II. Trang phục phụ nữ:
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, trang phục của phụ nữ nông thôn có nhiều thay đổi để phù hợp với cuộc sống vừa lao động sản xuất, vừa chiến đấu. Chị em mặc gọn gàng: áo cánh nâu, cổ tròn hay cổ quả tim, trong mặc áo lót không tay, quần đen bằng vải phin hay láng. Vấn khăn và chít khăn vuông mỏ quạ. Những người thoát ly làm cán bộ mặc áo kiểu sơ mi đại cán, tay thẳng, cổ hình cánh nhạn, áo thường may bằng vải màu xanh hòa bình hay ka-ki màu xi-măng, màu be hồng. Búi tóc hoặc cặp tóc. Đi dép cao su đen. Thời gian này, ở vùng tự do, hầu như vắng bóng những chiếc áo dài màu sắc của nữ thanh niên. Nhưng các bà, các cụ vẫn mặc áo tứ thân dài đi mít tinh, đi lễ, đi họp...
Ở miền Trung và miền Nam, phụ nữ vẫn giữ được nền nếp ăn mặc truyền thống. Ở vùng Pháp tạm chiếm cũng không có gì thay đổi, đặc biệt lắm trong tầng lớp phụ nữ lao động, tiểu thương, và một số phụ nữ tiểu tư sản.
Hòa bình lập lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Tiếp đó nhân dân Việt Nam lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Một nửa nước về phía Nam bị tạm chiếm. Những người phụ nữ miền Nam đã góp phần đáng kể trong cuộc đấu tranh anh dũng với danh nghĩa là đội quân tóc dài nổi tiếng. Quần áo bà ba, khăn rằn trên đầu hay vắt vai, đội quân này đã làm cho giặc Mỹ nhiều phen điêu đứng. Không thể không nhắc đến những đôi dép cao su truyền thống và sau đó là chiếc mũ tai bèo điển hình, đánh dấu nét đặc thù và trang phục của những chiến sĩ gái và trai chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam trong giai đoạn này.
Miền Bắc vừa chiến đấu vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phụ nữ thành thị, nông thôn đều tích cực tham gia hoạt động xã hội. Để phù hợp với cuộc sống mới, phụ nữ thành thị lại dần dần thay đổi cách ăn mặc từ xênh xang đến gọn gàng khỏe khoắn.
Người nhiều tuổi thường mặc áo cánh ngắn hoặc áo kiểu bà ba, may sát eo, tà rộng, thân dài, đường gấu cong hình vành lược. Cửa tay rộng. Cổ áo hình quả tim hoặc cổ thìa, cổ vuông..., áo may bằng các loại vải mỏng như phin nõn, lụa, pô-pơ-lin... Cán bộ, nhân viên cơ quan, xí nghiệp thường mặc áo sơ-mi kiểu Hồng Kông, cổ bẻ, tay thụng. Hầu hết nữ thanh niên mặc áo sơ-mi chiết eo hay kiểu Hồng Kông bó. Tay áo dài, cửa tay có măng sét to hoặc nhỏ, hoặc tay lửng 3/4, hay áo cộc tay, vai bồng. Các kiểu cổ áo: hai ve, lá sen nằm, lá sen đứng, lá sen vuông, một ve nhọn v.v... Aáo may bằng nhiều loại vải và nhiều màu sắc, điểm hoa hoặc kẻ ô, kẻ sọc.
Quần màu đen được dùng phổ biến trong mọi tầng lớp, thường được may bằng lụa chéo, lụa trơn, lụa hoa hay sa tanh, lanh, phíp v.v...
