới được Xta-lin-grát,-Cu-dơ-nét-xốp nói khẽ.
Hình như anh đã tưởng tượng ra tiếng người kêu. Sau cùng anh lấy lại hơi. Không nơi nào có tiếng súng bắn. Không một động tĩnh. Không một âm thanh. Tưởng chừng như toàn bộ mặt trận đã chết lặng, trút hơi thở cuối cùng và lạnh cóng trước những cơn gió man rợ, mặt đất giờ đây như một bãi sa mạc dưới quầng sáng không sinh khí. Còn họ, hai người ở đây và hai người nằm lại bên khẩu pháo sau lưng họ, mệt mỏi, bất lực bốn người cả thẩy, còn lại trên đời giữa chết chóc trống trải. Đêm tháng Chạp lạnh giá, im lìm, chết lặng làm cho Cu-dơ-nét-xốp khó chịu và anh nhăn nhó mỉm cười, nói:
-Chắc mình tưởng tượng ra…-Anh đội mũ lên đầu,-Cậu nói đúng: trong tai như có tiếng dế kêu.
Họ lại bước đi trong hào giao thông. Lại vang lên tiếng bước chân, tiếng áo quần sột soạt, dù sao đó cũng là dấu hiệu của sự sống.
-Nếu chúng mình bắt đầu có ảo giác thì tức là công việc của chúng ta không ổn, trung úy ạ.,-U-kha-nốp cười vang.-Vả chăng cũng có thể là một tên Đức bị thương kêu la chứ. Hay một cậu trong anh em bộ binh của mình.
-Mình nghĩ là chẳng mấy ai trong đội cảnh giới chiến đấu còn ở lại. Vì xe tăng của chúng đã chà sát suốt một ngày chắc phải rút đi rồi chứ…
-Đồng ý với trung úy. Đồng chí phải liên lạc với đài quan sát chứ. Có thể Đrô-dơ-đốp-xki vẫn giữ được liên lạc với cấp trên.
-Bọn mình sẽ đi quanh trung đội để xem xét rồi sau ta sẽ bàn xem nên làm gì,-Cu-dơ-nét-xốp nói và sau khi bước thêm mấy bước trong hào giao thông, anh thốt lên bằng giọng khác lạ:-Khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp… Có một điều mình không hiểu là tại sao họ lại không nhận ra chiếc xe tăng đó?
-Tôi cũng không hiểu. Tôi nã súng vào nó khi trông thấy nó đã áp sát ngay phía trước công sự,-U-kha-nốp đáp.-Hình như tất cả mọi người ở đó đều đã bị thương trước khi xe tăng địch thọc vào.
-Mình đã trông thấy cậu nổ súng.
Họ tới gần hơn.
Đó là nơi trước đây được gọi là hỏa điểm của khẩu pháo thứ hai, do hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp chỉ huy, sáng nay Cu-dơ-nét-xốp đã bắt đầu tham gia chiến dịch ở đây, trong đợt tiến công đầu tiên của xe tăng địch. Nhưng lúc này không thể gọi nó là một vị trí pháo binh được. Chiếc xe tăng to lớn đã cháy thành than đen ngòm sau khi nó đã dùng xích sắt hất tung khẩu pháo lên, làm cho khẩu pháo bẹp dí, cong queo ở đây. Xác chiếc xe tăng địch nhô lên một cách xa lạ và gớm ghiếc giữa những bờ công sự bị cày nát, những chiếc ủng vương vãi trên mặt đất, những mảnh áo choàng, áo lông, những hòm đạn gãy vụn tan tành. Không ai kịp chạy khỏi khẩu pháo…
Tất cả đều đã bị cong queo, cháy rụi, chết lặng mùi gỉ sắt hăng hắc, mùi thuốc súng trộn lẫn với đất và tuyết, mùi sơn bốc lên nồng nặc. Gió rít lên man rợ, thốc qua những lỗ thủng của chiếc lá chắn bị xé đứt một nửa, xoắn lại như những cái vòng xoáy trôn ốc từ lâu đã đông cứng băng giá và cứ mỗi khi tấm lá chắn rách đó chạm vào chiếc xích xe tăng cuốn đầy những giẻ rách bẩn thỉu lại khẽ kêu lên ken két làm người ta cảm thấy ớn lạnh ở sống lưng.
Và từ khối sắt đen ngòm của chiếc xe tăng bị cháy ngập trong băng giá, từ khẩu súng bị nghiền nát toát ra cái lạnh lẽo ghê rợn của chết chóc đến mức làm cho người ta sởn gai ốc.
“Mọi việc đã xảy ra ở đây như thế nào nhỉ? Tại sao họ lại không kịp bắn?”.
Cu-dơ-nét-xốp thấy cổ họng nghẹn lại, anh cảm thấy mình có lỗi-tại sao lúc đó mình lại rời khỏi khẩu pháo?-anh muốn hiểu rõ những giây phút hiểm nguy đó đã xảy ra như thế nào, những giây phút mà anh cùng với Dôi-a từ các vị trí của Đa-vla-chi-an bắn vào các xe tăng, anh cố hình dung xem vào những giây phút cuối cùng trước khi chết họ có định bắn không, cố hình dung khuôn mặt của họ, động tác của họ vào lúc mà khối xe tăng bốc cháy đã chồm qua bờ công sự.
0

Anh chỉ nhìn thấy cái chết của anh em pháo thủ từ xa và anh đã không thể làm gì được. Những giây phút chớp nhoáng đó đã xóa khỏi mặt đất tất cả những người đang nằm ở đây, anh em trong trung đội của anh, những người mà anh chưa kịp hiểu biết kỹ càng: hạ sĩ Tru-ba-ri-cốp, cái cổ ngẳng thơ ngây như một thân cây hướng dương, cử chỉ con trẻ khi anh vội vã lau mắt: “Mắt tôi đầy đất rồi!”, trắc thủ Ep-xtích-nê-ép chính xác một cách tháo vát, tấm lưng chậm chạp bình tĩnh, dòng máu ngoằn ngoèo rỉ ra ở gần tai bị ù đặc vì tiếng nổ: “Hô khẩu lệnh cho tôi to hơn, đồng chí trung úy, to nữa lên!...”
Anh hãy còn nhớ cái nhìn của họ, giọng nói của họ, những giọng nói đó còn văng vẳng bên tai anh như thể cái chết của họ đã đánh lừa anh và anh phải được gặp lại họ, nghe họ nói… Và tưởng như điều đó phải xảy ra vì rằng anh chưa kịp gần gũi họ, chưa kịp hiểu biết từng người, mến yêu họ…
Mặt và cánh tay Cu-dơ-nét-xốp đã tê cóng và hầu như anh đã tự phán xét mình một cách thậm tệ về những việc đã xảy ra mà lúc ấy anh đã không đủ sức ngăn ngừa, chặn đứng lại, anh muốn biết những chi tiết cuối cùng xảy ra ở đây, họa chăng có thể giải thích rõ tất cả.
Nhưng những gì anh nhìn thấy trên hỏa điểm này,-những gì còn sót lại của anh em pháo thủ chỉ còn có thể đoán ra một cách mơ hồ qua đống đất ngổn ngang sẫm màu và không cần phải chôn cất nữa-quang cảnh đó đã dìm anh vào cái im lìm chết lặng. Không ai có thể trả lời, ngoài họ. Nhưng họ không còn nữa… Chỉ còn tiếng lanh canh ken két khe khẽ của lá chắn khẩu pháo đã bị xoắn lại va vào xích sắt xe tăng mỗi khi có cơn gió thoảng qua. Cu-dơ-nét-xốp ngẩng khuôn mặt lạnh cóng lên. Bất ngờ tiếng xẻng chan chát vang lên sau lưng anh. Giữa cảnh tĩnh mịch tiếng xẻng vang lên rành rọt, rõ ràng. Bóng U-kha-nốp thẫm đen dưới quầng sáng, anh đang lúi húi dùng xẻng đào đất trong hốc để đạn trái phá.
Cu-dơ-nét-xốp lặng lẽ lại gần và nhìn. U-kha-nốp đã bới được trong hốc đất một xác người nằm sấp, dang hai tay túm chặt lấy một vật gì đó ở dưới mình, chiếc áo choàng trên lăng bị rách tung: chắc là một loạt đạn súng máy của xe tăng địch đã nã thẳng vào người anh ta.
-Ai thế?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi giọng khàn khàn.-Ai thế, U-kha-nốp?
U-kha-nốp lặng lẽ túm lấy vai xác chết đã cứng đơ và kéo ra khỏi một vật gì dẹt màu xám, quay mặt lên. Không thể nhận được mặt người chết bị một mảnh đạn đông cứng dính chặt. Cái vật dẹt và xám đó là hòm đựng đạn.
-Người tiếp đạn,-U-kha-nốp nói rồi hắng giọng cắm chiếc xẻng gần hòm đạn.-Bị một loạt đạn vào lưng… hình như lúc cậu ấy đang lấy đạn. Chỉ có một điều tôi không hiểu được, trung úy: tại sao họ lại để cho chiếc xe tăng địch lọt vào hay là trước đó mọi người đều đã bị thương?-Anh hất đầu về phía chiếc xe tăng.-Hãy còn đạn cơ mà! Như vậy là họ hãy còn đạn! Mà Tru-ba-ri-cốp và Ep-xtích-nê-ép bắn rất cừ. Và chiếc xe tăng lúc ấy đã bốc cháy!...
Cu-dơ-nét-xốp sửng sốt trước sự tức giận, sự phủ nhận nào đó, sự bất đồng tàn nhẫn trong giọng nói của U-kha-nốp, như thể họ, những người không còn có thể trả lời anh ta nữa, có lỗi về cái chết của chính mình, còn anh ta. U-kha-nốp, hình như không muốn tha thứ cho sự hy sinh của tất cả anh em pháo thủ ở đây đã bị xe tăng nghiền nát.
Cu-dơ-nét-xốp nói giọng khàn đặc:
-Chúng mình không biết sự việc đã xảy ra ở đây như thế nào. Kết tội ai?
-Tôi không thể tha thứ cho mình được.-U-kha-nốp nhắc hòm đạn khỏi mặt đất, dùng sức ném nó lên bờ công sự.-Lẽ ra tôi phải tống cho nó thêm một quả đạn thứ hai nữa! Nhưng đúng lúc ấy bầy xe tăng địch đã lao vào chỗ tôi! Nhưng dẫu sao tôi cũng đã trông rõ chiếc xe tăng này như trong lòng bàn tay, nó phơi sườn về phía tôi rất rõ.-Anh bước ra khỏi hốc đất nhìn thiếu tá hài sẫm màu của người tiếp đạn nằm trên mặt đất.-Cám ơn anh em đã cho tôi đạn. Chôn cậu ta ở đây hả trung úy?
-Trong hốc đất ấy,-Cu-dơ-nét-xốp đáp.-Tôi ghé qua chỗ khẩu pháo của Đa-vla-chi-an…
Tại vị trí của trung đội hai, tất cả cũng bị cày xới tơi tả, ngổn ngang, khắp nơi là những hố bom hình phễu há miệng đen ngòm, tiếng mảnh đạn lạo xạo dưới chân-vị trí này không còn tồn tại nữa, chỉ còn lại những bờ công sự bị cày nát, những vỏ đạn vương vãi và một khẩu pháo bị vỡ hộp chống giật mà Cu-dơ-nét-xốp đã dùng để bắn, đánh dấu cái hỏa điểm hoang vắng, bị bỏ lại và im ắng vô chừng. Chiếc hầm thông tin ở đằng sau khẩu pháo, nơi Cu-dơ-nét-xốp đã nhảy vào lúc địch ném bom để tìm chiến sĩ giữ điện thoại Xvi-a-tốp đã bị đạn nổ phá hủy một nửa. Khi đi ngang qua, Cu-dơ-nét-xốp lấy chân chạm vào một sợi dây đứt và anh bỗng thấy tim mình nhói lên khi cảm thấy sợi dây đàn hồi, giờ đây trở nên vô ích bám lấy chân anh.
Anh nhận thấy điều khủng khiếp nhất lúc này không phải là những gì anh đã trải qua trong suốt cuộc chiến đấu hôm nay mà là sự trống trải, cô đơn đang tới gần anh, là sự im lặng kỳ quái trùm trên trung đội, tựa hồ như anh đang đi giữa một nghĩa địa chi chít mồ mả, và quanh anh không còn ai ở trên thế gian này nữa.
Anh rảo bước trở lại khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp, muốn mau chóng gặp và nghe U-kha-nốp nói, cần phải cùng với anh ta quyết định xem sắp tới họ phải lần lượt làm những gì: chuyển đạn, thử bắt liên lạc với đài quan sát, đi tìm Dôi-a xem cô thế nào, anh em thương binh ở trong hầm ra sao, Đa-vla-chi-an và những người khác…
Không thấy U-kha-nốp ở trên hỏa điểm bị chiếc xe tăng to lớn cháy rụi che khuất, cũng không thấy anh ta ở gần hốc đất. Ở đây gió rít lên lùa qua những lỗ thủng kim loại và chiếc xẻng từ mô đất gồ ghề trong hốc đất nhô cán nghiêng lên như dấu hiệu khủng khiếp của sự cô đơn-đó là nấm mồ của người chiến sĩ tiếp đạn khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp.
-U-kha-nốp!...
Không có tiếng trả lời. Cu-dơ-nét-xốp gọi kiên quyết hơn:
-U-kha-nốp! Cậu có nghe thấy không?...
Tiếp đó tiếng thét trả lời vang lên từ đâu đó phía sau bờ công sự:
-Lại đây trung úy! Lại đây với tôi!
-Cậu ở đâu đấy, U-kha-nốp?
Để đề phòng bất trắc, Cu-dơ-nét-xốp mở khuy cài bao súng, leo qua bờ công sự, đi về phía có tiếng trả lời giữa những hố đạn sâu dày đặc. Im lặng. Không có một quả pháo sáng nào bay lên. Thảo nguyên phía trước trung đội, với những đám lửa rải rác, chạy dài tới lòng khe, tưởng như chạy dài tới cùng trời cuối đất; gió cuốn đi hơi nóng hăng hắc của sắt bị nung cháy và khó tin được đằng sau bờ công sự lại là khoảng không gian do ai chiếm cả. Ở phía trước mặt, trên nền tuyết sáng lờ mờ thấp thoáng hình bóng của U-kha-nốp khi ẩn khi hiện ở gần bóng mấy chiếc xe tăng bị bắn cháy.
-Cái gì đó thế, U-kha-nốp?
-Ra mà xem bọn Đức bị chết này trung úy!...
