#29 —
07.11.2015 12:44
(đã sửa)
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.11.2015 15:09:52 bởi Huy Nguyên>
HỒI HAI MƯƠI BỐN
Tề Hoàn tiếp đãi Sở đại phu
Chư hầu tôn phục Chu thiên tử
Khuất Hoàn phụng mệnh Sở Thành vương, lại đến chỗ quân Tề đóng, xin vào yết kiến Tề Hoàn công.
Quản Di Ngô nói với Tề Hoàn công rằng:
- Nước Sở lại cho sứ đến, tất là xin giảng hòa, chúa công nên tiếp đãi cho tử tế.
Khuất Hoàn vào yết kiến Tề Hoàn công, sụp lạy hai lạy. Tề Hoàn công đáp lễ lại rất tử tế, rất hỏi xem ý muốn thế nào?
Khuất Hoàn nói:
- Chúa công tôi vì cớ không cống cỏ bao mao, để quý quốc phải đem quân tới đây, chúa công tôi biết tội lắm rất; nếu quý quốc chịu rút quân khỏi một xá(1), thì chúa công tôi há dám không vâng mệnh.
Tề Hoàn công nói:
- Nếu đại phu biết khuyên quốc quân giữ trọn chức phận, khiến cho ta có thể tâu lại với thiên tử được, thì ta còn đợi gì nữa mà chẳng rút quân.
Khuất Hoàn về nói với Sở Thành vương rằng:
- Tôi nói với Tề hầu, Tề hầu đã chịu rút quân rồi. Tôi có hẹn với Tề hầu xin đem cống cỏ bao mao, vậy đại vương chớ có thất tín.
Sở Thành vương lại sai người đi do thám xem chư hầu đã rút quân về chưa. Quân sĩ về báo rằng:
- Quân các nước đã rút ra ngoài ba mươi dặm, đóng tại đất Thiệu Lăng.
Sở Thành vương nói:
- Tề hầu đã chịu rút quân, thế là có ý sợ ta!
Nói xong, lại toan bỏ không cống cỏ bao mao nữa.
Tử Văn nói:
- Vua tám nước chư hầu còn không nỡ thất tín với một kẻ thường dân(2), thế mà đại vương lại muốn cho một kẻ thường dân thất tín với vua các nước hay sao?
Sở Thành vương nín lặng, không nói gì cả, rồi sai Khuất Hoàn đem mấy xe vàng lụa đến đất Thiệu Lăng để khao quân chư hầu. Lại sai sửa soạn sẵn một xe cỏ bao mao, đem đến trình với Tề Hoàn công để rồi sai sứ vào cống thiên tử.
Lại nói chuyện Hứa Mục công mất, con Hứa Mục công là Nghi Nghiệp lên nối ngôi, tức là Hứa Hi công. Hứa Hi công cảm cái ơn Tề Hoàn công trông nom khi Hứa Mục công mất tại nước Sái, mới sai quan đại phu là Bách Đà đem quân đến hội ở đất Thiệu Lăng. Khuất Hoàn vào yết kiến Tề Hoàn công, dâng các thứ vàng lụa để khao quân. Tề Hoàn công sai người phân phát cho quân các nước. Khuất Hoàn lại đệ trình cỏ bao mao. Tề Hoàn công xem xong lại giao trả Khuất Hoàn để sai sứ đem vào cống thiên tử.
Tề Hoàn công bảo Khuất Hoàn rằng:
- Đại phu đã được xem binh lực của Trung quốc ta bao giờ chưa?
Khuất Hoàn nói:
- Tôi ở hẻo lánh về cõi phía nam này, chưa được xem binh lực của Trung quốc bao giờ, nay xin quý quốc cho chúng tôi được xem một lượt.
Tề Hoàn công liền đưa Khuất Hoàn đi xem tất cả các trại quân của chư hầu. Bấy giờ quân các nước đóng liền nhau kể hàng mấy mươi dặm. Trong dinh quân Tề nổi hiệu trống lên thì quân bảy nước chư hầu đều theo mà đánh trống, khác nào như sấm sét vang trời. Tề Hoàn công tươi cười, tự đắc mà bảo Khuất Hoàn rằng:
- Binh lực của ta như thế này, phỏng đánh đâu mà không thắng?
Khuất Hoàn nói:
- Sở dĩ nhà vua làm nên bá nghiệp ở Trung nguyên là vì nhà vua biết thể theo đức ý của thiên tử mà vỗ về trăm họ. Nếu nhà vua lấy đức mà xử với chư hầu thì nước nào không phải phục; nếu chỉ cậy về binh lực mà thôi, thì nước Sở tôi dẫu nhỏ mọn thật, nhưng có thành Phương Thành, có sông Hán Thủy, thành cao hào sâu ấy dẫu trăm vạn quân đến, cũng vị tất đã làm gì nổi.
Tề Hoàn công nghe nói, có ý thẹn thùng mà bảo Khuất Hoàn rằng:
- Đại phu thật là một người hiền ở nước Sở! Nay ta muốn cùng với vua nước Sở nối lại cái mối hòa hảo của các đấng tiên quân chúng ta ngày xưa, đại phu nghĩ thế nào?
Khuất Hoàn nói:
- Nếu nhà vua xuống ơn cho xã tắc nước tôi, cho vua nước tôi được gia nhập đồng minh, thì vua nước tôi há dám ở ngoài cuộc. Vậy xin cùng nhà vua kết định minh ước có được không?
Hoàn công nói: “Được!” Và chiều hôm ấy truyền mở tiệc thết đãi Khuất Hoàn. Ngày hôm sau, Hoàn công lập đàn ở đất Thiệu Lăng để cùng với nước Sở ăn thề. Hoàn công làm minh chủ. Quản Di Ngô làm phó. Khuất Hoàn thay mặt vua nước Sở ký vào bản điều ước.
