📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

"MêKông Dòng Sông Nghẽn Mạch” của nhà văn Ngô Thế Vinh

3 trả lời, 32 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.11.2018 14:53:51 bởi Ct.Ly>
Mekong là dòng sông rất quan trọng cho sinh hoạt của người dân sống dọc hai bên bờ, tính ra gồm có người dân của 6 quốc gia. Tuy nhiên, cũng chính con người gây ra những điều tai hại cho nguồn sống của mình mà nghiêm trọng hơn cả là dãy đập thuỷ điện tại thượng nguồn bên Trung Quốc.
 
[image]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/BookReviewMekongRiverWereBlocked-08242008194341.html/NgoTheVinhBook250.jpg/image" alt="NgoTheVinhBook250.jpg[/image]


Hình bìa cuốn Mê Kông Dòng Sông Nghẽn Mạch. Source: Văn Nghệ Mới
 
Hậu quả ấy là mùa khô thì nước cạn hơn, còn mùa mưa thì lũ lớn hơn. Giới chuyên môn bày tỏ mối lo ngại rằng mùa lũ hàng năm sắp tới sẽ lớn hơn những mùa lũ trước, mức độ tàn phá sẽ kinh hoàng hơn.
 
Nhà văn Ngô Thế Vinh có cuôn sách viết về những vấn đề của Sông Mekong, tựa đề là "Mê Kông Dòng Sông Nghẽn Mạch". Mặc Lâm điểm cuốn sách này gửi đến quý vị trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật tuần này.
 
Nhà văn Ngô Thế Vinh, trước năm 75 được biết đến qua tác phẩm "Vòng đai xanh", một truyện dài được giải thưởng bộ môn Văn trong Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1971. Ông là một bác sĩ y khoa phục vụ trong Tiểu Đoàn  81 Biệt Cách Dù. Sau khi định cư tại Mỹ ông theo học tiếp tại bệnh viện Đại Học Y Khoa New York. Hiện ông đang làm việc tại Tiểu Bang California.
 
Tác phẩm Mê Kông Dòng Sông Nghẽn Mạch được xuất bản đầu năm 2007, và chỉ một năm sau đó đựoc tái bản. Trước đó, Ngô Thế Vinh đã trình làng những tác phẩm: Mây Bão, 1993. Bóng Đêm, 1964. Gió Mùa 1965. Vòng Đai Xanh 1970. Mặt Trận ở Saigon 1996. Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, 2000.
 
Tiểu thuyết ký sự
Mê Kông Dòng Sông Nghẽn Mạch là một tiểu thuyết ký sự ghi chép lại hành trình của tác giả dọc theo dòng sông Mê Kông. Sách dày 320 trang và kèm theo là 4 CD với giọng đọc Nam bộ ngọt và êm như một câu vọng cổ của Ánh Nguyệt, hiện là biên tập viên của đài FRI Pháp Quốc. Sách có bốn chương, mỗi chương viết về một quốc gia mà tác giả đã đi qua, cũng là những quốc gia trên hành trình của con Sông Mê Kông đầy huyền thọai trên đừơng đến Biển Đông.
 
Tất cả những hình ảnh được ghi nhận trong chuyến đi đã được tác giả lồng vào những kinh nghiệm có được từ các dữ kiện thời sự xảy ra liên quan đến các biến cố mà ít nhiều dính líu đến dòng chảy của Sông Mê Kông. Từ việc nạo vét lòng sông để chuyên chở dầu từ cảng Thái Lan ngược lên Trung Quốc đến những con đập đầu nguồn góp phần làm cạn kiệt nguồn nước hay xả lũ xuống hạ nguồn gây lụt lội nghiêm trọng trong nhiều năm qua. Bên cạnh đó là những hoạt động gây ô nhiễm cho con sông mà theo tác giả thì khó, hay nói cho đúng là không thể cứu vãn.
 