0
Tuyết vụn như lột bám trắng cả chân và phủ một lớp mỏng lên những cái rãnh do xích xe tăng xới lên. Và mãi đến lúc này, khi đã đi cách xa các khẩu pháo của mình, Cu-dơ-nét-xốp mới nhìn thấy xác mấy tên Đức bị chết trong những tư thế khác nhau, vào lúc chúng định bò ra, chạy xa chiếc xe tăng bị bắn cháy. Những cái xác đó ánh hồng lên dưới quầng sáng, đông cứng lại như những súc gỗ lăn lóc trên tuyết; có thể phân biệt được những chiếc áo liền quần đen sẫm trên người chúng.
Cu-dơ-nét-xốp bước thêm mấy bước nữa và với sự tò mò bướng bỉnh, không cưỡng được, khó hiểu đối với chính mình, anh nhìn vào mặt tên bị giết đầu tiên. Tên Đức nằm ngửa, ngực ưỡn lên một cách không tự nhiên, hai tay kẹp chặt lấy bộ áo liền quần, dưới tay nó có một vật gì đen đen bóng loáng, bị đóng băng mà Cu-dơ-nét-xốp không đoán ra ngay, đó là chiếc mũ da đẫm máu. Đầu kẻ bị giết để trần, ngã vật ra đằng sau đến nỗi cái cằm của nó vểnh lên nhọn hoắt, bị phủ một lớp băng, những sợi tóc như những sợi chỉ bị băng giá dính xuống tuyết, khuôn mặt trắng trẻo, trẻ trung ngếch lên trời, cứng đờ, nhăn nhó, ngạc nhiên, tựa hồ như môi nó mấp máy định huýt sáo hoặc kêu lên, còn phía bên trái khuôn mặt cứng đơ như thạch cao đó không bị tuyết phủ, màu xanh nhạt, hốc mắt sâu mở to trong nỗi khiếp sợ cuối cùng, phản chiếu ánh sáng, lóe lên như một đốm lửa nhỏ bằng thủy tinh.
Cứ nhìn những chiếc lon hẹp óng ánh bạc thì đó là một tên sĩ quan. Cách nó ba bước chân là một hố đạn đào sâu xuống tuyết; những mảnh đạn trái phá nổ tung đã rơi trúng bụng ỵ.
“Ai giết hắn: mình hay U-kha-nốp? Quả đạn này là của ai? Của mình hay của cậu ấy? Tên giặc nghĩ gì, ước mong gì khi ra trận?”-Cu-dơ-nét-xốp tự hỏi, đưa mắt nhìn kỹ khuôn mặt tên Đức trông như một đứa trẻ sững lại trong vẻ khiếp sợ kinh hoàng đó. Anh cảm thấy mình không hiểu được điều bí ẩn xa lạ, khó đoán, cảm thấy cái tử khí khô khốc đanh cứng như kim loại. Tên Đức này có lẽ đã hấp hối một cách đau đớn, bao súng ngắn của nó đeo ở bên sườn vẫn còn cài khuy kín.
Đã nhiều lần, trong những trận chiến đấu đầu tiên ở Rô-xláp, Cu-dơ-nét-xốp đã hình dung mình chết như thế này: anh tưởng tượng như có một tên Đức nào đó bước lại gần, lấy giày hất xác anh một cách ghê tởm và thô bạo và lúc nghĩ như vậy, anh chỉ mong ước một điều là bị trúng đạn vào đầu, vào thái dương. Điều anh sợ hơn cả là khi bị thương trên mặt, sự nhăn nhó đau khổ sẽ hằn in trên mặt, mồm nhe ra như con thú vì khiếp sợ, những cái thường thấy trên mặt người chết và một cái chết như vậy đã hạ thấp con người. Anh tìm lối thoát, tìm sự hỗ trợ ở viên đạn cuối cùng ở viên đạn cuối cùng mà từ dạo đó bao giờ cũng giữ lại trong súng ngắn một cách hầu như mê tín. Như thế yên tâm hơn.
“Sau khi cho xe tăng đột kích, hắn nhảy ra khỏi xe,-Cu-dơ-nét-xốp tưởng tượng khi nhìn xác chết.-Nghĩa là hắn còn chưa tin rằng hắn sẽ bị chết, còn hy vọng sống sót. Thậm chí khi đạn trái phá nổ cách ba bước và mảnh đạn đã văng vào bụng, hắn vẫn còn suy nghĩ, cảm thấy đau và lấy mũ ép vào vết thương”.
Cũng với cảm giác tò mò không cưỡng được, không được thỏa mãn trước câu đó muôn thuở, khó giải thích về cái chết, Cu-dơ-nét-xốp không phải là không do dự cúi người xuống, không tháo găng tay len và bắt đầu mở nắp bao súng đeo, cứng như đá được tuyết làm cho bóng lên, dựng khẩu Pa-ra-ben-lom. Các ngón tay không chịu tuân theo ý muốn của anh trượt trên lớp băng. Không thể mở được khuy bấm và khi khuy bấm tự bật ra, kêu tách một cái, anh rút khẩu Pa-ra-ben-lom nằm khít trong bao và ngửi thấy mùi mỡ tươi đông cứng, gợi nhớ tới mùi mồ hôi người.
“Mới sáng nay tên Đức này cũng như Tru-ba-ri-cốp đều còn sống… Tên Đức lái xe tăng lao tới, giết chết Tru-ba-ri-cốp và tất cả anh em pháo thủ. Rồi một mảnh đạn của mình hoặc của U-kha-nốp đã giết chết tên đức này. Khi bắn, mình căm thù tất cả những chiếc xe tăng này, căm thù tất cả bọn ngồi trên xe tăng… Thế còn tên Đức này?”.
Cu-dơ-nét-xốp nín thở nhìn tên bị giết một lần nữa: khuôn mặt trẻ con hẹp lật nghiêng, méo mó vì đau khổ, vì sự ngạc nhiên cuối cùng trước cái chết; cặp mắt cứng đờ như thủy tinh phản chiếu quầng sáng một cách lờ mờ; hai tay ép chặt chiếc mũ vào vết thương ở bụng. “Nếu có chết thì đừng chết như thế này!”,-Cu-dơ-nét-xốp lại nghĩ và khắc phục sự ghê tởm, đút khẩu Pa-ra-ben-lom nằng nặng vào trong túi: dù sao đó cũng là vũ khí. Anh thoáng liếc nhìn hai tên Đức khác bị giết, có lẽ chúng cùng ở trong cái kíp nhảy từ trong xe tăng ra theo tên sĩ quan nhưng anh không xem kỹ bọn chúng, ra theo tên sĩ quan nhưng anh không xem kỹ bọn chúng.
“Thế là thế nào? Lại một ảo giác chăng?”.
Rõ ràng có tiếng động cơ gào rú, tiếng xích sắt nghiến ken két ở đâu đó xa xa về phía trước, trên đồi vọng tới tai anh, sau đó tất cả lại lặng đi-và lúc này giọng nói của U-kha-nốp lo lắng vang lên trong bầu không khí tĩnh mịch:
-Trung úy, lại đây, nhanh lên, lại đây!
Cu-dơ-nét-xốp lao về phía trước, tới chỗ ba xác xe tăng bị bắn cháy, nơi U-kha-nốp đứng, nhảy qua những đống đất đông cứng do đạn trái phá nổ hất lên và khi đã chạy lại gần, anh trông thấy, dưới ánh sáng của những đám cháy ở xa, bóng đen lờ mờ của U-kha-nốp ở gần chiếc xe tăng ngoài cùng. Anh hỏi, cố nén hơi thở:
-Gì thế?... Cậu thấy gì thế hả U-kha-nốp?
-Hình như ở đây có người còn sống, trung úy…
Lúc này đã có thể trông thấy U-kha-nốp rất rõ, khẩu tiểu liên sẵn sàng nhả đạn của anh ta đặt trên những mắt xích rộng của xe tăng, dưới chân anh ta có một chiếc va li nhỏ tròn bằng da chẳng hiểu lấy ở đâu, trông giống như một cái ba lô của bọn Đức. U-kha-nốp nhét bao tay vào mép áo bông, thổi phù phù vào các ngón tay để sưởi ấm, đưa mắt liếc nhanh Cu-dơ-nét-xốp rồi nói:
-Anh hãy nhìn về phía đằng trước, chỗ kia kìa. Và hãy lắng nghe mà xem… đấy, chỗ kia kìa, trung úy, nhìn xem, ở chỗ hai chiếc xe vận tải bọc thép bị bắn cháy trên gò đất ấy. Anh không nhìn thấy gì à? Không trông rõ à?
-Mình chẳng nhìn thấy quái gì cả! Hình như có tiếng động cơ.
-Đấy, đấy… Nhìn xem, nhìn xem!... Có ánh đèn pin… đã nhìn thấy chưa?
Không rõ đó là ánh đèn pin hay là ngọn lửa nhỏ từ bật lửa lóe lên nhưng có tia lửa thoáng bùng lên ở phía trước, giữa hai đường viền chết lặng của những chiếc xe vận tải bọc thép trên gò đất phía trước cái khe, sau đó thấy có người nhúc nhích lờ mờ ở phía ấy; mấy bóng người nhòa lẫn trong bóng đêm, đi hàng một trên thảo nguyên, lôi một vật gì đó dài màu sẫm từ những chiếc xe vận tải bọc thép và bóng họ càng hiện ra rõ hơn dưới những hồi quang của ánh sáng.
-Ừ, bọn Đức,-Cu-dơ-nét-xốp thì thào.
-Nhìn xem, nhìn xem,-U-kha-nốp thở phì phò ngay sát tai anh.-Chúng nó làm cái trò gì đó chả biết, lũ khốn kiếp.
0

Đốm lửa lại vụt lóe lên một thoáng, bí ẩn, như thể được che trong tà áo choàng và để trả lời ký hiệu đó trong lòng khe có tiếng rú của động cơ, tiếng xích sắt nghiến ken két và một chiếc ô tô chạy bằng xích sắt trông như một vết đen ngòm lặng lẽ bò lên phía những chiếc xe vận tải bọc thép đã bị cháy rụi, dừng lại tắt động cơ. Lập tức mấy bóng người lao về phía xe, mang theo những vật dài sẫm màu lăng xăng bên xe làm cái gì ở đó rồi xếp hàng dọc rời khỏi những chiếc xe bọc thép, đi vòng quanh những bộ khung sắt của xe tăng, cách nhau một khoảng nhất định, khi thì hòa lẫn vào đất, khi thì thấp thoáng hiện ra trên gò cao nhưng không thấy ánh đèn pin lóe lên nữa.
-Này, trung úy, chúng nó đang làm cái trò gì ấy.-U-kha-nốp thở vào vai Cu-dơ-nét-xốp lành lạnh.-Tôi không hiểu nổi. Chúng ta phải làm gì đấy?... Tôi còn nguyên cả một băng đạn. Khẩu tiểu liên bắn chính xác lắm.-Trong bóng tối lờ mờ, mắt U-kha-nốp lướt nhanh trên mặt Cu-dơ-nét-xốp.-Ta để cho nó lại gần rồi cho chúng nó về chầu giời cả đi! Hình như chúng nó có mười thằng.
-Đừng bắn!-Cu-dơ-nét-xốp gạt khẩu tiểu liên của U-kha-nốp ra, ngăn lại.-Khoan đã! Cậu hãy nhìn xem chúng nó đang làm gì… Hay đó là bọn cứu thương hoặc đội chôn cất tử sĩ. Hình như chúng đi lượm xác chết của chúng…
Ngọn lửa nhỏ làm hiệu được che trong cái gì đó lại lóe lên yếu ớt trên thảo nguyên phía trước cái khe, tiếng động cơ vang lên trầm trầm và chiếc xe hình chữ nhật nghiến xích ken két, bò như một bóng đen lên đỉnh gò ở phía bên trái rồi dừng lại; những bóng người lờ mờ thấp thoáng ở phía trước, lặng lẽ, xếp thành hàng dọc chuyển một cái gì đó tới và chết nó lên xe.
U-kha-nốp chống khuỷu tay vào xích sắt xe tăng, nhìn đồng cỏ. Anh vẫn không quên thổi phù phù để sưởi ấm bàn tay.
-Hình như bọn chôn cất người chết. Chúng đi lượm người của chúng,-Anh nói vẻ quả quyết và hỏi:-Thế ta phải làm gì bây giờ, trung úy?
Cu-dơ-nét-xốp chau mày, lắng nghe: không quả quyết lắm rồi nói thêm:-Bọn cứu thương hay bọn chôn cất người chết không phải là xe tăng. Cứ kệ cho chúng nó thu nhặt.-Anh im lặng, trầm ngâm suy nghĩ.-Mặc xác chúng nó! Chúng ta sẽ không nổ súng trước. Ta đi về chỗ khẩu pháo đi.
-Việc quái gì! Chúng nó không ngờ có chúng mình ở đây đâu. Hai loạt đạn-thế là xong! Vị trí của chúng mình tuyệt lắm. Thế nào, hả? Ta nã súng nhé?-U-kha-nốp vẫn cứ nó và nheo mày lại.-Để cho chúng đừng bò vào…
-Mình đã nói là chúng ta sẽ không nổ súng vào bọn đi chôn cất người chết, rõ chưa? Cậu hạ được hai thằng lính đi chôn người chết thì cậu có vì thế mà thắng trận không? Không bắn ở đây thì chúng mình cũng đã không đủ đạn rồi. Cậu tưởng mọi việc đã kết thúc à? Cậu hãy nhìn về phía đằng kia. Về phía ngôi làng ấy. Và nhìn cả phía sau lưng nữa!
-Thôi đừng thuyết phục tôi nữa, trung úy…
U-kha-nốp rút bao tay khỏi bụng, thậm chí cũng không nhìn về phía Cu-dơ-nét-xốp chỉ, không nhìn về phía khu làng ở phía Nam bờ sông đã bị cháy mất một nửa, ở phía trước mặt và bên phải cũng như về phía bờ Bắc cũng đã bị bọn Đức chiếm,-anh đeo bao tay, nói có ý dàn hòa:
-Thôi được, đồng ý. Anh không trông thấy chiến lợi phẩm à?-Anh vỗ vỗ vào dây lưng rộng đeo hai khẩu Pa-ra-ben-lom ở qanh áo bông, túm lấy chiếc túi nhỏ trên mặt đất.-Tôi lấy trên chiếc xe vận tải bị bắn hỏng đấy. Tôi đã mở ra, thoang thoảng mùi xúc xích hun khói. Chả có gì phiền cả. Tặng cho anh đấy, trung úy… vì lòng dũng cảm. Anh hãy cầm lấy quà tặng của người chỉ huy khẩu pháo.
U-kha-nốp cởi dây lưng, tháo chiếc bao bóng loáng dày cộp đựng khẩu Pa-ra-ben-lom nhưng Cu-dơ-nét-xốp ngăn anh lại.