Hai bên cùng lập điều ước giảng hòa với nhau. Quản Di Ngô nói riêng với Khuất Hoàn, xin tha cho Đam Bá về nước Trịnh. Khuất Hoàn cũng thay lời Sái hầu xin lỗi với Tề Hoàn công. Quản Di Ngô truyền thu quân về nước. Trong khi đi đường, Bão Thúc Nha hỏi Quản Di Ngô rằng:
- Nước Sở tiếm hiệu xưng vương, đó là một tội lớn, sao Trọng phụ không nói đến mà lại chỉ nói về việc không cống cỏ bao mao, tôi không hiểu ý ra làm sao cả!
Quản Di Ngô nói:
- Nước Sở tiếm hiệu xưng vương, đã ba đời nay rồi, bởi vậy ta vẫn khinh bỉ như một nước rợ mọi. Nếu ta bắt nước Sở bỏ ngay danh hiệu ấy đi thì khi nào nước Sở lại chịu cúi đầu mà nghe ta! Nước Sở không nghe thì tất ta phải đánh; đã sinh sự đánh nhau thì hai bên cùng thiệt hại, ít ra cũng rối loạn trong vài ba năm trời. Nay ta trách về việc không cống cỏ bao mao, thì hắn có thể dễ dàng vâng mệnh. Sở đã chịu phục, thì tiếng tăm của ta cũng đủ để khoe khoang với chư hầu và tâu lại với thiên tử, chẳng hơn là gây việc tranh chiến lôi thôi, chưa biết bao giờ xong được hay sao?
Bão Thúc Nha nghe lời, chịu là phải. Quan đại phu nước Trần là Đào Đồ nghe tin Tề Hoàn công rút quân về nước, liền bàn với quan đại phu nước Trịnh là Thân hầu rằng:
- Nếu để cho quân Tề đi qua địa giới nước Trần và nước Trịnh thì ta phải cung đốn lương thực khí dụng, tốn kém nhiều lắm. Âu là ta nói với Tề hầu đi về phía đông, khiến cho nước Từ và nước Cử phải chịu sự cung đốn khó nhọc ấy, thì hai nước ta mới có thể ngồi yên được.
Thân hầu khen phải, rồi bảo Đào Đồ nói với Tề Hoàn công. Đào Đồ nói với Tề Hoàn công rằng:
- Hiền hầu đánh Sơn nhung ở phía bắc, đánh nước Sở ở phía nam, nếu bây giờ lại kéo quân về qua phía đông, khiến các nước ở phía đông đều phải sợ uy nước Tề, như thế thì ai còn dám không phục?
Tề Hoàn công nói:
- Đại phu nói phải đó!
Được một lúc, Thân hầu xin vào yết kiến. Tề Hoàn công cho vào. Thân hầu vào nói với Tề Hoàn công rằng:
- Tôi nghe nói phép đem quân đi, không nên qua mùa nọ đến mùa kia, là vì sợ dân chúng phải khó nhọc. Nay nhà vua đem quân đi đánh, từ mùa xuân sang mùa hạ, dầm mưa dãi gió, gối tuyết nằm sương, quân sĩ đều mỏi mệt cả. Bây giờ nhà vua rút quân về, đi qua địa giới nước Trần và nước Trịnh thì lương thực khí dụng lấy đâu cũng dễ; còn như đi về phía đông, ngộ có nước rợ mọi nào dám đón đường ngăn trở, thì lại phải sinh sự đánh nhau, biết làm thế nào? Và Đào Đồ chỉ biết lợi riêng cho nước mình, không phải là thực bụng, xin nhà vua nên xét kỹ.
Tề Hoàn công nói:
- Nếu không có đại phu nói thì thật là lỡ cả việc của ta.
Nói xong, liền sai người đi bắt Đào Đồ để trị tội. Lại bảo với Trịnh Văn công phải đem đất Hổ Lao thưởng công cho Thân hầu. Trịnh Văn công dẫu phải vâng mệnh, nhưng có ý không bằng lòng. Trần Tuyên công sai người đem lễ đến xin lỗi hai ba lần, Tề Hoàn công mới tha tội cho Đào Đồ. Các nước chư hầu đều rút quân, nước nào về nước ấy.
Tề Hoàn công thấy Quản Di Ngô có nhiều công trạng to, mới đem đất Biền ấp hơn ba trăm nóc nhà của quan đại phu là Bá Thị phong thêm cho Quản Di Ngô.
Sở Thành vương thấy các nước chư hầu đều rút quân về, lại toan thôi không cống cỏ bao mao nữa. Khuất Hoàn nói:
- Ta không nên thất tín với nước Tề. Vả lại chỉ vì nước Sở ta không vào cống hiến nhà Chu, khiến cho Tề được tiếng là biết tôn kính thiên tử. Nay nhân chuyện này, ta sai sứ vào cống nhà Chu thì ta cũng chẳng kém gì nước Tề cả.
Sở Thành vương nói:
- Chỉ ngại về một điều ta đã xưng vương thì làm thế nào cho tiện?
Khuất Hoàn nói:
- Trong tờ biểu dâng vua nhà Chu, ta không nên nói đến tước, chỉ nên tự xưng là viễn thần mà thôi.
Sở Thành vương nghe lời, liền sai Khuất Hoàn đi sứ, đem mười xe cỏ bao mao và các thứ vàng lụa vào dâng Huệ vương nhà Chu. Chu Huệ vương mừng lắm, nói:
- Nước Sở bỏ chức phận, không cống hiến đã lâu ngày, bây giờ lại biết quy thuận như thế, chẳng qua cũng là nhờ uy linh của tiên vương ta đó!
Nói xong, liền sai làm lễ vào yết cáo nhà Thái miếu, rồi đem phần tế ban cho nước Sở. Lại bảo Khuất Hoàn rằng:
- Từ nay trở đi, nước Sở nhà ngươi chớ có xâm phạm các nước ở Trung quốc.
Khuất Hoàn sụp lạy hai lạy, rồi cáo từ lui ra. Khuất Hoàn vừa ra xong thì Tề Hoàn công cho Thấp Bằng đến tâu về việc nước Sở đã chịu quy phục. Chu Huệ vương tiếp đãi Thấp Bằng rất trọng thể. Thấp Bằng tâu với vua Huệ vương xin vào yết kiến ngôi thái tử.
