📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Y khoa Thường Thức

Ung Thư Vú

30 trả lời, 12.110 lượt xem — Trang 1 / 2
Sự công hiệu đáng ngạc nhiên của thuốc trị ung thư vú ở giai đoạn sớm phát hiện


Thursday, October 20, 2005


WASHINGTON - Một loại thuốc chỉ nhắm tấn công vào những tế bào ung thư không thôi đã chứng tỏ được sự công hiệu một cách đáng ngạc nhiên đối với những người ung thư vú được phát hiện sớm. Ðây là sự khai thông cho bế tắc cho việc trị liệu ung thư vú mà những bác sĩ đã nói tới khi điều trị cho hàng ngàn bệnh nhân mỗi năm tại Hoa Kỳ.

Loại thuốc có tên thương mại là Herceptin hiện đang được dùng điều trị ung thư ở giai đoạn phát triển. Nhưng trong cuộc nghiên cứu liên quan đến hàng ngàn phụ nữ bị ung thư vú ở giai đoạn đầu tiên, Herceptin đã làm giảm một nửa nguy cơ bệnh tái phát trở lại. Một vài chuyên viên đã dùng những từ ngữ như “cách mạng”, “kinh ngạc”, “há hốc miệng” để mô tả những tiến bộ của loại thuốc trên.

Giáo sư Jo Anne Zujewski, giám đốc phân viện chữa trị ung thư vú tại Viện Ung Thư Quốc Gia tuyên bố: “Năm 1991, chúng tôi không biết rằng chúng tôi có thể chữa trị được ung thư, nhưng năm 2005, tôi đã bị thuyết phục là chúng tôi có thể thành công trong việc điều trị cho bệnh nhân ung thư vú”.

Tuy nhiên, một viên chức tại Viện Ung Thư Hoa Kỳ cảnh cáo rằng hiện vẫn còn quá sớm để kết luận về sự hiệu quả của Herceptin khi cuộc nghiên cứu mới chỉ diễn ra trong ba năm. Hơn nữa, Herceptin chỉ hiệu quả đối với khoảng 20% bệnh nhân ung thư vú trong đó, những cục u chứa quá nhiều protein thường được gọi là HER2. Kỳ dư, Herceptin không có hiệu quả cho mọi trường hợp.

Dù sao, với những phát hiện trong cuộc nghiên cứu, Herceptin vẫn là một sự kiện lớn nhất từ khi những nhà nghiên cứu phát hiện ra sự công hiệu của thuốc tamoxifen, một loại thuốc cũng chỉ nhằm tấn công các tế bào ung thư mà không đụng chạm gì đến tế bào lành mạnh.

Herceptin được công ty Genetech bào chế và đã xuất hiện trên thị trường được mô tả là có khả năng thay đổi một trong những mối lo lắng nhất của người phụ nữ là ung thư vú, dù rằng hiệu quả hiện nay của loại thuốc này vẫn còn giới hạn.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=34200&z=14
Đăng nhập để trả lời
0

Nơ hồng tượng trưng ung thư vú
Đăng nhập để trả lời
0
.
Curcumin trong củ nghệ


Curcumin trong củ nghệ hay cà-ri ngăn chặn ung thư vú di căn vào phổi.

TS Bharat Aggarwall thuộc Viện Ung Thư M.D. Anderson, Texas, tìm hiểu tác dụng chất curcumin từ nghệ hay cà-ri vào di căn ung thư vú cuả chuôt. Nghiên cuứ gồm có 60 chuột bị ung thư vú.

Chuột chia làm 4 nhóm:

Nhóm 1 là chuột bình thường để so sánh.

Nhóm 2 chuột trị bằng Taxol.

Nhóm 3 chuột trị bằng Curcumin.

Nhóm 4 chuột trị bằng Taxol và Curcumin.

Sau khi ung thư vú tăng bằng hột đậu thì cắt bỏ.

Cho chuột ăn đố ăn không có chứa chất Curcumin. 90% di căn ung thư vú vào phổi chuột có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Chui65t trị bằng Taxol giảm di căn ung thư một phần nào. Trong khi chuột trị bằng Taxol và Curcumin hay với Curcumin thì di căn ung thư vú giảm lan truyền vào phổi.

Bàn thêm Chất Curcumin làm tế bào ung thu da melanoma không sinh sản và tự huỷ. Curcumin giảm tác dụng EGFR, một bạch đản kích thích tế bào u buớu tăng trưởng. Curcumin cũng giảm chức năng VEGF tức à giảm khả năng thành lập mạch máu thường thấy tăng trưởng trong mô ung thư. Ngoài ra, Curcumin kìm hãm NF-kB trong đường hóa học STATS, giảm phát triển ung thư.

Curcumin là chất màu vàng của củ nghệ (Curcumin Longa). Trong Curcumin có 2 hóa chất Demethoxycurcumin và Bisdemethoxycurcumin.

Một loạt thử nghiệm khác trong gia đoạn I tìm hiểu chất Curcumin ảnh hưởng ung thư tuyến tuỵ tạng và ung thư maú multiple myeloma. (Cancer Journal, August 15, 2005).

Nhiều thử nghiệm trước đây cho biết Curcumin là một hợp chất chống oxýt-hoá và cống hiện tượng viêm.

BS Trần Mạnh Ngô
Đăng nhập để trả lời
0




http://www.lef.org/magazine/mag2002/jul2002_report_curcumin_01.html
Đăng nhập để trả lời
0
Ung thư nhũ hoa

Đây là chuyện riêng nói với quý cô, bà. Nhưng quý ông cần nên nghe và phải biết.

Nhũ hoa mà Tạo Hóa ban cho nữ giới và nam giới rất được quan tâm cách này hay cách khác.

Ngòai vai trò biểu tượng tính cách phụ nữ và đặc tính sanh dục thứ nhì với làm đẹp, gơị tình, nhạy cảm (vú đàn bà, qú đàn ông), nhũ hoa có một nhiệm vụ thiêng liêng cao cả hơn. Đó là nuôi dưỡng con thơ bằng những giọt sữa ngon lành tươi ấm tự lòng mình. Vì đàn bà không vú lấy gì nuôi con. Tất nhiên là liền ông cũng có vú, nhưng chỉ là hai vùng mô bào vơí núm cau nhỏ xi

ú, chẳng có công dụng gì (hay chưa hiểu); ngoài việc điểm trang cho ngực khoỉ trơ trụi. Và đôi khi để người tình tìm cảm hứng.

Nhũ hoa đuợc Bà Mụ nặn mỗi người mỗi dạng lớn nhỏ khác nhau; nhưng vẫn có sữa nhiều it để cho con bú tí và cũng mang những rủi ro bệnh tật như nhau.

Nhũ hoa quý bà được cấu tạo phù hợp chức năng sinh sữa cho con. Vú có khoảng 20 thuỳ tuyến sữ, mỗi tuyến có ống riêng mở ra ngoài núm vú. Vú không có bắp thịt mà có tế bào mỡ, mô liên kết, mạch maú, dây thần kinh, và hệ thống bạch huyết.

Vú đàn ông không có thùy sữa. Nhũ hoa lớn hay nhỏ là tùy theo nhiều hay ít tế bào mỡ.

....

Hẹn đấy quý ông ạ....
Đăng nhập để trả lời
0
Hẹn đấy quý ông ạ....


Sẽ tiếp.....
Đăng nhập để trả lời
0
Nam giới cũng bị ung thư vú

21:45:28, 02/01/2006Thanh Tùng


Bệnh viện Ung bướu (TP.HCM) lúc nào cũng chật kín bệnh nhân. ảnh: Khánh Vy
Nếu như ở khu vực Hà Nội, ung thư vú ở phụ nữ chiếm vị trí số một, thì ngược lại ở TP.HCM vị trí này "nhường chỗ" cho ung thư cổ tử cung. Riêng đối với nam, khu vực TP.HCM, ung thư gan là loại thường gặp nhất, thì ngược lại ở Hà Nội, ung thư phổi xếp vị trí hàng đầu, tiếp sau đó là dạ dày, thứ ba mới là gan. Ngoài ra, nam giới cũng có thể bị ung thư... vú chứ không như nhiều người thường nghĩ, ung thư vú chỉ "dành" cho phái nữ!...


10 loại ung thư dễ mắc phải

Những thông tin trên nằm trong báo cáo kết quả khảo sát nghiên cứu về bệnh ung thư trong nước, được các nhà chuyên môn đưa ra tại hội thảo phòng chống bệnh ung thư mới đây ở TP.HCM. Báo cáo cũng cho thấy, đối với phụ nữ, 10 loại ung thư dễ mắc phải nhất là: ung thư cổ tử cung, vú, dạ dày, đại trực tràng, phổi, gan, buồng trứng, hốc miệng, vòm hầu và máu. Còn những bệnh ung thư mà nam giới mắc phải nhiều nhất là: ung thư gan, phổi, dạ dày, đại trực tràng, tuyến tiền liệt, hốc miệng, vòm hầu, lymphôm KH và máu. Qua khảo sát nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt nhau về tần suất mắc bệnh ung thư trên các bộ phận cơ thể giữa hai khu vực Hà Nội và TP.HCM. Nếu như ở khu vực Hà Nội, ung thư vú ở phụ nữ chiếm vị trí số một, thì ngược lại ở TP.HCM vị trí này "nhường chỗ" cho cổ tử cung, còn vú đứng ở vị trí thứ hai. Riêng đối với nam, khu vực TP.HCM, ung thư gan là loại thường gặp nhất, thì ngược lại ở Hà Nội, ung thư phổi xếp vị trí hàng đầu, tiếp sau đó là dạ dày, thứ ba mới là gan. Còn khảo sát của Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Nguyên trên gần 4.000 bệnh nhân ung thư cho thấy: ở nam giới 3 loại ung thư đứng hàng đầu là phổi, gan và dạ dày, còn ở nữ giới 3 loại ung thư gặp nhiều nhất thứ tự là vú, dạ dày và phổi. Sự khác biệt nhau về tần suất mắc bệnh ung thư trên từng bộ phận cơ thể giữa các địa phương trong nước, các nhà chuyên môn vẫn đang tìm hiểu nguyên nhân qua các nghiên cứu trong thời gian sắp tới.

Bệnh ung thư ở người có hơn cả 100 loại. Ước tính, bình quân hằng năm, cả nước có số trường hợp mắc mới bệnh ung thư khoảng 100 - 150 ngàn người (thế giới mỗi năm có hơn 10 triệu người mắc mới và khoảng 6 triệu người chết do ung thư). Báo cáo của bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu (TP.HCM) cho biết, các loại ung thư thường gặp ở nam giới là những loại khó chữa trị và phần lớn là phát hiện bệnh trễ, dẫn đến tỷ lệ tử vong do ung thư ở nam giới rất cao. Chẳng hạn như ung thư phổi, gan, dạ dày. Ngoài ra, nam giới cũng có thể bị ung thư... vú (chứ không như nhiều người thường nghĩ, ung thư vú chỉ "dành" cho phái nữ!), triệu chứng ban đầu là xuất hiện một cục u ở dưới quầng vú.

Ngoài ra có những loại ung thư ở những bộ phận quen thuộc, nhưng người bệnh ít nghe đến như ung thư môi, ung thư tai, ung thư da đầu...

Vì sao bị ung thư?

Những loại ung thư gặp nhiều nhất trên thế giới hiện nay (tính chung cả nam và nữ) gồm: phổi (với khoảng 1,35 triệu người mắc mới/năm), vú (1,15 triệu người/năm), đại trực tràng (1,02 triệu người/năm), dạ dày (934 ngàn ca/năm) và ung thư gan (hơn 600 ngàn ca/năm). Trong đó, số người chết do ung thư phổi chiếm nhiều nhất (với gần 1,2 triệu người/năm). Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong số những trường hợp mắc bệnh ung thư trên toàn thế giới thì, 1/3 có thể phòng ngừa được, 1/3 có thể phát hiện bệnh sớm, chữa trị tốt, 1/3 phát hiện trễ vẫn cần điều trị tích cực và chăm sóc nâng đỡ.

Đến nay người ta vẫn chưa tìm ra nguyên nhân gây nên bệnh ung thư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, thống kê trên những trường hợp mắc bệnh trong thực tế, các nhà chuyên môn ghi nhận được những yếu tố có liên quan đối với từng loại bệnh ung thư. Chẳng hạn, nguy cơ chủ yếu của ung thư vú liên hệ chặt chẽ với các yếu tố sinh dục và hoormon (phụ nữ có kinh sớm, chu kỳ kinh không đều, sinh con đầu muộn, vô sinh, mãn kinh muộn, dùng thuốc ngừa thai, các hoormon thay thế...), béo phì, rượu, sự vận động cơ thể; ung thư phổi (ở cả nam và nữ) chiếm phần lớn là ở những người nghiện thuốc lá; ung thư dạ dày có mối liên hệ với sự lây nhiễm vi khuẩn H.Pylori; phần lớn ung thư gan là do hai loại virus HBV và HCV; ung thư cổ tử cung, đến nay người ta cũng đã nhận thấy rõ yếu tố liên hệ mật thiết với virus HPV (Human Papillomavirus). Nguy cơ ung thư dạ dày và ruột già tăng cao đối với những người có thói quen dùng những loại thức ăn ướp muối (như thịt hun khói; cá khô; mắm; rau, dưa muối), những loại thức ăn nhanh (fast foods); nguy cơ ung thư giảm đối với những người có chế độ dinh dưỡng giàu rau quả tươi...

Những tiến bộ trong điều trị bệnh ung thư

"Trời kêu ai nấy dạ" là câu người ta thường thốt lên mỗi khi nghe tin ai đó mắc bệnh ung thư. Song, gần đây đã có những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị căn bệnh quái ác này. Phẫu trị, xạ trị và hóa trị là 3 liệu pháp chuẩn trong chữa trị ung thư. Ba liệu pháp này mỗi lúc được phát huy mạnh mẽ, càng lúc, sự phối hợp giữa phẫu - xạ - hóa càng có hiệu quả cho người bệnh. Bên cạnh đó, gần đây đã có thêm những liệu pháp mới trong chữa trị ung thư - một số đã thử nghiệm xong, một số đang còn thử nghiệm rất hứa hẹn. Thành quả của dịch tễ học giúp biết được các bệnh ung thư thường gặp, để xây dựng chiến lược phòng ngừa thích hợp; biết rõ các yếu tố nguy cơ, để phòng ngừa hiệu quả. Vấn đề quan trọng là người bệnh cần được phát hiện bệnh sớm, để chữa bệnh kịp thời, cũng như cần có chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt tránh những yếu tố liên quan đến bệnh ung thư.


Thanh Tùng

http://www2.thanhnien.com.vn/Suckhoe/2006/1/2/134405.tno
Đăng nhập để trả lời
0
Tỉ, Huynh có thể hướng dẫn cho muội cách để tự kiểm tra ngực vú của mình xem có khối u hay là không đi tỉ.


Tỉ, Huynh -> Quý Bạn

Muội -> Người muốn hiểu như HY chẳng hạng. Mong Quý Bạn tham gia vào với nhé.


>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>

Cách tự khám vú:

Đứng trước gương: Tìm sự thay đổi ở nếp làn vú, xem có vùng da llồi hoặc lõm không.

Nằm: Đặt gối dưới vai phải, dùng đầu các ngón tay khám ngực phải, ấn nhẹ nhàng và xoay tròn, sau đó bóp đầu vú kiểm tra xem có dịch không. Khám ngực trái tương tự như trên.

>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>

Phòng bệnh và các yếu tố liên quan


* THÔNG TIN VỀ PHÒNG BỆNH

· Ung thư biểu mô dương vật

· Các yếu tố nguy cơ gây ung thư vú

UNG THƯ VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TA:

- Sự cảnh giác là con đường duy nhất giúp bạn tự bảo vệ mình chống lại ung thư.
- Cần phát hiện ung thư một cáhc có phương pháp.
- Giữ gìn cơ thể lành mạnh là trách nhiệm của bạn.

* Chẩn đoán sớm.

* Cách tự khám vú

* Làm xét nghiệm phiến đồ âm đạo

Chế độ ăn và ung thư

Thay đổi cách sống để làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư

* CÁC YẾU TỐ DI TRUYỀN, XÉT NGHIỆM DI TRUYỀN

Xét nghiệm tế bào ung thư là gì? Có nhiều loại xét nghiệm tế bào ung thư. Xét nghiệm thông thường nhất là xét nghiệm dàn phiến kính - dùng để phát hiện ung thư cổ tử cung. Bằng xét nghiệm này, rất nhiều trường hợp ung thư cổ tử cung được phát hiện ở giai đoạn rất sớm và do vậy tỷ lệ chữa khỏi rất cao, gầ 100%. Tất cả những phụ nữ trên 35 tuổi cần làm xét nghiệm này 1 lần/năm. Bác sĩ tuyến cơ sở có đủ khả năng làm xét nghiệm này.Có xét nghiệm tế bào khác có thể làm từ đờm, nước tiểu hay dịch ở phổi hoặc ổ bụng để phát hiện ung thư.

* CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

YẾU TỐ NGUY CƠ MÔI TRƯỜNG: Những nhóm người có nguy cơ cao mắc bệnh một số bệnh ung thư
Quá trình loại bỏ cafein trong cà phê và bệnh ung thư
Nitrat trong nước uống liên quan đến việc gia tăng nguy cơ mắc u lympho Non-Hodgkin.
Béo phì và ung thư.
Viên thuốc tránh thai và nguy cơ gây ung thư.
Ảnh hưởng của thấu nhiệt.
Thuốc chữa vô sinh là 1 yếu tố gây ung thư buồng trứng

--------------------------------------------------------------------------------

Chẩn đoán sớm

Dưới đây là những hướng dẫn giúp phát hiện sớm bệnh ung thư khhi chưa có biểu hiện lâm sàng. Bạn cần hỏi ý kiến thầy thuốc những liên quan của bạn với hướng dẫn này.

Tuổi từ 30 - 40: Kiểm tra phát hiện ung thư 3 năm 1 lần theo thứ tự từng bước và kèm theo là những lời khuyên về sức khỏe, chú trọng tới việc khám phát hiện các ung thư tuyến giáp trạng, tinh hoàn, miệng, buồng trứng, da và hệ thống hạch.
Vú: - Đến bác sĩ khám 3 năm 1 lần
- Tự khám hàng tháng.
- Chụp X quang tuyến vú ở khoảng 35 - 40 tuổi.
Tử cung: Khám phụ khoa 3 năm 1 lần.
Cổ tử cung: Làm xét nghiệm phiến đồ âm đạo - sau 2 lầ âm tính thì 3 năm làm 1 lần, bao gồm cả những phụ nữ dưới 20 tuổi nếu có sinh hoạt tình dục.

Tuổi từ 40 trở lên:Kiểm tra phát hiện ung thư 3 năm 1 lần theo thứ tự từng bước và kèm theo là những lơgi khuyên về sức khỏe, chú trọng tới việc khám phát hiện các ung thư tuyến giáp trạng, tinh hoàn, miệng, buồng trứng, da và hệ thống hạch.
Vú: - Đến khám bác sĩ hàng năm.
- Tự khám hàng tháng.
- Chụp X quang tuyến vú ở những người trên 50 tuổi (từ 40 - 50 tuổi hỏi ý kiến bác sĩ)
Tử cung: Khám phụ khoa hàng năm
Cổ tử cung: Làm xét nghiệm phiến đồ âm đạo 1 năm 1 lần. Sau 2 lần âm tính thì 3 năm làm một lần.
Nội mạc tử cung: Những người mãn kinh có nguy cơ cao, lấy mẫu nội mạc tử cung xét nghiệm.
Thực quản và dạ dày: - Sàng lọc bệnh nhân trên 40 tuổi.
- Nội soi.
- Chụp dạ dày có thuốc cản quang.
Đại tràng và trực tràng:
- Thăm trực tràng hàng năm.
- Xét nghiệm tìm máu trong phân hàng năm ở những người trên 50 tuổi
-Nội soi trực tràng ở những người nghi ngờ

9 DẤU HIỆU DỰ BÁO UNG THƯ.

Các dấu hiệu sớm của bệnh ung thư đã được tuyên truyền rộng rãi và mọi người cần chú ý những dấu hiệu này. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng nhiều dấu hiệu cũng là biểu hiện của bệnh lành tính, ví dụ như một khối u ở ngực có xác xuất ác tính là 1/10. Nhưng dù sao bạn cũng không bao giờ được chậm trễ khi thấy xuất hiện bất cứ một dấu hiệu nào và bạn nên đi khám ngay khi thấy một trong những dấu hiệu sau:

a/ Đau không giảm đi sau vài tuần.
b/ Có nốt ruồi hay mụn cơm ngày càng to, sẫm màu hoặc chảy máu.
c/ Có một u cục ở ngực
d/ Chảy máu bất thường ở âm đạo (đặc biệt là chảy máu giữa hai chu kỳ kinh nguyệt hay sai khi mãn kinh).
e/ Chảy máu đường tiêu hóa hay có những thay đổi vền hoạt động tiêu hóa kéo dài.
f/ Đi tiêu ra máu.
g/ Kém ăn và rối loạn tiêu hóa kéo dài.
h/ Khàn giọng hay ho kéo dài.
i/ Khó nuốt.


--------------------------------------------------------------------------------

Những nhóm người có nguy cơ cao mắc bệnh một số bệnh ung thư

Phổi:

· Những người nghiện thuốc lá nặng trên 50 tuổi.

· Hút 1 bao thuốc lá 1 nàgy liên tục 20 năm.

· Ho do hút thuốc lá.

· Bắt đầu hút từ 15 tuổi.

· Người nghiện thuốc lá làm việc ở nơi có nhiều bụi silíc

Vú:

· Có u cục ở ngực hay chảy dịch ở núm vú.

· Có tiền sử bị ung thư vú bên kia.

· Trong gia đình có người bị ung thư vú.

· Trên 35 tuổi, đặc biệt là trên 50 tuổi.

· Không có con hoắc có con đầu khi ngoài 30 tuổi.

Cổ tử cung:

· Chảy máu, hay chảy dịch bất thường.