Những khai thác tự hủy này được viết bởi một giọng văn điềm đạm và khúc chiết đến nỗi người đọc tưởng như đang ngoạn cảnh và những ưu tư chỉ chợt đến rất nhẹ nhàng. Nhà văn không có bất cứ cáo buộc nặng nề nào mặc dù các bằng chứng đã được đưa ra khá nhiều từ các viện nghiên cứu, các tư nhân cũng như các cơ quan truyền thông uy tín. Người đọc có thể tìm thấy rất nhiều tư liệu thời sự và hình ảnh giá trị trong tác phẩm nhưng không vì vậy mà toàn bộ cuốn sách thiếu vẻ thơ mộng của đời sống cư dân của Trung Quốc hay Thái Lan, rồi Cambodia và cuối cùng là Việt Nam. Đó là đặc điểm của sách, cũng là đặc điểm của Ngô Thế Vinh, một nhà văn, một nhà nghiên cứu, nhưng trên hết là một người say mê dòng Sông Mê Kông, như tác giả tự nhận.
 
Ngắn gọn, nhưng chứa nhiều chi tiết đáng chú ý
Trong chương trình ngày hôm nay chúng tôi đã ghi lại giọng đọc của chị Ánh Nguyệt và Đỗ Hiếu.
Tác giả giới thiệu chuyến đi của mình tuy ngắn gọn nhưng lại chứa nhiều chi tiết đáng chú ý:
"Cho dù là "đổi mới", dẫu sao Trung Quốc vẫn còn là xứ sở của toàn trị và công an, rất kỵ với nhà báo, nhà văn hay bất cứ nghề nghiệp nào liên quan tới truyền thông và kể cả các tu sĩ truyền giáo. Cho dù chủ đích là một chuyến du khảo giữa khúc thượng nguồn Sông Mê-Kông và các con đập Vân Nam, nhưng chọn lựa dễ dàng nhất vẫn là lý do du lịch và nghề nghiệp thì chắc chắn không phải là nhà báo. Tôi cũng hiểu rằng nếu phải ghi lộ trình chi tiết thì cũng nên tránh nhắc tới những địa danh rất nhạy cảm như Tây Tạng."


Mục tiêu như nhà văn Ngô Thế Vinh đã cho biết trước: đập thuỷ điện Mạn Loan (Manwan, Trung Quốc). Dưới mắt một khách du lịch dự định nghiên cứu về dòng Sông Mê Kông, con đập này vừa đẹp vừa hùng vỹ lại có những mặt trái đáng lo âu:
"Con đập cao tới 99 mét, chắn ngang khúc sông, giữa hai ngọn núi với bức tường thành cao tới 35 tầng. Đơn vị phát điện đầu tiên bắt đầu sản xuất điện từ Ngày 30-61993 và chỉ hai năm sau đó, Ngày 28-6-1995 tất cả 5 đơn vị phát điện cùng hoạt động đúng theo như Gai Đoạn I của dự án. Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây một sự kiện đáng ghi nhớ và gây nhiều tranh cãi là vào giữa Năm 1993 xảy ra một hiện tượng được coi là bất thường: Mực nước con Sông Mê-Kông phía hạ lưu đột ngột hạ thấp xuống mà không vào mùa khô, chỉ lúc đó người ta mới được biết lfa Trung Quốc đã xây xong con đập Mạn Loan (Manwan) và đó là thời điểm bắt đầu lấy nước từ con Sông Mê-Kông vào hồ chứa. Và họ cũng chẳng thèm thông báo gì cho các quốc gia dưới nguồn. Chỉ riêng với con đập Mạn Ngoan mà đã giữ tới 20% nguồn nước trên dòng chính, khúc Sông Mê-Kông chảy qua Vân Nam. Sau biến cố đó, phải nói là càng ngày càng có mối lo âu về ảnh hưởng của chuỗi đập bậc thềm Vân Nam. Mối quan tâm đó càng ngày càng gia tăng do nguyên nhân thiếu hẳn nguồn thông tin cung cấp bởi Trung Quốc." 
 