Chu Huệ vương nghe nói, có ý không được vui, liền sai người con thứ là vương tử Đái cùng với thái tử Trịnh cùng ra tiếp kiến Thấp Bằng. Thấp Bằng trông thấy nét mặt vua Huệ vương nhà Chu có ý hoảng hốt, bèn về nói với Tề Hoàn công rằng:
- Nhà Chu sắp loạn đến nơi rồi!
Tề Hoàn công nói:
- Tại làm sao?
Thấp Bằng nói:
- Người con trưởng vua nhà Chu tên là Trịnh, là con bà Khương hậu, đã lập làm thái tử. Nay bà Khương hậu mất, bà thứ hậu là Trần Vĩ được vua yêu, sinh người con tên là Đái. Vương tử Đái khéo nịnh nọt, bởi vậy vua nhà Chu yêu lắm, muốn bỏ thái tử Trịnh mà lập vương tử Đái làm thái tử. Khi vua nhà Chu cho vương tử Đái và thái tử Trịnh ra tiếp kiến tôi, thì nét mặt có ý hoảng hốt, tất là trong lòng nghĩ về việc ấy. Tôi e rằng chẳng bao lâu sẽ có loạn to, chúa công đã làm minh chủ, cũng nên nghĩ đến.
Tề Hoàn công bèn sai triệu Quản Di Ngô vào để thương nghị. Quản Di Ngô nói:
- Tôi có một kế có thể giữ yên được nhà Chu.
Tề Hoàn công hỏi:
- Trọng phụ có kế gì?
Quản Di Ngô nói:
- Ngôi thái tử không được vững vàng như vậy là vì không có vây cánh; nay ta viết một đạo biểu dâng vua nhà Chu, nói chư hầu muốn yết kiến ngôi thái tử và xin thái tử ra hội với chư hầu. Nếu thái tử đã đi hội với chư hầu thì cái phận vua tôi đã phân định rồi, dẫu vua nhà Chu muốn thay đổi, cũng khó lòng mà làm được.
Tề Hoàn công khen phải, liền truyền hịch cho các nước, hẹn đến sang năm thì đại hội ở đất Thủ Chỉ (đất nước Vệ); rồi lại sai Thấp Bằng sang nói với Huệ vương nhà Chu rằng chư hầu muốn yết kiến ngôi thái tử để tỏ tấm lòng tôn kính. Chu Huệ vương vốn không muốn cho thái tử đi hội với chư hầu, nhưng sợ thế lực nước Tề, vả lại nước Tề nói cũng có lý, không thể từ chối được, mới phải nhận lời cho thái tử đi hội với chư hầu. Thấp Bằng về báo với Tề Hoàn công. Đầu năm sau, Tề Hoàn công sai Trần Kính Trọng sang đất Thủ Chỉ xây sẵn một cung để đợi thái tử đến ở. Tháng năm mùa hạ, tám nước Tề, Tống, Lỗ, Trần, Vệ, Trịnh, Hứa, Tào, đều đến Thủ Chỉ. Khi thái tử Trịnh đến, Tề Hoàn công đem các nước đến lạy mừng. Thái tử Trịnh hai ba lần từ nhượng, không dám nhận lễ.
Tề Hoàn công nói:
- Chúng tôi là chư hầu, nay yết kiến thái tử cũng như là yết kiến thiên tử, xin thái tử cứ cho như vậy.
Thái tử Trịnh cảm tạ. Đêm hôm ấy, thái tử Trịnh sai người mời Tề Hoàn công đến nhà hành cung, đem việc vương tử Đái muốn cướp ngôi nói chuyện với Tề Hoàn công.
Tề Hoàn công nói:
- Chúng tôi muốn lưu thái tử ở lại ít lâu, là có ý để cho thiên tử biết cái lòng chúng tôi mến phục thái tử lắm, dẫu có mưu gì cũng phải thôi đi. Bây giờ đang mùa hạ nóng bức, đợi sang đến mùa thu mát trời, bấy giờ chúng tôi sẽ đưa thái tử về triều.
Chu Huệ vương thấy thái tử Trịnh mãi không trở về, biết là Tề Hoàn công có ý mến phục, trong lòng không được vui. Trần Vĩ và vương tử Đái thì ngày đêm ở bên cạnh, đem lời xui giục. Chu Huệ vương nhân thấy quan thái tể là Chu Công Khổng vào yết kiến, liền bảo Chu Công Khổng rằng:
- Tề hầu mới rồi dẫu đánh được nước Sở, nhưng kỳ thực binh lực không hơn gì nước Sở. Vả người nước Sở đã biết thần phục nhà Chu ta, không vô lễ như trước nữa, vậy thì nước Sở cũng chẳng kém gì nước Tề. Nay không biết Tề hầu có ý gì mà lại hội các nước chư hầu để rủ nhau quy phục thái tử, như thế thì định để trẫm vào ngôi bậc nào? Trẫm muốn nhờ nhà ngươi đưa một tờ mật thư cho Trịnh hầu, bảo Trịnh hầu bỏ Tề theo Sở, rồi đem tình ý của trẫm mà nói với vua Sở cố gắng thờ Chu, chớ phụ ý trẫm.
Chu Công Khổng nói:
- Nước Sở mà biết thần phục nhà Chu ta, cũng là công của Tề hầu, cớ sao nhà vua lại bỏ một nước họ hàng thân thiết xưa nay mà dùng một nước Man di mới theo ta?
Chu Huệ vương nói:
- Nếu Trịnh hầu không chịu bỏ nước Tề và các nước cũng cứ một lòng tin phục nước Tề mãi thì chắc đâu rằng Tề hầu không có chí khác. Thôi thì ý trẫm đã nhất quyết, nhà ngươi chớ nên từ chối.