Mùa rét, các bà, các cô thường mặc áo bông Tàu: cổ áo đứng cao 5 cm (như cổ áo dài) vai tra, cửa tay rộng. Aáo thắt eo, tà rộng, chần mỏng, cài khuy, khuy thường bằng vải tết hình chiếc lá hay hình bướm thường cùng màu với vải áo. Kiểu áo bông này mặc gọn và đẹp. Còn áo kép là loại áo may bằng hai lần vải dày như nhung, hoặc sa tanh hoa hay trơn... cũng may như hình thức áo bông Tàu nhưng ở giữa không có bông (áo kép thường mặc vào mùa thu). Thiếu nữ và nữ thanh niên mặc áo vét Hồng Kông có li hay may thẳng, bằng vải ka-ki dày. Cổ hai ve nhọn hay tròn hoặc lá sen đứng. Một hàng cúc cài ở giữa hay cài lệch bên ngực. Có hai túi thẳng hay chéo. Tay thẳng, cấu tay gập vào trong hay lật ra ngoài. Aáo len các loại: dài tay hoặc không tay. Aáo mở, cài cúc, hay áo chui đầu, thân áo dài đến cạp quần, mặc ra ngoài áo sơ mi hay ở trong áo vét. Cổ quàng khăn san, khăn nilông, khăn hoa hoặc khăn len...
Những người đứng tuổi thường quấn tóc trần, búi tóc hoặc uốn tóc. Trẻ tuổi, nữ thanh niên: cặp tóc, tết tóc đuôi sam, cắt tóc ngắn đến ngang vai hoặc uốn tóc. Đi guốc gỗ hay guốc nhựa đế bằng, hoặc cao gót từ 5cm - 7cm - 9cm lòng máng, có một quai ngang hay hai quai chéo. Người cao thường đi dép lê bằng nhựa nhiều kiểu và màu khác nhau.
Chiếc áo cánh của chị em nông thôn miền Bắc từ năm 1954 trở đi đã được cải tiến nhiều: thân áo may sát eo hơn, vạt áo lượn vòng. Ngoài màu nâu, còn dùng màu xanh hòa bình, màu trắng, màu hồng... bằng nhiều loại vải khác nhau.
Hình ảnh những cô dân quân áo cánh nâu non, chít khăn vuông đen mỏ quạ, chiếc thắt lưng da to bản thắt ngang người, vai đeo súng... là một hình ảnh đẹp mới của người phụ nữ Việt Nam, với những nét nền nã, kín đáo nhưng khỏe mạnh, kiên cường trong tư thế sản xuất và sẵn sàng chiến đấu.
Nữ công nhân mặc bộ quần áo bảo hộ lao động màu tím than hay áo sơ mi trắng, quần tím than liền yếm. Tóc cặp gọn lên cao, cắt ngắn hay uốn. Đội mũ lưỡi trai hay chùm bao tóc bằng vải hoặc buộc chéo trên đầu chiếc khăn nhiều màu. Chân đi giày ba-ta, giày vải thấp cổ, hay dép cao su đen hoặc đi "bốt"...
Áo bờlu (blouse) dài màu trắng, quần vải trắng, đội mũ tròn trắng khi làm việc là trang phục của chị em ngành y tế.
Chị em mậu dịch viên mặc áo sơ mi cổ hai ve, tay thẳng rộng, màu xanh hòa bình hay màu trắng.
Những ngày hội, ngày tết, bên cạnh những bộ trang phục khỏe đẹp của lực lượng lao động sản xuất và chiến đấu, người ta lại được thấy những chiếc áo dài đổi vai, thắt vạt, những dải thắt lưng hoa lý, hoa đào và đặc biệt là những tà áo dài rực rỡ nhiều màu sắc của các cô gái tung bay, với những chiếc nón trắng cầm tay, che nghiêng bên mái tóc, trông như đàm bước đẹp.
Những bộ trang phục phụ nữ ấy toát lên tính chất nhẹ nhàng, thanh lịch của từ ngàn xưa đúc lại. Đồng thời còn biểu hiện sức sống mạnh mẽ của vẻ đẹp truyền thống đã được bao đời gìn giữ và phát triển, đã vượt qua được những thử thách của thời gian, chống trả lại sự chi phối dồn dập của các kiểu mốt lai căng. Mặt khác vẫn có sự tiếp thu những yếu tố mới lành mạnh, hài hòa, giản dị để tự khẳng định sự tồn tại và thích nghi với cuộc sống hiện đại. Điều ấy rất đáng tự hào.
