Ngày nay, trong các viện nghiên cứu quốc tế, các nhóm khoa học gia, đôi khi họ rất trẻ, đã phát minh được nhiều điều mới lạ, chẳng hạn một số sau đây.
1. Chất hydrogel
Khi chúng ta bị cảm, làm cách nào để giữ nguyên tại chỗ một chất thuốc trong khi cứ nhảy mũi và hỉ mũi liên tục? Giải pháp: trộn vào một hydrogel. Các bình xịt mũi ở Nhật đã dùng công thức ấy. Khô khi còn trong chai, chất bột trở thành dẻo khi được bơm vào niêm mạc mũi. Nhờ đó, hoạt chất sẽ được phân phối chậm nhưng chắc chắn. Các hydrogel có thể làm phù trợ để chuyên chở các dược phẩm chẳng những qua ngả mũi mà còn qua miệng và âm đạo. Tùy mật độ, người ta còn có thể canh thời gian mà hoạt chất thấm vào nội tạng. Từ 1 đến 2 ngày cho một lần xịt vào mũi, cho đến một năm cho loại cấy.
2. Băng keo dán có pin
Trước đây có thứ băng keo dán để chống say sóng hoặc cai thuốc lá. Rồi có băng keo dán phân phối một dược phẩm lâu dài - từ một ngày đến cả tuần lễ. Người ta dùng chúng trong việc điều trị huyết áp cao, dứt kinh nguyệt hoặc đau nhức. Giờ đây là thứ băng keo dán có gắn pin. Một số phân tử do quá lớn, không thể chui qua da thịt, người ta bèn có sáng kiến dùng điện đẩy chúng vào. Băng keo dán được kết hợp với cục pin tí hon, có thể phát ra một luồng điện có cường độ thật yếu. Các nhà nghiên cứu tin rằng cách thức ấy sẽ làm tăng khả năng hiện nay của các băng dán lên 30 - 40%.
3. Vi tiểu hạt
Với các vi tiểu hạt - khoảng 1 phần ngàn micron (0,000 000 001 mét) chúng có khả năng thích ứng và giải phóng hoạt chất tùy môi trường xung quanh. Chúng là những rô bô thông minh, sau khi được uống hoặc tiêm, sẽ chạy nhanh vào cơ thể. Hiện nay các vi tiểu hạt đang được nghiên cứu trong các phòng bào chế trên thế giới, nhằm mục đích phân phối các thuốc chống Sida, thông các động mạch, v.v...
4. Chủng ngừa bằng muỗi
Sáng kiến biến con muỗi thành ống chích do bác sĩ Julian Crampton, một nhà nghiên cứu thuộc Viện đại học Liverpool đưa ra. Theo ông, côn trùng có thể trở thành một hệ thống chủng ngừa chống lại bệnh sốt rét. Chỉ cần sửa đổi gen di truyền và bắt chúng sản xuất các protein bảo vệ. Phương thức ít tốn kém ấy rất có lợi cho những xứ đang phát triển. Chỉ có một vấn đề là cách tiêm ngừa ấy không thể giúp ta biết số lượng thuốc được tiêm vào và ai đã được tiêm. Nhưng theo bác sĩ Crampton, thì chỉ cần 2 năm để đánh giá khái niệm ấy, và thêm 3 năm nữa để nghiên cứu lối hành xử của con muỗi trong phòng thí nghiệm.
5. Trái chuối để ngừa bệnh viêm gan siêu vi B
Bác sĩ Charles Amtzen, thuộc Viện đại học Cornell (Hoa Kỳ), từ nhiều năm nay nghiên cứu về trái chuối, kết luận rằng chuối có thể trở thành thứ thuốc chủng rất tốt chống lại viêm gan siêu vi B, với điều kiện được sửa đổi gen. Bởi chuối không bị ruột tấn công, trong khi thông thường các thuốc chủng lại bị. Mà " trái chuối chủng ngừa" chỉ tốn có 2 xu Mỹ.
7. Viên thuốc con nhộng cao cấp
Ngày càng tiến bộ, hiện có viên thuốc con nhộng nổi lềnh bềnh trong dạ dày. Chúng tạo ra một thứ bọt ngăn không cho chúng xuống ruột non - bởi cần thuốc tác dụng đúng chỗ đó. Kết quả là thuốc nằm trong bao tử suốt 4 tiếng đồng hồ. Ngược lại, một số thuốc con nhộng được bọc chất acrylic hoặc cellulốt thì không bị acid trong bao tử tấn công, và xuống ống tiêu hóa. Các viên thuốc ấy đã được sử dụng cho một số trường hợp.
