📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đông Chu liệt quốc (đính chính)

37 trả lời, 1.114 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.09.2015 09:59:23 bởi Huy Nguyên>
Nhân dịp đọc lại "Đông Chu liệt quốc", mình có so sánh thử bản giấy in và bản trên mạng (đề là bản dịch Nguyễn Đỗ Mục) xem thế nào, thì thấy có một chuyện rất lạ là từ hồi 1 đến hồi 25 không giống trong sách. Tìm hiếu thêm thì thấy rằng phần này lại là từ bản dịch Mộng Bình Sơn mà ra. Do đó mình muốn đánh bổ sung 25 hồi này theo đúng như bản dịch của tác giả Nguyễn Đỗ Mục. Xin Mod cho ý kiến!
Đăng nhập để trả lời
0
Chào bạn
 
Trong thư viên CtLy thây có cuốn
 
Đông Châu Liêt Quốc của Phùng Mộng Long
 
Bạn xem lại có hay hơn khg nhé
 
Chứ CtLy khg thây bản dịch của Nguyễn Đỗ Mục hay của Mộng Bình Sơn
 
Cảm ơn bạn nhiều
 
Chúc vui





Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.09.2015 05:26:59 bởi Huy Nguyên>
Chính là bản nói trên. Nói chung trên mạng chỉ duy nhất có một bản dịch này mà thôi. Một số nơi thì đề rõ là bản dịch Nguyễn Đỗ Mục – NXB Văn Học.
Theo mình thì bản trên mạng đã được đánh máy làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu (từ hồi 1 đến hồi 25) thì theo bản Mộng Bình Sơn. Sau đó không rõ vì lý do gì, giai đoạn sau lại không dùng bản Mộng Bình Sơn nữa mà lại dùng bản Nguyễn Đỗ Mục (có lẽ do người khác đánh, trong tay chỉ có bản Nguyễn Đỗ Mục). Thành ra nếu ai tinh ý, thì sẽ thấy hai phần này văn phong có sự khác nhau.
Do đó mình có ý định đánh lại 25 hồi đầu tiên cho đúng theo bản Nguyễn Đỗ Mục sách in, để tác phẩm giá trị này được hoàn chỉnh.
Tiện thể mình post đoạn đầu của bản Nguyễn Đỗ Mục lên để Mod tham khảo.
 
 
HỒI THỨ NHẤT
 
Nghe lời hát, Tuyên vương khinh sát
Giải tình oan, Đỗ Bá hiển linh
 
Đời vua Tuyên vương nhà Chu, có nước Khương Nhung nổi loạn. Tuyên vương ngự giá thân chinh, chẳng may thua trận, quân sĩ bị tổn thương nặng. Tuyên vương mưu việc cử binh một lần nữa, mới thân hành ra đất Thái Nguyên, điều tra số dân, để phòng khi gọi ra lính.
Tuyên vương ở Thái Nguyên trở về Kiểu kinh, khi đi qua một cái chợ, bỗng thấy có lũ trẻ độ vài mươi đứa cùng vỗ tay mà hát rất đều nhau.
Tuyên vương truyền dừng xe lại để nghe. Lũ trẻ hát rằng:
Thỏ(1) mọc thì ác(2) phải tà,
Yểm hồ cơ bặc(3) ấy là mất Chu!
Tuyên vương nghe thấy, trong lòng chẳng ưa, bèn bảo kẻ ngự giả(4) truyền lệnh hỏi. Lũ trẻ sợ hãi, chạy tán loạn cả; chỉ bắt được có hai đứa: một đứa còn bé và một đứa đã hơi lớn, đem lại quỳ ở trước xe.
Tuyên vương hỏi rằng:
- Ai làm ra câu hát ấy?
Đứa bé sợ run cầm cập, không nói được nữa; còn đứa lớn quỳ xuống tâu rằng:
- Câu hát ấy quả thực không phải chúng tôi đặt ra. Ba hôm trước có thằng bé mặc áo đỏ, đến giữa chợ này dạy chúng tôi hát mấy câu ấy. Không biết vì sao chỉ trong một lúc mà đã huyên truyền khắp chốn kinh thành, trẻ con đứa nào cũng hát thế, không phải chỉ có một chỗ này thôi.
Tuyên vương hỏi:
- Bây giờ thằng bé mặc áo đỏ ấy ở đâu?
Đứa trẻ tâu rằng:
- Sau khi dạy xong bài hát, không biết nó đi đằng nào mất.
Tuyên vương nín lặng hồi lâu, rồi đuổi hai đứa bé đi, truyền cho tư thị quan(5) phải hiểu dụ từ nay trở đi, nếu đứa trẻ nào còn hát câu ấy nữa thì cả cha anh nó cũng phải chịu tội.
Tuyên vương về cung. Sáng hôm sau, nhà vua ra triều, thuật chuyện lại cho các quan nghe một lượt, rồi phán hỏi:
- Câu hát ấy, phải giải như thế nào?
Quan đại tôn bá là Triệu Hổ tâu rằng:
- Yểm là một thứ cây dâu ở trên núi, dùng làm cung được; yểm hồ là cái cung bằng gỗ yểm; cơ là loài cỏ, kết lại làm cái túi để đựng tên; cơ bặc là cái túi đựng tên bằng cỏ cơ. Như kẻ hạ thần thiển nghĩ thì e rằng trong nước sẽ có việc cung tên giặc giã.
Quan thái tể là Trọng Phủ tâu rằng: cung tên là một thứ binh khí. Hiện nay nhà vua tra duyệt số dân, định để báo thù nước Khương Nhung; kẻ hạ thần e rằng nếu việc binh liên miên không ngớt thì rồi đây tất có cái nạn mất nước.
Tuyên vương gật đầu, rồi phán hỏi:
- Câu hát ấy tự đứa trẻ mặc áo đỏ truyền ra, chẳng hay đứa trẻ ấy là thế nào?
Quan thái sử là Bá Dương Phụ tâu rằng:
- Đó là ý trời muốn răn nhà vua, mới sai vị sao Huỳnh Hoặc hóa làm đứa trẻ dạy câu hát ấy. Huỳnh Hoặc là hỏa tinh, vậy nên đứa trẻ ấy mặc áo sắc đỏ.
Tuyên vương nói:
- Bây giờ trẫm xá tội cho nước Khương Nhung, rồi đem bao nhiêu cung tên ở trong kho đốt bỏ cả đi, lại cấm trong nước không ai được làm ra nữa thì cái nạn ấy có thể tránh khỏi được không?
Bá Dương Phụ tâu rằng:
- Kẻ hạ thần xem thiên văn thì cái điềm gở ấy tựa hồ ở trong cung vua, không quan hệ đến việc ngoài. Vả lại mặt trời là tượng vua; mặt trăng thuộc về âm, nay trong câu hát nói: “Thỏ mọc ác tà” thì âm thịnh dương suy, chắc hẳn có cái họa đàn bà can thiệp đến việc chính trị trong nước
Tuyên vương nói:
- Trẫm nhờ có Khương hậu làm chủ trong cung; hậu là một người rất hiền đức, bao nhiêu cung tần đều tự tay hậu kén chọn cả, thì sao lại có nữ họa được?
Bá Dương Phụ tâu:
- Câu hát ấy là chỉ việc sẽ xảy ra sau này, nay nhà vua tu nhân tích đức thì cũng có thể trừ được, không cần phải đốt bỏ cung tên làm gì.
Đăng nhập để trả lời
0
Vì Ct.Ly khg đánh truyện này, nên khg rõ lắm
 
Nếu bạn đánh 25 chương tiếp thì CtLy sẽ sửa sau nha
 
cảm ơn bạn nhiêu




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.09.2015 16:12:23 bởi Huy Nguyên>
ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC CHÍ
Tác giả: Phùng Mộng Long
Dịch giả: Nguyễn Đỗ Mục
 
HỒI THỨ NHẤT
 
Nghe lời hát, Tuyên vương khinh sát
Giải tình oan, Đỗ Bá hiển linh
 
Đời vua Tuyên vương nhà Chu, có nước Khương Nhung nổi loạn. Tuyên vương ngự giá thân chinh, chẳng may thua trận, quân sĩ bị tổn thương nặng. Tuyên vương mưu việc cử binh một lần nữa, mới thân hành ra đất Thái Nguyên, điều tra số dân, để phòng khi gọi ra lính.
Tuyên vương ở Thái Nguyên trở về Kiểu kinh, khi đi qua một cái chợ, bỗng thấy có lũ trẻ độ vài mươi đứa cùng vỗ tay mà hát rất đều nhau.
Tuyên vương truyền dừng xe lại để nghe. Lũ trẻ hát rằng:
Thỏ(1) mọc thì ác(2) phải tà,
Yểm hồ cơ bặc(3) ấy là mất Chu!
Tuyên vương nghe thấy, trong lòng chẳng ưa, bèn bảo kẻ ngự giả(4) truyền lệnh hỏi. Lũ trẻ sợ hãi, chạy tán loạn cả; chỉ bắt được có hai đứa: một đứa còn bé và một đứa đã hơi lớn, đem lại quỳ ở trước xe.
Tuyên vương hỏi rằng:
- Ai làm ra câu hát ấy?
Đứa bé sợ run cầm cập, không nói được nữa; còn đứa lớn quỳ xuống tâu rằng:
- Câu hát ấy quả thực không phải chúng tôi đặt ra. Ba hôm trước có thằng bé mặc áo đỏ, đến giữa chợ này dạy chúng tôi hát mấy câu ấy. Không biết vì sao chỉ trong một lúc mà đã huyên truyền khắp chốn kinh thành, trẻ con đứa nào cũng hát thế, không phải chỉ có một chỗ này thôi.
Tuyên vương hỏi:
- Bây giờ thằng bé mặc áo đỏ ấy ở đâu?
Đứa trẻ tâu rằng:
- Sau khi dạy xong bài hát, không biết nó đi đằng nào mất.
Tuyên vương nín lặng hồi lâu, rồi đuổi hai đứa bé đi, truyền cho tư thị quan(5) phải hiểu dụ từ nay trở đi, nếu đứa trẻ nào còn hát câu ấy nữa thì cả cha anh nó cũng phải chịu tội.
Tuyên vương về cung. Sáng hôm sau, nhà vua ra triều, thuật chuyện lại cho các quan nghe một lượt, rồi phán hỏi:
- Câu hát ấy, phải giải như thế nào?
Quan đại tôn bá là Triệu Hổ tâu rằng:
- Yểm là một thứ cây dâu ở trên núi, dùng làm cung được; yểm hồ là cái cung bằng gỗ yểm; cơ là loài cỏ, kết lại làm cái túi để đựng tên; cơ bặc là cái túi đựng tên bằng cỏ cơ. Như kẻ hạ thần thiển nghĩ thì e rằng trong nước sẽ có việc cung tên giặc giã.
Quan thái tể là Trọng Phủ tâu rằng: cung tên là một thứ binh khí. Hiện nay nhà vua tra duyệt số dân, định để báo thù nước Khương Nhung; kẻ hạ thần e rằng nếu việc binh liên miên không ngớt thì rồi đây tất có cái nạn mất nước.
Tuyên vương gật đầu, rồi phán hỏi:
- Câu hát ấy tự đứa trẻ mặc áo đỏ truyền ra, chẳng hay đứa trẻ ấy là thế nào?
Quan thái sử là Bá Dương Phụ tâu rằng:
- Đó là ý trời muốn răn nhà vua, mới sai vị sao Huỳnh Hoặc hóa làm đứa trẻ dạy câu hát ấy. Huỳnh Hoặc là hỏa tinh, vậy nên đứa trẻ ấy mặc áo sắc đỏ.
Tuyên vương nói:
- Bây giờ trẫm xá tội cho nước Khương Nhung, rồi đem bao nhiêu cung tên ở trong kho đốt bỏ cả đi, lại cấm trong nước không ai được làm ra nữa thì cái nạn ấy có thể tránh khỏi được không?
Bá Dương Phụ tâu rằng:
- Kẻ hạ thần xem thiên văn thì cái điềm gở ấy tựa hồ ở trong cung vua, không quan hệ đến việc ngoài. Vả lại mặt trời là tượng vua; mặt trăng thuộc về âm, nay trong câu hát nói: “Thỏ mọc ác tà” thì âm thịnh dương suy, chắc hẳn có cái họa đàn bà can thiệp đến việc chính trị trong nước
Tuyên vương nói:
- Trẫm nhờ có Khương hậu làm chủ trong cung; hậu là một người rất hiền đức, bao nhiêu cung tần đều tự tay hậu kén chọn cả, thì sao lại có nữ họa được?
Bá Dương Phụ tâu:
- Câu hát ấy là chỉ việc sẽ xảy ra sau này, nay nhà vua tu nhân tích đức thì cũng có thể trừ được, không cần phải đốt bỏ cung tên làm gì.
Tuyên vương nửa tin nửa ngờ, trong lòng không được vui, bãi triều về cung. Khương hậu ra đón. Tuyên vương đem những lời tâu của các quan kể lại cho Khương hậu nghe.
Khương hậu nói:
- Trong cung có một việc rất lạ, thiếp đang muốn tâu lên bệ hạ.
Tuyên vương nói:
- Việc gì lạ vậy?
Khương hậu nói:
- Hiện nay có một cung nhân của tiên vương ngày xưa, ngoài năm mươi tuổi, có thai đã hơn bốn chục năm trời, đêm qua mới sinh được một đứa con gái.
Tuyên vương giật mình hỏi:
- Đứa con gái ấy đâu?
Khương hậu nói:
- Thiếp nghĩ đó là một vật chẳng lành, cho nên đã sai người bó chiếu rồi đem quẳng xuống sông Thanh Thủy, cách đây độ hai mươi dặm.
Tuyên vương truyền đòi người cung nhân già ấy vào, hỏi sự tình đầu đuôi việc thụ thai.
Người ấy quỳ xuống tâu rằng:
- Tiện tỳ này nghe nói về đời Hạ Kiệt, có thần nhân ở đất Bao Thành hóa làm hai con rồng vào chầu sân nhà vua rồi nhả dãi ở trong miệng ra, bảo vua Hạ Kiệt rằng: “Ta đây là hai vua ở Bao Thành”. Vua Hạ Kiệt sợ hãi, muốn đem giết đi, mới sai quan thái sử bói một quẻ xem sao. Quan thái sử tâu rằng: “Thần nhân giáng xuống là điềm lành! Sao nhà vua không xin lấy cái dãi ấy mà cất đi một chỗ. Cái dãi ấy là tinh khí của con rồng, mình xin được tất được phúc”. Vua Hạ Kiệt mới làm lễ tế con rồng, đem cái mâm bằng vàng để hứng lấy dãi, bỏ trong cái hòm sơn đỏ rồi cất vào kho. Vừa cất xong thì mưa gió ầm ầm, hai con rồng bay đi mất. Từ đời Hạ qua đời Ân, trải 644 năm; sang đời Chu ta, lại gần được 300 năm rồi, mà chưa hề mở hòm lần nào cả. Đến đời tiên vương ta, trong hòm tự nhiên có hào quang chiếu sáng, quan giữ kho phải vào tâu tiên vương. Tiên vương truyền mở xem. Nội thị mở ra, rồi bưng cái mâm bằng vàng có đựng dãi rồng ấy dâng lên. Tiên vương giơ tay đỡ lấy, đánh rơi xuống đất, dãi rồng chảy lênh láng cả ra sân, bỗng hóa thành một con giải nhỏ. Nội thị đuổi bắt thì con giải ấy chạy vào trong cung vua mà biến đi mất. Bấy giờ tiện tỳ này mới mười hai tuổi, giẫm phải vết chân con giải ấy, bỗng thấy trong mình cảm động, rồi bụng mỗi ngày một to như người có thai vậy. Thấy kẻ tiện tỳ bỗng không mà chửa, tiên vương lấy làm quái dị, mới đem giam vào nơi u thất đến nay đã bốn mươi năm trời. Đêm qua tiện tỳ thấy đau bụng, rồi sinh được một đứa con gái. Nội thị thấy vậy, không dám giấu giếm, phải vào tâu với nương nương. Nương nương bảo đó là quái vật không lưu dụng được, bèn sai nội thị đem bỏ nơi ngòi rãnh. Kẻ tiện tỳ này thật là có tội đáng chết muôn lần.
Tuyên vương nói:
- Đó là việc triều trước, có can gì đến nhà ngươi.
Nói xong, truyền cho cung nhân lui ra, rồi sai nội thị tới sông Thanh Thủy xem đứa bé con ấy ra làm sao. Được một hồi lâu, nội thị về báo đứa trẻ ấy đã trôi đi đâu mất rồi.
Sáng hôm sau, Tuyên vương ra triều, đem chuyện dãi rồng nói cho Bá Dương Phụ nghe, rồi hỏi rằng:
- Đứa bé con ấy nay đã chết rồi, nhà ngươi nên bói một quẻ xem sao?
Bá Dương Phụ bày quẻ ra bói, bói xong quỳ xuống mà tâu rằng:
- Cứ như kẻ hạ thần suy tính, thì yêu khí ấy dẫu ra khỏi chốn cung điện, nhưng ta chưa trừ được nó!
Tuyên vương có ý không bằng lòng, mới hạ lệnh đi khắp mọi nơi: hễ ai vớt được đứa con gái ấy đem nộp thì dù nó sống hay chết, nhà vua cũng thưởng cho 300 tấm lụa; kẻ nào bắt được mà giấu giếm không chịu trình quan thì cả nhà phải chết chém; ai biết mà tố giác ra thì có thưởng. Nhà vua giao cho quan thượng đại phu là Đỗ Bá chuyên xét về việc ấy. Lại sai quan hạ đại phu là Tả Nho đi đốc xuất tư thị quan đi tuần các nơi chợ búa, không cho ai được làm ra hay đem bán những cung bằng gỗ dâu và túi tên bằng cỏ cơ, ai không tuân lệnh, thì phải xử tội.
Ngày hôm sau, tư thị quan đi tuần, gặp một người đàn bà mang mấy cái túi tên bằng cỏ cơ, và một người đàn ông vác mười cái cung bằng gỗ dâu đi theo sau. Hai vợ chồng nhà ấy chưa biết có lệnh cấm, cứ thủng thỉnh tiến qua cửa thành để đem cung tên vào chợ bán. Họ đi đến cửa thành thì tư thị quan trông thấy, thét bắt lại. Người đàn ông quẳng bó cung xuống đất, ù té chạy mất. Tư thị quan sai trói người đàn bà và đem cả cung dâu, túi cỏ vào nộp Tả Nho.
Tả Nho nghĩ thầm trong bụng rằng: “Hai vật này chính ứng vào câu hát của lũ trẻ. Vả quan thái sử tâu rằng có nữ họa, nay bắt được người đàn bà này, âu là ta phải về phúc tấu mới được”.
Tả Nho bèn giấu hẳn chuyện người đàn ông đi không nói đến nữa, chỉ tâu rằng người đàn bà đã trái phép vua, tội nên xử tử.
Tuyên vương truyền đem chém, còn cung dâu và túi cỏ thì đem đốt giữa chợ để răn kẻ khác.
Người đàn ông từ khi chạy trốn, vẫn không hiểu vì cớ gì mà quan bắt vợ mình; ngày hôm sau nghe thấy người ta đồn rằng: “Người đàn bà bị bắt hôm trước, dám trái phép làm cung dâu và túi cỏ, nay đã bị chém rồi”, bấy giờ mới biết là vợ mình chết chém liền đi đến chỗ đồng không quãng vắng, ứa hai hàng nước mắt đau xót, nhưng lại mừng thầm rằng mình được thoát nạn, mới lững thững đi đến bên sông Thanh Thủy, nhác trông thấy đằng xa có các giống chim kêu, vội vàng đến gần nhìn xem thì thấy có một cái chiếu cỏ cuốn thành một bó lênh đênh ở trên mặt nước, các giống chim vừa lôi vừa kêu, đã gần đến bờ.
Người đàn ông ấy lấy làm lạ, mới kéo lên bờ, thì nghe có tiếng khóc, liền mở ra xem, thấy một đứa con gái bé, bèn nghĩ thầm trong bụng rằng: “Đứa bé này không biết con ai mà bị quăng bỏ như vậy, lại có các giống chim tha kéo vào bờ thì tất là quý tử, âu là ta đem về nuôi, ngày sau nó lớn lên, ta cũng có phận nhờ”.
Người đàn ông bèn cởi áo ra cuốn lấy đứa bé, ẵm vào lòng, rồi tìm phương lánh nạn. Anh ta thẳng đường tiến sang Bao Thành, vào trốn ở nhà người quen.
Tuyên vương từ khi giết người đàn bà ấy, cho là câu hát của lũ trẻ đã ứng nghiệm, lòng mới thanh thản, cũng không bàn đến việc phát binh ở Thái Nguyên nữa.
Cách độ vài năm, gặp ngày đại tế, tối hôm trước Tuyên vương ra ngủ ở trai cung(6). Canh hai vừa điểm, tiếng người im lặng, nhà vua trông thấy một người con gái đẹp, từ phía tây bước thẳng vào trong miếu. Tuyên vương thấy người con gái ấy vào nơi trai cấm bèn quát mắng rầm lên, truyền nội thị đuổi bắt, thì chẳng thấy một người nào thưa cả.
Người con gái không sợ hãi gì cả, cười khanh khách ba tiếng, lại khóc nức nở ba tiếng, rồi điềm nhiên thu hết các thần chú trong miếu, bó lại làm một bó, và nhắm phương đông mà xách đi.
Tuyên vương vội vàng đuổi theo, bỗng giật mình tỉnh dậy, té ra là một giấc chiêm bao.
Đến lúc tế xong, Tuyên vương đòi Bá Dương Phụ vào để đoán mộng.
Bá Dương Phụ tâu rằng:
- Năm trước có câu hát của lũ trẻ, kẻ hạ thần đã đoán là có nữ họa, nay có cái mộng này thì lại càng hợp lắm.
Tuyên vương nói:
- Ngày trước trẫm đã giết một mụ đàn bà bán cung dâu và túi cỏ, mà lại chưa giải được câu sấm hay sao?
Bá Dương Phụ nói rằng:
- Đạo trời cao xa lắm, ứng nghiệm rồi mới biết được, chứ người đàn bà thôn dã ấy thì có quan hệ gì đến khí số!
Tuyên vương ngậm ngùi không nói gì cả, sực nghĩ đến năm trước có sai quan thượng đại phu là Đỗ Bá đi kiểm soát về việc đứa bé bỏ sông mà sao từ bấy đến nay chưa thấy tâu báo gì. Nghĩ đoạn, nhà vua đứng dậy về triều, truyền đòi Đỗ Bá vào hỏi.
Đỗ Bá tâu rằng:
- Kẻ hạ thần đã hết sức dò tìm đứa bé ấy mà chẳng thấy tăm hơi gì cả, về sau thấy có người đàn bà chết chém, thì câu hát của lũ trẻ đã ứng nghiệm rồi. Kẻ hạ thần e rằng dò tìm mãi thì náo động đến dân tình trong nước, vậy nên sau cũng bỏ đi.
Tuyên vương nổi giận mắng rằng:
- Nếu như vậy thì sao nhà ngươi không tâu rõ, lại dám tự tiện coi thường?
Nói xong, truyền vũ sĩ đem chém. Các quan trong triều, đều sợ xám cả mặt lại. Bỗng thấy một viên quan chạy ra ôm lấy Đỗ Bá mà kêu lên rằng:
- Khoan đã! Khoan đã!
Tuyên vương ngảnh lại trông thấy đó là quan hạ đại phu Tả Nho, chính là bạn thân với Đỗ Bá. Tả Nho quỳ xuống tâu rằng:
- Kẻ hạ thần thiết nghĩ đời vua Nghiêu chín năm nước lụt, đời vua Thang bảy năm nắng to, tai biến như thế còn chẳng hại gì nữa là những chuyện huyễn hoặc ngày nay, sao bệ hạ lại quá tin như vậy? Nếu bệ hạ giết Đỗ Bá thì kẻ hạ thần e rằng người nước ngoài nghe thấy những chuyện huyễn hoặc tất cũng coi thường, xin bệ hạ nghĩ lại mà rộng thương cho.
Tuyên vương nói:
- Nhà ngươi vì bạn mà trái mệnh của trẫm, thế ra trọng bạn mà khinh vua hay sao?
Tả Nho nói:
- Vua phải mà bạn trái, thì nên theo vua; bạn phải mà vua trái thì nên theo bạn. Đỗ Bá tội không đáng chết, nếu nhà vua giết đi thì thiên hạ tất chê nhà vua là bất minh; nếu kẻ hạ thần không biết can ngăn thì thiên hạ tất cũng chê kẻ hạ thần là bất trung. Nay nhà vua nhất định giết Đỗ Bá thì kẻ hạ thần xin cùng với Đỗ Bá cùng chết.
Tuyên vương vẫn chưa nguôi cơn giận nói:
- Trẫm giết Đỗ Bá như bỏ đống cỏ nát, cần gì mà phải phí lời.
Nói xong, truyền đem Đỗ Bá ra chém. Tả Nho về đến nhà, cũng tự vẫn mà chết. Con Đỗ Bá là Thấp Thúc trốn sang nước Tấn, làm quan sĩ sư, mới đổi họ là họ Sĩ; được phong ở đất Phạm, lại đổi làm họ Phạm. Người đời sau thương Đỗ Bá là người trung, mới lập đền thờ gọi là miếu “Đỗ chủ” cũng gọi là “Hữu tướng quân miếu”.
Tuyên vương nghe nói Tả Nho tự vẫn, cũng có ý hối về việc giết Đỗ Bá, đêm ngày nghĩ ngợi, thành bệnh hay mê hoảng.
Một hôm gặp tiết thu, Tuyên vương ra săn bắn chơi ở ngoài cõi. Đến lúc trở về, Tuyên vương đang ngồi ở trên kiệu bỗng hoa mắt lên, rồi trông thấy từ phía đằng xa có một cái xe nhỏ xồng xộc chạy đến. Trên xe có hai người đứng, tay cầm cung tên, ngảnh nhìn Tuyên vương mà bảo: “Nhà vua lâu nay vẫn được mạnh chứ?” Tuyên vương nhìn kỹ ra thì thấy Đỗ Bá và Tả Nho, mới giật mình kinh sợ, vừa mới chợp mắt đi, thì lại chẳng thấy gì nữa. Tuyên vương truyền hỏi các quan thị vệ thì ai nấy đều tâu rằng không ai trông thấy gì cả.
Tuyên vương đang có ý nghi hoặc thì lại thấy cái xe Đỗ Bá, Tả Nho cứ lượn đi lượn lại ở trước mặt. Tuyên vương giận lắm, rút thanh bảo kiếm giơ lên toan chém.
Đỗ Bá và Tả Nho cùng quát mắng rằng:
- Hôn quân kia! Mi làm nhiều điều vô đạo, chém giết những kẻ vô tội, nay mi đã đến ngày tận số, chúng ta đến đây để báo oán đây!
Nói xong, giương cung bắn thẳng vào bụng vua. Tuyên vương kêu to lên một tiếng, ngất người ngã lăn trên xe. Các quan xúm lại đổ thuốc, rồi vực về cung.
_____
(1) Thỏ: mặt giăng, bởi chữ “ngọc thỏ” mà ra.
(2) Ác: mặt trời, bởi chữ “kim ô” mà ra.
(3) Ở đoạn sau đã có giải nghĩa rõ.
(4) Ngự giả: người cầm cương xe ngựa.
(5) Tư thị quan: chức quan coi việc các chợ.
(6) Trai cung: chỗ nhà vua ra trai giới trước khi tế tự.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.09.2015 09:51:29 bởi Huy Nguyên>
Trước khi đăng những hồi kế tiếp, mình xin gửi đến các bạn một vài trang sách scan từ hai bộ Đông Chu bản dịch Nguyễn Đỗ Mục của hai nhà xuất bản khác nhau để minh họa cho vấn đề đã nói ở trên.


📎 nxbhn|nxbhcm
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.09.2015 09:56:54 bởi Huy Nguyên>
HỒI THỨ HAI
 
Bao Quýnh chuộc tội dâng mỹ nữ
U vương đốt lửa lừa chư hầu
 
Tuyên vương từ khi trông thấy âm hồn Đỗ Bá và Tả Nho, thì bệnh mỗi ngày một nặng, động nhắm mắt đi thì lại thấy Đỗ Bá và Tả Nho hiện ra. Tuyên vương truyền đòi hai vị lão thần là Doãn Cát Phủ và Thiệu Hổ vào cung để ký thác thái tử. Hai vị lão thần vâng mệnh, lạy tạ trở ra, vừa đến cửa cung thì gặp quan thái sử là Bá Dương Phụ.
Thiệu Hổ nói với Bá Dương Phụ rằng:
- Về câu hát của lũ trẻ ngày trước, tôi đã đoán là có việc cung tên giặc giã, nay nhà vua lại trông thấy ma quỷ cầm cung tên mà bắn thì dễ có khi bệnh nguy mất.
Bá Dương Phụ nói:
- Tôi xem thiên văn thì e rằng nước nhà còn có tai biến khác, chứ chẳng những một mình nhà vua mà thôi đâu.
Doãn Cát Phủ nói:
- Các ngài chỉ nói đạo trời mà bỏ việc người, vậy thì các quan trong triều còn dùng được việc gì nữa!
Nói xong, ba người đều về cả. Đêm hôm ấy Tuyên vương băng hà, các quan tôn thái tử là Cung Nát lên ngôi ở trước linh cữu, đó tức là U vương; lại lập con gái Thân bá làm vương hậu, phong con là Nghi Cữu làm thái tử, tiến tước cho Thân bá làm Thân hầu.
Từ khi Tuyên vương băng hà, bà Khương hậu đêm ngày buồn rầu, chẳng bao lâu cũng mất.
U vương là người bạo ngược, trong khi còn có tang mà ngày nào cũng uống rượu vui đùa, chẳng có bụng thương xót ai một chút nào; từ khi bà Khương hậu tạ thế rồi, nhà vua lại càng không sợ ai nữa, say đắm tửu sắc, chẳng thiết gì chính sự. Thân hầu can mãi không nghe, bèn rút về Thân quốc. Các vị lão thần như Doãn Cát Phủ, Thiệu Hổ cũng đều tạ thế cả. U vương dùng Quắc công, Sái công và Doãn Cầu làm chức tam công. Ba người đều tham quyền hám lợi, chỉ biết a dua theo ý vua.
Bấy giờ có quan đại phu là Triệu Thúc Đái bảo Bá Dương Phụ rằng:
- Nay thiên tử không nghĩ đến chính sự, chỉ chuyên dùng kẻ nịnh thần, ta giữ chức gián quan, phải can ngăn mới được.
Bá Dương Phụ nói:
- Chỉ sợ can ngăn cũng vô ích mà thôi.
Hai người thì thào với nhau, thế nào có người báo cho Quắc công biết. Quắc công sợ Triệu Thúc Đái can ngăn vua, lại nói rõ hắn là một đứa gian nịnh, liền vào ngay trong cung tâu với U vương rằng:
- Bá Dương Phụ và Triệu Thúc Đái bàn nhau phỉ báng triều đình.
U vương nói:
- Những đồ ngu dốt lại dám nói càn, nghe làm gì cho bẩn tai.
Một hôm, có quan trấn thủ ở Kỳ Sơn dâng biểu tâu rằng:
- Núi Kỳ Sơn trụt xuống, nhà cửa của dân chúng bị sụp đổ rất nhiều.
U vương chẳng lo sợ gì cả, chỉ sai nội thị đi tìm con gái đẹp để tuyển vào cung.
Triệu Thúc Đái dâng biểu can rằng:
- Kỳ Sơn là chỗ phát tích của nhà Chu ta, nay núi lở như vậy, không phải là việc tầm thường, nhà vua nên tìm người hiền để giúp đỡ chính sự, may ra có thể tiêu trừ được thiên tai. Sao nhà vua lại không cho tìm người hiền mà lại chỉ tìm con gái đẹp?
Quắc công tâu rằng:
- Quốc triều ta đóng đô ở đây là chỗ cơ nghiệp muôn năm, còn Kỳ Sơn là nơi cũ đã bỏ đi rồi(1), có quan hệ gì? Triệu Thúc Đái khinh nhờn nhà vua, dám đặt điều để phỉ báng, xin nhà vua soi xét.
U vương nói:
- Quắc công nói phải đó!
Nói xong, liền cách chức Triệu Thúc Đái, đuổi về quê nhà. Triệu Thúc Đái đem gia quyến sang ở nước Tấn, sau con cháu nối đời làm quan đại phu nước ấy. Triệu Thôi và Triệu Thuẫn tức là dòng dõi ông ta.
Quan đại phu là Bao Quýnh ở Bao Thành về triều nghe tin Triệu Thúc Đái bị đuổi, vội vàng vào tâu với U vương rằng:
- Nay nhà vua không biết lo sợ để trừ tai biến, mà lại đuổi bỏ người trung thực, kẻ hạ thần e rằng trong nước không có người hiền thì khó lòng mà giữ được cơ nghiệp.
U vương giận lắm, sai bắt Bao Quýnh bỏ ngục. Từ bấy giờ các quan trong triều không ai dám can ngăn nữa.
Lại nói chuyện người đàn ông đi bán cung dâu túi cỏ ngày trước, vớt được đứa bé con, bỏ trốn sang Bao Thành; sau người ấy nghèo đói, không thể nuôi được đứa bé, may có một người tên là Tự Đại, vốn hiếm hoi đưa cho hắn mấy tấm vải, xin lấy đứa bé đem về nuôi, đặt tên là Bao Tự.
Tuy Bao Tự mới mười bốn tuổi mà trông như người trạc mười sáu mười bảy tuổi, nhan sắc xinh đẹp tuyệt trần, mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da, mắt liếc sắc như dao đưa, miệng cười tươi như hoa nở, thật là một bậc nghiêng thành nghiêng nước, đắm nguyệt ngây hoa: chỉ vì ở nơi quê mùa hẻo lánh, nên dẫu có sắc nước hương trời, nhưng chưa mấy người biết đến để xin cưới hỏi. Con trai Bao Quýnh là Hồng Đức, một hôm đi qua, trông thấy Bao Tự đang gánh nước, ăn mặc tuy mộc mạc nhưng vẫn lộ vẻ đẹp tuyệt trần.
Hồng Đức giật mình kinh ngạc mà rằng:
- Ai ngờ chỗ quê mùa hẻo lánh này mà lại có người đẹp đến thế!
Nói xong, lại bỗng nghĩ đến phụ thân đang bị giam ở kinh thành đã ba năm nay chưa được tha về; Hồng Đức nghĩ thầm nếu đem người con gái này dâng lên thiên tử thì có lẽ phụ thân mình sẽ được khỏi tội.
Hồng Đức mới hỏi dò nhà láng giềng, biết được tên tuổi đích xác của Bao Tự, bèn trở về nói với mẹ rằng:
- Phụ thân con vì lời nói thẳng, xúc phạm ý vua cũng không phải là có tội gì quá nặng. Nay thiên tử hoang dâm vô đạo, tìm gái đẹp bốn phương để sung vào hậu cung; bây giờ có con gái nhà Tự Đại xinh đẹp lắm, nếu mua được để dâng lên thiên tử mà chuộc tội cho phụ thân con, thì đó cũng là cái kế của Tản Nghi Sinh ngày xưa cứu vua Văn vương được khỏi tội.
Bà mẹ nói:
- Nếu kế ấy dùng được thì ta có tiếc gì tiền của, con nên đi ngay.
Hồng Đức liền đến nhà Bao Tự, nói với Tự Đại xin đưa ba trăm tấm lụa, mua lấy Bao Tự đem về, cho tắm gội bằng nước hương, ăn những món cao lương, mặc gấm vóc lụa là, và học tập lễ nghi rồi đem về Kiểu kinh. Hồng Đức mang bạc vào lễ Quắc công để nhờ Quắc công tâu hộ cho rằng Bao Quýnh đã biết hối tội, có con là Hồng Đức xót tình cốt nhục, xin dâng mỹ nhân là Bao Tự để chuộc tội cho cha. U vương nghe lời tâu, truyền cho dẫn Bao Tự vào bệ kiến.
Bao Tự vào lạy trước sân rồng. U vương liếc thấy nàng nhan sắc tuyệt vời, đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu, mới cho ngay vào cung, rồi hạ chỉ tha Bao Quýnh; lại cho Quýnh được phục chức. Từ bấy giờ U vương đêm ngày say đắm Bao Tự ở chỗ Quỳnh Đài, tựa gối kề vai, thề sông chỉ núi, chẳng thiết gì đến chính sự cả; hàng tháng nhà vua không ra triều một lần, các quan mấy khi được trông thấy mặt vua, ai cũng ngậm ngùi than thở.
Có người đem chuyện Bao Tự vào báo với chánh cung là Thân hậu. Thân hậu giận lắm, một hôm đi đến Quỳnh Đài (chỗ Bao Tự ở) thấy U vương đang cùng với Bao Tự sánh vai cùng ngồi. Hai người trông thấy Thân hậu vào, cũng không đứng dậy.
Thân hậu không thể nhịn được, mới mắng Bao Tự rằng:
- Đứa tiện tỳ kia, mày ở đâu mà đến đây làm nhơ loạn chốn cung cấm như vậy?
U vương sợ Thân hậu xông vào đánh Bao Tự, mới lấy mình che cho Bao Tự mà nói hộ rằng:
- Đây là mỹ nhân của trẫm mới mua, chưa định vị thứ, vậy nên chưa kịp cho vào triều kiến, hoàng hậu đừng giận!
Thân hậu xỉ mắng một lúc, rồi hầm hầm trở ra. Bao Tự hỏi U vương rằng:
- Ai đó?
U vương nói:
- Đấy là chính cung, sáng mai ái khanh nên vào yết kiến.
Bao Tự nín lặng không nói gì cả, nhưng đến sáng hôm sau cũng chẳng vào triều Thân hậu. Thân hậu ở trong cung, ngày đêm buồn rầu. Thái tử là Nghi Cữu quỳ xuống hỏi rằng:
- Mẫu thân nay làm chánh cung, sao lại có ý không được vui?
Thân hậu nói:
- Thiên tử nay say đắm Bao Tự, một mai con yêu ấy đắc thế thì mẹ con ta không có chỗ mà dung thân.
Nói xong, lại đem những chuyện Bao Tự không vào triều kiến và trông thấy mình đến cũng không đứng dậy ra nghênh tiếp, kể lại cặn kẽ cho thái tử nghe và ứa nước mắt. Nghi Cữu nói:
- Khó gì việc ấy! Sáng mai là ngày sóc, phụ vương tất ra coi triều, xin mẫu thân cứ cho cung nữ đến hái hoa ở Quỳnh Đài, dụ cho con tiện tỳ ấy ra ngoài, để con đánh cho nó một trận cho mẫu thân được hả lòng. Nếu phụ vương có quở trách thì con chịu tội, chứ không can gì đến mẫu thân.
Thân hậu nói:
- Con không nên nóng nảy, phải nghĩ kỹ mới được.
Thái tử căm tức trở ra. Sáng hôm sau, U vương ra coi triều. Nghi Cữu cố ý sai mấy mươi cung nữ đến Quỳnh Đài, hái bừa cả hoa đi.
Các cung nữ ở Quỳnh Đài ngăn cản lại mà rằng:
- Hoa ở đây là thiên tử trồng ra để cho Bao nương nương thỉnh thoảng ra ngắm, các ngươi không được phá hủy; tội chẳng phải vừa!
Những người cung nữ kia nói:
- Chúng ta vâng mệnh thái tử, hái hoa để dâng chánh cung nương nương, ai dám ngăn cấm?
Hai bên cãi nhau rầm rĩ cả lên, động đến tai Bao Tự. Bao Tự vừa bước ra thì Nghi Cữu xông đến, túm lấy tóc Bao Tự mà mắng rằng:
- Con tiện tỳ kia, mày là đứa nào mà dám tự xưng là nương nương, chẳng coi ai ra gì, ngày nay ta đánh cho mày biết tay.
Nói xong, nắm tay lại đấm luôn mấy cái. Các cung nữ sợ tội với vua, đều quỳ xuống kêu van Nghi Cữu rằng:
- Xin thái tử bớt giận, việc gì đã có thiên tử phân xử.
Nghi Cữu cũng sợ quá tay, mới buông tha cho Bao Tự. Bao Tự xấu hổ, ngậm ngùi trở vào, biết là Nghi Cữu báo thù cho mẹ, hai hàng nước mắt lã chã khôn cầm
Các cung nữ khuyên giải rằng:
- Đã có lệnh thiên tử, nương nương bất tất phải phiền não.
Nói chưa dứt lời thì U vương vào. U vương trông thấy Bao Tự đầu bù tóc rối, nước mắt chảy quanh, bèn nói:
- Sao hôm nay ái khanh còn chưa trang điểm?
Bao Tự nắm lấy tay áo U vương mà khóc òa lên, rồi kể lể rằng:
- Hôm nay thái tử đem cung nữ đến hái hoa, nào thiếp có tội lỗi gì đâu, thái tử trông thấy tức thì túm lấy mà đánh, nếu không có các cung nữ kêu van hộ thì tính mệnh thiếp còn gì! Xin nhà vua xử đoán cho.
Nói xong, lại khóc nức nở mãi. U vương nói:
- Chỉ tại nàng không chịu vào triều hoàng hậu, đến nỗi gây ra chuyện này. Đó là hoàng hậu sai đến, không phải tự ý thái tử, nàng chớ lấy làm lạ.
Bao Tự nói:
- Thái tử đã báo thù cho mẹ thì tất phải giết được thiếp mới nghe. Nếu chỉ một thân thiếp này thôi thì cũng chẳng đáng tiếc gì, nhưng từ khi thiếp được đội ơn bệ hạ thương yêu đến, có thai đã hai tháng nay, một mình thiếp chết tức thành hai mạng. Xin bệ hạ cho thiếp về để hai mẹ con thiếp được bảo toàn được tính mệnh.
U vương nói:
- Ái khanh không lo, đã có trẫm phân xử.
Nói xong, liền truyền một đạo chỉ kể tội thái tử vô lễ, rồi đày ra Thân quốc để cho Thân hầu (cha bà Thân hậu) dạy bảo; còn các quan thái phó, thiếu phó dạy thái tử học đều bị cách chức.
Nghi Cữu muốn vào để khiếu oan, U vương cấm cửa không cho vào, thái tử phải đi ra Thân quốc ngay. Thân hậu lâu không thấy con vào cung, sai cung nữ ra hỏi, mới biết là Nghi Cữu đã bị đày ra Thân quốc rồi. Bấy giờ Thân hậu chỉ có một thân một mình, không làm gì được, ngày nào cũng chỉ oán chồng nhớ con, khóc lóc than thở.
Bao Tự có thai đủ mười tháng liền sinh con trai. U vương quý như vàng ngọc, đặt tên là Bá Phục, rồi có ý muốn bỏ Thân hậu mà lập Bao Tự làm chính cung, chỉ vì chưa có cớ không tiện nói ra. Quắc công dò biết ý vua, mới cùng với Doãn Cầu thương nghị, thông tin với Bao Tự, nói rằng:
- Nghi Cữu đã bị đuổi ra Thân quốc, thì lập Bá Phục làm thái tử là phải; trong có lời nỉ non của nương nương, ngoài có hai chúng tôi nói vào nữa, khó gì mà chẳng nên việc.
Bao Tự mừng lắm, bảo Quắc công và Doãn Cầu rằng:
- Hai ngươi cứ hết lòng giúp đỡ, nếu Bá Phục được lập làm thái tử thì xin cùng với hai ngươi cùng hưởng phú quý.
Từ đó, Bao Tự mật sai kẻ tâm phúc ngày đêm rình lỗi của Thân hậu; khắp trong các cung chỗ nào cũng là tai mắt của Bao Tự cả; hơi xảy ra một chuyện gì ở đâu, Bao Tự đều biết ngay.
Thân hậu ở trong cung chỉ gạt thầm nước mắt mà khóc một mình. Có một người cung nữ biết tâm sự của Thân hậu, mới quỳ xuống mà tâu rằng:
- Nương nương đã có lòng thương nhớ thái tử, sao nương nương lại không viết một bức thư, sai người mang tới Thân quốc, bảo thái tử dâng biểu tạ tội; may ra thiên tử nghĩ lại mà cho về đông cung thì mẹ con lại được sum họp với nhau, há chẳng hay lắm ru!
Thân hậu nói:
- Nhà ngươi nói rất phải, nhưng ngặt vì không có ai đưa tin cho.
Người cung nữ nói:
- Mẹ tôi là bà lão họ Ôn cũng có biết thuốc, bây giờ nương nương cứ giả cách có bệnh, đòi mẹ tôi vào bắt mạch, rồi giao thư cho mẹ tôi đem ra, để sai anh tôi đi, chắc thế nào cũng được việc.
Thân hậu nghe lời, mới viết một bức thư, đại ý nói rằng:
“Thiên tử vô đạo, say đắm đứa yêu tỳ, khiến cho mẹ con ta phải ly biệt, nay đứa yêu tỳ có con thì lại càng đắc thế lắm. Con nên dâng biểu giả cách xin nhận lỗi, để phụ vương tha về, mẹ con lại được sum họp với nhau, rồi sẽ định liệu.”
Thân hậu viết xong, giả cách có bệnh, nằm ở trong màn, đòi bà lão họ Ôn vào bắt mạch. Có người báo tin ngay cho Bao Tự biết.
Bao Tự nói:
- Ý chừng nó muốn tạ sự để báo tin cho nhau đây! Hễ khi nào mụ Ôn trở ra thì các ngươi cứ khám cho kỹ, tất là bắt được.
Khi bà lão họ Ôn vào bắt mạch Thân hậu, thì Thân hậu sẽ thò tay vào gối lấy bức thư ra đưa cho mụ, rồi lại ban cho hai tấm lụa. Mụ già dắt bức thư vào trong mình, tay ôm hai tấm lụa, hí hửng đi ra. Ra đến cửa cung, nội giám hỏi rằng:
- Lụa nào mà nhà ngươi mang ra như vậy?
Mụ già nói:
- Tôi vào thăm bệnh vương hậu, vương hậu ban cho tôi đấy.
Nội giám nói:
- Nhà ngươi có mang thứ gì nữa không?
Mụ già nói:
- Không, có gì nữa đâu!
Nội giám vừa toan cho đi, lại thấy có một người nói rằng:
- Chưa khám trong mình thì biết thế nào là không với có!
Nói xong, liền nắm lấy tay mụ dắt trở lại. Mụ già luống cuống che đậy, có ý sợ hãi. Nội giám càng thêm nghi, mới xúm lại khám thật kỹ, xé cả các tà áo, thấy hở ra bức thư. Nội giám thấy lá thư của Thân hậu, tức khắc bắt mụ đem nộp Bao Tự. Bao Tự mở thư ra xem, trong lúc tức giận, truyền đem mụ giam kín vào một chỗ, rồi xé nhỏ hai tấm lụa ra từng mảnh một. U vương vào cung, thấy các mảnh lụa vất bừa bãi, liền hỏi nguyên do.
Bao Tự sụt sịt khóc mà đáp rằng:
- Thiếp chẳng may được tuyển vào cung, đội ơn nhà vua thương đến, để đến nỗi hoàng hậu đem lòng ghen ghét; lại chẳng may sinh được mụn con, hoàng hậu lại càng thêm ghen ghét. Nay hoàng hậu gửi thư cho thái tử mà cuối thư có câu rằng: “Rồi sau sẽ định liệu” đó tất là có bụng muốn giết hai mẹ con thiếp, xin nhà vua phân xử cho thiếp được nhờ.
Nói xong, cầm bức thư đưa cho U vương xem. U vương nhận được bút tích Thân hậu, liền hỏi người mang thư là ai. Bao Tự nói:
- Hiện đã có bắt được mụ già họ Ôn ở đó.
U vương truyền gọi mụ già vào, chẳng hỏi han gì cả, rút gươm chém làm hai đoạn. Đêm hôm ấy Bao Tự lại nỉ non bên tai U vương rằng:
- Tính mệnh hai mẹ con thiếp giờ ở trong tay thái tử.
U vương nói:
- Quyền ở trẫm, thái tử làm gì được!
Bao Tự nói:
- Sau khi nhà vua muôn tuổi rồi, chắc hẳn thái tử lên làm vua. Nay hoàng hậu đêm ngày ở trong cung oán giận nguyền rủa, một mai mẹ con họ được cầm quyền nước thì thiếp cùng Bá Phục thật chết không có chỗ mà chôn.
Nói xong, nức nở nghẹn ngào, rồi khóc òa lên. U vương nói:
- Trẫm cũng muốn bỏ vương hậu và thái tử, rồi cho ái khanh làm chính cung, cho Bá Phục làm thái tử, chỉ sợ các quan không theo thì biết làm thế nào?
Bao Tự nói:
- Bề tôi biết nghe lời vua là thuận, vua phải nghe bề tôi là nghịch, xin nhà vua cứ đem ý ấy mà hiểu dụ cho các quan thử xem công nghị ra làm sao?
U vương nói:
- Ái khanh nói rất phải!
Đêm hôm ấy Bao Tự sai người tâm phúc báo tin cho Quắc công và Doãn Cầu biết. Sáng hôm sau, U vương ra triều, hỏi các quan rằng:
- Nay vương hậu sinh lòng đố kỵ và oán vọng, đêm ngày chỉ nguyền rủa trẫm, khó để làm chính cung được, trẫm tưởng nên bắt ra hỏi tội.
Quắc công tâu rằng:
- Vương hậu là chủ trong cung, dẫu có tội không nên tra hỏi; nếu không đáng ngôi chính cung thì nên bỏ đi và chọn người nào hiền đức thay vào làm mẫu nghi thiên hạ, đó mới thật là phúc lớn cho muôn đời.
Doãn Cầu tâu rằng:
- Kẻ hạ thần nghe nói quý phi họ Bao là một người đức tính trinh thục, đáng làm chủ trong cung.
U vương nói:
- Nay thái tử đang ở Thân quốc, nếu bỏ Thân hậu thì còn thái tử biết nghĩ thế nào?
Quắc công tâu rằng:
- Nếu đã bỏ mẹ thì còn dùng con làm gì, chúng tôi xin phù Bá Phục lên làm thái tử. Như thế thật may cho xã tắc.
U vương mừng lắm, truyền đem Thân hậu giam vào lãnh cung, truất ngôi Nghi Cữu, rồi lập Bao Tự làm vương hậu, Bá Phục làm thái tử; nếu có ai ngăn thì cho là bè cánh của Nghi Cữu, trị tội rất nặng. Các quan trong triều ai cũng lấy làm bất bình, nhưng biết là ý vua đã định, dẫu nói cũng vô ích mà lại hại đến thân, vậy nên đều khoanh tay đứng im cả. Bá Dương Phụ tức thì xin từ chức, còn các quan xin về vườn cũng rất nhiều.
Bao Tự dẫu được phong làm chánh cung, nhưng chưa hề ai thấy nàng hẩng nét mặt tươi cười bao giờ cả. U vương chỉ muốn mua vui, mới đón nhạc công vào cung, gẩy đàn thổi sáo, gõ trống khua chuông và bắt cung nữ múa hát để chuốc rượu, mà Bao Tự cũng chẳng có ý vui vẻ.
U vương hỏi rằng:
- Ái khanh không thích âm nhạc thì thích thứ gì?
Bao Tự nói:
- Thiếp chẳng thích thứ gì cả, chỉ còn nhớ hôm kia tay xé tấm lụa, tiếng kêu sàn sạt nghe cũng vui tai.
U vương nói:
- Ái khanh đã muốn nghe tiếng xé lụa thì sao không nói trước với trẫm?
Nói xong, tức khắc truyền cho quan giữ kho mỗi ngày phải đưa vào một trăm tấm lụa, rồi sai cung nữ nào có sức khỏe đứng xé để cho Bao Tự nghe. Bao Tự dẫu nghe được tiếng xé lụa, nhưng vẫn không cười.
U vương nói:
- Sao trẫm không thấy ái khanh cười bao giờ?
Bao Tự nói:
- Vốn xưa nay thiếp vẫn không hay cười.
U vương nói:
- Thế nào trẫm cũng làm cho ái khanh bật cười mới nghe.
Nói xong, truyền bảo các quan, ai hiến kế gì cho Bao Tự cười được thì thưởng nghìn vàng.
Quắc công hiến kế rằng:
- Tiên vương ngày xưa có lập ra hơn hai mươi cái chòi ở dưới Ly Sơn, lại làm mấy chục cái trống thật lớn, phòng khi có giặc thì đốt lửa ở trên chòi, hay là đánh trống để các nước chư hầu biết mà đến cứu. Lâu nay thiên hạ thái bình, không đốt lửa bao giờ cả; nếu nhà vua muốn cho vương hậu vui cười thì xin nhà vua cùng với vương hậu ra chơi Ly Sơn, đốt lửa lên để chư hầu kéo quân đến; họ đến mà không thấy có giặc thì tất nhiên hoàng hậu trông thấy phải bật cười.
U vương nói:
- Ừ, phải đó!
Nói xong, liền cùng Bao Tự ngự ra chơi ở Ly Sơn, đến chiều bày tiệc để uống rượu vui, rồi truyền đốt lửa. Bấy giờ có Trịnh bá Hữu(2) nghe tin, vội vàng thẳng tới Ly Sơn, tâu với U vương rằng:
- Cái chòi đốt lửa này là tiên vương ta ngày xưa đặt ra để phòng khi có sự nguy cấp, ta cần phải giữ chữ tín với chư hầu mới được. Nay vô cớ đốt lửa, thế là đánh lừa chư hầu, một mai có sự gì nguy cấp thật phải đốt lửa lên, chư hầu không tin nữa, thì lấy đâu được quân cứu viện?
U vương nổi giận mắng rằng:
- Ngày nay thiên hạ thái bình, cần gì đến quân cứu viện! Trẫm cùng với hoàng hậu ra chơi đây, không biết lấy gì làm cách tiêu khiển thì bỡn chơi với các nước chư hầu, việc có hề chi! Ngày khác nếu quả có sự nguy cấp thật thì can gì đến nhà ngươi!
U vương truyền đốt to ngọn lửa lên, ánh sáng rực trời; lại nổi hiệu trống ầm ầm như sấm.
Các nước chư hầu ở gần đấy, tưởng là Kiểu kinh có biến loạn, tất tả đem quân kéo đến Ly Sơn. Khi đến nơi thì chỉ nghe tiếng nhã nhạc đàn sáo, và thấy U vương đang cùng với Bao Tự ngồi uống rượu vui. Nhà vua sai người ra tạ ơn các nước chư hầu rằng: “Nay không có giặc giã gì, không dám phiền đến các chư hầu!”
Các chư hầu ngơ ngác nhìn nhau rồi thu binh trở về. Bao Tự đứng ở trên lầu, trông thấy các nước chư hầu tất tả kéo đến, lại tất tả kéo về, mà chẳng có một việc gì cả, mới thích chí vỗ tay cười rầm lên.
U vương nói:
- Một tiếng cười của ái khanh, đủ trăm vẻ đẹp! Ấy là nhờ cái mưu của Quắc công đó.
Nói xong, truyền đem nghìn vàng thưởng cho Quắc công. Bởi thế mà người ta thường có câu rằng: “Nghìn vàng mua lấy trận cười”.
Thân hầu nghe tin U vương bỏ Thân hậu, lập Bao Tự, mới dâng biểu can rằng:
- Ngày xưa vua Kiệt, yêu nàng Muội Hỷ đến nỗi nhà Hạ mất; vua Trụ yêu nàng Đát Kỷ đến nỗi nhà Thương mất, nay nhà vua say đắm nàng Bao Tự, bỏ vợ đích lập vợ thứ, đã trái đạo vợ chồng, lại hại nghĩa cha con, xin nhà vua nghĩ lại cho kỹ, để tránh khỏi cái tai vạ như nhà Hạ, nhà Thương đời trước.
U vương xem lời tâu, tức thì nổi giận, vỗ tay xuống bàn mà rằng:
- Thằng nghịch tặc này, sao dám nói càn!
Quắc công tâu rằng:
- Thân hầu từ khi thấy thái tử bị đuổi, vẫn đầy lòng oán vọng. Nay nghe Thân hậu và thái tử phải bỏ, thì có ý mưu phản, vậy nên mới dám cả gan kể tội vua.
U vương nói:
- Bây giờ biết xử thế nào?
Quắc công tâu rằng:
- Thân hầu vốn không có công cán gì, vì có Thân hậu mà được phong tước. Nay Thân hầu và thái tử đã phải bỏ rồi thì nên giáng Thân hầu xuống tước bá như cũ, rồi sau đó sẽ cử binh mà trừng phạt nước Thân, cho khỏi để họa về sau.
U vương nghe lời, liền cách chức Thân hầu rồi sai Quắc công điểm binh để sắp sửa đi đánh Thân quốc.
_____
(1) Nhà Chu nguyên trước đóng đô ở Kỳ Sơn, sau mới thiên đô ra đất Phong và đất Kiểu.
(2) Được phong tước bá ở nước Trịnh tên là Hữu.
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BA
 
Quân Khuyển Nhung làm loạn Kiểu kinh
Vua Bình vương thiên đô Lạc ấp
 
Từ khi Thân hầu dâng biểu can U vương, có người ở Kiểu kinh nghe tin U vương sắp sửa đem quân đi đánh Thân quốc, vội vàng về báo ngay với Thân hầu.
Thân hầu nghe báo, giật mình kinh sợ nói:
- Nước ta nhỏ, quân ta ít, chống cự làm sao nổi quân nhà vua?
Quan đại phu là Lã Chương nói:
- Thiên tử vô đạo, bỏ vợ đích lập vợ thứ, lòng dân ai cũng ta oán, đó là cái thế cô lập; nay có Khuyển Nhung là một nước mạnh, tiếp giáp với Thân quốc ta, xin chúa công viết thư mượn quân Khuyển Nhung vào phá Kiểu kinh để cứu lấy Thân hậu, bắt thiên tử phải truyền ngôi cho thái tử, đó là sự nghiệp của Y, Chu thuở xưa. Tục ngữ có câu rằng: “Đi nước trước thì hơn được người”, cơ hội không nên bỏ mất.
Thân hầu nói:
- Nhà ngươi nói phải đó!
Nói xong, liền sai người đem vàng lụa và một bức thư sang mượn quân Khuyển Nhung, hẹn rằng: “Khi nào phá được Kiểu kinh thì mặc ý vơ vét vàng lụa trong kho”.
Vua Khuyển Nhung nói:
- Nay thiên tử vô đạo, quốc cữu là Thân hầu muốn mượn quân ta để phù lập thái tử, ta đây thực cũng sẵn lòng.
Nói xong, liền điểm mười lăm nghìn quân chia làm ba đội cho Bột Đinh làm hữu tiên phong, Mãn Giã Tốc làm tả tiên phong, còn tự mình làm tướng trung quân. Thân hầu cũng hợp quân với Khuyển Nhung, rồi cả hai rầm rầm rộ rộ thẳng đường kéo vào vây đô thành. U vương nghe tin, giật mình kinh sợ nói:
- Quân ta chưa kịp đi, mà giặc đã kéo đến thì biết làm thế nào?
Quắc công tâu rằng:
- Xin nhà mau mau sai người ra đốt lửa ở Ly Sơn để cho các nước chư hầu đem quân đến cứu. Trong đánh ra, ngoài đánh vào thì chắc được toàn thắng.
U vương nghe lời, sai người đi đốt lửa, nhưng các nước chư hầu không một người nào đến cả; bởi khi trước đã bị lừa, bây giờ họ cũng cho là thiên tử nói dối, không đem binh đến cứu. U vương thấy cứu binh không đến bèn bảo Quắc công rằng:
- Thế giặc chưa biết mạnh yếu thế nào, nhà ngươi hãy thử ra xem, rồi trẫm sẽ đem quân tiếp ứng.
Quắc công vốn không quen việc chinh chiến, bất đắc dĩ cũng phải vâng mệnh, đem quân ra đánh. Ra đến cửa thành, Quắc công bảo vua Khuyển Nhung rằng:
- Nhà ngươi là một thằng giặc dối vua hại nước, dung tha thế nào được!
Vua Khuyển Nhung sai Bột Đinh ra đối địch. Bột Đinh múa đao lên ngựa, xông lại đánh Quắc công, chưa được mười hợp thì Quắc công bị Bột Đinh chém chết. Vua Khuyển Nhung và Mãn Giã Tốc thúc quân vào thành, cứ việc đốt phá chém giết. Thân hầu không sao ngăn lại được, cũng phải mặc cho quân Khuyển Nhung chém giết. Trong thành rất là rối loạn. U vương chưa kịp cất quân, thấy sự thế nguy cấp, vội vàng đem Bao Tự và Bá Phục lên xe mở cửa sau chạy trốn.
Bấy giờ Trịnh bá Hữu chạy theo để phù giá, thẳng đường đi về phía Ly Sơn, đi đến nửa đường gặp Doãn Cầu. Doãn Cầu tâu với U vương rằng:
- Quân Khuyển Nhung đốt cháy cung điện, phá tan kho tàng. Quắc công hiện đã chết ở trong đám loạn quân.
U vương chẳng còn hồn vía nào cả. Trịnh bá Hữu lại sai người đốt lửa một lần nữa, lửa cháy nghi ngút, khói tỏa đến tận trời xanh, mà vẫn không thấy cứu binh đến. Quân Khuyển Nhung kéo đến vây kín Ly Sơn. U vương cùng với Bao Tự nhìn nhau mà khóc. Trịnh bá Hữu nói:
- Nay sự thế đã nguy cấp lắm, kẻ hạ thần xin liều mình cố sức đánh giải vây để tìm đường trốn sang nước Trịnh.
U vương nói:
- Trẫm không nghe lời của thúc phụ, đến nỗi nên cơ sự này, ngày nay tính mệnh mấy vợ chồng cha con trẫm, đều nhờ ở tay thúc phụ đó.
Trịnh bá Hữu bèn sai người đốt lửa ở Ly Sơn để làm nghi binh, rồi tay cầm trường mâu, tự đi tiên phong, đưa U vương chạy về phía sau. Doãn Cầu thì phù tá mẹ con Bao Tự đi theo vua. Đi được một quãng, gặp tiểu tướng Khuyển Nhung là Cổ Lý Xích chặn đường đón đánh.
Trịnh bá Hữu nổi giận, nghiến răng xông lại giao chiến, trong mấy hợp chém ngay được Cổ Lý Xích. Quân Khuyển Nhung thấy Trịnh bá Hữu khí thế hung hăng như vậy, liền bỏ chạy tán loạn cả. Đi được độ nửa dặm, lại gặp tướng Khuyển Nhung là Bột Đinh đem đại binh đuổi theo. Trịnh bá Hữu sai Doãn Cầu phù giá đi trước, rồi một mình đi sau vừa đánh vừa chạy.
Quân Khuyển Nhung xông lại vây kín Trịnh bá Hữu. Trịnh bá Hữu vẫn không sợ hãi, cứ cầm trường mâu một mình đánh cả bốn mặt. Quân Khuyển Nhung xúm quanh giương cung bắn tên ra như mưa. Thương hại thay cho Trịnh bá Hữu là một người trung thần, vì việc nước mà chết dưới hàng muôn mũi tên. Mãn Giã Tốc đuổi bắt U vương. Vua Khuyển Nhung giết chết U vương và Bá Phục, thấy Bao Tự có nhan sắc nên không giết mà chỉ bắt đưa về trong trướng để mua vui. Doãn Cầu nấp ở trong xe, cũng bị quân Khuyển Nhung lôi ra đem chém.
Thân hầu ở trong thành đem quân đi vùi tắt những nơi lửa cháy. Rồi trước hết vào lãnh cung tha bà Thân hậu, lại đến Quỳnh Đài tìm U vương và Bao Tự. Nghe nói U vương và Bao Tự trốn sang Ly Sơn, lại vội vàng đem quân đi đuổi theo.
Đi đến nửa đường gặp vua Khuyển Nhung. Vua Khuyển Nhung kể chuyện đã giết hôn quân rồi, Thân hầu giật mình nói:
- Bản tâm tôi chỉ muốn mượn thế để chữa lại những điều lầm lỗi của thiên tử mà thôi, không ngờ thành ra cơ sự dường này! Những kẻ bất trung đời sau tất lại đem câu chuyện tôi để mà chữa tội.
Nói xong, vội vàng sai người làm lễ an táng cho U vương. Vua Khuyển Nhung cười mà rằng:
- Quốc cữu có bụng thương người như đàn bà vậy!
Thân hầu về đến kinh thành, bày tiệc thết đãi vua Khuyển Nhung. Ngọc báu trong kho, vua Khuyển Nhung lấy hết sạch cả. Thân hầu lại tặng vua Khuyển Nhung mười xe vàng lụa, để cho hắn được mãn nguyện mà thu quân về; ai ngờ vua Khuyển Nhung cậy công giết được U vương, cứ đóng quân ở lại kinh thành; rồi ngày nào cũng uống rượu và bày cuộc vui, chẳng nghĩ gì đến sự về nước nữa.
Dân chúng thấy vậy, đều trách oán Thân hầu. Thân hầu không biết làm thế nào, mới viết ba tờ mật thư để ước với nước Tấn, nước Vệ và nước Tần đem quân về đánh đuổi quân Khuyển Nhung; lại sai người đem tin Trịnh bá Hữu bị quân Khuyển Nhung bắn chết bảo cho thế tử(1) nước Trịnh là Khuất Đột biết, để mang quân vào đánh báo thù.
Khuất Đột bấy giờ mới hai mươi ba tuổi, mình cao tám thước, là một người có khí khái, nghe tin phụ thân chết, căm tức vô cùng, liền mặc đồ tang phục, đem quân về kinh thành để đánh Khuyển Nhung. Có quân thám tử báo cho vua Khuyển Nhung biết. Vua Khuyển Nhung tức khắc sắp quân phòng bị
Khuất Đột đến kinh thành, toan tiến binh vào, công tử Thành can rằng:
- Quân ta mấy hôm nay đi gấp, hãy còn nhọc mệt cả, nên đóng quân lại một chỗ, đào hào đắp lũy để đợi quân các nước chư hầu, rồi hợp sức nhau lại mà đánh thì mới được vẹn toàn.
Khuất Đột nói:
- Ta mang quân đi báo cái thù quân phụ thì phải đánh ngay mới phải. Huống chi quân Khuyển Nhung nay đang tự kiêu, tự mãn, có ý trễ biếng, mà quân ta thì khí thế đang hăng hái, đánh tất phải được, nếu đợi các nước chư hầu thì e rằng quân sĩ sinh lòng chán nản.
Nói xong, bèn tiến quân đến tận dưới chân thành. Khuất Đột lên tiếng mắng rằng:
- Quân giặc mọi rợ kia, sao không đem quân ra cùng ta đối địch?
Trên mặt thành cứ im lặng như tờ, chẳng có ai trả lời cả. Khuất Đột truyền cho quân sĩ phá cửa thành. Bỗng thấy trong đám rừng rậm nổi hiệu thanh la, có một toán quân kéo đến: thì ra vua Khuyển Nhung đã lập kế sẵn cho quân mai phục trước ở đó.
Khuất Đột giật mình kinh sợ, vội vàng cầm giáo nghênh chiến, lại thấy trên mặt thành cũng nổi hiệu thanh la, rồi cửa thành mở toang, một toán quân kéo ra, phía trước có Bột Đinh, phía sau có Mãn Giã Tốc, hai bên ập lại đánh Khuất Đột.
Khuất Đột không địch nổi, thua trận bỏ chạy. Quân Khuyển Nhung đuổi theo đến hơn ba mươi dặm mới thu quân trở về.
Khuất Đột bảo công tử Thành rằng:
- Tôi không nghe lời ông, đến nỗi bị thua, bây giờ biết làm thế nào?
Công tử Thành nói:
- Ở đây cách Bộc Dương(2) cũng không xa bao nhiêu, mà Vệ Vũ công là một người lão thành, đã trải biết việc đời, thế tử nên sang đấy mà cầu cứu, hợp quân với nước Vệ thì có thể đánh được.
Khuất Đột nghe lời, thẳng đường kéo sang Bộc Dương. Đi được hai ngày, bỗng thấy một toán quân từ phía trước mặt kéo đến, có một người đầu râu tóc bạc, mặc áo cẩm bào ngồi trong xe, trông như một vị thần tiên. Đó tức là Vũ công nước Vệ, bấy giờ đã hơn tám mươi tuổi.
Khuất Đột trông thấy, liền kêu to lên rằng:
- Tôi đây là thế tử nước Trịnh, tên gọi Khuất Đột. Quân Khuyển Nhung vào quấy nhiễu kinh thành, cha tôi chết trận. Bây giờ quân tôi lại thua, vậy phải sang đây để cầu cứu.
Vệ Vũ công nói:
- Thế tử cứ yên tâm. Ta đây cốt đem quân vào cứu viện. Vả lại nước Tần, nước Tấn cũng sắp kéo quân đến, lo gì mà không đánh được Khuyển Nhung.
Khuất Đột nghe nói, lại theo Vệ Vũ công trở về Kiểu kinh, đóng quân ở ngoài hai mươi dặm, rồi cho người đi dò la xem nước Tần, nước Tấn đã kéo quân đến chưa. Quân thám tử về báo rằng:
- Ở phía tây có một toán quân kéo đến, trên cờ đề một chữ “Tần”.
Vệ Vũ công nói:
- Quân nước Tần dũng mãnh, xưa nay Khuyển Nhung vẫn có ý sợ.
Vệ Vũ công nói chưa dứt lời thì lại thấy thám tử về báo rằng:
- Quân nước Tấn cũng đã kéo đến, đóng ở ngoài phía bắc.
Vệ Vũ công mừng lắm, nói:
- Hai nước đã kéo quân đến thì việc tất phải xong.
Liền sai người thông tin cho vua Tần và vua Tấn biết.
Được một lúc, vua Tần và vua Tấn đều kéo đến dinh Vệ Vũ công, trông thấy Khuất Đột mặc tang phục, liền hỏi là người nào.
Vệ Vũ công nói:
- Đây là thế tử nước Trịnh.
Nói xong liền đem chuyện Trịnh bá Hữu chết trận và U vương bị giết kể lại một lượt. Vua Tần và vua Tấn nghe nói, đều ngậm ngùi thương xót.
Vệ Vũ công nói:
- Tôi nay già yếu, chỉ vì việc nghĩa mà phải cố sức đến đây, còn việc đánh giặc thì xin nhờ tay quý quốc. Bây giờ các quý quốc định mưu kế ra làm sao?
Tần Tương công nói:
- Giặc Khuyển Nhung kia chẳng qua chỉ muốn cướp bóc tiền của và hãm hiếp phụ nữ mà thôi; chúng đoán rằng quân ta mới đến tất không phòng bị, âu là ta chia quân làm ba mặt vây đánh, còn một mặt phía tây thì mở đường cho chúng chạy, rồi Trịnh thế tử đem quân mai phục ở đấy để đón đánh, tất nhiên được toàn thắng.
Vệ Vũ công nói:
- Kế ấy rất phải!
Thân hầu ở trong thành, nghe tin quân các nước đã đến trong lòng mừng rỡ, định chờ khi nào họ đánh thành thì mở cửa ra tiếp ứng.
Thân hầu lại giả cách khuyên bảo vua Khuyển Nhung nên sai Bột Đinh đem vàng bạc châu báu về nước để phân tán bớt thế lực của chúng đi, lại sai Mãn Giã Tốc đem hết cả quân ra đóng ở ngoài thành để đối địch. Vua Khuyển Nhung tưởng thực, đều nghe theo cả. Mãn Giã Tốc đem quân ra đóng ở ngoài cửa đông, định đến sáng hôm sau thì ra trận, không ngờ canh ba đêm hôm ấy, quân nước Vệ kéo đến, quân Khuyển Nhung vỡ chạy. Mãn Giã Tốc một mình không thể địch nổi, bất đắc dĩ cũng phải chạy trốn.
Quân các nước đang đánh thành, bỗng thấy cửa thành mở toang ra, quân các nước cứ việc kéo ồ vào, không ai ngăn trở cả, đó là mưu kế của Thân hầu. Vua Khuyển Nhung đang ngủ sực tỉnh dậy, thấy sự thế nguy cấp, vội vàng cưỡi ngựa chạy về phía tây, lại gặp quân Khuất Đột chặn đường đón đánh, may nhờ có quân Mãn Giã Tốc thua chạy đến đấy, liền cố sức đánh nhau với Khuất Đột để cứu vua Khuyển Nhung, vua Khuyển Nhung mới chạy thoát được. Khuất Đột cũng không dám đuổi theo nữa, đem quân vào thành để yết kiến các nước chư hầu.
Bấy giờ trời đã sáng rõ. Bao Tự không theo kịp vua Khuyển Nhung, tự thắt cổ chết. Thân hầu mở tiệc để thết đãi chư hầu. Vệ Vũ công buông đũa xuống, đứng dậy nói với chư hầu rằng:
- Ngày nay vua thì mất, nước thì tan, có phải là lúc chúng ta nên ngồi mà uống rượu đâu!
Chư hầu đều chắp tay đứng dậy nói:
- Người dạy điều gì, chúng tôi xin vâng mệnh.
Vệ Vũ công nói:
- Trong nước chớ nên để một ngày không có vua. Nay thái tử cũ đang ở nước Thân, nên tôn lên ngôi thiên tử, chư hầu nghĩ thế nào?
Tần Tương công nói:
- Quân hầu nói câu ấy, thật là cái khí thiêng của tiên vương nhà Chu ta xui khiến nên đó!
Khuất Đột nói:
- Tiểu tử này dẫu chưa lập được công trạng gì nhưng việc tôn thái tử tiểu tử xin gắng sức, để trọn được cái chí của cha tôi thuở xưa.
Vệ Vũ công mừng lắm, giơ chén rượu lên để úy lạo Khuất Đột rồi ngay bấy giờ viết biểu chương và sắp xa giá đi đón thái tử. Các nước chư hầu đều xin đem quân đi hộ vệ.
Khuất Đột nói:
- Có phải đi đánh trận đâu mà cần đến nhiều quân, chỉ một đạo quân của tôi cũng đủ.
Ngày hôm sau, Khuất Đột đem quân sang nước Thân để đón thái tử là Nghi Cữu về lên ngôi thiên tử. Nghi Cữu ở nước Thân cả ngày buồn bực, chưa biết tin tức Thân hầu ra sao, bỗng thấy Khuất Đột đem biểu chương của Thân hầu cùng ký kết với các nước chư hầu đón mình về làm thiên tử, liền giật mình kinh sợ; đến lúc mở xem, mới biết là U vương đã bị quân Khuyển Nhung giết; tình cha con xúc động, thái tử bất giác trào nước mắt mà khóc òa lên.
Khuất Đột tâu rằng:
- Xin thái tử nên lấy giang sơn làm trọng, mau mau về lên ngôi thiên tử để yên lòng trăm họ.
Nghi Cữu nói:
- Thế là nay ta đã mang cái tiếng bất hiếu với thiên hạ rồi đó. Bây giờ việc đã lỡ ra như vậy, biết tính làm sao?
Thái tử lên xe, chưa đầy một ngày đã về đến Kiểu kinh. Thân hầu bảo các nước ra ngoài kinh thành ba mươi dặm để nghênh tiếp, rồi chọn ngày tốt tiến quân vào thành. Nghi Cữu trông thấy cung thất bị tàn phá, cảnh tượng tiêu điều, trong lòng thê thảm ứa hai dòng nước mắt. Sau đó đến chào Thân hầu, rồi mới mặc áo cổn, đội mũ miễn, làm lễ cáo miếu lên ngôi thiên tử, tức là vua Bình vương.
Bình vương lên điện, chịu lễ triều hạ của chư hầu và bách quan. Lễ xong, Bình vương tuyên triệu Thân hầu lên điện mà bảo rằng:
- Trẫm là một người đã bị truất, mà nay lại được lên ngôi, đều là nhờ công của quốc cữu cả.
Nói xong, liền hạ chỉ gia phong Thân hầu làm Thân công.
Thân hầu nói:
- Cái công lấy lại được Kiểu kinh là nhờ có quân các nước chư hầu. Kẻ hạ thần đã không ngăn cấm được Khuyển Nhung, để đến nỗi đắc tội với tiên vương, có đâu lại còn dám lĩnh thưởng.
Nói xong, cố ý chối từ không nhận. Bình vương lại gia phong cho vua các nước chư hầu và truy tặng cho Trịnh bá Hữu, rồi yết bảng hiểu dụ nhân dân ở chốn kinh sư. Ngày hôm sau, Bình vương lại cho Vệ Vũ công và Trịnh Khuất Đột kiêm chức khanh sĩ trong triều, để cùng với quan thái tể là Chu công Huyến cùng giúp quốc chính; chỉ có Thân hầu và Tấn hầu vì nước mình tiếp giáp với Khuyển Nhung, nên phải cáo từ về nước.
Sau Thân hầu thấy Khuất Đột là bậc anh tài, bèn đem con gái gả cho, ấy là bà Vũ Khương.
Lại nói đến vua Khuyển Nhung, từ khi vào quấy nhiễu đất Kiểu kinh, quen biết đường lối, dẫu bị các nước chư hầu đánh đuổi, nhưng khí thế vẫn còn hăng hái; lại nghĩ rằng mình khó nhọc mà thành ra không công, trong lòng oán giận, mới cất quân vào xâm phạm bờ cõi, đánh mãi đến gần Kiểu kinh, mấy tháng trời liền khói lửa không dứt. Vả lại cung thất ở đất Kiểu kinh khi trước đã bị tàn phá, quang cảnh trông rất thê lương. Vì vậy Bình vương này ra ý thiên đô sang ở Lạc ấp.
Một hôm, Bình vương ra triều, hỏi các quan rằng:
- Tiên vương ta ngày xưa đã đóng đô ở Kiểu kinh mà lại còn sửa sang Lạc ấp, thế là ý làm sao?
Các quan đồng thanh tâu rằng:
- Lạc ấp là một nơi ở giữa thiên hạ, vậy nên tiên vương ta ngày xưa sửa sang chỗ ấy gọi là Đông đô, để đến năm nào có lễ triều hội thì thiên ra đấy mà tiếp kiến chư hầu, đó là một việc làm rất hay.
Bình vương nói:
- Ngày nay quân Khuyển Nhung xâm phạm gần đến Kiểu kinh, trẫm muốn thiên đô sang Lạc ấp, thì các quan nghĩ thế nào?
Quan thái tể là Chu công Huyến tâu rằng:
- Nay cung thất bị tàn phá, nếu sửa sang lại thì khổ dân hại của, quân Khuyển Nhung lại nhân dịp tiến vào thì biết lấy gì chống giữ cho nổi? Thiên đô sang Lạc ấp, thật là rất tiện.
Các quan văn vũ, đều lo sợ giặc Khuyển Nhung, mới đồng thanh tâu rằng:
- Quan thái tể nói phải!
Vệ Vũ công có ý không bằng lòng, cúi đầu thở dài. Vua Bình vương hỏi Vệ Vũ công:
- Sao ngài lại không nói gì cả?
Vệ Vũ công nói:
- Lão thần năm nay đã hơn chín mươi tuổi, đội ơn nhà vua thương đến, được dự bàn việc nước, nếu biết mà không nói thì là bất trung. Kẻ hạ thần thiết nghĩ đất Kiểu kinh này núi quanh sông bọc, thật là một nơi hiểm yếu nhất thiên hạ; còn như Lạc ấp thì bốn mặt giặc vào chỗ nào cũng được, vậy nên tiên vương dẫu gọi là Đông đô, chẳng qua chỉ để làm một nơi triều hội các nước mà thôi. Nay nhà vua bỏ Kiểu kinh mà sang Lạc ấp, kẻ hạ thần e rằng nhà Chu ta từ đây suy mất.
Bình vương nói:
- Quân Khuyển Nhung xâm phạm gần đến Kiểu kinh; vả lại cung thất bị tàn phá gần hết, trông vào không được trang nghiêm. Trẫm muốn dời sang Đông đô, thật là bất đắc dĩ.
Vệ Vũ công nói:
- Quân Khuyển Nhung là giống sài lang, không nên dắt vào nhà. Thân hầu mượn quân Khuyển Nhung thật là thất sách, để đến nỗi nó đốt phá cung đền, động đến tiên vương, đó là một cái thù không đội trời chung. Nay nhà vua nên quyết chí tự cường, tiết kiệm, thương dân, luyện tập binh mã, bắt chước tiên vương đánh bắc dẹp nam, làm sao bắt sống được vua Khuyển Nhung dâng miếu đường, thì mới rửa sạch được cái nhục ngày xưa. Nhược bằng rụt rè nhút nhát, ta lui một bước, giặc tiến một bước, thì e rằng cái nguy tằm ăn lấn không phải sẽ dừng ở đất Kỳ, đất Phong. Xin nhà vua nghĩ lại cho kỹ.
Chu công Huyến lại tâu rằng:
- Vệ Vũ công nói như vậy là muốn an phận thủ thường chứ không muốn “thông biến”. Việc quân giặc tiến vào kinh sư là tự tiên vương ngày xưa gây ra, còn nói làm gì nữa. Nay nhà vua mới về nối nghiệp, kho tàng hết sạch cả, trăm họ sợ quân Khuyển Nhung như giống sài lang, một mai quân Khuyển Nhung kéo đến, dân chúng náo động thì khi bấy giờ ai là người chịu nhận cái lỗi ấy?
Vệ Vũ công nói:
- Thân hầu đã mượn được quân Khuyển Nhung thì tất cũng lui được quân Khuyển Nhung, âu là nhà vua thử sai người đến hỏi xem có mưu kế gì không?
Các quan đang thương nghị thì có người đem biểu cáo cấp của Thân hầu đến.
Bình vương mở xem, thấy đại ý tờ biểu nói rằng: “Quân Khuyển Nhung cứ xâm nhiễu mãi; Thân quốc khó lòng mà giữ được; xin nhà vua nghĩ tình cậu cháu mà cho quân ra cứu viện”.
Bình vương nói:
- Quốc cữu lo việc mình chẳng xong, còn lo gì được cho trẫm, thôi thì nay trẫm nhất quyết cứ thiên đô.
Nói xong, truyền cho quan thái sử chọn ngày để thiên sang Lạc ấp. Tần Tương công nghe tin Bình vương thiên đô, cũng đem quân đi hộ giá.
_____
(1) Thế tử là con nối ngôi của nước chư hầu.
(2) Bộc Dương là đất nước Vệ.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.09.2015 06:07:43 bởi Huy Nguyên>
HỒI THỨ TƯ
 