· Quan hệ tình dục sớm và thường xuyên hoặc quan hệ với nhiều người.

· Kém hiểu biết.

· Vệ sinh không tốt trong và sau khi mang thai.

· Tuổi từ 40 đến 49.

Nội mạc tử cung:

· Chay máu hay dịch bất thường.

· Mãn kinh muộn (sau 55 tuổi).

· Có bệnh dái tháo đường, cao huyết áp quá béo.

· Tuổi từ 50 đến 64

Buồng trứng:

· Trong gia đình có người bị ung thư buồng trứng

Đại tràng - Trực tràng:

· Có tiền sử bị Polyp trực tràng.

· Trong gia đình có người bị polip đại trưc tràng.

· Có tiền sử viêm loét đại tràng.

· Có máu trong phân.

· Trên 40 tuổi

Da:

· Phơi nắng quá nhiều.

· Da sáng màu.

· Làm việc trong mỏ than, tiếp xúc với hắc ín hay thuốc xát trùng.

Dạ dày:

· Trong gia đình có người bị ung thư dạ dày.

· Khẩu phần ăn có nhiều muối, dưa muối hoặc thức ăn hun khói

Tiền liệt tuyến:

· Trên 65 tuổi.

· Đái khó

Khoang miệng:

· Người nghiện thuốc lá và nghiện rượu nặng.

· Vệ sinh răng miệng kém.

· Nhai trầu thuốc hoặc nhai thuốc lá.

Vòm họng:

· Tự nhiên chảy máu cam.

· Nhức 1/2 đầu - ù tai cùng bên.

· Hút thuốc lá nhiều

Cách tự khám vú:

Đứng trước gương: Tìm sự thay đổi ở nếp làn vú, xem có vùng da llồi hoặc lõm không.

Nằm: Đặt gối dưới vai phải, dùng đầu các ngón tay khám ngực phải, ấn nhẹ nhàng và xoay tròn, sau đó bóp đầu vú kiểm tra xem có dịch không. Khám ngực trái tương tự như trên

Làm xét nghiệm phiến đồ âm đạo:

Tất cả phụ nữ trên 18 tuổi đã có gia đình hay đã có hoạt động tình dục cần làm xét nghiệm phiến đồ âm đạo đều đặn, xét nghiệm này là dùng 1 que chuyên dụng lấy dịch ở âm đạo và phết lên 1 lam kính, sau đó soi dưới kính hiển vi để phát hiện những tế bào ung thư.

(Nguồn: Vietpharm)

http://tudienthuoc.com/tudienthuoc/noidungphobien.asp?ID=115




Đăng nhập để trả lời
0
126. Kiểm tra sức khỏe định kỳ có lợi như thế nào đối với phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh?

Thời kỳ tiền mãn kinh là thời kỳ "phục bệnh". Nếu không kịp thời phát hiện và sớm có
biện pháp điều trị, để ủ bệnh lâu, sau đó bệnh sẽ đột ngột phát và đem lại những hậu quả xấu. Đặc biệt là đối với bệnh ung thư ác tính, nếu phát hiện bệnh sớm, hiệu quả trị bệnh sẽ tốt, nhưng nếu phát hiện muộn, bệnh nhân khó tránh khỏi tử vong vì hiện nay còn thiếu phương pháp trị bệnh tận gốc và hiệu quả.

Vì vậy, việc dự phòng và phát hiện bệnh ung thư sẽ giúp cứu được sinh mệnh.

Cùng với tuổi tác, tỷ lệ phát sinh bệnh ung thư ngày càng cao. Theo con số thống kê về tình hình phát triển bệnh ung thư ở phụ nữ, có khoảng 40% phụ nữ ung thư vú và ung thư phần phụ, trong đó tuổi phát bệnh chủ yếu là tiền mãn kinh và đã mãn kinh.

Biện pháp cụ thể để phát hiện sớm nhất ung thư ác tính là kiểm tra sức khỏe toàn diện hàng năm, bao gồm: thể trọng, huyết áp, răng miệng, vú, kiểm tra phụ khoa. Ngoài ra, nên xét nghiệm nước tiểu, công năng gan, mỡ trong máu, chụp phổi, điện tâm đồ, chụp gan, phổi, tim... Các biện pháp kiểm tra này gần đây đã được phổ biến, giúp phát hiện chính xác không ít bệnh tiềm ẩn, bệnh nhân sớm được điều trị.

Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh còn phải học các phương pháp tự kiểm tra, nắm chắc một số tri thức y học cơ bản. Chú ý các cảm giác chủ quan của bản thân, như: quan sát nhịp tim sau khi hoạt động, quan sát những biểu hiện liên quan đến tiêu hóa... Ngoài ra, thông qua mắt nhìn, tay sờ, có thể phát hiện một số triệu chứng khả nghi, như cục u ở vú, hạch ở cổ, nách... Khi có những biểu hiện dị thường, nên đến bác sĩ để kiểm tra.


--------------------------------------------------------------------------------

*140 vấn đề liên quan đến kinh nguyệt phụ nữ
003. Về sinh lý, cuộc đời người phụ nữ trải qua mấy giai đoạn? Đặc điểm của từng giai đoạn?
004. Buồng trứng của người phụ nữ có tất cả bao nhiêu tế bào trứng? Số lượng đó có tăng thêm không?
005. Tế bào trứng phát dục và chín như thế nào?
006. Sau khi trứng rụng, tế bào trứng và nang noãn có những thay đổi gì?
008.Thế nào là kinh nguyệt và chu kỳ kinh nguyệt? Nó được hình thành như thế nào?
010. Trong thời kỳ kinh nguyệt, cơ thể phụ nữ có những thay đổi gì? Phải chú ý những biện pháp giữ gìn sức khỏe nào?
011. Thế nào là chu kỳ buồng trứng? Rụng trứng và kinh nguyệt có liên quan gì với nhau?
012. Chu kỳ buồng trứng được điều khiển như thế nào?
013. Việc tiết ra hoóc môn sinh dục của tuyến yên chịu sự điều khiển nào?
014. Tuyến yên vùng dưới đồi có chịu sự điều khiển của hoóc môn buồng trứng không?
015. Phải thông qua những kiểm tra gì, bác sỹ mới biết được sự phát dục của noãn bào và việc không rụng trứng của người bệnh?
016. Thế nào là đo thân nhiệt cơ sở?
017. Thế nào là kiểm tra mảnh tế bào rụng ở âm đạo?
018. Thế nào là cho điểm niêm dịch ở cổ tử cung?
019. Thế nào là nạo sinh thiết nội mạc tử cung?
020. Kiểm tra siêu âm khoang chậu để kiểm tra tình trạng phát dục của noãn bào và sự rụng trứng như thế nào?
021. Có thể kiểm tra công năng của buồng trứng thông qua thử máu không?
022. Hóa nghiệm nước tiểu có thể dùng để kiểm tra công năng của buồng trứng?
023. Những phương pháp nào thường được dùng để kiểm tra tình trạng của tuyến yên?
024. Thế nào là thời kỳ dậy thì? Nó sẽ xuất hiện vào lúc nào?
025 - Trạng thái tâm lý của trẻ em gái thời kỳ dậy thì sẽ có những biến đổi gì?
026. Sự dậy thì bình thường do đâu gây nên? Hoóc môn trong cơ thể có thay đổi gì trong thời kỳ dậy thì ?
027. Thế nào là chứng bệnh dậy thì sớm?
028. Những trường hợp nào có thể dẫn đến chứng dậy thì sớm thực sự ở trẻ em gái?
029. Những trường hợp nào có thể dẫn đến dậy thì sớm đồng tính giả ở trẻ em gái?
030. Chữa trị cho những đứa trẻ dậy thì sớm như thế nào?
031. Điều gì gây ra chứng bệnh dậy thì sớm dị tính ở trẻ em gái?
032. Thế nào là dậy thì muộn và nhi hóa giới tính?
033. Những chứng bệnh gì thuộc vùng dưới đồi, tuyến yên có thể gây nhi hóa giới tính vĩnh viễn và vô kinh nguyên phát?
034. Thế nào là chứng bệnh turner? Có những phương pháp điều trị nào?
035. Ngoài bệnh turner, còn có những loại bệnh buồng trứng hoặc tuyến sinh dục phát triển không hoàn chỉnh bẩm sinh nào khác không?
036. Bế kinh nguyên phát và nhi hóa giới tính còn có những nguyên nhân gì khác?
037. Dựa vào biểu hiện lâm sàng, sự rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ có thể được chia thành mấy loại?
038. Kinh nguyệt rối loạn là do đâu? Những bước thông thường của bác sĩ trong việc chẩn trị bệnh về kinh nguyệt là gì?
039. Thế nào là tử cung rong huyết cơ năng? Nó được chia thành mấy loại?
040. Làm thế nào để cầm máu cho người bệnh tử cung rong huyết cơ năng không rụng trứng trong thời kỳ rong huyết?
041. Cầm máu như thế nào cho người bị bệnh rong huyết cơ năng còn trẻ, chưa kết hôn và bị thiếu máu nặng?
042. Phụ nữ trung niên bị rong huyết cơ năng, thiếu máu ở mức độ nặng, đã nạo tử cung để loại bỏ bệnh lý thuộc khí chất thì có thể dùng thuốc để cầm máu được không?
043. Người bị rong huyết cơ năng không rụng trứng, nếu âm đạo ngừng ra máu thì có phải là bệnh đã khỏi không?
044. Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ liệu có mắc bệnh rong huyết cơ năng không?
045. Vì sao ở những phụ nữ có chu kỳ rụng trứng đều đặn lại xuất hiện hiện tượng kinh nguyệt nhiều?
046. Thế nào là phẫu thuật nội soi niêm mạc tử cung?
047. Tại sao lại bị chảy máu trong thời gian rụng trứng? Cần phải điều trị như thế nào?
048. Vô kinh được phân loại như thế nào?
049. Nguyên nhân nào dẫn đến vô kinh do tử cung? Điều trị như thế nào?
050. Thế nào là chứng không có âm đạo và tử cung? Có thể chữa trị được không?
051. Những nguyên nhân nào dẫn đến vô kinh buồng trứng, điều trị như thế nào?
052. Vô kinh tuyến yên vùng dưới đồi được phân loại như thế nào?
053. Vô kinh tuyến yên vùng dưới đồi được phân loại như thế nào?
054. Bromocriptin có tác dụng điều trị như thế nào? Hiệu quả và tác dụng phụ của nó ra sao?
055. Người bị vô kinh do chứng PRL cao trong máu sau khi mang thai và sinh đẻ có uống thuốc Bromocriptin được không? Nếu có thì uống đến lúc nào?
056. Vô kinh tuyến yên còn do những nguyên nhân nào khác gây nên?
057. Điều trị vô kinh tuyến yên như thế nào?
058. Vô kinh vùng dưới đồi do những nguyên nhân nào gây nên? Điều trị như thế nào?
059. Thế nào là trị liệu mạch xung GnRH?
060. Phụ nữ sau khi uống thuốc tránh thai hay làm phẫu thuật triệt sản có bị vô kinh không?
061. Phụ nữ sau khi uống thuốc tránh thai hay làm phẫu thuật triệt sản có bị vô kinh không?
061. Thế nào là kinh nguyệt thưa? Có cần điều trị không?
062. Thế nào là kinh nguyệt thưa? Có cần điều trị không?
063. Nguyên nhân nào làm cho lượng kinh nguyệt ít? Thế nào là dính niêm mạc khoang tử cung?
064. Giữa thể trọng, kinh nguyệt và sự rụng trứng của người phụ nữ có mối quan hệ tương quan với nhau không?
065. Thế nào là béo phì? Nó có ảnh hưởng gì đến kinh nguyệt không? Nó có hại gì đối với sức khỏe?
066. Nên kiểm tra và điều trị như thế nào đối với bệnh béo phì kèm kinh nguyệt không đều?
067. Thể trọng quá thấp có ảnh hưởng gì tới kinh nguyệt?
068. Thể thao và kinh nguyệt không đều có liên quan đến nhau không?
069. Thế nào là lưỡng giới tính giả? Nó được phân loại như thế nào? Tình trạng kinh nguyệt của người lưỡng giới tính ra sao?
070. Thế nào là lưỡng giới tính thật (ái nam ái nữ thật)?
071. Thế nào là chứng bệnh không mẫn cảm với testosteron hoàn toàn?
072. Thế nào là người phụ nữ bị ái nam? Chứng này do bệnh gì gây nên?
073. Phân bố lông, tóc của phụ nữ có gì khác so với nam giới? Vì sao?
074. Nguyên nhân gì dẫn đến bệnh nhiều lông ở phụ nữ? Điều trị như thế nào?
075. Thế nào là bệnh buồng trứng đa nang?
076. Chứng bệnh buồng trứng đa nang có thường gặp không? Nó sẽ gây nên hậu quả gì?
077. Chẩn đoàn và điều trị bệnh buồng trứng đa nang như thế nào?
078. Phẫu thuật có thể điều trị được bệnh buồng trứng đa nang không?
079. Người đã sinh con, khi bị bệnh buồng trứng đa nang có thể không cần phải điều trị?
080. Đau bụng hành kinh là gì?
081. Phân loại đau bụng hành kinh như thế nào?
082. Đau bụng hành kinh có phải là hiện tượng thường xảy ra không?
083. Chứng đau bụng hành kinh liên quan đến những yếu tố gì?
084. Nguyên nhân và cơ chế gây đau bụng hành kinh
085. Đau bụng hành kinh nguyên phát có những đặc điểm lâm sàng nào?
086. Thế nào là chứng lạc nội mạc tử cung?
087. Thế nào là các chứng ở tuyến cơ tử cung?
088. Những bệnh phụ khoa nào thường dẫn đến đau bụng hành kinh? Phải điều trị như thế nào?
089. Chẩn đoán và điều trị đau bụng hành kinh như thế nào?
090. Làm thế nào để phòng tránh đau bụng hành kinh?
091. Thế nào là chứng căng thẳng trước kỳ kinh nguyệt?
092. Chứng căng thẳng trước kỳ kinh nguyệt có thường thấy ở phụ nữ không?
093. Chứng căng thẳng trước kỳ kinh nguyệt có biểu hiện gì?
094. Vì sao lại sinh ra chứng căng thẳng trước kỳ kinh nguyệt?
095. Chẩn đoán căng thẳng trước kỳ kinh nguyệt như thế nào?
096. Điều trị chứng căng thẳng trước kỳ kinh nguyệt như thế nào?
097. Có thể dùng thuốc bắc để điều trị chứng căng thẳng trước kỳ kinh nguyệt không?
098. Vì sao những phụ nữ có kinh không đều lại khó có thai?
099. Phụ nữ vô sinh cần phải tiến hành kiểm tra, điều trị như thế nào?
100. Thế nào là thời kỳ tiền mãn kinh?
101. Vì sao trong những năm gần đây, việc giữ gìn sức khỏe thời kỳ tiền mãn kinh lại được coi trọng?
102. Vì sao kinh nguyệt của phụ nữ lại đến lúc tắt hẳn?
103. Sau khi mãn kinh, cơ thể người phụ nữ còn sản sinh ra oestrogen nữa không?
104. Cơ quan sinh dục của người phụ nữ trong thời kỳ tiền mãn kinh sẽ có những thay đổi gì?
105. Bộ xương của phụ nữ trong thời kỳ tiền mãn kinh có thay đổi gì?
106. Có phải người phụ nữ nào sau khi mãn kinh cũng đều mắc chứng loãng xương không?
107. Hệ thống tim mạch của phụ nữ sau khi mãn kinh sẽ có những thay đổi gì?
108. Những bộ phận khác trong cơ thể phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh sẽ có những thay đổi gì?
109. Thế nào là triệu chứng tổng hợp thời kỳ tiền mãn kinh? Phụ nữ trong thời kỳ quá độ này sẽ có những khó chịu gì?
110. Những triệu chứng điển hình nhất trong thời kỳ tiền mãn kinh là gì?
111. Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh sẽ có những triệu chứng thần kinh gì?
112. Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh sẽ có thay đổi gì về tâm lý và tinh thần?
113. Tình dục phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh có những thay đổi gì?
114. Phụ nữ thời kỳ tiên mãn kinh sẽ có những triệu chứng gì khác?
115. Thời kỳ tiền mãn kinh bắt đầu vào lúc nào? Sẽ kéo dài bao lâu?
116. Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh có thể có thai không? Áp dụng biện pháp tránh thai nào thì thích hợp?
117. Thế nào là mãn kinh nhân tạo?
118. Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh phải tự mình giữ gìn sức khoẻ như thế nào? Làm thế nào để làm chậm lại quá trình lão hoá, giảm bớt bệnh tật?
119. Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh làm thế nào để giữ được trạng thái tâm lý tốt?
120. Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh làm thế nào để giữ được cuộc sống gia đình hòa hợp?
121. Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh nên chú ý đến sự điều độ trong cuộc sống của mình như thế nào?
122. Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh làm thế nào để hình thành thói quen vệ sinh tốt?
123. Thế nào là sự ăn uống hợp lý ở phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh?
124. Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh nên rèn luyện thân thể như thế nào cho khoa học?
125. Phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh phải chú ý chăm sóc da như thế nào?
126. Kiểm tra sức khỏe định kỳ có lợi như thế nào đối với phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh?
127. Những loại thuốc nào có lợi cho sự trì hoãn tuổi già, phòng ngừa bệnh tật?
128. Thế nào là phương pháp điều trị oestrogen?
129. Phương pháp điều trị oestrogen có tác dụng phụ gì?
130. Bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị oestrogen như thế nào?
131. Hiện nay có những loại thuốc nào là chế phẩm của oestrogen?
132. Hiện có loại thuốc nào là chế phẩm của progestagen?
133. Có mấy phương pháp điều trị bằng hoóc môn? Lựa chọn như thế nào?
134. Testosteron có thể dùng để điều trị cho phụ nữ đã mãn kinh không?
135. Việc điều trị bằng hoóc môn cần phải bắt đầu vào lúc nào? Duy trì trong bao lâu? Có phải bất kỳ phụ nữ mãn kinh cũng cần áp dụng biện pháp này?
136. Phụ nữ tiền mãn kinh cần phải phối hợp như thế nào trong quá trình trị liệu bằng hoóc môn?
137. Phụ nữ trẻ có cần thiết phải điều trị bằng oestrogen hay progestagen hay không?
138. Có những nguyên nhân và phương pháp điều trị nào đối với bệnh loãng xương ở phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh?
139. Nguyên nhân gì khiến âm đạo ra máu nhiều lần ở phụ nữ sau khi đã mãn kinh?
140. Thế nào là viêm âm đạo do tuổi già?

http://www.ykhoanet.com/phunu/945.htm
Đăng nhập để trả lời
0
Ung thư vú và vấn đề thông tin y khoa

Nguyễn Văn Tuấn
ngày 11 tháng 05 năm 2004

Cancer là gì?





Hiện nay ở các nước Tây phương các giới chức y tế đang phát động một phong trào khám nghiệm một số bệnh ở qui mô cộng đồng, mà tiếng Anh thường gọi là “mass screening”, hay “screening”. Một số bệnh đặc biệt được chú trọng trong các chương trình qui mô này là ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer), và AIDS/HIV. Họ (giới y tế) kêu gọi những người có tuổi nên đi khám bác sĩ thường xuyên và thử nghiệm xem có bị ung thư tuyến tiền liệt (trong đàn ông) hay ung thư vú (trong phụ nữ) hay không. Đây là một vấn đề còn trong vòng tranh luận gay gắt trong giới y khoa, nhưng hình như những bất đồng ý kiến này vẫn chưa được công chúng, nhất là cộng đồng người Việt, thông hiểu. Thực vậy, trong một nghiên cứu ở Mỹ cách đây hai năm về kiến thức ung thư vú, chỉ trên dưới một phần ba phụ nữ gốc Việt có kiến thức đầy đủ về ung thư vú [1].

Tuy thế, trong cộng đồng người Việt, một phong trào khám nghiệm ung thư ở qui mô lớn đã được phát động ở vài nơi có đông người Việt cư ngụ. Chẳng hạn như tài liệu “Ung thư vú: Những điều phụ nữ Việt Nam nên biết” (trong Chương trình y tế Health is Gold! – Sức khỏe là vàng, do Trường Y khoa thuộc Đại học California – San Francisco (UCSF)) ấn hành, khuyên: “Phụ nữ 50 tuổi trở lên cần phải chụp quang tuyến vú mỗi một hoặc hai năm một lần. Phụ nữ dưới 50 tuổi hoặc phụ nữ có nguy cơ bị ung thư vú, nên hỏi ý kiến bác sĩ của mình về việc chụp quang tuyến vú,” và “Phụ nữ từ 20 đến 39 tuổi cần phải đi khám vú mỗi ba năm một lần. Phụ nữ 40 tuổi trở lên cần phải đi khám vú mỗi năm một lần.”[2] Ở Sydney, một tài liệu do Bộ y tế Úc lưu hành trong cộng đồng người Việt ở Sydney viết [trích đoạn]: “Những người […] khi đến tuổi từ 40 trở lên, nên thường xuyên đi khám bác sĩ. Việc khám ngừa ung thư tuyến tiền liệt gồm thử máu và khám tuyến tiền liệt qua đường hậu môn.” [3]

Nhưng giới y tế lại mâu thuẫn với nhau. Sự mâu thuẫn xoay quanh ba vấn đề chính: chụp X-quang tuyến vú (mammagraphy), khám nghiệm vú do bác sĩ tiến hành, và bệnh nhân tự khám vú. Hiệp hội ung thư Mỹ khuyên phụ nữ từ độ tuổi 40 trở lên nên đi chụp quang tuyến vú và đi khám bác sĩ mỗi năm (hay mỗi hai năm). Trong khi đó Cơ quan phòng chống ung thư vú (Mỹ) và Hiệp hội ung thư (Canada) lại khuyến cáo các phụ nữ này chỉ nên đi chụp quang tuyến vú mỗi một (hay hai năm) nhưng không phải từ độ tuổi 40 mà kể từ lúc 50 tuổi trở lên. Cả hai nhóm cũng không đồng ý với hiệu quả của việc bệnh nhân tự khám vú. Nhưng Hiệp hội ung thư Mỹ khuyên phụ nữ tuổi từ 20 trở lên nên tự mình khám vú hàng tháng để phát hiện xem có dấu hiệu gì bất thường hay không!

