Rèn nghị lực để lập thân
Nguyễn Hiến Lê
PHẦN THỨ HAI - PHƯƠNG PHÁP RÈN NGHỊ LỰC
Chính những tình cảm dẫn đạo thế giới.
SPENCER
1. Chức vụ của trí tuệ.
2. Lợi dụng những tình cảm có ích cho nghị lực.
3. Đàn áp những tình cảm có hại cho nghị lực.
4. Đức tự chủ.
Chương I: Ảnh Hưởng Của Trí Tuệ và Tình Cảm Tới Nghị Lực
1. Chức vụ của trí tuệTrí tuệ ảnh hưởng lớn tới nghị lực vì suy nghĩ có sáng suốt thì quyết định mới đúng và hoạt động mới bền.
Ở đầu chương III phần 1 tôi đã kể một thí dụ là lựa nghề để bạn thấy ba giai đoạn của nghị lực. Nếu ta không dùng lý trí để xét kỹ xem thiên tư và gia cảnh của ta có hợp với nghề ta muốn lựa không, mà cứ theo thị hiếu của người chung quanh, thấy nhiều người thích làm dược sư vì nhàn và kiếm được nhiều tiền, ta cũng xin học môn bào chế, một môn không hợp với tính tình ta, thì khi học ta dễ chán nản, có thể bỏ dở được mà có cố theo đuổi tới nơi thì ra làm việc, cũng không thấy thích thú hăng hái, đời ta sẽ kém vui đi nhiều.
Biết bao người ở trong tình cảnh đó, làm một nghề miễn cưỡng không thành công – không yêu nghề thì làm sao thành công được? - Rồi tự cho là đời mình bỏ đi, không còn tương lai gì nữa: nguyên do thường tại không suy xét kỹ lưỡng trong khi quyết định, chứ không phải tại thiếu sức hoạt động.
Nhờ lý trí, ta dự tính dùng được những nỗi khó khăn, không phóng đại nó mà cũng không khinh thường nó, và ta sẽ tìm được cách giải quyết.
Phải là người sáng suốt mới có óc thực tế, nhận chân được tình thế, không quá lạc quan, cũng không quá bi quan; lạc quan quá, thì dễ thất vọng mà bi quan quá thì nhút nhát. Mười người thất bại có tới sáu, bảy người thiếu óc sáng suốt ấy. Họ tưởng công việc dễ làm, vào việc rồi mới thấy khó, rồi đâm chán nản. Hoặc nghe lời bạn bè hứa giúp, họ tin thật, trông cậy vào những người ấy mà không hay rằng mình đương cất nhà trên một bãi lầy. Cũng có khi công việc mới có mòi thành công, họ đã tin chắc rằng mỗi ngày sẽ phát đạt thêm mà vội khuếch trương lớn để rồi phải ân hận rằng nền móng chưa chắc mà đã xây tường.
Chỉ thất bại vài ba lần như vậy là chí khí, nghị lực nhụt đi, vì vậy muốn rèn nghị lực thì phải luyện trí để hiểu hoàn cảnh, hiểu người, hiểu mình và tìm được giải pháp thích đáng cho mỗi vấn đề.
2. Lợi dụng những tình cảm có ích cho nghị lực.
Tuy nhiên, suy nghĩ quá vị tất đã có lợi mà có khi chỉ làm ta phân vân, rụt rè: và lý trí tự nó chưa đủ đưa ta tới hoạt động. Tình cảm có năng lực mạnh hơn trí tuệ; như Spencer đã nói, chính nó dẫn đạo thế giới. Ta thường thấy người nào cảm được mạnh là làm được những việc lớn. P. F. Thomas đã ví ý tưởng với những ánh sáng lóng lánh mà không đốt nóng được gì cả; và J. Payot cũng nói: “Mỗi ý tưởng, muốn ảnh hưởng tới nghị lực của ta thì phải có màu sắc dục vọng”, nghĩa là hiểu biết chưa đủ, còn phải muốn, muốn mãnh liệt nữa. Vì tình cảm mạnh hơn lý trí, nên mỗi khi có cuộc chiến đấu giữa lý trí và dục vọng thì lý trí tỏ ra yếu ớt, rụt rè mà rút cục luôn luôn dục vọng thắng.
