Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Cuộc Phiêu Lưu Kỳ Diệu Của Colombo - Paolo Emilio Taviani 🔒

40 trả lời, 272 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.06.2021 22:45:12 bởi Ct.Ly>
CUỘC PHIÊU LƯU KỲ DIỆU CỦA COLOMBO
Paolo Emilio Taviani
Dịch từ bản tiếng Anh “COLOMBUS, THE GREAT ADVENTURE”
New York, Orion Books, 1991
Đối chiếu với nguyên bản tiếng Ý
“LA MERAVIGLIOSA
AVVENTURA DI CRISTOFORO COLOMBO” Novara, Istituto Geografico De Agostini, 1989.
PAOLÔ ÊMILIÔ TAVIANI
CUỘC PHIÊU LƯU KỲ DIỆU CỦA COLOMBO
Dịch giả:NGUYÊN PHƯƠNG và MINH VĂN
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA - THÔNG TIN
Hà Nội - 1996
 
* * *
 
Kính tặng các bạn đọc của dân tộc Việt Nam giàu truyền thống vinh quang, cuốn sách kể lại cuộc phiêu lưu vĩ đại của nhà hàng hải Ý, người đã mở rộng địa bàn của thế giới.
PAOLO EMILIO TAVIANI
Thượng Nghị sĩ suốt đời
 
LỜI GIỚI THIỆU

Ngày 12 tháng 10 năm 1492, lần đầu tiên đặt chân lên bãi cát trắng, mịn của đảo nhỏ Guanahini (Goa-na-hi-nì), nay là đảo San Salvador (Xan Xan-va-đo), thuộc quần đảo Bahamas (Ba-ha-ma) ở Trung Mỹ, Cristoforo Colombo (Cri-xtô-phô-rô Cô-lôm-bô), nhà hàng hải người Genova (Giê-nô-va) ngỡ ngàng trước một thiên nhiên hùng vĩ và một cộng đồng thổ dân khác lạ: Tất cả - đàn bà cũng như đàn ông - đều ở truồng. Thân thể của họ được sơn màu xám, màu trắng, màu đỏ, hoặc các màu khác. Sơn toàn thân, hoặc chỉ sơn mặt, có người sơn cả hai mắt, hoặc chỉ sơn mũi.
Colombo đã ghi như vậy trong Nhật ký hành trình của ông, với một thái độ ngạc nhiên.
Tiếp đó, đoàn thám hiểm đặt chân lên các đảo khác lân cận, lớn hơn, như: Haiti (Ha-i-ti), Cuba (Cu-ba), Giamaica (Gia-mai-ca), Puerto Rico (Pu-éc-tô Ri-cô)... Một thế giới kỳ lạ tiếp tục mở ra trước mắt họ, nhưng họ vẫn không thể nào hiểu ra rằng: đây là một lục dịa mới, một lục địa thứ tư, sau ba lục địa cũ - châu Âu, châu Phi và châu Á- mà “Thế giới Cũ” đã biết.
Giong thuyền đi thẳng về hướng tây, nơi mặt trời lặn, trong suốt thời gian vượt Đại Tây Dương, đầu óc Colombo chỉ chăm chăm một điều tin tưởng là có thể tới được phương Đông, nơi mặt trời mọc, để tiếp cận với Cataio (Ca-tai-ô, Trung Quốc) và Cipango (Si-pan-gô, Nhật Bản). Tình cờ đụng phải các đảo miền biển Trung Mỹ, Colombo đã tưởng ngay rằng ông đã tới gần India (In-đi-a, Ấn Độ) và ông đã gọi chung các thổ dân khác nhau của vùng này là Indiani (In-đi-a-ni); từ này ngày nay chỉ những thổ dân da đỏ. Và cho đến tận cuối đời Colombo vẫn yên trí như vậy. Điều đó rất dễ hiểu. Với vốn tri thức học được từ các nhà địa lý học, các nhà vũ trụ học, các nhà vẽ bản đồ ở thời đại ông, cộng thêm kinh nghiệm hàng hải, dù là phong phú của bản thân ông, Colombo vẫn không thể nào hình dung được rằng “Biển cả đen tối” từng làm khiếp sợ những nhà hàng hải dũng cảm nhất, còn che dấu một lục địa rộng mênh mông, trải dài từ Bắc cực đến Nam cực. Chỉ nội một điểm ấy, phần quả đất mới được phát hiện cũng đã xứng đáng với cái tên “Thế giới Mới”.

Ở phương Đông từ xa xưa đã lưu hành truyền thuyết “Bồng lai tiên cảnh”. Sách Thuật dị ký chép đó là ba hòn đảo, có hình ba chiếc bầu rượu, Bồng lai, Phương trượng, Doanh châu, nơi các tiên ở, trường sinh bất lão. Từ thế kỷ III trước Công nguyên, Từ Phúc, người Trung Quốc, vì muốn trốn tránh hành động tàn bạo “phần thư khanh nho” của Tần Thủy Hoàng đã tình nguyện xin đi tìm thuốc trường sinh. Tần Thủy Hoàng đồng ý, cấp cho thuyền bè cùng mấy nghìn nam nữ đồng trinh. Từ Phúc tếch thẳng sang Nhật Bản sinh sống.

Ở châu Âu từ xa xưa cũng lưu hành rộng rãi truyền thuyết về một “Thời đại Hoàng kim” ở thời Thượng cổ. Kinh Thánh nói đến “Vườn Địa đàng”. Nhà triết gia Hy lạp Platone (Pla-tô-mê, 428-347 trước CN) trong cuốn Fedone (Phê-đô-nê) nói về sự bất diệt của linh hồn, đã tưởng tượng có một thế giới rộng lớn và hùng mạnh ở bên kia Địa Trung Hải. Nhà thơ latinh Orazio (Ô-ra-xi-ô, 65-8 trước CN), trong cuốn Epodi (Ê-pô-đi), đã khuyên những người yêu nước hãy sớm rời bỏ thành La Mã, nơi dân chúng đang bị điêu đứng vì nội chiến và tranh giành quyền lực, để đi xây dựng một “La Mã mới” tại xứ sở Hoàng kim mà Tạo hóa, từ thuở khai thiên lập địa, đã dành riêng cho các “dân tộc sùng đạo”.
Những truyền thuyết, những linh cảm mang tính tiên tri trên đây của các nhà thơ và triết gia, chủ yếu vẫn thuộc lĩnh vực huyền thoại, hư hư thực thực. Mặc dù vậy, dàn đồng ca trong vở kịch Medea (Mê-đê-a) của nhà văn latinh Seneca (Xê-nê-ca, 4 trước CN - 65 sau CN) vẫn trang trọng hát lên lời bố cáo sau đây, như một lời tiên tri sẽ sớm trở thành hiện thực: “Sau đây một ít năm, sẽ đến ngày đại dương mở những hàng rào chắn và người ta sẽ khám phá ra một dải đất mênh mông... và Thule(1) sẽ không còn là ranh giới cuối cùng của đất nổi”. Về sau con trai của Colombo đã hãnh diện ghi vào bên lề cuốn Medea của mình “Điều tiên đoán này đã được chứng minh bởi cha tôi, Đô đốc Cristoforo Colombo, vào năm 1492”.
Thế là một “Thế giới Mới” đã được phát hiện!
Tùy theo chỗ đứng của mình, các nhà sử học đời sau sẽ gọi sự kiện quan trọng này của lịch sử nhân loại bằng những thuật ngữ khác nhau: một cuộc phát kiến vĩ đại, hoặc một cuộc ăn cướp tàn bạo nhất trong lịch sử, sự khai hóa và xây dựng những quốc gia mới giàu có, hoặc là chiến tranh thực dân, nạn buôn bán nô lệ da đen, nạn diệt chủng thổ dân da đỏ. Họ có tất cả bao nhiêu người vào thời thám hiểm của Colombo? Thật khó mà biết dược chính xác, con số ước đoán nhiều khi quá cao, nhưng đến nay, năm thế kỷ sau, bốn mươi triệu người dòng dõi thổ dân da đỏ, đối tượng của sự phân biệt đối xử, phân biệt chủng tộc, vẫn đang phải đấu tranh gian khổ để bảo vệ phần đất của mình, bảo vệ ngôn ngữ và bản sắc văn hóa của chủng tộc mình. Nhấn mạnh mặt phải hay mặt trái của tấm huân chương là quan điểm riêng của từng nhà nghiên cứu, nhưng lịch sử diễn biến không chiều lòng một ai. Tốt hơn là nên tìm hiểu nó, nhận thức được vì sao nó đã diễn ra như thế trong thực tế, với những điều kỳ diệu và cả với những nỗi đắng cay. Ca ngợi hay chỉ trích chỉ có ý nghĩa khi giúp hàn gắn nhanh hơn nhũng vết thương mà lịch sử đã gây ra và đem lại sớm hơn những điều tốt lành cho hiện tại và tương lai.

Sau cuộc kỳ ngộ đầu tiên năm 1492, hai nửa trái đất - Thế giới Cũ và Thế giới Mới - đã nhập lại với nhau. Lần đầu tiên con người nhận biết hành tinh của mình một cách hoàn chỉnh. Tiếp sau cuộc gặp gỡ là những luồng di cư thường xuyên, khi ồ ạt, khi lẻ tẻ, là những tiếp xúc và đụng độ, là sự chung sống hội nhập. Thế giới Mới trở thành nơi hội tụ và hôn phối chủng tộc và văn hóa giữa các thổ dân bản địa với những nguời nhập cư, mới đến từ bán đảo Iberia (I-bê-ri-a), từ châu Âu, châu Phi, cả từ Arập và châu Á. Những con người thuộc những chủng tộc khác nhau, đến từ các chân trời văn hóa khác nhau, sẽ chung sống bên nhau dưới mái nhà mới, cùng chung sức sáng tạo ra một nền văn hóa mới, nền văn hóa chung của châu Mỹ, mang một phong cách thống nhất, nhưng đồng thời vẫn đa dạng một cách khác thường, dựa trên cơ sở ý thức bảo vệ bản sắc văn hóa và ngôn ngữ riêng của chủng tộc mình. Đó là hệ quả có ý nghĩa lịch sử lâu dài của cuộc kỳ ngộ năm 1492. Đó cũng là một thông điệp báo hiệu hình thái tương lai của văn hóa thế giới nếu như các dân tộc bảo đảm được sự chung sống trong Hòa bình và Hữu nghị.
Lịch sử trước năm 1492 còn phát triển rời rạc và có tính chất địa phương, khu vực. Sự gặp gỡ giữa hai Thế giới Cũ và Mới - đã tạo ra một quá trình thống nhất, trong đó các dân tộc sống trên hành tinh hiểu biết lẫn nhau ngày một nhiều hơn, liên quan và lệ thuộc với nhau ngày một nhiều hơn. Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật thông tin và những vấn đề môi trường đang liên kết vận mệnh các dân tộc sống trên hành tinh lại với nhau, vượt lên trên những khác biệt văn hóa và văn minh. Ngày nay thế giới là một, dù chúng ta muốn hay không. Quá trình này đang được thể nghiệm ngày một sâu sắc hơn. Ý nghĩa thời đại của sự gặp gỡ giữa hai thế giới chính là đã mở đầu và báo hiệu sự ra đời của một thời đại mới, thời Hiện đại.

Tác giả của cuốn sách mà chúng ta sắp đọc là Paolo Emilio Taviani, một người Ý, quê ở Genova, cùng quê hương với nhà phát kiến vĩ đại Cristoforo Colombo. Ông là một trong ba nhà nghiên cứu nổi tiếng nhất trên thế giới về vấn đề Colombo, hiện đang còn sống. Một nhà nghiên cứu về Colombo đã từng viết: không phải ngẫu nhiên mà trong ba học giả nổi tiếng thế giới trong việc nghiên cứu về sự nghiệp của Colombo thì một là ngưòi Tây Ban Nha, quốc gia có vinh dự lịch sử tài trợ cho chương trình thám hiểm của Colombo; một là người Mỹ, xứ sở được Colombo phát hiện và một nữa là người Ý, đất nước có vinh dự là cái nôi sinh ra nhà thám hiểm. Người Tây Ban Nha đó là Salvatore de Madariaga (Xan-va-do đê Ma-đa-ri-a-ga), một nhà văn, một học giả, tác giả một cuốn sách tuyệt vời về Colombo. Người Mỹ đó là Samuel Eliot Morison (Xa-muy-ơn E-li-o Mô-ri-xơn), một Đô đốc Hải quân, người đã đi thăm tất cả các địa điểm mà Colombo đã đặt chân đến trong quá trình thám hiểm. Và người Ý đó là Paolo Emilio Taviani.
Năm 1992 nhân dịp kỷ niệm 500 năm sự kiện phát kiến ra châu Mỹ, bạn đọc nước ta đã được đọc một tác phẩm nhỏ của Taviani: Cristoforo Colombo, thiên tài biển cả do Hội Hữu nghị Việt Nam - Italia và Nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản. Cuốn sách mà chúng ta sắp đọc thuộc vào những tác phẩm chủ yếu, quan trọng nhất mà Taviani đã viết về cuộc phát kiến của Colombo.
Một sự kiện lịch sử, một sự kiện khoa học nhưng lại được trình bày một cách hấp dẫn, lôi cuốn, mặt khác vẫn dựa một cách nghiêm ngặt trên những tài liệu chính xác, đã được thẩm tra, giám định kỹ càng. Taviani sẽ cho chúng ta biết kế hoạch táo bạo, phi thường đã được nhen nhóm hình thành như thế nào trong đầu óc Colombo, có liên hệ như thế nào với cội nguồn văn hóa của quê hương Genova độc đáo. Colombo đã trải qua nhũng ngày tháng kiên nhẫn chờ đợi, vận động, vừa vất vả vừa may mắn như thế nào ở Triều đình Tây Ban Nha, một đất nước đặc biệt của thế giới, từ cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI đã mở rộng cánh tay đón nhận nhiều nhân tài ưu tú, lỗi lạc, người ngoại quốc đến cư trú, sinh sống và sáng tạo. Một thái độ cởi mở, linh hoạt, hào hiệp mà ngày nay chúng ta không khỏi kinh ngạc. Chỉ riêng trong kỳ tích chinh phục biển cả, Tây Ban Nha đã dang rộng cánh tay đón nhận ba nhà thám hiểm nổi tiếng nhất trong lịch sử thế giới. Đó là Magellan (Ma-gen-lăng, 1480-1521) người Bồ Đào Nha, năm 1519, đã khám phá ra eo biển sẽ mang tên ông, mở con đường vào biển lớn phía Nam mà người ta đã gọi nhầm tên là Thái Bình Dương. Đó là Amerigo Vespucci (A-mê-ri-gô Vét-xpúc-si, 1454-1512) người Ý, gốc Firenze (Phi-ren-xe), nhập quốc tịch Castiglia (Cát-xti-li-a, Tây Ban Nha), năm 1499 đã thám hiểm bờ Đại Tây Dương của Colombia (Cô-lôm-bi-a) và từ năm 1507, tên của ông đã được đặt cho Thế giới Mới: America (A-mê-ri-ca). Và cuối cùng là Cristoforo Colombo (1451-1506).
Quả thực các quốc vương Thiên Chúa giáo Tây Ban Nha đã là những con người có con mắt tinh đời, cởi mở, dám mở rộng tầm nhìn ra toàn thế giới, những con người mang trong mình bản lĩnh phi thường của nước Tây Ban Nha thời Phục hưng. Và sự sáng suốt của họ đã được tuyên dương xứng đáng. Trong giờ phút đầu tiên đặt chân lên đảo Guanahini, hoạt động đầu tiên của Colombo là mở tung hai lá cờ hoàng gia Tây Ban Nha, một mang chữ F (Ferdinando: Phéc-đi-năng-đô, tên Vua Tây Ban Nha) một mang chữ Y (Ysabel: I-sa-ben, tên của Hoàng hậu Tây Ban Nha) cắm lên Đất Mới.
Taviani sinh năm 1912 ở Genova (Italia). Ông đã tốt nghiệp về Luật học, Văn học và Khoa học Xã hội tại trường Cao đẳng Sư phạm Pisa (Pi-da), nơi có ngọn tháp nghiêng nổi tiếng của Italia. Ngoài ra ông còn tốt nghiệp về khoa Cổ văn tự và ngoại giao. Từ năm 1943 đến năm 1945, ông là một trong những nhà lãnh đạo phong trào du kích kháng chiến chống phát xít ở miền Bắc Italia. Từ năm 1945 đến 1982, trong gần 40 năm, ông là giáo sư môn Lịch sử kinh tế tại trường Đại học của quê hương ông: Trường Đại học Genova. Từ 1946, ông được bầu làm Hạ nghị sĩ và từ 1976 được bầu làm Thượng nghị sĩ suốt đời của Nghị viện Italia. Ông đã nhiều lần tham gia Chính phủ Italia với cương vị Bộ trưởng. Hiện nay ông là Phó Chủ tịch Thượng nghị viện nước Cộng hòa Italia.
Taviani là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về các chuyến đi thám hiểm của Colombo. Hai cuốn Xứ Liguria và cốt cách Genova của Colombo trình bày những đặc điểm lịch sử, địa lý của quê hương Colombo và bản lĩnh, tính cách của nhà phát kiến; Cuốn Chiếc thuyền buồm, cùng thực hiện với Paolo Revelli (Pao-lô Rê-ven-li) và Samuel Eliot Morison giới thiệu và phân tích nội dung cuốn Nhật ký hành trình đi biển của Colombo.
Năm 1974, ông đã xuất bản công trình lớn, hai tập: Colombo và sự hình thành cuộc phát kiến vĩ đại. Năm 1984 xuất bản công trình lớn thứ hai, hai tập, bổ sung cho công trình trên, nhan đề là Những cuộc du hành của Colombo, một phát kiến vĩ dại. Năm 1989 xuất bản cuốn Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Colombo. Các công trình trên đây là kết quả của 40 năm miệt mài nghiên cứu, kiên trì đi sâu vào một đề tài, do đó đã đạt đến một trình độ khoa học cao. Nhiều công trình của Taviani đã được dịch ra tiếng nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh và bản thân ông đã được nhiều trường Đại học trên thế giới tặng bằng Tiến sĩ danh dự.
Chúng ta chân thành cám ơn Giáo sư Taviani đã trân trọng đề tặng cuốn sách này cho bạn đọc nước ta, đất nước mà ông cảm phục về những kỳ tích mới trong thời Hiện đại.

Hà Nội, tháng 10 - 1995
Nguyễn Văn Hoàn
(Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia)

  Chú thích:
  (1) Thule (Thu-lê): một địa danh chưa được xác định rõ vị trí, nhưng người Hy Lạp và người La Mã cho rằng ở vào vùng bắc Scotland (Xcốt-len) và Iceland (Ai-xơ-len).




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.06.2021 22:30:04 bởi Ct.Ly>
 
    1. GENOVA, Sự quyến rũ của Biển Cả
 
Antonio (An-tô-ni-ô) và Giovanni Colombo (Giô-va-ni Cô-lôm-bô), cụ và ông nội của Cristoforo Colombo là những nông dân thuộc Moconesi (Mô-cô-nê-xi), nước Italia (ý ), một làng ở bên trên Chiavari (Ki-a-va-ri); nơi đây thóc lúa được ta chở đến, từ Piacenza (Pi-a-ren-xa), trong thung lũng Pô. Tại Moconesi và những làng lân cận, những cối xay lúa mì chạy bằng nước một con sông khá lớn. Rồi bột được la chở tới Quinto (1) ngày này là một quận của thành phố Genova, nhưng hồi đó là một làng cạnh bờ biển, cách thành phố năm dặm về phía đông.
Có lẽ tổ tiên của Colombo, đã từ Piacenza đến Moconesi, dọc theo con đường mòn được gọi là "Con đường bánh mỳ", vì con đường này dùng để chuyên chở lúa mì. Theo con đường đó Giovanni đến Quinto, ở đây ông tiếp tục làm nghề nông. Cũng ở đây con trai ông là Domenico (Đô-mê-ni-cô) ra đời. Domenico học nghề dệt len và sau này chuyển đến Genova.
Từ 1439 đến 1447 Domenico làm nghề của ông ở Genova. Tại Genova đang có cuộc đấu tranh gay gắt giữa những người ủng hộ Adorno (A-đoóc-nô) và những người ủng hộ Fregoso (Frê-gô-xô). Sau đây là lời kể lại của sử gia Giustiniani (Giút-ti-nia-ni), nổi tiếng  đương thời.
Ngày 4 tháng giêng năm 1447, Barnaba Adorno (Bác-na-ba A-Đoóc-nô) được bầu làm tổng trấn, và mọi thứ đều đi theo ý muốn của phái Adorno. Nhưng sự thống trị của Barnaba rất ngắn vì ngày 30 tháng Giêng Giano da Campo Regoso (Gia-nô Da Căm-pô Frê gô-xô) làm một cuộc đảo chính; trong bốn năm Fregoso không ngừng quấy rối phái Adorno. Tổng trấn Barnaba Adorno có một số lớn binh lính, trong đó có sáu trăm chiến sĩ được tuyển chọn cẩn thận do Vua Alfonso (An-phông-xô) thuộc Aragon (A-ra-gông) gửi đến cho ông. Giano tới vào ban đêm, trên một chiếc thuyền ga-lê đơn độc, đi vào thành phố, tấn công chốp nhoáng, chiếm cung điện của quận công bằng tám mươi nhăm người. Ông đã gặp sự chống cự quyết liệt, một trận chiến đẫm máu. Trong trận này, tất cả người của ông đều bị thương. Tuy nhiên khả năng xuất sắc và sức mạnh của ông lớn đến nỗi ông đã thắng và trở thành tổng trấn.
Domenico Colombo thuộc trong số nhiều người trong thành phố đứng về phía Fregoso. Như chúng ta nói ngày nay, Domenico là một nhà hoạt động đã được thử thách đến mức chỉ năm ngày sau, Tổng trấn Giano đã cử "Domenico Colombo yêu dấu" của ông làm nhiệm, vụ canh tháp Olivella (Ô-li-ven-la) và cổng thành phố.
Cương vị tế nhị và cố lợi là làm gác cổng thường được thay thế mười tháng một lần. Ngày 5 tháng 11-1448 tháp Olivella không được giao cho Domenico Colombo nữa. Nhưng mùa hè 1450 Pietro Fregoso trở thành tổng trấn, và ngày 1 tháng 10 -1450 ông ban cho người ủng hộ trung thành của ông, Domenico Colombo, chức việc gác cổng.
Trong lúc đó, Domenico đã kết hôn với Susanna Fontanarossa (Su-xan-na Phông-ta-na rốt-xa). Của hồi môn của bà này gồm có một ngôi nhà và đất ở Quezzi (Quét-xi). Năm 1451 Cristoforo Colombo ra đời, hoặc tại ngôi nhà trên đường Olivella cạnh cổng, hoặc ở Quinto, nếu mẹ ông đã đến đó để sinh tại nhà bà con bên chồng theo phong tục. Năm 1455 Domenico chuyển đến một ngôi nhà trên đường Diritto (Di-rit-tô), tại giáo khu Thánh Stefano (Xtê-pha-nô), trong quận Thánh Andrea (An-đờ-rê-a) tại Ponticello (Pồng-ti-sen-tô).
Trải qua năm thế kỷ ngôi nhà đã được sửa chữa và xây lại, nhưng ngôi nhà vẫn ở đúng nơi cũ - cách cổng thành phố Thánh Andrea năm mươi yard (2) cổng này vẫn như hồi đó. Tầng một là cửa hàng len của Domenico, và ở những tầng trên là nhà ở. Ngôi nhà tối và bị kẹp giữa những nhà cao tầng dọc phố hẹp. Đằng sau ngôi nhà, giữa những dãy nhà liên tục nhau và những bức tường thành phố là một khoảng nhỏ để trồng rau, gọi là "vườn", mặc dù chưa đủ rộng để xứng với tên gọi đó. Đất thuộc gia đình Colombo sau này trở thành một phần tu viện Thánh Andrea cổ, từ hồi đó tu viện này đã được xây dựng lại.
Trí tưởng tượng của một cậu bé thông minh chắc đã phải khổ sở trong khoảng không hạn chế của cửa hàng và nơi ở, tại đây mẹ cậu cũng nuôi những đứa em là Bartolemeo và Diego. Chuyện này tạo thành hình ảnh đầu tiên mà chúng ta có được về Colombo, một hình ảnh trong đó cậu học mơ ước viễn vông. Trong thời niên thiếu Colombo đã mơ ước những khoảng không rộng mở vô tận từ góc của một căn buồng tối, giống như một người Ý vĩ đại khác, nhà thơ Leopard (3), đã mơ tưởng những chân trời xa rộng từ góc thửa vườn rào kín của ông.
Bên ngoài những bức tường nhà, bên ngoài thửa vườn là thành phố Genova, những người dân ở đó gọi là Zena (Dê-na) và vì thế Colombo cũng gọi như vậy. Genova xinh đẹp, được sắp xếp một cách nguy nga, tạo sự kinh ngạc cho những ai trông thấy thành phố đó lần đầu tiên nhìn vào từ ngoài biển. Thành Genova đồ sộ, gây cảm giác kinh sợ với những nhà thờ và ngôi nhà, những cung điện hình thành như những bậc thang khổng lồ, đỉnh cao là pháo đài Castelletto (Cát-xten-lét-tô), một cảnh lộng lẫy đối với thời đó cũng như hiện nay. Genova ma thuật, làm say mê và quyến rũ mà không cho nhiều, không phải vì thành phố đó keo kiệt mà vì bị kẹt giữa những ngọn núi và không có đất, chỉ được ban phát những bụi cây xấu xí sản lượng thấp, bị gió biển hủy hoại. Genova không thể cho những đứa con bất cứ cái gì, mà chỉ ném họ vào biển cả, đó là tất cả đối với thành phố, và từ đó, thành phố nhận mọi thứ và chỉ cho lại tinh thần phục vụ, tính nhẫn nại, sự tận tình và tháo vát riêng của những người con Genova.
 
Genova thần tiên, với những người phụ nữ ý tứ, nhưng biết phân biệt và biết yêu. Biển cả gần như không có bãi, mạnh mẽ rút về những chiều sâu thần bí, những bầu trời rạng rỡ và trong sáng khi gió bắc thổi, với những nhà thò và thánh đường nhỏ bé trên đỉnh núi. Ngày nay. Genova vẫn còn tất cả như thế, mặc dù những nhà máy và một số công trình kiến trúc quái dị làm cho xấu đi. Thành phố đại thể vẫn còn như trước đây vì những ngọn núi bảo vệ nó khỏi những thay đổi lớn và biển cả thì không thay đổi.
Từ ngoài biển Genova trông nguy nga với những lâu đài đồ sộ, những nhà thờ, những con đường và những quảng trường thoáng đãng - nhưng thật là một hệ thống rối mù những ngõ hẹp và những phố nhỏ được bảo quản tồi tệ và bị cản trở bởi những vòm, những cầu, những cầu thang, nhà ngân hàng, thậm chí những trụ ốp bằng gỗ tới tầng ba bên ngoài những tòa nhà, giống như những quán trọ thời La-mã tiền Augusto (Au-gút-xtô). Tính chất của những người dân Genova cũng tự mâu thuẫn qua nhiều thế kỷ: ngạo mạn và kiêu hãnh về những kho tàng của họ, những bức tường, những tháp, những cổng, những cung điện, những nhà thờ và bến cảng; nhỏ nhen và có tinh thần ti tiện về những vấn đề hàng ngày, giống như những ngõ tối tăm, dốc thẳng đứng và quanh co của họ. .
Đó là Genova, tại đó Colombo đã được sinh ra và được nuôi dưỡng. Trong những phố nhỏ hẹp của Genova, Colombo đã đi những bước đầu tiên với bố mẹ ông; trong những phố này ông đã trải qua tuổi thơ ấu đầu tiên. Từ đường Diritto - ngay giữa cổng Thánh Andrea và đồi Molcento (Môn-sen-tô) - cậu bé Colombo thường đi bộ đến nhà thờ giáo khu Thánh Stefano, đến Cung Điện Quận công, nơi những thủ lĩnh thuộc các gia đình Fregoso, Adorno, Spinola (Xpi-nô-la) và Fieschi (Phi-ét-xki) tới, ngồi trên lưng ngựa; và đến Via Regia để xem những chiếc kiệu có những bà quý tộc xinh đẹp ngồi trên.
Rõ ràng Colombo không thỏa mãn với những chuyện này, hoặc đặc biệt thích thú về những chuyện đó. Colombo học trường sơ cấp của Phường Buôn Len, được dạy về tôn giáo, toán học, địa lý và những nguyên tắc cơ bản đầu tiên về đi biển, bằng tiếng địa phương Genova. Tiếng La-tinh mà ông viết rất khác tiếng La - tinh của Cesars, (Xê-da-rê) và Cicerone (Xi-xê-rô-nê); tiếng La - tinh đó có đặc trưng thời Trung cổ, ngôn ngữ chính thống của Nhà Thờ và những văn bản pháp lý của nước Cộng Hòa Genova.  
Ở tuổi trẻ còn non nớt, như sau này ông thường viết, Colombo bắt đầu bơi thuyền, nhưng có lẽ, thật ra là chắc chắn, ông đã gặp biển cả sớm hơn. Ở đâu? Trên bến cảng và trên bãi biển, ở bến cảng không khó để một cậu con trai lẩn đi, không ai để ý và không ai biết, trong đám đông nhiều màu sắc. Có nhiều tàu, nhiều thủy thủ nói nhiều thứ tiếng khác nhau, đến từ mọi nước. Họ đến từ tất cả các miền của Địa Trung Hải, từ đông sang tây, cũng như từ Bồ Đào Nha, Flandres (Phò-lăng-đơ ro) và nước Anh. Nhiều cánh buồm biết bao! Biết bao thân tàu cuộn trôi dập dềnh đi lại! Và khắp nơi, mùi biển sực nức, một mùi kích động, và lôi cuốn.
 
Điều này cho ta một hình ảnh thứ hai về Colombo, một cậu con trai bảy tuổi đi lang thang khắp kho cảng; dừng lại nhiều giờ để ngắm nhìn những hoạt động của tàu biển, việc xử lý những cánh buồm, bánh lái và mở neo - đó là chỉ nêu một ít yếu tố có liên quan đến việc rời cảng, hoặc đưa tàu vào vùng kho dọc theo cảng. Chắc chắn Colombo mơ tưởng một ngày nào đó sẽ ở trên những boong tàu ấy và ra khơi, tại nơi này mùi muối không bị pha loãng; rồi đi tới những hải càng khác, những thành phố khác, hàng trăm thành phố, nơi mà rất nhiều dân tộc kỳ lạ đã tới..
Có lẽ Colombo không đi xuống biển tại Albaro (An-ba-rô), hay thậm chí ở cửa sông Bisagno (Bi-xa-nhô), gần hơn. Có thể không xẩy ra vì làm như vậy trong thời Colombo sẽ cần phải rời khởi thành phố và vượt qua nhiều dặm đường trong một vùng đồng quê quang đãng. Rời khởi thành phố trong thời ấy là một vấn đề.... đối với người lớn còn như vậy, ta có thể tưởng tượng đối với một cậu bé thì sẽ khó khăn hơn biết chừng nào.. Hầu hết những phụ nữ và không ít nam giới thành Genova đã sinh ra, sống và chết trong phạm vi những bức tường thành phố. Tình hình là như vậy ở Genova và nhiều thành phố khác ở Italia, ở Provence (Prô-văng-xơ), Pháp và Flandres. Chắc chắn đó không phải là trường họp của Domenico Colombo, một người thợ thủ công và nhà buôn, cũng như nhà hoạt động chính trị và cũng không phải là trường hợp của Susanna Fontanarossa Colombo, sinh tại Quezzi. Tuy nhiên nếu Colombo đi ra ngoài những bức tường thành, ông ta phải đi cùng bố, hoặc mẹ, hoặc cả hai. Họ đã đi đâu? Tới Quinto.
Tại Quinto có nhà của ông nội Colombo, một ngôi nhà điển hình của những người nông dân Liguria (Li-gu-ri-a); bốn bức tường trơ trụi với một buồng ngay dưới nóc nhà, xây bằng những tấm ván nhở và một cầu thang bằng gỗ hẹp để rời căn buồng đó. Trên tầng hai là ô khung cửa, lò sưởi. Và một đôi khi còn một con bò cái, một con bê, con lừa, một số dụng cụ và những đồ tiếp tế cho một khẩu phần đơn sơ và khắc khổ. Ở đây người mẹ vừa nuôi nấng con cái, vừa quay sợi, hoặc dệt, những khi bà không phải giúp chồng công việc đồng áng. Những đứa con lớn vây quanh bà, làm việc với bà hoặc trông xoong trên bếp lửa, đầy rau do nhà trồng, thêm gia vị bằng dầu và muối. Trên gác bố mẹ, hai con gái cùng ngủ, ngăn cách bằng những vách sậy. Chắc chắn Colombo lưu lại ở ngôi nhà tại Quinto khi ông còn rất trẻ và, khi ông lớn hơn, trong những ngày hè, hoặc vụ thu hoạch nho của gia đình trong mùa thu. Từ ngôi nhà này đi xuống biển không khó, hoặc qua những cánh đồng cỏ, hoặc qua ít vùng có đá. Ngày nay toàn bộ vùng này đầy những lâu đài, với những con đường lớn rải nhựa, nhưng biển cả vẫn vỗ vào những núi đá màu xám thẫm, như bao giờ vẫn thế.
Ta có thể ngồi trên những tảng đá này và suy nghĩ, bỏ qua sự rối loạn về kiến trúc và những tiếng ồn của thành phố, sống lại những cảm giác mà Colombo phải có khi còn nhỏ, cảm thụ chân trời vô tận của một biển cả ít khi yên lặng, màu sắc thay đổi, lúc thì có những vệt xanh sáng, lúc thì màu xanh đậm nước biển, một đôi khi màu tím, hay gần như đen. Những cảm giác không phải luôn luôn thú vị, ngay cả khi bầu trời yên lặng và nước yên tĩnh. Môi trường xung quanh gây ra những cảm giác mạnh, tốt cho việc tôi luyện tính tình, buộc người ta suy nghĩ một cách sâu sác, vượt qua sự hời hợt và nhẹ dạ. Chính trên những tảng đá này, bên ngoài cảng Genova, Colombo lần đầu tiên có kinh nghiệm về biển cả.
Đây là hình ảnh thứ ba của Colombo: Ông đã học bơi ở biển, một biển cả nguy hiểm cho người không biết bơi, vì rất ít bãi biển an toàn. Ông đã có biển và yêu biển, trố mắt nhìn biển một cách trìu mến, từ một tảng đá. Ông không còn chỉ đơn thuần mơ tưởng chân trời; chân trời ngay trước mặt ông; ông đang nhìn về chân trời, mơ ước một ngày nào đó sẽ đi tới chân trời.
 
Chú thích :
[1] Quinto: Có nghĩa là ‘‘Dậm thứ năm’’, do tiếng Ý: Quinto miglio.
[2] Một yard bằng 0,914 mét
[3] Leopardi Giacomo (Lê ô pác đi Gia cô mô, 1798 – 1837) nha2 thơ trữ tình, Recanati (Rê ca na ti), quê hương bé nhỏ, chật hẹp, vừa là nhà tù, vừa là nơi nhen nhóm của các ước mơ của ông




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.06.2021 21:38:16 bởi Ct.Ly>
2.   CỘI NGUỒN VĂN HÓA CỦA COLOMBO
 
 
Việc Colombo sinh tại Genova không phải là một thực tế không liên quan gì đến thành tựu của ông như ý kiến của một số người. Như chúng ta sẽ thấy, không có nghi ngờ gì là kế hoạch lớn của ông đến phương Đông bằng cách đi tàu biển về hướng Tây đã phát sinh trên Đại Tầy Dương, không phải ở Genova hay Liguria. Nhưng thiên tài đã sinh ra ở đâu để nghĩ ra và thực hiện kế hoạch lớn ấy? Nhân vật gần như siêu nhiên ấy, với tính bền bỉ lớn đến mức ám ảnh và tính kiên gan buớng bỉnh, sự kiên định không thể lay chuyển nổi ấy đã hình thành ở đâu? Những nguồn gốc của đặc tính đó ở đâu? Lòng tin của Colombo - không phải là sự mê tín, mà phần tinh túy của nó là luôn luôn quan tâm tới sự thần bí của Đấng Tối Thượng, của Kinh Thánh, một lòng tin dành cho những sự sùng bái cao quý nhất, sự sùng bái quan hệ đến nhu cầu của tinh thần con người, là sùng bái Đức Mẹ Đồng Trinh và Thánh Francesco (Phò-răng-sét-cô). Lòng tin ấy đã bắt đầu nảy nở như thế nào? Khi còn là đứa trẻ, Colombo đã tiếp thu lòng tin đó ở đâu? Genova và Liguria là quan trọng trong những lĩnh vực này.
Samuel Eliot Morison, đô đốc hải quân Mỹ và là một trong những học giả lớn nhất về Colombo, viết: ‘‘Chắc chắn Genova là một nơi cho bất cứ chàng trai tích cực nào cứ lòng mong muốn mạnh mẽ về phiêu lưu trên biển cả’’. Người Anh Ernle Bradford một thủy thủ lão luyện nói thêm: ‘‘Một trong những thủy thủ vĩ đại nhất của thế giới đến từ Genova thì đó là một sự kiện hết sức tự nhiên’’.
Genova và Liguria là loại nơi chốn như thế nào? Đó là một dải đất hẹp nằm giữa núi và biển, một bờ biển liên tiếp những núi đá, những vịnh, những đảo con, những vịnh nhỏ, những chỗ tàu biển bốc đồ hàng, những cảng lớn cảng nhỏ, những bãi biển ngắn bao phủ bởi núi đá, hoặc cát vàng bị ngắt ra bởi những mũi đất nhô ra biển, một số đầy đá, một số có những cây thông tuyệt đẹp phủ kín. Sự độc đáo của Liguria bắt nguồn từ biển Liguria. Trong nhiều thiên niên kỷ, nền thương mại của Liguria chi bằng đường biển: từ Lerici (Le-ri-si) ở miền Đông đến Nice (Ni-xơ) ở miền tây, có một dòng liên tục người và hàng hóa đến bằng đường biển. Tất cả, hoặc gần như tất cả thương mại của Liguria đến bằng đường biển. Những mối quan hệ kinh tế, văn hóa và tình cảm giữa những gia đình thuộc các dân tộc khác nhau, những cuộc hôn nhân đã được thực hiện bằng đường biển và trong nhiều thế kỷ, những cuộc hôn nhân đó đã ràng buộc nhân dân Liguria với nhau, việc ngăn ngừa những cuộc hôn nhân gần gũi về huyết thống đã không thể tránh được tại những làng xa xôi hẻo lánh bên trong. Những mối quan hệ mạnh mẽ về kinh tế lẫn chính trị trong những mối liên hệ yếu ớt của nước Cộng hòa Genova được cấu trúc lỏng lẻo, đã phát triển bằng đường biển. Những quan hệ tôn giáo dọc theo miền Liguria hình lưỡi liềm, với Genova, nơi có trụ sở của Tòa Tổng giám mục, cũng đã hình thành bằng đường biển.
Quả thật tác động của biển đối với dân Liguria đã được kể lại trong lịch sử của mọi thế kỷ, trong biên niên sử của mọi năm và mọi mùa. Nói chung người ta cho rằng nhân cách Liguria chịu ảnh hưởng của sự hiếm đất và buộc phải dựa vào biển cả. Những người Liguria liên hệ việc hiếm đất đai này với tính khí hướng về nội tâm và sự tằn tiện đã thành ca dao của họ - thực sự đó chỉ là một sự đạm bạc thật thà. Ảnh hưởng của vùng biển không có bãi và những chổ nước nông, nhưng lại luôn luôn mở ra một chân trời rộng lớn, đã giúp hun đúc nên trí thông minh phân tích, tính nghiêm túc và sự tận tình về đạo đức.
Một ảnh hưởng lan tỏa về lịch sử và xã hội như thế được thấy rõ một cách kỳ diệu trong kinh tế, tài chính và thương mại; trong những lĩnh vực này hai đặc tính Genova thật hiển nhiên: trung thực, bao hàm sự tin cậy, và nghi ngờ, ngăn chặn sự lừa dối. Cũng có tính bền bỉ, con đẻ của tính điều độ, cũng không thể thiếu được như trí thông minh; ý thức tôn giáo sâu sắc của những người Liguria liên hệ cuộc sống với Chúa Trời, trong khi ý thức về tận tình đạo đức của họ bảo đảm sự thẳng thắn không bị đạo đức giả hoặc thỏa hiệp làm nhơ.
Kết quả trong những quan hệ xã hội và chính trị thì lại khác. Việc người Genova thiếu lòng tin, và có sự dè dặt, thậm chí đố kỵ, đối với chính trị xuất phát từ khả năng lớn lao của họ về đi biển và từ sự bất lực của họ theo đuổi nông nghiệp. Ở biển cả - từ những ngày đi thuyền buồm cho đến những ngày chạy tàu hơi nước, cho tới đầu thế kỳ này - thông qua sự dũng cảm của mình, một người chỉ huy giành được sự đánh giá cao, tôn trọng và dốc lòng phục vụ của những người dưới quyền mình. Người chỉ huy đó chọn hướng đi, tránh hàng nghìn trắc trở của thời tiết, sương mù, dòng nước và những bãi cạn, thoát khỏi những cơn bão, đi vào những con kênh không bị tổn thương, chạy dọc theo những kho bãi. Tất cả những điều này là khó, như bất cứ ai đã đi biển bằng thuyền buồm đều biết, vì phải luôn luôn chờ đợi sự hỏng tàu mỗi ngày, mỗi đêm, trong thực tế là mỗi giờ. Có sao đâu nếu người thuyền trưởng khắt khe, cứng cỏi, lạnh lùng, nếu người đó hay chê trách và không bao giờ hài lòng, không bao giờ ban cho bạn một lời khen? Bằng cách đưa tàu vào bến an toàn, ông ta bảo đảm cuộc sống của bạn. Một người thuyền trưởng trên biển không cần đến những thủ thuật của một nhà chính trị.
Sự tóm lược này về tính cách, thái độ, khuyết điểm và sự xuất sắc của những người Liguria là áp dụng được cho người con vĩ đại nhất của họ, Cristoforo Colombo. Colombo sinh ra và sống thời thanh niên của ông vào nửa sau thế kỷ XV, khi Genova trở thành như Fernand Braudel nói ‘‘trung tâm của chủ nghĩa tư bản châu Âu’’. Trong nhiều thế kỷ Genova đã là một trong những thủ đô hải quân của Địa Trung Hải. Từ Genova những đội quân và những hạm đội đã ra đi trong những cuộc Thập tự chinh đầu tiên. May mắn có được một hải cảng thiên nhiên hoàn hảo và ở vào một vị trí ở đầu của một vịnh sâu gần trung tâm Địa Trung Hải, Genova đã đoạt được sự kiểm soát biển Tirreno (Ti-rê-nô) từ những người Saracen (Xa-ra-xen), Pisa (Pi-sa), Provence (Prô-văng-xơ) và Catalogna (Ca-ta-lô-nha). Tự do đi lại và kiểm soát những con đường hàng hải tới biển Liguria là tối quan
trọng đối với người và tàu biển để khảo sát Địa Trung Hải, tìm những nơi đổ bộ và những hải cảng phát triển nhất, và người Genova dùng những nơi và những hài cảng đó để thâm nhập vào đất liền, tìm hàng hóa và thị trường. Một nhà sử học đặc biệt giỏi tổng hợp, Giovanna Petti Balbi (Giô-van-na Pét-ti Ban-bi), nói với chúng ta rằng từ đầu thiên niên kỷ thú II người Genova đã ở Sardegna (Xác-đê-nha) và Corsica (Coóc-xi-ca), rồi ở dọc bờ biển Tunisia và Tây Ban Nha, rồi miền tây Địa Trung Hải, trước khi kiểm soát miền đông, từ đây họ đã đến với cuộc Thập tự chinh thứ nhất. Họ đã tạo ra một đế quốc thực dân thực sự, về kinh tế hơn là về chính trị, vì những nhân vật như Zaccaria (Dăc-ca-ri-a), Vignoso (Vi-nhô-xô), Ghisolfi (Ghi-xôn-phi), Adorno (A-đoóc-nô), Lomellini (Lô-men - li - ni) và Centurione (Xăng-tu-ri-ô-nê)- đã kiểm soát việc triển khai vốn, tàu biển, người và những kinh doanh thương mại ở vùng này, hoặc vùng khác của Địa Trung Hải, nhiều khi làm trái với những chính sách và liên minh chính trị của quê hương họ. Những cộng đồng người Genova được thiết lập tại Tây Ban Nha, trên những đảo, tại Bắc Phi, trong biển Egeo, trong Hắc Hải, tạo ra một mạng lưới lớn bao gồm cả Đại Tây Dương (Bồ Đào Nha, Anh và Flandre) lẫn phương Đông (Ba Tư, Ấn Độ, và Trung Quốc).
Trong thế kỷ thứ XV, Genova đã được hưởng một chế độ kinh tế có thể gọi là mang tính chất thương mại. Genova đã vượt quá thời Trung cổ phong kiến, thời này không phải là thời tự do buôn bán, trừ buôn bán rải rác, lúc có, lúc không, và bí mật. Chính trong thế giới mang tính chất thương mại này, người thanh niên Colombo đã lớn lên: Bảy mươi bảy tài liệu đã được công chứng, trong đó cha ông là nhân vật trung tâm, hay được nói đến, là một chứng cớ rõ ràng. Mua và bán, lợi tức - những tỷ lệ phần trăm, những cổ phần và những lợi nhuận - đây là những thuật ngữ mà trong thời Trung Cổ người ta chưa hề biết. Thừa kế được nền văn hóa, kinh tế này, Colombo đã rời Genova, vượt hải phận nước Anh nhiều lần, buôn bán tại những đảo thuộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, ở Đại Tây Dương và châu Phi. Và sống tại Bồ Đào Nha, nơi đây ông đã thương lượng với nhà vua trước khi đến Seviglia và Cordova. Tại Tây Ban Nha ông thấy khu định cư người Genova rõ rệt nhất với những gia đình Adorno, Doria, Centurione, Grimaldi, Pinelli , Spinola , De Mari và Di Negro (Đi Ne-gờ-ró), những họ tên ưu việt nhất thuộc giai cấp thương nhân giàu có của một Genova trù phú. Và tại Andalusia (An-đa-lu-xi-a) này, trong thế giới những người Genova hoạt động ngân hàng, thương nhân, người buôn bán đồ phụ tùng tàu biển, Colombo đã phát triển sự nghiệp vĩ đại của ông.
Nguồn gốc văn hóa Genova của Colombo, hiển nhiên một cách rõ rệt và không thể nghi ngờ được trong thương mại và kinh tế, cũng hiển nhiên trong một lĩnh vực khác có liên quan: địa lý. Genova trong thế kỷ thứ XV đã là một trong những thủ đô của ngành vẽ bản đồ đi biển, có lẽ thủ đô quan trọng nhất, cạnh tranh với Venezia, Maiorca, và những trường phái A Rập. Là một cậu bé tại nhà trường thuộc Phường các nhà buôn len, Colombo đã học được những yếu tố đầu tiên về địa lý và đi biển tại trung tâm của Thế Giới Công Giáo với sự hiểu biết sâu sắc nhất về những môn học đó.
Kết luận: Genova không những là sinh quán của Nhà Phát hiện ra lục địa châu Mỹ, mà Genova còn có nhiều tài liệu lưu trữ về ông và là quê hương văn hóa của ông. Tại Genova Colombo đã thừa kế tinh chất cơ bản và lòng tin của ông, tích lũy kiến thức của ông vẽ biển cả, cũng như tính tò mò khoa học và sáng kiến kinh tế của ông.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.06.2021 10:51:20 bởi Ct.Ly>
7.   ÔNG CHỦ ĐẠI TÂY DƯƠNG