Với những lời khuyến cáo mâu thuẫn này (tất cả đều xuất phát từ các cơ quan chuyên môn), phụ nữ nên nghe lời ai? Để trả lời câu hỏi này, người phụ nữ cần phải biết lợi ích và tác hại của việc kiểm tra ung thư vú. Chắc chắn sẽ không có một quyết định bao quát cho mọi phụ nữ, vì họ khác nhau về bối cảnh gia đình cũng như các đặc tính lâm sàng và sinh học.

Tại sao cần khám nghiệm ung thư?

Việc tham gia vào các chương trình khám nghiệm ở qui mô cộng đồng này đem lại lợi ích gì cho người phụ nữ? Hậu quả của kết quả thử nghiệm ra sao? Bài viết này sẽ điểm qua những vấn đề này, và hi vọng sẽ cung cấp cho đồng hương một vài thông tin mà các giới chức y tế không (hay ít khi nào) đề cập đến, và hi vọng qua đó, đồng hương sẽ tự mình quyết định có nên tham gia vào các chương trình thử nghiệm như thế hay không. Bài này sẽ chia làm hai phần: phần I đề cập đến các vấn đề liên quan đến ung thư vú, và phần II là các vấn đề liên quan đến ung thư tuyến tiền liệt.


Ung thư vú



Ung thư vú được định nghĩa là bất cứ một u (bướu) ác tính nào có trong vú. Sự phát sinh ung thư vú, cũng giống như các dạng ung thư khác, là hậu quả của sự rối loạn trong quá trình tái sản xuất tế bào. Tế bào trong cơ thể chúng ta sản xuất và tái sản xuất một cách liên tục. Thông thường, các tế bào “lành mạnh” phân chia và sao chép khi nhận được tín hiệu hóa học. Qui trình phân chia và sao chép này được tiến hành một cách chính xác, với một chu kì gần như bất biến. Nhưng một khi chu kì này bị làm cho rối loạn, cấu trúc DNA bị thay đổi, và các tế bào đột biến bắt đầu không tuân theo qui trình phân chia và sao chép như đã định, và sau cùng là hỗn loạn hệ thống tái sản xuất tế bào. Hậu quả của sự rối loạn sản suất và sao chép này dẫn đến ung thư. Dấu hiệu chính của ung thư vú là một chỗ lồi trong vú. Đôi khi dấu hiệu khác đáng chú ý là một chỗ lồi trong nách, do ung thư lan đến các hạch máu trắng. U có thể lan đến xương, phổi, và gan.

Mỗi vú có khoảng 15 đến 20 “khu vực”, gọi là thùy (lobe); mỗi thùy được chia thành nhiều vùng nhỏ, gọi là tiểu thùy (lobules). Thùy và tiểu thùy liên kết với nhau bằng những ống dẫn nhỏ (ducts). Dựa vào cấu trúc này, ung thư vú được phân thành nhiều loại khác nhau, chủ yếu là:

Ung thư ống dẫn sữa có giới hạn (ductal carcinoma in situ hay còn gọi là DCIS). Như tên gọi, loại ung thư này chỉ giới hạn trong các ống dẫn sữa và không lan sang các mô chung quanh. Loại ung thư này rất khó phát hiện bằng mắt thường, mà chỉ có thể phát hiện qua quang tuyến X. Khoảng 20% các trường hợp ung thư vú là thuộc dạng “ung thư hiền” này.

Ung thư ống dẫn sữa lan rộng (invasive ductal cancer). Đây là loại ung thư vú thường thấy nhất. Khoảng 70% các trường hợp ung thư vú là thuộc dạng này. Nó thường được biểu hiện dưới hình thức một cục bướu cứng, và thường thấy trong các tế bào của các ống dẫn sữa.

Ung thư miu-xin (Mucinous carcinoma) cũng là một dạng bướu ác tính, nhưng ung thư này có chứa các tế bào sản xuất chất nhầy, và chất nhầy làm cho cục bưới có màu lóng lánh. Chỉ có khoảng 3% trường hợp ung thư vú thuộc dạng này.

Ung thư tiểu thùy lan rộng (invasive lobular carcinoma). Đây là một dạng ung thư thường hiện diện trong hai đầu ống dẫn sữa hay trong các tiểu thùy. Loại ung thư này chiếm khoảng 5% trong các trường hợp ung thư vú.


Tỉ lệ người bị ung thư vú khác biệt giữa các sắc dân. Nói chung, người da trắng có nguy cơ bị ung thư vú cao nhất, kế đến là người da đen, và thấp nhất là người Á châu da vàng.

Chưa ai biết chính xác các nguyên nhân của ung thư vú. Nhưng dựa vào những gì mà nghiên cứu khoa học cho chúng ta biết trong thời gian qua, có thể nói rằng phần lớn ung thư vú có liên hệ với các yếu tố kích thích tố (hàm lượng kích thích tố nữ [estrogen] cao, tuổi có kinh sớm …), môi trường và cách sống (như thói quen ăn uống quá nhiều chất béo, hút thuốc lá, ít tập thể dục …). Điều cần nhấn mạnh là các yếu tố này “liên quan” với, chứ không hẳn là “nguyên nhân gây ra”, ung thư vú. Tức là, ví dụ như có người ăn nhiều chất béo và có kinh sớm nhưng không bị ung thư vú, nhưng có người ăn ít chất béo và có kinh muộn lại bị bệnh. Chưa ai có thể dùng các yếu tố này để đoán biết chắc chắn xem ai sẽ bị và ai sẽ không bị ung thư vú. Nhiều nghiên cứu dùng các phương pháp toán học phức tạp để tiên đoán nhưng kết quả vẫn chưa thể ứng dụng vào thực tế lâm sàng.


Ngoài các yếu tố kích thích tố và môi trường, di truyền cũng đóng một vai trò khiêm tốn. Khoảng 10% trường hợp ung thư vú là do di truyền. Cho đến nay, sau hơn 30 năm nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện hai genes có dính dáng đến ung thư vú, gọi là BRCA1 và BRCA2 gene. Nhưng hai genes này hiện diện rất ít trong phụ nữ. Điều này có nghĩa rằng, nếu trong gia đình có mẹ hay chị em gái bị ung thư vú, thì cá nhân đó có xác suất (hay nguy cơ) bị ung thư vú cao hơn trung bình, chứ không phải là 100%.

Hiện nay, có nhiều cách để khám nghiệm ung thư vú, nhưng tựu trung lại, có thể nói là 3 cách: dùng quang tuyến X, do bác sĩ khám, và tự khám. Các chương trình khám nghiệm ung thư vú thường kêu gọi phụ nữ nên đi khám bằng quang tuyến X ít nhất là một lần, và thường xuyên tự khám hay đến bác sĩ để được khám. Nhưng vì mức độ nguy cơ bị ung thư vú tăng theo tuổi tác, những lời khuyên thường được dựa vào tuổi của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, như đề cập trên, ngay cả cùng độ tuổi mà giới y tế vẫn có những lời khuyên mâu thuẫn nhau. Để hiểu rõ vấn đề, phần còn lại của bài viết sẽ bàn về lợi và hại của từng phương pháp và từng độ tuổi.


Khám nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X


Mục đích chính của những chương trình thử nghiệm ung thư vú ở qui mô cộng đồng là, qua phát hiện ung thư sớm, hi vọng sẽ điều trị và quản lí căn bệnh sớm, và làm giảm tỉ lệ tử vong. Nói một cách khác, mục đích chính của việc khám nghiệm ung thư vú là để cứu người, ngăn ngừa những cái chết không cần thiết.

Đó là một lí tưởng cao cả và đẹp. Làm sao xác định được việc khám nghiệm ung thư vú có thể đáp ứng được mục tiêu [giảm tỉ lệ tử vong] trên. Phương pháp tốt nhất và đáng tin cậy nhất là tiến hành một thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (controlled randomized clinical trials), mà trong đó một số lớn phụ nữ được chia thành hai nhóm: nhóm 1 được khám nghiệm ung thư vú thường xuyên, và nhóm 2 là nhóm đối chứng (tức không được khám nghiệm lần nào cả). Nếu phụ nữ trong nhóm 1, khi đi khám nghiệm, có dấu hiệu cho thấy ung thư vú, họ sẽ được khám nghiệm một lần nữa, và giới thiệu đi điều trị. Sau một thời gian, chẳng hạn như là 10 năm, các nhà nghiên cứu sẽ phân tích xem tỉ lệ tử vong do ung thư vú gây ra trong hai nhóm có khác nhau hay không.

Trong quá khứ đã có 10 cuộc ngiên cứu như thế, với tổng số đối tượng hơn 500 ngàn phụ nữ, được tiến hành ở Mỹ, Tô Cách Lan (Scotland), Canada, và Thụy Điển [4]. Kết quả các cuộc nghiên cứu này có thể tóm gọn như sau:

Nhóm
Tỉ suất tử vong trên 1000 phụ nữ

Nhóm 1: không khám nghiệm ung thư vú
4 (a)

Nhóm 2: khám nghiệm ung thư vú
3 (b)


Có vài cách hiểu và diễn dịch kết quả này. Cách thứ nhất là dùng nguy cơ tương đối (relative risk), tức là phát biểu rằng kiểm tra ung thư vú làm giảm tỉ suất tử vong [do ung thư vú gây ra] 25% (lấy b là 3 chia cho a là 4, rồi lấy thương số này trừ cho 1, và nhân kết quả cho 100). Giới nghiên cứu y khoa và y tế công cộng nói chung rất chuộng cách phát biểu này, vì con số 25%, khi đọc lên, làm cho người tiếp nhận cảm thấy rất ấn tượng. Nhưng vấn đề là có nhiều hiểu lầm liên quan đến cách phát biểu này. Nhiều người, khi được hỏi về ý nghĩa của con số 25% này, trả lời rằng cứ 100 phụ nữ tham gia vào chương trình khám nghiệm, thì có 25 người được cứu sống. Nhưng đó là một hiểu lầm, bởi vì trong thực tế, như kết quả trên cho thấy trong 1000 phụ nữ thường kiểm tra ung thư, sau 10 năm theo dõi, có 3 người chết; trong cùng thời gian; trong 1000 phụ nữ không kiểm tra ung thư, có 4 người chết, tức là mức độ khác nhau chỉ 1 trong 1000 phụ nữ. Nhưng khi trình bày bằng chỉ số nguy cơ tương đối, nó lên đến 25%! [5].

Cách phát biểu thứ hai là nguy cơ tuyệt đối (absolute risk). Ở đây, có thể nói rằng việc khám nghiệm ung thư vú thường xuyên làm giảm nguy cơ tử vong 1 trên 1000 phụ nữ, hay 0.1%. Nói một cách khác, nếu có 1000 phụ nữ tham gia vào chương trình kiểm tra ung thư vú thường xuyên, sau mười năm, chương trình này có thể cứu sống 1 người.

Cách phát biểu thứ ba là số bệnh nhân cần chữa trị để cứu sống một người (number needed to treat, hay NTT). Rõ ràng, con số này càng thấp, thì phương pháp chữa trị được xem là tốt hơn. Trong ví dụ trên, phải cần khám nghiệm 1000 phụ nữ để cứu 1 phụ nữ.

Cách phát biểu thứ tư là thời gian kéo dài tuổi thọ. Phụ nữ tuổi từ 50 đến 69 tham gia vào chương trình khám nghiệm ung thư vú có tuổi thọ trung bình tăng khoảng 12 ngày [6].

Tất cả các cách phát biểu (hay phương cách trình bày) kết quả trên đây đều đúng, nhưng mỗi cách gợi cho công chúng (hay bệnh nhân) những khác biệt về lợi ích và tác hại của việc khám nghiệm ung thư vú thường xuyên, và đem lại cho bệnh nhân nhiều phản ứng cảm tính khác nhau. Chỉ số nguy cơ tương đối cho chúng ta biết nguy cơ tử vong trong nhóm được khám nghiệm thường xuyên giảm 25%, nhưng khi dùng chỉ số nguy cơ tuyệt đối, con số này chỉ 0.1%. Nhưng chỉ số tương đối không cung cấp cho chúng ta thông tin về lợi ích tuyệt đối của chương trình kiểm tra (hay của một thuật chữa trị). Chẳng hạn như 25% giảm tỉ suất tử vong chỉ có nghĩa là một số lớn bệnh nhân sẽ được cứu sống nếu – và chỉ nếu – căn bệnh đó rất phổ biến trong cộng đồng. Nếu căn bệnh rất hiếm (như ung thư vú) thì dù là một sự giảm thiểu 50% đi nữa cũng chẳng phải là một ảnh hưởng lớn.

Vì những kết quả hết sức khiêm tốn như thế, trong thời gian gần đây, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu y khoa và bác sĩ chất vấn lợi ích của việc khám nghiệm ung thư vú thường xuyên. Nhưng ngược lại, vẫn có người lí giải rằng chương trình khám nghiệm ở qui mô cộng đồng nên được tiến hành vì nó có thể cứu sống một số phụ nữ. Một vấn đề quan trọng được đặt ra những phụ nữ nào (ở độ tuổi nào) nên đi khám nghiệm ung thứ vú thường xuyên, và lợi ích cho từng nhóm ra sao? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể duyệt qua vài bằng chứng nghiên cứu mới nhất như sau:

Đối với các phụ nữ trong độ tuổi 40s, không một nghiên cứu nào trong 10 nghiên cứu đề cập trên cho thấy khám nghiệm ung thư vú làm giảm tỉ lệ tử vong (do ung thư vú gây ra) trong vòng 10 năm. Nhưng có một nghiên cứu mà kết quả cho thấy sau 14 năm theo dõi, khám nghiệm ung thư thường xuyên có thể làm giảm nguy cơ tử vong, nhưng vì mức độ giảm thiểu quá nhỏ nên không có ý nghĩa thống kê hay ý nghĩa lâm sàng nào cả. Tuy nhiên, khi kết quả của tất cả 10 nghiên cứu được phân tích gộp chung lại, các nhà nghiên cứu kết luận rằng khám nghiệm ung thư vú thường xuyên (cho dù có kéo dài đến 15 năm) không làm giảm tỉ suất tử vong [7].

Đối với các phụ nữ trong độ tuổi 50 hay cao hơn, kiểm tra thường xuyên có lợi ích gì? Tám trong số 10 nghiên cứu đề cập trên có sự tham gia của các phụ nữ trên 50 tuổi. Có 3 nghiên cứu cho thấy sau thời gian theo dõi từ 7 đến 8 năm, khám nghiệm thường xuyên có thể làm giảm tỉ lệ tử vong do ung thư vú gây ra, còn 5 nghiên cứu còn lại cho thấy không có khác biệt gì về tỉ suất tử vong do ung thư vú gây ra giữa hai nhóm, hay sự khác biệt quá nhỏ không có ý nghĩa thống kê và lâm sàng. Tuy nhiên, khi tổng hợp kết quả của tất cả 8 nghiên cứu, tỉ lệ tử vong giảm 27% (dùng chỉ số tương đối), nhưng khi diễn tả bằng chỉ số nguy cơ tuyệt đối, tỉ suất tử vong chỉ giảm 0.4% (hay 4 trên 1000 người). Dù mức độ ảnh hưởng quá nhỏ, nhưng chúng ta vẫn có thể kết luận rằng trong các phụ nữ trên 50 tuổi, kiểm tra ung thư vú thường xuyên có thể cứu sống một số phụ nữ.



Bác sĩ khám và tự khám ung thư vú



Ngoài việc khám nghiệm bằng X-quang tuyến vú, phụ nữ còn được khuyên nên đến thường xuyên tham vấn bác sĩ để bác sĩ khám vú, và tự mình khám. Hiệp hội ung thư Mỹ khuyên phụ nữ từ độ tuổi 40 trở lên nên đi chụp quang tuyến vú và đi khám bác sĩ mỗi năm (hay mỗi hai năm). Hiệp hội này cũng khuyên phụ nữ tuổi từ 20 trở lên nên tự mình khám vú hàng tháng để phát hiện xem có dấu hiệu gì bất thường hay không.

Câu hỏi cần đặt ra là khám ung thư vú qua bác sĩ hay tự khám có đem lại lợi ích nào không? Theo lương năng bình dân, chúng ta có thể nghĩ rằng khám nghiệm bằng cả ba phương pháp (X-quang tuyến, bác sĩ khám, và tự khám) có lẽ phải “khá” hơn một phương pháp riêng biệt. Thế nhưng kết quả nghiên cứu lại không nói lên điều đó. Trong các phụ nữ trên 50 tuổi, tự khám và bác sĩ khám chẳng làm giảm tỉ lệ tử vong so với kiểm tra bằng X-quang tuyến [8]. Mặt khác, kiểm tra bằng X-quang tuyến chẳng “khá” hơn so với khám nghiệm của các bác sĩ có kinh nghiệm lâu năm. Tương tự, có nhiều nghiên cứu cho thấy trong các phụ nữ tuổi từ 35 đến 65, tự khám chẳng làm giảm tỉ lệ tử vong do ung thư vú gây ra, mặc dù tỉ lệ phát sinh (incidence rate) ung thư vú tăng lên.

Nói tóm lại, bằng chứng từ nhiều nghiên cứu lớn trong vòng 20 năm qua cho thấy khám nghiệm ung thư vú (bằng quang tuyến X, hay qua bác sĩ, hay tự khám) không làm giảm tỉ lệ tử vong. Những người không khám nghiệm thường xuyên có cùng tỉ suất tử vong với những người khám nghiệm thường xuyên.

Trong cộng đồng người Việt Nam ở California, kết quả nghiên cứu nằm trong Chương trình Sức khỏe là vàng cũng kết luận tương tự, rằng khám nghiệm ung thư vú không đem lại ích lợi cho các phụ nữ người Việt [9]. Dù bằng chứng như thế, nhưng giới y tế vẫn khuyên phụ nữ Việt Nam trên 40 tuổi nên “chụp mammography mỗi năm một lần” [10].

Trong một công bố gần đây, Viện Y tế Mỹ (National Institutes of Health) có khuynh hướng dành quyền quyết định cho bệnh nhân, “Các số liệu hiện nay cho thấy không thể nào cho một khuyến cáo chung chung về kiểm tra ung thư vú bằng X-quang tuyến cho tất cả các phụ nữ ở độ tuổi 40s. Mỗi phụ nữ nên tự quyết định có nên đi khám nghiệm bằng X-quang tuyến vú hay không” [11]. Lời khuyên này làm công chúng không hài lòng. Trong quá khứ, phụ nữ thường nghe theo lời khuyên của bác sĩ để đi khám X-quang tuyến thường xuyên; nay thì ngay cả Viện Y tế cũng không có khả năng đưa ra một lời khuyên dứt khoát, và họ có lí do để chất vấn những gì mà bác sĩ từng khuyên răn họ trước đây.

Tại sao kiểm tra ung thư vú trong các phụ nữ dưới 50 tuổi không có tác dụng lâm sàng? Có nhiều giả thiết để trả lời cho câu hỏi này, nhưng chúng chỉ là ... giả thiết. Chẳng hạn như mật độ vú (breast density) trong các phụ nữ trẻ tuổi thường cao hơn mật độ vú trong các phụ nữ lớn tuổi, và kiểm tra bằng X-quang tuyến khó mà phát hiện được ung thư (hay phát hiện được nhưng không chính xác). Một giải thích khác là, trong các phụ nữ trẻ tuổi, một số dạng ung thư vú thường “ác tính” và phát triển nhanh, và khi khám định kì (như một hay hai năm) có thể không phát hiện kịp thời. Ngoài ra, tỉ lệ ung thư vú trong các phụ nữ dưới 50 tuổi thường rất thấp, và kiểm tra ung thư vú trong các phụ nữ này chẳng đem lại lợi ích gì nhiều cho một quần thể.


Những bất trắc trong khám nghiệm ung thư vú


Trong tình trạng bất định này, người phụ nữ phải quyết định thế nào? Để đi đến một quyết định đi khám X-quang tuyến, người phụ nữ phải hiểu lợi ích và rủi ro của công nghệ này một cách rõ ràng. Như trình bày trên, lợi ích của việc khám nghiệm ung thư vú thường xuyên chưa được chứng minh. Nhưng những tác hại thì đã được ghi nhận khá nhiều, nhưng hình như ít khi nào được trình bày rõ ràng cho công chúng. Những tác hại, hay rủi ro gắn liền với việc khám nghiệm ung thư có thể tóm gọn trong 3 nhóm: thiếu chính xác trong chẩn đoán, ung thư do phóng xạ, và ung thư không phát triển.


Vấn đề chẩn đoán


Để biết một phụ nữ bị ung thư vú hay không, cách chính xác nhất là qua giải phẫu, hay trong trường hợp những người đã chết, là qua giảo nghiệm tử thi. Nhưng giải phẫu là một thuật mang tính xâm phạm thân thể cao, và tốn kém. Do đó, các nhà khoa học phát triển nhiều phương pháp để có thể chẩn đoán ung thư mà không cần đến giải phẫu để biết bệnh trạng của của bệnh nhân. Trong trường hợp ung thư vú, một phương pháp công nghệ cao là chụp X-quang tuyến vú, hay còn gọi là mammography.

Kết quả của việc khám nghiệm bằng X-quang tuyến có thể là dương tính (positive), hay âm tính (negative). Một kết quả dương tính có nghĩa rằng bệnh nhân có thể bị ung thư vú, và một kết quả âm tính cho biết bệnh nhân có thể không bị ung thư vú. (Hai chữ “có thể” ở đây rất quan trọng, vì nó nói lên một sự bất định trong việc chẩn đoán ung thư vú bằng X-quang tuyến.)