Vậy bạn muốn rèn nghị lực, phải biết dùng năng lực của tình cảm, nhất là của lòng ham lợi, lòng ham danh và tình yêu, để hoạt động được hăng hái và bền bỉ.
Lòng ham lợi không cao thượng nhưng có mãnh lực lớn. Vì ham tiền mà biết bao người cặm cụi làm lụng từ sáng sớm tới khuya, không lúc nào hở tay, quên cả con cái, đau ốm cũng không nghỉ, nguy hiểm cũng không từ, bán rẻ cả lương tâm cùng danh dự.
Bạn nào đã đọc cuốn Le grand mirage của Robert Gaillard chắc còn nhớ những cực khổ, gian truân của những đoàn người tứ xứ mạo hiểm qua những bãi sa mạc mênh mông, những khu rừng đầy thú dữ để tìm vàng ở miền Tây nước Mỹ, bên bờ Thái Bình Dương. Mười người đi thì chỉ hai ba người tới chỗ, còn thì chết đói, chết khát, chết bệnh hoặc bị người da đỏ giết, bị cọp, gấu xé thây mà người ta cũng cứ đi, hết đoàn này đến đoàn khác.
Georges Arnand, tác giả cuốn Le Salaire de la peur tả nỗi sợ ghê gớm, sợ tới bí đường tiểu của những người chở bằng xe cam nhông một chất chỉ va chạm mạnh là nổ, chất Nitroglycérine. Đường rất khó đi, phải lên đèo xuống dốc, nếu xe nổ bánh, hoặc chỉ lạc tay lái một chút thôi, đâm vào mô đá, dội lại mạnh là cả xe lẫn người văng lên mây xanh. Tóm lại, mười phần thì có tám, chín phần chết. Vậy mà vẫn có những người xin được lái những xe đó để lãnh hai ngàn Mỹ kim , số “tiền công sợ” trong năm ngày, như tác giả đã nói.
- Lòng ham danh cao thượng hơn một chút. Nhờ nó mà nhiều nhà văn chịu cảnh nghèo khổ hàng chục năm, cặm cụi trên sách vở suốt ngày đêm để sáng tác.
Cả đến cái danh hão huyền cũng làm nhiều người mê. Người ta kể chuyện một đại tướng Pháp ở thế kỷ trước tuyên bố rằng ông sẵn sàng cưỡi ngựa rồi phóng từ nóc gác chuông nhà thờ Notre Dame ở Ba lê xuống dưới đường để công chúng nhắc nhở tới ông.
Đô đốc Byrd muốn thám hiểm Bắc cực, chính phủ Mỹ không giúp tiền, ông phải đi quyên mà không được bao nhiêu; sau ông đập vào lòng ham danh của con người, hứa sẽ lấy tên những người quyên nhiều nhất mà đặt cho những ngọn núi ông sẽ tìm ra ở Bắc cực; tức thì hàng chục nhà triệu phú hân hoan ký cho ông những ngân phiếu kếch xù.
Một tiệm sách ở Mỹ xuất bản một cuốn có giá trị mà bán không chạy. Nhân viên một hãng quảng cáo nọ lại khuyên ông chủ tiệm đó rao lên rằng người nào mua sách sẽ được in tên trên bìa sách. Ông ta làm theo, chỉ trong một tuần lễ, không còn một cuốn.
- Cao thượng nhất là tình yêu, yêu người thân, yêu đồng bào, yêu nhân loại, yêu cái MỸ, cái CHÂN, cái THIỆN. Thứ tình đó “mạnh hơn cả sự chết”. Không có một hành vi nào vĩ đại của nhân loại mà không được nó thúc đẩy.
Từ các vị hiền triết như Thích Ca, Khổng Tử, Giê su; các vị bác học như Pasteur, Berthelot, Curie, Einstein; các nghệ sĩ như Milton, V. Hugo, Lý Bạch; đến các vị anh hùng cứu nước mà không xứ nào, không thời nào không có, các người mẹ hiền vô danh hy sinh tánh mạng để cứu con, các người con chịu mọi nỗi gian truân, cố chống với mọi cám dỗ để giữ trọn thanh danh cho nhà; hết thảy các người đó, chí khí tuy cao thấp khác nhau nhưng tình yêu thì một màu trong sáng, một độ nồng nàn như nhau cả.