-Cậu hãy tặng cho một pháo thủ. Mình có rồi.-Anh sờ vào khẩu Pa-ra-ben-lom cồm cộm dưới túi áo choàng nhớ tới mùi mỡ buồn nôn giống như mùi mồ hôi người.-Cậu biết không, người ta thường tặng chiến lợi phẩm cho các tay văn thư ở hậu phương. Thôi ta đi.
U-kha-nốp nhếch mép cười:
-Quả thật từ trước đến nay tôi cứ tưởng anh là một bông hoa trinh nữ, một tay trí thức… Thậm chí đôi khi hình như anh đỏ mặt… Té ra anh là người khắc hẳn! Do đâu lại thế hả? Anh đã tốt nghiệp lớp mười phải không? Có thế thôi chứ gì?
-Cứ lải nhải mãi, U-kha-nốp. Ngấy lắm. Cậu muốn mình kể tiểu sử cho cậu nghe à?
-Ông cứ trả lời đi: đã tốt nghiệp lớp mười chưa? Hay là đã học đại học? Lúc ở trường pháo binh chúng mình ở các đơn vị khác nhau, mình chỉ thấy ông từ xa thôi.
-Mình đã tốt nghiệp lớp mười. Còn cậu, hình như…
-Khô-ông, trung úy, lớp bảy thôi, còn ba năm tiếp đó học ở hành lang. Hình như tôi hơn ông ba tuổi.
-Nghĩa là thế nào?
-Tôi đã rời trường trung học. Xoay ra đọc Nat Pin-kéc-tơn và Séc-lốc Hôn-me (Các nhà văn phương Tây chuyên viết truyện trinh thám).-Rồi gặp may. Tôi vào làm việc tại bộ phận điều tra hình sự ở Lê-nin-grát. Ông bác ruột tôi giúp đỡ, ông ấy cũng làm ở đấy. Nói chung đời vui lắm. Đây này, trong một vụ truy lùng bọn cướp, chúng nó đã đập gẫy của tôi chiếc răng này.
-Mình thấy rồi, đời vui thật.
-Ông chớ ngạc nhiên. Nghề nghiệp hiếm có đấy. Tôi đã tiếp xúc với bọn trộm cắp và đủ thứ vô lại. Đối với ông thì đó là khu rừng rậm tối om. Chơi với lửa đấy nhưng thích lắm. Ông không am hiểu cuộc sống ấy đâu!
-Đúng là mình không am hiểu. Thế cậu vướng chuyện gì ở trường pháo binh? Tại sao người ta không phong quân hàm cho cậu?
U-kha-nốp cười vang:
-Ông muốn tin hay không tin thì tùy, trước buổi lễ tốt nghiệp mình đã vượt tường đi chơi, lúc quay về vấp ngay phải tiểu đoàn. Đúng là chạm trán. Ông có nhớ ô cửa sổ ở gần lối ra vào không nhỉ? Tôi chỉ còn việc chui qua ô cửa nhỏ nữa là xong, ấy thế nhưng thiếu tá đã sừng sững trước mặt, như chim ưng rình mồi vậy…
-Trước lễ tốt nghiệp mà cậu lại nảy ra cái ý định vượt tườn đi chơi?!
-Đó là một câu hỏi trẻ con trung úy ạ. Chuyện gì đã qua là đã qua. Nhưng ông có hiểu được tấn hài kịch này không? Tôi đã chui người vào cửa sổ và đáng lẽ chuồn ngay thì tôi lại không thể nhịn được được cười khi trông thấy thiếu tá ở trong tư thế lộ liễu như vậy. Ông ấy trố mắt nhìn tôi, còn tôi thì ông biết không, đứng đờ ra trước ông ta như một thằng ngốc và tôi cười đau cả bụng, chẳng biết làm thế nào kìm được. Tôi đứng trên bậu cửa sổ, mặt thộn ra như một thằng ngốc. Sau đó cố nhiên là tiếng la ó ầm ĩ rồi ông ta dựng Đrô-dơ-đốp-xki dậy-anh ta là một trung đội phó mẫu mực theo đủ mọi ý nghĩa-và thế là tôi đi đều bước đến phòng giam. Ông có tin được không?
-Không.
-Cái đó tùy ông,-U-kha-nốp nói và chiếc răng cửa bịt bạc của anh sáng lên khi anh mỉm cười.
Trên bờ phía Bắc, nơi quầng sáng trên trời nhợt nhạt đi, tắt lụi dần, rền lên mấy phát đại bác liên tiếp, và liền đó là một loạt súng máy của bọn Đức-rồi tất cả lại lặng đi. Không có tiếng súng bắn trả từ phía bờ Nam.
-Tiếng súng bắn từ đâu thế nữa nhỉ?-Cu-dơ-nét-xốp cảnh giác hỏi, im lặng một lát anh lại hỏi như thể tình cờ:-Này cậu nghĩ thế nào về Đrô-dơ-đốp-xki? Đó quả thực là một trung đội phó mẫu mực à?
-Tác phong của anh ta cứ như thần thánh ấy. Một anh chàng thông minh và tôn trọng kỷ luật. Thế tại sao ông lại hỏi, ông có chuyện gì với anh ta à?
Cơn gió mạnh khua những gốc cỏ khô cứng đơ ở gần chân họ và thốc từ những ngọn đồi trên thảo nguyên nơi đội chôn cất của địch đang làm việc, vào lưng họ. Cu-dơ-nét-xốp lạnh cóng, cau có vén cổ áo lên.
-Cậu có biết Xec-gu-nen-cốp đã chết như thế nào không? Thật ngốc nghếch! Thật ngu xuẩn! Mình không thể nghĩ tới chuyện đó được! Mình không thể quên chuyện đó được!
-Cụ thể là thế nào?
-Đrô-dơ-đốp-xki chạy tới chỗ khẩu pháo lúc khẩu pháo tự hành của địch đã bắn vỡ hộp chống giật và ra lệnh cho Xec-gu-nen-cốp dùng lựu đạn tiêu diệt khẩu pháo tự hành đó. Dùng lựu đạn, cậu hiểu không? Mà phải bò một trăm rưởi mét trên quãng đất trống trải. Còn súng máy của địch lia như phát cỏ ấy…
-Hiểu rồi! Tay ấy đã nghĩ ra cách chiến đấu bằng lựu đạn kia đấy! Tôi muốn biết liệu quả lựu đạn đó có thể làm được gì? Chỉ gài được vào xích sắt của nó thôi! Đứng lại, trung úy. Ta lấy đạn…
Họ dừng lại gần chỗ trước đây là trận địa pháo của Tru-ba-ri-cốp và ở đây mùi kim loại cháy lại phả nồng nặc vào người họ và lại phảng phất nỗi buồn, cái chết, sự cô đơn chết lặng do tiếng lá chắn cong queo của khẩu pháo đập vào xích xe tăng dựng đứng kêu ken két, đơn điệu, não nùng trong gió, do khối xe tăng nằm bất động, do cán xẻng cắm đơn độc trên mô đất ở chỗ hốc đất chôn người chiến sĩ tiếp đạn mà họ đã không nhận mặt được. Tuyết đã rắc lên đây những mảng trắng nhưng vẫn chưa phủ kín hết mặt đất đen trần trụi bị đào xới ngổn ngang. Từ sau chiếc cổ áo kéo cao, Cu-dơ-nét-xốp nhìn gió tuyết mù mịt trên càng pháo bị gãy nát, anh nhận ra những vết giày vừa mới đây, rõ nét lạ lùng của U-kha-nốp gần hốc đất, nơi tuyết đã bắt đầu phủ và anh sửng sốt trước màu tuyết trắng dửng dưng kinh khủng đến nỗi môi anh run lên.
U-kha-nốp kêu è è, hất hòm đạn lên lưng. Họ lặng lẽ đi về phía khẩu pháo của mình.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-24 13:25:42dongadoan>
Chương mười chín


Gần khẩu pháo có tiếng thét sợ hãi từ dưới hầm vọng lê:
-Đứng lại, ai đi đâu? Tôi bắn này!...
-Bắn đi, bắn ngay đi,-U-kha-nốp đáp lại, giọng chế nhạo và quăng hòm đạn xuống giữa các càng pháo-Phải thét lên như thế này cơ mà, bác Tri-bi-xốp ạ: “Ai, đứng lại!”. Và phải hô thật to để cho đầu gối người ta run lên. Nào bác thử hô lại lần nữa xem nào!
-Tôi chịu thôi… Tôi chịu thôi, đồng chí thượng sĩ ạ.-Chúng nó bắn đáy,-Tri-bi-xốp ngồi trong hầm làu bàu bào chữa bằng giọng khản đặc vì rét cóng.-Ban nãy tôi đang bật lửa hút điếu thuốc ấy thế là nghe đến “víu” một cái ở trên đầu và đạn cắm vào bờ lũy. Chúng nó nã tiểu liên hay sao ấy!...
-Chúng từ đâu bắn tới? Bắn vào đâu?-Cu-dơ-nét-xốp nghiêm khắc hỏi, anh vẫn chưa trông thấy Tri-bi-xốp và bước lại gần căn hầm.
Khẩu pháo đen sẫm đứng đơn độc trên trận địa pháo như thể bị anh em pháo thủ bỏ lại từ lâu, mảnh vải bạt che pháo phần phật trước gió. Đống vỏ đạn đã bắn nằm giữa các càng pháo choãi chân ra, đám tuyết đọng trong những vết nứt trên bờ lũy đất, tất cả trông có vẻ man rợ, ánh hồng lên dưới quầng sáng ở gần bờ bên kia. Giọng nói cóng lạnh của Tri-bi-xốp làu bàu trong bóng tối:
-Cúi người xuống anh, cúi xuống… chúng nó đã nhận ra khẩu pháo và bắn đấy…
Tri-bi-xốp không bò ra khỏi hầm, người bác hòa lẫn vào vách hầm nên không trông thấy rõ, chỉ thấy bác động đậy ở đó. Cu-dơ-nét-xốp nói bằng giọng ra lệnh khiến chính anh cũng bực mình.
-Sao bác cứ rúc trong đất như con chuột trũi thế hả, Tri-bi-xốp? Đến qua kính ngắm cũng chả nhìn thấy bác! Bác ra đây, Nết-trai-ép đâu?
Nhưng chả hiểu sao anh cảm thấy xấu hổ và lúng túng khi trông thấy bác theo mệnh lệnh thô bạo của anh loay hoay trong lũy đất nghiêng người bò lên vị trí đặt pháo, khom người lách tới ngồi trên càng pháo, thận trọng đưa mắt nhìn về phía bờ bên kia; chiếc áo choàng cũn cỡn trùm lên người bác như một quả chuông, khuôn mặt lưỡi cày râu không cạo nhô ra từ dưới mũ lót như sẵn sàng chờ đợi nguy hiểm; bác cầm khẩu các bin như cầm gậy. Kể cũng lạ, không biết bác ấy đã chịu đựng cả trận đánh này bằng cách nào?-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ, anh nhớ tới hình ảnh Tri-bi-xốp lúc địch ném bom, lúc ấy bác nằm nhoài ra và những con chuột ở trong hang dưới mí hầm bị mảnh đạn bắn vào, nhảy lên lưng bác, kêu chin chít?-Lúc ấy bác ta nói gì nhỉ? À, đúng rồi… “Con cái, tôi còn lũ con”.
-Tôi quan sát, đồng chí trung úy ạ. Còn Nết-trai-ép ở trong hầm trú ẩn… họ ở đằng kia kìa. Cô cứu thương Dôi-a cũng đã đi lại phía đó… Cả anh chàng coi ngựa Ru-bin nữa. Họ trò chuyện gì đó. Còn chúng nó từ bờ sông bên kia bắn sang… Tôi vừa mới bật lửa một cái, ấy thế là viên đạn rít lên trong bờ lũy đất. Đồng chí hãy cúi xuống, ngộ nhỡ…
-Chúng bắn từ đâu tới? Cụ thể là từ đâu?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi.
-Từ bờ bên kia, thưa đồng chí trung úy. Chúng ngồi gần lắm, trong những ngôi nhà ấy, chúng nó trông thấy khẩu pháo của ta.
Lời giải thích rụt rè, ngọng nghịu đó của Tri-bi-xốp, khuôn mặt nhỏ nhắn, râu ria tua tủa của bác khi thì quay về phía anh, khi thì quay về phía U-kha-nốp, sự lo ngại, sự báo trước ngốc nghếch hay sáng suốt của bác-tất cả đều dường như xa lạ, như từ một cuộc đời khác và anh không còn cảm thấy lòng thương hại trước đây đối với Tri-bi-xốp nữa.
-Bác đã trông thấy bọn thiện xạ bắn tỉa của địch ờ bờ bên kia thế mà lại không nhìn thấy gì ngay trước mắt mình,-Cu-dơ-nét-xốp bực bội nói.-Thế mà cũng đòi là người quan sát.
-Gì kia hả?-Tri-bi-xốp hoảng hốt vươn người trên càng pháo.-Đồng chí nói gì kia, đồng chí trung úy?
-Bác hãy quan sát chăm chú hơn phía sau đồi kia kìa-ở đấy có một đội cứu thương Đức. Chúng đang thu lượm xác chết. Bác đừng có luôn luôn nhìn về phía sau lưng như thế mà phải nhìn về phía trước. Kẻo không bọn Đức lại kéo mất khẩu pháo ngay trước mũi bác. Rõ chưa?
-Về bọn xạ thủ tiểu liên, chúng tôi sẽ kiểm tra ngay xem bác có trông gà hóa cuốc không, bác Tri-bi-xốp ạ,-U-kha-nốp nói rồi đợt một lát anh thong thả ra lệnh một cách đôn hậu:-Hãy khom người xuống dưới bờ công sự, trung úy. Tri-bi-xốp, nhoai vào hầm đi. Mau lên, nào! Bác nói là hễ thấy đốm lửa thì chúng bắn từ bên kia sông sang à? Chúng tôi sẽ kiểm tra xem.
Anh rút bật lửa ở trong túi ra với vẻ đùa cợt, hát hất nó ở trên lòng bàn tay, ra hiệu cho bác Tri-bi-xốp thấy. Bác thở hổn hển, rời khỏi càng pháo, hối hả như con thú nhỏ trước cửa hang, chui vào trong hầm, ngồi im trong đó. Cu-dơ-nét-xốp đứng yên, anh vẫn chưa hiểu U-kha-nốp làm như thế để làm gì.
-Khom người xuống, trung úy, để đề phòng bất trắc.-U-kha-nốp ấn vai Cu-dơ-nét-xốp, đẩy anh nép mình vào bờ lũy, sau kh bản thân mình cũng khom người xuống, anh ta giơ tay bật ngay chiếc bật lửa ở trên đầu. Tức thì ở bờ bên kia vang lên một phát súng trường, đốm lửa lân tính sáng lóe lên. Không nghe rõ tiếng đạn réo nhưng có tiếng đất lở từ bờ công sự phía bên phải cách đó hai bước.