Đời sống người dân
Trên con đường xuôi về Nam, tác giả ghé qua Lào và đã kẻ cho chúng ta nghe nhiều điều thú vị. Tuy nhiên, khi nói về con sông, một người Lào gốc Việt cho biết :
"Qua Thong-Vieng người tài xế Lào gốc Việt cho biết thêm: "Em từ vùng giải phóng Xieng Khoang theo gia đình lên sống ở Vạn Tượng (Vientiane) 1976. Nhà gần sông, tụi em thường ngày ra chơi. Em nhớ rõ là hồi ứo con Sông Mê-Kông rất là nhiều nước, kể cả mùa khô, trong dịp Tết ... (Tết Lào), còn mùa mưa thì khỏi nói, con sông nước chảy mạnh là thế nào! Nhưng chỉ có năm bảy năm gần đây thôi khúc sông mới cạn như vậy. Bây giờ mới Tháng Mười Một - Mười Hai mà sông đã thiếu nước. Hai mùa mưa nắng thì vẫn thế, mà không biết nước chảy đi đâu hết."


Còn đời sống của người Việt tại Cambodia thì sao?
"Người Việt tha hương trên đất nước Cam Bốt đã chẳng dễ dãi hay vẻ vang gì. Đa số sống bằng nghề hạ bạc, tức nghề chài lưới, buôn bán nhỏ, hay là làm thuê, làm mướn. Nếu vẫn sống ở quê hương Việt Nam họ cũng chẳng thể khổ hơn vậy. Hơn 70% số gái điếm - kể cả vị thành niên - đang hành nghề ở Cam Bốt là người Việt. Một số không ít còn vị thành niên được mua từ đồng bằng Sông Cửu Long đưa qua ngã biên giới. Một con số làm nhiều người ngạc nhiên và cả gây đau lòng cho những ai vẫn hãnh diện là hậu duệ của các thế hệ khai phá Nam tiến."


Tuy còn nghèo nhưng qua nhận xét của tác giả, những người trẻ của dân tộc Khmer thật khác rất xa với giới trẻ Việt Nam, nhất là trong giới sinh viên học sinh, ông viết:
"Trên mảnh đất Cam Bốt đau thương, những cây thốt nốt cho dù đầy thương tích vẫn cứ trổ hoa kết trái và cho mật ngọt. Cũng như sinh viên tuổi trẻ Cam Bốt, thế hệ sau Khmer Đỏ được sinh ra giữa tro than trong một xã hội bất toàn nhưng những cây non ấy đã bám rễ để đam chổi nở lộc, để vươn lên trời xanh. Họ đã có tiếng nói chống lại những bất công tham nhũng trong vòng thành đại học, nghiã là những vấn đề thiết thân tới tương lai họ, nhưng đồng thời họ cũng có những mối quan tâm xa hơn bản thân: không thiếu những cuộc biểu tình đòi dân chủ, đòi đất đai từ Việt Nam!
Thật là tương phản khi nhìn sang tuổi trẻ Việt Nam. Suốt 27 năm dài ấy, kể từ Năm 1975, trong các đại học quốc gia, từ Hà Nội, Huế cho tới Sài Gòn, Cần Thơ, chỉ thấy giấc ngủ triền miên của sự câm lặng đáng gây kinh ngạc."