Bạn nên lợi dụng những tình cảm đó. Không cần là bậc vĩ nhân mới biết yêu cái Mỹ, cái Chân, cái Thiện; mà nếu ta chẳng yêu được ba cái ấy thì cứ nghĩ tới lợi, tới danh, miễn là hành động không có gì đáng chê, phương tiện không có gì đê mạt.
Chẳng hạn bạn muốn học thêm Anh ngữ. Ai cấm bạn nghĩ tới cái lợi về tiền của và tinh thần? Bạn sẽ tự nhủ, biết được sinh ngữ đó, sau dễ kiếm thêm tiền, lại được cái vui đọc hiểu sách Anh, hiểu nổi văn chương Anh. Bạn lại có thể nổi danh nữa chứ. Trong sở hoặc hãng, bạn bè sẽ phục bạn là học rộng; biết đâu chừng, bạn chẳng viết được một vài cuốn sách về văn học, sử ký nước Anh làm cho độc giả ngưỡng mộ. Sau cùng, biết tiếng Anh, bạn sẽ dạy lại con cháu, chúng sẽ giỏi về môn đó, còn gì thích và hãnh diện bằng?
Nghĩ như vậy, tôi chắc bạn sẽ không ngại học nữa.
3. Đàn áp những tình cảm có hại cho nghị lực
Phải muốn những tình cảm có lợi cho nghị lực nhưng đồng thời cũng phải diệt những tình cảm có hại, như lòng ham vui, tính làm biếng, sợ gắng sức, sợ kỷ luật.
Trong cuốn La Volonté, ông Raymond de Saint Laurent chỉ cho ta những cách sau này để tấn công chúng.
- Cách thứ nhất là phân tích chúng để thấy sự xấu xa, cái hại của chúng rồi sinh ghét chúng.
Bạn mở sách ra định học chữ Hán, thấy bài khó quá, chán nản, muốn nghỉ một tối để đi coi hát bóng. Bạn nghĩ nếu để thị dục thắng mình một lần thì nó sẽ thắng hoài và bạn sẽ hoá ra nhu nhược kém nghị lực, có hại cho tương lai ra sao. Bạn hình dung những người ham chơi, biếng nhác mà bạn quen biết, nhớ lại tư cách, đời sống của họ, bạn sẽ khinh họ và không muốn bị người khác khinh mình, sắp mình vào một hạng với họ.
- Cách thứ hai là dùng tự kỷ ám thị. Mỗi ngày, trong lúc vắng, lặp lại câu này nhiều lần:
“Tôi có nghị lực, không sợ khó nhọc, tôi theo đuổi mục đích tới cùng và sẽ thành công”.
Trong khi nói, bạn phải chú hết tâm thần và tin tưởng vào mỗi lời. Nhiều tác giả bảo phương pháp đó có hiệu quả chắc chắn, bạn thí nghiệm xem sao, không tốn công gì cả.
- Cách thứ ba là lợi dụng ngay những tình cảm có hại cho nghị lực. Gió thổi ngược, nhưng một thuỷ thủ lành nghề khéo điều khiển những cánh buồm thì gió ngược thành gió xuôi. Tánh làm biếng, ngại khó nhọc là tật chung của loài người, nhưng chính nhờ tật đó mà tổ tiên ta mới nghĩ được cách dùng ngựa, bò để chuyên chở, rồi chế tạo ra bánh xe, cánh buồm, phát minh những xe đạp, xe lửa, tàu thuỷ, xe hơi, máy bay.
Bạn làm biếng mỗi khi phải dọn dẹp đồ đạc trong nhà ư? Bạn giống tôi lắm. Muốn đỡ mất công, sao ta không nghĩ cách bày biện, xếp đặt lại cho thứ tự? Học dụng ngữ là một việc rất ngán, tôi biết vậy, nên đã dùng những thuật ký ức chỉ trong các sách về luyện ký tính để áp dụng mà học cho mau nhớ. Bạn có thói vừa chơi vừa học? Thì cứ tìm cách vừa học vừa chơi, chẳng hạn làm một tấm thẻ cho mỗi dụng ngữ mới như tôi đã chỉ trong cuốn “Tự học để thành công”. Cách ấy cũng tiêu khiển được đấy.
