📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chát xình chát chát bùm - Azit Nêxin 🔒

54 trả lời, 190 lượt xem — Trang 2 / 2
“Hội cứu vớt gia đình”

Khoảng nay mai ở Mỹ sẽ phải xuất bản một cuốn sách mà tôi cam đoan là sẽ bán hết ngay lập tức. Tác giả của nó vốn là người tôi quen biết từ lâu. Trong những lần gặp nhau, hay qua thừ từ, ông đã kể cho tôi nghe nhiều về nội dung cuốn sách. Cách đây chừng hai tháng, ông còn gửi cho tôi cả tập bản thảo đánh máy để tôi xem và cho ý kiến. Tôi đã trả lời ông rằng, tác phẩm của ông tất nhiên sẽ rất được hâm mộ, và được dịch sang tất cả các thứ tiếng. Bởi cái chính là trong toàn bộ cuốn sách không hề có một chút gì gọi là bịa đặt của tác giả, mà hoàn toàn là những sự việc và tư liệu có thật. Tác giả chỉ thay đổi đi một số tên người, vì câu chuyện có liên quan đến nhiều nhân vật tai to mặt lớn thuộc giới kinh doanh và chính trị của Mỹ.
Nếu các bạn muốn biết, thì đây, tôi xin tóm tắt lại nội dung cuốn sách. Cách đây mấy năm, sáu thanh niên ở bang Caliphoocnia có lập ra một cái hội bí mật. Họ muốn làm giàu, nhưng tất nhiên là phải nhanh chóng, chắc chắn và ít nguy hiểm. Vì thế họ bèn nghĩ ra cách bắt cóc vợ các nhà triệu phú và tỷ phú để đòi một khoản tiền chuộc kếch sù. Không, họ hoàn toàn không phải là hạng côn đồ hay du đãng gì, mà đều là những thanh niên tử tế hẳn hoi cả! Ba người thì tốt nghiệp đại học tổng hợp ra, người thứ tư thì hãy còn là sinh viên, người thứ năm làm nghề bán hàng, còn người thứ sáu làm nhân viên thư ký. Không những thế, họ còn tốt bụng và nhân đạo lắm: tuy chẳng ai bảo ai, nhưng cái ý định bắt cóc trẻ con là cả bọn không ai bàn đến! Họ chỉ bắt cóc người lớn thôi!
Nhưng họ hiểu rằng muốn bắt đầu một sự nghiệp gì cũng vậy, trước hết, họ phải có một số vốn. Vì thế họ quyết định ai có bao nhiêu tiền thì đem góp hết vào cho hội. Tuy vậy, họ vẫn phải đi vay thêm, vì biết trước là sẽ rất phải tốn kém với các vị khách hàng tương lai của mình. Với lại, chỉ ở những nước lạc hậu người ta mới có thể đi ăn trộm nhà băng hay bắt cóc người mà không cần có tiền bạc gì cả. Chứ ở một nước văn minh và giàu có như nước Mỹ mà không có tiền, thì đừng hòng làm được trò trống gì!
Theo kế hoạch của họ, người đầu tiên bị bắt cóc là vợ một ông trùm tài chính, giám đốc nhà băng ở Sanphransiscô. Họ đến bắt bà này, đưa về một biệt thự tại một vùng thôn quê hẻo lánh, rồi cho công bố trên báo chí, đài phát thanh và vô tuyến truyền hình rằng, trong thời hạn ba ngày, nếu nhà triệu phú nọ không nộp đủ 80 nghìn đô-la tiền chuộc, thì vợ ông ta sẽ bị giết. Báo chí, phát thanh và vô tuyến truyền hình tất nhiên đã loan báo ngay điều kiện đó. Nhưng vì chuyện bắt cóc người bây giờ xảy ra như cơm bữa, nên tin ấy cũng chẳng làm ai sửng sốt hay thương cảm nữa. Thời hạn ấn định đã hết, mà nhà triệu phú vẫn im hơi lặng tiếng. Mấy anh chàng đi bắt người đâm ra khó xử, món hàng bán không trôi, quăng đi không được, mà giữ lại thì cũng dở. Vì tiền nuôi mụ quá tốn kém. Không những thế, mụ là một người kênh kiệu đỏng đảnh hết chỗ nói. Mụ đòi hỏi mọi thứ: nào gương lược, phấn sáp, nào son, thuốc móng tay, nào thuốc xoa bóp, thuốc ngủ... Thần kinh của mụ đúng là không bình thường. Bây giờ, tự nhiên thả mụ ra thì không được. Chỉ có cách là phải giết đi. Nhưng giết thì đúng là mấy chàng thanh niên này không có gan. Mà thả mụ ra bây giờ thì mọi chuyện sẽ vỡ lở và cảnh sát sẽ đến tóm cổ họ ngay. Chồng mụ thì vẫn cứ lặng thinh, không thấy đem tiền đến chuộc.
Họ bèn quyết định phải đến gặp người chồng để điều đình. Sau khi suy nghĩ một lát, người chồng nói với họ: “Các ông đòi nhiều tiền quá, bà ấy không đáng giá như thế đâu!” Họ bằng lòng hạ giá xuống còn 50 nghìn đô-la. “Không! Bà ấy vẫn không đáng giá đến thế!” Bọn người bắt cóc bảo ông ta: “Thôi được, giá cuối cùng là 40 nghìn”. “Giá như các ông bắt vợ tôi cách đây hai mươi năm, lúc tôi vừa cưới bà ấy, thì tôi sẵn sàng chấp thuận ngay”. “Thôi, 30 nghìn, không kém một xu”. Người chồng vẫn chỉ nhìn họ lắc đầu. Giá 30 nghìn hạ dần xuống còn 20 nghìn, rồi 15 nghìn. Nhà triệu phú vẫn lặng thinh. Những người đi điều đình nhắc cho ông ta nhớ rằng, vừa năm ngoái, ông còn dám bỏ ra 15 nghìn cho “Hội bảo vệ những con mèo không nhà cửa”. Nhưng nhà triệu phú giải thích rằng, thứ nhất, là vì ông thích mèo, thứ hai, là vì hội ấy là một hội đứng đắn và hoàn toàn hợp pháp, nên số tiền có thể góp dần hàng năm, và chuyển số lãi nhà băng sang. Còn như mấy cái hội bất hợp pháp thì phải bỏ tiền túi ra mà đóng.
Mấy chàng thanh niên lại quyết định giảm số tiền xuống còn mười nghìn đô-la, và cố gắng giải thích cho người chồng hiểu rằng, rút cuộc, họ chỉ yêu cầu ông đền bù lại cho họ khoản tiền đã mất mà thôi: Họ đã phải tốn kém vào vợ ông gần hết số vốn của họ... Người chồng không nói gì, chỉ buông một tiếng than và mời họ uống uýtxky.
Ra về tay không, các thành viên của tổ chức bí mật bàn định lại tình hình và quyết định hành động táo bạo hơn. Họ thả người vợ ra, nhưng ngay đêm đó, bắt cóc người chồng và tuyên bố số tiền chuộc vẫn như cũ, nghĩa là 80 nghìn đô-la! Nhưng thời hạn chuộc đã hết mà kết quả vẫn như lần trước. Vợ nhà triệu phú tỏ ra còn cứng rắng hơn cả chồng. Bà ta tuyên bố nhất định không chịu trả một xu nào! Những người bắt cóc đe dọa là nếu vậy, chồng bà ta sẽ bị giết. “Tôi không có quyền can thiệp vào kế hoạch riêng của các ông”. Bà ta trả lời như vậy bằng một giọng buồn rầu, nhưng mắt thì ánh lên tia hy vọng.
Trở về biệt thự, những người bắt cóc cho nhà triệu phú biết ông ta được tự do và muốn đi đâu thì đi. Nhưng ông này lại không chịu đi và bảo với họ: “Tôi muốn sống ở biệt thự này, hay thậm chí ở tù cũng được, miễn sao thoát được mụ đàn bà ấy”.
Cáu tiết, sáu chàng thanh niên xúm lại, túm lấy ông ta đẩy ra cửa. Nhà triệu phú hết sức chống cự lại và van vỉ:
“Tôi sẽ cho các ông 10 ngàn, 10 ngàn! Nhưng xin các ông cho tôi ở lại đây!” Nghe thấy thế, trong đầu những người sáng lập ra tổ chức bí mật bỗng nảy ra một ý nghĩ tuyệt diệu. Họ bằng lòng cho nhà triệu phú được ở lại đại bản doanh của hội, nhưng bắt ông phải nộp đủ 80 nghìn đô-la! Nhà triệu phú bằng lòng. Không những thế, ông ta còn thú thật với mấy chàng thanh niên tốt bụng rằng, giá như lần trước, họ đến nhà ông để khuyên ông đừng chuộc vợ về, mà nên thoát khỏi bà ta thì hơn, thì chắc chắn ông sẽ chẳng đắn đo gì mà trả ngay cho họ đủ số tiền như thế.
Ngay tối hôm đó, những hội viên của hội lại đến thăm người vợ có chồng bị bắt cóc. Họ dọa bà ta rằng nếu bà ta không chịu trả 80 nghìn đô-la, thì họ sẽ thả đức ông chồng của bà ta ra ngay lập tức. Quả nhiên họ lại được ngay một món tiền nữa. Của đáng tội, mấy hôm trước họ đã phải chịu đựng cái tính khí bất thường của người đàn bàn này.
Cái ý định đặt tên là “Hội cứu vớt gia đình” nảy sinh ra chính là từ đó, và hoạt động của sáu chàng thanh niên thông minh ở bang Caliphoocnia ngày càng phát triển. Hội của họ dần dần có chi nhánh ở tất cả các bang khác, rồi sau bắt đầu có cả cổ phiếu riêng để bán. Đồng thời, cái tên “Hội cứu vớt gia đình” cũng dần dần được thay thế bằng những tên khác nghe kêu hơn và lịch sự hơn, như “Hội tình nguyện”, “Hội từ thiện”... tuy rằng hoạt động của nó vẫn là bất hợp pháp, vì hội và khách hàng, tuy không ai bảo ai, nhưng cả hai đều muốn giữ bí mật tuyệt đối việc làm của mình. Hơn nữa, làm như thế họ còn đỡ được khoản thuế. Hoạt động của “Hội cứu vớt gia đình” cho đến ngày nay vẫn càng ngày càng phát đạt: trong khi phục vụ cho các ông chồng, và các bà vợ, nó lấy được tiền của cả hai.
Cuối cùng, tác giả cuốn sách còn cho biết thêm một chi tiết đặc biệt của các vị khách đàn ông (kể cả các nhà kinh doanh lẫn các nhà chính trị), là trong khi sẵn sàng trả rất nhiều tiền thuê người bắt cóc vợ mình, thì đồng thời họ cũng tình nguyện bỏ ra những số tiền rất lớn để chuộc lại các cô thư ký bị bắt cóc. Điều này nói chung cũng dễ hiểu: việc mất đi những nhân viên có kinh nghiệm sẽ ảnh hưởng ngay và trước hết đến công việc!...
0
Đoán người qua nét chữ

Chuyện xảy ra vào năm 1944. Khi đó tôi đang làm việc cho một tờ báo ngày với lương tháng là bảy mươi lia.
Từ chín giờ sáng đến mười hai giờ trưa tôi làm cho mục kinh tế - giáo dục. Sau bữa ăn trưa tôi làm cho mục pháp luật. Ngoài ra, mỗi ngày tôi còn phải viết một phóng sự và soạn một phiếu thăm dò cho một đề tài nào đó. Buổi tối tôi viết truyện ngắn cho báo, và có một thời kỳ tôi còn phải sáng tác những truyện cười cho mỗi số. Ban đêm thì tôi nghe đài, nhận những tin tức cuối ngày từ Ankara qua điện thoại, và thêm vào đó, nếu ông chủ giao cho bài báo nào để dịch, thì từ sau mười hai giờ đêm tôi phải ngồi dịch. Nếu còn thừa thời gian, tôi phải phụ thêm cho viên thư ký tòa soạn. Và làm tất cả những việc đó tôi chỉ nhận được có bảy mươi lia. Tất nhiên, không phải tự dưng người ta cho anh bảy mươi lia. Đó là thời kỳ rất khó khăn. Không có sự nhân nhượng nào! Hai tháng tôi phải tập sự. Tất nhiên là không có lương. Giá tôi không chủ động nhắc, chắc chắn người ta sẽ cho tôi tập sự không phải hai tháng, mà cả hai mươi năm luôn!
Sau hai tháng tôi đến gặp ông chủ và rụt rè nhắc ông ta nhớ về trường hợp của tôi.
- Anh có triển vọng đấy. - Ông chủ nói - Anh sẽ trở thành nhà làm báo giỏi. Tạm thời tôi sẽ trả anh năm mươi lia một tháng, nhưng với điều kiện anh phải làm thêm việc soạn trò chơi ô chữ cho tờ báo.
Cái “tạm thời” ấy kéo dài thêm 5 tháng. Sau 5 tháng tôi lại nhắc ông chủ, và người ta tăng lương cho tôi thêm năm lia. Sau ba tháng, tôi lại được tăng thêm mỗi tháng 5 lia, và như vậy cuối cùng lương tôi mới được bảy mươi lia.
Tôi lại tấn công ông chủ một lần nữa, nhưng lần này ông ta không nhân nhượng.
- Anh còn muốn đòi gì nữa? - Ông ta nói - Chúng tôi đã làm cho anh trở thành nhà báo. Lẽ ra không phải chúng tôi phải trả tiền cho anh, mà anh phải trả tiền cho chúng tôi vì điều đó.
Tôi quyết định chơi khăm ông ta, nhưng về mặt này, ông chủ tỏ ra kinh nghiệm hơn tôi.
- Này, - Ông ta bảo tôi - nếu anh biết đoán người qua nét chữ, tôi sẽ tăng lương cho anh thêm 5 lia nữa.
- Tôi không biết gì về thuật ấy cả, làm sao tôi có thể làm được.
- Anh sẽ làm được.
Thế là lương tháng của tôi được bảy mươi nhăm lia. Nhưng để được như vậy tôi phải đoán tính cách các độc giả qua các thư từ họ gửi đến. Suốt một tuần liền trên trang nhất của tờ báo có đăng mẩu thông báo:
“Với mong muốn trở nên có ích cho độc giả, và mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về mặt tài chính, tờ báo của chúng tôi vẫn mời một chuyên gia giỏi nhất về môn tướng chữ học từ Đức về, đó là Ngài giáo sư Ruđer Smith, người có biệt tài đoán được tính cách con người qua nét chữ. Nếu các vị độc giả đáng kính vui lòng gửi đến cho chúng tôi chỉ cần một dòng chữ viết bằng tay, giáo sư Ruđer Smith sẽ cho đăng trên báo của chúng tôi những kết luận về tính cách của tác giả dòng chữ”
Tất nhiên các bạn đã đoán ra, nhà chuyên gia giỏi nhất thế giới về môn tướng chữ học, giáo sư Ruđer Smith ấy là ai. Vì năm lia một tháng mà tôi đã trở thành một giáo sư người Đức.
Không ngờ trên đời này số người muốn được biết tính cách của mình lại nhiều đến thế. Mỗi ngày tòa soạn nhận được hàng trăm bức thư. Số lượng phát hành của báo tăng đến mức thần kỳ! Ông chủ báo dạy bảo tôi:
- Người nào cũng cho rằng trong con người mình ẩn chứa điều gì lớn lao hơn, rằng anh ta có tính cách tốt đẹp, và nếu như anh ta không làm được điều gì ra trò, thì đó hoàn toàn không phải do anh ta không có tài năng. Anh hãy lưu ý đến điều đó mà viết.
Còn tôi thì chẳng cần “phân tích” quái gì hết, tôi cứ việc đưa ra những câu nhận xét chung chung, đại khái như: “Bạn là người cầu toàn. Bạn ưa thích sự ngăn nắp. Nhưng thấy rõ đôi khi bạn cũng hơi đãng trí. Bạn xứng đáng hưởng hạnh phúc. Tâm hồn bạn trong sạch. Bạn là một người thực thà...” vân vân và vân vân.
Tôi sẽ không bao giờ quên được cái lần tòa soạn chúng tôi nhận được một bức thư. Mặc dù chúng tôi chỉ yêu cầu gửi đến một dòng chữ, người này đã viết kín cả năm trang giấy. Và tôi đã trả lời ông ta:
“Ngài là người rất thích nói, nhưng cũng biết lắng nghe người khác. Qua nét chữ của ngài có thể thấy nghề nghiệp của ngài có liên quan đến việc nói năng. Nhờ công việc này mà ngài sẽ rất thành đạt trong cuộc sống”.
Ngay buổi chiều hôm số báo có đăng bài nhận xét trên được phát hành, ông chủ báo vẻ hội hộp bước vào phòng tôi.
- Anh viết gì trên báo về một người có tên là Ôxman Xôzeri thế? - Ông ta hỏi.
- Tôi không nhớ nữa. Để xem lại tờ báo đã!
Chúng tôi đọc lại tờ báo. Đó là cái người mà tôi đã viết những lời nhận xét ở trên.
- Ông ta hiện đang ngồi ở phòng tôi. - Ông chủ báo nói - Ông ta nói ông ta cần phải gặp giáo sư ngay lập tức.
- Thôi chết, ta phải làm gì bây giờ? - Tôi lo sợ.
- Không còn cách nào cả. Anh cứ giả làm người Đức và tôi sẽ dịch cho anh.
- Thế ông có biết tiếng Đức không?
- Không. Tôi chỉ biết tiếng Pháp thôi!
Thế là bắt đầu cuộc chạy đôn chạy đáo khắp tòa soạn. Cuối cùng người ta tìm được một người biết tiếng Đức. Mọi chuyện như vậy là tốt đẹp, nhưng còn tôi, làm sao tôi có thể trả lời bằng tiếng Đức được?
Ông khách của chúng tôi bước vào phòng. Thoạt tiên ông nhìn ông chủ bút, sau đó nhìn sang người có nhiệm vụ dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Đức.
- Trong các ngài ai là giáo sư? - Ông ta hỏi.
Người ta chỉ vào tôi. Ông liếc tôi một cái tỏ vẻ ngờ vực, vì trông tôi giống người Nhật hơn người Đức.
- Xin hãy chuyển giúp tôi tới vị giáo sư đáng kính, Ngài Ruđer Smith, lòng khâm phục thành thực của tôi. Bài phân tích của ngài chính xác một cách kỳ lạ. Tôi là luật sư. Và vị giáo sư đáng kính đây đã chiếu cố nhận xét rằng tôi là một bậc thầy về ngôn từ.
Ông chủ dịch tất cả những lời đó sang tiếng Pháp. Rồi một đồng nghiệp của chúng tôi lại chuyển sang tiếng Đức cho tôi nghe. Bây giờ là lúc tôi phải trả lời. Tất nhiên, tôi không biết một chữ tiếng Đức nào, tôi quyết định lảng tránh bằng cách mỉm cười và bắt tay ông ta để tỏ lòng cảm ơn.
- Ja, ja, - Tôi lắp bắp, bắt trước giọng lơ lớ của người Đức và bắt tay ông ta.
Vừa lúc đó người thợ sắp chữ bước vào và trước khi mọi người kịp ngăn bác ta lại, bác ta đã tiến lại gần tôi.
- Ông Haxan. - Bác ta nói - Ông chưa đưa cho tôi bài nhận xét về tính cách qua nét chữ. Máy đang phải chờ đấy.
Tôi quay lưng lại bác ta. Ông chủ kiếm cớ đẩy ngay bác ta ra ngoài. Nhưng trong ánh mắt của vị luật sư thoáng hiện vẻ nghi ngờ.
- Tôi có một đề nghị với vị giáo sư đáng kính. - Ông ta nói - Tôi đang chuẩn bị cưới vợ. Tôi có thể biết được tính cách cô ấy qua nét chữ của cô ấy được không? Việc tôi có quyết định cưới cô ta hay không tùy thuộc vào sự phân tích tính cách của ngài giáo sư đây.
Ông chủ báo dịch sang tiếng Pháp, còn người phiên dịch lại dịch sang tiếng Đức. Còn tôi cứ đứng ngây ra như người nuốt phải lưỡi, không biết nói gì.
Tôi đưa mắt nhìn ông chủ - Ông khẽ ra hiệu cho tôi, ý bảo “Cứ nói bừa một câu gì đó đi”, thế là tôi nói:
- Das ajnen lugen ubed rihte chlahen Murger der nah vigoren maine [1]...
Người phiên dịch dịch cái câu nói vô nghĩa ấy sang tiếng Pháp, còn ông chủ báo nói lại với khách bằng tiếng Thổ:
- Vị giáo sư đáng kính nói rằng ngài sẵn sàng nhận phân tích nét chữ ngay lập tức.
- Tôi có biết đôi chút tiếng Đức - Ông luật sư nói - Nhưng tôi không hiểu tí gì qua cái câu ngài giáo sư vừa nói.
- Ngài giáo sư đây là người vùng Bavar, - Ông chủ báo nhanh trí đáp - thậm chí người Đức nghe hiểu được ngài cũng rất khó khăn.
Thật trớ trêu, đúng ngày hôm đó hết xui xẻo này lại đến xui xẻo khác. Người phục vụ nước uống mang cà phê vào.
- Ông Haxan, ông gọi nước trà phải không ạ?
Ông chủ đỡ ngay tách nước trà và đuổi ngay anh ta ra ngoài. Nhưng viên luật sư đã bắt đầu cảnh giác. Đúng lúc đó xảy ra điều đáng sợ nhất. Người bán hàng khô ở phố tôi, mà ngày nào cũng đến tìm tôi mấy lần, nhưng lần nào cũng bị các đồng nghiệp của tôi, do tôi dặn trước, trả lời rằng tôi không có ở cơ quan, bước vào phòng. Bác ta tiến thẳng lại phía tôi, vừa đi vừa nói:
- Cuối cùng tôi cũng tìm được anh, anh Haxan. Tôi còn phải đến đây bao nhiêu lần nữa hả? Thật xấu hổ! Hôm nay, ngày mai, hôm nay, ngày mai... Sao anh cứ lừa tôi bằng những lời hứa mãi như thế hả? Tôi đã nhân từ đối với anh, bán chịu hàng cho anh. Hay là tôi làm điều gì xấu?
- Ông cần gì, thưa ông? - Ông chủ báo nói - Ngài đây không nói được tiếng Thổ.
- C-á-á-i g-i-ì? Anh ta không nói được tiếng Thổ? Thế sao khi mua hành với đậu anh ta hót như khướu ấy! - Người bán hàng khô nói rồi quay lại phía tôi:
- Anh Haxan, tôi không muốn biết gì hết, anh hãy trả tiền tôi đi!
- Ih bin kaine ah jaitung ziuh!
Ông bán hàng trợn tròn mắt nhìn tôi.
- Anh này bị điên hay sao đấy?
- Javol! ... Subenaben zule mi hen...
- Anh dẹp cái trò đùa vớ vẩn ấy đi ! Được, để tôi cho anh xem vở hài kịch này... anh sẽ không thích đâu...
Người phiên dịch của chúng tôi không nhịn được nữa phì ra cười. Viên luật sư thì cứ há hốc mồm. Ông ta hết nhìn tôi lại nhìn sang ông chủ báo, rồi nhìn ông bán hàng khô. Ông chủ báo bảo ông bán hàng khô:
- Bác ơi, có lẽ bác nhầm với ai rồi. Ngài này là vị giáo sư người Đức đấy.
- Giáo sư người Đức? Ái chà, đồ đê tiện ! Hóa ra, hắn cũng đánh lừa cả ông. Giáo sư người Đức con khỉ gì hắn! Ông cứ nhìn cái miệng hắn xem. Có bao giờ ông thấy người Đức nào có cái miệng như người Nhật không...?
Tôi làm ra vẻ ngơ ngác thực sự nhìn những người xung quanh. Đại ý bảo rằng tôi muốn biết chuyện gì đang xảy ra ở đây.
- Li goiner kamarden siftangin zuhne?
Viên luật sư gạt người phiên dịch ra, nói thẳng với tôi:
- Tại sao ông lại đỏ mặt lên thế?
Tôi quên khuấy mất mình là giáo sư người Đức:
- Tôi không biết.
- Mẹ kiếp! - Viên luật sư nhổ vào mặt tôi rồi đi ra.
Ông bán hàng khô cũng làm y như vậy. Còn lại tôi với ông chủ báo. Tôi lấy tay lau mặt.
- Anh không làm được cái trò trống gì cả! - Ông chủ của tôi nói - Tôi hạ lương anh xuống còn mười lia. Mẹ kiếp! - Nói đoạn ông cũng nhổ vào mặt tôi rồi bỏ đi.
----------------
[1] Một tập hợp những từ tiếng Đức vô nghĩa.
0
Nhà hùng biện

Ông khách ngồi bên cửa sổ toa tàu đưa ngón tay chỉ vào cái hình dáng lờ mờ của ống khói nhà máy ở mãi tít đường chân trời, trong màn sương xanh bao phủ cả một vùng bình nguyên rộng lớn. Nhìn từ xa không phải ai cũng đoán ra đó là ống khói nhà máy - trông nó giống như hình cái bút chì dựng ngược.
- Tôi đã đọc diễn văn tại lễ khánh thành cái nhà máy này đấy. - Ông ta nói.
Một hành khách ngồi cùng toa hỏi:
- Đấy là nhà máy à?
- Phải.
- Nhà máy gì?
- Thú thật, tôi cũng không biết.
- Ông đọc diễn văn tại lễ khánh thành mà lại không biết nó là nhà máy gì?
- Có thể ông ấy quên mất rồi. - Một hành khách khác chen vào.
- Tôi hoàn toàn không quên. Ngay hồi đó tôi đã không biết nó là nhà máy gì.
- Thôi được, thế nó có hoạt động không?
- Hiện nay thì có thể. Nhưng vào cái ngày khánh thành, khi tôi đọc diễn văn, thì nó không hoạt động. Người ta không sao cho nó khởi động được.
- Ông là giám đốc của nhà máy đó à? - Vị khách thứ hai hỏi.
- Kh-ô-ông, tôi không có liên quan gì với cái nhà máy ấy,cả!
Thế chắc ông được mời tới dự lễ khánh thành như một quan chức nhà nước?
- Cũng không phải, bác ạ, tôi không là ai cả.
- Kỳ lạ! Nếu thế tại sao ông lại đọc diễn văn tại lễ khánh thành cái nhà máy mà ông không có liên quan gì?
- Hoàn toàn chỉ là tình cờ thôi. Từ bé tôi đã có cái lưỡi rất dẻo. Và nói không phải khoe khoang, chứ tôi rất có tài hùng biện. Trong khung cảnh bình thường tôi nói năng cũng không phải trôi chảy lắm. Nhưng cứ hễ đứng trước đám đông là y như rằng một nhà hùng biện lại thức dậy trong con người tôi! Các vị cũng biết đấy, tài năng là do trời phú. Một khi tôi đã ra trước đám đông và bắt đầu nói thì không ai có thể dừng tôi lại được nữa. Tự nhiên một dòng ý nghĩ sáng sủa kỳ lạ chợt đến với tôi, tôi có thể nói hàng giờ liền không vấp. Hùng biện - đó là một năng khiếu tự nhiên hiếm có. Các vị hỏi nghệ thuật hùng biện là gì ấy à? Đó là nghệ thuật biết mở mồm ra rồi nói, nói và nói liên tục không nghỉ, không vấp, nói một cách lưu loát, trôi chảy như bôi mỡ. Nói gì ấy à?... Nói gì cũng được. Thậm chí nếu phần cuối không ăn nhập với phần đầu cũng chẳng sao. Cái chính là phải nói. Nếu anh bắt đầu nói và nhận ra chủ ngữ không phù hợp với vị ngữ, còn vị ngữ không phù hợp với bổ ngữ, thì hãy nhớ là đừng có lúng túng; đừng có bao giờ ngừng lại, mà cứ kéo dài câu nói ra, trải ra càng nhiều từ càng tốt, cho đến khi thính giả hoàn toàn bị rối tinh trong các mớ danh từ, động từ và các loại từ khác. Phần thưởng cho anh sẽ là một tràng vỗ tay, mọi người sẽ phải thốt lên: “Chà, nói thế mới là nói chứ!”.
Các vị có biết không, tôi từng đọc những bài diễn văn mà sau khi nghe xong mọi người phải đổ xô đến gặp tôi ôm hôn, chúc mừng. Tôi tự hỏi mình: “Này, mi vừa nói gì thế?”. Lạ một cái là chính tôi cũng không biết mình vừa nói gì. Vả lại, cũng chẳng ai đoán ra được - cả tôi lẫn các thính giả của tôi. Cái hay của bài diễn văn được xác định bằng cách như thế này. Người ta hỏi diễn giả “Ngài vừa nói gì vậy”, còn hỏi thính giả “Các vị vừa nghe gì vậy?”: nếu người đầu tiên trả lời anh ta không biết vừa nói gì, còn người thứ hai bảo họ không biết vừa nghe gì, song khẳng định bài phát biểu khiến họ xúc động, - thì hãy coi như đó là bài diễn văn xuất sắc.
Hồi còn đi học tôi là một đứa học trò lười không để đâu cho hết. Đặc biệt với môn toán tôi dốt đặc. Ấy vậy nhưng chưa bị đúp bao giờ. Và tất cả chỉ nhờ cái tài ăn nói của tôi.
Dịp cuối năm, ở buổi học cuối cùng, tôi đứng lên và thưa với thầy giáo:
- “Thưa thầy, nếu thầy cho phép, em xin được thay mặt cả lớp thưa với thầy mấy câu...”
- Em có chuyện gì? - Thầy giáo hỏi mà không ngờ rằng thầy đã ở trong tay tôi - Em nói đi!
Tôi lập tức mở máy:
“Kính thưa thầy, được thầy cho phép, em xin cố gắng bày tỏ tình cảm của chúng em nhân dịp kết thúc năm học...”
Không để cho thầy giáo kịp định thần, tôi tiếp tục:
“Thưa thầy, trong suốt năm học vừa qua thầy như người cầm ngọn đèn pha dẫn dắt chúng em đi theo những con đường khoa học sáng lạn... thầy dẫn dắt chúng em tới những chân trời tươi sáng...”
Và cứ như thế tôi tuôn ra tất cả những ý nghĩ chợt đến trong đầu. Cái chính là không được ấp úng. Phải nói liên tục không vấp váp, không cho người nghe có thời gian suy nghĩ: “Quái, anh ta nói về cái gì vậy nhỉ?”
Thầy giáo lúc đầu hơi bối rối, sau đó đăm chiêu suy nghĩ, sau đó nét mặt trở nên buồn bã, và cuối cùng trên khóe mắt đã thấy ươn ướt nước mắt, tay run run, và mũi bắt đầu xụt xịt. Còn tôi thì tiếp tục cho một tràng nữa. Và bài diễn thuyết của tôi mới cảm động làm sao! Những từ tôi nói ra mới đẹp đẽ làm sao! Đến đá cũng phải chảy nước mắt! Thầy giáo thì cứ chốc chốc phải lấy khăn lau mũi, nước mắt cứ chảy ràn trên má! Tôi cứ nói, còn thầy cứ ngồi khóc. Thỉnh thoảng tôi liếc nhìn khuôn mặt thầy. Tôi thấy thầy sắp ngất đến nơi - bấy giờ tôi mới thôi. Bây giờ đến lượt thầy muốn nói với chúng tôi vài lời. Nhưng thầy lúng túng mãi không nói được. Tay cứ mân mê chiếc khăn, miệng thở khó nhọc, thầy thốt ra qua tiếng nấc nghẹn:
“Các em của thầy... thầy xúc động quá... nên không đủ sức diễn đạt những tình cảm của mình...”
Chỉ nói được mấy câu đó thầy chạy ngay ra khỏi lớp. Chúng tôi cười ầm theo.
Trường tôi có một thầy dạy Hóa tên là Nizam, nổi tiếng trong nhiều trường. Câu nói ưa thích của thầy là: “Chúa được điểm ‘năm’, tôi được điểm ‘bốn’, còn học sinh thông minh nhất cũng chỉ được ‘ba’!”
Nhưng ăn được điểm “ba” của thầy cũng rất khó khăn. Một buổi vào dịp cuối năm tôi đọc tại lớp một bài diễn văn lâm li đến nỗi thầy Nizam suýt nữa bị ngất vì cơn đau tim. Các học sinh phải xốc nách thầy đưa ra khỏi lớp, dìu đến phòng giáo viên. Bác sĩ đến hỏi:
- Ông làm sao thế, ông Nizam?
Nhưng nỗi nghẹn ngào làm thầy không nói được. Các giáo viên khác đoán ra ngay nguyên nhân tất cả là do bài diễn văn của tôi.
Vì thế tôi là học sinh duy nhất được thầy Nizam cho điểm cao nhất. Khi tôi bước vào phòng thi, giáo viên coi thi òa lên khóc ngay.
“Thôi, thôi, dẫn cậu ta đi ngay cho!”. Giáo viên đó ra lệnh và cho tôi luôn điểm “năm”.
Từ đó đến nay đã nhiều năm trôi qua. Thầy Nizam đã về hưu. Nhưng cứ khi gặp tôi ở đâu là thầy lại òa lên khóc, từ xa nhìn thấy tôi là thầy đã rơm rớm nước mắt.
Không nên sợ những giáo viên có nét mặt dữ tợn. Đôi khi ông thầy có vẻ ngoài nghiêm khắc hóa ra lại là người có trái tim đa cảm.
Vậy là nhờ cái khả năng ăn nói hùng biện mà tôi đã tốt nghiệp trường phổ thông.
Sau khi trở thành viên chức nhà nước, tôi về tỉnh làm việc. Tôi đã đi khắp vùng Suatôlia. Thú thực, tôi hoàn toàn không làm việc, mặc dù tôi luôn được cấp trên cho những nhận xét rất tốt. Người ta thăng tiến cho tôi một lúc hai chức. Nguyên nhân cũng lại nhờ tài ăn nói của tôi.
Một tuần thế nào chúng tôi cũng phải họp nhau một hai lần: lúc thì sếp cũ của chúng tôi ra đi, - chúng tôi mở tiệc tiễn, lúc thì sếp mới đến - chúng tôi mở tiệc ăn mừng. Hiếm có tuần nào là không có tiệc tùng.
Sếp mới đến - chúng tôi ngồi vào bàn tiệc. Các đồng nghiệp đưa mắt nhìn tôi. Tôi nâng cốc và đọc diễn văn chào mừng. Toàn bộ công việc của tôi chỉ có vậy. Tôi còn phải đọc diễn văn chia tay khi sếp cũ ra đi:
“Kính thưa các bạn! Hôm nay là ngày đau buồn nhất trong đời chúng ta, vì thủ trưởng kính mến của chúng ta rời bỏ chúng ta...”
Tôi làm cho bao nhiêu vị khách dự tiệc phải rơi nước mắt. Nếu bữa tiệc tổ chức tại khách sạn, thì đến cả các đầu bếp và người phục vụ cũng phải nhỏ lệ.
Đấy, toàn bộ cuộc đời tôi đã trôi qua như vậy đấy. Cách đây bốn năm, được nghỉ phép một tháng, tôi quyết định đi Stambul chơi. Tôi lên xe buýt và lên đường. Trên xe buýt tôi gặp người bạn thời thơ ấu của tôi là Khami. Chúng tôi ôm hôn nhau như những người bạn lâu năm không gặp. Rồi chúng tôi ngồi nhớ lại chuyện ngày xưa tôi đã dùng tài hùng biện của mình bắt các thầy giáo, rồi sau đó cả ban giám hiệu phải khóc như thế nào.
Khami bắt đầu thuyết phục tôi:
- Tôi van anh, anh hãy ở lại chỗ chúng tôi một ngày đi! Ngày mai chúng tôi cho khánh thành nhà máy mới, sẽ có “Lễ khai trương”.
- Được rồi. - Tôi đồng ý.
Chúng tôi xuống xe ở một thị trấn. Tôi ngủ lại ở nhà Khami. Sáng hôm sau chúng tôi đến nhà máy. Công việc chuẩn bị cho lễ khánh thành hết sức nhộn nhịp. Một sự huyên náo không thể tưởng tượng nổi!... Khoảng sân trước mặt nhà máy trông như cái chợ gia súc.
“Ở đây làm gì mà có nhiều gia súc thế?” - Tôi ngạc nhiên.
“Vật hiến tế đấy!” - Khami giải thích.
Những con cừu với sừng mạ vàng được tắm rửa sạch sẽ và nhuộm phẩm hoàng điều đứng thành một dãy. Những con trâu, con bò, con lạc đà cũng đang chờ đến giờ hành hình. Người ta phải giết những con súc vật này đúng vào phút cho nhà máy khởi động ngay trước mắt chúng tôi. Người ta căng ra sợi băng lụa và chuẩn bị những cái kéo... Người ta bày sẵn các bàn tiệc. Tóm lại... mọi việc đều trôi chảy. Từ sáng sớm từng đám dân các vùng lân cận đã ùn ùn kéo đến nhà máy. Cả một vùng bình nguyên rộng lớn biến thành cái biển người. Đến tầm trưa thì một dòng xe con, xe buýt nối đuôi nhau tiến vào. Giờ phút mong đợi đã đến. Khami bước lên bục diễn đàn. Anh ta là một người hoàn toàn không có chút tài ăn nói nào, nói một hai câu cũng không xong. Sau khi ấp úng nói cái gì không rõ, Khami tuyên bố:
“Bây giờ xin kính mời ngài Omer với bàn tay may mắn của mình sẽ ấn nút cho khởi động nhà máy của chúng ta!”
Theo sắp xếp, người vừa được gọi tên phải ấn vào một cái nút đặc biệt, tức là ra hiệu cho nhà máy khởi động; sau đó nhà máy sẽ chạy trước sự chứng kiến của quan khách. Người ta dẫn viên đại thần tới chỗ cái nút, ông ta ấn vào đó một cái, rồi ấn cái thứ hai, cái thứ ba. Những con vật hiến tế bị kéo nằm xuống đất và người ta kề dao vào cổ chúng.
Khami nghĩ rằng viên đại thần không biết cách ấn nút, nên đã tự mình ấn lại.
Trong đám đông bắt đầu có tiếng xì xào, bàn tán. Trên nét mặt mọi người lộ vẻ ngơ ngác. Lạy thánh ALa!...
Bỗng Khami chạy đến chỗ tôi. Mặt anh ta cắt không còn giọt máu.
“Lạy Chúa, hãy giúp chúng tôi với - Anh ta nói thầm với tôi - Tôi van anh, xin anh cứu giúp. Chỉ mình anh có thể cứu tôi”.
“Bạn thân mến, sao lại là tôi? Tôi làm được gì? Nhà máy không phải lĩnh vực của tôi. Gì chứ về kỹ thuật tôi mù tịt”.
“Ôi, người anh em, tôi chết mất! Bao nhiêu hy vọng tôi trông vào anh đấy. Hãy cứu tôi đi!”
“Cứu anh bằng cách nào, Khami?”
“Anh hãy lên diễn đàn và đọc một bài diễn văn! Chúng tôi đã chuẩn bị xong hết cho việc khởi động máy. Chỉ quên mỗi lắp dây cuaroa vào cái bánh đà. Trong khi chúng tôi cho lắp dây, anh hãy cố nói độ mươi phút. Tôi van anh, anh hãy lên nói đi, cốt sao đánh lạc hướng chú ý của quan khách”.
Và biết làm sao được? Chả lẽ bạn bè lại không giúp? Thế là tôi bước lên diễn đàn.
“Kính thưa các vị khách!...” - Tôi nói.
Tôi cứ bắt đầu, mặc dù hoàn toàn chưa biết cái nhà máy này là nhà máy gì. Tôi qua Khami có giải thích cho tôi về nhà máy, nhưng vì đi đường mệt quá, chỉ muốn ngủ, nên tôi bỏ ngoài tai những lời anh ta kể. Tôi vừa nói vừa đưa mắt quan sát nhà máy xem nó là nhà máy gì? Tôi cố hết sức quan sát nhưng không hiểu gì cả, cứ như lạc vào khu rừng tối. Giá như tôi biết đây là nhà máy sản xuất ô-tô, hay nhà máy sản xuất đồ gỗ thì tôi có thể nói cả ngày. Tôi đưa mắt tìm Khami - anh ta lặn mất tăm. Thật muốn điên lên được! Các vị cứ thử tưởng tượng xem, tôi đã trót bắt đầu mất rồi!...
Tôi kéo dài thời gian:
“Kính thưa các vị đại biểu. Kính thưa các vị khách quý! Khi nói với tất cả quý vị câu ‘nhiệt liệt chào mừng’, chúng tôi, hay nói chính xác hơn, tất cả chúng tôi... cảm thấy niềm hãnh diện không sao tả nổi, bởi vì... các vị đã rủ lòng ban cho chúng tôi niềm vinh hạnh lớn lao bằng sự có mặt của quý vị... Chúng tôi không có đủ từ để diễn đạt hết lòng biết ơn của chúng tôi... nhà máy đi vào hoạt động... Nhưng thôi, chúng tôi không muốn nói trước... Trước hết, tôi muốn nhấn mạnh rằng, nhà máy này là nhà máy đầu tiên ở nước ta...”
Vừa rót nước từ trong bình vào cốc tôi vừa quay lại nói với người đang đứng sau lưng tôi:
“Hãy bảo với Khami cho lắp cái thắt lưng hay cái dây đai gì đó thật nhanh lên!”
“Cuaroa đã lắp rồi, - Người này đáp - nhưng vẫn không được! Người ta quên lắp vòng bi vào trục. Bây giờ mọi người đang chạy đi tìm vòng bi”.
Tôi bắt đầu giải thích cho đám đông, từ “nhà máy” nghĩa là gì và từ đâu nó xâm nhập vào kho từ vựng của chúng ta.
Một vị hành khách cùng toa hỏi:
- Thế ông biết nguồn gốc à?
- Nào tôi có biết! Tôi không hề biết gì hết. Thế các vị cho rằng trong đám quan khách ấy có người biết được những chuyện hóc búa ấy sao? Thế là tôi bắt đầu đi vào lĩnh vực ngôn ngữ học, tôi giải thích “nhà máy” - đó là từ gốc latinh, sau đó tôi kể lịch sử xuất hiện và phát triển của nhà máy, không quên nhắc đến chuyện nhà máy đầu tiên được xây dựng ở đâu. Bỗng trong đám đông thấp thoáng khuôn mặt quen thuộc: hình như là Khami. Phải, đúng là anh ta! Anh ta ra hiệu cho tôi, ý bảo: “Tôi van anh, anh cứ nói tiếp nữa đi!”
“Thưa các vị khách quý! - Tôi tiếp tục - Lát nữa đây nhà máy sẽ khởi động, và quý vị sẽ được thấy nó hoàn toàn không giống như bao nhiêu nhà máy khác. Trên thế giới này không có nhà máy nào sánh được với nó, bởi vì nó là một nhà máy công nghiệp hiện đại và độc đáo nhất...”
Tôi liếc nhìn đồng hồ. Trời ơi, chả lẽ tôi mới nói được có năm phút? Tôi lại với tay lấy bình nước và quay sang nói nhỏ với người đứng sau lưng:
“Thế nào?... Người ta chưa tìm thấy vòng bi à?”
“Vòng bi tìm thấy rồi, nhưng vẫn chưa chạy được. Ngài Khami chuyển lời chào ngài và nhờ ngài cứ kéo dài bài diễn văn. Người ta quên lắp cái chảo nhỏ. Bây giờ người ta đang lắp”.
Tôi lại nói thêm gần nửa tiếng nữa.
“Nhu cầu số một của mỗi quốc gia là gì? Xin các vị trả lời hộ tôi - là gì? - Tôi đưa mắt nhìn khắp đám đông. - Tất nhiên ai cũng biết: đó là các nhà máy! Chúng là thứ cần nhất cho đất nước. Tại sao vậy? Bởi vì nhà máy nào cũng đều có chảo, có trục truyền động, có ống khói, có động cơ, mô-tơ, có giám đốc, có cán bộ, có công nhân, có người bảo vệ, có quầy thực phẩm, có các ống dẫn nước. Nếu nhà máy nào thiếu một trong những thứ kể trên thì nó không bao giờ - các vị nhớ cho, không bao giờ - có thể chạy được! Khi nói với quý vị cái chân lý đương nhiên này, chúng tôi muốn một lần nữa được nói với tất cả các quý vị: ‘nhiệt liệt chào mừng!’.
Kính thưa các vị đại biểu, thưa các vị khách quý! Bây giờ tôi xin phép quý vị được kể về một vài đặc điểm của nhà máy. Trước hết, nhà máy là cái gì? Nhà máy - đó là nhà máy. Không hiểu được cái từ này, sẽ không bao giờ, - xin quý vị nhớ cho, không bao giờ! - có thể tiến hành khai thác nó được. Và...”
Đúng lúc đó có một mẩu giấy xuất hiện trước mặt tôi. Tôi liếc đọc nó. Đó là lời nhắn của Khami.
“Tôi van anh, người anh em. - Anh ta viết - Hãy kéo dài diễn văn thêm ít phút nữa! Cái ống khói nhà máy đáng lẽ phải lắp ở trên nóc lò, do sơ suất chúng tôi lại lắp vào cửa sổ phòng giám đốc. Bây giờ chúng tôi đang phải lắp ống khói mới. Anh hãy cố nói thêm một lúc nữa, không có tôi đi đời mất!”
Tôi quay lại phía đám đông.
“Có một bức điện vừa gửi đến. - Tôi nói - Các quốc gia bè bạn lân cận gửi lời chúc mừng chúng ta nhân dịp khánh thành nhà máy và đã đặt hàng do nhà máy này sản xuất”.
Bình nước lọc đã cạn. Mặt trời đã xế. Bóng nắng đã ngả dần trên đất. Còn tôi thì vẫn cứ tiếp tục nói. Bỗng tôi được biết nhà máy đã hoàn toàn sửa xong, nhưng lại thiếu mất thợ cơ khí, người có thể cho nó vận hành. Người ta quên thuê anh này.
“Lạy Chúa, xin anh nói thêm lúc nữa đi. Chúng tôi đang cho người đi tìm thợ cơ khí!”. - Người đứng sau lưng tôi khẽ bảo.
Tôi nắm vai anh ta đẩy anh ta đến gần micrô. “Kính thưa quý vị! - Tôi nói - Và bây giờ một chuyên gia của chúng tôi sẽ giới thiệu tóm tắt với quý vị về nhà máy này!”.
Tôi rời khỏi bục và đi ngay ra thị trấn. Tôi lên xe buýt và chuồn thẳng.
Đến bây giờ tôi vẫn không biết cái nhà máy ấy có hoạt động hay không. Từ hôm đó tôi cũng không gặp lại Khami.
Tôi chỉ nghe nói năm ngoái anh ta có dẫn đầu một đoàn đại biểu nào đó đi thăm châu Âu.
0
Những cổ động viên