Ấn tượng của tác giả 
Đoạn cuối cùng của dòng Sông Mê-Kông đã để lại ấn tượng gì nơi tác giả?
"Xuống ghe từ bến Ninh Kiều buổi sáng sớm tinh sương, dòng Sông Hậu trải rộng mênh mông và thoáng mát, chiếc ghe máy chạy ngược dòng để tới kịp hai chợ nổi Phong Điền và Cái Răng giờ cao điểm. Vẫn cảnh tượng các ghe thuyền lớn nhỏ từ các nhà vườn chở đầy rau trái theo các ngã kinh rạch hướng về khu chợ nổi để bán cho lái thu mua.
Không kể những hoá chất độc đã tan trong nước không còn thấy được, những núi cỏ rác khô và cả những túi rác ni lông đủ màu chưa bị phân huỷ nổi trôi giữa những đám lục bình cũng để thấy rằng con Sông Mê-Kông đang là cống rảnh của các chất phế thải kỹ nghệ và cả rác rưởi của tiện dụng gia cư.
Cảnh ấy diễn ra khắp nơi. Ngay trên Sông Sài Gòn, từ một nhà hàng nổi, bao nhiều đồ thải rác rến cũng được hất xuống sông. Cạnh chiếc ghe máy bất chợt phải khựng lại vì chân vịt vướng đầy cỏ rác khiến tài công phải lặn sâu xuống nước để tháo gỡ, ít nhất hai lần như vậy chỉ trong nửa buổi sáng vượt dòng Sông Hậu."
Cuối cùng thì trong suốt chuyến đi nhà văn còn lại một nỗi buồn trong lòng mà theo ông nỗi buồn này dính liền với mối lo cho con sông và hàng triệu cư dân hai bên bờ. Ông viết:
"Bây giờ mới tận mắt thấy xuôi dòng sông Mekong là những con tàu lớn chở hàng từ cảng Tư Mao - Simao xuống tới tận Bắc Thái và Lào xuống xa tới Vạn Tượng. Vào tháng 4 năm 2001, Trung Quốc đã ký một thỏa hiệp về thủy vận trên sông Mekong nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến Điện, Thái Lan và Lào với kế hoạch vét lòng sông, cả dùng cốt mìn chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng đường sông cho tàu lớn trọng tải từ 500-700 tấn có thể di chuyển từ cảng Tư Mao (Vân Nam) xuống Chiang Khong, Chiang Sean (Thái Lan), xuống thẳng tới Vạn Tượng - thủ đô nước Lào.
Trong khi Việt Nam và Cam Bốt là hai quốc gia cuối nguồn, trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy thì bị gạt ra ngoài. Hậu quả ra sao thì chưa ai lượng giá được nhưng chắc chắn nhịp độ thiên nhiên điều hòa của dòng chảy sẽ bị rối loạn có ảnh hưởng dây chuyền trên toàn hệ sinh thái Sông Mekong."
Trên chuyến bay về lại Mỹ nhà văn vẫn bị ám ảnh bởi những hình ảnh mà ông nhớ nhất:
"Khi chiếc Boeing 777 vừa rời Quảng Châu trên đường trở về Mỹ không hiểu sao một hình ảnh chẳng có gì đặc biệt lại hiện ra rất rõ nét trong trí tôi lúc đó. Một tấm bảng hiệu thật lớn trên một đường quê an bình của Vân Nam với một bên là làng mạc một bên là những thửa ruộng lúa vàng, bên cạnh hình ông già Đặng Tiểu Bình là một hàng chữ ngắn thật lớn "Chỉ có một lựa chọn: sự phát triển".


Đó là một thông điệp rất rõ ràng mà ông Đặng Tiểu Bình gởi tới nhân dân Trung Quốc. Không phải chỉ có phát triển mà phát triển với tốc độ rất nhanh, với hình ảnh Trung Quốc bước vào Thế Kỷ 21 đang vươn lên như một siêu cường".
Những hình ảnh ấy đựơc nhà văn nhớ trước hết vì chúng quyến rũ, vì chúng đẹp, vì chúng có ma lực, nhưng quan trọng hơn hết, có lẽ là vì Ngô Thế Vinh biết rằng đến một ngày không xa, chúng sẽ chỉ còn là kỷ niệm, khi dòng sông đã thực sự bị nghẽn mạch.




Đăng nhập để trả lời
0
Một bài viết rất hay đọc hết mới cảm nhận được thiên nhiên của Việt Nam huyền bí đến mức nào
cong ty tu van moi truong Đoàn Gia Phát chuyên lập ke hoach bao ve moi truong, bao cao dtmxu ly nuoc thai
Đăng nhập để trả lời
0
Nầy cô em hiệp sĩ tài hoa, cho anh chia sẻ lên trang FB Ngọc Dũ Phạm của anh nhé, bởi ấy là tài liệu quý, là cuốn sách hay của nhà văn, bác sĩ Ngô Thế Vinh. Tks rất nhiều. Chúc vui nghe.
Thân mến, Ngã Du Tử/ Sài Gòn VN
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
TRĂNG NGHẸN 
 
Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,
Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.
Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,
Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân. 
 
Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,
Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.
Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,
Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai. 
 
Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,
Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.
Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê còn đó,
Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê. 
 
Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,
Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm.
Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,
Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn. 
 
Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,
Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ.
Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,
Đôi mắt ướt một thời bẻn lẻn ngó bàn chân. 
 
Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê,
Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu,
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi. 
 
Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:
Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,
Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất,
Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa. 
 
