📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Phong Tục Tập Quán

Trang phục Việt Nam xưa và nay

7 trả lời, 13.689 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-29 09:30:35Chuộtlắc>
Môi trường và ảnh hưởng

Đất nước Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam Á, thuộc miền nhiệt đới ẩm nhưng thế đất kéo dài từ Bắc xuống Nam nên khí hậu miền Bắc và miền Nam có sự khác nhau. Ở miền Bắc có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông được phân biệt khác rõ nhưng ở miền Nam, do ảnh hưởng của gió mùa nên chỉ có hai mùa: mùa mưa và mùa khô.
Đất nước Việt Nam có núi cao rừng rậm, có sông dài biển rộng, có đồng bằng bát ngát phì nhiêu, trung du trù phú. Những điều kiện hoàn cảnh địa lý, khí hậu đó thúc đẩy sự phát triển tính đa dạng về trang phục của nhân dân từng vùng để con người thích nghi và tồn tại.
Dân tộc Việt Nam bao gồm nhiều dân tộc, trong đó người Việt có số dân đông nhất và là một trong những tộc người có gốc tích lâu đời trên dải đất này. Mỗi dân tộc đã có bản sắc văn hóa độc đáo. Do đó trang phục nói chung và của từng tộc người nói riêng thật phong phú đa dạng và đầy tính năng qua từng thời kỳ của lịch sử Việt Nam từ trước đến ngày nay.
***
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-29 09:20:47Chuộtlắc>
Trang phục thời Hùng Vương

Cách đây khoảng 4.000 năm vào thời đại đồng thau phát triển, nước Việt Nam thời đó gọi là nước Văn Lang. Người dân ở đây đã sinh sống bằng săn bắn, hái lượm và trồng trọt... Họ không dùng vỏ cây làm áo nữa mà đã biết trồng gai, đay, nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải. Vào thời kỳ này đồ đồng rất phong phú. Trống đồng và nhiều tượng phù điêu bằng đồng có khắc họa những cảnh sinh hoạt thời đó với những hình người, với các loại trang phục khá rõ nét và được thể hiện bằng phong cách nghệ thuật biến hình, cách điệu cao...
Qua đó ít nhiều đã cho thấy trang phục của người thời đó khá phong phú như phụ nữ mặc áo ngắn đến bụng, xẻ ngực, bó sát vào người, phía trong mặc yếm kín ngực, chiếc yếm cổ tròn sát cổ, có trang trí những hình tấm hạt gạo. Cũng có những loại áo cánh ngắn, cổ vuông, để hở một phần vai và ngực hoặc kín ngực, hở một phần vai và trên lưng. Hai loại sau có thể là loại mặc chui đầu hay cài khuy bên trái. Trên áo đều có hoa văn trang trí. Thắt lưng có ba hàng chấm trang trí cách đều nhau quấn ngang bụng...
Qua những hiện vật khảo cổ đã tìm được cho thấy trang phục của đàn bà và đàn ông như sau:
- Đàn bà mặc váy (váy kín "váy chui" và váy mở "váy ngắn").
- Đàn ông thường đóng khố và cởi trần.


Do điều kiện khí hậu và sinh sống, người dân thường lên rừng săn bắn, hái lượm hay xuống biển bơi lặn đánh cá, hoặc làm ruộng nước vất vả nên đầu tóc phải gọn gàng. Vì vậy đàn ông và đàn bà phải cắt tóc ngắn đến ngang vai hoặc một số ít cắt ngắn đến chân tóc.
Về trang phục của chiến binh thì gồm mảnh giáp hình chữ nhật dùng để che ngực có 4 quai đeo. Đai lưng bằng đồng có khóa to bản, được hình thành bởi nhiều các móc được liên kết với nhau. Trên bề mặt mỗi miếng đều có họa tiết hình rùa hay chim.... Các loại bao ống tay, bao ống chân bằng đồng có thể được dùng trong các điệu múa ngày lễ, ngày hội.
Về hình thức trang sức và trang điểm của người Việt cổ thì nam nữ đều xâu lỗ tai và đeo đồ trang sức. Các loại vòng tai phổ biến của hai giới là hình tròn, hình vành khăn, hình khối đặc biệt là loại vòng hoa tai gắn quả nhạc hay đôi hoa tai bằng đá, hình con thú. Những chuỗi hạt thường thấy gồm các loại hạt hình trụ, trái xoan, hình cầu. Còn vòng tay với nhiều hình khác nhau như: tròn, vuông, chữ nhật, lòng máng, sóng trâu... có trang trí hoa văn hình lông chim hay bông lúa, ngoài ra còn nhiều nhẫn bằng đồng đeo ở ngón tay cũng gắn quả nhạc dài xinh xắn. Tuy đồ trang sức còn thô sơ, nhưng với điều kiện chế tác hạn chế ta thấy con người thời đó đã có trình độ thẩm mỹ và óc tưởng tượng cao, đã quan tâm đến vấn đề làm đẹp cho thân thể, đồng thời thể hiện bàn tay khéo léo, cần cù lao động.
Đàn ông thường vẽ lên mình những hình ngoằn ngoèo, hình móc câu, đó là tục xâm mình phổ biến. Đàn ông và đàn bà đều nhuộm răng đen và có tục ăn trầu...
Nghiên cứu các kiểu trang phục, trang sức, trang điểm thời Hùng Vương, ta tìm hiểu được khía cạnh về đời sống, mối quan hệ xã hội thời đó. Mặt khác, ta còn chắt lọc ra những yếu tố thẩm mỹ làm tôn vẻ đẹp con người gắn bó với thiên nhiên, hài hòa với đất nước non trẻ, với xã hội vào thời kỳ đầu dựng xây.
📎 tpxua4
***
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-29 10:19:33Chuộtlắc>
Trang phục thời Phong Kiến

I. Vài nét về trang phục thời Ngô - Đinh - Tiền Lê

Vào nửa sau thế kỷ III trước công nguyên, Thục Phán, một thủ lĩnh người Âu Việt từ miền trên đã tràn xuống đánh chiếm nước Văn Lang, thống nhất hai lãnh thổ, dựng nên nước Âu Lạc, dời đô từ miền núi xuống đồng bằng. Thời kỳ này đồ sắt phát triển. Trong thời kỳ đất nước Âu Lạc bị Triệu Đà xâm lược, cai trị, cộng với ba lần bị phong kiến phương Bắc thống trị hơn một ngàn năm (207 trước công nguyên - 939), nhân dân ta một mặt đấu tranh với kẻ thống trị, nhưng một mặt vẫn tích cực phát triển sản xuất. Nghề dệt đã có những phát triển quan trọng. Nghề trồng dâu nuôi tằm đã phổ biến và còn sản xuất được các loại vải bông thô, vải đay, vải gai, vải cát bá loại mịn, lụa... Đã biết dùng tơ tre, tơ chuối dệt thành vải. Vải dệt từ tơ chuối có tên gọi là vải Giao Chỉ. Khăn bông được thêu thùa rất đẹp gọi là bạch diệp. Ngoài ra, còn làm nhiều đồ trang sức bằng vàng bạc (vòng tay, nhẫn, hoa tai, trâm), bằng ngọc (vòng, nhẫn), bằng hổ phách, bằng thủy tinh (chuỗi hạt). Đã từng phải cống cho triều đình phương Bắc loại mũ "đầu mâu" hoàn toàn bằng bạc (khảo cổ học đã phát hiện được nhiều kiểu khóa thắt lưng, chứng tỏ tục mang tai rất phổ biến).
Đến triều đại nhà Đinh (968 - 980), về trang phục, sử sách đời sau chỉ nhắc đến một số rất ít hiện tượng như: (Năm 974), quân lính "đều đội mũ chỏm, bằng, bốn bên hình vuông. (Mũ làm bằng da, bốn cạnh khít lại, trên hẹp dưới rộng), gọi là mũ "tứ phương bình đỉnh". Hoặc "Năm Thái Bình thứ sáu (975) Đinh Tiên Hoàng định phẩm phục của các quan văn võ". Hoặc (năm 980) ở một bức thư của nhà Tống gửi cho triều đình ta có nói tới việc nhân dân ta thời đó đều cắt tóc ngắn. Hoặc có nhắc đến mũ của các đạo sĩ là màu vàng, áo của các nhà sư là màu thâm, các quan được dùng ấn vàng thì thắt lưng dải tím, được dùng ấn bạc thì thắt dải xanh...
Sang thời (tiền) Lê (981 - 1009), ta thấy: Vua Lê Đại Hành lên ngôi mặc áo long cổn, về sau áo mặc thường dùng vóc đỏ, mũ trang sức trân châu.
Lê Ngọa Triều, (1006) đổi lại phẩm phục cho các quan văn võ và tăng đạo, theo đúng như nhà Tống.
Như vậy là suốt thời gian dài này, tư liệu và hiện vật về trang phục để lại rất hiếm. Kể cả về sau, những tài liệu thành văn cũng chỉ chủ yếu nói về trang phục trong triều đình (nhắc đến tên mũ, tên áo, màu sắc... chứ không miêu tả tỉ mỉ, cặn kẽ). Một số hiện vật bằng gỗ, đá để lại nói chung hình nét không được rõ lắm.
Dù sao trong vài chục năm trị vì, các vua Đinh, Lê cũng đã giành sự quan tâm đến lĩnh vực trang phục, đặc biệt là mũ áo triều đình. Nhìn chung, ít nhiều thấy có sự kế thừa hoặc sáng tạo về hình loại, kiểu cách, màu sắc, nhưng đáng trách hơn cả là sự sao chép một cách nô lệ, lười biếng của vua Lê Ngọa Triều tạo một tiền đề lai căng cho những kiểu mẫu trang phục về sau.
Tuy nhiên, trong những thời kỳ chế độ phong kiến ổn định, thì càng về sau, trang phục cũng đã dần dần được qui định cho từng thành phần trong xã hội (vua, quan, dân...) cho mọi nghi thức trong cuộc sống (cưới, tang, lễ, hội...). Căn cứ trên hình thức, màu sắc, họa tiết... trong trang phục, ở từng giai đoạn, sự phân biệt mang tính chất giai cấp đã được hình thành rõ rệt.

II. Nhà Lý (1009 - 1225):

a. Trang phục triều đình
Triều đại nhà Lý (1009 - 1225), kinh đô từ Hoa Lư dời về thành Đại La và gọi là Thăng Long. Năm 1054, đặt tên nước là Đại Việt.
Năm 1029, vua Lý Thái Tông định quy chế mũ áo của các công hầu và các quan văn võ. Nhưng chắc việc quy định này còn chưa chặt chẽ kể cả về hình thức trang phục và cách thức sử dụng. (Theo tư liệu để lại, các quan triều Lý một thời gian vẫn đeo cái túi có hình cá bằng lụa đỏ và bằng vàng, ít nhiều còn ảnh hưởng lối trang sức của nhà Tống).
Năm 1040, nhà vua chủ trương dùng gấm vóc trong nước để may lễ phục mà không dùng gấm vóc của nhà Tống nữa. Số gấm vóc của nhà Tống còn lại trong kho thì phát hết ra may áo cho các quan, từ ngũ phẩm trở lên: áo bào bằng gấm, từ cửu phẩm trở lên, áo bào bằng vóc. Điều này biểu thị chí tự cường, tự lập của dân tộc đã khá cao.
Năm 1059, vua Lý Thánh Tông định triều phục cho các quan. Vào chầu vua, các quan phải đi tất, đi hia và đội mũ phác đầu. (Mũ này có 4 góc, 4 tai, sau làm 2 tai ngang, tức mũ cánh chuồn, có thể là kiểu mũ từ thời Đinh, sau thêm tai), mặc áo bào tía, cầm hốt ngà, thắt đai da. Lệ đội mũ phác đầu, đi hia bắt đầu có từ thời này.
Qua võ phục thời Lý, ta bắt gặp những dạng hoa văn, những hình xoắn, hình móc... thường thấy trong lĩnh vực trang trí, hội họa thời đó. Những biểu tượng cho thiên nhiên, cuộc sống được khắc lại trên trang phục của những nhân vật tượng trưng cho sức mạnh là một đặc điểm hài hòa rất có ý nghĩa.
Các vũ nữ, tóc thường búi cao lên đỉnh đầu, trên trán có một điểm trang trí, mái tóc điểm những bông hoa, tay đeo vòng, cổ đeo những chuỗi hạt, mặc váy ngắn có nhiều nếp.
Trang phục của nhạc công cũng khá độc đáo. Mũ chùm kín tóc, phía trên mũ được làm cao lên và trang trí các diềm uốn lượn. Áo cánh trong: tay dài và chít ở cổ tay. Bên ngoài là một chiếc áo, cộc tay. Quanh cổ áo có chiếc vân kiên (như chiếc yếm dài) chùm cả một phần ngực, lưng và vai. Quanh bụng đeo những miếng diềm vải rộng có trang trí nhiều đường thêu đẹp. Bụng chân quấn xà cạp và chân đi giày vải mũi nhọn.
Thời gian này vẫn còn tục xăm mình. Từ vua đến quân sĩ ai cũng xăm mình. Quân cấm vệ xăm vào ngực và chân những dấu hiệu riêng và được phép xăm hình rồng lên người.

b. Trang phục nhân dân
Thời Lý có lệnh cấm người dân mặc áo màu vàng (1182), con gái dân gian không được bắt chước kiểu búi tóc như cung nhân.
Những pho tượng tròn hoặc tượng đắp nổi bằng đá của thời Lý còn lại cũng chứng minh quần áo thời đó đã được may theo quy cách, bằng nhiều loại vải tốt và mịn.
Ở thời Lý, đàn bà thường đeo khuyên bạc, vũ nữ thường búi tóc cao và buộc diềm hoa trên đầu gợi lại hình ảnh trang điểm ở tượng người phụ nữ trên cán dao găm, trên chuôi kiếm ngắn từ thời Hùng Vương, hoặc các võ tướng còn đính nhiều quả nhạc trên áo giáp... biểu hiện ý thức "nhớ nguồn", chứng minh tinh thần tiếp nối và phát huy truyền thống.
Cùng với những hoa văn, họa tiết trang trí trên trang phục, những hoa văn, họa tiết thời Lý ở các hiện vật khác không chỉ là yếu tố trang trí nghệ thuật mà còn có nhiều ý nghĩa tượng trưng, như những hình dạng xoắn ốc đôi, chính là ký hiệu mây mưa mà ông cha ta vẫn cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, như hình tượng con rồng thời Lý là "rồng rắn" một đồ án trang trí đẹp và độc đáo, tượng trưng cho nguồn gốc lịch sử dân tộc, vòng uốn lượn mềm mại của thân rồng tượng trưng cho nguồn nước và mây mưa, là niềm mơ ước của cư dân lúa nước.
Nghiên cứu trang phục và hoa văn, họa tiết thời Lý như trên, ta thấy một ý nghĩa đặc biệt là nó đã phản ánh được mối tương quan thống nhất trong đời sống kinh tế, quân sự, văn hóa... của xã hội thời đó khá rõ nét.