Ghế trên xe điện thường chỉ trống lúc ở đầu tuyến. Tôi lên xe điện ở Metgiđie. Tàu chưa đến ga Siôli thì trên toa đã chật ních người: người thì treo lơ lửng trên những bậc lên xuống, người thì bám vào các khung cửa. Còn trong toa xảy ra chuyện... gì thì ai cũng biết!... Tàu điện mà!
Các hành khách trong toa làm gì? Một ông khách đọc báo, ông ngồi bên cạnh cố nheo mắt ngó vào tờ báo. Người thanh nên trẻ ngồi sau hai ông này nghển cổ như con hươu để đọc những tin thể thao. Bỗng anh ta tức giận thốt lên:
- Mẹ cha nó! “Fener” [1] thua rồi!
Cái ông có tờ báo, lưng gù, quay lại ném cho chàng thanh nên gày còm nước da tai tái một cái nhìn tiêu diệt và hỏi một cách xỏ xiên:
- Thế anh tưởng là nó sẽ thắng à?
Ông ngồi bên cạnh ông lưng gù, người béo phục phịch, bị chứng hen, xen vào câu chuyện:
- Thậm chí nếu có Saban chơi ở hàng tấn công đi nữa thì “Fener” cũng không thắng được!
Một thanh niên khác má hóp hăng hái ủng hộ ông béo:
- Bác nói chí phải! Các cầu thủ “Besiktas” của chúng ta chơi như những con sư tử!
Nghe đến đấy một phụ nữ trẻ ăn mặc sang trọng không kìm được nữa.
- Tụi “Besiktas” của các anh chỉ là một lũ chó con!
Bà ta chưa kịp nói hết câu thì có một giọng trẻ con vang lên:
- Có bà là đồ chó con thì có!
Không khí bỗng chốc nóng đến nỗi toa tàu trở nên giống như nghị viện khi xảy ra cuộc đấu khẩu giữa những người đảng đối lập với phe chính phủ. Có cảm tưởng chỉ chút nữa thôi là sẽ diễn ra ẩu đả và dưới mắt các nhà tranh cãi sẽ xuất hiện những vết thâm tím.
Đúng lúc này người bán vé tàu điện xen vào:
- Và tất cả là vì sao? Vì người ta xếp Khabib đá hậu vệ. Giá mà Khabib đá tiền đạo thì “Fener” đã phải ăn mấy quả rồi!
Một ông béo tốt, phương phi nói dằn từng chữ:
- Đừng nói những điều ngu ngốc! Có chấp mười Khabib thì “Fener” vẫn cứ thua!
- Thế ông đã thấy Khabib chơi bóng như thế nào chưa? - Ông gù, người chủ tờ báo, lên tiếng bênh vực người bán vé - Không bao giờ tôi quên được cách đây hai năm, trong trận tranh chức vô địch quốc gia, Khabib đã sút thủng lưới ngay từ giữa sân. “Binh” một phát - thế là bóng đã nằm gọn trong lưới!
Để đáp lại, một hành khách nào đó đưa hai ngón tay lên miệng huýt một tiếng sáo dài.
- Này, ông bạn, đừng có nói bậy. - Ông ta nói.
Lúc đó ông khách cụt tay ngồi phía trước đứng dậy, đứng xen vào giữa đám người đang cãi nhau, rồi với dáng điệu như của diễn giả phe đối lập khi bị phe kia không cho nói, lên tiếng:
- Hãy cảm ơn thánh Ala vì gió. Nếu như không có gió...
- Gió nào! Gió làm cho Giafer giống như cơn bão chạy phía cánh phải.
- Còn Khabib? Khabib đã có ba con trai mà anh ta chạy khắp sân như một con chó săn!
- Khabib có hai con trai, chứ không phải ba.
Người bán vé không kìm được:
- Ông nói gì? Anh ta có ba con, hai trai một gái!
- Thôi đừng bốc phét! Chiều nào tôi và Khabib chẳng ăn cơm quán “Chiachir”.
- Anh ta sắp kể cho tôi nghe về Khabib đây! Tôi với anh ta ba năm chơi trong đội trẻ ở Takhtakal.
Thêm một người khách nữa tham gia vào câu chuyện:
- Cả hai ông đều nhầm! Đó không phải con anh ta.
- Anh nói thế là có ý gì, chàng trai? - Một ông già móm mém hỏi anh thanh niên.
- Tôi là chàng trai đếch gì của ông? Ông biết ông đang nói gì không?
- Sao cậu lại cáu? Tôi nói với cậu thân tình mà cậu lại nổi cáu. - Ông già móm lúng túng - Cậu định nói gì về mấy đứa con của Khabib?
- Đó không phải là con của Khabib,mà là con riêng của vợ anh ấy, với người chồng trước...
Trong lúc người bán vé và một số hành khách đang tranh cãi về số con của Khabib và xác minh xem đó là con của ai, thì ở cuối toa cũng có một cuộc tranh cãi sôi nổi:
- Nếu hiệp hai Zulfi không bị đốn ngã anh ta đã cho thấy tài nghệ của mình!
- Thế anh có biết Muôctaza không? Phải, phải, Muôctaza. Anh ta đáng giá gấp mấy chục Zulfi của anh ấy chứ!
- Anh hãy xéo đi với gã Muôctaza của anh!... Liệu chừng kẻo có lúc uất lên mà chết!
- Cái gì? Anh muốn gãy răng không?
- Cứ thử xem!
- Anh câm cái mồm đi!
Tàu điện đi qua Takxim, cái bến thường có nhiều người xuống. Người bán vé đang tiếp tục hăng hái chứng minh rằng Khabib có ba con, không những quên không xé vé, mà nói chung quên cả mình là người bán vé. Miệng anh ta mất hẳn một nửa số răng, nên khi nói anh ta làm bắn cả nước bọt vào mặt khách.
- Tôi mà không biết Khabib có mấy con thì thử hỏi còn ai biết?
- Thật quá buồn cười!
Một trong những người đang cãi nhau quyết định chen ra phía cửa. Nhưng không làm sao len ra được.
- Đừng có chen lấn như thế! Đứng im tại chỗ! Không có tôi đạp cho một cái bây giờ!
- Giá tay tôi không vướng tôi sẽ cho anh ta biết tay!
- Thôi các ông ơi! Cho cậu bé ấy xuống đi!
Các hành khách chia thành hai nhóm, tiếp tục cãi nhau và chửi bới. Mỗi lúc một hăng.
Một ông có tuổi, cổ như cổ rùa và hai tay run run, bắt đầu làm cho những người đang chửi nhau phải xấu hổ.
- Các ông các bà không có chút xấu hổ nào cả!
Tôi nghĩ bụng: “Ông già này sẽ cho tất cả mọi người một bài học đây!” Nhưng ông này nói:
- Toàn bộ tai họa là ở chỗ trọng tài là trọng tài “dởm”!
Một cậu bé chừng mười ba - mười bốn tuổi, lên tàu ở bến Metghitki, nói với ông già:
- Bố già ơi, ông trọng tài Bakh này có đẳng cấp quốc tế đấy!
- Chúng tôi biết ông ta trở thành trọng tài như thế nào! Ai chứ tôi thì tôi biết toàn bộ những chuyện khuất tất của ông này. Nếu bố tôi vào đảng dân chủ thì ông ấy cũng có thể trở thành trọng tài quốc tế.
- Ôi, ôi, bây giờ lại chuyển sang chuyện chính trị rồi đấy!
Lúc này có giọng ồm ồm vang lên:
- Này! này! Tàu điện không phải là chỗ nói chuyện chính trị đâu nhé! Bác lái xe ơi! Bác lái xe! Xem này, trong tàu của bác người ta đang nói chuyện chính trị đây này! Dừng tàu lại đi, tôi xuống đây. Tôi phải tránh xa không có lại mang vạ vào thân!
- Ai nói chuyện chính trị ở đây thế?
- Ông nói về đảng dân chủ phải không?
- Cứ cho là tôi nói đấy. Thế thì sao?
- Nói tới đảng dân chủ tức là nói chính trị.
- Các vị ơi, đừng có xen chính trị vào thể thao!
Trong lúc đó ông già vẫn dọa cậu bé:
- Lúc cậu còn đang trong bụng mẹ thì tôi đã đá dự bị cho đội một của câu lạc bộ trẻ “Aivanxarai”. Cậu hiểu không hả, cậu bé ngốc nghếch?
- Hiểu!
Tàu điện dừng lại ở quảng trường Galatasarai. Người bán vé vẫn tiếp tục nói về những đứa con của Khabib, còn người lái xe cuối cùng cũng không nhịn được nữa. Anh ta quay lại phía toa tàu. Tôi cứ nghĩ chắc anh ta sẽ bảo người bán vé: “Này, thôi đi, anh hãy đi làm việc của mình đi!”
Nhưng thay vì thế, anh ta lại hỏi:
- Ở đây ai là người ủng hộ đội “Fener”?
Một hành khách lên tiếng:
- Tôi đây, thì sao? Anh không thích hả? Tôi ủng hộ đội “Fener” đấy!
Anh lái xe rít lên:
- Tôi không muốn chở những cổ động viên của đội “Fener”. Ông xuống xe đi!
- Tôi cũng không muốn đi tàu của người lái xe nào ủng hộ đội “Besiktas”! - Ông khách nói và nhảy ngay xuống tàu.
Tại bến Têpêbasư có người kiểm soát bước lên. Tôi nghĩ thầm: “Thôi chết, gặp đúng viên thanh tra rồi! Từ bến Metghitki chưa xé một vé nào”.
Một trong số hành khách vẫn lải nhải:
- Được rồi! Cứ cho là “Besiktas” thắng “Fener” đi, nhưng đó là một trận đấu thô bạo!
- Đừng có nói bậy! - Anh lái xe quát lên.
Ông hành khách cổ vũ cho đội “Fener” sợ bị đuổi ra khỏi tàu nên trốn sau lưng người đàn ông béo phệ.
Người bán vé vẫn tiếp tục chứng minh cho ý kiến của mình:
- Khabib có ba đứa con. Và cả ba là con anh ta, tôi nói sai thì sét đánh chết tại chỗ!
- Lạy thánh Ala, thế anh đã lần nào giáp mặt Khabib chưa?
- Nghĩa là anh bảo tôi nói dối hả? Thưa các vị, xin các vị hãy làm chứng! Người ta công khai làm nhục tôi! Tôi sẽ đưa đơn kiện anh ra tòa!
- Có chuyện gì thế? - Người kiểm soát hỏi.
- Đội “Fener” thắng “Besiktas” năm mươi lần, chỉ thua có mười lần, vậy mà bọn cặn bã này muốn chứng minh rằng...
Hóa ra, người kiểm soát cũng ủng hộ đội “Fener”. Anh lái xe và người kiểm soát hoàn toàn đối lập nhau trong tình cảm thể thao.
Anh lái xe quát lên:
- Cái gì, anh muốn dọa phạt chúng tôi đấy à? Viết đi! Chúng tôi sẽ trả, nhưng chúng tôi không chịu thua đâu! Đội “Besiktas” muôn năm...
Anh bán vé cầm cái túi xắc đập vào đầu một hành khách. Ông già thì giật cái cặp đeo lưng của cậu bé ra và đập vào gáy cậu ta một cái. Người kiểm soát thì túm lấy cà vạt của ông ủng hộ đội “Besiktas”. Đúng lúc đó nhân viên cảnh sát đến.
- Chuyện gì đang xảy ra ở đây vậy? - Một trong số cảnh sát hỏi người kiểm soát.
- Bọn họ bảo quả thứ hai “Fener” ghi bàn ở thế việt vị.
- Đứa ngu nào nói thế? - Viên cảnh sát tức giận.
- Quả ấy thậm chí không phải việt vị, mà dùng tay đưa vào lưới! - Một người nào đó ở giữa toa kêu lên.
Trong đám cảnh sát hóa ra có người ủng hộ đội “Galatasarai”.
- Thôi nào, tất cả đi về đồn!
Đám người cãi nhau kéo về đồn.
Ông cảnh sát trưởng hỏi tôi:
- Ông ở đâu?
- Tôi ở Eczerum.
- Không, tôi hỏi ông ủng hộ đội nào?
- Tôi không ủng hộ đội nào cả.
- Thánh Ala ơi! Thế ông trong câu lạc bộ nào?
Tôi hiểu rằng tôi phải nói tên một câu lạc bộ nào đó, nhưng tôi không biết ông cảnh sát trưởng ủng hộ câu lạc bộ nào, nên tôi cứ nói hú họa:
- Tôi ở câu lạc bộ “Fener”!
- Tốt! Ông hãy đứng ở đây.
Ông cảnh sát trưởng chia tất cả các hành khách thành các nhóm theo câu lạc bộ mà họ ủng hộ. Sau đó ông nói với những người tranh cãi:
- Bây giờ hãy kể xem chuyện gì đã xảy ra?
Ông khách bị vết bầm tím dưới mắt nói ngay:
- Thưa ngài cảnh sát trưởng. Tôi lên tàu điện ở bến Metghitki. Tôi đi làm. Tôi phải xuống ở quảng trường Takxim.
- Tại sao ông không xuống?
- Làm sao tôi xuống được?! Mọi người đang tranh cãi về bóng đá, và tôi bị lôi cuốn vào. Đây, cái ông này bảo rằng cầu thủ Mazlum của đội “Fener” ra sân chưa được phép của trọng tài. Đội “Besiktas” đang định làm đơn kiện lên Liên đoàn bóng đá.
Ông cảnh sát trưởng nhảy dựng lên như chạm phải lửa:
- Anh dám nói thế về Mazlum à?...
Lợi dụng lúc đó tôi lỉnh ngay khỏi đồn cảnh sát!
Nhân dân ta rất yêu thể thao. Chung quy chỉ có thế thôi!...
-----------------
[1] Tên một đội bóng.
0
Tội đồ bất đắc dĩ

Chiếc ô-tô buýt chật ních người. Nhưng giữa đám người chen chúc ấy vẫn nổi bật lên một vị khách mà thoáng trông cũng biết ngay là đi nhầm xe. Chỗ của ông ta lẽ ra phải là ở trong xe cấp cứu mới phải. Vì tay trái ông ta bị buộc treo lên vai bằng một sợi dây vải trắng. Đầu thì băng bó chằng chịt, một mắt thì sưng húp lên, còn mắt kia thì thâm tím xung quanh. Một tay bám lấy thanh vịn, ông khách vừa cố xoay xở tìm chỗ đứng cho thuận tiện, vừa rên rỉ luôn miệng. Thấy vậy, một hành khách đang ngồi tỏ ý thương hại, đứng dậy nhường chỗ cho ông ta.
- Cám ơn ông! - Ông khách mình đầy thương tích rên rỉ nói.
- Ủa! Bác Xenman đấy à? Thế mà tôi không nhận ra! - Người khách vừa đứng dậy nhường chỗ kêu lên - Bác bị làm sao thế này? Đứa nào đánh bác hay sao mà mặt mày thâm tím hết cả lên thế kia?
- Bác Xaraphettin đấy à? Chào bác! Chà, bác hỏi làm gì cho thêm buồn... Cái thân hình tôi nó thế này đã ba tháng nay rồi...
- Rõ khổ! Thế nhưng bác làm sao vậy?
- Lạy thánh Ala! Xin người thương xót con! Con hoàn toàn kiệt sức mất rồi...
- Thế các đốc tờ bảo thế nào ạ? Bác bị bệnh gì vậy?
- Ôi dào! Đốc tờ mà làm quái gì! Đốc tờ cũng chả chữa được bệnh của tôi... Lạy thánh Ala! Sao Người lại bắt con chịu cái cực hình như thế này! Mà lại không bắt kẻ thù của con phải chịu!... Ôi, khắp người tôi đau như dần, đến chân tay cũng không cử động nổi nữa.
- Nhưng dù sao bác cũng phải đi bệnh viện cho đốc tờ họ khám xem thế nào chứ?
- Bệnh viện gì! Đến nhà thương điên thì có! Chẳng giấu gì bác, tôi bị mắc một bệnh truyền nhiễm...
Nghe nói thế, Xaraphettin bỗng lùi hẳn người lại.
- Chết! Thế sao bác còn đi ra phố làm gì?
- Chao ôi, nói thì dễ đấy, nhưng nào có ngồi nhà được cho cam! Tôi bị lây cái bệnh thằng con tôi mất rồi...
- Thế cậu nhà cũng bị à?
- Nó còn bị nặng bằng mấy tôi ấy chứ! Bệnh của nó đã thành mãn tính rồi. Tôi bây giờ cũng vậy. Có mỗi cái trường phổ thông mà nó không sao tốt nghiệp được! Năm lớp chín đã bị đúp rồi, lên lớp mười cũng lại thế nốt! Mà cũng chỉ tại cái trò bóng bánh chết tiệt! Đã bao nhiêu lần tôi lạy van nó, bảo: “Mày quăng ngay cái trò bóng bánh khốn nạn ấy đi cho tao!” Nhưng nó lại trả lời tôi: “Con không quăng được”. Nó tự hủy hoại cái thân xác nó thật là ghê gớm. Đến nỗi tôi với mẹ nó không còn nghĩ đến chuyện mong cho nó học giỏi nữa, mà chỉ lo làm sao cứu vãn lấy tính mạng nó mà thôi! Mỗi lần nó đi đá bóng về trông nó cứ như vừa đi đánh giặc vậy! Đội ơn thánh Ala! Bây giờ nó bị gãy chân trái rồi, nên không đá bóng được nữa.
Thấy nó bị gãy chân, tôi sung sướng quá, vì không thế thì thể nào có ngày nó cũng bị người ta đánh chết. Ôi, xin Đức Ala hãy tha thứ cho chúng con! Tôi và mẹ nó thường bảo: “Thôi cho nó gãy chân cũng được! Chỉ cốt sao nó thoát khỏi cái bệnh truyền nhiễm ấy mà còn sống là may rồi!”. Nhưng từ khi bị gãy chân, nó lại quay sang mê xem bóng đá quá thể. Hôm nào có bóng đá thì có trời giữ được nó ở nhà! Đá ở đâu nó cũng mò đi xem cho bằng được. Đá ở Ăngcara là nó nhảy đi Ăngcara, đá ở Izơmia là nó tếch đi Izơmia! Nhưng cái chuyện nó cứ đi đi về về như con thoi ấy cũng chưa hẳn là nhục! Nhục nhất là mỗi lần đi về trông nó lại phờ phạc không còn ra hồn người nữa! Chân đứng không vững, giọng nói thì khản đặc lại! Có đến hàng bao nhiêu lần tôi bảo nó, là đừng có la hét như điên ấy cho nó khản tiếng ra. Nhưng nó bảo tôi. “Bố chỉ có ngồi nhà mà nói! Bố cứ thử ra sân mà không hét xem nào...”. Có hôm nó đi xem về thế nào mà đầu vỡ toác ra, còn hôm khác thì mũi bị rập nát và mắt thì sưng húp lên. Giá bảo nó còn đá bóng như hồi xưa mà bị như thế thì khả dĩ còn hiểu được, chứ đằng này nó chỉ xem người ta đá thôi cơ mà... Nhưng nó lại cãi: “Ai đi xem mà chẳng phải đánh nhau! Bố cứ thử đi ra đấy mà ngồi im xem nào”. Có lần chúng tôi phải đến bốt cảnh sát để nhận nó về. Những người đi xem bóng đá đánh nhau dữ quá, cảnh sát phải giải tất cả về bốt. Có đến hai lần chúng tôi phải khiêng nó từ xe cấp cứu xuống.
“Trời ơi! Sao con không thương xót cái thân con một chút, mà lại đi hủy hoại nó thế hả con?”. Tôi nói với nó như vậy. Nhưng nó bảo rằng tuy cũng biết thế, nhưng nó không làm thế nào được! Nghe nó trả lời như vậy mà tôi thấy điên tiết! Tôi bảo nó: “Thôi được! Hôm nào mày dẫn tao đi với mày để tao xem cái trò bóng bánh của mày nó như thế nào?”.
Và thế là tôi đi với nó đến sân vận động Mitkhatpasa.
Trận đấu bắt đầu. Lẽ cố nhiên, lúc bắt đầu tôi chưa cổ vũ cho đội nào cả. Đội nào thắng hay thua đối với tôi cũng thế cả thôi. Tôi cứ ngồi quan sát khán giả và cười một mình. Bất ngờ có một quả sút vào lưới y như một mũi tên. Cú sút thật tuyệt vời! Chính mắt tôi được nhìn thấy! Nhưng lão trọng tài ăn gian không cho tính điểm. Tôi tức không chịu được. Thấy mọi người “ê” trọng tài, tôi cũng bắt chước “Ê!.. Ê!” rõ to. Bỗng tôi nghe thấy có ai bảo trọng tài không cho ăn quả ấy là đúng. “Không đúng! - Tôi cãi lại - Quả sút ấy rất đẹp! Nhưng trọng tài ăn gian! Đúng là lão ta ăn đút lót rồi”. Gã kia bảo tôi: “Đồ con lợn! Mày có biết có những cú sút như thế nào không hả?” Tôi bảo hắn rằng có hắn là “đồ con lợn” thì có! Vì mới đi xem lần đầu nên tôi đâu biết tính tình của cái dân ham mê bóng đá. Thế là chưa kịp nói hết câu, tôi bị hắn thoi một quả như trời giáng, ngã quay ra đất. May mà có những người ngồi bên cạnh can được, chứ không thì tôi đã bị no đòn với thằng cha ấy rồi! Còn ông con tôi thấy tôi bị đánh cũng chả thèm để ý gì cả, cứ mải xem và luôn mồm kêu: “Xem kìa! Sắp tung lưới nữa đây này!”
Kể từ lúc đó, cái đội mà tôi bị ăn đòn vì nó, bỗng trở thành cái đội yêu mến của tôi. Bây giờ mỗi khi bóng đến chân các cầu thủ đội này là tôi không ngồi im được nữa. Tay tôi bắt đầu vung lên, như chuẩn bị đánh nhau vậy. Còn chân thì đá không biết vào đâu nữa. Giá lúc này bóng mà rơi vào chân tôi, thì có lẽ tôi phải bắn nó lên tít mặt trăng chứ chả chơi! Vung vẩy chân thế nào tôi đá bốp một cái vào lưng cái ông ngồi trước: “Ấy chết, xin lỗi bác!”. Tôi vội nói, nhưng ông ta đáp lại với cái giọng của người hiểu biết: “Không hề gì! Chuyện ấy là thường!”. Một lúc sau thì chính tôi lại bị một cú đá vào lưng nẩy đom đóm mắt. Bấy giờ tôi mới hiểu rằng ở trên sân vận động thì không cái gì là không thể xảy ra được!
Nhưng cú đấm, cú đá, cú huých từ bốn phía cứ thỉnh thoảng lại giáng vào đầu, vào lưng. Nhưng cũng chẳng ai thèm để ý đến làm gì! Ấy là lúc mọi người đã ham xem quá mất rồi! Bóng ở tít tận ngoài sân cỏ, mà mình ngồi đây, cứ anh bên cạnh mà sút thật lực. Mà lạ một cái, lúc ấy chẳng ai thấy đau cả.
Sau đó... bác Xaraphettin ạ, đội của tôi lại sút tung lưới một quả nữa, nhưng thằng cha trọng tài lại không cho ăn. Lần này thì tôi không nhịn được nữa. “Đuổi cổ trọng tài ra sân!” Tôi gào lên như điên, không còn biết gì đến xung quanh nữa! Chân tay tôi run cả lên. Bên cạnh tôi là một ông bán nước chanh. Tôi cứ vớ lấy những chai nước của ông ta mà ném vào lão trọng tài. May mà đó là những chai nước chanh, chứ không phải lựu đạn!... Chẳng ai còn buồn nhìn ra sân cỏ nữa, người nào cũng quay sang choảng nhau loạn xạ. Tôi túm cổ được một thằng bé và cứ thế bóp làm nó suýt nghẹn thở. Thật đúng là vô tình mình có thể trở thành kẻ giết người là vì thế! Khốn nạn cho thằng bé, nó cứ gào lên, bảo rằng cũng ủng hộ cái đội của tôi. Tôi vừa buông nó ra thì có một thằng cao lêu đêu bỗng vật ngửa tôi ra mà đè lấy đè để. Tôi kêu to gọi thằng con tôi, nhưng cái thằng giời đánh còn đang mải nện nhau với trọng tài ở trên sân. Tôi gọi cảnh sát, nhưng cảnh sát cũng đang đấm đá nhau túi bụi. Thôi được, để tôi hỏi cái thằng cha đang đè lên người tôi xem hắn cổ vũ cho đội nào. Té ra hắn cũng cổ vũ cho đội của tôi! Phải khó khăn lắm tôi mới thoát ra khỏi đôi chân gọng kìm của hắn, vì hắn ghì tôi chặt quá, sợ để tôi thoát ra thì không tìm được ai để đánh.
Mãi một lúc sau, mọi người mới trở về trật tự, và trận đấu mới lại tiếp tục được. Để cổ vũ các đấu thủ, bây giờ, bắt chước mọi người, tôi cũng bắt đầu hét to: “H-o-a-n h-ô! H-o-a-n h-ô!” Hét được một lúc thì giọng tôi khản đặc lại. Tôi bèn quay sang gõ vào cái thùng sắt tây của ông ngồi đằng trước. Ông này mang cái hộp đi là cũng để cổ vũ các cầu thủ. Nhưng đến khi trên sân hai cầu thủ bỗng xông vào nhau đấm đá túi bụi, thì cảnh tượng đó mới thật là hỗn loạn. Tôi bị một thằng cha nào đó tung bổng lên cao. Thú thật, chưa bao, giờ tôi nghĩ mình có thể bay cao đến thế! Sau đó... sau đó thế nào thì tôi không biết gì nữa. Chỉ biết lúc tỉnh lại thì đã thấy mình đang nằm trong nhà thương.
- Thế là suốt từ hôm đó bác vẫn chưa bình phục được? - Xaraphettin hỏi.
- Vâng, vì đến Chủ nhật sau tôi lại đến sân vận động. Chả là đội qua tôi chơi mà! Làm sao mà ngồi nhà được! Nói thì dễ đấy, nhưng hôm ấy cứ thử ngồi nhà xem có được không? Có mà lấy dây thừng trói chân anh lại, thì anh vẫn chứ chuồn đi được! Ôi, sao mà người tôi đau thế này!...
Bỗng từ cánh tay băng bó của Xenman có một vật gì rơi ra.
- À, cái hộp sắt tây đấy mà! Để tôi gõ vào nó khi nào không thể gào được nữa. - Xenman cắt nghĩa cho tôi, khi tôi nhặt chiếc hộp đưa cho bác ta.
Ô-tô dừng lại. Xenman đứng dậy, rên rỉ nói:
- Thôi chào bác, bác Xaraphettin!
- Không dám, chào bác. Bây giờ bác đến khám đốc tờ chứ?
- Ấy chết! Trận hôm nay bỏ thế nào được! Chà! Lạy Chúa! Chỉ mong sao cho con đừng đến muộn!
0
Những người quen của tôi

Nhiều khi chính chúng ta là người có lỗi trong những tai họa, rủi ro của mình. Trong trường hợp này tôi đang nói về tôi.
Vào những ngày diễn ra Liên hoan phim Thổ Nhĩ Kỳ lần thứ nhất, tôi cố gắng không bỏ sót một phim nào. Đến hôm cuối cùng tôi hiểu ra rằng xem phim trong nước còn khó hơn cả việc làm ra các phim ấy. Vào đúng lúc giác ngộ được điều đó thì tôi lăn ra bất tỉnh ngay tại rạp chiếu phim.
Anh bạn Mêtin của tôi phải nâng tôi dậy, rồi xốc nách dìu tôi ra ngoài đường. Anh gọi một chiếc tắc-xi.
- Mặt anh không còn giọt máu. - Anh vừa dìu tôi ngồi lên xe vừa nói với giọng lo lắng.
Tôi rên rỉ:
- Tôi thấy trong người khó chịu quá.
- Không ngờ những bộ phim lại có thể tác động mạnh đến con người như vậy.
Nhân đây tôi muốn nói thêm, các bộ phim do nước ta sản xuất thường hết sức lâm li tình cảm. Một diễn viên nam chỉ cần nhìn xoáy vào một cô gái từ cách xa mười lăm mét là cô nàng đã lập tức có chửa ngay. Mà đó là một cảnh cưỡng hiếp, cô gái cầu khẩn: “Không bao giờ!... Không đời nào!... Hãy thương xót tôi!...” Nghe cô ta nói tôi sợ chết khiếp đi được.
Đến bến tàu chúng tôi chia tay với người lái xe tắc-xi. Tôi loạng choạng bám vào tay Mêtin để đi. Trời nóng bức ngột ngạt y như ở sa mạc Sahara. Tại bến tàu một đám đông đang đứng chờ. Chúng tôi phải tìm mọi cách để chen đến gần bờ. Sau đó đứng chờ tàu cập bến. Hàng rào sắt ngăn lối xuống tàu gợi lại cho tôi những kỷ niệm buồn bã. Cánh cửa sắt của hàng rào lát nữa sẽ mở ra, và chúng tôi sẽ xuống tàu thủy.
Có một người phía sau xô đẩy tôi rồi lách vào giữa tôi và Mêtin. Người khác lại xô đẩy ông này rồi lách vào đứng giữa ông ta và Mêtin. Bây giờ chúng tôi bị ngăn cách bởi hai người lạ. Sau đó những người chen vào giữa càng nhiều hơn. Tôi bị chen bật về một phía, còn Metin về phía khác.
Tôi kêu lên bảo anh:
- Chúng ta sẽ gặp nhau dưới tàu thủy!
Anh kêu to đáp lại:
- Anh đang ốm đấy! Anh không nên đứng! Xuống đến tàu tìm chỗ mà ngồi đi. Nhớ đấy nhé!
Tôi bị xô đẩy hết bên này sang bên khác. Rồi không nhìn thấy bóng dáng bạn tôi đâu nữa. Trên cái biển đầu người chỉ thấy thấp thoáng cánh tay anh ta.
- Azit, tôi sẽ tìm anh trên tàu thủy!
Cánh cửa sắt mở ra.
Bị một cú huých mạnh đến một nghìn mã lực, trong nháy mắt tôi rơi ngay vào khoang “Luých” ở boong trên và ngã phịch xuống một chiếc ghế còn trống. Vài giây sau thì người kéo đến đã chật cứng. Không nhìn thấy Mêtin đâu. Tôi vẫn chưa bình phục hẳn sau cơn bất tỉnh: đầu vẫn quay quay, mắt vẫn tối sầm, miệng vẫn buồn nôn.
Trước mặt tôi có hai người ngồi. Một là ông đeo kính, đầu hói, trạc tuổi tôi. Người thứ hai trạc ba mươi tuổi, vai rộng, người đô con, trông như một đô vật, giọng nói ồm ồm.
Tôi liếc mắt nhìn: ông đầu hói đang cầm trong tay tờ báo của chúng tôi, và đang đọc trang bốn, là trang có đăng truyện ngắn của tôi.
- Chà, thế mới là viết chứ! - Ông ta quay sang tay đô con nói.
Tôi thích cái phản ứng của ông ta. Thậm chí tôi cảm thấy hơi ngượng và quay nhìn ra phía biển. “Thế nào rồi họ cũng nhận ra mình!”
Tây “đô vật” nhếch mép cười khảy và nói rít:
- Biết rõ là hắn viết gì rồi! Đồ chim ăn xác thối!
Không biết ở địa vị tôi các bạn sẽ làm gì đây?
Tôi làm ra vẻ không nghe thấy những lời xúc phạm vừa rồi. Rõ ràng là họ không nhận ra tôi. Đã vậy thì cứ mặc cho họ muốn nói gì thì nói.
Tay “đô vật” im lặng một lát. rồi nhận xét:
- Hắn viết kể ra cũng được đấy, nhưng giọng rất ba que xỏ lá!
Tôi cần phải làm một trong hai việc: hoặc lấy hai tay tóm chặt lấy cổ họng hắn, hoặc đứng lên và bỏ đi. Nhưng tôi không đủ sức để đứng dậy. Mà cho dù có đứng dậy được chăng nữa, tôi cũng không thể nào đi được một bước giữa đám đông chật cứng như thế này.
Tôi nghĩ bụng: “Dù sao họ cũng không quen biết mình. Cứ kệ cho họ nói. Trong bất cứ câu chuyện nào cái quan trọng nhất là ý tưởng chính. Qua đây có thể thấy họ cũng thích sáng tác của mình. Chúng ta ai cũng thường khoác cái mặt nạ khoan dung suồng sã khi khen người thân cận”.
Vậy là tôi quyết định làm ra vẻ không nghe thấy gì.
Ông đầu hói hỏi:
- Anh quen hắn ta à?
Tay “đô vật” lại cười nhạt:
- Tôi?... Quen hắn ta ấy à?... Tất nhiên rồi!
Tôi đưa mắt liếc nhìn hắn: “Có thể hắn là một trong những đồng nghiệp cũ của tôi chăng? Không thể nào, vì hắn trẻ hơn tôi nhiều. Rõ ràng lần đầu tiên tôi nhìn thấy hắn”.
Tay “đô vật” tiếp tục nói:
- Dùng từ “quen” chưa chính xác lắm. Tôi còn biết rõ họ hàng tông tích của hắn ấy chứ! Một tên bịp bợm khét tiếng!
Ông đầu hói thốt lên:
- Thật thế à?! Cũng hay thật! Tôi cũng có lần gặp hắn ta, nhưng đọc các truyện của hắn tôi cứ nghĩ hắn là người đứng đắn tử tế.
Có thể đúng họ là những người quen của tôi và trước mắt tôi họ cố tình nói ra những lời lẽ đểu cáng làm ra vẻ như không nhận ra tôi. Nếu vậy, cần dự đoán rằng sự việc sẽ kết thúc tại đồn cảnh sát.
- Hắn toàn viết nhăng nhít. - Tay “đô vật” lại nói giọng ồm ồm - Nhưng bác tìm thấy cái gì độc đáo trong truyện của tên bịp này? Tôi nói riêng với bác thôi nhé, chính tôi đã làm cho hắn thành người đấy!
- Thế à?
- Than ôi, đúng vậy, và đó là sai lầm lớn nhất trong đời tôi. Bố của tay viết báo này làm nghề đánh cá. Hồi nhỏ gia đình hắn sống nhờ ở nhà tôi.
- Hình như anh là người làng Koni? - Ông đầu hói hỏi.
- Phải. Bố hắn cả đời làm nghề đánh cá, nhưng vì ở Koni, nơi gia đình hắn dọn đến, không có biển, nên lão già phải chuyển sang làm nghề bán cá khô.
Câu chuyện của hai người này từ lâu đã lôi cuốn chú ý của các hành khách khác. Mọi người chăm chú lắng nghe với vẻ thích thú ra mặt.
Tôi cứ ngồi chết lặng, không kịp lau cả mồ hôi trên mặt. Giá có Mêtin bên cạnh, tôi đã đứng dậy và bỏ đi rồi.
- Tôi và hắn cùng học một trường. - Tay “đô vật” giải thích - Hắn có biệt hiệu là Smorchok.
Ái chà! Cái thằng nói dối! Tôi chưa bao giờ đến vùng Koni cả!
- Theo tôi hắn ký bút danh - Ông đầu hói nói - Còn tên thật của hắn khác.
- Hoàn toàn đúng. - Tay “đô vật” khẳng định - Tên thật của hắn là Durmus. Nhà hắn có mười bốn anh em.
- Mười bốn anh em cơ à? - Có một hành khách thốt lên.
- Phải, mười bốn. Nhưng tất cả đều chết từ khi còn bé. Vì thế bố mẹ mới đặt tên cho hắn là thằng Durmus [1]. Ở trường hắn bị tất cả học sinh thi nhau bắt nạt. Chỉ có mình tôi đứng ra bảo vệ. Tôi không bao giờ quên được trong một lần thi văn hắn đã “bơi” như thế nào. Thầy giáo phải cho hắn thêm giờ chuẩn bị. Tôi dúi cho hắn bài của tôi để hắn cóp, nhưng hắn chỉ trả lời được một nửa. Hắn bị chuyển sang lớp khác. Ít lâu sau thì bị đuổi khỏi trường vì lười biếng. Nhiều năm sau bỗng tôi gặp hắn ở Stambul. Tôi đang đi trên phố Bâyôg bỗng nhìn thấy ở góc phố có một người đang đứng và gân cổ gào lên: “Khuy cài tay áo sơ-mi đây!... Ai mua khuy cài tay áo đây!...” Hóa ra hắn đã trở thành kẻ đi bán rong các đồ tạp hóa. “Ê, này, cái đầu đất kia! - Tôi bảo hắn - Làm sao cậu đến nỗi này hả?” - “Ôi, đừng hỏi nữa, người anh em, cái số tôi không may!” - Hắn đáp. Tôi dẫn hắn đến nhà tắm, cho một ít quần áo cũ, sau đó dúi vào tay hắn một trăm lia và bảo:
“Khi nào gặp khó khăn cứ ghé qua, tôi sẽ giúp”. Hắn sướng quá, thế là quen mùi ngày nào cũng đến xin tiền.
Lúc này cả khoang tàu đã lắng nghe những lời ba hoa phét lác của tay “đô vật”. Cảm thấy mình là trung tâm chú ý của mọi người, hắn càng nói hăng hơn.
Ông hói đầu hỏi:
- Nhưng hắn xin tiền để làm gì?
Tay “đô vật” bĩu môi khinh bỉ:
- Tất cả bọn cờ bạc đều thế cả. Có khi nào chúng giữ được tiền đâu?
- À, ra thế! Nghĩa là hắn chơi bạc?
- Chơi tàn bạo là đằng khác! Suốt ba ngày đêm liền không rời khỏi ghế. Hắn phải bán nốt bộ quần áo cuối cùng của bố hắn rồi nướng hết vào bài bạc. Vì chuyện này tôi rất phẫn nộ. Khi hắn lại mò đến hỏi xin tiền tôi túm cổ đẩy ra khỏi cửa.
- Anh làm thế là đúng. - Ông hói đầu ủng hộ.
Không muốn để sót một câu nào, mọi người cố cúi sát vào người kể chuyện, đặt tay lên tai để nghe cho rõ hơn.
- Rồi sau thế nào? - Ông hói đầu háo hức hỏi.
- Từ lần đó hắn không dám đặt chân đến nhà tôi nữa... Đời nào tôi chơi với những tên vô lại như hắn!
Một người đàn ông bụng phệ tham gia vào câu chuyện.
- Đúng lắm. - Ông này lên tiếng - Tôi cũng biết hắn ta. Nhiều lần hắn thua bạc phải bán cả quần. Có lần tại câu lạc bộ của chúng tôi người ta nện cho hắn một trận thừa sống thiếu chết.
- Cái đó thì không có gì ngạc nhiên. - Tay “đô vật” cười nhạt - Nhưng vì chuyện gì?
- Hắn định giở trò sàm sỡ với một chị có chửa. Hay đại loại là như vậy.
- Chà, chà, chà! - Một người đàn ông tóc đen, da ngăm ngăm, thốt lên, giọng nghiêm trọng, thậm chí nét mặt còn tỏ giận dữ.
- Phải, không thể nào mà không đánh hắn được, các vị ạ. Cứ ngay như tôi đây, một con kiến không dám giết, thế mà đã ba lần tôi cũng phải nện hắn. Hắn mắc cái tật rất bệnh hoạn là đi nhìn trộm các đôi trai gái yêu nhau. Các vị có biết không, người ta gọi loại người như hắn là “những người thích làm bác sĩ X quang”. Ban đêm bọn người này thường trèo lên cây, lên các cột điện, hàng rào và ngó vào phòng ngủ của chúng ta. Một thứ bệnh đê tiện, thưa các vị. Cầu thánh Ala cho chúng ta tránh xa được hắn! Có một lần vào đêm trăng sáng tôi đang cởi quần áo trong phòng ngủ, vô tình nhìn ra cửa sổ thì thấy trên cây một bóng người. Tôi chạy ra vườn và kéo tên đốn mạt xuống đất. Chính là hắn! Tôi bảo hắn, mày hãy liệu hồn đấy! Rồi tôi cầm gậy đập cho hắn một trận. Hắn cứ quỳ mọp dưới chân tôi van xin: “Người anh em tha cho tôi! Tôi thề không bao giờ nhìn trộm nữa!”. Tôi thương hại, tha cho hắn đi. Nhưng rồi các vị có biết không?... Đến tối hôm sau hắn lại trèo lên cây cạnh cửa sổ nhà tôi.
Một ông già khọm có cái cằm run run thều thào hỏi:
- Thế hai vợ chồng ông ở nhà à?
Ông tóc đen, người gọi tôi là “người thích làm bác sĩ X quang” im lặng một lúc rồi đáp:
- Không, tôi chỉ có một mình. Rõ ràng cái tên đê tiện này đã rình mò khắp thành phố nhưng không tìm được đối tượng nào là phụ nữ để nhìn trộm nên đành phải chọn tôi. Tối hôm trước hai vợ chồng con gái tôi đã về Canhit để thăm bố mẹ chồng.
Tôi chỉ muốn nhổ vào mặt bọn họ và hét lên:
“Đồ đểu cáng! Khốn nạn! Đồ bịa đặt vô liêm sỉ!” Nhưng sự việc chưa phải kết thúc ở đây. Chắc chắn thế nào tôi cũng sẽ phải chửi nhau với họ, và khi đó hoặc tôi sẽ phải giết một người nào đó, hoặc bọn họ sẽ bóp cổ tôi.
Mà nào tôi có quen biết ai trong số họ cho cam! Lần đầu tiên tôi nhìn thấy họ! Làm sao họ có thể bịa chuyện trắng trợn như thế được cơ chứ!
Một hành khách có khuôn mặt trẻ măng nói:
- Nhưng ông ấy viết hay!
- Vớ vẩn. - Ông đội mũ bê-rê ngắt lời cậu ta - Cái chính là phải có đạo đức. Con người trước hết cần phải đứng đắn.
Một ông già tóc bạc trắng gầy như cây sậy lắc đầu vẻ đau xót.
- Than ôi, than ôi! Tôi chính là người đã làm hắn trở thành nhà văn và chính vì thế đã mang lại tai họa cho dân tộc chúng ta. Tôi là người đầu tiên đặt cậy bút vào tay hắn.
- Sao, cụ cũng biết hắn à? - Tay “đô vật” hỏi.
Ông già cười chua xót.
- Tôi biết hắn ta ấy à? Nói thế chưa đủ. Tôi đã nói với các vị rằng chính tôi là người làm cho hắn trở thành nhà văn. Hồi đó tôi ra một tờ báo ở Bilegik. Một hôm có một người trẻ tuổi ăn mặc tồi tàn đến tòa soạn xin việc. Tôi thương hại anh ta. Chắc là quỷ sa tăng đã làm tôi mờ mắt. Tôi quyết định làm cho chàng thanh niên bất tài này thành nhà báo. Để cho anh ta, tôi nghĩ, kiếm được miếng bánh mì và sẽ biết ơn tôi. Trời ơi, sao tôi lại đi mở lòng hào hiệp với hắn làm gì!
Tay “đô vật” vỗ tay vào đùi đánh “đét” một cái.
- Thôi, tất nhiên rồi! Bây giờ thì tôi hiểu hết rồi. Nghĩa là hắn đã làm cho báo của ông ở Bilegik trước khi lại quay lại chỗ tôi.
Tôi không còn đủ sức nghe những lời nói láo của bọn họ nữa. Phải chạy ngay khỏi đây! Chạy hoặc nhổ vào mặt bọn họ! Dù sao tốt nhất tôi nên bỏ đi. Mặc cho chúng vắng mặt tôi muốn nói gì thì nói. Quân ngu dốt! Tôi vài lần có việc đi tàu hỏa ngang qua Bilegik, nhưng chưa bao giờ ở đấy cả. Lão già này nói về tờ báo nào vậy?
Tôi đứng dậy khỏi ghế. Ngay lập tức có người ngồi vào ghế tôi. Nhưng tôi không sao đi nổi một bước. Đầu quay cuồng, chân như muốn khuỵu xuống vì mỏi. Đám đông ép chặt tôi từ bốn phía, không sao nhúc nhích được.
Vậy là tôi lại phải đứng lại giữa đám “những người quen của tôi”.
Tay “đô vật” kể, một đêm tôi bị bắt ở một nhà chứa và sau đó trốn khỏi đồn cảnh sát, người trần như nhộng. Có người nào đó ngắt lời gã và bắt đầu tỏ ý phẫn nộ vì nghe đâu như tôi viết những tiểu thuyết khiêu dâm, bí mật đem truyền bá làm hư hỏng thanh niên ta. Theo lời ông này thì ông ta đã nhiều lần khuyên tôi phải chấm dứt những việc làm bẩn thỉu, sau đó, thấy tôi không chịu ăn năn hối cải, đã đuổi tôi ra khỏi nhà mình và từ đó không thèm nói chuyện với tôi nữa. Ông ta kết thúc câu chuyện hoang tưởng của mình như thế này:
- Nhưng thế chưa hết! Chính phủ nhiều lần hối lộ hắn, và kẻ lá mặt lá trái đã dùng bài báo của mình bôi nhọ các đảng đối lập.
Vài người đồng thanh kêu lên:
- Đến thế sao?
- Ô-ô-ô... Tôi xin nhắc lại, là nhiều lần!...
“Họ nói gì vậy? - Tôi kinh hoàng nghĩ - Hay có thể tôi bị chứng bệnh phân thân, con người chia thành hai con người, và tôi đã làm những hành động mà chính tôi không biết?”
Tôi ngạc nhiên nghe những câu chuyện kỳ lạ về bản thân tôi, về những hành vi và việc làm ghê tởm của tôi. Tôi nhận ra tôi là kẻ mang trong người đủ mọi thói hư, tật xấu.
Hóa ra, những con người này biết về tôi rất rõ. Họ đã giúp đỡ tôi, muốn đưa tôi trở lại con đường lương thiện, nhưng tôi không thể trở thành người tốt được, thành thử cuối cùng mọi người buộc phải xua đuổi tôi bằng cách hoặc đá vào mông tôi, không thì nói thẳng vào mặt tôi: “Cút ngay đi, đồ con lợn!”
“Hay có thể họ nói về người khác?” - Một ý nghĩ cứu tinh chợt lóe lên trong đầu tôi.
- Xin lỗi ông. - Tôi hỏi cái ông khách vừa kể chuyện tôi tống tiền như thế nào - Ông vừa nói về ai đấy ạ?
Ông ta chìa cho tôi xem tờ báo trong đó đăng truyện ngắn của tôi, và nói tên tôi.
- Chúng tôi công phẫn về cái thằng cha bịp bợm này. Ông cũng biết hắn à?
- Tôi biết.
- Các ngài nghe thấy chưa? Ông đây cũng biết hắn ta đây này!
Tất cả quay lại nhìn tôi. Có người hỏi:
- Thế theo ông, hắn là người như thế nào?
- À phải, một tay không lấy gì làm tốt lắm.
Tôi lại cố tìm cách thoát khỏi cái đám người nói láo này, nhưng vô hiệu. Bỗng tôi nhìn thấy Mêtin đang đứng ở đằng xa. Và anh ta cũng nhận ra tôi, anh gọi to:
- Ấy, Azit! Azit!
Có nên thưa không? Mọi người sẽ nhận ra ngay tôi là ai. Tôi sẽ đặt họ vào thế khó xử. Với lại, vấn đề không phải ở chỗ đó. Khi tự thú như vậy thì coi như tôi phải nuốt tất cả những lời lẽ thô bỉ, tục tằn của họ.
Tôi quyết định không thưa, kệ Mêtin gọi.
Còn anh thì vẫn cố hét thật to:
- Ây! Azit! Anh thấy thế nào rồi, đỡ hơn chưa, Azit?
Tôi không ngoái đầu lại. Khi nào tàu cặp bến và chỉ có hai chúng tôi với nhau tôi sẽ giải thích cho anh tất cả.
Mêtin rất cáu vì tôi không thưa, anh dùng khuỷu tay huých đám đông để cố len đến chỗ tôi:
- Anh điếc hay sao thế? Tôi gào suýt vỡ cả cổ họng!
- Ông cần gì? - Tôi lạnh lùng nhìn vào mắt anh.
- Thôi đừng vớ vẩn nữa, Azit! Anh đùa kiểu gì thế?
- Xin lỗi, ông nhầm rồi. Chắc ông nhầm tôi với người nào khác.
- Tỉnh lại đi, Azit. Chúng ta vừa xuống tàu cùng nhau mà!
- Tôi không biết ông.
Đám hành khách mấy phút trước đây vừa đơm đặt chuyện về tôi, nhìn chúng tôi với cặp mắt tò mò.
- Azit, thôi đừng đóng kịch nữa!
- Ông hỏi Azit nào? Xin ông để tôi yên.
- Thôi bỏ cái trò ngu ngốc ấy đi. Chúng ta vừa ban nãy cùng đi xem chiếu bóng. Anh còn bị ngất trong rạp, tôi phải gọi tắc-xi.
- Ông nói lăng nhăng gì thế, tôi đâu quen biết ông!
- Đến phát điên lên được! Anh bạn thân mến của tôi, anh là bạn tôi mà. Anh viết truyện cho báo “Aksam”. Chả lẽ không đúng thế sao?
- Hồ đồ! Ông nhầm người rồi!
- Azit!
- Tôi xin ông tránh ra cho tôi đi!
- Azit, nghe đây...
Tôi quay lại phía những người cùng đi tàu.
- Xin lỗi các vị. Xin các vị làm ơn giải thích hộ với ông này là ông ấy nhầm. Vì tất cả các vị đều biết rõ tay nhà văn ấy. Chả lẽ là tôi?
Ông tóc đen nước da ngăm ngăm, nét mặt cau có nhún vai. Tay “đô vật” phụ họa theo:
- Thật ngu ngốc! Tay kia cao lớn, tóc vàng...
Ông đeo kính đầu hói cười vang vẻ giễu cợt.
- Tất nhiên đó là sự nhầm lẫn, ông bạn ạ. Cái thằng cha bẩn thỉu kia đâu có quan hệ gì với ông! Không giống chút nào cả!
Rồi ông ta nhìn Mêtin với vẻ đắc thắng:
- Ông thấy đấy, ông nhận nhầm người rồi.
Mặt Mêtin đỏ ửng lên. Anh có vẻ sắp phát điên vì tức.
- Phù! Thật quái gở! - Anh văng tục một câu rồi bắt đầu lách đám đông đi ra cửa.
Cuối cùng tàu cập bến Kađưkiô.
Khi chúng tôi rời tàu lên bờ, tay “đô vật” đi sánh đôi với tôi kể chuyện rằng tôi, trong một chuyên đi châu Âu về, đã mang hàng lậu - quần áo lót phụ nữ bằng ni lông - và đã bị bắt quả tang ra sao, rồi sau đó hắn đã cứu tôi ra khỏi tù như thế nào. Ngoài ra, tôi còn biết thêm, tôi là kẻ nát rượu và hay gây gổ, và không bao giờ có ai nhìn thấy tôi tỉnh cả.
Bước chân lên bến, tôi nhổ toèn toẹt vào cái thanh vịn bằng gỗ sạch bóng của bến tàu. Mặc cho cảnh sát nhìn thấy, mặc cho họ phạt! Mặc hết! Tôi cóc cần gì hết! Tôi lại nhổ một cái nữa.
Từ đó Mêtin không thèm nói chuyện với tôi nữa. Tôi cũng không đủ can đảm giải thích mọi chuyện cho anh hiểu.
------------------
[1] Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, nghĩa là “còn lại”, “còn sót lại”.
0
Xin mời đến giải trí