4. Đức tự chủ
Tình cảm mà mạnh quá thì thành thị dục. Thị dục có năng lực phi thường, làm tay sai rất đắc lực của ta. Tuy nhiên, khi lòng ta say mê thì có khó sáng suốt, ta có thể lầm lẫn trong hành động mà hại lớn, nên người tự chủ được vẫn là người dễ thành công hơn cả.
Khổng Tử hiểu lẽ đó khi ông khuyên môn đồ giữ cho thất tình được trung hoà, đừng thiên lệch khi nó phát ra. Đạo Trung dung đó hiện nay ít người theo, có kẻ chê là nhu nhược, hoặc nước đôi, không giúp ta làm được việc lớn, cũng chẳng giải quyết được vấn đề nào cả. Vả chăng xã hội có những cảnh bất công mà ai cũng biết nghiến răng oán hận chứ không thể ghét một cảnh trung dung được. Lời chê đó cũng có lý về một phương diện nào đó; nhưng riêng về sự rèn nghị lực thì ít nhất trong bước đầu, ta cũng phải tập làm chủ được cảm xúc của ta, nghĩa là tập tự chủ.
Muốn vậy, ta nên ráng bình tĩnh mỗi khi có một cảm xúc mạnh, đừng đưa chân múa tay, đập phá, hò hét. Có kẻ chỉ trích bạn ư? Lòng tự ái của bạn bị thương tổn, bạn nóng nảy, muốn phản ứng tức thì, nhưng không nên, cố nén lòng giận lại, thở mạnh ra mấy cái hoặc uống một ly nước lạnh, hoặc bước đều trong phòng và nhất định đừng thốt ra lời nào tục tằn. Có vậy, bạn mới giữ đủ sáng suốt để suy nghĩ, rồi thấy cần phải trả lời mới trả lời, có trả lời thì tìm những lý lẽ xác đáng, vững chắc chứ không không nói bậy.
Một anh bạn tôi bảo viết văn là đưa lưng cho người ta đấm. Nhà văn dễ bị người ta chỉ trích lắm, về phương diện đó có lẽ chỉ thua các ông nghị. Chính anh bạn đó mỗi lần gặp bài báo nào mạt sát mình thì coi xong, anh cất đi, ba bốn ngày sau mới đọc lại, rồi thấy cần đáp mới viết, mà viết xong cũng chưa gởi ngay, lại cất đi, đợi ít ngày sau sửa lại kỹ lưỡng hoặc hỏi ý một người thân xem lời lẽ có khiếm nhã không, lý luận có thiên lệch không. Chỉ một thái độ ấy cũng đủ chứng tỏ anh là một nhà văn đứng đắn rồi. Đọc những bài Trần Trọng Kim đáp những lời chỉ trích của Phan Khôi về bộ Nho giáo, ta cũng thấy ngay cụ là một học giả chân chính vượt hẳn những kẻ cầm bút tầm thường .
Đức bình tĩnh là dấu hiệu của một sức mạnh tinh thần rất lớn. Ta nên luyện nó để thắng những cảm xúc bồng bột của ta, song cũng đừng nên thái quá mà hoá ra lạnh lùng, thản nhiên đến trơ trơ như sắt đá. Một người mà vui buồn, giận ghét không bao giờ hiện ra nét mặt, thường là một người nham hiểm, không được ai mến. Họ như bãi cát ướt ở bờ biển, coi thì phẳng phiu, mà ta không dám tới gần, sợ sa lầy.
Nhiều khi khó nén dồn được cảm xúc vào đáy lòng, mà nếu dồn được e cũng có hại cho cơ thể, cho thần kinh: trong những trường hợp ấy ta chỉ cần giữ óc được sáng suốt, để cảm xúc phát ra một cách điều hoà và nếu nó đã lỡ phát ra quá mạnh thì kịp nhận ngay được sự bất thường ấy mà điều khiển nó cho hợp lẽ phải.
Tập được đức ấy, bạn sẽ làm chủ được mọi tình thế, có thể đổi hoạ thành phúc, đỡ được kẻ thù mà thêm bạn quý giúp bạn thành công.