Do đó, đối chiếu kết quả thử nghiệm của X-quang tuyến với thực trạng của bệnh nhân, chúng ta có 4 trường hợp:

(a) thứ nhất, bệnh nhân quả thật bị ung thư vú và kết quả thử nghiệm là dương tính; trong y khoa, trường hợp này được gọi là dương tính thật (danh từ chuyên môn tiếng Anh gọi là sensitivity);

(b) thứ hai, bệnh nhân quả thật không bị ung thư vú, nhưng kết quả thử nghiệm lại dương tính, còn được gọi ngắn gọn là dương tính giả (false positive);

(c) thứ ba, bệnh nhân quả thật không bị ung thư vú, và kết quả thử nghiệm là âm tính, đây là trường hợp của âm tính thật (specificity); và

(d) thứ tư, bệnh nhân quả thật bị ung thư vú, nhưng kết quả thử nghiệm là âm tính, còn gọi theo ngôn ngữ y khoa là âm tính giả (false negative).

Một phương pháp chẩn đoán hoàn hảo là phương pháp có tỉ lệ dương tính thật và âm tính thật 100% (tức tỉ lệ dương tính giả và âm tính giả là 0%). Nhưng trong thực tế, không có phương pháp thử nghiệm nào là hoàn hảo cả. Thực vậy, bất cứ một phương pháp thử nghiệm y khoa nào, kể cả X-quang tuyến vú, cũng đều có, không ít thì nhiều, tỉ lệ dương tính giả và âm tính giả. Hai sai sót này là đầu mối của nhiều vấn đề trong việc khám nghiệm ung thư vú.

Về mặt kĩ thuật và đứng trên quan điểm nghiên cứu, một phương pháp có tỉ lệ dương tính thật và âm tính thật là 99% (tức chỉ sai sót 1%) được xem là phương pháp có độ chính xác cao; nhưng đứng trên quan điểm của người bệnh và xã hội, một sai sót 1% vẫn có thể gây ra nhiều tác hại không lường được. Có người tìm cách tự sát chỉ vì bị chẩn đoán sai. Có người phải sống suốt đời trong nỗi lo sợ bị ung thư vú, dù thật hay giả. Trong thực tế, rất ít cho phương pháp nào chính xác đến 99%. Trong trường hợp chẩn đoán ung thư vú bằng quang tuyến X, tỉ lệ sai sót cao hơn 1%. Do đó, trước khi quyết định đi khám nghiệm ung thư, người bệnh cần phải biết và hiểu những bất trắc này.

Tỉ lệ dương tính giả trong chẩn đoán ung thư vú



Trong trường hợp ung thư vú, thông thường, một khi kết quả thử nghiệm bằng quang tuyến X là dương tính, các phụ nữ này được yêu cầu khám lại một lần nữa, và lần khám này có thể là một thử nghiệm X-quang tuyến khác, siêu âm, hay sinh thiết (tức là lấy một mảng thịt nhỏ trong vú, còn gọi là mô, để thử nghiệm thêm), hay thậm chí cắt bỏ vú. Đối với phần đông phụ nữ, việc khám nghiệm bằng X-quang tuyến rất ư là khó chịu và đau đớn. Đối với một số người, sau khi khám nghiệm họ cảm thấy như đang sống trong sự lo lắng, căng thẳng, suy nhược tinh thần, và thiếu khả năng tập trung làm việc. Nếu không may bị sinh thiết, thì vết thương trên vú lại là một nhắc nhở về căn bệnh đang đe dọa họ. Một số phụ nữ sẽ cảm thấy nhẹ nhõm nếu kết quả khám nghiệm lần hai là âm tính (tức họ không bị ung thư vú), nhưng có nghiên cứu cho thấy cứ hai phụ nữ dù có kết quả âm tính, nhưng vẫn có một người phải sống trong lo ngại suốt đời [12].

Có bao nhiêu phụ nữ trong nhóm này? Nói cách khác, có bao nhiêu trường hợp với kết quả dương tính giả? Để trả lời câu hỏi này, cần phải phân biệt hai loại sai sót: sai sót lần khám nghiệm đầu tiên, và sai sáo trong các lần tái khám.

Tỉ lệ dương tính giả trong đợt khám lần đầu. Theo một nghiên cứu trên 26.000 phụ nữ đi khám X-quang tuyến vú lần đầu, thì cứ 10 người có kết quả dương tính chỉ có 1 người thực sự bị ung thư vú trong vòng 13 tháng sau đó. Nói một cách khác, 9 trong 10 người có kết quả dương tính giả. Biểu đồ sau đây cho thấy trong 1000 phụ nữ trong độ tuổi 40 đến 50 đi khám X-quang tuyến lần đầu, có 70 người nhận kết quả dương tính giả, so với 7 trường hợp dương tính thật (tức thực sự bị ung thư vú). Đối với phụ nữ trẻ hơn, tỉ lệ dương tính giả còn cao hơn những con số trên đây [13-14].



1000 phụ nữ

8 ung thư

992 không ung thư

7 dương tính

1 âm tính

70 dương tính

922 âm tính


Tỉ lệ sai sót trong các đợt tái khám. Nếu phụ nữ đi khám X-quang tuyến vú thường xuyên (hàng năm hay hàng hai năm) thì tỉ lệ dương tính giả là bao nhiêu? Theo kết quả nghiên cứu tổng hợp, sau khi khám 10 lần liên tục, thì 1 trong 2 phụ nữ (50%) không bị ung thư vú nhưng sẽ nhận được ít nhất là một kết quả dương tính giả. Nói một cách khác, khám càng nhiều, kết quả dương tính giả càng cao. Ở Đức, số phụ nữ có kết quả dương tính giả lên đến 100.000 người mỗi năm. Ở Mỹ, với số lượng phụ nữ đi khám ung thư vú lên đến 50 triệu, Hiệp hội ung thư Mỹ ước tính rằng số người có kết quả dương tính giả lên đến nhiều triệu [15]. Nhiều người này sẽ bị sinh thiết (biopsy), thậm chí cắt bỏ vú. Đó là chưa kể đến những tác hại tâm lí và tinh thần mà phụ nữ với kết quả dương tính giả phải trả khi đi khám ung thư vú bằng máy X-quang. Các nghiên cứu tâm lí cho thấy phân nửa các phụ nữ tham dự vào các chương trình khám nghiệm ung thư vú bằng X-quang luôn cảm thấy lo ngại về tình trạng sức khỏe của mình sau kết quả dương tính giả.

Có cách nào để giảm tỉ lệ dương tính giả không? Các nhà khoa học ở Hà Lan đã từng cố gắng phát triển các tiêu chí nghiêm ngặt hơn để chẩn đoán ung thư vú, nhưng phương pháp này dù giảm tỉ lệ dương tính giả, thì lại làm tăng tỉ lệ âm tính giả! (Tức là nhiều trường hợp ung thư thật nhưng lại có kết quả âm tính, có nghĩa là bỏ sót chẩn đoán).

.....

http://vietsciences.free.fr/timhieu/khoahoc/ykhoa/ungthuvu_thongtin_ykhoa.htm
Đăng nhập để trả lời
0
.....

Âm tính giả



Bên cạnh vấn đề dương tính giả, còn có một nhầm lẫn khác gọi là âm tính giả, tức những phụ nữ thực sự bị ung thư vú, nhưng kết quả khám nghiệm lại âm tính. Tỉ lệ âm tính giả cao khoảng 5% đến 20%. Phụ nữ càng trẻ có tỉ lệ âm tính giả càng cao. Nói một cách khác, cứ 100 phụ nữ với ung thư vú, có 80 đến 95 người có kết quả đúng (dương tính thật), nhưng phần còn lại (5 đến 20 người) được máy cho biết rằng họ không bị ung thư vú, nhưng kì thực là họ có ung thư. Đây là một con số không nhỏ, nếu số lượng phụ nữ đi khám lên đến con số hàng triệu.

Bác sĩ có thể tìm cách giảm tỉ lệ âm tính giả, nhưng với một cái giá. Để tối thiểu hóa xác suất âm tính giả, bác sĩ có thể phân loại bướu vào hạng “nghi ngờ” (tức dương tính), và do đó làm tăng tỉ lệ dương tính giả! Âm tính giả và dương tính giả là hai mặt của việc “tiến thoái lưỡng nan” trong chẩn đoán. Giảm cái này sẽ làm tăng cái kia. Nghiên cứu cho thấy các bác sĩ quang tuyến có tỉ lệ phát hiện ung thư vú chính xác (tức tỉ lệ âm tính giả thấp) thường có tỉ lệ dương tính giả cao.


Ung thư không phát triển

Để minh họa cho trường hợp mà tôi sắp đề cập đến, tôi muốn nói về một trường hợp tiêu biểu. Eleanor là một phụ nữ người Mỹ, 49 tuổi, đi khám ung thư vú bằng X-quang tuyến. Kết quả khám là dương tính. Bác sĩ tiến hành giải phẫu cắt bỏ một vú, và sau một thời gian điều trị bằng quang tuyến X, Eleanor nhận được một tin vui: tất cả các tế bào ung thư đều bị tiêu hủy. Eleanor vui mừng báo tin cho bạn bè biết rằng chị ta đã chiến thắng trong cuộc chiến chống lại ung thư vú, và giải phẫu cũng như điều trị bằng quang tuyến đã cứu sống chị ta. Nhưng trong thực tế, có thể Eleanor chẳng bị ung thư vú (và kết quả thử nghiệm là dương tính giả), và có thể chị ta đã chẳng cần đến giải phẫu, hay điều trị bằng quang tuyến.

Hay chị bị ung thư vú, nhưng là loại ung thư không phát triển, tức vô hại. Có một số phụ nữ lúc nào cũng mang theo trong mình một số tế bào ung thư vú, nhưng chúng chẳng đe dọa đến tính mạng của họ. Trong loại này, có một nhóm ung thư gọi là ductal carcinoma in situ [16], bởi vì ung thư chỉ hạn chế trong ống dẫn sữa của vú và không hẳn lan tràn sang các mô chung quanh. Hiện nay, người ta cho rằng chỉ 1 đến 5 trong số 10 trường hợp ung thư loại này lan tràn sang các mô khác sau 20 năm. Nhóm ung thư này chỉ có thể phát hiện bằng khám X-quang, chứ không qua tự khám hay bác sĩ khám. Phần lớn phụ nữ tuổi 30 bị ung thư vú là loại ung thư này [17].

Ngoài ra, còn có một nhóm ung thư khác tuy có phát triển nhưng tốc độ phát triển cực kì chậm chạp, đến khi người phụ nữ già đi và chết (không phải vì ung thư), ung thư này vẫn chưa đe dọa đến tính mạng họ.

Phần lớn phụ nữ không bao giờ nghe đến, hay biết, rằng một số ung thư vú không phát triển và không nguy hại. Một cuộc điều tra trong một cộng đồng ở Mỹ cho thấy 94% phụ nữ được hỏi không hề biết hay nghi ngờ về ung thư vú không phát triển! [18].

Tuy nhiên, so với những phụ nữ có kết quả dương tính giả, những phụ nữ với ung thư vú không nguy hiểm này trả cái giá đắt hơn cho việc tham dự vào các chương trình thử nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X. Phương pháp điều trị mà họ phải trải qua thường làm ngắn tuổi thọ của họ, chất lượng cuộc sống bị giảm nghiêm trọng, và còn phải mang thẹo suốt đời vì giải phẫu.


Ung thư vú do phóng xạ

Tiềm năng tác hại thứ tư của việc khám ung thư vú bằng quang tuyến X là vấn đề chính phương pháp khám nghiệm này gây ra ung thư. Tức là, có một số phụ nữ bị ung thư vú sau khi khám nghiệm vì do phóng xạ gây ra. Bất cứ phương pháp khám nghiệm X-quang nào cũng đều, không ít thì nhiều, sản sinh những tia phóng xạ. Khám nghiệm ung thư vú bằng X-quang tuyến có một độ phóng xạ khá cao, cao hơn độ phóng xạ chụp hình X-quang ngực. Khả năng gây ung thư của tia phóng xạ đã được ghi nhận từ những năm đầu thế kỉ 20, khi X-quang tuyến trở thành một phương pháp khám nghiệm và chẩn đoán bệnh lao và các bệnh phổi khác.

Nguy cơ bị ung thư vú vì phóng xạ như thế nào? Câu hỏi này có thể trả lời một cách gián tiếp bằng cách dựa vào tỉ lệ ung thư vú trong những phụ nữ bị bệnh lao và thường xuyên khám X-quang, hay những nạn nhân của cuộc tấn công vào thành phố Nagasaki và Hiroshima. Ngày nay, các nhà nghiên cứu đồng ý rằng khám nghiệm ung thư vú bằng X-quang thường xuyên có thể gây ra ung thư vú, nhưng mức độ nguy cơ thì chưa dứt khoát [19].

Ảnh hưởng của phóng xạ đến nguy cơ bị ung thư vú tăng theo hàm số đường thẳng với hàm độ phóng xạ. Khi hàm độ phóng xạ giảm phân nửa, tỉ lệ phụ nữ bị ung thư vú giảm 50%; khi hàm độ phóng xạ tăng gấp đôi, tỉ lệ ung thư vú tăng gấp hai. Tuy nhiên, nguy cơ bị ung thư vú vì phóng xạ thường thấp trong những phụ nữ có kinh nguyệt trễ, những người có con đầu lòng muộn, những người cho con bú sữa mẹ, và những người mất kinh trước tuổi 48. Do đó, những kích thích tố có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ chống lại ung thư vú cũng đồng thời làm giảm nguy cơ bị ung thư vú vì phóng xạ.

Nguy cơ bị ung thư vú do phóng xạ tùy thuộc vào độ tuổi của người phụ nữ. Chẳng hạn như những người trong độ tuổi 30 đi khám X-quang tuyến có nguy cơ bị ung thư vú cao gấp hai lần so với những phụ trong độ tuổi 40 cũng đi khám X-quang tuyến. Nếu trong độ tuổi dậy thì mà đi khám ung thư vú, nguy cơ bị ung thư vú vì phóng xạ càng cao. Nhưng đối với phụ nữ ở độ tuổi 60 trở lên, nguy cơ ung thư vú vì phóng xạ rất thấp và hầu như không đáng kể.

Theo như ước tính hiện nay, trong 10.000 phụ nữ ở độ tuổi 40 trở lên tham gia vào các chương trình khám nghiệm ung thư vú bằng X-quang tuyến thì có 2 đến 4 người sẽ bị ung thư vú vì phóng xạ, và một trong 2 người sẽ chết. Điều quan trọng cần phải ghi nhớ là đây chỉ là những ước tính rất thô sơ, và dựa vào bằng chứng gián tiếp, chứ chưa có nghiên cứu nào trực tiếp để thẩm định mối hiểm nguy này. Thực ra, một nghiên cứu như thế khó mà tiến hành được, vì có thể bị xem là thiếu y đức. Tuy nhiên, chúng ta chỉ cần ghi nhận một điều quan trọng là khám vú bằng X-quang tuyến có thể gây ra ung thư vú, và nguy cơ này cao trong những phụ nữ trẻ tuổi.

Nói tóm lại, chưa có bằng chứng nào cho thấy khám nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X đem lại lợi ích lớn cho phụ nữ (dù là 40 hay 50 tuổi trở lên), nhưng ngược lại, việc khám nghiệm này đi kèm theo một vài tác hại cho phụ nữ. Có ba cái “giá” người phụ nữ phải “trả” khi tham dự vào các chương trình khám ung thư vú bằng quang tuyến X. Thứ nhất, 50% các phụ nữ khám liên tục 10 lần sẽ có kết quả dương tính giả, và hậu quả của những lần khám nghiệm hay điều trị tiếp theo kết quả dương tính đó là những tổn hại về thể xác cũng như tinh thần. Thứ hai, một phần lớn phụ nữ với ung thư vú không nguy hiểm sẽ không bao giờ phát hiện những bướu này (ngoại trừ quang tuyến X). Trong những trường hợp này, các phương pháp điều trị [không cần thiết] như cắt bỏ vú, hóa học trị liệu, quang tuyến trị liệu và các biến chứng kèm theo những phương pháp điều trị này sẽ theo người bệnh suốt đời. Thứ ba, cứ 10.000 phụ nữ khám nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X thường xuyên, có khoảng 2 đến 4 người trước khi khám không có ung thư vú, nhưng sau này bị ung thư vú vì độ phóng xạ gây ra.

Đó là những rủi ro và hậu quả của khám nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X dưới cái nhìn của người bệnh. Nhưng còn đối với người thầy thuốc, quan điểm của họ như thế nào? Bác sĩ lúc nào cũng ở trong “thế thủ”, và không muốn bị bệnh nhân và luật sư của bệnh nhân kiện cáo, vì họ không phát hiện ung thư cho bệnh nhân. Thực tế này đặt vấn đề âm tính giả thành quan tâm hàng đầu của họ hơn là vấn đề dương tính giả, bởi vì luật sư có xu hướng tập trung vào vấn đề âm tính giả. Để tối thiểu hóa xác suất âm tính giả, bác sĩ phải tiến hành hàng loạt thử nghiệm cho bệnh nhân, và càng thử nghiệm nhiều, tỉ lệ dương tính giả càng cao. Tỉ lệ dương tính giả càng cao, hậu quả và tác hại đến bệnh nhân càng nhiều.

Ung thư vú có phải là bệnh đáng sợ nhất?



Không ai muốn mang bệnh. Nhưng trong các bệnh, ung thư vú là bệnh làm cho phụ nữ sợ nhất, vì nó dính dáng đến cái biểu tượng đẹp của người phụ nữ. Không ai muốn bị cắt bỏ vú. Không ai muốn chết vì ung thư vú. Có lẽ lợi dụng vào tâm lí này, mà giới truyền thông thường tô vẽ ung thư vú như là một căn bệnh nguy hiểm nhất cho người phụ nữ. Nhưng trong thực tế thì không hẳn như thế. Căn bệnh gây ra nhiều tử vong nhất trong các nước Tây phương không phải là ung thư, và càng không phải là ung thư vú, mà là bệnh tim mạch. Theo thống kê của Trung tâm Phòng chống bệnh (Centers for Disease Control and Prevention) ở Mỹ, trong tổng số tử vong hàng năm, 36.3% là do các bệnh tim mạch gây ra, theo sau là các bệnh ung thư (22.5%). Tổng số phụ nữ chết vì ung thư vú chiếm khoảng 4% trong tổng số tử vong [20]. Nói một cách khác, số phụ nữ chết vì bệnh tim mạch cao gần 9 lần so với số phụ nữ chết vì ung thư vú.

Tuy nhiên, những thông tin đó ít khi nào đến với công chúng; ngược lại, người ta thường hay nghe những phát biểu đại khái như "Breast cancer is one of the leading causes of deaths in women ..." (tạm dịch: "trong phụ nữ ung thư vú là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu ..."). Trong một cuộc thăm dò ý kiến trong người Mỹ do Hiệp hội nghiên cứu bệnh tim mạch tiến hành cho thấy chỉ có 8% phụ nữ biết được sự thật này. Tương tự, một nghiên cứu khác do Hội đồng Người cao tuổi (Mỹ) cũng cho thấy rất ít phụ nữ (chỉ 9%) xem bệnh tim mạch nguy hiểm, so với 61% sợ bệnh ung thư, nhất là ung thư vú. Ngay cả trong bệnh ung thư, ung thư phổi gây ra nhiều tử vong cho phụ nữ hơn là ung thư vú. Và, chỉ có 25% phụ nữ biết được sự thật quan trọng này [21]

Ở các nước Tây phương, ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer) trong đàn ông phổ biến còn hơn ung thư vú trong phụ nữ. Ung thư tuyến tiền liệt còn là nguyên nhân của nhiều cái chết hơn ung thư vú. Nhưng đàn ông có vẻ chẳng mấy lo ngại đến ung thư tuyền tiền liệt so với những sự sợ hãi ở giới phụ nữ về ung thư vú. Một điều đáng nói khác là giới truyền thông mô tả ung thư tuyến tiền liệt như là một căn bệnh của người già, dù trong thực tế độ tuổi trung bình đàn ông bị ung thư tuyến tiền liệt tương đương với độ tuổi trung bình trong phụ nữ bị ung thư vú [22-23]. Ung thư ruột, cũng như ung thư phổi, cũng là một loại ung thư phổ biến trong phụ nữ, nhưng ít khi nào căn bệnh này trở thành một cái tít của các tờ báo. Giới báo chí có thể biện minh rằng họ chỉ đáp ứng quần chúng. Nhưng có lẽ họ quên rằng chức năng của truyền thông là nói lên sự thật.


Con số "1 trong 10"


Cách đây vài năm, trên Tạp chí Time (một tạp chí thời sự nổi tiếng thế giới) có đăng một loạt bài viết về ung thư vú (xem số báo 137 năm 1991, trang 42-49), mà trong đó họ đề cập đến tỉ lệ "1 trong 10" phụ nữ Mỹ bị ung thư vú. Con số "1 trong 10" hay có khi "1 trong 9" có lẽ đã trở thành một "câu kinh" được giới truyền thông tụng niệm cực kì nhiều lần. Chẳng chỉ riêng trong giới truyền thông, mà ngay cả giới bác sĩ cũng hay đề cập đến con số này như là một cảnh báo cho người phụ nữ. Có lần, người viết bài này bàn về tỉ lệ và nguy cơ ung thư vú với một vài bác sĩ gia đình người Việt, và đại đa số các bác sĩ này đều đồng ý rằng cứ 10 người phụ nữ da trắng thì có 1 người bị ung thư vú. Có vị bác sĩ còn khẳng định như đinh đóng cột rằng chẳng có gì phải bàn cãi về con số này. Nhưng đây là một hiểu lầm nghiêm trọng.

Con số “1 trong 10” đề cập đến xác suất lũy tích (cumulative chance) mà một phụ nữ sẽ bị ung thư vú nếu phụ nữ này sống đến tuổi 85. Cố nhiên, nhiều phụ nữ chết trước độ tuổi 85 vì các chứng bệnh khác. Con số “1 trong 10” không đề cập đến, và dứt khoát không có nghĩa là, cứ 10 phụ nữ da trắng thì có 1 người bị ung thư vú. Diễn dịch như thế là sai và rất nguy hiểm. Nó càng không thể áp dụng cho người Việt Nam, vì nguy cơ bị ung thư vú trong phụ nữ người Việt thấp hơn so với người Mỹ (sẽ đề cập đến trong phần sau đây).