Chặp tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,
Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.
Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ
Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.
HOÀI TƯỜNG PHONG
 
Tôi không bàn gì về vấn đề thi thơ của đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 4 năm 2009 ấy, bởi mọi chuyện đã rơi vào quá khứ, cuộc thi nào cũng có nguyên tắc, những qui ước hữu hạn của nó và ban giám khảo là ai? Nhưng tôi không nói đến đúng sai nữa, riêng tôi thích bài thơ ấy nói lên chữ tình da diết của tác giả đầy đặn nhưng lực bất tòng tâm, ông viết mộc mạc mà chân thành với tấm lòng thao thức của ông, thế là tôi viết cảm nhận trong không gian và nơi chốn của thi sĩ làm bài thơ nầy.
Có quay ngược lại xuất xứ và thời gian đã qua mới may ra cảm nhận được những ý nhi, tinh tế của cảm xúc trước không gian, nơi chốn và sự thao thức của tác giả với những con chữ “có linh hồn” của Hoài Tường Phong.
Mở đầu bài thơ khá lung khởi tác giả giới thiệu bối cảnh chào đời của mình như một thực thể của thân phận người trong miền quê nghèo, phải tản cư chạy giặc vì giặc giả dày xéo trên quê hương mình đồng hoang, nhà trống sao nghe có sự đỗ nát, hoang tàn.
Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,
Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.
Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,
Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.
Một đêm rằm mưa gió xưa thời chiến tranh tao loạn vầng trăng không sáng nổi bởi u ám gió mưa trong bối cảnh chào đời ấy. Vùng đồng bằng Cửu Long chằng chịt sông nước, mẹ ông chuyển dạ, ngoại bôn ba đi “rước bà mụ vườn ngoại cực trần thân” khổ sở biết chừng nào, khổ thơ tuy ít chữ nhưng độc giả hãy tưởng tượng thời ấy cách đây trên 60 năm với miền Tây Nam bộ sự cực khổ ấy là dường nào và ông dùng chữ “trần thân” một phương ngữ khá đắc địa trong bối cảnh nầy.
Có rằm nào mà không tỏ vầng trăng, duy nhất chỉ có gió mưa nên mới lổi hẹn đầu đời lúc sinh ra với vầng trăng rằm tròn vành vạnh và điều ấy như báo trước một định mệnh thi ca không sáng sủa của ông chăng? ( Đạt giải nhưng cuối cùng trớt huơ)
Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,
Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.
Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,
Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.
Rồi người thơ lớn lên một cách tự nhiên “như cây tạp rừng hoang”, một người ở sông nước đồng bằng Cửu Long cứ thong thả mà lớn rồi biết cưỡi trâu khi lên bảy, không biết ngồi lên chiếc xe đạp, chắc là các bạn cũng hiểu thời ấy dễ gì có xe đạp, người trung lưu ở vùng giao thông bằng phương tiện đường bộ đã khó huống hồ là nhà nghèo ở vùng sông nước  Cần Thơ.
Lời bải bôi (buôi) hay đải bôi là lời không thật nói để vuốt đuôi nhau, lấy lòng nhau mang tính giả dối, điêu ngoa, nghĩa là ông thật thà chơn chất và một mạc nên thiệt thua cả đời. Tác giả viết thật thà từng chữ, từng câu nhưng đòi hỏi người đọc mang tính liên tưởng cao để thấy hết bối cảnh thật của thời thế lúc bấy giờ của lòng ông. Ôi chao, sao mà tình lai láng đến vậy, người đọc cảm xúc cao có thể rưng rưng lệ. 
Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,
Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.
Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê còn đó,
Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.