Bốn người chúng tôi cùng đến xin việc tại một tòa soạn báo.
Người thứ nhất là một học sinh kém may mắn, hai mươi mốt tuổi, nhiều lần không sao lên nổi lớp mười một.
- Không, con không thể làm nghề gì được. - Một hôm người bố cậu ta giận dữ tuyên bố - Đành cố gắng trở thành nhà báo vậy!
Người thứ hai không có bố. Chỉ có một người mẹ già nua mà một lần cậu ta đã dùng vũ lực lấy đi của bà số tiền trợ cấp góa phụ ba tháng và tiêu sạch trong ba ngày. Một ngày nọ bà mẹ già không chịu nổi nữa và nguyền rủa con trai:
- Cầu xin thánh Ala nghe thấu lời nguyền của tôi! Mong sao cho thằng con tôi sống lay lắt được!
Đó là những lời nói cuối cùng của người đàn bà bất hạnh, mà sau khi nói bà đã qua đời ngay trước mắt của đấng Tối cao, vì chỉ đến lúc đó lý trí mới trở lại với đứa con bất hiếu.
- Từ trước đến nay tôi chưa bao giờ nghe lời khuyên của mẹ tôi. - Hắn nói - Bây giờ tôi sẽ thực hiện lời trăn trối trước lúc chết của bà. Mong sao linh hồn bà ở bên kia thế giới được an ủi.
Để kiếm sống được lay lắt hắn quyết định trở thành nhà báo.
Người thứ ba trong số chúng tôi bị đúp hai năm liền vê môn tiếng Thổ, sau đó để trả thù thầy giáo của mình, y quyết định trở thành nhà văn vĩ đại và xin vào làm cho một tờ báo.
Còn về phần cá nhân tôi, tôi chọn nghề làm báo là nghề phù hợp nhất với khả năng của tôi, bởi vì tôi là một trong số những kẻ đi đâu cũng khoe mình là người có thể làm được mọi việc, mặc dù thực tế tôi là người chẳng làm được trò trống gì.
Bốn chúng tôi được tòa soạn nhận cho làm tập sự. Nghĩa là làm không ăn lương. Và người nào trong số chúng tôi tỏ ra cần cù và có khả năng mới được người ta hứa nhận vào làm chính thức.
Thế là giữa chúng tôi xảy ra một cuộc ganh đua ngầm khốc liệt.
Cuối cùng một trong số bốn chúng tôi được nhận vào làm chính thức với mức lương sáu trăm lia một tháng. Sau đó mới vỡ lẽ số tiền lương này thực ra không phải tiền do ông chủ bút trả, mà là tiền do người bố của tay học trò bất tài kia trả.
Người ta không nói cho hắn biết, nên hắn cứ nghĩ rằng hắn nhận được tiền của ông chủ bút. Tác giả của toàn bộ sự xếp đặt này là bố của cậu học trò nọ, người muốn hy vọng bắt cậu con trai mình tin rằng dường như cậu ta cũng có khả năng nào đó. Và chính cái “khả năng” ấy đã là nguyên nhân khiến ba người còn lại chúng tôi trở thành những kẻ “không có khả năng” và được lịch sự mời ra cửa.
Cả ba kẻ bất hạnh chúng tôi cùng ngồi trong quán cà phê và bắt đầu vắt óc suy nghĩ xem nên làm gì bây giờ.
- Rồi các anh sẽ thấy! - Một người đồng học của chúng tôi lên tiếng, chính cái anh chàng bị đúp về môn tiếng mẹ đẻ - Vào một ngày nào đó tôi sẽ trở thành nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng.
- Còn tôi sẽ trở thành nhà viết tiểu thuyết lừng danh! - Anh thứ hai tuyên bố.
- Còn cậu sẽ trở thành ai? - Hai người hỏi tôi.
- Tôi cũng sẽ được nổi tiếng về cái gì đó...
Một tay đầu óc tối tăm nhất trong số chúng tôi phán:
- Muốn trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng cần phải hiểu biết cuộc sống, cần quan sát và tìm hiểu nó. Mà chúng ta thì không biết gì cả về con người lẫn cuộc sống.
Rồi hắn kể một nhà văn Mỹ nhiều năm trời làm nghề đi tìm vàng.
- Nếu vậy, chúng ta cũng đi tìm vàng. - Tôi đề nghị.
- Còn một nhà thơ Pháp nổi tiếng nọ đã hành nghề cha cố. - Hắn kể tiếp.
- Nếu thế, chúng ta cũng đi làm cha cố.
- Còn một nhà văn vĩ đại nữa đã từng làm người chăn lợn.
- Rất hay! - Tôi kêu lên - Chúng ta cũng đi chăn lợn.
- Đã đành thế rồi, nhưng ở nước ta không có vàng, không có cha cố và cũng chẳng có lợn.
- Bây giờ mới vỡ nhẽ tại sao ở Thổ Nhĩ Kỳ không có các nhà văn vĩ đại. - Tôi thở dài tiếc rẻ - Không có môi trường thích hợp cho nghệ thuật: không cha cố, không vàng, không lợn! Chúng ta đã sinh ra trong đất nước khô cằn! Thử hỏi như thế làm sao trở thành những nhà văn vĩ đại được!?
Cuối cùng chúng tôi quyết định trở thành chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau để có dịp gần gũi hơn với cuộc sống và con người.
Một người trở thành kẻ buôn lậu. Đúng hơn là muốn trở thành nhưng không kịp. Hắn bị tóm ngay vào ngày đầu tiên thử tay nghề và bị nhốt sau song sắt nhà tù.
Người thứ hai đeo bộ râu giả, định đi ăn cướp tiệm kim hoàn, nhưng vì tiệm này đã bị cướp sạch trước đó một giờ đồng hồ, nên anh chàng tội nghiệp đã bị bắt oan khi chỉ có một mình trong tiệm vàng. Trên thực tế chưa kịp gây tội ác nào cả, nên kẻ bị bắt oan sợ mang nỗi nhục đã tự kết liễu đời mình - nói tóm lại là đã hy sinh cho việc tìm hiểu cuộc sống.
Trong số ba người chỉ còn lại mình tôi là kiếm được một nghề đích thực. Và chuyện đó đã xảy ra như sau.
Tôi đang ngồi trong quán cà phê ở Bâyôg, buồn bã suy nghĩ xem có cách nào kiếm cái gì nhét vào bụng. Vì suốt cả ngày tôi chưa có hột cơm nào. Tôi có cảm giác như sắp bị ngất xỉu vì đói.
- Cậu làm sao thế, anh bạn trẻ? - Một người ngồi bàn bên cạnh lên tiếng hỏi - Sao bụng lúc nào cũng sôi lên ùng ục thế?
Tôi kể cho anh ta nghe những chuyện không may của tôi.
- Tôi có thể cho anh một công việc. Anh có làm được không?
- Tôi làm được. Nhưng tôi phải làm gì?
- Làm nhiệm vụ đánh đấm những kẻ say rượu. Anh sẽ làm vệ sĩ cho quán rượu của tôi.
- Cụ thể là thế nào ạ?
- Từ chín giờ tối đến ba giờ sáng anh phải ngồi ở góc quán rượu. Nếu có khách nào bắt đầu gây gổ khi người ta đưa phiếu thanh toán, anh hãy tóm cổ hắn mà nện thật lực.
Để các bạn hiểu được sự hài hước của lời đề nghị này, tôi xin kể qua một chút về bản thân. Đến thời điểm ấy tôi đã trải qua đúng hai mươi ba thứ bệnh, mà nhiều người trong các bạn hẳn biết rõ: bệnh viêm phổi, ho gà, lên sởi, sốt phát ban, bạch hầu, sốt rét, bệnh hen, v.v... Tôi không nhớ có lần ẩu đả nào mà tôi không bị đánh thừa sống thiếu chết. Vào cái ngày mà tôi cảm thấy khá nhất, trong người tôi nếu không bị sổ mũi, hoặc cúm, thì cũng bị đau răng hoặc đau tai. Chiều cao của tôi là một mét sáu. Lúc đói tôi cân nặng bốn hai kilô.
Tôi nói với ông chủ quán bar:
- Giá ngài bảo tôi: “Hãy bay như chim đi, ta sẽ cho anh ăn!”. Tôi sẽ trả lời: “Được, tôi sẽ bay!” Nhưng bảo đánh người thì thú thật, tôi không thể! Một đứa trẻ con bú mẹ cũng có thể nhấc bổng tôi được. Tôi chỉ sợ làm nhục cho quán bar của ngài thôi.
- Công việc này đúng là phù hợp với anh. - Ông chủ quán cười - Đúng là việc cho loại người như anh.
- Nhưng làm sao tôi có thể đánh ai được? Chỉ cần một chiếc xe tải đi ngang qua tôi đã có thể ngã lăn xuống đất rồi.
- Chuyện vặt! Hãy làm theo những gì tôi bảo anh, mọi chuyện sẽ đâu vào đấy. Vệ sĩ trong quán rượu không cần sức mạnh. Khi người ta ra lệnh cho anh “Hãy nện cho gã kia một trận!”, anh chỉ việc đến gần hắn ta mà nện.
Tôi nghĩ thầm: “Chắc chắn mình sẽ bị ăn đòn. Cùng lắm mình sẽ bỏ chạy. Tìm hiểu cuộc sống và con người đâu phải đơn giản, một khi anh muốn trở thành nhà văn vĩ đại!”
Tôi chấp nhận lời đề nghị và trở thành vệ sĩ của quán bar “Chinchín”. Ngay tối hôm đó ông chủ dẫn tôi đến quán rượu của ông và đặt tôi ngồi ở chỗ giữa dàn nhạc và quầy rượu. Cảm thấy máu bốc lên mặt, tôi hỏi ông ta:
- Ngài cho tôi ăn chút gì đó và trừ vào lương sau. Tôi chết vì đói mất!
- Trong khi chưa làm việc, anh chưa được nhận thứ gì cả.
Ngay sau khi ăn no rồi chưa chắc tôi đã đánh được ai, huống hồ bụng lại đang đói cồn cào.
- Ngài trả lương tôi bao nhiêu? - Tôi hỏi ông chủ quán - Và trả như thế nào, theo tháng hay theo tuần?
- Tôi không biết anh sẽ được bao nhiêu. Vì tôi sẽ trả lương anh theo sản phẩm. Anh đánh được càng nhiều khách thì kiếm được càng nhiều tiền. Cứ mỗi trận đánh tôi trả anh hai lia rưỡi.
Vậy là người ta tạo cho tôi khả năng làm giàu nhanh: thậm chí nếu không phải tôi đánh người ta, mà ngược lại tôi là người bị người ta đánh.
Dàn nhạc bắt đầu chơi bản nhạc Jaz. Quán rượu dần dần đông khách. Các cô gái cười khúc khích, nũng nịu với khách hàng, thì thầm, õng ẹo. Phần khiêu vũ bắt đầu. Còn tôi thì sắp sửa quỵ vì đói.
Gần mười một giờ có tiếng huyên náo tại một bàn. Tôi run như cầy sấy, vì cảm thấy sắp gặp chuyện chẳng lành.
- Sao, chúng tôi đang ở trong rừng hay một ngõ phố tối tăm đây?! - Một ông khách hét lên - Ăn cướp của người lương thiện hả? Đưa thứ rượu chua loét thay cho rượu sâm banh mà tính những năm mươi lia các anh không thấy xấu hổ sao? Quân đểu!
Ông chủ nháy mắt ra hiệu cho tôi.
- Ngài bảo gì ạ? - Tôi hỏi.
- Ra cho nó một trận.
Cái gã hộ pháp mà tôi phải ra cho một trận to gấp ba tôi. Tôi không tin rằng quả đấm của tôi có thể tới được bụng hắn.
- Cầu trời giúp đỡ con. - Tôi vừa đứng lên vừa khấn thầm - Lạy Đấng Ala toàn năng, tất cả đều trong tay Người! Xin Ngài hãy ban cho kẻ nô lệ gày còm này sức mạnh của tráng sĩ huyền thoại Kodgi - Yuxuf.
Trong tay tôi có điếu thuốc lá đang cháy, vẩy vẩy điếu thuốc, tôi tiến lại gần ông khách đang tiếp tục làm om xòm. Trong lúc tôi bước qua các dãy bàn, từ bốn phía vẳng lại những tiếng xì xào:
- Vệ sĩ đang đến kìa!
- Vệ sĩ tới rồi!...
Tôi vừa đi vừa cố tỏ ra vẻ bình tĩnh, tự tin, mặc dù tôi biết rằng chắc chắn tôi không tránh khỏi một trận đòn. Và đây: tôi dừng lại trước gã khổng lồ. Làm sao mà đánh được hắn đây? Tôi thậm chí với không tới mặt gã.
Tôi nói:
- Nào, ngồi xuống đi, nhà ngươi!
Gã khổng lồ ngồi xuống ghế. Tôi dí điếu thuốc lá vào sống mũi hắn, giữa hai lông mày, và dụi dụi.
Chắc phải đau lắm. Gã khổng lồ rú lên với giọng đau đớn:
- Ôi-ôi-ôi!...
- Mi muốn rũ hả?! - Tôi hỏi - Ta sẽ bẻ gãy cổ ngươi!
- Tôi có nói gì không phải đâu, đại ca?
- Mi cứ thử la hét nữa đi! Chán sống rồi hay sao hả? Cái đồ không biết điều!
Tôi tát cho hắn mỗi bên má một cái, rồi xoay lưng, oai vệ đi về chỗ của mình.
Tiếng nhạc Jaz lại cất lên - Các vũ điệu lại bắt đầu. Một lúc sau ông chủ quầy bar tiến lại chỗ tôi.
- Anh thấy đấy, công việc rất nhẹ nhàng.
- Nhờ ơn thánh Ala! - Tôi khấn thầm - Ông cho tôi hai lia rưỡi đi.
- Tiền nông tính sau. Nếu muốn, anh có thể uống chút gì từ số hai lia rưỡi ấy!
Tôi đến quầy và yêu cầu cô bán hàng cho hai ly rượu nhẹ.
Uống xong tôi thấy xa xẩm mày mặt, vì tôi đang đói lả người.
Từ một chiếc bàn có tiếng hét và tôi đi ngay đến đó. Lần này tôi nhìn thấy không phải một, mà hai người. Tôi cho mỗi tên một cái tát.
Tối hôm đó tôi nện được bốn gã. Đến ba giờ sáng khách đã vãn và sau khi trừ đi tiền rượu tôi nhận được bảy lia rưỡi.
Tối hôm sau tôi lại đến làm. Lần này tôi đánh được sáu gã.
Tóm lại, bây giờ cứ mỗi tối tôi lại bợp tai những gã say rượu và được tiền vì chuyện đó.
Một vài gã không chịu thôi sau hai-ba cái bợp tai. Những gã như vậy bị tôi kéo xuống dưới hầm sau quầy rượu và dùng gậy đập cho một trận nữa.
Vì khao khát kiếm được nhiều tiền hơn, nên tôi sốt ruột đưa mắt đảo quanh các bàn, xem có gã nào bắt đầu gây mất trật tự hay không. Có những hôm không có kẻ nào gây gổ cả và tôi không nhận được đồng nào. Vào những đêm như thế chỉ cần có khách hàng nào cười hơi to một chút là tôi lập tức xông đến quát ngay:
- Làm cái gì thế, đây là nhà nhà anh đấy hả? - Rồi không cần lôi thôi gì nữa tôi đập cho kẻ nạn nhân vô tội kia một trận.
Trong những trường hợp như vậy ông chủ chỉ trả tôi một lia. Nhưng cho dù ông ta không trả tôi xu nào đi nữa, thì tôi vẫn tìm cớ tẩn cho khách một trận cốt để luyện cho quen tay.
Ngoài ra, tôi đã quen với công việc này và ham đến nỗi lâu không có ai để đánh tôi thấy buồn bã và bực bội trong người.
Thú thật, chính tôi cũng lấy làm ngạc nhiên về sự dũng cảm và bạo gan của mình. Làm sao một kẻ như tôi bỗng dưng trở thành kẻ chuyên đi đánh người được mới lạ chứ! Dần dần tôi càng tin tưởng vào sức mạnh của mình.
Có một đêm, một trong ba khách hàng ngồi ở cái bàn cạnh cửa sổ, bắt đầu làm ầm ĩ. Hai người bạn cùng bàn cố khuyên anh ta giữ trật tự nhưng không được. Tôi ngó nhìn tên đó và tim tôi bỗng thắt lại vì sợ. Đó không phải là người, mà là một gã đại lực sĩ, một quả núi. So với hắn thì tất cả những gã bị tôi đập từ trước đến nay đều không thấm vào đâu.
Tôi đến gần gã vừa gây huyên náo, lấy chân đá vào bụng gã một cái. Hắn rống lên như bị cắt tiết. Tôi lại đá cho hắn một cái nữa vào đít. Rồi cái nữa, cái nữa.
Gã say rượu càng gân cổ gào to hơn. Cái ghế gãy tan, còn gã thì gào càng to hơn. Tôi cầm lấy cái chân ghế gãy và khua khua trước mặt ba tên.
- Cút khỏi đây nhanh lên, lũ chó!
Bọn chúng ngoan ngoãn chạy như vịt. Tôi dồn cả ba tên xuống dưới hầm - rồi dùng gậy đập cho gã khổng lồ một trận tơi bời. Hắn đổ phịch xuống sàn. Tôi quay về phía hai thằng bạn hắn.
- Xin đại ca nương tay. - Một trong hai tên kêu lên - Chúng tôi không có lỗi gì. Bản thân tôi chưa bao giờ đến những quán như thế này. Cái thằng cha bê tha ấy ngày nào cũng tán tỉnh tôi: “Tối hôm nay chúng mình đi giải trí đi...” Tôi không hiểu tại sao hôm nay tôi lại đồng ý. Ở bất cứ quán nào chúng tôi đến hắn đều tìm cách gây chuyện lộn xộn. Chúng tôi phải vất vả lắm mới kìm được hắn. Nhưng hôm nay đến quán của đại ca chúng tôi không sao giữ nổi hắn...
Tên khổng lồ đang nằm bất tỉnh trên sàn nhà bỗng tỉnh lại và bắt đầu lớn tiếng văng tục. Tôi đuổi mấy tay bạn của hắn ra ngoài và cầm lấy gậy. Hắn một lần nữa gục xuống bất tỉnh, nhưng một lát sau lại tỉnh lại và lại bắt đầu gào lên. Đến nửa đêm tôi đã làm cho hắn gần như quỵ hẳn. Khi trời sáng gã hộ pháp lại đứng dậy và tôi lại giơ tay với chiếc gậy. Nhưng thoắt một cái hắn giằng cái gậy khỏi tay tôi và xông ngay vào tôi. Lạy Đấng Ala toàn năng! Mấy ngón tay của hắn như những cái gọng kìm, chộp một cái là như rứt ra một miếng thịt. Tôi cảm thấy hắn sắp sửa dẫm bẹp tôi như con gián. Hắn tóm lấy gáy và quật tôi ngã xuống đất. Tôi hét muốn vỡ cả cổ. Sau đó bị ngất đi. Và tiếp theo xảy ra chuyện gì tôi không còn biết nữa. Tôi nằm bất tỉnh mất ba ngày liền. Một tuần sau mới mở được mắt. Một tháng sau mới hơi nhúc nhích được người, và hai tháng sau mới đứng dậy được.
Tôi đến quán rượu. Ông chủ nhìn tôi vẻ đầy tức giận:
- Công việc của anh không đáng một xu. Hãy lấy nốt tiền công rồi xéo đi!
- Có chuyện gì vậy? - Tôi hỏi - Tám tháng trời tôi đánh người rất tốt mà!
- Thôi đừng khoác lác nữa. - Ông chủ đáp - Anh nghĩ là anh đánh được các khách hàng của chúng ta à? Chẳng qua họ muốn đến đây để giải trí, và cuối cùng muốn bị ăn đòn cho thật sướng. Không bị ăn tát thì còn đâu là vui nữa! Vì nếu anh không cho bọn say sưa ấy ăn tát, thì bọn chúng thế nào cũng sẽ đập đầu vào tường, đá chân vào cột điện thoại đến chảy máu, hay ngã vập mặt xuống mặt đường nhựa. Người vệ sĩ thực thụ chỉ đánh gã say rượu khi nào hắn đang thích thú. Lẽ nào có thể đánh gã vào buổi sáng, lúc hắn đã tỉnh lại? Đồ con lừa! Hãy cảm ơn số phận vì khách hàng đã không cho anh về chầu ông bà ông vải.
Rồi ông chủ đuổi việc tôi.
Do nắm được toàn bộ bí quyết của nghề nghiệp, tôi sang quán bên cạnh và được bố trí làm đúng việc như vậy.
Bây giờ, cũng như trước đây, tôi hoàn tất niềm vui cho những kẻ đến quán chúng tôi giải trí bằng những trận đánh đập. Nhưng khi nào những gã say đó tỉnh rượu là tôi chuồn ngay tắp lự.
Hôm qua ông chủ cũ của tôi ghé đến quán chúng tôi. Được lắm, đến đây biết điều thì ngồi im, giữ cho lịch sự. Nhưng không, ông ta bắt đầu làm om xòm. Tôi đẩy ông chủ cũ của tôi xuống hầm và nện cho ông ta một trận nên thân. Khi ông ta tỉnh lại là tôi chuồn thẳng.
Bây giờ tôi đã kiếm được những khoản tiền lớn.
Mấy ngày nữa tôi định xin nghỉ phép, và nếu thánh Ala muốn, tôi cũng sẽ đi giải trí một tối cho thật đã đời!
0
Những nhà tài chính lỗi lạc

Câu chuyện này rất phức tạp và rối rắm. Tôi sợ khi kể lại cũng làm cho các bạn rối mù. Nhưng dù sao xin các bạn cứ bình tĩnh nghe. Câu chuyện không hoàn toàn bình thường này xảy ra với năm người bạn.
Để năm người đàn ông chơi thân được với nhau cần phải có điểm gì đó liên kết được tất cả. Ba người trong số họ là những nhà hoạt động tài chính nổi tiếng, còn hai người kia là những chuyên gia kiệt xuất trong lĩnh vực toán học. Đó chính là điều đã gắn kết các nhân vật trong câu chuyện của tôi.
Ngài Taliat, Tổng giám đốc một trong những ngân hàng lớn nhất nước, mời bốn ông bạn thân đến ngôi biệt thự mới xây của mình ở Sauđie.
Cuộc họp mặt diễn ra vào Chủ nhật.
Ngài Taliat là một nhà tài chính kiệt xuất và nhà ngân hàng danh tiếng của chúng tôi. Sau lưng ông là cả hai mươi bảy năm hoạt động ngân hàng. Ông giỏi trong các vấn đề tài chính và các con số đến nỗi bạn bè nói về ông: “Chỉ cần ông Taliat bước vào một cái quầy trống rỗng nào đó và treo lên cửa tấm biển ‘Nhà băng’ thì lập tức chưa đầy hai năm sau, cái quầy này sẽ biến thành một nhà băng với số vốn hai trăm triệu lia”. Ông Taliat đã cứu sống vài nhà băng đang bên bờ vực phá sản, hơn nữa còn làm cho chúng trở thành những nhà băng thịnh vượng và đáng tin cậy nhất nước.
Một trong những vị khách được mời là Liutfi một nhà doanh nghiệp nổi tiếng thành thạo trong công việc kinh doanh. Người ta nói về ông ta: “Trong tay của Liutfi thì hòn đất cũng biến thành vàng!” Đất đai được ông ta đụng đến lập tức biến thành tiền, và đó không phải là kết quả của ảo thuật, của vận đỏ hay may mắn, mà hoàn toàn là do đầu óc tính toán tài chính, bởi đối với đất đai không có triển vọng đẻ ra tiền thì ngài Liutfi không bao giờ động đến.
Vị khách thứ hai ngài Zêki, một trong những quan chức cao cấp của Bộ Tài chính. Người ta đồn cả Bộ đứng vững được là chỉ nhờ mình ông ta. Người nước ngoài gọi ông là nhà tài chính lỗi lạc của Thổ Nhĩ Kỳ.
Hai vị khách khác, ngài Rêfik và Zia là bạn học từ thời phổ thông của chủ nhà. Ngài Zia là giám đốc Đài Thiên văn Stambul và được coi là nhà thiên văn lớn - Còn ngài Rêfik thì rực sáng trong lĩnh vực toán cao cấp, là giáo sư khoa toán lý trường Đại học Tổng hợp Stambul.
Cả bốn người đều đến cùng gia đình.
Buổi sáng mọi người cùng nhau đi tắm biển. Sau bữa ăn trưa họ ngồi nhấm nháp cà phê. Một người ngả lưng ngủ ngay trên ghế sa lông, những người khác thì lui về phòng ngủ cho thoải mái.
Hai ông Taliat và Zêki thì ngồi chơi bài nac-đư tăng dần tiền. Sau bốn ván với tiền đặt ban đầu là hai mươi nhăm curusơ [1], ông Taliat thắng ba trăm bảy mươi nhăm curusơ. Ông Zêki không có tiền lẻ, bèn đưa cho ông chủ nhà tờ mười lia [1]. Ông Taliat muốn trả lại tiền, thò tay vào túi áo lấy ra lúc đầu năm lia, sau đó hai lia rưỡi, là tất cả số tiền lẻ ông có. Ông Zêki cầm lấy tiền và nói:
- Như vậy là tôi nợ anh... bao nhiêu nhỉ?
Ông Taliat ngập ngừng.
- Anh nợ tôi, - Ông lẩm nhẩm - khoan, để tôi tính.
Ông Zêki thò tay vào các túi quần, tìm thấy tờ một lia và đưa cho ông Taliat, muốn để cho việc tính toán dễ hơn.
- Bây giờ thế nào? - Ông hỏi.
- Tôi đã đưa anh bảy lia rưỡi. - Chủ nhà nói.
- Phải.
- Thế anh phải trả tôi bao nhiêu?
- Tôi đã đưa anh thêm một lia nữa.
- Anh bạn, anh nợ tôi ba trăm bảy mươi nhăm curusơ đúng không?
- Đúng.
- Nghĩa là, anh hãy đưa thêm cho tôi một trăm bảy mươi nữa.
- Phải, nhưng tôi đã đưa thêm một lia nữa. Và trước đó đã đưa mười lia. Tổng cộng là mười một lia rồi. Còn anh đã đưa cho tôi....
- Khoan, khoan, đừng làm tôi nhầm.
- Anh đã đưa tôi năm lia, sau đưa thêm hai lia rưỡi...
Nghe thấy tiếng cãi nhau hai ông Zia và Rêfik tỉnh giấc.
- Có chuyện gì mà hai ông cãi nhau vậy?
- Anh Rêfik thân mến, - Chủ nhà nói - tôi chơi bài thắng anh ấy. Anh ấy nợ tôi ba trăm bảy mươi nhăm curusơ.
- Khoan, khoan. - Ông Zêki cắt ngang - Để tôi kể. Chúng tôi chơi bốn ván nac-đư. Mỗi ván bắt đầu từ hai mươi nhăm curusơ...
- Khoan đã, anh Zêki! Cần gì kể chi tiết! Chúng ta có thể bắt đầu từ hai mươi nhăm và năm mươi. Anh nói đi, anh nợ tôi ba trăm bảy mươi nhăm curusơ, đúng không?
- Đúng. Nhưng tôi đã đưa anh mười một lia.
- Đúng. Và tôi đã trả lại anh bảy lia rưỡi. Nghĩa là anh còn nợ tôi..
- Được. Nhưng tôi lại đưa anh thêm một lia nữa.
Giáo sư toán cao cấp Rêfik nói:
- Các anh từ từ đã!... Đừng làm tôi rối. Từng người nói một mới hiểu được. Anh đã đưa bao nhiêu, anh Zêki?
- Mười lia.
- Thế anh nợ bao nhiêu?
- Ba trăm bảy mươi nhăm curusơ, nhưng...
- Đừng có “nhưng” gì vội!...
- Sau đó tôi đưa anh ấy một lia nữa.
- Rõ rồi. Nghĩa là anh Taliat, anh phải trả lại anh Zêki sáu trăm hai mươi nhăm curusơ. Mà anh đã đưa anh ấy bảy lia rưỡi. Như vậy, anh còn phải... Khoan, để tôi tính xem nào... Bây giờ anh còn nợ anh ấy... Lấy bảy lia rưỡi trừ đi mười một lia... Thành bao nhiêu nhỉ?
- Làm sao lại lấy số nhỏ trừ số lớn được?
- À phải!... Phải lấy bảy lia rưỡi trừ đi sáu trăm hai mươi nhăm curusơ. Nào, ta thử trừ... Còn bao nhiêu nhỉ? Một trăm hai mươi nhăm curusơ, đúng không?
- Thánh Ala ơi! Nhưng tôi đưa anh ấy mười lia cơ mà!
- Phải. Nhưng tôi lại đưa anh bảy lia rưỡi.
Nhà thiên văn nổi tiếng Zia xen vào cuộc tranh cãi:
- Các anh làm rối hết. Hãy kể lại từ đầu, Zêki. Anh nợ anh Taliat ba trăm bảy mươi nhăm curusơ đúng không?
- Ông bạn ơi, tôi đã đưa anh ấy mười một lia rồi. Bây giờ anh ấy là ngươi nợ tôi!
- Nhưng anh Taliat đã đưa anh bảy lia rưỡi? Bảy lia rưỡi cộng với mười một là...
- Sai hết rồi, ông bạn! Tôi thua anh Taliat ba trăm bảy mươi nhăm curusơ. Bây giờ xem nào...
- Tôi hiểu rồi. Anh hãy đưa thêm anh ấy một trăm hai mươi nhăm curusơ...
- Trời ơi, cái anh này!... Tại sao lại đưa thêm một trăm hai mươi nhăm curusơ. Cứ tôi phải đưa, phải đưa... còn anh ta chẳng phải đưa cái gì cả.
- Thế không anh phải đưa thì còn ai: anh thua cơ mà!
- Một trăm hai mươi nhăm?
- Không....
- Nghe đây, anh Zia. Lúc đầu tôi đưa anh ấy mười lia, sau đó đưa thêm một lia nữa, tổng cộng là mười một lia.
- Thế anh Taliat đưa anh bao nhiêu? - Ông Rêfik hỏi.
Nhà thiên văn thở dài:
- Các anh làm tôi nhầm hết. Anh có hai mươi nhăm Curusơ không?
Ông Zêki lấy trong túi ra hai mươi nhăm curusơ và đưa chúng cho chủ nhà.
- Đây, hai mươi nhăm curusơ nữa đây.
- Thế bây giờ còn bao nhiêu? - Ông Taliat hỏi.
- Làm sao tôi biết còn bao nhiêu? Các anh làm nhầm lẫn hết. Lúc đầu anh ta đưa cho anh mười lia, sau đó một lia nữa, sau đó lại hai mươi nhăm curusơ. Tổng cộng là mười một lia hai mươi nhăm curusơ. Bây giờ, Taliat, anh hãy đưa anh ấy một lia.
- Thánh Ala ơi!... Anh nghe đây, tôi đã đưa anh ấy bảy lia rưỡi rồi.
Chủ nhà chạy sang buồng bên cạnh, nơi nhà doanh nghiệp xuất sắc Liufi đang ngủ ngon lành trong ghế bành, nắm tay lôi ông ta dậy, kéo ra chỗ mấy người bạn.
- Lạy thánh Ala, Liutfi, anh hãy giúp chúng tôi tính toán đi!
- Liutfi thân mến, - Ông Zêki nói - chúng tôi chơi bài nac-đư tăng dần tiền...
- Này Zêki, cần gì phải nói “tăng dần tiền”.
- Chúng tôi chơi bài nac-đư.
- Cần gì nac-đư ở đây?! Anh nợ tôi ba trăm bảy mươi nhăm curusơ, đúng không?
- Nhưng tôi đã đưa anh mười một lia, rồi lại thêm hai mươi nhăm curusơ.
- Phải. Nhưng tôi đã trả lại anh bảy lia rưỡi.
- Rõ rồi. - Ông Liutfi nói - Anh đưa cho anh ấy bảy lia rưỡi. Tại sao?
- Vì tôi không có tiền lẻ.
- Thế tại sao anh đưa anh ta mười một lia?
- Anh ấy yêu cầu tôi. Tôi cũng không có tiền lẻ...
- Thế là rõ rồi. Việc quá đơn giản. Mười một lia cộng hai mươi nhăm curusơ, rồi cộng ba trăm bảy mươi nhăm....
- Anh đừng cộng, mà phải trừ đi!
- Tôi biết rồi. Lúc đầu phải cộng, rồi sau mới trừ... Lần cuối cùng anh đưa anh ấy hai mươi nhăm curusơ...
Việc tính toán trở nên rối tinh đến mức ngài Liutfi phải dang tay thất vọng.
- Khoan! - Cuối cùng ông kêu lên - Tôi tính ra ngay cho các anh xem đây. Bây giờ mỗi người các anh hãy thu tiền của mình về. Zêki, anh hãy lấy lại hai mươi nhăm curusơ của anh Taliat đi... Thế! Còn anh Taliat, hãy lấy bảy lia rưỡi của mình về. Zêki, lúc đầu anh đưa bao nhiêu?
- Mười lia. Sau đó lại một lia nữa...
- Nghĩa là, mười một lia? Anh hãy lấy lại đi.
Cuộc trao đổi tiến hành.
- Bây giờ anh hãy đưa mười lia cho anh ấy. - Nhà kinh doanh vĩ đại ra lệnh - Thế... còn anh hãy trả lại từ số tiền mười lia này.
- Tôi không có tiền lẻ. Chỉ có bảy lia rưỡi đây.
- Zêki, anh hãy cầm lấy bảy lia rưỡi đi. Bây giờ anh là người nợ của anh ấy. Anh phải trả lại bao nhiêu?
- Tôi có một lia và hai mươi nhăm curusơ đây.
- Hãy đưa chúng cho anh ấy. Bây giờ thế nào?
- Thì lại giống y như lúc nãy!
- Tốt lắm... Bây giờ anh hãy đưa anh ấy... Thế, bây giờ... Anh hãy đưa thêm anh ấy một trăm hai mươi nhăm curusơ...
- Nhưng đã bảo là tôi không có tiền lẻ.
- Thế thì anh, Zêki, anh hãy đưa anh ấy một trăm hai mươi nhăm.
- Rồi thì sao?
- Cứ đưa đi, đưa đi! Khi đó anh còn thiếu anh ta... Sao lại thế nhỉ? Lại nhầm hết rồi.
- Này!...
- Ôi trời!... Anh đã đưa tôi bao nhiêu, anh bạn?
- Bao nhiêu? Tôi đã đưa anh bao nhiêu?
- Phải, anh đưa tôi....
- Khoan! - Giáo sư Rêfik nói - Bây giờ mỗi người lại lấy lại tiền của mình về đi.
Tiền cứ được trao cho hai người kia rồi lại lấy về mấy lần mà cả Taliat lẫn Zêki đều không tài nào thanh toán được với nhau.
Nhà thiên văn học Zia muốn giúp các bạn của mình đơn giản hóa việc tính toán, bèn đổi tờ mười lia cho ông Zêki. Sau khi đổi tiền, mấy ông bạn lại hoàn toàn bế tắc.
Đến chiều ngài Liutfi tuyên bố:
- Thôi, mỗi anh lại cầm hết tiền của mình về đi!
Hai người ai nấy lại lấy tiền của mình về. Sau đó ngài Liutfi quay sang bảo nhà tài chính kiệt xuất của Thổ Nhĩ Kỳ:
- Anh Zêki, anh phải nhớ anh còn nợ anh Taliat ba trăm bảy mươi nhăm curusơ. Khi nào có tiền lẻ, anh phải trả anh ấy. Rõ chưa?
- Rõ!
- Lạy thánh Ala! Thế là cuối cùng đã giải quyết xong!
Và sự việc đến đấy là chấm dứt.
----------------
[1] Curusơ và lia: đơn vị tiền Thổ Nhĩ Kỳ, 1 lia = 100 curusơ.
0
Nghĩa vụ đối với Tổ quốc

Cả trại giam xôn xao về cái tin ấy.
- Này, các đằng ấy đã biết tin gì chưa? Ichxan Vadêlin đang ở đây đấy!
- Làm gì có chuyện!
- Tớ nói điêu tớ làm con chó!
- Hắn đã “đoạn” từ lâu rồi kia mà!
- Lại còn mở tiệm cà phê đàng hoàng nữa chứ?
- Cóc tin được! Cậu nói láo!
- Tớ nói láo tớ chết! Người ta vừa giải hắn về hồi chiều, bằng tàu chở thư mà! Giải từ Aiđiliê về. Chính tớ nhìn thấy hắn ở dưới sân. Hắn tắm ở nhà tắm xong bị dẫn về biệt khám.
- Thế đấy! Đã tưởng dứt được rồi, thế nào mà bỗng dưng lại bị tóm gáy điệu về ở với cánh ta không biết?
- Nhưng Ichxan Vadêlin là ai vậy?
- Các chú mày còn nhóc con nên không biết hắn. Hồi hắn còn làm ăn, các chú mày còn bú tí mẹ! Tao quen hắn từ hồi ở Mactrekhan kia! Hồi ấy trại giam này chưa có. Mới có trại Mactrekhan thôi! Bọn ta được ngồi ở đó.
- Hồi ấy phải nói hắn nhanh thật!
Ichxan Vadêlin phải nằm ở biệt khám hai tuần, rồi được chuyển sang khu hai. Đó là khu giam các phạm nhân đặc ân. Những kẻ tái phạm cũ biết rõ hắn.
- Chào người anh em!
Một người vừa đun xong trà trên một cái hỏa lò. Ichxan Vadêlin sỗ sàng quăng tờ giấy một trăm xuống khay. Người ta lại bắt đầu đun một ấm trà ngon nữa.
Người ngồi trước mặt Ichxan Vadêlin là Nuri - bị kết án sáu năm tù về tội tham ô. Nuri mặc chiếc áo choàng màu mận chín trông hết sức sang trọng. Ichxan Vadêlin - trạc năm mươi tuổi - chỉ chuyện trò với mỗi một mình y, dường như không nhìn thấy ai xung quanh nữa.
- Thế đầu đuôi làm sao hả Ichxan Vadêlin?
- Tôi kể ra chỉ sợ anh không tin, cho tôi là nói phét. Vì chính tôi cũng thấy chuyện này thật khó tin. Ai chứ tôi thì, chắc anh biết đấy, đã như chim bị đạn rồi! Lạy Thánh Ala! Năm nay tôi đã năm mươi tuổi đầu, tóc đã bạc, vậy mà chưa bao giờ tôi bị một vố cay như thế này. Mà lần này tôi bị lại là do tôi tận tâm phục vụ tổ quốc, do tôi làm nghĩa vụ công dân của mình mới tức chứ! Chắc anh biết đấy, lâu nay tôi vẫn có một tiệm cà phê riêng. Một hôm, có hai tay của Sở Cẩm đến nhà tôi bảo:
- Mời ông đi theo chúng tôi về Sở!
Các tay mật thám cũ tay nào tôi cũng nhẵn mặt cả. Nhưng hai tay này là lính mới, nên tôi không biết. “Được! đi thì đi, - Tôi nghĩ bụng thế - mình chẳng làm gì nên tội thì sợ đếch gì!” Đến Sở, tôi thấy Haiđa đã ngồi chờ ở đó... Haiđa làm ở Sở Cẩm từ hồi tôi còn làm ăn. Bây giờ ông ta đã lên chức Chánh cẩm. Haiđa có mắt hơi lé, trông lúc nào cũng có vẻ lờ đờ, nên được mọi người tặng cho biệt hiệu là Lé. Haiđa Lé dữ hơn cọp.
- Bẩm quan cho gọi em có việc gì đấy ạ? - Tôi hỏi Haiđa Lé.
- Ngồi xuống đấy Ichxan! - Haiđa Lé đáp và chỉ vào chiếc ghế. Tôi đoán ngay là ông ta cần đến tôi. Vì tính ai chứ tính Haiđa Lé tôi biết rõ lắm. Tôi mà có tội tình gì thì ông ta nhảy xổ vào tôi và bóp cổ cho thấy ông bà ông vải rồi, chứ chả mời mọc tử tế như thế.
- Thưa Haiđa, - Tôi nói - em đã đoạn tuyệt hẳn nghề cũ rồi! Sau cái lần cuối vớ được một mẻ bẫm, em đã thanh toán sòng phẳng các món, và còn dư một ít thì mở tiệm cà phê để làm ăn sinh sống. Bây giờ quan muốn gọi em có việc gì vậy ạ?
Haiđa nghe tôi nói rồi bảo:
- Đúng. Các khoản cũ coi như đã thanh toán xong. Hôm nay ta cho gọi anh đến đây là muốn anh thực hiện nghĩa vụ công dân của anh đối với Tổ quốc.
Tôi nghĩ bụng: không biết nghĩa vụ đối với Tổ quốc là nghĩa vụ gì? Chắc chỉ có chuyện đi lính thôi! A! Ra người ta muốn bắt tôi đi lính!
- Bẩm quan! - Tôi nói - Em xin thưa với quan là em đã hoàn thành nghĩa vụ công dân rồi ạ! Em đã phục vụ trong hải quân đúng sáu năm chẵn, không kém một ngày. Ấy là chưa kể em còn nằm mấy tháng trong hầm nhà thờ Đivankan ở Caxưmpasa. Bây giờ em đã ngoài năm chục rồi, quan còn muốn gì ở em nữa ạ?
Haiđa Lé sai mang cho tôi tách cà phê và rút thuốc lá mời. Tôi lại nghĩ ngay: chắc ông ta muốn mình làm chỉ điểm đây!
- Thưa ông anh, nếu ông anh có ý định gì khác thì xin ông anh cứ nói thẳng. Nếu giúp được, em sẵn sàng làm ngay... Còn cái tiệm cà phê của em thì ông anh cứ coi là của ông anh!
- Anh nghĩ nhầm rồi, Ichxan ạ - Haiđa Lé đáp - Không ai định bắt anh đi lính đâu! Nhưng tổ quốc muốn giao cho anh một nhiệm vụ khác. Anh phải cứu lấy danh dự cho quốc gia, cho chính phủ! Chính phủ rất cần đến sự giúp đỡ của anh.
- Ấy chết! Sao ông anh lại giễu em thế! Có đâu một quốc gia hùng mạnh như nước ta mà lại cần đến sự giúp đỡ của một tên trộm già như em!
- Chuyện gì mà không thể có! - Haiđa Lé đáp - Việc quốc gia nó phức tạp lắm, nên đòi hỏi phải có sự giúp đỡ của mỗi người công dân. Và bây giờ đến lượt nó đòi hỏi sự giúp đỡ của anh.
- Thôi được! Nếu ông anh đã nói là nghĩa vụ quốc gia thì em đâu dám từ chối. Ông anh có bảo chết em cũng xin chết ngay...
Đến đây Haiđa Lé mới nói thật cho tôi biết rõ sự thể.
Hóa ra là có một đoàn khách quốc tế sang thăm nước ta. Đoàn rất đông. Có đủ cả người Mỹ, người Đức, người Đan Mạch, người Pháp. Có cả thương gia, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư... Họ muốn đến tìm hiểu tình hình để viện trợ kinh tế cho ta. Nhưng đến chỗ nào họ cũng thấy tình trạng hết sức bi bét. Nghe nói tình hình lâm nghiệp họ phát ớn, tìm hiểu tình hình y tế họ thấy ngán ngẩm. Đến xem các nhà máy họ lại càng kinh. Tóm lại là đi đến đâu ta cũng ngượng chín mặt với họ đến đấy. Vì thế chính phủ ta mới quyết định bằng bất cứ giá nào phải làm cho họ kinh ngạc một phen.
- Bởi vậy, Ichxan ạ! Bây giờ là trách nhiệm của anh đối với Tổ quốc. Anh phải cố mà làm tròn nó!
Tôi đoán chắc chính phủ ta không còn cách gì làm cho các quan khách quốc tế hài lòng, nên quyết định chứng tỏ cho họ thấy tình trạng chống nạn trộm cướp của ta cao đến mức nào. Tôi bảo:
- Thưa Haiđa, em hiểu, xin Haiđa tin rằng chắc chắn em sẽ cho họ biết trình độ ăn cắp của ta rất cao, chứ không như các nghề khác!
- Anh đoán gần đúng... - Haiđa xác nhận - Chúng ta phải cho họ biết cảnh sát của chúng ta mạnh như thế nào, và biết cách làm việc ra sao.
- Thế thì em thấy hơi khó... - Tôi thở dài.
- Tất nhiên là khó rồi! Có thế ta mới gọi anh đến... Anh là một tên móc túi chuyên nghiệp, đã từng nhiều lần vào tù ra tội. Anh rất sành sỏi cái việc này. Vậy anh hãy thi hành nghĩa vụ công dân của mình.
- Xin ông anh cho em biết rõ hơn là em phải làm gì ạ? - Tôi yêu cầu ông ta.
Haiđa Lé giảng giải cho tôi biết nhiệm vụ. Người ta sẽ chỉ cho tôi cái khách sạn có đoàn quốc tế ở. Nhiệm vụ của tôi là phải vét nhẵn túi các vị trong đoàn, không để sót một thứ gì. Tất nhiên các quan khách sẽ thi nhau kêu trời và chạy đến báo cảnh sát. Ở Sở cảnh sát người ta sẽ bảo họ: “Xin các vị yên trí! Cảnh sát của chúng tôi làm việc rất cừ! Chỉ năm phút nữa chúng tôi sẽ tóm hết những tên ăn trộm!” Còn tôi thì ngay sau đó đem tất cả những thứ lấy về nộp cho Sở. Thế là những người bị mất cắp sẽ nhận được nguyên vẹn tài sản của họ.
“Đây! Xin mời các vị nhận lại đồ vật của mình!” Cảnh sát của ta sẽ giơ tay chào và bảo họ như vậy. Các vị khách ngốc nghếch kia sẽ phải nghĩ: “Chà! Thế mới gọi là làm việc chứ!”
- Em không làm được đâu, Haiđa ạ! - Tôi từ chối - Bây giờ em thấy không đang tâm...
- Sao vậy? - Haiđa Lé hỏi.
- Thứ nhất vì em bỏ nghề đã lâu, bây giờ chân tay ngượng nghịu sợ không làm nổi...
- Không lo! Anh vẫn làm được thôi!
- Thứ hai, bấy lâu nay em đã giữ được mình không nhúng tay vào chuyện ấy...
- Giữ mãi rồi cũng có ngày không giữ được đâư! Cũng như đôi giày mới ấy rồi cũng có lúc nó phải nhúng bùn.
- Tụi trẻ bây giờ có nhiều đứa bợm lắm! Ông anh giao cho chúng việc này có lẽ tốt hơn.
- Nhưng lũ ôn con ấy chúng lưu manh lắm! Xoáy thì chúng xoáy được đấy. Nhưng xoáy xong chúng nó biến thì có mà thánh tìm!... Lúc ấy thật là bẽ mặt với các vị khách quốc tế. Vì thế chúng ta mới cần một tên trộm thật thà như anh.
- Đội ơn ông anh có lòng tin em. Nhưng quả thật em không làm được đâu ạ!
- Tùy đấy, Ichxan ạ! Có điều nếu anh không chịu làm, ta buộc phải đóng cửa tiệm càphê của nhà anh! Nó vừa là sòng bạc, vừa là ổ thuốc phiện lậu...
Thế là tôi đành phải nhận lời.
- Thôi được, em xin làm. - Tôi nói - Nhưng làm nghĩa vụ cho Tổ quốc thì em cũng phải được cái gì chứ? Chả lẽ em lại làm không công?
Haiđa Lé nổi cáu quát:
- Người ta nghĩ đến nghĩa vụ công dân, mà anh thì lo chuyện lợi lộc. Thật không biết xấu hổ?
- Xin ông anh bớt giận! - Tôi nói - Ông anh làm việc cho cảnh sát, tức cũng làm việc công dân, thì ông anh được lương. Ngay các ngài nghị sĩ có lẽ cũng chả ngài nào muốn làm nghĩa vụ công không cho chính phủ. Tình bạn đi đằng tình bạn, còn công việc đi đằng công việc chứ ạ! Việc nào nó phải đi việc nấy. Nghĩa vụ là một chuyện, còn quyền lợi là chuyện khác chứ ạ! Tiền bạc có hại gì đến nghĩa vụ đâu!
- Thôi được. Ta thỏa thuận thế này vậy nhé! - Haiđa Lé đấu dịu - Ta cho anh muốn làm gì ở tiệm cà phê của anh thì làm. Có điều anh phải nhớ “moi” được cái gì của khách, anh phải đem nộp cho ta ngay, rõ chưa?
- Dạ, rõ ạ!
- Cầu Thánh Ala phù hộ cho anh! Ta đặt mọi hy vọng vào anh đấy! Nếu anh moi được ví của ngài trưởng đoàn thì càng đáng khen. Thôi, cho anh đi! Chúc anh may mắn!
Ừ, thì tôi đi! Gì chứ cái chuyện xoáy vặt đối với tôi ngon hơn óc chó!
Tôi đến khách sạn và bắt đầu ngồi chờ.
Chờ đến tối thì thấy các vị khách bắt đầu kéo nhau về. Tôi giở tập ảnh ra xem lại. Đích thị ông trưởng đoàn đang đi cùng bà vợ kia rồi! Tôi đứng lên đi sát hẳn vào người ông ta, lần chỗ để ví, rồi bất ngờ hích nhẹ vào ngực ông ta một cái. Thế là xong! Êm như ru. Té ra tôi vẫn chưa quên nghề...
Sau đó tôi chạy ngay đến nhà vệ sinh công cộng ở quảng trường Taxim, mở ví ra xem. Trong ví toàn giấy bạc mới tinh! Thề có thánh Ala chứng giám, tôi đã kìm được lòng tham, không lấy một tờ nào. Có bao nhiêu tôi mang nguyên về Sở.
- Anh biến đâu thế? - Vừa thấy mặt tôi từ ngoài cửa, Haiđa Lé đã quát hỏi ngay. Nhưng khi tôi chìa chiếc ví ra thì ông ta sướng đến nỗi hôn luôn một cái vào trán tôi.
- Cừ lắm! Anh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. - Ông ta khen tôi - Ông trưởng đoàn vừa báo cho ta biết là bị mất cắp. Trông ông ta rất buồn. “Xin ngài cứ yên trí! - Ta bảo với ông ta như vậy - Chậm nhất là ngày mai chúng tôi sẽ tìm lại cho ngài chiếc ví. Cảnh sát chúng tôi làm việc rất giỏi”.
- Em đã hoàn thành nghĩa vụ đối với tổ quốc rồi, bây giờ xin chào ông anh! Chúc ông anh mọi sự tốt đẹp! - Tôi nói với Haiđa như thế, nhưng ông ta bảo:
- Khoan đã! Mới một lần thế thì ít quá! Chú em phải lần lượt móc túi tất cả các ông khách ấy cho ta!
- Nhưng em chỉ sợ làm mãi quen tay, đến lúc muốn thôi không được nữa.
Nhưng Haiđa chẳng thèm nghe tôi.
Tôi lại bắt đầu đi “moi” các đại biểu khác. Có ông rất khù khờ, bị tôi moi nhẵn cả túi quần túi áo, lấy hết cả ví, cả chìa khóa buồng, khăn mùi xoa, bật lửa, hộp thuốc lá, thậm chí cả ghim cài ve áo, mà vẫn chẳng biết gì hết. Không khéo bị lột cả quần áo ngủ mà ông ta vẫn không biết gì cũng nên!... “Hay ta thử cắt hết cúc áo của hắn ta xem sao?” Tôi nghĩ bụng như vậy, rồi cắt thật, không để sót một cái nào. Sau đó tôi đem ngay tất cả về Sở, bày ra trước mặt Haiđa.
- Giỏi lắm, Ichxan ạ! - Ông ta bảo - Anh làm việc khá lắm.
Tôi bảo ông ta:
- Ông anh ạ! Em đã định lột truồng hắn ra, nhưng sau nghĩ thương hại...
Tóm lại là suốt mười lăm ngày tôi cứ đi moi hết túi vị này đến vị khác trong đoàn... Tôi làm việc như một nhà phẫu thuật lành nghề. Nói thật chứ, giá tôi có lấy mất một lá phổi của những anh chàng đù đờ này thì có lẽ họ cũng chẳng hay biết gì.
Haiđa nghe tôi kể thì cứ ôm bụng mà cười.
Một hôm, tôi moi được nhẫn ví đầm của một bà và đem đến cho Haiđa Lé. Nhưng không thấy bà này đến báo cảnh sát gì cả. Thấy vậy một viên cảnh sát biết tiếng nước ngoài bèn gọi điện về khách sạn:
- Các ngài có bị mất gì không?
- Không... - Người ta trả lời.
- Các ngài cứ soát kỹ lại tất cả ví xách và túi quần túi áo xem!
Một lát sau bỗng có tiếng chuông.
- Có một bà của chúng tôi bị mất sạch các thứ trong túi sắc.
- Bà đó có một chiếc khăn tay màu hồng phải không ạ?
- Phải rồi! Sao các ông biết?
- Cảnh sát của chúng tôi cái gì cũng biết hết!
Cảnh sát của chúng tôi cừ thế đấy: họ báo cho người mất trộm biết anh ta bị mất trộm và tên trộm đã bị bắt!...
Trước khi đoàn về nước, một phóng viên nhà báo hỏi vị trưởng đoàn:
- Ở nước chúng tôi ngài thích nhất cái gì ạ?
Vị trưởng đoàn là một người có học thức, ông ta im lặng không đáp.
Một nhà báo khác nói:
- Cảnh sát của các ông rất mạnh!
Bấy giờ vị trưởng đoàn mới trả lời như thế này:
- Đoàn chúng tôi có chín người cả thảy. Chúng tôi ở Istambun có mười hôm, mà mỗi người trong đoàn chúng tôi đã bị mất cắp tới chín, mười lần!... Cảnh sát của các ông cũng có thể là mạnh, nhưng những tên trộm của các ông còn mạnh hơn nhiều!
Lập tức sáng hôm sau những lời phát biểu này được đăng ngay trên các báo: Ngài trưởng đoàn tuyên bố rằng nạn trộm cắp ở Thổ Nhĩ Kỳ hết sức phát triển!
Nhưng thế thì việc gì kia chứ? Tại sao mấy ông cảnh sát lại nổi cáu và hạ lệnh tống giam tôi? Hay tôi đã thực hiện vượt mức yêu cầu của họ?
Tôi bảo họ:
- Nhưng chính các ông bảo tôi phải đi ăn cắp để thực hiện nghĩa vụ đối với tổ quốc cơ mà! Tôi sẽ đưa chuyện này ra tòa. Tôi sẽ kể hết với mọi người cho mà xem! - Tôi dọa Hai đa Lé.
- Nếu anh làm như thế, ta sẽ đổ cho anh là thủ phạm tất cả các vụ trộm chưa tìm ra. Những vụ như thế có hàng trăm. Anh tin ta đi! Ta sẽ có cách làm cho anh phải nhận và ký vào biên bản hỏi cung. Anh sẽ phải chịu một nghìn năm tù là ít.
Cuối cùng trước tòa tôi đành phải câm như hến và người ta kết án tôi hai năm tù. Ichxan Vadêlin kết thúc câu chuyện của mình.
- Hai năm cũng chả mấy! Ngoảnh đi ngoảnh lại là hết ngay thôi! - Một người ngồi nghe chuyện lên tiếng an ủi.
Ichxan Vadêlin bảo:
- Đã đành thế rồi. Nhưng tuổi tôi đâu còn ít ỏi gì để mà ngồi tù. May phước là chỉ bị có hai năm! Làm nghĩa vụ cho tổ quốc sướng thế đấy! Hoan hô nước ta!
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.02.2018 22:36:34 bởi casau>
Tên Hămđi biệt hiệu “con voi” đã bị bắt như thế nào?