Thế thì con số "1 trong 10" đến từ đâu? Bảng thống kê sau đây hi vọng sẽ giải thích cho bạn đọc biết nguồn gốc của con số “1 trong 10”, và có thể so sánh con số này với các bệnh khác như bệnh tim mạch. Trong bảng thống kê này [24] với một dân số tưởng tượng 1000 người được theo dõi từ lúc mới sinh cho đến khi chết, có 4 phụ nữ sẽ bị ung thư vú vào độ tuổi 30, và 13 người bị bệnh vào độ tuổi 40s. Đến tuổi 85, tổng số người bị ung thư vú là 99 trường hợp, và do đó, tương đương với 10%.


Bảng 1. Nguy cơ bị ung thư vú và bệnh tim mạch trong 1000 phụ nữ người da trắng.

Tuổi
Số người còn sống lúc đầu
Số người bị ung thư vú
Số người chết vì ung thư vú
Số người chết vì bệnh tim mạch
Số người chết vì các bệnh khác

0-9
1000
0
0
0
7

10-19
993
0
0
0
2

20-29
991
0
0
0
3

30-34
988
1
0
0
2

35-39
986
3
0
0
3

40-44
983
5
1
1
4

45-49
977
8
2
1
6

50-54
968
11
3
2
11

55-59
952
12
3
5
15

60-64
929
12
3
9
25

65-69
892
14
4
16
36

70-74
836
13
5
28
51

75-79
752
11
6
52
70

80-84
624
9
6
89
95

85+
434
5
7
224
203




Qua bảng thống kê này, chúng ta thấy phần lớn những phụ nữ bị ung thư vú không chết vì ung thư vú; chỉ 3 trong số 100 người sẽ chết vì ung thư vú vào tuổi 85. Và, chúng ta cũng thấy con số phụ nữ chết vì bệnh tim mạch cao gấp 6 lần so với con số chết vì ung thư vú.



Dĩ nhiên, những con số trong bảng thống kê trên đây có thể khác biệt giữa các sắc dân. Nhưng mục tiêu của người viết là muốn làm sáng tỏ con số “1 trong 10” mà giới truyền thông và thậm chí bác sĩ đã hiểu lầm quá nhiều và quá lâu.



Trong quá khứ có quá nhiều hiểu lầm về nguy cơ ung thư vú. Trong một nghiên cứu về sự hiểu biết của phụ nữ (tuổi từ 40 đến 49) về con số "1 trong 10", các nhà nghiên cứu trình bày một dân số gồm 1000 phụ nữ cùng độ tuổi với họ, và hỏi trong 10 năm tới có bao nhiêu người sẽ chết vì ung thư vú? Câu trả lời thông thường nhất là 100 (tức 10%, hay 1 trong 10) [25]. Như vậy, con số "1 trong 10" được hiểu là 10% tử vong! Nhưng trong thực tế, như trình bày trong bảng thống kê trên, trong số 1000 phụ nữ đến độ tuổi trung bình 45, chỉ có 5 (hay 0.05%) -- chứ không phải 100 -- người chết vì ung thư vú. Nói một cách khác, các phụ nữ này đã ước đoán nguy cơ chết cao hơn thực tế đến 20 lần. Chính vì hiểu lầm này, bệnh ung thư vú được giới truyền thông phóng đại lên thành một căn bệnh khủng khiếp nhất trong phụ nữ.


Bao nhiêu phụ nữ Việt Nam bị ung thư vú?



Theo thống kê của Viện ung thư quốc gia Mỹ (National Cancer Institute), trong thời gian từ 1996 đến 2000, tỉ suất phát hiện ung thư vú trong các phụ nữ da trắng là 141 trên 100,000 phụ nữ, tức 0.014 phần trăm (hay trong 10 ngàn phụ nữ, có 14 người bị phát hiện ung thư vú hàng năm) [26].

Còn trong cộng đồng người Việt ở Mỹ thì sao? Gần đây, có người cho rằng tỉ lệ phụ nữ người Việt bị ung thư vú chẳng kém gì người Mỹ da trắng. Nhưng cơ sở của phát biểu này chưa mấy rõ ràng. Thực ra, một nghiên cứu do các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Yale công bố mới đây cho thấy ở San Francisco hay vùng phụ cận, tỉ lệ ung thư vú trong người Việt thấp hơn nhiều so với người da trắng. Theo nghiên cứu này [27], tính từ 1988 đến 1992, tỉ lệ ung thư vú trong phụ nữ Việt Nam là 35 trên 100,000 phụ nữ. Tức là tỉ lệ xác suất bị ung thư vú trong phụ nữ Việt Nam chỉ bằng 1 phần 4 xác suất trong phụ nữ người Mỹ da trắng. Tuy nhiên, trong các loại ung thư, ung thư vú vẫn là một trong hai ung thư hàng đầu trong phụ nữ Việt ở hải ngoại cũng như ở trong nước [28-29]. (Loại ung thư khác thường thấy trong phụ nữ Việt là ung thư cổ tử cung).


Tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú thấp trong phụ nữ Việt Nam là một an ủi, một tin vui. Nhưng tỉ lệ thấp có một mặt trái của nó: đó là vấn đề chẩn đoán. Nếu phụ nữ Việt đi khám ung thư vú bằng quang tuyến X, thì tỉ lệ dương tính giả sẽ cao hơn trong người da trắng. Giả dụ như tỉ lệ dương tính thật và âm tính thật là 99% (tức chẩn đoán chỉ sai sót 1%), và nếu trong một cộng đồng với 100,000 phụ nữ, thì có 35 người bị ung thư vú. Nhưng vì tỉ lệ sai sót 1%, nên trong số 99,965 phụ nữ không bị ung thư vú, vẫn có khoảng 1000 người có kết quả dương tính. Vì thế, tỉ lệ dương tính giả có thể lên đến 97%! Nói một cách khác, nếu một phụ nữ Việt Nam đi khám nghiệm ung thư vú bằng máy X-quang tuyến và có kết quả dương tính, thì xác suất mà phụ nữ này thực sự bị ung thư vú có thể chỉ 3%. Đó là một sự bất định mà bất cứ phụ nữ nào cũng cần phải biết.



Cắt bỏ vú quá nhiều



Năm 2002, Tập san y học Western Medical Journal công bố một công trình nghiên cứu về đặc tính ung thư vú trong cộng đồng người Việt Nam ở vùng Bắc California [27], và kết quả rất đáng lo ngại. Nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ ung thư vú trong phụ nữ Việt Nam thấp hơn so với các phụ nữ gốc Trung Quốc, Nhật, Phi Luật Tân, và người Mỹ da trắng. Dù tỉ lệ thấp, phụ nữ Việt Nam thường bị ung thư vú ở độ tuổi tương đối trẻ so với các sắc dân trên. Gần phân nửa (49.6%) phụ nữ Việt Nam bị ung thư vú ở độ tuổi dưới 50; trong khi đó, tỉ lệ này chỉ 22.5% trong phụ nữ Mỹ da trắng, và 35% trong phụ nữ gốc Trung Quốc. Tính trung bình, độ tuổi mà phụ nữ Việt Nam bị ung thư vú là 51 tuổi; trẻ hơn khoảng 11 tuổi so với người Mỹ da trắng (độ tuổi trung bình là 62), và trẻ hơn 6 tuổi so với người Trung Quốc (57 tuổi).

Hiện nay, có nhiều phương pháp trị liệu ung thư vú, từ giải phẫu nghiêm trọng như cắt bỏ nguyên vú (masterectomy), đến giải phẫu bảo tồn vú (breast-conserving surgery, như chỉ cắt bỏ bướu ở vú, còn gọi là lumpectomy), hay các biện pháp như quang tuyến trị liệu (radiotherapy) và hóa học trị liệu (chemotherapy), v.v... Tùy theo trường hợp cá nhân cụ thể, nhưng nói chung, có ý kiến cho rằng nếu ung thư chỉ in situ và localised (tức chưa lan rộng sang các mô khác) thì giải phẫu bảo tồn vú có hiệu nghiệm tương đương với giải phẫu cắt bỏ nguyên vú.

Công trình nghiên cứu trên cho thấy tỉ lệ ung thư dạng in situ và localised trong các phụ nữ Việt Nam (chiếm khoảng 68% trong tổng số trường hợp bị ung thư vú) rất tương đương với tỉ lệ trong các sắc dân khác. Tuy nhiên, một điều rất ngạc nhiên là trong số những phụ nữ Việt Nam bị loại ung thư “nhẹ” này, có đến 61% giải phẫu cắt bỏ vú, so với chỉ 46% trong các phụ nữ người Mỹ da trắng và 52% các phụ nữ người Trung Quốc! Tính chung tất cả loại ung thư, tỉ lệ cắt bỏ vú trong phụ nữ Việt Nam vẫn rất cao (64%), so với 50% trong các phụ nữ người Mỹ da trắng, hay 56% trong các phụ nữ người Trung Quốc.

Các nhà nghiên cứu bày tỏ ngạc nhiên về sự chênh lệch quan trọng trên đây, và tỏ ý muốn nghiên cứu thêm để biết tường tận vấn đề. Trong quá khứ đã có nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ cắt bỏ vú thường tùy thuộc vào: (i) thành phần bệnh nhân (người nghèo khó trong xã hội thường chọn/bị cắt bỏ vú); (ii) thành phần bác sĩ; và (iii) kinh nghiệm nghề nghiệp của bác sĩ. Công trình nghiên cứu trên đây không xem xét đến ba yếu tố này, nên chúng ta chưa biết tại sao phụ nữ Việt Nam lại bị nhiều giải phẫu như thế.

Có bao nhiêu người đã bị (hay chọn) cắt bỏ vú một cách không cần thiết? Tại sao họ chọn/bị cắt bỏ vú? Trước khi giải phẫu họ có nhận đủ thông tin về lợi và hại của giải phẫu hay không? Bao nhiêu người có kết quả chẩn đoán dương tính giả và quyết định sai? Hậu quả tâm lí ra sao? Cuộc sống của họ ra sao sau khi nhận được kết quả dương tính (hay âm tính)? Không ai biết chuyện gì đã xảy ra cho hàng trăm phụ nữ Việt Nam trong công trình nghiên cứu trên. Có thể đặt ra một giả thuyết là phụ nữ Việt Nam thiếu thông tin liên quan đến vấn đề ung thư vú. Như đề cập đến trong phần đầu của bài viết, chỉ có 1 phần 3 phụ nữ Việt Nam có hiểu biết đầy đủ về ung thư vú. Tình trạng thiếu hiểu biết là hậu quả của vấn đề thiếu thông tin. Thực vậy, thông tin về lợi và hại ung thư trong việc khám nghiệm cũng như điều trị ung thư vú trong cộng đồng còn quá ít, và có khi không thích hợp. Nhưng nếu thông tin không đầy đủ, họ có thể đi đến những quyết định không sáng suốt.



Vấn đề thông tin y khoa và kiến thức
Rất nhiều phụ nữ tin rằng khám nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X làm giảm tỉ lệ phát bệnh (incidence) ung thư vú. Nhưng họ nhầm lẫn giữa phát hiện sớm và phòng ngừa. Khám nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X không làm giảm tỉ lệ phát bệnh, nhưng có thể làm giảm tử vong do ung thư vú gây ra (dù lợi ích này chỉ được ghi nhận trong các phụ nữ trên 50 tuổi, với một mức độ rất khiêm tốn: 4 trong 1000 người).

Thực ra, nhiều nghiên cứu tâm lí trong phụ nữ cho thấy phần lớn, nếu không muốn nói là đại đa số, tin rằng quang tuyến X là một phương tiện kì diệu có khả năng cứu phụ nữ, thậm chí làm cho họ khỏi bệnh! Họ có được cảm nhận này từ đâu? Cũng như các thành viên khác trong xã hội, phụ nữ dựa vào hệ thống truyền thông như báo chí, radio, truyền hình, internet, bác sĩ, các tổ chức y tế, v.v… để có thông tin. Ở đây, chúng ta hãy xem xét những thông tin về ung thư vú được các tổ chức y tế trình bày như thế nào. Thông thường, những thông tin này thường được bộ y tế, hay các hiệp hội ung thư, hay viện nghiên cứu trình bày dưới dạng truyền đơn (leaflet, brochure, booklet, v.v...) Năm 1997, hai nhà nghiên cứu người Úc phân tích tất cả những tờ truyền đơn liên quan đến ung thư vú được lưu truyền trong công chúng [30], và phát hiện của họ có thể tóm lược như sau:

Bảng số 2. Thông tin được trình bày trong các tờ truyền đơn liên quan đến ung thư vú ở Úc.



Loại thông tin
Số truyền đơn đề cập đến (%)

Nguy cơ bị bệnh ung thư vú
60%

Nguy cơ chết vì ung thư vú
2%

Khả năng sống sót trong các trường hợp ung thư vú
5%

Chỉ số nguy cơ tương đối về tỉ lệ tử vong do ung thư vú gây ra
22%

Chỉ số nguy cơ tuyệt đối về tỉ lệ tử vong do ung thư vú gây ra
không bao giờ

Số người phải khám nghiệm để giảm một trường hợp tử vong do ung thư vú gây ra
không bao giờ

Số lần tái khám nghiệm
14%

Tỉ lệ âm tính giả
26%

Tỉ lệ dương tính giả
không bao giờ




Như bảng thống kê trên đây cho thấy, cái thông tin phổ thông nhất mà giới y tế truyền đạt cho người phụ nữ là tỉ lệ phát bệnh. 60% các tờ truyền đơn đề cập đến tỉ lệ phát bệnh, nhưng chỉ có 2% truyền đơn đề cập đến tử vong. Và khi tử vong được đề cập đến, họ thường dùng chỉ số nguy cơ tương đối (relative risk, 22%) và không bao giờ dùng chỉ số nguy cơ tuyệt đối (absolute risk). Điều khá thú vị là trong khi 26% truyền đơn nói về tỉ lệ âm tính giả, nhưng không truyền đơn nào nói đến vấn đề dương tính giả của việc thử nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X!

Đó là thông tin bằng tiếng Anh. Thông tin bằng tiếng Việt, chẳng những rất ít, mà hàm lượng thông tin còn hạn chế hơn nữa. Người viết bài này chỉ tìm được 5 tài liệu (brochure) liên quan đến ung thư vú (được viết bằng tiếng Việt) do các cơ quan y tế thuộc chính phủ hay tổ chức bất vụ lợi ở Mỹ và Úc soạn thảo. Tất cả các tài liệu này đều được chuyển ngữ từ tiếng Anh và dùng số liệu trong người Mỹ hay Úc da trắng; do đó, có nhiều thông tin không thích hợp cho người Việt. Chẳng hạn như những con số “1 trong 10”, hay tỉ lệ phát bệnh, v.v... trong người da trắng không thể ứng dụng và diễn dịch cho trường hợp người Việt. Ngoài ra, người chuyển ngữ lại có khuynh hướng rút gọn thông tin gốc, và hậu quả là tất cả các thông tin về tác hại, những nguy cơ liên quan đến việc khám nghiệm bằng quang tuyến X không bao giờ được đề cập đến.



Đả thông vấn đề


Kiến thức về mục đích của việc kiểm tra ung thư vú trong công chúng nói chung, do đó, rất nghèo nàn. Trong một cuộc thăm dò ở Mỹ, hơn một phần ba phụ nữ Mỹ ở bang Florida và một phần ba phụ nữ gốc Mễ Tây Cơ ở bang Washington cho biết họ chưa bao giờ nghe đến việc kiểm tra ung thư vú hay X-quang tuyến vú. Ở Úc, 4 trong 5 người [đàn ông và đàn bà] được hỏi trả lời rằng họ không biết rằng kiểm tra ung thư vú là chỉ dành cho những người không có triệu chứng ung thư vú [31]. Trong số những điểm hiểu lầm, có năm điểm quan trọng cần phải được đả thông như sau:



Khám nghiệm ung thư vú dành cho những người đã có triệu chứng? Không đúng. Khám nghiệm ung thư vú dành cho những người chưa/không có triệu chứng. Mục đích của việc khám nghiệm là nhằm phát hiện sớm căn bệnh.


Khám nghiệm ung thư vú làm giảm tỉ lệ phát bệnh ung thư vú? Không đúng. Phát hiện sớm không có nghĩa là sẽ phòng chống được bệnh.


Phát hiện ung thư vú sớm cứu sống bệnh nhân và làm giảm tỉ lệ tử vong? Không hẳn như thế. Phát hiện ung thư vú sớm có thể, nhưng không chắc chắn, dẫn đến việc giảm tỉ lệ tử vong. Chẳng hạn như nếu không có một thuật chữa trị hiệu quả nào, việc phát hiện ung thư sớm chẳng có ảnh hưởng gì đến việc cứu sống bệnh nhân, hay kéo dài tuổi thọ, mà chỉ kéo dài thời gian bệnh nhân phải sống với ung thư.


Tất cả các loại ung thư đều di căn (phát triển, lan sang các tế bào khác)? Không đúng. X-quang tuyến vú có thể phát hiện một dạng ung thư vú gọi là “ductal carcinoma in situ” (hay nói nôm na là loại ung thư đứng tại chỗ). Phần lớn các dạng ung thư được phát hiện trong những phụ nữ trẻ tuổi là ở dạng này. Chưa ai biết quá trình lâm sàng của dạng ung thư này, nhưng phân nửa (hay cao hơn) các trường hợp bướu có vẻ không phát triển.


Phát hiện ung thư sớm luôn đem lại lợi ích cho bệnh nhân? Không hẳn. Chẳng hạn như ung thư không di căn, hay chỉ phát triển một cách rất chậm chạp (và chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống của bệnh nhân), phát hiện sớm chẳng những không đem lại lợi ích nào, mà còn gây ra tác hại cho bệnh nhân. Có thể người phụ nữ, khi bị phát hiện ung thư vú (bất kể nhẹ hay nặng), được bác sĩ khuyên đi điều trị bằng giải phẫu, hay các thuật chữa trị mang tính “xâm phạm” như cắt bỏ vú hay quang tuyến trị liệu, và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sẽ giảm trầm trọng.


Tạm kết


Ung thư vú là một căn bệnh khó chẩn đoán. Một số bướu phát triển rất nhanh, nhưng một số khác chẳng gây nên triệu chứng nào đáng để ý, và lại có một số bướu nằm trong hai loại trên. Khi quyết định tham gia vào một cuộc khám nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X, người phụ nữ đứng trước một tình thế mà trong đó ảo tưởng về sự tuyệt đối của y khoa và khả năng xử lí thông tin số liệu ảnh hưởng một cách sâu sắc. Ảo tưởng về sự kì diệu của y khoa thường được giới y tế, kể cả bác sĩ, dung dưỡng bằng cách trình bày những thông tin mang tính áp lực cho người bệnh phải chọn giữa hai thái cực về sự chắc chắn và nguy hiểm. Nhưng trong thực tế, sự lựa chọn nằm trong chỉ hai cái nguy hiểm: nguy hiểm khi đi khám, và nguy hiểm khi không đi khám bằng quang tuyến X. Cái ảo tưởng về sự chắc chắn của y khoa còn được gò ép qua những tờ truyền đơn do các cơ quan y tế cung cấp, mà trong đó lợi ích được trình bày một cách thổi phồng (có khả năng lừa dối công chúng), trong khi các tác hại thì lại được mô tả bằng một ngôn ngữ hời hợt, thậm chí còn dấu luôn cả những thông tin quan trọng như tỉ lệ dương tính giả trong các thử nghiệm ung thư vú. Ngoài ra, các thông tin về khám nghiệm bằng quang tuyến X thường được trình bày dưới dạng xác suất, mà ngay cả bác sĩ còn cảm thấy khó hiểu, khó diễn dịch, huống chi là người bệnh không quen với các khái niệm về xác suất. Thành ra, kiến thức về lợi ích và tác hại của việc khám nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X trong phụ nữ cực kì thấp.

Trong cộng đồng người Việt vấn đề thiếu thông tin còn trầm trọng hơn, và hậu quả là phần lớn đồng hương không nghe đến hay biết gì về quang tuyến X và ung thư vú. Có lẽ thiếu thông tin là một yếu tố dẫn đến tỉ lệ giải phẫu cắt bỏ vú quá cao trong phụ nữ Việt Nam ở Bắc California. Hiện nay, đang có nhiều nỗ lực cung cấp thông tin cho đồng hương do các nhóm bất vụ lợi trong cộng đồng chủ trương, nhưng nội dung vẫn còn khiêm tốn. Phần lớn thông tin vẫn được diễn đạt bằng những danh từ chuyên môn, khó hiểu, mà lại “hi sinh” những thông tin về tác hại (hay tiềm măng tác hại) của việc điều tra và chữa trị ung thư vú.

Thiếu thông tin, và khó khăn trong việc xử lí thông tin chỉ là một yếu tố trong tình trạng đáng trách hiện nay trong thế giới y học hiện đại. Nhưng các yếu tố mang tính “thể chế”, như bác sĩ cố tìm cách tránh bị kiện cáo, những xung đột, mâu thuẫn giữa các tổ chức muốn truyền đạt thông tin đến phụ nữ và các tổ chức muốn tuyển mộ phụ nữ vào các công trình nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng. Một yếu tố quan trọng khác là lí do cảm tính, như bệnh nhân ưa thích được bình an, được yên tâm, hơn là phải đương đầu với những thông tin thực.

Trong những phương tiện có khả năng làm thay đổi tình trạng hiện nay, phương pháp thông tin là đơn giản nhất và có thể đem lại lợi ích cao nhất. Phương pháp này bao gồm việc diễn đạt tình trạng hiểm nguy một cách rõ ràng và đầy đủ, và giải hóa những thông tin sai lạc đang che phủ sự sáng suốt của công chúng. Một khi sự sáng suốt thay đổi sự lu mờ [đang chiếm ưu thế hiện nay], cải cách nghề nghiệp chuyên môn mới có thể đem lại hiệu quả cho y học hiện đại.