Phụ nữ lao động ở thành thị, ở nông thôn Trung Bộ vẫn thường mặc áo cánh ngắn hay áo bà ba bằng nhiều loại vải và nhiều màu khác nhau. Mặc quần màu đen, ống rộng, bằng sa-tanh hay ni-lông. Tóc búi gọn sau gáy, có người vấn khăn như phụ nữ miền Bắc.
Phụ nữ đứng tuổi tầng lớp trên ở thành phố, thị trấn mặc áo dài may sát thân, thường ưa màu sáng như màu hoàng yến, màu xanh da trời... Cổ đứng, cao từ 3 - 5cm. Đặc biệt màu tím Huế của chiếc áo dài vẫn được phụ nữ ưa chuộng. Tóc vẫn búi như bình thường. Tuy nhiên cũng có hình thức khá cầu kỳ, như kiểu búi tóc cao lên đỉnh đầu cuộn lại làm ra hình mỏ phượng còn những dải tóc ở bên và ở gáy được chải, xếp thành nhiều lớp như cánh phượng, gọi là búi tóc phượng. Nhiều người vẫn vấn tóc trần nhưng sau khi vấn tóc, phía sau gáy lại chải một lớp tóc võng xuống như hình lưỡi trai. Nữ sinh mặc áo dài màu trắng, quần trắng. Tóc cặp trễ sau lưng hay cắt ngắn đến ngang vai (tóc thề), với chiếc nón che nắng đồng thời cũng là vật trang sức. Chiếc nón trắng và mỏng, lồng vào giữa hai lớp lá là một số chữ bằng giấy màu trổ cắt, còn gọi là nón bài thơ. Quai nón bằng dải lụa, hoặc màu hồng, xanh da trời hoặc màu hoàng yến... được thắt nơ như đôi bướm ở hai đầu trong vành nón hoặc buộc nút buông hai đầu mềm mại rủ xuống cạnh mái tóc người đội nón.
Phụ nữ Huế ít dùng đồ trang sức, một số người vẫn đeo kiềng vàng. Phấn son chỉ tô điểm nhẹ khi cần thiết làm tôn vẻ đẹp tự nhiên của khuôn mặt.
Ơở Nam Bộ, phụ nữ lao động mọi lứa tuổi ở nông thôn thường vẫn đội khăn rằn, mặc quần áo bà ba quen thuộc màu đen và còn mặc thêm nhiều màu khác nữa trắng, xanh, nâu, gụ, hoa... bằng nhiều loại vải, nhất là ni lông. Aáo dài vẫn được sử dụng.
Người nhiều tuổi thường để tóc dài, búi gọn sau gáy. Nữ thanh niên cặp tóc, hoặc xõa tóc.
Tại thành thị, phụ nữ nhiều tuổi mặc áo dài may sát thân, vạt dài quá đầu gối, mặc quần trắng hoặc đen, tóc búi gọn sau gáy hoặc uốn tóc.
Nữ thanh niên tầng lớp trên và đa số tiểu tư sản thay đổi kiểu ăn mặc chạy theo "mốt hiện đại" từ thế giới thời trang, được sự khuyến khích của Mỹ - Ngụy..., hàng ngày tác động vào mạnh mẽ.
Kể từ năm 1954, chiếc áo dài Việt Nam đã được nhiều nữ sinh mặc đến trường với kiểu tà rộng, eo thắt, cổ cao có lót cứng, ống tay hẹp.
Năm 1960, nhất là khi hàng ni lông tràn ngập miền Nam, thịnh hành nhất là kiểu áo dài mỏng được mặc ra ngoài một loại áo lót, cổ khoét rất sâu xuống, không tay, may liền với quần sa-tanh đen.