8. Máu chế tạo từ thuốc lá
Một toán nghiên cứu của Viện quốc gia y tế và nghiên cứu y học (Inserm), hợp tác với Công ty Limagrain - Bio Santé, vừa tìm được cách sản xuất một loại hồng huyết cầu cho người bằng cây cỏ (chẳng hạn cây thuốc lá). Nhiều nhóm nghiên cứu quốc tế đang làm việc về đề tài này. Tại Hoa Kỳ, một nhà nghiên cứu vừa tổng hợp được các kháng thể cũng từ cây thuốc lá. Ưu điểm của các chất thay thế ấy là chúng không bị nhiễm trùng, bởi các siêu vi của loài người không thể phát triển trong các tế bào thực vật. Tuy nhiên phải cần chục năm nữa thì thứ " máu thực vật" mới có thể sử dụng được.
9. Súng tiêm thuốc
Khi ta bấm cò một viên đạn có màng mỏng được giải phóng. Dưới sức ép, hoạt chất chui vào các lỗ chân lông nơi da. Tuy nhiên phương thức Powderject ấy chỉ có thể tiêm số lượng nhỏ thuốc men. Và cũng chưa thể tiêm gân hoặc sâu vào bắp thịt.
10. Bình xịt
Trong vài năm tới, các bình xịt sẽ có mặt nhiều trong các tiệm thuốc Tây. Mối quan tâm hiện nay của các nhà nghiên cứu là tìm cách tránh thuốc đi qua ngả tiêu hóa (nơi một số phân tử thuốc bị dịch vị phá hủy). Mà con đường thứ hai có lẽ là qua da và niêm mạc. Người ta đang chế tạo các thuốc chủng ngừa cảm cúm, sưng màng óc hoặc sưng phổi. Bình xịt insulin để điều trị bệnh tiểu đường cũng đang được nghiên cứu.
11. Các trắc nghiệm dự đoán
Cho đến nay, các trắc nghiệm sinh học chỉ gồm có việc khẳng định một vấn đề, thường là nhờ phân tích máu hoặc nước tiểu. Nhưng nhờ tiến bộ của kỹ thuật học phân tử, người ta có thể dự đoán các chứng bệnh chưa xuất hiện, và truy tìm các gen có hại mà chúng ta đang mang. Một số chủ nhân và công ty bảo hiểm đang thiết lập các hồ sơ để loại bỏ những người không thích hợp cho họ (hiện đã có loại hồ sơ ấy trong bang Massachusetts, Hoa Kỳ).
12. Thuốc được kiểm soát
Các nhà nghiên cứu tìm cách làm cho thuốc không phóng thích liền một lúc hoạt chất, mà từ từ trong cơ thể, hầu làm giảm lần phải uống, và giảm tác dụng lúc có quá nhiều, lúc không có thuốc trong cơ thể. Các viên thuốc " thẩm thấu" gồm 2 phần: một phần sẽ phồng ra dưới tác dụng của các chất lỏng trong bao tử, phần kia chứa hoạt chất. Dưới sức ép của phần đầu, phần sau (có xoi một lỗ nhỏ) sẽ phóng thích từ từ hoạt chất.
13. Bộ phận để thay thế
Bằng cách ghép các gen người vào trừu hoặc bò, người ta có được loại sữa dồi dào protein và peptit dùng trong y học. Hiện nay, nhiều công ty đang nghiên cứu sản xuất các con thú mà cơ quan của chúng (tim, phổi, gan) có thể ghép vào người.
14. Giảm độc tính của hóa chất chống ung thư
Hóa chất dùng một mình hoặc kết hợp với giải phẫu hoặc phóng xạ liệu pháp giúp thanh toán ngày càng nhiều các trường hợp bị ung thư. Tuy nhiên, độc tính của nó hạn chế việc sử dụng. Với sự xuất hiện các chất làm giảm độc tính của hóa chất điều trị ung thư, sẽ giúp việc điều trị hiệu quả hơn, cũng như có thể tăng thêm liều lượng.
15. Hai viên trong một
Các viên thuốc ngày nay không giống với ngày trước. Nhiều loại thuốc có 2 lớp: chất thuốc đầu tiên được chất thuốc thứ hai bao quanh. Và còn có viên thuốc gồm nhiều lớp, tích lũy 3 hoặc 4 chất khác nhau. Ngoài ra còn có thứ thuốc mà các phân tử được bọc trong một lớp mỏng không bị các dịch vị phân hủy. Nhờ đó bao tử không bị tổn hại.