Tần Văn nằm mộng thấy con trời
Trịnh Trang tìm mẹ đào hầm đất
 
Bình vương đi đến Lạc ấp, trông thấy phố phường đông đúc, lâu đài tráng lệ, không khác gì Kiểu kinh, trong lòng lấy làm mừng rỡ. Kinh đô đã định sở rồi, các nước đều dâng biểu chúc mừng, chỉ có nước Sở không đến. Bình vương toan đi đánh, các quan can ngăn mãi, Bình vương mới thôi. Tần Tương công cáo từ xin về nước.
Bình vương nói:
- Nay quân Khuyển Nhung vào xâm phạm đất Kỳ, đất Phong, nếu nhà ngươi đánh đuổi được quân Khuyển Nhung thì cho nhà ngươi đất ấy, để đền công khó nhọc đi hộ giá mới rồi.
Tần Tương công lạy tạ ra về, và từ bấy giờ hết sức chỉnh đốn quân mã để đánh Khuyển Nhung, chưa được ba năm mà Khuyển Nhung đã thua lụn bại, đại tướng là Bột Đinh, Mãn Giã Tốc đều chết trận cả. Nước Tần lấy đất Kỳ và đất Phong, mở rộng nghìn dặm, trở thành một nước lớn.
Tần Tương công tạ thế, con là Văn công nối ngôi. Một hôm, Tần Văn công nằm mộng thấy có con rắn vàng từ trên trời rơi xuống, đầu như cái bánh xe, đã xuống đến đất mà đuôi còn ở trên trời, chốc lát lại hóa làm đứa trẻ con, đứa trẻ ấy bảo Tần Văn công rằng:
- Ta đây là con Thượng đế. Ngài sai ta xuống báo cho nhà ngươi biết là ngài đã phong cho nhà ngươi làm “Bạch đế”, để làm chủ việc tế tự ở phương Tây.
Nói xong, biến đi mất. Sáng hôm sau, Tần Văn công đòi thái sử Đôn vào đoán mộng. Thái sử Đôn nói:
- Bạch là thuộc về phương Tây. Trời cho chúa công làm chủ ở phương Tây này, chúa công nên làm lễ tế trời.
Tần Văn công mới xây một cái đài thật cao, dùng trâu trắng để làm lễ tế trời. Bấy giờ có người đất Trần Thương đi săn, bắt được một con thú, giống như con lợn mà có nhiều lông nhọn, đánh cũng không chết, không biết tên là con thú gì, định đem vào dâng Tần Văn công. Khi đi đến nửa đường, gặp hai đứa trẻ trỏ con thú ấy mà nói rằng:
- Con thú này tên là con nhím, nó thường hay chúi ở dưới đất, ăn óc người chết. Nếu đánh dập đầu nó thì nó chết ngay.
Con thú ấy nói rằng:
- Đứa trẻ này là tinh của chim trĩ hiện lên, ai bắt được con trống thì làm nên nghiệp vương (1), bắt được con mái thì làm nên nghiệp bá (2).
Hai đứa trẻ thấy con thú nói như vậy, tức thì hóa làm gà rừng mà bay đi, con mái thì đậu ở mé bắc núi Trần Thương, lại hóa làm con gà đá. Người đi săn nhìn con nhím thì thấy đã biến đâu mất rồi, trong lòng sợ hãi, chạy vào báo với Tần Văn công. Tần Văn công lại lập đền để thờ hai đứa trẻ. Ở núi Chung Nam có cây gỗ tử, Tần Văn công sai người đẵn về để làm đền, nhưng cưa không đứt, bổ không vào, nhân gặp lúc mưa to gió lớn mới thôi không đẵn nữa. Đêm hôm ấy có người ngủ ở dưới chân núi, nghe tiếng các ma quỷ đến mừng thần cây tử; lại nghe tiếng nói rằng: “Nếu nước Tần sai người xõa tóc ra, lấy dây đỏ cuốn vào thân cây mà đẵn thì biết làm thế nào?”
Sáng hôm sau, người ấy báo với Tần Văn công. Tần Văn công theo lời, sai người đi đẵn thì cây liền đứt ngay, và bỗng có một con trâu xanh ở trong cây chạy ra, đi thẳng xuống sông Ung Thủy. Sau dân ở gần đấy thỉnh thoảng lại trông thấy con trâu xanh hiện lên. Tần Văn công sai kỵ sĩ đón đánh, con trâu xanh khỏe lắm, húc kỵ sĩ ngã lăn xuống đất; kỵ sĩ xõa tóc ra, con trâu xanh sợ không dám đuổi nữa. Tần Văn công mới chế ra cái mũ mao dùng ở trong quân; lại lập đền thờ thần cây tử.
Lỗ Huệ công nghe tin nước Tần dám tiếm lễ tế trời, cũng sai thái tể Nhượng đến tâu với Bình vương xin dùng lễ tế trời ấy. Bình vương không cho. Lỗ Huệ công nói:
- Tổ ta ngày xưa có công với nhà Chu rất nhiều, lễ nhạc đều bởi tay tổ ta đặt ra cả, ta là con cháu, có dùng đến cũng chẳng hại gì. Vả thiên tử không cấm Tần thì cấm Lỗ thế nào được!
Lỗ Huệ công cứ dùng lễ tế trời. Vua Bình vương biết mà không dám hỏi đến. Từ bấy giờ nhà Chu mỗi ngày một suy yếu, các nước chư hầu chuyên quyền thường tranh lẫn nhau mà thiên hạ thành ra nhiễu loạn.
Trịnh thế tử là Khuất Đột nối ngôi, tức là Trịnh Vũ công. Trịnh Vũ công nhân lúc nhà Chu suy yếu, chiếm lấy cả đất Quắc, đất Khoái, và từ đấy, Trịnh cũng thành ra một nước lớn. Trịnh Vũ công cùng với Vệ Vũ công cùng kiêm chức khanh sĩ ở triều nhà Chu. Từ khi Vệ Vũ công mất, Trịnh Vũ công một mình coi cả triều chính, lúc ở trong triều, lúc về nước Trịnh.
Vợ Trịnh Vũ công là con gái Thân hầu tên gọi là Khương thị, sinh được hai con: con trưởng là Ngộ Sinh, con thứ hai là Đoạn.
Tại sao lại gọi là Ngộ Sinh? Số là khi Khương thị đẻ Ngộ Sinh lại đẻ ngang, Khương thị đã chịu nhiều điều đau đớn trong khi sinh đẻ. Vì thế mới lấy tên là Ngộ Sinh đặt cho con. Và cũng vì thế mà Khương thị không có lòng yêu Ngộ Sinh. Đến lúc bà sinh con thứ hai là Đoạn thì Đoạn người phương phi đẹp đẽ, mặt trắng môi son, lại sức khỏe, bắn tài, vũ nghệ rất giỏi. Khương thị có lòng yêu dấu, vẫn muốn cho Đoạn được làm chủ nước Trịnh; ở trước mặt Trịnh Vũ công, bà thường khen Đoạn là người hiền sau này nên để cho nối ngôi.
Trịnh Vũ công nói:
- Anh em phải có thứ bậc, không nên làm rối loạn đạo lý; vả lại Ngộ Sinh cũng không có tội lỗi gì, sao lại bỏ trưởng mà lập thứ?
Nói xong, mới lập Ngộ Sinh làm thế tử; còn Đoạn thì phong cho ở đất Cung, gọi là Cung thúc Đoạn. Khương thị càng có ý không bằng lòng. Trịnh Vũ công mất, Ngộ Sinh lên nối ngôi, tức là Trịnh Trang công. Trịnh Trang công lại thay cha kiêm chức khanh sĩ nhà Chu. Khương thị thấy Cung thúc Đoạn không có quyền trong lòng tấm tức, mới bảo Trang công rằng:
- Con nối ngôi cha làm chủ nước Trịnh, hưởng đất đai hàng mấy trăm dặm, mà để cho em ruột một mảnh đất nhỏ không đủ dung thân, sao lại nhẫn tâm đến thế?
Trang công nói:
- Mẫu thân muốn thế nào xin cứ dạy.
Khương thị nói:
- Sao không đem Chế ấp mà phong cho nó?
Trang công nói:
- Chế ấp là một nơi hiểm trở. Tiên vương ngày xưa có di mệnh lại rằng không được phong cho ai; không kể đất Chế ấp, còn thì mẫu thân muốn chỗ nào, con xin theo ý.
Khương thị nói:
- Nếu vậy thì phong cho nó đất Kinh Thành cũng được.
Trang công nín lặng không nói gì cả. Khương thị nổi giận, nói:
- Nếu không thuận thế thì cứ đuổi Thúc Đoạn đi ra nước khác, để nó làm gì mà sống được thì làm
Trang công nói:
- Có đâu con lại dám thế!
Ngày hôm sau, Trang công tuyên triệu Cung thúc Đoạn để phong cho đất Kinh Thành.
Quan đại phu là Sái Túc can rằng:
- Kinh Thành là một ấp lớn, đất rộng người nhiều, nếu phong cho Cung thúc Đoạn thì sợ về sau tất cậy thế làm càn.
Trang công nói:
- Mẫu thân ta muốn như thế thì ta phải theo.
Nói xong, liền phong cho Cung thúc Đoạn ra ở đất Kinh Thành. Cung thúc Đoạn lạy tạ trở ra, rồi vào cáo từ Khương thị. Khương thị đuổi hết người xung quanh ra ngoài rồi bảo Cung thúc Đoạn rằng:
- Anh mày chẳng nghĩ đến tình ruột thịt, đãi mày rất bạc, nay phong cho mày, cũng vì ta hai ba lần khẩn cầu, hắn mới chịu theo, nhưng trong lòng hắn vị tất đã thuận. Mày đến đất Kinh Thành, nên luyện tập quân mã, chuẩn bị kín đáo; nếu có cơ hội thì ta sẽ báo cho, mày đem quân đánh úp, ta làm nội ứng, chắc có thể lấy được nước Trịnh. Nếu mày chiếm được ngôi của Ngộ Sinh thì ta dẫu chết cũng được thỏa lòng.
Cung thúc Đoạn vâng mệnh, rồi ra ở đất Kinh Thành. Từ bấy giờ người trong nước gọi Đoạn là Kinh Thành thái thúc. Thái thúc Đoạn ngày nào cũng giả cách đi săn bắn, để luyện tập quân mã, tìm kế lấy nước Trịnh; lại chiếm lấy hai ấp ở gần đấy, quan ấp tể ở đấy trốn vào nước Trịnh, kêu với Trang công. Trang công chỉ cười mỉm, không nói gì cả.
Quan thượng khanh là công tử Lã kêu to lên rằng:
- Tội thái thúc Đoạn thật là đáng chết!
Trang công nói:
- Công tử có cao kiến gì không?
Công tử Lã nói:
- Thái thúc Đoạn trong thì cậy có quốc mẫu yêu dấu, ngoài thì cậy có đất Kinh Thành hiểm trở, đêm ngày luyện tập quân mã, tất là có chí định cướp nước Trịnh; xin chúa công cho tôi đem quân ra tới Kinh Thành, bắt Cung thúc Đoạn đem về, để khỏi sinh ra hậu hoạn.
Trang công nói:
- Tội ác của Đoạn chưa rõ rệt, làm sao đánh nó được?
Công tử Lã nói:
- Nay thái thúc Đoạn đã chiếm lấy hai ấp, chẳng lẽ bờ cõi của tiên công mà chúa công cứ để mỗi ngày một hao mòn hay sao?
Trang công vừa cười vừa nói:
- Đoạn là con yêu của mẫu thân ta, là em yêu của ta, chẳng thà ta bỏ mất bờ cõi, còn hơn để hại đến tình anh em, và phật ý mẫu thân ta.
Công tử Lã nói:
- Chẳng những mất bờ cõi mà thôi, tôi còn sợ mất nước nữa. Nay thái thúc Đoạn mỗi ngày một cường thịnh, dân chúng thảy đều sợ uy, tất sinh hai lòng. Ngày nay chúa công bao dung thái thúc Đoạn, tôi e rằng ngày khác thái thúc Đoạn không bao dung chúa công thì hối lại sao cho kịp!
Trang công nói:
- Nhà ngươi chớ nói càn, để mặc ta lo nghĩ.
Công tử Lã ra ngoài, bảo Sái Túc rằng:
- Chúa công ta quyến luyến tình riêng mà quên việc lớn của nước, ta lấy làm lo lắm.
Sái Túc nói:
- Chúa công tài trí hơn người, chẳng lẽ lại không nghĩ đến điều ấy, chỉ vì ở chỗ tai mắt đông người, không tiện nói ra. Ông thử vào hầu riêng chúa công mà hỏi chuyện riêng thì khắc biết.
Công tử Lã nghe lời, vào gõ cửa trong cung xin yết kiến Trang công. Trang công nói:
- Nhà ngươi vào yết kiến ta có việc gì không?
Công tử Lã nói:
- Quốc mẫu vẫn có ý không muốn cho chúa công nối ngôi, vạn nhất trong ngoài hợp mưu với nhau thì chắc là chúa công không giữ được nước Trịnh. Tôi ngày đêm lo nghĩ, ăn ngủ không yên, vậy phải vào đây để xin chúa công xét lại cho kỹ.
Trang công nói:
- Việc này can ngại đến quốc mẫu nhiều đây.
Công tử Lã nói:
- Chúa công lại không nghe thấy việc Chu công ngày xưa giết Quản, Sái (3) hay sao? Việc nên quyết đoán mà không quyết đoán thì lại sinh ra tai hại, vậy xin chúa công phải quyết đoán ngay mới được.
Trang công nói:
- Ta đã nghĩ kỹ rồi. Đoạn dẫu vô đạo, nhưng chưa rõ tội nghịch phản, nếu ta đem quân đi đánh thì quốc mẫu tất tìm phương ngăn trở; người ngoài không biết, chẳng những cho ta là không tốt với em, mà còn cho ta là bất hiếu với mẹ. Chi bằng ta cứ để yên cho hắn không sợ hãi gì cả, cậy thế làm càn, bấy giờ ta sẽ kể rõ tội trạng, đem quân đến đánh thì người trong nước không ai còn có lòng giúp hắn, mà quốc mẫu cũng không trách ta vào đâu được.
Công tử Lã nói:
- Nếu vậy thì chúa công cao kiến lắm, chúng tôi không nghĩ đến, nhưng tôi sợ thế lực của Đoạn mỗi ngày một lớn, lan ra như cỏ thì cắt không hết được, biết làm thế nào? Nếu chúa công muốn đợi cho hắn làm trước, thì phải có mưu kế gì khiến hắn khởi nghịch chóng lên mới được.
Trang công nói:
- Bây giờ biết có kế gì?
Công tử Lã nói:
- Lâu nay chúa công không vào triều nhà Chu, tất cũng là vì việc thái thúc. Bây giờ chúa công cho phao lên rằng chúa công vào triều. Thái thúc thấy chúa công đi vắng, tất đem quân đến đánh Trịnh, tôi xin đem một toán quân đến phục sẵn ở gần đất Kinh Thành, khi thái thúc kéo quân đi, tôi lẻn vào chiếm lấy, rồi chúa công cũng đem một đạo quân đi đường tắt kéo đến, hai bên đánh ập lại thì thái thúc Đoạn dẫu mọc cánh cũng không bay kịp.
Trịnh Trang công nói:
- Nhà ngươi nói rất phải, nhưng chớ có hở cho một người nào biết.
Công tử Lã cáo từ lui ra, nghĩ thầm rằng: Sái Túc thật là một người cao đoán!
Sáng hôm sau, Trịnh Trang công giả cách truyền lệnh giao quốc chính cho Sái Túc để vào triều vua nhà Chu.
Khương thị nghe tin ấy, trong lòng mừng lắm, nói:
- Đoạn thật có phúc! Phen này chắc cướp được nước Trịnh.
Khương thị bèn viết một tờ mật thư, sai người tâm phúc, đưa đến Kinh Thành, ước với thái thúc Đoạn đem quân vào đánh nước Trịnh. Công tử Lã sai người đón đường bắt được đứa mang thư ấy, tức thì giết ngay, rồi đem ngay bức thư ấy đưa cho Trang công. Trang công mở xem xong, lại niêm phong lại, sai một người giả làm người nhà Khương thị đưa đến cho thái thúc Đoạn, đòi có thư hồi đáp. Thái thúc Đoạn viết thư hồi đáp, hẹn đến ngày mồng 5 tháng 5 thì khởi sự
Trịnh Trang công bắt được thư, mừng lắm, nói:
- Tờ cung chiêu của Đoạn đây rồi, hẳn quốc mẫu không còn che chở cho y được nữa.
Nói xong, liền vào cung từ biệt Khương thị, nói là vào triều kiến thiên tử nhà Chu, nhưng kỳ thực đem quân theo đường tắt tiến sang Kinh Thành.
Công tử Lã cũng đã đem quân đi phục trước ở gần đất Kinh Thành.
Thái thúc Đoạn từ khi tiếp được mật thư của Khương thị, liền cùng với con là công tôn Hoạt thương nghị, sai công tôn Hoạt sang mượn quân nước Vệ; còn mình thì giả cách nói phụng mệnh Trịnh Trang công về coi quốc chính, rồi đem quân thẳng đường kéo về nước Trịnh.
Công tử Lã đã sai quân giả dạng lái buôn lẻn vào đất Kinh Thành, đợi khi nào thái thúc Đoạn cất quân đi thì đốt lửa làm hiệu. Công tử Lã trông thấy ngọn lửa, tức khắc đem quân đến, người trong thành mở cửa ra đón. Lấy được Kinh Thành rồi, công tử Lã cho treo bảng hiểu dụ, kể đức tính hiếu hữu của Trịnh Trang công và tội vong ân bội nghĩa của thái thúc Đoạn. Người trong thành thấy vậy đều chê thái thúc Đoạn là bất nhân.
Thái thúc Đoạn đem quân đi đến nửa đường, nghe tin Kinh Thành thất thủ, trong lòng bối rối, vội vàng đem quân trở về. Chẳng ngờ quân sĩ được tin nhà, nghe nói thái thúc Đoạn bất nhân như vậy, đều bỏ trốn mất già nửa.
Thái thúc Đoạn thấy lòng quân sinh biến, mới rút về đất Cung Thành. Trịnh Trang công đem quân đến đánh Cung Thành. Thái thúc Đoạn nghe tin Trang công sắp đến mới thở dài, than rằng:
- Mẹ ta làm hại ta rồi! Bây giờ ta còn mặt mũi nào trông thấy anh ta nữa!
Nói xong, liền đâm cổ mà chết. Trịnh Trang công kéo quân vào, ôm lấy tử thi thái thúc Đoạn mà khóc rằng:
- Làm sao mà em dại đến thế này!
Nói xong, lại giở xem hành trang của thái thúc Đoạn thì bắt được cả cái thư của Khương thị gửi khi trước. Trịnh Trang công mới đem gói lẫn với bức thư trả lời của thái thúc Đoạn, sai Sái Túc đưa về cho Khương thị xem, sau đó thì hạ lệnh đem Khương thị an trí ở đất Dĩnh, và thề rằng:
- Trừ khi nào xuống suối vàng thì mẹ con mới lại trông thấy mặt nhau!
Khương thị trông thấy hai bức thư, xấu hổ vô cùng, tự nghĩ cũng không mặt mũi nào trông thấy Trịnh Trang công nữa, mới tức thì dọn ra ở ấp Dĩnh.
Trang công về đến đô thành, không trông thấy Khương thị trong lòng xúc động cũng thở dài mà than rằng:
- Ta bất đắc dĩ mà phải giết em, nỡ nào lại còn lìa mẹ! Ta thật là một người có tội với luân thường!
Quan phong nhân ở Dĩnh ấp là Dĩnh Khảo Thúc, vốn là người chính trực mà lại hiếu hữu, nghe tin Trịnh Trang công an trí Khương thị ở ấp Dĩnh, thường nói chuyện với người ta rằng:
- Mẹ dẫu bất từ, con không được bất hiếu, chúa công làm việc này, tổn thương đến phong hóa nhiều lắm!
Rồi đó, Dĩnh Khảo Thúc đi bắt mấy con chim cú vào dâng Trang công. Trang công hỏi rằng:
- Nó là chim gì?
Dĩnh Khảo Thúc nói:
- Nó là chim cú. Giống chim này ban ngày thì dẫu quả núi ở trước mặt cũng không trông thấy, mà ban đêm thì tinh mắt lắm, cái tơ cái tóc cũng trông thấy rõ cả. Thật là một con vật trông rõ được cái nhỏ, mà không trông thấy được cái lớn. Lúc nó bé, mẹ nó kiếm mồi nuôi nó, đến lúc nó lớn thì nó lại mổ mẹ nó, nó là giống chim bất hiếu, vậy nên tôi bắt để ăn thịt.
Trịnh Trang công nín lặng, không nói gì cả. Vừa lúc đó, đầu bếp dâng lên một con dê chín.
Trịnh Trang công sai cắt một vai đưa cho Dĩnh Khảo Thúc ăn. Dĩnh Khảo Thúc chọn lấy những miếng thịt ngon, đem bọc vào giấy, giấu ở trong tay áo.
Trịnh Trang công thấy lạ, liền hỏi. Dĩnh Khảo Thúc nói:
- Tôi có mẹ già mà nhà lại nghèo, ngày nào mẹ tôi cũng chỉ ăn các thức dã vị, chưa được ăn đến món ngon này; nay chúa công ban cho tôi mà mẹ già tôi không được nếm một miếng thì tôi nuốt sao cho được, vậy tôi phải đem về dâng lên mẹ già.
Trịnh Trang công nói:
- Nhà ngươi thật là một người con chí hiếu.
Nói xong, có ý buồn bã, thở dài một tiếng. Dĩnh Khảo Thúc hỏi rằng:
- Chẳng hay vì sao mà chúa công lại thở dài?
Trịnh Trang công nói:
- Nhà ngươi còn có mẹ già mà nuôi, để trọn cái đạo làm con; ta đây làm vua chư hầu mà lại không được bằng nhà ngươi!
Dĩnh Khảo Thúc giả cách không biết, lại hỏi rằng:
- Quốc mẫu hiện đang mạnh khỏe, sao chúa công lại nói như vậy?
Trịnh Trang công bèn đem chuyện Khương thị thông mưu với thái thúc Đoạn để cướp ngôi nước Trịnh, và việc an trí Khương thị ở ấp Dĩnh, kể lại tỉ mỉ một lượt; lại nói cho Dĩnh Khảo Thúc biết là đã đặt lời thề “suối vàng”, bây giờ hối lại không kịp.
Dĩnh Khảo Thúc nói:
- Thái thúc Đoạn nay đã mất rồi, quốc mẫu chỉ còn một mình chúa công là con, mà chúa công lại không phụng dưỡng thì khác nào giống chim cú. Nếu chúa công còn ngại về lời thề”suối vàng” thì tôi xin hiến một kế có thể giải lời thề ấy đi được.
Trịnh Trang công hỏi rằng:
- Kế gì có thể giải được lời thề?
Dĩnh Khảo Thúc nói:
- Bây giờ chúa công sai đào đất đến tận suối vàng, làm một cái nhà hầm, rước quốc mẫu xuống ở đấy, rồi nói cho quốc mẫu biết cái tình nhớ mong của chúa công; tôi chắc rằng chúa công nhớ mong quốc mẫu thế nào thì quốc mẫu cũng nhớ mong chúa công như vậy. Chúa công cùng với quốc mẫu gặp nhau ở trong nhà hầm ấy thì khỏi trái với lời thề “suối vàng” ngày trước.
Trang công mừng lắm, liền sai Dĩnh Khảo Thúc mộ năm trăm tráng sĩ đến dưới núi Ngưu Tỳ đào đất sâu đến hơn mười trượng, nước suối vọt ra, rồi làm nhà gỗ dưới đất, có thang từ trên xuống. Dĩnh Khảo Thúc đến chầu Khương thị, nói hết nỗi lòng Trang công đã biết hối hận, muốn rước về phụng dưỡng.
Khương thị vừa tủi, vừa mừng.
Dĩnh Khảo Thúc rước Khương thị xuống ở nhà hầm. Sau đó, xe của Trang công cũng đến. Trang công theo bậc thang xuống, sụp lạy mà nói với Khương thị rằng:
- Ngộ Sinh con lâu nay không biết phụng dưỡng mẫu thân, thật là bất hiếu, xin mẫu thân tha tội cho.
Khương thị nói:
- Thôi, cái tội ấy là tại mẹ, không việc gì đến con.
Nói xong, giơ tay đỡ lấy Trang công dậy, hai mẹ con ôm nhau mà khóc, rồi trèo lên trên mặt đất. Trang công đỡ Khương thị lên xe, rồi ngồi hầu một bên để cầm cương ngựa. Người nước Trịnh trông thấy Trang công cùng với Khương thị trở về, ai cũng khen Trang công là người có hiếu.
Trang công cảm cái ơn Dĩnh Khảo Thúc làm cho tình nghĩa hai mẹ con lại được trọn vẹn, mới phong cho Dĩnh Khảo Thúc làm chức đại phu cùng với công tôn Ái nắm giữ binh quyền.
Con thái thúc Đoạn là công tôn Hoạt từ khi sang mượn quân nước Vệ, về đến nửa đường, nghe tin thái thúc Đoạn bị giết, lại sang nước Vệ đem chuyện Trịnh Trang công giết em giam mẹ kêu với Vệ Hoàn công.
Vệ Hoàn công nói:
- Trịnh Trang công vô đạo như vậy, ta phải vì công tôn Hoạt mà đánh mới được.
Nói xong liền cất quân đi đánh Trịnh.
_____
(1) Vương là thiên tử.
(2) Bá là một nước đứng đầu chư hầu.
(3) Em ruột Chu công là Quản Thúc và Sái Thúc làm phản, bị Chu công giết.
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ TÁM
 
Hoa Đốc bày mưu để giết vua
Trịnh Hốt cố từ không lấy vợ
 
Tống Thương công từ khi lên ngôi, nhưng vì công tử Phùng còn ở Trịnh, nên đem lòng thù oán, cử binh sang đánh nước Trịnh đã ba lần rồi.
Quan thái tể nước Tống là Hoa Đốc, vốn chơi thân với công tử Phùng, thấy Tống Thương công hay đánh nước Trịnh, ngoài miệng dẫu không can ngăn, nhưng trong bụng vẫn có ý không bằng lòng. Lại thấy binh quyền ở cả trong tay Khổng Phủ Gia là quan đại tư mã, Phủ Gia được vua tin dùng nên Hoa Đốc không dám động tới. Từ khi Khổng Phủ Gia sang đánh nước Đái, thua trận trốn về, người trong nước ai cũng oán Tống Thương công không biết thương dân, gây việc tranh chiến, khiến cho dân trong nước vợ góa con côi, cửa nhà tan nát.
Hoa Đốc bèn sai người tâm phúc nói phao ở chốn hương thôn rằng: mấy lần binh lửa đều do Khổng Phủ Gia gây nên.
Người trong nước tưởng thực, đều quy oán Khổng Phủ Gia. Hoa Đốc lại nghe nói ái thiếp của Khổng Phủ Gia là Ngụy thị sắc đẹp tuyệt vời, vẫn tiếc rằng không được trông thấy mặt bao giờ.
Một hôm gặp tiết thanh minh, Ngụy thị đi tảo mộ. Hoa Đốc trông thấy, ngẩn người ra mà nói rằng:
- Ở đời có người đẹp đến thế kia sao! Lời đồn quả không ngoa thật!
Từ bấy giờ Hoa Đốc cứ ngày đêm mơ tưởng Ngụy thị, mới nghĩ thầm rằng:
- Ước gì lấy được nàng về thì cũng đủ thỏa một đời! Nhưng nếu không giết được người chồng thì làm thế nào lấy được người vợ?
Bèn lập mưu giết Khổng Phủ Gia. Gặp kỳ điểm binh, Khổng Phủ Gia luyện tập quân mã rất là nghiêm chỉnh. Hoa Đốc mới sai người tâm phúc nói phao ở trong quân rằng:
- Khổng Phủ Gia sắp sửa đem quân đi đánh Trịnh, hôm trước đã bàn với Hoa Đốc rồi, hôm nay mới luyện tập quân mã.
Quân sĩ nghe đồn, ai nấy đều sợ hãi, mới rủ nhau kéo đến cửa Hoa Đốc để kêu van, nhờ tâu với Tống Thương công xin bãi việc chinh chiến. Hoa Đốc cố ý sai đóng cửa chặt lại, rồi cho người đứng ở trong khe cửa dùng lời nói ngọt để phủ dụ quân sĩ.
Quân sĩ càng cố ý xin vào yết kiến, người kéo đến mỗi lúc một thêm đông; có kẻ lại mang cả khí giới nữa.
Chờ mãi cho đến chiều tối, không được vào yết kiến Hoa Đốc, quân sĩ đều nhao nhao cả lên. Hoa Đốc biết là lòng quân đã sinh biến có ý muốn bạo động, mới mặc giáp đeo gươm trường ra đứng ở giữa cửa, rồi truyền cho quân sĩ phải đứng yên, không được ồn ào. Hoa Đốc đứng ngay giữa cửa, trước hết đem những lời từ bi nhân đức để lấy lòng quân sĩ, rồi sau mới nói đến việc Khổng Phủ Gia làm tướng chỉ gây binh đao làm khổ dân, mà Tống hầu thì tin dùng quá, Hoa Đốc can ngăn thế nào cũng không nghe. Chỉ ba ngày nữa, Phủ Gia lại sắp sửa cử đại binh sang đánh Trịnh, chẳng hay dân nước Tống có tội tình gì mà phải lầm than như vậy!
Quân sĩ nghe lời Hoa Đốc nói khích, đều nghiến răng mà kêu lên: “Giết!”. Hoa Đốc lại giả cách khuyên giải, nói:
- Các ngươi chớ có vội vàng, nếu Khổng Phủ Gia biết mà tâu lên chúa công thì tính mệnh các ngươi khó lòng giữ được.
Quân sĩ lại nhao nhao lên mà nói:
- Cha con họ hàng nhà chúng tôi mấy năm nay chỉ vì việc chinh chiến mà chết đến quá nửa; bây giờ lại sắp cử binh đi đánh Trịnh thì địch thế nào nổi nước Trịnh binh hùng tướng mạnh. Thôi thì đằng nào cũng chết, chi bằng ta giết thằng giặc ấy để trừ hại cho dân, dẫu chết cũng được thỏa lòng.
Hoa Đốc nói:
- Ném chuột phải nghĩ đến bát đĩa. Khổng Phủ Gia dẫu tàn ác, nhưng cũng là bề tôi yêu của chúa công ta, việc đó quyết không nên làm.
Quân sĩ nói:
- Nếu được ngài làm chủ việc này cho thì cả đứa hôn quân vô đạo, chúng tôi cũng chẳng sợ gì.
Quân sĩ vừa nói vừa xúm lại nắm lấy áo Hoa Đốc mà đồng thanh reo lên rằng:
- Chúng tôi xin theo ngài mà giết những đứa hại dân ấy!
Lúc bấy giờ Hoa Đốc bị quân sĩ dìu lên xe, rồi kéo thẳng đến nhà Khổng Phủ Gia. Quân sĩ vây kín nhà Khổng Phủ Gia lại. Hoa Đốc nói:
- Các ngươi hãy yên lặng, không nên lên tiếng vội, để ta gọi cửa đã.
Lúc ấy trời đã tối. Khổng Phủ Gia đang ngồi uống rượu ở nhà trong, nghe thấy bên ngoài có tiếng gõ cửa mạnh, sai người truyền hỏi, mới biết là có Hoa Đốc đến bàn việc cơ mật.
Khổng Phủ Gia vội vàng đội mũ mặc áo chạy ra nghênh tiếp; cửa vừa mở thì quân sĩ ùa nhau kéo vào. Khổng Phủ Gia sợ hãi, quay mình trở lại.
Hoa Đốc bước ngay lên thềm, rồi quát to lên rằng:
- Thằng giặc hại dân đấy, sao không sửa ngay đi!
Khổng Phủ Gia chưa kịp nói câu gì, đầu đã rơi xuống đất. Hoa Đốc tức khắc sai người tâm phúc vào thẳng nhà trong bắt lấy Ngụy thị để lên xe đem về.
Ngụy thị ngồi trong xe không biết làm thế nào, liền cởi dây lưng ra thắt cổ, về đến cửa Hoa Đốc thì tắt thở. Hoa Đốc phàn nàn thương tiếc, sai đem ra ngoài thành an táng; lại nghiêm cấm người nhà không cho tiết lộ việc ấy cho ai biết.
Quân sĩ thừa thế cướp phá nhà Khổng Phủ Gia chẳng còn một tí gì. Khổng Phủ Gia chỉ có một con trai tên là Mộc Kim Phủ, tuổi hãy còn bé, người nhà lén ẵm chạy sang nước Lỗ, truyền đến cháu sáu đời tức là Khổng Tử sau này.
Tống Thương công nghe nói Khổng Phủ Gia bị giết, thì chân tay run rẩy, lại nghe nói Hoa Đốc cũng dự vào việc ấy, thì giận lắm, tức khắc sai người đòi đến để trị tội.
Hoa Đốc cáo ốm không chịu đến. Tống Thương công định thân hành đến thăm nhà Khổng Phủ Gia. Hoa Đốc nghe tin, mới họp quân sĩ lại bảo rằng:
- Chúa công ta xưa nay vẫn tin dùng Khổng Phủ Gia, các ngươi đều biết cả, bây giờ các ngươi giết mất Khổng Phủ Gia, là có tội với chúa công. Tiên công (Lỗ Mục công) ta ngày xưa bỏ con mình (công tử Phùng) mà lập chúa công; chúa công đã không biết ơn, thấy công tử Phùng ở nước Trịnh, lại nghe lời Khổng Phủ Gia đem quân đi đánh. Nay Khổng Phủ Gia bị giết, chẳng qua cũng là đạo trời, chi bằng ta giết luôn đứa hôn quân ấy đi mà đón công tử Phùng về nối ngôi, chẳng cũng hay lắm ru!
Quân sĩ đều nói:
- Ngài dạy thế chính hợp với ý chúng tôi!
Nói xong, liền kéo ngay đến phục sẵn ở cửa nhà Khổng Phủ Gia, đợi khi Tống Thương công đến, quân sĩ hai bên đổ ra, thị vệ bỏ chạy tán loạn cả.
Tống Thương công chết ở trong đám loạn quân. Hoa Đốc nghe báo, mặc tang phục đến khóc Tống Thương công, rồi nổi hiệu trống họp các quan lại, bắt mấy người ở trong đám quân sĩ đem chém, để che mắt thiên hạ.
Hoa Đốc lại bảo các quan rằng:
- Nay lòng người vẫn còn mến cái ân nghĩa của tiên công ta thuở xưa và muốn đón công tử Phùng về nối ngôi, các quan nghĩ thế nào?
Các quan bấy giờ đều vâng vâng dạ dạ. Hoa Đốc bèn một mặt sai sứ sang nước Trịnh để báo tang Tống Thương công và đón công tử Phùng về nối ngôi; một mặt đem châu ngọc cho trong kho nước Tống đi đút lót với các nước.
Trịnh Trang công tiếp sứ nước Tống, nhận tờ quốc thư, bèn sai người đưa công tử Phùng về nối ngôi.
Khi ra đi, công tử Phùng sụp lạy ở dưới đất vừa khóc vừa nói:
- Tôi sống được đến ngày nay, cũng là nhờ ơn chúa công, bây giờ về nước, may mà được nối ngôi thì xin một lòng thần phục nước Trịnh, không bao giờ dám sai.
Trịnh Trang công nghe nói, cũng ứa nước mắt. Công tử Phùng về đến nước Tống, Hoa Đốc tôn lên làm vua, tức là Tống Trang công. Hoa Đốc làm thái tể. Các nước chư hầu đều nhận của đút lót của nước Tống, đến hội nhau ở đất Tắc (đất nước Tống) để chứng kiến việc công tử Phùng lên ngôi.
Tề Hi công sang hội ở đất Tắc, về đến nửa đường tiếp được thư cáo cấp nói vua Bắc Nhung sai Đại Lương, Tiểu Lương làm nguyên soái đem một vạn quân sang đánh nước Tề, hiện đã phá vỡ đất Chúc A và đất Lịch Hạ, các quan trấn thủ không tài nào đương nổi vậy phải sai người cáo cấp để đón Tề Hi công về ngay.
Tề Hi công nói:
- Giặc Bắc Nhung xưa nay vẫn thường vào quấy nhiễu, chẳng qua như con chuột con chó đến cắn trộm mà thôi, nay lại dám cử đại binh vào ăn cướp, nếu để cho hắn được lợi thì từ nay trở đi ta khó lòng ngồi yên được!
Nói xong, một mặt sai người sang mượn quân Lỗ, Vệ, Trịnh đến đánh hộ, và một mặt đem quân về Lịch Hạ để đánh Bắc Nhung.
Trịnh Trang công nghe nói nước Tề có giặc ở Bắc Nhung đến đánh, mới gọi thế tử Hốt bảo rằng:
- Tề cùng nước ta vốn kết thân với nhau, nay đến mượn quân thì ta phải sang giúp.
Nói xong, liền sai thế tử Hốt làm đại tướng, Cao Cừ Di làm phó tướng, Chúc Đam làm tiên phong, cùng đem quân kéo sang nước Tề. Bấy giờ quân Lỗ và quân Vệ chưa đến, Tề Hi công thấy thế tử Hốt đã đem quân tới nơi, lấy làm cảm ơn lắm, mới truyền mở tiệc để thết đãi và cùng với thế tử Hốt bàn việc đánh giặc.
Thế tử Hốt nói:
- Ta cho một đạo quân ra dụ giặc, giả cách thua chạy, rồi phục một toán quân để đón đánh, tất nhiên quân giặc sợ mà phải vỡ. Khi quân giặc đã vỡ rồi, ta đuổi tràn đi, chắc được toàn thắng.
Tề Hi công nói:
- Kế ấy rất phải!
Thế tử Hốt bèn đem quân ra mai phục ở phía bắc. Tề Hi công sai công tử Nguyên đem quân ra mai phục ở phía đông, rồi lại sai công tôn Đái Trọng đem một đạo quân ra đối địch với quân giặc, dặn phải giả cách thua chạy.
Công tôn Đái Trọng phụng mệnh đem quân ra trận. Tướng Bắc Nhung là Tiểu Lương cầm đao xông lại nghênh chiến.
Hai bên đánh nhau được độ hai mươi hợp, công tôn Đái Trọng giả cách thua chạy, Tiểu Lương thúc ngựa đuổi theo. Đại Lương thấy vậy cũng đem đại binh theo sau. Khi đi đến gần cửa đông, bỗng nghe tiếng súng nổ, chuông trống rầm trời, phục binh ở trong bụi lau kéo ra như kiến.
Tiểu Lương biết trúng kế vội vàng quay ngựa chạy, chẳng ngờ gặp phải đại binh của Đại Lương phía sau, hai bên xô đẩy nhau, thành ra quân vỡ, bỏ chạy tán loạn.
Công tôn Đái Trọng cùng với công tử Nguyên hợp sức đuổi theo. Đại Lương và Tiểu Lương vừa đánh vừa chạy; chạy đến núi Thước Sơn, Đại Lương và Tiểu Lương ngảnh đầu trông lại, thấy quân đuổi theo đã hơi xa xa, toan ngồi lại để nghỉ ngơi ở dưới chân núi. Bỗng thấy một toán quân ở phía sau núi đổ ra, tức là quân Cao Cừ Di, phó tướng nước Trịnh. Đại Lương và Tiểu Lương lại cùng nhau lên ngựa bỏ chạy.
Cao Cừ Di giục quân đuổi theo. Đuổi được vài dặm, phía trước lại có quân thế tử Hốt kéo đến, còn phía sau thì có quân của công tử Nguyên cùng đánh cho quân Bắc Nhung thất điên bát đảo.
Tiểu Lương bị Chúc Đam bắn một phát tên, ngã ngựa mà chết. Còn Đại Lương một mình một ngựa, phá vòng vây mà chạy, lại gặp phải quân thế tử Hốt, Đại Lương bị thế tử Hốt chém chết. Thế tử Hốt đem đầu Đại Lương và Tiểu Lương về nộp Tề Hi công.
Tề Hi công mừng lắm nói:
- Nếu không nhờ có tài trí anh hùng của thế tử thì sao lui được giặc Bắc Nhung. Ngày nay nước tôi được yên ổn, thật là đội ơn thế tử nhiều lắm.
Thế tử Hốt nói:
- Tôi nay được góp chút sức hèn mọn, không đáng cho nhà vua khen quá lời!
Tề Hi công sai sứ báo cho nước Lỗ và nước Vệ đình chỉ việc xuất quân, rồi truyền mở tiệc thết đãi thế tử Hốt. Trong khi ăn tiệc, lại nói đến việc xin gả con gái cho thế tử Hốt.
Thế tử Hốt hai ba lần chối từ, nhất định không nhận. Tiệc tan, Tề Hi công sai Di Trọng Niên bảo riêng với Cao Cừ Di rằng:
- Chúa công tôi yêu mến thế tử là người anh hùng, vậy muốn cầu thân với thế tử, ngày trước đã sai sứ sang nói, hôm nay chúa công tôi lại nói với thế tử, mà thế tử nhất định không nghe, không biết ý tứ làm sao? Nếu ngài mà nói giúp được việc ấy thì xin biếu hai viên ngọc bích và một trăm nén vàng.
Cao Cừ Di nhận lời, rồi vào yết kiến thế tử Hốt, nói với thế tử rằng:
- Tề hầu đã có lòng yêu mến thế tử như vậy, nếu thế tử bằng lòng kết thân với Tề thì sau này được một nước lớn giúp mình, chẳng cũng hay lắm ru!
Thế tử Hốt nói:
- Ngày trước đang lúc vô sự, Tề hầu muốn gả con cho ta, ta còn không muốn lấy; ngày nay ta phụng mệnh sang cứu Tề, may mà thành công, lại lấy con gái nước Tề, người ngoài tất bảo ta là cậy công mà ép người ta phải gả, sao cho tránh khỏi tiếng xấu ấy?
Cao Cừ Di hai ba lần nói mà thế tử Hốt cũng nhất định không nghe. Ngày hôm sau, Tề Hi công lại sai Di Trọng Niên đến nói việc kết hôn.
Thế tử Hốt lại từ chối, nói:
- Chưa bẩm mệnh cha, không dám nhận lời vội.
Nói xong, tức khắc cáo từ về nước. Tề Hi công giận lắm, nói:
- Con gái ta như thế, lo gì mà không lấy được chồng!
Thế tử về đến nước Trịnh, đem chuyện từ hôn nói với Trịnh Trang công. Trịnh Trang công nói:
- Con đã làm nên được công nghiệp lớn thì lo gì không có vợ đẹp.
Sái Túc bảo riêng với Cao Cừ Di rằng:
- Chúa công ta ngày nay có nhiều nội sủng lắm; công tử Đột, công tử Nghi và công tử Vỹ đều có ý muốn tranh ngôi. Nếu thế tử kết hôn với Tề thì thêm được nước lớn làm vây cánh. Tôi thiết tưởng Tề không nghị hôn, mình còn đến mà cầu, sao ông không biết khuyên thế tử việc ấy?
Cao Cừ Di nói:
- Tôi cũng đã có nói, nhưng thế tử không nghe thì biết làm thế nào?
Cao Cừ Di vốn chơi thân với công tử Vỹ, nên khi nghe Sái Túc bảo như thế lại càng giao kết với công tử Vỹ hơn.
Công tử Hốt nói riêng với Trịnh Trang công rằng:
- Cao Cừ Di cùng với công tử Vỹ tư thông với nhau, chúa công nên phải phòng bị mới được.
Trịnh Trang công đem lời thế tử Hốt trách mắng Cao Cừ Di. Cao Cừ Di chối, rồi lại đem chuyện kể lại với công tử Vỹ. Công tử Vỹ nói:
- Cha ta trước đã toan dùng nhà ngươi làm chức chính khanh, nhưng vì thế tử Hốt can ngăn nên mới thôi, bây giờ lại còn muốn cấm hai ta không được đi lại thân mật với nhau. Cha ta hãy còn mà đã thế rồi, nữa là một mai cha ta trăm tuổi đi, chúng ta cũng khó lòng mà ở với hắn được.
Cao Cừ Di nói:
- Thế tử là người nhu nhược không quyết đoán, chắc cũng không làm hại gì đến ai, xin công tử chớ lấy làm lo.
Từ bấy giờ công tử Vỹ và Cao Cừ Di có hiềm khích với thế tử Hốt. Đến sau Cao Cừ Di giết thế tử Hốt mà lập công tử Vỹ cũng vì cớ ấy.
Lại nói đến chuyện Sái Túc bàn với thế tử Hốt nên kết thân với Trần và Vệ để làm ngoại viện. Thế tử Hốt lấy làm phải.
Sái Túc liền nói với Trịnh Trang công sai sứ sang Trần để cầu hôn, cưới nàng Vỹ thị nước Trần về làm vợ thế tử Hốt. Lỗ Hoàn công cũng sai sứ sang nước Tề để cầu hôn.
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ CHÍN
 
Tề hầu đưa con gái sang Lỗ
Chúc Đam bắn vua Chu trúng vai
 
Tề Hi công có hai người con gái nhan sắc đẹp lắm: người chị gả cho nước Vệ, tức là Vệ Tuyên Khương; còn người em là Văn Khương thì mắt phượng mày ngài, mặt hoa da ngọc, thật là một bậc quốc sắc; lại tài cao học rộng, xuất khẩu thành văn, bởi thế mới đặt tên là Văn Khương.
Thế tử nước Tề, tên gọi Chư Nhi, vốn ham mê tửu sắc, cùng với Văn Khương dẫu tình anh em, nhưng là con khác mẹ, chỉ suýt soát hơn Văn Khương độ một vài tuổi. Từ bé đến lớn hai người vẫn ở chung một nhà chơi đùa với nhau, nhiều khi kề vai dắt tay, không phân biệt nam nữ gì cả.
Tề Hi công lại chiều con quá, không giữ gìn khuôn phép, để đến nỗi mai sau sinh ra nhiều chuyện chẳng hay.
Sau khi thế tử Hốt nước Trịnh dẹp tan được quân Bắc Nhung, Tề Hi công đã nhiều lần khen tài thế tử Hốt ở trước mặt Văn Khương; nay lại bàn đến việc gả Văn Khương cho thế tử Hốt. Văn Khương nghe nói có ý mừng thầm.
Sau thấy thế tử Hốt cố ý từ chối không nhận, Văn Khương trong lòng uất ức, thành ra bệnh mê hoảng như người điên dại, không ăn không ngủ được.
Thế tử Chư Nhi lại tạ sự thăm bệnh, thường thường ra vào lân la bên giường em nằm, cuối mắt đầu mày, đem lòng dan díu, nhưng vì có các cung nhân hầu hạ bên cạnh, nên chưa đến nỗi sinh điều dâm loạn.
Một hôm Tề Hi công vào thăm Văn Khương, trông thấy thế tử Chư Nhi ở trong buồng, liền trách mắng rằng:
- Ngươi đối với Văn Khương dẫu là anh em, nhưng cũng nên giữ lễ tị hiềm mới phải! Từ nay trở đi có việc gì sai khiến đã có cung nhân, ngươi không được vào đây nữa.
Thế tử Chư Nhi vâng dạ lui ra. Văn Khương ở chốn thâm khuê, một mình buồn bã, lại thêm nhớ thế tử Chư Nhi, bệnh càng ngày càng nặng, trong lòng uất ức mà không nói ra miệng được.
Lại nói đến chuyện Lỗ Hoàn công năm lên nối ngôi, dẫu đã lớn tuổi, nhưng vẫn chưa có người sửa túi nâng khăn.
Quan đại phu là Tang Tôn Đạt nói:
- Chúa công nên nghĩ đến tôn miếu làm trọng, mà tìm một người làm chủ trong cung.
Công tử Huy nói:
- Tôi nghe đồn Tề Hi công có người con gái yêu tên là Văn Khương, đã toan gả cho thế tử Hốt nước Trịnh, nhưng sự không thành, âu là chúa công cho người sang hỏi xem.
Lỗ Hoàn công nghe lời, sai công tử Huy sang cầu hôn với nước Tề.
Tề Hi công thấy Văn Khương chưa khỏi bệnh, nên hẹn lại, không cho cưới vội. Cung nhân đem tin mừng ấy nói với Văn Khương. Văn Khương nghe tin ấy, trong lòng khoan khoái, bệnh mỗi ngày một bớt dần. Đến lúc Tề, Lỗ vì việc Hoa Đốc nước Tống cùng sang hội ở đất Tắc, Lỗ Hoàn công lại đem việc cầu hôn nói với Tề Hi công.
Tề Hi công hẹn đến năm sau. Sau Lỗ Hoàn công lại thân hành đến đất Doanh (đất nước Tề) để hội với Tề Hi công. Tề Hi công cảm cái ơn Lỗ Hoàn công ân cần như vậy, mới thuận gả Văn Khương cho, hẹn đến mùa thu thì sẽ thân hành đưa Văn Khương sang Lỗ để thành hôn.
Thế tử Chư Nhi nghe thấy Văn Khương sắp đi lấy chồng nước khác, mới sai cung nhân đưa cho Văn Khương một cành hoa kèm thêm một bài thơ tỏ tình. Văn Khương biết ý họa lại một bài.
Thế tử Chư Nhi xem thơ, biết là Văn Khương có lòng quyến luyến mình, lại càng mê mẩn tâm thần. Không bao lâu, Lỗ Hoàn công sai công tử Huy sang đón Văn Khương về Lỗ.
Tề Hi công vì yêu con, định thân hành đưa Văn Khương sang Lỗ. Thế tử Chư Nhi bèn nói với Tề Hi công rằng:
- Nay phụ thân gả em con cho Lỗ hầu, thật là một việc rất hay, khiến cho hai nước thêm tình thân mật, nhưng Lỗ hầu không thân hành sang đón, lại sai công tử Huy đi, con thiết tưởng phụ thân làm chủ trong nước, đi xa không tiện, âu là xin phụ thân để cho con đi thay cũng được.
Tề Hi công nói:
- Khi trước ta đã hứa sẽ thân hành đưa Văn Khương sang Lỗ, có đâu ta lại thất tín.
Nói chưa dứt lời thì có người bảo rằng:
- Lỗ Hoàn công đã thân hành đến Hoan ấp (đất nước Lỗ) để đón.
Tề Hi công nói:
- Nước Lỗ thật là nước biết giữ lễ nghĩa, sợ ta đi xa khó nhọc, vậy phải đón ở ngang đường, vậy thể nào ta cũng phải thân hành đi mới được.
Thế tử Chư Nhi nín lặng lui ra.
Hôm khởi hành, thế tử Chư Nhi đi tiễn, lại ghé đến bên xe Văn Khương dặn nhỏ một câu rằng:
- Xin em chớ có quên những lời thơ hôm trước!
Văn Khương nói:
- Xin anh cứ yên tâm, ngày xuân em còn dài, thế nào cũng có ngày được sum họp.
Tề Hi công giao quốc chính cho thế tử Chư Nhi, rồi thân hành đưa Văn Khương đến đất Hoan.
Lỗ Hoàn công bày tiệc để thết đãi. Tiệc xong, Tề Hi công cáo từ trở về. Lỗ Hoàn công đưa Văn Khương về nước. Từ bấy giờ Tề và Lỗ, cùng thân mật với nhau.
Lại nói chuyện vua Hoàn vương nhà Chu biết chuyện Trịnh Trang công giả mệnh đánh Tống, trong lòng tức giận, liền giao hết triều chính cho Quắc công Kỵ Phủ, không dùng Trịnh Trang công nữa. Trịnh Trang công nghe tin ấy, cũng đem lòng thù oán vua Hoàn vương nhà Chu, luôn năm năm không vào triều kiến.
Hoàn vương nói:
- Ngộ Sinh nước Trịnh vô lễ quá! Nếu trẫm không kể tội mà đem quân đến đánh thì kẻ khác tất lại bắt chước làm càn.
Quắc công Kỵ Phủ can rằng:
- Nước Trịnh đã mấy đời nay làm khanh sĩ, công lao nhiều lắm, bây giờ lại không được cầm quyền chính, vậy nên không vào triều. Kẻ hạ thần thiết tưởng nhà vua nên hạ chiếu đòi vào, chứ không nên đi đánh.
Vua Hoàn vương nổi giận, nói:
- Ngộ Sinh khinh trẫm đã nhiều lần rồi. trẫm cùng với Ngộ Sinh quyết không đội trời chung được.
Nói xong, liền lấy quân nước Sái, nước Vệ và nước Trần cùng sang đánh nước Trịnh. Bấy giờ công tử Đà nước Trần giết thế tử Vấn mà cướp ngôi, người trong nước không phục, bỏ đi nhiều lắm. Vì cớ ấy nên khi vua nhà Chu lấy quân đi đánh Trịnh, công tử Đà không không dám trái mệnh, phải cất quân theo ngay, sai quan đại phu là Bá Viên Chư làm tướng thẳng đường tiến sang nước Trịnh.
Nước Sái và nước Vệ cũng cất quân đi theo vua nhà Chu. Trịnh Trang công nghe tin vua nhà Chu sắp kéo quân đến đánh, mới họp các quan lại để thương nghị.
Sái Túc nói:
- Vì ta lâu không vào triều, nên thiên tử đem quân đến đánh, cũng là phải. Chi bằng ta sai người vào tạ tội thì mới tránh khỏi những tai vạ về sau.
Trịnh Trang công nổi giận nói:
- Thiên tử đã truất quyền chính của ta, lại còn đem quân đến đánh ta. Bao nhiêu công lao nước ta mấy đời giúp thiên tử, đều coi như bỏ đi như ngọn nước chảy xuôi cả; nếu ta cứ ngồi yên thì khó lòng mà giữ được cơ nghiệp.
Cao Cừ Di nói:
- Nước Trần xưa nay vốn giao hiếu với ta, việc cất quân giúp vua nhà Chu, chẳng qua là sự bất đắc dĩ; chỉ có Sái, Vệ vốn thù oán với ta thì sẽ cố đánh mà thôi. Thiên tử đã nổi giận mà đem quân đến thì ta cũng khó lòng địch nổi, âu là ta đóng cửa thành giữ thế thủ, đợi khi quân sĩ đã có ý trễ biếng rồi, bấy giờ hoặc chiến hoặc hòa, sẽ liệu sau.
Công tử Nguyên nói:
- Cứ lấy lẽ mà nói thì chư hầu đánh nhau với thiên tử là không phải đạo, vậy ta nên đánh nhanh đi, không nên để chậm, tôi dẫu hèn mạt, cũng xin hiến một kế.
Trịnh Trang công hỏi:
- Kế gì?
Công tử Nguyên nói:
- Công tử Đà nước Trần mới giết vua mà cướp ngôi, người trong nước không ai chịu phục, nếu ta cho một đạo binh đánh nước Trần trước thì tất nhiên quân nước Trần phải vỡ chạy; rồi sau sẽ đánh đến Sái, Vệ. Sái, Vệ nghe Trần đã thua, tất cũng núng thế mà phải vỡ quân. Bấy giờ ta hợp sức nhau lại mà chống với thiên tử thì chắc được toàn thắng.
Trịnh Trang công nói:
- Nhà ngươi thật là cao kiến!
Nói chưa dứt lời thì nghe báo thiên tử đã kéo đến đất Nhu Cát, chia làm ba dinh, đóng liền với nhau.
Trịnh Trang công nói:
- Ta chỉ cốt phá được một dinh là xong tất cả!
Nói xong, liền sai Mâu Bá đem một cánh quân đi về phía hữu, Sái Túc đem một cánh quân đi về phía tả, còn mình thì đem bọn Cao Cừ Di, Nguyên Phồn, Hà Thúc Doanh và Chúc Đam thẳng đường tiến lên, trong quân có dựng một cây cờ “Phụng thiên thảo tội”.
Sái Túc nói:
- Lá cờ “Phụng thiên thảo tội” là để đem quân đi đánh các nước chư hầu như Tống và Hứa thì phải, nếu đem quân đi đánh thiên tử thì không hợp lẽ chút nào.
Trịnh Trang công nói:
- Thế mà ta không nghĩ ra.
Nói xong, liền sai đổi lá cờ khác và bảo Hà Thúc Doanh đem lá cờ “Phụng thiên thảo tội” cất vào trong kho, từ nay trở đi không dùng đến nữa.
Vua Hoàn vương nhà Chu nghe nói Trịnh Trang công đã kéo quân đến đất Nhu Cát, bèn nổi giận, toan thân hành đem quân ra đánh. Quắc công Kỵ Phủ can mãi mới thôi.
Sáng hôm sau, Mâu Bá xông vào đánh quân nước Trần, quân nước Trần không đánh, bỏ chạy tức thì, lại xô đẩy quân nhà Chu thành ra hỗn loạn. Sái Túc xông vào đánh quân nước Sái và nước Vệ. Quân Sái, Vệ địch không nổi, cũng bỏ chạy cả. Hoàn vương truyền rút quân về, vừa đánh vừa chạy.
Chúc Đam trông theo ngọn tàn che, biết là vua nhà Chu, liền giương cung nhắm theo, bắn một phát tên trúng ngay vào vai, may có áo giáp bọc ngoài, rất dày, nên nhà vua chỉ bị thương nhẹ mà thôi. Chúc Đam thúc quân đuổi theo.
Quắc công Kỵ Phủ đứng lại để chống nhau với Chúc Đam, hai bên đánh nhau đang dữ dội thì Trịnh Trang công nổi hiệu thu quân. Hoàn vương rút quân ra đóng ở ngoài hai mươi dặm. Chu công Hắc Kiên đem chuyện người nước Trần không chịu nỗ lực để đến nỗi thua quân, kể lại cho Hoàn vương nghe.
Hoàn vương có ý thẹn mà nói rằng:
- Đó là cái lỗi của trẫm dùng người không được minh.
Chúc Đam rút quân về, vào nói với Trịnh Trang công rằng:
- Tôi đã bắn trúng vai vua nhà Chu, vua nhà Chu sợ mất vía đi, tôi chỉ còn việc tiến lên để bắt sống nhà vua mà thôi, sao chúa công lại nổi hiệu thu quân?
Trịnh Trang công nói:
- Ta chỉ vì thiên tử không minh, đã chẳng biết ơn ta lại còn đem lòng oán giận, bất đắc dĩ lắm ta mới phải đối địch. Nay nhờ sức các ngươi mà ta giữ yên được cơ nghiệp, cũng đã đủ rồi, còn muốn cầu gì nữa! Cứ như lời nhà ngươi nói, đuổi theo bắt thiên tử là không nên, vạn nhất quá tay mà thiên tử làm sao thì tránh sao khỏi cái tiếng giết vua được!
Sái Túc nói:
- Chúa công nói phải lắm! Nay vua nhà Chu tất sợ hãi binh uy nước ta rồi, âu là ta sai sứ vào vấn an, khiến thiên tử biết rằng việc bắn trúng vai ấy không phải là tự ý chúa công.
Trịnh Trang công nói:
- Thế thì việc này lại phải đến nhà ngươi đi mới được.
Nói xong liền sai Sái Túc đem lễ vật đến yết kiến vua nhà Chu để tạ tội.
Sái Túc đến nơi dập đầu xuống đất, sụp lạy vua nhà Chu mà kêu van rằng:
- Chúa công tôi là Ngộ Sinh vì việc giữ nước mà phải đem quân ra phòng bị, chẳng ngờ quân sĩ vô ý, lỡ phạm phải thánh thể, thật lấy làm sợ hãi lắm. Vậy có sai tôi là Sái Túc đến đây để tạ tội, xin thiên tử thương tình mà đại xá cho.
Hoàn vương nín lặng, không nói gì cả, có ý thẹn.
Quắc công Kỵ Phủ đứng cạnh, đỡ lời vua nhà Chu mà đáp lại rằng:
- Ngộ Sinh đã biết hối thì cũng khoan thứ cho. Sứ giả hãy lạy tạ thiên tử đi!
Sái Túc sụp lạy, rồi cáo từ lui ra, lại đi thăm hỏi khắp cả các hàng quân sĩ. Hoàn vương từ khi thua trận, rút quân về, đem lòng căm tức, toan truyền hịch đi khắp các nơi để kể tội Trịnh Trang công.
Quắc công Kỵ Phủ can rằng:
- Chỉ tại nhà vua nóng nẩy quá, đến nỗi thua trận; bây giờ lại truyền hịch đi các nơi thì khác nào tỏ cho thiên hạ biết cái xấu ấy; các nước chư hầu ngày nay, trừ Trần, Sái, Vệ ra không kể, còn thì đều là vây cánh nước Trịnh cả. Ta lấy quân mà họ không theo thì lại càng làm cho nước Trịnh thêm cười ta mà thôi. Vả lại Trịnh đã biết lỗi, sai Sái Túc sang tạ tội thì cũng nên khoan thứ.
Từ bấy giờ Hoàn vương không nói gì đến việc nước Trịnh nữa.
Lại nói đến chuyện vua nước Sái, từ khi đem quân theo thiên tử đi đánh Trịnh, nghe tin công tử Đà cướp ngôi nước Trần, dân tình không phục, mới đem quân lẻn sang để đánh nước Trần.
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ NĂM
 
Chu với Trịnh gửi con làm tin
Lỗ và Tống đem quân giúp giặc
 
Trịnh Trang công nghe tin công tôn Hoạt cất quân đến đánh, mới họp các quan lại để thương nghị.
Công tử Lã nói:
- Cắt cỏ mà còn rễ thì gặp khí xuân cỏ lại mọc lên. Công tôn Hoạt nay mượn được quân nước Vệ, là vì Vệ Hoàn công chưa biết cái tội thái thúc Đoạn định cướp nước Trịnh, nên mới đem quân giúp công tôn Hoạt để cứu quốc mẫu. Cứ như ý tôi thì chi bằng chúa công viết một bức thư cho Vệ Hoàn công, nói rõ sự tình đầu đuôi, Vệ Hoàn công tất rút quân về nước. Bấy giờ công tôn Hoạt thế cô, chẳng phải đánh cũng bắt được.
Trịnh Trang công khen phải, rồi sai người đưa thư cho Vệ Hoàn công. Vệ Hoàn công mở thư ra đọc:
“Ngộ Sinh hai lạy dâng thư lên Vệ hiền hầu điện hạ:
Nhà tôi gặp bước chẳng may, anh em ruột thịt tàn hại lẫn nhau, thật là xấu hổ với lân quốc lắm. Tuy nhiên tôi xử với em không có điều gì bất hữu, mà Đoạn cậy thế làm càn; vì nghĩ đến cơ nghiệp tiền nhân mà tôi phải đem quân trừ Đoạn. Mẹ tôi là Khương thị nuông chiều con mà nên họa, trong lòng chẳng an, tránh ra ở ấp Dĩnh, tôi hiện đã rước về phụng dưỡng.
Nay công tôn Hoạt không biết tội cha, trốn sang quý quốc. Hiền hầu không rõ sự tình, mới đem quân giúp nó. Tôi xét mình không có gì là đắc tội, xin hiền hầu nghĩ lại, chớ dung những đứa loạn tặc mà để cho hai nước đến nỗi thất hòa. Được vậy, thì nước tôi lấy làm may lắm”.
Vệ Hoàn công đọc xong, giật mình kinh sợ, nói:
- Thái thúc Đoạn bất nghĩa, gây nên tai vạ. Nay ta vì công tôn Hoạt mà cất quân, thật là giúp đứa loạn tặc.
Nói xong, liền sai sứ giả đi rút quân nước Vệ về. Sứ giả chưa kịp đến nơi, thì công tôn Hoạt đã đánh lấy đất Lẫm Diên của nước Trịnh rồi. Trịnh Trang công giận lắm, sai Cao Cừ Di đem quân đi đánh công tôn Hoạt. Bấy giờ quân Vệ đã rút về, công tôn Hoạt thế cô không thể địch nổi, lại bỏ đất Lẫm Diên chạy sang nước Vệ. Công tử Lã thừa thế đuổi theo công tôn Hoạt đến tận bờ cõi nước Vệ.
Vệ Hoàn công thấy vậy, họp các quan lại để thương nghị. Công tử là Chu Hu nói:
- Nước tràn vào thì đắp đập mà ngăn, giặc tràn vào thì đem quân mà đánh, còn bàn cãi cái gì!
Quan đại phu là Thạch Thác nói:
- Không nên! Không nên! Vì ta giúp công tôn Hoạt thì Trịnh mới kéo quân đến. Trước đây Trịnh Trang công đã có đưa thư sang nước ta, chi bằng ta cũng viết thư đáp lại mà xin lỗi thì tất nhiên nước Trịnh lại rút quân về.
Vệ Hoàn công nói:
- Nhà ngươi nói phải đó!
Nói xong, liền sai Thạch Thác viết thư đưa cho Trịnh Trang công.
Thư như sau:
“Hoàn này hai lạy dâng thư lên chức khanh sĩ của nhà vua là Trịnh hiền hầu điện hạ:
Tôi quá nghe lời công tôn Hoạt, ngỡ là hiền hầu giết em, giam mẹ, khiến cháu không có chỗ nương thân vậy mới cất quân giúp hắn.
Nay đọc thư của hiền hầu, mới biết tội ác của thái thúc Đoạn, nghĩ mà hối hận biết là dường nào; hiện đã rút quân về rồi. Nếu hiền hầu có lòng xét cho, thì tôi xin bắt công tôn Hoạt để đem nộp, hai nước từ nay lại giao hiếu như cũ”.
Trịnh Trang công xem xong, nói:
- Nay Vệ đã biết tội thì ta còn muốn gì nữa!
Khương thị nghe nói Trang công đem quân đánh Vệ, sợ công tôn Hoạt chết mất thì thái thúc Đoạn thành ra tuyệt tự, mới kêu van Trang công, xin nghĩ lại di thể của Vũ công thuở xưa, mà tha cho công tôn Hoạt.
Trịnh Trang công nể lời Khương thị, lại liệu sức công tôn Hoạt thế cô, cũng không làm gì được nữa, mới phúc thư cho Vệ Hoàn công, nói rằng: “Xin vâng lời rút quân về, cùng nhau hòa hiếu. Công tôn Hoạt dẫu có tội, nhưng em tôi chỉ sinh được có một mình nó, xin cứ cho ở bên quý quốc để giữ lấy việc cúng thờ em tôi”.
Phúc thư rồi, Trịnh Trang công truyền rút quân về, còn công tôn Hoạt thì ở nhờ bên nước Vệ.
Lại nói chuyện vua Bình vương nhà Chu, lâu ngày không thấy Trịnh Trang công đến, nhân có Quắc công Kỵ Phủ vào triều, Bình vương hỏi chuyện, lấy làm hợp ý lắm, mới bảo Quắc công Kỵ Phủ rằng:
- Cha con Trịnh hầu xưa nay nối đời coi giữ quốc chính, bây giờ lâu ngày không thấy vào triều, trẫm muốn cho khanh hãy quyền giữ quốc chính, khanh không nên từ chối.
Quắc công Kỵ Phủ nói:
- Trịnh hầu lâu ngày không vào triều, tất là trong nước có biến. Nếu nhà vua cho kẻ hạ thần thay quyền, thì Trịnh hầu chẳng những oán kẻ hạ thần mà lại oán cả đến nhà vua nữa; kẻ hạ thần không dám phụng mệnh.
Nói xong, cố ý xin cáo từ về nước. Trịnh Trang công dẫu về nước, nhưng vẫn cho người ở chốn kinh sư để nghe ngóng công việc trong triều, hễ có sự lạ thì truyền báo cho mình biết.
Bấy giờ Bình vương muốn giao quốc chính cho Quắc công Kỵ Phủ, làm sao Trịnh Trang công lại chẳng biết!
Trịnh Trang công nghe được tin ấy, tức khắc vào triều Bình vương, quỳ xuống tâu rằng:
- Kẻ hạ thần đội ơn nhà vua, cha con nối nhau cùng coi giữ quốc chính. Nay xét mình không có tài cán gì, lấy làm thẹn lắm, xin từ chức khanh sĩ, trở về nước Trịnh.
Bình vương nói:
- Lâu nay khanh không vào triều, lòng trẫm xiết bao trông đợi, nay thấy khanh đến, khác nào như cá gặp nước, sao khanh lại nói như vậy?
Trịnh Trang công nói:
- Kẻ hạ thần gặp chuyện biến trong nước, lâu ngày bê trễ công vụ. Nay trong nước đã yên, vội vàng vào triều, trong khi đi đường, có nghe thấy người ta đồn rằng nhà vua muốn giao quốc chính cho Quắc công Kỵ Phủ. Kẻ hạ thần nghĩ mình tài kém Quắc công Kỵ Phủ nhiều lắm, có đâu dám giữ lấy chức vị để đắc tội với nhà vua.
Bình vương thấy Trịnh Trang công nói đến việc Quắc công Kỵ Phủ, thẹn đỏ mặt lên, nói gượng rằng:
- Trẫm cũng biết là nhà ngươi tất có việc biến trong nước, nên lâu ngày không vào triều, trẫm đã toan giao cho Quắc công Kỵ Phủ quyền giữ quốc chính ít lâu để đợi khanh đến, nhưng Quắc công Kỵ Phủ cố ý từ chối mãi, trẫm đã cho về nước rồi, khanh còn nghi ngại điều gì nữa?
Trịnh Trang công nói:
- Quốc chính của nhà vua, có phải là việc riêng của kẻ hạ thần đâu, thế thì cái quyền dùng người, nhà vua tự nắm lấy. Nay cái tài của Quắc công Kỵ Phủ có thể giúp được quốc chính, vậy nên kẻ hạ thần xin từ chức là phải, nếu không thì các quan trong triều tất cho là kẻ hạ thần tham giữ quyền thế mà không biết đường tiến thoái, xin nhà vua xét lại cho.
Bình vương nói:
- Cha con khanh có công lớn với nước, vậy nên trẫm giao quốc chính cho, đã hơn bốn chục năm nay, vua tôi cùng tâm đầu ý hợp. Nay khanh có lòng nghi trẫm, trẫm biết lấy gì mà giải tỏ ra được, hay là trẫm cho thái tử Hồ sang ở bên nước Trịnh để làm con tin.
Trịnh Trang công nói:
- Nhậm chức hay là từ chức, đó là cái phận của kẻ làm tôi, có lẽ nào thiên tử lại phải cho con đến để làm tin, kẻ hạ thần e rằng như vậy thì thiên hạ tất cho là kẻ hạ thần có ý yêu sách nhà vua, cái tội ấy kẻ hạ thần để đâu cho hết!
Bình vương nói:
- Không phải thế, khanh trị nước rất có phép tắc, trẫm muốn cho thái tử Hồ sang nước Trịnh xem xét chính sự, phong tục và nhân tiện để khỏi có những điều hiềm nghi, nếu khanh cố từ mãi thì là cố buộc lỗi cho trẫm vậy.
Trịnh Trang công hai ba lần không dám nhận. Các quan trong triều tâu rằng:
- Nhà vua không gửi con làm tin thì không cởi được cái lòng nghi ngờ của Trịnh hầu, mà một mình nhà vua gửi con làm tin thì khiến cho Trịnh hầu trái đạo thần tử, chi bằng vua tôi cùng gửi con làm tin thì hai bên cùng bỏ hết lòng nghi ngờ mà giữ trọn được đường ân nghĩa.
Bình vương nói:
- Như thế thì phải lắm!
Trịnh Trang công mới sai thế tử Hốt vào ở nhà Chu để làm con tin, còn thái tử Hồ nhà Chu thì sang ở nước Trịnh. Vua Bình vương băng hà, Trịnh Trang công cùng với Chu công Hắc Kiên cùng giữ quốc chính, sai thế tử Hốt về nước Trịnh, để đón thái tử Hồ vào làm vua nhà Chu.
Thái tử Hồ nghe tin cha chết, ngậm ngùi thương xót, vì khi cha ốm, chưa được hầu hạ thuốc thang, không ngờ nghĩ quá thành bệnh, khi về đến nhà Chu thì mất. Con là Lâm nối ngôi, tức là Hoàn vương. Các nước đều đến viếng tang và yết kiến thiên tử mới.
Quắc công Kỵ Phủ đến trước, cử chỉ rất hợp lễ phép, ai trông thấy cũng có lòng mến yêu.
Hoàn vương thương cha vì cớ sang ở làm con tin bên nước Trịnh mà đến nỗi chết; lại trông thấy Trịnh Trang công chuyên quyền, trong lòng ngờ vực, mới bàn riêng với Chu công Hắc Kiên rằng:
- Trịnh hầu bắt nhà Chu phải gửi con làm tin ở bên nước Trịnh, tất là có ý khinh trẫm, trong tình vua tôi, sợ không yên được. Nay Quắc công Kỵ Phủ là người biết giữ lễ phép, trẫm muốn giao quốc chính cho, nhà ngươi nghĩ thế nào?
Chu công Hắc Kiên nói:
- Trịnh hầu vốn là người tàn nhẫn, không phải bề tôi trung thuận, ngặt vì khi nhà Chu ta thiên sang Lạc ấp thì nước Tần và nước Trịnh quả có công to. Nay nhà vua mới lên ngôi, đã vội đòi lại quốc chính mà giao cho người khác, thì e rằng Trịnh hầu đem lòng căm tức, thế tất làm điều vượt phép, nhà vua cũng nên nghĩ kỹ.
Hoàn vương nói:
- Trẫm không thể ngồi mà chịu hắn ức chế được. Ý trẫm đã quyết rồi.
Ngày hôm sau, Hoàn vương ra triều, bảo Trịnh Trang công rằng:
- Nhà ngươi là cựu thần của tiên vương ngày xưa, trẫm không dám ép khanh ở trong ban thần thuộc, xin để khanh được tự ý xếp đặt.
Trịnh Trang công nói:
- Kẻ hạ thần vẫn muốn từ chức đã lâu, nay xin bái từ ngay.
Nói xong lạy tạ rồi hầm hầm bước ra, bảo mọi người rằng:
- Thằng bé con này tệ bạc, không thể giúp được!
Ngay hôm ấy, Trịnh Trang công trở về nước. Thế tử Hốt đem các quan ra bờ cõi để nghênh tiếp, hỏi vì cớ gì mà về. Trang công kể chuyện Hoàn vương không dùng. Mọi người đều có ý bất bình.
Quan đại phu là Cao Cừ Di nói:
- Nước Trịnh ta mấy đời giúp nhà Chu, công lao rất lớn, huống chi thái tử Hồ khi trước ở nước Trịnh, chúng ta chưa hề có điều gì thất lễ, nay bỏ chúa công ta mà dùng Quắc công Kỵ Phủ thì thật là một điều đại bất nghĩa. Sao chúa công không cất quân đánh nhà Chu, bỏ Hoàn vương đi mà lập vua khác? Như thế thì chư hầu phải sợ nước Trịnh, có thể làm nên nghiệp bá đó!
Dĩnh Khảo Thúc nói:
- Không nên! Đạo vua tôi cũng giống như tình mẹ con. Chúa công đã không nỡ đem lòng thù mẹ, sao lại nỡ đem lòng thù vua, xin chúa công cứ ẩn nhẫn ít lâu, rồi lại vào triều, vua nhà Chu tất có lòng hối. Chúa công chớ nóng nẩy trong một lúc mà làm uổng mất danh tiết của tiên công ta thuở xưa.
Sái Túc nói:
- Cứ như ý kiến hẹp hòi của tôi, thì lời nói của hai đại phu đều nên dùng cả. Tôi xin đem một đạo quân vào bờ cõi nhà Chu, giả cách nói vì mất mùa, phải vào mượn lương ở Ôn ấp và Lạc ấp. Nếu vua nhà Chu sai người trách phạt thì ta nhân lấy cớ mà sinh sự; nhược bằng vua nhà Chu chịu nhịn, không nói gì cả, thì bấy giờ chúa công sẽ vào triều, cũng chưa lấy gì làm chậm.
Trịnh Trang công nghe lời, mới sai Sái Túc đem quân đi. Sái Túc đi đến Ôn ấp, nói vì Trịnh mất mùa, muốn vay thóc của Ôn đại phu. Ôn đại phu chối là chưa phụng mệnh vua nhà Chu nên không dám cho vay.
Sái Túc nói:
- Hiện nay lúa mạch đang chín, nếu không cho vay thì ta cứ việc lấy.
Nói xong, liền sai quân sĩ mang liềm xuống ruộng, có bao nhiêu lúa cắt hết rồi xếp đầy xe tải về. Ôn đại phu vốn biết quân Trịnh hùng cường, không dám chống cự. Sái Túc đóng quân ở đấy hơn ba tháng, lại kéo sang địa phận nhà Chu, trông thấy lúa gạo ở các ruộng cũng đều chín cả, bèn mật sai quân sĩ giả dạng làm người đi buôn, phục sẵn ở các làng, rồi canh ba đêm hôm ấy kéo ra cắt hết lúa. Khi quân trong thành biết thì quân nước Trịnh đã đi xa rồi. Quan trấn thủ ở hai địa phương ấy đều sai người đem thư tới Lạc ấp để tâu với vua Hoàn vương nhà Chu.
Hoàn vương giận lắm, toan cất quân đi đánh. Chu công Hắc Kiên tâu rằng:
- Sái Túc lấy trộm lúa, chẳng qua là một việc nhỏ; Trịnh hầu chưa chắc đã biết việc này; nhà vua chớ nên vì việc ấy mà bỏ mất tình thân của nước Trịnh. Nếu Trịnh hầu biết việc này tất phải đến xin lỗi để giữ tình hòa hiếu.
Hoàn vương nghe lời, mới truyền cho các nơi bờ cõi, phải canh giữ cho nghiêm mật, còn việc lấy trộm lúa thì bỏ đi, thôi không nói đến nữa. Trịnh Trang công thấy vua nhà Chu không trách phạt gì cả, cũng có ý hối, mới thương nghị định vào triều vua nhà Chu. Trịnh Trang công vừa toan khởi hành thì Tề Hi công cho sứ đến mời Trịnh Trang công sang hội ở đất Thạch Môn. Trịnh Trang công cũng muốn kết thân với nước Tề, lại sang phó hội.
Khi sang đến nơi thì Trịnh Trang công cùng với Tề Hi công mở hội ăn thề, kết làm anh em, có sự gì thì hai nước phải giúp đỡ lẫn nhau. Tề Hi công lại hỏi đến chuyện thế tử Hốt đã lấy vợ chưa, Trịnh Trang công đáp chưa.
Tề Hi công nói:
- Tôi có đứa con gái, chưa đến tuổi cài trâm nhưng cũng có phần thông tuệ, nếu thế tử hạ cố thì xin hứa lời trước.
Trịnh Trang công lĩnh lời cảm tạ rồi cáo từ trở về. Khi về đến nhà, Trang công nói chuyện lại với thế tử Hốt. Thế tử Hốt nói:
- Lấy vợ nên tìm chỗ bằng đôi phải lứa; nay Trịnh là nước nhỏ, Tề là nước lớn, khác nhau nhiều lắm, con không muốn trông xa với cao làm gì.
Trang công nói:
- Việc kết hôn là tự ý họ; nếu mình cầu thân với nước Tề thì cũng có nhiều việc có thể trông cậy được, sao con lại từ chối?
Thế tử Hốt nói:
- Kẻ trượng phu ở đời, nên có chí tự lập, không nên chỉ mong trông cậy về đường hôn nhân.
Trang công khen là người có chí, cũng không cố ép. Sau có sứ nước Tề đến, nghe nói thế tử Hốt không thuận việc kết hôn, mới về nói với Tề Hi công.
Tề Hi công nói:
- Thế tử nước Trịnh thật là người khiêm nhượng lắm đấy! Con gái ta cũng hãy còn nhỏ tuổi, âu là ngày khác sẽ bàn.
Một hôm, Trịnh Trang công cùng các quan bàn việc vào triều vua nhà Chu, bỗng có tin buồn của Vệ Hoàn công đưa đến. Trịnh Trang công mới biết công tử nước Vệ là Chu Hu giết Vệ Hoàn công.
Trịnh Trang công giẫm chân mà than rằng:
- Chẳng bao lâu nữa thì nước ta lại có việc binh đao.
Các quan nghe nói, đều hỏi rằng:
- Chẳng hay vì cớ gì mà chúa công lại đoán như vậy?
Trịnh Trang công nói:
- Chu Hu là một thằng hiếu chiến, nay hắn đã giết vua cướp ngôi thì tất phải thị hùng mà gây việc can qua. Vả lại nước Trịnh và nước Vệ vốn có nhiều hiềm khích với nhau thì thế nào hắn cũng đánh Trịnh trước, ta phải phòng bị mới được.
Chuyện Chu Hu nước Vệ giết vua, sự thể như thế nào? Nguyên Vệ Trang công lấy bà Trang Khương nước Tề, đẹp mà không có con, lại lấy nàng Lệ Vĩ nước Trần làm vợ thứ, cũng không có con. Em gái Lệ Vĩ là nàng Đái Vĩ theo chị sang hầu hạ Vệ Trang công, sinh được hai con trai là Hoàn và Tấn.
Trang Khương không có tính ghen ghét, mới nuôi Hoàn làm con mình, lại tiến cho Vệ Trang công một người cung nữ. Người cung nữ ấy được Vệ Trang công thương yêu, sinh con là Chu Hu.
Chu Hu tính hung tợn, thích việc chiến tranh. Vệ Trang công quá yêu Chu Hu, hắn muốn làm gì cũng chiều. Quan đại phu là Thạch Thác thường can Vệ Trang công rằng:
- Người ta yêu con, nên dạy lấy nghĩa lý, chớ để cho tập nhiễm những tính nết xấu, vì yêu quá thì nó thường hay cậy thế làm càn. Nếu chúa công muốn truyền ngôi cho Chu Hu thì nên lập ngay làm thế tử, bằng không thì phải đè nén đi mới được, chớ để sinh tai vạ về sau.
Vệ Trang công không nghe.
Con Thạch Thác là Thạch Hậu vẫn kết bạn với Chu Hu; thường đem nhau đi săn và nhũng nhiễu dân chúng. Thạch Thác giận lắm, đánh Thạch Hậu năm mươi roi, rồi đem giam vào buồng kín, không cho đi đâu cả. Thạch Hậu trèo tường trốn ra, đến ở lỳ nhà Chu Hu, cùng với Chu Hu ăn một mâm, nằm một chiếu, không về với Thạch Thác nữa. Thạch Thác cũng không biết làm thế nào được.
Sau Vệ Trang công mất, công tử Hoàn nối ngôi, tức là Vệ Hoàn công. Vệ Hoàn công tính khí nhu nhược, Thạch Thác biết là không làm gì được, mới cáo lão về ở nhà, không đến dự quốc chính nữa. Chu Hu lại càng không kiêng nể gì nữa, ngày đêm cùng với Thạch Hậu bàn việc cướp ngôi. Bấy giờ vừa có tin thiên tử nhà Chu là Bình vương thăng hà, vua Hoàn vương lên nối ngôi, Vệ Hoàn công muốn vào triều vua nhà Chu.
Thạch Hậu bảo Chu Hu rằng:
- May cho ta lắm, việc lớn ắt xong! Sáng mai chúa công vào triều vua nhà Chu, công tử nên làm một tiệc tiễn ở ngoài cửa Tây, rồi phục sẵn giáp sĩ ở đấy, trong khi ăn tiệc rút gươm ra mà đâm chết; đứa nào dám chống cự không theo, tức khắc chém cả; như vậy thì chỉ trong một lúc mà cướp được ngôi chư hầu.
Chu Hu mừng lắm, sai Thạch Hậu mang năm trăm tráng sĩ ra phục sẵn ở ngoài cửa Tây. Chu Hu bày tiệc rượu ở nơi công quán, rồi ra mời Vệ Hoàn công vào.
Chu Hu khúm núm dâng chén rượu nói:
- Nay huynh hầu đi xa, em xin có chén rượu tiễn chân.
Vệ Hoàn công nói:
- Hiền đệ khéo quá nghĩ! Ta đi chẳng qua chỉ hơn một tháng lại về, hiền đệ ở nhà coi giữ quốc chính, nên phải cẩn thận mới được.
Chu Hu nói:
- Xin huynh hầu cứ yên tâm.
Uống được vài tuần rượu, Chu Hu đứng dậy rót một chén thật đầy, dâng Vệ Hoàn công. Vệ Hoàn công uống một hơi cạn chén, rồi lại rót một chén thật đầy đưa lại Chu Hu. Chu Hu đứng dậy đỡ lấy, giả cách lỡ tay, đánh rơi chén xuống đất, vội vàng nhặt lên rồi đem ra ngoài rửa.
Vệ Hoàn công không biết là mưu của Chu Hu, truyền đem chén đến để rót lại, vừa toan đưa cho Chu Hu uống thì Chu Hu thừa cơ bước rảo đến sau lưng Vệ Hoàn công, rút dao găm ra, đâm thẳng một nhát xuyên lưng sang bụng. Vệ Hoàn công chết ngay lập tức. Các quan vốn biết Chu Hu sức khỏe hơn người, lại thấy có Thạch Hậu đem năm trăm quân giáp sĩ đến vây nhà công quán, biết là không chống lại nổi đành phải hàng phục tất cả và phao tin là Vệ Hoàn công ngộ cảm mà chết.
Chu Hu lên nối ngôi, cho Thạch Hậu làm thượng đại phu. Em Vệ Hoàn công là Tấn phải trốn sang nước Hình. Chu Hu lên ngôi được ba ngày, nghe thấy người ngoài huyên truyền nhau về việc mình giết anh, mới đòi quan thượng đại phu là Thạch Hậu vào để thương nghị và hỏi Thạch Hậu rằng:
- Ta muốn ra oai với các nước láng giềng để cho dân trong nước phải sợ, nhà ngươi bảo trước hết nên đánh nước nào?
Thạch Hậu nói:
- Các nước láng giềng đều không có hiềm khích gì với ta cả, chỉ duy có nước Trịnh nhân việc loạn công tôn Hoạt, đã đem quân sang đánh nước ta; tiên công ta ngày xưa chịu nhũn xin hòa, đó là một điều sỉ nhục cho ta. Nếu chúa công muốn ra binh, tôi thiết tưởng nên đánh nước Trịnh trước.
Chu Hu nói:
- Mới rồi nước Trịnh cùng với nước Tề ăn thề ở đất Thạch Môn để cùng kết thân với nhau, nếu ta đánh Trịnh, Tề tất đem quân sang cứu thì một nước Vệ này địch thế nào được?
Thạch Hậu nói:
- Ngày nay, nước khác họ với ta, chỉ có Tống là hơn cả; nước cùng họ với ta, chỉ có Lỗ là hơn cả. Chúa công muốn đánh Trịnh thì nên sai người sang cầu viện nước Tống và nước Lỗ, lại hợp với quân nước Trần, nước Sái, cả năm nước cùng hợp sức với nhau thì lo gì không thành công.
Chu Hu nói:
- Trần, Sái là nước nhỏ, vốn thần phục thiên tử nhà Chu. Mới rồi nước Trịnh cùng với vua nhà Chu có hiềm khích, tất nước Trần, nước Sái cũng biết. Bây giờ ta bảo đi đánh nước Trịnh thì Trần, Sái tất theo ngay, chỉ có Tống, Lỗ là hai nước lớn, ta không thể cưỡng ép được.
Thạch Hậu nói:
- Chúa công biết một, nhưng chưa biết hai: ngày xưa Tống Mục công lên nối ngôi anh là Tống Tuyên công; đến lúc Tống Mục công chết, nghĩ đến cái ơn của anh, lại bỏ con mình là công tử Phùng mà lập con người anh là Dữ Di. Bởi vậy công tử Phùng oán cha mẹ, ghét Dữ Di, bỏ trốn sang nước Trịnh. Nước Trịnh dung túng công tử Phùng, toan giúp quân cho về đánh Tống để cướp ngôi của Dữ Di; nay chúa công bảo sang đánh Trịnh thì Tống tất bằng lòng. Còn như nước Lỗ thì quốc chính đều ở tay công tử Huy cả. Công tử Huy giữ hết binh quyền, không coi vua nước Lỗ ra gì. Nếu chúa công sai người đem vàng bạc khấn lễ công tử Huy thì nước Lỗ tất phải đem quân đi đánh Trịnh.
Chu Hu mừng lắm, tức khắc sai người sang Lỗ, Trần và Sái; chỉ có sang nước Tống thì chưa chọn được người đi. Thạch Hậu xin cử một người họ Ninh, tên Dực, là người ở đất Trung Mâu. Người ấy có tài du thuyết, dùng sang sứ nước Tống được.
Chu Hu nghe lời, sai Ninh Dực sang mượn quân nước Tống. Tống Thương công hỏi rằng:
- Vì cớ gì mà lại sang đánh Trịnh?
Ninh Dực nói:
- Trịnh Trang công vô đạo, giết em giam mẹ, cháu là công tôn Hoạt phải trốn sang nước tôi. Trịnh lại đem quân đến đánh. Tiên công tôi ngày xưa, sợ thế nước Trịnh mạnh, mới phải nhường nhịn cầu hòa. Nay chúa công tôi định đem quân sang đánh báo thù, thiết nghĩ quý quốc đây cũng là một nước có thù với nước Trịnh, vậy mới sai tôi sang đây để cầu viện.
Tống Thương công nói:
- Ta cùng Trịnh, vốn không hiềm khích gì, sao nhà ngươi lại bảo là có thù?
Ninh Dực nói:
- Chúa công đuổi hết người xung quanh đi, tôi xin nói rõ.
Tống Thương công bèn đuổi hết tả hữu đi, rồi ghé lại hỏi Ninh Dực rằng:
- Nhà ngươi nói đi.
Ninh Dực nói:
- Ai truyền ngôi lại cho chúa công, chúa công có biết không?
Tống Thương công nói:
- Anh ta là Tống Mục công.
Ninh Dực nói:
- Cha chết thì con nối là lẽ thường xưa đến nay. Tống Mục công dẫu có bụng tốt mà truyền ngôi cho chúa công, nhưng tôi e rằng công tử Phùng mất ngôi phải sang ở nước Trịnh, chắc lòng cũng chưa quên được nước Tống. Công tử Phùng đã cố kết với nước Trịnh như vậy, một mai Trịnh cất quân giúp công tử Phùng về đánh Tống; người trong nước tất nhớ ơn Tống Mục công thuở xưa, lại nhớ đến người con Mục công là công tử Phùng; trong ngoài sinh biến thì chúa công nguy lắm. Ngày nay dẫu gọi là đánh Trịnh, nhưng kỳ thực là trừ bỏ cái vạ tâm phúc của chúa công. Chúa công nên chủ trương việc này, nước Vệ tôi cũng xin cất quân cùng với Lỗ, Trần và Sái ra sức giúp quý quốc thì nước Trịnh tất phải thua.
Tống Thương công trong lòng vẫn gườm công tử Phùng, nghe mấy câu ấy thấy hợp ý mình, mới thuận đem quân đi đánh Trịnh. Quan đại tư mã là Khổng Phủ Gia can rằng:
- Chúa công không nên nghe lời sứ nước Vệ. Nếu bảo Trịnh hầu giết em giam mẹ là có tội, thì Chu Hu giết anh cướp ngôi, không có tội hay sao, xin chúa công nghĩ lại.
Tống Thương công đã trót hứa với Ninh Dực rồi, không muốn nghe lời Khổng Phủ Gia nữa, tức khắc cất quân đi đánh Trịnh. Công tử Huy nước Lỗ ăn lễ của nước Vệ, không theo ý Lỗ Ẩn công, cũng tự tiện cất quân sang hội với quân Vệ. Nước Trần và nước Sái cũng đúng hẹn kéo quân đến cả. Năm nước hội thề với nhau, tôn Tống Thương công làm minh chủ, cử Thạch Hậu làm tiên phong, còn Chu Hu đi sau để tiếp ứng. Năm nước cùng kéo quân đến vây cửa đông nước Trịnh. Trịnh Trang công họp các quan lại để thương nghị. Các quan mỗi người bàn một cách: người thì nói nên đánh, người thì nên hòa, rối rít cả lên.
Trịnh Trang công vừa cười vừa nói:
- Ta nghe lời bàn của các quan, chưa thấy được kế gì hay cả. Nay Chu Hu mới nổi loạn cướp ngôi, dân chúng chưa quy phục, vậy nên nhân oán cũ, mượn quân bốn nước sang đánh nước ta, là định ra oai khiến cho nhân dân nước Vệ phải sợ mà thôi. Công tử Huy nước Lỗ tham lễ của nước Vệ, mà cất quân đi cũng không do ý Lỗ Ẩn công. Trần, Sái cùng Trịnh không thù oán gì, tất là không có lòng muốn đánh. Chỉ có nước Tống thấy công tử Phùng ở nước Trịnh ta, mới đem lòng ghét giận, thực bụng giúp nước Vệ. Nay ta đưa công tử Phùng ra đất Trường Cát thì Tống tất kéo quân ra đấy; bấy giờ ta lại sai công tử Lã đem quân ra cửa đông đánh nhau với nước Vệ, rồi giả cách thua chạy, khiến cho Chu Hu được tiếng thắng trận, đắc chí mà kéo quân về, vì trong nước chưa yên, chắc hẳn không dám ở lại. Ta nghe nói quan đại phu nước Vệ tên gọi Thạch Thác là người trung thần, chẳng bao lâu nước Vệ tất có nội biến. Chu Hu giữ mình không nổi, còn hại ta thế nào được!
Nói xong, liền sai quan đại phu là Hà Thúc Doanh đem một đạo quân đưa công tử Phùng ra ở đất Trường Cát, Trịnh Trang công lại sai người sang nói với Tống Thương công rằng:
- Công tử Phùng sang nước tôi, nước tôi không nỡ giết, nay đã đem an trí ở đất Trường Cát, xin chúa công tự xử lấy.
Tống Thương công quả nhiên đem quân ra vây đất Trường Cát. Trần, Sái và Lỗ thay Tống đem quân đi chỗ khác, cũng đều có ý muốn rút quân về, nên thấy công tử Lã đem quân ra cửa đông đánh nhau với quân nước Vệ cũng mặc không ra tiếp ứng. Thạch Hậu đánh nhau với công tử Lã mới được vài hợp, công tử Lã giả cách thua chạy, Thạch Hậu thúc quân đuổi theo.
Công tử Lã vào trong thành, đóng chặt cửa lại. Thạch Hậu cho quân gặt hết các ruộng lúa ở ngoài cửa thành, rồi hạ lệnh rút quân về nước.
Chu Hu hỏi Thạch Hậu rằng:
- Quân ta chưa được đại thắng, cớ sao đã rút về?
Thạch Hậu đuổi hết người xung quanh ra, rồi nói riêng với Chu Hu vì cớ gì nên rút quân về. Chu Hu bằng lòng lắm.
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ SÁU
 