Ít năm sau, Trần Lệ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu tung ra một kiểu áo dài khoét cổ ngang - bị phản đối kịch liệt - nhưng rồi người ta lại khoét cổ tròn, cổ vuông, cổ nhọn... tay áo ngắn hơn, tà rộng, dài ra, nhưng thân áo bó sát, thắt eo.
Những năm sau 1968, trong phong trào "mi-ni" chiếc áo dài lại đổi dạng: tà áo rất hẹp, vạt ngắn đến đầu gối, cổ cao, vai nối chéo, cánh tay áo ngắn, có tay rộng. Do xẻ tà cao, bên trong lại không mặc áo cánh nên từ chỗ xẻ tà đến cạp quần thường hở cả lườn.
Áo dài may bằng các loại vải nội, vải ngoại đắt tiền với các màu trắng, màu sáng, màu bồ quân, màu tím Huế... Thân và vạt áo có khi thêu hoa, thêu rồng, thêu phượng. Nếu là vải hoa thì in đủ các cỡ hoa to, hoa nhỏ nhiều màu sặc sỡ, hoặc các hình kỷ hà rối rắm.
Phong trào mặc áo, váy đầm cũng song song phát triển. Thời gian đầu (1954 - 1959) vẫn là các kiểu đơn giản như sơ-mi cổ tròn, cổ bẻ, rồi không có ve cổ, cổ khoét sâu hình bầu dục, hình tròn, kiểu cổ ngang, cổ vuông... Aáo tay ngắn, tay phồng... may bằng vải trắng, vải màu hay vải hoa.
Váy, từ kiểu dài quá đầu gối, may phồng và hơi khum phần dưới (gọi là váy chuông) đến những năm 1960 lại may thẳng, xẻ chút ít ở giữa thân sau, hoặc may xếp li, hoặc may bó. Mặc với áo ngắn tay hoặc áo không tay, ngang lưng có dải vải thắt ngoài, bỏ giọt bên cạnh hay ở giữa. Hoặc mặc với áo thẳng, cổ viền, túi viền... một màu hay nối màu.
Điểm xuyết vào các bộ trang phục này là những đường ren, và trên ngực, bên vai, hay ở thắt lưng có đính bông hoa bằng vải, chiếc "nơ" to, hoặc chiếc kẹp trang sức đá quý, dải vải mỏng, dài... Nếu mặc áo ngắn tay hay không tay, người ta thường đeo găng ngắn hoặc dài bằng ren hay xoa... thêu đẹp. Có người quàng khăn mỏng trên vai, đeo hoa tai bằng vải...
Áo dệt thun chui đầu với các kiểu cộc tay hay không tay, cổ bẻ hay không cổ, gấu áo bỏ ra ngoài váy. Có cả các loại quần thun bó sát, ống ngắn, hoặc rộng dài hơn.
Sau năm 1968, chiếc váy mi-ni ra đời, ngắn trên đầu gối, càng ngắn càng hợp thời trang. Loại áo khoét cổ có bớt đi, áo không tay và ngắn tay lại phát triển. Aáo dài tay cài khuy "măng xét" cũng được sử dụng. Đặc biệt áo sơ mi may rất dài. Có loại thân trước xẻ làm ba vạt.
Quần Âu ống loe 30cm - 40cm xuất hiện với nhiều loại thắt lưng da các màu, to bản. Người ta dùng cả thắt lưng bằng kim khí. Và cho đến những năm về sau này, ống loe đã phát triển lên tới 50cm rồi 60cm, hai bên ống quần không nối, gấu quần không vén, không máy mà được đốt thành những hình sóng lượn.