III. Nhà Trần (1225 - 1400):

Triều Lý suy vong, triều Trần nối tiếp (1225 - 1400). Đất nước Đại Việt thời Trần, với ý chí sắt đá tự lập tự cường của triều đình và của toàn dân, xây dựng trên nền tảng truyền thống dân tộc, trên những chiến công ba lần chống xâm lược Nguyên - Mông, đã phát triển mạnh mẽ nhiều mặt. Về nghề dệt, thời gian này nhân dân ta đã có nhiều loại vải bông, vải gai, lụa, lĩnh, sa, the, nái, sồi, đoạn, gấm, vóc... Nghề thêu cũng phát triển.

a. Trang phục triều đình:
Năm Hưng Long thứ 8 (1300), quan võ dùng kiểu mũ áo mới. Quan văn đội mũ chữ đinh màu đen. Tụng quan đội mũ toàn hoa (mũ hoa thủng có hai vòng vàng đính ở hai bên) màu xanh như kiểu cũ. Cửa tay áo các quan văn, võ rộng từ 9 tấc đến 1 thước 2 tấc, kiểu hẹp từ 8 tấc trở xuống thì không được dùng. Các quan văn võ không được mặc xiêm. Tụng quan không được mặc thường.
Sau đó (1301) lại cho phép các quan đội mũ chữ đinh, thêm miếng lụa bọc tóc màu tía pha màu biếc (bịt lên đầu dùng để buộc chân tóc lại, bỏ thừa về đằng sau).
Vương hầu nào tóc dài thì đội mũ triều thiên, người nào tóc ngắn thì đội bao cân (1303). Có lẽ đây là loại khăn chùm đầu màu xanh thẫm mà Trần Phu đã nhắc đến trong bài An Nam tức sự (1294).
Đến năm 1395, Lịch Triều tạp kỷ lại quy định mũ áo của các quan văn, võ. Nhất phẩm thì màu tía, nhị phẩm: màu đại hồng, tam phẩm: màu đào hồng, tứ phẩm, ngũ phẩm: màu lục, thất phẩm: màu biếc, bát, cửu phẩm: màu xanh. Người không có phẩm hàm và nô bộc: màu trắng. Người hầu trong cung thì mặc váy mở, không dùng xiêm.
Các quan theo hầu, chức văn từ lục phẩm trở lên được đội mũ cao sơn (chánh lục phẩm: mũ màu đen, tòng lục phẩm: màu xanh). Chánh lục phẩm được mang đai, đi hia. Người tôn thất đội mũ phương thắng màu đen. Chức võ, lục phẩm đội mũ chiết xung, tước cao màu không có chức được mang đai và đội mũ giác đính, thất phẩm đội mũ thái cổ, tòng thất phẩm đội mũ toàn hoa. Vương hầu đội mũ viên du. Ngự sử đài đội mũ khước phi. Nhà vua búi tóc, dùng theo bọc và buộc lại, trông như khăn nhà đạo sĩ, chỉ rộng hơn một ít, còn tóc ở hai bên thì vẫn để lộ ra và xõa xuống. Các quan được mặc áo bào và cầm hốt. Có những trường hợp đi chân đất.

b. Trang phục nhân dân:
Triều đình thời Trần mấy lần quy định chế độ mũ áo cho các quan văn, quan võ, còn đối với nhân dân không thấy nêu những điều lệ cụ thể. Duy chỉ được biết là trong nhân dân, trừ phụ nữ không bị cấm, còn không ai được mặc màu trắng. Ai mặc màu trắng là phạm pháp. Có thể đây là để giành riêng màu trắng cho những người tôi tớ trong cung, tránh sự lẫn lộn trong xã hội? Các màu xanh, đỏ, vàng, tía, cũng không dùng.
Đàn bà thường mặc áo tứ thân màu đen, trong lót vải trắng để may viền vào cổ áo, rộng khoảng 13cm, cắt tóc để lại chừng 10cm rồi buộc túm lên đỉnh đầu, xong uốn cong đuôi tóc và buộc lại lần nữa hình giống như cây bút, không để tóc mai, không búi tóc phía sau đầu, không đeo vòng khuyên. Những người giàu thì cài trâm đồi mồi, còn thì cài trâm bằng xương hoặc sừng, không dùng phấn sáp hay xoa dầu.
Đàn ông thường cởi trần hoặc mặc áo tứ thân màu đen, cổ áo tròn bằng the, quần mỏng bằng lụa thâm. Đại đa số cạo trọc đầu (kể cả trẻ em). Có người chùm đầu bằng khăn lụa. Ngày thường ở nhà, chỉ để đầu trần, khi tiếp khách mới đội chăn, khi ra đường mang khăn theo, đều đi đất, cũng có người đi giầy da, nhưng khi vào cung vua thì cởi ra.
Trong nhân dân vẫn phổ biến tục nhuộm răng đen và ăn trầu.
Tục xăm mình thời Trần rất phổ biến, đạt đến trình độ nghệ thuật, và đã có thợ chuyên vẽ hình.
Trong khi quân đội thời Trần đều thích lên cánh tay hai chữ "Sát Thát", thì nhân dân Đại Việt, nhiều người, dù là người đã có con cháu, cũng xăm lên bụng những chữ "Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc" thể hiện tinh thần vì việc nghĩa liều thân, báo đền ơn nước. Xăm mình, thích chữ vừa là truyền thống, vừa là thi hành lời thề thiêng liêng, vừa thể hiện một tinh thần thượng võ. Đồng thời, đó cũng là một hình thức trang điểm trên thân thể phản ánh quan niệm về cái đẹp của người đương thời.
Nhìn nhận chung, trang phục thời Trần có những sắc thái đặc biệt, nó không tách rời ảnh hưởng của một nguyên lý thẩm mỹ xuất phát từ tinh thần thượng võ Đông Aá, bắt nguồn từ truyền thống dựng nước, giữ nước oanh liệt của dân tộc. Trong vòng 30 năm ba lần so gươm, đọ dáo với một kẻ thù khét tiếng hung hãn đang "làm cỏ" nhiều nước trên thế giới, quân dân Đại Việt, với lòng yêu nước nồng nàn, với sức mạnh đoàn kết chặt chẽ, với trí thông minh sáng tạo, đã phải thường xuyên cảnh giác, thường xuyên rèn luyện, liên tục chiến đấu ngoan cường và đã giành được thắng lợi huy hoàng. Thực tế khách quan ấy không cho phép một sự cầu kỳ, phức tạp, tản mạn... trên mọi hình thái đời sống xã hội thời ấy, trong đó có phần trang phục, trang sức. (Ví dụ như phụ nữ không trang điểm diêm dúa cho tới về sau khá lâu, vua quan đều ăn mặc giản dị...).
Tuyệt đại đa số nhân dân đều đi chân đất và mặc áo tứ thân quen thuộc. Màu vải đen là màu phổ biến. Nam giới, hầu hết già trẻ đều cạo trọc đầu, vì theo đạo Phật, còn là nói lên tinh thần của một đất nước "toàn dân vi binh".
Đặc biệt là tục thích chữ, xăm mình, biểu hiện sự hòa hợp với thiên nhiên, biểu hiện ý thức tiếp nối truyền thống, không quên gốc Tổ, biểu hiện tinh thần quyết tâm chiến đấu cho nền độc lập của dân tộc. Những hình xăm trên mình, những chữ thích trên cánh tay, trên bụng nhắc nhở bản thân từng người, nhắc nhở lẫn nhau, đồng thời cũng là một thái độ rõ ràng với quân địch (nhất là khi bị bắt): tự nhận mình là kẻ tử thù với chúng.
Chỉ sau khi ba lần đánh thắng quân Nguyên, triều đình mới ban hành các quy định về mũ áo cho các quan, và về thực chất, các kiểu trang phục ấy, kể cả những hình thức quần áo trong nhân dân về sau này tuy không được giản đơn như thời kháng chiến - cũng là lẽ tất yếu - nhưng vẫn giữ được phong cách khoáng đạt, khỏe khoắn chung mang hơi thở của thời đại. Hiện tượng những người phục vụ nhà vua, quân lính trong khi làm nhiệm vụ, kể cả khi ở triều đình, vẫn được cởi trần, như các tầng lớp nhân dân khác, là điều chứng minh. Tinh thần độc lập, tự chủ còn được thể hiện ở việc triều đình quy định về màu sắc trang phục: nhà Trần không theo quan điểm của Khổng giáo coi trọng chính sắc, mà vẫn dùng các màu gián sắc như màu tía, màu hồng, màu biếc, màu lục v.v... để may mặc cho các quan các cấp.
Bên cạnh hình các nhạc công, vũ nữ với những bộ trang phục đẹp đẽ, có những dải lụa mỏng phấp phới uốn lượn như lướt theo động tác múa, bay lên như hòa quyện cùng âm thanh, điệu múa, rộn ràng, sống động..., bên cạnh những họa tiết long, ly, quy, phượng, sen, cúc, trúc, mai... là hình tượng "thanh cao" chốn cung đình, còn có những hình rồng mập, khỏe và còn biết bao hình ảnh con nai, con cá, rong, rêu, cây cỏ, mây nước... rất gần gũi với nhân dân. Những họa tiết trên gốm, hình hoa dây mềm mại tinh tế, họa tiết sóng xô, nước cuốn chạm khắc trên đá, gỗ... tất cả đã toát lên đặc điểm phẩm chất con người và đất nước Đại Việt thời Trần.

Ảnh: Trang phục Cung đình Huế xưa

📎 anh13
***
Đăng nhập để trả lời
0
Trang phục từ 1945 đến nay

Lịch sử đất nước có những thay đổi lớn lao: Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công rồi sau đó là cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ.
Vào thời kỳ này, trong nhân dân, người già như trẻ lại. Họ mặc những bộ quần áo mới đi học, đi mít tinh. Lớp trẻ cảm thấy lớn lên, ghé vai đảm đương công tác cách mạng. Nhiều người cất áo the, khăn đóng, mặc áo cánh hoặc sơ-mi, gọn gàng hơn. Phụ nữ nhà giàu bớt diêm dúa, đi theo chị em lao động làm việc công ích. Công nhân áo trắng, quần yếm xanh, nông dân quần áo nâu mới. Đặc biệt, lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng (nhất là các em ở thành thị), các em mặc đồng phục, tập trung hội họp, ca hát... bước đầu làm xóa ranh giới giữa con "ông chủ", con "chị sen", con "ông đốc", con "anh thợ" của những ngày hôm trước.