Từ sở cảnh sát Istambun người ta gửi cho tất cả các quận cảnh sát một bức điện như sau:
“Lợi dụng lúc hai người cảnh sát của chúng ta trên đường đi áp giải ngủ gật, vì suốt ba ngày ba đêm phải canh gác liên tục, tên đạo chích đại bợm và nhiều lần tái phạm, biệt hiệu ‘Voi Hămđi’, đã tẩu thoát. Y trạc 35 tuổi, vóc người cao lớn, cân nặng 200 kilô, tóc hung nhạt, miệng mất 3 chiếc răng, hàm trên có một chiếc đổ chì, hàm dưới bên trái có một chiếc nanh bịt vàng, mặc quần áo nâu kẻ sọc, tóc hơi thưa, mặt tròn, mắt màu hạt dẻ. Qua điều tra, Sở đã có đầy đủ chứng cớ để xác nhận rằng y đã bỏ chạy. Vậy thông tri để các quận biết, nếu quận nào thấy tên ‘Voi Hămđi’ xuất hiện tại địa phận thuộc quận mình cai quản, hoặc giả nếu y có đến gặp một viên cảnh sát nào để hỏi thăm, thì xin các quận báo cho y biết rằng chúng ta yêu cầu y đừng làm cho chúng ta thêm vất vả, mà nếu có dịp nào thuận tiện, thì hãy đến đầu thú tại Sở cảnh sát Istambun. Kèm theo đây là ảnh của tên trộm nhiều lần tái phạm, biệt hiệu ‘Voi Hămđi’.”
* * * * *
Trên sân ga thuộc một đồn cảnh sát, hai nhân viên cảnh sát nói chuyện với nhau:
- Ramadan này, cậu nhìn cái thằng cha đang uống xalép [1] kia xem, có lẽ đúng hắn là “Voi Hămđi” cũng nên!...
- Hừm... Trông cũng hao hao... Đưa ảnh hắn đây xem nào!
Viên cảnh sát rút trong túi ra một chiếc ảnh đưa cho bạn.
- Ồ, không phải, đây là ảnh cậu đấy chứ, Ramadan!
- Ừ nhỉ, ảnh tớ chụp hôm nghỉ lễ đấy! Trông được không?
- Cũng được. Nhưng đáng lẽ cậu phải cười lên một tí. Thôi lấy ảnh tên “Voi Hămđi” ra xem nào!
Ramadan rút ra một tập ảnh và loay hoay tìm.
- Đây là ảnh con trai tớ. Nó chụp hồi đi lính. Còn đây là ai cậu có biết không, Macmút?
- Trông như thằng cha buôn lậu thuốc phiện Đuman Ali ấy!
- Còn đây là một con “chuột cống” ở khách sạn Supkhi. Chà, ảnh lẫn lộn lung tung cả!...
- Thôi, tìm ảnh “Con voi” ấy đi mau lên!
Macmút và Ramadan lúi húi giở tập ảnh.
- Nhanh lên Macmút, hắn uống hết xalép rồi, sắp chuồn bây giờ!
- Xem kìa, hắn nhìn quanh có vẻ lấm lét lắm!
- Đây rồi, ảnh đây! Đúng hắn rồi!
Nói đoạn, hai viên cảnh sát tiến lại phía người có dạng điệu khả nghi.
- Ê này, anh bạn, đứng yên đấy!
Họ hết ngắm bức ảnh lại ngắm người.
- Nghiêng người đi một tí xem nào, anh bạn!
- Hình như không phải hắn, Ramadan ạ!
- Cứ dẫn về cho ông đồn trưởng ông ấy xem. May ra ông ấy nhận diện được hắn.
- Nào anh bạn, đi thôi! Về đồn với chúng tôi!
* * * * *
Tại một nơi khác hai viên cảnh sát nói chuyện với nhau trước cửa chợ:
- Thật xấu hổ, Suycruy ạ! Chúng mình lùng sục suốt từ sáng đến giờ mà vẫn không tìm được cái thằng “Voi Hămđi” ấy!
- Này, hay là nó kia kìa!
- Đâu? Ừ, có khi đúng hắn cũng nên. Cứ hỏi thử xem.
- Xin ông cho biết tên.
- Mustapha.
Hai viên cảnh sát thì thầm:
- Hắn bảo tên là Mustapha.
- Thì chẳng lẽ hắn nói thẳng với cậu: Tôi là “Voi Hămđi” à?
- Phải, tên này bợm lắm chứ chả phải vừa!
- Thôi, xin mời ngài cứ đi theo chúng tôi!
* * * * *
Trong một tiệm cà phê thuộc quận khác, hai viên cảnh sát tâm sự với nhau:
- Hôm qua tớ tìm được ba gã “Voi Hămđi”, thế mà chẳng gã nào vừa lòng ông đồn trưởng cả!
- Thì tớ đã bảo cậu là ông ấy khó tính lắm mà!
- Suỵt! Cậu thử nhìn cái thằng cha đang uống nước chè kia xem kìa!
- Thôi, đích hắn rồi!
- Nhưng trong giấy nói là hắn to béo cơ mà. Còn thằng cha này thì gày nhom.
- Hắn mới bị gầy đi đấy! Trốn tránh như thế khổ lắm chứ có sung sướng gì!
- Ừ, phải... Nhưng thằng cha này tóc đen, mà “Voi Hămđi” hình như tóc hung nhạt.
- Thì cậu bảo lang thang khắp các bờ bụi, nắng gió như thế, làm gì tóc chả đen đi!
- Thì đã đành rồi! Nhưng có cái là tóc thằng cha này nó lại đen nhánh và rậm quá cơ! Mà trong giấy thì nói là “Voi Hămđi” tóc thưa kia mà!
- Có thể là hắn đeo tóc giả để người ta khỏi nhận ra cũng nên.
- Thôi, thế ta còn đứng đây làm gì nữa, lại bắt thằng bợm đi thôi!
Họ lại gần người kia:
- Anh tên gì?
- Hămđi.
Hai người cảnh sát nhìn nhau một cách đầy ý nghĩa rồi phá lên cười.
- Thế thì về bót, đi!
* * * * *
Trên một khúc đường nhựa, hai người cảnh sát bắt giữ một người qua đường.
- Há miệng ra!
- Trong miệng tôi có gì đâu!
- Không có thì cứ yên chí mà há ra!
Người đi đường há miệng. Hai viên cảnh sát khám hàm răng anh ta. Người nọ hỏi người kia:
- Này, xem lại trong giấy xem Con Voi ấy mất mấy cái răng?
Người kia đọc:
- “Mất ba cái răng, hàm trên có một chiếc đổ chì, hàm dưới bên trái có một chiếc nanh bịt vàng...”
Viên cảnh sát đếm răng người qua đường.
- Một, hai, ba, bốn... Đừng cựa quậy. Nhầm hết rồi!
- Một, hai, ba, bốn, năm... hai mươi bốn! Hắn có hai mươi bốn cái răng.
- Hai mươi bốn à? Thế thì thiếu mấy cái nhỉ? Này, anh có biết anh thiếu mấy cái răng không?
- Tám cái.
- Hắn nhổ bớt răng đi để người ta khỏi nhận ra đấy.
- Thưa ông cảnh sát, răng tôi toàn là răng giả cả, không có một chiếc răng thật nào đâu ạ!
- Này, cậu xem lại trong giấy xem có nói gì đến răng giả không?
- Không thấy nói gì cả. Chắc họ quên đấy. Nhưng tớ thề rằng đúng hắn là “Voi Hămđi” đấy. Cứ nhìn hàm dưới của hắn mà xem! Chả răng nanh bịt vàng là gì đấy! Thôi, mời ông đi theo chúng tôi.
- Đi về đâu ạ?
- Về bót, mau!
* * * * *
Mỗi ngày sở cảnh sát Istambun nhận được hàng trăm bức điện từ khắp các quận cảnh sát gửi về, nội dung đại khái như sau:
“Phúc đáp bức điện số ... ngày...
Quận chúng tôi đã bắt được 14 tên Hămđi. Cả 14 tên đều mặc quần áo nâu kẻ sọc, tám tên có răng nanh bịt vàng. Vậy yêu cầu Sở cho biết con số đó đã đủ chưa, hay còn phải tiếp tục tìm thêm?”.
Hoặc như sau:
“Phúc đáp bức điện số ... ngày...
Hiện tại quận chúng tôi có giam hai tá ‘Voi Hămđi’ cân nặng từ 180 đến 220 kilô. Sở dĩ có sự chênh lệch về trọng lượng như vậy, có thể là vì cân không được chính xác. Tất cả bọn này mắt đều màu hạt dẻ. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng đều là ‘Voi Hămđi’ cả. Những tên bị bắt đã được giải đi. Quận chúng tôi đang tiếp tục truy nã thêm. Nếu tìm được, chúng tôi xin giải tiếp về Sở sau. Nay kính cáo”.
Điện của Sở cảnh sát Istambun gửi các quận cảnh sát:
“Hiện nay, tất cả các nhà giam đều đã chật ních. Số ‘Voi Hămđi’ bị bắt coi như đã đủ.
Sở xin gửi lời cảm tạ tất cả các quận và yêu cầu ngừng việc truy lùng và bắt bớ các tên ‘Voi Hămđi’ cho đến khi có lệnh mới.
Bị chú: tên ‘Voi Hămđi thật’ ngay hôm tẩu thoát đã bị bắt”.

---------------------
[1] Một loại nước giải khát phổ biến ở Thổ Nhĩ Kỳ. 
0
Xếp hàng

Tôi đang đi từ cửa hàng “Hàng nội” trên phố Bakhsechapa sang nhà Bưu Điện Mới thì nhìn thấy một dòng người đang xếp hàng. Và cái đuôi của nó mới dài làm sao! Nó xoắn xuýt như cái đuôi ngựa xù.
Ở chỗ ngã tư xe cộ ùn tắc cả. Các bác tài thò tay ra cửa, đập vào thùng xe càu nhàu tức giận:
- Thật đúng là khéo chọn thời điểm ra lệnh cấm bóp còi! Cứ thử tìm cách mà vượt qua cái đám đông này xem!
Chả nói đến bóp còi, có bắn súng máy cũng không làm gì được. Những chiếc xe ô-tô cứ phải huých nhẹ cái đầu chắn vào đám đông mà mở đường nhích lên với tốc độ năm phút một mét, mà có khi còn ít hơn.
- Len đi đâu thế này!
- Phải nhìn đằng trước chứ!
- Phải nhìn đằng sau chứ!
- Xếp vào hàng đi!
- Hàng nào?
- Cứ xếp vào, hàng nào cũng được!
- Này người anh em, bọn người này không sao dạy cho văn minh lên được đâu. Chúng ta đang sống trong thế kỷ hai mươi. Thế kỷ hai mươi là gì? Là văn minh! Nhưng văn minh là thế nào? Văn minh đó là, thứ nhất, bom nguyên tử, thứ hai là xếp hàng. Dù muốn hay không anh cũng phải nắm vững hai vấn đề ấy. Này cẩn thận! Bước đi đâu thế hả?
- Không, thưa ngài, như thế chưa phải là tất cả. Văn minh, đó còn là nylông, chất dẻo, kẹo cao su. Và sau đó, xin thưa với ngài, là cả quần áo tắm nữa... Này cẩn thận! Anh mù hay sao thế? Dẫm ngay vào mắt cá chân người ta!...
- Thế còn dao cạo râu “Gillette” nữa? Anh quên rồi sao? Đã nói đến văn minh là phải nói đến “Gillette”.
- Thế còn “Hu-la-húp”? Đừng có chen, đồ con lợn!
- Tôi chỉ biết một điều: chừng nào chúng ta còn chưa học được cách xếp hàng thì chúng ta sẽ chẳng trở thành cái gì được! Ôi! Chen đi đâu thế hả?...
Có người phía sau kêu:
- Tránh ra nào, không có tôi bôi bẩn đây này!
Một người qua đường nói với người bạn:
- Một khi đã có xếp hàng, ta cũng phải đứng vào thôi.
Nghe thấy lời khuyên khôn ngoan ấy, tôi cũng lặng lẽ đứng vào xếp hàng. Thật ra thì anh chỉ cần dừng lại và ngoái nhìn ra phía sau thì đã thấy sau lưng anh hình thành một dòng người rồi.
- Cầu Chúa ban sức khỏe cho ngời nào nghĩ ra chuyện xếp hàng!
- Đừng quên cả xe tắc-xi nữa! Xếp hàng là một, tắc-xi là hai.
Một bà già đứng trước tôi hỏi:
- Xếp hàng mua gì đấy hả ông?
- Mua gì mà chẳng được hả cụ? Một khi đã có xếp hàng thì cứ phải đứng vào thôi.
- Người ta đang bán cái gì đó.
Người vừa nói câu ấy một lúc sau quay sang hỏi người bên cạnh:
- Ông có biết xếp hàng mua gì không?
Rồi chính ông trả lời câu hỏi ấy cho người khác:
- Mua gì chả được, phải không?
Một người nói:
- Không có xếp hàng chúng ta sẽ không có cách gì chống bọn đầu cơ tích trữ được.
Người khác ủng hộ:
- Đúng thế! Bọn đầu cơ tích trữ khốn kiếp đã làm cho chúng ta kiệt quệ! Thật may người ta nghĩ ra chuyện xếp hàng...
Hai viên cảnh sát, một đứng ở cuối hàng, một đứng ở đầu hàng luôn mồm ra lệnh:
- Trật tự!
- Đứng vào hàng đi!
- Cho xe đi qua nào!
Từng bước một, đúng hơn, từng xăng-ti-mét một, chúng tôi nhích lên phía trước. Vào lúc chín giờ sáng tôi có một cuộc hẹn. Bây giờ đã gần mười giờ.
- Xin lỗi ông, ông đến sau tôi. Xin ông đừng giở trò láu cá!
- Có ông là đồ láu cá thì có. Tôi đứng đây từ lúc bảy giờ sáng. Một người đến, len lên phía trước, người khác đến, lại len lên trước, tôi không muốn cãi cọ, nhưng tôi thấy không thể im mãi được.
Một người đứng trong hàng nói:
- Cuộc sống là thế đấy, người anh em ạ, không thể làm gì được. Như tôi đây chẳng hạn, tôi làm công chức đã hơn hai năm nay, vậy mà mấy đứa hôm qua hãy còn là trẻ con nay đã trở giám đốc của tôi. Đến sau nhưng lại len lên trước... Đời là thế đấy!...
- Xin lỗi, ở đây người ta bán gì thế ạ?
- Thú thật tôi cũng không biết. Tôi xếp hàng ở đây đã hai tiếng rồi, người thì nói bán lốp xe, người thì bảo bán dầu hỏa.
- Tôi mua lốp xe làm gì?
- Sao bà bác lại nói thế? Nếu thánh Ala đã cho lốp xe thì chắc chắn sắp tới sẽ cho bác ô-tô.
- Nhưng người ta có bán luôn cả bốn chiếc không nhỉ?
- Điều đó thì tôi không biết. Chưa thấy ai ở đó ra nên chẳng có ai để hỏi.
- Thế họ biến đi đâu hết nhỉ?
- Người ta cho họ ra lối cửa sau, để khỏi chen lấn xô đẩy.
Đã mười rưỡi. Mà hàng người vẫn ngày càng dài.
- Nếu bán lốp xe thì cần có giấy chứng nhận đấy. Không có giấy chứng nhận người ta không bán đâu.
- Giấy chứng nhận à? Giấy chứng nhận của đảng dân chủ ấy à? Lạy Chúa, tất cả chúng ta đều là người dân chủ cả.
- Nếu bán dầu hỏa thì tôi xếp hàng mất công toi.
- Muốn bán gì thì bán, miễn mua được là được.
- Nhưng bán dầu hỏa thì đựng vào đâu? Đổ vào túi à? Chán quá, hôm nay lại không mang can theo.
- Hãy cứ nhận tích-kê đã, rồi chạy về nhà lấy can vẫn kịp.
- Chả nhẽ người ta phát tích-kê à?
- Anh này ở đâu ra thế hả? Bán dầu hỏa mà không cần tích kê à? Đợi đấy!... Này, anh muốn nói bao nhiêu thì nói, nhưng đừng có xô dẩy!
- Xin lỗi, nhưng ở phía sau họ đẩy tôi...
- Xin lỗi các vị, tôi có việc quan trọng...
- Anh ta có việc quan trọng!... Hãy nhìn anh ta kìa! Thế anh tưởng những người khác vô công rồi nghề chắc? Ai cũng có việc hết.
- Không biết từ giờ đến giờ ăn trưa có mua được không nhỉ?
- Không chắc... Này, len đi đâu thế? Muốn ngồi lên đầu người ta chắc?
- Không biết kính trọng người già chút nào cả! Giáo dục ở đâu thế không biết!
- Chắc ông đã ngoài bốn mươi?
- Sao anh lại nghĩ thế?
- Vì khi người ta ngoài bốn mươi anh ta tưởng không còn những người có giáo dục tử tế nữa...
- Bác có biết người ta bán gì không?
- Inxulin.
- Inxulin? Nhưng đó là cái gì?
- Thuốc chữa bệnh tiểu đường.
- Thì thì tôi cần gì!
- Anh rõ là đồ ngốc, người anh em ạ! Không cần là thế nào? Cứ mua đi rồi đem bán lại. Ông hàng xóm nhà tôi chỉ làm thế mà trở nên giầu đấy. Mua ở đây hai lia rưỡi, đem bán được hai mươi nhăm lia.
- Anh biết không, hóa ra trong nước mới mở những lĩnh vực kinh doanh mới.
- Thế ông nghĩ sao? Xếp hàng đó là phát minh lớn không phải đùa. Nhiều người xây được cả nhà nhờ xếp hàng đấy!... Ông này, bỏ cái cùi tay ra khỏi đầu người ta đi!
- Tốt nhất là ông bỏ cái đầu ông khỏi cùi tay tôi!
- Xin lỗi các bác, các bác làm ơn cho biết ở đây đang bán gì đấy ạ?
- Vải thô.
- Vải thô nước nào ạ?
- Vải thô Mỹ chứ còn nước nào! Bây giờ mọi thứ đều là hàng Mỹ cả.
- Không phải vải thô, không phải muối, cũng chẳng phải dầu hỏa - Các ông không nghe đài hay sao?
- Có nghe. Nhưng sao?
- Ông Thị trưởng cấm tất cả các loại xếp hàng, trừ xếp hàng mua cà phê. Bây giờ không còn loại xếp hàng nào khác ngoài xếp hàng mua cà phê.
Tin bán cà phê ngay lập tức được truyền đi trong hàng người.
- Cà phê à! Thế thì hay quá!
- Nếu là cà phê, tôi có thể đứng hai ngày cũng được. Tôi sẽ không đi đâu chừng nào chưa mua được cà phê.
- Đã có lệnh: chỉ cho phép xếp hàng mua cà phê thôi. Còn tất cả các loại hàng khác mà xếp hàng sẽ bị phạt.
- Tại sao?
- Bởi vì đảng đối lập cố ý tạo ra cảnh xếp hàng: họ cần có cớ để đổ lỗi cho chính phủ đã không kìm được vật giá leo thang.
- Có lẽ việc chúng ta đang xếp hàng đây cũng là do bàn tay của đảng đối lập cũng nên. Ai mà biết được!
- Không, không thể nào. Chả lẽ ông không thấy chính cảnh sát đứng ra giữ trật tự hay sao?
Đã mười một giờ trưa... Từ đây đến cửa hàng còn độ mười bước chân nữa. Các rèm cửa đều hạ xuống nên không ai nhìn thấy gì bên trong.
- Không biết người ta có cho mua nhiều không nhỉ?
- Mỗi người năm trăm gam.
- Tôi không nghĩ thế. Nếu mỗi người năm trăm gam thì làm sao đủ hàng mà bán được!
- Tôi không thể đứng xếp hàng chỉ vì mỗi năm trăm gam được.
- Miễn sao mua được năm trăm gam cũng tốt rồi. Về trộn thêm hai kilô đậu tương, trộn thật đều, thế là được hai cân rưỡi cà phê ngon.
Một người nói với người bạn của mình:
- Này, tôi quên không mang theo tiền. Anh cho tôi vay hai lia rưỡi nhé.
Người kia đáp:
- Được thôi, tôi sẽ đưa tiền cho anh, nhưng không phải cho vay: anh phải trả tôi một nửa số cà phê của anh.
Người thì la hét, người thì kêu cứu, người bị ép, người đánh rơi túi, người lạc mất bạn... Nói tóm lại, cứ như cảnh ngày tận thế!... Người ta ép từ bốn phía, xô đẩy nhau... Cuối cùng, cúi gập đầu tôi mới chui được vào ô cửa bị tấm cửa sắt che mất một nửa.
Người bán hàng hỏi bà già đứng trước tôi:
- Bà muốn mua số bao nhiêu?
- Chả nhẽ bán theo số à?
- Sao lại không theo số? Thôi bà đừng lề mề nữa, chúng tôi không có thời gian. Bà nói đi nhanh lên!
- Đã xay rồi chứ? Con trai cho ta loại xay thật mịn ấy nhé. Loại mịn nhất ấy...
- Mịn à? Tất cả đều như nhau thôi, bà ạ. Chỉ toàn loại có lông thôi.
- Trời ơi, từ thuở cha sinh mẹ đẻ tôi chưa nghe nói cà phê có lông bao giờ!
- Cà phê gì ở đây nữa? Tôi hỏi bà mang số bao nhiêu?
- Số ba mươi lăm. Cho tôi loại có nơ ấy nhé...
- Lại thế rồi...
- Chả lẽ không phải anh hỏi số giày hay sao?
- Tôi bán mũ, bà ạ, mũ...
Người bán hàng lấy cái mũ trong hộp ra.
- Trời ơi, tôi mua mũ làm gì! - Bà già nói - Lại là mũ đàn ông nữa... À thôi, một khi đã xếp hàng thì chắc phải rẻ. Thôi bán cho tôi một chiếc, tôi mua cho thằng con trai vậy. Giá bao nhiêu đấy anh?
- 68 lia 73 curusơ.
Bà già trả tiền và lấy chiếc mũ màu cà phê.
Bây giờ đến lượt tôi. Người bán hàng nói:
- Mũ của Italia đấy ông ạ, ngày mai là không còn nữa đâu. Bây giờ mua cái gì cũng thế, khó khăn lắm. Ông chọn nhanh lên...
Cả mùa hè lẫn mùa đông không bao giờ tôi đội mũ. Nhưng nghĩ rằng người ta xếp hàng đông như thế chắc chắn giá phải rẻ nên tôi cũng mua một chiếc.
Cái ông đứng sau tôi sốt ruột kêu lên, làm như thể người ta sắp bán hết và không đến lượt ông ta nữa:
- Cho tôi bốn chiếc! Một cỡ 56 và ba chiếc cỡ 57. Có màu nâu hay màu be không?
Tôi trả 68 lia 73 curusơ và lấy cái mũ. Lối ra ở phía bên kia. Phải lên cái cầu thang và từ đó đi ra phố khác. Lúc đó đã mười hai giờ kém mười lăm. Hài lòng vì mua được chiếc mũ rẻ tôi quên cả mệt. Từ đó đến chiều tay xách cái hộp mũ tôi cứ đi lang thang qua các phố. Khoảng năm giờ chiều, tôi đến bến tàu và bước lên tàu thủy. Tôi đến gần cửa bán vé thì nghe thấy có người gọi:
- Giepđet!
Tôi ngoái đầu lại - hóa ra đó là một người bạn học cũ có tên là Burkhan-Gương. Anh ta bị đuổi khỏi trường vì một hành vi thô bỉ. Để tôi kể cho các bạn nghe anh ta đã làm gì. Anh ta đặt một cái gương nhỏ dưới chân bàn học của mình và nhìn vào đó để xem đùi các cô giáo. Một hôm cô giáo phát hiện ra chuyện đó và thế là anh ta bị đuổi khỏi trường. Từ đó mọi người gọi anh ta là thằng Gương. Đã lâu lắm tôi không gặp anh ta.
- A, chào Burkhan. Dạo này làm ăn thế nào?
- Cám ơn, cũng được.
- Cậu làm gì?
- Quảng cáo!
- Quảng cáo cái gì?
- Gặp gì quảng cáo nấy. Tớ giúp mấy ông nhà buôn bán số hàng ế của họ. Chẳng hạn, hôm nay tớ đã giúp một lão Do Thái bán hết chín trăm bảy mươi cái mũ.
Nghe đến chữ “mũ” tôi chột dạ. Tôi bắt đầu hỏi anh ta:
- Cậu bán thế nào?
- Rất đơn giản. Thằng cha này có số hàng chất đống ba năm nay nay không sao bán được. Trên thương trường ai cũng biết tớ. Thế là lão ta đến Văn phòng của tớ. Tớ và lão ta thỏa thuận, tớ sẽ được hai nhăm phần trăm lãi. Chưa đến ba giờ chiều tớ đã giúp lão ta bán hết sạch số mũ. Lão ta chia ngay cho tớ 850 lia. cầu Trời phù hộ cho lão. Đáng lẽ tớ phải được nhận 900 lia, nhưng người mua chen lấn ghê quá làm vỡ cửa kính nên phần thiệt hại tớ cũng phải chịu một nửa.
- Nhưng làm cách nào cậu giải quyết được số hàng ế ấy?
- Tớ bỏ ra vài ba lia thuê độ mười lăm gã vô công rồi nghề. Trong vòng nửa giờ chúng tạo ra một dòng người xếp hàng trước cửa hàng. Thậm chí cũng chưa đến nửa giờ. Người ta nhìn thấy có xếp hàng là đứng ngay vào. Chính cậu biết đấy, dân ta bây giờ mê xếp hàng kinh khủng. Một khi đã hình thành hàng người rồi thì đố mà giải tán được họ... Sau đó thế nào thì cậu cũng biết đấy... Ví dụ chiều nay: người ta đã bán sạch mũ và đóng cửa hàng rồi mà đám đông vẫn không chịu ra về. Phải vất vả lắm người ta mới kiềm chế được họ. Bây giờ có nhiều “con vịt” lắm, người anh em ạ.
- Đúng thế! - Tôi tán thành.
- Cậu không thể hình dung được trên đời này có bao nhiêu kẻ ngu đâu.
- Sao tớ lại không hình dung được.
- Nước ta có nhiều con lừa lắm.
- Phải, nhiều thật đấy...
- Giá cậu được nhìn thấy những con lừa ấy...
- Chẳng cần nhìn tớ cũng biết. Nhưng chắc mũ phải rẻ hơn ngoài chợ đen một chút.
- Nào có rẻ, những cái mũ này bán đầy ở mọi cửa hàng.
- Giá được xem... không, không phải xem những đứa ngu, mà xem những cái mũ ấy...
- Còn mười lăm phút nữa tàu mới chạy. Cậu đi với tớ, tớ sẽ chỉ cho cậu xem những cái mũ ấy ở các cửa hiệu mũ.
Tôi nhìn vào tủ kính các cửa hiệu mũ mà không tin ở mắt mình nữa; những cái mũ hệt như cái mũ tôi mua sáng nay đang bày thành đống ở đó. Và tất cả đều có giá 68 lia 73 curusơ.
- Nghĩa là, thay vì có thể mua thoải mái ở bất kỳ cửa hiệu mũ nào, những gã ngu kia cứ nhất định phải xếp hàng, chen lấn xô đẩy nhau, rách cả quần áo để cuối cùng mua được đúng cái mũ như thế với đúng giá như thế? - Tôi hỏi với giọng thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra - Quả thật, trên đời này có nhiều kẻ ngu thật.
- Ngày mai tớ sẽ giúp cửa hàng Grant bán những cái điếu. Cửa hàng này còn hơn nghìn cái điếu bị ế đã vài năm nay.
- Điếu người ta cũng mua?
- Bọn ngu này cái gì cũng mua hết. Chả cứ điếu, mà cả nõ điếu chúng cũng mua, một khi đã xếp hàng. Tớ chỉ lo một điều...
- Điều gì?
- Tớ sợ không đủ hàng bán, thì đám đông kia chúng phá tan cửa hiệu mất.
Tôi cùng Burkhan-Gương quay lại bến tàu. Bỗng nhiên anh ta hỏi:
- Cậu cầm cái gì trong tay thế?
Tôi vội giấu cái hộp mũ ra sau lưng để anh ta không nhìn thấy tên hãng in trên nắp hộp.
- Tớ mua giày. - Tôi đáp một cách bâng quơ.
Về đến nhà tôi đặt cái hộp mũ lên bàn. Trong lúc ngồi làm việc thỉnh thoảng tôi lại liếc nhìn nó. Một mặt, nó nhắc tôi về sự ngu ngốc của mình, nhưng mặt khác nó cũng mang lại cho tôi điều an ủi: biết đâu ngày mai tôi lại chẳng xếp hàng để mua cái nõ điếu? Rồi tôi biết làm gì với nó?
0
Hội nghị phụ huynh

Tôi cứ đắn đo mãi không biết có nên đi họp phụ huynh hay không. Đi thì chẳng biết nói gì. Mà giả dụ có gì muốn nói, thì chưa chắc tôi dám mở miệng. Vì tính tôi không quen nói trước chỗ đông người.
Tuy vậy, cuối cùng tôi cũng dẹp được những nỗi băn khoăn và quyết định đi.
Đến nơi, cuộc họp đang vào hồi sôi nổi nhất.
Tôi khẽ mở cửa rón rén bước vào phòng.
Thấy tôi vào, một bà tỏ vẻ khó chịu, đứng dậy bảo:
- Quý ông đến muộn rồi đấy, thưa quý ông!
Tôi ngượng đến chín cả mặt, ấp úng đáp:
- Thưa vì từ nhà tôi đến đây không tiện đường. Tắc-xi chuyến không chạy, mà ô-tô buýt cũng không có.
- Đó không phải là việc mà ban giám đốc cần biết!
Tôi không hiểu bà ta định nói ban giám đốc nào? Ban giám đốc công ty xe điện hay ban giám đốc công ty xe khách?
- Cái mà ban giám đốc mong các vị phụ huynh lưu ý cho là việc con em họ thường xuyên đi học muộn. Giờ học bắt đầu từ chín giờ, nhưng...
- Tôi đề nghị phải cấm các nữ sinh đi bít tất ni lông! - Một bà trong số phụ huynh bỗng đâm ngang một câu - Và không phải chỉ các nữ sinh, mà cả các bà có tuổi nữa!
- Tôi tán thành ý kiến của bà vừa phát biểu đấy! - Tôi cũng đế theo một câu mà chính mình không ngờ.
Thú thực trong đời tôi chưa từng thấy đôi chân nào xấu như đôi chân của bà phụ huynh này. Nó vừa cong như cái đòn gánh, mà phần cổ chân lại to hơn phần bắp. Đi tất dày mà vẫn trông rõ cả những đường gân to tướng.
- Tất cả các nữ sinh phải bắt mang tất dày màu đen hết! - Tôi tiếp thêm, mắt vẫn không rời khỏi đôi chân bà phụ huynh.
Không hiểu tại sao tôi lại dính vào chuyện tất tai này thế không biết! Lúc ở nhà đi tôi đã định không nói gì cả.
Một ông ăn vận sang trọng bỗng đứng phắt dậy nói như hét:
- Chúng ta còn có nhiều vấn đề quan trọng khác cần phải bàn, chứ cái chuyện tất tiếc ấy chỉ là chuyện vặt thôi! Trước hết chúng ta phải bàn đến chuyện sinh ngữ. Theo tôi, tất cả các môn phải dạy bằng tiếng Đức hết! Tôi đã từng ở bên Đức nên tôi biết. Bên ấy người ta dạy trẻ con môn gì cũng bằng tiếng Đức cả!
Vẫn mặc cảm mình là người có lỗi, nên để chuộc lỗi, tôi hăng hái hùa theo:
- Tuy chưa sang Đức, nhưng tôi cũng tán thành ý kiến của ông vừa phát biểu, là chúng ta phải dạy học bằng tiếng Đức! Chắc các vị muốn hỏi tại sao? Xin thưa rằng vì chính người Đức là người đã đem lại triết học và khoa học, văn minh cho toàn thế giới. Chúng ta phải biết ơn người Đức. Nếu như trẻ em Đức không học tất cả các môn bằng tiếng Đức...
- Thưa ông, - Một ông đeo kính ngắt lời tôi - ý kiến của ông đã ra ngoài cuộc họp rồi! Dạy học bằng tiếng gì là việc của Bộ chứ! Còn ở trường chúng tôi, như ông biết đấy, cũng có dạy tiếng Đức. Nhưng hôm nay chúng ta họp ở đây là để thảo luận về vấn đề liên lạc giữa ban giám hiệu và phụ huynh.
- Thế một tuần có mấy giờ tiếng Đức? - Ông ăn mặc sang trọng hỏi.
- Cái đó là tùy theo mỗi lớp. - Ông đeo kính đáp - Lớp một là sáu giờ, còn lớp bảy là tám giờ...
- Thế thì ít quá!
- Ít quá! - Tôi chêm vào.
- Cái chính là phải cấm đá bóng trong trường! - Một ông có tuổi ngồi cuối phòng bỗng kêu lên - Nếu không tháng nào cũng mua giày mới thì đào đâu ra tiền!
- Ơ hay! Nhưng con gái chúng nó có đá bóng đâu! - Một bà tóc hoa râm phản đối ngay lập tức.
- Nhưng tụi con trai nó đá! - Ông có tuổi vẫn bướng.
- Tại sao lại dính đến chuyện con trai ở đây? Trường này là trường nữ sinh cơ mà!
- Trường nữ sinh à? Thế thì đứa cháu gái tôi học ở đây ư? Thế mà tôi cứ nghĩ là... Muốn trường gì thì trường, cứ phải là cấm đá bóng! Trẻ con bây giờ quên hết cả truyền thống của cha ông...
- Cái đáng lo nhất là con em chúng ta hay bỏ học. - Một bà giáo lên tiếng - Các vị phụ huynh phải đặc biệt quan tâm đến chuyện này mới được!
Ông ngồi cạnh tôi hỏi:
- Không biết bao giờ mới bắt đầu dạ hội nhỉ?
- Không biết. - Tôi đáp - Ông hỏi ông hiệu trưởng xem!
- Hiệu trưởng là ông nào?
- Tôi cũng không rõ... nhưng trông ba ông kia ông nào cũng giống hiệu trưởng cả...
Ông ngồi cạnh tôi bèn quay sang một ông có dáng điệu rất bệ vệ ngồi sau dãy bàn của ban giám hiệu:
- Thưa ông hiệu trưởng, bao giờ bắt đầu dạ hội ạ?
- Ông hiệu trưởng đâu nhỉ? - Ông này đưa mắt nhìn quanh hỏi.
- Ông hiệu trưởng ốm, không có ở đây. - Bà đeo kính trả lời.
- Thế bao giờ mới bắt đầu dạ hội ạ? - Ông ngồi cạnh tôi lại hỏi.
- Làm gì có dạ hội nào mà dạ hội? - Bà đeo kính ngạc nhiên.
Ông bên cạnh tôi ngượng quá ngồi xuống, đoạn quay sang bảo tôi:
- Hừm!... Về nhà tôi phải cho con ranh con một trận mới được! Nó láo quá đi mất!
- Tôi không hiểu ông định nó gì? - Tôi đáp.
- Con mất dạy nó bảo hôm nay ở trường nó có dạ hội và cứ nằng nặc đòi tôi đi dự. Nó còn bảo là chúng nó sẽ múa điệu Khacmanđalư nữa! Vợ tôi đang có mang không đi được, nên tôi phải đi thay.
Trong khi đó, cái bà đòi các nữ sinh phải mang bít tất dày màu đen cứ ra sức tuyên truyền để lôi kéo thêm đồng minh cho mình. Cái ông đòi phải dạy các môn học bằng tiếng Đức thì cứ bô bô kể chuyện đời sống bên Đức.
Một ông còn trẻ ngồi bên trái tôi quay sang hỏi:
- Xin lỗi, ông có biết người ta nói gì không ạ? Tôi chả hiểu gì hết!
Tôi nói vắn tắt lại cho ông ta biết những ý kiến trái ngược nhau trong cuộc họp.
- Ông cụ này thì đề nghị cấm trẻ con chơi đá bóng và phải giáo dục chúng theo truyền thống cũ. Bà giáo kia thì than phiền về việc học sinh trốn học đi chơi. Còn bà này thì...
- Làm thế nào ra khỏi đây bây giờ nhỉ? Tôi bị nhầm mất rồi! Mấy ông bạn chơi xỏ tôi. Họ không nói rõ cho tôi biết gì cả. Hôm nay là tôi phải đi họp công đoàn... Suýt nữa tôi đứng lên phát biểu về quyền tự do bãi công thì có thật là vô duyên không?
Bà tóc hoa râm đứng lên yêu cầu trật tự.
- Thưa các vị! Các trò ở trường ta đây đều là con em các gia đình nghèo. Gần một nửa trong số 670 nữ sinh của chúng ta không đủ tiền để sắm cả sách giáo khoa. Trách nhiệm của chúng tôi là phải trợ cấp bữa ăn trưa cho ít nhất là 100 học sinh. Về chuyện này, chúng tôi xin nói thẳng là trông mong vào sự trợ giúp của các vị.
- Trợ giúp! - Một bà phụ huynh kêu lên - Lúc nào cũng trợ giúp! Suốt đời chỉ thấy con cái đòi hết tiền này đến tiền khác không biết để làm gì? Không cho thì nó nói: “Mẹ không cho con thì con không đi đâu! Con xấu hổ với tụi bạn lắm!” Vậy tôi xin hỏi, những tiền ấy nó đi đâu? Không thể ngày nào cũng cho tiền mãi được! Phải quy định dứt khoát mỗi tháng là bao nhiêu tiền chứ! Và làm sao để chúng tôi ai cũng có thể kiểm tra xem tiền ấy chi dùng vào việc gì chứ!
- Đúng đấy! - Tôi gào lên.
Bị đỏ mặt, bà tóc hoa râm bèn hỏi cái bà vừa yêu cầu phải cho biết tiền trợ giúp các học sinh nghèo được chi dùng vào viềc gì xem con gái bà ta tên là gì.
- Guynten Iasôba ạ! - Bà này đáp.
Bà tóc hoa râm “Hừm” một tiếng.
- Lớp 3B, số 141, Guynten Iasôba phải không? Đúng rồi... Từ sau hè, con gái bà chỉ đi học có một tuần thôi, rồi không thấy đến trường nữa. Chúng tôi đã biên thư báo cho bà chuyện này...
- Thế chả hóa tôi nói điêu hay sao? - Bà phụ huynh nọ tức lắm - Ngày nào con gái tôi cũng xin tiền, bảo để giúp ai không biết. - Đoạn bà quay sang bà bên cạnh phân trần - Mà tối cũng không thấy nó về nhà. Thế thì chả hiểu nó lang thang ở đâu? Tôi và bố nó đã ly dị nhau. Nó sống với ông ấy...
Cứ thế, phòng họp có khoảng ba chục người, nhưng người nào cũng ra sức nói to để át người khác và để bảo vệ ý kiến của mình, nên khắp phòng cứ ào ào như chợ vỡ.
Cuối cùng bà tóc hoa râm phải kêu lên:
- Đề nghị trật tự! Ồn quá, không còn nghe thấy gì hết! Ai muốn phát biểu đề nghị nói lần lượt, chứ không nói cùng một lúc như vậy.
Một rừng tay giơ lên. Ông có tuổi được phát biểu đầu tiên.
Sau khi mở đầu bằng câu: “Kính thưa các thầy cô giáo”, ông bắt đầu trình bày về cái tác hại của bóng đá, ảnh hưởng xấu của nó đến tư cách, đạo đức và tư tưởng của học sinh. Ông kể rằng những người đầu tiên chơi bóng đá là những người Iazit. Bấy giờ chưa có bóng, nên họ phải đá bằng cái sọ của một người tử vì đạo tên là Huynxên. Vì thế chơi bóng đá là một tội rất lớn.
Nghe ông kể lể con cà con kê mãi, mọi người sốt ruột không chịu được nữa, phải đồng thanh kêu lên:
- Thôi đi! Cho chúng tôi còn nói với chứ!
Ông phát biểu thứ hai đề nghị mọi người hãy xới thêm một xuất cơm vào cặp lồng của con em mình để tương trợ các em khác. “Chúng ta làm như thế để ủng hộ các em con nhà nghèo” - Ông ta nói, đoạn quay sang than phiền về chuyện giá sinh hoạt đắt đỏ, chuyện không có bơ tốt để mua, chuyện than củi khan hiếm...
Bài diễn văn của ông tưởng chừng không bao giờ chấm dứt. Bị kéo ngồi xuống ghế rồi mà ông còn tiếp tục lẩm bẩm một mình.
Biết rằng cứ theo thứ tự thì chẳng đời nào đến lượt, nên bất chấp cả trật tự, tôi đứng phắt dậy nói luôn:
- Thưa các ông, các bà!
Tôi bắt đầu. Nhưng thực ra vẫn chưa biết nói gì. Tôi bèn kể luôn một câu chuyện tiếu lâm về Khốtgia Naxrêđin để lôi kéo sự chú ý của mọi người đã. Nhưng không may, đến đúng cái đoạn hay nhất, thì tôi quên béng đi mất. Thế là tôi đành phải chữa thẹn: “Câu chuyện kết thúc thế nào thì chắc vị đã biết cả rồi”.
Lúc này mà ngừng nói, dù chỉ một tích tắc thôi, là người khác sẽ cướp ngay. Vì thế, chả cần lô-gích quái gì cả tôi nói luôn sang chuyện khác.
- Nếu con cái chúng ta bị đúp, thì lỗi hoàn toàn là ở các bậc cha mẹ hết!
Tôi nói thế cốt để lấy lòng ban giám hiệu, vì tôi cũng sợ con gái tôi bị đúp.
- Các bậc phụ huynh bây giờ không chịu quan tâm gì đến con cái của mình cả. - Tôi tiếp tục ba hoa - Có những ông bố thậm chí không biết con mình học trường lớp nào nữa.
Các giáo viên vỗ tay hoan hô tôi nhiệt liệt.
Cuối cùng, bà tóc hoa râm phải bảo:
- Bây giờ đã khí muộn, nên ý kiến của ông xin để đến cuộc họp sau vậy!
- Nhưng tôi đã nói được gì đâu!
Lúc ra về, tôi được các giáo viên tiễn ra tận cổng và cảm ơn rối rít. Nhưng vừa về đến nhà, thì lại bị vợ độp ngay cho một câu:
- Anh đi đâu suốt từ tối đến giờ?
Tôi nhìn đồng hồ: kim đã chỉ mười giờ.
- Đi họp phụ huynh chứ đi đâu! - Tôi đáp - Anh đã phát biểu rất hăng và ý kiến của anh được các giáo viên rất thích. Anh nói các phụ huynh không chịu quan tâm gì đến con cái cả, cứ mặc cho chúng chơi bời lêu lổng, đến lúc bị đúp thì bao nhiêu tội lại đổ cả lên đầu giáo viên.
Bỗng con gái tôi chạy như bay vào phòng:
- Bố ạ! Các thầy giáo con hỏi tại sao bố không đi họp đấy?
Vợ tôi lập tức tra khảo ngay:
- A, thế ra những điều anh vừa nói là dối trá hết! Anh chui rúc ở đâu đến tận nửa đêm mới về mà bảo là đi họp hở?
- Bố vừa họp ở chỗ con về mà...
- Nhưng con cũng vừa ở đấy...
- Thì bố cũng vừa họp ở trường nữ sinh của con mà...
- Sao bố lại đến trường nữ sinh? Con có học ở trường nữ sinh đâu! Con học ở lớp cuối trường Baiazit cơ mà!
- Thế nào? - Vợ tôi sửng sốt - Tao gửi mày đến học ở trường nữ sinh Khôkhora kia mà!
- Nhưng con bị đuổi khỏi đấy từ lâu rồi mẹ ạ!
- Trời ơi, con mất dạy! - Tôi điên tiết sấn vào đứa con gái - Tại sao mày không nói cho bố mẹ biết mày học ở đâu, học hành ra sao hở? Con cái nhà mất dạy đến thế là cùng!...
0
Hội nghị các nhà phẫu thuật