Có thể gia đình ông thấy không còn phù hợp với cuộc sống nông thôn nên chuyển ra thành mưu sinh để có cuộc sống khá giả hơn về vật chất chuyển đổi nơi sinh sống: ra thành thị, song bản chất thiệt thà giữa những ồn ào thị phi ông cảm thấy lạc lõng, bơ vơ trước những đua chen lắm nổi ngại ngần dù đã mười năm -  mười năm là khoảng thời gian khá dài đối với đời con người có thể đổi thay để phù hợp với điều kiện thực tế của đời sống, nhưng với sự chơn chất hình như là bản chất nên ông chưa thể phù hợp  cứ lần khân dù” lớp phèn đã hết bám chân” nhưng tâm thể lẫn tâm thức ông vẫn thôi thúc về thăm cái lũy làng cũ đã từng gắn bó với tuổi thơ trên lưng trâu ê a, nghêu ngao hát vì thế nên cứ thích về quê mỗi khi mùa bế giảng lại về - mùa hè lại đến, điều nầy có lẽ ai cũng hiểu trong giáo khoa thời của tác giả đi học của Xuân Tiên: “ Sung sướng quá giờ cuối cùng đã hết/ Đoàn trai non hớn hở rủ nhau vế/ Chín mươi ngày nhảy nhót ở đồng quê/ ôi, tất cả mùa xuân trong mùa hạ ( XT) và tôi nhắc thêm thời chiến tranh ấy ai lên thành học cũng chỉ trọ mà thôi trừ một số người khá giả, giàu có mới mua được nhà nơi thị thành chính vậy ngày nghỉ hè thiêng liêng với với bọn học trò trọ học điều ấy thôi thúc tác giả về quê.
Tình tự của ông còn nhiều chúng ta hãy tiếp tục với những ngôn ngữ ông đã bày biện trên trang thơ.
Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,
Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm.
Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,
Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.
Các bạn của ông một thời thấy thèm như trẻ con thèm quà tay mẹ ngày xưa, nhưng với ông lại thèm một thời hồn nhiên trẻ nhỏ nhưng vui ơi là vui không phiền lụy tâm hồn.
“Cọng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn” tôi dừng lại khá lâu với câu thơ nầy để chiêm nghiệm điều ấy như một triết lý sống cho nhân gian và tôi đau đáu cũng như đồng cảm với ông trong phạm trù tâm lý. Sao mà thật thà trong ngôn ngữ đến nỗi ai cũng cảm nhận thật đầy trong tự tình thi ca qua xúc cảm của ông. Thâm tâm tôi câu thơ “Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá/ Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn” ông đã là thi sĩ
Vậy đó thi ca đâu cần phải lên gân hay rắc rối ngữ ngôn cứ để ngôn ngữ bình yên trải lòng trên trang thơ và độc giả sẽ cảm nhận theo chiều của họ.
Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,
Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ.
Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,
Đôi mắt ướt một thời bẻn lẻn ngó bàn chân.
Mỗi lần trở lại quê nhà ông lại càng buồn hơn bởi lứa tuổi của ông ngày một thưa dần, “ gái mười bảy đã theo chồng, trai hai mươi lấy vợ” những bè bạn lập gia đình ở tuổi còn quá trẻ đến nổi chưa biết tình yêu, không cảm thụ được nó nhưng ấy là tập tục của quê, chính điều nầy mà ông thao thức đưa ra một khuyến cáo để trình bày trước xã hội như vấn nạn cần phải ý thức và giải quyết may ra mới phát triển nhận thức của mỗi gia đình nhất là các em đang lứa tuổi thanh niên, chỉ một câu mang hình ảnh “cô bạn xưa nách con mua chịu rượu, đôi mắt ướt một thời bẻn lẻn ngó bàn chân” đủ nói lên sự khổ đau lẫn e thẹn dường nào của những người bạn trong tinh thần và vật chất mà bè bạn của ông phải chịu thiệt về phận người của miền quê hạn chế quá mức về trình độ cảm thụ đời sống đến nổi gần như sự chấp nhận mang tính mặc định của vùng quê nghèo. Sao bùi ngùi quá, xót xa quá.
Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê,
Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu,
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.