I. Trang phục đàn ông:
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, trang phục đàn ông ở thành thị được Âu hóa khá nhanh. ở nông thôn còn phải trải qua một quá trình lâu hơn mới có sự thay đổi căn bản. Thông qua cuộc kháng chiến chống Pháp, mối quan hệ thành thị, nông thôn được chan hòa đã thúc đẩy tích cực sự biến chuyển ấy. Nhiều thanh niên nông thôn bắt đầu mặc áo sơ mi, quần Âu, trong khi đó nhiều cán bộ xuất thân ở thành thị cũ đã thường xuyên mặc quần áo nâu để dễ thâm nhập vào quần chúng nông thôn.
Ở miền Bắc, từ năm 1954, phát triển chiếc áo vải ka-ki đại cán, bốn túi, mặc ngoài (kiểu áo Tôn Trung Sơn - Trung Quốc - đã được Việt hóa).
Mùa hè, chiếc áo sơ mi cộc tay được ưa chuộng, may thẳng, không bó, cổ hai ve. Khi mặc thường bỏ ra ngoài quần cho đỡ nóng. Có thời kỳ ống tay và thân áo rộng, sau đó ống tay và thân áo được may hẹp lại, mặc gọn và khỏe. Aáo sơ mi dài tay, mùa hè được vén ống tay lên trên hay dưới khuỷu tay. Các cụ ông vẫn ưa dùng bộ quần áo cánh ta màu nâu, màu xanh, hay trắng, vì mặc nó nhẹ nhàng, thoáng mát, thoải mái. Hoặc mặc kiểu áo sơ-mi ba túi, cổ hai ve (như kiểu áo ngủ).
Mùa rét, chiếc áo ka-ki có hai túi chéo, màu tím thanh là vỏ áo chùm ra ngoài một nền bông máy ô vuông rất phổ biến, phù hợp với cuộc sống lao động và giai đoạn thời chiến. Khi áo bẩn, chỉ việc tháo vỏ ngoài ra giặt. Đôi dép làm bằng lốp ô tô (dép cao su đen) được dùng nhiều vì tiện lợi và rẻ tiền.
Những năm 1954 - 1975, ở miền Trung, trong vùng tự do, trang phục của những người lao động không có gì thay đổi lắm.
Trong vùng tạm chiếm, cách ăn mặc cũng không bị pha tạp nhiều. Đàn ông, những người nhiều tuổi mặc áo dài the, áo sa tanh đen hay màu lam, áo gấm hoa hay chữ thọ v.v... Quần trắng ống sớ. Đội khăn xếp, đi giày da láng hay giày da đen. Một số mặc Âu phục. Trung niên, thanh niên mặc sơ mi, áo vét tông, thắt cravát, quần Âu (thường là màu sáng), đi giày da, hoặc săng đan, cắt tóc ngắn, rẽ ngôi cạnh, chải mượt. Mũ cát, mũ lưỡi trai v.v... vẫn thường thấy. Qua thực tế, ta thấy những người đàn ông ở miền Trung, đặc biệt là ở thành phố Huế, đã chú trọng mặt trang phục của giới mình nhiều hơn là các tầng lớp đàn ông ở miền Bắc hay miền Nam.
Cũng thời gian này, ở nông thôn miền Nam, ngoài quần áo bà ba, nhiều người cũng đã mặc sơ mi. Còn trong các thành phố bị tạm chiếm, đặc biệt là Sài Gòn, đã được Âu hóa đậm nét. Trang phục của nhân dân bị pha tạp nhiều; hầu hết đàn ông đều mặc sơ mi, vét tông, quần Âu bằng nhiều loại vải, nhiều màu sắc và kiểu may. Đi giày tây, săng đan, xăm-pô dép nhựa các kiểu. Đội mũ nhựa trắng, mũ phớt, mũ lưỡi trai... bằng da hay vải. Mốt thời trang châu Âu tràn ngập vào miền Nam được thanh niên hưởng ứng nhanh chóng áo sơ mi chiết ly, các loại áo thun, áo phông trước ngực và sau lưng in hình người, phong cảnh hay những giòng chữ của các nước tư bản.
Theo phong trào "híp-py" một số nam thanh niên mặc áo bằng vải xô, may gần giống kiểu áo cánh rộng, cổ tròn trễ xuống ngực, xẻ tà, gấu dài quá mông, thêu ở ngực, ở cửa tay và gấu áo... Tai và cổ đeo vòng đồng to. Mặc quần bò "zin" sờn, bạc màu, có khi vá miếng da ở đầu gối. Đi guốc gỗ to, mui bịt, gót hở, đế cao từ 5cm đến 9cm xung quanh đóng đinh mũ bằng kim loại hoặc sơn hóa chất màu xanh, đỏ, hình vuông, tròn hoặc bầu dục. Tóc chấm vai, để râu các kiểu.
Từ năm 1975 đến nay, đa số đàn ông mọi lứa tuổi trong cả nước đều mặc quần Âu (thường gọi là quần Tây): Kiểu quần Âu này xuất xứ từ châu Âu, vào nước ta từ khi Pháp sang đô hộ.
Quần Âu ở Việt Nam cũng qua những chặng đường thay đổi theo trào lưu của thế giới: Từ ống hẹp 18cm đến 20cm, mông và đũng rộng, ở cạp quần có nhiều đường chiết. Đến năm 1938 - 1939, ống quần rộng ra một chút, mông hẹp hơn. Năm 1950 - 1970 ống quần thanh (ống đứng) từ 20cm - 22cm, mông và đũng may sát gọn. Có thời kỳ một số thanh niên mặc quần ống bó khoảng 15cm (ống tuýp). Năm 1970 - 1980 một số thanh niên mặc mốt quần ống loe từ 30cm đến 70cm. Đến năm 1982, mốt quần Âu lại trở về dạng ống "tuýp", một số quần bó ống, bó mông và đùi bằng loại vải bò hay ka ki trắng hoặc nhung kẻ, quần có túi nổi sau mông, kéo phéc mơ tuya hay đính nhiều khuy bằng đồng...
Những chi tiết của quần Âu như ly lật vào trong hoặc ra ngoài, đỉa to, nhỏ ở cạp, túi thẳng, túi chéo v.v.. đều mang cả hai yếu tố: thực dụng và thẩm mỹ (quần túi chéo tạo thế cho tay vào túi dễ dàng, đường chéo của túi phá đi đường thẳng, ngang làm cho chiếc quần phong phú về đường nét...).
Thắt lưng hoặc bằng ny lông, bằng vải, bằng da có diện tích chiều ngang từ 2cm đến 8cm. Khóa bằng kim loại nhỏ, to, tùy theo loại thắt lưng với nhiều hình tròn vuông, bầu dục, chữ nhật, có những họa tiết hoặc hình chữ nhiều màu: xanh, đỏ, trắng...
Do quan niệm là quần soóc có tính chất thể dục thể thao, nên tuy thời tiết nước ta nóng nực nhưng nam giới ít mặc soóc cho mát. Tư tưởng bảo thủ vẫn còn phổ biến: cho rằng mặc soóc ra đường không được đứng đắn.
Về áo, nam giới thường mặc áo sơ mi may bó, ve cổ áo và măng sét to bản. Có người (tuổi trẻ) mặc áo chiết ly, gấu áo lượn, vạt ôm lấy mông (áo đuôi tôm). Có loại áo không may cầu vai hoặc có cầu vai nhưng chỉ có hai nếp ly hoặc không có ly (trước đây suốt ngang lưng đều làm ly). Có người mặc áo phông, áo dệt kim ba lỗ v.v... phong phú về màu sắc, đa dạng về kiểu may. Có người mặc áo hoa, loại vải mỏng...
Mùa đông cũng như những ngày lễ, ngày hội, đàn ông thành thị mặc com-lê các màu, gần đây ưa màu sáng như màu sữa, màu be, màu ghi nhạt... Aáo vét tông có thời gian ve to, rồi lại nhỏ, nay lại to. Có loại ve nối, hoặc ve liền với kiểu ve nhọn, hoặc ve xếch, ve đăn-tông. Hai vạt áo phía trước, góc thẳng hoặc tròn. Có loại vét tông xẻ hai đường nhỏ ở gấu áo hai bên mông. Cravát có thời gian rất nhỏ làm bằng vải ni lông. Nay lại rất to làm bằng các loại vải hoa. Gần đây nhiều người đã không thích thắt cravát nữa.
Ngoài ra, có nhiều kiểu áo rét như măng-tô bằng dạ, áo mút, áo bay, áo blu-dông bằng da, áo len dệt, đan các kiểu v.v...
Ở nông thôn, mùa rét một số người vẫn mặc áo bông hoặc áo va-rơi bằng dạ...
Mọi người thường đi dép cao su đen có hai quai chéo phía mũi dép và hai quai ngang đằng sau, hay dép cao su cải tiến đế cao từ 3 - 7cm, có hai quai chéo như xăng đan, xăng đan bằng da, đế da hay đế kếp, dép nhựa hoặc săm pô các loại, giày tây, giày ba-ta, bát-kết cũng thường được sử dụng. Ngày lễ, ngày tết đi giày tây các kiểu, đế cao hoặc thấp, gót vuông, mũi vuông hay nhọn.
Nhìn chung trang phục của đàn ông trong cả nước, nhất là ở thành thị, đã được may theo các kiểu trang phục châu Âu, xem ra cũng có phần gọn gàng, thuận tiện. Tuy vậy, với những đặc điểm khí hậu, thói quen thẩm mỹ, điều kiện kinh tế... ở từng vùng Việt Nam, các loại trang phục đàn ông cũng đã được cải tiến nhiều cho thích hợp. Điều thấy rõ là qua trang phục đàn ông, người ta không thấy còn sự cách biệt giữa các tầng lớp con người như trong xã hội cũ nữa.

