Ưng Bình là tên, Thúc Giạ Thị là hiệu. Sinh ở Huế, Ưng Bình (Đinh Sửu 1877 -Tân Sửu 1961) là cháu nội của nhà thơ Tuy Lý Vương Miên Trinh – tác giả Vỹ Dạ hợp tập. Cha của ông là Hiệp tá Tiểu Thảo Hường Thiết – tác giả Tứ tự ca, Liên hiệp thi tập... Mẹ của ông là Nguyễn Thị Huệ – tác giả những bài thơ Nhớ quê, Thượng cầm hạ thú, Xuất gia...
Tốt nghiệp Quốc học Huế, rồi đậu cử nhân, Ưng Bình từng làm tri huyện, tri phủ, bố chánh Hà Tĩnh. Về hưu, ông được thăng thượng thư, hiệp tá đại học sĩ. Ông còn làm hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ Trung Kỳ.
Ngoài tuồng hát bội Lộ Địch và hò Huế, Ưng Bình sở trường về thơ chữ Hán (với 227 bài trong Lộc Minh thi tập) và thơ quốc ngữ (trên 1000 bài). Các tác phẩm đã xuất bản: Tình Thúc Giạ (1942), Đời Thúc Giạ (1961), Tiếng hát sông Hương (1972), Thơ ca tuyển (1992)...
·
Ưng Bình Thúc Giạ Thị bước vào bể hoạn từ năm 28 tuổi (Giáp Thìn 1904) sau khi thi đậu ký lục, rồi ông lần lượt làm tri huyện (Canh Tuất 1910), tri phủ, viên ngoại, án sát, thị lang, bố chánh, tuần vũ, phủ doãn Thừa Thiên, cuối cùng về hưu với hàm lễ bộ thượng thư trí sự (Quý Dậu 1933).Sau hai mươi chín năm (1904-1932) trong chốn dàm danh khóa lợi, ở tuổi 56 (Nhâm Thân 1932), Ưng Bình có lẽ đã thấm thía nhiều về nỗi lèo lái con thuyền công danh giữa bể hoạn ba đào bất trắc:
Cảm thương danh lợi cả hai thằng,
Kẻ chống người chèo bộ xí xăng.[1]
Từ nhận thức đó, năm sau (Quý Dậu 1933), nhìn lại đời mình:
Ba chục năm dư biển hoạn rồi,
Khỏi cơn giông tố vậy thời thôi.[2]
Và ông đã có một quyết định quan trọng, là xin về hưu:
Biết đủ dầu không chi cũng đủ,
Nên lui đã có dịp thời lui.[3]
Quyết định đó không dễ, vì lẽ theo lẽ thường tình: Men lợi danh nghiền lâu khó bỏ...[4]
Trải ba thập niên thả con thuyền theo dòng chảy của bể hoạn, khi trở về bến cũ (Thuyền quay đến bến neo neo lại [5]), ông mừng thấy ngần ấy thời gian làm quan không tổn hại đạo làm người:
Mừng đến bến ba mươi năm bể hoạn,
Lái còn nguyên, lèo lạt hãy còn nguyên.[6]
Khoảng gần ba thập niên nữa trong đời trí sĩ, cũng có đôi lần ông dở lại quyển sổ bình sanh, hồi tưởng những giai đoạn đã thủ vai tuồng của mình trên sân khấu cuộc đời; ông thấy sau khi đã lui vào hậu trường, rốt lại thì (Quý Mùi 1943):
Khoa danh có sẵn, quan quyền có,
Của cải không gì, ruộng đất không.[7]
Ở tuổi cổ lai hy (Bính Tuất 1946), người “kép hát” đó không thẹn với lòng vì lẽ:
Thuở ra sân khấu không làm rộn,
Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi.[8]
Hay như (Bính Thân 1956):
Chẳng hề nói phách khi ra rạp,
Nên khỏi ăn năn chuyện ở đời.[9]
Miễn cưỡng nối bước Đào Tiềm gõ nhịp bài Quy khứ lai từ vốn đã chẳng hiếm những trường hợp chỉ vì xiêm áo quan trường không trọn xênh xang như sở vọng. Nhưng với Ưng Bình, lại là trường hợp khác; bài thơ năm 77 tuổi (Quý Tỵ 1953) cho biết:
Những lời tấu đối tuy quen miệng,
Nhưng lối xu bồi chửa thạo chân.
