📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện ngắn Ernest Hemingway 🔒

58 trả lời, 265 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 13.11.2017 10:45:56 bởi casau>
 
Truyện ngắn Ernest Hemingway
Tác giả: Ernest Hemingway
Nhiều người dịch
 
Lời giới thiệu

Dễ nhận thấy trong cuộc đời sáng tác của Hemingway là số lượng tác phẩm không nhiều. Ông chỉ có khoảng 100 truyện ngắn, 8 tiểu thuyết và vài tác phẩm tùy bút, hồi ký và một tập thơ 88 bài. Thế nhưng nét độc đáo của Hemingway lại cũng xuất hiện ở chính điểm ngỡ như hạn chế này. Từ một vài truyện ngắn trùng lặp với tiểu thuyết (Sự trở về của thương gia, Câu chuyện Châu Phi), các tác phẩm thuộc thể loại này có cùng đặc điểm chung là phong phú đa dạng, cô đọng và hàm súc.
Truyện ngắn Hemingway về kích thước tuy có khác nhau, có truyện chưa tới 500 chữ (Một bạn đọc viết) và có truyện lại dài hơn 12.000 chữ (Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber), nhưng tự thân chúng là những thế giới nghệ thuật riêng biệt, sinh động trong hướng quy tụ theo nguyên lý Tảng băng trôi.
Ngoại lệ và cũng rất đặc biệt trong truyện ngắn Hemingway là mảng viết về Nick Adams. Đây là nhân vật trung tâm xuyên suốt 15 truyện. Nhưng dẫu chỉ là Nick, dẫu chỉ là điểm tập trung những tư tưởng thẩm mỹ chính của một hay tất cả ngần ấy truyền viết về Nick, thì không vì thế mà các truyện đó lại chỉ cùng chung một nét thi pháp. Có truyện Nick chỉ xuất hiện thoảng qua (Trại người Da Đỏ, Bác sĩ và vợ Bác sĩ) có truyện Nick xuất hiện từ đầu đến cuối (Sông lớn hai lòng, Nơi tốt lành cuối cùng, Người mùa hạ...).
Còn về chủng loại của chúng? Ta có thể gặp ở thế giới truyện ngắn Hemingway nhiều tác phẩm xuất sắc, đại diện cho nhiều phong cách truyện ngắn hiện đại: Truyện ngắn Dòng ý thức (Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro, Con đường bạn sẽ chẳng hề theo...), truyện ngắn thư (Một bạn đọc viết), truyện ngắn kịch (Hôm nay thứ sáu), truyện ngắn mi ni (Truyện rất ngắn), ngụ ngôn hiện đại (Chú bò thủy chung) truyện ngắn triết lý (Một nơi sạch sẽ và sáng sủa, Con người của thế giới...) truyện ngắn theo trường phái minimalism - phản ánh những chuyện nhỏ nhặt của đời thường bằng bút pháp giản dị hóa tối đa (Rặng đồi tựa đàn voi trắng, Con mèo trong mưa)...
Hoặc giả ta có thể chia truyện ngắn Hemingway theo các mảng đề tài câu cá, đấu bò, đấm bốc, chiến tranh, tình yêu, du ngoạn... Dầu chia theo cách nào chăng nữa thì ta cũng thấy được tính năng động trong cây bút tự sự Hemingway. Điều này chứng tỏ Hemingway luôn là người phấn đấu cho một nền truyện ngắn đa diện mạo. Tuy nhiên, không phải truyện ngắn nào do ông viết ra cũng đều thành công.
Như chúng ta đã biết, bản thân việc viết về bao nhiêu đề tài hay vận dụng bao nhiêu kiểu bút pháp trong sáng tạo thì cũng chưa thể nói lên được tài năng của người cầm bút. Chỉ khi những kỹ thuật được vận dụng ấy nhuần nhuyễn tới mức nào đó thì giá trị thẩm mỹ của nó mới được công nhận. Phần lớn các truyện ngắn của Hemingway đã thực hiện được điều này.
Cách viết ở truyện ngắn Hemingway tuy rất dung dị nhưng sự biến hóa về mặt ngữ nghĩa thì thật khôn lường. Với Hemingway, từ nhan đề, câu mở đầu, diễn biến rồi đến câu kết là những mạch tiếp nối, đứt quãng, rẽ ngang rẽ dọc, đan xen rồi lại tiếp nối. Cứ như thế chúng dồn đến trang cuối, khi câu kết xuất hiện, về nguyên tắc ấy là lúc truyện kết thúc, nhưng các câu kết của Hemingway lại như thể là những khởi đầu. Yếu tố góp phần tạo nên đặc điểm ấy là tính mơ hồ và lối kết mở. Những kẻ giết người kết thúc bằng dự định ra đi của Nick và lời khuyên của George, “tốt hơn là cậu đừng nên nghĩ về nó”. Cái kết này, như nhiều truyện kể về Nick, đã gợi nên không gian tồn tại khác của Nick trong truyện tiếp theo, đã “đề nghị” cách đọc “liên văn bản” trong truyện ngắn Hemingway nói chung và mảng viết về Nick nói riêng. Như thế chúng vừa là “truyên ngắn” và cũng như thể là những phần tách rời từ một cuốn tiểu thuyết. Đọc Kết thúc của một vấn đề độc giả sẽ chẳng thể nào hiểu rõ vấn đề ấy là gì, nhưng qua câu chuyện tiếp theo (Cơn gió ba ngày) thì chúng ta mới biết là chuyện tình tan vỡ giữa Nick và Marjorie. Tương tự ta cũng khó có thể biết lý do vì sao chàng trai trong Biển đổi thay (còn có thể dịch là Đổi thay lớn) lại dọa giết một cô gái; thế rồi qua nhiều truyện ngắn khác (kể cả tiểu thuyết) ta mới biết được lời kết tội băng hoại đạo đức của chàng trai dành cho cô gái là tại nàng đã bỏ chàng để đi theo... một cô gái khác. Nàng là người đồng tình luyến ái.
Đoạn kết hay chính xác hơn là những câu kết trong truyện ngắn Hemingway là cực kỳ quan trọng. Có khi chúng là điểm nút để gợi tư tưởng chủ đề của các tác phẩm. Có khi bản thân chúng đã gói trọn tư tưởng chủ đề. Câu kết trong Con người của thế giới, Trại người Da Đỏ, Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber... sẽ cho thấy điều này. Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber kết thúc bằng lời cầu xin của Margot và câu đồng ý im lặng của Wilson. Trước đó suốt cả tác phẩm, trước hai người đàn ông, một là chồng và một là tay thợ săn được mướn, chưa bao giờ Margot chịu hạ giọng. Nhưng lúc Macomber lấy lại can đảm rồi chết, Wilson trách móc; Margot mới xuống giọng cầu xin. Vậy nên bi kịch ở đây đâu chỉ là bi kịch của riêng anh chồng đáng thương, luôn bị vợ cắm sừng ấy mà còn là bi kịch của cả Margot lẫn Wilson. Chung quy lại, “cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi” ấy là cuộc đời của cả ba nhân vật. Họ đứng so le bên nhau: một ông chồng sợ vợ, một người làm thuê lại can đảm hơn ông chủ và ngủ với vợ chủ, rồi người chồng chợt ý thức được vai trò của mình... nên cái chết là kết cục dễ hiểu cho tình huống ấy.
Các tình tiết của câu chuyên luôn gợi trong độc giả ý tưởng giá mà... Nhưng bản thân độc giả, nhân vật và cả tác giả cũng không thể cưỡng lại được mạch phát triển ấy. Như thể đấy là định mệnh, là sự tất yếu của cuộc sống mà sự “lặng im” của Wilson không chỉ là “lặng im” không trách móc, “lặng im” không tố cáo mà còn là “lặng im” bởi sự việc xảy ra quả bất ngờ, không tài nào lý giải.
Với lối kết này, Hemingway đã tạo nên ba tuyến cốt truyện trong tác phẩm. Độc giả có thể “đọc” tác phẩm theo ba tuyến: Macomber, Margot và Wilson. Họ là ba nhân vật trung tâm của tác phẩm. Nói cách khác, đây là hiện tượng “phi trug tâm hóa nhân vật” mà nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra trong tác phẩm văn xuôi tự sự của các nhà văn thế kỷ XIX, XX.
Các câu kết của Hemingway rất khó dịch. Cũng như tiêu đề (nhan đề), khi dịch, dịch giả phải bám vào nội dung tác phẩm để chọn một cách chuyển ngữ tối ưu. Như thế, chắc hẳn chúng đã bị đánh mất đi phần nào giá trị phản ảnh. Tuy nhiên cũng do đặc điểm này và nếu xét từ phương diện khác thì chúng ta sẽ thấy được tính đa nghĩa trong ngôn từ nghệ thuật của Hemingway.
Nhan đề truyện ngắn của ông cũng thể hiện điều đó, chỉ riêng một Soldier’s home không thôi thì ta cũng có thể dịch theo bốn cách: Khi người lính trở về, Người lính trở về, Nhà của lính, Người lính ở nhà; còn The Mother of a queen thì có thể dịch: Mẹ của nữ hoàng, Mẹ của kẻ chơi trội, Mẹ của gã Pê Đê hoặc dịch thoát hơn là Mẹ của thằng bất lương... ứng với mỗi tiêu đề, tác phẩm sẽ có một nội dung phù hợp. Dạng tiêu đề này, kết hợp với tính mơ hồ từ những đoạn kết, chúng càng làm tăng thêm các trường nghĩa cho tác phẩm.
Thông thường, với những nhan đề khó dịch, nội hàm của nó sẽ được xác định qua văn bản. Nhưng với kiểu văn bản mở như của Hemingway thì chúng ta khó có thể nắm bắt hết được những lớp nghĩa. Chim bạch yến cho ai là truyện tiêu biểu cho phong cách tự sự này. Có một phu nhân Mỹ và đôi vợ chồng Mỹ trên chuyến tàu đến ga Lion. Phu nhân mua chim bạch yến về cho con gái, người rất chán chường bởi bị mẹ cấm không cho lấy chồng Thụy Sĩ. Theo bà ta, đàn ông Mỹ mới thực sự là những ông chồng tử tế đối với các cô gái Mỹ và hạnh phúc mà họ mang lại cho gia đình thì lớn biết nhường nào. Kết thúc hành trình trong lời tán dương không ngớt của phu nhân Mỹ dành cho đàn ông Mỹ, đôi vợ chồng Mỹ kia xuống ga, về nhà thu xếp “mỗi người sống một nơi”. Chỉ một câu kết này thôi, Hemingway xứng đáng là một trong những bậc thầy tự sự sử dụng giọng châm biếm. Và thế là, khi đọc lại tiêu đề, hẳn độc giả sẽ tìm cho mình được câu trả lời: chim bạch yến cho ai?
Quả thực, tuy cụ thể xác thực nhưng văn phong của Hemingway lại rất khó nắm bắt ở nét nghĩa đơn nhất. Điều này có nguyên do bởi tại cuộc đời được tái hiện thật kỹ lưỡng, chính xác ấy lại đầy ba động nên điều cụ thể đã hóa mơ hồ: hai hành khách ngồi đợi tàu ở quán giải khát bên cạnh ga, một người đàn ông và một cô gái.
“Lẽ ra chúng ta có thể có tất cả cái kia”, nàng nói. “Chúng ta có thể có tất cả nhưng mỗi ngày chúng ta lại khiến nó càng không thể”.
“Em nói gì vậy?”
“Em nói chúng ta có thể có mọi thứ”.
“Chúng ta có thể có mọi thứ”.
“Không, chúng ta không thể”
Cứ thế, họ đối thoại với nhau cho đến hết truyện. Qua đối thoại, ta chỉ biết người đàn ông cố thuyết phục cô gái đi làm phẫu thuật gì đó (có lẽ là phá thai?) nhưng cô gái tỏ ý không chịu. M. Kundera sau khi nêu các giả thiết về nguyên nhân bất hạnh, một vụ ngoại tình, một căn bệnh, thói ích kỷ của người đàn ông, sự đỏng đảnh của cô gái... rồi kết luận: “Không, không có gì là dễ dàng trong cái điều che giấu sau cuộc đối thoại giản dị và tầm thường kia. Bất kỳ người đàn ông nào cũng có thể nói những câu giống tay người Mỹ, bất kỳ người đàn bà nào cũng nói những câu giống như cô gái. Nếu một người đàn ông yêu một người đàn bà hay không yêu chăng nữa, nếu anh ta nói dối hoặc thực lòng, anh cũng vẫn nói như vậy. Cứ như là cuộc đối thoại này đã đợi đây từ thuở sáng thế để được thốt lên lời bởi vô số cặp trai gái, không một mối liên hệ nào với tâm lý riêng của họ” [1]. Đây là một trong những nhận định hay nhất về Rặng đồi tựa đàn voi trắng cũng như về đặc trưng đối thoại của Hemingway.
Hemingway rất nổi tiếng về đối thoại. Đối thoại của ông thường rõ về chủ thể, về cấu trúc nhưng lại mơ hồ trong logic hội thoại. Tính nhân quả và sự liên tục giữa chúng thường lỏng lẻo. Hơn nữa ông lại xóa mờ mục đích của đối thoại (về cái gì), nên sức hấp dẫn ở những trang viết ấy thật lớn, chúng đã tạo nên được độ căng của nghệ thuật và buộc độc giả phải tham gia đồng sáng tạo.
Bên cạnh đối thoại, truyện ngắn Hemingway còn sử dụng độc thoại nội tâm và dòng ý thức. Các tác phẩm có loại ngôn từ này thường gán với chủ thể phát ngôn là những con người mang thương tích. Ông Frazer trong Con bạc, bà xơ và radio, Nick trong Con đường bạn sẽ chẳng hề theo, Bồi già trong Một nơi sạch sẽ và sáng sủa... đều “nói” theo kiểu này,
Đến với truyện ngắn Hemingway, ta thấy nổi lên hai mảng đề tài lớn: chiến tranh và quan hệ đời thường. Viết về chiến tranh, Hemingway đứng về phía những người đấu tranh cho lý tưởng tiến bộ. Phát-xít là kẻ thù của ông. Nhưng ông sợ chiến tranh. Điều này đã được phản ánh qua các nhân vật. Chiến tranh là nỗi ám ảnh kinh hoàng lên cuộc sống của nhiều cuộc đời sau cuộc chiến. Từ anh lính trẻ Krebs, Nick đến Enquiry (Tố giác)... đều cho thấy tội lỗi thực sự của cuộc chiến đẫm máu do phe Phát xít gây ra.
Rời khỏi cuộc chiến ấy, người lính của Hemingway mang nhiều thương tích nên trong họ đã dấy lên cảm giác nơm nớp lo sợ về những bất trắc mơ hồ luôn chực đổ ập xuống. Họ chẳng thể nào ngủ được trong đêm khi không có một chút ánh sáng nào đó. Họ đã từng thấy linh hồn mình rời khỏi thể xác rồi nhập về lại như thế nào nên họ không muốn nó rời đi lần nữa. Bi đát hơn, họ chẳng thể nào hòa nhập được vào cộng đồng sau cuộc chiến. Thế rồi du ngoạn, rượu và làm tình lại bị lạm dụng tới mức họ không còn là họ. Họ như thể những hiện hữu, cuồng quay trong xã hội cuồng quay.
Nền văn minh lúc ấy đã có nguy cơ phá sản: Những con người nhạy cảm đó muốn đi tìm một lối thoát cho bản thân, cho cộng đồng. Và họ đã tìm ra bằng cách xác lập những giá trị đạo đức, cách sống của riêng mình và đặc biệt là đề cao sức mạnh tinh thần.
Điều đặc biệt ở Hemingway là dẫu sáng tác của ông xuất hiện nhiều đề tài đến đâu đi chăng nữa thì những đề tài ấy thường là nơi ông dựa vào đề gởi gắm những vấn đề khác. Hemingway là nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm viết về chiến tranh nhưng ông ít khai thác trực tiếp vẻ hào hùng hay rùng rợn của nó như nhiều nhà văn khác mà chủ yếu khai thác khả năng chịu đựng của con người. Các đề tài câu cá, đấu bò, đấm bốc... cũng thường được sử dụng để khai thác yếu tố này. Năm mươi ngàn dollar viết về trận so găng giữa Jack và Walcott nhưng chủ đề của truyện không hoàn toàn hướng vào trận đấu mà chủ yếu hướng vào món tiền cược 50.000 dollar với tình huống trớ trêu là người thua sẽ được bạc. Thế là cả Walcott và Jack tuy không nói ra nhưng đều cố thua. Xét về phong độ thì Jack là người không thể thẳng nổi Walcott nhưng anh lại muốn thua trong danh dự, dự định sẽ phạm luật chứ không chịu chấp nhận bị hạ đo ván. Song lúc Jack chưa kịp thực hiện ý đồ thì Walcott đã ra tay trước, Jack bị đấm vào bụng suýt ngã lăn xuồng sàn. Lúc này, vấn đề không phải là vinh quang của sự chiến thắng mà là tiền, nếu Jack còn đứng vững thì anh sẽ có cơ hội. Rốt cuộc, Walcott quằn quại trên sàn bởi Jack đánh trả vào nơi hắn đã đánh anh. Jack thua (vì đã phạm luật), nhưng có tiền, còn Walcott thì thành nhà vô địch nhưng lại mất tiền, anh ta là kiểu “người chiến thắng nhận hư vô”, theo cách nói của Hemingway.
Từ “đấm bốc”, câu chuyện tập trung vào việc cá độ và đã hé mở cho chúng ta thấy một khía cạnh của diện mạo xã hội hiện đại: sự đảo lộn các chân giá trị. Câu chuyện không những là chuyện đấm bốc hay cá độ mà còn là chuyện về sự băng hoại nhân phẩm của con người. Đồng tiền đã tùng tác oai tác quái từ xa xưa nay vẫn giữ nguyên sức mạnh cũ. Nhưng lại phát huy khả năng ở góc độ kín đáo hơn, bỉ ổi hơn.
Có thể nói, tài năng của Hemingway được bộc lộ ở chỗ nói mà không nói, không nói mà lại nói. Những lời đối thoại hay lời kể về cuộc đấu của Jack thì rốt cuộc đâu chỉ còn nói về trận đấu nữa. Và cái “điều không nói”: con người sao lọc lừa đến thế? Tinh thần thượng võ đâu cả rồi?... lại gợi lên nhiều vấn đề tiềm ẩn khiến độc giả phải suy ngẫm. Dĩ nhiên bất cứ một tác phẩm thuộc khuynh hướng tả thực xuất sắc nào cũng có thể thực hiện được điều này. Chỉ có khác là Jack của Hemingway không phải là “điển hình”, anh chỉ là “tính cách” - thói keo tiền rất Ai Len. Chính đặc điểm này đã làm động lực thúc đẩy, làm nền tảng cho lâu đài chiến thắng của Jack.
Vậy, phải chăng Hemingway đặt vấn đề về bản tính của con người? Có lẽ đúng! Đọc ông, ta thấy nhiều tác phẩm có biểu hiện này. Vậy ra, dẫu trực tiếp hay gián tiếp, dẫu nói bằng giọng châm biếm hay giữ thái độ khách quan lạnh lùng... thì Hemingway cũng đã đặt được vấn đề cảnh tỉnh. Tất nhiên bản tính con người theo Hemingway không chỉ là tình dục, lòng tham, hay hào hoa rởm... mà chủ yếu là nghị lực và ý chí. Nói tóm lại đấy là sức mạnh tinh thần.
Ông dùng nó để làm thước đo xác định sức mạnh của con người. Con người mạnh hơn con thú (bò tót, cá kiếm...) là nhờ nghị lực. Jack thắng được Walcott là nhờ khả năng chịu đựng của mình. Anh bồi già (Một nơi sạch sẽ và sáng sủa). Lại mang Kinh Thánh ra giễu trong một đêm mất ngủ: chào hư vô, ắp ứ hư vô, hư vô cùng Người... Nhờ sức mạnh tinh thần này nên con người của Hemingway mới có khả năng đương đầu với cái xấu.
Tuy nhiên, chính sức mạnh tinh thần ấy lại khiến các nhân vật của Hemingway mất ngủ. Đến đây ta gặp ở họ: một con người nhạy cảm. Từ cái lưỡi của Nick (trong Sông lớn hai lòng) đến ánh mắt của ông chủ khách sạn (trong Con mèo trong mưa) đến “khứu giác cực nhạy” của gã mù Blindy... đã cho thấy, về mặt tố chất họ là những con người có khả năng nhạy cảm. Một khả năng nhạy cảm trong một xã hội đã băng hoại về nhiều phương diện, nên họ tựa những “con bướm” trước “cỗ xe tăng”. Kết quả là “con bướm” bị nghiền nát. Kết quả là nếu tồn tại thì những “con bướm” ngây thơ nhạy cảm kia không chừng sẽ hóa thành “những con tê giác” (Ionesco). Và kết quả là nếu cứ tồn tại thì họ cô độc.
Không giống nhiều tác giả hiện đại khác, con người cô độc ở Hemingway gắn với những vết thương. Nói cách khác, chính vì bị tổn thương cả về thể xác lẫn tâm hồn nên họ cô độc. Một ông lão (Một nơi sạch sẽ và sáng sủa) ngồi trong quán cà phê đã từng tự sát hụt. Một ông lão khác, không vợ con, không chịu tản cư mà cứ nấn ná trên đường bởi lo cho bầy gia súc (Ông lão bên chiếc cầu). Nick với cái đầu bị chấn thương trong bộ quân phục Mỹ lạc lõng trên tuyến đầu (Con đường bạn sẽ chẳng hề theo)... Cứ thế, thế giới nghệ thuật của Hemingway dần mở ra: những cô điểm cô độc, những người “đàn ông không đàn bà” (theo cách nói của Hemingway), những em bé chết yểu, chàng trai đến tuổi dậy thì tự thiến (Hỡi quý ông, Chúa ban phước lành cho các bạn)... Họ là những diện mạo bất thường. Và một khi kiểu con người này xuất hiện thì cả thế giới đạo đức cũ xưa đã vụn vỡ trước nhưng dục vọng xấu xa của con người.
Có hơn mười lăm quốc gia được tái hiện trong truyện ngắn Hemingway và địa danh của chúng thì nhiều vô kể. Đáng chú ý là những địa danh ấy hoặc là núi rừng sông suối hoặc là quán bar, khách sạn... nơi các nhân vật của ông ghé vào (hay tìm đến) trong một chuyến đi câu, đi săn, du ngoạn, trượt tuyết... hay lánh xa vùng đất mà tâm thức đang réo gào sự quay về.
Là con của một bác sĩ (Hemingway sinh 1899), mẹ là người sùng đạo, thưở bé ngoài những lần theo cha đi chữa bệnh cho cư dân trong vùng Oak Park, Illinois, Hemingway còn được cha dạy cho săn bắn. Ông sớm có năng khiếu văn chương nhưng rời trường lúc vừa tốt nghiệp trung học. Đại chiến thế giới lần thứ nhất bùng nổ, Hemingway xin đi lính, nhưng một con mắt bị yếu đã ngăn Hemingway thực hiện ý đồ. Không nản lòng, ông xung phong vào đội lái xe cứu thương trên chiến trường Italy. Một lần trên tuyến trước, Hemingway bị bom vùi nhưng thoát chết. Cảm giác “linh hồn bay đi rồi nhập về lại” ấy đã được ông tái hiện trong Bây giờ tôi nằm nghỉ. Vì hành động này, chính phủ Italy đã trao tặng huy chương cho ông. Với 227 mảnh đạn (con số này có lẽ không chính xác) găm vào người, Hemingway được đưa về tuyến sau điều trị. Tại đây ông đã làm quen và yêu cô y tá tên là Agnes. Hai người nguyện ước lấy nhau. Chàng về Mỹ rồi nàng đi lấy chồng. Chuyện tình giữa anh ta (he) và Luz trong Truyện rất ngắn mang âm hưởng từ mối tình có thực này. Trở về Mỹ, Hemingway đi làm báo, đi xem đấu bò ở Tây Ban Nha, đi săn ở Châu Phi, câu cá trên đại dương, tham gia nội chiến ở Tây Ban Nha chống phát-xít Franco... Thế chiến thứ II bùng nổ, ông đưa con tàu Pilar của mình tham chiến bằng cách do thám tàu ngầm của Đức trên biển. Ông là một trong những người đầu tiên vào giải phóng Paris. Suốt đời, Hemingway hầu như sống ở nước ngoài. Ông là người Mỹ, nhưng bối cảnh Mỹ ít xuất hiện trong sáng tác của ông. Duy chỉ mảng truyện về Nick và vài truyện có liên quan đến miệt Michigan, tựa những ký ức không thể phai mờ trong tâm trí của người xa xứ, vẫn luôn hoài niệm về một vùng thơ ấu, miệt rừng với cá hồi, sóc, chồn và người da đỏ chứ không phài là chốn thị thành.
Hemingway mất năm 1961 tại Ketchum do tự sát bằng súng săn.
Dấu ấn của Hemingway in đậm lên thế giới nhân vật. Họ là những quãng đời của chính ông hay là những mảng đời mà ông đã từng tiếp xúc. Vậy nên, đến với truyện ngắn Hemingway, ta có thể đọc được nhiều “câu chuyện” trên số lượng con chữ hạn hẹp. Những con chữ thì khô cứng, xác xơ như thân phận của bao người nhưng nó đâu chỉ là nó mà còn là ta và bao diện mạo khác của cuộc đời.
Hà Nội 3-1998

Lê Huy Bắc
📎 tneh
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.10.2017 14:58:55 bởi casau>
Trên miệt Michigan

Jim Gilmore đến Hortons Bay từ Canada. Anh mua lại xưởng rèn của ông lão người Horton. Jim thấp, đen với bộ râu rậm và bàn tay to. Anh là người thợ đóng móng ngựa cừ khôi song hình dáng thì chẳng giống thợ rèn tí nào, dẫu cho anh vận tạp dề da. Anh sống ở tầng trên của xưởng rèn và đi ăn ở nhà hàng của D. J. Smith.
Liz Coates làm ở nhà hàng Smith. Bà Smith, người ưa sạch sẽ, nói rằng Liz Coates là cô hầu bàn chu đáo nhất mà mình từng gặp. Liz có đôi chân đẹp. Cô luôn mang tạp dề sạch bằng vải bông kẻ. Jim Gilmore nhận thấy tóc cô luôn được cặp gọn trên đầu. Anh mến vẻ mặt của cô bởi nó rất tươi tỉnh nhưng anh chẳng bao giờ mơ tưởng về cô.
Liz rất thích Jim. Cô thích dáng người khi anh đi bộ từ xưởng đến nhà hàng và cô thường đứng ở cửa bếp để dõi nhìn khi anh bước xuống đường. Cô thích bộ râu của anh. Cô thích hàm răng trắng khi anh mỉm miệng cười. Cô thích phong cách chẳng mấy giống thợ rèn của anh. Cô thích vì ông bà Smith cũng rất quý Jim. Ngày nọ cô nhận ra rằng cô thích những sợi lông màu đen trên cánh tay và màu trắng trên làn da rám nắng khi anh rửa tay trong chậu nước bên ngoài nhà hàng. Ý nghĩ ấy khiến cô cảm thấy buồn cười.
Thị trấn Hortons Bay, ngoài cửa hàng tổng hợp và bưu điện có chiếc bình phong giả khá cao trông như thể chiếc xe ngựa đang đỗ phía trước, chỉ có năm ngôi nhà nằm trên trục đường chính từ Boyne City đến Charlevoix: nhà của Smith, nhà của Stroud, của Dillworth, của Horton và nhà của Van Hoosen. Những ngôi nhà đều ẩn trong các lùm cây du rậm rạp, còn con đường thì ngập trong cát. Đằng kia có một xưởng gỗ và khu lâm nghiệp. Cách đấy một khoảng là nhà thờ của Hội giám lý. Đối điện với nó là trường học của thị trấn. Xưởng rèn sơn màu đỏ, quay mặt về phía ngôi trường.
Con đường cát dốc chạy xuống đồi về phía vịnh xuyên qua cánh rừng. Từ cửa sau của nhà Smith bạn có thể nhìn thấy khu rừng trải dài đến tận hồ và có thể nhìn thẳng qua vịnh. Thiên nhiên rất đẹp vào mùa xuân và mùa hè, mặt vịnh xanh và sáng, mặt hồ thường gọn sóng quanh mỏm đất, mỗi khi có làn gió nhẹ thổi từ Charlevoix vào hồ Michigan. Từ cửa sau của nhà hàng Smith, Liz có thể nhìn thấy những chiếc xà lan chở quặng di chuyển trên mặt hồ về hướng Boyne City. Khi cô nhìn, chúng dường như đứng yên nhưng nếu cô quay vào bếp để nấu vài món rồi quay ra nhìn trở lại thì chúng đã vượt khuất khỏi tầm mắt, qua bên kia mỏm đất.
Bây giờ, suốt cả thời gian, Liz đều nghĩ tới Jim Gilmore. Còn anh thì dường như không để ý nhiều đến cô. Anh nói về công việc ở xưởng với D. J. Smith về Đảng Cộng hòa về James G. Blaine. Vào buổi tối, anh đọc tờ Toledo Blade và Grand Rapids bên ngọn đèn ở căn phòng phía trước, hoặc đốt đuốc đi xiên cá trong vịnh với D. J. Smith. Mùa thu đến, anh, Smith và Charley Wyman chuẩn bị xe ngựa, lều, thực phẩm, rìu, súng trường. Cùng với hai con chó, họ đi đến những cánh rừng thông bên kia Vanderbilt săn hươu. Liz và bà Smith chuẩn bị thức ăn trong vòng bốn ngày cho họ. Liz muốn nấu một món đặc biệt để Jim mang đi nhưng cuối cùng cô không làm được bởi cô sợ hỏi xin bà Smith trứng, bột và sợ nếu có mua những thứ ấy thì rồi bà Smith cũng có thể thấy cô nấu. Bà Smith chẳng khắt khe nhưng Liz sợ.
Suốt cả thời gian Jim đi săn hươu, Liz luôn nghĩ về anh. Mọi việc trở nên tồi tệ khi anh đi xa. Cô không thể ngủ yên khi mãi nhớ về anh và đã phát hiện ra rằng thật là buồn cười khi nghĩ quá nhiều về anh. Nếu bản thân cô được phép thổ lộ thì sự việc hẳn sẽ dễ chịu hơn. Buổi tối, trước lúc đoàn đi săn quay về, cô chẳng chợp mắt được chút nào, chỉ tại cô không nghĩ mình đã ngủ mà nguyên do chỉ vì tất cả được trộn lẫn trong trạng thái mơ màng giữa không muốn ngủ và thực tế không ngủ được. Khi nhìn thấy chiếc xe lăn bánh xuống con đường, cô cảm thấy bồn chồn và nhức nhối. Cô không thể nào chịu đựng nổi cho đến khi nhìn thấy Jim rồi mọi việc dường như ổn định lại khi anh trở về. Chiếc xe đỗ bên ngoài, dưới cây du lớn. Bà Smith và Liz bước ra. Râu của những người đàn ông mọc dài. Có ba con hươu trên thùng xe, chân của chúng thẳng đơ nhô lên trên mép thùng. Bà Smith hôn D. J, ông ghì chặt lấy bà. Jim nói “Chào, Liz” và nhoẻn cười. Liz không biết điều gì sẽ xảy ra khi Jim trở về nhưng cô biết chắc chắn sẽ có chuyện gì đó. Chẳng có gì xảy ra. Cánh đàn ông chỉ vừa về đến nhà, đấy là tất cả. Jim kéo tấm che, Liz nhìn vào. Một trong ba là con hươu đực rất to. Nó đã bị đông cứng và khó có thể nhấc ra khỏi xe.
“Anh hạ nó hả Jim?”. Liz hỏi.
“Ừ, không tồi chứ?” Jim vác nó trên lưng mang vào nhà hun khói.
Tối hôm ấy, Charley Wyman ở lại ăn tối với gia đình Smith. Bấy giờ đã quá muộn để anh quay về Charlevoix. Họ tắm, rửa rồi ngồi đợi ở căn phòng phía trước.
“Hãy còn một ít ở trong bình phải không Jimmy?” D. J. Smith hỏi, rồi Jim ra ngoài, đi đến chiếc xe ở trong chuồng ngựa, tìm bình whisky mà họ đã mang theo trong chuyến đi săn. Chiếc bình đựng bốn gallon rượu và hãy còn một ít chưa dùng đến. Jim uống một ngụm lớn trên đường quay vào nhà. Thật khó cho bất kỳ ai khi nâng cái bình lớn như thế để uống. Vài giọt whisky rớt trên vạt trước áo sơ-mi của Jim. Hai người đàn ông mỉm cười khi Jim mang cái bình bước vào D. J Smith bảo Liz đi lấy cốc. D. J rót ra ba cốc lớn.
“Nào xin chúc mừng anh, D. J”, Charley Wyman nói.
“Cái con hươu to ấy, Jimmy”, D. J nói.
“Và những con chúng ta để sổng”, Jim tiếp lời rồi uống cạn cốc của mình.
“Chuyến đi thật tuyệt vời đối với một gã đàn ông”.
“Chẳng có gì giống nó, thời gian này trong năm, để giải tỏa nỗi phiền muộn của bạn”.
“Ly này là lời giải thích, D. J”.
“Hãy đến nhánh sông ấy, các bạn”.
“Ly này dành cho năm tới”.
Jim bắt đầu cảm thấy hưng phấn. Anh thích mùi vị và cảm giác mà whisky mang lại. Anh vui khi quay về với chiếc giường ngủ thoải mái, thức ăn nóng và xưởng rèn. Anh uống thêm ly nữa. Mấy người đàn ông đi ăn bữa khuya với tâm trạng vui vẻ nhưng xử sự rất đúng mực. Liz ngồi vào bàn sau khi cô dọn xong thức ăn và cùng dùng bữa với gia đình. Đó là một bữa ăn tối ngon lành. Cánh đàn ông ăn rất ngon miệng. Sau bữa ăn, họ quay lại căn phòng phía trước. Liz dọn rửa mọi thứ với bà Smith. Sau đấy bà Smith lên gác, lát sau Smith đi ra và cũng lên gác. Jim và Charley vẫn ngồi ở phòng phía trước. Liz ngồi trong bếp, canh lò sưởi, vờ đọc sách trong lúc nghĩ về Jim. Cô muốn gặp mặt khi anh đi ra, như thế cô sẽ mang theo cái nhìn của Jim lên giường.
Cô đang mải nghĩ về Jim thì Jim bước ra. Mắt anh sáng lên và đầu tóc hơi rối. Liz nhìn xuống cuốn sách. Jim bước đến đằng sau ghế rồi dừng lại. Cô có thể cảm nhận được hơi thở của anh, lát sau anh choàng tay ôm cô. Bầu vú tròn, rắn và núm vú cương cứng dưới bàn tay. Liz hoảng sợ tột độ, chưa một ai đã từng chạm vào người Liz, nhưng Liz nghĩ: “Rốt cuộc chàng đã đến với mình. Chàng thực sự đã đến với mình”.
Cô co cứng người lại bởi lẽ quá sợ và không biết phải làm gì. Sau đó Jim ghì chặt cô vào ghế rồi ghé môi hôn. Nụ hôn sắc nhọn, đau nhức, vật vã đến nỗi cô nghĩ mình không thể nào chịu được. Cô cảm nhận Jim qua mặt sau của chiếc ghế, cô không thể chịu đụng được điều đó và rồi có cái gì đấy đang trỗi lên trong người cô, cảm giác của cô trở nên ấm áp và mềm mại hơn. Jim giữ chặt cô vào ghế và bây giờ cô muốn chuyện ấy và Jim thì thào, “Ra ngoài một lát”.
Liz nhấc áo khoác khỏi cái móc trên tường bếp rồi họ bước ra. Jim vòng tay quay người cô rồi cứ vài bước, họ dừng lại ôm chặt nhau. Jim hôn cô. Đêm không trăng, họ thả bộ, ngập chân trên con đường cát, xuyên qua rừng, đi xuống cảng, về phía nhà kho trên bờ vịnh. Nước đang vỗ vào những chiếc cọc, còn mỏm đất thì đen sẫm vắt ra vịnh. Trời lạnh song người Liz bừng nóng khi đi cạnh Jim. Họ ngồi xuống bên dưới mái che của nhà kho rồi Jim kéo Liz lại gần mình. Cô hoảng sợ. Một tay Jim đã ở bên trong áo Liz và đang vuốt ve bầu vú, còn bàn tay kia thì đã lần vào trong vạt váy. Liz rất kinh hoảng và chẳng thể hình dung anh sẽ làm chuyện ấy như thế nào nhưng cô vẫn xích lại gần anh hơn. Lát sau, bàn tay được cảm nhận quá lớn trong váy Liz bò đi. Nó trườn lên đùi và dấn cao hơn.
“Đừng Jim”, Liz nói. Jim đẩy bàn tay lên cao hơn.
“Anh không được, Jim. Anh không được”. Cả Jim lẫn bàn tay to của Jim chẳng nghe lời Liz tí nào.
Những tấm gỗ lát sàn rất cứng. Jim cởi áo cô và đang cố làm điều gì đó. Liz sợ nhưng Liz muốn chuyện ấy. Liz phải biết chuyện ấy nhưng nó khiến Liz sợ.
“Anh đừng làm điều đó, Jim. Anh đừng”.
“Anh phải. Anh sẽ. Em biết chúng ta phải”.
“Không, chúng ta không phải, Jim. Chúng ta sẽ không phải. Ôi, nó không hợp. Ôi, nó quá lớn và sẽ làm xây xát”. Liz đẩy anh ra, cô quá khó chịu và gò bó. Jim đã ngủ. Anh không cử động. Cô xoay xở trườn ra từ bên dưới anh, ngồi dậy, vuốt vạt váy và áo khoác rồi vén lại tóc. Jim đang ngủ, miệng hơi há. Liz cúi xuống hôn lên má. Anh vẫn ngủ say. Cô khẽ nâng đầu anh và lắc. Anh nghẹo đầu sang bên và nuốt nước bọt. Liz bật khóc. Cô đi đến đầu mép cầu tàu, nhìn xuống nước. Mù đang dâng từ phía vịnh. Cô lạnh, đau khổ và mọi ham muốn đã tan biến. Cô quay lại nơi Jim nằm, cố đánh thức một lần nữa. Cô thổn thức.
“Jim”, cô gọi, “Jim. Này, Jim”.
Jim trở mình rồi cuộn chặt người hơn. Liz cởi áo khoác cúi xuống đắp lên người anh. Cô cẩn thận chèn nó gọn gàng. Sau đó cô đi qua cầu tàu, lên con đường cát, về giường. Đám mù lạnh đang lan tỏa, tràn qua khu rừng từ phía vịnh.

Lê Huy Bắc dịch
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.10.2017 22:21:13 bởi casau>
Ông già tôi

Bây giờ, lúc đang ngắm nhìn, tôi nghĩ ông già tôi được sinh ra để làm một người béo, một trong những người béo bình thường hơi tròn mà bạn thường gặp, nhưng chắc chắn ông chẳng bao giờ béo như thế trừ khoảng thời gian gần đây, và đó không phải là lỗi của ông, ông chỉ sắp cỡi ngựa vượt chướng ngại vật, ông có thể lên cân. Tôi nhớ cách ông tròng chiếc sơ-mi cao su ra ngoài hai cái áo chẽn, thêm một chiếc sơ-mi vải bông rộng bên ngoài rồi rủ tôi cùng chạy trong cái nóng của mặt trời buổi sáng. Có lẽ ngay lúc vừa mới từ Torino đi xe ngựa thuê đến vào lúc bốn giờ sáng, ông đã cưỡi được một trong số những con ngựa của Razzo, rồi lúc sương mù hãy còn bao phủ mọi vật, mặt trời vừa mới bắt đầu nhô lên, tôi giúp ông tháo ủng, ông đi đôi giày vải và vận những cái áo ấy rồi chúng tôi lên đường.
“Đi thôi, nhóc”, ông nói lúc đang nhón chân đi tới đi lui phía trước căn phòng của nài ngựa, “chúng ta đi thôi”.
Một dạo, có lẽ sau khi chúng tôi chạy quanh sân quần ngựa, ông chạy trước, nhẹ nhàng; rồi rẽ ra cổng, chạy theo một trong những con đường được trồng cây hai bên trải dài đến tận San Siro. Tôi vượt qua ông khi chúng tôi ra đến đường, tôi có thể chạy rất giỏi rồi khi nhìn lại, tôi thấy ông nhẹ nhàng bám sát và lát sau, nhìn lại, tôi thấy ông bắt đầu đổ mồ hôi. Mồ hôi đổ ròng ròng nhưng ông vẫn tiếp tục chạy, mắt nhìn vào lưng tôi, còn khi bắt gặp ánh mắt tôi đang nhìn, ông cười và nói, “Đổ mồ hôi nhiều chứ?”. Khi ông già tôi cười, không ai có thể nín cười được. Chúng tôi tiếp tục chạy thẳng về phía núi và khi đó ông già tôi gọi, “Này, Joe!” tôi ngoái lại, thấy ông đã ngồi dưới bóng cây, cái khăn quấn quanh hông đã được quàng lên cổ.
Tôi bước lại ngồi xuống cạnh ông, ông rút trong túi ra sợi dây rồi bắt đầu nhảy trong ánh nắng, mồ hôi tuôn xuống mặt ông, sợi dây đang nhảy chìm trong đám bụi trắng, phát lên âm thanh xạch, xạch, xạch, xạch, xạch; mặt trời nóng hơn, ông nhảy hăng hơn, nhấp nhô trên đoạn đường. Quả thật thú vị khi trông ông nhảy. Ông có thể vung dây nhanh hoặc kìm chậm rất điêu luyện. Phải nói, bạn nên chứng kiến cảnh mấy người Italy, đang đi bộ vào thành phố bên cạnh chiếc xe do mấy chú ngựa non màu trắng kéo đến gần, thỉnh thoảng nhìn chúng tôi. Cái nhìn của họ như thể họ nghĩ ông già là một kẻ gàn. Ông vẫn tiếp tục nhảy vù vù trong lúc họ dừng hẳn để xem rồi thúc gậy, hét lũ ngựa đi tiếp.
Khi ngồi nhìn ông nhảy trong ánh mặt trời nóng bức, tôi rất tự hào về ông. Ông rất vui nhộn, luyện tập chăm chỉ, kết thúc buổi tập với bài nhảy dây như thường lệ, làm mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt; vắt sợi dây vào cây, ông bước đến ngồi xuống cạnh tôi rồi, quấn một cái áo cùng với cái khăn quanh cổ, tựa lưng vào thân cây.
“Làm nó giảm khó quá, Joe à”, ông nói lúc tựa người ra sau, nhắm mắt và hít sâu vào, “không giống như khi người ta còn trẻ”. Khi hồi sức, ông đứng dậy, chúng tôi chạy về trại ngựa. Đấy là cách làm để sút cân. Lúc nào ông cũng lo. Đa số nài ngựa có thể làm giảm trọng lượng đến mức họ muốn. Mỗi lần đua, một nài ngựa sút khoảng một kilo, nhưng ông già tôi không giống họ và nếu không tập thì ông chẳng thể giảm đi kilo nào.
Tôi nhớ dạo ở San Siro, Regoli, một gã người Italy nhỏ con, đang cỡi đua cho Buzuni, băng qua bãi quây ngựa về phía quán bar để kiếm một ly nước mát, gã vung roi quất vào ủng sau khi cân; ông già tôi cũng vừa mới cân xong, cầm yên ngựa bước ra, mặt ông đỏ bừng, có vẻ mỏi mệt vì cơ thể quá béo dưới lần áo lụa; ông đứng đó nhìn gã Regoli trẻ tuổi đang đứng cạnh quầy rượu ngoài trời, trông tươi tắn và có vẻ con nít, tôi hỏi, “Có chuyện gì vậy hả cha?” bởi lẽ tôi nghĩ chắc Regoli đã gây sự với ông hay làm điều gì đại loại như thế, nhưng ông chỉ nhìn Regoli và nói, “Ồ, quỷ tha ma bắt nó đi”, rồi đi vào phòng thay đồ.
Quả thực, chắc mọi chuyện sẽ êm đẹp nếu chúng tôi ở lại Milan và đua ở Milan và Torino, bởi lẽ nếu có những trường đua dễ thì hai nơi đó đáp ứng yêu cầu ấy. “Pianola, Joe”, ông già tôi nói khi xuống ngựa trong ngăn dành cho người thắng cuộc sau chặng đua mà người Italy là gọi cuộc chạy vượt rào kinh hoàng. Dạo nọ tôi đã hỏi ông. “Joe, kiểu đua này không đáng ngại. Chỉ có tốc độ người ta cần để vượt hàng rào mới nguy hiểm. Ở đây chúng ta không cần tốc độ và chướng ngại vật thì rõ ràng là không tồi. Nhưng cuộc đua thì luôn cần tốc độ - không chỉ để vượt qua hàng rào - điều ấy mới là nguy hiểm”.
San Siro là trường đua tuyệt vời nhất mà tôi đã từng chứng kiến nhưng ông già tôi bảo nơi này khổ như chó. Suốt cả tuần, ngày nào chúng tôi cũng đua tới lui giữa Marafion và San Siro rồi cứ cách hai đêm lại phải đi xe lửa.
Tôi cũng phát rồ lên vì ngựa. Có cái gì tiềm ẩn trong chúng mỗi khi chúng lao ra, phi theo lối đua về vị trí xuất phát. Trông chúng có vẻ nhún nhảy, gồng cứng người bởi bị anh nài giữ chặt rồi có lẽ buông chùng tay một tí để chúng hơi dấn lên. Rồi khi chúng đứng xếp vào sau sợi dây chắn, tôi cảm thấy hồi hộp hơn bất kỳ chuyện gì khác. Đặc biệt là ở San Siro, nơi có trường đua rộng, cỏ xanh rờn, núi ở đằng xa và có một người to béo ra hiệu xuất phát bằng cây roi lớn của mình rồi mấy tay nài làm chúng bồn chồn; khi sợi dây đứt phựt, tiếng chuông tắt, cả đoàn lao ra thành một mớ bùng nhùng rồi bắt đầu bứt vượt lên. Bạn hẳn biết cách cả đàn ngựa khởi hành. Nếu là đứng trên bệ, nhìn qua ống nhòm, điều bạn thấy là những vó ngựa phi tới rồi khi tiếng chuông ngưng, nghe như thể đã vang suốt thời gian dài, chúng đã vòng qua khúc quanh. Đối với tôi chẳng có cảnh tượng nào có thể sánh bằng.
Nhưng ngày nọ, trong phòng thay đồ, lúc đang vận quần áo đi đường vào, ông già tôi nói, “chẳng có cái giống nào trong số ấy là ngựa cả, Joe. Ở Pari người ta hẳn sẽ thịt cả đàn nghẽo ấy để lấy da và móng”. Đấy là ngày ông đoạt giải cuộc đua Tremió Commercio với con Lantoma lao vút trên một trăm mét cuối của trường đua giống
như một cái nút bật ra khỏi chai.
Ngay sau giải Premio Commercio, chúng tôi thu xếp rời Italy. Ông già tôi, Holbrook và một gã Italy béo ự đội mũ rơm và lau mặt bằng khăn tay đã cãi nhau bên bàn ở Galleria. Mọi người dùng tiếng Pháp, hai gã kia đang truy ông già tôi về chuyện gì đó. Cuối cùng ông không nói gì nữa, chỉ ngồi nhìn Holbrook, nhưng hai gã kia vẫn tiếp tục nói với ông, thoạt tiên là gã này sau đó là gã khác; gã người Italy béo ự luôn ngắt lời Holbrook.
“Con ra ngoài mua hộ cha tờ Sportsman đi Joe?” ông già tôi nói và đưa cho tôi hai đồng soldi mà không rời mắt khỏi Holbrook.
Thế là tôi rời Galleria đi đến trước Scala mua tờ báo rồi quay lại, đứng hơi xa bởi không muốn làm gián đoạn cuộc nói chuyện; ông già tôi ngồi tựa lưng vào ghế, nhìn tách cà phê và nghịch cái muỗng; Holbrook và gã Italy béo ự đang đứng, gã béo lau mặt và lắc đầu. Khi tôi bước đến, ông già tôi xử sự như thể hai gã kia không có mặt ở đó, ông nói, “Ăn kem không, Joe?” Holbrook nhìn xuống ông già tôi rồi hạ giọng nói chậm rãi, “Đồ chó đẻ” rồi gã và gã béo lách qua mấy cái bàn bước ra.
Ông già tôi ngồi đó cố mỉm cười với tôi nhưng mặt ông trắng bệch, trông ông thật khổ sở, tôi đâm hoảng và cảm thấy trong lòng nhức nhối bởi biết điều gì đó đã xảy ra; tôi chưa từng thấy ai đó dám bảo ông già tôi là đồ chó đẻ rồi có thể bỏ đi. Ông già tôi giở tờ Sportsman, đọc mục những cuộc thi đấu có chấm điểm một lúc rồi nói, “Joe à, rồi con sẽ phải chịu vô vàn chuyện đắng cay trên thế gian này”. Ba ngày sau, chúng tôi dứt khoát rời Milan trên chuyến tàu từ Turin đến Paris sau khi bán đấu giá tất cả mọi thứ không thể nhét vào rương hay valy ngay trước lò đua Turner.
Chúng tôi đến Paris vào lúc sáng sớm, tàu đỗ lại một cái ga bẩn và dài, ông già tôi bảo đấy là ga Lion. So với Milan, Paris là một thành phố cực lớn. Nhưng ở Milan, mọi người dường như đi về một nơi nào đó và tất cả xe điện cũng chạy về hướng nào đó, còn Paris thì bát nháo cả lên mà người ta cũng chẳng thèm điều chỉnh nó lại. Nhưng dẫu sao thì, phải nói là tôi thích nó bởi lẽ đây là nơi có nhiều trường đua ngựa tốt nhất thế giới. Đấy có lẽ là điều đã khiến thành phố sôi động, và điều duy nhất mà bạn có thể quan tâm là mỗi ngày xe buýt sẽ chạy đến bất cứ trường đua nào có tổ chức đua, chạy vượt qua mọi thứ để đến đó. Thực ra tôi chưa biết nhiều về Paris, bởi lẽ từ Maisons, cùng với ông già, tôi chỉ đến đó một hai lần trong tuần, ông luôn ngồi ở Cafe de la Paix bên phía Opera với mấy người bạn đến từ Maisons, tôi nghĩ đấy là một trong những khu nhộn nhịp nhất của thành phố. Nhưng phải nói quả thật là buồn cười bởi một thành phố lớn như Paris mà lại không có lấy một Galleria, phải không?
Rồi, chúng tôi đến sống ở Maisons-Lafitte, nơi mọi người cùng sống, trừ nhóm ở Chantilly, trong khu nhà trọ của một bà Meyers nào đó. Maisons là nơi tuyệt vời nhất để sống mà tôi đã từng trải qua trong đời. Thành phố thì chẳng có gì đáng kể lắm, nhưng ở đó có một cái hồ và một khu rừng đẹp tuyệt, nơi chúng tôi thường lang thang suốt cả ngày, tôi cùng mấy đứa bạn; ông già tôi làm cho tôi cái ná, chúng tôi bắn được nhiều thứ bằng cái ná ấy nhưng món cừ nhất là một chú ác là. Ngày nọ, Young Dick Atkinson dùng ná hạ được một con thỏ, chúng tôi đặt nó vào dưới tán cây rồi cả bọn ngồi vòng quanh, Dick hút thuốc rồi bỗng nhiên, con thỏ nhảy lên lao vào bụi, chúng tôi đuổi theo nhưng chẳng thể nào tìm thấy. Chà, ở Maisons chúng tôi rất vui. Bà Meyers thường trao bữa trưa cho tôi vào buổi sáng bởi tôi có thể đi suốt cả ngày. Tôi học nói tiếng Pháp khá nhanh. Thứ tiếng ấy thật đễ.
Ngay khi chúng tôi đến Maisons, ông già tôi gởi đơn về Milan xin giấy phép và ông tỏ vẻ bồn chồn cho đến khi giấy được gởi đến. Ông thường ngồi uống ở Cafe de Paris ở Maisons với nhóm bạn; từ trước chiến tranh, lúc còn đua ở Paris ông đã quen nhiều người hiện đang sống ở Maisons và họ có nhiều thời gian để ngồi chơi bời tính chất công việc của lò đua, đối với nài ngựa, công việc sẽ hoàn tất vào lúc chín giờ sáng. Họ đưa nhóm ngựa đầu tiên ra dượt vào lúc năm giờ ba mươi sáng và nhóm thứ hai vào lúc tám giờ. Điều ấy nghĩa là họ sẽ phải thức dậy sớm và phải đi ngủ sớm. Nếu nài ngựa cỡi đua cho một ai đó thì anh ta không thể uống say túy lúy bởi lẽ huấn luyện viên luôn trông chừng nếu như anh ta còn trẻ; nhưng nếu anh ta không còn trẻ thì anh ta phải tự mình kiềm chế. Thế là khi nài ngựa không luyện tập thì anh ta ngồi ở Cafe de la Paris uống với bạn bè; họ có thể ngồi hai ba tiếng đồng hồ nhâm nhi cốc vang Vermouth hoặc Seitz; trò chuyện hoặc kể cho nhau nghe câu chuyện gì đấy hoặc chơi pool; lối sinh hoạt đó tựa như ở một câu lạc bộ hay tựa Galleria ở Milan. Chỉ có một điểm không giống Galleria bởi vì ở đó mọi người cứ đi tới đi lui còn ở đây thì mọi người ngồi bên bàn.
À, ông già tôi đã nhận được giấy phép. Họ gởi nó đến mà không ghi kèm lời nào và ông đã tham gia đua vài bận. Những cuộc đua nhỏ, nhưng dường như ông không kiếm được hợp đồng thuê đua nào cả. Mọi người đều quý ông, hễ bất cứ lúc nào tôi đến quán Cafe vào buổi sáng thì tôi thấy ông đang uống với ai đó bởi lẽ ông già tôi không keo giống số đông các nài ngựa thuộc thế hệ kiếm được đồng dollar đầu tiên khi tham gia đua ở Hội Chợ Quốc Tế tại St.Louis vào năm một chín không bốn. Đấy là cách ông già tôi nói để trêu George Burns. Nhưng mọi người như thể tránh không muốn để ông già tôi dự đua.
Hằng ngày, đáp ô-tô từ Maisons, chúng tôi đi đến bất cứ nơi nào người ta tổ chức đua, những chuyến đi ấy thật thú vị. Tôi lấy làm mừng khi lũ ngựa từ Deauville quay về và mùa hè đã hết. Thậm chí điều ấy có nghĩa đã chấm dứt những ngày lang thang trong rừng, bởi lẽ chúng tôi phải đến Enghien, Tremblay hoặc St. Cloud để xem các cuộc đua từ trên bệ dành cho huấn luyện viên và nài ngựa. Tôi chắc mình đã học được nhiều về đua ngựa, bằng việc đi với các tay đua ấy và những điều vui vẻ thì ngày nào cũng diễn ra.
Tôi nhớ dạo ở St. Cloud. Đấy là cuộc đua lớn, tiền thưởng là hai trăm ngàn franc với bảy con ngựa tham dự và Kzar là con được hâm mộ. Cùng với ông già, tôi đi vòng quanh bãi quây để xem mấy con ngựa, bạn chưa bao giờ thấy nhiều ngựa như thế đâu. Kzar là con ngựa vàng to lực lưỡng, trông nó như thể được sinh ra để chạy đua. Tôi chưa từng thấy con ngựa nào như nó. Nó được dắt vòng quanh bãi quây, đầu cúi xuống và khi nó đến gần, tôi cảm thấy xôn xao vô cùng bởi vẻ đẹp của nó. Chưa từng có một con ngựa nào tuyệt diệu, săn chắc, có hình dạng đua đẹp như thế. Khi đi vòng quanh bãi quây, nó đặt vó xuống đất nhẹ nhàng thận trọng, đầy tự tin và di chuyển dễ dàng như thể nó biết mình phải đi như thế mà không giật dây cương, chồm vó lên hay trợn mắt dại đi như mấy con ngựa cà khổ bị tiêm thuốc kích thích. Người xem đứng đông nghịt, tôi không thể nhìn rõ nó, trừ mấy cái vó đang di chuyển và mảng da màu vàng, ông già tôi rẽ lối bước ra, tôi bám theo đến phòng thay đồ của nài ngựa phía sau rặng cây, nơi ấy cũng đông nghẹt người, người đàn ông đội mũ quả dưa đứng bên cửa gật đầu chào ông già tôi, chúng tôi vào phòng, mọi người đang ngồi, thay đồ, áo sơ-mi được kéo qua đầu, họ đi ủng vào, căn phòng nóng bức, sặc mùi mồ hôi, dầu xoa bóp, còn bên ngoài đám đông đang nhìn vào.
Ông già tôi đến ngồi xuống bên cạnh George Gardner, người đang vận quần và nói. “Có tin gì không, George?” bằng kiểu giọng bình thường bởi ông chẳng cần phải quan tâm đến xung quanh vì George có thể nói cho ông biết hoặc anh ta không nói.
“Nó không thắng đâu”, George nói rất khẽ lúc cúi về phía trước gài nút quần.
“Con nào sẽ” ông già tôi hỏi, dịch sát lại để không ai nghe được.
“Kircubbin”, George nói, “Nếu nó thắng thì hãy để dành tôi vài vé”.
Ông già tôi nói đôi lời bằng giọng bình thường với George rồi George nói, với vẻ bông đùa, “Đừng có cược vào bất cứ con nào tôi bảo ông”, chúng tôi rời phòng, rẽ lối qua đám đông, vượt qua cái máy thu 100 franc. Tôi biết chuyện gì đó bởi George là người cỡi Kzar. Trên đường đi, ông già tôi ghé mua môt tờ phiếu cá độ màu vàng với tỉ lệ cược ban đầu vào Kzar chỉ có 5 ăn 10, Cefisidote tiếp đó là 3 ăn 1, xếp thứ năm trong danh sách là Kircubbin với 8 ăn 1. Ông già tôi đặt năm ngàn franc vào bên thắng của Kircubbin và thêm một ngàn vào chỗ xếp hạng rồi chúng tôi đi vòng ra sau khán đài, lên cầu thang, tìm chỗ theo dõi cuộc đua.
Chúng tôi chen chúc nhau, chật như nêm rồi một người đàn ông vận áo khoác dài, đội mũ xám cao, cầm roi trong tay bước ra trước, lần lượt những con ngựa bước theo, nài ngựa ngồi trên yên, mấy chú bé học nghề nắm cương đi bên cạnh, cả đoàn bước theo sau người đàn ông có tuổi kia. Kzar, con ngựa vàng lực lưỡng đi trước. Thoạt nhìn bạn sẽ ngỡ nó không quá lớn, nhưng khi nhìn độ dài của chân, mình và dáng di chuyển thì bạn sẽ thấy tầm vóc độ sồ của nó. Lạy Chúa, tôi chưa từng thấy một con ngựa nào như thế. George Gardner đang cỡi nó, người và vật di chuyển chậm, sau lưng ông già đội mũ xám cao trông như thể một ông bầu của gánh xiếc. Kế tiếp con Kzar, lưng vàng bước đi uyển chuyển trong ánh nẳng là con ngựa toàn thân màu đen, cái đầu thật đẹp do Tommy Archibald cỡi, bám sát con ô là đoàn năm con ngựa nữa, tiến chậm theo hàng, đi qua khán đài và khu cân nài ngựa. Ông già tôi bảo con ngựa đen là Kircubbin và tôi nhìn kỹ nó, quả đúng là con ngựa đẹp thật nhưng nó không thể sánh với Kzar.
Mọi người hò reo khi Kzar đi ngang qua, nó đúng là một chú ngựa rất cừ. Đoàn diễu hành đi vòng qua phía bên kia trường đua rồi quay trở lại bên này, ông bầu bảo mấy cậu bé học việc lần lượt buông dây cương từng con một để chúng có thể phi nước đại gần khán đài về vị trí xuất phát để mọi người chiêm ngưỡng rõ hơn. Đàn ngựa vừa mới đến điểm xuất phát thì tiếng cồng vang lên, bạn có thể thấy chúng lao vút qua trường dua, dồn đống lại lúc quành qua khúc cua trông như thể mấy con ngựa đồ chơi cũ. Tôi đưa ống nhòm dõi nhìn chúng, Kzar đang chạy phía sau, một con trong đàn bứt lên phía trước. Chúng phi vùn vụt, quành qua khúc cong, vó nện rầm rầm, Kzar vẫn chạy phía sau; khi cả đàn phi qua chỗ chúng tôi, con Kircubbin nhẹ nhàng tung vó dẫn đầu. Trời đất! Quả thật là kỳ diệu khi chúng chạy xa, xa dần, nhỏ dần và nhỏ hơn nữa rồi dồn đống lại qua đoạn đường vòng, vòng qua, tán ra trên các vạch kẻ và ta cảm thấy mồm miệng muốn chửi thề, lồng ngực tức căng vì quá hồi hộp. Cuối cùng vòng chạy chót cũng đến, chúng lao thẳng về phía trước. Kircubbin dẫn đầu. Mọi người trông thực buồn cười, họ luôn miệng gọi Kzar nhưng bằng kiểu giọng không được tự tin cho lắm, rồi khi lũ ngựa nện rầm rầm trên khoảng đường gần về đích, một vật gì đó vút lên ngay đầu ống nhòm của tôi tựa một vệt vàng hình đầu ngựa và mọi người bắt đầu gào lên “Kzar” như thể họ đang phát cuồng. Kzar phi nhanh hơn bất kỳ con ngựa nào tôi từng thấy trong đời, chớp mắt đã đuổi kịp Kircubbin đang phóng cật lực như khả năng của bất kỳ một con ngựa ô nào cho phép, trong một giây, chúng chạy bằng nhau, cổ ngang nhưng Kzar với những bước rướn vững chắc dường như phi nhanh gấp đôi và đầu nó đã vượt lên - nhưng trong lúc cổ chúng ngang nhau thì chúng đã vượt qua vạch đích và khi các con số được gắn lên bảng xếp hạng thì số hai về nhất, có nghĩa Kircubbin thắng.
Tôi cảm thấy run rẩy và hồi hộp trong lòng, khi chúng tôi cùng mọi người xuống cầu thang đứng trước tấm bảng nơi họ sẽ niêm yết số tiền cược thắng cho Kircubbin. Trời đất, lúc đang theo dõi cuộc đua tôi đã quên khuấy đi mất số tiền ông già tôi đặt cược vào Kircubbin. Tôi đã rất muốn Kzar thắng. Nhưng bây giờ, cuộc đua đã chấm dứt, thật là mừng khi biết chúng tôi thắng cuộc.
“Cha à, cuộc đua chẳng phải là diệu kỳ đó sao?” Tôi hỏi ông.
Ông nhìn tôi với vẻ khôi hài, cái mũ quả dưa hất ra sau đầu. “Quả đúng George Gardner là một tay nài cừ thật”, ông nói. “Phải một tay nài điêu luyện mới có thể ngăn được con Kzar ấy thắng cuộc”.
Dĩ nhiên tôi biết chuyện này thật khôi hài. Nhưng khi ông già tôi nói toạc ra như thế, nó đã làm tiêu tan hết cảm giác thích thú của tôi và tôi không có lại được cảm giác ấy thậm chí khi họ dán những con số lên bảng rồi chuông reo để chung tiền, chúng tôi thấy Kircubbin được trả 67,5 franc cho 10 franc tiền cược. Tất cả những người xung quanh đều nói, “Kzar xúi thật! Kzar xúi thật!” Tôi nghĩ giá mà mình là nài ngựa và có thể cỡi Kzar thay cho thằng chó đẻ ấy. Thật buồn cười khi nghĩ George Gardner là đồ chó đẻ bởi lẽ tôi rất ngưỡng mộ gã và hơn nữa gã đã cho chúng tôi biết con thắng cuộc, nhưng tôi chắc gã đúng là thế, rõ rồi.
Sau cuộc đua ấy, ông già tôi kiếm được nhiều tiền và thường xuyên về Paris. Nếu người ta đua ở Tremblay thì ông bảo họ thả ông xuống thành phố trên đường họ trở về Maisons; ông cùng tôi ngồi phía trước tiệm Cafe de la Paix xem mọi người đi qua. Ngồi đấy thật buồn cười. Có cả dòng người đi qua và có đủ mọi hạng người đến gạ bán hàng cho bạn nhưng tôi thích ngồi đó cùng ông già tôi. Đấy là khoảng thời gian chúng tôi có nhiều chuyên vui nhất. Nhiều người đến bán những con thỏ ngộ nghĩnh, có thể nhảy nếu bạn bóp cái túi cao su, mấy người đó đến với chúng tôi và ông già tôi trêu đùa với họ. Ông có thể nói giỏi tiếng Pháp như tiếng Anh và tất cả những người ấy biết ông bởi người ta luôn nhận ra một nài ngựa - và hơn nữa chúng tôi luôn ngồi ở cái bàn ấy và họ thường thấy chúng tôi ở đó. Có nhiều gã bán giấy đăng ký kết hôn và những cô gái bán những quả trứng bằng cao su mà khi bạn bóp thì một chú gà trống nhảy vọt ra; và còn cả một gã luống tuổi tiều tụy mang những tấm bưu thiếp Paris bán rong, đưa mời mọi người, và, dĩ nhiên chẳng có ai mua, nhưng khi ông ta trở lại, chìa cho xem mặt dưới của tập hàng, đấy là những tấm bưu ảnh tục tĩu thì rất nhiều người bới lên, chọn mua.
Trời đất, tôi nhớ những con người khôi hài thường đi qua đó. Những cô gái lảng vảng vào giờ ăn khuya hòng tìm ai đó đưa đi ăn, họ nói chuyện với ông già tôi, ông đùa mấy câu với họ bằng tiếng Pháp, họ xoa đầu tôi rồi đi. Một dạo, có bà người Mỹ ngồi với cô con gái bên cạnh bàn chúng tôi, cả hai người ăn kem, tôi chăm chú nhìn cô gái, cô ta mới đẹp làm sao, tôi cười với cô và cô mỉm cười với tôi, nhưng chuyện ấy chỉ có thế bởi lẽ dẫu tôi có ngóng mẹ cô và cô mỗi ngày, dẫu tôi đã nghĩ ra những lời lẽ để nói chuyện với cô rồi tự hỏi liệu mình làm quen được với cô thì mẹ cô có cho phép mình đưa cô đến Auteuil hoặc Tremblay nhưng tôi chẳng hề gặp lại họ lần nào nữa. Dẫu sao, tôi nghĩ hẳn điều đó cũng chẳng tốt lành tí nào, chắc thế, bởi vì hồi tưởng lại chuyện ấy nên tôi nhớ cái cách tôi cho rằng tốt nhất để nói với cô ta là, “Thứ lỗi cho tôi, nhưng cho phép tôi nói cho cô biết con ngựa nào sẽ thắng ở Enghien hôm nay được chứ?” rồi sau đó có lẽ cô ấy nghĩ chắc tôi là một kẻ khoác lác thay vì thực lòng muốn báo cho cô biết con nào thắng.
Chúng tôi ngồi ở Cafe de la Paris, ông già tôi và tôi, chúng tôi có mối quan hệ thân thiết với anh bồi bởi ông già tôi uống whisky, giá năm franc một ly, điều đó có nghĩa khi thanh toán, món tiền boa sẽ lớn. Tôi thấy ông già tôi đang uống nhiều hơn bao giờ hết, nhưng bây giờ ông không đua nữa và hơn nữa ông bảo whisky sẽ làm ông giảm cân. Nhưng tôi thấy ông vẫn đang béo lên như trước. Ông tránh nhóm bạn cũ ở Maisons và dường như thích ngồi uống bên đường với tôi. Nhưng hằng ngày ông đều thua bạc ở trường đua. Nếu thua, ông buồn bã sau khi trận đua kết thúc mãi cho đến khi hai cha con đến cái bàn của chúng tôi, ông uống hết cốc whisky đầu tiên rồi mới vui trở lại.
Lúc đang đọc tờ Paris-Sport, ông nhìn về phía tôi và nói, “cô bé của con đâu rồi Joe?” để trêu tôi bởi tôi đã kể cho ông nghe về chuyện cô gái ngồi ở bàn bên hôm ấy. Tôi đỏ mặt nhưng lại thích bị trêu về chuyện cô gái. Nó mang lại cho tôi cảm giác dễ chịu. “Cứ chong mắt lên mà đợi cô bé Joe à”, ông nói, “cô ta sẽ quay lại”.
Ông hỏi tôi mấy câu và một trong những câu trả lời của tôi khiến ông phá lên cười. Và rồi ông bắt đầu nói về mọi thứ. Về việc đua ngựa ở Ai Cập, hoặc ở St. Moritz trên mặt băng trước khi mẹ tôi qua đời, về thời gian chiến tranh khi người ta tổ chức những cuộc đua đều đặn ở miền Nam nước Pháp mà không có giải thưởng, cá độ, khán giả hay mọi thứ, chỉ để luyện ngựa mà thôi. Những cuộc đua định kỳ với những nài ngựa quần cho chúng bở hơi tai. Chà, tôi có thể nghe ông già tôi nói hàng tiếng đồng hồ, đặc biệt khi ông đã uống hết vài ly. Ông kể cho tôi nghe về thời thơ ấu của mình ở Kentucky và những lần đi săn gấu trúc, những ngày xa xưa ở Mỹ trước lúc mọi thứ trở nên tồi tệ. Rồi ông nói, “Joe à, khi nào cha con ta thắng một quả đậm, thì con sẽ quay lại Mỹ để theo học”.
“Con phải về đó học để làm gì một khi ở đó mọi thứ đang tồi tệ?” tôi hỏi ông.
“Việc ấy khác đấy”, ông nói và gọi bồi đến trả tiền rồi chúng tôi gọi tắc xi đến ga St. Lazare, đón tàu về Maisons.
Ngày nọ, ở Auteuil, sau cuộc bán ngựa đua vượt chướng ngại vật, ông già tôi đã mua được con ngựa thắng cuộc với giá 30.000 franc. Ông phải trả cao hơn một chút và cuối cùng thì chủ lò cũng đồng ý bán, trong vòng một tuần lễ, ông già tôi đã xin được giấy phép và màu áo. Chà, tôi cảm thấy tự hào khi ông già tôi sở hữu một chủ ngựa. Ông đã thu xếp với Charles Drake một nơi ở trong lò luyện ngựa và thôi không đến Paris nữa mà lại chạy và ra mồ hôi, ông và tôi hai người duy nhất ở trại ngựa. Con ngựa của chúng tôi có tên là Gilford, dòng Ai Len và là một chú ngựa vượt rào đẹp, kiêu hùng. Ông già tôi dự định sẽ tập và tự mình cỡi nó, ông đang đầu tư một cách đúng đắn. Tôi tự hào về mọi thứ và tôi nghĩ Gilford kiêu hùng không kém gì Kzar. Nó là chú ngựa đẹp, hùng dũng, một con nòi, có thể phóng như bay trên đất bằng nếu bạn muốn, thêm nữa đấy còn là một con ngựa xinh xắn.
Chao ôi, tôi tự hào về nó lắm. Lần đầu tiên dự giải do ông già tôi cỡi, nó về thử ba trong cuộc thi vượt rào dài 2.500 mét, khi ông già tôi xuống ngựa, mồ hôi đổ đầm đìa và hạnh phúc khi đứng trong ngăn xếp hạng rồi đi vào cân, tôi cảm thấy rất tự hào về ông như thể đây là lần đầu tiên ông được xếp hạng. Bạn biết đấy, khi một người đã bỏ lâu không cỡi ngựa thì bạn không thể buộc mình tin được rằng người đó đã từng cỡi ngựa. Bây giờ chuyện ấy đã khác hoàn toàn, bởi vì ở Maisons, ngay những cuộc đua lớn cũng dường như chẳng khiến ông già tôi bận tâm mảy may, nếu thắng ông cũng chẳng tỏ vẻ bị kích động hay hưng phấn, còn giờ đây, đã khác rồi, tôi không thể ngủ trong đêm trước lúc cuộc đua diễn ra và tôi biết ông già tôi cũng bồn chồn dẫu ông không để lộ ra. Cỡi đua cho chính mình là một việc làm khác hẳn.
Lần thứ hai Gilford và ông già tôi dự đua là một ngày chủ nhật lất phất mưa tại Auteuil ở Prix du Marat, một cuộc đua vượt rào dài 4.500 mét. Ngay khi ông ra sân, tôi đứng dậy trên khán đài dõi chiếc ống nhòm ông mới mua cho tôi để nhìn theo. Họ xuất phát ở phía cuối đường đua và có chuyện gì trục trặc ở dây chắn. Một con ngựa đeo lá che có tròng mắt kính đang hí vang, lồng lên làm đứt cả dây chắn nhưng tôi vẫn nhìn thấy ông già tôi mặc jacket màu đen có chữ thập trắng, đội mũ đen, ngồi trên lưng Gilford và đưa tay vỗ vỗ nó. Rồi cả đoàn phi tới, khuất sau rặng cây trong tiếng cồng ra hiệu xuất phát và tiếng các cổng phụ đóng xuống. Lạy Chúa, tôi hồi hộp quá, tôi không dám nhìn họ nhưng tôi hướng ống nhòm vào vị trí họ sẽ chạy qua khi ra khỏi rặng cây và họ đã ra, chiếc jacket màu đen cũ chạy thứ ba, cả đoàn phóng qua chướng ngại vật tựa lũ chim. Rồi họ lại khuất khỏi tầm mắt rồi họ phóng rầm rầm lên, xuống ngọn đồi, cả đoàn di chuyển tuyệt đẹp, thoải mái, cùng dễ dàng vượt qua hàng rào, kết thành khối vững tiến về phía trước khi lao qua chỗ bọn tôi. Trông như thể bạn có thể bước băng qua lưng lũ ngựa, chúng dịch sát vào nhau và cứ thế lao lên. Khi bụng chúng vượt qua chướng ngại đôi cao vút Bullfinch, có ai đó ngã xuống. Tôi không thể nhìn rõ là ai, nhưng trong vòng một phút sau, con ngựa vùng dậy, tự do phi trên đấu trường, cả đoàn đua vẫn đều bước, lưới vòng qua khúc cua bên trái vào dường chạy thẳng. Họ nhảy qua bức tường đá và dồn đống lại trên đường đua hướng về phía chướng ngại vật là một hào nước rộng ngay trước khán đài. Tôi thấy họ đến và hò reo cổ vũ ông già tôi lúc ông phi qua, ông đang dẫn đầu, phi cách xa đoàn một khoảng, nhẹ nhàng như một chú khỉ rồi họ sắp vượt chướng ngại vật nước, cả đoàn lao qua chướng ngại vật cao vút bên cạnh hào nước rồi va vào nhau, rồi hai con ngựa được giằng cương tách ra, chạy tiếp trong lúc ba con khác vẫn đang dồn đống lên nhau. Tôi không thấy ông già tôi đâu nữa. Một con ngựa nữa đứng dậy, lắc lắc đầu phóng ra một mình, dây cương buông lòng thòng còn anh nài thì lê bước về phía hàng rào bên cạnh đường đua. Rồi Gilford lăn người khỏi ông già tôi, đứng dậy chạy bằng ba chân, một móng chân trước của nó bong ra lủng lẳng, ông già tôi nằm đó, bẹp dí trên cỏ, mặt ngửa lên, máu chảy tràn khắp một bên đầu. Tôi chạy xuống khán đài, len qua đám khán giả đông nghịt đến hàng rào, một viên cảnh sát nắm giữ tôi lại, hai người to lớn mang cáng tiến về phía ông già tôi, từ phía bên kia trường đua tôi thấy ba con ngựa lao ra, lao ra khỏi cụm cây và vượt hàng rào.
Khi họ mang vào, ông già tôi đã chết, trong lúc bác sĩ đang nghe tim ông bằng dụng cụ có núm đút vào tai, tôi nghe một phát đạn nổ trên trường đua, có nghĩa người ta đã giết Gilford. Tôi ngã vật xuống bên cạnh ông rồi khi họ đưa cáng vào bệnh viện, tôi bám theo và cứ gào, gào thảm thiết, trông ông tái nhợt, xa cách vô cùng, ông chết thảm thương quá và tôi không thể ngăn được ý nghĩ rằng nếu ông già tôi đã chết thì lẽ ra người ta không cần phải bắn Gilford. Móng của nó có thể lành. Tôi không chắc. Tôi rất yêu ông già tôi.
Sau đó hai người vào phòng, một người vỗ vào lưng tôi rồi đến nhìn ông già tôi và kéo tấm vải khỏi giường đắp lên người ông, còn người khác thì gọi điện bằng tiếng Pháp bảo họ đưa xe cứu thương đến chở ông về Maisons. Tôi không thể cầm được nước mắt, khóc và ngất đi rồi cứ thế; George Gardner bước vào ngồi xuống cạnh tôi trên nền nhà, choàng tay vào người tôi và nói, “Bình tĩnh nào, Joe, anh bạn cũ. Đứng dậy đi, rồi ta ra ngoài đợi xe cứu thương”.
George và tôi ra cổng, tôi cố không thổn thức nữa. George lấy khăn tay của mình chùi mặt cho tôi, chúng tôi đứng hơi lùi lại phía sau trong lúc khán giả đang ra cổng; có hai gã đứng gần chúng tôi trong lúc đang đợi người xem ra hết, một trong hai đang đếm nắm vé cá độ, gã ta nói, “Này Butler đã nhận phần của hắn, đúng thế”.
Gã kia nói, “Nếu hắn có nhận thì tao cũng chẳng thấy thương xót nước mẹ gì đâu, cái đồ lọc lừa. Hắn nhận phần dành cho hắn sau khi đã gieo nó ra”.
“Tao đoán là hắn sẽ phải nhận”, gã kia nói và xé nắm vé làm hai. George nhìn thử xem tôi đã nghe chưa và khi biết tôi nghe hết, gã nói, “Em chớ có tin những gì mấy thằng khốn đó nói, Joe. Ông già em là một người tuyệt vời”.
Nhưng tôi không biết. Tôi cảm nhận như thể khi người ta đã làm thì họ không phải không để lại cái gì đó cho người khác đâu.