Âo quần kiểu "híp-pi" đã một thời chiếm lĩnh mốt thời trang của Sài Gòn. Áo may bằng vải xô mỏng, thêu rối rắm, tay dài hoặc tay ngắn. Có loại áo may rất ngắn, để hở cả lưng, bụng người mặc, ống tay áo dài hoặc ngắn nhưng rộng, gấu tay áo thít lại cho tay áo phồng lên. Quần bò "Zin" bó mông, bạc phếch, có khi vá miếng da ở đầu gối, ở mông...
Xuất hiện thêm loại váy dài đến mắt cá nhân, có hàng khuy ở giữa từ thắt lưng xuống gấu, cài mấy khuy là tùy thuộc ở chủ nhân.
Về đầu tóc, từ năm 1954, nhiều bà đã thôi búi tóc mà uốn quăn. Tóc của nữ thanh niên cũng diễn ra đủ kiểu: cắt ngắn, uốn điện, và kéo một số dải tóc uốn thành hình móc câu xuống trước trán hoặc để tóc dài, uốn lượn sóng, hoặc cuộn những búp (ăng-lê) đung đưa quanh đầu.
Rồi đến giai đoạn uốn tóc, rẽ đường ngôi lệch trở thành lạc hậu, lúc này người ta rẽ đường ngôi giữa và để tóc buông thả tự nhiên đến ngang vai, ngang lưng, gió thổi bay lòa xòa che cả mặt. Hoặc cuộn thành nhiều cuộn tóc nhỏ trên đầu, hoặc đánh rối làm cho tóc bù xù...
Giày dép cũng thay đổi nhanh chóng. Năm 1954 - 1959, phụ nữ giàu sang mới có điều kiện đi giày da đế mỏng, mũi nhọn, gót cao. Đến ít năm sau, người ta đi giày mũi vuông, gót vuông, thấp. Nếu mặc áo dài thì phải đi guốc gỗ gót cao, nhọn, sơn mài hay sơn các màu, hoặc có vẽ hoa lá.
Cuối cùng là những đôi giày rất cao, rất thô và những đôi guốc cũng thật cao, vượt quá 10cm, như những đôi "cà kheo" nặng nề.
Đồ trang sức phổ biến có vòng tay bằng nhựa nhiều màu đeo ở cổ tay hay ở bắp tay. Nhẫn phần nhiều đều gắn mặt đá nhiều màu, cỡ lớn. Tai đeo vòng to. Cổ đeo các vòng đồng hoặc các chuỗi hột to.
Kính đeo mắt, giọng bằng nhựa, mắt kính càng ngày càng to ra với các hình tròn, hình chữ nhật, hình vuông, nhiều cạnh, với các màu xanh, tím nhạt, hồng nâu v.v...
Các mốt trang điểm tất nhiên theo hướng phát triển của mốt trang phục. Càng về sau, mặt càng đánh bự phấn. Môi son, má hồng đỏ chót. Mắt kẻ đậm nét, trên mi tô màu xanh, hoặc nâu, hoặc tím, có người tô cả hai màu hoặc ba màu nối tiếp, cặp hàng lông mi giả. Lông mày nhổ, để lại một hàng chỉ nhỏ rồi vẽ cho đậm. Móng tay, móng chân đánh màu hồng rồi đỏ, thậm chí màu nâu, màu tím, màu xanh, màu nhũ bạc...
Từ ngày thống nhất đất nước đến nay, áo mặc của phụ nữ ba miền không còn sự khác biệt nhiều nữa. Phụ nữ đứng tuổi ở thành thị, ngày thường mặc áo cánh, áo bà ba, áo sơ-mi Hồng Kông, áo sơ-mi chiết ly... với các loại cổ: hình quả tim, cổ thìa, cổ vuông, hình chữ V, cổ cánh nhạn, có hai ve... Có người mặc áo hai bên vạt trước hay ở ngực thêu, hoa thưa hoặc giua nổi một vài họa tiết. Gấu áo, cổ tay miệng túi, đường viền cổ, hai bên tà áo đều giua. Có hình thức thêu hoa ở chung quanh gấu áo hoặc ở bốn góc tà trước và sau. Vai áo tròn (cắt liền vải), hoặc có khi cắt vai chéo (raglan). Ngày lễ, ngày Tết, các bà mặc áo dài, màu trang nhã.