Tai nặng, mắt quàng e dễ vấp,
Lui về Nội Lách dưỡng thiên chân.[10]
Di dưỡng thiên chân theo đạo thánh hiền, ông đánh bạn với sách vở và vui với cỏ hoa (Quý Mùi 1943):
Dại chữ thường ôm ba quyển sách,
Yêu hoa lại rảo mấy bồn bông.[11]
Và chung tình với túi thơ bầu rượu (Bính Tuất 1946):
Rượu có mùi hương nên uống mãi,
Thi là thuốc bổ cứ ngâm chơi.[12]
Nhưng như thế không có nghĩa là buông thả, phóng túng; cho nên:
- Với bản thân, xuất thân cửa Khổng sân Trình, ông tự xét (Nhâm Ngọ 1942) đã hằng noi gương Thầy Tăng Sâm tự kiểm điểm mình từng bữa [13]:
Câu nói Tăng Sâm giữ trọn ngày,
Không làm chi dở, ít chi hay.[14]
- Với đồng bào, đất nước, là nhà Nho, ông không quên làm đầu hai chữ trung, hiếu (Mậu Tý 1948):
Chỉ ước lòng son theo tóc bạc,
Hiếu trung hai chữ vẹn hòa hai.[15]
- Với gia đình, ông dạy con:
Chớ ỷ giàu sang, chớ thị quyền,
Học hành con phải gắng cho chuyên.
Hiếu trung hai chữ ngàn thu rạng,
Sẵn tấm gương soi đạo thánh hiền.[16]
Từ khi về hưu, ông có chút ý hướng về việc học Phật; điều đó bộc lộ qua bài thơ năm 58 tuổi (Giáp Tuất 1934):
Đường danh nẻo lợi ngó đông đông,
Chen chúc nhau chi đám bụi hồng.
Kìa bóng bạch câu qua chẳng lại,
Nọ tranh thương cẩu có rồi không.
Dở cười dở khóc trên sân khấu,
Khi nở khi tàn mấy cụm bông.
Sao kiếp phù sinh cho khỏi lụy,
Quyển kinh câu kệ chớ nài công.[17]
Mặc dù biết rằng:
Nghe chuông bát nhã khuây hồn mộng,
Đến cửa bồ đề rạng tánh linh.[18]
Hoặc như lúc cuối đời, tâm đạo vẫn không lơi:
- Mậu Tuất (1958):
Đã biết nhà Nho theo chánh đạo,
Thường mong cửa Phật đến quy y.[19]
- đầu thu (1960):
Tiếng chuông lòng dội buổi tan sương,
Đỉnh lễ quy y trước Phật đường.
Soi tỏ tâm linh nhờ đuốc tuệ,
Rước tan tục lụy sẵn cành dương.
Giữ niềm bác ái không sai chạy,
Thời bịnh sân si khỏi vấn vương.
Tôi cũng như ai phường đạo hữu,
Mong vào cửa Phật đến Tây phương.[20]
Nhưng có lẽ bản tính nghệ sĩ của lão thi nhân vẫn chưa chịu để nhà thơ tóc bạc khép mình vào quy giới cửa thiền; nên trong bài thơ đầu xuân Tân tỵ (tháng 02-1941) ông thú nhận:
Cứ loanh quanh mãi cuộc phiền ba,
Tuổi sáu mươi lăm cũng đã già.