Vệ Thạch Thác vì nghĩa giết vua
Trịnh Trang công giả mệnh đánh Tống
 
Thạch Hậu mới đánh được Trịnh có một trận, đã hạ lệnh rút quân về, các tướng không hiểu ý, đều vào hỏi Chu Hu
- Quân ta khí thế đang hăng hái, đáng lẽ phải thừa thắng tiến đánh, cớ sao lại vội rút quân trở về?
Chu Hu cũng có ý nghi ngờ, mới gọi Thạch Hậu vào hỏi. Thạch Hậu xin đuổi hết người xung quanh rồi nói với Chu Hu rằng:
- Quân Trịnh vốn hùng cường, nay ta được một trận cũng đủ làm oai rồi. Chúa công mới lên nối ngôi, tình thế trong nước chưa được yên ổn, nếu ở ngoài mãi thì sợ có nội biến.
Chu Hu nói:
- Nếu nhà ngươi không nói, thì thực ta chưa nghĩ đến điều ấy.
Được một lúc, Trần, Sái và Lỗ cùng đến chúc mừng thắng trận, và đều xin rút quân về nước. Rồi đó, các nước đều giải tán mà về. Kể từ khi vây thành đến khi giải vây, vỏn vẹn mới được có năm ngày. Thạch Hậu cậy công, có ý tự đắc, cùng với Chu Hu thu quân trở về.
Chu Hu nói:
- Người trong nước còn có ý không phục thì biết làm thế nào?
Thạch Hậu nói:
- Phụ thân tôi là Thạch Thác, khi trước làm quan thượng khanh, người trong nước ai cũng tin phục, nếu chúa công đòi vào triều, để cùng coi chính sự trong nước thì ngôi cao của chúa công chắc được yên ổn.
Chu Hu liền sai người đem một đôi ngọc bích trắng, năm trăm hộc gạo trắng đến vấn an Thạch Thác, rồi mời Thạch Thác vào triều để bàn việc.
Thạch Thác mượn cớ ốm nặng, cố từ không chịu vào. Chu Hu lại hỏi Thạch Hậu rằng:
- Phụ thân nhà ngươi đã không chịu vào triều, ta muốn đến tận nơi mà hỏi, phỏng có nên không?
Thạch Hậu nói:
- Chúa công đến thì vị tất phụ thân tôi đã chịu tiếp kiến, để tôi phụng mệnh chúa công về xem sao cái đã.
Nói xong, liền về nhà kể những tình ý kính mến của Chu Hu cho Thạch Thác nghe.
Thạch Thác nói:
- Chúa công đòi ta, có ý muốn hỏi việc gì?
Thạch Hậu nói:
- Nay chúa công mới lên ngôi, lòng dân chưa chịu phục, vậy muốn nhờ phụ thân chỉ bảo giúp.
Thạch Thác nói:
- Chư hầu lên ngôi, có bẩm mệnh vua nhà Chu, mới là chính đáng. Nếu chúa công vào triều vua nhà Chu, được vua nhà Chu phong cho thì người trong nước ai còn dám nói gì nữa?
Thạch Hậu nói:
- Phụ thân dạy rất phải, nhưng chúa công tự nhiên vào triều thì tất vua nhà Chu sinh nghi, phải có một người đi nói trước với vua nhà Chu thì việc mới xong.
Thạch Thác nói:
- Nay Trần Hoàn công là người trung thành với vua nhà Chu, các lễ triều sính không bỏ thiếu bao giờ, vua nhà Chu rất có lòng yêu mến. Nước ta cùng với nước Trần vốn giao hiếu với nhau, mới rồi ta lại mượn quân Trần sang đánh nước Trịnh thì tình nghĩa càng thân mật lắm. Nếu chúa công thân hành đến nước Trần, nhờ Trần Hoàn công nói trước với vua nhà Chu, rồi sẽ vào triều sau thì khó gì mà chẳng nên việc.
Thạch Hậu đem lời của Thạch Thác thuật lại cho Chu Hu nghe. Chu Hu mừng lắm, mới sắp sửa lễ vật cùng với Thạch Hậu đi sang nước Trần. Thạch Thác cùng với quan đại phu nước Trần là Tử Hàm là bạn thân với nhau. Thạch Thác bèn chích máu đầu ngón tay viết một bức mật thư, sai người tâm phúc đưa cho Tử Hàm, nhờ Tử Hàm đệ trình Trần Hoàn công.
Thư như sau:
“Thạch Thác cúi đầu trăm lạy kính dâng thư lên Trần hiền hầu điện hạ:
Nước Vệ nhỏ hẹp, mà trời giáng tai ương, đến nỗi sinh ra cái vạ thí nghịch. Đó dẫu là cái tội của Chu Hu, nhưng thực ra cũng vì thằng con hư của tôi là Thạch Hậu tham quyền mà giúp đứa vô đạo.
Ngày nào mà hai đứa nghịch tặc kia chưa chết thì tất lắm kẻ loạn thần tặc tử noi cái gương xấu ấy; tôi nay tuổi già, sức yếu không trừng trị nổi bọn chúng, thật là đắc tội với tiên công lắm.
Bây giờ hai đứa loạn tặc ấy dắt nhau sang quý quốc, cũng là do mưu của tôi bày ra. Vậy xin chúa công bắt chúng đem trị tội, để làm gương cho những kẻ thần tử mai sau, thật là một việc may chung cho cả thiên hạ, chẳng phải may riêng cho nước tôi mà thôi”.
Trần Hoàn công xem xong, hỏi Tử Hàm rằng:
- Nhà ngươi nghĩ thế nào?
Tử Hàm nói:
- Đứa loạn tặc của nước Vệ, tức là đứa loạn tặc của nước Trần, bây giờ chúng nó dắt nhau sang nước ta là chúng nó tự đem thân đến chỗ chết, chúa công chớ nên dung túng cho chúng nó.
Trần Hoàn công khen phải, mới lập kế sẵn để bắt Chu Hu. Chu Hu cùng Thạch Hậu đến nước Trần, vẫn không biết cái mưu của Thạch Thác, cứ một vua một tôi, ngang nhiên đi vào.
Trần Hoàn công cho công tử Đà ra nghênh tiếp, mời vào nghỉ nơi công quán, rồi thay Trần Hoàn công hẹn với Chu Hu đến ngày hôm sau thì tiếp kiến ở nhà thái miếu, Chu Hu thấy Trần Hoàn công tiếp đãi ân cần, thì vui mừng khôn xiết.
Sáng hôm sau, Thạch Hậu đến cửa nhà thái miếu trông thấy có cái biển trắng đề một câu rằng: “Kẻ nào làm tôi bất trung, làm con bất hiếu thì không được vào miếu”. Thạch Hậu sợ lắm, hỏi Tử Hàm rằng:
- Đề cái biển này là có ý gì?
Tử Hàm nói:
- Đó là lời di huấn của tiên công tôi ngày xưa, vậy nên chúa công tôi không dám quên.
Thạch Hậu không nghi ngại nữa. Được một lúc Chu Hu đến. Thạch Hậu đưa Chu Hu vào miếu. Chu Hu đang khúm núm sắp sửa thi lễ, bỗng thấy Tử Hàm đứng ở bên cạnh Trần Hoàn công quát to lên rằng:
- Ta phụng mệnh vua nhà Chu chỉ bắt hai đứa loạn tặc là Chu Hu và Thạch Hậu, còn đồ đảng thì tha tất cả.
Nói chưa dứt lời thì có quân giáp sĩ phục ở hai bên đổ ra bắt Chu Hu. Thạch Hậu đang luống cuống chưa kịp rút gươm, cũng bị quân giáp sĩ trói lại.
Tử Hàm đem bức thư của Thạch Thác tuyên đọc một lượt, mọi người chung quanh mới biết rõ là Chu Hu và Thạch Hậu bị bắt đều bởi mưu của Thạch Thác mượn tay nước Trần, ai cũng cho là phải lắm. Trần Hoàn công toan đem Chu Hu và Thạch Hậu ra chém.
Các quan đều can rằng:
- Thạch Hậu là con Thạch Thác, chưa biết ý Thạch Thác thế nào, chi bằng ta báo tin cho nước Vệ sang nghị tội, thì sau không trách vào đâu được nữa.
Trần Hoàn công nói:
- Các quan nói phải đó!
Nói xong, truyền đem giam Chu Hu và Thạch Hậu mỗi người một nơi; Chu Hu thì giam ở ấp Bộc còn Thạch Hậu thì giam ở Trần Đô khiến cho hai bên không thông được tin tức với nhau, rồi sai người đem thư sang báo tin cho Thạch Thác biết.
Thạch Thác từ khi cáo quan về, không đi đến đâu cả, thấy Trần Hoàn công cho người đem thư đến, tức khắc vào triều họp cả các quan lại, rồi mở thư Trần Hoàn công ra xem, mới biết Chu Hu và Thạch Hậu đã bị bắt tại nước Trần rồi, chỉ đợi nước Vệ cho người sang để nghị tội.
Các quan đều đồng thanh nói:
- Việc này là việc lớn của nước nhà, xin lão quan chủ trương cho mới được.
Thạch Thác nói:
- Hai đứa loạn tặc ấy không thể tha được, tất phải đem chém đầu. Ai là người đảm đương việc ấy?
Quan hữu tể tên là Xú đứng dậy nói:
- Những kẻ loạn tặc, ai cũng có phép được giết, tôi dẫu hèn mạt, cũng lấy làm tức, vậy xin nhận việc đi giết Chu Hu.
Các quan đều nói:
- Việc ấy giao cho hữu tể Xú được đấy! Nhưng thủ ác là Chu Hu đáng tội chết đã đành, còn Thạch Hậu là kẻ a tòng, cũng nên cho giảm nhẹ tội một chút.
Thạch Thác nổi giận, nói:
- Những tội ác của Chu Hu đều bởi thằng Thạch Hậu xui giục mà nên cả, nay các quan lại định cho nhẹ tội, chẳng hóa ra nghi ta có tư tình với con hay sao? Âu là để ta thân hành đi, tự tay chém thằng loạn tặc ấy, nếu không thì còn mặt mũi nào mà trông thấy nhà miếu của tiền nhân nữa.
Gia thần là Nhu Dương Kiên nói:
- Lão quan chớ nóng nẩy, tôi xin đi thay.
Thạch Thác liền sai hữu tể Xú sang ấp Bộc để chém Chu Hu, còn Nhu Dương Kiên thì sang Trần Đô để chém Thạch Hậu, rồi sắp sửa xe giá đi đón công tử Tấn ở nước Hình về. Hữu tể Xú cùng với Nhu Dương Kiên sang đến nước Trần, vào yết kiến Trần Hoàn công, tạ ơn đã trừ hộ bọn loạn tặc. Rồi hữu tể Xú đến ấp Bộc đem Chu Hu ra chém.
Chu Hu trông thấy hữu tể Xú, kêu to lên rằng:
- Mày là bề tôi ta, sao dám xâm phạm đến ta?
Hữu tể Xú nói:
- Nước Vệ ta ngày trước có người bề tôi mà dám giết vua, vậy nên ta tới đây để bắt chước.
Chu Hu nín lặng, cúi đầu chịu chết. Nhu Dương Kiên đến Trần Đô đem Thạch Hậu ra chém. Thạch Hậu nói:
- Chết thì ta cũng đành phận, nhưng hãy giải ta về cho ta được trông thấy mặt phụ thân ta đã, rồi sẽ đem chém!
Nhu Dương Kiên nói:
- Ta phụng mệnh phụ thân nhà ngươi đến đây để chém nhà ngươi. Nếu nhà ngươi muốn gặp mặt phụ thân, ta sẽ chém đầu nhà ngươi đem về, thì nhà ngươi cũng có thể thấy mặt phụ thân được.
Nói xong, liền tuốt gươm ra chém Thạch Hậu.
Công tử Tấn ở nước Hình về nước Vệ, đem việc giết Chu Hu vào cáo miếu Vệ Vũ công, lại phát tang để trở Vệ Hoàn công, rồi lên nối ngôi, tức là Vệ Tuyên công. Thạch Thác được tôn làm quốc lão, và được nối đời coi giữ quốc chính. Từ bấy giờ nước Trần và nước Vệ hai nước hòa mục với nhau.
Trịnh Trang công thấy các nước đã rút quân về, toan sai người đi dò la tin tức công tử Phùng ở đất Trường Cát xem sao. Bỗng công tử Phùng từ Trường Cát trốn về, vào yết kiến Trịnh Trang công, kể chuyện đất Trường Cát đã bị quân Tống chiếm mất, vậy nên phải trốn chạy về đây, xin được che chở.
Nói xong nức nở khóc. Trịnh Trang công an ủi một vài câu, rồi lại cấp lương cho ra ở nhà công quán.
Một hôm, Trịnh Trang công nghe tin Chu Hu bị giết, Vệ Tuyên công lên nối ngôi, liền họp các quan lại bàn. Trang công nói:
- Việc Chu Hu đánh nước ta, không can dự gì đến Vệ Tuyên công, chỉ có nước Tống là khi trước đứng đầu việc sang đánh Trịnh, ta nên tính việc báo thù. Chẳng hay các quan nghĩ thế nào?
Sái Túc nói:
- Ngày trước năm nước họp quân đánh Trịnh, bây giờ ta đánh Tống thì bốn nước kia tất nhiên sợ hãi mà phải đem quân giúp Tống. Thế là bất lợi cho ta. Bây giờ ta nên sai người đi giảng hòa với Trần, lại lấy điều lợi chung mà giao kết với Lỗ, nếu Trần và Lỗ đã hòa hảo với ta thì Tống thế cô, không làm gì nổi.
Trịnh Trang công nghe lời, liền sai người sang giảng hòa với nước Trần. Trần Hoàn công không chịu nhận
Công tử Đà can rằng:
- Thân thiện với các nước láng giềng là một điều ích lớn, bây giờ Trịnh đến giảng hòa, sao ta lại không nhận?
Trần Hoàn công nói:
- Trịnh Trang công là người mưu trá, không nên nhẹ dạ tin ngay, chẳng thế sao Tống và Vệ đều là nước lớn cả, thì Trịnh không đến giảng hòa, mà lại giảng hòa với nước ta trước, tất là có kế ly gián gì đây. Huống chi ngày trước ta đã theo Tống đánh Trịnh, bây giờ lại giảng hòa với Trịnh, thì Tống tất giận. Được lòng nước Trịnh lại mất lòng Tống, phỏng có ích gì!
Nói xong liền từ chối, không tiếp sứ nước Trịnh.
Trịnh Trang công giận lắm, nói:
- Trần chỉ cậy thế có Tống và Vệ. Nay Vệ vừa mới dẹp yên bọn phản loạn, giữ mình chưa xong, còn giúp ai được? Để ta giảng hòa với Lỗ, rồi họp quân Tề, Lỗ, trước báo thù nước Tống, sau đánh nước Trần, đó là cái thế dễ như chẻ tre vậy.
Sái Túc nói:
- Không phải thế! Nước ta mạnh mà nước Trần yếu, nay ta xin giảng hòa, Trần tất có bụng nghi, vậy nên không theo. Nếu ta cho quân sang cướp bờ cõi rồi lại sai người nào khéo nói đem sang giả lại cả, để tỏ bụng mình không có ý lừa dối, bấy giờ Trần tất phải giảng hòa. Giảng hòa với Trần rồi, ta sẽ bàn đến việc đánh Tống.
Trịnh Trang công khen phải, bèn sai năm trăm quân bộ giả dạng đi săn, lẻn vào bờ cõi nước Trần cướp được người và của cả thảy chừng trăm xe.
Trần Hoàn công nghe tin, có ý sợ hãi, mới họp các quan lại thương nghị.
Bỗng thấy quân báo có sứ nước Trịnh là Dĩnh Khảo Thúc đem giả những của bắt được và xin vào đệ trình thư của Trịnh Trang công.
Trần Hoàn công hỏi công tử Đà rằng:
- Nay Trịnh lại cho sứ đến là ý làm sao?
Công tử Đà nói:
- Đó là lòng tốt của người ta, mình không nên cố ý từ chối mãi.
Trần Hoàn công cho Dĩnh Khảo Thúc vào yết kiến. Dĩnh Khảo Thúc dâng bức thư của Trịnh Trang công lên. Trần Hoàn công mở ra xem, đại lược nói rằng:
“Ngộ Sinh lạy hai lạy dâng thư lên Trần hiền hầu điện hạ:
Tôi cùng với hiền hầu cùng làm bề tôi nhà Chu, đáng lẽ hai nước hòa hảo để cùng nhau làm tròn bổn phận kẻ chư hầu. Mới rồi tôi cho người sang giảng hòa, hiền hầu không nghe, bởi thế bọn quan lại ở biên cương nước tôi không biết, ngỡ là hai nước có hiềm khích gì, mới dám tự tiện xâm phạm đến bờ cõi quý quốc. Tôi nghe tin ấy thật lấy làm áy náy, ngủ không được yên, nay đem các đồ bắt được, nộp lại đủ số và cho Dĩnh Khảo Thúc sang tạ tội. Tôi nguyện cùng hiền hầu kết nghĩa anh em, xin hiền hầu bằng lòng cho”.
Trần Hoàn công xem xong, biết là nước Trịnh thành tâm muốn giảng hòa, mới tiếp đãi Dĩnh Khảo Thúc long trọng và cho công tử Đà sang đáp lễ. Từ bấy giờ Trần và Trịnh cùng hòa hiếu với nhau.
Trịnh Trang công mới hỏi Sái Túc rằng:
- Bây giờ Trần đã giảng hòa rồi, ta muốn đánh Tống thì thế nào?
Sái Túc nói:
- Tống là một nước lớn, vua nhà Chu cũng có ý trọng đãi, không nên đánh vội. Ngày trước chúa công đã định vào triều vua nhà Chu, chỉ vì có nước Tề mới sang hội ở đất Thạch Môn, lại gặp Chu Hu đem quân đến đánh, thành ra nấn ná mãi cho đến bây giờ. Âu là ngày nay chúa công vào triều vua nhà Chu, rồi mượn tiếng là phụng mệnh thiên tử, hợp quân Tề, Lỗ để sang đánh Tống thì được toàn thắng.
Trịnh Trang công mừng lắm, nói:
- Nhà ngươi mưu sự thật là vạn toàn!
Nói xong, liền giao cho thế tử Hốt coi giữ quốc chính, rồi cùng với Sái Túc vào triều vua Hoàn vương nhà Chu.
Chu công Hắc Kiên khuyên vua Hoàn vương nhà Chu nên tiếp đãi nước Trịnh tử tế để làm gương cho các nước chư hầu khác(1).
Hoàn vương vốn ghét Trịnh Trang công, lại nhớ đến việc nước Trịnh sang ăn cướp lúa ngày trước, có ý tức giận, bèn bảo Trịnh Trang công rằng:
- Năm nay mùa màng nước Trịnh thế nào?
Trịnh Trang công tâu rằng:
- Nhờ hồng phúc của thiên tử, năm nay không có thiên tai.
Hoàn vương nói:
- May nước Trịnh được mùa nên lúa má của nhà Chu trẫm mới có thể giữ mà ăn được.
Trịnh Trang công thấy vua Hoàn vương nhà Chu có ý mỉa mái mình như vậy, nín lặng không nói gì được nữa, cáo từ lui ra.
Hoàn vương không đặt yến tiệc, cũng không tặng lễ vật gì, chỉ sai người đem mười xe lúa đưa cho Trịnh Trang công và bảo rằng:
- Thiên tử ban cho nước Trịnh để đề phòng những năm mất mùa.
Trịnh Trang công thấy vậy hối hận vô cùng, bảo Sái Túc rằng:
- Nhà ngươi khuyên ta vào triều vua nhà Chu, nay vua nhà Chu khinh bỉ ta như vậy, lại nói những câu oán hận, và đem cho mười xe lúa để giễu ta, ta muốn chối từ không nhận thì nói thế nào?
Sái Túc nói:
- Các nước chư hầu sở dĩ kính trọng nước Trịnh ta, là vì nước Trịnh ta mấy đời nay kiêm chức khanh sĩ nhà Chu; vua nhà Chu cho gì, bất cứ nhiều ít, cũng gọi là ơn vua; nếu chúa công chối từ mà không nhận thì rõ ràng là có hiềm khích với vua nhà Chu rồi. Trịnh đã mất lòng vua nhà Chu thì sao khiến các nước chư hầu kính trọng được?
Trịnh Trang công đang cùng với Sái Túc thương nghị, bỗng có tin Chu công Hắc Kiên vào yết kiến và tặng riêng cho Trịnh Trang công hai xe vóc lụa.
Trịnh Trang công hỏi Sái Túc rằng:
- Chu công Hắc Kiên đến yết kiến ta là có ý gì?
Sái Túc nói:
- Vua nhà Chu có hai con trai: con trưởng là Đà, con thứ là Khắc. Vua nhà Chu yêu con thứ, vẫn ủy thác cho Chu công Hắc Kiên, sau này tất muốn cướp ngôi của con trưởng; vậy nên Chu công Hắc Kiên định kết thân với nước ta, để lấy nước ta làm ngoại viện. Chúa công nhận vóc lụa ấy rồi cũng dùng được việc đấy.
Trịnh Trang công nói:
- Dùng được việc gì?
Sái Túc nói:
- Chúa công vào triều vua nhà Chu, các nước chư hầu ai cũng biết cả. Nay chúa công đem những vóc lụa ấy phủ lên mười xe lúa của thiên tử ban cho. Khi ra về, nói phao lên rằng vua nhà Chu có ban cung tên cho chúa công để đem quân sang đánh nước Tống, vì nước Tống lâu nay không vào triều cống thiên tử. Mượn cái hiệu lệnh ấy mà lấy quân các nước chư hầu, nước nào không theo thì cho là trái mệnh. Ta làm như vậy, các nước chư hầu chắc phải theo, nước Tống dẫu lớn địch lại thế nào cho nổi được?
Trịnh Trang công vỗ vai Sái Túc mà rằng:
- Nhà ngươi thật là một kẻ trí sĩ, việc gì ta cũng xin theo ý nhà ngươi mà làm cả.
Trịnh Trang công ra khỏi địa phận nhà Chu, giả cách nói phụng mệnh thiên tử sang đánh Tống, ai nghe cũng tưởng là chuyện thực. Tin đồn đến nước Tống, Tống Thương công sợ hãi sai người sang mật cáo với Vệ Tuyên công. Vệ Tuyên công mới điều đình với Tề Hi công để cùng với Tống và Trịnh giảng hòa hẹn định ngày tháng hội nhau ở đất Ngõa Ốc, cùng ăn thề, cùng bỏ hết những điều thù oán cũ.
Tề Hi công đúng hẹn đến hội, thấy Trịnh Trang công không đến, Tề Hi công nói:
- Trịnh Trang công không đến thì cuộc nghị hòa hỏng mất!
Nói xong, đã toan lên xe về nước. Tống Thương công có ý giữ lại. Tề Hi công nể mà ở lại, nhưng vẫn có ý không nhất quyết; chỉ có nước Tống và nước Vệ đã có tình giao hảo lâu ngày, cùng nhau cố kết mà thôi.
Bấy giờ vua Hoàn vương nhà Chu, muốn bãi quyền của Trịnh Trang công, toan cho Quắc công Kỵ Phủ lên thay. Chu công Hắc Kiên cố ý can, Hoàn vương mới dùng Quắc công Kỵ Phủ làm hữu khanh sĩ, giao cho giữ quốc chính; còn Trịnh Trang công thì cho làm tả khanh sĩ, chẳng qua chỉ có hư danh mà thôi.
Trịnh Trang công nghe tin, vừa cười vừa nói:
- Liệu chừng vua nhà Chu có cách được chức của ta chăng?
Sau khi nghe nói Tống Thương công kết thân với Tề, Trịnh Trang công mới gọi Sái Túc vào thương nghị. Sái Túc nói:
- Tề cùng Tống nguyên không phải là thâm giao, chỉ vì có Vệ Tuyên công ở giữa điều đình hai nước, vậy nên dẫu có thề với nhau, nhưng không thực bụng. Nay chúa công đem mệnh thiên tử truyền cho Tề, Lỗ biết, rồi nhờ Lỗ điều đình với Tề để hợp sức mà đánh Tống; lại cho hịch đi lấy quân cả nước Sái, nước Vệ, nước Thành và nước Hứa, nước nào không theo thì sẽ đem quân đến đánh.
Trịnh Trang công nghe lời, sai sứ sang nước Lỗ, hẹn rằng hễ lấy được nước Tống thì cho nước Lỗ tất cả. Công tử Huy nước Lỗ là người tham lam, vội vàng vâng lời ngay, tâu qua cho Lỗ Ẩn công biết, rồi cùng với Tề và Trịnh hội nhau ở đất Trung Khâu.
Tề Hi công sai em là Di Trọng Niên làm tướng. Lỗ Ẩn công sai công tử Huy làm tướng, để cùng nhau đem quân đi giúp Trịnh.
Trịnh Trang công tự mình thống xuất bọn công tử Lã, Cao Cừ Di, Dĩnh Khảo Thúc và công tôn Át đi đánh, dựng một lá cờ lớn trên đề bốn chữ “Phụng thiên thảo tội”; rồi Di Trọng Niên lĩnh tả quân, công tử Huy lĩnh hữu quân, thẳng đường kéo sang nước Tống.
Công tử Huy đến địa phận Lão Khiên (đất nước Tống). Quan trấn thủ ở đây đem quân ra nghênh địch, bị công tử Huy đánh cho một trận, quân Tống bỏ cả khí giới mà chạy, bị bắt hơn hai trăm rưỡi người. Công tử Huy đem tin thắng trận báo cho Trịnh Trang công biết, và mời Trịnh Trang công đến đóng ở đất Lão Khiên. Trịnh Trang công mừng lắm, truyền mở tiệc để khao thưởng quân sĩ.
Trang công nghỉ ngơi trong hai ngày, rồi lại chia quân đi đánh các nơi, sai Dĩnh Khảo Thúc cùng với công tử Huy đem quân đi đánh Cáo Thành, cho công tử Lã làm tiếp ứng; lại sai công tôn Át cùng với Di Trọng Niên đem quân đi đánh Phòng Thành, cho Cao Cừ Di làm tiếp ứng, còn đại binh thì đóng tại Lão Khiên.
Tống Thương công nghe tin quân Tề, Lỗ và Trịnh đã vào trong nước, sợ hãi lắm, đòi Khổng Phủ Gia đến để thương nghị. Khổng Phủ Gia nói:
- Tôi đã sai người đến kinh đô nhà Chu dò la tin tức, thì thiên tử không có sai Trịnh đánh Tống bao giờ, chẳng qua là Trịnh giả mệnh mà Tề và Lỗ mắc lừa đó thôi. Nay ba nước đã hợp sức với nhau, ta khó lòng địch nổi được, chỉ còn một kế này có thể không đánh mà Trịnh phải lùi.
Tống Thương công nói:
- Trịnh đã được lợi, khi nào lại chịu lui quân?
Khổng Phủ Gia nói:
- Trịnh giả danh phụng mệnh thiên tử để sai khiến các nước chư hầu, nay chỉ có Tề và Lỗ là theo Trịnh mà thôi. Trịnh đã đem quân sang đây thì trong nước tất không có phòng bị, chúa công nên sai người đem vàng bạc sang khấn lễ nước Vệ, xin Vệ hợp quân với Sái mà lẻn vào đánh nước Trịnh. Trịnh Trang công nghe tin nước mình có người đến đánh, tất nhiên phải rút quân về. Trịnh đã rút quân về thì Tề, Lỗ còn ở lại làm sao được?
Tống Thương công nói:
- Nhà ngươi nói phải đó, nhưng nhà ngươi không thân hành sang bảo nước Vệ thì nước Vệ vị tất đã chịu cất quân.
Khổng Phủ Gia nói:
- Tôi xin đem một đạo quân để dẫn đường cho Vệ sang đánh nước Trịnh.
Tống Thương công cho Khổng Phủ Gia làm tướng, đem quân và các đồ vàng ngọc vóc lụa sang nước Vệ, để mượn quân nước Vệ cùng lẻn vào đánh nước Trịnh. Vệ Tuyên công nhận các đồ lễ vật, rồi sai hữu tể Xú đem quân cùng với Khổng Phủ Gia đi đường tắt lẻn vào đánh Trịnh. Thế tử Hốt cùng Sái Túc đang bàn nhau để đem quân ra chống giữ thì quân Tống và quân Vệ đã xâm phạm bờ cõi cướp phá một trận, bắt được lương thực tù binh nhiều lắm. Hữu tể Xú toan tiến quân vào phá thành.
Khổng Phủ Gia nói:
- Mình nhân lúc người ta không phòng bị mà lẻn sang đánh thì đã đánh được rồi, nên phải thôi ngay. Nếu ta còn kéo quân đến dưới chân thành, lỡ khi Trịnh Trang công rút quân về, trong đánh ra ngoài đánh vào thì quân ta khó lòng địch nổi; chi bằng ta mượn đường nước Đái mà rút quân, chắc rằng khi quân ta bỏ nước Trịnh mà về thì quân Trịnh cũng đã bỏ nước Tống mà đi rồi.
Hữu tể Xú nghe lời, sai người sang mượn đường nước Đái. Người nước Đái nghi là Tống, Vệ lập mẹo để định đánh nước mình, mới đóng cửa lại, không cho đi qua.
Khổng Phủ Gia giận lắm; cùng hữu tể Xú chia quân làm hai ngả để đánh nước Đái; lại sai người sang mượn thêm quân nước Sái sang đánh giúp.
Bấy giờ bọn Dĩnh Khảo Thúc đã phá được Cáo Thành, bọn công tôn Át cũng phá được Phòng Thành, đều sai người đem tin thắng trận về báo với Trịnh Trang công. Trịnh Trang công vừa tiếp được tin thắng trận ấy thì lại thấy có tờ cáo cấp của thế tử Hốt đưa đến.
_____
(1) Bấy giờ chư hầu không mấy khi vào triều vua nhà Chu, có nước nào vào triều, vua nhà Chu lấy làm quý lắm.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BẢY
 
Dĩnh Khảo Thúc chết vì hiếu thắng
Công tử Huy nịnh không phải đường
 
Trịnh Trang công tiếp được bức thư cáo cấp của thế tử Hốt, tức thì truyền rút quân về.
Bọn Di Trọng Niên, công tử Huy kéo nhau vào yết kiến Trịnh Trang công rồi hỏi rằng:
- Tiểu tướng đang muốn thừa thế đánh tràn đi, chẳng hay vì cớ gì chúa công lại muốn rút quân về?
Trịnh Trang công là người gian hùng trí trá, mới giấu kín không cho biết việc Tống và Vệ kéo vào đánh Trịnh, chỉ đáp:
- Ta phụng mệnh thiên tử đến đây để đánh Tống, nhờ có binh uy của quý quốc và lấy được hai thành, cũng đủ trị tội nước Tống rồi. Vả lại nước Tống là con cháu của nhà Thương, thiên tử ta vẫn có lòng kính trọng, ta cũng không nên tàn nhẫn quá. Thôi thì có lấy được Cáo Thành, Phòng Thành xin để kính tặng nước Tề và nước Lỗ, ta không dám tham lợi một chút nào.
Di Trọng Niên nói:
- Quý quốc phụng mệnh thiên tử mà trưng binh nước tôi, thì bổn phận nước tôi là phải phục dịch, có đâu lại dám lấy công.
Nói xong, nhất định chối từ không nhận.
Trịnh Trang công nói:
- Công tử nước Tề đã không nhận thì hai thành ấy xin kính tặng nước Lỗ, để đền cái công khó nhọc vào chiếm được đất Lão Khiên trước.
Công tử Huy chẳng chối từ một chút nào cả, tạ ơn Trịnh Trang công, rồi phái người ra trấn thủ Cáo Thành và Phòng Thành. Trịnh Trang công mở tiệc để khao thưởng quân sĩ rồi cùng với Di Trọng Niên và công tử Huy ăn thề: từ nay trở đi, có xảy ra sự gì, ba nước phải đem quân mà giúp đỡ lẫn nhau, nếu ai bội ước thì quỷ thần không dung. Di Trọng Niên về nước, đem chuyện lấy được Cáo Thành, Phòng Thành kể lại cho Tề Hi công biết
Tề Hi công nói:
- Lời thề ở đất Thạch Môn nói rằng khi có việc thì cùng giúp nhau, thế thì nay lấy được Cáo Thành, Phòng Thành, nên để cho nước Trịnh là phải.
Di Trọng Niên nói:
- Trịnh Trang công nhất định không nhận, lại đem cho cả nước Lỗ.
Tề Hi công cho Trịnh Trang công là chí công, tấm tắc khen mãi. Trịnh Trang công về đến nửa đường, lại tiếp được đạo văn thư từ trong nước gửi ra nói rằng nước Tống, nước Vệ đã rời quân sang đánh nước Đái rồi.
Trịnh Trang công vừa cười vừa nói:
- Ta vẫn biết hai nước ấy không làm gì nổi, nhưng Khổng Phủ Gia là người biết binh pháp, đang phải chống Trịnh mà lại sinh sự với Đái, âu là để ta lập kế chiếm lấy nước Đái mới được.
Nói xong, liền truyền cho bốn tướng chia làm bốn đội thẳng đường lẻn vào nước Đái.
Nước Tống và nước Vệ hợp quân đánh nước Đái, lại mượn quân nước Sái đến đánh hộ.
Bỗng có quân báo:
- Nước Trịnh sai công tử Lã đem quân cứu nước Đái, hiện đã đóng quân ở ngoài năm mươi dặm.
Hữu tể Xú nói:
- Công tử Lã có biết chiến lược đâu, ngày trước đánh nhau với Thạch Hậu đã phải thua chạy, ta có sợ gì!
Được một lúc, lại có quân báo:
- Người nước Đái đã mở cửa thành đón quân nước Trịnh vào rồi.
Khổng Phủ Gia nói:
- Nước Đái đã có quân giúp, tất nhiên hợp sức để đánh ta, âu là ta trèo lên trên lũy ngắm vào trong thành xem sự thể ra sao mà phòng bị trước mới được.
Nói xong, hai người rủ nhau trèo lên trên lũy để ngắm vào trong thành nước Đái. Bỗng nhiên nghe tiếng súng nổ ỳ ầm, trên mặt thành cắm rặt cờ hiệu nước Trịnh, công tử Lã mình mặc áo giáp đứng trên mặt thành, lên tiếng bảo Khổng Phủ Gia rằng:
- Cám ơn các vị tướng quân, nay quân ta đã chiếm được nước Đái rồi!
Nguyên là Trịnh Trang công lập kế, giả cách sai công tử Lã đem quân cứu nước Đái, kỳ thực Trịnh Trang công đem quân tiến vào trong thành nước Đái, đuổi vua nước Đái đi, rồi chiếm lấy thành. Vua nước Đái đem gia quyến chạy sang nước Tần.
Khổng Phủ Gia thấy Trịnh Trang công chiếm nước Đái rồi, nổi giận trật mũ đâu mâu ném xuống đất, nói:
- Ta thề cùng với Trịnh một mất một còn!
Hữu tể Xú nói:
- Trịnh Trang công là một tay gian hùng, rất giỏi binh pháp, tất thế nào cũng có quân tiếp ứng; nếu để họ trong ngoài cùng đánh thì quân ta nguy mất!
Khổng Phủ Gia nói:
- Sao quan hữu tể lại nói những lời nhút nhát làm vậy?
Nói chưa dứt lời thì trong thành cho người ra hạ chiến thư. Khổng Phủ Gia phê ngay một câu, hẹn đến hôm sau thì quyết chiến, rồi sai người đi ước với quân nước Vệ và nước Sái.
Vệ, Sái vừa đem quân đến thì bỗng nghe tiếng súng nổ, lửa sáng rực trời, có quân nước Trịnh đến khiêu chiến.
Khổng Phủ Gia giận lắm, tay cầm thiên phương kích vừa toan ra đối địch thì lại thấy lửa tắt không có gì cả, định trở vào, bỗng thấy phía tả lửa cháy, nhưng khi đến nơi thì lửa lại tắt ngay.
Được một lúc, ở phía hữu lại thấy súng nổ và lửa cháy, Khổng Phủ Gia nói:
- Đó là quân giặc lập mưu để đánh lừa ta.
Nói xong, liền hạ lệnh cho quân sĩ không được náo động. Bỗng nghe báo quân nước Sái bị quân nước Trịnh đánh vỡ. Khổng Phủ Gia vội vàng đem quân đi cứu; đến nửa đường, gặp một toán quân kéo đến, hai bên đánh lẫn nhau một hồi lâu, rồi mới biết là quân nước Vệ.
Khi Khổng Phủ Gia rút quân về thì đại dinh đã bị Cao Cừ Di chiếm mất rồi, phía hữu có công tôn Át ra đánh nhau với hữu tể Xú; phía tả có Dĩnh Khảo Thúc ra đánh nhau với Khổng Phủ Gia. Khổng Phủ Gia thua chạy. Chạy được một quãng, lại bị Cao Cừ Di đuổi theo. Khổng Phủ Gia chỉ còn có mươi người theo sau, chạy thoát được; còn hữu tể Xú thì chết trong đám loạn quân.
Trịnh Trang công chiếm được nước Đái, lại đánh tan được quân nước Tống, nước Vệ và nước Sái, mới thu quân về nước, mở tiệc khao quân.
Chủ tướng lần lượt dâng rượu mừng thắng trận. Trịnh Trang công có vẻ hãnh diện, cầm chén rượu rót xuống đất(1) mà nói rằng:
- Ta nhờ khí thiêng liêng của trời đất, âm đức của tổ tiên và công lao của chư tướng nên đánh đâu được đấy, tưởng cũng chẳng kém gì các bậc phương bá(2) ngày xưa.
Chư tướng đều chúc câu: “Thiên tuế!”
Chỉ có Dĩnh Khảo Thúc nín lặng, không nói gì cả. Trịnh Trang công trừng mắt nhìn Dĩnh Khảo Thúc. Dĩnh Khảo Thúc nói:
- Chúa công nói thế không phải! Các bậc phương bá ngày xưa, làm chủ các nước chư hầu, được chuyên quyền đánh dẹp, đi đến đâu ai cũng phụng mệnh. Nay chúa công giả mệnh thiên tử đi đánh nước Tống, mà nước Vệ và nước Sái dám giúp Tống để đánh nước Trịnh; nước Thành và nước Hứa là những nước nhỏ mà dám công nhiên không đem quân đến hội. Các bậc phương bá ngày xưa, có đâu lại thế!
Trịnh Trang công vừa cười vừa nói:
- Nhà ngươi nói phải đó! Nay ta đánh tan được quân Vệ và quân Sái cũng đủ trừng trị hai nước ấy rồi; bây giờ muốn hỏi tội nước Thành và nước Hứa thì nên đánh nước nào trước?
Dĩnh Khảo Thúc nói:
- Nước Thành tiếp giáp với nước Tề, nước Hứa tiếp giáp với nước Trịnh. Nay chúa công muốn đánh Thành và Hứa thì nên kể rõ tội trạng, rồi sai một viên tướng đi giúp Tề để đánh Thành, lại mượn quân Tề, cùng sang đánh Hứa. Khi đã đánh được Thành, Hứa rồi thì sai sứ sang nhà Chu báo tin thắng trận, để che cái tiếng giả mệnh vua nhà Chu.
Trịnh Trang công khen phải, rồi sai người sang nói với Tề Hi công. Tề Hi công sai Di Trọng Niên cùng với công tử Lã đem quân đánh Thành. Người nước Thành sợ hãi, xin giảng hòa.
Tề Hi công sai người sang báo tin cho Trịnh Trang công biết và hỏi đến hôm nào thì cất quân đi đánh Hứa. Trịnh Trang công ước với Tề Hi công sang hội ở đất Thời Lai nước Trịnh rồi mượn Tề Hi công đứng làm trung gian sang mượn thêm quân nước Lỗ.
Công tử Lã đi đánh nước Thành, về đến nửa đường bị bệnh mà chết. Trịnh Trang công thương tiếc vô cùng, vừa khóc vừa nói:
- Công tử Lã chết đi, thật ta thiệt mất cánh tay phải!
Nói xong, liền ban thưởng cho nhà công tử Lã và cho em là công tử Nguyên làm quan đại phu. Còn chức thượng khanh thì Trịnh Trang công đã toan cho Cao Cừ Di, nhưng thế tử Hốt can rằng:
- Cao Cừ Di có tính tham ác, không phải là người chính trực, phụ thân chớ nên tin dùng.
Trịnh Trang công gật đầu, rồi phong cho Sái Túc làm thượng khanh để thay công tử Lã; còn Cao Cừ Di thì phong cho làm á khanh.
Lại nói chuyện Tề, Lỗ đều đến đất Thới Lai hội với Trịnh, rồi hẹn ngày cùng đem quân sang đánh Hứa. Trịnh Trang công về nước triệu tập các tướng đến giáo trường để tổng duyệt binh mã, chế ra lá cờ vuông một trượng hai thước, chung quanh đeo hai mươi bốn cái nhạc đồng, trên đề bốn chữ: “Phụng thiên thảo tội”; cán cờ dài ba trượng ba thước, cắm ở trên một cái xe lớn. Trịnh Trang công truyền lệnh ai tay cầm cây cờ ấy mà đi lại như thường được thì cho làm tiên phong, và thưởng cho một cỗ xe đại lộ. Trang công nói chưa dứt lời, bỗng thấy ở trong hàng quân có một viên đại tướng chạy ra, đầu đội mũ bạc, mình mặc áo bào, mặt đen râu xồm, mày thô mắt lớn, nom ra thì là quan đại phu Hà Thúc Doanh.
Hà Thúc Doanh nói:
- Tôi có thể cầm được.
Nói xong, hai tay rút cây cờ lên, cầm thật vững vàng, rồi bước lên ba bước, lui lại ba bước, lại cắm vào trong cái xe, mà không mệt thở một chút nào. Quân sĩ đều vỗ tay reo ầm lên.
Hà Thúc Doanh vừa toan tạ ơn để lĩnh lấy xe thưởng, thì thấy có một viên đại tướng chạy ra, đầu đội mũ mao, mình mặc áo giáp vừa đi vừa nói:
- Cầm cờ mà bước đi, cũng chưa lấy gì làm lạ, tôi có thể cầm mà múa được.
Quân sĩ nghe nói đều xúm lại xem thì là quan đại phu Dĩnh Khảo Thúc.
Dĩnh Khảo Thúc tay trái vén áo, tay phải rút lá cờ rồi uốn mình nhảy cao lên một bước, múa chung quanh mấy vòng như người ta múa một cây giáo dài vậy. Lá cờ lúc thì cuốn lại, lúc thì mở ra, người xem ai cũng lấy làm kinh hãi.
Trịnh Trang công mừng lắm, nói:
- Dĩnh Khảo Thúc thật là một viên hổ thần, đáng thưởng cỗ xe đại lộ, và cho lĩnh ấn tiên phong.
Trang công nói chưa dứt lời thì lại thấy ở trong hàng quân có viên tướng trẻ tuổi, mặt trắng môi son, đầu đội mũ đỏ, mình mặc áo xanh, trỏ vào Dĩnh Khảo Thúc mà quát to lên rằng:
- Nhà ngươi múa được cờ, dễ thường ta không múa được hay sao! Hãy để xe đấy, không được lấy vội!
Nói xong, rảo bước chạy đến toan cướp lấy cái xe. Dĩnh Khảo Thúc trông thấy người ấy khí thế hùng dũng làm vậy, bèn một tay cầm cờ, một tay nắm xe, vừa kéo vừa chạy. Viên tướng trẻ tuổi ấy giận lắm, liền cầm phương thiên kích đuổi theo. Trịnh Trang công sai công tôn Hoạch ra can ngăn, tướng trẻ tuổi ấy thấy Dĩnh Khảo Thúc đi đã xa rồi, mới hầm hầm trở lại, vừa đi vừa nói:
- Nó lại có ý khinh người! Thế nào ta cũng phải giết nó mới được!
Viên tướng trẻ tuổi ấy là ai? Tức là công tôn Át, tên tự là Tử Đô, là một người đẹp trai nhất đời bấy giờ, Trịnh Trang công vốn có lòng yêu dấu lắm. Mạnh tử xưa có câu rằng: “Ai không cho Tử Đô là đẹp thì người ấy không có mắt”, đó chính là công tôn Át. Công tôn Át xưa nay vốn là người ỷ thế cậy quyền, và lại có sức khỏe, thường vẫn không bằng lòng với Dĩnh Khảo Thúc, đến lúc này lại càng tức lắm.
Trịnh Trang công bèn bảo công tôn Át rằng:
- Thôi, hai con hổ không được đánh nhau nữa, để ta phân xử cho.
Nói xong, lại truyền lấy mấy cỗ xe khác cho công tôn Át và cho cả Hà Thúc Doanh nữa. Hai người lạy tạ lui ra.
Đến tháng bảy năm ấy, Trịnh Trang công giao quốc chính cho Sái Túc và thế tử Hốt, rồi đem quân tiến sang nước Hứa. Tề Hi công và Lỗ Ẩn công đã đem quân đến đóng ở ngoài đô thành nước Hứa, cách hai chục dặm, để đợi Trịnh Trang công đến.
Trịnh Trang công truyền mở tiệc để thết đãi. Trong khi ăn tiệc, Tề Hi công lấy một tờ hịch ở trong tay áo ra, kể tội nước Hứa không vào triều cống vua nhà Chu.
Lỗ Ẩn công và Trịnh Trang công xem xong, đều chắp tay mà rằng:
- Như thế thì ta xuất quân mới có danh nghĩa.
Nói xong, cùng hẹn nhau đến ngày hôm sau thì khai chiến, và sai người đem tờ hịch ấy bắn vào trong thành. Nước Hứa là một nước nhỏ, thành không cao, hào không sâu, bị quân ba nước vây kín chung quanh, trong thành xiết bao kinh sợ. Hứa Trang công vốn là người nhân đức, lòng dân ai cũng mến, nên gặp cơn nguy biến này mọi người đều hết sức chống giữ. Tề Hi công và Lỗ Ẩn công dẫn đầu đem quân đến đánh nhưng không phải chủ mưu vậy nên cũng không ra sức, chỉ có quân nước Trịnh là cố sống liều chết đánh lấy được mà thôi.
Dĩnh Khảo Thúc nhân việc tranh nhau xe thưởng với công tôn Át ngày trước, lại càng cố ý hăng hái lắm. Đến ngày thứ ba, Dĩnh Khảo Thúc đứng trên xe cắp cây cờ trong nách, nhún mình một cái nhảy lên thành nước Hứa. Công tôn Át trông thấy Dĩnh Khảo Thúc nhảy lên thành nước Hứa để lập công thì đem lòng ghen ghét, mới nấp ở trong đám loạn quân bắn một phát tên. Dĩnh Khảo Thúc ở trên mặt thành ngã gục xuống mà chết.
Hà Thúc Doanh vẫn tưởng là Dĩnh Khảo Thúc bị quân giặc bắn phải, nổi cơn tức giận, lại nắm lấy cây cờ, nhảy lên mặt thành, reo rầm lên rằng:
- Chúa công nước Trịnh ta đã lên mặt thành rồi!
Quân sĩ nước Trịnh nghe nói, ngỡ là Trịnh Trang công đã lên thành thật, đều đua nhau hết sức kéo ồ cả lên, phá vỡ cửa thành cho quân Tề và quân Lỗ tiến vào. Hứa Trang công bỏ thành trốn sang nước Vệ. Tề Hi công đem thổ địa nước Hứa nhường cho Lỗ Ẩn công. Lỗ Ẩn công từ chối không nhận.
Tề Hi công nói:
- Việc này là do nước Trịnh vậy nếu nước Lỗ không chịu nhận thì nên để cho nước Trịnh.
Trịnh Trang công vẫn có bụng muốn lấy nước Hứa, nhưng thấy Tề Hi công và Lỗ Ẩn công nhường lẫn nhau cũng giả cách chối từ không nhận. Bỗng thấy quân báo có quan đại phu nước Hứa là Bách Lý đem một đứa bé con vào xin ra mắt.
Tề Hi công, Lỗ Ẩn công và Trịnh Trang công cùng truyền cho vào. Bách Lý sụp lạy ở dưới đất, kêu khóc xin thương hại cho dòng dõi nước Hứa.
Tề Hi công hỏi rằng:
- Đứa bé con nào thế?
Bách Lý nói:
- Vua nước Hứa tôi không có con trai, đây là em ruột, tên là Tân Thần.
Tề Hi công và Lỗ Ẩn công nghe nói, đều có lòng thương xót.
Trịnh Trang công thấy tình cảnh như vậy, mới nghĩ ngay một kế mà rằng:
- Ta phụng mệnh thiên tử, theo các quý quốc đi đánh kẻ có tội, nếu thấy thổ địa mà tham thì không phải là việc nghĩa nữa. Nay Hứa Trang công dẫu có tội phải trốn đi, nhưng dòng dõi nước Hứa không nên để cho tuyệt diệt, bây giờ có người em ở đó thì chúng ta nên vị tình nước Hứa mà trả lại đất cho hắn.
Bách Lý nói:
- Chúng tôi chỉ mong các quý quốc thương hại mà bảo toàn cho đứa trẻ con mồ côi này là đủ, còn thổ địa nước Hứa đã về tay quý quốc, có đâu dám mong lấy lại làm gì!
Trịnh Trang công nói:
- Ta trả lại nước Hứa là thực bụng như vậy. Tân Thần hãy còn trẻ tuổi, chưa đương nổi việc nước, âu là để ta cho người đến giúp.
Nói xong, liền chia nước Hứa ra làm hai phần: về phía đông thì để cho Tân Thần ở mà sai Bách Lý phù tá; còn về phía tây thì cho quan đại phu nước Trịnh là công tôn Hoạch ở, tiếng gọi là giúp nước Hứa, nhưng kỳ thực là để coi giữ nước Hứa.
Tề Hi công và Lỗ Ẩn công không biết là kế hoạch của Trịnh Trang công, đều khen Trịnh Trang công là xử trí thỏa đáng. Bách Lý cùng với Tân Thần lạy tạ lui ra. Tề Hi công, Lỗ Ẩn công và Trịnh Trang công cũng đều đem quân về nước. Sau Hứa Trang công chết ở bên nước Vệ; Tân Thần bị nước Trịnh kiềm chế, đến khi Trịnh Trang công mất rồi, công tử Hốt và công tử Đột tranh nhau trong mấy năm; bấy giờ nước Trịnh rối loạn, công tôn Hoạch ốm chết, Tân Thần mới cùng Bách Lý lập mưu lấy lại nước Hứa.
Lại nói đến chuyện Trịnh Trang công về nước, hậu thưởng cho Hà Thúc Doanh; lại thương nhớ Dĩnh Khảo Thúc vô cùng, nhưng không biết người bắn Dĩnh Khảo Thúc hôm ấy là ai, mới hạ lệnh cho quân sĩ mỗi một tốt (100 người) phải nộp một con lợn, mỗi một hành (25 người) phải nộp một con chó và một con gà, để sửa lễ cúng và mời mấy người đồng cốt làm bài văn nguyền rủa người nào đã bắn chết Dĩnh Khảo Thúc. Công tôn Át thấy vậy, chỉ bấm bụng cười thầm.
Quân sĩ làm lễ nguyền rủa trong ba ngày, Trịnh Trang công đem các quan đến xem, bỗng thấy một người đầu bù tóc rối, chạy đến trước mặt Trịnh Trang công, quỳ xuống mà khóc rằng:
- Tôi là Dĩnh Khảo Thúc lên được thành nước Hứa trước, có công với nước, bị đứa gian thần là công tôn Át thù về việc tranh xe ngày trước bắn chết tôi. Nay tôi đã xin với Ngọc hoàng thượng đế bắt nó phải đền mạng, xin chúa công rủ lòng nhớ đến, tôi ở dưới suối vàng đội ơn nhiều lắm.
Nói xong, thò tay cấu cổ, máu phun ra như mưa, rồi lăn xuống chết ngay lập tức, Trịnh Trang công nhìn xem ai thì ra công tôn Át, vội vàng sai người cứu chữa nhưng Át đã chết rồi.
Trịnh Trang công lại sai sứ đem lễ vật sang tạ ơn nước Tề và nước Lỗ. Sứ giả sang đến nước Lỗ, lại đem lễ vật về, và bức thư vẫn niêm phong chưa mở. Trịnh Trang công liền hỏi duyên cớ làm sao.
Sứ giả nói:
- Tôi mới vào bờ cõi nước Lỗ, nghe nói Lỗ Ẩn công bị công tử Huy giết rồi, bây giờ Lỗ đã lập vua mới, tôi sợ bức thư này không hợp, vậy nên không dám đưa.
Trịnh Trang công nói:
- Lỗ Ẩn công là một người khoan hòa khiêm nhượng sao lại bị giết?
Sứ giả nói:
- Việc ấy tôi biết cả đầu đuôi: ngày xưa Lỗ Huệ công yêu một người thiếp tên là Trọng Tử; lập làm kế thất. Trọng Tử sinh con tên là Quỹ, Lỗ Huệ công muốn cho con nối ngôi; còn Lỗ Ẩn công lại là con một người thiếp khác. Khi Lỗ Huệ công mất, Lỗ Ẩn công đã lớn tuổi, các quan mới tôn lên nối ngôi, nhưng Ẩn công vẫn theo ý muốn của cha, thường nói chuyện với các quan rằng: “Nước này là của công tử Quỹ, vì hắn còn bé nên ta quyền tạm đó mà thôi”. Công tử Huy nói với Ẩn công xin làm chức thái tể. Ẩn công nói: “Đợi khi công tử Quỹ lên ngôi, nhà ngươi hãy xin”. Công tử Huy không hiểu ý, lại ngỡ là Ẩn công có lòng ghen ghét công tử Quỹ, mới mật tâu rằng: “Tôi thiết nghĩ lưỡi gươm sắc đã vào tay mình thì không nên đưa cho ai cả, nay chúa công đã nối ngôi, người trong nước thảy đều tin phục, vậy thì sau khi trăm tuổi, nên truyền ngôi lại cho con cháu, sao chúa công cứ nói là quyền tạm, để khiến lòng người sinh chán. Bây giờ công tử Quỹ đã lớn tuổi, tôi e rằng sau này bất lợi cho chúa công, âu là tôi xin lập kế giết công tử Quỹ đi, để trừ cái mối lo ấy cho chúa công, chúa công tính thế nào?” Lỗ Ẩn công lấy tay bịt tai mà nói rằng: “Nhà ngươi không phải là điên cuồng, sao lại nói những câu càn rỡ như vậy? Hiện nay ta đã sai người sửa sang cung thất ở đất Đồ Cửu, để sắp về dưỡng lão, ít lâu nữa ta sẽ truyền ngôi cho công tử Quỹ đó thôi!” Công tử Huy nín lặng, cáo từ lui ra, có ý hối hận là đã lỡ lời, chỉ sợ Lỗ Ẩn công đem mấy câu ấy kể lại cho công tử Quỹ nghe thì khi công tử Quỹ lên nối ngôi tất trị tội mình. Ngay đêm hôm ấy, công tử Huy lại đến yết kiến công tử Quỹ, nói ngược lại rằng: “Chúa công thấy công tử đã lớn tuổi, sợ công tử có ý muốn tranh ngôi, ngày hôm nay đòi tôi vào cung, mật sai tôi đến giết công tử đó”. Công tử Quỹ sợ hãi, mới bàn mưu với công tử Huy. Công tử Huy nói: “Hắn đã bất nhân thì ta còn giữ nghĩa làm gì, nay công tử muốn tránh khỏi tai vạ thì tất phải giết chết hắn đi mới được”. Công tử Quỹ nói: “Hắn làm chủ trong nước đã mười một năm nay, lòng người ai cũng tin phục, nếu làm mà việc không xong thì tất sinh tai vạ”. Công tử Huy nói: “Tôi đã nghĩ mẹo cho công tử rồi. Nay mai hắn sắp sửa ra tế thần Chung Vu ở phía ngoài thành, mà khi hắn ra tế thường hay ở nhà Vỹ đại phu. Âu là ta phục sẵn quân dũng sĩ ở đấy, rồi nhân lúc hắn ngủ, đổ ra mà giết, chẳng qua chỉ sức một người cũng có thể làm xong”. Công tử Quỹ nói: “Kế này dẫu khéo, nhưng làm thế nào mà tránh khỏi được tiếng xấu?” Công tử Huy nói: “Ta bảo quân dũng sĩ trốn cả đi, rồi đổ tội cho Vỹ đại phu, chứ có hề chi!” Công tử Quỹ sụp lạy mà nói rằng: “Nếu xong việc thì xin để ngài làm thái tể”. Công tử Huy cứ theo như kế ấy mà làm, quả nhiên giết được Lỗ Ẩn công. Nay công tử Quỹ lên nối ngôi, công tử Huy làm thái tể, lại đem tội ấy đổ cho Vỹ đại phu rồi đem quân đến đánh. Người nước Lỗ ai cũng biết cả, nhưng sợ quyền thế công tử Huy, không ai dám nói.
Trịnh Trang công hỏi các quan rằng:
- Nay ta nên đánh nước Lỗ hay là nên hòa với nước Lỗ?
Sái Túc nói:
- Nước Lỗ và nước Trịnh ta xưa nay vẫn hòa hiếu với nhau. Tôi chắc rằng nước Lỗ nay mai tất cũng cho sứ sang nối lại.
Nói chưa dứt lời thì nghe báo có sứ nước Lỗ đến. Trịnh Trang công sai người hỏi ý, thì sứ nước Lỗ nói là công tử Quý mới lên nối ngôi, sai người đến giảng hòa để giữ lấy tình giao hiếu. Trịnh Trang công tiếp đãi tử tế, rồi hẹn nhau cùng hội ở đất Việt để ăn thề.
Lúc bấy giờ công tử Phùng là con Tống Mục công còn ở nước Trịnh. Một hôm bỗng có sứ nước Tống đến đón công tử Phùng về nối ngôi.
Trịnh Trang công nói:
- Chưa biết hư thực thế nào, hay là nước Tống đánh lừa công tử về để mà giết đi chăng?
Sái Túc nói:
- Đợi xem quốc thư của nước Tống thì khắc biết rõ.
_____
(1) Ngày xưa ở Trung quốc khi cầu khấn quỷ thần người ta thường hay rót chén rượu xuống đất.
(2) Phương bá: làm chủ các nước chư hầu.
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ MƯỜI
 
Sở Hùng Thông tiếm hiệu vua Chu
Trịnh Sái Túc mắc mưu nước Tống
 
Khi vua Hoàn vương nhà Chu lấy quân Trần, Sái sang đánh nước Trịnh, thì nước Trần sai Bá Viên Chư làm tướng, nước Sái sai Sái Quý làm tướng. Sái Quý mới hỏi riêng Bá Viên Chư về việc nước Trần.
Bá Viên Chư nói:
- Nay công tử Đà cướp ngôi, nước tôi lòng người không ai phục cả; mà tính công tử Đà lại ham mê săn bắn, chẳng thiết gì đến chính sự, tôi chắc sau này trong nước tất sinh biến loạn.
Sái Quý nói:
- Sao không kể tội mà đem giết đi?
Bá Viên Chư nói:
- Không phải là tôi không muốn thế, chỉ hiềm nỗi không làm nổi mà thôi.
Sau khi vua nhà Chu thua trận các nước đều rút quân về. Sái Quý đem lời nói của Bá Viên Chư nói với Sái hầu.
Sái hầu nói:
- Đã là đứa loạn tặc, sao lại để cho hắn được trộm giữ phú quý mãi?
Sái Quý nói:
- Công tử Đà hay đi săn bắn, ta có thể thừa dịp mà giết đi.
Sái hầu khen phải, bèn sai Sái Quý đem quân sang phục sẵn ở địa giới nước Trần, đợi khi công tử Đà ra thì lẻn đánh.
Sái Quý sai quân đi do thám biết là công tử Đà đi săn đã ba hôm nay, mừng lắm nói:
- Mưu đã thành rồi!
Liền sai quân sĩ thay hình đổi dạng làm người đi săn; lại gặp lúc công tử Đà vừa bắn chết con hươu, Sái Quý trông thấy bèn xông lại cướp lấy. Công tử Đà giận lắm, cũng xông lại để bắt Sái Quý. Sái Quý giả cách bỏ chạy.
Công tử Đà đuổi theo, bỗng nghe tiếng chiêng trống nổi ầm ỳ lên, có mấy bọn đi săn xúm lại vây bắt công tử Đà.
Sái Quý quát to lên rằng:
- Ta đây chính là em ruột Sái hầu, tên gọi Sái Quý. Vì nước ngươi có công tử Đà giết vua, vậy ta phụng mệnh anh ta đến đây để giết Đà mà thôi, còn thì tha tội cho cả.
Quân sĩ nghe nói, đều sụp xuống đất lạy. Sái Quý úy dụ hồi lâu mà bảo rằng:
- Ta muốn lập công tử Dược lên nối ngôi, các ngươi nghĩ thế nào?
Quân sĩ đồng thanh đáp rằng:
- Nếu như vậy thì rất hợp lòng người, chúng tôi xin vâng mệnh.
Sái Quý tức khắc truyền chém đầu công tử Đà bêu lên trên xe, rồi thẳng đường kéo vào nước Trần. Sĩ tốt đi săn với công tử Đà khi trước, lại quay về dẫn đường và nói rõ cho mọi người đều biết công việc Sái Quý sang trừ quân nghịch tặc để lập vua khác; bởi vậy dân chúng đều mừng rỡ đón rước, không ai náo động cả. Sái Quý lập công tử Dược lên nối ngôi, tức là Trần Lệ công.
Bấy giờ có vua nước Sở là Hùng Thông vốn là người cường bạo, có ý muốn tiếm hiệu xưng vương, nhưng thấy các nước chư hầu vẫn vào triều cống thiên tử nhà Chu, nên còn ngần ngại chưa dám quả quyết. Đến lúc thấy Hoàn vương bị nước Trịnh đánh thua, Hùng Thông không còn kiêng nể gì nữa liền họp các quan lại thương nghị. Quan lệnh doãn là Đấu Bá Tỷ nói:
- Nước ta muốn tiếm hiệu xưng vương, tất phải dùng binh lực để ra oai với chư hầu mới được.
Sở Hùng Thông nói:
- Bây giờ làm thế nào?
Đấu Bá Tỷ nói:
- Trong các nước ở vùng Hán Đông này chỉ có Tùy là lớn hơn cả. Nay chúa công đem binh lực đe dọa nước Tùy, rồi lại sai sứ giảng hòa, nếu Tùy đã chịu phục thì chư hầu đều phải theo cả.
Hùng Thông lấy làm phải, mới đem quân sang đóng ở đất Hà (đất nước Tề) rồi sai quan đại phu là Cừ Chương sang giảng hòa với Tùy.
Nước Tùy có một hiền thần tên là Quý Lương, và một nịnh thần tên là Thiếu Sư. Tùy hầu lại có tính ưa nịnh, vậy nên tin dùng Thiếu Sư lắm. Đến lúc sứ nước Sở sang giảng hòa, Tùy hầu gọi Quý Lương và Thiếu Sư vào hỏi.
Quý Lương nói:
- Sở mạnh Tùy yếu, bây giờ Sở lại sai sứ sang giảng hòa thì bụng nham hiểm chưa biết thế nào mà lường được, vậy ta bề ngoài tuy phải vâng lời, nhưng bề trong nên phòng bị mới được.
Thiếu Sư nói:
- Tôi xin phụng mệnh chúa công sang Sở để dò xét tình hình quân Sở một thể.
Tùy hầu liền sai Thiếu Sư đến đất Hà để kết ước với nước Sở.
Đấu Bá Tỷ nghe tin Thiếu Sư sắp đến, nói với Hùng Thông rằng:
- Tôi nghe nói Thiếu Sư là một người nông nổi, chỉ khéo nịnh mà được Tùy hầu yêu, bây giờ hắn phụng mệnh đến đây để dò xét tình hình, ta nên giấu hết quân sĩ khỏe mạnh đi, chỉ cho hắn xem bọn quân sĩ già yếu, tất nhiên hắn có bụng kiêu ngạo, sinh lòng trễ biếng, ta mới có thể thắng được.
Quan đại phu là Hùng Xuất Tỷ nói:
- Nước Tùy còn có Quý Lương thì chưa làm gì được.
Đấu Bá Tỷ nói:
- Ta cứ lập kế sẵn, sau này tất cũng có lợi cho ta.
Hùng Thông theo kế của Đấu Bá Tỷ. Thiếu Sư vào đến dinh nước Sở trông thấy các đồ khí giới hư hỏng, còn quân sĩ thì hoặc già hoặc yếu, không thể dùng vào việc chiến trận được, mới có ý kiêu ngạo, nói với Hùng Thông rằng:
- Hai nước chúng ta, nước nào cứ giữ bờ cõi nước ấy, chẳng hay quý quốc giảng hòa có ý nghĩa gì?
Hùng Thông đặt điều mà đáp lại rằng:
- Nước tôi mấy năm nay mất mùa luôn, dân chúng đói kém, chỉ sợ các nước nhỏ họp nhau lại mà đến quấy nhiễu, vậy nên muốn cùng với quý quốc kết làm anh em, để phòng khi có hoạn nạn thì quý quốc giúp đỡ cho.
Thiếu Sư nói:
- Các nước nhỏ ở vùng Hán Đông này đều nghe hiệu lệnh của nước tôi cả, xin chúa công chớ ngại.
Hùng Thông liền cùng với Thiếu Sư kết ước. Khi Thiếu Sư cáo từ lui ra thì Hùng Thông cũng hạ lệnh thu quân về nước. Thiếu Sư về đến nước Tùy, vào yết kiến Tùy hầu, thuật lại tình hình quân nước Sở già yếu, và nói:
- Được cùng với nước ta két ước Sở lấy làm may lắm, tức khắc thu quân về ngay, xem thế đủ biết Sở rất sợ ta. Xin chúa công cho tôi một đạo quân lẻn sang mà đuổi đánh, thì không bắt được hết cũng bắt được quá nửa, khiến cho nước Sở từ nay không dám ngấp nghé đến nước Tùy nữa.
Tùy hầu lấy làm phải, toan cất quân đuổi theo quân Sở. Quý Lương nghe chuyện, liền vào can Tùy hầu rằng:
- Không nên! Không nên! Nước Sở lâu nay vẫn là một nước cường thịnh, mà Hùng Thông lại là một tay gian hùng, tự nhiên vô cớ sang giảng hòa với nước ta, tất là có bụng nham hiểm, đem phô bày những quân già yếu để đánh lừa ta, nếu chúa công cất quân đuổi theo quân Sở thì tất trúng kế.
Tùy hầu nghe lời cũng không đuổi theo quân nước Sở nữa. Hùng Thông nghe tin Quý Lương can Tùy hầu không nên đuổi theo, lại gọi Đấu Bá Tỷ vào hỏi kế.
Đấu Bá Tỷ hiến kế rằng:
- Xin chúa công hội chư hầu ở đất Thâm Lộc (đất nước Sở), nếu Tùy hầu sang hội là đã biết phục tòng, còn như không sang hội, thì ta sẽ coi là bội ước mà đem quân đến đánh.
Hùng Thông mới sai sứ báo cho các nước ở vùng Hán Đông đến hội tại đất Thâm Lộc. Các nước đều đến cả, chỉ có nước Tùy và nước Hoàng không đến. Hùng Thông sai Cừ Chương sang trách nước Hoàng; nước Hoàng xin tạ lỗi. Sở lại sai Khuất Hà sang trách nước Tùy; Tùy hầu không chịu xin lỗi.
Hùng Thông bèn cất quân sang đánh Tùy. Tùy hầu họp các quan lại để bàn kế chống nhau với Sở.
Quý Lương nói:
- Nước Sở mới hội các nước chư hầu, nay đem quân sang đánh ta, khí thế đang hăng hái lắm, chưa có thể địch nổi, chi bằng ta sai người sang xin lỗi để giảng hòa với Sở. Nếu Sở nghe ta thì thôi, nhược bằng không nghe, khi ấy ta sẽ đem quân ra đánh, thì điều trái là tại nước Sở; quân ta sẽ đem lòng tức giận, may ra mới có thể chống lại Sở được.
Thiếu Sư đứng bên cạnh, vùng vằng bảo Quý Lương rằng:
- Sao nhà ngươi nhút nhát quá như vậy! Quân Sở ở xa đến đây, chẳng qua là dẫn thân vào chỗ chết, nếu ta không đánh ngay thì quân Sở lại trốn mất như lần trước, chẳng cũng hoài lắm ru!
Tùy hầu nghe lời, mới cất quân đánh Sở. Quân Sở lừa cho quân Tùy vào trong thế trận, rồi phục binh ở bốn mặt đổ ra đánh; quân Sở lại toàn là những quân tinh nhuệ cả, Thiếu Sư cùng với tướng nước Sở là Đấu Đan đánh nhau chưa được mười hợp đã bị Đấu Đan chém chết ở dưới xe. Còn Quý Lương thì cố sức phá vỡ vòng vây để Tùy hầu chạy.
Tùy hầu bảo Quý Lương rằng:
- Bởi ta không nghe lời nhà ngươi khuyên can, đến nỗi thua trận như thế này!
Bèn quay lại hỏi quân sĩ rằng:
- Thiếu Sư đâu?
Quân sĩ có người trông thấy Thiếu Sư bị Đấu Đan giết, liền tâu với Tùy hầu. Tùy hầu thương tiếc, than thở ngậm ngùi mãi.
Quý Lương nói:
- Một người hại dân hại nước như thế, chúa công còn thương tiếc nỗi gì! Bây giờ chỉ còn cách xin hòa là hơn cả.
Tùy hầu nói:
- Thôi, việc nước bây giờ thì ta xin theo ý nhà ngươi cả.
Quý Lương mới sang xin giảng hòa với Sở. Sở Hùng Thông giận lắm, nói:
- Nước ngươi bội ước không sang hội, lại dám đem quân chống cự ta, bị thua rồi mới xin giảng hòa thì không phải thực bụng.
Quý Lương mặt không đổi sắc, thong dong đáp:
- Lúc trước đứa gian thần nước tôi là Thiếu Sư cậy thế chuyên quyền, cưỡng ép chúa công tôi phải đem quân ra đánh, chứ không phải tự ý chúa công tôi. Nay Thiếu Sư đã chết rồi, chúa công tôi biết là có lỗi, vậy sai tôi đến đây cúi đầu dưới trướng. Nếu người có lòng khoan dung cho thì chúa công tôi xin đem các nước chư hầu ở vùng Hán Đông đến triều nước Sở, không bao giờ dám trái mệnh.
Đấu Bá Tỷ nói:
- Lòng trời chưa muốn làm mất nước Tùy, vậy nên mới trừ bỏ đứa nịnh thần ấy đi, như thế thì ta cũng không nên đánh nước Tùy nữa, chi bằng ta cho Tùy giảng hòa, để Tùy đứng đầu các nước vùng Hán Đông này mà ca tụng công đức nước Sở với nhà Chu, bấy giờ ta sẽ xin với thiên tử nhà Chu gia phong vị hiệu để thần phục các rợ, cũng là một việc lợi cho nước Sở vậy.
Hùng Thông khen phải, mới sai Cừ Chương bảo riêng với Quý Lương rằng:
- Nếu quý quốc xin với thiên tử nhà Chu phong vị hiệu cho chúa công tôi, khiến cho chúa công tôi làm chủ các nước ở vùng Hán Đông này thì chúa công tôi lấy làm đội ơn lắm.
Quý Lương về nói với Tùy hầu. Tùy hầu bất đắc dĩ cũng phải thay lời các nước ở vùng Hán Đông mà tâu lên vua Hoàn vương nhà Chu, xin gia phong vương tước cho Sở. Nhưng Hoàn vương không nghe.
Sở Hùng Thông giận lắm, nói:
- Tiền nhân ta ngày xưa là Dục Hùng có công lao với nhà Chu nhiều lắm, mà vua nhà Chu chỉ phong cho ở một nơi biên viễn này, may mà bây giờ mở mang bờ cõi ra được, các nước man di đều thần phục cả, mà vua nhà Chu còn không phong vương cho ta, thế là nhà vua không biết “thưởng”. Người nước Trịnh bắn trúng vào vai, mà vua nhà Chu không dám đem quân đến đánh, thế là nhà vua không biết “phạt”. Không biết “thưởng” và không biết “phạt” thì sao gọi là thiên tử được! Vả lại tiền nhân ta ngày xưa cũng đã có một lần xưng vương, bây giờ ta lại theo lối cũ, cần gì phải xin vua nhà Chu nữa!
Nói xong, liền tự lập là Sở Vũ vương. Các nước chư hầu ở phương Hán Đông đều sai sứ đến chúc mừng. Vua Hoàn vương nhà Chu dẫu giận nước Sở, nhưng cũng chẳng làm gì nổi.
Từ bấy giờ nhà Chu càng ngày càng suy, mà nước Sở thì càng ngày càng cường thịnh. Sở Hùng Thông chết, truyền ngôi lại cho con là Hùng Si, đóng đô ở đất Dĩnh.
Trịnh Trang công từ khi đánh được vua Hoàn vương nhà Chu về, thưởng công cho công tử Nguyên, phong ở đất Lịch ấp; lại thưởng công cho tất cả các quan đại phu trong nước, chỉ trừ có Chúc Đam không được thưởng một tý gì. Chúc Đam mới vào kêu với Trịnh Trang công.
Trịnh Trang công nói:
- Nhà ngươi đã bắn trúng thiên tử mà ta lại còn thưởng công, thiên hạ còn coi ta ra cái gì?
Chúc Đam phẫn uất phát bệnh ung thư ở sau lưng mà chết. Trịnh Trang công hậu táng cho Chúc Đam và tư cấp cho gia quyến.
Được mấy năm, Trịnh Trang công ốm nặng, gọi Sái Túc đến bên cạnh giường mà hỏi rằng:
- Ta sinh được cả thảy mười một con. Ngoài thế tử Hốt thì công tử Đột, công tử Vỹ và công tử Nghi, đều có tư cách cả. Công tử Đột lại là người có tài trí hơn cả ba đứa kia, nay ta muốn truyền ngôi cho công tử Đột, nhà ngươi nghĩ thế nào?
Sái Túc nói:
- Thế tử Hốt là con trưởng và lại có nhiều công lao, người trong nước ai cũng tin phục; bây giờ bỏ con trưởng mà lập con thứ, tôi không dám phụng mệnh.
Trịnh Trang công nói:
- Công tử Đột tất không chịu yên phận, nếu lập công tử Hốt thì phải cho công tử Đột đi sang ở nước khác mới được.
Sái Túc nói:
- Biết tính con không ai bằng cha, xin chúa công tự liệu lấy.
Trịnh Trang công than rằng:
- Nước Trịnh từ nay trở đi, lại sinh ra nhiều việc đây!
Nói xong, liền cho công tử Đột sang ở nước Tống.
Trịnh Trang công mất, thế tử Hốt lên nối ngôi, tức là Trịnh Chiêu công. Trịnh Chiêu công cho các quan đại phu đi sứ các nước, lại sai Sái Túc sang nước Tống để dò xét tình hình công tử Đột một thể.
Nguyên mẹ công tử Đột là con gái Ung thị nước Tống, khi công tử Đột sang ở nước Tống liền bàn với Ung thị để lập kế về cướp ngôi nước Trịnh. Ung thị vào nói với Tống Trang công.
Tống Trang công cũng có lòng muốn giúp. Vừa gặp lúc Sái Túc sang sứ nước Tống. Tống Trang công mừng lắm, nói:
- Chỉ dùng một mình Sái Túc, cũng đủ khiến cho công tử Đột trở về nối ngôi nước Trịnh được.
Nói xong, liền sai Nam Cung Trường Vạn phục sẵn quân giáp sĩ ở trong triều, rồi mời Sái Túc vào. Khi Sái Túc vào, quân giáp sĩ đổ ra trói lại.
Sái Túc kêu to lên rằng:
- Kẻ ngoại thần này có tội gì?
Tống Trang công nói:
- Hãy đến chốn quân phủ rồi ta sẽ nói chuyện.
Giáp sĩ giải Sái Túc về chốn quân phủ, chung quanh canh giữ rất cẩn mật. Sái Túc trong lòng nghi sợ, không thể nào ngồi yên được. Chiều hôm ấy, quan thái tể nước Tống là Hoa Đốc thân hành đem rượu đến chốn quân phủ mời Sái Túc uống.
Sái Túc nói:
- Tôi phụng mệnh sang sứ quý quốc, chưa có tội lỗi gì cả, chẳng hay vì đâu mà quý quốc lại đem lòng giận dữ như vậy, hoặc là chúa công tôi có điều gì thất lễ chăng?
Hoa Đốc nói:
- Không phải thế! Ai còn không biết công tử Đột là con Ung thị. Công tử Đột nương náu nước tôi, chúa công tôi vẫn có lòng thương. Vả lại thế tử Hốt là người nhu nhược, không làm vua được, nếu ngài có thể bỏ đi mà lập công tử Đột, thì chúa công tôi xin cùng ngài kết hiếu, ngài nghĩ thế nào?
Sái Túc nói:
- Chúa công tôi phụng mệnh tiên quân mà lên nối ngôi, nếu tôi bỏ đi thì chư hầu tất kể tội tôi mà đem quân đến đánh.
Hoa Đốc nói:
- Việc thí nghịch ngày nay, nước nào không có, chẳng qua chỉ có mạnh sức là được, ai là kẻ dám bẻ tội?
Hoa Đốc lại ghé vào tai Sái Túc mà nói nhỏ rằng:
- Chúa công tôi đây cũng theo lối ấy mà lên nối ngôi đó. Ngài cứ làm đi, chúa công tôi đảm bảo cho ngài được vô sự.
Sái Túc cau lông mày lại, không nói gì cả. Hoa Đốc lại nói:
- Nếu ngài không theo, thì chúa công tôi sẽ sai Nam Cung Trường Vạn xuất quân đem năm trăm cỗ xe để đưa công tử Đột về nước Trịnh, mà ngày nào cất quân thì phải chém ngài để khai đao, tôi chỉ được trông thấy ngài một lần này mà thôi.
Sái Túc sợ lắm, bất đắc dĩ phải nhận lời. Hoa Đốc lại bắt phải thề. Sái Túc thề rằng:
- Nếu tôi không chịu lập công tử Đột thì quỷ thần tru diệt!
Hoa Đốc tức khắc về báo với Tống Trang công. Ngày hôm sau, Tống Trang công sai người gọi công tử Đột vào phòng kín mà bảo rằng:
- Ta cùng Ung thị thường bàn nhau muốn cho công tử được về nối ngôi. Nay nước Trịnh đã lập thế tử Hốt rồi, có đưa mật thư cho ta, bảo giết công tử đi thì sẽ xin hiến ba thành để tạ ơn; nhưng lòng ta không nỡ, vậy nên ta nói riêng cho công tử biết.
Công tử Đột sụp lạy, nói:
- Tôi đã sang tới đây thì sống chết cũng nhờ ở tay chúa công, nếu nhờ uy linh của chúa công mà tôi được về nước thì chúa công dạy thế nào, tôi cũng xin vâng mệnh, cứ gì ba thành mà thôi!
Tống Trang công nói:
- Ta đã giam Sái Túc ở chốn quân phủ, chỉ là vì việc của công tử đó. Việc ấy không có Sái Túc thì không xong được, để ta bắt Sái Túc phải thề.
Nói xong, liền gọi Sái Túc vào để yết kiến công tử Đột, lại gọi cả Ung thị vào, nói rõ việc bỏ Hốt lập Đột, rồi bắt ba người thề với nhau. Tống Trang công lại bắt công tử Đột làm tờ thệ ước rằng khi xong việc chẳng những phải hiến ba thành cho Tống lại còn phải dâng một trăm đôi bạch bích, một vạn nén hoàng kim, mỗi năm nộp ba vạn chung thóc để tạ ơn nước Tống.
Lại bắt Sái Túc ký tên vào trong tờ thệ ước để làm chứng. Bấy giờ công tử Đột nóng việc về nước quá, điều gì cũng xin vâng cả. Tống Trang công lại đòi công tử Đột sau khi về nước phải đem quyền chính giao cả cho Sái Túc. Công tử Đột cũng xin vâng.
Tống Trang công nghe nói Sái Túc có con gái, lại bắt Sái Túc phải gả cho con trai Ung thị là Ung Củ và đem Ung Củ về nước Trịnh, sau khi xong việc cho làm quan đại phu.
Sái Túc bất đắc dĩ cũng phải theo lời. Công tử Đột và Ung Củ giả dạng làm người buôn bán đi theo Sái Túc về nước Trịnh ở ẩn trong nhà Sái Túc. Sái Túc cáo ốm, không vào triều Trịnh Chiêu công. Các quan đại phu đều đến nhà Sái Túc để hỏi thăm. Sái Túc phục sẵn quân giáp sĩ ở chung quanh nhà, rồi mời các quan đại phu vào nhà trong.
Các quan đại phu bước vào, trông thấy Sái Túc mặt mũi đầy đặn, mũ áo chỉnh tề, đều giật mình mà hỏi rằng:
- Tướng công không bệnh gì cả, sao lại không vào triều?
Sái Túc nói:
- Thân tôi không có bệnh, nhưng nước nhà có bệnh. Tiên công ta yêu công tử Đột, có ký thác cho nước Tống, nay nước Tống sai Nam Cung Trường Vạn làm tướng, đem quân sang đánh Trịnh để giúp công tử Đột, bây giờ biết lấy gì mà chống cự cho nổi?
Các quan đại phu đều ngơ ngác nhìn nhau, không ai biết nói thế nào. Sái Túc nói:
- Ngày nay muốn tránh khỏi tai vạ cho nước Tống thì tất phải lập công tử Đột lên mới yên việc được. Công tử Đột hiện ở đây rồi, các quan có thuận không, xin nói quyết ngay cho một lời.
Cao Cừ Di vẫn đem lòng oán thế tử Hốt vì trước kia Hốt (tức Trịnh Chiêu công bây giờ) ngăn trở Trịnh Trang công không ban cho mình chức thượng khanh, liền đứng dậy hoa thanh gươm lên mà nói rằng:
- Tướng công nói câu ấy thật là may cho xã tắc lắm, chúng tôi xin vào yết kiến vua mới.
Các quan nghe Cao Cừ Di ngỡ là Cao đã ước mưu với Sái Túc, lại trông thấy chung quanh có quân phục, đều sợ hãi vâng dạ xin theo. Sái Túc liền gọi công tử Đột ra, mời ngồi lên trên, rồi cùng với Cao Cừ Di sụp xuống lạy trước. Các quan không biết làm thế nào, bất đắc dĩ cũng phải sụp lạy cả.
Sái Túc đã làm sẵn một tờ biểu chương, cùng mọi người ký kết, rồi sai người vào dâng Trịnh Chiêu công nói rằng: nước Tống đã đem quân đưa công tử Đột về nước, vậy nên chúng tôi không thể phụng thờ chúa công được nữa.
Lại viết riêng một tờ mật thư, trong tờ mật thư nói:
“Chúa công lên nối ngôi, thực không phải là ý của tiên công thuở xưa; nay nước Tống giam tôi lại bắt phải thề, mà cho đưa công tử Đột về, tôi nghĩ rằng nếu tôi chết đi cũng uổng mạng, không giúp ích gì được cho chúa công, nên bất đắc dĩ tôi phải nhận lời. Các quan trong triều cũng đều sợ uy nước Tống mà phải thuận cả. Xin chúa công hãy dùng quyền mà tạm tránh đi, sau này tôi sẽ liệu thế khôi phục nghiệp cũ”.
Cuối cùng lại viết một câu thề rằng:
“Nếu sai lời ấy thì mặt trời lặn tôi cũng xin chết theo!”
Trịnh Chiêu công tiếp được biểu chương và tờ mật thư ấy, tự biết rằng thế cô không có ai giúp, mới trốn sang ở nước Vệ. Công tử Đột lên nối ngôi, tức là Trịnh Lệ công. Chính sự trong nước, bất cứ điều lớn điều nhỏ, đều ở tay Sái Túc. Trịnh Lệ công phong cho Túc chức đại phu.
Khi Trịnh Lệ công còn ở bên nước Tống, cùng với Ung Củ đi lại rất thân mật, bởi vậy Trịnh Lệ công cũng tin dùng Ung Củ gần bằng Sái Túc. Từ khi Trịnh Lệ công lên nối ngôi, người trong nước đều tin phục cả, chỉ có công tử Vỹ và công tử Nghi là có ý bất bình, lại sợ Trịnh Lệ công hại mình, nên công tử Vỹ bèn trốn sang nước Sái, công tử Nghi thì trốn sang nước Trần. Tống Trang công nghe tin công tử Đột đã lên nối ngôi, liền sai sứ đem thư sang mừng.
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI MƯỜI MỘT
 