Nữ thanh niên có nhiều kiểu áo: áo bộ đồ mặc ở nhà, áo chui, áo mở, áo sơ-mi chiết ly, áo sơ-mi Hồng Kông, áo vai bồng, vai liền, vai tra, vai chéo, áo có hoặc không có cầu vai, áo có cả cầu ngực hoặc trang trí đường nổi ở ngực áo thành nửa hình tròn, hình vuông, hình nhọn, áo ngắn tay hoặc dài tay, tay măng sét, tay lửng, tay chun, tay loe, tay thụng, tay chun xi mốc v.v... Aáo mở tà hoặc không mở tà, vạt áo cong vành lược, hoặc lượn hình cung, hoặc tròn... Có kiểu áo hai hoặc một túi ngực nổi, có hoặc không có nắp, miệng túi thẳng hoặc chéo, có kiểu túi hình trái đào. Ve cổ áo phụ nữ, có nhiều kiểu rất phong phú: cổ liền, cổ thìa, cổ quả tim, cổ vuông, cổ chữ U, có nẹp hoặc làm ximốc, cổ tròn có nẹp hoặc làm ximốc, cổ chữ B, cổ một ve, cổ hai ve tròn, cổ hai ve nhọn, cổ hai ve liền, cổ lá sen tròn, cổ lá sen nhọn, lá sen vuông, lá sen nằm, cổ ve đứng có chân, cổ đứng (như cổ áo dài), cổ cánh nhạn, cổ lật nhọn, cổ lật vuông, cổ lật tròn,cổ lật nằm, cổ cravát, cổ lính thủy, cổ Nhật Bản, (cổ bà lai), cổ san (châle) v.v...
Có các kiểu áo cầu kỳ như áo cánh bướm, áo cánh dơi. Đặc điểm của áo cánh bướm là cổ áo tròn, tay áo loe rộng, gấu áo là một đường cong. Khi mặc, giang thẳng hai tay thì trông toàn bộ thân áo như một nửa hình tròn. Đặc điểm của áo cánh dơi là cổ áo hình nhọn (chữ V), tay áo loe rộng, gấu áo hình nhọn (chữ V). Khi mặc, giang thẳng hai tay thì trông toàn bộ thân áo như một hình tam giác cân. Những kiểu áo này được may bằng chất liệu mềm để tạo những nếp rủ làm cho những đường cong ở cửa tay, gấu áo được mềm mại, với các màu sặc sỡ, có các hình trang trí ở cổ áo, tay áo, gấu áo... gây thêm ấn tượng sâu sắc cho người ta về tên kiểu áo.
Mùa hè, thường dùng áo bằng các loại vải như phim nõn, lụa, xoa... hợp với khí hậu Việt Nam. Nhiều kiểu áo dệt kim cộc tay, áo phông đơn giản hợp với tuổi trẻ, tạo dáng khỏe mạnh. Aáo dài vẫn được mặc thường xuyên ở đô thị miền Nam, còn ở miền Bắc và miền Trung thường mặc trong những ngày cưới, ngày hội, ngày Tết, một số ngày nghỉ. Giới trẻ cũng ưa chuộng áo dài may kiểu vạt ngắn, thêu hoa hoặc in những họa tiết đẹp ở tà áo hay ở ngực.
Hình thức may áo sơ-mi ghép nhiều màu bằng vải hoa hay vải trơn vào các bộ phận hợp lý như cổ áo, tay, ngực, vai... đã làm cho chiếc áo thêm hấp dẫn, tươi trẻ. Ơở nước ta, áo ghép màu còn có ý nghĩa tiết kiệm.