Chu Công Khổng không dám nói gì nữa. Chu Huệ vương liền làm một tờ mật thư, niêm phong đóng hộp rất kỹ lưỡng; rồi giao cho Chu Công Khổng. Chu Công Khổng không hiểu trong thư nói những điều gì, cứ việc sai người mật đưa sang cho Trịnh Văn công. Trịnh Văn công mở thư ra đọc:
“Thái tử Trịnh không theo mệnh cha, rủ nhau lập bè cánh thì không thể cho nối ngôi được. Trẫm muốn lập thứ tử Đái làm thái tử, nếu hiền hầu bỏ Tề theo Sở để cùng giúp thái tử Đái thì trẫm xin giao hết quyền chính cho”.
Trịnh Văn công mừng lắm, bảo các quan đại phu rằng:
- Tiên quân ta ngày xưa là Vũ, Trang nối đời làm chức khanh sĩ nhà Chu, đến đời Lệ công cũng có cái công khó nhọc giúp vua nhà Chu mà chưa được giữ quyền chính. Nay vua nhà Chu lại định giao quyền chính cho ta, thế thì các quan đại phu cũng nên mừng cho ta đó!
Quan đại phu là Khổng Thúc can rằng:
- Nước Tề khi trước vì nước ta mà phải đem quân đi đánh Sở, bây giờ ta lại bỏ Tề theo Sở thì thành ra một kẻ bội ơn. Vả việc phù tá thái tử là một việc đại nghĩa, chúa công không nên làm trái ý thiên hạ.
Trịnh Văn công nói:
- Theo ý Tề hầu, sao bằng theo ý thiên tử nhà Chu. Vả thiên tử nhà Chu không bằng lòng với thái tử, chứ ta có tiếc gì!
Khổng Thúc nói:
- Ngôi thái tử nhà Chu, bao giờ cũng phải lập con trưởng, nếu theo ý riêng mà lập con thứ thì không ra thế nào! Xem như U vương yêu vương tử Bá Phục, Hoàn vương yêu vương tử Khắc, Trang vương yêu vương tử Đồi, đều đến nỗi phải mang tai vạ về sau. Nay chúa công không giữ lấy đại nghĩa mà lại muốn bắt chước năm quan đại phu nhà Chu ngày xưa giúp vương tử Đồi hay sao? Tôi e rằng thế nào về sau chúa công cũng phải hối hận.
Quan đại phu là Thân hầu nói:
- Đó là mệnh thiên tử, ai dám trái ý. Nếu theo nước Tề mà hội nhau để giúp thái tử, thì thành ra bỏ mệnh thiên tử hay sao? Nay một nước ta bỏ về thì các nước tất sinh lòng nghi mà cũng bỏ về cả. Vả thái tử Trịnh có bè cánh ở ngoài thì vương tử Đái cũng có bè cánh ở trong, nào đã biết bên nào được bên nào thua, chi bằng ta hãy bỏ về để xem sự thể ra sao đã.
Trịnh Văn công theo lời của Thân hầu, giả cách nói trong nước có việc cần, không cáo từ mà đi ngay. Tề Hoàn công nghe tin Trịnh Văn công trốn về, tức thì nổi giận, toan đem quân sang đánh Trịnh.
Quản Di Ngô nói:
- Nước Trịnh cùng với nhà Chu tiếp giáp nhau, đó tất là có người nhà Chu xui giục nước Trịnh. Dẫu một nước Trịnh bỏ về, cũng không cần gì, xin chúa công cứ hội thề với các nước chư hầu, chờ khi hội thề xong bấy giờ ta sẽ liệu cho nước Trịnh.
Tề Hoàn công khen phải, rồi truyền lập đàn ở đất Thủ Chỉ, để cùng với các nước chư hầu còn lại uống máu ăn thề xin cùng giúp ngôi thái tử. Lời thề như sau này:
“Phàm các nước đồng minh ta, cùng nhau giúp ngôi thái tử, để giữ yên cơ nghiệp nhà Chu; nếu ai trái lời ước ấy thì quỷ thần tru diệt”.
Ngày hôm sau, thái tử trở về nhà Chu, Tề Hoàn công đem chư hầu đi tiễn hết địa giới nước Vệ. Trịnh Văn công nghe tin chư hầu hội thề với Tề Hoàn công, lại sắp sửa đem binh sang đánh nước Trịnh, mới không dám bỏ Tề mà theo Sở nữa.
Sở Thành vương nghe tin Trịnh Văn công bỏ về, không dự hội thề ở Thủ Chỉ thì mừng lắm, nói rằng:
- Ta sẽ thu phục được nước Trịnh!
Nói xong, liền sai sứ sang thông tin cho Thân hầu biết rằng nước Sở muốn cùng với nước Trịnh giao hiếu. Nguyên Thân hầu khi trước đã làm quan nước Sở, vốn là người có tài nói khéo, lại có tính tham lam và nịnh hót, Sở Văn vương vẫn có lòng tin yêu. Khi Sở Văn vương gần chết, sợ rằng người sau không có lòng dung hắn, mới tặng cho hắn một viên bạch bích, để hắn trốn sang nước khác mà tránh họa. Thân hầu trốn sang nước Trịnh, theo Trịnh Lệ công ở đất Lịch. Trịnh Lệ công lại tin yêu Thân hầu như Sở Văn vương khi trước; đến lúc Trịnh Lệ công về phục quốc, liền cho Thân hầu làm quan đại phu.
Các quan ở nước Sở bây giờ đều là quen thuộc với Thân hầu, cho nên hôm nay đều đồng lòng chuyện này và bàn với Thân hầu xui giục Trịnh Văn công bỏ nước Tề mà theo nước Sở. Thân hầu mật nói với Trịnh Văn công rằng:
- Cứ như sự thể ngày nay, trừ nước Sở ra thì không còn nước nào địch nổi với nước Tề, huống chi ta giao hiếu với nước Sở, cũng là phụng mệnh thiên tử. Nếu không như thế thì nước Tề và nước Sở bây giờ đều là kẻ thù của nước Trịnh ta cả, nước Trịnh ta làm thế nào mà giữ nổi.