Trang công tham lễ gây việc binh
Sái Túc lập mưu giết con rể
 
Tống Trang công sai sứ đem thư sang mừng Trịnh Lệ công, đồng thời đòi ba thành đã hứa trước cùng các thứ bạch bích, hoàng kim và số thóc định lệ hàng năm. Trịnh Lệ công gọi Sái Túc vào thương nghị.
Trịnh Lệ công nói:
- Lúc trước ta nóng việc về nước quá, vậy nên hắn muốn đòi gì, ta cũng thuận cả. Nay ta mới lên ngôi mà hắn đã cho người đến đòi lễ, nếu ta y theo lời hẹn thì kho tàng hết sạch, chẳng còn tý gì. Vả lại ta mới lên ngôi, đã chịu mất ba thành, chẳng cũng làm trò cười cho các nước lân cận lắm ru!
Sái Túc nói:
- Chúa công nên chối rằng chúa công mới lên ngôi, lòng dân chưa định, nên không dám hiến đất vội, sợ sinh biến; vậy hãy xin đem nộp thuế má trong ba thành ấy; bạch bích, hoàng kim thì ba phần hãy đưa một phần. Còn số thóc phải nộp thì xin kể bắt đầu từ sang năm.
Trịnh Lệ công theo lời, viết thư đáp lại, đem hiến ba mươi đôi bạch bích, ba nghìn nén hoàng kim, còn thuế má trong ba thành hẹn đến đầu mùa đông sẽ giao nạp. Sứ giả về nói với Tống Trang công. Tống Trang công nổi giận nói:
- Đột là người đã chết rồi may nhờ ta mà được sống lại; Đột là người bần tiện mà ta làm cho được nên phú quý. Mấy thứ lễ vật nhỏ mọn đã hứa, chẳng qua là của thế tử Hốt, nào phải là của y mà lại còn có ý tiếc rẻ.
Nói xong, tức khắc lại sai sứ sang nước Trịnh đòi cho kỳ được đủ số, và bắt phải hiến ngay ba thành, chứ không chịu thu thuế má. Trịnh Lệ công lại thương nghị với Sái Túc, rồi xin nộp thêm hai vạn chung thóc. Sứ giả về đến Tống thì Tống Trang công lại cho sang bảo rằng nếu không nộp được đủ số thì bắt Sái Túc phải thân hành sang nước Tống để thương thuyết lại.
Sái Túc bảo Trịnh Lệ công rằng:
- Nước Tống ngày xưa chịu ơn của tiên công ta, chưa đền được chút nào, bây giờ lại cậy công mà tham cầu không chán, và nói nhiều câu vô lễ, chúa công không nên nghe, để tôi xin sang nói với nước Tề và nước Lỗ đứng lên điều đình hộ.
Trịnh Lệ công nói:
- Chẳng hay Tề, Lỗ có chịu giúp cho chăng?
Sái Túc nói:
- Ngày trước tiên công ta đánh Tống, việc gì cũng bàn với Tề, Lỗ cả. Huống chi Lỗ hầu ngày nay được nối ngôi cũng là nhờ ơn tiên công ta đó. Dầu nước Tề không chịu giúp ta, thì nước Lỗ thế nào cũng phải giúp.
Trịnh Lệ công nói:
- Bây giờ điều đình ra làm sao?
Sái Túc nói:
- Ngày trước Hoa Đốc nước Tống giết vua mà lập công tử Phùng, có đem lễ vật sang đút lót với tiên công ta và Tề, Lỗ để giúp cho được nên việc. Lúc bấy giờ nước Lỗ nhận cái cáo đỉnh, và nước ta nhận cái thương di (chén ngọc). Nay ta nói trước với Tề, Lỗ rồi đem cái thương di sang trả nước Tống. Trang công nhớ đến tình cảnh ngày xưa, tất xấu hổ mà tự phải thôi.
Trịnh Lệ công mừng lắm, nói:
- Ta nghe lời nhà ngươi nói, khác nào như đang giấc chiêm bao mà sực tỉnh dậy.
Nói xong, liền sai sứ đem lễ vật sang Tề và Lỗ, báo tin tân quân mới tức vị và tố cáo việc nước Tống phụ bạc tham lam. Sứ giả đến nước Lỗ vào chầu, Hoàn công cười mà nói rằng:
- Ngày trước nước Tống lễ nước ta chỉ có một cái cáo đỉnh, bây giờ Tống lấy của nước Trịnh như thế, cũng đã nhiều lắm rồi, lại còn chưa mãn nguyện hay sao? Việc ấy để ta thân hành sang nói hộ với Tống cho.
Sứ giả lạy tạ lui ra, lại sang nói với Tề Hi công. Tề Hi công lúc trước cảm cái ơn thế tử Hốt sang đánh giặc Bắc Nhung hộ, đã toan gả Văn Khương cho, dẫu rằng thế tử Hốt chối từ không chịu, nhưng Tề Hi công vẫn có lòng quý trọng. Nay nước Trịnh bỏ thế tử Hốt mà lập công tử Đột, Tề Hi công có ý không bằng lòng, mới bảo sứ giả nước Trịnh:
- Thế tử Hốt có tội gì mà nước ngươi dám bỏ đi, ta đây đang sắp sửa cùng với chư hầu đem quân sang hỏi tội.
Nói xong, không nhận lễ vật gì cả. Sứ giả về nói với Trịnh Lệ công.
Trịnh Lệ công sợ lắm, bảo Sái Túc rằng:
- Tề hầu đã nói thế thì tất có ngày đem quân sang đánh, ta biết tính thế nào?
Sái Túc nói:
- Tôi luyện tập quân mã để phòng bị sẵn, giặc đến thì đánh, chứ có sợ gì!
Lỗ Hoàn công sai người sang ước với Tống Trang công đến hội ở đất Phù Chung. Lỗ Hoàn công thay lời Trịnh Lệ công cảm ơn Tống Trang công, rồi xin Tống Trang công hãy khoan dung cho Trịnh.
Tống Trang công nói:
- Trịnh Đột nhờ ơn tôi nhiều lắm, khác nào như một cái trứng bỏ đi mà tôi ấp cho nở ra. Những lễ vật tạ ơn là tự bụng hắn xin thế, bây giờ hắn được về nối ngôi, lại đem lòng phụ bạc, vậy thì tài nào mà tôi bỏ qua được.
Lỗ Hoàn công nói:
- Quý quốc đã làm ơn cho Trịnh, khi nào Trịnh lại dám quên, nay Trịnh hầu mới lên nối ngôi, kho tàng khánh kiệt, chưa có thể theo như lời ước hẹn được, nhưng chẳng chóng thì chậm, quyết không dám sai, việc ấy tôi xin hết sức đoan nhận hộ.
Tống Trang công nói:
- Các đồ kim ngọc thì còn đổ cho tại kho tàng khánh kiệt chứ dâng nộp ba thành thì chỉ nói một câu là xong, sao cũng không quyết?
Lỗ Hoàn công nói:
- Trịnh Đột e rằng hiến đất như vậy thì các nước người ta chê cười, vậy phải xin nộp thuế má để thay vào, nghe đâu đã nộp được hai vạn chung thóc rồi kia mà.
Tống Trang công nói:
- Hai vạn chung thóc ấy, nguyên là định lệ hàng năm phải nộp, có dự gì đến ba thành. Huống chi các thứ Trịnh hứa với tôi, hiện chưa đưa được một nửa, bây giờ đã thế, thì ngày sau việc nguôi đi rồi, tôi còn mong nỗi gì, xin hiền hầu vì tôi mà nghĩ cho điều ấy.
Lỗ Hoàn công thấy Tống Trang công khăng khăng cố chấp như vậy, thì rất không bằng lòng, ngậm ngùi mà trở về. Lỗ Hoàn công về nước, liền sai người sang báo tin cho Trịnh Lệ công biết là Tống Trang công nhất định không nghe. Trịnh Lệ công lại sai Ung Củ đem cái thương di sang nói với Lỗ Hoàn công, để nhờ Lỗ Hoàn công đưa trả nước Tống thay vào ba thành, lại đưa thêm ba mươi đôi bạch bích và hai nghìn nén hoàng kim. Lỗ Hoàn công bất đắc dĩ lại phải thân hành sang nước Tống, cùng với Tống Trang công hội ở đất Cốc Khâu.
Lỗ Hoàn công nói:
- Hiền hầu bảo rằng nước Trịnh hẹn đưa các đồ lễ vật, mà chưa đưa được một nửa; tôi đã trách nước Trịnh rồi, nước Trịnh nay đã xin đem nộp thêm.
Tống Trang công chẳng cám ơn gì cả, chỉ hỏi còn ba thành thì đến hôm nào Trịnh dâng nộp. Lỗ Hoàn công nói:
- Trịnh Đột thiết nghĩ đất cát là của tiền nhân để lại, vậy không dám vì chút ơn riêng ấy mà cắt bỏ bờ cõi của tiền nhân. Nay xin dâng một vật này để thay vào ba thành.
Nói xong, liền sai người đem một vật có tấm vóc vàng bọc ngoài quỳ dâng ở trước mặt Tống Trang công. Tống Trang công nghe nói đến câu ơn riêng, đã cau lông mày lại; đến lúc mở bao phục ra xem, thấy cái thương di, tức là một vật của Tống lễ Trịnh khi trước, liền sầm nét mặt xuống, giả cách không biết mà hỏi rằng:
- Cái này để làm gì?
Lỗ Hoàn công nói:
- Đây vốn là một vật báu trong nội phủ của quý quốc. Xưa kia Trịnh Trang công có chút công lao với quý quốc, được quý quốc ban cho cái vật báu ấy, giữ gìn trong kho làm thế bảo. Nhưng nay, tự quân nước Trịnh cũng không dám tham tiếc, xin trả lại quý quốc, để quý quốc nghĩ đến tình xưa mà miễn cho việc nộp đất, thì tiên công nước Trịnh cũng được đội ơn, nào phải một mình Trịnh Đột mà thôi?
Tống Trang công thấy nói động đến việc cũ, đỏ mặt tía tai lên mà đáp lại rằng:
- Việc đã lâu ngày, tôi cũng quên mất, để tôi hỏi lại xem đã.
Tống Trang công và Lỗ Hoàn công đang nói chuyện với nhau, bỗng nghe báo có Yên Bá xin vào yết kiến. Tống Trang công cho vào.
Yên Bá nói với Tống Trang công rằng:
- Nước Yên tôi tiếp giáp với nước Tề, thường bị nước Tề xâm nhiễu, xin nhờ chúa công đem uy lớn ra điều đình với nước Tề giúp cho, khiến cho nước tôi giữ yên được bờ cõi.
Tống Trang công nhận lời. Lỗ Hoàn công bảo Tống Trang công rằng:
- Nước Tề vẫn thù nhau với nước Kỷ, thường có ý muốn cướp nước Kỷ, nếu hiền hầu nói hộ cho nước Yên thì tôi đây cũng nói hộ cho nước Kỷ, khiến cho hai bên giảng hòa với nhau, tránh khỏi nạn binh đao cho trăm họ.
Lỗ, Tống và Yên cùng hội thề với nhau. Lỗ Hoàn công về nước, tịnh không thấy nước Tống trả lời làm sao cả. Trịnh Lệ công thấy nước Tống vẫn cho sứ sang đòi lễ, lại sai người đến nói với Lỗ Hoàn công. Lỗ Hoàn công bất đắc dĩ lại sai người mời Tống Trang công sang hội ở đất Hư Quy để quyết định về việc nước Trịnh.
Tống Trang công không đến hội, sai sứ nói với Lỗ Hoàn công rằng:
- Tôi cùng nước Trịnh đã có định ước riêng với nhau, hiền hầu không nên xen vào.
Lỗ Hoàn công giận lắm, mắng rằng:
- Dẫu đứa thường dân mà tham lam và thất tín cũng chẳng ra gì, nữa là ông vua một nước!
Nói xong, liền quay xe sang nước Trịnh, cùng với Trịnh Lệ công hội ở đất Vũ Phủ, ước cùng nhau đem quân đánh Tống. Tống Trang công nghe nói Lỗ Hoàn công nổi giận, chắc rằng không giữ được hòa hiếu; lại nghe nói Tề Hi công không chịu giúp Trịnh Lệ công, liền sai công tử Du sang sứ nước Tề, kể chuyện công tử Đột (Trịnh Lệ công) phụ ơn, xin nước Tề giúp sức cho để đánh công tử Đột, và phục lại ngôi cho công tử Hốt (Trịnh Trang công), lại cầu hòa hộ cả cho Yên Bá nữa. Sứ giả đi chưa về, đã nghe báo quân Lỗ và quân Trịnh kéo đến đánh. Tống Trang công sợ hãi, cho đòi các quan đại phu vào để bàn kế cự địch.
Công tử Ngự Thuyết can rằng:
- Trong cuộc tranh chiến, ai phải thì được, ai trái thì thua; nay ta tham lễ của nước Trịnh, lại làm mất lòng nước Lỗ, vậy thì kẻ kia có thể trách ta được, chi bằng ta cho người xin lỗi để cầu hòa là hơn cả.
Nam Cung Trường Vạn nói:
- Giặc thì đến dưới thành mà ta không dám bắn một mũi tên, nhu nhược như vậy thì còn giữ nước làm sao nổi!
Hoa Đốc nói:
- Nam Cung Trường Vạn nói phải đó!
Tống Trang công không nghe lời công tử Ngự Thuyết, mới sai Nam Cung Trường Vạn làm tướng, đem quân ra đánh.
Nam Cung Trường Vạn lại tiến cử Mạnh Hoạch làm tiên phong. Khi ra trận, Nam Cung Trường Vạn trông thấy bóng tàn bay phấp phới, biết là chỗ Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công đứng, liền vỗ vào vai Mạnh Hoạch mà bảo rằng:
- Ngày nay nhà ngươi không lập công thì còn đợi đến bao giờ nữa!
Mạnh Hoạch vâng lời, liền cầm một cái côn sắt xông ra để đánh. Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công trông thấy thì quay xe lùi lại mấy bước rồi cho công tử Nịch (Lỗ) và Nguyên Phồn (Trịnh) ra đối địch.
Công tử Nịch và Nguyên Phồn ra trận, quát to lên rằng:
- Tướng kia tên họ là gì, phải nói cho rõ.
Mạnh Hoạch nói:
- Ta đây là tiên phong nước Tống, tên gọi là Mạnh Hoạch.
Nguyên Phồn vừa cười vừa nói:
- Thằng vô danh tiểu tốt kia! Ta giết mày làm chi cho bẩn cả lưỡi gươm. Mày gọi chủ tướng mày ra đây đối địch cùng ta!
Mạnh Hoạch giận lắm, cầm giáo ra nghênh chiến, bị Lương Tử bắn một mũi tên vào cánh tay phải, không cầm được giáo nữa, quân Trịnh đổ ra trói lại, giải về đại doanh.
Nam Cung Trường Vạn nghe tin Mạnh Hoạch bị bắt, nghiến răng nghiến lợi mà nói rằng:
- Ta không cứu được Mạnh Hoạch thì còn mặt mũi nào mà trở vào cửa thành nước Tống nữa.
Nói xong, liền sai con trưởng là Nam Cung Ngưu đem ba mươi cỗ xe ra đánh mà hẹn phải giả cách thua để dụ giặc tới cửa tây. Nam Cung Ngưu vâng mệnh ra trận, lên tiếng quát mắng, kể tội Trịnh Đột quên ơn phụ nghĩa, bây giờ lại tự dẫn thân đến chỗ chết, biết điều thì xuống ngựa mà nộp mình đi. Tướng Trịnh nghe nói, liền xông lại đánh. Đánh chưa được ba hợp, Nam Cung Ngưu giả cách thua chạy. Tướng Trịnh giục ngựa đuổi theo.
Đuổi gần đến cửa tây, bỗng nghe có mấy tiếng súng nổ, Nam Cung Trường Vạn ở mặt sau đổ ra đánh. Nam Cung Ngưu cũng đem quân trở lại, hai bên cùng đánh ập vào, tướng Trịnh bị Nam Cung Trường Vạn bắt sống được. Nam Cung Trường Vạn đem tướng Trịnh vào nộp Tống Trang công, xin Tống Trang công sai sứ sang dinh quân Trịnh mà đổi lấy Mạnh Hoạch về. Trịnh Lệ công cũng thuận, hai bên đều đóng cũi những người bị bắt đem ra trước trận để đổi lẫn cho nhau; tướng Trịnh được giao trả cho quân Trịnh; còn Mạnh Hoạch thì lại trả về cho quân Tống.
Lại nói chuyện công tử Du nước Tống sang mượn quân nước Tề. Tề Hi công nói:
- Trịnh Đột đuổi anh mà cướp ngôi, ta vẫn lấy làm ghét lắm, nhưng nay ta còn bận đem quân đi đánh nước Kỷ. Nếu quý quốc chịu giúp ta đánh Kỷ thì ta sẽ giúp quý quốc đánh Trịnh.
Công tử Du về báo với Tống Trang công.
Lại nói chuyện Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công đang cùng nhau bàn việc đánh Tống, bỗng có người nước Kỷ đến cáo cấp, nói bị quân nước Tề đánh gấp lắm, xin nước Lỗ nghĩ đến tình thân thuộc mà cứu giúp cho.
Lỗ Hoàn công sợ lắm, bảo Trịnh Lệ công rằng:
- Nước Kỷ cáo cấp, tôi tất phải sang cứu, cũng chưa có thể phá ngay được thành nước Tống, âu là tôi hãy rút quân về, chắc nước Tống từ nay cũng không dám đòi lễ của nước Trịnh nữa.
Trịnh Lệ công nói:
- Hiền hầu đã định đem quân cứu nước Kỷ, tôi đây cũng xin đi theo giúp hiền hầu.
Lỗ Hoàn công mừng lắm, mới cùng với Trịnh Lệ công thẳng đường tiến sang nước Kỷ. Tống Trang công thấy quân Lỗ và quân Trịnh đã kéo sang nước Kỷ, mới được an tâm.
Hoa Đốc nói với Tống Trang công rằng:
- Nước Tề đã hẹn với ta giúp quân đánh Trịnh, thì bây giờ ta cũng nên giúp Tề mà đánh Kỷ.
Tống Trang công liền sai Nam Cung Trường Vạn đem quân đi giúp Tề, lại cho Mạnh Hoạch làm tiên phong. Tề Hi công sai người sang mượn quân nước Vệ và nước Yên, gặp lúc bấy giờ Vệ Tuyên công mất, thế tử Sóc lên nối ngôi, tức là Vệ Huệ công.
Vệ Huệ công không dám từ chối, cũng đem quân đi giúp Tề để đánh Kỷ. Yên Bá xưa nay vẫn sợ uy nước Tề, thấy nước Tề sang mượn quân, cũng muốn nhân dịp để cầu thân với Tề, vậy mới đem quân sang giúp. Kỷ hầu thấy ba nước (Tề, Vệ và Yên) đem quân đến, không dám ra đánh, chỉ đóng cửa thành lại cố giữ thế thủ, để đợi quân cứu viện. Bỗng nghe báo Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công đã đem quân đến cứu viện. Kỷ hầu trèo lên mặt thành trông thấy, trong bụng mừng rỡ, liền sắp sửa để ra nghênh tiếp. Lỗ Hoàn công kéo quân đến, gặp Tề Hi công ở giữa trận.
Lỗ Hoàn công nói:
- Nước Kỷ là một nước thân thuộc của nước tôi, nghe nói có điều thất lễ với quý quốc, vậy nên tôi phải đến đây để xin lỗi hộ.
Tề Hi công nói:
- Tiên tổ tôi là Ai công ngày xưa vì nước Kỷ gièm pha mà bị vua nhà Chu mổ bụng, đến nay đã tám đời rồi, vẫn chưa báo được cái thù ấy. Quý quốc nghĩ tình thân mà phải giúp, tôi đây nghĩ thù cũ mà phải báo, công việc ngày nay, chỉ có đánh nhau mà thôi.
Lỗ Hoàn công giận lắm, liền sai công tử Nịch ra đánh. Tề Hi công sai công tử Bành Sinh ra đối địch. Gặp bấy giờ Trịnh Lệ công kéo đại binh đến, quân Tề thua chạy, công tử Bành Sinh bị tên bắn gần chết; lúc ấy lại có quân Tống đến đánh giúp.
Quân Tống vừa tới nơi thì bị quân Lỗ và quân Trịnh xông lại đuổi đánh, quân Tống phải thua chạy. Tề Hi công vừa chạy vừa ngảnh lại, trỏ vào thành nước Kỷ mà thề rằng:
- Nước Kỷ với ta sau này quyết không cùng sống!
Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công thắng trận rồi, thu quân trở về. Kỷ hầu mời cả vào trong thành để bày tiệc khoản đãi.
Em Kỷ hầu là Doanh Quý nói với Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công rằng:
- Ngày nay quân Tề thua trận, càng đem lòng oán giận nước tôi, xin quý quốc nghĩ cách bảo toàn cho.
Lỗ Hoàn công nói:
- Để rồi ta sẽ liệu.
Ngày hôm sau, Kỷ hầu tiễn Lỗ Hoàn công và Trịnh Lệ công ra ngoài thành ba mươi dặm, rồi gạt nước mắt mà trở về. Lỗ Hoàn công về nước rồi, Trịnh Lệ công lại sai người sang giao hiếu, từ bấy giờ chư hầu chia ra hai bè phái: một thuộc Lỗ-Trịnh , còn một thuộc Tống-Tề.
Tề Hi công vì trận thua ở nước Kỷ, trong lòng uất ức thành ra đau nặng, đòi thế tử Chư Nhi đến bên cạnh giường mà dặn rằng:
- Nước Kỷ là kẻ thù với ta, nếu con phá được nước Kỷ thì mới gọi là hiếu tử, nay con lên nối ngôi, nên nghĩ đến việc ấy trước nhất; nếu không bắt được kẻ thù thì chớ nên bước vào miếu thờ ta.
Thế tử Chư Nhi sụp lạy, xin vâng lời dạy. Tề Hi công lại gọi con Di Trọng Niên là Vô Tri vào, sai lạy thế tử Chư Nhi, rồi dặn thế tử Chư Nhi rằng:
- Em cùng mẹ với ta, chỉ sinh được có một mình nó, con phải trông nom săn sóc nó, cũng như lúc ta hãy còn sống thì mới phải đạo.
Nói xong, liền nhắm mắt tắt thở. Các quan tôn thế tử Chư Nhi lên nối ngôi, tức là Tề Tương công.
..................................................
Tống Trang công oán nước Trịnh đến cốt tủy, lại sai sứ đem những đồ vàng ngọc mà nước Trịnh đã nộp khi trước sang đút lót với bốn nước Tề, Sái, Vệ, Trần để xin quân phục thù.
Trịnh Lệ công toan đem quân ra đối địch, quan thượng khanh là Sái Túc can rằng:
- Nước Tống là một nước lớn, nay hăng hái tức khí, đem hết quân trong nước sang đánh nước ta, tôi thiết tưởng ta không nên đánh lại, vì đánh mà thua thì khó lòng giữ được cơ nghiệp; may mà được ra nữa thì lại chuốc thêm lấy thù oán về sau, nước ta cũng chưa biết bao giờ yên được, chi bằng ta cứ mặc không ra đánh là hơn.
Trịnh Lệ công nghe nói, còn ngần ngừ chưa quyết. Sái Túc liền hạ lệnh:
- Ai xin ra đánh sẽ bắt tội!
Tống Trang công thấy quân Trịnh không ra đánh, liền đem quân vào đốt cửa thành, phá lấy cột nhà thái miếu nước Trịnh đem về làm cửa thành nước Tống để cho nước Trịnh phải nhục.
Trịnh Lệ công nghĩ càng uất ức, than rằng:
- Ta bị Sái Túc áp chế thế này thì làm vua còn vui gì nữa!
Từ bấy giờ mới có ý muốn giết Sái Túc.
Vua Hoàn vương nhà Chu đau nặng, gọi Chu công Hắc Kiên đến bên cạnh giường mà bảo rằng:
- Cứ theo lễ thì nên lập con trưởng, nhưng trẫm vốn yêu công tử Khắc, nay trẫm ủy thác lại cho nhà ngươi, ngày sau anh nó nối ngôi, rồi thứ đến nó, nhờ nhà ngươi giúp cho.
Nói xong thì mất. Chu công Hắc Kiên tôn thái tử Đà lên ngôi, tức là vua Trang vương.
Trịnh Lệ công nghe tin vua nhà Chu mất, toan sai người vào viếng tang. Sái Túc cố ý can, nói rằng nhà vua Chu có thù với tiên công nước Trịnh, ngày trước Chúc Đam nước ta đã bắn trúng vào vai vua nhà Chu, nay cho người đến viếng tang không khéo bị nhục.
Trịnh Lệ công dẫu phải nghe lời, nhưng trong lòng càng thêm tức giận. Một hôm nhà vua ra chơi ngoài vườn, chỉ có một mình quan đại phu là Ung Củ đi theo. Trịnh Lệ công trông thấy đàn chim vừa bay vừa hót, liền ngẫm nghĩ mà thở dài.
Ung Củ nói:
- Nay tiết xuân đang đầm ấm, trăm giống chim đều thích ý vui mừng, chúa công đã được tôn quý, làm một vị chư hầu, sao lại buồn rầu như vậy?
Trịnh Lệ công nói:
- Trăm chim đều được bay nhảy kêu hót tùy lòng, không bị ai kiềm chế, ta đây lại không bằng giống chim, vậy nên không được vui.
Ung Củ nói:
- Có lẽ chúa công nghĩ đến việc người ta đoạt mất quyền chính trong nước hẳn?
Trịnh Lệ công nín lặng không nói gì cả. Ung Củ lại nói:
- Tôi thiết nghĩ vua cũng như cha, bề tôi cũng như con. Con không lo việc được cho cha, tức là bất hiếu; bề tôi không giúp nạn được cho vua, tức là bất trung. Nếu chúa công cho Củ này là người không đến nỗi hèn mạt quá, mà giao cho việc gì thì Củ này xin hết sức.
Trịnh Lệ công bèn đuổi hết người chung quanh đi, rồi bảo Ung Củ rằng:
- Nhà ngươi có phải là con rể Sái Túc đó chăng?
Ung Củ nói:
- Con rể thì có, chứ yêu thì không. Sái Túc gả con cho tôi, chẳng qua là vì vua nước Tống cưỡng bức, thật không phải tự bụng Sái Túc. Sái Túc mỗi khi nói đến thế tử Hốt vẫn có ý quyến luyến, chỉ vì sợ uy nước Tống, nên chưa dám đổi lòng đó thôi.
Trịnh Lệ công nói:
- Nhà ngươi giết được Sái Túc thì ta cho nhà ngươi thay vào chức ấy, nhưng biết dùng kế gì bây giờ?
Ung Củ nói:
- Xứ Đông Giao nước ta, nay bị quân Tống tàn phá, nhân dân xiêu dạt cả, sáng mai chúa công nên sai Sái Túc đem thóc lúa ra đấy để cấp phát cho dân, rồi tôi sẽ bày một tiệc rượu ở Đông Giao, bỏ thuốc độc cho hắn chết là xong.
Trịnh Lệ công nói:
- Ta giao cho nhà ngươi việc ấy, nhà ngươi phải cẩn thận lắm đấy.
Ung Củ về đến nhà, trông thấy vợ là Sái thị, bỗng nhiên chột dạ, thành ra có ý hoảng hốt. Sái thị sinh nghi, mới hỏi:
- Trong triều hôm nay có việc gì lạ không?
Ung Củ nói:
- Không.
Sái thị nói:
- Thiếp trông nét mặt phu quân khác thường, trong triều hôm nay tất phải có việc lạ. Đã là tình nghĩa vợ chồng với nhau thì bất cứ việc lớn việc nhỏ, phu quân cũng nên cho thiếp được dự biết.
Ung Củ nói:
- Chúa công muốn sai phụ thân ra xứ Đông Giao để úy dụ trăm họ, ta định bày một tiệc rượu ở đấy để chúc thọ phụ thân, chứ có việc gì đâu!
Sái thị nói:
- Phu quân muốn chúc thọ thân phụ tôi thì cứ gì phải ra tận Đông Giao mới được?
Ung Củ nói:
- Đó là ta phụng mệnh chúa công, mình hỏi làm gì?
Sái thị càng có ý nghi ngờ, mới lập kế cho Ung Củ uống rượu thật say, nhân lúc Ung Củ ngủ mê, giả cách hỏi rằng:
- Chúa công sai nhà ngươi giết Sái Túc, nhà ngươi quên rồi à?
Ung Củ đang mơ mơ màng màng, cũng ú ớ đáp lại rằng:
- Việc đó khi nào tôi dám quên!
Sáng hôm sau, Sái thị bèn bảo Ung Củ rằng:
- Phu quân muốn giết thân phụ tôi, tôi đã biết hết rồi!
Ung Củ nói:
- Chết nỗi, có thế bao giờ!
Sái thị nói:
- Đêm qua, phu quân say rượu đã nói ra tất cả, lại còn giấu làm gì!
Ung Củ nói:
- Nếu quả có việc ấy thì ý mình nghĩ thế nào?
Sái thị nói:
- Đã lấy chồng thì phải theo chồng, chứ còn hỏi gì nữa!
Ung Củ mới kể hết cả đầu đuôi cho Sái thị nghe. Sái thị nói:
- Tôi sợ rằng thân phụ tôi lại lưỡng lự chưa chắc đã đi; để đến gần hôm ấy tôi sẽ về trước mà thúc đẩy thân phụ tôi mới được.
Ung Củ nói:
- Nếu mà xong việc, ta thay vào chức ấy thì mình cũng được vinh hiển.
Gần đến hôm ấy Sái thị về nhà cha mẹ, hỏi mẹ rằng:
- Cha với chồng đằng nào thân?
Mẹ đáp:
- Hai đằng cùng thân cả.
Sái thị lại hỏi:
- Nhưng đằng nào thân hơn?
Mẹ nói:
- Cha thân hơn chồng.
Sái thị nói:
- Tại sao thế?
Mẹ đáp:
- Con gái lúc chưa lấy chồng thì chỉ biết có cha, chứ đã biết ai là chồng; lúc lấy chồng rồi thì có thể đổi lấy chồng khác được, chứ không có thể đổi được cha khác. Vậy thì chồng định tự người, cha định tự trời, chồng ví với cha thế nào được!
Lời nói vô tình mà làm Sái thị cảm động. Sái thị liền ứa nước mắt mà nói rằng:
- Ngày nay con xin vì cha, con không nghĩ đến chồng được nữa!
Nói xong liền đem chuyện Ung Củ nói riêng với mẹ. Bà mẹ sợ hãi, tức thì nói với Sái Túc. Sái Túc nói:
- Các người chớ nói hở ra, để khi ấy ta sẽ liệu xử.
Đến hôm ấy, Sái Túc sai người tâm phúc là Cường Thư đem hơn mười kẻ thủ hạ đi hầu, người nào trong mình cũng giắt dao găm cả; lại sai công tử Át đem hơn trăm giáp sĩ ra mai phục sẵn ở ngoài xứ Đông Giao, để làm quân tiếp ứng. Sái Túc đi đến Đông Giao, Ung Củ ra đón, bày một tiệc rượu rất trọng thể.
Sái Túc nói:
- Ta đi đây là việc nước, chức phận phải như vậy, sao nhà ngươi lại bày vẽ ra làm gì?
Ung Củ nói:
- Nhân tiết xuân đầm ấm, con xin dâng chén rượu nhạt để mua vui.
Nói xong, rót một chén rượu thật đầy, quỳ trước mặt Sái Túc, hớn hở tươi cười mà chúc thọ. Sái Túc giả cách giơ tay ra để tiếp chén, rồi tay phải nắm lấy cánh tay Ung Củ, tay trái cầm lấy chén rượu đổ xuống đất, thấy mặt đất bốc nóng nứt nẻ cả ra, bèn quát to lên rằng:
- Thằng thất phu này mày dám láo với ta!
Nói xong, liền thét người ra bắt lấy. Cường Thư cùng mấy thủ hạ bổ vào trói Ung Củ, rồi đem ra chém, quăng xác xuống sông Chu Tri. Những quân giáp sĩ của Trịnh Lệ công sai đến phục sẵn để tiếp ứng cho Ung Củ, đều bị quân công tử Át đuổi đánh, bỏ chạy tán loạn cả.
Trịnh Lệ công nghe tin, giật mình kinh sợ, nói:
- Thế này thì chắc hẳn Sái Túc không để cho ta được yên nào!
Nói xong, liền trốn sang nước Sái.
Sái Túc nghe tin Trịnh Lệ công đã đi trốn, liền sai người sang nước Vệ, đón Trịnh Chiêu công về nối ngôi.
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI MƯỜI HAI
 
Vệ Tuyên công giành vợ của con
Cao Cừ Di mưu lập vua khác
 
Vệ Tuyên công là người dâm dục, khi chưa lên nối ngôi, tư thông với người vợ lẻ của cha là nàng Di Khương, sinh được một con trai tên gọi Cấp Tử. Đến khi lên nối ngôi, cho Cấp Tử làm thế tử, giao phó cho công tử Chức trông nom. Bấy giờ Cấp Tử đã mười sáu tuổi. Vệ Tuyên công sai sứ sang hỏi con gái trưởng của Tề Hi công cho Cấp Tử.
Sứ giả về nói chuyện con gái Tề hầu phong tư tuyệt thế, Vệ Tuyên công là người tham sắc, muốn lấy làm vợ mình, liền sai Cấp Tử sang sứ nước Tống, rồi làm một cái đài lộng lẫy trên sông Kỳ gọi là Tân đài và rước nàng về đó làm vợ mình, tức là nàng Tuyên Khương.
Khi Cấp Tử ở nước Tống về đến Tân đài, Vệ Tuyên công cho vào yết kiến Tuyên Khương, bắt phải gọi là thứ mẫu. Cấp Tử cũng không oán giận cha chút nào cả. Vệ Tuyên công từ khi lấy được Tuyên Khương, đêm ngày vui thú ở chốn Tân đài, chẳng biết gì đến nàng Dĩ Khương nữa. Được ba năm, Tuyên Khương sinh luôn hai con trai: công tử Thọ và công tử Sóc.
Vệ Tuyên công vì say mê Tuyên Khương quá độ nên tấm lòng yêu thương Cấp Tử ngày trước lại đổi ra thương yêu công tử Thọ và công tử Sóc, định về sau này đem giang sơn nước Vệ truyền lại cho Thọ và Sóc, coi Cấp Tử tựa hồ một người thừa. Nhưng công tử Thọ là người hiếu hữu, vẫn yêu mến Cấp Tử như anh em cùng mẹ sinh ra, nên thường khi ở trước mặt cha mẹ lại có ý bênh vực Cấp Tử.
Vệ Tuyên công ủy thác cho công tử Tiết phù tá công tử Thọ để ngày sau lên nối ngôi. Công tử Sóc tuy cùng với công tử Thọ dẫu là con cùng mẹ với nhau, nhưng tính khí lại khác hẳn với công tử Thọ. Sóc cậy thế mẹ mình được Tuyên công yêu, vẫn âm mưu cướp ngôi nước Vệ. Chẳng những Sóc đem lòng ghét bỏ Cấp Tử, mà đến anh cùng mẹ với Sóc là công tử Thọ, Sóc cũng coi như một cái bướu thừa. Sóc định trừ Cấp Tử trước, rồi sau đó sẽ trừ công tử Thọ.
Công tử Sóc đã nhiều lần nói với mẹ là Tuyên Khương rằng:
- Ngày nay phụ thân con hãy còn, dầu vẫn trọng đãi mẹ con ta thật, nhưng Cấp Tử là anh, chúng con là em, tất ngày sau hắn được lên nối ngôi. Huống chi Di Khương tích oán lâu ngày, nếu Cấp Tử nối ngôi lên làm vua, Di Khương sẽ lên làm quốc mẫu, thì mẹ con ta thật không có chỗ nào mà nương thân.
Tuyên Khương ngày trước lẽ ra được cưới về cho Cấp Tử, ngày nay lại lấy Vệ Tuyên công, nên đối với Cấp Tử cũng có ý ngại mặt, bèn cùng công tử Sóc bàn mưu để ngày đêm gièm pha Cấp Tử trước mặt Vệ Tuyên công.
Một hôm gặp ngày sinh nhật Cấp Tử, công tử Thọ bày một tiệc rượu mừng, công tử Sóc cũng dự tiệc. Trong khi ăn tiệc thì Cấp Tử cùng với công tử Thọ chuyện trò thân mật lắm, công tử Sóc có ý không bằng lòng, cáo bệnh lui ra đi thẳng đến trước mặt Tuyên Khương, nước mắt giàn giụa mà mách rằng:
- Con cũng vì bụng tốt mà cùng với anh con dâng chén rượu mừng Cấp Tử. Khi rượu đã ngà ngà say, Cấp Tử nữa bỡn nửa thật, gọi con là con. Con không bằng lòng, có nói lại mấy câu thì hắn lại bảo con rằng: “Mẹ mày tức là vợ tao, mày nên gọi tao là cha mới phải”. Con vừa toan cãi lại thì hắn sừng sộ chực đánh con, may mà có anh con khuyên giải, con mới chạy thoát đến đây. Xin thân mẫu nói với phụ thân con phân xử cho.
Tuyên Khương tưởng thực, chờ khi Vệ Tuyên công vào cung, liền khóc nức nở mà thuật chuyện lại cho Vệ Tuyên công nghe, lại đơm đặt thêm mấy câu rằng:
- Hắn cố tình làm nhục thiếp. Hắn nói: “Mẹ ta là Di Khương, nguyên là thứ mẫu của phụ thân ta ngày xưa mà phụ thân ta còn nhận làm vợ; huống chi thân mẫu mày lẽ ra là vợ ta, nay thân phụ ta chỉ mượn tạm mà thôi, tất sẽ có ngày phải trả lại ta cùng với cả giang sơn nước Vệ nữa”.
Tuyên công gọi công tử Thọ vào hỏi, công tử Thọ nói:
- Thật quả không có chuyện ấy bao giờ!
Tuyên công nửa tin nửa ngờ, sai nội thị truyền bảo Di Khương, trách mắng về sự không biết dạy con.
Di Khương tức giận quá, không nói ra được liền thắt cổ chết. Cấp Tử thương mẹ lắm, nhưng sợ trái ý cha, chỉ gạt nước mắt mà khóc thầm.
Công tử Sóc lại cùng Tuyên Khương gièm pha với Vệ Tuyên công rằng:
- Cấp Tử nhân mẹ chết oan, lại càng đem lòng oán giận, nhất định mai sau hắn giết mẹ con tôi để báo thù cho mẹ.
Tuyên công vốn không tin có việc ấy, nhưng Tuyên Khương và công tử Sóc ngày đêm thêu dệt, cốt cho Vệ Tuyên công bị mê hoặc phải giết Cấp Tử mới nghe.
Tuyên công xiêu lòng, liền nghĩ kế giết Cấp Tử, nhưng vì không lấy cớ gì mà giết được, Tuyên công liền nghĩ cách phải mượn tay người khác giết ở dọc đường để che mắt thiên hạ.
Gặp lúc bấy giờ Tề Hi công cho người sang mượn quân nước Vệ. Vệ Tuyên công bàn với công tử Sóc, sai Cấp Tử cầm cờ tiết trắng sang sứ nước Tề, rồi cho một bọn hung đồ phục sẵn ngang đường, chờ khi thuyền Cấp Tử đến đó thì đổ ra mà giết, hễ lấy được cờ tiết trắng đem về sẽ có trọng thưởng.
Công tử Sóc sắp đặt đâu đấy rồi, bèn vào nói chuyện với mẹ là Tuyên Khương. Tuyên Khương nghe nói mừng rỡ vô cùng. Công tử Thọ thấy Vệ Tuyên công đuổi hết những người chung quanh ra, chỉ đòi một mình công tử Sóc vào thương nghị sinh lòng nghi hoặc, mới vào cung để dò ý Tuyên Khương.
Tuyên Khương vô tình nói thật hết cả. Lại dặn công tử Thọ rằng:
- Đó là chủ ý của phụ thân con, để trừ mối lo cho mẹ con ta về sau, con chớ tiết lộ ra cho người khác biết.
Công tử Thọ biết là chủ ý Vệ Tuyên công dẫu can cũng không ích gì, mới đến nói riêng với Cấp Tử, và bảo Cấp Tử nên trốn sang nước khác, rồi sau sẽ liệu cách. Cấp Tử nói:
- Làm con biết theo mệnh cha, mới gọi là hiếu; nếu trái mệnh cha thì tức là đứa nghịch tử. Thiên hạ lại có nước nào là nước không cha, mà bảo ta trốn đến bây giờ!
Nói xong, liền sắp sửa hành trang, cứ việc xuống thuyền đi. Công tử Thọ vừa khóc vừa can, nhưng Cấp Tử nhất định không nghe. Công tử Thọ nghĩ thầm rằng:
- Anh ta thật là một người chí nhân! Nếu chuyến đi này anh ta bị giết mà ngày sau phụ thân ta lại cho ta nối ngôi thì chẳng hóa ra ta cũng mang tiếng lắm ru! Làm con phải nghĩ đến cha, làm em cũng phải nghĩ đến anh, âu là ta liều mình đi trước để chịu chết thay cho anh ta thì tất anh ta được thoát nạn. Phụ thân ta nghe tin ta chết, tất cảm động mà biết nghĩ lại, thì bên từ bên hiếu, trọn vẹn cả hai, thân ta mai hậu cũng có chút thơm lây.
Nói xong, liền xuống một chiếc thuyền đi theo, mời Cấp Tử sang uống rượu tiễn biệt. Cấp Tử nói là đi việc vua, không dám thong thả. Công tử Thọ liền bước sang thuyền Cấp Tử, rót một chén rượu để mời, nhưng chưa kịp nói gì thì nước mắt đã ứa ra, rỏ xuống chén rượu. Cấp Tử vội vàng đỡ lấy mà uống.
Công tử Thọ nói:
- Chén rượu này đã bẩn mất rồi!
Cấp Tử nói:
- Ấy, chính anh muốn uống cái tình của em ở trong ấy!
Công tử Thọ gạt nước mắt nói:
- Chén rượu hôm nay là chén rượu vĩnh biệt của anh em ta. Nếu anh nghĩ đến tình em, thì xin gắng uống cho thật nhiều!
Cấp Tử nói:
- Anh đâu dám từ chối!
Hai người nhìn nhau, nước mắt rưng rưng, chén thù chén tạc. Công tử Thọ cố ý đổ rượu cho Cấp Tử uống thật say. Cấp Tử say rượu quá, nằm phục xuống mà ngủ.
Công tử Thọ bảo những người đi theo rằng:
- Việc quân mệnh không thể chậm trễ được, âu là ta phải đi thay anh ta.
Nói xong, liền lấy cờ tiết trắng của Cấp Tử, cắm sang mũi thuyền mình, lại đưa cho người nhà Cấp Tử một phong thư mà dặn rằng:
- Chờ khi nào thế tử tỉnh dậy thì các người sẽ đệ trình.
Công tử Thọ chèo thuyền đi trước. Thuyền gần đến bến, bọn hung đồ phục ở vệ sông trông thấy cờ tiết trắng, đều cho là Cấp Tử đã đến, kéo ồ ra. Công tử Thọ đứng dậy mắng rằng:
- Ta là con trưởng Vệ hầu, phụng mệnh sang sứ nước Tề, lũ chúng bay là người nào mà dám đến đây ngăn trở?
Bọn hung đồ đồng thanh nói:
- Chúng ta phụng mật chỉ của Vệ hầu đến đây để lấy đầu ngươi.
Nói xong, liền chém lấy đầu công tử Thọ đựng vào cái hộp gỗ, mang ngay xuống thuyền và lấy cả cờ tiết trắng mang đi. Người nhà công tử Thọ bỏ chạy tán loạn cả.
Lại nói chuyện Cấp Tử khi tỉnh dậy, không trông thấy công tử Thọ đâu cả, chỉ thấy người nhà đệ trình một phong thư liền mở ra xem, trong thư chỉ có tám chữ rằng:
“Em đã đi thay anh, anh nên tránh nạn”.
Cấp Tử ứa nước mắt mà nói rằng:
- Em ta muốn thay ta hứng lấy nạn. Ta phải đi ngay kẻo em ta bị giết lầm.
Cấp Tử liền giục người nhà chèo thuyền đi mau. Đêm hôm ấy bóng trăng vằng vặc, thuyền lướt như bay. Cấp Tử nghĩ đến công tử Thọ, không lúc nào nhắm mắt được. Đi được một lúc, trông thấy thuyền công tử Thọ, Cấp Tử mừng lắm, nói:
- May sao! Em ta hãy còn! Thế mới thật là lòng trời!
Người hầu bẩm rằng:
- Đấy là thuyền ngược chứ không phải thuyền xuôi.
Cấp Tử có ý nghi, mới giục người nhà chèo mau lên xem. Khi hai thuyền gần nhau chỉ thấy một bọn côn đồ, mà chẳng thấy công tử Thọ đâu cả.
Cấp Tử càng nghi, mới giả cách hỏi rằng:
- Các ngươi phụng mệnh chúa công đã làm xong việc chưa?
Bọn côn đồ thấy nói đến việc bí mật của mình lại tưởng là công tử Sóc sai người đến tiếp ứng, liền bưng cái hộp gỗ dâng lên mà nói rằng:
- Bẩm đây, chúng tôi làm đã xong việc rồi!
Cấp Tử mở cái hộp gỗ ra xem, trông thấy đầu công tử Thọ, liền ngửa mặt lên trời mà khóc rằng:
- Oan khổ thay! Trời ơi là trời!
Bọn hung đồ ngạc nhiên hỏi:
- Cha giết con, sao ngài lại bảo là oan?
Cấp Tử nói:
- Ta đây mới thật là Cấp Tử, vì ta có tội, phụ thân sai giết ta; còn công tử Thọ là em ta, có tội gì mà chúng bay giết? Chúng bay nên mau mau chém lấy đầu ta, đem về nộp cho phụ thân ta, để chuộc lấy cái tội giết lầm ấy!
Trong bọn hung đồ có đứa biết mặt hai công tử, nhân có bóng trăng mới nhận kỹ ra mà nói rằng:
- Chúng ta lầm thật rồi!
Nói đoạn liền chém đầu Cấp Tử, bỏ cả vào trong hộp gỗ. Người nhà Cấp Tử cũng bỏ chạy tán loạn cả. Bọn hung đồ về đến Vệ thành, đem cờ tiết trắng vào trình công tử Sóc, kể chuyện đầu đuôi hai người bị giết, chỉ sợ công tử Sóc trách mắng về việc giết lầm. Chẳng ngờ việc ấy lại làm vui lòng công tử Sóc lắm, công tử Sóc liền đem vàng lụa thưởng cho bọn hung đồ, rồi vào cung nói với Tuyên Khương rằng:
- Anh Thọ con cầm cờ tiết trắng đi trước, nên bị giết lầm, may sao khi Cấp Tử đến nơi, lại tự xưng tên họ, vậy nên chúng nói, mới giết để đền mạng cho anh con.
Tuyên Khương dẫu thương công tử Thọ, nhưng lại lấy việc giết được Cấp Tử làm may, nửa thương nửa mừng, mới cùng với công tử Sóc bàn nhau hãy thong thả không nói cho Vệ Tuyên công biết vội.
Nguyên Cấp Tử khi trước đã được ủy thác cho công tử Tiết, công tử Thọ khi trước đã được ủy thác cho công tử Chức. Bấy giờ công tử Tiết và công tử Chức nghe tin hai người bị giết, mới bàn nhau vào nói cho Vệ Tuyên công biết.
Sáng hôm sau, Vệ Tuyên công ra triều, công tử Tiết và công tử Chức sụp lạy ở dưới đất mà khóc rống lên. Vệ Tuyên công giật mình kinh sợ, hỏi có việc gì. Tiết và Chức bèn đem việc Cấp Tử và Thọ bị giết kể lại một lượt. Lại xin làm lễ an táng cho Cấp Tử và Thọ.
Vệ Tuyên công dẫu ghét Cấp Tử, nhưng vẫn yêu công tử Thọ, nay nghe nói hai người đều bị giết, đau đớn quá, mặt mày xây xẩm, không nói ra lời. Hồi lâu thì nước mắt đầm đìa như mưa. Tuyên công thở dài mà than rằng:
- Thôi, chính đứa con gái nước Tề đã làm hại ta rồi[link=#c12_1](1)[/link].
Nói xong, tức khắc đòi công tử Sóc vào hỏi. Công tử Sóc chối không biết. Vệ Tuyên công giận lắm, truyền cho công tử Sóc phải nã bắt những đứa hung đồ giết người ấy. Từ bấy giờ, Vệ Tuyên công thương nhớ công tử Thọ thành ra đau nặng, động nhắm mắt thì lại trông thấy Di Khương, Cấp Tử và công tử Thọ đến khóc ở trước mặt, cầu cúng mãi không khỏi. Được nửa tháng thì Vệ Tuyên công chết.
Công tử Sóc lên nối ngôi, tức là Vệ Huệ công. Vệ Huệ công cách chức công tử Tiết và công tử Chức. Hai vị công tử đem lòng oán giận, chỉ muốn vì Cấp Tử và công tử Thọ báo thù. Anh Vệ Huệ công là công tử Ngoan cũng có ý không phục, mới bỏ trốn sang nước Tề.
Vệ Huệ công lên nối ngôi, nhân việc giúp Tề đánh Kỷ, bị quân Trịnh đánh cho một trận, vẫn có ý oán Trịnh Lệ công. Bỗng nghe có sứ nước Trịnh đến, hỏi ra mới biết là Trịnh Lệ công bị đuổi, các quan nước Trịnh cho sang đón vua cũ là Trịnh Chiêu công về nối ngôi. Vệ Huệ công mừng lắm, liền cho quân đưa Trịnh Chiêu công về nước.
Sái Túc sụp lạy Trịnh Chiêu công, xin lỗi về việc ngày trước không bảo hộ nổi Chiêu công, để đến nỗi Chiêu công phải trốn sang nước Vệ. Trịnh Chiêu công dẫu không bắt tội Sái Túc, nhưng có ý nhạt nhẽo, không được kính trọng như ngày trước. Sái Túc xem chừng cũng không bằng lòng, thường hay cáo ốm không vào triều.
Trịnh Chiêu công ngày trước vẫn ghét Cao Cừ Di, đến lúc Chiêu công về nước, thì Cao Cừ Di sợ Chiêu công hại mình, mới âm mưu định giết Chiêu công mà lập công tử Vỹ. Còn Trịnh Lệ công trốn sang nước Sái, mượn người nước Sái nói với Đàn Bá, xin đến ở đất Lịch. Đàn Bá không cho.
Trịnh Lệ công mới thông mưu với người nước Sái giết Đàn Bá đi, chiếm cứ lấy đất Lịch, rồi đào hào đắp lũy, luyện tập quân mã để định kế cướp ngôi nước Trịnh, đương đầu với Trịnh Chiêu công. Sái Túc nghe báo sợ lắm, liền vào nói với Trịnh Chiêu công.
Trịnh Chiêu công sai quan đại phu là Phó Hà đem quân ra đóng ở đất Đại Lăng để chặn đường, khiến cho Trịnh Lệ công không sang đánh được. Trịnh Lệ công biết rằng Chiêu công đã có phòng bị, mới sai sứ nói với Lỗ Hoàn công, lại nhờ Lỗ Hoàn công sang xin lỗi với Tống Trang công hộ, hẹn rằng khi nào về nước, sẽ xin nộp đủ các thứ lễ vật đã nói ngày trước.
Lỗ Hoàn công sai sứ sang nói với Tống Trang công. Tống Trang công lại động lòng tham, liền kết liên với Sái và Vệ để giúp cho Trịnh Lệ công.
Vệ Huệ công có công khó nhọc đưa Trịnh Chiêu công về nước, thế mà Trịnh Chiêu công không biết tạ ơn; cho nên Vệ Huệ công cũng đem lòng oán giận Trịnh Chiêu công, mới đem quân sang hội với Tống để giúp Trịnh Lệ công về nước.
Công tử Tiết bảo công tử Chức rằng:
- Nay Vệ Sóc định đem quân sang hội với Tống, chính là lúc chúng ta có thể báo thù cho Cấp Tử và công tử Thọ được.
Công tử Chức nói:
- Bây giờ ta hãy bàn định xem nên lập ai mới được.
Hai người đang mật nghị với nhau thì nghe nói có quan đại phu là Ninh Quỵ xin vào yết kiến. Công tử Tiết và công tử Chức mời vào. Ninh Quỵ nói:
- Hai vị công tử đã quên mất cái oan của Cấp Tử và công tử Thọ hay sao? Cơ hội ngày nay không nên bỏ mất.
Công tử Chức nói:
- Chúng tôi đang bàn nhau chưa biết lập ai.
Ninh Quỵ nói:
- Tôi xem trong bọn công tử, chỉ có Kiềm Mâu là có thể lập được. Vả Kiềm Mâu lại là con rể thiên tử nhà Chu thì có thể trấn áp người trong nước được.
Ba người liền kết ước hội thề với nhau, rồi mật sai bọn tùy tùng cũ của Cấp Tử và công tử Thọ huyên truyền tin Vệ Huệ công đánh Trịnh bị thua, đã chết trận rồi, nay lập công tử Kiềm Mâu lên nối ngôi.
Khi đã lập xong Kiềm Mâu rồi, mới kể tội Vệ Sóc làm hại hai anh để đến nỗi Vệ Tuyên công uất giận mà chết; lại phát tang để trở Cấp Tử và công tử Thọ và sai người sang báo tin cho vua nhà Chu biết là Kiềm Mâu đã lên ngôi.
Ninh Quỵ đem quân ra đóng ở ngoài cõi để chắn đường khiến cho Vệ Huệ công không về được. Công tử Tiết muốn giết Tuyên Khương. Chức can rằng:
- Tề Khương dẫu có tội, nhưng là em gái Tề hầu, nếu ta giết đi thì mếch lòng nước Tề, chi bằng ta lưu lại để giữ lấy tình giao hiếu hai nước.
Nói xong, liền cho Tuyên Khương ra ở biệt cung, và cấp lương tháng cho.
Lại nói chuyện Tống, Lỗ, Sái và Vệ, bốn nước đem quân đánh Trịnh. Sái Túc đem quân đến đất Đại Lăng cùng với Phó Hà hợp sức nhau để chống giữ, bốn nước không thể đánh được, đều phải thu quân trở về. Vệ Huệ công về đến nửa đường, nghe tin công tử Tiết và công tử Chức nổi loạn, đã lập Kiềm Mâu lên làm vua, liền trốn sang nước Tề.
Tề Tương công nói:
- Vệ Sóc tức là cháu gọi ta bằng cậu, thế nào ta cũng phải cất quân đi giúp hắn.
Vệ Sóc mới ước với Tề Tương công khi nào về nước, bao nhiêu bảo ngọc trong kho đều đem biếu nước Tề cả.
Tề Tương công mừng lắm, bỗng nghe nói có sứ nước Lỗ đến. Nguyên là Tề Tương công cầu hôn với nhà Chu, vua nhà Chu sai Lỗ Hoàn công làm chủ hôn để gả Vương Cơ cho nước Tề. Lỗ Hoàn công định thân hành đến nói chuyện với Tề Tương công về việc ấy. Tề Tương công sực nhớ đến em gái là Văn Khương đã lâu không được gặp mặt, mới sai sứ sang Lỗ đón Lỗ Hoàn công và đón cả Văn Khương một thể.
Các quan đại phu nước Tề hỏi Tề Tương công rằng:
- Đến bao giờ thì chúa công đi đánh Kiềm Mâu nước Vệ?
Tề Tương công nói:
- Kiềm Mâu cũng là con rể vua nhà Chu, nay ta đang cầu hôn với nhà Chu, thì việc ấy hãy để thong thả.
Tương công chỉ sợ người nước Vệ giết mất Tuyên Khương, mới sai Vô Tri đưa công tử Ngoan về nước Vệ, lại dặn riêng Vô Tri lập kế cho công tử Ngoan tư thông với Tuyên Khương, để Ngoan phải bênh vực Vệ Sóc.
Vô Tri đưa công tử Ngoan về nước Vệ, rồi đem lời dặn của Tề Tương công nói với Tuyên Khương. Tuyên Khương bằng lòng, nhưng công tử Ngoan nghĩ tình cha con, nhất định không chịu. Vô Tri bàn mưu với công tử Chức. Công tử Chức cũng muốn lấy lòng nước Tề, mới lập kế bày một tiệc rượu mời công tử Ngoan uống, lại sai một bọn nữ nhạc ra chuốc rượu, đổ cho thật say, rồi vực Ngoan vào phòng Tuyên Khương. Đến lúc tỉnh rượu, Ngoan cũng có ý hối, nhưng hối cũng không kịp nữa. Từ bấy giờ Tuyên Khương cùng công tử Ngoan kết làm vợ chồng, sau sinh được năm người con.
Sái Túc nước Trịnh ở đất Đại Lăng đem quân về nước, đang tìm cách để chống giữ với Trịnh Lệ công ở đất Lịch, sực nghĩ rằng nước Tề cùng với Trịnh Lệ công vẫn thù nhau về việc đánh Kỷ, bởi vậy nước Tề ngày nay không dự vào cái mưu giúp Trịnh Lệ công; lại nghe nói Lỗ Hoàn công làm chủ hôn cho nước Tề, Sái Túc mới nói với Trịnh Chiêu công xin đem lễ vật sang giao hiếu với Tề và Lỗ, nếu hai nước ấy giúp mình thì có thể chống cự với Tống được.
Sái Túc chỉ biết phòng bị Trịnh Lệ công, không ngờ âm mưu của Cao Cừ Di rất là hiểm độc. Cao Cừ Di chỉ e có Sái Túc là người mưu trí, nên chưa dám làm, nay thấy Sái Túc đi vắng, nên không còn sợ hãi chi cả, liền mật sai người đón công tử Vỹ về nhà, rồi nhân lúc Trịnh Chiêu công đi tế, phục sẵn quân giáp sĩ ở dọc đường, nhảy xổ ra giết đi, phao tin rằng kẻ cướp chém chết, lập công tử Vỹ lên nối ngôi. Công tử Vỹ sai người triệu Sái Túc về, để cùng với Cao Cừ Di cùng coi việc nước.
_____
(1) Chỉ Tuyên Khương.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.10.2015 15:42:58 bởi Huy Nguyên>
HỒI MƯỜI BA
 
Vợ chồng Lỗ Hoàn công sang Tề
Vua tôi Trịnh Tử Vỹ bị giết
 
Lại nói chuyện Tề Tương công thấy Sái Túc sang sứ, vui mừng tiếp đón, vừa toan cho người sang đáp lễ, bỗng nghe nói Cao Cừ Di đã giết Trịnh Chiêu công mà lập công tử Vỹ, liền nổi giận, định cất quân sang đánh; lại nghe tin Lỗ Hoàn công cùng vợ là Văn Khương sắp sang đến nơi, mới gạt chuyện nước Trịnh lại một bên, thân hành đến sông Lạc Thủy để đón.
Văn Khương ở Lỗ, khi mới thấy sứ Tề sang đón, trong lòng cũng mơ tưởng đến anh là Tề Tương công, mới nói với Lỗ Hoàn công mượn tiếng xin về thăm nhà; cùng với Lỗ Hoàn công cùng sang Tề. Lỗ Hoàn công vốn là người chiều vợ, bất đắc dĩ cũng phải cho đi.
Quan đại phu là Thân Nhu can rằng:
- Cứ theo lễ thì con gái đã đi lấy chồng, nếu cha mẹ hãy còn, mỗi năm được về thăm một lần. Nay cha mẹ phu nhân đều mất cả thì không lẽ phu nhân lại về thăm anh. Nước Lỗ ta vốn là một nước biết giữ lễ, tôi thiết tưởng không nên làm việc trái lễ ấy.
Lỗ Hoàn công đã nhận lời với Văn Khương rồi nên không nghe lời Thân Nhu nữa: hai vợ chồng cùng nhau sang Tề. Đi đến sông Lạc Thủy đã thấy Tề Tương công đón ở đấy rồi. Hai bên nhìn nhau mừng rỡ, rồi cùng trở về Lâm Tri. Lỗ Hoàn công vâng mệnh vua nhà Chu nói về hôn sự. Tề Tương công lấy làm cảm tạ lắm, bày tiệc để thết đãi vợ chồng Lỗ Hoàn công. Tiệc xong, liền mời Văn Khương vào trong cung, nói rằng để đi thăm các cung tần ngày trước. Ai ngờ Tề Tương công đã sửa soạn một phòng kín, đặt sẵn tiệc rượu cùng với Văn Khương tự tình. Sáng hôm sau, mặt trời đã cao ba trượng, hai người hãy còn ôm nhau mà ngủ. Lỗ Hoàn công ở ngoài, một mình buồn bã, có ý nghi hoặc, sai người đến cửa cung để hỏi dò mới biết là Tề Tương công chưa có chính phi, chỉ có thứ phi là Liên thị, tức là em họ quan đại phu Liên Xưng, nhưng bị Tề Tương công ghét bỏ vẫn ở riêng một chỗ. Văn Khương vào cung, hai anh em tự tình với nhau, chứ chẳng có phi tần nào cả.
Lỗ Hoàn công nghe nói tức giận, lại vừa gặp Văn Khương ở trong cung ra, liền hỏi Văn Khương rằng:
- Tối hôm qua ở trong cung, phu nhân uống rượu với ai?
Văn Khương nói:
- Thiếp uống rượu với Liên thị.
Lỗ Hoàn công lại hỏi:
- Uống rượu đến bao giờ mới xong?
Văn Khương nói:
- Lâu ngày mới gặp nhau nên chuyện trò mãi cho đến khi bóng trăng ngang tường, bấy giờ vào độ nửa đêm.
Lỗ Hoàn công lại hỏi:
- Chẳng hay ông anh phu nhân có đến dự tiệc hay không?
Văn Khương nói:
- Anh có đến dự tiệc bao giờ đâu!
Lỗ Hoàn công vừa cười vừa nói:
- Chẳng lẽ tình anh em với nhau, ông anh lại không đến uống một chén rượu hay sao?
Văn Khương nói:
- Khi uống đến nửa chừng thì anh tôi có đến mời một chén, rồi lại đi ngay.
Lỗ Hoàn công hỏi:
- Tiệc tan rồi, sao phu nhân không ra ngay?
Văn Khương nói:
- Đêm khuya quá, ra không tiện.
Lỗ Hoàn công nói:
- Vậy phu nhân ngủ ở đâu?
Văn Khương nói:
- Quân hầu lẩn thẩn quá! Sao lại hỏi đến chuyện ấy? Trong cung bao nhiêu phòng, không thiếu gì chỗ ngủ. Thiếp ngủ tại Tây cung, tức là cái phòng của thiếp vẫn nằm ngày còn bé.
Lỗ Hoàn công nói:
- Thế sao hôm nay phu nhân ngủ trưa làm vậy?
Văn Khương nói:
- Đêm qua thiếp uống rượu say, mệt quá, thành ra ngủ trưa.
Lỗ Hoàn công hỏi:
- Đêm qua phu nhân cùng nằm với ai?
Văn Khương nói:
- Chỉ có mấy người cung nhân đó mà thôi.
Lỗ Hoàn công hỏi:
- Ông anh phu nhân đêm qua ngủ ở đâu?
Văn Khương thẹn đỏ mặt lên mà rằng:
- Anh ngủ ở đâu thì em gái hỏi làm gì mà biết, quân hầu nói buồn cười tệ!
Lỗ Hoàn công nói:
- Ta chỉ e rằng ông anh lại cần phải biết chỗ em gái ngủ!
Văn Khương nói:
- Sao quân hầu lại nói thế?
Lỗ Hoàn công nói:
- Trai gái phải có phân biệt mới được. Đêm qua phu nhân ở trong cung, ngủ chung với anh, ta đây đã biết hết cả rồi, phu nhân đừng có giấu giếm nữa!
Văn Khương ngoài miệng tuy vẫn còn chối cãi bâng quơ, mếu mếu khóc khóc, nhưng trong lòng cũng hổ thẹn, không biết thế nào mà kể. Lỗ Hoàn công giận lắm, nhưng thấy mình đang ở nước Tề, biết rằng nói ra không tiện, mới sai người vào cáo từ với Tề Tương công để xin về nước.
Tề Tương công cũng biết mình làm điều không phải, có ý áy náy, nên khi Văn Khương ở trong cung ra về, liền sai một người lực sĩ tâm phúc là Thạch Chi Phân Như đi dò xem vợ chồng Lỗ Hoàn công có nói năng gì không. Thạch Chi Phân Như trở về, đem chuyện Lỗ Hoàn công và Văn Khương cãi nhau nói lại cho Tề Tương công nghe.
Tề Tương công giật mình kinh sợ, nói:
- Ta chắc rồi lâu ngày thế nào Lỗ hầu cũng biết, không ngờ lại biết chóng làm vậy.
Bỗng thấy Lỗ Hoàn công cho người đến cáo từ xin về. Tề Tương công biết là việc đã tiết lộ, chắc là có lưu lại Lỗ hầu cũng chẳng ở nào, mới nhận lời và hẹn ra chơi núi Ngưu Sơn để cùng nhau uống rượu tiễn biệt. Tề Tương công phần thì quyến luyến Văn Khương, phần thì sợ Lỗ Hoàn công quá giận đem lòng thù oán, mới mật sai công tử Bành Sinh chờ khi tiệc tan, đưa Lỗ hầu về công quán, thì kết liễu tính mệnh Lỗ hầu ngay ở trong xe. Bành Sinh lúc trước đi đánh nước Kỷ, bị quân Lỗ bắn một mũi tên gần chết, vẫn còn căm tức, nay thấy Tề Tương công giao cho việc ấy, liền vui lòng nhận ngay.
Ngày hôm ấy, Tề Tương công mở đại yến ở núi Ngưu Sơn múa hát linh đình. Tề Tương công ân cần khoản đãi Lỗ Hoàn công, tỏ ý bội phần tha thiết. Lỗ Hoàn công thì chỉ cúi đầu, không nói gì cả. Tề Tương công sai các quan đại phu lần lượt mời rượu. Lại sai cung nga và nội thị bưng bầu quỳ mời.
Lỗ Hoàn công trong lòng uất ức, cũng mượn chén rượu để giải phiền, chẳng ngờ thành ra say quá, khi tiệc tan rồi, người cứ mềm lả ra, lúc từ biệt không bước vững được nữa. Tương công sai công tử Bành Sinh vực Lỗ Hoàn công lên xe. Công tử Bành Sinh bèn cùng ngồi xe với Lỗ Hoàn công. Khi ra khỏi quốc môn độ hai dặm, Bành Sinh thấy Lỗ Hoàn công ngủ say, mới đưa tay bóp vào hai cạnh sườn. Bành Sinh vốn sức khỏe lắm, tay cứng như sắt, nên Lỗ Hoàn công bị gãy xương sườn, kêu lên một tiếng, máu chảy lênh láng ra xe mà chết. Bành Sinh liền hô hoán lên rằng:
- Lỗ hầu say rượu ngộ cảm chết rồi!
Nói xong liền truyền dong xe thẳng vào thành, để báo tin cho Tề Tương công biết.
Tề Tương công nghe tin Lỗ Hoàn công chết rồi, giả cách thương xót lăn khóc, sai người khâm liệm nhập quan, rồi báo tin cho nước Lỗ biết để đem thi hài về nước. Các quan tùy tùng của Lỗ Hoàn công bấy giờ về đến nước bèn thuật lại chuyện Lỗ Hoàn công bị giết trong xe.
Quan đại phu là Thân Nhu nói:
- Trong nước không nên một ngày không có vua.
Nói xong, liền lập thế tử Đồng làm chủ việc tang chờ khi xe tang về nước rồi thì lên nối ngôi. Công tử Khánh Phủ tức giận, vùng vằng nói:
- Tề hầu loạn luân vô đạo, dám hại đến quân phụ ta, xin cho tôi đem một đạo quân sang đánh Tề để trừng trị tội ác ấy.
Thân Nhu nghe nói, cũng lấy làm phải, mới hỏi riêng kẻ mưu sĩ là Thi Bá rằng:
- Có nên đánh nước Tề không?
Thi Bá nói:
- Việc này là một việc ám muội, không nên để các nước biết. Vả ta yếu, Tề mạnh chưa chắc ta đã đánh nổi Tề, chẳng bõ lại phô bày thêm sự xấu xa ra; chi bằng hãy chịu ẩn nhẫn, xin với vua Tề xét cho việc biến cố trong xe, khiến Tề giết công tử Bành Sinh đi, để khỏi mang tiếng với các nước. Như vậy thì ắt Tề phải nghe theo.
Thân Nhu mới nói lại với Khánh Phủ, rồi sai Thi Bá viết thư đưa sang cho Tề. Thế tử Đồng đang lúc tang sự không đứng lên, có quan đại phu là Thân Nhu ký thay. Tề Tương công mở thư ra xem.
Thư rằng:
“Ngoại thần là Thân Nhu cúi lạy dâng thư lên Tề hiền hầu điện hạ:
Chúa công tôi khi trước vâng mệnh thiên tử sang quý quốc để thương nghị việc hôn nhân, nay đã thành ra có đi mà không có về; đường sá nhao nhao, ai cũng nói đến việc biến ở trong xe mà không biết kẻ nào là thủ phạm. Nước tôi thật lấy làm xấu hổ với chư hầu lắm. Vậy dám xin hiền hầu đem công tử Bành Sinh trị tội thì tiếng xấu ấy mới mong lấp được”.
Tề Tương công xem xong, liền sai người gọi công tử Bành Sinh vào. Công tử Bành Sinh cậy mình có công, ngang nhiên đi vào.
Bấy giờ đang có mặt sứ nước Lỗ ở đấy. Tề Tương công bèn mắng công tử Bành Sinh rằng:
- Ta thấy Lỗ hầu vui chén quá say, mới sai nhà ngươi vực lên xe đưa về, sao nhà ngươi không giữ gìn cẩn thận, để đến nỗi ngài phải chết đột ngột như vậy? Tội nhà ngươi để đâu cho hết!
Nói xong, truyền trói công tử Bành Sinh lại mà đem ra chém ở ngoài chợ, công tử Bành Sinh kêu rầm lên rằng:
- Đứa hôn quân vô đạo kia! Mày bày mưu lập kế để gian dâm với em gái rồi giết người ta, bây giờ lại đổ tội cho ta. Ta chết đi, thế nào cũng làm tai làm quái để báo thù cho mày biết!
Tề Tương công cứ giả lờ như không nghe tiếng. Người chung quanh đều bưng miệng cười thầm. Tề Tương công một mặt sai người vào nói với vua nhà Chu xin cưới Văn Cơ, một mặt sai người đưa đám Lỗ Hoàn công về nước. Văn Khương ở lại nước Tề, không về nước Lỗ nữa.
Quan đại phu nước Lỗ là Thân Nhu cùng thế tử Đồng đưa linh cữu Hoàn công về Lỗ để an táng. Khi an táng xong, thế tử Đồng lên nối ngôi, tức là Lỗ Trang công. Trang công họp các quan để bàn về việc làm chủ hôn cho nước Tề.
Thi Bá nói:
- Nước ta có ba điều xấu hổ, chúa công có biết không?
Lỗ Trang công nói:
- Ba điều xấu hổ là những điều gì?
Thi Bá nói:
- Tiên công ta mất đi, dẫu đã thành phục rồi, nhưng tai tiếng vẫn còn, đó là một điều xấu hổ; quốc mẫu ta ở nước Tề không về, khiến cho người ta nghị luận, đó là hai điều xấu hổ; chúa công hiện đang có tang mà lại phải làm chủ hôn cho Tề là nước cừu địch với ta, chối từ đi thì sợ trái thiên tử, không chối từ thì thiên hạ chê cười, đó là ba điều xấu hổ.
Lỗ Trang công nghe nói, buồn rầu mà đáp rằng:
- Ba điều xấu hổ ấy làm thế nào mà tránh khỏi được?
Thi Bá nói:
- Mình muốn cho người ta không ghét thì trước hết phải bỏ điều ác; mình muốn cho người ta không nghi thì trước hết phải giữ điều tín. Tiên công ta ngày xưa chưa được thụ phong, nay nhân việc chủ hôn này, chúa công nên xin thiên tử phong cho, khiến người dưới suối vàng cũng được hưởng cái vinh dự ấy, thế thì điều xấu hổ thứ nhất có thể tránh khỏi được; quốc mẫu ta ở bên Tề, nên sai người sang đón về, để trọn đạo hiếu của chúa công, thế thì điều xấu hổ thứ hai có thể tránh khỏi được. Còn việc chủ hôn thì rất là khó xử, nhưng tôi cũng xin dâng một kế.
Lỗ Trang công nói:
- Kế gì?
Thi Bá nói:
- Chúa công nên làm một quán xá ở ngoài cõi, để Vương Cơ ở đấy, rồi sai quan thượng đại phu đón mà đưa sang nước Tề. Như thế trên không trái mệnh thiên tử, dưới không mất lòng lân quốc, mà mình lại giữ trọn được cái lễ cư tang. Như vậy thì điều xấu hổ thứ ba cũng có thể tránh khỏi được.
Lỗ Trang công nói:
- Thân Nhu bảo ta rằng nhà ngươi nhiều mưu trí, nay quả nhiên như vậy!
Nói xong, liền theo kế mà làm, sai quan đại phu là Chuyên Tôn Sinh sang nhà Chu đón Vương Cơ. Vua nhà Chu thuận cho, đang chọn người để sang phong thì Chu công Hắc Kiên xin đi. Trang vương không cho mà lại sai quan đại phu là Vinh Thúc.
Nguyên Chu công Hắc Kiên phụng mệnh tiên vương nhà Chu ngày xưa phù tá vương tử Khắc (em Trang vương). Trang vương nghi Chu công Hắc Kiên muốn giao thiệp với nước ngoài để làm vây cánh cho vương tử Khắc, bởi vậy mới không dám sai đi.
Chu công Hắc Kiên biết là Trang vương nghi mình, đêm hôm ấy đến bàn với vương tử Khắc, muốn nhân đám cưới Vương Cơ mà khởi loạn, giết Trang vương để lập vương tử Khắc.
Quan đại phu là Tân Bá biết mưu ấy, liền vào nói với Trang vương. Trang vương bèn giết Chu công Hắc Kiên và đuổi vương tử Khắc. Vương tử Khắc trốn sang nước Yên.
Nguyên Tôn Sinh nước Lỗ phụng mệnh đưa Vương Cơ sang Tề, và đón Văn Khương về Lỗ. Tề Tương công vẫn có ý quyến luyến Văn Khương, không thể dứt tình được, nhưng sợ công luận, đành cũng phải cho về.
Khi Văn Khương cùng với Tề Tương công từ giã, hai người bịn rịn không nỡ rời xa nhau, luôn mồm nói câu trân trọng còn có ngày gặp nhau rồi mới gạt nước mắt chia tay. Văn Khương phần thì say mê Tề Tương công, phần thì thẹn không muốn trở về nước Lỗ, bước đi uể oải, buồn rầu. Khi đi đến đất Chước (đất nước Tề ở gần nước Lỗ) trông thấy quán xá gọn gàng sạch sẽ, Văn Khương thở dài mà than rằng:
- Đất này chẳng phải Tề, chẳng phải Lỗ, chính là nhà ta đó!
Nói xong, liền sai người về nói với Lỗ Trang công rằng:
- Gái góa này, tính ưa những chỗ thanh tĩnh, không muốn về nơi cung điện làm gì! Nếu muốn cho ta về thì trừ phi sau khi ta đã chết rồi mà thôi!
Lỗ Trang công biết là Văn Khương không mặt mũi nào mà về nước, mới sai người làm quán xá ở đất Chúc Khâu (đất nước Lỗ) đón Văn Khương về đấy. Từ bấy giờ Văn Khương cứ ham vui phong cảnh ở trong đất Chước và đất Chúc Khâu.
Tề Tương công từ khi giết Lỗ Hoàn công thì người trong nước ai cũng sôi nổi bàn tán, cho là Tề hầu vô đạo, hoang dâm tàn ác, trái với lẽ trời.
Tề Tương công trong lòng xấu hổ, vội vàng sai người đón nàng Vương Cơ đến Tề để thành hôn, nhưng người trong nước vẫn còn bình luận chưa thôi.
Tề Tương công muốn có một vài nghĩa cử gì để trấn áp lòng dân, mới nghĩ thầm rằng:
- Ngày nay chỉ có hai việc lớn là nước Trịnh giết vua và nước Vệ đuổi vua; nhưng Kiềm Mâu nước Vệ cũng là con rể vua nhà Chu, nay ta mới lấy Vương Cơ thì Kiềm Mâu chưa nên đánh vội; chi bằng ta hãy đánh Trịnh trước, khiến cho chư hầu đều sợ mà phải phục theo.
Tề Tương công lại sợ đem quân đánh Trịnh, chưa chắc đã được, mới sai người viết thư cho công tử Vỹ nước Trịnh, hẹn đến hội ở đất Thủ Chi (đất nước Vệ, giáp giới Tề và Trịnh). Công tử Vỹ mừng lắm, nói:
- Tề hầu lại chịu giao hiếu với ta, vậy thì nước ta vững như Thái Sơn.
Công tử Vỹ bảo Cao Cừ Di và Sái Túc cùng đi. Sái Túc cáo ốm. Nguyên Phồn hỏi riêng Sái Túc rằng:
- Nay chúa công ta muốn giao hiếu với Tề, ngài nên giúp là phải, sao lại chối từ không đi?
Sái Túc nói:
- Tề hầu là người hung tợn, tàn nhẫn, vẫn cậy thế nước lớn, có ý muốn làm bá chư hầu. Vả lại tiên quân ta là Chiêu công có công với Tề, chắc Tề vẫn còn nhớ đến. Phàm một nước lớn mà tự nhiên xin kết giao với nước nhỏ, tất có gian mưu gì đây, khó lòng lường được. Chuyến đi này ta chỉ e rằng không khéo thì vua tôi cùng bị giết.
Nguyên Phồn nói:
- Nếu quả đúng như thế thì ngôi nước Trịnh ta sẽ về tay ai?
Sái Túc nói:
- Tất về tay công tử Nghi! Công tử Nghi có tướng mạo làm vua, tiên quân ta đã có nói như vậy.
Nguyên Phồn nói:
- Người ta vẫn đồn rằng ngài là người cao kiến, tôi xin thử nghiệm xem việc này có đúng không?
Đến ngày hôm phó hội, Tề Tương công sai Thành Phủ và Quản Chi Phủ đem hơn một trăm lực sĩ phục cả chung quanh. Thạch Chi Phân Như cũng đứng hầu bên cạnh. Công tử Vỹ cùng với Cao Cừ Di vào yết kiến Tề Tương công. Tề Tương công cầm lấy tay công tử Vỹ mà hỏi rằng:
- Trịnh Chiêu công ngày xưa vì cớ gì mà chết?
Công tử Vỹ giật mình kinh sợ, không biết nói làm sao. Cao Cừ Di thay lời đáp rằng:
- Tiên quân tôi vì ốm mà chết, sao hiền hầu lại hỏi đến?
Tề Tương công nói:
- Nghe đâu vì đi tế mà bị giặc giết, chứ có phải đau ốm gì đâu!
Cao Cừ Di không thể giấu được, bèn ấp úng đáp rằng:
- Tiên quân tôi nguyên vẫn có hàn tật, lại nhân gặp giặc mà thêm kinh sợ, nên mới chết.
Tề Tương công nói:
- Vua đi tất có phòng bị, sao lại để giặc đến được?
Cao Cừ Di nói:
- Nước tôi có nhiều bè phái tranh giành nhau, chỉ rình cơ hội là khởi lên, tài nào mà phòng bị cho xiết được!
Tề Tương công nói:
- Thế có bắt được bọn giặc ấy không?
Cao Cừ Di nói:
- Hiện vẫn còn đang tầm nã, chưa thấy tông tích chúng đâu cả.
Tề Tương công nổi giận, nói:
- Giặc ở trước mắt mà sao không bắt? Nhà ngươi chịu tước lộc của nước, vì điều oán riêng mà dám giết vua, bây giờ đến trước mặt ta đây, hãy còn chối quanh. Ta đây quyết vì tiên quân nhà ngươi mà báo thù!
Nói xong, liền gọi người bắt. Thạch Chi Phân Như tức khắc trói ngay Cao Cừ Di lại.
Công tử Vỹ sụp lạy mà kêu lên rằng:
- Việc ấy đều là tại Cao Cừ Di cả, không can dự gì đến tôi, xin hiền hầu rộng lượng cho.
Tề Tương công nói:
- Đã biết Cao Cừ Di làm việc ấy, sao không trị tội? Thôi, để cho nhà ngươi xuống âm phủ mà kêu.
Nói xong, liền lấy tay vảy một cái, Thành Phủ và Quản Chi Phủ đem hơn một trăm giáp sĩ tiến vào, lôi công tử Vỹ ra băm. Các quan theo hầu công tử Vỹ, sợ thanh thế nước Tề, không ai dám chống lại, bỏ chạy tán loạn.
Tề Tương công bảo Cao Cừ Di rằng:
- Vua mày đã chết rồi, mày còn mong sống không?
Cao Cừ Di nói:
- Tôi biết tội nặng, xin chịu chết.
Tề Tương công nói:
- Cho mày một nhát gươm thì còn nhẹ cho mày quá!
Nói xong, truyền đem phân thây(1) Cao Cừ Di ở ngoài cửa nam. Tề Tương công muốn cho các nước chư hầu biết việc nghĩa của mình, nên mới dùng hình pháp ấy khiến cho công việc thành ra to tát, hòng dọa nạt chư hầu. Cao Cừ Di chết rồi, Tề Tương công bèn sai đem bêu đầu ở cửa nam, rồi treo một cái bảng đề rằng:
- “Những kẻ bề tôi phản nghịch, nên trông đó làm gương”.
Lại sai sứ sang báo với nước Trịnh rằng:
- Nước nhà ngươi có Cao Cừ Di âm mưu giết vua để lập kẻ khác, ta đây vì tiên quân nước Trịnh báo thù, đã bắt mà giết đi rồi, bây giờ nên lập ngay vua mới để giữ lấy tình hòa hiếu cũ của hai nước.
Nguyên Phồn nghe tin ấy thở dài mà than rằng:
- Sái Túc thật là người cao kiến, ta không thể nào sánh kịp!
Bấy giờ các quan nước Trịnh bàn nhau lập vua mới. Thúc Thiêm nói:
- Vua cũ hiện đang ở đất Lịch, sao không đón về?
Sái Túc nói:
- Vua cũ đã trốn đi rồi thì không nên lập lại nữa, chi bằng ta lập công tử Nghi.
Nguyên Phồn cũng lấy làm phải, mới cùng nhau lập công tử Nghi lên nối ngôi. Sái Túc làm thượng đại phu, Thúc Thiêm làm trung đại phu, Nguyên Phồn làm hạ đại phu.
Công tử Nghi đã lên nối ngôi, mới giao cả quyền chính cho Sái Túc, sai sứ đi kết thân với Tề, Trần v.v... lại cho người sang cống nước Sở. Trịnh Lệ công không tìm cớ gì mà về nước được, từ bấy giờ nước Trịnh được yên ổn.
_____
(1) Phân thây là buộc đầu và chân tay vào cái ngáng của năm cỗ xe, mỗi xe có một con trâu kéo, rồi đánh trâu chạy để xé tội nhân ra làm năm mảnh. Đó là một hình pháp rất nặng.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI MƯỜI BỐN
 
Vệ Sóc trái mệnh Chu thiên tử
Bành Sinh báo thù Tề Tương công
 
Bấy giờ Vương Cơ nhà Chu cùng với Tề Tương công thành hôn. Vương Cơ là người tính nết ôn hòa, lại rất trọng phép tắc, mà Tề Tương công là người dâm đãng, bởi vậy thành ra không tương đắc với nhau. Vương Cơ ở trong cung nước Tề mấy tháng, nghe hết những chuyện Tề Tương công cùng với em gái tư thông, thường vẫn thở dài mà than rằng:
- Người đã dám làm những điều trái với luân thường đạo lý như thế thì chẳng khác gì giống cầm thú. Thật ta không may mà lấy phải đứa bất lương này!
Từ bấy giờ Vương Cơ uất ức trong lòng, nghĩ lắm thành bệnh, chưa đầy một năm thì chết. Vương Cơ chết rồi, Tề Tương công lại càng không sợ hãi gì nữa, trong lòng lại mơ tưởng đến Văn Khương, thường giả cách đi săn bắn, ra ở đất Chước, rồi mật sai người sang đất Chúc Khâu đón Văn Khương đến, đêm ngày hoang dâm với nhau. Nhưng lại sợ Lỗ Trang công tức giận, muốn lấy binh uy để dọa nạt, mới đem quân sang đánh lén nước Kỷ chiếm lấy ba ấp, rồi đóng quân ở Huề Thành, sai người báo Kỷ hầu phải dâng thư hàng thì khỏi mất nước.
Kỷ hầu than rằng:
- Tề là một nước cừu địch với ta, khi nào ta chịu đem thân sang lạy kẻ thù để cầu giữ toàn tính mệnh!
Nói xong, liền bảo vợ là Bá Cơ (con gái Lỗ Huệ công) viết thư sang cầu cứu nước Lỗ. Tề Tương công bèn hạ lệnh hăm dọa:
- Nước nào dám cứu nước Kỷ thì ta quyết đem quân đánh đánh trước.
Lỗ Trang công sai sứ sang Trịnh để kết ước với Trịnh cùng cứu nước Kỷ. Vua Trịnh là công tử Nghi nhân Trịnh Lệ công ở đất Lịch vẫn muốn đem quân về nước Trịnh, vậy nên cũng không dám đi cứu Kỷ, mới sai sứ sang từ chối. Lỗ Trang công thế cô, biết là không địch nổi nước Tề, đóng quân ở đất Hoạt ba ngày rồi trở về.
Kỷ hầu thấy nước Lỗ lui quân về, tự liệu sức mình không thể giữ nổi, liền đem thành trì vợ con giao cả lại cho em là Doanh Quý, rồi đang nửa đêm mở cửa bỏ đi mất. Doanh Quý bèn bảo các quan đại phu rằng:
- Một đàng thì liều chết mà đánh giặc giữ nước; một đàng thì đầu hàng để giữ lấy dòng dõi, hai đàng ấy đàng nào trọng hơn?
Các quan đại phu đều nói:
- Nên giữ lấy dòng dõi trước đã.
Doanh Quý:
- Thôi thì ta cũng chịu nhẫn nhục mà giữ lấy dòng dõi cho rồi.
Nói xong, liền viết thư xin hàng nước Tề, để giữ lấy tôn miếu nước Kỷ. Tề Tương công thuận cho. Doanh Quý đem sổ sách dân đinh, điền thổ nước Kỷ nộp cả cho Tề. Tề Tương công cho Doanh Quý được thu thuế trong ba mươi hộ để giữ lấy tôn miếu nước Kỷ. Vợ Kỷ hầu là Bá Cơ sợ hãi mà chết. Tề Tương công sai làm lễ an táng tử tế để lấy lòng nước Lỗ.
Bấy giờ Sở Vũ vương là Hùng Thông đem quân đi đánh Tùy, chưa đi đến nơi thì chết. Quan lệnh doãn là Đấu Kỳ, quan mạc ngao (chủ việc binh) là Khuất Trọng giấu kín việc ấy, không chịu phát tang, rồi đem quân theo đường tắt kéo thẳng đến chân thành nước Tùy. Tùy hầu sợ xin hòa, Khuất Trọng bắt Tùy hầu ăn thề, rồi thu quân về, lập con Hùng Thông là Hùng Si lên nối ngôi, tức là Sở Văn vương.
Tề Tương công đánh được nước Kỷ rồi, thu quân trở về, Văn Khương đón đường mời vào Chúc Khâu, mở tiệc khao thưởng quân sĩ; lại cùng với Tề Tương công cùng về đất Chước để ngày đêm vui thú với nhau. Tề Tương công bảo Văn Khương viết thư triệu Lỗ Trang công đến hội ở đất Chước. Lỗ Trang công không dám trái lệnh mẹ mới thân hành đến đất Chước để yết kiến Văn Khương.
Văn Khương bắt Lỗ Trang công lấy lễ cậu cháu mà yết kiến Tề Tương công, và tạ cái ơn làm lễ an táng cho Bá Cơ nước Kỷ. Lỗ Trang công bất đắc dĩ phải vâng mệnh, Tề Tương công mừng lắm, truyền mở tiệc thết đãi Lỗ Trang công.
Bấy giờ Tề Tương công mới sinh được một đứa con gái bé. Văn Khương bắt Lỗ Trang công phải đính ước để lấy làm vợ. Lỗ Trang công nói:
- Nó hãy còn bé, lấy tôi sao cho xứng đôi?
Văn Khương nổi giận, nói:
- Mày muốn xa họ nhà mẹ hay sao?
Tề Tương công cũng có ý ngại hai người lớn bé khác nhau quá. Văn Khương nói:
- Đợi hai mươi năm nữa sẽ lấy nhau thì đã lấy gì làm chậm!
Tề Tương công sợ mếch lòng Văn Khương. Lỗ Trang công cũng không dám trái lời mẹ, hai bên mới nhận lời giao ước với nhau.
Tề Tương công và Lỗ Trang công cùng nhau đem quân đi săn bắn ở đất Chước. Lỗ Trang công bắn giỏi lắm, mười phát trúng cả mười. Tề Tương công trông thấy khen tài. Có người dân ở đấy, trỏ Lỗ Trang công mà nói rằng:
- Đây là con hờ của chúa công ta đó!
Lỗ Trang công giận lắm, sai bắt người nói câu ấy mà giết đi. Tề Tương công rời đất Chước trở về nước Tề. Vệ Sóc ra đón mừng việc đánh được nước Kỷ, và lại xin Tề Tương công giúp mình lấy lại ngôi của Vệ Kiềm Mâu. Tề Tương công nói:
- Bây giờ Vương Cơ tạ thế rồi, việc ấy không ngại gì nữa, nhưng nếu không liên hợp với chư hầu thì không thành ra việc công, nhà ngươi hãy đợi ít lâu mới được.
Vệ Sóc cảm tạ. Tề Tương công sai sứ đưa tờ hịch đi ước với Tống, Lỗ, Trần, Sái cùng đem quân đánh Vệ Kiềm Mâu để đưa Vệ Sóc về nước. Tờ hịch như sau:
“Kẻ nghịch thần nước Vệ là lũ Tiết, Chức chuyên quyền, bỏ vua nước Vệ là Sóc mà lập Kiềm Mâu. Vệ Sóc phải trốn sang nước tôi, nay đã bảy năm, tôi còn bận nhiều việc, nên chưa kịp sang đánh. Bây giờ công việc đã được thư nhàn, xin đem quân theo các quý quốc để giúp Vệ Sóc giết bỏ kẻ loạn thần tặc nước Vệ không đáng lập mà lập ấy”.
Vệ Kiềm Mâu nghe tin các nước đem quân đến đánh, mới cùng công tử Tiết và công tử Chức thương nghị, sai quan đại phu là Ninh Quỵ vào cáo cấp với vua nhà Chu. Vua Trang vương nhà Chu hỏi các quan rằng:
- Ai là người có thể vì trẫm sang cứu nước Vệ được?
Chu công Kỵ Phủ và Quắc công Bá đều nói rằng:
- Nhà Chu ta từ khi đánh nước Trịnh bị thua, các nước chư hầu không chịu tuân theo hiệu lệnh. Bây giờ Tề hầu không nghĩ đến cái tình Vương Cơ, mà họp quân bốn nước đến giúp Vệ Sóc về nước. Nước Tề đã có sức mạnh, lại có lẽ phải, thế thì khó lòng địch nổi.
Bỗng ở tả ban có một người bước ra mà rằng:
- Hai ngài nói thế đều là sai cả! Tề hầu chỉ có sức mạnh thôi, sao lại gọi là lẽ phải được?
Mọi người đều nhìn xem ai, thì là quan hạ sĩ tên gọi Tử Đột. Chu công Kỵ Phủ nói:
- Vua chư hầu mất ngôi mà các nước chư hầu giúp cho, sao lại bảo là không nên hợp lẽ phải?
Tử Đột nói:
- Vệ Kiềm Mâu lập lên, đã có mệnh thiên tử, mà đã lập Kiềm Mâu thì tất phải bỏ Vệ Sóc. Bây giờ hai ngài không lấy mệnh thiên tử làm lẽ phải, lại lấy việc giúp Vệ Sóc làm lẽ phải thì Đột này thật không hiểu ra làm sao cả!
Quắc công Bá nói:
- Chiến tranh là việc quan hệ, phải liệu sức mà làm. Nhà Chu ta suy yếu kể đã lâu ngày, khi trước tiên vương thân hành đi đánh Trịnh, còn bị Chúc Đam nước Trịnh bắn một mũi tên, đến nay đã hai đời rồi mà chưa dám hỏi tội nước Trịnh. Huống chi bốn nước chư hầu ngày nay, thế lực còn gấp mười lần nước Trịnh, mà đem một toán quân sang cứu thì khác nào trứng chọi với đá, phỏng có ích gì hay không?
Tử Đột nói:
- Việc trong thiên hạ lý được sức là thường, sức được lý là biến, nếu làm trái lý mà không ai nói đến thì đen trắng đảo điên, thiên hạ còn ai biết đến thiên tử là thế nào, mà các ngài còn mặt mũi nào tự nhận là quan khanh sĩ nhà Chu nữa?
Quắc công Bá nín lặng không biết nói thế nào. Chu công Kỵ Phủ nói:
- Bây giờ nhà ngươi có thể đương nổi việc đem quân đi cứu nước Vệ không?
Tử Đột nói:
- Việc chinh chiến thì ở quan tư mã, Đột này tài hèn sức mọn, không đương nổi việc ấy. Nhưng nếu không ai chịu đi thì Đột này cũng không dám tiếc thân, xin đi thay quan tư mã.
Chu công Kỵ Phủ lại nói:
- Nhà ngươi đi cứu nước Vệ, có chắc được không?
Tử Đột nói:
- Cứ lấy lý mà nói thì Đột này đáng được, nhưng lấy lực mà nói thì được hay thua, Đột này cũng chưa dám chắc.
Quan đại phu là Phú Thần nói:
- Tử Đột nói năng rất khí khái nên sai đi cứu Vệ, để thiên hạ biết nhà Chu ta cũng có người giỏi.
Vua nhà Chu nghe lời, mới bảo Ninh Quỵ về báo tin cho nước Vệ biết rằng vua nhà Chu sẽ cho quân đến sau. Chu công Kỵ Phủ và Quắc công Bá sợ Tử Đột lập được công trạng, nên chỉ cấp cho hai trăm cỗ xe trận để đi đánh mà thôi. Tử Đột cũng không chối từ, phụng mệnh đi ngay.
Bấy giờ quân các nước đang vây thành nước Vệ gấp lắm, công tử Tiết và công tử Chức ngày đêm chỉ mong có đại binh của thiên tử đến cứu. Ai ngờ quân Tử Đột ít quá, không địch nổi với quân các nước, đều bỏ chạy tán loạn. Tử Đột thở dài mà than rằng:
- Ta phụng mệnh thiên tử đi đánh giặc có bị giết thì cũng được làm con ma trung nghĩa chứ sao!
Nói xong, liền xông vào giết được vài mươi người rồi tự đâm cổ mà chết. Quân nước Tề trèo lên được thành nước Vệ trước, rồi bốn nước đem quân theo sau, phá vỡ cửa thành nước Vệ, đưa Vệ Sóc vào. Công tử Tiết, công tử Chức và Ninh Quỵ đem quân phù Kiềm Mâu chạy trốn, lại gặp quân nước Lỗ đuổi đánh. Tiết, Chức và Kiềm Mâu đều bị Lỗ Trang công bắt được cả.
Ninh Quỵ không làm thế nào được, bỏ trốn sang nước Tần. Tề Tương công sai đem công tử Tiết và công tử Chức ra chém còn Vệ Kiềm Mâu là con rể vua nhà Chu, cùng với nước Tề có tình liên khâm nên tha không giết, nhưng đuổi về nhà Chu. Vệ Sóc lại lên làm vua Vệ, rồi đem các đồ bảo ngọc trong kho tạ ơn Tề Tương công. Tề Tương công nói:
- Lỗ hầu bắt được công tử Tiết, công tử Chức và Vệ Kiềm Mâu, cũng có công khó nhọc lắm nên đem một nửa chia biếu Lỗ hầu.
Tề Tương công lại bảo Vệ Sóc đem lễ vật tạ ơn Tống, Trần và Sái.
Tương công từ khi đuổi Vệ Kiềm Mâu, chỉ sợ vua nhà Chu đem quân đến đánh, mới sai quan đại phu là Liên Xưng làm chánh tướng, Quản Chí Phủ làm phó tướng, đem quân ra đóng đồn ở đất Quỳ Khâu để trấn thủ về phía đông nam. Lúc sắp đi, hai tướng xin với Tề Tương công rằng:
- Đi đóng đồn dẫu khó nhọc, chúng tôi cũng không dám từ chối, nhưng chẳng hay bao giờ chúa công cho người thay?
Bấy giờ Tề Tương công đương ngồi ăn dưa, liền bảo rằng:
- Bây giờ đang mùa dưa chín, đến mùa dưa chín sang năm, ta sẽ cho người ra thay.
Hai tướng đem quân ra đóng đồng ở đất Quỳ Khâu, thấm thoát đã được đầy năm. Một hôm quân sĩ dâng dưa mới, hai tướng sực nhớ đến lời ước của Tề Tương công, mới bảo nhau rằng:
- Bây giờ đã đến mùa dưa chín, sao chưa thấy chúa công cho người ra thay?
Nói xong, liền sai người tâm phúc về trong nước để dò la tin tức, nghe nói Tề Tương công đang cùng Văn Khương vui chơi ở đất Cốc Thành, đã hơn một tháng nay chưa về. Liên Xưng giận lắm, nói:
- Vương Cơ mất rồi, đáng lẽ em gái ta được lên làm phu nhân, nay đứa hôn quân vô đạo ấy không nghĩ gì đến luân lý, ngày đêm hoang dâm, bắt chúng ta phải giãi tuyết dầm sương ở nơi biên giới này, thế nào ta cũng phải giết đi mới được.
Nói xong, ngảnh lại bảo Quản Chí Phủ rằng:
- Nhà ngươi nên giúp ta một tay.
Quản Chí Phủ nói:
- Chúa công ngày trước có hẹn với ta đến mùa dưa chín thì cho người ra thay, hay là bây giờ quên mất chăng? Chi bằng ta viết thư xin cho người thay, nếu xin mà không cho thì tất quân sĩ phải đem lòng oán giận, bấy giờ mới có cơ khởi sự được.
Liên Xưng khen phải, tức thì sai người đem dưa mới về dâng Tề Tương công và xin cho người ra thay. Tề Tương công giận lắm nói:
- Bao giờ thay, tự khắc ta cho người ra thay, cớ sao lại được về xin? Đã thế thì để cho đến mùa dưa chín sang năm nữa.
Liên Xưng giận lắm, bảo Quản Chí Phủ rằng:
- Bây giờ muốn làm việc lớn, thì nên dùng kế gì?
Quản Chí Phủ nói:
- Phàm muốn làm việc lớn, trước hết phải nghĩ lập một người nào đã. Công tôn Vô Tri vốn là con công tử Di Trọng Niên; tiên quân ta là Hi công vì tình cùng mẹ sinh ra nên yêu Di Trọng Niên và yêu cả Vô Tri nữa, từ thuở nhỏ vẫn nuôi ở trong cung, coi như thế tử. Khi trước, Vô Tri ở trong cung, có cùng với chúa công ta bây giờ cãi nhau, Vô Tri lấy chân đá chúa công ngã xuống đất, chúa công giận lắm. Lại một hôm, Vô Tri cùng với quan đại phu là Ung Lẫm tranh nhau đi trước, chúa công ta giận là người vô lễ nên ghét bỏ Vô Tri, đối đãi không được tử tế như trước nữa. Vô Tri đem lòng oán giận, vẫn muốn nổi loạn, nhưng không có ai giúp. Chi bằng chúng ta mật thông với Vô Tri để làm nội ứng, thì việc tất phải xong.
Liên Xưng nói:
- Nên nhân dịp nào mà làm?
Quản Chí Phủ nói:
- Tương công là người khéo dụng binh, lại hay đi săn bắn, bây giờ làm thế nào cho mãnh hổ rời khỏi hang mà đi ra ngoài thì mới trị nổi. Vậy phải biết trước là hôm nào y đi đâu, để nắm cơ hội ấy mới được.
Liên Xưng nói:
- Em gái ta ở trong cung bị Tương công ghét bỏ, cũng đem lòng oán giận, âu là ta dặn Vô Tri thông mưu với em gái ta, dò la xem hôm nào Tương công đi đâu thì lập tức phải phi báo cho ta biết để khởi sự.
Nói xong, liền sai người tâm phúc đưa thư cho công tôn Vô Tri. Thư rằng:
“Tiên quân ta ngày xưa quý trọng công tôn như vậy, mà hôn quân ngày nay lại ra tuồng khinh rẻ bỏ đi, ai nghe chuyện ấy mà chẳng có ý bất bình. Huống chi hôn quân ngày đêm dâm dục, chẳng thiết gì đến chính sự. Chúng tôi ra đóng đồn ở đất Quý Khâu, hôn quân hẹn đến mùa dưa chín thì cho người ra thay, nay mùa dưa đã đến, cũng không có ai ra thay cả, nên quân sĩ đem lòng oán giận đều muốn nổi loạn. Nếu có dịp nào thì chúng tôi xin hết sức giúp công lớn.
Em gái tôi ở trong cung vì cớ bị ghét bỏ cũng đem lòng oán giận, thật là trời giúp cho công tôn một người nội ứng đó. Xin công tôn chớ bỏ mất cơ hội ấy”.
Công tôn Vô Tri xem thư mừng lắm, tức khắc đáp lời như sau này:
“Lòng trời đã chán đứa dâm dục mà xui khiến cho tướng quân nghĩ đến điều ấy. Tôi xin kính vâng những lời tâm phúc, dù chóng dù chậm, sẽ có tin báo”.
Vô Tri sai người thông tin cho Liên thị (em gái Liên Xưng) biết, và đem cả bức thư của Liên Xưng cho xem, lại hẹn rằng khi nào thành việc rồi, sẽ phong cho Liên thị làm phu nhân. Liên thị nhận lời.
Một hôm, Tề Tương công sai Đồ Nhân Phi sắp sửa xa giá để đi săn bắt ở đất Cô Phân. Liên thị sai người báo tin cho Vô Tri biết. Vô Tri tức khắc báo tin cho Liên Xưng và Quản Chí Phủ.
Liên Xưng nói:
- Hôn quân đi săn bắn thì trong nước không có phòng bị, ta kéo quân vào thẳng kinh thành mà lập Vô Tri; liệu có nên không?
Quản Chí Phủ nói:
- Hôn quân vốn ngoại giao khéo lắm, nếu y mượn quân nước khác về đánh thì ta lấy gì mà chống lại? Chi bằng ta hãy đem quân ra phục ở đất Cô Phân, giết hôn quân trước, rồi sau sẽ lập Vô Tri lên nối ngôi, mới là kế vạn toàn.
Nói xong, liền đem quân ra phục ở đất Cô Phân. Bấy giờ quân sĩ phải đi đóng đồn lâu, đều có lòng nhớ nhà, ai cũng thuận theo cả. Tề Tương công ra đất Cô Phân, có bọn Thạch Chi Phân Như và Mạnh Dương đi theo.
Đêm hôm ấy, Tề Tương công ngủ ở đất Cô Phân, sáng hôm sau lên núi Bối Khâu săn bắn. Tương công sai phóng hỏa đốt rừng, rồi bổ vây bốn mặt để bắt các giống hồ thỏ. Tề Tương công đang đỗ xe ở trên một cái gò cao, bỗng thấy một con lợn thật to, giống trâu mà không có sừng, giống hổ mà không có vằn, ở trong đống lửa nhảy ra, chạy đến trước xe Tề Tương công. Tề Tương công ngảnh lại trông thấy Mạnh Dương đứng ở bên cạnh, liền bảo Mạnh Dương rằng:
- Nhà ngươi bắn con lợn ấy đi cho ta!
Mạnh Dương trừng mắt nhìn, giật mình nói rằng:
- Không phải lợn! Công tử Bành Sinh đó!
Tề Tương công giận lắm, nói:
- Bành Sinh, sao còn dám đến đây?
Nói xong, liền giật lấy cái cung của Mạnh Dương bắn luôn ba phát mà không trúng. Con lợn ấy giơ hai chân trước đứng thẳng lên như người, vừa đi vừa khóc, nghe rất thê thảm. Tề Tương công rùng mình ghê sợ, từ trên xe ngã lăn xuống, khuỵu một chân trái, rơi một chiếc giầy thêu, bị con lợn ấy tha đi mất. Đồ Nhân Phi cùng các người theo hầu vực Tề Tương công dậy, đưa về đất Cô Phân. Tuyên công tinh thần hoảng hốt, nóng lòng nóng ruột, lại vừa đau chân trái, đêm hôm ấy cứ trằn trọc không ngủ được, mới bảo Mạnh Dương rằng:
- Nhà ngươi đỡ cho ta đi lại mấy bước.
Bấy giờ Tề Tương công mới biết là mất giầy, gọi Đồ Nhân Phi lại hỏi. Đồ Nhân Phi nói:
- Chiếc giầy ấy bị con lợn tha đi mất rồi!
Tề Tương công nổi giận mắng rằng:
- Mày theo hầu ta mà giầy ta còn hay mất, mày lại không biết sao? Nếu con lợn ấy tha đi thì sao bấy giờ mày không nói ngay?
Nói xong cầm roi quất vào lưng Đồ Nhân Phi, máu chảy đầm đìa mới thôi. Đồ Nhân Phi bị đánh khóc sùi sụt trở ra, lại vừa gặp ngay Liên Xưng đương tiến vào, Liên Xưng liền bắt Đồ Nhân Phi trói lại mà hỏi rằng:
- Đứa hôn quân hiện đang ở đâu?
Đồ Nhân Phi nói:
- Đang ở trong phòng ngủ.
Liên Xưng lại hỏi:
- Đã đi nằm chưa?
Đồ Nhân Phi nói:
- Chưa đi nằm.
Liên Xưng giơ đao toan chém. Đồ Nhân Phi nói:
- Đừng giết tôi, để tôi vào trước do thám hộ cho tướng quân.
Liên Xưng không tin, Đồ Nhân Phi nói:
- Tôi vừa bị nó đánh, cũng muốn giết nó lắm!
Nói xong, liền vạch áo chìa lưng cho Liên Xưng coi. Liên Xưng thấy máu chảy đầm đìa bèn tin lời nó, cởi trói cho vào làm nội ứng, rồi bảo Quản Chí Phủ đem quân vây kín cả xung quanh. Đồ Nhân Phi vừa vào đến trong cửa thì gặp Thạch Chi Phân Như. Đồ Nhân Phi đem chuyện Liên Xưng khởi loạn bảo Thạch Chi Phân Như, rồi cùng nhau vào nói với Tề Tương công. Tề Tương công luống cuống không biết làm thế nào. Đồ Nhân Phi nói:
- Bây giờ việc đã nguy cấp lắm, nên cho một người giả làm chúa công nằm ở trên giường, còn chúa công thì nấp vào sau cửa, may ra có thể thoát được.
Mạnh Dương nói:
- Tôi chịu ơn chúa công nhiều lắm, xin liều chết để thay mạng cho chúa công.
Nói xong, liền trèo lên giường, nằm ngoảnh mặt vào phía trong. Tề Tương công cởi áo cẩm bào trùm lên mình Mạnh Dương, rồi lẻn nấp vào sau cửa, hỏi Đồ Nhân Phi rằng:
- Còn nhà ngươi thì làm gì bây giờ?
Đồ Nhân Phi nói:
- Tôi cùng với Thạch Chi Phân Như xin cố sức để chống nhau với giặc.
Tề Tương công nói:
- Nhà ngươi lưng đau thế mà không ngại à?
Đồ Nhân Phi nói:
- Chết còn chẳng ngại, nữa là ngại lưng đau!
Tề Tương công than rằng:
- Nhà ngươi thật là một trung thần!
Đồ Nhân Phi bảo Thạch Chi Phân Như đứng chặn ở cửa trong, rồi cắp một con dao găm giả cách ra đón để chực giết Liên Xưng. Lại gặp Liên Xưng vừa phá cửa lớn vào. Đồ Nhân Phi không kịp nhắm kỹ, vội vàng đâm liều, chẳng ngờ Liên Xưng mình mặc áo giáp, dao đâm không thủng, Đồ Nhân Phi lại bị Liên Xưng chém cho một nhát chết ngay. Thạch Chi Phân Như nhảy ra đánh nhau với Liên Xưng, vừa đánh vừa lùi, vấp phải thềm đá, ngã lăn xuống đất, cũng bị Liên Xưng chém chết.
Khi Liên Xưng vào đến phòng ngủ của Tề Tương công thì thị vệ bỏ chạy tất cả. Liên Xưng trông thấy trong màn hoa có người nằm đắp cẩm bào, mới giơ gươm chém một nhát, đầu rời ra ngoài gối. Liên Xưng giơ đuốc lên soi, thấy là người trẻ tuổi không có râu, liền nói:
- Không phải hôn quân rồi!
Nói xong, liền sai người tìm khắp trong phòng, chẳng thấy Tề Tương công đâu cả. Liên Xưng cầm đuốc đi soi, bỗng thấy dưới khuôn cửa có một chiếc giầy thêu, biết là sau cửa có người đứng nấp, mới phá cửa ra xem (Nguyên Tề Tương công đau chân, ngồi núp ở đó, chân vẫn đi chiếc giầy thêu, còn chiếc giầy ở ngoài cửa là chiếc giầy mà con lợn tha đi khi trước, bỗng nhiên lại xuất hiện ở đây). Liên Xưng thấy Tề Tương công ngồi núp ở đấy, mới lôi ra ngoài, đẩy ngã xuống đất mà quát mắng rằng:
- Hôn quân vô đạo kia, mày gây việc chinh chiến hại dân hại nước trong mấy năm nay, ấy là bất nhân; mày trái lời cha dặn mà khinh bỏ công tôn, ấy là bất hiếu; mày gian dâm với em gái, không sợ hãi gì, là vô lễ; bắt người ta đi đóng đồn, hẹn đến mùa dưa chín cho thay mà không cho, ấy là vô tín. Nhân, hiếu, lễ, tín bốn điều ấy mày đều không có cả thì sao gọi là người được! Nay ta quyết vì Lỗ Hoàn công mà báo thù.
Nói xong, liền chém Tề Tương công ra làm mấy đoạn. Liên Xưng và Quản Chí Phủ đem quân kéo thẳng vào kinh thành nước Tề. Công tôn Vô Tri mới cửa thành ra tiếp ứng. Liên Xưng và Quản Chí Phủ vào thành, lập Vô Tri lên nối ngôi, cho Liên thị làm phu nhân. Còn Liên Xưng làm chính khanh, Quản Chí Phủ làm á khanh.
Các quan trong triều tuy miễn cưỡng phải theo, nhưng lòng không phục. Chỉ có Ung Lẫm sụp lạy Vô Tri, tạ về cái tội tranh nhau ngày trước. Vô Tri xá cho và cho làm quan đại phu như trước. Họ Cao và họ Quốc là thế thần nước Tề bấy giờ, cáo ốm không vào triều. Vô Tri cũng không dám truất ngôi. Quản Chí Phủ lại khuyên Vô Tri treo bảng cầu người giỏi rồi nói với Vô Tri xin tiến người cháu họ là Quản Di Ngô, Vô Tri liền sai người đi triệu.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.10.2015 10:56:38 bởi Huy Nguyên>
HỒI MƯỜI LĂM
 