Các bà, các cô thường mặc quần lụa hay sa-tanh đen. Nữ thanh niên sau một thời gian dài mặc quần đen ống hẹp, rồi ống thẳng, rộng, hơi loe, gần đây đa số mặc quần Âu. Trong thời gian này, có phong trào không mặc quần trắng nữa mà mặc quần Âu, áo dài.., vừa tiết kiệm, vừa tiện lợi, nhất là trong thời tiết mùa đông ở miền Bắc, miền Trung, một chiếc quần lụa trắng không đủ để chống rét.
Sinh hoạt trong nhà, nhiều phụ nữ ở cả ba miền đã mặc quần áo vải hoa và gọi là đồ bộ (mặc trong nhà).
Các kiểu áo mùa đông phát triển rất mạnh, áo vét, áo len dài tay, ngắn tay, không tay, áo khoác kiểu măng-tô có đai thắt eo, áo chui đầu cổ cao hoặc cổ sơ mi, gấu chun hoặc không gấu..., đan hoặc dệt, có nhiều họa tiết và màu sắc, áo măng-tô, áo bay, áo blu-dông, áo lông, áo vi-ni-lông, áo dệt kim dầy kiểu thể thao, áo liền mũ, thắt dây lưng như áo trượt tuyết của các nước châu Âu v.v...
Chiếc áo bông phổ biến trước kia ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ, nay chỉ những người già mới mặc.
Ơở thành thị miền Bắc, phụ nữ vấn khăn chỉ còn lại số ít. Người nhiều tuổi thường búi tóc. Còn trẻ tuổi uốn tóc các kiểu hay cắt tỉa ngắn, uốn điện cho ốp vào đầu, hoặc để tóc dài, cắt ngang vai...
Các bà chít khăn vuông vải đen hay sợi dệt, khăn ni lông... nữ thanh niên đội mũ len đan hình tròn ống, có người đội mũ nồi, mũ lưỡi trai bằng nhung, hoặc chít khăn vuông mỏng, quấn khăn dài nhiều màu sắc hoặc quấn khăn dài bằng len móc, ở hai đầu khăn có tua. Ít thấy dùng phu-la như xưa nữa.
Giày, guốc vẫn có các kiểu gót nhọn, gót vuông, gót bằng. Chất liệu giày bằng da, dép bằng nhựa nhiều màu, guốc bằng gỗ sơn nhiều màu hay sơn mài hoặc dùng bút điện đốt, vẽ các hình hoa văn trang trí trên mặt guốc, ở thành guốc. Một thời gian (1980 - 1982), thịnh hành loại guốc gỗ "gộc", cao từ 9 - 11cm, không khoét hoặc khoét rất ít ở phía dưới, trông rất thô, to quá khổ, không cân bằng, không phù hợp với vóc dáng người phụ nữ Việt Nam. Đến năm 1983 lại quay về các loại guốc cũ thanh mảnh, nhẹ nhàng hơn.
Trong lĩnh vực lao động sản xuất ở miền Trung, vẫn phổ biến chiếc áo cánh hoặc áo bà ba. Đi đâu, một số phụ nữ vẫn mặc áo dài. Búi tóc hoặc vấn tóc trần. Nữ thanh niên nông thôn, nhiều người mặc áo sơ mi các màu.
Ơở miền Nam, vẫn gắn bó với kiểu quần áo bà ba, búi tóc, chùm khăn rằn quen thuộc. Những ngày tết, ngày hội, vẫn thấy chiếc áo dài kiểu cũ.
Phụ nữ nông dân miền Bắc, người lớn tuổi vẫn vấn khăn, mặc áo nâu, quần vải đen khi lao động. Tết nhất, mặc áo cánh màu trắng, màu xanh, màu hồng, màu gụ... Trẻ tuổi, mặc áo sơ mi, mặc quần bằng lụa, sa tanh, phíp hoặc ta tăng đen. Cặp tóc gọn gàng. Ngày hội, ngày Tết, mặc sơ mi nhiều kiểu, nhiều màu bằng vải đẹp.