Lê Huy Bắc dịch
0
Tàn mùa

Với bốn lire kiếm được nhờ dọn vườn khách sạn, Peduzzi đã uống khá say. Lão thấy chàng công tử đang đi trên con đường nhỏ bèn đến bí mật thì thào gì đó với anh ta. Chàng công tử bảo anh ta chưa ăn nhưng sẽ sẵn sàng lên đường ngay sau khi bữa trưa kết thúc, khoảng năm mươi phút đến một tiếng nữa.
Tại căng tin gần chiếc cầu, người ta bán nợ cho lão thêm ba chai grappa [1] bởi lẽ lão rất tự tin và đầy bí ẩn về công việc lão sắp làm trong chiều nay. Hôm ấy, trời gió, mặt trời vừa ló ra khỏi mấy đám mây liền lại chìm trong màn mưa lất phất. Một ngày tuyệt diệu để câu cá hồi.
Chàng công tử ra khỏi khách sạn và hỏi lão về chuyện cần câu. Có nên để vợ anh ta mang cần câu đi sau không? - Vâng, - Peduzzi đáp - cứ để cô ấy đi theo chúng ta. - Chàng công tử quay vào khách sạn để bảo vợ mình. Anh ta và Peduzzi bước xuống đường. Chàng công tử mang cái túi dết trên vai. Peduzzi nhìn thấy cô vợ, trông trẻ như chồng, đi đôi ủng leo núi, đội mũ bê rê màu xanh, bước ra, theo họ xuống đường, mỗi tay cô cầm một chiếc cần câu chưa nối. Peduzzi không thích cô ta đi thụt lùi phía sau.
- Thưa bà, - Lão gọi trong lúc nháy mắt với chàng công tử - đến đây đi cùng chúng tôi. Thưa bà, bà hãy đến đây. Chúng ta đi cùng nhau. - Peduzzi muốn cả ba người cùng đi xuống phố Cortina.
Cô vợ vẫn lùi ở phía sau, hơi ủ rũ khi bám theo. Thưa bà, - Peduzzi dịu dàng gọi - đến đây với chúng tôi. Chàng công tử nhìn lại, cất giọng nói lớn điều gì đó. Cô vợ không giữ khoảng cách nữa mà bước đến gần.
Bất kỳ ai họ gặp trên con lộ chính của thị trấn, Peduzzi đều chào với vẻ kiểu cách. - Buon di, Arturo! [2] và ngả mũ ra. Tay thư ký của ngân hàng dõi mắt nhìn lão từ trên cửa quán cà phê của cánh Phát xít. Nhiều nhóm, ba hoặc bốn người, đang đứng trước các quầy hàng quan sát ba người. Những người công nhân mặc đồ bảo hộ đang đổ móng một khách sạn mới, ngẩng lên nhìn khi họ đi qua.
Peduzzi dừng lại trước một cửa hàng có tủ kính bày đầy ắp chai lọ rồi lấy ra cái chai grappa rỗng từ túi trong của chiếc áo lính lão đang mặc.
- Một ít để uống, một ít marsala cho bà, một thứ, một thứ dùng để uống. - Lão ra điệu bộ với cái chai. Đấy là một ngày tuyệt vời - Marsala, bà thích marsala chứ, thưa bà? Một ít marsala?...
Cô vợ đúng ủ rũ.
- Anh sẽ phải cố mà theo vụ này - Cô ta nói - Em không thể hiểu nổi một từ ông ta nói. Ông ta say rượu, có phải không?
Chàng công tử có vẻ không nghe Peduzzi. Anh ta đang suy nghĩ, lão nói marsala là cái chết tiệt gì? Đấy là thứ Max Beerbohm uống chắc?
- Thưa ông, - Cuối cùng Peduzzi giật tay áo chàng công tử, nói - lire. - Lão cười mỉm, hơi dè dặt khi thốt ra từ ấy nhưng vừa đủ thuyết phục để chàng công tử đồng ý.
Anh ta mở ví, lấy đưa lão tờ bạc mười lire. Peduzzi đi lên bậc tam cấp đến cửa quầy hàng Đặc sản Rượu vang Nội địa và Ngoại quốc. Quầy hàng đã khóa cửa.
- Nó đóng cửa cho đến hai giờ. - Ai đó đang băng qua đường nói với vẻ đầy khinh bỉ. Peduzzi bước xuống bậc cấp. Lão cảm thấy bị thương tổn.
- Đừng lo, - Lão nói - chúng ta có thể mua ở Concordia.
Cả ba sóng hàng bước xuống đường đến Concordia. Trên hành lang tiệm Concordia, nơi mấy chiếc xe trượt băng han gỉ được xếp đống, chàng công tử hỏi:
- Ông uống gì? - Peduzzi đưa trả anh tờ giấy bạc bị gấp nhiều nếp.
- Không uống đâu, - Lão nói - thứ gì cũng được. - Lão hơi xấu hổ - Marsala, có lẽ thế. Tôi không biết. Marsala chăng?
Cánh cửa tiệm Concordia đóng sau lưng chàng công tử và vợ.
- Cho ba suất marsala. - Chàng công tử nói với cô gái đứng sau quầy.
- Hai, ý ông là hai suất có phải không? - Cô ta hỏi.
- Không, - Anh đáp - một suất cho vecchio [3].
- Ồ, - Cô ta nói, - một vecchio - và cười trong lúc lấy một cái chai xuống. Cô rót thứ nước trông tựa bùn lỏng ra ba cái ly. Cô vợ đang ngồi ở cái bàn kê dưới dãy báo treo trên dây. Chàng công tử đặt một ly marsala trước mặt vợ.
- Có lẽ em cũng nên uống đi - Anh ta nói - Có lẽ nó làm em dễ chịu hơn.
Cô vợ ngồi nhìn cái ly. Chàng công tử mang một ly ra cửa cho Peduzzi nhưng không tìm thấy lão.
- Anh không biết ông ta đi đâu. - Anh ta nói lúc mang cái ly quay trở lại phòng bán bánh.
- Ông ta muốn một xị marsala đấy. - Cô vợ nói.
- Giá của một xị là bao nhiêu? - Chàng công tử hỏi cô gái.
- Loại bianco hả? Một lire.
- Không, marsala chứ. Đổ hai ly này vào luôn. - Anh ta nói và đưa cái ly của mình và ly rót cho Peduzzi. Cô ta dùng cái phễu rót đong một phần tư lít vang.
- Cho cái chai để mang đi. - Chàng công tử nói.
Cô ta đi tìm cái chai. Sự việc khiến cô buồn cười.
- Anh lấy làm tiếc vì đã làm em buồn, Tiny - Anh ta nói - Anh xin lỗi vì đã nói như thế vào lúc ăn trưa. Hai chúng ta nhìn một vấn đề từ hai góc độ khác nhau.
- Nó chẳng làm khác được gì đâu - Cô ta nói - Chẳng có gì làm khác đi được.
- Em có lạnh lắm không? - Anh ta hỏi - Giá mà em mặc thêm một cái áo len nữa.
- Em đã mặc ba chiếc rồi.
Cô gái mang ra một cái chai dẹt màu nâu và rót marsala vào.
Chàng công tử trả thêm năm lire. Họ ra khỏi cửa. Cô gái có vẻ rất buồn cười. Peduzzi tay cầm cần câu đang bước tới bước lui phía cuối hiên.
- Đi thôi - Lão nói - Tôi sẽ mang cần câu. Nếu ai đó nhìn thấy thì có khác gì cơ chứ? Chẳng có ai gây rắc rối cho chúng ta. Ở Cortina này, không có ai ngây phiền phức với tôi đâu, tôi quen với các quan chức trong thị trấn. Tôi đã từng là quân nhân. Mọi người trong thị trấn này đều thích tôi. Tôi bán ếch. Nếu họ cấm câu cá thì người ta còn biết làm gì cơ chứ? Không có chuyên gì đâu. Chẳng có gì. Không rắc rối. Cá hồi lớn, tôi đã nói với anh. Rất nhiều cá.
Họ xuống đồi đi về phía dòng sông. Thị trấn lùi lại đằng sau. Mặt trời bị che khuất, mưa lất phất.
- Nhìn kìa - Peduzzi nói và chỉ tay vào cô gái đang đứng trên ngưỡng cửa của ngôi nhà họ đi qua - Con gái [4] tôi đấy.
- Bác sĩ của ông ta - Cô vợ nói - Sao ông ta lại chỉ cho chúng ta bác sĩ của ông ta nhỉ?
- Ông ta bảo là con gái của ông ta. - Chàng công từ nói.
Cô gái lui vào nhà khi Peduzzi chỉ.
Họ xuống đồi, băng qua cánh đồng rồi rẽ đi men theo bờ sông. Peduzzi nói nhanh và nháy mắt ra vẻ hiểu biết. Lúc họ sóng hàng bước đi, cô vợ ngửi thấy hơi thở của lão thoảng trong gió. Một lần lão huých trúng sườn cô. Có lúc lão nói bằng phương ngữ Ampezzo và có lúc lão dùng phương ngữ Tyroler. Lão không thể nào làm cho cả hai vợ chồng cùng hiểu bằng một thứ tiếng thế là lão sử dụng song ngữ. Nhưng khi chàng công tử nói, Vâng, Vâng, Peduzzi quyết định nói bằng tiếng Tyroler. Chàng công tử và vợ chẳng hiểu được tí gì.
- Mọi người trong thị trấn đã thấy chúng ta mang mấy cần câu này đi. Bây giờ hẳn cả nhóm cảnh sát đang bám theo chúng ta. Anh ước giá mà chúng không dây vào cái công việc quái quỷ này. Cái lão ngố già này lại say quá.
- Dĩ nhiên, anh không có đủ can đảm để quay về - Cô vợ nói - Dĩ nhiên anh phải tiếp tục.
- Sao em không quay lại? Quay lại đi, Tiny.
- Em sẽ đi với anh. Nếu anh vào tù thì cả hai chúng ta sẽ ở cùng nhau.
Họ rẽ ngoặt xuống bờ sông, Peduzzi đã đứng đó, chiếc áo khoác của lão bay phần phật trong gió, lão đưa tay chỉ dòng sông. Dòng sông màu nâu vàng đầy bùn lầy. Phía xa bên phải, có một cồn cát.
- Hãy nói với tôi bằng tiếng Italy. - Chàng công tử nói.
- Un, mezz’ ora. Piu d’ un’ mezz’ ora.
- Ông ta bảo ít nhất còn phải đi thêm nửa tiếng nữa. Quay lại đi, Tiny. Dẫu sao thì gió máy thế này sẽ làm em lạnh đấy. Một ngày tồi tệ, rõ ràng rồi chúng ta cũng sẽ chẳng vui vẻ gì.
- Thôi được. - Cô ta nói rồi leo lên bờ cỏ.
Peduzzi đứng ở dưới sông, không để ý cho đến khi cô ta gần như khuất khỏi tầm mắt sau bờ dốc.
- Thưa bà! - Lão gào lên - Thưa bà! Bà ơi! Bà đừng đi.
Cô ta vẫn tiếp tục vượt qua đỉnh đồi.
- Bà đã đi! - Peduzzi nói. Việc ấy khiến lão bối rối. Lão mở hai chiếc hộp cao su đựng các phần của cần câu được tháo rời và chuẩn bị nối một chiếc lại.
- Nhưng ông bảo ta còn phải đi thêm nửa tiếng nữa cơ mà.
- Ồ, đúng đấy. Đi thêm nửa giờ nữa thì tốt. Nhưng đây cũng tốt.
- Thật vậy sao?
- Dĩ nhiên. Đây cũng tốt và đằng kia cũng tốt.
Chàng công tử ngồi xuống bờ sông và nối cần câu lại, anh ta lấy cái guồng ra rồi luồn dây qua trục xoay. Anh ta cảm thấy khó chịu và sợ hãi rằng bất cứ lức nào, người bảo vệ hoặc một đội cảnh sát từ thị trấn sẽ bám theo họ đến bờ sông. Anh ta có thể thấy những ngôi nhà của thị trấn và tháp chuông nhô lên đỉnh ngọn đồi. Anh mở hộp đựng chì. Peduzzi cúi xuống thọc ngón trỏ và ngón cái to bè của mình bới bới tìm những lá chì ẩm.
- Ông có chì không?
- Không.
- Ông phải có chì chứ - Peduzzi hồi hộp nói - Ông phải có chì. Chì ấy mà. Một miếng chì bé. Đính ở đây này. Ngay trên lưỡi câu nếu không thì mồi của ông sẽ nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Ông phải có. Chỉ một mẩu chì nhỏ.
- Thế ông có không?
- Không. - Lão tuyệt vọng ngó nghiêng hết các túi của mình, lục lọi hết các lớp vải lót bẩn thỉu trong mấy cái túi áo lính của lão - Tôi không có. Chúng ta phải có chì.
- Vậy thì ta không thể câu cá được rồi - Chàng công tử nói rồi tháo rời cần câu ra, thu lại sợi dây luồn qua bánh xe - Chúng ta sẽ kiếm một ít chì rồi đi câu vào ngày mai.
- Nhưng này, anh bạn, anh nhớ phải mang theo chì. Nếu không dây câu sẽ nổi lên mặt nước đấy. - Trước mắt lão, công việc của ngày mai đang bày ra - Anh phải có chì. Chỉ một ít thôi là đủ. Bộ đồ câu của anh sạch sẽ và mới nhưng lại không có chì. Tôi có thể mang theo vài lá. Nhưng anh nói anh đã có mọi thứ.
Chàng công tử nhìn dòng sông đang phai màu bởi những bông tuyết tan.
- Tôi hiểu - Anh ta nói - Ngày mai chúng ta sẽ mang theo chì để câu.
- Sáng mai, vào lúc mấy giờ? Cho tôi biết đi?
- Bảy giờ.
Mặt trời ló ra. Không khí ấm áp và dễ chịu. Chàng công tử cảm thấy nhẹ nhõm. Anh sẽ không phạm luật nữa. Ngồi xuống bờ sông, anh lấy chai marsala ra khỏi túi, đưa cho Peduzzi. Peduzzi đẩy trả lại. Chàng công tử uống một ngụm rồi đưa cho Peduzzi. Peduzzi chuyển trở lại.
- Uống đi, - Anh ta nói - uống đi. Rượu của ông đó.
- Uống thêm ngụm nữa. - Chàng công tử trao cái chai cho Peduzzi. Lão nhìn nó thật kỹ rồi vội vàng cầm dốc ngược vào miệng. Mấy rợi râu bạc trên lớp da cổ nhăn nheo của lão nhấp nhô khi lão uống, mắt lão dán vào đít cái chai dẹt màu nâu. Lão uống sạch. Mặt trời chiếu sáng trong lúc lão uống. Thật tuyệt vời. Một ngày thú vị, thế đấy, một ngày điệu kỳ!
- Cám ơn, anh bạn! Bảy giờ sáng mai! - Lão đã gọi chàng công tử là anh bạn nhiều lần nhưng chẳng chuyện gì xảy ra. Marsala rất ngon. Mắt lão lấp lánh. Những ngày như hôm nay đang trải ra phía trước. Nó sẽ bắt đầu vào lúc bảy giờ sáng.
Họ leo lên ngọn đồi về thị trấn. Chàng công tử đi phía trước. Anh ta đã rời khỏi ngọn đồi một khoảng xa. Peduzzi gọi anh ta.
- Này, anh bạn ơi, anh có thể tạm ứng trước cho tôi năm lire được không?
- Cho hôm nay ư? - Chàng công tử có vẻ bực mình hỏi.
- Không, không phải hôm nay, mà cho ngày mai. Tôi sẽ chuẩn bị mọi thứ cho ngày mai. Bánh mì, xúc xích mặn, pho mát và những thứ cần thiết cho tất cả chúng ta. Anh, tôi và cô ấy. Mồi câu, cá tuế chứ không phải chỉ là giun. Có lẽ tôi sẽ mua một ít marsala. Tất cả chỉ hết có năm lire. Năm lire tạm ứng trước.
Chàng công tử nhìn vào ví, rút ra một tờ hai lire và hai tờ một lire.
- Cám ơn anh, anh bạn. Cám ơn anh. - Peduzzi nói bằng kiểu giọng bắt chước giọng trên chương trình Morning Posy của một trong những thành viên của câu lạc bộ Carleton. Sống thế mới đáng sống. Lão đang phát ngấy với khu vườn khách sạn, với việc dùng cuốc chĩa đập tơi đống phân bón bị đóng băng. Cuộc sống đang vẫy gọi.
- Vào lúc bảy giờ sáng mai, anh bạn. - Lão nói và đưa tay vỗ vào lưng chàng công tử - Nhớ bảy giờ nhé.
- Có thể là tôi sẽ không đi. - Chàng công tử nói lúc đang đút ví vào tủi.
- Cái gì? - Peduzzi nói - Tôi sẽ mua cá tuế, xúc xích mặn, mọi thứ. Anh, tôi và bà chủ. Cả ba chúng ta.
- Có thể là tôi sẽ không đi, - Chàng công tử nói - rất có thể không đi. Tôi sẽ nhắn lại ở văn phòng của ông chủ khách sạn.

Lê Huy Bắc dịch
---------------------------
[1] Rượu trắng bá nho.
[2] Xin chào Artuno.
[3] Ông già.
[4] Trong tiếng Anh daughter - phát âm gần giống doctor (bác sĩ) nên cô vợ nghe nhầm.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.10.2017 00:47:35 bởi casau>
Trại người da đỏ

Chiếc thuyền nữa ghé sát bờ hồ. Hai người Da Đỏ đứng đợi. Nick và ba cậu bước lên đằng sau thuyền, họ đẩy thuyền ra, một người leo lên chèo đi. Chú George ngồi đằng đuôi con thuyền của trại. Anh chàng Da Đỏ đẩy thuyền rồi bắt đầu chèo.
Hai chiếc thuyền lướt trong bóng tối. Qua màn sương, Nick nghe tiếng mái chèo của con thuyền kia khá xa ở phía trước. Hai người Da Đỏ thoăn thoắt bổ mái chèo. Nick nằm ngửa trong vòng tay của ba cậu. Mặt hồ lạnh. Người Da Đỏ trên thuyền họ đang chèo cật lực nhưng chiếc thuyền kia vẫn luôn bỏ xa trong khối mù trước mặt.
“Chúng ta đang đi đến đâu hả ba?” Nick hỏi.
“Đến trại người Da Đỏ. Có một phụ nữ Da Đỏ ốm nặng”.
“Ồ”, Nick nói.
Qua vịnh, họ thấy con thuyền kia đã cập bến. Trong bóng tối, chú George đang hút cigar. Anh chàng Da Đỏ kéo thuyền vào bờ. Chú George rút cigar mời hai người Da Đỏ.
Theo anh chàng Da Đỏ mang đèn lồng, từ bờ hồ họ đi xuyên qua đồng cỏ đẫm sương. Lát sau, họ đi vào rừng, men theo lối mòn đến con đường chở gỗ chạy sâu vào rặng đồi. Trên đường chở gỗ, trời sáng hơn nhiều bởi rừng cây bị phát quang hai bên đường. Anh chàng Da Đỏ dừng lại, thổi tắt ngọn đèn rồi cả đoàn tiếp tục bước đi.
Lúc họ đi qua đoạn đường vòng, một con chó chồm ra sủa. Đằng kia, ánh đèn từ những căn lều nơi người Da Đỏ bóc vỏ cây sinh sống hắt ra. Thêm nhiều con chó nữa xô về phía họ. Hai người Da Đỏ đuổi chúng vào lại trong lều. Trong căn lều nằm gần đường nhất, có một ngọn đèn trên cửa sổ. Một bà lão cầm đèn đứng trên ngưỡng cửa.
Trong lều, một thiếu phụ Da Đỏ nằm trên chiếc giường gỗ. Đã hai ngày qua, chị cố sinh đứa bé trong bụng. Tất cả các bà lão trong khu trại đều đến giúp chị. Cánh đàn ông rời nhà, ra đường ngồi hút thuốc trong bóng tối mãi tận đằng kia để khỏi phải nghe tiếng gào thét của chị. Ngay khi Nick và hai anh chàng Da Đỏ theo sau cậu và chú George vào lều, chị ta cất tiếng thét. Chị nằm trên chiếc giường thấp hơn, lù lù dưới tấm chăn bông.
Đầu chị ngoẹo sang một bên. Chồng chị ở giường trên. Cách đấy ba hôm, chiếc rìu của anh đã chặt phải bàn chân rất sâu. Anh ta đang phì phèo chiếc tẩu. Căn phòng ngập ngụa mùi hôi khó chịu.
Ba Niclc bảo đun ít nước, trong lúc đợi nước nóng ông bảo Nick.
“Cô ấy sắp sinh em bé, Nick à”, Ông nói.
“Con hiểu”, Nick đáp.
“Con chưa hiểu”, Ông nói . “Nghe ba giải thích này. Những gì cô ấy phải chịu đựng được gọi là đau đẻ. Em bé muốn được sinh ra, còn cô ấy thì muốn sinh em bé. Cơ của cô dồn hết sức để sinh em bé. Khi cô la hét là lúc cơ chế ấy diễn ra”.
“Con hiểu”, Nick nói.
Ngay lúc đó người đàn bà thét lên.
“Ôi, ba, ba không thể làm gì để cô ấy đừng kêu thét nữa sao?”. Nick hỏi.
“Không thể. Ba chẳng có một chút thuốc mê nào cả”. Ba cậu nói. “Nhưng tiếng thét của cô ấy không quan trọng. Ba không nghe thấy bởi chúng chẳng đáng ngại”.
Anh chồng ở giường trên lăn tựa vào tường.
Người đàn bà trong bếp thưa với bác sĩ rằng nước đã nóng. Ba Nick vào bếp rót hết nửa ấm nước lớn vào chậu. Ông lấy nhiều dụng cụ từ chiếc khăn tay thả vào chỗ nước còn lại trong ấm.
“Những thứ ấy phải được đun sôi”, ông nói, và bắt đầu rửa tay trong chậu nước nóng với bánh xà phòng ông mang đến trại. Nick quan sát hai bàn tay cọ với nhau trong đám bọt. Lúc ba cậu đang cẩn thận kỳ rửa hai bàn tay, ông nói.
“Con biết đấy Nick, khi sinh, em bé thường chui đầu ra trước nhưng đôi khi lại không phải thế. Nếu thai không thuận thì chúng sẽ gây phiền toái cho mọi người. Có lẽ, ba sẽ phải mổ cho cô ấy. Lát nữa chúng ta sẽ rõ”.
Khi đã hài lòng với đôi tay, ông vào lều và bắt tay vào công việc.
“George, chú kéo giúp hai cái chăn bông ấy được chứ?” Ông nói. “Tôi không đụng vào chúng được”.
Sau đó, ông chuẩn bị mổ, chú George và ba người đàn ông Da Đỏ giữ chặt người phụ nữ, cô ta cắn vào cánh tay chú George, chú George quát “Đồ chó cái Da Đỏ!”, anh chàng Da Đỏ chèo thuyền chở chú George cười ngặt nghẽo, Nick giữ cái chậu cho ba cậu. Cuộc phẫu thuật khá lâu.
Ba cậu bồng em bé lên, vỗ vào người để nó thở rồi trao cho bà lão.
“Xem này, một chú nhóc đó Nick”, ông nói. “Con thích làm một sinh viên y khoa nội trú chứ?”
Nick đáp, “Cũng được, thưa ba”. Cậu đang nhìn nơi khác để khỏi thấy những gì ba cậu làm.
“Đấy. Như thể để lấy nó”, ba cậu nói và đặt cái gì đó vào chậu.
Nick không nhìn.
“Bây giờ”, ông nói “chỉ còn mấy mũi khâu nữa. Con có muốn xem hay không thì tùy, Nick - à. Ba sắp khâu vết mổ đây”.
Nick không nhìn. Sự hiếu kỳ của cậu đã tan biến từ lâu.
Ba cậu khâu xong rồi đứng thẳng dậy. Chú George và ba người đàn ông Da Đỏ cũng đứng lên. Nick mang cái chậu vào bếp.
Chú George nhìn cánh tay mình. Môi anh chàng Da Đỏ phảng phất nụ cười.
“Chú George, tôi sẽ bôi ít peroxide vào đấy”. Bác sĩ nói.
Ông cúi xuống người phụ nữ Da Đỏ. Bây giờ chị ta lặng im, mắt nhắm lại.
Trông chị nhợt nhạt. Chị không biết chuyện gì vừa xảy ra với đứa bé hay bất kỳ chuyện gì khác.
“Tôi phải về trong sáng nay”, bác sĩ nói lúc đang đứng thẳng lên. “Khoảng trưa, cô y tá ở St. Ignace sẽ đến đây, cô ấy sẽ mang những thứ chúng ta cần”.
Ông cảm thấy mình được kính phục nên chuyện trò hân hoan như cánh cầu thủ bóng đá trong phòng thay quần áo sau trận đấu.
“Ca phẫu thuật này là cả công trình khoa học cho tập san y học đó George à”, ông nói. “Mổ tử cung bằng một con dao xếp, khâu chín mũi và nối các dây gân bụng”.
Chú George đang đứng tựa vào tường, nhìn cánh tay mình.
“Ồ hẳn rồi, anh là người vĩ đại”, chú đáp.
“Ta hãy xem qua ông bố tự hào nào. Họ luôn là người chịu đựng ghê gớm nhất trong những chuyện đời thường như thế này”. Bác sĩ nói. “Tôi phải thán phục bởi anh ta khá im lặng khi chịu đựng”.
Ông kéo cái mền khỏi đầu người Da Đỏ. Bàn tay ông ướt đẫm. Ông đứng lên thành giường bên dưới, cầm ngọn đèn rọi xem. Người Da Đỏ nằm quay mặt vào tường, cổ họng anh ta bị cắt từ tai này sang tai kia. Máu chảy thành vũng nơi cơ thể anh ta làm chiếc giường võng xuống. Đầu anh ta gối lên cánh tay trái. Con dạo cạo vẫn mở, nằm dựng lưỡi trên trong mền.
“Đưa Nick ra khỏi lều ngay, George”, bác sĩ nói.
Không cần phải làm điều đó. Đang đứng trong cửa bếp, Nick nhìn rõ cảnh tượng ở giường phía trên khi ba cậu một tay cầm đèn, tay kia xoay đầu người Da Đỏ lại.
Trời đang dần sáng khi họ bước trên con đường chở gỗ quay ra hồ.
“Nick ba rất ân hận vì đã cho con đi theo”, ba cậu nói, tất cả niềm vui sướng sau ca phẫu thuật của ông đã tan biến, “Cảnh tượng ấy quá tồi tệ để con chứng kiến”.
“Đàn bà có thường xuyên sinh con khó như vậy không?” Nick hỏi.
“Không. Đấy là trường hợp cực kỳ hy hữu”.
“Tại sao chú ấy tự sát hả ba?”
“Ba không rõ Nick à. Ba nghĩ hẳn chú ấy không thể chịu đựng nổi mọi chuyện”.
“Có nhiều đàn ông tự sát không hả ba?”
“Không nhiều lắm đâu con, Nick”.
“Thế còn đàn bà?”
“Hầu như chẳng có ai”.
“Chẳng có ai hành động như thế cả sao?”
“À có đấy. Đôi khi họ cũng tự tử”.
“Đúng vậy không ba?”
“Chú George đâu nhỉ?”
“Chú sẽ đuổi kịp bây giờ”.
“Chết có khó không hả ba?”
“Không ba nghĩ là khá dễ đó Nick. Nhưng việc ấy còn tùy”.
Họ ngồi trên thuyền, Nick đằng sau thuyền, ba cậu đang chèo. Mặt trời sắp vượt qua mấy ngọn đồi. Một con cá vượt phóng lên, tạo thành đường tròn gạn trên mặt hồ Nick nhúng tay xuống nước. Mặt nước ấm trong giá lạnh của buổi sớm.
Ngồi đằng sau thuyền với ba đang buông chèo xuống mặt hồ trong buổi sáng sớm hôm ấy, cậu bé đinh ninh rằng mình sẽ chẳng bao giờ chết.

Lê Huy Bắc dịch
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 11:12:26 bởi casau>
Bác sĩ và vợ bác sĩ

Từ trại Da Đỏ, Dick Boulton đến cưa gỗ cho bố Nick. Hắn mang theo con trai Eddy và một người Da Đỏ nữa, tên là Billy Tabeshaw. Chúng băng qua rừng, vào bằng cửa sau. Eddy vác cái cửa xê dài. Cái cưa vắt qua vai, phát lên tiếng nhạc khi nó bước đi. Billy Tabeshaw mang hai cái móc-can lớn. Dick ôm ba cái rìu.
Hắn quay lại gài cổng. Hai đứa kia đi trước, xuống hồ nơi mấy cây gỗ vùi trong cát.
Đấy là mấy cây gỗ lạc từ hàng rào gỗ nổi trên sông mà con tàu Magic kéo từ hồ đến xưởng cưa. Chúng dạt vào bờ và nếu không xử lý kịp thì chẳng mấy nữa thủy thủ đoàn trên tàu Mgagic sẽ chèo thuyền dọc bờ, đánh dấu cây gỗ, đóng cái đinh có khoen sắt vào đầu cây gỗ rồi kéo chúng vào hồ để dựng hàng rào mới. Nhưng có thể cánh thợ ấy chẳng thèm đến kiếm bởi chỉ vài khúc gỗ thì không đáng để phái cả nhóm thủy thủ đi lôi về. Nếu chẳng có ai đến lấy thì chúng sẽ bị để ngấm nước đến mục trên bờ.
Bố Nick đã tiên liệu như thế và điều đó hẳn sẽ xảy ra, rồi ông thuê mấy người Da Đỏ ở trại đến cưa mấy cây gỗ, dùng nêm chẻ thành các loại củi lớn nhỏ cho lò sưởi. Dick Boulton đi vòng quanh ngôi nhà tranh xuống hồ. Có bốn cây gỗ sồi nằm vùi hẳn trong cát. Eddy móc tay cầm của cái cưa lên chạc cây. Dick đặt ba chiếc rìu xuống cụm cây chút chít. Dick là con lai nhưng nhiều nông dân quanh hồ cứ ngỡ hắn là người da trắng. Dẫu rất lười nhưng một khi đã bắt tay vào công việc thì hắn là tay thợ cừ khôi. Hắn móc bánh thuốc lá ra khỏi túi, xé một ít nhai rồi nói với Eddy và Billy
Tabeshaw bằng tiếng Ojibway.
Chúng cắm mũi của hai chiếc móc-can vào một đầu cây gỗ rồi lắc để bẩy nó lên mặt cát. Chúng dồn hết trọng lượng lên cái móc can. Cây gỗ di chuyển trong cát. Dick Boulton quay sang bố Nick.
“Này bác sĩ”, hắn nói, “ông thuổng được mấy cây gỗ tốt đó”.
“Đừng nói thế, Dick”, Bác sĩ nói, “Đấy là gỗ dạt thôi mà”.
Eddy và Billy Tabeshaw bẩy được cây gỗ lên khỏi lớp cát ướt và lăn nó xuống nước.
“Để nó đấy”, Dick Boulton hét.
“Anh làm thế để làm gì?” bác sĩ hỏi.
“Rửa sạch nó. Rửa sạch cát trên vết cưa. Tau muốn biết ai là chủ cây gỗ”, Dick nói.
Cây gỗ được rửa sạch trong hồ. Trong ánh sáng Eddy và Billy Tabeshaw chống cây móc-can đứng, mồ hôi đầm đìa. Dick quỳ gối xuống cát xem xét dấu hiệu đóng vào đầu cây gỗ.
“Nó thuộc về White và McNally”, hắn nói rồi đứng dậy phủi gối quần.
Bác sĩ rất khó chịu.
“Tốt hơn là anh đừng có đếm xỉa đến chuyện đó Dick”, ông nói nhanh.
“Chớ có hợm mình, thưa bác sĩ”, Dick nói. “Đừng ngạo. Tôi chẳng thèm để ý đến việc ông ăn cắp của ai. Đấy không phải là việc của tôi”.
“Nếu mày nghĩ đấy là gỗ ăn cắp thì hãy để chúng đó, cầm lấy dụng cụ quay về trại đi”. Bác sĩ nói. Mặt ông đỏ gay.
“Đừng có nổi nóng như thế, thưa bác sĩ”, Dick nói. Hắn nhỏ nước thuốc lá lên cây gỗ. Nước bọt loang ra, tan trong nước. “Cả ông lẫn tôi đều biết đấy là gỗ ăn cắp. Với tôi thì đúng là thế đấy”.
“Thôi được. Nếu mày nghĩ đó là gỗ ăn cắp thì hãy cầm lấy đồ xéo mau”.
“Thôi nào, bác sĩ”.
“Cầm lấy đồ cút đi”.
“Nghe này, bác sĩ”.
“Nếu mày còn gọi ta là bác sĩ một lần nữa thì tao sẽ đánh gãy răng nanh của mày”.
“Ồ không, ông sẽ không, thưa bác sĩ”.
Dick Boulton nhìn bác sĩ. Dick là gã to con. Hắn biết hắn thuộc loại lớn xác. Hắn thích đánh nhau. Hắn luôn sẵn sàng. Eddy và Billy Tabeshaw chống móc-can nhìn bác sĩ. Bác sĩ cắn cắn mấy sợi râu dưới môi dưới và nhìn Dick Boulton. Sau đấy ông quay người, bước lên đồi về nhà. Nhìn lưng ông, chúng có thể biết được cơn giận dữ của ông lớn đến nhường nào. Cả bọn dõi theo ông bước lên đồi, vào nhà.
Dick nói gì đó bằng tiếng Ojibway. Eddy cười nhưng Billy trông rất căng thẳng. Anh ta không hiểu tiếng Anh nhưng suốt thời gian hai người cãi nhau, anh toát cả mồ hôi. Anh ta béo, râu thưa như người Trung Quốc. Anh nhặt hai cái móc-can, Dick xách mấy cây rìu, còn Eddy lấy cưa từ chạc cây xuống. Chúng bước đi, vòng qua nhà ra cổng sau vào rừng. Dick không khép cổng. Billy Tabeshaw quay lại gài chặt. Chúng đi sâu vào rừng.
Trong nhà, bác sĩ ngồi trên giường trong phòng mình nhìn đống tạp chí y học trên sàn, cạnh bàn làm việc. Chúng hãy còn nguyên trong lớp giấy quấn. Ông đang cáu.
“Mình lại làm việc phải không, mình?” Nằm trong phòng có rèm che kín vợ bác sĩ hỏi.
“Không”.
“Anh cãi nhau với Dick Boulton”.
“Ồ”, vợ ông nói. “Henry, em nghĩ là mình không nổi nóng”.
“Không”, bác sĩ nói.
“Hãy nhớ, người nào chế ngự được bản thân thì còn vĩ đại hơn là khi người đó thống trị cả một thành phố”. Vợ ông nói. Bà là người tin vào liệu pháp Cơ Đốc học. Cuốn Kinh thánh, tờ Khoa học và sức khỏe cùng với tờ Quarterly đang nằm trên bàn, trong bóng tối, cạnh giường bà.
Chồng bà không đáp. Bây giờ ông đang ngồi trên giường, chùi khẩu súng. Ông tháo băng lắp đầy những viên đạn màu vàng và đổ ra. Chúng văng khắp giường.
“Henry này”, vợ ông gọi. Rồi dừng một lát. Henry!”.
“Ừ”, bác sĩ nói.
“Mình không nói điều gì làm Boulton giận phải không?”.
“Không”, bác sĩ đáp.
“Thế thì có chuyện gì rắc rối vậy mình?”.
“Chẳng quan trọng lắm đâu”.
“Kể cho em nghe đi, Henry. Đừng cố giấu em nữa. Chuyện gì vậy?”.
“Hừ, Dick nợ anh rất nhiều tiền trong việc chữa chạy cho vợ hắn khỏi bệnh viêm phổi, anh đoán là hắn cố gây chuyện để không phải làm việc trả nợ”.
Vợ ông im lặng. Bác sĩ dùng mảnh vải chùi súng cẩn thận. Ông nhét đạn vào lại trong rãnh của băng đạn. Ông ngồi với khẩu súng đặt trên đùi. Ông rất quý nó. Rồi ông nghe giọng vợ nói trong phòng tối.
“Mình này, em không nghĩ, em thực sự chẳng thể nào hình đung nổi ai đó lại có thể làm một việc như thế”
“Không thể tin sao?” bác sĩ nói.
“Đúng. Em chẳng thể nào tin được một ai đó lại rắp tâm làm như thế”.
Bác sĩ đứng dậy, dựng cây súng vào góc tường, đằng sau tủ.
“Mình định ra ngoài hay sao?” vợ ông hỏi.
“Anh muốn đi dạo”, bác sĩ nói.
“Nếu mình gặp Nick, em nhờ mình bảo con là em muốn gặp con, được chứ?” vợ ông nói.
Bác sĩ đi ra. Cánh cửa đóng sầm sau lưng ông. Ông nghe vợ thở dài khi cánh cửa dập mạnh.
“Xin lỗi”, ông nói lúc đứng bên ngoài cửa sổ có rèm che nơi phòng vợ.
“Không sao đâu mình”, bà nói.
Ông đi trong làn hơi nóng, ra khỏi cổng rồi men theo lối vào rừng sồi. Trong rừng, không khí mát mẻ ngay cả vào một ngày nóng như thế. Ông thấy Nick ngồi tựa lưng vào thân cây đọc sách.
“Mẹ muốn con về gặp mẹ”, bác sĩ nói.
“Con muốn đi với bố”, Nick nói.
Bố nhìn cậu.
“Thôi được, ta đi nào”, bố cậu nói, “Đưa quyển sách cho bố, bố sẽ đút nó vào túi”.
“Con biết nơi lũ sóc đen ở, bố à”, Nick nói.
“Được rồi”, bố cậu nói, “Ta hãy đến đó”.

Lê Huy Bắc dịch
0
Truyện rất ngắn

Một buổi tối nóng bức ở Padua, họ đưa anh lên sân thượng và anh có thể chiêm ngưỡng tầng cao của thị trấn. Có nhiều ống khói vươn lên bầu trời. Lát sau, trời tối hẳn, đèn cao áp tỏa sáng. Những người khác đi xuống, mang theo chai của mình. Anh và Luz có thể nghe tiếng họ từ ban công bên dưới. Luz ngồi trên giường. Nàng mát và tươi tắn trong buổi tối nóng nực.
Luz trực đêm trong khoảng thời gian ba tháng. Họ rất hạnh phúc khi có nàng nơi ấy. Trước khi các bác sĩ tiến hành phẫu thuật cho anh, nàng làm vệ sinh để đưa anh lên bàn mổ; họ đùa với nhau về những người bạn và dụng cụ thụt, để khi được gây mê, anh không buột miệng nói về những gì đã xảy ra giữa hai người trong khoảng thời gian qua. Lúc sử dụng được nạng, anh thường tự mình đo nhiệt độ, như thể Luz sẽ không phải thức giấc. Chỉ có vài bệnh nhân, và tất cả bọn họ đều biết chuyện đó. Họ quý Luz. Khi anh quay trở lại dọc theo hành lang, anh nghĩ tới Luz ở trên giường của mình.
Trước lúc anh trở lại chiến tuyến, hai người đến Duomo cầu nguyện. Nhà thờ mờ mờ tối, yên tĩnh, một số người khác cũng đang cầu nguyện. Họ muốn tổ chức đám cưới, nhưng không có đủ thời gian để tiến hành hôn lễ ở nhà thờ, và cả hai chẳng ai có chứng minh thư. Họ cảm nhận như thể đã cưới nhau, họ muốn mọi người biết điều đó, nhưng nếu làm đám cưới, thì họ sẽ để mất khoảng thời gian hạnh phúc ngắn ngủi còn lại bên nhau.
Luz viết cho anh rất nhiều thư. Những bức thư anh chẳng hề nhận được mãi cho đến sau ngày đình chiến. Mười lăm lá được cuộn thành một bó gởi ra mặt trận. Anh xếp chúng tại theo trật tự ngày tháng và đọc một mạch cho đến hết. Các bức thư kể về bệnh viện, về tình yêu vô bờ nàng dành cho anh, rằng nàng sẽ không sống nổi nếu không có anh và nỗi kinh hoàng của nàng khi lạc mất anh trong đêm tối.
Sau khi hòa bình lập lại, cả hai đồng ý anh sẽ về quê kiếm việc rồi sau đó hai người cưới nhau. Luz sẽ không trở về quê cho đến khi anh tìm được công việc ổn định rồi quay lại New York đón nàng. Người ta biết anh chẳng rượu chè, chẳng muốn gặp bạn bè hoặc bất kỳ ai ở Mỹ, duy chỉ lao đầu đi tìm việc và chuẩn bị đám cưới. Trên chuyến tàu từ Padua đến Milan họ cãi nhau vì nàng không muốn quay về quê ngay lập tức. Khi chia tay ở sân ga Milan, hai người hôn nhau nhưng nỗi bất hòa vẫn chưa chấm dứt. Anh cảm thấy rất buồn khi phải chia tay như thế.
Anh về Mỹ trên chiếc thuyền từ Genoa. Luz quay trở lại Dordonone để lập bệnh viện. Đất trời hoang vu và mưa nhiều nơi đó. Có một tiểu đoàn đang đóng ở thị trấn, sống trong thị trấn đầy bùn và không ngớt mưa, viên thiếu tá của tiểu đoàn đã làm tình với Luz. Còn nàng thì chưa hề quen một người Italy nào từ trước và cuối cùng nàng viết về Mỹ để nói rằng chuyện tình giữa họ chỉ là tình cảm của cô bé mới lớn và một chú nhóc mà thôi. Nàng lấy làm tiếc và biết chàng sẽ chẳng bao giờ thấu hiểu, nhưng có thể một ngày nào đó chàng sẽ tha thứ, sẽ biết ơn nàng và nàng hy vọng, dẫu chẳng chắc chắn lắm rằng viên thiếu tá sẽ cưới nàng vào mùa xuân. Nàng vẫn còn yêu chàng như xưa, nhưng bây giờ nàng biết đấy chỉ là kiểu tình cảm trẻ con. Nàng cầu mong chàng kiếm được việc làm tốt, và hoàn toàn tin tường ở nghị lực của chàng. Nàng biết đấy là cách giải quyết tốt nhất.
Viên thiếu tá đã không cưới nàng vào mùa xuân hay bất kỳ lúc nào khác. Luz chẳng bao giờ nhận được thư hồi âm, trả lời về vấn đề đó từ Chicago. Chỉ thời gian ngắn sau, anh đã mắc bệnh hoa liễu từ một cô gái bán hàng ở chi nhánh bách hóa trong lúc đang đi tắc xi qua Công viên Lincoln.

Lê Huy Bắc dịch
0
Nhà cách mạng

Năm 1919, trên hành trình bằng xe lửa ở Italy, anh mang theo mảnh giấy dầu của trung ương đảng được viết bằng loại bút chì không thể tẩy với dòng chữ xác nhận đồng chí mang giấy này đã từng bị bọn Trắng ở Budapest tra tấn nặng và đề nghị các đảng viên phải tìm mọi cách giúp đỡ anh. Anh sử dụng giấy ấy thay cho vé tàu. Anh hãy còn trẻ và hay xấu hổ, các đồng chí làm việc trong ngành đường sắt đã gởi anh từ nhóm nhân viên này qua nhóm nhân viên khác. Anh không có tiền, họ mời anh ăn ở phía sau quầy trong các căng tin của nhà ga.
Anh thích Italy. Anh nói, đấy là một đất nước xinh đẹp. Mọi người lại tử tế. Anh đã từng ở nhiều thành phố, đã đi bộ nhiều và đã xem rất nhiều tranh.
Anh mua bản sao tranh của Giotto, Masaccio, Piero della Francesca rồi quấn chúng trong tờ báo Avanti để mang đi. Anh không thích Mantegna.
Anh báo cáo ở Bologna, rồi tôi đưa anh đến Romagna nơi tôi cần phải đến để gặp một người. Chúng tôi có một chuyến đi vui vẻ. Khi ấy mới đầu tháng chín, cả vùng đất thật dễ chịu. Anh là người Magyar (tộc người chính ở Hungary) rất dễ thương và dễ xấu hổ. Những người Horthy đã đối xử tệ với anh. Anh ít nói về chuyện ấy. Không chỉ riêng ở Hungary, anh còn tin tưởng về một cuộc cách mạng toàn cầu.
- Thế phong trào ở Italy bây giờ đang tiến triển ra sao? - Anh hỏi.
- Rất yếu. - Tôi đáp.
- Nhưng rồi nó sẽ khá hơn - Anh nói - Ở đây các anh có mọi thứ. Đây là một quốc gia mà tất cả quần chúng rất đáng tin cậy. Đây sẽ là điều kiện để khởi đầu mọi việc.
Tôi không nói gì cả.
Đến Bologna, anh tạm biệt chúng tôi, đáp tàu lửa đến Milano, đến Aosta rồi đi bộ vượt đèo sang Thụy Sĩ. Ở Milano, tôi nói với anh về những người Mantegna.
- Không. - Anh nói với vẻ rất xấu hổ, anh không thích Mantegna. Tôi ghi cho anh địa chỉ để ăn và địa chỉ của các đồng chí ở Milano. Anh cảm ơn tôi rất nhiều, nhưng tâm trí của anh đang mải suy nghĩ về chuyến vượt đèo. Anh tỏ ý rất hăm hở được đi bộ qua đèo trong lúc thời tiết hãy còn tốt. Anh yêu những ngọn núi mùa thu. Tin cuối cùng tôi nghe về anh là người Thụy Sĩ đã giam anh vào tù đâu đó gần Sion.

Lê Huy Bắc dịch
0
Trượt tuyết việt dã

Toa xe do cáp kéo giật thêm lần nữa rồi dừng lại. Chẳng thể đi thêm bởi tuyết rơi nghẽn đường. Cơn gió mạnh tràn qua đỉnh núi đã quét tuyết trải thành một vùng trắng bao la. Bôi xong sáp cho đôi giày trượt trong toa hành lý, Nick đút giày vào ngàm, khóa chặt. Cậu nhảy từ hông xe xuống mặt tuyết cứng, xoay người, cúi mình, rê gậy, trượt nhanh xuống sườn dốc.
Bên dưới, trên mặt tuyết, George lượn xuống, lượn lên rồi lượn xuống khuất khỏi tầm mắt. Cứ lao nhanh và sà xuống khuất khỏi tầm mắt. Cú lao nhanh và sà xuống đột ngột khi lao xuống sườn núi dốc lượng sóng đã làm Nick đê mê với cảm giác bay bổng diệu kỳ. Cậu lượn lên và dưới chân, tuyết dường như bong ra khi cậu lao xuống, lao xuống, nhanh hơn, nhanh hơn nữa trong cơn lốc xuống bờ dốc dài cuối cùng. Người cúi thấp, cậu gần như ngồi dựa vào thanh trượt, cố giữ trọng lượng cơ thể sát mặt tuyết, tuyết bắn lên tựa cơn bão cát. Cậu biết rõ tốc độ trượt. Cậu kìm lại. Cậu không để bị cuốn đi và ngã nhào. Nhưng rồi, máng tuyết mềm, bị gió khoét võng xuống đã làm cậu ngã lăn quay, trông như thể một chú thỏ bị hạ, rồi chững lại, các thanh trượt va vào nhau, chân mắc tréo, thanh trượt dựng thẳng lên, mũi và tai cậu dính đầy tuyết.
Goerge đứng khá xa dưới dốc, đập mạnh tay phủi tuyết bám trên áo gió.
“Cậu biểu diễn đẹp đấy, Mike” nó nói với Nick. “Cái chỗ tuyết mềm ăn hại ấy. Nó cũng khiến mình lộn nhào như thế”.
“Cú trượt có giống như khi ta vượt qua hố không?” Nick xoay lại thanh trượt khi còn nắm ngửa rồi đứng dậy.
“Cậu phải nghiêng về phía bên trái, thanh trượt lao nhanh, rất êm rồi sẽ lượn lên khi xuống đến đáy hố”.
“Thử xem nào, ta cùng trượt đi”.
“Không cậu hãy trượt trước. Mình thích xem cậu trượt”.
Nick Adams vượt qua George, tấm lưng rộng và đầu tóc màu hạt dẻ hãy còn bám đầy tuyết, khi thanh trượt của cậu chạm mép hố, cậu lao xuống, thanh trượt miết trên lớp tuyết trắng như pha lê rồi cơ thể dường như dềnh lên dềnh xuống khi cậu lướt theo bề mặt lượn sóng. Cậu dồn trọng lượng về phía bên trái, kẹp cứng đầu gối vào nhau lúc lao gần sát hàng rào để thực hiện cú xoay người, như thể động tác siết một cái bù loong, quay ngoắt thanh trượt sang bên phải trong đám bụi tuyết rồi giảm tốc độ khi trượt lên sườn đồi song song với hàng rào.
Cậu quay lại nhìn. George đang trượt telemark xuống, đầu gối cong lại, một chân hơi gập đưa tới trước, chân kia rê sát, hai cây gậy chống xuống nom như thể mớ chân lòng khòng của loài côn trùng nào đó; khi chạm mặt tuyết chúng làm bông tuyết tung mịt mù, rồi cuối cùng toàn bộ tư thế hạ thấp lao xuống ấy kết thúc bằng cú xoay nhanh qua bên phải thật ngoạn mục, hạ thấp người, chân đẩy tới đẩy lui, người nghiêng tới để giữ thăng bằng, hai cây gậy ấn mạnh để đổi hướng tựa hai điểm phát sáng, tất cả chìm trong đám mây tuyết mịt mù.
“Mình sợ cú xoay người”, George nói, “Tuyết dày quá. Cậu thực hiện cú xoay thực tuyệt vời”.
“Mình không thể choãi chân trượt telemark được”, Nick nói.
Nick dùng thanh trượt ấn hàng rào dây thép xuống để George trượt qua. Nick bám theo xuống đường. Hai đứa trượt dọc con đường qua rừng thông. Con đường là cả mặt băng bóng loáng điểm màu da cam và màu vàng thuốc lá do đội kéo gỗ để lại. Những người trượt tuyết đã mở rộng lối trượt ra cả lề đường. Con đường dốc thẳng xuống suối rồi chạy lên đồi. Nhìn qua rừng cây, chúng có thể thấy tòa nhà dài, cũ kỹ, mái thấp chìa ra. Qua tán lá, ngôi nhà ánh lên màu vàng nhợt nhạt. Nick đưa gậy tháo khóa buộc giày và rút chân khỏi thanh trượt.
“Bọn ta chỉ có thể trượt đến đây”, cậu nói.
Khoác thanh trượt lên vai, Nick đặt chân vào những bậc để chân trên con đường dốc đóng băng, leo lên. Hai đứa dựng thanh trượt tựa vào tường quán rượu, giúp nhau phủi tuyết bám trên quần, giậm chân giũ sạch giày rồi bước vào.
Bên trong hơi tối. Cái lò bằng sứ sáng rực trong góc phòng. Trần nhà thấp. Những chiếc ghế dài mềm mại kê dọc theo bốn phía tường đằng sau mấy cái bàn đen sẫm, ố rượu vang.
Hai người Thụy Sĩ ngồi trên hai thùng rượu và nhâm nhi hai cốc rượu vang vừa cất thơm lừng bên bếp lò. Hai đứa cởi áo khoác, ngồi tựa lưng vào tường phía bên kia bếp. Giọng hát ở phòng bên cạnh ngừng lại, một cô gái vận tạp đề màu xanh bước qua cửa hỏi xem các cậu muốn dùng gì.
“Cho một chai Sion”, Nick nói. “Được chứ, George?”.
“Được đấy”, George đáp. “Cậu rành rượu vang hơn mình. Mình uống loại nào cũng được”.
Cô gái đi ra.
“Chẳng cái gì có thể sánh bằng trượt tuyết, phải không?” Nick nói, “Cái cảm giác nó tạo ra qua giấc ngủ đầu tiên sau khi trượt suốt cả khoảng đường dài ấy”.
“Đúng vậy”, George nói. “Thật dễ chịu khi nói về cảm giác đó”.
Cô gái mang rượu vào, chúng loay hoay với cái nút chai. Cuối cùng Nick mở được. Cô gái đi ra và chúng nghe cô hát bằng tiếng Đức ở phòng bên.
“Một tí nút chai còn sót lại chẳng sao đâu?”, Nick nói.
“Mình không biết cô ta có bánh không nhỉ?”
“Thử hỏi xem”.
Cô gái bước vào. Nick thấy chiếc tạp dề nhô lên trên cái bụng mang thai. Mình phân vân tại sao không nhận ra điều này khi cô ta mới bước vào, cậu nghĩ.
“Chị đang hát bài gì đấy”, cậu hỏi cô ta.
“Opera, opera Đức”. Cô ta không muốn nói rõ tên bài hát.
“Chúng tôi có một ít bánh nhân táo nếu các cậu muốn dùng”.
“Cô ta bực mình, có phải không?” George hỏi.
“Ừ đúng đấy. Cô ấy không hiểu chúng ta, hẳn cô ấy nghĩ bọn ta định trêu cô về bài hát ấy. Cô ấy hẳn sinh trưởng trong vùng nói tiếng Đức, cô ấy chắc chẳng vui vẻ khi lên đây và rồi hẳn càng bực bội hơn khi mang thai mà chưa kết hôn”.
“Làm thế nào mà cậu biết cô ta chưa kết hôn?”
“Không có nhẫn cưới. Trời đất, quanh vùng này chẳng có cô gái nào chịu cưới trước khi chưa mang thai”.
Cánh cửa mở ra, một toán thợ cưa từ ngoài đường bước vào, giẫm chân giũ giày, hơi nước tỏa khắp phòng. Cô bán hàng mang ba lít rượu vang mới ra cho họ, cả toán ngồi vào hai cái bàn, đầu không đội mũ, lưng tựa vào tường hay cúi người về phía trước, lặng lẽ hút thuốc. Bên ngoài, mấy con ngựa kéo xe chở gỗ thỉnh thoảng phát ra tiếng chuông khi lắc đầu.
George và Nick vui lắm. Hai đứa rất quý nhau. Chúng biết chúng sắp sửa quay về nhà.
“Khi nào cậu lại đến trường?” Nick hỏi.
“Tối nay”, George đáp. “Mình đã phải đứng thứ mười trên bốn mươi ở Montreux”.
“Mình ước giá mà cậu có thể ở lại để ngày mai bọn mình đến Dent du Lys”.
“Mình phải đi học”, George nói. “Mà này, Mike, sao cậu không ước bọn mình có thể đi lang thang cùng nhau? Này nhé, mang thanh trượt, lên tàu đến nơi có đường trượt tốt, rồi tiếp tục, tạt vào quán rượu, đi qua Oberland, đến Valais, tới Engadine rồi chữa dụng cụ, mua thêm áo lót và pyjama nhét vào túi mà chẳng màng quái gì đến trường học hay những thứ tương tự”.
“Được đấy, rồi theo đường ấy qua Schwarzwald. Chà, những chỗ tốt lành”.
“Đấy là nơi cậu đã đến câu cá và vào mùa hè năm ngoái phải không?”
“Phải”.
Chúng ngồi ăn bánh và uống nốt chỗ rượu vang còn lại.
George tựa lưng vào tường, nhắm mắt lại.
“Rượu luôn khiến mình có cảm giác này”, cậu nói.
“Có mệt không”, Nick hỏi.
“Không. Mình thấy hưng phấn, nhưng buồn cười”.
“Mình hiểu”, Nick nói.
“Dĩ nhiên”, George nói.
“Ta gọi thêm chai nữa nhé!” Nick hỏi.
“Mình không uống nữa đâu”.
Chúng ngồi yên, Nick chống cùi tay lên bàn, George ngả lưng tưa vào tường. “Helen sắp sinh cháu à?” George hỏi lúc rời tường nghiêng về phía bàn.
“Ừ”.
“Khi nào?”.
“Cuối hè tới”.
“Cậu vui chứ?”.
“Ừ. Vào lúc này”.
“Cậu sẽ trở về Mỹ hả?”
“Mình tính thế”.
“Cậu có muốn có?”.
“Không”.
“Thế còn Helen?”
“Không”.
George ngồi lặng im, nhìn cái chai rỗng và mấy cái ly đã cạn. “Tệ quá, đúng không?” George hỏi.
“Không hẳn thế” Nick nói.
“Tại sao không?”
“Mình không biết”, Nick nói.
“Các cậu dự định sẽ cùng nhau trượt tuyết ở Mỹ chứ?” George
“Mình chưa chắc lắm”, Nick nói.
“Núi không nhiều”, George nói.
“Ừ”, Nick nói. “Núi nhiều đá lắm. Vả lại có quá nhiều cây cối và ở quá xa”.
“Ừ”, Nick nói, “California cũng có kiểu núi ấy”.
“Đúng đó”, Nick nói, “Mình đến nơi nào cũng thấy kiểu núi ấy”.
“Ừ”, George nói, Ừnúi như thể ở mọi nơi”.
Hai người Thụy Sĩ đứng dậy trả tiền rồi bước ra.
“Mình ước bọn mình là người Thụy Sĩ”, George nói.
“Họ đều bị bướu cổ”, Nick nói.
“Mình chẳng tin”, George nói.
“Mình cũng không tin”, Nick nói.
Chúng cười.
“Có lẽ bọn mình sẽ chẳng bao giờ trượt tuyết nữa Nick”, George nói.
“Bọn mình phải đi chứ”, Nick nói. “Nếu cậu không đi thì cuộc đời còn có ý nghĩa gì?”
“Đúng đấy, bọn ta sẽ phải đi”, George nói.
“Bọn ta phải đi”, Nick tán thành.
“Mình muốn hai đứa hứa với nhau về chuyện này”, George nói.
Nick đứng dậy. Cậu gài chặt chiếc áo jacket đi gió, cúi chồm qua người George lấy hai cây gậy trượt dựng tựa vào tường. Cậu cắm một cây xuống sàn nhà.
“Hứa hẹn cũng chẳng ích gì”, cậu nói.
Chúng mở cửa bước ra. Trời rất lạnh. Tuyết rơi nhiều. Con đường chạy lên ngọn đồi vào rừng thông.
Chúng nhặt mấy thanh trượt dựng tựa vào tường quán rượu. Nick đi găng. George đã sẵn sàng để lên đường, thanh trượt khoác trên vai. Bây giờ hai đứa sẽ cùng nhau về nhà.

Lê Huy Bắc dịch
0
Kết thúc một vấn đề

Dạo ấy, Hortons Bay là thị trấn buôn bán gỗ. Chẳng một ai trong thị trấn thoát khỏi âm thanh của mấy cái cưa lớn trong xưởng bên bờ hồ. Rồi thì năm nọ, không còn gỗ để cưa nữa. Mấy chiếc tàu chở gỗ vào vịnh, những đống gỗ trong sân xưởng cưa được xếp lên, chở đi. Xưởng cưa lớn cùng với tất cả máy móc, có thể tháo lắp, được tháo ra và cánh công nhân nhà máy đã bốc lên boong của một trong số những con tàu. Chiếc tàu rời khỏi vịnh tiến về phía lòng hồ mang theo hai cái cưa đồ sộ, cần di chuyển đưa gỗ vào trục quay, mấy lưỡi cưa tròn và cả mớ con lăn, bánh xe, dây đai và ngàm sắt chất lên đống gỗ trong tàu. Boong tàu được phủ bạt và chằng dây chặt, buồm tàu no gió rồi con tàu di chuyển về phía lòng hồ, chở theo những thứ đã chứng tỏ Nhà máy là một nhà máy cưa và Hortons Bay là một thị trấn.
Mấy ngôi nhà thấp một tầng, nhà ăn, nhà kho, văn phòng và cả Nhà máy cưa lớn đứng rải rác trên diện tích nhiều hecta phủ đầy mùn cưa đã bị đồng cỏ của đầm lầy cạnh bờ vịnh xâm lấn.
Mười năm sau, xưởng cửa chẳng còn gì ngoại trừ những tảng đá vôi trắng xây móng đã vỡ nhô lên trên lớp thực vật tái sinh của đầm lầy lúc Nick và Marjorie chèo dọc theo bờ. Chúng đang men theo rìa bờ kênh nơi đáy sụt sâu xuống từ lòng cát nông đến bốn mét nước tối sẫm. Hai đứa đang trên đường đến mỏm đất để đặt cần câu cá hồi cầu vồng buổi tối.
“Tàn tích cũ của chúng ta kia kìa, Nick”, Marjorie nói.
Đang chèo, Nick nhìn phiến đá màu trắng trong đám cây xanh.
“Nó kia rồi”, cậu nói.
“Anh có nhớ đấy là nhà máy cưa không”, Marjorie hỏi.
“Anh vừa chợt nhớ”, Nick đáp.
“Trông nó rất giống một tòa lâu đài”, Marjorie nói. Nick không nói. Chúng chèo khuất khỏi xưởng cưa men theo bờ. Lát sau Nick rẻ băng qua vịnh.
“Chúng sẽ không đớp đâu”, cậu nói.
“Có chứ”, Marjorie đáp. Cô chú ý cái cần câu trong lúc hai đứa chèo, thậm chí ngay cả khi cô nói. Cô thích câu cá. Cô thích đi câu cùng Nick.
Ngay cạnh thuyền, một con cá hồi lớn xé toang mặt nước. Nick đẩy mạnh mái chèo để con thuyền xoay lại hất mồi ra phía sau, đến nơi con cá đang kiếm mồi. Lúc con cá lại tung mình lên khỏi mặt nước, lũ cá tuế nhảy loạn xạ. Chúng đáp xuống như thể một nắm đạn được rải xuống nước. Một con cá hồi khác nhảy lên, nó đang kiếm mồi phía bên kia thuyền.
“Chúng đang kiếm mồi”, Marjorie nói.
“Nhưng chúng không cắn câu đâu”, Nick nói.
Cậu chèo xoay thuyền để cần câu hướng qua phía hai con cá đang tìm mồi, rồi hướng mũi thuyền về phía mỏm đất. Marjorie không thâu dây cho đến lúc con thuyền cặp bờ.
Chúng kéo thuyền lên bờ, Nick nhấc xô đựng cá pecca ra. Lũ cá bơi trong xô. Nick thò tay bắt ba con, ngắt đầu, lột da chúng trong lúc Marjorie đưa tay đuổi theo mấy con trong xô, rốt cuộc cô tóm được một con, rồi cắt đầu lột da nó. Nick nhìn con cá của cô.
“Em đừng nên cắt vây bụng”, cậu nói. “Bỏ vây cũng chẳng sao nhưng để vây thì miếng mồi hấp dẫn hơn” Cậu móc lưỡi câu xuyên ra đuôi con cá pecca. Mỗi cần câu có hai lưỡi đính dưới thỏi chì. Rồi Marjorie chèo thuyền về phía bờ lở, cắn dây câu trong miệng, mắt nhìn về phía Nick đang đứng trên bờ cầm cần để dây câu chạy ra khỏi guồng.
“Được rồi đấy”, cậu gọi.
“Em thả xuống nhé?” Marjorie hỏi lại trong lúc cầm dây câu trong tay.
“Được rồi. Thả đi”. Marjorie buông dây qua mạn thuyền và xem con mồi chìm xuống nước.
Cô chèo thuyền vào rồi buông mồi theo cách tương tự. Mỗi lần thả mồi xong, Nick chận một khúc gỗ dạt qua cán cần câu để giữ cho chắc và dựng nó tạo thành góc nhọn với phiến gỗ nhỏ ở bên dưới. Cậu buông chùng dây để dây chạy thẳng đến nơi con mồi nằm trên đáy cát của bờ lở và đính cái ngàm vào trục quay. Khi một con cá hồi, ăn dưới đáy, đớp mồi thì sợi dây sẽ chạy theo nó, kéo thêm số dây trong trục và khiến guồng quay phát ra tiếng lách cách nhờ cái ngàm.
Marjorie chèo lên phía trước cách mỏm đất một đoạn để không làm rối dây. Cô hất mạnh mái chèo, con thuyền lao trượt lên bờ. Những đợt sóng nhỏ tràn theo. Marjorie bước khỏi thuyền và Nick kéo cao thuyền lên bờ.
“Có chuyện gì vậy hả Nick?” Marjorie hỏi.
“Anh không biết?” Nick đáp lúc kiếm củi nhóm lửa. Chúng nhóm lửa bằng củi dạt. Marjorie đến thuyền mang ra cái mền. Làn gió đêm nhẹ nhàng thổi khói bay về phía mỏm đất, vì thế Marjorie trải cái mền ra giũa đống lửa và hồ.
Cô ngồi trên mền, lưng quay về phía ngọn lửa và đợi Nick. Cậu đến ngồi cạnh cô trên mền. Sau lưng họ là rừng cây tái sinh mọc san sát trên mỏm đất và phía trước là con vịnh với cửa sông Hortons. Trời không tối lắm. Ánh lửa chiếu xa trên mặt nước. Cả hai có thể nhìn thấy hai cần câu thép tạo thành góc nhọn trên mặt nước đen sẫm. Ánh lửa lấp lánh trong guồng.
Marjorie mở gói đồ ăn tối.
“Anh không cảm thấy thích ăn”, Nick nói.
“Thôi nào, ăn đi, Nick”.
“Thì ăn”.
Khi ăn, chúng không nói mà chỉ quan sát hai cần câu và nhìn ánh lửa lên mặt nước.
“Tối nay sẽ có trăng”, Nick nói. Cậu nhìn qua vịnh, về phía những ngọn đồi bắt đầu in hình trên nền trời. Bên kia rặng đồi, cậu biết mặt trăng đang lên.
“Em biết”, Marjorie hạnh phúc nói.
“Em biết mọi thứ”, Nick nói.
“Nick, xin anh đừng nói nữa! Xin anh, xin anh đừng nói theo kiểu ấy!”.
“Anh không thể kiềm chế”, Nick nói. “Em biết, Em biết mọi thứ. Rắc rối là ở đấy. Em biết em biết”.
Marjorie không nói lời nào.
“Anh đã dạy em mọi thứ. Em biết em biết. Còn gì em không biết nữa nào?”
“Ôi, đừng nói nữa”, Marjorie nói. “Trăng lên rồi kìa”.
Chúng ngồi xa nhau trên mền, nhìn trăng mọc.
“Anh đừng nói ngớ ngẩn như thế”, Marjorie nói. “Thực ra có chuyện gì cơ chứ?”
“Anh không biết”.
“Chắc chắn anh biết”.
“Không anh không biết”.
“Thôi nào, nói đi”.
Nick nhìn mặt trăng đang vượt qua rặng đồi.
“Chẳng còn vui vẻ gì nữa”.
Cậu không dám nhìn Marjorie. Lát sau cậu nhìn cô. Cô ngồi quay lưng lại cậu. Cậu nhìn lưng cô. “Chẳng còn vui vẻ gì nữa. Chẳng còn tí nào”.
Cô không nói một lời. Cậu tiếp tục. “Anh cảm thấy như thể mọi thứ đã trở nên tồi tệ trong anh. Anh không hiểu, Marjorie à. Anh không biết phải nói gì”. Cậu nhìn lưng cô.
“Tình yêu không còn hấp dẫn nữa ư?” Marjorie hỏi.
“Không”, Nick đáp. Marjorie đứng dậy. Nick ngồi im, hai tay ôm đầu.
“Em sẽ lấy thuyền đi”. Marjorie bảo cậu. “Anh có thể đi vòng qua mỏm đất để về”.
“Cũng được”, Nick nói. “Để anh đẩy thuyền ra cho em”.
“Chẳng cần đâu”, cô nói. Cô bồng bềnh cùng con thuyền trên mặt nước trong ánh trăng. Nick quay lại, nằm úp xuống mền bên đống lửa. Cậu có thể nghe thấy tiếng Marjorie khua chèo trên mặt nước.
Cậu nằm im hồi lâu. Cậu nằm nghe tiếng chân Bill bước trên con đường sạch sẽ vắt qua rừng. Cậu cảm thấy Bill đến gần đống lửa. Bill cũng không đụng vào người cậu.
“Nàng đã đi rồi sao?” Bill hỏi.
“Đi rồi”, đang nằm vùi trong mền, Nick đáp.
“Cãi nhau phải không”.
“Không. Chẳng cãi vã gì đâu”.
“Cậu cảm thấy thế nào”.
“Ồ, Bill, đi đi! Cậu hãy đi một lát đi”.
Bill lấy chiếc bánh sandwich từ túi đồ ăn trưa rồi bước đến nhìn mấy cái cân câu.