***
Đăng nhập để trả lời
0
II. Trang phục phụ nữ:

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, trang phục của phụ nữ nông thôn có nhiều thay đổi để phù hợp với cuộc sống vừa lao động sản xuất, vừa chiến đấu. Chị em mặc gọn gàng: áo cánh nâu, cổ tròn hay cổ quả tim, trong mặc áo lót không tay, quần đen bằng vải phin hay láng. Vấn khăn và chít khăn vuông mỏ quạ. Những người thoát ly làm cán bộ mặc áo kiểu sơ mi đại cán, tay thẳng, cổ hình cánh nhạn, áo thường may bằng vải màu xanh hòa bình hay ka-ki màu xi-măng, màu be hồng. Búi tóc hoặc cặp tóc. Đi dép cao su đen. Thời gian này, ở vùng tự do, hầu như vắng bóng những chiếc áo dài màu sắc của nữ thanh niên. Nhưng các bà, các cụ vẫn mặc áo tứ thân dài đi mít tinh, đi lễ, đi họp...
Ở miền Trung và miền Nam, phụ nữ vẫn giữ được nền nếp ăn mặc truyền thống. Ở vùng Pháp tạm chiếm cũng không có gì thay đổi, đặc biệt lắm trong tầng lớp phụ nữ lao động, tiểu thương, và một số phụ nữ tiểu tư sản.
Hòa bình lập lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Tiếp đó nhân dân Việt Nam lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Một nửa nước về phía Nam bị tạm chiếm. Những người phụ nữ miền Nam đã góp phần đáng kể trong cuộc đấu tranh anh dũng với danh nghĩa là đội quân tóc dài nổi tiếng. Quần áo bà ba, khăn rằn trên đầu hay vắt vai, đội quân này đã làm cho giặc Mỹ nhiều phen điêu đứng. Không thể không nhắc đến những đôi dép cao su truyền thống và sau đó là chiếc mũ tai bèo điển hình, đánh dấu nét đặc thù và trang phục của những chiến sĩ gái và trai chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam trong giai đoạn này.
Miền Bắc vừa chiến đấu vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phụ nữ thành thị, nông thôn đều tích cực tham gia hoạt động xã hội. Để phù hợp với cuộc sống mới, phụ nữ thành thị lại dần dần thay đổi cách ăn mặc từ xênh xang đến gọn gàng khỏe khoắn.
Người nhiều tuổi thường mặc áo cánh ngắn hoặc áo kiểu bà ba, may sát eo, tà rộng, thân dài, đường gấu cong hình vành lược. Cửa tay rộng. Cổ áo hình quả tim hoặc cổ thìa, cổ vuông..., áo may bằng các loại vải mỏng như phin nõn, lụa, pô-pơ-lin... Cán bộ, nhân viên cơ quan, xí nghiệp thường mặc áo sơ-mi kiểu Hồng Kông, cổ bẻ, tay thụng. Hầu hết nữ thanh niên mặc áo sơ-mi chiết eo hay kiểu Hồng Kông bó. Tay áo dài, cửa tay có măng sét to hoặc nhỏ, hoặc tay lửng 3/4, hay áo cộc tay, vai bồng. Các kiểu cổ áo: hai ve, lá sen nằm, lá sen đứng, lá sen vuông, một ve nhọn v.v... Aáo may bằng nhiều loại vải và nhiều màu sắc, điểm hoa hoặc kẻ ô, kẻ sọc.
Quần màu đen được dùng phổ biến trong mọi tầng lớp, thường được may bằng lụa chéo, lụa trơn, lụa hoa hay sa tanh, lanh, phíp v.v...
Mùa rét, các bà, các cô thường mặc áo bông Tàu: cổ áo đứng cao 5 cm (như cổ áo dài) vai tra, cửa tay rộng. Aáo thắt eo, tà rộng, chần mỏng, cài khuy, khuy thường bằng vải tết hình chiếc lá hay hình bướm thường cùng màu với vải áo. Kiểu áo bông này mặc gọn và đẹp. Còn áo kép là loại áo may bằng hai lần vải dày như nhung, hoặc sa tanh hoa hay trơn... cũng may như hình thức áo bông Tàu nhưng ở giữa không có bông (áo kép thường mặc vào mùa thu). Thiếu nữ và nữ thanh niên mặc áo vét Hồng Kông có li hay may thẳng, bằng vải ka-ki dày. Cổ hai ve nhọn hay tròn hoặc lá sen đứng. Một hàng cúc cài ở giữa hay cài lệch bên ngực. Có hai túi thẳng hay chéo. Tay thẳng, cấu tay gập vào trong hay lật ra ngoài. Aáo len các loại: dài tay hoặc không tay. Aáo mở, cài cúc, hay áo chui đầu, thân áo dài đến cạp quần, mặc ra ngoài áo sơ mi hay ở trong áo vét. Cổ quàng khăn san, khăn nilông, khăn hoa hoặc khăn len...
Những người đứng tuổi thường quấn tóc trần, búi tóc hoặc uốn tóc. Trẻ tuổi, nữ thanh niên: cặp tóc, tết tóc đuôi sam, cắt tóc ngắn đến ngang vai hoặc uốn tóc. Đi guốc gỗ hay guốc nhựa đế bằng, hoặc cao gót từ 5cm - 7cm - 9cm lòng máng, có một quai ngang hay hai quai chéo. Người cao thường đi dép lê bằng nhựa nhiều kiểu và màu khác nhau.
Chiếc áo cánh của chị em nông thôn miền Bắc từ năm 1954 trở đi đã được cải tiến nhiều: thân áo may sát eo hơn, vạt áo lượn vòng. Ngoài màu nâu, còn dùng màu xanh hòa bình, màu trắng, màu hồng... bằng nhiều loại vải khác nhau.
Hình ảnh những cô dân quân áo cánh nâu non, chít khăn vuông đen mỏ quạ, chiếc thắt lưng da to bản thắt ngang người, vai đeo súng... là một hình ảnh đẹp mới của người phụ nữ Việt Nam, với những nét nền nã, kín đáo nhưng khỏe mạnh, kiên cường trong tư thế sản xuất và sẵn sàng chiến đấu.
Nữ công nhân mặc bộ quần áo bảo hộ lao động màu tím than hay áo sơ mi trắng, quần tím than liền yếm. Tóc cặp gọn lên cao, cắt ngắn hay uốn. Đội mũ lưỡi trai hay chùm bao tóc bằng vải hoặc buộc chéo trên đầu chiếc khăn nhiều màu. Chân đi giày ba-ta, giày vải thấp cổ, hay dép cao su đen hoặc đi "bốt"...
Áo bờlu (blouse) dài màu trắng, quần vải trắng, đội mũ tròn trắng khi làm việc là trang phục của chị em ngành y tế.
Chị em mậu dịch viên mặc áo sơ mi cổ hai ve, tay thẳng rộng, màu xanh hòa bình hay màu trắng.
Những ngày hội, ngày tết, bên cạnh những bộ trang phục khỏe đẹp của lực lượng lao động sản xuất và chiến đấu, người ta lại được thấy những chiếc áo dài đổi vai, thắt vạt, những dải thắt lưng hoa lý, hoa đào và đặc biệt là những tà áo dài rực rỡ nhiều màu sắc của các cô gái tung bay, với những chiếc nón trắng cầm tay, che nghiêng bên mái tóc, trông như đàm bước đẹp.
Những bộ trang phục phụ nữ ấy toát lên tính chất nhẹ nhàng, thanh lịch của từ ngàn xưa đúc lại. Đồng thời còn biểu hiện sức sống mạnh mẽ của vẻ đẹp truyền thống đã được bao đời gìn giữ và phát triển, đã vượt qua được những thử thách của thời gian, chống trả lại sự chi phối dồn dập của các kiểu mốt lai căng. Mặt khác vẫn có sự tiếp thu những yếu tố mới lành mạnh, hài hòa, giản dị để tự khẳng định sự tồn tại và thích nghi với cuộc sống hiện đại. Điều ấy rất đáng tự hào.
Phụ nữ lao động ở thành thị, ở nông thôn Trung Bộ vẫn thường mặc áo cánh ngắn hay áo bà ba bằng nhiều loại vải và nhiều màu khác nhau. Mặc quần màu đen, ống rộng, bằng sa-tanh hay ni-lông. Tóc búi gọn sau gáy, có người vấn khăn như phụ nữ miền Bắc.
Phụ nữ đứng tuổi tầng lớp trên ở thành phố, thị trấn mặc áo dài may sát thân, thường ưa màu sáng như màu hoàng yến, màu xanh da trời... Cổ đứng, cao từ 3 - 5cm. Đặc biệt màu tím Huế của chiếc áo dài vẫn được phụ nữ ưa chuộng. Tóc vẫn búi như bình thường. Tuy nhiên cũng có hình thức khá cầu kỳ, như kiểu búi tóc cao lên đỉnh đầu cuộn lại làm ra hình mỏ phượng còn những dải tóc ở bên và ở gáy được chải, xếp thành nhiều lớp như cánh phượng, gọi là búi tóc phượng. Nhiều người vẫn vấn tóc trần nhưng sau khi vấn tóc, phía sau gáy lại chải một lớp tóc võng xuống như hình lưỡi trai. Nữ sinh mặc áo dài màu trắng, quần trắng. Tóc cặp trễ sau lưng hay cắt ngắn đến ngang vai (tóc thề), với chiếc nón che nắng đồng thời cũng là vật trang sức. Chiếc nón trắng và mỏng, lồng vào giữa hai lớp lá là một số chữ bằng giấy màu trổ cắt, còn gọi là nón bài thơ. Quai nón bằng dải lụa, hoặc màu hồng, xanh da trời hoặc màu hoàng yến... được thắt nơ như đôi bướm ở hai đầu trong vành nón hoặc buộc nút buông hai đầu mềm mại rủ xuống cạnh mái tóc người đội nón.
Phụ nữ Huế ít dùng đồ trang sức, một số người vẫn đeo kiềng vàng. Phấn son chỉ tô điểm nhẹ khi cần thiết làm tôn vẻ đẹp tự nhiên của khuôn mặt.
Ơở Nam Bộ, phụ nữ lao động mọi lứa tuổi ở nông thôn thường vẫn đội khăn rằn, mặc quần áo bà ba quen thuộc màu đen và còn mặc thêm nhiều màu khác nữa trắng, xanh, nâu, gụ, hoa... bằng nhiều loại vải, nhất là ni lông. Aáo dài vẫn được sử dụng.
Người nhiều tuổi thường để tóc dài, búi gọn sau gáy. Nữ thanh niên cặp tóc, hoặc xõa tóc.
Tại thành thị, phụ nữ nhiều tuổi mặc áo dài may sát thân, vạt dài quá đầu gối, mặc quần trắng hoặc đen, tóc búi gọn sau gáy hoặc uốn tóc.
Nữ thanh niên tầng lớp trên và đa số tiểu tư sản thay đổi kiểu ăn mặc chạy theo "mốt hiện đại" từ thế giới thời trang, được sự khuyến khích của Mỹ - Ngụy..., hàng ngày tác động vào mạnh mẽ.
Kể từ năm 1954, chiếc áo dài Việt Nam đã được nhiều nữ sinh mặc đến trường với kiểu tà rộng, eo thắt, cổ cao có lót cứng, ống tay hẹp.
Năm 1960, nhất là khi hàng ni lông tràn ngập miền Nam, thịnh hành nhất là kiểu áo dài mỏng được mặc ra ngoài một loại áo lót, cổ khoét rất sâu xuống, không tay, may liền với quần sa-tanh đen.
Ít năm sau, Trần Lệ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu tung ra một kiểu áo dài khoét cổ ngang - bị phản đối kịch liệt - nhưng rồi người ta lại khoét cổ tròn, cổ vuông, cổ nhọn... tay áo ngắn hơn, tà rộng, dài ra, nhưng thân áo bó sát, thắt eo.
Những năm sau 1968, trong phong trào "mi-ni" chiếc áo dài lại đổi dạng: tà áo rất hẹp, vạt ngắn đến đầu gối, cổ cao, vai nối chéo, cánh tay áo ngắn, có tay rộng. Do xẻ tà cao, bên trong lại không mặc áo cánh nên từ chỗ xẻ tà đến cạp quần thường hở cả lườn.
Áo dài may bằng các loại vải nội, vải ngoại đắt tiền với các màu trắng, màu sáng, màu bồ quân, màu tím Huế... Thân và vạt áo có khi thêu hoa, thêu rồng, thêu phượng. Nếu là vải hoa thì in đủ các cỡ hoa to, hoa nhỏ nhiều màu sặc sỡ, hoặc các hình kỷ hà rối rắm.
Phong trào mặc áo, váy đầm cũng song song phát triển. Thời gian đầu (1954 - 1959) vẫn là các kiểu đơn giản như sơ-mi cổ tròn, cổ bẻ, rồi không có ve cổ, cổ khoét sâu hình bầu dục, hình tròn, kiểu cổ ngang, cổ vuông... Aáo tay ngắn, tay phồng... may bằng vải trắng, vải màu hay vải hoa.
Váy, từ kiểu dài quá đầu gối, may phồng và hơi khum phần dưới (gọi là váy chuông) đến những năm 1960 lại may thẳng, xẻ chút ít ở giữa thân sau, hoặc may xếp li, hoặc may bó. Mặc với áo ngắn tay hoặc áo không tay, ngang lưng có dải vải thắt ngoài, bỏ giọt bên cạnh hay ở giữa. Hoặc mặc với áo thẳng, cổ viền, túi viền... một màu hay nối màu.
Điểm xuyết vào các bộ trang phục này là những đường ren, và trên ngực, bên vai, hay ở thắt lưng có đính bông hoa bằng vải, chiếc "nơ" to, hoặc chiếc kẹp trang sức đá quý, dải vải mỏng, dài... Nếu mặc áo ngắn tay hay không tay, người ta thường đeo găng ngắn hoặc dài bằng ren hay xoa... thêu đẹp. Có người quàng khăn mỏng trên vai, đeo hoa tai bằng vải...
Áo dệt thun chui đầu với các kiểu cộc tay hay không tay, cổ bẻ hay không cổ, gấu áo bỏ ra ngoài váy. Có cả các loại quần thun bó sát, ống ngắn, hoặc rộng dài hơn.
Sau năm 1968, chiếc váy mi-ni ra đời, ngắn trên đầu gối, càng ngắn càng hợp thời trang. Loại áo khoét cổ có bớt đi, áo không tay và ngắn tay lại phát triển. Aáo dài tay cài khuy "măng xét" cũng được sử dụng. Đặc biệt áo sơ mi may rất dài. Có loại thân trước xẻ làm ba vạt.
Quần Âu ống loe 30cm - 40cm xuất hiện với nhiều loại thắt lưng da các màu, to bản. Người ta dùng cả thắt lưng bằng kim khí. Và cho đến những năm về sau này, ống loe đã phát triển lên tới 50cm rồi 60cm, hai bên ống quần không nối, gấu quần không vén, không máy mà được đốt thành những hình sóng lượn.
Âo quần kiểu "híp-pi" đã một thời chiếm lĩnh mốt thời trang của Sài Gòn. Áo may bằng vải xô mỏng, thêu rối rắm, tay dài hoặc tay ngắn. Có loại áo may rất ngắn, để hở cả lưng, bụng người mặc, ống tay áo dài hoặc ngắn nhưng rộng, gấu tay áo thít lại cho tay áo phồng lên. Quần bò "Zin" bó mông, bạc phếch, có khi vá miếng da ở đầu gối, ở mông...
Xuất hiện thêm loại váy dài đến mắt cá nhân, có hàng khuy ở giữa từ thắt lưng xuống gấu, cài mấy khuy là tùy thuộc ở chủ nhân.
Về đầu tóc, từ năm 1954, nhiều bà đã thôi búi tóc mà uốn quăn. Tóc của nữ thanh niên cũng diễn ra đủ kiểu: cắt ngắn, uốn điện, và kéo một số dải tóc uốn thành hình móc câu xuống trước trán hoặc để tóc dài, uốn lượn sóng, hoặc cuộn những búp (ăng-lê) đung đưa quanh đầu.
Rồi đến giai đoạn uốn tóc, rẽ đường ngôi lệch trở thành lạc hậu, lúc này người ta rẽ đường ngôi giữa và để tóc buông thả tự nhiên đến ngang vai, ngang lưng, gió thổi bay lòa xòa che cả mặt. Hoặc cuộn thành nhiều cuộn tóc nhỏ trên đầu, hoặc đánh rối làm cho tóc bù xù...
Giày dép cũng thay đổi nhanh chóng. Năm 1954 - 1959, phụ nữ giàu sang mới có điều kiện đi giày da đế mỏng, mũi nhọn, gót cao. Đến ít năm sau, người ta đi giày mũi vuông, gót vuông, thấp. Nếu mặc áo dài thì phải đi guốc gỗ gót cao, nhọn, sơn mài hay sơn các màu, hoặc có vẽ hoa lá.
Cuối cùng là những đôi giày rất cao, rất thô và những đôi guốc cũng thật cao, vượt quá 10cm, như những đôi "cà kheo" nặng nề.
Đồ trang sức phổ biến có vòng tay bằng nhựa nhiều màu đeo ở cổ tay hay ở bắp tay. Nhẫn phần nhiều đều gắn mặt đá nhiều màu, cỡ lớn. Tai đeo vòng to. Cổ đeo các vòng đồng hoặc các chuỗi hột to.
Kính đeo mắt, giọng bằng nhựa, mắt kính càng ngày càng to ra với các hình tròn, hình chữ nhật, hình vuông, nhiều cạnh, với các màu xanh, tím nhạt, hồng nâu v.v...
Các mốt trang điểm tất nhiên theo hướng phát triển của mốt trang phục. Càng về sau, mặt càng đánh bự phấn. Môi son, má hồng đỏ chót. Mắt kẻ đậm nét, trên mi tô màu xanh, hoặc nâu, hoặc tím, có người tô cả hai màu hoặc ba màu nối tiếp, cặp hàng lông mi giả. Lông mày nhổ, để lại một hàng chỉ nhỏ rồi vẽ cho đậm. Móng tay, móng chân đánh màu hồng rồi đỏ, thậm chí màu nâu, màu tím, màu xanh, màu nhũ bạc...