Trịnh Văn công nghe lời, liền mật sai Thân hầu sang kết giao với nước Sở. Tề Hoàn công đem quân các nước đến vây thành Tân Mật nước Trịnh. Bấy giờ Thân hầu còn đang ở nước Sở, nói với Sở Thành vương rằng:
- Nước Trịnh tôi sở dĩ kết giao với quý quốc là nghĩ rằng chỉ có quý quốc mới địch nổi nước Tề, nếu nay đại vương không cứu nước Trịnh thì tôi về chuyến này không biết nói thế nào cho được.
Sở Thành vương họp các quan lại để thương nghị. Quan lệnh doãn là Tử Văn nói:
- Hứa Mục công vì việc họp quân ở đất Thiệu Lăng khi trước mà chết, nước Tề vẫn lấy làm thương xót. Nước Hứa lại một lòng thần phục nước Tề. Bây giờ đại vương đem quân đánh nước Hứa thì tất các nước đều phải sang cứu, tự khắc giải vây được cho nước Trịnh.
Sở Thành vương theo lời, liền đem quân đi vây nước Hứa. Các nước nghe tin nước Hứa bị vây, quả nhiên bỏ nước Trịnh mà sang cứu nước Hứa. Nước Sở lại rút quân về. Khi Thân hầu về đến nước Trịnh, có ý kiêu ngạo tự đắc, vì nghĩ rằng mình có cái công bảo toàn được nước Trịnh, thì thế nào Trịnh Văn công cũng phải gia phong. Trịnh Văn công thấy Thân hầu vừa mới được phong ở đất Hổ Lao, cho là đã quá hậu rồi, mới không gia phong cho nữa. Thân hầu miệng không nói ra, nhưng trong lòng vẫn có ý oán.
Mùa xuân năm sau, Tề Hoàn công lại đem quân đến đánh nước Trịnh. Quan đại phu nước Trần là Đào Đồ từ khi theo Tề Hoàn công đi đánh Sở về, cùng với Thân hầu có sự hiềm khích, mới viết thư cho quan đại phu nước Trịnh là Khổng Thúc rằng:
“Thân hầu khi trước đã lấy việc nước mà lấy lòng nước Tề, được thưởng đất Hổ Lao. Ngày nay lại lấy việc nước mà lấy lòng nước Sở, khiến cho Trịnh hầu mang tiếng là người phụ ân bội nghĩa, gây ra việc binh đao, làm khổ sở nhân dân. Bây giờ giết Thân hầu đi thì không đánh mà tự khắc nước Tề phải rút quân về”.
Khổng Thúc đem bức thư ấy dâng lên Trịnh Văn công. Trịnh Văn công vì cớ ngày trước không nghe lời Khổng Thúc, trốn về không dự hội, để đến nỗi quân Tề hai lần đến đánh nước Trịnh, trong lòng lấy làm hổ thẹn, cũng đổ lỗi cho Thân hầu, mới gọi Thân hầu vào mà trách rằng:
- Nhà ngươi nói chỉ có nước Sở mới địch nổi nước Tề, nay quân Tề kéo đến, nào ta có thấy nước Sở đến cứu đâu?
Thân hầu đang sắp sửa phân giải thì Trịnh Văn công truyền cho võ sĩ lôi ra chém, bỏ đầu vào trong một cái hộp, sai Khổng Thúc đem sang nộp Tề Hoàn công mà nói rằng:
- Ngày trước chúa công tôi quá nghe lời nói của Thân hầu mà bỏ không dự hội, nay xin chém đầu Thân hầu, và sai tôi đến xin lỗi với quý quốc, mong nhà vua dung thứ cho.
Tề Hoàn công vốn biết Khổng Thúc là người giỏi, mới thuận cho nước Trịnh giảng hòa, lại hội chư hầu ở đất Ninh Mãn (đất nước Tề). Trịnh Văn công vẫn ngại vì có mệnh thiên tử nhà Chu khi trước, nên không dám công nhiên đến dự hội, liền sai thế tử Hoa đi thay.
Nguyên thế tử Hoa cùng với em là công tử Tang đều là con bà vợ cả, lúc bấy giờ vợ cả được Trịnh Văn công yêu, mới lập Hoa làm thế tử. Sau lại lập thêm hai bà phu nhân nữa, đều có con trai cả. Chẳng được bao lâu vợ cả chết; lại có nàng Yên Cật là cung nữ ở nước Trịnh bấy giờ, một hôm nằm mộng thấy một người đàn ông tay cầm cành hoa lan bảo Yên Cật rằng: “Ta đây là thủy tổ nhà ngươi, nay cho nhà ngươi cành hoa lan này, mai sau sẽ sinh quý tử, khiến cho nước nhà được thịnh vượng”. Nói xong, liền cầm cành hoa lan đưa cho. Yên Cật sực tỉnh dậy thấy trong nhà hương thơm ngào ngạt, đến sáng hôm sau, nói chuyện cho các cung nữ nghe. Các cung nữ đều cười mà diễu rằng: “Ngày sau tất sinh được quý tử!” Ngay hôm ấy, Trịnh Văn công vào cung, trông thấy Yên Cật, có ý bằng lòng. Các cung nữ đều nhìn nhau mà cười. Trịnh Văn công hỏi, Yên Cật mới thuật lại chuyện nằm mộng đêm hôm trước. Trịnh Văn công nói: “Đó là một điềm hay! Để ta tác thành cho nhà ngươi!”.