Giết Vô Tri, Ung Lẫm thủ mưu
Hội Kiền Thời, Lỗ Trang đại chiến
 
Quản Di Ngô, tên tự là Trọng, diện mạo khôi ngô, có tài học bác cổ thông kim, lại có tài kinh bang tế thế. Quản Trọng thường cùng Bão Thúc Nha buôn chung nhau, đến lúc chia lãi, Quản Trọng lấy phần nhiều hơn, Bão Thúc Nha cũng thuận. Người ngoài đều lấy làm bất bình. Bão Thúc Nha nói:
- Không phải Quản Trọng tham món tiền nhỏ mọn ấy đâu, chỉ vì nhà hắn nghèo, không đủ ăn, nên ta bằng lòng nhường cho hắn đó.
Quản Trọng đi lính, mỗi khi ra trận, cứ lùi lại sau, đến lúc thu quân về thì lại đi lên trước, ai cũng cười là người nhát. Bão Thúc Nha nói:
- Quản Trọng có phải là người nhát đâu, vì hắn còn mẹ già, nên phải giữ gìn thân mình để phụng dưỡng mẹ.
Quản Trọng lại nhiều khi cùng Bão Thúc Nha mưu tính công việc, thường thường trái ý nhau. Bão Thúc Nha nói:
- Người ta làm gì cũng phải gặp thời, giả sử Quản Di Ngô gặp thời thì chắc hẳn trăm việc hắn làm không hỏng một việc.
Quản Trọng nghe lời Bão Thúc Nha nói, thở dài mà than rằng:
- Sinh ra ta là cha mẹ, biết ta thì chỉ có Bão Thúc Nha mà thôi!
Từ bấy giờ hai người kết nghĩa sinh tử với nhau.
Khi còn Tề Tương công, con trưởng của Tương công là công tử Củ (mẹ là người nước Lỗ), con thứ là công tử Tiểu Bạch (mẹ là người nước Cử) đều đã lớn tuổi cả. Quản Trọng bảo Bão Thúc Nha rằng:
- Ngày sau lên nối ngôi, không phải Củ thì tất là Tiểu Bạch, bây giờ chúng ta mỗi người giúp một bên, về sau bên nào lên nối ngôi, hai ta lại sẽ tiến cử lẫn cho nhau.
Bão Thúc Nha lấy làm phải. Quản Trọng mới cùng với Thiệu Hốt làm sư phó(1) cho công tử Củ, còn Bão Thúc Nha thì làm sư phó cho công tử Tiểu Bạch.
Tề Tương công đến đất Chước để hội nhau với Văn Khương. Bão Thúc Nha bảo công tử Tiểu Bạch rằng:
- Ngày nay người trong nước ai cũng chê chúa công là hoang dâm, bây giờ nếu chúa công biết mà thôi đi thì còn có thể che đậy được, nếu cứ thế này mãi thì chẳng ra thế nào, sao công tử không can ngăn?
Công tử Tiểu Bạch vào can Tề Tương công rằng:
- Việc Lỗ hầu chết mới rồi, người ta nghị luận nhiều lắm, phụ thân cũng nên tỵ hiềm mới phải.
Tề Tương công nổi giận, mắng rằng:
- Thằng ranh biết gì mà nói nhảm!
Nói xong, liền lấy chân đá công tử Tiểu Bạch. Công tử Tiểu Bạch vội vàng chạy ra. Bão Thúc Nha nói:
- Người hoang dâm như thế thì tất sẽ có tai vạ, tôi xin cùng công tử trốn sang nước khác để liệu tính về sau.
Tiểu Bạch hỏi:
- Bây giờ nên sang nước nào?
Bão Thúc Nha nói:
- Nước lớn thì thường hay đổi ý, chi bằng ta sang nước Cử. Nước Cử nhỏ mà gần nước ta; nhỏ thì không dám khinh ta, gần thì ta trở về càng tiện.
Công tử Tiểu Bạch khen phải, bèn trốn sang nước Cử. Tề Tương công nghe tin công tử Tiểu Bạch trốn đi, cũng không cho người đuổi theo. Đến lúc công tôn Vô Tri cướp ngôi, cho người đến triệu Quản Di Ngô. Quản Di Ngô nói:
- Chúng nó gươm sắp kề cổ, còn muốn lụy đến người khác à?
Nói xong, liền cùng với Thiệu Hốt đem công tử Củ chạy sang nước Lỗ. Lỗ Trang công cho ở đất Sinh Dậu và cấp cho lương tháng.
Khi công tôn Vô Tri ra triều, thấy Liên Xưng và Quản Chí Phủ đứng đầu hàng các quan, nhiều người có lòng không phục. Ung Lẫm biết ý, liền hỏi thử rằng:
- Có người ở Lỗ sang nói chuyện công tử Củ sắp đem quân Lỗ về đánh Tề, các quan có ai biết chuyện không?
Các quan đại phu đều trả lời rằng:
- Không!
Ung Lẫm không nói gì nữa, khi đã tan triều, các quan đại phu đều rủ nhau đến nhà Ung Lẫm hỏi về việc công tử Củ. Ung Lẫm nói:
- Các quan nghĩ việc ấy ra làm sao?
Đông Quách Nha nói:
- Tiên quân ta ngày xưa dẫu vô đạo, nhưng công tử thì có tội gì? Chúng tôi đang ngày đêm mong mỏi việc đó.
Đông Quách Nha nói xong, các quan đại phu có người ứa nước mắt. Ung Lẫm nói:
- Lẫm này chịu nhẫn nhục ở đây, có phải là không nghĩ đâu, thực ra vẫn có lòng lo toan việc ấy, nếu các quan có lòng giúp, giết đứa nghịch tặc đi mà lập công tử, chẳng cũng là một việc đại nghĩa hay sao?
Đông Quách Nha hỏi kế. Ung Lẫm nói:
- Cao Hề là một thế thần trong nước, ai cũng tin phục, bây giờ bảo Cao Hề bày một tiệc rượu, mời Liên Xưng và Quản Chí Phủ đến, tất nhiên chúng vui lòng đi ngay, bấy giờ ta giả cách đem tin công tử Củ vào nói với Vô Tri, chờ cho hắn ra mà đâm chết đi, rồi đốt lửa lên làm hiệu, đóng cửa thành lại, giết Liên Xưng và Quản Chí Phủ, thật dễ như trở bàn tay!
Đông Quách Nha nói:
- Cao Hề có lòng vì nước, việc ấy ta có thể nói được.
Nói xong, liền đem mưu Ung Lẫm bảo với với Cao Hề. Cao Hề nhận lời, vào sai Đông Quách Nha đi mời Liên Xưng và Quản Chí Phủ đến. Trong khi ăn tiệc, Cao Hề bưng chén rượu mà nói rằng:
- Tiên quân ta ngày xưa làm nhiều điều thất đức, lão phu này chỉ lo mất nước, may mà hai tướng quân lại đem quân về để lập vua mới. Mới rồi lão phu có bệnh, không vào dự triều được, nay bịnh đã hơi bớt, gọi là có chén rượu nhạt để mời hai tướng quân, và nhờ hai tướng quân trông nom cho con cháu lão phu về sau, thì lão phu lấy làm đội ơn lắm.
Liên Xưng và Quản Chí Phủ đều khiêm nhượng không dám đương lễ. Cao Hề lại sai người đóng chặt cửa lại mà nói rằng:
- Hôm nay hai tướng quân đã đến chơi với lão phu, thì phải uống cho thật say mới thôi!
Trong khi ấy thì Ung Lẫm giắt dao găm trong mình, vào cung nói với Vô Tri rằng:
- Công tử Củ sắp đem quân Lỗ về đánh, xin chúa công phải liệu kế chống giữ.
Vô Tri nói:
- Quốc cữu bây giờ ở đâu?
Ung Lẫm nói:
- Quốc cữu cùng với Quản Chí Phủ đi uống rượu chưa về. Bây giờ các quan đã họp cả ở trong triều, chờ chúa công ra để thương nghị.
Vô Tri tin lời, vội vàng ra triều. Các quan đại phu xúm cả lại trước mặt. Ung Lẫm đứng đằng sau rút dao đâm thẳng Vô Tri một nhát, máu tuôn ra lênh láng, tức thì Vô Tri chết ngay. Đoạn Ung Lẫm sai người đốt lửa lên làm hiệu. Cao Hề đang cùng với Liên Xưng và Quản Chí Phủ uống rượu, nghe nói trong thành có lửa cháy, Cao Hề bèn đứng ngay dậy đi vào nhà trong. Liên Xưng và Quản Chí Phủ đang ngơ ngác thì quân giáp sĩ đổ ra bắt lấy hai người đem chém làm mấy đoạn.
Ung Lẫm cùng các quan đại phu kéo nhau đến nhà Cao Hề để cùng thương nghị, rồi sai người sang Lỗ đón công tử Củ về nối ngôi. Lỗ Trang công mừng lắm, toan cất quân đưa công tử Củ về nước. Thi Bá can rằng:
- Tề không có vua, tức là lợi cho nước Lỗ ta, xin chúa công hãy thong thả xem sao.
Lỗ Trang công nghe nói, còn ngần ngừ chưa quyết. Văn Khương từ khi Tề Tương công bị giết, về ở nước Lỗ, muốn trả thù cho anh mình, ngày đêm khuyên Lỗ Trang công đem quân đánh Vô Tri. Đến lúc nghe tin Vô Tri bị giết, nước Tề cho người sang đón công tử Củ về làm vua, Văn Khương lấy làm mừng lắm, mới vào giục Lỗ Trang công cất quân giúp công tử Củ. Lỗ Trang công vì có lệnh mẹ, bèn không nghe lời Thi Bá nữa, cất quân đưa công tử Củ sang Tề. Quản Trọng bảo Lỗ Trang công rằng:
- Công tử Tiểu Bạch nay đang ở nước Cử. Nước Cử lại gần nước Tề lắm, nếu công tử Tiểu Bạch đem quân về trước thì có lẽ mạnh thế hơn, tôi xin lĩnh một toán quân đón đường mà đánh.
Lỗ Trang công cho đi. Công tử Tiểu Bạch ở nước Cử nghe tin Tề Tương công chết, bèn cùng với Bão Thúc Nha thương nghị, mượn quân nước Cử để về nước. Quản Trọng đem quân đi đến Tức Mặc, nghe nói quân nước Cử đã đi qua rồi, mới vội vàng đuổi theo; lại đi hơn ba mươi dặm nữa, vừa gặp quân nước Cử. Quản Trọng trông thấy Tiểu Bạch ngồi ở trên xe, liền đến trước mặt cúi đầu chào mà hỏi rằng:
- Công tử định đi đâu bây giờ?
Tiểu Bạch nói:
- Ta về nước để chịu tang phụ thân ta đó.
Quản Trọng nói:
- Công tử Củ là con trưởng, nên về làm chủ tang; còn công tử thì về làm gì vội cho thêm khó nhọc.
Bão Thúc Nha nói:
- Quản Trọng lui ra đi, người nào thì cứ giúp chủ người ấy, không cần gì phải nói nhiều.
Quản Trọng thấy quân nước Cử ai nấy đều cau mày trợn mắt, có ý muốn sinh sự, lại sợ họ nhiều người mình không thể địch nổi, mới giả cách vâng lời mà lui ra. Đi được một quãng, Quản Trọng liền giương cung nhắm thẳng Tiểu Bạch bắn ngay một phát. Tiểu Bạch kêu lên một tiếng, hộc máu ra miệng, ngã lăn ở trong xe. Bão Thúc Nha vội vàng chạy lại cứu Tiểu Bạch. Quản Trọng bỏ chạy, vừa đi vừa nói rằng:
- May cho công tử Củ, có lẽ nên việc được đây!
Quản Trọng về báo tin với Lỗ Trang công. Lỗ Trang công rót chén rượu chúc mừng công tử Củ, rồi đem quân tiến sang nước Tề, không lo ngại gì nữa.
Nguyên Quản Trọng bắn trúng vào cái vòng đai của công tử Tiểu Bạch. Tiểu Bạch biết Quản Trọng là người bắn giỏi, sợ hắn lại bắn luôn phát nữa, mới nghĩ ngay một kế, cắn đầu lưỡi cho chảy máu ra, rồi giả cách ngã phục xuống. Bão Thúc Nha bảo Tiểu Bạch thay quần áo khác, ngồi trong một cái xe kín, thẳng đường đi gấp về Lâm Tri (kinh thành nước Tề). Khi gần đến Lâm Tri, Bão Thúc Nha vào trong thành trước, nói với các quan đại phu, khen công tử Tiểu Bạch là người hiền, nên lập lên làm vua. Các quan đại phu nói:
- Công tử Củ sắp về thì biết xử ra thế nào?
Bão Thúc Nha nói:
- Nước Tề ta có đến ba vua bị giết luôn, bây giờ nếu không có người hiền lên ngôi thì sao yên được loạn? Huống chi các quan đón công tử Củ mà công tử Tiểu Bạch lại về trước, đó cũng là lòng trời. Nước Lỗ đưa công tử Củ về, tất là có ý cầu lợi, cũng như ngày trước nước Tống lập công tử Đột vì đòi nhiều lễ vật, đến nỗi gây việc chinh chiến luôn trong mấy năm. Cứ như tình hình nước Tề ngày nay, phỏng có chịu được những sự đòi hỏi tham lam của nước Lỗ hay không?
Các quan đại phu nói:
- Thế thì bây giờ nói với Lỗ hầu làm sao cho được?
Bão Thúc Nha nói:
- Ta đã có vua rồi thì kẻ kia tự khắc phải lui quân về thôi.
Quan đại phu là Thấp Bằng và Đông Quách Nha đều nói rằng:
- Bão Thúc Nha nói phải đó!
Nói xong, liền đón công tử Tiểu Bạch vào thành, lên nối ngôi, tức là Tề Hoàn công.
Bão Thúc Nha nói:
- Quân nước Lỗ dẫu chưa đến, nhưng ta nên sai người ngăn trước đi.
Nói xong, liền sai Trọng Tôn Thu đi đón Lỗ Trang công, báo tin nước Tề đã có vua rồi. Lỗ Trang công biết là Tiểu Bạch chưa chết, giận lắm, nói:
- Sao lại đưa thằng bé ấy lên nối ngôi, mà không lập con trưởng? Ta quyết không chịu đem quân trở về.
Trọng Tôn Thu báo với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công nói:
- Quân Lỗ không chịu lui thì biết làm thế nào?
Bão Thúc Nha nói:
- Nếu vậy thì ta đem quân ra đánh Lỗ.
Đông Quách Nha nói:
- Nước Lỗ biết ta có phòng bị, tất không chịu tiến binh, âu là ta phục quân ở đất Kiền Thời để đón đánh thì chắc có thể phá vỡ được.
Bão Thúc Nha khen phải, rồi sai người đi đến đất Kiền Thời. Quản Trọng nói:
- Tiểu Bạch mới lên nối ngôi, lòng người chưa định, ta đánh ngay thì trong nước tất sinh nội biến.
Lỗ Trang công nói:
- Cứ như lời Quản Trọng nói thì Tiểu Bạch chết đã lâu rồi kia mà.
Nói xong, truyền đóng quân lại ở đất Kiền Thời. Bỗng nghe báo có Ung Lẫm đến khiêu chiến. Lỗ Trang công đem quân ra trận, trỏ mặt Ung Lẫm mà mắng rằng:
- Mày thủ xướng việc giết Vô Tri để lập công tử Củ, bây giờ lại nuốt lời như không, thì sao gọi là tín nghĩa được?
Nói xong, giương cung toan bắn Ung Lẫm. Ung Lẫm giả cách xấu hổ, cắm đầu bỏ chạy. Lỗ Trang công sai Tào Mạt đuổi theo. Ung Lẫm quay lại đánh nhau với Tào Mạt được mấy hợp, rồi lại bỏ chạy. Tào Mạt không biết, cố sức cầm kích đuổi theo kỳ cùng, bị đại binh của Bão Thúc Nha vây kín lại.
Tào Mạt cố sức đánh mãi, bị trúng hai mũi tên, rồi mới chạy thoát được. Quân Lỗ kéo ra tiếp ứng cho Tào Mạt, lại bị quân Tề đánh cho một trận, bỏ chạy tán loạn cả; Bão Thúc Nha hạ lệnh cho quân sĩ reo rầm lên rằng:
- Ai bắt được Lỗ hầu thì có trọng thưởng!
Tần Tử vội vàng cầm lá cờ thêu của Lỗ Trang công ném ngay xuống đất. Lương Tử lại nhặt lấy, cắm lên xe mình. Tần Tử hỏi Lương Tử rằng:
- Cắm cờ để làm gì thế?
Lương tử nói:
- Để đánh lừa quân nước Tề.
Lỗ Trang công thấy sự tình nguy cấp quá, mới đổi mặc áo thường, thay xe khác, chạy thoát được. Ninh Việt (tướng Tề) trông thấy lá cờ thêu, ngỡ là Lỗ Trang công, liền đem quân đến vây kín mấy vòng. Lương Tử bỏ mũ trụ xuống, ngẩng mặt cho quân Tề xem mà bảo rằng:
- Ta đây là tướng nước Lỗ, còn vua ta thì đi khỏi đã xa rồi!
Ninh Việt bắt Lương Tử đem về nộp cho Tề Hoàn công. Tề Hoàn công sai đem ra chém, rồi thu binh trở về. Sáng hôm sau, Tề Hoàn công ra triều, các quan đều vào chúc mừng.
Bão Thúc Nha nói:
- Công tử Củ bây giờ đang dùng Quản Di Ngô và Thiệu Hốt, lại được nước Lỗ giúp, đó là cái tật tâm phúc chưa trừ được, chớ nên mừng vội.
Tề Hoàn công nói:
- Bây giờ biết làm thế nào?
Bão Thúc Nha nói:
- Mới rồi nước Lỗ bị thua ở đất Kiền Thời, vua tôi đều sợ mất vía, nay tôi xin đem quân đến đóng ở giáp giới nước Lỗ, đòi đánh công tử Củ, tất là nước Lỗ sợ mà phải theo.
Tề Hoàn công nghe lời. Bão Thúc Nha bèn đem quân đến đóng ở đất Vấn Dương, sai công tôn Thấp Bằng đưa thư cho Lỗ Trang công, thư rằng:
“Ngoại thần là Bão Thúc Nha trăm lạy dâng thư lên Lỗ hiền hầu điện hạ:
Một nhà không nên có hai chủ, một nước không nên có hai vua, nay chúa công tôi đã lên nối ngôi mà công tử Củ còn muốn tranh đoạt, thế là trái với lẽ phải. Chúa công tôi nghĩ tình anh em, không nỡ đánh giết, muốn nhờ tay quý quốc; còn Quản Di Ngô và Thiệu Hốt là kẻ thù của chúa công tôi, xin cho nước tôi lĩnh về để trị tội”.
_____
(1) Sư phó: người dạy bảo con vua.
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI MƯỜI SÁU
 
Bão Thúc Nha tiến cử Quản Trọng
Lỗ Tào Quệ đánh được Tề hầu
 
Lỗ Trang công tiếp được thư của Bão Thúc Nha, liền gọi Thi Bá vào bàn rằng:
- Ngày trước ta không nghe lời nhà ngươi, đến nỗi bị thua, bây giờ nhà ngươi thử nghĩ xem: giết Củ và tha Củ, đằng nào lợi hơn?
Thi Bá nói:
- Tiểu Bạch mới lên nối ngôi, đã biết dùng người tài, đánh được quân ta ở đất Kiền Thời, thế thì công tử Củ bì thế nào nổi. Huống chi quân Tề nay đóng ở giáp giới nước ta, chi bằng ta giết Củ mà cùng với Tề giảng hòa thì hơn.
Bấy giờ công tử Củ cùng với Quản Trọng và Thiệu Hốt đều ở đất Sinh Dậu. Lỗ Trang công sai công tử Yển đem quân đến đánh lén, giết công tử Củ, bắt Thiệu Hốt và Quản Trọng. Lúc sắp bước vào xe cũi, Thiệu Hốt ngửa mặt lên trời mà khóc rằng:
- Vì hiếu mà chết, vì trung mà chết, đó là cái phận của kẻ làm con, làm tôi! Hốt này xin theo công tử xuống âm phủ, còn hơn chịu cái nhục gông cùm.
Nói xong, liền đập đầu vào cột mà chết. Quản Di Ngô nói:
- Có người chết cũng phải có người sống! Ta phải sống mà vào Tề để khiếu oan cho công tử Củ.
Nói xong, liền bước vào cũi. Thi Bá nói riêng với Lỗ Trang công rằng:
- Tôi xem Quản Trọng hình như có tay trong giúp, tất không đến nỗi chết. Người ấy là một bậc kỳ tài, nếu y không chết thì nước Tề tất dùng. Nước Tề dùng người ấy tất làm bá chủ các nước chư hầu, bấy giờ Lỗ hẳn phải theo Tề. Chi bằng chúa công xin với Tề tha cho Quản Di Ngô, rồi ta dùng hắn thì không sợ gì Tề nữa.
Lỗ Trang công nói:
- Quản Trọng là kẻ thù của vua nước Tề mà ta lại tha thì ta dẫu đã giết công tử Củ, Tề cũng chưa hết giận.
Thi Bá nói:
- Nếu chúa công cho là không nên dùng Quản Trọng thì nên giết chết đi, rồi đem xác trả nước Tề.
Lỗ Trang công khen phải. Thấp Bằng nghe nói nước Lỗ sắp giết Quản Di Ngô, vội vàng vào nói với Lỗ Trang công rằng:
- Quản Trọng trước bắn vào đai của chúa công tôi, chúa công tôi giận đến xương tủy, vẫn mong được tự tay đâm chết thì mới hả lòng. Nếu bây giờ đem xác Di Ngô sang trả thì cũng như là không trả vậy.
Lỗ Trang công nghe lời, mới giao Quản Trọng cho Thấp Bằng. Thấp Bằng cáo từ, trở về nước. Quản Di Ngô ngồi trong xe cũi, đã biết trước là mưu của Bão Thúc Nha, nhưng còn e Thi Bá là người đa mưu, ngộ hối lại mà cho quân đuổi theo thì không toàn được tính mệnh, mới nghĩ thầm một kế, đặt ra bài ca “Hoàng hộc” để dạy quân Tề hát. Quân Tề nghe hát vui tai quên nhọc, ngựa bon xe ruổi, một ngày đi được bằng hai ngày đường, vượt qua được địa giới nước Lỗ.
Lỗ Trang công sai công tử Yển đuổi theo thì Quản Trọng đã sang đến đất Đường Phụ rồi. Bão Thúc Nha trông thấy mừng lắm, sai người mở cũi ra cho Quản Trọng xuống, Quản Trọng nói:
- Chưa phụng quân mệnh, đừng nên mở vội.
Bão Thúc Nha nói:
- Không ngại gì! Ta sắp đem nhà ngươi tiến với chúa công.
Quản Trọng nói:
- Tôi cùng với Thiệu Hốt cùng theo công tử Củ, đã không giúp cho nên việc được, lại không biết giữ tiết làm tôi, còn mặt mũi nào mà thờ kẻ cừu địch? Thiệu Hốt ở dưới suối vàng tránh sao chẳng khỏi cười tôi!
Bão Thúc Nha nói:
- Muốn làm việc lớn thì không nên câu nệ việc nhỏ. Ông có tài trị thiên hạ, nhưng tiếc rằng chưa gặp thời. Chúa công ta là người quảng đại cao minh, nếu được ông giúp cho để sửa sang cơ nghiệp nước Tề thì chắc hẳn làm được bá chủ các nước. Bấy giờ công trạng ông sẽ rực rỡ, tiếng tăm ông sẽ lừng lẫy, chẳng hơn là giữ cái tiết nhỏ, phỏng ích gì?
Quản Trọng nín lặng. Bão Thúc Nha trở về Lâm Tri (kinh thành nước Tề), vào yết kiến Tề Hoàn công, dâng lời kính viếng. Tề Hoàn công nói:
- Sao nhà ngươi lại viếng ta?
Bão Thúc Nha nói:
- Công tử Củ là anh ruột chúa công. Nay chúa công bất đắc dĩ phải vì việc nước mà bỏ tình thân, bởi vậy tôi xin có lời kính viếng, nhưng viếng xong, tôi lại xin có lời mừng.
Tề Hoàn công nói:
- Sao nhà ngươi lại mừng ta?
Bão Thúc Nha nói:
- Quản Trọng là một bậc kỳ tài, hơn Thiệu Hốt nhiều lắm, tôi đã bảo toàn mà đem về được, thế là chúa công có được một người hiền để dùng, vậy nên tôi xin có lời mừng.
Tề Hoàn công nói:
- Quản Di Ngô bắn trúng vào đai của ta, mũi tên hãy còn đó, ta vẫn lấy làm căm lắm, những muốn bắt được thì xẻ thịt ra mà ăn, còn dùng làm gì!
Bão Thúc Nha nói:
- Làm tôi ai cũng có lòng vị chủ: lúc Quản Di Ngô bắn trúng vào đai chúa công thì trong lòng chỉ biết có công tử Củ mà không biết có chúa công. Nay chúa công dùng Quản Di Ngô thì Quản Di Ngô lại vì chúa công mà bắn trúng cả thiên hạ, cứ gì bắn trúng cái vòng đai của một người mà thôi!
Tề Hoàn công nói:
- Ta hãy nghe lời nhà ngươi mà tha tội cho hắn.
Bão Thúc Nha mới đón Quản Trọng về ở nhà mình để đêm ngày đàm luận.
Tề Hoàn công nghị thưởng những người có công lập mình khi trước. Họ Cao và họ Quốc là thế thần nước Tề bấy giờ đều được gia phong cả. Hoàn công lại toan giao quyền chính cho Bão Thúc Nha, dùng làm thượng khanh.
Bão Thúc Nha nói:
- Chúa công gia ân cho tôi, khiến tôi đủ ấm no, tôi được đội ơn nhiều lắm, còn như việc trị nước thì thật tôi không đương nổi.
Tề Hoàn công nói:
- Ta đã biết tài nhà ngươi, nhà ngươi chớ nên từ chối.
Bão Thúc Nha nói:
- Chúa công biết tôi là người cẩn thận, làm đủ phận sự, kính giữ mực thước mà thôi. Đó chưa phải là cái tài trị nước. Trên có công với thiên tử, dưới làm ơn với chư hầu, khiến cho nước được an toàn, vua được vinh hiển, sử xanh bia đá nức tiếng thơm danh, đó mới thật là cái tài trị nước, cái tài của các bậc vương tá, tôi đương thế nào nổi!
Tề Hoàn công nghe nói, sắc mặt bỗng tươi hẳn lên, ghé lại gần mà hỏi rằng:
- Cứ như lời nhà ngươi nói thì đời bây giờ có ai như thế không?
Bão Thúc Nha nói:
- Chúa công không cần một người như thế thì thôi, nếu cần một người như thế thì người ấy chính là Quản Trọng chứ còn ai!
Tề Hoàn công nói:
- Khanh thử đem người ấy lại đây, để ta xem học thức người ấy thế nào.
Bão Thúc Nha nói:
- Tôi thiết tưởng hèn thì không trị được kẻ sang, nghèo thì không trị được kẻ giàu, sơ thì không trị được kẻ thân; nếu chúa công muốn dùng Quản Di Ngô thì tất phải trao cho quyền tể tướng, đãi như bậc phụ huynh mới được. Tể tướng mà cho người dẫn vào thì sự thể không được trọng. Quản Di Ngô là bậc phi thường, chúa công nên chọn ngày tốt mà thân hành đi đón. Thiên hạ nghe tiếng chúa công là người quý kẻ sĩ mà không nghĩ đến thù riêng thì ai lại không muốn hết sức giúp Tề.
Tề Hoàn công nghe lời mới sai quan thái bốc chọn ngày tốt rồi thân hành đi đón Quản Trọng. Bão Thúc Nha bảo Quản Trọng tắm gội mũ áo, ra ở nhà công quán trước. Đến hôm ấy, Tề Hoàn công đến đón, hai người cùng ngồi một xe, đi vào trong triều, người xem chật ních, ai cũng kinh hãi. Quản Trọng vào đến trong triều, sụp lạy xin lỗi. Tề Hoàn công giơ tay đỡ dậy, mời ngồi. Quản Trọng nói:
- Tôi được chúa công tha cho tội chết, thật đã may lắm, có đâu lại dám ngồi như vậy.
Tề Hoàn công nói:
- Ta muốn hỏi nhà ngươi một điều, nhà ngươi có ngồi cho thì mới dám thưa chuyện.
Quản Trọng sụp lạy hai lạy, rồi tới ghế ngồi. Tề Hoàn công nói:
- Nước Tề ta vốn là một nước lớn, tiên quân ta là Hi công đối địch được với các nước chư hầu cũng gọi là cường thịnh; đến đời Tương công, chính lệnh bất thường, đến nỗi gây ra tai biến. Ta đây mới lên nối ngôi, lòng dân chưa định, thế nước chưa yên, nay muốn chỉnh đốn lại, để gây nên được giường mối thì phải làm điều gì trước?
Quản Trọng nói:
- Lễ, nghĩa, liêm, sỉ, đó là bốn điều cốt yếu trong nước, nếu bốn điều ấy không giữ được thì nước tất mất. Nay chúa công muốn chỉnh đốn lại giường mối thì nên giữ lấy bốn điều ấy trong lúc trị dân.
Tề Hoàn công nói:
- Làm thế nào mà trị dân được?
Quản Trọng nói:
- Muốn trị dân thì trước hết phải yêu dân.
Tề Hoàn công nói:
- Cái đạo yêu dân như thế nào?
Quản Trọng nói:
- Yêu dân thì phải dạy dân lấy đạo thân ái, nghĩ cách giúp đỡ, giảm bớt thuế má, khiến cho dân được đông người nhiều của. Đó là cái đạo yêu dân.
Tề Hoàn công nói:
- Làm thế nào thì dân được yên?
Quản Trọng nói:
- Sĩ, nông, công, thương gọi là bốn dân, nên nghĩ cách mở mang, khiến cho bốn dân đều giữ được nghề nghiệp, như thế thì dân yên.
Tề Hoàn công nói:
- Dân đã yên rồi, nhưng giáp binh không đủ thì làm thế nào?
Quản Trọng nói:
- Muốn đủ giáp binh thì hình pháp nên đặt lệ cho chuộc tội; tội nặng thì cho chuộc một cái tê giáp, tội nhẹ thì cho chuộc một cái quy thuẫn, tội nhỏ thì cho nộp kim khí, tội nghi thì tha hẳn, còn kẻ nào tụng lý bằng nhau thì bắt nộp một bó tên rồi cho hòa. Thu được những kim khí ấy thì đem đúc các đồ giáp binh.
Tề Hoàn công nói:
- Giáp binh đã có rồi, nhưng của dùng không đủ thì làm thế nào?
Quản Trọng nói:
- Khai mỏ để đúc tiền, nấu nước bể để làm muối, cho lợi chung cả thiên hạ. Lại thu hàng hóa của thiên hạ buôn để một chỗ, đợi dịp cao mà bán ra để lấy lãi; làm ba trăm nhà nữ lưu(1) cho các khách đi lại buôn bán tụ họp ở đó, để đánh thuế, như thế thì của dùng phải đủ.
Tề Hoàn công nói:
- Của dùng đã đủ, nhưng quân lính còn ít, thế lực không mạnh thì làm thế nào?
Quản Trọng nói:
- Quân không cần nhiều, mà cần phải tinh luyện; mạnh không vì sức, mà vì lòng. Nay chúa công sửa sang giáp binh, các nước chư hầu cũng đều sửa sang giáp binh thì mình hơn gì người ta được! Nếu chúa công muốn cho quân mạnh thì phải giấu cái danh mà làm cái thực; tôi xin làm phép nội chính, tiếng là để trị dân, nhưng cũng là để gia cường binh lực.
Tề Hoàn công nói:
- Binh lực đã mạnh, có nên đi đánh các nước chư hầu không?
Quản Trọng nói:
- Chưa nên đi đánh vội! Chúa công muốn đánh các nước chư hầu thì trước hết phải tôn thiên tử nhà Chu mà cầu thân với nước láng giềng mình.
Tề Hoàn công nói:
- Như vậy thì phải làm thế nào?
Quản Trọng nói:
- Xét rõ biên giới của mình, trả lại những đất xâm lấn, sai người đem lễ vật đi thăm các nước mà không lấy lễ vật của họ, như thế thì các nước chư hầu, nước nào chẳng muốn giao hiếu với ta; lại cho người đem lễ vật đi chu du các nơi mà cầu người hiền; đem hàng hóa đi bán các nước, để dò xem người các nước thích những thứ gì, và tìm xem có cớ gì thì đem quân đến đánh mà lấy thêm đất. Nước nào có kẻ loạn tặc cướp ngôi thì ta đánh để lập uy, như thế thì các nước chư hầu, nước nào lại không tin phục nước Tề. Bấy giờ nước Tề bắt các nước chư hầu phải phụng thờ thiên tử nhà Chu, như thế thì ngôi bá chủ, chúa công dẫu muốn chối từ, cũng không thể được.
Tề Hoàn công nói chuyện với Quản Trọng trong ba ngày ba đêm mà không biết mỏi, thật là ý hợp tâm đầu, muốn dùng Quản Trọng làm tể tướng. Quản Trọng chối từ. Tề Hoàn công nói:
- Ta muốn theo cái thuyết bá nghiệp của ông, vậy phải dùng ông làm tể tướng, sao ông lại không nhận?
Quản Trọng nói:
- Không phải sức một cây gỗ mà làm nên được một cái nhà lớn; không phải sức một dòng nước mà làm nên được cái bể lớn; nếu chúa công có chí như vậy thì nên dùng năm người kiệt sĩ.
Tề Hoàn công hỏi:
- Năm người kiệt sĩ là ai?
Quản Trọng nói:
- Có tài giao thiệp, biết giữ lễ phép thì tôi không bằng Thấp Bằng, xin cho Thấp Bằng làm đại tư hanh; có tài khai khẩn, biết cách trồng trọt thì tôi không bằng Ninh Việt, xin cho Ninh Việt làm đại tư điền; có tài luyện tập quân sĩ, khiến cho người ta quên chết thì tôi không bằng Thành Phủ, xin cho Thành Phủ làm đại tư mã; có tài xử đoán hình ngục khiến cho người ta khỏi oan thì tôi không bằng Tân Tu Vô, xin cho Tân Tu Vô làm đại tư lý; có tính cương trực, thấy điều gì trái tất phải nói ngay, không sợ những kẻ quyền quý, thì tôi không bằng Đông Quách Nha, xin cho Đông Quách Nha làm đại gián quan. Chúa công muốn được cường thịnh thì tất phải dùng năm người ấy, có năm người ấy thì tôi dẫu hèn mạt, cũng xin cố sức mà vâng mệnh chúa công.
Tề Hoàn công mới phong cho Quản Trọng làm tể tướng, và theo lời Quản Trọng phong chức cho năm người kia.
Hôm khác, Tề Hoàn công lại hỏi Quản Trọng rằng:
- Ta có tính hay săn bắn, lại hay nữ sắc thì có hại gì đến nghiệp bá hay không?
Quản Trọng nói:
- Không hại gì.
Tề Hoàn công nói:
- Thế thì cái gì có hại đến nghiệp bá?
Quản Trọng nói:
- Không biết người hiền thì hại đến nghiệp bá; biết người hiền mà không dùng thì hại đến nghiệp bá; dùng mà không chuyên thì hại đến nghiệp bá; chuyên mà lại cho kẻ tiểu nhân lẫn vào thì hại đến nghiệp bá.
Tề Hoàn công khen phải, từ bấy giờ cứ chuyên dùng Quản Trọng, tôn lên gọi là Trọng phụ(2), coi hơn họ Cao và họ Quốc bấy giờ. Phàm chính sự trong nước, việc gì cũng theo ý Quản Trọng tất cả. Lại cấm người trong nước không ai được nói động đến tên Quản Trọng.
Lỗ Trang công nghe tin nước Tề phong Quản Di Ngô làm tể tướng, giận lắm, nói:
- Ta tiếc rằng không nghe lời Thi Bá, lại bị đứa trẻ con lừa dối!
Nói xong, liền luyện tập binh mã, toan sang đánh Tề để báo thù trận thua ở Kiền Thời. Tề Hoàn công nghe tin, bảo Quản Di Ngô rằng:
- Ta muốn đánh nước Lỗ trước, phỏng có nên không?
Quản Di Ngô nói:
- Quan chính chưa định xong, chưa thể đánh được.
Tề Hoàn công không nghe, cho Bão Thúc Nha làm tướng, đem quân kéo thẳng đến đất Trường Thược (đất nước Lỗ). Lỗ Trang công hỏi Thi Bá rằng:
- Nước Tề khinh ta quá lắm, biết dùng kế gì mà chống cự lại?
Thi Bá nói:
- Tôi xin cử một người, có thể chống cự với Tề được.
Lỗ Trang công nói:
- Nhà ngươi định cử ai?
Thi Bá nói:
- Tôi có biết một người tên gọi là Tào Quệ, xưa nay vẫn ẩn ở làng Đông Bình, chưa ra làm quan. Người ấy thật là có tài làm tướng.
Lỗ Trang công sai Thi Bá đến triệu Tào Quệ. Tào Quệ vừa cười vừa nói:
- Người ăn thịt(3) không có mưu kế gì hay sao mà lại đến hỏi mưu kế người ăn rau(4)?
Thi Bá nói:
- Người ăn rau có mưu kế rồi cũng được ăn thịt chớ sao!
Nói xong, cùng nhau vào yết kiến Lỗ Trang công. Lỗ Trang công hỏi Tào Quệ rằng:
- Bây giờ dùng kế gì mà đánh Tề?
Tào Quệ nói:
- Việc quân phải tùy cơ ứng biến, không thể nói trước được, xin chúa công cứ cho tôi đi theo.
Lỗ Trang công mừng lắm, cùng với Tào Quệ ngồi chung một xe, thẳng tới Trường Thược. Bão Thúc Nha mới thắng trận ở đất Kiền Thời, nên có ý khinh nước Lỗ, mới hạ lệnh cho quân sĩ đánh trống tiến vào, ai xông vào trước thì sẽ có trọng thưởng. Lỗ Trang công cũng truyền đánh trống để ra đối địch. Tào Quệ can rằng:
- Quân Tề đang hăng hái, ta hãy nên yên lặng đợi một chút.
Nói xong, liền truyền cho quân sĩ phải yên lặng, kẻ nào làm huyên nào thì chém. Quân Tề thấy quân Lỗ không ra đánh, phải rút quân về. Được một lúc, quân Tề lại đánh trống tiến lên, cũng không thấy quân Lỗ ra đánh, lại phải lui quân. Bão Thúc Nha nói:
- Quân Lỗ sợ không dám đánh, ta thúc quân lên một lần nữa thì quân Lỗ tất phải chạy.
Bão Thúc Nha lại truyền đánh trống tiến quân. Tào Quệ bảo Lỗ Trang công rằng:
- Bây giờ chính là lúc ta đánh được Tề đó, nên đánh trống mà tiến quân đi.
Quân Tề thấy hai lần trước quân Lỗ đều không dám ra đánh, có ý khinh thường, ai ngờ lần này quân Lỗ ầm ầm kéo ra, tên bắn như mưa, thế nhanh như chớp, quân Tề sợ hãi bỏ chạy, thất điên bát đảo, không thể nào cản lại được nữa. Lỗ Trang công toan thúc quân đuổi theo, Tào Quệ nói:
- Không nên, để tôi xem xét đã.
Nói xong, liền xuống xe nom sang thế trận nước Tề, lại trèo lên xe nhìn kỹ hồi lâu, rồi nói rằng:
- Nên đuổi!
Lỗ Trang công liền tiến quân đuổi theo. Đuổi đến quá ba mươi dặm, mới rút quân về, bắt được xe cộ, lương thực, khí giới rất nhiều.
_____
(1) Tức là thanh lâu.
(2) Trọng phụ: ý muốn tỏ lòng tôn kính như cha.
(3) Ăn thịt: chỉ những người đang làm quan có ăn lộc nước.
(4) Ăn rau: chỉ những người nghèo khổ.
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI MƯỜI BẢY
 
Nước Tống ăn lễ giết Trường Vạn
Vua Sở tham sắc bắt Tức hầu
 
Lỗ Trang công đánh được quân Tề rồi, hỏi Tào Quệ rằng:
- Tại sao đến lần thứ ba nhà ngươi mới bảo ta đánh trống ra đối địch?
Tào Quệ nói:
- Phàm việc chinh chiến phải lấy khí thế làm đầu, khi mạnh thì được, khi kém thì thua. Đánh trống nghĩa là để cổ động cái khí thế của quân sĩ: lần thứ nhất đánh trống thì khí thế đang hăng, lần thứ hai thì khí thế đã suy, đến lần thứ ba thì khí thế quân giặc đã hết. Về bên ta thì mới đánh trống lần thứ nhất, khí thế đang mạnh, tài nào mà chẳng thắng!
Lỗ Trang công nói:
- Quân Tề đã thua chạy rồi, lúc đầu nhà ngươi bảo ta đừng đuổi, sau một lúc lại bảo ta nên đuổi là cớ làm sao?
Tào Quệ nói:
- Quân Tề thường hay dối trá, tôi sợ có phục binh, dẫu thua chạy cũng không nên tin vội; sau thấy vết xe đi lẫn lộn, biết là quân Tề đã rối loạn; lại trông thấy ngọn cờ không được chỉnh tề, biết là quân Tề thua chạy thật, bấy giờ thì ta mới nên đuổi.
Lỗ Trang công nói:
- Nhà ngươi thật là người giỏi binh pháp!
Nói xong, liền cho Tào Quệ làm quan đại phu, lại hậu thưởng cho Thi Bá về cái công tiến Tào Quệ.
Quân Tề thua chạy về, Tề Hoàn công giận lắm nói:
- Mới đem quân ra lần này là một mà đã bị thua thì sao cho các nước chư hầu phục mình được!
Bão Thúc Nha nói:
- Tề là Lỗ đều là nước lớn, không kém gì nhau, nhưng đánh ở địa giới nước nào thì nước ấy được, ngày trước đánh ở Kiền Thời thì ta được Lỗ, ngày nay đánh ở Trường Thược thì Lỗ được ta, đó là lẽ thường. Bây giờ xin chúa công sai sứ sang mượn quân nước Tống, nếu Tống hợp sức với ta thì có thể đánh Lỗ được.
Tề Hoàn công mới sai sứ sang mượn quân nước Tống. Tống Mẫn công sai Nam Cung Trường Vạn làm chánh tướng, Mạnh Hoạch làm phó tướng, cùng với quân Tề kéo đến đóng ở đất Lang Thành (đất nước Lỗ).
Lỗ Trang công nói:
- Bão Thúc Nha vì lòng tức giận mà đem quân đến, lại có quân Tống sang giúp. Nam Cung Trường Vạn nước Tống là người sức khỏe vô địch, nước ta biết lấy gì mà chống lại cho nổi?
Quan đại phu là công tử Yển nói:
- Tôi xin ra trận để dò xem tình hình quân giặc ra sao.
Khi trở về công tử Yển nói với Lỗ Trang công rằng:
- Bão Thúc Nha vẫn có ý sợ hãi, nên quân dung không được nghiêm chỉnh. Còn Nam Cung Trường Vạn thì chỉ cậy sức khỏe, hàng ngũ không có thứ tự. Tôi xin đem một toán quân lẻn ra để đánh quân Tống, nếu quân Tống vỡ rồi thì quân Tề tất phải rút về mà thôi.
Lỗ Trang công nói:
- Nhà ngươi địch thế nào nổi Nam Cung Trường Vạn?
Công tử Yển nói:
- Xin hãy thử cho tôi đi.
Lỗ Trang công cho đi, và bảo rằng:
- Rồi ta sẽ đem quân tiếp ứng.
Công tử Yển lấy nơn trăm tấm da hổ, trùm lên mình ngựa, nhân đêm hôm ấy bóng trăng mập mờ, cuốn cờ im trống, kéo thẳng đến gần dinh quân Tống. Quân Tống vẫn không biết gì cả. Công tử Yển truyền cho quân sĩ đốt đuốc lên, rồi đánh trống xông vào. Quân Tống trông thấy trong đám hỏa quang nhấp nhoáng, có một đội mãnh hổ gầm thét, đều hoảng hốt sợ hãi bỏ chạy tán loạn. Nam Cung Trường Vạn dẫu có sức khỏe, nhưng thấy quân sĩ tan vỡ cả, cũng phải bỏ chạy.
Lỗ Trang công thừa thế đuổi theo. Chạy đến hết đất Thặng Khâu, Nam Cung Trường Vạn bảo Mạnh Hoạch rằng:
- Ngày nay tất phải liều chết mà đánh thì mới chạy thoát được.
Mạnh Hoạch vâng lời, quay lại đánh nhau với công tử Yển. Nam Cung Trường Vạn cầm phương kích xông vào đại binh của Lỗ Trang công, gặp người nào đâm chết người ấy. Quân Lỗ sợ Nam Cung Trường Vạn là người dũng lực, không ai dám đến gần. Lỗ Trang công bảo quan nhung hữu là Chuyên Tôn Sinh rằng:
- Nhà ngươi vốn có tiếng là người khỏe, có dám ra đối địch với Nam Cung Trường Vạn không?
Chuyên Tôn Sinh cũng cầm phương kích ra đánh nhau với Nam Cung Trường Vạn. Lỗ Trang công trèo lên trên xe đứng xem, thấy Chuyên Tôn Sinh không địch nổi Nam Cung Trường Vạn, mới truyền cho quan hầu lấy cái tên Kim bộc cô(1) đến.
Quan hầu đem cái tên dâng lên. Lỗ Trang công giương cung nhắm thẳng vào Nam Cung Trường Vạn mà bắn một phát, trúng ngay vào vai bên hữu, sâu ngập tận xương. Nam Cung Trường Vạn giơ tay nhổ mũi tên. Chuyên Tôn Sinh mới nhân dịp đâm ngay một phát vào đùi bên tả, Nam Cung Trường Vạn ngã nhào xuống đất, bị Chuyên Tôn Sinh hai tay ôm chặt lấy, rồi quân sĩ xúm lại bắt, giải về nộp Lỗ Trang công. Nam Cung Trường Vạn bị trọng thương ở vai và ở đùi như thế mà vẫn đứng ngay được, không có vẻ đau đớn chút nào cả. Lỗ Trang công yêu quý sức khỏe của Nam Cung Trường Vạn nên đãi ngộ rất hậu.
Bão Thúc Nha thấy quân Tống thua chạy, mới rút quân trở về Tề. Tề Hoàn công sai Thấp Bằng vào cầu hôn với vua nhà Chu. Đến năm sau, vua nhà Chu sai Lỗ Trang công làm chủ hôn đem Vương Cơ gả cho Tề Hoàn công. Nhân có việc chủ hôn ấy, Tề và Lỗ lại giao hiếu với nhau, bỏ hết những sự thù oán, ước làm hai nước anh em. Bấy giờ Tống bị cái hại nước lụt, Lỗ Trang công nói:
- Ta đã giao hiếu với nước Tề thì còn ghét gì nước Tống.
Nói xong, liền cho người sang hỏi thăm. Nước Tống cảm cái tình ấy cũng sai người đến tạ, và xin tha cho Nam Cung Trường Vạn. Lỗ Trang công tha cho về nước. Tống Mẫn công thấy Nam Cung Trường Vạn về, nói đùa rằng:
- Ngày xưa ta kính trọng nhà ngươi, bây giờ nhà ngươi là người tù của nước Lỗ, ta không kính trọng nữa!
Nam Cung Trường Vạn thẹn đỏ mặt lên, cáo từ lui ra. Quan đại phu là Cừu Mục nói riêng với Tống Mẫn công rằng:
- Vua tôi giao tiếp nhau, cần phải giữ lễ, không nên đùa bỡn. Đã đùa bỡn thì sinh ra nhờn, nhờn thì vô lễ, mà sinh ra phản nghịch, chúa công nên nghĩ đến điều ấy.
Tống Mẫn công nói:
- Ta cùng với Nam Cung Trường Vạn thân thiết nhau lắm, cần chi điều ấy!
Bấy giờ vua Trang vương nhà Chu mất, thái tử là Hề Tề lên nối ngôi, tức là vua Hy vương. Hy vương nhà Chu sai sứ báo tin cho nước Tống biết. Tống Mẫn công đang cùng với các cung nhân chơi ở Mông Trạch sai Nam Cung Trường Vạn ném kích để làm trò vui. Nguyên Nam Cung Trường Vạn có một tài nghệ tuyệt vời là cầm kích tung lên trên trời, cao đến mấy trượng, rồi lại giơ tay bắt lấy, trăm lần chẳng sai một. Cung nhân nghe nói, ai cũng muốn xem, vậy nên Tống Mẫn công cho Nam Cung Trường Vạn theo hầu và bảo làm trò ném kích ấy. Nam Cung Trường Vạn phụng mệnh làm trò ném kích, các cung nhân đều vỗ tay ngợi khen.
Tống Mẫn công có ý ghen tài, liền sai nội thị lấy bàn cờ để đánh với Nam Cung Trường Vạn, ai thua thì bắt phạt phải uống một bát rượu thật lớn. Tống Mẫn công vốn là người cao cờ, Nam Cung Trường Vạn thua luôn năm ván, phải phạt năm bát rượu. Nam Cung Trường Vạn đã ngà ngà say, trong lòng không phục, lại xin đánh ván nữa. Tống Mẫn công nói:
- Tù nhân thì tất phải thua, lại còn dám xin đánh nữa à!
Nam Cung Trường Vạn xấu hổ, nín lặng không nói. Bỗng nghe có sứ giả nhà Chu đến báo tin vua Trang vương mất, vua Hy vương mới lên nối ngôi. Tống Mẫn công nói:
- Nhà Chu có vua mới, ta nên sai người vào triều.
Nam Cung Trường Vạn nói:
- Tôi nghe nói kinh đô nhà Chu đẹp lắm mà mắt chưa được xem, xin chúa công cho tôi đi sứ.
Tống Mẫn công vừa cười vừa nói:
- Khi nào nước Tống không còn ai nữa thì mới phải sai đến tù đi sứ!
Các cung nhân nghe nói đều cười ầm cả lên. Nam Cung Trường Vạn mặt đỏ bừng lên, thẹn quá hóa giận, lại vừa say rượu, chẳng nghĩ gì đến lễ vua tôi, liền quát lên rằng:
- Đứa vô đạo hôn quân kia! Mày phải biết thằng tù có thể giết người được đó!
Tống Mẫn công nổi giận nói:
- A! Thằng tù này dám vô lễ!
Nói xong, liền giật lấy cái kích của Nam Cung Trường Vạn, toan đâm một nhát. Nam Cung Trường Vạn vác ngay cái bàn cờ đánh Tống Mẫn công ngã xuống, rồi đấm luôn mấy cái. Tống Mẫn công chết. Cung nhân sợ bỏ chạy cả. Nam Cung Trường Vạn vẫn còn hầm hầm tức giận, cầm kích đi trở ra. Ra đến cửa cung gặp quan đại phu là Cừu Mục. Cừu Mục hỏi:
- Chúa công có ở trong ấy không?
Nam Cung Trường Vạn nói:
- Hôn quân vô lễ, ta đã giết chết rồi!
Cừu Mục vừa cười vừa nói:
- Tướng quân say rượu đấy à?
Nam Cung Trường Vạn nói:
- Say rượu cái gì, ta nói thật đấy!
Nói xong, liền giơ tay cho Cừu Mục xem, tay còn máu me đầm đìa cả. Cừu Mục bỗng tái mặt mắng rằng:
- Đồ phản nghịch giết vua! Trời nào có dung mày!
Nói xong, liền giơ cái hốt đánh Nam Cung Trường Vạn. Nam Cung Trường Vạn bỏ cái kích xuống đất, giơ tay trái hất mạnh một cái văng cái hốt đi, rồi lấy tay phải đấm vào đầu Cừu Mục. Cừu Mục vỡ tan đầu ra, răng gẫy bắn vào cánh cửa, ngập sâu ba tấc. Cừu Mục đã chết rồi, Nam Cung Trường Vạn lại nhặt lấy cái kích, thủng thỉnh bước lên trên xe, coi tựa hồ như không có ai cả. Quan thái tể là Hoa Đốc nghe tin, vội vàng cầm gươm đem quân đến đánh. Đi đến gần đông cung, gặp Nam Cung Trường Vạn. Nam Cung Trường Vạn chẳng nói một câu nào, cầm kích đâm ngay một nhát, Hoa Đốc ngã lăn xuống đất. Nam Cung Trường Vạn lại đâm theo một nhát nữa, giết chết Hoa Đốc, rồi vào triều lập em họ Tống Mẫn công là công tử Du lên nối ngôi, còn các công tử khác thì nhất luật đuổi hết. Công tử Ngự Thuyết chạy sang đất Bạc.
Nam Cung Trường Vạn nói:
- Ngự Thuyết là người học giỏi mà lại có tài, nay trốn sang đất Bạc, về sau tất nhiên sinh biến, chỉ cần giết được Ngự Thuyết là xong việc, còn các công tử khác thì chẳng làm gì nổi.
Nói xong, liền sai con là Nam Cung Ngưu cùng với Mạnh Hoạch đem quân vây đất Bạc. Công tử Ngự Thuyết cùng với người đất Bạc mở cửa thành ra để đối địch. Nam Cung Ngưu thua chạy bị giết, còn quân Tống đều xin theo công tử Ngự Thuyết tất cả. Mạnh Hoạch không dám trở về Tống nữa, chạy thẳng sang nước Vệ. Đái Thúc Bì bàn mưu với công tử Ngự Thuyết nói dối là bọn Nam Cung Ngưu đã đánh được đất Bạc, bắt công tử Ngự Thuyết rồi, bây giờ thu quân về triều. Nam Cung Trường Vạn tưởng thực, không phòng bị gì cả. Các công tử đem quân kéo thẳng vào trong thành mới hạ lệnh rằng:
- Quân ta về đây, chỉ cốt bắt đứa phản nghịch là Nam Cung Trường Vạn mà thôi, không ai được náo động!
Nam Cung Trường Vạn hoảng hốt không biết làm thế nào, mới toan chạy vào trong triều để đem công tử Du đi trốn. Bỗng có nội thị chạy ra nói công tử Du đã bị giết rồi. Nam Cung Trường Vạn thở dài một tiếng, nghĩ thầm trong lòng rằng: “Các nước chư hầu ngày nay chỉ có Trần là không giao hiếu với Tống, âu là ta trốn sang nước Trần”.
Lại sực nhớ đến ở nhà còn bà mẹ già hơn tám mươi tuổi, mới quay ngay về nhà ôm mẹ lên xe, tay trái cầm kích, tay phải đẩy xe cho mẹ, phá cửa thành mà chạy. Trường Vạn chạy nhanh như bay, không một người nào dám ngăn trở cả. Từ Tống sang Trần, đường đi cách nhau hơn hai trăm sáu mươi dặm, mà Nam Cung Trường Vạn vừa đẩy xe vừa đi, chỉ trong một ngày đã đến nơi, thật là một người sức khỏe lạ lùng, xưa nay ít có! Các công tử đã giết được công tử Du rồi, mới lập công tử Ngự Thuyết lên nối ngôi, tức là Tống Hoàn công.
Tống Hoàn công sai sứ sang nói với Vệ nhờ bắt hộ Mạnh Hoạch, lại sai sứ sang nói với Trần nhờ bắt hộ Nam Cung Trường Vạn. Công tử Mục Di bấy giờ mới lên năm tuổi, đứng bên cạnh Tống Hoàn công bật cười mà nói rằng:
- Chẳng bắt được Nam Cung Trường Vạn đâu!
Tống Hoàn công nói:
- Thằng bé con này, sao mày lại biết được?
Công tử Mục Di nói:
- Người có sức khỏe, ai lại không kính trọng. Tống bỏ, Trần tất dùng. Nếu ta đi tay không thì người ta thiết gì mình mà giúp đỡ.
To Hoàn công mới nghĩ ra, liền sai sứ đem nhiều châu báu đi để biếu nước Trần.
Sứ nước Tống đến nói với Vệ Huệ công. Chiêu công hỏi các quan rằng:
- Ta có nên trao trả Mạnh Hoạch không?
Các quan đều nói:
- Người ta gặp lúc nguy cấp về với ta, sao ta lại bỏ đi?
Quan đại phu là công tôn Nhĩ can rằng:
- Kẻ hung ác nước Tống cũng như kẻ hung ác nước Vệ, nếu tha một kẻ hung ác thì không có ích gì cho nước Vệ cả. Vả lại Vệ, Tống hai nước xưa nay vẫn giao hiếu với nhau, bây giờ không trao trả Mạnh Hoạch thì Tống tất giận. Thế là vì một người mà bỏ mất tình thân hai nước, sao gọi là kế hay được!
Vệ Huệ công khen phải, mới trói Mạnh Hoạch trao trả nước Tống.
Khi sứ Tống đến nước Trần, đem châu báu dâng lên Trần Tương công. Trần Tương công tham lễ, thuận trả Nam Cung Trường Vạn nhưng lại sợ Nam Cung Trường Vạn có sức khỏe, khó lòng mà bắt được, mới lập kế sai công tử Kết bảo Nam Cung Trường Vạn rằng:
- Chúa công tôi được tướng quân đến đây, khác nào như được mười thành, dẫu người nước Tống cố xin, chúa công tôi cũng không nghe. Chúa công tôi sợ tướng quân có bụng nghi, vậy mới sai tôi ngỏ lời tâm phúc để tướng quân được biết. Nếu tướng quân cho nước Trần tôi là nhỏ bé mà muốn sang nước lớn khác thì cũng xin tướng quân hãy ở lại thư thả trong vài tháng, chúa công tôi sẽ vì tướng quân mà sắp sửa hành trang.
Nam Cung Trường Vạn vừa khóc vừa nói:
- Chúa công có lòng bao dung, tôi còn mong đi đâu nữa!
Công tử Kết liền bày tiệc mời Nam Cung Trường Vạn uống rượu vui, rồi xin kết làm anh em. Ngày hôm sau, Nam Cung Trường Vạn thân hành đến tận nhà công tử Kết để tạ ơn. Công tử Kết lại bày tiệc để thết đãi. Tiệc đến nửa chừng, công tử Kết cho các tỳ thiếp ra mời rượu. Nam Cung Trường Vạn say rượu quá, nằm gục xuống chiếu. Công tử Kết sai lực sĩ lấy da con tê cuốn chặt lại, dùng gân trâu mà trói và giam cả mẹ Nam Cung Trường Vạn lại, rồi tức khắc sai quân giải sang nộp nước Tống. Đến nửa đường, Nam Cung Trường Vạn tỉnh rượu, vùng vẫy cựa cạy, nhưng da tê dày bền mà trói chặt lắm, không thể nào gỡ được.
Khi gần đến thành nước Tống, da tê hở ra, tay chân Nam Cung Trường Vạn lộ cả ra ngoài, quân sĩ lấy dùi đánh vào, xương ống gãy hết. Tống Hoàn công sai đem xả Nam Cung Trường Vạn và Mạnh Hoạch ra từng mảnh thịt một, rồi đem ướp muối, chia khắp cho các quan mỗi người một ít mà bảo rằng:
- Kẻ nào làm tôi mà không trọn đạo thờ vua thì nom vào thứ thịt ướp này.
Mẹ Nam Cung Trường Vạn già hơn tám mươi tuổi, cũng bị giết chết.
Tề Hoàn công từ khi bị thua ở đất Trường Thược, có ý hối hận, mới giao hết quyền hành cho Quản Di Ngô, ngày nào cũng chỉ cùng với lũ cung nhân uống rượu, có ai đem việc nước đến hỏi thì Tề Hoàn công bảo rằng:
- Sao nhà ngươi không nói với Trọng phụ?
Bấy giờ có tên Thụ Điêu là đầy tớ yêu của Tề Hoàn công vẫn muốn thân cận ở chốn nội đình, nhưng ra vào không tiện, mới tự thiến mình đi để cầu tiến vào cung. Tề Hoàn công thấy vậy thương tình, càng tin dùng lắm, luôn luôn cho hầu bên cạnh. Lại có tên Dịch Nha, người rất khôn ngoan, có tài bắn cung và khéo đóng xe, lại giỏi nhất về nghề nấu bếp.
Một hôm Vệ Cơ ốm, Dịch Nha nấu món ăn dâng lên. Vệ Cơ ăn rồi khỏi bệnh, mới đem lòng yêu Dịch Nha. Dịch Nha lại đem nghề nấu ăn để lấy lòng Thụ Điêu. Thụ Điêu tiến Dịch Nha cho Tề Hoàn công. Tề Hoàn công gọi vào hỏi rằng:
- Có phải nhà ngươi giỏi nghề nấu ăn không?
Dịch Nha nói:
- Phải.
Tề Hoàn công nói đùa rằng:
- Các giống điểu, thú, trùng, ngư, ta ăn đã gần đủ mùi, chỉ có thịt người là ta chưa biết vị nó ra thế nào?
Dịch Nha lui ra, đến bữa trưa, đem vào dâng một mâm thịt chín, mềm như thịt dê non, mùi thơm lắm.
Tề Hoàn công ăn xong, hỏi Dịch Nha rằng:
- Thịt gì mà ngon thế?
Dịch Nha quỳ thưa rằng:
- Đó là thịt người!
Tề Hoàn công giật mình kinh ngạc, hỏi:
- Nhà ngươi lấy ở đâu thế?
Dịch Nha nói:
- Đứa con đầu lòng tôi đã lên ba tuổi. Tôi nghe chúa công nói chưa từng nếm thịt người, vậy nên tôi giết con tôi để hiến chúa công xơi.
Tề Hoàn công nói:
- Thôi, nhà ngươi lui ra!
Tề Hoàn công cho là Dịch Nha yêu mình, cũng tin dùng lắm. Vệ Cơ lại tán tụng thêm vào; tự bấy giờ Thụ Điêu và Dịch Nha đều đắc dụng, đem lòng ghét Quản Trọng, mới cùng nhau nói với Tề Hoàn công rằng:
- Chúng tôi trộm nghĩ: vua thì truyền lệnh, bề tôi thì vâng lệnh. Nay chúa công đối với quan tể tướng một điều gọi là Trọng phụ, hai điều gọi là Trọng phụ, như thế thì người nước Tề tựa hồ như không biết có chúa công nữa.
Tề Hoàn công vừa cười vừa nói:
- Ta với Trọng phụ, khác nào như thân thể với tay chân. Có tay chân mới thành thân thể được, có Trọng phụ thì ta mới giữ được ngôi vua. Các ngươi tiểu nhân biết gì mà nói!
Thụ Điêu và Dịch Nha từ đó không dám nói nữa. Quản Di Ngô cầm quyền chính trong ba năm, nước Tề rất thịnh vượng.
Bấy giờ nước Sở hùng cường lắm, các nước chư hầu ở vùng Hán đông đều phải xưng thần nạp cống, chỉ có nước Sái cậy thế là thân thuộc với nước Tề, không chịu phục nước Sở. Sái hầu cùng với Tức hầu cùng lấy con gái nước Trần làm phu nhân. Sái hầu lấy trước, Tức hầu lấy sau. Tức phu nhân là nàng Tức Vĩ nhan sắc tuyệt vời, nhân khi sang thăm nước Trần đi qua nước Sái, Sái hầu mời vào trong cung để thết đãi. Trong khi ăn tiệc Sái hầu nói chuyện có ý chớt nhả, Tức Vĩ giận lắm bỏ đi và khi ở nước Trần trở về nước Tức, không ghé vào nước Sái nữa. Tức hầu nghe nói Sái hầu hỗn láo với vợ mình như vậy, mới nghĩ cách báo thù, liền sai sứ vào cống nước Sở, và mật báo với Sở Văn vương rằng:
- Sái hầu cậy thế có Tề, không chịu phục Sở. Bây giờ nếu quý quốc đem quân sang nước tôi, thì nước tôi nhân đó mà sang cầu cứu nước Sái. Sái hầu là người nông nổi, tất nhiên vội vàng sang cứu, bấy giờ nước tôi cùng với quý quốc hợp binh mà đánh thì có thể bắt buộc được Sái hầu.
Sở Văn vương mừng lắm, mới đem quân sang đánh nước Tức. Tức hầu cho sang cầu cứu nước Sái. Sái hầu vội vàng đem quân đến cứu, bị phục binh nước Sở đổ ra đuổi đánh. Sái hầu chạy vào thành nước Tức. Tức hầu đóng cửa không cho vào, vì vậy Sái hầu phải kéo quân chạy dài, quân Sở đuổi theo đến Săn Gia bắt sống được Sái hầu. Tức hầu mở tiệc khao quân và tống tiễn Sở vương về nước. Còn Sái hầu thì biết mình mắc lừa Tức hầu, oán giận đến xương tủy.
Sở Văn vương về nước, toan giết Sái hầu. Dục Quyền can rằng:
- Đại vương đang muốn mở mang thế lực ở khắp trung nguyên, nếu giết Sái hầu thì các nước đều cho nước Sở là tàn ác, chi bằng giảng hòa mà tha cho Sái hầu về là hơn.
Dục Quyền cố can ba bốn lần mà Sở Văn vương nhất định không nghe. Dục Quyền hầm hầm nổi giận, tay trái nắm lấy áo Sở Văn vương, tay phải rút gươm giơ lên mà nói rằng:
- Tôi xin cùng với đại vương cùng chết, còn hơn để cho đại vương làm mất lòng chư hầu.
Sở Văn vương sợ lắm, vội nói luôn ngay mấy câu rằng:
- Ta nghe lời nhà ngươi! Ta nghe lời...
Nói xong, truyền tha cho Sái hầu. Dục Quyền nói:
- Đại vương nghe lời tôi nói thì thật là phúc cho nước Sở, nhưng làm tôi mà dám hiếp vua, tội đáng chết lắm, tôi xin cúi đầu chịu tội.
Sở Văn vương nói:
- Lòng trung thành của nhà ngươi thấu đến tận trời, khi nào ta lại bắt tội.
Dục Quyền nói:
- Đại vương dẫu tha tội cho tôi, nhưng tôi không thể tha tội cho tôi được.
Nói xong, liền lấy gươm chặt ngay một chân, rồi kêu to lên rằng:
- Kẻ nào làm tôi mà vô lễ với vua thì trông đây này!
Sở Văn vương truyền đem cái chân của Dục Quyền cất vào trong kho, để ghi lại cái lỗi mình không chịu nghe lời can; rồi sai thầy thuốc chữa cho Dục Quyền. Dục Quyền dẫu khỏi đau, nhưng không đi lại được. Sở Văn vương cho làm chức đại hôn để giữ cửa thành. Sở Văn vương mở tiệc tiễn Sái hầu về nước. Trong khi ăn tiệc, lại có cả nữ nhạc ra hát múa. Bấy giờ có một con hát ngồi gẩy đàn, nhan sắc đẹp lắm, Sở Văn vương trỏ vào người con hát ấy mà bảo Sái hầu rằng:
- Con bé này vừa có tài, lại vừa có sắc!
Nói xong, truyền cho người con hát ấy đứng dậy mời Sái hầu một chén rượu. Sái hầu uống xong, lại rót một chén rượu, hai tay cầm dâng lên để chúc thọ Sở Văn vương. Sở Văn vương vừa cười vừa nói:
- Bình sinh hiền hầu đã thấy tuyệt thế giai nhân nào chưa?
Sái hầu chợt nhớ đến cái thù của Tức hầu khi trước xui Sở đánh Sái, mới đáp lại rằng:
- Giai nhân trong thiên hạ, tôi tưởng không ai bằng Tức Vĩ, thật là một tiên nữ ở trên trời!
Sở Văn vương nói:
- Người đẹp như thế nào?
Sái hầu nói:
- Mắt như làn sóng mùa thu, má tựa hoa đào, người tầm thước vừa phải mà dáng dấp xinh đẹp làm sao! Thật mắt tôi chưa trông thấy người thứ hai nào.
Sở Văn vương nói:
- Nếu vậy thì ta có được trông thấy Tức Vĩ, mới thỏa tấm lòng!
Sái hầu nói:
- Cứ như uy linh của đại vương thì dẫu Tề Khương, Tống Tử cũng chẳng khó gì, huống chi là một người đàn bà ở trong vòng thế lực của mình.
Sở Văn vương nghe nói bằng lòng, hôm ấy uống rượu rất vui. Sái hầu cáo từ về nước. Sở Văn vương muốn lấy Tức Vĩ, mới mượn tiếng đi tuần du, đem quân sang nước Tức. Tức hầu ra đón, rất là cung kính, tự mình dọn dẹp hành cung cho Sở vương ở, rồi mở cuộc yến tiệc rất lớn ở triều đường. Tức hầu bưng chén rượu chúc mừng Sở vương. Sở vương tay đỡ lấy chén rượu, cười tủm tỉm mà nói rằng:
- Ngày trước ta cũng có một chút công với quý phu nhân, nay ta đến đây, quý phu nhân lại không đáng ra mời ta một chén rượu hay sao?
Tức hầu sợ uy nước Sở, không dám trái ý, mới vâng vâng dạ dạ, rồi truyền lệnh vào trong cung. Được một lúc nghe tiếng ngọc kêu sang sảng, Tức Vĩ trang phục lộng lẫy, lững thững bước ra, sụp lạy Sở Văn vương. Sở Văn vương đứng dậy. Tức Vĩ lấy cái chén bằng ngọc rót đầy rượu, rồi dâng lên Sở Văn vương, màu da tay trắng cùng với sắc ngọc lồng ánh với nhau. Sở Văn vương trông thấy, ngồi ngẩn người ra, toan giơ tay đỡ lấy chén rượu. Tức Vĩ liền khoan thai bưng chén rượu đưa cho cung nhân để đệ lên Sở Văn vương, Sở Văn vương uống một hơi hết ngay. Tức Vĩ cáo từ, lui vào trong cung. Ngày hôm sau, Sở Văn vương lại bày tiệc ở công quán, cho giáp sĩ phục cả ở xung quanh, rồi mời Tức hầu ra dự tiệc. Tiệc đến nửa chừng, Sở Văn vương mượn giọng say rượu bảo Tức hầu rằng:
- Ta có công với quý phu nhân nhiều lắm, nay quân ta tới đây, quý phu nhân lại không đáng vì ta mà khao thưởng hay sao?
Tức hầu nói:
- Nước tôi bé nhỏ lắm, khó lòng mà khao thưởng cho đủ, đại vương dạy như vậy, xin hãy để cho chúng tôi bàn nhau.
Sở Văn vương nổi giận, lấy tay đập xuống bàn mà quát mắng rằng:
- Đứa thất phu này dám bội ân, lại giở giọng nói khéo để lừa ta. Quân sĩ đâu, sao không bắt lấy nó?
Tức hầu chưa kịp phân giải thì quân giáp sĩ đã đổ ra trói lại. Sở Văn vương đem quân vào thẳng trong cung để tìm bắt Tức Vĩ. Tức Vĩ nghe tin Tức hầu bị bắt, thở dài mà than rằng:
- Dắt hổ về nhà, còn nói gì nữa!
Nói xong, chạy vào trong vườn, toan đâm đầu xuống giếng mà chết. Tướng nước Sở là Đấu Đan chạy vội đến nơi nắm lấy vạt áo Tức Vĩ mà rằng:
- Phu nhân không muốn cho Tức hầu được toàn tính mệnh hay sao? Tội gì mà hai vợ chồng cùng chịu chết?
Tức Vĩ nín lặng. Đấu Đan đưa Tức Vĩ vào nộp Sở Văn vương. Sở Văn vương kiếm lời ngọt ngào mà khuyên dỗ, bảo nếu Tức Vĩ chịu nghe theo thì không giết Tức hầu, rồi tức khắc phong Tức Vĩ làm phu nhân. Vì Tức Vĩ má hây hây tựa hoa đào, cho nên cũng gọi là “Đào hoa phu nhân”. Sở Văn vương an trí Tức hầu ở Nhữ Thủy. Tức hầu giận mà chết.
_____
(1) Kim bộc cô: một thứ tên bắn tốt nhất ở quân phủ nước Lỗ.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI MƯỜI TÁM
 