Tài liệu tham khảo và chú thích


[1] Sadler GR, Dong HS, Ko CM, Luu TT, Nguyen HP. Vietnamese American women: breast cancer knowledge, attitudes, and screening adherence. American Journal of Health Promotion 2001; 15:211-214.

[2] Tài liệu “Ung thư vú: Những điều phụ nữ Việt Nam nên biết” (Chương trình Health is Gold! – Sức khỏe là vàng, do Trường Y, Đại học California – San Francisco (UCSF) ấn hành).

[3] Multi-cultural communication (Bộ y tế Tiểu bang New South Wales, Úc, 5/5/1997).

[4] Kerlikowske K. "Breast cancer screening" trong sách Women and Health (trang 895-906) do MB Goldman và MC Hatch biên tập, Nhà xuất bản Academic Press, New York: 2000.

[5] Nystrom L, Larsson LG, Wall S, và đồng nghiệp. An overview of the Swedish randomized mammography trials: total mortality pattern and the representativity of the study cohorts. Journal of Medical Screening 1996; 3:85-87. (Tỉ suất chính xác là 3.6 và 2.9, nhưng tôi bỏ số lẻ và dùng 4 và 3)

[6] Salzmann P, Kerlikowske K, Phillips K. Cost-effectiveness of extending screening mammography guidelines to include women 40 to 49 years of age. Annals of Internal Medicine 1997; 127:955-965.

[7] Kerlikowske K. "Breast cancer screening" trong sách Women and Health (trang 895-906) do MB Goldman và MC Hatch biên tập, Nhà xuất bản Academic Press, New York: 2000. Sau 10 đến 14 năm có xu hướng giảm tỉ lệ tử vong, nhưng những trường hợp tử vong này là phụ nữ đã bị ung thư lúc 50 tuổi trở lên. Nói một cách khác nếu các phụ nữ này bắt đầu khám quang tuyến X lúc 50 tuổi (hơn là 40), lợi ích của họ cũng chẳng khác gì so với khám lúc 40 tuổi.

[8] Kerlikowske K. Efficacy of screening mammography among women aged 40 to 49 years and 50 to 59 years: comparison of relative and absolute benefit. Journal of the National Cancer Institute Monographs, 1997; 22:79-86.

[9] Nguyen T, Vo PH, McPhee SJ, Jenkins CNH. Promoting early detection of breast cancer among Vietnamese-American women. Cancer 2001; 91:267-273. Trong bài này, các tác giả kết luận: “We conclude that, although the intervention had no beneficial effect among Vietnamese women in the community at-large, it had a modest positive impact on those women who reported exposure to the intervention.”

[10] Trích tài liệu từ trang nhà www.ungthu.org, truy nhập ngày 21/5/2003.

[11] NIH Consensus Statement. Breast cancer screening for women aged 40-49. NIH Consensus Statement 1997; 15: 1-35.

[12] Elmore JG, Barton MB, Moreci VM, Polk S, Arena PJ, Fletcher SW. Ten-year risk of false positive screening mammograms and clinical breast examinations. New England Journal of Medicine 1998; 338:1089-1096.

[13] Elmore JG, Barton MB, Moreci VM, Polk S, Arena PJ, Fletcher SW. Ten-year risk of false positive screening mammograms and clinical breast examinations. New England Journal of Medicine 1998; 338:1089-1096.

[14] Kerlikowske K, Grady D, Barclay J, Sickles EA, Earnst V. Effect of age, breast density, and family history on the sensitivity of first screening mammography. JAMA 1996; 276:33-38.

[15] Lerman C, Trock B, Rimer B, Jepson C, Brody D, Boyce A. Psychological side effects of breast screening. Health Psychology 1991; 10:259-267.

[16] Giải thích ductal carcinoma in situ. "Ductal carcinoma in situ (DCIS)" trong vú là một hội chứng phức tạp mà trong đó các tế bào malignant breast epithelial chỉ phát sinh và phát triển trong ducts nhưng không xâm phạm đến các mô chung quanh stroma.

[17] Earnst VL, Barclay J. Increases in ductal carcinoma in situ of the breast in relation to mammography: a dilemma. Journal of the National Cancer Institute Monographs, 1997; 22:151-156.

[18] Schwartz LM, Woloshin S, Sox HC, Fischhoff B, Welch HG. US women's attitudes to false positive mammography results and detection of ductal carcinoma in situ: cross sectional survey. British Medical Journal 2000; 320:1635-40.

[19] National Academy of Sciences Committee on the biological effects of ionizing radiations, 1990. Có thể xem Schmidt JG, The epidemiology of mass breast cancer screening - a plea for a valid measure of benefit. Journal of Clinical Epidemiology 1990; 43:215-225.

[20] Tài liệu “National Vital Statistics Reports”, Volume 51, No. 5, ngày 14 tháng Ba, năm 2003, do Department of Health and Human Services, National Center for Health Statistics, và Centers for Disease Control and Prevention soạn thảo và ấn hành.

[21] Cresanta JL. Epidemiology of cancer in the United States. Primary Care 1992;19:419-41.

[22] Hanks GE, Scardino PT. Does screening for prostate cancer make sense? Scientific American 1996; 275:114-5.

[23] Wingo PA, Ries LA, Rosenberg HM, Miller DS, Edwards BK. Cancer incidence and mortality, 1973-1995: a report card for the U.S. Cancer 1998; 82:1197-207.

[24] Bảng thống kê này do tôi trình bày lại bằng cách dùng số liệu của bài báo sau đây: Phillips KA, Glendon G, Knight JA. Putting the risk of breast cancer in perspective. New England Journal of Medicine 1999;340:141-4.

[25] Black WC, Nease RF Jr, Tosteson AN. Perceptions of breast cancer risk and screening effectiveness in women younger than 50 years of age. Journal of the National Cancer Institute 1995; 87:720-31.

[26] Tài liệu tỉ suất phát hiện ung thư vú trong các phụ nữ da trắng là 141 trên 100,000 phụ nữ, tức 0.014 phần trăm (hay trong 10 ngàn phụ nữ, có 14 người bị phát hiện ung thư vú.

[27] Lin SS, Phan JC, Lin AY. Breast cancer characteristics of Vietnamese women in the Greater San Francisco Bay Area. West J Med 2002; 176:87-91.

[28] Nguyen MQ, Nguyen CH, Parkin DM. Cancer incidence in Ho Chi Minh City, Vietnam, 1995-1998. British Journal of Cancer 1998; 76:472-479.

[29] Anh PTH, Parkin DM, Hanh TN, Du NB. Camcer in the population of Hanoi, Vietnam 1988-1990. British Journal of Cancer 1993; 88:1236-42.

[30] Slaytor EK, Ward JE. How risks of breast cancer and benefits of screening are communicated to women: analysis of 58 pamphlets. British Journal of Medicine 1998;317:263-4.

[31] Cockburn J, Redman S, Hill D và Henry E. Public understanding of medical screening. Journal of Medical Screening 1995; 2:224-227.

http://vietsciences.free.fr/timhieu/khoahoc/ykhoa/ungthuvu_thongtin_ykhoa.htm
Đăng nhập để trả lời
0
Doan Thanh Nien Hon Viet
... không được học cách tự kiểm tra tinh hoàn và cũng ... ung thư vú: Chỉ 41% bác sĩ cho biết đã được hướng dẫn cách tự kiểm tra tinh hoàn ...www.vietsoul.com/home/news?forum=24&topic=1717 - 25k - Cached - More from this site - Save
Viet News
... Mu?i 2002 - 14:05. Tự kiểm ngực không giúp cứu sống phụ ... chị em cách tự kiểm tra ngực để phát hiện sớm khối u vú không đem lại ...www.vietnews.com/danhmuc/view.php?ArtID=156&act=refer - 10k - Cached - More from this site - Save
VietNews
VietNews is a discussion forum. To visit the forum, go to http://www.vietnews.com/forums/ . ... Mu?i 2002 - 14:05. Tự kiểm ngực không giúp cứu sống phụ ... chị em cách tự kiểm tra ngực để phát hiện sớm khối u vú không đem lại ...www.vietnews.com/danhmuc/comments.php?ArtID=156 - 16k - Cached - More from this site - Save
VnExpress - Cach moi du doan ung thu vu di can
... ung thư vú di căn. Tự kiểm tra vú để phát hiện sớm bệnh ung thư. Bằng cách kiểm tra sự cân ... hoặc tái phát của bệnh ung thư vú ...vnexpress.net/Vietnam/Suc-khoe/2005/09/3B9E1D7E - 30k - Cached - More from this site - Save
Cafe68t - Suc khoe
Ung thư vú và vấn đề thông tin y khoa. Nguyễn Văn Tuấn ... của việc kiểm tra ung thư vú ... kiểm tra ung thư vú bằng X-quang tuyến cho tất cả các phụ nữ ở độ tuổi 40s. Mỗi phụ nữ nên tự ...www.cafe68t.net/content/unicode/SucKhoe.html - 143k - Cached - More from this site - Save
Những điều cần biết về ung thư vú
... vú, cho nên cách bảo vệ minh tốt nhất là phát hiện bệnh càng sớm càng tốt và điều trị ngay. Các nhà nghiên cứu cũng đang kiểm tra ...hoanmyhospital.com/hoanmy_vietnamese/noisan/noisanykhoa_bai3.html - 26k - Cached - More from this site - Save
Vietsciences, Ung thư vú, Nguyễn Văn Tuấn
... của việc kiểm tra ung thư vú ... kiểm tra ung thư vú bằng X-quang tuyến cho tất cả các phụ nữ ở độ tuổi 40s. Mỗi phụ nữ nên tự ...vietsciences.free.fr/timhieu/khoahoc/ykhoa/ungthuvu_thongtin_ykhoa.htm - 173k - Cached - More from this site - Save
126. Kiểm tra sức khỏe định kỳ có lợi như thế nào đối với phụ nữ thời kỳ tiền mãn ...
... toàn diện hàng năm, bao gồm: thể trọng, huyết áp, răng miệng, vú, kiểm tra phụ khoa ... học các phương pháp tự kiểm tra, nắm chắc một số tri ...www.ykhoanet.com/phunu/945.htm - 66k - Cached - More from this site - Save
Thong tin chi tiet - Pho bien kien thuc - www.tudienthuoc.com
... Tuổi từ 40 trở lên:Kiểm tra phát hiện ung thư 3 năm ... đó bóp đầu vú kiểm tra xem có dịch không. Khám ngực trái tương tự như trên ...tudienthuoc.com/tudienthuoc/noidungphobien.asp?ID=115 - 62k - Cached - More from this site - Save
Ung thư vú và vấn đề thông tin y khoa
... rằng kiểm tra ung thư vú làm ... kiểm tra ung thư vú bằng X-quang tuyến cho tất cả các phụ nữ ở độ tuổi 40s. Mỗi phụ nữ nên tự ...home.ykhoa.net/binhluan/23.htm - 246k - Cached - More from this site - Save

Results Page:
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next
Đăng nhập để trả lời
0
Cắt bỏ vú quá nhiều


Sẽ post bài: Sống vui với bệnh nan y.

Nếu chúng ta đang có tâm trạng nào đó.


Thí dụ:
trong cuộc sống hiện tại Hy đâu có bằng lòng với htực trạng cuả mình. Nhất là tiền, tình, tù, tội, tử (vì thể chất hay tâm hồn). Tuy nhiên nhìn những người mù hay khuyết tật (Ngưỡng mộ Quý Bạn có ý chí cao và bền vững) thì mình đã là đuợc ơn Trời Đất nhiều rồi.

HY ơi tự mình phần đấu, đừng nghe cắt bỏ rồi nhủng chí anh thư [:@]

Đăng nhập để trả lời
0
1. PHÁT HIỆN SỚM BỆNH UNG THƯ VÚ

Ung thư vú là bệnh mà trong vú có các tế bào bất thường gọi là tế bào ung thư. Nếu không chữa trị sớm, các tế bào ung thư sẽ phát triển nhanh chóng và có thể lây lan đến các cơ quan khác, gây ra đau đớn và sự chết. Ung thư vú là một trong những loại ung thư phụ nữ Việt thường có nhất.

Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày một số yếu tố đưa đến sự gia tăng nguy cơ bị ung thư vú. Tuy nhiên, đa số phụ nữ mắc bệnh ung thư vú không có những yếu tố gia tăng nguy cơ bị ung thư vú. Chúng ta cần nhớ là tất cả phụ nữ đều có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Điều quan trọng là thực hiện tiến trình ba bước (chúng tôi sẽ trình bày ở chương tới) để phát hiện sớm bệnh ung thư vú khi bệnh này còn có thể được chữa lành hoàn toàn.

CÁC YẾU-TỐ GIA TĂNG NGUY CƠ BỊ UNG THƯ VÚ:

Tuổi tác: Càng lớn tuổi thì nguy cơ ung thư vú càng cao.

Tiểu sử bệnh lý gia đình: Những phụ nữ có mẹ, chị, em, hay con gái đã bị ung thư vú thì bị nguy cơ nhiều hơn. Càng có nhiều thân nhân bị ung thư vú thì nguy cơ càng cao hơn.

Bệnh lý cá nhân: Nguy cơ ung thư vú cũng gia tăng cho các phụ nữ đã:

* từng bị ung thư vú

* hết kinh sau tuổi 55

* có kinh trước tuổi 12

* sinh con đầu lòng sau tuổi 30 hay chưa có con.

Dinh dưỡng và rượu: cân nặng, ăn thức ăn nhiều mỡ, cũng như rượu có thể làm gia tăng cơ hội bị ung thư vú. National Cancer Institute (Viện Ung Thư Quốc Gia) khuyến khích phụ nữ nên dùng thức ăn ít mỡ, tập thể dục đều đặn, và chỉ nên uống rượu chừng mực.



BA VIỆC LÀM ĐỂ SỚM PHÁT HIỆN UNG THƯ VÚ


THỨ NHẤT: Tự khám vú bắt đầu ở tuổi 20



Mỗi tháng một lần

Mỗi tháng một lần

Dùng chỗ mềm của đầu các ngón tay trỏ, giữa và áp út để xoa nắn vú. Nên cho ba ngón tay này "bước theo nhau" trên mô vú theo từng hàng thẳng từ trên xuống dưới. Cố gắng khám tất cả các phần của vú, đừng sót phần nào.

Nhớ khám dưới nách.



Xem xét và tìm những bất thường như:

Lồi lõm, cục u

Da dầy cộm hay có vẩy, nhất là đầu và núm vú.

Nước hay máu chảy ra từ đầu vú

Nước hay máu chảy ra từ đầu vú

Những thay đổi khác thường khác.


THỨ NHÌ: Khám vú do chuyên viên y tế (CBE hay Clinical Breast Examination):



Quý bà nên yêu cầu bác sĩ hay y tá đã được huấn luyện khám vú cho mình mỗi năm một lần. Nếu khi tự khám vú thấy có gì lạ, quý vị nên yêu cầu bác sĩ khám lại.


THỨ BA: Chụp quang tuyến vú (mammogram)



Nếu trên 40 tuổi, quý bà nên chụp mammogram mỗi năm một lần, dù không có sự bất bình thường gì khi khám vú.

Phụ nữ có mẹ hay chị em ruột bị ung thư vú, hay có yếu tố di truyền như BRCA gene có thể cần truy tầm trước tuổi 40. Xin hỏi bác sĩ của quý vị.


Truy Tầm Ung Thư Vú Miễn Phí: Hội Ung Thư Việt Mỹ có chương trình hướng dẫn các phụ nữ trên 40 tuổi và có lợi tức thấp xin làm ba điều trên để truy tầm ung thư vú miễn phí. Xin quý vị liên lạc (714) 751-5805 để biết thêm chi tiết.


MỤC LỤC

Phát Hiện Sớm Bệnh Ung Thư Vú...........................................3

Chẩn Bệnh Ung Thư Vú.........................................................6

Trị Bệnh..............................................................................9

Các Cách Giải Phẫu.........................................................9

Quang Tuyến Trị Liệu (Radiation Therapy)...........................11

Hóa Chất Trị Liệu (Chemotherapy).....................................12

Trị Liệu Qua Kích Thích Tố (Hormonal Therapy)....................13

Những Điều Nên Hỏi Bác Sĩ...............................................14

Điều Nên Làm................................................................15

Những Quỹ Tài Trợ Trị Bệnh.............................................15

Dụng Cụ Y-Tế...............................................................16

Hospice........................................................................16

Thử Nghiệm Y-Tế (Clinical Trials).......................................16

Vú Giả & Tóc Giả............................................................18

Các Nhóm Hỗ Trợ Bệnh Nhân.................................................20

Những Nơi Cung Cấp Bảo Hiểm & Trợ Giúp Pháp Lý..................22

Nơi Cung Cấp Tài Liệu & Phục Vụ ...........................................23

Nơi Cung Cấp Tài Liệu Hay Dịch Vụ Bằng Tiếng Việt.................26

Các Phòng Mạch Và Trung Tâm Y Tế Nói Tiếng Việt Tại Quận Orange................................................................................28

Những Nơi Truy Tầm Ung Thư Vú Miễn Phí Hoặc Ít Tốn Kém Tại Los Angeles...............................................................................36

Định Nghĩa Những Từ Y Khoa..................................................39


http://www.ungthu.org/vacf/cacbenhungthu/ungthuvu03-1.asp
Đăng nhập để trả lời
0

Ồ. Bài này hay quá. Cám ơn HY tỉ nhiều.

Muội đang chờ đọc bài. Vui sống với bệnh tật của tỉ đó nhen...[:)]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-20 06:02:38HongYen>
Vui sống với bệnh tật của tỉ đó nhen...


Hi TamM Cưng,

Đã Copy và Paste bài: Vui sống với bệnh tật rồi.

Đề taì Giaỉ Phẩu Pháp Y cuả Cưng quá gay và lạ, tuy nhiên chưa biết mở để đọc dù rằng rất muốn biết. Có lần xem mổ tử thi về nhà nằm chiêm bao....


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-26 15:51:56HongYen>

ĐIỀU TRỊ ESTROGEN KHÔNG KẾT HỢP VỚI PROGESTERONE VÀ NGUY CƠ UNG THƯ VÚ XÂM LẤN
 

Tuy rằng điều trị bằng estrogen không kết hợp với progesterone trong ngắn hạn không tăng nguy cơ bị ung thư vú, nhưng tác dụng dài hạn chưa rõ, vì vậy, Wendy Y. Chen và csv muốn tìm hiểu tương quan giữa điều trị estrogen dài hạn không có sự đối kháng của progesterone và nguy cơ ung thư vú xâm lấn.

Tác giả và csv nghiên cứu “Sức khỏe Y tá”, theo dõi 11.508 phụ nữ đã được cắt bỏ tử cung và dùng estrogen từ lúc bắt đầu (1980). Chương trình nghiên cứu được mở rộng mỗi 2 năm để thu nhận thêm các phụ nữ mới mãn kinh và đã cắt tử cung, do đó đã bao gồm 28.835 người vào lúc kết thúc (2000-2002). Kết quả chung cuộc chính của nghiên cứu là ung thư vú xâm lấn.

Tổng cộng có 934 người bị ung thư vú xâm lấn. Nguy cơ bị ung thư tăng dần với thời gian dùng estrogen không có sự đối kháng của progesterone ở những người dùng dài hạn, với nguy cơ cao nhất ở ung thư có thụ cảm estrogen (ER) dương và progesterone (PR) dương.

Phụ nữ dùng estrogen dưới 10 năm không có nguy cơ bị ung thư vú một cách có ý nghĩa thống kê (ti số nguy cơ RR 0.96 đối với ngừi dùng dưới 5 năm, 0.90 đối với người dùng từ 5 đến 9.9 năm, 1.06 đối với người dùng từ 10 đến 14.9 năm 1.18 đối với người dùng từ 15 đến 19.9 năm và 1.42 đối với người dùng trên 20 năm). Nguy cơ vú tăng cao đối với ung thư có thụ cảm estrogen dương hoặc progesterone dương.

Các tác giả kết luận:

Điều trị estrogen không kết hợp với progesterone (không có sự đối kháng của progesterone) ở phụ nữ đã cắt tử cung có tăng nguy cơ ung thư vú xâm lấn nhưng chỉ trong điều trị dài hạn. Điều trị dưới 10 năm không tăng nguy cơ ung thư vú tuy nhiên nghiên cứu Women’s Health Initiative lại cho thấy dùng trong thời gian ngắn tăng nguy cơ bị viêm tắc tĩnh mạch và tai biến mạch não. Phụ nữ muốn ngừa loãng xương bằng esgtrogen cần dùng dài hạn, do đó cần dùng phương pháp khác để ngừa loãng xương vì có nguy cơ tăng ung thư vú nếu dùng estrogen dài hạn.
 
Bác sĩ Nguyễn văn Đích tóm lược


 http://www.yduocngaynay.com/1-1%20topic%2011.html[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Phụ nữ cần biết bệnh sử ung thư vú của cả hai họ nội ngoại

Thursday, July 27, 2006

NEW YORK (Reuters) - Giới phụ nữ thường thiếu những thông tin về bệnh ung thư vú nơi những người bà con thuộc phía gia đình của cha họ - đây là một vấn đề có thể che lấp sự nhận xét về nguy cơ của bệnh này đối với chính họ, theo ghi nhận của một cuộc nghiên cứu mới.

Trong một cuộc khảo sát gồm 899 phụ nữ từ 40 tuổi trở lên, các nhà nghiên cứu thấy rằng 16 phần trăm các bà cho biết trong gia đình của mẹ họ đã có những người mắc bệnh ung thư vú, trong khi chỉ có 10 phần trăm báo cáo rằng phía gia đình cha họ có người mắc bệnh này.

Sự sai biệt nói trên là điều khả nghi, vì xét theo thống kê thì tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh ung thư vú thường có con số ngang nhau giữa những gia đình thuộc cả hai phía mẹ và cha.