TÓM TẮT
1. Trí tuệ và tình cảm đều có chức năng quan trọng trong sự rèn nghị lực. Tình cảm đẩy ta tới hành động song phải được trí tuệ hướng dẫn thì hành động mới sáng suốt. Nhiều người vì thiếu sáng suốt mà thất bại, sinh ra chán nản, chí khí và nghị lực nhụt đi.
2. Ta nên lợi dụng những tình cảm có ích cho nghị lực như lòng ham lợi, ham danh, tình yêu người thân, yêu đồng bào, yêu nhân loại, yêu cái THIỆN, cái CHÂN, cái MỸ.
3. Đồng thời ta phải diệt những tình cảm có hại cho nghị lực như lòng ham vui, tính làm biếng, sợ gắng sức, sợ kỷ luật.
4. Sau cùng phải luyện đức tự chủ để điều khiển cảm xúc, cho nó phát ra một cách ôn hoà, hợp lẽ phải: song cũng không được nén mọi cảm xúc mà thành người nham hiểm.
Rèn nghị lực để lập thân
Nguyễn Hiến Lễ
Chương II: Suy Nghĩ
Người không mục đích như thuyền không lái
1. Phần đông thanh niên ở trường ra không biết mình muốn cái gì?
2. Ta muốn cái gì?
3. Phải muốn cách nào?
Trong chương trên tôi đã xét trí tuệ và tình cảm có ích và hại cho nghị lực ra sao và chỉ cách dùng lý trí để hướng dẫn, điều hoà tình cảm.
Bắt đầu từ chương này tôi lần lượt xét phương pháp luyện ba năng lực của nghị lực, tức óc suy nghĩ, óc quyết đoán và sức hoạt động.
1. Phần đông thanh niên ở trường ra không biết mình muốn cái gì?
Ở đời hễ không muốn thì không được một cái gì cả. Ngay những người trúng số độc đắc một điều hoàn toàn do vận may mà cũng phải muốn rồi mới được, phải muốn trúng số và mua vé số rồi mới trúng số. Nói chi tới mọi công việc làm ăn, sau khi muốn còn phải bền gan thực hành ý muốn hàng năm, hàng chục năm; vậy mà ta không biết muốn thì làm sao thành công được? Muốn quả thực là điều quan trọng nhất ở đời và biết muốn là bước đầu để thành công.
Khốn nỗi, trường học lại không dạy ta muốn. Lời đó có vẻ như ngoa, phải chăng, bạn? Học sinh nào mà không muốn thuộc bài, làm được bài, được thầy yêu, được hơn bạn, được phần thưởng, được thi đậu? Nhưng cái muốn đó chưa thực là muốn vì do thói quen chứ không do sáng kiến, muốn mà có khi không lượng sức mình đạt được không, hoặc muốn mà không tự lập một chương trình để thực hành. Phần đông học sinh cứ theo đúng lời thầy dạy, rồi kẻ thiếu thiên tư thì thất bại, người có thiên tư thì thành công, và sự thành công đó tự nhiên quá, ít khi do muốn mà được. Cũng có một số học sinh có chí, tự vạch đường lối để theo và quyết tâm thực hành, song số đó rất ít, mỗi lớp may ra được vài ba người còn bao nhiêu đều để nhà trường và số phận muốn cho mình cả.
Chương trình và thời khoá biểu được quy định một cách rất tỉ mỉ, giờ này học môn này, giờ sau học môn kia, cứ như vậy hàng chục năm, học sinh không phải tự ý lựa chọn, quyết định một việc gì nên khi ở trường ra, không được dắt dẫn từng bước nữa, họ hoá bỡ ngỡ, như người mất phương hướng. Ngay như sự quyết định quan trọng nhất trong đời họ là sự lựa nghề, họ cũng không có ý kiến gì hết. Tại Pháp, mấy năm trước người ta đã điều tra và thấy già nửa các cậu tú phân vân không biết chọn nghề nào rồi nhắm mắt theo lời khuyên của người khác mà ghi tên đại vào một trường đại học. Ấy là người Pháp có những sở hướng nghiệp mà thanh niên còn hoang mang như vậy, tình cảnh thanh niên nước nhà mới ra sao?