Nói xong, bèn sai người lấy một cành hoa lan cho Yên Cật đeo, rồi đem lòng thương yêu Yên Cật. Sau Yên Cật có thai sinh con đặt tên là Lan. Thế tử Hoa thấy cha nhiều vợ yêu như vậy, sợ mai sau lại bỏ mình mà lập người khác, mới bàn riêng với Thúc Thiêm. Thúc Thiêm nói: “Được hỏng đều có mệnh trời! Làm con nên phải giữ lấy đạo hiếu!” Thế tử Hoa lại đến bàn với Khổng Thúc. Khổng Thúc cũng khuyên thế tử Hoa nên giữ lấy đạo hiếu. Thế tử Hoa có ý không bằng lòng. Công tử Tang (em thế tử Hoa) tính ưa những sự kỳ quặc thường chắp cánh chim duật để làm mũ đội. Sư Thúc can rằng: “Thế là không hợp lễ, công tử chớ nên ăn mặc như vậy”. Công tử Tang cũng có ý không bằng lòng, mới nói với anh là thế tử Hoa. Bởi vậy thế tử Hoa cùng với Thúc Thiêm, Khổng Thúc và Sư Thúc thành ra hiềm khích.
Khi Trịnh Văn công sai thế tử Hoa sang hội với Tề Hoàn công, thế tử Hoa sợ Tề Hoàn công bẻ lỗi, không muốn đi. Thúc Thiêm giục thế tử Hoa, bắt phải đi ngay. Thế tử Hoa càng đem lòng căm tức, khi vào yết kiến Tề Hoàn công, xin phép đuổi hết người xung quanh, rồi nói với Tề Hoàn công rằng:
- Quyền chính nước Trịnh tôi ngày nay đều ở trong tay họ Tiết, họ Khổng và họ Tử Nhân. Khi trước phụ thân tôi bỏ không dự hội, cũng vì ba họ ấy xui giục, nếu nhà vua trừ bỏ ba họ ấy đi thì tôi xin đem nước Trịnh tôi mà phụ thuộc quý quốc.
Tề Hoàn công nói: “Được” rồi đem lời nói của thế tử Hoa thuật lại cho Quản Di Ngô nghe. Quản Di Ngô can rằng:
- Không nên! Sở dĩ chư hầu qui phục nước Tề ta, là vì nước Tề ta biết giữ điều lễ và điều tín. Nay thế tử Hoa không theo mệnh cha, sao gọi là lễ; sang đây kết giao với ta mà lại lập những mưu phản nghịch nước mình, sao gọi là tín? Vả lại tôi nghe ba họ ấy đều là người giỏi cả, dân nước Trịnh vẫn gọi là “Tam lương”, ta không nên trái ý dân mà theo lời thế tử Hoa. Cứ như ý tôi nghĩ thì thế tử Hoa chẳng bao lâu sẽ có tai vạ.
Tề Hoàn công bèn bảo thế tử Hoa rằng:
- Điều thế tử vừa nói là một việc rất quan trọng, để chờ khi Trịnh hầu sang đây, sẽ cùng thương nghị.
Thế tử Hoa thẹn đỏ mặt lên, toát mồ hôi ướt đầm cả người rồi cáo từ xin về. Quản Di Ngô ghét thế tử Hoa là người gian xảo, cố ý đem lời nói của thế tử Hoa tiết lộ cho người nước Trịnh biết. Người nước Trịnh tức khắc phi báo cho Trịnh Văn công. Khi thế tử Hoa về đến nước Trịnh, nói dối Trịnh Văn công rằng:
- Tề hầu thấy phụ thân không sang, không chịu cho giảng hòa, chi bằng ta theo nước Sở là hơn.
Trịnh Văn công quát mắng rằng:
- Thằng nghịch tử này, mày định bán nước, lại còn dám lập kế nói dối ta hay sao?
Mắng xong, truyền đem thế tử Hoa giam vào nhà kín. Thế tử Hoa khoét tường định trốn ra đi. Trịnh Văn công biết, giết ngay, đúng như lời đoán của Quản Trọng. Em cùng mẹ với thế tử Hoa là công tử Tang sợ tội, bỏ trốn sang nước Tống. Trịnh Văn công sai người đuổi theo giết chết ở dọc đường. Trịnh Văn công cảm cái ơn Tề Hoàn công không nghe lời nói của thế tử Hoa, lại sai Đỗ Thúc sang tạ, xin gia nhập đồng minh. Hồ Tăng tiên sinh có thơ rằng:
“Tam lương” nước Trịnh tựa cột đình
Cột xiêu một sớm rõ chông chênh
Tử Hoa gian trá hòng chiếm nước
Thân chết, còn lưu bất hiếu danh
Mùa đông Chu Huệ vương ốm nặng, thái tử Trịnh sợ có sự biến loạn, liền sai quan hạ sĩ là Vương Tử Hổ sang báo tin với Tề Hoàn công. Chẳng bao lâu, Chu Huệ vương mất, thái tử Trịnh cùng với các quan thương nghị, không phát tang vội, tức khắc sai người phi báo cho Vương Tử Hổ biết, để Vương Tử Hổ nói với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công đại hội chư hầu ở đất Thao (đất nước Tào) họp nhau làm tờ biểu vào vấn an nhà Chu. Trịnh Văn công cũng đến dự hội.
Mỗi nước cử một quan đại phu thay mặt, kê tên như sau:
1. Quan đại phu nước Tề là Thấp Bằng.
2. Quan đại phu nước Tống là Hoa Tú Lão.
3. Quan đại phu nước Lỗ là công tôn Ngao.
4. Quan đại phu nước Vệ là Ninh Tốc.
5. Quan đại phu nước Trần là Viên Tuyển.
6. Quan đại phu nước Trịnh là Tử Nhân Sư.
7. Quan đại phu nước Tào là công tử Mậu.
8. Quan đại phu nước Hứa là Bách Đà.
Các quan đại phu của các nước mượn tiếng vào vấn an Huệ vương, họp cả ở kinh thành nhà Chu, nghi vệ rất nghiêm chỉnh. Thái tử Trịnh sai người tiếp đãi, rồi mới phát tang Huệ vương. Các quan đại phu cùng nhau tôn thái tử Trịnh lên nối ngôi, tức là Chu Tương vương. Trần Vĩ (vợ vua Huệ vương) và vương tử Đái rất căm uất, nhưng sợ uy các nước, không dám có ý gì khác cả. Sang năm sau, Chu Tương vương làm lễ xuân tế, sai quan thái tế là Chu Công Khổng đem phần tế ban cho Tề Hoàn công, để đáp lại cái công khó nhọc giúp đỡ. Tề Hoàn công nghe tin, lại hội họp chư hầu ở đất Quý Khâu. Tề Hoàn công gặp Quản Trọng liền bàn cùng với Quản Di Ngô, về công việc nhà Chu.