Hội nghị các nhà phẫu thuật lần này tiến hành ở thành phố Liubơlitxơ. Nghe đâu đấy là một hội nghị có tầm quan trọng đặc biệt. Hội nghị lần thứ mười này đã thu hút sự chú ý của các nhà phẫu thuật lừng danh nhất thế giới và có số người tham sự đông chưa từng có. Phóng viên từ khắp các nước đua nhau kéo về dự hội nghị, mặc dù đây chưa phải là một sự kiện có sức hấp dẫn đặc biệt như một trận đá bóng hay một cuộc họp báo có các cô đào điện ảnh tóc đen, tóc vàng lên khoe các kiểu quần áo lót. Các nhà phẫu thuật nổi tiếng nhất từ hai mươi ba nước đã đến báo cáo tại hội nghị. Trong số đó có cả những bậc danh y có thể tháo lắp các bộ phận của cơ thể người dễ như ta tháo lắp một cái đồng hồ hay một khẩu súng trường tự động vậy! Vì thế các báo chí, sau khi đưa tin về những mẫu quần áo tắm mới nhất và về những vụ giết người rùng rợn, thấy cũng cần phải nói vài dòng về hội nghị các nhà phẫu thuật.
Ngày thứ nhất của hội nghị dành cho lễ khai mạc. Ngày hôm sau toàn thể hội nghị nghe báo cáo. Ngày thứ ba thì bắt đầu tranh luận về các báo cáo. Nhà phẫu thuật nổi tiếng của Mỹ, bác sĩ Clađêman, bước lên diễn đàn cùng với người trợ tá. Các phóng viên báo chí và vô tuyến truyền hình hấp tấp giở sổ tay và bút máy. Các quan khách ngồi kín phòng họp thì đeo ống nghe vào tai để chuyển bị nghe. Cố nhiên là mỗi người chọn lấy một trong bốn thứ tiếng mà mình nghe thông thạo nhất.
- Kính thưa các bạn đồng nghiệp! - Bác sĩ Clađêman bắt đầu nói - Tôi xin trình bày với các bạn hiện có mặt tại hội nghị thứ mười này về cuộc phẫu thuật lý thú nhất trong cuộc đời ba mươi nhăm năm làm nghề mổ xẻ của tôi. Như các bạn đã biết, cho đến nay, chưa một nhà phẫu thuật nào có thể làm được cái việc thay vân tay trên đầu các ngón tay. Lịch sử y học chưa từng nói đến một thí nghiệm nào và sách báo cũng chưa từng nói đến một thí nghiệm nào như thế. Người ta chỉ biết rằng, dù lớp da tay có bị thay bao nhiêu lần chăng nữa, thì lớp da mới bao giờ cũng có hoa văn giống hệt lớp da trước. Chính vì thế mà cảnh sát có thể dễ dàng phát hiện ra những tay găngxtơ chuyên nghề nậy tủ sắt và những thủ phạm giết người.
Trong lần phẫu thuật gần đây, tôi đã thí nghiệm thành công việc thay đổi vân tay trên đầu các ngón tay. Trước mắt các bạn đây là ngài Tômatxơ, một kỹ nghệ gia nổi tiếng của Mỹ mệnh danh là “Giếch đấm vỡ quai hàm”. Với biệt hiệu này, ngài đã được Cục Điều tra Liên bang ghi tên vào sổ đen. Suốt mười năm trời cảnh sát ra công truy nã nhà khoét tủ sắt lão luyện này nhưng vô hiệu. Sở dĩ như vậy là vì, sau mỗi chuyến đi hành nghề về, tôi lại làm phẫu thuật vân tay cho ngài Tômatxơ, tức “Giếch đấm vỡ quai hàm”. Tôi xin cam đoan với các bạn rằng, phẫu thuật thay vân tay không chỉ là công việc phức tạp nhất mà còn là công việc kiếm bẫm nhất, vì cứ mỗi lần như vậy tôi lại được nhà bẻ khóa chia cho hẳn một nửa số của lấy được.
Bây giờ, tôi xin chiếu cho các bạn xem một đoạn phim giới thiệu lại kỹ thuật của công việc mổ xẻ này.
Tất cả các nhà phẫu thuật đều nhất trí công nhận ông bạn đồng nghiệp Mỹ của họ quả là chuyên gia tài ba nhất trong lĩnh vực mổ xẻ. Nhưng bản báo cáo tiếp theo của nhà phẫu thuật Anh đã khiến họ phải thay đổi ý kiến. Ngài B.Lainânxơ bước lên bục cùng với một người nữa.
- Kính thưa các đồng nghiệp! Tôi xin kể cho các bạn nghe một phẫu thuật vốn được coi là phức tạp nhất và đáng chú ý nhất trong lịch sử y học thế giới. Người mà các bạn thấy đang đứng cạnh tôi đây là hạ sĩ Mêchiu. Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, một mình ông đã hạ sát được 26 kẻ thù. Nhưng chẳng may một mảnh lựu đạn của địch quân đã cứa đứt đầu ông. Tôi đã chế thành công một thứ keo dán đặc biệt và đã gắn được chiếc đầu vỡ ấy lại cho ông, trông còn đẹp hơn cũ. Bây giờ thì có bom nguyên tử cũng không thể làm chiếc đầu này rời ra được nữa. Và đây, tôi xin trình bày với các bạn bí quyết pha chế thứ keo này...
Nỗi kinh ngạc của những người dự hội nghị thật không sao tả xiết. Ai cũng tin chắc rằng không còn được nghe bản báo cáo nào thú vị hơn thế nữa. Nhưng diễn giả tiếp theo, một nhà bác học Pháp, đã bắt họ phải thay đổi ý kiến. Ông này bước lên diễn đàn với một giai nhân tuyệt sắc tóc vàng, mặc quần áo tắm. Trông thấy cô ta, các vị khách có tuổi đang ngồi trên ghế bỗng cựa người nhấp nhổm.
- Thưa các bạn đồng nghiệp kính mến! - Nhà bác học Pháp bắt đầu - Tôi muốn kể cho các bạn nghe về một phẫu thuật chỉnh hình có một không hai. Tôi hy vọng các bạn sẽ đánh giá đúng công trình sáng tạo của tôi, nếu tôi tiết lộ cho các bạn biết rằng, người con gái xinh đẹp tóc vàng mà vừa trông thấy các bạn đã phải trầm trồ xuýt xoa này, chính là bà mẹ vợ tôi năm nay đã sáu mươi nhăm tuổi.
Sau đó diễn giả cho biết thêm một vài chi tiết: Sở dĩ ông làm phẫu thuật ấy chẳng qua là muốn để trả thù người vợ phụ bạc. Sau khi biến bà mẹ vợ thành một người đàn bà trẻ đẹp, ông lại tìm cách bắt nhân tình với bà ta. Cuối cùng diễn giả trình bày cơ sở khoa học của phát minh kỳ diệu này.
Các diễn giả khác tiếp tục lên báo cáo. Người nào cũng có phát minh phi thường. Chẳng hạn nhà phẫu thuật Đức tuyên bố:
- Con người khi chết không có nghĩa là tất cả các bộ phận đều ngừng hoạt động... Ở người chết vì bệnh nhồi máu chẳng hạn, tim tất nhiên không làm việc được nữa, nhưng các cơ quan khác vẫn hoạt động như thường. Còn những người chết vì bệnh lao thì chỉ có phổi là ngừng hoạt động thôi. Vì thế theo tôi, khi tim hay phổi ngừng hoạt động, thì vẫn chưa thể coi là con người đã chết. Tôi đã lấy những bộ phận còn tốt của người đã chết để tạo ra những người mới. Trước mắt các bạn - Nói đến đây nhà phẫu thuật Đức chỉ vào một thanh niên có vóc người cường tráng trông như thần Apôlông - là một người mà chân vốn là của nhà lực sĩ chết vì bệnh viêm ruột thừa, thân là của nhà vô địch vật chết vì chứng hoại thư, còn đầu là của một bệnh nhân lao.
Các đại biểu hội nghị cho rằng nếu hôm sau nhà bác học Nhật không đưa ra một phát minh gì mới lạ hơn nữa, thì phẫu thuật của bác sĩ Guynte người Đức lấy các bộ phận sống của người chết để tạo ra người mới quả thực phải coi là phát minh kỳ diệu nhất trong tất cả các phát minh đã báo cáo tại hội nghị.
Nhưng bản báo cáo của nhà phẫu thuật Nhật Himisiama đã làm cho cử tọa hết sức kinh hoàng. Chỉ vào một người đứng bên cạnh, nhà phẫu thuật nói:
- Đây là một người Nhật và do bị tật cà nhắc nên trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai không được gọi vào lính. Không chịu nổi vết nhục như vậy nên ông đã mổ bụng tự sát, moi hết ruột gan ra rồi chém thành từng khúc...
Ngày cuối cùng của hội nghị đã đến. Các báo cáo viên - người nọ muốn tỏ ra mình giỏi hơn người kia, người sau kể những chuyện ly kỳ hơn người trước. Tất cả mọi người có mặt ở hội nghị đều đã lên phát biểu. Riêng có một vị bác sĩ suốt từ đầu đến cuối vẫn chỉ ngồi im nghe các đồng nghiệp của mình, không nói qua một lời nào. Vị chủ tọa quay sang hỏi ông ta:
- Thưa ngài, chẳng lẽ ngài không có phẫu thuật gì để kể cho hội nghị nghe hay sao ạ?
- Có chứ! Nhưng không biết cái phẫu thuật của tôi có đáng để mọi người chú ý không?
Có nhiều tiếng nói từ trong phòng:
- Có! Có! Chúng tôi muốn nghe ông phát biểu.
- Ai đến dự hội nghị đều phải báo cáo hết!
Thấy mọi người khẩn khoản yêu cầu, vị bác sĩ bèn bước lên diễn đàn.
- Thôi được, - Ông ta nói - nếu các vị muốn, tôi xin kể cho các vị nghe phẫu thuật cắt amêđan của tôi.
Cả phòng cười rộ lên: sau những phát minh “động trời” như thế mà còn dám nói đến chuyện cắt amêđan.
Tiếng cười làm diễn giả phật ý.
- Thưa các vị! Sở dĩ tôi cố ý hạ thấp giá trị phẫu thuật của tôi chẳng qua vì khiêm tốn mà thôi. Nhưng tôi không thể chịu được cái thái độ giễu cợt của các vị. Vừa nghe nói đến cắt amêđan, chưa gì các vị đã cười rồi!
Mọi người càng cười khỏe.
- Cái trò trẻ ranh ấy mà cũng dám gọi là phẫu thuật!
- Tôi thì những việc ấy tôi chẳng thèm làm!
- Làm nhà phẫu thuật mà nói những chuyện ấy thì thật xấu hổ!
Những tiếng la ó càng làm diễn giả tức giận:
- Nhưng các vị có biết người được tôi cắt amêđan là ai không đã chứ?
- Là ai thì có liên quan gì đến phẫu thuật nhỉ? Có là ông Tổng thư ký Liên hiệp quốc thì cũng thế thôi!
- Nhưng người tôi cắt amêđan là một nhà báo!
Các đại biểu lại phá lên cười rũ rượi.
- Nhà báo, nhà buôn, viên chức hay anh lính thì có khác gì nhau!
Diễn giả giơ tay nói:
- Xin các vị trật tự! Vâng, thưa các vị, không có gì khác nhau. Nhưng vì hồi đó vừa ban hành luật báo chí, các nhà báo không sao mở mồm ra được, nên tôi buộc lòng phải cắt amêđan cho anh ta thông qua đường... hậu môn!
Vẻ giễu cợt trên mặt các quan khách vụt biến mất, nhường chỗ cho một vẻ kính phục sâu sắc đối với diễn giả. Những tràng vỗ tay vang lên như sấm. Toàn thể các nhà phẫu thuật dự Hội nghị quốc tế lần thứ mười đều nhất trí thừa nhận phẫu thuật cắt amêđan của vị bác sĩ này là sự kiện lừng lẫy nhất trong lịch sử y học.
0
Vì sao chú mèo cúp đuôi chạy?

Bất kỳ việc gì cũng đều có cái “tại sao” của nó.
Không, câu mở đầu như thế chưa được! Phải bắt đầu bằng một câu gì nghe triết lý hơn kia! Hay thế này vậy: “Dù thế nào thì thế, sau cơn bực dọc, người ta cần phải được trở về trạng thái bình tĩnh”.
Thực ra câu này nghe cũng chưa ổn. Có lẽ những lời nói vĩ đại chỉ có ở miệng các bậc vĩ nhân mà thôi! Chính vì thế mà lúc nào tôi cũng thấy thương cho cái thân phận mình. Truyện nào tôi cũng bắt đầu bằng một câu đáng được lưu truyền thiên cổ. Thế mà tuyệt đối không một ai thèm coi cả tôi lẫn những lời nói của tôi ra cái gì cả! Mà bạn tưởng các bậc vĩ nhân nói ra được những câu gì đặc biệt lắm sao? Có một bậc vĩ nhân bảo: “Mùa hè nóng”. Thế là mọi người rối rít ca tụng: “Trời ơi! Chí lý biết chừng nào, sâu sắc biết chừng nào! Cái chân lý vĩ đại mà nhân loại phải tìm kiếm hàng trăm năm nay, đã được Ngài nói ra trong ba chữ!”.
Một vĩ nhân khác trước lúc tắt thở thốt lên: “Mở cửa ra!”. Người ta lại đua nhau bình phẩm: “Chà! Cả một ý tưởng vĩ đại chứa đựng trong câu nói thiên tài! Chỉ bằng mấy chữ, nhà tiên tri đã vạch đường cho hậu thế!”.
“Mở cửa ra!” Câu đó nghĩa là gì?
Muốn hiểu hết ý nghĩa thâm thúy của mấy chữ này cứ gọi là phải viết hàng núi sách! Vì thâm ý vĩ nhân muốn nói rằng...
Mà đã là bậc vĩ nhân thì Người muốn nói gì? “Này hỡi nhân loại! Đừng có ru rú trong cái xó chuồng tăm tối như bầy lừa ấy nữa! Hãy mở cửa ra cho ánh sáng kiến thức rọi chiếu vào!”
Hoặc giả Người muốn nói: “Hãy mở cửa ra mà nhìn thế giới! Cho ánh sáng kiến thức soi rọi vào cái đầu óc ngu dốt của các người!”
Thế nhưng, cũng như tất cả mọi người bình thường khác, trong lúc hấp hối thấy khó thở, nên bậc vĩ nhân yêu cầu “mở cửa ra” cho dễ thở hơn một chút. Có thế thôi!
Sau này chết đi, sang bên kia thế giới, việc trước tiên là tôi phải tìm ngay Gớt và hỏi ông:
- Người ta bảo trước lúc vĩnh biệt cõi trần, Ngài có nói: “Vén rèm lên cho sáng thêm một chút!” Vậy Ngài nói câu ấy có ý sâu xa gì không?
Tôi chắc thế nào Gớt cũng mỉm cười và bảo:
- Thật tôi có nói “Cho sáng thêm một chút” à? Chắc vì lúc đó tôi thấy mắt tự nhiên tối sầm lại, nên bảo vén rèm lên để nhìn rõ mọi người xung quanh. Thế thôi!
... Tôi đang đi trên đường. Bỗng từ ngôi nhà nọ, một chú mèo phóng như bay, rồi thoáng sau thì mất hút. Chính vì chú mèo này mà tôi cứ phải suy nghĩ mãi. Vì sao nó lại gào lên một cách thảm thiết như vậy? Bất kỳ chuyện gì, như tôi đã nói, cũng có cái tại sao của nó. Vậy thì tại sao chú mèo cúp đuôi chạy?
Đó chính là câu chuyện tôi sắp kể cho các bạn nghe bây giờ đây. Tôi sẽ thuật lại đầy đủ, theo đúng trình tự.
Có điều tôi không biết nên chọn phương pháp nào cho thích hợp? Phương pháp dân chủ, từ dưới lên trên, hay phương pháp truyền thống phương Đông, từ trên xuống dưới? Nghĩa là bắt đầu từ chú mèo đến ngài Bộ trưởng, hay từ ngài Bộ trưởng xuống đến chú mèo?
Không! Dẫu sao thì cũng không nên bỏ các truyền thống của ta!
Vậy thì đầu đuôi câu chuyện của chúng ta nó như thế này:
Một hôm, tất cả các báo, cứ y như là bảo nhau, nhất loạt lên tiếng công kích một vị Bộ trưởng nọ. Điều đó làm vị Bộ trưởng hết sức đau buồn, đến nỗi Ngài không biết làm gì nữa. Mà hễ khi nào buồn bực trong lòng và không biết làm gì nữa, là y như rằng Ngài cho gọi ông phụ tá đến... Ngài đặt cho ông ta một câu hỏi. Ông phụ tá trả lời. Ngài lại đặt câu hỏi khác. Ông phụ tá lại trả lời rất rành rọt. Thành ra Ngài không có cớ gì để trút nỗi bực lên đầu ông được. Nhưng chết cái là, dù thế nào thì thế, sau lúc bực dọc, người ta cần phải được trở lại trạng thái bình tĩnh! Ngài Bộ trưởng lại đặt tiếp câu hỏi thứ ba. Ông phụ tá tường trình lại cặn kẽ cách thức ông giải quyết công việc đó ra làm sao. Thế là cơn dông tố nổ ra! Không phải làm như thế! Làm như thế là không được! Hoàn toàn không thể được!... Có thể được chứ ạ! Không thể được!... Được chứ ạ! Kh.ô.ô..n.g đ.ư.ợ.c.! Ngài Bộ trưởng hả hê lắm. Thế là cuối cùng ngài đã nguôi được cơn giận. Ngài đã xạc cho ông phụ tá một trận nên thân. Bây giờ ngài mới cảm thấy bình tĩnh lại.
“Dù thế nào thì thế, sau cơn bực dọc người ta cần phải được trở lại trạng thái bình tĩnh”. Nhưng ông phụ tá làm thế nào để bình tĩnh lại được? Xin từ chức à? Không được! Vì cớ gì? Ông bèn hỏi ông chánh văn phòng một câu hỏi.
Ông chánh văn phòng trả lời được. Ông hỏi tiếp câu nữa. Ông chánh văn phòng trả lời được. Nhưng được thì được chứ trong lúc trả lời, ông chánh văn phòng vẫn không tránh khỏi sơ suất. Xong rồi! Ông phụ tá cho gọi viên thư ký đến.
- Viết đi! - Ông ra lệnh cho người thư ký.
Ông phụ tá đọc cho người thư ký chép một lúc lâu và thấy cơn giận nguôi dần. Lạy trời! Giá ông không trút bỏ được nỗi bực thì ruột gan ông đến vỡ tung ra mất! Rồi cả gia đình ông cũng vì thế mà mất hết bình tĩnh, sẽ quay ra cáu gắt nhau mất!
May lắm! Nhưng còn ông chánh văn phòng thì biết làm sao đây? Làm sao ông có thể ngậm viên bồ hòn ông phụ tá vừa tặng ông mà lấy làm ngọt được! Ông bèn ấn nút chuông:
- Gọi ông thanh tra Ali vào đây!
- Thưa ông, ông Ali đi thanh tra đã mười hôm nay rồi ạ!
- Thì gọi ông Vêli!
- Thưa ông, vâng.
Ông thanh tra Vêli vào.
- Bẩm ông cho gọi tôi?
- Ông đã làm xong cái việc tôi giao chưa?
- Bẩm ông đã ạ!
- Còn việc kia?
- Bẩm việc kia cũng xong rồi ạ!
- Ông nói rõ xem xong là xong thế nào?
Ông Vêli trình bày lại cặn kẽ đầu đuôi.
- Nhưng có phải làm như thế đâu? Hoàn toàn không phải! Ai bảo ông làm như thế? Làm thế là láo toét! Láo toét hết! Ông hiểu chứ? Ôi! Lạy Đức Ala!
Ông chánh văn phòng gắt ngậu cả lên. Vì nếu không gắt thế, ông đến tắt thở mất!
Đến lượt ông thanh tra thấy tức quá! Nhưng biết làm thế nào? Chả lẽ chịu câm à? Không! Thế này thì tức lắm, không chịu được! Ông quát gọi:
- Ông trưởng phòng!
- Dạ, ông bảo gì ạ?
- Sáng nay tôi dặn ông cái gì?
- Sáng nay ạ? Bẩm ông không có dặn gì cả!
- Vô lý, không có lẽ!
- Sáng nay nào tôi có gặp ông đâu ạ!
- Nếu vậy thì sáng hôm qua?
- Hôm qua ông bị mệt không đến sở ạ.
- Thế thì sáng hôm kia!
- Sáng hôm kia ông có dặn là...
- Nghĩa là tôi có dặn chứ gì? Nhưng tôi dặn cái gì mới được chứ? Tại sao ông không làm tròn trách nhiệm? Thái độ của ông như vậy là không thể dung thứ được, ông hiểu chứ? Không thể được! Tôi cấm đấy!... Cương quyết cấm!
Mặt ông trưởng phòng dài thưỡn ra. Nhưng dù thế nào thì thế, sau lúc bực dọc, người ta cần phải trở về trạng thái bình tĩnh.
- Gọi ông phó phòng vào đây!
Ông phó phòng vào. Ông trưởng phòng hỏi:
- Biểu “Đ” ông làm xong chưa?
- Thưa ông đã!
- Xong toàn bộ chứ?
- Xong toàn bộ ạ!
- Thế các tờ phiếu đã ghim lại với nhau chưa?
- Ghim rồi ạ!
Làm gì mà cứ phải đúng răm rắp thế nhỉ?
- Thế gửi đi chưa?
- Thưa đã ạ!
Cứ làm như không thể chậm lại được ấy!
- Gửi bao giờ?
- Hôm qua ạ!
- S.a.a.o? Hôm qua à? Sao lại chểnh mảng đến thế được nhỉ? Cái kiểu đâu đổ đốn như vậy? Phải làm việc chứ! Làm việc! Làm việc hàng ngày! Tôi yêu cầu ông! Ông rõ chưa?
Chao ôi! Khi trút được cơn bực, người ta cảm thấy nhẹ nhõm làm sao!
Ông phó phòng bước vào phòng ông trưởng ban. Ông thở một cách nặng nhọc.
- Cái gì thế này?
- Chứng từ để chuyển sang phòng kế toán đấy ạ!
- Ra thế đấy!... Thế là rõ rồi. Đến giờ mà vẫn còn ngổn ngang bừa bãi thế này... Lại còn cả đống này nữa này...
Ông phó phòng vừa bước ra, ông trưởng ban tức giận đập bốp một cái xuống bàn:
- Haxan đâu?
- Haxan nào ạ? Haxan bộ phận 2 hay Haxan kế toán ạ? Lại còn Haxan làm ở phòng đăng lục nữa ạ? Hay ông muốn gọi ông Haxan lục sự?
- Lôi cổ đến đây bất cứ thằng Haxan nào cũng được! Nghĩa là cứ gọi cho tôi tay Haxan lục sự ấy!
- Thưa ông, đã có chuông nghỉ, ông ấy đi ăn cơm rồi ạ!
- Nếu vậy... anh tên là gì?
- Huyxên.
- Huyxên hay Muyxên cũng vậy thôi! Tôi bảo cho anh biết, tất cả lũ các anh...
Ông trưởng ban nổi giận lôi đình khoảng mươi phút. Cuối cùng ông thấy nguôi giận, rời khỏi sở.
Còn Huyxên thì quay sang hạch sách ông lao công. Cửa kính sao lại bẩn thế này? Trần nhà gì mà đầy mạng nhện thế kia? Bàn nào cũng đầy bụi. Sàn nhà thì chẳng chịu lau chùi gì cả... Không thể chịu được! Không chịu được! Hiểu chưa? Ha.a.ả!...
Ra khỏi sở, Huyxên cũng thấy nhẹ nhõm hẳn, cái nhẹ nhõm của người trút bỏ được cái áo bông nặng trĩu khi vụ rét vừa hết.
Ông lao công định trút giận lên đầu người gác cổng, nhưng ông này lại về nhà mất rồi. Phải làm sao bây giờ? Dù thế nào thì thế, sau cơn bực dọc, người ta cần phải được trở về trạng thái bình tĩnh. Ông lao công bước lên xe điện.
- Cái nhà anh này! Dẫm cả vào chân người ta! - Ông bắt đầu sinh sự với ông khách đứng bên cạnh - Chân cẳng cứ xéo bừa đi, chẳng nhìn gì hết!
Ông khách im không nói. Người soát vé tiến đến.
- Ông lấy vé đi!
- Anh không thấy tôi đang bị ép thế này à? Cả hai tay đều không nhúc nhích nổi thì làm sao mà rút được ví? Lúc nào xuống tôi sẽ mua!
- Không được!
- Sao lại không được!
- Đã bảo không được là không được! Ngộ nhỡ nhân viên kiểm tra đến thì làm sao?
Thế là thành to tiếng. Rốt cuộc, ông lao công cũng tìm được người để trút giận.
Hết chuyến cuối cùng, người soát vé trở về nhà. Chị vợ toét miệng cười khi thấy anh về.
- Làm gì mà nhe răng như con khỉ thế? - Anh soát vé bỗng thấy điên tiết - Cái thằng bố mày đây đứa nào cũng bắt nạt được, mà mày còn...
Chửi mắng vợ một trận nên thân xong, anh ngồi vào bàn điềm nhiên xới cơm ăn.
Chị vợ thì bắt đầu thút tha thút thít. Trong lúc đó, chú mèo cứ quẩn dưới chân. Cáu tiết, chị đá cho hai cái vào lưng. Thế là chú mèo “ngheo” lên một tiếng thảm thiết rồi chạy bổ ra đường.
Chị vợ anh soát vé nép sát vào người chồng. Tình yêu đằm thắm nhất thường đến sau nước mắt. Cả đôi đều đã bình tâm lại.
“Bất kỳ việc gì cũng có tại sao của nó”. Ví thử các báo đừng công kích ngài Bộ trưởng, thì việc gì chú mèo tội nghiệp phải nhảy bổ ra đường!
Con người dù sao cũng khôn ngoan, biết cách trở về trạng thái bình tĩnh. Nhưng còn chú mèo? Chú nhảy bổ đi mất như hóa dại. Liệu rồi chú có lấy lại được bình tĩnh hay không?
Điều ấy đến bây giờ tôi vẫn chưa dám chắc.
0
Ông Bacxi múa thoát y

Sự xuất hiện của người bán hàng khô làm đứt quãng giấc ngủ ban ngày của ông Bacxi. Đến cả Chủ nhật mà cũng không được yên!
- Tôi đến phải cuốn xéo khỏi cái nhà này mất thôi! - Ông hét lên.
Vợ ông bảo:
- Ông muốn xéo thì cứ việc xéo!... Chỉ có điều tôi còn xéo trước cả ông! Tốt nhất ông hãy nghĩ cách gì mà trả lời ông bán hàng khô đi!
Đã hai tháng nay ông còn nợ ông chủ cửa hàng bán hàng khô này sáu mươi hai lia ba mươi tư xu mà chưa trả được.
- Ra bảo tôi “không có nhà”.
- Tôi không thể nói dối được. Ngượng lắm!
- Thế thì bảo mẹ cô ra nói!
- Để một bà già ra nói dối ư?!
Không còn cách nào, Bacxi phải đích thân ra mở cửa.
- Xin lỗi ông Tanasơ. Muốn nói gì thì nói, chúng tôi có lỗi. Thề có Chúa, chúng tôi không làm sao xoay xở được, vì thế nên...
- Thôi nào, ông Bacxi, ông hẹn tôi: “Đầu tháng”, thế bao nhiêu tháng trôi qua rồi?
- Ông nói đúng!
- Mà tôi chưa nhận được xu nào trong số 62 lia 34 xu ấy!
- Ông nói đúng!
- Và Chủ nhật nào cũng lại những câu như vậy! Tôi ngán lắm rồi!
- Tôi hứa đấy, Tanasơ, tôi xin hứa với ông. Chắc chắn sang tuần sau!... Thề có Chúa, sang tuần sau...
- Đây là lần thứ mấy ông hứa rồi nhỉ, ông Bacxi?
- Lần cuối cùng!
Ông Tanasơ giận dữ bỏ đi. Ông Bacxi quay vào trong nhà, miệng lẩm bẩm:
- Mẹ kiếp cái cuộc sống chó má này!
Bà mẹ vợ ngăn ông:
- Đừng có sáng sớm đã rủa như thế!
Ông Bacxi là người hiền lành như đất. Ông sống với vợ đã hai mươi hai năm. Nhưng thánh Ala không cho họ có con.
Có tiếng gõ cửa. Vợ ông nói:
- Ông chủ nhà đấy!
- Trời đất ơi!...
Ông Bacxi co rúm người lại. Nhiều lần, cứ tìm cách đẩy được ông chủ nhà đi là người ông lại toát mồ hôi lạnh.
- Tôi phải cuốn xéo thôi! Tôi phải bỏ đến một nơi nào thật xa, nơi không có ai biết tôi. Rồi đi ăn xin cũng được! Tôi còn biết làm gì nữa đây? Ước gì tôi không phải là Bacxi!... Ôi trời ơi là trời!... Bà nó ơi, bà pha cho tôi tách cà phê đi!...
- Làm gì còn cà phê! Cả cà phê lẫn đường đều hết cả rồi!
- Ôi trời đất!... Tôi bị cái cuộc sống này...
Từ buồng bên cạnh vọng sang tiếng bà mẹ vợ:
- Im đi. Đừng có làm thánh Ala giận!
- Mặc kệ! Tôi cóc cần!...
Vợ ông nói:
- Người đưa nước nói hôm nay sẽ đến. Làm thế nào bây giờ?
- Các người muốn làm gì thì làm! Các người muốn làm tôi phát điên hay sao thế? Từ người đưa nước đến người bán hàng khô, rồi cả lão chủ nhà. Tất cả bọn chúng thông đồng với nhau hay sao vậy? Nói thật, chúng muốn làm tôi phát điên!
Vừa lúc có tiếng gõ cửa.
- Ông đưa nước đấy à?
- Không, đấy là ông bán than sai thằng nhỏ đến.
- Ra nói “không có nhà”. Nói: “không có Bacxi nào cả. Hắn chết rồi. Chết rồi, thế là hết”.
Khi người thu thuế đến, và sau đó là ông hàng thịt, thì ông không chịu được nữa. Ông mặc quần và khoác áo vét.
- Bà nó này, trong túi tôi có hai lia rưỡi cơ mà!
- Tôi lấy rồi!
- Này, bà nó, sao bà lấy mà không hỏi gì tôi thế?
- A.a.a! Cầu thánh Ala giúp tôi! Tôi phải làm gì nữa? Chả lẽ để chúng ta chết đói cả hay sao?!
- Ồi, lạy trời!... Cái cuộc sống khốn kiếp này!...
Ông cắm đầu đi thẳng ra phố. Trong túi không có một xu. Ông vừa đi vừa lẩm bẩm:
- Tôi phải làm gì đây? Tôi phải làm gì đây?
Bỗng ông chợt nhớ ra Hamđi. Dễ đến một nghìn năm nay ông không gặp anh ta. Thật ra, ông có nghe đồn anh ta trở nên rất giàu có. Giữa hai người có tình bạn nhiều năm trời. Có lẽ nên đến anh ta và kể: “Tình cảnh của tôi nó như thế, như thế...” Rồi hỏi vay anh ta ít tiền chăng? Chả lẽ anh ta không cho ông vay được 50 lia!
“Ta đi hỏi vay tiền ư? Thây kệ, ngượng cũng được! Người hỏi xin xấu hổ một, nhưng kẻ nào không cho còn xấu hổ gấp đôi!”
Ông không có tiền đi tàu điện hay ô-tô buýt. Đành phải đi bộ.
- Nhỡ Hamđi không có nhà thì sao? Thế thì tiếc quá!... Cái cuộc sống chó má này!...
Đã gần chiều.
- Nhỡ anh ấy chuyển nhà rồi thì sao? Ôi, cuộc đời ơi!...
Khi ông đến được nhà Hamđi thì trời bắt đầu tối.
- Ôi, anh Bacxi thân mến! Ôi, cuộc đời của tôi! Ôi, anh bạn quý mến của tôi! Dạo này anh biến đi đâu thế hả? Anh ở đâu ra vậy?
Nói gì thì nói Hamđi vẫn là người bạn tốt. Anh ta đã đón tiếp ông rất niềm nở. Anh ta đang ngồi ngoài ban công và nhấm nháp rượu rakư.
Vì mệt đôi chân Bacxi như tê đi. Cái đói làm ông lả cả người.
- Rất tốt là anh đã đến. Cái thứ “cay” này mà uống một mình nó không vào. Thôi nào, chúc sức khỏe!
Trên bàn không có chút thức ăn hay đồ nhậu nào. Chỉ có vài hạt đậu rang.
Rượu rakư rất nặng như đốt cháy dạ dày Bacxi.
Ông hỏi một cách rụt rè:
- Nghe này, Hamđi, vợ anh có chuyện gì vậy? Tôi vừa nhìn thấy một phụ nữ khác.
Hamđi khoát tay:
- Ề, tôi chia tay với cô ta lâu rồi! Sau cô ta tôi đã thay bốn người vợ khác. Trời ơi, Bacxi, tôi đâu phải thằng ngu để suốt đời chỉ sống với một cô vợ! Chẳng lẽ anh cho tôi là thằng đần hay sao? Là con lừa hay sao? Anh thử nhìn tôi đi, không lẽ tôi lại ngu xi đến mức cả đời gắn bó với một cô vợ hay sao? Nào, ta uống đi!
Bacxi bắt đầu cảm thấy buồn nôn và chóng mặt.
Rượu rakư không thích hợp với ông. Một lần ở đám cưới ông chỉ uống có một ly, sau đó một hai lần nữa ở nhà bạn bè, mà cũng chỉ vì lịch sự thôi. Bây giờ ông uống để cho nó át cơn đói.
Mỗi lần Hamđi chìa cốc cho ông ông lại tu cạn một hơi. Hỏi vay tiền thế nào bây giờ? Nói gì đây? Sao cái chuyện hỏi vay tiền khó khăn thế?
Nếu hỏi vay ít - Hamđi sẽ đoán ra rằng ông, Bacxi, đang lâm vào cảnh sắp phải đi ăn mày, còn hỏi nhiều thì... Và nếu anh ta không cho vay thì sao nhỉ?
Ông đã không dám nghĩ đến chuyện vay năm mươi lia nữa. Chỉ cần Hamđi cho ông hai lia rưỡi cũng được. Làm sao giữa đêm thế này ông có thể đi bộ về nhà? “Thôi, mình phải đi thôi!... Chào rồi đi thôi!”
- Anh đang lẩm bẩm cái gì thế, Bacxi? Uống đi nào!
Bacxi không còn nghĩ đến tiền nữa. “Chỉ mong sao anh ấy cho mình ăn!”
- Chúng ta đi đến nơi này đi! - Bỗng Hamđi nói - Ta lên xe ô-tô tôi sẽ đưa anh đi! Nhân cuộc gặp gỡ. Vì đến trăm năm chúng mình không gặp nhau rồi. Phải vui vẻ cả đêm nay. Có một vũ nữ vừa đến tỉnh chúng ta, anh có nghe nói không? Nghe nói trong lúc múa, cô ta cởi hết quần áo và cứ trần truồng như thế mà múa. Nào, ta uống thêm chén nữa đi rồi đi!
Họ đã uống cạn hai chai. Cả hai người đều loạng choạng chui vào ô-tô.
- Nghe nói cô vũ nữ này vừa múa vừa cởi hết quần áo lót, múa hoàn toàn trần truồng. Hình như người ta gọi đó là “thoát y vũ” thì phải?
“Hay là cứ thử hỏi vay tiền xem sao? Nhưng hỏi thế nào, thế nào?”
Thế nào anh ta cũng bảo: “Bao nhiêu năm nay anh chẳng thèm đến chơi tôi, bây giờ anh đến chỉ để hỏi vay tôi năm mươi lia?”
- A, trời ơi! Cái cuộc đời chó chết này!...
Cả gian phòng chật ních người. Họ khó khăn lắm mới tìm được một cái bàn nhỏ.
- Hầu bàn! Cho một chai rượu đi! Không cần món ăn đâu, cho một ít đậu rang với muối là được!
- Nào, Bacxi!... Chúc sức khỏe!...
Năm mươi lia!... Nếu như Hamđi cho ông vay năm mươi lia ông sẽ đứng lên đi về ngay.
- Nào, chúc sức khỏe anh, Bacxi!
Dàn nhạc bắt đầu nổi nhạc. Đèn bắt đầu tắt và những chiếc đèn pha bật sáng.
Một cô gái bước ra giữa bục. Nàng nhảy mua trong ánh đèn pha. Nàng bắt đầu cởi váy. Mẹ kiếp! Bacxi quên cả mệt, cả đói, thậm chí quên cả ý đồ hỏi vay tiền.
Cô gái vẫn múa. Nàng tiếp tục cởi giày. Cởi vòng cổ, hoa tai. Hamđi chưa kịp nói “Nâng cốc nào!” Bacxi đã chộp ngay ly rượu và tưới vào đầu mình.
Cô gái vẫn múa. Nàng bắt đầu cởi thắt lưng, tất, và su-chiêng...
- Chúc anh, Bacxi!
- Chúc anh, Hamđi thân mến! Chúc sức khỏe anh!
Cô gái vẫn múa. Chiếc su-chiêng màu vàng vẽ lên không khí một vòng tròn rồi rơi vào tay Bacxi như con chim hoàng yến bị trúng đạn...
Cô gái vẫn nhảy. Và kìa... Trời ơi!... Nàng cởi cả... si-lip!
- Uống đi, Hamđi! Ôi, thánh Ala!... Chúc sức khỏe anh!
Bacxi nắm chặt trong tay chiếc su-chiêng màu vàng.
Cô gái đã cởi hết mọi thứ ở trên người. Khán giả bị kích động tột độ. Tiếng vỗ tay, huýt sáo, tiếng la hét, tiếng dao cốc gõ lanh canh. Cô gái vẫn múa. Bacxi cũng bắt đầu múa.
Nhưng như thế chưa phải là tất cả. Cô ta... người phụ nữ trần như nhộng ấy tiến đến, - phải, phải, - tiến gần đến bàn và hôn một cái vào cái đầu hói nhẵn bóng của Bacxi!
Mỗi mạch máu trong người ông đều nhảy múa. Bỗng ánh sáng tắt. Khi các đèn được bật sáng lại, cô gái không còn ở đó nữa.
Hai người bạn vừa tựa vào nhau vừa uống. Bacxi không còn nhớ ông đã ra khỏi xe ô-tô bằng cách nào và ở đâu.
Tiếng bà mẹ vợ ngáy rất to trên giường!
Bacxi gào to:
- Nào, dậy đi, dậy đi! Tôi bảo - dậy hết cả đi!
Không biết chuyện gì xảy ra với con người hiền lành như bụt này vậy nhỉ? Vợ ông đang nằm trên giường ngồi nhổm dậy.
- Cởi hết quần áo ra! Cởi hết ra! Nghe rõ chưa! Cả bà nữa, bà già, bà cũng cởi ra! Không có ta sẽ cho các người...
Hai người đàn bà run lên vì sợ, bắt đầu cởi quần áo. Ông Bacxi cũng cởi.
Ông cởi hết quần áo đang mặc trên người.
- Các người cũng cởi ra! Cởi hết ra!
Cặp vú đáng thương của bà mẹ vợ run rẩy.
- Đi ra ngoài đường!... Ra đi!... Tôi đã bảo ra đi. Không tôi đâm chết! Bước ngay!
Hai người đàn bà và một người đàn ông bước ra ngoài đường trần truồng, đáng thương.
- Múa đi!...
Rồi ông Bacxi vỗ vỗ tay, bật ngón tay - ông múa điệu múa của cái bụng... Từ đó đến nay ông vẫn múa trong tư thế trần truồng. Vì thế trong nhà thương điên người ta gọi ông là ông “Bacxi múa thoát y!”
0
Người đến nói chuyện tào lao xin mời ra cửa!

Một số nhà làm báo giữ kín không cho ai biết số lượng in và số lượng phát hành là bao nhiêu, đó là bí mật nghề nghiệp. Tôi thì không như vậy. Tôi nói hết. Vì dù không nói thì mọi người cũng sẽ biết.
Khi tôi chưa ra báo thì chỗ tôi yên tĩnh lắm. Nhưng chỉ cần ra một tờ báo nào đó là lập tức không biết bao nhiêu người kéo đến, cầu thánh Ala phù hộ cho họ!
Khi bán được mười nghìn bản thì có một người đến, còn nếu bỗng nhiên xuất hiện hai người, thì chẳng cần gì phải kiểm tra cũng biết ngay là đã bán được hai mươi ngàn.
Mà tính tôi rất thích bạn bè. Để có thể thường xuyên được gặp họ tôi sẵn sàng tăng ngay số lượng phát hành. Thời gian gần đây mỗi ngày có khoảng hai chục người đến thăm tôi. Thật thú vị!
Chỉ một cái làm tôi lo: có những người đến chỉ nói chuyện tào lao, mà tiếp họ thì tôi không còn thời gian đâu để đọc, viết, hay thậm chí hít thở tự do nữa. Cuối cùng tôi nghĩ ra được cách thoát khỏi tình trạng này. Tôi treo ở sau lưng một tờ thông báo:
“Người đến nói chuyện tào lao xin mời ra cửa!”
Còn ai dám ngồi tán phét nữa khi nhìn thấy cái thông báo viết bằng những chữ to tướng như thế?
Một vị khách đầu tiên đến - trông biết ngay là người mới. Anh ta tự giới thiệu, ngồi xuống, rồi bắt đầu liến thoáng kêu ca, chửi bới! Hai từ “tờ báo”, bạn thấy không, đã thay đổi ý nghĩa ban đầu của nó, bây giờ nó có nghĩa là: người bảo vệ, bênh vực nhân dân ...
Đến đây ánh mắt anh ta bắt gặp tờ thông báo.
- Ông bạn thân mến, bạn làm như vậy là rất đúng. - Anh ta cười khinh khích - Đó là cách tốt để ngăn chặn những tay ba hoa tán phét!
- Biết làm sao được? Có thể làm như vậy hơi bất lịch sự, nhưng người ta không cho tôi làm việc...
- Anh hoàn toàn đúng. - Anh ta ngắt lời tôi - Nếu không người nào cũng đến đây, liến thoắng hết chuyện này chuyện nọ hàng giờ đồng hồ. Đầu óc rối tinh hết! Anh làm thế là rất đúng đấy. Cứ để cho các ông thao thao bất tuyệt ấy nhìn thấy tờ thông báo và tự mình rút lui. Tôi cũng không biết ở đâu ra lắm người thích tào lao thế. Bây giờ tôi cũng phải treo trên bàn làm việc một thông báo như vậy mới được.
Rồi suốt gần cả tiếng đồng hồ anh ta giải thích cho tôi ý nghĩa của những loại thông báo như thế, miệng không ngớt nguyền rủa những kẻ ba hoa lắm lời. Sau đó anh ta mới chuyển sang nói lý do anh ta đến gặp tôi, và cuối cùng cáo từ ra về, hứa sẽ còn đến tôi lần nữa.
Sau anh ta đến lượt một trong những người quen của tôi bước vào, và khi nhìn thấy tờ thông báo, từ cửa anh ta đã kêu toáng lên:
- Anh bày ra cái trò này cho ai vậy, chả lẽ cho chúng tôi sao? Thôi được, tôi đi vậy. Nhưng tôi thề từ giờ không bao giờ thèm bước chân đến đây nữa!
Song, tuy miệng nói thế anh ta vẫn ngồi như đóng đinh vào chiếc ghế ở trước mặt tôi. Tôi bắt đầu thanh minh:
- Sao anh lại nói thế! Tại sao anh lại cho đó là dành cho anh? Tôi thề là không phải như vậy!
Sau đó đến lượt anh ta nói. Trong vòng một giờ đồng hồ anh ta thủng thẳng giải thích cho tôi rằng, những thông báo kiểu như vậy là dấu hiệu của sự không có văn hóa, và thậm chí làm xấu mặt người viết ra chúng, và rằng nếu như bạn bè có đến với tôi thì chẳng qua là do lòng yêu mến tôi, thậm chí họ phải hy sinh cả những việc quan trọng nhất của mình. Khi chia tay, anh ta yêu cầu tôi phải bỏ ngay cái thông báo ấy đi.
Tiếp đó lại một ông khách xồng xộc vào buồng. Tôi thậm chí không biết tên ông ta, chỉ gật đầu chào mỗi khi gặp.
- Tất nhiên cái này không phải nhằm vào những người quen rồi. - Ông ta mỉm cười khi đọc tờ thông báo.
- Vâng, dĩ nhiên...
Vị khách cười rộng hơn, rồi cười ha hả:
- Nếu thông báo này muốn ám chỉ tôi, tôi thề là sẽ giận đấy!
- Ôi, sao tự nhiên anh lại nghĩ thế!
- Tôi với anh không phải là bạn bè bình thường, mà gần như là họ hàng thân thích với nhau rồi!...
Có người đi tới và từ ngưỡng cửa đã nói xen vào câu chuyện của chúng tôi:
- Thấy chưa, anh ấy còn chưa kịp thở, vậy mà đã lại có người đến lôi anh ta vào câu chuyện tào lao vô bổ rồi? Thật là không biết điều!
- Còn phải nói!
- Đúng là đồ mặt dầy!
- Đúng thế.
- Không có gì xuyên thủng da mặt họ được.
- Chí lý?
- Tất nhiên với những người quen rồi thì không cần thông báo. Ví dụ như với tôi, anh có thể nói thẳng: “Anh đi về đi, tôi đang bận” - là lập tức tôi đi ngay. Tôi nói thế đúng không?
- Tôi cũng không biết nữa. Quả tình là...
- Này, người ta mang cho chúng ta cà phê gì thế này? Hãy bảo họ đối xử ra con người một tí...
Tách cà phê thứ hai được uống hết. Câu chuyện vẫn tiếp tục xoay quanh tờ thông báo. Cuối cùng cả hai vị khách ra về, và người tiếp theo đến.
Anh này quay lưng lại tờ thông báo và nói như bắn liên thanh không nghỉ. Tôi chỉ muốn nắm vai, xoay anh ta về phía tờ thông báo.
Tôi bèn lập mưu:
- Anh sang chỗ này, kẻo chỗ ấy có gió lùa!
Anh ta chuyển qua, nhưng vẫn chưa đúng hướng...
- Ngồi ghế ấy hơi cứng, anh ngồi vào chiếc salông này này?
- Cám ơn, tôi ngồi đây được rồi.
- Tôi không để anh ngồi đấy đâu? Anh qua đây.
Tay đểu, hắn không ngồi quay mặt vào tờ thông báo, mà vẫn cứ ngồi nguyên như thế.
Tôi quyết định dùng biện pháp cực đoan:
- Theo anh thì nói thế nào đúng hơn: nói tào lao hay nói ba hoa?
- Tại sao bỗng dưng anh lại hỏi như vậy?
- À, vì tôi mới dán tờ thông báo.
Hắn ta quay lại, nhìn tờ thông báo, rồi bắt đầu chậm rãi, rành rọt giải thích cho tôi các nguyên tắc ngữ pháp của tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, đưa ra một lô ví dụ về cách dùng động từ “nói tào lao” và các từ phát sinh của nó. Mệt mỏi sau câu chuyện dài, cuối cùng hắn ra về. Bấy giờ tôi mới được thở phào và ngồi viết bài báo của mình!
Nhưng lập tức một trong những ông khách vừa đến ban nãy lại quay lại và kéo thêm ba người nữa:
- Chà, chà, chà!
- Hát-xan, anh nghĩ ra trò quái quỷ gì thế này?
- Làm sao cái đầu anh có thể nảy ra ý nghĩ như vậy được nhỉ?
Họ làm ầm ĩ lên một hồi rồi bỏ đi. Một lúc sau một trong những người vừa đi lại quay lại và dẫn thêm hai người mới:
- Anh thử nhìn xem anh ta làm cái trò gì kia?
- Ha-ha-ha!
Khi cánh cửa đóng sập sau lưng họ, tôi chạy ngay đến chỗ tờ thông báo, giật nó ra khỏi tường, vò nát rồi ném vào sọt rác.
0
Chỉ là thủ tục
 