 
Sự hiểu biết rõ ràng, chính xác của Colombo về Ghinê cũng quan trọng trong sự triển khai kế hoạch lớn của ông về cuộc phát kiến vĩ đại như những chuyến đi của ông đến Chio, nước Anh, Băng Đảo, Madera và việc ông lưu lại trên đảo Porto Santo.
Chúng ta biết chắc chắn giữa 1482 đến 1484 Colombo đã hoàn thành ít nhất một chuyến đi đến Ghinê. Trong Nhật ký, ông thường nói đến pháo đài Mina và bờ biển Melegueta. Bờ biển này kéo dài từ mũi Mesurado đến mũi Palmas. Gần mũi Mesurado, ngày nay nổi lên Monrovia, thủ đô Liberia. Mũi Palmas cũng ở Liberia, gần biên giới với Bờ biển Nga. Pháo đài vẫn còn tại Elmina (En-mi-na); thực ra hiện nay là hai pháo đài, ngự trị thành phố Elmina, ở nước Ghana hiện đại.
Colombo đã tìm gì ở Elmina? Không phải sản phẩm nông nghiệp, cũng chẳng phải những đường biển cho kế hoạch thai nghén của ông, vì những đường ấy nằm trong một hình bốn cạnh của Đại Tây Dương mà chúng ta sẽ thấy ở phía Bắc vĩ tuyến của Ghinê. Người ta thường nói rằng ông đi tìm vàng ở đó. Huyền thoại về vàng luôn luôn ám ảnh đầu óc ông. Ông chỉ quan tâm ít đến hương liệu và thuốc nhuộm, mặc dù những thứ này là cơ sở cho những lợi ích kinh tế của Bồ Đào Nha. Ông thường nói trong Nhật ký về mát tít và thuốc nhuộm có thể lấy từ cây cối, nhưng ý nghĩ cố định (1) của ông vẫn là vàng. Ông đã thấy vàng ở Elmina, hoặc nói đúng hơn, một ngành thương mại vàng đang phát triển.
Không cần đến Ghinê để biết tầm quan trọng của kim loại quý này đối với người châu Âu, lục địa châu Âu hầu như không có. Thật vậy, lượng vàng do những người thám hiểm đầu tiên phát hiện năm 1471 ở Elmina đã tạo cho người Bồ Đào Nha một ấn tượng ảo vọng là lượng vàng đó đã được tích lũy qua nhiều thế hệ. Rõ ràng những người châu Phi đã tìm vàng trong hơn hai nghìn năm. Thí dụ, chúng ta biết rằng ngay cả trước kỷ nguyên Công Giáo, những dây chuyền vàng cục tự nhiên đã được chế tạo tại Nigeria, một nước không sản xuất vàng.
Nắm độc quyền việc buôn bán, người Bồ Đào Nha đã có thể nhập khẩu hàng năm khoảng 25.000 aoxơ vàng trong một số năm.
Năm 1502 riêng một chuyến tàu đã chở 125 cân Anh vàng. Những số lượng đó không phải là những con số lớn, nếu ta xét tới việc phát hiện và khai thác những mỏ lớn ở Nam Phi và Liberia, cũng như những mỏ rải rác ở khắp châu Mỹ. Nhưng trong thế kỷ XV, những con số như thế là có ý nghĩa, đủ khích lệ bất cứ ai khao khát của cải, hoặc ngay cả những người mong muốn của cải một cách vừa phải.
Theo những tài liệu của Bồ Đào Nha, hình như một phần lớn vàng ở Elmina là những đồ trang sức, nhưng cũng có vàng mới. Chắc chắn Colombo bận tâm về việc xác định chất lượng vàng đó. Colombo đã thấy rõ tầm quan trọng của tỷ lệ mất cân đối giữa vàng đã chế biến với vàng mới trong chuyến đi thăm đầu tiên của ông tới Elmina. Tại đó ông đã học phân biệt hai nguồn vàng. Nhân dân bờ biển đãi cát, thu lượm bột vàng và một đôi khi vàng cục, trong khi những thợ mỏ trong đất liền theo những mạch trong đá, đào những đường hầm dài, một đôi khi đường hầm nọ trên đường hầm kia, nối với nhau bằng những đường hàm thẳng đứng.
Sau này, khi Colombo đi từ đảo này đến đảo khác trong vùng biển Caribê và thấy khắp nơi những người bản xứ mang đồ trang sức châu báu, mối quan tâm đầu tiên của ông luôn luôn là: Vàng từ đâu đến? Ở sông nào? Núi nào? Việc tìm kiếm vàng huyền thoại đã đưa Colombo đến Elmina, từ đó ông trở về, tin tưởng một cách vững chắc hơn trước vào sự thật, của những báo cáo về sự tồn tại của vàng.
Ngoài vàng, chuyến đi của Colombo tới Ghinê đã cho ông kinh nghiệm chủ yếu nhất đối với kế hoạch lớn của ông, kế hoạch mà ông vẫn còn đang bố trí sắp xếp. Để đến Ghinê, Colombo đã phải đi qua Cape Verde - không phải những đảo mà đại lục, Dakar ngày nay - và cây cối xanh tươi của vùng này. Ông đã trông thấy Grain Coast (ngày nay là Liberia) và Bờ biển Ngà, biết rằng những vùng ấy không những có cây cỏ mà còn xanh tươi. Ông còn thấy người, rất nhiều người.
Colombo muốn xác minh bằng chính mắt của ông sự sụp đổ lòng tin của những nhà thông thái thời cổ đại - từ Aristote đến Tolemeo - và tiếp tục qua thời Trung cổ, cho rằng vùng xích đạo và Nam bán cầu, con người không thể ở được. Lòng tin này là dối trá, tín ngưởng này là dối trá. Người ta chịu đựng rất tốt khí hậu ở miền nóng như thiêu như đốt. ‘‘Dưới đường xích đạo, nơi mà ngày luôn luôn kéo dài mười hai giờ, là lâu đài của Vua Bồ Đào Nha mà tôi đã đến thăm. Tôi thấy khí hậu vùng này dịu’’. Colombo đã viết như vậy về Elmina, bằng chữ La-tinh đây những lỗi đặc trưng cho cuối thời Trung cổ. Không những Elmina mà toàn bộ vùng nhiệt đói  ‘‘không phải là không thể sống được vì ngày nay người Bồ Đào Nha đi biển ở đó và nơi đó hoàn toàn có người ở’’.
Ngoài ra luôn luôn có những vùng đất mới, những sông mới, những rừng mới, những cánh đồng mới do những dân tộc cùng một dòng giống trồng trọt. Bên kia đường xích đạo là đất liền và hơn nữa, đất liền của cùng một lục địa, châu Phi - những bờ biển Bắc châu Phi tắm trong Địa Trung Hải. Những chân trời mới đang mở ra. Người ta có thể đi tới vùng ôn đới ở phía Nam, vùng đó rõ ràng có những đất có người ở, hoặc ít nhất những đất có thể ở được. Đây là tin tức cực kỳ quan trọng mà Colombo đã biết được trong những năm đầu ông sống ở Lisbon và muốn chính mình trải qua trực tiếp ở Elmina. Ngày nay người ta thường gọi đó là tin tức làm nên lịch sử. Đó là một mảnh cơ bản – mảnh quan trọng nhất và quyết định - trong hình mẫu nhiều màu sắc khác nhau mà từ đó kế hoạch lớn của ông cuối cùng nổi lên rõ ràng.
Ngay cả trước  khi Colombo vượt từ Đông sang Tây trong cuộc phát kiến vĩ đại nhất trong lịch sử, người ta có thể nói ông đã làm chủ Đại Tây Dương. Ông đã đi về phía Bắc, tới nước Anh và Ireland và xa hơn nữa, gần tới vòng Bắc Cực, tới Băng Đảo. Từ những cuộc hành trình trên biển đó, ông đã biết được những đợt lên xuống của thủy triều - độ lớn, độ lên cao và lạ lùng mà ít thủy thủ Địa Trung Hải hiểu được. Ông đã trải qua sương mù, giông bão với mức độ chưa từng có ở miền biển ấm áp phương Nam. Ông đã chú ý đến những dấu hiệu đầu tiên không lầm lẫn vào đâu được của dòng nước biển đã tạo cuộc sống cho phần lớn châu Âu: dòng Gulf Stream ấm áp.
Khi trở về Lisbon, Colombo đã là một thủy thủ lão luyện. Trước khi kết hôn, ông đã thực hiện một chuyến đi tới Madera tháng 7 - 1478. Có thể là lần đầu tiên ông đến đó; chắc chắn không phải là chuyến đi cuối cùng của ông. Ông đã trở lại Madera và Porto Santo nhiều lần, vì lý do công tác lẫn lý do gia đình sau khi kết hôn. Ta có thể nói không quá đáng rằng Colombo đã quen với giải Đại dương từ Lisbon đến Madera đến nỗi như đó là nhà của ông. Ông đã biết mọi thứ về con đường Lisbon - Madera, vai trò của gió và những dòng nước, khả năng tìm thấy loại cá này hay loại cá khác.
Ông đã biết tất cả các ngôi sao dọc theo những con đường của ông; trước  khi nghiên cứu những ngôi sao ấy trong các sách thiên văn, ông đã trông thấy những ngôi sao đó mỗi lần mặt trời lặn, mỗi đêm và mỗi lần mặt trời mọc. Và từ những ngôi sao, những cơn gió và dòng nước, Colombo đã biết được những bí quyết của nghệ thuật mà ông là vô địch: nghệ thuật đi biển bằng cách tính vị trí theo la bàn, hay máy tính tốc độ. Ông đã nắm vững nghệ thuật ấy bằng cách đi quá những quần đảo ở Canarie, Cape Verde, Azzorre và Ghinê. Chắc chắn ông đã sống một thời gian nào đó trên đảo Gran Ganaria và đã biết Lanzarote và Gomera. Ông đã biết những đảo Cape Verde trên đường từ Ghinê trở về; những tàu Bồ Đào Nha thích đi đường đảo hơn là đường dọc bờ biển, nơi mà những tàu đó buộc phải đi theo hình chữ chi. Sự hiểu biết mà Colombo đã biểu hiện tại vùng biển quần đảo Azzorre trong những cuộc hành trình thuộc cuộc phát kiến lớn bảo đảm cho chúng ta rằng Colombo cũng đã đi biển giữa những đảo này trong suốt thời kỳ sống tại Bồ Đào Nha. Hơn nữa, những người dân sống ở Azzorre đã cho Colombo một số chỉ dẫn quan trọng nhất - tôi sẽ nói về những chỉ dẫn đó ở dưới.
Ở vùng biển Azzorre Colombo đã có được một niềm tin khác làm căn bản cho khái niệm về kế hoạch lớn của ông: ở kinh tuyến đó của Đại Tây Dương, những trận bão thì mạnh hơn, thường xuyên hơn và kéo dài hơn những cơn bão ở xa hơn về phía Nam. Hậu quả là trong những thời kỳ thời tiết yên tĩnh, đi trở lại từ Tây sang Đông quá Fayal thì dễ hơn, nhưng đi từ Đông sang Tây thì khó, và trong những thời kỳ dài không thể thực hiện được. Niềm tin này cũng quan trọng như sự hiểu biết về những cơn gió thổi liên tục về hướng xích đạo suốt năm, Colombo đã không thể có được ngoại trừ ở trong vùng biển Azzorre, nói một cách chính xác hơn, bằng cách đi từ Fayal đến Flores và có lẽ đến một điểm nào đó vượt quá Flores.
Trong nửa sau thế kỷ XV, việc thông thương giữa Azzorre và những điểm khác không chỉ từ Lisbon. Những con đường giữa Azzorre và Galway và giữa Azzorre và Bristol, hoặc Luân Đôn, cũng đi lại nhiều. Thậm chí có thông thương giữa Madera và Azzorre. Thường xuyên những tàu biển lấy một chuyến hàng từ Lisbon đi Azzorre, dỡ hàng ở đó và lấy một chuyến hàng khác và dỡ chuyến hàng này ở Galway. Tại đó tàu lại lấy hàng và chở hàng về Lisbon. Một số đoàn tàu còn đi từ Azzorre đến Băng đảo và trở lại. Chúng ta đang xem xét một vùng rộng lớn ở Đại Tây Dương do Bồ Đào Nha, Ireland, Băng Đảo, Azzorre, Madera, Cape Verde, Elmina và Ghinê bao quanh, hoặc ở giữa 64° và 5° Bắc và 8° và 30° Tây. Trong phạm vi vùng rộng lớn này là một vùng nhỏ hơn - giữa 40° và 28° Bắc - mà Colombo đã đi từ Đông sang Tây, Đông – Bắc đến Tây - Nam, Tây - Nam đến Đông - Bắc, Nam đến Bắc, thực tế mọi hướng. Ở trung tâm của cả hai khu là đảo Porto Santo, ở 34° Bắc và 16° Tây. Đây là nơi sinh ra kế hoạch lớn; người mẹ của kế hoạch ấy, chính là đại dương, Đại Tây Dương, Biển Đen Tối. Porto Santo, quần đảo Canarie và quần đảo Azzorre là ba điểm trong phương trình địa lý và hàng hải mà việc giải phương trình đó đã cho quyền làm chủ Đại Tây Dương. Với ý thức biển cả đã làm cho ông nổi tiếng, Colombo đã tìm thấy lời giải đó từ năm 1476 đến năm 1484. .
Vào thời đó, người ta chỉ biết gió hay thay đổi, vì ở Địa Trung Hải, Đại Tây Dương thuộc châu Âu và Bắc Hải giữa nước Anh và các nước Bỉ, Lúc-xăm-bua (Luxembourg) và Hà Lan gió đều luôn luôn biến đổi, chuyển hướng thường xuyên. Nhưng vì những lý do khác nhau, những thủy thủ không hiểu biết, hay đúng hơn không hiểu biết một cách chính xác là có những luồng gió thổi cùng một hướng suốt năm. Những nhà đi biển Bồ Đào Nha thế kỷ XV trước Colombo chỉ biết những ảnh hưởng không đáng kể của gió Đại Tây Dương, vùng biển Madera, Canarie và bờ biển châu Phi. Họ quen gió Đông Bắc không thay đổi, hay gió thổi mạnh một năm về phía đường xích đạo chỉ dọc theo những bờ biển châu Phi; họ không biết gió ở ngoài biển khơi như thế nào - mạnh tới mức nào và vươn xa tới mức nào về phía Tây.
Tính không thay đổi của gió xích đạo xuất phát từ việc đốt nóng liên tục bầu khí quyển miền nhiệt đới, làm cho không khí ít dày đặc hơn và dẫn đến giảm áp lực bầu khí quyển. Những khối không khí ở gần bị kéo vào để thiết lập lại sự cân bằng, rất giống sự thở. Gió xuất phát từ đó sẽ thổi về đường xích đạo, nhưng vì trái đất xoay xung quanh trục, tất cả mọi vật thể chuyển động ở Nam bán Cầu xoay về bên trái. Hậu quả là những khối không khí ở phần thấp hơn của bầu khí quyển ở Bắc bán Cầu thổi từ Đông bắc đến Tây nam, và ở Nam bán cầu thổi từ Đông nam xuống Tây bắc. Đây là gió xích dạo, thổi suốt năm với sự đều đặn lớn nhất. Gió xích đạo từ Đông - Bắc ,và gió xích dạo từ Đông - Nam bị tách ra bởi một vùng xích đạo lặng gió, đới xích đạo lặng gió gây ra bởi chuyển động đi lên của khối không khí ấm. Đới xích đạo lặng gió ở gần đường xích đạo nhưng ở phía Bắc bán cầu nhiều hơn, vì Bắc bán Cầu có nhiều đất hơn Nam bán cầu - đất nóng hơn biển.
Cho rằng Colombo đã biết tất cả những thực tế khoa học này sẽ là một sự cường điệu, tuy nhiên ông đã hiểu những ảnh hưởng thực tế qua kinh nghiệm từ nhiều chuyến đi đầu tiên. Ông đã phát hiện ra ý nghĩa tiềm tàng của gió xích đạo từ hướng Đông - Bắc để đi về hướng Tây; đó là phát hiện quan trọng nhất cho việc ông làm chủ Đại Tây Dương. Từ thái độ của ông đối với chuyến đi đầu tiên, ta có thể thấy rằng đây không thuần túy là sự suy đoán mà là một điều ông đã xác minh bằng kinh nghiệm của bản thân mình. Nếu không thì khó giải thích tại sao Colombo đã rời Palos, đi thẳng đến Canarie và từ đó đi về hướng Tây một cách tin tưởng. Cũng giống như vậy, sẽ khó giải thích tại sao trên đường trở về ông đã không biểu lộ một chút do dự nào trong việc đi về hướng Bắc vĩ tuyến của Azzorre, ở đây ông biết gió hay thay đổi nhưng thường xuyên thổi từ hướng Tây. Colombo không những đã phát hiện ra châu Mỹ, ông còn phát hiện ra hai đường biển lớn ở Bắc Đại Tây Dương mà bốn thế kỷ tiếp theo về hoạt động hàng hải bằng thuyền buồm đã xác minh là những con đường nhanh nhất và tốt nhất.
Nhiều điều khác Colombo đã nghiên cứu và hiểu bằng cách dùng thuyền buồm đi lại nhiều lần trong hình chữ nhật của Đại Tây Dương giữa 40° - 30° Bắc và 30°- 10° Tây. Ở những hải phận đó và ở những đảo ông đã lên bờ sinh sống, Colombo đã phát hiện một quan hệ cộng sinh với Đại dương và với những chòm sao. Ông đã khảo sát cẩn thận, và nghiên cứu biển và bầu trời, phát hiện ra nhiều điều bí ẩn. Ông đã đốt cháy bằng tình yêu đối với biển và bầu trời đó, tưởng tượng của ông được kích thích bởi những chân trời vô tận. Tuy vậy chỉ có một chân trời thực sự vô biên đối với Colombo: không phải chân trời về phía Bắc, nơi ông đã đi qua nhiều độ vĩ tuyến và đã tới Ultima Thule; không phải chân trời về phía Nam, Ghinê ở đó, nơi ông đã biết; không phải chân trời về phía Đông, nơi ông đã có đầy đủ sự hiểu biết về Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Địa Trung Hải, Italia, Hy Lạp và Ai Cập. Bây giờ ông chỉ quan tâm về phía Tây. Ở đó có điều ông không biết, ở đó ông bị thôi thúc bởi giấc mơ nồng cháy của trí tưởng tượng, một sự say mê không thể nào dập tắt được.

Chú thích:
(1)     Bản tiếng Anh dùng tiếng Pháp: idée




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.06.2021 10:41:14 bởi Ct.Ly>
 
8.   ĐI TỚI PHƯƠNG ĐÔNG TỪ HƯỚNG TÂY:
MỘT LỐI SUY NGHĨ MỚI.
 
Nói rằng Colombo là ông chủ của Đại Tây Dương thì chưa đủ để giải thích ông đã triển khai kế hoạch ban đầu và huy hoàng như thế nào để đến phương Đông bằng cách đi về hướng Tây. Trong chương X cuốn Lịch sử, Don Ferdinando nói về những gợi ý đã khích lệ viên Đô đốc đi tìm Ấn Độ và miền Đông Nam Á. Don Ferdinando xem những miền đất ấy là lý do thứ ba của cuộc phát kiến. Lý do thứ nhất liên quan đến những ý nghĩ về quả đất tròn và các kích cỡ của trái đất, được chỉ dẫn bởi Tolomeo và Marino và được khẳng định bởi những khái niệm của Strabone, Ctesia, Onesicrito, Nearco, Plinio và Alfragano. Lý do thứ hai là ‘‘nhiều học giả đã nói rằng từ ven biển phía Tây của châu Phi và Tây Ban Nha, người ta có thể đi về hướng Tây để đến Ấn Độ’’: Aristote, Averroe, Seneca, Solino, Marco Polo, Giovanni da Mandevilla, Pietro d’Ailly, và Giulio Capitolino. Thêm vào đó là ý kiến và sự cổ vũ của những bức thư của nhà học giả Firenze Paolo Toscanelli.
Trong thực tế sự việc xảy ra có phần nào khác. Khi Colombo thấy bức thư cửa Toscanelli gửi cho Giáo sĩ Martins, thuộc nhà thờ lớn Lisbon, thì ông đã có khái niệm rõ ràng về kế hoạch lớn của ông. Trong việc nghĩ ra kế hoạch đó, ông chưa có kiến thức của Strabone, Seneca, Nearco, Plinio, Averroè, hoặc Solino. Có lẽ ông đã được biết đến những báo cáo của Marco Polo, nhưng ông ít biết đến những tên tuổi Aristote, Tolomeo, hoặc Marino. Colombo đã đọc những sách của họ tại Tây Ban Nha sau khi kế hoạch lớn của ông đã hình thành trong đầu. Vậy thì những điểm chủ chót mà Don Ferdinando nói không phải là ‘‘lý do thứ ba’’ của sự gợi ý, mà là lý do đầu tiên. Đây là những gợi ý theo thứ tự Don Ferdinando trình bày trong cuốn Lịch sử.
  1. Martin Vicente một thủy thủ của vua Bồ Đảo Nha, nói với Colombo rằng: một lần khi ông ta cách Mũi San Vincenzo 450 dặm, ông ta thấy một mẩu gỗ chạm tinh tế nhưng không khảm sắt. Vì việc đó và vì gió đã thổi từ phương Tây trong nhiều ngày, Martin Vicente biết rằng gỗ đã từ những đảo nào đó ở phương Tây đến.
2.   Pedro Correa chồng của một người chị của Felipa Moniz Perestrello và như vậy là anh em đồng hao của Colombo, nói với Colombo rằng trên đảo Porto Santo ông ta đã trông thấy một mẩu gổ khác được chạm khắc tinh tế do gió Tây thổi vào; gió cũng mang đến những cây sậy to đến nổi một mẩu đơn độc có thể chứa mười bình rượu.
3.   Bản thân vua Bồ Đào Nha đã nói với Colombo về những cây sậy lớn này và đã chỉ cho ông ta một số cây. Vì không nơi nào trên phần đất này của thế giới mọc những cây sậy như thế, chắc chắn gió đã đưa những cây sậy ấy đến từ những đảo gần, hoặc từ Ấn Độ, vì trong tập 1, chương 17 cuốn Vũ trụ học, Tolomeo nói rằng những cây sậy này thấy ở phía đông Ấn Độ và Đông Nam Á.
4.   Một số người sống trên quần đảo Azzorre nói với Colombo rằng một lần, khi gió đã thổi từ hướng Tây một thời gian dài, biển đã ném vào những đảo đó một số cây thông, nhất là ở đảo Graciosa và đảo Fayal, trong khi đó ai cũng biết rằng bất cứ chỗ nào trên những phần đất này đều không có những cây như thế.
5.   Những người sống trên quần đảo Azzorre kể lại: trên đảo Flores, một đảo ở miền Cực Tây, xác hai người đàn ông đã dạt vào bờ; mặt họ rộng và khác mặt những người Công giáo.
6.   Tại Mũi Verga, ở bờ biển phía tây Ghi-nê 10° Bắc, người ta đã trông thấy một số thuyền đục từ thân cây có những phòng ngắn. Những thuyền này không phải từ Ghi-nê và người ta cho rằng trong khi đi giữa các đảo, gió và những dòng nước đã làm cho những thuyền đó đi lệch hướng.
7.   Antonio Leme ở Madera nói với Colombo rằng: một lần khi đi xa về hướng Tây trên chiếc thuyền buồm nhỏ của mình ông đã trông thấy ba đảo.
8.   Nhiều người ở những đảo Hierro và Gomera ở quần đảo Canarie và quần đảo Azzorre khẳng định rằng: hàng năm họ đã trông thấy một số đảo ở phía Tây. Họ chắc chắn về điều đó, và nhiều người đáng được tin cậy đã thế điều đó là có thật.
9.   Năm 1484 một người từ đảo Madera đến Bồ Đào Nha để yêu cầu nhà vua cho một chiếc thuyền buồm nhỏ để đi và tìm một vùng đất nào đó mà ông ta thể đã trông thấy hàng năm ở cùng một hướng, ông đồng ý với những người khác nói rằng họ đã trông thấy vùng đất ấy từ quần đảo Azzorre.
Chín đầu mối này, Colombo đã thu thập trước khi rời Bồ Đào Nha. Nhiều chuyện và tin đồn, một số là có thật, một số là tưởng tượng, đã lưu hành trong số những thủy thủ của Lisbon và trong số những người thực dân đầu tiên của Porto Santo, Madera, Azzorre và những đảo Cape Verde. Don Ferdinando chỉ nêu một ít trong Lịch sử nhưng chắc chắn Colombo còn được nghe nhiều chuyện khác. Thí dụ, Colombo đã viết rằng ông đã trông thấy hai xác chết ở ngoài khơi Galway, do những dòng nước đưa đến từ phương Tây. Trong khi Ferdinando kể trường hợp hai xác chết không phải người châu Âu dạt vào bờ biển của Flores mà cha ông đã nghe từ những người Azzorre, Colombo không nêu trường hợp khác ở Galway (Ireland). Đây là chứng cớ cuốn Lịch sử không ghi lại tất cả những đầu mối Colombo đã tập hợp.
Quan trọng hơn những đầu mối này - mà tất cả đều phụ thuộc vào chứng cớ của những người khác - là những đầu mối do nhà phát kiến tương lai trực tiếp hồi tưởng lại: những quan sát viết ở ngôi thứ nhất, những kinh nghiệm, những phỏng đoán, những suy xét và so sánh. Những điều này đã góp phần một cách quyết định vào việc lập kế hoạch cho cuộc phát kiến lớn.
Chúng ta đã thấy những điều Colombo học tập được từ cuộc đi biển của ông tới Băng Đảo và từ những kinh nghiệm của những người Scandinave cổ đại. Điều quan trọng nhất, Colombo đã đạt được mảnh chủ chốt thứ nhất trong hình mẫu nhiều màu mà từ đó xuất hiện kế hoạch lớn: lông tin rằng ở phương Tây không phải vực thẳm mà là Băng đảo - không phải là Ultima Thule - Greenland, cũng như những vùng đất khác, mặc dù vùng đất cuối cùng được phủ trong truyền thuyết. Và nếu có đất đai ở những vĩ tuyến phía Bắc, tại sao không thể có một vùng đất nào đó ở trung tâm Đại Tây Dương, trên những vĩ tuyến của Lisbon hay Ireland.
Người ta không thể bỏ qua Ireland trong số những kinh nghiệm đầu tiên của Colombo. Mặc dù Galway nằm ở 53° Bắc, Colombo đã thấy những mảng thú vị của ánh nắng mặt trời trên những dải cỏ xanh xung quanh thành phố có nhiều màu sắc đó. Chắc chắn người ta nói cho ông biết rằng màu xanh này là màu xanh của toàn Ireland, một màu xanh dịu dàng không phân biệt các mùa, trừ những cơn mưa thoảng qua nhanh chóng, và những giây phút có mặt trời. Màu xanh này đã tượng trưng cho Ireland trong nhiều thế kỷ, sẽ còn tượng trưng trong nhiều thế kỷ tới; màu xanh ấy chắc phải tác động đến trí tưởng tượng của Colombo, một người nhạy cảm với tất cả những hiện tượng tự nhiên.
Colombo biết rằng Ireland ở xa về phía Bắc của Milano và Pavia, thành phố của vị Quận công đã là người thống trị trực tiếp, hoặc gián tiếp, nước Cộng hòa Genova. Dù gia đình Colombo có từ Piacenza đến hay không, ông không thể không biết rằng về mùa đông ở Milano, Pavia và Piacenza thường xuyên có tuyết, ở Ireland thì không có tuyết. Galway ở vào khoảng 8 độ phía Bắc Milano; tuy nhiên mùa đông ở Galvvay ít khắc nghiệt hơn và mặt đất xanh rờn khắp nơi, dù không đặc biệt phì nhiêu trong mùa trồng trọt. Galway không có tuyết nhưng mưa liên tục, mây từ phương Tây đến mang theọ nước và sự ấm áp như những dòng nước biển từ phương Tây đến tắm cho bờ biển Ireland và mang đến sự ấm áp cho xứ này. Những người thủy thủ Ireland biết tất cả những điều đó; không ai biết rõ hơn họ rằng ở phía Tây có đất liền, cũng như nước Italia nằm ở giữa phía Tây Hy - Lạp, còn Tây Ban Nha thì nằm ở phía Tây Italia.
Lòng tin cho rằng đất liền nằm ở phía Tây phổ biến trong những người Ireland đến nỗi những chuyến đi theo truyền thuyết của các tu sĩ truyền đạo đó đã xảy ra trong thực tế như những chuyến đi theo truyền thuyết của các tu sĩ truyền đạo Cơ đốc đã tăng lên gấp bội trong nhiều thế kỷ. Một số chuyến đi truyền đạo đó đã xảy ra trong thực tế như những chuyến đi tới Băng Đảo, và những chuyến đi đó đã dẫn đến việc phát hiện đảo này bởi những người Scandinave cổ đại. Hầu hết những chuyến đi khác là kết quả của tưởng tượng, dù khó nói tưởng tượng tới mức độ nào. Tôi đã nói, tại Bristol, Colombo đã biết được độ lớn của thủy triều như thế nào; ông ta lại từng trải độ lớn của thủy triều tại Galway và tại những vịnh hẹp ở Băng Đảo. Gặp phải những kinh nghiệm đó bất cứ cậu học sinh thông minh nào cũng hỏi một người lớn đứng cạnh cậu ta:  ‘‘Nhưng tất cả nước này dồn về đâu khi nó hạ xuống’’. Và khi nước thủy triều lên, cậu học sinh đó sẽ hỏi:  ‘‘Tất cả nước này từ đâu đến?’’
Colombo là một người quan sát cần cù, thận trọng những hiện tượng tự nhiên, ông không thể không tự đặt câu hỏi. Trả lời của ông không thể là  ‘‘Vực thẳm! Nước từ vực thẳm đến và lại trở về vực thẳm’’. Nước thủy triều Bristol, Galxvay và Hvalfjordur dâng lên từ phương Tây rồi rút về phương Tây, như vậy nước thủy triều hỗ trợ cho tính liên tục của biển từ lục địa này sang lục địa khác; tính liên tục từ Đông sang Tây ở Địa Trung Hải như người ta đã biết. Và thủy triều thì lớn hơn vì Đại Dương lớn hơn Địa Trung Hải. Những giới hạn của Đại Dương, dù lớn hơn cũng phải có những hạn mức; tức là phải có những bờ biển ở cạnh bên kia, không phải một vực thẳm, hoặc bóng tối.
Tôi đã nói lên ý nghĩa của Madera và Porto Santo đối với Colombo. Tự bản thân Colombo đã thấy những dấu hiệu của sự tôn tại những vùng đất ở phía Tây, ông không cần sự giúp đở của bất cứ người nào khác: đậu biển, những khúc gổ lạ dạt vào bờ biển; những cây nhỏ không thấy ở những cánh đồng cò Châu Âu, hoặc châu Phi, những núi hoặc những lòng chảo biển; và vai trò của những dòng nước - lúc nóng, lúc lạnh - dọc theo những bờ biển, phụ thuộc vào hướng chảy của chúng.
Trên quần đảo Canarie, Colombo thấy một hiện tượng ông chưa gặp ở đảo Madera, Porto Santo, hoặc quần đảo Azzoree. Không một đảo nào trong những đảo này những người châu Âu đầu tiên thấy có người ở. Tại những đảo Cape Verde họ đã thấy một số người da đen, cùng một giống người như ở châu Phi. Tuy nhiên, tại quần đảo Canarie, họ thấy thổ dân khác với giống người ở châu Phi và Địa Trung Hải: da họ trắng, mắt xanh và rất cao. Họ không có kiến thức đi biển, hoặc làm tàu thủy; họ vẽ mình và ướp xác. Họ vẫn ở thời kỳ đồ đá. Họ thờ một vị thần duy nhất, một Vị Thần vĩ đại đáng sợ, Thượng Đế. Khi Colombo đến quần đảo Canarie lần đầu tiên - từ năm 1478 đến năm 1484 - dân tộc lạ lùng và kỳ quặc này vẫn thống trị những đảo Tenerife và La Palma và chỉ bị chinh phục trên đảo Gran Canaria. Chắc chắn Colombo ngạc nhiên về sự tồn tại của một dân tộc và ngay cả những học giả cũng không biết đến dân tộc đó, không giống bất cứ một dân tộc nào trong thế giới mà ta đã biết. Trong thời gian đó, Temisoro, vị vua hào phóng của đảo Gran Canaria, chuyển sang đạo Gia Tô. Người ta có thể thấy bao nhiêu người chín mùi để cải đạo ở bên kia đại dương, ở những vùng đất chưa ai biết đến và ở những vùng đã biết tại Châu Á!
Tại những đảo Cape Verde, Colombo đã tăng kiến thức của ông về gió xích đạo, về vai trò của những con đường người Bồ Đào Nha đã đi và do đó vai trò có thể đi được xa hơn về phía Tây của những con đường ở các vĩ tuyến đó. Những tàu Bồ Đào Nha thăm viếng những đảo Cape Verde thường xuyên trên đường trở về hơn là trên đường đi ra, không phải vì những ham muốn bất ngờ, hoặc nhu cầu hậu cận, mà vì để sử dụng tốt hơn những cơn gió. Trên đường đi ra, gió xích đạo thổi từ Đông Bắc tới Tây Nam, tạo-thuận lợi cho việc đi biển khá khó khăn dọc theo bờ biển, cho đến khi đi vòng Mũi Palmas những tàu biển đi vào vùng lặng gió của xích dạo. Tuy nhiên trên đường trở về những tàu biển phải đi khó khăn tới nơi gió thổi ngược chiều gió xích đạo sau khi rời vùng lặng gió ở xích đạo. Đó là con đường liên tục bị hiểm hóc vì đi vòng chữ chi. Trên đường trở về, đi thẳng tới những đảo Cape Verde và từ đó tới quần đảo Canarie ít nguy hiểm hơn. Từ những con đường khác nhau này Colombo đã biết nhiều ý nghĩa và tầm quan trọng của gió xích đạo.
Như tôi đã nêu, quần đảo Azzorre là một trong những điểm chủ chốt trong khái niệm về kế hoạch lớn. Quần đảo được coi là ‘‘châu Âu’’ đối với những nhà du lịch hiện đại. Nó có tính chất châu Âu ở phong tục của nhân dân - đa số là những người Bồ Đào Nha và với một qui mô nhỏ, những người Flamand. Nó có tính chất châu Âu ở khí hậu, không khác nhiều khí hậu Bồ Đào Nha, dù ẩm hơn. Nó mang tính chất châu Âu vì những người châu Âu đã mang động vật và thực vật châu Âu vào quần đảo này.
Trong thời Colombo người ta chỉ mới bắt đầu cảm thấy những ảnh hưởng thực dân hóa của người Bồ Đào Nha và của người Flamand. Hệ thực vật vẫn là bản xứ, được đặc trưng bởi những cây có tính chất điển hình Đại Tây Dương. Và sự có mặt của con người thì chưa rõ ràng, trừ trong một số ít lạch và vịnh, nơi thành lập những khu định cư đầu tiên. Quần đảo có vẻ là kết quả tự nhiên của những núi lửa đã bất ngờ phun nham thạch ở vùng này của Đại Tây Dương và đã tạo ra một số đảo và đảo nhỏ bao quanh: São Miguel và Santa Maria ở phía Đông; Terceira, Graciosa, São Jorge, Pico và Fayal ở miền trung; Flores và Corvo ở phía Tây.
Quần đảo là một đơn vị. Tất cả các đảo đã và đang thuộc Bồ Đào Nha, và ngay cả theo quan điểm địa vật lý, mới nhìn qua đã thấy sự thống nhất của nó. Nguồn gốc núi lửa rõ rệt ở các đảo: tất cả có caldeiras, những miệng núi lửa thường có hồ ở đáy, và ở mọi nơi có những dòng nham thạch ba dan, những suối nước nóng và những lỗ thoát hơi nước. Nhưng vì sự thống nhất này - trong thực tế, vì sự tương phản rõ rệt với sự đồng nhất này - những người có ý thức về biển như Colombo không thể không lưu ý đến sự khác biệt sâu sắc về tác động của gió và những dòng nước trên những đảo phía Đông và trên những đảo phía Tây. Chỉ trong mùa đông toàn bộ quần đảo mới nằm dưới gió tây và gió tây - nam. Trong những mùa khác hai đảo ở phía đông São Miguel và Santa Maria, chịu ảnh hưởng tốt của gió xích đạo Đông - Bắc, trong khi đó những đảo miền trung và miền tây vẫn chịu ảnh hưởng của gió tây và tây nam.
Hình như trong sự rối mù này, Đại Dương muốn thiết lập sự gặp lại của hai lực lượng siêu nhân, gần như một lực chia cắt, những dòng nước biển và dòng không khí từ những bờ biển châu Âu và châu Phi đến, với những dòng nước biển và không khí từ những bờ biển phương Tây đến. Ngày nay bất cứ một người nào nhìn về hướng Đông từ cạnh cuối cùng của đảo São Miguel, hoặc đảo Santa Maria, đều biết rằng anh ta đang hướng về châu Âu, như Colombo đã làm. Nếu một người nào đó nhìn về hướng Tây, từ cạnh của đảo Fayal, hoặc đảo FIores anh ta biết rằng anh ta đang hướng về châu Mỹ. Tất nhiên Colombo đã không làm như thế. Nhưng Colombo đã cảm thấy rằng ông ta không nhìn về một vực thẳm: từ đảo São Miguel, Colombo thấy mặt trời mọc từ Đại Tây Dương; từ đảo Fayal hay đảo Flores ông ta thấy mặt trời lặn vào Đại Tây Dương; đúng như mặt trời đã không mọc từ một vực thẳm ở phương Đông, mặt trời không thể chìm xuống vực thẳm ở phương Tây.
Đất - dại lục, điểm làm căn cứ - hình như ở xa cả hai bên: cách Bồ Đào Nha 875 dặm, cách Terranova 1.054 dặm, thực sự là những khoảng cách không phải là không thể vượt qua nổi. Quần đảo Azzorre, là thử thách gay go ở trung tâm Đại Tây Dương là một bãi quan sát quan trọng đối với Colombo trong cố gắng của ông làm chủ Đại Tây Dương. Tại đó ông đã thấy những mấu chốt tốt nhất trong số những mấu chốt khác, những gợi ý ông giữ kín như những cánh cửa khóa, chỉ mở ra khi ông thực hiện kế hoạch lớn của mình. Trước khi ông đã biết rằng từ quần đảo Azzorre không nên đi thuyền từ vĩ tuyến đó đến vụng chưa biết, vì ông sẽ bị gió cuốn trở lại, gió luôn luôn thổi theo hướng ngược lại từ những đảo ở phía Tây. Ông cũng biết rằng vĩ tuyến đó chỉ thích hợp với đường trở về.
Tôi đã nói về chuyên đi, hoặc những chuyến đi của ông tới Ghinê. Tuy nhiên có một điểm mấu chốt khác nữa cần nhấn mạnh. Colombo miêu tả Elmina là ‘‘nơi ánh sáng ban ngày luôn luôn kéo dài mười hai giờ’’. Tại Băng Đảo ông đã quan sát thấy ngày kéo dài bốn giờ mười lăm phút về mùa đông, mười bảy giờ về mùa xuân, và hai mươi mốt giờ vào hạ chí. Những khí hậu tương phản này hỗ trợ cuộc sống: cuộc sống của cây cỏ và động vật, và quan trọng nhất vừa hổ trợ cho cuộc sống của con người. Như vậy, những điều mê tín dị đoan đã tan dần trong tâm trí Colombo; ngoài thế giới đã biết đối với người cổ đại, có những vùng đất chưa biết, tuy nhiên có thể có được và có những biển có thể đi lại bằng tàu bè được.
Tôi đã liệt kê những điểm mấu chốt do Ferdinando nêu ra và những ấn tượng, kết luận và xem xét gọi ra đối với Colombo do những kinh nghiệm cá nhân của ông, cùng những kinh nghiệm đã cho ông được làm chủ Đại Tây Dương. Từ những điểm mấu chốt và kinh nghiệm này, Colombo đã rút ra sự gợi ý cho kế hoạch lớn của ông theo bản năng. Với trực giác của mình, giác quan thứ sáu về biển đã phần biệt ông với những người khác, ông đã lợi dụng việc nghiên cứu chi tiết về đại dương, nghiên cứu tỉ mỉ về những dòng nước, gió, bầu trời và những ngôi sao; lợi dụng những điểm mấu chốt ông đã thu thập dọc theo những bờ biển Băng Đảo, Madera, Porto Santo, và Azzorre.
Bằng trí tuệ của mình, ông đã thu thập, phân tích và thảo luận những tin đồn và những ấn tượng về Đại Tây Dương với những thủy người Genova, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Anh, nhất là những tin tức về kinh nghiệm cũ, kỳ diệu của những nhà mạo hiểm Scandinave cổ đại, thu thập từ những nguồn trực tiếp nhất, những thủy thủ Bristol, Galway và ở những hải cảng Băng Đảo. Bằng trí tưởng tượng của mình, ông đã hình thành giấc mộng để biển nó thành hiện thực. Những cảnh làm say lòng người thuộc những bờ biển Địa Trung Hải- những cảnh ở Liguria, Corsica, Sardegna, Napoli, Sicilia, Chio và Tunisi - đã thức tỉnh trí tưởng tượng của Colombo. Trí tưởng tượng ấy được giải phóng bởi sự cô độc của Đại Dương mênh mông và được hỗ trợ bởi những kỳ quan của Ultima Thule, Madera huy hoàng, quần đảo Canarie được ban phước, quần đảo Azzorre rải rác và Ghinê xanh rờn.
Kế hoạch lớn đã ra đời như thế từ một sự ngẫu hứng, hay hơn thế từ một sự kết hợp thiên tài của hàng loạt những ngẫu hứng. Bức thư của Toscanelli, những công trình nghiên cứu của các tác giả cổ đại và đương thời chỉ đến sau đó, khi kế hoạch đã trở nên sáng tỏ, chính xác và được xác định. Rồi kế hoạch này. nở trong Đại Tây Dương và Colombo mong muốn một cách chính đáng trở thành Đô Đốc của Đại Dương. Kế hoạch ra đời đúng lúc huyền thoại cho rằng những vùng nóng bỏng của xích đạo không thể ở được đang bị đập tan và lòng tin trái đất tròn đang tăng lên, không những trong các học giả mà cả trong đám thủy thủ.
Thực tế về vùng đất đối chân ở bên kia trái đất vẫn còn chưa rõ và bị mê tín dị đoan xuyên tạc. Những người bình dân đã tưởng tượng ra những hình ảnh kỳ lạ về một cái vực đáng sợ, tại đó người và tàu sẽ bị nuốt trôi. Những học giả và những thủy thủ nghiêm túc hơn nói về những giải nước vô tận mà ở đó tàu biển không thể đi lại được. Tóm lại cả hai nhóm cho rằng con người không thể đến được phần đất đối diện bên kia. Một khái niệm thời trung cổ điển hình là khái niệm của Đantê: ông xác định vị trí của Núi Chuộc tội là ở phần đất đối diện bên kia trái đất, nổi lên từ biển cả; sinh vật không thể đến được.
Ở dây là sự đổi mới phi thường trong kế hoạch của Colombo. Kế heạch đó ra đời khi Colombo khắc phục được hai nỗi sợ hãi lớn; một là di sản thời trung cổ; một nữa sinh ra từ cách chỉ đi men dọc bờ biển châu Phi và tránh xa biển cả, khi mà bất chấp những phát hiện lớn và đầy hiệu quả, người Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục đi dọc bờ biển châu Phi và tránh biển khơi.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.06.2021 22:30:42 bởi Ct.Ly>
3.   CHIO (1) SỰ QUYẾN RŨ CỦA PHƯƠNG ĐÔNG

 
Năm 1459, khi Colombo tám hay chín tuổi, của cải của phái Fregoso đã bắt đầu suy sụp. Pietro Fregoso chết một cách bi thảm sau một cuộc xung đột nhỏ đầy bi kịch gần cổng thành phố của Thánh Andrea. Một người khác thuộc phái Fregoso, Tổng Giám mục Paolo, lãnh đạo phái ông trong cuộc nội chiến tiếp theo và đã giành được chức tổng trấn, nhưng năm 1464 bị lật đổ và phải trốn sang Corsica. Genova chuyển sang sự kiểm soát của phái Sforza Xphoóc-xa, những quận công Milano.
Từ 1466 đến 1470, vì của cải lớn hơn của phái Fregoso đã được định đoạt, của cải nhỏ của Colombo cũng được định đoạt, dẫn đến việc ông quyết định chuyển đến Savona (Xa-nô-va). Với việc phái của ông bị thất thế, hy vọng của ông về việc nhận được sự bảo trợ cũng hết và ông đã quyết định phải thay đổi nơi chốn mới có lợi hơn. Savona là một thành phố vẽ tranh của Genova và có nhiều cơ hội hoạt động thương mại hơn là những nhà sử học thường thừa nhận. Tuy nhiên, Savona bị Genova lợi dụng và khinh miệt, người ủng hộ các phái khác nhau và quân đội của một số nhà vua Angio, Pháp, Milano và Aragon - dùng Savona làm căn cứ tiền tiêu để tấn công Genova, hoặc làm nơi lánh nạn sau một cuộc tấn công thất bại, hay sau khi bị đuổi ra khỏi thành phố. Trong thời Colombo số phận của Savona vẫn còn bị cột chặt vào số phận của Genova như trong nhiều thế kỷ trước.
Tại Savona, Domenico theo đuổi nghề buôn len của ông, nhưng ông cũng điều hành một quán trọ. Còn Colombo thì sao? Lúc này mười lăm tuổi, cậu đã bắt đầu đi thuyền trong hải phận của Liguria, Provence, và Corsica. Giữa những cuộc đi biển, Colombo ở lại trên bờ, làm việc trong cửa hàng của cha tại Savona trên phố San Giuliano (Xan-giu-li-a-nô), ngày nay là phố Dei Cassari (Dây Xát-xa-ri). Giả thiết nếu ông đi biển liên tục, cuộc sống của một thủy thủ có thể đã không cho ông có thời gian mơ tưởng về những chân trời mới rộng hơn. Thay vào đó, trong những tháng ở trên bờ, niềm vui lớn lao mà ông đã trải qua trên biển cả đã thấm sâu vào tham vọng của ông, làm cho ông nhìn xa về tương lai, để cho ông mong mỏi ngày ông có thể lại chăm chú nhìn vào cõi vô tận.
Số phận đi biển của con người sẽ trở thành nhà phát hiện nổi tiếng nhất của tất cả các thời đại, như vậy là đã được hình thành lần đầu tiên ở Savona. Chúng ta không biết do sự tình cờ, hay do ý của Colombo muốn làm vinh dự cho Savona đã dẫn đến việc lấy tên thành phố này làm tên duy nhất của Liguria có trong vùng biển Caribe: ông đặt tên Savona cho một đảo nhỏ xinh đẹp ở tây nam Hispaniola, tên này đến nay vẫn còn.
Chuyến đi biển dài đầu tiên của Colombo chuyến đi quyết định cho tương lai của ông là tới đảo Chio, trong biển Egeo; từ Savona ông ra đi đến Chio ngày 25 tháng 5-1474. Từ thời Trung cổ cho đến thế kỷ XIX, người ta biết đảo này với cái tên do những người định cư Ionici cổ đại đặt cho nó: Chio. Đảo rộng 355 dặm vuông, hoặc gấp bốn lần đảo Elba, bằng một phần tư đảo Maiorca. Ngày nay đảo này có năm vạn dân, nhưng thời trưóc đã có lần đông dân cư hơn.
Chio là một bô phận của quân đảo Sporadi, một dãy đảo dọc theo cạnh phía tây của Tiểu Á. Một eo biển hẹp tách Chio khỏi bán đảo hình thành Vịnh Smirne (Xmia-nê). Tự hào về quá khứ vinh quang Chio tuyên bố là sinh quán của Omero (2); trong thời Colombo, Chio là một trong những cột trụ kháng cự của những tàn quân thế giới La Mã - Byzantine chống lại cuộc tiến quân quyết liệt của những người Thổ Nhĩ Kỳ. Genova và Venezia tranh giành hòn đảo này trong thời Trung cổ cho đến đầu thế kỷ thứ XIV, người Genova đã chiếm đảo này gần như liên tục, trước hết bởi gia đình Zaccaria (1304 - 1329) và rồi bởi Maona (1346 - 1566), một hội những người buôn bán đồ phụ tùng tàu biển mà những thành viên sau này mang họ Giustiniani.
 