Tào Mạt giơ gươm dọa Tề hầu
Hoàn công thắp đèn phong Ninh Thích
 
Tề Hoàn công hỏi Quản Trọng rằng:
- Ta vâng lời dạy của Trọng phụ, chỉnh đốn lại việc nước, nay đã được binh nhiều lương đủ, ta muốn làm bá chủ các nước chư hầu thì nên thế nào?
Quản Trọng nói:
- Trong các nước chư hầu ngày nay, còn có nhiều nước mạnh hơn nước Tề ta; phía nam có nước Sở, phía tây có nước Tần, nước Tấn. Nhưng nước nào cũng chỉ cậy sức khỏe, mà không biết tôn vua nhà Chu, vậy nên không làm bá chủ được. Nhà Chu dẫu suy yếu, nhưng vẫn là thiên tử chung của thiên hạ; từ khi quân Trịnh bắn vua Hoàn vương, quân Vệ chống vua Trang vương, thì thần tử các nước không biết trọng quân phụ: Hùng Thông tiếm hiệu, Tống, Trịnh giết vua, coi như việc thường, không ai dám hỏi tội. Nay nước Tống dẫu giết được kẻ nghịch tặc là Nam Cung Trường Vạn rồi, nhưng ngôi vua nước Tống, các nước vẫn chưa công nhận. Chúa công nên sai sứ vào thỉnh mệnh thiên tử, rồi đại hội các nước chư hầu để công nhận vua Tống; còn trong các nước chư hầu, nước nào suy yếu thì ta giúp, nước nào ngang ngược thì ta đánh, như thế thì ai không phải theo Tề, chẳng cần phải dùng đến binh lực mới làm nên bá chủ được.
Tề Hoàn công nghe nói bằng lòng, mới sai sứ vào triều vua Ly vương nhà Chu và xin phép đại hội các nước chư hầu.
Ly vương nói:
- Bá cữu(1) còn nghĩ đến nhà Chu, trẫm lấy làm may lắm. Các nước chư hầu ngày nay, bá cữu được quyền sai khiến, trẫm có tiếc gì!
Sứ giả về báo tin với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công liền phụng mệnh thiên tử bá cáo cho các nước chư hầu đến hội ở đất Bắc Hạnh (thuộc Tề).
Tề Hoàn công hỏi Quản Trọng rằng:
- Lần này hội chư hầu, nên dùng bao nhiêu quân sĩ?
Quản Trọng đáp:
- Chúa công phụng mệnh thiên tử để hội chư hầu, cần gì phải dùng đến quân sĩ.
Tề Hoàn công theo lời, bèn sai người đắp một cái đàn cao ba trượng, chính giữa bày hương án để vọng bái thiên tử, có bài trí các thứ ngọc và lụa cùng các lễ vật khác rất là tề chỉnh. Gần đến hôm ấy, Tống Hoàn công đến trước, vào tạ ơn Tề Hoàn công. Hôm sau vua nước Trần, nước Châu đến; Sái hầu oán nước Sở bắt mình khi trước, cũng đến dự hội. Bốn nước (Tống, Trần, Châu, Sái) thấy Tề không dùng đến quân sĩ gì cả, đều bảo nhau rằng:
- Tề hầu đem lòng thành thực đãi người đến thế là cùng!
Nói xong, bốn nước đều lui quân ra ngoài hai mươi dặm. Tề Hoàn công bảo Quản Trọng rằng:
- Nay chư hầu hội chưa được đông, ta muốn hoãn đến hôm khác có nên không?
Quản Trọng nói:
- Nay đã có bốn nước đến, kể cũng là đông rồi, nếu ta đổi hẹn tức là thất tín, sao gọi là bá chủ được?
Sáng sớm hôm ấy, năm nước chư hầu hội cả ở dưới đàn, Tề Hoàn công chắp tay nói với các nước chư hầu rằng:
- Tôi phụng mệnh thiên tử nhà Chu cùng với các quý quốc hội nhau để chỉnh đốn lại chính trị, công việc ngày nay tất phải tôn một người làm chủ thì hiệu lệnh mới có thể thi hành được.
Các nước chư hầu đều thì thào bàn nhau:
- Muốn tôn nước Tề thì e phẩm tước nước Tề còn kém nước Tống; muốn tôn nước Tống thì lại e vua Tống mới lập, còn phải nhờ Tề.
Thành ra dùng dằng mãi chưa bàn định xong.
Trần hầu đứng dậy nói rằng:
- Nay thiên tử nhà Chu đã giao quyền cho Tề hầu, ai còn dám thay vào được, xin tôn Tề hầu làm bá chủ.
Các nước chư hầu đều nói:
- Chỉ có Tề hầu mới đương nổi trách nhiệm ấy, Trần hầu nói phải đó!
Tề Hoàn công hai ba lần chối từ, rồi mới bước lên trên đàn. Tề làm chủ, thứ đến nước Tống, nước Trần, nước Sái và nước Châu. Vị thứ đã định rồi, bèn rung chuông đánh trống, trước vào bái mạng thiên tử, sau cùng nhau giảng tình hòa hiếu, kết làm anh em. Trọng Tôn Thu hai tay cầm tờ ước thư, quỳ xuống mà đọc lên rằng:
- “Ngày... tháng... năm... Tề hầu là Tiểu Bạch cùng với Tống, Trần, Sái, Châu phụng mệnh thiên tử hội ở đất Bắc Hạnh, cùng lòng với nhau tôn phù nhà Chu và cứu giúp những kẻ yếu, hễ ai trái ước thì các nước sẽ cùng nhau mang quân đến đánh”.
Đọc xong, các nước chư hầu đều chắp tay vâng mệnh. Các nước chư hầu chúc mừng vừa xong, thì Quản Trọng bước lên mà nói rằng:
- Lỗ, Vệ, Trịnh, Tào cố ý trái mệnh thiên tử, không đến dự hội, nên phải đem quân đi đánh.
Tề Hoàn công bèn nói với các nước chư hầu rằng:
- Nước tôi quân sĩ không đủ, xin các quý quốc giúp cho.
Trần, Sái, Châu đồng thanh đáp rằng:
- Chúng tôi xin vâng mệnh!
Tống Hoàn công nín lặng, không nói gì cả. Chiều hôm ấy Tống Hoàn công về nhà công quán, bảo quan đại phu là Đái Thúc Bì rằng:
- Tề hầu có ý tự đắc, dám nghiễm nhiên làm chủ hội, lại tự tiện lấy quân các nước, sau này rồi nước ta còn khổ về nỗi phải phục dịch nước Tề.
Đái Thúc Bì nói:
- Vì chư hầu còn nửa theo nửa không, cho nên thế lực nước Tề còn chưa được vững lắm. Nhưng nếu lại đánh được Lỗ, Trịnh thì Tề tất làm bá chủ. Tề đã làm bá chủ, không may cho Tống lắm. Hiện bây giờ trong bốn nước đến dự hội, chỉ có Tống là lớn hơn cả. Tống không chịu giúp quân Tề thì ba nước kia tất cũng phải thôi. Huống chi ngày nay ta đến dự hội là chỉ cốt được mệnh thiên tử để định ngôi thứ mà thôi. Hội đã xong rồi, còn chờ gì nữa, chi bằng ta rút quân về trước là hơn.
Tống Hoàn công nghe lời, đến canh năm đêm hôm ấy rút quân về Tống. Tề Hoàn công nghe tin Tống Hoàn công bội ước trốn về, tức thì nổi giận, toan sai Trọng Tôn Thu đuổi theo.
Quản Trọng nói:
- Mình đuổi theo thì không phải lẽ, nêu tâu với thiên tử để đem quân đến đánh, nhưng nay lại còn có việc cần hơn việc ấy nhiều.
Tề Hoàn công nói:
- Việc gì cần thế?
Quản Trọng nói:
- Tống xa mà Lỗ gần, nếu không đánh cho Lỗ phải phục thì sao Tống chịu phục mình được.
Tề Hoàn công nói:
- Đánh Lỗ nên đi đường nào?
Quản Trọng nói:
- Phía đông bắc có nước Thoại, thuộc về nước Lỗ; nước ấy nhỏ lắm, cả thảy có bốn họ. Ta đem quân sang đánh, chỉ trong một buổi sáng thì lấy được ngay; đã lấy được nước Thoại rồi thì nước Lỗ tất cũng phải khiếp sợ. Bấy giờ ta sai sứ sang trách về việc không dự hội, lại sai người thông tin với Lỗ phu nhân (Văn Khương). Lỗ phu nhân muốn cho con thân với ngoại gia thì tất cố ý xui giục, Lỗ hầu trong sợ lời mẹ, ngoài sợ uy ta, tất phải xin hòa, bấy giờ ta sẽ đem quân sang đánh Tống.
Tề Hoàn công khen phải, đem quân đánh lấy nước Thoại. Lỗ Trang công nghe tin, giật mình kinh sợ, mới họp các quan lại để thương nghị.
Công tử Khánh Phủ nói:
- Quân Tề hai lần đến nước ta, lần nào cũng thua, bây giờ để tôi xin đem quân ra đánh.
Công tử Khánh Phủ nói vừa dứt lời, bỗng có một người dứng dậy can rằng:
- Không nên! Không nên!
Lỗ Trang công nhìn xem ai, thì là Thi Bá. Lỗ Trang công hỏi:
- Vậy thì nhà ngươi nghĩ nên dùng kế gì bây giờ?
Thi Bá nói:
- Quản Di Ngô là một bậc kỳ tài trong thiên hạ, bây giờ cầm quyền chính nước Tề thì quân sĩ tất có kỷ luật, đó là một điều không nên đánh; mới rồi nước Tề phụng mệnh thiên tử hội chư hầu ở đất Bắc Hạnh, nay ta cự lại thì lẽ trái tự ta, đó là hai điều không nên đánh; xưa nay ta đối với nước Tề, có nhiều công lao như là giết công tử Củ, làm chủ hôn cho Vương Cơ, bây giờ sinh sự thì bỏ mất cái ân nghĩa ngày trước, mà kết cái oán mai sau, đó là ba điều không nên đánh. Ngày nay, kế hay nhất là giảng hòa với Tề.
Tào Quệ nói:
- Ý tôi cũng như vậy.
Các quan còn đang bàn bạc, bỗng có thư của Tề Hoàn công đưa đến. Lỗ Trang công mừng lắm, mở ra xem. Thư rằng:
“Tôi cùng với hiền hầu cùng thờ thiên tử nhà Chu, tình như anh em; vả lại hai nước chúng ta vốn là thân thuộc. Cuộc hội ở Bắc Hạnh, hiền hầu không dự, tôi dám hỏi vì cớ gì, nếu hiền hầu có lòng khác, thì cũng xin tùy ý hiền hầu”.
Tề Hoàn công lại có một bức thư gửi cho Văn Khương. Văn Khương bèn gọi Lỗ Trang công vào bảo rằng:
- Tề, Lỗ hai nước vốn thân thuộc với nhau, giả sử Tề ghét ta, ta cũng nên cầu hòa, huống chi là Tề lại có ý muốn cầu hòa với ta.
Lỗ Trang công vâng lời, liền sai Thi Bá viết thư đáp lại, đại lược nói rằng:
“Mới rồi hiền hầu hội chư hầu ở Bắc Hạnh, tôi vì mắc bệnh nên không được dự, nay hiền hầu có lời trách đến, tôi biết tội đã nhiều. Nhưng bắt tôi hội thề ngay ở dưới thành, thì tôi lấy làm nhục lắm. Nếu hiền hầu rút quân ra khỏi địa giới tôi thì tôi đâu dám không vâng lệnh”.
Tề Hoàn công tiếp được thư, lấy làm bằng lòng, truyền rút quân về đất Kha. Lỗ Trang công sắp sửa đến đất Kha để hội với Tề Hoàn công, mới hỏi các quan xem ai dám đi theo. Tào Mạt xin đi.
Lỗ Trang công nói:
- Nhà ngươi ba lần bị nước Tề đánh thua, lại không sợ người nước Tề cười hay sao?
Tào Mạt nói:
- Chính vì tôi bị thua ba lần nên lấy làm xấu hổ, nay mới xin đi, để rửa sạch một lần nữa những điều xấu hổ ấy.
Lỗ Trang công nói:
- Làm thế nào mà rửa được?
Tào Mạt nói:
- Tôi xin giữ sao cho vua tôi không mất thể diện.
Lỗ Trang công nói:
- Ta phải sang để xin hội thề với Tề thì cũng xấu hổ như là người bị thua, nếu nhà ngươi có thể rửa hổ được thì ta cho đi.
Nói xong, cùng với Tào Mạt đến đất Kha. Tề Hoàn công bày lễ vật sẵn để đợi Lỗ Trang công đến hội thề. Hôm ấy, Tề Hoàn công truyền lệnh rằng, khi Lỗ hầu đến thì chỉ có Lỗ hầu và một người nữa đi theo hầu được lên đàn mà thôi, còn bao nhiêu quân sĩ phải đứng tất cả dưới đất. Tào Mạt trong mặc giáp, tay cầm kiếm, đi theo sát sau lưng Lỗ Trang công.
Lỗ Trang công vừa trèo lên đài vừa run. Tào Mạt không chút sợ hãi, cứ thủng thỉnh bước lên.
Đông Quách Nha mới bảo Tào Mạt rằng:
- Hôm nay hai nước làm lễ giao hảo với nhau, sao lại dùng binh khí, xin tướng quân bỏ kiếm đi cho.
Tào Mạt trừng mắt nhìn Đông Quách Nha, hai kẽ mắt đứt cả ra. Đông Quách Nha thấy vậy, lùi lại mấy bước. Tào Mạt lại theo Lỗ Trang công bước lên. Tề Hoàn công cùng với Lỗ Trang công đến trước hương án làm lễ xong, Thấp Bằng bưng bát máu dâng lên để xin thề. Tào Mạt tay phải rút kiếm, tay trái nắm lấy áo Tề Hoàn công, hầm hầm nổi giận.
Quản Trọng vội vàng dừng chân để che cho Tề Hoàn công, rồi hỏi Tào Mạt rằng:
- Quan đại phu làm gì thế?
Tào Mạt nói:
- Nước Lỗ tôi suy yếu, mấy lần chịu khổ về việc chiến tranh, nay quý quốc hội chư hầu chủ ý là để cứu giúp những kẻ suy yếu, sao quý quốc không nghĩ lại cho nước tôi?
Quản Trọng nói:
- Vậy thì quan đại phu muốn gì?
Tào Mạt nói:
- Quý quốc cậy sức mạnh, chiếm lấy đất Vấn Dương của nước tôi, nay xin trả lại cho thì chúa công tôi mới chịu thề.
Quản Trọng ngảnh lại bảo Tề Hoàn công rằng:
- Xin chúa công cứ nhận cho.
Tề Hoàn công nói:
- Quan đại phu buông ra, ta đã thuận rồi.
Tào Mạt mới bỏ thanh kiếm xuống, bưng lấy bát máu thay cho Thấp Bằng mà dâng lên. Lỗ Trang công cùng với Tề Hoàn công cùng thề. Khi hai vua thề xong, Tào Mạt nói:
- Nay Quản Di Ngô cầm quyền chính nước Tề, tôi xin cùng Quản Di Ngô cùng thề.
Tề Hoàn công nói:
- Cứ gì phải Trọng phụ, để ta xin cùng nhà ngươi cùng thề.
Nói xong, liền lấy tay trỏ lên trời mà thề rằng:
- Nếu ta không trả lại đất Vấn Dương cho nước Lỗ thì mặt trời lặn ta xin chết theo.
Tào Mạt cúi đầu lạy tạ. Khi thề xong, các quan nước Tề đều có ý không bằng lòng, xin với Tề Hoàn công lập kế ức hiếp Lỗ Trang công để báo thù Tào Mạt.
Tề Hoàn công nói:
- Ta đã nhận lời Tào Mạt rồi! Kẻ thất phu đã ước với ai điều gì, cũng không nên sai lời, huống chi ta đây làm vua một nước!
Các quan không ai dám nói nữa. Sáng hôm sau, Tề Hoàn công lại bày tiệc ở nhà công quán để tiễn biệt Lỗ Trang công, rồi đem đất Vấn Dương trả lại cho nước Lỗ.
Các nước chư hầu nghe tin việc thề ở đất Kha, Tào Mạt xử hiếp như vậy mà Tề Hoàn công không bội ước, đều phục Tề Hoàn công là người tín nghĩa; nước Vệ cùng nước Tào cũng sai sứ đến tạ tội, và xin thề. Tề Hoàn công sai sứ vào tâu vua Ly vương nhà Chu để hội các nước chư hầu đem quân đánh Tống.
Quản Trọng có một người thiếp yêu tên là Tĩnh nương, vốn người thông minh học rộng. Quản Trọng đi đâu, cũng đem Tĩnh Nương đi hầu. Bấy giờ Quản Trọng đem quân qua núi Dao Sơn, gặp một người chăn trâu, mình mặc áo cộc, đầu đội nón rách, chân đi đất, đang gõ vào sừng trâu mà hát. Quản Trọng ngồi trên xe, biết không phải người thường, liền sai quân sĩ lấy cơm rượu đưa cho.
Người chăn trâu ăn uống xong, nói với quân sĩ rằng:
- Tôi muốn được yết kiến quan tể tướng.
Quân sĩ nói:
- Xe quan tể tướng đã đi khỏi rồi!
Người chăn trâu nói:
- Tôi có một câu này, nhờ người đọc lại cho quan tể tướng nghe, ấy là câu: “Mênh mông nước trắng”.
Quân sĩ theo kịp xe Quản Trọng, kể lại câu nói của người chăn trâu. Quản Trọng không hiểu ý, liền hỏi Tĩnh Nương.
Tĩnh Nương nói:
- Thiếp nghe nói đời xưa có bài thơ “Nước trong” rằng: “Mênh mông nước trắng, cá lượn giữa dòng; người đến triệu ta, ta cũng bằng lòng!” Ý chừng người chăn trâu ấy muốn làm quan đó.
Quản Trọng tức khắc dừng xe lại, sai người đi triệu.
Người chăn trâu vào đem trâu gửi một chỗ, rồi theo sứ đến yết kiến Quản Trọng, chắp tay vái chào mà không chịu lạy.
Quản Trọng hỏi họ tên, người ấy nói:
- Tôi người nước Vệ, họ Ninh tên Thích, nghe tin ngài trọng kẻ hiền sĩ, vậy mới cố gắng len lỏi đến đây, nhưng không tìm được cách gì để tiến thân, nên phải đi chăn trâu cho qua ngày tháng.
Quản Trọng hỏi đến học thức thì Ninh Thích ứng đối đâu ra đấy.
Quản Trọng bảo Ninh Thích rằng:
- Kẻ hào kiệt lúc chưa gặp thời, không có người tiến dẫn thì sao tỏ tài được. Đại binh của chúa công ta đi sau, chẳng bao lâu cũng đến đây, ta viết cho nhà ngươi một bức thư, để nhà ngươi cầm mà đưa cho chúa công ta, tất chúa công ta trọng dụng.
Nói xong, Quản Trọng liền viết một bức thư giao cho Ninh Thích. Ninh Thích lại về chăn trâu ở núi Dao Sơn. Được ba ngày nữa, đại binh Tề Hoàn công kéo đến. Ninh Thích cứ áo cộc, nón rách, chân đi đất, đứng ở bên đường, chẳng sợ hãi gì cả. Xe Tề Hoàn công đi gần đến nơi, Ninh Thích gõ vào sừng trâu mà hát rằng:
“Kìa sông Thương Lương, đá trắng lởm chởm, có con cá chép, dài một thước hơn. Nghiêu Thuấn thái bình, đã không được gặp, áo cộc che thân, chưa đến ngang lưng. Ta cho trâu ăn, từ lúc nhá nhem, cho đến nửa đêm; đêm tối mờ mờ, bao giờ thấy sáng?”
Tề Hoàn công nghe lấy làm lạ, mới sao quân sĩ đòi đến trước xe mà hỏi họ tên.
Ninh Thích nói:
- Tôi họ Ninh tên Thich.
Tề Hoàn công nói:
- Nhà ngươi là đứa chăn trâu, sao dám gièm chê triều chính?
Ninh Thích nói:
- Tôi có dám gièm chê gì triều chính đâu.
Tề Hoàn công nói:
- Ngày nay trên thì thiên tử nhà Chu trị vì, dưới thì các nước chư hầu theo lệnh, nhân dân vui vẻ, cây cỏ tốt tươi, dẫu đời Nghiêu Thuấn thái bình chẳng qua cũng chỉ như thế. Thế mà nhà ngươi dám bảo rằng “Nghiêu Thuấn thái bình, đã không được gặp”; lại bảo rằng “đêm tối mờ mờ, bao giờ thấy sáng?” không phải gièm chê triều chính là gì!
Ninh Thích nói:
- Tôi nghe nói đời Nghiêu Thuấn mưa gió thuận hòa, dân gian không phải lo sợ gì, chỉ việc cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống; mà bây giờ thì giường mối đổ nát, giáo hóa suy đồi, thế mà bảo rằng “Nghiêu Thuấn thái bình” thì thật tôi không hiểu ra làm sao! Vả vua Nghiêu, vua Thuấn trừ khử được bốn kẻ hung ác mà thiên hạ được yên, không phải nói mà dân tin, không phải giận mà dân sợ; nay chúa công mới hội chư hầu, đã thấy nước Tống bội ước, nước Lỗ hiếp thề, chinh chiến quanh năm, hao người tốn của, mà bảo rằng “nhân dân vui vẻ, cây cỏ tốt tươi” thì thật tôi càng không hiểu lắm. Tôi lại nghe nói vua Nghiêu bỏ con là Đan Chu mà nhường thiên hạ cho vua Thuấn; vua Thuấn không chịu nhận, bỏ trốn ra Nam Hà, trăm họ rủ nhau đi theo vua Thuấn, bấy giờ bất đắc dĩ vua Thuấn mới lên nối ngôi; nay chúa công giết anh ruột đi để cướp lấy nước, lại mượn uy thiên tử để sai khiến các nước chư hầu, vậy thì tôi không biết có phải là lối vái nhường nhau như vua Nghiêu, vua Thuấn ngày xưa hay không?
Tề Hoàn công nổi giận mà mắng rằng:
- Đứa thất phu này dám nói càn!
Nói xong, truyền đem Ninh Thích ra chém. Quân sĩ trói Ninh Thích đem đi, Ninh Thích cứ nghiễm nhiên, không sợ hãi gì cả, chỉ ngửa mặt lên trời mà than rằng:
- Ngày xưa vua Kiệt giết Long Bàng, vua Trụ giết Tỉ Can, nay tôi cùng với hai ông ấy kể là ba người.
Thấp Bằng nói với Tề Hoàn công rằng:
- Người ấy không theo quyền thế, không sợ uy nghiêm, chẳng phải là kẻ chăn trâu tầm thường đâu, chúa công chớ nên giết.
Tề Hoàn công sực nghĩ lại, nguôi ngay cơn giận, sai cởi trói cho Ninh Thích mà bảo rằng:
- Ta thử nhà ngươi đó thôi. Nhà ngươi thật là một giai sĩ.
Ninh Thích mới thò vào bọc, rút bức thư của Quản Trọng dâng lên. Tề Hoàn công mở thư ra xem, đại lược như sau:
“Tôi phụng mệnh đem quân qua núi Dao Sơn, có gặp được một người nước Vệ tên gọi Ninh Thích. Người này không phải là kẻ chăn trâu tầm thường, chính là một bậc đại tài đời nay, chúa công nên giữ lại mà dùng, nếu để cho hắn đi sang nước khác, thì hối không kịp nữa!”
Tề Hoàn công nói:
- Nhà ngươi đã có bức thư của Trọng phụ, sao không đưa ngay cho ta xem?
Ninh Thích nói:
- Tôi nghe nói vua hiền chọn người mà dùng, tôi hiền chọn chủ mà thờ. Nếu chúa công ghét người thẳng, ưa người nịnh, mà nhân cơn giận giết tôi, thì tôi chẳng thà chết đi, quyết không chịu đưa bức thư của quan tể tướng làm gì nữa.
Tề Hoàn công bằng lòng lắm, truyền cho Ninh Thích ngồi một cái xe theo sau. Tối hôm ấy, đóng quân nghỉ lại, Tề Hoàn công sai thắp đèn lên để tìm mũ áo.
Thụ Điêu nói:
- Chúa công tìm mũ áo, ý chừng muốn phong cho Ninh Thích chăng?
Tề Hoàn công nói:
- Phải đó!
Thụ Điêu nói:
- Từ ta sang Vệ, cũng chẳng xa bao nhiêu, sao chúa công chẳng sai người sang hỏi dò xem, nếu thật là hiền, bấy giờ sẽ phong tước cho y, đi đâu mà vội!
Tề Hoàn công nói:
- Người này là một bậc đại tài, không câu nệ những điều nhỏ nhặt. Hoặc giả khi ở nước Vệ, người này cũng mắc một vài điều lỗi nhỏ, bấy giờ nếu ta hỏi dò mà biết những điều lỗi ấy rồi, thì chẳng lẽ lại cứ phong tước cho; mà bỏ đi không dùng người hiền thì đáng tiếc lắm.
Nói xong, ngay đêm hôm ấy Tề Hoàn công phong cho Ninh Thích làm quan đại phu, cho cùng với Quản Trọng coi quốc chính. Ninh Thích đội mũ mặc áo rồi lạy tạ lui ra.
Đại binh Tề Hoàn công kéo đến địa giới nước Tống, bèn cùng với các nước chư hầu bàn việc tiến đánh.
Ninh Thích nói với Tề Hoàn công rằng:
- Chúa công phụng mệnh thiên tử để hiệu lệnh các nước chư hầu, khiến cho người ta sợ uy, không bằng khiến cho người ta mến đức. Như tôi thiển nghĩ thì không nên tiến đánh vội. Tôi dẫu hèn mọn, dám xin đem ba tấc lưỡi mà bảo được vua nước Tống phải giảng hòa.
Tề Hoàn công nghe lời, truyền đóng quân lại, rồi sai Ninh Thích vào trước để nói với Tống Hoàn công. Ninh Thích ngồi một cái xe nhỏ, cùng với mấy tên người nhà thẳng tới Thư Dương (kinh thành nước Tống) xin vào yết kiến Tống Hoàn công.
Tề Hoàn công hỏi Đái Thúc Bì rằng:
- Ninh Thích là người thế nào?
Đái Thúc Bì nói:
- Tôi nghe nói người ấy là một kẻ chăn trâu, Tề hầu mới dùng cho làm quan, tất là người ấy có tài ứng đối. Bây giờ định đến để du thuyết gì đây!
Tề Hoàn công nói:
- Vậy thì nên đối xử thế nào?
Đái Thúc Bì nói:
- Chúa công gọi vào, chớ nên trọng đãi, hãy thử xem ý tứ, nếu hắn nói không hợp lẽ, bấy giờ tôi xin nhắc cái giải áo làm hiệu, sai vũ sĩ bắt mà giam lại, thì Tề hầu không trở kế gì được nữa.
Tống Hoàn công gật đầu khen phải, truyền cho vũ sĩ phục cả xung quanh, rồi gọi Ninh Thích vào. Ninh Thích mũ cao áo rộng, ngang nhiên mà vào, trông thấy Tống Hoàn công, chắp tay vái một cái. Tống Hoàn công cứ ngồi nghiễm nhiên không đáp lại.
Ninh Thích thở dài mà than rằng:
- Nguy thay cho nước Tống!
Tống Hoàn công ngạc nhiên hỏi:
- Ta đây làm vua một nước, phẩm tước hơn cả các nước chư hầu, có việc gì mà nguy?
Ninh Thích nói:
- Hiền hầu tự nghĩ xem hiền hầu ví với Chu công ngày xưa thì ai hiền hơn?
Tề Hoàn công nói:
- Chu công là bậc thánh nhân, có đâu ta lại dám ví.
Ninh Thích nói:
- Chu công ngày xưa, đang lúc thiên hạ thái bình mà còn phải hết lòng để cầu lấy người hiền sĩ: trong bữa ăn, có người hiền vào thì vội nhả miếng cơm để ra đón; trong khi gội đầu, có người hiền đến thì vội vẩy nắm tóc để ra mời. Nay hiền hầu là dòng dõi một nước đã mất rồi(2), lại gặp phải thời buổi tranh đua, dẫu bắt chước như Chu công hết lòng cầu kẻ hiền sĩ, còn sợ kẻ hiền sĩ không chịu đến; huống chi lại còn kiêu ngạo tự đắc, thì những lời nói trung thực bao giờ có đến tai hiền hầu được, còn gì mà không nguy?
Tống Hoàn công ngẩn người ra, vội vàng dịch lại gần mà hỏi Ninh Thích rằng:
- Ta mới lên nối ngôi, chưa được nghe những lời dạy của các bậc quân tử, xin tiên sinh tha lỗi cho.
Đái Thúc Bì đứng bên cạnh, thấy Tống Hoàn công có ý cảm động về lời nói của Ninh Thích, mới ra hiệu nhắc cái giải áo luôn mãi. Tống Hoàn công không ngảnh lại nữa, lại bảo Ninh Thích rằng:
- Tiên sinh đã đến đây, thì có điều gì xin tiên sinh chỉ giáo cho quả nhân.
Ninh Thích nói:
- Nay thiên tử suy yếu, chư hầu tiếm quyền, vua tôi giết nhau, ngày nào cũng có. Tề hầu không nỡ để cho thiên hạ rối loạn, phải phụng mệnh thiên tử làm bá chủ các nước chư hầu, thế mà hiền hầu bội ước, dám chống nhau với thiên tử, tôi thiết tưởng chẳng đợi giao binh mà sự được thua đã rành rành ra rồi.
Tống Hoàn công nói:
- Cứ như ý kiến của tiên sinh thì ta nên thế nào?
Ninh Thích nói:
- Tôi thiết tưởng hiền hầu nên giảng hòa với nước Tề thì cơ nghiệp nước Tống mới thật vững như núi Thái Sơn.
Tống Hoàn công nói:
- Trước ta đã trót bội ước với nước Tề, nay nước Tề đang đem quân đến định đánh ta, biết nước Tề có cho ta giảng hòa hay không?
Ninh Thích nói:
- Tề hầu là người khoan nhân đại độ, không hay chấp những điều lầm lỗi của người khác: như nước Lỗ khi trước không đến dự hội, sau xin ăn thề ở đất Kha, thì Tề hầu cũng đem ngay đất Vấn Dương để trả lại cho. Huống chi hiền hầu khi trước đã đến dự hội, có lẽ nào Tề hầu lại không cho giảng hòa.
Tề Hoàn công nói:
- Bây giờ nên dùng những lễ vật gì?
Ninh Thích nói:
- Tề hầu bây giờ cốt lấy lễ nghĩa giao tiếp với các nước chư hầu, có cần gì mà phải dùng nhiều lễ vật.
Tống Hoàn công bằng lòng, mới sai người đến xin hòa với nước Tề. Đái Thúc Bì thậy vậy, xấu hổ lui ra. Sứ nước Tống vào yết kiến Tề Hoàn công nói về việc xin giảng hòa và dâng mười đôi bạch ngọc, nghìn nén hoàng kim.
Tề Hoàn công nói:
- Việc cho giảng hòa ấy là quyền tự thiên tử, có đâu ta tự chuyên, tất phải sai người tâu với thiên tử mới được.
Nói xong, Tề Hoàn công bảo Tống Hoàn công sai sứ vào tâu với thiên tử nhà Chu, rồi hai bên đều rút quân về nước.
_____
(1) Bá cữu (bác cậu): cậu, chú, bác là những chữ xưng hô trước vua nhà Chu đối với các nước thân tộc (họ nội, họ ngoại, bên vợ v.v...)
(2) Tống là con cháu nhà Ân; nhà Chu diệt được nhà Ân rồi phong cho con cháu nhà Ân làm chư hầu ở nước Tống.
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI MƯỜI CHÍN
 
Bắt Phó Hà, Trịnh Lệ công về nước
Giết Tử Đồi, Chu Huệ vương phục ngôi
 
Tề Hoàn công thu quân về nước. Quản Trọng tâu rằng:
- Từ khi nhà Chu thiên sang Đông đô đến giờ, các nước chư hầu, không nước nào mạnh bằng nước Trịnh. Trịnh Trang công khi trước cậy sức mạnh mà đánh nước Tống, và chống cự cả với thiên tử, ngày nay lại đi theo nước Sở. Sở là một nước lớn, đất rộng người nhiều, dám tiếm hiệu xưng vương, sánh với nhà Chu, không sợ hãi gì cả. Nay chúa công muốn tôn thiên tử, làm bá chủ chư hầu, tất phải tìm cách trị nước Sở, mà muốn trị nước Sở thì trước hết phải nắm được nước Trịnh đã.
Tề Hoàn công nói:
- Ta vẫn biết Trịnh là một nơi xung yếu, muốn thu lấy đã lâu, chỉ vì chưa nghĩ được kế gì.
Ninh Thích nói:
- Công tử Đột (Trịnh Lệ công) ở nước Trịnh làm vua mới được hai năm. Sái Túc đuổi đi mà lập công tử Hốt; Cao Cừ Di giết công tử Hốt mà lập công tử Vỹ. Tiên quân ta ngày xưa giết công tử Vỹ đi thì Sái Túc lại lập công tử Nghi. Sái Túc là bề tôi mà dám đuổi vua; công tử Nghi là em mà dám cướp ngôi anh, tội đáng giết cả. Nay công tử Đột ở đất Lịch, ngày đêm vẫn tìm mưu lập kế để đánh lén nước Trịnh; vả lại Sái Túc đã chết rồi, nước Trịnh không còn ai là người tài giỏi, chúa công chỉ sai một người đem quân đến đất Lịch, đưa công tử Đột về nước thì Đột tất phải cảm ơn chúa công mà thần phục nước Tề ta.
Tề Hoàn công khen phải, liền sai Tân Tu Vô đem quân đến đất Lịch để giúp Trịnh Lệ công. Trịnh Lệ công được tin Tề Hoàn công sai người đem quân đưa mình về nước, trong lòng mừng lắm, vội vàng mở cửa thành ra nghênh tiếp, rồi bày tiệc cùng với Tân Tu Vô uống rượu. Trong khi đang ăn tiệc thì có tin bảo rằng:
- Sái Túc chết rồi, quyền chính nước Trịnh về tay Thúc Thiêm.
Tân Tu Vô hỏi:
- Thúc Thiêm là ai?
Trịnh Lệ công nói:
- Người ấy có tài trị nước, chứ không có tài đánh giặc.
Lại có tin báo rằng:
- Kinh thành nước Trịnh có một chuyện rất lạ: phía trong cửa nam có một con rắn dài tám thước, đầu xanh đuôi vàng; phía ngoài cửa lại có một con rắn dài hơn một trượng, đầu đỏ đuôi xanh. Hai con rắn ấy đánh nhau trong ba ngày ba đêm mà không phân được thua, người xem đông như chợ, không ai dám đến gần. Đến ngày thứ mười bảy thì con rắn trong bị con rắn ngoài cắn chết; con rắn ngoài chạy thẳng vào thành, đến nhà Thái miếu thì biến mất.
Tân Tu Vô nghe nói, đứng dậy chúc mừng Trịnh Lệ công rằng:
- Như thế thì ngôi vua của hiền hầu chắc hẳn khôi phục được.
Trịnh Lệ công nói:
- Sao ngài lại biết?
Tân Tu Vô nói:
- Con rắn ở ngoài cửa tức là hiền hầu, hiền hầu là anh, vậy nên dài một trượng; con rắn ở trong cửa tức là công tử Nghi, công tử Nghi là em, vậy nên dài có tám thước. Đến ngày thứ mười bảy mà con rắn trong chết, con rắn ngoài vào thành, nghĩa là từ khi hiền hầu đi trốn, đến nay vừa được mười bảy năm, nay chúa công tôi vì đại nghĩa sai tôi đem quân giúp hiền hầu phục quốc, lại có cái điềm hai con rắn đánh nhau ấy, đó chẳng phải ý trời sao?
Trịnh Lệ công nói:
- Được như lời tướng quân nói thì trọn đời tôi không dám quên ơn.
Tân Tu Vô mới cùng Trịnh Lệ công lập kế, đêm hôm ấy về đánh đất Đại Lăng. Quan trấn thủ ở đất Đại Lăng là Phó Hà đem quân ra ngoài thành nghênh chiến. Tân Tu Vô lẻn đánh phía sau, chiếm được thành Đại Lăng, cắm cờ nước Tề. Phó Hà biết là sức không địch nổi, phải xin đầu hàng. Trịnh Lệ công vẫn tức Phó Hà về nỗi chống nhau với mình trong mười bảy năm trời, mới nghiến răng truyền đem Phó Hà ra chém. Phó Hà kêu rầm lên rằng:
- Chúa công không muốn về nước Trịnh hay sao mà lại giết tôi?
Trịnh Lệ công nghe nói liền gọi lại hỏi vì sao.
Phó Hà nói:
- Nếu chúa công tha tôi, tôi xin lẻn vào nước Trịnh, chém lấy đầu công tử Nghi để dâng chúa công.
Trịnh Lệ công nói:
- Nhà ngươi có kế gì mà giết được công tử Nghi, chẳng qua chỉ nói khéo để đánh lừa ta, chực thoát thân về nước Trịnh mà thôi.
Phó Hà nói:
- Quyền chính nước Trịnh ngày nay ở trong tay Thúc Thiêm cả; tôi cùng với Thúc Thiêm chơi thân với nhau. Nếu chúa công tha tội, tôi lẻn về Trịnh bàn mưu với Thúc Thiêm thì tất đem được đầu công tử Nghi nộp chúa công.
Trịnh Lệ công quát to lên mà mắng rằng:
- Thằng lão tặc này mày định lừa ta! Bây giờ ta tha cho mày về Trịnh để mày bàn nhau với Thúc Thiêm đem quân ra chống cự với ta chứ gì!
Tân Tu Vô nói:
- Vợ con Phó Hà nay ở cả đất Đại Lăng này, âu là ta giam lại để làm tin.
Phó Hà sụp lạy kêu van mà nói rằng:
- Nếu tôi nói sai lời thì chúa công cứ giết vợ con tôi đi!
Nói xong, trỏ lên mặt trời mà thề. Trịnh Lệ công mới nghe lời. Phó Hà lẻn về nước Trịnh, đang đêm vào yết kiến Thúc Thiêm. Thúc Thiêm trông thấy Phó Hà, giật mình kinh sợ hỏi:
- Nhà ngươi đang trấn thủ ở Đại Lăng, sao bây giờ lại về đây?
Phó Hà nói:
- Tề hầu sai đại tướng Tân Tu Vô đưa công tử Đột về nước, nay đã chiếm được Đại Lăng rồi. Tôi trốn chạy mấy đêm nay mới về tới đây, quân Tề cũng sắp sửa kéo đến, sự thế đã nguy cấp lắm, ông làm thế nào chém được đầu công tử Nghi, rồi mở cửa thành ra mà đón quân Tề thì mới có thể giữ được phú quý, và dân chúng mới khỏi phải khổ sở lầm than; chuyển họa làm phúc, chỉ có lúc này, nhược bằng chậm trễ thì không tài nào hối kịp.
Thúc Thiêm nghe lời, nín lặng một hồi lâu rồi nói:
- Ngày trước ta vẫn theo lời bàn lại lập vua cũ (tức là công tử Đột), chỉ vì Sái Túc ngăn trở; nay Sái Túc đã mất rồi, ấy là lòng trời giúp cho vua cũ ta đó, ta cũng không nên trái ý trời, nhưng biết dùng kế gì bây giờ?
Phó Hà nói:
- Ta nên thông tin cho quân Tề mau mau kéo đến, rồi ông giả cách mở cửa thành ra để đối địch, tất nhiên công tử Nghi phải lên mặt thành đứng trông, bấy giờ tôi sẽ liệu kế giết đi để ông đón vua cũ vào thành, như thế thì có thể nên việc được.
Thúc Thiêm nghe lời, bèn mật sai người báo tin cho Trịnh Lệ công.
Phó Hà vào yết kiến công tử Nghi, nói về việc quân Tề giúp Trịnh Lệ công, hiện đã chiếm được đất Đại Lăng. Công tử Nghi giật mình kinh sợ, nói:
- Bây giờ ta đem lễ vật rất hậu sang cầu cứu nước Sở. Đợi khi quân Sở đến, trong đánh ra ngoài đánh vào, thì chắc hẳn quân Tề phải kéo lui.
Thúc Thiêm cố ý trì hoãn việc ấy, đã qua hai ngày mà chưa sai sứ sang Sở. Bỗng nghe báo quân Tề đã kéo đến dưới chân thành, Thúc Thiêm nói với công tử Nghi rằng:
- Tôi xin đem quân ra đối địch. Xin chúa công cùng với Phó Hà lên mặt thành phòng giữ.
Công tử Nghi tưởng thực, mới cùng với Phó Hà trèo lên mặt thành. Trịnh Lệ công đem quân đến trước. Thúc Thiêm giả cách ra giao chiến mấy hợp; đến lúc Tân Tu Vô đem quân Tề tiến đến, thì Thúc Thiêm vội vàng bỏ chạy. Phó Hà ở trên mặt thành kêu rầm lên rằng:
- Quân ta thua mất rồi!
Công tử Nghi vốn là người không có can đảm, nghe nói quân thua, toan bỏ chạy xuống. Phó Hà ở đằng sau, đâm thẳng một nhát, công tử Nghi chết ngay trên mặt thành. Thúc Thiêm gọi mở cửa thành, rồi đưa Trịnh Lệ công và Tân Tu Vô vào. Phó Hà đi trước vào nơi thánh cung, gặp hai con của công tử Nghi, đều giết chết cả, rồi tôn Trịnh Lệ công lên ngôi. Người nước Trịnh vốn mến Trịnh Lệ công, bởi vậy trong nước vẫn giữ được yên tĩnh.
Trịnh Lệ công hậu tạ Tân Tu Vô, rồi ước đến mùa đông tháng mười thì thân hành sang hội với Tề. Tân Tu Vô cáo từ về nước.
Trịnh Lệ công bảo Phó Hà rằng:
- Nhà ngươi giữ đất Đại Lăng trong mười bảy năm trời nay, cố sức chống lại ta, thật là hết lòng trung với vua cũ; nay lại tham sống sợ chết, vì ta mà giết bỏ vua cũ, như thế thì bụng nhà ngươi nham hiểm không biết đâu mà lường, ta nên vì công tử Nghi mà báo thù.
Nói xong, truyền vũ sĩ đem Phó Hà ra chém ở giữa chợ, còn vợ con thì tha cho về. Nguyên Phồn lúc trước tán thành việc lập công tử Nghi, sợ Trịnh Lệ công bắt tội, cũng cáo ốm xin từ chức. Trịnh Lệ công sai người đến trách mắng, Nguyên Phồn thắt cổ mà chết. Trịnh Lệ công lại trị tội những người đuổi mình khi trước, giết công tử Át. Còn Cường Thư trốn vào nhà Thúc Thiêm, Thúc Thiêm xin cho, mới được khỏi chết, nhưng phải chặt chân. Định Thúc trốn chạy sang nước Vệ, ba năm sau, Trịnh Lệ công lại cho người sang triệu về. Sái Túc đã chết rồi, không nói đến nữa. Thúc Thiêm vẫn làm chức chính khanh. Đỗ Thúc và Sư Thúc đều được làm quan đại phu, người nước Trịnh gọi là “Tam lương”, nghĩa là ba người hiền thần.
Sở Văn vương (Hùng Si) từ khi lấy được Tức Vĩ, lập làm phu nhân, yêu quý lạ thường. Trong ba năm trời, sinh luôn được hai con. Con trưởng là Hùng Hi, con thứ hai là Hùng Vận. Tức Vĩ dẫu ở trong cung nước Sở ba năm, nhưng tịnh không nói chuyện với Sở Văn vương một câu nào cả. Sở Văn vương lấy làm lạ, một hôm cố hỏi Tức Vĩ xem vì cớ gì mà không chịu nói. Tức Vĩ chỉ ứa nước mắt không đáp. Sở vương cố ý hỏi mãi, nàng mới thưa rằng:
- Đàn bà không biết giữ tiết mà chết, lại còn thờ hai chồng, thì còn mặt mũi nào nói chuyện với ai nữa!
Nói xong, hai hàng nước mắt chảy xuống dòng dòng. Sở Văn vương nói:
- Điều đó là tại Sái hầu, ta xin vì phu nhân mà báo cái thù ấy. Phu nhân chớ lo.
Nói xong, liền cất quân sang đánh nước Sái. Sái hầu sụp lạy xin lỗi và đem hết cả bảo ngọc trong kho ra xin dâng nước Sở, quân nước Sở mới rút lui. Vừa lúc ấy Trịnh Lệ công sai người đến báo tin đã lấy lại được nước. Sở Văn vương nói:
- Công tử Đột lấy lại được nước đã hai năm nay, mới sai người sang báo với ta, thế là có ý khinh ta lắm.
Sở Văn vương bèn cất quân sang đánh Trịnh. Trịnh Lệ công tạ tội và xin giảng hòa. Sở Văn vương thuận cho. Trịnh Lệ công sợ uy nước Sở, không dám kết thân với Tề. Tề Hoàn công sai người sang trách. Trịnh Lệ công sai Thúc Thiêm sang Tề, nói với Tề Hoàn công rằng:
- Nước tôi bị quân Sở quấy nhiễu, rất là khốn khổ, ngày đêm phòng giữ chưa lúc nào được yên nghỉ, bởi vậy chưa kịp sang tiến cống quý quốc. Nếu quý quốc có thể trị được quân Sở thì chúa công tôi xin thân hành sang bái yết ở dưới sân.
Tề Hoàn công thấy Thúc Thiêm ăn nói không được khiêm tốn, liền truyền đem giam lại ở chốn quân phủ. Thúc Thiêm thừa cơ lẻn trốn về nước Trịnh; từ bấy giờ nước Trịnh lại bỏ Tề mà theo Sở.
Vua Ly vương nhà Chu mất, con là Ngân lên nối ngôi, tức là Chu Huệ vương. Lúc bấy giờ Sở Văn vương là người dâm bạo, hay gây việc chiến tranh, năm trước cùng với vua nước Ba đi đánh nước Thân, rồi lại quấy nhiễu quân nước Ba, vua nước Ba tức giận, đem quân lẻn đánh, cướp lấy đất Na của nước Sở. Quan trấn thủ ở đất Na là Diêm Ngao bơi qua sông Dũng mà trốn. Sở Văn vương bắt đem chém, bởi vậy tộc đảng nhà Diêm Ngao oán Sở Văn vương, xin làm nội ứng để cho người nước Ba sang đánh Sở. Người nước Ba đem quân sang đánh Sở, Sở Văn vương đem quân ra đối địch, chẳng ngờ nhà Diêm Ngao cả thẩy mấy trăm người giả cách làm quân Sở, đi lẫn vào trong trận để sục tìm Sở Văn vương. Quân nước Sở rối loạn, quân nước Ba thừa thế tiến vào đánh tan được quân nước Sở. Sở Văn vương bị mấy mũi tên vào mặt, vội vàng bỏ chạy. Vua nước Ba cũng không dám đuổi theo, thu quân trở về; bọn người nhà Diêm Ngao theo sang ở bên nước Ba. Sở Văn vương về đến kinh thành, đang đêm gọi cửa. Dục Quyền ở trong cửa hỏi rằng:
- Đại vương thắng trận phải không?
Sở Văn vương nói:
- Ta thua rồi!
Dục Quyền nói:
- Từ đời tiên vương đến nay, quân Sở ra đánh không thua nước nào bao giờ. Nay nước ta là một nước nhỏ, đại vương thân hành đi đánh mà đến nỗi bị thua, không sợ người ta chê cười hay sao? Bây giờ nước Hoàng cũng không phục nước Sở, nếu đại vương sang đánh được nước Hoàng thì mới rửa được điều xấu hổ ấy.
Nói xong, liền giữ cửa không cho vào. Sở Văn vương phẫn uất, bảo quân sĩ rằng:
- Lần này đi mà không được nữa thì ta quyết không về!
Nói xong, liền đem quân sang nước Hoàng. Sở Văn vương đánh trống thúc quân vào, đánh được quân nước Hoàng ở đất Thác Lăng. Đêm ấy Sở Văn vương đóng quân lại để yên nghỉ, thì nằm mộng thấy Tức hầu hầm hầm nổi giận chạy đến trước mặt mà bảo rằng:
- Ta có tội lỗi gì mà mày giết ta, lại chiếm đất ta, cướp vợ ta? Ta đã tâu việc ấy lên Ngọc hoàng thượng đế rồi!
Nói xong, giơ tay cấu vào má Sở Văn vương. Sở Văn vương kêu to lên một tiếng rồi tỉnh dậy, những vết thương cũ vỡ ra, máu chảy đầm đìa, vội vàng hạ lệnh thu quân trở về. Về đến Thu Địa (đất nước Sở), vào khoảng nửa đêm thì Sở Văn vương chết. Dục Quyền đón linh cữu về làm ma. Con trưởng Sở Văn vương là Hùng Hi lên nối ngôi.
Dục Quyền nói:
- Ta hai lần xâm phạm đến vua, dẫu vua không giết, nhưng có đâu lại còn dám tham sống, âu là ta theo vua ta xuống âm phủ cho xong!
Lại bảo với người nhà rằng:
- Ta chết rồi thì các ngươi cứ chôn ta ở cửa thành, khiến cho con cháu sau này biết ta là người giữ cửa.
Nói xong, liền tự đâm cổ mà chết. Hùng Hi thương lắm, mới cho con cháu được nối đời làm chức đại hôn (quan giữ cửa thành). Trịnh Lệ công nghe tin Sở Văn vương chết, mừng lắm, nói:
- Ta không còn lo gì nữa!
Thúc Thiêm nói:
- Tôi thiết tưởng dựa vào kẻ khác là nguy, thần phục người ta là nhục. Nay nước Trịnh ta ở vào khoảng giữa nước Tề nước Sở, không nhục thì cũng nguy, khó lòng mà giữ cho lâu bền được. Tiên quân ta ngày xưa như Hoàn công, Vũ công và Trang công ba đời làm chức khanh sĩ nhà Chu, bởi vậy các nước chư hầu đều phải phục theo, bây giờ chúa công cũng nên vào triều cống nhà Chu, để thiên tử gia phong cho thì không còn lo nước nào dám quấy nhiễu nữa.
Trịnh Lệ công khen phải, rồi sai quan đại phu là Sư Thúc vào triều nhà Chu. Sư Thúc trở về báo tin nhà Chu có loạn to. Trịnh Lệ công hỏi tình hình việc loạn ra thế nào.
Sư Thúc nói:
- Vua Trang công nhà Chu ngày xưa yêu nàng Diêu Cơ, nàng Diêu Cơ sinh con là vương tử Đồi. Trang vương yêu lắm, sai quan đại phu là Vĩ Quốc làm chức sư phó để dạy vương tử Đồi. Vương tử Đồi tính thích chơi trâu, thường nuôi mấy trăm con trâu, ngày nào cũng thân hành cho trâu ăn uống; lại cho trâu mặc vóc lụa, đặt tên là Văn thú. Thỉnh thoảng có đi chơi đâu, cũng cho một đàn trâu đi theo, đi đến đâu thì giẫm nát cả, không kiêng nể gì. Lại cùng với năm quan đại phu là: Vĩ Quốc, Biên Bá, Tử Cầm, Chúc Quị và Thiêm Phủ giao kết với nhau rất thân mật. Đang đời vua Ly vương không ai dám ngăn cấm; đến đời vua Huệ vương, vương tử Đồi cậy mình là hàng chú, lại càng kiêu ngạo lắm. Huệ vương thấy vậy cũng có ý ghét, mới nghĩ cách để đè nén bọn vương tử Đồi, chiếm lấy nhà, ruộng của bọn ấy. Bấy giờ có một người nấu bếp cho vua là Thạch Tốc dâng món ăn lên không được tinh sạch, Huệ vương mới cách chức không dùng nữa. Thạch Tốc cũng đem lòng thù oán vua Huệ vương, mới cùng với bọn vương tử Đồi nổi loạn, tôn vương tử Đồi làm vua, đem quân đánh Huệ vương; may nhờ có Chu công Kỵ Phủ và Thiệu Bá Liêu cố sức chống giữ, bọn vương tử Đồi bị thua, chạy trốn sang đất Tô. Nguyên Tô Tử khi trước phản Chu theo giặc, bị Hoàn vương nhà Chu bỏ mất thái địa(1) cũng có ý căm tức, mới phù vương tử Đồi chạy sang nước Vệ. Vệ Huệ công (công tử Sóc) oán vua nhà Chu lập Kiềm Mâu, mới đem quân giúp vương tử Đồi đánh Chu Huệ vương. Chu công Kỵ Phủ chống cự không nổi, cùng với Thiệu Bá Liêu phù Chu Huệ vương chạy sang đất Yên. Bây giờ vương tử Đồi lên chiếm ngôi vua, nhân dân không phục. Nếu chúa công ngày nay đem quân giúp Huệ vương về khôi phục được ngôi vua thì thật là cái công to lắm.
Trịnh Lệ công khen phải, bảo Sư Thúc rằng:
- Vương tử Đồi nhu nhược không làm gì được, chỉ nhờ có quân nước Vệ giúp cho mà thôi; âu là ta sai người lấy lẽ phải mà bảo, may ra hắn biết nghĩ lại, khỏi sinh việc can qua, chẳng cũng hay lắm ru!
Nói xong, một mặt sai người sang đất Yên đón vua Huệ vương nhà Chu về ở đất Lịch; một mặt sai người đưa thư cho vương tử Đồi. Thư rằng:
“Đột này nghe nói bề tôi chống nhau với vua, gọi là bất trung, em chống với anh, gọi là bất thuận, người mà bất trung bất thuận thì trời nào chứng cho. Vương tử đã nghe lời nói của đứa gian thần mà đánh đuổi thiên tử, nếu nay biết hối cải đón thiên tử về, thì còn giữ được phú quý. Vương tử nên mau mau nghĩ lại”.
Vương tử Đồi tiếp được thư, dùng dằng chưa quyết.
Vĩ Quốc bảo vương tử Đồi rằng:
- Sự thể ngày nay khác nào như cưỡi hổ, không thể xuống được. Lẽ nào đang làm thiên tử mà lại xuống làm bề tôi? Đó là Trịnh hầu nói lừa ta mà thôi, quyết không nên nghe.
Vương tử Đồi mới sai đuổi sứ nước Trịnh ra. Năm sau, Trịnh Lệ công cùng với Quắc công cất quân giúp Chu Huệ vương vào đánh vương tử Đồi. Vĩ Quốc thấy vậy, vội vàng vào cung để nói với vương tử Đồi. Đồi còn đang bận cho trâu ăn, chưa ra tiếp vội.
Vĩ Quốc nói:
- Việc nguy cấp lắm rồi!
Nói xong, liền giả mệnh Đồi, sai các tướng đem quân ra đối địch. Dân nhà Chu vốn không phục vương tử Đồi, nghe tin Huệ vương đến thì đều mừng rỡ reo hò, tranh nhau mở cửa thành ra đón. Vĩ Quốc đang viết tờ quốc thư để sai người sang cầu cứu nước Vệ, thư viết chưa xong, bỗng nghe tiếng chuông trống ầm ĩ, có người báo rằng:
- Chu Huệ vương đã vào thành ngự triều rồi!
Vĩ Quốc tự đâm cổ mà chết. Chúc Quị, Tử Cầm chết ở trong đám loạn quân. Biên Bá, Thiêm Phủ bị người nhà Chu bắt đem nộp Huệ vương. Vương tử Đồi chạy ra cửa tây, sai Thạch Tốc dẫn đàn trâu đi trước. Trâu béo nặng thịt quá, đi rất chậm. Thạch Tốc cũng bị người nhà Chu bắt, cùng với Biên Bá, Thiêm Phủ đều bị chém cả. Huệ vương nhà Chu lại lên nối ngôi, đem đất Hồ Lao thưởng cho nước Trịnh, và đem đất Tửu Toàn thưởng cho nước Quắc. Trịnh Lệ công và Quắc công cáo từ về nước. Trịnh Lệ công về nửa đường bị bệnh, khi về đến nước thì mất. Thế tử Tiệp lên nối ngôi, tức là Trịnh Văn công.
Trần Tuyên công nghi công tử Ngự Khấu làm phản mới đem giết đi. Công tử Hoàn, tên tự là Kính Trọng, chơi thân với Ngự Khấu, sợ tội trốn sang nước Tề. Tề Hoàn công cho làm quan công chính.
Một hôm, Tề Hoàn công đến chơi nhà Kính Trọng uống rượu rất vui. Gặp trời đã tối, Tề Hoàn công sai thắp đèn lên để uống rượu thêm cho trọn cuộc vui. Kính Trọng từ chối là chưa sửa soạn trước, không dám thắp đèn để mời rượu về đêm. Tề Hoàn công nói:
- Kính Trọng thật là con người biết giữ lễ!
Rồi cho Kính Trọng được hưởng thái địa ở đất Điền, ấy là tổ họ Điền sau này.
Lại nói chuyện Văn Khương từ khi Tề Tương công bị giết, ngày đêm lo phiền thành ra bệnh ho. Nội thị đưa một người thầy thuốc nước Cử vào xem mạch. Văn Khương giữ thầy thuốc nước Cử ở trong cung uống rượu, rồi cùng nhau tư thông.
Thầy thuốc nước Cử đã về nước rồi, Văn Khương lại giả cách ốm, hai lần sang nước Cử để lấy thuốc, đều trọ ở nhà thầy thuốc nước Cử. Thầy thuốc nước Cử lại tiến người khác để thay vào, mà Văn Khương thì càng già càng dâm, vẫn tiếc rằng không ai được bằng Tề Tương công thuở trước.
Sau Văn Khương ốm nặng, đến lúc gần chết, bảo Lỗ Trang công rằng:
- Con gái Tề Trang công năm nay đã mười tám tuổi rồi, mày nên cưới ngay đi, để làm chủ trong cung, chớ đợi khi hết tang thì chậm quá, khiến ta ở dưới suối vàng, không được yên lòng.
Văn Khương lại nói:
- Nước Tề nay đang làm bá chủ, mày nên cùng với Tề giao hiếu; chớ để cho hai nước bất hòa.
Văn Khương nói xong thì chết. Lỗ Trang công toan theo lời Văn Khương, bàn việc xin cưới ngay. Quan đại phu là Tào Quệ nói:
- Nay chúa công hiện đang đại tang, chưa nên bàn việc hôn nhân vội, xin đợi cho ba năm rồi sẽ nói đến.
Lỗ Trang công nói:
- Mẹ ta trong khi lâm chung, có dặn lại như vậy, bây giờ cưới ngay thì khí vội, mà chờ cho hết tang ba năm thì lại chậm quá, nên để hết một năm thì vừa.
Tề Hoàn công thấy Lỗ Trang công còn đang có tang, cũng xin hoãn việc cưới. Đến năm hết tang, Lỗ Trang công đã ba mươi bảy tuổi, mới cưới con gái nước Tề về lập làm phu nhân, tức là Ai Khương. Từ bấy giờ Lỗ cùng với Tề lại càng thân thiết nhau lắm.
Tề Hoàn công đem quân đi đánh nước Từ và nước Nhung. Từ và Nhung cũng đều phải thần phục nước Tề cả. Trịnh Văn công thấy thế lực nước Tề mỗi ngày một lớn, sợ nước Tề xâm lấn, mới sai sứ sang xin hòa.
_____
(1) Thái địa: đất thiên tử ban cho chư hầu.
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI HAI MƯƠI
 
Ly Cơ được phong làm Tấn phu nhân
Tử Văn lên làm Sở lệnh doãn
 
Trịnh Văn công thấy thế lực nước Tề mỗi ngày một mạnh, sợ nước Tề xâm lấn nước mình, mới sai sứ sang giảng hòa. Tề Hoàn công hội nước Tống, nước Lỗ, nước Trần và nước Trịnh cùng dự thề ở đất U. Rồi Tề Hoàn công về nước, lại bày một tiệc đại yến khao thưởng các quan. Tiệc đến nửa chừng, Bão Thúc Nha rót một chén rượu thật đầy đến trước mặt Tề Hoàn công để chúc thọ. Tề Hoàn công nói:
- Tiệc rượu ngày hôm nay vui vẻ biết chừng nào.
Bão Thúc Nha nói:
- Tôi nghe nói vua sáng, bề tôi hiền, dẫu đang lúc vui vẻ mà không quên những lúc lo nghĩ. Tôi xin chúa công chớ quên lúc còn phải đi trốn, Quản Trọng chớ quên lúc còn ở xe tù, Ninh Thích chớ quên lúc còn đang chăn trâu nơi thôn dã.
Tề Hoàn công vội vàng đứng dậy sụp lạy hai lạy mà nói rằng:
- Tôi cùng các quan đều không quên, ấy là cái phúc to của nước Tề ta đó!
Chu Huệ vương sai Thiệu Bá Liên sang phong cho Tề Hoàn công làm bá chủ, được quyền đi đánh dẹp các nước chư hầu, và nhân tiện nói đến việc Vệ Sóc giúp vương tử Đồi là một việc giúp kẻ nghịch thần, thế mà đã mười năm nay, chưa bị trừng phạt, nay giao việc ấy cho Tề Hoàn công. Tề Hoàn công mới phụng mệnh thiên tử đem quân đi đánh nước Vệ. Bấy giờ Vệ Huệ công (tức là Vệ Sóc) chết rồi, con là Xích lên nối ngôi đã được ba năm, tức là Vệ Ý công. Vệ Ý công chưa kịp hỏi xem vì cớ gì mà Tề đến đánh, vội vàng đem quân ra đối địch, thua chạy trở về. Tề Hoàn công kéo thẳng đến dưới chân thành, kể tội trạng Vệ Huệ công.
Vệ Ý công nói:
- Đó là cái lỗi của đấng tiên quân, không dự đến ta!
Nói xong, liền sai con trưởng là công tử Khai Phương đem lễ vật ra xin giảng hòa với nước Tề. Tề Hoàn công nói:
- Theo phép tiên vương nhà Chu ta thì không bắt tội đến đời con cháu. Nay Vệ đã biết tội thì ta cũng nên khoan thứ cho.
Nói xong, liền cho nước Vệ giảng hòa. Công tử Khai Phương thấy nước Tề cường thịnh, xin sang làm quan ở nước Tề.
Tề Hoàn công nói:
- Nhà ngươi là con trưởng Vệ hầu, tất ngày sau được lên nối ngôi, vì sao lại muốn bỏ ngôi vua của mình mà sang làm tôi nước ta.
Công tử Khai Phương nói:
- Chúa công là một bậc hiền đức nhất trong thiên hạ; chỉ được hầu hạ ở bên cạnh chúa công đã là vẻ vang lắm rồi, há chẳng hơn làm vua hay sao?
Tề Hoàn công tin rằng Khai Phương có lòng yêu mình, vào cho làm quan đại phu, cũng thân yêu như là bọn Thụ Điêu và Dịch Nha. Người nước Tề gọi là “Tam quý”.
Công tử Khai Phương lại tán dương cái nhan sắc của nàng con gái còn ít tuổi của Vệ Huệ công. Tề Hoàn công sai sứ đem lễ vật cưới về làm vợ thứ. Vệ Ý công không dám từ chối, sai người đưa Vệ Cơ sang Tề. Còn người vợ chính của Tề Hoàn công cũng là Vệ Cơ (con gái lớn của Vệ Huệ công), bởi vậy mới gọi một người là Trưởng Vệ Cơ và một người là Thiếu Vệ Cơ để cho có phân biệt. Hai người đều được Tề Hoàn công thương yêu cả.
Tấn Hiến công lúc còn là thế tử lấy nàng Giả Cơ làm vợ, đã lâu không con; lại lấy cháu gái vua Khuyển Nhung là nàng Hồ Cơ, sinh con là Trùng Nhĩ và con gái Tiểu Nhung, sinh con là Di Ngô. Sau lại thông dâm với nàng Tề Khương (con gái nước Tề, vợ thứ của Vũ công, tức là thứ mẫu của Hiến công) sinh được người con trai tên là Thân Sinh. Tấn Hiến công lên nối ngôi, thì Giả Cơ đã chết rồi, mới lập Tề Khương làm phu nhân; bấy giờ Trùng Nhĩ đã hai mươi mốt tuổi. Di Ngô cũng nhiều tuổi hơn Thân Sinh, nhưng vì mẹ Thân Sinh là Tề Khương đã lập làm phu nhân, vậy nên Thân Sinh được lập làm thế tử. Lại cho quan đại phu là Đỗ Nguyên Khoản làm thái phó, Lý Khắc làm thiếu phó để cùng dạy bảo thế tử. Tề Khương lại sinh được một đứa con gái, rồi mất. Tấn Hiến công lại lấy em Giả Cơ là Giả Quân, cũng không có con, mới lấy đứa con gái Tề Khương cho Giả Quân nuôi làm con nuôi.
Tấn Hiến công đem quân đi đánh nước Ly Nhung. Nước Ly Nhung xin hòa và đem hai người con gái dâng Tấn Hiến công: người lớn là Ly Cơ, người nhỏ là Thiếu Cơ. Nàng Ly Cơ nhan sắc không kém gì Tức Vĩ, mà lại khôn ngoan giảo quyệt, chẳng khác gì Đát Kỷ khi xưa; ở trước mặt Tấn Hiến công thì làm ra vẻ thật thà trung hậu, thùy mị đáng yêu; thỉnh thoảng lại dự bàn chính sự trong nước, mười câu nói trúng đến được chín câu. Bởi vậy Hiến công đem lòng yêu dấu, ăn gì uống gì cũng phải có nàng; được hơn một năm, Ly Cơ sinh được một người con là Hề Tề; Thiếu Cơ cũng sinh một người con là Trác Tử.
Tấn Hiến công đã yêu dấu Ly Cơ, lại mừng rằng Ly Cơ có con trai, mới quên cả ân tình của Tề Khương, muốn lập Ly Cơ làm phu nhân, liền sai quan thái bốc là Quách Yển bói một quẻ nhưng lại gặp phải quẻ xấu. Tấn Hiến công không nghe, lại sai Sử Tô bói lại, rồi lập Ly Cơ làm phu nhân. Sử Tô nói riêng với quan đại phu là Lý Khắc rằng:
- Nước Tấn ta sắp mất, biết làm thế nào?
Lý Khắc giật mình kinh sợ hỏi rằng:
- Ai làm mất nước Tấn?
Sử Tô nói:
- Làm mất nước Tấn, tất là nước Ly Nhung.
Lý Khắc không hiểu ý làm sao cả. Sử Tô nói:
- Ngày xưa vua Kiệt nhà Hạ đánh nước Thi, người nước Thi dâng nàng Muội Hỉ, vua Kiệt yêu nàng Muội Hỉ, đến nỗi mất nhà Hạ; vua Trụ nhà Ân đánh nước Tô, người nước Tô dâng nàng Đát Kỷ, vua Trụ yêu nàng Đát Kỷ, đến nỗi mất nhà Ân; U vương nhà Chu đánh nước Bao, người nước Bao dâng nàng Bao Tự, U vương yêu nàng Bao Tự, đến nỗi nhà Tây Chu phải mất. Nay nước Tấn đánh Ly Nhung, bắt được con gái của nó, lại say mê như thế, nước Tấn không mất sao được?
Gặp quan thái bốc là Quách Yển đến, Lý Khắc thuật lại lời nói của Sử Tô cho Quách Yển nghe. Quách Yển nói:
- Nước Tấn ta sẽ chỉ loạn thôi, chứ chưa đến nỗi mất; cứ theo như quẻ bói khi tiên quân ta mới thụ phong ở nước Tấn này, thì vận nước Tấn hãy còn.
Lý Khắc nói:
- Đến bao giờ thì loạn?
Quách Yển nói:
- Chỉ trong mười năm nữa thôi.
Tấn Hiến công yêu nàng Ly Cơ, muốn lập con là Hề Tề làm thế tử; một hôm nói cho Ly Cơ biết ý định ấy.
Ly Cơ trong bụng muốn lắm, nhưng ngặt vì Thân Sinh đã được lập làm thế tử rồi, nay vô cớ mà thay đổi đi, thì e rằng các quan không phục, tất có người can ngăn. Vả lại Trùng Nhĩ, Di Ngô cùng với Thân Sinh ba người vẫn thân yêu nhau, nếu nói mà không làm được thì chẳng biết đường phòng bị, chẳng cũng lỡ việc lắm ru! Nàng mới quỳ xuống mà nói với Hiến công rằng:
- Thân Sinh được lập làm thế tử, chư hầu đều biết cả; vả lại Thân Sinh lại là người hiền, không có tội lỗi gì. Nay chúa công vì mẹ con thiếp mà bỏ người nọ lập người kia, để cho thiếp mang tiếng thì chẳng thà thiếp xin chết đi còn hơn.
Hiến công ngỡ là bụng thực, từ đó không nói đến chuyện ấy nữa. Bấy giờ có hai quan đại phu là Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ, được Hiến công thân yêu, quyền thế to lắm, người nước Tấn vẫn gọi là hai ông Ngũ.
Lại có một người phường hát tên là Ưu Thi(1), trẻ tuổi đẹp trai và khéo khôi hài. Hiến công rất yêu, vẫn cho tự tiện ra vào chỗ cung điện, không ngăn cấm chút nào. Ly Cơ cùng với Ưu Thi tư thông, tình ý rất thân mật, mới bàn với Ưu Thi để lập kế cướp ngôi thế tử.
Ưu Thi nói:
- Bây giờ nên nghĩ cách khiến ba vị công tử đều ra trấn thủ ở ngoài cõi xa, khi ấy ta sẽ tùy cơ mà lập kế, nhưng việc ấy tất phải để cho các quan ngoài nói thì chúa công mới cho là thực. Nay hai ông Ngũ đang có quyền thế, phu nhân nên sai người đem vàng bạc giao kết với họ, để cho họ nói với chúa công thì mới nên việc được.
Ly Cơ liền đưa vàng bạc cho Ưu Thi vào nói với Lương Ngũ rằng:
- Phu nhân muốn giao kết với ngài, vậy sai tôi đem lễ mọn này để kính biếu.
Lương Ngũ giật mình kinh sợ nói:
- Phu nhân có dặn làm sao không? Nếu nhà ngươi không nói rõ thì ta không dám nhận.
Ưu Thi đem mưu kế của Ly Cơ nói rõ cho Lương Ngũ nghe.
Lương Ngũ nói:
- Việc này tất phải có Đông Quan Ngũ giúp vào mới được.
Ưu Thi nói:
- Ly Cơ cũng có lễ vật kính biếu Đông Quan Ngũ như ngài ở đây.
Nói xong, liền cùng Lương Ngũ cùng sang nhà Đông Quan Ngũ để thương nghị với nhau. Sáng hôm sau, Lương Ngũ nói với Hiến công rằng:
- Đất Khúc Ốc là chỗ tiên quân ta ngày xưa đóng đô, hiện nay nhà tôn miếu tiên quân ta hãy còn ở đấy; còn đất Bồ và đất Khuất tiếp giáp với các nước Nhung Dịch, cũng là một nơi trọng địa. Ba chỗ ấy cần có người ra trấn thủ. Xin chúa công cho thế tử ra trấn thủ ở đất Khúc Ốc, cho Trùng Nhĩ, Di Ngô ra trấn thủ ở đất Bồ và đất Khuất, vì thế thì cơ nghiệp nước nhà vững như bàn đá, không còn lo ngại gì nữa.
Tấn Hiến công nói:
- Cho thế tử ra ở ngoài, phỏng có nên chăng?
Đông Quan Ngũ nói:
- Thế tử là một ông vua nhỏ trong nước, Khúc Ốc là một nơi kinh thành nhỏ trong nước, nếu không sai thế tử ra trấn thủ ở đấy thì còn sai ai cho bằng.
Hiến công nói:
- Đất Khúc Ốc thì phải rồi, nhưng đất Bồ và đất Khuất là một nơi hoang dã, sao lại cho các vị công tử ra đấy?
Đông Quan Ngũ nói:
- Để không sửa sang thì là nơi hoang dã, bây giờ lập ra thành quách thì cũng thành một nơi đô ấp chứ gì!
Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ lại đồng thanh tán vào rằng:
- Như vậy thì nước Tấn ta sẽ lại có thêm ra mấy đô thành nữa; trong thì thế lực chắc chắn, ngoài thì bờ cõi mở mang, từ đây nước Tấn ta mỗi ngày sẽ một cường thịnh thêm lên.
Hiến công nghe lời, mới sai thế tử Thân Sinh ra trấn thủ đất Khúc Ốc, quan thái phó là Đỗ Nguyên Khoản theo đi; sai Trùng Nhĩ ra trấn thủ đất Bồ, Hồ Mao theo đi; sai Di Ngô ra trấn thủ đất Khuất, Lã Di Xanh theo đi. Thân Sinh và hai vị công tử đã đi xa rồi, chỉ có Hề Tề và Trác Tử ở gần. Ly Cơ lại càng chiều chuộng mơn trớn làm cho Hiến công càng thêm mê hoặc. Bấy giờ Hiến công chia quân ra làm hai đạo: thượng quân và hạ quân. Đạo thượng quân thì thuộc về Hiến công, còn đạo hạ quân thì giao cho Thân Sinh. Thân Sinh cùng với quan đại phu là Triệu Túc và Tất Vạn đem quân đi đánh được nước Cảnh, nước Hoắc và nước Ngụy. Công trạng Thân Sinh càng to bao nhiêu thì Ly Cơ lại càng có lòng ghen ghét bấy nhiêu, chỉ có ý tìm mưu lập kế để hãm hại.
Lại nói chuyện Hùng Hi, Hùng Vận nước Sở cùng là con Tức Vĩ sinh ra, nhưng Hùng Vận tài trí hơn anh là Hùng Hi, Tức Vĩ có lòng yêu dấu, người trong nước cũng vẫn tin phục. Khi Hùng Hi đã lên nối ngôi, có ý ghét Hùng Vận, vẫn muốn tìm cớ để giết đi cho khỏi di họa về sau. Các quan bấy giờ nhiều người che chở cho Hùng Vận, bởi vậy Hùng Hi vẫn còn ngần ngại chưa quyết. Sau Hùng Hi sinh ra lười biếng, không thiết gì đến chính sự, chỉ ham đi săn bắn, ở ngôi ba năm mà chẳng làm một việc gì cả. Hùng Vận mật sai kẻ dũng sĩ đón đường khi Hùng Hi ra săn bắn mà giết đi, rồi nói dối Tức Vĩ là Hùng Hi bị bệnh mà chết. Tức Vĩ có ý nghi, nhưng nói ra không tiện, liền ban truyền cho các quan đại phu lập Hùng Vận lên nối ngôi, tức là Sở Thành vương. Sở Thành vương ủy nhiệm người chú là vương tử Nguyên làm quan lệnh doãn (tể tướng nước Sở). Vương tử Nguyên từ khi anh là Sở Văn vương chết đi, đã có ý muốn cướp ngôi; lại thấy chị dâu là Tức Vĩ nhan sắc xinh đẹp cũng đem lòng tham muốn. Hùng Hi và Hùng Vận hãy còn trẻ tuổi mà lại là hàng cháu, vậy nên vương tử Nguyên không coi vào đâu, chỉ e sợ một mình quan đại phu là Đấu Bá Tỷ vốn người chính trực, lại nhiều tài trí, vì thế mà chưa dám làm càn.
Đến khi Đấu Bá Tỷ đã chết rồi, vương tử Nguyên không sợ hãi gì nữa mới làm một cái nhà ở bên cạnh cung Tức Vĩ, ngày nào cũng bắt nữ nhạc múa hát để làm cho Tức Vĩ phải động lòng. Tức Vĩ nghe tiếng, hỏi nội thị rằng:
- Tiếng nữ nhạc múa hát ở đâu thế?
Nội thị nói:
- Ở bên nhà mới của quan lệnh doãn đó!
Tức Vĩ nói:
- Tiên quân ta ngày xưa chăm sự luyện tập quân mã để đánh dẹp bốn phương; vì vậy các nước đều phải triều cống. Bây giờ quân Sở ta không tiến được vào Trung quốc, đã đến mười năm rồi, thế mà quan lệnh doãn không lo hồi phục uy danh nước Sở, chỉ ham mê đàn hát ở bên cạnh nhà gái góa này. Chẳng cũng lạ lắm sao!
Nội thị thuật lại lời nói ấy cho vương tử Nguyên biết.
Vương tử Nguyên nói:
- Một người đàn bà còn có chí như vậy, nữa là ta lại không nghĩ đến hay sao! Nay ta không đánh được nước Trịnh thì sao đáng gọi là trượng phu.
Nói xong, liền cử đại binh đi đánh nước Trịnh. Trịnh Văn công nghe tin quân Sở kéo đến, liền họp các quan lại để thương nghị. Đỗ Thúc nói:
- Quân Sở cường thịnh lắm, không thể nào địch nổi, chi bằng ta cho người xin giảng hòa.
Sư Thúc nói:
- Nước ta cùng với Tề giao hiếu, tất thế nào Tề cũng đem quân đến cứu. Ta hãy nên giữ vững để đợi quân nước Tề.
Thế tử Hoa bấy giờ còn trẻ tuổi, đang có lòng hăng hái, xin đem quân ra đối địch.
Thúc Thiêm nói:
- Trong ba người này, ta theo lời nói của Sư Thúc, nhưng cứ như ý tôi trộm nghĩ thì nước Sở chẳng bao lâu cũng phải rút quân về.
Trịnh Văn công nói:
- Lệnh doãn nước Sở thân hành đem quân đi, khi nào chịu rút về.
Thúc Thiêm nói:
- Xưa nay nước Sở đi đánh các nước, không dùng nhiều quân như thế bao giờ. Lần này vương tử Nguyên cố đánh lấy được, để bằng lòng Tức Vĩ đó thôi. Nhưng phàm đã có ý mong được thì tất là sợ thua, khi quân Sở kéo đến, tôi có cách làm cho quân Sở phải rút lui.
Các quan còn đang thương nghị, bỗng nghe báo quân Sở đã kéo đến nơi.
Đỗ Thúc nói:
- Quân Sở đã đến nơi rồi, nếu không giảng hòa thì hãy nên dời sang đất Đông Khâu để tránh quân Sở.
Thúc Thiêm nói:
- Không can chi mà sợ!
Nói xong, bèn sai quân giáp sĩ mai phục ở trong thành, rồi mở toang cửa thành ra, dân chúng vẫn đi lại họp chợ búa như thường, không sợ hãi gì cả. Tướng nước Sở là Đấu Ngự Cương thấy vậy, có ý nghi hoặc, bảo Đấu Ngô rằng:
- Quân Trịnh vững vàng như vậy, tất là có mưu kế, định lừa ta vào thành, ta không nên tiến quân vội, hãy đợi quan lệnh doãn ta tới đây.
Nói xong, liền đóng quân ở ngoài thành cách xa năm dặm. Chẳng bao lâu, đại binh của vương tử Nguyên kéo đến. Đấu Ngự Cương thuật chuyện lại cho vương tử Nguyên nghe. Vương tử Nguyên trèo lên trên gò cao, trông vào trong thành nước Trịnh, thấy bóng cờ ngọn giáo rất có thứ tự nghiêm chỉnh, mới thở dài mà than rằng:
- Nước Trịnh có ba người tài giỏi (trỏ Thúc Thiêm, Đỗ Thúc và Sư Thúc) tất nhiều mưu kế lạ, chẳng may mà quân ta bị thua thì còn mặt nào trở về trông thấy Tức Vĩ nữa. Âu là ta hãy cho quân do thám thật kỹ, rồi sẽ tiến binh.
Ngày hôm sau, vương tử Nguyên nghe tin Tề Hoàn công cùng với nước Tống, nước Lỗ đem quân đến cứu Trịnh, giật mình kinh sợ, bảo các tướng rằng:
- Nay chư hầu đem quân đến cứu Trịnh, trong đánh ra, ngoài đánh vào thì quân ta khó lòng địch nổi, thôi thì ta đánh Trịnh, tiến quân được đến đây, cũng gọi là thắng trận rồi, chi bằng ta rút quân về là hơn.
Vương tử Nguyên truyền cho quân sĩ cuốn cờ im trống, ngay đêm hôm ấy lẻn ra khỏi địa giới nước Trịnh. Khi đã về đến địa giới nước Sở rồi, lại mở cờ rung trống, đem tin thắng trận báo với Tức Vĩ. Tức Vĩ nói:
- Lệnh doãn đi đánh Trịnh mà thắng trận thì nên cáo với nhà Thái miếu, rồi tuyên bố cho người trong nước cùng biết, chứ việc thắng trận ấy có dự gì đến gái góa này!
Vương tử Nguyên nghe nói, rất là hổ thẹn. Sở Thành vương (Hùng Vận) thấy vương tử Nguyên đi đánh Trịnh, không có công trạng gì mà rút quân về, từ bấy giờ có ý không bằng lòng với vương tử Nguyên.
Lại nói chuyện Thúc Thiêm nước Trịnh đêm hôm ấy đang đi tuần ở trên mặt thành, trỏ vào dinh quân Sở mà bảo các tướng rằng:
- Đây chỉ còn dinh không mà thôi, chứ quân Sở thì đã bỏ trốn hết rồi!
Các tướng đều không tin, hỏi:
- Tại sao ngài lại biết như vậy?
Thúc Thiêm nói:
- Dinh quan đại tướng thì bao giờ cũng phải có quân canh giữ nghiêm nhặt, nay thấy có đàn quạ đậu ở trên cây thì biết đấy chỉ là một cái dinh không mà thôi. Ta chắc rằng quân Sở nghe tin các nước đem quân đến cứu, cho nên phải rút quân bỏ trốn trước.
Được một lúc, có quân báo rằng:
- Các nước đem quân đến cứu, chưa kịp vào đến địa giới nước Trịnh, nghe tin quân Sở bỏ trốn, vậy lại rút quân trở về rồi.
Bấy giờ các tướng đều phục Thúc Thiêm là người cao kiến.
Vương tử Nguyên nước Sở từ khi đánh Trịnh không được công trạng gì, trong lòng áy náy, càng muốn cướp ngôi nước Sở, nhưng định tư thông với Tức Vĩ đã, rồi mới khởi sự. Gặp bấy giờ Tức Vĩ có bệnh, vương tử Nguyên giả cách vào thăm, rồi đem cả chăn màn ở luôn trong cung ba ngày không ra. Quan đại phu Đấu Liêm nghe tin, liền vào thẳng trong cung, đến tận giường nằm, trông thấy vương tử Nguyên đang soi gương chải đầu. Đấu Liêm trách rằng:
- Chỗ này có phải là chỗ chải gội hay sao! Quan lệnh doãn nên liệu mà lui ra!
Vương tử Nguyên nổi giận, nói:
- Quyền chính nước Sở, nay ở trong tay ta, sao nhà ngươi dám nói càn.
Nói xong, sai người trói Đấu Liêm lại, giam vào một chỗ, không cho ra nữa. Tức Vĩ biết chuyện bèn sai nội thị đến báo với Đấu Cấu Ô Đồ (con Đấu Bá Tỷ). Đấu Cấu Ô Đồ tâu với Sở Thành vương, rồi cùng với Đấu Ngự Cương, Đấu Ngô và Đấu Ban (con Đấu Cấu Ô Đồ) đem quân vào cung. Vương tử Nguyên đang say rượu, cùng ngủ với cung nhân, hoảng hốt tỉnh dậy, nghe nói có quân đến vây, vội vàng cầm gươm chạy ra. Gặp Đấu Ban cũng cầm gươm bước vào, vương tử Nguyên quát mắng:
- Thằng ranh con này, mày dám làm loạn à?
Đấu Ban nói:
- Không phải ta làm loạn, ta đến để trừ loạn đây!
Hai bên giao chiến với nhau chưa được mấy hợp thì Đấu Ngự Cương và Đấu Ngô cũng tiến đến. Vương tử Nguyên liệu sức không địch nổi, vội vàng bỏ chạy, bị Đấu Ban chém cho một nhát, đầu rơi xuống đất. Đấu Cấu Ô Đồ cởi trói cho Đấu Liêm, cùng nhau đến trước Tức Vĩ, cúi đầu hỏi thăm, rồi rút quân trở về.
Lại nói chuyện tổ phụ Đấu Cấu Ô Đồ là Đấu Nhược Ngao, lấy con gái vua nước Viên, sinh ra Đấu Bá Tỷ. Đấu Nhược Ngao chết, Đấu Bá Tỷ còn bé, theo mẹ sang nước Viên. Viên phu nhân (vợ vua nước Viên) yêu lắm, cho ở trong cung, coi như là con đẻ. Viên phu nhân có một người con gái, cùng với Đấu Bá Tỷ là anh em đôi con dì với nhau. Từ thủa nhỏ hai người vẫn cùng nhau chơi đùa ở trong cung, đến lúc lớn lên, lại tư thông với nhau, người con gái có thai. Viên phu nhân biết chuyện, liền cấm Đấu Bá Tỷ không cho vào cung, rồi bảo con gái nói dối là có bệnh, ở riêng một phòng. Sau đủ ngày đủ tháng, người con gái sinh được đứa con trai. Viên phu nhân sai người lấy áo bọc đứa trẻ ấy, đem bỏ ở Mộng Trạch.
Bấy giờ vua nước Viên đang đi săn bắn, đi gần đến Mộng Trạch, trông thấy có một con hổ nằm phục ở gần đó, liền sai quân giương cung bắn. Quân bắn mãi không trúng mà con hổ cũng không sợ hãi gì cả. Vua nước Viên lấy làm lạ, sai người đến gần xét xem thì thấy con hổ đang ôm một đứa bé con mà cho bú. Vua nước Viên nói:
- Đó là thần vật, ta không nên trêu vào.
Nói xong, đem quân trở về, nói với Viên phu nhân rằng:
- Mới rồi ta đến Mộng Trạch, thấy có một chuyện rất lạ!
Viên phu nhân hỏi:
- Chuyện gì mà lạ?
Vua nước Viên mới đem chuyện con hổ cho một đứa bé con bú thuật lại một lượt. Viên phu nhân nói:
- Chúa công không biết rõ, đứa bé con ấy chính là thiếp sai người đem bỏ ở đấy.
Vua nước Viên ngạc nhiên hỏi rằng:
- Sao phu nhân lại có được đứa bé con mà đem bỏ ở đấy?
Viên phu nhân nói:
- Chúa công tha tội cho, thiếp xin kể rõ: nguyên đứa bé con ấy là do con gái ta chung chạ với Đấu Bá Tỷ đẻ ra, thiếp sợ mang tiếng, vậy phải sai người đem bỏ ở đấy. Nhưng thiếp nghe nói bà Nguyên Khương ngày xưa giẫm vào vết chân lớn mà sinh một đứa con. Nguyên Khương sợ hãi, đem quẳng ra sông, có một đàn chim xà xuống lấy cánh ấp; Nguyên Khương cho là thần, lại đem về nuôi, đặt tên là Khi, đó là ông tổ sinh ra nhà Chu ta. Nay đứa bé con ấy có hổ đến cho bú thì chắc là quí tử.
Vua nước Viên nghe nói liền sai người đi ẵm về, giao cho con gái nuôi, rồi năm sau gả người con gái ấy cho Đấu Bá Tỷ, sang ở nước Sở. Tiếng nước Sở gọi cho bú là cấu, gọi hổ là ô đồ, cho nên đặt tên cho đứa con là Cấu Ô Đồ tên tự là Tử Văn. Đấu Cấu Ô Đồ lớn lên, có tài an dân trị quốc, văn vũ kiêm toàn, cha là Đấu Bá Tỷ làm quan đại phu nước Sở. Đấu Bá Tỷ chết, Đấu Cấu Ô Đồ nối cha làm quan đại phu. Đến lúc vương tử Nguyên chết, Sở Thành vương muốn cho Đấu Liêm làm lệnh doãn. Đấu Liêm chối từ, nói:
- Bây giờ chỉ có nước Tề là đối địch với nước Sở ta, mà nước Tề dùng Quản Di Ngô và Ninh Thích, cho nên nước giàu quân mạnh; nay đại vương muốn chỉnh đốn lại chính trị nước Sở, để chống nhau với nước Tề, thì tất phải dùng Đấu Cấu Ô Đồ làm lệnh doãn mới được.
Các quan đồng thanh nói:
- Trừ phi Đấu Cấu Ô Đồ thì không ai làm nổi chức lệnh doãn.
Sở Thành vương nghe lời, cho Đấu Cấu Ô Đồ làm lệnh doãn.
Sở Thành vương nói:
- Nước Tề dùng Quản Di Ngô, tôn là Trọng phụ, chứ không gọi tên, nay ta dùng Đấu Cấu Ô Đồ, cũng không nên gọi rõ tên húy, cứ gọi tên tự là Tử Văn mà thôi.
Đấu Cấu Ô Đồ đã làm lệnh doãn, bắt bao nhiêu những ấp riêng của các quan triều thần đều phải nộp một nửa vào công khố, thi hành ngay từ họ Đấu trước, các quan đều phải theo lệnh cả. Lại thấy Dĩnh thành là nơi hiểm yếu, nên thiên đô ra đấy để luyện tập quân mã; Khuất Hoàn là người hiền sĩ, cử cho làm quan đại phu; Đấu Chương là người tài giỏi, cử cho coi việc quân lữ. Tử Văn lại cử con mình là Đấu Ban làm chức thân công. Từ bấy giờ nước Sở cường thịnh.
Tề Hoàn công nghe nói nước Sở dùng người hiền để chỉnh đốn lại chính trị, có ý sợ nước Sở mỗi ngày một mạnh, mới toan hội các nước chư hầu để đem quân đánh Sở, liền hỏi Quản Di Ngô. Quản Di Ngô nói:
- Nước Sở là một nước lớn, đất rộng quân nhiều, thiên tử nhà Chu cũng không trị nổi; nay lại dùng Tử Văn làm lệnh doãn, ta khó lòng mà lấy binh lực đánh được; vả lại chúa công mới thu được lòng các nước chư hầu, cũng chưa có công đức gì to tát để khiến cho người ta tin phục, tôi sợ quân các nước vị tất đã chịu hết lòng với mình. Âu là ta hãy đợi thời, chớ nên nóng nảy, thì mới giữ cho vẹn toàn được.
Tề Hoàn công nói:
- Tiên quân ta ngày xưa báo thù cho mấy đời trước, đem quân sang chiếm lấy nước Kỷ. Còn nước Chương là một nước thuộc về nước Kỷ, đến nay chưa chịu phục, ta muốn đem quân đi đánh, phỏng có nên không?
Quản Di Ngô nói:
- Nước Chương dẫu nhỏ, nhưng là con cháu ông Thái công thủa xưa, cùng với Tề ta cùng họ; thiết tưởng chúa công không nên đánh, chỉ sai Thành Phủ đem quân đi diễu ở trên mặt thành nước Kỷ, tự khắc nước Chương sợ uy ta mà phải đầu hàng.
Tề Hoàn công nghe lời, sai Thành Phủ đem quân đi. Vua nước Chương thấy vậy, đến xin đầu hàng. Tề Hoàn công khen Quản Di Ngô rằng:
- Mưu kế của Trọng phụ, trăm điều không sai một!
Bỗng nghe báo nước Yên bị quân Sơn nhung vào quấy nhiễu, sai sứ đến cầu cứu.
_____
(1) Ưu là kép hát. Ưu Thi tức là người kép hát tên Thi.
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI HAI MƯƠI MỐT
 