Ngôi nhà nằm ở ngay trung tâm khu Sarư. Tìm được đến nơi tôi mệt phờ người. Ngôi biệt thự ẩn trong một vườn cây um tùm.
Ianchin là người bạn thời thơ ấu của tôi.
- Anh ở chỗ này đẹp quá! - Tôi nói.
- Đây là biệt thự của bà bác Guykhơ của tôi.
Tôi đến để xem cái thư viện của Ianchin. Anh dẫn tôi vào một gian phòng rộng rãi - đúng là một vương quốc sách. Tôi lúng túng không biết nên bắt đầu từ giá sách nào.
- Chúng ta sẽ uống trà ở ngay đây. - Ianchin nói.
Tôi bắt đầu giở xem những quyển sách dày. Bỗng từ đâu đó ở trên gác vang lên tiếng hô:
- Hướng mục tiêu - rừng sồi!... Bước đều, bước!... Một, hai, một, hai!...
Giọng nói nghe the thé, rung rung.
Tôi ngớ người ra giây lát, không hiểu chuyện gì xảy ra, sau đó lại chúi đầu vào những cuốn sách. Nhưng một phút sau giọng nói ở tầng trên lại khiến tôi giật mình.
- Bên phải... quay! Bước đều... bước!
Tôi định hỏi Ianchin xem có chuyện gì, nhưng lại ngại. Giá đó là giọng trẻ con thì có thể khẳng định ngay là có cậu bé nào đang chơi trò đánh trận giả.
Ngồi ngả người trong những chiếc ghế bành rộng, chúng tôi cùng uống trà. Từ phía sau tường bỗng lại có người nào đó hô to:
- Hướng về dòng sông! ... Bước đều, bước!...
Tiếp đó là một tràng cười sằng sặc. Cánh cửa bật mở, và lao vào phòng là một sinh vật gì ăn vận rất quái đản. Trên thắt lưng đeo thanh gươm. Trên đầu là chiếc mũ tròn kiểu cổ người ta thường đội vào thời xa xưa. Dưới mũ lòa xòa những chùm tóc bạc dài. Ngực đeo đầy huân chương và huy chương. Chân xỏ đôi giày mũi cong, phía trên là đôi tất dài phụ nữ.
Nếu xét về tóc và mặt thì đó là đàn bà, nhưng về trang phục lại là đàn ông.
Tôi đứng bật dậy. Ianchin nắm tay tôi.
- Xin giới thiệu với anh, đây là bác Guykhơ của tôi.
“Ala, - Tôi nghĩ - nghĩa là đàn ông!”
- Công việc thế nào, anh bạn trẻ? - Sinh vật kỳ lạ đó hỏi.
- Cám ơn ông. - Tôi đáp.
- Người ta không nói “cám ơn” với binh nhất. Phải trả lời là “Chúc sức khỏe!”. - Rồi quay sang nói với Ianchin - Cần có cỏ cho ngựa kéo pháo!
Rồi sinh vật đó lại hô to: “Bước đều... bước!” - rồi bước ra khỏi phòng.
Tôi chớp chớp mắt kinh ngạc.
Ianchin hỏi:
- Chả lẽ tôi chưa kể cho anh nghe chuyện bà bác Guykhơ của tôi?
- Chưa. Nhưng đầu tiên anh hãy cho tôi biết: đây là bác trai hay bác gái của anh?
- Cả hai... Anh hãy nghe tôi kể đây. Bà bác Guykhơ của tôi sống trong tòa biệt thự này với hai cô con gái nuôi. Ở bên bà lúc nào cũng có hai cô gái mồ côi. Bà nuôi nấng họ, sau đó gả chồng cho cô lớn, rồi lại nhận nuôi dạy cô bé gái. Khi bố tôi được chuyển về Stambul, một thời gian chúng tôi sống ở khách sạn vì không thể nào tìm cho mình một căn nhà thích hợp. Bác Guykhơ mới đề nghị: “Hãy dọn đến ở với tôi, chúng ta sẽ sống chung với nhau. Ngôi biệt thự này quá rộng, tôi sống một mình cũng buồn”.
Mẹ tôi trẻ hơn bác tôi nhiều và chuyện gì cũng đều nghe lời bà. Chúng tôi dọn đến cùng sống chung dưới một mái nhà. Anh con trai lớn của bác Guykhơ lúc đó đang ở Mỹ, còn cậu em trai của anh thì ở Izơmia, còn cô con gái chạc tuổi mẹ tôi thì sống với chồng ở Machka.
Vài năm trôi qua.
Một hôm vào buổi sáng mấy bố con tôi chuẩn bị đi làm. Tôi xỏ chân vào đôi giày đi đường. Bỗng có tiếng gõ cửa. Tôi ra mở cửa - trên ngưỡng cửa là một viên cảnh sát tay cầm cái cặp.
Anh ta hỏi:
- Có phải Guykhơ sống ở đây không?
Tôi không thích cái cách hỏi suồng sã ấy của người đại diện chính quyền. Bà bác tôi vừa tròn bảy mươi tư tuổi. Đó là người phụ nữ được mọi người kính trọng. Ở Sarư ai ai cũng gọi bà một cách tôn kính là “Phu nhân Guykhơ”. Vả lại cũng hiếm có người nào lại không biết bà. Một vài người không biết tên bác tôi, nhưng ai cũng nói về bà một cách kính trọng: “Ngôi vườn của quý bà”, “Ngôi nhà của quý phu nhân”. Và ai cũng hiểu đó là đang nói về bác Guykhơ của tôi.
Tôi trả lời viên cảnh sát:
- Phải, ở đây. Anh cần gì?
- Gọi ra đây. Có việc.
Vào thời gian đó bà bác tôi hầu như không rời khỏi chiếc ghế bành của mình. Không phải bà bị liệt, nhưng bà thích sự yên tĩnh. Tuổi tác và cái béo làm bà trở nên ít đi lại.
- Không thể được. - Tôi nói - Anh cần việc gì? Cứ nói qua tôi.
Nghe có tiếng người, bố tôi bước ra.
- Phải, phải, bà ấy không thể xuống dưới nhà được. - Bố tôi nói thêm hộ tôi.
- Sao lại không được? - Viên cảnh sát ngạc nhiên - Nhưng chúng tôi biết cách khiêng người đấy!
- Vậy thì anh thử khiêng đi xem! - Bố tôi nhún vai.
- Nghĩa là, các người muốn chống lại pháp luật?
- Kh-ô-ô-ng!... Chẳng qua vì béo nên người không thể xuống tầng một được!
Hai mắt viên cảnh sát mở tròn:
- Đang là thanh nên mà lại béo đến mức như vậy ư? ! Không thể xuống nổi cầu thang?! Không tin được!
- Thanh niên?! Thanh niên nào?! Bà ấy đã ngoài bảy mươi rồi!
Viên cảnh sát càng trợn tròn mắt hơn và nhìn vào tờ giấy đang cầm trong tay:
- Ở đây nói là: hai mươi hai tuổi. Thôi được... Nhưng tại sao đến bảy mươi tuổi mà vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ quân sự?
- Ai cơ?
- Guykhơ chứ còn ai!
- Anh nói gì vậy? Bà Guykhơ là phụ nữ!
- Thánh Ala ơi! Ban quân sự truy tìm những kẻ trốn tránh nghĩa vụ. Hay có thể đó là Guykhơ nào khác chăng?
- Ở đây không còn ai khác có tên Guykhơ. - Mẹ tôi tuyên bố - Bà ấy sinh ra và lớn lên ở khu Sarư này và biết rõ mọi người ở đây.
Viên cảnh sát kiểm tra lại địa chỉ một lần nữa: không hề nhầm lẫn. Khuôn mặt anh ta lộ vẻ nghi ngờ.
- Không, xin các vị cứ để cho Guykhơ xuống dưới nhà. Vì dù gì đi nữa đây cũng là nghĩa vụ đối với Tổ quốc. Tất cả chúng ta ai cũng đều phải phục vụ. Trốn tránh nghĩa vụ là điều không tốt. Bàn tay của pháp luật sẽ với tới mọi nơi. Dù có trốn đi đâu người ta cũng sẽ tóm được anh.
Viên cảnh sát còn định ba hoa một hồi, nhưng bố tôi đã ngắt lời:
- Không, không, bà ấy không xuống dưới được. Xin mời anh lên gác. Tự anh sẽ tin.
Mẹ tôi lại chen vào:
- Xin lỗi, xin anh để giày ở đây. Bà Guykhơ rất hay cáu. Bà ấy có thể làm ầm nhà lên.
Viên cảnh sát loay hoay một lúc mới tháo được đôi ủng. Cuối cùng tất cả chúng tôi cùng lên gác.
Bác Guykhơ đang nửa ngồi nửa nằm trên ghế bành, hai chân phủ một tấm chăn mỏng. Viên cảnh sát nhìn thấy cảnh ấy đứng sững lại.
Chúng tôi tưởng bác Guykhơ sẽ nổi giận khi biết tin người ta truy tìm bà như một kẻ trốn nghĩa vụ quân sự. Nhưng bà chỉ cười to và xem tất cả chuyện đó như trò đùa.
Viên cảnh sát lại nhìn vào tờ giấy:
- Tên của bà?
- Guykhơ.
- Đúng. Còn họ là gì?
- Êgênog.
- Cũng đúng. Bố bà là ai?
- Ngài Bộ trưởng Khalim, tổng quản kho vũ khí.
- Đúng. Ở đây cũng ghi là Khalim. Còn mẹ bà?
- Vêxamed.
- Thánh Ala ơi! - Viên cảnh sát không tin vào mắt mình - Tất cả đều đúng. Nhưng tuổi tác và việc bà không phải là đàn ông đã làm hỏng hết mọi việc. Theo thủ tục, thưa bà, bà phải mang đến cho chúng tôi bản sao giấy khai sinh, sau đó chúng tôi sẽ gửi báo cáo cho Ban quân sự.
Theo lệnh của viên sĩ quan, chúng tôi, “theo đúng thủ tục”, làm một bản sao giấy khai sinh của bác tôi và mang lên đồn cảnh sát. Chưa đầy hai tuần sau, vẫn viên cảnh sát ấy lại đến nhà. Cùng đi với anh ta là ông cảnh sát trưởng, người một thời gian dài phục vụ ở khu Sarư và biết rõ bác Guykhơ của chúng tôi.
- Thưa bà, chúng tôi sẽ lập biên bản. - Ông ta nói.
- Xin ông thôi đi. - Bà bác tôi quát lên - Biên bản cái gì một khi ông đã biết tôi?
- Chỉ là thủ tục... - Ông cảnh sát trưởng giải thích.
Biên bản được lập, trong đó nói rằng Guykhơ không phải là đàn ông, mà là đàn bà. Cùng với ông cảnh sát trưởng và viên cảnh sát, chúng tôi cũng phải ký tên vào biên bản. Vài ngày nữa trôi qua. Bỗng có hai người lính và một viên cảnh sát đến nhà chúng tôi. Ngài cảnh sát trưởng gửi thông báo đến.
“Theo đúng thủ tục, bà Guykhơ phải đến trình diện tại Ban quân sự”
Chúng tôi phản đối:
- Như vậy là cái quái gì?
Mặt viên cảnh sát đỏ ửng.
- Một thủ tục đơn giản, thưa các vị...
Cứ theo cách mọi người nói ra hai chữ “thủ tục”, ý nghĩa của chúng là như thế này: “Chuyện vặt vãnh, không đáng coi trọng... tuy rằng dù sao vẫn phải làm”.
Bác Guykhơ thở dài:
- Thôi được, nếu thủ tục là như vậy thì chúng ta sẽ đến, để xem thế nào...
Nói sẽ đến nghe thì dễ!
Chúng tôi phải dùng tay khiêng bà xuống dưới nhà, đặt vào chiếc xe mui trần rồi đưa đến Ban quân sự.
Ông đại tá trưởng ban hỏi gì đó bà bác tôi. Bà đáp:
- Chồng tôi trước đây là tướng, ông ấy mất đã hai chục năm nay... Chuyện gì xảy ra thế này?... Các ông muốn bắt tôi, một bà già bảy mươi tư tuổi, đi lính ư? Tôi là vợ của Memdukh.
Bà bác tôi vừa nói ra cái tên đó ông đại tá kêu lên:
- Trời, bà chị thân mến của tôi! - Sau đó ông đứng bật dậy khỏi ghế và đến hôn tay bà.
Hóa ra hồi còn là viên trung úy trẻ tuổi ông đã phục vụ dưới quyền tướng Memdukh và còn nhớ bà Guykhơ khi bà hãy còn là thiếu nữ đương thì.
- Trời ơi, bà chị!... Chả lẽ bà chị không nhận ra tôi ư? Ngài Memđukh là vị ân nhân của tôi.
Chúng tôi vui mừng: ông phụ trách Ban quân sự là người bạn gần gũi của gia đình chúng tôi! Nghĩa là có thể coi như bác Guykhơ của tôi đã thoát được cái tội trốn nghĩa vụ quân sự.
- Xin bà chị đừng buồn. - Ông đại tá an ủi - Những nhầm lẫm như vậy vẫn thường xảy ra. Nhưng... tôi có một yêu cầu với bà chị. Theo đúng thủ tục, bà chị phải sửa lại bản khai sinh của mình. Chỉ có vậy thôi.
Bác tôi tức giận:
- Ông bạn thân mến ơi, chuyện quái gì vậy hả? Tại đồn cảnh sát, người ta biết rõ tôi là phụ nữ, vậy mà họ vẫn gửi tôi đến gặp ông. Ông cũng biết tôi từ hồi còn trẻ, vậy mà ông vẫn gửi tôi tới phòng đăng ký các việc dân sự.
- Thủ tục thôi, bà chị ạ, chỉ vì thủ tục thôi. - Ông đại tá cười.
Tôi để ý bất cứ người nào nói hai câu “thủ tục” không hiểu sao mặt họ cũng đỏ lên.
Chúng tôi rời khỏi Ban quân sự.
Thế rồi hầu như ngày nào cũng vậy, lính tráng, cảnh vệ, cảnh sát bắt đầu kéo đến nhà tôi.
Sau đó có một thông báo gửi đến:
“Phòng đăng ký các việc dân sự không xác nhận năm sinh. Nếu không sửa lại chỗ sai, chúng tôi bắt buộc phải gọi bà đi làm nghĩ vụ quân sự”.
Chúng tôi lâm vào hoàn cảnh hoang mang. Một bà già bảy mươi tư tuổi, to béo như cái thùng tô nô, sắp sửa bị người ta gọi đi nhập ngũ một cách nghiêm chỉnh.
Người đầu tiên vội đến giúp chúng tôi là vợ chồng cô con gái bác Guykhơ đang sống ở Machki. Tất cả chúng tôi cùng đi đến phòng đăng ký các việc dân sự. May cho chúng tôi, ông trưởng phòng là bạn học cũ của anh con rể bác gái tôi. Hơn nữa, anh ta đã hai lần đến chơi nhà tôi và kính cẩn hôn tay bác Guykhơ.
- Tất nhiên tôi biết gia đình các vị quá rõ rồi! - Anh ta khẳng định.
Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm.
Ông trưởng phòng không giao việc này cho cấp dưới mà đích thân giải quyết. Tự tay ông ta mang các cuốn sổ đăng ký vào phòng làm việc, gọi trà cho tất cả mọi người, rồi bắt đầu lật giở các hồ sơ.
- Phải... - Cuối cùng ông nói - Xảy ra một nhầm lẫn đáng tiếc. Ở đây người ta ghi sai năm sinh. Đáng lẽ phải ghi năm 1301, thì ở đây ghi là năm 1351 [1]. Thành thử bà Guykhơ năm nay không phải bảy mươi tư tuổi, mà mới hai mươi hai tuổi. Và cái tên “Guykhơ” cũng bị hiểu nhầm là nam.
Chúng tôi bật cười. Cuối cùng thì cũng tìm ra chỗ sai. Khi tiễn chúng tôi, ông trưởng phòng nói:
- Thưa bà bác, bây giờ để sửa lại cái nhầm lẫn ngu ngốc này bà phải làm đơn ra tòa.
- Còn tòa nào nữa, trời ơi!
- Ề, một thủ tục đơn giản thôi mà, thưa bà. Vì nếu không có quyết định của tòa án thì chúng tôi không thể làm gì được.
- Anh bạn thân mến ơi, nhưng tôi có liên quan gì ở đây? Hãy để cho người nào ghi nhầm ra tòa chứ?
- Thưa bà, gọi là ra tòa... chỉ là cho đúng thủ tục thôi...
Chúng tôi trở về nhà.
Cảnh sát và binh lính tiếp tục canh gác ngôi biệt thự. Thấy tất cả mọi nỗ lực của chúng tôi đều không ăn thua gì, chúng tôi đánh điện về Izơmia cho anh con trai của bác Guykhơ:
“Hãy về nhà ngay. Người ta sắp bắt mẹ đi lính”.
Anh này bay về ngay. Mang theo cả vợ con. Sợ rằng dù sao người ta cũng đến lôi bà già đi, chúng tôi phải giấu bà ở nhà những người quen. Chúng tôi cảm thấy nếu bà bị bắt, chắc chắn người ta sẽ dẫn đến địa điểm nhập ngũ.
Bà bác cho gọi mọi người đến và nói:
- Sự việc không phải đùa đâu! Người ta cứ nói “thủ tục, thủ tục...”, nhưng vẫn cứ bắt đấy. Phải cấp tốc nghĩ ra biện pháp ngay!
Anh con út của bác từ Izơmia về thuê một luật sư nổi tiếng.
Chúng tôi gặp may. Vị thẩm phán thụ lý vụ việc của bác Guykhơ hóa ra là người quen của chúng tôi. Ông sinh ra ở Sarư và lớn lên trên tay bác Guykhơ. Hồi bé gần như ông không ra khỏi nhà bác.
Bắt đầu ngày xét xử. Bác Guykhơ được hai người xốc nách hai bên, ngồi vào chiếc ghế bị cáo.
Viên luật sư bắt đầu bào chữa:
- Thưa ngài thẩm phán, xin ngài hãy nhìn vầng trán sáng sủa của thân chủ tôi...
Rồi ông cố gắng chứng minh bác Guykhơ không phải kẻ trốn quân dịch, rằng bà là phụ nữ, rằng bà đã bảy mươi tư tuổi.
Sau hai phiên họp tòa quyết định sẽ nghe lời khai của các nhân chứng. Sự việc được hoãn lại. Chúng tôi lập tức theo ngài thẩm phán về nhà. Vị này hôn tay bác Guykhơ.
- Thật vô lương tâm! - Bà giận dữ nói - Lẽ nào ông không biết tôi? Ông cần những người làm chứng để làm gì?
- Mong bác hiểu cho, - Vị thẩm phán nói - đây là vấn đề thủ tục. Chúng tôi cần phải nghe các nhân chứng. Các vị hãy tìm cho hai nhân chứng, thế là xong... Một thủ tục đơn giản không ấy mà!...
Sau khi mọi nỗ lực của những người trong gia đình - con trai, con rể, cháu trai, em gái, con dâu - đều không mang lại kết quả, chúng tôi gửi thư máy bay cho anh con trai cả bác đang sống tại Mỹ: “Anh về ngay. Mẹ sắp bị bắt đi lính”. Chưa đầy một tuần sau, chúng tôi nhận được trả lời: “Các vị điên rồi à?” Chúng tôi lại gửi tiếp lá thư: “Hãy bỏ tất cả. Về ngay, mẹ sắp phải đi lính”.
Anh con trai cả cùng vợ con từ Mỹ bay về. Sau khi biết rõ chi tiết mọi việc, anh tức điên người .
- Các anh là một lũ thộn!... - Anh mắng nhiếc chúng tôi.
Rồi mọi người bắt đầu tìm người làm chứng. Nhưng làm sao tìm được bây giờ! Để chứng nhận tuổi của bác Guykhơ cần có người nào ít ra phải chín mươi tuổi. Dù đến gặp bất kỳ người nào cũng không ai đồng ý cả.
- Tôi, - Một người nói - không thể làm chứng được. - Cách đây bảy mươi tư năm thì đừng nói gì tôi, mà cả bố tôi cũng chưa ra đời.
- Anh bạn thân mến ơi, - Chúng tôi nói - đây chỉ là thủ tục thôi mà... Anh cứ nói bà ấy không phải bảy mươi tư tuổi, cứ nói, bảy mươi, cứ nói, sáu mươi, thậm chí năm mươi tuổi... Nói gì cũng được... Vì đây chỉ là thủ tục thôi mà...
Người khác nói:
- Trên trời có thánh Ala. Lẽ nào có thể làm chứng điều mình không biết?
Người thứ ba vẫn cái giọng ấy:
- Người ta mà biết thì anh không tránh được tai họa đâu. Làm chứng sai người ta phạt nặng lắm đấy!
Khó khăn lắm cuối cùng chúng tôi cũng tìm được hai người làm chứng . Một người năm nhăm tuổi, còn người kia sáu mươi tuổi. Người ta đã nghe những lời chứng của họ, sau đó vị thẩm phán quyết định gửi bác Guykhơ đi xét nghiệm y tế để khẳng định bà đúng là phụ nữ.
Vào đúng lúc đang đọc quyết định này, trong phòng xử án có mặt cô con gái, hai con trai và tám đứa cháu của bác.
Chúng tôi lại phải đến nhà ngài thẩm phán... Song không một lời khuyên nhủ nào có tác dụng.
- Các bạn thân mến của tôi, - Ngài thẩm phán nói - chính tôi cũng biết bác Guykhơ là phụ nữ. Vì chính bác đã nuôi nấng tôi. Nhưng làm thế nào được khi thủ tục quy định như vậy? Cần phải có xét nghiệm y tế. Một thủ tục cỏn con thôi mà...
Chúng tôi cũng muốn vui vẻ thực hiện tất cả những thủ tục ấy, nhưng từ khắp mọi phía vang lên những tiếng hét về phía chúng tôi:
- Phải lôi bà bác của các anh vào lính!
- Xin phép các vị... - Chúng tôi nói.
- Xin phép cái gì? Đã bao nhiêu tháng trôi qua rồi?
Nhưng đến lúc này chính bác Guykhơ lại tỏ ra ngang bướng:
- Vào tuổi tôi ấy à? Tôi không cho phép người ta khám tôi.
Chúng tôi xúm vào khuyên bà.
- Bác ơi, đi xét nghiệm chỉ là thủ tục đơn giản thôi mà. Gọi là khám cho có chuyện ấy mà! Không phải xét nghiệm thực... Mà chỉ là hình thức thôi.
Việc xét nghiệm phải được tiến hành trong bệnh viện nhà nước. Bỗng, may cho chúng tôi, vị bác sĩ phụ khoa, người có nhiệm vụ khám cho bác tôi, hóa ra là bạn thân của anh con trai cả của bác. Ông ta thường đến chơi nhà chúng tôi. Và vị bác sĩ trưởng của bệnh viện, hỏi ra mới biết, đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của chồng bà bác tôi, người mà lúc sinh thời đã quyết định cử anh ta vào học ở trường quân y.
Chúng tôi đưa bác Guykhơ đến bệnh viện. Ông bác sĩ phụ khoa hôn tay bác tôi và nói:
- Hôm nay không được...
- Tại sao? - Chúng tôi ngạc nhiên.
- Hôm nay không phải ngày của Hội đồng. Một mình sự chứng nhận của tôi không đủ. Cần có Hội đồng quyết định.
- Này, Hội đồng quái gì ở đây hả? - Anh con trai cả của bác tôi nổi cáu - Chả lẽ anh không biết mẹ tôi là phụ nữ sao?
- Sao tôi lại không biết, anh bạn? Tôi biết. Đây là cuộc xét nghiệm thủ tục. Mặc dù tôi nói rằng, cần có Hội đồng quyết định, nhưng đây không phải là cuộc xét nghiệm thực thụ... Nó chỉ là một thủ tục đơn giản.
Ai cũng biết bác Guykhơ không phải là đàn ông, mà là đàn bà, và bác ấy không phải hai mươi hai tuổi, mà bảy mươi tư tuổi, ấy thế nhưng người nào cũng cố đùn đẩy việc cho người khác. Chúng tôi không sao chứng minh được một bà già bảy mươi tư tuổi, có ba con và tám đứa cháu, - là một phụ nữ.
Cuối cùng bác Guykhơ cũng đang ở trước mặt Hội đồng y tế. Không bác sĩ nào động đến tay của bác ấy, không đo mạch. Tờ giấy chứng nhận có chữ ký của bảy ủy viên Hội đồng, chứng thực bác tôi là nữ giới, đã được hoàn tất. Còn phải ra tòa một lần nữa.
Còn binh lính và cảnh sát vẫn tiếp tục phong tỏa ngôi nhà của chúng tôi.
Đến ngày ra hầu tòa. Ngoài chúng tôi là những người họ hàng thân thích, trong phòng xét xử còn có mặt tất cả những người họ hàng xa, họ hàng gần, người quen nhiều, người quen ít, người quen của những người quen, những người chỉ do tò mò và cả những người hoàn toàn không quen biết. Báo chí từ lâu đã phao tin về việc gọi bà Guykhơ nhập ngũ, nhưng vì thủ tục mà việc này đã bị kéo dài đến một năm, vì thế trong thành phố không còn người nào là không biết đến sự kiện này.
Tại tòa người ta đọc biên bản kết luận của Hội đồng y tế. Và cuối cùng vị thẩm phán bắt đầu tuyên án.
Bỗng bác Guykhơ của chúng tôi hét to:
- Tôi là đàn ông!
Mọi người cười ồ. Sau đó nghe thấy có tiếng cười.
- Phải, phải. - Bác hét lên - Về thủ tục tôi là đàn ông! Tôi sẽ vào quân đội. Những người làm chứng và giấy chứng nhận y tế đều là giả dối hết!
Tòa tuyên bố coi bác Guykhơ là phụ nữ. Nhưng từ hôm đó bác ấy tự phong mình là binh nhất. Bác ra lệnh cho mọi người trong nhà phải gọi bác là ông Guykhơ. Bác lôi trong hòm ra bộ quân phục của người chồng quá cố, mặc nó vào, rồi đeo thêm thanh kiếm, và từ sáng đến tối cứ luyện tập với tiểu đội tưởng tượng của mình.
Từ trên gác lại vọng xuống giọng nói the thé của người già:
- Hướng... cái cây đứng một mình! Bước đều...bước! Một, hai!... Một, hai!... Một, hai!...
----------------
[1] Năm ghi ở đây là theo lịch đạo Hồi.
0
Chỉ vì sơ ý

Anh ta đang đứng ở bến ô-tô buýt, trước cổng ngôi nhà của Bộ và đợi ai đó.
Từ trên ô-tô buýt bước xuống một người đàn ông đeo kính và mặc áo măng-tô nâu. Hai người ôm nhau. Đó là những người bạn cũ. Đã lâu lắm họ không gặp nhau.
Rồi những tiếng kêu vang lên:
- Ô-ô-ô!...
- U-u-u!...
Tiếp đó là:
- Cậu thế nào?...
- Không sao, còn cậu? Có gì mới không?...
- Lạy thánh Ala... Bọn mình vẫn sống bình thường...
Người đeo kính và mặc áo măng-tô nâu bắt đầu mời bạn mình đến chơi.
- Đến thì đến. - Người kia nói - Nhưng mình đang đợi một người bạn. Chờ anh ta ra chúng ta cùng đi.
- Các cậu hẹn gặp nhau ở đây à? - Người đeo kính hỏi.
- Không, chúng tôi đi cùng nhau. Anh ấy có chút việc ở Bộ, phải ghé vào đó... Chỉ năm phút nữa sẽ ra thôi.
- Ồ, cậu đợi vô ích thôi. Anh ta sẽ không ra đâu.
- Sao lại không ra? Nhất định sẽ ra mà!
- Tớ cam đoan với cậu, anh ta không ra ngay được đâu.
- Cậu biết anh ấy à? - Người bạn tò mò hỏi.
- Không biết. Nhưng chắc chắn anh ấy không ra ngay được đâu.
- Sao cậu có thể nói như thế về người mà cậu không biết?
- Anh ta sẽ không ra. Không cần biết anh ta tớ vẫn có thể khẳng định được điều đó.
- Nhưng tại sao anh ấy lại không ra? Anh ấy bước vào trong cái cổng này mà. Anh ấy lừa tớ để làm gì?
- Tớ không bảo là anh ấy lừa. Nhưng bất cứ người nào hễ bước qua cổng một cơ quan nhà nước thì đều...
- Anh ấy sắp ra ngay bây giờ đây này.
- Cậu đừng chờ, không ra đâu. Cho đến hết giờ làm việc anh ấy không ra đâu.
- Anh ấy là người giữ lời hứa lắm. Rồi cậu sẽ thấy.
- Cậu hãy tin mình đi, anh ấy không thể ra được mà!
- Nghĩa là, cậu cho rằng, trong lúc mình đang đứng chờ ở đây, thì anh ta đang ba hoa tán phét với một người quen nào đó? Nhưng, thứ nhất, anh ta không có ai quen ở Bộ này cả, thứ hai, anh ấy không phải loại người thích ba hoa tán phét.
- Cậu bảo anh ấy ghé vào Bộ có việc phải không?
- Đúng. Nhưng đó là việc đã được giải quyết rồi. Anh ấy chỉ rẽ vào lấy tờ quyết định đã được ký. Có thế thôi. Anh ấy chỉ vào văn phòng nhận tờ quyết định rồi ra thôi.
- Thế là rõ rồi. Cậu có thể đừng chờ anh ta nữa, nếu không cậu sẽ phải đứng đây cho đến hết ngày làm việc.
- Tớ đã nói với cậu là công việc đã được giải quyết rồi mà. Anh ta chỉ việc đến nhận tờ giấy ở văn phòng rồi về thôi.
- Không về được đâu, anh bạn ơi. Việc đó ngoài thẩm quyền của anh ta.
- Nhưng vấn đề đã giải quyết xong rồi mà! Còn nếu như gặp chuyện quan liêu phiền phức anh ấy cũng chẳng đợi đâu.
- Tớ thề có thánh Ala là anh ấy không ra ngay đâu. Thôi, ta đi thôi.
- Như thế không tiện.
- Cách đây không lâu tớ có việc phải ghé vào một công sở. Mà thật ra cũng chẳng có việc gì quan trọng... Tớ có một anh bạn quen làm việc ở đấy. Tớ ghé vào để mời vợ chồng anh ấy tối đến nhà tớ ăn cơm. Sau khi đã thỏa thuận xong xuôi mọi việc, tớ bước ra khỏi văn phòng, đi xuống cầu thang, bỗng nhiên tớ lạnh cả người. Tớ sờ tay lên đầu, không thấy cái mũ ở đó. Tớ nhớ lại: trước khi vào phòng anh bạn quen tớ treo cái mũ lên cái mắc áo ở ngoài hành lang. Khi ra về tớ chỉ mặc áo măng-tô, mà quên mất cái mũ. Thề có thánh Ala, tớ chưa bước chân ra khỏi cơ quan, mới chỉ xuống có ba bậc thang. Tóm lại, tớ quay lại ngay chỗ giá treo áo, nhưng cái mũ đã biến mất. Chó thật! Không có cái mũ tớ không dám đi đâu cả. Đi đâu mà không có mũ tớ bị sổ mũi ngay. Hơn nữa đó lại là cái mũ Italia. Hiện nay có đốt đuốc soi cả ngày cũng không kiếm đâu ra cái mũ như thế. Đó là cái mũ của ông bố vợ tớ đi Italia về cho tớ. Tớ mới đội chưa được một tuần.
Tớ cứ chạy từ đầu hành lang này đến đầu hành lang kia: “Trời ơi, cái mũ của mình đâu rồi?”. Những người đến cơ quan cứ nhìn tớ mà cười. Làm sao họ hiểu được?! Còn tớ thì ngay lập tức bắt đầu sổ mũi. Vì thậm chí khi ở nhà, lúc nằm trên giường hay đi lại trong nhà lúc nào tớ cũng phải có cái mũ chụp vào đầu.
Tớ cứ vừa chạy khắp hành lang vừa hắt hơi. Mọi người cứ cười lăn ra. Một lũ vô lương tâm! Thú thực, chính tớ cũng hiểu cái cảnh ngộ tức cười của mình, nhưng tớ làm sao mà cười được.
Tớ chạy vào phòng anh bạn quen, hắt hơi rõ to rồi kêu lên:
- Không may rồi, bạn ơi! Tớ không may rồi! Cái mũ mất rồi!
- Khoan, cậu cứ bình tĩnh, chúng ta sẽ tìm thấy ngay thôi. - Anh ấy an ủi tôi.
Sếp của anh bạn tôi, cũng ngồi trong phòng đó, có vẻ cáu:
- Thưa ông, ông đừng quên là ông đang ở trong công sở! Ở đây không cái gì có thể mất được!
Lạy trời, chả lẽ tớ còn không biết các công sở của ta là như thế nào hay sao? ! Mất thì không mất, chỉ có điều là tìm không thấy thôi! Còn nếu có thấy, thì cũng không dễ gì mà nhận lại được!
Tớ và anh bạn quen đi ra hành lang. Anh ấy gọi người bảo vệ đến hỏi:
- Ở đây ban nãy có treo cái mũ. Nó đâu rồi?
- Cái mũ ấy ạ?... Màu xanh lá cây phải không ạ?
- Phải rồi, phải rồi, màu xanh lá cây... - Tôi mừng quá.
- Chiếc mũ có lông, đúng không ạ?
- Đúng là có lông, người anh em ạ!
- To bằng ngần này, đúng không ạ?
- Phải, phải, to như thế...
- Có dải lụa đen phải không ạ?
- Chính xác!
Tại hành lang xuất hiện sếp của anh bạn tôi.
- Ông bạn thấy chưa? Tôi đã nói rồi mà. Ở công sở một cái kim cũng không thể mất được. Đừng nói cái mũ, mà đến cả hộp nữ trang cũng không ai lấy cả.
Người bảo vệ lại tiếp tục:
- Vành mũ hơi cong lên phải không ạ?
- Hơi cong, hơi cong, đúng rồi bác ạ!
- Phía trên đỉnh hơi bóp vào?
- Hoàn toàn đúng.
- Và có hai lỗ nhỏ cho thoáng khí?
- Phải, phải, có hai lỗ thoáng khí! Ôi, lạy Chúa, bác làm ơn nói cho biết nó đang ở đâu đi!
- Tôi đã giao nó cho ông Vitgiani. Tôi cứ ngỡ có ai bỏ quên.
Tôi chạy đến gặp ông Vitgiani.
- Xin ông giúp cho... - Vừa nói được đến đó tôi bắt đầu hắt hơi một chập như một tràng pháo liên thanh. Mấy bức tường rung lên như sắp đổ. Hiện nay ở nước ta người ta xây những ngôi nhà như thế này: anh chỉ cần nói nhỏ một tiếng thôi là âm thanh dội vào mấy bức tường và trần nhà vọng lại thành tiếng sấm vang khắp căn phòng. Ông Vitgiani quay sang hỏi cô đánh máy:
- Hồ sơ của cái mũ tìm thấy đâu rồi?
- Tôi chuyển cho phòng đăng ký rồi ạ. - Cô gái đáp.
- Cái gì? - Tôi kêu lên - Các vị lập hồ sơ về cái mũ của tôi? Thế nghĩa là gì?
Ông Vitgiani tức giận:
- Sao anh khéo bày ra cái chuyện mất mũ thế?! Anh lôi chúng tôi vào các công việc mất thì giờ này!... Sau đó lại tỏ ra ngạc nhiên tại sao chúng tôi phải lập hồ sơ cho nó. Vì cái mũ được tìm thấy ở hành lang. Theo anh, chúng tôi cần phải làm thế nào?
Tôi nói với cô gái:
- Này, cô ơi... - Rồi hắt hơi một cái mạnh đến nỗi làm giấy tờ trên bàn cô ta bay tứ tung khắp phòng.
- Trời ơi! - Cô gái kêu lên rồi nói giọng như khóc - Suốt buổi sáng tôi vừa sắp xếp lại đống hồ sơ, bây giờ ông làm rối tung hết rồi. Bây giờ làm sao đây?!
Mọi người tức giận vì tôi đã hắt hơi không đúng lúc.
- Thánh Ala ơi! Này, cô cháu ơi, tôi đâu cố ý. Hắt hơi cứ như là mệnh lệnh của Sultan ấy. Lúc muốn hắt hơi cô cứ thử nhịn xem!
- Thế ông không thể lấy khăn che miệng được hay sao?
- Ôi, cô bé ơi, nhưng hắt hơi đâu phải như người khách đến gõ cửa và nói: “Xin lỗi, tôi đến rồi đây...”. Nó ập đến bất ngờ như viên thanh tra ấy chứ.
Cô gái bới tìm trong đống giấy rơi tứ tung dưới đất bản sao hồ sơ về cái mũ của tôi. Đó là một mẩu giấy nhỏ màu hồng. Bản chính thì được ghim vào mũ và đã gửi đến phòng đăng ký vào sổ, ở đây còn lại bản sao. Tôi liếc nhanh mấy dòng chữ. Tại góc trên bên phải có đánh máy: “Nội dung công văn: về chiếc mũ màu xanh lá cây, có lông, có dải băng đen và hai lỗ thoáng khí, tìm thấy ở giá treo mũ ngoài hành lang”.
Cô gái tìm trên đống giấy một con số nào đó và đưa cho tôi:
- Đến phòng đăng ký mà tìm.
Tôi chạy ngay đến gặp nhân viên phòng vào sổ.
- Xin lỗi, tôi đến lấy cái mũ...
- Số?
- Số năm mươi chín!
Anh nhân viên tìm một lúc trong cuốn sổ, cuối cùng hỏi:
- Về việc trả tiền nợ công tác phí phải không?
- Nợ nào, ông bạn? Công tác nào? Cái mũ của tôi, màu xanh lá cây, có hai lỗ thoáng khí...
Anh nhân viên tức giận.
- Tôi không có thì giờ quan tâm đến những cái lỗ trên mũ! Hãy nói số đi!
- Năm mươi chín, người anh em ạ...
- Dưới cái số này ghi nợ công tác phí đây thôi!
- A, trời ơi! Hóa ra anh hỏi không phải số mũ. Vậy mà tôi cứ tưởng... Phải, phải. Tôi xin lỗi. Đây, số công văn đây.
Anh nhân viên lại lật giở những cuốn sổ đăng ký.
- Cái này phải không?... Về cái mũ màu xanh lá cây, có lông, có dải lụa đen và hai lỗ thoáng khí, tìm thấy ở mắc treo áo ngoài hành lang?
- Phải, đúng rồi. Cầu thánh Ala ban thưởng cho anh! Thế là cuối cùng cũng tìm ra.
Anh nhân viên ngắt lời tôi:
- Đã gửi đến ông chánh văn phòng để lập biên bản.
Tôi chạy đến gặp anh bạn quen.
- Này, ở đây cậu có người che chở nào không?... Nghĩa là, có người nào có thế lực ấy, cậu hiểu không? Cần phải cứu lấy cái mũ.
Anh bạn quen dẫn tôi đến ông phụ trách phòng các việc đặc biệt.
Ông này gọi ông chánh văn phòng đến:
- Tại sao không trả cho ngài đây cái mũ của ông ấy?
- Ai không trả? - Viên chánh văn phòng nổi cáu - Ai cần đến cái mũ của ông ấy! Số năm mươi chín! Tất cả chúng tôi chả ai đầu to như thế. Đội vào có mà chụp đến tận mắt!
Đã có bao nhiêu chuyện như thế rồi họ còn làm nhục cái mũ của tôi! Đến đây tôi lại hắt hơi. May mà tôi kịp quay mặt vào tường, chứ không bao nhiêu giấy tờ trên bàn lại bay khắp phòng.
- Chúng tôi đã lập biên bản về nó. - Ông chánh văn phòng tiếp - Ghim vào mũ và đã gửi đến phòng số 2.
- Ông hãy đến phòng số 2, mà nhận cái mũ của mình. - Ông phụ trách phòng đặc biệt bảo tôi - Việc này đã không còn thuộc trạch nhiệm chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ ngâm việc gì lâu. Có việc gì là chúng tôi làm các thủ tục cần thiết và gửi đi ngay.
Giá đó là cái mũ trong nước sản xuất tôi đã nhổ toẹt vào. Nhưng đây là mũ Italia, hơn nữa lại là quà của ông bố vợ tặng! Loại mũ này bỏ ra hai trăm lia cũng không kiếm được!
Tôi thất thểu tìm đến phòng số 2. Ở ngoài cửa có một đám đông đang đứng xếp hàng, không thể nào lách qua được. Người nào cũng kể cho người bên cạnh nghe nỗi khổ của mình. Còn nỗi khổ của tôi là cái mũ.
- Ông phải đi lại đã lâu chưa? - Một ông xếp hàng trước tôi hỏi.
- Từ sáng...
- Về việc gì?
- Về cái mũ. - Tôi đáp và kể lại cho ông ta nghe đầu đuôi câu chuyện xảy ra với tôi.
Ông này tức giận:
- Sao lại thế được! Tôi đi đi lại cả nửa năm trời để xin giải quyết một việc mà vẫn chưa ăn thua gì. Vậy mà việc của ông mới từ sáng đã được giải quyết ngay!
- Ông ta hạnh phúc thật! - Một người nào đó nói - Số may mắn!
- May mắn cái quái gì? - Một người khác lầu bầu - Chắc lại đút lót cho ai đó nên công việc mới được giải quyết nhanh như thế!
Hóa ra, việc cái mũ được giải quyết nhanh như thế là may mắn!
Cuối cùng tôi cũng chen được vào phòng số 2. Nhưng hóa ra người ta đã kịp chuyển cái mũ đến phòng khác rồi.
Tôi tức đến nghẹn cổ, nhưng không dám để lộ mà chỉ nhẹ nhàng hỏi:
- Sao các vị gửi nó đi nhanh thế?
- Trời ơi! Trời ơi! - Ông nhân viên kêu lên - Ngâm thì họ không thích, thúc đẩy cho nhanh họ cũng không bằng lòng!
- Các vị cứ giữ lại cái mũ của tôi ở đây lâu hơn chút nữa có được không?
- Thưa ông, đây không phải phòng trông giữ quần áo!
Tôi nhớ đến một trò chơi thời trẻ con: người ta giật cái mũ trên đầu một người và bắt đầu ném cho nhau, còn chủ nhân cái mũ cứ nghển cổ chạy quanh, cố bắt lấy nó. Tôi lúc này cũng giống như vậy. Tôi không sao lấy lại được cái mũ của mình. Các thủ tục hành chính lần này được giải quyết nhanh đến nỗi khi tôi bay đến một phòng thì cái mũ của tôi đã được chuyển sang phòng khác.
Cuối cùng đến ngày thứ mười của cuộc rượt đuổi tôi mới tóm được nó trong phòng kho. Người giữ kho từ chối không trả cái mũ cho tôi.
- Việc này quan trọng. Tôi không thể trao cho ông được. Làm sao tôi biết cái mũ này có đúng là của ông không?
Tôi kể ra các đặc điểm:
- Số năm mươi chín. Ngoài đầu tôi ra, cái mũ này ai đội cũng sẽ rộng. Màu xanh lá cây.
- Hừm!... Chả lẽ trên đời này mình ông có mũ màu xanh lá cây?
- Có lông...
- Mũ có lông nhiều lắm. Thế ông có mang theo tấm ảnh nào của ông không?
- Ở một bên thành mũ có hai lỗ thoáng khí.
- Những mô tả của ông rất đúng với biên bản. Nhưng ngộ nhỡ ngày mai có người nào đến đây bảo cái mũ là của ông ta thì sao?
Cuối cùng tôi cũng chứng minh được cái mũ là của tôi. Người ta lại lập thêm một biên bản nữa. Tôi ký vào đó. Ơn chúa! Cuối cùng tôi lại được sở hữu cái mũ của mình.
- Giấy chứng minh của ông! - Người ta bảo tôi.
- Giấy chứng minh? Tôi không mang theo...
- Thế thì chúng tôi không thể trả được.
Xác định cái mũ là của tôi, tôi đã làm được, còn khẳng định tôi là tôi, tôi không sao chứng minh được. Tôi chạy về nhà mang giấy chứng minh đến. Rồi anh bạn quen giúp thêm một chút nữa.
Thế là cuối cùng cái mũ đã nằm trong tay tôi. Nhưng cái gì thế này? Trước đây trên mũ chỉ có hai lỗ thoáng khí, còn bây giờ là hai trăm cái lỗ! Đó là kết quả của việc người ta ghim vào đó đủ các loại hồ sơ, biên bản. Không còn là mũ nữa, mà là cái rây bột! Không thể nào đội nó được nữa. Tóm lại, chỉ vì sơ ý tôi đã mất tôi... cái mũ.
0
Chúng tôi cóc cần khách du lịch nào hết!