-Hóa ra bác Tri-bi-xốp không trông gà hóa cuốc,-Cu-dơ-nét-xốp nói.
-Chúng ngồi gần lắm, quân súc sinh,-U-kha-nốp nói.-Đâu như ngay trong những ngôi nhà đầu tiên… Có lẽ gần hơn.
-U-kha-nốp ạ, đến sáng có lẽ phải diệt bọn chúng, và nã về phía đó hai trái đạn,-Cu-dơ-nét-xốp vươn thẳng người lên, nói.-Chúng đã nhận ra có người động đậy ở gần khẩu pháo. Chúng sẽ không để cho ta bắn đâu.
-Tôi đã nói mà, tôi đã nói mà!-Từ trong hầm vang lên giọng nói của Tri-bi-xốp xác nhận sự bất hạnh.-Chúng mình cứ như ngồi trong cái túi. Đằng trước là chúng nó, liền sát ngay sau lưng cũng là chúng nó… Chúng mình đã bị cứt đứt rồi, trung úy ạ!...
-Quan sát đi, Tri-bi-xốp!-Cu-dơ-nét-xốp ra lệnh.-Chỉ có điều là không phải quan sát đáy hầm, rõ chưa? Nếu có chuyện gì hãy bắn súng các bin báo hiệu và chạy vào hầm trú ẩn ngay! Bác nhắc lại đi!
-Nếu có chuyệngì, bắn súng các bin, thưa đồng chí trung úy…
-Nhất là đừng có ngủ! Ta đến chỗ hầm trú ẩn đi, U-kha-nốp.
Họ lần theo những bậc đất trổ vào tấm vải bạt, từ trong hầm phả ra hơi người ấm áp, vọng ra những giọng nói nghe không rõ, trong những giọng nói đó Cu-dơ-nét-xốp nhận ra ngay giọng nói của Dôi-a. Và lúc ấy anh chợt thấy ớn lạnh, sực nhớ tới lúc cô nheo mắt áp sát thân mình vào người anh để tìm sự che chở, đôi đầu gối lấm láp của cô, những giây phút tưởng chết đến nơi khi khẩu pháo tự hành của địch đã phát hiện ra họ và khi anh lấy thân mình che chở cho cô một cách vô ý thức, bản năng và anh sẵn sàng chết như vậy để che chở cho cô khỏi mảnh đạn. Nhưng ngay cả giờ đây nữa, anh cũng chỉ hiểu lờ mờ những gì đã xảy ra với anh và đặc biệt là với cô trong giây lát đó. Có lẽ điều ấy bắt nguồn từ những thế kỷ sâu thẳm; có lẽ từ thuở xa xưa ấy người đàn ông do bản năng không cưỡng lại được đã hy sinh quên mình như thế để bảo vệ người đàn bà nhằm duy trì giống nòi trên trái đất.
Lúc đứng gần cửa hầm Cu-dơ-nét-xốp nghĩ không biết lát nữa đây, sau khi anh và U-kha-nốp bước vào, nét mặt và ánh mắt Dôi-a sẽ như thế nào. Anh nhíu lông mày, gạt tấm bạt che cửa ra.
Mọi người im bặt. Có người ho sù sụ.
-Phải che bạt cẩn thận hơn… Bọn thiện xạ bắn tỉa của địch bắn cừ lắm đấy!
Trong hầm trú ẩn ẩm ướt, giá lạnh, leo lét ngọn đèn dầu xanh lè làm bằng vỏ đạn pháo, ánh đèn chiếu sáng những bức tường ẩm ướt. Ở đây có ba người: Dôi-a, Ru-bin và Nết-trai-ép. Cả ba người đang xúm xít sưởi xung quanh ngọn đèn tự tạo khêu cao nổ lép bép và đều quay đều về phía cửa hầm. Hạ sĩ Nết-trai-ép ngả người gần Dôi-a, khuỷu tay chạm vào đầu gối cô-chiếc áo choàng phanh ra để lộ rõ chiếc may ô kẻ sọc của lính thủy ở trên ngực-đưa mắt nhìn Dôi-a có ý thăm dò. Anh mỉm miệng cười, dưới hàng ria lộ hàm răng trắng bóng.
-Kìa, Dôi-e-sca, trung úy mà cô hằng mong đợi!
Chiến sĩ coi ngựa Ru-bin ngồi trên chiếc hòm dạn rỗng lập tức co ro, hối hả quá mức đưa những ngón tay chai sần, mập mạp chụp lấy ngọn lửa bập bùng từ cái vỏ đạn. Chừng như không tin Cu-dơ-nét-xốp, tròng mắt sáng lóe lên vẻ lo lắng, sau đó cô lặng lẽ thở dài nhẹ nhõm. Khuôn mặt cô chẳng giống chút nào với lúc cô ở bên khẩu pháo: nó gầy guộc, hốc hác đi nhiều, phía dưới mắt cô những quầng thâm, môi sạm đi dường như khô nẻ vì bặm môi nhiều. “Không,-Cu-dơ-nét-xốp thoáng nghĩ,-lúc này, chắc chẳng ai có thể hôn vào đôi môi đen sạm đó. Môi cô ấy làm sao thế nhỉ? Và tại sao Nết-trai-ép cứ nhìn cô ấy chằm chặp như thế?”.
-May quá, thế là anh em đã tới!-Dôi-a nói, mỉm cười, vẻ vui mừng rõ rệt.-Tôi mong các anh ghê quá. Muốn được gặp anh em còn sống. May qýa, các anh tới. Các anh từ đâu tới thế?
-Không xa đây lắm. Chúng tôi là khách của bọn Đức, Dôi-e-sca ạ. Tôi đã cùng với trung úy đi kiểm tra các vị trí của bọn Đức,-U-kha-nốp đáp và anh vẫn đứng, cúi đầu xuống, ném phịch xuống cạnh ngọn đèn chiếc túi da nhỏ rất giống túi dùng trong gia đình, có những chiếc khuy cài mạ kền dính băng giá.-Xin các bạn hãy tiếp nhận tặng phẩm. Nết-trai-ép trải vải bạt ra! Có lẽ các bạn đã đói meo rồi phải không? Xin gửi tới vị chuẩn úy hậu cần thân mến của chúng ta lời chào chiến đấu. Có lẽ lão ta đang ngồi ở đâu đó tại hậu phương trên cái nồi của mình và oai hùng khua huân chương loẻng xoẻng, đau khổ vì chúng ta!
Nết-trai-ép cười vang còn Dôi-a bặm môi, ngước nhìn Cu-dơ-nét-xốp, lúc này cô không mỉm cười nữa mà lộ vẻ chờ đợi thông cảm, không giấu giếm. Ru-bin mặt đỏ gay vẫn đang sưởi bàn tay to bè như cái xẻng trên ngọn đèn, liếc mắt nhìn trộm Dôi-a, mũi sụt sịt mạnh:
-Trung úy,-Dôi-a gọi bằng cặp mắt to trên khuôn mặt gầy guộc của cô hơn là bằng giọng nói rồi cô gật đầu ra hiệu cho anh.-Anh hãy ngồi xuống đây cạnh tôi. Tôi cần nói chuyện với anh. À thôi,-cô bặm môi, sửa lại,-anh hãy cầm lấy mảnh giấy này. Của Đa-vla-chi-an đấy. Anh ấy nhờ tôi chuyển cho anh. Chiều qua tôi không chuyển được vì không thể nào rời bỏ anh em thương binh. May có Ru-bin giúp tôi. Trung úy này, chẳng lẽ chúng mình bị bao vây à?
Cu-dơ-nét-xốp cầm tờ giấy Dôi-a đưa cho, không trả lời câu hỏi của cô. Anh hỏi:
-Cậu ấy thế nào hở Dôi-a? Đã tỉnh chưa?
-Vẫn nửa tỉnh nửa mê,-Ru-bin rầu rĩ thốt lên.-Cứ luôn mồm gọi anh. Anh ấy bảo phải nói với anh cái gì ấy…
Cu-dơ-nét-xốp đã biết trung úy Đa-vla-chi-an bị thương nặng ngay từ lúc mới chiến đấu, biết rằng anh ấy hầu như khó qua khỏi được và sau khi đưa mắt hết nhìn Ru-bin đến Dôi-a, anh hiểu rằng tình trạng của Đa-vla-chi-an vẫn vô vọng như trước và anh cẩn trọng giở mảnh giấy trên đó có những chữ to viết nguệch ngoặc bằng bút chì hóa học:
“Thư riêng của trung úy Đa-vla-chi-an gửi trung úy Cu-dơ-nét-xốp. Cô-li-a, mình bị thương, đừng bỏ mình lại đây. Đừng quên mình. Đó là yêu cầu của mình. Nếu chúng ta không gặp nhau nữa thì thẻ Đoàn, tấm ảnh có đề đằng sau và địa chỉ ở túi bên trái. Ảnh mẹ mình và cô ấy. Cậu hãy giữ lấy và viết thư. Còn làm thế nào chắc cậu khắc biết. Chỉ có điều là đừng sướt mướt quá. Thế thôi. Mình đã chẳng làm được trò trống gì. Mình là kẻ thất bại. Ôm hôn cậu. Đa-vla-chi-an”.
0
ms đã đưa quyển "vòng cung lửa" mà bạn đánh máy xong vô thư quán, nhưng tên tác giả chưa có. Bạn có thể cho mình biết tên tác giả được không? để mình thêm vào cho hoàn chỉnh.

Thank[:D]


Vui sống cuộc đời giản dị !
0
@ ms : Tác giả của cuốn Vòng cung lửa là nhà văn Nikolai Axanop. Thanks !
0
Cám ơn nhiều! tên tác giả đã được cập nhật.

ms đưa luôn truyện này vô thư quán nhé? mong bạn sớm hoàn thành[:D]


Vui sống cuộc đời giản dị !
0
Dôi-a đứng dậy, khóe miệng co giật lại giống như một nụ cười.
-Thôi anh em ở lại khỏe mạnh nhé. Tôi đến chỗ thương binh đây. Ngồi ở chỗ các anh lâu quá rồi.
-Dôi-a,-Cu-dơ-nét-xốp rầu rĩ nói và sau khi đút bức thức vào túi, anh bước theo cô ra cửa hầm.-Tôi đi với cô. Cô hãy dẫn tôi tới chỗ Đa-vla-chi-an.
Khi họ bước ra, mọi người trong hầm im lặng.
Thế nào, anh em đồng hương, vẫn thở đều đấy chứ?-U-kha-nốp hỏi.-Không hoảng loạn đấy chứ?
Hạ sĩ Nết-trai-ép đưa cặp mắt xám vằn những tia đỏ vì mệt mỏi chăm chú nhìn theo Dôi-a bước ra ngoài tấm vải bạt vén lên, chiếc áo choàng đu đưa phía trên đôi chân tròn trĩnh dường như bị nén vào đôi ủng ngắn, lấm lem đất sét. Rồi bỗng nhiên anh ta ngồi xuống, thở dài gần như rên lên qua kẽ răng. Anh đã mất cái bộ dạng bảnh bao, nổi bật trước đây: cái cằm sạm đi vì râu mọc tua tủa, hàng ria mép và râu quai nón của anh lởm chởm. Anh gãi ngực và nói với vẻ đùa cợt tiếc rẻ.
-Chao, cuộc sống hẩm hiu quá! Các cậu ạ, mình dám xin hỏi đức Chúa xem có phải chúng mình tận số ở đây không?... Đồng chí Chúa ạ, tôi muốn trước khi chết được hôn một cô gái nào đó đến mức cô ta lịm đi! Trong Dôi-a chả có cái gì cả, có lẽ chỉ được đôi mắt với đôi chân. Giá được siết chặt lấy cô ấy ngủ một đêm, các cậu ạ, thì sau đó dù có phải đưa ngực ra chống lại xe tăng mình cũng cam lòng. Mình thấy Cu-dơ-nét-xốp cũng không kém cạnh gì đâu. Cậu nghĩ thế nào, Ru-bin? Chắc cậu cũng đã từng đi ve gái ở làng mình chứ hả? Trong đời cậu, cậu đã hại nhiều cô rồi chứ?
-Cậu chă-ẳng thấy… “có cái gì cả”,-Ru-bin nhắc lại.-Cậu cũng có con mắt tinh đời đấy. Dôi-a ấy à… nhưng đôi mắt và đôi chân của cô ta không phải để dành cho cậu. Theo mình, chuyện ấy đã làm cậu “mụ mị” rồi. Chén nhiều sô-cô-la ở hải quân quá hóa rửng mỡ đấy!
-Không đâu, Ru-bin, có trông cái mặt cậu, mình cũng biết cậu là tay biết vượt rào đi tán gái! Cậu khỏe như con trâu mộng! Cổ cậu có thể làm gãy đường ray được đấy!
-Thôi đủ rồi, các cậ, Dôi-a yêu ai thì việc gì đến chúng mình!-U-kha-nốp nạt nộ.-Nết-trai-ép ạ, nói chung mình mến cậu. Nhưng cậu hãy chấm dứt cái trò tán hươu tán vượn về cô nữ cứu thương đi. Mình ngấy lắm rồi. Hãy nói chuyện khác đi! Còn cậu, Ru-bin, hãy lo chắm sóc ngựa!-Vẻ mặt hơi có ý hăm dọa, U-kha-nốp chờ cho mọi người trong hầm yên lặng rồi nói bằng giọng hiền lành, chất phác:-Mình thích cái không khí gia đình lắm. Này, Nết-trai-ép, nhận lấy phần thưởng vì đã diệt được xe tăng địch! Mình đã lấy được hai khẩu trong chiếc xe vận tải bọc thép. Cả chiếc túi nhỏ nữa. Tặng cậu một khẩu!
U-kha-nốp tháo ở dây lưng ra bao súng đựng khẩu Pa-ra-ben-lom, vứt bừa xuống chân Nết-trai-ép. Nết-trai-ép hừm hừm, không phải là không tò mò mở khuy, rút ra khẩu súng ngắn nặng, đen bóng, ước lượng sức nặng của nó trên lòng bàn tay.
-Của bọn sĩ quan hả, thượng sĩ? Nặng khiếp…
Ru-bin liếc nhìn khẩu súng xa lạ, khẩu súng hộ thân của một tên Đức nào đó đã bị giết, mấy giờ trước đây hắn còn bắn vào họ, la hét, hạ mệnh lệnh bằng tiếng của chúng, căm thù, sống, mong được sống. Anh thốt lên vẻ hơi rầu rĩ:
-Khẩu súng chắc chắn gớm. Có điều là chúng mìn không có quyền chiến đấu bằng vũ khí của bọn Đức.