Chưa mến quyển kinh cùng quyển kệ,
Vì ham câu lý lẫn câu ca.[21]
Thành thử, lòng mộ Phật, nhưng ông vẫn giữ nếp Nho, vui thú tiêu dao Trang Lão. Ông hiểu đạo Phật thoát lên trên hình tướng bên ngoài, mà cốt sao thể hiện ở tấm lòng nhân ái, thương người. Tháng Chạp Canh Thìn (tháng 01-1941), ông bày tỏ:
Chữ tâm là Phật, Phật là mình,
Thêm chữ từ bi hộ chúng sinh.[22]
Nên thỉnh thoảng, nếu có ai khuyên tu Phật, ông nhẹ nhàng đáp lại (xuân Tân Tỵ, tháng 02-1941):
Chữ Phật trong lòng tôi có sẵn,
Rồi đây tôi cũng áo cà sa.[23]
Hiểu rằng đạo nào cũng không xa rời đức nhân, nên trước cảnh đồng bào khổ nạn, ông khuyên nhau:
- mùa đông Giáp Thân (1944):
Rủ lòng bố thí cơn tai nạn,
Hơn nén hương dâng giữa Phật đài.[24]
- Ất Mùi (1955):
Sẵn lòng bác ái thưa danh lợi,
Hơn dáng tu hành giỏi kệ kinh. [25]
Trước những ý kiến cho rằng (a) ai khổ là do nghiệp thân, mạng số kẻ đó, họ phải rán chịu; hoặc viện lẽ rằng (b) khả năng eo hẹp, không đủ sức làm việc thiện cho khắp, cho đủ; thì ôngï để lời khuyên thật chí tình chí nghĩa (tháng 6 và 7 Giáp Thân, 1944):
Chớ gọi rằng lửa xe,
Không màng chi nước gáo.
Chớ đổ cho vận mạng người đời,
Chớ đổ cho quyền hành Ông Tạo.[26]
Trước cuộc can qua kéo dài trên quê hương, ông khuyên (Canh Tý 1960):
Người trong một nước phải thương nhau,
Mà việc tu thân phải đứng đầu.
Báo nghĩa đền ân cha mẹ trước,
Đem đường vạch nẻo cháu con sau.
Đói no vẹn giữ tình thân ái,
Hơn kém gây chi cuộc thảm sầu.
Bốn biển anh em vầy một mối,
Non sông gấm dệt sẽ bền lâu.[27]
Mấy năm cuối đời, qua bao tuồng dâu bể, đọc báo chí nghiên cứu Phật học (Ất Mùi 1955) ông chiêm nghiệm thêm lẽ sắc không với tuồng ảo hóa:
Soi gương trí tuệ đỡ cho mình,
Là quyển Liên hoa gợi tánh linh.
Triêu mộ thường nghe chuông bát nhã,
Phong ba khỏi lụy kiếp phù sinh.
Sẵn lòng bác ái thưa danh lợi,
Hơn dáng tu hành giỏi kệ kinh.
Không sắc, sắc không qua trước mắt,
Ai không cám cảnh lại thương tình.[28]
Và ông càng thấm thía cảnh vô thường cõi thế (thu Kỷ Hợi 1959):
Say tỉnh nồi kê trong giấc mộng,
Sang giàu mây nổi thấy mà thương.[29]
Từng trải qua bao thuở trời đất nổi cơn gió bụi, đi đã nhiều, tận mắt thấy đã nhiều, ông nghiệm ra rằng muôn việc nên hư ở đời, đều nằm trong sự an bài của Tạo hóa. Ông tỏ lòng tin có Thiên lý, có Trời (Mậu Tuất 1958):
Vòi vọi trên cao có chủ trì,
Là ngôi Thượng đế đủ ân uy.
Bốn mùa luân chuyển theo nghiêm luật,
Muôn vật sanh thành bởi hóa ky.
Thưởng phạt không sai đời thiện ác,
Thăng trầm khéo diễn cuộc hưng suy.
Ta bà thế giới bao nhiêu chuyện,
Đâu cũng không ngoài cái phạm vi.[30]
·
Tóm lại, Ưng Bình là một nhà Nho, tiêu dao Lão Trang, tin Trời, mộ Phật. Đọc thơ Thúc Giạ Thị, rồi sau này đọc thêm Hồi ức về thân phụ của Tôn Nữ Hỷ Khương,[31] có thể thấy thơ ông đã phản ánh rõ con người, cốt cách của ông, một bậc vương giả mà bình dị. Nói về Ưng Bình, cố Hòa thượng Thích Trí Thủ còn để lại câu rất hay: “Cụ không thành Phật thì cũng thành Tiên.” [32] Được như vậy, vì Ưng Bình đã đạt được một đạo sống là cư trần bất nhiễm; mà ý vị ấy sẵn hàm chứa trong lời thơ ông còn lưu hậu thế.CHÚ THÍCH
1. “Buổi chiều đi dạo bờ sông tức cảnh”, Tình Thúc Giạ (TTG). Huế: nhà in Mirador, 1942, tr. 42; Tiếng hát sông Hương (THSH). Sài Gòn: nhà in Việt liên, 1972, tr. 16.