Nhìn chung, ở cả ba miền đã thấy một số nữ thanh niên nông thôn mặc quần Âu, mặc áo dài với những màu sắc nền nã.
Qua những kiểu cách ăn mặc như trên, ta thấy đang có hiện tượng giao hòa về trang phục phụ nữ, giữa nông thôn và thành thị, đặc biệt là trang phục khi không lao động. Đồng thời lại thấy trong hoàn cảnh đất nước đã thống nhất, người vào Nam, kẻ ra Bắc, do nhiều yêu cầu như công tác, thăm hỏi, buôn bán..., thậm chí nhiều người chuyển cả gia đình vào, ra ở hẳn, sự giao lưu thuận tiện giữa ba miền đã tạo điều kiện cho sự giao lưu trang phục phát triển. Bộ quần áo bà ba ngày nay không chỉ phổ biến ở miền Nam, màu tím Huế đã thấy thấp thoáng ở Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh, chiếc nón là Vĩnh Phú, Hà Sơn Bình... đã đi xa ngoài miền Bắc. Đặc biệt chiếc áo dài truyền thống, dù dài, dù ngắn tà rộng hay tà hẹp, màu trắng hay màu vàng, điểm hoa to, nhỏ hay in các hình ngang, dọc nhiều màu, bằng vải thường hay lụa quý..., ngày nay vẫn là chiếc áo dài của cả ba miền, bên cạnh những tấm áo dài nâu non đổi vai, buông vạt hoặc thắt vạt, bên cạnh những tà áo màu tím Huế, những tấm áo dài cài khuy cổ truyền ở miền Nam thường mặc. Chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam đã trở thành một biểu tượng Việt Nam đối với con mắt của nhân dân thế giới. Thấy một người phụ nữ mặc áo dài, khách quốc tế nhìn nhận ngay đây là người phụ nữa Việt Nam. Chiếc áo dài ấy đã góp phần chứng minh sự thống nhất giữa ba miền Trung Nam Bắc, chứng minh là chỉ có một nước Việt Nam thống nhất, không gì lay chuyển nổi. Chiếc áo dài ấy là thành tựu của sự sáng tạo độc đáo, của sự đấu tranh bền bỉ giữa cái hay cái tốt phải thắng cái dở, cái xấu, cái dân tộc chân chính phải thắng cái ngoại lai kệch cỡm.
Ơở Việt Nam cũng như ở các nước trên thế giới, trang phục đàn bà bao giờ cũng phong phú hơn trang phục đàn ông. Nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã căn cứ vào một số đặc điểm về trang phục của phụ nữ dân tộc để phân biệt và gọi tên ngành dân tộc mình. Ví dụ như gọi là Thái đen vì phụ nữ ngành Thái ấy mặc áo đen, gọi là Thái trắng vì phụ nữ ngành Thái ấy mặc áo trắng. Hoặc như gọi là dân tộc Dao tiền, vì phụ nữ ngành Dao ấy có đeo những đồng tiền trên ngực áo mặc v.v... Trên cơ sở đó nhìn chung vào tình hình trang phục của dân tộc Việt trên đất nước ta cho tới hôm nay, giới nữ vẫn là người có công bảo tồn các dạng mẫu áo quần truyền thống và không ngừng phát huy làm cho nó thêm phong phú. Trong từng giai đoạn, có những xu hướng, thị hiếu lệch lạc đáng tiếc, nhưng rồi cái cơ bản vẫn còn là giữ được.
Qua hiện tượng trên, phải chăng bài học về sự cần thiết bảo vệ tính truyền thống trong trang phục hiện nay, cũng như sau này, nhắc nhở chúng ta không thể không quan tâm thích đáng, kịp thời.
***
★
★
★
★
★
0