Các quan chức địa phương tích cực đấu tranh để huyện mình được tuyên bố thành tỉnh, nhưng chẳng ăn thua gì. Mà phải nói cái huyện đó quả là lớn thật, số dân trong huyện còn nhiều hơn cả một số tỉnh. Tại cái thị trấn được gọi là huyện lỵ có rất nhiều văn phòng luật sư, chỉ riêng số luật sư cũng có hơn hai chục. Các luật sư nhận việc thảo các công văn, đơn từ và theo dõi công việc ở các cơ quan nhà nước - ở phòng kiểm sát, ủy ban huyện, tòa án và các cơ quan khác. Văn phòng của một luật sư, nguyên là thư ký trưởng tòa án đã về hưu, lúc nào cũng ào ào như vỡ chợ. Khách hàng của văn phòng này đặc biệt đông vào các ngày thứ Năm và ngày phiên chợ.
Cửa ra vào và cửa sổ văn phòng treo đầy các tấm biển quảng cáo: “Soạn thảo văn bản”, “Soạn thảo giấy chứng nhận”, “Mua bán bất động sản: nhà cửa, đất đai, ruộng, vườn rau, đất trồng nho, cửa hàng, quầy hàng...”, “Soạn thảo các văn bản thuế”, “Viết đơn xin trợ cấp cho công nhân”, “Đơn xin miễn nộp thuế”.
Có ba người bước vào văn phòng. Cứ nhìn cách ăn mặc bên ngoài thì cả ba đều là người ở làng đến, các vị bô lão giàu có và đáng kính. Một người có bộ râu quai nón oai vệ, người thứ hai là một ông già cao, lưng còng, người thứ ba là một ông béo trông rất bệ vệ. Họ mở toang cửa, mắt long lên giận dữ, ngực ưỡn thẳng, trông biết ngay cả ba đều đang hết sức tức giận.
- Sêliam Alâykum. - Họ lên tiếng chào.
- Alâykum Sê Ham. - Viên luật sư chào lại, mắt vẫn không rời đống giấy tờ trước mặt.
Trước bàn làm việc của viên luật sư có một phụ nữ và hai người đàn ông đang ngồi. Ông béo và ông có râu quai nón ngồi phịch xuống hai cái ghế bỏ trống, còn ông già lưng còng không tìm được chỗ đành đứng.
Ông râu quai nón hỏi viên luật sư:
- Anh đang bận à?
Anh này ngước mắt lên và nhận ra các vị khách vừa vào. Có lẽ đó là những người có vai vế trong làng, vì thấy anh ta chào lại rất lễ phép:
- Alâykum Sêliam... Xin chào mừng các vị...
- Cám ơn.
- Tôi xong việc ngay đây.
Nói đoạn anh ta viết cái gì vào tờ giấy để trước mặt, đóng cặp giấy lại và bảo mấy khách hàng:
- Thôi, ngày mười sáu quay lại nhé. Vào sau giờ ăn trưa. Tạm biệt.
Người phụ nữ và hai người đàn ông đứng dậy cáo lui. Và mấy vị khách vừa đến ngồi vào bàn. Có cảm tưởng như họ sắp nổ tung vì cơn giận đang chất chứa trong lòng.
- Chúng tôi nguy rồi! Cả làng tôi nguy rồi... - Ông cao gày lên tiếng.
- Sao vậy! Có chuyện gì xảy ra vậy? - Anh luật sư ngạc nhiên.
Ông râu quai nón đáp:
- Chúng tôi cứ mong cho tốt hơn, ai ngờ...
Ai cũng sốt ruột muốn nói ngay, người nọ cướp lời người kia.
- Chắc anh nhớ rõ hơn chúng tôi chuyện bắt đầu như thế nào...
- Chính anh đã viết giúp chúng tôi đơn gửi lên Bộ: đại ý là chúng tôi muốn trở thành khu du lịch...
- Rồi đến đơn xin tín dụng của Bộ Du lịch...
- Anh đã viết cho chúng tôi rất nhiều... Cầu thánh Ala ban phước cho anh...
- Các đơn từ anh viết không như những người khác...
- Những người khác viết đơn phải chờ cả năm mới có trả lời...
- Còn đơn anh viết thì chúng tôi nhận được thư trả lời ngay...
- Anh đã làm nhiều điều tốt cho chúng tôi...
- Nhưng tốt nhất giá anh đừng viết cho chúng tôi lá đơn ấy. Và giá như thư trả lời đừng đến, người ta đừng tuyên bố chúng tôi là khu du lịch, và chúng tôi đừng vay tín dụng của Bộ Du lịch...
- Mọi tai họa đều từ cái lão xã trưởng chết tiệt của chúng tôi...
- Lại được tay hiệu trưởng trường trung học về hùa...
- Lão hiệu trưởng xỏ mũi tất cả mọi người, hắn ta xỏ mũi ông xã trưởng, và ông này đã bị thuyết phục...
- Khi đó gã hiệu trưởng chỉ mới về làng chúng tôi.
- Vừa đến là hắn đã tuyên bố...
- Mảnh đất này của các bác đúng là thiên đường!...
- Hắn nói đại ý, không thể tìm đâu ra biển như chỗ chúng tôi... Tất nhiên, bãi cát của chúng tôi mịn như bông. Các chỗ khác không có được cát mịn như thế.
- Cát mịn là một này, biển trong xanh là hai này...
- Không có bão là ba này...
- Còn các vườn nho của chúng tôi thì...
- Tay hiệu trưởng luôn mồm ca ngợi: “Trên thế giới không có thứ rượu vang nào ngon hơn rượu vang của các bác...”. Cứ theo lời hắn thì, anh biết không, nắng ở chỗ chúng tôi cũng là thứ nắng đặc biệt!... Cứ làm như thể còn có mặt trời khác... Làm như thể chúng tôi không biết rằng thánh Ala chỉ tạo ra một mặt trời chung cho toàn trái đất này...
- Anh biết đấy, chỗ chúng tôi còn có nhiều sông suối. Nước ở đó trong mát vô cùng...
- Thế là tay hiệu trưởng lại xui: “Phải biết hết giá trị và sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên này...”
- “Hãy để cho tất cả những nguồn tài nguyên thiên nhiên ấy mang lợi cho chúng ta!...”
- Rồi hắn còn nói, chẳng còn nơi nào có những khu rừng thông tuyệt vời, chạy sát xuống tận biển như thế nữa...
- Rồi vào một ngày Chủ nhật lão hiệu trưởng cho mời những vị chức sắc và các bô lão có vai vế trong làng, loại như chúng tôi đây... Chúng tôi họp nhau ở trường học...
- Ở đó hắn bắt đầu trình bày cho chúng tôi mọi tính toán của hắn mà chúng tôi sắp kể cho anh nghe đây.
- Bắt đầu từ thiên nhiên... Hắn nói thiên nhiên đẹp thế này, thế nọ...
- Nhưng quan trọng nhất là con người... Con người ở đây mới tuyệt vời làm sao...
- Tất nhiên, chúng tôi không tranh cãi - vì sự thật đúng như vậy. Anh đừng nghĩ là chúng tôi tự khoe khoang... Nhưng con người ở làng chúng tôi đúng là rất tốt. Chính anh cũng biết đấy...
- Đó là đức tính truyền lại từ đời cha ông chúng tôi: có khách đến chơi là chúng tôi đãi anh ta không tiếc thứ gì...
- Sau đó lão hiệu trưởng trình bày sang vấn đề không khí, hắn bảo không khí ở chỗ chúng tôi thật là trong lành...
- Mà kể cũng đúng: chỗ chúng tôi không có nhà máy, nên cái gì cũng trong lành: từ nước, đất, rừng, biển...
- Chúng tôi bắt đầu hỏi gã hiệu trưởng: “Anh cứ luôn mồm bảo - phải biết tận dụng, phải biết tận dụng! Nhưng tận dụng thế nào?”
- “Rất đơn giản - Gã hiệu trưởng đáp - Các vị sống nghèo khổ là do lỗi của các vị, các vị không hiểu là mình đang sống trong thiên đường. Trong thế kỷ chúng ta du lịch đem lại những nguồn lợi khổng lồ. Tôi đã từng đi Ý, Hy Lạp, Nam Tư và nhiều nước khác...”
- Rồi hắn bắt đầu kể về những nước khác...
- “Ở đây, - Sau đó hắn nói với chúng tôi - nếu mở mang du lịch thì có thể kiếm hàng triệu. Nhiều chỗ khác, thiên nhiên không đẹp như thế này mà người ta cũng thu được bao nhiêu tiền vì du lịch. Người ta bán nắng, bán biển, bán không khí và thu được những khoản tiền khổng lồ”.
- Anh nói thế nào chứ: Làm sao bán được nắng của thánh Ala, biển của thánh Ala, không khí của thánh Ala!? Của đáng tội, có lần báo chí từng đăng chuyện có một gã bợm đã lừa bán được cho những thằng ngốc những chiếc tàu điện, cây cầu, những cái tháp, công viên mà hắn tự nhận là của hắn.
- Dù sao tàu điện, cái cầu, cái tháp... là những vật còn sờ mó được. Đằng này chúng ta bán cái gì? Chả lẽ mang nắng và không khí đi bán?...
- Tất nhiên chúng tôi không nghe tay hiệu trưởng trẻ, nhưng ông xã trưởng lại hăng hái ủng hộ hắn... Chỗ chúng tôi có tật: cứ hễ tay hiệu trưởng nói gì là ông xã trưởng đồng ý ngay...
- Thôi được, - Chúng tôi nói - thế chúng ta bán ánh nắng, không khí, nước biển, cánh rừng như thế nào đây? Vì chúng không cân, đo, đong, đếm được!...
- Hóa ra, tất cả những thứ đó đều có thể bán cho khách du lịch...
- Chúng tôi chỉ phải thông qua quyết định. Còn đâu gã hiệu trưởng và ông xã trưởng...
- Hai tay ấy lo liệu hết...
- Việc đầu tiên là phải tuyên bố xã chúng ta thành khu du lịch và nghỉ mát...
- Thôi được, - Chúng tôi nói - tuyên bố thì tuyên bố.
- Nhưng hóa ra không phải chúng tôi, mà là chính phủ phải ra tuyên bố...
- Mọi việc sau đó thế nào thì chính mắt anh chứng kiến đấy... Anh còn nhớ chứ, chúng tôi đã đến gặp anh nhờ viết đơn cho Bộ Du lịch... Để trên Bộ cử các chuyên viên xuống khảo sát và tuyên bố xã chúng tôi thành xã du lịch...
- Cầu thánh Ala phù hộ cho anh... Đã bao nhiêu lần anh giúp chúng tôi thảo các giấy tờ...
- Chưa đầy một tháng đã có thư trả lời của Bộ...
- Người ta thông báo sẽ có đoàn chuyên viên về xã. Gã hiệu trưởng và ông xã trưởng nói: bây giờ mọi chuyện là do đoàn chuyên viên này quyết định, nên ta phải đón tiếp và quà cáp cho họ thật chu đáo, có thế họ mới tuyên bố chúng ta là khu du lịch...
- Họ nói như thể chỉ cần chúng tôi được công nhận là khu du lịch là lập tức tiền sẽ thi nhau chảy về...
- Mà không phải những đồng lia, mà là những đồng ngoại tệ còn giá trị hơn cả vàng.
- Gã hiệu trưởng luôn mồm khẳng định: “Chỉ cần có khách du lịch đến là tiền thu không kịp”.
- Thế là chúng tôi...
- Như người ta thường nói: “Thả con săn sắt, bắt con cá rô...”
- Đoàn chuyên viên có bốn người... Vậy mà chúng tôi phải đón tiếp như bốn mươi người.
- Vì vị nào cũng mang theo vợ...
- Chúng tôi thết đãi họ suốt một tuần. Họ đi thăm thú tất cả...
- Rồi tuyên bố chúng tôi là khu du lịch...
- Tuyên bố thì tuyên bố, nhưng khách du lịch vẫn chẳng thấy đâu.
- Làm thế nào bây giờ?
- Gã hiệu trưởng bảo: cần phải lập ra một chi nhánh của Hội “Sức khỏe và du lịch”...
- Chắc anh còn nhớ anh đã giúp chúng tôi lập hồ sơ thành lập. Cầu thánh Ala cho anh tuổi thọ...
- Nhờ những giấy tờ của anh chúng tôi đã nhận được giấy chứng thực là hội viên của Hội, nhưng khách du lịch vẫn không có.
- Thời gian trôi qua, còn chúng tôi cứ ngóng chờ khách du lịch, và cùng với họ là những núi tiền...
- Chờ mãi, chờ mãi...
- Rồi ông xã trưởng và gã hiệu trưởng nói: chúng ta cần phải ký hợp đồng với một hãng du lịch nào đó...
- Ký thì ký... Nhưng muốn thế cần phải có tiền...
- Thế là chúng tôi đóng tiền, đưa cho hãng. - Chúng tôi nghĩ, bây giờ cái hãng này, - do tay hiệu trưởng tìm ra - sẽ tuyên bố với khắp châu Âu và Mỹ, rằng trên trái đất này có một vùng phong cảnh thiên đường như thế, như thế... Và cuối cùng khách du lịch sẽ thi nhau đổ về...
- Lúc đó chúng ta sẽ bắt đầu bán mặt trời của thánh Ala, biển của Ala, không khí của Ala và sẽ thu được một đống tiền...
- Cuối cùng có tin báo về: đến ngày đó, ngày đó sẽ có đoàn khách du lịch đầu tiên...
- Chao ôi. Giá anh được nhìn thấy chúng tôi ngày hôm đó... Tất cả mọi người, từ già đến trẻ, đều chuẩn bị đón khách du lịch...
- Chúng tôi mua ở hãng du lịch những tấm biển, khẩu hiệu, cờ quạt...
- Chúng tôi treo lên khắp các đường phố, các bức tường, cửa ra vào, cửa sổ...
- Khắp nơi chỗ nào cũng thấy: “Khách du lịch là vị khách quý của chúng ta!”, “Tất cả cho khách du lịch!”, “Hãy tỏ ra lịch sự với khách du lịch!”...
- Rồi còn bao nhiêu các khẩu hiệu khác...
- Phải được tận mắt nhìn thấy quang cảnh xã tôi hôm ấy...
- Thật đúng một ngày hội... Thậm chí hôm kỷ niệm mười năm Quốc khánh nước ta cũng không to bằng thế.
- Cả xã đổ ra đường đón khách du lịch... Học sinh thì...
- Tất cả các lớp ra đường, đi đầu là các giáo viên. Tay hiệu trưởng tổ chức cả một đội nhạc nhà trường...
- Đội nhạc đi đầu tiên... Tiếp theo là nhóm nhảy múa di gan, rồi đến đội trống...
- Viên y sĩ còn có sáng kiến thuê thêm một người di gan và hai con gấu...
- Thêm vào đó còn quyết định biểu diễn võ dân tộc cho khách du lịch xem...
- Ôi, phải được nhìn tận mắt mới được... khắp các thôn xóm tràn ngập cờ, hoa.
- Có cảm tưởng như đất cũng thấy vui...
- Chúng tôi kéo nhau ra bãi cỏ rộng gần đường cái và đứng chờ khách du lịch...
- Rồi chúng tôi thấy: Họ đang đến!
- Rốt cuộc chờ mãi cũng được!...
- Lạ nhỉ... Những người hết sức bình thường! Chà chà...
- Khi nhìn kỹ hơn: đúng là người như mọi người, nhưng sao trông họ quái dị thế nào...
- Bụi bặm, bần thỉu, quần áo thì bươm như xơ mướp.
- Có khoảng mười lăm người. Người nào cũng tóc dài chấm vai. Không tài nào phân biệt được đâu là đàn ông, đâu là đàn bà...
- Không hiểu gì cả... Nhiều người đi chân đất... Vài người còn đeo cái túm mõm ngựa ở thắt lưng...
- Những cái áo họ mặc lòe loẹt sặc sỡ phát khiếp. Ngay những cả người di gan ở xã tôi cũng không dám mặc.
- Nhìn thấy họ thậm chí chúng tôi đâm lúng túng không biết họ là ai? Không hiểu là bọn quỷ sứ nào đến chỗ chúng tôi...
- Đúng thế, mọi người đều sợ hãi... Bỗng ông chủ tịch Tòa thị chính đến dự ngày quan trọng này kêu to: “Người đâu? Sao đứng ngây ra thế? Mọi người tập trung ở đây để làm gì? Khách du lịch sắp đến bây giờ. Hãy đuổi đám ăn xin này đi! Đừng để chúng làm ta xấu hổ với khách du lịch!...”
- Ông xã trưởng họa theo: “Đuổi chúng đi? Đuổi chúng đi chỗ khác kẻo khách du lịch họ nhìn thấy!...” Rồi bỗng... - Gã hiệu trưởng nói gì đó với đám người mới đến và quay lại phía chúng tôi quát to: “Khoan đã! Đây chính là các vị khách du lịch chúng ta đang đợi đấy!...”
- Trông họ có cái gì là du lịch đâu? Đến ngay những kẻ điên hay ăn mày ở xã tôi trông cũng còn tươm tất hơn...
- May mà gã hiệu trưởng nói kịp, chứ không chúng tôi đã vác gậy đánh đuổi bọn ấy rồi...
- Chúng tôi cứ ngắm nhìn và tự hỏi: không biết làm sao họ mang văn minh đến cho vùng chúng tôi được nhỉ?... Và còn để lại cho chúng tôi hàng đống tiền nữa?... Nếu có tiền lẽ nào họ lại ăn mặc rách rưới và đi chân đất như thế?...
- Nhìn bề ngoài chưa thể khẳng định ai có tiền, ai không được. - Ông xã trưởng nói - Một khi đã bắt tay làm thì phải làm đến cùng. Chính phủ dạy chúng ta: “Hãy quan tâm đến khách du lịch!”
- Thế là kèn trống bắt đầu vang lên... Đội nhạc bắt đầu chơi... Gấu nhảy múa. Không khí thật là tưng bừng... Sau đó người ta dẫn khách du lịch về các nhà...
- Chi hội “Sức khỏe và du lịch” của chúng tôi vui vẻ nhường lại những căn nhà tốt nhất cho khách. Chúng tôi phân phối khách về các nhà, nhà hai người, nhà ba người. Chúng tôi sẵn sàng dành cho khách mọi thứ, cốt sao họ được hài lòng...
- Chúng tôi dọn bàn ăn... Mời họ món cơm rang và thịt cừu. Họ sống thật no đủ... Ăn uống, nhảy múa, hò hét, bơi lội.
- Vài hôm sau trong ngôi nhà có ba khách, nửa đêm bỗng vang lên những tiếng kêu thất thanh... Chuyện gì xảy ra vậy? Chúng tôi chạy đến. Hóa ra bà chủ nhà đun nước nóng nhất định ép ba cô khách du lịch phải tấm... Thế là mấy cô này hét toáng lên...
- Bà chủ nhà giải thích: ý bảo họ có rận... trong nhà đầy rận. Và tôi nghĩ là phải tắm cho họ... Nhưng họ không chịu...
- Phải, trong nhà chúng tôi cũng bắt đầu có rận...
- Hóa ra khách du lịch không có tiền... Mà hầu như tất cả đều hút thuốc... Chúng tôi thấy thương họ quá...
- Chúng tôi góp tiền mua thuốc lá phân phát cho họ... Họ cứ ăn căng bụng, rồi ngủ suốt ngày, đêm đến mới thức nhảy múa, hò hét ầm cả làng...
- Không cho ai ngủ cả. Chúng tôi không dám nói gì vì họ là khách mà...
- Chúng tôi không cần tiền của họ. Không cần gì cả... Chỉ mong sao cho đến ngày họ đi. Nhưng không! Nghe nói có một nơi thiên đường như thế, lại có một đoàn thứ hai kéo đến, khoảng hai mươi người... Nhóm này còn tệ hơn nhóm thứ nhất... Tai họa giáng xuống đầu chúng tôi...
- Chúng tôi cố giữ danh tiếng, bản thân phải nhịn, để dành cho họ ăn...
- Nhưng đám người này mang theo ma túy. Dân làng chúng tôi xưa nay không biết đó là cái gì...
- Nhưng bây giờ thì... Thanh niên lúc đầu cũng bắt chước nhún nhẩy, dậm chân theo đám người này, rồi dần dần cũng bắt đầu hút... Thời gian trôi qua, nhờ ơn thánh Ala, đám du lịch bắt đầu ra đi. Trước khi đi họ viết đầy những chữ gì lên tường các lớp học.
- Tôi hỏi ông hiệu trưởng họ viết gì vậy. Ông ta dịch cho tôi một dòng chữ bằng tiếng Anh: “Pête và Luis thân mến! Bọn mình đợi các cậu ở đây đã mười lăm ngày. Hẹn gặp nhau ở Katmandu”.
- Bức tường của trường học trở thành như cái hòm thư. Khách du lịch ra đi dần.
- Phải, ba người đi thì lập tức lại có mười lăm người mới đến thế chỗ của họ. Cái hãng chúng tôi liên doanh quả là đã làm việc có hiệu quả... Họ quảng cáo khu du lịch chúng tôi ra khắp châu Âu và Mỹ. Thế là khách du lịch đổ dồn về đây. Trường học bắt đầu nghỉ hè. Chúng tôi bố trí khách vào ở trong các lớp học, tất nhiên là phải bài trí nội thất cho tươm tất.
- Các lớp học trở nên bẩn hơn chuồng ngựa. Chúng tôi không thể nuôi hết họ. Mà để họ đói thì xấu hổ. Vì dù sao cũng là khách!
- Người lạ nhưng vẫn phải cho ăn... Khách là sứ giả của thánh Ala mà...
- Mà chính phủ luôn kêu gọi: Hãy quan tâm đến khách du lịch. Họ sẽ kể về chúng ta cho thế giới biết... Thế rồi, thời gian cứ trôi đi...
- Chỉ một thời gian nữa thôi số khách không khéo đông hơn dân làng chúng tôi... Không biết ở đâu ra lắm loại người kỳ quái thế!... Cái gì đuổi họ ra khỏi nhà thế không biết?
- Không còn thiếu người nước nào: Cả Đức, Pháp, Mỹ, Ý, Anh, Tây Ban Nha... Tóm lại là đủ các nước...
- Phải... Đám thanh niên trong làng quen dần, bắt đầu dụ dỗ các cô gái du lịch vào rừng... Rồi ở đó...
- Thật là đại họa! Chưa dẹp xong cái nạn rận thì bắt đầu dịch ghẻ... Ai ai cũng bị ghẻ... Thế là một bên là rận, bên kia là ghẻ...
- Chúng tôi cứ tưởng sẽ chuẩn bị mà hốt tiền của khách du lịch. Ai cũng sợ không đủ chỗ chứa tiền. Vậy mà đây, xin mời: chấy, rận, ghẻ... Sau đó... dường như thế chưa đủ. Đám thanh niên còn bị lây các tệ nạn.
- Con người ta bản tính vốn hay thương những người nghèo khó. Chúng tôi ai có hai đôi giày lại nhường cho khách một đôi. Rồi mùa thu đến, trời bắt đầu mưa lạnh. Quần áo rét của chúng tôi không phải thừa thãi, vậy mà cũng phải san bớt...
- Họ vòi vĩnh: cho xin cái quần... cho xin cái áo... Cuối cùng chúng tôi...
- Phải, cuối cùng chúng tôi trở nên giống hệt như họ. Không còn phân biệt được nữa. Thật nhục nhã!...
- Thêm vào đó đám thanh niên làng thực sự hóa rồ... Bọn con trai mò đi với gái, dù sao còn đỡ. Đằng này con gái làng cũng bỏ đi với khách. Không còn biết làm thế nào...
- Con trai con gái bắt đầu xì xà xì xồ bằng tiếng nước ngoài. Và tất cả những cái đó là do chúng tôi tự tay gây ra. Nhưng bây giờ thì chúng tôi ngấy đến tận cổ...
- Chúng tôi không cần tiền của họ nữa... Thanh niên chỗ chúng tôi bắt đầu bỏ đi khỏi làng...
- Cả con gái cũng bỏ đi! Có đời thuở nhà ai như thế không?! Suốt ngày suốt đêm gào, hét: họ bảo đấy là âm nhạc... Họ làm náo động không chịu nổi. Chúng tôi thậm chí không tập trung đầu óc được để bàn cách giải quyết... Có thể hay là đuổi béng họ đi?...
- Nhưng nghĩ lại thương hại - trông họ đói rách quá. Chính phủ lại ra lệnh phải tôn trọng khách du lịch... Báo chí cũng nói y như vậy...
- Một lần tôi vào quán cà phê. Nhìn thấy ông chủ tịch Chi hội “Sức khỏe và du lịch” đang chăm chú đọc tờ giấy gì. “Giấy gì đấy ông?” - Tôi hỏi. Hóa ra đó là thư của Bộ Du lịch. Trong đó thông báo trong tám tháng đầu năm nay số khách du lịch đến nước ta tăng hơn ba trăm nghìn so với cùng kỳ năm ngoái. Chúng ta phải quan tâm đến khách du lịch để họ đến nước ta đông hơn nữa. Kèm theo thông báo là bản đề án xây khách sạn cho khách du lịch. Và Bộ sẵn sàng cho vay vốn.
- Hóa ra Bộ muốn đặc biệt thông báo số lượng khách du lịch hàng tháng để cho nhân dân phấn khởi: khách du lịch càng nhiều, nhân dân càng giàu có.
- Mùa đông đã tới nơi... Mà khách du lịch vẫn chưa đi... Họ thích ở lại làng chúng tôi...
- Họ cứ kéo nhau đến... Mà tiền thì chưa thấy đâu. Chúng tôi sắp khánh kiệt đến nơi...
- Chúng tôi sắp nguy to rồi, nguy to rồi!
- Chúng tôi nghĩ mãi không biết làm cách nào. Và cuối cùng quyết định từ chối khách du lịch... Chính vì thế chúng tôi đến gặp anh...
- Anh phải viết cho chúng tôi một lá đơn gửi chính phủ.
- Anh viết thế nào cho thật thống thiết, để người ta đóng cửa chi nhánh du lịch của chúng tôi và hủy bỏ tất cả những gì liên quan đến du lịch. Còn chính phủ ta...
- Phải, đề nghị chính phủ đừng gửi khách du lịch đến vùng chúng tôi nữa... Chúng tôi hứa sẽ thanh toán tất cả: vốn vay, kể cả lãi suất, và tiền thuế. Chúng tôi sẽ nhịn ăn, nhịn mặc để trả hết trong thời hạn sớm nhất...
- Miễn sao đừng để khách du lịch đến làng chúng tôi nữa... Anh hãy nói chính phủ hãy làm ơn làm phúc...
- Bởi vì... Chúng tôi không còn đủ sức chịu đựng thêm... Trong công văn mới chính phủ nói: trong các khu du lịch cứ tám khách du lịch mới có một giường, và yêu cầu tăng số giường sao cho mỗi khách có một giường...
- Chúng tôi đã phải nhường hết những gì chúng tôi có.
- Bao nhiêu giường chúng tôi đã dành cho khách hết cả, cả nhà bao nhiêu người đành nằm chen nhau trên một cái giường...
- Ôi! Ôi!
- Anh có thể làm được tất cả... Anh hãy viết giúp chúng tôi... Nếu cần, anh cứ lấy máu chúng tôi làm mực, miễn sao anh viết cho chúng tôi một lá đơn thật thống thiết, để cho...
- ... Để cho bất cứ ai đọc lá đơn cũng đều mủi lòng thương xót và đừng có ai gửi khách du lịch đến chỗ chúng tôi nữa...
- Chúng tôi không còn là khu du lịch và cũng không muốn có khách du lịch nào nữa!...
Sau những lời giãi bày dài dòng và khẩn thiết ấy, nhìn mấy người nông dân thật tội nghiệp - hình như họ đã bị khánh kiệt. Tuy nhiên, sau khi trút hết tâm can họ có phần nào nguôi ngoai, chỉ có trong mắt họ vẫn ánh lên lời cầu xin cháy bỏng.
0
Chuyện tình đẫm lệ

Thưa ông nhà báo, tôi sẽ kể, còn ông hãy ghi lại câu chuyện của tôi để mọi người đọc và rút ra bài học.
Tôi tên là Macmut, còn nàng là Nigia. Vậy ông có thể đặt tên cho câu chuyện là “Chuyện tình của Macmut và Nigia”. Ông hãy viết đi, và tôi tin mọi người sẽ phải đầm đìa nước mắt khóc thương cho chuyện tình của chúng tôi.
Nỗi đau của những cặp tình nhân như Kêrem và Axli, Phakhat và Sirin, Yusup và Xulâykha, Takha và Zukhra... chẳng là cái quái gì so với nỗi đau của chúng tôi!
Chuyện tình của chúng tôi cảm động và đặc biệt đến nỗi so với nó chuyện tình của những cặp tình nhân kia chẳng đáng giá một xu!
Chuyện là thế này: Bọn người ngoại bang nhờ vào dân chủ đã chiếm được nước ta và biến nó thành tài sản riêng của chúng. Vì thế mà cũng cướp đi của tôi của cái hạnh phúc được lấy vợ và tận hưởng bao niềm vui của tổ ấm gia đình. Âu tất cả cũng là do ý Thánh Ala và nhà tiên tri Môhamet của chúng ta!
Ngài hút thuốc đi, ngài nhà báo, vừa hút vừa nghe tôi kể. Gia đình tôi được coi là một trong những gia đình danh giá nhất vùng Akxu. Nhà chúng tôi có một ông hàng xóm tên là Khamza. Ông Khamza có cô con gái là Nigia. Ôi, con chim hoàng yến ấy đã bay mất khỏi tay tôi! Tôi có thể nói mãi như thế về nàng Nigia của tôi!
Ôi, một người con gái độc nhất vô nhị! Trên đời này chưa có và cũng chẳng bao giờ có được người con gái nào như nàng! Ôi, Nigia, Nigia!... Có đi khắp chân trời góc biển cũng chẳng tìm đâu ra người nào như nàng! Trong quán cà phê của ông Ôxma của chúng tôi trên tường có treo bức tranh vợ của Hoàng đế Adzem. Hoàng hậu là người đàn bà đẹp nhất thế giới. Nhưng tôi thề có thánh Ala và Nhà tiên tri Môhamét, bà nữ hoàng của sắc đẹp ấy không đáng đổ nước rửa tay cho nàng Nigia của tôi, không đáng làm cát bụi dưới gót chân nàng Nigia của tôi. Chỉ thoáng nhìn thấy Nigia từ đằng xa tim người ta đã đập rộn ràng. Mái tóc vàng óng của nàng dài đến tận gót chân, đôi lông mày đen nhánh hình lá liễu, còn lông mi thì như những mũi tên đâm vào tim. Người nàng cân đối và khỏe mạnh như chú ngựa non đầy tuổi. Chao, Nigia của tôi!... Da nàng mịn như lụa, tấm lưng thon thả, đôi chân cân đối, mùi da thơm như mùi lúa chín, còn giọng nói thì tựa chim vàng anh. Chao ôi, Nigia của tôi!... Miệng nàng như đóa hoa, hàm răng nàng trắng như ngọc, dáng đi thướt tha, còn ánh mắt thì khiến người ta phải xao xuyến. Những ngón tay thon hình búp măng. Ôi, không có lời nào tả xiết vẻ đẹp của nàng, Nigia của tôi! Nàng thật đúng như một tiên nữ giáng trần!
Ánh mắt nàng nhìn như đốt cháy con tim tôi. Tôi bắt đầu ốm vì tương tư nàng. Ở Akxu mọi người bắt đầu xì xào về bệnh tương tư của tôi.
Tôi quyết định phải viết cho nàng một lá thư tỏ tình, chứ không người tôi sẽ bốc cháy thành tro mất. Và thế là tôi viết. Trên đầu bức thư tôi vẽ một con chim, phía dưới là trái tim đang bốc cháy vì yêu nàng. Tôi kết thúc bức thư bằng mấy câu thơ sau:
Hãy nói đi, hỡi Nigia xinh đẹp,
Nàng là tình yêu Ala ban tặng cho tôi?
Nghĩ đến nàng ngày đêm tôi mong nhớ.
Có khi nào nàng nhớ đến tôi chăng?

Tôi gói bức thư cùng với một lọ dầu thơm mùi hoa hồng vào trong chiếc khăn lụa và nhờ bà mối Kađin ở làng chuyển cho Nigia. Đến tối thì nhận được thư trả lời của nàng. Và nàng đã trả lời tôi bằng những câu thơ mới tuyệt diệu làm sao:
Em là Nigia, em biết chắc,
Không thể nào đùa giỡn với tình yêu.
Nếu tim chàng cháy bỏng yêu đương
Thì tim em cũng sắp thành tro bụi.
Cả kiếp này em nguyện không quên,
Em sẽ là của chàng mãi mãi.
Tình yêu này em thề không trao ai khác
Ngoài chàng thôi, Macmút của em!

Trời, ngài có biết tâm trạng tôi lúc đọc thư nàng ra sao không? Tôi như phát điên lên bởi niềm sung sướng vô bờ. Và cứ thế chạy như bay lên núi. Giá có ai bắn súng theo thì viên đạn chắc cũng không đuổi kịp tôi. Tôi cứ chạy như làn gió qua các sườn đồi, ngọn núi, rồi dừng lại, đọc lại những câu thơ của Nigia, sau đó vừa khóc vừa cười như một kẻ điên. Nàng học được ở đâu những lời thơ hay như thế? Chao ôi, cái miệng xinh xắn của nàng đã thốt lên tên tôi!
Thế là chúng tôi bắt đầu trao đổi thư từ và sáng tác thơ gửi cho nhau. Ngọn lửa của đám cháy tình yêu đã bốc lên cao ngút. Mẹ tôi sang gặp mẹ của Nigia để xin hỏi cưới nàng cho tôi, còn bố tôi thì đi gặp bố Nigia. Bố mẹ Nigia lúc đầu không chịu, nhưng do nàng cương quyết quá nên cuối cùng họ cũng phải chấp thuận.
Đến mùa thu, sau vụ gặt, chúng tôi tổ chức một lễ đính hôn trọng thể đến nỗi không chỉ kẻ thù, mà ngay cả bạn bè tôi cũng phải ghen tị. Sau buổi lễ bố tôi nói trong quán cà phê:
- Cho dù buổi tiệc này có làm tôi phá sản tôi cũng không tiếc, vì thề có thánh Ala, nàng dâu của chúng tôi xứng đáng được như vậy!
Chúng tôi quyết định sau một năm sẽ làm đám cưới. Nigia mong mỏi chờ cho đến mùa thu sang năm, còn tôi thì khỏi phải nói: lúc nào tôi cũng đứng ngồi không yên. Cuối cùng mùa thu cũng đến, mọi người lại thu hoạch mùa màng - Chúng tôi bắt tay chuẩn bị cho đám cưới.
Bỗng bố của Nigia tuyên bố:
- Con gái tôi không thể là vợ của thằng Macmút! Tôi không muốn!
Chúng tôi hỏi:
- Nhưng tại sao?
- Chúng tôi không thể gả con gái cho con trai của lão già vô lại ở đảng đối lập!
Tôi quỳ xuống chân ông Khamza, cầu xin, van nài, thuyết phục. Nhưng đều vô ích! Ông già một mực nói không! Bất hạnh đã đổ xuống đầu tôi!
Thưa ông nhà báo, trước thời gian đó ở làng chúng tôi không hề có người theo đảng đối lập, cũng chẳng có người theo đảng cầm quyền, nhưng, ngay trước ngày cưới của chúng tôi thì cái dân chủ ở đâu bỗng ùa vào nước ta, thế là dân chúng chia làm hai phe. Số tôi và Nigia thật bất hạnh! Bố tôi ở một phe, còn bố nàng lại ở phe khác.
Bố tôi giận dữ:
- Tao cấm con Nigia không được bước chân vào nhà này! - Ông quát to - Tao không cần đứa con dâu là con gái của thằng già đểu cáng ở đảng đối lập!
Cái dân chủ đáng nguyền rủa kia sao mà khéo chọn lúc xâm nhập vào nước ta! Giá như chúng tôi tổ chức đám cưới vào ngày trước khi nó tràn vào thì hay biết mấy! Chao ôi, dân chủ ơi là dân chủ! Sao mi không chết quách đi cho rồi! Bao nhiêu năm nay có ai nghe nói về mi bao giờ đâu! Vậy mà đùng một cái mi xuất hiện vào cái thời điểm không đúng lúc chút nào!
Mi không thể chờ cho bọn ta làm đám cưới xong rồi đến có được không?
Tôi bắt đầu héo mòn, Nigia cũng héo hắt dần. Chúng tôi phải bí mật gặp nhau trong bụi rậm, ngoài cánh đồng hay rừng thưa.
- Nigia này, - Tôi nói - chúng ta phải làm sao bây giờ?
- Em cũng không biết. - Nàng đáp.
- Sao lại không biết?! Cả hai chúng ta đều đang chết héo chết khô và sắp biến thành tro cả rồi! Hay là anh bắt cóc em đi nhé? - Tôi đề nghị, và quyết định nếu nàng đồng ý, tôi sẽ làm theo ý nàng ngay.
Nhưng Nigia nói:
- Em không dám trái lời bố em được.
- Nhưng em đã héo hắt vì anh.
- Cả bây giờ em cũng đang héo hắt đây!
Nigia cứ mỗi ngày một tàn tạ đi như cây nến, còn tôi thì như con bướm nhỏ cứ chập chờn quanh ngọn lửa. Trời! Bố ơi là bố! Sao bố lại khéo chọn lúc này mà tham gia vào đảng đối lập!...
Tôi và mẹ tôi cùng van xin bố tôi:
- Hãy thương xót lấy con, bố ơi! Bố hãy vứt quách cái đảng phái ấy đi.
- Im ngay! - Bố tôi quát.
- Vì Thánh Ala, xin ông hãy tạm đổi cái đảng của ông đi. Chờ tổ chức cưới cho con trai xong, ông lại quay lại đảng cũ cũng được mà!
Bố của Nigia cũng không muốn nghe gì hết.
- Bác Khamza ơi, - Tôi đề nghị với ông - cháu xin bác hãy tạm đổi sang đảng khác một tuần thôi ạ!
- Mày điên hay sao hả thằng ngu độn kia? Tao thay đổi đảng để cả nhà tao chết hay sao? Ai lại đi đổi đảng khi người ta sắp cho vay tiền ngân hàng bao giờ!
Đến một con bò ương ngạnh có khi cũng biết thương xót và nhượng bộ, nhưng bố Nigia thì còn tệ hơn cả con bò.
Lòng kiên nhẫn của tôi đã hết. Một hôm tôi đến nhà bố của Nigia và cầm dao dí vào cổ ông. Ông hất tay tôi ra.
- Cứ chờ đã con trai! Chờ thêm ít ngày nữa thôi. Số phận của đảng chúng ta đang treo trên sợi tóc. Con Nigia nhà ta sẽ là của con mãi mãi. Hãy xem như nó đã nằm trên ngực con. Hãy chờ cho đến ngày bầu cử. Đảng của chúng ta nếu bị tuyên bố thất bại, thì Nigia sẽ là của con.
- Nhưng đảng của bác sẽ đổ ạ?
- Nhờ thánh Ala chúng ta sẽ lật đổ nó. Nhưng tạm thời con đừng hé một lời nào cho ai biết chuyện này cả!
Phải đợi ba năm mới đến kỳ bầu cử. Bố của Nigia và bố của tôi đều cố làm cho đảng cầm quyền lung lay.
Đến kỳ bầu cử đảng của ông Khamza thất bại, và ông chuyển sang đảng của bố tôi.
Đến mùa gặt, mọi người thu hoạch lúa mì xong.
- Bác gả con gái cho cháu đi, bác Khamza!
- Không được!
- Tại sao ạ?
- Con gái tao không đời nào thành hôn với con trai của gã đều cáng ở đảng đối lập được!
Hóa ra, những lãnh tụ của đảng thất bại hứa với cha tôi sẽ dành cho ông chức lãnh đạo một cơ quan địa phương. Thế là cha tôi đã gia nhập cái đảng mà bố Khamza vừa rút ra khỏi.
- Tao cấm con Nigia ấy, con gái của tên lưu manh ở đảng cánh hữu, được bước qua cửa nhà tao! - Ông quát lên giận dữ.
- Trời ơi, bố, - Tôi hết sức đau khổ - tại sao bố không thay đảng đi? Bố làm con đến ho lao mất!
Tôi và Nigia lâm vào tình trạng tuyệt vọng. Phải làm gì bây giờ?
Tôi hỏi bố nàng:
- Bác Khamza, chả lẽ trước kỳ bầu cử bác không thể đổi đảng đi được hay sao ạ?
Nigia khóc, tôi cũng khóc. Các ông bố của chúng tôi thì cứ khăng khăng không chịu nhượng bộ.
- Hãy vứt khỏi đầu cái ý nghĩ ngu xuẩn ấy đi! - Bố tôi quát lên - Thề có thánh Ala, tao mà biết mày còn thư từ với cái con ấy tao sẽ nguyền rủa mày!
Ông Khamza còn dữ hơn cả bố tôi. Ông dọa:
- Liệu hồn đấy Nigia, mày còn gọi thằng con trai của lão già đối lập ấy là chồng chưa cưới của mày, tao sẽ không để cho nó được sống đâu. Thề có thánh Ala, tao sẽ lấy mạng cái thằng súc sinh ấy!
Nigia thì đau khổ trong nhà của mình, còn tôi thì trong nhà của tôi. Hai năm nữa lại trôi qua.
Người ta nói đúng: đối với tình yêu thì không có luật lệ gì cản được. Nigia vẫn gửi cho tôi một lá thư:
“Anh Macmut, em không thể sống thiếu anh được! Anh hãy bắt cóc em đi. Em không còn đủ sức chịu đựng cái thứ dân chủ này!”
Tôi quyết định hành động. Tôi bàn với Nigia, tôi sẽ bắt cóc nàng vào ban đêm, khi nàng ngủ trên mái nhà.
Tôi gọi thêm hai người bạn. Chúng tôi vũ trang đầy đủ, lên ngựa và nửa đêm phóng đến nhà ông Khamza.
- Nigia, nhanh lên em!
- Em không đi đâu. - Nàng đáp.
- Nhưng chính em bảo anh đến bắt cóc em mà! Sao bây giờ em lại thay đổi?
- Macmut, anh yêu, không phải em thay đổi. Bố em đã ra khỏi đảng rồi. Hôm qua chính ông đã nói với mẹ em như vậy. Người ta không cho ông vay tiền mua máy kéo, thế là ông đã bỏ cái đảng ấy chuyển sang đảng của bố anh. Chúng ta sẽ chờ thêm mấy ngày nữa.
- Lạy trời, không lẽ hạnh phúc của chúng ta sắp đến thật rồi sao? - Tôi sung sướng quá - Nếu đúng vậy thì tất nhiên chúng ta sẽ đợi. Nói gì mấy ngày, mấy tháng chúng ta cũng đợi được! Ôi thánh Ala!
Ngày hôm sau ông Khamza rời bỏ đảng của ông và xin vào đảng của bố tôi. Bây giờ chắc chắn đám cưới của chúng tôi sẽ được tổ chức!
- Không bao giờ có chuyện đó! - Bố tôi cắt ngay - Tao không bao giờ cho phép con gái của lão đối lập bước qua cửa nhà này.
- Bố ơi, bố nói gì thế? Bác Khamza đã xin vào đảng của bố rồi mà!
- Đảng nào là đảng của tao? Hôm qua tao đã xin rút ra khỏi cái đảng ngu xuẩn ấy rồi!
Tôi chạy đến gặp bác Khamza.
- Bác Khamza ơi... Bác biết đấy...
- Tao không có gả con gái cho con trai của cái thằng ở đảng lừa dối ấy!
Các bô lão trong làng ai ai cũng thương xót chúng tôi.
- Ông hãy thương thằng con trai mình. - Họ yêu cầu bố tôi - Những chuyện đảng phái ấy thì có quan hệ gì đến chuyện cưới vợ của nó? Chẳng lẽ nếu chúng nó lấy nhau thì đảng của ông bị thiệt hại hay sao?
Nhưng bố tôi không lay chuyển.
- Các ông quên mất dân chủ rồi. Chà, các ông là những người không hiểu biết gì sất! Nếu con trai tôi lấy con gái của nhà đối lập, người ta sẽ khai trừ tôi khỏi đảng ngay. Chào hỏi một người ở đảng đối lập đã nguy hiểm rồi, chứ đừng nói gì đến chuyện là thông gia của họ!
- Bố nghe con bảo này, - Tôi nói - mới ngày hôm qua bố còn...
- Dẹp cái chuyện ngày hôm qua đi! Chỉ vì cái đảng đối lập ấy mà cái niêu cơm nhà này có thể vỡ đấy. Ra khỏi cái đảng này tao mới có thể thở phào yên tâm.
- Bố ơi, thế thì bố giết con rồi!
- Cứ ráng chịu một chút, con trai, sẽ không có gì xảy ra với con đâu. Cứ chờ cho bố nhận được tiền tín dụng đã. Từ nay đến kỳ bầu cử có lâu la gì. Nhờ ơn thánh Ala đảng của bố thất cử, khi đó bố và bác Khamza sẽ trở thành người cùng một đảng. Bố với bác ấy không có thù oán gì với nhau. Nhất định chúng ta sẽ cưới vợ cho con.
Chúng tôi lại chờ cho đảng của bố tôi bị đổ. Thông qua một người trung gian bố tôi đánh tiếng với bác Khamza:
“Bác Khamza! Chúng ta hãy đồng tâm hiệp lực cố lật đổ cái đảng của tôi. Nhất định chúng ta phải tổ chức cho con Nigia nhà bác và thằng Macmut nhà tôi được lấy nhau, không chúng sẽ chết vì thất tình”.
Về phần mình, bác Khamza chuyển đến bố tôi lời chào nồng nhiệt và xin bố tôi cứ yên tâm.
“Chúng ta, - Bác nói - vẫn còn được nhìn thấy con cái hạnh phúc!”
Trời ơi, hạnh phúc cái nỗi gì! Thêm vài năm nữa Nigia sẽ úa tàn như một bông hoa thiếu nước, còn tôi cũng quắt queo như quả bí dùng để làm giống.
Kỳ bầu cử đã đến. Đảng của bố tôi không bị thất bại. Tôi và Nigia lại rơi vào tuyệt vọng: điều gì sẽ xảy ra đây?
Bố tôi tuyên bố:
- Tao không thể rút khỏi cái đảng vững vàng như vậy được.
Bác Khamza cũng không muốn nhượng bộ:
- Tao thà chết chứ không bao giờ thay đảng!
Bố mẹ Nigia không cho nàng ra khỏi nhà. Tôi bèn đến gặp bác Khamza, quỳ sụp xuống chân ông.
- Bác ơi, cháu van bác, bố cháu không có lòng thương xót. Nếu bác không thương cháu, thì ít nhất xin bác hãy thương lấy con gái bác: Nếu không cháu sẽ tự vẫn.
- Thế thì càng tốt! - Bác đáp - Thứ nhất, đảng của bố anh sẽ bớt đi một thằng ngu, thứ hai, chuyện tình ẻo lả của các cô cậu sẽ chấm dứt. Tôi cũng ngán lắm rồi!
- Thưa bác Khamza, nhưng cháu là người ngoài đảng!
- Không quan trọng. Bố và con đều là quả của một thứ cây cả!
Nigia không chịu nổi đau khổ đã treo cổ tự tử trên cửa chuồng ngựa. May mà mẹ nàng phát hiện ra, cắt dây cứu được nàng. Bác Khamza thấy không còn cách nào khác bèn gia nhập đảng cánh hữu.
Nghe tin đó, tôi chạy như bay về gặp bố tôi. Nhưng ông đã đi dự mít tinh không có nhà. Có một lãnh tụ đảng đối lập đến làng Akxu chúng tôi nói chuyện.
Bố tôi quay về nhà, mắt ướt lệ. Hóa ra tại cuộc mít tinh vị lãnh tụ đối lập đã đọc một bài diễn văn khiến bố tôi choáng váng.
- Khốn kiếp thật! - Bố tôi buồn bực nói - Chuyện như thế mà mình chẳng biết gì cả! Hóa ra chúng ta đã bị lừa! Tôi không muốn ở lại cái đảng của bọn lừa đảo này nữa!
Nói đoạn, bố tôi ngồi viết ngay một lá đơn xin ra khỏi đảng cầm quyền và xin gia nhập đảng đối lập.
Trời ơi, chỉ cần cái ông lãnh tụ đảng kia về làng tôi đọc diễn văn chậm đi một ngày là chúng tôi đã có thể kịp làm đám cưới rồi!
Lại một năm trôi qua. Một buổi tối bố tôi uống rượu say bí tỉ, ngã vật xuống sàn rồi kêu lên:
- Gửi ngay một bức điện đi Angkara!
- Bức điện thế nào?
- Hãy điện thế này: “Sau khi tỉnh ngộ, tôi tuyên bố cùng với toàn bộ gia đình gồm 17 nhân khẩu của tôi xin rút khỏi đảng của các vị!”
- Bố thật là tuyệt vời! - Tôi reo lên sung sướng - Một quyết định thật sáng suốt!
Tôi chạy ngay ra bưu điện để đánh điện. Sau đó báo tin cho Nigia:
“Em không được rời mắt khỏi bố em, phải theo dõi từng bước chân ông. Trong lúc ông ta chưa kịp thay đảng, chúng ta cần tổ chức đám cưới ngay”.
Tôi nhận được thư trả lời:
“Bố em vừa cãi nhau với các ông lãnh đạo đảng về chuyện vay tín dụng và đã xin ra khỏi đảng rồi. Có lẽ nỗi đau khổ của chúng mình sẽ không bao giờ chấm dứt được. Macmut yêu dấu, ngay đêm nay anh hãy đến bắt cóc em đi. Em sẽ để ngỏ cửa buồng em. Ở phía bên trái buồng sẽ có ngọn đèn dầu - anh sẽ tìm thấy em ở đó”.
Ala ơi, cô gái ngu ngốc, cuối cùng thì cô cũng tỉnh ngộ ra! Vì chúng ta chịu đau khổ đã mười hai năm trời rồi!
Đêm đến. Tôi và hai người bạn lặng lẽ đi ngựa đến cổng nhà ông Khamza. Và sắp đặt cuộc bắt cóc. Tôi đến gần cửa buồng Nigia. Đúng là cánh cửa chỉ khép hờ. Tôi đẩy cửa bước vào, và đến ngay bên trái buồng nơi có ngọn đèn đang thắp. Tôi nhìn thấy trong góc phòng ngồi thu lu một bà già, mẹ của Nigia, mặc quần áo đi đường, tay ôm bọc hành lý.
- Nhanh lên, nhanh lên. - Bà ta thì thào - Chúng ta đi thôi!
- Đi đâu? - Tôi hỏi.
- Sao lại đi đâu? Chúng ta chẳng đã bàn cùng nhau bỏ trốn ư?
- Trốn đi đâu? Hãy tỉnh lại đi, bà già tội lỗi kia! Hay bà hóa điên rồi! Nigia đâu?
- Anh hỏi Nigia à? Trời ơi, anh Macmut, chẳng lẽ anh không nhận ra em ư? Em là Nigia đây!
Tôi cảm thấy dường như đây là sự đánh tráo. Chắc hẳn mẹ của Nigia muốn bỏ ông Khamza và muốn tôi đến bắt cóc bà đi thay cho Nigia. Nhưng tôi cần gì cái bà già lụ khụ này!
Trong khi đó bà ta đã giơ hai tay định ôm lấy tôi. Song ngay lập tức bà rụt tay lại. Rồi cầm lấy đèn soi vào mặt tôi.
- Trời đất ơi! - Bà kêu lên.
- Có chuyện gì vậy? - Tôi hỏi.
- Tôi cứ tưởng ông là Macmut!
- Thế bà nghĩ tôi là ai?
- Là bố của anh ấy.
- Im đi mụ già! Mụ nói lảm nhảm gì thế? Tôi đã trở thành thế này chỉ vì ngày đêm tưởng nhớ đến con gái bà đấy!
- Ông nói gì vậy? Tôi đâu có con gái!
- Bà nói dối phải biết ngượng chứ! Tôi muốn nói đến cô Nigia phản bội của bà đấy!
- Tôi là Nigia đây!
- Bà thề đi!
- Thề có thánh Ala! Tôi trở nên thế này chỉ vì thương nhớ anh Macmut nhà ông thôi! Vì năm nay tôi đã ba mươi sáu tuổi rồi!
- Thôi được, Nigia, cô chờ đây, để tôi đi dắt ngựa lại gần cửa sổ.
Tôi bước ra khỏi nhà và thậm chí không đến gặp hai người bạn đang chờ tôi nưa. Phải nhanh chóng bỏ làng ra đi thôi!
Từ hôm đó tôi không một lần bén mảng về làng Akxu của tôi nữa.
Chao ôi, Nigia của tôi!
Ông nhà báo, xin ông hãy viết về chuyện của chúng tôi. Nhất định thế nào ông cũng phải viết đấy! Và hãy đặt tên cho câu chuyện là “Chuyện tình của Macmut và Nigia!”
0
Những người thích đùa