Lê Huy Bắc dịch
0
Cơn gió ba ngày

Mưa ngớt khi Nick rẽ xuống con đường chạy qua vườn cây. Trái cây đã được hái, gió mùa thu đang thổi qua vườn cây trụi lá. Nick dừng lại, cúi nhặt một quả táo Wagner, da ánh lên sau cơn mưa trong đám cỏ úa bên cạnh đường. Cậu đút quả táo vào túi áo khoác Mackinaw.
Con đường rời khỏi vườn cây chạy lên đỉnh đồi. Có một ngôi nhà tranh, một cánh cửa xác xơ, khói lan ra từ ống khói. Đằng sau là gara, Chuồng gà và rừng cây tái sinh trông như thể cái hàng rào ép sát vào cụm rừng ở đằng sau. Khi cậu nhìn, rừng cây rậm rạp ngả nghiêng theo chiều gió. Cơn bão thu đầu tiên.
Lúc Nick đi qua vạt đất trống phía trên vườn cây, cửa ngôi nhà mở, Bill bước ra. Nó đứng trên ngưỡng cửa nhìn xuống.
“Chào Wemedge”, nó nói.
“Chào Bill”, Nick nói lúc bước lên bậc thềm.
Chúng đứng cạnh nhau, nhìn ra vùng quê, nhìn xuống vườn cây, nhìn qua bên kia con đường, qua cánh đồng thấp hơn, qua rừng cây mọc trên mỏm đất trong hồ. Gió đang thổi thẳng xuống hồ. Chúng có thể thấy những tấm ván trượt dọc theo mỏm Ten Mile.
“Trời đang gió”, Nick nói.
“Sẽ gió như thế này trong vòng ba ngày”, Bill nói.
“Ba cậu có ở trong nhà không?” Nick hỏi.
“Không. Ba mang súng ra ngoài. Vào nhà đi”.
Nick đi vào nhà. Ngọn lửa rừng rực cháy trong lò sưởi. Gió làm lửa reo. Bill đóng cửa.
“Uống tí chứ?” nó hỏi.
Nó vào bếp mang ra hai cái ly và bình nước. Nick với tay lấy chai whisky từ giá trên lò sưởi.
“Ổn cả chứ?” cậu hỏi.
“Ổn”, Bill đáp.
Chúng ngồi trước lò sưởi, uống Whisky AiLen pha nước.
“Rượu ngon thật, nhưng có vị khói”, Nick nói lúc nhìn qua cái ly vào bếp lửa.
“Mùi than bùn đấy”, Bill nói.
“Người ta chẳng thể cho than bùn vào rượu”, Nick nói.
“Thì cũng chẳng có gì khác đâu”, Bill nói.
“Cậu đã thấy than bùn chưa?” Nick hỏi.
“Chưa”, Bill đáp.
“Mình cũng thế”, Nick nói.
Đôi giày của Nick, duỗi trên bệ lò sưởi, bắt đầu tỏa hơi trước ngọn lửa.
“Tốt hơn cậu nên cởi giày ra”, Bill nói.
“Mình không mang tất”.
“Cởi ra, hong khô trong lúc mình đi kiếm cho cậu một đôi”, Bill nói. Nó lên cầu thang vào gác xép, Nick nghe tiếng bước chân trên đầu. Tầng sát mái bên trên là nơi Bill, ba nó và cậu - Nick, thỉnh thoảng vẫn ngủ. Đằng sau là buồng thay đồ. Chúng đã kéo mấy cái giường nhỏ khỏi chỗ mưa giọt và che chúng bằng tấm bạt cao su.
Bill cầm đôi tất len dày bước xuống.
“Đã đến lúc cậu mang tất khi ra ngoài rồi đó”, nó nói.
“Mình ghét khi mang tất trở lại”, Nick nói. Cậu xỏ tất vào, rụt người tựa lưng vào ghế và đặt chân lên tấm kính trước lò sưởi.
“Cậu sẽ làm kính vỡ đấy”, Bill nói. Nick nhấc chân qua phía bên kia lò sưởi.
“Có gì đọc không” cậu hỏi.
“Chỉ có báo”.
“Đội Card chơi thế nào?”
“Thua một quả đánh đầu trước đội Gian”.
“Kết qủa này khiến họ nên chấn chỉnh lại”.
“Dễ ợt”, Bill nói. “Nếu McGraw có thể mua hết các cầu thủ giỏi trong làng bóng thì chẳng còn gì để nói”.
“Ông ta không thể mua hết họ được”, Nick nói.
“Ông ta có thể mua tất cả những ai ông ta muốn”, Bill nói. “Hoặc ông ta làm họ bất mãn như thế người ta phải nhượng họ cho ông”.
“Giống như Heinie Zim”, Nick đồng ý.
“Cái đồ đần ấy sẽ làm cho ông ta nhiều việc tốt đấy”.
Bill đứng dậy.
“Hắn cũng là người chặn bóng giỏi trong môn crikê”, Bill nói. “Nhưng lại kém về môn bóng”.
“Có thể đấy là điều mà McGraw muốn từ bỏ hắn”, Nick nói. “Dĩ nhiên, nhưng đến nay chúng ta đã có nhiều dự đoán khá chính xác về mọi thứ”.
“Như lối đánh bạc: khi không thấy lũ ngựa thì người ta có thể chọn chúng tốt hơn”.
“Thế đấy”.
Bill với lấy chai whisky. Bàn tay to bè của nó xoay quanh chai. Nó rót rượu vào cái ly Nick đưa ra.
“Chừng nào nước đây”?
“Bằng rượu”.
Nó ngồi xuống sàn nhà bên cạnh ghế Nick.
“Thật dễ chịu khi bão mùa thu đến, có phải không?” Nick nói. “Rất tuyệt”.
“Đây là khoảng thời gian đẹp nhất trong năm”, Nick nói.
“Sống ở thị trấn không quá tồi chứ?” Bill hỏi.
“Mình thích xem đoàn World Sens”, Nick nói.
“Ừ, bây giờ họ ở New York hoặc Philadelphia”, Bill nói. “Điều ấy cũng chẳng có lợi gì cho ta cả”.
“Mình không rõ liệu Card có đoạt danh hiệu vô địch không?”
“Không được trong thời chúng ta đâu”, Bill nói.
“Ừ, họ hẳn sẽ phát điên lên mất”, Nick nói.
“Cậu có nhớ một lần khi sắp đoạt danh hiệu ấy thì họ gặp sự cố xe lửa không?”.
“Thật đáng tiếc!” Nick nói khi đang nhớ lại.
Bill đưa tay về phía bàn, dưới cửa sổ lấy cuốn sách nằm úp mặt nơi nó để xuống trước khi ra mở cửa. Một tay nó cầm ly, tay kia cầm cuốn sách, rồi dựa lưng vào ghế của Nick.
“Cậu đang đọc gì đó?”.
“Richard Feverel .
“Mình chẳng thể đọc nổi”.
“Không sao”. Bill nói. “Nhưng cuốn sách không tồi mà Wemedge”.
“Cậu còn cuốn nào mình chưa đọc không?” Nick hỏi.
“Cậu đã đọc Đôi tình nhân trong rừng chưa?”
“Chà. Đấy là nơi mỗi tối khi đi ngủ họ đặt thanh gươm tuốt trần ở giữa”.
“Cuốn sách hấp dẫn đó Wemedge”.
“Đấy là cuốn sách hay. Nhưng mình chẳng thể nào hiểu được thanh gươm đặt như thế phỏng có tác dụng gì. Nó phải dựng lưỡi lên suốt đêm bởi vì nếu có nằm bẹp xuống thì người ta có thể lăn qua mà chẳng hề gặp rắc rối”.
“Nó mang tính biểu tượng”, Bill nói.
“Đúng”, Nick nói. “Nhưng nó không thật”.
“Cậu đã từng đọc Can đảm chịu đựng chưa?”
“Hay lắm”, Nick nói. “Đấy là cuốn sách thực sự. Kể lại chuyện khi nào ông già của hẳn cũng ngó ngàng đến hắn. Cậu có còn cuốn nào của Walpole nữa không?”
“Cuốn Rừng rậm”, Bill nói. “Viết về nước Nga”.
“Ông ta biết gì về nước Nga nhỉ?” Nick hỏi.
“Mình không rõ. Người ta chẳng thể biết hết về những nhà văn đó. Có thể ông ta ở đó lúc còn thơ ấu. Ông ta đã kể lại nhiều sự kiện trong cuốn sách”.
“Mình muốn gặp ông ấy”, Nick nói.
“Mình thì muốn gặp Chesterton”, Bill nói.
“Mình ước giá mà bây giờ có ông ta ở đây”. Nick nói. “Ngày mai mình sẽ đưa ông ta đến Voix câu cá”.
“Mình chẳng biết ông ta có thích câu cá hay không?” Bill nói.
“Chắc là thích”, Nick nói. “Ông ta hẳn là nhà văn cừ nhất. Cậu có còn nhớ bài thơ Quán rượu bay không?”
“Giả như có một thiên thần”.
Rời thiên đường mang rượu tiên đến tặng
Thì bạn hỡi hãy cám ơn lòng tốt ấy
“Nhưng nhớ mang rượu kia trút xuống chậu này”.
“Đúng đấy”, Nick nói. “Mình nghĩ ông ấy là nhà văn giỏi hơn Walpole”.
“Ồ, ông ấy chính là nhà văn giỏi hơn”.
“Nhưng Walpole cũng là nhà văn nổi tiếng”.
“Mình không biết”, Nick nói.
“Chesterton là nhà văn cổ điển”.
“Walpole cũng cổ điển”, Bill nhấn mạnh.
“Mình ước sao ta có cả hai ông ấy ở đây”. Nick nói. “Ngày mai bọn mình sẽ đưa họ đi câu ở Voix”.
“Ta uống đi”, Bill nói.
“Nào”, Nick tán thành.
“Ba mình chẳng bận tâm đâu”, Bill nói.
“Cậu có chắc không?” Nick nói.
“Mình biết điều đấy”, Bill nói.
“Bây giờ mình đã hơi say”, Nick nói.
“Cậu chưa say đâu”, Bill nói.
Nó nhổm dậy lấy chai Whisky. Nick chìa ly ra, mắt dán vào ly khi Bill rót.
Bill rót nửa ly Whisky.
“Tự thêm nước vào”, nó nói. “Chỉ còn đủ một lượt nữa”.
“Còn chai nào không?” Nick nói.
“Còn nhiều nhưng ba chỉ muốn mình uống hết chai đã mở này thôi”.
“Chắc chứ?” Nick nói.
“Ba bảo nhiều chai mở sẽ có nhiều người say”, Bill giải thích.
“Thôi được”, Nick nói. Câu đang bốc. Trước đây cậu chẳng bao giờ nghĩ như thế. Câu luôn nghĩ nếu uống một mình thì dễ say.
“Ba cậu có khỏe không?” cậu kính cẩn hỏi.
“Ba mình khỏe”, Bill nói. “Thỉnh thoảng ba hơi ngông”.
“Ba cậu là người tốt”, Nick nói. Cậu rót nước từ bình vào ly. Nó từ từ hòa lẫn với whisky. Lượng whisky nhiều hơn nước.
“Cậu có chắc là ba cậu không say không?” Bill hỏi.
“Ba mình khỏe”, Nick đáp.
“Cậu hoàn toàn tin ba cậu khỏe à?” Bill nói.
“Ba mình tuyên bố là chưa từng nếm lấy một giọt rượu trong đời”, Nick nói, “như thể công bố một phát kiến khoa học”.
“À, tại ba cậu là bác sĩ. Còn ba mình là họa sĩ. Đấy là điểm khác nhau”.
“Ba mình đã để mất nhiều thứ”, Nick buồn bã nói.
“Con người ta chẳng thể được tất đâu”, Bill nói “Mọi thứ đều có giá của nó”.
“Ba mình bảo chính ông đã để mất nhiều thứ”, Nick thú nhận.
“Ừ, ba đã có thời gian vất vả”, Bill nói.
“Tất cả cứ đổ ập xuống”, Nick nói.
Chúng ngồi nhìn ngọn lửa và nghĩ về sự thực sâu xa này.
“Mình sẽ đi lấy củi ở đằng cửa sau”, Nick nói. Trong lúc nhìn lò sưởi cậu để ý thấy ngọn lửa đang yếu dần. Hơn nữa cậu cũng muốn chứng tỏ mình không say và là người thực tế. Thậm chí dẫu ba cậu chưa bao giờ đụng đến giọt rượu thì Bill cũng sẽ chẳng để cậu say trước lúc bản thân Bill say.
“Lấy một trong những khúc gỗ sồi lớn ấy”, Bill nói. Nó hãy còn rất tỉnh.
Nick mang khúc gỗ đi qua bếp, cây gỗ gạt đổ cái chảo trên bàn. Cậu đặt cây gỗ xuống, nhặt cái chảo. Trong chảo đựng quả mơ khô ngâm nước. Cậu cẩn thận nhặt hết số quả mơ trên sàn, cả mấy quả chui xuống dưới bếp, rồi bỏ chúng vào lại trong chảo. Cậu trút thêm ít nước vào chảo từ cái xô để cạnh bàn. Cậu cảm thấy tự hào về bản thân. Cậu hoàn toàn tỉnh táo.
Cậu mang cây củi bước vào, Bill rời ghế đứng dậy giúp cậu đặt nó vào lò sưởi.
“Khúc gỗ tốt đấy”, Nick nói.
“Mình để dành nó cho lúc thời tiết xấu”, Bill nói. “Một cây gỗ như thế sẽ cháy suốt đêm”.
“Rồi sẽ còn cả than để nhóm lửa vào buổi sáng nữa”, Nick nói.
“Đúng đấy”. Bill tán thành. Chúng đang nói về khúc gỗ cây tiêu huyền cao to.
“Ta uống nữa đi”, Nick nói.
“Mình nhớ trong tủ còn một chai nữa đã mở”, Bill nói.
Nó quỳ trong góc đằng trước tủ lấy ra một cái chai vuông.
“Rượu Scotth”, nó nói.
“Mình sẽ đi lấy thêm ít nước”, Nick nói. Cậu lại vào bếp, đổ đầy bình bằng cái ca múc trong xô nước suối lạnh. Trên đường quay lại phòng khách, cậu đi qua tấm gương treo trong phòng ăn và nhìn vào. Mặt cậu trông là lạ. Cậu mỉm cười với khuôn mặt trong gương và nó nhăn nhở lại với cậu. Cậu nháy mắt với nó và bước tiếp. Nó không phải mặt cậu nhưng nó cũng chẳng phải là mặt của ai khác.
Bill đã rót rượu ra ly.
“Ly rượu đầy quá”, Nick nói.
“Không phải vì chúng ta, Wemedge”, Bill nói.
“Thế thì ta uống vì cái gì”, tay nâng ly, Nick hỏi.
“Vì chuyến câu cá”, Bill nói.
“Được”, Nick nói. “Nào quý ông, tôi sẽ hiến cho ngài cuộc câu”.
“Tất cả những cuộc câu”, Bill nói. “Bất kỳ ở đâu”.
“Cho cuộc câu”, Nick nói. “Đấy là lý do ta nâng ly”.
“Tốt hơn môn bóng chày”, Bill nói.
“Chẳng thể sánh được đâu”, Nick nói. “Sao chúng ta lại nói về bóng chày nhỉ”.
“Đấy là do sơ suất”, Bill nói. “Bóng chày là môn thể thao cho những kẻ vụng về”.
Chúng uống cạn ly rượu.
“Bây giờ ta cụng ly vì Chesterton”.
“Và cả Walpole nữa”, Nick tiếp lời.
Nick rót rượu. Bill pha nước. Chúng nhìn nhau. Chúng cảm thấy rất hưng phấn.
“Nào quý ông”, Bill nói, “Tôi cùng ngài vì Chesterton và Walpole”.
Chúng uống cạn. Bill lại rót. Chúng ngồi vào chiếc ghế lớn trước lò sưởi.
“Cậu khôn thật đấy Wemedge”, Bill nói.
“Đúng đấy, xin mời”, Bill nói.
“Cậu muốn nói gì vậy?” Nick hỏi.
“Việc cắt đứt quan hệ với Marge ấy mà”, Bill nói.
“Mình cũng đoán cậu muốn nói chuyện ấy”, Nick nói.
“Đấy là việc làm đúng. Nếu cậu không từ bỏ thì bây giờ hẳn cậu đã phải quay về nhà làm việc kiếm tiền để lo đám cưới”.
Nick không nói gì.
“Một khi đã lấy vợ thì thằng đàn ông sẽ hoàn toàn mất tự do”, Bill tiếp tục nói. “Hắn chẳng còn gì nữa. Chẳng còn gì. Dẫu chỉ một thứ. Hắn phải phục tùng. Cậu đã thấy mấy thằng có vợ rồi đó”.
Nick không nói gì.
“Người ta có thể bảo”, Bill nói, “cuộc sống hôn nhân của hắn mới tẻ nhạt làm sao. Hắn bị sai khiến”.
“Chắc thế”, Nick nói.
“Chia tay hẳn là buồn”, Bill nói. “Nhưng cậu dễ dàng yêu một cô khác rồi mọi chuyện sẽ qua đi. Cứ yêu nhưng chớ để họ làm hỏng mình”.
“Ừ”, Nick nói.
“Nếu cậu cưới cô ấy thì cậu sẽ phải cưới toàn bộ gia đình ấy. Hãy nhớ đến mẹ cô ấy và cái gã bà ta đã lấy làm chồng”.
Nick gật đầu.
“Thử tượng tượng, bất cứ lúc nào họ cũng ngó nghiêng ngôi nhà và chủ nhật nào cũng phải đến ăn tối ở nhà họ rồi phải mời lại họ đến ăn tối rồi bà ta luôn mồm dạy bảo Marge phải làm gì và xử sự ra sao”. Nick ngồi im lặng.
“Cậu dứt ra được là cực kỳ tốt đấy”, Bill nói. “Bây giờ cô ấy có thể lấy một người hợp với mình rồi an phận và hạnh phúc. Cậu chẳng thể trộn dầu với nước cũng như cậu chẳng thể trộn đời mình trong cuộc tình ấy được, giống như nếu mình lấy Ida, đang làm việc cho hãng Strattons, cô ấy hẳn cũng muốn như thế”.
Nick không nói gì. Hơi men đã không còn nữa, cậu cảm thấy trơ trọi. Bill không còn ở đó. Cậu không còn ngồi trước lò sưởi, không đi câu cá với Bill vào ngày mai, không nhớ đến ba hay bất kỳ chuyện nào khác. Cậu không say, rượu đã tan hết cả rồi. Những gì còn đọng trong tâm trí cậu là một lần trong đời đã có Marjorie và rồi cậu đã đánh mất nàng. Nàng bị chối bỏ và cậu là người xua đuổi nàng. Tất cả nỗi ưu tư từ đấy mà ra. Có thể cậu sẽ chẳng bao giờ gặp lại nàng lần nữa. Chắc sẽ chẳng bao giờ. Tất cả đã hết, thực sự chấm dứt.
“Ta uống nữa đi”, Nick nói.
Bill rót rượu. Nick pha thêm ít nước.
“Nếu cậu cứ giữ mối quan hệ ấy thì bây giờ bọn ta sẽ không còn ở đây”, Bill nói.
Điều ấy đúng đấy. Kế hoạch ban đầu của cậu là quay về nhà kiếm việc làm. Rồi cậu dự định đến ở Charlevoix suốt mùa đông để có thể gần gũi với Marge. Giờ đây cậu không biết sẽ phải làm gì.
“Có lẽ ngày mai chúng ta đừng nên đi câu”, Bill nói. “Cậu cần phải quên thật đấy”.
“Mình không thể tự chủ”, Nick nói.
“Mình hiểu. Đấy là cách nỗi buồn biểu lộ”, Bill nói.
“Bất thình lình, mọi chuyện chấm dứt”. Nick nói. “Mình chẳng hiểu tại sao cơ sự lại như thế. Mình chẳng thể tự chủ. Chỉ giống như bây giờ khi trận bão ba ngày tràn đến, rứt trụi lá rừng”.
“Đúng đã chấm dứt. Đấy là cốt lõi của vấn đề”, Bill nói.
“Đấy là lỗi của mình”, Nick nói.
“Lỗi của ai thì cũng chẳng có gì khác cả đâu”, Bill nói.
“Không mình không nghĩ thế”, Nick nói.
Điều đáng bàn là Marjorie đã bị đưa đi xa và có lẽ Nick sẽ chẳng bao giờ gặp lại nàng lần nữa. Nick đã từng bàn với nàng việc hai đứa sẽ đi Italy và những phút giây hạnh phúc họ có bên nhau. Những nơi họ dự định đến. Giờ đây tất cả đã hết.
“Nếu mọi chuyện chấm dứt thì sẽ rắc rối đấy”, Bill nói. “Wemedge này, mình đã lo lắng khi sự thể diễn ra như thế. Cậu xử sự nghiêm túc. Mình biết mẹ cô ấy ranh như quỷ. Bà ta nói với nhiều người rằng cậu đã hứa hôn”.
“Bọn mình đã hứa hôn gì đâu”, Nick nói.
“Người ta đồn rằng bọn cậu đã ăn hỏi”.
“Mình không thể tin điều đó”, Nick nói. “Bọn mình chưa đâu”.
“Bọn cậu sẽ không lấy nhau chứ?” Bill hỏi.
“Không. Và bọn mình cũng không hứa hôn”, Nick đáp.
“Có gì khác nhau nhỉ?” Bill hỏi với vẻ phán xét.
“Mình không biết. Nhưng có khác nhau đấy”.
“Mình chẳng biết”, Bill nói.
“Thôi được”, Nick nói. “Ta uống say đi”.
“Thôi được”, Bill nói. “Ta uống cho thật say”.
“Uống say rồi ta đi bơi”, Nick nói.
Cậu dốc cạn ly mình.
“Mình thật xót xa cho cô ấy nhưng mình còn biết làm sao đây?” cậu nói. “Cậu biết mẹ cô ấy là hạng người như thế nào rồi!”
“Bà ta thật kinh khủng”, Bill nói.
“Đột nhiên, mọi chuyện đã chấm dứt”, Nick nói. “Lẽ ra mình không nên nói về chuyện ấy”.
“Cậu không nói”, Bill nói. “Mình khơi ra và bây giờ mình dừng lại. Bọn mình sẽ không nói chuyện này nữa. Cậu không muốn nghĩ về nó nghĩa là có thể cậu lại nhớ về nó”.
Nick không nghĩ về chuyện ấy. Điều đó dường như là chắc chắn. Đấy chỉ là một ý tưởng. Nó khiến cậu cảm thấy đỡ buồn hơn.
“Chắc thế”, cậu nói. “Luôn luôn xảy ra khả năng nguy hiểm đó”.
Bây giờ cậu thấy hanh phúc. Chẳng còn gì có thể thay đổi được nữa. Có lẽ cậu về thành phố vào tối thứ bảy. Hôm nay là thứ năm.
“Sẽ luôn có cơ hội”, cậu nói.
“Cậu sẽ phải thật nghiêm khắc với bản thân mình”, Bill nói.
“Mình sẽ cẩn thận”, cậu nói.
Cậu cảm thấy hạnh phúc, chẳng có gì kết thúc. Chẳng có gì mất mát cả. Cậu sẽ về thành phố vào thứ bảy. Cậu cảm thấy vui hơn, như trạng thái tâm lý của cậu trước lúc Bill gợi ra chuyện ấy. Sẽ luôn có cách giải quyết.
“Ta lấy súng, xuống mỏm đất tìm ba cậu đi”, Nick nói.
“Được thôi”
Bill lấy hai khẩu súng ngắn từ giá trên tường xuống. Nó mở hộp đạn. Nick mặc áo khoác Mackinaw và đi giày. Giày cậu cứng ngắc do bị hong khô. Cậu hơi say nhưng đầu óc thì tỉnh táo.
“Cậu cảm thấy thế nào?” Nick hỏi.
“Tốt. Mình vẫn chưa say”. Bill đang gài nút áo len.
“Uống say chẳng tốt lành gì đâu”.
“Đúng đấy. Ta nên ra ngoài”.
Chúng bước ra cửa. Gió đang cuộn thành cơn lốc. “Lũ chim sẽ bị thổi rạp xuống cỏ bởi cơn lốc này”, Nick nói.
Chúng đi xuống phía vườn cây.
“Sáng nay mình thấy một chú gà rừng”, Bill nói.
“Có thể chúng ta sẽ hạ được nó”, Nick nói.
“Cậu không thể bắn trong gió bão này”, Bill nói.
Giờ đây, ra ngoài, chuyện Marge không còn quá đỗi bi đát nữa. Nó không thực quá quan trọng. Gió bão cuốn mọi thứ, tựa cuộc tình ấy, bay xa.
“Gió đang thổi từ hồ lớn đến”, Nick nói.
Qua gió, chúng nghe một tiếng súng.
“Ba đấy”, Bill nói. “Ba đã xuống đầm lầy”.
“Bọn ta sẽ xuống đấy”, Nick nói.
“Ta sẽ đi băng qua đồng cỏ thấp để xem có thể bắn được thứ gì không”, Bill nói.
“Được đấy”, Bill nói.
Bây giờ, chẳng có gì quan trọng. Cơn gió đã cuốn chuyện ấy bay khỏi tâm trí cậu. Hơn nữa cậu lại có thể về thành phố vào tối thứ bảy. Đấy là suy nghĩ đúng đắn để tiết kiệm thời gian.

Lê Huy Bắc dịch
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.11.2017 15:11:17 bởi casau>
Đấu sĩ

Nick đứng dậy. Cậu chẳng hề gì. Cậu nhìn dọc đường tàu dõi theo ánh sáng của cái bếp lò khuất khỏi tầm mắt, sau khúc cua. Nước ngập hai bên đường tàu, bên kia là đầm lầy đầy lạc diệp tùng.
Cậu sờ gối. Chiếc quần rách, da xước. Bàn tay cậu cũng xây xát, cát và tro bám đầy móng tay. Cậu bước đến mép đường tàu, xuống con dốc nhỏ đến bờ nước rửa tay. Cậu rửa cẩn thận trong làn nước lạnh, cạy bụi bẩn ra khỏi móng. Cậu ngồi xổm xuống rửa đầu gối.
Thằng cha trực thắng tàu khốn kiếp ấy, có ngày cậu sẽ tìm ra hắn. Đến lúc ấy thì hắn biết tay cậu. Phải cho hắn một vố.
“Lại đây, nhóc”, hắn nói. “Tao có cái này cho mày”.
Cậu đã ngã vì cái ấy. Đúng là ngốc thật. Chúng sẽ chẳng bao giờ lừa được cậu theo cách ấy nữa đâu.
“Lại đây, nhóc, ta có cái này cho mày đây”. Rồi thì rầm, cậu rớt nằm xoài người bên cạnh đường ray,
Nick dụi mắt. Một cục u lớn đang sưng. Thôi rồi, hẳn mắt cậu bị bầm. Rõ thật, nó đau. Cái thằng trực thắng ác độc.
Cậu đưa mấy ngón tay sờ cục u trên mắt. Ồ, được, chỉ một con mắt bầm thôi. Đấy là tất cả những gì cậu thiệt trong vụ này. Rẻ chán. Cậu ước giá mà mình có thể nhìn thấy. Dẫu sao thì cũng không thể soi nó trên mặt nước. Trời tối mà cậu thì đang trơ trọi trên đường. Cậu chùi tay vào quần rồi đứng dậy, leo lên lối dẫn đến đường ray.
Cậu đi dọc đường ray. Nó được rải đá ba-lát cẩn thận nên dễ đi, cát và sỏi được lèn chặt giữa những thanh đỡ tà vẹt làm lối đi rắn chắc. Lòng đường phẳng tựa con đường tôn cao trải dài về phía trước, xuyên qua đầm lầy. Nick bước dọc theo. Cậu phải đến một nơi nào đó.
Nick bám con tàu chở hàng khi nó giảm tốc độ bởi các bãi chăn nuôi gia súc bên ngoài Walton Junction. Đoàn tàu Nick bám theo chạy qua Kalkaska lúc trời bắt đầu tối. Bây giờ hẳn nó gần đến Mancelona, cách đầm lầy ba bốn dặm. Cậu đi dọc đường ray tiếp tục bước trên lớp đá ba-lát giữa hai thanh tà vẹt, trong làn sương mù đương giăng, đầm lầy trông thực ma quái. Mắt cậu đau, còn bụng thì đói. Cậu vẫn tiếp tục bước, để lại đằng sau mấy dặm đường. Hai bên đường tàu, đầm lầy vẫn giữ nguyên diện mạo cũ.
Trước mặt có một cây cầu. Nick vượt qua, đôi ủng khua rầm rầm trên lớp sắt. Bên dưới, mặt nước đen ngòm qua khoảng hờ giữa hai thanh tà vẹt. Nick đá một cái đinh tà vẹt bị long, nó rơi xuống nước. Bên kia cầu là rặng đồi. Chúng vươn cao và tối sẫm hai bên đường tàu. Đằng sau, Nick thấy ánh lửa.
Thận trọng, cậu bước dọc đường tàu về phía ngọn lửa. Nó nằm cạnh đường tàu, bên dưới lối lên xuống. Cậu chỉ thấy ánh sáng tỏa ra từ nó. Đường tàu vẫn vươn dài sau đoạn phân nhánh và nơi ngọn lửa đang cháy, vùng đất mở rộng, trải dài đến tận rừng. Nick từ từ bước xuống các bậc cấp, băng qua rừng về phía ngọn lửa lấp lánh sau rừng cây. Đấy là rừng sồi, những quả sồi rụng kêu lao xao dưới gót giầy khi cậu bước giữa rừng cây. Bây giờ, đống lửa nằm ngay sát bìa rừng hiện rõ hơn. Có một người đàn ông ngồi bên cạnh. Nick nấp sau rừng cây, quan sát. Trông người đàn ông thật cô đơn. Ông ta đang ngồi trong tư thế tay ôm đầu, nhìn ngọn lửa. Nick bước ra, đi vào vùng ánh sáng.
Người đàn ông ngôi đó nhìn ngọn lửa. Khi Nick đúng ngay bên cạnh, ông ta cũng không động đậy.
“Chào ông!” Nick nói.
Người đàn ông ngước nhìn.
“Sao mắt mày sưng bầm vậy?” ông ta hỏi.
“Thằng trực thắng tàu xô tôi ngã”.
“Khỏi đoàn tàu chở hàng vừa chạy qua đó à?”
“Vâng”.
“Tao thấy thằng con hoang đó”, người đàn ông nói.
“Hắn vừa qua đây độ tiếng rưỡi rồi. Hắn đi ngật ngưởng trên nóc toa xe, vỗ tay và hát”.
“Đúng thằng con hoang ấy!”
“Lừa tống được mày ra khỏi tàu hẳn làm hắn khoái chí”, người đàn ông nói nghiêm túc.
“Tôi sẽ tẩn lại hắn”.
“Đợi cơ hội cho nó một hòn đá khi tàu đi qua”, người đàn ông khuyên.
“Tôi sẽ choảng hắn”.
“Mày là đứa nóng nảy, phải không?”
“Không” Nick trả lời.
“Tất cả bọn nhóc chúng mày đều nóng nảy”.
“Con người ta đôi khi cũng phải nổi nóng”, Nick nói.
Người đàn ông nhìn Nick và mỉm cười. Trong ánh lửa, Nick thấy mặt người đàn ông biến dạng. Mũi ông ta lõm vào, mi mắt sụp xuống, đôi môi trông thật kỳ cục. Nick không nhận ra tất cả ngay lập tức, cậu chỉ thấy khuôn mặt người đàn ông méo mó, đầy thương tật. Da mặt trông tựa màu mát tít, đầy vẻ chết chóc khi nhìn trong ánh lửa.
“Mày không thích mặt tao sao?” người đàn ông hỏi
Nick bối rối.
“Chắc thế”, cậu đáp.
“Nhìn đây!” Người đàn ông bỏ mũ ra.
Ỏng ta chỉ còn một vành tai. Nó dày và ép chặt vào đầu. Chỗ vành tai bên kia chỉ còn một rẻo thịt.
“Từng thấy ai như thế này chưa?”
“Chưa”, Nick đáp. Nó làm cậu hơi sợ.
“Tao có thể chịu đựng”, người đàn ông nói. “Mày không nghĩ tao có thể chịu đựng được nó hả nhóc?”
“Chắc rồi!”
“Tay của tất cả bọn chúng đều đụng vào người tao”, người đàn ông nhỏ con nói. “Chúng chẳng thể làm tao tổn thương”. Ông ta nhìn Nick. “Ngồi xuống”, ông nói. “Muốn ăn không?”
“Đừng bận tâm”. Nick đáp. “Tôi sẽ đi đến thị trấn”.
“Nghe này!” người đàn ông nói. “Gọi tao là Ad”.
“Được thôi!”
“Nghe này!” người đàn ông nhỏ con nói. “Tao không hoàn toàn tỉnh táo đâu”.
“Chuyện gì vậy?”
“Tao điên”.
Ông ta đội lại mũ. Nick cảm thấy buồn cười.
“Ông hoàn toàn khỏe mạnh”, cậu nói.
“Không, tao không khỏe. Tao điên. Nghe này, mày đã từng điên chưa?”
“Chưa”, Nick nói. “Sao ông điên?”
“Tao không biết”. Ad đáp “Khi điên, người ta chẳng biết mình điên. Mày hiểu tao chứ, phải không?”
“Hiểu”.
“Tao là Ad Francis”.
“Thề có Chúa chứ?”
“Mày không tin hả?”
“Tin chứ”
Nick nghĩ chuyện đó chắc là thực.
“Mày biết cách tao đấm chúng chưa?”
“Chưa”, Nick nói.
“Nhịp tim của tao chậm. Chỉ bốn mươi nhịp một phút. Sờ xem”.
Nick lưỡng lự.
“Sờ đi”, người đàn ông nắm tay cậu. “Giữ cổ tay tao. Đặt mấy ngón tay của mày vào đây”.
Cổ tay người đàn ông nhỏ con đày đặn, các bắp thịt cuộn lên trên xương tay. Nick cảm thấy mạch máu đập chậm dưới mấy ngón tay mình.
“Có đồng hồ không?”
“Không”.
“Tao cũng không”, Ad nói. “Thực vô tích sự nếu mày không có đồng hồ”.
Nick buông cổ tay ông ta ra.
“Nghe này”, Ad Francis nói. “Nắm lại đi. Mày đếm trong lúc tao đếm đến sáu mươi”.
Nhận thấy nhịp đập mạnh, chậm dưới ngón tay, Nick bắt đầu đếm. Cậu nghe người đàn ông nhỏ con từ từ đếm một, hai, ba bốn, năm, và tiếp tục, giọng lớn đều.
“Sáu mươi”, Ad kết thúc. “Đấy là một phút. Mày đếm được bao nhiêu”
“Bốn mươi” Nick đáp.
“Đúng đấy”, Ad hạnh phúc nói. “Nó chẳng hề tăng nhịp”.
Một người đàn ông bước xuống đường tàu, đi qua khoảng đất trống về phía đống lửa.
“Chào Bugs!” Ad nói.
“Xin chào”, Bugs đáp. Đấy là giọng của một người da đen. Nick biết anh ta là người da đen qua dáng đi. Anh ta đứng quay lưng về phía họ, cúi người trên ngọn lửa. Rồi anh ta đứng thẳng dậy.
“Đây là Bugs, bạn tao”. Ad nói. “Hắn cũng điên”.
“Hân hạnh được gặp ông”, Bugs nói. “Ông từ đâu đến?”
“Từ Chicago”, Nick nói.
“Đó là thành phố đẹp”, anh da đen nói. “Tôi chưa được biết tên ông”.
“Adams, Nick Adams”.
“Bugs à, hắn bảo hắn chẳng bao giờ điên”, Ad nói.
“Hãy còn nhiều chuyện đợi ông ấy ở phía trước”, anh da đen nói. Anh ta đang mở gói đồ canh ngọn lửa.
“Khi nào chúng ta ăn hả Bugs?” Ad hỏi.
“Ngay bây giờ”.
“Mày có đói không Nick?”
“Đói chết đi được”.
“Nghe chưa Bugs?”
“Tôi nghe tất cả những gì đang diễn ra”.
“Đó không phải là điều tao hỏi mày”.
“Vâng. Tôi nghe những gì quý ông này nói”.
Anh ta đặt mấy lát thịt vào chảo. Khi chảo nóng, mỡ kêu xèo xèo và Bugs, trên đôi chân dài của người da đen cúi mình lên ngọn lửa, trở mấy miếng thịt rồi đập trứng vào chảo, nghiêng tròn từ bên này sang bên kia để tráng đều trứng với mỡ nóng.
“Ông vui lòng cắt hộ mấy chiếc bánh mì trong túi kia được không, thưa ông Adams”. Bugs quay lại từ ngọn lửa.
“Được thôi”.
Nick đưa tay vào túi lấy ra một ổ bánh mì. Cậu cắt làm sáu lát. Ad nhìn cậu và chồm người về phía trước.
“Đưa tao con dao của mày, Nick”, ông ta nói.
“Đừng, ông đừng đưa”, anh da đen bảo. “Hãy giữ con dao, thưa ông Adams”.
Nhà vô địch ngồi xuống.
“Đưa hộ tôi chỗ bánh mì, thưa ông Adams”, Bugs đề nghị. Nick chuyển bánh mì sang.
“Ông có thích chấm bánh mì với nước mỡ rán thịt không?” Anh da đen hỏi.
“Hẳn rồi!”
Có lẽ chúng ta nên đợi lát nữa thì tốt hơn. Món ấy ăn cuối bữa ngon hơn. Nào xin mời”.
Anh da đen lấy miếng thịt đặt lên trên một lát bánh mì rồi để miếng trứng lên trên cùng.
“Làm ơn kẹp dùm chiếc sandwich lại rồi đưa hộ cho ông Francis”.
Ad cầm chiếc sandwich rồi bắt đầu ăn.
“Coi chừng trứng rơi đấy”, anh da đen nhắc. “Chiếc này phần ông, thưa ông Adams. Chiếc còn lại là của tôi.
Nick ngoạm một miếng sandwich. Anh da đen ngồi cạnh Ad, đối diện với cậu. Thịt và trứng rán nóng ngon tuyệt.
“Ông Adams quả là rất đói”, anh da đen nói. Người đàn ông nhỏ con, Nick biết tên, là cựu võ sĩ quyền Anh, vẫn im lặng. Ông ta chẳng mở miệng từ lúc anh da đen nhắc nhở về con dao.
“Tôi có thể mời ông một miếng bánh mì chấm nước mỡ rán thịt chứ?” Bugs nói.
“Cảm ơn nhiều”.
Người đàn ông da trắng nhỏ con nhìn Nick.
“Ông dùng thêm ít nữa chứ, thưa ông Adolph Francis” Bugs cầm cái chảo, hỏi.
Ad không trả lời. Ông ta đang nhìn Nick.
“Ông Francis này?” giọng anh da đen dịu dàng.
Ad không trả lời. Ông ta đang nhìn Nick.
“Tôi gọi ông, thưa ông Francis”, anh da đen nói nhẹ nhàng.
Ad vẫn nhìn Nick, ông ta kéo sụp mũ xuống tận mắt. Nick cảm thấy hồi hộp.
“Mày xử sự như thế để làm cái mẹ gì?” lạnh lùng phát ra từ dưới vành mũ về phía Nick.
“Mày nghĩ mày là cái giống chết tiệt gì hả? Mày là đồ con hoang bẩn thỉu. Mày đến đây khi chẳng có ai mời, ăn thức ăn của một người mà khi người ấy hỏi mượn con dao thì mày lộ tâm địa xấu xa ra”.
Ông ta trừng mắt nhìn Nick, mặt ông trắng bợt và đôi mắt gần như khuất hẳn dưới vành mũ.
“Mày là đồ do thám xấu xa. Thằng chó chết nào bảo mày vác xác đến đây?”
“Chẳng có ai”.
“Chẳng có ai phái cái ngữ mày. Cũng chẳng có ai mời mày ngồi lại. Mày đến đây hỗn láo nhìn mặt tao, hút cigar của tao, uống rượu của tao rồi ăn nói xấc xược. Mày nghĩ mày chui ra từ cái xó chết rấp nào?”
Nick không đáp. Ad đứng dậy.
“Tao bảo cho mày biết, đồ con hoang Chicago hèn nhát kia. Cái sọ bẩn thỉu nhà mày sắp bị đánh vỡ đấy. Mày hiểu chứ?”
Nick bước lùi lại. Người đàn ông nhỏ con từ từ tiến đến, bàn chân rê tới vững chắc, chân trái lên trước, chân phải kéo theo.
“Đánh tao đi”, ông ta lắc lắc đầu. “Thử đánh tao đi”.
“Tôi không muốn đánh ông”.
“Mày sẽ không giải quyết được sụ việc theo cách đó đâu. Mày sẽ phải nhận một cú đấy, hiểu chứ? Đến đây đánh tao đi”.
“Thôi đừng nữa”, Nick nói.
“Được rồi, vậy thì, đồ con hoang mày”.
Người đàn ông nhỏ con nhìn xuống chân Nick. Khi ông ta nhìn xuống, anh da đen bám sát từ lúc ông ta rời đống lửa, chồm người lên đánh vào gáy. Ông ta ngã chúi về phía trước, Bugs thả chiếc dùi cui bọc vải xuống đám cỏ. Người đàn ông nhỏ con nằm đó, mặt vùi trong cỏ. Anh da đen đỡ ông ta dậy, đầu ông ta ngoẹo xuống, rồi bồng ông ta đến bên đống lửa. Mặt ông ta trông thật tội, mắt mở trừng trừng. Bugs nhẹ nhàng đặt ông ta xuống.
“Ông đưa hộ tôi chỗ nước đằng xô ấy, ông Adams?” anh ta nói. “Tôi sợ đã đánh ông ấy hơi mạnh”.
Anh da đen lấy tay vẩy nước lên mặt người đàn ông và nhẹ nhàng kéo tai ông. Đôi mắt nhắm lại.
Bugs đứng lên.
“Ông ấy không sao”, anh ta nói. “Không có gì đáng lo cả đâu. Tôi lấy làm tiếc, thưa ông Adams”.
“Chẳng sao đâu”, Nick đang nhìn xuống người đàn ông nhỏ con. Cậu thấy chiếc dùi cui nằm trên cỏ và nhặt nó lên. Cán của nó thon, vừa vặn trong tay cậu. Nó được làm bằng loại da đen đã cũ với một chiếc khăn tay quấn quanh đầu mũi nặng.
“Tay cầm được đẽo từ xương cá voi”, anh da đen mỉm cười. “Người ta chẳng sản xuất chúng nữa. Tôi không rõ khả năng tự vệ của ông giỏi đến mức nào, dẫu sao thì tôi cũng chẳng muốn ông làm tổn thương ông ấy hay làm ông ấy khốn khổ hơn cảnh ngộ bây giờ”,
Anh da đen lại mỉm cười.
“Nhưng anh lại đánh ông ấy”.
“Tôi không biết phải xoay xở ra sao nữa. Ông ấy sẽ chẳng nhớ bất kỳ chuyện gì cả đâu. Tôi phải hành động như thế để bảo vệ lúc ông ấy lên cơn”.
Nick vẫn nhìn người đàn ông nhỏ con đang nằm nhắm mắt trong ánh lửa. Bugs cho thêm củi vào bếp.
“Ông đừng lo nghĩ về ông ấy, thưa ông Adams. Trước đây, tôi đã chứng kiến cảnh ấy vô khối lần”.
“Sao ông ấy điên?” Nick hỏi.
“Ồ, cả mớ chuyện”. Từ bên đống lửa, anh da đen trả lời. “Ông uống cà phê nhé, thưa ông Adams?”
Anh ta đưa Nick cái tách rồi vuốt phẳng chiếc áo khoác đặt dưới đầu người đàn ông bất tỉnh.
“Một trong những nguyên nhân là ông ấy đã chịu quá nhiều cú đấm”, anh da đen uống một ngụm cà phê. “Nhưng đấy chỉ là chuyện vặt. Song khi cô em gái làm quản lý cho ông ấy, báo chí luôn viết về họ như chuyện trai gái lăng nhăng rằng nàng yêu anh trai mình ra sao, rằng chàng yêu em gái mình đến mức nào, rồi họ cưới nhau ở New York, rồi chuyện ấy gây ra rất nhiều điều phiền toái”.
“Tôi nhớ chuyện ấy”.
“Chắc thế. Dĩ nhiên họ có phải là anh em ruột thịt cái cóc khô gì đâu, nhưng quả là có nhiều người không thích cuộc hôn nhân ấy nên họ bình luận lung tung để rồi ngày nọ cô ấy phải bỏ đi mà không bao giờ quay lại”.
Anh ta uống cà phê rồi đưa lòng bàn tay hồng hồng của mình lên chùi miệng. “Thế là ông ấy điên. Ông uống thêm tí cà phê nữa nhé, thưa ông Adams?”
“Cám ơn”.
“Thỉnh thoảng tôi gặp cô ấy”, anh da đen tiếp tục. “Cô ấy là người đàn bà tuyệt đẹp. Giống hệt ông ấy như cặp song sinh. Ông ấy không xấu nếu khuôn mặt chưa bị tàn phá dữ dội”.
Anh ta dừng lại. Câu chuyện dường như đã hết.
“Anh gặp ông ấy ở đâu?” Nick hỏi.
“Tôi gặp ông ấy trong tù”, anh da đen đáp. “Sau khi cô ấy bỏ đi, ông thường gây sự tẩn người ta nên họ tống ông vào tù. Tôi ở đó vì đã chém một gã”.
Anh ta mỉm cười, rồi tiếp tục kể bằng giọng dịu dàng:
“Ngay lập tức tôi mến ông và khi ra khỏi tù tôi đi tìm ông. Ông thích nghĩ tôi điên còn tôi thì chẳng bận tâm. Tôi thích sống với ông bởi tôi thích lang thang mà không phải đi ăn cắp nữa để có tiền thực hiện ước vọng. Tôi muốn sống như một người tử tế”.
“Thế hai người làm gì?” Nick hỏi.
“Ồ chẳng làm gì. Chỉ lang thang. Ông có tiền”.
“Ông ấy chắc đã kiếm được nhiều tiền”.
“Đúng. Nhưng ông đã xài hết. Hoặc bọn chúng cướp của ông. Cô ấy gởi tiền nuôi”.
Anh ta khơi lửa lên.
“Cô ấy là người đàn bà cực kỳ tử tế”, anh ta nói. “trông cô ấy giống hệt ông như thể hai anh em sinh đôi”.
Anh da đen nhìn người đàn ông nhỏ con, đang nằm thở nặng nề. Mái tóc bạch kim của ông ta rũ xuống trán. Trong giấc ngủ, khuôn mặt biến dạng của ông ta như thể mặt của một cậu bé con.
“Giờ thì tôi có thể đánh thức ông ấy dậy bất kỳ lúc nào, thưa ông Adams. Nếu có thể, tôi xin ông rời khỏi nơi này. Tôi không thích phải ra tay với ông ấy nhưng đấy là điều duy nhất để làm một khi ông ấy nổi điên. Tôi phải giữ ông ấy cách xa mọi người. Ông không phiền chứ phải không thưa ông Adams? Đừng, đừng cám ơn tôi, ông Adams ạ. Lẽ ra tôi phải báo trước với ông về bệnh tình của ông ấy. Nhưng đường như ông ấy rất hài lòng về ông và tôi nghĩ sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra. Cứ theo đường tàu độ hai dặm, ông sẽ đến thị trấn Mancelona ấy mà. Tạm biệt. Tôi ước giá mà chúng tôi có thể mời ông ở lại đây qua đêm nhưng bây giờ thì chẳng được nữa rồi. Ông có muốn mang theo ít thịt và bánh mì không? Không à? Ông mang một chiếc sandwich thì tốt hơn”, tất cả được anh da đen nói bằng giọng lịch sự, nhẹ nhàng và nho nhỏ.
“Ổn rồi. Thôi xin chào ông Adams. Tạm biệt và chúc may mắn!”.
Nick rời đống lửa, băng qua khoảng đất trống đến đường tàu. Khi đã cách xa ngọn lửa, cậu nghe giọng mềm mại, nho nhỏ của anh da đen đang nói:
“Ông sẽ thấy đỡ hơn, thưa ông Francis”, giọng anh da đen dịu dàng, “sau khi uống tách cà phê nóng này”.
Đến lối lên xuống đường tàu, Nick leo lên mặt đường rồi bước đi. Thấy mình đang cầm chiếc bánh sandwich trong tay, cậu đút nó vào túi. Quay nhìn lại, nhìn đoạn dốc cao trước khi đoàn tàu lượn qua rặng đồi, cậu có thể nhìn thấy ánh lửa trên vạt đất trống.

Lê Huy Bắc dịch
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 11:14:14 bởi casau>
Nhà của lính

Krebs đến với chiến tranh từ ngôi trường Tin Lành ở Kansas. Có một tấm hình chụp hắn đứng giữa đám bạn học, tất cả cùng mặc một kiểu cổ áo có độ cao bằng nhau. Hắn tham gia hải quân từ 1917 và đã không trở lại Mỹ cho đến khi sư đoàn hai từ Rhine quay về vào mùa hè 1919.
Có một tấm ảnh chụp hắn ở Rhine cùng với hai cô gái người Đức và một hạ sĩ khác. Krebs và gã bạn quá lớn trong bộ quân phục. Các cô gái Đức không đẹp. Quang cảnh vùng Rhine không được phản ánh trong bức hình.
Vào khoảng thời gian Krebs quay về thị trấn quê hương ở Oklahoma, sự ngưỡng mộ các người hùng đã chấm dứt. Hắn trở về quá trễ. Cánh đàn ông của thị trấn, những người gia nhập quân đội, đã được đón chào nồng nhiệt khi họ quay về. Thị trấn cực kỳ náo động. Bây giờ mọi chuyện đã bình thường trở lại. Nhiều người nghĩ rằng dường như Krebs thật ngốc khi hồi hương quá muộn, sau nhiều năm kể từ ngày chiến tranh chấm dứt.
Thoạt tiên Krebs, người từng ở Belleau Wood, Soissons, Champagne, St. Mihiel và Argonne đã không muốn đả động đến chiến tranh, về sau hắn cảm thấy cần phải nói nhưng chẳng một ai muốn nghe. Thị trấn của hắn đã nghe quá nhiều những câu chuyện giật gân, đã hồi hộp trước những anh hùng bản địa. Krebs nhận ra rằng, để mọi người chú ý, câu chuyện của hắn phải được bịa đặt hoàn toàn. Nhưng sau khi thực hiện điều ấy được hai lần, trong hắn bỗng trỗi lên sự phản ứng: chống chiến tranh và chống luôn cả việc nói về nó. Cảm giác vô nghĩa trước mọi thứ mà đã từng đến với hắn trong thời gian chiến tranh, bây giờ hẳn sâu trở lại bởi những lời dối trá. Cuộc sống nơi đã từng khiến hắn ngất ngây mỗi khi nghĩ về nó, nhưng rồi một lần, đã lâu rồi, khi hắn làm một điều, điều duy nhất để một người đàn ông phải làm, dễ dàng và thoải mái, giá mà hắn có thể chọn một lối khác, để bây giờ trong hắn cảm xúc đã trở nên trơ lì, những phẩm chất đầy giá trị của cuộc sống cũng không còn nữa và sau rốt, chính cuộc sống đã tự đánh mất đi bản thân mình.
Những lời nói dối của hắn hoàn toàn không quan trọng. Bởi chúng tương tự như những gì mà đám quân nhân khác từng chứng kiến, từng hành động, từng nghe và từng khoác lác dưới dạng các mẩu chuyên không thực nào đó. Tuy nhiên, lối bịa đặt của hắn cũng không gây được sự chú ý ngay cả trong phòng chơi pool. Nhiều người quen của hắn - những người đã từng nghe từng chi tiết của câu chuyện kể về những người phụ nữ Đức bị xích vào mấy khẩu súng máy ở cánh rừng Argonne và đã không thể hiểu hoặc họ bị xích bởi những người yêu nước của họ hoặc do họ tự nguyện tử chiến - nếu khi nghe kể về bất kỳ tay súng người Đức nào, không bị xích thì trong họ sẽ chẳng dấy lên chút hứng thú nào.
Krebs buồn nôn trước câu chuyện không thực đầy phóng đại ấy. Thỉnh thoảng, khi dự một cuộc khiêu vũ, hắn gặp mấy gã đàn ông, người đã từng là quân nhân, và chuyện trò vài phút với nhau trong phòng thay quần áo, thì hắn dễ rơi vào vị thế của một quân nhân từng trải so với nhiều gã khác: bằng cách bộc lộ nỗi hoảng sợ khủng khiếp, đau đớn và những ám ảnh triền miên. Do vậy, hắn đã mất mọi thứ.
Suốt thời gian vào độ cuối hè ấy, hắn ngủ muộn, thức dậy rồi đi bộ xuống thư viện thị trấn, mượn cuốn sách, ăn trưa ở nhà, ngồi đọc ở hiên ngoài cho đến khi mệt mỏi rồi lại đi bộ qua thị trấn đến phòng chơi pool tối, lạnh, để tránh khoảng thời gian nóng nhất trong ngày. Hắn thích chơi pool.
Buổi tối, hắn tập kèn clarinet, lang thang trong thị trấn, đọc, đi ngủ. Đối với hai cô em, hắn vẫn là người hùng. Nếu hắn muốn, mẹ hắn sẽ sẵn sàng mang bữa sáng đến cho hắn ở trên giường. Bà thường tạt vào khi hắn đã lên giường và yêu cầu hắn kể chuyện chiến tranh nhưng đầu óc của bà không tập trung. Ba hắn thì chẳng quan tâm.
Trước lúc Krebs đi trận, hắn chẳng bao giờ được phép sử dụng chiếc xe của gia đình. Ba hắn kinh doanh bất động sản. Ông thường xuyên cần nó để đưa khách hàng về miền quê xem nhà cửa, ruộng vườn. Chiếc xe luôn đỗ bên ngoài tòa nhà Ngân hàng Quốc gia số I, nơi ba hắn có một văn phòng trên tầng hai. Bây giờ, sau chiến tranh nó vẫn là chiếc xe ấy.
Thị trấn chẳng có gì thay đổi ngoại trừ các cô gái đã trưởng thành. Nhưng họ đang sống trong một thế giới đã được định tính hoàn toàn: dễ thay đổi và phức tạp đến độ Kiebs không có đủ dũng khí cũng như ham muốn để dấn thân vào. Dẫu sao, hắn cũng thích nhìn họ. Có rất nhiều thiếu nữ xinh đẹp. Hầu hết bọn họ đều để tóc ngắn. Ngày hắn đi, chỉ có rất ít các cô gái cắt tóc ngắn mà phần lớn trong số đó là những cô hoang đàng. Họ mặc cùng một kiểu áo len bên ngoài, bên trong là áo sơ-mi chẽn eo với kiểu cổ tròn Hà Lan. Tất cả cùng một khuôn. Hắn thích nhìn họ từ mái hiên khi họ đi trên lề đường phía bên kia. Hắn thích xem họ bước đi dưới bóng của hàng cây. Hắn thích những chiếc cổ áo sơ-mi tròn kiểu Hà Lan bồng bềnh trên áo len của họ. Hắn thích những đôi tất lụa và dáng giầy gót phẳng. Hắn thích mái tóc cắt quá ngắn và dáng đi của họ.
Khi ở ngoài phố, ngoại diện của họ chẳng hấp dẫn hắn nhiều. Hắn không ưa gặp họ ở hiệu kem Greek. Thực sự hắn không ham muốn họ. Họ quá phức tạp. Lại còn nhiều vấn đề khác. Tuy rất mơ hồ, nhưng hắn ý thức được mình cần một cô gái mà lại không muốn phải mất thời gian để tán tỉnh cô ta. Hắn thích có bạn gái nhưng không muốn phải làm gì để được nàng. Hắn chẳng muốn dây dưa vào những mưu mô, xảo kế. Hắn không muốn phải buông ra bất kỳ lời tán tỉnh nào nữa. Hắn không muốn nói dối thêm nữa. Chẳng có lợi ích gì.
Hắn không muốn gánh chịu bất kỳ hậu quả nào. Hắn chẳng muốn chịu đựng bất kỳ hậu quả nào nữa. Hắn muốn sống bình đẳng. Ngoài ra, tình thực, hắn không cần bạn gái. Quân đội đã dạy hắn điều ấy. Cứ làm ra vẻ như thể mày rất cần đàn bà, ổn đấy. Hầu hết mọi người đều làm như thế. Nhưng chuyện này không thực. Mày không cần gái. Thật buồn cười. Thoạt tiên, một gã ba hoa rằng đàn bà chẳng có ý nghĩa gì đối với y, rằng y chẳng bao giờ nghĩ về họ, rằng họ chẳng làm y khát khao. Tiếp đó một gã khác lại khoác lác rằng gã không thở sống mà không có đàn bà, rằng gã phải luôn có họ bên cạnh, rằng gã không thể ngủ khi thiếu đàn bà.
Tất cả đều giả dối. Cả hai đều nói dối. Con người ta không cần phụ nữ chỉ khi nào trong đầu không có hình bóng họ mà thôi. Hắn biết được điều ấy trong quân đội. Chẳng chóng thì chầy, sau đó mày luôn cặp với một cô. Khi mày thực sự phải lòng một cô gái thì mày luôn tơ tưởng đến nàng. Mày không phải bận tâm về điều ấy. Sớm hay muộn gì rồi nó cũng đến. Hắn học được điều ấy trong quân ngũ.
Bây giờ hắn chỉ thích một cô gái nếu nàng đến mà không nói gì cả. Nhưng ở nơi này, ở nhà, tất cả thực phức tạp. Hắn biết hắn chẳng thể nào hòa đồng với mọi người. Không đáng bõ công. Đấy là điểm gợi nhớ lại các cô gái Pháp và những cô gái Đức. Chẳng phải dông dài. Mày không nói nhiều và mày cũng không cần nói. Thực đơn giản rồi tụi mày trở thành bè bạn. Hắn nghĩ về Pháp rồi sau đó hắn bắt đầu nhớ về Đức. Hắn không muốn trở lại nhà. Nhưng, hắn đã về nhà. Hắn đang ngồi ngoài hiên.
Hắn thích những cô gái đang đi bộ bên kia lề đường. Hắn thích hình dáng của họ, đẹp hơn nhiều so với các thiếu nữ Pháp và Đức. Song thế giới họ đang sống không phải là thế giới của hắn. Hắn thích cặp bồ với một trong số đó. Nhưng chẳng hoài công. Họ khá đỏng đảnh. Hắn thích sự duyên dáng ấy. Thực hấp dẫn. Nhưng hắn chẳng thể nào chịu đựng nổi cung cách chuyện trò. Hắn không muốn vập phải một cô quá tồi. Dẫu sao thì hắn chỉ thích ngắm họ. Chẳng nghĩa lý gì. Không phải bây giờ, chỉ khi nào mọi việc trở nên tốt đẹp trở lại.
Hắn ngồi đó, trên hiên nhà, đọc quyển sách viết về chiến tranh. Một cuốn sách lịch sử và hắn đang dõi mắt theo tất cả các trận đánh mà hắn đã từng tham dư. Đấy là lần đọc sách thú vị nhất đời hắn. Hắn ước giá mà có nhiều bản đồ. Với tâm trạng say mê, hắn khát khao được đọc những cuốn sử thật hay có kèm theo nhiều bản đồ chi tiết.
Bây giờ hắn thực sự thấu hiểu cuộc chiến. Hắn đã từng là một quân nhân tốt. Điều ấy mang lại cảm giác khác biệt.
Sáng nọ, sau ngày hắn trở về độ một tháng, mẹ hắn vào phòng ngủ và ngồi xuống giường. Bà vuốt chiếc tạp dề.
“Tối qua mẹ đã nói chuyện với ba, Harold”, bà nói, “và ba đã bằng lòng để con sử dụng xe vào buổi tối”.
“Vậy à?” Krebs - vẫn chưa hết ngái ngã - nói. “Đánh xe đi chơi? Vậy sao?”
“Ừ. Ba con đôi lúc nghĩ rằng, con có thể dùng xe đi chơi vào buổi tối bất kỳ lúc nào con muốn và ba mẹ đã đồng ý với nhau tối qua”.
“Con đoán mẹ thuyết phục ba”, Krebs nói.
“Không. Tự ba con gợi ý rồi ba mẹ bàn bạc với nhau”.
“Vậy sao. Con vẫn nghĩ là mẹ thuyết phục ba”, Krebs ngồi dậy trên giường.
“Con sẽ xuống ăn sáng chứ. Harold?” mẹ hắn hỏi.
“Ngay sau khi con mặc xong áo quần”, Krebs đáp.
Mẹ hắn ra khỏi phòng và hắn có thể nghe bà rán món gì đó ở tầng dưới trong lúc cạo râu, rửa mặt rồi mặc quần áo để xuống phòng ăn, dùng bữa sáng. Khi hắn đang ăn, cô em gái mang bưu phẩm vào
“Chào Hare”, cô nói. “Cái đầu ngái ngủ đáng thương. Anh thức dậy để làm gì?”
Krebs nhìn cô. Hắn quý cô. Cô là đứa em gái dễ thương nhất của hắn. “Em nhận được báo chưa?” hắn hỏi.
Cô đưa cho hắn tờ Kansas City Star, hắn bóc mẩu giấy nâu quấn ngoài, giở đến trang thể thao rồi gập đôi tờ báo, dựng tựa vào bình nước, dùng đĩa thức ăn giữ nó để có thể vừa ăn vừa đọc.
“Harold”, mẹ hắn đứng ở ngưỡng cửa bếp, “Harold, đừng làm bẩn tờ báo. Ba sẽ không đọc được nếu con làm bẩn”.
“Con sẽ không làm bẩn”, Krebs trả lời.
Em gái hắn ngồi cạnh bàn, quan sát khi hắn đang đọc.
“Chiều nay, sau buổi học, tụi em sẽ thi đấu trong nhà”, cô nói “em sẽ ném bóng”.
“Tốt” Krebs lên tiếng. “Cầu thủ cũ ra sao rồi?”
“Em có thể ném giỏi hơn rất nhiều đứa trong bọn con trai. Em bảo chúng rằng anh đã dạy em. Những nữ sinh khác chơi không tốt bằng em”.
“Thế hả?” Krebs ậm ừ.
“Em kể cho tất cả bọn chúng biết rằng anh là bạn của em. Anh có phải là bạn của em không, Hare?”
“Em nói đúng”.
“Có phải anh em trai thường là bạn của nhau vì họ là con trai?”
“Anh không biết”.
“Chắc chắn anh biết. Anh sẽ không là bạn của em hay sao hở Hare nếu em trưởng thành và nếu anh muốn kết bạn?”
“Chắc chắn. Em là bạn của anh bây giờ”.
“Em có thực sự là bạn của anh không?”
“Hẳn rồi”.
“Anh quý em chứ?”
“Rõ rồi”.
“Anh sẽ đến xem em thi đấu?”
“Có thể”.
“Ồ, Hare, anh không quý em. Nếu anh quý em thì anh đã muốn đến xem em chơi bóng”.
Mẹ Krebs từ bếp bước vào phòng ăn. Bà mang chiếc đĩa đựng hai quả trứng rán, mấy miếng thịt lợn muối và một đĩa bánh làm bằng bột kiều mạch.
“Con đi chơi đi, Helen”, và nói. “Mẹ muốn nói chuyện với Harold”.
Bà đặt đĩa trứng và thịt trước mặt hắn, đi lấy lọ mứt mận để ăn với bánh rồi ngồi vào bàn, đối điện với Krebs.
“Mẹ muốn con dừng đọc một lát, Harold”, bà nói.
Krebs gấp tờ bảo và đặt xuống.
“Con đã quyết định sẽ làm gì chưa. Harold?” mẹ hắn hỏi, trong lúc đang bỏ kính ra.
“Chưa”, Krebs đáp.
“Con không nghĩ là đã đến lúc rồi chứ?” mẹ hắn nói không có chút ngụ ý nào. Bà dường như lo lắng.
“Con không nghĩ về điều đó”, Krebs trả lời.
“Chúa có sẵn công việc cho mọi người”, mẹ hắn nói. “Chẳng một ai có thể ngồi không trên Đất Của Người”.
“Con không ở trên Đất Của Người”, Krebs nói.
“Tất cả chúng ta đều sống trên Vương Quốc Của Người”.
Krebs cảm thấy khó chịu và bực bội như mọi khi.
“Mẹ lo nhiều về con, Harold”, mẹ hắn tiếp tục. “Mẹ biết những cám dỗ mà con hẳn đã bị lôi cuốn vào. Mẹ hiểu sự yếu ớt của cánh mày râu. Mẹ vẫn nhớ những gì ông ngoại kính yêu của con đã kể cho chúng ta nghe về cuộc Nội Chiến và mẹ đã cầu nguyện cho con. Suốt ngày mẹ đã cầu nguyện cho con, Harold”.
Krebs nhìn xuống miếng mỡ lợn muối đang cứng lại trên đĩa của hắn.
“Ba cũng lo nhiều”, mẹ hắn nói. “Ba nghĩ con đã đánh mất tham vọng của mình, con đã không có mục tiêu xác định trong đời. Charley Simmons, người chỉ trạc tuổi con, đã có việc làm chắc chắn và sắp sửa đám cưới. Tất cả bạn bè của con đã ổn định cuộc sống. Chúng khẳng định được chỗ đứng của mình. Con có thể thấy đó, những đứa giống như Charley Simmons đang trên đường phấn đấu để mang lại lợi ích thực sự cho cộng đồng”.
Krebs chẳng hé răng.
“Đừng nhìn theo kiểu ấy, Harold”, mẹ hắn tiếp tục. “Con biết mọi người yêu con và mẹ muốn bàn luận để giải tỏa những vướng mắc trong con. Ba không muốn chạm đến tự do của con. Ba nghĩ con đã đến lúc có thể lái xe. Nếu con muốn đưa một cô bé xinh đẹp nào đó đi chơi thì điều ấy chỉ làm ba mẹ hài lòng. Ba mẹ muốn con vui. Nhưng con sẽ phải ổn định công việc, Harold. Ba không quan tâm con chọn nghề gì. Với ba, mỗi nghề đều cao quý. Nhưng con phải bắt đầu. Ba biểu mẹ nói chuyện với con vào sáng nay và sau đó con tự quyết định rồi đến gặp ba ở văn phòng”.
“Xong cả chưa?” Krebs nói.
“Rồi. Con không yêu mẹ sao, cưng?”
“Không”, Krebs đáp.
Mẹ nhìn hắn từ phía bên kia bàn. Mắt bà chớp chớp. Bà khóc.
“Tôi chẳng yêu một ai cả”, Krebs nói.
Thật tồi tệ. Hắn không thể giải thích được cho mẹ. Hắn chẳng có cách nào để làm mẹ hiểu. Nói ra điều đó thực là ngu ngốc. Hắn chỉ làm mẹ khổ tâm. Hắn bước đến nắm tay mẹ. Bà đang úp mặt vào tay khóc.
“Con không nghĩ thế”, hắn lên tiếng. “Con chỉ bực mình vì một việc khác. Con không nói là con không yêu mẹ”.
Mẹ hắn vẫn cứ nức nở. Krebs choàng tay lên vai bà.
“Mẹ. Mẹ không tin con sao?”
Mẹ hắn lắc đầu.
“Đừng, đừng, mẹ. Hãy tin con”.
“Được”, mẹ hắn nghẹn ngào đáp. Bà ngước nhìn hắn. “Harold, mẹ tin con”.
Krebs hôn lên tóc bà. Bà úp mặt vào hắn.
“Mẹ là mẹ của con”, bà nói. “Mẹ nâng niu con trong lòng khi con hãy còn thơ dại”.
Krebs cảm thấy khó chịu và gần như buồn nôn.
“Con hiểu, thưa mẹ”, hắn đáp. “con sẽ cố gắng làm đứa con ngoan”.
“Con hãy quỳ và cầu nguyện với mẹ chứ, Harold?” mẹ hắn đề nghị.
Họ quỳ xuống cạnh bàn phòng ăn và mẹ của Krebs nguyện cầu.
“Nào con cầu nguyện đi, Harold”, bà bảo.
“Con không thể”, Krebs đáp.
“Hãy cố gắng, Harold”.
“Con không thể”.
“Con có muốn mẹ nguyện cầu cho con?”
“Vâng”
Thế là mẹ nguyện cầu cho hắn. Khi họ đứng dậy, Krebs hôn mẹ rồi bước ra ngoài. Hắn cố giữ cuộc sống của mình sao cho không bị cuốn vào vòng rối rắm. Đến nay hắn vẫn thành công. Hắn lấy làm tiếc cho mẹ vì bà đã buộc hắn nói dối. Hắn sẽ đến thành phố Kansas kiếm việc rồi mẹ sẽ cảm thấy an tâm. Hẳn sẽ còn màn kịch nữa xảy ra trước lúc hắn ra đi. Hắn muốn đời mình trôi trong bình lặng. Nó chỉ tồn tại theo cách ấy. Ừ, dẫu sao thì bây giờ mọi việc đã chấm dứt. Hắn sẽ đến sân trường xem Helen chơi bóng chày trong nhà.

Lê Huy Bắc dịch
0
Chàng và nàng Elliot

Chàng và nàng Elliot cố hết sức để sinh con. Họ luôn cố mỗi khi nàng Elliot có thể chịu đựng. Họ cố ở Boston ngay sau hôn lễ, rồi họ cố cả trên thuyền. Họ không thường xuyên cố trên thuyền bởi lẽ nàng hay ốm. Nàng ốm và khi ốm nàng ốm như những phụ nữ miền Nam ốm. Đấy là cánh phụ nữ ở miền Nam nước Mỹ. Giống hệt những người phụ nữ miền Nam, nàng Elliot mỏi mệt rất nhanh bởi say sóng, bởi du hành trong đêm và thức dậy sớm vào buổi sáng. Nhiều người trên thuyền thay mẹ Elliot chăm sóc nàng. Những người biết hôn lễ của họ, tin rằng nàng sẽ có con. Thực tế là, nàng đã bốn mươi tuổi. Cả đời nàng chưa hề đi đâu nay đột nhiên nàng lại lên đường.
Trông nàng trẻ hơn nhiều so với tuổi, thực sự người ta rất khó đoán tuổi nàng. Elliot cưới nàng sau nhiều tuần làm tình với nàng, sau khi quen nàng trong suốt khoảng thời gian dài tại cửa hàng trà của nàng, trước lúc đặt lên môi nàng một nụ hôn vào tối nọ.
Hubert Elliot đang theo học khóa thạc sĩ luật ở Harvard lúc lấy vợ. Chàng là thi sĩ với lợi tức hàng năm gần mười ngàn dollar. Chàng viết rất nhanh những bài thơ dài. Chàng hai mươi lăm tuổi và chưa hề ngủ với một người đàn bà nào cho đến khi lấy nàng. Chàng muốn giữ gìn sự trinh trắng để có thể hiến dâng cho vợ, sự trinh trắng cả thể xác lẫn tâm hồn. Chàng thầm nhủ đấy là lối sống lành mạnh. Chàng đã yêu nhiều cô gái trước lúc hôn nàng Elliot, rồi chẳng chóng thì chầy chàng đều bảo họ là mình tôn trọng cuộc sống lành mạnh. Gần như tất cả các cô gái đều phát ngấy chàng. Chàng bị sốc và thực sự kinh hoàng trước cái cách mà các cô gái đính hôn và lấy những thằng người mà họ biết rất rõ là sẽ đưa họ vào vũng bùn tội lỗi. Một dạo, chàng cố khuyên một cô gái chàng quen rằng chớ có chơi với gã đàn ông mà chàng có đủ bằng chứng để cho thấy hắn là kẻ đểu cáng nhất trường đại học mà nào có thành công.
Nàng Elliot tên là Cornelia. Nàng muốn chàng gọi mình là Calutina, đấy là tên quai nôi của nàng ở miền Nam. Mẹ chàng khóc khi chàng đưa Cornelia về nhà sau đám cưới nhưng lại rạng rỡ hẳn lên khi bà biết họ sẽ sống ở nước ngoài.
Cornelia thường gọi “Trái tim ngọt ngào của em ơi”, rồi siết chặt chàng hơn khi chàng kể cho nàng nghe cách mình giữ cuộc sống lành mạnh cho nàng. Cornelia cũng trinh trắng. “Hôn em như thế nữa đi”, nàng nói.
Hubert giảng giải cho nàng biết cách chàng học hôn là nhờ một dạo chàng nghe chuyện ấy từ gã bạn. Chàng được khai trí bởi kinh nghiệm ấy rồi khả năng tưởng tượng của chàng lại vun vén thêm. Đôi lúc, sau cái hôn dài, Cornelia đề nghị chàng kể cho mình nghe lại câu chuyện chàng gìn giữ trinh trắng cho nàng. Lời kể luôn làm nàng xúc động.
Thoạt tiên Hubert chưa có dự định cưới Cornelia. Chẳng bao lâu chàng đã nảy ra ý muốn ấy với nàng. Nàng chỉ là bạn tốt của chàng, nhưng rồi ngày nọ, trong căn phòng nhỏ phía sau cửa hàng trong lúc họ khiêu vũ theo tiếng nhạc từ máy hát, trong lúc bạn gái của nàng đứng trông hàng, nàng ngước lên nhìn vào mắt chàng và chàng hôn nàng. Chàng chỉ nhớ sự kiện ấy ngay trước khi đứng trước quyết định họ sẽ lấy nhau. Và họ đã lấy nhau.
Họ hưởng đêm tân hôn tại khách sạn Boston. Cả hai thất vọng rồi Cornelia lăn ra ngủ. Hubert, chẳng thể ngủ, đã nhiều lần ra vào, tới lui dọc theo hành lang của khách sạn trong tấm áo ngủ Jaeger mới mua nhân dịp ấy. Lúc đi, chàng ngắm tất cả những đôi giày lớn, bé đặt trước các cửa phòng khách sạn. Cảnh tượng ấy thôi thúc tim chàng, chàng vội quay về phòng mình nhưng Cornelia vẫn ngủ. Chàng không muốn đánh thức nàng dậy rồi mọi việc diễn ra chóng vánh, chàng khoan khoái chìm vào giấc ngủ.
Ngày hôm sau, họ gọi cho mẹ chàng và hôm sau nữa họ xuống tàu sang Châu Âu. Việc cố gắng có con là có thể nhưng Cornelia không thể nào tập trung hết nỗ lực mặc dầu họ muốn một đứa con hơn bất kỳ thứ gì khác trên đời. Họ cặp bến Cherbourg rồi đến Paris. Họ cố sinh con ở Paris. Rồi họ quyết định đến Dijon nơi có trường học mùa hè và là nơi có nhiều người cùng đi với họ trên chuyến tàu ấy đã đến. Họ thấy chẳng có gì làm ở Dijon. Tuy nhiên, Hubert đang sáng tác một loạt những bài thơ nổi tiếng và Cornelia đánh máy cho chàng. Đấy là những bài thơ dài. Chàng rất nghiêm khắc về lỗi đánh máy và đã bắt nàng đánh lại toàn bộ trang nếu trang ấy chỉ sai một lỗi. Nàng tức tưởi khóc rồi sau nhiều lần cố có con, họ rời Dijon.
Họ đến Paris và hầu hết đám bạn trên thuyền cũng quay về đó. Bọn họ đã chán Dijon nhưng dẫu sao cũng có cớ để bây giờ tuyên bố rằng sau khi tốt nghiệp ở Harvard, Columbia hoặc Wabash họ đã học ở Đại học Dijon tại Côte d’Or. Nhiều người trong số đó hẳn thích đến Languedoc, Montpellier hoặc Perpignan nếu những nơi ấy có trường đại học. Nhưng tất cả các địa chỉ ấy quá xa. Dijon chỉ cách Paris có bốn giờ rưỡi tàu hỏa mà lại có cả bữa tối nữa.
Thế là cả bọn ngồi nhởn nhơ ở Café du Dome trong vòng vài ngày để tránh chuyến Rotonđe qua đường bởi nó luôn chở đầy khách ngoại quốc, rồi thì nhờ mẩu quảng cáo trên tờ Herald của New York. Gia đình Elliot thuê được tòa nhà ở Touraine. Bây giờ Elliot có rất nhiều bạn bè và tất cả bọn họ đều ngưỡng mộ tài thơ của chàng, còn nàng thì thuyết phục chàng đánh điện về Boston mời cô bạn gái, người trông hộ cửa hàng sang chơi. Nàng Elliot rạng rỡ hơn lên khi cô bạn đến và họ có nhiều cơ hội để cùng nhau khóc lóc. Cô bạn gái già hơn Cornelia nhiều, chàng và nàng gọi cô là Honey. Cô cũng xuất thân trong một gia đình đài các ở miền Nam.
Cả ba người cùng với nhiều người trong đám bạn của Elliot, những người gọi chàng là Hubie, đến lâu đài ở Touraine. Họ thấy Touraine là vùng đất nhàn nhạt, cực kỳ nóng tựa Kansas. Bấy giờ, Elliot đã chuẩn bị đủ số bài thơ cho tuyển tập mới. Chàng sẽ gởi nó về Boston và cũng đã gởi séc đến để làm hợp đồng với nhà xuất bản.
Một thời gian ngắn sau, bạn bè dần trở về Paris. Touraine không còn hấp dẫn như lúc mới đến. Rồi cả đám bạn bè lại bám theo một nhà thơ trẻ giàu có khác chưa vợ để đến bãi biển gần Trouville. Ở đó cả bọn rất hạnh phúc.
Elliot vẫn ở lại lâu đài ở Touraine bởi chàng đã thuê nó suốt cả mùa hè. Chàng và nàng lại dốc sức để có con trên chiếc giường cứng, lớn trong phòng ngủ rộng, nóng.
Nàng Elliot đang học cách sử dụng máy chữ một cách có hệ thống nhưng lại nhận ra rằng trong lúc tăng tốc độ, nàng mắc nhiều lỗi hơn. Bây giờ cô bạn gái đang luyện đánh các bản thảo. Cô ta rất gọn gàng có khả năng và dường như thích thú công việc ấy.
Elliot chuyển sang uống rượu vang trắng và sống riêng trong phòng mình. Chàng viết những vần thơ trác tuyệt suốt đêm nên vào buổi sáng, trông chàng rất hốc hác. Nàng Elliot và cô bạn gái bây giờ ôm nhau ngủ trên chiếc giường thời trung cổ. Họ đã nhiều lần cùng nhau giọt vắn giọt dài. Buổi tối, ba người cùng ăn tối trong vườn dưới tán cây tiêu huyền, rồi làn gió nóng buổi tối thổi đến, rồi Eliiot uống vang trắng, nàng Elliot chuyện trò với bạn, rồi cả bọn cảm thấy hạnh phúc.