Trên đảo Chio, Colombo đem lòng yêu Phương Đông. Đảo Chio là cửa ngõ đi vào Phương Đông, một thị trường giàu có, buôn bán nhộn nhịp. Hải cảng, khu buôn bán và những của hàng tấp nập những nhà buôn từ Phương Đông tới, với những bộ y phục nước ngoài, nhiều màu sắc, hòa trộn với những nhà buôn từ phương Tây, chuẩn bị ra đi tới những miền thần bí có lụa, có ngọc trai và đá quý.
Chio đã và hiện là hòn đảo rất đẹp. Những ngọn núi trơ trụi nhưng nguy nga và hùng vĩ, vì chúng cao và sát biển, như những ngọn núi Alpes (An-pờ) thuộc dãy Riviera (Ri-vi-ê-ra) -ở Liguria. Những sườn núi thấp hơn, những quả đồi và cánh đồng cỏ bao phủ bởi cây cỏ xanh tốt, cung cấp cho ta những viễn cảnh hoàn toàn khác những viễn cảnh của Liguria. Cây xô thơm, cỏ xạ hương và kinh giới tỏa đầy không khí mùi thơm sực nức, và bao trùm lên những mùi đó là mùi thơm cây nhũ hương. Dân đảo Chio gọi là Mirovolos, có nghĩa là ‘‘Một nghìn mùi thơm’’. Mùi tinh dầu nhũ hương, lấy từ cây nhũ hương, thấm vào mọi vật và không thể nhầm lẫn. Cây nhũ hương mà Colombo nói đến nhiều lần, khi ông nghĩ rằng ông đã tìm thấy cây đó tại Cuba, mọc khắp mọi nơi ở Địa Trung Hải, nhưng chỉ ở miền nam đảo Chio mới sản sinh ra tinh dầu nhũ hương quý và thơm. Là một loại nhựa, tinh dầu nhũ hương vẫn là chỗ dựa cho nền kinh tế của đảo Chio.
Trong thời Trung cổ người Venezia, rồi người Genova kiên quyết bảo vệ việc sản xuất tinh dầu nhũ hương không để cho người khác sản xuất. Vua Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng nhiều tinh dầu nhũ hương thỏa mãn thói kiêu căng của những phụ nữ mà ông ưa thích. Tinh dầu nhũ hương vẫn còn được dùng ở Trung Đông để làm nước hoa, đồ uống, kẹo, chất hàn răng và làm dể dàng việc tiêu hóa. Việc sản xuất tinh dầu nhũ hương và của cải do việc sản xuất đó sinh ra - năm mươi nghìn duca hàng năm - đã kích thích những ý nghĩ của Colombo. Xét sự thay đổi lớn trong tỷ lệ trao đổi tiền từ hồi đó, con số đó xấp xỉ tương đương 7 triệu đôla ngày nay.
Nhưng trước hết là những mùi thơm của đảo Chio đã kích thích Colombo. Khứu giác đặc biệt của ông đáng chú ý. Mọi người thừa nhận cảm quan của ông về biển, gần như giác quan thứ sáu. Có sự đồng ý chung là một điều kiện, chưa phải là đủ nhưng cần có để hiểu biển là khứu giác tốt, nó cho phép chúng ta cảm thụ được hoạt động của gió và những dòng nước. Mùi thơm của tinh dầu nhũ hương đề cao bản năng, thúc đẩy tưởng tượng và gây ra những giấc mơ. Những phụ nữ cấm cung Hồi giáo rất thích mùi thơm đó, mùi thơm nhũ hương rất gần với mùi trầm, mùi thơm đó kích thích những cảm giác thần bí và chuẩn bị cho người ta đi vào sự ngưỡng mộ tôn giáo. Những mùi thơm của đảo Chio đã bỏ bùa chàng thanh niên Cristoforo. Ông say sưa vì cảm giác này, một phần của ma thuật phương Đông, và sẽ say sưa như vậy trong phần còn lại của cuộc đời ông.
 
Chú thích :
 (1). Chio (Ki-Ô): một đảo trong biển Egeo, phía tây bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, thời này thuộc Cộng hoà Genova.
(2) Omero: Nhà thơ Hy Lạp, theo truyền thuyết ông là tác già Hiade và Odissca. Từ thời cổ đại đã nẩy ra tranh cãi: ở đâu là quê hương của Omero. Nhiều thành phố đã tranh nhau vinh dự đó. Ý kiến của số đông đoán là Chio, hoặc Smirne.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.06.2021 11:53:17 bởi Ct.Ly>
4.   BỒ ĐÀO NHA
 
 
Ngoài chuyến đi tới đảo Chio, Colombo đã thực hiện nhiều chuyến đi khác trong Địa Trung Hải. Qua những bản viết của ông, chúng ta biết ông đã biết tất cả bờ biển phía tây Genova tới tận Catalogna. Ông cũng đã biết Corsica, Sardegna, Napoli và Sicilia và bờ biển Barberia. Ông không bao giờ nói về Roma, và do đó chúng ta tin rằng ông không bao giờ có dịp lên bờ tại Civitavecchia (Si-ví-ta-vếc-ki-a), hoặc trên bờ sông Tevere.
Cuốn Lịch sử mà người ta cho là do con trai ông, Don Ferdnando, viết, nói về một cuộc tấn công do Renato d’Angiò (Rê-na-tô Đan-giô) ra lệnh chống một chiếc tàu trong vịnh Tunisie, nhưng một số người bảo lưu sự kiện này. Mặc dù có thể có sự nói quá hay huênh hoang đã xuyên tạc sự kiện, nhưng không có lý do để sự kiện đó không thể xẩy ra. Từ 1470 đến 1480, Genova thưòng xuyên có chiến tranh với Aragon và liên minh với Angiò. Bằng cách phục vụ Angiò, Colombo đi theo chính sách của thành phố Angiò và phái của cha ông này.
Mùa hè năm 1476, Colombo rời Địa Trung Hải lần đầu tiên, đi vào Đại Tây Dương. Một cuộc khảo sát thương mại đến nước Anh đã được tổ chúc tại Genova vào mùa xuân; có một đoàn tàu nhỏ, gồm một tàu ga-lê thuộc Gioffredo Spinola (Giốp-phò-re-đô Xpi-nô-la), một tàu săn cá voi thuộc Nicoiò Spinola, một tàu ga-lê thuộc Teramo Squarciafico (Tê-ra-mô Xquac-si-a-phi-cô), và tàu ga-lê Bettinella (Bét-ti-nen-la) do Gian Antonio Di Negro chỉ huy. Cũng có một chiếc tàu nguồn gốc Flandres, gọi là chiếc Bechalla, được trang bị tại vịnh Noli, thuyền viên chủ yếu là những thủy thủ Savona, do Cristoforo Salvago chiỉ huy.
Ta có thể tưởng tượng sự xúc động của Colombo khi tàu qua eo Gibralta trong chuyến đi đầu tiên của ông vào Đại Tây Dương. Biển khơi nằm ở bên kia, không phải là một trong những đại dương mà chỉ là Đại Dương - vì ba đại dương kia, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương, chưa được biết đến- Đại Dương mà Colombo một ngày kia trở thành Đô Đốc. Những chiếc tàu đi theo hướng tây bắc đến mũi St. Vincent, mũi cực nam của Bồ Đào Nha. Đó là ngày 13 tháng 8 năm 1476.
Giữa mũi Santa Maria và mũi St.Vincent bất ngờ đoàn tàu bị một đội tàu của hải tặc Pháp tấn công. Genova vẫn hòa bình với Bồ Đào Nha và Pháp, nhưng hoặc vì họ hiểu nhầm ý định của đoàn tàu Genova, hay đơn thuần bị lôi cuốn bởi một phần thưởng có giá trị, nên người Pháp đã khai chiến. Những người Genova đã chống cự một cách kiên quyết. Khi màn đêm buông xuống, trận chiến đã kết thúc một cách thê thảm cho cả đôi bên. Trong số năm tàu của Genova chỉ có hai chiếc trốn được đến Cadice (Ca-đi-sê) ở Castiglia; ba chiếc kia bị cháy và chìm và nhiều người trong đoàn thủy thủ bị chết đuối. Bốn chiếc tàu của đoàn tàu hải tặc (theo một tài liệu khác là năm chiếc) bị chìm và hàng trăm người bị chết.
Một số người trên tàu bị nạn trong đó có Colombo, đã được những ngư dân từ làng Lagos của Bồ Đào Nha cứu. Sau này trong một bức thư gửi vua Ferdinando của Tây Ban Nha tháng 5 năm 1505, Colombo đã viết về việc ông may mắn đến bờ biển Bồ Đào Nha: ‘‘Chúa đã đưa tôi đến đây một cách kỳ diệu để tôi có thể phục vụ Bệ Hạ; tôi nói kỳ diệu, vì tôi đã đổ bộ lên bờ biển Bồ Đào Nha’’. Kỳ diệu và đổ bộ - chữ thứ nhất dùng hai lần - nói rõ ràng và không thể nhầm lẫn việc viên Đô đốc tương lai đã đến bờ biển Bồ Đào Nha một cách bất ngờ trong hoàn cảnh may mắn như thế nào. Như vậy, ngày 13 tháng 8 năm 1476 là một ngày đáng ghi nhớ trong cuộc đời của Colombo.
Người tín ngưởng thấy bàn tay của Chúa Thánh Thần trong tai nạn tàu biển của nhà thủy thủ Genova trên bờ biển Lagos. Người hoài nghi thấy trong tai nạn ấy vai trò đáng ngạc nhiên và có một không hai của sự tình cờ trong lịch sử. Lagos là một làng đánh cá tại cửa một con sông nhỏ. Ngu dân cột thuyền của họ ở sông, nước sông chảy nhẹ nhàng vào vịnh. Những ngôi nhà thì nghèo nàn, như những ngôi nhà của những làng chài khác trên bờ Địa Trung Hải. Vịnh rộng và yên tĩnh. Có vẻ vịnh không mở vào đại dương, nhưng vịnh đã bị cột vào lịch sử của Đại Tây Dương: từ đây đã xuất phát nhiều cuộc khảo sát do Henry, Nhà đi Biển, tổ chức.
Henry, Nhà đi biển, Hoàng tử Henry của Bồ Đào Nha - Colombo có biết gì về ông ta hay không? Colombo có thể đã biết về ông, vì những thủy thủ của Đại Tây Dương đã nói về ông. Henry là một phần của lịch sử và hơn nữa, ông ta là của huyền thoại và truyền thuyết. Nhưng nếu Colombo chưa biết gì về ông trước đó, chắc chắn ông đã nghe thấy tên Henry và những câu chuyện về những công việc của Henry từ miệng ngư dân Lagos. Không quá mười lăm dặm cách làng Lagos là Sagres và mũi Vincent, nơi đây Henry đã sống nhiều năm cuộc đời mình và đã thiết lập trụ sở để tiến hành nghiên cứu và tổ chức những cuộc phát kiến của ông.
Cuộc đời và những công trình của Henry, Nhà đi biển, phản ánh sự nghiệp của ông và lịch sử của Bồ Đào Nha. Ông đã tập hợp những hoa tiêu, những thuyền trưởng đi biển, những nhà chuyên vẽ bản đồ, những nhà thiên văn và những thủy thủ thuộc mọi nguồn gốc: Bồ Đào Nha, Catalogua, Genova, Venezia, người Do Thái và người Saracen. Ông có những thông tín viên từ những nơi xa như Abissinia (A-bit-xi-ni-a) và vịnh Ba-tư. Triều đình của ông trở thành một trung tâm phát triển hàng hải và kinh nghiệm thuộc địa.
Mặc dù không phải là nhà hàng hải hay nhà thám hiểm, Henry đã nổi tiếng vì đã đưa ra một loại tàu mới, loại tàu nhỏ; loại tàu này nhẹ và nhanh, thích hợp cho việc đi biển khơi. Ông cũng là người đầu tiên lập ra và hệ thống hóa những phương pháp thương mại thực dân hóa mới, thay cho những phương pháp phong kiến: đồn trú, chuyển nhượng, công ty và độc quyền. Henry đã cho những nhà vẽ bản đồ một phương hướng mới, một thích thú mới về những bờ biển châu Phi mé Đại Tây Dương.
Vào cuối thời Trung cổ, những người Amalfia, Pisa, Venezia và Genova và sau này những người Firenze đã dốc tâm trí vào việc vẽ bản đồ. Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, những người Genova là những người đi đầu trong khoa vẽ bản đồ. Những nhà vẽ bản đồ người Do Thái của Maiorca đã học tập và phổ biến nghệ thuật của họ từ Genova. Trường phái Genova cũng làm nảy sinh ra trường phái Catalan của Barcelona, trường phái Bồ Đào Nha của Lisbon, trường phái Á-rập, và sau này trường phái Flandres.
Tôi đã nói rằng không phải ngẫu nhiên mà nhà phát kiến vĩ đại trong lịch sử đã sinh ra và lớn lên tại Genova, vì Genova đã là thủ đô của khoa vẽ bản đồ và khoa vũ trụ học từ đầu thời Trung cổ. Và không phải chỉ là sự trùng hợp mà chúng ta thấy người anh em của Colombo, Bartolomeo, cùng với ông tại Lisbon. Nghệ thuật vũ trụ học và nghệ thuật vẽ bản đồ hàng hải đã hình thành một mối quan hệ chặt chẽ giữa Genova và Bồ Đào Nha, quan trọng hơn mới quan hệ do thương mại và tài chính tạo ra. Henry còn làm cho mối quan hệ này chặt chẽ hơn nữa; mối quan hệ ấy lên tới đỉnh cao nhất trong việc thai nghén sự nghiệp vĩ đại của Colombo: điều chắc chắn là ở bên kia sa mạc, ở bên kia vùng khô nóng là vùng đất phì nhiêu, có thể ở được và biển có thể đi lại được bằng tàu biển.
Không may trong nhiều thế kỷ, những người ngoài giới học giả đã nghĩ rằng Colombo là người đầu tiên, hay trong số những người đầu tiên, cảm thấy quả đất tròn. Lòng tin đó là sai. Những nhà địa lý học cổ điển biết hoàn toàn rõ ràng, rằng quả đất tròn. Trong thời Trung cổ, khái niệm đó đã bị bỏ quên, nhưng vào giữa thế kỷ XV, khái niệm đó là một nguyên tắc đã được xác lập trong số các nhà địa lý học và các học giả nói chung. Vậy thì bằng cách giả thiết rằng quả đất tròn, Colombo không làm gì hơn là liên kết mình với tư tưởng chiếm ưu thế đó.
Sau này, chúng ta sẽ thấy rằng Colombo tự đặt mình một cách dũng cảm chống lại những quan niệm địa lý học của Tolemeo và Trung cổ trong niềm tin của ông cho rằng vùng đất đối chân (1) là có thể ở được và có thể tới được, ở đây tôi sẽ chỉ đơn thuần nhấn mạnh ba nguyên tắc chính của địa lý học cổ điển: trái đất là một khối tròn, nam bán cầu là không thể ở được, và những điểm đối chân cũng như vậy.
Những người Fenici (Phê-ni-si), người Hy Lạp, người La Mã và người Công giáo chỉ biết rằng một biển cát mênh mông nằm ở phương nam. Những bờ biển về phía Đại dương là cát - khi chúng không phải là mũi đá hoặc không có một tí cây cở nào.
 Ở phía nam của Mauritania (Mao-ri-ta-ni): Cát. Phía nam của Namidia: cát. Phía nam của Libia: cát. Phía nam Ai cập: Nubia, tất cả là cát, ở cả hai bên dài hẹp dọc theo sông Nin. Từ thời Cổ đại cho đến năm 1400 sau Công nguyên, miền đất duy nhất ở miền nam sa mạc Nubia được biết có cây cỏ và cuộc sống là Ethiopia, một vùng đất được coi gần như huyền thoại. Trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XV, chưa ai biết gì về Ghinê. Sa mạc mênh mông đã làm cho những thế giới thuộc nền văn minh Hy Lạp - La mã - Công giáo và châu Phi đều không biết nhau.
Bằng đường bộ, Marco Polo đã tới được Trung Quốc và Nhật Bản. Bằng đường bộ và đường biển, người Hy Lạp đã tới Ấn Độ. Bằng đường bộ, những nhà truyền đạo Gia tô đã tới Vòng Bắc cực và những đồng cỏ xa hơn nữa của nước Nga. Bằng đường biển, những hải tặc bán đảo Scandinave đã tới Greenland và những bờ biển băng giá Bắc Mỹ. Bằng cách đi ngược dòng sông Nin và vượt qua Hồng Hải, những nhà truyền đạo Thiên chúa giáo đã truyền đạo tại Ethiopia. Nhưng không một ai đã đến những vùng đất phì nhiêu ở miền trung và miền tây Phi và những con sông lớn ở miền Nam Sahara.
Những sông lớn ở châu Á và châu Âu thì nhiều, nhưng người ta chỉ biết một con sông duy nhất, sông Nin được biết ở châu Phi. Vì có vẻ kỳ lạ là một lục địa mà chỉ có một con sông, và logic hơn là lục địa đó không có con sông nào, nên đã xuất hiện lòng tin cho rằng Ai Cập là một phần của Châu Á. Châu Phi được coi là bắt đầu từ miền tây của đồng bằng sông Nin phì nhiêu, với sa mạc Libi, nơi bắt đầu của Sahara mênh mông.
 
Địa Trung Hải, Hồng Hải, vịnh Ba Tư, eo biển nước Anh, Bắc Hải, biển Ban Tích và chính Bắc Đại Tây Dương, những vùng nước này là những con kênh thông tin liên lạc mở cho các chủng tộc và các nền văn minh. Trong khi biển có thể đi lại được bằng tàu biển, còn biển cát và sa mạc thì không. Giả thiết nếu những nhà buôn Carthage thế kỷ thứ V trước Công nguyên, những nhà truyền đạo Công giáo đương thời với Thánh Augustino, những hiệp sĩ Á rập của những vua Hồi giáo, hoặc những người thừa kế của nhà Tiên tri đã tìm thấy biển ở miền nam Mauritania, Numidia, hoặc Libia, tất cả sẽ khác. Biển sẽ không cản trở họ như sa mạc.
Và như vậy sự hiểu biết của những thế giới Công giáo và Á rập đã không đi quá những vùng có nước trên sa mạc ở miền bắc. Những vùng đất sa mạc hoang vu cằn cỗi, hoang vu hơn ở về phía nam và sự thiếu cây cỏ đã thuyết phục những nhà triết học Hy Lạp rằng toàn bộ vùng đất khô nóng là không thể ở được. Aristote và nhà địa lý học vĩ đại Tolomeo nói như vậy. Những người Á rập, là những tín đồ trung thành của Aristote, và thậm chí cả Alberto Magno (An-béc-tô Ma-nhô), đã chấp nhận những tin tưởng của các nhà triết học ấy, trong thế kỷ thứ XIII, Alberto Magno vẫn nghi ngờ cuộc sống liệu có thể tồn tại trên những bờ biển và đảo của vùng đất khô nóng hay không.
Hậu quả là khi những nhà hàng hải Bồ Đào Nha tới cửa sông Sénégal, đó là một phát hiện lớn đối với họ. Việc đó còn cho một sự tương phản rõ ràng, một trong những tương phản sắc bén nhất trong thiên nhiên. Hãy tưởng tượng điều gì phải xảy ra đối với những nhà phát hiện đầu tiên khi trông thấy cây cỏ xanh tốt tại những cửa sông Sénégal và Gambia sau những núi đá ở Marocco và cát ở Sahara mà họ đã cho là vô tận. Họ có cảm giác giống những người man di từ trên núi Alpes xuống hay không? Không, vì những người man di đã biết rằng tại nước Ý, họ sẽ thấy một vùng đất có mặt trời và những bầu trời xanh. Họ có cảm giác giống như những con người đầu tiên trên mặt trăng hay không? Không, vì những nhà du hành vũ trụ đã có một ý nghĩ tốt về những gì họ sẽ tìm thấy ở đó.
Tương phản lại, những người Cổ đại và Trung cổ tin rằng về phương nam, trái đất đã kết thúc bằng vùng khô nóng. Lòng tin đó vẫn vững vàng trong số những thủy thủ của Thế giới Công giáo cho đến thời điểm lớn năm 1444, khi Dinis Dias, một ông tổ của họ Bartolomeo, được nhiều người biết đến, đã đến cửa sông Sénégal ở Cape Verde. Chiếc thuyền buồm của ông là một vật kỳ diệu đối với những người châu Phi. Bốn trong số những người dũng cảm nhất đã đến gần con quái vật đi được trên mặt nước; họ không hiểu đó là một con cá, một con chim, hay một con ma, và khi họ trông thấy người trên thuyền họ quay lại và chạy trốn một cách cấp tấp đến nỗi những người Bồ Đào Nha không thể nào đuổi bắt được họ.
Những người châu Âu đã đến trên đất của những người da đen, nhưng tầm quan trọng của cuộc phát hiện phần chính là à cây cỏ nhiệt đới mọc xanh tốt mà người ta không ngờ và cho đến lúc đó không ai tưởng tượng được đã tồn tại ở châu Phi. Chỉ cách đường xích đạo mười lăm độ,- trong vùng khô nóng, cây cỏ phong phú đã nuôi dưỡng nhiều động vật lớn và những con người khỏe đẹp. Gặp phải thực tế ở Cape Verde (ngày nay là Dakar), những học thuyết của Aristote và Tolomeo liệu còn có giá trị gì? Như Ruge, nhà địa lý học vĩ đại người Đức thế kỷ XIX, đã bình luận một cách ngắn gọn và đầy ý nghĩa, những học thuyết đó đã tan vỡ trên núi đá của Cape Verde. Không những địa lý học Trung cổ, mà cả giáo điều cổ điển Hy lạp cho rằng Nam bán cầu là không thể ở được đã bị chôn vùi dưới bóng những cây cỏ đó.
Những phát hiện của Henry, nhà Hàng hải, và trực giác của Colombo gặp nhau ở đây: với hành trang của thời Cổ đại bị chôn vùi, một chân trời mới đã mở ra cho sự phát triển của địa lý học khoa học. Con người đã bắt đầu tin vào chính mắt mình hơn, hơn là những lý thuyết của người Cổ đại.
 
Chú thích :
[1] Vùng đất đối chân : Dịch chữ antipodi, điểm đối xứng tương ứng ở mặt bên kia của trái đất (vì trái đất là một khối tròn)




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.06.2021 15:16:54 bởi Ct.Ly>
5.   BĂNG ĐẢO VÀ CUỘC PHÁT KIẾN KHÔNG
THÀNH CÔNG CỦA NGƯỜI SCANDINAVE CỔ ĐẠI
 
Từ Lagos, Colombo đã đến Lisbon một thời gian ngắn, và sau này ông lại trở về đấy. Giờ đây ông phải tiếp tục các cuộc hành trình. Tại Genova cuộc thám hiểm lần thứ hai tới nước Anh đã được chuẩn bị. Trong chuyến đi này, hoặc có thể vào một chuyến đi trước, trên, một số chiếc tàu tới Cadice và Lisbon, người thủy thủ trẻ tuổi đã đến Luân Đôn, từ đó ông đi Bristol.
Thành phố Bristol cổ kính nằm dưới chân một ngọn đồi. Cảng Bristol không hơn gì một con lạch, do dòng sông Avon tạo thành. Avon là một dòng sông trung bình chảy xuống khe núi dưới chân thành phố, rồi đổ ra cửa sông lớn của Severn, nơi thực sự là cái vịnh nước mặn nhiều hơn nước ngọt. Tại Lisbon, Colombo cũng thấy những điều tương tự, tuy ở qui mô rất khác biệt. Điều mà Colombo không thấy được ở Lisbon và cũng là lần đầu tiên ông ta mục kích, là những đợt thủy triều cực lớn. Vào tuần trăng tròn tháng giêng - có lẽ vào thời gian Colombo đang ở Anh - thủy triều ở cảng Bristol là ba mươi sáu thước (Anh), trong khi tại Avonmouth, nơi dòng sông Avon đổ ra vịnh Severn, thủy triều lên cao bốn mươi bảy thước (thước Anh). Đó là một trong những mức thủy triều cao nhất thế giới và là mức cao nhất thời Colombo, khi thủy triều cao tới sáu mươi hai thước Anh tại Vova Scozia chưa được người ta biết đến.
Hiện tượng này đã gây ra những hậu quả nặng nề cho sự an toàn của cảng Bristol, vì tàu bè không cập bẹn cảng được khi thủy triều xuống, khi sông Avon không đủ nước cho tàu đi. Những đợt thủy triều này, vốn là một điều mới lạ đối với các thủy thủ vùng Địa Trung Hải, cố nhiên đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với Colombo vì ông luôn nhạy cảm với những hiện tượng tự nhiên.
Colombo còn bị ấn tượng về những bến tàu sôi động nằm dọc con lạch. Những bến tàu đầy ắp hàng hóa, như muối, lúa mì, rượu, nhung... cập bến; hoặc len và những thùng cá khô xuất đi.
Colombo đã từng biết đến len Anh. Ông đã thấy len Anh nhập cảng đến Genova, và ông đã đi Luân Đôn để tìm mua một khối lượng lớn mặt hàng này. Mặt khác, việc xuất khẩu cá lại là công việc còn mới mẻ đối với ông. Colombo đã nghe nói đến cá trích; giờ đây ông đã trông thấy chúng rất nhiều, có đến hàng tấn. Ở Địa Trung Hải, người ta không biết đến cá trích, vì không thể nào tìm được loại cá này ở đây. Colombo, vốn chỉ quen với cá xác đin ( sardine=một loại cá mòi) và cá trổng ( anchois=loại cá cơm), đã thần người ra khi lần đầu tiên trông thấy cá trích cùng các loại cá khác. Giờ đây ông đã nhận thấy thị trường cá ở Genova là quá nhỏ bé so với những đống cá khổng lồ này và hết sức kinh ngạc, không hiểu được chúng từ đâu đến.
Cũng vậy, Colombo đã trông thấy cá thu khô ướp muối nhập khẩu tại Genova và Lisbon, nhưng ở đây thì nhiều vô kể. Còn có cả loại cá hồi mà ông chưa hề thấy ở Luguria, hoặc Corsica. Cá hồi từ đâu đến? Từ những con sông Scotland, nghĩa là từ phương Bắc. Còn cá thu? Chúng đến từ Biển Đen ở miền Bắc xa xôi. Và cá trổng? Từ cả hai nơi, từ vùng biển khơi Ireland và Scotland, cũng như từ biển Ultima Thule (miền cực Bắc của thế giới).
Đặc biệt nhạy cảm với thiên nhiên, Colombo thích thú những vùng xa xôi ấy về nhiều mặt: đất đai, tuy sản xuất thu hoạch còn ít vì thiếu ánh nắng mặt trời; khí hậu ẩm ướt và bầu trời u ám; các cửa sông mở ra những bến cảng tuyệt vời; cá vô cùng phong phú và khác với các loại cá vùng Địa Trung Hải. Colombo quan sát mọi thứ, tìm hiểu mọi mặt của thiên nhiên bằng ý thức địa lý bẩm sinh của ông. Mặc dù không được đào tạo một cách chính quy, Colombo vẫn là một nhà địa lý. Địa lý học lôi cuốn ông, những bí ẩn của nó hấp dẫn ông. Ở đây, tại Bristol, ông được biết đến sự bí ẩn của Ultima Thule, bí ẩn đơn thuần, vì không có gì ngoài Ultima Thule cả. Và vì nó bí ẩn, Colombo càng muốn đến đấy.
Colombo đã đi thuyền đến Galway, trên bờ biển phía Tây Ailen (Ireland) và từ đó ông đi thuyền buồm đến Băng Đảo, (Iceland). Vào thời Colombo, Băng Đảo, về mặt pháp lý thuộc về vua Đan Mạch, nhưng trên thực tế, người Anh giữ độc quyền buôn bán với hòn đảo này. Có thể, Colombo đã không biết Băng Đảo thuộc về Đan Mạch và có lẽ ông ta nghĩ rằng đó là hòn đảo của Anh, giống như Madera thuộc Bồ Đào Nha, Canarie thuộc Tây Ban Nha và Chio thuộc Genova, vì lẽ những hòn đảo thường thuộc về những ai nắm độc quyền thương mại với chúng.
Dẫu sao, những người Băng Đảo cũng không phải là ngưòí Anh, mà là người Scandinave cổ đại. Trong quá trình tìm kiếm những người ngoại đạo để truyền giáo, các giáo sĩ Ailen có thể đã đến Băng Đảo truớc những người Scandinave cổ, nhưng chính những người này đã phát hiện, hoặc tái phát hiện đảo này vào năm 874 và đã thông tin về hòn đảo này cho thế giới Công giáo. Những người Scandinave cổ đại đã định cư tại Băng Đảo, kết hôn với những người Celte, từ Ailen đến, sau đó thành từng đợt liên tiếp. Hòn đảo tỏ ra không mến khách đối với những người từ phương Nam đến, nhưng lại có thái độ khác đối với những người từ những vùng đất băng giá, đầy sương mù và núi đá của Na-uy. Ở đây, không có rừng, trừ một số ít cây phong thu thấp nhỏ và nhanh chóng bị đốn hạ, nhưng khắp đảo đều có nước trong lành, cả những mạch cung cấp nước sôi tự nhiên. Một vùng mênh mông rộng bằng cả nước Anh như Colombo đã viết sau này, nơi đây, mặc dù có những núi đá băng, dung nham, tro tàn và đầm lầy, vẫn có những cánh đồng đầy có về mùa hè, rất thuận lợi cho việc nuôi cừu. Và ngoài khơi thì cá nhiều vô kể.
Việc những người Scandinave cổ đại đến Băng đảo như thế nào là một trong những trang sử hấp dẫn, gần như khó tin, vì đã đạt đến giới hạn tột cùng về sự chịu đựng của con người. Nếu những người Fenici (Phê-nksi) là những thủy thủ vĩ đại nhất trong thế giới cổ đại thì những người Scandinave cổ đại là những người đi biển vô địch, duy nhất dưới thời Trung cổ. Họ thô lỗ và tàn bạo. Đi đến đâu, họ cướp bóc tàn phá và giết chóc đến đó. Sự khủng bố gắn liền với hoạt động của họ trên đất liền, nhưng biển cả không bị khống chế bởi sự tàn ác của họ. Tuy nhiên, những người Scandinave cổ đại này đã dũng cảm chống lại nỗi sợ hãi chung dưới thời Trung cổ, đối với biển Đen tối, hay biển Độc, như họ thường gọi bằng ngôn ngữ thô sơ của mình…
Hoạt động trên biển của họ có cái gì đó, thật kỳ diệu. Tàu của họ, nhẹ và nhanh, luôn gây sợ hãi khi phải đương đầu với những cơn bão tố dữ dội miền Bắc Đại Tây Dương, một đại dương chưa ai biết tới và lúc đó vẫn chưa được khám phá. Và họ đã làm như vậy mà không có dụng cụ đi biển nào. Floki, một trong những người phát hiện ra Băng Đảo, đã rời Na uy với ba con quạ. Con đầu tiên ông ta để sổ và nó lập tức bay về Na uy. Con thứ hai lượn mấy vòng trên bầu trời rồi lại hạ cánh xuống boong tàu. Mấy ngày sau, con thứ ba được thả và bay thẳng về phía trước, tới đảo lớn. Như vậy Floki đã đặt chân lên đảo và đặc biệt hiệu cho đảo là Quạ.
Những người Scandinave cổ đại là người đầu tiên - trước Colombo - giong buồm ra biển khơi. Một số người còn cho rằng; những người Ailen đã làm như vậy trước cả người Scandinave cổ đại. Chắc chắn những thủy thủ Ailen tài giỏi hơn người Anh vào thế kỷ đầu sau Công Nguyên, nhưng lòng dũng cảm và sự gân dạ của họ chỉ còn là một ký ức. Những việc làm của họ, phục vụ cho các tu sĩ muốn truyền bá Kinh Thánh trong dân chúng trên những hòn đảo Đại Tây Dương, vẫn còn là truyền thuyết, vì thiếu sử liệu lịch sử.
Những cuộc thám hiểm của những người Scandinave cổ đại không phải là những hoạt động đơn lẻ cô độc của một số ít thủy thủ dũng cảm; những cuộc thám hiểm đó đã gồm nhiều tàu và người tham gia; từng loạt của đội tàu đã được huy động vào những cuộc hành trình, mà người ta không biết mục tiêu cuối cùng. Không phải chỉ có một hay hai Ulysses, mà là cả một dân tộc Ulysses. Những người Scandinave cổ đại là một trong những dân tộc vĩ đại nhất và đáng chú ý nhất trong lịch sử nhân loại. Họ cải đạo Cơ đốc giáo, nhưng một số nghi lễ ma thuật và tà giáo vẫn tồn tại trong nhiều thế kỷ giống như sự tàn bạo của họ vậỵ; những tập tục nghiêm ngặt của họ không hề thay đổi, lòng dũng cảm ngoài biển khơi mang tính anh hùng ca của họ cũng không hề suy giảm.
Việc những người Scandinave cổ đại thay đổi đức tin đã đưa họ tới thế giới Cơ đốc, và trở thành những người đi tiên phong trong việc truyền bá đạo Cơ đốc ở vùng xung quanh Bắc cực. Vào khoảng năm 1000 sau Công nguyên. Nghị viện Băng Đào - nghị viện đầu tiên của châu Âu, họp ngoài trời, giữa những tảng đá ở hẻm núi Thingvellir - đã thông qua nghị quyết công nhận Cơ đốc giáo là quốc giáo. Trong vòng một năm, đã có hai giáo khu được thành lập trên đảo. Trong khi đó, những người Scandinave cổ đại tiếp tục những cuộc hành trình trên biển. Mùa xuân 982, Eric Đỏ, bị trục xuất vì tội giết một người đầy tớ, đã từ Băng Đảo vượt biển sang Mỹ. Như vậy biển này được gọi là eo biển Đan Mạch, nhưng đó là một đại dương thực sự, hết sức nguy hiểm vì sương mù, bão tố và những tảng băng khổng lồ.
Bjarni và những người Scandinave cổ đại khác đã theo gót Eric Đỏ. Họ vốn quá quen với núi đá, với băng và những vùng hoang vu đầy nham thạch nên đã gọi vùng đất mới là Greenland (Đất xanh) vì thấy những sườn đồi đều có rêu bao phủ. Họ định cư trên bờ biển Tây - Nam, nơi khí hậu ôn hòa nhờ có dòng Gulf Stream chạy qua, và nằm đối diện với Hoa Kỳ. Những người Scandinave cổ đại đã mang tin tức về vùng đất mới cho thế giới Cơ đốc. Dấu vết của việc này đã được tìm thấy trong các bản đồ đầu thời Trung cổ của Genova, Venezia, Đức, Á-rập và Catalan. Vào khoảng năm 1120, một giáo khu đã được thành lập tại Greenland.
Những người Scandinave cổ đại không dừng tại đó. Khoảng năm 1000 sau Công nguyên, họ tới một vùng đất không cây cỏ, nhiều đá và lạnh giá đến mức ‘‘ma chê quỷ khóc’’, mà họ đật tên là Helluland. Đây là đảo Terranova (New foundland) hay còn gọi là Labrador. Đi xa hơn nữa về phía nam, họ đến một vùng đất bằng phẳng, có rừng bao phủ, phần ven biển không có núi đá, hay vách đá và mấp mô những cồn cát trắng. Họ gọi vùng đất này là Markland (Đất của những khu rừng). Đó hầu như chắc chắn là vùng Nova Scozia, nằm ở phía Đông - Nam Canada. Ngoài Markland, truyền thuyết Băng Đảo còn nói về vùng đất Vinland (Đất của những cây nho).
Công cuộc nghiên cứu khoa học tiến hành cách đây một thế kỷ rưỡi từ Rafn tới công trình nghiên cứu gần đây nhất của Helge Ingstad – được hổ trợ bằng sự phân tích hóa học các vật chứng lịch sử - đã cho thấy sự phù họp đáng ngạc nhiên giữa các số liệu địa lý trong những truyền thuyết Bắc Âu với kết quả của những cuộc khai quật khảo cổ học. Vì vậy Vinland dường như không phải là một vùng đất tưởng tượng mà là một bộ phận nào đó của vùng ven biển Bắc Mỹ.
Cố nhiên những người Scandinave cổ đại đã biết những vùng đất khác ngoài Greenland. Sắc lệnh của Giáo hoàng bổ nhiệm Eric Gnupson làm.
Giám mục địa phận đầu tiên của Greenland đã phong ông ta là giám mục địa phận  ‘‘Greenland và những vùng lân cận’’. Điều này chứng tỏ rằng những người Scandinave cổ đại đã biết đến những vùng đất như thế trên lục địa châu Mỹ, đồng thời nó cũng là một bằng chứng cho thấy rằng Vinland - chỉ một thế kỷ sau khi Leif Ericsson đặt chân lên đấy - chỉ còn là một ký ức, không còn ai biết rõ về vùng này hoặc về những đất phì nhiêu, mến khách kia nữa. Các dân tộc Cựu thế giới đều không biết gì về miền đất nói trên.
Người Scandinave cổ đại đã biết đến châu Mỹ, nhưng họ không phát kiến ra châu lục đó. Trong địa lý học, thuật ngữ phát kiến không đơn thuần chỉ việc người đầu tiên đặt chân lên một nơi nào đó, nó còn có nghĩa là đi đến đó rồi quay trở về, và nói lại việc của mình cho bất cứ ai muốn, có thể lập lại việc làm của người phát hiện. Nhưng kinh nghiệm đáng kể của người Scandinave cổ đại ở châu Mỹ đã không đưa lại kết quả. Những vùng đất Vinland, Markland, và Helluland, tức là đại lục châu Mỹ đều khác với Greenland, họa hoằn mới có người lai vãng và chưa bao giờ bị thực dân hóa.
Không rõ rệt như ở Greenland, những dấu vết mà người ta cho là của người Scandinave cổ đại ở Bắc Mỹ đều không được chứng minh một cách rõ rệt. Di vật khảo cổ gây nhiều tranh luận nhất, rõ ràng một trò đùa, là hòn đá Kensington, có khắc chữ run của người Scandinave cổ đại được phát hiện trong gia sản của một nông gia Thụy Điển ở Kesington Minnesota, vào năm 1898. Dòng chữ đó như sau: ‘‘8 người Gotland và 22 người Na Uy bắt đầu cuộc hành trình từ Vinland sang phía tây. Chúng tôi cắm trại gần hai đảo nhỏ, sau một ngày đi bộ từ hòn đá này về phía bắc, chúng tôi nghỉ lại và đi câu cá một ngày. Khi quay về, chúng tôi phát hiện mười xác chết, người đẫm máu. Lạy Đức Mẹ Đồng Trinh: Hãy giải thoát chúng con khỏi tai họa’’. Bên cạnh có chú thích sau đây: "Chúng tôi để lại mười người ngoài biển để trông nom những chiếc tàu của chúng tôi, một cuộc hành trình nửa tháng xuất phát từ đảo này, năm 1362".
Giới phê bình hiện đại nổi tiếng nhất đều phủ nhận tính xác thực của đá Kensington. Nhà nghiên cứu người Đức về tự mẫu Sacandinave cổ đại (chữ run) W.Krauss coi đó là chuyện bịa của người đương thời. Erich Moltke, một chuyên gia về chữ run nổi tiếng khác, người Đan Mạch, đã tuyên bố rằng bản khắc đó là không thật. Moltke cũng như các nhà nghiên cứu nổi tiếng khác về chữ run sau ông ta đều cho rằng không thể có chữ run trên bản Kensington vào nửa sau thế kỷ XIV vì những tự mẫu cổ đại này không còn được sử dụng ở
Scandinave từ trước năm 1300. Theo ông, bản khắc có lẽ đã phóng theo một cuốn niên lịch cổ nào đó của Thụy Điển viết bằng chữ run, vẫn tồn tại vào thế kỷ thứ XVIII. Kho lưu trữ của Hội Khoa học lịch sử Minnesota có một tư liệu có vẻ như là bản phác thảo của dòng chữ sau này được khắc trên đá. Samuel Eliot Morison nói: ‘‘Người có lương tri bình thường, phải coi đó là một sự bịa đặt. Những người Scandinave cổ đại là những nhà phát kiến biển cả, chứ không phải là những nhà thăm dò trên đất liền... Các chuyên gia hàng đầu về chữ run đã bỏ công tìm hiểu bản khắc này đều cho rằng đó là một sự bịa đặt vụng về’’.
Một di tích khác cũng gây nên tranh luận là ngọn tháp Newport, trên đảo Rhode, một cấu trúc bằng đá đồ sộ hình ống. Về một số phương diện, hình thể và những chi tiết kiến trúc của tháp này giống như các kiểu kiến trúc điển hình của Scandinave thời Trung cổ. Năm 1948-1949 tiến sĩ W.S.Godfrey đã khai quật đáy tháp và đã có cơ sở để chứng minh rằng Benedict Arnold, thống đốc đảo Rhode, đã xây tháp vào khoảng 1675, có thể là một pháo đài nhằm chống lại cuộc tấn công của người Anh-điêng (Indien= người da đỏ). Các cuộc khai quật đã phát hiện những đồng tiền, đá xây, những mảnh thùng thuốc lá... tất cả những thứ đó, không nghi ngờ gì nữa, đều có thể là vết tích thời thuộc địa. Tháp Newport chắc chắn được xây dựng khá lâu sau những phát kiến của Colombo và Caboto.
Bản đồ Vinland, còn gọi là bản đồ Yale, đáng được thảo luận riêng, vừa do việc phát hiện bản đồ đó đã gây nên những cuộc tranh cãi, vừa do dư luận gần đây đã cho rằng bản đồ đó là giả. Phần phía tây – tức Bắc Đại Tây Dương - của bản đồ thế giới này do trường đại học Yale xuất bản năm 1965, có những chi tiết địa lý không thấy trong các bản đồ xuất hiện từ giữa thế kỷ thứ XVI trở về trước, trong khi đó phần phía đông thì hoàn toàn lẫn lộn và tùy tiện. Đặc biệt Greenland đã xuất hiện với những đường nét bờ biển hoàn chỉnh.
Cuốn sách Bản đồ Vinland và quan hệ Tartar do trường đại học Yale xuất bản, khẳng định rằng bản đồ này là xác thực, có từ năm 1440, hoặc khoảng nửa thế kỷ trước cuộc phát kiến của Colombo và có thể, nó dựa trên cơ sở một bản đồ có từ thế kỷ thứ XII. Một số nhà sử học bảo vệ tính chân thật của tài liệu này và cho rằng thời gian xác định cho tài liệu đó là có thể tin được. Những người khác lập tức bác bỏ lập luận đó. Trong số này có Giuseppe C.Caraci, người có công lớn là đã lập tức tuyên bố tài liệu ấy là ‘‘sự lừa đảo của thế kỷ’’.
Tháng Giêng năm 1974, sau hai năm thận trọng và tỉ mỉ phân tích trong phòng thí nghiệm theo sự ủy nhiệm của trường đại học Yale, Walter ủy nhiệm của trường đại học Yale, Walter MacCrone, viện sĩ thông tấn Chicago, đã khẳng định bản đồ này là giả và có lẽ đã được làm ra trong thế kỷ này. Việc công bố các chi tiết công trình của họ cho thấy thành phần kết tinh của mực dùng trên bản đồ chứa bột màu có hợp chất peroxide titanium, chỉ mới được sử dụng từ năm 1920.
Năm 1903, J. Fisher đã tóm lược những việc làm của người Scandinave cổ đại ở Bắc Mỹ trong thế kỷ thứ XI. Theo Fisher, người Scandinave cổ đại đã chiếm giữ những thuộc địa thịnh vượng trên đảo Greenland trong nhiều thế kỷ. Điều đó, đã được xác định qua các bằng chứng lịch sử, địa lý và bản đồ dựa trên những chỉ dụ của Giáo hoàng và những báo cáo cửa các đại sứ của Giáo hoàng ở nước ngoài. Ngoài ra, còn nhiều tàn tích của các nhà thờ, các ngôi nhà, các cơ sở xây dựng cùng một số di vật của người Scandinave cổ đại để lại.
Mặt khác, Vinland, Markland và Helluland - tức lục địa Bắc Mỹ - đều có người lui tới nhưng không bị thực dân hóa như một số người quan niệm. Mọi luận điểm cho rằng Vinland đã trở thành thuộc địa đều không có cơ sở; điều quan trọng hơn là công cuộc nghiên cứu đã không hề cho thấy một bằng chứng thuyết phục nào về việc định cư lâu dài của người Scandinave cổ đại. Công cuộc nghiên cứu sau đó, kể cả các công trình nghiên cứu gần đây nhất của Frederick J. Pohl và đặc biệt là của Helge Ingstad, đều không có gì mâu thuẫn với nhận định của Fisher.
Điều rõ ràng kỳ lạ là dân tộc này, một dân tộc đã góp phần chủ yếu vào sự hình thành ba nền văn minh vĩ đại của thế giới hiện đại là Anh, Nga và Ý và đã lập ra bốn nước đi tiên phong trong thế giới hiện đại về tổ chức xã hội, chính trị và kinh tế, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển và Băng đảo (Iceland), một khi đã tiếp xúc với Eldorado, tức Bắc Mỹ, lại không có ý đồ biến nơi này thành thuộc địa của mình.
Sở dĩ như vậy, lý do thứ nhất là vì, trong chuyến viếng thăm của họ vào thế kỷ thứ XI như truyền thuyết đã nói, những vùng đất họ trông thấy chắc chắn cách khá xa Eldorado. Họ đã thăm Labrador và Terranova (Te-ra-nô-va(1) (Helluland), những vùng bờ biển và đất liền của Băng đảo và cả Greenland họ đều không thèm muốn. Họ cũng đã đến Nova Scozia (Markland) phong phú hơn Băng đảo về rừng rú và do đó là một nguồn cung cấp gỗ xẻ, ngoài ra không còn gì khác. Một số đã thấy, hoặc đến Vinland, vì điều đó đã được nói trong truyền thuyết, nhưng không hề có trong biên niên.
Lý do thứ hai là những người Scandinave cổ đại ở Băng đảo không phải là một dân tộc có học. Thậm chí những thủ lĩnh của họ cũng mù chữ. Họ không có kiến thức thực tế về địa lý và họ cũng không quan tâm gì đến quy mô và hình thù trái đất. Nếu có chăng, họ lại cho rằng trái đất là phẳng.
Lý do thứ ba là người Scandinave cổ đại đã không tìm thấy ở Bắc Mỹ một nền văn minh tiến bộ hơn nền văn minh của mình; họ không thấy ở đó những vua chúa giàu có, mà họ có thể tàn sát và chiếm đoạt tài sản, hoặc của cải trong kho, hay đang dùng, có thể cưỡng đoạt.
Ở Bắc Mỹ họ thấy có nhiều rừng thật, nhưng đưa gỗ từ Na Uy - quê hương của họ, nơi mà họ vui sướng trở về gặp ông bà, chú bác và anh em - đến Băng đảo thì dễ dàng và thuận tiện hơn. Họ cũng thấy những đồng cỏ bao la, nhưng lại phải đương đầu với một dân tộc khát máu và kém văn minh hơn mình, một dân tộc không sợ sự xâm lược của họ như người châu Âu, một dân tộc không có gì để mất và lại còn có lợi khi quấy rối và tấn công họ.
Người Scandinave cổ đại đã gây nên nỗi lo sợ cho người Frank, người Saxon, người Byzantine, người Á rập, người Slave và người La Mã, nhưng không làm cho người bản xứ ở Bắc Mỹ sợ hãi. Ở đây tình hình là không đáng bỏ công chinh phục những người bản xứ nghèo nàn mà cuộc sống quá ư đơn giản; cũng không đáng cố gắng ở lại những vùng đất đầy rẫy những kẻ đối địch như thế. Vì tất cả những lý do này, người Scandinave cổ đại đã không biến Bắc Mỹ thành thuộc địa của họ, và như vậy, cuộc phát hiện đã thất bại.
Vào khoảng năm 1477, tàu bè không còn từ các con lạch ở Băng đảo đi đến những thuộc địa ở Greenland nữa. Chiếc tàu cuối cùng từ Băng đảo đi Greenland là vào năm 1408. Tuy nhiên, chắc chắn Colombo đã nghe những thủy thủ Anh và Băng đảo nói về Greenland, các hòn đảo rộng lớn, băng giá, nằm ở phía tây Băng đảo này. Cũng không loại trừ trường hợp là có ai đó đã nói cho Colombo biết về Vinland, miền đất ở tây nam Ultima Thule tắm mình trong Biển đen tối, ở bên kia Galway, từ những người cũng như ông, đã tin rằng trái đất không dẹt mà tròn. Và như vậy, ý tưởng đầu tiên về châu Á nằm ở bên kia đại đương bắt đầu chóm nở và thường xuyên ám ảnh tâm trí ông. Vậy là kinh nghiệm kỳ diệu của người Scandinave cổ đại đã tỏ ra có ích; một phần kinh nghiệm đó là có ảnh hưởng tới người thủy thủ thành Genova đã tới bờ biển Băng đảo trên một chiếc tàu Anh.
Cũng trên những bờ biển này, sáu thế kỷ trước đó, người Scandinave cổ đại đã cập bến, phát hiện ra Ultima Thule của thế giới Cơ đốc. Từ những bờ biển này, năm thế kỷ trưóc đây, người Scandinave cổ đại đã lên đường tìm Greenland và những vùng đất khác xa hơn về phía tây. Đây là mắt xích gắn liền những phát hiện cụ thể (Băng đảo và Greenland) và cuộc phát hiện thất bại (lục địa Bắc Mỹ) của người Scandinave cổ đại với cuộc phát hiện huy hoàng của Colombo.
Cuộc hành trình tới Băng đảo đã gợi lên trong tâm trí Colombo mảng đầu tiên của bức tranh mà sau đó thành ý đồ lớn của ông. Nhưng không chỉ có thế. Giữa Anh và Băng đảo là khoảng cách hàng trăm, hàng trăm dặm biển cả; đi sang đó trên một chiếc thuyền buồm thật khó khăn và nguy hiểm. Cuộc hành trình lên phía Bắc đã luyện bản lĩnh của Colombo, và cũng là cơ bản vì cuộc hành trình đó đã dẫn đến khái niệm về một công việc đã làm cho ông nổi tiếng.
Sau khi thăm Chio và sau cuộc đổ bộ may mắn tại Lagos, cuộc đi của Colombo đến Băng đảo chỉ là một chặng dừng chân thêm nữa dọc theo con đường dài trong sự tiến triển của cuộc phát kiến lớn của ông. Đó là một chặng dừng chân đầy những phóng đoán, lý thuyết, tưởng tượng và những ý nghĩ kỳ lạ, Nếu những vùng đất khác nằm ở phía Tây  Băng đảo, tại sao người ta không thể tìm thấy những đảo khác ở phía Nam ? Chiếc tàu mà Colombo đi, đã đến Băng đảo thường xuyên, xa về phía Tây và Bắc lục địa châu Âu và từ đây người ta có thể đi thuyền xa hơn nữa về phía Tây. Về phía Bắc, đất đai không biến đi trong sương mù và không khí, như nhiều người cổ đại đã tin và nhiều người ở Địa Trung Hải vẫn còn tin. Về phía Tây không có vực thẳm mà vẫn còn đất đai nữa. Tại sao những cuộc hành trình tương tự lại không thể tiến hành xa hơn về phía Nam, trong một biển khơi ít bão tố và ít sương mù hơn? Những câu hỏi như thế, chắc chắn Colombo đã có trong chuyến đi của ông đến Băng đảo.
Hoàn toàn bình thường là những người tự cảm thấy sinh ra là để làm những sự việc lớn hay bận tâm về một ý nghĩ duy nhất trong nhiều thời gian của cuộc đời họ. Mọi hành động, mọi ý nghĩ trở thành một phương tiện để đạt đến mục tiêu ấy. Như vậy Colombo, được tôi luyện bởi biển khơi miền Bắc, không ở lại trên bờ lâu dài. Chẳng bao lâu ông lại đi ra biển tại vùng biển Băng đảo - như một ngư dân chăng? - nhưng ông đã hành động như một nhà thám hiểm. Vào lúc ông trở lại Bồ Đào Nha và định cư ở đó, ông đã bước thêm một bước khổng lồ vào con đường đi đến kế hoạch lớn của ông: ông đã có được lòng tin về Đại Tây Dương.
Chú thích:
(1)     Bản tiếng Anh chuyển dịch là Newfoundland.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.06.2021 20:55:31 bởi Ct.Ly>
6.   LISBON, KẾT HÔN, VÀ PORTO SANTO
 