Bác Sĩ John M. Quillin thuộc trường đại học Virginia Commonwealth University ở Richmond, Va., và các đồng nghiệp nói rằng sự kiện trên đây là điều đáng quan tâm đối với cả giới phụ nữ lẫn những bác sĩ của họ - vì các bác sĩ dùng tiểu sự gia đình của những người khám bệnh để giúp lượng giá xem một phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao hơn mức trung bình hay không.

Toán nghiên cứu đã báo cáo những điều tìm thấy của họ trong American Journal of Preventive Medicine (Ðặc San Mỹ về Y Khoa Phòng Ngừa).

Phụ nữ cần phải tìm biết về tất cả những thông tin về bệnh ung thư vú trong gia đình của cha họ, và giới bác sĩ cần phải đặc biệt hỏi họ về chuyện đó, Bác Sĩ Quillin nói với thông tấn Reuters.

Tiểu sử gia đình là một trong những yếu tố quan trọng về nguy cơ mắc bệnh ung thư vú, và đa số những cuộc khảo sát đã cho thấy rằng nguy cơ di truyền này có tầm cỡ ngang nhau từ cả mẹ lẫn cha, theo lời Bác Sĩ Quillin.

Ông ghi nhận rằng có thể những phụ nữ tham gia cuộc nghiên cứu của ông đã báo cáo một cách chính xác về tiểu sử gia đình có người mắc bệnh ung thư vú. Bác Sĩ Quillin cho biết rằng tất những phụ nữ đó đã tham gia cuộc nghiên cứu một cách tình nguyện, và nếu có con số cao hơn từ những bà có tiểu sử thân nhân mắc bệnh ung thư vú bên gia đình mẹ ghi danh vào cuộc nghiên cứu, thì điều này có thể giải thích sự sai biệt nói trên.

Tuy nhiên, toán nghiên cứu nghi rằng giới phụ nữ ít ý thức về tiểu sử của thân nhân mắc bệnh ung thư vú bên gia đình của cha họ hơn bên gia đình của mẹ họ.

Nhưng sự ý thức này không những quan trọng khi phụ nữ tìm biết những thông tin về bệnh ung thư vú bên gia đình cha họ, mà nam giới cũng cần phải tìm biết để chia sẻ những thông tin đó trong gia đình của chính họ.

“Tiểu sử ung thư vú của phía gia đình bên ngoại hay bên nội chỉ cho biết một nửa yếu tố di truyền. Do đó cần phải biết tiểu sử của cả hai bên ngoại và nội,” Bác Sĩ Quillin nhấn mạnh. (n.m.)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=46615&z=14
Đăng nhập để trả lời
0
Chuyến đi phi thường của một bệnh nhân ung thư

15:41:00, 29/08/2006


Jane Tomlinson cùng chồng và con trai 9 tuổi sau khi chị đến Washington (Mỹ), ngày 28/8. (Ảnh: AFP/ TTXVN)

Được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú đã di căn, chị Jane Tomlinson, 42 tuổi, người Anh, biết mình chỉ còn sống được thêm 6 tháng nữa. Kể từ đó, chị quyết định tiến hành một chuyến đi đầy ý nghĩa, đó là thực hiện cuộc đua mang tên Người xương đồng da sắt.

Chặng đường của chị gồm 3 cuộc chạy marathon ở London, một cuộc chạy marathon ở New York và ba cuộc chạy phối hợp gồm bơi xa, đi xe đạp và chạy marathon ở London.

Hiện nay, chị đang hoàn tất hành trình đạp xe xuyên quốc gia dài 6780 km từ San Francisco tới New York trong 63 ngày.

Theo TTXVN

http://www.thanhnien.com.vn/Suckhoe/2006/8/29/160537.tno
Đăng nhập để trả lời
0
Dùng hóa trị chữa ung thư vú: Tỷ lệ phản ứng phụ cao hơn người ta nghĩ

Wednesday, August 16, 2006

WASHINGTON, DC.- Những thứ thuốc dùng để trị liệu bằng hóa chất có thể gây ra những phản ứng phụ trầm trọng cho những bệnh nhân ung thư vú dưới 64 tuổi, với tỉ lệ cao hơn so với những con số trước đây, theo một cuộc khảo cứu mới được công bố hôm 15 Tháng Tám.

Các nhà nghiên cứu đã khảo sát những chi tiết đã khai để hưởng bảo hiểm y tế của 3,526 phụ nữ đã từng được truyền vào huyết quản những thứ thuốc trị liệu bằng hóa chất cho bệnh ung thư vú và đã xảy ra những phản ứng phụ trầm trọng khiến họ cần được đưa vào phòng săn sóc khẩn cấp (emergency care) hoặc phải nằm bệnh viện.

Sự duyệt xét của các nhà nghiên cứu đã tìm thấy hơn 8%, trong số những bệnh nhân nói trên, phải vào bệnh viện để điều trị những cơn sốt hoặc nhiễm độc, so với tỉ lệ 2% đã được báo cáo trong một cuộc khảo sát trước đây.

Những vấn đề khác cũng đã xảy ra thường xuyên hơn tỉ lệ đã ước tính trước đây, theo phúc trình của các nhà nghiên cứu tại trường y khoa Harvard Medical School và trung tâm ung thư Dana-Farber Cancer Institute.

Thí dụ 5.5% phụ nữ được báo cáo có số tế bào máu thấp - là tình trạng khiến họ dễ có nguy cơ nhiễm độc hoặc xuất huyết, theo cuộc nghiên cứu mới. Nhưng trong cuộc khảo sát trước đây tỉ lệ này chỉ ở mức từ 1% tới 2%.

Tính tổng quát, 16% phụ nữ trong cuộc khảo sát mới đã trải qua ít nhất một trong tám loại phản ứng phụ cần phải được săn sóc khẩn cấp hoặc phải nằm bệnh viện. Trong số những phản ứng phụ có tình trạng máu đóng cục, cơ thể mất nhiều nước, buồn nôn và tiêu chẩy. Tất cả những phụ nữ có phản ứng phụ đều từ 63 tuổi trở xuống.

Các nhà nghiên cứu không thấy có bằng chứng rằng những phản ứng phụ đã làm giảm tuổi thọ của các bệnh nhân, theo lời Bác Sĩ Michael Hassett, người cầm đầu cuộc khảo sát.

Tuy nhiên, những điều mới tìm thấy có thể giúp các bệnh nhân cân nhắc giữa những điều lợi và điều hại khi trị liệu bằng hóa chất. Không phải tất cả bệnh nhân đều có phúc lợi khi góp thêm sự trị liệu bằng hóa chất vào tiến trình giải phẫu của họ hoặc vào những biện pháp khác.

Bác Sĩ Hassett nói: “Những kết quả tìm thấy của chúng tôi không thay đổi những phúc lợi của phương pháp trị liệu bằng hóa chất. Chúng tôi vẫn nghĩ rằng phương pháp này có thể gia tăng triển vọng sống sót đối với nhiều phụ nữ mắc bệnh ung thư vú.”

Những phản ứng phụ do trị liệu bằng hóa chất có thể giảm thiểu bằng những phương thức như dùng dược chất hoặc những sản phẩm bổ sung dinh dưỡng (nutritional supplements) giúp gia tăng tế bào máu, theo lời Bác Sĩ Edgar Staren, thuộc Cancer Treatment Centers of America, và trước đây từng là chủ tịch của American Society of Breast Surgeons. (n.m.)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=47462&z=14
Đăng nhập để trả lời
0
Curcumin Trong Nghệ Hay Cà-Ri Ngăn Cản Ung Thư Vú Di Căn Và Phổi
 
Ts Bharat Aggarwall thuộc Viện Ung Thư M.D. Anderson, Texas, tìm hiểu tác dụng chất Curcumin từ nghệ hay cà ri vào di căn ung thư vú của chuột.
Nghiên cứu gồm có 60 chuột bị ung thư vú.
Chuột chia làm 4 nhóm: Nhóm 1 là chuột bình thường để so sánh, Nhóm 2 chuột trị bằng Taxol, Nhóm 3 chuột trị bằng Curcumin, và Nhóm 4 chuột trị bằng Taxol và Curcumin.
Sau khi ung thư vú tăng trưởng lớn bằng hột đậu thì được cắt bỏ. Cho chuột ăn đồ ăn có chứa chất Curcumin. 96% di căn ung thư vú vào phổi chuột có thể nhìn thấy bằng mắt thường
Chuột trị bằng Taxol giảm di căn ung thư một phần nào trong khi chuột trị bằng Taxol với Curcumin hay với Curcumin không thôi giảm ung thư vú lan truyền vào phổi (significantly reduced). Trong trường hợp di căn ung thư không nhìn thấy bằng mắt thường nhưng có thể thấy được qua kính hiển vi (28). Trong trường hợp này, rất ít tế bào ung thư di căn vào phổi. Do đó kết quả nghiên cứu khuyến cáo: tế bào di căn vào phổi nhìn thấy qua kính hiển vi có thể đã xâm nhập vào phổi trước khi ung thư vú được giải phẫu cắt bỏ.
Kết quả nghiên cứu cũng khuyến cáo Curcumin trong nghệ hay cà ri vừa ngăn chặn di căn ung thư vú, vừa kìm hãm tác dụng của hóa chất Paclitaxel (TaxolTM).
Taxol thường dùng trong hóa học trị liệu ung thư vú nhưng Taxol là một độc dược. Taxol có thể hoạt hóa một bạch đản gây viêm trong di căn. Curcumin kìm hãm tác dụng kễ trên do đó ngăn chặn di căn ung thư vú.
Clinical Cancer Research, October 2005
(Bàn thêm: Trong một tường trình 2 tháng trước đây đăng trong báo Cancer, August 2005, Ts Bharat Argawall đã từng nêu lên bạch đản Nuclear Factor-Kappa B [NF-kB], một bạch đản dóng vai trò quan trọng gây hiện tượng viêm trong di căn ung thư vú.


[size=+1]Nghệ, Cà-Ri Và Ung Thư Da Melanoma

Ts Bharat B. Aggarwal thuộc Trung Tâm Khảo Cứu Ung Thư Anderson, Texas, hiện đang nghiên cứu chất Curcumin là chất màu vàng trong nghệ hay bột cà-ri, kìm hãm tế bào ung thư da nẩy nở và nhiều ung thư khác. Chất Curcumin làm tế bào ung thư da melanoma không sinh sản và tự hủy. Curcumin giảm tác dụng EGFR, một bạch đản kích thích tế bào u bướu tăng trưởng. Curcumin cũng giảm chức năng VEGF tức là giảm khả năng thành lập mạch máu thường thấy tăng trưởng trong mô ung thư. Ngoài ra, Curcumin kìm hãm NF-kB trong đường hóa học STATS, giảm phát triển ung thư. Curcumin tác dụng vào những con đường hóa học kể trên tức là ngăn chặn tế bào ung thư sinh tồn và phân hóa. Trong phần nghiên cứu đặc biệt của Trung Tâm Ung Thư Anderson là muốn tìm hiểu khả năng Curcumin tiêu hủy tế bào ung thư. Curcumin tác dụng giảm chức năng NF-kB, và chất bạch đản IKK kích thích NF-kB, tăng cao hiện tượng tế bào tự hủy và ngưng chặn tế bào ung thư da melanoma tăng trưởng. Một loạt thử nghiệm khác trong giai đoạn I tìm hiểu chất Curcumin ảnh hưởng ung thư tuyến tụy tạng và ung thư máu multiple myeloma. Đồng thời các khoa học gia cũng đang tìm hiểu vai trò Curcumin với ung thư vú phụ nữ. (Cancer Journal, August 15, 2005). (Bàn thêm: Curcumin là chất màu vàng trong củ nghệ. Củ nghệ là một thứ rễ cây (Curcuma Longa) thường thấy ở những nước Á Châu, kể cả Việt Nam. Người Ấn Độ pha chế Curcumin với nhiều gia vị khác nhau làm thành bột cà-ri. Chúng ta chẳng ai xa lạ gì những món ăn cà-ri thường ngày. Trong Curcumin có 2 hóa chất Demethoxycurcumin và Bisdemethoxycurcumin. Nhiều thử nghiệm trước đây cho biết Curcumin là một hợp chất chống oxýt-hóa và chống hiện tượng viêm).

Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D.
[size=-1]YDNN [/size]
[size=-1]đọc và phổ biến ngày 15/ VI/ 2006[/size]

http://www.yduocngaynay.com/[/size]
http://www.yduocngaynay.com/1-1%20topic%2019.html


Đăng nhập để trả lời
0
Củ nghệ: curcuma Longa

 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Tỉ lệ người bị ung thư vú ở Mỹ giảm mạnh trong năm 2003
15/12/2006
 
 
Các nhà nghiên cứu cho hay tỉ lệ số người bị ung thư vú tại Hoa Kỳ giảm mạnh trong năm 2003, một năm sau khi nhiều phụ nữ cao niên ngưng dùng hormone thay cho tình trạng thiếu hormone trong cơ thể.
 
Tại một cuộc hội thảo diễn ra ở San Antonio, tiểu bang Texas hôm qua, các nhà khoa học nói rằng mức độ ung thư vú giảm xuống 7% trong hai năm 2002 và 2003.
 
Một công bố cho biết mức độ giảm mạnh nhất là 12% nằm trong số phụ nữ ở lứa tuổi từ 50 tới 69 tuổi bị mắc loại bệnh ung thư dựa vào hormone để phát triển.
 
Tuy nhiên các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng nguyên nhân của sự giảm sút bệnh ung thư không hoàn toàn chắc chắn vì cuộc phân tích chỉ căn cứ vào thống kê dân số.
 
http://www.voanews.com/vietnamese/2006-12-15-voa29.cfm
 
Các nhà khoa học tại Trung tâm ưng thư MD Anderson tại Texas đã thực hiện cuộc nghiên cứu vừa kể.
 

 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Hội Ung Thư Việt Mỹ tổ chức tiệc trà cho phụ nữ mắc bệnh ung thư vú
Monday, May 07, 2007
 
 

Hội Ung Thư Việt Mỹ sẽ tổ chức một buổi thuyết trình y tế kết hợp với một tiệc trà dành cho quý bà, quý cô và người thân tại hội quán Little Saigon Radio, 15781 Brookhurst Street, Suite 101, Westminster, CA 92683, vào lúc 10 giờ sáng ngày Thứ Bảy, 12 Tháng Năm, 2007.
Ðề tài của buổi thuyết trình lần này là về bệnh ung thư vú, căn bệnh mà tất cả phụ nữ đều có nguy cơ bị mắc phải. Ðặc biệt phụ nữ Việt lại mắc bệnh ung thư vú nhiều hơn tất cả các bệnh ung thư khác. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm và chữa trị kịp thời thì cơ may chữa lành bệnh sẽ lên đến 90%.
Ðó là lý do tại sao Hội Ung Thư Việt Mỹ tổ chức buổi thuyết trình này. Hội muốn thông tin cho cộng đồng về tầm quan trọng của việc phát hiện sớm bệnh ung thư vú, cung cấp những chỉ dẫn từ các tổ chức địa phương có dịch vụ chăm sóc sức khỏe về vú, cũng như muốn giới thiệu những khám phá mới trong việc chữa trị căn bệnh này.
Nội dung của chương trình gồm có phần thuyết trình của Bác Sĩ Nguyễn Bích Liên về những tiến bộ trong việc chữa trị bệnh ung thư vú; phần chỉ dẫn về dinh dưỡng cho bệnh nhân đang trong giai đoạn chữa trị, cách ăn uống khi biếng ăn hay buồn nôn, những loại thực phẩm nên và không nên ăn, do Bác Sĩ Nguyễn Thùy Anh đảm trách; cách tập thể thao do Bác Sĩ Thái Diệu My hướng dẫn.
Ðặc biệt là phần chia sẻ với bệnh nhân và hướng dẫn cách trang điểm cho bệnh nhân ung thư vú do cô Jackie Mao, một chuyên viên thẩm mỹ của hãng Shisheido, đảm nhiệm. Hội hy vọng sẽ giúp cho người bệnh có thêm niềm tin và hy vọng để chiến đấu với căn bệnh ung thư vú, thông qua việc chăm sóc sắc đẹp của bản thân.
Buổi thuyết trình và tiệc trà này mặc dù dành riêng cho quý bà, quý cô mang bệnh ung thư vú, nhưng Hội Ung Thư Việt Mỹ khuyến khích quý ông nên tích cực tham gia bên cạnh người bạn đời của mình để ủng hộ tinh thần cho họ và có cơ hội hiểu thêm về những khó khăn mà người thân của mình gặp phải khi mắc bệnh ung thư vú. Quý vị có thể gọi để biết chi tiết và ghi danh ở số điện thoại (714) 751-5805.
Ðây là một trong những chương trình mà hội tổ chức nhằm mục đích quảng bá thêm kiến thức về y tế cho cộng đồng, đặc biệt là dành cho những bệnh nhân ung thư vú. Mỗi một chương trình mà hội thực hiện đều cố gắng khuyến khích cộng đồng tích cực truy tầm và giới thiệu những khám phá mới trong việc chữa trị các loại bệnh ung thư.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=59463&z=3
Đăng nhập để trả lời
0
Tìm thấy gien gây ung thư vú










28 Tháng 5 2007 - Cập nhật 13h01 GMT
 
 
Hàng trăm gien bị cho là có liên hệ với ung thư vú
 
Các khoa học gia vừa đưa ra kỹ thuật mới nhằm nhận dạng các gien có thể liên quan tới ung thư vú ở phụ nữ.[/align] [/align]Họ hy vọng nay mai sẽ có thể xác định nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ chỉ bằng một xét nghiệm máu.
Các nhà nghiên cứu nói kỹ thuật mới tăng tốc độ nhận dạng gien và điều đó có nghĩa tìm ra được tất cả các gien liên quan tới bệnh ung thư vú.
 
Tổ chức Cancer Research UK mô tả kết quả nghiên cứu mới là "rất quan trọng".
 
Hai năm trước các khoa học gia tìm ra hai loại gien mà họ cho là gây ra ung thư vú.
Thế nhưng công trình mới do Viện nghiên cứu Cambridge của Anh do Cancer Research UK tài trợ tìm thấy thêm năm gien khác nữa.
 
Trước kia rất mất thời gian để phân tích nhiễm sắc thể của bệnh nhân và tìm kiếm gien gây bệnh. nhưng nay quá trình nhanh hơn nhiều nhờ công nghệ mới.
 
Kỹ thuật mới
 
Theo kỹ thuật mới, các chuỗi nhiễm sắc thể của người bệnh sẽ được so sánh với nhiễm sắc thể của người khỏe mạnh và các khác biệt nhận dạng được có thể là các gien gây ung thư.
 
Quá trình này do máy tính thực hiện và có thể đươc hoàn tất chỉ trong vài tiếng đồng hồ. Các khoa học gia tin rằng trong vài tháng tới họ sẽ nhận dạng được tất cả các gien có liên quan tới ung thư vú.







 Cancer Research UK đã áp dụng phương pháp này để tìm gien liên quan tới nhiều bệnh ung thư khác, như ung thư tiền liệt tuyến, trực tràng và phổi.[/align] [/align]Giáo sư Douglas Easton[/align][/align]
Để tìm ra bốn gien mới họ đã phải nghiên cứu chuỗi ADN của gần 50.000 phụ nữ, một nửa torng số đó có bệnh ung thư vú và một nửa không có bệnh.
 
Giáo sư Douglas Easton, giám đốc bộ phận dịch tễ di truyền của Cancer Research UK tại Cambridge, nói: "Nay với phương pháp nghiên cứu mới có hiệu quả hơn, chúng tôi tin sẽ tìm thêm được nhiều gien gây ung thư vú."
 
"Cancer Research UK đã áp dụng phương pháp này để tìm gien liên quan tới nhiều bệnh ung thư khác, như ung thư tiền liệt tuyến, trực tràng và phổi."
Ông cũng nói với BBC rằng càng nhiều gien được xác định thì cơ hội phòng chống bệnh càng cao vì có thể biết ai có nguy cơ mắc bệnh từ sớm.
 
Nói chung, số các ca ung thư di truyền chiếm từ 5% tới 10% trong tổng số 44.000 ca ung thư vú mỗi năm ở Anh.
 
Người ta tin rằng các yếu tố như hút thuốc và môi trường là thủ phạm gây ung thư ở số còn lại.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/science/story/2007/05/070528_breastcancer_gene.shtml

 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-28 21:15:43HongYen>
Bệnh ung thư vú
Thứ hai, 5/2/2007, 12:13 GMT+7

"Mẹ tôi vừa phẫu thuật ung thư vú. Tôi muốn hỏi làm thế nào để phòng ngừa và nhận biết bệnh này. Liệu mẹ tôi có thể sống được bao lâu? Bệnh có di truyền không? Có phải uống vitamin E và sữa đậu nành sẽ dễ bị ung thư tử cung?" (Trần Thị Kim Liên).

Trả lời:

Bạn Kim Liên thân mến!
Đa phần ung thư vú được phát hiện là do chính bản thân người bệnh, khi họ nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Bệnh có một số dấu hiệu như: thay đổi cấu trúc vú với u cục cứng không đau, sưng, da dày lên, núm vú lẹm vào, nhăn nhúm, có vẩy, lở loét, đau hoặc chảy nước. Thường gặp nhất đó là một khối u hay một chỗ dày cứng lên ở vú, không đau.

Cần nghĩ đến ung thư vú khi thấy bất kỳ khối u nào ở ngực người phụ nữ trên 30 tuổi, mặc dù khoảng 80% khối bất thường ở vú là lành tính. Khoảng 5-10% số ca ung thư vú là do di truyền.

Chúng ta không thay đổi được các rủi ro do di truyền hoặc gia đình, tuổi tác nhưng ta có thể thay đổi được nếp sống để giảm nguy cơ ung thư như:

- Ngưng thuốc lá; vận động cơ thể nhiều lần mỗi tuần; hạn chế uống rượu.
- Giới hạn thịt đỏ, giảm mỡ động vật dưới 30%; ăn nhiều rau trái cây có chất xơ.
- Giảm cân nếu quá mập, nhất là sau thời kỳ mãn kinh.
- Nếu định có con, nên có con sớm và cho con bú sữa mẹ trong nhiều tháng.
- Tự khám nhũ hoa hằng tháng; chụp nhũ ảnh hằng năm nếu trên 40 tuổi. Bạn có mẹ bị ung thư vú thì nên khám tổng quát thường xuyên hơn và hỏi ý kiến bác sĩ chuyên môn về thử nghiệm gene di truyền.