Tôi còn giữ một bức thư của một bạn trẻ hỏi tôi phải theo một chương trình nào để tự học các môn tâm lý, chính trị, văn chương, tổ chức và các môn vô tuyến điện nữa. Bạn ấy chưa thông tiếng Pháp và hiện đương theo một lớp cán bộ thanh niên, tỏ vẻ chán nản vì thấy con đường đi dài quá. Ai ở trong tình cảnh đó mà không chán nản? Mục đích không rõ rệt, muốn nhiều quá mà không tự lượng sức mình thì làm sao thành công được?
Bạn ấy còn khá, còn có thiện chí thì ít nhất cũng đã muốn học thêm, còn biết bao thanh niên khác chẳng biết muốn gì cả, thấy người khác sống ra sao thì cũng sống như vậy, ở trường ra, tìm một việc làm nào đó, hợp với mình hay không, có tương lai hay không, không cần biết, miễn có tiền là đủ, rồi thì cưới vợ, có con, đọc báo mỗi buổi trưa và đi coi hát bóng mỗi tối thứ bảy… rồi lão, rồi bệnh, rồi tử, thế là hết một đời sống không mục đích, một đời sống vô nghĩa, vô vị, gần như cây cỏ.
Nếu ở cuối ban trung học, người ta rút bớt chương trình một môn nào đó và thêm mỗi tuần một giờ tập cho học sinh điều tra suy xét để quyết định lựa một nghề hợp với họ, thì lợi cho họ, cho quốc gia biết bao!
Chẳng hạn người ta bảo học sinh kể tên ba nghề mà học sinh thích nhất, rồi tra cứu trong các thư viện, phỏng vấn các trường dạy về mỗi nghề và các người đã làm những nghề đó, sau cùng quyết định và lập chương trình để thực hành quyết định đó.
Như vậy học sinh tập có sáng kiến, nghiên cứu, suy nghĩ, tìm hiểu mình và biết muốn, ích lợi gấp mấy những bài học thuộc lòng về triết lý hoặc sinh vật học.
2. Ta muốn cái gì?
Biết muốn là biết tự hỏi:
- Ta muốn cái gì?
- Điều ta muốn đó, thực hành được không?
Như tôi mới nói, phần đông thanh niên sống không mục đích. Trong số đó tất có nhiều người thông minh, hoạt động, kiên nhẫn, chỉ vì thiếu mục đích mà không thành công, không làm được việc lớn. Họ như những con tàu có động cơ rất tốt mà thiếu bánh lái, theo gió theo nước mà táp qua đông, trôi qua tây, bập bềnh trên dòng, không mong gì tới bến.
Trong đại chiến vừa rồi, có lúc khan quẹt, nhiều người dùng kính hiển vi rọi vào một ống bông gòn để lấy lửa. Những tia sáng mặt trời chiếu qua mặt kính, tập trung cả vào một điểm nhỏ, chỉ trong mươi giây, làm cho bông gòn cháy đen rồi bốc khói. Những hoạt động của các bạn thanh niên ấy vì thiếu một sự tập trung vào một mục đích, duy nhất mà không có kết quả. Cho nên muốn rèn nghị lực, muốn thành công, việc quan trọng nhất là vạch cho đời ta một mục đích, càng sớm càng tốt. Bạn muốn lựa lý tưởng nào làm mục đích; tuỳ sở thích và khả năng của bạn: lý tưởng anh hùng, hoặc lý tưởng bác ái, văn chương, khoa học… miễn lý tưởng phải cao đẹp và thực hành được, nếu không, nó không phải là lý tưởng nữa. Vạch được mục đích là bạn đã biết mình muốn gì rồi đấy.
Lyautey, một vị anh hùng của Pháp, khi xét việc gì cũng tự hỏi câu này trước hết “việc gì đây?”. Trong đời sống hàng ngày, ta cũng nên bắt chước ông, trước khi làm việc gì hãy tự hỏi “Ta muốn cái gì đây?”
Một anh bạn tôi, mới đầu định cất một cái kho chứa hàng. Cất chưa xong, anh đổi ý, bảo thợ phá đi một phần, sửa lại để làm một phòng thí nghiệm, thợ theo ý anh; một tuần sau anh lại bảo họ ngừng công việc vì anh đã nghĩ lại, không muốn xây phòng thí nghiệm mà muốn cất lại một phòng giấy. Rút cục, tốn kém nhiều mà phòng giấy của anh không ra vẻ một phòng giấy chỉ vì anh đã không biết mình muốn gì.