Và tiếp với tình tự bố cục diễn giải khổ thơ trên ngôn ngữ cũng mộc mạc giản đơn nhưng phản ánh sự hiện thực xóm bên sông nhờ đi làm xa cực khổ, tích cóp dành dụm đem tiền về cho cha mẹ xây dựng lại căn nhà khang trang với đồng tiền báo hiếu chứ thực thể ở tại đó không làm gì ra tiền để đổi thay căn nhà cũ lụp xụp, bấy nhiêu thôi cũng đủ cho ta hiểu bức tranh nơi ấy thế nào, bùi ngùi thật phải không các bạn, mà hình như trên toàn lãnh thổ Việt Nam những tỉnh lẽ cũng thế.
Ông chỉ tả xóm bên sông của vùng quê nghèo nơi ấy nhưng đã chạm đến hàng triệu gia đình Việt Nam ở nông thôn cùng hoàn cảnh “đi làm thuê xa” nhờ sự liên tưởng thực trạng xã hội đương đại. 
Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:
Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,
Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất,
Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.
Đồng bằng miền Tây Nam bộ là vùng hạ nguồn cùa con sông Mekong phát nguyên từ Tây Tạng dài khoảng 4350 km,đi qua 6 quốc gia trước khi đỗ ra biển Đông, ngày xưa với điều kiện còn tự nhiên mùa lũ về là mang theo phù sa, chính vì thế mà sau lũ là cánh đồng màu mỡ, còn cá tôm thi bạt ngàn, nó nuôi sống khoảng 60 triệu dân dọc theo hai bên bờ.
Người nông dân ở đồng bằng Cửu Long chỉ cần gieo lúa là đến mùa thu hoạch, còn thủy sản ư? quăng mẻ lưới là có bửa ăn, bửa nhậu ngon lành, cũng chính thiên nhiên ưu đãi cái ăn cho nên người ta ít cho con đi học vì tình trạng sông rạch chằng chịt cũng hạn chế đi lại.    
Trước kia, vựa lúa trù phú nhất Việt Nam là đồng bằng Cửu Long và Cần Thơ lại là nơi sản lượng cao nhất, ca dao vùng đồng bằng có câu: ” Cần Thơ gạo trắng nước trong/ Ai đi đến đó lòng không muốn về” Thế mà tại sao vài mươi năm sau dân dã lại nghèo khó nhất? đây có lẽ là dấu hỏi lớn của cả Cần Thơ chứ chẳng riêng một vùng quê nghèo của ông, có lẽ do quản lý, quản trị yếu kém, đầu tư về mặt bằng học vấn cũng như văn hóa thấp nên sự thể xãy ra như khổ thơ trên, Tôi đọc thơ ông đã ngậm ngùi huống hồ chính ông ở nơi ấy chứng khiến từng giờ, từng ngày
Kể từ khi Trung cộng xây đập lấy nước làm thủy điện, bắt đầu từ Mạn Loan ( Manwan - Trung Cọng) ở những năm 1993 và sau đó hàng loạt những con đập của Trung Quốc và các nước đọc theo Mekong đã làm dòng sông nghẽn mạch, thủy sinh tàn tệ những loài cá đặc biệt nước ngọt MeKong ngược dòng về nơi sinh sản lần làn bị tiệt chủng, môi trường tàn hại bởi người Trung Quốc đã dùng mìn hay thuốc nổ phá các tảng đá làm giảm tốc độ dòng chảy hòng tìm con đường sông từ Vân Nam đến Thái với những con thuyền tải trọng 5, 700 tấn làm sao con dòng không bị tàn phá, chính vì vậy đồng bằng sông Cửu Long bị ngập mặn thê thảm, thiệt hại vô cùng to lớn, làm sao không ngậm ngùi,  đau lòng được?!
Chặp tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,
Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.
Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ
Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.
Kết thúc bài thơ làm nghẹn lòng độc giả bởi cũng tình cờ lần về ấy nhớ về bến sông xưa cô đơn hồn lại trĩu nặng “vầng trăng bây giờ vừa lên cũng bị mây mưa vần vũ” chao ôi, sự lặp lại “ vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê” sao nghe quá đổi chua xót và ngậm ngùi.
Nếu như Nguyễn Bính mệnh danh là nhà thơ chân quê, thì tôi gọi Hoài Tường Phong là thi sĩ “đại quê mùa ngôn ngữ” và bài thơ Trăng Nghẹn đã làm thổn thức biết bao trái tim phải rưng rưng nếu có dịp đọc bài thơ nầy.
Với tôi người làm thơ thành công là độc giả đọc xong bài thơ trái tim rung lên với cung bậc cảm xúc đầy chất tình có khi đến rưng lệ.
Ngã Du Tử
2015
Mời bạn tham khảo nơi đây
http://www.thotre.com/new...nghen-giai-thuong-964/
 
 
Đăng nhập để trả lời
0