Từ Băng Đảo và nước Anh trở về, Colombo đã định cư tại Lisbon (xứ Bồ Đào Nha). Nhiều người Genova sống tại đó, trong đó có những đại lý cho những chủ tàu của ông ta, spinola và Di Negro. Trong kho lưu trữ quốc gia Genova có một lời khai ngày 25 tháng 8-1479 trước tòa án Genova của Cristoforo Colombo với tư cách là một đại lý do Paolo Di Negro thuê. Lời khai này liên quan đến một vụ án dân sự về thỏa thuận tháng 7 năm trước về chuyên chở đường, bằng tàu biển từ Madera. Cuộc buôn bán xấu đi vì Di Negro đã không gửi cho Colombo tiền chi phí thuê tàu và tiền hàng hóa.
Những chi tiết của vụ kiện này không làm chúng ta quan tâm. Tuy nhiên chúng ta quan tâm đến những lời nói rằng nhân chứng ‘‘Colombus Cristophorus’’ (1)khoảng hai mươi bảy tuổi và là một công dân thành Genova sống ở Lisbon. Lời nói rằng ông phải trở về Lisbon ‘‘sáng ngày hôm sau’’ cũng đáng lưu ý.
Colombo đáng lẽ đã có thể khai ở Lisbon. Thay vì làm như vậy, ông đã đến Genova, chắc chắn ông đã thăm bố mẹ và anh em ở Genova hoặc Savona. Một số người đã gợi ý rằng Colombo đã hình thành trong tâm trí một cuộc phiêu lưu nào đó ở Đại Tây Dương và đã lợi dụng chuyến đi này để nói về những ý nghĩ đó với những chủ tàu của ông ta, hay thậm chí với các quan chức của nước Cộng Hòa. Giả thuyết đó không thể loại trừ, ngay cả trong trường họp không có tài liệu để hổ trợ.
 
Lẽ ra việc triển khai kế hoạch lớn đã có thể hoàn thành năm 1479. Tuy nhiên có thể Colombo đã nói với những chủ tàu của ông và những nhân viên ở Genova một cách chung chung về những cuộc phát kiến mới ở Đại Tây Dương khả dĩ có thể có và tầm quan trọng của những đảo đã biết (như Madera). Dù sao chăng nữa, ông đã không tìm được một thính giả chăm chú lắng nghe ông. Hành động dũng cảm của Vivaldis đã là một thảm họa, hành động dũng cảm của Lanzarotto Marocello chỉ làm lợi cho Tây Ban Nha. Vẫn còn một số người Genova mạnh dạn, và Colombo là một trong số họ. Những nước Cộng Hòa, nhà băng San Giorgio, những người chủ tàu, và những nhà buôn cảm thấy mặc dù Genova rất giàu có, đó là một quốc gia quá nhỏ bé để mở rộng mãi vào Đại Tây Dương.
Giả thiết Colombo đã phát hiện ra châu Mỹ dưới lá cờ Genova, lá cờ ấy sẽ không phất phới bay lâu dài trên những vùng đất mới. Chẳng bao lâu lá cờ ấy sẽ được thay bằng cờ Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha, hoặc Anh. Điều đó cũng là điều đã xảy ra với đảo Lanzarote và những đảo khác ở Đại Tây Dương. Như thế, dù những thủy thủ sinh ra và lớn lên ở Genova mạnh dạn bằng cách này hoặc cách khác, những cố gắng của họ đã kết thúc làm lợi cho những người khác, và như vậy, để cho họ xúc tiến những công việc của họ để phục vụ những quốc gia khác, chỉ là một điều hợp logic. Nếu Colombo nói chuyện với bất cứ người nào về Đại Tây Dương, về những kế hoạch của ông trên Đại Tây Dương cho đến lúc đó, chắc chắn ông sẽ nhận được câu trả lời theo hướng đó.
Ngày 26 tháng 8 năm 1479, Colombo đã rời Genova không bao giờ trở lại. Ông đã ra đi với một niềm tin dù cay đắng nhưng có tính chất thực tế, vì những người Genova là những người thực tế cay đắng. Ông tin rằng ông phải đảm nhận những chuyến đi trên Đại Tây Dương, nếu ông phải tìm những vùng đất mới ở đấy, ông sẽ phải tìm sự hỗ trợ và việc tổ chức cho công việc của ông từ những quốc gia Đại Tây Dương, từ những quốc gia đã có quyền lực và đã thiết lập những lợi ích ở Đại Tây Dương và rất có thể đã cảm thấy nhu cầu bành trướng đó.
Cuối mùa xuân, hoặc đầu mùa thu 1479, Colombo kết hôn với Felipa Moniz Perestrello. Theo Don Ferdinand và Las Casas, ông đã yêu trong nhà thờ như nhiều người Ý, người Tây Ban Nha và người Bồ Đào Nha thời đó. Chỉ có trong ánh sáng lờ mờ của nhà thờ người ta mới có thể trố mắt nhìn một người con gái xinh đẹp mà không gây ra một chuyện bê bối nào. Colombo đã kết hôn vì tình yêu, nhưng trong khi Colombo thực sự yêu Felipa, chúng ta không thể loại bỏ một điều mà Colombo đã kết hôn với Felipa vì những lý do khác nữa, trong đó có hai lý do chính. Thứ nhất Felipa Moniz Perestrello là một người quý tộc, có lẽ đã bị bần cùng hóa, nhưng là một người có dòng máu quý tộc đầy đủ cả về bên cha của nàng, dòng máu quý tộc Perestrello, lẫn bên mẹ nàng, vì gia đình Moniz là một trong những gia đình quý tộc cổ nhất ở Bồ Đào Nha. Suốt cả cuộc đời mình, Colombo đã tìm cách để đạt được địa vị quý tộc, hoặc được thừa nhận danh tước ông đã được ban. Địa vị quý tộc là yêu cầu thứ nhất - thậm chí trên cả phần thưởng tiền tài - cho một cuộc hành trình thành công trên biển. Gia đình của Felipa là quý tộc đã suy tàn, giống như trường hợp gia đình bố Colombo.
Lý do thứ hai của cuộc hôn nhân ngày nay dễ hiểu hơn. Theo Don Ferdinando và Las Casas, Bartolomeo Perestrello, bố của Felipa, là  ‘‘một người đi biển lớn’’. Những nhà sử học coi đây là điều nói quá sự thật. Chắc chắn là lớn, nhưng không phải lớn như người ta tưởng tượng. Bartolomeo Perestrello, con trai của Filippo Pallastrelli từ Piacenza và Caterina Sforza, sinh ở Bồ Đào Nha vào đầu thế kỷ thứ XV. Họ đã đổi thành hình thức Bồ Đào Nha của Perestrello, và nhà vua đã khẳng định chúc quý tộc của họ. Vợ thứ hai hoặc thứ ba của Bartolomeo là Isabella Moniz, con gái một trong những gia đình rạng rỡ nhất thuộc quý tộc Bồ Đào Nha. Felipa đã sinh ra từ cuộc hôn phối ấy… Khi bà kết hôn với Colombo, cha bà đã chết khoảng hai mươi năm trước.
Bartolomeo Perestrello không phải là một nhà đi biển lớn, càng không phải là một nhà phát kiến. Tuy nhiên ông là thống sứ đảo Porto Santo. Nếu Hoàng tử Henry, một nhà tổ chức và một người phán đoán con người vĩ đại như vậy, đã ban thưởng cho Bartolomeo một hòn đảo quan trọng đối với việc khảo sát Đại Tây Dương, thì có nghĩa Bartolomeo là một con người có một tầm vóc nào đó, không những vì ông ta là dòng dõi quý tộc cấp cao Italia, mà còn vì sự hiểu biết của ông ta về biển cả. Sau khi Bartolomeo chết, chồng của một trong những người con gái khác của ông ta, rể tương lai của Colombo, Pedro Correa de Cunha được cử làm thống sứ Porto Santo. Không thể nghi ngờ là Colombo quan tâm đến việc duy trì quan hệ với Pedro Correa de Cunha.
Như thế là có hai điều kết hợp với câu chuyện tình lãng mạn: quý tộc truyền thống và sự hiểu biết về Đại Tây Dương mà gia đình Felipa đã có. Colombo gặp Felipa Moniz Perestrello và cuộc hôn nhân tiếp theo của họ đã có tác động lớn đối với việc mở đầu cuộc phát kiến vĩ đại.
Con đường từ Lisbon đến Funchal (Phun-can), hoặc Machico (Ma-ki-cô)- những cảng của Madera ở thế kỷ thứ XV - đi vòng đảo Porto Santo ở chặng cuối cùng. Không những Colombo đã được biết rõ về sự tồn tại của đảo này mà đã viếng thăm đảo ấy trước khi lấy Felipa. Sau khi kết hôn, ông đã quen với Porto Santo. Porto Santo nằm cách Madera 27 dặm về phía Đông Bắc và chỉ rộng 16,4 dặm vuông. Porto Santo là một vệ tinh của Madera. Từ bất cứ điểm nào trên đảo,người ta đều có thể ngửi thấy mùi Đại Tây Dương, và trong những cơn giông bão nghe thấy sóng vỡ tung tóe trên bờ biển.
Chắc chắn Colombo đã đi Porto Santo sau khi kết hôn và có lẽ cùng với Felipa. Con trai của ông, Diego, có lẽ đã được sinh ở đó. Dù sao chăng nữa, Colombo đã sống ở đó và đã có thể tham khảo những bản đồ của bố vợ. Về việc này Don Ferdinando nói:  ‘‘Mẹ vợ ông cho ông những bản viết và bản đồ chồng bà đã để lại. Những bản viết và bản đồ đó càng kích thích viên Đô đốc, thông báo cho ông về những chuyến đi mà người Bồ Đào Nha đã thực hiện đến Elmina và dọc theo bờ biển Ghinê’’.
Mặc dù Bartolomeo đã chết được nhiều năm, những bản đồ của ông đã nói tiếng nói của người sống. Không một nhà sử học nào nói những văn bản và bản đồ đó là gì, nhưng rõ ràng chúng là những bản đồ, portolanos (những cẩm nang về đi biển), những bài bình luận và những bản thảo truyền lại cho những thủy thủ bởi những nhà nghiên cứu vũ trụ và những nhà nghiên cứu địa dư thuộc Sagers, trong thời Henry, Người Đi Biển. Colombo đã lục lọi trong số những giấy tờ này, và đã tìm hiểu được vùng Đại Tây Dương, do bán đảo Iberia, quần đảo Azores và mũi Cape Verde bao quanh. Colombo đã hiểu về lý thuyết, điều mà ông ta bắt đầu hiểu dưới sự căng thẳng của việc đi thuyền buồm kéo dài và gian khổ ở phần này của Đại Dương, như ông đã thực hiện ở Địa Trung Hải, từ đông sang tây.
Colombo đã lục lọi không những trong những giấy tờ của bố vợ ông mà cả trong những tảng đá và cát, thăm dò mọi bí mật được giấu kín nhất của bãi biển và trung tâm của Porto Santo. Có phải tại đây Colombo đã nghĩ về kế hoạch lớn của ông lần đầu tiên hay không? Có phải tại đây ông đã mài dũa ý nghĩ  ‘‘tới phương Đông bằng cách đi thuyền về hướng Tây hay không?’’ Không có tài liệu nào chúng mình điều đó, nhưng có lẽ đảo Porto Santo là nơi sinh ra ý nghĩ này của ông.
Porto Santo giống như một chiếc thuyền ở giữa Đại Dương, một loại thuyền nhẹ so với những tàu lớn hơn, một loại tiền đồn, đơn giản và trơ trụi ở phần thiên đường trần gian là Madera, với những bờ biển đầy cát ở phía Nam, thú vị và rộng rãi, và những bờ biển đầy đá ở phía Bắc, màu sẫm và liên tiếp bị những đợt sóng thường đầy giông tố đập vào. Đó là một hòn đảo đá phún thạch màu đen nhô ra phía tây nam, một vùng đất làm tổ của những con chim hải âu, một người lính gác bao vây bởi biển cả nổi sóng, ở đây Colombo đã sống với ảo ảnh Madera luôn luôn ở trong tâm trí ông. Một hòn đảo ma thuật, đối với ông Madera vừa là điểm cuối cùng của thế giới đã được biết, vừa là gọi ý về sự tồn tại của những vùng đất khác ở xa hơn về phía Tây. Những ý nghĩ của ông quay theo hướng đó khi ông được biết rằng một miếng gỗ được chạm trổ cẩn thận và một số cây sậy to hơn những cây sậy trên đảo đã dạt lên bờ biển phía Tây.
Tại đây ông đã đi lang thang từ vịnh nhỏ này đến vịnh nhỏ khác, chăm chú nhìn chân trời và cố giải mã những điều không biết, vì bây giờ ông tin chắc rằng ở đằng kia, ở quá kinh tuyến thuộc Madera gần đó, phải là đất liền, không phải là vực thẳm. Colombo mong đợi một chứng cớ nào đó về vùng đất ấy từ những đợt sóng đập vào mõm đá của Porto Santo. Ý nghĩ chi phối Colombo đã mang một hình thù cụ thể đầu tiên: phương Tây. Và như vậy ông bị ám ảnh không phải bởi mặt trời mọc mà bởi mặt trời lặn. Khi mặt trời đi xuống, Colombo hoặc ở Ponta da Calheta, Ponta da Canaveira, Ponta do Umal, hoặc trên những dốc của Pico Ana Ferreira, ngắm nhìn mặt trời đi xuống và nghĩ rằng tại Portofino và Quinto mặt trời đã lặn được hai giờ và đã là đêm, một người nào đó ở bên kia biển, đang nhìn cùng một mặt trời này - đối với ông đã lặn một nửa - đối với người đó mặt trời vẫn còn trên chân trời.
Cùng một vĩ tuyến với Lisbon và Algarve là quần đảo Azzorre. Có những đảo khác ở phía Tây trên cùng một vĩ tuyến như Porto và Marocco hay không? Có một Marocco khác, một châu Phi khác hay không? Có thể có một lục địa khác với cùng những cây kỳ lạ như những cây chỉ thấy ở đây, trên đảo Porto Santo, như cây dragoeiro (cây rồng) chẳng hạn, chỉ thấy ở quần đảo Madera và ở Canarie hay không? Những cây đó cũng mở ra hướng Tây. Và có thể có marmulano ở đó, cũng thấy ở trên đảo Madera, Porto Santo và Cape Verde cũng hướng về phía Tây hay không? Người ta thấy không có cây nào ở châu Phi, Colombo đã được nói cho biết như thế và điều đó được xác nhận cho bản thân ông trên những chuyến đi biển tới Ghinê.
Từ đó người ta khẳng định rằng gió và những dòng nước đã làm phong phú hệ thực vật trên đảo bằng những cây ở Mỹ. Thật vậy trên những bờ biển Porto Santo và Madera người ta có thể thu lượm những hạt giống từ West Indie, Mexico và Folorida. Trong viện bảo tàng trường thần học Funchal có một số mẫu về những hạt giống như thế, trong đó có một loại cây đậu cỡ lớn, cây Macuna entata mà trên đảo Porto Santo gọi là fava do mar (đậu biển), ngày nay gọi là đậu fava de Colon (đậu của Colombo).
Colombo có biết điều này hay không, sắc bén và nhạy cảm như ông đối với mọi mặt của thiên nhiên và mọi chi tiết của những dòng nước biển? Khó trả lời câu hỏi này, nhưng để cho rằng ông đã cảm thấy điều gì đó mà ngày nay khoa học đã xác minh. Đây là một mảng nhiều màu sắc khác nhau nữa trong kế hoạch lớn của ông.
Có một vùng đất khác ở phương Tây, từ đó chim đã mang đến những hạt giống của cây cối ngoài lại; một vùng đất có lẽ đáng yêu và say người như Madera. Vùng đất ấy có phải là một hòn đảo không? Tại sao không phải là một lục địa? Tại sao không phải là châu Á? Những thủy thủ ở Lisbon tin chắc rằng trái đất tròn. Và nếu trái đất tròn, tại sao không thể ba hoặc bốn giờ ánh nắng mặt trời tách Porto Santo khỏi cạnh phía đông châu Á, vì hai giờ đã tách Genova khỏi Porto Santo?

Chú thích:
(1) Họ và tên Colombo thường được viết theo các dạng chính tả khác nhau, ở đây chúng tôi cố ý giữ nguyên dạng chính tả của văn bản cổ.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.06.2021 21:32:16 bởi Ct.Ly>
9.   SỰ HỖ TRỢ CỦA KHOA HỌC: TOSCANELLI
 
 
Nhà học giả thành Firenze Paolo dal Pozzo Toscanelli (Tốt-xca-nen-li) đã giúp củng cố lòng tin của Colombo cho rằng vùng đất mà ông ta cảm thấy nằm ở bên kia Đại Tây Dương là lục địa châu Á. Toscanelli sinh tại Firenze năm 1397. Đầu tiên học trường đại học Firenze, sau đó tại trường đại học Padova, tại đây nhà triết học Nicolò Cusano, kém ông mấy tuổi, đã trở thành người bạn suốt đời. Toscanelli trở về Firenze khi ông hai mươi bảy tuổi.
Cả Paolo và người anh em ông, Piero, đều là bác sĩ và hành nghề đó nhưng tính tò mò khoa học đã dẫn Paolo đi vào toán học, vật lý học, thiên văn học và cả địa lý nữa. Kiến thức địa lý của Toscanelli dựa vào những quyển sách về vũ trụ học và thiên văn học, những bản đồ không những ở Genova và Venezia mà cả ở Fiandra, Đức và Vienne; dựa vào những sách du ký của những nhà thám hiểm, những nhà truyền giáo và những nhà buôn, nhất là cuốn Milione của Marco Polo; và sau hết dựa vào những thông tin thu lượm trực tiếp từ những người du lịch đương thời.
Toscanelli đã hỏi cặn kẽ những người du lịch đi qua Firenze. Ông cũng có dịp chuyện trò với những người Tacta đến từ lưu vực sông Đông và với một phái đoàn Etiopia đến nước Ý năm 1441. Vào hồi đó có cả một người Đức đến nước Ý, nhà thiên văn học Johann Muller, được gọi bằng cái tên Regiomontano, thầy học của Martin de Behaim, nhà du lịch và tác giả bản đồ thế giới nổi tiếng năm 1492, đến nay còn được lưu giữ tại Vienne. Trong những năm 1461và 1 463, Regiomontano thường xuyên thảo luận tại Roma với Toscanelli.
Toscanelli được coi là nhà toán học xuất sắc nhất trong thời đại ông. Poliziano và Vespasiano da Bisticci đã sáng tác những bài ca tụng ông, Leon Battista Alberti đã đề tặng ông trên một cuốn sách, và Hồng y Giáo chủ Cusano, bạn thân của ông cũng đã đề tặng ông những tác phẩm toán học của mình. Cusano cũng nhận được những lời chỉ dẫn của Toscanelli khi ông thiết kế một bản đồ Trung Âu. Chúng ta không thể loại bỏ một điều - mà thực ra có thể là như vậy - là những sự kiện bên ngoài đã khiến Toscanelli rời bỏ những suy nghĩ về những ngôi sao và toán học và tăng cường nghiên cứu về địa lý, trước  đó việc nghiên cứu địa lý là một trò tiêu khiển, hoặc một sự tò mò khoa học đối với ông. Trong nửa sau thế kỷ thứ XV có sự bùng nổ của kinh tế và văn hóa ở châu Âu, nhất là ở Ý; cùng trong thời gian đó Thổ Nhĩ Kỳ đã thôn tính những vùng đất và những dân tộc, từ nước Ý và những phần khác của châu Âu; nhưng dân tộc này là bộ phận không thể tách rời, nếu không phải là tổ tiên của nền văn hóa chung Hy Lạp - La Mã - Công giáo: Hy Lạp, Constantinople, các đảo Egee, bờ biển Tiểu Á, những cảng Hắc Hải và Anbani.
Sự sụp đổ của Constantinople đối với người Thổ Nhĩ Kỳ đã làm suy sụp nhiều gia đình Venezia, Genova và Firenze, đặc biệt là những gia đình tham gia vào việc buôn bán hương liệu. Cả gia đình Toscanelli cũng phải bận tâm về sự kiện này và đã quay nhìn sang hướng Tây để bổ sung nguồn thu nhập đang sụt giảm trong việc buôn bán của họ. Ở đó mảnh đất đầy hứa hẹn nhất là Bồ Đào Nha, không những vì những phát kiến mới được thực hiện của nước này mà còn vì Bồ Đào Nha có trước mặt mình một Đại Dương chưa ai biết và thần bí. Nếu người ta có thể làm rộ sự thần bí đó, khoa học sẽ phong phú thêm. Thế giới đang trở nên nhỏ bé hơn, đúng lúc người ta đang cảm thấy cần những không gian rộng lớn hơn, những chân trời mới.
Học thuật không còn dành riêng cho một thiểu số tu sĩ, những người bình dân không lấy vợ, và những tu sĩ bị một thiên hướng đặc biệt thôi thúc.
Con cái của tầng lớp quý tộc và tầng lớp trung lưu đổ xô vào học thuật, nghệ thuật và khoa học; tại Firenze, Genova và Venezia, cả đến đám con cái của những thợ thủ công bình thường và ngay cả nông dân cũng chạy theo kiến thức.
Những chân trời của học thuật - của khoa học, triết học và nghệ thuật - cũng mở rộng hơn. Trong khi đó, trong lĩnh vực kinh tế, châu Âu của thế kỷ XV đã thấy tăng một cách khác thường các hàng tiêu dùng, việc này được chỉ rõ bởi sự thức tỉnh của các tầng lớp trung lưu, bây giờ đã quen sử dụng hàng hóa chế tạo và những sản phẩm mà trong nhiều thế kỷ vẫn là độc quyền của giai cấp quý tộc và những chúa phong kiến. Nuớc Ý, đặc biệt là Firenze, Venezia và Genova, đang thấy hiện tượng vĩ đại này biến thành lợi nhuận trong sổ kế toán của các nhà buôn và trong sự đi lại tại những hải cảng và bằng những tàu biển của họ.
Vì những lý do này, không ai ở địa vị tốt hơn những người Firenze, Venezia và Genova để hiểu tầm quan trọng của những con đường chuyên chở của tàu biển, những vị trí thương mại và tác động đối với sự phát triển kinh tế và văn hóa bộc phát do sức tiêu thụ khổng lồ của châu Âu và sức sản xuất của châu Á tạo ra; sự tiêu thụ và sản xuất đó đã thông qua vùng Levani phía Đông Địa Trung Hải, chính những vùng đất mà Thổ Nhĩ Kỳ đã chinh phục. Không một người nào ở địa vị tốt hơn là những người Firenze, Venezia và Genova để đánh giá tâm lợi ích ngành thương mại với châu Á và tính chất nghiêm trọng của những cản trở sinh ra từ việc mất những vùng đất ở miền Levant.
Toscanelli là một học giả, nhưng ông đã tham gia vào những lợi ích kinh doanh của gia đình, và những lợi ích đó liên quan trước hết đến việc buôn bán hương liệu. Vậy một lợi ích kép - khoa học và văn hóa, cũng như kinh tế và gia đình - đã nhắc nhở ông nhìn về hướng Tây. Ở phương Tây, học thuật sẽ tìm thấy những chân trời mới; nên thương mại và của cải của những quốc gia (1) sẽ tìm thấy sự ổn định và những cơ hội mới.
Như vậy Colombo đã gặp trên đường đi của ông một con người trực cảm được những nhu câu tình cảm mới, hướng về những chân trời rộng lớn, vô tận và chưa hề được xác định. Lịch sử viết về Colombo đã nhất trí về cách thức mà tư tưởng của Toscanelli đã đi tới với những người Genova như thế nào. Cuốn sách Lịch sử của Fernando và Las Casas nói về một sự trao đổi thư từ trực tiếp, nhưng nhiều nhà sử học nghi ngờ về một sự trao đổi thư từ như thế. Một điều chắc chắn: Colombo biết rất rõ một lá thư Toscanelli đã viết cho linh mục phụ tá Fernando Martins, người Lisbon. Lá thư đề ngày 25 tháng 6 năm 1474 và đến tay Colombo năm 1480. Chính Colombo đã tự sao lại một bản, bây giờ còn lưu giữ tại thư viện Colombo ở Seviglia. Trong thư Toscanelli đề nghị sang Ấn Độ bằng cách vượt Đại Tây Dương:
 ‘‘Mặc dù nhiều lần khác tôi đã biện hộ cho con đường ngắn nhất từ đây đến vùng Ấn Độ, nơi sản sinh các hương liệu đi theo đường biển ngắn hơn con đường mà ông đã đi vòng qua Ghinê; ông nói với tôi rằng Đức Vua giờ đây muốn tôi đưa ra một lời khẳng định, hoặc một chứng minh để giải thích rõ khả năng có thể đi con đường ấy được".
Đó là ý kiến kỳ diệu của Toscanelli mà ông coi như là một định lý. Ông đoán trước sự nghiệp giải thoát thế giới Công giáo khởi sự ràng buộc thương mại vào người Thổ Nhĩ Kỳ là kết quả tiến bộ của khoa học địa lý. Những nước Cộng hòa Ý sẽ đầy của cải và công ty của Toscanelli sẽ có được cuộc sống mới. Toscanelli đã chứng minh định lý của ông như sau:
‘‘Do đó, mặc dù tôi biết tôi có thể chứng minh bằng một quả cầu trong bàn tay tôi và chỉ cho ông thấy thế giới trải ra như thế nào, tuy nhiên tôi đã quyết định nên chỉ rõ con đường đó trên bản đồ như những bản đồ dùng trong hoạt động hàng hải thì dễ hơn và có ý nghĩa hơn, vì vậy tôi sắp gửi cho Đức vua một bản đồ tôi đã thiết kế và tự mình làm ra. Bản đồ này chỉ rõ toàn bộ phương Tây, từ Ireland tới Ghinê, tận xa về phía Nam, với tất cả những đảo nằm ở giữa. Đối diện trực tiếp với những đảo đó là bắt đầu quần đảo vùng Ấn Độ cùng với những đảo và những nơi mà ông có thể tới. Bản đồ cũng chỉ ông có thể đi thuyền một đoạn đường dài bao nhiêu từ Bắc cực đến đường xích đạo và ông phải qua bao nhiêu dặm để tới những nơi phì nhiêu nhất, có một loại hương liệu, ngọc và đá quí’’.
Đây là một bản đồ nổi tiếng mà Las Casas đã tham khảo nhiều lần, ông nói rằng ông đã xem và cầm bản đồ đó trong tay.
Một đoạn sau của bức thư nói rõ Toscaneili đã làm bản đồ như thế nào nhưng quan trọng hơn những chi tiết kỹ thuật là phần miêu tả của bức thư, những đoạn khơi lên lòng mong muốn thực hiện những cuộc phát kiến và đoạn nói về những lợi thế về thương mại và kinh tế sẽ đạt được:
‘‘Tôi cũng vẽ trên bản đồ nhiều nơi tại Ấn Độ mà người ta có thể tới, nếu xẩy ra một sự rủi ro do gió thổi ngược chiều, hoặc một tai họa bất ngờ nào khác. Và ngoài ra để thông tin đầy đủ về những nơi đó mà ông muốn hiểu rõ, xin ông biết rằng ở tất cả đảo đó không có ai sống ngoài những nhà buôn. Có nhiều tàu thủy, thủy thủ và hàng hóa, như bất cứ nơi nào khác trên thế giới, nhất là tại một cảng đẹp gọi là Zaiton, ở đây hàng năm một trăm tàu lớn bốc và dỡ hàng hạt tiêu và có nhiều tàu chở những hương liệu khác’’.
Đoạn trên có xuất xứ từ cuốn Milione của Marco Polo. Việc miêu tả một cách kỳ diệu được tiếp tục:
‘‘Đất nước này cực đông dân cư, có nhiều tỉnh, vương quốc và thành phố không rõ số lượng dưới sự trị vì của một hoàng đế gọi là Đại Khan, chữ này có nghĩa là Vua của các vị Vua. Ông này sống hầu hết thời gian trong tỉnh Cataio. Những người trị vì trước ông rất muốn có những quan hệ và tình thân thiện với người Công giáo nên cách đây hai trăm năm, họ đã cử những đại sứ tới, yêu cầu Giáo hoàng cử nhiều người khôn ngoan và những học giả đến dạy họ đức tin của chúng ta, nhưng các đại sứ đã gặp nhiều trở ngại khác nhau và đã phải trở về không tới được Roma”.
Colombo sẽ bận tâm với việc tìm Đại Khan và đế quốc của ông này. Trong khi đoạn trên cũng được gợi hứng bởi Marco Polo thì trong đoạn tiếp theo, Toscanelli dựa vào một nguồn khác.
“Và còn một đại sứ nữa đến Giáo hoàng Eugenio IV. Vị này đã nói về tình hữu nghị sâu xa của những hoàng tử và nhân dân họ đối với những người Công giáo, và tôi đã nói dài dòng với ông về nhiều điều và về tầm cỡ lớn lao của các cung điện của nhà vua, chiều dài và chiêu rộng của những con sông của họ. Và ông ta nói với tôi nhiều điều kỳ diệu về vô số thành phố và những địa điểm trên những bờ sông của họ. Ông ta nói rằng chỉ trên một con sông đã thấy trên hai trăm thành phố có những chiếc cầu bằng đá cẩm thạch, rất lớn và dài và được trang trí bằng nhiều cột. Đất nước này cũng xứng đáng như bất cứ nước nào khác đã được phát hiện, và ông có thể kiếm ở đó không những món lời lớn mà cả vàng bạc và đá quí cũng như mọi loại hương liệu với số lượng lớn, những loại chưa bao giờ được đưa vào phần đất này của thế giới chúng ta”.
Eugenio IV là Giáo Hoàng từ 1431 đến 1447, đã sống tại Firenze một thời gian nào đó (Toscanelli cũng sống tại đây), vì Hội đồng Tòa Thánh được triệu tập tại Firenze từ 1438 đến 1443.
Phần tái bút như sau:
“Từ thành phố Lisbon thẳng về phía Tây, trên bản đồ là 26 khoảng cách, mỗi khoảng là 250 dặm (Anh) thì đến thành phố nguy nga Quisai, có mười cầu đá cẩm thạch. Tên thành phố này có nghĩa là Thành phố của nhà Trời và người ta kể về những điều kỳ diệu xung quanh sự vĩ đại của những thiên tài của thành phố, những công xưởng và mức thu nhập. Vùng này cũng gần như phần thứ ba của trái đất, và thành phố nằm ở trong tỉnh Mango, gần tỉnh Cataio, tại đây nhà vua đã ở phần lớn thời gian của ông”.
Bức thư của Toscanelli như vậy đã cũng cố khái niệm của Colombo là châu Á nằm bên kia Đại Tây Dương và Colombo yên tâm vì có niềm tin và lạc quan là con đường đi tới đó không dài hoặc nguy hiểm. Trước khi đọc bức thư của Toscanelli, Colombo đã không nghĩ rằng châu Á gần châu Âu như vậy. Ông nghĩ rằng những vùng đất gần nhất chỉ là những đảo và quần đảo, những tiền đồn của đại lục. Sau này ông tìm cách đặt Cipango cách đảo Hierro (trong quần đảo Canarie) hai mươi bốn dặm, khác với Toscanelli ước tính ba nghìn dặm, bằng cách điều chỉnh lại những thực tế từ kinh nghiệm của ông, hoặc đơn thuần vì nhu cầu cần thuyết phục những kẻ hoài nghi. Nhưng chính bức thư của Toscanelli đã khiến Colombo coi cạnh của châu Á gần bờ biển Bồ Đào Nha hơn là sự suy nghĩ của ông trước kia và điều đó đã làm yên lòng ông nhất, và hỗ trợ cho kế hoạch của ông.
Toscanelli đã hỗ trợ cho Colombo cả về khoa học lẫn tinh thần. Dù những bức thư và bản đồ của nhà học giả Firenze có trực tiếp gửi cho Colombo hay không, thì nhiều bức thư và bản đồ ấy vẫn đã gây một ảnh hưởng sâu sắc đối với ông. Toscanelli là một nhà tiên tri về cuộc cách mạng trong địa lý, giống như bạn của ông Nicolò Cusano là một nhà tiên tri về cách mạng trong triết học. Toscanelli và Cusano là hai thiên tàị trong số những thiên tài chói lọi nhất ở châu Âu vào thế kỷ XV. Hai ông là những người tiên trạm của thời đại mới: mà Colombo là người tiên phong, người đóng vai trò tích cực đầu tiên của thời đại đó – “người mở rộng thế giới” như Paul Claudel đã mệnh danh ông.
10. Ý ĐỒ THÀNH DỰ ÁN -
 VUA BỒ ĐÀO NHA BÁC BỎ
 
Ý tưởng đi tới châu Á bằng cách vượt Đại Tây Dương không còn là một giấc mơ, hay một ý đồ mà đã là một dự án rõ ràng và xác định: “Tới phương Đông bằng cách đi thuyền về hướng Tây”. Cuối năm 1483 đầu năm 1484, Colombo đã trình kế hoạch của ông lên Vua Giovanni Đệ Nhị của Bồ Đào Nha. Nhà Vua đã bác bỏ kế hoạch đó, và như vậy Bồ Đào Nha đã mất cơ hội phát hiện Thế giới Mới. Tuy nhiên hình như Bồ Đào Nha hơn bất cứ một quốc gia nào khác xứng đáng với đặc quyền mở rộng văn hóa và thương mại vượt qua Đại Tây Dương sang Trung và Nam Mỹ.
Cả địa lý lẫn lịch sử đều thuận lợi cho Bồ Đào Nha. Địa lý đã chứa đầy tâm hồn Bồ Đào Nha tình yêu Đại Dương và tình yêu đó thôi thúc hành động. Lịch sử Bồ Đào Nha trong thế kỷ XV lịch sử những cuộc phát hiện đường biển. Nhầm vào Đại Dương, nơi trung tâm của hầu hết các cuộc phát hiện ở thế kỷ XV, đi đầu là về văn hóa, nhưng không chỉ nghệ thuật và văn hóa mà cả về khoa học thương thuyền, địa lý và thiên văn. Bồ Đào Nha hình như có định mệnh đi đến phát hiện châu Mỹ. Nhưng lịch sử đã rút lại ý kiến và từ bỏ lô-gich của chính nó.
Có phải sự ngẫu nhiên đã tước đi của Bồ Đào Nha cuộc chinh phục rất xứng đáng này? Không phải chỉ có thế, mặc dù ngẫu nhiên đã đóng một vai trò. Có một lý do hợp lô gich cho việc mất cơ hội đó là giai cấp thống trị Bồ Đào Nha - Vua, triều đình, những học giả và những nhà đi biển có ảnh hưởng nhất - vẫn bướng bỉnh hướng theo việc tìm đường sang vùng biển Ấn Độ bằng cách đi thuyền vòng châu Phi. Họ đã không lầm là năm 1487 Bartolomeo Diaz đã đi vòng mũi phía Nam lục địa châu Phi và năm 1498, sáu năm sau khi Colombo phát hiện ra châu Mỹ, Vasco da Gama đã tới Calicut, Ấn Độ.
Mặt khác, quả thật là nhiều thủy thủ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Genova, Pháp, Ailen cũng như nhiều người sinh sống ở quần đảo Azzorre, Madera, Porto Santo, quần đảo Canarie, nhắc đi nhắc lại và thề rằng họ đã trông thấy những vùng đất ở phía Tây Madera hoặc các đảo Ferro Flores, Corvo. Chính vua Giovanni đã chỉ những cây sậy lớn cho Colombo và khăng khăng rằng có nhiều chỉ dẫn đầu mối về đất liền ở quá biển Đen tối (Mar Tenebroso). Ở châu Âu không ai biết những cây sậy đó và chúng không thể từ châu Phi đến; người ta thấy chúng trên những bờ biển của các đảo Đại Tây Dương khi sóng, gió và bão thổi từ phía Tây vào. Nhà Vua, triều đình, những nhà khoa học và những thuyền trưởng Bồ Đào Nha đã giải thích những đầu mối này chỉ đơn thuần là những dấu hiệu về những hòn đảo khác cần được phát hiện ở Đại Tây Dương. Họ đang đi tìm châu Á; họ có ý định là những người đầu tiên đến châu Á và thiết lập ở đó nền thương mại riêng của họ. Điều gì có thể làm cho họ quan tâm, ngoài những đảo Azzorre khác, hay những đảo Madera khác? Không một ai, không phải họ, không phải Colombo, cũng chẳng phải một người nào khác - nhà bác học, nhà nghệ thuật, nhà triết học, thủy thủ, hay nhà buôn, thầy tu hay thầy phù thủy - không một ai ở châu Âu tuởng tượng rằng có thể có một lục địa thứ tư.
Điểm này giải thích lý do từ chối của Giovanni và việc đánh mất cơ hội của người Bồ Đào Nha. Nhưng chỉ giải thích được một phần. Giả thiết nếu Henry  ‘‘Người Đi Biển’’ còn sống chắc chắn ông sẽ chấp nhận kế hoạch của Colombo là có giá trị; đi đến những vùng đất mới ở bên kia quần đảo Azzorre và Madera. Nếu như có một nhà thiên văn học thiên tài và giáo sĩ giới dòng tu Francesco như cha Marchena ở triều đình Bồ Đào Nha, thay vì ở triều đình Tây Ban Nha, thì kế hoạch của Colombo đã được lắng nghe và chấp nhận. Chính vua Giovanni cuối cùng cũng đã thay đổi ý kiến, khi ông viết một bức thư cho Colombo vào năm 1488, nhưng đã quá muộn: lịch sử đã nghiêng về phía có lợi cho Tây Ban Nha.
Điều gì sẽ xẩy ra nếu như trước đó, có hay không có Colombo, những tàu Bồ Đào Nha dành cho cuộc thám hiểm của Cabral đã phát hiện ra châu Mỹ? Một điều tất yếu xẩy ra là tất cả Nam Mỹ sẽ nói tiếng Bồ Đào Nha; và Tây Ban Nha sẽ thực hiện sứ mệnh của mình, trong tình hình xuất hiện vào đầu năm 1492: chinh phục miền Bắc châu Phi, từ Maroc đến Tunisi và biến miền tây Địa Trung Hải thành cái hồ Tây Ban Nha. Nhưng đi lạc vào các giả thiết là một điều vô nghĩa!
Sụ từ chối của Vua Giovanni cũng còn vì lý do Colombo đã đòi hỏi quá nhiều, trong trường hợp ông ta thành công. Theo Casas, những điều kiện ông yêu cầu là nhà vua phong cho ông chức Kỵ sĩ để ông và những con cháu ông được gọi là Don (Ngài); ông được mang danh hiệu  ‘‘Đại Đô đốc của Đại Dương’’, với tất cả quyền lợi và đặc quyền thuộc về những Đô đốc của Vương quốc Castiglia; ông được phong làm Phó vương vĩnh viễn và Thống đốc tất cả các đảo và đất liền ông sẽ phát hiện được, và ông sẽ giữ lại một phần mười tất cả những thu nhập của nhà vua (vàng, bạc, châu báu, đá quý, kim loại, hương liệu và những thứ khác; tất cả những hàng hóa mua, buôn bán, tìm thấy, hay giành được trong phạm vi quyền Đô đốc của ông trên mặt biển).
Hình như rất có khả năng những đòi hỏi quá đáng này đã làm lệch cán cân quyết định khi người ta cho rằng Giovanni đã thỏa thuận với hai bầy tôi của ông để cố gắng thực hiện ít nhất một phần kế hoạch của Colombo: sự phát hiện Antilia mà người Bồ Đào Nha gọi là ‘‘Hòn đảo của Bảy thành phố’’. Pernao Dulmo thuộc Terceira đã yêu cầu cho phép đi hai chiếc thuyền buồm nhỏ  ‘‘để tìm đảo lớn - hoặc những đảo, hoặc đất liền gần bờ biển của đảo lớn - mà người ta cho là đảo của Bảy thành phố, và làm tất cả việc này bằng chi phí riêng của ông.  ‘‘Nhà vua cho ông ta bất cứ cái gì ông phát hiện và hứa cho ông những danh hiệu vẻ vang’’ thích hợp, nếu ông thành công. Không có những phương tiện để thực hiện cuộc thám hiểm một mình, Dulmo đã họp tác với một ông João Estreito nào đó, thuộc Funchal. Nhà vua khẳng định sự thỏa thuận của ông với cả hai người, Dulmo sẽ chỉ huy đội thuyền trong bốn mươi ngày đầu tiên sau khi rời Terceira và nhận tất cả những vùng đất phát hiện trong thời gian đó. Sau đó quyền chỉ huy sẽ chuyển sang cho Estreito, mọi thứ phát hiện sẽ thuộc ông này từ đó cho đến khi họ trở về. Trái với những chính sách cổ truyền của các vua Bồ Đào Nha đối với những nhà thám hiểm, Giovanni hứa sẽ ủng hộ Dulmo và Estreito bằng lực lượng hải quân của ông, nếu những người dân sống ở Antilia chống lại.
Ngày tháng định xuất phát cuộc thám hiểm quan trọng này là 1 tháng 3 năm 1487. Từ một việc Don Ferdinand gián tiếp nói tới vùng đất mà Fernao Dulmo ‘‘cố phát hiện’’ và từ báo cáo mà Fernao Dulmo đề nghị viết, người ta có thể kết luận rằng, Dulmo và Estreito thực tế có đi, nhưng Dulmo không bao giờ phát hiện. Nhưng sự im lặng hoàn toàn về chủ đê này trong biên niên sử của Bồ Đào Nha chỉ cho rằng chuyến đi đã hoàn toàn thất bại. Như Morison đã quan sát một cách đúng đắn, nguyên nhân thất bại của chuyến đi là điểm xuất phát, quần đảo Azzorre. Giống như những đồng bào của họ đã đi trước họ trong việc thám hiểm Đại Tây Dương, Dulmo và Estreito đến vĩ tuyến của quần đảo Azzorre, gặp phải gió và những dòng nước biển làm cho họ không thể đến được bờ biển phía Tây của Đại Dương, Colombo đã làm chủ phần lớn Đại Tây Dương bao quanh quần đảo Azzorre, nên ông đã cảm thấy điều đó sẻ xẩy ra và đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong bí quyết của ông.
Đây có phải là cuộc thám hiểm bí mật do Vua Giovanni tổ chức để ăn cắp kế hoạch của Colombo mà Don Ferdinand và Las Casas nói không? Cả hai nhà viết sử đều cho biết những người lãnh đạo cuộc thám hiểm đó đã trở về, không tìm thấy gì, trước khi Colombo rời khỏi Bồ Đào Nha; tức là trước năm 1485, hai năm trước cuộc thám hiểm của Dulmo và Estreito. Nhưng thực tế có cuộc thám hiểm bí mật đó hay không? Không chắc chắn rằng Giovanni đã phái thuyền đi thực hiện kế hoạch của Colombo. Dù cuộc thám hiểm bí mật này có thực hay tưởng tượng, Colombo vẫn tin là có và cho rằng ông đã bị lừa gạt.
Vì những lý do ngoại giao, hay xuất phát từ lòng trung thành đối với Giovanni, Colombo vẫn duy trì được những quan hệ tốt với Giovanni và đổ lên những người khác cái lỗi từ chối hay lừa gạt. Tuy nhiên ông đã không thể ở lại tại Lisbon. Ông nên làm gì? Kế hoạch lớn giờ đây đã chiếm đoạt tâm trí ông. Felipa, vợ ông, đã chết, chôn tại nhà thờ Carmine. Con trai ông, Diego, tuy còn là một đứa trẻ bốn hoặc năm tuổi, nhưng cũng đã đủ để đi theo ông, đứng được trên boong tàu với ông. Và như vậy Colombo đã tìm một chiếc tàu và bí mật đi về Palos thuộc Tây ban Nha.