Lê Huy Bắc dịch
0
Con mèo trong mưa

Chỉ có hai người Mỹ dừng lại ở khách sạn. Họ không biết bất kỳ ai, những người họ gặp trên cầu thang khi từ phòng ra hay quay lại. Phòng của họ ở tầng hai, quay mặt ra biển, đối diện với công viên và tượng đài chiến tranh. Có nhiều cây cọ lớn và những chiếc ghế màu xanh trong công viên. Những khi trời đẹp, tay họa sĩ với giá vẽ thường xuyên xuất hiện ở đó. Cánh họa sĩ thích hình dáng của những cây cọ, thích màu sáng chói của các khách sạn hướng mặt về phía công viên và biển cả. Người Italy từ khắp mọi nơi đến để chiêm ngưỡng tượng đài chiến tranh. Nó được đúc bằng đồng và được rửa sạch bởi những cơn mưa. Trời đang mưa. Nước mưa giọt xuống từ những cành cọ. Nước đọng thành vũng trên các lối đi rải sỏi. Mặt biển vỡ thành những vệt dài trong mưa, gợn lăn tăn nối nhau trườn vào bờ. Những chiếc xe ca đang rời công viên, bên cạnh tượng đài. Đằng kia, trên ngưỡng cửa quán cà phê một người bồi đứng nhìn ra công viên không một bóng người.
Người vợ Mỹ đứng cạnh cửa sổ nhìn ra. Bên ngoài, ngay dưới cửa sổ của họ, một con mèo đang bị nhốt dưới chiếc bàn màu xanh bởi cơn mưa. Nó cố gắng xoay xở, tránh không để mua giọt trúng mình.
“Em sẽ xuống giúp con mèo ấy”, người vợ Mỹ nói.
“Để anh làm cho”, chồng nàng gợi ý từ trên giường.
“Không, em sẽ giúp nó. Con mèo đáng thương đang loay hoay để khỏi bị ướt dưới cái bàn”.
Người chồng tiếp tục đọc, nằm gối lên hai chiếc gối ở cuối chân giường.
“Đừng để bị ướt đấy”, gã nói.
Người vợ đi xuống cầu thang, chủ khách sạn đứng dậy cúi đầu chào khi nàng bước qua văn phòng. Bàn của ông ta đặt tận cuối phòng. Ông ta là một người đàn ông đã già, rất cao.
“Trời mưa”, người vợ nói. Nàng mến ông chủ khách sạn.
“Vâng vâng, thưa bà, mưa mù trời. Thời tiết rất tồi”.
Ông ta đứng đằng sau bàn, trong góc xa của căn phòng mờ mờ tối. Người vợ thích ông ta. Nàng thích dáng điệu rất nghiêm túc khi ông ta nhận bất kỳ điều phàn nàn nào. Nàng thích thái độ chững chạc của ông, thích cách ông muốn phục vụ nàng. Nàng thích lối suy nghĩ và hành động của ông như một chủ khách sạn. Nàng thích khuôn mặt nặng nề già và đôi bàn tay lớn của ông.
Đang thích ông, nàng mở cửa nhìn ra. Trời mưa lớn hơn. Một người đàn ông trong tấm choàng ni lông đang băng qua công viên vắng ngắt, đi về hướng quán cà phê. Con mèo hẳn quanh quẩn đâu đó bên phía tay phải. Có lẽ nàng nên đi dọc theo mái che. Khi đang đứng lưỡng lự trên ngưỡng cửa, một chiếc dù được giương trên đầu nàng. Đấy là cô hầu, người phục vụ phòng họ.
“Bà đừng để bị ướt”, nó mỉm cười, nói bằng tiếng Italy. Dĩ nhiên, ông chủ khách sạn sai nó làm việc ấy.
Với cô hầu mang dù, nàng đi bộ dọc theo con đường rải sỏi cho đến khi đứng ngay dưới cửa sổ phòng mình. Chiếc bàn vẫn ở đó, ánh lên màu xanh sạch sẽ sau cơn mưa, nhưng con mèo đã đi. Nàng hoàn toàn thất vọng. Cô hầu ngước nhìn nàng.
“Bà tìm gì vậy, thưa bà?”
“Có con mèo”, cô gái Mỹ đáp.
“Một con mèo?”
“Ừ, một con mèo”.
“Con mèo?” cô hầu cười lớn. “Con mèo trong mưa?”
“Ừ”, nàng trả lời, “dưới cái bàn”. Rồi nói tiếp, “Ồ tôi rất cần nó. Tôi muốn có một con mèo”.
Khi nàng nói tiếng Anh, mặt đứa hầu gái nghiêm trang trở lại.
“Đi thôi, thưa bà”, nó nói. “Chúng ta phải quay vào trong. Bà sẽ bị ướt đấy”.
“Tôi nghĩ thế”, cô gái Mỹ nói.
Họ quay lại dọc theo con đường rải sỏi và bước qua cửa. Cô hầu dừng lại bên ngoài gấp dù. Khi cô gái Mỹ đi qua văn phòng, ông chủ cúi chào từ sau bàn làm việc. Một cảm xúc nhỏ nhoi đang rạo rực trong lòng nàng. Ông chủ khiến nàng cảm nhận được điều gì đó tuy rất mong manh nhưng vô cùng quan trọng. Trong khoảnh khắc, hồn nàng trào dâng cảm giác về nỗi khao khát mơ hồ vô cùng tận. Nàng lên lầu. Nàng mở cửa phòng. George vẫn nằm trên giường, đang đọc.
“Em đã bắt được con mèo chưa?” gã hỏi, rồi đặt cuốn sách xuống.
“Nó đã đi”.
“Nó đi đâu nhỉ?” gã nói, trong lúc vẫn đang nhìn vào cuốn sách.
Nàng ngồi xuống giường.
“Em rất cần nó” nàng nói. “Em không hiểu tại sao em rất muốn có nó. Em thích con mèo đáng thương ấy. Thật chẳng buồn cười tí nào khi làm một con mèo đáng thương lang thang trong mưa”.
George đang đọc trở lại.
Nàng bước đến, ngồi trước tấm gương ở bàn trang điểm, tự ngắm mình với chiếc gương nhỏ có tay cầm. Nàng nhìn mình trong tư thế ngồi nghiêng. Thoạt tiên là bên này rồi sau đó là bên kia. Tiếp đấy nàng quan sát phía sau đầu và cổ mình.
“Anh có nghĩ nếu em để tóc dài thì tốt hơn chứ?” nàng hỏi rồi ngắm mình theo dáng ngồi nghiêng lần nữa.
George ngước nhìn vào gáy nàng, nơi tóc cắt quá ngắn, giống như đầu của một đứa con trai.
“Anh thích kiểu tóc như bây giờ của em”.
“Em đã chán ngấy nó”, nàng nói. “Em quá mệt mỏi khi trông như thể một gã đàn ông”.
George chuyển mình trên giường. Gã không rời mắt khỏi nàng kể từ khi nàng bắt đầu nói.
“Trông em rất đẹp”, gã nói.
Nàng đặt chiếc gương xuống bàn rồi đi về phía cửa sổ nhìn ra. Trời đang tối.
“Em muốn để tóc dài, mềm mại và búi thánh búi lớn ở sau gáy”, nàng nói. “Em muốn có một con mèo để ôm vào lòng và nghe tiếng prừ khi vuốt ve”.
“Vậy sao?” George lên tiếng từ trên giường.
“Và em muốn ăn ở bàn với bộ đồ ăn bằng bạc của chính mình, em cần những ngọn nến. Và em muốn thời tiết mùa xuân, em muốn chải tóc trước gương, em muốn một con mèo và vài bộ đồ mới”.
“Thôi đừng nói nữa, kiếm cuốn gì đó đọc đi”. George nói. Gã đang ngốn ngấu quyển sách trở lại.
Vợ gã đứng cạnh cửa sổ. Bây giờ trời đã tối om và mưa vẫn rơi trên những tán lá cọ.
“Dẫu sao thì em vẫn muốn một con mèo”, nàng nói. “em muốn có một con mèo. Bây giờ em muốn một con mèo. Nếu em không có mái tóc dài hoặc cái gì để tiêu khiển thì em phải có một con mèo”.
George không nghe. Gã đang miệt mài với cuốn sách. Vợ gã nhìn ra cửa sổ nơi những ngọn đèn được bật sáng trong công viên.
Có ai đó gõ cửa.
“Mời vào”, George nói. Gã rời quyển sách.
Trên ngưỡng cửa, đứa hầu gái đang đứng. Nó ôm một con mèo nhị thể có bộ lông vằng pha đen. Con mèo nép chặt và đung đưa trong lòng cô hầu.
“Xin lỗi”, nó nói, “ông chủ sai tôi mang con mèo lên cho bà”.

Lê Huy Bắc dịch
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 11:16:18 bởi casau>
Sông lớn hai lòng
 
Phần I

Đoàn tàu tiếp tục lăn bánh vòng qua một trong những ngọn đồi cháy, khuất khỏi tầm mắt. Nick ngồi trên đống vải bạt, sắp xếp lại hành lý mà người trực toa xe lẳng xuống. Thị trấn đã biến mất, chẳng còn chút dấu vết nào ngoại trừ đường ray xe lửa và miền quê bị cháy trụi. Mười ba quán rượu nằm tiếp giáp với nhau trên cùng một con phố ở Seney không để lại chút dấu vết gì. Nền khách sạn Mansion House trơ trọi trên mặt đất. Lửa làm những phiến đá nứt nẻ. Những gì còn sót lại của thị trấn Seney là chỉ thế. Thậm chí cả mặt đất của thị trấn cũng bị đốt thành tro.
Nick nhìn qua sườn đồi trải dài, cháy sém. Anh hy vọng sẽ tìm thấy những ngôi nhà cách xa thị trấn rồi bước xuống đường ray, đi về phía chiếc cầu bắc trên sông. Dòng sông hãy còn đó. Nước vỗ vào các trụ cầu gỗ. Nick nhìn xuống làn nước màu nâu sạch sẽ ánh lên từ lớp đá cuội ở dưới đáy để xem những chú cá hồi đang vẫy vẫy vi, giữ thăng bằng trong dòng nước. Khi quan sát, anh thấy chúng đổi vị trí rất nhanh rồi lại đứng im trong dòng nước chảy xiết. Nick ngắm rất lâu.
Nick nhìn chúng giữ tư thế hướng mũi về phía dòng chảy, nhiều con ở dưới đáy, nước chảy mạnh, hơi xoáy lúc anh nhìn qua bề mặt của vũng nước, mặt nước dồn đến, từ từ nhô lên khi chạm phải những trụ cầu gỗ, mấy chú cá hồi lớn đang bơi dưới đáy của vũng nước. Thoạt tiên, Nick không thấy. Khi anh phát hiện ra, những chú cá ấy đang cố bám lấy đáy sông đầy sỏi nhiều kích cỡ lẫn trong cát, để khỏi bị dòng nước cuốn đi.
Đứng trên cầu Nick nhìn xuống vũng nước. Hôm ấy trời nóng. Một con bói cá bay là là trên sông. Đã lâu lắm rồi Nick không có kịp nhìn xuống dòng nước và quan sát lũ cá hồi. Chúng sống rất thư thái. Khi bóng của con chim bói cá in trên mặt nước, một chú cá hồi lớn tung mình lên, bóng nó tạo thành hình vòng cung rồi biến mất khi rơi trở lại mặt nước lấp lánh ánh mặt trời và lúc đã chìm sâu trong dòng nước thì hình bóng chú, dường như chẳng hề bị ngăn cản, cũng chìm xuống theo dòng chảy đến tận nơi chú nằm dưới chiếc cầu và đang cố cưỡng lại sức chảy của dòng sông.
Tim Nick ngừng đập khi chú cá hồi chuyển đi. Anh cảm nhận được tất cả những xúc cảm của ngày trước.
Anh quay nhìn lại dòng sông. Dòng sông vươn xa, đáy đầy cuội, những viên cuội lớn, những chỗ nông và một vũng sâu nơi nươc vòng quanh chân bờ dốc đứng.
Nick trở lại nơi anh đặt túi xách trên lớp tro cạnh đường ray. Anh hạnh phúc. Anh chỉnh lại dây đeo, kéo căng rồi khoác lên vai, tay anh luồn vào dây đeo, trán cúi thấp tì vào bờ dốc cạnh đường ray để xốc chiếc túi lên cao hơn. Nhưng nó quá nặng. Nó thật nặng quá. Tay anh cầm chiếc hộp da đựng cần câu, người cúi nghiêng về phía trước để giữ trọng lượng của túi xách dồn lên trên vai khi bước dọc theo con đường song song với đường xe lửa, để lại đằng sau thị trấn cháy tàn cùng không khí oi bức của nó rồi đổi hướng đi quanh ngọn đồi; nơi rìa đằng kia là ngọn đồi cao hơn, nham nhở những tàn tích của lửa, theo lối dẫn về miền quê. Anh bước trên đường, thể xác chịu đựng nỗi đau của túi đồ nặng trên vai. Con đường khá dốc. Leo lên sườn đồi dốc quả là việc khó nhọc. Các bắp cơ tê cứng, trời thì nóng nhưng Nick vẫn thấy hạnh phúc. Anh thấy mình cảm nhận trở lại mọi thứ để suy nghĩ, để viết, để phục vụ cho mọi nhu cầu khác. Tất cả đang trở về với anh.
Kể từ lúc anh xuống tàu và người trực hành lý ném trả túi xách của anh khỏi cánh cửa để ngỏ thì mọi chuyện đã khác rồi. Seney bị thiêu trụi, miền quê cũng thành tro và đổi thay, nhưng điều ấy chẳng hề gì. Người ta không thể đốt cháy hết tất cả. Anh biết. Anh bước trên đường, người đẫm mồ hôi trong ánh nắng, leo băng qua rặng đồi thông cách xa đường xe lửa.
Lối mòn trải dài, thỉnh thoảng lượn xuống nhưng hầu như chỉ vươn lên. Nick vẫn bước. Sau cùng, lối mòn chạy song song với sườn đồi cháy ấy đưa Nick lên đến đỉnh. Nick dựa lưng vào gốc cây, tháo dây đeo túi xách ra khỏi vai. Trước mặt, trong tầm mắt Nick, là rừng thông. Miền cháy bị cản lại phía bên trái bởi rặng đồi. Trên những hòn đảo phía trước, rừng thông xanh đen in hình trên thung lũng. Phía bên trái, đằng xa kia là dòng sông. Nick dõi nhìn theo cho đến lúc mắt anh gặp những gợn nước lấp lánh ánh mặt trời.
Không gian quạnh hiu ngoại trừ rừng thông trước mặt trải dài đến tận những ngọn đồi vươn cao, nơi ấy là hồ Superior. Anh không thể nhìn mãi chúng, phần vì khoảng cách khá xa, phần vì bầu không khí oi bức trong ánh nắng phủ xuống cánh rừng. Nếu anh chăm chú nhìn, rặng đồi như thể đang chuyển động. Nhưng khi chỉ nhìn lướt qua, chúng vẫn ở đấy, bất động, nhô cao trên nền đất.
Nick ngồi tựa lưng vào gốc cây đã cháy thành than và hút thuốc. Túi xách của anh nằm ngay ngắn trên đầu gốc cây, dây đeo chưa bị chùng, lưng anh làm biến dạng chiếc túi. Nick ngồi hút, dõi mắt nhìn cánh rừng. Anh không cần xem bản đồ. Anh biết rõ vị trí của mình bên cạnh dòng sông.
Lúc hút thuốc, chân duỗi ra phía trước, anh thấy con châu chấu đang bò trên mặt đất, trườn lên đôi tất len của anh. Con châu chấu màu đen. Khi đi trên con đường đốc, anh đã làm rất nhiều con châu chấu giật mình nhảy lên trong lớp bụi. Hết thảy bọn chúng đều màu đen. Chúng không phải là những con châu chấu lớn có cánh màu vàng pha đen hay đỏ pha đen, dang ra khỏi lớp cánh màu đen bên ngoài khi chúng bay. Những con châu chấu này thuộc loài bình thường, nhưng chúng bị tro than làm đổi màu. Nick nghĩ về chúng khi bước đi, nhưng không bận tâm nhiều lắm. Bây giờ, lúc quan sát con châu chấu màu đen đang nhay nhay sợi len của chiếc tất bằng đôi môi chẻ tư của nó, anh nhận ra rằng màu đen của ngoại hình ấy là sản phẩm của miền đất cháy. Anh biết hỏa hoạn xảy ra từ năm ngoái nhưng đến nay loài châu chấu vẫn hãy bị nhuộm đen. Anh thầm nhủ, liệu chúng sẽ kéo dài được sự sống của mình trong bao lâu nữa.
Thận trọng, anh lần tay xuống chộp lấy cánh con châu chấu. Anh nhấc lên nhìn vào bụng, chân nó huơ huơ trong không khí. Ừ, bụng nó cũng đen, lưng và đầu nó lấp lánh nhiều màu sắc sau Lớp bồ hóng.
“Bay đi, châu chấu”, lần đầu tiên Nick nói thành tiếng. “Hãy bay đến đâu đó”.
Anh tung con châu chấu lên trời rồi dõi theo đường bay đến gốc cây đã bị cháy thành than phía bên kia đường.
Nick đứng dậy luồn tay vào quai xách, nghiêng người nâng chiếc túi đặt ngay ngắn trên gốc cây lên. Túi xách đã quàng chắc vào vai, Nick đứng trên đỉnh đồi nhìn qua cánh rừng về phía dòng sông ở đằng kia, rồi rời lối mòn, bước xuống đồi. Dưới chân, mặt đất dễ chịu khi anh bước đi. Cách sườn đồi hai trăm yard (1 yard = 0,914 mét) ngọn lửa chững lại. Vùng đất ngạt ngào hương dương xỉ, cao quá mắt cá khi bạn giẫm lên, còn trên đầu là những tán thông; cả miền rừng nhấp nhô trong màu xanh, cát mềm dưới chân, xứ sở hồi sinh.
Nick đi thẳng hướng mặt trời. Anh biết nơi mình muốn đến nghỉ cạnh dòng sông, rồi tiếp tục đi xuyên qua rừng thông, leo lên những ngọn đồi nhỏ để đến những ngọn đồi cao hơn phía trước và đôi khi, trên đỉnh đồi, một cụm thông dày đặc nhô cao ở phía bên trái hoặc bên phải anh. Nick bẻ vài cây dương xỉ hoang thơm ngát, lót dưới dây đeo của túi xách. Lá cây bị dập, anh ngửi mùi nó trong lúc bước đi.
Anh mệt và rất nóng bởi đi qua rừng thông gồ ghề, lắt léo. Nhiều lần, anh biết mình có thể gặp dòng sông nếu rẽ trái. Đoạn đường ấy không dài hơn một dặm. Nhưng anh vẫn bước đều về hướng bắc đế đến dòng suối đầu nguồn nơi anh phải mất cả ngày đi bộ.
Nhiều lần, trong lúc bước đi, Nick nhìn thấy một trong những đồi thông lớn, vươn lên trên miền rừng lượn sóng. Anh xuống dốc, chậm rãi leo lên đỉnh đồi, rồi chuyển hướng bước về phía rừng thông.
Chẳng có bụi cây thấp nào mọc trong cụm thông ấy. Thân cây mọc thẳng đứng hoặc nghiêng theo chiều của nhau. Những cây thông màu nâu, thẳng tắp. Tán cây chỉ tỏa ra mãi tít bên trên. Cụm cây đan cành với nhau tạo thành khối vững chắc trên nền rừng nâu sạm. Quanh cụm rừng nhỏ là khoảng không trần trụi. Nền đất màu nâu, xốp dưới chân Nick, bởi lớp lá thông trải xuống từ những cành cây bên trên. Cụm rừng mọc cao, cành cây vươn lên tỏa bóng xuống vùng đất xung quanh. Ngay sát rìa đất của cụm rừng ấy, những cây dương xỉ thơm phức mọc lên. Nick tháo túi xách, nằm trong bóng mát. Anh nằm ngửa, nhìn lên tán thông, cổ và lưng của anh thư giãn khi anh duỗi thẳng người. Mặt đất mềm mại dưới lưng. Anh nhìn xuyên qua cành cây lên bầu trời, lát sau nhắm mắt. Rồi mở nhìn trở lại. Gió luồn qua tán cây cao. Anh nhắm mắt chìm vào giấc ngủ.
Nick thức dậy trong tư thế co người và tê cứng. Mặt trời sắp lặn. Chiếc túi nặng và dây đeo cứa vào người đau điếng khi anh nhấc lên. Vai mang túi, anh cúi nhặt hộp cần câu, bước khỏi đồi thông, băng qua thảm dương xỉ ngọt ngào về phía dòng suối. Anh biết đoạn đường còn lại dài chưa đến một dặm.
Anh rời sườn đồi nhiều cây cối đi về phía đồng cỏ. Ngay rìa cỏ là dòng suối. Nick rất vui khi đến bờ suối. Anh bước trên thảm cỏ về phía đầu nguồn. Chiếc quần dài đẫm sương khi anh bước đi. Sau một ngày nóng bức, sương đọng nhanh và nặng hạt. Dòng suối chảy không một tiếng động, nhanh và lặng lẽ. Đầu mép cỏ, ngay trước khi Nick bước lên mô đất nhỏ để cắm trại, anh nhìn thấy những chú cá hồi tung mình lên trên dòng suối. Trong hoàng hôn, chúng đang kiếm mồi trôi ra từ đầm lầy phía bên kia suối. Đàn cá nhảy lên đớp côn trùng. Lúc Nick bước qua vệt cỏ nhô dọc theo bờ suối, lũ cá nhảy loạn xạ. Bây giờ, khi Nick nhìn xuống dòng suối, đám côn trùng hẳn đã rơi hết xuống suối bởi lẽ đàn cá chỉ lặng lẽ ăn dưới nước. Nhưng mãi tận đằng kia, Nick thấy đàn cá khác vẫn đang tung mình khỏi làn nước, thân hình chúng vẽ những đường cầu vồng trên mặt nước như thể dấu hiệu báo trời sắp mưa.
Gò đất phủ cát mọc đầy cây cối nhỏ cao trên đồng cỏ, trên bờ suối và đầm lầy. Nick thả túi và hộp đựng cần câu xuống, rồi đưa mắt tìm khoảng đất bằng. Dẫu rất đói nhưng anh muốn cắm xong trại trước khi nhóm bếp. Mặt đất giữa hai cây thông khá bằng phẳng. Anh lôi chiếc rìu ra khỏi túi xách và chặt hai cột chống. Khoảng đất ấy rộng vừa đủ cho một người ngủ. Anh lấy tay san bằng lớp đất cát và nhổ bật gốc tất cả những bụi dương xỉ ngạt ngào. Tay anh thơm mùi dương xỉ. Anh thoa bằng mặt đất nơi các bụi cây bị nhổ. Anh không thích bất kỳ vật gì làm lớp mền nhô lên. Khi mặt đất đã phẳng lì, anh trải chồng ba chiếc mền lên. Chiếc trải sát đất, anh gấp đôi lại. Hai chiếc còn lại anh trải lên trên.
Anh dùng rìu chẻ hai mẩu gỗ từ gốc thông để đẽo thành hai chiếc cọc căng trại. Anh muốn làm hai chiếc cọc dài và cứng để đóng xuống đất. Lúc tấm bạt được lấy ra, trải rộng trên mật đất; chiếc túi xách, được đặt tựa vào gốc thông, trông nhỏ hơn nhiều. Nick buộc đầu dây làm nóc trại vào thân một cây thông, rồi kéo tấm bạt lên khỏi mặt đất bằng cách buộc căng đầu kia của sợi dây vào thân cây thứ hai. Tấm bạt vắt trên sợi dây như thể một cái mền được kéo ra trên dây phơi áo quần. Nick đóng mỗi chiếc cọc mình đã chuẩn bị vào đầu góc phía dưới của tấm bạt, rồi dựng lều lên bằng cách kéo căng hai đầu phía sau của tấm bạt. Anh vừa kéo, vừa dùng sống rìu đóng cọc sâu xuống đất cho đến khi các múi dây lún sâu và tấm bạt đã căng hoàn toàn.
Trước cửa trại, Nick treo tấm vài mỏng để chống muỗi. Nick bò qua rèm ngăn muỗi vào bên trong cùng với nhiều thứ trong túi xách để đặt ở phía đầu nằm theo chiều nghiêng của tấm bạt. Ánh sáng xuyên qua tấm bạt màu nâu vào trong trại tỏa mùi dễ chịu của lớp vải bạt. Rõ ràng, có điều gì bí ẩn hay cảm giác tựa như lúc ở nhà đang lơ lửng nơi ấy. Nick hạnh phúc khi anh bò vào trại. Tâm trạng bứt rứt suốt cả ngày trong anh không còn nữa. Dẫu sao thì chuyện này cũng khác hẳn. Giờ đây mọi thứ đã được thực hiện. Chỉ cần làm nốt việc này. Bây giờ nó đã xong. Chuyến đi thực vất vả. Anh rất mệt. Nhưng đã đến đích. Anh dụng xong trại. Anh đã yên vị. Chẳng chuyện gì có thể quấy rầy anh. Đây là nơi tốt lành để hạ trại. Anh ở đó, tại nơi tốt lành. Anh ở chính ngôi nhà của mình, tại nơi cắm trại. Bây giờ, anh đói.
Anh bò ra ngoài dưới tấm vải chống muỗi. Bên ngoài, trời sấp tối. So với trong trại, trời hãy còn sáng hơn.
Nick đi về phía túi đồ đưa tay lục tìm cái đinh dài trong túi giấy để dưới đáy túi. Anh mang đến một cây thông, giữ nó và từ từ dùng sống rìu đóng sâu vào. Anh treo túi xách lên cây đinh. Tất cả lương thục của anh đều ở trong xách. Bây giờ chúng được treo lên khỏi mặt đất và được che đậy.
Nick đói. Anh không nghĩ trước đây mình lại có thể có cảm giác đói như thế. Anh mở và trút hết một hộp thịt lợn, hộp đậu và hộp mì ống vào cái chảo rán.
“Nếu chủ định mang theo thì mình có quyền ăn kiểu thức ăn này”, Nick nói. Giọng anh nghe là lạ trong rừng tối. Anh không nói nữa.
Anh nhóm lửa bằng mấy mẩu gỗ thông được chẻ từ gốc cây. Anh lấy chiếc vỉ nướng bằng thép, dựng bốn chân xuống đất, đặt lên bếp lửa. Nick đặt chiếc chảo rán lên vĩ, trên ngọn lửa. Anh cảm thấy đói hơn. Chỗ đậu và mì ống ấm lên. Nick khuấy đều, trộn lẫn chúng với nhau. Chảo thức ăn bắt đầu kêu xèo xèo, gợn những bong bóng nhỏ, khó khăn lắm những bong bóng ấy mới thoát lên khỏi bề mặt. Mùi thức ăn thơm phức. Nick lấy ra một chai nước xốt cà chua và cắt bốn lát bánh mì. Bây giờ, những bong bóng nhỏ tỏa lên mặt chảo nhanh hơn. Nick ngồi xuống cạnh bếp lửa, nhấc chảo ra. Anh đổ một nửa thức ăn vào chiếc đĩa thiếc. Chúng chầm chậm bò lan trên đĩa. Nick biết hãy còn quá nóng. Anh thêm vào ít nước xốt cà chua. Anh biết đậu và mì ống vẫn còn quá nóng. Anh nhìn ngọn lửa rồi nhìn trại, anh không muốn làm hỏng bữa ăn bởi lưỡi sẽ bị bỏng khi thức ăn còn rất nóng. Đã nhiều năm, anh chưa hề biết hương vị của chuối rán bởi anh chẳng bao giờ đủ kiên nhẫn đợi chúng nguội. Lưỡi của anh rất nhạy cảm. Anh thì đang rất đói. Đầm lầy nằm bên kia dòng suối, trong bóng đêm chập choạng, anh thấy mù đang dâng lên. Anh nhìn lại trại thêm lần nữa. Ổn rồi. Anh ăn một thìa đầy thức ăn.
“Lạy Chúa”, Nick nói, “Geezus Chrise”, anh hạnh phúc thốt lên.
Anh ăn hết thức ăn trên đĩa rồi mới nhớ đến bánh mì. Nick ăn đĩa thứ hai với bánh mì, chiếc đĩa nhẵn trơn. Anh chưa ăn tí gì ngoại trừ cốc cà phê và cái bánh Sandwich ở nhà hàng St. Ignace tại ga. Bữa ăn thật ngon miệng. Trước đây anh cũng đã từng đói như thế, nhưng chưa bao giờ anh có thể làm dịu cơn thèm khát. Nhiều giờ trước đây, nếu muốn, anh đã có thể cắm trại. Có rất nhiều nơi tốt lành để dựng trại. Nhưng chỗ này thật tuyệt.
Nick cho thêm hai thanh củi thông lớn vào dưới vỉ nướng. Ngọn lửa bùng lên. Anh quên không nấu nước pha cà phê. Anh lấy chiếc gàu, bằng vải bạt gấp được, ra khỏi túi xách, đi xuống đồi, băng qua thảm cỏ đến dòng suối. Bờ bên kia chìm trong làn sương trắng, cỏ ướt và lạnh lúc anh quỳ gối trên bờ vục gàu xuống suối. Dòng suối đầy nước chảy xiết. Nước lạnh như đá. Nick xách gàu mang về trại. Không khí không lạnh lắm lúc Nick cách bờ một khoảng xa.
Nick đóng một cái đinh lớn khác rồi treo chiếc xô đầy nước lên. Anh vục ấm pha cà phê vào xô múc nửa ấm, cho thêm củi vào bếp rồi đặt ấm nước lên vỉ nướng. Anh không thể nhớ cách pha cà phê. Anh chỉ nhớ mình có lần đã cãi nhau với Hopkins về chuyện ấy, nhưng vẫn không nhớ được cách pha của mình. Anh quyết định đun sôi. Bây giờ, anh nhớ đấy là phương pháp pha của Hopkins. Trong khi đợi cà phê sôi, anh mở một hộp nước mơ. Anh thích mở hộp. Anh dốc hết hộp nước nhỏ ra chiếc cốc thiếc. Lúc quan sát bình cà phê trên bếp, anh uống cốc nước mơ, thoạt tiên anh cẩn thận để khỏi bị đổ ra ngoài, ngậm trong miệng rồi mới nuốt xuống. Cốc nước có vị ngon hơn mơ tươi.
Khi anh nhìn, cà phê đã sôi. Nắp ấm bị đẩy lên, cà phê tràn xuống, Nick nhấc khỏi bếp. Hopkins đã thắng. Anh cho ít đường vào cốc nước mơ đã uống cạn rồi rót cà phê vào để nguội. Quai ấm cà phê nóng bỏng, Nick phải dùng mũ lót để cầm rót cà phê, anh không để cà phê ngâm trong ấm quá lâu. Không phải chỉ cốc đầu tiên. Đúng là cách của Hopkins. Hop làm như thế. Hắn là người uống cà phê rất sành. Hắn là người đàn ông đứng đắn nhất mà Nick từng biết. Không kiểu cách, chỉ trang trọng. Chuyện ấy đã từ lâu lắm rồi. Hopkins không bao giờ mấp máy môi khi nói. Hắn chơi môn polo. Hắn kiếm hàng triệu dollar ở Texas. Hắn mượn tiền xe để đi đến Chicago, khi nhận được điện báo người đỡ đầu lớn thứ nhất của hắn đã đến. Hắn có thể đánh điện xin tiền. Làm thế sẽ quá chậm. Họ gọi bạn gái của Hop là Vệ nữ tóc hoe. Hop không phật lòng bởi nàng không phải là cô gái thực sự của hắn. Hopkins nói một cách rất tự tin rằng chẳng một ai trong đám đó có thể mang người trong mộng thực sự của hắn ra đùa. Hắn đúng. Khi bức điện đến, Hopkins đã đi xa. Chuyện diễn ra trên dòng sông Black. Tám ngày sau, bức điện mới đến tay hắn. Hopkins tặng Nick khẩu Colt tự động cỡ 22 của mình. Hắn biếu Bill chiếc camerra. Đấy là cách để luôn nhớ đến hắn. Họ hẹn mùa hè sau sẽ cùng đi câu cá. Gia đình Hop rất giầu. Hắn có thể mua một chiếc thuyền buồm để cả bọn có thể lượn dọc theo bờ bắc của hồ Superior. Hắn hào hứng song vẫn nghiêm túc. Chúng chào tạm biệt và cảm thấy buồn. Chuyến đi đã hỏng. Chúng chẳng bao giờ gặp lại Hopkins. Chuyện ấy xảy ra đã lâu lắm rồi trên dòng Black.
Nick uống cà phê theo kiểu Hopkins. Cốc cà phê đắng. Nick cười. Câu chuyện có đoạn kết thật hay. Tư duy của anh đang bắt đầu hoạt động. Anh biết mình có thể nén lại được bởi lẽ quá mệt. Anh rót hết chỗ cà phê trong ấm rồi lắng cặn đổ vào bếp. Anh châm thuốc rồi chui vào lều. Ngồi trên mền, anh tháo giầy, cởi quần dài, cuộn đôi giày trong quần làm gối và đặt xuống dưới mền.
Nhìn ra phía trước lều, anh quan sát các đốm lửa bùng lên trong làn gió đêm. Đêm yên tĩnh. Đầm lầy cực kỳ tĩnh lặng. Nick thoải mái duỗi người dưới tấm chăn. Một con muỗi vo ve bên tai. Anh ngồi dậy bật diêm. Con muỗi đậu trên tấm bạt. Nick dí nhanh que diêm vào nó. Ngọn lửa đốt con muỗi cháy xèo. Que diêm cháy hết. Nick đắp mền nằm trở lại. Anh nghiêng người rồi nhắm mắt. Anh buồn ngủ. Anh thấy giấc ngủ đang đến. Anh co người trong mền rồi chìm vào giấc ngủ.

Lê Huy Bắc dịch
 
Phần II

Buổi sáng, mặt trời mọc, trại đang bắt đầu nóng, Nick trườn người dưới tấm màn muỗi treo ngang cửa, ra nhìn bình minh. Lúc ra ngoài, cỏ ướt chạm vào tay anh. Anh mang theo quần dài và giầy. Mặt trời chỉ vừa mới nhô lên khỏi ngọn đồi. Có thảm cỏ, dòng suối và đầm lầy. Bên bờ kia của dòng suối, khóm bu lô hòa trong sắc xanh của đầm lầy.
Vào lúc sáng sớm, dòng suối sạch sẽ và lặng lẽ xuôi nhanh. Cách hai trăm yard về phía dưới, ba cây gỗ lớn vắt ngang qua dòng chảy. Dòng nước khi qua chúng lặng lẽ chui sâu xuống. Lúc Nick đang ngắm nhìn, một con chồn chạy trên các cây gỗ ấy để qua sông về phía đầm lầy. Nick vui. Bình minh và dòng sông đã làm anh phấn chấn. Dầu biết mình có rất ít thời gian để ăn sáng nhưng anh hiểu mình phải ăn. Nick nhóm lửa rồi đặt ấm cà phê lên.
Trong lúc nước đang nóng dần lên trong ấm, Nick cầm cái chai không, bước khỏi gò đất, đi về phía thảm cỏ. Cỏ đẫm sương và Nick muốn bắt châu chấu làm mồi trước lúc mặt trời hong khô thảm cỏ. Anh tìm thấy rất nhiều con châu chấu mồi ngon lành. Chúng đậu tận gốc cỏ. Vài con bám trên thân. Sương làm chúng ướt lạnh, không thể nhảy cho đến khi mặt trời sưởi ấm, Nick nhặt chúng, chỉ chọn những con màu nâu cỡ trung bình, đút vào chai. Anh lật một khúc gỗ và thay bên dưới chỗ nấp ấy hàng trăm con châu chấu. Đấy là nhà của chúng, Nick cho khoảng năm mươi con màu nâu cỡ trung bình vào chai. Trong khi Nick đang chọn, những con khác, được mặt trời sưởi ấm, bắt đầu nhảy đi. Chúng xòe cánh khi nhảy. Thoạt tiên chúng bay một đoạn rồi nằm bất động lúc đậu xuống; trông như thể đã chết.
Nick biết trong lúc anh ăn sáng, đàn châu chấu sẽ tỉnh táo trở lại. Nếu có không đẫm sương, anh phải mất cả ngày mới bắt đầy chai châu chấu, anh sẽ phải làm nhiều con xây xát, phải dùng mũ chộp chúng. Anh rửa tay trong dòng nước. Anh rất hưng phấn khi đứng cạnh con suối. Lát sau, anh về trại. Lũ châu chấu đang nhảy loạn xạ trên cỏ. Còn trong chai, lúc được mặt trời sưởi ấm, chúng cũng chen lấn lung tung. Nick nhét một miếng gỗ thông che miệng chai. Miếng gỗ lớn đủ để không khí lọt vào và đủ để không cho châu chấu bò ra.
Anh lăn khúc gỗ trở lại và biết hằng ngày mình có thể bắt châu chấu ở đấy. Nick dựa cái chai đầy ắp châu chấu đang chen chúc nhau vào thân cây. Anh nhanh chóng trộn bột mì với nước và khuấy bột tan đều theo tỷ lệ một cốc bột, một cốc nước. Anh cho một ít cà phê vào ấm, xắn một thìa mỡ lớn ra khỏi hộp cho vào chảo, rán nóng. Lúc chảo bốc khói, anh từ từ đổ bột mì trộn nước vào. Bột mì chảy tựa nham thạch, mỡ bắn tung tóe. Xung quanh rìa chiếc bánh, bột bắt đầu cứng lại, chuyển sang màu nâu rồi chín giòn. Bong bóng lỗ đỗ nổi lên mặt bánh. Nick dùng phiến thông tươi đẽo mỏng ấn xuống đáy chảo. Anh lắc nghiêng, chiếc bánh bong ra. Mình đừng lắc nữa mà trở nó lại, anh nghĩ. Anh đẩy hết que gỗ sạch trên đáy chảo, dưới chiếc bánh và lật ngược nó lại. Chiếc bánh kêu xèo xèo.
Lúc rán bánh, Nick cho thêm mỡ vào chảo. Anh rán hết cả chỗ bột nhào. Chiếc bánh thứ hai lớn hơn và chiếc bánh thứ ba thì nhỏ hơn hai chiếc trước.
Nick ăn chiếc lớn nhất và chiếc nhỏ nhất với bơ táo. Anh phết bơ lên chiếc thứ ba, gập nó lại làm đôi, quấn ngoài bằng mẩu ni-lông rồi để nó vào trong túi áo sơ-mi. Anh đặt lọ bơ táo vào lại trong xách, rồi cắt bánh mì làm hai chiếc sandwich.
Anh lấy trong xách ra một củ hành lớn, bổ ra làm hai, lột lớp vỏ lụa bên ngoài. Sau đó anh cất nhỏ nửa miếng để làm bánh sandwich hành. Anh quấn giấy bóng bên ngoài rồi đút vào túi khác của chiếc sơ-mi khaki. Anh lật úp chảo lên vỉ nướng trên bếp, uống cốc cà phê sữa màu nâu vàng và dọn dẹp trại. Nó là trại tốt lành.
Nick lấy chiếc cần câu bay của mình ra khỏi hộp da, nối lại rồi mang chiếc hộp trở vào trong trại. Nick cầm guồng câu, xỏ dây qua bánh xe. Khi luồn dây anh phải luôn dừng tay giữ nếu không nó sẽ tuột trở lại bởi cái đế nặng của nó. Đấy là sợi dây dành cho câu bay, nặng, được bện đôi. Cách đây khá lâu, Nick mua nó với giá tám dollar. Độ nặng và sự săn chắc của loại dây này nhằm để khi quẳng tới hoặc kéo lui không bị chùng và không cần độ nặng ở phần đầu lưỡi câu. Nick mở hộp đựng chì. Những lá chì được quấn giữa các tấm đệm bằng vải Flanel ẩm. Nick đã thấm ướt các lớp vải trên chuyến tàu đến St. Ignace. Trong lớp vải ẩm, chì trở nên mềm hơn. Nick mở một lá, quấn chặt nó vào cạnh chiếc đai đính ở cuối dây câu. Anh buộc chặt lưỡi câu phía dưới cuộn chì. Nó là một lưỡi câu nhỏ, mỏng và đàn hồi.
Nick lấy lưỡi câu trong hộp lúc đang đặt chiếc cần câu ngang lòng mình. Anh kiểm tra các mối buộc và độ đàn hồi của cần câu bằng cách kéo mạnh sợi dây. Cảm giác thật diệu kỳ. Anh cẩn thận không để lưỡi câu đâm vào tay.
Anh mang cần câu đi về phía suối, chai châu chấu khoác qua cổ bằng sợi dây buộc theo kiểu thắt thòng lọng quanh cổ chai. Chiếc vọt móc vào thắt lưng. Cái bao đựng bột dài, hai góc được cột chặt, quàng lên vai anh. Sợi dây buộc vắt chéo qua cổ. Chiếc bao đập đập vào chân anh.
Nick cảm thấy kỳ quặc nhưng hài lòng với vẻ đam mê nghề nghiệp về tất cả dụng cụ trên người. Chai châu chấu đung đưa đập đập vào ngực. Trong túi áo sơ-mi là bữa ăn trưa và hộp lưỡi câu.
Anh bước xuống suối, chợt rùng mình. Chiếc quần dài dính chặt vào chân. Giày anh đặt trên lớp đá cuội. Làn nước là cả khối lạnh ghê người đang truyền lên.
Vội vã, dòng nước vỗ vào chân anh. Nơi anh bước xuống, nước cao quá đầu gối. Anh lội theo con suối, sỏi trượt dưới đế giày, anh nhìn xoáy nước dưới chân rồi cầm chai để lấy mồi.
Con châu chấu đầu tiên nhảy một cú ra khỏi cổ chai, rơi xuống nước. Nó bị quấn chìm theo xoáy nước cạnh chân phải của Nick rồi nhô lên cách đấy một khoảng. Nó vùng vẫy, trôi nhanh. Nhanh như chớp, một vòng nhỏ xé toạc mặt nước bình lặng, nó biến mất. Một con cá hồi đã đớp nó.
Con châu chấu khác thò đầu ra khỏi chai. Râu vẫy vẫy. Nó thò chân trước ra khỏi chai chực nhảy. Nick tóm lấy đầu, giữ chặt và xuyên lưỡi câu mảnh từ dưới cằm qua họng ra đến phần bụng cuối. Con châu chấu dùng mấy chân trước của mình đẩy đẩy lưỡi câu. Nick nhổ nước thuốc lá vào nó rồi thả xuống nước.
Giữ cần câu trong tay phải, anh nới dây theo độ kéo của con châu chấu trên dòng nước. Tay trái anh cầm chiếc guồng để dây tự do bung ra. Chiếc cần cong lại bởi cú giật, một con cá hồi tung mình lên khỏi mặt nước. Nick biết đấy là chú cá nhỏ. Anh giật thẳng cần câu lên trời. Nó rít lên khi bị kéo.
Anh thấy con cá hồi đang lắc lắc đầu, cong người cưỡng lại sợi dây đang kéo nó trong dòng nước.
Tay trái Nick nắm sợi dây, kéo con cá đang vẫy vùng tuyệt vọng lên mặt nước. Lưng nó lốm đốm màu đá cuội sạch trơn trong nước, mình nó lấp lánh ánh mặt trời. Kẹp cần câu vào nách, Nick cúi người đưa tay phải xuống nước. Anh nhẹ nhàng giữ con cá trong bàn tay đẫm nước, tháo lưỡi câu ra khỏi miệng rồi thả nó trở lại dòng suối.
Chú cá loạng choạng trong nước rồi bơi xuống nằm bên cạnh phiến đá dưới đáy suối. Nick đưa tay về phía nó, nước ngập quá khuỷu tay. Chú cá nằm lặng im trong dòng nước chảy, sát những viên cuội và gần phiến đá. Khi mấy ngón tay lạnh của Nick khẽ chạm nó, anh cảm thấy nó bơi đi, bơi lặng lẽ qua đáy của dòng suối.
Nó bình yên, Nick nghĩ. Nó chỉ mệt.
Anh đã nhúng ướt tay trước khi giữ con cá để không làm tổn thương lớp nhầy mỏng bên ngoài da nó. Nếu một con cá hồi bị bàn tay khô đụng phải thì một loài nấm trắng sẽ tấn công những chỗ bị chạm ấy. Nhiều năm trước, khi đến câu tại đoạn suối nhiều cá cùng với những người khác, Nick thường thấy những con cá hồi chết loét vì nấm trắng, trôi dạt vào bờ đá hay trương bụng lên trong các vũng nước. Nick không thích đi câu cùng với người lạ trên sông. Một khi họ không cùng cánh với bạn thì họ sẽ làm hỏng cuộc câu.
Anh lội trong dòng nước ngập quá gối, đi hết năm mươi yard trên khoảng nước nông phía trên mấy cây gỗ vắt ngang qua suối. Anh không móc lại mồi mà vẫn giữ trong tay khi di chuyển. Anh biết chắc mình sẽ tóm được nhiều chú cá hồi nhỏ tại chỗ nước nông, nhưng anh không muốn. Thời điểm này trong ngày, cá hồi lớn sẽ không vào chỗ nước nóng.
Bây giờ, đùi anh đã chìm trong làn nước lạnh. Trước mặt là cả dòng nước điềm tĩnh lùi dần đến bên trên các cây gỗ. Mặt nước tĩnh lặng và tối, bên trái là triền thấp của thảm cỏ, còn bên phải là đầm lầy!
Nick hơi ngửa người ra sau để bắt một con châu chấu trong chai. Anh ấn nó vào lưỡi câu rồi nhổ nước bọt lên mồi để cầu may. Sau đó anh thả rất nhiều dây ra khỏi guồng rồi quăng con mồi về phía trước trên dòng nước sạm đen, chảy xiết. Nó trôi về phía mấy cây gỗ rồi độ nặng của sợi dây kéo con mồi chìm xuống. Nick giữ cần câu bằng tay phải, dây câu chạy xuyên qua kẽ tay. Có một cú giật mạnh. Nick giật, cần câu suýt tuột ra, nó cong oằn, dây câu căng cứng; từ dưới nước, độ căng, sức nặng, mối nguy hiểm không hề giảm đi. Ngay lúc ấy chợt hiểu dây câu sẽ đứt nếu sự trì kéo vẫn tăng lên, Nick bèn nới thêm dây.
Chiếc guồng quay nhanh trong trục khi sợi dây cứ tuồn tuột bị kéo ra. Nhanh quá. Nick không thể kiểm soát được, dây câu tuôn ra, guồng quay cứ nảy lên khi sợi dây bị kéo mạnh.
Lúc lõi của chiếc guồng gần lộ ra, tim anh dường như ngừng đập bởi hồi hộp; hơi nghiêng người ra phía sau dòng nước lạnh băng ngập đến đùi, tay trái Nick giữ chật guồng quay. Lúc đó, quả là rất nguy hiểm nếu anh đút ngón cái vào trong guồng.
Khi anh cố trì lại một chút, sợi dây bị kéo căng bởi cú giật bất thình lình và bên kia mấy cây gỗ, một con cá hồi khổng lồ lao lên khỏi mặt nước. Lúc nó nhảy, Nick hạ thấp đầu cần câu xuống. Nhưng ngay lúc hạ cần câu để giảm độ căng vào thời khắc mạnh nhất, anh cảm thấy sức kéo hãy còn quá mạnh. Dĩ nhiên lõi chì đã bị vỡ. Cảm giác ấy chẳng thể sai khi tất cả độ đàn hồi của sợi dây không còn nữa, nó trở nên giòn và cứng. Lát sau, sợi dây chùng xuống.
Miệng anh khô đắng, tim đập chậm lại, Nick quay guồng thâu dây. Anh chưa từng thấy một con cá hồi nào lớn như thế, cả độ nặng, sức mạnh không thể giữ và sau đấy là cú giật khi nó nhảy lên. Trông nó đích thực là chú cá kiêu hùng.
Bàn tay Nick run run. Anh thu dây chầm chậm. Sự hồi hộp quá lớn. Anh mơ hồ cảm thấy hơi bị choáng và rồi, tốt hơn cả là nên ngồi xuống.
Cuộn chì bị đứt ngay nơi lưỡi câu buộc vào. Nick đưa tay cầm xem. Anh hình dung con cá hồi đang ở đâu đó dưới đáy suối, nép mình chặt xuống lớp cuội, trong bóng tối, dưới mấy cây gỗ, lưỡi câu đang mắc trong hàm. Nick biết răng cá hồi có thể cắn đứt phăng sợi dây buộc lưỡi câu. Lưỡi câu sẽ nằm im trong miệng nó. Anh đoán con cá sẽ giận dữ. Với kích cỡ đó cơn giận sẽ lớn biết nhường nào. Một con cá hồi đúng nghĩa. Nó đã bị lưỡi câu móc chặt. Không thể gỡ nổi. Trước lúc rời đi, anh cảm nhận như thể chính mình nuốt phải lưỡi câu ấy. Lạy Chúa, đấy là con cá lớn. Lạy Chúa, đấy là con cá lớn nhất mà con đã từng nghe nói.
Nick leo lên bờ cỏ và đứng lại, nước từ quần anh chảy xuống tràn qua giày, đôi giày sũng nước. Anh bước đến ngồi lên cây gỗ. Anh không muốn đánh mất xúc cảm của mình.
Anh cử động ngón chân trong đôi giày đầy nước và rút ra một điếu thuốc từ túi áo phía trên ngực. Anh châm thuốc rồi quẳng que diêm xuống dòng nước đang chảy xiết qua bên dưới cây gỗ. Một con cá hồi nhỏ xíu ngoi lên đớp que diêm khi nó xoay tròn trên mặt nước hối hả. Nick cười. Anh hút hết điếu thuốc.
Anh ngồi trên cây gỗ, hút thuốc, đợi mặt trời hong khô, mặt trời rọi ấm lưng anh, dòng suối cạn dần trước khi vào rừng, lượn trong rừng, nông, ánh sáng lấp lánh, những mỏm đá lớn ngập trong làn nước mềm mại, những cây tuyết tùng mọc dọc bờ và những cây bu lô trắng; cây gỗ ấm trong ánh nắng, ngồi lên thật dễ chịu, không làm xước da hay bẩn tay khi chạm phải; dần dần cảm giác thất vọng không còn trong anh. Nó từ từ bỏ đi, nỗi thất vọng mà đã ập đến ngay sau cú giật làm vai anh đau điếng. Bây giờ, nó không còn nữa. Cần câu của anh được đặt nằm trên mấy cây gỗ, Nick buộc lưỡi câu mới vào cuộn chì, kéo chỗ nối thật chặt cho đến khi nút thắt rắn cứng lại.
Anh móc mồi, cầm cân câu đi về đằng cuối cây gỗ, bước xuống nước, nơi ấy, không sâu quá. Bên dưới và bên kia mấy cây gỗ là vũng nước sâu. Nick đi vòng quanh chỗ cạn gần bờ đầm cho đến lúc anh bước ra lòng suối cạn.
Bên trái, nơi thảm cỏ dừng lại và rừng tiếp nối, một cây du lớn bị lật gốc. Cơn bão đi qua, nó ngã rạp trong rừng, gốc vẫn bám đầy đất, cỏ mọc lên, cao trên bờ dốc đứng, cạnh dòng suối. Dòng suối cắt phần ngọn của thân cây bật gốc. Từ nơi đứng của mình, Nick có thể nhìn thấy nhiều lạch nhỏ, sâu tựa vết bánh xe hằn nơi đáy nông của dòng suối, bởi luồng nước chảy. Nơi anh đứng, đá cuội rải đầy và phía bên kia cũng đầy đá cuội và sỏi, chỗ dòng lượn gần những gốc cây, đáy của nó đầy bùn và dưới mấy lạch nước sâu, đám lá dương xỉ hình răng lược đung đưa theo dòng nước.
Nick vung cần câu qua vai về phía trước, sợi dây vạch một đường cong đưa con châu chấu chìm xuống một trong những rãnh nước sâu phủ đầy lá. Một chú cá hồi đớp lấy và mắc câu.
Đưa cần câu về phía cây du trốc gốc rồi giật ngược dòng nước, Nick hì hục với con cá, chiếc cần câu cong oằn lại lúc Nick kéo con cá ra khỏi đám lá về phía bờ nông. Giật cần câu ngược dòng nước, Nick kéo con cá vào. Nó cưỡng lại, nhưng luôn phải nhích vào, cần câu nảy lên sau mỗi lần kéo, thỉnh thoảng con cá lộn vòng dưới nước, song Nick vẫn đưa được nó vào. Những cú giật làm Nick phấn kích. Nâng cần câu lên quá đầu, Nick dùng vợt vớt con cá rồi nhấc nó lên.
Chú cá trĩu nặng trong vợt, lưng lốm đốm, lườn ánh bạc qua mắt lưới. Nick tháo lưỡi câu; lườn cá rất mập, thật dễ chịu khi giữ, hàm nó lớn; rồi thả con cá nặng, trượt nhanh xuống chiếc bao dài có dây đeo qua vai, chìm trong nước.
Nick mở miệng bao ghé xuống để nước chảy đầy vào. Anh kéo lên, đáy bao nằm trong suối, nước tràn ra qua các lỗ trên mình bao. Bên trong, dưới đáy bao, chú cá hồi lớn bơi trong nước.
Nick đi xuôi con suối. Cái bao đầy nước trôi phía trước giật giật vai anh.
Nick bắt được con cá hồi tử tế. Anh không quan tâm đến số lượng. Bây giờ dòng suối trải rộng và nông hơn. Cây cối mọc nhiều hai bên bờ. Trong ánh mặt trời lúc chưa đến trưa, rặng cây bên bờ trái tỏa bóng ngắn trên dòng nước. Vào buổi chiều, sau khi mặt trời khuất sau dãy dồi, cá hồi sẽ tìm vào bóng mát ở phía bên kia.
Những chú cá lớn nhất hẳn nằm cạnh bờ. Bạn có thể thường xuyên câu chúng ở vị trí ấy trên dòng Black. Khi mặt trời lặn, cả bầy chuyển dần ra xa bờ. Nhưng chỉ vào đúng lúc mặt trời làm dòng nước sẫm đen bằng vài tia nắng yếu ớt trước lúc lặn, bạn có thể câu một con cá hồi lớn tại bất kỳ nơi nào trên dòng nước. Nhưng việc bắt nó thì gần như không thể được bởi vào lúc ấy mặt nước tối đen như tấm gương đặt dưới nắng. Dĩ nhiên, bạn có thể bắt cá ngược theo dòng chảy, song tại những con suối như Black hoặc suối này, bạn phải ngâm mình trong nước và ở những nơi sâu nước sẽ ngập đầu bạn. Chẳng vui vẻ gì mà đi câu theo kiểu lội ấy trong những dòng suối sâu như thế.
Nick đi dọc triền nước nông, quan sát hai bên bờ để tìm những vũng nước sâu. Một cây sồi mọc gần mép nước đến nỗi cành cây nhúng cả xuống suối. Suối chảy qua tán lá. Cá hồi rất thích sống ở những nơi như thế.
Nick chưa có ý định câu cá nơi ấy. Anh biết chắc lưỡi câu sẽ bị vướng vào đám cành cây.
Dẫu sao thì trông nó cũng quyến rũ. Anh buông mồi, dòng nước cuốn trôi đến dưới tán cây. Sợi dây bị kéo mạnh và Nick giật câu. Con cá hồi vùng mạnh nhô nửa mình lên khỏi đám lá. Dây câu bị vướng.
Nick kéo mạnh, con cá rơi xuống. Anh cuốn dây, nắm lưỡi câu trong tay, đi xuôi dòng suối.
Đằng trước, bên bờ trái, có một cây gỗ lớn. Nick thấy nó bị nước bào lõm, nhô đầu nhọn lên giữa dòng, nước bình lặng chảy qua trong tiếng rì rầm rất khẽ khi chạm vào cây gỗ. Nơi ấy, mực nước sâu. Phần đầu của khúc gỗ lõm màu xám và khô cứng. Thân của nó nằm trong bóng râm.
Nick mở nút chai châu chấu, một chú bò ra. Nick tóm lấy, móc câu, thả xuống. Anh đưa cần câu ra xa để con châu chấu rơi đúng luồng nước chảy về phía cây gỗ. Nick hạ cần câu, con châu chấu đáp xuống mặt nước. Một cú giật mạnh xuất hiện. Nick vung cần câu lên rồi kéo. Chiếc cần nặng như thể đã móc vào cây gỗ nếu phía đầu lưỡi không có sự cưỡng lại.
Nick cố kéo con cá ra khỏi dòng chảy. Nó nặng nề nhích vào bờ.
Sợi dây chùng xuống, Nick nghĩ, con cá đã thoát. Lát sau anh nhìn thấy nó ngay cạnh mình, đang lắc lắc đầu trong suối, cố hất lưỡi câu ra. Miệng nó ngậm chặt. Nó đang ráng hết sức kéo sợi dây về phía dòng chảy.
Quấn sợi dây vào bàn tay trái, Nick nâng cần câu để kéo căng dây và hướng con cá vào vợt, nhưng nó bơi ra, khuất tầm mắt, sợi dây bị rút mạnh. Nick thấy mình đứng giữa dòng suối, con cá vùng vẫy trong nước theo độ đàn hồi của cần câu. Anh chuyển cần câu sang tay trái, xoay xở với con cá, giảm độ nặng, điều khiển cần câu đưa nó vào vợt. Anh nhấc hẳn nó lên khỏi mặt nước, nó cuộn thành nửa vòng tròn nặng trong vợt, vợt rỏ nước, anh tháo lưỡi câu rồi úp con cá vào bao.
Anh mở miệng bao, quan sát hai con cá hồi lớn bơi bơi trong nước.
Băng qua chỗ nước sâu, Nick lội đến cây gỗ lõm. Anh cúi đầu nhấc dây buộc bao qua người, hai con cá quẫy mạnh khi nước chảy khỏi bao rồi anh treo sao cho chúng chìm sâu trong dòng nước. Sau đó anh đu mình lên khúc gỗ, ngồi xuống, nước trong quần và giày chảy xuống suối. Anh đặt cần câu xuống, lần về phía bóng mát tỏa
trên cây gỗ rồi lấy bánh sandwich ra khỏi túi. Anh ăn bánh rồi vục mũ múc nước uống, nước chảy tràn ra lúc anh uống.
Trong bóng râm, trời lạnh khi Nick ngồi trên cây gỗ. Anh lấy một điếu thuốc rồi quẹt diêm châm lửa. Que diêm vạch một rãnh nhỏ khi lún sâu vào thân cây gỗ xám. Nick cúi người trên thân cây, tìm nơi cứng để quẹt diêm. Anh ngồi hút thuốc và ngắm dòng suối.
Đằng kia, dòng suối hẹp lại, chảy vào đầm lầy. Con suối trở nên sâu và bình lặng, còn đầm lầy thì trông oai nghiêm với những cây tuyết tùng mọc san sát, cành của chúng đan chặt vào nhau. Khó có thể đi qua một đầm lầy như vậy. Cành cây mọc rất thấp. Người ta phải luôn cúi mình trên mặt đất khi di chuyển. Người ra không thể rẽ lối xuyên qua các cành cây. Đấy là nguyên nhân giải thích tại sao những loài vật sinh sống ở đầm lầy có dáng vóc của riêng chúng, Nick nghĩ.
Anh ước giá mình mang theo sách để đọc. Anh thấy thèm đọc sách. Anh không có cảm giác muốn đi vào đầm lầy. Anh nhìn xuống suối. Một cây tuyết tùng lớn, nghiêng mình tỏa bóng trùm cả dòng nước. Vượt qua cây ấy, dòng suối chảy vào đầm lầy.
Bây giờ, Nick không muốn đi vào đấy. Anh cảm nhận được sự phản ứng của cơ thể trước việc lội xuống dòng nước sâu đến ngực để câu cá ở nơi mà chẳng thể nào kéo được chúng lên. Quanh đầm lầy, mặt đất trụi trần, những cây tuyết tùng to lớn đan cành vào nhau ở trên cao không cho ánh nắng xuyên qua, có chăng thì chỉ vài tia yếu ớt len được xuống đất; còn trong vùng nước đen ngòm chảy xiết, trong vùng chập choạng tối, việc câu cá hẳn là cả tấn thảm kịch. Trong đầm lầy, câu cá là một cuộc phiêu lưu đầy bi kịch. Nick không muốn điều đó. Hôm nay, anh không thích đi xa xuống phía dưới suối thêm tí nào nữa.
Anh lấy dao bật lưỡi, cắm vào thân cây. Sau đó anh kéo cái bao, mở miệng bắt một con cá hồi. Nắm gần đuôi, thực khó nắm bởi chú cá cứ vẫy vùng, anh quật đầu nó vào thân cây. Con cá run rẩy, nằm bất động. Nick đặt nó lên thân cây trong bóng mát rồi quật chết con còn lại theo cách ấy. Anh để chúng nằm cạnh nhau. Những con cá ngon tuyệt.
Anh rửa sạch, rồi rạch một đường từ đít lên đến miệng chúng. Tất cả nội tạng, mang và lưỡi được kéo ra thành một chùm. Cả hai là cá đực, túi tinh của chúng trắng xám, dài, mềm mại và sạch sẽ. Gan ruột bị Nick lấy hết ra, Nick quang bộ lòng lên bờ làm mồi cho lũ chồn.
Anh rửa cá trong suối. Lúc thả xuống nước, trông chúng như thể còn sống. Màu da vẫn chưa đổi. Anh rửa tay và phơi khô cá trên khúc gỗ, rồi quấn lại, bó chặt để vào trong vợt. Con dao của anh vẫn còn găm đứng trên thân cây. Anh chùi sạch nó lên cây gỗ, gấp lại cho vào túi.
Nick đứng trên cây gỗ, tay cầm cần câu và chiếc vợt trĩu nặng rồi bước xuống dòng nước lội vào bờ. Anh leo lên bờ, rẽ lối qua rừng về phía gò đất. Anh đang về trại. Anh ngoái nhìn lại. Dòng suối thấp thoáng sau rừng cây. Phải vài hôm nữa anh mới có thể đến câu cá trong đầm lầy.