Một bà nọ rất giàu có, mấy năm trước sống tại một tỉnh nhỏ không được yên ổn. Thấy không tháng nào không có người bị bắt cóc, phải chuộc mạng tốn cả chục, cả trăm ngàn đồng, bà ăn không được, ngủ không được, đọc xong cuốn “Quẳng gánh lo đi và vui sống” của Dale Carnegie mà chẳng bớt lo được chút nào. Một hôm gặp tôi, bà phàn nàn rằng cứ như vậy bà sẽ điên mất.
Tôi bảo bà:
- Có tiền mà ở miền này tất nhiên phải lo. Sao bà không lên Sài Gòn cho yên?
- Lên sao được ông? Công việc làm ăn của tôi ở đây giao cho ai?
- Nếu không kiếm người giao được thì tạm ngưng đi, lên Sài Gòn làm công việc khác.
- Làm ăn đương khá, mà ông bảo tôi bỏ đi?
- Hay là, là bà thử nhờ người tiếp xúc với các đảng phái ấy và ráng lấy lòng các vị chỉ huy?
- Không được ông ạ, đưa họ một lần thì lần sau họ đòi mười, riết rồi làm bao nhiêu cũng không đủ cúng các ông ấy.
- Thế thì chỉ còn một cách nữa là đề phòng thực cẩn thận rồi mặc kệ, tới đâu thì tới.
- Đề phòng cẩn mật cách nào được bây giờ? Họ có cả chục cặp mắt rình mình ngày và đêm, mình chưa làm việc gì họ đã biết hết, không sao thoát họ được đâu.
Tôi cười:
- Tôi xin chịu, không có ý kiến gì giúp bà thêm được nữa.
Bà ấy cũng là người không biết mình muốn gì vì bà vừa muốn làm giàu lại vừa muốn sống yên ổn ở một nơi thiếu trật tự, giữa thời kỳ loạn lạc. Trách chi đọc cuốn “Quẳng gánh lo đi” bà vẫn chẳng bớt lo được chút nào? Có phải bà thiếu nghị lực đâu, nguyên nhân chỉ là do bà muốn nhiều thứ quá.
3. Phải muốn cách nào?
Người Pháp nói: “Muốn là được”. Không phải luôn luôn như vậy. Hồi nhỏ ta muốn ông trăng trên trời, lớn lên ta muốn thành Nguyễn Huệ, Nguyễn Du, mà có được đâu? Chỉ khi nào ta muốn những điều có thể được, sức ta làm nổi thì muốn mới là được.
Vậy khi muốn, ta đừng nên muốn những cái trái ngược nhau hoặc những điều ta làm không nổi. Ta phải lượng sức ta đã, đó là công việc của lý trí.
Tuy nhiên, cũng có việc ta tưởng làm không được mà nếu ta biết áp dụng quy tắc của Descartes, chia nỗi khó thành nhiều phần tử rồi tuần tự giải quyết từng phần tử một thì rồi ta cũng thành công.
Ví dụ mục đích của bạn là đậu được bằng cấp kỹ sư vô tuyến điện, về nước chế tạo những máy vô tuyến điện rẻ tiền cho nhiều đồng bào được hưởng sự phát minh đó của khoa học. Bạn vì gia cảnh, phải thôi học khi mới lên năm thứ ba ban cao tiểu; như vậy mà tự học để đạt được mục đích là một việc khó đấy. Nhiều người ở trong tình cảnh ấy, nghĩ tới công phu học tập có lẽ cả chục năm (vì vừa làm việc vừa học), tất phải chán nản. Bạn có chí hơn, muốn thực hành cho được, chia con đường dài thăm thẳm đó ra làm nhiều chặng, chẳng hạn:
- Ba năm đầu học hết chương trình trung học đệ nhất cấp.
- Bốn năm sau học tiếp chương trình trung học đệ nhị cấp.
Trong bảy năm đó, bạn cố dành dụm để khi đậu bằng cấp tú tài xong, có đủ tiền xuất dương học hai ba năm về ngành vô tuyến điện.