Quản Di Ngô nói:
- Nhà Chu mới rồi, chỉ vì con trưởng con thứ không phân định, suýt xảy ra biến loạn. Nay chúa công cũng nên định ngôi thế tử trước, để khỏi di họa về sau.
Tề Hoàn công nói:
- Ta có sáu con, đều là con vợ thứ; công tử Vô Khuy là người nhiều tuổi hơn cả. Hiền đức thì có công tử Chiêu. Trưởng Vệ Cơ (mẹ công tử Vô Khuy) hầu ta đã lâu, ta hứa lời định lập công tử Vô Khuy rồi. Dịch Nha và Thụ Điêu hai người ấy vẫn thường nói cho Vô Khuy. Nhưng ta vẫn yêu công tử Chiêu là người hiền đức, ý ta cũng chưa quyết, bây giờ xin tùy ý Trọng phụ.
Quản Di Ngô đã biết Dịch Nha và Thụ Điêu là người gian nịnh, mà vẫn là bè cánh của Trưởng Vệ Cơ, sợ ngày sau công tử Vô Khuy lên nối ngôi thì trong ngoài hợp nhau mà làm hỗn loạn quốc chính. Công tử Chiêu là con Trịnh Cơ, nước Trịnh lại vừa mới cùng Tề giảng hòa, nếu lập công tử Chiêu thì càng thêm tình thân mật với nước Trịnh. Quản Di Ngô nghĩ thầm như vậy, rồi nói với Tề Hoàn công rằng:
- Nếu không có con hiền nối ngôi thì không giữ được cơ nghiệp bá chủ. Chúa công đã biết công tử Chiêu là người hiền thì nên lập ngay mới phải.
Tề Hoàn công nói:
- Ta chỉ sợ công tử Vô Khuy cậy mình hơn tuổi, lại sinh ra tranh nhau thì biết làm thế nào?
Quản Di Ngô nói:
- Nay nhân thể chúa công sắp đại hội chư hầu, nên chọn xem trong các vua chư hầu có vị nào có đức thì đem việc công tử Chiêu mà ủy thác cho, còn lo ngại gì nữa!
Tề Hoàn công gật đầu.
Bấy giờ Tống Hoàn công là Ngự Thuyết mất, thế tử Tư Phủ nhường ngôi cho công tử Mục Di (thứ huynh của Tư Phủ); Mục Di không chịu nhận. Tư Phủ mới lên ngôi, tức là Tống Tương công. Tống Tương công theo mệnh bá chủ dầu đang có tang, cũng đến dự hội ở đất Quỳ Châu. Quản Di Ngô bèn bảo Tề Hoàn công rằng:
- Vua nước Tống biết nhường ngôi cho công tử Mục Di, đó là một người có đức. Vả lại đang có tang mà cũng đến dự hội, thế là biết kính trọng nước ta, chúa công nên đem việc công tử Chiêu mà ủy thác cho người ấy.
Tề Hoàn công theo lời, liền sai Quản Di Ngô đến nhà quán xá, để nói chuyện trước cho Tống Tương công biết. Tống Tương công đến yết kiến Tề Hoàn công. Tề Hoàn công cầm lấy tay Tống Tương công đem việc công tử Chiêu mà ân cần dặn rằng:
- Mai sau nhờ hiền hầu trông nom cho, khiến Chiêu giữ yên được cơ nghiệp.
Tống Tương công khiêm nhượng, không dám nhận lời, nhưng trong lòng cảm tạ tấm lòng ủy thác của Tề Hoàn công. Hôm đến hội, các nước họp cả ở trên đàn, trên đàn để trống chỗ vua ngồi, chư hầu hướng về bắc bái vọng. Chu Công Khổng thay mặt thiên tử ban phần tế cho Tề Hoàn công.
Tề Hoàn công toan bước xuống thềm để lạy tạ. Chu Công Khổng can rằng:
- Thiên tử có truyền rằng hiền hầu năm nay đã có tuổi rồi thì tha lễ cho, không phải lạy.
Tề Hoàn công đã toan thôi không lạy. Quản Di Ngô đứng bên cạnh nói rằng:
- Thiên tử dẫu có lệnh truyền như vậy, nhưng kẻ làm tôi cứ nên giữ lễ mới phải.
Tề Hoàn công nói:
- Uy nghiêm thiên tử nhà Chu lúc nào cũng như ở trước mặt, khi nào thần này lại dám sai lễ.
Nói xong, liền bước xuống thềm sụp lạy. Chư hầu đều khen Tề Hoàn công là người biết giữ lễ. Tề Hoàn công nhân khi các nước chưa tan, lại tuyên bố năm điều cấm lệnh của vua nhà Chu.
1. Không được lấp dòng nước chảy.
2. Không được cấm đong thóc.
3. Không được đổi con trưởng.
4. Không được lấy thiếp làm vợ.
5. Không được cho đàn bà dự vào việc chính trị.
Tề Hoàn công lại cùng với chư hầu thề ước rằng:
- Phàm các nước đồng minh ta phải cùng nhau giao hiếu.
Thề ước xong, Tề Hoàn công bảo quan thái tể là Chu Công Khổng rằng:
- Ta nghe đời Tam đại(3) ngày xưa có lễ Phong Thiện, chẳng hay sự thể ra sao?
Chu Công Khổng nói:
- Đời Tam đại ngày xưa, làm lễ Phong ở núi Thái Sơn, làm lễ Thiện ở núi Lương Phủ. Làm lễ Phong để tế trời, lấy nghĩa trời cao, vậy nên đắp đất lên mà tế; làm lễ Thiện để tế đất, lấy nghĩa đất thấp, vậy nên quét sạch đất đi mà tế, ấy là cái lễ rất trọng thể ở đời Tam đại đó.