16. Thuốc chủng mới
Để chế tạo một thuốc chủng, trước đây người ta phải cô lập siêu vi rồi nuôi nó, tất nhiên với nhiều nguy cơ bị lây nhiễm. Nhờ di truyền học, khi sử dụng con siêu vi, người ta chỉ giữ lại phần cần thiết để chế tạo kháng thể, phần nguy hiểm được loại bỏ. Để có các thuốc chủng của thiên niên kỷ thứ 3, người ta theo 4 đường hướng:
a. Thuốc chủng nguyên chất
Trong một con siêu vi, luôn luôn có một gen " phản phúc" . Qua trung gian của một protein, nó khởi động các phản ứng bảo vệ của cơ thể. Nếu nhận dạng được gen ấy, thì có thể bắt nó sản xuất được protein miễn dịch với số lượng lớn.
b. Thuốc chủng ADN trơn
Đó là cách đưa thẳng gen " phản phúc" vào cơ thể. Sau khi cô lập gen ấy, người ta bỏ nó vào một chất đặc biệt rồi dùng ống tiêm đưa vào cơ thể. Sau đó, chính cơ thể người bệnh sẽ sản xuất protein bảo vệ. Hiện có 7 trắc nghiệm lâm sàng đang được tiến hành trên thế giới.
c. Thuốc chủng " sống" được giảm độc tính
Thông thường, để có thể sử dụng một siêu vi, người ta làm giảm sức mạnh của chúng bằng cách nuôi, chọn lựa những con yếu nhất. Như vậy mất rất nhiều thì giờ. Với di truyền học, người ta đi thẳng tới mục đích, bằng cách tìm gen có trách nhiệm về độc tính, và lấy nó ra. Cách này rất có ích trong trường hợp cần chế tạo thuốc chủng với số lượng lớn (chẳng hạn khi xảy ra trận dịch).
d. Thuốc chủng " sống" tái kết hợp
Chẳng hạn muốn làm một thuốc chủng chống một siêu vi X rất nguy hiểm, người ta bèn cô lập gen " phản phúc" của nó để đưa vào một siêu vi Y vô hại, để siêu vi Y chế tạo các protein có thể dùng tiêm chống lại X. Nói một cách khác, người ta làm cho một siêu vi hoàn toàn vô hại cho người, có khả năng chống lại kẻ thù nguy hiểm.
Các y sĩ nhận thấy nhiều bệnh nhân không chịu dùng thuốc đúng như chỉ dẫn. Vì vậy, người ta tìm cách kiểm soát xem người bệnh có vâng theo y sĩ hoàn toàn không.
17. Hóa chất đánh dấu
Để kiểm soát xem người bệnh có theo đúng cách điều trị không, người ta thêm vào thuốc một chất vô hại, và dễ dò ra. Người ta cũng có thể biết được việc gian lận, chẳng hạn bệnh nhân chỉ uống thuốc trước khi trắc nghiệm.
18. Con bọ điện tử
Giống như con bọ gắn trên các thẻ ngân hàng hoặc thẻ điện thoại, nó sẽ trang bị trên một số chai đựng thuốc. Khi chai hết thuốc, người y sĩ sẽ xem các thông tin nhờ một phần mềm đặc biệt: ngày giờ mở nắp chẳng hạn.
19. Hệ thống quang học
Hệ thống ấy chắc sẽ kết hợp với con bọ điện tử. Bởi làm cách nào biết là, sau khi mở nắp chai thuốc, người bệnh có uống viên thuốc? Hoặc ngược lại, người ấy dùng gấp đôi liều chỉ định? Một máy quang học giúp kiểm soát, rồi ghi lại, tất cả những gì lấy ra khỏi chai. Phương thức ấy được nghiên cứu lâm sàng, chẳng hạn cho các vụ điều trị bằng corticoit.
20. Máy thông báo giờ uống thuốc
Để báo cho biết giờ dùng thuốc, một số chai có bộ phận báo động lập trình (và có thể thay thế âm thanh bằng đèn hiệu). Có thể lập trình cho một tuần, chia riêng từng ngày.
Cao cấp hơn nữa là hệ thống canh chừng từ xa, nối với một cô y tá (phương thức có tên Dosing - Partners). Khi người bệnh quên uống thuốc, cô y tá được máy báo động bèn nhắc khéo bệnh nhân.
CHU MINH THỤY
Người Về Âm Cảnh Hồn Thư Thái
Kẻ Ở Dương Gian Dạ Ngậm Ngùi