Lê Huy Bắc dịch
0
Người bất khả bại

Manuel Garcia lên cầu thang đến văn phòng Don Miguel Retana. Anh đặt va-li xuống rồi gõ cửa. Không có tiếng trả lời. Nhưng dẫu đứng ngoài hành lang, Manuel vẫn cảm thấy có ai đó trong phòng. Anh cảm nhận qua cánh cửa.
“Retana”, anh gọi rồi lắng nghe.
Không có tiếng trả lời.
Lão ở trỏng, đúng rồi, Manuel nghĩ.
“Retana”, Anh đập cửa gọi.
“Ai đó?” tiếng người hỏi từ trong phòng.
“Tôi đây, Manolo”, Manuel đáp.
“Anh cần gì?” giọng ấy hỏi.
“Tôi cần công việc”.
Trong cánh cửa, cái gì đó lách cách vài tiếng rồi cửa mở. Manuel xách va-li bước vào.
Một gã quắt người ngồi sau bàn tít đằng kia căn phòng. Phía trên đầu gã là cái đầu bò, được nhồi bởi tay thợ ở Madrid. Nhiều tấm ảnh và áp phích quảng cáo trận đấu lồng khung treo trên tường.
Gã quắt người ngồi ngắm Manuel.
“Tôi nghĩ chúng đã giết anh rồi”, hắn nói.
Manuel gõ các đốt tay xuống bàn. Từ bên kia, gã quắt người ngồi nhìn sang.
“Năm nay anh đã đấu bao nhiêu trận?” Retana hỏi.
“Một”, anh trả lời.
“Chỉ một thôi ư?” gã quắt người hỏi.
“Thế thôi”.
“Tôi đã đọc trận ấy trên báo”, Retana nói. Gã tựa người ra sau ghế nhìn Manuel.
Manuel ngước nhìn cái đầu bò nhồi. Trước đây anh thường xuyên ngắm nó. Anh cảm nhận được xúc cảm gần gũi mơ hồ nào đó với nó. Khoảng chín năm trước, nó đã giết anh trai anh, một đấu sĩ đầy triển vọng. Manuel vẫn nhớ rõ cái ngày ấy. Mảnh đồng đính trên tấm bảng sồi gắn cái đầu bò đã mờ đi. Manuel chẳng thể đọc nổi. Nhưng anh vẫn hình dung được đấy là lời tưởng niệm anh trai anh. Ừ, anh ấy là một đấu sĩ cừ.
Tấm bảng viết: “Con bò ‘Mariposa’ của Công tước Veragua, đã nhận chín mũi lao từ bảy đấu sĩ cắm lao và đã gây ra cái chết của Antonio Garcia, Novillero, 27-4-1909”.
Retana quan sát lúc anh nhìn cái đầu bò nhồi.
“Đàn bò Công tước gởi cho tôi để đấu vào Chủ nhật hẳn gây sự bàn tán”, gã nói. “Chân cả đàn bị đau. Người ta nói gì về chúng ở tiệm cà phê vậy?”
“Tôi không biết”, Manuel nói. “Tôi vừa mới đến đây”.
“Ừ”, Retana nói. “Anh vẫn còn mang va-li”.
Ngả người ra xa chiếc bàn lớn, gã nhìn Manuel.
“Ngồi xuống”, gã nói. “Bỏ mũ ra đi”.
Manuel ngồi xuống; khi cái mũ được cởi ra, khuôn mặt anh đổi khác. Trông anh nhợt nhạt, đuôi tóc cặp trên đầu để không thòi ra khỏi mũ, tôn thêm vẻ kỳ lạ ở anh.
“Trông anh không được khỏe”, Retana nói.
“Tôi vừa mới ra viện”, Manuel nói.
“Tôi nghe bảo họ đã cưa chân anh”, Retana nói.
“Không”, Manuel nói. “Nó vẫn bình thường”.
Retana cúi người qua bàn, đẩy hộp gỗ đựng thuốc lá về phía Manuel.
“Hút đi”, gã nói.
“Cám ơn”.
Manuel đốt thuốc.
“Hút chứ?” anh hỏi rồi đưa que diêm cho Retana.
“Không”, Retana xua tay, “tôi chẳng hề hút”.
Retana nhìn anh hút.
“Sao anh không kiếm việc làm đi?” gã hỏi.
“Tôi không muốn đi làm”, Manuel đáp. “Tôi là đấu sĩ”.
“Chẳng còn một mống đấu sĩ nào nữa đâu”, Retana nói.
“Tôi là một đấu sĩ”, Manuel nói.
“Ừ, chừng nào anh còn ở đó”, Retana nói.
Manuel bật cười.
Retana ngồi lặng im nhìn Manuel.
“Tôi sẽ ghi tên anh vào nhóm đấu đêm nếu anh muốn”, Retana đề nghị.
“Khi nào?” Manuel hỏi.
“Tối mai”.
“Tôi không thích đấu thay cho ai cả”, Manuel nói. Đấy là cách bọn họ bị giết. Salvador chết trong trường hợp ấy. Anh gõ mấy đốt tay lên bàn.
“Tôi chỉ thu xếp được vậy thôi”, Retana nói.
“Sao ông không để tôi đấu vào tuần tới”, Manuel gợi ý.
“Anh chẳng còn hấp dẫn nữa”, Retana nói. “Những người họ hâm mộ là Litri, Rubio và La Torre. Mấy tay ấy đấu tốt lắm”.
“Họ hãy đến để xem tôi trổ tài”, Manuel nói đầy hy vọng.
“Không. Họ không thích. Người ta chẳng còn biết anh là ai nữa rồi”.
“Tôi vẫn còn nhiều ngón độc”, Manuel nói.
“Tôi đang đề nghị bố trí anh đấu vào tối mai”, Retana. “Anh có thể đấu cùng anh chàng Hernandez, hạ hai con bò vừa trưởng thành sau nhóm Charlot”.
“Mấy con bò ấy của ai?” Manuel hỏi.
“Tôi chẳng biết. Bất kỳ nguồn gốc con bò nào họ có trong bãi quây. Những con mà cánh thú y sẽ không cho ra đấu trường vào ban ngày”.
“Tôi không thích đấu thay”, Manuel nói.
“Anh có thể nhận hoặc không”, Retana nói. Gã cúi xuống đống giấy tờ. Gã chẳng còn hứng thú tranh luận. Sự mủi lòng mà Manuel gợi lại trong khoảnh khắc, khi gã nhớ về những ngày cũ, đã không còn nữa. Hẳn gã thích chọn anh đấu thế cho Larita bởi lẽ gã có thể trả anh rẻ hơn. Gã cũng có thể trả cho những đấu thủ khác rẻ hơn. Dẫu sao thì gã có vẻ muốn giúp anh. Nhưng gã đã cho anh cơ hội. Nó phụ thuộc vào anh.
“Tôi được trả bao nhiêu?” Manuel hỏi. Anh vẫn đang nuôi ý định từ chối. Nhưng anh biết mình không thể.
“Hai trăm năm mươi peseta”, Retana đáp. Gã đã nghĩ năm trăm nhưng khi nói, miệng gã bảo hai trăm năm mươi.
“Ông trả cho Villalta bảy ngàn”, Manuel nói.
“Anh không phải là Villalta”, Retana nói.
“Tôi hiểu”, Manuel nói.
“Tay ấy hấp dẫn mà, Manolo”, Retana nói với hàm ý giải thích.
“Hẳn rồi”, Manuel nói. Anh đứng dậy. “Trả tôi ba trăm đi, Retana”.
“Thôi được”, Retana đồng ý. Gã đưa tay vào ngăn kéo tìm giấy tờ.
“Tôi có thể nhận năm mươi ngay bây giờ chứ?” Manuel hỏi.
“Được” Retana đáp. Gã lấy tờ năm mươi peseta ra khỏi ví, đặt nó lên bàn, trải ra.
Manuel nhặt lấy đút vào túi.
“Thế còn nhóm đấu sĩ?” anh hỏi.
“Có mấy đứa thường làm cho tôi vào buổi tối”, Retana nói. “Bọn chúng đấu khá đấy”.
“Còn mấy tay cỡi ngựa, đâm giáo dụ bò thì sao?” Manuel hỏi.
“Chúng chẳng thạo lắm”, Retana thú nhận.
“Tôi phải kiếm một tay dụ tốt”, Manuel nói.
“Vậy thì hãy tự kiếm lấy”, Retana nói. “Đi kiếm hắn đi”.
“Không phải từ khoản này”, Manuel nói. “Tôi sẽ không thể trả cho bất kỳ tay kỵ mã nào dưới sáu mươi duro”.
Retana không nói, chỉ nhìn Manuel từ phía bên kia bàn.
“Ông biết tôi cần phải có một kỵ mã giỏi”, Manuel nói.
Retana im iặng, lơ đãng nhìn Manuel.
“Thực bất công”, Manuel nói.
Retana vẫn ngả người ra sau ghế nhìn anh, nhìn anh từ một khoảng xa.
“Có nhiều kỵ mã chuyên nghiệp đấy”, gã gợi ý.
“Tôi hiểu”, Manuel nóí. “Tôi biết những kỵ mã chuyên nghiệp của ông”.
Retana không cười, Manuel hiểu câu chuyện đã chấm dứt.
“Những gì tôi cần là một cơ hội thực sự”, Manuel trầm tư nói. “Khi tôi xuất hiện ở đó, tôi muốn mình có thể cắm ngập mũi kiếm vào con bò. Điều ấy thực hiện chỉ khi có một kỵ mã giỏi”.
Anh đang nói với người chẳng còn lắng nghe tí nào nữa.
“Nếu anh muốn ai đó trợ giúp”, Retana nói, “thì hãy tự đi tìm lấy. Một kỵ mã chuyên nghiệp sẽ có mặt ở đó. Anh muốn đưa đến bao nhiêu kỵ mã của riêng mình thì cứ việc đưa. Mục trình diễn của nhóm Chariot sẽ kết thúc vào lúc mười giờ ba mươi”.
“Được rồi” Manuel nói. “Nếu đấy là cách ông đồng ý”.
“Tôi đồng ý”, Retana nói.
“Tôi sẽ gặp ông vào tối mai”, Manuel nói.
“Tôi sẽ đến đó”, Retana nói.
Manuel xách va-li bước ra
“Đóng hộ cánh cửa”, Retana nhờ.
Manuel nhìn lại. Retana đang cúi xuống xem xét đống giấy tờ. Manuel kéo mạnh cánh cửa cho đến lúc nó kêu cái cách.
Anh đi xuống cầu thang, ra khỏi cửa bước xuống đường phố sáng rực và nóng bức. Ngoài phố, trời rất nóng, ánh sáng phản chiếu từ tòa nhà màu trắng rọi vào mắt anh đau nhức. Anh bước xuôi vào phía khuất của con đường dốc, về tiệm Peurta del Sol. Bóng mát như thể kết thành khối và hơi mát tựa như dòng nước đang chảy. Cái nóng bất thình lình ập đến lúc anh băng qua ngã tư. Trong số những người chạm mặt, Manuel không thấy ai là người quen cả. Ngay lúc đến trước Puerta del Sol, anh rẽ vào quán cà phê.
Quán im ắng. Mấy gã đang ngồi cạnh bàn, lưng tựa vào tường. Quanh bàn nọ, bốn người đang chơi bài. Phần đông khách tựa lưng vào tường hút thuốc; những tách cà phê uống cạn và mấy ly rượu đặt trên bàn, trước mặt họ. Manuel bước qua căn phòng dài đi ra gian phòng nhỏ phía sau. Trong góc phòng, một người đàn ông ngồi cạnh bàn đang ngủ. Manuel ngồi vào bàn.
Một người bồi bước vào đúng cạnh bàn Manuel.
“Mày có thấy Zurito không?” Manuel hỏi hắn.
“Ông ấy ở đây trước bữa trưa”, anh bồi trả lời. “Ông ấy sẽ không quay lại trước năm giờ tối”.
“Mang cho tôi một cốc cà phê sữa và một ly rượu”, Manuel bảo.
Anh bồi quay lại mang khay đựng tách lớn uống cà phê và một cái ly uống rượu. Tay trái anh ta cầm chai rượu mạnh. Anh ta đặt những thứ ấy xuống bàn, cậu bé đi theo rót cà phê và sữa vào tách từ hai chiếc bình sáng bóng có vòi và tay cầm dài.
Manuel bỏ mũ ra, anh bồi nhìn cái đuôi sam được cài gọn lên đầu. Anh ta nháy mắt với cậu bé mang cà phê lúc rót rượu vào cái ly nhỏ đặt bên cạnh tách cà phê. Cậu bé tò mò quan sát khuôn mặt tái nhợt của Manuel.
“Ông sẽ đấu ở đây à?” anh bồi hỏi lúc đậy nút chai.
“Ừ” Manuel nói. “Ngày mai”.
Anh bồi đứng dậy, tay cầm cổ chai rượu.
“Ông thuộc nhóm Charlie Chaplin?” anh ta hỏi.
Cậu bé mang cà phê xấu hổ quay nhìn nơi khác.
“Không, đấu sĩ thường thôi”.
“Tôi tưởng họ sẽ có Chaves và Hernandez”, anh bồi nói.
“Không phải. Tôi và một người khác”.
“Ai vậy? Chaves hay Hernandez?”
“Chắc là Hernandez”
“Chuyện gì xảy ra với Chaves vậy?”
“Anh ấy bị thương”
“Ông nghe tin ấy từ đâu?”
“Từ Retana”.
“Này Looie”, anh bồi gọi với sang phòng bên cạnh, “Chaves bị thương”.
Manuel mở bọc đường cho vào cà phê. Anh khuấy rồi uống cạn tách cà phê thơm ngọt, nóng và âm ấm trong cái dạ dày trống rỗng. Anh uống hết ly rượu.
“Cho tôi suất rượu nữa”, anh bảo anh bồi.
Anh bồi mở nút chai, rót đầy ly, tràn cả ra đĩa. Anh bồi khác đứng trước bàn. Cậu bé mang cà phê ra ngoài.
“Chaves bị thương có nặng không?” anh bồi thứ hai hỏi Manuel.
“Tôi không rõ”, Manuel đáp, “Retana không nói”.
“Lão ấy gây ra cơ man nào là chuyện”, anh bồi cao nói. Ban nãy Manuel chưa nhìn thấy anh ta. Chắc anh ta vừa mới đến.
“Trong thành phố này, nếu anh hùa với Retana thì anh sẽ có cơ hội”, anh bồi cao nói. “Còn nếu anh không ăn cánh với lão thì hoặc anh nên bỏ đi hoặc phải tự sát”.
“Mày đã nói chuyện ấy”, anh bồi nữa vừa đến, nói “Mày đã nói chuyện ấy rồi”.
“Mày đúng đấy, tao đã nói chuyện ấy”, anh bồi cao nói. “Tao hiểu những gì mình đang nói khi tao nói về lão ấy”.
“Nhìn xem lão đối xứ với Villalta ra sao kìa”, anh bồi thứ nhất nói.
“Nhưng ngần ấy chưa đủ”, anh bồi cao nói. “Xem cách lão đối xử với Marcial Lalanda. Hãy nhìn lão đã làm gì với Nacional”.
“Chính mày đã nói chuyện ấy”, anh bồi thấp tán thành.
Manuel nhìn họ đang đứng tranh luận trước bàn mình. Anh đã uống hết ly rượu thứ hai. Bọn họ quên bẵng, chẳng để ý đến anh.
“Hãy nhìn bầy lạc đà ấy”, anh bồi cao tiếp tục.
“Bọn mày đã bao giờ xem gã Nicionl II này chưa?”
“Tao chẳng bảo là mình đã xem gã vào Chủ nhật tuần trước rồi đó sao?” anh bồi đầu tiên nói.
“Gã là một con hươu cao cổ”, anh bồi thấp nói.
“Tao đã nói gì với mày nhỉ?” anh bồi cao nói. “Mấy ngữ ấy là môn đệ của Retana”.
“Này, cho tôi một suất nữa”, Manuel gọi. Anh đã trút chỗ rượu tràn ra đĩa vào ly và uống trong lúc bọn họ đang nói chuyện.
Anh bồi đầu tiên hấp tấp rót đầy ly rượu rồi cả ba vừa ra khỏi phòng vừa nói chuyện.
Trong góc đằng kia, người đàn ông vẫn còn ngủ đầu tựa vào tường, ngáy nhỏ khi hít không khí vào. Manuel uống ly rượu. Anh cảm thấy buồn ngủ. Trời quá nóng để rời quán ra phố. Thêm nữa chẳng có việc gì làm. Anh muốn gặp Zurito. Trong khi đợi anh sẽ chợp mắt một lát. Anh đá vào va-li dưới bàn để biết chắc nó còn ở đó. Có lẽ tốt hơn là đặt nó ra sau, dưới ghế, tựa vào tường. Anh cúi xuống kéo rồi gục đầu lên bàn, ngủ.
Khi anh thức giấc, có người đang ngồi phía bên kia bàn. Một người đàn ông to lớn có khuôn mặt màu nâu nặng nề giống như người Da Đỏ. Hẳn ông ta đã ngồi đấy một lát rồi. Ông ta xua tay bảo bọn bồi lui ra, ngồi đọc báo và thỉnh thoảng nhìn xuống Manuel đang ngủ gục trên bàn. Ông ta đọc tờ báo một cách chăm chú, môi mấp máy theo từng chữ. Khi nào mỏi mắt, ông nhìn Manuel. Ông ta ngồi yên trên ghế, cái mũ Cordoba màu đen của ông kéo sụp về phía trước.
Manuel ngẩng dậy nhìn ông ta.
“Chào Zurito”, anh nói.
“Chào anh bạn”, người to lớn nói.
“Tôi nghĩ chắc anh ở đây”.
“Công việc thế nào?”
“Ổn. Thế còn anh?”
“Không được tốt lắm”
Cả hai lặng im. Zurito, tay kỵ mã, nhìn sắc mặt tai tái của Manuel, Manuel thì nhìn xuống bàn tay to bè của người kỵ mã đang xếp tờ báo đút vào túi. “Tôi muốn nhờ anh một việc. Manos à”. Manuel nói.
Manosduros là tên gọi thân mật của Zurito. Ông chẳng bao giờ nghe nó mà không nghĩ đến bàn tay to lớn của mình. Rất ý thức, ông đặt chúng lên bàn.
“Tụi mình gọi gì uống đi”, ông nói.
“Đương nhiên”, Manuel đáp.
Anh bồi đến và đi rồi lại đến. Anh ta quay nhìn hai người đàn ông ngồi ở bàn khi ra khỏi phòng.
“Chuyện gì vậy Manolo?” Zurito đặt cốc xuống.
“Anh có thể dụ hai con bò cho tôi vào tối mai không?” Manuel hỏi lúc đang nhìn Zurito qua bàn.
“Không được đâu”, Zurito nói. “Tôi không đấu nữa rồi”.
Manuel cúi nhìn ly của mình, Anh đã hình dung được câu trả lời ấy, và bây giờ anh đã nghe thấy. Đúng, anh đã nghe thấy.
“Tôi lấy làm tiếc, Manolo à, nhưng tôi đã giải nghệ”, Zurito nhìn hai bàn tay mình.
“Chẳng sao đâu”, Manuel nói.
“Tôi đã già khọm”, Zurito nói.
“Tôi chỉ đề nghị anh”, Manuel nói.
“Có phải trận đấu ngày mai không?”
“Phải. Tôi tính là nếu có một kỵ mã giỏi giúp mình thì tôi sẽ thành công”.
“Anh nhận được bao nhiêu?”
“Ba trăm peseta”.
“Tôi kiếm được nhiều hơn thế trong mỗi trận đấu”.
“Tôi biết”, Manuel nói. “Tôi không có quyền ép anh”.
“Anh tiếp tục theo đuổi nghề này để làm gì?” Zurito hỏi. “Sao anh không cắt phứt cái bím tóc của mình đi hả Manolo?”
“Tôi không biết”, Manuel nói. “Nhưng tôi phải đấu. Nếu thành công trong trận này thì tôi sẽ nghỉ ngơi thực sự, đấy là tất cả ước nguyện của tôi. Tôi phải thực hiện, Manos”.
“Đừng, anh đừng”.
“Không, tôi thực hiện. Tôi đã từng cố giũ bỏ”.
“Tôi hiểu tâm trạng của anh. Song nó chẳng đúng đâu. Anh nên từ bỏ và tránh xa”.
“Tôi không thể làm như thế. Hơn nữa gần đây tôi đã khá hơn”. Zurito nhìn mặt anh.
“Anh vừa mới ra viện”.
“Nhưng tôi đã lừng danh sau khi bị thương”.
Zurito không nói gì nữa. Ông đổ chỗ Cognac ngoài đĩa vào ly. “Báo chí viết họ chưa hề thấy một pha kết thúc nào của đấu sĩ ngoạn mục cả”.
Zurito nhìn anh.
“Anh biết đấy, càng trưởng thành tôi càng đấu giỏi”, Manuel nói. “Anh già quá rồi”, kỵ mã nói.
“Không”, Manuel nói. “Anh hơn tôi mười tuổi”.
“Với tôi đấy là chuyện khác”.
“Tôi không quá già”, Manuel nói.
Họ ngồi lặng im, Manuel quan sát nét mặt của người kỵ mã. “Tôi bị thương lúc sắp sửa trở nên vĩ đại”, Manuel nói.
“Anh nên xem tôi đấu Manos à”, Manuel hờn dỗi nói.
“Tôi không muốn xem anh”, Zurito nói. “Nó làm tôi căng thẳng”.
“Gần đấy anh đã không thấy tôi đấu”.
“Tôi đã xem anh nhiều lần”.
Zurito nhìn Manuel, người đang tránh cái nhìn của ông.
“Anh nên từ bỏ nó, Manolo”.
“Tôi không thể”, Manuel nói. “Tôi cho anh hay là tôi đang sung sức”.
Zurito nghiêng người ra trước, đặt tay lên bàn.
“Nghe này. Tôi sẽ dụ bò cho anh và nếu tối mai trận đấu của anh chẳng mỹ màn lắm thì anh cũng phải từ bỏ. Hiểu chứ? Anh có thực hiện điều ấy không?”
“Là cái chắc”.
Zurito tựa người ra sau, hài lòng.
“Anh phải giã từ”, ông nói. “Đúng, chỉ là trò hề. Anh phải cắt bỏ bím tóc đi”.
“Tôi sẽ không phải giã từ”, Manuel nói. “Anh sẽ thấy. Tôi có kỹ xảo”.
Zurito đứng dậy. Ông cảm thấy mỏi mệt vì tranh luận.
“Anh phải từ bỏ”, ông nói. “Chính tay tôi sẽ cắt bím tóc của anh”.
“Không, anh sẽ không”, Manuel nói. “Anh chẳng có cơ hội đâu”.
“Đi thôi”, Zurito nói “Ta về nhà đi”.
Manuel đưa tay xuống dưới ghế lấy va-li. Anh hạnh phúc. Anh biết Zurito sẽ dụ bò cho mình. Anh ấy là người cỡi ngựa dùng giáo dụ bò giỏi nhất còn sống. Giờ thì mọi chuyện đơn giản.
“Đến nhà rồi chúng ta ăn”, Zurito bảo.
* * * * *
Manuel đứng trong sân phía sau đợi tiết mục Charlie Chaplin kết thúc. Zurito đứng cạnh anh. Sân chìm trong bóng tối. Cánh cửa cao dẫn đến trường đấu được khóa chặt. Họ nghe một tiếng thét vọng ra từ phía trên rồi sau đấy là cả tràng cười ha hả. Rồi thì tất cả lặng im. Manuel thích mùi chuồng bò tỏa khắp sân. Trong bóng tối, mùi nó vương nồng.
Một tiếng rống nữa vọng ra từ đấu trường rồi sau đó là tiếng vỗ tay, tiếng vỗ tay không dứt, tràn hết đợt này đến đợt khác.
“Anh chưa từng xem mấy gã ấy phải không?” Zurito dáng người to lù lù bên cạnh Manuel trong bóng tối, hỏi.
“Chưa”, Manuel đáp.
“Chúng thực buồn cười”, Zurito nói. Ông cười thầm trong bóng tối.
Hai cánh cửa cao, sít chặt dẫn vào đấu trường mở ra, Manuel nhìn thấy đấu trường trong ánh sáng chói mắt của mấy ngọn cao áp; khán đài xung quanh nhô cao trong bóng tối; quanh rìa trường đấu, hai người đàn ông ăn vận theo lối những mụ đàn bà đĩ thõa vừa chạy vừa cúi mình chào, theo sau là một gã vận đồng phục của người trực tầng khách sạn cúi nhặt mũ, gậy quẳng xuống nền cát; ném trà lại vào bóng tối.
Đèn điện sân trong bật sáng.
“Trong lúc anh đi tập hợp bọn ấy, tôi sẽ thu xếp cỡi lên một trong những chú ngựa non ấy”, Zurito nói.
Đằng sau họ văng vẳng tiếng nhạc la đi ra đấu trường để kéo xác bò.
Thành viên của nhóm đấu sĩ, đứng xem phần biểu diễn các tiết mục hài trên lối đi giữa tường chắn và dãy ghế ngồi, bước lùi ra sân sau, đứng thành nhóm nói chuyện dưới ánh đèn cao áp. Một anh chàng đẹp trai mặc bộ đồ màu da cam phớt bạc bước đến gần Manuel và mỉm cười.
“Tôi là Hernandez”, cậu ta nói và chìa tay ra.
Manuel đưa tay bắt.
“Tối nay chúng ta có những con voi thứ thiệt đấy”, chàng trai vui vẻ nói.
“Chúng to đùng và có sừng”, Manuel phụ họa.
“Thăm anh rút tệ lắm”, chàng trai nói.
“Không sao”, Manuel nói. “Chúng càng to bao nhiêu thì càng có nhiều thịt cho người nghèo bấy nhiêu”.
“Anh học câu ấy ở đâu vậy?” Hernandez cười phô cả hàm răng.
“Đấy là một câu nói cũ”, Manuel đáp. “Anh tập hợp nhóm đấu của mình đi, để tôi có thể biết tôi có những ai”.
“Anh có mấy tay cừ đấy”, Hernandez nói. Cậu ta rất hào hứng. Trước đây cậu đã từng đấu hai lần vào buổi tối và đã bắt đầu thu hút sự ngưỡng mộ của người xem ở Madrid. Cậu đang rạo rực bởi chỉ vài phút nữa trận đấu sẽ bắt đầu.
“Các đấu sĩ đâu?” Manuel hỏi.
“Họ đang ở sau bãi quây, giành nhau mấy con ngựa đẹp”, Hernandez há miệng cười.
Lũ la vội vã đi nhanh qua cổng, tiếng roi vút, tiếng chuông leng keng và con bò non đang cày một cái rãnh trên cát.
Họ đứng vào vị trí để chờ trình diễn ngay khi con bò ra khỏi.
Manuel và Hernandez đứng trước. Các đấu sĩ trẻ trong nhóm đứng sau, mấy tấm áo choàng nặng vắt trên tay. Đằng sau, bon kỵ mã đứng im, cầm giáo hướng mũi lên khoảng trời mờ mờ sáng của bãi quây.
“Thật kỳ lạ, Retana chẳng bố trí đủ ánh sáng để bọn ta thấy rõ mấy con ngựa”, một kỵ mã nói.
“Lão biết bọn mình sẽ hạnh phúc hơn nếu không nhìn thấy rõ những bộ da bọc xương ấy”, kỵ mã khác trả lời.
“Vật này chỉ đủ để nâng tao lên khỏi mặt đất”, tay kỵ mã thứ nhất nói.
“Ồ, chúng là ngựa đấy”.
“Chứ lỵ, ngựa mà”.
Ngồi trên lưng mấy con ngựa gầy còm trong bóng tối, họ chuyện trò.
Zurito lặng im. Ông chọn được con ngựa khỏe nhất trong đàn. Ông đã vất vả đuổi theo nó trong bãi và bị nó chống lại bằng những cú đá và đớp. Ông đã bỏ miếng che mắt phải của nó và cắt bớt mấy sợi dây họ dùng buộc chặt tai nó vào đầu. Nó là con ngựa hay và vững chãi, vững chãi trên chân của nó. Đấy là tất cả ông cần. Ông dự định cỡi nó trong suốt trận đấu. Từ lúc leo lên ngựa, ngồi trên cái yên lớn lót vải, trong bóng mờ mờ tối đợi trình diễn, ông đã hình dung toàn bộ diễn biến trận đấu trong đầu. Những tay kỵ mã khác vẫn tiếp tục trò chuyện cạnh ông. Ông không nghe tiếng họ.
Hai đấu sĩ đứng cạnh nhau trước ba người phụ đấu, áo choàng của họ vắt trên cánh tay trái theo cùng kiểu. Manuel đang nghĩ về ba chàng trai đứng phía sau mình. Cả ba là người Madrid; giống Hernandez, chúng mười chín tuổi. Một đứa là người Gypsy; anh thích vẻ mặt ngăm đen, nghiêm túc và bình thản của cậu ta. Anh quay lại.
“Tên cậu là gì, anh bạn?” anh hỏi gã Gypsy.
“Fuentes”, gã Gypsy đáp.
‘‘Tên hay đấy”, Manuel nói.
Gã Gypsy cười, để lộ cả răng.
“Cậu hãy đón con bò rồi cho nó chạy quanh vài vòng”, Manuel nói.
“Sẵn sàng”, gã Gypsy đáp. Trông vẻ mặt hắn nghiêm trang. Hắn đang nghĩ xem mình sẽ làm gì.
“Đẩy nó đã ra rồi kìa”, Manuel bảo Hernandez.
“Tốt. Chúng ta đi thôi”.
Đầu ngẩng cao, chân bước theo tiếng nhạc, cánh tay phải đánh xa tự do, họ bước ra dưới ánh đèn cao áp, đi qua đấu trường rải cát, nhóm đấu sĩ bám theo, các kỵ mã cầm cương nối tiếp, đằng sau là đám giúp việc ở đấu trường và bầy la leng keng. Kiêu hùng, tự tin, họ nhìn thẳng về phía trước khi diễu hành. Khán giả vỗ tay hoan hô Hernandez khi đoàn người đi qua đấu trường. Họ cúi đầu chào vị chủ tịch rồi nghi lễ tiếp tục với các phần đặc trưng riêng của nó. Các đấu sĩ đi đến hàng rào, đổi tấm choàng nặng của họ bằng những tấm choàng giao đấu nhẹ hơn. Bầy la ra khỏi. Mấy tay kỵ mã phóng nước đại rầm rầm quanh sân, hai người ra khỏi sân bằng lối ban nãy họ phi vào. Những người phục vụ quét cát phẳng lại.
Manuel uống ly nước người đại diện của Retana rót đưa, gã này hiện diện với tư cách là người trao gươm và là ông bầu của anh. Hernandez bước đến sau khi nói chuyện với ông bầu của mình.
“Cậu được hâm mộ đấy, anh bạn trẻ”, Manuel khen hắn.
“Họ thích tôi”, Hernandez hạnh phúc nói.
“Cuộc diễu hành trông thế nào?” Manuel hỏi người của Retana.
“Tựa một đám cưới”, người trao gươm nói. “Tuyệt. Các anh xuất hiện như thể Joselito hoặc Belmonte”.
Zurito cưỡi ngựa đi qua bên cạnh họ như một bức tượng kỵ mã lớn. Ông thúc ngựa, quay mặt về phía lối ra vào ở bên kia sân nơi con bò sẽ xuất hiện. Dưới ánh đèn cao áp, quang cảnh thực kỳ lạ. Ông đã tham gia dụ bò trong nhiều buổi chiều nóng bức để nhận những khoản tiền lớn. Ông chẳng thích đấu dưới ánh cao áp này. Ông ước họ bắt đầu đi cho rồi.
Manuel đến bên cạnh ông.
“Hãy dụ nó, Manos”, anh nói. “Làm nó kiệt sức cho tôi”.
“Tôi sẽ dụ nó, anh bạn”, Zurito nhổ xuống cát. “Tôi sẽ khiến nó phải lồng lộn trên đấu trường”.
“Cho nó biết tay, Manos”, Manuel nói.
“Tôi sẽ cho nó biết”, Zurito. “Sao nó lâu ra thế?”
“Nó sắp ra đấy”, Manuel đáp
Zurito đứng đó, chân đút vào bàn đạp, đôi chân đồ sộ của ông xỏ trong lớp giáp bọc da, quặp chặt lưng ngựa, tay trái nắm dây cương, tay phải cầm giáo dài, chiếc mũ rộng vành kéo sụp xuống tận mắt để che ánh sáng rọi vào mắt lúc nhìn cánh cửa trên bức tường chắn ở đằng xa. Tai chú ngựa run rẩy. Ông đưa tay trái vỗ nhẹ nó.
Cánh cửa đỏ của lối vào được kéo ra, từ phía bên này đấu trường Zurito nhìn một lúc vào lối đi trống rỗng. Lát sau con bò lao ra, bốn chân chững lại khi nó đến dưới mấy ngọn đèn rồi chuyển sang phi nước đại, di chuyển nhẹ nhàng bằng những bước phi nhanh, đấu trường im phăng phắc trừ tiếng phì phò thoát ra khỏi hai cánh mũi rộng khi nó phi nhanh, sung sướng bởi tự do sau khi thoát khỏi chuồng tối.
Trên dãy ghế thứ nhất, tay bình luận trận đấu bò tạm thời của tờ El Heraldo, không mấy hào hứng, cúi người tì lên bệ xi-măng trước đầu gối, viết. “Campagnero, màu đen, số 12, lao ra với tốc độ 90 dặm một giờ, tung bụi mù trời”.
Tựa lưng vào hàng rào, Manuel quan sát con bò, vẫy tay và gã Gypsy chạy ra, vung tấm choàng. Đang phi nước đại, con bò quay ngắt lại, đầu cúi thấp, đuôi dựng lên, lao vào tấm choàng. Gã Gypsy di chuyển zigzag, nhưng khi vượt lên, con bò nhìn thấy hắn bèn bỏ tấm choàng xông tới. Gã Gypsy chạy thục mạng, nhảy vọt qua hàng rào đỏ của bức ngăn vừa kịp lúc con bò cắm sừng vào. Nó đâm sừng vào cây gỗ hai lần rồi điên cuồng húc loạn xạ vào hàng rào.
Bình luận viên tờ El Heraldo châm điếu thuốc, quẳng que diêm về phía con bò rồi viết lên cuốn sổ tay, “đồ sộ với đôi sừng đủ nguy hiểm để thỏa mãn những bạn hàng giầu có, con Campagnero biểu diễn một cú cắt qua địa hình của đấu sĩ”.
Manuel bước ra nền cát cứng, lúc con bò húc chí tử vào hàng rào. Liếc mắt, anh thấy Zurito cỡi con ngựa trắng đứng gần bờ tường, cách một phần tư của đoạn đường quanh đấu trường về phía bên trái. Hai tay Manuel giữa tấm choàng sát trước người và thét gọi con bò. “Hu! Hu!” Con bò quay ngoắt lại, cong mình theo chiều của hàng rào, hấp tấp chuyển hướng tấn công vào tấm choàng khi Manuel bước sang một bên, xoay tròn trên gót chân theo đà tấn công của con bò để giữ tấm choàng ngay trước sừng nó. Tấm choàng đi hết một vòng, anh lại đối mặt với con bò mà vẫn giữ tấm choàng ở cùng tư thế ngay trước ngực rồi quay tiếp vòng nữa lúc con bò lại tấn công. Mỗi lần anh vung tấm choàng, khán giả không ngừng hò reo tán thưởng.
Bốn lần anh vung tấm choàng, giữ nó căng trước mặt con bò là mỗi lần kích thích con bò lao vào vòng tấn công. Sau đó, cuối vòng thứ năm, anh đưa tấm choàng vào sát hông và xoay trỏn, tấm choàng xòe ra tựa chiếc váy của vũ nữ ballet còn con bò cứ chạy quanh như bị hớp hồn vào đó; từ từ, anh bước lui, để con bò đối mặt với Zurito đang ngồi trên lưng con ngựa trắng tự tin tiến tới; giáp mặt con bò, tai chú ngựa dựng lên, môi nó giật giật; Zurito, chiếc mũ sụp xuống tận mắt, người nghiêng về phía trước, tay phải cầm giữa ngọn giáo, chĩa mũi nhọn hình tam giác vào con bò, đoạn giáo phía sau, tạo thành góc nhọn với cánh tay.
Tay bình luận viên của tờ El Heraldo, rút điếu thuốc, mắt vẫn nhìn con bò, viết: “Cựu đấu sĩ Manolo biểu diễn một loạt những động tác tung áo choàng ngoạn mục, kết thúc theo phong cách Belmonti, khán giả hâm mộ tán thưởng, chúng ta cùng sang màn đấu của các kỵ sĩ”
Ngồi trên lưng ngựa, Zurito ướm khoảng cách giữa con bò và mũi giáo. Khi anh nhìn, con bò gồng mình, dán mắt vào ngực chú ngựa và tấn công. Lúc nó hạ thấp đầu để húc. Zurito đâm mũi giáo vào cái bướu đầy cơ trên vai con vật, dốc hết sức tì lên cán giáo, tay trái giật dây cương để con ngựa trắng chồm đứng lên, hai chân trước huơ huơ trong không khí, và quành nó sang phải trong lúc đang ghìm con bò lại để sừng của nó húc vào khoảng không dưới bụng ngựa rồi chú ngựa đứng xuống, run rẩy; đuôi con bò quệt qua ngực nó lúc xông vào tấm choàng nhử của Hernandez.
Hernandez chạy theo hàng rào dùng tấm choàng dụ con bò ra xa, về phía gã kỵ mã khác. Cậu giữ nó đứng đối diện ngay trước con ngựa và ky mã bằng một động tác vung tấm choàng rồi bước lùi lại. Ngay lúc nhìn thấy con ngựa, chú bò liền tấn công. Mũi giáo của đấu sĩ trượt dọc theo lưng nó và khi sức mạnh của cú húc nhấc bổng con ngựa thì tay kỵ mã đã gần trượt ra khỏi yên, chân phải gã rời bàn đạp lúc đâm trượt con bò và nhào người về phía bên trái để giữ con ngựa giữa gã và con bò. Con ngựa, bị húc và hất ngã, đang bị con bò kềm chặt và tiếp tục húc, tay kỵ mã đạp ủng vào con ngựa, nằm im, đợi người đến lôi đi, đỡ dậy.
Manuel để con bò húc chú ngựa ngã, anh không vội, gã kỵ mã bình yên; hơn nữa nó sẽ cho tay kỵ mã ấy một bài học. Trận đấu tới, gã phải cầm cự lâu hơn. Đồ kỵ mã kém cỏi! Anh nhìn qua đấu trường về phía Zurito đang ngồi vững vàng trên yên ngựa, gần hàng rào, chờ đợi.
“Hu” anh gọi con bò, “Tomar!” trong lúc hai tay đang giữ tấm choàng dụ nó. Con bò rời con ngựa lao vào tấm choàng; Manuel chạy dọc theo lề đấu trường, giữ tấm choàng trải rộng, đứng lại, xoay tròn trên gót chân đưa con bò vòng qua đối diện ngay với Zurito.
“Campagnero nhận hai mũi giáo để đổi lấy mạng của con ngựa, Hernandez và Manolo đấu khá”, bình luận viên tờ El Heraldo viết. “Nó hăng máu với mùi thép và hoàn toàn chứng tỏ chẳng ưa thích gì lũ ngựa. Cựu đấu sĩ Zurito làm sống lại những đường thương cũ của mình, đáng lưu ý là kỹ xảo tránh né”.
“Olé! Olé” người đàn ông ngồi phía sau gã gào lên. Tiếng thét lọt thỏm vào tiếng gào của đám đông, ông ta vỗ vào lưng tay bình luận. Gã đưa mắt nhìn Zurito, lúc này đang đứng ngay phía dưới gã, chồm khỏi con ngựa, ngọn giáo vươn ra thành góc nhọn dưới nách, nắm chặt cán giáo ở một điểm, dùng hết trọng lượng cơ thể, giữ con bò cách xa, con bò cố trườn tới, nhằm vào con ngựa và Zurito ở đầu kia, bên trên nó, cố giữ nó rồi từ từ đưa con ngựa ra khỏi vòng nguy hiểm đứng vững trở lại. Zurito cảm nhận được khoảnh khắc lúc con ngựa bình an, con bò phóng sượt qua, độ chùng của cán giáo thoát ra khỏi sức nặng và cả tiếng rách của mũi giáo nhọn bằng thép hình tam giác cứa vào cái bướu trên vai con bò lúc nó giằng ra để quay sang tấm choàng Hernandez đưa nhử trước mặt. Nó mù quáng tấn công tấm choàng và cậu ta nhử nó ra giữa đấu trường.
Zurito vỗ vỗ con ngựa của mình và nhìn con bò đang lao vào tấm choàng Hernandez vung ra phía trước dưới ánh đèn sáng rực trong lúc đám đông đang reo hò ầm ĩ.
“Anh thấy pha ấy chứ?” ông hỏi Manuel.
“Thực tuyệt hảo”, Manuel đáp.
“Ban nãy tôi đã đâm nó”, Zurito nói. “Nhìn nó kìa”.
Với đà quay ngoắt theo tấm choàng, con bò trượt chân khuỵu xuống. Ngay lập tức nó vùng đứng dậy, nhưng từ bên kia đấu trường, Manuel và Zurito vẫn nhìn thấy dòng máu từ từ chảy, ánh lên trên bờ vai đen.
“Vừa rồi tôi đã đâm nó”, Zurito nói.
“Chú bò cừ đấy”, Manuel nói.
“Nếu chúng để tôi đâm phát nữa, tôi sẽ giết nó mất”, Zurito nói.
“Họ sắp đổi sang màn thứ ba”, Manuel nói.
“Nhìn nó kìa”, Zurito nói.
“Tôi phải đến đó”, Manuel nói rồi chạy qua phía bên kia đấu trường nơi mấy người giúp việc đang nắm dây cương và dùng roi quất vào chân để đưa con ngựa tiến về phía con bò, lúc này đang đứng, đầu cúi thấp, chân cào cào trên nền cát và không có ý định tấn công.
Zurito giục ngựa tiến đến, nheo mắt nhìn không bỏ sót một cử động nào.
Rốt cục con bò tấn công, mấy người dắt ngựa bỏ chạy về phía hàng rào, gã kỵ mã đâm trượt ra phía sau và con bò húc vào bụng ngựa nâng lên, đưa bổng trên lưng.
Zurito quan sát. Mấy người giúp việc vận sơ-mi đỏ chạy ra kéo tay kỵ mã vào. Gã kỵ mã đứng dậy, chửi thề và lắc lắc cánh tay. Manuel và Hernandez đứng chờ sẵn với tấm choàng của họ. Còn con bò, chú bò đen dũng mãnh, mang con ngựa trên lưng nhảy chồm lên lắc lắc, sợi dây cương vưóng vào sừng. Con bò đen mang con ngựa trên lưng bước những bước ngắn loạng choạng, rồi gồng cong cổ hất lên, húc mạnh cố hất con ngựa, con ngựa trượt xuống. Nó điên tiết lao vào tấm choàng Manuel tung ra.
Bây giờ Manuel thấy con bò chậm chạp hơn. Nó đang mất nhiều máu. Cả vạt máu ánh lên trên sườn nó.
Manuel vung tấm choàng lần nữa. Kìa nó lao đến, mắt mở to, căm hận nhìn tấm choàng. Manuel bước sang một bên, nâng cao cánh tay giữ chặt tấm choàng ngay trước mặt con bò và biểu diễn động tác xoay tròn người.
Bây giờ anh đang đối diện với con bò. Vâng, đầu nó hơi cúi xuống. Anh hạ tấm choàng thấp hơn. Zurito kia rồi.
Manuel giũ giũ tấm choàng; kìa nó xông tới, anh bước sang một bên rồi thực hiện kỹ xảo xoay tròn người một lần nữa. Nó tấn công thật chính xác, anh nghĩ. Giao đấu đã thấm mệt nên bây giờ nó quan sát. Bây giờ nó đã bị thương. Mắt nó nhìn mình. Nhưng mình luôn chìa tấm choàng cho nó.
Anh dứ dứ tấm áo choàng trước mặt con bò; kia rồi, nó đến, anh bước sang một bên. Lần này rất sát. Mình không nên quá gần với nó.
Rìa tấm choàng đẫm máu do quét lên lưng bò lúc nó vượt qua.
Tốt rồi, đây là lần cuối.
Manuel đứng đối diện với con bò đang hướng theo mỗi động tác từ tấm choàng trong tay anh. Con bò nhìn anh. Mắt quan sát, sừng chĩa về phía trước, nó nhìn anh, chỉ quan sát.
“Hu” Manuel gọi, “Toro!” rồi ngã người ra sau, tung tấm choàng về phía trước. Đây rồi, nó lao tới. Anh bước sang bên, vung tấm choàng ra sau lưng rồi xoay vòng, con bò chạy theo đường xoay tròn của tấm choàng rồi như bị hớp hồn, theo quán tính cứ chạy quanh lúc tấm choàng bị thu lại. Manuel dùng một tay phẩy tấm choàng trước mũi nó để chứng tỏ con bò đã bị chế ngự rồi bước xa ra.
Không có tiếng vỗ tay tán thưởng.
Manuel bước qua đấu trường rải cát đi về phía hàng rào trong lúc Zurito cỡi ngựa ra khỏi đấu trường. Tiếng kèn trumpet thổi lên báo hiệu giờ đổi sang mục của các tay cắm lao trong lúc Manuel đang biểu diễn trước còn bò. Anh không biết được điều đó. Mấy người giúp việc đang đắp vải bạt lên hai con ngựa chết và rải mùn cưa quanh chúng.
Manuel bước đến hàng rào uống nước. Người của Retana trao cho anh cái bình xốp nặng.
Fuentes, gã Gypsy cao, đứng cầm đôi lao, mũi nhọn như lưỡi câu, cán sơn đỏ, tròn lẳn. Gã nhìn Manuel.
“Ra đi”, Manuel bảo.
Gã Gypsy chạy ra. Manuel đặt bình nước xuống, quan sát. Anh lấy khăn lau mặt.
Bình luận viên tờ El Heraldo lấy chai sâm banh ấm đặt giữa hai chân, uống một ngụm rồi kết thúc đoạn văn.
“Manolo luống tuổi không được hoan hô bởi một loạt cú xoay tấm choàng quen thuộc và chúng ta bắt đầu mục cắm lao”.
Con bò một mình đứng đực ra giữa đấu trường. Fuentes cao lòng khòng hiên ngang tiến về phía nó hai cánh tay dang ra, bàn tay cầm hai ngọn lao đỏ, tròn lẳn chĩa mũi nhọn về phía trước. Fuentes bước tới. Bám sát bên gã là người phụ đấu mang tấm choàng. Con bò nhìn gã và thoát khỏi trạng thái đờ đẫn. Mắt nó nhìn Fuentes đang đứng lại. Bây giờ gã ưỡn ngực ra, khiêu khích gọi. Fuentes múa hai ngọn lao, ánh sáng từ mũi thép hút cái nhìn của con bò.
Đuôi cong lên, nó tấn công.
Con bò lao thẳng tới, mắt dán vào gã đàn ông. Fuentes đứng yên, ngả người ra sau, mũi lao hướng về phía trước. Lúc con bò cúi đầu xuống chuẩn bị húc, Fuentes ngửa người, hai cánh tay đưa theo và từ từ nâng lên, hai bàn tay nắm chặt, ngọn lao vạch thành những đường đỏ; rồi chồm người về phía trước đâm vào vai con bò, rướn cao thêm tí nữa tránh sừng bò, cắm thẳng hai mũi lao xuống. Chân gã kẹp chặt vào nhau, người uốn cong về một bên để con bò vượt qua.
“Olé” đám đông gào lên.
Con bò húc một cú chí từ, nhảy chồm lên như một chú cá hồi, cả bốn chân rời khỏi mặt đất. Cán lao màu đỏ nảy lên khi nó nhảy.
Đứng cạnh hàng rào, Manuel nhận thấy con bò luôn thuận bên phải.
“Bảo cậu ấy cắm đôi tiếp theo lên vai phải”, Manuel nói với chú bé sắp chạy ra trao cho Fuentes đôi lao mới.
Một bàn tay nặng đặt lên vai anh. Đấy là Zurito.
“Anh thấy thế nào, anh bạn?” ông hỏi.
Manuel đang nhìn con bò.
Zurito cúi chồm qua hàng rào, dồn trọng lượng cơ thể lên cánh tay. Manuel quay nhìn.
“Anh đang đấu tốt đấy”, Zurito nói.
Manuel lắc đầu. Bây giờ anh chẳng phải làm gì cho tới mục thứ ba. Gã Gypsy cắm lao rất cừ. Con bò lao vào gã trong đợt tấn công thứ ba rất hùng dũng. Nó là con bò kiêu hùng. Đến giờ mọi chuyện đều suôn sẻ. Màn cuối cùng với thanh kiếm sẽ khiến tất cả nỗi lo âu của anh chấm dứt. Thực ra anh chẳng hề sợ. Thậm chí anh cũng không nghĩ về nó. Song lúc đang đứng đó, trong anh bỗng trỗi dậy cảm giác lo sợ nặng nề. Anh nhìn con bò, dự tính các thao tác hạ gục nó bằng gươm, trù liệu công việc của mình với tấm choàng màu đỏ để khiến con bò mỏi mệt, dễ điều khiển.
Gã Gypsy bước về phía con bò lần nữa, đôi chân nhún nhảy đầy vẻ xem thường, thoải mái như thể đang khiêu vũ, cán lao đỏ lấp lánh theo nhịp chân. Con bò theo dõi gã, giờ thì nó không đứng im mà sẵn sàng xốc tới song nó đợi đối thủ đến vừa tầm để chắc rằng mình sẽ khống chế, sẽ đâm ngập sừng vào hắn.
Lúc Fuentes tiến đến, con bò liền tấn công. Fuentes chạy cắt ngang qua một phần tư đường tròn để tránh cuộc truy đuổi, song ngay lúc con bò vừa vượt qua, gã đứng lại, chồm về phía trước, nhón chân, cánh tay vươn ra, cắm chặt mấy mũi lao xuống tảng cơ vai của con bò.
Đám đông phát rồ lên với pha ấy.
“Cậu ấy sẽ chẳng ở lâu trong đấu trường tối này đâu”, người của Retana nói với Zurito.
“Hắn giỏi đấy”, Zurito nói.
“Nhìn hắn kìa”.
Họ nhìn.
Fuentes đứng dựa lưng vào hàng rào. Hai người trong nhóm đấu ở sau anh, cầm sẵn tấm choàng để phất qua hàng rào dụ con bò.
Con bò, lưỡi thè ra, cơ thể nặng nề, đang nhìn gã Gypsy. Nó nghĩ bây giờ nó sẽ hạ gục cái gã tựa lưng vào hàng rào gỗ đỏ. Khoảng cách chỉ một tầm húc ngắn mà thôi. Con bò nhìn gã.
Gã Gypsy ngả người ra sau, cánh tay kéo theo, mũi lao hướng vào con bò. Gã giậm chân gọi. Con bò ngạc nhiên. Nó cần gã kia. Chẳng bận tâm gì đến mấy mũi lao trên lưng, Fuentes bước đến gần con bò hơn. Ngả người ra sau. Gọi thêm lần nữa. Có ai đó trong khán giả thét lên nhắc nhở.
“Hắn đến gần quá”, Zurito nói.
“Nhìn hắn kìa”, người của Retana nói.
Ưỡn ngục, huơ lao trêu tức con bò, Fuentes nhảy lên, hai chân rời khỏi mặt đất. Lúc anh nhảy, tai con bò dựng đứng, nó tấn công. Fuentes đáp xuống trên đầu ngón chân, cánh tay vung ra, toàn bộ cơ thể chúi về phía trước, đâm thẳng ngọn lao xuống lúc chồm người ngay trên sừng bên phải của con bò.
Con bò húc vào hàng rào nơi mấy tấm choàng phất phơ hút cái nhìn của nó rồi nó mất gã ấy.
Gã Gypsy chạy dọc hàng rào về phía Manuel và đón nhận tràng pháo tay tán thưởng của khán giả. Áo gilê của gã bị rách nơi gã chạm nhẹ vào sừng bò. Gã tự hào về chuyện đó và phô nó cho khán giả xem. Gã chạy quanh đấu trường. Zurito thấy gã, mỉm cười chỉ vào chiếc gilê. Gã mỉm cười.
Một đấu sĩ nào đấy đang cắm cặp lao cuối cùng. Song chẳng ai buồn để ý.
Người của Retana đặt cây gậy vào giữa tấm choàng bằng vải màu đỏ, xếp lại rồi chuyển qua hàng rào cho Manuel. Hắn tìm hộp đựng gươm cầm lấy một thanh, nắm ngoài vỏ da, đưa qua hàng rào cho Manuel. Manuel rút kiếm ra, chiếc vỏ mềm đi.
Anh nhìn Zurito. Người đàn ông to lớn thấy anh đang toát mồ hôi.
“Bây giờ anh hạ nó, anh bạn”, Zurito nói to.
Manuel gật đầu.
“Nó còn đẹp mã đấy”, Zurito nói to.
“Đúng như anh muốn”, người của Retana động viên.
Manuel gật đầu.
Ngay dưới mái che, người thổi trumpet báo hiệu màn cuối, Manuel bước ra đấu trường, đi về phía khán đài chìm trong bóng tối nơi vị chủ tịch đang ngồi.
Trên hàng ghế phía trước, tay phê bình tạm thời về trận đấu của tờ El Heraldo hớp một ngụm sâm banh ấm. Hắn quyết định chẳng dại gì mà viết đuổi theo câu chuyện, hắn sẽ viết bài tường thuật lúc về văn phòng. Dẫu sao thì có hề hấn quái gì chứ? Chỉ một đêm. Nếu hắn có quên chi tiết nào thì sẽ chép lại mấy tờ báo buổi sáng. Hắn chiêu một ngụm sâm banh nữa. Hắn có một cuộc hẹn ở Maxim vào lúc 12 giờ. Mấy gã đấu bò này là cái thá gì chớ? Lũ chíp hôi và đám vô công rồi nghề. Một bọn vô tích sự. Hắn đút tập giấy vào túi và nhìn Manuel đang đứng lẻ loi trên đấu trường, đưa mũ chào về phía khán đài nhô cao trong bóng tối mà hắn không thấy rõ. Giữa trường đấu, con bò đứng lặng im, chẳng nhìn ai.
“Tôi xin hiến con bò này đến ngài, thưa ngài Chủ tịch và đến tất cả dân chúng ở Madrid, những người thông minh và hào phóng nhất thế giới”, là những lời Manuel đang nói. Đấy là nghi thức. Anh nói một mạch. Nó hơi dài trong một trận đấu ban tối như thế này.
Anh cúi gập người trong bóng tối, đứng thẳng lên, hất mũ ra sau vai, mang tấm choàng trong tay trái, tay phải cầm thanh gươm, tiến về phía con bò.
Manuel tiến về phía con bò. Con bò nhìn anh, mắt nó đảo nhanh.
Manuel chú ý mấy ngọn lao bám lủng lẳng trên vai trái nó và vệt máu sẫm dày từ vết đâm của Zurito. Anh để ý thế đứng của con bò. Lúc anh bước tới trước, tay trái cầm tấm choàng và tay phải cầm gươm, anh đã quan sát chân nó. Con bò sẽ không tấn công chừng nào chưa chụm chân lại. Bây giờ, nó đứng ì ra, đần độn.
Manuel vừa theo dõi bốn cái chân và tiến về phía nó. Trận đấu này ổn thôi. Anh có thể thực hiện được. Anh phải dụ con bò cúi đầu xuống để có thể chồm qua sừng và giết nó. Anh không nghĩ về thanh gươm và cũng chẳng nghĩ đến việc giết con bò. Anh nghĩ về chuyện khác cơ. Dẫu sao thì những việc đang đến đã ám ảnh anh. Bước về phía trước, dõi theo chân con bò, anh liếc nhìn vào mắt nó, cái bướu ướt của nó và cái đôi sừng rộng, nhọn hoắt chĩa về phía trước của nó. Con bò có những đường tròn mảnh quanh mắt. Đôi mắt theo dõi Manuel. Nó biết nó sẽ hạ con người bé nhỏ có khuôn mặt trắng bệch này.
Bây giờ, lúc đứng lại, tay trái cầm kiếm, dùng mũi khều trải tấm choàng bằng vải Flanel đỏ như thể ai đó đang trở buồm của một con thuyền, Manuel lưu ý đến mũi sừng nhọn của con bò. Một sừng đã bị toe do húc vào hàng rào. Sừng kia nhọn như lông nhím. Trong khi trải tấm choàng, Manuel thấy gốc sừng trắng của con bò vấy đỏ. Lúc quan sát những điều đó, Manuel vẫn không rời mắt khỏi chân con bò. Nó đứng im nhìn Manuel.
Giờ thì chú chàng đã thận trọng rồi, Manuel nghĩ. Chú mày không tợn nữa. Mình phải đưa nó ra khỏi trạng thái đó và buộc nó cúi đầu xuống. Luôn khiến nó cúi đầu. Một lần Zurito đã bắt nó cúi đầu, song nó lại ngẩng lên. Nó sẽ mất máu khi mình bắt nó nhảy nhót vài vòng và nó sẽ kiệt sức.
Tay trái cầm gươm, anh vung tấm choàng ra trước mặt, cất tiếng gọi con bò.
Con bò nhìn anh.
Anh ưỡn người ra rất khiêu khích và vung tấm vài Flanel rộng hơn.
Con bò nhìn tấm choàng. Dưới ánh đèn cao áp, tấm vải màu đỏ thẫm sáng lên. Chân con bò vẫn bất động.
Nó đến đấy. Hu! Manuel quay người khi con bò lao tới nâng tấm choàng vượt qua rừng và quét dọc theo lưng rộng từ đầu cho đến đuôi. Cú tấn công đã làm con bỏ nhảy chồm lên không trung. Manuel vẫn không dịch chuyển người.
Ngay khi húc trượt, tựa chú mèo lượn qua góc nhà, con bò quay ngoắt lại đối diện với Manuel.
Nó điên tiết lại rồi. Dáng vẻ nặng nề không còn nữa. Manuel để ý đến dòng máu tươi óng ánh trườn xuống chiếc vai màu đen rồi nhỏ giọt dưới chân bò. Anh tuốt gươm ra khỏi tấm choàng cầm nó trong tay phải. Tay trái hạ thấp tấm choàng nghiêng người về phía bên tay trái, anh gọi con bò. Chân nó bất động, mắt nhìn vào tấm choàng. Nào nó đến đấy, Manuel nghĩ. Hu!
Anh lạng người theo cú húc, kéo rê tấm choàng trước mặt con bò, đôi chân làm trụ, lưỡi kiếm rê theo đường tròn, lóe sáng dưới ánh cao áp.
Con bò lại tấn công khi cú húc kết thúc và Manuel nâng cao tấm choàng để biểu diễn đường xoay người tránh né. Bằng sự tính toán chính xác, con bò lượn qua ngực anh dưới tấm choàng được nâng cao. Manuel ngửa đầu ra sau tránh mấy cán lao cắm lên mình bò. Con bò màu đen, nóng hổi chạm vào ngực anh khi nó vượt qua.
Gần quá, Manuel nghĩ. Cúi mình qua hàng rào, Zurito bảo nhanh gã Gypsy mang tấm choàng chạy về phía Manuel. Zurito kéo sụp mũ xuống, theo dõi Manuel ở bên kia đấu trường.
Manuel đang đối diện trở lại với con bò, tấm choàng hạ thấp, về phía trái. Đầu con bò cúi xuống khi nó nhìn tấm choàng.
“Nếu Belmonte thực hiện pha này thì khán giả đã phát cuồng lên”, người của Retana nói.
Zurito lặng im. Ông đang dõi theo Manuel ở giữa đấu trường.
“Ông chủ đào đâu ra gã này vậy?” người của Retana hỏi.
“Từ bệnh viện”, Zurito đáp.
“Đấy là nơi hẳn sẽ chóng quay lại thôi”, người của Retana nói.
Zurito quay sang hắn.
“Gõ vào đó”, ông nói, tay trở về phía hàng rào.
“Tôi chỉ đùa thôi, anh bạn”, người của Retana nói.
“Gõ vào thanh gỗ”.
Người của Retana chồm về phía trước, gõ ba lần vào hàng rào.
“Nhìn ra đấu trường”, Zurito nói.
Ngay chính giữa đấu trường, dưới ánh đèn, Manuel đang quỳ gối, đối mặt con bò; rồi khi hai tay anh nâng tấm choàng lên, đuôi con bò cong lại, nó tấn công.
Manuel vặn nhanh người và lúc con bò tấn công trở lại tấm choàng theo đường cong của nửa vòng tròn, nó khuỵu gối.
“Này, tay kia thật đúng là một đấu sĩ vĩ đại”, người của Retana nói.
“Không, anh ta không phải,” Zurito nói.
Tay trái giữ tấm choàng, tay phải cầm gươm, Manuel đứng dậy nghiêng người đáp lại tiếng vỗ tay hoan hô trên khán đài tối.
Con bò nhổm dậy, đầu cúi thấp, đứng chờ.
Zurito bảo hai trong số những kỵ mã, mang tấm choàng chạy ra đứng phía sau Manuel. Bây giờ đã có năm người sau lưng anh. Hernandez vẫn theo anh kể từ lúc anh mang tấm choàng bước ra. Fuentes đứng bình tĩnh quan sát, tấm choàng ép sát vào thân hình cao lớn, khỏe mạnh. Giờ thì hai người nữa đến, Hernandez bảo họ đứng cạnh nhau. Manuel đứng một mình, đối diện con bò.
Manuel vẫy đám người mang tấm choàng lùi lại. Lúc thận trọng bước lui, họ thấy mặt anh tái nhợt, đẫm mồ hôi.
Sao bọn chúng không hiểu phải lùi lại nhỉ? Chúng có muốn con bò để ý đến mấy tấm choàng sau khi mình đã chế ngự được nó và sẵn sàng? Không có chuyện ấy anh cũng đã có quá nhiều điều để lo lắng.
Con bò đang đứng, bốn chân bất động, nhìn tấm choàng. Tay trái Manuel phẩy nhẹ tấm choàng. Mắt con bò dán vào. Cơ thể nó nặng nề. Đầu cúi thấp nhưng không quá thấp.
Manuel vung tấm choàng về phía nó. Con bò không nhúc nhích. Chỉ đôi mắt dõi theo.
Hắn hóa chì, Manuel nghĩ. Hắn vuông rồi. Hắn bị đóng khung. Hắn sẽ chổng vó.
Anh tư duy bằng ngôn ngữ đấu trường. Thỉnh thoảng anh nảy ra một ý tưởng song vì lớp tiếng lóng nghề nghiệp không bắt kịp nên anh không thể định hình ý tưởng ấy. Bản năng và tri thức của anh hoạt động một cách máy móc, đầu óc anh vận động chậm chạp để tìm kiếm từ ngữ. Anh quá hiểu lũ bò. Anh không phải nghĩ nhiều về chúng. Anh chỉ làm một việc đúng đắn. Mắt anh quan sát mọi chuyển đổi và cơ thể anh thực hiện những động tác cần thiết mà không cần suy nghĩ. Nếu phải suy nghĩ thì anh đã đi đứt.
Bây giờ, đối diện con bò, trong cùng một lúc, anh ý thức được nhiều thứ. Đấy là cặp sừng, một chiếc đã bị toe, đập; chiếc còn lại nhọn hoắt, phía sừng trái là bên có lợi cho anh, đâm một nhát thần tốc và quyết định, hạ thấp mảnh vải để con bò cúi theo, chồm qua sừng, cắm ngập lưỡi gươm vào một điểm chỉ lớn bằng đồng năm peseta ngay trên gáy, giữa khoảng gẫy oằn trên vai con bò. Anh phải thực hiện tất cả các động tác này và phải thoát ra khỏi cặp sừng. Anh biết mình phải làm tất cả và ý tưởng duy nhất trong anh lúc này là: “Corto y derecho” [1].
“Corto y derecho”. Anh nghĩ lúc đang phất tấm choàng. Thần tốc và quyết định. Corto y derecho, anh tuốt gươm ra khỏi vỏ, dự định tấn công bên phía sừng trái đã bị dập, đưa chéo tấm choàng sang phía bên kia, tay phải cầm gươm di chuyển theo hướng ánh mắt dõi tìm điểm cắm xuống, và nhón chân lên nhìn dọc theo lưỡi kiếm hướng mũi xuống một điểm ở phía cao trên vai bờ.
Corto y derecho anh lao người lên con bò.
Có một cú sốc rồi anh thấy mình bị hất tung lên trời. Thanh kiếm được kéo theo khi anh bị tung lên rồi trượt khỏi tay anh. Anh rơi xuống đất, con bò bên trên anh. Nằm trên mặt đất, Manuel dùng chân đá vào mõm bò. Đá, đá mãi, con bò bám sát anh, do điên cuồng nên húc trượt, đầu nó bổ vào người anh, sừng cắm phập xuống cát. Tiếp tục đá vào con bò như một cầu thủ giữ quả bóng trong không khí, Manuel cầm chân con bò ở khoảng cách, không để húc được anh.
Manuel cảm thấy tiếng gió sau lưng từ mấy tấm choàng phất nhử con bò, rồi con bò bị dụ, vội vã lao vượt qua anh. Bóng tối, lúc bụng nó vượt qua. Không chạm phải người Manuel mảy may.
Manuel đứng dậy nhặt tấm choàng. Fuentes trao anh thanh gươm. Nó bị cong khi đâm phải xương vai. Manuel dùng gối uốn thẳng rồi chạy về phía con bò lúc bấy giờ đang đứng cạnh một trong những con ngựa chết. Lúc anh chạy, chiếc áo của anh vỗ vỗ dưới nách nơi bị sừng bò xé rách.
“Đưa nó ra khỏi đó”, Manuel hét gọi gã Gypsy, Con bò đánh hơi được mùi máu từ xác ngựa chết và húc rách tấm bạt. Nó quay sang tấn công tấm choàng của Fuentes với một mảnh bạt rách bám vào đầu sừng dập, đám đông hò reo.
Trên đấu trường, con bò lắc lắc đầu để hất mảnh vải. Hernandez, chạy vượt lên từ phía sau, chộp một đầu mảnh vải và nhẹ nhàng nhắc ra khỏi sừng.
Con bò lao theo mấy bước rồi đứng im. Nó bình tĩnh lại. Manuel cầm gươm và tấm choàng bước về phía nó. Anh vung tấm choàng. Con bò không tấn công.
Manuel tranh thủ tiếp cận con bò, mắt nhìn theo lưỡi kiếm hạ xuống. Con bò bất động như thể đã chết đứng, không còn khả năng tấn công.
Manuel nhón chân, liếc nhìn ánh thép và đâm xuống.
Một lần nữa, có cú sốc và lập tức anh thấy mình văng ra sau, đập mạnh người xuống cát. Lần này không còn cơ hội để đá nữa. Con bò đã cúi trên người anh. Manuel nằm ôm đầu vờ chết, con bò húc anh, húc vào lưng, vùi mặt anh trong cát. Anh cảm nhận chiếc sừng len qua cánh tay gấp lại của anh, cắm phập xuống cát. Con bò húc vào chỗ thắt lưng. Mặt anh vùi sâu vào trong cát. Cái sừng đâm thủng cánh tay áo và xé rách. Manuel bị ném lên rồi con bò lại đuổi theo mấy tấm choàng.
Manuel đứng dậy, tìm gươm và tấm choàng, dùng ngón tay cái thử mũi kiếm rồi chạy về phía hàng rào đổi thanh kiếm khác.
Người của Retana đưa kiếm qua hàng rào cho anh.
“Lau mặt đi”, hắn nói.
Manuel, trong lúc chạy lại phía con bò, dùng khăn mùi xoa lau khuôn mặt đầy máu của mình. Anh không trông thấy Zurito, Zurito đâu nhỉ?
Nhóm đấu sĩ rời con bò, cầm tấm choàng chờ đợi. Sau đợt tấn công vừa rồi con bò đứng nặng nề và đần độn.
Manuel mang tấm choàng tiến về phía nó. Anh dừng lại, vung lên. Con bò không phản ứng. Anh đưa tấm vải từ phải sang trái rồi từ trái sang phải trước mõm nó. Con bò nhìn tấm vải và lắc sừng song nó chẳng tấn công. Nó đang đợi Manuel.
Manuel đâm ngại. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc lao vào. Corto y derecho. Anh tiến sát con bò, đưa chéo tấm choàng qua người rồi tấn công. Khi phóng gươm đâm, anh nhảy sang trái tránh cái sừng. Con bò vượt qua anh, thanh kiếm lao thẳng lên không trung, lấp lánh trong ánh đèn cao áp rồi rơi nằm phơi cái chuôi đỏ trên cát.
Manuel chạy vội đến, nhặt lên. Cây kiếm bị cong, anh tì lên đầu gối uốn thẳng lại.
Khi chạy về phía con bò đang đứng lặng lẽ trở lại, anh vượt qua. Hernandez đứng với tấm choàng của mình.
“Nó là cả khối xương”, cậu ta nói để động viên.
Manuel gật đầu, chùi mặt. Anh đút chiếc khăn tay đẫm máu vào túi.
Con bò còn đó. Bây giờ nó đứng gần hàng rào. Đồ chết tiệt. Có lẽ là cả khối xương, có lẽ chẳng còn kẽ hở nào để cắm mũi gươm vào. Mẹ kiếp! Anh sẽ cho bọn chúng thấy.
Anh cố đưa tấm choàng ra dụ nhưng con bò không cử động. Manuel liên tực đưa tấm choàng qua lại trước mặt con bò. Chẳng hề động đậy.
Anh cuộn tấm áo choàng, tuốt kiếm, tiến đến lao thẳng vào con bò. Anh cảm thấy lưỡi kiếm oằn lại lúc đâm xuống, cảm thấy cả sức mạnh của cơ thể dồn hết lên dốc kiếm rồi thanh kiếm bắn thẳng lên trời, rơi xuống khán giả. Manuel bị đẩy lùi lại khi thanh kiếm nảy lên.
Từ trong bóng tối, những chiếc đệm đầu tiên quẳng vào anh bị trượt. Rồi thì một chiếc đã ném trúng mặt anh, khuôn mặt đẫm máu đang ngước nhìn đám đông. Những chiếc đệm được ném xuống nhanh hơn. Rải nhiều trên mặt cát. Từ dãy ghế gần hàng rào, ai đó còn ném cả vỏ chai sâm banh. Nó đập vào chân Manuel. Anh đứng đó ngước mắt nhìn vào bóng tối nơi nhiều thứ vẫn tiếp tục được liệng xuống. Rồi thì có tiếng của vật gì đó át trong không gian, rơi xuống cạnh anh. Manuel cúi nhặt lên. Đấy là thanh kiếm của anh. Anh bẻ thẳng nó trên đầu gối rồi đưa lên phác một điệu bộ với đám đông.
“Cám ơn các bạn”, anh nói “Xin cảm ơn”.
Ôi, đồ con hoang nhơ nhuốc! Đồ con hoang bẩn thỉu! Mày, đồ chó đẻ thối tha! Anh đá một tấm đệm khi đang chạy.
Con bò đứng đó. Điềm nhiên như trước. Được rồi, đồ chó đẻ thối thây kia!
Manuel vung tấm choàng trước cái mõm đen của con bò.
Chẳng buồn nhúc nhích.
Mày không hả! Đợi đấy. Anh bước lại gần và chọc đầu nhọn của tấm choàng vào chiếc mõm ướt của con bò.
Con bò chồm lên người anh lúc anh nhảy lùi trượt chân vào tấm đệm; anh cảm nhận chiếc sừng đâm vào người, phía mạn sườn. Anh chộp lấy cái sừng bằng cả hai tay, nắm chặt và cố trườn người ra. Con bò hất tung, anh thoát khỏi cái sừng. Anh nằm im. Ổn rồi, con bò đã bị dụ đi.
Anh đứng dậy, ho và cảm thấy xương bị gãy, vỡ. Đồ con hoang bẩn thỉu!
“Đưa tôi thanh kiếm”, anh thét gọi. “Đưa tôi thanh kiếm”.
Fuentes mang tấm choàng và thanh kiếm bước đến.
Hernandez quàng tay qua người anh.
“Đến nhà thương đi, anh bạn”, cậu ta nói. “Đừng có ngốc như thế nữa”.
“Tránh tôi ra” Manuel nói. “Cút xa khỏi tôi”.
Anh vùng ra, Hernandez nhún vai. Manuel chạy về phía con bò.
Con bò đứng đó, nặng nề chôn chân lặng lẽ.
Được rồi, đồ con hoang! Manuel tuốt kiếm khỏi tấm choàng, liếc nhìn trong lúc di chuyển rồi lao thẳng vào con bò. Anh cảm thấy lưỡi kiếm đi ngọt một đường. Ngập đến tận chuôi. Bốn ngón tay và cả ngón cái lún vào mình bò. Dòng máu nóng tràn đến mắt cá tay, anh chồm lên con bò.
Con bò lảo đảo, kéo theo anh lúc ngã, rồi như thể chìm xuống, anh vẫn đứng vững. Anh nhìn con bò từ từ ngả nghiêng rồi bất thình lình chổng bốn vó lên trời.
Anh phác cử chỉ chào khán giả, bàn tay ấm máu bò.
Xong rồi, đồ con hoang! Anh muốn nói điều gì đó nhưng anh bắt đầu ho. Cơn ho nóng hổi và ngột ngạt. Anh nhìn xuống tìm tấm choàng. Anh phải đến đằng kia chào vị chủ tịch. Cút mẹ mày đi Chủ tịch! Anh đang ngồi xuống nhìn vật gì đó. Đấy là con bò. Bốn chân chổng ngược. Cái lưỡi dày thè ra. Mấy con gì đang bò trên bụng vả chân của nó. Bò trên khoảng lông thưa. Con bò chết. Con bò chết tiệt! Cả họ hàng chết tiệt nhà bay! Anh đứng dậy và bắt đầu ho. Anh ngồi xuống lần nữa, ho rủ rượi. Ai đó đến đỡ anh dậy.
Họ đưa anh qua đấu trường, đến bệnh viện, họ chạy bên anh trên cát, bị kẹt ở cổng lúc đàn lừa vào rồi đi vòng dưới hành lang tối, mấy người ấy càu nhàu khi đưa anh lên cầu thang, rồi đặt anh xuống.
Bác sĩ và hai người vận đồ trắng đang đợi. Họ đưa anh lên bàn. Áo sơ-mi bị cắt bỏ. Manuel cảm thấy mệt mỏi. Toàn bộ lồng ngực bên trong của anh bỏng rát. Anh bắt đầu ho và họ đút cái gì đó vào miệng anh. Mọi người rất bận rộn.
Ánh điện rọi vào mắt anh. Anh nhắm lại.
Anh nghe bước chân ai đó nặng nề lên cầu thang. Rồi anh không nghe rõ nữa. Rồi anh nghe tiếng ồn ào từ xa vọng lại. Đấy là đám đông. Ừ, ai đó sẽ phải thay anh giết con bò kế tiếp. Họ đã cắt bỏ hết chiếc sơ-mi của anh. Bác sĩ mỉm cười với anh. Retana đứng đó.
“Chào Retana!” Manuel nói. Anh không thể nghe nổi giọng mình.
Retana mỉm cười và nói điều gì đó. Manuel không nghe rõ.
Zurito đứng cạnh bàn, cúi nhìn nơi bác sĩ xem xét. Ông vận đồ kỵ mã nhưng không đội mũ.
Zurito nói gì đó với anh. Anh không nghe được giọng ông.
Zurito đang nói với Retana. Một người vận đồ trắng mỉm cười và đưa Retana cái kéo. Retana chuyển cho Zurito. Zurito nói gì với Manuel. Anh không thể nghe nổi.
Cái bàn phẫu thuật chết tiệt này. Trước đây anh đã từng lên bàn mổ nhiều lần. Anh sẽ không chết. Nếu anh sắp chết thì hẳn phải có một linh mục ở đây.
Zurito đang nói gì đó với anh. Tay cầm cái kéo.
À ra thế. Họ sắp cắt búi tóc của anh. Họ sẽ cắt bím tóc của anh.
Manuel ngồi bật dậy trên bàn mổ. Bác sĩ giận dữ bước lại. Ai đó nắm giữ lấy anh.
“Anh không thể làm thế, Manos”, anh nói.
Đột nhiên, anh nghe rõ ràng giọng Zurito.
“Được rồi”, sẽ nói. “Mình sẽ không làm như thế. Mình chỉ đùa thôi”.
“Tôi sẽ bình phục”, Manuel nói. “Tôi chỉ không gặp may thôi mà. Tất cả chỉ có thế”.
Manuel nằm xuống. Họ đặt cái gì đó lên mặt anh. Nó rất quen. Anh hít sâu vào. Anh thấy rất rã rời. Anh thật quá mệt. Họ mang vật ấy khỏi mặt anh.
“Tôi sẽ bình phục”, Manuel nói yếu ớt. “Tôi sẽ lừng danh”.
Retana nhìn Zurito rồi bước về phía cửa.
“Tôi ở lại với cậu ấy”, Zurito nói.
Retana nhún vai.
Manuel mở mắt nhìn Zurito
“Tôi sẽ không bình phục hay sao hở Manos?” anh hỏi để củng cố niềm tin.
“Chắc rồi”, Zurito nói. “Cậu sẽ lừng danh”
Tay phụ tá của bác sĩ úp một vật hình nón lên mặt Manuel, anh hít sâu vào. Zurito đứng nhìn, bối rối.