Đó là những giai đoạn lớn. Bạn lại tuần tự lập chương trình trong mỗi năm học hết những sách nào, về lớp nào, rồi lại lập chương trình cho mỗi tháng, mỗi tuần.
Làm xong công việc đó rồi, bạn không nghĩ tới nỗi đường trường nữa, chỉ chú ý vào mục đích gần của mỗi tháng, mỗi tuần thôi. Những mục đích nhỏ này cũng như những bông tiêu chỉ đường cho bạn tiến tới mục đích xa là đậu bằng cấp kỹ sư vô tuyến điện. Bạn cứ theo chương trình ấy mà tiến lần lần từng bước, không thấy khó khăn gì cả.
Nhất định phải theo phương pháp đó thì mới bền gan làm được việc lớn, nên chăng những xí nghiệp mà tới chính phủ các cường quốc cũng lập những chương trình, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn; dài thì năm, mười năm, ngắn thì năm ba tháng.
Xin bạn thứ tự xét đi, đã có thấy lần nào ngại ngùng trước một việc làm không? Nếu có, bạn thử phân tích xem sự e ngại do bạn thiếu kiên nhẫn, thiếu nghị lực hay chỉ tại bạn không chia sự khó khăn làm nhiều phần tử.
Biết chia ra như vậy thì mười việc bạn muốn làm, chắc có tám, chín việc làm được. Biết cách muốn, muốn cho hợp lý, tìm được phương pháp giải quyết những khó khăn, tức thị là nghị lực tăng lên rồi đấy. Nhiều khi chúng ta chỉ vụng suy xét và tính toán mà cứ lầm rằng mình kém nghị lực.
TÓM TẮT
1. Nhiều người không làm được việc gì mà cứ tưởng tại mình thiếu nghị lực. Sự thực phần đông chúng ta không hoạt động hoặc hoạt động mà thất bại vì ta không biết ta muốn cái gì, hoặc muốn những cái trái ngược nhau, những cái ngoài sức ta.
Nếu đủ sáng suốt để muốn một cách hợp lý, rồi lại biết chia sự khó khăn làm nhiều phần tử mà tuần tự giải quyết từng phần tử một, thì mười việc khó có thể làm được tám chín và nghị lực của ta, chẳng cần rèn luyện gì cả, cũng tự nhiên tăng lên rất nhiều.
2. Nếu bạn chưa vạch mục đích cho đời bạn thì một tuần này, bạn suy nghĩ kỹ mà lựa một mục đích đi rồi xét xem nó hợp với khả năng của bạn không, bạn thực hành nó được được không.
Mục đích định rồi, xin bạn lập ngay một chương trình hoạt động. Chương trình đó là bao nhiêu năm? Mỗi năm làm những gì? Và mỗi tháng trong năm làm những gì?
Chương III: Quyết Định
Cái gì có thể làm bất kỳ lúc nào, thì không bao giờ được làm hết.
TỤC NGỮ ANH
Chăm chú rình cơ hội, khôn khéo và mạnh bạo nắm lấy nó, hăng hái và kiên nhẫn dùng nó, đó là những đức để thành công.
AUGUSTIN PHELPS
1. Người kém nghị lực không biết quyết định mau
Người ta thường cho những người do dự không biết quyết định là kém nghị lực. Sự nhận xét đó rất đúng.
Trừ một số ít người không biết tự suy nghĩ lấy và luôn luôn để người khác dắt dẫn, còn phần đông đều muốn tự lựa đường đi, có sáng kiến, muốn làm việc này việc khác song đến khi quyết định thì mười người có đến bảy tám quyết định vụng về hoặc chậm chạp, để lỡ mất cơ hội.
Vậy muốn rèn nghị lực để thành công thì sau khi vạch mục đích như chương trên tôi đã chỉ, phải xét hết những phương tiện có thể dùng được rồi lựa một phương tiện tốt nhất để thực hiện. Phải suy nghĩ kỹ rồi ghi rõ từng giai đoạn, cách thức trong chương trình thực hành để sau khỏi thay đổi ý kiến mà quyết định đi, quyết định lại ba bốn lần, như anh bạn xây cất kho hàng tôi đã kể ở trên.