-Cóc cấn! Của thằng ấy đấy à?-Nết-trai-ép hất đầu về phía chiếc túi da mà U-kha-nốp đang mở khóa.-Hắn là sĩ quan à? Túi của hắn đấy à?
-Hình như thế. Chắc trong túi đầy thức ăn. Vì vậy mình lấy. Ta xem xem nào. Chắc chúng không mang lựu đạn trong chiếc túi này.
U-kha-nốp kéo phẹc-mơ-tuya mạ kền ở phía trên chiếc túi trông có vẻ thành bình xếp cẩn thận, chật căng, banh miệng túi ra, dốc các thứ lên tấm vải bạt.
Từ trong túi tuôn ra tấm vải bạt một đôi áo lót mới bằng lụa, bộ đồ cạo râu, một túi xúc xích và bánh mì, một hộp đựng xà phòng cạo râu bằng chất dẻo, một lọ nước hoa, chiếc bàn chải đánh răng, hai gói trong suốt đựng thuốc phòng bệnh, chiếc bi đông đựng trong túi len màu sẫm, chiếc đồng hồ nữ móc vào dây chuyền. Cỗ bài để trong bao đỏ, chẳng hiểu sao trên mặt bao lại vẽ một dấu hỏi trên bờ hồ xanh biếc, nơi một người đàn ông lực lưỡng mặc áo tắm chật căng đuổi theo một người đàn bà trần truồng, mập mạp, tóc màu sáng. Tất cả những thứ đó toát ra mùi vị dìu dịu và thơm thơm giống như mùi phấn xoa mặt là lạ.
-Tiếc là Dôi-a đã đi mất,-Nết-trai-ép nói, ngắm nghía chiếc đồng hồ nữ trên lòng bàn tay mình.-Cho phép mình tặng cô ấy, thượng sĩ nhé? Cô ấy đeo chiếc đồng hồ này hợp lắm. Mình lấy được không?
-Lấy đi, nếu như cô ấy nhận quà tặng của cậu.
-Cậu nhìn xem, chúng mang theo cả cái khỉ gió gì thế này?-Ru-bin thốt lên, giọng khụt khịt.-Thậm chí dự trữ cả mũ đàn bà kiểu ăng-lê nữa!
Những đồ dùng thân thiết, kỳ quặc trong cuộc đời xa lạ, khó hiểu của tên Đức vô danh bị giết bày ra trước mắt mọi người, đó là những vết tích phơi trần cuộc sống trước đây của hắn sau khi hắn chết.
-Toàn đồ dùng vặt vãnh cả!-U-kha-nốp bực bội nói và đẩy cái túi vào hóc hầm.-Không phải chiến lợi phẩm mà mình muốn. Thôi được. Cánh mình lấy một nửa thức ăn, còn một nửa dành cho Dôi-a và anh em thương binh.-Anh kinh tởm đưa tay gạt tất cả mọi thứ sang một bên trừ chiếc bi đông, dao cạo râu, túi bánh mì và xúc xích, đoạn anh xé giấy bóng kính, rút con dao găm ở bao ra.
-Áo lụa để cho rận nó khỏi làm ổ,-Ru-bin nói đưa những ngón tay thô nhám sờ chiếc áo lót Đức ra vẻ thành thạo và khuôn mặt bè bè rám nắng của anh lộ vẻ như hằn học và đau đớn.-Ra thế đấy, hả?...
-Cậu nói gì kia, Ru-bin?-U-kha-nốp hỏi.
-Nó chuẩn bị cả đến cái áo lót bằng lụa, chả quên thứ gì. Còn bọn mình lúc nào cũng nghĩ thật dễ dãi!... Cứ theo như đài phát thanh thì chúng mình sẽ tiêu diệt quân thù trên lãnh thổ của nó. Lãnh thổ! Hãy lo giữ lấy túi…
-Nói tiếp đi, tiếp đi, Ru-bin,-U-kha-nốp ngước đôi mắt sáng lên.-Nói đi, sao lại im lặng? Nào, nói đi, đừng ngại!
-Còn cậu, Ru-bin, có lẽ cậu là người hay kêu ca, một kẻ hoảng loạn,-Nết-trai-ép nhận xét thoáng qua và lập tức bật cười.-Tranh vẽ cái gì đây nhỉ?-Anh cầm chiếc bao đựng cỗ bài và mở ra, cỗ bài màu đỏ tụt ra lòng bàn tay.-Cậu là đồ cá chích, Ru-bin ạ. Cậu rên rỉ như cây nhị ấy. Cậu đã thấy gì ở làng mình nào? Cậu đi xoắn đuôi bò chứ gì?
-Láo toét. Mình không xoắn đuôi bò mà là người coi ngựa của nông trường,-Ru-bin hằn học sửa lại.-Trong đời mình, mình đã nhìn thấy nhiều cái mà cậu nằm mơ cũng chưa thấy đâu! Khi cậu phởn đời trên những tàu thuyền của mình thì chủ yếu đã khiến mình chết từng khúc ruột! Có một lần thôi mà cả cuộc đời của mình bị đảo lộn. Sau trận địch ném bom mình đã gầm lên như một con thú dùng tay bới hai đứa con gái nhỏ của mình bị vùi ở dưới đất lên!... Nhưng chậm mất rồi! Muốn chui vào thòng lòng cho rồi nhưng lòng căm thù sục sôi ngăn mình làm như vậy!...
U-kha-nốp nheo mắt nhìn Ru-bin, dùng dao cắt miếng xúc xích hun khói. Nết-trai-ép vứt cỗ bài lên tấm vải bạt. Ở đây có hai con bài trần truồng và hai con đầm hở hang, đại đội bít tất đen, găng tay đen, quấn chặt lấy nhau trong tư thế thô bỉ, trái tự nhiên; những con vua rậm râu, lực lưỡng như những đô vật, bế trên lòng những chú bé dễ thương, nép khuôn mặt thiên thần với những nụ cười thiên thần vào chúng. Đây không thể là những quân bài được nhưng dẫu sao đó vẫn là những quân bài hơi nhàu nát, sờn mép vì bị cầm nhiều, tuy vậy không thể hình dung được rằng bọn giặc đã ngồi bên bàn chơi những quân bài này, nói, cười, thua, được.

-Gớm, tởm thật! Sau những trò khỉ này chả còn thiết gì nữa! May mà Dôi-a đã đi kịp thời. Phụ nữ chả nên xem những cái này. Đến phát điên lên mất!
-Đầu óc cậu lúc nào cũng nghĩ đến đàn bà!-Ru-bin đỏ mặt lên nói.-Trong chiến tranh có kẻ may người rủi!
Nết-trai-ép thu bài lại, vứt chúng vào một xó, lau bàn tay vào áo choàng y như muốn chùi sạch cái gì nhờn nhờn, nhơ nhớp sau đó anh nhặt khẩu Pa-ra-ben-lom lên, ngả lưng vào vách hầm, nói:
-Ru-bin ạ, cậu muốn cho mình là người thế nào thì tùy, mình thích đàn bà… nhưng mình cũng có món nợ phải thanh toán đấy. Anh cả mình bị địch giết năm bốn mốt ở gần thành phố Li-đa. Lúc ấy mình còn nghĩ: chiến tranh sẽ kéo dài độ một tuần lễ. Chúng ta ráng sức lên-thế là sẽ tiến vào Béc-lin, nguyên soái Vô-rô-si-lốp cưỡi ngựa trắng đi đầu. Té ra… chúng nó đã đẩy chúng mình tới tận Mát-xcơ-va.-Nết-trai-ép nghịch khẩu Pa-ra-ben-lom ở trong tay.-Mình đồng ý là chúng ta đã vất vả suốt hai năm nay. Nhưng Xta-lin-grát là chuyện lớn đấy, Ru-bin ạ. Suốt năm tháng trời bọn Đức hùng hổ xông lên tưởng mười mươi là chúng sẽ mở rượu sâm banh ăn mừng, ấy thế nhưng đến lượt chúng mình bắt đầu thúc vào sườn chúng.
-Chúng mình bắt đầu!-Ru-bin nhai lại-Chúng mình bắt đầu nhưng chưa kết thúc! Như hôm nay chẳng hạn: chúng không đột kích được qua chỗ chúng ta thì cho xe tăng đi vòng qua! Thế nghĩa là ta lại không lường được sức của chúng à? Cánh mình ngồi đây như lũ chuột bị cắt rời ra còn chúng nó có lẽ đang cưỡi xe tăng đến chỗ đồng bọn ở xe tăng và cười mũi cậu đấy!
-Thôi đi, thôi đi, chúng nó chẳng cưỡi được đâu,-Nết-trai-ép mếch lòng-Chúng mình đã diệt được xe tăng của nó ở đây.-thế mà cậu khóc à? Rồi sẽ phải xé mũ vải ra làm mùi soa đấy.
-Có cậu phải xé mũi thì có! Vì sao cậu hí hửng trước khẩu súng Đức thế?-Ru-bin quát Nết-trai-ép.-Cậu hí hửng vì chiến lợi phẩm à?
-Chứ sao!-Nết-trai-ép nói.-Súng Pa-ra-ben-lom của bọn Đức tốt phải biết!
Ru-bin đứng dậy, vóc người bè bè, chân ngắn, anh đưa đôi mắt vằn tia máu đỏ nhìn khắp căn hầm, trông anh rất dữ dội trong cơn giận dữ công khai đối với tất cả-với chiến tranh, với chiếc áo lót bằng lụa của Đức với cuộc chiến đấu này, với việc bị bao vây, với Nết-trai-ép. Trước khi ra khỏi hầm, anh xốc khẩu các bin ở dưới đất lên, quay về phía U-kha-nốp nói thêm:
-Ăn cái của chiến lợi phẩm này à? Dù có chết đói tôi cũng không đụng tới một miếng! Thà tôi…
-Này Ru-bin, quay lại và ngồi xuống đây!
Nói xong U-kha-nốp ngừng cắt thỏi xúc xích bị đông cứng như cái gậy, có những chấm mỡ trắng ở giữa, cắm mạnh con dao vào chiếc bánh mì. Nết-trai-ép lập tức thôi không nghịch khẩu Pa-ra-ben-lom nữa-thấy U-kha-nốp cắm phật con dao vào bánh mì và thấy ánh mắt anh đổi khác, Nết-trai-ép cảm thấy chuyện chẳng lành. Trước cái nhìn và mệnh lệnh đó Ru-bin dừng lại, lòng vẫn chưa nguôi, anh gục đầu xuống toan cưỡng lại nhưng hình ảnh như nước mắt long lanh trên mi mắt anh.
-Hãy nhớ lấy, Ru-bin, tôi cũng gióng bộ từ biên giới về đây, tôi biết rõ giá mỗi cân thuốc súng là bao nhiêu. Nhưng dù cho chúng ta nằm hết lại ở đây không sót ai, tôi cũng không cho phép được hoảng loạn.-U-kha-nốp bình tĩnh nói, vẻ đường bệ.-Dẫu sao chúng ta cũng đã ép bọn Đức vào ven sông Vôn-ga, có đúng như thế không? Chiến tranh là chiến tranh-hôm nay chúng thắng ta, mai ta đè bẹp chúng! Cậu đã thụi nhau bao giờ chưa? Nếu cậu là người đầu tiên xơi quả đấm vài quai hàm thì tai ù lên, mắt nảy đom đóm chứ gì? Nhất định là hồn vía lên mấy. Cái chính là phải biết trỗi dậy, lau máu ở quai hàm và đánh trả. Và dẫu sao chúng ta cũng đã đánh trả phải không Ru-bin. Đây là cuộc đánh nhau kiểu khác. Chúng mình đã không tặng quà lưu niệm cho bọn Đức. Thôi được. Mình chúa ghét cái trò ba hoa! Gặp phải tay khác ấy à, chắc hắn đã chụp cho cậu cái mũ là gây hoảng loạn. Nhưng mình thì hiểu khác. Ngồi xuống đi, uống nước trong bi đông đây này. Và hãy giữ thần kinh cho vững. Hiểu không? Không được nói gì nữa đấy nhé!
-Ấy, ấy… Gây hoảng loạn. Tiếng nghe mới khủng khiếp chứ. Động một tí là: gây hoảng loạn!-Ru-bin chua chát nói.-Này thượng sĩ ạ, tôi chết còn dễ hơn uống ngụm nước cơ. Chả có gì khủng khiếp hơn việc tôi dùng tay đào bới mấy đứa con gái của tôi. Cậu muốn nghĩ về tôi thế nào thì nghĩ…
-Tôi nghĩ thế nào cho phải thì thôi. Chúng nó đã giết mất ngựa của cậu rồi, cậu hãy đến chôi tôi làm pháo thủ đi. Ta sẽ cùng chết bên nhau.-U-kha-nốp nhếch mép cười-Như thế vui hơn… À mà có lẽ chúng ta sẽ còn khiêu vũ nữa cơ đấy!
-Sao được!...
Và không nói hết câu, Ru-bin đặt khẩu các bin vào một góc hầm tối, ngồi xuống lặng lẽ gạt những giọt nước mắt căm hờn, rút túi đựng thuốc lá ra, những ngón tay sần sùi, run lật bật cuốn một điếu thuốc lá.
0
-Dôi-a, Đa-vla-chi-an thế nào? Có thể nói chuyện được với cậu ấy không?
-Lúc này thì không. Tôi đã định nói với anh… Lúc tỉnh, anh ấy cứ luôn luôn hỏi anh còn sống không, trung úy ạ. Các anh cùng học ở một trườn ra à?
-Cùng ở một trường ra… Nhưng liệu có hy vọng không? Cậu ấy có qua khỏi được không? Cậu ấy bị thương vào đâu?
-Anh ấy bị nặng hơn tất cả mọi người. Bị thương vào đầu và vào hông. Nếu không lập tức đưa anh ấy tới viện quân y thì anh ấy sẽ rất gay go. Và với những người khác cũng vậy. Tôi chẳng giúp họ được gì. Quả là bất lực! Tôi đánh lừa họ là sắp có xe tải tới. Nhưng theo tôi, chúng ta đã hoàn toàn bị cắt đứt với hậu phương. Chở họ đi đâu? Ai biết viện quân y ở đâu được?
-Này, có liên lạc được với ai ở đài quan sát không?
-Không có liên lạc. Họ vẫn đương chữa máy vô tuyến điện. Tôi biết thế. Các chiến sĩ thông tin ở đằng ấy, chỗ Đrô-dơ-đốp-xki. Sau lúc tôi chạy lại chỗ khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp anh ở đâu trung úy? Anh đã trông thấy chiếc xe tăng nghiền nát khẩu pháo của ta chứ?