Chú thích:
 (1) Lúc này trên bán đảo Ý tồn tại nhiều vương quốc và quốc gia đô thị. Mãi đến năm 1861 . Vương quốc Italia thống nhất mới được chính thức thành lập.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.06.2021 11:10:38 bởi Ct.Ly>
11. Ở TÂY BAN NHA: CHA MARCHENA
 
Khi Colombo, và con trai là Diego cập bến ở Palos, họ đến La Rábida một nhà thờ phụ của một tu viện thuộc dòng tu Franceso cách hải cảng ba dặm rưỡi. Colombo, một người theo dòng tu Thánh Francesco, có thói quen dự lễ câu kinh vào cuối cuộc hành trình, hoặc trong những chặng dừng chân dọc đường. Ông ta cũng cần một nơi để ở lại đêm đâu tiên trên bờ, cũng như để tìm hiểu tin tức những người thân thích nhà họ vợ. Violante Moniz Perestrello, chị của người vợ đã quá cố của ông đang sống với chồng là Miguel Muliari (Mi-guen Mu-li-a) ở Huelva (Hu-èn-va), một thành phố khá gần Palos.
Cuộc viếng thăm La Rábida là việc đầu tiên Colombo làm trên đất Tây Ban Nha. Cuộc thăm viếng này là mấu chốt đối với cuộc phát hiện vĩ đại nhất trong lịch sử, cũng như việc ông ta bị dạt vào bờ ở Lagos, vì tại Rábida, Colombo đã gặp Cha Marchena. Nhiều sử gia không biết rõ về Cha Marchena. Trong thế kỷ XVI, một số sử gia đã lẫn lộn cha Marchena với Cha Pérez và tạo ra một nhân vật không bao giờ tồn tại: Cha Juan Pérez de Marchena. Thậm chí ngày nay một số sách phổ thông về Colombo và La Rábida nói về Cha Juan Pérez de Marchena. Họ là hai người riêng biệt, cả hai là tu sĩ dòng Francesco. Cha Pérez là tu sĩ sau này đã giới thiệu Colombo với triều đình nữ Hoàng Isabella. Tại Rábida năm 1485 Colombo đã phát hiện ra Cha Antonio de Marchena, người sẽ trở thành người cha tinh thần, thần hộ mệnh cho Nhà phát hiện tương lai, trong bảy năm khó khăn mà Colombo lưu lại Tây Ban Nha.
Cha Marchena không những là một giáo sĩ rất sùng đạo và nổi tiếng, mà còn là một nhà vũ trụ học và thiên văn. Colombo cần sự hỗ trợ khoa học và đã tìm được sự hổ trợ ấy ở Toscanelli. Ông không nghĩ rằng ông cần sự hỗ trợ tôn giáo, ông đã có đức tin khác thường, đi gần tới sự cuồng tín. Nhưng ông cần sự hỗ trợ tôn giáo, vì thời đó không thể làm điều gì mới, ở bên ngoài nhà thờ, hoặc không có sự hỗ trợ của nhà thờ. Thông qua Cha Marchena, Colombo còn có được một số người bạn có thế lực trong các giới tài chính và chính trị - hơn là chỉ có những đối thủ, những người thờ ơ và những kẻ nghi ngờ.
Cuộc gặp gỡ giữa Colombo và Cha Marchena có lẽ đã xẩy ra ngay buổi tới Colombo cập bến Palos. Thời đó các tu viện dòng Francesco thường cho những người hành hương ở trọ không mất tiền và Colombo có thể đã ngủ tại một trong những gian của tu viện ở La Rábida với con trai nhỏ của ông. Ta có thể tuởng tượng nhiệt tình mà Colombo đã kể lại những ý nghĩa và kế hoạch của ông cho người đứng đầu tu viện Francesco ngay khi ông được biết vị tu sĩ quan tâm đến vũ trụ học và thiên văn học. Colombo đã nói dài, say sưa và đã bộc lộ tâm hồn của ông. Một nguồn tài liệu cho biết là Colombo đã nói en poridal, tức là nói tất cả mọi việc. Nói tất cả những việc gì vậy? Một số tài liệu khác lại nói Colombo đã nói với vị tu sĩ trong lúc xưng tội, nên vị giáo sĩ không thể nói lại với ai. (Chúng ta sẽ trở lại gọi ý này về sau và chỉ rõ rằng không có gì hỗ trộ cho chuyện đó cả).
Sự việc thực tế đơn giản hơn thế. Colombo đã để lộ tất cả tư tưởng của ông. Ông đã nói về những đầu mối chỉ dẫn của những đảo Đại Tây Dương và về Galway. Ông đã nói về cuộc đi biển của ông tới Băng Đảo và về thông tin ông đã thu thập được ở đó. Ông miêu tả những chuyến đi của ông tới Madera, quần đảo Canarie, quần đảo Azzorre những đảo Cape Verde và Ghinê. Ông đã nói về chuyện đã sống một thời gian dài trên đảo Porto Santo, sàng lọc những ấn tượng, những đầu mối và kinh nghiệm của ông. Ông đã không dấu giếm những gì ông đã biết tại nhà Perestrello. Ông đã miêu tả những bước thăng trầm của ông tại triều đình Bồ Dào Nha. Ông đưa cho Cha Marchena xem bức thư của Toscanelli gửi Tu sĩ Martins. ông kể lại dài dòng lòng tin của ông đối với vai trò của những dòng nước biển và gió ở Đại Tây Dương, đặc biệt là những dòng nước và gió không thay đổi ở vĩ tuyến thuộc quần đảo Canarie. Ông bày tỏ sự tin chắc rằng, bên kia Biển Đen tới là châu Á, là Cipango và Cataio, những vùng đất rộng lớn giàu có và đông dân cư, những dân tộc ở những vùng đó đã đợi để được cứu rổi trong nhiều thế kỷ, những người đã không bác bỏ, như người Hồi giáo, Kinh Phúc âm của chúa Ki Tô, mà chỉ đơn giản là chưa biết gì về điều đó. Tất cả những điều đó lại được kể trong lễ xưng tội chăng?
Có sự rằng buộc lễ nghi tôn giáo hay không có? Chắc chắn Colombo đặt niềm tin vào Cha Marchena với một lời nguyện giữ bí mật.
Nhiều điều đã nói với Cha Marchena trong cuộc hợp có tính chất quyết định đó, chắc chắn kéo dài hơn một buổi tối, Colombo đã không nói cho ai biết sợ rằng họ sẽ ăn cắp ý kiến của ông, điều đó không phải là không có lý do. Thí dụ ông đã không nói chuyện ông ở Băng Đảo, về bản đồ của Toscanelli, cũng chẳng nói gì về con đường - hoặc hơn thế hai con đường, đi và về, mà ông đã biết rõ. Chúng ta sẽ thấy những lập luận Colombo đã tìm được, với sự giúp đỡ của Cha Marchena, để nói với các học giả; những lập luận dựa trên những văn bản cổ điển và tôn giáo. Những lập luận đó không phải là những lập luận đầu tiên đã thuyết phục Colombo và Cha Marchena.
Không cần thiết phải tìm một sự giải thích bí mật về sự rằng buộc đã nhanh chóng gắn bó Cha Marchena với Colombo. Người ta thấy điểm chủ chốt là hiện tượng tâm lý đơn giản chung cho cả hai người. Một nhà tư tưởng thường bị cuốn hút vào một con người hành động và hiến dâng bản thân mình cho con người hành động đó, sống tâm tưởng thông qua những hành động của người kia. Ngày nay người ta có thể quan sát hiện tượng này trong các lĩnh vực quan hệ xã hội, chính trị, khoa học và tôn giáo. Ngày nay hiện tượng đó xẩy ra như nó đã luôn luôn xẩy ra, vì bản chất con người không thay đổi, hay ít nhất không thay đổi từ thế kỷ XV. Đây là điều đã xẩy ra giữa Cha Marchena và Colombo. Vị tu sĩ dòng Francesco Tây Ban Nha được khơi động lên bằng nhiệt tình của nhà thủy thủ Genova và sống lại trong những kinh nghiệm, những giấc mơ riêng của ông, như một nhà vũ trụ học và nhà thiên văn học.
Trong khi đó con trai Colombo- Diego - lưu lại ở La Rábida, cho đến khi Colombo có thể gặp những bà con bên vợ của ông, Violante và Miguel Muliart. Colombo ở lại với họ trong ít ngày,vì, một khi cuộc gặp gỡ đó đã được thực hiện thì Diego sẽ đến sống với cô và chú ở Huelva và Colombo sẽ tự do đi đây đi đó.
Cha Marchena giới thiệu Colombo tại triều đình và hỗ trợ ông những lúc khó khăn và thử thách nhất trong bảy năm, từ khi ông đến Palos cho đến chuyện du hành đầu tiên của ông. Ông thường xuyên ở bên cạnh Colombo, ngay cả sau khi ông rời La Rábida để cầm đầu những thành viên dòng tu Francesco chính thống tại Seviglia và ông giới thiệu Colombo với Cha Juan Pérez, người tổ chức cuộc tiếp xúc cuối cùng và quyết định với các vua Tây Ban Nha.
Colombo viết về Cha Marchena:  ‘‘Tôi không bao giờ nhận được sự giúp đỡ từ bất cứ ai ngoài Cha Antonio de Marchena, ngoài sự giúp đỡ của Chúa Vĩnh hằng”. Như vậy Cha Marchena là thiên thần hộ mệnh của Colombo, sau chúa là Cha Marchena và chỉ có Cha Marchena dùng mạng lưới rộng lớn của dòng tu Francesco hùng mạnh để mở nhiều cánh cửa nặng nề của triều đình cho nhà thủy thủ Genova. Ngày 20 tháng 1 năm 1486. Isabella và Ferdinando đã tiếp Colombo ở thành phố Alcalá de Henares, không xa Madrid.
Colombo đã trình bày kế hoạch của ông với nhiệt tình và lòng tin của một người sùng đạo, với giọng của người nắm được sự thật. Để tăng thêm lòng tin vào những lập luận của mình, Colombo đã trình bày bản đồ thế giới mà ông đã làm cùng với người anh Bartolomeo, miêu tả những vùng đất và những biển phải phát hiện. Hai năm sau, Bartolomeo sẽ trình bày một bản sao bản đồ này cho nhà vua Anh, khi ông đưa ra dự án chưa được chấp nhận tại Tây Ban Nha. Colombo mang chính bản đồ này trên chuyến đi phát hiện đầu tiên của ông.
Ngày 24 tháng 2 Cha Marchena đã tự giới thiệu mình với triều đình tại lâu đài Madrid, để nói cho họ biết rằng những điều mà nhà thủy thủ nước ngoài đã nói với họ  ‘‘là sự thật’’. Nhưng Isabella và Ferdinando đã không tin Colombo. Họ coi trọng hơn những ý kiến phản bác của các học giả thuộc Hội đồng của họ. Tuy nhiên, họ biểu thị một sự tò mò nhất định đối với dự án kỳ lạ. Cùng năm đó, 1486, nhà vua theo Công giáo này đã có được một bản đồ Tolomeo; Honorato Mercader đã mua bản đồ đó từ một người bán sách Jaime Serra giá 160 soldi và gửi bản đồ đó cho nhà vua từ Valencia, Colombo chắc chắn đã nêu bản đồ Tolomeo trong việc giải thích những lý thuyết về vũ trụ học có một không hai của ông vào ngày lịch sử 20 tháng 1 năm 1486, và cái tên ấy thể nào cũng gây một ấn tuợng đối với nhà vua và Hoàng hậu.
Đến đây phải nhấn mạnh rằng từ ngày đến Tây Ban Nha, Colombo đã bắt tay vào việc nghiền ngẫm sách vở một cách kỹ lưỡng, tìm hiểu kỹ từng câu, từng ý, có thể hỗ trợ dự án của ông và sử dụng nhiều câu trích dẫn trong những đàm thoại và phần kết luận bài nói của ông. Như đã nêu, tuy vậy ông không nói về những kinh nghiệm của ông ở Băng Đảo, Galway, Porto Santo và bất cứ nơi nào khác ở Đại Tây Dương, và cũng không nói gì về bức thư của Toscanelli. Cả những kinh nghiệm lần bức thư đều là bí mật của riêng ông; về những kinh nghiệm, những học giả khó tin ông, trong khi từ bức thư, họ có thể học được quá nhiều và lấy cắp ý kiến của ông.
Colombo đã dùng những lập luận dựa trên những văn bản cổ điển và tôn giáo trước cuộc hợp của Hội đồng các học giả, do kết quả lời kêu gọi trực tiếp của ông đến Vua và Hoàng hậu trong tháng giêng. Tuy nhiên sự tiến bộ rất chậm chạp. 
Hội đồng nghe ông và xem xét kế hoạch của ông từ tháng 11 - 1486 đến tháng 4 -1487. Suốt năm 1486, Colombo đã theo triều đình chuyển từ Madrid đến Avila (A-vi-la) rồi đến Guadalupe và cuối cùng đến Córdova .Tại Guadalupe, Colombo cầu lễ tại thánh đường nổi tiếng nhất Tây Ban Nha, nhà thờ Đức Bà Guadalupe. Tại Córdoba ông yêu Beatrice de Arana . Hai mối tình – thần thánh và trần thế - để lại những dấu tích sâu sắc và lâu dài trong cuộc đời và sự nghiệp của ông. Guadalupe là một trong những tên gọi đầu tiên được dùng tại những vùng đất mới. Colombo cầu khẩn Đức Bà Guadalupe khi ông cảm thấy mình bị cực kỳ nguy hiểm trong chuyến trở về, sau cuộc đi biển thứ nhất và đã gặp trận bão tồi tệ trong số nhiều trận bão mà ông đã trải qua. Beatrice de Arana cho ông sự thảnh thơi của tâm hồn và thú vui thể xác trong những năm lo lắng và khó khăn chờ đợi lâu dài tại Castiglia.
Colombo không tự hạn chế mình trong việc cầu khẩn Đức Mẹ Đồng Trinh và yêu Beatrice. Ông tiếp tục xúc tiến con đường của ông vào các giới trong triều đình.
Nhiều người giễu cợt ông, những người khác lắng nghe và đánh giá cao ông, một số người thì say mê ông. Không nghi ngờ gì mặc dù có bản chất đa nghi, kín đáo và hãnh diện, Colombo có sức hấp dẫn khi ông giải bày tâm hồn mình cho người nghe. Một khi bắt đầu nói, ông không dừng, trở nên thích thú và có sức thuyết phục. Colombo có thuyết phục được Vua Ferdinando đọc Tolomeo không? Colombo có gây được ấn tượng sâu sắc với Hoàng hậu Isabella nghiêm khắc và khiêm tốn bằng sự mạnh dạn và kiêu hãnh của ông hay không?
Nhưng những điều này đã không giúp ích cho Colombo đối với hội đồng học giả. Những trí thức muốn giữ lại quyền lực không thể không bóp nghẹt tất cả những ý kiến mới. Điều đó đã như vậy trong mọi thời gian lịch sử. Mọi cuộc cách mạng về trí thức đe dọa cơ sở quyền lực của họ. Họ bị ám ảnh phải theo một đường lối tư tưởng hình thức chặt chẽ, làm ngơ và kinh miệt các linh cảm. Họ không nhận thức được thực tế của cuộc sống. Thực tế đó hình như rất vô lý và bị chi phối bởi sự ngẫu nhiên. Người ta chỉ có thể làm chủ thực tế đó bằng một tinh thần tự do, bằng trí tưởng tượng và sự cởi mở đối với các quan điểm khác nhau. Giả thiết nếu Colombo có nói với họ như nói với Cha Marchena, họ vẫn không hiểu ông. Nhưng ông không muốn tiết lộ với họ những bản đồ quan trọng và bí mật nhất. Vậy thay vào đó, ông đã dùng bản đồ thế giới và nêu những nhà địa lý cổ điển và kinh Cựu ước.
Tại Castiglia Colombo bắt đầu đọc và đọc lại những cuốn sách in lần đầu tiên về vũ trụ học và địa lý học. Những cuốn sách đó còn được lưu giữ với nhiều ghi chú của Colombo tại thư viện Colombo ở Seviglia. Những cuốn sách đó gồm có Tractutus de imagine mundi của Hồng y giáo chủ D’Ailly in tại Louvain từ năm 1480 đến 1483; Historia rerum ubique gestarum của Enea Silvio Piccolomini sau này là Giáo hoàng Pio II, in tại Venezia năm 1477; bản tóm tắt bằng tiếng La-tinh cuốn Milione của Marco Polo do Francesco Pipino di Bologna soạn, xuất bản tại Anversa năm 1485; Historia naturalis của Plinio, do Cristoforo Landino dịch sang tiếng Ý và xuất bản tại Venezia năm 1489 Vidas de los ilustres Varones của Plutarco do Alfonso di Palencia đi dịch sang tiếng Castiglia xuất bản tại Seviglia năm 1491; Sumula Confessionis của St. Antonino di Firenze in năm 1476; và một tập sách, trang sách bằng da, Những bi kịch của Seneca. Colombo còn biết đến và đọc những sách khác, ngoài những cuốn có trong thư viện Colombo. Thí dụ chắc chắn Colombo có đọc tác phẩm giàu trí tưởng tượng Voyage d’ outre mer của Giovanni da Mandavilla và De locis, Habitabilibus của Giulio Capitolino; Andres Bernaldez cho biết như vậy vì Colombo đã từng là khách ở trong nhà ông ta. Hình như Colombo đã biết đến cả Tavole Alfonsine một công trình đồ sộ về kiến thức thiên văn làm tại Toledo vào thế kỷ thứ XIII bởi một ủy ban các nhà thiên văn dưới sự bảo trợ của Alfonso, nhà thông thái ở Castiglia.
Colombo đã đọc những cuốn sách này không phải trước  khi ông nghĩ ra kế hoạch lớn mà là sau đó, sau khi ý đồ của ông đã biến thành dự án. Hầu hết các nhà sử học đều lẫn lộn hai quá trình tuyệt đối riêng biệt, của kế hoạch phát hiện và sự học tập khoa học của Colombo. Hai quá trình được hoàn thiện ở những thời kỳ khác nhau. Sự ra đời của kế hoạch đã xẩy ra không có học hỏi gì về khoa học, hoặc sự hổ trợ nào, trừ bức thư của Toscanelli. Kế hoạch được vạch ra trên những boong tàu, trên đó viên Đô đốc tương lai đi từ Đông sang Tây, Nam lên Bắc, Bắc xuống Nam, trên những vùng rộng lớn của Đại Tây Dương, từ Băng Đảo đến xích đạo và từ Sagras đến quần đảo Azzorre xa nhất.
Colombo có được trí thức khoa học là từ việc đọc những sách đã nêu, từ thông tin và những gợi ý của Cha Marchena, nhà thiên văn. Colombo lấy việc đạt được tri thức này để thuyết phục những học giả của hội đồng. Có một sợi chỉ chung chạy qua những cuốn sách Colombo đã đọc ở những thời kỳ khác nhau, mặc dù chắc chắn ông đã đọc tất cả những cuốn sách đó sau khi ông đến Tây ban Nha. Sợi chỉ đó mới nhìn lần đầu đã thấy rõ ngay, là sự khiêm nhường của người sinh viên trước cái mà ông ta đang đọc, tính giản dị chân chất, sự tầm thường rõ rệt của một số khái niệm mà ông ta đã chọn trong những văn bản và đánh dấu ở ngoài lề những cuốn sách.
Trong thực tế, Colombo không phải là nhà học thuật như Gómara đã bảo đảm với chúng ta. Theo Bernaldez , ‘‘Ông là một thiên tài vĩ đại nhất, mặc dù không phải là người có học vấn nhiều nhất’’. Nhưng không cần viện ra ý kiến của những người khác; vì chỉ sự đánh giá của Colombo về bản thân ông cũng đã đủ. Bức thư năm 1501 của ông gửi cho Vua và Hoàng hậu có chứa một lời thú nhận  ‘‘Có lẽ bệ hạ và tất cả những người khác biết tôi, hoặc có thể đọc bức thư này, một cách riêng tư và công khai, họ sẽ mắng tôi bằng nhiều cách khác nhau, rằng tôi là con người ít văn hóa, một thủy thủ dốt nát, một con người tầm thường’’. Tính từ cuối cùng Colombo dùng là mundanal ngày nay có nghĩa là "đời thường", nhưng thời đó có nghĩa là "tầm thường".
Ít nhất thì ông cũng đúng một phần. Chắc chắn Colombo không "tầm thường", nhưng ông ta ít được học về khoa học, kho kiến thức lý thuyết của ông ta dứt khoát không đủ để đối đầu thành công với những học giả ở Castiglia có trách nhiệm xem xét dự án lớn của ông. Tuy nhiên dự án của ông vẫn lớn, và cuộc phát kiến xuất phát từ đó vẫn lớn nhất trong lịch sử, vì mọi thứ không thể quy thành trí thức khoa học, và khoa học cũng không thể làm được tất cả mọi chuyện.
Trực giác của Colombo thiên tài ngay cả trong những sai lầm đã vượt qua những kiến thức khoa học. Đó là trực giác của một thủy thủ, một người tự học, chỉ tìm cách hỗ trợ trực giác ấy bằng khoa học. Ông ta làm những gì ông ta có thể làm và đã tới những kết luận ông ta có thể tới. Nhưng những giới hạn về nhận thức địa lý mà ông đi tìm để khoác lên trực giác và kế hoạch lớn của ông không làm giảm giá trị và ý nghĩa mà cả điều này lẫn điều kia đã có trong lịch sử nhân loại; giới hạn và kế hoạch đó không hề làm giảm thiên tài phi thường của ông.




0
12. SỰ HỖ TRỢ CỦA BEATRICE
 
 
Công việc nghiên cứu mệt nhọc và việc hoàn thiện dự án không đi đến đâu cả! Việc đó chỉ làm kéo dài thêm cuộc thảo luận, nhưng không làm cho hội đồng thay đổi khuyến cáo, một khuyến cáo hoàn toàn trái với dự án. Tháng 8- 1487, nhà Vua và Hoàng hậu đã từ chối ý kiến của Colombo
Đó có thể là lúc để tuyệt vọng, nhưng Colombo đã không tuyệt vọng. Anh của ông, Bartolomeo, đã không bỏ ông. Beatrice vẫn yêu ông. Quan hệ tình ái giữa Colombo và một người đàn bà góa chồng trong nhiều năm - Beatrice - là một trong quãng đời lãng mạn và đây sức quyến rũ.
Beatrice de Arana là con gái của ông Fedro de Torquemada và bà Ana Nunnez de Arana, hai người lao động khiêm tốn ở Santa Maria de Trassiera, một làng vùng núi cách Córdoba khoảng mười lăm cây số. Cha nàng chết khi nàng còn rất bé: mẹ nàng chết ngày 2 tháng 6 năm 1471. Beatrice và anh trai của nàng đến sống với bà và cô. Hai người phụ nữ ngoan đạo này đã quyết để cho Beatrice được biết đọc và biết viết, thời đó là những kỹ năng chưa phổ cập. Nhưng rồi bà của nàng chết chỉ sau một thời gian ngắn, cô của nàng chết năm 1478, Beatrice đến ở với người anh em họ của mẹ là Rodrigo de Arana
Rodrigo có một trình độ văn hóa và thông minh, giàu có. Nhưng tài liệu còn lại cho biết công việc kinh doanh của ông, những quan hệ cá nhân và ngay cả mối quan hệ gián tiếp với Luciano và Leonardo Esbarroya những dược sĩ Genova sống tại Córdoba. Có lẽ thông qua họ mà Colombo sống tại Córdoba trong nhiều tháng năm 1486 và 1487 và đã quen biết Beatrice. Colombo ba mươi bảy tuổi, còn Beatrice hai mươi tuổi. Tháng 8-1488 người phụ nữ trẻ này đã sinh hạ Ferdinando, con trai của Colombo. Không nghi ngờ gì là Ferdinando đã được sinh ngoài giá thú.
Cuối thế kỷ thứ XIX, những người ở Ý, Pháp và Tây Ban Nha cố gắng chứng minh rằng Colombo đã hợp pháp hóa những quan hệ lãng mạn của ông, ít nhất dưới con mắt của nhà thờ nhưng họ đã không đưa ra được chứng cớ thuyết phục. Họ chỉ bận tâm với một ý nghĩ duy nhất: làm cho nhà phát kiến trẻ vĩ đại thành một vị thánh. Colombo xứng đáng một huyền thoại vì tài năng đi biển của ông, vì sự kiên cường cuồng nhiệt, vì lòng tin, vì sự hấp dẫn của ông vì sự nghiệp vĩ đại của ông đã đưa đến một kết cục thành công. Nhưng đó là huyền thoại của một thiên tài, một con người vĩ đại trong lịch sử, không phải của một vị thánh. Lòng mong muốn biến Colombo thành một vị thánh với bất cứ giá nào là sự cưỡng bách của các giáo sĩ trong lễ kỷ niệm 400 năm cuộc phát kiến, khi khuynh hướng trắng trợn và mạnh mẽ chống lại thuyết giáo quyền đã sản sinh ra một thuyết giáo quyền thô bạo không kém.
Colombo đã hoàn thành một cách chu đáo nghĩa vụ làm bố của mình. Ông đã hợp pháp hoá Fedinando, cậu ta liền được danh hiệu Ngài (Don), trở nên rất có học thức và có danh tiếng hơn người anh sinh ra trong giá thú là Diego. Tuy nhiên Colombo không cảm thấy là đã hoàn thành nghĩa vụ đối với Beatrice, chứng cớ là trong Di chúc để lại cho con trai thừa kế là Diego ông đã yêu cầu như sau:
‘‘Nó có thể trông nom Beatrice Enriquez, mẹ của người con trai của tôi là Don Ferdinando để bà có thể có phương tiện sinh sống lương thiện, vì là một người đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Mong rằng việc đó có thể thực hiện được, để giám bớt gánh nặng cho lương tâm tôi, một gánh nặng đè lên tâm hồn tôi, mà tốt hơn không nên nói rõ lý do ở đây.
Trong thực tế, Colombo không hào phóng với người phụ nữ mà ông ta chịu ơn nhiều. Một khoản tiền phụ cấp nhỏ, mười nghìn maravedis một năm, đầu tư vào những lò sát sinh ở Córdoba, được dành cho bà năm 1493, sau khi ông trở về từ chuyến đi biển lần thứ nhất, và một khoản khác, cùng số lượng, theo di chúc năm 1502. Đây là những bằng chứng duy nhất về sự hào phóng của ông ta, quả thật là rất khiêm tốn. Cuộc sống không hạnh phúc của Beatrice đã kết thúc vào khoảng năm 1521, theo ngày tháng của những bản viết mà chúng ta có. Di chúc của Don Diego, viết tại Santo Domingo ngày 8 tháng 9 năm 1523 đã quy định việc trả tiền phụ cấp cho những người thừa kế của bà, số tiền chưa trả trong ba hoặc bốn năm trước.
Đó là tất cả những điều chúng ta biết về Beatrice Enriquez. Có nhiều không? Hình như nhiều, nhưng có ít thực chất. Như một số người nói, chúng ta không thể xác định được Beatrice trẻ tuổi là người phụ nữ quyến rũ Colombo, hay như những người khác nói, bà chịu sự cám dỗ về nhân cách của ông. Chúng ta cũng không biết bà đã đối xử như thế nào sau khi Colombo ra đi trong chuyến đầu tiên, hoặc khi ông trở về, khi rõ rằng Colombo bỏ bà. Một số người nói rằng bà không trung thành với tình yêu thứ nhất của bà, nhưng người khác nói ngược lại. Không cần thiết phải coi như có những điểm xấu nhất về bà, để giải thích tại sao Colombo chẳng bao giờ bình thường hóa quan hệ giữa hai người. Colombo là một Đô đốc và Phó vương những đảo và đất India. Ông được sắc lệnh của nhà vua thẳng lên những danh vị cao nhất trong Vương quốc Castiglia. Luật pháp nhà vua nói rõ cấm Colombo hòa trộn máu mình với máu của Beatrice Enriquez, một phụ nữ khiêm nhường ở Córdoba, con gái một người làm rượu nho khiêm tốn và hoàn toàn không phải dòng dõi qúy tộc.
Luật lệ của nhà thờ Công giáo không ngăn cản hôn nhân giữa những người thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng luật dân sự thì cản trở. Bị ám ảnh về ham muốn trở thành quý tộc, Colombo đã không, hoặc không thể trả được món nợ của ông đối với người phụ nữ trẻ tuổi ở Córdoba, vì vậy trong thời gian còn lại của cuộc đời ông, ông thường bị giày vò vì hối hận, rõ ràng khi ông tin rằng ông sắp chết. Vì vậy mà có điều khoản trên trong Di chúc của ông.
Trong nhiều bản viết còn lại của Colombo, dù vụn vặt, chúng ta không thấy sự đề cao tình dục, hoặc tình yêu lãng mạn. Lịch sử không nói cho chúng ta biết những cảm giác cá nhân của ông về vấn đề này. Những chuyện yêu đương lăng nhăng của ông với người dàn bà góa trẻ tuổi ở Gomera nằm trong thần thoại. Ý kiến nói rằng Hoàng hậu Isabella yêu ông chỉ là chuyện bịa đặt và bị tất cả những nhà sử học nghiêm túc bác bỏ. Có thể Hoàng hậu đã cảm kích về tài năng của ông chứ không có gì hơn. Bà có đạo đức và trước hết yêu sâu sắc và say đắm chồng bà. Tuy nhiên không khó khăn khi cho rằng chính tình yêu của Beatrice đã hỗ trợ cho Colombo trong một thời khắc đen tối nhất của đời ông. Người đàn bà này thầm lặng, gần như lén lút, xuất hiện bên ông khi ông bối rối nhất, khi mọi thứ và mọi người hình như thúc giục ông nên rời bỏ nước Tây Ban Nha, nơi ông đã đến để điều hành sự nghiệp lớn của ông. Người đàn bà này có những tình cảm thấm thiết.
Sau khi đã tìm hiếu những giai đoạn chủ chốt dẫn đến việc nhà phát kiến hình thành ở trong đầu kế hoạch lớn của ông, chúng ta xem lại những giai đoạn cụ thể mà ông đã hoàn tất kế hoạch đó. Có hai giai đoạn, cả hai đều cơ bản: gặp giáo sĩ, nhà thiên văn: Cha Marchena, và tình yêu của Beatrice. Nếu không có Beatrice có lẽ Colombo đã thất vọng và đi theo người anh Bartolomeo sang Bồ Đào Nha và Anh. Thay vào đó, khi Beatrice cho ông một con trai, ông đặt tên cho đứa con là Ferdinando, cố ý lặp lại tên của vua Tây Ban Nha. Colombo vẫn còn hy vọng; ông vẫn còn tin vào Tây Ban Nha. Và ở Tây Ban Nha sự may mắn đã cổ vũ hy vọng kiên cường đó, lòng tin bướng bỉnh đó.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.06.2021 13:49:24 bởi Ct.Ly>
13. TUYỆT VỌNG
 
 
Vào mùa xuân năm 1389, Colombo còn ở Castiglia. Bị nhụt chí, ông bắt đầu nghĩ đến việc đi sang Pháp. Một lần nữa, ông đã thố lộ tâm sự mình cho Cha Marchena và cha đã khuyên ông không nên đi nơi khác và nói ông nên tìm cách yết kiến công tước có thế lực ở Medina Sidonia (nước Tây Ban Nha). Ngài Enrico đi Guzman người của một trong những đại gia của Tây Ban Nha. Giàu có và đầy quyền lực. Las Casas còn nói rằng thời đó ở toàn bộ Tây Ban Nha không có ai giàu hơn ông ta. Nhưng Colombo không được gì từ công tước này!
Colombo lại quay sang một vị công tước khác: Don Luis de la Cerda Medinaceli sống tại Puerto Santa Maria. Medinaceli đã hỏi tỉ mỉ về kế hoạch của Colombo và đã suy nghĩ về kế hoạch đó như Las Casas nói cho chúng ta biết:
Medinaceli có cảm tình với sự thận trọng và lương tri của Colombo; ông đã xem xét cuộc đi biển một cách tích cực. Medinaccli coi mọi chi phí cần thiết là không thành vấn đề, nhất là khi Colombo đòi hỏi rất ít cho bản thân mình. Những ngày đó, Medinaceli biết Colombo có ít phương tiện chi tiêu thông thường, ông đã ra lệnh cung cấp mọi thứ mà Colombo cần.
Công tước bị thuyết phục bởi những lập luận Colombo đưa ra và đã hiểu tầm quan trọng và giá trị kinh tế, nếu không phải sự quang vinh, của sự nghiệp do Colombo đề nghị. Với sự rộng lượng và cởi mở, công tước đã quyết định không thảo luận nữa về vấn đề liệu sự nghiệp đó có thành công hay không, tựa như ông đang đề cập đến một vấn đề chắc chắn Ông đã ra lệnh cấp cho Colombo mọi thứ, lên tới ba hoặc bốn nghìn duca để ông có được ba tàu hoặc thuyền buồm, đồ tiếp tế cho hơn một năm, các thủy thủ và mọi thứ cần thiết, bảo đảm tàu được làm trong xưởng đóng tàu cảng Santa Maria và việc làm tàu sẽ không gián đoạn cho tới khi hoàn thành.
Tuy nhiên để có giấy phép chính thức, công tước đã kiến nghị Vua và Hoàng hậu ủng hộ
và giúp đỡ ông, với nguồn tài chính của bản thân ông và gia đình ông cho con người đã đưa ra mọi chỉ dẫn rằng người đó có thể phát hiện ra những thứ tuyệt vời và nguồn của cải Iớn.
Nhưng Hoàng hậu Isabella lại nghĩ khác. Một sự nghiệp như thế, nếu được thực hiện thì phải là mối quan tâm của Nhà Vua và chỉ Nhà Vua mà thôi: Bản thân Hoàng hậu sẽ chịu trách nhiệm- Las Casas cho biết thêm - và Hội đồng Hoàng gia sẽ phải thu xếp mọi chi phí cần thiết.
Như vậy, ngay cả những ý định tốt của công tước Medinaceli cũng không thể ảnh hưởng đến kế hoạch, những ý định ấy đã có một kết quả quan trọng: Hoàng hậu Isabella thiết lập lại việc tiếp xúc với Colombo. Bà đã gửi một bức thư lịch sự mời ông đến triều đình ngay lập tức. Isabella đã tiếp Colombo tại Jaén. Đó là vào mùa hè năm 1489 Hoàng hậu tiếp một mình, vì Vua Ferdinando đang tham gia việc bao vây Baza. Trong cuộc nói chuyện Hoàng hậu đã bày tỏ hy vọng tích cực là khi ‘‘sự kiện Granada’’ được giải quyết thì vấn đề này sẽ được giải quyết. Colombo lại phải kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi kết thúc thành công chiến dịch Baza. Với chiến dịch này, Vua và Hoàng hậu hy vọng chấm dứt cuộc Thập Tự Chinh nhiều thế kỷ chống những người Hồi giáo. Trong thời gian đó Colombo có thể sống tại triều đình.
Colombo cảm thấy an tâm. Ông đã có lời hứa của Hoàng hậu. Ông tháp tùng Hoàng hậu và triều đinh tới chiến trường Baza. Đúng 27 ngày sau khi Hoàng hậu đến chiến trường, pháo đài chinh của người Moor đã thất thủ.
Ngày 4 tháng 12 là ngày lễ Thánh Barbara. Những sự kiện nối tiếp dồn dập, Ngày 22 tháng 12, Vua và Hoàng hậu theo Công giáo đã vào Almeria và ngày 30 tháng 12 họ vào Guadix. Cuộc chiến tranh hình như đã kết thúc. Sự thật là Vua Hồi giáo Boabdil vẫn ở Granada, nhưng theo một hiệp ước ký năm 1487 ông ta là chư hầu của của Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha. Họ phải trao thủ đô Vương quốc Hồi giáo càng sớm càng tốt khi hoàn cảnh cho phép. Bây giờ đã đến lúc đối thủ đáng ghét của ông vua Tây Ban Nha là vua Guadix phải biến khỏi chính trường, vĩnh viễn.
Hoàng hậu đã cho Colombo "hy vọng chắc chắn” rằng bà ta sẽ xem xét lại kế hoạch của ông ngay khi cuộc chiến tranh kết thúc. Bây giờ là lúc quyết định. Nhưng một lần nữa những hy vọng của ông bị tan vỡ. Cuộc chiến tranh không hoàn toàn kết thúc. ‘‘Những người Moor trả lời rằng họ không thể thực hiện những điều họ đã hứa’’. Các nhà sử học đã tường thuật một cách vắn tắt như vậy. Tiếp theo là cuộc trao đổi những đại sứ và những bức điện giữa Ferdinando và Boabdil, kết quả là cuộc chiến tranh để chinh phục dứt khoát Granada lại nổ ra.
Tháng kéo dài thành năm và mãi đến ngày 2 tháng Giêng năm 1492, khi cuộc đầu hàng của Granada kết thúc cuộc chiến tranh và hủy bỏ những tàn dư cuối cùng của quyền lực Moor trên bán đảo Iberia, lời hứa tháng 7-1489 mới được thực hiện. Trong thời gian đó, Colombo lúc là khách của công tước Medinaceli, lúc là khách của Quintanilla lúc là khách của những người Francesci ở Rábida, đã thay đổi từ hy vọng đến thất vọng, rồi lại từ thất vọng đến hy vọng. Công tước chủ quản ngân khố, Cha Deza và Cha Marchena, tất cả đều khuyên Colombo nên kiên nhẫn, nhưng Colombo đã chán ngấy; sự tuyệt vọng đã khống chế ông. Ý nghĩ bỏ Tây Ban Nha đi để thử vận may tại nước Pháp luôn ở trong tâm trí ông.
Tại La Rábida, nơi ông đến lần thứ hai vào mùa thu năm 1491, Colombo đã gặp Cha Juan Pérez, thông qua Cha Marchena. Sau này Colombo thường nói hai vị tu sĩ này là những người duy nhất luôn luôn trung thành với ông, không bao giờ ngừng ủng hộ ông. Cha Pérez là người làm lễ giải tội cho Hoàng hậu. Ông đã cưỡi lừa đi từ Palos đến triều đình. Hoàng hậu nói với cha Juan Pérez rằng: bà không quên người thủy thủ nước ngoài và gởi cho Colombo hai mươi nghìn Maravedis, kèm theo một chiếu thư gọi Colombo đến. Như thế, một lần nữa Colombo đến triều đình, và một lần nữa ông ta đi cùng một người thuộc dòng tu Francesco lần này là Cha Péfez. Đó là tháng 12 năm 1491. Triều đình khi đó đóng ở Santa Fe. Cuộc chiến tranh gần kết thúc
Ngày 2 tháng Giêng năm 1392, Colombo cùng với Vua và Hoàng hậu đi vào Granada. Colombo viết trong lời giới thiệu cuốn Nhật ký của ông: Tôi trông thấy những lá cờ của Hoàng gia bay trên những tháp của Alhambra và tôi đã trông thấy vua Moor đi ra ngoài cổng thành, hôn tay bệ hạ và hoàng tử. ‘‘Cuộc chiến tranh kết thúc. Người Hồi giáo cuối cùng rời khỏi Tây Ban Nha, chấm dứt vương quốc Moor trên bán đảo Iberia, được thành lập từ năm 711 tại Jerez de la Frontera, kết thúc năm 1492 tại Granada. Gần chín thế kỷ!
Hoàng hậu Isabella chưa bao giờ quên dự án của Colombo. Bà hiểu và kính trọng ông. Bà đã triệu tập một Hội đồng đặc biệt để có một kiến nghị dứt khoát. Hội đồng gồm có ba Tổng giám mục, mười bốn Giám mục, hai trưởng dòng tu, chín công tước bốn hầu tuớc, mười bá tuớc, cùng nhiều nhà triết học, thiên văn học và vũ trụ học. Tại những cuộc họp trước ở Salamanca và Córdoba, mọi người đã nhất trí bác bỏ dự án; tất cả đã nói đề nghị của Colombo là không thể thực hiện được. Trái lại trong dịp này,  ‘‘ý kiến đã phân tán’’. Đức ông Geraldini ở Amelia Umbria đã cho chúng ta biết thông tin quan trọng đó; ông là nhân chứng đã có mặt tại tất cả các cuộc thảo luận bàn bạc.
Tại Santa Fe, có thể Hồng y giáo chủ Mendoza đã bảo vệ sự nghiên cứu của vị Đô đốc tương lai; chắc chắn Geraldini cũng đã bảo vệ Colombo kể cả thông qua người anh nay đã quá cố, nhưng đã từng giúp đỡ Colombo tại Seviglia. Las Casas nói có thể một số học giả cũng đã ủng hộ Colombo. Họ hành động một cách dè dặt, vì đa số trong Hội đồng vẫn phản đối. Những người trong triều đình, bè bạn của Colombo, cùng đã ủng hộ kế hoạch của ông một cách nhiệt tình. Tuy nhiên đại đa số vẫn chống lại dự án.
Đối diện tình thế đó, Cha Fernando de Talavera, chủ tịch Hội đồng đặc biệt Santa Fe, đồng thời là linh mục nhận lễ xưng tội của Hoàng hậu Isabella có thể làm gì khi ông ta chỉ có thể khuyên Hoàng hậu không nên bảo trợ một sự nghiệp mà theo sự xem xét của những nhà thông thái trong Vương quốc, có vẻ không đạt được. Không những thế người nước ngoài khinh suất này còn đòi những danh vọng và chức tước cao nhất, ngoài những phần thường về kinh tế đáng kể: chức Đô đốc và Phó vương vĩnh viễn, cho đến lúc đó chỉ mới ban cho ngài Alfonso Enriquez, chú của vua Ferdinando. Xét điểm cuối này, người ta có thể hiểu bầu không khí trong Hội đồng như thế nào, và điều đó đã không cho phép cha Talavera can thiệp với Vua và Hoàng hậu để giúp Colombo.
Sau thất bại dứt khoát này. Colombo từ biệt bạn bè, cảm ơn tất cả sự quan tâm và giúp đỡ mà họ đã dành cho ông trong suốt những năm ông đã ở trong triều đình và chuẩn bị rời nhóm người ủng hộ để đi Córdoba. Colombo sẽ đi một nơi nào khác để theo đuổi kế hoạch lớn của ông. Nhưng đi đâu? Không sang Bồ Đào Nha, hoặc nước Anh. Ông đã giao nhiệm vụ cho người anh của ông là Bartolomeo, đưa trình bày lần cuối cùng lên nhà vua Bồ Đào Nha và sau đó đi Luân Đôn, đề nghị việc đảm nhận công việc thám hiểm. Mười ba năm trước đây Colombo đã biết lòng dũng cảm, tính kiên cường và ý thức đi biển vốn có của người Anh, và như vậy ông hy vọng họ sẽ đánh giá cao dự án của ông. Nhưng sự việc cũng không suôn sẽ tại Luân Đôn. Bartolomeo không đạt được gì và chuẩn bị về Pháp.
Giờ đây chính Colombo cũng đang nghĩ đến
việc đi Pháp; thậm chí ông cũng không quên nghĩ đến việc trở về Genova. Trong văn bản viết năm 1535 nhiều năm sau cuộc phát kiến, Ramusio đã thuật lại, từ nguồn tin của nhà sử học trong triều đình, Pietro Martire d’Anghiera rằng: Colombo, lúc bốn mươi tuổi (năm 1491), đã đề nghị sự nghiệp Đại Tây Dương với quê hương ông. Pietro Martire d’Anghiera là một người thông minh khác thường, nghiêm túc và chính xác trong những báo cáo của ông và là một người bạn của Colombo khi Colombo trở thành Đô đốc. Pletro Martire là một nguồn tin cậy nhất cho loại thông tin này. Chứng cứ của ông được khẳng định bởi nhà địa lý học Thổ Nhĩ Kỳ vĩ đại nhất của thời đại, Piri Reis. Đây là một sự khẳng định quan trọng vì rằng Piri Reis biết được chứng cớ ấy từ một nô lệ Tây Ban Nha gần gũi Colombo và người nô lệ này không có thể bịa thông tin này. 
Một lần nữa Colombo nghĩ đến Genova khi những cố gắng của ông tại triều đình Tây Ban Nha không đưa đến kết quả gì. Ông đã nghĩ về thành phố này, mặc dù năm 1479 ông đã nhận thấy có ít hy vọng ở chốn này. Những bạn người Genova ở Seviglia và Córdoba đã gợi ý:  ‘‘Tại sao ông không thử với quê hương chúng ta một lần nữa?’’ Có lẽ Colombo đã thử, dù ông không thể tránh được sự từ chối nữa của các nhà lãnh dạo Genova, những người không tin vào thành công cuối cùng của sự nghiệp Đại Tây Dương. Không phải họ không tin. Trong thực tế chính những người Genova là những người đầu tiên vấp phải vấn đề Đại Tây Dương và những người đầu tiên vượt qua những mê tín thời trung cổ về Nam bán cầu và những nơi ở bên kia trái đất. Họ không coi Colombo là một người mơ mộng, cũng như những người Genova ở Seviglia và Córdoba không cho Colombo là người mơ mộng; họ luôn là những người gần gũi với Colombo, ủng hộ ông và tài trợ cho ông.
Như đã chỉ rõ, lý do của khuynh hướng hoài nghi ở những người Genova là ở chỗ khác, ở tính cách của những người dân vùng Liguria, những con người không bao giờ làm một việc gì quá sức mình: Họ biết rõ những giới hạn của họ. Ho thực tế một cách đáng sợ. Những người Genova biết rõ rằng họ có thể phát hiện ra những đảo và những lục địa khác, như những đồng bào của họ, Antonio da Noli, Lanzarotto Marrocello, Usodimare và Niccoloso da Rocco đã làm. Nhưng thành công như đã có lần thành công thì những kẻ khác sẽ hưởng kết quả chứ không phải họ. Những người Genova biết những giới hạn của họ trong một thời đại, khi các quyền lực quốc gia ở khắp châu Âu - trừ Ý và Đức - đang thay thế những quyền lực của vùng và thành phố. Những người Genova dần dần giảm vai trò của họ trong việc buôn bán đồ tiếp tế cho tàu biển và quay sang hoạt động ngân hàng. Vào thế kỷ thứ XVIII họ trở thành những nhà tín dụng đối với Tây Âu; vào thời gian đó Genova trở thành một thành thị lớn, một trung tâm mở rộng nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản. Như vậy cố gắng làm ăn với Genova, hoặc thông qua nước Cộng hòa, hoặc qua ngân hàng San Giorgio đều vô ích. Không có khả năng quay về Bồ Đào Nha, nhất là sau cuộc thám hiểm của Bartolomeo Dias đã mở ra tuyến đường phía Đông, đi sang các đảo và vùng đất Ấn Độ. Công việc của người anh là Bartolomeo tại triều đình nước Anh đã thất bại. Colombo tuyệt vọng. Ông phải ra đi. Rời Santa Fe trên lưng lừa hướng thẳng đến Palos, từ đó dự định đi thuyền sang Pháp.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.06.2021 18:33:54 bởi Ct.Ly>
14. MỌI ĐỀ NGHỊ ĐỀU ĐƯỢC CHẤP THUẬN
 