Lê Huy Bắc dịch
---------------------------
[1] Thần tốc và quyết định.
0
Nơi xứ lạ

Mùa thu, chiến tranh vẫn đang tiếp diễn nơi ấy, nhưng chúng tôi không tham dự. Ở Milan, trời lạnh vào mùa thu và tối rất sớm. Khi đèn được bật sáng, thật dễ chịu lúc đi dọc phố ngắm các tủ kính bày hàng. Có rất nhiều thú săn treo bên ngoài các cửa hàng, tuyết rắc trắng trên những bộ lông cáo và gió vờn đuôi của chúng. Xác hươu đông cứng, nặng nề và rỗng ruột. Những con chim nhỏ đung đưa theo làn gió và gió thổi xù lông chúng. Gió từ những ngọn núi cao tràn xuống trong mùa thu lạnh.
Buổi chiều, cả bọn đều ở bệnh viện. Vào lúc hoàng hôn, có nhiều lối khác nhau để đi từ thị trấn về bệnh viện. Hai trong những lối ấy là đi dọc theo những con kênh, song chúng khá xa. Dầu sao thì bạn cũng phải băng qua chiếc cầu bắc trên kênh để vào bệnh viện. Có ba chiếc để bạn chọn. Một chiếc có người đàn bà bán hạt dẻ rang. Bạn sẽ cảm nhận được hơi ấm khi đứng trước lò than hồng của bà. Còn hạt dẻ thì vẫn ấm rất lâu khi bạn đút vào túi. Bệnh viện đã cũ nhưng rất đẹp. Bạn đi vào cổng, băng qua sân và có thể ra ngoài bằng cửa khác. Nhiều người chết ở bệnh viện. Tang lễ thường được cử hành ở trong sân. Đằng kia bệnh viện cũ kỹ là khu nhà mới lợp ngói. Nơi đó, một buổi chiều, chúng tôi gặp nhau, mọi người rất lịch sự và hào hứng trước bất kỳ chuyện gì, cả bọn ngồi vào những cỗ máy được thiết kế để điều trị những vết thương khác nhau.
Bác sĩ đến cỗ máy nơi tôi đang ngồi và hỏi: “Trước chiến tranh, anh thích làm gì nhất? Anh có chơi thể thao không?”
Tôi đáp: “Có, bóng đá”.
“Tốt”, ông ta nói. “Anh có thể chơi bóng trở lại, tốt hơn xưa”.
Đầu gối của tôi không gập được. Chân tôi không có bắp. Nó cứ thẳng đơ từ gối cho đến mắt cá. Chiếc máy giúp tôi co duỗi. Động tác của nó y hệt như lúc tôi ngồi đạp xe ba bánh [1]. Nhưng tôi vẫn chưa co được dẫu cho chiếc máy lắc lư khi cố gập dần cái chân. Bác sĩ bảo: “Tất cả sẽ ổn. Anh là người may mắn. Anh có thể đá bóng trở lại như một nhà vô địch”.
Trên cỗ máy bên cạnh là thiếu tá, người có bàn tay nhỏ xíu giống như tay của một đứa trẻ. Gã nháy mắt với tôi khi bác sĩ khám tay. Bàn tay được đặt giữa hai sợi dây da mà có thể làm nó nảy lên nảy xuống và giúp những ngón tay cứng cử động. Gã hỏi: “Và tôi cũng có thể đá bóng chứ, thưa đại úy bác sĩ?" Gã là một tay kiếm cừ khôi, trước chiến tranh, gã là người đấu kiếm giỏi nhất Italy.
Bác sĩ quay vào văn phòng ở phía sau rồi mang ra bức ảnh chụp một bàn tay trước đây cũng quắt nhỏ như tay của thiếu tá, nhưng sau khi được điều trị bằng máy, bàn tay ấy có nhỉnh hơn chút xíu. Thiếu tá giữ nó trong bàn tay lành, quan sát kỹ lưỡng. “Vết thương hả?” gã hỏi.
“Tai nạn công nghiệp”, bác sĩ nói.
“Thật thú vị, thật thú vị”, thiếu tá nói, và trao nó lại cho bác sĩ.
“Anh tin chứ?”
“Không”, thiếu tá đáp.
Có ba gã trạc tuổi tôi, đều đến đây hàng ngày. Bọn họ gốc người Milan. Một trong ba sắp là luật sư. Người nữa sẽ là họa sĩ. Gã còn lại dự định sẽ trở thành quân nhân. Sau thời gian điều trị trong ngày bằng máy, thỉnh thoảng, bọn tôi cùng nhau đi đến tiệm cà phê Cova, sát bên cạnh Scala. Do cả bốn đứa cùng đi, nên chúng tôi rẽ tắt qua khu cộng sản. Mọi người ghét chúng tôi bởi vì chúng tôi là sĩ quan. Từ quán ruợu, ai đó hét với ra: “A basso gli ufficiali!” [2] khi chúng tôi đi qua. Cũng còn một gã nữa, đôi khi nhập hội với bọn tôi và nhờ buộc chiếc khăn mùi xoa lụa màu đen che ngang mặt bởi mũi của hắn chẳng còn. Mặt hắn đang được chỉnh hình. Từ học viện quân sự, vừa đến mặt trận thì hắn liền nhận ngay một cú vào mặt trong vòng một tiếng đồng hồ ngay lần đầu tiên đặt chân lên tuyến trước. Người ta đã tiến hành phẫu thuật thẩm mỹ cho hắn, nhưng do xuất thân từ một gia đình có quan niệm cổ hủ nên họ chẳng bao giờ chỉnh được cái mũi cho vừa ý hắn. Hắn đến Nam Phi, làm việc ở một nhà băng. Song đấy lại là thời trước cơ. Lúc ấy, chẳng một ai trong bọn tôi biết được điều gì sẽ xảy ra. Chúng tôi chỉ hay sẽ thường xuyên có chiến tranh nhưng chúng tôi sẽ chẳng bao giờ tham gia.
Bọn tôi đều được tặng huy chương, trừ gã mang chiếc băng lụa đen trên mặt vì gã chẳng ở tiền tuyến đủ lâu để được tặng huy chương. Gã cao lêu nghêu, có khuôn mặt tái nhợt, người trước đây suýt thành luật sư, là trung úy lục quân Arditi. Gã đã nhận ba huy chương các loại mà mỗi đứa chúng tôi chỉ có một. Gã đã sống một thời gian dài bên cạnh cái chết và là kẻ hơi cách biệt. Tất cả bọn tôi, cũng đều hơi giữ khoảng cách! Chẳng có gì ràng buộc bọn tôi với nhau ngoại trừ mỗi buổi chiều chúng tôi tập trung ở bệnh viện. Mặc dầu khi đi tắt qua khu vực “nóng nhất” của thị trấn trong bóng tối, nơi vài tia sáng và tiếng hát vọng ra từ các quầy rượu, để đến Cova; thỉnh thoảng bọn tôi phải bước xuống lòng đường vì có nhiều đàn ông, đàn bà đứng đông nghẹt trên lề đường đến nỗi chúng tôi sẽ phải len qua họ để đi qua, lúc ấy chúng tôi cảm nhận được sự đoàn kết của cả bọn bởi chúng tôi ý thức được điều gì đó xảy ra mà những người thù hận bọn tôi không hiểu.
Cả bọn thích Cova. Nơi đó trông dễ chịu, ấm áp và không quá sáng; khói và tiếng ồn chỉ xảy ra ở vào những thời điểm nhất định. Các cô phục vụ luôn có mặt ở cạnh bàn. Những tờ báo có hình minh họa được xếp vào giá treo trên tường. Các cô gái ở Cova rất yêu nước. Tôi nghĩ những người yêu nước nhất ở Italy là các cô gái bán cà phê và tôi tin họ mãi vẫn còn yêu nước.
Ban đầu, những gã ấy rất kính trọng các huy chương của tôi và hỏi tôi đã làm gì để được tặng thưởng. Tôi cho chúng xem những giấy tờ được viết bằng kiểu chữ rất đẹp, đầy rẫy những fratellanza và abnegazione [3]. Song nếu bỏ hết những tính từ hoa mỹ ấy, thực sự mà nói, người ta tặng tôi huân chương chỉ vì tôi là người Mỹ. Sau chuyện đó, cái nhìn của họ về tôi có hơi khác, mặc dù họ vẫn xem tôi là bạn để chống lại những người bên ngoài. Tôi là bạn nhưng sẽ chẳng bao giờ thực sự là thành viên trong nhóm, sau khi họ đọc được lời tuyên dương công trạng của tôi; bởi vì nó khác với họ, họ phải làm những điều khác hẳn để được tặng huy chương. Tôi bị thương, chuyện ấy có thực, nhưng bọn tôi biết rằng vết thương theo kiểu đó rõ ràng chỉ do sự tình cờ. Dầu sao tôi cũng chẳng bao giờ xấu hổ về những tấm huy chương ấy và đôi lúc, sau nhiều giờ uống cốc-tai, tôi tưởng bản thân mình cũng đã làm tất cả mọi thứ như họ để được nhận huy chương; nhưng buổi tối khi quay về nhà dọc theo các con phố vắng, qua những cơn gió lạnh và các quầy hàng đã đóng cửa, cố đi gần những ngọn đèn đường, tôi biết mình đã chẳng bao giờ làm được điều đó vì tôi rất sợ chết và thường xuyên mất ngủ bởi sợ chết và tự hỏi mình sẽ ra sao nếu phải trở lại chiến tuyến một lần nữa.
Ba gã được tặng huy chương trông rất hiếu chiến. Tôi không phải là người hiếu chiến. Dầu cho tôi có thể bị xem là hiếu chiến khi so với những người chả bao giờ đi săn. Bọn chúng, cả ba, đều ý thức được điều ấy và như thế chúng tôi chia tay nhau. Nhưng tôi vẫn còn chơi với một gã, người bị thương ngay trong ngày đầu tiên ra trận. Bởi vì giờ đây hắn chẳng hề biết mình sẽ trở thành kiểu người nào; như thế hắn cũng chẳng được thừa nhận và tôi mến hắn còn bởi lẽ tôi nghĩ chắc hẳn hắn sẽ không trở thành một kẻ hiếu chiến.
Thiếu tá, người đã từng là tay kiếm nổi tiếng, không tin lòng dũng cảm, đã dành nhiều thời gian khi chúng tôi điều trị trên máy để chữa ngữ pháp cho tôi. Gã khen khả năng tiếng Italy của tôi. Chúng tôi nói chuyện với nhau rất dễ dàng. Ngày nọ tôi bảo tiếng Italy dường như là ngôn ngữ cực dễ đối với tôi và tôi không cần phải mất nhiều thời gian cho nó; mọi thứ quá dễ để nói. “À. Ừ”, Thiếu tá lên tiếng. “Vậy thì tại sao anh không học ngữ pháp?” Thế là tôi bắt đầu nghiên cứu ngữ pháp, và chẳng mấy chốc tôi nhận thấy tiếng Italy quả là một ngôn ngữ cực khó và tôi ngại đối thoại với gã cho đến khi tôi sử dụng thành thạo ngữ pháp.
Thiếu tá đến bệnh viện rất đều đặn. Tôi không nghĩ gã đã bỏ một buổi nào, mặc dù tôi chắc gã chẳng tin gì vào những chiếc máy. Đã có lần chẳng một ai trong bọn tôi tin vào những cỗ máy ấy, và đã có lần thiếu tá gọi chúng là đồ vô tích sự. Lúc ấy, những chiếc máy mới được đưa về và chúng tôi trở thành công cụ để chứng minh giá trị của chúng. “Một ý tướng ngu ngốc”, gã nói, “một lý thuyết thì luôn giống như mọi lý thuyết”. Khi tôi không chịu học ngữ pháp, gã mắng tôi là một kẻ bất lực dốt nát và gã cũng là thằng ngu mới phí thời giờ với tôi. Gã nhỏ con, luôn ngồi ngay ngắn trên ghế, bàn tay phải đút vào máy, nhìn thẳng về bức tường trước mặt trong khi những sợi dây da xát nhẹ, làm nẩy những ngón tay.
“Mày sẽ làm gì khi chiến tranh chấm dứt, giả dụ như nó chấm dứt,” gã hỏi. “Nói đúng ngữ pháp vào!”
“Tôi sẽ về Mỹ”.
“Mày đã lập gia đình chưa?”.
“Chưa, nhưng tôi sẽ”.
“Thế thì mày là thằng đại ngốc”, gã nói. Gã dường như rất giận. “Đàn ông không nên lấy vợ”.
“Tại sao, thưa signor Maggiore [4]”
“Đừng gọi tao là signor Maggiore”.
“Tại sao đàn ông không nên lấy vợ?”
“Hắn không thể cưới vợ. Hắn không thể cưới vợ”, gã giận dữ nói. “Nếu hắn sẽ mất mọi thứ, hắn đừng nên đặt bản thân vào vị trí mất đó. Hắn đừng nên đặt bản thân vào vị trí mất mát. Hắn nên tìm những gì mà hắn không thể mất”. Gã giận dữ và cay đắng, mắt nhìn thẳng về phía trước trong khi nói.
“Nhưng tại sao hắn lại để mất nó?”
“Hắn sẽ mất nó”, thiếu tá nói. Gã đang nhìn bức tường. Sau đó gã nhìn xuống cỗ máy, giật bàn tay nhỏ của gã ra khỏi những sợi dây rồi đập mạnh nó xuống đùi. “Hắn sẽ mất nó”, gã gần như thét lên. “Đừng cãi tao!” Gã gọi người điều khiển máy. “Tắt cái đồ chết tiệt này đi”.
Gã quay vào phòng khác để chiếu điện và xoa bóp. Lát sau tôi nghe tiếng gã hỏi xin phép bác sĩ sử dụng điện thoại rồi gã đóng cửa. Khi gã quay trở lại phòng, tôi đang ngồi trên cỗ máy khác. Gã mặc áo khoác, đội mũ, đi thẳng về phía máy của tôi và đặt tay lên vai tôi.
“Xin lỗi”, gã nói, và vỗ vào vai tôi bằng bàn tay lành. “Đáng lẽ tôi không nên thô lỗ. Vợ tôi vừa mới mất. Anh thứ lỗi cho".
“Ồ”, tôi thốt lên, cảm thấy xót xa cho gã. “Tôi lấy làm tiếc”.
Gã đứng đó, đang cắn cắn môi dưới. “Quả thật là khó”, gã nói. “Tôi không thể tự chủ”.
Gã nhìn thẳng qua tôi ra cửa sổ rồi bật khóc. “Tôi hoàn toàn không thể để mặc cho số phận”. Gã nói, cố nuốt nước mắt rồi lại khóc. Đầu gã thẳng đứng, mắt nhìn vào khoảng không, thân hình đứng thẳng theo tác phong của lính, nước mắt chảy dài trên má, cắn chặt môi, gã bước qua những cỗ máy, đi ra ngoài.
Bác sĩ nói với tôi rằng vợ của thiếu tá còn rất trẻ và người mà gã mới cưới sau khi bị thương đã chết vì bị viêm phổi. Cô ta chỉ ốm có mấy ngày. Chẳng ai ngờ cô ta chết. Thiếu tá không đến bệnh viện suốt ba ngày liền. Sau đấy gã đến vào một giờ đều đặn, chiếc băng đen luôn đeo trên tay áo bộ quân phục. Khi gã trở lại, có nhiều bức ảnh lớn được đóng khung treo trên tường. Những bức ảnh chụp các vết thương trước và sau khi được điều trị bằng máy. Trước cỗ máy thiếu tá sử dụng là ba bức ảnh chụp những bàn tay, giống như tay của gã đã được phục hồi hoàn toàn. Tôi không biết bác sĩ kiếm nó ở đâu. Tôi luôn nhớ bọn tôi là những người đầu tiên sử dụng máy. Những bức ảnh không gây nhiều ấn tượng cho thiếu tá bởi lẽ gã chỉ luôn nhìn ra cửa sổ.

Lê Huy Bắc dịch
-------------------
[1] Loại xe có một bánh trước và hai bánh sau.
[2] “Hạ bệ bọn sĩ quan!” (Tiếng Italy).
[3] Hữu nghị và xả thân (tiếng Italy).
[4] Ngài thiếu tá.
0
Rặng đồi tựa đàn voi trắng

Rặng đồi vắt qua thung lũng Ebro dài và trắng. Sườn bên này không có bóng mát, không cây cối, trong ánh nắng, nhà ga nằm giữa hai tuyến đường xe lửa. Ngay sát cạnh ga, một ngôi nhà đang tỏa bóng mát và bức rèm tre, được kết bằng nhiều chuỗi hạt, treo ngang cửa để giữ ruồi. Một người Mỹ cùng với một cô gái đang ngồi ở chiếc bàn đặt trong bóng mát, bên ngoài tòa nhà. Trời nóng. Chuyến tàu tốc hành từ Barcelona sẽ đến trong vòng bốn mươi phút nữa. Đoàn tàu dừng ở ga hai phút rồi sẽ đi Madrit.
“Ta uống gì nhỉ?” cô gái hỏi. Nàng tháo mũ và đặt nó lên bàn.
“Tròn hơi bức”, người đàn ông nói.
“Chúng mình đi uống bia đi”.
“Dos cervezas” [1] người đàn ông gọi với vào trong bức rèm.
“Cốc lớn chứ?” từ ngưỡng cửa, một người đàn bà hỏi.
“Vâng. Hai cốc lớn”.
Người đàn bà mang ra hai cốc bia và hai miếng đệm nỉ. Bà đặt đệm lót với bia lên bàn rồi nhìn người đàn ông và cô gái. Cô gái đang ngắm rặng đồi. Chúng trắng lên dưới ánh nắng còn miền quê thì chuyển sang màu nâu và khô ráo.
“Trông chúng tựa đàn voi trắng”, nàng nói.
“Anh chẳng từng thấy con nào cả”, người đàn ông uống bia đáp.
“Đúng, anh chẳng thấy”.
“Anh có thể thấy”, người đàn ông nói. “Nhưng nếu em bảo là anh không nhìn thấy thì cũng chẳng sao”.
Cô gái nhìn bức rèm tre: “Người ta vẽ hình gì nhỉ?” nàng nói. “Có nghĩa gì vậy?”
“Anis del Toro. Một loại rước giải khát”.
“Chúng mình uống thử nhé?”
Người đàn òng gọi qua bức rèm “Bà chủ”. Người đàn bà bước ra.
“Bốn xu”.
“Chúng tôi muốn hai cốc Anis del Toro”.
“Có dùng nước không?”
“Em muốn uống với nước chứ?”
“Em không biết”. Cô gái đáp. “Pha thêm nước có ngon không?”
“Ngon”.
“Ông bà muốn dùng với nước chứ?” người đàn bà hỏi.
“Vâng, với nước”.
“Vị của nó giống như mùi cam thảo”, cô gái nói rồi đặt cốc xuống.
“Mọi thứ đều có vị ấy”.
“Vâng” cô gái nói. “Mọi thứ đều có vị cam thảo. Đặc biệt là tất cả những thứ khiến người ta chờ đợi quá lâu, chẳng hạn như absinthe”.
“Thôi, đừng nói nữa”.
“Anh gợi ra mà”, cô gái nói. “Em chỉ đùa chơi. Em đang có những phút giây thoải mái”.
“Ừ, chúng mình hãy cố có thời gian thoải mái”.
“Được rồi. Em đang cố. Em bảo những ngọn đồi trông giống những con voi trắng. Điều ấy chắng vui sao?”
“Ý tưởng vui đấy”.
“Em muốn nếm thử thức uống mới này. Đấy là tất cả những gì chúng mình làm, nó chẳng - ngắm quang cảnh và nếm những loại nước giải khát mới hay sao?”
“Anh nghĩ thế”.
Cô gái nhìn xuyên về phía rặng đồi.
“Chúng là những quả đồi đáng yêu”, nàng nói. “Thực ra trông chúng chẳng giống những con voi trắng. Em chỉ muốn nói đến màu da của chúng toát lên qua rừng cây”.
“Chúng mình uống thêm chứ?”
“Được thôi”.
Làn gió ấm đưa bức rèm tre lại gần bàn.
“Bia ngon và mát”, người đàn ông nói.
“Đáng yêu thật”, cô gái nói.
“Thực ra, đó chỉ là một ca phẫu thuật cực kỳ đơn giản thôi mà, Jig”, người đàn ông nói. “Thậm chí cũng chẳng phải là một ca phẫu thuật nữa”.
Cô gái nhìn xuống đất, chỗ chân bàn đặt lên.
“Anh biết, em đừng nên bận tâm, Jig. Nó chẳng hề gì đâu. Chỉ để không khí vào thôi”.
Cô gái không nói lời nào.
“Anh sẽ đi với em và lúc nào anh cũng ở bên em. Họ chỉ để không khí vào và rồi tất cả sẽ trở lại bình thường”.
“Sau đó ta sẽ làm gì?”
“Ta sẽ thoải mái, như trước đây”.
“Cái gì khiến anh nghĩ như vậy?”
“Đấy là điều duy nhất làm phiền chúng ta. Điều duy nhất khiến chúng ta bất hạnh”.
Cô gái nhìn bức rèm tre, rồi đưa tay nắm hai sợi rèm.
“Rồi anh nghĩ sau đó chúng ta sẽ ổn và hạnh phúc?”
“Anh biết chúng ta sẽ. Em không phải sợ. Anh biết rất nhiều người đã làm điều đó”.
“Em cũng thế”, cô gái nói. “Rồi sau đó tất thảy họ đều hạnh phúc?”
“Ừ”, người đàn ông nói, “Nếu em không muốn thì em không cần phải. Anh không ép nếu em không muốn. Nhưng anh biết nó cực kỳ đơn giản.
“Và anh thực sự muốn?”
“Anh nghĩ đấy là giải pháp tốt nhất. Nhưng anh không muốn em thực hiện nếu em thực sự không muốn”.
“Nhưng nếu em làm điều đó thì anh sẽ hạnh phúc, mọi thứ sẽ như trước. Và anh sẽ yêu em chứ?”
“Bây giờ anh yêu em. Em biết anh yêu em”.
“Em biết. Nhưng nếu em làm điều đó, rồi mọi chuyện tốt đẹp trở lại, nếu em nói những chuyện giống chuyện voi trắng, thì anh có thích không?”
“Anh sẽ thích. Bây giờ anh thích điều đó song anh chỉ không thể nào nghĩ về nó. Em biết, khi lo lắng thì anh như thế nào rồi”.
“Nếu em làm điều ấy thì anh sẽ chẳng bao giờ lo lắng nữa chứ?”
“Anh không lo về điều ấy, bởi nó cực kỳ đơn giản”.
“Vậy thì em sẽ làm. Bởi vì em không quan tâm đến bản thân mình”.
“Em nói gì vậy?”
“Em không quan tâm đến bản thân mình”.
“Chẳng sao, anh sẽ chăm sóc em”.
“Ồ, vâng. Nhưng em không nghĩ về bản thân mình. Em sẽ làm điều đó rồi sau đấy mọi chuyện sẽ tốt đẹp”.
“Anh không muốn em làm điều ấy nếu em nghĩ như thế”.
Cô gái đứng dậy, đi đến cuối nhà ga. Đằng kia, cánh đồng ngũ cốc và rừng cây trải dọc theo bờ của dòng Ebro. Cách dòng sông một khoảng khá xa là những ngọn núi. Bóng của đám mây bồng bềnh trên cánh đồng ngũ cốc; nàng thấy dòng sông xuyên qua rừng cây.
“Lẽ ra chúng ta có thể có tất cả cái kia”, nàng nói “Chúng ta có thể có tất cả nhưng mỗi ngày chúng ta lại khiến nó càng không thể”.
“Em nói gì vậy?”
“Em nói chúng ta có thể có mọi thứ”.
“Chúng ta có thể có mọi thứ”.
“Không, chúng ta không thể”.
“Chúng ta có thể có cả thế giới”.
“Không, chúng ta không thể”.
“Chúng ta có thể đi mọi nơi”.
“Không, chúng ta không thể. Nó chẳng còn là của chúng ta nữa rồi”.
“Nó là của chúng ta.”
“Không nó không. Một khi người ta phá bỏ nó thì anh sẽ chẳng bao giờ có nó nữa.”
“Nhưng họ không bỏ nó”.
“Chúng ta hãy chờ xem”.
“Quay vào trong bóng râm đi”, hắn nói. “Em chớ nghĩ như thế”.
“Em chẳng nghĩ gì cả”, cô gái đáp. “Em chỉ biết thế”.
“Anh không muốn em làm bất kỳ việc gì mà em không muốn”.
“Chẳng phải điều ấy không tốt cho em”, nàng nói. “Em biết. Ta gọi thêm bia nữa chứ?”
“Ừ, nhưng em phải biết”.
“Em biết”, cô gái nói. “Nhưng chẳng nhẽ chúng ta không thể ngừng nói được nữa sao?”
Họ ngồi vào bàn rồi cô gái nhìn ra phía những ngọn đồi bên cạnh thung lũng khô ráo, còn người đàn ông thì hết nhìn nàng rồi lại nhìn cái bàn.
“Em phải hiểu”, hắn nói, “rằng anh không muốn em làm điều ấy nếu em không muốn. Anh sẽ hoàn toàn vui lòng với chuyện đó nếu nó có ý nghĩa gì đấy đổi với em”.
“Vậy nó không có chút ý nghĩa nào với anh sao? Chúng ta có thể thỏa thuận”.
“Dĩ nhiên là có. Nhưng anh không muốn bất kỳ ai ngoài em. Anh không muốn bất kỳ một ai khác. Vả lại anh biết nó cực kỳ đơn giản”.
“Vâng, anh biết nó cực kỳ đơn giản”.
“Nói thế chỉ có tốt cho em, bởi anh quá hiểu nó”.
“Bây giờ anh có thể làm gì đó cho em được không?”
“Anh sẽ làm bất cứ việc gì vì em”.
“Em xin anh xin anh xin anh xin anh xin anh xin anh xin anh im đi có được không?”
Hắn chẳng nói lời nào nữa mà chỉ nhìn mấy chiếc túi đặt tựa vào tường nhà ga. Nhiều nhãn đính lên chúng từ tất cả các khách sạn họ đã ngủ lại.
“Nhưng anh không muốn em”, hắn nói, “anh chẳng quan tâm chút nào về chuyện đó”.
“Tôi sắp hét lên đây”, cô gái nói.
Người đàn bà bước ra khỏi tấm rèm. Bà mang hai cốc bia rồi đặt chúng lên những miếng đệm nỉ đã ướt. “Năm phút nữa tàu sẽ đến”, bà nói.
“Bà ta nói gì vậy?” cô gái hỏi.
“Rằng tàu sẽ đến trong vòng năm phút nữa”.
Cô gái mỉm cười rạng rỡ với người đàn bà rồi cảm ơn bà ta.
“Tốt hơn là anh mang mấy cái túi đến đằng kia nhà ga”, người đàn ông nói. Nàng mỉm cười với hắn.
“Anh làm đi, rồi quay lại và chúng ta sẽ cạn cốc”.
Hắn nhấc hai chiếc túi nặng, mang chúng vòng qua nhà ga, đi đến tuyến đường kia. Hắn nhìn theo đường ray nhưng không thấy tàu. Hắn đi tắt qua quán bar, nơi những người đợi tàu đang ngồi uống, để quay trở lại. Hắn uống một cốc Anis ở quầy và nhìn mọi người. Tất cả bọn họ đang bình thản đợi tàu. Hắn bước qua bức rèm, ra ngoài. Nàng đang ngồi bên bàn và mỉm cười với hắn.
“Em cảm thấy đỡ hơn chứ”, hắn hỏi.
“Em thấy dễ chịu”, nàng đáp. “Ổn rồi. Em cảm thấy dễ chịu”.

Lê Huy Bắc dịch
--------------------
[1] “Hai bia”.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 14:18:04 bởi casau>
Những kẻ giết người

Cửa quán Henry mở, hai người đàn ông bước vào. Họ ngồi cạnh quầy.
“Thưa, các ông dùng gì?” George hỏi.
“Tau không biết”, Al nói. “Tau chẳng biết mình muốn ăn gì?”
Bên ngoài trời dần tối. Đèn đường bật sáng ngoài cửa sổ. Cạnh quầy, hai gã đàn ông đọc thực đơn. Đằng cuối quầy, Nick Adams quan sát chúng. Cậu đang nói chuyện với George lúc chúng bước vào.
“Cho tau đĩa thân lợn quay với nước sốt táo và khoai tây nghiền”, gã thứ nhất nói.
“Món ấy chưa có”.
“Thế thì bọn mày đưa vào thực đơn chết tiệt này để làm gì?”
“Đấy là món tối”, George giải thích. “Ông có thể gọi vào lúc sáu giờ”.
George ngước ra sau quầy nhìn đồng hồ tường.
“Mới năm giờ”.
“Đồng hồ chỉ năm giờ hai mươi rồi đó”, gã thứ hai nói.
“Nó nhanh hai mươi phút”.
“Hả, cái đồng hồ chết rấp”, gã thứ nhất nói. “Bọn mày có gì ăn đấy?”
“Tôi có thể phục vụ các ông bất cứ loại bánh sandwich nào”, George nói. “Các ông có thể gọi giăm bông-trứng, thịt lợn muối trộn trứng, gan với thịt lợn muối, hoặc bít tết”.
“Mang cho tau mấy chiếc bánh rán nhồi thịt gà với đậu xanh, nước sốt kem và khoai tây nghiền”.
“Đấy là món tối”.
“Những món bọn tau gọi đều là món tối cả sao, hả? Đấy là cách chúng mày phục vụ hả?”
“Tôi có thể phục vụ ông giăm bông trộn trứng, thịt lợn muối với trứng, gan”.
“Tau sẽ ăn giăm bông và trứng”, gã tên Al nói. Hắn đội mũ quả dưa, vận áo khoác đen cài nút đến tận cổ. Mặt hắn choắt và tái, môi mím chặt. Hắn quàng khăn lụa và đeo găng.
“Mang cho tau thịt lợn muối và trứng”, gã khác nói. Khổ người hắn bằng Al. Nét mặt tuy khác nhau, nhưng chúng ăn mặc tựa cặp song sinh. Hai chiếc áo khoác quá chật đối với chúng. Chúng ngồi chồm tới trước, khuỷu tay đặt lên quầy.
“Có gì uống?” Al hỏi.
“Bia Silver, bevo, nước gừng”, George đáp.
“Ý tau là mày có thứ gì uống?”
“Chỉ mấy loại tôi vừa nói”.
“Đây là một thị trấn nóng”, gã kia nói. “Họ gọi nó là gì nhỉ?”
“Summit”.
“Đã từng nghe thấy chưa?” Al hỏi bạn gã.
“Chưa”, gã bạn đáp.
“Buổi tối người ta làm gì ở đây?” Al hỏi.
“Họ ăn tối”, bạn gã đáp. “Tất cả bọn kéo đến đây chén bữa tối ê hề”.
“Đúng đấy”, George nói.
“Mày nghĩ việc ấy đúng à?” Al hỏi George.
“Chắc rồi”.
“Mày là anh chàng khá thông minh đấy, có phải không?”
“Hẳn rồi”.
“Ồ, mày không”, gã quắt người nói. “Cái thằng nhóc đó, Al?”
“Hắn là đồ ngu xuẩn”, Al đáp. Gã quay sang Nick. “Tên mày là gì?”
“Adams”
“Một chú nhóc thông minh nữa”, Al nói. “Hắn có phải là đứa thông minh không hả Max?”
“Thị trấn này đầy rẫy những thằng thông minh”, Max đáp.
George đặt hai đĩa thức ăn lên quầy, một đựng giăm bông trộn trứng, đĩa kia là thịt lợn muối với trứng. Nó để thêm hai đĩa khoai tây rán ăn kèm xuống rồi đóng cánh cửa thông sang bếp.
“Đĩa nào của ông?” nó hỏi Al.
“Mày chẳng nhớ sao?”
“Giăm bông và trứng”.
“Đúng là anh chàng thông minh”, Max nói. Gã cúi tới trước lấy đĩa đựng giăm bông và trứng. Hai gã vẫn đeo găng tay trong khi ăn. George nhìn chúng ăn.
“Việc gì mày để ý đến nó?” Max nhìn George.
“Chẳng sao cả”.
“Đồ chết tiệt. Mày quan sát tau”.
“Có lẽ thằng nhóc tưởng đó là trò đùa, Max”, Al nói.
George cười!
“Mày không được cười”, Max bẳo nó. “Mày phải ngậm miệng lại, hiểu chưa?”
“Được rồi”, George đáp.
“Như thế hắn nghĩ chuyện ấy được”. Max quay sang Al. “Hắn nghĩ chuyện ấy được, thằng bé khá đấy”.
“Ồ, hắn là một triết gia”, Al nói. Chúng tiếp tục ăn.
“Tên đứa thông minh đằng kia quầy là gì?” Al hỏi Max.
“Này anh chàng thông minh kia”, Max gọi Nick. “Đi vòng qua quầy lại chỗ bạn mày đi”.
“Để làm gì?” Nick hỏi.
“Chẳng để làm gì cả”.
“Tốt hơn là mày qua đi, anh chàng thông minh”, Al nói. Nick đi vòng ra sau quầy.
“Để làm gì vậy?” George hỏi.
“Không phải việc của mày”, Al nói. “Ai ở trong bếp?”
“Anh da đen”.
“Mày nói thằng da đen là có nghĩa gì?”
“Anh da đen làm bếp”.
“Gọi hắn ra đây”.
“Để làm gì?”
“Gọi hắn ra đây”.
“Các ông nghĩ mình ở đâu đấy?”
“Bọn tau biết rõ tiệt nơi bọn tau ở”, gã tên Max nói. “Trông bọn tau đần lắm sao?”
“Mày nói vớ vẩn”, Al bảo gã. “Mày tranh luận với thằng nhóc này làm cái quái gì? Nghe đây”, gã bảo George, “bảo thằng mọi kia ra ngay đây”.
“Các ông sẽ làm gì anh ấy?”
“Chẳng làm gì. Hãy dùng đầu của mày. Anh chàng thông minh. Bọn tau sẽ làm gì với thằng mọi đen kia chứ?”
George mở cánh cửa thông sang bếp. “Sam”, nó gọi. “Lên trên này một lát”. Cảnh cửa trổ vào bếp mở ra, gã da đen bước vào. “Chuyện gì vậy?” hắn hỏi. Hai gã đứng cạnh quầy nhìn hắn.
“Chẳng gì cả, thằng đen. Mày đứng ngay đó”, Al nói.
Sam, anh da đen đang vận tạp dề đứng nhìn hai gã ngồi bên quầy. “Vâng, thưa ngài”, anh nói. Al ngồi xuống ghế của gã.
“Tau sẽ vào bếp với thằng da đen và một anh chàng thông minh”, gã nói. “Quay trở lại bếp, thằng đen. Mày đi cùng hắn, anh chàng thông minh”, gã quắt người bước sau Nick và Sam đầu bếp, đi vào bếp. Cánh cửa đóng lại sau lưng họ. Gã tên Max ngồi bên quầy, đối diện với George. Gã không nhìn George mà nhìn vào tấm gương treo phía sau quầy. Tiệm ăn Henry được cải tạo từ một quán rượu.
“Này, anh chàng thông minh”, Max gọi lúc đang nhìn vào gương. “Sao mày không nói điều gì đi?”
“Rốt cuộc thì chuyện này là thế nào?”
“Ê, Al”, Max gọi, “anh chàng thông minh muốn biết rốt cuộc chuyện này là thế nào”.
“Sao mày không kể cho hắn nghe?” Giọng của Al vọng ra từ bếp.
“Mày nghĩ là chuyện gì?”
“Tôi không biết”.
“Mày nghĩ gì?”
Max vẫn dán mắt vào gương lúc đang nói.
“Tôi sẽ không nói”.
“Ê, Al, anh chàng thông minh bảo hắn sẽ không nói ra điều hắn đoán về vụ này”.
“Được rồi. Tau có thể nghe rõ mày”, Al nói từ trong bếp. Hắn dùng chai nước sốt cà chua chống ô cửa nhỏ dùng để chuyển bát đĩa vào bếp. “Nghe này, anh chàng thông minh”, từ bếp hắn nói với George. “Đứng nhích ra một tí dọc theo quầy. Mày dịch sang trái một chút, Max”. Gã như thể tay thợ ảnh đang bố trí chụp một bức ảnh tập thể.
“Nói tau nghe, anh chàng thông minh”, Max nói. “Mày nghĩ chuyện gì sắp xảy ra?”
George không mở miệng.
“Tau sẽ kể cho mày”, Max nói. “Bọn tau sẽ khử một gã Thụy Điển. Mày có biết gã Thụy Điển cao to tên là Ole Andreson không?”
“Biết”.
“Buổi tối hắn đều đến ăn ở đây phải không?”
“Thỉnh thoảng ông ấy đến”.
“Hắn đến vào lúc sáu giờ phải không?”
“Nếu ông ấy đến”.
“Bọn tau biết cả, anh chàng thông minh này”, Max bảo. “Hãy nói chuyện khác đi. Từng đi xem phim chứ?”
“Đôi khi”.
“Mày nên thường xuyên đi xem phim. Phim ảnh rất bổ ích cho những chú nhóc thông minh như mày”.
“Các ông giết Ole Andreson để làm gì? Ông ấy đã từng gây chuyện gì với các ông sao?”
“Hắn chẳng có cơ hội để làm bất cứ điều gì với bọn tau. Thậm chí hắn chưa hề biết mặt bọn tau”.
“Và duy nhất hắn sẽ chỉ gặp bọn tau một lần”, Al nói từ trong bếp.
“Vậy thì làm sao các ông lại giết ông ấy?” George hỏi.
“Vì một người bạn, bọn tau sẽ giết hắn. Chỉ vì bổn phận với bạn bè, anh chàng thông minh”.
“Câm miệng”, Al nói từ trong bếp. “Mày phun quá nhiều chuyện hay hớm đấy”.
“Ồ, tau phải làm thằng bé vui chứ. Phải không, anh chàng thông minh”.
“Mày nói thật quá nhiều”, Al nói. “Thằng đen và anh chàng thông minh tự trêu đùa lấy. Tau để chúng ôm nhau như thể một đôi bạn gái trong tu viện”.
“Tau nghĩ mày đã từng ở tu viện nữ”.
“Mày biết cái quái gì?”
“Mày đã sống trong tu viện ăn kiêng của lũ Do Thái. Đó là nơi mày từng ở”.
George ngước nhìn đồng hồ.
“Nếu bất kỳ ai đến mày bảo họ đầu bếp đi vắng, và nếu họ cứ đòi ăn thì mày bảo họ, tự mày sẽ ra sau bếp nấu. Mày làm được việc ấy chứ hả anh chàng thông minh?”
“Được”, George đáp. “Sau đó các ông sẽ làm gì bọn tôi?”
“Chuyện ấy còn tùy”, Max đáp. “Đấy là một trong những điều mày chẳng bao giờ biết vào thời điểm ấy”.
George ngước nhìn đồng hồ. Lúc ấy đã sáu giờ mười lăm. Cánh cửa hướng ra đường mở ra. Tay tài xế xe điện bước vào.
“Chào George”, anh ta nói. “Tôi có thể ăn tối chứ?”
“Sam đi vắng”, George đáp. “Độ nửa giờ nữa anh ta mới về”.
“Tốt hơn là tôi lên phố trên”, tay tài xế nói. George nhìn đồng hồ, đã sáu giờ hai mươi.
“Đối đáp khá đấy, anh chàng thông minh”, Max nói. “Mày quả là một quý ông lịch sự đúng mực”.
“Hắn biết tau sẽ bắn vỡ sọ hắn”, Al nói từ trong bếp.
“Đừng”, Max nói. “Đừng làm thế. Anh chàng thông minh này cừ đấy. Hắn là cậu bé dễ thương. Tau thích hắn”.
Lúc sáu giờ năm mươi làm. George nói: “Ông ấy sẽ không đến”.
Hai người nữa vào quán. Một lần George xuống bếp làm bánh sandwich “mang đi” theo yêu cầu của ông khách. Trong bếp, nó thấy Al hất mũ quả dưa ra sau, đang ngồi trên cái ghế gần cửa, họng của khẩu súng cưa nòng đặt trên gờ tường. Nick và tay đầu bếp mồm bị nhét khăn, người bị trói áp lưng vào nhau ở góc bếp. George làm chiếc sandwich, quấn trong tờ giấy dầu, đặt vào túi mang vào; người đàn ông trả tiền, đi ra.
“Anh chàng thông minh có thể làm mọi việc”, Max nói. “Hắn có thể nấu và làm mọi thứ. Này, anh chàng thông minh, mày có thể chim một cô gái xinh xắn nào đó để cưới làm vợ”.
“Vậy à?” George nói. “Bạn các ông, Ole Andreson, sẽ không đến”.
“Bọn tau sẽ đợi hắn thêm mười phút nữa”, Max nói.
Max nhìn tấm gương rồi nhìn đồng hồ. Kim đồng hồ chỉ bảy giờ, rồi bảy giờ năm.
“Đi thôi, Al”, Max nói. “Tốt hơn là đi thôi. Hắn đếch đến đâu”.
“Cứ đợi thêm năm phút nữa”, Al nói từ trong bếp.
Trong năm phút ấy một người đàn ông bước vào, và George giải thích rằng đầu bếp bị ốm.
“Tiên sư nhà anh, sao lại không thuê đầu bếp khác?” người ấy nói. “Anh không quản lý nổi cái quán này à?” Ông ta bỏ đi.
“Đi thôi, Al”, Max giục.
“Còn hai đứa thông minh và thằng đen thì sao?”
“Để chúng yên”.
“Mày nghĩ thế à?”
“Đứt rồi. Bọn mình chấm dứt chuyện này”.
“Tau không muốn”, Al nói. “Thật bất cẩn. Mày nói quá nhiều”.
“Ồ, chuyện nhảm ấy”, Max nói. “Bọn mình chỉ đùa chơi thôi mà, có phải không?”
“Dẫu sao thì mày cũng đã nói quá nhiều”, Al nói. Gã đi ra khỏi bếp. Nòng súng bị cưa gợn vết nhỏ nhỏ phía dưới hông của chiếc áo khoác quá chật. Hắn dùng đôi tay đeo găng kéo thẳng chiếc áo.
“Tạm biệt, anh chàng thông minh”, hắn chào George. “Mày có nhiều may mắn đấy”.
“Thật đấy”, Max nói. “Mày nên chơi cá ngựa, anh chàng thông minh”.
Hai đứa bước ra khỏi cửa. Qua cửa sổ, George thấy chúng đi dưới ánh đèn cao áp, băng qua đường. Mặc áo khoác chật và đội mũ quả dưa, trông chúng như thể đội tạp kỹ. George quay ra sau, qua cánh của tự đóng, vào bếp cởi trói cho Nick và tay đầu bếp.
“Tôi chẳng muốn bị trói như thế này thêm chút nào”, Sam, đầu bếp nói. “Tôi chẳng khoái chuyện này tí nào”.
Nick đứng dậy. Trước đây cậu chưa từng bị nhét khăn vào mồm bao giờ.
“Nói đi”, cậu giục. “Chuyện quái quỷ gì vậy?” cậu đang cố hiểu sự việc.
“Chúng sẽ giết Ole Andreson”, George nói. “Chúng sẽ bắn khi ông ấy bước vào quán”.
“Ole Andreson?”
“Đúng”.
Tay đầu bếp dùng mấy ngón cái sờ hai bên khóe miệng.
“Chúng đi cả chưa?” anh ta hỏi.
“Rồi”, George nói, “Giờ thì chúng đi rồi”.
“Tau ngán chuyện này”, tay bếp nói. “Tau ngán đến tận cổ”.
“Nghe này”, George bảo Nick. “Cậu đến gặp Ole Andreson thì tốt hơn”.
“Được rồi”.
“Tốt hơn là chúng mày đừng có dây vào việc đó”, đầu bếp Sam nói. “Chúng mày nên tránh xa thì tốt hơn”.
“Đừng đi nếu cậu không muốn”, George nói.
“Nhúng mũi vào chuyện này rồi cũng chẳng đến đâu đâu”, tay bếp nói. “Chúng mày quên nó đi”.
“Mình sẽ đến gặp ông ấy”. Nick bảo George. “Ông ta sống ở đâu?”
Tay bếp quay đi.
“Bọn nhóc mày phải hiểu chúng muốn gì”, anh ta nói.
“Ông ấy ở nhà trọ của Hirsch”, George bảo Nick.
“Mình sẽ đến đấy”.
Bên ngoài, đèn cao áp chiếu xuyên qua đám cành của cái cây trụi lá. Nick bước trên lề con phố lớn, đến cột đèn cao áp kế theo, cậu rẽ xuống con đường hẹp. Ba ngôi nhà vươn cao cạnh đường là nhà trọ của Hirsch. Nick bước lên hai bậc thềm và kéo chuông. Một người đàn bà ra cửa.
“Thưa Ole Andreson có ở đây không?”
“Cháu muốn gặp ông ấy hả?”
“Vâng, nếu ông ấy có nhà”.
Nick theo người đàn bà lên cầu thang tầng hai rồi đi đến cuối hành lang. Bà ta gõ cửa.
“Ai đấy?”
“Có người cần gặp, thưa ngài Andreson”, người đàn bà nói.
“Cháu là Nick Adams”.
“Mời vào”.
Nick mở cửa đi vào phòng. Ole Andreson vận nguyên áo quần nằm trên giường. Từng là võ sĩ quyền Anh hạng nặng, ông ta quá dài so với cái giường. Ông ta nằm gối đầu lên hai chiếc gối, không nhìn Nick.
“Chuyện gì vậy?” ông ta hỏi.
“Cháu từ quán Henry đến đây”, Nick đáp, “hai gã vào trói cháu với đầu bếp rồi chúng bảo chúng sẽ giết bác”.
Cách diễn đạt của cậu nghe thật ngớ ngẩn. Ole Andreson không nói lời nào. “Chúng đẩy bọn cháu vào bếp”, Nick tiếp tục. “Chúng sẽ bắn bác lúc bác đến ăn tối”.
Ole Andreson nhìn bức tường, không nói lời nào.
“George nghĩ tốt hơn cả là cháu đến đây báo cho bác biết”.
“Bác chẳng thể xoay xở được gì nữa về việc này”, Ole Andreson nói.
“Cháu sẽ tả chúng cho bác”.
“Bác không muốn biết diện mạo chúng”, Ole Andreson nói. Ông ta nhìn vào tường. “Cám ơn vì đã đến báo tin”.
“Có gì đâu bác”.
Nick nhìn người đàn ông to lớn đang nằm trên giường.
“Bác không muốn cháu đi báo cảnh sát sao?”
“Đừng”, Ole Andreson đáp, “chẳng ích gì”.
“Cháu chẳng thể làm một việc gì nữa ư?”
“Chẳng còn. Không còn gì để làm nữa đâu”.
“Có thể đấy chỉ là trò đùa”.
“Không, chuyện này không đùa đâu”.
Ole Andreson dịch người về phía bức tường.
“Khốn nỗi là”, ông ta nói, giọng hướng về phía bức tường, “bác chỉ không thể có đủ nghị lục để ra ngoài. Suốt ngày bác ở trong này”.
“Bác chẳng thể trốn khỏi thị trấn này hay sao?”
“Chẳng thể”, Ole Andreson đáp. “Bác phát ngấy đến tận cổ với việc lẩn trốn rồi”.
Ông ta nhìn bức tường.
“Giờ thì chẳng còn bất cứ điều gỉ nữa để làm”.
“Bác không thể nghĩ ra cách nào đó hay sao?”
“Không, bác đã cùng đường”. Ông ta nói bằng một kiểu giọng đều đều. “Chẳng còn gì để làm. Lát nữa bác sẽ lấy lại tinh thần để ra ngoài”.
“Tốt hơn là cháu về gặp George”, Nick nói.
“Tạm biệt”, Ole Andreson nói. Ông ta không nhìn Nick. “Cám ơn vì đã đến”, Nick bước ra. Khi khép cửa, cậu thấy Ole Andreson vẫn mặc nguyên áo quần, nằm trên giường, nhìn bức tường.
“Ông ấy ở lỳ trong phòng suốt ngày”, bà chủ nhà nói lúc xuống cầu thang. “Cô chắc ông ấy không được khỏe. Cô khuyên: ‘Ông Ole Andreson ơi, ông nên ra ngoài đi dạo vào một ngày thu đẹp như hôm nay’, nhưng ông ấy không thích”.
“Ông ấy chẳng muốn ra ngoài đâu”.
“Cô buồn vì ông ấy không được khỏe”, người đàn bà nói. “Ông ấy là một người đàn ông cực kỳ dễ mến. Cháu có biết ông ấy đã từng lên đài?”
“Cháu biết”.
“Cháu chẳng bao giờ biết ngoại trừ quan sát khuôn mặt của ông ấy”, người đàn bà nói. Họ đứng nói chuyện ngay bên trong cánh cửa mở ra đường. “Ông ấy thực tử tế”.
“Thôi tạm biệt bà Hirsch”, Nick nói.
“Cô không phải là bà Hirsch”, người đàn bà nói. “Bà ấy là chủ nhân. Cô chỉ trông nhà cho bà ấy. Tên cô là Bell”.
“Vâng, chào bà Bell”, Nick nói.
“Tạm biệt”, người đàn bà đáp.
Nick đi trên đường tối đến góc phố dưới ánh đèn cao áp rồi bước dọc theo con phố lớn về quán ăn Henry, George ngồi sau quầy trong quán.
“Cậu gặp Ole rồi chứ?”
“Rồi” Nick đáp. “Ông ta ở trong phòng, không ra ngoài”.
Tay bếp mở cửa khi nghe giọng Nick.
“Tau chẳng nghe thấy gì đâu nhé”, anh ta nói rồi dập cửa lại.
“Cậu đã kể hết cho ông ấy rồi phải không?” George hỏi.
“Rồi. Mình kể nhưng ông ấy đã biết trước”.
“Ông ấy định làm gì?”
“Chẳng làm gì cả”.
“Chúng sẽ giết ông ấy”.
“Mình chắc thế”.
“Hẳn ông ấy có liên quan đến vụ gì đó ở Chicago”.
“Mình nghĩ thế”, Nick nói.
“Thật nghiêm trọng,” Nick nói.
Chúng lặng im. George với tay lấy cái khăn lau quầy.
“Mình không rõ ông ấy đã làm gì nhỉ?” Nick nói.
“Phản lại ai đó. Đấy là lý do để bọn chúng tìm giết”.
“Mình sẽ đi khỏi thành phố này”, Nick nói.
“Ừ”, George nói. “Đấy là điều tốt để làm”.
“Mình chẳng thể chịu đựng nổi khi nghĩ lại cảnh ông ấy đợi trong phòng và biết sẽ bị giết. Cảnh tượng ấy thực tồi tệ”.
“Thôi nào”, George nói. “Tốt hơn là cậu đừng nghĩ về nó”.

Lê Huy Bắc dịch
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 20:28:45 bởi casau>
Tổ quốc nói gì với mày?

Vào lúc sáng sớm, con đường cứng, phẳng lì, chưa có bụi. Bên dưới, những ngọn đồi phủ đầy cây sồi và cây hạt dẻ, biển thấp mãi tận dưới xa. Phía bên kia là những ngọn đồi phủ đầy tuyết.
Chúng tôi xuống đèo, chạy qua rừng. Bên đường, những bao than củi chất thành đống, nhìn qua những thân cây, chúng tôi thấy lều của mấy người đốt than. Hôm nay Chủ nhật, còn con đường, hết dốc lên lại lượn xuống, nhưng luôn giảm độ cao so với con đèo, chạy vào truông rậm rồi xuyên qua nhiều ngôi làng.
Nhiều cánh đồng nho bao quanh các khu làng. Những cánh đồng màu nâu, còn nho thì mọc chằng chịt, rậm rì. Những ngôi nhà quét vôi trắng, trên đường, cánh đàn ông trong trang phục ngày Chủ nhật đang chơi ki. Sát tường của vài ngôi nhà, mấy cây lê tỏa cành lên những bức tường trắng. Khóm lê được phun thuốc và hơi thuốc đã làm những bức tường lốm đốm nhiều vệt xanh lơ, óng ánh. Những cánh đồng rộng bao quanh các khu làng đều được trồng nho, tiếp đấy là rừng.
Tại một làng nọ cách Spezia chừng hai mươi kilômét, có một nhóm người đang đứng trên bãi đất, một người trẻ tuổi xách va-li bước đến cạnh xe và đề nghị chúng tôi đưa hắn tới Spezia.
“Chỉ còn hai chỗ nhưng đã có người ngồi rồi” tôi nói. Chúng tôi đang đi chiếc Ford cũ, loại có hai cửa.
“Tôi sẽ bám ở bên ngoài”.
“Anh sẽ không thoải mái”.
“Chuyện vặt ấy mà. Tôi phải đến Spezia”.
“Bọn mình cho hắn đi không?” tôi hỏi Guy.
“Dầu sao thì hắn cũng dường như đã sẵn sàng” Guy đáp. Gã trai trẻ đút bọc hành lý qua cửa sổ.
“Trông hộ cái này”, hắn nói. Hai người đàn ông buộc va-li của hắn vào sau xe, bên trên va-li của chúng tôi. Hắn bắt tay từng người và giải thích rằng đối với một thành viên phát xít và đối với người thường đi đó đi đây như hắn thì chẳng có gì là bất tiện, rồi hắn leo lên bậu cửa phía bên trái xe, choàng cánh tay phải qua cửa xe đã hạ kính, bám vào bên trong.
“Các anh có thể đi”, hắn nói. Nhóm người kia vẫy tay. Hắn đáp lại bằng cánh tay còn rảnh.
“Hắn nói gì vậy?” Guy hỏi tôi.
“Rằng bọn ta có thể đi”.
“Hắn nói đễ thương nhỉ?” Guy nói.
Con đường men theo dòng sông. Bên kia sông là những ngọn núi. Mặt trời làm sương đọng trên cỏ tan đi. Trời trong vắt và lạnh, gió lùa vào xe qua cửa kính đã hạ xuống.
“Mày nghĩ hắn có bất tiện khi bám ngoài đó không?” Guy đang nhìn đường. Tầm nhìn của Guy bị vị khách của chúng tôi che mất một phía bên xe. Gã trai trẻ bám chặt vào một bên xe như thể một biểu tượng hình người bằng gỗ gắn đầu mũi tàu. Hắn đã dựng cổ áo lên, kéo sụp mũ xuống nhưng cái mũi của hắn lạnh ngắt bởi những cơn gió thốc vào.
“Có lẽ hắn sẽ lãnh đủ”, Guy nói. “Bên ấy là phía lốp xe hơi xẹp”.
“Ồ hắn sẽ bỏ ta nếu xe bị nổ lốp”, tôi nói. “Hắn sẽ không chịu để bẩn bộ quần áo du lịch kia đâu”.
“Hừ, tao chẳng bận tâm đến hắn”, Guy nói, “trừ lúc hắn nghiêng người qua mỗi khúc cua”.
Rừng đã hết; con đường tách khỏi dòng sông, xe leo dốc, bộ phận tản nhiệt sôi sùng sục; gã trai trẻ trông có vẻ khó chịu và nghi hoặc khi nhìn nước rỉ và hơi nước bốc lên; tiếng động cơ rít mạnh. Cả hai chân Guy dận lên bàn ga, chiếc xe trườn lên, cứ nhích dần, tròng trành tới lui rồi bò lên, rốt cuộc cũng lên đến đỉnh dốc. Tiếng rú của động cơ không còn, trong bầu không khí yên tĩnh, tiếng vỡ của bong bóng nước sôi trong bầu tản nhiệt kêu xèo xèo. Chúng tôi đã lên đỉnh của ngọn đồi cuối cùng án ngự giữa Spezia và biển. Con đường đổ dốc với những khúc cua ngắn, khúc khuỷu. Vị khách của chúng tôi lệch người sau mỗi khúc cua khiến cho đầu xe càng nặng thêm, suýt lật nhào.
“Mày không thể bảo hắn đừng làm như thế sao”, tôi nói với Guy.
“Đấy là bản năng tự vệ của hắn”.
“Bản năng tự vệ vĩ đại của người Italy”.
“Bản năng vĩ đại nhất của dân tộc Italy”.
Chúng tôi đi xuống, qua nhiều khúc lượn, thụt xuống lớp bụi dày, bụi bốc cao, phủ đầy lên các cây ô liu. Phía dưới, Spezia trải dài dọc theo bờ biển. Bên ngoài thành phố, con đường đỡ dốc. Vị khách của chúng tôi thò dầu vào cửa.
“Tôi muốn dừng lại”.
“Dừng xe”, tôi bảo Guy.
Chúng tôi từ từ tạt xe vào mé đường. Gã trai trẻ bước xuống, đi về phía sau xe tháo cái va-li.
“Tôi xuống đây, để các anh khỏi gặp rắc rối vì chở hành khách”, hắn nói. “Cái túi của tôi”.
Tôi đưa hắn túi đồ. Hắn thò tay vào túi.
“Tôi trả các anh bao nhiêu đây?”.
“Không cần”.
“Tại sao lại không?”
“Tôi không biết”, tôi nói.
“Vậy thì cảm ơn”, gã trai trẻ nói, mà không nói theo kiểu, “xin cảm ơn các anh”, hoặc, “cảm ơn các anh rất nhiều,” hoặc “ngàn lần cảm ơn các anh,” tất cả các cụm từ này thường được người Italy trang trọng sử dụng để cảm ơn người đã đưa giúp họ băng giờ tàu hay chỉ đường cho họ. Gã trai trẻ chỉ lí nhí thốt ra từ “cám ơn” rồi nghi ngờ nhìn theo chúng tôi lúc Guy lái xe đi. Tôi vẫy tay từ biệt hắn. Hắn quá cao quý để vẫy tay chào lại. Chúng tôi đi vào Spezia.
“Thằng nhãi ấy sẽ tiến xa ở Italy này đấy”, tôi nói với Guy.
“Dẫu sao”, Guy nói, “hắn cũng đã đi cùng bọn ta hai mươi kilômét”.
BỮA ĂN Ở SPEZIA
Chúng tôi vào Spezia tìm quán ăn. Đường phố rộng rãi, nhà cửa cao vút, quét vội vàng. Chúng tôi men theo đường xe điện vào trung tâm thành phố. Trên tường của những ngôi nhà, nhiều bức chân dung của Mussolini mắt lồi được tô đậm kèm theo dòng chữ “Muôn năm” viết bằng tay với hai chữ “M” từ chữ “Muôn’' và mấy giọt sơn đen rỏ lem nhem ra cả bức tường. Mấy con phố đâm ngang dẫn xuống biển. Trời sáng sủa, mọi người đều ra khỏi nhà vào ngày Chủ nhật. Lề đường lát đá được phun nước, nhiều vệt nước còn đọng trong các kẽ đá. Chúng tôi nép sát vào lề đường để tránh tàu điện.
“Bọn ta ăn ở nơi nào đơn giản thôi”, Guy nói.
Chúng tôi dừng trước mặt hai biển hiệu nhà hàng. Chúng tôi đứng phía bên này đường. Tôi mua mấy tờ báo. Hai tiệm ăn sát vách nhau. Một người đàn bà đứng trên ngưỡng cửa của một tiệm ăn mỉm cười với chúng tôi, chúng tôi qua đường, vào quán.
Trong quán, trời tối; đằng cuối phòng, ba cô gái đang ngồi với một bà già bên cái bàn. Đối diện với chúng tôi, ở bàn kia, là tay thủy thủ. Gã chỉ ngồi, không ăn cũng không uống. Đằng xa hơn, một người đàn ông trẻ vận đồ màu xanh đang cúi viết trên bàn. Tóc y chải sáp bóng nhẫy, cách ăn mặc của y thật bảnh bao.
Ánh sáng rọi qua cửa ra vào và cửa sổ nơi rau, quả, bít tết, sườn được bày trong tủ kính. Một cô gái bước đến ghi các món gọi còn cô khác thì đứng trên ngưỡng cửa. Chúng tôi thấy thân hình cô ta tồng ngồng sau lần váy mặc trong nhà. Còn cô gái, người đang ghi các món ăn, thì choàng tay qua cổ Guy trong lúc chúng tôi đọc thực đơn. Cả thảy có ba cô, họ thay phiên nhau ra đứng trấn nơi cửa. Bà già, ngồi cạnh cái bàn đằng cuối phòng, cất tiếng gọi, mấy cô gái quay lại ngồi bên bà ta.
Căn phòng không còn cửa nào khác, trừ cửa dẫn ra bếp. Một tấm rèm treo ngang cánh cửa ấy. Cô gái ghi món ăn của chúng tôi, mang món mì ống từ bếp bước vào. Cô ta đặt xuống bàn, lấy một chai vang đỏ rồi ngồi luôn vào bàn. “Này”, tôi bảo Guy, “mày muốn ăn ở nơi đơn giản đấy”.
“Quán này chẳng đơn giản tí nào. Nó thực rắc rối!”
“Các anh nói gì vậy?” Cô gái hỏi, “Các anh là người Đức à?”
“Người Nam Đức”, tôi đáp. “Người miền Nam nước Đức rất lịch sự và đáng yêu”.
“Em không hiểu gì cả”, cô gái nói.
“Cách phục vụ của tiệm ăn này là như vầy ư?” Guy hỏi. “Tao phải để cho cô ta cứ quàng tay mãi qua cổ thế này à?”
“Chắc thế”, tôi nói. “Mussolini đã quét sạch các nhà chứa. Nhưng đây lại là nhà hàng”.
Cô gái vận chiếc váy một mảnh. Cô ta cúi người tì vào bàn, đặt tay lên vú và mỉm cười. Nụ cười của cô ta nhìn từ phía bên này đẹp hơn ở phía bên kia, cô ta quay cái phía tử tế ấy sang chúng tôi. Sức hấp dẫn của phía tử tế được tôn lên bởi chất liệu gì đó mà nó làm bẹp phía mũi bên kia của cô ta, tựa như sáp nóng, có thể nắn. Mũi của cô ta, dĩ nhiên, không giống như sáp chảy. Nó lạnh và rắn, chỉ có điều là lõm vào.
“Anh thích em chứ?” cô ta hỏi Guy.
“Anh ấy tôn thờ em đấy”, tôi nói, “nhưng không nói được tiếng Italy”.
“Thì em nói tiếng Đức vậy”, cô ta nói, rồi vuốt tóc Guy.
“Các anh từ đâu đến? Cô gái hỏi.
“Từ Potsdam”.
“Và bây giờ các anh sẽ nghỉ lại đây một lát chứ?”
“Trong thành phố Spezia thân thương này ư?” tôi hỏi.
“Bảo cô ấy bọn ta phải đi”, Guy nói. “Bảo cô ta tụi mình ốm lắm và không có tiền”.
“Anh bạn của tôi đây là người ghét đàn bà”, tôi nói, “một gã Đức già ghét đàn bà”.
“Nói với anh ấy rằng em yêu anh ấy”.
Tôi nói lại cho hắn.
“Mày có câm miệng rồi bọn ta ra khỏi đây ngay không?” Guy nói.
Cô gái quàng luôn cánh tay kia lên cổ Guy.
“Nói với anh ấy rằng anh ấy là của em”, cô gái nói. Tôi thuật lại.
“Em có tha cho bọn anh không?”
“Các anh đang cãi nhau”, cô gái nói. “Các anh chẳng yêu thương nhau”.
“Bọn anh là người Đức”, tôi tự hào nói, “những người Đức cổ ở miền Nam”.
“Nói với anh ấy, anh ấy là một chàng trai xinh xắn”, cô gái nói. Guy đã ba mươi tám và thỉnh thoảng tỏ vẻ tự hào bởi ở Pháp người ta tưởng nhầm hắn là một nhân viên giao dịch thương mại.
“Anh là một chàng trai xinh xắn”, tôi nói.
“Ai bảo thế?” Guy hỏi, “mày hay cô ta?”
“Cô ta. Tao chỉ là người phiên dịch. Đấy chẳng phải là lý do để mày gọi tao đi chuyến này à?”
“Tao lấy làm mừng bởi đấy là lời của cô ta”, Guy nói. “Tao không muốn phải bỏ mày ở lại đây”.
“Tao cũng chẳng hiểu nữa. Spezia là một thành phố đáng yêu”.
“Spezia”, cô gái nói. “Các anh đang nói về Spezia”.
“Một nơi đáng yêu”, tôi nói.
“Quê em đấy”, cô ta nói. “Spezia là nơi chôn nhau cắt rốn của em, còn Italy là tổ quốc của em”.
“Cô ta bảo Italy là tổ quốc của cô ta”.
“Nói với cô ta nó như thể là tổ quốc của cô ấy”, Guy nói.
“Em có món gì tráng miệng?” Tôi hỏi.
“Hoa quả”, cô ta nói. “Bọn em có chuối”
“Chuối được đấy,” Guy nói. “Chúng có vỏ”.
“Ôi, anh ấy gọi chuối”, cô gái nói. Cô ta ôm chầm lấy Guy.
“Cô ta bảo gì vậy?” hắn hỏi lúc ngoảnh mặt đi.
“Cô ta hài lòng bởi lẽ mày gọi chuối”.
“Bảo cô ta tao không ăn chuối đâu”.
“Quý ông đây không ăn chuối?”.
“À”, cô gái tiu nghỉu nói, “anh ấy không ăn chuối”.
“Nói với cô ta là tao sáng nào cũng tắm nước lạnh”, Guy bảo.
“Sáng nào quý ông đây cũng tắm nước lạnh”.
“Chẳng hiểu gì cả”, cô gái nói.
Trước mặt bọn tôi, tay thủy thủ cô đơn ngồi im. Không một ai trong quán chú ý đến anh ta.
“Bọn anh muốn thanh toán”, tôi nói.
“Ồ, không. Các anh phải ở lại đã”.
“Này,” người đàn ông trẻ ăn vận bảnh bao cất tiếng nói từ cái bàn nơi y đang ngồi viết, “Để họ đi. Hai vị này chẳng đáng phải bõ công đâu”.
Cô gái nắm tay tôi. “Anh sẽ không đi chứ? Anh hãy đề nghị anh ấy ở lại nhé?”
“Bọn anh phải đi”, tôi nói. “Bọn anh phải đến Pisa hoặc có thể thì sẽ đến Firenze tối nay. Vào buổi tối bọn anh mới có thể vui chơi trong những thành phố ấy, còn ban ngày, bọn anh phải đi”.
“Này”, anh chàng bảnh bao nói. “Đừng có phí thời gian kèo nài mấy vị ấy. Tao đã bảo mày họ chẳng đáng đâu, tao quá biết”.
“Mang hóa đơn cho chúng tôi”, tôi nói. Cô gái mang hóa đơn thanh toán từ bà già đến rồi quay lại ngồi xuống bàn. Cô gái khác từ bếp bước vào. Cô ta bước qua phòng, ra đứng trấn ở cửa.
“Tao bảo đừng phí nhời với mấy vị ấy”, anh chàng bảnh bao, nói với vẻ mệt mỏi. “Đi chén thôi. Chẳng nước non gì đâu”.
Chúng tôi trả tiền rồi đứng dậy. Mấy cô gái, bà già và gã bảnh bao cùng nhau ngồi vào bàn. Tay thủy thủ đưa tay ôm đầu gối ngồi im. Chẳng ai nói tới anh ta suốt cả thời gian chúng tôi ăn trưa. Cô gái mang trả chúng tôi số tiền thừa từ bà già rồi trở lại chỗ ngồi của mình bên bàn. Chúng tôi để lại ít tiền boa rồi bước ra. Lúc hai đứa đã ngồi trong xe và chuẩn bị khởi hành, một cô gái bước ra đứng trấn bên cửa. Chúng tôi rời đi, tôi vẫy tay chào tạm biệt. Cô ta không đáp lại, chỉ đứng đấy nhìn theo.
SAU CƠN MƯA
Trời mưa lớn khi chúng tôi đi qua vùng ngoại ô xứ Genoa, chiếc xe bò rất chậm sau mấy chiếc xe điện, xe tải; bùn lỏng bắn tung tóe lên lề đường nhiều đến nỗi mọi người bước ra cửa nhìn khi thấy chúng tôi đi qua. Ở San Pier d’Arena, vùng ngoại ô công nghiệp bên ngoài Genna, con lộ mở rộng với hai làn đường, chúng tôi lái xe ra giữa đường để tránh vấy bùn vào những người đang trở về nhà từ nơi làm việc. Bên trái chúng tôi là Địa Trung Hải. Mặt biển bao la đang chuyển động, sóng tung bọt và gió mang hơi nước phả vào xe. Lòng sông rộng đầy đá cuội và khô ráo khi chúng tôi băng qua để vào đất Italy này đã chuyển thành dòng sông vàng nhờ, mênh mông sắp tràn bờ. Dòng nước vàng ấy làm phai màu nước biển; khi những con sóng dồn đến, yếu dần rồi mất hẳn, ánh sáng chiếu qua làn nước màu vàng và, bọt sóng bị gió cuốn đi, đưa vào bờ, tràn qua con đường.
Một chiếc xe lớn rồ ga vượt qua, dải nước bùn tung lên rơi trúng kính chắn gió và cả bộ tản nhiệt trên xe chúng tôi. Cái gạt nước tự động gạt qua gạt lại chùi sạch chỗ bùn vấy lên kính. Chúng tôi dừng lại ăn trưa ở Sestri. Nhà hàng không có lò suởi nên hai đứa mặc nguyên áo khoác và đội mũ. Qua cửa sổ, hai đứa có thể nhìn thấy chiếc xe đỗ bên ngoài. Chiếc xe bị bùn phủ đầy, đỗ cạnh mấy chiếc thuyền được kéo lên để tránh sóng. Trong nhà hàng, người ta có thể thấy luồng hơi thở của mình.
Món pasta asciuta (canh miến) thật ngon, nhưng rượu vang có vị phèn, chúng tôi pha thêm nước. Tiếp đó, người bồi mang ra món bít tết bò và món khoai tây rán. Một người đàn ông và một người đàn bà ngồi phía cuối nhà hàng. Ông ta ở vào độ tuổi trung niên, người đàn bà còn trẻ, vận đồ đen. Suốt cả bữa ăn, chị ta cứ thở mạnh vào bầu không khí lạnh, ẩm ướt. Người đàn ông ngồi nhìn và lắc đầu. Họ không trò chuyện khi ăn rồi người đàn ông nắm tay chị ta ở dưới bàn. Chị ta trông xinh xắn, hai người có vẻ buồn. Họ mang theo một cái túi du lịch.
Chúng tôi mang báo theo, tôi đọc to bài tường thuật trận đánh ở Thượng Hải cho Guy nghe. Sau bữa ăn, Guy đi cùng người bồi tìm cái nơi mà không có trong nhà hàng, còn tôi thì dùng giẻ, lau kính chắn gió, đèn và biển số. Guy quay lại, chúng tôi lùi xe ra rồi lên đường. Người bồi đã đưa Guy băng qua đường vào một ngôi nhà cũ. Người trong nhà tỏ vẻ nghi ngờ, còn anh bồi thì cứ đứng đấy trông chừng đồ đạc kẻo sợ Guy đánh cắp.
“Tao chẳng phải là kẻ cắp và dẫu sao thì tao cũng chẳng biết đường ăn cắp mà họ lại cứ sợ tao thó mất cái gì đó”, Guy nói.
Khi chúng tôi leo lên đỉnh ngọn đồi bên ngoài thành phố, một cơn gió cuốn mạnh, suýt làm xe lật nhào.
“Nó có thể thổi phăng chúng ta xuống biển”, Guy nói.
“Ừ”, tôi đáp, “chúng làm Shelley chết đuối đâu đấy dọc đây thôi”.
“Ở dưới kia, gần Viareggio cơ”, Guy nói. “Mày còn nhớ mục đích của bọn ta đến đây là để làm gì chứ?”
“Nhớ”, tôi trả lời, “nhưng bọn ta vẫn chưa làm được?”
“Tối nay bọn ta sẽ vượt qua nơi đó”.
“Nếu ta có thể đi quá Ventimiglia”.
“Ta sẽ thử xem. Tao không thích lái xe suốt đêm dọc bờ biển như thế này đâu”. Mới đầu giờ chiều nhưng mặt trời đã khuất hẳn. Bên dưới, biển xanh sẫm, nhấp nhô những con sóng bạc đầu nối đuôi nhau trườn về hướng Savona. Bên kia mũi đất, mặt nước đen sẫm nơi hai dòng nước vàng và xanh hòa vào nhau. Tít đằng kia, một chiếc tàu chở hàng đang hướng mũi vào bờ.
“Bọn ta còn có thể nhìn thấy Genoa nữa không?” Guy hỏi.
“Ồ, thấy chứ”.
“Mỏm đất lớn kế tiếp hẳn sẽ che khuất Genoa?”
“Bọn ta sẽ còn thấy nó một lúc lâu nữa. Tao có thể trông rõ mỏm Portofino đằng sau nó”.
Lát sau, chúng tôi không nhìn thấy Genoa nữa. Tôi quay nhìn khi chúng tôi đi khuất thì chỉ thấy mặt biển, bên dưới, phía trong vịnh những chiếc thuyền câu được xếp thành hàng trên bờ, còn phía trên là thị trấn men theo sườn đồi và những mỏm đất từ bờ vươn dài ra.
“Giờ thì nó khuất hẳn rồi”, tôi nói.
“Ồ, nó đã khuất từ lâu rồi chứ”.
“Nhưng bọn ta không thể dám chắc cho đến lúc khuất hẳn”.
Có một biển hiệu mang hình chữ S và dòng chữ Svolta Pericolosa (có nghĩa: Đường vòng nguy hiểm). Con đường lượn quanh ngọn đồi, gió thổi qua khe hở cửa kính chắn gió. Phía dưới, mỏm đất bằng phẳng trải dọc theo biển. Gió thổi khô bùn, bánh xe bắt đầu tung bụi. Trên con đường bằng phẳng, chúng tôi vượt qua gã phát xít đang đi xe đạp, khẩu súng lục nặng, đút trong bao, đeo bên hông. Gã cứ đạp xe đi chính giữa đường, chúng tôi phải vòng xe tránh. Gã ngước mắt nhìn khi chúng tôi vượt qua. Phía trước là đường tàu cắt, khi chúng tôi đến, đường bị chắn lại.
Chúng tôi đợi, gã phát xít đạp xe đến. Tàu chạy qua, Guy khởi động xe.
“Đợi đã”, gã đi xe đạp hét từ phía sau. “Số xe các anh bị bẩn”.
Tôi cầm giẻ lau bước ra. Biển số đã được chùi lúc trưa.
“Ông có thể đọc được”, tôi nói.
“Anh tưởng thế sao?”
“Thì cứ đọc đi”.
“Tôi không thể nào đọc được. Nó bị bẩn”.
Tôi lấy giẻ chùi sạch.
“Giờ thì thế nào?”
“Hai mươi lăm lire”.
“Cái gì?” tôi hỏi. “Ông có thể đọc được nó cơ mà. Nó bẩn chỉ tại tình trạng đường sá”.
“Các anh không thích đường sá Italy hả?”
“Nó bẩn lắm”.
“Năm mươi lire”. Gã khạc nhổ lên đường. “Xe của các anh bẩn và bản thân các anh cũng bẩn thỉu nốt”.
“Thôi được. Cho tôi xin giấy biên lai có tên ông”.
Gã móc cuốn biên lai, gồm những tờ giấy kép có đục lỗ để có thể xé một nửa đưa cho người nhận còn nửa kia được giữ lại như cuống phiếu. Chẳng cần có giấy các-bon để ghi đúng tiêu chuẩn như yêu cầu của một tờ biên lai.
“Đưa tôi năm mươi lire”.
Gã viết bằng bút chì không thể tẩy, xé ra rồi đưa cho tôi. Tôi đọc.
“Biên lai chỉ viết hai mươi lăm lire”.
“Nhầm đấy”, gã nói, rồi chữa hai mươi lăm thành năm mưo8i.
“Còn nửa kia. Ghi đúng năm mươi lire vào phần giấy ông giữ”.
Gã nở một nụ cười Italy thật quyến rũ rồi viết gì đó lên cuống biên lai trong lúc che để tôi không thể nhìn thấy.
“Cứ đi đi”, gã nói. “Trước lúc biển số của các anh lại bẩn”.
Sau khi trời tối, chúng tôi đi thêm hai tiếng đồng hồ nữa rồi ngủ lại Menton. Thành phố dường như nhộn nhịp, sạch sẽ, vui vẻ và đáng yêu. Chúng tôi đã đi từ Ventiniglia qua Pisa đến Florence, vượt Romagna tới Rimini; rồi quay về theo lối Forli, Imola, Bologna, Parma, Piacenza đến Genoa rồi lại về Ventiniglia. Toàn bộ hành trình chỉ mất có mười ngày. Thực ra, đấy chỉ là một chuyến đi ngắn, chúng tôi không có cơ hội để tìm hiểu xem xứ ấy và con người của xứ ấy ra sao.