-Tôi không biết rằng cô…
-Hãy quên điều đó đi, trung úy ạ. Tôi chẳng nhớ gì cả. Thật khủng khiếp, thậm chí đầu gối tôi run lên. Chà, hình như tôi đã hỏi về khẩu “Van te” của tôi. Điều đó cố nhiên thật nực cười. Tôi muốn sống đến trăm tuổi, đẻ hàng chục đứa con để trêu ngươi mình và mọi người. Anh thử hình dung xem, mười cái miệng mê hôn ngồi quanh bàn, tóc tất cả đều trắng ra và mồm chúng bê bết cháo. Giống như hình vẽ trên hộp đựng bột ngô ấy, anh biết không?
-Tôi không biết… Dôi-a, hình như cô đã bị cóng? Ta đi đi, đừng đứng lại nữa.
-Trung úy ạ, lúc ấy ta phải bỏ thương binh lại gần thành phố Khác-cốp đấy. Tôi còn nhớ họ la hét như thế nào…
-Đây không phải là Khác-cốp, Dôi-a ạ. Chúng ta sẽ không thoát đi đâu được. Ta chỉ còn có bảy trái đạn nữa. Sẽ chẳng ai bỏ ai cả. Thậm chí cũng chẳng phải nghĩ tới chuyện đó.
Họ dừng lại trên con đường mòn, hẹp do nhiều vết ủng giẫm dọc mép bờ sông, cách căn hầm đất khoảng hai chục bước chân. Mặt băng trên sông toát ra cái buốt lạnh như kim châm, từ những hố băng đen ngòm to tướng-hậu quả của trận ném bom ban sáng-hơi nước bốc lên dày đặc. Quầng sáng ở bờ sông bên kia đã nhạt đi, thấp xuống; vào giờ này, lúc đêm khuya, dường như quầng sáng đó đã bị băng giá cứng như thép bóp nghẹn. Mặt sông ban đêm im lặng như tờ và cả hai người đều nói và thở một cách chật vật trong cái giá lạnh dữ dội đó. Bản thân Cu-dơ-nét-xốp cũng chẳng hiểu vì sao anh lại trấn an tinh thần Dôi-a trong cái tình thế bấp bênh mơ hồ mà chính anh cũng không hiểu rõ, khi không biết điều gì sẽ xảy ra sau một, hai giờ đồng hồ nữa trong đêm nay, người nào trong bọn họ sẽ sống được tới sáng, nhưng anh không dối mình cũng như dối cô khi anh tin chắc rằng: không thể rút lui, thoát khỏi đây đi đâu được cả vì trước mặt và sau lưng đều là xe tăng địch, còn tít về phía xa, sau lưng họ cũng là bọn Đức đã bị siết chặt trong vòng vây, nơi mà cuộc tiến công hôm này của địch-tưởng như kéo dài hàng năm-nhằm hướng tới.
-Tình hình ở phía đó, ở Xta-lin-grát ra sao? Tại sao bọn Đức lại ngưng chiến ban đêm? Chúng đã đột kích được tới đâu?...
-Lạnh buốt khủng khiếp!-Anh thốt lên.-Hình như cô đã bị cóng rồi?
-Không, đó là do thần kinh thôi. Tôi biết chắc rằng bây giờ tôi sẽ không rời bỏ để đi đâu cả. Anh bảo: không đi đâu được à?...
Cố giữ cho răng khỏi run cầm cập, cô bẻ cổ áo choàng lên, nhìn quan đầu Cu-dơ-nét-xốp về phía quầng sáng, phía bờ bên kia đã bị quân Đức chiếm, khuôn mặt trắng bệch của cô bị cổ áo bằng lông cừu thu hẹp lại, hàng lông mày lá liễu, đôi mắt sẫm lại một cách kỳ lạ và tách rời tất cả biểu lộ sự mệt mỏi và nỗi đau khổi sâu lắng.
-Tôi không muốn bỏ thương binh lại lần thứ hai nữa. Tôi không muốn… không có gì khủng khiếp hơn việc đó.
Cu-dơ-nét-xốp cảm thấy toàn thân ớn lạnh, anh bỗng tưởng tượng ra cảnh bọn Đức sau khi đã bao vây đơn vị, chúng vừa chạy vừa thét truyền mệnh lệnh cho nhau, cắp tiểu liên vào hầm đất để thương binh, còn cô, không kịp rút khẩu “Van te” ra, cô lùi vào góc, ép lưng vào vách hầm, dang tay ra như bị đóng đânh câu rút.
Anh hạ thấp giọng hỏi;
-Này, cô có biết sử dụng vũ khí không, có biết bắn súng ngắn, súng tiểu liên không?
Cô nhìn anh và cười vang khó hiểu, ấp làn môi trong cổ áo lông, chỉ thấy đôi lông mày giật giật.
-Rất tối!... À này anh, tại sao lúc ở gần khẩu pháo, khi tôi tỏ ra nhát gan, anh đã ôm tôi chặt lạ lùng, để bảo vệ tôi phải không? Cám ơn anh, trung úy? Tôi đã quá nhát gan.
-Tôi không để ý.
-Khoan đã!...-Cô rời môi khỏi cổ áo, lông mày cô không còn giật giật vì tiếng cười bất ngờ nữa.-Thế chuyện gì đã xảy ra lúc tôi rời chỗ đó đi tới khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp?
-Xec-gu-nen-cốp đã hy sinh ở đó.
-Xec-gu-nen-cốp à? Anh chàng coi ngựa bé bỏng nhút nhát ấy à? Con ngựa của anh ta bị gãy chân chứ gì? Khoan đã, để tôi nhớ lại. Khi họ tới đây Ru-bin đã nói với tôi một câu khủng khiếp: “Ngay cả thế giới bên kia, Xec-gu-nen-cốp cũng sẽ không tha thứ cho kẻ nào gây nên cái chết của mình”. Thế là thế nào?
-Không tha thứ cho kẻ nào à?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi lại và quay người đi, cảm thấy có mảnh sương giá trên cổ áo cọ cọ vào má anh như một hòn đá mài ẩm ướt.-Chỉ có điều là anh ta nói với cô như thế để làm gì?
“Phải, cả mình cũng có lỗi và mình sẽ không tha thứ cho mình về việc đó,-Cu-dơ-nét-xốp nghĩ.-Giá lúc ấy mình có đủ nghị lực để phản đối… Nhưng mình sẽ nói gì với cô ấy về cái chết của Xec-gu-nen-cốp? Vì đã nói đến chuyện đó thì phải nói lên tất cả sự thật. Nhưng tại sao mình lại nhớ đến chuyện đó khi hai phần ba số anh em trong đơn vị đã hy sinh? Không, chẳng hiểu sao mình không thể nào quên được!...”.
-Tôi không muốn nói về cái chết của Xec-gu-nen-cốp,-Cu-dơ-nét-xốp quả quyết đáp-Lúc này nói chuyện đó chẳng có ý nghĩa gì.
-Trời ơi,-cô thì thào,-tôi thương các anh quá chừng, những chú bé đáng thương…
Còn anh, khi nghe giọng nói đau khổ và xót thương đối với tất cả mọi người, nghĩa là đối với cả anh, anh nghĩ: “Chả lẽ cô ấy lại yêu Đrô-dơ-đốp-xki! Chả lẽ anh ta đã chạm được vào đôi môi cô chẳng hiểu sao nứt nẻ, mọng lên? Và chẳng lẽ cô đã không nhận ra được rằng Đrô-dơ-đốp-xki có đôi mắt lạnh lùng, tàn nhẫn khiến ta nhìn vào thấy khó chịu hay sao?”.
-Sao anh cứ nhìn tôi chằm chằm như thế, trung úy thân yếu?-Anh nghe thấy tiếng cô thì thào, giọng mượt mà.-Cứ làm như là anh mới trông thấy tôi lần đầu ấy… Anh đáp giọng khàn khàn:
-Tôi sẽ ghé thăm Đa-vla-chi-an sau. Đừng gọi tôi là trung úy thân yêu. Cô thương cả tôi nữa à? Tôi chưa chết và còn chưa bị thương. Hơn nữa tôi không muốn chết một cách vô nghĩa và ngu xuẩn.
-Thế ra có thể có cái chết thông minh ư, trung úy? Tôi muốn anh còn sống, anh thân mến ạ. Muốn anh sống lâu. Đến một trăm năm mươi tuổi. Lời tôi nói thiêng lắm. Anh sẽ sống đến một trăm năm mươi tuổi. Và anh sẽ có vợ với năm đứa con. Thôi tạm biệt. Tôi đến chỗ anh em thương binh đây… Mà này, sao anh cứ nhìn tôi chằm chằm như thế, trung úy? Chắc anh hơi thích tôi phải không? Đúng không nào? Thế mà toi không biết!-Cô nhích lại bên anh, đưa một tay lên bẻ cổ áo lông khỏi môi, nhìn anh với vẻ tò mò háo hức.-Ôi, tất cả những chuyện đó mới ngốc nghếch và lạ lùng làm sao, Cu-dơ-nét-sích?
-Tại sao lại “Cu-dơ-nét-sích” (Cu-dơ-nét-sích có nghĩa là con dế, đọc gần giống với họ của Cu-dơ-nét-xốp).
-Cu-dơ-nét-xốp, Cu-dơ-nét-sích… Thế chả lẽ anh không thích con dế à? Khi nghe tiếng chúng kêu, tôi cảm thấy rất dễ chịu. Chả hiểu sao tôi cứ tưởng tượng ra một đêm ấm áp, đụn cỏ khô trên cánh đồng và vầng trăng đẹp ở trên hồ. Và khắp nơi là tiếng dế…
Gió lạnh ở mặt sông đóng băng thốc lên lay động tà áo choàng của Dôi-a. Đôi mắt cô mỉm cười, long lanh, thẫm đen trên lần cổ áo lông mà bàn tay đeo găng trắng của cô đã kéo xuống; sương giá làm trắng cặp lông mày và khiến hàng mi trĩu nặng. Cu-dơ-nét-xốp lại tưởng như hàm răng cô vẫn khẽ run cầm cập và đôi vai cô hơi co giật như thể toàn thân đã bị cóng. Anh có cảm tưởng rất rõ hàm răng run cầm cập đó không phải của cô và lúc này, một người nào khác nói bằng giọng khác chứ không cô, rằng chẳng có bờ sông, quầng sáng trên trời cũng như xe tăng Đức và anh đang đứng với ai đó gần cổng ra vào trong một đêm tháng Chạp sau khi đi trượt tuyết về; gió thổi tuyết mịt mù như khói từ trên mái nhà xuống và những ngọn đèn lồng sáng lên giữa sương mù dăng khắp trên những hàng rào tuyết phủ trong một ngõ hẹp… Cảnh đó đã xảy ra bao giờ nhỉ?
-Anh có muốn hôn tôi không?... Tôi thấy hình như anh muốn… Anh không có chị em gái à? Hai ta rồi cũng có thể bị giết, Cu-dơ-nét-xốp ạ…
-Làm thế để làm gì? Có coi tôi là thế nào-một chú bé à? Đó là lối õng ẹo làm duyên chăng? Hay là cái gì khác?
-Lời õng ẹo làm duyên nào cơ? Hoàn toàn không phải thế.-Cô bẻ cổ áo lên bịt tiếng cười, cổ áo che khuất nửa mặt, mắt mở to.-Thoạt đầu người ta thường làm duyên bằng đôi mắt. Người ta đưa mắt nhìn vào một góc, nhìn vào mũi mình rồi nhìn đối tượng. Nếu như có đối tượng thì đó là anh… Nhưng tôi không làm như vậy, anh thấy không? Không, anh đã che chở cho tôi như một người em gái ở cạnh khẩu pháo, trung úy ạ. Thậm chí tôi đã cảm thấy như vậy. Chả lẽ anh không có em gái à?
“Ở gần khẩu pháo… xe tăng địch tiến. Chúng mình đã bắn. Ca-xư-mốp bị giết. Cô ấy ở bên cạnh, sau đó cô ấy chạy về chỗ khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp lúc xe tăng địch thọc vào. Rồi một tràng súng máy hất tung Xec-gu-nen-cốp lên mấy lần phía trước khẩu pháo tự hành… Khói bốc trên lưng áo choàng. Và khuôn mặt méo xệch, choáng váng của Đrô-dơ-đốp-xki: “Chả lẽ tôi muốn cậu ấy chết à?...”.
-Cô nhầm rồi!
“Đrô-dơ-đốp-xki! Tôi không thể tưởng tượng nổi cô đứng bên cạnh Đrô-dơ-đốp-xki!”-Anh suýt buột miệng nói ra nhưng một dải ánh sáng đỏ lừ đột ngột rọi vào khuôn mặt cô đang hướng về phía anh có ý cảnh giác thăm dò, soi sáng rực đôi mắt mở to, làn môi, sương giá trên cặp lông mày thanh tú, khiến anh chưa hiểu ngay được chuyện gì đã xảy ra.
-Trung úy!...-Cô thì thào.-Bọn Đức à?
-Trung úy!...-Cô thì thào.-Bọn Đức à?
Đúng vào lúc ấy, ở đâu đó phía trên bờ sông cao, những loạt đạn súng máy nổ tung tóe, đạn pháo sáng lại vọt lên, anh lập tức muốn thét lên bảo cô rằng trận đánh lại bắt đầu, bọn Đức đã khởi sự và chắc chắn đây sẽ là trận cuối cùng kết thúc tất cả nhưng bằng giọng như lệnh vỡ, anh đã hét lên không phải điều anh nghĩ;
-Cô chạy vào hầm trú ẩn đi!... Chạy ngay đi! Cô hãy nhớ rằng tôi không có em gái! Tôi không có em gái! Và đừng có nói chuyện ngớ ngẩn! Tôi chẳng bao giờ có em gái cả!...
Và chẳng hiểu sao mình lại nói dối để báo thù cô, anh căm ghét mình vì việc đó và hầu như gạt cô ra, anh đi trên lối mòn, còn cô lảo đảo, cất bước về phía sau, thốt lên khe khẽ, vẻ mặt thay đổi, thảm hại:
-Anh hiểu sai tôi rồi, trung úy! Hiểu sai rồi, Cu-dơ-nét-sích…
Anh đã chạy trên mép bờ sông tới hầm của anh em pháo thủ, nghe thấy tiếng tiểu liên rền rĩ kéo dài ở phía trên. Phía tay trái anh, dưới ánh sáng đạn tên lửa chập chờn mặt băng trên sông khi thì sáp lại gần chân khi thì bật nhanh ra xa, chìm vào đêm tối. Tiếp đó ở phía trên nơi đặt khẩu pháo có tiếng súng các bin nổ, rồi một tiếng súng khác; từ phía trên có tiếng ai la gọi, giọng chin chít như thỏ. Đó là súng bắn báo hiệu của Tri-bi-xốp.
“Thế nghĩa là cuộc tiến công… nghĩa là ngay bây giờ!... Bọn mình chỉ còn có bảy quả đạn, chỉ còn có bảy…”.