 
Tại triều đình những người bạn của Colombo vân không chịu thua. Gia sư của Hoàng tử, Nhà thần học, Cha Deza nhấn mạnh thêm nhiều lần. Viên chủ sự ngân khố Quintanilla cũng nhấn mạnh thêm nhiều lần. Cận thần của Nhà Vua, Juan Cabrero cũng nói thêm nhiều. Bà hầu tước Moya nhấn mạnh với Hoàng hậu, bà Juana de Torres, nữ quản gia thân thiết và cao tuổi, nhấn mạnh với Hoàng tử. Những chủ ngân hàng người Genova, người Firenze, những người Do Thái đã cải đạo mà tất cả triều đình đều nợ họ, cũng nhấn mạnh. Cha Marchena và Cha Pérez nhấn mạnh với những lời khẩn cầu và những việc làm thực tế, thuyết phục những người trong triều. Thậm chí Cha Fernando de Talavera, vị giáo sĩ đã nghe lễ xưng tội của Hoàng hậu, người đã gợi ý Hoàng hậu nên chú ý tới lời khuyến cáo của Hội đồng, lại tìm cách đảo ngược lại gợi ý đó, gợi ý mà trong lương tâm ông cảm thấy cần thiết lúc bấy giờ, nhưng không phù hợp với lợi ích cao nhất của Nhà Vua.
Vào cuộc này còn có cả người giữ ngân khoản riêng của nhà vua, Luis Santángel, gia đình ông này đã cải tạo từ đạo Do Thái. Ông là con trai một nhà buôn và anh em họ của một giám mục. Cha ông cũng mang tên Luis, một nhà kinh doanh phối hợp với những nhà buôn Genova, Milano và Aragon, tham gia vào hoạt động thu thuế nhập khẩu tại những cảng của Catalonia. Người con mang tên Luis có những quan hệ kinh doanh thân thiết với một số người Genova, đặc biệt với Francesco Pinelli một người bạn của Colombo. Santángel trở về với Hoàng hậu cùng ngày, tháng Giêng, khi Colombo rời khỏi triều đình, đã đưa ra những lập luận ủng hộ sự nghiệp thám hiểm. Tất cả những lập luận ấy, theo Juan Manzano, người Tây Ban Nha, có thể tóm tắt lại như sau:
- Đúng là những nhà khoa học được hỏi ý kiến đã bác bỏ những đề nghị của Colombo. Nhưng người ta cũng phải hiểu rằng một trong những chuyên gia này đã bỏ qua mà không có trả lời thỏa đáng với một số lý lẽ và lập luận của Colombo. Ngược lại, Colombo luôn giữ được bình tĩnh và trả lời sự phản bác của các đối thủ. Hơn nửa không phải mọi người được hỏi ý kiến đều đã bác bỏ dự án. Colombo không điên đầu lên, trái lại ông giữ được thăng bằng, thận trọng trong lời nói và biết cách trình bày những lập luận của mình. Nếu dự án thám hiểm là điên rồ như những đối thủ của ông đã nói, thì ông đã không đề nghị một cuộc đi biển như thế và chỉ yêu cầu nhà vua cấp cho một triệu Maravedis, còn mình thì chi ra phần còn thiếu.
Colombo không đòi hỏi những phần thưởng, hoặc sự đền bù trước. Sự trả công của Hoàng gia, chỉ được phát sau khi ông phát hiện những đất mới. Rủi ro đối với nhà Vua là tối thiểu, trong khi lợi ích của họ có thể lớn hơn điều mà trí óc con người có thể tưởng thượng: đến được nước Ấn Độ đã tìm kiếm từ lâu, với những mỏ kim loại quý và những hương liệu đắt tiền, mang lại cho Vua Tây Ban Nha những lãnh thổ mênh mông, phút chốc sẽ biến nhà Vua Gia tô giáo này thành vị vua có thế lực nhất trong thế giới Công giáo, không phải chỉ có thế mà còn trên toàn thế giới.
Đối với một số nghi ngờ còn lại phải chăng không xứng đáng để làm thử chăng? Phải, sự nghiệp thám hiểm có thể thất bại, nhưng tấm gương của người Bồ Đào Nha không nói lên điều gì hay sao? Người Bồ Đào Nha luôn luôn dám đưa người và tiền của vào những cuộc thám hiểm đường biển; một số cuộc thám hiểm cũng không có gì chắc chắn hơn cuộc thám hiểm đang được bàn cãi. Tuy vậy không một ai trên thế giới phê phán những cố gắng của người Bồ Đào Nha, dù những cố gắng ấy có vẻ là vô ích.
Một mặt khác, Cha Fernando de Talavera, linh mục nhận lễ xưng tội của Hoàng hậu, chắc đã phải lý luận như sau: ‘‘Nếu tôi khăng khăng từ chối sự nghiệp thám hiểm và nếu do kết quả việc không khoan nhượng của tôi, Colombo bị bãi miễn và đi đến một nước khác, tại đó, ông ta nhận được sự ủng hộ mà ông tìm kiếm và đến được những đảo và vùng đất Ấn Độ thì trong -những ngày còn lại của đời tôi, tôi sẽ ân hận đến như thế nào, vì đã làm mất đi sự vinh quang và những của cải cho đất nước và Nhà Vua của tôi! Tôi đã làm nghĩa vụ của tôi, lương tâm của tôi trong sáng, vì tôi đã nói rõ cho Nhà Vua những cảm tưởng chung của các nhà khoa học, cũng như của bản thân tôi về vấn đề này. Tuy nhiên nếu Cha Deza Cabrero, Santangel và những người bạn khác của Colombo thuyết phục Nhà Vua và Hoàng hậu về khả năng kết thúc thành công kế hoạch, tôi sẽ không tiếp tục phản đối kế hoạch ấy, để tôi khỏi trở thành người cản trở vô trách nhiệm. Điều duy nhất còn lại mà tôi phải làm là khuyến cáo một sự thận trọng lớn nhất về phần Nhà Vua và Hoàng hậu, để cho rủi ro của cuộc mạo hiểm sẽ là ít nhất’’.
Cùng với những suy tưởng này và những ý nghĩ tương tự, Cha Talavera đã đi đến quyết định. Ông Deza và Cabrero đã khuyên Vua Ferdinando  ‘‘đãm nhận cuộc thí nghiệm dù cuộc thi nghiệm đó tốn kém nhiều, vì lợi ích lớn lao và danh vọng mà người ta hy vọng tới từ những đảo và đất đai Ấn Độ’’. Nhận xét rằng những lập luận khoa học và về đi lại đường biển không có giá trị gì, là điều kỳ cục. Phải chấp nhận có những điều không chắc chắn; có sự may rủi một nửa. Nếu tất cả đều tốt thì sẽ mang đến uy tín, quyền lực và của cải. Nếu xấu sẽ mất gì? Không lo lắng gì về việc mất uy tín sau thắng lợi huy hoàng đối với người Móor. Còn việc liều lĩnh sinh mạng, điều đó sẽ do Colombo và những người đi với ông ta đãm nhiệm. Sự liều lĩnh duy nhất đối với Vua và Hoàng hậu là chi phí trang bị cho ba chiếc tàu. Và Santangel đã đề nghị một cách tài trợ sáng tạo.
Ông ta không những là người giữ ngân khoản riêng của nhà Vua mà còn là Thủ quỹ của Quỹ ‘‘Huynh Đệ thần thánh’’, một cơ quan thời trung cổ để bảo vệ nền văn minh Công giáo và là Thủ quỹ cho quỹ những cuộc Thập tự Chinh - cùng với người Genova Francesco Pinelli. Năm 1492 cả hai tổ chức đều thua lỗ sâu sắc. Tuy nhiên ngoài Pinelli còn có những nhà buôn Genova có nhiều tiền để đầu tư mà chưa có việc gì để đầu tư. Những nhà biên niên sử đương thời đã liệt kê tên mấy người. Và có Gianotto Berardi, một nhà buôn Firenze, tự nguyện cho công cuộc thám hiểm vay tiền với rủi ro mất tiền, nếu sự việc không diễn ra tốt đẹp, nhưng ông ta đòi được trả gấp một trăm lần tiền cho vay nếu sự việc diễn ra như kế hoạch. Nhưng danh dự Tây Ban Nha phải được bảo vệ. Để cho một sự nghiệp như thế tài trợ hoàn toàn bằng tiền của nước ngoài là điều không thể tưởng tượng được. Santangel nhắc nhở Vua và Hoàng hậu rằng thành phố Palos phải trang bị hai thuyền cho Vua và Hoàng hậu để chịu phạt tội buôn lậu, việc này sẽ cung cấp một phần đáng kể những gì cần thiết. Đối với phần còn thiếu, Santangel sẽ cung cấp từ quỹ mà ông điều hành. Vấn đề tiền đã được giải quyết? Ngay cả vua Ferdinando cũng được thuyết phục. Hoàng hậu Isabella không đợi gì khác; chồng bà bây giờ bắt đầu tin, trong khi đó bà đã tin được một thời gian rồi. Bà lập tức gọi Colombo trở lại. Một sứ giả cưỡi ngựa, đuổi kịp Colombo tại cầu Pinos, cách Santa Fe bốn dặm, khi Colombo đang trên lưng lừa. Colombo liền quay trở lại.
Sự đảo ngược bất ngờ về cơ may là nhanh và mạnh gần như trên sân khấu. Colombo có đặt kế hoạch cho sự đảo ngược đó để làm một mánh khóe thuyết phục Vua và Hoàng hậu hay không? Hay Vua và Hoàng hậu đã diễn trò đảo ngược đó để vượt qua sự chống đối cương quyết của những học giả, những triều thần và những nhà vũ trụ học đối với dự án thám hiểm? Chúng ta biết Colombo trở lại không một chút dấu hiệu gì là ăn năn. Những thăng trầm, vất vả và đau đớn của rất nhiều thất bại đã không làm ông thay đổi ý kiến. Những đòi hỏi của ông vẫn không kém trước. Nhưng điều này có quan hệ gì không? Nếu dự án thám hiểm không thành công, tất cả những nhượng bộ trong thỏa thuận giữa Colombo và nhà Vua sẽ không có giá trị. Nếu dự án thám hiểm thành công, lợi nhuận dự kiến sẽ biện hộ cho sụ đau đớn của việc ký bất cứ nhượng bộ nào.
Những người Genova, Firenze và những người Do Thái đã đầu tư vào sự nghiệp rủi ro này. Quả thật Vua và Hoàng hậu kính trọng những người này khi tính đến tiền. Vua và Hoàng hậu không có cách nào ngoài việc noi gương họ, thế là Vua và Hoàng hậu đã ký bản thỏa thuận và dự án bất đầu hình thành. Dự án được tài trợ như sau: 1.140.000 maravedis vay của Luis de Santángel .Tiền là của ông ta, hoặc của Francesco Pinelli, hoặc có khả năng nhiều hơn thuộc cả hai. Colombo đã đóng góp 500.000 maravedis. Ai đã cho ông ta vay món tiền đó? Vấn đề duy nhất của Colombo là chọn một người nào đó. Tên của những nhà hoạt động ngân hàng Genova đều được biết và quan hệ của họ với Colombo được bộc lộ trong nhiều tài liệu: Francesco Rivarolo, Francesco Doria, Francesco Castagno và Gaspare Spinola đã đóng góp một cách dứt khoát vào phần chi phí của viên Đô đốc trong chuyến đi biển lần thứ tư (một phần tám). Cha Aspa liệt kê những người ủng hộ chuyến đi lần thứ nhất là Jacop Di Negro, một người ở Siviglia; Zapatal ở Jerez; và Luigi Doria ở Cadice. Cuối cũng có người lái buôn Firenze giàu có, sống ở Siviglia, Gianotto Berardi, người chắc chắn tham gia vào công việc kinh doanh của Colombo bắt đầu với chuyến đi thứ nhất. Chỉ còn thiếu 360.000 maravedis để có đủ 2 triệu cần thiết. Khoản này được những công dân ở Palos cung cấp để trả hết tiền phạt của Hoàng gia đã nêu trước, khoản tiền phạt này đòi họ trang bị hai chiếc thuyền. Tiền Genova, tiền Firenze, tiền Do Thái, hoặc Castiglia đều được thanh toán kịp thời, và một khi tiền đó được trao tay không ai quan tâm tiền đó từ đâu đến.
Những quyền lợi được thỏa thuận, điều kiện nhượng bộ ký kết sau những cuộc thuơng lượng kéo dài. Những quyền lợi và điều kiện đó cho Colombo tất cả những thứ ông tìm kiếm trong trường hợp thành công: chức tước, danh vọng, của cải. Nhưng với tất cả lòng kính trọng đối với các nhà kinh tế vá các luật gia, tiền không phải là mọi thứ, quyền lợi cũng vậy. Còn thiếu con người. Cần có một người chỉ huy: Colombo, nhưng những thủy thủ lấy ở đâu? Ngày thứ tư, 23 tháng 5 năm 1492, tại nhà thờ Thánh George ở Palos, đã công bố lời tuyên cáo ngày 30 tháng 4 của Hoàng gia. Có mặt tại buổi lể long trọng này, ngoài Colombo và cha Pérez, là hai thị trưởng, ba ủy viên hội đồng, viên công chúng thành phố và đông đảo dân chúng. Colombo đã trao cho chính quyền bức thư của Vua và Hoàng hậu, được viên công chứng đọc to lên. Vua và Hoàng hậu cử Colombo làm chỉ huy đội tàu, gồm ba chiếc, sẽ đi tới những phần nhất định của biển Đại dương.
Để chuẩn bị cho chuyến đi này, những công dân Palos được yêu cầu cung cấp cho Colombo hai thuyền, trang bị đầy đủ người và đồ tiếp tế Những người Palenan sẽ làm việc cho Vua và Hoàng hậu trên những chiếc thuyền trong hai tháng tuân theo mệnh lệnh của viên thuyền trưởng. Như thế là thành phố đã trả được món phạt.
Colombo có được một mệnh lệnh khác nữa của Hoàng gia, lệnh này ân xá, hay đúng hơn hoãn việc xét xử, hay kết án, đối với những tội nhân ký tên đồng ý xin đi thám hiểm. Nói cách khác, Colombo có thể chở những người phạm tội, những người bị kết án tù, hay tử hình, và ông đã làm như thế. Nhưng có bao nhiêu người? Trái với truyền thống, việc nghiên cứu thận trọng những tài liệu đang tồn tại chi rõ chỉ có bốn. Để tuyển dụng những người khác, Colombo có một con chủ bài hiệu quả nhất được dự trữ trong tay áo: Juan de la Cosa  người chủ chiếc tàu Gallega, được đặt tên lại là Santa Maria, chiếc tàu này sẽ là chiếc quan trọng nhất trong đội tàu. Juan sẽ lái tàu như một ông chủ. Colombo đã biết Juan từ khi ông là khách của công tước Medinaceli năm 1488 và 1489. Khi công tước quyết định tài trợ cho sự nghiệp thám hiểm, Juan có lẽ đã muốn tham gia vào công cuộc đó với Colombo. Bây giờ với hai chiếc thuyền do những người Palenan trang bị, thêm chiếc tàu Santa Maria đã giải quyết những lo lắng của Colombo về việc chuẩn bị đội tàu, Juan de la Cosa đã mang theo một số thủy thủ với ông nhưng chúng ta không biết những thủy thủ ấy có đủ để điều khiển chiếc tàu của ông hay không, chưa nói đến hai chiếc tàu khác.
Lúc đó Colombo có ba tàu: một chiếc nao và hai tàu nhỏ có buồm. Ông có một người chủ tàu và một phần thủy thủ cho chiếc nao; những người của Juan de la Cosa và bốn phạm nhân. Colombo có một chỉ huy cho đội tàu, người thủ trưởng hành chính mà trách nhiệm chính là nước uống, ở cương vị này, một cương vị tế nhị nhất, Colombo đặt một người ông tin cẩn tuyệt đối: anh em họ của Beatrice Enriquez, Diego de Arana thuộc Córdoba. Colombo vẫn cần những thủy thủ và thuyền trưởng cho hai chiếc thuyền buồm. Ông cần ít nhất sáu mươi người có kinh nghiệm hơn, một số người trong đó là những chuyên gia, và không một ai tình nguyện cả. Vì Colombo là một người nước ngoài, một anh chàng bình thường, một người mơ mộng nghèo và lầm lạc, dốc tâm làm một việc không thể thực hiện được. Những người Palenans không biết gì về kỹ năng đi biển của ông. Họ chỉ thấy ông trên đất khô. Con người bần cùng này, được bảo vệ bởi sự bảo trợ của những thầy tu hành khất ở La Rábida, có thể bảo đảm gì cho những thủy thủ lão luyện? Không, và do đó mọi người đều từ chối lái tàu với ông. Những thủy thủ Palos và Moguer nhất định không phải là những kẻ hèn nhất. Ngược lại, họ đã tỏ ra có bản lĩnh mạnh mẽ và lòng dũng cảm trong những chuyến đi nguy hiểm đến Ghinê và trong những trận thủy chiến với những tàu cướp biển Saracen và với người Bồ Đào Nha láng giềng. Nhưng sự nghiệp đường biển được đề nghị với họ thì hoàn toàn khác; đó là một  ‘‘cuộc mạo hiểm mới chưa từng được biết đến’’,  ‘‘một cuộc du hành trước đây chưa từng làm thử’’. Và vì như Mosen Diego de Valera nói với Vua và Hoàng hậu, ‘‘những cuộc hành trình trên biển luôn luôn bất trấc nhất’’, điều mà Colombo đề nghị hoàn toàn là táo bạo.
Đứng trước những thủy thủ miền cực Nam Tây Ban Nha cứng đầu cứng cổ và miễn cưỡng Colombo buộc phải dựa vào triều đình. Đó là những ngày đắng cay đối với ông. May mắn là ông có bên cạnh mình một người bạn lớn và người bảo vệ cố tri: Cha Antonio Marchena. Tại Palos, Marchena được mọi người biết, kính trọng và yêu mến. Trong công việc khó khăn về tuyển thủy thủ này, vị giáo sĩ hành khất kiêm nhà thiên văn, đã hơn một lần là con người phù hợp đúng lúc, vì ông có tình thân hữu mạnh mẽ nhất với một trong những thuyền trưởng giỏi nhất Palos, Martin Alonso Pinzon. Cũng như Colombo, Pinzon đã đi biển từ hồi còn trẻ, vươn lên hoa tiêu, rồi thuyền trưởng. Ông đã đi thuyền trong Địa Trung Hải tới nước Ý và từ Đại Tây Dương tới quần đảo Canarie và Ghinê. Trong cuộc chiến tranh với Bồ Đào Nha ông ta đã xử sự một cách dũng cảm và biểu thị kỹ năng về đi biển. Pinzon đã tích lũy của cải, sở hữu một chiếc tàu và thuê một hay hai chiếc tàu khác.
Sau này con trai của Pinzon cho rằng Martin Alonso Pinzon đã được biết tại Roma về những vùng đất  ‘‘chưa được phát hiện’’, thông qua một người bạn là nhà vũ trụ học tại Vatican. Khi Cha Marchena nói với Colombo về Pinzon, ông ta đã chỉ rõ rằng Pinzon lúc đó đang ở Roma. Tuy nhiên, Pinzon đến đây không phải để nghiên cứu những tài liệu về đi biển, hoặc về sự phát hiện, mà là để đỡ những thùng cá xác din (sardines). Điều đó không phải để nói rằng Pinzon không phải là một nhân vật chủ chốt trong giai đoạn mở đầu của việc chuẩn bị cho cuộc phát hiện. Ngay khi Pinzon từ Roma trở về  Palos, Cha Marchena đã thăm ông, nói với ông về sự nghiệp thám hiểm và để ông tiếp xúc với Colombo.
Trái với những gì ông giữ lại với những người khác, Colombo đã không giấu Pinzon mục tiêu của cuộc hành trình trên Đại dương: Ấn Độ của Đại Khan. Để tranh thủ người Palenan có khả năng kia vào sự nghiệp này Colombo đã cho Pinzon xem những bức điện ông đã mang từ Santa Fe đến, quan trọng nhất là những quy ước và bức thư gửi các vua ở phương Đông. Tuy nhiên đối với Pinzon điều quan trọng hơn sự ủng hộ của Hoàng gia, là kinh nghiệm lớn lao của Colomho và ý thức lớn lao của ông về biển cả. Cuộc gặp gỡ giữa hai người là cuộc gặp gỡ giữa hai thủy thủ xuất sắc. Những số liệu, những đầu mối, những trực giác mà Colombo đã thu luợm được ở Băng Đảo. Ailen, các quần đảo Đại Tây Dương và Ghinê có thể không đáng gì đối với các học giả trong triều, nhưng dứt khoát rất quý giá đối với Pinzon. Là một thủy thủ đã ở quần đảo Canarie và Ghinê, ông ta có thể hiểu những thứ ấy và đánh giá tầm quan trọng của chúng.
Martin Alonso tin người ngoại quốc kia, vì ông lắng nghe; Martin nhận thấy rằng ông ta là một thủy thủ đặc biệt, vì vậy Martin tham gia vào. Ông đã nói với người anh là Vicente Yanez, cũng là một thủy thủ lành nghề, và thay mặt Colombo, trao cho Vicente Yanez việc chỉ huy một trong hai thuyền buồm. Với Vicente tham gia sự nghiệp thám hiểm, hai anh em bắt đầu nhiệt tình tuyển thủy thủ. Lúc một mình, lúc cùng với Colombo, họ đã đi qua ba thành phố trong vùng Palos, Moguer và Huelva và để tìm thủy thủ, hoa tiêu, và những người khác trong hạm đội. Colombo, Martin Alonso và Vicente Yanez sẽ là ba thuyền trưởng của đội tàu, người thứ nhất sẽ là người chỉ huy tối cao trên chiếc Santa Maria, còn hai người em kia chỉ huy hai chiếc thuyền buồm.
Các nhà sử học phân tán ý kiến trong việc danh giá Martin Alonso Pinzon. Say sưa vì chủ nghĩa dân tộc, người Tây Ban Nha có khuynh hướng đánh giá quá cao vai trò của người thuyền trưởng từ Palos, trong khi những người Ý thì lại có khuynh hướng hạ thấp vai trò đó. Những người vốn thường phê phán Colombo đã đi xa tới mức dồn hết uy tín cho Pinzon trong công cuộc thám hiểm này, trong khi những người khác coi Pinzon là một lực lượng về cơ bản là tiêu cực. Cuộc tranh cãi trầm trọng hơn, bởi có thể vì những đánh giá khác nhau về thái độ của Pinzon trên đường về, sau cuộc hành trình, Pinzon là một nhân vật chủ chốt. Không ai có thể tranh luận điều đó. Từ cuộc gặp giữa hai thủy thủ, nẩy ra giải pháp cho vấn đề cuối cùng, nằm trong phương pháp thực hiện kế hoạch lớn sinh ra trên biển, trên Đại Dương. Giải pháp cho cản trở lớn cuối cùng để thực hiện kế hoạch lớn ấy là từ mẫn cảm về biển của hai thủy thủ vĩ đại này.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.06.2021 20:42:54 bởi Ct.Ly>
15. GOMERA: NƠI SINH RA CHÂU MỸ
 
Chiếc Santa Maria và hai chiếc thuyền buồm rời Palos từ năm đến sáu giờ sáng ngày thứ sáu, 3 tháng 8 năm 1492. Có khoảng chín mươi người trên thuyền: tám mươi tư người Tây Ban Nha, hầu hết là dân miền Cực Nam Tây Ban Nha, nhưng cũng gồm cả những người ở Tây-Bắc và Đông-Bắc nước này, một vài người Basque (miền Cực Bắc Tây Ban Nha), một người da đen từ quần đảo Canarie, hai người Genova (Colombo và Jacome el Rico); một người Venezia; một người ở Calabria Tây Nam nước Ý; và một người Bồ Đào Nha. Những hoa tiêu không nghi ngờ gì về hướng đi, vì lệnh của Colombo đơn giản: đi tới quần đảo Canarie.( Canarie là một trong những quần đảo của Tây Ban Nha)
Colombo đã chọn Gomera ở quần đảo Canarie làm điểm xuất phát để vượt Đại Tây Dương. Có nhiều lý do để lựa chọn nơi này. Lý do thứ nhất là lý do địa lý. Vịnh San Sebastian tuyệt vời - thủ phủ của đảo Gomera - là hải cảng tốt cuối cùng của thế giới mà người ta đã biết, trên một vĩ tuyến dù xa để lợi dụng gió xích đạo. Xa hơn nữa ở phía Nam là những đảo Cape Verde, do Bồ Đào Nha sở hửu nên không thành vấn đề. Phía Tây Gomera là hai đảo nữa, đảo La Palma và đảo Hierro (Ferro). Nhưng người Tây Ban Nha chưa chiếm được đảo Palma, và đảo Hierro không có cảng tốt và điều kiện cung cấp chắc chắn.
Nhu cầu cung cấp là lý do thứ hai khiến Colombo chọn Gomera, và nhu cầu ấy có thể tóm lược trong ba chữ: nước, thịt và gỗ. Gomera có nhiều nước, nhiều hơn ngày nay. Khe núi tận cùng trên bãi biển San Sebastian có một con sông, ngày nay thỉnh thoảng khô, nhưng lúc đó mang nước ngọt suốt năm, từ suối Bosco di Cedro (1) chảy giữa những ngôi nhà của thành phố nhỏ nhắn đó, dưới chân tường của pháo đài và đi xuống biển. Nước ngọt và trong cũng được lấy lên từ nhiều giếng; một trong những giếng mà những thủy thủ của Colombo lấy nước lên vào chiều tối ngày 5 tháng 9 trước khi bắt đầu cuộc vượt biển lớn, ngày nay vẫn cho khách du lịch đến xem.
Đồng cỏ chăn nuôi trên đảo Gomera tốt. Trước khi người Tây Ban Nha đến đảo này dê, lợn, thỏ cung cấp thịt quay hảo hạng cho thổ dân Guanche. Người bản địa còn quay cả chó, thiến và nuôi để ăn thịt. Không phải chó đã làm cho Colombo và những thủy thủ Tây Ban Nha của ông quan tâm mà là dê và lợn, những động vật này đã được đưa vào đảo với những số lượng lớn. Một số dê hoặc lợn sống, có thể đã được đưa lên thuyền để ăn trong cuộc hành trình, nhưng hầu hết đồ tiếp tế là thịt đã làm rồi, vì người ta thấy thịt chất lượng cao ở Gomera, tại đây thịt đã được muối. Những tàu từ bán đảo Ibêria đến, thường được cung cấp thực phẩm tại đây và khởi hành, từ tám đến mười ngày sau trở lại.
Về gỗ, Gomera có nhiều thông, chưa kể một số rừng nhỏ gỗ sồi tốt nhất quần đảo Canarie. Gỗ sồi là một trong những loại củi tốt nhất. Colombo đã biết rất rõ điều đó. Ông của Colombo đã dạy ông điều đó tại ngôi nhà ở Quinto. Ông của Colombo rất quen với những cây sồi ở núi Caucaso, ngay đàng sau làng Mocónesi ở Liguria. Củi tốt là điều cốt yếu cho việc vượt Đại Tây Dương, vì một khi chiếc tàu bắt đầu cuộc hành trình ra biển, nó luôn giữ một ngọn lửa cháy ở đuôi tàu để tránh phải dùng bật lửa luôn, một việc làm không dễ khi sóng quét lên boong tàu và phun bụi nước ra khắp nơi. Lửa dùng để phát ra tín hiệu khi tàu đang chạy như Colombo thường làm. Ở đuôi tàu treo một đèn hiệu, trong đó các thủy thủ đốt khói ban ngày và lửa ban đêm, dùng vải bạt ẩm và đuốc dầu nhựa thông. Những số lượng khác nhau về lửa và khói chỉ rõ những mệnh lệnh chỉ huy khác nhau: đổi hướng, hạ hoặc giảm buồm, đến gần tàu Đô đốc để nhận
lệnh bằng lời nói, vân vân... Có được nhựa thông tốt để làm đuốc và gỗ sồi để giữ lửa trong đèn hiệu là điều quan trọng. Trên đảo Gomera. Colombo thấy cả hai.
Gomera không những cho một hải cảng tuyệt nhất, có nước, gỗ và thức ăn, mà còn có cả bà Beatrice di Bobadilla xinh đẹp, vợ góa của Thống đốc Hernán de Peraza, bị những người Guanche giết năm 1488. Theo Michele da Cuneo, người bạn từ hồi còn niên thiếu của Colombo, cùng đi với ông trong chuyến du hành thứ hai, Colombo ‘‘bị khơi lên tình yêu’’ đối với bà Beatrice này. Đây là trường hợp duy nhất đề cập đến tình cảm yêu đương của con nguời Genova này trong những bài viết dài và phức tạp về những chuyến đi phát kiến. Cuneo, một nhà biên niên sử dễ thương, không viết dài về chủ đề này. Ông chỏ đơn thuần thuật lại việc đó. Có lý do gì mà ông lại phải kể những câu chuyện tán gẫu không có thực? Có lẽ người ta có thể coi câu chuyện là phóng đại và Cuneo đã giải thích sự tương đắc bình thường và trao đổi lời lẽ lịch sự kia là chuyện tán tỉnh yêu đương lãng mạn. Nhưng Beatrice không phải là người phụ nữ chỉ dừng lại ở sự tương đắc và trao đổi lịch sự. Tính tình và cuộc đời phiêu lưu của bà chỉ rõ Cuneo là một nhà biên niên sử trung thành và đáng tin cậy.
Nhà phát kiến tương lai không thể gọi là một người lăng nhăng chim chuột. Hoàn toàn ngược lại. Sự ý tứ khi ông viết thư cho Hoàng hậu Isabella ngoan đạo có thể gán cho ông chủ nghĩa cơ hội, nhưng ông đã dùng cùng một phong cách viết như thế ở bất cứ chổ nào, vì phong cách rõ ràng của Colombo đã thể hiện cả trong những bức thư khác của ông mà Colombo là một người quan sát thận trọng những hiện tượng tự nhiên và do đó cả về phụ nữ và những quan hệ giới tính. Colombo đã tỏ ra có sức quyến rũ đặc biệt khiến cho ông được cả sự tôn trọng lẫn tình yêu sâu sắc, cũng như lòng căm thù và oán hận sâu sắc. Sự hấp dẫn của ông đã gây ấn tượng cho Isabella vĩ đại mà không khơi lên tình cảm yêu đương thực sự, vì bà chỉ tha thiết, yêu chồng bà. Nhưng Beatrice di Bobadilla không chia sẻ quan hệ một vợ một chồng và đạo đức của Isabella. Lịch sử không thể chứng minh hay phủ nhận khả năng rằng tình yêu giữa Beatrice và Colombo bắt đầu sớm hơn nhiều, khi ông cố xoay chuyển giấc mộng của ông đến phương Đông bằng cách đi thuyền về hướng Tây thực sự thành một công trình.
Dù sao chăng nữa, không cần so sánh Beatrice với Didone, hoặc mụ phù thủy Circe. Sự bận tâm của Colombo về dự án của ông mạnh mẽ hơn bất cứ sự say đắm lãng mạn nào, vì Colombo thành thật một cách sâu sắc và ngoan đạo một cách thành thật, hầu như ông dốc hết lòng thành một cách thành thật, một cách sâu sắc và ngoan đạo một cách thành thật, hầu như ông dốc hết lòng thành một cách huyền bí cho Đứa Mẹ Đồng Trinh và Thánh Francesco. Ông luôn luôn tìm cách bẻ công mọi lý luận, mọi kế hoạch, dù ông không luôn luôn thành công - để thờ Chúa, phổ biến lòng tin và thắng lợi của Thiên chúa giáo. Về phía mình, Beatrice không phải là một phụ nữ yêu điên cuồng, giống như Didone, không giống Circe, bà không có ý định ngăn cản một sự nghiệp thuộc lợi ích đặc biệt đối với quê hương Tây Ban Nha của bà cũng như đối với Rivarolo, một gia đình Genova giàu có ở Seviglia và quần đảo Canarie, mà bà liên hệ chặt chẽ trong công việc kinh doanh. Ngoài ra, sau khi Colombo rời đi vẫn còn những  ‘‘con người danh dự’’ - như Colombo gọi họ trong Nhật ký - để bà tự an ủi.
Những  ‘‘người danh dự’’ này, sống trên đảo Hierro và gặp ông trên đảo Gomera với Dona Peraza, bảo đảm với Colombo rằng ‘‘hàng năm họ trông thấy đất liền ở phía Tây quần đảo Canarie và những người dân khác của đảo Gomera cũng thấy như vậy’’. Colombo đã nghe thấy nhiều câu chuyện như thế không những ở quần đảo Canarie mà ở cả quần đảo Madera và Porto Santo, trên quần đảo Azzorre và Ailen, đến mức ông cho câu chuyện đó là ít quan trọng. Tuy nhiên ông ghi lại những tin như thế trong Nhật ký vì ông dùng tin tức đó để cho các thủy thủ niềm hy vọng và sự đảm bảo. Điều đó càng hữu ích vì ngọn lửa bùng lên từ ngọn Teide đã làm lan tỏa nỗi sợ hãi mê tín trong số những người của ông.
Vào ngày 4 và 5 tháng 9, chiếc Santa Maria, Pinta và Nina nhận được cung cấp số lượng đáng kể thịt muối. Những đống gỗ thông và sồi được chất lên mọi xó xỉnh. Những thùng chứa đầy nước. Tất cả đã sẵn sàng. Rạng đông ngày thứ năm, 6 tháng 9 thuyền trưởng Colombo dự lễ Misa tại nhà thờ Đức Mẹ, lên tàu và ra lệnh giong buồm. Như vậy cuộc hành trình phát kiến vĩ đại bắt đầu. Gomera, hòn đảo trong quần đảo Canarie có thể tuyên bố một cách chính đáng là  ‘‘Dạ con sinh ra châu Mỹ’’.

Chú thích :
(1) Bản dịch Tiếng Anh ghi địa danh này là Citron Grove (tr.87)




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.07.2021 19:02:05 bởi Ct.Ly>
16. CUỘC VƯỢT ĐẠI DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT
 
Cuộc vượt Đại Tây Dương bắt đầu ngày 9 tháng 9 khi Colombo đi qua những vùng đất đã biết lần cuối cùng, và kết thúc ngày 12 tháng 10. Trước đó đã có những cuộc thám hiểm của người Scandinave ở miền Bắc, nhưng ở những vĩ tuyến cao hơn thì cơn đường ngắn hơn nhiều. Đã có những cuộc thám hiểm khác về phía Nam không? Do những người Công giáo thực hiện - Ailen, Genova, Catalan. Bồ Đào Nha? Do những người Fenici hay những người Ai Cập? Nhiều người nói về những cuộc thám hiểm đó, những học giả, những nhà thám hiểm và nhất là buồn thay những kẻ tài tử, mỗi năm người ta đưa ra một lý thuyết mới nào đó hoặc một lý thuyết cũ nào đó, được sống lại. Nhưng có quan trọng gì? Bất cứ cuộc phát hiện nào không truyền lại cho những người khác thì cũng mất đi trong lịch sử, và như vậy việc Colombo vượt Đại Dương là sự kiện có tính quyết định, độc đáo dẫn đến cuộc phát kiến vĩ đại nhất trong lịch sử.
Tuy nhiên đó không phải là một cuộc du hành khó khăn mệt nhọc nhất, bi kịch nhất. Quả thật, những khổ cực khác chờ đợi Colombo, từ khi ông trở về sau chuyến đi thứ nhất đến những thử thách trong vùng biển Caribê trong chuyến đi thứ tư. Chỉ có trong truyền thuyết mới có nỗi sợ sệt chung về vùng biển Sargasso, sự khủng khiếp về sự chuyển động lạ lùng của chiếc la bàn tại vùng nghiêng từ tinh và cuộc nổi loạn của thủy thủ thấy chuyến đi quá dài, tại một vùng biển không quen biết. Không một nhà sử học đáng tin cậy nào cố nặn ra tấn bi kịch. Những sự khác nhau trong các bản tường thuật của họ chỉ hạn chế ở chỗ nhấn mạnh ít hay nhiều về những sự kiện thực tế đã diễn ra và từ đó truyền thuyết đã tạo ra những huyền thoại mang đầy kịch tính. Những thực tế cần được xem xét là:
-     Tàu đi vào biển Sargasso ngày 16 tháng
9 và rời biển này ngày 17 tháng 10 (1)
-     Ngày 17 tháng 9 người ta thấy kim la - bàn lệch về hướng Tây, dấu hiệu về việc này được nói đến lần đầu tiên trong Nhật ký ngày 13 tháng 9.
-     Cuộc hành trình trên vùng biển chưa được quen biết hình như vô tận.
Tảo biển có những bong bóng chứa khí và những hình lá cuộn tròn. Những bong bóng giống như một quả cây, nhưng chứa đầy khí và nổi trên mặt nước. Tảo biển này, qua tác động của sóng và những dòng nước biến đã tụ lại tại một vùng rộng lớn ở Đại Tây Dương xấp xỉ từ 30° đến 75° Tây, 22° và 40° Bắc.(2) . Một hệ động vật phong phú sống trong tảo biển, có nhiều loại: sâu, loài tôm cua, loài nhuyễn thể, cá và vô số loài côn trùng. Thời cổ người ta đã biết biển Sargasso. Trong thế kỷ XIV và XV những thủy thủ đã mất công tìm những đảo Antilia (Bảy thành phố), và Thánh Brendano đã nói về cỏ dại bao phủ biển ở phía Tây. Tảo biển này làm sống hy vọng rằng đất liền ở ngay gần, nhưng nó cũng gây ra lo lắng, sợ hãi và khủng khiếp.
Như vậy chắc chắn rằng trước khi xuất phát cuộc đi vĩ đại, ít nhất Colombo đã gián tiếp biết về hiện tượng khác thường này. Có lẽ ông cũng có kinh nghiệm trực tiếp về hiện tượng đó từ một số những chuyến đi trước. Ta cần nhớ rằng đảo Flores và đảo Corvo, những đảo xa nhất của quần đảo Azzorre, nằm ở quá 30° về phía Tây. Ngày 16 tháng 9, cách quần đảo Canarie khoảng chín trăm dặm ở 28° Bắc và 35° Tây, ba tàu đã đi vào những mảng tảo biển xanh nhất. Colombo viết thêm một cách thơ mộng rằng không khí ôn hòa như tháng 4 ở Andalusia và ‘‘nếm’’ không khí buổi sáng thì rất thú vị; cảnh đó chỉ thiếu tiếng hót của chim sơn ca. Ngày 17 tháng 9, tảo biển trở nên dày hơn, xuất hiện như một con sông. Người ta thay một con ‘‘Cangrejo’’ còn sống. Trong cuốn Lịch sử của ông, Altonso Ulloa đã dịch ‘‘Cangrejo’’ là ‘‘tôm’’, nhưng đó là một sai lầm; đó là một loài cua phổ biến ở biển Sargasso.
 