Quản Trọng đoán biết thần Du Nhi
Tề Hoàn công sang đánh nước Cô Trúc
 
Sơn nhung là nước Linh Chi, phía tây giáp nước Yên, phía đông bắc giáp nước Tề và nước Lỗ, khi trước đã đem quân sang xâm phạm địa giới nước Tề, bị công tử Hốt nước Trịnh đánh thua, nay nghe tiếng nước Tề làm bá chủ, lại cử đại binh sang quấy nhiễu nước Yên, khiến nước Yên không giao thông được với Tề. Yên Trang công chống không nổi, mới sai sứ sang nước Tề cầu cứu. Tề Hoàn công hỏi Quản Di Ngô.
Quản Di Ngô nói:
- Quân Sơn nhung xưa nay vẫn cậy sức mạnh, không chịu thần phục nhà Chu, dẫu không quấy nhiễu nước Yên, ta cũng còn nên đem quân đi đánh, huống chi nước Yên nay lại sang cầu cứu ta.
Tề Hoàn công bèn đem quân đi cứu nước Yên, qua sông Tế Thủy (giáp địa giới nước Lỗ), Lỗ Trang công ra nghênh tiếp. Tề Hoàn công đem việc đánh Sơn nhung nói với Lỗ Trang công.
Lỗ Trang công nói:
- Hiền hầu đánh được quân Sơn nhung thì chẳng những nước Yên đội ơn, mà cả đến nước tôi cũng đội ơn nhiều lắm, vậy xin hiền hầu cho tôi đem quân đi theo.
Tề Hoàn công nói:
- Tôi không dám phiền lòng hiền hầu phải đến những nơi hiểm trở ấy. Khi nào tôi thấy bất lực, bấy giờ tôi sẽ nhờ đến hiền hầu, cũng chưa lấy gì làm muộn.
Nói xong, từ biệt Lỗ Trang công, rồi lại kéo quân đi. Vua nước Linh Chi tên là Mật Lư, đem quân sang quấy nhiễu nước Yên, đã hai tháng nay, bắt đàn bà con gái, không biết bao nhiêu mà kể, nay nghe nói đại binh Tề Hoàn công đến, vội vàng kéo lui. Tề Hoàn công đến nước Yên, Yên Trang công ra nghênh tiếp, tạ ơn Tề Hoàn công khó nhọc đem quân đến cứu.
Quản Di Ngô nói:
- Quân giặc chưa bị quân ta đánh đuổi, mà đã kéo lui, nếu quân ta trở về, tất nhiên quân giặc lại đến, chi bằng ta thừa thế đuổi đánh, để trừ cho tiệt nọc đi.
Tề Hoàn công khen phải. Yên Trang công xin đem quân đi làm tiên phong.
Tề Hoàn công nói:
- Nước Yên vừa mới bị quân giặc tàn phá, nỡ nào lại để cho đi tiên phong. Âu là hiền hầu cứ thong thả đi sau, làm thanh thế mà tiếp ứng cho là đủ.
Yên Trang công nói:
- Cách đây tám mươi dặm, có một nước tên là Vô Chung, dẫu cũng là Sơn nhung, nhưng không thuộc về nước Linh Chi, ta nên sai người đi dụ, để mượn chúng đưa đường.
Tề Hoàn công liền sai Thấp Bằng đem vàng bạc đến dụ vua nước Vô Chung. Vua nước Vô Chung sai quan đại tướng là Hổ Nhi Ban đem hai nghìn quân đến giúp. Tề Hoàn công trọng thưởng, rồi sai đi làm tiên phong. Vua nước Linh Chi là Mật Lư nghe nói Tề Hoàn công đem quân đến đánh, sai mời quan đại tướng là Tốc Mãi vào thương nghị.
Tốc Mãi nói:
- Quân Tề ở xa đến đây, đi đường khó nhọc, ta đánh ngay thì có thể toàn thắng được.
Mật Lư nghe lời Tốc Mãi, sai quân mai phục ở trong rừng, để đợi quân Tề đến thì đổ ra mà đánh. Hổ Nhi Ban đem quân đến, cùng với Tốc Mãi giao chiến trong mấy hợp, Tốc Mãi giả cách thua chạy, Hổ Nhi Ban đuổi theo. Đuổi đến giữa rừng, phục binh bốn mặt đổ ra vây lại. Hổ Nhi Ban cố đánh, chẳng may con ngựa bị thương, không chạy được nữa. Hổ Nhi Ban sắp bị bắt đến nơi. May sao, đại binh của Tề Hoàn công tiến đến, cứu được Hổ Nhi Ban đem về. Hổ Nhi Ban trông thấy Tề Hoàn công, có ý thẹn thùng.
Tề Hoàn công nói:
- Đi đánh giặc thì được thua là việc thường, tướng quân chớ ngại.
Nói xong, lại chọn một con ngựa hay ban cho. Hổ Nhi Ban cảm tạ vô cùng. Tề Hoàn công tiến quân đến núi Phục Long truyền đóng quân ở trên núi, rồi đem những binh xa kết liền lại với nhau, làm một cái thành giả, canh giữ rất nghiêm mật. Sáng hôm sau, Mật Lư cùng với Tốc Mãi đem hơn một vạn quân đến khiêu chiến, bị lần thành giả ngăn cách, không tiến lên được. Đến trưa hôm ấy, Quản Di Ngô đứng trên núi, trông thấy quân giặc tan tác, đều xuống ngựa nằm ở dưới đất, có ý trễ biếng, liền vỗ vào vai Hổ Nhi Ban mà bảo rằng:
- Bây giờ tướng quân ra đánh thì có thể báo thù được.
Hổ Nhi Ban vâng lệnh đem quân xuống đánh. Thấp Bằng nói với Quản Di Ngô rằng:
- Tôi chỉ e quân giặc lập kế để đánh lừa ta.
Quản Di Ngô nói:
- Ta đã nghĩ cả rồi.
Nói xong, truyền cho Thành Phủ đem một toán quân đi về phía tả, Tân Tu Vô đem một toán quân đi về phía hữu, để đuổi đánh những phục binh của giặc. Nguyên quân giặc thấy quân Tề không đánh, liền chia quân mai phục trong hang núi, rồi cho một toán quân ở ngoài xuống ngựa chửi mắng để dụ quân Tề ra. Hổ Nhi Ban đem quân xuống vừa đến nơi thì quân giặc vội vàng bỏ chạy. Hổ Nhi Ban giục ngựa đuổi theo, bỗng nghe trên núi nổi hiệu thu quân. Hổ Nhi Ban quay ngựa trở lại. Mật Lư thấy Hổ Nhi Ban không đuổi theo, vội vàng nổi hiệu cho quân phục ra đánh. Hai đạo phục binh đổ ra, bị quân Thành Phủ và quân Tân Tu Vô đánh một trận thất điên bát đảo. Quân Linh Chi thua chạy, tổn hại không biết bao nhiêu mà kể.
Tốc Mãi nói với Mật Lư rằng:
- Quân Tề đóng ở trên núi Phục Long này trong hai mươi dặm không có suối nước nào cả, chỉ có một con sông Nhu Thủy, nếu ta lấp ngang đi, khiến cho nước sông không chảy tới được thì quân Tề không có nước mà uống, tất phải tan vỡ. Khi ấy ta thừa thế đánh tràn vào, chắc là thắng được. Một mặt ta sai sứ sang cầu cứu nước Cô Trúc, mượn quân để đánh Tề, thế mới là kế vạn toàn, không lo ngại gì nữa.
Mật Lư mừng lắm, theo kế của Tốc Mãi. Quản Di Ngô đang cùng với Hổ Nhi Ban thương nghị tiến binh, bỗng nghe báo quân giặc chặn dòng sông, quân Tề không có nước uống, chưa biết làm ra thế nào. Tề Hoàn công truyền cho quân sĩ đào núi lấy nước, ai đào được trước, sẽ có trọng thưởng. Thấp Bằng nói:
- Chỗ nào có nước thì giống kiến thường biết, ta nên tìm chỗ có kiến mà đào.
Quân sĩ đi tìm khắp mọi nơi, không thấy tổ kiến đâu cả, về nói với Thấp Bằng.
Thấp Bằng nói:
- Bây giờ đang mùa đông, giống kiến hay tìm chỗ ấm áp, tất làm tổ về phía có mặt trời mọc. Nên tìm cho được, chớ có đào bậy mà uổng công.
Quân sĩ theo lời, sau đào được ở sườn núi có một mạch nước rất trong. Tề Hoàn công nói:
- Thấp Bằng thật là bậc thánh!
Nói xong, liền đặt tên cái suối nước ấy là Thánh Toàn. Quân sĩ đào được nước rồi, mừng rỡ reo hò rất vui vẻ. Mật Lư cho người đi do thám, thấy quân Tề đã lâu ngày mà không thiếu nước, giật mình kinh sợ nói:
- Quân Tề dễ thường có thần giúp hay sao!
Tốc Mãi nói:
- Quân Tề dẫu có nước, nhưng lâu ngày hết lương thì tất phải lui.
Mật Lư không lo sợ gì cả, ngày nào cũng cùng với Tốc Mãi uống rượu vui chơi, bỗng nghe quân Tề kéo đến, Mật Lư và Tốc Mãi hoảng hốt bỏ chạy. Tân Tu Vô đuổi theo, bắt được khí giới và lương thực nhiều lắm, lại cứu được những đàn bà con gái nước Yên bị quân Linh Chi bắt khi trước, không biết bao nhiêu mà kể. Quân Linh Chi đều xin hàng. Tề Hoàn công hạ lệnh không cho giết một người nào. Quân Linh Chi tranh nhau đem lễ vật đến lạy mừng. Tề Hoàn công hỏi:
- Vua mày bây giờ trốn sang nước nào?
Quân Linh Chi nói:
- Nước tôi tiếp giáp với nước Cô Trúc, hai nước vốn giao hiếu với nhau, khi trước chúa công tôi đã cho người sang mượn quân nước Cô Trúc, nhưng quân Cô Trúc chưa kịp đến, bây giờ chúa công tôi tất sang nước Cô Trúc.
Tề Hoàn công nói:
- Nước Cô Trúc mạnh hay là yếu, đường xá xa gần thế nào?
Quân Linh Chi nói:
- Cô Trúc là một nước lớn. Cách đây hơn một trăm dặm, có một cái suối gọi là Ty Nhĩ, qua cái suối ấy tức là địa phận nước Cô Trúc, nhưng đường núi hiểm hóc khó đi lắm.
Tề Hoàn công truyền cho quân sĩ nghỉ lại ba ngày rồi tiến binh sang đánh nước Cô Trúc. Mật Lư đi đến nước Cô Trúc, đem tin bại trận nói với vua Cô Trúc là Đáp Lý Kha.
Đáp Lý Kha nói:
- Ta vừa toan cất quân đến giúp, nhân có sự ngăn trở, chậm chân mất mấy ngày, chẳng ngờ nhà ngươi đã bị một trận thua to như vậy. Cái suối Ty Nhĩ ở đây sâu lắm, âu là ta thu hết thuyền bè, khiến cho quân Tề không tài nào mà bay qua được; đợi khi chúng lui quân về, bấy giờ anh em ta đổ ra mà đánh, khôi phục lại bờ cõi, chắc là phải thắng.
Quan đại tướng là Hoàng Hoa nói:
- Tôi sợ quân Tề đóng bè mà sang, âu là ta cho quân sĩ đi tuần tiễu, phòng giữ cẩn thận mới được.
Đáp Lý Kha nói:
- Nếu quân Tề đóng bè thì ta tất phải biết, lo gì điều ấy.
Đại binh của Tề Hoàn công kéo đi hơn mười dặm đường, trông thấy trước mặt núi đá lởm chởm, cây cỏ rậm rạp, chắn ngang lối đi, không thể tiến binh được. Quản Di Ngô sai lấy lưu hoàng, diêm tiêu và các vật dẫn lửa rắc vào các hàng cây cối, rồi phóng hỏa đốt lên. Lửa cháy ngùn ngụt, ánh sáng ngất trời, trong năm ngày năm đêm mới tắt, cây cỏ và giống cáo, giống thỏ đều hóa ra tro cả. Tề Hoàn công truyền phá núi mở đường để cho xe đi. Quản Di Ngô lại làm mấy bài ca “thượng sơn, hạ sơn” để cho quân sĩ vừa hát vừa đẩy xe cho vui. Quân sĩ cùng nhau reo hò, xe chạy như bay, lên được đến đỉnh núi Ty Nhĩ. Tề Hoàn công cùng với bọn Quản Di Ngô và Thấp Bằng đứng trên ngọn núi Ty Nhĩ, xem ngắm hình thế.
Tề Hoàn công nói:
- Ngày nay ta mới biết văn chương cũng có thể giúp sức cho người ta được nhiều!
Quản Di Ngô nói:
- Nhớ khi tôi còn ngồi trong xe tù, sợ người nước Lỗ đuổi theo, cũng có làm một bài ca khiến cho quân sĩ vui mà quên sự khó nhọc, thành ra đi được mau lắm.
Tề Hoàn công nói:
- Vì cớ gì?
Quản Di Ngô nói:
- Người ta, thân thể khó nhọc thì tinh thần mỏi mệt, nếu khiến cho tinh thần vui vẻ thì sự khó nhọc có thể quên đi được.
Tề Hoàn công nói:
- Như vậy thì Trọng phụ thật là một người hiểu thấu nhân tình!
Nói xong, lại truyền tiến binh. Đi qua mấy ngọn núi nữa, bỗng thấy quân sĩ đứng dừng cả lại, nói với Tề Hoàn công rằng:
- Mặt trước hai bên núi đứng thẳng lên như tường, ở giữa có một lối đi nhỏ, chỉ đi được từng người một, chứ xe không tài nào đi vừa.
Tề Hoàn công, vẻ mặt lo sợ, bảo Quản Di Ngô rằng:
- Chỗ này nếu quân giặc có phục binh thì ta tất bị thua!
Tề Hoàn công vừa nói dứt lời thì trong khe núi có một vật lù lù chạy đến. Tề Hoàn công trừng mắt nhìn xem, thấy người chẳng phải người, thú chẳng phải thú, mình dài hơn một thước, mũ đen áo đỏ, hai chân đi đất, chạy đến trước mặt Tề Hoàn công, hai ba lần vái chào, hình như có ý mừng đón; lại giơ tay phải nắm lấy áo Tề Hoàn công, trỏ vào khe núi, rồi ù té chạy mất. Tề Hoàn công kinh sợ, hỏi Quản Di Ngô rằng:
- Trọng phụ có trông thấy gì đó không?
Quản Di Ngô nói:
- Tôi không thấy gì cả.
Tề Hoàn công thuật chuyện lại cho Quản Di Ngô nghe.
Quản Di Ngô nói:
- Đó là thần Du Nhi.
Tề Hoàn công nói:
- Thần Du Nhi là thế nào?
Quản Di Ngô nói:
- Tôi nghe ở phương bắc này có thần núi gọi là Du Nhi, chúa công trông thấy, chắc là thần ấy. Thần Du Nhi mừng đón là có ý mong cho chúa công đến đánh, tay phải nắm lấy là có ý bảo về phía hữu có nước sâu, nên đi về phía tả. Vậy xin chúa công hãy đem quân ở trên núi, cho người đi do thám trước, rồi sau sẽ tiến binh.
Tề Hoàn công nghe lời, đóng quân trên núi, rồi cho quân sĩ đi do thám trước. Quân sĩ về báo rằng:
- Cách núi này độ năm dặm, là suối Ty Nhĩ, sâu lắm, bao nhiêu thuyền bè đều bị vua Cô Trúc thu đi mất cả; càng về phía hữu thì nước càng sâu, đến hơn một trượng, không thể nào qua được. Nhưng đi về phía tả, cách độ ba dặm, mặt nước dẫu rộng mà nóng, lội không đến đầu gối.
Tề Hoàn công nghe báo, vỗ tay mà nói rằng:
- Như vậy thì cái triệu thần Du Nhi thật là ứng nghiệm.
Yên Trang công nói:
- Tôi không nghe nói suối Ty Nhĩ có chỗ nào nóng mà lội được bao giờ, chắc là thần giúp cho hiền hầu được thành công đó!
Tề Hoàn công nói:
- Từ đây sang Cô Trúc, còn xa hay gần?
Yên Trang công nói:
- Qua cái suối này đi về phía đông có ba ngọn núi liền nhau: một là Đoàn Tử Sơn, hai là Mã Tiên Sơn, ba là Song Tử Sơn, cả thảy dài ba mươi dặm, đó là ba ngôi mộ của vua Cô Trúc ngày xưa; lại đi hai mươi nhăm dặm nữa thì đến kinh đô nước Cô Trúc.
Quản Di Ngô nói:
- Nếu ta hợp quân ở cả một chỗ lỡ khi gặp giặc thì tiến thoái đều khó, ta nên chia quân ra làm hai đạo mà đi.
Tề Hoàn công truyền cho quân sĩ đốn tre ở trong rừng, lấy mây bó lại kết thành cánh bè, rồi chia quân ra làm hai đạo, hẹn nhau cùng đến cả ở Đoàn Tử Sơn. Vua nước Cô Trúc là Đáp Lý Kha sai quân đi thám thính thì thấy mặt suối nhan nhãn những bè và binh mã đã lên bè đông lắm. Đáp Lý Kha nghe nói sợ lắm, vội vàng sai Hoàng Hoa đem năm ngàn quân ra nghênh chiến. Mật Lư nói với Hoàng Hoa rằng:
- Tôi xin cùng với Tốc Mãi đem quân đi tiên phong.
Hoàng Hoa nói:
- Khi trước ngươi đã bị thua luôn, còn làm gì được mà cũng xin đi!
Nói xong liền cưỡi ngựa đi thay.
Đáp Lý Kha bảo Mật Lư rằng:
- Nhà ngươi nên đem quân đi trước để tiếp ứng cho Hoàng Hoa, rồi ta sẽ đem quân đến sau.
Mật Lư đem quân tới Mã Tiên Sơn, nghĩ đến sự Hoàng Hoa khinh bỉ mình, vẫn có ý căm tức.
Hoàng Hoa đi gần đến suối Ty Nhĩ, gặp đại binh của Tề Hoàn công đánh cho một trận, quân sĩ chết mất quá nửa, còn bao nhiêu đều xin hàng cả. Hoàng Hoa sợ hãi, chạy về Đoàn Tử Sơn. Khi đến Đoàn Tử Sơn, trông lên trên núi, đã thấy quân Tề đóng chật cả rồi. Hoàng Hoa bất đắc dĩ phải giả hình làm người kiếm củi, đi xuyên qua một con đường nhỏ, trốn về Mã Tiên Sơn. Khi đến Mã Tiên Sơn, trông thấy có quân tiếp ứng, vội vàng chạy đến, mới biết là quân Mật Lư.
Mật Lư nói:
- Ngài là một ông tướng thường hay thắng trận, cớ sao lại trơ trọi một mình bỏ chạy đến đây?
Hoàng Hoa xấu hổ vô cùng. Hoàng Hoa đòi lấy cơm rượu, Mật Lư chỉ cho một thăng gạo rang; lại đòi lấy ngựa cưỡi, Mật Lư chỉ đưa cho một con ngựa xấu. Hoàng Hoa giận lắm, về nói với Đáp Lý Kha xin thêm quân để đi đánh báo thù.
Đáp Lý Kha nói:
- Vì khi trước ta không nghe lời tướng quân, đến nỗi thế này!
Hoàng Hoa nói:
- Tề hầu chỉ tức giận nước Linh Chi mà đem quân đến đây, chi bằng ta chém đầu vua tôi Mật Lư đem nộp Tề hầu, rồi cùng với nước Tề giảng hòa.
Đáp Lý Kha nói:
- Mật Lư cùng khốn mà về với ta, nỡ nào ta lại xử tệ như vậy!
Quan tể tướng là Ngột Luật Cổ nói:
- Tôi có một kế, có thể đánh vỡ được quân Tề.
Đáp Lý Kha hỏi:
- Kế gì?
Ngột Luật Cổ nói:
- Phía bắc nước ta có một vùng sa mạc, không có nước và cũng không có cây. Xưa nay người trong nước chết, thường hay quẳng xác ra đấy, xương khô thành đống, ban ngày vẫn trông thấy ma quỷ hiện hình. Thỉnh thoảng có một thứ gió lạnh, ai gặp thứ gió ấy thì tối tăm mặt mũi lại mà chết ngay, lại có nhiều giống rắn độc, thú dữ ở đấy. Nếu cho một người giả cách xin hàng, dụ quân Tề đến chỗ ấy, thì chẳng cần ta phải đánh, mà tự khắc quân Tề phải chết dần chết mòn hết.
Đáp Lý Kha nói:
- Khi nào quân Tề lại chịu đến chỗ ấy?
Ngột Luật Cổ nói:
- Chúa công hãy tạm đem cung quyến tránh sang núi Dương Sơn, rồi sai người nói dối Tề hầu rằng chúa công chạy vào vùng sa mạc để đi cầu cứu nước khác. Tề hầu tất nhiên đuổi theo và trúng kế.
Hoàng Hoa xin đem quân đi, để giả cách đầu hàng Tề Hoàn công. Hoàng Hoa vừa đi, vừa nghĩ thầm rằng: Ta không chém đầu Mật Lư thì sao Tề hầu tin là thực, âu là ta cứ chém đầu Mật Lư; khi đã thành công rồi, chắc chúa công ta cũng không nỡ bắt tội.
Hoàng Hoa liền tức khắc đến Mã Tiên Sơn, vào yết kiến Mật Lư. Mật Lư đang chống giữ với quân Tề, nghe báo Hoàng Hoa đem quân đến, trong lòng mừng rỡ, vội vàng ra đón. Hoàng Hoa nhân khi Mật Lư bất ngờ, rút gươm chém lấy đầu Mật Lư. Tốc Mãi nổi giận, cầm đao xông lại đánh nhau với Hoàng Hoa. Đánh được mấy hợp, Tốc Mãi biết sức mình không địch nổi, liền bỏ chạy sang đầu hàng Hổ Nhi Ban. Hổ Nhi Ban cho là giả dối, sai quân sĩ bắt Tốc Mãi đem chém.
Hoàng Hoa đem đầu Mật Lư đến nộp Tề Hoàn công và xin đầu hàng, lại nói với Tề Hoàn công rằng:
- Chúa công tôi đã đem cả cung quyến chạy qua vùng sa mạc để đi mượn quân nước khác về đánh báo thù. Tôi đã khuyên chúa công tôi đầu hàng, nhưng chúa công tôi không nghe. Nay tôi chém đầu Mật Lư đem nộp, nếu hiền hầu cho tôi làm tiên phong, tôi xin đem quân đi trước để dẫn đường cho hiền hầu.
Tề Hoàn công thấy có đầu Mật Lư, mới tin lời Hoàng Hoa, cho làm tiên phong. Hoàng Hoa đem quân đi trước, dẫn đường cho Tề Hoàn công. Tề Hoàn công đi đến kinh thành nước Cô Trúc, thấy kinh thành bỏ không, càng tin lời nói Hoàng Hoa là thực, liền cho Yên Trang công đem một toán quân đóng giữ kinh thành, rồi sai Cao Hắc cùng với Hoàng Hoa đi trước, còn Tề Hoàn công cử đại binh theo sau. Đi được một quãng, trời đã gần tối, chẳng trông thấy toán quân Cao Hắc và Hoàng Hoa đâu cả, chỉ thấy một vùng cát trắng, mây kéo tối sầm, gió bắc lạnh lùng, ma kêu quỷ khóc. Quản Di Ngô bảo Tề Hoàn công rằng:
- Tôi nghe nói ở xứ này có cái bể cát, là một nơi hiểm độc, dễ thường là chỗ này, ta không nên đi vội.
Tề Hoàn công truyền thu quân trở lại, nhưng quân sĩ lạc đường, không biết lối nào mà ra. Tề Hoàn công thấy vậy rất lấy làm sợ hãi.
Quản Di Ngô nói:
- Nước Vô Chung tiếp giáp với xứ này thì những ngựa già ở nước Vô Chung tất nhiên thuộc đường, âu là ta sai Hổ Nhi Ban (người nước Vô Chung) chọn mấy con ngựa già, thả cho đi trước, rồi quân ta theo sau thì có thể ra khỏi được.
Tề Hoàn công theo kế ấy, quả nhiên ra khỏi được bể cát. Lại nói chuyện Hoàng Hoa đi trước, lập kế đánh lừa, đưa Cao Hắc về núi Dương Sơn. Cao Hắc thấy Hoàng Hoa cứ một mạch đi thẳng, không có ý chờ đại binh kéo sau, mới sinh lòng nghi, dừng cương ngựa lại, không chịu đi vội, bị Hoàng Hoa bắt sống, đem đến nộp Đáp Lý Kha. Hoàng Hoa nói dối Đáp Lý Kha rằng:
- Mật Lư thua trận ở Mã Tiên Sơn, bị quân Tề giết chết, nay tôi đã dùng kế trá hàng, lừa được quân Tề vào trong bể cát, lại bắt sống được tướng Tề là Cao Hắc về đây, xin chúa công định liệu.
Đáp Lý Kha bảo Cao Hắc rằng:
- Nếu nhà ngươi chịu hàng thì ta sẽ phong chức cho.
Cao Hắc trừng mắt lên nhìn mà quát mắng rằng:
- Ta đây làm quan nước Tề, khi nào chịu thần phục giống chó dê như mày!
Nói xong, liền quay lại mắng Hoàng Hoa rằng:
- Mày lập kế lừa ta đến đây, ta dẫu chết cũng chẳng tiếc gì, nhưng đại binh của chúa công ta tới nơi, thì vua tôi nhà mày bấy giờ hối không kịp nữa đâu!
Hoàng Hoa nghe nói nổi giận, rút gươm chém chết Cao Hắc. Đáp Lý Kha lại đem quân về thu phục lấy kinh thành. Yên Trang công không giữ nổi, bỏ chạy về Đoàn Tử Sơn.
Đại binh của Tề Hoàn công ra khỏi bể cát, lại kéo về kinh thành nước Cô Trúc. Trong khi đi đường, thấy nhân dân già trẻ dắt nhau đi lũ lượt. Quản Di Ngô sai người hỏi dò mới biết là Đáp Lý Kha đã đuổi quân nước Yên, thu phục lấy kinh thành rồi, bao nhiêu những dân khi trước tránh vào trong rừng, bấy giờ lại trở về cả.
Quản Di Ngô nói:
- Như vậy thì ta đã nghĩ được kế để phá quân giặc!
Nói xong, liền sai Hổ Nhi Ban đem quân thay hình đổi dạng, đi lẫn với đám đông người, lẻn vào trong thành để làm nội ứng. Quản Di Ngô truyền cho quân sĩ vây kín cả ba mặt thành, chỉ trừ có một cửa phía bắc, chờ cho Đáp Lý Kha chạy ra thì phục quân mà bắt lấy. Đáp Lý Kha nghe tin quân Tề kéo đến, giật mình kinh sợ, đem quân lên mặt thành để phòng giữ. Hổ Nhi Ban ở trong thành phóng hỏa làm hiệu, rồi mở cửa thành cho quân Tề kéo vào. Hoàng Hoa vội vàng phù Đáp Lý Kha lên ngựa, mở cửa thành phía bắc ra để chạy trốn. Đi được ba dặm, bỗng thấy lửa cháy rực trời, trống vang dậy đất. Thành Phủ và Thấp Bằng đổ ra đón đánh. Đáp Lý Kha bị Thành Phủ bắt được, còn Hoàng Hoa và Ngột Luật Cổ chết ở trong đám loạn quân.
Sáng hôm sau, Tề Hoàn công kéo quân vào kinh thành nước Cô Trúc, chém đầu Đáp Lý Kha, đem bêu ở cửa bắc. Lại treo bảng phủ dụ dân Cô Trúc. Dân Cô Trúc thuật lại chuyện Cao Hắc bị giết, Tề Hoàn công thương tiếc vô cùng, rồi sai ghi tên vào sổ để khi về nước thì gia phong cho. Yên Trang Tử ở Đoàn Tử Sơn, nghe tin đại binh của Tề Hoàn công đã kéo vào kinh thành nước Cô Trúc, cũng đem quân đến để chúc mừng.
Tề Hoàn công nói:
- Tôi đem quân sang giúp quý quốc, may mà thành công, đánh lấy được đất nước Linh Chi và nước Cô Trúc này kể hàng năm trăm dặm, bây giờ xin để biếu quý quốc.
Yên Trang công nói:
- Tôi nhờ uy linh của hiền hầu mà giữ yên được nước nhà, cũng đã đội ơn lắm, có đâu lại còn dám mong thêm bờ cõi, xin hiền hầu lấy đất ấy mà phong cho người khác.
Tề Hoàn công nói:
- Linh Chi và Cô Trúc là một nơi hoang viễn, nếu giao cho người rợ quản lĩnh thì chúng lại quấy nhiễu. Hiền hầu chớ nên từ chối, nên nhận lấy mà mở mang bờ cõi, rồi sai sứ vào triều cống thiên tử nhà Chu, thế là tôi cũng được dự một phần vẻ vang đó.
Yên Trang công không dám từ chối nữa. Tề Hoàn công truyền mở tiệc khao thưởng quân sĩ, lại lấy một khu ruộng ở dưới núi Tiểu Toàn Sơn để thưởng công cho Hổ Nhi Ban. Hổ Nhi Ban lạy tạ, cáo từ xin về. Tề Hoàn công nghỉ quân năm ngày, rồi kéo đại binh trở về nước Tề. Yên Trang công đi tiễn Tề Hoàn công ra khỏi địa giới nước Yên.
Từ bấy giờ nước Yên mở rộng bờ cõi thành một nước lớn ở phương bắc. Các nước chư hầu nghe nói Tề Hoàn công đem quân cứu nước Yên, lấy được bao nhiêu đất đai cho nước Yên cả, ai cũng sợ uy và cảm phục Tề Hoàn công. Tề Hoàn công về đến sông Tế Thủy (tiếp giáp địa giới nước Lỗ), Lỗ Trang công ra nghênh tiếp, bày tiệc ở bên bờ sông để chúc mừng. Tề Hoàn công đem những quý vật của nước Linh Chi và Cô Trúc, chia một nửa biếu Lỗ Trang công. Lỗ Trang công biết Quản Di Ngô có một cái phong ấp tên gọi Tiểu Cốc ở địa giới nước Lỗ, mới sai người đến sửa sang thành quách rất tử tế để lấy lòng Quản Di Ngô.
Mùa thu năm ấy, Lỗ Trang công mất. Từ đấy nước Lỗ lại sinh ra loạn to.
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI HAI MƯƠI HAI
 
Lỗ Quí Hữu giữ vững cơ đồ
Tề Hoàn công trông thấy ma quỷ
 
Công tử Khánh Phủ là thứ huynh(1) của Lỗ Trang công; em cùng mẹ với công tử Khánh Phủ là Thúc Nha, tức là thứ đệ(2) của Lỗ Trang công; còn người em cùng mẹ của Lỗ Trang công là công tử Hữu thì trong bàn tay có cái vết chữ “Hữu”, mới đặt tên là Hữu, tên tự là Quí, vẫn gọi là Quí Hữu. Ba anh em cùng làm quan đại phu, nhưng chỉ có Quí Hữu là hiền đức hơn cả; vả lại Hữu là em cùng mẹ của Lỗ Trang công, nên Lỗ Trang công rất yêu Quí Hữu. Khi Lỗ Trang công tức vị được ba năm thì có ra chơi đất Lang Đài, trông thấy con gái họ Đảng là Mạnh Nhâm nhan sắc tuyệt vời, bèn sai nội thị đi triệu, nhưng Mạnh Nhâm không chịu đến. Lỗ Trang công lại sai người bảo rằng:
- Nếu thuận theo ta, thì rồi sau ta lập làm phu nhân.
Mạnh Nhâm xin ăn thề. Lỗ Trang công thuận cho. Mạnh Nhâm mới chích cánh tay lấy máu cùng với Lỗ Trang công ăn thề, và đêm ấy hai người cùng nghỉ lại ở trên đài rồi Lỗ Trang công cùng đi xe với Mạnh Nhâm về cung. Năm sau, Mạnh Nhâm sinh được một con, đặt tên là công tử Ban. Lỗ Trang công muốn lập Mạnh Nhâm làm phu nhân, vào nói với mẹ là Văn Khương. Văn Khương không nghe, nhất định bắt phải lấy vợ bên họ mẹ, tức là người con gái mới sinh của Tề Tương công. Bấy giờ người con gái ấy còn bé lắm, phải chờ đợi trong hai mươi năm trời mới có thể cưới được, bởi vậy Mạnh Nhâm vẫn chưa được lập làm phu nhân, nhưng trong hai chục năm ấy vẫn làm chủ trong cung. Đến lúc con vua nước Tề về làm phu nhân nước Lỗ thì Mạnh Nhâm đã chết rồi.
Khương thị(3) không có con. Em gái nàng là Thúc Khương theo nàng sang lấy Lỗ Trang công sinh được một người con tên là Khải; lại có một người thiếp là Phong thị, sinh được công tử Thân. Phong thị đem công tử Thân đến nhờ Quí Hữu lập làm thế tử. Quí Hữu nói:
- Công tử Ban hơn tuổi, phải lập công tử Ban.
Phong thị không dám nói nữa. Khương thị dẫu được lập làm phu nhân, nhưng Lỗ Trang công vẫn có ý giận là con gái kẻ thù giết cha khi trước, bởi vậy mặt ngoài kính trọng mà trong bụng vẫn ghét thầm. Khương thị thấy công tử Khánh Phủ mặt mũi khôi ngô, bèn sai nội thị đưa lời qua lại, rồi cùng với Khánh Phủ tư thông; lại kết bè với Thúc Nha (em cùng mẹ với Khánh Phủ) muốn lập Khánh Phủ lên làm vua, Thúc Nha làm tể tướng. Lỗ Trang công nhân tiết trời không mưa, sắp đi tế đảo vũ, ngày hôm trước truyền cho bọn nhạc công tập diễn nhạc ở sân nhà quan đại phu là Lương Thị. Lương Thị có người con gái đẹp, vẫn đi lại với công tử Ban và công tử Ban cũng đã thề thốt với nàng sau sẽ lập làm phu nhân. Hôm ấy, con gái Lương Thị bắc thang lên tường để xem diễn nhạc. Người giữ ngựa tên là Lạc đứng ở ngoài tường, trông thấy con gái Lương Thị đẹp, liền làm một bài ca để hát ghẹo. Công tử Ban nghe tiếng hát chạy ra, trông thấy Lạc, nổi cơn ghen sai người bắt vào, đánh cho ba trăm roi, bắn máu đít ra. Lạc kêu van mãi, Ban mới tha cho, rồi lại đem chuyện thuật với Lỗ Trang công.
Lỗ Trang công nói:
- Lạc là người có sức khỏe, không mấy người địch nổi. Nhà ngươi đánh hắn như vậy, tất hắn đem lòng thù oán, chi bằng hắn đã vô lễ thì đem giết ngay đi, khiến khỏi lo ngại về sau.
Nguyên Lạc có tiếng là người có sức khỏe lạ thường, đã một lần đứng trên chòi thành nhảy xuống dưới đất, xuống đến nơi lại vùng ngay dậy, lấy tay bíu vào cột chòi mà lung lay, trên chòi đều chuyển động cả. Cũng vì Lạc có sức khỏe ấy, nên Lỗ Trang công khuyên công tử Ban giết đi. Công tử Ban nói:
- Tên Lạc dẫu có sức khỏe, chẳng qua là một đứa vũ phu mà thôi, có lo ngại gì!
Lạc quả nhiên đem lòng oán giận công tử Ban, mới xin vào làm môn hạ Khánh Phủ. Năm sau, Lỗ Trang công ốm nặng, có ý nghi Khánh Phủ muốn cướp ngôi, mới giả cách gọi Thúc Nha vào hỏi chuyện để dò ý. Thúc Nha khen tài Khánh Phủ, và nói với Lỗ Trang công nên lập Khánh Phủ lên nối ngôi. Lỗ Trang công nín lặng không nói gì cả. Thúc Nha cáo từ lui ra. Lỗ Trang công lại gọi Quí Hữu vào hỏi.
Quí Hữu nói:
- Chúa công ngày trước có thề với Mạnh Nhâm, nay đã không lập làm phu nhân, lẽ nào lại còn bỏ cả con người ta nữa.
Lỗ Trang công nói:
- Thúc Nha khuyên ta lập Khánh Phủ, phỏng có nên không?
Quí Hữu nói:
- Khánh Phủ là một người tàn nhẫn, không có tư cách làm vua. Thúc Nha có ý bênh vực anh, chúa công không nên nghe. Dù thế nào tôi cũng xin hết sức phù công tử Ban.
Lỗ Trang công gật đầu, rồi cấm khẩu không nói được nữa. Quí Hữu vội vàng sai nội thị truyền rằng phụng mệnh Lỗ Trang công bảo Thúc Nha đến đợi lệnh nhà vua ở nhà quan đại phu Hàm Quí. Thúc Nha tưởng thực, tức khắc đến nhà Hàm Quí. Quí Hữu sai bỏ thuốc độc vào hai bình rượu, đưa cho Hàm Quí, để bắt Thúc Nha uống. Lại viết thêm một bức thư đưa cho Thúc Nha bảo rằng:
- Chúa công có lệnh bắt công tử chịu uống thuốc độc mà chết đi thì con cháu sau nối đời được phong chức, nếu không tất phải giết chết cả nhà.
Thúc Nha không chịu uống. Hàm Quí nắm tai Thúc Nha mà đổ vào. Được một lúc, Thúc Nha chảy máu mồm máu mũi ra mà chết. Chiều hôm ấy, Lỗ Trang công mất. Quí Hữu lập công tử Ban lên nối ngôi.
Công tử Ban nghĩ đến cái tình nhà mẹ (Mạnh Nhâm) là họ Đảng, nghe tin ngoại tổ là Đảng Thần chết, liền đến tận nhà để thăm. Khánh Phủ mật gọi tên Lạc vào bảo:
- Nhà ngươi không nhớ đến cái thù trận đòn ngày xưa hay sao? Này này, con giao long đã ra khỏi mặt nước, thì sức một người có thể bắt được. Sao nhà ngươi không đón ở nhà họ Đảng mà báo thù, rồi có sự gì ta sẽ bênh vực cho.
Tên Lạc nói:
- Nếu công tử giúp cho, tôi xin vâng mệnh.
Nói xong, liền giắt một con dao găm, đang đêm đến nhà họ Đảng. Bấy giờ đã sang canh ba, Lạc trèo tường vào, đứng núp ở ngoài hiên. Đến lúc trời gần sáng, nội thị mở cửa ra lấy nước, Lạc thừa cơ lẻn vào trong buồng ngủ. Công tử Ban vừa mới ở trên giường bước xuống, đang xỏ chân vào giày, trông thấy Lạc, giật mình kinh sợ mà hỏi rằng:
- Mày đến đây làm gì?
Lạc nói:
- Ta đến báo thù trận đòn năm trước đây!
Công tử Ban liền rút thanh kiếm ở trên đầu giường, chém vào trán tên Lạc chảy cả óc ra. Tên Lạc tay trái nắm lấy thanh kiếm, tay phải cầm dao đâm vào cạnh sườn công tử Ban. Công tử Ban chết. Nội thị sợ hãi kêu rầm lên. Quân sĩ kéo vào bắt tên Lạc. Lạc không thể địch nổi, bị quân sĩ chém nát ra như tương.
Quí Hữu nghe tin công tử Ban chết, biết là mưu của Khánh Phủ, tức thì trốn sang nước Trần. Khánh Phủ giả cách không biết, đổ tội cho tên Lạc rồi giết cả nhà tên Lạc để khỏi mang tiếng. Khương thị muốn lập Khánh Phủ lên nối ngôi, Khánh Phủ nói:
- Chưa giết nốt được công tử Thân và công tử Khải thì chưa nên nối ngôi vội!
Khương thị nói:
- Thế có nên lập công tử Thân hay không?
Khánh Phủ nói:
- Công tử Thân đã lớn tuổi, ta khó kiềm chế, âu là ta lập công tử Khải.
Khánh Phủ thân hành sang nước Tề, đem tin công tử Ban chết báo với Tề Hoàn công và mang lễ vật sang biếu Thụ Điêu, để nhờ Thụ Điêu nói với Tề Hoàn công nhận cho công tử Khải lên nối ngôi. Bấy giờ công tử Khải mới lên tám tuổi, tức là Lỗ Mẫn công. Lỗ Mẫn công là con Thúc Khương, mà Thúc Khương là em gái Khương thị, vậy Lỗ Mẫn công tức là cháu gọi Tề Hoàn công bằng cậu. Lỗ Mẫn công trong sợ Khương thị ngoài sợ Khánh Phủ, mới sai sứ sang ước với Tề Hoàn công xin đến hội ở đất Lạc Cô (đất nước Tề). Khi đến hội, Lỗ Mẫn công nắm lấy áo Tề Hoàn công, nước mắt chảy xuống dòng dòng, thuật lại chuyện Khánh Phủ làm loạn.
Tề Hoàn công hỏi:
- Các quan đại phu ở nước Lỗ bây giờ, ai là người hiền đức hơn cả?
Lỗ Mẫn công nói:
- Chỉ có Quí Hữu là hiền đức hơn cả, nay tránh nạn trốn sang nước Trần rồi.
Tề Hoàn công nói:
- Sao không sai người triệu về?
Lỗ Mẫn công nói:
- Nhưng lại sợ Khánh Phủ có lòng nghi.
Tề Hoàn công nói:
- Cứ bảo là phải theo ý ta mà triệu Quí Hữu về thì ai dám trái mệnh.
Nói xong, liền sai sứ sang nước Trần để triệu Quí Hữu. Lỗ Mẫn công chờ Quí Hữu đến, rồi cùng về nước Lỗ. Lỗ Mẫn công cho Quí Hữu làm tể tướng, nói thác là theo ý Tề Hoàn công. Tề Hoàn công sợ nước Lỗ có loạn, sai quan đại phu là Trọng Tôn Thu sang thăm, và dò xem tình ý Khánh Phủ ra sao. Lỗ Mẫn công trông thấy Trọng Tôn Thu, chỉ ứa nước mắt xuống mà khóc, không nói được câu gì cả.
Sau Trọng Tôn Thu gặp công tử Thân, thấy công tử Thân nghị luận công việc nước Lỗ rất là rành mạch, Trọng Tôn Thu khen rằng:
- Công tử Thân thật là có tài trị nước!
Nói xong, liền dặn Quí Hữu phải trông nom cho công tử Thân, lại khuyên Quí Hữu nên trừ Khánh Phủ đi. Quí Hữu ra hiệu giơ một cánh tay cho Trọng Tôn Thu xem. Trọng Tôn Thu biết là ý Quí Hữu muốn bảo mình thế cô, một mình không làm gì được, mới bảo Quí Hữu rằng:
- Để tôi về nói với chúa công tôi, nếu có sự nguy cấp gì, chúa công tôi sẽ giúp cho.
Khánh Phủ cũng đem vàng bạc đến lễ Trọng Tôn Thu. Trọng Tôn Thu nói:
- Nếu công tử một lòng trung với nước nhà thì chúa công tôi cũng bằng lòng, chẳng những là tôi.
Nói xong, nhất định chối từ không lấy. Khánh Phủ sợ hãi lui ra. Trọng Tôn Thu về nói với Tề Hoàn công rằng:
- Không trừ được Khánh Phủ thì nước Lỗ quyết không yên.
Tề Hoàn công nói:
- Ta đem quân sang mà trừ đi, phỏng có nên không?
Trọng Tôn Thu nói:
- Tội ác của Khánh Phủ chưa rõ ra thì chưa lấy cớ gì mà trừ đi được, nhưng tôi xem ý Khánh Phủ, chẳng bao lâu tất cũng làm loạn, hãy chờ khi hắn làm loạn mà giết đi, ấy là trách nhiệm của bá chủ đó!
Tề Hoàn công khen phải. Khánh Phủ vẫn muốn cướp ngôi, chỉ vì Lỗ Mẫn công là cháu ngoại Tề Hoàn công, và lại có Quí Hữu hết sức phù tá, vậy nên còn e sợ, chưa dám làm vội. Một hôm, người giữ cửa báo có quan đại phu là Bốc Kỳ đến chơi. Khánh Phủ ra tiếp ở chốn thư phòng, thấy Bốc Kỳ hầm hầm tức giận. Khánh Phủ lấy làm lạ liền hỏi.
Bốc Kỳ nói:
- Tôi có một khu ruộng, tiếp giáp với khu ruộng của quan thái phó là Thận Bất Hại, bị Thận Bất Hại xâm chiếm mất, tôi vào nói với chúa công. Chúa công lại có ý bênh Thận Bất Hại, bảo tôi nhường lại cho hắn, tôi lấy làm tức lắm, vậy phải tới đây nhờ công tử nói giúp với chúa công một câu cho.
Khánh Phủ đuổi hết người xung quanh, rồi sẽ bảo Bốc Kỳ rằng:
- Chúa công trẻ tuổi chưa biết gì, dẫu nói cũng vô ích, nếu nhà ngươi có thể làm được đại sự thì ta sẽ vì nhà ngươi mà giết Thận Bất Hại cho, nhà ngươi nghĩ thế nào?
Bốc Kỳ nói:
- Nhưng còn có Quí Hữu ở đấy thì sợ làm không nổi, lại khó lòng mà thoát nạn được.
Khánh Phủ nói:
- Chúa công hãy còn tính trẻ, nhiều khi đang đêm vẫn ra ngoài phố chơi, nếu ta sai người đón đường mà giết đi, rồi đổ tiếng cho những quân trộm cướp thì còn ai biết được. Bấy giờ ta phụng mệnh quốc mẫu lên nối ngôi thì đuổi Quí Hữu thật dễ như trở bàn tay!
Bốc Kỳ vâng lời, mới tìm được kẻ dũng sĩ là Thu Á đưa cho một con dao găm, sai đến phục ở ngoài cửa cung. Lỗ Mẫn công quả nhiên đang đêm ở trong cung ra. Thu Á nhẩy xổ đến đâm chết. Các thị vệ kêu rầm lên, rồi xúm lại bắt. Bốc Kỳ đem người nhà đến đánh tháo cho Thu Á. Khánh Phủ đến tận nhà mà giết Thận Bất Hại. Quí Hữu thấy việc biến như vậy, ngay đêm hôm ấy đến gõ cửa nhà công tử Thân, vào gọi công tử Thân dậy, thuật chuyện Khánh Phủ làm loạn, rồi hai người đem nhau trốn sang nước Châu.
Người nước Lỗ bấy giờ vốn tin phục Quí Hữu, nghe tin Lỗ Mẫn công bị giết và Quí Hữu phải chạy trốn, thì cả nước đều náo động, căm tức Bốc Kỳ và Khánh Phủ. Khánh Phủ biết là lòng dân không phục, định trốn ra ngoại quốc, sực nghĩ đến Tề Hoàn công khi trước có mượn quân nước Cử để về phục quốc, nên định trốn sang nước Cử để nhờ nước Cử nói hộ với Tề Hoàn công. Vả lại Văn Khương khi trước có tư thông với thầy thuốc nước Cử, mà phu nhân Khương thị ngày nay tức là cháu gái Văn Khương, chỉ có sang nước Cử, mới có thể tin cậy được.
Khánh Phủ nghĩ vậy, liền giả hình làm một người lái buôn, đem vàng bạc trốn sang nước Cử. Khương thị nghe tin Khánh Phủ trốn sang nước Cử, cũng toan bỏ trốn sang đấy. Các cung nhân bảo Khương thị rằng:
- Phu nhân vì việc Khánh Phủ mà mang oán với người trong nước, nay có Quí Hữu ở nước Châu, người trong nước ai cũng tin phục, chi bằng phu nhân trốn sang nước Châu mà nói với Quí Hữu bênh vực cho.
Khương thị nghe lời, trốn sang nước Châu, xin vào yết kiến Quí Hữu. Quí Hữu không tiếp, liền đem công tử Thân về Lỗ, rồi sai người sang báo tin với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công hỏi Trọng Tôn Thu rằng:
- Nay nước Lỗ chưa có ai làm vua, ta có nên chiếm lấy hay không?
Trọng Tôn Thu nói:
- Lỗ vốn là một nước biết giữ lễ nghĩa, nay dẫu gặp sự biến cố, nhưng lòng người chưa quên cái công đức của Chu công ngày xưa, ta chưa nên chiếm lấy vội. Vả lại công tử Thân là người thông minh, am hiểu việc nước. Quí Hữu là người có tài, tất dẹp yên được loạn, chi bằng ta nhân dịp hãy sai người đem quân sang giúp.
Tề Hoàn công nghe lời, sai quan thượng khanh là Cao Hề đem ba nghìn quân sang đóng tại nước Lỗ, để liệu thế mà khu xử: hễ công tử Thân có tài làm vua được thì lập cho làm vua, rồi hai nước giao hiếu với nhau, nếu không thì nhân tiện mà chiếm lấy đất nước Lỗ.
Cao Hề đem quân đến nước Lỗ, lại vừa gặp công tử Thân và Quí Hữu cùng đến. Cao Hề thấy công tử Thân tướng mạo nghiêm trang, nghị luận rành mạch, thì có ý kính trọng, mới cùng với Quí Hữu bàn định, rồi lập công tử Thân lên nối ngôi, tức là Lỗ Hi công.
Cao Hề lại sai quân sĩ giúp người nước Lỗ đắp thành Lộc Môn để phòng giữ nước Châu và nước Cử. Quí Hữu sai công tử Hề Tư theo Cao Hề sang nước Tề để tạ ơn Tề Hoàn công; một mặt sai người đem vàng bạc sang lễ vua nước Cử để nhờ giết hộ Khánh Phủ.
Khi Khánh Phủ chạy sang nước Cử, đã đem các đồ châu báu vào lễ vua nước Cử; bấy giờ vua nước Cử lại tham lễ vật của vua nước Lỗ, mới sai người bảo Khánh Phủ rằng:
- Nước Cử tôi nhỏ mọn lắm, nếu công tử ở đây thì sợ lại sinh việc tranh chiến, xin công tử hãy tạm lánh sang nước khác.
Khánh Phủ còn dùng dằng chưa chịu đi. Vua nước Cử sai người đuổi. Khánh Phủ lại nghĩ đến Thụ Điêu nước Tề khi trước đã từng ăn lễ mà bênh vực cho mình, bấy giờ mới bỏ nước Cử trốn sang nước Tề.
Quan trấn thủ ở bờ cõi nước Tề vốn biết Khánh Phủ là người tàn ác, chưa dám cho vào nước vội, mới tạm để ở trên sông Văn Thủy. Công tử Hề Tư khi trước sang tạ ơn Tề Hoàn công, trở về đến sông Vấn Thủy, liền đến gặp Khánh Phủ, toan mời Khánh Phủ cùng về nước Lỗ.
Khánh Phủ nói:
- Ta về bây giờ thì tất Quí Hữu giết. Nhà ngươi hãy về nói với Quí Hữu trước, nếu Quí Hữu nghĩ đến tình tiên quân ngày xưa mà khoan dung cho thì không bao giờ ta dám quên ơn.
Hề Tư về nước Lỗ, thuật lại lời nói của Khánh Phủ. Lỗ Hi công toan cho về.
Quí Hữu nói:
- Nếu kẻ giết vua mà không bắt tội thì còn ai sợ nữa!
Quí Hữu lại bảo riêng với Hề Tư rằng:
- Nếu Khánh Phủ chịu tự tử thì còn có thể tha cho con cháu, sau không đến nỗi tuyệt tự.
Hề Tư lại đến trên sông Vấn Thủy, toan vào bảo Khánh Phủ, nhưng nể mặt lắm, không nỡ nói ra, mới đứng ở ngoài cửa gào khóc rầm lên. Khánh Phủ nghe tiếng khóc, biết là Hề Tư, liền thở dài mà than rằng:
- Hề Tư không vào mà gào khóc như thế thì ta khó lòng giữ toàn được tính mệnh.
Khánh Phủ tức thì cởi dây lưng thắt cổ mà chết. Hề Tư về báo tin với Lỗ Hi công. Lỗ Hi công có ý ngậm ngùi than thở. Bỗng thấy quân báo vua nước Cử sai em là Doanh Nô đem quân tới ngoài cõi nước Lỗ, nghe tin Khánh Phủ đã chết, đến đòi lễ tạ.
Quí Hữu nói:
- Người nước Cử có bắt hộ Khánh Phủ bao giờ mà dám nhận công?
Nói xong, liền xin đem quân ra đánh. Lỗ Hi công cởi thanh bảo kiếm ở trong mình đưa tặng Quí Hữu mà bảo rằng:
- Thanh bảo kiếm này tên gọi Mạnh Lao, dẫu dài không được một thước, nhưng lưỡi sắc lắm, thật là một thứ của báu xin để biếu thúc phụ.
Quí Hữu đeo bên mình, rồi tạ ơn lui ra. Đi đến đất Lịch Trì, Doanh Nô đã bày trận sẵn để đợi. Quí Hữu nghĩ thầm trong lòng rằng:
- Bây giờ vua ta mới lên ngôi, việc nước chưa được yên ổn, nếu đánh mà không thắng thì lòng người náo động. Vả lại Doanh Nô là người tham mà không có mưu trí, chi bằng ta dùng kế tất đánh được hắn.
Quí Hữu bèn ra trước trận, mời Doanh Nô đến để nói chuyện.
Quí Hữu bảo Doanh Nô rằng:
- Hai chúng ta không bằng lòng mà đánh nhau, chứ quân sĩ có tội gì đâu! Tôi nghe công tử có sức khỏe, giỏi đấu vũ bằng tay, nay tôi xin bỏ khí giới, mà cùng với công tử quyết một trận sống mái.
Doanh Nô khen phải, truyền cho quân sĩ đứng cả ra một bên, rồi cùng với Quí Hữu đấu vũ. Hai người đấu vũ với nhau trong năm mươi hợp, chưa phân được thua.
Con trai Quí Hữu tên gọi Hành Phủ, bấy giờ mới lên tám tuổi. Quí Hữu yêu dấu lắm, đi đâu cũng đem đi theo. Hành Phủ đứng xem đấu vũ, thấy Quí Hữu mãi không đánh được Doanh Nô, liền kêu to lên rằng:
- Thanh Mạnh Lao để đâu?
Quí Hữu biết ý, giả cách bị thua, lùi lại một bước để cho Doanh Nô xông vào, rồi quay mình rút thanh Mạnh Lao chém thẳng một nhát suốt từ trán xuống lông mày Doanh Nô, bạt hẳn mất nửa đầu, mà lưỡi gươm không rây một tí máu nào. Thật là một thanh gươm báu.
Quân nước Cử thấy Doanh Nô đã bị giết rồi, liền bỏ chạy tán loạn cả. Quí Hữu thắng trận, thu quân trở về. Lỗ Hi công thân hành ra đón, phong cho Quí Hữu làm thượng tướng và thưởng cho đất Phi ấp.
Quí Hữu nói:
- Tôi cùng với Khánh Phủ và Thúc Nha đều là con vua Hoàn công, tôi vì việc nước nhà mà phải bỏ thuốc độc cho Thúc Nha chết, và bắt Khánh Phủ phải tự tử, thật là những việc bất đắc dĩ. Nay Khánh Phủ và Thúc Nha không được tặng phong mà tôi lại được trọng thưởng, thì ngày sau tôi còn mặt mũi nào mà trông thấy tiên quân ở dưới suối vàng.
Lỗ Hi công nói:
- Khánh Phủ và Thúc Nha có có lòng phản nghịch như vậy thì có lẽ nào ta lại tặng phong?
Quí Hữu nói:
- Khánh Phủ và Thúc Nha dẫu có lòng phản nghịch, mà chưa có cái gì là tang chứng, xin chúa công nghĩ đến tình thân thuộc mà tặng phong cho.
Lỗ Hi công nghe lời, liền phong cho con Khánh Phủ là công tôn Ngao ở đất Thành ấp, tức là Mạnh Tôn thị; phong cho con Thúc Nha ở đất Hậu ấp, tức là Thúc Tôn thị; phong cho con Quí Hữu ở đất Phi ấp, tức là Quí Tôn thị. Bấy giờ Mạnh Tôn thị, Thúc Tôn thị và Quí Tôn thị ba nhà cùng cầm quyền chính nước Lỗ, gọi là “Tam Hoàn”.
Tề Hoàn công nghe tin Khương thị trốn sang nước Châu, mới bảo Quản Di Ngô rằng:
- Lỗ Hoàn công và Lỗ Mẫn công bị giết, đều bởi con gái nước Tề ta cả, nếu ta không trị tội, sao cho người nước Lỗ chịu phục.
Quản Di Ngô nói:
- Con gái đã về nhà chồng rồi, việc ấy không dự gì đến ta, nếu chúa công muốn trị tội thì nên phải giấu tiếng mới được.
Tề Hoàn công khen phải, liền sai Thụ Điêu sang nước Châu để đưa phu nhân Khương thị về nước Lỗ. Phu nhân đi đến đất Di Địa, đêm ngủ ở nhà quán xá, Thụ Điêu bảo phu nhân rằng:
- Phu nhân một tay làm hại hai vua, nước Tề và nước Lỗ ai cũng biết cả. Bây giờ phu nhân về, còn mặt mũi nào trông thấy nhà Thái miếu nước Lỗ, chi bằng phu nhân liệu mà tự xử đi thì còn có thể che được tiếng xấu.
Khương thị nghe nói đóng kín cửa lại, một mình kêu khóc rầm rĩ. Đến gần nửa đêm thì bỗng im lặng như tờ. Thụ Điêu đẩy cửa vào xem, thấy phu nhân đã thắt cổ mà chết rồi. Thụ Điêu sai người phi báo với Lỗ Hi công. Lỗ Hi công đưa linh cữu về nước Lỗ làm ma, đặt hiệu là Ai Khương, vì cái chết bi ai của nàng.
Tề Hoàn công đã cứu nước Yên và giúp nước Lỗ, các nước chư hầu đều có lòng tin phục. Từ bấy giờ Tề Hoàn công giao hết quyền chính cho Quản Di Ngô, ngày nào cũng chỉ uống rượu và đi săn để cầu vui.
Một hôm, Tề Hoàn công đi săn ở một cái đầm lớn, có Thụ Điêu đi hầu. Bỗng Tề Hoàn công trừng mắt ngẩn người, không nói câu gì, có ý sợ hãi lắm. Thụ Điêu hỏi rằng:
- Chúa công thấy cái gì vậy?
Tề Hoàn công nói:
- Ta vừa mới trông thấy một giống ma quỷ, hình dáng kỳ quái, nghĩ mà ghê sợ, vụt chốc lại biến đi mất, chắc là một điềm gở.
Thụ Điêu nói:
- Giống ma quỷ là thuộc về âm, cớ sao lại hiện ra ban ngày được?
Tề Hoàn công nói:
- Tiên quân ta ngày xưa đi săn ở đất Cô Phân, cũng đang ban ngày mà có giống quỷ hiện làm con lợn to. Âu là nhà ngươi mau mau gọi Trọng phụ cho ta hỏi.
Thụ Điêu nói:
- Trọng phụ có phải là thánh đâu mà biết hết được!
Tề Hoàn công nói:
- Trọng phụ biết được thần Du Nhi, không phải thánh là gì?
Thụ Điêu nói:
- Ngày trước chúa công trông thấy thần Du Nhi, kể hết hình dáng cho Trọng phụ nghe, bởi vậy Trọng phụ theo ý chúa công mà tán tụng vào khiến cho chúa công vững lòng để tiến binh. Nay chúa công không nên nói rõ hình dáng con quỷ ra vội, hãy hỏi xem Trọng phụ có biết được hay không. Nếu Trọng phụ biết được, mới thực là thánh.
Tề Hoàn công bảo Quản Di Ngô rằng:
- Hôm qua ta trông thấy một giống ma quỷ hiện lên, lấy làm ghê sợ lắm, bây giờ Trọng phụ thử đoán xem hình dạng nó ra làm sao?
Quản Di Ngô không biết thế nào mà nói, mới trả lời rằng:
- Để tôi nghĩ xem đã.
Thụ Điêu tủm tỉm cười nói với Tề Hoàn công rằng:
- Tôi biết Trọng phụ không thể nào nói được.
Tề Hoàn công mỗi ngày một đau nặng. Quản Di Ngô lấy làm lo lắm, mới sai người yết bảng ở ngoài cửa rằng:
- Có ai biết mà nói được hình dáng con quỷ mà chúa công trông thấy thì sẽ được trọng thưởng.
Bỗng có một người nón mê áo rách, xin vào yết kiến Quản Di Ngô. Quản Di Ngô vái chào. Người ấy nói:
- Chúa công bị bệnh có phải không?
Quản Di Ngô nói:
- Phải.
Người ấy nói:
- Chúa công thấy quỷ ở trong đầm có phải không?
Quản Di Ngô nói:
- Nếu nhà ngươi nói được hình dáng giống ma quỷ ấy thì ta sẽ trọng thưởng cho.
Người ấy nói:
- Xin cho tôi vào yết kiến chúa công để tôi nói.
Quản Di Ngô tức khắc vào cung, thấy Tề Hoàn công đang ngồi ở trên mấy lần nệm, bắt hai người thị nữ xoa lưng, và hai người thị nữ đấm chân. Thụ Điêu thì bưng chén nước trà đứng ở bên cạnh Tề Hoàn công.
Quản Di Ngô nói:
- Có một người nói được hình dáng giống ma quỷ ấy, tôi đã dẫn đến đây, xin chúa công cho vào yết kiến.
Tề Hoàn công trông thấy người ấy nón mê áo rách, có ý không bằng lòng, liền hỏi người ấy rằng:
- Trọng phụ bảo nhà ngươi nói được hình dáng giống ma quỷ ấy có phải không?
Người ấy nói:
- Chúa công tự làm hại chúa công đó mà thôi, chứ ma quỷ có làm hại được chúa công đâu!
Tề Hoàn công nói:
- Thế thì nhà ngươi bảo là có ma quỷ hay không?
Người ấy nói:
- Có ma quỷ. Ở nước thì có giống Võng tượng, ở gò thì có giống Trăn, ở núi thì có giống Quì, ở đồng thì có giống Bàng hoàng, ở đầm nước thì có giống Uy đà.
Tề Hoàn công nói:
- Nhà ngươi thử nói hình dáng giống Uy đà xem sao?
Người ấy nói:
- Giống Uy đà to lớn mà áo tía mũ đỏ. Giống ấy sợ tiếng xe chạy, hễ nghe thấy tiếng xe chạy rầm rĩ thì ôm đầu mà đứng, ai trông thấy giống ấy tất làm bá chủ trong thiên hạ.
Tề Hoàn công nghe lời tức thì nét mặt tươi cười, bất giác đứng dậy mà nói rằng:
- Chính ta đã trông thấy giống đó!
Nói xong, tinh thần sảng khoái, bao nhiêu bệnh tật trong mình đều khỏi hết. Lại hỏi người ấy rằng:
- Nhà ngươi tên là gì?
Người ấy nói tên là Hoàng Tử, là một kẻ nông phu ở cõi tây nước Tề.
Tề Hoàn công nói:
- Nhà ngươi ở đây, ta cho nhà ngươi làm quan.
Hoàng Tử chối từ mà nói rằng:
- Tôi không muốn làm quan, chỉ mong rằng chúa công sửa sang chính trị, để nước nhà cường thịnh, khiến cho tôi được yên nghiệp làm ăn, thế là mãn nguyện rồi.
Tề Hoàn công khen là người cao sĩ, tặng cho thóc, lụa, rồi sai quan sở tại đến thăm tận nhà, lại trọng thưởng cho Quản Di Ngô.
Thụ Điêu nói:
- Hoàng Tử nói được, chứ Trọng phụ có nói được đâu, mà dám nhận thưởng.
Tề Hoàn công nói:
- Nếu không có Trọng phụ thì sao ta được nghe lời nói của Hoàng Tử.
Thụ Điêu không dám nói nữa. Bấy giờ có nước Bắc Địch đem quân sang đánh nước Vệ. Vệ Ý công sai người đến cáo cấp với Tề Hoàn công. Các quan đại phu nước Tề xin đem quân đi cứu.
Tề Hoàn công nói:
- Quân ta vừa mới đi đánh Sơn nhung về, hãy còn mỏi mệt, cần phải yên nghỉ, âu là để đến đầu sang năm, ta sẽ họp quân các nước chư hầu đi cứu nước Vệ.
Đến cuối năm ấy, có quan đại phu nước Vệ là Ninh Tốc sang nước Tề, nói với Tề Hoàn công rằng:
- Nước Bắc Địch đã phá nước Vệ, giết mất Vệ Ý công rồi, nay phải sang đón công tử Hủy về để nối ngôi.
Tề Hoàn công than rằng:
- Không sang cứu nước Vệ ngay, điều ấy là lỗi của ta đó!
_____
(1) Người hơn tuổi mình mà con vợ thứ của cha mình thì gọi là thứ huynh.
(2) Người em do vợ thứ của cha mình thì gọi là thứ đệ.
(3) Công chúa nước Tề gọi là Khương thị.
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI HAI MƯƠI BA
 
Vệ Ý cho hạc ăn lộc quan
Tề Hoàn cử binh đi đánh Sở
 
Nguyên Vệ Ý công lên ngôi đã chín năm trời, mà tính rất lười biếng, chẳng thiết gì đến chính sự, chỉ thích chơi một giống chim gọi là chim hạc. Giống chim hạc tính ưa sạch sẽ mà hình dung rất thanh nhã, tiếng kêu đã hay, dáng múa cũng khéo. Thấy Vệ Ý công thích chơi hạc, người nước Vệ thường hay đem hạc đến tiến, ai tiến hạc cũng được nhà vua trọng thưởng. Thành ra trong cung nuôi đầy những hạc, kể hàng mấy trăm con.
Vệ Ý công lại thưởng phẩm hàm và cấp lương bổng cho hạc, con nào đẹp thì được ăn lộc quan đại phu. Mỗi khi Vệ Ý công đi chơi đâu, lại cho mấy cỗ xe lớn chở chim hạc đi dàn ở phía trước mặt, gọi là Hạc tướng quân. Những người nuôi hạc đều được ăn lương. Triều đình phải thu thuế của dân thật nặng, để có đủ tiền cấp lương cho hạc.
Quan đại phu là Thạch Kỳ (con cháu Thạch Thác) vốn có tiếng là người trung thực, cùng với Ninh Tốc cầm quyền chính nước Vệ. Hai người vẫn can Vệ Ý công luôn mà Vệ Ý công không nghe. Công tử Hủy là thứ huynh của Vệ Huệ công, biết cơ nước Vệ sẽ mất, bỏ trốn sang nước Tề. Tề Hoàn công gả con gái cho, rồi cho ở nước Tề.
Bắc Địch là một nước cường thịnh. Vua Bắc Địch tên là Sưu Man xưa nay vẫn có ý muốn xâm phạm các nước ở Trung quốc. Mới rồi, nghe tin Tề Hoàn công đi đánh Sơn nhung, liền nổi giận nói rằng:
- Quân Tề đã đi đánh Sơn nhung như vậy là có ý khinh ta, ta nên nghĩ cách trị trước đi, khiến cho quân Tề phải khiếp sợ.
Rồi cử đại binh đi đánh nước Hình. Tề Hoàn công toan đem quân đi cứu nước Hình. Sưu Man lại đem quân kéo sang nước Vệ. Vệ Ý công đang sai người đẩy xe hạc đi chơi, nghe báo có quân Bắc Địch đến đánh, giật mình kinh sợ, tức khắc hạ lệnh gọi quân để đi đánh giặc. Dân nước Vệ bỏ trốn cả, không ai dám ra lính.
Vệ Ý công sai quan tư đồ đi bắt. Trong một lúc bắt được hơn trăm người đem về tra hỏi:
- Vì cớ gì mà các ngươi dám trốn lính?
Dân nước Vệ nói:
- Chúa công dùng một giống vật, cũng đủ đánh nổi được quân Bắc Địch, cần gì phải dùng đến lũ chúng tôi.
Vệ Ý công hỏi:
- Vật gì mà đánh nổi được quân giặc?
Dân nước Vệ nói:
- Chim hạc!
Vệ Ý công hỏi:
- Chim hạc thì đánh giặc thế nào được?
Dân nước Vệ nói:
- Chim hạc đã không đánh được giặc thì là một loài vô dụng, nay chúa công bỏ những người hữu dụng mà nuôi những loài vô dụng, bởi thế cho nên dân chúng tôi không phục.
Vệ Ý công nói:
- Nay ta đã biết tội! Ta xin theo ý dân mà đuổi hết chim hạc đi!
Thạch Kỳ nói:
- Xin chúa công làm ngay cho! Tôi e bây giờ đã muộn lắm rồi!
Vệ Ý công tức khắc sai người đi xua đuổi chim hạc. Chim hạc được nuôi đã lâu ngày, quen chỗ ở rồi, cứ quanh quẩn mãi, không chịu đi đâu cả. Thạch Kỳ và Ninh Tốc thân hành đi khắp các nơi chợ búa để giảng dụ cho dân hiểu rõ Vệ Ý công đã biết hối lỗi, bấy giờ dân mới chịu ra lính, thì quân Bắc Dịch đã kéo đến đất Huỳnh Trạch.
Thạch Kỳ nói với Vệ Ý công rằng:
- Quân Bắc Dịch mạnh lắm, chớ nên khinh thường, xin để tôi sang cầu cứu nước Tề.
Vệ Ý công nói:
- Ngày trước nước Tề đã phụng mệnh thiên tử đến đánh nước ta; dẫu Tề đã lui quân về rồi, nhưng từ bấy đến nay ta cũng chưa sang tạ lại, bây giờ chắc hẳn Tề chẳng chịu đến cứu nào. Âu là ta cứ liều đánh một trận để quyết được thua.
Ninh Tốc nói:
- Nếu chúa công không thân hành đi đánh thì quân sĩ không chịu hết lòng đâu.
Vệ Ý công liền giao quốc chính cho Thạch Kỳ, rồi đưa cho Thạch Ky một cái ngọc quyết mà dặn rằng:
- Nhà ngươi phân xử việc nước, nên quyết đoán như cái ngọc quyết này!
Lại đưa cho Ninh Tốc một cái tên, dặn Ninh Tốc chuyên việc giữ thành. Vệ Ý công lại bảo cả Thạch Kỳ và Ninh Tốc rằng:
- Công việc trong nước, ta giao cả cho hai người! Ta đi chuyến này, không đánh được quân Bắc Dịch thì quyết không trở về.
Thạch Kỳ và Ninh Tốc đều rỏ nước mắt. Vệ Ý công cùng quan đại tướng là Cừ Khổng đem quân đi đánh giặc. Trong khi đi đường quân sĩ đều oán Vệ Ý công, ta thán nhiều lắm. Có làm một bài ca rằng:
“Hạc được ăn lương, dân phải cày ruộng!
Hạc được ngồi xe, dân phải vác giáo!
Quân giặc gớm ghê thay, quân ta chín chết một sống!
Nay hạc đi đâu, để ta khổ sở!”
Vệ Ý công thấy quân sĩ hát như vậy, có ý buồn rầu. Quan đại tướng là Cừ Khổng lại quá nghiêm khắc, bởi vậy quân sĩ càng đem lòng tức giận. Khi đi đến đất Huỳnh Trạch trông thấy quân giặc độ hơn một nghìn người, ngựa đi lộn xộn, không có hàng ngũ gì cả. Cừ Khổng nói:
- Người ta cứ đồn rằng quân Bắc Địch mạnh lắm, thật là nói bậy.
Nói xong, liền truyền cho quân sĩ đánh trống tiến vào. Quân Bắc Dịch giả cách thua chạy, dụ cho quân Vệ đuổi theo, rồi hai bên phục binh đổ ra mà đánh. Quân Vệ vốn không có lòng đánh giặc, lại thấy quân giặc thế mạnh, tức thì chạy cả. Vệ Ý công và Cừ Khổng bị quân Bắc Dịch vây kín mấy vòng.
Cừ Khổng nói với Vệ Ý công rằng:
- Bây giờ nguy cấp lắm rồi, xin bỏ cờ đại bái xuống, và chúa công phải thay đổi trang phục, mới có thể chạy thoát được.
Vệ Ý công thở dài mà than rằng:
- Quân nước Vệ có lòng cứu ta thì lấy cờ đại bái làm dấu tích, nếu không thì bỏ cờ đại bái cũng vô ích! Thôi thì ta cũng liều một chết, để tạ lại lòng dân nước mà thôi!
Được một lúc, quân Bắc Địch kéo đến. Vệ Ý công và Cừ Khổng đều bị hại cả. Quân Bắc Địch bắt được quan thái sử nước Vệ là Hoa Long Hoạt và Lễ Khổng, toan đem ra chém. Hoa Long Hoạt và Lễ Khổng đã biết phong tục người Bắc Địch hay tin ma quỷ, mới lập kế nói dối rằng:
- Ta đây là chức thái sử, giữ việc cúng tế, nay ta xin giúp các ngươi cầu khẩn với thần linh; nếu không thì thần linh không giúp cho, các ngươi không chiếm lấy nước được đâu.
Sưu Man tin là nói thực, mới tha cho hai người lên xe về thành. Ninh Tốc đang mặc đồ tang phục đi tuần ở trên mặt thành trông thấy Hoa Long Hoạt và Lễ Khổng về, giật mình kinh sợ hỏi:
- Chúa công đâu?
Hoa Long Hoạt và Lễ Khổng nói:
- Quân ta tan vỡ cả rồi! Quân giặc mạnh lắm, nhà ngươi nên mau mau tìm đường tránh đi.
Ninh Tốc mở cửa cho hai người vào.
Lễ Khổng nói:
- Ta cùng với chúa công cùng ra, mà bây giờ không cùng với chúa công cùng vào thì sao cho phải đạo? Âu là ta theo chúa công xuống dưới suối vàng!
Nói xong, tức thì rút gươm đâm cổ chết.
Hoa Long Hoạt nói:
- Ta giữ chức thái sử, không nên để mất sử sách.
Nói xong, liền vào thành thu nhặt những sử sách đem ra. Ninh Tốc và Thạch Kỳ đang đêm đưa cung quyến Vệ Ý công và công tử Thân chạy trốn, Hoa Long Hoạt ôm sử sách đi theo.
Người nước Vệ nghe tin hai quan đại phu là Ninh Tốc và Thạch Kỳ đã phải bỏ trốn, đều bồng con bế cháu đi theo, tiếng khóc như ri.
Quân Bắc Địch thừa thắng kéo vào kinh thành nước Vệ, chém giết nhân dân nhiều lắm, lại chia một đạo quân đi đuổi theo Ninh Tốc và Thạch Kỳ. Ninh Tốc và Thạch Kỳ chạy đến sông Hoàng Hà, may nhờ có Tề Hoàn công đem quân đến đón, đã sắp sẵn thuyền bè cho sang sông, nên quân Bắc Địch mới không đuổi theo nữa, chúng liền kéo vào kinh thành nước Vệ, bao nhiêu vàng bạc thóc lúa, lấy sạch cả; lại phá hại cả thành quách, rồi thu quân về nước.
Quan đại phu nước Vệ là Hoàng Diễn khi trước phụng mệnh Vệ Ý công sang sứ nước Trần, khi trở về thì thấy nước Vệ đã bị quân Bắc Địch tàn phá rồi. Hoàng Diễn nghe nói Vệ Ý công chết ở đất Huỳnh Trạch, mới đi đến nơi để tìm xác. Trong khi đi đường trông thấy máu me xương thịt ngổn ngang đầy đồng, cảnh tượng rất là thê thảm; sau đi đến một chỗ, thấy có lá cờ đại bái bỏ rơi ở đấy, Hoàng Diễn nói:
- Cờ đại bái ở đây thì chắc là thi thể chúa công ta cũng quanh quẩn gần đây thôi.
Đi được vài bước nữa, Hoàng Diễn nghe có tiếng người rên rỉ, mới tìm đến xem, thì thấy một người nội thị gãy chân đang nằm ở đấy. Hoàng Diễn hỏi rằng:
- Nhà ngươi có biết chúa công chết ở chỗ nào không?
Nội thị trỏ vào một đống thịt mà bảo rằng:
- Thi thể chúa công ta đấy! Chính mắt tôi trông thấy chúa công bị quân giặc giết mà xả nhỏ ra, chỉ vì chân đau, tôi phải nằm dí ở đây, để chờ xem có ai là người nước Vệ đến thì trỏ bảo cho biết.
Hoàng Diễn trông thấy thi thể Vệ Ý công đã tan nát từng mảnh một, duy có buồng gan hãy còn mà thôi. Hoàng Diễn khóc òa lên, rồi sụp lạy trước buồng gan, coi như lúc Vệ Ý công hãy còn sống. Lạy xong, Hoàng Diễn nói:
- Nay thi thể chúa công ta không có người thu táng, âu là ta đem thân ta để làm áo quan cho chúa công.
Hoàng Diễn ngảnh lại dặn người nhà rằng:
- Sau khi ta chết rồi, nhà ngươi nên chôn ta ở trong rừng này, đợi bao giờ có vua mới thì nhà ngươi sẽ tâu bày.
Nói xong, liền cầm dao mổ bụng mình ra, rồi lấy buồng gan của Vệ Ý công bỏ vào trong bụng, được một lúc thì chết. Người nhà theo như lời dặn, đem chôn ở trong rừng, rồi lấy xe đưa người nội thị bị thương ấy về và nghe ngóng tin tức vua mới. Ninh Tốc và Thạch Kỳ chiêu tập những di dân ở Tào ấp, rồi lập công tử Thân lên nối ngôi, tức là Vệ Đái công.
Vệ Đái công nguyên trước đã có bệnh sẵn, lên nối ngôi được mấy hôm thì chết. Ninh Tốc lại sang nước Tề để đón công tử Hủy về nối ngôi. Tề Hoàn công sai công tử Vô Khuy đem quân đưa công tử Hủy về nước, tức là Vệ Văn công. Người nhà Hoàng Diễn và người nội thị gãy chân cùng nhau đem chuyện Hoàng Diễn tự mổ bụng để bỏ gan Vệ Ý công vào trong, nói với Vệ Văn công. Vệ Văn công sai người đến đất Huỳnh Trạch để làm lễ an táng Vệ Ý công, rồi lại gia phong cho Hoàng Diễn và dùng con Hoàng Diễn làm quan.
Khi Vệ Văn công lên ngôi, chỉ có ba mươi cỗ xe và phải ở gửi nhà dân, tình cảnh thật là thê lương. Vệ Văn công mặc áo vải to, đội mũ lụa xấu, ăn cơm đỏ và canh rau, thức khuya dậy sớm, vỗ về trăm họ, ai cũng khen là vua giỏi. Công tử Vô Khuy cho ba nghìn quân đóng lại ở đất Tào ấp để phòng giữ quân giặc, rồi trở về nước, vào yết kiến Tề Hoàn công, kể những công việc nước Vệ mới mở mang ở đất Tào ấp và thuật lại chuyện Hoàng Diễn mổ bụng để đựng gan Vệ Ý công.
Tề Hoàn công khen rằng:
- Ông vua vô đạo mà có được người bầy tôi trung như thế thì nước Vệ cũng chưa đến nỗi mất.
Quản Di Ngô nói:
- Nay ta bắt quân sĩ sang đóng đồn giữ hộ cho nước Vệ thì khó nhọc nhiều lắm, chi bằng đắp cho nước Vệ một cái thành, chỉ khó nhọc một lần mà sẽ được yên ổn mãi mãi.
Tề Hoàn công lấy làm phải, toan hội chư hầu để sang đắp thành hộ cho nước Vệ. Bỗng có sứ nước Hình đến cáo cấp, nói quân Bắc Địch lại kéo đến đánh, xin cho quân cứu viện. Tề Hoàn công hỏi Quản Di Ngô rằng:
- Ta có nên đi cứu nước Hình hay không?
Quản Di Ngô nói:
- Sở dĩ chư hầu qui phục nước Tề, là vì nước Tề cứu giúp họ trong cơn tai nạn; nay ta đã không cứu được nước Vệ, lại không sang cứu nước Hình thì nghiệp bá hỏng mất!
Tề Hoàn công nói:
- Thế thì bây giờ ta nên đi đắp thành cho nước Vệ trước hay là nên đi cứu nước Hình trước?
Quản Di Ngô nói:
- Ta hãy cứu xong nước Hình, rồi nhân thể quay về đắp thành cho nước Vệ, như thế thật là có công to lắm.
Tề Hoàn công khen phải, vào truyền hịch cho chư hầu đem quân đến hội ở đất Nhiếp Bắc để cùng đi cứu nước Hình. Quản Di Ngô lại nói với Tề Hoàn công rằng:
- Quân Bắc Địch còn đang hăng hái, sức nước Hình cũng chưa suy kiệt. Nay ta chống nhau với quân giặc đang hăng hái thì khó nhọc nhiều; vả lại giúp một nước chưa suy kiệt thì công không lấy gì làm to. Âu là ta hãy thong thả; nước Hình không chống nổi quân Bắc Địch thì nước Hình tất bị tàn phá; quân Bắc Địch đánh được nước Hình thì quân Bắc Địch tất phải mệt mỏi. Bấy giờ ta đuổi quân giặc đã mỏi mệt, mà cứu cho một nước đã bị tàn phá, đã không khó nhọc mấy tý mà công lại to.
Tề Hoàn công theo lời Quản Di Ngô, cứ đóng quân ở đất Nhiếp Bắc, giả cách nói còn đợi quân các nước, rồi sai người đi do thám xem tin tức Bắc Địch đánh nước Hình ra sao. Quân Bắc Địch ra sức đánh nước Hình suốt ngày đêm trong hai tháng trời.
Người nước Hình không thể chống giữ được, mới bỏ chạy tán loạn, kéo nhau đến dinh Tề Hoàn công để cầu cứu. Lại có một người khóc lăn ở dưới đất, tức là vua nước Hình, tên gọi Thúc Nhan. Tề Hoàn công vội vàng đỡ dậy, lấy lời ôn tồn mà úy dụ rằng:
- Ta không kịp đến cứu, ấy là lỗi của ta đó!
Nói xong, liền họp quân các nước để bàn cách đánh giặc. Vua Bắc Địch là Sưu Man cướp phá kho tàng nước Hình lấy được của cải rất nhiều, cũng đã mãn nguyện, chẳng thiết gì đến việc tranh chiến nữa; lại nghe tin các nước kéo quân đến cứu, tức thì đốt cháy kinh thành nước Hình, rồi rút quân về.
Chư hầu kéo quân đến nơi thì quân Bắc Địch đã rút hết rồi. Tề Hoàn công truyền cho quân sĩ chữa tắt những nơi lửa cháy, lại hỏi Thúc Nhan rằng:
- Thành cũ còn có thể ở tạm được nữa hay không?
Thúc Nhan nói:
- Dân bỏ đi mất quá nửa, đem nhau đến đất Di Nghi, bây giờ tôi xin theo ý dân mà thiên đô sang ở đấy.
Tề Hoàn công mới hội các nước để đắp thành ở đất Di Nghi cho Thúc Nhan ở, và cấp cho trâu, ngựa, thóc, lụa nhiều lắm. Vua tôi nước Hình mừng rỡ như là được về nước cũ. Tề Hoàn công lại đem quân các nước sang đắp thành cho nước Vệ. Vệ Văn công ra nghênh tiếp. Tề Hoàn công trông thấy Vệ Văn công đội mũ lụa xấu, mặc áo vải to, có ý thương tình, mới bảo Vệ Văn công rằng:
- Ta nhờ có quân chư hầu, muốn đắp thành giúp quý quốc, chẳng hay quý quốc định đóng đô ở chỗ nào?
Vệ Văn công nói:
- Tôi đã chọn được đất Sở Khâu là nơi cát địa nên đóng đô, nhưng bây giờ đắp thành thì phí tổn lắm, một nước đã bị tàn phá này không thể nào lo nổi.
Tề Hoàn công nói:
- Việc đó để ta xin giúp.
Nói xong, liền truyền cho quân các nước đến đất Sở Khâu để đắp thành cho nước Vệ.
Bấy giờ Sở Thành vương (Hùng Vận) từ khi dùng Tử Văn (Đấu Cấu Ô Đồ) làm lệnh doãn, vẫn sửa sang chính trị trong nước, muốn làm bá chủ, nghe tin Tề Hoàn công cứu nước Hình giúp nước Vệ, khiến chư hầu ai cũng ca tụng công đức, thì có ý không bằng lòng, mới bảo Tử Văn rằng:
- Bây giờ các nước chư hầu đều một lòng qui phục nước Tề, mà không biết đến nước Sở, ta thật lấy làm xấu hổ!
Tử Văn nói:
- Tề hầu dựng bá nghiệp đã gần ba mươi năm nay, các nước đều tín phục, ta chưa có thể địch nổi; chỉ có nước Trịnh ở vào giữa khoảng nam bắc, làm bức phên cho Trung nguyên, nếu đại vương muốn mưu đồ Trung nguyên thì tất phải đánh nước Trịnh mới được.
Sở Thành vương nói:
- Ai là người dám giúp ta nhận cái việc đánh nước Trịnh ấy?
Quan đại phu là Đấu Chương xin đi đánh. Sở Thành vương cho Đấu Chương đem quân thẳng đường tiến sang nước Trịnh. Nước Trịnh từ khi bị quân nước Sở sang quấy nhiễu ở đất Thuần Môn, vẫn ngày đêm phòng bị. Nay nghe báo nước Sở đến đánh, Trịnh Văn công sợ hãi, sai quan đại phu là Đam Bá đem quân ra giữ đất Thuần Môn, và sai sứ sang cáo cấp với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công hội các nước chư hầu để sắp sửa sang cứu Trịnh. Đấu Chương biết nước Trịnh đã có phòng bị, lại nghe nói nước Tề sắp sửa đến cứu, sợ đánh không nổi, liền kéo quân trở về.
Sở Thành vương nghe tin Đấu Chương kéo quân trở về, tức thì nổi giận, cởi thanh bảo kiếm vẫn đeo ở trong mình cho Đấu Liêm, sai Đấu Liêm đi chém lấy đầu Đấu Chương. Đấu Liêm là anh Đấu Chương, nên khi đến dinh Đấu Chương, thì giấu lệnh của Sở Thành vương đi, không nói cho quân sĩ biết vội, rồi mật cùng Đấu Chương thương nghị.
Đấu Liêm bảo Đấu Chương rằng:
- Bây giờ muốn khỏi tội thì tất phải lập công mới được.
Đấu Chương sụp lạy, xin anh dạy bảo cho. Đấu Liêm nói:
- Nước Trịnh thấy nhà ngươi kéo quân về, tất cho là nhà ngươi không trở lại nữa; bây giờ nhà ngươi lập tức lại kéo quân sang thì tất là đánh được nước Trịnh.
Đấu Chương bèn chia quân ra làm hai đạo, tự đem một đạo đi trước, còn Đấu Liêm đem một đạo theo sau để tiếp ứng. Đấu Chương truyền cho quân sĩ cuốn cờ im trống kéo thẳng đến địa giới nước Trịnh. Quan đại phu nước Trịnh là Đam Bá đang đi tuần ở ngoài bờ cõi, nghe có giặc đến, hoảng hốt chưa biết là quân nước nào, vội vàng cưỡi ngựa ra nghênh chiến, chẳng ngờ lúc ấy quân của Đấu Liêm cũng vừa đến, và lẻn ra phía sau quân Trịnh. Mặt trước có quân Đấu Chương đánh, mặt sau có quân Đấu Liêm đánh, Đam Bá không thể địch nổi, bị Đấu Chương bắt sống, còn quân Trịnh thì chết mất quá nửa. Đấu Chương toan thừa thắng tiến thẳng vào kinh thành nước Trịnh.
Đấu Liêm nói:
- Ta chỉ cốt lập công để chuộc tội chết, nay đánh được thế này, cũng đủ rồi, không nên khinh thường mà tiến binh làm gì nữa.
Nói xong, liền thu quân trở về nước Sở. Đấu Chương vào yết kiến Sở Thành vương, sụp lạy xin chịu tội, nói:
- Khi trước tôi lui quân về, là có ý lập kế để đánh lừa giặc, không phải sợ giặc mà không dám đánh.
Sở Thành vương nói:
- Nhà ngươi đã có công bắt được tướng nước Trịnh thì ta hãy tha tội cho, nhưng nước Trịnh chưa chịu đầu hàng sao nhà ngươi đã vội lui quân?
Đấu Chương nói:
- Tôi sợ quân ít, không đánh nổi nước Trịnh, lại làm tổn mất uy danh nước Sở ta, vậy nên phải rút về.
Sở Thành vương nổi giận, nói:
- Bây giờ nhà ngươi đổ lỗi tại quân ít, rõ là nhà ngươi sợ giặc; nay ta cấp thêm quân cho, nhà ngươi phải đi ngay, nếu không đánh được nước Trịnh thì đừng trông thấy mặt ta nữa!
Đấu Liêm nói:
- Xin đại vương lại cho hai anh em tôi cùng đi. Nếu nước Trịnh không chịu đầu hàng thì chúng tôi xin bắt vua nước Trịnh đem về nộp đại vương.
Sở Thành vương thấy lời nói hăng hái bèn cho đi. Sở Thành vương cho Đấu Liêm làm đại tướng, Đấu Chương làm phó tướng, cùng đem quân kéo sang nước Trịnh. Trịnh Văn công nghe tin Đam Bá bị bắt, lại sai người sang cầu cứu với nước Tề.
Quản Di Ngô nói với Tề Hoàn công rằng:
- Trong mấy năm nay, chúa công cứu nước Yên, giúp nước Lỗ, lại đắp thành cho nước Hình và nước Vệ, chư hầu đều một lòng tin phục, vậy thì ngày nay chính là lúc chúa công có thể dùng được quân chư hầu. Chúa công muốn cứu nước Trịnh thì không gì bằng đánh nước Sở, mà đánh nước Sở tất phải hội quân chư hầu lại.
Tề Hoàn công nói:
- Ta hội quân chư hầu thì nước Sở tất biết mà phòng bị trước, ta khó lòng mà đánh được.
Quản Di Ngô nói:
- Nước Sái là một nước có lỗi với chúa công, chúa công muốn đánh đã lâu, mà nước Sở lại tiếp giáp với nước Sái; nay chúa công mượn tiếng đi đánh nước Sái, nhân tiện đem quân sang đánh nước Sở thì nước Sở không biết đâu mà phòng bị kịp.
Nguyên Sái hầu gả con gái là Sái Cơ cho Tề Hoàn công làm đệ tam phu nhân. Một hôm, Tề Hoàn công cùng với Sái Cơ chèo một cái thuyền nhỏ ở trong ao để hái hoa sen làm vui. Sái Cơ đùa bỡn, lấy nước té vào Tề Hoàn công. Tề Hoàn công giơ tay gạt đi không cho té vào mình. Sái Cơ biết là Tề Hoàn công sợ nước, mới cố ý làm cho thuyền tròng trành, nước vào ướt cả áo Tề Hoàn công.
Tề Hoàn công nổi giận, mắng rằng:
- Đứa tiện tỳ này, mày không biết đạo thờ vua!
Nói xong, liền sai Thụ Điêu đem Sái Cơ về nước Sái. Sái hầu cũng giận lắm, nói:
- Em gái ta đã gả bán rồi, nay lại đuổi về, thế là tuyệt tình!
Sau Sái hầu lại đem Sái Cơ gả cho Sở Thành vương. Sở Thành vương lập làm phu nhân. Tề Hoàn công vẫn căm tức Sái hầu, bởi vậy Quản Di Ngô mới bảo Tề Hoàn công đem quân sang đánh nước Sái. Tề Hoàn công nói:
- Nước Giang và nước Hoàng cùng tiếp giáp nước Sở, nước Sở thường sang quấy nhiễu, bởi vậy hai nước có sai sứ sang giảng hòa với ta; nay ta muốn cùng hai nước ấy thề ước với nhau, để khi đánh Sở thì hai nước ấy làm nội ứng, phỏng có nên không?
Quản Di Ngô nói:
- Nước Giang và nước Hoàng xa nước Tề ta mà gần nước Sở, xưa nay vẫn thần phục nước Sở, mới còn giữ được đến bây giờ; nay lại phản nước Sở để theo ta thì nước Sở tất nổi giận mà đem quân sang đánh. Bấy giờ ta muốn đến cứu thì ngại về một nỗi đường xá xa xôi, mà bỏ không đến cứu thì trái mất cái nghĩa giao hiếu. Phương chi, chư hầu biết bao nhiêu nước, cần gì phải nhờ đến mấy nước nhỏ mọn ấy, chi bằng chúa công cứ lấy lời ôn tồn mà từ chối đi là hơn.
Tề Hoàn công nói:
- Các nước xa xôi, có lòng mộ nghĩa mà về với mình, nay mình lại từ chối thì chẳng hóa ra làm cho người ta ngã lòng hay sao!
Quản Di Ngô nói:
- Xin chúa công cứ ghi lời nói của tôi lên trên tường, ngày sau chớ quên sự nguy cấp của nước Giang và nước Hoàng.
Tề Hoàn công mới cùng với nước Giang mà nước Hoàng giảng hòa, lại cùng với hai nước mật ước việc đánh Sở. Vua nước Giang và nước Hoàng nói với Tề Hoàn công rằng:
- Người nước Thư vẫn giúp nước Sở làm những việc tàn ác, chúa công nên đem quân đến đánh.
Tề Hoàn công nói:
- Ta phải đánh lấy nước Thư trước, để cắt vây cánh của nước Sở.
Nói xong, liền viết thư sai người đưa cho vua nước Từ. Nguyên Tề Hoàn công lấy con gái nước Từ làm đệ nhị phu nhân. Nước Từ xưa nay vẫn qui phục nước Tề, mà lại ở tiếp giáp với nước Thư, bởi vậy Tề Hoàn công đem việc đánh Thư giao cho vua nước Từ. Vua nước Từ theo lời Tề Hoàn công, đem quân đi đánh nước Thư. Khi đánh được nước Thư rồi, Tề Hoàn công bảo vua nước Từ đóng quân ở kinh thành nước Thư để phòng khi có sự nguy cấp. Lỗ Hi công sai Quí Hữu sang xin lỗi và nói với Tề Hoàn công rằng:
- Nước tôi có việc hiềm khích với nước Châu và nước Cử, nên không theo quý quốc sang đắp thành ở nước Hình, cùng nước Vệ được. Nay nghe tin quý quốc hội với nước Giang và nước Hoàng để sửa soạn việc tranh chiến, vậy nước tôi xin đem quân theo.
Tề Hoàn công mừng lắm, cũng đem việc đánh Sở mật ước với nước Lỗ. Bấy giờ nước Sở đem quân đến đánh nước Trịnh. Trịnh Văn công xin giảng hòa để cho dân khỏi khổ sở. Quan đại phu là Khổng Thúc can rằng:
- Tề sắp sửa đánh Sở là vì ta đó, ta nên cố giữ để đợi xem sao.
Trịnh Văn công nghe lời, lại sai người sang cáo cấp với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công lập kế cho nước Trịnh phao tin quân Tề sang cứu, khiến cho Sở không dám tiến binh, rồi đem một toán quân sang hội với chư hầu để đánh Sở.
Tề Hoàn công đại hội chư hầu, mượn tiếng đi đánh nước Sái, để đem quân sang đánh Sở, rồi cho Quản Di Ngô làm đại tướng. Lại sai Thụ Điêu đem quân đến đánh nước Sái trước. Nước Sái vẫn cậy thế nước Sở, không phòng bị chút nào, khi quân Tề kéo đến nơi, mới vội vàng đem quân ra chống giữ. Thụ Điêu diễu quân ở dưới chân thành nước Sái. Sái hầu trông rõ là Thụ Điêu, năm trước vẫn hầu hạ Sái Cơ ở trong Tề cung, sau lại đưa Sái Cơ về nước. Sái hầu biết Thụ Điêu là kẻ tiểu nhân, đêm hôm ấy sai người đem một xe vàng lụa đến lễ Thụ Điêu, để nhờ Thụ Điêu hãy hoãn binh cho.
Thụ Điêu nhận lễ, rồi lại đem việc bí mật của Tề Hoàn công đại hội chư hầu, trước đánh Sái, sau đánh Sở, nói hết cả cho nước Sái biết, lại bảo với sứ giả nước Sái rằng:
- Chẳng bao lâu nữa thì các nước đem quân đến phá hủy kinh thành nước Sái, âu là người nước Sái nên liệu mà trốn trước đi.
Sứ giả thuật lại với Sái hầu. Sái hầu sợ hãi, đêm hôm ấy đem cung quyến mở cửa thành trốn sang nước Sở. Dân nước Sái thấy Sái hầu đi trốn, tức khắc vỡ chạy cả; Thụ Điêu tự nhận là công mình, sai người về phi báo với Tề Hoàn công. Sái hầu sang đến nước Sở, vào yết kiến Sở Thành vương thuật lại những lời nói của Thụ Điêu.
Sở Thành vương biết rõ mưu kế của Tề Hoàn công, tức khắc một mặt truyền cho quân sĩ phòng giữ các nơi; một mặt lại sai người đi triệu quân Đấu Chương ở nước Trịnh về. Mấy hôm sau, đại binh của Tề Hoàn công đến nước Sái. Thụ Điêu đem quân ra nghênh tiếp. Bảy nước chư hầu cùng kéo quân đến, nghi vệ rất là nghiêm chỉnh. Bảy nước ấy là:
1. Tống Hoàn công (Ngự Thuyết)
2. Lỗ Hi công (Thân)
3. Trần Tuyên công (Chử Cữu)
4. Vệ Văn công (Huỷ)
5. Trịnh Văn công (Thiệp)
6. Tào Chiêu công (Ban)
7. Hứa Mục công (Tân Thần)
Kể cả bá chủ là Tề Hoàn công (Tiểu Bạch), cộng thành tám nước.
Bấy giờ Hứa Mục công đang ốm, cũng miễn cưỡng đem quân đến hội ở nước Sái. Tề Hoàn công khen công khó nhọc ấy, đặt ngôi thứ ở trên Tào Chiêu công. Đêm hôm ấy, Hứa Mục công mất, Tề Hoàn công đóng quân ở nước Sái ba ngày để phát tang Hứa Mục công.
Khi an táng Hứa Mục công rồi, Tề Hoàn công lại cử đại binh thẳng đường kéo sang nước Sở. Đi đến biên giới nước Sở, thấy có một người mũ áo chỉnh tề, đứng ở bên đường, khúm núm cúi chào mà nói rằng:
- Ngài có phải là Tề hầu đó không? Tôi là sứ thần nước Sở chờ ngài đã lâu lắm!
Nguyên người ấy tên là Khuất Hoàn, là một quí tộc nước Sở, làm quan đại phu, bấy giờ phụng mệnh Sở Thành vương ra thương thuyết với quân nước Tề. Tề Hoàn công hỏi Quản Di Ngô rằng:
- Sao người nước Sở lại biết trước là ta đem quân tới đây?
Quản Di Ngô nói:
- Tất là có người nào đem mưu kế của ta tiết lộ cho người Sở biết. Nhưng nay họ đã sai sứ đến đây là có ý muốn bày tỏ điều gì đó, tôi xin lấy đại nghĩa mà trách quở người ấy khiến cho hắn xấu hổ thì có lẽ không cần phải đánh mà tự khắc họ phải phục.
Nói xong, Quản Di Ngô ra tiếp kiến Khuất Hoàn. Hai người chắp tay vái chào nhau. Khuất Hoàn nói:
- Chúa công tôi nghe tin quý quốc đem quân tới đây, vậy có sai tôi ra để thưa với quý quốc rằng Tề và Sở, nước nào làm chủ nước ấy; nước Tề ở Bắc Hải, nước Sở ở Nam Hải, trâu và ngựa không đánh hơi nhau được(1). Chẳng hay vì cớ gì mà quý quốc lại đi vào đất nước chúng tôi, xin quý quốc ngỏ lời cho biết.
Quản Di Ngô nói:
- Ngày xưa vua Thành vương nhà Chu phong cho tiên quân ta là Thái công ở nước Tề, có dặn một câu rằng: “Các nước chư hầu, nước nào không theo mệnh thiên tử nhà Chu, thì tiên quân ta được quyền đem quân đi đánh dẹp”. Từ khi nhà Chu thiên sang Đông Đô, các nước chư hầu tiếm quyền, chúa công ta lại phụng mệnh làm bá chủ. Nước Sở nhà ngươi theo lệ mỗi năm phải cống cho thiên tử nhà Chu một bó cỏ bao mao để dùng về việc cúng tế, thế mà dám bỏ liều không cống, bởi vậy ta phải đến đây để đòi. Vả lại vua Chiêu vương nhà Chu ngày trước đi sang địa giới nước Sở mà không thấy trở về, ấy cũng là bởi cớ nước Sở; ngươi còn nói gì!
Khuất Hoàn nói:
- Từ khi nhà Chu suy yếu, các nước chư hầu đều bỏ lễ triều cống, chẳng riêng gì nước Sở tôi. Tuy vậy, về việc cống cỏ bao mao, thì chúa công tôi cũng xin chịu lỗi; còn việc vua Chiêu vương không trở về là vì cớ đắm thuyền, xin quý quốc cứ hỏi người ở ngoài bờ sông thì khắc biết; chúa công tôi không dám nhận lỗi ấy. Vậy tôi xin về nói lại với chúa công tôi.
Nói xong, liền quay xe trở về. Quản Di Ngô bảo Tề Hoàn công rằng:
- Người nước Sở còn quật cường lắm, chưa có thể lấy miệng lưỡi mà khuất phục được, ta phải tiến quân lên để ra uy mới được.
Nói xong, truyền cho các nước đều tiến quân đến đóng ở đất Kinh Địa. Sở Thành vương cho Tử Văn làm đại tướng, đem quân ra đóng ở đất Hán Nam. Tử Văn nói với Sở Thành vương rằng:
- Quản Di Ngô là một người giỏi binh pháp, nay đem quân các nước đến đây, tất là đã có mưu kế vạn toàn rồi, ta nên sai sứ đi một lần nữa để dò xem mạnh yếu thế nào, bấy giờ hoặc đánh hoặc hòa, ta sẽ tùy liệu.
Sở Thành vương nói:
- Bây giờ biết sai ai được?
Tử Văn nói:
- Khuất Hoàn đã biết mặt Quản Di Ngô thì nên sai đi lần nữa.
Khuất Hoàn nói:
- Lần trước tôi đã nhận cái lỗi không cống cỏ bao mao. Nếu đại vương muốn giảng hòa thì tôi xin gắng đi, để gỡ mối lôi thôi cho hai nước. Còn như muốn đánh, thì xin đại vương sai người nào hơn tôi đi mới được.
Sở Thành vương nói:
- Hoặc đánh hoặc hòa, ta cho nhà ngươi được tùy ý thương thuyết.
Khuất Hoàn bèn phụng mệnh sang thương thuyết với quân Tề.
_____
(1) Ý nói rất là xa cách nhau.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.11.2015 15:09:52 bởi Huy Nguyên>
HỒI HAI MƯƠI BỐN
 