Cu-dơ-nét-xốp chạy lại căn hầm đất, gạt phắt tấm vải bạt che cửa, anh nhìn thấy ngọn đèn tim tím, mẩu bánh mì đã cắt để trên vải bạt, U-kha-nốp, Ru-bin, Nết-trai-ép như đã hiểu ra chuyện gì đó, cùng ngước mắt lên nhìn anh và anh hô to:
-Tới bên pháo!...
0
Chương hai mươi


Trong khi Cu-dơ-nét-xốp đợi mọi người bò ra khỏi hầm, phía trên bờ sông, những tia sáng dày đặc đã bùng lên đẩy lùi đêm tối hòa lẫn với bầu trời. Ở phía đó, gần khẩu pháo, phát súng các bin thứ ba vang lên một cách sợ sệt, những tràng tiểu liên nã dồn dập, náo động và cả một loạt đạn lóe sáng, vun vút bay trên bờ sông.
-Nhanh lên! Nhanh lên.-Cu-dơ-nét-xốp sốt ruột ra lệnh.-Lại bên pháo! Lên bờ sông!...
Tiếng U-kha-nốp nhắc lại mệnh lệnh rền lên như một tiếng vang trong căn hầm và dường như bị mệnh lệnh đó thúc đẩy, Nết-trai-ép và Ru-bin vọt ra con đường mòn, mồm nhai vội vã. U-kha-nốp tắt đèn, ra khỏi hầm sau cùng, xốc khẩu tiểu liên lên vai, anh cũng vừa nhai văng tục:
-Đến nuốt một miếng cũng không xong, lũ khốn kiếp! Này trung úy, cầm lấy một miếng xúc xích!-Anh giúi vào tay Cu-dơ-nét-xốp một mẩu gì đó sần sùi.-Lại bên pháo! Khẩn trương lên!
-Lên bờ sông! Chạy!
Cu-dơ-nét-xốp nhét vội mẩu xúc xích sần sùi vào trong túi áo choàng, anh là người đầu tiên chạy trên những bậc bằng đất leo lên bờ sông, sau lưng anh là tiếng chân rậm rịch, hơi thở và giọng thuốc lá trầm đục của Ru-bin:
-Sang thế giới bên kia ta sẽ chén, thượng sĩ ạ, đến ăn cơm khách ở nhà đức Chúa!
Nết-trai-ép trả lời, giọng cay chua:
-Thế cậu nghĩ là mình sẽ sống đến trăm tuổi à, anh chàng chăn bò ở nông trường?
-Đồ lính thủy ngốc nghếch rúc đít vào vỏ sò! Đồ bẻm mép!
Cu-dơ-nét-xốp định dừng lại, bừng bừng giận dữ quát vào mặt Ru-bin: “Chấm dứt những câu chuyện ngớ ngẩn ấy đi!”-nhưng ngay trên bờ sông gió thốc những mảnh tuyết sắc nhọn vào mắt, những làn đạn súng máy bay thấp lập lòe trước mặt, ngay phía trên vị trí đặt pháo và tiếng kêu thảm thiết vọng thẳng đến tai anh:
-Đồng chí trung úy! Đồng chí trung úy!
Đó là tiếng gọi của Tri-bi-xốp. Trên trời đạn pháo sáng sáng rực như ban ngày, soi rõ khẩu pháo, mặt bằng, chiếc hầm, đến nỗi cách hàng chục mét Cu-dơ-nét-xốp đã nhìn thấy bóng người đen thẫm cúi sát đất trên mặt bằng đặt pháo dưới chân bờ lũy đất và cách đó hai bước, ở ngoài bờ công sự cũng nhô lên một đống gì sẫm màu trải dài trên tuyết, giống như một thân người nằm sấp.
“Tên Đức! Hắn đã bò tới tận đây à? Chúng tiến công khẩu pháo ư?”-Ý nghĩ đó xộc đến Cu-dơ-nét-xốp và chưa kịp nghĩ ngợi gì thêm, anh khom người chạy lại gần chỗ Tri-bi-xốp, bổ nhào xuống bên cạnh bác gần bánh xe khẩu pháo.
-Cái gì thế? Cái gì thế?
Tri-bi-xốp run bần bật, ngồi dưới bờ lũy đất, khẩu các bin không thấy trên người; hai tay bác đấm ngực, đầu gục xuống, la lên nức nở:
-Tôi đã giết cậu ấy!... Đồng chí trung úy!... Cậu ấy chạy đến đây. Tôi ngồi trong hầm, người cứng hết lại. Còn cậu ấy chạy đến đây!... Bọn Đức bắn, còn cậu ấy chạy tới chỗ khẩu pháo… Cậu ấy kêu: “Người mình, người Nga đây!” Còn tôi-tin làm sao được?... Bọn Đức bắt đầu nổ súng.
Cu-dơ-nét-xốp túm lấy vai Tri-bi-xốp, lắc mạnh hết sức.
-Hãy bình tĩnh! Bác nghe rõ chưa? Hãy giải thích cho ra đầu ra đũa!
-Tôi đã giết cậu ấy, tôi đã giết!-Tri-bi-xốp đưa bao tay lên ngực, mắt bác giật lia lịa.-Cậu ấy chạy và la lên: “Người mình, người Nga đây!” còn tôi.. Tin làm sao được? Tôi đã giết cậu ấy!
-Này trung úy, khẩu tiểu liên của ta,-U-kha-nốp nói, quỳ trên mép công sự, kéo khẩu tiểu liên có băng đạn tròn ở mép công sự bên kia, chìa cho Cu-dơ-nét-xốp xem.-Ừ, mà cậu này từ đâu tới nhỉ?
-Súng của ta đấy,-Cu-dơ-nét-xốp đồng ý sau khi nhìn khẩu súng tiểu liên bị phủ sương giá. –Đưa cậu ấy vào đây, U-kha-nốp. Cẩn thận nhé! Đừng có nhảy qua lũy đất!
-Ta sẽ thử xem, trung úy.
Tì khủy chân vào vách đất, U-kha-nốp nhoai người về phía trước leo lên bờ công sự, dùng hai tay túm lấy vai người nằm bất động, trông như bằng đá, anh gắng sức thong thả kéo vào vị trí đặt pháo. Khi anh xoay cái thân hình không còn sinh khí đó để tựa nó thoải mái hơn vào vách công sự thì đầu người đó, bó trong chiếc mũ màu đen của lính xe tăng Đức có diềm rộng ở thái dương, ngả ra đằng sau, gần mép công sự và không mở mắt, anh ta khẽ rên lên yếu ớt, để lộ hàm răng cắn chặt sáng bóng. Nghiêng người xuống sát mặt anh ta, U-kha-nốp thốt lên không quả quyết lắm:
-Hình như còn sống.
Mọi người dồn lại phía trước khẩu pháo ngờ vực đưa mắt nhìn, khi thì con người đang rền rĩ đó, khi thì những vệt pháo sáng, khi thì những phát súng tiểu liên bùng lóe lên ở phía trước. Cu-dơ-nét-xốp im lặng, tuy chưa hiểu rõ chuyện gì đã xảy ra ở đây, nhưng anh đã tin chắc rằng đây nhất định không phải là một tên Đức: đã có thể phân biệt rõ khuôn mặt Nga trẻ trung, mũi hếch, gò má cao dưới chiếc mũ đen của Đức, bị cơn đau làm cho méo mó; cái cằm râu ria lởm chởm, yếy hầu trên cái cổ ngẳng bị dính đầy tuyết, một lớp băng bám khắp áo bông, những bàn tay không đi găng co quắp trước ngực như người chết, mũi ủng hếch sang một bên cứng đờ. Hình như anh ta đã nằm nhiều giờ trong băng giá trên tuyết.
-Ai thế, trung úy? Có lẽ ở bộ binh? Hay là lính xe tăng?-Nết-trai-ép hỏi.-Bị thương à? Hay là bị cóng? Trông tay kìa…
-Tôi đã bắn vào cậu ta, tôi đã bắn.-Tri-bi-xốp sụt sịt ở sau lưng.-Cậuâý chạy, la hét, còn tôi thì…
-Thôi đừng rền rĩ nữa, Tri-bi-xốp!-Cu-dơ-nét-xốp nổi xung lên… không được nói lời nào nữa!
-Bộ binh ở đâu ra? Lính xe tăng ở đâu ra? Phía trước mặt làm gì có quân mình… Ê, chú mình!-U-kha-nốp gọi khẽ đập nhẹ vào má người đó.-Có nghe thấy gì không chú mình? Chú mình có nghe thấy gì không?
Người đó nghiến răng, yếu hầu chồi lên, động đậy rồi tiến rên rền rĩ lại lọt qua kẽ răng.
-Này U-kha-nốp, xem cậu ta có tài liệu gì không,-Cu-dơ-nét-xốp ra lệnh.-Soát túi xem.
-Bác phởn chí cái gì mà lại bắn vào cậu ta hả đồ ngốc?-Ru-bin lên án bằng giọng trầm, hướn về phía Tri-bi-xốp.-Nếu cậu ấy đã la lên là người Nga thì sao bác lại còn bắn một cách ngu ngốc thế? Sợ đến đũn ra quần rồi à?
-Tôi không biết, không biết!...
-Ru-bin! Đi tìm Dôi-a ngay,-Cu-dơ-nét-xốp quyết định.-Gọi Dôi-a lại đây!
-Rõ,-Ru-bin miễn cưỡng đáp.-Tôi sẽ dẫn cô ấy tới để xem cô ấy có cứu được không…
-Chạy đi tìm Dôi-a, Ru-bin, anh có nghe thấy không?
0
U-kha-nốp ngồi xổm, cởi khuy áo bông trên ngực người đó, sờ soạng, lộn túi trái các túi áo va rơi và chiếc quần bông của anh ta ra rồi nói vẻ băn khoăn: “Chả có gì!”-Và không phải là không giận dữ, sẵng giọng bảo Nết-trai-ép:
-Đưa ngay cái bi đông đựng rượu Rom Đức lại đây! Ở thắt lưng cậu ấy. Đưa đây. Sau đó anh dùng miệng bi động cậy răng người kia ra, anh ta rên lên, đầu ngật ra, cưỡng lại một cách vô ý thức như bị tra tấn, nhưng U-kha-nốp lấy tay giữ lấy đầu anh ta, kiên quyết thậm chí thô bạo đổ vào mồm anh ta mấy ngụm rượu và nói:
-Tỉnh ngay đây mà, người anh em ạ…
Mọi người chờ đợi. Anh chàng bị sặc, thở bằng mồm, ho gập cả người và cọ mãi gáy vào mí bờ công sự. Mi mắt anh ta hé mở, cặp mắt mờ đục như mất hồn, chẳng biểu lội cái gì cả, giống như mắt những người bị ốm nặng khi bị ngất khiến mọi người sửng sốt, những ngón tay đã co quắp quờ quạng về phía để tiêu liên. Lúc ấy Cu-dơ-nét-xốp hỏi anh ta:
-Này chú mình, chú mình là ai? Chạy từ đâu tới? Chúng tôi là người Nga, người Nga đây! Cậu là ai?
Mắt chàng thanh niên nhớn nhác nhìn mọi người; có lẽ anh ta chưa nghe được gì và còn chưa nhận ra mình đang ở đâu và có chuyện gì xảy ra với mình; sau cùng anh ta cất tiếng thềo thào:
-Mũ… mũ… bỏ ra…
-Có lẽ cậu ấy không nghe thấy, trung úy ạ. Cậu ấy đã vớ được cái mũ của Đức ở đâu ấy. Đúng là dân Xla-vơ mình!
U-kha-nốp tháo chiếc mũ khỏi đầu và kê xuống dưới gáy anh ta. Chàng thanh niên rên hừ hừ, duỗi chân, đưa mắt nhìn khoảng trời trên bờ sông bị ánh sáng đạn pháo sáng dồn dập cắt ngang dọc rồi nhìn khẩu pháo, nhìn Cu-dơ-nét-xốp, U-kha-nốp-và có cái gì đó lướt qua trên mặt anh ta, dường như anh ta đã hiểu cả.
-Anh em ơi… anh em pháo binh!-Anh ta thều thào.-Pháo binh à?... Tôi chạy đến chỗ các anh!... Ghê-ooc-ghi-ép đâu? Ghê-ooc-ghi-ép đâu?... Buổi sáng…
Anh im bặt, đưa mắt dò hỏi và khi nghe anh ta nói mấy tiếng “buổi sáng” Cu-dơ-nét-xốp bỗng sực nhớ tới trận ném bom, chiếc hầm ở chỗ khẩu pháo của Tru-ba-ri-cốp, người chiến sĩ trinh sát bị choáng và trong cơn hôn mê đã đòi gặp đại tá sư đoàn trưởng; đúng rồi, lúc ấy anh chiến sĩ trinh sát đó đã báo tin về những người còn ở lại phía trước mặt…
Mấy phút trước, chàng trai này còn làm cho anh nhớ một anh lính bộ binh ở đội cảnh giới chiến đấu đã chạy thoát không bị bắt làm tù binh hoặc đã lang thang vì lý do gì đó nhưng lúc này Cu-dơ-nét-xốp thấy khó và không thể tin được rằng đây lại là một trong số các chiến sĩ đi trinh sát bị mắc kẹt mà anh chiến sĩ trinh sát ban sáng đã nói tới khi anh ta đến được chỗ trung đội lúc cuộc chiến đấu mới bắt đầu. Bằng cách nào cậu ta còn sống được nhỉ? Cậu ấy ở đâu trong lúc cuộc chiến đấu diễn ra? Hàng chục chiếc xe tăng đã đi qua phía trước mặt, đã chà xát, cày xới khắp thảo nguyên, suốt ngày đạn trái phá đã bóp nát từng thước đất…
-U-kha-nốp, cho cậu ấy uống thêm ngụm rượu Rom nữa,-Cu-dơ-nét-xốp nói.-Cậu ấy nói năng còn chật vật, khó khăn lắm.
-Theo ý tôi cậu ấy đã bị cóng toàn thân, trung úy ạ. Bị tê cóng đến tận gan ruột.-U-kha-nốp đáp rồi dốc bi đông đổ thêm vào miệng chàng trai mấy ngụm rượu Rom nữa. Chàng trai thở một cách khó khăn, ngả đầu ra đằng sau và lúc ấy Cu-dơ-nét-xốp cất cao giọng, rành rọt hỏi anh ta:
-Cậu có nói được không? Tôi sẽ hỏi và cậu hãy trả lời. Như thế dễ hơn. Ghê-ooc-ghi-ép là chiến sĩ trinh sát phải không? Buổi sáng anh ta đã đến được chỗ khẩu đội chúng tôi. Cậu cũng là chiến sĩ trinh sát phải không?