Từ ngày thống nhất đất nước đến nay, áo mặc của phụ nữ ba miền không còn sự khác biệt nhiều nữa. Phụ nữ đứng tuổi ở thành thị, ngày thường mặc áo cánh, áo bà ba, áo sơ-mi Hồng Kông, áo sơ-mi chiết ly... với các loại cổ: hình quả tim, cổ thìa, cổ vuông, hình chữ V, cổ cánh nhạn, có hai ve... Có người mặc áo hai bên vạt trước hay ở ngực thêu, hoa thưa hoặc giua nổi một vài họa tiết. Gấu áo, cổ tay miệng túi, đường viền cổ, hai bên tà áo đều giua. Có hình thức thêu hoa ở chung quanh gấu áo hoặc ở bốn góc tà trước và sau. Vai áo tròn (cắt liền vải), hoặc có khi cắt vai chéo (raglan). Ngày lễ, ngày Tết, các bà mặc áo dài, màu trang nhã.
Nữ thanh niên có nhiều kiểu áo: áo bộ đồ mặc ở nhà, áo chui, áo mở, áo sơ-mi chiết ly, áo sơ-mi Hồng Kông, áo vai bồng, vai liền, vai tra, vai chéo, áo có hoặc không có cầu vai, áo có cả cầu ngực hoặc trang trí đường nổi ở ngực áo thành nửa hình tròn, hình vuông, hình nhọn, áo ngắn tay hoặc dài tay, tay măng sét, tay lửng, tay chun, tay loe, tay thụng, tay chun xi mốc v.v... Aáo mở tà hoặc không mở tà, vạt áo cong vành lược, hoặc lượn hình cung, hoặc tròn... Có kiểu áo hai hoặc một túi ngực nổi, có hoặc không có nắp, miệng túi thẳng hoặc chéo, có kiểu túi hình trái đào. Ve cổ áo phụ nữ, có nhiều kiểu rất phong phú: cổ liền, cổ thìa, cổ quả tim, cổ vuông, cổ chữ U, có nẹp hoặc làm ximốc, cổ tròn có nẹp hoặc làm ximốc, cổ chữ B, cổ một ve, cổ hai ve tròn, cổ hai ve nhọn, cổ hai ve liền, cổ lá sen tròn, cổ lá sen nhọn, lá sen vuông, lá sen nằm, cổ ve đứng có chân, cổ đứng (như cổ áo dài), cổ cánh nhạn, cổ lật nhọn, cổ lật vuông, cổ lật tròn,cổ lật nằm, cổ cravát, cổ lính thủy, cổ Nhật Bản, (cổ bà lai), cổ san (châle) v.v...
Có các kiểu áo cầu kỳ như áo cánh bướm, áo cánh dơi. Đặc điểm của áo cánh bướm là cổ áo tròn, tay áo loe rộng, gấu áo là một đường cong. Khi mặc, giang thẳng hai tay thì trông toàn bộ thân áo như một nửa hình tròn. Đặc điểm của áo cánh dơi là cổ áo hình nhọn (chữ V), tay áo loe rộng, gấu áo hình nhọn (chữ V). Khi mặc, giang thẳng hai tay thì trông toàn bộ thân áo như một hình tam giác cân. Những kiểu áo này được may bằng chất liệu mềm để tạo những nếp rủ làm cho những đường cong ở cửa tay, gấu áo được mềm mại, với các màu sặc sỡ, có các hình trang trí ở cổ áo, tay áo, gấu áo... gây thêm ấn tượng sâu sắc cho người ta về tên kiểu áo.
Mùa hè, thường dùng áo bằng các loại vải như phim nõn, lụa, xoa... hợp với khí hậu Việt Nam. Nhiều kiểu áo dệt kim cộc tay, áo phông đơn giản hợp với tuổi trẻ, tạo dáng khỏe mạnh. Aáo dài vẫn được mặc thường xuyên ở đô thị miền Nam, còn ở miền Bắc và miền Trung thường mặc trong những ngày cưới, ngày hội, ngày Tết, một số ngày nghỉ. Giới trẻ cũng ưa chuộng áo dài may kiểu vạt ngắn, thêu hoa hoặc in những họa tiết đẹp ở tà áo hay ở ngực.
Hình thức may áo sơ-mi ghép nhiều màu bằng vải hoa hay vải trơn vào các bộ phận hợp lý như cổ áo, tay, ngực, vai... đã làm cho chiếc áo thêm hấp dẫn, tươi trẻ. Ơở nước ta, áo ghép màu còn có ý nghĩa tiết kiệm.
Các bà, các cô thường mặc quần lụa hay sa-tanh đen. Nữ thanh niên sau một thời gian dài mặc quần đen ống hẹp, rồi ống thẳng, rộng, hơi loe, gần đây đa số mặc quần Âu. Trong thời gian này, có phong trào không mặc quần trắng nữa mà mặc quần Âu, áo dài.., vừa tiết kiệm, vừa tiện lợi, nhất là trong thời tiết mùa đông ở miền Bắc, miền Trung, một chiếc quần lụa trắng không đủ để chống rét.
Sinh hoạt trong nhà, nhiều phụ nữ ở cả ba miền đã mặc quần áo vải hoa và gọi là đồ bộ (mặc trong nhà).
Các kiểu áo mùa đông phát triển rất mạnh, áo vét, áo len dài tay, ngắn tay, không tay, áo khoác kiểu măng-tô có đai thắt eo, áo chui đầu cổ cao hoặc cổ sơ mi, gấu chun hoặc không gấu..., đan hoặc dệt, có nhiều họa tiết và màu sắc, áo măng-tô, áo bay, áo blu-dông, áo lông, áo vi-ni-lông, áo dệt kim dầy kiểu thể thao, áo liền mũ, thắt dây lưng như áo trượt tuyết của các nước châu Âu v.v...
Chiếc áo bông phổ biến trước kia ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ, nay chỉ những người già mới mặc.
Ơở thành thị miền Bắc, phụ nữ vấn khăn chỉ còn lại số ít. Người nhiều tuổi thường búi tóc. Còn trẻ tuổi uốn tóc các kiểu hay cắt tỉa ngắn, uốn điện cho ốp vào đầu, hoặc để tóc dài, cắt ngang vai...
Các bà chít khăn vuông vải đen hay sợi dệt, khăn ni lông... nữ thanh niên đội mũ len đan hình tròn ống, có người đội mũ nồi, mũ lưỡi trai bằng nhung, hoặc chít khăn vuông mỏng, quấn khăn dài nhiều màu sắc hoặc quấn khăn dài bằng len móc, ở hai đầu khăn có tua. Ít thấy dùng phu-la như xưa nữa.
Giày, guốc vẫn có các kiểu gót nhọn, gót vuông, gót bằng. Chất liệu giày bằng da, dép bằng nhựa nhiều màu, guốc bằng gỗ sơn nhiều màu hay sơn mài hoặc dùng bút điện đốt, vẽ các hình hoa văn trang trí trên mặt guốc, ở thành guốc. Một thời gian (1980 - 1982), thịnh hành loại guốc gỗ "gộc", cao từ 9 - 11cm, không khoét hoặc khoét rất ít ở phía dưới, trông rất thô, to quá khổ, không cân bằng, không phù hợp với vóc dáng người phụ nữ Việt Nam. Đến năm 1983 lại quay về các loại guốc cũ thanh mảnh, nhẹ nhàng hơn.
Trong lĩnh vực lao động sản xuất ở miền Trung, vẫn phổ biến chiếc áo cánh hoặc áo bà ba. Đi đâu, một số phụ nữ vẫn mặc áo dài. Búi tóc hoặc vấn tóc trần. Nữ thanh niên nông thôn, nhiều người mặc áo sơ mi các màu.
Ơở miền Nam, vẫn gắn bó với kiểu quần áo bà ba, búi tóc, chùm khăn rằn quen thuộc. Những ngày tết, ngày hội, vẫn thấy chiếc áo dài kiểu cũ.
Phụ nữ nông dân miền Bắc, người lớn tuổi vẫn vấn khăn, mặc áo nâu, quần vải đen khi lao động. Tết nhất, mặc áo cánh màu trắng, màu xanh, màu hồng, màu gụ... Trẻ tuổi, mặc áo sơ mi, mặc quần bằng lụa, sa tanh, phíp hoặc ta tăng đen. Cặp tóc gọn gàng. Ngày hội, ngày Tết, mặc sơ mi nhiều kiểu, nhiều màu bằng vải đẹp.
Nhìn chung, ở cả ba miền đã thấy một số nữ thanh niên nông thôn mặc quần Âu, mặc áo dài với những màu sắc nền nã.
Qua những kiểu cách ăn mặc như trên, ta thấy đang có hiện tượng giao hòa về trang phục phụ nữ, giữa nông thôn và thành thị, đặc biệt là trang phục khi không lao động. Đồng thời lại thấy trong hoàn cảnh đất nước đã thống nhất, người vào Nam, kẻ ra Bắc, do nhiều yêu cầu như công tác, thăm hỏi, buôn bán..., thậm chí nhiều người chuyển cả gia đình vào, ra ở hẳn, sự giao lưu thuận tiện giữa ba miền đã tạo điều kiện cho sự giao lưu trang phục phát triển. Bộ quần áo bà ba ngày nay không chỉ phổ biến ở miền Nam, màu tím Huế đã thấy thấp thoáng ở Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh, chiếc nón là Vĩnh Phú, Hà Sơn Bình... đã đi xa ngoài miền Bắc. Đặc biệt chiếc áo dài truyền thống, dù dài, dù ngắn tà rộng hay tà hẹp, màu trắng hay màu vàng, điểm hoa to, nhỏ hay in các hình ngang, dọc nhiều màu, bằng vải thường hay lụa quý..., ngày nay vẫn là chiếc áo dài của cả ba miền, bên cạnh những tấm áo dài nâu non đổi vai, buông vạt hoặc thắt vạt, bên cạnh những tà áo màu tím Huế, những tấm áo dài cài khuy cổ truyền ở miền Nam thường mặc. Chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam đã trở thành một biểu tượng Việt Nam đối với con mắt của nhân dân thế giới. Thấy một người phụ nữ mặc áo dài, khách quốc tế nhìn nhận ngay đây là người phụ nữa Việt Nam. Chiếc áo dài ấy đã góp phần chứng minh sự thống nhất giữa ba miền Trung Nam Bắc, chứng minh là chỉ có một nước Việt Nam thống nhất, không gì lay chuyển nổi. Chiếc áo dài ấy là thành tựu của sự sáng tạo độc đáo, của sự đấu tranh bền bỉ giữa cái hay cái tốt phải thắng cái dở, cái xấu, cái dân tộc chân chính phải thắng cái ngoại lai kệch cỡm.
Ơở Việt Nam cũng như ở các nước trên thế giới, trang phục đàn bà bao giờ cũng phong phú hơn trang phục đàn ông. Nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã căn cứ vào một số đặc điểm về trang phục của phụ nữ dân tộc để phân biệt và gọi tên ngành dân tộc mình. Ví dụ như gọi là Thái đen vì phụ nữ ngành Thái ấy mặc áo đen, gọi là Thái trắng vì phụ nữ ngành Thái ấy mặc áo trắng. Hoặc như gọi là dân tộc Dao tiền, vì phụ nữ ngành Dao ấy có đeo những đồng tiền trên ngực áo mặc v.v... Trên cơ sở đó nhìn chung vào tình hình trang phục của dân tộc Việt trên đất nước ta cho tới hôm nay, giới nữ vẫn là người có công bảo tồn các dạng mẫu áo quần truyền thống và không ngừng phát huy làm cho nó thêm phong phú. Trong từng giai đoạn, có những xu hướng, thị hiếu lệch lạc đáng tiếc, nhưng rồi cái cơ bản vẫn còn là giữ được.
Qua hiện tượng trên, phải chăng bài học về sự cần thiết bảo vệ tính truyền thống trong trang phục hiện nay, cũng như sau này, nhắc nhở chúng ta không thể không quan tâm thích đáng, kịp thời.