Tề Hoàn tiếp đãi Sở đại phu
Chư hầu tôn phục Chu thiên tử
 
Khuất Hoàn phụng mệnh Sở Thành vương, lại đến chỗ quân Tề đóng, xin vào yết kiến Tề Hoàn công.
Quản Di Ngô nói với Tề Hoàn công rằng:
- Nước Sở lại cho sứ đến, tất là xin giảng hòa, chúa công nên tiếp đãi cho tử tế.
Khuất Hoàn vào yết kiến Tề Hoàn công, sụp lạy hai lạy. Tề Hoàn công đáp lễ lại rất tử tế, rất hỏi xem ý muốn thế nào?
Khuất Hoàn nói:
- Chúa công tôi vì cớ không cống cỏ bao mao, để quý quốc phải đem quân tới đây, chúa công tôi biết tội lắm rất; nếu quý quốc chịu rút quân khỏi một xá(1), thì chúa công tôi há dám không vâng mệnh.
Tề Hoàn công nói:
- Nếu đại phu biết khuyên quốc quân giữ trọn chức phận, khiến cho ta có thể tâu lại với thiên tử được, thì ta còn đợi gì nữa mà chẳng rút quân.
Khuất Hoàn về nói với Sở Thành vương rằng:
- Tôi nói với Tề hầu, Tề hầu đã chịu rút quân rồi. Tôi có hẹn với Tề hầu xin đem cống cỏ bao mao, vậy đại vương chớ có thất tín.
Sở Thành vương lại sai người đi do thám xem chư hầu đã rút quân về chưa. Quân sĩ về báo rằng:
- Quân các nước đã rút ra ngoài ba mươi dặm, đóng tại đất Thiệu Lăng.
Sở Thành vương nói:
- Tề hầu đã chịu rút quân, thế là có ý sợ ta!
Nói xong, lại toan bỏ không cống cỏ bao mao nữa.
Tử Văn nói:
- Vua tám nước chư hầu còn không nỡ thất tín với một kẻ thường dân(2), thế mà đại vương lại muốn cho một kẻ thường dân thất tín với vua các nước hay sao?
Sở Thành vương nín lặng, không nói gì cả, rồi sai Khuất Hoàn đem mấy xe vàng lụa đến đất Thiệu Lăng để khao quân chư hầu. Lại sai sửa soạn sẵn một xe cỏ bao mao, đem đến trình với Tề Hoàn công để rồi sai sứ vào cống thiên tử.
Lại nói chuyện Hứa Mục công mất, con Hứa Mục công là Nghi Nghiệp lên nối ngôi, tức là Hứa Hi công. Hứa Hi công cảm cái ơn Tề Hoàn công trông nom khi Hứa Mục công mất tại nước Sái, mới sai quan đại phu là Bách Đà đem quân đến hội ở đất Thiệu Lăng. Khuất Hoàn vào yết kiến Tề Hoàn công, dâng các thứ vàng lụa để khao quân. Tề Hoàn công sai người phân phát cho quân các nước. Khuất Hoàn lại đệ trình cỏ bao mao. Tề Hoàn công xem xong lại giao trả Khuất Hoàn để sai sứ đem vào cống thiên tử.
Tề Hoàn công bảo Khuất Hoàn rằng:
- Đại phu đã được xem binh lực của Trung quốc ta bao giờ chưa?
Khuất Hoàn nói:
- Tôi ở hẻo lánh về cõi phía nam này, chưa được xem binh lực của Trung quốc bao giờ, nay xin quý quốc cho chúng tôi được xem một lượt.
Tề Hoàn công liền đưa Khuất Hoàn đi xem tất cả các trại quân của chư hầu. Bấy giờ quân các nước đóng liền nhau kể hàng mấy mươi dặm. Trong dinh quân Tề nổi hiệu trống lên thì quân bảy nước chư hầu đều theo mà đánh trống, khác nào như sấm sét vang trời. Tề Hoàn công tươi cười, tự đắc mà bảo Khuất Hoàn rằng:
- Binh lực của ta như thế này, phỏng đánh đâu mà không thắng?
Khuất Hoàn nói:
- Sở dĩ nhà vua làm nên bá nghiệp ở Trung nguyên là vì nhà vua biết thể theo đức ý của thiên tử mà vỗ về trăm họ. Nếu nhà vua lấy đức mà xử với chư hầu thì nước nào không phải phục; nếu chỉ cậy về binh lực mà thôi, thì nước Sở tôi dẫu nhỏ mọn thật, nhưng có thành Phương Thành, có sông Hán Thủy, thành cao hào sâu ấy dẫu trăm vạn quân đến, cũng vị tất đã làm gì nổi.
Tề Hoàn công nghe nói, có ý thẹn thùng mà bảo Khuất Hoàn rằng:
- Đại phu thật là một người hiền ở nước Sở! Nay ta muốn cùng với vua nước Sở nối lại cái mối hòa hảo của các đấng tiên quân chúng ta ngày xưa, đại phu nghĩ thế nào?
Khuất Hoàn nói:
- Nếu nhà vua xuống ơn cho xã tắc nước tôi, cho vua nước tôi được gia nhập đồng minh, thì vua nước tôi há dám ở ngoài cuộc. Vậy xin cùng nhà vua kết định minh ước có được không?
Hoàn công nói: “Được!” Và chiều hôm ấy truyền mở tiệc thết đãi Khuất Hoàn. Ngày hôm sau, Hoàn công lập đàn ở đất Thiệu Lăng để cùng với nước Sở ăn thề. Hoàn công làm minh chủ. Quản Di Ngô làm phó. Khuất Hoàn thay mặt vua nước Sở ký vào bản điều ước.
Hai bên cùng lập điều ước giảng hòa với nhau. Quản Di Ngô nói riêng với Khuất Hoàn, xin tha cho Đam Bá về nước Trịnh. Khuất Hoàn cũng thay lời Sái hầu xin lỗi với Tề Hoàn công. Quản Di Ngô truyền thu quân về nước. Trong khi đi đường, Bão Thúc Nha hỏi Quản Di Ngô rằng:
- Nước Sở tiếm hiệu xưng vương, đó là một tội lớn, sao Trọng phụ không nói đến mà lại chỉ nói về việc không cống cỏ bao mao, tôi không hiểu ý ra làm sao cả!
Quản Di Ngô nói:
- Nước Sở tiếm hiệu xưng vương, đã ba đời nay rồi, bởi vậy ta vẫn khinh bỉ như một nước rợ mọi. Nếu ta bắt nước Sở bỏ ngay danh hiệu ấy đi thì khi nào nước Sở lại chịu cúi đầu mà nghe ta! Nước Sở không nghe thì tất ta phải đánh; đã sinh sự đánh nhau thì hai bên cùng thiệt hại, ít ra cũng rối loạn trong vài ba năm trời. Nay ta trách về việc không cống cỏ bao mao, thì hắn có thể dễ dàng vâng mệnh. Sở đã chịu phục, thì tiếng tăm của ta cũng đủ để khoe khoang với chư hầu và tâu lại với thiên tử, chẳng hơn là gây việc tranh chiến lôi thôi, chưa biết bao giờ xong được hay sao?
Bão Thúc Nha nghe lời, chịu là phải. Quan đại phu nước Trần là Đào Đồ nghe tin Tề Hoàn công rút quân về nước, liền bàn với quan đại phu nước Trịnh là Thân hầu rằng:
- Nếu để cho quân Tề đi qua địa giới nước Trần và nước Trịnh thì ta phải cung đốn lương thực khí dụng, tốn kém nhiều lắm. Âu là ta nói với Tề hầu đi về phía đông, khiến cho nước Từ và nước Cử phải chịu sự cung đốn khó nhọc ấy, thì hai nước ta mới có thể ngồi yên được.
Thân hầu khen phải, rồi bảo Đào Đồ nói với Tề Hoàn công. Đào Đồ nói với Tề Hoàn công rằng:
- Hiền hầu đánh Sơn nhung ở phía bắc, đánh nước Sở ở phía nam, nếu bây giờ lại kéo quân về qua phía đông, khiến các nước ở phía đông đều phải sợ uy nước Tề, như thế thì ai còn dám không phục?
Tề Hoàn công nói:
- Đại phu nói phải đó!
Được một lúc, Thân hầu xin vào yết kiến. Tề Hoàn công cho vào. Thân hầu vào nói với Tề Hoàn công rằng:
- Tôi nghe nói phép đem quân đi, không nên qua mùa nọ đến mùa kia, là vì sợ dân chúng phải khó nhọc. Nay nhà vua đem quân đi đánh, từ mùa xuân sang mùa hạ, dầm mưa dãi gió, gối tuyết nằm sương, quân sĩ đều mỏi mệt cả. Bây giờ nhà vua rút quân về, đi qua địa giới nước Trần và nước Trịnh thì lương thực khí dụng lấy đâu cũng dễ; còn như đi về phía đông, ngộ có nước rợ mọi nào dám đón đường ngăn trở, thì lại phải sinh sự đánh nhau, biết làm thế nào? Và Đào Đồ chỉ biết lợi riêng cho nước mình, không phải là thực bụng, xin nhà vua nên xét kỹ.
Tề Hoàn công nói:
- Nếu không có đại phu nói thì thật là lỡ cả việc của ta.
Nói xong, liền sai người đi bắt Đào Đồ để trị tội. Lại bảo với Trịnh Văn công phải đem đất Hổ Lao thưởng công cho Thân hầu. Trịnh Văn công dẫu phải vâng mệnh, nhưng có ý không bằng lòng. Trần Tuyên công sai người đem lễ đến xin lỗi hai ba lần, Tề Hoàn công mới tha tội cho Đào Đồ. Các nước chư hầu đều rút quân, nước nào về nước ấy.
Tề Hoàn công thấy Quản Di Ngô có nhiều công trạng to, mới đem đất Biền ấp hơn ba trăm nóc nhà của quan đại phu là Bá Thị phong thêm cho Quản Di Ngô.
Sở Thành vương thấy các nước chư hầu đều rút quân về, lại toan thôi không cống cỏ bao mao nữa. Khuất Hoàn nói:
- Ta không nên thất tín với nước Tề. Vả lại chỉ vì nước Sở ta không vào cống hiến nhà Chu, khiến cho Tề được tiếng là biết tôn kính thiên tử. Nay nhân chuyện này, ta sai sứ vào cống nhà Chu thì ta cũng chẳng kém gì nước Tề cả.
Sở Thành vương nói:
- Chỉ ngại về một điều ta đã xưng vương thì làm thế nào cho tiện?
Khuất Hoàn nói:
- Trong tờ biểu dâng vua nhà Chu, ta không nên nói đến tước, chỉ nên tự xưng là viễn thần mà thôi.
Sở Thành vương nghe lời, liền sai Khuất Hoàn đi sứ, đem mười xe cỏ bao mao và các thứ vàng lụa vào dâng Huệ vương nhà Chu. Chu Huệ vương mừng lắm, nói:
- Nước Sở bỏ chức phận, không cống hiến đã lâu ngày, bây giờ lại biết quy thuận như thế, chẳng qua cũng là nhờ uy linh của tiên vương ta đó!
Nói xong, liền sai làm lễ vào yết cáo nhà Thái miếu, rồi đem phần tế ban cho nước Sở. Lại bảo Khuất Hoàn rằng:
- Từ nay trở đi, nước Sở nhà ngươi chớ có xâm phạm các nước ở Trung quốc.
Khuất Hoàn sụp lạy hai lạy, rồi cáo từ lui ra. Khuất Hoàn vừa ra xong thì Tề Hoàn công cho Thấp Bằng đến tâu về việc nước Sở đã chịu quy phục. Chu Huệ vương tiếp đãi Thấp Bằng rất trọng thể. Thấp Bằng tâu với vua Huệ vương xin vào yết kiến ngôi thái tử.
Chu Huệ vương nghe nói, có ý không được vui, liền sai người con thứ là vương tử Đái cùng với thái tử Trịnh cùng ra tiếp kiến Thấp Bằng. Thấp Bằng trông thấy nét mặt vua Huệ vương nhà Chu có ý hoảng hốt, bèn về nói với Tề Hoàn công rằng:
- Nhà Chu sắp loạn đến nơi rồi!
Tề Hoàn công nói:
- Tại làm sao?
Thấp Bằng nói:
- Người con trưởng vua nhà Chu tên là Trịnh, là con bà Khương hậu, đã lập làm thái tử. Nay bà Khương hậu mất, bà thứ hậu là Trần Vĩ được vua yêu, sinh người con tên là Đái. Vương tử Đái khéo nịnh nọt, bởi vậy vua nhà Chu yêu lắm, muốn bỏ thái tử Trịnh mà lập vương tử Đái làm thái tử. Khi vua nhà Chu cho vương tử Đái và thái tử Trịnh ra tiếp kiến tôi, thì nét mặt có ý hoảng hốt, tất là trong lòng nghĩ về việc ấy. Tôi e rằng chẳng bao lâu sẽ có loạn to, chúa công đã làm minh chủ, cũng nên nghĩ đến.
Tề Hoàn công bèn sai triệu Quản Di Ngô vào để thương nghị. Quản Di Ngô nói:
- Tôi có một kế có thể giữ yên được nhà Chu.
Tề Hoàn công hỏi:
- Trọng phụ có kế gì?
Quản Di Ngô nói:
- Ngôi thái tử không được vững vàng như vậy là vì không có vây cánh; nay ta viết một đạo biểu dâng vua nhà Chu, nói chư hầu muốn yết kiến ngôi thái tử và xin thái tử ra hội với chư hầu. Nếu thái tử đã đi hội với chư hầu thì cái phận vua tôi đã phân định rồi, dẫu vua nhà Chu muốn thay đổi, cũng khó lòng mà làm được.
Tề Hoàn công khen phải, liền truyền hịch cho các nước, hẹn đến sang năm thì đại hội ở đất Thủ Chỉ (đất nước Vệ); rồi lại sai Thấp Bằng sang nói với Huệ vương nhà Chu rằng chư hầu muốn yết kiến ngôi thái tử để tỏ tấm lòng tôn kính. Chu Huệ vương vốn không muốn cho thái tử đi hội với chư hầu, nhưng sợ thế lực nước Tề, vả lại nước Tề nói cũng có lý, không thể từ chối được, mới phải nhận lời cho thái tử đi hội với chư hầu. Thấp Bằng về báo với Tề Hoàn công. Đầu năm sau, Tề Hoàn công sai Trần Kính Trọng sang đất Thủ Chỉ xây sẵn một cung để đợi thái tử đến ở. Tháng năm mùa hạ, tám nước Tề, Tống, Lỗ, Trần, Vệ, Trịnh, Hứa, Tào, đều đến Thủ Chỉ. Khi thái tử Trịnh đến, Tề Hoàn công đem các nước đến lạy mừng. Thái tử Trịnh hai ba lần từ nhượng, không dám nhận lễ.
Tề Hoàn công nói:
- Chúng tôi là chư hầu, nay yết kiến thái tử cũng như là yết kiến thiên tử, xin thái tử cứ cho như vậy.
Thái tử Trịnh cảm tạ. Đêm hôm ấy, thái tử Trịnh sai người mời Tề Hoàn công đến nhà hành cung, đem việc vương tử Đái muốn cướp ngôi nói chuyện với Tề Hoàn công.
Tề Hoàn công nói:
- Chúng tôi muốn lưu thái tử ở lại ít lâu, là có ý để cho thiên tử biết cái lòng chúng tôi mến phục thái tử lắm, dẫu có mưu gì cũng phải thôi đi. Bây giờ đang mùa hạ nóng bức, đợi sang đến mùa thu mát trời, bấy giờ chúng tôi sẽ đưa thái tử về triều.
Chu Huệ vương thấy thái tử Trịnh mãi không trở về, biết là Tề Hoàn công có ý mến phục, trong lòng không được vui. Trần Vĩ và vương tử Đái thì ngày đêm ở bên cạnh, đem lời xui giục. Chu Huệ vương nhân thấy quan thái tể là Chu Công Khổng vào yết kiến, liền bảo Chu Công Khổng rằng:
- Tề hầu mới rồi dẫu đánh được nước Sở, nhưng kỳ thực binh lực không hơn gì nước Sở. Vả người nước Sở đã biết thần phục nhà Chu ta, không vô lễ như trước nữa, vậy thì nước Sở cũng chẳng kém gì nước Tề. Nay không biết Tề hầu có ý gì mà lại hội các nước chư hầu để rủ nhau quy phục thái tử, như thế thì định để trẫm vào ngôi bậc nào? Trẫm muốn nhờ nhà ngươi đưa một tờ mật thư cho Trịnh hầu, bảo Trịnh hầu bỏ Tề theo Sở, rồi đem tình ý của trẫm mà nói với vua Sở cố gắng thờ Chu, chớ phụ ý trẫm.
Chu Công Khổng nói:
- Nước Sở mà biết thần phục nhà Chu ta, cũng là công của Tề hầu, cớ sao nhà vua lại bỏ một nước họ hàng thân thiết xưa nay mà dùng một nước Man di mới theo ta?
Chu Huệ vương nói:
- Nếu Trịnh hầu không chịu bỏ nước Tề và các nước cũng cứ một lòng tin phục nước Tề mãi thì chắc đâu rằng Tề hầu không có chí khác. Thôi thì ý trẫm đã nhất quyết, nhà ngươi chớ nên từ chối.
Chu Công Khổng không dám nói gì nữa. Chu Huệ vương liền làm một tờ mật thư, niêm phong đóng hộp rất kỹ lưỡng; rồi giao cho Chu Công Khổng. Chu Công Khổng không hiểu trong thư nói những điều gì, cứ việc sai người mật đưa sang cho Trịnh Văn công. Trịnh Văn công mở thư ra đọc:
“Thái tử Trịnh không theo mệnh cha, rủ nhau lập bè cánh thì không thể cho nối ngôi được. Trẫm muốn lập thứ tử Đái làm thái tử, nếu hiền hầu bỏ Tề theo Sở để cùng giúp thái tử Đái thì trẫm xin giao hết quyền chính cho”.
Trịnh Văn công mừng lắm, bảo các quan đại phu rằng:
- Tiên quân ta ngày xưa là Vũ, Trang nối đời làm chức khanh sĩ nhà Chu, đến đời Lệ công cũng có cái công khó nhọc giúp vua nhà Chu mà chưa được giữ quyền chính. Nay vua nhà Chu lại định giao quyền chính cho ta, thế thì các quan đại phu cũng nên mừng cho ta đó!
Quan đại phu là Khổng Thúc can rằng:
- Nước Tề khi trước vì nước ta mà phải đem quân đi đánh Sở, bây giờ ta lại bỏ Tề theo Sở thì thành ra một kẻ bội ơn. Vả việc phù tá thái tử là một việc đại nghĩa, chúa công không nên làm trái ý thiên hạ.
Trịnh Văn công nói:
- Theo ý Tề hầu, sao bằng theo ý thiên tử nhà Chu. Vả thiên tử nhà Chu không bằng lòng với thái tử, chứ ta có tiếc gì!
Khổng Thúc nói:
- Ngôi thái tử nhà Chu, bao giờ cũng phải lập con trưởng, nếu theo ý riêng mà lập con thứ thì không ra thế nào! Xem như U vương yêu vương tử Bá Phục, Hoàn vương yêu vương tử Khắc, Trang vương yêu vương tử Đồi, đều đến nỗi phải mang tai vạ về sau. Nay chúa công không giữ lấy đại nghĩa mà lại muốn bắt chước năm quan đại phu nhà Chu ngày xưa giúp vương tử Đồi hay sao? Tôi e rằng thế nào về sau chúa công cũng phải hối hận.
Quan đại phu là Thân hầu nói:
- Đó là mệnh thiên tử, ai dám trái ý. Nếu theo nước Tề mà hội nhau để giúp thái tử, thì thành ra bỏ mệnh thiên tử hay sao? Nay một nước ta bỏ về thì các nước tất sinh lòng nghi mà cũng bỏ về cả. Vả thái tử Trịnh có bè cánh ở ngoài thì vương tử Đái cũng có bè cánh ở trong, nào đã biết bên nào được bên nào thua, chi bằng ta hãy bỏ về để xem sự thể ra sao đã.
Trịnh Văn công theo lời của Thân hầu, giả cách nói trong nước có việc cần, không cáo từ mà đi ngay. Tề Hoàn công nghe tin Trịnh Văn công trốn về, tức thì nổi giận, toan đem quân sang đánh Trịnh.
Quản Di Ngô nói:
- Nước Trịnh cùng với nhà Chu tiếp giáp nhau, đó tất là có người nhà Chu xui giục nước Trịnh. Dẫu một nước Trịnh bỏ về, cũng không cần gì, xin chúa công cứ hội thề với các nước chư hầu, chờ khi hội thề xong bấy giờ ta sẽ liệu cho nước Trịnh.
Tề Hoàn công khen phải, rồi truyền lập đàn ở đất Thủ Chỉ, để cùng với các nước chư hầu còn lại uống máu ăn thề xin cùng giúp ngôi thái tử. Lời thề như sau này:
“Phàm các nước đồng minh ta, cùng nhau giúp ngôi thái tử, để giữ yên cơ nghiệp nhà Chu; nếu ai trái lời ước ấy thì quỷ thần tru diệt”.
Ngày hôm sau, thái tử trở về nhà Chu, Tề Hoàn công đem chư hầu đi tiễn hết địa giới nước Vệ. Trịnh Văn công nghe tin chư hầu hội thề với Tề Hoàn công, lại sắp sửa đem binh sang đánh nước Trịnh, mới không dám bỏ Tề mà theo Sở nữa.
Sở Thành vương nghe tin Trịnh Văn công bỏ về, không dự hội thề ở Thủ Chỉ thì mừng lắm, nói rằng:
- Ta sẽ thu phục được nước Trịnh!
Nói xong, liền sai sứ sang thông tin cho Thân hầu biết rằng nước Sở muốn cùng với nước Trịnh giao hiếu. Nguyên Thân hầu khi trước đã làm quan nước Sở, vốn là người có tài nói khéo, lại có tính tham lam và nịnh hót, Sở Văn vương vẫn có lòng tin yêu. Khi Sở Văn vương gần chết, sợ rằng người sau không có lòng dung hắn, mới tặng cho hắn một viên bạch bích, để hắn trốn sang nước khác mà tránh họa. Thân hầu trốn sang nước Trịnh, theo Trịnh Lệ công ở đất Lịch. Trịnh Lệ công lại tin yêu Thân hầu như Sở Văn vương khi trước; đến lúc Trịnh Lệ công về phục quốc, liền cho Thân hầu làm quan đại phu.
Các quan ở nước Sở bây giờ đều là quen thuộc với Thân hầu, cho nên hôm nay đều đồng lòng chuyện này và bàn với Thân hầu xui giục Trịnh Văn công bỏ nước Tề mà theo nước Sở. Thân hầu mật nói với Trịnh Văn công rằng:
- Cứ như sự thể ngày nay, trừ nước Sở ra thì không còn nước nào địch nổi với nước Tề, huống chi ta giao hiếu với nước Sở, cũng là phụng mệnh thiên tử. Nếu không như thế thì nước Tề và nước Sở bây giờ đều là kẻ thù của nước Trịnh ta cả, nước Trịnh ta làm thế nào mà giữ nổi.
Trịnh Văn công nghe lời, liền mật sai Thân hầu sang kết giao với nước Sở. Tề Hoàn công đem quân các nước đến vây thành Tân Mật nước Trịnh. Bấy giờ Thân hầu còn đang ở nước Sở, nói với Sở Thành vương rằng:
- Nước Trịnh tôi sở dĩ kết giao với quý quốc là nghĩ rằng chỉ có quý quốc mới địch nổi nước Tề, nếu nay đại vương không cứu nước Trịnh thì tôi về chuyến này không biết nói thế nào cho được.
Sở Thành vương họp các quan lại để thương nghị. Quan lệnh doãn là Tử Văn nói:
- Hứa Mục công vì việc họp quân ở đất Thiệu Lăng khi trước mà chết, nước Tề vẫn lấy làm thương xót. Nước Hứa lại một lòng thần phục nước Tề. Bây giờ đại vương đem quân đánh nước Hứa thì tất các nước đều phải sang cứu, tự khắc giải vây được cho nước Trịnh.
Sở Thành vương theo lời, liền đem quân đi vây nước Hứa. Các nước nghe tin nước Hứa bị vây, quả nhiên bỏ nước Trịnh mà sang cứu nước Hứa. Nước Sở lại rút quân về. Khi Thân hầu về đến nước Trịnh, có ý kiêu ngạo tự đắc, vì nghĩ rằng mình có cái công bảo toàn được nước Trịnh, thì thế nào Trịnh Văn công cũng phải gia phong. Trịnh Văn công thấy Thân hầu vừa mới được phong ở đất Hổ Lao, cho là đã quá hậu rồi, mới không gia phong cho nữa. Thân hầu miệng không nói ra, nhưng trong lòng vẫn có ý oán.
Mùa xuân năm sau, Tề Hoàn công lại đem quân đến đánh nước Trịnh. Quan đại phu nước Trần là Đào Đồ từ khi theo Tề Hoàn công đi đánh Sở về, cùng với Thân hầu có sự hiềm khích, mới viết thư cho quan đại phu nước Trịnh là Khổng Thúc rằng:
“Thân hầu khi trước đã lấy việc nước mà lấy lòng nước Tề, được thưởng đất Hổ Lao. Ngày nay lại lấy việc nước mà lấy lòng nước Sở, khiến cho Trịnh hầu mang tiếng là người phụ ân bội nghĩa, gây ra việc binh đao, làm khổ sở nhân dân. Bây giờ giết Thân hầu đi thì không đánh mà tự khắc nước Tề phải rút quân về”.
Khổng Thúc đem bức thư ấy dâng lên Trịnh Văn công. Trịnh Văn công vì cớ ngày trước không nghe lời Khổng Thúc, trốn về không dự hội, để đến nỗi quân Tề hai lần đến đánh nước Trịnh, trong lòng lấy làm hổ thẹn, cũng đổ lỗi cho Thân hầu, mới gọi Thân hầu vào mà trách rằng:
- Nhà ngươi nói chỉ có nước Sở mới địch nổi nước Tề, nay quân Tề kéo đến, nào ta có thấy nước Sở đến cứu đâu?
Thân hầu đang sắp sửa phân giải thì Trịnh Văn công truyền cho võ sĩ lôi ra chém, bỏ đầu vào trong một cái hộp, sai Khổng Thúc đem sang nộp Tề Hoàn công mà nói rằng:
- Ngày trước chúa công tôi quá nghe lời nói của Thân hầu mà bỏ không dự hội, nay xin chém đầu Thân hầu, và sai tôi đến xin lỗi với quý quốc, mong nhà vua dung thứ cho.
Tề Hoàn công vốn biết Khổng Thúc là người giỏi, mới thuận cho nước Trịnh giảng hòa, lại hội chư hầu ở đất Ninh Mãn (đất nước Tề). Trịnh Văn công vẫn ngại vì có mệnh thiên tử nhà Chu khi trước, nên không dám công nhiên đến dự hội, liền sai thế tử Hoa đi thay.
Nguyên thế tử Hoa cùng với em là công tử Tang đều là con bà vợ cả, lúc bấy giờ vợ cả được Trịnh Văn công yêu, mới lập Hoa làm thế tử. Sau lại lập thêm hai bà phu nhân nữa, đều có con trai cả. Chẳng được bao lâu vợ cả chết; lại có nàng Yên Cật là cung nữ ở nước Trịnh bấy giờ, một hôm nằm mộng thấy một người đàn ông tay cầm cành hoa lan bảo Yên Cật rằng: “Ta đây là thủy tổ nhà ngươi, nay cho nhà ngươi cành hoa lan này, mai sau sẽ sinh quý tử, khiến cho nước nhà được thịnh vượng”. Nói xong, liền cầm cành hoa lan đưa cho. Yên Cật sực tỉnh dậy thấy trong nhà hương thơm ngào ngạt, đến sáng hôm sau, nói chuyện cho các cung nữ nghe. Các cung nữ đều cười mà diễu rằng: “Ngày sau tất sinh được quý tử!” Ngay hôm ấy, Trịnh Văn công vào cung, trông thấy Yên Cật, có ý bằng lòng. Các cung nữ đều nhìn nhau mà cười. Trịnh Văn công hỏi, Yên Cật mới thuật lại chuyện nằm mộng đêm hôm trước. Trịnh Văn công nói: “Đó là một điềm hay! Để ta tác thành cho nhà ngươi!”.
Nói xong, bèn sai người lấy một cành hoa lan cho Yên Cật đeo, rồi đem lòng thương yêu Yên Cật. Sau Yên Cật có thai sinh con đặt tên là Lan. Thế tử Hoa thấy cha nhiều vợ yêu như vậy, sợ mai sau lại bỏ mình mà lập người khác, mới bàn riêng với Thúc Thiêm. Thúc Thiêm nói: “Được hỏng đều có mệnh trời! Làm con nên phải giữ lấy đạo hiếu!” Thế tử Hoa lại đến bàn với Khổng Thúc. Khổng Thúc cũng khuyên thế tử Hoa nên giữ lấy đạo hiếu. Thế tử Hoa có ý không bằng lòng. Công tử Tang (em thế tử Hoa) tính ưa những sự kỳ quặc thường chắp cánh chim duật để làm mũ đội. Sư Thúc can rằng: “Thế là không hợp lễ, công tử chớ nên ăn mặc như vậy”. Công tử Tang cũng có ý không bằng lòng, mới nói với anh là thế tử Hoa. Bởi vậy thế tử Hoa cùng với Thúc Thiêm, Khổng Thúc và Sư Thúc thành ra hiềm khích.
Khi Trịnh Văn công sai thế tử Hoa sang hội với Tề Hoàn công, thế tử Hoa sợ Tề Hoàn công bẻ lỗi, không muốn đi. Thúc Thiêm giục thế tử Hoa, bắt phải đi ngay. Thế tử Hoa càng đem lòng căm tức, khi vào yết kiến Tề Hoàn công, xin phép đuổi hết người xung quanh, rồi nói với Tề Hoàn công rằng:
- Quyền chính nước Trịnh tôi ngày nay đều ở trong tay họ Tiết, họ Khổng và họ Tử Nhân. Khi trước phụ thân tôi bỏ không dự hội, cũng vì ba họ ấy xui giục, nếu nhà vua trừ bỏ ba họ ấy đi thì tôi xin đem nước Trịnh tôi mà phụ thuộc quý quốc.
Tề Hoàn công nói: “Được” rồi đem lời nói của thế tử Hoa thuật lại cho Quản Di Ngô nghe. Quản Di Ngô can rằng:
- Không nên! Sở dĩ chư hầu qui phục nước Tề ta, là vì nước Tề ta biết giữ điều lễ và điều tín. Nay thế tử Hoa không theo mệnh cha, sao gọi là lễ; sang đây kết giao với ta mà lại lập những mưu phản nghịch nước mình, sao gọi là tín? Vả lại tôi nghe ba họ ấy đều là người giỏi cả, dân nước Trịnh vẫn gọi là “Tam lương”, ta không nên trái ý dân mà theo lời thế tử Hoa. Cứ như ý tôi nghĩ thì thế tử Hoa chẳng bao lâu sẽ có tai vạ.
Tề Hoàn công bèn bảo thế tử Hoa rằng:
- Điều thế tử vừa nói là một việc rất quan trọng, để chờ khi Trịnh hầu sang đây, sẽ cùng thương nghị.
Thế tử Hoa thẹn đỏ mặt lên, toát mồ hôi ướt đầm cả người rồi cáo từ xin về. Quản Di Ngô ghét thế tử Hoa là người gian xảo, cố ý đem lời nói của thế tử Hoa tiết lộ cho người nước Trịnh biết. Người nước Trịnh tức khắc phi báo cho Trịnh Văn công. Khi thế tử Hoa về đến nước Trịnh, nói dối Trịnh Văn công rằng:
- Tề hầu thấy phụ thân không sang, không chịu cho giảng hòa, chi bằng ta theo nước Sở là hơn.
Trịnh Văn công quát mắng rằng:
- Thằng nghịch tử này, mày định bán nước, lại còn dám lập kế nói dối ta hay sao?
Mắng xong, truyền đem thế tử Hoa giam vào nhà kín. Thế tử Hoa khoét tường định trốn ra đi. Trịnh Văn công biết, giết ngay, đúng như lời đoán của Quản Trọng. Em cùng mẹ với thế tử Hoa là công tử Tang sợ tội, bỏ trốn sang nước Tống. Trịnh Văn công sai người đuổi theo giết chết ở dọc đường. Trịnh Văn công cảm cái ơn Tề Hoàn công không nghe lời nói của thế tử Hoa, lại sai Đỗ Thúc sang tạ, xin gia nhập đồng minh. Hồ Tăng tiên sinh có thơ rằng:
“Tam lương” nước Trịnh tựa cột đình
Cột xiêu một sớm rõ chông chênh
Tử Hoa gian trá hòng chiếm nước
Thân chết, còn lưu bất hiếu danh
Mùa đông Chu Huệ vương ốm nặng, thái tử Trịnh sợ có sự biến loạn, liền sai quan hạ sĩ là Vương Tử Hổ sang báo tin với Tề Hoàn công. Chẳng bao lâu, Chu Huệ vương mất, thái tử Trịnh cùng với các quan thương nghị, không phát tang vội, tức khắc sai người phi báo cho Vương Tử Hổ biết, để Vương Tử Hổ nói với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công đại hội chư hầu ở đất Thao (đất nước Tào) họp nhau làm tờ biểu vào vấn an nhà Chu. Trịnh Văn công cũng đến dự hội.
Mỗi nước cử một quan đại phu thay mặt, kê tên như sau:
1. Quan đại phu nước Tề là Thấp Bằng.
2. Quan đại phu nước Tống là Hoa Tú Lão.
3. Quan đại phu nước Lỗ là công tôn Ngao.
4. Quan đại phu nước Vệ là Ninh Tốc.
5. Quan đại phu nước Trần là Viên Tuyển.
6. Quan đại phu nước Trịnh là Tử Nhân Sư.
7. Quan đại phu nước Tào là công tử Mậu.
8. Quan đại phu nước Hứa là Bách Đà.
Các quan đại phu của các nước mượn tiếng vào vấn an Huệ vương, họp cả ở kinh thành nhà Chu, nghi vệ rất nghiêm chỉnh. Thái tử Trịnh sai người tiếp đãi, rồi mới phát tang Huệ vương. Các quan đại phu cùng nhau tôn thái tử Trịnh lên nối ngôi, tức là Chu Tương vương. Trần Vĩ (vợ vua Huệ vương) và vương tử Đái rất căm uất, nhưng sợ uy các nước, không dám có ý gì khác cả. Sang năm sau, Chu Tương vương làm lễ xuân tế, sai quan thái tế là Chu Công Khổng đem phần tế ban cho Tề Hoàn công, để đáp lại cái công khó nhọc giúp đỡ. Tề Hoàn công nghe tin, lại hội họp chư hầu ở đất Quý Khâu. Tề Hoàn công gặp Quản Trọng liền bàn cùng với Quản Di Ngô, về công việc nhà Chu.
Quản Di Ngô nói:
- Nhà Chu mới rồi, chỉ vì con trưởng con thứ không phân định, suýt xảy ra biến loạn. Nay chúa công cũng nên định ngôi thế tử trước, để khỏi di họa về sau.
Tề Hoàn công nói:
- Ta có sáu con, đều là con vợ thứ; công tử Vô Khuy là người nhiều tuổi hơn cả. Hiền đức thì có công tử Chiêu. Trưởng Vệ Cơ (mẹ công tử Vô Khuy) hầu ta đã lâu, ta hứa lời định lập công tử Vô Khuy rồi. Dịch Nha và Thụ Điêu hai người ấy vẫn thường nói cho Vô Khuy. Nhưng ta vẫn yêu công tử Chiêu là người hiền đức, ý ta cũng chưa quyết, bây giờ xin tùy ý Trọng phụ.
Quản Di Ngô đã biết Dịch Nha và Thụ Điêu là người gian nịnh, mà vẫn là bè cánh của Trưởng Vệ Cơ, sợ ngày sau công tử Vô Khuy lên nối ngôi thì trong ngoài hợp nhau mà làm hỗn loạn quốc chính. Công tử Chiêu là con Trịnh Cơ, nước Trịnh lại vừa mới cùng Tề giảng hòa, nếu lập công tử Chiêu thì càng thêm tình thân mật với nước Trịnh. Quản Di Ngô nghĩ thầm như vậy, rồi nói với Tề Hoàn công rằng:
- Nếu không có con hiền nối ngôi thì không giữ được cơ nghiệp bá chủ. Chúa công đã biết công tử Chiêu là người hiền thì nên lập ngay mới phải.
Tề Hoàn công nói:
- Ta chỉ sợ công tử Vô Khuy cậy mình hơn tuổi, lại sinh ra tranh nhau thì biết làm thế nào?
Quản Di Ngô nói:
- Nay nhân thể chúa công sắp đại hội chư hầu, nên chọn xem trong các vua chư hầu có vị nào có đức thì đem việc công tử Chiêu mà ủy thác cho, còn lo ngại gì nữa!
Tề Hoàn công gật đầu.
Bấy giờ Tống Hoàn công là Ngự Thuyết mất, thế tử Tư Phủ nhường ngôi cho công tử Mục Di (thứ huynh của Tư Phủ); Mục Di không chịu nhận. Tư Phủ mới lên ngôi, tức là Tống Tương công. Tống Tương công theo mệnh bá chủ dầu đang có tang, cũng đến dự hội ở đất Quỳ Châu. Quản Di Ngô bèn bảo Tề Hoàn công rằng:
- Vua nước Tống biết nhường ngôi cho công tử Mục Di, đó là một người có đức. Vả lại đang có tang mà cũng đến dự hội, thế là biết kính trọng nước ta, chúa công nên đem việc công tử Chiêu mà ủy thác cho người ấy.
Tề Hoàn công theo lời, liền sai Quản Di Ngô đến nhà quán xá, để nói chuyện trước cho Tống Tương công biết. Tống Tương công đến yết kiến Tề Hoàn công. Tề Hoàn công cầm lấy tay Tống Tương công đem việc công tử Chiêu mà ân cần dặn rằng:
- Mai sau nhờ hiền hầu trông nom cho, khiến Chiêu giữ yên được cơ nghiệp.
Tống Tương công khiêm nhượng, không dám nhận lời, nhưng trong lòng cảm tạ tấm lòng ủy thác của Tề Hoàn công. Hôm đến hội, các nước họp cả ở trên đàn, trên đàn để trống chỗ vua ngồi, chư hầu hướng về bắc bái vọng. Chu Công Khổng thay mặt thiên tử ban phần tế cho Tề Hoàn công.
Tề Hoàn công toan bước xuống thềm để lạy tạ. Chu Công Khổng can rằng:
- Thiên tử có truyền rằng hiền hầu năm nay đã có tuổi rồi thì tha lễ cho, không phải lạy.
Tề Hoàn công đã toan thôi không lạy. Quản Di Ngô đứng bên cạnh nói rằng:
- Thiên tử dẫu có lệnh truyền như vậy, nhưng kẻ làm tôi cứ nên giữ lễ mới phải.
Tề Hoàn công nói:
- Uy nghiêm thiên tử nhà Chu lúc nào cũng như ở trước mặt, khi nào thần này lại dám sai lễ.
Nói xong, liền bước xuống thềm sụp lạy. Chư hầu đều khen Tề Hoàn công là người biết giữ lễ. Tề Hoàn công nhân khi các nước chưa tan, lại tuyên bố năm điều cấm lệnh của vua nhà Chu.
1. Không được lấp dòng nước chảy.
2. Không được cấm đong thóc.
3. Không được đổi con trưởng.
4. Không được lấy thiếp làm vợ.
5. Không được cho đàn bà dự vào việc chính trị.
Tề Hoàn công lại cùng với chư hầu thề ước rằng:
- Phàm các nước đồng minh ta phải cùng nhau giao hiếu.
Thề ước xong, Tề Hoàn công bảo quan thái tể là Chu Công Khổng rằng:
- Ta nghe đời Tam đại(3) ngày xưa có lễ Phong Thiện, chẳng hay sự thể ra sao?
Chu Công Khổng nói:
- Đời Tam đại ngày xưa, làm lễ Phong ở núi Thái Sơn, làm lễ Thiện ở núi Lương Phủ. Làm lễ Phong để tế trời, lấy nghĩa trời cao, vậy nên đắp đất lên mà tế; làm lễ Thiện để tế đất, lấy nghĩa đất thấp, vậy nên quét sạch đất đi mà tế, ấy là cái lễ rất trọng thể ở đời Tam đại đó.
Tề Hoàn công nói:
- Nhà Hạ đóng đô ở An ấp, nhà Thương đóng đô ở Bạc ấp, nhà Chu đóng đô ở Phong Kiểu, chốn đô thành cách núi Thái Sơn và núi Lương Phủ rất xa, mà còn đi làm lễ Phong và lễ Thiện; nay hai núi ấy đều ở trong địa giới nước ta, vậy ta cũng muốn làm cái lễ rất trọng thể ấy, các ông nghĩ thế nào?
Chu Công Khổng thấy Tề Hoàn công có ý kiêu căng liền đáp lại rằng:
- Hiền hầu cho là phải thì còn ai dám bảo là không phải!
Tề Hoàn công nói:
- Thôi hãy để đến mai, ta lại sẽ bàn.
Các vua chư hầu đều tan về nhà quán xá cả. Chu Công Khổng nói riêng với Quản Di Ngô rằng:
- Lễ Phong Thiện là một việc trọng thể của thiên tử, tôi thiết tưởng nước chư hầu không nên nói đến, sao Trọng phụ không can Tề hầu được một câu?
Quản Di Ngô nói:
- Chúa công tôi là người hiếu thắng, phải nghĩ cách mà chữa bệnh đó, chứ không thể nào can thẳng được. Để hôm nay Di Ngô tôi sẽ liệu nói.
Đêm hôm ấy, Quản Di Ngô vào yết kiến Tề Hoàn công mà hỏi rằng:
- Chúa công muốn làm lễ Phong Thiện, có thật thế không?
Tề Hoàn công nói:
- Sao lại không thật.
Quản Di Ngô nói:
- Lễ Phong Thiện bắt đầu từ đời Vô Hoài Thị đến đời Chu Thành vương, cả thẩy bảy mươi ba nhà, đều chịu mệnh trời làm thiên tử, vậy mới được phép làm lễ Phong Thiện.
Tề Hoàn công có ý không bằng lòng mà nói rằng:
- Ta đây, phía nam đánh nước Sở, đến tận đất Thiệu Lăng; phía bắc đánh Sơn nhung, Linh Chi và Cô Trúc; phía tây qua bãi Lưu Sa đến tận núi Thái Hàng. Chư hầu không ai dám trái ý: ba lần hội chư hầu bằng binh xa, sáu lần hội chư hầu bằng y thường(4), thế thì dẫu đời Tam đại chịu mệnh trời chẳng qua cũng như vậy mà thôi. Bây giờ ta làm lễ Phong Thiện để con cháu noi theo, chẳng cũng nên lắm ru?
Quản Di Ngô nói:
- Các vua đời xưa, nhân có điềm lành mới làm lễ Phong Thiện, nay phượng hoàng và kỳ lân không đến, mà chúa công cũng muốn làm lễ Phong Thiện, tôi e rằng những người học thức ở các nước, tất có ý chê cười chúa công.
Tề Hoàn công nín lặng, ngày hôm sau không nói gì đến việc lễ Phong Thiện nữa. Tề Hoàn công khi đã về nước, tự nghĩ mình có nhiều công trạng to, mới sửa sang cung điện một cách rất rực rỡ; phàm các thứ xe ngựa khí dụng, đều sắm sửa lịch sự không khác gì thiên tử. Người trong nước ai cũng chê là tiếm phạm. Quản Di Ngô cũng đắp một cái đài cao ba tầng ở trong phủ, gọi là đài “Tam qui” tỏ ý có ba hạng người đều qui phục mình cả: dân qui phục, chư hầu qui phục, nước rợ mọi cũng qui phục. Lại lập ra tắc môn để che cửa. Lập phạn điếm để tiếp sứ thần các nước.
Bão Thúc Nha thấy vậy, có ý nghi hoặc, mới hỏi rằng:
- Vua xa xỉ, mình cũng xa xỉ; vua tiếm phạm, mình cũng tiếm phạm, như thế thì sao cho phải?
Quản Di Ngô nói:
- Một ông vua trải bao sự can khổ mới lập nên sự nghiệp, cũng phải có một ngày kia được hưởng sung sướng ở đời, nếu mình đem lễ phép mà bó buộc thì người ta sinh chán. Tôi làm như thế, chẳng qua cũng là vì muốn chịu đỡ cái tiếng chê cười của thiên hạ đối với chúa công ta.
Bão Thúc Nha nghe nói, ngoài miệng dẫu vâng dạ, nhưng trong lòng cũng có ý không phục. Quan thái tể Khổng nhà Chu từ đất Quỳ Châu trở về nhà Chu. Đi đến nửa đường, gặp Tấn Hiến công cũng định đến dự hội. Chu Công Khổng nói:
- Hội đã tan rồi!
Tấn Hiến công giẫm chân xuống đất mà than rằng:
- Nước tôi xa xôi quá, không được trông thấy cảnh tượng áo xiêm vui vẻ, sao mà ta vô duyên làm vậy!
Chu Công Khổng nói:
- Hiền hầu cũng chẳng nên tiếc! Ngày nay Tề hầu cậy mình công to, có ý kiêu ngạo; nhưng trăng tròn thì tất phải khuyết, nước đầy thì tất phải tràn, tôi chắc rằng chẳng bao lâu nữa nước Tề sẽ đến ngày suy đốn. Dẫu chẳng dự hội, cũng không hề chi!
Tấn Hiến công liền quay xe trở về miền tây, đi đường bị bệnh, về đến nước Tấn thì mất. Từ bấy giờ nước Tấn lại đại loạn.
_____
(1) Một xá là ba mươi dặm.
(2) Trỏ Khuất Hoàn.
(3) Nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu.
(4) Y thường: áo xiêm, nghĩa là các nước giao hiếu với nhau chỉ dùng áo xiêm, không dùng đến gươm giáo.
 
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI HAI MƯƠI LĂM
 
Tuân Tức dâng ngựa để mượn đường
Bách Lý nuôi trâu được làm tướng
 
Lại nói chuyện Tấn Hiến công trong thì say mê nàng Ly Cơ, ngoài thì tin dùng Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ, càng đem lòng ghét bỏ thế tử Thân Sinh mà yêu Hề Tề (con Ly Cơ); chỉ vì Thân Sinh một lòng kính thuận, lại thường đem quân đi đánh giặc, có nhiều công trạng, nên không lấy cớ gì mà bỏ được.
Ly Cơ bàn với người tâm phúc là Ưu Thi rằng:
- Bây giờ ta muốn bỏ thế tử mà lập Hề Tề thì làm kế gì cho được?
Ưu Thi nói:
- Hiện nay ba vị công tử (thế tử Thân Sinh, công tử Di Ngô và công tử Trùng Nhĩ) đều ở ngoài cõi xa cả, phu nhân còn lo ngại gì?
Ly Cơ nói:
- Ba vị công tử đều đã trưởng thành, giữ quyền chính lâu ngày, các quan trong triều ai cũng có lòng bênh vực, ta chưa dám động đến.
Ưu Thi nói:
- Thế thì ta nên nghĩ kế mà trừ khử dần dần chúng đi mới được.
Ly Cơ nói:
- Bây giờ nên trừ ai trước?
Ưu Thi nói:
- Trước hết phải trừ thế tử Thân Sinh! Vì Thân Sinh là người thanh khiết mà nhân từ lắm; thanh khiết thì không chịu những tiếng xấu, nhân từ thì không muốn hại người. Không chịu những tiếng xấu thì có điều gì tức giận không ẩn nhẫn được; không muốn hại người thì tất phải hại mình. Nay thế tử Thân Sinh, dẫu không được thân cận với chúa công ta cho lắm, nhưng chúa công ta vẫn biết là người giỏi, nếu ta gièm là Thân Sinh có lòng phản nghịch thì tất chúa công không tin; phu nhân nên nhân lúc đêm hôm thanh vắng, nỉ non khóc lóc mà nói với chúa công làm ra ý khen thế tử, rồi liệu thế đặt điều để vu tội cho thế tử. Có khéo lắm thì mới đắt lời được đấy!
Nửa đêm hôm ấy, Ly Cơ tự nhiên khóc nức khóc nở. Tấn Hiến công ngạc nhiên, hỏi vì cớ gì mà khóc. Hỏi đi hỏi lại ba lần mà Ly Cơ nhất định không chịu nói. Hiến công cố ý hỏi mãi, Ly Cơ mới đáp rằng:
- Thiếp biết nói ra thì chúa công cũng chẳng tin nào! Sở dĩ thiếp phải khóc là vì thiếp e rằng thiếp hầu hạ chúa công cũng chẳng còn được bao lâu nữa!
Hiến công nói:
- Sao nàng lại nói những câu quái gở như vậy?
Ly Cơ gạt nước mắt mà đáp rằng:
- Thiếp nghe nói Thân Sinh là người mặt ngoài nhân từ mà trong lòng thì tàn nhẫn. Hiện nay Thân Sinh ở đất Khúc Ốc, hết lòng làm ơn cho dân, là muốn mua chuộc lòng dân để sau này dùng đến. Thân Sinh thường nói chuyện với người ta rằng: “Chúa công say mê thiếp, tất có ngày sinh loạn”. Điều ấy, khắp cả trong triều ai cũng nghe biết cả, chỉ duy có một mình chúa công là chưa biết mà thôi. Thiếp chắc có một ngày kia vì việc dẹp loạn mà để tai vạ đến chúa công, chi bằng chúa công giết thiếp đi để tạ Thân Sinh, đừng nghĩ đến cái mưu ấy nữa, kẻo rồi đây lại vì một mình thiếp mà loạn cả muôn dân.
Hiến công nói:
- Thân Sinh đã có lòng nhân từ với dân, chẳng lẽ lại không biết nhân từ với cha hay sao?
Ly Cơ nói:
- Thiếp cũng lấy điều ấy làm nghi lắm, nhưng thiếp nghe nói điều nhân của người tầm thường, cùng với điều nhân của đấng bề trên không giống nhau; người tầm thường lấy yêu người làm nhân, đấng bề trên lấy lợi nước làm nhân, nếu việc làm mà lợi cho nước thì họ chẳng nghĩ gì đến tình thân cả.
Hiến công nói:
- Thân Sinh là người trọng khí tiết, lại không sợ mang tiếng ác hay sao?
Ly Cơ nói:
- Ngày xưa U vương không giết Nghi Cữu, đuổi ra ở nước Thân. Thân hầu đem quân Khuyển Nhung về giết U vương ở dưới núi Ly Sơn, lập Nghi Cữu lên làm vua, tức là Bình vương, thủy tổ nhà Đông Chu ta. Thế mà ngày nay người ta chỉ biết điều ác của U vương mà thôi, có ai chê Bình vương điều gì đâu!
Hiến công nghe nói động lòng, mới khoác áo ngồi dậy mà nói rằng:
- Phu nhân nói phải đó! Bây giờ biết làm thế nào?
Ly Cơ nói:
- Chúa công nên mượn tiếng già yếu, giao quốc chính lại cho thế tử. Thế tử đã được quốc chính thì tất mãn nguyện mà tha cho chúa công. Vả, ngày trước Tấn Vũ công ta ở đất Khúc Ốc mà kiêm tính đất Dực, chẳng phải tình cốt nhục là gì? Vua Vũ công ta, chỉ vì không nghĩ đến tình thân, vậy nên mới gây dựng ra được nước Tấn. Cái chí Thân Sinh ngày nay cũng như thế đó, thôi thì chúa công nên nhường đi!
Tấn Hiến công nói:
- Không nên! Ta có vũ và có uy để đối phó với chư hầu. Nay ta chịu mất ngôi thì sao gọi là vũ? Có con mà không trị nổi thì sao gọi là uy? Đã mất cả uy và vũ, để cho người ta kiềm chế mình được, thì dẫu sống cũng như chết. Thôi thì phu nhân chớ lo ngại, để rồi ta sẽ định liệu.
Ly Cơ nói:
- Nay quân Xích Địch thường quấy nhiễu nước ta, chúa công nên sai Thân Sinh đem quân đi đánh, để xem hắn có khéo dùng binh không? Nếu hắn đánh không được thì ta nhân cớ ấy mà bắt tội; nếu hắn đánh được thì tất hắn cậy công mà làm càn, bấy giờ ta sẽ tìm cách nghiêm trị. Như vậy thì ta vừa đánh được giặc để yên bờ cõi, lại vừa biết được cái tài của Thân Sinh. Chúa công nên sai Thân Sinh đi.
Hiến công khen phải, liền truyền lệnh sai Thân Sinh đem quân ở đất Khúc Ốc đi đánh. Quan thiếu phó là Lý Khắc can rằng:
- Thế tử là người nối dõi nhà vua, vậy nên vua có đi đâu thì thế tử coi giữ quốc chính. Chức phận thế tử chỉ ngày đêm hầu hạ ở bên cạnh vua, không nên để đi xa, huống chi lại còn sai đem quân đi đánh giặc thì sao cho phải?
Hiến công nói:
- Thân Sinh đã đi đánh giặc nhiều lần rồi!
Lý Khắc nói:
- Ngày trước là theo chúa công mà đem quân đi, bây giờ không nên để cho thế tử đi một mình.
Tấn Hiến công cúi đầu mà than rằng:
- Ta có chín người con, nào đã định ai là thế tử đâu, nhà ngươi chớ nói chi cho lắm!
Lý Khắc nín lặng lui ra, thuật chuyện lại cho Hồ Đột nghe.
Hồ Đột nói:
- Nguy thay cho thế tử!
Nói xong, liền viết thư đưa cho Thân Sinh, khuyên Thân Sinh chớ đi đánh, đánh mà được thì càng thêm cho người ta ghét, chi bằng liệu mà trốn đi. Thân Sinh tiếp được thư, thở dài mà than rằng:
- Chúa công sai ta đi đánh giặc, không phải là có ý yêu ta, chỉ muốn thử lòng ta xem ra làm sao. Nay ta trái mệnh chúa công thì tội to lắm, chẳng thà đánh giặc mà chết đi, còn giữ được tiếng tốt về sau.
Nói xong, liền đem quân đi đánh Xích Địch. Quân Xích Địch thua chạy. Thân Sinh sai người đem tin thắng trận báo với Hiến công.
Ly Cơ nói:
- Thế tử là người khéo dùng quân, biết làm thế nào bây giờ?
Hiến công nói:
- Thế tử chưa có tội lỗi gì, ta phải đợi mới được.
Hồ Đột biết là nước Tấn sắp loạn, mới giả cách ốm, đóng cửa không đi đâu cả.
Bấy giờ có nước Ngu và nước Quắc, hai nước ở liền nhau, lại đều tiếp giáp với nước Tấn cả. Vua nước Quắc tên là Xú, là người kiêu ngạo mà thích việc chiến tranh, thường sang quấy nhiễu phía nam nước Tấn. Hiến công muốn đem quân đi đánh nước Quắc.
Ly Cơ nói:
- Sao chúa công lại không sai Thân Sinh đi. Thân Sinh là người đã có uy danh, mà quân sĩ vốn tin phục thì chắc có thể thành công được.
Hiến công đã xiêu về lời nói của Ly Cơ nhưng lại sợ Thân Sinh sau khi đánh được nước Quắc, uy danh mỗi ngày một to, mình khó kiềm chế nổi, nên trù trừ không quyết, liền hỏi quan đại phu là Tuân Tức rằng:
- Nước Quắc có nên đánh không?
Tuân Tức nói:
- Ngu và Quắc đang giao hiếu với nhau, ta đánh Quắc thì Ngu tất cứu Quắc, đánh Ngu thì Quắc tất cứu Ngu, một nước ta mà địch với hai nước, tôi chưa dám chắc là có được hay không?
Hiến công nói:
- Nếu vậy thì ta không làm gì nổi nước Quắc hay sao?
Tuân Tức nói:
- Tôi nghe nói vua nước Quắc là người hiếu sắc, bây giờ chúa công nên tìm con gái đẹp trong nước, dạy nghề hát múa và cho ăn mặc lịch sự, đem tiến vua nước Quắc, lại lấy những lời khiêm tốn mà xin giảng hòa, như vậy thì vua nước Quắc tất mừng rỡ mà nhận ngay. Kẻ kia đã say mê về thanh sắc thì tất lười biếng mà chẳng thiết gì đến chính sự; bấy giờ ta lại lễ đút vua Khuyển Nhung để họ cho quân quấy nhiễu nước Quắc, rồi ta sẽ tìm cớ sang đánh, như thế thì có thể phá tan nước Quắc được.
Hiến công nghe lời, đem đoàn nữ nhạc sang dâng vua nước Quắc. Vua nước Quắc toan nhận. Quan đại phu Chu Chi Kiều can rằng:
- Đó là cái lưỡi câu của nước Tấn để câu nước Quắc ta đó, cớ sao chúa công lại tham mồi làm gì?
Vua nước Quắc không nghe, cứ giao hảo với nước Tấn. Từ bấy giờ vua nước Quắc ngày đêm chỉ say đắm về đoàn nữ nhạc, chẳng thiết gì đến chính sự cả. Chu Chi Kiều lại can. Vua nước Quắc nổi giận, sai ra trấn thủ ở đất Hạ Dương. Chẳng được bao lâu, vua Khuyển Nhung tham lễ vật của nước Tấn, quả nhiên đem quân sang quấy nhiễu nước Quắc. Quân kéo đến đất Vĩ Nhuế, bị quân nước Quắc đánh thua, vua Khuyển Nhung căm tức liền cử đại binh sang đánh. Vua nước Quắc cậy mình vừa thắng trận, cũng đem quân ra đối địch ở đất Tang Điền.
Hiến công lại hỏi Tuân Tức rằng:
- Ngày nay nước Quắc đang phải chống nhau với quân Khuyển Nhung, ta có nên đem quân đánh nước Quắc hay không?
Tuân Tức nói:
- Nước Ngu và nước Quắc vẫn giao hiếu với nhau; tôi có một kế, có thể ngày nay lấy được nước Quắc mà ngày mai lấy được cả nước Ngu nữa.
Hiến công hỏi:
- Nhà ngươi có kế gì?
Tuân Tức nói:
- Chúa công nên đem nhiều lễ vật dâng cho nước Ngu để mượn đường sang đánh nước Quắc.
Hiến công nói:
- Ta vừa mới giảng hòa với nước Quắc, không lấy cớ gì mà đánh được, vả lại nước Ngu khi nào lại chịu tin lời ta.
Tuân Tức nói:
- Chúa công mật sai người quấy nhiễu ở bờ cõi nước Quắc, tất nhiên nước Quắc phải sang trách ta, bấy giờ ta mượn chuyện mà nói với vua Ngu.
Tấn Hiến công lại theo kế ấy, quả nhiên nước Quắc cho người sang trách, thành ra hai bên gây sự đánh nhau. Vua nước Quắc còn đang đối địch với quân Khuyển Nhung, không kịp chú ý đến việc ấy. Hiến công nói:
- Ngày nay ta đã tìm được cớ để đánh nước Quắc rồi, nhưng chẳng hay nên dùng lễ vật gì mà đưa cho vua nước Ngu được?
Tuân Tức nói:
- Vua nước Ngu vốn là người tham, tất phải có đồ chí bảo đem sang thì mới làm cho hắn động lòng được. Bây giờ có hai thứ nên đem dùng làm lễ vật, chỉ sợ chúa công không dứt tình được mà thôi.
Tấn Hiến công nói:
- Nhà ngươi thử nói xem là những thứ gì?
Tuân Tức nói:
- Vua nước Ngu thích nhất là ngọc quý và ngựa quý. Nay chúa công có ngọc bích Thùy Cức(1) và cỗ ngựa Khuất Sản(2), xin đem hai thứ ấy dâng cho vua nước Ngu để mượn đường. Vua nước Ngu tham hai thứ ấy thì tất mắc kế ta.
Hiến công nói:
- Hai thứ ấy là vật chí bảo của ta, khi nào ta lại chịu đưa cho người khác.
Tuân Tức nói:
- Tôi vẫn biết rằng chúa công không dứt tình được mà! Tuy vậy ta mượn đường để đánh Quắc, mà Ngu không cứu thì Quắc tất mất; Quắc đã mất thì Ngu còn giữ làm sao cho được, bấy giờ ngọc bích và ngựa quý vẫn là của ta, có mất đi đâu! Khác nào ta đem ngọc bích của ta tạm gửi ở kho ngoài, và đem cỗ ngựa của ta nuôi tạm ở chuồng ngoài mà thôi!
Quan đại phu là Lý Khắc nói:
- Nước Ngu có hai người bề tôi hiền: Cung Chi Kỳ và Bách Lý Hề là người thông minh và cao đoán lắm; chỉ sợ hai người ấy khuyên can vua nước Ngu thì làm thế nào?
Tuân Tức nói:
- Vua nước Ngu là người tham và ngu, dẫu có ai khuyên can cũng vị tất đã nghe.
Tấn Hiến công liền đem ngọc bích và cỗ ngựa giao cho Tuân Tức, để đem sang mượn đường nước Ngu. Vua nước Ngu, lúc mới nghe tin sứ giả nước Tấn đến mượn đường để đánh nước Quắc, tức thì nổi giận; đến lúc trông thấy ngọc bích và ngựa, lại nguôi giận ngay, tay cầm ngọc bích, mắt nhìn cỗ ngựa mà hỏi Tuân Tức rằng:
- Đó là những vật chí bảo của nước ngươi, thiên hạ ít có, sao nước ngươi lại chịu đem cho ta?
Tuân Tức nói:
- Chúa công tôi mến cái uy đức của nhà vua, vậy xin đem các vật chí bảo này để sang dâng quý quốc.
Vua nước Ngu nói:
- Chắc là nhà ngươi cũng có điều gì muốn nói với ta chứ?
Tuân Tức nói:
- Người nước Quắc thường sang quấy nhiễu cõi nam nước tôi; chúa công tôi muốn cho yên nước, nên phải xin giảng hòa với Quắc, thế mà Quắc lại dám sinh sự lôi thôi. Chúa công tôi mượn đường quý quốc để sang đánh nước Quắc, may mà đánh được thì bao nhiêu của cải lấy ở nước Quắc về, xin đem dâng quý quốc tất cả. Chúa công tôi xin đời đời kết nghĩa với quý quốc.
Vua nước Ngu lấy làm bằng lòng lắm. Cung Chi Kỳ can rằng:
- Chúa công chớ nên nghe! Tục ngữ có câu rằng: “Môi hở răng lạnh”. Nước Tấn xưa nay vẫn xâm chiếm các nước khác, mà không dám động đến nước ta, là vì nước ta cùng với nước Quắc biết giao hiếu mà giữ gìn lấy nhau. Nay nếu nước Quắc mất, thì mai tất nhiên nước Ngu ta cũng chẳng còn.
Vua nước Ngu nói:
- Vua nước Tấn không tiếc đồ chí bảo mà đem cho ta, ta lại tiếc gì một lối đi nhỏ mà không cho nước Tấn mượn. Vả thế lực nước Tấn còn gấp mười nước Quắc; ta mất lòng nước Quắc mà được lòng nước Tấn thì có hại gì! Thôi, nhà ngươi cứ lui ra, đừng lạm bàn gì đến việc ấy.
Cung Chi Kỳ còn toan nói nữa, Bách Lý Hề bèn nắm lấy vạt áo, Cung Chi Kỳ biết ý mới thôi. Khi ở trong triều lui ra, Cung Chi Kỳ bảo Bách Lý Hề rằng:
- Sao nhà ngươi không nói giúp vào một câu, mà lại ngăn ta, là nghĩa thế nào?
Bách Lý Hề nói:
- Tôi thiết tưởng đem lời nói phải mà bảo người ngu, khác nào như đem châu ngọc mà ném ra đường cái. Ngày xưa vua Kiệt giết Long Bàng, vua Trụ giết Tỷ Can, cũng vì cớ hay can gượng. Nếu ông cũng cố can thì nguy cho ông lắm.
Cung Chi Kỳ nói:
- Thế thì nước Ngu này tất phải mất, tôi cùng ông chẳng đi thì còn ở làm gì?
Bách Lý Hề nói:
- Ông đi là phải, nhưng lại rủ thêm một người nữa thì chẳng to tội lắm ru! Âu là để tôi ở lại thong thả ít lâu đã.
Cung Chi Kỳ bèn đem cả họ hàng cùng đi, không biết đi đâu, Tuân Tức về nói với Tấn Hiến công rằng:
- Vua nước Ngu đã nhận ngọc bích và ngựa, thuận cho nước ta đi nhờ đường.
Tấn Hiến công toan thân hành đi đánh nước Quắc. Lý Khắc nói:
- Nước Quắc đánh dễ như không, cần gì chúa công phải đi.
Tấn Hiến công hỏi:
- Làm thế nào mà đánh được nước Quắc?
Lý Khắc nói:
- Nước Quắc đóng đô ở đất Thượng Dương, nhưng cửa ngõ lại ở đất Hạ Dương cả; đã đánh vỡ được đất Hạ Dương thì còn gì là nước Quắc nữa! Tôi dẫu hèn mạt, xin đương cái việc nhỏ mọn ấy! Nếu không đánh được, tôi xin chịu tội.
Hiến công cho Lý Khắc làm chủ tướng, Tuân Tức làm phó tướng, đem quân đi đánh nước Quắc.
Tuân Tức sai người báo tin trước cho vua nước Ngu biết là đến hôm ấy thì quân nước Tấn kéo đến. Khi quân nước Tấn kéo đến, vua nước Ngu nói với Tuân Tức rằng:
- Quý quốc đem cho tôi những đồ chí bảo, tôi không biết lấy gì đền ơn được, vậy thì tôi xin đem quân đi đánh giúp.
Tuân Tức nói:
- Nhà vua đem quân đi đánh giúp, không bằng cho chúng tôi lấy đất Hạ Dương.
Vua nước Ngu nói:
- Đất Hạ Dương của nước Quắc thì người nước Quắc giữ, tôi cho thế nào được?
Tuân Tức nói:
- Vua nước Quắc ngày nay đang đánh nhau với quân Khuyển Nhung ở đất Tang Điền, chưa phân được thua; bây giờ nhà vua giả cách đem quân sang đánh giúp nước Quắc, rồi cho quân nước Tấn tôi đi lẫn vào thì có thể chiếm được đất Hạ Dương.
Vua nước Ngu nghe lời, giả cách đem quân sang đánh giúp nước Quắc. Quan trấn thủ ở đất Hạ Dương là Chu Chi Kiều mở cửa quan cho quân nước Ngu sang; chẳng ngờ quân nước Tấn đi lẫn vào, khi qua được cửa quan rồi thì đổ ra đánh, Chu Chi Kiều không tài nào giữ được. Chu Chi Kiều sợ vua nước Quắc bắt tội, phải xin hàng nước Tấn. Lý Khắc lại bắt Chu Chi Kiều dẫn đường để tiến binh vào đất Thượng Dương. Vua nước Quắc ở đất Tang Điền, nghe tin quân nước Tấn đã phá vỡ cửa quan rồi, vội vàng thu quân trở về, lại bị quân Khuyển Nhung đánh cho một trận, thiệt hại vô kể.
Khi về đến đất Thượng Dương, vua nước Quắc luống cuống, không biết dùng mưu kế gì để trấn giữ. Quân nước Tấn bổ vây cả bốn mặt. Quân nước Quắc ở trong thành, lương thực hết cả, lại nhân vì đánh nhau luôn, quân sĩ mỏi mệt, dân trong thành ngày đêm kêu khóc, tình trạng rất khốn khổ. Lý Khắc bảo Chu Chi Kiều viết một bức thư bắn vào trong thành, dụ vua nước Quắc hàng. Vua nước Quắc nói:
- Tiên quân ta ngày xưa làm chức khanh sĩ nhà Chu, mà bây giờ ta lại chịu đầu hàng thì nhục biết dường nào?
Đêm hôm ấy, vua nước Quắc đem cung quyến mở cửa thành trốn sang nhà Chu. Lý Khắc cũng không đem quân đi đuổi theo. Dân nước Quắc bầy hương hoa bái vọng đón Lý Khắc vào thành. Lý Khắc đem ba phần mười của cải lấy được trong kho nước Quắc và đoàn nữ nhạc đưa biếu vua nước Ngu. Vua nước Ngu mừng lắm. Lý Khắc sai người về báo tin cho Tấn Hiến công biết, còn mình thì giả cách nói có bệnh đóng quân ở ngoài thành nước Ngu để yên nghỉ, đợi khi nào khỏi bệnh, sẽ kéo quân về. Vua nước Ngu thỉnh thoảng lại cho người đến hỏi thăm và tặng thuốc men.
Được hơn một tháng, bỗng nghe báo Tấn Hiến công kéo quân đến. Vua nước Ngu hỏi:
- Chẳng hay Tấn hầu đến có việc gì?
Quân nước Tấn nói:
- Chúa công tôi sợ chưa đánh nổi nước Quắc, vậy phải đem quân tiếp ứng.
Vua nước Ngu nói:
- Ta đang muốn cùng với Tấn hầu nói chuyện, bây giờ tự nhiên Tấn hầu lại tới đây, thật là thỏa tấm lòng ao ước của ta.
Nói xong, vội vàng đem quân ra nghênh tiếp. Tấn Hiến công ước với vua nước Ngu đi săn ở núi Cơ Sơn. Vua nước Ngu muốn nhân dịp khoe khoang với người nước Tấn, mới đem hết cả quân giáp sĩ trong thành ra đi săn. Bỗng nghe báo trong thành phát hỏa. Tấn Hiến công nói với vua nước Ngu rằng:
- Đó tất là dân chúng vô ý để cho lửa cháy, chẳng bao lâu rồi cũng dập tắt được, hai ta cứ việc đi săn.
Quan đại phu nước Ngu là Bách Lý Hề mật tâu với vua nước Ngu rằng:
- Tôi nghe đồn trong thành có biến loạn, chúa công nên về ngay mới được.
Vua nước Ngu nói với Tấn Hiến công xin về trước. Về đến nửa đường, thấy dân nước Ngu lũ lượt đem nhau chạy trốn. Hỏi thì họ nói:
- Quân nước Tấn đã chiếm mất thành rồi!
Vua nước Ngu nổi giận, đem quân kéo thẳng về thành, thì trông thấy một viên đại tướng đứng ở trên mặt thành, uy phong rất lẫm liệt. Viên đại tướng ấy nói với vua nước Ngu rằng:
- Ngày trước nhà vua đã cho ta mượn đường, ngày nay lại cho ta mượn nước, ta xin có lời cám ơn.
Vua nước Ngu giận lắm, thúc quân phá cửa thành. Trên mặt thành nổi hiệu trống, tên bắn xuống như mưa. Vua nước Ngu lui quân thì lại bị quân Tấn Hiến công đánh ở mặt sau. Vua nước Ngu thở dài mà than rằng:
- Tiếc thay! Ta không nghe lời của Cung Chi Kỳ ngày trước.
Nói xong, ngảnh lại thấy Bách Lý Hề đứng ở bên cạnh, liền hỏi rằng:
- Sao lúc bấy giờ nhà ngươi không can bảo ta.
Bách Lý Hề nói:
- Cung Chi Kỳ can, chúa công còn không nghe, khi nào chúa công lại nghe lời tôi! Lúc bấy giờ tôi không can, là muốn lưu cái thân tôi để đến ngày nay theo chúa công.
Vua nước Ngu đang luống cuống, chưa biết làm thế nào, bỗng có một người ngồi trên xe ở đâu đi đến, tức là Chu Chi Kiều (quan tướng nước Quắc đã đầu hàng nước Tấn). Vua nước Ngu trông thấy, thẹn đỏ mặt lên. Chu Chi Kiều nói:
- Hiền hầu nghĩ lầm mà bỏ nước Quắc tôi, đó là sự đã qua. Bây giờ nếu hiền hầu trốn sang nước khác, thì sao cho bằng về với nước Tấn. Vua nước Tấn là người đại lượng, tất không nỡ hại hiền hầu, mà lại có lòng thương, tất hậu đãi hiền hầu, xin hiền hầu chớ ngại.
Vua nước Ngu còn trù trừ chưa quyết. Tấn Hiến công đem quân đến, sai người mời vua nước Ngu. Vua nước Ngu bất đắc dĩ phải đến yết kiến. Tấn Hiến công cười mà nói rằng:
- Tôi đến đây lần này là cốt để đòi lại ngọc bích và cỗ ngựa của tôi!
Nói xong, liền sai người lấy xe cho vua nước Ngu đi. Bách Lý Hề theo hầu vua nước Ngu. Có người bảo Bách Lý Hề rằng:
- Sao nhà ngươi không bỏ mà đi, còn theo làm gì?
Bách Lý Hề nói:
- Ta ăn lộc của vua nước Ngu đã lâu, vậy ta phải cố theo để đền ơn.
Tấn Hiến công vào trong thành nước Ngu. Tuân Tức ra nghênh tiếp, tay trái cầm ngọc bích, tay phải dắt ngựa mà nói với Tấn Hiến công rằng:
- Ngày nay mưu kế của tôi đã thành rồi, tôi xin đem ngọc bích và ngựa nộp lại chúa công.
Hiến công nghe nói bằng lòng. Hiến công bắt vua nước Ngu về, toan đem giết đi. Tuân Tức nói:
- Vua nước Ngu là một đứa ngu ngốc, có làm gì được mà phải giết!
Hiến công bèn đối đãi rất tử tế, rồi lại tặng cho một viên ngọc bịch khác và con ngựa khác, mà bảo vua nước Ngu rằng:
- Ta không dám quên cái ơn cho mượn đường đánh nước Quắc đâu.
Hiến công cho Chu Chi Kiều làm quan đại phu. Chu Chi Kiều bèn tiến Bách Lý Hề. Tấn Hiến công vào sai Chu Chi Kiều đến dụ. Bách Lý Hề nói:
- Hãy chờ cho hết đời chúa công tôi, bấy giờ tôi sẽ vâng lời.
Chu Chi Kiều về. Bách Lý Hề thở dài mà than rằng:
- Người quân tử bỏ mình mà đi, tất không chịu đến nước cừu địch, huống chi lại còn làm quan với họ! Ta có làm quan, cũng không làm quan với nước Tấn.
Chu Chi Kiều nghe Bách Lý Hề nói cho là Bách Lý Hề muốn bới móc cái xấu của mình nên có ý không bằng lòng.
Bấy giờ Tần Mục Công là Nhậm Hiếu lên ngôi vua đã sáu năm, mà chưa lấy vợ, mới sai quan đại phu là công tử Trí sang hỏi con gái trưởng của Tấn Hiến công là Bá Cơ làm phu nhân.
Tấn Hiến công sai người bói được quẻ tốt, liền nhận lời gả Bá Cơ cho Tần Mục công. Công tử Trí cáo từ về nước. Trong khi đi đường, gặp một người mặt đỏ như son, mũi cao, râu rậm, hai tay cầm hai cái cày mà cày ruộng, lưỡi cày ngập xuống dưới đất đến mấy thước. Công tử Trí thấy lạ, sai người nhắc cái cày lên xem. Quân sĩ không ai nhắc nổi cả. Công tử Trí bèn hỏi họ tên là gì. Người cày ruộng nói:
- Tôi là Công Tôn Chi, tên tự là Tử Tang, có họ xa với vua nước Tấn.
Công tử Trí nói:
- Nhà ngươi là người có tài, sao lại phải đi cày ruộng?
Công Tôn Chi nói:
- Chỉ vì không có ai tiến dẫn cho.
Công tử Trí nói:
- Nhà ngươi có muốn theo ta sang nước Tần không?
Công Tôn Chi nói:
- Kẻ sĩ vì người tri kỷ, dẫu chết cũng đành! Nếu công tử có lòng tiến dẫn cho thì còn gì hơn nữa!
Công tử Trí bèn cho ngồi lên xe đem về nước Tần, nói với Tần Mục công. Tần Mục công cho Công Tôn Chi làm quan đại phu. Lại sai công tử Trí đem đồ lễ vật sang cưới Bá Cơ. Tấn Hiến công hỏi các quan rằng:
- Nên cho ai đi theo hầu Bá Cơ?
Chu Chi Kiều nói:
- Bách Lý Hề không muốn làm quan với nước Tấn ta thì bụng hắn khó lường được, chi bằng sai hắn đi.
Tấn Hiến công mới sai Bách Lý Hề đi theo hầu Bá Cơ. Nguyên Bách Lý Hề vốn người nước Ngu, tên tự là Tỉnh Bá, ngoài ba mươi tuổi mới lấy vợ là Đỗ thị, sinh được một con trai. Bách Lý Hề nhà nghèo, muốn đi lập công danh nhưng sợ vợ con không trông cậy vào ai được, cứ quyến luyến mãi, không nỡ dứt tình. Đỗ thị nói:
- Thiếp nghe nói làm tài trai nên phải lập chí, nay phu quân không tìm đường đi lập công danh, mà cứ quyến luyến với vợ con, ngồi xó nhà để làm gì! Thiếp có thể kiếm lấy mà ăn được, phu quân không phải e ngại.
Trong nhà chỉ có một con gà mái ấp, Đỗ thị vào làm thịt để tiễn chân Bách Lý Hề. Dưới bếp hết cả củi đun, Đỗ thị phải bẻ cái phên làm củi, thổi một nồi cơm gạo đỏ để cho Bách Lý Hề ăn. Bách Lý Hề cơm no rồi, liền từ giã vợ con ra đi. Đỗ thị tay ẵm con, nắm lấy vạt áo Bách Lý Hề khóc mà dặn rằng:
- Lúc được phú quý xin chớ quên nhau!
Bách Lý Hề sang nước Tề, muốn xin vào yết kiến Tề Tương công nhưng không có ai tiến dẫn cho; sau đó, cùng khốn quá, phải đi ăn xin ở đất Diệt (đất nước Tề), bấy giờ Bách Lý Hề đã bốn mươi tuổi đầu. Có người đất Diệt tên là Kiển Thúc trông thấy tướng mạo Bách Lý Hề, lấy làm lạ mà bảo rằng:
- Nhà ngươi không phải là kẻ ăn xin!
Kiển Thúc hỏi đến họ tên, rồi mời về nhà thết cơm. Trong khi ăn cơm, bàn đến thời sự, Bách Lý Hề nói đâu ra đấy. Kiển Thúc thở dài mà than rằng:
- Nhà ngươi có tài mà phải cùng khốn như vậy, chẳng qua cũng là cái vận đó mà thôi!
Nói xong, liền giữ Bách Lý Hề ở trong nhà, kết làm anh em. Kiển Thúc hơn Bách Lý Hề một tuổi, Bách Lý Hề gọi Kiển Thúc là anh. Kiển Thúc nhà cũng nghèo, Bách Lý Hề phải đi chăn trâu thuê cho người trong làng gần đấy để lấy thêm tiền ăn. Gặp bấy giờ công tử Vô Tri giết Tề Tương công, lên nối ngôi làm vua, treo bảng cầu người hiền. Bách Lý Hề toan ra làm quan. Kiển Thúc nói:
- Tiên quân ta còn có người con trốn đi ở nơi khác, nay Vô Tri cướp ngôi, tất không thể giữ yên được đâu.
Bách Lý Hề mới thôi. Sau nghe tin vương tử Đồi nhà Chu thích chơi trâu, những người nuôi trâu đều được ăn lương rất hậu. Bách Lý Hề lại nói với Kiển Thúc xin sang nhà Chu. Kiển Thúc dặn rằng:
- Kẻ trượng phu không nên khinh thường mà đem thân theo người khác. Nếu đã làm quen với người ta, thấy hoạn nạn mà bỏ đi thì bất trung, mà không bỏ thì là bất trí. Em đi lần này nên phải cẩn thận mới được. Ta thu xếp xong việc nhà, rồi cũng vào nhà Chu thăm em.
Bách Lý Hề vào nhà Chu, yết kiến vương tử Đồi, nói về cách nuôi trâu. Vương tử Đồi mừng lắm, toan nuôi làm gia thần. Vừa lúc đó, thì Kiển Thúc cũng sang nhà Chu. Bách Lý Hề đưa Thúc vào yết kiến vương tử Đồi. Khi trở ra về, Kiển Thúc bảo Bách Lý Hề rằng:
- Vương tử Đồi chí to mà tài ít, lại thường hay chơi bời với những đứa siểm nịnh, tất có ngày sinh sự làm càn, chắc rằng chẳng bao lâu rồi cũng hỏng thôi, chi bằng chúng ta bỏ đi là hơn.
Bách Lý Hề nhân lâu ngày xa cách vợ con, có ý muốn về nước Ngu. Kiển Thúc nói:
- Nước Ngu có một người bề tôi hiền là Cung Chi Kỳ, tức là người quen biết của ta, cùng ta cách biệt đã lâu, ta cũng muốn sang thăm hắn; nếu em muốn về nước Ngu thì để ta cùng đi với!
Nói xong, liền cùng với Bách Lý Hề trở về nước Ngu. Bấy giờ vợ Bách Lý Hề là Đỗ thị nghèo quá, không lấy gì đủ ăn được, đã lưu lạc tha hương, không biết đi đâu. Bách Lý Hề thấy vậy, thương xót vô cùng.
Kiển Thúc vào yết kiến Cung Chi Kỳ, nói chuyện Bách Lý Hề là người hiền. Cung Chi Kỳ đem Bách Lý Hề tiến cho vua nước Ngu. Vua nước Ngu cho Bách Lý Hề làm quan trung đại phu.
Kiển Thúc nói:
- Ta xem vua nước Ngu là người kiến thức hẹp hòi mà lại hay tự đắc, cũng không phải là ông vua hiền đâu.
Bách Lý Hề nói:
- Em nghèo khổ đã lâu, khác nào như con cá ở trên cạn, chỉ mong được một giọt nước để mà dưỡng thân.
Kiển Thúc nói:
- Em vì nghèo mà phải ra làm quan thì ta không thể ngăn em được, nhưng mai sau em có muốn thăm anh thì cứ đến làng Minh Lộc nước Tống. Chỗ ấy phong cảnh tĩnh mịch lắm, ta định đến ở đấy.
Nói xong, liền từ giã Bách Lý Hề rồi đi. Bách Lý Hề ở lại làm quan với vua nước Ngu. Đến lúc vua nước Ngu mất nước, Bách Lý Hề cứ quanh quẩn không nỡ bỏ đi, thường phàn nàn một mình rằng:
- Ta đã mang tiếng là người bất trí, có lẽ nào lại còn để mang tiếng là người bất trung.
Đến bấy giờ Tấn Hiến công sai Bách Lý Hề đi theo hầu Bá Cơ sang nước Tần. Bách Lý Hề than rằng:
- Ta có tài mà không được gặp minh quân để tỏ cái tài của ta; lại già đời đi theo hầu người ta, khác nào đứa ăn đứa ở, còn gì nhục hơn nữa!
Đi đến nửa đường, Bách Lý Hề liền bỏ trốn sang nước Tống, nhưng bị nghẽn đường, lại sang nước Sở, đến đất Uyển Thành (đất nước Sở). Người đi săn ở đất Uyển Thành, trông thấy Bách Lý Hề ngờ là quân gian, bắt đem trói lại.
Bách Lý Hề nói:
- Tôi là người nước Ngu, vì nước Ngu mất, nên phải trốn đến đây.
Người đi săn hỏi:
- Nhà ngươi có biết nghề gì không?
Bách Lý Hề nói:
- Tôi khéo nuôi trâu.
Người đi săn bèn cởi trói cho, rồi đem về cho nuôi trâu. Bách Lý Hề nuôi trâu, chóng béo tốt lắm, tiếng đồn đến vua nước Sở. Vua nước Sở triệu Bách Lý Hề vào mà hỏi rằng:
- Cách nuôi trâu phải thế nào?
Bách Lý Hề nói:
- Cho ăn phải có điều độ, không nên bắt làm mệt nhọc quá, lúc nào trong lòng cũng nghĩ đến trâu.
Vua nước Sở nói:
- Nhà ngươi nói phải lắm! Chẳng những cách nuôi trâu như thế mà thôi, dẫu cách nuôi ngựa cũng phải thế.
Vua nước Sở bèn cho Bách Lý Hề làm chức ngữ nhân, ra chăn ngựa ở xứ Đông Hải.
Tần Mục công xem trong sổ những người đi theo hầu Bá Cơ có tên Bách Lý Hề mà không thấy người, lấy làm lạ, liền hỏi công tử Trí. Công tử Trí nói:
- Bách Lý Hề là bầy tôi nước Ngu trước, bây giờ trốn đi rồi.
Tần Mục công hỏi Công Tôn Chi rằng:
- Nhà ngươi trước có ở nước Tấn thì tất biết Bách Lý Hề là người thế nào.
Công Tôn Chi nói:
- Bách Lý Hề là một người giỏi; biết vua nước Ngu là người không thể can được thì không can, thế là người trí; theo vua nước Ngu sang ở nước Tấn, mà không chịu làm tôi nước Tấn, thế là người trung. Đó là một người tài, chỉ vì chưa gặp được thời đó thôi.
Tần Mục công nói:
- Ước gì ta được Bách Lý Hề mà dùng thì hay!
Công Tôn Chi nói:
- Tôi nghe đồn vợ con Bách Lý Hề ở cả nước Sở, chắc là Bách Lý Hề trốn sang nước Sở, âu là ta sai người sang nước Sở mà hỏi dò xem.
Tần Mục công bèn sai người đi, người ấy về báo với Tần Mục công rằng:
- Bách Lý Hề ở xứ Nam Hải, chăn ngựa cho vua nước Sở.
Tần Mục công nói:
- Ta muốn sai người đem lễ vật sang xin về, không biết vua nước Sở có cho không?
Công Tôn Chi nói:
- Nếu vậy thì không đem được Bách Lý Hề về.
Tần Mục công hỏi:
- Tại làm sao?
Công Tôn Chi nói:
- Vua nước Sở bắt Bách Lý Hề chăn ngựa, chỉ vì không biết Bách Lý Hề là người giỏi; bây giờ đem lễ vật sang xin về thì khác nào bảo cho vua nước Sở biết. Vua nước Sở đã biết Bách Lý Hề là người giỏi, tất nhiên dùng Bách Lý Hề khi nào chịu cho ta. Chi bằng chúa công nêu lên cái tội Bách Lý Hề theo hầu mà dám trốn, rồi xin chuộc về để trị tội. Đó là kế của Quản Di Ngô trước kia đánh lừa nước Lỗ mà thoát thân đó.
Tần Mục công khen phải, bèn sai người đem năm bộ da dê sang biếu vua nước Sở mà nói rằng:
- Nước tôi có một kẻ tiện thần là Bách Lý Hề, trốn sang quý quốc, chúa công tôi muốn bắt về trị tội, để làm gương cho kẻ khác. Chúa công tôi xin đem năm bộ da dê để chuộc về.
Vua nước Sở sợ mất lòng nước Tần, liền sai người bắt Bách Lý Hề để giao trả. Khi Bách Lý Hề bị bắt, người xứ Đông Hải ai cũng bảo là tất phải tội chết, đều có ý thương xót mà ứa nước mắt. Bách Lý Hề nói:
- Tôi nghe vua nước Tần có chí muốn làm bá vương thì cần gì mà phải bắt tội một đứa theo hầu; nay nước Tần xin đem tôi về là có ý muốn dùng tôi đấy. Chuyến này tôi đi, tất được phú quý, can gì mà phải khóc.
Nói xong, liền bước lên xe tù đi sang nước Tần. Tần Mục công sai Công Tôn Chi ra đón tận ngoài cõi, rồi triệu Bách Lý Hề vào tiếp kiến. Tần Mục công hỏi Bách Lý Hề rằng:
- Năm nay nhà ngươi bao nhiêu tuổi?
Bách Lý Hề nói:
- Tôi vừa bảy mươi tuổi.
Tần Mục công than rằng:
- Tiếc thay, già lắm rồi!
Bách Lý Hề nói:
- Chúa công sai tôi đi đuổi giống chim bay hay đi bắt giống thú dữ thì tôi đã già thật, nhưng nếu khiến tôi ngồi mà bàn việc chính trị, thì tôi còn trẻ nhiều! Ngày xưa ông Lã Vọng tám mươi tuổi đầu còn đi câu ở bến sông Vị; Văn vương đem về phong làm Thượng phụ, rồi giúp nên cơ nghiệp nhà Chu. Nay gặp chúa công, tôi thiết tưởng còn sớm hơn Lã Vọng được mười năm.
Tần Mục công thấy Bách Lý Hề nói khí khái như vậy, có ý kính trọng mà nói rằng:
- Nay nước ta tiếp giáp các nước Nhung - Địch, không được dự cuộc hội minh với các nước ở Trung quốc. Ông già bảo ta nên làm thế nào cho cường thịnh được?
Bách Lý Hề nói:
- Chúa công không nề tôi là người bơ vơ mất nước, già nua yếu đuối mà hỏi đến tôi, tôi đâu lại còn dám tiếc lời. Nguyên đất Ung Kỳ là một nơi hiểm trở, Văn vương và Vũ vương nhà Chu ngày xưa nhờ đất ấy mà nên cường thịnh. Nay nhà Chu không biết giữ mà cho nước Tần ta, ấy là lòng trời muốn mở mang cho nước Tần ta đó! Vả lại ở cõi phía tây này có cả thảy đến vài mươi nước nhỏ, nếu ta kiêm tính các nước ấy thì đất có thể cày được, dân có thể dùng được, các nước ở Trung quốc, còn ai tranh nổi với chúa công; bấy giờ chúa công sẽ tìm cách mà tiến vào trung nguyên, tôi dám chắc rằng nghiệp bá nắm vững ở trong tay chúa công đó.
Tần Mục công nghe lời, liền đứng ngay dậy mà nói rằng:
- Nay ta được nhà ngươi giúp, khác nào như nước Tề được Trọng phụ!
Tần Mục công cùng với Bách Lý Hề nói chuyện trong ba ngày, không có điều gì là không hợp ý cả, liền phong làm thượng khanh, và đem việc quốc chính mà ủy nhiệm cho. Bởi thế người nước Tần gọi Bách Lý Hề là “Ngũ cổ đại phu”(3); lại thường nói với nhau rằng:
- Bách Lý Hề là một người ở dưới mõm trâu mà vua nước Tần đem lên để dùng đấy! Nhiệm ông có thơ rằng:
“Thoát ngục làm quan chuyện thật kỳ
Vua Tần trọng vọng Bách Lý Hề
Từ đấy tây Tần danh hiển hách
Lý Hề chỉ đáng bộ da dê”
Vì Bách Lý Hề đang ở nước Sở, mà vua nước Tần đem năm bộ da dê đi chuộc về, nên Bách Lý Hề xin từ chức thượng khanh và tiến dẫn một người khác để thay mình.
_____
(1) Ở đất Thùy Cức có nhiều ngọc quý.
(2) Ở đất Khuất Sản có nhiều ngựa tốt. Bốn con ngựa gọi là một cỗ ngựa.
(3) Quan đại phu năm con dê.
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»