Ngày 19 tháng 9, quả chì thăm dò được thả xuống với hai trăm sải đường dây thả ra, nhưng nó không chạm được đáy. Ngày 21 tháng 9, 28° Bắc và 48°Tây, tảo biển đọng lại đến nỗi "biển hầu như hoàn toàn cong lên". Ngày 22 tháng 9, họ hầu như không trông thấy tảo, nhưng ngày hôm sau tảo lại  ‘‘hoàn toàn dày đặc’’. Ngày 26 tháng 9,  ‘‘biển giống như một con sông và không khí thơm và hầu như ôn hòa’’. Ngày 29 tháng 9, Colombo nhắc lại bài thơ trước đây của ông  ‘‘không khí rất thơm ngon, nó không thiếu gì, ngoại trừ tiếng hót của con chim sơn ca’’. Vẫn ‘‘còn nhiều tảo’’. Lại nhiều tảo vào ngày 30 tháng 9 và 2 tháng 10, nhưng giờ đây nó đến từ phía Đông và đi sang phía Tây, ngược với con đường từ trước đến nay. Chuyển động này là do kết quả tác động của sóng, một dòng liên tục đã giới hạn tảo biển tới vùng rộng lớn của Đại Dương đã chỉ rõ ở trên. Ngày 3 tháng 10, tảo biển vẫn còn nhiều, nhưng một phần già, một phần còn rất tươi. Ngày 5 tháng 10, không có tảo biển. Nhưng ngày 8 tháng 10 một số tảo biển lại xuất hiện. Đây là lần cuối cùng người ta thấy tảo biển. Có lẽ ba tàu đã vượt qua 72° Tây. Như vậy cản trở biển Sargasso đã được vượt qua mà không xẩy ra chuyện bi đát nào. Colombo là người đầu tiên vượt qua biển này.
Trái với hiện tượng tảo biển, hiện tượng độ từ thiên sang phía Tây là hoàn toàn mới lạ và chưa ai từng thấy. Hiện tượng từ thiên là do một kim nhiễm chệch sang phía đông, hay phía tây, hình thành dưới ảnh hưởng của từ trường trái đất với đường thẳng lý tưởng từ tâm của kim đến cực thiên văn. Góc này thay đổi từ nơi này đến nơi khác. Ít lâu nay người ta đã biết độ từ thiên sang phía đông, nhất là ở Địa Trung Hải. Nhưng cho đến ngày 13 tháng 9-1492 người ta chưa biết có trường hợp nào ghi lại độ từ thiên sang phía tây. Hôm đó khi màn đêm buông xuống, Colombo thấy kim từ lệch về phía tây sao Bắc Đẩu, trong khi vào buổi sáng, những kim ấy còn lệch về phía Đông. Ông đã viết trong Nhật ký:  ‘‘Hôm nay vào lúc trời bắt đầu tối, các kim từ quay về Tây Bắc, và buổi sáng chúng lại quay cùng một khoảng về phía Đông Bắc’’.
Cần nhớ rằng trong chuyến động biểu kiến hàng ngày sao Bắc Đẩu vẽ thành một vòng tròn quanh thiên trục. Năm 1492 dường như có chuyển dịch khoảng 3°27 (ngày nay ít hơn). Vào lúc mặt trời lặn ngày 17 tháng 9 việc chuyển dịch về bên phải của cực, cộng với độ từ thiên sang hướng Tây, nhưng kim từ đã lệch mạnh về phía trái. Thủy thủ không nói gì, nhưng họ rất lo lắng. Họ rất cần được làm yên lòng và Colombo đã làm việc đó bằng cách giải thích cho họ một cách khéo léo. Colombo biết vòng tròn nhỏ do sao cực vẽ nên, trong khi hầu hết các hoa tiêu khác không ai biết điều đó. Colombo tập hợp họ lại và chỉ rõ độ chênh lệch vào lúc rạng đông. Khi sao Bắc Đẩu chuyển về bên trái và vì vậy độ chênh của những kim từ giảm đi mặc dù vẫn còn lệch. Tổng thuyền trưởng Colombo nói rằng những kim từ chỉ chuyển dịch hướng theo sao Bắc Đẩu. Sao Bắc Đẩu di chuyển thì những kim từ vẫn giữ khả năng chỉ hướng.
Nhật ký cho biết rằng Colombo đã ra lệnh cho các hoa tiêu lặp lại việc quan sát vào lúc hừng sáng và đi về hướng Bắc, họ thấy các kim chuyển động tốt. Thế là đám thủy thủ hiểu rằng sở dĩ có độ lệch của kim không phải vì kim chuyển động mà vì sao Bắc Đẩu chuyển động. Colombo không tin những lập luận như thế; trong thực tế ông tiếp tục quan sát một cách cần cù những độ lệch của kim la bàn, thay đổi hướng đi một phần để giữ nguyên cái góc khó hiểu này. Mỗi ngày độ lệch về bên trái của những kim từ càng lớn. Ngày 30 tháng 10 có lẽ đội tàu đã ở hướng thiên lệch 7 độ về phía Tây, đến chiều tối các kim lệch một điểm về phía Tây. Góc này cộng với 7 độ từ thiên cho tổng số dưới một điểm một chút (11 ¼° ). Vào lúc bình minh quan sát thấy những kim  ‘‘chỉ đúng hướng sao Bắc Đẩu’’; trong khi đó sao Bắc Đẩu đã chuyển về hướng Tây của thiên cực và góc ban đầu 11 ¼°), đáng lẽ đã phải giảm đi, dù không mất hẳn. Colombo khẳng định rằng  ‘‘từ hiện tượng này rõ rằng sao Bắc Đẩu cũng di chuyển như các sao khác và các kim luôn luôn nói lên sự thật’’. Có phải niềm lạc quan đã làm ông tin rằng ông đang đề cập đến một hiện tượng tự nhiên, hay là lòng tin không lay chuyển của ông vào thành công đã hỗ trợ ông? Cả hai lý do đều là câu trả lời, chứng cớ về hai mặt đối lập trong nhân cách của ông, một nhà phát kiến, vừa khó hiểu vừa hấp dẫn.
Tảo biển cũng như độ từ thiên đều không ảnh hưởng một cách có ý nghĩa đến cuộc vượt biển lớn. Ngược lại mối lo âu lớn nhất là từ chiều dài của cuộc hành trình, mối lo này tăng thêm do sức đẩy liên tục của gió xích đạo từ Đông sang Tây; mọi người trên thuyền không biết trước nên lo lắng ngày càng tăng về khả năng có thể quay trở về.
Thủy thủ không biết kế hoạch của tổng thuyền trưởng. Colombo đa nghi, đã luôn luôn cẩn thận tránh tiết lộ những kế hoạch ấy. Ông tránh không nói rằng chính vì gió thổi không, ngừng từ hướng Đông-Bắc, ông đã chọn hướng đi một lộ trình khác tại vùng gió thay đổi để trở về. Mọi người trên thuyền đặc biệt sợ gió luôn luôn không đổi hướng làm mất khả năng trở về, họ còn có tâm lý phải đi đến một miền không biết, điều này cũng luôn luôn tạo ra nỗi sợ hãi; cuộc đi càng kéo dài sự sợ hãi càng lớn.
Colombo đã thấy trước cả hai nỗi lo đó. Đối với nỗi lo thứ nhất, sự may mắn đã giúp ông vì ông đã luôn luôn giữ được đội thuyền ở trong giới hạn gió xích đạo, và những giới hạn đó thì không tuyệt đối cố định mà thay đổi theo mùa. Gió ấy cũng không thổi một hướng từ mùa này sang mùa khác. Gió xích đạo tháng 9 và tháng 10 năm 1492 hóa ra đặc biệt thuận lợi. Xuất hiện bất ngờ luồng gió ngược lại (22 tháng 9) là sự may mắn thêm. Colombo viết: ‘‘Gió ngược rất thuận lợi cho tôi. Người của tôi vui vẻ và được cở vũ vì luồng gió đó, vì họ cứ tưởng rằng ở những biển này không có gió thổi về Tây Ban Nha.  ‘‘Ngày hôm sau một điều gì đó khác thường đã xẩy ra: biển trở nên rất động, dù gió chưa nổi. Điều đó một mặt làm thủy thủ sợ hãi, mặt khác làm cho họ yên tâm vì trước  đó, khi mặt biển luôn luôn phẳng lặng, họ lẩm bẩm rằng vì không bao giờ biển có sóng nên sẽ không có gió để trở về châu Âu’’.
Cuối cùng Colombo may mắn khi tới 70° Tây, Colombo liều đi về phía Bắc của ranh giới phía trên của gió xích đạo. Vào lúc đó một đàn chim bay đã làm ông thay đổi hướng đi về phía Tây- Nam. Colombo rời Gomera ở 28° Bắc. Ngày chủ nhật, 7 tháng 10, Colombo đã thấy mình ở kinh tuyến 67° Tây, vĩ tuyến 26 Bắc. Ông đã đi xuống phía Nam hai độ, nhờ có gió Đông - Bắc; mặc dù hướng đi là về phía Tây, gió đã đẩy mạnh ông về hướng Tây-Nam. Lúc rạng đông ngày hôm đó, thủy thủ của chiếc thuyền Nina đã giương cờ, tin rằng họ đã trông thấy đất liền. Tin báo không đúng, đất liền không xuất hiện ngày hôm đó, hay tối hôm đó. Tuy nhiên, rất nhiều đàn chim đã xuất hiện, chúng đang bay từ phương Bắc đến Tây-Nam, như vậy người ta có thể dễ dàng tin rằng chúng đang bay đi ngủ trên đất liền khô ráo, hay có lẽ đang trốn mùa Đông; mùa đông có thế đang xuống những vùng đất chúng đã rời khỏi. Như vậy viên Đô Đốc đã đồng ý rời bỏ hướng Tây và quay hướng Tây- Tây Nam, với ý định bám lấy hướng mới này trong vài ngày.
Với sự thay đổi hướng, đoàn thuyền đã đi bốn ngày tới 24° Bắc. Như vậy họ ở trong phạm vi gió xích đạo và đã đi vào biển thuộc quần đảo Bahamas trước đó.
Về nỗi lo sợ chung hơn và nghiêm trọng về cuộc hành trình dài đi về miền đất không biết, Colombo đã nghĩ về nó trước khi khởi hành. Ngày mà Hierro biến đi khỏi chân trời, ông viết trong Nhật ký;  ‘‘Ngày đó chúng tôi đã đi 15 dặm (9 tháng 9) và tôi đã quyết định nói ít hơn là đoạn đường chúng tôi đã đi được, để nếu cuộc hành trình còn dài đoàn thủy thủ sẽ không sợ, hoặc mất tinh thần’’. Những ngày và tuần lề qua đi, bản Nhật ký nhắc đi, nhắc lại điệp khúc này; Colombo viết đến hai mươi nhăm lần rằng số ghi trong Nhật ký hoa tiêu thực ra ít hơn số đã đi được.
Ông cho đoàn tàu còn phải đi bao nhiêu dậm nữa?
Colombo có hai điểm làm căn cứ: Cipango (Nhật Bản) mà theo ông cách quần đảo Canarie 2.400 dặm, Quinsay (Hàng Châu), một thành phố của Cataio (Trung Quốc) mà ông cho là ở cách xa 3.550 dặm . Rồi đến ngày thứ ba, 25 tháng 9, đoàn tàu đã đi được 2.400 dậm. Theo tính toán của Colombo (chúng ta sẽ xem chính xác hay không chính xác như thế nào), đó là khoảng cách dự tính giữa Canarie và Cipango. Cùng ngày hôm đó Martin Alonso Pinzon từ đuôi tàu Pinta, đã thét lên với viên Tổng thuyền trưởng:  ‘‘Thưa ngài! Đất liền! Đất liền!" Nhiều người tin họ đã trông thấy đất liền. Nhưng họ đã nhầm!
Ngày 3 tháng 10, Colombo nói một cách rõ ràng rằng, trong tuần qua ông trông thấy nhiều dấu hiệu về đất liền cũng như trong những ngày này’’. Tuy nhiên ông nói thêm rằng, họ không phải đổi hướng tàu, biết rằng có những đảo ở gần đấy. Mục tiêu của ông là tới những đảo Ấn Độ và ‘‘đi chậm chạp là dại dột’’. Ở đây Nhật ký có vẻ như tranh luận về những mối lo ngại của thủy thủ. Nhưng từ ngày 5 đến 6 tháng 10, chắc hẳn mối lo lắng đã ảnh hưởng đến viên Tổng thuyền trưởng. Ông nghĩ rằng họ đã đi 913 hải lý (3.652 dặm (3) dài hơn khoảng cách ông đã tính từ Canarie đến Cataio, tức là đến Luc địa châu Á, 100 dặm.
Và người ta chưa trông thấy đất liền. Những ngày lo lắng đã qua đi, những ngày cuối cùng của cuộc vượt biển, nhưng chưa đủ ngày để sự căng thẳng trên tàu trở thành một tấn bi kịch. Tôi tin rằng tấn bi kịch thật sự không bao giờ ở đó; đó chỉ là truyền thuyết. Về chứng cớ từ những nguồn nguyên thủy, cuốn Nhật ký chỉ nói về sự càu nhàu và phản đối, chưa bao giờ nói đến bạo động, hay những cuộc nổi loạn thực sự. Chuyến đi biển quan trọng nhất trong lịch sử đã qua những biển yên tĩnh nhất của tám cuộc vượt Đại Tây Dương của Colombo. Trừ một ít giờ ngày 23 tháng 9, Đại Dương chưa bao giờ nổi sóng, dữ tợn hoặc tối đen. Những con tàu luớt nhẹ trên mặt nuớc luôn luôn phẳng lặng như  ‘‘dòng sông ở Seviglia’’. Rồi chính ngày cuối cùng, ‘‘biển đầy sóng gió, nhiều sóng gió hơn họ thấy trong suốt cuộc hành trình’’. Những làn sóng bao phủ đuôi tàu, tăng sức đẩy đi tới đích. Lịch sử mà gần như truyền thuyết: hình như có một bàn tay tiên đã huớng dẫn những con tàu.

Chú thích:
(1)     Bản dịch tiếng Anh ghi ngày 8 tháng 10. Ở đây dịch theo bản tiếng Ý.
 (2) Những con số là xấp xỉ, nhưng không phải vì sự khác nhau về ý kiến của các nhà địa lý học. Các vùng có sự thay đổi do kết quả những dòng nước biển và những cơn bão, những sự khác nhau có thể đánh giá được từ năm này qua năm khác và thậm chí từ mùa này sang mùa khác. (TG)
(3). Tôi đã từng nói đến hải lý và dặm, dùng những thuật ngữ của Colombo. Hải lý là 4 dặm, trong khi dặm là dặm vùng Địa Trung Hải, hoặc 1.480 mét (6.856 thước Anh). Trái lại, dặm đường biển hiện đại là 1.852 (6.076 thước Anh), như vậy dặm của Colombo là bằng 3,18 dặm đường biển hiện đại, không phải 4. (TC)




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2021 22:42:21 bởi Ct.Ly>
17. SAN SALVADOR: CUỘC KỲ NGỘ ĐẦU TIÊN
 
Một đốm sáng yếu ớt trong đêm tối đã chỉ rõ đất liền do đàn chim bay gợi ý trước. Chiều tối ngày thứ năm, 11 tháng 10, Colombo đứng trên chòi đuôi tàu, hơi cao hơn mũi tàu và từ đó, 10 giờ đêm, một giờ trước  khi trăng mọc, Colombo đã trông thấy, hay nghĩ rằng ông đã trông thấy, một đốm sáng trong đêm tối, giống như một ngọn nến sáp nhỏ nhấp nhô như ông viết trong Nhật ký. Colombo bảo Pedro Gutiérrez nhìn và Gutiérrez cũng trông thấy ánh sáng, còn Pedro Sãnchez de Segovia không trông thấy gì từ chỗ ông đứng. Sau cuộc bàn bạc lịch sử này, tia sáng xuất hiện một hoặc hai lần rồi không trông thấy nữa.
Người ta đã nói, viết và in những bình luận, nhận xét, giải thích và tranh luận về ánh sáng này. Người ta đã gợi ý rằng toàn bộ sự kiện này là bịa đặt, đó hoàn toàn là sự đối trá. Colombo đã viết về việc trông thấy ánh sáng sau khi phát hiện ra đất liền. Mục ghi chép ngày 11 và 12 tháng 10 không tách rời nhau trong Nhật ký; vì vậy có sự nghi ngờ cho rằng Colombo đã bịa ra sự kiện này để đạt được danh vọng là người đầu tiên trông thấy đất liền, cũng như được khoản trợ cấp mười nghìn maravedis (1) hứa cho bất cứ ai phát hiện ra đất liền.
Sự nghi ngờ này không thể dễ dàng bác bỏ. Chỉ có những người điên và những kẻ chê bai thiên vị mới phủ nhận thiên tài về biển cả của con người vĩ đại ở Genova. Huyền thoại tương ứng với thực tế trong lĩnh vực này. Nhưng hoàn toàn không đúng thực tế là huyền thoại tạo ra bởi những người muốn gán cho ông tất cả những đức tính và đồng thời không thừa nhận một thiếu sót nhỏ nhất nào của ông. Những sự kiện sau này khẳng định Colombo rất có thể bịa ra những sự giả dối mà nhiều nhà sử học gán cho ông. Tuy nhiên có một chuyện đặc biệt làm cho người ta càng tin sự kiện thực tế đã xẩy ra: nhiều thủy thủ khác có nhìn thấy hiện tượng, một người trong số đó được nêu đích danh. Hình như Colombo đã lường trước những nghi ngờ và thận trọng nêu những chứng cớ thích hợp trong Nhật Ký. Nếu đó không phải là dối trá thì đó có thể là ảo giác không? Giải thích đó đã bị loại trừ sau khi thực hiện những thí nghiệm trên hiện trường. Những thí nghiệm ấy cũng loại trừ cả khả năng ánh sáng đó là từ một ngọn đuốc, ánh sáng duy nhất mà người bản xứ dùng
Chỉ còn khả năng đó là một đống lửa vì khoảng cách nên giống như một ngọn đuốc. Ruth Durlacher Wolper và tác giả cuốn sách này đã làm thí nghiệm trực tiếp và có thể khẳng dịnh rằng sự kiện Colombo miêu tả có thể xẩy ra. Tại một khoảng cách hai mươi bảy dặm biển, đúng trong điều kiện ánh trăng và khả năng có thể nhìn thấy được như những điều kiện lúc mười giờ tối 11 tháng 10 năm 1492, những đống lửa đốt lên vách đá nhìn từ những tàu của Colombo là có thể trông thấy được.
 
Tại sao những người dân sống ở San Salvador đốt lửa? Câu trả lời đơn giản. Tháng mười mùa mưa kết thúc. Hồ và ao đầy nước, những côn trùng, nhất là ruồi cát nhiều không thể chịu được. Để giữ cho chúng không vào nhà ‘‘người Ấn Độ’’ đã đốt những đám lửa lớn về ban đêm ở trước những túp lều của họ - Colombo gọi họ như vậy vì nghĩ rằng ông ta đã tới những hòn đảo ngoài khơi Ấn Độ. Những cuộc khai quật khảo cổ xác minh rõ làng mạc của người Anh-điêng nằm ở đằng trước những tàu của Colombo đến từ phía Đông. Đó không phải là ánh sáng siêu nhiên như người nào đó đã nói. Tuy nhiên sự kiện này bao hàm những ý thần bí và lãng mạn. Trước hết đàn chim bay, rồi một điểm sáng nhỏ. Thế giới Mới đã tự giới thiệu mình với những người của Thế giới Củ như vậy.
Hai giờ sáng ngày 12 tháng 10, mặt trăng tuần cuối cùng ở vị trí tốt nhất để chiếu sáng bất cứ cái gì nằm trước những con tàu. Lúc này Juan Rodriguez Bermejo, từ đài cao ở mũi tàu của chiếc Pinta, đã nhìn thấy một cồn cát trắng, một cồn cát nữa nằm dịch về phía Nam một ít, và ở giữa là một khối đá đen. Lần này không còn nghi ngờ gì nữa! Đất liền! Đúng là đất liền, cách thuyền buồm sáu dặm về phía trước, lúc đó thuyền ở 74°20 Tây và 23°57 Bắc. Đó là những vách đá High Cay và Hinchingbrooke: rìa phía Đông Nam của đảo Guanahani, theo tên gọi của người Anh-điêng (indien). Colombo đặt tên cho đảo đó là San Salvador. Đảo này dài 13 dặm và rộng 6 dặm, nằm ở 24° Bắc và 74°30 Tây và có diện tích bề mặt sáu mươi dặm vuông. Nó là một bộ phận của Khối Thịnh vượng chung Bahamas, một thành viên độc lập của khối thịnh vượng chung của Anh. Giống như những đảo Bahama, San Salvador là một đảo san hô và vì thế có mặt bằng.
Điều chưa từng biết khi đổ bộ trong cuộc phát kiến vĩ đại này là đá ngầm san hô ngăn cản bao quanh toàn bộ San Salvador. Colombo quen với san hô thật, loài Corallium rubrum, thấy ở Địa Trung Hải và quần đảo Canarie. Nước Cộng hòa Genova là một thị trường lớn, một trung tâm thu thập san hô từ những vùng biển gần cũng như xa, đồng thời gia công và bán san hô. Những vách cản san hô được gọi tên như thế do một sư bất ngờ về từ nguyên, vì trong tiếng Anh, từ Coral áp dụng cho tất cả những chất hữu cơ có vôi tạo ra những vách san hô và những đảo.
Không một thủy thủ nào trong Thế giới Công giáo trước thời Colombo biết hiện tượng khác thường này. Trong cuốn Milione Morco Polo cũng không nói đến hiện tượng này. Tuy nhiên theo cuốn Nhật ký thì hình như Colombo không nhận rõ tầm quan trọng của việc nhận biết hiện tượng đó. Ông chỉ đơn giản nhận xét rằng ‘‘một vùng nông có đá ngầm vây quanh đảo’’. Ông không muốn mô tả dài dòng về biển, ông thích nói về đất liền và cư dân nhiều hơn, dù những kỳ quan của biển đó chắc chắn làm ông say mê.
Trong phạm vi vỉa san hô, nước ấm và trong, có một dãy màu sắc từ màu xanh thẫm đến màu xanh lá cây có thể thay đổi như màu lá mùa xuân. Từ mặt nước những lùm cây đước rậm rạp tiến ra biển; rễ cây chúi sâu dưới nước mặn và mặt cát tìm nước ngọt, một chất không thể thiếu để sống. Những nơi cây đước không mọc và những khu vực nhiều màu sắc như vườn cây, những cây cọ và cây thân cao mọc sát ngay bờ biển, sóng vỗ nhẹ nhàng khi nước triều lên cao. Người châu Âu chưa từng biết hiện tượng cây và rừng tiếp xúc trực tiếp với biển. Colombo viết sự yên tĩnh của nước đã cho phép có sự tiếp xúc như thế, ‘‘giống như trong một cái giếng’’. Sự yên tĩnh được bảo đảm bởi vỉa chắn san hô, trên đó sóng biển vỡ ra và trở nên yên lặng dưới tác động tiếp tục của bọt nước không ngừng biến động; sự chuyển động, màu trắng và tiếng động của biển thì vô cùng đa dạng. Lúc đó Colombo không thực sự hiểu hiện tượng vỉa chắn, nhưng kỹ xảo đi biển của ông đã giúp ông hành động như đã hiểu.
 
Ngay khi Colombo chắc chắn rằng cuối cùng ở phía Tây cũng có đất liền ngay trước mặt, cách khoảng sáu hải lý, ông ra lệnh cuốn buồm và đi chậm lại, hầu như không chuyển động cho đến rạng sáng. Bất cứ ai đã đi biển bằng thuyền buồm đều biết đến gần bờ trước gió thì khó khăn như thế nào, vì có nguy cơ đâm vào đá. Nhưng tại sao có đá xa đất liền như thế? Ít khi người ta thấy như vậy. Tuy nhiên có đá, mặc dù đó là một loại đá cho đến bây giờ những thủy thủ và những nhà địa lý chưa biết Colombo đã cảm thấy sự nguy hiểm và ông đã dừng.
Dưới ánh sáng ban ngày ta không thể bò qua bọt trắng tung tóe do sóng đập vào những tảng đá. Giống như một cái khung của bức tranh, vỉa ngăn cách bao quanh toàn bộ đảo San Salvador. Ngoài khơi đảo High Cay. Hinchingbrooke Rocks và Low Cay - ba đảo đá nhỏ hình thành mũi phía Đông Nam của đảo San Salvador – vỉa san hô chạy song song với bờ biển, vỡ thành một hình quạt vuông góc với bờ biển, buộc những người đi biển phải đi vòng mũi đất ra biển và Colombo đã đi như thế. Đến gần bờ biển phía Tây, Colombo chợt thấy một khoảng trống trong vỉa san hô và ba chiếc tàu đi qua khoảng trống đó tới bờ biển            Viên Đô đốc - lúc này Colombo đã đạt được danh hiệu ông đã từng thèm khát. - đi vào bờ, trong chiếc thuyền có vũ trang cùng với hai người Pinzón. Ông bước lên cát trắng mịn, hôn cát, ngước mắt nhìn lên trời, cảm ơn Chúa và khóc. Khóc vì xúc động và vui sướng. Các thuyền trưởng Genova và Tây Ban Nha cũng khóc trước một đám đông những đàn ông và đàn bà trần truồng và sợ hãi, - tiếng khóc đó đã tổng kết ý nghĩa nổi bật của cuộc gặp gỡ bất ngờ quan trọng nhất trong lịch sử loài người. Gặp gỡ bất ngờ, chính xác hơn là phát kiến, vì không phải nhân loại phát hiện ra một vùng đất mới, không có người, mà là hai bộ phận nhân loại, hai Thế giới đến với nhau vào sáng hôm đó, trên đảo Guanahani - San Salvador. Viên Đô đốc mở tung lá cờ Hoàng gia và anh em Pinzon mở hai lá cờ có hình chéo xanh lá cây, một mang chữ F (Ferdinando) và chiếc kia mang chữ Y (Ysabel).
Viên Đô đốc triệu tập Rodrigo de Escobedo, thư ký của đoàn thuyền, và Pedro Sánchez de Segovia, một thủy thủ, và bảo họ xác nhận và chứng kiến ông đang chiếm hữu và thực tế đã chiếm hữu đảo cho Vua và Hoàng hậu như thế nào trước mặt họ. Những quy ước thích hợp sẽ được viết ra.
 
Sau nghi lễ cuộc gặp tiến hành. Hai Thế giới cho đến lúc đó chưa biết nhau đã trở nên quen biết. Rủi ro họ không hiểu nhau. Đây là ấn tượng đầu tiên của cuộc gặp gỡ: ‘‘Ngay tức khắc họ trông thấy những người trần truồng’’. Một thực tế đập ngay vào mắt họ, câu viết đó không mang ý nghĩa giới tính; nó chỉ biểu thị sự ngạc nhiên. "Tất cả họ đều trần truồng như khi mẹ họ sinh, ngay cả những người phụ nữ, và một trong những người đó rất trẻ. Nhưng tất cả những người tôi trông thấy đều trẻ vì tôi không trông thấy người nào quá ba mươi tuổi và tất cả họ đều cân đối, với một cơ thể đẹp và một diện mạo duyên dáng. Họ có tóc thô. Giống như một bờm ngựa, cắt ngắn và xõa xuống mắt, trừ một túm hất ra đằng sau và để mọc dài, không bao giờ cắt. Một số người sơn thân họ màu xám (màu của những người trên đảo Canarie, không đen và cũng không trắng), những người khác sơn trắng, đỏ, hoặc màu khác nữa. Một số người sơn mặt, những người khác sơn toàn thân, hoặc chỉ đôi mắt, hoặc mũi.
Họ không mang vũ khí và cũng chẳng biết về vũ khí. Tôi chỉ cho họ những thanh kiếm, họ cầm những thanh kiếm đó đằng lưỡi vì không biết và bị đứt tay. Họ không có một loại sắt nào cả. Những cái giáo của họ là những chiếc gậy không có sắt; chỉ một số cái có răng cá ở đầu.
Tôi thấy một số người mang những dấu vết vũ khí trên mình họ và tôi ra hiệu hỏi họ đó là những gì. Họ làm cho tôi hiểu rằng, từ những đảo khác ở lân cận, người ta thường đến bắt họ và họ tự bảo vệ mình. Tôi tin và biết rằng những người từ đất liền đến đây bắt họ làm nô lệ. Họ phải là những đầy tớ tốt và thông minh; Họ nhắc lại ngay những lời tôi nói với họ và tôi tin rằng họ rất dễ trở thành những người Công giáo, vì hình như họ không thuộc giáo phái nào. Nếu hợp ý muốn của Chúa Trời thì khi rời nơi đây tôi sẽ mang theo sáu người này cho Bệ hạ, để họ có thể học nói như chúng ta.
Đó là những ấn tượng của ngày đầu tiên. Vào ngày thứ hai Colombo nói rằng ông quan tâm trước hết đến việc tìm hiểu xem kiếm vàng ở đâu. Ông nhận thấy rằng một số người Anh-diêng đeo một miếng vàng nhỏ qua một lỗ đùi ở mũi. Họ nói với ông - hay ông hiểu như vậy - rằng đi thuyền về phương Nam, ông sẽ thấy một ông vua có những tàu lớn và rất nhiều cục vàng. Viên Đô đốc muốn một trong những người Anh-điêng dẫn ông ta đi đến xứ sở may mắn đó, nhưng ông nhận thấy họ từ chối đi với ông.
Như thế là cả hai bên đã bắt đầu hiểu lầm nhau Cái cân giá trị của người châu Âu khác cân giá trị của những người bản xứ. Họ cho mọi thứ họ có là nhỏ, không đáng kể; rõ ràng một cái nhỏ trên cán cân của người châu Âu lại không phải như thế đối với người bản xứ. Đối với họ "một mảnh sành vỡ, hay một chén thủy tinh vỡ" đáng giá "mười sáu cuộn chỉ bông". Colombo cảnh cáo rằng việc đó không bao giờ được làm, vì từ việc buôn bán không hạn chế giữa hai khả năng trí tuệ, hai khái niệm giá trị sẽ dẫn đến kết quả bất công nghiêm trọng. Vì vậy ông lập tức cấm việc buôn bán bông, không cho phép một người nào mua bông và hoàn toàn dành việc mua đó cho nhà vua Tây Ban Nha. Một điều cấm chính đáng không dễ để ra cho chín mươi người. Sức mạnh nào có thể cần có khi chín trăm, chín nghìn, hoặc chín chục nghìn người Âu sẽ đến? Đó là những rắc rối đầu tiên trong một cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa hai Thế giới không hiểu nhau.
Ngày chủ nhật, 14 tháng 10, viên Đô đốc đi thuyền dọc theo bờ biển của đảo và thăm những làng mạc. Một số người bản xứ mang nước, những người khác mang thức ăn và còn những người khác lao mình ra biển và hỏi ra để gặp đoàn thuyền. Colombo viết: "Chúng tôi hiểu, họ tin là chúng tôi từ trên trời xuống." Những người Tây Ban Nha được tiếp đón như những vị thần. Viên Đô đốc cảm động đến nỗi trong khi tìm kiếm một nơi để xây dựng một pháo đài, ông ghi trong Nhật ký-
"Rằng không cần thiết xây dựng một pháo đài vì những người này rất chất phác trong hành động vũ trang, như Bệ hạ sẽ có thể xét từ bảy người tôi ra lệnh lấy, để mang họ về Tây Ban Nha, dạy họ nói tiếng của chúng ta, rồi đưa họ trở lại nhà họ .
Ông viết thêm:
"Nếu Bệ hạ ra lệnh đưa tất cả ho về Castiglia, hoặc giữ họ làm nô lệ trên đảo của họ thì việc đó có thể thực hiện một cách dễ dàng, vì với khoảng năm mươi người, ta có thể kiểm soát và khuất phục tất cả bọn họ, bắt họ làm bất, cứ điều gì ta muốn’’.
Capitivos có nghĩa là nô lệ. Khó cho nó một giải thích rộng lượng hơn. Colombo sống trong thời đại của ông, là một người của thời đại ông, suy nghĩ như những nhà lãnh đạo - và những người khác - của thời đại ông mà không giống như vị một thánh.
 
Chú thích:
(1). Gần khoảng 500 đô la ngày nay (T.G).




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.07.2021 20:25:33 bởi Ct.Ly>
18. CUBA LÀ "CHÂU Á"
 
Những chiếc tàu Tầy Ban Nha tới San Salvador ngày thứ sáu, 12 tháng 10. Ngày hôm sau, thứ bảy, họ đi thăm đảo. Viên Đô đốc chỉ đi vài dặm rừng nhũ hương và cây dũ thì sang đến Hồ Lớn, một vùng nước có vỉa san hô bao quanh. Quá đấy là điểm cao nhất của đảo, Núi Kerr, cao 43 mét. Ngày chủ nhật, 14 tháng 10, Colombo hoàn thành cuộc thăm dò bằng thuyền tới cảng Graham’s (một cảng được bảo vệ bằng vỉa chắn san hô, có khả năng chứa "tất cả những tàu của thế giới Công giáo". Ở  sườn phía Bắc của đảo, Colombo trông thấy hai hoặc ba làng. Những làng khác ở sườn phía Đông mà Colombo đã trông thấy đầu tiên. Trên cơ sở những phát hiện khảo cổ học, người ta có thể sẵn sàng cho rằng có nhiều người hơn là bảy trăm người hiện nay đang sống tại đảo San Salvador.
Chiều tối chủ nhật Colombo ra đi, thuyền hướng về phía Tây - Nam. Tới Santa Maria de la Conception (nay là Rum Cay), Fernandina (Long Island), Isabela (Crooked Island), Colombo dừng lại tại mỗi đảo và luôn luôn hỏi người Anh-điêng cùng một câu: "Vàng ở đâu?". Colombo đã thấy những con vẹt ở đó. Hương liệu ông ta mong đợi cũng có ở đó. Nhưng còn vàng? Từ đảo này đến đảo khác những người dân đều chỉ về phương Nam. Tại đó có một đảo lớn gọi là Coba, hay Cuba - tất cả đều khẳng định như vậy bằng dấu hiệu và lời nói, mặc dù khó hiểu. Một sự yên tĩnh như chết và mưa đã cản trở việc đi biển, nhưng cuối cùng trước khi màn đêm buông xuống ngày thứ bảy, 27 tháng 10, các thủy thủ đã thấy đảo, đất liền thực sự rộng lớn. Vào buổi bình minh ngày hôm sau, đất liền đã hiện ra với những ngọn núi, những thung lũng và đồng bằng, có cây cối rậm rạp, hoa vàng trăm màu sắc, quả hàng trăm loại, và rất nhiều chim lớn, chim nhỏ, hót ngọt ngào. Colombo chưa bao giờ thấy một "cảnh đẹp hơn". Không nghi ngờ gì nữa, Cuba là Cipango (Nhật Bản). Y đồ lớn thế là đã được thực hiện: họ đã tới phương Đông bằng cách đi thuyền về phương Tây.
Khi đổ bộ lần đầu tiên Coiombo lập tức nghi rằng San Salvador là một trong nhiều hòn đảo mà theo truyền thống và theo Marco Polo thì vị trí của chúng là ở phía đông Cataio. Lòng tin cậy được khẳng định trong chuyến đi qua Bahamas. Nhưng cái gì đã làm cho San Salvador, Santa Maria de la Concepcion, Fernandina, và Isabela bị hiểu là đất châu Á? Đối với chúng ta có rất ít, quả thực không có gì, nhưng đối với Colombo? Có những cây cọ, nhưng ông đã thấy ở châu Phi, cũng như châu Á, đều có cây cọ. Có những cây cao lớn, đồ sộ và những giống cây mới. Nhưng Colombo và những thủy thủ Tây Ban Nha đã đi thuyền đến quần đảo Canarie và quần đảo Madera - và còn nhiều người khác nữa đã biết rằng hệ thực vật ở đây rất khác hệ thực vật châu Âu thì không phải là chứng cớ đủ để kết luận đó là châu Á; hệ thực vật đó chung cho tất cả mọi miền nhiệt đới và á nhiệt đới. Có những con rắn và thằn lằn to hơn những loài này ở châu Âu. Nhưng viên Đô đốc đã trông thấy những rắn và thằn lằn to như vậy ở Ghinê.
Lòng tin của Colombo dựa trên bốn chỉ dẫn: những con vẹt, hương liệu, vàng, và những đặc điểm về nhân chứng của người bản xứ. Ngay khi đổ bộ lên San Salvador, Colombo đã hết sức vui mừng gần như ông cho là một dấu hiệu từ Thượng đế khi những người Anh-điêng đầu tiên ông gặp đã cho ông những con vẹt. Và ông rất sung sướng viết trong Nhật ký vào ngày phát kiến vĩ đại: "Trên đảo này tôi không thấy những động vật thuộc bất cứ loại nào, trừ con vẹt. Trên đảo Long Island ngày 16 tháng 10, ông nhắc lại: "Trên đất liền tôi không thấy những con vật thuộc bất cứ loại nào, trừ những con vẹt và những con thằn lằn". Và ngày 21 tháng 10 "Những đàn vẹt làm tối mặt trời". Những con vẹt tượng trưng cho những đảo và lãnh thổ miền Đông Á. Marco Polo và những nhà du hành thời trung cổ khác đã miêu tả những kỳ quan của châu Á xa xôi và đã nói về những con vẹt. Colombo biết rằng vẹt không sống ở châu Âu, hoặc ở bất cứ nơi nào tại Địa Trung Hải. Một số loại thấy ở nhiều nơi thuộc Ghinê, một vùng đất người Bồ Đào Nha và Colombo đã biết. Tuy nhiên không ai nói về những con vẹt châu Phi này, có lẽ vì chúng sống trong rừng sâu, nơi những người Bồ Đào Nha cũng như Colombo đã không đi vào, hoặc có lẽ vì chúng thường là những con vẹt đuôi dài, không phô bày những màu lông rực rỡ khác nhau, tiêu biểu cho những anh em họ của chúng tại châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương. Như vậy Colombo không biết rằng vẹt có ở tất cả những miền nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới, từ Kenya đến Papua và Polynesia. Cũng như tất cả những người đương thời với ông, ông tin rằng vẹt là chứng cớ để khẳng định đấy là châu Á.
Còn vàng, tin tức của thời bấy giờ nghi ngờ về số lượng mang về nước trong chuyến đi biển đầu tiên. Người ta nói phòng ngủ của nhà vua ở Barcelona và tủ đựng bánh thánh tại nhà thờ lớn Toledo được giát bằng vàng từ Ấn Độ, nhưng điều đó chưa được chứng minh. Hình như chỉ một lượng nhỏ vàng được mang về châu Âu trong chuyến đi biển lần thứ nhất. Tuy nhiên niềm tin cho rằng kim loại quý tìm thấy ở những vùng đất mới không phải là một ảo tưởng, vì ngay từ đầu người ta đã thấy những dấu hiệu, dù khiêm tốn của kim loại quý ấy. Thật vậy nhiều năm đã trôi qua, trước  khi những mỏ vàng và bạc lớn nhất được phát hiện thì lòng tin của Colombo chỉ là ảo tưởng và là một tài năng "chói sáng", mở cho chiếc cổng đi tới những vùng có vàng.
Chứng cứ cuối cùng làm cho Colombo tin rằng ông ta đang ở châu Á là đặc tính thể chất của nhân dân. Họ không giống những người châu Âu, những người Moor (Á-Rập), và thậm chí những người châu Phi ở Ghinê. Ngày hôm sau, 13 tháng 10 Colombo cố nhấn mạnh sự khác biệt của họ: "Tóc của họ không xoắn (rõ ràng một liên hệ gián tiếp đối với người da đen) mà thẳng và thô như lông ngựa... Đầu họ to và trán rộng, to hơn bất cứ giống người nào mà tôi đã trông thấy trước, và mắt họ thì cực đẹp và không nhỏ". Ông nhấn mạnh rằng họ không phải là những người da đen: "Không một người nào trong số họ đen. Ngược lại họ có màu da của dân chúng trên đảo Canarie, hoặc những người nông dân rám nắng. Bụng họ không to và cân đối". Trong khi đó nhiều người da đen ở Ghinê có bụng to vì thiếu protein và những biến chuyển bệnh tật.
Mặc dù có những con vẹt, những đặc tính về chủng tộc, một số vàng và hy vọng về hương liệu, có những yếu tố khác hẳn báo cáo của Marco Polo. Ấn tượng tức khắc về cuộc gặp gở bất ngờ đầu tiên là "họ trông thấy những người trần truồng". Tất cả đều trần truồng trên đảo San Salvador, và tất cả đều trần truồng trên đảo Santa Maria de la Concepcion. Người bản xứ sơn đen, trắng, đỏ, hoặc nâu, những người bản xứ có những vòng trang trí và những miếng vàng trên cánh tay, chân, hoặc cổ, trong lỗ tai, hoặc lỗ mũi – và luôn luôn trần truồng. Làm sao ông có thể quên được là người châu Á mặc quần áo và mặc rất đẹp? Hơn nữa từ ngày đầu tiên Colombo ghi lại trong Nhật ký rằng những người bản xứ không biết "một loại sắt nào cả". Colombo đã đọc cuốn Milione, hoặc ít nhất bản tóm lược cuốn sách đó, ông phải biết rằng những người châu Á cũng quen với sắt như người châu Âu.
Không biết sắt, trần truồng, phong cách xây dựng nhà ở và làng mạc, tất cả đều chỉ rõ một tình trạng nguyên thủy, thấp hơn cả những điều kiện ở Ghinê. Được ăn uống tốt hơn, trông họ không khổ cực như những người ở Ghinê, nhưng sự phát triển vật chất của họ nói chung thấp hơn. Làm sao họ có thể là người châu Á? Colombo vẫn cứ giữ sai lầm của mình vì ông tin rằng ông đã đến những tiền đồn của châu Á, những đảo nhỏ xa nên văn minh Cataio và Cipango. Quả thật chính cuốn Milione đã kể lại những đảo Socotera (Socotra) và Zenzibar (Zanzibar), nơi đây người ta trần truồng, hoặc chỉ đóng khố. Có thể Colombo đã nghĩ rằng chỉ ở trên đất liền và những đảo lớn ông ta mới thấy nền văn minh giàu có và tráng lệ mà Marco Polo đã nói đến. Cipango, Cataio và Ấn Độ là những mục tiêu của ông. Những người bản xứ đã nói với ông về "một hòn đảo rất lớn". Viên Đô đốc không nghi ngờ gì: "Tôi nghĩ rằng đó phải là Cipango, xét theo thông tin mà những người Anh-điêng thu phục được, đã cung cấp cho tôi". Ông đã viết như thế ngày 21 tháng 10 và ông nhắc lại điều đó ngày 23 và 26 tháng 10, một niên tin bối rối. Viên Đô đốc cũng bị lừa dối bởi khái niệm về địa lý của ông mà ông tin tưởng một cách ương ngạnh. Ông cho rằng khoảng cách trên đất liền từ Bồ Đào Nha đến Trung Quốc lớn hơn thực tế nhiều. Không những Toscanelli mà cả cuốn Historia Rerum của Piccolomini và chuyện kể của Marco Polo đã làm ông nghĩ rằng Cataio và miền đất Khan vĩ đại kéo dài về phía Đông xa hơn là thực tế. Như vậy ông đã chấp nhận nguyên tắc quả đất tròn, do đó ông tin chắc rằng châu Á cách Lisbon ba nghìn dặm bên kia Đại Tây Dương, cách đảo Hierro hai nghìn bốn trăm dặm.
Nếu Colombo không tin chắc như vậy, ông đã không đề ra dự án của mình một cách nhiệt tình như thế, ông đã không gây sức ép với các học giả và quan chức về dự án đó một cách say sưa như thế, ông đã không thuyết phục Pinzon đi theo ông và đã không đương đầu với cuộc phiêu lưu vượt Đại Tây Dương. Bây giờ ông đã thấy đất liền, hay đúng hơn những vùng đất liền ngay tại nơi ông mong chờ được thấy đất liền đó, ngay tại nơi những tính toán của ông đã chỉ rõ, ngay tại nơi thuyết địa lý "của ông" đã nói những vùng đất ấy phải ở đó, làm sao ông có thể bỏ mục tiêu của mình, một sự ám ảnh và một ngôi sao Bắc Đẩu đối với ông trong những- năm hy vọng, sợ hãi, đối đầu và tranh cãi? Trong nhiều năm ông vẫn cho rằng vượt qua Biển Đen Tối, vượt qua Đại Tây Dương là châu Á, rằng ông có thể tới phương Đông bằng cách đi thuyền buồm về phương Tây. Bây giờ ông đã thấy nhiều đảo và cuối cùng một khối đất liền rộng lớn ở bên kia Đại Dương. Có những con vẹt, có vàng, có hương liệu, và nhân dân không giống những người châu Âu và những người châu Phi. Làm sao ông có thể không tin rằng ông đã đến châu Á?
Las Casas tìm cách giải thích sai lầm của Colombo, ông thường xuyên dẫn đến bản đồ của nhà vật lý Paolo, tức là Toscanelli và nói rằng Colombo giữ ý kiến này, tức là ý kiến cho rằng những vùng đất này thuộc Khan vĩ đại, chính là vì bản đồ và những thông tin của Paolo gửi trong những bức thư của ông cổ vũ mạnh mẽ Colombo. Nhưng nhiều lần khác nhà thám hiểm Genova buộc phải chọn giữa lý thuyết và kinh nghiệm bằng cách thay đổi và sửa chữa những điều cần thiết sau khi tới những vùng Đất Mới, Colombo tiếp tục là một người quan sát sắc bén, một nhà hàng hải hạng nhất, và một nhà địa lý giới, vì ông tin vào kinh nghiệm của mình. Nhưng trong dịp này ông đã không xem xét một chút nào những chỉ dẫn chứng tỏ ông đang ở những vùng đất rất khác với châu Á được miêu tả trong cuốn Milione.
Milione miêu tả những vương quốc hoa lệ, nhiều sùng bái và tôn giáo lớn, những ngọc trai, kim cương, ngà voi, gỗ đàn hương và long diên hương, thậm chí hàng hóa từ nước Nga và Bắc cực, một ảo cảnh có một không hai của những dân tộc và các nước văn minh. Thêm vào đó một phần lớn cuốn Milione đã dành cho hệ động vật đa dạng của châu Á: Hổ, báo, linh miêu, chó sói xám, voi, tê giác, kỳ lân, khỉ đầu chó, hoặc khỉ dữ, chó Tây Tạng "to bằng con lừa", hươu, lợn rừng, khỉ và rắn. Tất cả những thứ này đều không thấy lặp lại trong những kinh nghiệm và miêu tả của con người thành Genova: lòng tin của ông, ý nghĩ cố định của ông chiếm ưu thế, bất chấp thực tế, bất chấp thiên nhiên của những vùng Đất Mới. Tại sao? Vì có những chứng cớ mang tính lừa dối khác và nhất là vì Nhà Phát kiến bướng bỉnh và bị chi phối bởi tham vọng và lòng kiêu hãnh. Nhờ tính bướng bỉnh của mình, ông đã có sức mạnh để kiên trì trong bảy năm trời ở thời kỳ ưu việt nhất của cuộc sống con người - từ ba mươi tư đến bốn mươi mốt tuổi- chờ đợi quyết định của Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha. Cuối cùng ông đã tìm thấy đất liền ở bên kia Đại dương, nhưng ông không phải là Đô đốc vĩ đại của Đại dương ấy, tính cố chấp của ông trở thành ngu xuẩn đã cản trở lý trí của ông.
Tính bướng bỉnh thường là đặc tính của những con người vĩ đại. Ở Colombo tính bướng bỉnh ấy mãnh liệt và cứng nhắc đến mức, vừa là đức tính vừa là thói xấu. Trước đó nó là đức tính: tại Lisbon, trong những cuộc đi ở Địa Trung Hải và Đại Tây Dương của ông, từ Băng Đảo đến Porto Santo và tới Ghinê; sau này ở Tây Ban Nha và cuối cùng trong ba mươi ba ngày vượt Đại Tây Dương. Bây giờ, nó là thói xấu khi viên Đô đốc của Đại dương đã phát hiện ra những vùng đất kỳ diệu và saỵ mê nhất mà không nhận ra, đó không phải và không thể là châu Á.
Như ông đã bí mật nuôi dưỡng về ý đồ lớn của mình trong bảy năm, tin tưởng rằng ông sẽ hoàn thành sứ mạng thiêng liêng, bây giờ khi đã tới miền đất bên kia "Biển Đen Tối", ông càng tin tưởng hơn bao giờ hết là ông đã hoàn thành công việc mà Chúa mong muốn, đem lại vinh quang không bao giờ phai nhạt cho ông, quyền lực và của cải cho con cháu ông. Trong thực tế ông đã đạt được vinh quang nhưng không bao giờ ông nghĩ mình được niềm vinh quang đó, vì phát hiện ra những lục địa mới, rộng lớn, giàu có, gần quan trọng như châu Á, quan trọng hơn châu Âu và châu Phi nhiều.
Một lục địa mới vượt quá mọi lý thuyết khoa học, vượt quá trí tưởng tượng. Những biện hộ của La Casas không phải là không trúng. Paolo Toscanelli và những học giả khác đã nhất trí loại bỏ sự tồn tại của những lục địa ngoài châu Âu, châu Phi và châu Á. Do đó nếu những đất này không phải là châu Á thì là những đảo cách xa Cataio và Ấn Độ. Phát hiện những đảo Đại Tây Dương không phải là một sứ mệnh thần thánh, đáng khích lệ; Colombo tự cảm thấy mình đã được định sẵn cho sứ mệnh đó, sự phát hiện đó không có tác động gì đối với tiến trình lịch sử. Đã có nhiều hòn đảo, có thực, hoặc tưởng tượng, trên mọi bản đồ Biển Đen Tối; việc phát kiến, hoặc phát kiến lại lần nữa quần đảo Canarie, Madera và Azrorre đã không làm thay đổi tiến trình lịch sử.
Nhận rằng những Đất Mới không phải là
Cataio, hoặc Cipango, sẽ đòi hỏi sự khiêm nhường, một điều Colombo không thể thực hiện được. Ông quá kiêu hãnh để tự hạ mình. Chính vì bản chất kiêu hãnh và bướng bỉnh của mình, ông đã thành công trong một sự nghiệp mà đối với nhiều người hình như không thể thực hiện được, thậm chí là vô lý. Để làm chủ được Đại Tây Dương, để xây dựng ý đồ lớn của mình, Colombo dễ dàng uốn nắn lý thuyết theo kinh nghiệm riêng và trực giác về biển cả của ông, vì làm như vậy phù hợp với những mong muốn và khát vọng vinh quang của ông. Bây giờ ông lại phải đặt lý thuyết thấp hơn thực tế, thực tế của biển Caribe, một môi trường thú vị và đáng lưu ý nhưng với kiến trúc vật tư và công cụ khiêm tốn - tóm lại toàn bộ cơ cấu xã hội và trình độ văn minh thấp hơn nhiều so với điều ông mong chờ.
Đặt những lý thuyết riêng của ông dưới thực tế, hiển nhiên như thế đòi hỏi một đức tính mà Colombo không có. Nếu Colombo có tính khiêm nhường và thái độ sẵn sàng bỏ cuộc trước năm 1492 thì ông đã không đạt được cuộc phát kiến vĩ đại nhất trong lịch sử. Nếu Colombo có những lý thuyết đó sau ngày 12 tháng 10 của năm quan trọng ấy thì ông đã không phạm sai lầm lớn này; ông đã thoát khỏi sự ám ảnh đã theo ông tới lúc chết, đã cướp đi của ông cái danh dự bất tử được lấy tên ông đặt cho hai lục địa lớn nhất, giàu nhất và quan trọng nhất trên trái đất. Mặt khác điều đã ám ảnh ông tỏ ra càng ngày càng hữu ích. Colombo tin rằng mình đã tìm thấy châu Á. Ông đã trở lại ba lần, luôn luôn bướng bỉnh tìm cách đi đến những thành phố truyền thuyết bằng thuyền theo hướng Tây; hy vọng luôn luôn được khích lệ, thực ra là lòng tin sẽ tới được Ấn độ. Trong cuộc tìm đường điên cuồng tới Ấn Độ, cuộc phát kiến vĩ đại đã được mở rộng ra qua Cuba và đảo Hispaniola, tới những đảo khác trong biển Caraïbes và trước hết tới đất liền, tối những cửa sông Orinoco, nơi ông đã tìm ra Venezuela ở Nam Mỹ. Ông đã xác định đó không phải là châu Á, nhưng ông không quan tâm vì ông đang bận tâm đi tới Ấn Độ.
Cuba bây giờ nằm trước  mặt ông; Cuba quyến rũ như một nàng tiên, tỏa ra mùi thơm giống như mùi thơm ông đã bị kích thích lần đầu tiên, một luồng khí không thể quên được khi ông còn là một thanh niên trên đảo Chio, có lẽ dây là Cipango hay Cataio. Dù sao chăng nữa, đó là châu Á! Vào buổi bình minh ngày chủ nhật, 28 tháng 10, ba chiếc tầu đi vào cửa một con sông và bỏ neo. Colombo đã đặt tên con sông là San Salvador và đất mới là Juana. Nay không còn tên nào còn tồn tại. Đảo lớn ngày nay mang lên bản xứ là Cuba. Làng mang tên San Salvador đã biến mất, tuy nhiên nhiều làng ở tỉnh Oriente tuyên bố họ ở trên mãnh đất nguyên thủy.
Tuy nhiên có thể khẳng định hải cảng tự nhiên mà Colombo nói là "không có những bờ cát, hoặc cản trở gì nguy hiểm" là vịnh Baria. Về cuộc gặp bất ngờ với hòn đảo lớn đầu tiên của châu Mỹ, cũng như hòn đảo nhỏ nằm ở bên ngoài, xin nghe Nhà Phát Kiến phát biểu: "Đây là hòn đảo xinh đẹp nhất trong các đảo mà mắt người đã trông thấy. Đảo có nhiều núi non rất đẹp và rất cao, mặc dù không dài lắm, và phần đất còn lại cao như ở Sicilia". Ngày 29 tháng 10, tàu chuyển hướng về phía Tây. Chiều tối tàu tới cửa một "con sông rất lớn’’ ngày nay là Puerto Gibara, lớn hơn và dễ vào hơn bất kỳ hải cảng thiên nhiên nào gặp trước  đó.
Ngày 30 tháng 10, Colombo thấy một mũi đất bao phủ toàn cây cọ, vì vậy ông đặt tên cho mũi đất đó là "Capo delle Palme". Ngày nay mũi đất đó gọi là Punta Uvero, và ở đấy vẫn còn rất nhiều cây cọ. Rồi gió chuyển hướng Tây, trở nên mạnh đến nỗi ngày 31 tháng 10 đoàn tàu phải hạ hết buồm để đi được. Gió lại chuyển hướng về phía Bắc, nhiệt độ hạ thấp; một cơn bão hình thành, Colombo biết không thể đổi hướng tầu với gió hướng Bắc, dọc theo bờ biển chạy theo hướng bắc-tây bắc, nên ông đã ra lệnh quay ngược hướng tầu. Ông đã trở về Puerto Gibara vào buổi bình minh ngày 1 tháng 11, và lưu lại đây 11 ngày.
Họ rời Puerto Gibara ngày thứ hai, 12 tháng 11, đi đến một đảo "mà nhiều người Anh-điêng trên tàu gọi là Baneque", ngày nay là Great Inagua.
Một con bão mới đến từ phía Bắc; Colombo quyết định tìm nơi trú ẩn ở một nơi nào đó trên bờ biển Cuba. Ông chợt nhận thấy một lạch rộng khoảng hai trăm Yards (1). Giữa kênh rộng trên 40 Fathoms (2) như vậy đoàn tầu có thể đi vào. Cuối hành lang quanh co mở ra Vịnh Tanamo, được bảo vệ bởi nhiều núi cao và đảo nhỏ nổi lên nhọn như những "mũi kim cương", hoặc bằng phẳng như những "cái bàn". Đoàn tàu ở lại Tanamo bốn ngày. Ngày thứ hai, 19 tháng 11, Colombo nhổ neo vào sáng sớm theo hướng Đông bắc-Bắc, cách hướng gió sáu điểm trên la bàn. Ở đây xẩy ra một sự kiện mà các học giả nghiên cứu về Colombo đã đoán và tranh luận không dứt, sự kiện đó được gọi là sự đào ngũ của Martin Alonso Pinzón". Nhật ký cho biết như sau:
Hôm nay Martin Alonso Pinzón trên chiếc thuyền buồm Pinta đã rời tầu, không có lệnh và trái với ý của viên Đô đốc. Pinzón hành động như thế, xuất phát từ ý muốn kiếm lợi, nghĩ rằng ông ta sẽ thấy nhiều vàng hơn, theo lời khuyên của một trong những người Anh-điêng mà viên Đô đốc đã mang lên tầu. Như vậy Pinzón đã rời đoàn tàu và không đợi những chiếc khác, không thể viện lẽ vì thời tiết xấu, mà chỉ vi muốn đi và còn nhiều điều tồi tệ khác mà ông ta đã nói và làm.
Đó không phải là một cuộc bỏ ngũ theo đúng tên gọi của nó. Pinzón đã đi đến Baneque để tìm vàng, rồi đổ bộ lên bờ biển phía Bắc Haiti, ở đây ông biết viên Đô đốc là người kiên quyết. Ông không mang theo - và cũng không tìm cách mang theo- người em trai là Vicente Yanez, người này vẫn ở lại trên chiếc Nina, bên cạnh viên Đô đốc. Về sau ông đã gửi điện cho Colombo và, không thấy trả lời, ông đã đi để gặp Colombo.
 Chúng ta hãy trở lại chuyến đi của các tầu Santa Maria và Nina. Trong hai ngày và đêm - 22 và 23 tháng 11 - dòng nước biển đã đưa họ về phía Tây. Cuối cùng vào buổi sáng ngày 24 tháng 11, họ tới bờ biển Cuba, chính xác là ở Cayo Moa Grande. Nơi này làm cho họ say mê. Nhiều cây thông thẳng như những con suốt. Colombo tưởng tượng chúng như những chiếc đầm ở hai cạnh thuyền, hoặc những cột buồm của những tàu lớn nhất của Tây Ban Nha. Rừng đủ làm một đội tầu; những thân cây chưa ai đụng tới trong rừng châu Mỹ đã là nguyên liệu, hàng hóa cho thành phố Iớn, một nguồn của cải không thể tính toán được và sức mạnh của Hải quân. Hai ngày sau cảnh tượng trở nên cụ thể và chi tiết hơn: Vua và Hoàng hậu có thể dễ dàng chinh phục những đảo mới, cải đạo dân cư, xây dựng thành phố và pháo đài. Để bảo đảm đế quốc của họ tồn tại lâu dài, họ sẽ làm tốt để không cho phép bất cứ một người ngoại quốc nào buôn bán, hay đặt chân lên đó, trừ những người Công giáo. Gerbi bình luận, chỉ sáu tuần lể trước  đó, người ngoại quốc Colombo đã đặt chân lên châu Mỹ; bây giờ ông ta lại ghen tỵ với mọi người di cư khác vì lợi ích của nước Tây Ban Nha. Thiên đường phát kiến chưa bao lâu đã bị thôn tính cho nhà vua Castiglia.
Ngày 26 tháng 11, đoàn tầu rời Puerto Cayo Moa và ngày hôm sau đã đến một hải cảng làm cho người ta rất đổi ngạc nhiên, Puerto Baracoa, bao vây bởi những cánh đồng và làng mạc. Tại đây Colombo lưu lại một tuần lễ và đã có dịp khảo sát vùng xung quanh, tiếp xúc với nhiều người bản xứ Cuba, đánh giá lại những phát kiến của ông. Colombo cảm thấy rất phấn chấn và sung sướng.
Những đảo nhỏ thuộc quần đảo Bahamas đã làm cho ông thích thú, trong vùng đất vĩ đại này, sự xum xuê mới lạ và đẹp đẽ của thiên nhiên, cao hơn nhiều không những so với cảnh quan của châu Âu mà của cả Ghinê nữa, đã khuấy động và khích lệ ông. Hình như Colombo bị chìm ngập trong ba tình cảm: phấn khởi vì cái mới của hệ thực vật ở quần đảo Antilles, khâm phục vì cảnh đẹp đặc biệt và thất vọng vì không có khả năng, do thiếu thời gian và không hiểu biết về thực vật để đánh giá đầy đủ giá trị dinh dưỡng và dược liệu của nó. Trên những vùng đất được phát kiến, thiên nhiên đa dạng và làm cho người ta phải ngạc nhiên, thậm chí hiếm thấy. Trên bình diện thẩm mỹ, thiên nhiên đẹp và thú vị; trên bình diện thực tiễn, thiên nhiên phải được sử dụng và khai thác ở mức tối đa.