Chàng trài vẫn cọ gáy vào chiếc mũ, sau đó môi anh ta mấp máy:
-Anh em ạ... đằng kia có hai người trong hố bom… Anh em ta cùng với một tên Đức. Tên Đức đã ngắc ngoải... Họ bị thương. Tất cả đều bị cóng. Chúng tôi ngồi suốt ngày với tên Đức. Bắt được nó lúc rạng đông. Ở trên đường cái lớn. Lôi ở ô tô ra. Một tên Đức quan trọng… Chúng tôi đã cử Ghê-ooc-ghi-ép đi… nói…
-Ra thế.-U-kha-nốp đưa mắt nhìn Cu-dơ-nét-xốp.-Anh hiểu rồi chứ, trung úy? Chính là anh chàng trinh sát ở chỗ Tru-ba-ri-cốp buổi sáng đấy, phải không? Chính anh chàng ấy hả? Đúng rồi! Chà, anh em Xla-vơ mìng ghê thật! Thế ra đó là anh em trong đội trinh sát?
-Chính thế,-Cu-dơ-nét-xốp đáp và sờ vào vai chàng trai đang ngồi, ngả người vào bờ công sự như mất hồn, mắt nhắm lại.-Thế anh em khác đâu, ở xa đây không? Cậu bị thương à? Cậu nói là có một tên Đức ở chỗ họ à? Chúng nó đã bắn theo cậu phải không?
Chàng trai không mở mắt nhưng hiểu ý nghĩa các câu hỏi. Anh ta rên lên và Cu-dơ-nét-xốp nhìn chằm chặp vào đôi môi mấp máy của anh ta đoán ra:
-Khoảng năm trăm mét… ở phía trước mặt. Trước mặt cái khe. Tôi còn vận động được. Anh em quyết định cử tôi đến đây. Tôi đã chạy… Bọn Đức nhan nhản ở đằng ấy. Có hai chiếc xe. Tôi không thể bắn được. Tay bị tê cóng cứng đơ. Còn chúng nó bắn vào tôi… Phải đến đón họ, anh em ạ, phải đi đón! Ở đó có hai anh em ta… Tên Đức quan trọng lắm!...
-Khoảng năm trăm mét à? Nhưng ở chỗ nào mới được chứ?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi lại và nhìn ra ngoài bờ công sự.
Những lọat đạn tiểu liên nổ vang rồi tắt lặng trong gió lạnh buốt, khô khốc, làm rát mặt, gió tuyết mù mịt từ thảo nguyên bốc lên quất vào người. Dưới ánh đạn pháo sáng, toàn bộ thảo nguyên thấp thoáng hiện ra với những gợn tuyết trắng ở trên mình, ngoằn ngoèo bò ra từ đống xe tăng bị bắn cháy đen ngòm, đằng sau đó bầu trời thấp nhô lên như một bức tường lúc tối tăm. Vào cái giờ tai quái này của đêm tháng Chạp gió tuyết lộng lên, hất tung đi khắp nơi và làm tắt lụi những đám cháy cuối cùng của cuộc chiến đấu. Và không có thể tin được rằng ở một chỗ nào đó trên thảo nguyên đã bị xe tăng chà sát, bị băng giá phủ kín lại còn có thể có con người sống, có thể còn lại hai chiến sĩ trinh sát của ta… Anh muốn tìm hiểu xem bọn Đức bắn từ đâu, muốn xác định hướng đi của các làn đạn nhưng những khối xe tăng bị cháy đã che mắt anh.
-Chừng năm trăm mét à?-Anh hỏi lại lần nữa và nghiêng mình sát mặt người chiến sĩ trinh sát.-Thế đúng hơn là bao nhiêu? Cậu có thể nói chính xác hơn không?
Anh chiến sĩ trinh sát thở mạnh, đưa những ngón tay co quắp như củi cành lên cằm, định sưởi ấm chúng, anh động đậy các ngón tay nhưng chúng vẫn không duỗi ra. Không rời tay khỏi cằm, anh nhúc nhích cẳng chân để đứng lên nhưng sự cố gắng đó làm anh kiệt sức, ngã phịch xuống mép bờ công sự và anh thì thào:
-Anh em ơi, giá nâng tôi lên!… Chân tôi cũng bị… Hai chiếc xe vận tải bằng thép… ngay phía trước cái khe… nhanh lên đi, các đồng chí pháo binh!
-Dôi-a đâu?-Cu-dơ-nét-xốp hỏi.-Ru-bin đâu?
-Cậu này khéo đến mất đôi bàn tay, trung úy ạ. Phải lấy tuyết sát,-U-kha-nốp nói và đưa mắt khắp các phía.-Tri-bi-xốp! Lấy cho tôi một cục tuyết mau lên! Tuyết sạch, không lẫn thuốc súng ấy. Lấy ở ngoài công sự. Rõ chưa?
0
Trong lúc mọi người hỏi han anh chiến sĩ trinh sát, Tri-bi-xốp nép người vào gần khẩu pháo, đưa mắt ủ rũ như mắt thú bị săn đuổi nhìn U-kha-nốp, khép chặt áo choàng trên ngực. Từ chỗ cằm và khóe miệng bị dính những búp tuyết ở dưới lần mũ lót của bác bật ra tiếng kêu rên khẽ khẽ cùng với làn hơi nước. Và vừa khẽ kêu rên như vậy, như người bị giẫm đè lên, bác vừa bò bằng đầu gối rời khỏi khẩu pháo, ngọ nguậy đôi ủng, tà áo choàng lòa xòa trên mặt đất,-trong tất cả cái cung cách ấy của bác đã không có cái gì đó gớm ghiếc, thảm hại, y như thể bác đã không còn hiểu biết gì nữa, đã mất khả năng đi đứng cho ra người.
-Tri-bi-xốp, bác làm sao thế?-Cu-dơ-nét-xốp ngạc nhiên.-Bác làm cái trò gì thế? Đứng dậy và chạy đi!
Nhưng Tri-bi-xốp vẫn sụt sịt, làu bàu lảm nhảm, bò bằng đầu gối tới chiếc hầm, chìm vào trong bóng tối đường hầm. Nết-trai-ép vừa nhay nhay ria mép bị những mảnh sương giá nhọn hoắt như đường dính vào vừa nói với theo bác ta:
-Nó đã bị cóng đến cùng cực. Vậy mà lúc ấy bác ta còn bắn vào thằng bé. Có lẽ bác ta điên thật rồi. Đồng chí thượng sĩ ạ, để tôi đi lấy tuyết cho.
-Ngồi lại đó!-U-kha-nốp ngăn lại.-Cứ để bác ấy chạy, như thế có ích đấy! Cậu hãy xoa má đi Nết-trai-ép. Sẽ có ích đấy, xoa như người ta đánh phấn ấy mà.-Nói xong anh dùng bao tay khẽ xoay khuôn mặt Nết-trai-ép về phía mình. Xoa mạnh vào kẻo không sẽ đi tong mất đôi má!
Băng giá dữ dội đến cực độ thấm buốt vào người Cu-dơ-nét-xốp tay anh tê cóng trong bao tay, chân tê cóng trong ủng, băng giá như cào vào mặt. Nhìn anh trinh sát, những ngón tay co quắp của anh ta ở gần cằm cứng đơ, lạnh buốt, Cu-dơ-nét-xốp tưởng tượng rõ cảnh anh ta chạy trên chặng đường năm trăm mét tới trung đội mình, không bắn được súng vì các ngón tay anh ta chắc không ấn được cò tiểu liên… còn tóc chàng trai trông bạc trắng vì bột tuyết mắc trong đó, sương giá dày đặc dính đầy lỗ mũi, lông mi bết lại. Anh ta thì thào làm cho những cuộn hơi nước từ miệng bốc ra.
-Nhanh lên đi, anh em pháo binh!... Cách đây năm trăm mét!... Có hai người mìn. Với một tên Đức. Đằng sau những chiếc xe vận tải bọc thép. Ở đó có một hố bom.
-Đội mũ cho cậu ấy, U-kha-nốp-Cu-dơ-nét-xốp ra lệnh, anh ngồi trên càng pháo, đợi cho tới khi U-kha-nốp kéo chiếc mũ lên đầu người chiến sĩ trinh sát rồi mới nói khẽ:-Thế nào hả, U-kha-nốp, chúng ta làm gì đây? Năm trăm mét… Phía bên trái là bọn Đức, đội chôn cất. Hay là ta đi cả bốn người, với bốn tiểu liên?... Ta đem theo cả lựu đạn. Để Nết-trai-ép lại trông pháo phòng có gì bất trắc. Phải đi thôi. Cậu thấy thế nào?
Anh biết là họ phải xông pha vào nơi nguy hiểm nhưng đồng thời anh thuyết phục mình rằng họ không có quyền không đi, họ phải tìm cách băng mình đến chỗ hai anh trinh sát bị thương mà chàng trai đã phải vượt qua năm trăm mét, không nổ súng, tới báo tin. Cu-dơ-nét-xốp đã nói tới vũ khí mang theo-bốn khẩu tiểu liên và một ít lựu đạn-nhưng những lời nói ấy của anh vang lên như một cái gì giống như sự tự lừa dối, tuy vậy anh hiểu rằng không ai trong bọn anh-cả anh, người chỉ huy trung đội cũng như U-kha-nốp-sau đó sẽ không thể sống thanh thản nếu như hai người không chấp nhận quyết định đó, vì chẳng còn lối thoát nào khác. Anh chờ đợi U-kha-nốp trả lời, anh tin vào sự tỉnh táo và kinh nghiệm của U-kha-nốp hơn kinh nghiệm của riêng mình.
-Đó là đề nghị của tôi. Ta hãy giải quyết. U-kha-nốp ạ. Bởi anh em trinh sát đã đến trung đội ta. Ta thử xem nhé?
U-kha-nốp im lặng và thổi phù phù vào những bao tay đã tháo ra, lùa hơi thở nóng ấm vào đó rồi lồng tay vào, vỗ vỗ lên đầu gối và dường như bực bội khó chịu, ngước đôi mắt dưới cặp lông mày bị dính mảng băng trắng nhìn Cu-dơ-nét-xốp.
-Cậu còn nghĩ ra được điều gì khôn ngoan hơn nào? Cậu không nghĩ ra được điều gì khác đâu, trung úy ạ! Tuy năm trăm mét không đơn giản là năm trăm mét. Chủ yếu là mỡ đừng đông cứng trong súng tiểu liên! Hãy lắng nghe mà xe, trung úy. Bọn Đức đã im tiếng.
Ở phía trước tất cả đều lặng đi, im ắng, không một làn đạn, không một phát súng, không một quả pháo sáng, chỉ thấy những đường nét xám xịt của những chiếc xe tăng bị đốt cháy, gió tuyết mịt mù len lách qua đó và ập vào bờ công sự.
-Tri-bi-xốp!-U-kha-nốp quát gọi.-Tri-bi-xốp, bác bỏ đi đâu thế? Nhanh nhanh lại đây! Tuyết đâu? Quỷ quái thật!
Tri-bi-xốp vóc người nhỏ bé, cuống quít, vụng về bò từ ngoài bờ công sự vào; dưới diềm mũ lót, đôi mắt đen của bác ánh lên vẻ khiếp sợ; bác bò bằng cả hai chân lẫn hai tay, đôi ủng đạp tới đạp lui, kéo chiếc cặp lồng đựng đầy tuyết lên trên mặt đất về phía khẩu pháo và kêu lên không thành tiếng:
-Có ai chạy ở đằng kia ấy, có người chạy!... Chạy theo bờ sông! Về phía này!...
-Ai chạy?-U-kha-nốp giật chiếc cặp lồng trong tay bác.-Lại bắt đầu nói lảm nhảm hả? Nết-trai-ép, cho bác ấy uống tí rượu trong bi đông cho tỉnh người ra!
-Họ chạy ở đằng ấy… lại đây, tôi nhìn không rõ…-Tri-bi-xốp thì thào nhắc lại và vừa thì thào bác vừa quay người lại bỏ xa chỗ chàng trai đang rên to lên khi U-kha-nốp thục bàn tay vào chiếc cặp lồng đựng tuyết.
Cu-dơ-nét-xốp lúc này cũng đã nghe thấy tiếng chân người chạy rậm rịch, tiếng tuyết lạo xạo rất gần, phía bên phải khẩu pháo và anh túm lấy khẩu tiểu liên của người chiến sĩ trinh sát, hô lên: “Ai đó?”-Nhưng hai bóng người từ trong bóng tối lờ mờ hiện ra trên nền tuyết trắng và tiếng thét trả lời bật lên từ chỗ họ.
-Người mình! Không nhận ra à?
Cu-dơ-nét-xốp đã nhận ra cả hai người. Đó là Đrô-dơ-đốp-xki và trung đội trưởng trung đội chỉ huy, chuẩn uý Gô-lô-va-nốp; họ đã tới gần, quầng sáng đang lụi dần trên khu làng bên kia sông soi rõ bóng dáng họ trên bờ sông cao.
Cả hai chạy vào trong trận địa pháo và Đrô-dơ-đốp-xki vận chiếc áo choàng hẹp, may rất khít, cài khuy chặt, chật vật lấy lại hơi thở, hỏi:
-Ai bắn thế?
Chỉ mới nghe cái giọng hách dịch đó Cu-dơ-nét-xốp đã chợt thấy thần kinh mình nhoi nhói lên, anh siết khẩu tiểu liên vào ngực quay người đi, ngồi lên càng pháo, môi mím chặt, lặng thinh để tỏ cho Đrô-dơ-đốp-xki hiểu rằng anh vẫn chưa quên câu chuyện xảy ra ban sáng giữa họ.
-Tình hình ở đây thế nào? Thượng sĩ U-kha-nốp, anh đang làm gì ở đây? Một người bị thương à? Anh ta từ đâu tới?
Đrô-dơ-đốp-xki vừa đi vừa hỏi, đột ngột đi ngang qua trước mặt Cu-dơ-nét-xốp, để lại sau lưng mình mùi áo choàng lạnh cứng, và để tự mình tìm hiểu tình hình, anh cúi xuống nhìn U-kha-nốp, nhìn anh trinh sát, bật đèn pin lên. Ánh sáng chọc thẳng làn sương mù vàng vàng, rọi vào mặt chàng trai ỉu xìu, hũi hếch, răng cắn chặt, ngả đầu trên bờ lũy, những giọt nước mắt ứa ra vì đau đã đóng băng trên gò má.
-Anh em pháo binh!... Anh em pháo binh!... Họ ở trong hố bom.. Đội mũ cho tôi làm gì, tôi nghe không rõ…
-Tắt đèn pin đi, đại đội trưởng! Anh bấm đèn làm gì?-U-kha-nốp tiếp tục dùng tuyết xoa bàn tay cho anh chiến sĩ trinh sát, bực bội dùng vai đẩy chiếc đèn pin ra.
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»