***
Đăng nhập để trả lời
0
III. Trang phục trẻ em:

Thông thường người mẹ có thai vài bốn tháng đã nghĩ đến việc may mặc cho đứa con bé bỏng của mình, dù chưa biết nó là con trai hay con gái, dù gia đình có của ăn của để hoặc là còn nợ nần, thiếu đói. Đứa trẻ là niềm vui của người mẹ, của gia đình. Do đó khi đứa trẻ ra đời, ngoài tã lót, thường đã có ngay những chiếc áo, chiếc mũ xinh xắn đợi chờ...
Thời kỳ này, trẻ sơ sinh có mũ thóp, thường làm bằng các loại vải nhẹ, mềm, đẹp, khâu thành hình tròn ống bề ngang khoảng 3 - 4cm, đội vào đầu đứa bé để bảo vệ thóp. Ít tháng sau, có các loại yếm dãi hình tròn, hình bầu dục...
Trẻ ba bốn tuổi, con trai mặc áo cánh ngắn buộc dây bên cạnh (thay cúc). Quần liền yếm, ở cổ yếm có hai dải nhỏ buộc ra sau gáy, còn hai dải bên cạnh buộc ra sau lưng. Thường là quần khoét đũng. Con gái mặc váy liền yếm cũng có vải dài buộc như quần con trai. Loại váy, quần liền yếm có tác dụng che bụng, che ngực, khi trời nóng không cần mặc áo nữa.
Tóc con trai thường để hai bên hai mảng tóc (gọi là trái đào), một mảng dài hơn ở giữa đỉnh đầu chải ra sau (gọi là chỏm hoa roi). Tóc con gái để một mảng ở chỗ thóp (gọi là cút trước), một mảng ở phía sau đầu để dài đến gáy (gọi là cút sau).
Trẻ em được đeo các vòng tay, vòng chân, vòng cổ, khánh bằng bạc, có gắn quả nhạc, vừa để trang sức vừa có ý nghĩa giữ "vía" cho trẻ (theo quan niệm thời đó).
Lên bảy, lên tám tuổi: em gái đã mặc yếm, áo cánh ngắn, ngoài mặc áo dài bốn thân màu nâu hay đen. Thắt lưng buông dải phía trước. Mặc váy hoặc quần thâm. Đầu vấn khăn, tuy tóc không có bao nhiêu, chít khăn vuông. Mùa rét mặc thêm chiếc áo bằng loại vải thô mở ngực, không dùng cúc mà có dây nhỏ buộc hai vạt vào với nhau khi cần thiết. Chân đi dép da hay guốc gỗ. Đeo khuyên (mấm) bạc.
Em trai thường mặc áo cánh và quần trắng. Đi đâu cũng mặc áo dài the thâm hoặc vải trắng. Cắt tóc ngắn, cũng có khi đội khăn xếp. Đi guốc gỗ, hoặc đi chân đất. Có em đi giày Gia Định. Ở tuổi này tóc nhiều em vẫn còn để trái đào hoặc để cút thường là con nhà nghèo.
Con nhà giàu ở thành thị, nữ mặc áo dài trắng bằng lụa hay gấm, sa tanh các màu, cài cúc cạnh sườn. Quần trắng. Đi guốc gỗ quai ngang hay giày cườm. Tóc để cút sau dài, buộc lại cho gọn hoặc cắt theo kiểu tóc Nhật Bản (phía trước cắt ngang bằng, hai bên dài hơn ở giữa nhưng cũng cắt ngang bằng, khoanh ra phía sau), hoặc dùng lược bờm gài ngược tóc lên cho khỏi xõa xuống mắt. Đồ trang sức có hoa tai đầm, kiềng vàng, vòng tay hoặc lập lắc (plaque) vàng. Các em trai cũng mặc như ở nông thôn nhưng dùng chất liệu vải quý hơn. Rất ít em mặc theo kiểu trang phục trẻ em châu Âu.
Trang phục trẻ em, kể từ khi các em đi học, phụ thuộc vào tình hình kinh tế gia đình. Qua trang phục các em, người ta thấy được hoàn cảnh gia đình, bố mẹ các em. Nói cách khác, trong xã hội cũ, tính chất giai cấp đã có sự phơi bày trên bình diện trang phục của cả trẻ em. Dù cha mẹ thương con mấy đi nữa, nhưng vì nghèo, ít khi có thể cho con em ăn mặc xênh xang được.
Nhìn chung, thời gian này dù trẻ em ở tầng lớp giàu hay nghèo, quần áo và cách ăn mặc của các em không phù hợp với lứa tuổi mà giống y hệt trang phục người lớn, do đó trông các em cằn cỗi, già đi trước tuổi rất nhiều. Mặt khác, do điều kiện kinh tế gia đình hạn chế, trong khi các em lại mau lớn, gia đình phải may quần áo rộng, dài hơn bình thường để "phòng lớn", nên lại tạo ra một hiện tượng gây cười làm cho nhiều em khi "bị" mặc quần áo mới, cảm thấy không thích thú gì. Chưa nói tới có những loại trang phục không cần thiết đối với các em như yếm, khăn... các em gái chưa đến tuổi trưởng thành, cơ thể chưa phát triển đầy đủ, người lớn vẫn cho các em dùng, gây nên sự lãng phí vô ích.
Ngoài ra, cách may quần khoét đũng để các em dễ đại tiện, tiểu tiện, không bảo đảm được vệ sinh cho các em, nhất là đối với các em hay ngồi lê la, nghịch bẩn, và về mặt mỹ quan, cũng không hay lắm.