Tề Hoàn công nói:
- Nhà Hạ đóng đô ở An ấp, nhà Thương đóng đô ở Bạc ấp, nhà Chu đóng đô ở Phong Kiểu, chốn đô thành cách núi Thái Sơn và núi Lương Phủ rất xa, mà còn đi làm lễ Phong và lễ Thiện; nay hai núi ấy đều ở trong địa giới nước ta, vậy ta cũng muốn làm cái lễ rất trọng thể ấy, các ông nghĩ thế nào?
Chu Công Khổng thấy Tề Hoàn công có ý kiêu căng liền đáp lại rằng:
- Hiền hầu cho là phải thì còn ai dám bảo là không phải!
Tề Hoàn công nói:
- Thôi hãy để đến mai, ta lại sẽ bàn.
Các vua chư hầu đều tan về nhà quán xá cả. Chu Công Khổng nói riêng với Quản Di Ngô rằng:
- Lễ Phong Thiện là một việc trọng thể của thiên tử, tôi thiết tưởng nước chư hầu không nên nói đến, sao Trọng phụ không can Tề hầu được một câu?
Quản Di Ngô nói:
- Chúa công tôi là người hiếu thắng, phải nghĩ cách mà chữa bệnh đó, chứ không thể nào can thẳng được. Để hôm nay Di Ngô tôi sẽ liệu nói.
Đêm hôm ấy, Quản Di Ngô vào yết kiến Tề Hoàn công mà hỏi rằng:
- Chúa công muốn làm lễ Phong Thiện, có thật thế không?
Tề Hoàn công nói:
- Sao lại không thật.
Quản Di Ngô nói:
- Lễ Phong Thiện bắt đầu từ đời Vô Hoài Thị đến đời Chu Thành vương, cả thẩy bảy mươi ba nhà, đều chịu mệnh trời làm thiên tử, vậy mới được phép làm lễ Phong Thiện.
Tề Hoàn công có ý không bằng lòng mà nói rằng:
- Ta đây, phía nam đánh nước Sở, đến tận đất Thiệu Lăng; phía bắc đánh Sơn nhung, Linh Chi và Cô Trúc; phía tây qua bãi Lưu Sa đến tận núi Thái Hàng. Chư hầu không ai dám trái ý: ba lần hội chư hầu bằng binh xa, sáu lần hội chư hầu bằng y thường(4), thế thì dẫu đời Tam đại chịu mệnh trời chẳng qua cũng như vậy mà thôi. Bây giờ ta làm lễ Phong Thiện để con cháu noi theo, chẳng cũng nên lắm ru?
Quản Di Ngô nói:
- Các vua đời xưa, nhân có điềm lành mới làm lễ Phong Thiện, nay phượng hoàng và kỳ lân không đến, mà chúa công cũng muốn làm lễ Phong Thiện, tôi e rằng những người học thức ở các nước, tất có ý chê cười chúa công.
Tề Hoàn công nín lặng, ngày hôm sau không nói gì đến việc lễ Phong Thiện nữa. Tề Hoàn công khi đã về nước, tự nghĩ mình có nhiều công trạng to, mới sửa sang cung điện một cách rất rực rỡ; phàm các thứ xe ngựa khí dụng, đều sắm sửa lịch sự không khác gì thiên tử. Người trong nước ai cũng chê là tiếm phạm. Quản Di Ngô cũng đắp một cái đài cao ba tầng ở trong phủ, gọi là đài “Tam qui” tỏ ý có ba hạng người đều qui phục mình cả: dân qui phục, chư hầu qui phục, nước rợ mọi cũng qui phục. Lại lập ra tắc môn để che cửa. Lập phạn điếm để tiếp sứ thần các nước.
Bão Thúc Nha thấy vậy, có ý nghi hoặc, mới hỏi rằng:
- Vua xa xỉ, mình cũng xa xỉ; vua tiếm phạm, mình cũng tiếm phạm, như thế thì sao cho phải?
Quản Di Ngô nói:
- Một ông vua trải bao sự can khổ mới lập nên sự nghiệp, cũng phải có một ngày kia được hưởng sung sướng ở đời, nếu mình đem lễ phép mà bó buộc thì người ta sinh chán. Tôi làm như thế, chẳng qua cũng là vì muốn chịu đỡ cái tiếng chê cười của thiên hạ đối với chúa công ta.
Bão Thúc Nha nghe nói, ngoài miệng dẫu vâng dạ, nhưng trong lòng cũng có ý không phục. Quan thái tể Khổng nhà Chu từ đất Quỳ Châu trở về nhà Chu. Đi đến nửa đường, gặp Tấn Hiến công cũng định đến dự hội. Chu Công Khổng nói:
- Hội đã tan rồi!
Tấn Hiến công giẫm chân xuống đất mà than rằng:
- Nước tôi xa xôi quá, không được trông thấy cảnh tượng áo xiêm vui vẻ, sao mà ta vô duyên làm vậy!
Chu Công Khổng nói:
- Hiền hầu cũng chẳng nên tiếc! Ngày nay Tề hầu cậy mình công to, có ý kiêu ngạo; nhưng trăng tròn thì tất phải khuyết, nước đầy thì tất phải tràn, tôi chắc rằng chẳng bao lâu nữa nước Tề sẽ đến ngày suy đốn. Dẫu chẳng dự hội, cũng không hề chi!
Tấn Hiến công liền quay xe trở về miền tây, đi đường bị bệnh, về đến nước Tấn thì mất. Từ bấy giờ nước Tấn lại đại loạn.
_____
(1) Một xá là ba mươi dặm.
(2) Trỏ Khuất Hoàn.
(3) Nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu.
(4) Y thường: áo xiêm, nghĩa là các nước giao hiếu với nhau chỉ dùng áo xiêm, không dùng đến gươm giáo.
★
★
★
★
★
0