Tự khám vú
Việc tự khám vú tại các thời điểm khác nhau trong tháng là điều rất quan trọng, giúp bạn nhanh chóng cảm nhận các thay đổi: Đứng trước gương, quan sát kỹ càng mỗi vú. Bạn giơ cánh tay vắt lên đầu và quay nghiêng hết bên này tới bên kia để có thể trông thấy đường nét vú khi đứng nghiêng. Kiểm tra xem da có bất cứ chỗ nào lún xuống hay nhăn lại không. Kiểm tra kỹ càng hai núm vú xem có tiết ra dịch gì không, hoặc có biến đổi kích cỡ, mầu sắc hay hình dáng không.

Chống nạnh hoặc đặt hai bàn tay lên phần ngực trên, ép bàn tay vào ngực để làm giãn các cơ ngực và nghiêng mình về phía trước. Kế đến, bạn nằm xuống trên một mặt phẳng, kê gối cho vai bên vú bạn đang khám hơi cao hơn bên kia một chút. Dùng lòng bàn tay và các ngón tay duỗi thẳng nhẹ nhàng khám rìa ngoài vú, di chuyển bàn tay theo chiều kim đồng hồ (bàn tay bên phải xoa nắn vú bên trái). Cánh tay bên kia thả lỏng bên mình. Sử dụng lòng bàn tay và các ngón duỗi thẳng để thăm khám.

Để khám vòng trong vú, bạn hãy giơ một cánh tay tới lên trên đầu, tay kia sờ nắn dọc theo phần trên xương đòn gánh và cả trong nách nữa. Lập lại cách làm nhu vậy cho vú bên kia.

Trong trường hợp vú của bạn rất lớn, hãy sử dụng cả hai tay - một bàn tay bên dưới để nâng vú lên trong khi bàn tay bên kia khám diện tích bên trên. Đổi tay để sờ nắn diện tích bên dưới.

Sữa đậu nành và vitamin E là thực phẩm cần thiết cho cơ thể. Bạn sử dụng mỗi ngày theo nhu cầu thiết yếu sẽ không phải là yếu tố nguy cơ gây ung thư vú.

Mẹ bạn đã được chẩn đoán ung thư vú và phẫu thuật. Việc bà còn sống thêm được bao lâu tùy thuộc vào nhiều yếu tố như hạch di căn, giai đoạn bệnh và loại ung thư. Quan trọng nhất là giai đoạn của bệnh, càng phát hiện ở giai đoạn sớm thì tiên lượng càng tốt.

http://www.vnexpress.net/Vietnam/Suc-khoe/Tu-van/2007/02/3B9F297A/
Đăng nhập để trả lời
0





Ảnh minh họa: Getty Images
     UNG THƯ VÚ
 
 
Hiện nay, mỗi tháng Bệnh viện (BV) K Hà Nội tiếp nhận và điều trị cho 200 trường hợp bị ung thư vú (UTV) mắc mới. Đây là bệnh ung thư có lượng bệnh nhân nữ cao nhất tại Việt Nam với tỷ lệ mỗi năm xuất hiện thêm 8.000 trường hợp.
 


TS Trần Văn Thuấn - Trưởng khoa Nội 2 (BV K) cho biết nếu được phát hiện sớm, bệnh UTV hoàn toàn có thể điều trị khỏi.
 
Thông thường, bệnh UTV gặp ở phụ nữ ngoài 40 tuổi. Nhưng tại BV K đã điều trị cho nhiều bệnh nhân nữ mới 25-26 tuổi, chưa lập gia đình. Cho đến nay, y học vẫn chưa xác định được nguyên nhân cụ thể gây bệnh UTV.
 
Tuy nhiên, kết quả theo dõi trên bệnh nhân cho thấy những phụ nữ có tiền sử trong gia đình có mẹ, chị gái hoặc em gái đã bị UTV sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh này hơn phụ nữ bình thường từ 6-10 lần.
 
Phụ nữ béo phì cũng đứng trước nguy cơ bị bệnh UTV tấn công. Bác sĩ Thuấn cho biết thêm, cuộc sống hiện nay được cải thiện nhiều hơn về vật chất nên chế độ ăn của phụ nữ cũng giàu chất béo và không hợp lý hơn trước. Đây chính là một trong những yếu tố tạo điều kiện cho bệnh UTV phát triển.
 
Bên cạnh đó, với chức năng kích thích sự tăng trưởng và phân chia tế bào, nên estrogen càng nhiều thì rủi ro ung thư càng cao. Do đó, có kinh nguyệt trước tuổi 12, chưa bao giờ có con hoặc có con sau tuổi 30, mãn kinh sau tuổi 50, dùng kích thích tố thay thế, thuốc viên ngừa thai trong nhiều năm (đặc biệt từ 10 năm trở lên) đều tăng nguy cơ UTV.
 
Phát hiện sớm, dễ khỏi bệnh
 
Tại BV K, khoảng 70% bệnh nhân bị UTV đến viện khi ở giai đoạn giữa. Đây là thời điểm vẫn có thể cứu được bệnh nhân thoát khỏi nguy cơ tử vong nhưng liệu pháp điều trị cũng phức tạp hơn bệnh nhân đến sớm.
 
Đối với những bệnh nhân UTV phát hiện bệnh ở giai đoạn giữa và cuối, các bác sĩ bắt buộc phải kết hợp những biện pháp như phẫu thuật, tia xạ, hóa chất, dùng thuốc nội tiết, miễn dịch.
 
Bác sĩ Thuấn cho hay bệnh này hoàn toàn có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, đúng phương pháp. Một bệnh nhân ở giai đoạn đầu của bệnh UTV chỉ tốn khoảng 10 triệu đồng cho 5 năm điều trị. Tuy nhiên nếu đến viện muộn, bệnh nặng, chi phí sẽ tăng lên tối thiểu thành 30 triệu đồng/5 năm.
 





Dấu hiệu và triệu chứng của UTV
Sờ thấy một khối cứng ở ngực là dấu hiệu chung nhất (chú ý: có nhiều loại khối u vú và cũng phần nhiều không phải là ung thư); Núm vú đổi màu; Ngứa và nổi mụn vùng núm vú; Thay đổi màu da ở vùng ngực; Đau ngực không phải là một triệu chứng phổ biến.
PGS-TS Nguyễn Bá Đức, Giám đốc BV K, cho biết để phát hiện sớm bệnh UTV, phụ nữ 20-39 tuổi tự khám vú định kỳ mỗi tháng một lần và đến bác sĩ chuyên khoa để khám vú 1 năm/lần. Trên 40 tuổi nên thực hiện cả 2 phương pháp trên và chụp hình quang tuyến vú 1 năm/lần. Thời gian khám tốt nhất là 5 ngày sau mỗi kỳ kinh.
 
Bác sĩ Thuấn khẳng định nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh UTV có thể được chữa khỏi 100%, đồng thời đảm bảo khả năng nuôi con bằng sữa mẹ sau này.
 
Phòng bệnh hiệu quả
 
Các bác sĩ khẳng định bằng việc giảm thiểu các yếu tố nguy cơ, phụ nữ có thể giảm các yếu tố nguy cơ phát triển bệnh UTV. Nhưng thực tế cũng cho thấy, một vài yếu tố nguy cơ khó để thay đổi (ví dụ: kích thích do thời kỳ kinh nguyệt và sự mãn kinh, và mang thai).
 
Vì vậy để tránh mắc bệnh, các bác sỹ khuyên chị em cần thực hiện các biện pháp hiệu quả như cắt giảm ăn thịt đỏ và mỡ động vật, tăng cường ăn rau xanh và hoa quả cũng như các sản phẩm làm từ đậu nành, cắt giảm uống rượu và các sản phẩm có chứa chất cồn.
 
Đặc biệt chế độ luyện tập thể dục thể thao thường xuyên, hợp lý là biện pháp tốt nhất chống lại bệnh béo phì, yếu tố nguy cơ cao dẫn tới UTV.
 
Theo Thái Hà - Tiền Phong





[size=-2]Cập nhật: July 13 2007 06:45:49.[/size]
 
http://www.tinvietonline.com/7/0/2007/7/148788/culinary-school.html
 
Đăng nhập để trả lời
0
Ung thư vú ở phụ nữ trẻ rất nguy hiểm
20-12-2007 23:15:16 GMT +7
 






Giáo sư Nguyễn Chấn Hùng đang thực hiện phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú cho một bệnh nhân
Hiện nay ung thư vú đã vượt qua ung thư cổ tử cung để trở thành ung thư đứng đầu ở nữ giới. Căn bệnh này không chỉ là nỗi lo của phụ nữ lớn tuổi mà đã tấn công sang cả phụ nữ trẻ.
 




Một khảo sát được thực hiện vào năm 1998 của Bệnh viện (BV) Ung Bướu về 10 bệnh ung thư thường gặp tại TPHCM ghi nhận ung thư vú xếp thứ hai sau ung thư cổ tử cung ở phụ nữ. Đến nay, trật tự này đã thay đổi. Giáo sư Nguyễn Chấn Hùng, Giám đốc BV Ung Bướu, cho biết dự đoán tại VN nói chung và tại TPHCM nói riêng xuất độ ung thư vú ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội.
 
Không còn hiếm gặp
Ung thư vú là bệnh thường gặp và gây tử vong cao cho phụ nữ, tuy nhiên bệnh lại ít gặp ở phụ nữ trẻ. Tỉ lệ phụ nữ dưới 30 tuổi mắc bệnh chỉ chiếm 0,6% tổng số ung thư vú ở Mỹ và tại VN là 2,7%. Trước đây ung thư vú thường gặp ở phụ nữ trên 40 tuổi nhưng gần đây các bác sĩ chuyên khoa ung bướu cũng ghi nhận tình trạng ung thư vú ở phụ nữ dưới 35 tuổi. Qua theo dõi những trường hợp ung thư vú đến khám và điều trị tại BV Ung Bướu, các bác sĩ tại đây nhận thấy ung thư vú ở phụ nữ trẻ chiếm khoảng 12% trong tổng số bệnh nhân ung thư vú ở mọi lứa tuổi. Tỉ lệ ung thư vú ở phụ nữ trẻ dưới 35 tuổi khác nhau tùy theo từng quốc gia như Canada là 3,2%, Mỹ là 4,5%, Hàn Quốc là 12,5%.
 
 Khảo sát của giáo sư Nguyễn Chấn Hùng và cộng sự cho thấy phụ nữ trẻ mắc ung thư vú có tiên lượng xấu hơn với nhóm bệnh nhân lớn tuổi và nguy cơ tái phát cao gấp 1,8 lần nhóm bệnh nhân trên 35 tuổi, đặc biệt được thấy rõ ở giai đoạn sớm của ung thư vú. Ngoài ra, các bác sĩ cũng thấy rằng những bệnh nhân ung thư vú dưới 35 tuổi không được hóa trị hỗ trợ sẽ có nguy cơ tử vong cao hơn so với bệnh nhân trên 35 tuổi. Phần lớn bệnh nhân ung thư vú trẻ tuổi nhập viện ở giai đoạn 2 và 3 (chiếm 84,6%) và tỉ lệ sống còn nói chung của nhóm bệnh nhân trẻ đều thấp hơn so với nhóm bệnh nhân lớn tuổi.
 
Đối với những phụ nữ ung thư vú trẻ tuổi, các bác sĩ cũng áp dụng điều trị bằng phẫu thuật và xạ trị bổ túc sau mổ. Riêng việc điều trị bằng nội tiết tố, do chỉ định chỉ dựa trên tình trạng mãn kinh nên không có bệnh nhân nào trong nhóm tuổi dưới 35 được điều trị bằng nội tiết tamoxifen.
 
Càng nặng cân, càng dễ ung thư vú
Những yếu tố nguy cơ đối với ung thư vú bên cạnh tuổi tác, tiền căn gia đình, sinh sản... còn có những yếu tố liên quan đến nếp sống như thói quen ăn uống, vận động và đặc biệt là tình trạng béo phì. Theo khảo sát của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỉ lệ người thừa cân tại Hà Nội chiếm 15% dân số và tại TPHCM khoảng 17%. Ghi nhận của tiến sĩ - bác sĩ Vũ Văn Vũ, Trưởng Khoa Nội 1 BV Ung Bướu, phụ nữ thừa cân có nguy cơ tử vong do ung thư vú cao hơn phụ nữ có thể trọng bình thường. Cụ thể là phụ nữ nặng trên 58 kg có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn gấp 2 lần so với người nhẹ hơn 58 kg. Còn những người có chỉ số khối cơ thể (BMI) trên 25 kg/m2 có nguy cơ mắc ung thư vú gấp 2,76 lần so với nhóm phụ nữ có chỉ số khối cơ thể dưới mức này.
 
 Đặc biệt ở nhóm phụ nữ đã mãn kinh, tình trạng thừa cân làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú rõ rệt hơn vì có sự gia tăng nội tiết tố estrogen do chuyển hóa từ mô mỡ. Những yếu tố như chế độ ăn không hợp lý, dư thừa năng lượng, mất cân đối thành phần thức ăn, tình trạng ít vận động cơ thể, các thể tạng bất thường về nội tiết hay chuyển hóa... đều góp phần làm tăng chỉ số khối cơ thể là gia tăng nguy cơ ung thư vú ở nữ giới. Vì vậy, tăng cường vận động, có chế độ dinh dưỡng hợp lý, giảm trọng lượng cơ thể dưới 58 kg là cách tốt nhất để phòng ngừa ung thư vú, đặc biệt là đối với phụ nữ mãn kinh.
 
Bài và ảnh: Nhất Phương
 
http://www.nld.com.vn/tintuc/suc-khoe/210395.asp
Đăng nhập để trả lời
0
Thử nghiệm mới sử dụng nước bọt để phát hiện ung thư vú
Thursday, January 10, 2008
 
 

WASHINGTON (Reuters) - Các nhà khoa học tại Hoa Kỳ đang phát triển một loại thủ nghiệm để rà tìm ung thư vú, sẽ kiểm tra nước bọt của một phụ nữ để tìm bằng chứng bệnh, giúp phát hiện các bướu một cách sớm sủa, khi chúng còn dễ điều trị.
Trong cuộc nghiên cứu được công bố hôm Thứ Năm 10 Tháng Giêng, các khoa học gia nói họ đã xác định được 49 protein trong nước bọt mà cuộc thử nghiệm rà tìm sẽ theo dõi để phân biệt những phụ nữ khỏe mạnh đối với những người có các bướu lành ở vú và đối với những người có các bướu ác ở vú.
Ung thư vú đưa tới một sự thay đổi về loại và số lượng protein từ các tuyến nước bọt tiết ra, theo lời ông Charles Streckfus, một giáo sư về khoa chẩn đoán tại chi nhánh nha khoa ở Houston thuộc Ðại Học Texas.
Các protein được sản xuất bởi các tế bào ung bướu và ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của tế bào, sự chuyển hóa tế bào và sự tự hủy tế báo - tất cả đều bị xáo trộn ở bệnh ung thư, ông Streckfus nói.
Ông Streckfus và các đồng nghiệp đã thử nghiệm nước bọt của 30 phụ nữ - 10 người khỏe mạnh, 10 người có bướu độc ung thư vú và 10 người có bướu lành ở vú.
Các mẫu protein ở mỗi nhóm đều khác biệt, các nhà nghiên cứu báo cáo trong tạp chí Ðiều Tra Ung Thư.
Chụp hình vú bằng tia X (mammography) và tự khám vú để tìm khối u hiện là những phương pháp hàng đầu để phát hiện sớm bệnh ung thư vú.
Nhưng ông Streckfus nói chụp tia X quá tốn kém tại nhiều nước đang phát triển và một phương pháp rà tìm rẻ tiền, dễ thực hiện sẽ rất giá trị.
“Trên một khung cảnh toàn cầu, mammography không phải là thông dụng,” ông Streckfus nói trong một cuộc phỏng vấn bằng điện thoại.
Ông Streckfus nói ông hy vọng một cuộc thử nghiệm nước bọt sẽ là một phương pháp rà tìm nhanh chóng, ít tốn kém và giản dị. Tại những nước tân tiến như Hoa Kỳ, một cuộc thử nghiệm như vậy có thể bổ túc cho các phương pháp hiện hữu, ông nói thêm.
Ung thư vú là nguyên nhân hàng đầu trong những cái chết vì ung thư ở phụ nữ trên thế giới, theo Hội Ung Thư Mỹ. (n.n.)
 
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=72175&z=14
Đăng nhập để trả lời
0
Cảnh báo ung thư vú độ tuổi 20
15:10:00, 13/07/2007






Ảnh minh họa: Getty Images
Hiện nay, mỗi tháng Bệnh viện (BV) K Hà Nội tiếp nhận và điều trị cho 200 trường hợp bị ung thư vú (UTV) mắc mới. Đây là bệnh ung thư có lượng bệnh nhân nữ cao nhất tại Việt Nam với tỷ lệ mỗi năm xuất hiện thêm 8.000 trường hợp.
 


TS Trần Văn Thuấn - Trưởng khoa Nội 2 (BV K) cho biết nếu được phát hiện sớm, bệnh UTV hoàn toàn có thể điều trị khỏi.
 
Thông thường, bệnh UTV gặp ở phụ nữ ngoài 40 tuổi. Nhưng tại BV K đã điều trị cho nhiều bệnh nhân nữ mới 25-26 tuổi, chưa lập gia đình. Cho đến nay, y học vẫn chưa xác định được nguyên nhân cụ thể gây bệnh UTV.
 
Tuy nhiên, kết quả theo dõi trên bệnh nhân cho thấy những phụ nữ có tiền sử trong gia đình có mẹ, chị gái hoặc em gái đã bị UTV sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh này hơn phụ nữ bình thường từ 6-10 lần.
 
Phụ nữ béo phì cũng đứng trước nguy cơ bị bệnh UTV tấn công. Bác sĩ Thuấn cho biết thêm, cuộc sống hiện nay được cải thiện nhiều hơn về vật chất nên chế độ ăn của phụ nữ cũng giàu chất béo và không hợp lý hơn trước. Đây chính là một trong những yếu tố tạo điều kiện cho bệnh UTV phát triển.
 
Bên cạnh đó, với chức năng kích thích sự tăng trưởng và phân chia tế bào, nên estrogen càng nhiều thì rủi ro ung thư càng cao. Do đó, có kinh nguyệt trước tuổi 12, chưa bao giờ có con hoặc có con sau tuổi 30, mãn kinh sau tuổi 50, dùng kích thích tố thay thế, thuốc viên ngừa thai trong nhiều năm (đặc biệt từ 10 năm trở lên) đều tăng nguy cơ UTV.
 
Phát hiện sớm, dễ khỏi bệnh
Tại BV K, khoảng 70% bệnh nhân bị UTV đến viện khi ở giai đoạn giữa. Đây là thời điểm vẫn có thể cứu được bệnh nhân thoát khỏi nguy cơ tử vong nhưng liệu pháp điều trị cũng phức tạp hơn bệnh nhân đến sớm.
Đối với những bệnh nhân UTV phát hiện bệnh ở giai đoạn giữa và cuối, các bác sĩ bắt buộc phải kết hợp những biện pháp như phẫu thuật, tia xạ, hóa chất, dùng thuốc nội tiết, miễn dịch.
 
Bác sĩ Thuấn cho hay bệnh này hoàn toàn có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, đúng phương pháp. Một bệnh nhân ở giai đoạn đầu của bệnh UTV chỉ tốn khoảng 10 triệu đồng cho 5 năm điều trị. Tuy nhiên nếu đến viện muộn, bệnh nặng, chi phí sẽ tăng lên tối thiểu thành 30 triệu đồng/5 năm.
 





Dấu hiệu và triệu chứng của UTV
Sờ thấy một khối cứng ở ngực là dấu hiệu chung nhất (chú ý: có nhiều loại khối u vú và cũng phần nhiều không phải là ung thư); Núm vú đổi màu; Ngứa và nổi mụn vùng núm vú; Thay đổi màu da ở vùng ngực; Đau ngực không phải là một triệu chứng phổ biến.
PGS-TS Nguyễn Bá Đức, Giám đốc BV K, cho biết để phát hiện sớm bệnh UTV, phụ nữ 20-39 tuổi tự khám vú định kỳ mỗi tháng một lần và đến bác sĩ chuyên khoa để khám vú 1 năm/lần. Trên 40 tuổi nên thực hiện cả 2 phương pháp trên và chụp hình quang tuyến vú 1 năm/lần. Thời gian khám tốt nhất là 5 ngày sau mỗi kỳ kinh.
 
Bác sĩ Thuấn khẳng định nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh UTV có thể được chữa khỏi 100%, đồng thời đảm bảo khả năng nuôi con bằng sữa mẹ sau này.
 
Phòng bệnh hiệu quả
Các bác sĩ khẳng định bằng việc giảm thiểu các yếu tố nguy cơ, phụ nữ có thể giảm các yếu tố nguy cơ phát triển bệnh UTV. Nhưng thực tế cũng cho thấy, một vài yếu tố nguy cơ khó để thay đổi (ví dụ: kích thích do thời kỳ kinh nguyệt và sự mãn kinh, và mang thai).
 
Vì vậy để tránh mắc bệnh, các bác sỹ khuyên chị em cần thực hiện các biện pháp hiệu quả như cắt giảm ăn thịt đỏ và mỡ động vật, tăng cường ăn rau xanh và hoa quả cũng như các sản phẩm làm từ đậu nành, cắt giảm uống rượu và các sản phẩm có chứa chất cồn.
 
Đặc biệt chế độ luyện tập thể dục thể thao thường xuyên, hợp lý là biện pháp tốt nhất chống lại bệnh béo phì, yếu tố nguy cơ cao dẫn tới UTV.
Theo Thái Hà - Tiền Phong
 
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»