***
Đăng nhập để trả lời
0
Trang phục lễ cưới

Nhân dân ta mỗi khi nói tới ngày cưới vẫn thường cho rằng "Trăm năm mới có một lần" có lẽ do đó mà từ trước đến ngày nay, những bộ trang phục trong ngày cưới bao giờ cũng mới, đẹp hơn trang phục ngày thường. Thời xưa, bộ trang phục mà các cô dâu mặc trong ngày cưới cũng chính là trang phục của các cô mặc trong những ngày hội cổ truyền của dân tộc.
Thời xa xưa, trong ngày cưới của dân tộc Việt, các cô dâu miền Bắc thường mặc bộ áo mớ ba, ngoài cùng là chiếc áo the thâm, bên trong ẩn hiện hai chiếc áo màu hồng và màu xanh hoặc màu vàng với màu hồ thủy. Rồi đến áo cánh trắng, cuối cùng là chiếc yếm hoa đào có dải bằng lụa bạch. Thắt lưng gồm hai chiếc bằng lụa màu hoa đào, hoa lý, ngoài cùng là thắt lưng sồi xe hay vải sa màu đen, cả ba thắt lưng đều có tua ở hai đầu.
Vấn khăn, đầu khăn gài chiếc đanh ghim, có đính con bướm vàng chạm bạc, để tóc đuôi gà. Lúc đưa dâu, đi đường đội nón thúng quai thao (chủ yếu là để che mặt cho đỡ thẹn với mọi người). Chân đi dép cong.
Đồ trang sức có khuyên đeo tai bằng vàng hoặc bằng bạc, cạnh sườn đeo bộ xà tích, con dao, ống vôi... bằng bạc chạm trổ tinh vi.
Cô dâu miền Trung cũng mặc áo mớ ba, trong cùng là áo màu đỏ hoặc hồng điều, áo giữa bằng the hay vân thưa màu xanh chàm, áo ngoài cùng bằng the hay vân thưa màu đen. Có người chỉ mặc lồng hai áo, trong cũng là màu đỏ hoặc hồng điều, ngoài là vân thưa màu xanh chàm để tạo nên hiệu quả một màu tím đặc biệt nền nã. Mặc quần trắng, đi hài thêu. Tóc chải lật, búi sau gáy. Cổ đeo kiềng hoặc quấn chuỗi hột vàng cao lên quanh cổ. Cổ tay đeo vòng vàng, xuyến vàng...
Cô dâu miền Nam mặc áo dài gấm, quần lĩnh đen, đi hài thêu. Tóc chải lật, búi lại và cuốn ba vòng phía sau đầu, gài lược "bánh lái" bằng đồi mồi hoặc bằng vàng, bạc. Có người cài trâm vàng, đầu trâm có đính lò xo nhỏ nối tiếp với một con bướm bằng vàng hay bạc tạo nên một độ rung, tăng thêm nhiều phần sinh động và thẩm mỹ. Đeo dây chuyền nách (xà nách) bằng vàng, đeo nhiều chuỗi hột vàng ở cổ...
Chú rể ba miền đều thường mặc áo thụng bằng gấm hay the màu lam, quần trắng ống sớ, búi tóc, chít khăn nhiễu màu lam. Chân đi văn hài thêu đẹp.
Những năm 1920 - 1930, ở thành thị miền Bắc, cô dâu mặc áo dài cài vạt. Ngoài là chiếc áo the thâm, bên trong, áo màu hồng hay xanh... hoặc ngoài là chiếc áo dài sa tanh đen, bên trong, áo dài lụa trắng Cổ Đô. Mặc quần lĩnh hay sa tanh đen. Chân đi văn hài thêu hạt cườm hay đôi guốc cong. Vấn khăn nhung đen, đeo hoa tai bèo, cổ đeo nhiều vòng chuỗi hột bằng vàng.
Chú rể mặc áo dài the thâm, trên nền áo dài trắng bên trong. Quần trắng ống sớ, đi giày Gia Định. Đội khăn xếp. Khi lễ tơ hồng, lễ nhà thờ thì khoác áo thụng lam.
Đến giai đoạn sau, các cô dâu con nhà giàu mặc áo thụng bằng gấm màu đỏ hoặc màu vàng... có họa tiết rồng phượng, cánh tay áo dài và rộng. Mặc quần trắng, đi giày vân hài bằng nhung màu đỏ hoặc màu vàng hay lam có thêu rồng, phượng bằng hạt cườm hay chỉ kim tuyến lóng lánh. Đầu đội khăn vành dây bằng nhiễu, màu lam hay vàng quấn nhiều vòng quanh đầu. Trang phục như trên thường được gọi là kiểu hoàng hậu, từ miền Trung phổ biến ra miền Bắc.
Có cô dâu mặc áo dài bằng dải mình khô hoa ướt hoặc gấm hoa, sa tanh, hay nhung đỏ... mặc quần lụa trắng. Vấn khăn vành dây, cổ đeo kiềng hay dây chuyền. Tay đeo xuyến, vòng.
Ở thành thị về sau này còn tiếp thu một số hình thức trang điểm của châu Âu: Cô dâu trang điểm son phấn, cài thêm bông hoa hồng trắng bằng voan ở ngực trái, tay ôm bó hoa lay ơn trắng, tượng trưng cho sự trong trắng, đồng thời làm đẹp cho bộ trang phục ngày cưới. Mặt khác cũng để đôi tay đỡ ngượng nghịu.
Chú rể mặc com-lê, thắt cra-vát hay cài nơ ở cổ đi giày da.
Ở ngoại thành, cô dâu mặc theo lối cổ truyền áo dài cài cúc, quần lĩnh đen. Chú rể: áo the, quần trắng, đội khăn xếp.
Trong kháng chiến chống Pháp, ở vùng tự do, đám cưới được tổ chức giản dị theo đời sống mới, phù hợp với hoàn cảnh từng nơi. Trang phục lễ cưới cũng vì vậy mà không có gì khác biệt với trang phục ngày thường, mà chỉ là quần áo mới may.
Từ năm 1954, nhiều nghi thức, trang phục lễ cưới được lược bỏ, xuất phát từ trình độ giác ngộ của miền Bắc mới được giải phóng, và vì cuộc chiến đấu gian khổ chống đế quốc Mỹ cũng không cho phép bày biện nhiều. Với tinh thần vừa chiến đấu vừa xây dựng, với ý thức của những con người tràn đầy niềm lạc quan, dù trong bom đạn, lễ cưới vẫn được quan tâm tổ chức đàng hoàng.
Ơở thành thị, cô dâu mặc áo dài màu trắng hoặc các màu sáng, nhạt, mặc quần trắng, đi giày cao gót, tay ôm hoa lay-ơn. Tóc phi-dê, hoặc chải bồng, cặp tóc. Trang điểm má hồng, môi son. Chú rể mặc com-lê, thắt cra-vát, đi giày.
Những người là cán bộ, hay ở nông thôn: cô dâu thường mặc áo sơ-mi trắng hoặc áo cánh trắng hay áo bà ba, quần đen, đi dép mới. Chú rể mặc áo sơ-mi mới, quần Âu, đi giày, xăng-đan hoặc dép nhựa. Bộ đội, vẫn có thể mặc bộ quân phục, cán bộ thì mặc quần áo đại cán mới, tóc chải gọn gàng.
Đối với miền Nam, vùng ta kiểm soát, tình hình diễn ra cũng như ở thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Từ sau năm 1975, đất nước đã thống nhất, mối giao lưu văn hóa mở rộng, và đặc biệt là những năm 1980 - 1981, do ảnh hưởng của các mốt trang phục Âu Mỹ, một số cô dâu ở thành thị miền Nam và miền Bắc mặc áo liền váy màu trắng hoặc màu vàng, màu xanh nhạt, gấp nếp ở tay, ở ngực, váy xòe rộng, dài quá gót chân, có những chiếc váy từ thắt lưng đến gấu chia làm nhiều đoạn với những khoanh đăng ten, gọi là váy ba tầng hay năm tầng, hoặc váy dài, gấp nhiều đường chiết ở ngực, thắt lưng... Đi giày cao gót trắng. Tay đeo găng mỏng. Cổ đeo chuỗi hạt kim cương hoặc giả kim cương hay xa-phia lóng lánh. Tóc phi-dê, người nào tóc dài thì làm phi-dê giả, tóc uốn thành chín búp dài gọi là búp Ăng-lê rủ xuống quanh đầu. Mái tóc phía trước cài vòng hoa trắng bằng vải, hoặc chải tóc bồng cao, cài những vòng hạt có tua rủ xuống hai bên thái dương và ở giữa trán, chùm thêm một khăn voan trắng trên đầu. Lúc đưa dâu, có cô dâu kéo khăn ấy che mặt. Mặt trang điểm phấn son đậm nét. Nhiều người kẻ mắt đậm, mi mắt trên bôi xanh, cặp hàng lông mi giả dài và cong. Tay ôm bó hoa lay-ơn trắng, thêm một dây hoa hồng trắng dài gần đến chân. Tất cả những cái đó làm cho cô dâu khác biệt và nổi bật lên giữa các cô phù dâu. Chú rể mặc com lê, màu be, hay kẻ ca-rô hoặc màu đậm, thắt cra-vát điểm hoa nhiều màu. Đi giày da đen. Đặc biệt là có cài một bông hoa hồng trắng ở túi áo ngực cho khác với những người phù rể.
Ở nông thôn, trang phục cô dâu, chú rể chỉ là quần áo mặc ngày thường nhưng mới và đẹp.
Về trang phục của những người phù rể đều mặc tương tự như quần áo chú rể. Phù dâu thời xưa mặc tương tự như cô dâu, gần đây đám cưới ở thành thị, phù dâu cũng chỉ mặc áo dài các màu, quần trắng, trang điểm đẹp.
Với quan điểm thẩm mỹ đương thời, phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay, để thêm phần duyên dáng, tươi đẹp và để có sự khác biệt với các cô phù dâu, cô dâu có thể cài bên mái tóc một dải hoa trắng. Ngoài ra nên đeo những đồ trang sức như: dây chuyền, chuỗi hạt... trang nhã. Chỉ nên trang điểm nhẹ, tránh tình trạng hóa trang biến thành một người khác không ai nhận ra được.
Chú rể nên mặc com-lê bằng vải trơn màu sáng, đeo cra-vát, cài một bông hoa trắng trên ngực. Hoặc đơn giản hơn, có thể mặc sơ-mi dài tay và thắt cra-vát, nếu trời nóng nực.
Những người đi dự đám cưới nên ăn mặc đẹp, gọn gàng, sạch sẽ, tránh sự lố lăng, kệch cỡm.
Trong dân tộc Việt nước ta, trang phục lễ cưới của cô dâu cũng chính là trang phục ngày hội, ngày lễ. Toàn bộ trang phục của cô dâu, chú rể, của những người đi dự lễ cưới... nếu ăn nhập vào thiên nhiên, kiến trúc Việt Nam, thật là đẹp.
Ngày nay, dù đất nước đang xây dựng xã hội chủ nghĩa, các nhà máy mọc lên, giao thông mở rộng, thành thị nông thôn giao lưu..., cuộc sống có nhiều thay đổi, tâm hồn con người Việt Nam, tính cách con người Việt Nam thể hiện trên nhiều mặt, trong đó có phần trang phục không thể tách rời môi trường, cảnh trí, thiên nhiên Việt Nam. Trang phục lễ cưới, dù ở nông thôn hay thành thị, dù có sự biến đổi tất yếu, vẫn cần góp phần tạo nên một bức tranh đời sống văn hóa thật độc đáo của con người Việt Nam. Cần nối tiếp và phát huy cái đẹp từ ngàn xưa để lại, mỗi lần trong đời người nhớ tới hình ảnh ấy củng cố thêm cho mình lòng yêu quê hương, đất nước, lòng quyết tâm bảo vệ hạnh phúc gia đình và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Đến những năm 1981 - 1982 nhờ có sự hướng dẫn chọn lọc, trang phục cô dâu đã quay về chiếc áo dài cổ truyền dân tộc với mấy kiểu sau đây:
Kiểu áo dài "hoàng hậu", cổ đứng cao, tay thụng, dài vừa tầm, may sát thân, màu đỏ hay nhiều màu sắc khác. Đội khăn vành dày màu vàng bằng vải kim tuyến. Ngực cài bông hoa hồng trắng. Mặc quần trắng, đi giày cao gót. Tô điểm nhẹ trên khuôn mặt.
Kiểu áo dài bình thường màu trắng, hoặc các màu sáng, điểm hoa nhẹ, may sát thân, tay hơi loe, vai rác lăng, vạt dài ngay ống chân. Mặc quần trắng, đi giày trắng cao gót. Mái tóc để tự nhiên, cài thêm bông hoa trắng nhỏ, tay ôm hoa lay ơn trắng.
Những bộ trang phục cưới thanh nhã còn giữ được những nét cổ truyền của dân tộc như trên làm tôn vẻ đẹp cho các cô dâu, đã được nhiều người ưa thích.
Trang phục lễ cưới ở đồng bào người Việt cho đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn. Những nét tiến bộ trên cơ sở truyền thống dân tộc được nhân dân phát huy làm phong phú thêm cho trang phục ngày cưới. Những mốt "hiện đại" theo sự biến động của trào lưu trang phục nước ngoài xa lạ với thẩm mỹ của nhân dân, không phù hợp với tầm vóc cơ thể của con người phụ nữ Việt Nam đã dần bị loại trừ: như thứ váy năm, bảy tầng, kiểu tóc và những hình thức "trang điểm" diêm dúa, lạc lõng, lai căng, đua đòi, thiếu sự hài hòa thẩm mỹ, nó không làm đẹp mà đi ngược lại điều mong muốn của các cô dâu và mọi người.
Chúng ta đều biết, có những tộc người ở nước ta hay ở một số nước trên thế giới (dù đã có nền công nghiệp hiện đại) ngày nay vẫn duy trì một phong tục tốt: Cô dâu trong ngày cưới mặc bộ trang phục cổ truyền đẹp nhất của dân tộc mình.
Trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay còn nhiều khó khăn, trang phục lễ cưới nói chung, của cô dâu chú rể nói riêng cũng cần tùy thuộc vào khả năng kinh tế của từng gia đình, dựa theo phong tục tập quán ở từng địa phương mà định liệu. Ơở thành thị (hoặc ở nông thôn, nếu có điều kiện), cô dâu nên mặc áo dài trắng hoặc áo dài màu sáng, nhạt. Chọn lựa không thể tùy tiện, không nên quan niệm rằng loại vải nào càng đắt tiền là càng đẹp, màu sắc nào càng rực rỡ là càng sang trọng, hợp thời. Ngoài màu sắc (như trắng, đỏ, xanh nhạt...) hoặc theo chất liệu vải (như lụa, nhung, xoa ni lông...), còn phải căn cứ vào tầm vóc từng người (cao, thấp, gầy, béo).
***
Đăng nhập để trả lời
0
Trang phục lễ tang
Trong tập thể loài người đến trung kỳ thời đại đồ đá cũ mới có tập tục mai táng người chết, ai cũng hiểu là người đó không bao giờ còn trở lại với người sống nữa. Tình cảm thông thường của những người sống là sự thương nhớ, đau khổ... biểu lộ bằng nước mắt, sự buồn rầu, than vãn. Có thời kỳ, với triết lý của tôn giáo, người ta còn cho rằng sống là gửi, chết là về, chết là thoát khỏi sự đau khổ của cuộc đời, chết là để tiếp tục sống ở bên kia thế giới (hoặc là lên thiên đàng, hoặc là xuống địa ngục).
Nói chung tang lễ người Việt trong cái buồn lại xen lẫn một niềm an ủi hoặc lo lắng. Những diễn biến tình cảm có ảnh hưởng đến nội dung và các mặt hình thức trong tổ chức lễ tang. Dù sao với ý niệm "nghĩa tử là nghĩa tận", các hình thức biểu hiện mối quan hệ tình cảm, tinh thần trách nhiệm của người sống với người chết ngày càng phong phú, đa dạng. Trang phục lễ tang là một trong những biểu hiện quan trọng, lâu dần trở thành phong tục.
Tục thời Hùng Vương khi có người chết, người ta giã chày vào cối phát ra tín hiệu thông báo cho mọi người cùng biết, có thể thời đó đã có những nghi thức và trang phục đơn giản về lễ tang nhưng ta chưa tra cứu được.
Trang phục lễ tang, ngoài mục đích để biểu thị tình cảm, thái độ với người chết, còn là để phân biệt mối quan hệ thân sơ ruột thịt xa gần với người chết. Sau này, trang phục lễ tang, nằm trong toàn bộ tổ chức lễ tang, đã được giai cấp bóc lột, thống trị dùng làm phương tiện khoe của, thị uy, tuyên truyền cho quan điểm giai cấp, đẳng cấp đương thời. Trong khi đó, có những gia đình nhân dân lao động, không đủ tiền mua áo quan cho người chết, phải bó chiếu đem chôn, nói gì tới trang phục lễ tang cho người chết. Ngay cả trong trường hợp này, người ta cũng cố gắng tìm một dải vải nhỏ chít lên đầu, gọi là có tí chút để tang, cho đỡ tủi vong linh người chết, cho đỡ đau lòng người sống. Qua đó ta thấy trang phục lễ tang có ý nghĩa quan trọng thiêng liêng.