Lê Huy Bắc dịch
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 13:10:46 bởi casau>
Năm mươi ngàn dollar

“Mày sao rồi, Jack?” tôi hỏi hắn.
“Mày thấy gã Walcott này chưa?” hắn nói.
“Chỉ mới ở phòng tập”.
“Ừ”, Jack nói, “tao sẽ cần nhiều may mắn với gã đó”.
“Nó không thể đấm được mày đâu, Jack”, Soldier nói.
“Giá mà hắn không thể”.
“Hắn không thể hạ mày bằng những cú móc nhẹ tênh như thế”.
“Cú móc nhẹ thì chẳng sao”, Jack nói. “Tao chẳng đếm xỉa đến những cú móc ấy tí nào”.
“Trông hắn dễ hạ đấy”, tôi nói.
“Hẳn rồi”, Jack nói, “hắn sẽ chẳng trụ lâu nổi đâu. Hắn không dẻo dai như mày và tao, Jerry. Nhưng hiện tại, hắn có mọi thứ”.
“Mày đấm chết hắn bằng cú tay trái”.
“Có thể”, Jack đáp. “Có thể. Tao có cơ hội”.
“Quần hắn như mày đã quần Lid Lewis.”
“Kid Lewis”, Jack nói.
“Cái đồ Do Thái!”
Cả ba đứa, Jack Brennan, Soldier Barlett và tôi đang ngồi trong tiệm Hanley. Hai ả điếm ngồi canh bàn bọn tôi. Chúng đang uống. “Mày ám chỉ gì với từ Do Thái ấy?” một đứa hỏi.
“Do Thái, mày nói vậy là có nghĩa gì hả cái đồ bị thịt Ai Len kia?”
“Tất nhiên”. Jack nói. “Thế đấy”.
“Đồ Do Thái”, ả ấy vẫn tiếp tục nói. “Lũ bị thịt Ai Len này luôn chì chiết người Do Thái. Mày nói, đồ Do Thái là có nghĩa gì vậy?”
“Biến. Bọn mình đi khỏi đây thôi”.
“Đồ Do Thái”, ả ấy vẫn tiếp tục. “Đã có ai từng thấy mày đãi rượu người khác chưa? Mỗi buổi sáng, con vợ mày khâu hẳn hầu bao của mày lại. Quân Ai Len này và cả đám Do Thái của chúng mày thật là! Giá mà Ted Lewis tẩn cho mày một trận”.
“Đương nhiên”, Jack nói. “Còn mày thì luôn cho không mọi thứ có phải không?”
Bọn tôi bước ra. Jack ấy mà, hắn có thể nói bất kỳ thứ ngôn ngữ nào nếu hẳn muốn.
Sau đó, Jack tập luyện tại trại của Danny Hogan ở Jersey. Nơi ấy thật dễ chịu nhưng Jack không thích lắm. Hầu hết thời gian, Jack bực bội và cáu kỉnh bởi hắn không muốn sống xa vợ con. Hắn thích tôi bởi từ lâu hai đứa đã là bạn của nhau; hắn thích Hogan, còn Soldier Bartlett thì thỉnh thoảng làm hắn cáu. Một người ưa châm chọc sẽ trở thành cái gai ở trại một khi hắn quá trớn. Soldier thường xuyên trêu Jack. Lúc nào hắn cũng có thể đùa. Như thế, với Jack nó không còn là chuyện đùa và chẳng còn hay hớm gì nữa. Kiểu đùa tựa như: Lúc Jack ngừng tập tạ, đấm bao rồi đeo găng vào.
“Mày muốn dượt chứ?” hắn đề nghị Soldier.
“Chắc rồi. Mày muốn tao đấu thế nào đây?” Soldier hỏi. “Muốn tao tẩn nhừ mày ra như Walcott hả? Muốn tao cho mày nốc ao vài bận chứ gì?”
“Được rồi”, Jack đáp. Nhưng hắn chẳng thích tí nào.
Sáng nọ cả bọn ra đường. Bọn tôi chạy khá xa rồi quay lại. Bọn tôi cứ chạy nhanh trong vòng ba phút, đi chậm một phút rồi lại chạy nhanh ba phút. Jack không phải là típ người mà bạn có thể gọi là người chạy nước rút. Nhưng lúc thượng đài, vào thế bắt buộc thì hắn lại có khả năng di chuyển rất nhanh, còn trên đường thì hẳn không thể chạy nhanh được. Hễ lúc nào bọn tôi đi chậm thì Soldier trêu hắn. Bọn tôi đi lên ngọn đồi, về trại.
“Này”, Jack nói, “tốt hơn là mày trở về thành phố đi, Soldier”.
“Mày muốn nói gì vậy?”
“Mày quay lại thành phố và ở đó thì tốt hơn”.
“Chuyện gì vậy?”
“Tao phát ngấy khi nghe mày nói”.
“Thật sao?” Soldier nói.
“Thật”, Jack đáp.
“Mày sẽ ngấy hơn nữa một khi bị Walcott hạ”.
“Đúng thế”, Jack nói, “Có thể tao sẽ. Nhưng tao biết mình đang phát ốm vì mày”.
Thế là sáng hôm ấy, Soldier đáp tàu lửa về thành phố. Tôi tiễn hắn lên tàu. Hắn tử tế và tỏ vẻ buồn.
“Tao chỉ đùa chơi thôi”, hắn nói. Bọn tôi đang đợi trên sân ga. “Hắn không thể xử sự như thế với tao, Jerry”.
“Hắn căng thẳng và cáu bẳn”, tôi nói. “Hắn là đứa tốt đấy, Soldier”.
“Đồ khốn nạn thì có. Mẹ kiếp, hắn chưa bao giờ là đứa tốt”.
“Thôi”, tôi nói, “tạm biệt Soldier”.
Tàu đã đến. Hắn mang túi xách leo lên.
“Tạm biệt Jerry”, hắn nói. “Mày sẽ đến thành phố trước trận đấu chứ?”
“Tao không nghĩ thế”.
“Tạm biệt”.
Hắn vào toa, người soát vé phất tay, tàu chuyển bánh. Tôi trở lại trại bằng xe ngựa. Jack ngồi ngoài hiên viết thư cho vợ. Bưu phẩm tới, tôi nhặt mấy tờ báo mang đến đầu hiên đằng kia đọc. Hogan bước ra cửa, đi về phía tôi.
“Hắn cãi nhau với Soldier à?”
“Không phải cãi”, tôi đáp. “Hắn chỉ bảo anh ta quay về thành phố”.
“Tao đã đoán trước chuyện này”, Hogan nói. “Hắn chẳng ưa gì Soldier lắm”.
“Đúng. Hắn không ưa nhiều người”.
“Hắn là người khá lạnh lùng”, Hogan nói.
“Ừ. Hắn chỉ luôn tử tế với tao”.
“Cả tao nữa”, Hogan nói. “Tao chẳng hề trêu hắn. Nhưng dẫu sao thì hắn cũng là kẻ lạnh lùng”.
Hogan bước qua rèm cửa, tôi ngồi xuống hiên đọc báo. Đã chớm thu, cả miền quê Jersey tươi đẹp trải dài đến tận những ngọn đồi, đọc xong tờ báo, tôi ngồi ngắm miền quê và con đường men theo bìa rừng bên dưới nơi xe cộ qua lại, tung bụi mù. Thời tiết thật đẹp, cả vùng quê trông thực tuyệt vời. Hogan ra cửa, tôi nói, “Hogan này, ở đây có gì để săn không?”
“Không”, Hogan đáp. “Chỉ có chim sẻ thôi”.
“Đã đọc báo chưa?” tôi hỏi Hogan.
“Có tin gì vậy?”
“Hôm qua Sande thắng ba trận”.
“Tối qua tao đã nhận được tin đó qua điện thoại”.
“Mày theo dõi chúng sát sao nhỉ, Hogan?” tôi hỏi.
“Ồ, tao luôn theo sát chúng”, Hogan đáp.
“Còn Jack thì sao?” tôi nói. “Hắn vẫn đánh chứ?”
“Hắn ấy hả?” Hogan nói. “Mày thấy hắn đang chơi à?”
Ngay lúc ấy, Jack cầm bức thư bước qua góc nhà. Hắn vận áo thun, quần cộc và đi giày đấm bốc đã cũ.
“Có tem không, Hogan?” hắn hỏi.
“Đưa thư đây”, Hogan nói. “Tao sẽ gửi giùm cho”.
“Này Jack”, tôi nói. “Mày thường đánh cá ngựa phải không?”
“Đúng đấy”.
“Tao biết mày chơi. Tao nhớ đã thường gặp mày tại Sheepshead”.
“Sao mày không chơi nữa?” Hogan hỏi.
“Mất tiền”.
Jack ngồi xuống cạnh tôi trên hiên. Hắn tựa lưng vào cột. Trong ánh nắng, hắn nhắm mắt lại.
“Ngồi ghế không?” Hogan hỏi.
“Không”, Jack đáp. “Thế này thoải mái rồi”.
“Một ngày tuyệt đẹp”, tôi nói. “Miền quê thật tuyệt vời”.
“Tao muốn ở lại thành phố với vợ hơn”.
“Ồ, mày chỉ còn mỗi một tuần nữa”.
“Ừ,” Jack nói. “Thế đấy”.
Bọn tôi ngồi ngoài hiên. Hogan vào văn phòng.
“Mày nghĩ gì về phong độ của tao?” Jack hỏi tôi.
“Ừ, khó nói đấy”, tôi đáp. “Mày còn một tuần để lấy lại phong độ”.
“Đừng quanh co nữa”.
“Ừ”, tôi nói, “Mày không được khỏe”.
“Tao mất ngủ”, Jack nói.
“Vài hôm nữa mày sẽ ngủ được”.
“Không”, Jack nói, “Tao bị bệnh mất ngủ”.
“Mày vương vấn gì trong đầu vậy?”
“Tao nhớ vợ”.
“Gọi cô ấy đến”.
“Không. Tao quả già với chuyện ấy”.
“Bọn mình sẽ dạo quanh trước lúc mày đi ngủ để cơ thể mệt mỏi và thần kinh thư giãn”.
“Mệt mỏi ư!” Jack nói. “Lúc nào tao cũng mỏi mệt”.
Hắn sống trong trạng thái ấy suốt cả tuần nay. Buổi tối hắn không ngủ được nên lúc ra khỏi giường vào sáng hôm sau hắn có cảm giác ấy, bạn biết đó, cảm giác sẽ xuất hiện khi bạn không tự chủ được.
“Hắn nhăn nhó như thể ngoạm phải miếng bánh ôi”, Hogan nói. “Hắn chẳng còn gì”.
“Tao chưa bao giờ gặp Walcott”, tôi nói.
“Nó sẽ giết hắn”, Hogan nói. “Nó sẽ xé xác Jack ra làm hai mảnh”.
“Ừ”, tôi nói, “trong đời ai rồi cũng sẽ gặp chuyện đó”.
“Dẫu sao thì không giống trường hợp này”, Hogan nói. “Họ sẽ nghĩ là hắn đã không được tập luyện. Điều đó gây tai tiếng cho trại”.
“Mày có nghe cánh nhà báo bình luận gì về hắn?”
“Lại còn nghe nữa! Họ bảo hắn mất phong độ. Họ bảo lẽ ra ban tổ chúc không nên cho hắn đấu”.
“Ồ”, tôi nói, “bọn chúng thì thường nói sai có phải không?” “Phải”, Hogan đáp. “Nhưng lần này thì họ đúng”.
“Làm cái quái nào mà chúng biết được một người còn phong độ hay mất”.
“Này”, Hogan nói, “Họ chẳng phải là lũ ngốc cả đâu”.
“Những gì chúng làm là chế giễu Willard ở Toledo. Cái gã Lardner ấy mà, giờ thì hắn đã sáng mắt ra rồi, hãy hỏi hắn về việc giễu Lardner ở Toledo”.
“Ồ, hắn chẳng đến đâu”, Hogan nói. “Hắn chỉ viết về những trận đấu lớn”.
“Tao không quan tâm chúng là ai”, tôi nói. “Chúng biết quái gì? Chúng có thể bình luận, được thôi, nhưng chúng biết cái cóc xái gì?”
“Mày không cho là Jack còn phong độ phải không?” Hogan hỏi.
“Không. Hắn chỉ chán nản. Trạng thái ấy sẽ hết khi Corbett chọn hắn, hắn chỉ cần thế”.
“Ừ, Corbett sẽ chọn hắn”, Hogan nói.
“Là cái chắc. Lão ta sẽ chọn hắn”.
Tối hôm đó, Jack chẳng chợp mắt được tí nào. Hôm sau là ngày cuối cùng trước lúc trận đấu diễn ra. Ăn sáng xong, bọn tôi lại ra hiên.
“Khi không ngủ được mày nghĩ về chuyện gì hả Jack?” Tôi hỏi.
“Ồ, tao sợ”, Jack đáp. “Tao lo về khoản tài sản tao có ở Bronx, tao lo về tài khoản ở Florida. Tao lo cho bọn trẻ. Tao lo về vợ. Đôi khi tao nghĩ về các trận đấu. Tao nghĩ về gã Do Thái Ted Lewis rồi tao thấy nhức nhối. Tao có vài cổ phần và tao lo về chúng. Tao chẳng còn biết nghĩ về cái quái nào khác”.
“Ừ,” tôi bảo “tối mai mọi chuyện sẽ chấm dứt”.
“Dĩ nhiên”, Jack nói. “Ý nghĩa đó sẽ hữu ích nhiều phải không? Tao nghĩ nó sẽ làm dịu đi mọi chuyện. Đúng rồi”.
Hắn uể oải suốt cả ngày. Bọn tôi chẳng làm gì. Jack chỉ chạy vài vòng để thư giãn. Hắn đấm vài hiệp trước gương. Trông hắn chẳng hào hứng gì ngay cả khi thực hiện các động tác đó. Hắn nhảy dây một lát. Hắn không thể đổ mồ hôi.
“Tốt hơn là hắn đừng làm gì cả”, Hogan nói. Bọn tôi đang đứng nhìn hắn nhảy dây. “Hắn không đổ một tí mồ hôi nào nữa sao?”
“Hắn không thể ra mồ hôi”.
“Mày có nghĩ hắn đang giờ trò gì đây chăng? Hắn chẳng hề gặp rắc rối với số cân phải không?”
“Không, hắn chẳng hề giờ bất kỳ mánh lới nào. Hắn chỉ chẳng còn bụng dạ tập tành gì nữa thôi”
“Hắn cần phải ra mồ hôi”, Hogan nói.
Jack vừa nhảy dây vượt qua. Hắn đang nhảy trước mặt bọn tôi, tiến tới rồi lùi lại, cứ ba bước nhảy, hắn lại chéo cánh tay.
“Này”, hắn nói. “Bọn mày đang nói chuyện gì đó?”
“Tao nghĩ mày đừng nên tập nữa”, Hogan nói. “Mày sẽ bị mệt đấy”.
“Bất lợi phải không?” Jack nói và nhảy qua, sợi dây đập mạnh xuống sàn.
Chiều hôm ấy, John Collins đến trại. Jack đang ở trong phòng. Chiếc xe từ thành phố đưa John đến. Hắn có mấy gã bạn đi cùng. Xe dừng lại, chúng bước ra.
“Jack đâu?” John hỏi tôi.
“Đang nằm trên phòng”.
“Nằm sao?”
“Ừ”, tôi đáp.
“Hắn thế nào?”
Tôi nhìn hai gã đi với John.
“Chúng là bạn hắn”, John nói.
“Hắn hơi kém”, tôi nói.
“Chuyện gì vậy?”
“Hắn không ngủ được”.
“Trời đất”, John nói. “Thằng Ai Len đó có thể không cần ngủ”.
“Hắn kém phong độ”, tôi nói.
“Ối dào”, John nói. “Hắn chưa hề khỏe. Suốt mười năm làm việc với hắn tao chẳng hề thấy hắn khỏe bao giờ”.
Hai gã đi cùng hắn cười vang.
“Giới thiệu với anh đây là ông Morgan và ông Steinfelt”, John nói. “Còn đây là ông Doyle, người đang huấn luyện Jack”.
“Hân hạnh được làm quen”, tôi nói.
“Bọn ta lên gặp hắn đi”, gã tên Morgan nói.
“Chúng ta thăm hắn xem”, Steinfelt nói.
Cả đoàn lên gác.
“Hogan đâu?” John hỏi.
“Trong phòng tập với hai khách hàng của hắn”, tôi đáp.
“Dạo này có nhiều người tập ở đây không?” John hỏi.
“Chỉ hai đứa”.
“Khá yên tĩnh chứ nhỉ?” Morgan nói.
“Ừ” tôi đáp. “Trại khá yên tĩnh”.
Chúng tôi đứng bên ngoài phòng Jack. John gõ cửa. Không có tiếng trả lời.
“Có lẽ hắn ngủ”, tôi nói.
“Hắn ngủ ngày làm cái quái gì cơ chứ?”
John vặn nắm đấm, cả bọn đi vào. Jack đang nằm ngủ trên giường. Hắn nằm sấp, mặt vùi trong gối. Hai cánh tay choàng qua gối.
“Này Jack!” John gọi.
Đầu Jack hơi nhúc nhích trên gối.
“Jack!” John cúi người xuống gọi.
Jack vùi sâu đầu vào gối. John sờ vai hắn. Jack ngồi dậy nhìn bọn tôi. Râu hắn không cạo, trên người vận chiếc áo thun cũ.
“Lạy Chúa! Sao bọn mày không để tao ngủ?” hắn bảo John.
“Đừng nóng”, John nói. “Chẳng phải vô cớ mà tao thức mày dậy”.
“Ồ không”, Jack nói. “Dĩ nhiên là không”.
“Mày biết Morgan và Steinfeit”, John nói.
“Hân hạnh được làm quen”. Jack nói.
“Mày cảm thấy thế nào hả Jack?” Morgan hỏi.
“Ổn”, Jack đáp. “Trông tao tệ lắm sao?”
“Trông mày khỏe đấy”, Steinfelt nói.
“Ừ, đúng thế”. Jack nói. “Này”. hắn gọi John. “Mày là ông bầu của tao. Mày đã vớ bẫm. Tại sao mày không ló mặt đến đây khi bọn nhà báo đến? Mày muốn Jerry và tao nói chuyện với chúng sao?”
“Tao kẹt Lew đấu ở Philadelphia”, John nói.
“Việc đó quan hệ quái gì đến tao?” Jack nói. “Mày là ông bầu của tao. Mày đã vớ bẫm phải không? Mày chẳng kiếm cho tao một xu nào ở Philadenphia có phải không? Tại sao mày không ló mặt ở đây lúc tao cần mày?”
“Có Hogan rồi”.
“Hogan”, Jack nói. “Hogan cũng đần như tao”.
“Thỉnh thoảng Soldier Batlett đến đây đấu tập với mày chứ?” Steinfeit nói để đổi để tài.
“Ừ, hắn có đến”. Jack đáp. “Đúng là hắn đã đến đây”.
“Này, Jerry”, John gọi tôi. “Mày vui lòng đi tìm Hogan và bảo hắn bọn tao cần gặp hắn sau nửa tiếng nữa được chứ?”
“Được” tôi đáp.
“Tại sao hắn không ở lại đây?” Jack nói. “Ở lại đây, Jerry”.
Morgan và Steinfelt nhìn nhau.
“Bình tĩnh nào, Jack”, John bảo hắn.
“Tốt hơn là để tao đi tìm Hogan”, tôi nói.
“Nếu mày muốn đi thì chẳng sao”. Jack nói. “Nhưng đếch thằng nào có quyền bắt mày phải đi cả”.
“Tao sẽ đi tìm Hogan”, tôi nói.
Hogan ở trong phòng thể dục của nhà tập. Hai võ sinh của hắn đang đeo găng. Chẳng đứa nào dám đấm bởi sợ phải nhận cú đòn đấm trả.
“Thế nhé”, Hogan nói khi thấy tôi bước vào. “Các anh có thể nghỉ, đi tắm rồi Bruce sẽ xoa bóp”.
Chúng leo qua dây thừng, Hogan đi về phía tôi. “John Collins đưa hai gã bạn đến gặp Jack”, tôi nói.
“Tao thấy chúng trong xe”.
“Hai gã đi với John là ai vậy?”
“Chúng là hạng mà mày có thể gọi là những thằng lọc lõi”. Hogan nói. “Mày không biết hai đứa đó à?”
“Không”, tôi đáp.
“Đấy là Happy Steinfelt và Lew Morgan. Chúng có một trung tâm cá độ”.
“Tao đã đi vắng khá lâu”, tôi nói.
“Hèn chi”, Hogan nói. “Thằng Happy Steinfelt là kẻ cá độ thứ thiệt”.
“Tao mới nghe tên hắn”, tôi nói.
“Hắn là đứa thủ đoạn”, Hogan nói. “Cả hai hợp thành một cặp ranh ma lắm”.
“Thảo nào”, tôi nói. “Họ muốn gặp bọn mình sau nửa tiếng nữa”.
“Mày bảo là chúng không gặp ta trong vòng nửa giờ nữa à?”
“Thế đấy”.
“Ta vào văn phòng đi”, Hogan nói. “Mặc thây mấy thằng xỏ lá ấy”.
Chừng ba mươi phút sau, Hogan và tôi lên gác. Bọn tôi gõ cửa phòng Jack. Chúng đang nói chuyện bên trong.
“Đợi một lát”, ai đó nói.
“Vứt mẹ cái việc ấy đi”, Hogan nói. “Khi nào bọn mày cần gặp, tao ở văn phòng”.
Bọn tôi nghe tiếng khóa xoay. Stemfelt mở cửa.
“Vào đi, Hogan”, hắn mời. “Bọn mình sẽ uống một chầu”.
“Ừ”, Hogan nói. “Được đấy”.
Bọn tôi vào. Jack đang ngồi yên trên giường. John và Morgan ngồi trên hai chiếc ghế. Steinfeit đứng.
“Chào những con người đầy bí mật”. Hogan nói.
“Xin chào Danny”, Morgan nói và bắt tay.
Jack không mở miệng. Hắn ngồi yên trên giường. Hắn xa lạ với mấy gã đó. Hắn cô độc. Hắn đã vận quần dài, áo len màu xanh cũ, chân đi giày đấm bốc. Hắn cần phải cạo râu. Steinfeit và Morgan ăn vận diêm dúa, John cũng khá bảnh bao. Jack ngồi đó, trông rất Ai Len và bứt rứt.
Steinfeit lấy chai rượu ra, Hogan tìm ly rồi cả bọn cùng uống. Jack và tôi chỉ uống một ly. Jack không nhấp thêm tí nào nữa. Hắn đựng dậy, nhìn bọn chúng. Morgan ngồi xuống giường, chỗ Jack vừa đứng lên.
“Thêm ly nữa, Jack”, John nói rồi đưa hắn chai rượu và cái ly.
“Không”, Jack nói, “Tao không hề có ý noi gương bọn mày”.
Cả bọn cùng cười. Jack không cười.
Bọn chúng vui vẻ khi chia tay. Jack đứng ngoài hiên lúc cả bọn lên xe. Chúng vẫy tay chào hẳn.
“Tạm biệt”, Jack nói.
Chúng tôi ăn bữa ăn muộn. Suốt bữa Jack chẳng nói gì ngoại trừ, “Chuyển hộ tao cái này” hay “Đưa giùm tao cái kia”. Hai võ sinh của trại ngồi ăn cùng bàn với chúng tôi. Chúng rất ngoan. Ăn xong bọn tôi ra hiên. Trời chóng tối.
“Muốn đi dạo không Jerry?” Jack hỏi.
“Đi”, tôi đáp.
Bọn tôi mặc áo khoác, bước ra. Chặng đường nối với con lộ chính khá dài, lúc đến lộ, bọn tôi đi thêm một dặm rưỡi nữa. Nhiều chiếc xe chạy qua, bọn tôi phải tránh lên lề đợi chúng. Jack không nói lời nào. Mãi đến khi bước vào lùm cây để tránh chiếc xe tải lớn, Jack nói, “Vứt mẹ cái cuộc đi dạo này. Về trại Hogan thôi”.
Bọn tôi men theo con đường đi tắt qua ngọn đồi, băng qua cánh đồng về trại Hogan. Bọn tôi có thể nhìn thấy ánh đèn của khu trại trên đồi. Hai đứa vòng ra phía trước, Hogan đang đứng trên ngưỡng cửa.
“Dạo chơi thoải mái chứ”. Hogan hỏi.
“Ồ, tốt”, Jack đáp. “Này. Hogan. Có rượu không?”
“Có”, Hogan đáp. “Uống hả?”
“Đưa lên phòng”, Jack nói. “Tối nay tao sẽ ngủ’'.
“Mày là bác sĩ chắc”, Hogan nói.
“Lên phòng tao nghe Jerry”, Jack nói.
Đến phòng, Jack ôm đầu ngồi xuống giường.
“Đời chó má thật!” Jack nói.
Hogan mang một chai lít với hai cái ly vào.
“Có muốn uống ginger ale [1] không?”
“Mày nghĩ gì đấy, tao ốm à?”
“Tao chỉ thử đề nghị thôi”.
“Uống chứ?” Jack mời.
“Không, cảm ơn”, Hogan đáp. Hắn bước ra.
“Mày uống không Jerry?”
“Tao sẽ uống với mày một ly”, tôi đáp.
Jack rót ra hai ly. “Xin mời”, hắn nói, “tao muốn uống từ từ thôi”.
“Pha thêm ít nước vào”, tôi nói.
“Ừ”, Jack nói. “Tao nghĩ như thế ngon hơn”.
Bọn tôi uống cạn hai ly rượu, không chuyện trò, Jack sắp rót ly nữa cho tôi.
“Đừng”, tôi nói, “tao chỉ uống chừng ấy”.
“Thôi được”, Jack nói. Hắn rót cho mình một ly đầy, pha thêm nước. Hắn vui lên một chút.
“Lũ hồi chiều đến đây khá đấy”, hắn nói. “Chúng chẳng dám liều, hai cái thằng đó”.
Rồi lát sau, “Ừ”, hắn nói, “chúng đúng. Tốt lành cái gì khi mạo hiểm?”
“Mày không muốn uống thêm nữa sao Jerry?” hắn hỏi. “Lại đây uống với tao”.
“Tao chẳng muốn uống, Jack”, tôi nói. “Tao cảm thấy đủ rồi”.
“Chỉ một cốc nữa thôi mà.” Jack nói. Rượu đang làm hắn dịu đi.
“Thôi được”, tôi nói.
Jack rót cho tôi một ly và ly nữa cho hắn.
“Mày biết không”, hắn nói, “Tao rất thích uống. Nếu tao không đấm bốc thì hẳn đã túy lúy suốt ngày”.
“Chắc thế”, tôi nói.
“Mày biết đấy”, hắn nói. ‘‘Tao đã mất nhiều thứ, chỉ còn đấm bốc”.
“Mày kiếm được nhiều tiền”.
“Đương nhiên. Đấy là điều tao theo đuổi. Mày thấy đấy, tao mất nhiều thứ Jerry à.”
“Mày muốn nói gì vậy?”
“Ừ”, hắn nói, “Chẳng hạn như vợ. Và cảnh sống xa gia đình quá nhiều. Nó chẳng tốt lành gì với các con gái tao. “Bố em là ai?” mấy thằng ranh sẽ hỏi đúng như thế, “Bố em là Jack Brennan”. Cái tên đó chẳng mang lại điều gì tốt lành cho chúng”.
“Mặc kiếp”, tôi nói. “Chẳng hề hấn gì đâu nếu chúng có tiền”.
“Ừ”, Jack nói, “tao đã để dành tiền cho chúng”.
Hắn rót thêm ly nữa. Chai rượu gần cạn.
“Cho thêm nước vào”, tôi nói. Jack rót vào ít nước.
“Mày biết đấy”, hắn nói, “mày chẳng thể nào hiểu nổi cảm giác nhớ vợ của tao”.
“Đương nhiên”.
“Mày không thể hiểu. Mày chẳng thể nào có được cảm giác như thế”.
“Hóa ra ở vùng quê thì lại tốt hơn là ở thành phố”.
“Bây giờ với tao”, Jack nói, “sống ở đâu cũng chẳng có gì khác. Mày không thể hình dung nổi nó như thế nào đâu”.
“Uống nữa đi”.
“Tao đang say à? Tao nói năng có buồn cười không?”
“Mày vẫn tỉnh đấy”.
“Mày chẳng thể hình dung được nó như thế nào đâu. Chẳng một ai có thể hình dung nổi nó đâu”.
“Ngoại trừ vợ mày”, tôi nói.
“Cô ấy biết”. Jack nói. “Cô ấy biết rõ. Cô ấy biết. Mày biết cô ấy biết”.
“Cho thêm nước vào đi”, tôi nói.
“Jerry”, Jack nói, “mày chẳng tưởng tượng nổi nó sẽ như thế nào đâu?”
Hắn đã say và rất thành thật. Hắn đang chằm chằm nhìn tôi. Mắt hắn không chớp.
“Mày sẽ ngủ ngon”, tôi nói.
“Nghe này, Jerry”, Jack nói. “Mày muốn kiếm tiền không? Mày đặt cược vào Walcott”.
“Cái gì?”
“Nghe này, Jerry”, Jack đặt ly xuống. “Giờ thì tao không say đâu, hiểu chứ? Mày biết tao đặt cược vào hắn bao nhiêu không? Năm mươi ngàn dollar”.
“Số tiền lớn đấy”.
“Năm mươi ngàn”, Jack nói, “với hai ăn một. Tao sẽ có được hai mươi lăm ngàn đô. Hãy cược tiền vào hắn, Jerry”.
“Nghe hấp dẫn đấy”, tôi nói.
“Tao làm sao thắng được nó chứ?” Jack nói. “Đâu phải chuyện đùa. Làm sao tao hạ được nó? Vậy thì sao không đặt tiền vào đó?
“Thêm nước vào”, tôi nói.
“Sau trận này tao sẽ giải nghệ”, Jack nói. “Tao đã phát ngấy với nó. Tao phải chịu một trận. Sao tao lại không đặt tiền vào đấy?”
“Tất nhiên”.
“Cả tuần nay tao không ngủ được”, Jack nói. “Suốt đêm tao mở mắt nằm lo về trách nhiệm của mình. Tao không thể ngủ, Jerry. Mày chẳng thể hình dung nổi cảm giác như thế nào khi người ta không thể ngủ.”
“Chắc thế”.
“Tao chẳng thể ngủ. Thế đấy. Tao chỉ không ngủ được. Khi người ta không thể ngủ được thì việc giữ gìn sức khỏe suốt bao tháng năm ròng phỏng có ích lợi gì?”
“Tệ thật”.
“Mày chẳng thể hình dung nó ra sao đâu, Jerry, một khi người ta không thể ngủ”.
“Cho thêm nước vào”, tôi nói.
Đến khoảng mười một giờ, Jack say mèm, tôi đặt hắn lên giường. Rốt cuộc thì lúc say hắn không thể cưỡng lại cơn buồn ngủ. Tôi giúp cởi áo quần, đỡ hắn nằm xuống.
“Mày sẽ ngủ ngon đó Jack”, tôi nói.
“Chắc thế”, Jack đáp, “tao ngủ ngay đây”.
“Tạm biệt Jack”, tôi nói.
“Tạm biệt Jerry”, Jack nói. “Mày là thằng bạn duy nhất của tao”.
“Thôi ngủ đi”, tôi nói.
“Mày là thằng bạn duy nhất của tao”, Jack nói, “tao chỉ có mỗi mình mày”.
“Ngủ đi”, tôi bảo.
“Tao sẽ ngủ”, Jack đáp.
Hogan ngồi đọc báo bên bàn trong văn phòng ở tầng dưới. Hắn ngẩng đầu lên. “Thế nào, thằng bạn mày đã ngủ chưa?”, hắn hỏi.
“Ngủ rồi”.
“Như vậy thì tốt cho hắn hơn là không ngủ được”, Hogan nói.
“Đúng thế”.
“Dẫu sao thì mày cũng đã mất thì giờ giải thích chuyện ấy cho cánh nhà báo”, Hogan nói.
“Ừ, tao đi ngủ đây”, tôi nói.
“Tạm biệt”, Hogan nói.
Khoảng tám giờ sáng hôm sau, tôi xuống ăn sáng. Hogan và hai võ sinh của hắn đang tập thể dục trong phòng. Tôi đến xem.
“Một! Hai! Ba! Bốn!” Hogan đang đếm cho chúng. “Chào Jerry”, hắn nói. “Jack dậy chưa?”
“Chưa. Hắn hãy còn ngủ”.
Tôi trở lên phòng thu xếp đồ đạc chuẩn bị về thành phố. Khoảng chín giờ ba mươi, tôi nghe Jack thức dậy ở phòng bên cạnh. Khi nghe hắn xuống cầu thang, tôi xuống theo. Jack ngồi vào bàn ăn điểm tâm. Hogan vào, đứng cạnh bàn.
“Mày cảm thấy thế nào, Jack?” tôi hỏi hắn.
“Không quá tệ”.
“Ngủ ngon chứ?” Hogan hỏi.
“Tao ngủ bí tỉ”, Jack đáp. “Lưỡi tao bị rộp nhưng không đau đầu”.
“Tốt”, Hogan nói. “Rượu ấy cực kỳ đấy”.
“Ghi cả vào hóa đơn”, Jack bảo.
“Bọn mày về thành phố vào lúc mấy giờ?” Hogan hỏi.
“Trước bữa trưa”, Jack đáp. “Chuyến tàu mười một giờ”.
“Ngồi xuống đi, Jerry”, Jack nói. Hogan đi ra.
Tôi ngồi xuống bàn, Jack đang ăn bưởi. Khi gặp hạt, hắn nhằn ra thìa rồi gạt vào đĩa.
“Tối qua tao say quá phải không?” hắn bắt đầu.
“Mày uống nhiều rượu”.
“Tao chắc đã nói nhiều điều ngớ ngẩn”.
“Mày chưa say lắm”.
“Hogan đâu?” hắn hỏi. Hắn đã chán món bưởi.
“Hắn ở văn phòng phía trước”.
“Tao có nói gì về chuyện cá độ trong trận đấu không?” Jack hỏi. Hắn đang cầm cái muỗng chọc chọc vào quả bưởi.
Cô giúp việc mang trứng và giăm bông vào rồi bưng đĩa bưởi đi.
“Cho tôi ly sữa nữa”, Jack bảo cô ta. Cô bước ra.
“Mày bảo mày cược năm mươi ngàn dollar vào Walcott”, tôi nói.
“Đúng đấy”, Jack nói.
“Một món tiền lớn”.
“Tao không cảm thấy hoàn toàn yên tâm về nó”, Jack nói.
“Vẫn có thể xảy ra chuyện gì đó”.
“Không”, Jack nói. “Hắn điên lên vì danh vọng. Họ sẽ thu xếp cho hắn được”.
“Mày không thể nói trước được đâu”.
“Được chứ. Hắn khao khát cái danh. Với hắn đấy là cả gia tài lớn”.
“Năm mươi ngàn dollar là khoản tiền lớn”, tôi nói.
“Một phi vụ làm ăn”. Jack nói. “Tao chẳng thể thắng. Dẫu sao cũng không có khả năng giành chiến thắng”.
“Nếu mày đấu được, mày còn cơ hội”.
“Không”, Jack nói. “Tao hết thời rồi. Bây giờ chỉ còn chuyện kiếm chác”.
“Mày cảm thấy thế nào”.
“Khá tốt”, Jack đáp. “Một giấc ngủ là những gì tao cần”
“Có thể mày sẽ đấu tốt đấy”.
“Tao sẽ trình diễn cho khán giả một trận ngoạn mục”, Jack nói.
Ăn sáng xong, Jack gọi điện đường dài cho vợ. Hắn đang ở trong buồng điện thoại.
“Kể từ lúc đến đây, đây là lần đầu tiên hắn gọi cho vợ” Hogan nói.
“Hắn viết thư cho cô ấy mỗi ngày”.
“Dĩ nhiên”, Hogan nói, “gởi thư chỉ mất có hai xu”.
Hogan chào tạm biệt bọn tôi lúc Bruce - tay da đen xoa bóp - đưa chúng tôi đến ga bằng xe ngựa.
“Tạm biệt ông Brennan”, Bruce nói trên sân ga. “Tôi rất hy vọng ông sẽ quật ngã thằng cha đó”.
“Tạm biệt”, Jack nói. Hắn đưa Bruce hai dollar. Bruce đã vất vả nhiều với hắn. Anh ta lộ vẻ thất vọng. Jack thấy tôi nhìn Bruce cầm tờ hai dollar.
“Hóa đơn đã tính cả rồi”, hắn nói. “Hogan tính luôn tiền xoa bóp”.
Jack im lặng trên đoạn đường về thành phố. Hắn ngồi thu người trong góc ghế. Vé đút vào dây băng mũ, mắt nhìn qua cửa sổ. Chỉ duy nhất một lần hắn nói với tôi.
“Tao bảo vợ, tối nay tao thuê phòng ở Shelby”, hắn nói. “Nó chỉ cách Garden một góc phố. Sáng mai tao có thể đi thẳng về nhà”.
“Tính vậy đúng đó”, tôi nói. “Vợ mày chưa bao giờ xem mày đấu phải không Jack?”
“Chưa”, Jack đáp. “Cô ấy chẳng hề xem tao đấu”.
Nếu hắn không muốn trở về nhà ngay sau trận đấu, tôi nghĩ, thì hẳn hắn đang tính chuyện nhận một trận ra trò. Vào thành phố, bọn tôi đón taxi đến Shelby. Người phục vụ ra mang túi xách, chúng tôi đến bàn đăng ký.
“Giá phòng bao nhiêu?” Jack hỏi.
“Chúng tôi chỉ có phòng đôi”, người trực nói. “Tôi có thể dành cho các ông một phòng đôi xinh xắn giá mười dollar.
“Quá đắt”.
“Tôi có thể cho ông thuê một phòng đôi giá bảy dollar”.
“Có phòng tắm chứ?”
“Dĩ nhiên”.
“Mày có thể ở với tao, Jerry”, Jack nói.
“Thôi”, tôi nói, “tao định ngủ ở nhà ông anh rể”.
“Tao không có ý bắt mày chia tiền đâu”, Jack nói. “Tao chỉ muốn tiêu cho đúng giá trị của đồng tiền”.
“Các ông sẽ ở chứ?” tay trực hỏi. Gã nhìn vào sổ đăng ký. “Phòng số 238, thưa ông Brennan”.
Bọn tôi lên bằng thang máy. Căn phòng đẹp, rộng, có hai giường và cửa thông sang phòng tắm.
“Nơi này được đấy”, Jack nói.
Tay bồi đưa bọn tôi lên, kéo rèm rồi mang hành lý vào. Jack đứng yên, thế là tôi trả cho anh ta hai lăm xu. Rửa ráy xong, Jack bảo tốt hơn là hai đứa nên ra phố ăn.
Bọn tôi ăn trưa tại tiệm Jimmy Hanley. Có nhiều người quen ở đó. Chúng tôi ăn được nửa bữa thì John vào ngồi cùng. Jack không nói nhiều.
“Số cân của mày sao rồi Jack?” John hỏi hắn. Jack đang chén một bữa trưa ngon lành.
“Tao có thể mặc áo quần để cân”, Jack nói. Hắn chẳng bao giờ phải lo vượt quá số cân. Bẩm sinh hắn là võ sĩ hạng lông, hắn chẳng bao giờ béo. Nhưng hắn đã giảm cân lúc ở trại Hogan.
“Phải, đấy là điều mày chẳng bao giờ phải lo”, John nói.
“Đúng thế”. Jack nói.
Sau bữa trưa, bọn tôi đến Garden cân. Trận đấu sẽ diễn ra vào lúc ba giờ chiều với mức cân quy định là một trăm bốn mươi bảy pound. Jack bước lên cân, cái khăn quấn quanh lưng. Cán cân không di chuyển. Walcott vừa mới cân xong và đang đứng giữa đám người vây quanh.
“Để tao xem số cân của mày Jack”, ông bầu của Walcott là Freedman nói.
“Được thôi, cân hắn sau”, Jack hất hàm về phía Watcott.
“Bỏ khăn ra”, Freedman nói.
“Bao nhiêu?” Jack hỏi mấy gã đang cân.
“Một trăm bốn mươi ba pound”, gã béo xem cân nói.
“Mày sụt ký đó Jack”, Freedman nói.
“Cân hắn đi”, Jack bảo.
Walcott bước đến. Mái tóc hắn màu vàng, vai rộng, cánh tay của đám võ sĩ hạng nặng. Chân hắn thấp. Jack cao hơn hắn nửa cái đầu.
“Chào Jack”, hắn nói. Mặt hắn nhiều sẹo.
“Xin chào”, Jack nói. “Khỏe chứ?”
“Khỏe”, Walcott đáp. Hắn bỏ chiếc khăn choàng quanh hông rồi đứng lên cân. Vai và lưng hắn được xếp vào loại rộng nhất mà người ta từng thấy.
“Một trăm bốn mươi sáu pound, mười hai ounce”.
Walcott bước xuống ngạo nghễ cười với Jack.
“Này” John bảo hắn. “Jack sẽ chấp mày chừng bốn pound”.
“Anh bạn, số cân sẽ tăng thêm khi tôi quay lại”, Walcott nói. “Bây giờ tôi đi ăn đây”.
Bọn tôi quay lại, Jack vận đồ. “Hắn khá nóng nảy đấy”, Jack bảo tôi.
“Trông hắn như thể đã bị tẩn nhiều lần rồi”.
“Ừ, đúng đấy” Jack nói. “Hắn không khó đấm đâu”.
“Mày định đi đâu?” John hỏi lúc Jack vận xong áo quần.
“Về khách sạn”, Jack đáp. “Mày thu xếp mọi thứ xong cả rồi chứ?”
“Rồi”, John đáp. “Mọi thứ đã xong”.
“Tao sẽ đi nằm một lát”. Jack nói.
“Tao sẽ đến phòng mày vào khoảng bảy giờ kém mười lăm rồi chúng ta đi ăn tối”.
“Được”.
Về đến khách sạn, lên phòng, Jack cởi giày, áo khoác và nằm nghỉ một lát. Tôi viết thư. Một đôi lần, tôi liếc nhìn, Jack vẫn không ngủ. Hắn nằm yên nhưng thỉnh thoảng lại mở mắt ra. Cuối cùng hắn ngồi dậy.
“Chơi bài đi Jerry?” hắn nói.
“Ừ”.
Hắn đến va-li lấy ra bộ bài kipbi và bàn chơi. Bọn tôi chơi, hắn ăn ba dollar của tôi. Jonh gõ cửa bước vào.
“Làm vài ván kipbi đi John?” Jack đề nghị hắn.
John đặt mũ xuống bàn. Nó ướt sũng. Áo khoác hắn cũng ướt.
“Trời đang mưa hả?” Jack hỏi.
“Mưa như trút”, John đáp. “Chiếc taxi tao thuê bị kẹt nên tao phải cuốc bộ đến đây”.
“Nào, ta chơi đi”, Jack nói.
“Mày nên đi ăn đi chứ”.
“Khoan đã”, Jack nói. “ Tao chưa muốn ăn”.
Thế là họ chơi bài thêm nửa tiếng nữa và Jack ăn của hắn một dollar rưỡi. “Thôi, bọn mình đi ăn đi”, Jack nói. Hắn đến cửa sổ, nhìn ra.
“Vẫn còn mưa hay sao?”
“Ừ”
“Bọn mình ăn ở khách sạn vậy”, John nói.
“Cũng được”. Jack nói. “Tao và mày chơi ván nữa để xem ai phải trả tiền ăn”.
Lát sau Jack đứng dậy nói, “Mày trả đấy, John”; chúng tôi xuống tầng dưới, ngồi ăn trong phòng ăn rộng.
Ăn xong bọn tôi lên phòng. Jack lại chơi kipbi với John và thắng hai dollar rưỡi nữa. Jack đang hưng phấn. John mang theo chiếc túi dựng dụng cụ đấu. Jack mở nút cổ, cởi sơ-mi, mặc áo thun và áo len vào để không bị lạnh khi ra ngoài; rồi đút quần áo võ sĩ và áo choàng vào một cái túi.
“Sẵn sàng chưa?” John hỏi hắn. “Tao bảo chúng gọi taxi”.
Ngay sau đó chuông reo, nhân viên khách sạn báo taxi đã đến.
Bọn tôi xuống bằng thang máy, qua hành lang, vào taxi đến trường đấu Garden. Trời mưa lớn nhưng đường phố vẫn đông người. Vé vào cửa Garden đã bán hết. Trên đường đến phòng thay quần áo, tôi thấy khán đài chật ních. Cả nửa dặm người dồn quanh đấu trường. Tất cả chìm trong bóng tối. Đấu trường sáng trong ánh đèn.
“Mưa thế này hóa ra lại tốt, họ chẳng thể nào bố trí trận đấu ngoài công viên được”, John nói.
“Họ có nhiều người hâm mộ”. Jack nói.
“Trận đấu này thu hút lượng khán giả lớn ngoài sức chứa của Garden”.
“Người ta không đoán trước được thời tiết”, Jack nói.
John bước đến cửa phòng thò đầu vào. Jack vận áo choàng ngồi đó, khoanh tay nhìn sàn nhà. Hai chăm sóc viên đi cùng John. Họ nhìn qua vai hắn. Jack nhìn lên.
“Hắn ra chưa?” hắn hỏi.
“Hắn vừa ra”, John đáp.
Bọn tôi đến đài. Walcott vừa mới thượng đài. Khán giả vỗ tay hoan hô hắn. Hắn chui qua hai sợi dây thừng, nắm hai tay lại với nhau, mỉm cười và lắc lắc tay trước mặt khán giả, đầu tiên là phía bên này đài, sau đó là phía bên kia rồi ngồi xuống. Jack cũng nhận sự hoan hô từ phía khán giả. Jack là người Ai Len mà người Ai Len thì luôn được cổ vũ. Một người Ai Len thì không được hâm mộ ở New York bằng một người Do Thái hay Italy nhưng họ luôn nhận được sự khích lệ. Jack leo lên, cúi xuống lách qua mấy sợi dây và từ góc ngồi của mình, Walcott bước đến đè sợi dây xuống để Jack chui qua. Khán giả nghĩ hành động đó thực tuyệt vời. Walcott đặt tay lên vai Jack, chúng đứng như thế một lát.
“Thế là mày sắp trở thành một trong những nhà vô địch lừng danh theo kiểu ấy”, Jack bảo hắn. “Cất cái bàn tay chết tiệt của mày ra khỏi vai tao”.
“Bình tĩnh”, Walcott nói.
Với khán giả, tất cả hành động đó thật là tuyệt vời. Hai võ sĩ mới lịch sự làm sao trước trận đấu. Họ đang chúc nhau may mắn.
Solly Freedman đi về góc chúng tôi lúc Jack quấn vải bàn tay, còn John thì đi lại góc của Walcott. Jack đút ngón tay cái vào cuộn vải rồi quấn bàn tay gọn gàng, đẹp đẽ. Tôi quấn vải quanh cổ tay và cuộn hai vòng qua các kẽ tay.
“Này, Freedman”, Jack hỏi. “Thằng Walcott quốc tịch gì vậy?”
“Tao không biết”, Solly nói. “Hình như nó là người Đan Mạch”.
“Nó là người Bohemian”, gã mang găng nói.
Trọng tài gọi họ ra giữa đài, Jack bước ra. Walcott vừa đi vừa mỉm cười. Họ gặp nhau, trọng tài đặt tay lên vai hai gã.
“Chào người hùng”, Jack nói với Walcott.
“Bình tĩnh”.
“Walcott có nghĩa gì?” Jack nói. “Mày không biết đấy là tên của thằng mọi đen à?”
“Nghe đây”, trọng tài mở miệng rồi lão thao thao với chúng những quy chế thi đấu cũ rích. Một lần Walcott ngắt lời lão. Hắn chộp cánh tay Jack, và nói, “Tôi có thể đánh khi hắn nắm như thế này không?”
“Bỏ tay khỏi tao”, Jack nói. “Chẳng cần phải diễn kịch ở đây đâu”.
Họ trở về góc của mình. Tôi cởi tấm choàng khỏi người Jack, hắn trằn người vào dây, nhún gối vài lần rồi miết đế giày vào nhựa thông. Tiếng cồng vang lên, Jack trở nên nhanh nhẹn, bước ra. Walcott tiến về phía hắn, chúng chạm găng và ngay khi Walcott hạ tay xuống thì lập tức Jack vung tay trái đấm vào mặt hắn hai cú. Chưa từng có bất kỳ võ sĩ nào đấm giỏi hơn Jack. Walcott bám vào hắn, đầu chúi về trước, cằm quặt chặt xuống ngực. Hắn giỏi đấm móc, hắn giữ tay hơi thấp. Hắn hiểu đấu pháp là tiếp cận và tung cú móc. Nhưng hễ khi nào hắn đến gần, Jack đều đấm tay trái vào mặt hắn. Cú đấm như thể hoàn toàn tự động. Jack chỉ vung tay trái lên thì Walcott liền nhận ngay một quả vào mặt. Ba hoặc bốn lần Jack đấm tay phải nhưng hoặc Walcott cúi đầu tránh hoặc quả đấm rơi vào vai. Hắn đấu giống tất cả các võ sĩ đấm móc khác. Điều duy nhất hắn sợ là giao đấu với cùng kẻ đấm móc. Hắn thủ kín mọi chỗ để tránh bị thương. Hắn không quan tâm đến cú tay trái vào mặt.
Gần hết hiệp bốn, Jack đấm hắn chảy máu đầm đìa, mặt hắn bị đấm nát, nhưng mỗi lần Walcott xáp gần, hắn đấm mạnh đến nỗi ngay dưới xương sườn Jack, hai lằn đỏ hiện lên hai bên. Mỗi lần hắn xáp vào, Jack khóa hắn lại, bằng một tay, tay kia tự do đấm vào hắn, nhưng khi Walcott gỡ ra được, hắn đấm vào người Jack mạnh đến nỗi ngoài phố cũng nghe thấy tiếng. Hắn là võ sĩ đấm móc.
Ba hiệp tiếp theo, tình thế trận đấu vẫn giữ nguyên. Chúng chẳng mở miệng. Chúng mải miết đấm. Giữa hai hiệp, bọn tôi cũng chăm sóc Jack cẩn thận. Trông hắn không thật khỏe, hắn chẳng vận động nhiều trên đài. Hắn không di chuyển lung tung còn bàn tay trái thì hệt như cái máy. Như thể nó được gắn với mặt Walcott còn nếu Jack muốn đấm thì chỉ cần nảy ra ý định bất cứ lúc nào. Jack luôn bình tĩnh khi xáp vào, hắn không lãng phí sức. Hắn nắm mọi kỹ xảo khi đánh gần và hắn có rất nhiều thế để thoát ra. Trong lúc chúng dịch về góc bọn tôi, tôi quan sát thế hắn khóa Walcott; buông chùng tay phải, xoay lại đấm bằng sống găng, thực hiện một cú bào qua mũi Walcott. Walcott đang mất nhiều máu, hắn dụi mũi vào vai Jack để người Jack cũng dính đầy máu, rồi Jack làm một động tác hất vai, hích vào mũi hắn rồi hạ tay phải thực hiện cú đấm lần nữa.
Walcott đã điên tiết. Lúc đấu xong năm hiệp, hắn đã lộn ruột lên vì Jack. Jack không cáu, bởi lẽ hắn chẳng thể nào cáu hơn bản chất cáu kỉnh của hắn. Nhưng chắc chắn hắn sử dụng đòn ấy để khiến những gã đấu với hắn phải kiềng món đấm bốc. Đó là lý do để hắn ghét Kid Lewis nhiều đến thế. Hắn không hề trêu gan được Kid. Kid Lewis luôn sử dụng ba mẹo vặt mà Jack không thể chấp nhận. Nếu Jack khỏe thì hắn sẽ đứng vững trên đài như một tòa thánh đường. Chắc chắn hắn sẽ tẩn nhừ xương Walcott. Điều buồn cười trông Jack như thể một võ sĩ thời xưa. Nói điều này bởi hắn đã phối hợp sử dụng thành thạo các kỹ xảo thượng đài cổ điển.
Sau hiệp bảy, Jack nói, “Tay trái của tao đang nặng dần”.
Từ lúc đó hắn bắt đầu bị đánh. Cục diện trận đấu không còn như trước. Thay vì hắn điều khiển thì bây giờ Walcott điều khiển, thay vì luôn che chắn kín kẽ thì nay hắn đang gặp rắc rối. Hắn không thể sử dụng tay trái để đẩy gã kia ra. Trận đấu trông vẫn như trước duy chỉ thay vì những quả đấm của Walcott thường trượt thì nay lại trúng hắn. Hắn bị tẩn tơi tả.
“Hiệp mấy rồi?” Jack hỏi.
“Mười một”.
“Tao không trụ nổi nữa”, Jack nói. “Chân tao bắt đầu yếu”.
Walcott vẫn tiếp tục tẩn hắn mãi hồi lâu. Cảnh tượng như thể một người bắt bóng chày, tạt quả bóng và nhận sự va chạm. Từ bấy giờ Walcott làm chủ trận đấu. Hắn như thể một cái máy đấm. Hiện tại, Jack chỉ còn biết cố che chắn mà thôi. Nhưng hắn chưa nhận cú nào nguy hiểm cả. Giữa hai hiệp, tôi xoa bóp chân hắn. Những múi cơ giần giật dưới tay tôi. Hắn đau quá.
“Thế nào?” hắn quay lại hỏi John, khuôn mặt sưng vù.
“Trận đấu là của hắn”.
“Tao nghĩ mình có thể trụ được”. Jack nói. “Tao không muốn bị thằng Bohemian này hạ”.
Sự việc diễn ra theo hướng hắn chờ đợi. Hắn biết hắn chẳng thể hạ nổi Walcott. Hắn đâu còn khỏe nữa. Hắn đã thực sự chấm hết. Món tiền của hắn đã chắc ăn rồi và giờ thì hắn muốn kết thúc ngay trận đấu để thân xác đỡ nhọc nhằn. Hắn không muốn bị nốc ao.
Tiếng còng vang lên, bọn tôi đẩy hắn ra. Hắn từ từ bước tới. Walcott xông vào ngay. Jack vung tay trái, Walcott bị dính ngay vào mặt; rồi hắn cúi xuống, bắt đầu bổ vào người Jack. Jack cố kìm hắn lại, động tác ấy như thể ai đó đang cố hãm một cái cưa tròn đang chạy. Jack bị hất văng, tay phải hắn đấm trượt. Walcott tung cú móc tay trái. Jack ngã xuống. Hắn chống tay, khuỵu gối nhìn bọn tôi. Trọng tài bắt đầu đếm. Jack nhìn bọn tôi và lắc đầu. Đến tám, John ra hiệu cho hắn. Người ta chẳng thể nào nghe rõ bởi số khán giả đông ngần ấy. Jack đứng dậy. Trọng tài đưa tay giữ Walcott trong lúc đếm.
Khi Jack đứng lên, Walcott tiến về phía hắn.
“Cẩn thận Jimmy”, tôi nghe Solly Freedman thét.
Walcott bước tới. Jack đang nhìn hắn. Jack đấm một cú tay trái vào mặt hắn. Walcott chỉ lắc lắc đầu. Hắn dồn Jack vào sát dây, đo, móc nhẹ một cú tay trái vào bên đầu Jack rồi lấy hết sức tống một cú tay phải vào người Jack, ngay điểm thấp nhất mà cánh tay có thể. Hắn đấm dưới thắt lưng Jack độ năm inch. Tôi ngỡ đôi mắt sắp bật khỏi Jack. Nó lồi hẳn ra ngoài. Mồm hắn há hốc.
Trọng tài chộp tay Walcott. Jack bước về phía trước. Nếu hắn ngã, năm mười ngàn dollar sẽ đi tong. Hắn bước như thể cả lục phủ ngũ tạng sắp tung bắn ra ngoài.
“Không thấp đâu”, hắn nói. “Chỉ sơ ý thôi”.
Khán giả thét gào lớn đến nỗi chẳng ai nghe được gì cả.
“Tôi không sao”, Jack nói. Chúng đứng ngay trước mặt bọn tôi. Trọng tài nhìn John rồi lắc đầu.
“Lại đây, đồ Ba Lan thối thây kia”. Jack nói với Walcott.
John đang chồm lên dây thừng. Hắn cầm sẵn khăn để ném cho Jack. Jack chỉ đứng cách vòng thừng một tí. Hắn bước một bước về phía trước. Tôi thấy mồ hôi tràn trên mặt hắn như thể ai đó đang vắt đầu hẳn. Một giọt mồ hôi lớn chảy xuống mũi.
“Tiếp tục đấu”, Jack bảo Walcott.
Trọng tài nhìn John và vẫy tay cho Walcott.
“Lại đây, thằng đểu”, hắn nói.
Walcott tiến đến. Hắn không biết phải làm gì. Hắn chẳng thể nào hình dung Jack lại chịu nổi cú đòn đó.
Jack đấm tay trái vào mặt hắn. Tiếng hò hét điên cuồng vẫn tiếp tục. Chúng đến trước mặt bọn tôi. Walcott đấm lại hắn hai cú. Mặt Jack là cả khối méo mó kinh dị nhất mà tôi từng chứng kiến - khủng khiếp quá! Hắn đang cố gượng đứng, mặt hắn biểu lộ điều đó. Suốt cả thời gian suy nghĩ và gượng đứng, cơ thể hắn như sắp nổ tung ra.
Rồi hắn bắt đầu đấm móc. Mặt hắn vẫn giữ vẻ kinh hoàng. Tay hạ thấp bên sườn, hắn tung cú móc vào người Walcott. Walcott co người tránh, Jack điên cuồng bổ vào đầu hắn. Rồi hắn vung tay trái đấm vào hàm Walcott, tay phải giáng một cú vào ngay nơi Walcott đấm hắn. Bên dưới thắt lưng. Walcott đổ sụp xuống, ôm bụng quằn quại trên sàn.
Trọng tài giữ Jack lại, đẩy về góc hắn. John nhảy lên đài. Tiếng gào thét vẫn tiếp tục. Trọng tài nói gì đó với giám khảo rồi một gã xướng ngôn xách loa lên đài, tuyên bố. “Walcott bị phạm lỗi”.
Trọng tài nói gì đó với John và hắn bảo, “Tôi còn biết làm gì nhỉ? Jack không chịu nhận đã bị kẻ khác chơi sai luật. Rồi sau đó đến lượt hắn lại phạm lỗi với kẻ đã phạm lỗi với hắn”.
“Dầu sao thì hắn cũng đã thua”, John nói.
Jack ngồi xuống ghế. Tôi tháo găng, hắn ôm bụng cúi xuống. Khi tựa lên vật gì đó, nét mặt hắn không còn quá khủng khiếp nữa.
“Đến xin lỗi đi”, John nói vào tai hắn. “Sẽ tốt hơn đấy”.
Jack đứng dậy mồ hôi tứa khắp mặt. Tôi khoác áo choàng vào người hắn, một tay ôm bụng trong tấm choàng, hắn đi qua sàn đấu. Họ đỡ Walcott dậy và chăm sóc hắn. Có nhiều người ở phía góc của Walcott. Chẳng một ai mở miệng với Jack. Hắn cúi xuống Walcott.
“Tao xin lỗi” Jack nói. “Tao không cố ý phạm lỗi với mày”.
Walcott chẳng nói gì. Trông hắn quá đau đớn.
“Này bây giờ mày đã là nhà vô địch rồi đó”, Jack bảo hẳn. “Tao hy vọng nó sẽ mang lại cho mày vô khối niềm vui”.
“Để nó yên”, Solly Freedman nói.
“Chào Solly”. Jack nói. “Tao biết là đã chơi xấu thằng bé của mày”.
Freedman chỉ nhìn hắn.
Jack quay về góc của mình bằng những bước đi giần giật trông thực buồn cười, bọn tôi dìu hắn qua dây, xuyên qua dãy bàn phóng viên, xuống lối đi. Nhiều người muốn vỗ vào lưng Jack. Hắn khoác áo choảng đi qua đám đông đến phòng thay áo. Một trận thắng oanh liệt cho Walcott. Đấy là cách tiền được đặt cược ở Garden.
Ngay khi bọn tôi vào phòng thay đồ, Jack nằm xuống nhắm mắt lại.
“Chúng ta phải về khách sạn và gọi bác sĩ”, John nói.
“Bụng tao bị nát cả rồi”, Jack nói.
“Tao ân hận quá Jack”, John nói.
“Ổn cả rồi”. Jack nói.
Hắn nhắm mắt nằm im.
Chúng đã cố thực hiện một quả lật lọng”, John nói.
“Hai thằng bạn Morgan và Steinfelt của mày đấy”, Jack nói. “Mày có mấy thằng bạn quý hóa quá”.
Bây giờ đang nằm, hắn mở mắt ra. Nhưng khuôn mặt vẫn hằn nỗi đau vô cùng tận.
“Thực buồn cười, con người ta tư duy mới nhanh làm sao khi dính đến món tiền lớn như thế”. Jack nói.
“Mày cừ đấy Jack”, John nói.
“Không”, Jack nói. “Chẳng nghĩa lý gì đâu”.

Lê Huy Bắc dịch
--------------------------
[1] Nước gừng.
0
Cuộc thẩm vấn đơn giản

Ngoài trời, tuyết rơi thành đống cao hơn cửa sổ. Ánh mặt trời xuyên qua cửa sổ, chiếu lên tấm bản đồ treo trên vách gỗ thông của căn lều. Mặt trời đã lên cao, ánh nắng rọi lên đỉnh tuyết. Một con hào chạy dọc theo sườn để trống của căn lều, trời mỗi ngày một sáng, ánh nắng rọi lên vách, phả hơi nóng vào tuyết và tỏa rộng ra con mương. Đó là giai đoạn cuối tháng Ba. Ngài thiếu tá ngồi bên chiếc bàn kê sát vách. Viên sĩ quan phụ tá của ngài ngồi bên chiếc bàn khác.
Quanh mắt thiếu tá có hai hình tròn màu trắng - dấu vết của chiếc kính tuyết bảo vệ cho khuôn mặt của ông khỏi ánh nắng mặt trời phản chiếu từ lớp tuyết. Phần còn lại của khuôn mặt ông rám nắng đen sạm và bắt đầu chuyển sang màu nâu vàng. Mũi ông sưng tấy, hai bên cánh mũi - nơi bị sưng rộp lên - da nhão nhoẹt. Ông vừa xem xét đống giấy tờ vừa châm hai ngón tay trái vào đĩa dầu và thoa khắp lên mặt. Với hai đầu ngón tay, ông sờ lên mặt một cách nhẹ nhàng. Ông thận trọng chấm hai ngón tay khô ráo lên mép đĩa - nơi chỉ có một lớp dầu mỏng. Sau đó, ông xoa lên trán, má và khéo léo xoa lên mũi bằng hai đầu ngón tay. Khi mọi việc đã xong, ông đứng dậy, cầm đĩa dầu đi vào gian phòng nhỏ của căn lều, nơi ông dùng làm phòng ngủ.
- Tôi sẽ chợp mắt một chút. - Ông nói với sĩ quan phụ tá. Trong quân đội đó, sĩ quan phụ tá không phải là sĩ quan đặc nhiệm - Anh cũng nghỉ được rồi đấy. - Thiếu tá khuyên viên sĩ quan dưới quyền.
- Vâng thưa thiếu tá - Viên sĩ quan phụ tá trả lời. Anh ngả lưng vào chiếc ghế của mình và ngáp. Anh lấy từ trong túi áo khoác của mình quyển sách được bọc cẩn thận, mở ra, đặt xuống bàn rồi châm tẩu thuốc. Anh chui người xuống bàn để đọc và rít thuốc thật sâu. Sau đó, anh gập sách lại và đút vào túi. Viên sĩ quan này đã làm công việc giấy tờ quá lâu. Anh chẳng còn đủ xúc cảm để đọc cho đến hết. Bên ngoài, mặt trời đã ở sau dãy núi, chỉ còn chút ánh sáng yếu ớt hắt lên vách lều. Một người lính đi vào, tay cầm vài khúc gỗ thông dài ngan khác nhau và đút vào lò.
- Nhẹ tay thôi Pinin - Viên sĩ quan phụ tá nói với người lính - Thiếu tá đang ngủ.
Pinin là cần vụ của thiếu tá. Cậu có khuôn mặt của một chú bé với nước da ngăm đen. Cậu sửa sang lại lò sưởi rồi cẩn thận cho thêm củi thông vào. Sau đó, cậu đóng cửa và đi vào phía sau căn lều. Viên sĩ quan phụ tá cũng trở lại với đống giấy tờ của anh ta.
- Tonani. - Thiếu tá gọi.
- Thưa ngài, có việc gì ạ?
- Bảo Pinin vào đây cho tôi.
- Pinin! - Viên sĩ quan phụ tá gọi. Pinin bước vào phòng.
- Thiếu tá cần gặp anh. - Viên sĩ quan phụ tá nói với Pinin.
Pinin rảo bước qua gian chính của căn lều và đi về phía cửa buồng thiếu tá. Cậu gõ lên cảnh cửa đã hé mở.
- Thưa, ngài cần tôi?
- Vào đi, - Viên sĩ quan phụ tá nghe tiếng thiếu tá nói - và đóng cửa lại.
Trong phòng, thiếu tá đang nằm trên giường. Pinin đến đứng bên giường của thiếu tá. Thiếu tá tựa đầu lên chiếc ba lô được nhồi căng bằng vải vụn để làm gối. Khuôn mặt ông như chảy dài ra, đen sạm nhưng ông nhìn Pinin với vẻ hài lòng. Ông đặt hai tay lên đống chăn.
- Cậu mười chín tuổi à? - Ông hỏi.
- Vâng, thưa thiếu tá.
- Cậu đã từng yêu chưa?
- Ý của ngài là thế nào, thưa thiếu tá?
- Tình yêu - với một cô gái?
- Tôi đã từng với vài cô.
- Tôi không hỏi về điều đó. Tôi hỏi giả sử anh đã từng yêu - một cô gái.
- Vâng, thưa thiếu tá.
- Hiện tại cậu đang yêu một cô gái phải không? Cậu không viết thư cho cô ấy. Tôi đã đọc tất cả những lá thư của cậu.
- Tôi yêu có ấy - Pinin trả lời - Nhưng tôi không viết thư cho cô ấy.
- Cậu có dám chắc điều này không?
- Chắn chắn.
- Tonani, - Thiếu tá vẫn giữ nguyên giọng - anh có nghe tôi nói không?
Ở phòng bên không có tiếng trả lời.
- Anh ta không thể nghe được. - Thiếu tá nói - Cậu hoàn toàn chắc chắn rằng cậu yêu một cô gái chứ?
- Vâng, chắc chắn như vậy.
- Và, - Thiếu tá nhìn lướt qua Pinin - rằng cậu không hủ hóa chứ?
- Tôi không hiểu ý ngài, hủ hóa ư?
- Thôi được - Thiếu tá nói - Cậu không cần phải làm cao như thế. - Pinin nhìn xuống nền nhà. Thiếu tá nhìn khuôn mặt màu nâu của cậu. Nhìn từ dưới lên và dừng lại ở đôi tay của Pinin. Thiếu tá thôi mỉm cười và tiếp tục nói. - Cậu thật sự không muốn... - Thiếu tá tạm ngừng. Pinin vẫn nhìn xuống nền nhà - rằng dục vọng mãnh liệt của cậu thực sự không là... - Pinin vẫn nhìn xuống nền nhà. Thiếu tá tựa đầu vào ba lô và mỉm cười. Ông cảm thấy vô cùng thanh thản: cuộc sống trong quân ngũ quả thật quá phức tạp. - Cậu thật tuyệt vời - Ông nói - Cậu rất tuyệt vời, Pinin. Nhưng đừng làm cao và hãy cẩn thận hơn nữa kẻo một ai đó sẽ không chịu đựng nổi và tóm lấy cậu.
Pinin vẫn đứng bên giường của thiếu tá.
- Đừng sợ. - Thiếu tá nói. Hai tay ông khoanh lại trên đống chăn.
- Tôi sẽ không động đến cậu đâu. Cậu có thể trở về trung đội của mình nếu cậu muốn. Nhưng cậu cứ ở lại đây phục vụ tôi thì tốt hơn. Cậu sẽ ít có cơ hội bị giết.
- Ngài muốn gì ở tôi, thưa ngài thiếu tá?
- Không. - Thiếu tá trả lời - Hãy đi và tiếp tục công việc mà cậu đang làm. Cứ để cửa mở khi cậu ra khỏi đây.
Pinin bước ra và cửa vẫn để ngỏ. Viên sĩ quan phụ tá nhìn Pinin loạng choạng đi qua gian giữa để ra ngoài. Pinin đỏ bừng mặt, bước chân của cậu vụng về hơn cả khi cậu mang củi vào lò. Viên sĩ quan phụ tá nhìn theo cậu và mỉm cười. Pinin mang thêm mấy thanh củi nữa để cho vào lò. Thiếu tá vẫn nằm trên giường, ông nhìn chiếc mũ sắt bọc vải và chiếc kính tuyết của mình treo trên một cái đinh đóng trên vách, trong lúc lắng nghe tiếng bước chân của người cần vụ đi qua gian phòng. Quái quỷ thật, ông nghĩ, không hiểu cậu ta có nói dối mình không.

Phạm Ngọc Thưởng dịch
0
Mười người da đỏ

Hết ngày mồng bốn tháng bảy [1], từ thành phố, Nick trở về nhà muộn trên chiếc xe lớn của chú Joe và gia đình, vượt qua chín người da đỏ trên đường. Cậu nhớ chỉ có chín bởi chú Joe lúc đang đánh xe trên con đường bụi, vội dừng ngựa, nhảy xuống kéo một anh chàng Da Đỏ ra khỏi lòng đường. Người Da Đỏ ấy ngủ úp mặt xuống cát. Chú Joe lôi anh ta vào bụi rồi quay lại leo lên xe.
“Hèn chi chỉ có chín”, chú Joe nói, “chỉ mới từ đây đến bìa thành phố”.
“Cái quân Da Đỏ này”, cô Garner nói.
Nick ngồi ghế sau với hai cậu bé nhà Garner. Từ chỗ ấy, cậu nhìn ra quan sát anh chàng Da Đỏ được chú Joe kéo vào lề đường.
“Có phải Billy Tabeshaw đấy không?” Carl hỏi.
“Không”.
“Quần của anh ta trông giống hệt như của Billy”.
“Những người Da Đỏ đều mặc cùng một kiểu quần”.
“Em chưa kịp nhìn anh ta”, Frank nói. “Bố bước xuống đường rồi quay lên xe trước lúc em kịp hiểu ra chuyện gì. Em cứ tưởng bố xuống giết một con rắn”.
“Tối nay, rất nhiều người Da Đỏ sẽ giết rắn, bố chắc thế”, chú Joe nói.
“Cái quân Da Đỏ này”, cô Garner nói.
Họ đi tiếp. Con đường rời khỏi lộ chính, leo lên rặng đồi. Lũ ngựa rất mệt nên bọn trẻ xuống đi bộ. Con đường đầy cát. Trên đỉnh đồi cạnh trường học, Nick quay nhìn lại. Cậu thấy mấy ngọn đèn ở Petoskey và ánh sáng từ cảng Springs hắt qua vịnh Little Traverse. Chúng lại leo lên xe.
“Lẽ ra người ta nên rải sỏi con đường này” chú Joe nói. Chiếc xe chạy theo con đường xuyên qua rừng. Trên chiếc ghế trước, chú Joe và cô Garner ngồi cạnh nhau. Nick ngồi giữa hai đứa trẻ. Con đường đổ ra vùng đất trống.
“Bố đã cán một con chồn hôi ngay chính chỗ này đây”.
“Ở đằng kia kìa”.
“Chỗ nào thì cũng chẳng có gì khác”, chú Joe nói, không quay đầu lại. “Khi cán chết một con chồn thì chỗ này cũng như chỗ kia mà thôi”.
“Tối qua tớ thấy hai con chồn”, Nick nói.
“Ở đâu?”
“Bên cạnh hồ. Chúng đang tìm cá chết dọc hồ”.
“Có lẽ chúng là lũ gấu trúc”, Carl nói.
'“Chồn đấy. Tớ biết giống chồn mà”.
“Có lẽ cậu đúng”, Carl nói: “Cậu đã chim được một cô nàng Da Đỏ”.
“Đừng nói năng theo kiểu đó, Carl”, cô Garner bảo.
“Với lại, mùi của chúng thì gần như nhau”.
Chú Joe cười lớn.
“Anh đừng cười nữa, Joe”, cô Gamer nói. “Em không muốn Carl ăn nói theo kiểu ấy”,
“Cháu quen một cô gái Da Đỏ hả Nick?” Chủ Joe hỏi.
“Dạ không”.
“Anh ấy có đó, bố”, Frank nói “Bạn gái anh ấy là Prudence Mit cheir.
“Cô ta không phải”.
“Ngày nào anh cũng đi gặp cô ấy”.
“Anh không”. Ngồi giữa hai cậu bé trong bóng tối, Nick cảm thấy hơi giả dối và rồi hạnh phúc trào dâng trong hồn khi cậu được trêu về Prudence Mitchell. “Cô ấy không phải là cô gái của tớ”, cậu nói.
“Nghe cậu ta nói kìa”, Carl nói. “Con thấy họ ngày nào cũng xoắn xuýt lấy nhau”.
“Carl thì chẳng có bạn gái”, mẹ cậu ta nói, “Thậm chí chỉ là một thiếu nữ Da Đỏ”.
Carl lặng im.
“Anh Carl không giỏi tán gái”, Frank nói.
“Mày im đi”.
“Chẳng sao đâu con Carl,” chú Joe nói: “Lũ con gái thiếu con trai còn dầy rẫy ra đó. Cứ nhìn bố mày đây này”.
“Vâng, ông đã nói hết chưa”, cô Garner dịch sát vào chú Joe khi chiếc xe nảy lên. “Này, hồi còn trai trẻ, ông có cơ man nào là bạn gái”.
“Con nghĩ chắc bố không bao giờ có bạn gái là người Da Đỏ”.
“Cháu đừng tin như thế”, chú Joe nói. “Tốt hơn là cháu nên để mắt đến Prudie, Nick à”.
Vợ chú thì thầm gì đó rồi chú Joe bật cười.
“Bố cười gì vậy?” Frank hỏi.
“Anh chớ nói, Garner”, vợ chú đe. Joe lại cười.
“Nick, có thể có Prudence”, chú Joe nói. “Còn tôi thì đã có một cô tử tế”.
“Nói thế mà cũng nói”, cô Garner nói.
Lũ ngựa nặng nhọc kéo xe trên cát. Chú Joe vươn tay vút roi vào đêm tối.
“Cố lên, cố lên nữa nào. Ngày mai bọn mày còn phải kéo nặng hơn”.
Chúng chạy xuống sườn đồi dài, cỗ xe xóc xóc. Đến trại, mọi người bước xuống. Cô Garner mở khóa cửa vào nhà mang ra cây đèn. Carl và Nick tháo đồ xuống từ phía sau xe. Frank ngồi lên ghế trước đánh xe đến chuồng buộc ngựa. Nick bước; lên bậc cấp và mở cửa bếp. Cô Garner đang nhóm lửa trong lò. Cô ngoảnh lại lúc đang tưới dầu lên củi.
“Tạm biệt cô Garner”, Nick nói. “Cảm ơn cô vì đã cho cháu đi nhờ”.
“Không có chi, Nickie”.
“Chuyến đi thật tuyệt vời”.
“Chúng tôi vui khi có cháu đi cùng. Cháu ở lại ăn tối với cô?”
“Cháu về thì tốt hơn. Bố cháu hẳn đang đợi ở nhà”.
“Thôi được, cháu về đi. Bảo Carl vào đây hộ cô được chứ?”
“Dạ được”.
“Thôi chào Nickie”.
“Tạm biệt, cô Garner”.
Nick ra sân, đi đến chuồng ngựa - chú Joe và Frank đang vắt sữa.
“Tạm biệt chú và em”, Nick nói. “Cháu đã có một chuyến đi tuyệt vời”.
“Tạm biệt cháu, Nick”, chú Joe nói. “Sao cháu không ở lại ăn tối cùng gia đình?”
“Cảm ơn chú, cháu không thể. Chú bảo Carl vào gặp cô giùm cháu với?”
“Được rồi, Nick, tạm biệt”.
Nick đi chân trần theo lối mòn vắt qua đồng cỏ bên dưới chuồng ngựa. Lối mòn bằng phẳng, sương bám lạnh đôi chân. Cậu leo qua hàng rào cuối đồng cỏ, vượt qua cái khe, đôi chân vấy bùn nhão rồi leo lên bờ đi qua rừng sồi khô ráo cho đến lúc nhìn thấy ánh đèn trong ngôi nhà tranh. Cậu leo qua hàng rào, đi vòng ra cửa trước. Nhìn qua cửa sổ, cậu thấy bố đang ngồi bên bàn, đọc sách dưới ánh sáng của ngọn đèn bàn Lớn. Nick mở cửa bước vào.
“A, Nick đó hả con”, bố cậu nói, “Đi chơi vui chứ?”
“Vui lắm bố à. Ngày mồng bốn tháng bảy tuyệt vời”.
“Con đói phải không?”
“Đúng đó bố”.
“Giầy đâu rồi?”
“Con quên trên xe chú Garner”.
“Vào bếp đi con”.
Bố Nick cầm đèn đi trước. Ông dừng lại mở nắp thùng đá. Nick vẫn bước vào bếp. Bố cậu lấy ra miếng thịt gà ướp lạnh đặt trên đĩa, bình sữa rồi mang đặt lên bàn, trước mặt Nick. Ông để cây đèn xuống. “Có cả bánh nữa”, ông nói. “Con thấy thế nào?”
“Thực tuyệt bố à”.
Bố cậu ngồi xuống ghế bên cạnh cái bàn trải vải dầu. Bóng ông in lớn lên tường bếp.
“Đội bóng nào thắng hả bố?”
“Đội Petoskey. Tỷ số năm ba”.
Bố cậu ngồi nhìn cậu ăn rồi lấy bình rót đầy ly sữa cho cậu. Nick uống rồi chùi miệng bằng khăn ăn. Bố cậu với tay lên giá lấy bánh. Ông cắt cho Nick một miếng lớn. Đây là cái bánh nhân dâu tây.
“Bố đã làm gì hả bố?”
“Buổi sáng bố đi câu”.
“Bố có bắt được con nào không?”
“Mỗi một con cá rô”.
Ông ngồi nhìn Nick ăn bánh.
“Thế chiều nay bố làm gì?” Nick hỏi.
“Bố đi dạo cạnh khu trại Da Đỏ”.
“Bố có gặp ai không?”
“Người Da Đỏ đã đổ hết xuống thành phố ăn nhậu túy lúy cả mà”
“Bố chẳng gặp một ai cả sao?”
“Bố gặp bạn con, Prudie ấy mà”.
“Cô ấy ở đâu?”
“Ở trong rừng với Frank Washburm. Bố đi qua chúng. Chúng chơi với nhau khá lâu”.
Ông không nhìn cậu.
“Chúng đang làm gì?”
“Bố không đứng lại xem”.
“Nói cho con hay chúng đang làm gì?”
“Bố không biết”, bố cậu nói. “Bố chỉ nghe tiếng chúng thôi”.
“Thế làm sao bố biết đấy là chúng nó?”
“Bố nhìn thấy”.
“Bố đã bảo với con là bố không thấy chúng mà”.
“À, ừ, bố thấy chúng”.
“Cô ấy với ai?” Nick hỏi.
“Với Frank Washburn”.
“Chúng có - chúng có”
“Chúng có gì?”
“Chúng có vui không?”
“Bố cho là thế”.
Bố cậu rời bàn đứng dậy ra khỏi cửa bếp có rèm che. Khi ông quay lại, Nick nhìn đĩa thức ăn. Cậu đang khóc.
“Ăn thêm tí nữa đi con?” bố cậu lấy dao cắt bánh.
“Đừng”, Nick nói.
“Tốt hơn là con ăn thêm miếng nữa”.
“Không, con không muốn ăn”.
Bố cậu chùi bàn.
“Chúng ở đâu trong rừng vậy?” Nick hỏi.
“Phía sau trại” Nick nhìn đĩa của mình. Bố cậu nói. “Tốt hơn là con nên đi ngủ đi Nick”.
“Vâng ạ”
Nick vào phòng mình, cởi đồ leo lên giường. Cậu nghe tiếng chân bố loanh quanh trong phòng khách. Nick nằm trên giường, úp mặt xuống gối.
“Tim mình tan vỡ”, cậu nghĩ. “Nếu mình cảm nhận theo cách này thì trái tim chắc tan vỡ mất”.
Lát sau cậu nghe bố tắt đèn rồi đi qua phòng riêng. Cậu nghe tiếng gió luồn qua rặng cây bên ngoài rồi cảm thấy nó len qua rèm che vào căn phòng lạnh lẽo. Cậu nằm vùi mặt trong gối hồi lâu rồi sau đó không còn nghĩ về Prudence nữa, cuối cùng cậu chìm vào giấc ngủ. Khi thức giấc trong đêm, cậu nghe tiếng gió trong rừng sồi cạnh nhà và cả tiếng sóng hồ đang vỗ vào bờ rồi cậu lại chìm vào giấc ngủ. Vào buổi sáng, cơn gió mạnh ào đến, sóng hồ dựng cao xô vào bờ và, cậu tỉnh dậy hồi lâu trước lúc chợt nhớ rằng trái tim mình đã tan vỡ.