2. “Kinh triệu doãn về hưu, bài thứ hai”, TTG, tr. 44.
3. “Phủ doãn về hưu”, THSH, tr. 18.
4. “Kinh triệu doãn về hưu, bài thứ hai”, TTG, tr. 44.
5. “Kinh triệu doãn về hưu, bài thứ hai”, TTG, tr. 44.
6. “Phủ doãn về hưu”, THSH, tr. 17.
7. “Vợ ông quan hưu than phiền”, Đời Thúc Gia (ĐTG)ï. Sài Gòn: Bón phương, 1960, tr. 53; Thơ ca (TC). Huế: Thuận hóa, 1992, tr. 121.
8. “Khai bút năm Bính tuất”, ĐTG, tr. 77; TC, tr. 143.
9. “Tự thuật”, ĐTG, tr, XXIV.
10. “Cáo từ chức Hiệp lý phủ Tôn nhân”, TC, tr. 178.
11. “Vợ ông quan hưu than phiền”, ĐTG, tr. 53; TC, tr. 121.
12. “Khai bút năm Bính tuất”, ĐTG, tr. 77; TC, tr. 143.
13. Luận ngữ, Học nhi, 4: “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân: vi nhân mưu, nhi bất trung hồ; dữ bằng hữu giao, nhi bất tín hồ; truyền bất tập hồ.” (Mỗi ngày ta phản tỉnh ba điều: toan việc cùng người, có trọn trung thành không; chơi với bạn bè, có giữ chữ tín không, đạo thầy truyền cho có thực hành không.)
14. “Tự thuật”, ĐTG, tr. 39; TC, tr. 108.
15. “Thu cảm”, TC, tr. 156.
16. “Khuyên con”, TC, tr. 106.
17. “Khuyên học Phật”, TTG, tr. 49; THSH, tr. 18-19.
18. “Họa vần thi ông Mai Lâm nói chuyện thuyết pháp ở Liên Thành”, TTG, tr. 109; “Nói chuyện thuyết pháp ở Liên Thành”, TC, tr. 105.
19. “Bệnh trung ngâm”, ĐTG, tr. 136.
20. “Tiếng chuông lòng”, ĐTG, tr. 147; THSH, tr. 31.; TC, tr. 215.
21. “Nói chuyện với đạo hữu Phật học”, TTG, tr. 114; TC, tr. 94-95, in: “Chỉ ham câu lý...”
Lưu ý: Về sau khi sưu tập lại, bài thơ này đã bị trùng lắp với tựa mới là “Nguyện tu”, và ghi chú rằng được làm vào “xuân 1960”; chỉ khác ở câu thứ hai là: “Tuổi tám mươi tư cũng đã già.” Xem ĐTG, tr. 146; TC, tr. 214.
22. “Họa vần thi ông Mai Lâm nói chuyện thuyết pháp ở Liên Thành”, TTG, tr. 109; “Nói chuyện thuyết pháp ở Liên Thành”, TC, tr. 104.
23. “Nói chuyện với đạo hữu Phật học”, TTG, tr. 114; TC, tr. 94-95. (Xem thêm chú thích 22 trên đây.)
24. “Cám cảnh người hành khất”, ĐTG, tr. 64; TC, tr. 130.
25. “Đọc báo Liên hoa”, ĐTG, tr. 124; TC, tr. 190.
26. “Câu chuyện người hành khất”, ĐTG, tr. 63; TC, tr. 130.
27. “Ngỏ lời thành thực”, TC, tr. 214. “Nguyện tu”, THSH, tr. 30-31. (ghi mùa hạ Canh Tý).
28. “Đọc báo Liên hoa”, ĐTG, tr. 124; TC, tr. 190.
29. “Trăng rằm tháng Tám”, TC, tr. 213.
30. “Trời”, ĐTG, tr. 137; TC, tr. 204.
31. Hồi ức về cha tôi, Ưng Bình Thúc Giạ Thị.. Văn nghệ, 1996.
32. Hồi ức về cha tôi, Ưng Bình Thúc Giạ Thị. tr. 88.