Trong xã hội phong kiến Việt Nam, từ thời nhà Lý, đã có nói tới quốc tang, với trang phục quốc tang dùng vải xô, gai. Vua chết, cả nước phải để tang. Vua Lý Nhân Tông, xuất phát từ lòng thương dân, trước ngày chết (1127) dặn lại quan, dân chỉ nên để tang 3 tháng. Vì vậy, sau khi vua chết, triều đình đã bỏ áo tang sớm. Đến thời Lý Cao Tông (1176 - 1210) bắt đầu để tang vua 3 năm. Sau đó, thỉnh thoảng cũng có đời vua (Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông) chỉ duy trì quốc tang hơn một năm vì những lý do khách quan nào đó (như sự trời ra tai cho thiên hạ v.v...)
Đến cái chết của vua Lê Thánh Tông (1497) trang phục quốc tang được thực hiện nghiêm túc:
Dân gian trăm họ phải để tóc dài, mặc áo xô trắng 100 ngày. Các quan để tóc dài, mặc áo xô trắng 3 năm. Ơở nhà có thể mặc áo xanh. Ngoài 100 ngày, được mặc áo xanh hay áo đen, không được dùng các màu hồng, màu lục. Từ đó về sau, từ vua đến dân ai cũng để tang cha mẹ 3 năm.
Đến năm 1601, vua Lê Thế Tông mất, lệ để tang lại được quy định cụ thể hơn:
- Thương phụ (chúa Trịnh) để tang 100 ngày. Khi ra làm việc ở vương phủ thì mặc áo trắng, dây thao trắng, mũ trắng.
Các thân vương và các quan văn võ tước quận công trở lên mà vẫn thường được dự chầu, các quan từ ngũ phẩm trở lên không thường xuyên vào chầu và các quan cai trị ở địa phương để tang 2 năm, mặc áo trắng vén gấu, dây thao trắng, mũ trắng. Sau 27 ngày, khi vào chầu hay khi làm việc có thể mặc áo đen, dây thao đen, mũ đen.
Về hàng võ, tước hầu, tước bá, từ ngũ phẩm trở lên, các chức nội giám, từ lục phẩm trở lên, về hàng văn, các quan bộ, tự, thủ lĩnh, tri phủ, tri huyện, hiệu quản trở lên để trong một năm, mặc áo trắng vén gấu, dây thao trắng, mũ trắng. Quá 100 ngày, khi vào chầu hay làm việc có thể mặc áo đen, dây thao đen, mũ đen.
Hàng võ, từ lục phẩm trở xuống, hàng văn, bát, cửu phẩm triều yết, để tang 9 tháng, mặc áo trắng vén gấu. Các hộ vệ hiệu sĩ, án lại, hoa văn (học sinh) để tang một năm. Khi vào chầu hay đứng đầu mặc áo đen, gươm vỏ đen, dây thao đen, mũ đen, không được dùng trang sức vàng bạc.
Vợ các quan là mệnh phụ để tang một năm, không là mệnh phụ để tang 100 ngày, không được trang sức.
Các ấm quan, thuộc viên và tạp lưu để tang 5 tháng, mặc áo trắng vén gấu, sau 100 ngày, khi vào chầu hay đến nha môn làm việc thì mặc áo, dây thao, mũ màu đen.
Các xá lại, văn thuộc, quan viên tử, tôn, nha lại, xã trưởng, thổ tù, phụ đạo, nhân dân ở làng nhà vua và ở trong đô thành để tang 100 ngày. Nhân dân các xứ để tang 27 ngày, đều cấm âm nhạc và đồ mặc, đồ dùng màu sắc lòe loẹt và đồ châu ngọc, vàng bạc.
Năm 1758, vua Lê Hiến Tông mất, triều đình lại yết bảng:
- Các hoàng thân và trai gái họ nhà vua đều để tang theo gia lễ.
- Các quan văn võ được dự chầu trở lên, các quan nội giám từ chức thiên giám trở lên, để tang ba năm, khi chầu (vua) thì mũ, áo, đai, đều màu đen, khi hầu (chúa) mặc áo thanh cát màu hoa quì, đội mũ sa đen, dây thao đen. Ra công đường làm việc mặc áo vải đen.
- Vợ các quan văn, quan võ, người nào là mệnh phụ để tang một năm, người nào chưa là mệnh phụ để tang 5 tháng.
- Hàng văn từ tự thừa, đồng tri phủ trở xuống để tang 9 tháng. Hàng võ từ thuộc viên có chức trở xuống, nội giám từ chức phụng ngự trở xuống, để tang 9 tháng. Aáo mũ vào chầu đều dùng sắc đen. Khi vào hầu mặc áo thanh cát màu hoa quì, đội mũ sa đen, dây thao đen. Ra công trường làm việc, mặc áo vải đen.
- Các ấm chức, nho sinh trúng thức, giám sinh, biền binh hợp thức, nho sinh, sinh đồ, quan viên tử tôn, nhiều nam, học sinh, sinh viên, đều để tang 5 tháng. Khi vào hầu phủ chúa mặc áo thanh cát màu hoa quì, ngày thường đều dùng áo vải đen.
- Chức phụ đạo, thổ tù, các thuộc viên, tạp lưu, các án lại, hoa văn học sinh, thư tả, đề lại, xã trưởng để tang 5 tháng. Khi hầu phủ chúa mặc áo thanh cát màu hoa quì, ngoài ra đều dùng các vải đen.
- Xã dân các huyện xứ Thanh Hoa và nhân dân trong đô thành để tang 1 tháng, nhân dân các xứ để tang 27 ngày.
Phàm màu sắc lòe loẹt, châu ngọc vàng bạc đều cấm cho đến hết hạn để tang.
Đối với nhà chúa:
- Năm 1729, chúa Trịnh Cương mất, thân thuộc nhà chúa để tang theo gia lễ. Các quan võ được dự ban chầu trở lên, nội giám chức thiêm sai thái giám trở lên, để tang một năm, triều phục mũ đai đều dùng các màu xanh, lục, đen.
- Đến thời nhà Nguyễn, tổ chức quốc tang được bày biện qui mô, linh đình, tốn kém vô kể. Trang phục lễ tang của hoàng gia và các tầng lớp quan, quân cũng có nhiều kiểu cách phức tạp. (Viện bảo tàng Con người ở Pa-ri đã trưng bày một mô hình đồ sộ phản ánh cung cách xa hoa tuyệt đỉnh của vua nhà Nguyễn).
Ngoài quốc tang giai cấp phong kiến và nhân dân lao động chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến khi có tang đều tuân thủ những qui định về cái gọi là gia lễ.
Có năm loại trang phục lễ tang (gọi tắt là tang phục):
- Trảm thôi, ti thôi
- Cơ phục
- Đại công
- Tiểu công
- Ti ma
1. Trảm thôi là trang phục đại tang, để trở cha, mẹ 3 năm. Trảm thôi có nghĩa là may áo không cắt mà dùng phương pháp chặt vải cho các mép vải xơ ra một cách tiều tụy, tỏ ý đau đớn. Aáo trảm thôi dài, rộng, tay thụng may bằng thứ xô rất thô, xấu, không viền gấu, không cài khuy mà chỉ buộc dải. Ơở lưng áo có may thêm một miếng vải gọi là phụ bản. Hai vai có hai miếng vải gọi là thích.
Con trai, mặc áo trảm thôi còn phải buộc một sợi dây gai ngang lưng và đội một loại mũ gọi là mũ rơm. Mũ rơm hình vành bánh xe, tết bằng rơm hay lá chuối khô, ở trên có chằng hai dải vải xô hình chữ thập, có một quai cũng bằng vải xô để đeo dưới cằm.
Tục chống gậy. Cha chết thì con chống gậy tre. Phải chọn thứ tre màu xẫm đen (màu tang tóc). Sở dĩ chọn loại tre vì cây tre bốn mùa không đổi mấu, ví như tình cảm thương đau của người con không bao giờ giảm sút. Gậy tre để tròn, tượng trưng cho trời, ý coi cha như trời cao.
Mẹ mất thì con chống gậy bằng gỗ cây vông. Cây vông còn tên là đồng. Đồng nghĩa là cùng, ý rằng lòng mẹ vẫn cùng hợp với cha. Gậy vông được đẽo phần trên tròn, phần dưới vuông. Hình vuông tượng trưng cho đất, ý coi mẹ như đất dày.
Chống gậy để tỏ ra là người con có hiếu, vì quá buồn thương, khóc lóc đến nỗi ốm yếu, không đủ sức đi đứng như bình thường.
Trong đám tang mỗi người con trai đội một mũ rơm, chống một gậy. Vắng người nào, mũ và gậy phải được treo ở cạnh bàn thờ hay đặt theo áo quan để mọi người cùng biết.
Con gái, con dâu để trở đạt tang cũng mặc xô gai nhưng không chống gậy, không đội mũ rơm mà xõa tóc, đội mũ mấn. Gọi là mũ nhưng chỉ là miếng vải xô chiều ngang khoảng 30 cm. Chiều dài khoảng hơn 1 m gập đôi lại nhưng để hai đầu vải so le, rồi khâu một cạnh, chùm lên đầu thành một hình chóp.
Đặc biệt, con trai, con gái và vợ người chết còn dùng một dải xô trắng chiều ngang khoảng 30 cm, dài hơn 1 m, theo chiều dài gập lại vài lần để hình thành một chiếc khăn có chiều ngang khoảng 5 cm, chít quanh đầu, buộc múi ở phía sau, bỏ thõng hai đầu khăn xuống lưng, gọi là khăn ngang.
Ti thôi là tang phục không trọng bằng trảm thôi. Ti thôi có trường hợp để tang 3 năm, có trường hợp để tang 1 năm, 5 tháng hoặc 3 tháng. Ti là bằng. Gấu áo ti thôi không để xổ mà có viền qua loa. Aỏp dụng cho những trường hợp như con để trở mẹ ghẻ, mẹ nuôi (cũng có khi dùng trảm thôi) 3 năm. Chồng để trở vợ, con rể để trở bố mẹ vợ 1 năm. Cháu để tang ông bà nội, con để tang cha dượng, anh em ruột đều để tang ti thôi một năm. Trường hợp chị em dâu, chị em ruột đã lấy chồng, anh em chị em coi chú con bác để tang 9 tháng. Để tang cụ ông cụ bà nội, ông bà ngoại, anh em chị em cùng mẹ khác cha 5 tháng. Trường hợp con không ở với cha dượng, chồng để trở vợ lẽ đều để tang ti thôi 3 tháng v.v...
2. Cơ phục cũng như ti thôi nhưng áp dụng trong những trường hợp như để trở bác trai, bác gái, chú, thím, cô ruột (chưa lấy chồng) đều một năm...
3. Đại công là trang phục dùng thứ vải to sợi, còn thô, trong những trường hợp như cô ruột đã lấy chồng, anh em chị em con chú, con bác, đều 9 tháng...
4. Tiểu công là tang phục dùng thứ vải nhỏ sợi đã làm kỹ trong những trường hợp như cháu để trở ông bác, bà bác, ông chú, bà thím, bà cô ruột (chưa lấy chồng), bác trai bác gái, chú thím, cô họ (chưa lấy chồng) đều 5 tháng v.v...
5. Ti ma là tang phục có thể dùng vải nhỏ sợi, mịn, trong những trường hợp như để trở ông bà họ, vợ lẽ cha, anh em năm đời... đều 3 tháng v.v...
Ngoài ra còn nhiều qui định về để trở đối với hàng con, hàng cháu, họ nội, họ ngoại, họ xa, họ gần, thày dạy học, bè bạn... rất phức tạp.
Đối với người chết cũng có trang phục như khăn chít đầu (bức cân), khăn phủ mặt (khăn minh mục), bao tay (các thủ bạch), áo thâm, áo trắng, quần trắng, thắt lưng, bít tất, giày... Aáo phải cắt hết khuy, mặc lẻ, không nên mặc chẵn v.v...
Trước kia những người để tang đều mặc quần áo tang trắng, nhưng về sau, trừ những người để trở đại tang, còn chỉ quấn khăn là chính: nam quấn khăn vải trắng rộng bản, nữ vấn khăn trắng xoắn lộn với tóc. Hàng chắt, khăn màu vàng, hàng chút chít khăn màu đỏ. Đi đưa ma, xưa thường phải đi chân đất, nhà giàu ở thành thị sau bỏ lệ ấy mà đi dép tết bằng cói.
Sau ngày lễ tang, những người thân vẫn còn chít khăn ngang cho tới 100 ngày (có người theo phong tục phương Tây, dùng vải đen may khăn ấy). Aáo quần để xổ gấu. Sống áo dài để hai nẹp máy ra ngoài (như mặc áo trái). Đội mũ cát hay mũ phớt, phải quấn khăn trắng quanh mũ. Hoặc may một khoanh băng đen (rộng khoảng 4 cm) có thừa ra hai đuôi ngắn về phía sau, lồng vào mũi.
Từ Cách mạng tháng Tám đến nay, trang phục lễ tang đơn giản nhiều. Ví dụ dùng áo xô nhưng bỏ hai tay áo đi. Đưa đám, đi giày dép bình thường. Nhiều người không đội mũ rơm, không chống gậy nữa. Ngày thường để trở bằng cách dùng miếng vải đen rộng chừng 8 cm máy thành nhiều nếp đeo quanh cánh tay. Có người đính ở trước ngực một miếng vải đen nhỏ. Có gia đình, trong đám tang vẫn mặc bình thường và chỉ để tang bằng cách chít khăn: Những người thân thích nhất với người chết (như vợ với chồng, con với cha, mẹ...) chít khăn xô buông hai dải phía sau. Họ hàng chít khăn vải trắng quanh đầu. Bè bạn đeo băng đen ở cánh tay hay đính miếng vải đen trước ngực.
Xét về nhiều mặt, để tang như vậy là thuận hợp, vừa giản dị, tiết kiệm, vừa không cắt đứt truyền thống dân tộc mà vẫn không hề có gì làm giảm bớt tình cảm thương tiếc đối với người quá cố. Điều quan trọng là ở ý thức, thái độ của mọi người trong đám tang. Ngoài việc không nên nói chuyện ồn ào, cười đùa cợt nhả, những người trong nhà tang và cả những người đến viếng, đi đưa tang không nên ăn mặc lòe loẹt (như mặc áo dài hoa to sặc sỡ, hoặc đeo cravat đỏ...), hoặc trang điểm cầu kỳ, diêm dúa...
Đối với trường hợp quốc tang (lãnh tụ tối cao mất), cán bộ, quân đội, nhân dân đeo ở ngực miếng vải nhỏ chữ nhật nằm (3cm x 6cm) nửa trên đỏ, nửa dưới đen.
Nhìn lại, trang phục lễ tang Việt Nam đã có từ lâu đời. Xưa nay, khi phát tang thường là dùng màu trắng may bằng các loại vải thô, rẻ tiền như xô, gai... Khi may, khi mặc, còn cố tình làm cho xấu xí đi để tỏ lòng thương tiếc đối với người quá cố, để chứng minh bản thân người sống đau buồn đến mức không muốn hưởng thụ gì là vui, sướng, đẹp... Thực chất tình cảm có thể như vậy. Nhưng rồi cũng không ít trường hợp chỉ là để cho người khác khỏi chê cười, nếu không phải là bày vẽ để thực hiện những ý đồ riêng biệt (như lừa dối mọi người). Nếu đi quá, sẽ là những hiện tượng hình thức chủ nghĩa, phản vệ sinh (thời xưa khi đưa ma phải ăn mặc xộc xệch, nhàu nát, đi chân đất, lăn đường hoặc chống gậy đi giật lùi, tùy mối quan hệ máu mủ với người chết. Sau đó, người để tang còn không chải tóc không tắm giặt, không xem hát, nghe nhạc trong nhiều ngày). Quan điểm tư tưởng phong kiến cũng được biểu hiện rõ ràng (như quan điểm trọng nam khinh nữ).
Lược bỏ những hình thức tiêu cực, việc để tang rất có ý nghĩa trong mối quan hệ giữa người sống với người chết, giữa những người sống với nhau. Trang phục lễ tang nhắc nhở người sống biểu lộ tình thương yêu và lòng biết ơn đối với người đã khuất. Nó khuyên những người đang sống cần cống hiến cho xã hội như thế nào, cần đối xử với nhau như thế nào để khi nhắm mắt có thể ngậm cười trong niềm thương tiếc của mọi người. Và nếu mọi người có điều kiện tìm hiểu về những nguyên nhân nào đó đã sản sinh ra những tục lệ để tang, chắc rằng tác dụng giáo dục con người càng thêm sâu sắc.
Trang phục lễ tang đơn giản, nghiêm túc mang được những ý nghĩa sâu sắc cũng là một mặt của đời sống văn hóa mà mỗi dân tộc có truyền thống văn minh không thể thiếu quan tâm.
***
Đăng nhập để trả lời
0