Lê Huy Bắc dịch
------------------------
[1] Ngày quốc khánh của Hoa Kỳ.
0
Chim bạch yến cho ai

Tàu hỏa chạy rất nhanh qua ngôi nhà xây bằng đá màu đỏ với vườn cây, qua bốn cây cọ rậm rạp tỏa bóng mát lên những dãy bàn bên dưới. Phía bên kia là biển. Rồi một con đường cắt ngang qua vùng đá đỏ và đất sét; biển chỉ còn thấp thoáng mãi xa bên dưới bờ đá.
“Tôi mua nó ở Palermo”, phu nhân người Mỹ nói. “Vào buổi sáng Chủ nhật đó, chúng tôi chỉ được ở trên bờ trong vỏng một tiếng đồng hồ. Gã đàn ông muốn trả bằng đô-la và tôi đã trả hắn một đô rưỡi. Nó hót rất hay”.
Xe lửa rất nóng và ngay cả toa dành cho khách quý cũng hầm hập. Không có lấy một chút gió nhẹ thổi qua ô cửa sổ để ngỏ. Phu nhân Mỹ hạ rèm cửa sổ xuống, chúng tôi không còn thấy biển nữa, ngay cả thấp thoáng. Phía bên kia là tấm kính, tiếp đến là hành lang, ô cửa sổ để ngỏ và bên ngoài là rừng cây phủ đầy bụi bặm, một con đường rải nhựa, những cánh đồng nho bằng phẳng trải dài đến những ngọn đồi đầy đá xám.
Khói tuôn lên từ những ống khói cao - đang chạy vào Marseilles, xe lửa giảm dần tốc độ, chạy trên tuyến đường xuyên qua nhiều tuyến đường khác vào sân ga. Xe lửa đỗ lại ga Marseilles hai mươi lăm phút, phu nhân Mỹ mua một tờ “The daily Mail” và nửa chai nước Evian. Bà ta đi dạo trên sân ga nhưng chỉ quanh quẩn bên toa xe bởi vì ở Cannes, nơi tàu dừng lại mười hai phút rồi rời đi mà không báo hiệu khởi hành và bà ta may còn kịp bám lên cửa toa. Phu nhân Mỹ hơi bị điếc nên bà ta nghĩ rằng có lẽ người ta đã kéo còi hiệu khởi hành nhưng bà ta lại không nghe thấy.
Tàu hỏa rời sân ga Marseilles, quay nhìn lại ta thấy không chỉ những tuyến đường nối toa, cả xưởng đang tỏa khói mà còn cả thị trấn Marseilles, bến cảng với những đồi đá phía sau và ánh hoàng hôn đang đọng trên mặt nước. Khi trời dần tối, tàu vượt qua một ngôi nhà đang bốc cháy trên cánh đồng. Ô-tô bị nghẽn lại dọc theo con đường, ổ rơm, đồ đạc từ trong nhà được khuân quẳng khắp nơi trên cánh đồng. Nhiều người đang đứng xem ngôi nhà cháy. Sau khi trời tối, tàu đến Avignon. Hành khách lên và xuống tàu. Tại quầy báo, một người Pháp đang mua mấy tờ báo bằng tiếng Pháp phát hành trong ngày hôm đó. Trên sân ga có nhiều binh lính da đen. Họ mặc đồng phục màu nâu, vóc người cao, gương mặt sáng bóng do đứng sát ánh đèn cao áp. Da mặt họ rất đen và chiều cao của họ khiến người ngồi trên toa khó có thể nhìn thấy mặt. Tàu rời Avignon, toán lính da đen vẫn đứng đó. Một trung sĩ người da trắng thấp hơn đang đứng với họ.
Bên trong toa dành cho khách quý, nhân viên phục vụ kéo ba chiếc giường tựa sát vách xuống, chuẩn bị cho hành khách ngủ. Trong đêm, phu nhân người Mỹ nằm, không ngủ được bởi đây là chuyến tàu tốc hành, chạy rất nhanh mà bà ta lại sợ tốc độ trong đêm tối. Giường của phu nhân người Mỹ gần cửa sổ. Chim bạch yến mua từ Palermo được phủ khăn treo bên ngoài khu vực hành lang dẫn vào buồng vệ sinh. Bên ngoài toa, ánh đèn màu xanh đang tỏa sáng, suốt đêm tàu chạy rất nhanh còn bà ta thì cứ thức nơm nớp sợ tàu trật bánh.
Đến sáng, tàu tới gần Paris, sau khi phu nhân người Mỹ ra khỏi buồng vệ sinh, trông bà ta rất tươi tắn, rất đứng đắn và rất Mỹ dẫu suốt đêm không ngủ, bà ta gỡ chiếc khăn khỏi lồng chim, treo nó ra chỗ có ánh nắng rồi đến toa ăn để ăn sáng. Khi bà ta trở lại toa dành cho khách hạng một, mấy chiếc giường đã được đẩy vào sát vách để lấy chỗ ngồi, chim bạch yến đang rũ lông trong ánh mặt trời chiếu qua cửa sổ, tàu đến gần Paris hơn.
“Nó thích mặt trời”, phu nhân người Mỹ nói. “Chỉ lát nữa thôi nó sẽ hót”. Chim bạch yến rũ lông rồi đưa mỏ rỉa. “Tôi rất thích loài chim”, phu nhân nói. “Tôi mang nó về cho con gái út. Đấy - nó sắp hót đấy”.
Bạch yến hót líu lo, lông trên cổ nó dụng lên, sau đó nó hạ mỏ xuống rồi lại rỉa lông. Đoàn tàu băng qua một con sông và từ từ hướng tới cánh rừng. Tàu đi qua nhiều cánh rừng bên ngoài Paris. Có nhiều xe điện trong thành phố, nhiều quảng cáo đồ sộ cho Belle Jardinirène. Dubonnet và Pernod trên những bức tường chạy ngược với tàu hỏa. Hình như tàu hỏa đã chạy qua những vùng ấy trước bữa ăn sáng. Trong vài phút, tôi đã không lắng nghe lời của phu nhân người Mỹ đang nói chuyện với vợ tôi.
“Chồng chị là người Mỹ à?” bà ta hỏi.
“Vâng”, vợ tôi đáp. “Cả hai chúng tôi đều là người Mỹ”.
“Tôi cứ nghĩ chị là người Anh cơ chứ?”
“Ồ, không”.
“Có lẽ là bởi vì tôi mang dây đeo quần”, tôi nói. Tôi định nói là dây treo quần nhưng khi mở miệng lại nói thành dây đeo quần, theo cách diễn đạt sặc mùi Anh của tôi. Phu nhân người Mỹ không nghe rõ. Bà ta thực sự hơi điếc; bà ta hiểu bằng cách quan sát môi của người đối thoại, tôi không nhìn bà ta nữa. Tôi nhìn ra cửa sổ. Bà ta tiếp tục nói chuyện với vợ tôi.
“Tôi rất lấy làm mừng vì các bạn là người Mỹ. Đàn ông Mỹ là những người chồng tốt nhất”, phu nhân Mỹ tiếp tục nói. “Đó là lý do tại sao chúng ta rời bỏ châu Âu. Chị biết không, con gái tôi đã phải lòng một gã ở Vevey”. Bà ta dừng một lát. “Chúng đang phát điên lên vì yêu”, bà ta dừng lại. “Tôi đã tách cháu ra, tất nhiên”.
“Cô bé có chịu đựng nổi không?” vợ tôi hỏi.
“Tôi không cho là thế”, phu nhân người Mỹ đáp. “Nó chẳng ăn, chẳng ngủ gì cả. Tôi cố hết sức xoay xở nhưng dường như nó không quan tâm gì cả. Nó chẳng quan tâm đến bất kỳ thứ gì nữa. Tôi không thể để nó lấy một người ngoại quốc được”. Bà ta nghỉ một lát. “Một người, một người bạn rất tốt có lần đã bảo tôi chẳng có thằng cha ngoại quốc nào lại có thể trở thành một người chồng tốt cho một cô gái Mỹ”.
“Không” vợ tôi nói. “Tôi không cho là như thế?”
Phu nhân người Mỹ tỏ ý thán phục chiếc áo khoác du lịch của vợ tôi và hóa ra là đã hai mươi năm nay, phu nhân người Mỹ đã đặt mua quần áo tại một cửa hiệu ở đại lộ Sam Honoré. Họ giữ số đo của bà ta rồi một thợ may khéo tay, người biết và hiểu sở thích của bà ta đã cắt may quần áo rồi gửi sang Mỹ. Số quần áo ấy được chuyển đến bưu điện gần nơi bà ta sống, ở khu dân cư của New York. Thuế má chẳng phải là cao quá bởi vì chúng được mở ra ở bưu điện để người ta định giá, các kiểu quần áo ấy luôn đơn giản, không viền đăng ten bằng vàng, không dính những đồ trang sức có giá trị để làm cho chúng trông sang trọng hẳn lên. Trước cô thợ may bây giờ, tên là Thésèse, đã có một người khác, tên là Amélie. Tới lui chỉ có hai người đó trong suốt gần hai mươi năm trời nay. Mẫu mã thì cũng chỉ bấy nhiêu thôi.
Giá cả thì dù sao cũng nhỉnh chút ít. Nhưng chuyển qua hối đoái thì chẳng hơn được một xu so với trước đây. Bây giờ họ cũng giữ số đo của con gái bà. Cô ta đã trưởng thành nhưng mẫu mã quần áo của họ đến nay cũng chẳng thay đổi nhiều.
Bây giờ đoàn tàu đang đi vào Paris. Hệ thống phòng thủ đã được san phẳng nhưng cỏ chưa mọc lên. Có rất nhiều toa xe đang đỗ trên đường ray - những toa xe bán đồ ăn bằng gỗ màu nâu, những toa dùng để ngủ cũng màu nâu sẽ đi Ý vào lúc năm giờ tối hôm ấy, nếu chuyến tàu đó vẫn khởi hành vào lúc năm giờ; những toa có kẻ chữ Paris - Rome và những toa có chỗ ngồi trên nóc, vào những giờ nhất định, sẽ khởi hành về các vùng ngoại ô, chở đầy hành khách trên các dãy ghế và cả trên nóc - nếu hiện tại người ta vẫn duy trì cách phục vụ ấy - sẽ vượt qua nhiều bức tường trắng và cửa sổ của những ngôi nhà. Bữa sáng thì chẳng có gì để ăn.
“Đàn ông Mỹ là những người chồng tốt nhất”, phu nhân người Mỹ nói với vợ tôi. Tôi đang lấy những chiếc túi xuống. “Trên thế gian này đàn bà chỉ nên lấy đàn ông Mỹ”.
“Chị đã rời Vevey bao lâu rồi?” vợ tôi hỏi.
“Hai năm trước cuộc tình này. Chị hiểu chứ, tình yêu của con gái tôi ấy mà, tôi mang chim bạch yến về cho nó”.
“Con gái chị yêu một anh chàng Thụy Sĩ á?”
“Vâng”, phu nhân người Mỹ đáp. “Thằng bé ấy là con của một gia đình gia giáo ở Vevey. Nó sắp trở thành kỹ sư. Chúng quen nhau ở Vevey. Hai đứa thường đi dạo với nhau”.
“Tôi biết Vevey”, vợ tôi nói. “Chúng tôi đã hướng tuần trăng mật ở đó”.
“Thật vậy sao?” Chuyện này thật kỳ diệu. Ý tôi là, dĩ nhiên, không phải nói chuyện con bé nhà tôi phải lòng thằng bé”.
“Đó là một nơi rất dễ thương”, vợ tôi nói.
“Đúng đấy”, phu nhân người Mỹ nói. “Nó mà chẳng dễ thương sao? Anh chị đã ở đâu?”
“Chúng tôi ở Trois Couronnes”, vợ tôi đáp.
“Một khách sạn cổ xưa và đẹp tuyệt vời”, phu nhân người Mỹ nói.
“Vâng”, vợ tôi đáp. “Chúng tôi đặt một phòng rất xinh xắn, vào mùa thu miền ấy thật tuyệt vời”.
“Anh chị đã ở đó vào mùa thu ư?”
“Vâng”, vợ tôi đáp.
Chúng tôi vượt qua ba toa xe hỏng. Chúng vỡ tung, nóc lún hẳn vào.
“Nhìn kia”, tôi nói. “Một vụ đâm tàu”.
Phu nhân người Mỹ nhìn ra chỉ thấy toa xe cuối cùng.
“Tôi đã sợ điều đó suốt cả đêm”, bà ta nói. “Đôi khi tôi có linh cảm về những điều khủng khiếp. Tôi sẽ không bao giờ đi du lịch bằng tàu tốc hành vào ban đêm nữa. Hẳn có những chuyến tàu khác đầy đủ tiện nghi mà không chạy quá nhanh”.
Khi tàu đi vào trong bóng tối của ga Lyons, dừng lại rồi những phu khuân vác đến bên cửa sổ. Tôi chuyển mấy cái túi xách qua cửa sổ rồi chúng tôi ra sân ga rộng rãi mờ mờ tối, phu nhân người Mỹ đang hoạnh họe một trong số ba nhân viên hỏa xa, anh ta nói: “Thưa bà, chỉ một lát thôi, tôi sẽ tìm ra tên bà ngay”.
Người phu khuân vác đẩy chiếc xe kéo tới, chất hành lý lên, vợ tôi và tôi chào tạm biệt phu nhân người Mỹ, tên bà đã được anh nhân viên tìm thấy trên tờ giấy đánh máy nằm trong tập giấy mà anh ta đã đút nhầm vào túi.
Chúng tôi đi theo người phu kéo chiếc xe dọc hành lang dài đúc bằng xi-măng bên cạnh con tàu. Cuối cùng hành lang là cổng ra vào, một nhân viên đứng ở đấy thu vé.
Chúng tôi quay lại Paris để thu xếp sống mỗi đứa một nơi.

Đào Thu Hằng dịch
0
Câu chuyện tình thơ mộng miền sơn cước

Ngay từ sáng sớm, cái nóng đã tràn xuống thung lũng. Mặt trời làm tuyết bám trên thanh trượt bọn tôi đang mang, tan đi và hong khô cánh rừng. Thung lũng hãy đang là mùa xuân nhưng thời tiết rất bức. Chúng tôi bước dọc con đường về Galtur, vai mang thanh trượt và ba lô. Khi chúng tôi đi qua sân nhà thờ, một đám tang vừa mới được cử hành xong. Tôi nói “Chào ngài” với vị linh mục lúc ông vượt qua chúng tôi, ra khỏi sân nhà thờ. Linh mục cúi đầu.
“Thực tức cười, linh mục chẳng buồn mở miệng đáp lại cậu”, John nói.
“Cậu nghĩ họ thích chào theo lối ‘Chào ngài’ ư?”
“Họ không bao giờ tỏ thái độ”, John nói.
Chúng tôi dừng bên đường, xem người trông nghĩa địa xúc đất. Gã nông dân có chòm râu đen, đi ủng da cao, đứng cạnh nấm mồ. Người trông nghĩa trang ngừng xúc, đứng thẳng lên. Gã nông dân đi ủng cao cổ, cầm xẻng, tiếp tục đắp. Gã rải đất đều như thể người ta bón phân trong vườn. Vào một buổi sáng tháng Năm rực rỡ, việc đắp mộ trông cứ như là trong mơ. Tôi chẳng thể hình dung nổi cảnh ai đó vừa qua đời.
“Thử tưởng tượng được mai táng vào một ngày giống hôm nay”, tôi bảo John.
“Tớ không thích”.
“Ừ”, tôi nói, “chính mình không nên nghĩ về điều đó”.
Chúng tôi tiếp tục bước trên đường, vượt qua nhiều ngôi nhà trong thị trấn, đến quán rượu. Suốt cả tháng, bọn tôi trượt tuyết ở Silvretta, và bây giờ, thời tiết đủ ấm để xuống thung lũng. Ở Silvretta, trượt tuyết rất tuyệt, nhưng đã sang xuân, tuyết chỉ rắn vào lúc sáng sớm và lúc gần tối. Thời gian còn lại trong ngày mặt trời làm hỏng lớp tuyết. Hai đứa đã chán ánh nắng. Bạn chẳng thể lẩn trốn được mặt trời. Mấy bóng râm duy nhất được tạo nên từ các rặng đá hoặc từ căn lều dựng dưới bóng của phiến đá cạnh dòng sông băng. Trong bóng mát, mồ hôi đông thành đá dưới đồ lót của bạn. Bạn không thể ngồi ngoài lều mà không đeo kính râm. Thực dễ chịu khi da dẻ sạm nắng, song mặt trời sẽ làm bạn mỏi mệt. Bạn không thể nghỉ ngơi dưới ánh nắng. Mình muốn về xuôi, tránh xa những ngọn đồi tuyết. Đã quá muộn vào mùa xuân để ở mãi Silvretta. Mình hơi mệt vì trượt tuyết. Bọn mình ở lại quá lâu. Mình đã nếm vị tuyết từ chiếc hộp đặt trên mái lều. Mùi vị ấy là một phần trong ký ức của mình cảm nhận về tuyết. Mình mừng vì có nhiều thú vui khác bên cạnh việc trượt tuyết, mình sung sướng vì đã rời xuống, đi xa những ngọn núi cao, trải rộng, không thực; để về thung lũng vào buổi sáng tháng Năm này.
Chủ quán ngồi trước cổng vòm, ghế ông ta tựa vào tường. Tay đầu bếp ngồi cạnh ông.
“Xin chào những vận động viên trượt tuyết”, chủ quán nói.
“Xin chào!” bọn tôi đáp rồi dựng thanh trượt vào tường và bỏ ba lô xuống.
“Trên ấy thế nào?” chủ quán hỏi.
“Rực rỡ, nắng hơi gắt”.
“Ừ, thời điểm này trong năm, trời rất nóng”.
Tay đầu bếp vẫn ngồi trên ghế. Chủ quán theo chúng tôi bước vào, mở khóa phòng ông, mang thư từ của chúng tôi ra. Có cả một bó thư và vài tờ báo.
“Bọn mình gọi bia đi”, John nói.
“Được đấy. Chúng ta sẽ uống trong này”.
Chủ quán đưa đến hai chai, bọn tôi uống trong lúc đọc thư.
“Bọn mình nên uống thêm mấy chai nữa”, John nói.
Lần này, cô phục vụ mang bia ra. Cô mỉm cười lúc mở bia.
“Nhiều thứ quá”, cô nói.
“Vâng, khá nhiều”.
“Xin mời”, cô nói rồi xách mấy chiếc vỏ đi.
“Tớ đã quên bẵng mùi bia”.
“Tớ thì không”, John nói. “Lúc nằm trong lều ở trên ấy, tớ luôn nghĩ về nó".
“Ồ”, tôi nói, “bây giờ chúng mình thưởng thức”.
“Cậu không nên bỏ một món gì đó quá lâu.”
“Đúng. Bọn mình ở trên ấy khá lâu.”
“Rõ quá là lâu”, John nói. “Chẳng tốt lành gì khi dốc hết thời gian để làm mỗi một việc”.
Mặt trời chiếu qua khung cửa sổ để ngỏ, rọi đến mấy chai bia trên bàn. Chúng chỉ còn một nửa. Trong chai, bia sùi lớp bọt mỏng bởi được ướp rất lạnh. Nó sủi bọt nhiều hơn khi bạn rót ra những chiếc ly cao. Tôi nhìn qua cửa sổ xuống con đường trắng toát. Cây cối bên lề đường phủ đầy bụi. Đằng sau là cánh đồng xanh rờn và dòng suối. Dọc theo suối, rừng cây mọc dày và có cả nhà máy cưa với cái guồng nước. Nhìn qua đầu hồi để trống của nhà máy, tôi thấy một cây gỗ lớn và lưỡi cưa đang xẻ. Dường như chẳng có ai ở đó. Trên cánh đồng xanh biếc, bốn con quạ đang bước đi. Một con đậu trên cây quan sát. Ngoài cổng, tay đầu bếp nhổm dậy khỏi ghế, đi dọc hành lang, vào bếp. Trong quán, ánh nắng chiếu xuyên qua mấy chiếc cốc trên bàn. Joln gục đầu gối lên cánh tay.
Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy hai người đàn ông bước lên bậc thềm phía trước. Họ đi vào gian giải khát. Một người là gã nông dân để râu, đi ủng cao cổ. Người kia là lão trông nghĩa địa. Họ ngồi vào bàn cạnh cửa sổ. Cô phục vụ bước đến, đứng cạnh bàn. Gã nông dân dường như không nhìn cô. Gã ngồi để tay lên bàn. Gã mặc bộ đồ lính đã cũ, khuỷu tay bị sờn.
“Gọi gì đây?” người trông nghĩa trang hỏi. Gã nông dân chẳng mảy may để ý. “Anh uống gì?”
“Schnapps” gã nông dân đáp.
“Và một phần tư lít vang đỏ”, người coi nghĩa trang bảo cô gái.
Cô gái mang thức uống ra, gã nông dân uống ly schnapps. Gã nhìn qua cửa sổ. Người coi mộ quan sát gã. John gục đầu xuống bàn. Cậu ngủ say.
Chủ quán đi lại và bước gần bàn. Ông nói bằng tiếng địa phương, người coi mồ trả lời. Gã nông dân nhìn ra cửa sổ. Chủ quán bỏ ra khỏi phòng. Gã nông dân đứng dậy, lấy tờ bạc mười ngàn kronen ra khỏi ví da, trải nó ra. Cô gái bước đến.
“Thanh toán hả?” cô hỏi.
“Thanh toán”, gã đáp.
“Để tôi trả tiền rượu vang”, người coi mồ nói.
“Thanh toán”, gã nông dân nhắc cô gái. Cô cho tay vào trong túi tạp dề, vốc ra một nắm tiền đồng, đếm trả số tiền thừa. Gã nông dân bước khỏi cửa. Ngay khi hắn đi, chủ quán lại vào phòng nói chuyện với người trông mộ. Ông ngồi cạnh bàn. Họ dùng tiếng địa phương. Người coi mồ có vẻ thích chí. Chủ quán thì ghê tởm. Người coi mồ đứng dậy - thân hình nhỏ bé, để ria mép, - chồm qua cửa sổ, cúi nhìn xuống đường.
“Đấy, hắn vào rồi”, lão nói.
“Vào Lowen?”
“Ừ”
Họ nói chuyện trở lại, rồi chủ quán đi về phía bàn chúng tôi. Chủ quán cao và già. Ông nhìn John đang ngủ.
“Cậu ấy hơi mệt”.
“Vâng, bọn cháu đi từ lúc sáng sớm”.
“Các cậu muốn ăn ngay chứ?”
“Lúc nào cũng được”, tôi đáp. “Bác có gì ăn?”
“Bất cứ món gì cậu thích. Cô phục vụ sẽ đưa thực đơn đến”.
Khi cô gái mang thực đơn tới, John thức giấc. Thực đơn được viết bằng mực trên giấy cứng, lồng trong khung gỗ.
“Có món speise - karte”, tôi bảo John. Cậu ta nhìn vào thực đơn nhưng hãy còn ngái ngủ.
“Bác có thể ngồi uống với bọn cháu chứ?” tôi mời chủ quán. Ông ngồi xuống.
“Đám nông dân ấy thật man rợ”, chủ quán nói.
“Chúng cháu thấy một người dự đám tang trong thị trấn”.
“Người quá cố là vợ gã”.
“Ồ”.
“Hắn là đồ súc vật. Cả lũ nông dân ấy cũng là đồ súc sinh”.
“Chuyện gì vậy hở bác?”
“Các cậu không thể tưởng tượng được đâu. Cậu chẳng thể nào tin câu chuyện đã xảy ra với con người xấu số ấy”.
“Kể bọn cháu nghe đi”.
“Cậu chẳng thể nào tin được”, Chủ quán nói với người coi mồ. “Franz đến đây”. Lão bước đến, tay xách theo chai vang nhỏ và cái ly.
“Quý khách đây vừa mới từ Wiesbadenerhutte xuống”, chủ quán nói. Chúng tôi bắt tay.
“Bác uống gì?” tôi hỏi.
“Không uống”, Franz xua xua tay.
“Một phần tư lít nữa nhé?”
“Thôi cũng được”.
“Cậu có hiểu phương ngữ không?” chủ quán hỏi.
“Dạ, không ạ”.
“Chuyện gì vậy?” John hỏi.
“Bác ấy sắp kể cho chúng ta nghe chuyện của người nông dân bọn mình thấy đào đất đắp mộ lúc vào thị trấn”.
“Nhưng, tớ không thể hiểu”, John nói. “Nhanh quá”.
“Gã nông dân đó”, chủ quán nói, “hôm nay làm lễ tang cho vợ. Cô ta chết từ tháng Mười một năm ngoái”.
“Tháng Mười hai”, người trông mộ sửa lại.
“Chẳng có gì khác cả. Vậy thì cô ta chết vào tháng Mười hai năm ngoái, và hắn đã báo cho xã”.
“Ngày 18 tháng 12”, người trông mộ nói.
“Dẫu sao thì hắn cũng không thể mai táng cô ấy cho đến khi tuyết tan”.
“Hắn sống ở khu bên kia Paznaun”, người coi mồ nói. “Nhưng vẫn thuộc xứ đạo này.”
“Anh ta chẳng thể nào xoay xở để an táng cô ấy ư?” tôi hỏi.
“Không thể. Hắn chỉ có thể đi lại từ nơi hắn ở đến đây bằng ván trượt cho đến lúc tuyết tan. Hôm nay, hắn đưa vợ đi chôn và linh mục, khi nhìn mặt cô ấy đã không muốn làm lễ mai táng. Chú kể tiếp đi”, ông bảo người trông mộ. “Nói tiếng Đức chứ không dùng phương ngữ”.
“Trông linh mục thực buồn cười”, người coi mồ nói. “Theo báo cáo của xã, cô ấy chết vì bệnh tim. Chúng tôi biết cô ta mắc bệnh tim. Đôi lúc trong buổi lễ, mặt cô ta tái mét. Từ lâu, cô không đến nhà thờ. Cô không đủ sức leo núi. Khi linh mục mở tấm chăn che mặt cô ta ra, cha hỏi Olz, “Vợ con có đau đớn lắm không?” “Không”, Olz đáp. “Lúc con về nhà cô ấy đã chết, nằm vắt qua giường”.
“Cha nhìn mặt cô ấy lần nữa. Cha không muốn nhìn”.
“Sao mặt vợ con lại ra nông nỗi này?”
“Con không biết”, Olz trả lời.
“Tốt hơn hết con phải thành thật nói ra”, cha khuyên rồi đắp tấm chăn trở lại. Olz im lặng. Cha nhìn hắn. Olz nhìn cha. “Cha thực muốn biết sao?”
“Cha phải biết”, linh mục nói.
“Đây là đoạn hay hớm nhất”, chủ quán nói, “Hãy lắng nghe. Kể tiếp đi Franz”.
“Được”, Olz nói. “Khi cô ấy mất con đã viết báo cáo gởi lên xã rồi con đặt cô ấy vào nhà kho, nằm vắt ngang trên đầu cây gỗ lớn. Lúc con bắt đầu dùng đến cây gỗ đó, cô ấy đã cứng, con dựng tựa vào tường. Miệng cô ấy há ra, rồi khi xuống kho vào buổi tối để cưa cây gỗ, con treo chiếc đèn lồng lên miệng cô ấy”.
“Tại sao con lại làm như thế?” Cha hỏi.
“Con làm việc ấy nhiều lần có phải không?”
“Mỗi lần con phải làm việc trong nhà kho vào buổi tối”.
“Việc làm đó thật tội lỗi”, cha nói. “Con có yêu vợ con không?”
“Vâng con yêu cô ấy”, Olz nói. “Con rất yêu cô ấy!”
“Các cậu nghe rõ cả chứ?” chủ quán hỏi. “Các cậu đã hiểu tất cả về vợ hắn chưa?”
“Cháu hiểu”.
“Ăn gì đây?” John hỏi.
“Tùy cậu”, tôi đáp. “Theo bác, chuyện ấy có thật không?” Tôi hỏi chủ quán.
“Chắc chắn thật”, ông đáp. “Lũ nông dân ấy là đồ súc sinh”.
“Bây giờ anh ta đi đâu?”
“Hắn đến uống ở Lowen - quán của đồng nghiêp bác”.
“Hắn không thích uống với tôi”, người coi mộ nói.
“Hắn không muốn uống với tôi, sau khi hắn hiểu chuyện đã xảy ra với vợ hắn”, chủ quán nói.
“Nào”, John nói. “Có ăn không đây?”
“Được rồi”, tôi đáp.

Lê Huy Bắc dịch
0
Hôm nay thứ Sáu

Ba người lính La Mã ngồi trong quán rượu vào lúc mười một giờ tối. Nhiều chiếc thùng được xếp quanh tường. Tay bán rượu người Do Thái ngồi sau quầy gỗ. Ba người lính La Mã hơi say.
Lính La Mã thứ nhất - Mày đã thử vang đỏ chưa?
Lính thứ hai - Chưa, tao chưa thử.
Lính thứ nhất - Mày nên thử thì tốt hơn.
Lính thứ hai - Thôi được, George cho bọn tao một chầu vang đỏ.
Tay bán hàng người Do Thái - Xin mời quý ông. Các ông sẽ thích cho mà xem. (Y đặt cái bình gốm đã được rót đầy từ một trong mấy cái thùng xuống). Đây là loại vang nhẹ, tuyệt hảo.
Lính thứ nhất - Mời mày uống một ly. (Anh ta quay sang người lính La Mã thứ ba đang gục lên thùng rượu). Mày có chuyện gì vậy?
Lính La Mã thứ ba - Tao bị đau bụng.
Lính thứ hai - Mày đã uống phải nước lã rồi.
Lính thứ nhất - Nem tí vang đỏ xem.
Lính thứ ba - Tao không thể nào uống được cái thứ chết tiệt ấy. Nó khiến bụng tao bị chua.
Lính thứ nhất - Mày đã xa đây quá lâu.
Lính thứ ba - Mẹ kiếp, tao chẳng biết có phải thế không?
Lính thứ nhất - Này George, mày không thể kiếm cho quý ông đây thứ gì để xoa dịu cái dạ dày ấy được sao?
Tay bán hàng người Do Thái - Tôi có ngay đây.
(Người lính La Mã thứ ba nếm cốc nước mà tay bán hàng pha cho anh ta).
Lính thứ ba - Mày, mày pha cái gì trong này vậy, khoai tây rán vàng hả?
Tay bán hàng - Ông uống ngay đi, thưa trung úy. Cái ấy sẽ khiến ông hết đau.
Lính thứ ba - Nhưng, tao chưa từng nếm thứ nào tệ hơn.
Lính thứ nhất - Cứ thử xem. Hôm nọ, George đã chữa cho tao hết đau.
Tay bán hàng - Ông bị nặng lắm, thưa trung úy. Tôi biết cách chữa lành chứng đau dạ dày nặng này.
(Người lính La Mã thứ ba uống cạn cốc nước).
Lính thứ ba - Lạy Chúa. (Anh ta nhăn mặt).
Lính thứ hai - Thật khéo vờ!
Lính thứ nhất - Ồ, tao không biết. Hôm nay trông hắn rất cừ ở đấy đấy.
Lính thứ hai - Tại sao hắn không rời khỏi thập tự giá nhỉ?
Lính thứ nhất - Hắn chẳng muốn rời khỏi thập tự giá đâu. Bởi nơi khác không phải là cuộc chơi của hắn.
Lính thứ hai - Chỉ tao xem cái gã không muốn rời khỏi thập tự giá ấy nào.
Lính thứ nhất - À, mẹ kiếp, mày chẳng hiểu tí nào về chuyện ấy. Hỏi George xem. Hắn có muốn rời bỏ thập tự giá không hả George?
Tay bán hàng - Thưa ông, tôi không ra ngoài ấy. Vả lại, đấy là điều mà tôi chẳng quan tâm mảy may.
Lính thứ hai - Nghe này, tao đã từng thấy cả đám chúng nó - ở nơi này và nhiều nơi khác. Nếu mày chỉ cho tao cái đứa không muốn rời khỏi thập tự giá thì bất cứ lúc nào khi có cơ hội - khi cơ hội đến, ý tao là - tao sẽ leo tuốt lên đấy với hắn.
Lính thứ nhất - Tao nghĩ hôm nay hắn rất dũng cảm đấy.
Lính thứ ba - Hắn ta, rõ rồi.
Lính La Mã thứ hai - Bọn mày chẳng hiểu điều tao đang nói. Tao không bình luận hắn can đảm hay hèn nhát. Những gì tao muốn nói là nếu cơ hội đến. Khi bọn chúng đóng cái đinh đầu tiên vào hắn, thì chẳng một đứa nào trong đám ấy, dẫu có thể, cũng không tài nào dừng lại được.
Lính thứ nhất - Mày không nghe chuyện à George.
Tay bán hàng - Không, tôi chẳng quan tâm gì đến nó thưa trung úy.
Linh thứ nhất - Tao kinh ngạc bởi cách hắn xử sự.
Lính thứ ba - Món mà tao không thích là lúc chúng đóng đinh vào. Bọn mày biết đó, điều ấy hẳn làm người ta đau đớn lắm.
Lính thứ hai - Đấy chưa phải là điều quá tệ, cái làm người ta đau đớn nhất khi họ bắt đầu dựng cây thập tự lên. (Anh ta ngửa hai bàn tay phác điệu bộ bị kéo lên). Rồi trọng lượng bắt đầu kéo xuống. Hai bàn tay sẽ nhức nhối.
Lính La Mã thứ ba - Nó làm vài người trong số chúng đau lắm.
Lính thứ nhất - Tao mà không hiểu điều ấy sao? Tao đã từng chứng kiến cả lô cả lốc bọn chúng. Tao bảo mày, hôm nay hắn rất cừ ở đấy.
(Người lính La Mã thứ hai mỉm cười với tay bán hàng người Do Thái).
Lính thứ hai - Mày là một tín đồ Thiên Chúa giáo chính hiệu, anh chàng lớn xác à.
Lính thứ nhất - Đương nhiên, cứ tiếp tục giễu hắn đi. Nhưng hãy lắng nghe trong lúc tao đang nói cái gì đó. Hôm nay ở đấy hắn cừ thật.
Lính thứ hai - Ta dùng thêm tí rượu nữa chứ?
(Tay bán rượu nhìn với vẻ hy vọng. Người lính La Mã thứ ba ngồi gục đầu xuống. Trông anh ta không được khỏe).
Lính thứ ba - Tao chẳng uống nữa đâu.
Lính thứ hai - Chỉ hai suất, George.
(Tay bán rượu lấy ra một bình rượu vang, cỡ nhỏ hơn cái bình lần trước. Y cúi người qua quầy rượu bằng gỗ).
Lính La Mã thứ nhất - Mày đã thấy cô gái của hắn chưa?
Lính thứ hai - Tao không từng đứng cạnh cô ta rồi đó sao?
Lính thứ nhất - Trông cô ấy thực dễ thương.
Lính thứ hai - Tao quen cô ta trước lúc hắn quen (Anh ta nháy mắt với tay bán rượu).
Lính thứ nhất - Tao thường thấy cô ấy loanh quanh trong thành phố.
Lính thứ hai - Cô ta có nhiều tiền lắm. Hắn chớ nên bám cô ta, chẳng mảy may gì đâu.
Lính thứ nhất - Ồ, hắn xúi lắm. Nhưng đối với tao, hôm nay trông hắn rất cừ.
Lính thứ hai - Thế còn nhóm của hắn.
Lính thứ nhất - Ồ, cả một lũ chết rấp. Chỉ có phụ nữ mới chịu đựng được cùng hắn.
Lính La Mã thứ hai - Chúng là một lũ vàng như nghệ. Khi chúng thấy hắn lên đấy, chúng chẳng muốn tí nào.
Lính thứ nhất - Phụ nữ chịu đựng rất giỏi.
Lính thứ hai - Đuơng nhiên, họ chịu đựng giỏi lắm.
Lính La Mã thứ nhất - Mày có thấy tao đâm ngọn giáo cũ vào hắn không?
Lính La Mã thứ hai - Rồi có ngày mày sẽ gặp rắc rối vì hành động như thế.
Lính thứ nhất - Đấy là ơn huệ cuối cùng tao có thể làm cho hắn. Tao đã bảo mày, đối với tao hôm nay ở đây hắn cừ thật.
Tay bán rượu vang người Do Thái - Xin lỗi các ông, đã đến giờ tôi phải đóng cửa.
Lính La Mã thứ nhất - Bọn tao sẽ còn uống thêm một chầu nữa.
Lính La Mã thứ hai - Phỏng có ích gì? Cái thứ này chẳng đưa mày đến đâu đâu. Thôi nào, ta đi thôi.
Lính thứ nhất - Thêm một chầu nữa.
Lính La Mã thứ ba - (Đang rời thùng rượu đứng dậy). Thôi đừng uống nữa. Ta đi thôi. Tối nay tao cảm thấy tồi tệ quá.
Lính thứ nhất - Chỉ một chầu nữa thôi.
Lính thứ hai - Không, đi thôi. Bọn tao đi đây. Tạm biệt George. Ghi cả vào hóa đon.
Tay bán hàng - Tạm biệt các ông (Y có vẻ hơi lo lắng). Ông không thể trả tôi một ít được sao, thưa trung úy?
Lính La Mã thứ hai - Quái quỷ thật, George! Thứ Tư là ngày phát lương.
Tay bán hàng - Thôi được, thưa trung úy. Tạm biệt quý ông.
(Ba người lính La Mã ra khỏi cửa, xuống đường).
(Đứng trên đường).
Lính La Mã thứ hai - George là một tên Do Thái giống hệt như cả tập đoàn Do Thái nhà nó.
Lính La Mã thứ nhất - Ồ, George dễ thương đấy chứ?
Lính thứ hai - Tối nay với mày ai mà lại chẳng dễ thương.
Lính La Mã thứ ba - Đi thôi, bọn ta về trại đi. Tối nay tao cảm thấy tởm quá.
Lính thứ hai - Mày đã đi khỏi nơi này quá lâu.
Lính La Mã thứ ba - Không, không chỉ vì thế đâu. Tao cảm thấy tởm quá.
Lính thứ hai - Mày đã đi khỏi đây lâu quá. Tất cả chỉ có thế.
MÀN HẠ
 
Lê Huy Bắc dịch
0
Chuyện phiếm

Thế là anh ăn một quả cam, từ từ nhả hạt. Bên ngoài, tuyết đang chuyển thành cơn mưa. Trong nhà, lò sưởi điện dường như không còn nhiệt, anh rời bàn viết. Thật dễ chịu làm sao! Thế đấy, rốt cuộc rồi cuộc đời cũng chỉ là thế.
Anh lấy một quả cam nữa. Nơi Paris xa kia, Mascart đã đấm Danny Frush quay mòng mòng ở hiệp thứ hai. Còn ở Mesopotamia, bảy mét tuyết dày lở xuống. Phía bên kia địa cầu, tại nước Úc, Đội critkít của Anh đang cố giữ khung thành. Lại còn cả câu chuyện tình lãng mạn nữa chứ?
Những Mạnh Thường Quân cho văn học nghệ thuật xuất hiện trên tờ Diễn đàn anh đang đọc. Đấy là nhà nâng đỡ, bậc quân tử, bạn của những tài năng khốn đốn. Những truyện ngắn đoạt giải - liệu nay mai các tác giả ấy có viết những tác phẩm bestseller [1].
Người ta sẽ thích những câu chuyện Mỹ đơn giản, xúc động này, những câu chuyện bao gồm các sự kiện trong đời sống thực của một nông trại thoáng đãng của một chung cư đông đúc hoặc một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi, được kể bằng chất giọng châm biếm ngầm, bất tận.
Mình phải đọc chúng, anh nghĩ.
Anh tiếp tục đọc. Con của chúng ta - chúng là gì nhỉ? Chúng là ai? Nhiều giải pháp hẳn sẽ được đưa ra nhằm để kiếm đủ không gian cho nhân loại tồn tại dưới ánh mặt trời. Người ta sẽ giải quyết bằng chiến tranh hay bằng những giải pháp hòa bình?
Hoặc tất cả chúng ta phải chuyển đến Canada?
Niềm tin sâu sắc nhất của chúng ta? - Liệu khoa học sẽ làm rối tung lên? Nền văn minh của chúng ta - nó có làm ảnh hưởng đến trật tự của vạn vật đã tồn tại bền vững từ bao đời nay?
Và trong khi đó, tại những cánh rừng mưa ở Yuca tan xa xôi, âm thanh từ những chiếc rìu của các tay thợ sơn tràng đẵn gỗ bạch đàn không ngớt vang lên.
Chúng ta cần những con người to xác - hay cần tri thức của họ? Hãy nghĩ về Joyce. Nghĩ về Tổng thống Coolidge. Ngôi sao nào sinh viên đại học của chúng ta tôn làm thần tượng? Có Jack Briton. Có tiến sĩ Henry Van Dyke. Chúng ta có thể dung hòa được hai người chăng? Hãy nghĩ về Cánh Trẻ.
Và bằng cách nào để con gái chúng ta thực hiện Sự Thăm Dò của chúng? Nancy Hawthorne bị bắt buộc phải tiến hành Sự Thăm Dò của chính mình giữa biển đời. Can đảm và nhạy cảm, cô đương đầu trước những gian nan đến với các cô gái tuổi mười tám.
Đấy là một cuốn sách tuyệt vời.
Bạn có phải là một cô gái mười tám tuổi không? Chẳng hạn như trường hơp Joan of Arc. Chẳng hạn như Bernard Shaw. Chẳng hạn như Betsy Ross.
Hãy nghĩ về những vấn đề này vào 1925. Liệu có một trang suồng sã nào giữa những dòng lịch sử Thanh giáo không? Liệu Pocahontas có hai mặt không? Và bà ta có chiều thứ tư chứ?
Còn hội họa thơ nghệ thuật hiện đại? Có và không. Đơn cử Picasso.
Những kẻ lang thang có nguyên tắc kiếm sống chứ? Hãy để tâm trí bạn phiêu du.
Nơi nào cũng có những câu chuyện tình lãng mạn. Các nhà văn của tờ Diễn Đàn, bàn về điểm này, được sở hữu một gia tài châm biếm và thông thái. Nhưng họ không cố tỏ ra mình là người hiểu biết và chẳng bao giờ phát biểu một cách dài dòng, chán ngắt.
Hãy sống một cuộc đời đầy ắp những suy tư và hãy vui vì những ý tưởng mới, ngất ngây bởi những câu chuyện lãng mạn về những sự kiện lạ thường. Anh đặt cuốn sách xuống.
Và trong khi đó, nằm bẹp trên giường với ống cao su đút vào phổi trong căn phòng tối tại nhà mình ở Triana. Manuel Garcia Maera bị quật ngã bởi bệnh viêm phổi. Tất cả các tờ báo ở Andalucia đều ưu tiên đăng những sự kiện đặc biệt về cái chết được tính sẽ đến với anh ta trong vài hôm nữa. Cánh đàn ông mua những tấm hình chụp cả người anh ta để giữ làm kỷ niệm và in hình ảnh ấy vào ký ức bằng cách nhìn tờ in thạch bàn. Đám võ sĩ đấu bò rất buồn khi anh ta qua đời bởi trên trường đấu, anh thường xuyên thực hiện những động tác mà họ ít khi làm được sau quan tài anh rồi một trăm bốn mươi bảy đấu sĩ đưa anh đến nghĩa địa, nơi họ mai táng anh bên cạnh mộ Joselito. Sau tang lễ, mọi người ngồi tránh mưa trong tiệm cà phê, rồi rất nhiều tấm hình màu của Maera được đưa bán, họ mua, cuộn lại, hờ hững đút vào túi.

Lê Huy Bắc dịch
-----------------------
[1] Sách bán chạy.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 14:20:08 bởi casau>
Bây giờ tôi nằm nghỉ


Đêm hôm đó chúng tôi nằm trên sàn, trong căn phòng và tôi lắng nghe tiếng tằm ăn. Những chú tằm ăn lá trong máng; cả đêm người ta có thể nghe thấy chúng gặm đều đều lên lá. Chính tôi không muốn ngủ bởi vì tôi phải sống trong một thời gian dài với ý nghĩ rằng - nếu bao giờ tôi phải nhắm mắt trong bóng đêm và nếu tôi không tự kiềm chế được thì linh hồn tôi sẽ rời bỏ thể xác. Tôi đã phải thức như thế trong một thời gian dài, kể từ khi bị bom vùi trong đêm và cảm thấy linh hồn đi ra khỏi thể xác mình, biến mất rồi sau đó quay trở lại. Tôi cố không nghĩ đến điều đó nhưng hằng đêm nó lại cứ chực ra đi, vào lúc giấc ngủ vừa thiu thiu đến và tôi chỉ có thể ngăn nó lại bởi một sự cố gắng phi thường. Đến bây giờ tôi đã hoàn toàn chắc chắn rằng linh hồn sẽ không ra đi nữa; nhưng lúc ấy, vào mùa hè đó, tôi chằng dại gì mà đi làm thí nghiệm về chuyện ấy.
Tôi có nhiều cách khác nhau để chế ngự bản thân trong khi nằm thức. Tôi sẽ nghĩ về dòng suối cá hồi nơi tôi đã từng câu thuở còn là một chú nhóc và cá là toàn bộ những gì còn lại rất rõ rệt trong ký ức tôi; thận trọng câu cá bên dưới các khúc gỗ, quanh những bờ lượn cong, những vũng nước sâu, những dải đất nông sạch sẽ, đôi khi tôi bắt được cá hồi, nhưng thỉnh thoảng lại để mất. Đến trưa tôi ngừng câu để ăn trưa; thỉnh thoảng ngồi trên một khúc gỗ vắt trên dòng suối, có lúc lại ngồi trên bờ suối cao dưới một gốc cây, tôi thường ăn trưa rất chậm và trong khi ăn tôi ngắm dòng suối bên dưới. Tôi thường thiếu mồi bởi vì khi đi tôi chỉ mang theo có mười con giun đựng trong vỏ bao thuốc lá. Khi dùng hết số đó, tôi phải tìm thêm giun và đôi khi rất khó đào vào bờ đất của con suối, ở đó những cây tuyết tùng che khuất ánh mặt trời, không có cỏ mọc, chỉ có mặt đất trống không, ẩm nứt và tôi thường không kiếm được giun. Tuy thế, tôi vẫn hay tìm được vài loại mồi khác, vậy mà có dạo ở đầm lầy tôi đã không kiềm được chút mồi nào nên phải cắt nhỏ một chú cá hồi mà tôi đã bắt, để làm mồi câu.
Thỉnh thoảng tôi tìm thấy côn trùng ở trong đám cỏ đầm lầy, trong cỏ hoặc dưới những cây dương xỉ, và dùng chúng. Đó là những con bọ cánh cứng hay lũ côn trùng, có những cái chân như cong cỏ và những ấu trùng ở trong khúc gỗ cũ đã mục nát; đám ấu trùng trắng với những cái đầu màu nâu ngọ ngoạy đó không bám lưỡi câu bởi ruột chúng sẽ bị tan trong làn nước lạnh; cả những con ve gỗ ở dưới khúc cây nơi mà thỉnh thoảng tôi tìm thấy giun mồi nhưng chúng chui vào trong lòng đất ngay khi khúc gỗ vừa được nâng lên. Một lần tôi đã bắt một con kỳ giông ở dưới một khúc cây mục làm mồi. Chú kỳ giông đó rất nhỏ, sạch sẽ, linh lợi và có màu rất dễ thương. Chú đưa bàn chân bé xíu, cố giữ chặt lấy lưỡi câu, sau lần ấy tôi chẳng dùng mồi kỳ giông nữa mặc dù tôi thường xuyên tìm thấy chúng. Tôi không dùng dế bởi vì cái cách chúng cưỡng lại chiếc lưỡi câu.
Đôi chỗ, dòng suối chạy xuyên qua bãi cỏ rộng, trên bãi cỏ khô ráo ấy tôi bắt châu chấu và lấy chúng làm mồi nhưng thỉnh thoảng tôi bắt châu chấu để rồi ném xuống dòng suối, xem chúng bơi lềnh bềnh dọc theo con suối, xoáy tròn trên mặt nước khi dòng nước cuốn đi và sau đó biến mất bởi một chú cá hồi đã ngoi lên đớp. Thỉnh thoảng trong đêm, tôi còn đi câu ở bốn năm dòng suối khác nhau; bắt đầu từ nơi gần nguồn suối nhất, tôi câu cá xuôi theo dòng. Khi tôi đi hết đoạn suối và thời gian vẫn còn, tôi sẽ lại câu tiếp, bắt đầu từ nơi dòng suối đổ ra hồ rồi câu ngược lên, cố tìm lại số cá hồi mà tôi đã để tuột mất. Nhưng cũng có nhiều đêm, tôi mường tượng ra quá nhiều suối, vài con suối trong số đó rất sống động, nó như thể hiện lên giữa cảm giác thực và trạng thái mơ hồ. Tôi vẫn còn nhớ một trong số các dòng suối đó và nghĩ rằng tôi đã từng câu cá ở đấy, rồi những con suối lẫn lộn với các con suối khác mà tôi biết rõ. Tôi đã đặt tên cho tất cả những dòng suối và đi đến chỗ chúng bằng tàu hỏa, nhưng thỉnh thoảng tôi đi bộ nhiều dặm để đến đó.
Nhưng nhiều đêm tôi không thể câu cá, vào những đêm đó tôi thức trắng, đọc đi đọc lại bài kinh cầu nguyện cho mình và cố gắng cầu nguyện cho tất cả những người tôi quen biết. Điều đó chiếm một khoảng thời gian rất lớn, vì rằng nếu bạn cố nhớ tất cả những người mà bạn từng biết, trở lại với những kỷ niệm xa xưa nhất mà bạn còn nhớ - cái đó, đối với tôi, là căn phòng áp mái của ngôi nhà nơi tôi đã được sinh ra và cha mẹ tôi đặt bánh cưới trong chiếc hộp thiếc treo trên rui nhà, và, trong căn phòng đó, những chiếc bình đựng rắn, những mẫu vật thí nghiệm khác mà cha tôi sưu tầm từ khi hãy còn là một cậu bé và đã bảo quản chúng trong cồn, cồn được đổ đầy bình nên những cái lưng của các con rắn và những mẫu vật xét nghiệm bị chuyển sang màu trắng - nếu bạn nghĩ về khoảng thời gian xa xưa như thế thì bạn sẽ nhớ được rất nhiều người. Nếu bạn cầu nguyện cho tất cả bằng cách đọc lời kinh Hail Mary và Ouriather cho mỗi người, thì sẽ mất nhiều thời gian và cuối cùng trời sẽ sáng, rồi bạn có thể ngủ; nếu bạn ở một nơi mà có thể ngủ ngày.
Vào những đêm đó, tôi cố nhớ tất cả những gì đã xảy ra đối với tôi, bắt đầu từ trước khi tôi đi chiến đấu và hồi tưởng từ việc này tới việc kia. Tôi thấy tôi chỉ có thể nhớ lại đến cái phòng áp mái ở nhà ông nội tôi. Rồi tôi bắt đầu từ đó và nhớ lại những hình ảnh ấy một lần nữa cho tới khoảng thời gian tôi tham gia chiến đấu.
Tôi nhớ sau khi ông tôi mất, chúng tôi rời ngôi nhà đó, chuyển đến một ngôi nhà mới, được mẹ tôi thiết kế và xây dựng. Nhiều thứ ở đó không chuyển đi được đã được đốt ở sân sau và tôi còn nhớ những chai lọ ở căn phòng áp mái ấy đã được quẳng vào lửa, chúng nổ lốp bốp bởi hơi nóng và bốc cháy bởi cồn. Tôi còn nhớ cả những con rắn bị cháy trong lửa ở sân sau. Không có ai ở đó, chỉ có đồ đạc. Tôi không thể nhớ ai đã đốt những thứ đó, rồi tôi tiếp tục hồi tưởng cho đến con người và dừng lại, cầu nguyện cho họ.
Về nhà mới, tôi nhớ cách mẹ tôi luôn lau chùi đồ đạc và làm cho chúng sáng bóng lên. Một lần, khi cha tôi lên đường trong một chuyến đi săn, mẹ đã làm một cuộc tẩy rửa hoàn hảo bên trong tầng hầm và đốt tất cả những thứ không còn dùng được nữa. Khi cha tôi về đến nhà, bước xuống khỏi chiếc xe độc mã của ông và giật mạnh con ngựa, ngọn lửa vẫn còn đang cháy ở con đường bên cạnh nhà. Tôi đi ra đón ông. Ông đưa cho tôi khẩu súng săn của mình và nhìn vào đống lửa.
“Cái gì vậy?” ông hỏi.
“Em đã dọn dẹp tầng hầm đấy, anh yêu ạ”, mẹ tôi nói từ hành lang. Bà đứng đó, mỉm cười đón ông. Cha tôi nhìn vào đống lửa và sững người vì cái gì đó. Rồi ông cúi xuống bới một vài thứ ra ngoài đống tro.
“Nick lấy cái cào ra đây”, ông nói với tôi. Tôi vào tầng hầm, mang cái cào ra, cha tôi đã cào rất cẩn thận trong đống tro. Ông cào ra ngoài những chiếc rìu đá, những con dao lột da bằng đá, những dụng cụ để làm đầu mũi tên, những mẩu gốm và những đầu mũi tên. Tất cả đã bị xém đen và sứt mẻ vì lửa. Cha tôi cào những thứ đó ra ngoài rất cẩn thận và trải chúng lên bãi cỏ bên đường. Khẩu súng săn của ông trong bao da và mấy cái túi săn nằm trên cỏ, nơi ông đã để lại khi xuống xe ngựa.
“Nick cầm súng, túi vào trong nhà, và mang cho bố tờ báo nhé”, ông nói. Mẹ tôi đã vào trong nhà. Tôi lấy súng - nó quả là nặng để mang và cứ đập vào chân tôi - và cầm cả chiếc túi săn đi về hướng ngôi nhà. “Mang mỗi lần một thứ thôi”, cha tôi nói. “Đừng có mang quá nhiều trong một lần như vậy” Tôi đặt hai cái túi săn xuống, cầm súng vào và đem ra tờ báo từ chồng báo trong văn phòng của cha tôi. Cha tôi trải tất cả những dụng cụ bằng đá đã bị sém đen và sứt mẻ lên tờ báo rồi gói lại. “Những đầu mũi tên tốt nhất đã bị vỡ cả rồi”, ông nói. Ông đi vào nhà với gói giấy ấy và còn tôi ở ngoài, trên bãi cỏ với hai cái túi săn. Lát sau tôi mang chúng vào. Trong dòng ký ức ấy, tôi nhớ ở đó chỉ có hai người nên tôi cầu nguyện cho cả hai.
Tuy vậy, có nhiều đêm, thậm chí tôi cũng không thể nhớ nổi những bài kinh của mình. Tôi chỉ có thể đọc được cho đến “trên mặt đất cũng như trên thiên đàng” rồi phải bắt đầu trở lại mà hoàn toàn không thể vượt qua được chỗ đó. Khi ấy tôi đành phải chấp nhận rằng mình không thể nhớ được và đành từ bỏ việc cầu nguyện của mình vào đêm đó và cố gắng nhớ những thứ khác. Cứ thế trong nhiều đêm, tôi cố nhớ tên của tất cả các loài vật trên thế giới, những loài chim, loài cá, rồi các quốc gia, thành phố, các loại thức ăn, tên của tất cả các đường phố ở Chicago mà tôi có thể nhớ được, và khi không thể nhớ thêm được một cái gì nữa, tôi chỉ lắng nghe. Và tôi không nhớ một đêm nào đó, người ta lại không thể nghe thấy gì. Nếu có một chút ánh sáng, tôi sẽ không sợ ngủ bởi vì tôi biết linh hồn tôi chỉ rời bỏ thể xác nếu tôi ngủ trong bóng tối. Tuy thế nhiều đêm, tất nhiên là tôi cũng có một chút ánh sáng và thế là tôi ngủ, bởi tôi gần như luôn luôn mệt mỏi và thường xuyên buồn ngủ. Và tôi chắc rằng, những lúc quá buồn ngủ tôi đã ngủ mà không biết đến điều đó, như đêm nay, tôi lắng nghe những chú tằm. Người ta có thể nghe tiếng tằm ăn rất rõ trong đêm, tôi nằm mở mắt chong chong và lắng nghe chúng ăn.
Chỉ có một người nữa ở trong phòng và anh ta cũng thức. Tôi nghe anh ta thức giấc đã lâu. Anh ta không thể nằm yên được như tôi, có lẽ bởi vì anh ta chưa có kinh nghiệm thức. Chúng tôi nằm trên tấm mền trải lên ổ rơm và khi anh ta trở mình, ổ rơm kêu lạo xạo, nhưng những chú tằm không hề sợ, nên bất cứ tiếng động nào chúng tôi gây nên, chúng vẫn ăn đều đều. Có những tiếng động bên ngoài của đêm hậu tuyến, cách mặt trận bảy kilômét nhưng chúng khác biệt với những tiếng động nhỏ trong phòng trong bóng đêm. Người đàn ông kia ở trong phòng đang cố nằm yên lặng. Sau đó anh ta lại trở mình. Tôi cũng trở mình, thế là anh ta biết tôi còn thức. Anh ta đã sống mười năm ở Chicago. Người ta gọi anh nhập ngũ năm 1914 khi anh về thăm nhà, rồi họ chuyển anh đến chỗ tôi để làm lính liên lạc bởi vì anh biết nói tiếng Anh. Tôi thấy anh lắng nghe nên tôi lại dịch người trong chăn.
“Anh không ngủ được sao, thưa trung úy?” anh ta hỏi.
“Phải”.
“Tôi cũng không ngủ được”.
“Anh cảm thấy ổn chứ?”
“Vâng, tôi thấy dễ chịu. Chỉ có điều là tôi không ngủ được”.
“Anh có muốn nói chuyện một lúc không?” tôi hỏi.
“Có chứ. Anh nói đôi điều về cái nơi đáng nguyền rủa này đi”.
“Nơi này thật dễ chịu”, tôi nói.
“Chắc rồi”, anh ta bảo. “Nó được lắm”.
“Nói với tôi về Chicago đi”, tôi bảo.
“Ồ”, anh ta nói. “Tôi đã nói tất cả với anh một lần rồi”.
“Kể tôi nghe chuyện anh lập gia đình đi”.
“Tôi đã kể cho anh rồi”.
“Lá thư anh nhận được vào thứ hai - của cô ấy phải không?”
“Phải. Cô ấy luôn viết thư cho tôi. Cô ấy kiếm bộn tiền với cái chỗ ấy”.
“Anh sẽ có một nơi dễ chịu khi trở về”.
“Chắc thế. Cô ấy điều hành tốt lắm. Cô ấy kiếm được rất nhiều tiền”.
“Anh không nghĩ chúng ta nói chuyện sẽ làm họ thức giấc chứ?” Tôi hỏi.
“Không. Chúng chẳng nghe thấy đâu. Dẫu sao thì chúng cũng ngủ như lợn ấy”. Tôi thì khác, anh ta bảo. “Tôi căng thẳng lắm”.
“Nói khẽ thôi”, tôi nói. “Có hút thuốc không?”
Chúng tôi hút một cách tài tình trong bóng tối.
“Anh đừng hút nhiều, trung úy ạ”.
“Ừ. Tôi vừa mới bỏ bớt rồi”.
“Đúng đấy”, anh ta nói. “Nó không tốt chút nào hết, tôi cho rằng nếu bỏ được thì anh sẽ chẳng nhớ nó nữa đâu. Anh đã bao giờ nghe nói về người mù không hút được thuốc vì anh ta không thấy khói bay ra chưa?”
“Tôi không tin điều đó”.
“Chính tôi cũng nghĩ đó là sự khoác lác”, anh ta nói. “Tôi vừa nghe điều ấy ở đâu đó. Con người ta biết cách nghe mọi chuyện”.
Cả hai chúng tôi cùng yên lặng và tôi lắng nghe tiếng tằm ăn.
“Anh có nghe thấy những con tằm chết tiệt ấy không?” Anh ta hỏi. “Anh có thể nghe thấy tiếng chúng nhai”.
“Thật buồn cười”, tôi nói.
“Nói đi thưa trung úy, có điều gì thực sự quan trọng làm anh không ngủ vậy? Tôi chưa bao giờ thấy anh ngủ cả. Anh chẳng hề ngủ đêm nào kể từ khi tôi ở đây với anh”.
“Tôi không biết, John ạ”, tôi nói. “Tôi rơi vào tình trạng khá tồi tệ suốt từ đầu mùa xuân trước và ban đêm nó làm tôi khó chịu”.
“Tôi cũng vậy”, anh ta nói. “Tôi không muốn lâm vào cuộc chiến tranh này. Tôi quá căng thẳng”.
“Có lẽ điều đó sẽ tốt đấy”.
“Hãy nói đi, thưa trung úy, anh tham dự cuộc chiến này để làm gì?”
“Tôi không biết, John à. Lúc ấy tôi muốn”.
“Muốn gì”, anh ta nói. “Đó là lý do tồi tệ”.
“Chúng ta không nên nói to như thế”, tôi nói.
“Chúng ngủ như lợn”, anh ta bảo. “Dù sao chúng cũng không thể hiểu được tiếng Anh. Chúng có thể biết quái gì đâu. Anh sẽ làm gì khi hết chiến tranh và chúng ta trở về Mỹ?”
“Tôi sẽ làm nghề giấy bút”.
“Ở Chicago?”
“Có thể”.
“Anh đã bao giờ đọc cái gì của anh bạn Brisbane viết chưa? Vợ tôi cắt ra và gửi cho tôi đấy”.
“Đọc rồi”.
“Đã bao giờ anh gặp anh ấy chưa?”
“Chưa, nhưng tôi đã nhìn thấy anh ấy”.
“Tôi thích gặp anh chàng đó. Anh ta là một tay viết khá. Vợ tôi không đọc được tiếng Anh nhưng cô ấy vẫn đặt báo như khi tôi còn ở nhà rồi cắt những bài xã luận, những trang thể thao gửi cho tôi”.
“Sắp nhỏ của anh thế nào?”
“Chúng khỏe cả. Một trong mấy đứa con gái bây giờ đã học lớp bốn. Anh biết không, trung úy, nếu không có sắp nhỏ đó thì tôi sẽ không trở thành lính liên lạc của anh như bây giờ. Người ta luôn bắt tôi ở tuyến trước”.
“Tôi rất mừng vì anh có sắp nhỏ đó.”
“Tôi cũng thế. Chúng là những đứa bé dễ thương nhưng tôi muốn có một đứa con trai. Ba đứa con gái mà không có một thằng con trai nào cả. Đó là một điều tệ hại”.
“Tại sao anh không cố ngủ đi?”
“Không, bây giờ tôi không thể ngủ được. Hiện tại tôi đang tỉnh táo, trung úy ạ. Này, dẫu sao thì tôi cũng lấy làm lo lắng về cái việc không ngủ của anh đấy”.
“Có gì đâu, John”.
“Thử tưởng tượng một anh chàng trẻ tuổi như anh mà lại không ngủ được”.
“Chẳng sao đâu. Nó chỉ là chốc lát thôi”.
“Anh sẽ phải ngủ. Một người đàn ông thì không thể cứ vương vấn mãi một điều gì đó để mất ngủ. Anh lo lắng điều gì vậy? Anh có điều gì bận tâm chăng?”
“Không đâu, John. Tôi không nghĩ thế”.
“Anh nên cưới vợ đi, trung úy ạ. Rồi anh sẽ không phải lo lắng nữa”.
“Tôi không biết”.
“Anh nên cưới vợ. Tại sao anh không chọn vợ trong số mấy cô nàng người Ý xinh đẹp, lắm tiền. Anh có thể chọn bất cứ ai mà anh muốn. Anh là người trẻ tuổi, có nhiều huy chương và trông lại ưa nhìn. Anh đã bị thương đôi lần”.
“Tiếng của tôi chưa đủ khá để nói”.
“Anh nói tốt. Cần quái gì phải nói bằng lời. Anh không phải nói với họ. Hãy cưới họ”.
“Tôi sẽ suy nghĩ về điều này”.
“Anh có biết vài cô gái, phải không?”
“Phải”.
“Vậy thì anh hãy cưới một cô nhiều tiền nhất. Với cái cách dạy dỗ ở đây, cô gái nào cũng sẽ trở thành một người vợ tử tế của anh”.
“Tôi sẽ suy nghĩ về điều đó”.
“Đừng nghĩ nữa, trung úy. Hãy làm đi”.
“Được rồi”.
“Đàn ông nên có vợ. Anh sẽ không bao giở phải hối tiếc điều đó. Tất cả đàn ông nên lấy vợ”.
“Thôi được”, tôi nói. “Ta sẽ cố ngủ đi một lát”.
“Vâng, thưa trung úy. Tôi sẽ cố ngủ lại. Nhưng anh phải nhớ những gì tôi đã nói đấy nhé”.
“Tôi sẽ nhớ”, tôi nói. “Bây giờ ta hãy ngủ đi một lát, John ạ”.
“Vâng”, anh ta nói. “Tôi hy vọng anh cũng ngủ, trung úy ạ”.
Tôi nghe anh cuộn trong tấm chăn của mình trên ổ rơm và rồi anh hoàn toàn yên lặng, tôi nghe anh thở đều đều. Rồi anh bắt đầu ngáy. Tôi nghe anh ngáy một hồi lâu và tôi ngừng nghe anh ngáy để nghe tiếng tằm ăn. Chúng ăn đều đều, gặm từng miếng vào lá. Tôi đã có một việc mới để nghĩ, tôi nằm trong bóng tối, mắt mở chong chong, nghĩ về tất cả các cô gái mà tôi từng biết và hình dung các kiểu vợ mà họ sẽ là. Đó là điều rất thú vị để nghĩ và trong một lát nó tiêu diệt toàn bộ việc câu cá hồi và gây trở ngại cho việc cầu kinh của tôi. Dù sao, cuối cùng tôi cũng trở lại với việc câu cá hồi, bởi tôi thấy rằng tôi có thể nhớ tất cả các con suối và luôn luôn có một điều gì đó mới về chúng, trong khi các cô gái, sau khi tôi đã nghĩ về họ vài phút, đã mờ đi và tôi không thể gợi họ lại trong tâm trí, rốt cục, tất cả họ nhòa đi, tất cả trở nên đúng như cũ, tôi không nghĩ gì về họ nữa. Nhưng tôi vẫn tiếp tục cầu kinh và cứ mãi cầu nguyện trong nhiều đêm cho John và nhóm của anh đã được giải ngũ trước cuộc tấn công vào tháng Mười. Tôi rất mừng bởi anh không có ở đấy bởi anh sẽ phải lo lắng nhiều về tôi. Anh đến bệnh viện Milan để gặp tôi vào tháng sau đó và rất thất vọng về việc tôi không cưới vợ và tôi chắc anh sẽ cảm thấy rất kinh khủng nếu biết rằng đến nay tôi vẫn chưa lấy vợ. Anh sắp trở lại Mỹ và rất tin tưởng ở hôn nhân bởi biết rằng nó sẽ làm mọi thứ dễ chịu.

Đào Thu Hằng dịch
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 20:32:03 bởi casau>
Trên cảng Smyrna

Điều kỳ lạ là, ông ta nói, tại sao chúng thường hét lên vào lúc nửa đêm. Tôi không hiểu là tại sao chúng lại gào thét vào lúc đó. Chúng tôi ở cảng, còn tất cả bọn chúng ở trên bến tàu rồi đến nửa đêm chúng bắt đầu hò hét. Bọn tôi rọi đèn để chúng yên lặng. Mẹo đấy mà. Chúng tôi chiếu đèn pha vào chúng hai, ba lần thế là chúng im bặt. Một dạo khi tôi còn là sĩ quan chỉ huy ở bến tàu, một sĩ quan người Thổ Nhĩ Kỳ có vẻ rất căm phẫn đến gặp tôi bởi vì một thủy thủ của chúng tôi đã sỉ nhục hắn. Thế là tôi bảo hắn gã ấy sẽ bị tống lên thuyền và sẽ bị trừng phạt thật nghiêm khắc. Tôi yêu cầu hắn chỉ rõ kẻ nào. Thế là hắn chỉ vào anh chàng xạ thủ, một đứa vô thưởng vô phạt. Qua người phiên dịch, hắn bảo gã ấy thường xuyên làm nhục hắn. Tôi không thể hình dung nổi làm thế nào mà tay xạ thủ ấy biết đủ tiếng Thổ để xúc phạm hắn. Tôi gọi cậu ta đến và hỏi, “Cậu có nói gì với đám sĩ quan người Thổ Nhĩ Kỳ kia không?”
“Tôi không nói bất kỳ điều gì với ai trong số họ cả, thưa ngài”. “Tôi hoàn toàn chắc chắn điều đó”, tôi nói “nhưng tốt hơn hết là suốt ngày hôm nay cậu lên tàu và chớ có ló mặt lên bờ nữa”.
Sau đó tôi nói với tay Thổ là gã đó đã bị tống lên tàu và sẽ chịu hình phạt nặng nề nhất. Ồ, nghiêm khắc nhất. Hắn cảm thấy hài lòng về điều đó. Tình bạn vĩ đại của chúng tôi ấy mà.
Điều tồi tệ nhất, ông ta nói, là đàn bà và những đứa trẻ đã chết. Người ta không thể buộc đám phụ nữ ấy từ bỏ những đứa trẻ không còn sống của họ. Họ giữ những xác chết suốt sáu ngày. Không chịu bỏ chúng. Người ta chẳng có thể làm được điều gì về chuyện ấy. Cuối cùng thì người ta phải cưỡng bức để lấy xác chết. Dạo ấy có một phu nhân luống tuổi, một trường hợp lạ thường nhất. Tôi kể chuyện đó cho một bác sĩ, ông ta bảo tôi nói dối. Chúng tôi quẳng chúng ra khỏi bến tàu, phải quẳng những xác chết ấy và cả người đàn bà luống tuổi đang nằm trên chiếc ổ rơm tồi tàn. Bọn chúng nói, “Thưa ngài, ngài thử nhìn bà ta xem?” Thế là tôi nhìn rồi mới hay bà ta đã chết, xác cứng đơ. Hai chân co lên, ép vào hông làm cái xác co quắp. Trông như thể bà ta đã chết từ hôm trước. Bà ta chết thật và hoàn toàn co quắp. Tôi kể điều đó với gã thầy thuốc, hắn nói điều ấy chẳng thể nào xảy ra.
Bọn chúng ở cả ngoài bến tàu, không ầm ĩ hay làm những chuyện đại loại như thế bởi vì chúng chẳng hề biết về người Thổ. Chúng chẳng bao giờ biết người Thổ luống tuổi sẽ hành động như thế nào.
Bạn có còn nhớ khi họ đề nghị chúng ta đừng đến lấy xác quẳng xuống nước nữa không? Tôi đã chấm dứt khi chúng ta tiến vào, buổi sáng hôm ấy. Họ có nhiều khẩu đội pháo và có thể bắn chúng ta bay tung lên khỏi mặt nước. Chúng ta sắp sửa tiến vào, chạy men theo bến tàu, vượt lên tuyến trước, buông neo và chuẩn bị nã vào đầu não thành phố của người Thổ Nhĩ Kỳ. Họ có thể bắn tung chúng ta lên khỏi mặt nước nhưng chúng ta có thể san phẳng thành phố thành bình địa. Họ chỉ bắn vài ba phát rời rạc khi chúng ta tiến vào. Kamal xuống và cách chức viên chỉ huy người Thổ Nhĩ Kỳ. Lên nắm quyền hoặc làm một việc đại loại như thế. Hắn hơi tự đắc. Điều ấy hẳn đã dẫn đến tình trạng lộn xộn.
Bạn còn nhớ bến cảng, nơi nhiều thứ dễ thương bồng bềnh trên mặt nước. Đó là lần duy nhất trong cuộc đời mà tôi tận mắt chứng kiến để rồi sau đó luôn ám ảnh tôi. Người ta chẳng bận tâm đến những người đàn bà có con nhỏ khi hành động như thế với những xác chết. Họ quẳng chúng, thế thôi. Nhưng thật lạ lùng, chỉ vài đứa trong số ấy mới thực sự đã chết. Người ta phát hiện ra chúng với những dấu hiệu gì đó, luôn chọn những nơi tối tăm nhất, nơi chúng cư ngụ. Chẳng có ai bận tâm dẫu chỉ một lần, về thứ họ quẳng xuống cầu tầu.
Cánh Hy Lạp cũng rất tử tế. Khi tản cư, họ đưa theo tất cả đoàn gia súc vận chuyển hành lý, rồi khi chúng chẳng thể đi xa hơn nữa, họ đánh gãy chân trước, đẩy chúng xuống vùng nước cạn. Cả đám lừa, bị gãy chân trước ấy, bị đẩy xuống vùng nước cạn. Làm thế thật là hết chỗ nói. Tôi bảo đúng thật là hết chỗ nói.

Đào Thu Hằng dịch
0
«« « 1 2 » »»