Cuộc đời thật là cay đắng. Cuộc đời thật là chông gai. Cuộc đời thật là... Tôi có hẳn ba quyển vở dày cộp chép toàn những câu triết lý về cuộc đời như thế. Tổng cộng khoảng gần 16 nghìn câu mà tôi cho là hay nhất.
Đời là bể khổ. Đời là bờ dốc đứng. Đời là một ghềnh thác. Đời là một cái sân khấu, vân vân...
Nhưng rồi ở trang cuối, tôi lại ghi mấy chữ “Vậy thì đời là cái cóc khô gì?”
Ô, thưa quý vị, đời cay đắng và chua xót lắm! Không tin, xin quý vị cứ nghe câu chuyện tôi kể đây rồi tự xét đoán xem tôi nói có đúng hay không.
Hồi ấy tôi không làm ăn gì cả. Chẳng phải vì tôi giàu có hay vì được thừa hưởng một gia tài kếch xù gì, mà chẳng qua vì tôi không sao tìm nổi việc làm. Đã hai ngày tôi sống bằng không khí và nước lã.
Một hôm, tôi đến ngồi trên một chiếc ghế đá vườn hoa để suy nghĩ về bản chất cuộc đời. Bên cạnh tôi, có một ông ngồi xem báo. Lúc ông ta nhét tờ báo vào trong túi, tôi hỏi:
- Ông có thể cho tôi ngó qua tờ báo một chút được không ạ?
Ông bạn ngồi cùng ghế đưa cho tôi tờ báo. Tôi vội lướt nhanh các mục rao vặt. Có một mẩu tin khiến tôi thoáng hy vọng: “Cần tuyển người làm, bất kể đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ”. Thế là không để lỡ một phút, tôi trả lại tờ báo cho chủ nhân, rồi ba chân bốn cẳng phóng ngay đến cái địa chỉ ghi trong mẩu rao vặt. Đó là một ngôi nhà năm tầng, nằm ngay giữa khu vực đông đúc nhất của thành phố. Sợ đến chậm, nên chẳng cần chờ thang máy, tôi cứ thế bước mấy bậc lên thẳng tầng thứ năm. Cánh cửa treo biển số 18 đây rồi! Tôi thấy người ta bước vào, lần lượt từng người một. Người nào lúc vào trông mặt cũng đầy hy vọng. Nhưng khi bước ra thì trông ai cũng hầm hầm tức giận.
Để cho hơi thở đã trở lại bình thường, tôi mới tiến lại phía cửa:
- Tôi xem báo thấy nói ở đây...
Không đợi tôi nói hết câu, người gác cửa khoát tay ra hiệu cho tôi vào. Tôi bước vào một căn buồng có kê rất nhiều ghế băng và ghế bành. Đã có 6 người đàn bà và 8 người đàn ông ngồi chờ ở đó. Còn 5 người khác, trong đó có tôi thì đứng.
- Công việc gì đấy hả ông? - Tôi hỏi người đứng bên cạnh.
Người này cũng có số phận hẩm hiu như tôi. Ông ta đáp:
- Tôi cũng không biết. Chỉ thấy người ta gọi từng người một vào. Nhưng vào được độ mười phút, hay cùng lắm là nửa tiếng, thì thấy ai cũng chạy bổ ra như ma đuổi, chửi ầm cả lên.
Đúng lúc đó cửa sịch mở và một người đàn ông mặt đỏ gay lao ra phòng chúng tôi, chửi rủa om sòm:
- Đồ đểu, đồ khốn nạn!
- Đến lượt ai? - Người gác cửa kêu to.
- Tôi ạ! - Một phụ nữ còn trẻ, phấn son lòe loẹt, nói, đoạn bước vào buồng trong. Tôi hỏi một người đang ngồi đợi:
- Họ làm gì trong ấy thế hả ông?
- Chắc họ thử trình độ!
Thế là tôi hối hả ôn lại trong trí nhớ tất cả những gì người ta dạy tôi ở trường học. Cứ dựa vào các dấu hiệu bên ngoài mà xét, thì đây là một cơ quan thương mại, như vậy ắt họ phải kiểm tra trình độ toán học. Tôi vội vàng nhẩm lại bảng cửu chương, rồi ôn lại cách tính phần trăm, tính hạ giá...
Bỗng cửa mở tung và người phụ nữ mang đồ trang sức rẻ tiền ban nãy bước ra, mặt đỏ như gấc.
- Quân khốn nạn, đồ vô lương tâm!
Chị ta kêu ầm lên và từ phía trong vọng ra một giọng cười đàn ông khả ố.
- Chả nhẽ họ làm nhục chị ấy? - Tôi chợt rùng mình.
- Không phải đâu! - Người bên cạnh tôi đáp - Tôi chắc người ta ra một câu hỏi gì hóc búa quá và chị ta không trả lời được đấy thôi!
- Đến lượt ai nào? - Người gác cửa lại kêu to. Lần này người vào là một thanh niên, chính cái anh chàng vừa nãy nói rằng chị phụ nữ không trả lời được câu hỏi. Trong lúc tôi đang loay hoay ôn lại cách tính phần trăm rắc rối, thì thấy anh ta đã lao vọt ra như một mũi tên, miệng gào lên:
- Mẹ kiếp! Thế mà cũng gọi là công việc!
- Anh chàng này hóa ra lại kém cả đàn bà. - Người ngồi cạnh tôi nói với giọng chế giễu.
Lúc này sau lưng tôi là một dãy người. Người gác cửa vẫn tiếp tục gọi từng người một vào.
Tôi túm lấy áo ông ta, rụt rè hỏi:
- Họ làm gì trong ấy thế hả bác?
- Sát hạch! - Ông ta cười khẩy đáp.
Cứ mỗi lần thấy người từ bên trong lao ra và lớn tiếng chửi rủa, là tôi lại thấy mừng thầm. Vì như thế tôi càng nhiều hy vọng có công ăn việc làm. Nhưng mừng mà vẫn lo. Vì không biết công việc gì mà họ kiểm tra một cách kỳ lạ như vậy? Giá như chưa đến nỗi đói lắm, thì tôi đã nhổ toẹt vào công việc và bỏ đi quách cho rồi! Hàng người cứ tiến lên rất nhanh. Trước mặt tôi là một ông già xanh rớt như tàu lá. Ở trong phòng bước ra, ông ta mệt lả người, đến nỗi không còn sức mà chửi rủa nữa.
- Họ làm gì trong ấy thế hả bố? - Tôi tò mò hỏi. Ông ta khoát tay bảo:
- Không phải hỏi. Cứ vào trong ấy khắc biết.
Người gác cửa hỏi to đến lượt ai? Tôi im lặng.
Người xếp hàng sau tôi bảo:
- Đến lượt anh đấy!
- Ông vào trước đi. Tôi không vội lắm - Tôi nói vậy, nhưng bị ông ta phản đối:
- Không được! Phải có thứ tự chứ! Tôi chưa đến lượt, tôi không vào.
Đồ con lợn! Giá đây là xếp hàng đi xe điện hay xe buýt, thì có lẽ hắn chả tử tế như vậy, mà huých bật tôi ra khỏi từ lâu rồi.
- Mời ông cứ vào trước đi!
- Không, không! Anh phải vào trước chứ!
Người gác cổng huých vào lưng tôi đẩy vào. Tôi nghe thấy cửa đóng sập lại sau lưng.
- Ôi lạy Chúa! - Tôi thầm nghĩ - Xin ngài che chở cho con. Nếu đúng là sát hạch hay kiểm tra gì xin ngài hãy giúp con vượt qua tất cả, để con có thể kiếm được việc làm.
Không hiểu vì đói hay vì sợ, tôi bỗng thấy mặt mày sa sẩm.
Căn buồng mà tôi bước vào bày biện như một văn phòng. Những người ngồi ở đó đang cười ha hả. Trông người nào cũng to béo, bụng chảy sệ, cằm thì hai ngấn. Thế thì làm gì mà họ không hay cười.
Tôi tiến lại gần một ông ngồi sau chiếc bàn lớn có mặt kính. Ông này chắc hẳn là chủ tịch hội đồng giám khảo.
- Anh có thích đùa không? - Ông ta hỏi.
Tôi đưa mắt quan sát tất cả mọi người có mặt trong phòng. Có chừng mười người tất cả. Nhưng không người nào ăn mặc tồi tàn và trông ốm đói như tôi.
Vậy ắt hẳn họ phải là những người thích đùa. Vì thế tôi vội nở ngay một nụ cười đáp:
- Tất nhiên là thích chứ ạ! Chả nhẽ trên đời này lại có người không thích đùa hay sao?
- Tốt lắm. Thế nghĩa là anh r.â.ấ.t thích đùa! - Ông ta kéo dài giọng - Vậy thì anh hãy ngồi xuống chiếc ghế sa lông này!
Chân tôi lúc bấy giờ đã mỏi lắm, chỉ muốn khuỵu ngay xuống, nhưng vì sợ thất lễ nên tôi không dám ngồi.
- Dạ, thưa ngài, tôi đứng cũng được ạ.
- Không, không được! Anh vừa nói là anh thích đùa cơ mà! Thế thì cứ ngồi xuống!
Từ chối nữa e không tiện, tôi đành cám ơn rồi rón rén ngồi xuống ghế.
- Không, ngồi vào đây, vào chiếc ghế sa lông này cơ!
Tôi lại đứng dậy và ngồi vào chiếc ghế sa lông.
- Thế, phải rồi. Tất cả những người mà anh thấy đang ngồi đây đều là những người thích đùa. - Viên chủ tịch giám khảo nói.
- Thưa ngài, thế thì hay quá! Gì chứ đùa thì tôi mê lắm ạ!
Thế là họ bắt đầu hỏi tôi đủ mọi chuyện. Tôi đáp lại họ bằng những câu ngắn gọn và lễ phép. Bỗng tôi cảm thấy cái ghế ngồi bắt đầu nóng lên, mỗi lúc một nóng hơn. Tôi thấy mình như một cái hạt dẻ bị rang trên chảo nóng. Lạy thánh Ala!... Hay là tôi lên cơn sốt chăng? Nhưng nếu sốt, thì cái nóng phải tập trung ở đầu, chứ không thể ở chỗ nào khác. Tôi bắt đầu nhăn nhó, oằn oại trên ghế. Thấy vậy mọi người phá lên cười. Thì họ là những người thích đùa mà lại, và điệu bộ tôi lúc ấy chắc phải tức cười lắm. Tôi cảm thấy như ngọn lửa đã cháy vào tận ruột gan nhưng nhìn thấy họ cười, tôi cũng bắt đắc dĩ phải nở một nụ cười gượng gạo.
- Anh làm sao thế? Trong người khó chịu à? - Họ hỏi tôi.
Nếu tôi trả lời là bị ốm, thì tất nhiên đời nào họ còn lấy tôi vào làm nữa. Vì thế tôi phải nói:
- Đâu có ạ! Tôi khỏe như trâu ấy chứ ạ!
- Thế tại sao anh cứ oằn oại thế?
Rồi họ lại nhìn tôi cười rũ ra.
- Xin lỗi, tôi bị bệnh trĩ, - Tôi tìm cách nói dối như vậy - xin các ngài cho phép tôi được đứng!
Nói đoạn, tôi đứng dậy, lau mồ hôi trán. Tôi đã toan hét to vào mặt họ: “Làm gì mà các ông cười rống lên như vậy”, nhưng chợt nhớ ra họ là những người thích đùa, nói thế chỉ tổ bị đuổi thẳng ra ngoài, nên tôi lại thôi.
Vị ngồi sau bàn lại rung chuông gọi người gác cửa và bảo:
- Mang nước chè vào cho ông này!
Tôi nghe nói mà mát cả ruột. Như vậy là họ đã thích tôi. Nhưng cơn đói làm bụng tôi cồn cào. Chà, cái lũ giun chết tiệt ấy nó hành hạ tôi! Người gác cửa mang vào cho tôi một tách nước trà. Nhưng tôi chưa kịp thả hai miếng đường vào, thì nước trong cốc bỗng nhiên sủi bọt và trào ra ướt hết cả tay. Mọi người lại được một trận cười no bụng. Mà kể ra nhìn cái bộ dạng ngây độn của tôi lúc ấy thì ai mà nhịn cười cho được!
Một vị trong ban giám khảo cố nhịn cười và bảo tôi:
- Anh hãy mở cánh cửa kia ra. Ở trên cái bàn phía sau cửa ấy có một cái gậy. Anh hãy cầm cái gậy ấy lại đây!
Tôi làm theo lệnh của ông ta, nhưng không thấy cái gậy nào cả.
- Thưa ngài, trên bàn không có gì ạ! - Tôi bối rối nói.
- À, đây rồi. - Người ta lại gọi tôi lại. Rồi một viên giám khảo khác tiếp tục thẩm vấn tôi. Nhưng thật là tai hại, tôi bỗng lên cơn hắt xì hơi và không tài nào trả lời được. Đúng là họa vô đơn chí.
- Anh tên là gì?
- Tôi... hắt... hắt xì hơi! Tôi... tôi... tôi... hắt... hắt... xì. Tôi tên là... Ac... mét, xì hơi!
“Mình bị làm sao thế này? Tôi lo lắng tự hỏi. Lần đầu tiên trong suổt bốn mươi năm, hy vọng có được việc làm vừa chợt lóe lên, thì ác thay, cái ghế ngồi bỗng nóng rực lên, rồi nước chè tràn ra khỏi cốc, rồi lại hắt xì hơi!
- Bốn... bốn... bốn... hắt xì hơi. Bốn mươi... hắt xì hơi... mốt...
Mọi người lại cười rộ lên. Cuối cùng, một vị trong ban giám khảo nói:
- Đằng kia có cái vòi nước kia kìa! Anh ra rửa mặt đi!
Tôi ra rửa mặt và cảm thấy dễ chịu hơn, không hắt xì hơi nữa, nhưng không hiểu sao nước mắt tôi bỗng chảy ràn rụa nhừ suối. Hay là tại đói chăng? Tôi bắt đầu khóc nức nở như một thằng hề vậy. Thôi, thế là đi tong! Chưa hết hắt xì hơi đã lại bắt đầu chảy nước mắt thế này, thì còn ai người ta nhận vào làm nữa!
- Tại sao anh lại khóc?
- Ai? Tôi ấy à? Dạ, tôi cũng không biết tại sao nữa! Chắc tại tôi nhớ đến bà mẹ tôi đã mất...
Thế là mọi người lại lăn ra cười. Còn tôi thì cứ thút tha thút thít như đứa trẻ. Một vị giám khảo khác lấy trong tủ ra một lọ nước hoa đưa cho tôi và bảo:
- Anh hít một tí nước hoa này cho nó dễ chịu!
Tôi nhỏ mấy giọt nước hoa vào lòng bàn tay rồi đưa lên mũi hít. Thứ nước hoa đúng là đặc biệt thật. Vừa hít vào đã thấy dễ chịu ngay. Nhưng... ơ kìa! Tôi lại bị làm sao nữa thế này! Ấc... ấc. Chết cha rồi! Tôi lên cơn nấc! Thôi lần này thì mới thật là hết nhé! Này... người ta sắp tống cổ tôi đi này!
- Trước đây anh làm nghề gì?
- Dạ... ấc... ấc! Trước đây... ấc! Tôi làm... ấc! nghề đánh... ấcc! giày... ấc!...
- Thôi, lạy Chúa, xin đừng nói nữa! Anh hãy mở cái tủ này ra!
Tôi vừa mở cánh cửa tủ thì bỗng... ầm một cái như tiếng đại bác. Hết hồn, tôi ngã bệt xuống đất. Thôi đến nước này thì còn hy vọng gì công việc nữa, tôi nghĩ thầm, không khéo mình còn phạm tội giết người nữa là đằng khác! Vì có khi họ bị vỡ bụng ra vì cười.
Bỗng tôi thấy một ông to béo thổi tung bụi ở bàn. Rồi một lát sau tôi cảm thấy ngứa không chịu được.
- Tại sao anh cứ phải gãi thế?
- Dạ, tôi cũng không hiểu tại sao nữa ạ! Tôi mới tắm hôm qua...
Hay là tôi bị bọ nẹt đốt chăng? Nhưng nếu bọ nẹt đốt thì chỉ ngứa một chỗ thôi chứ! Đằng này khắp người tôi chỗ nào cũng ngứa ran.
- Trình độ văn hóa của anh thế nào? - Một ông nhiều tuổi nhất trong ban giám khảo hỏi.
- Dạ, thưa, tôi đã tốt nghiệp khoa Văn Đại học Tổng hợp ạ!
Ông ta dí sát tai vào mặt tôi bảo:
- Anh nói to lên, tôi bị nặng tại.
Quả thật tôi thấy một lỗ tai ông ta có đeo một cái ống nghe. Tôi hét to, trong khi vẫn ra sức gãi:
- Khoa văn!
- Cái gì?
Tôi lại hét to một lần nữa vào lỗ tai ông ta: “Khoa văn!” Thế là từ cái ống nghe ở lỗ tai ông ta có một tia nước bắn vọt vào mặt tôi. Quá bất ngờ, tôi lại ngã phịch xuống sàn. Không biết đây là cái chỗ gì vậy nhỉ? Văn phòng quái gì mà lại thế! Hay là tôi rơi vào một cái hang quỷ sứ!
Xung quanh tôi, các vị giám khảo cứ ôm bụng lăn ra mà cười. Họ cười giật từng cơn như bị động kinh. Nhưng rồi cuối cùng, cơn cười cũng chấm dứt. Mọi người nghiêm trang đứng cả dậy.
- Khá lắm! - Một ông trong ban giám khảo khen tôi - Anh đã chịu được tất cả các cuộc thí nghiệm. Chúng tôi đã thử đến bốn chục người, nhưng không ai chịu được đến phút cuối cùng. Thậm chí có người mới vừa sau thí nghiệm thứ nhất đã bỏ chạy.
- Thưa ngài, tôi chưa hiểu. Ngài bảo tôi chịu được những cuộc thí nghiệm gì cơ ạ?
- À, chả là thế này: ở Mỹ có một hãng chuyên sản xuất các thứ hàng đặc biệt. Họ gọi đó là những món hàng “biết đùa”, vì chúng có thể làm cho người ta cười. Hãng này có gửi cho chúng tôi một số hàng mẫu và đề nghị chúng tôi cùng kinh doanh.
- Vâng, thế thì sao ạ?
- À, nhưng vì một số thứ hàng có thể gây ra những hặu quả nguy hiểm, nên chúng tôi quyết định phải thử trước...
Rồi họ quay sang bàn bạc với nhau:
- Nghe đâu ở bên Mỹ có đến hơn một vạn cửa hàng bán các thứ hàng này...
- Phải đấy! Riêng tiền xuất khẩu các thứ hàng này nghe nói cũng đã lên tới trên 20 triệu đô-la cơ đấy!
- Họ có giới thiệu cho ta hơn 50 mặt hàng.
- Ta phải ký hợp đồng với họ ngay đi. Cái món hàng này hời đấy! Vì dân ta cũng ham đùa lắm, gì chứ món hàng này của Mỹ dứt khoát là họ phải đổ xô vào mua.
Vị nhiều tuổi nhất trong đám nói với viên thư ký:
- Ông viết đi: Hai nghìn đệm ghế phát nhiệt, hai vạn hộp bột ngứa, năm trăm hòm nước hoa nấc, năm nghìn tá máy điếc bắn nước, hai vạn chai nước làm chảy nước mắt, năm tấn đường gây cười, ba vạn hộp phát tiếng nổ. Ông nhớ bảo họ gửi ngay cho ta tất cả các thứ đó nhé!
Tôi hiểu rằng như thế là tôi đã được nhận vào làm, nhưng không hiểu sẽ phải làm gì? Mọi người vẫy say sưa thảo luận nên chẳng còn ai nhớ đến tôi.
Thấy vậy, tôi mới lên tiếng hỏi vị chủ tịch giám khảo:
- Thưa ngài, tôi có được nhận vào làm không ạ?
- Được, - Ông ta đáp - anh tỏ ra là người có sức chịu đựng khá nhất trong số những người mà chúng tôi đã thử.
Đoạn ông ta quay sang bảo viên thư ký:
- Ông nói với ông thủ quỹ trả cho ông này 2 lia rưỡi.
Rồi lại quay sang phía tôi nói tiếp:
- Công ty của chúng tôi mỗi tháng sẽ nhận được của hãng sản xuất hàng gây cười ở bên Mỹ tất cả những mặt hàng mới. Vậy cứ ngày mồng 5 mỗi tháng, anh hãy đến đây để chúng tôi thử các mặt hàng mới nhận được. Anh sẽ được lĩnh 2 lia rưỡi một tháng. Anh nhớ là cứ vào mồng 5 đầu tháng nhé!
- Ha ha ha!... Ha ha ha!... Đột nhiên tôi ôm bụng cười vang. Vị chủ tịch giám khảo cũng mỉm cười nhìn tôi:
- Ồ, té ra anh cũng là người biết đùa đấy nhỉ!
Tuy đã lả người đi vì đói, nhưng tôi vẫn cố thu nốt chút sức tàn, thoi một quả đấm vào giữa mũi lão chủ tịch. Lão ta bị một cú đấm trời giáng, ngã quay xuống đất.
- Xin các vị cứ coi như là tôi đùa. - Tôi bảo họ thế.
- Đùa kiểu du côn thế à?
- Các vị thứ lỗi cho, nhưng có 2 lia rưỡi một tháng thì bọn dân đen chúng tôi đâu có thể mua nổi những món hàng biết đùa của các ngài! Nên chúng tôi phải đùa theo kiểu của chúng tôi vậy!
Nói đoạn, tôi đóng sập cửa, bỏ về.
0
Chúng tôi muốn thuê người ở

Thực ra tôi hoàn toàn không có ý định thuê người ở, mà đó là ý muốn của vợ tôi.
- Nghe nói nhà bà Necmin ở tầng trên cũng đã nuôi người ở rồi đấy. Mà chồng bà ta chỉ là người buôn bán các phụ tùng lặt vặt!... Lão ta thậm chí không thể bán nguyên cả chiếc ô-tô, mà chỉ bán lẻ từng phụ tùng một.
Ngày nào trong nhà tôi cũng chỉ độc nói đến chuyện thuê người ở.
- Thậm chí đến nhà Pêrizat cũng có người ở. Còn anh thì lúc nào cũng chỉ biết nói mấy câu: “Anh sẽ viết như thế này! Không, tốt hơn anh sẽ viết như thế này!” Còn con mẹ hàng xóm Lalê thì sao? Anh thử nghĩ xem, đến mụ ta mà cũng còn thuê được người ở. Lão chồng mụ ta phất lên là nhờ bán đinh đóng móng ngựa.
- Thì đời là vậy mà, em yêu: người thì giàu lên nhờ những cái đinh móng ngựa, còn người thì nhờ móng ngựa mà nên người.
- Thế còn những nhà như... nhà bà... bà gì nhỉ? Mình quên mất tên rồi! Họ cũng tạo dựng cơ nghiệp chỉ nhờ mấy cái đồ cao su phế thải. Nhà Aiphe thậm chí còn nuôi hai người ở. Còn tôi thì hai tay nhăn nheo hết chỉ vì suốt ngày phải giặt giũ. Trong cái nhà này tôi chẳng là cái gì cả. Chẳng ai coi tôi ra cái gì: người bé thì không tôn trọng, người lớn thì không yêu mến.
Rồi vợ tôi bắt đầu nhai đi nhai lại:
- Người ở! Người ở! Kiểu gì cũng phải nuôi người ở!
Với sự tuyệt vọng của người sẵn sàng tự tử, tôi nói:
- Thôi được rồi, được rồi! Em cứ tìm người đi rồi chúng ta sẽ nuôi!
Sau đó tôi được yên thân một thời gian. Vợ tôi đi tìm mãi mà vẫn chưa tìm được người ở. Buổi tối tôi nhìn bàn ăn: không có cơm tối!
Vợ tôi bảo:
- Xin lỗi, suốt ngày em bận đi tìm thuê người ở nên không nấu cơm được. Thôi, không sao, chúng ta uống trà vậy!
Và khi tôi nói: “Cái áo sơ-mi của anh bẩn quá rồi”, thì vợ tôi đáp: “Anh chịu khó mặc nốt ngày hôm nay, em chưa kịp giặt quần áo”.
Nhà cửa không có ai dọn, cơm không có người nấu, quần áo không có ai giặt. Tất cả nhà, từ lớn đến bé đều bận đi tìm thuê người ở.
Một buổi tối khi về nhà tôi bắt gặp cả gia đình đang vui như Tết.
- Có chuyện gì thế?
- Suỵt ! Anh nói khẽ chứ! Chúng ta đã thuê được người rồi.
- Thuê được người ở rồi à?
- Lạy Chúa, nói khẽ thôi kẻo cô ta nghe thấy!
- Nhưng anh có nói điều gì xúc phạm đâu...
- Sao anh lại nói “người ở”? Ngộ nhỡ cô ta nghe thấy tự ái bỏ đi thì sao!? Lúc đó thì hỏng hết việc.!
- Với lại bố phải nhớ: bây giờ người ta không gọi “người ở”, mà phải gọi là “cô bảo mẫu”, hay “cô phục vụ”.
- Nhưng trong nhà ta có ai cần phải nuôi dạy nữa đâu. Ơn Chúa, tất cả chúng ta đều đã được học hành cả rồi. Thôi, cứ gọi cô ta vào đây để xem mặt “cô phục vụ” của chúng ta xem nào!
- Nhưng anh nhớ đừng có nói gì vớ vẩn đấy!
Vợ tôi gọi:
- Chị Aiten!
Ôi, trời đất! Sao lại có người xấu đến thế không biết! Tất nhiên là vợ tôi đã cố ý chọn người như thế để khỏi phải ghen!
Bạn sẽ nghĩ thế nào? Vợ tôi giới thiệu tôi với cô người hầu:
- Đây là Mucxin, chồng tôi.
Cô gái tiến lại phía tôi với dáng đi õng ẹo. Tôi bối rối không biết có nên đứng dậy hôn tay cô ta không? Cuối cùng tôi quyết định đưa tay ra bắt tay cô ta.
Cô ta chúm môi nói:
- Rất hân hạnh, tôi là Aiten.
Cô ta ăn mặc hoàn toàn như một quý cô thực thụ, thậm chí còn diêm dúa hơn cả một quý cô. Người ngoài mà nhìn chắc chắn thế nào cũng nhầm không biết ai là vợ tôi, còn ai là người hầu. Cô ta ngồi xuống ghế sa-lông trước mặt tôi, vắt chân nọ lên chân kia.
- Ông có thuốc lá không? Tôi quên không mang theo.
Vợ tôi chạy ngay sang buồng khác lấy thuốc lá. Con gái tôi thì châm bật lửa, còn “cô phục vụ” của chúng tôi thì vừa hút thuốc vừa chúm môi nhả những vòng tròn khói.
Cả nhà chúng tôi tròn mắt. Mọi người nhìn cô ta và im lặng. May sao cô ta là người đầu tiên phá vỡ sự im lặng nặng nề ấy.
- Thôi, chúng ta trao đổi đi.
- Vâng, thưa tiểu thư.
- Ông định đặt bao nhiêu? Ý tôi muốn nói là ông có thể trả tôi bao nhiêu?
Mọi người trong nhà đều nhìn vào miệng tôi, chờ nghe tôi nói. Ai cũng thấp thỏm chỉ sợ tôi đưa ra cái giá rẻ quá khiến cô ta cảm thấy bị xúc phạm. Trả cô ta một trăm lia liệu có ít không nhỉ? Mà ngay cả một trăm lia cũng là vượt quá khả năng của chúng tôi rồi. Nếu mỗi tháng tôi viết được khoảng mươi truyện ngắn thì may ra mới đủ chu cấp cho cô người ở. Nhưng làm sao đăng hết được mười truyện ngắn một tháng?
Thấy tôi suy nghĩ quá lâu, cô ta bảo:
- Nào, ông bạn, cứ nói đi, chẳng có gì phải ngại!
Tôi lắp bắp:
- Tôi sẽ trả cho cô một trăm lia một tháng.
Cả gia đình tôi và cô người hầu cùng đồng thanh “ôi” lên một tiếng.
- Sao, có chuyện gì vậy?
- Bố ơi, làm sao có thể trả như vậy được? Chả lẽ bố không đọc báo hay sao? Bây giờ một trăm lia còn không thuê nổi một cán bộ tử tế nữa là!
Vợ tôi chen vào:
- Anh thử nghĩ xem, một hộp son môi không ra gì đã mười lia rồi, hộp phấn thì bốn mươi lia.
Cô người hầu, nghĩa là “cô phục vụ buồng” Aiten nói:
- Một đôi tất - mà loại rất xoàng đã mất mười bốn lia. Mà lẽ nào một người mỗi tháng không tốn bốn, năm đôi tất?
Tôi vội vàng đút chân sâu hơn vào đôi dép đi trong nhà để cô ta khỏi nhìn thấy đôi tất đã mạng lại của tôi.
Cô Aiten đứng dậy:
- Xin lỗi vì đã làm phiền, nhưng giữa chúng ta không còn gì để nói nữa! Tạm biệt!
Cả nhà tôi xúm lại năn nỉ cô ta:
- Lạy Chúa, chị cứ ngồi xuống đã! Xin chị đừng vội! Chị đừng nên quá nóng nảy như vậy.
- Tôi làm cho nhà trước mỗi tháng bốn trăm lia. Nhưng tôi không thích cái nhà ấy. Lão chủ nhà già quá, nên tôi bỏ đi!
- Ôi, Aiten, cô bạn của tôi, - Tôi nói - Tất nhiên có người có nhiều tiền, nhưng tiền đâu phải là tất cả. Chúng tôi tuy ít tiền, nhưng tôi sẽ cố gắng để cô cảm thấy hài lòng. Tôi là người tốt và tôi sẽ hết sức cố gắng vì cô.
- Tôi sẽ cố gắng! Thử nhìn xem, trên đầu ông ta không còn một sợi tóc mà ông ta nói muốn làm cho tôi hài lòng!
- Chingiz! - Tôi lên tiếng gọi.
Thằng con trai tôi đúng là giống Chingizkhan thật.
- Bố gọi con có việc gì ạ?
- Con hãy ra đây để cô Aiten ngắm con một chút.
Cô ta đưa mắt nhìn Chingiz từ đầu xuống chân, rồi từ chân lên đầu.
- Một chàng trai không đến nỗi nào - Cô ta nói - Thôi được, vì nể gia đình này tôi đồng ý với mức lương hai trăm lia. Nhưng tôi muốn nhận bằng đô-la.
Rồi cô ta lại nhìn thằng con tôi một lần nữa:
- Tất cả chỉ vì anh thôi đấy! Thế ông làm nghề gì? - Cô ta quay sang tôi hỏi.
- Tôi ấy à? Tôi làm nghề viết.
- Viết gì? Viết đơn từ à?
- Không, tôi viết truyện ngắn.
- Chà, chả lẽ người ta có thể sống bằng các truyện ngắn và truyện cổ tích hay sao?
- Chúng tôi cũng cố gắng xoay xở.
- Thế tủ lạnh nhà ông mác gì?
Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, vợ tôi thú thật:
- Nhà chúng tôi chưa có tủ lạnh, nhưng chúng tôi sắp mua.
- Nhà ông không có máy quay đĩa à?
- Chúng tôi có rađiô kèm máy quay đĩa.
- Nếu ông không có những cái đĩa tôi thích tôi sẽ không làm đâu.
- Chúng tôi sẽ mua những đĩa nào cô thích.
- Thế máy giặt có chứ?
- Không.
- Này, ông hãy kiếm việc gì khá hơn mà làm. Vứt quách cái nghề viết ấy đi. Xin đi làm thuê cho một nhà buôn giàu có nào đó, rồi bản thân cũng được sống đàng hoàng. Thế ít ra cũng có máy hút bụi chứ?
- Ngày mai chúng tôi sẽ mua!
- Ê, các vị đáng yêu của tôi, tốt nhất tất cả các vị hãy đứng ở quảng trường Eminhiô mà ngửa tay ăn xin còn hơn!
Đoạn cô ta quay lại phía tôi:
- Ông là thứ đàn ông gì vậy? Nếu không biết làm gì thì hãy vác lên vai một hòm cam mà đi bán rong còn hơn!
Tôi ngọ nguậy trên ghế vì xấu hổ.
- Nhà ta có ấm đun nước có còi không?
Tất cả chúng tôi im lặng. Hết sức thất vọng, cô ta đứng dậy quay sang bảo thằng con trai tôi:
- Này, chàng trai của tôi, tất nhiên anh cũng khá đẹp trai, nhưng cho dù ở đây có cả Maclông Branđô [1] đi nữa, tôi cũng không thể chịu nổi cái nhà nghèo khổ này!
Sau đó cô ta quay sang tôi:
- Thật đáng thương cho loại đàn ông như ông - Cô ta nói - Xem cái bề ngoài của ông này, ông thử nhìn bộ com-lê của ông xem!
Cô ta quay sang con gái tôi và nói:
- Cô em của tôi, cô đã lớn rồi, hãy tự lo cho mình đi!
Sau đó cô ta để ý đến vợ tôi:
- Còn bà thì khỏi nói, bà thật thông minh đấy! - Cô ta dài giọng - Thế mà họ dám đòi thuê mình! Các vị hãy lo cho mình được ăn mặc đầy đủ trước đi đã!
Cô ta nói không còn thiếu những lời lẽ gì xúc phạm chúng tôi nữa! Cuối cùng cô ta giật mạnh cửa và bước ra ngoài. Chúng tôi không thể nhìn vào mắt nhau được nữa. Vợ và con gái tôi bật khóc. Thằng con trai tôi thì nguyền rủa tất cả mọi thứ trên đời.
- Ngày mai con sẽ bỏ học! - Nó nói.
Tôi thì quyết định sẽ tự tử.
Nhưng ở đời trong cái không may lại có cái may. Sau chuyến viếng thăm của cô gái đó cả gia đình tôi bỗng nhiên thức tỉnh.
Bây giờ vợ tôi nhận làm thuê cho cái nhà ông buôn cao su phế thải, con gái tôi thì đi làm cho nhà buôn phụ tùng ô-tô. Con trai tôi thì làm người giúp việc cho một nhà buôn bông. Còn tôi... thì thậm chí chẳng có ai muốn thuê làm người ở. Nhưng bù lại mọi người trong nhà đều thương hại và quan tâm chăm sóc tôi như một cựu chiến binh già trong nhà. Và một điều nữa tôi muốn nói riêng, nhà tôi còn gửi được tiền tiết kiệm trong ngân hàng!
-------------------
[1] Một nam diễn viên điện ảnh nổi tiếng đẹp trai.
0
Giờ học đạo đức

Trong lớp đang là giờ học đạo đức.
- Đạo đức, các em ạ - đó là cái gì tươi đẹp. Nếu một người nào đó trở nên vô đạo đức thì người đó sẽ rất khổ.
- Thưa thầy!
- Gì vậv?
- Thầy hãy nhìn bạn Chêtin... xem bạn ấy làm gì! Bạn ấy không biết xấu hổ!
- Im lặng!... Con người phải có đạo đức. Đạo đức đem lại cho con người biết bao niềm vui sướng! Không thể kể xiết được! Nhưng nếu người ta sống không có đạo đức, thì sẽ rất khổ.
- Thưa thầy, khổ như thế nào ạ?
- Đủ mọi thứ khổ. Mọi người sẽ gọi anh ta là vô đạo đức. Mà vô đạo đức thì tồi tệ vô cùng. Vì thế, các em ạ, ta cần phải trở thành người có đạo đức. Ôi, đạo đức - điều đó thật tuyệt vời biết bao! Vì thế trong nhà trường các em phải học môn đạo đức. Đúng không? Chả lẽ chúng tôi có thể dạy các em điều gì xấu xa? Tiếp theo. Nghĩa là, đạo đức là... Tôi nói thế nào nhỉ?
- Thầy nói: “đạo đức tuyệt vời biết bao!”
- Đúng thế: Tuyệt vời biết bao! Các em sẽ hỏi tại sao? Về vấn đề này những con người vĩ đại đều nói đến.
- Thưa thầy!
- Lại có chuyện gì xảy ra ở đằng kia thế?
- Thầy bảo bạn Altan đừng có thụi vào lưng em nữa ạ!
- Các em trật tự! Hãy nghe thầy giảng về bản chất của đạo đức: “Đạo đức quy định người ta phải sống theo các chuẩn mực xã hội, truyền thống, phong tục và luật pháp”. Các em hiểu chưa? Các em phải sống như đa số những người xung quanh em đang sống, như những người lớn tuổi hơn các em đang sống. Nào, bây giờ Xuna, em hãy đứng dậy. Chúng ta phải xem chợ đen như thế nào?
- Thưa thầy, chợ đen rất tốt ạ!
- Rất tốt à?
- Thưa thầy tất nhiên ạ! Bởi vì nó tuân theo các quy định của đạo đức. Còn nếu đi ngược lại với đa số thì đó là vô đạo đức, phải thế không ạ? Tất cả những người rất đạo đức - mà họ là đa số, đều có liên quan đến chợ đen ạ!
- Em nói gì thế!
- Thưa thầy, em thề đúng thế đấy ạ! Thầy thử nghĩ xem: ông hàng thịt, bà bán đồ khô, chị bán hoa quả, cô bán than, tất cả họ đều buôn bán ngoài chợ đen. Nhà em cũng có một người quen rất giàu, ông ta cũng hoạt động ngoài chợ đen. Bố em nói thế. Cách đây mấy hôm chúng em có đến nhà ông ấy chơi. Ông ấy nói với em: “Cháu sống có đạo đức thì cháu sẽ đạt được tất cả”. Khi nào lớn lên, em sẽ rất đạo đức ạ. Và em sẽ có rất nhiều nhà cửa và tiền bạc. Còn người không có đạo đức như bố em thì hiếm lắm ạ!
- Im ngay!! Sao em dám nói về bố như thế hả?
- Không, em nói đúng đấy ạ! Bố em vô đạo đức đến nỗi không có tiền để trả tiền thuê nhà.
- Em ngồi xuống. Các em! Chớ bao giờ được vượt ra ngoài khuôn khổ của đạo đức.
- Thưa thầy!
- Em nói đi, Ecgun!
- Em có ông chú. Lúc nào chú em cũng nói: “Vì cái đạo đức này mà tôi không sao kiếm được đủ ăn”. Em cũng sẽ trở thành vô đạo đức ạ.
- Im đi! Khi con người thôi không còn là người đạo đức nữa thì người ta gọi người đó là gì nhỉ? Hả? Nào, cả lớp cùng trả lời xem nào, gọi là gì?
- Vô đạo đức ạ!
- Đúng! Cho dù người ấy có bạc triệu, nhưng nếu anh ta trở thành vô đạo đức thì con người ấy còn có giá trị gì nữa? Anh ta sẽ rất khổ.
- Không, thưa thầy người ấy sẽ sống rất an nhàn ạ.
- Các em nên hiểu, lương tâm người ta cần phải thanh thản. Tất cả những người lớn đều là những người đạo đức.
- Thưa thầy trước đây thì như thế ạ. Trong khu nhà em có một ông quê ở Ađana. Ông ấy có ba xe ô-tô Cadilac, ông ấy là vua bông. Ông ấy có đủ mọi thứ giá trị, nhưng ông ấy không có đạo đức ạ.
- Thầy nói với các em là nói về những người vĩ đại! Về các nhà bác học vĩ đại, các nhà tư tưởng vĩ đại, các họa sĩ vĩ đại. Ví dụ như Sôcrat.
- Thưa thầy em biết ông Sôcrat.
- Tất nhiên, các em phải biết ông ta.
- Ông ấy có một cửa hàng gần nhà em chuyên giặt quần áo. Chỉ có điều ông ấy hoàn toàn không giàu có, người đạo đức như ông ấy bây giờ hiếm lắm ạ.
- Thầy đang nói về nhà triết học cổ Hy Lạp Sôcrat. Các em hãy trở thành đạo đức như - Scôrat, Aristốt, Galilê!
- Thưa thầy, nhà em có quen một người buôn sắt tên là Akhmet. Thế ông Sôcrat có đạo đức nhiều hơn ông Akhmet không ạ?
- Các em ạ, đạo đức không có gì giống như tiền bạc cả. Lịch sử từng biết đến những con người đạo đức cao cả song lại chết vì đói, và không gì có thể làm lương tâm họ bị vẩn đục.
- Thưa thầy, như thế nghĩa là đạo đức là một thứ không phải tồi phải không ạ?
- Đó là thứ tuyệt vời. Chẳng hạn người có đạo đức có thể nói thẳng sự thật cho mọi người biết mà không hề sợ hãi.
- Em có ông chú họ, ông ấy bị đuổi ra khỏi Đảng xã hội chỉ vì đã nói sự thật đấy ạ!
- Đó là chuyện khác. Thầy không nói với các em chính trị, thầy chỉ giảng cho các em về đạo đức. Ôgut, em có thể nói gì về sự dối trá? Chúng ta phải đánh giá sự dối trá như thế nào?
- Thưa thầy dối trá là một điều rất tốt ạ. Nếu biết nói dối thì rất hay ạ. Nếu ở nhà em không nói dối thì hôm nào em cũng bị ăn đòn.
- Các em đừng nghe lời em ấy. Các em hãy nhớ là phải noi gương những người lớn.
- Nhưng thưa thầy, chị em cũng nói dối mẹ em, còn mẹ em lại nói dối bố em. Còn bố em, khi có người đến thu thuế cũng dặn chúng em nói dối là không có nhà.
- Em ra khỏi lớp ngay. Đứa trẻ hư hỏng!
- Thưa thầy, thầy vừa giảng cho chúng em rằng “người có đạo đức cần phải nói sự thật!”. Vì thế nên em mới...
- Thôi, em ngồi xuống! Các em! Đạo đức là cái gì đó tuyệt đẹp. Tất cả chúng ta đều phải phấn đấu trở thành những người có đạo đức. Ví dụ nếu các em đã hứa với ai điều gì, thì dù có chuyện gì xảy ra các em vẫn phải giữ lời.
- Nhưng thưa thầy, bố em có kể cho em nghe chuyện có một người, tên ông ta là gì em quên mất rồi, và người ấy nói rằng: “Tôi sẽ làm cho cuộc sống rẻ hơn”.
- Thôi, em im ngay! Không được xen vào chuyện của người khác.
- Các em! Trên đời này không có gì đẹp đẽ hơn là đạo đức. Khi nào các em đọc các cuốn sách nói về đạo đức, các em sẽ phải kinh ngạc. Thậm chí các nhà tiên tri cũng đều tung hô đạo đức. Đạo đức là một thứ rất tốt, rất đẹp đẽ. Đẹp đến nỗi... Đạo đức là tuyệt vời... Thầy thề với các em là nó rất tuyệt vời!
Reng, reng, reng! - Chuông tan học vang lên. Thầy giáo lấy khăn lau mồ hôi trán và thở phào.
May quá. Giờ học đạo đức đã hết.
0
Ai cũng là nhà xây dựng

Chúng tôi đang ở trong một trường cao đẳng dạy nghề. Trong số chúng tôi người trẻ nhất là hai mươi ba tuổi. Cách đây hai năm một ông hiệu trưởng mới đến nhậm chức ở trường chúng tôi. Việc đầu tiên ông làm là tìm hiểu xem ông hiệu trưởng cũ đã làm những việc gì. Hóa ra, ông ta đã không bỏ phí thời gian. Theo lệnh của ông, tầng hầm của trường được đào sâu thêm mét rưỡi, được sửa sang cẩn thận, ốp gỗ, quét sơn và biến thành nhà ăn. Còn nhà ăn cũ ở tầng trên cùng thì chuyển thành lớp học. Vì cái quan trọng nhất trong nhà trường là lớp học!
Ông hiệu trưởng cũ còn làm gì nữa? Những bức tường phòng học được quét vôi lại thành màu vàng, còn phòng ở thì quét vôi màu hồng.
Và thế là hết? Tất nhiên chưa. Trong các lớp học các bàn học đều là bàn hai người ngồi. Nhưng khi ngồi học hai người học sinh thường hay nói chuyện chứ không học. Nên ông cho thay hết bằng loại bàn một người.
Ông hiệu trưởng mới chỉ sau khi tìm hiểu xong những việc người tiền nhiệm đã làm mới bắt tay thực hiện chức trách của mình. Ông hiệu trưởng cũ được gọi là nhà xây dựng ư? Không sao, rồi mọi người sẽ được biết ai mới là nhà xây dựng đích thực.
- Cái gian phòng tối tăm này là phòng gì vậy?
- Nhà ăn ạ.
- Sao lại bố trí nhà ăn ở tầng hầm thế nhỉ? Ở đây làm sao mà ăn ngon miệng được. Đập bỏ hết và cho lấp đi!
Nhà ăn lại được chuyển về chỗ cũ. Các bàn một người được mang khỏi các lớp học. Và thay vào đó lại xuất hiện những bàn hai người.
- Có người ngồi cạnh học sẽ tốt hơn nhiều!
Những bức tường màu hồng trong các buồng được quét vôi lại thành màu trắng, còn những bức tường màu vàng trong lớp học thì thành màu xanh.
Sau khi sửa lại tất cả những gì người hiệu trưởng trước đã làm, sếp mới bắt tay vào thực hiện những ý đồ xây dựng độc đáo của mình.
- Lẽ nào một trường cao đẳng hiện đại mà lại không có bể bơi?
Mọi người đều thích ông hiệu trưởng mới.
- Con người này đúng là có năng khiếu xây dựng!
Một bể bơi lớn được quyết định xây dựng ở chính giữa khu vườn. Người ta chở đến cát, sỏi, xi măng, sắt thép. Nhưng... đúng lúc đó ông hiệu trưởng được chuyển sang chức vụ khác, quan trọng hơn, và công việc xây bể bơi đành phải bỏ dở.
Ông hiệu trưởng mới được thay cũng là một người máu mê xây dựng. Những bức tường lại lấp lánh những màu sơn mới. Tầng hầm cũ lại trở lại thành nhà ăn. Gian nhà ở được cải tạo thành phòng chiếu phim. Những bàn học hai người lại bị dỡ bỏ đi.
- Đây là trường tiểu học hay sao?
Và thay cho các bàn học là những bàn làm việc.
Tất cả những thay đổi ấy không làm chúng tôi quan tâm lắm. Nhưng còn bể bơi thì sao đây? Phải, cái bể bơi mới lẽ ra đã có thể trở thành niềm tự hào của một trường cao đẳng hiện đại!
- Cái hố này là cái gì vậy? - Ông hiệu trưởng hỏi - Còn cát sỏi, sắt thép ở đây để làm gì thế này?
- Thưa ngài, đây sẽ là bể bơi ạ.
- C-a-á-i g-i-ì? Bể bơi? Thật là điên rồ! Lấp ngay, lấp ngay tức khắc!
Và thế là bao nhiêu thứ bên cạnh hố: gạch, sắt thép, xi-măng, - tất cả đều bay vèo xuống hố.
Những công trình xây dựng của người tiền nhiệm làm cho ông hiệu trưởng mới không hài lòng. Và ông quyết định phá bỏ hết.
- Những thanh niên thường không thể trở thành những công dân hữu dụng cho xã hội chỉ vì họ không biết nhảy. Đến những buổi vũ hội họ không sao khắc phục được sự nhút nhát của mình.
Một hôm ông hiệu trưởng nói và ra lệnh xây ngay một sàn nhảy ngay tại chỗ định xây bể bơi. Công việc bắt đầu được tiến hành. Người ta đổ đất lấp đầy bể bơi, sau đó san bằng và đổ bê-tông rồi cho xe lu lăn nhẵn. Nhưng đúng lúc đang chuẩn bị đánh bóng lần cuối mặt sàn thì ngài hiệu trưởng lại được điều sang công tác khác, quan trọng hơn.
Người đến thay ông tỏ ra là một chuyên gia lớn về lĩnh vực xây dựng.
Ông bắt đầu từ những chiếc bàn trong phòng học.
- Ở đây là trường học hay sòng bạc vậy hả? Dẹp ngay những chiếc bàn này đi!
Những chiếc bàn to lại được thay bằng những chiếc bàn học trò hai chỗ.
Rồi những bức tường lại được sơn lại, màu vàng đổi thành màu hồng, màu hồng - thành màu trắng. Các phòng học, nhà ăn, phòng ngủ được đổi chỗ cho nhau. Cuối cùng đến lượt sàn nhảy.
- Cái gì thế này? - Nhà chuyên gia xây dựng hỏi.
- Thưa, sàn nhảy ạ! Ngài hiệu trưởng cũ cho xây... Nhưng công việc chưa kịp hoàn thành...
- Cái gì?! Đây là sòng bạc, hay quán bar? Bây giờ tôi mới hiểu tại sao các học sinh chậm phát triển như thế! Dẹp ngay, dẹp ngay tất cả!
Và sàn nhảy được phá bỏ.
- Điều cần nhất là một cơ thể cường tráng - Ngài hiệu trưởng dõng dạc tuyên bố - Học sinh cần phải luyện tập thể dục.
Tại chỗ sàn nhảy người ta bắt đầu xây dựng một sân vận động nhỏ: một bên là sân chơi tennit, còn một bên là sân bóng rổ và vòng sắt của Thụy Điển. Người ta đào hố để chôn các cái xà và cột. Và công việc đang lúc khẩn trương nhất thì ngài hiệu trưởng lại được chuyển đi nơi khác.
So với ngài mới đến thì tất cả các hiệu trưởng trước đây đều không là cái gì! Ngay ngày đầu tiên vừa xem qua ngôi trường ngài hỏi ngay:
- Những chiếc xà với vòng này để làm gì đây?
Chúng tôi chưa kịp nói “Ông hiệu trưởng cũ định xây...” ngài đã ngắt lời và lớn tiếng yêu cầu:
- Dẹp những thứ rác rưởi này đi ngay!
- Thưa ngài, vâng ạ!
- Đây là trường học hay rạp hát đây? Cái trước tiên mà trường học cần là vườn hoa, công viên. Ở giữa thì có đài phun nước.
Rồi ngài hiệu trưởng mới - một thiên tài xây dựng - cho đập phá tất cả những gì mà bao nhiêu ông hiệu trưởng cũ xây nên, từ cái lớp vôi vữa cho đến bàn ghế. Công cuộc xây dựng lại bắt đầu từ đầu.
Người ta bắt đầu đào lên sân chơi thể thao mà việc xây dựng còn đang dở dang. Nhưng phải nói thật là công việc không đơn giản chút nào. Cứ mỗi lần định xây cái gì mới, - bể bơi, sàn nhảy, sân vận động - người ta lại phải đổ nền bê-tông cho nó. Người ta thử dùng mìn để phá - kính bay loảng xoảng, nhưng vẫn không ăn thua. Khi đó người ta phải cho chở đến những chiếc búa máy điện. Cũng vẫn không được. Việc đào chỗ này hóa ra còn khó hơn cả khoan tìm dầu mỏ. Cuối cùng người ta đành đổ đất lên mặt bê-tông rồi rắc phân lên trên. Sau đó chở đến các loại cây, cỏ và hoa. Một ngôi vườn tuyệt đẹp mọc lên. Nhưng cũng không đem lại điều gì. Công việc phải dừng lại vì ngài hiệu trưởng - chuyên gia xây dựng - được chuyển đi chỗ khác, và thay vào đó là vị hiệu trưởng mới, cũng là nhà xây dựng. Ông hiệu trưởng mới lập tức trổ tài ngay. Nhìn thấy trên mặt đất xếp thành dãy những cây thông, cây cọ, từng đống phân, đống đất bùn, ngài quát ầm lên:
- Sao lại bừa bãi thế này được! Theo các anh, chỗ này là cái gì, vườn bách thú hay lâm trường?
Sau đó, hơi nguôi một chút, ngài nói thêm:
- Dọn sạch ngay tất cả đi! Chỗ này sẽ là sân trượt băng.
Khi người ta lát đá mặt sân để làm sân trượt, chúng tôi tốt nghiệp. Vào giờ phút long trọng trao bằng tốt nghiệp thì phần nền của sân được trải bê-tông.
Sau khi rời trường tôi không biết những vị hiệu trưởng tiếp theo đã làm những gì. Từ đó đến nay đã được đúng hai mươi mốt năm.
Trường tôi có một truyền thống là mỗi năm vào dịp làm lễ ra trường cho học sinh người ta đều tổ chức Hội trường. Người ta mời về dự Hội trường cả những người đã tốt nghiệp các khóa trước. Như vậy các thế hệ già và trẻ được làm quen với nhau.
Xảy ra một chuyện là một người bạn cùng lớp ngày xưa với tôi đã trở thành hiệu trưởng của trường. Tôi cảm ơn anh ta đã nhớ đến tôi và mời tôi về dự buổi dạ hội truyền thống.
Chúng tôi thích thú đi tham quan ngôi trường đã hai mươi mốt năm nay chưa được nhìn lại. Ông hiệu trưởng, bạn tôi, giải thích cho các quan khách:
- Khi tôi được phái về đây, lớp học ở tầng trên, còn nhà ăn ở tầng dưới. Nhưng từ các cửa sổ tầng trên nhìn ra phong cảnh rất đẹp nên làm sao nhãng sự chú ý của học sinh. Vì thế tôi cho chuyển các lớp học xuống tầng hầm, còn nhà ăn đưa lên tầng trên. Ngoài ra tôi còn đổi lại vị trí của phòng thí nghiệm và phòng ngủ. Những phòng toalét kiểu Thổ Nhĩ Kỳ được tôi sửa lại theo kiểu Âu châu. Còn sơn vôi thì...
Đã đến giờ ăn trưa, cũng hệt như cách đây hăm mốt năm, một hồi chuông réo vang. Rồi một cảnh tượng hỗn loạn xảy ra. Những người tốt nghiệp thuộc các khóa khác nhau bổ đi mỗi người một ngả để tìm nhà ăn. Người thì chạy nhầm vào phòng ngủ, người thì chạy nhầm vào lớp học. Tôi thì đâm đầu vào nhà xí! Vì không biết một vị hiệu trưởng nào đó nảy ra ý nghĩ biến cái nơi vốn là nhà ăn thời tôi còn đi học thành nhà vệ sinh! Cuối cùng khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được nhà ăn. Sau bữa tiệc chiêu đãi ông hiệu trưởng nói với các học sinh mới tốt nghiệp:
- Các bạn trẻ của tôi! Nền văn minh tiến bộ lên là nhờ bàn tay những nhà xây dựng. Mỗi con người có giáo dục trân trọng gìn giữ tất cả những gì đẹp đẽ, cần thiết đã được tạo dựng nên từ trước khi có anh ta, sau đó anh ta đưa tất cả những cái đó đến trình độ hoàn thiện hơn nữa và chuyển giao lại cho bàn tay của những người khác. Văn minh, văn hóa cứ thế được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Và như thế chúng ta sẽ góp phần làm cho văn minh ngày càng tiến bộ. Hãy đưa đất nước chúng ta tiến lên phía trước! Hỡi các đồng nghiệp trẻ của tôi! Nếu chúng tôi biết cách truyền cho các bạn lòng khao khát đối với công cuộc xây dựng, thì coi như chúng tôi đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh của mình. Hãy trở thành những nhà xây dựng! Chúc tất cả các bạn thành công!
Lời phát biểu của ông hiệu trưởng được đón nhận bằng một tràng vỗ tay như sấm.
Sau đó chúng tôi tham quan “Phòng của những người vẻ vang”. Trên tường là những bức ảnh chụp cả người được phóng to của những người đã hoàn thành một việc gì có ích cho trường chúng tôi kể từ ngày nó được thành lập. Dưới mỗi bức chân dung là chữ ký phóng to của người đó.
Chúng tôi lần lượt đọc tất cả các chữ ký và được biết rõ ngay người nào đã làm cái gì:
Ngài Xaid - Người đầu tiên cho xây bể bơi ở trường.
Ngài Giêlian - Người đầu tiên cho xây sàn nhảy cho học sinh.
Ngài Rukhi đáng kính - Người đầu tiên thiết kế cho nhà trường một cái sân để học sinh tập ném tạ.
Ngài Rêgiati đáng kính - Người đầu tiên xây một công viên ngay trong trường.
Quý Ngài Akhmet - người đầu tiên xây cho trường một sân trượt băng. Và cứ thế kể về tất cả các vị hiệu trưởng, không thiếu một ai. Khi chia tay với tôi, ông hiệu trưởng bạn tôi đưa ngón tay chỉ vào một khu đất xây dựng và nói:
- Vị hiệu trưởng trước tôi, cầu trời cho ông ta sức khỏe, định xây ở chỗ này một sân đá bóng! Anh thử nghĩ xem, đây là chỗ nào - trường cao đẳng hay câu lạc bộ bóng đá?
- Thế anh định xây gì ở đây? - Tôi hỏi ông.
- Thú thực tôi cũng chưa quyết định dứt khoát. Cần phải xây một cái gì đó thật là... Anh có ý tưởng gì không?
- Có - Tôi nói - Nếu anh cho dựng ở giữa vườn hoa tượng của tất cả các vị hiệu trưởng đã lãnh đạo trường, thì một mặt, anh đã trả được cái nghĩa đối với họ, còn mặt khác - đó sẽ là điều giáo huấn đối với thế hệ trẻ!
Chúng tôi chia tay. Anh bạn tôi đã tiếp thu ý kiến của tôi một cách hết sức nghiêm túc. Ông đã cho đặt các bức tượng. Và khi đến lượt bức tượng của vị hiệu trưởng cuối cùng, tức bản thân ông, thì ông được điều sang công việc khác. Tôi nghe nói vị hiệu trưởng mới thay ông đã cho phá bỏ tất cả các bức tượng và xây dựng một nhà thờ.
Ông có xây xong được cái nhà thờ ấy không, hay mới xây được một nửa thì lại bị chuyển đi nơi khác - điều đó đến nay tôi vẫn chưa biết.
 
HẾT
0
Chát xình chát chát bùm - Azit Nêxin (Aziz Nesin)
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc casau luôn an lành
 
📎 meilleurs-voeux-2018




0
«« « 1 2 » »»