Chú thích :
(1)     Một Yard khoảng 0,9143, do đó bản tiếng Ý viết khoảng 200 mét.
(2)     Một Fathom là 1,829 mét. Bản tiếng Ý viết 40 Braccia, một đơn vị đo chiều dài cổ ở Ý. Độ dài không giống nhau giữa các địa phương. Ví dụ ở Genova là 0,581 mét ; ở Napoli là 0,698 … ; Tha-5m chí còn sai khác tùy theo vật dụng được đo, chẳng hạn ở Parma, khi đo gỗ thì một Braccia là 0,545 mét ; đo dạ là 0,639 mét, Đo lụa là 0,587…




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.07.2021 22:36:33 bởi Ct.Ly>
19. CÁI MỚI CỦA VÙNG ĐẤT MỚI
 
 
Sau khi rời Cuba, ngày 6 tháng 12, chiếc Santa Maria và chiếc Nina đã cập bến một hải cảng tự nhiên mà Colombo đặt tên là San Nicola trên đảo Hispaniola. Hải cảng thực độc đáo, nhưng hòn đảo còn đáng ghi nhớ hơn, vì nó giống Tây Ban Nha: "Hòn đảo hình như được hoàn toàn cầy cấy, hoặc gần như thế và những cánh đồng trông giống ruộng lúa mì vào tháng năm tại vùng nông thôn Cordoba... nhiều loại cây giống hệt như ở Tây Ban Nha, thí dụ, cây sồi xanh, cây sồi, cây dương mai. Thủy thủ bắt cá bơn và những cá khác như ở Castiglia. Họ thấy cây mía, những cây cỏ khác, đất và núi giống như ở Castiglia. Ngay cả mưa và lạnh cũng giống Castiglia vào tháng mười. Tất cả những điều này đã khiến viên Đô đốc đặt tên cho hòn đảo là Espanola mà Peter Martyr dịch sang La-tinh là Hispaniola, cái tên vẫn còn được dùng tại xứ Ý, khi người ta muốn chỉ toàn bộ đảo, gồm có hai quốc gia. Haiti và nước Cộng hòa Dominicana.
Sau này trong cuốn Nhật ký Colombo nói rằng những gì ông trông thấy trên đảo Hispaniola "là một kỳ quan". Ông đã tìm thấy gì tại những vùng Đất Mới? Mối quan tâm đầu tiên của ông là xác minh cây cối lớn và nhỏ. Ông nghĩ rằng ông đã nhận thấy cây lô hội và quyết định cắt và kéo lên tàu khoảng mười tạ cây ấy, vì theo người ta nói, "gỗ cây ấy là loại giá trị nhất", và đúng như thế. Lá và nhựa cây lô hội đã được dùng để sản xuất thuốc từ hồi cổ đại. Cuối thời Trung cổ và mãi đến cuối thế kỷ trước, người ta vẫn tin rằng từ cây lô hội có thể chế một loại thuốc trường sinh. Như vậy Colombo không sai về giá trị của cây lô hội, nhưng ông sai trong việc nhận biết cây lô hội: cây mà ông mang về không phải là cây lô hội mà chỉ là loại gỗ có mùi hăng
Một sai lầm khác nữa là về cây nhũ hương; sai lầm này chắc phải xẩy ra ngay sau đó, mặc dù lần này con người thành Genova không sai lầm trong việc nhận biết cây ấy. Ngày nay người ta còn thấy cây nhũ hương ở vùng biển Caribê. Cây có lá rất to và cũng có mùi thơm như cây nhũ hương Địa Trung Hải, trên các đảo Egeo, Sardegna và ở Liguria. Khi Colombo bắt gặp mùi nhũ hương từ một đống lửa lớn để xảm thuyền(1), ông nhớ lại rất rõ những cây nhũ hương ở Chio và giá trị của chúng, ông quyết định tìm cây đó.
Sau khi phát hiện ra cây nhũ hương ở Cuba, các thủy thủ lại tìm thấy cây đó, hoặc ít nhất một cây tương tự với số lượng lớn ở đảo Hispaniola; đảo này dày đặc những cây nhũ hương nên người ta thu được nhiều tinh dầu, nhưng lúc đó chưa phải mùa thu hoạch, vì trong mùa này những giọt nhựa giỏ xuống từ trên cây không cứng lại. Colombo đã ghi lại như vậy cho ngày 10 tháng 12. Ngày hôm sau ông viết "Nhiều người lại được cử lên bờ và họ lại thấy nhiều tinh dầu nhũ hương".
Hồi tưởng lại những kinh nghiệm của ông ở Chio, Colombo ghi lạị trong Nhật ký ngày 12 tháng 11 rằng từ những cây nhũ hương ở Chio những nhà buôn ở Genova đã kiếm được "năm mười nghìn duca một năm". Đây là một nguồn của cải. Chưa thể bảo đảm là có vàng và ngọc trai và ông không thể nói chắc chắn là có hương liệu. Nhưng cây nhũ hương thì có. Tuy vậy những cây nhũ hương ở đây không cùng một loại. Cây nhũ hương ở vùng biển Caribê giống cây nhũ hương vùng Địa Trung Hải; tuy nhiên cả hai không cho nhiều của cải; là thuốc thông thường thì đúng, nhưng không có giá trị thương mại lớn. Cây nhũ hương ở Chio là một ngoại lệ, gần như một xảo thuật của thiên nhiên, và chỉ ở miền Nam của đảo này cây nhũ hương mới sản sinh đủ tinh dầu để làm một sản phẩm có giá trị cho cả doanh nghiệp nhỏ lẫn công nghiệp.
Không phải chi có cây nhũ hương đã làm cho Colombo phấn chấn. Trên đảo Cuba, "khi ông ngửi thấy một mùi tuyệt diệu, ông chắc rằng đã tìm thấy cây và cỏ thơm" (2 tháng 11). Khứu giác của Colombo không đánh lừa ông. Những đảo Caribê là những vùng đất của hương liệu, sau này nhiều hương liệu châu Á đã được đưa vào đây, khác hương liệu bản xứ nhưng không kém thơm. Như vậy thất vọng và hy vọng, xen kẽ nhau và tiếp tục tại Haiti, nơi mà Colombo tin rằng hạt tiêu thực sự là một hương liệu. Ông viết: ‘’Hạt tiêu của họ tốt hơn hạt tiêu của chúng ta và không ai ăn mà không cho thêm thứ gia vị này, hương liệu này hổ trợ nhiều cho sức khỏe. Một năm người ta có thể chở đầy năm mươi thuyền buồm hương liệu từ đảo này. Sau này Peter Martyr bình luận rằng: "Họ cũng mang từ đó về một số hạt có vết nhăn, màu sắc khác nhau, cay hơn hạt tiêu Caucase, và những cành cây cắt phơi khô giống như quế, nhưng về mùi vị vỏ cây và ruột giống như gừng cay.’’ Đó là quả và thân của một loại cây mà cho đến thời đó Thế Giới Cũ chưa biết đến, quả hạt tiêu hình loe. Ngày nay những quả hạt tiêu hình loe và ớt được trồng và dùng trên mọi lục địa. Không những người ta thấy hạt tiêu hình loe và ớt muối ở các nhà trong mọi nước mà còn trong việc nấu ăn thông thường trên thế giới, nó đã thành quen miệng cũng như đã được phổ biến khắp mọi nơi.
Những cây cọ tại Cuba gây ấn tượng cho Colombo, vì có nhiều và khác với những cây cọ ở Ghinê và Tây Ban Nha. Những cây đầu tiên Colombo trông thấy có chiều cao trung bình: Những cây ấy có thân lớn, không có vở ở gốc và lá rất to, người bản xứ dùng lá cây để lợp nhà. Ngày 28 tháng 10, viên Đô đốc viết như vậy. Như đã nêu trong chương trước, ngày 30 tháng 10, Colombo đặt tên một mũi đất là Capo Delle Palme, những cây cọ vẫn còn đó. Mục ghi trong Nhật ký ngày 14 tháng 11 nói "những lùm cây cọ nối tiếp nhau vô tận". Và cuối cùng ngày 17 tháng 11, ông đã gặp "những cây cọ rõ ràng hơi cao hơn những cây mà ông đã từng trông thấy". Mười ngày sau đó ông lại phát hiện "những cây cao và đẹp nhất" chưa từng thấy trong các loại cọ. Đó là loại cọ vua, từ trước đến hồi đó châu Âu chưa hề biết. Những cây cọ khác mà Colombo phát hiện ra ngay, không phải là những cây chà là nổi tiếng ở Tây Ban Nha và châu Phi thuộc vùng Địa Trung Hải và cũng không phải là những cây dừa như một số người nghĩ. Cây dừa ngày nay rất nhiều ở vùng biển Caribê đã du nhập sau này. Những cây ấy cũng không phải là cọ dầu như ở Ghinê, Colombo đã nhận xét chúng là một loại khác, người ta vẫn còn thấy ở quần đảo Bahamas và ở nơi này, nơi khác trên những đảo thuộc vùng Caribê. Người ta gọi chúng là cọ lùn vì chiều cao của chúng, mặc dù hoàn toàn bình thường, vẫn còn kém xa chiều cao của những cây cọ vua đồ sộ.
Nhưng những phát kiến thực vật học quan trọng nhất không phải là những cây cọ vua, gây nhiều ấn tượng và uy nghi, cũng không phải những cây thông, có nhiều một cách khác thường, thậm chí cũng không phải những loại hương liệu mới, mà là những cây khi đưa vào nền kinh tế châu Âu và thế giới sẽ tạo ra một cuộc cách mạng thực sự: ngô, khoai, thuốc lá, và những loại bông mới. Một vài con số thống kê đủ để chỉ rõ tầm quan trọng hiện nay của những loại cây ấy và không ai phủ nhận điều đó. Hàng năm người ta trồng hơn 330 triệu tấn ngô, gần một nửa số ngô trong Thế Giới Cũ; hơn 330 triệu tấn khoai, gần hai phần ba số khoai ở châu Âu và châu Á; và hơn 5,5 triệu tấn thuốc lá, gần ba phần tư số thuốc lá ở châu Âu và châu Á.
Lần đầu tiên trông thấy ngô, Colombo đã nhầm nó với một loại kê, và trên đảo Haiti ông đã nhầm nó với lúa mạch. Ferdinando thì chính xác hơn, nói về "một loại hạt khác, mà người ta gọi là Mahiz; khi nấu, nướng, hoặc xay làm cháo, loại bột này có mùi vị tuyệt diệu nhất. Peter Martyr chưa bao giờ trông thấy một cánh đồng ngô nên đã nhầm lẫn khi nói rằng có rất nhiều loại "lúa mì, hoặc cỏ khô cho súc vật ăn". Lời khẳng định này không thể có vào năm 1493. Colombo đã mang cây đó về Tây Ban Nha sau chuyến đi đầu tiên của ông. Nhưng giống cây trồng mới này chỉ tràn lan khắp châu Âu sau nhiều năm và thậm chí nhiều thập kỷ. Hình như cây này đánh dấu sự nhầm lẫnđãá định sẵn, vì ngay cả cái tên trong lời nói hàng ngày - Granoturco (hạt Thổ Nhĩ Kỳ) ở nước Ý, Turkey Wheat (lúa mì Thổ Nhĩ Kỳ), ở Anh Blé de Turquie (lúa mì Thổ Nhĩ Kỳ), ở tiếng Pháp thì một từ ngữ mơ hồ, không có quan hệ gì với Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng trong thế kỷ thứ XVI Turkish (thuộc về Thổ Nhĩ Kỳ) được áp dụng cho bất cứ cái gì ngoại lai đối với thế giới Công Giáo.
Khoai không xuất hiện trong Nhật ký trong chuyến đi biển lần thứ nhất, cũng không xuất hiện trong những bản tường thuật về những cuộc đi biển sau. Khoai tây thực sự không thể nói là ở trong số những phát kiến của Colombo. Dân Caribê không trồng khoai tây và ngày nay người ta cũng không trồng, vì nó không thích ứng với khí hậu. Người ta mới chỉ tìm thấy khoai tây mấy thập kỷ sau tại vùng núi Andes ở miền bắc Chilê, Peru và Ecuador. Nhưng nếu về thuật ngữ khoai tây không phải là một phát kiến của Colombo, nó vẫn có thể được coi như vậy, vì hai loài gần giống với nó là khoai lang (người Anh-diêng gọi là ajes) và sắn (ngày nay ở Trung và Nam Mỹ còn gọi là Yuca. Những thứ này không phảị là họ hàng thân thuộc về ý nghĩa chặt chẽ của khoa học thực vật, nhưng khoai tây, khoai lang và sắn, tất cả đều là những củ có cùng những đặc tính dinh dưỡng, có thể thay thế cho nhau, hoặc khi đói kém thiếu ăn có thể thay thế cho các loại hạt, ngô, hoặc gạo. Như vậy việc phát hiện ra khoai lang và sắn có thể coi là một sự lường trước việc phát hiện ra khoai tây.
Đầu tiên Colombo nghĩ rằng khoai lang vùng Caribê là cùng loại với ajes, khoai Yams ở Ghinê. "Những vùng đất này rất màu mở; sản xuất một lượng lớn Niames, giống như cà rốt có mùi vị hạt dẻ", Colombo đã viết như vậy ngày 4 tháng 11 trên đảo Cuba và ngày 6 tháng 11, ông viết "đất phì nhiêu và giống khoai Yams". "Ngày 15 tháng 11, ông viết trong Nhật ký. "Những rễ của cây này người Anh-diêng dùng làm bánh của họ", ông nhắc đi nhắc lại trong suốt cuộc khảo sát Haiti.
Tin vang dội về phát kiến của Colombo là những củ này. Không phải chỉ có dân Ghinê ăn khoai, các dân tộc ở Thế Giới Mới cũng trồng và ăn khoai; khoai sinh trưởng dưới mặt đất, giống như rễ cây và về mặt thực vật học, đó là rễ cây, hoặc một bộ phận cửa rễ cây. Colombo và những người Tây Ban Nha ăn những loại củ này và thấy rằng bánh sắn ngon, hơi giống vị hạt dẻ; họ quen ăn bánh ấy. Sau khoai lang họ thử ăn yuca - sắn đã lọc chất độc - và thấy bổ và ngon. Họ cũng không coi thường khoai vùng Caribê; họ rửa, chặt, nghiền và thêm vào súp, hoặc những món ăn có thịt. Như vậy cuộc cách mạng về ăn uống đã bắt đầu và bùng nổ với khoai tây?
Khoai tây thực sự chỉ xuất hiện vào giữa thế kỷ thứ XVI. Nó khó tồn tại ở các thuộc địa châu Mỹ và việc nó đi vào châu Âu là khiêm nhường. Tuy nhiên một thế kỷ sau, thành công của nó là hiển nhiên. Năm 1645 nhờ có khoai, nước Đức đã thoát khỏi nạn đói kinh khủng. Tại nước Pháp năm 1771 người ta thưởng cho ai tìm được thứ thay thế ngũ cốc trong bữa ăn chính. Parmentier trở về từ một nhà tù ở Đức, đã gợi ý khoai tây. Cuối cùng loại thức ăn này đã lôi cuốn sự chú ý của Louis XVI. Vị vua này gọi khoai là "bánh mì của người nghèo" và thúc đẩy việc trồng khoai.
Vốn là "bánh mì của người nghèo", khoai tây đã thay thế bánh mì lúa mạch đen và trong hàng trăm năm là thức ăn chính của nông dân châu Âu. Khi người ta coi bánh mì làm từ lúa mạch đen là nguyên nhân của một trong những bệnh dịch đáng sợ nhất trong bệnh học thời trung cổ do nấm trên hạt ngũ cốc này gây ra, việc sử dụng khoai tây thay lúa mạch đen rõ ràng đã cải thiện sức khỏe dân chúng, ít nhất là cho đến khi tìm ra những phương tiện tối tân để tẩy lọc lúa mạch đen.
Khoai tây đã tạo ra một cuộc cách mạng thực sự trong nông nghiệp, kinh tế, sự ăn uống, và trước hết là sức khỏe của các dân tộc ở Thế Giới Cũ bằng sự góp quyết định của nó vào việc loại trừ một phần những tai họa do nạn đói và bệnh dịch gây nên. Cuộc cách mạng mở rộng đến cả chiến lược quân sự. Người ta đã nhận xét một cách đúng đắn rằng, nếu không có khoai, Napoléon đã không thể đạt được những thắng lợi. Việc chuyển quân nhanh chóng - nguyên tắc chủ chốt trong chiến lược của vị tướng người đảo Corse vĩ đại này - đã không thể thực hiện được nếu hàng chục, hoặc hàng trăm nghìn quân của ông không chở những số lượng lớn khoai thay cho bột tốn kém hơn, dễ hư hỏng hơn và khó xử lý hơn nhiều.
Người châu Âu mất ít thời gian học cách sử dụng thuốc lá hơn là dùng khoai tây: mất gần hai thế kỷ để dùng khoai, mất khoảng bảy mươi năm để dùng thuốc lá. Khi đổ bộ lên San Salvador, thuốc lá được lập tức phát hiện. Ngày 15 tháng 10, trên đảo Fernandina, Colombo viết trong Nhật ký "một số lá khô mà dân ở đây đánh giá cao, vì trước đó họ đã tặng cho tôi trên đảo San Salvador". Ngày 6 tháng 11 ông cử hai người Tây Ban Nha đi khảo sát đảo Cuba, họ đã kể việc "gặp nhiều người đàn ông đàn bà đang đi về làng, tay cầm một que củi đang cháy và những lá cỏ để uống cái khói theo phong tục của họ". Tôi đã dùng nguyên văn cách nói của tiếng Castiglia "uống cái khói", vì đây là lần đầu tiên người châu Âu nói đến việc hút thuốc. Trong thực tế Tomar Sus Sahumerios có nghĩa là hít khói vào. Trên đảo San Salvador và đảo Long, lần đầu tiên những người châu Âu biết lá thuốc lá và trên đảo Cuba, hai thủy thủ Tây Ban Nha trông thấy việc sử dụng thuốc lá kỳ lạ lần đầu tiên.
Don Ferdinando tường thuật không thay đổi gì những điều được kể lại đơn giản trong Nhật ký. Qua báo cáo chính xác hơn của Las Casas, chúng ta biết rằng thực tế Xì-gà hồi đó giống như hiện nay, thật là đáng ngạc nhiên. Cần nói thêm rằng danh từ tabaco trong tiếng Arawak có nghĩa là "cigar", chứ không phải như ngày nay có nghĩa là cây mà người ta thu lượm lá. Hai thủy thủ Tây Ban Nha, như Las Casas, đã nói một cách chi tiết sự xuất hiện của Cigar, lưu ý rằng đàn ông và đàn bà cầm "một thanh củi cháy trong tay,... và những cỏ khô", đặt trong một lá khô, giống như những pháo nhỏ của những con trai Castiglia làm cho lễ Pentecoste (lễ Công Giáo). Họ đốt một đầu và hút khói từ đầu kia; bị say, họ vẫn không cảm thấy mệt.
Trong số những phát hiện nói đến từ trước đến nay, thuốc lá có ảnh hưởng lớn trong việc làm thay đổi thói quen của đàn ông và đàn bà của Thế Giới Cũ, lớn hơn cả khoai, ngô, cà chua, đậu và hạt tiêu. Tất cả những thứ đó đã làm thay đổi cách ăn uống của người châu Âu và châu Á. Đó là một ảnh hưởng còn lớn hơn nhiều phát kiến khác, quan trọng hơn về phương diện khoa học.
Tôi đã nêu cà chua và đậu; người ta có thể thêm ca-cao vào bản liệt kê những sản phẩm đã cách mạng hóa ngành nông nghiệp, cách ăn uống và nền kinh tế của toàn thế giới . Nhưng Colombo đã không biết ba cây này, hoặc ít nhất ông không nói ró rằng ông quen với những cây ấy, trừ việc đề cập đến hột ca-cao những người Anh-diêng dùng làm tiền trên một chiếc thuyền ở ngoài khơi Honduras trong chuyến du hành lần thứ tư. Sau ngày tôi sẽ nói về vấn đề đó.
Cuối cùng là cây bông, không phải là một trong những phát hiện của Colombo, nhưng những loại và tiểu loại bông thấy ở Thế Giới Mới thì chưa ai biết ở Thế Giới Cũ. Cùng với cây nhũ hương, bông là một trong vài thứ mà cả hai bên thế giới đều biết trong cuộc gặp gỡ. Nếu Colombo đã sai lầm trong việc tiên đoán những lợi ích kinh tế lớn lao từ cây nhũ hương, ông đã không sai lầm về bông. Ông ta đã báo cáo về bông sau lần đổ bộ đầu tiên lên đảo San Salvador. Colombo đã ghi trong Nhật ký ngày 13 tháng 10 "bông mọc trên đảo này" và ông thêm rằng ông đã trông thấy những người bản xứ bán mười sáu cuộn sợi bông nặng hai mươi nhăm đến ba mươi cân Anh để lấy mấy xu. Ông lập tức cấm việc buôn bán này và không cho phép ai làm như thế, "để dành hoàn toàn bông cho Vua và Hoàng hậu nếu chúng ta thấy khối lượng lớn bông."
Ngày 6 tháng 11 trên đảo Cuba viên Đô đốc nói rằng những người Tây Ban Nha "đã trông thấy bông thô đã xe và dệt, và họ ước lượng rằng một nhà thu hoạch được hơn năm trăm Arrobas (2) và mỗi năm người ta có thể thu hoạch bốn nghìn tạ". Viên Đô đốc nói thêm, ông tin rằng dân bản xứ không trồng bông và bông sinh sản quanh năm; bông hoàn toàn đẹp và có quả nang rất to. Một loại bông khác, loại của Thế Giới Cũ, xù xì hơn, có lá thường chia thành ba thùy, thay vì năm thùy, những cánh hoa trắng không có chấm.
Bông của Thế Giới Cũ có những cành hoa vàng có một chấm đỏ. Colombo không tường thuật tất cả những điểm khác nhau này, nhưng ông nhận ra rằng bông của đảo Cuba "có một quả nang rất to và rất đẹp", như vậy ông ta phải biết bông của Thế Giới Cũ, có lẽ từ miền Andalusia, nơi mà trong thế kỷ thứ IX những người Moor đã đưa bông vào, tuy với một quy mô nhỏ. Hai chi tiết của Colombo như mọi lần cho thấy khả năng quan sát nhạy bén của ông về thiên nhiên, không những chỉ về biển cả, khả năng của ông về biển cả thì phi thường rồi, mà cả trong vương quốc các cây cỏ, đúng là bông ở Trung Mỹ xù xì hơn, quả nang to hơn, với đầu quả nổi nhọn hơn.
Colombo đã nhìn thấy trước  rằng có thể sản xuất một lượng lớn bông tại Cuba, như Las Casas đã báo cáo, và người ta có thể bán nhiều bông ấy. Sự phát triển của ngành công nghiệp bông ở châu Mỹ đã hoàn toàn đáp ứng trực giác của Nhà Phát Kiến. Tuy nhiên trong khi ngô, khoai, thuốc lá, cà chua, đậu, hạt tiêu, ca-cao và những cây khác đã gây ra một cuộc cách mạng trong phong tục của toàn thế giới, đơn thuần vì việc du nhập chúng, cuộc cách mạng kinh tế khởi đầu bằng bông chỉ bắt đầu với bốn phát minh cơ khi lớn trong thế kỷ thứ XVIII.
Bắt đầu năm 1 738 Wyatt, Hargreaves Arkwright, và Crompton đã phát minh và hoàn thiện những thiết bị khác nhau và cuối cùng đã dẫn đến một máy quay sợi nổi tiếng vào năm 1779, một con suốt cơ khi cuối cùng đã cho phép một người đàn ông và bốn người con trai làm công việc của sáu trăm phụ nữ. Năm 1785 James Watt đã phát minh ra máy hơi nước, giải phóng nền công nghiệp khỏi phụ thuộc vào súc vật và sức nước. Cùng năm 1785, Edmund Cartwright đã phát minh khung cửi máy, khung cửi này dệt một ngày bằng nghìn người dệt tay. Cuối cùng năm 1792 Eli Whitney thuộc Massachusets đã được cấp giấy chứng nhận quyền phát minh về máy cán bông, máy này đơn giản hóa việc tách hạt ra khỏi bông.
Người ta có thể nhận thấy ý nghĩa của những sự kiện này bằng cách xem xét hai con số. Vào giữa thế kỷ thứ XVIII, nước Anh đã nhập khẩu một ít tấn bông từ Mỹ; trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ XIX, nước Anh nhập khẩu 385.000 tấn. Việc trồng bông, với nhiều loại khác nhau và những loại có thể thích ứng được, đã lan tràn ra tất cả những vùng nhiệt đới và ôn đới trên thế giới. Sự phát triển xoáy trôn ốc của công nghệ, với việc tạo ra và sự lan tràn ngày càng tăng của sợi tổng hợp, đã không chặn đứng, hoặc thậm chí làm chậm được, sự phát triển của bông. Gần đây việc sử dụng bông làm cây mang dầu đã làm cho cây bông còn lan rộng thêm nữa, hầu như khắp mọi nơi người ta trồng bông, vì hai mục đích, hoặc để lấy sợi, hoặc để lấy hạt có dầu.
Những "sợi chỉ của quỷ" dùng đến 10 triệu người ở châu Mỹ, 12 triệu người ở Khối Thịnh vượng chung của Anh và có lẽ 100 triệu người trên toàn thế giới. Vàng trắng đã có vị trí, cùng với vàng màu vàng và vàng màu đen (dâu). Trong ba loại này Colombo không nghĩ đến, thậm chí cũng không tưởng tượng được, sự tồn tại của vàng đen. Ông lập tức thấy tầm quan trọng của vàng trắng và tiên đoán sự phát triển của nó tại những vùng đất mới của cuộc phát kiến vĩ đại. Còn vàng màu vàng ông tiếp tục cuộc lùng kiếm say mê.

 
Chú thích :
(1) Xảm: Dùng những thứ có nhựa để trít kín các kẽ hở ở đáy tàu thuyền.
 (2) Arroba là một đơn vị trọng lượng của Tây Ban Nha, tương đương 11,502 kg (T.G)




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.07.2021 22:37:17 bởi Ct.Ly>
20. CƯ DÂN Ở NHỮNG VÙNG ĐẤT MỚI
 
Như chúng ta thấy, Colombo đã miêu tả những đặc điểm thể chất của các dân cư thuộc những vùng Đất Mới nhiều lần trong Nhật ký, bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ đầu tiên ngày 12 tháng 10. Họ là một dân tộc cao, dáng đẹp. Tóc họ không xoăn, nhưng trơn và thô như đuôi ngựa; trán và đầu rộng, rộng hơn hầu hết bất cứ một giống người nào khác; mắt họ đẹp, không nhỏ; da không có màu đen
nhưng có màu giống như những người trên đảo Canarie; chân thẳng một cách khác thường; và bụng không to mà cần đối.
Họ là những nguời Taino, những dân tộc bản xứ ở tất cả những đảo Bahamas, Haiti, và Cuba, nói tóm lại thuộc quần đảo Đại Antille. Ngôn ngữ của họ là Arauco, hay Arawak. Hiện nay họ hoàn toàn bị diệt chủng; chỉ còn lại một số đặc điểm của họ trong những người da đen mà họ đã kết hôn. Trong thế kỷ thứ XIV và XV, những người Taino đã lan tràn từ Haiti đến phần phía đông của Cuba, tới Giamaica, Puerto Rico, và quần đảo Bahamas, trục xuất, hoặc bắt làm nô lệ những cư dân sống ở các nơi này trước đó.
Những cuộc khai quật khảo cổ học tại những vùng có người Taino sống cho thấy sự phát triển có ý nghĩa văn hóa trong thuật trang trí dùng trong nghi lễ và thể thao. Họ có ba giai cấp: qúy tộc, bình dân và nô lệ. Những người đứng đầu có quyền sinh sát đối với những bề tôi của họ. Họ trông nom, hướng dẫn những ngày lễ, các công việc đồng áng, săn bắt và đánh cá. Địa vị và của cải của họ được truyền lại theo mẫu hệ.
Những người Taino có bản chất dịu dàng và mến khách. Như Colombo đã nhận xét: đàn ông trần truồng, đàn bà đôi khi mặc tạp dề nhỏ, hay váy bằng sợi bông. Họ dùng nhiều màu khác nhau – đỏ trắng, đen, và vàng - để vẽ trên mình họ. Họ có thói quen nắn xương sọ cho méo và khoét lỗ ở mũi và tai. Họ có ít đồ trang sức, đều bằng đá, xương, vỏ ốc, và đôi khi bằng vàng. Trên một số đảo thuộc quần đảo Bahamas và một lần trên đảo Cuba, những người Tây Ban Nha đã gặp những người Anh-diêng có những miếng vàng, hoặc bạc, trong lỗ mũi của họ, Khi họ nhảy múa, họ mang những đồ trang sức và mặt nạ bằng lông vũ. Trống bằng gỗ dùng trong những cuộc khiêu vũ giống trống có hai giọng của người Mêhicô.
Về tôn giáo, người Taino quan niệm có một vị thần trên trời, đó là mặt trời và mẹ của mặt trời là mặt trăng. Loài người sinh ra từ đó. Họ giữ và thờ zemi "những tượng nhỏ" tại nơi họ ở. Mỗi zemi có một tên và một lịch sử cá nhân, có liên quan đến một vị chủ soái đã chết nào đó. Mỗi tượng nhỏ làm chức năng đại loại như một người phát ngôn để đưa ra những lời tiên tri; việc sử dụng người phát ngôn đó là bí mật. Những hình vẽ thấy ở nơi này nơi khác trên các vách đá có lẽ cũng dựa trên khái niệm thôi thúc việc tạo ra zemi. Người chết được chôn ở tư thế trước  khi sinh. Vợ chính của vị chủ soái bị chôn theo chồng.
Colombo và những người của ông đã không gặp những chủng tộc khác trong cuộc hành trình thứ nhất. Cuốn Nhật ký thường nói đến những người Caribo và Canibale và cho biết những người Taino rất sợ người Caribo và Canibale nhưng những giống người này chỉ xuất hiện trong cuộc hành trình thứ hai. Lần này những cư dân chỉ là người Taino. Như đã nói, họ nói cùng một thứ tiếng. Colombo nhận xét "Tại Ghi-nê, tình hình khác hẳn: họ nói một nghìn thứ tiếng; cư dân ở một nơi này không thể hiểu cư dân ở một nơi khác’’ . Ngày 11 tháng 12 viên Đô đốc đã có thể tường thuật trong Nhật ký rằng: "Hàng ngày chúng tôi hiểu nhiều hơn, mặc dù rất thường xuyên chúng tôi hiểu lầm họ, hoặc, họ hiểu lầm chúng tôi". Điều này giải thích tại sao những người phiên dịch không khó tìm. Một trong số những người đó được đưa về Tây Ban Nha và được làm lễ đặt tên tại nhà thờ Công giáo là Diego Colon. Ông này sẽ là một thông dịch viên trong chuyến du hành thứ hai.
Người Taino không có trình độ văn minh cao, nhưng họ cũng không ở trạng thái nguyên thủy. Việc họ ở trần truồng và không muốn làm việc không thể hiện những tính cách nguyên thủy mà chỉ rõ những hệ quả tự nhiên của môi trường. Không cần mặc quần áo trong thời tiết tuyệt diệu ở vùng Caribê và không cần làm việc nặng nhọc để có thức ăn. Thiên nhiên cho nhiều loại thức ăn ngon, bổ của biển cả, hiện vẫn phong phú dọc theo bờ biển của quần đảo Bahamas, Cuba và Haiti. Việc ăn cá sống đã làm cho Don Fernando phải kinh ngạc, nhưng không còn làm cho những người sành ăn hiện nay ngạc nhiên nữa. Những con nhện và những con sâu trắng, nếu Don Fernando coi là ghê tởm thì lại là những thức ăn cũng ngon lành như một loại sên ăn được mà nghệ thuật nấu ăn của Pháp và Ý đánh giá cao. Ngoài thức ăn do thiên nhiên ban cho một cách hào phóng, có một thứ người ta cần lao động thực sự mới có được: bánh làm từ khoai lang nạo, hoặc từ ngô giã, hoặc nghiền, mà người Tây Ban Nha gọi là bánh Cassava hoặc Cazzabi. Để có được yuca cần lao động khá nặng nề, nhất là loại bỏ chất độc từ sắn.
Nhà ở của người Taino làm bằng rơm rạ hoặc lá cọ. giống những ngôi nhà thường thấy ngày nay tại vùng nhiệt đới châu Mỹ, châu Phi và châu Á. Nhà thường hình chữ nhật và có mái dốc, có khi nhà tròn có mái hình nón, đôi khi nhà xây dựng trên những cột. Các khu định cư của nguời Taino đều có những bãi chơi. Trò chơi dùng những quả bóng cao su không được chạm tay vào. Phát hiện này có ý nghĩa đáng kể khi người ta xem xét tầm quan trọng của môn bóng đá trong thế kỷ này. Bóng đá là một môn chơi trong đó người ta không được chạm tay vào quả bóng.
Cao su, dưới hình thức đầu tiên là một quả
bóng, đã nảy và nhảy vào lịch sữ trên đảo Cuba và Haiti của Thế Giới Mới trước con mắt kinh sợ của những người từ Thế Giới Cũ đến. Oviedo chú ý sự khác nhau giữa những quả bóng này với những quả bóng mà người ta đã biết trong thế giới Công giáo: "Những quả bóng này nảy nhiều hơn những quả bóng khác, khi người ta ném chúng xuống đất chúng lại bật nhiều lần rồi mới giảm dần’’. Cao su cứng có nhiều loại khác nhau - loại nổi tiếng nhất là Hevea brasiliensis đã được những người Anh - diêng biết đến trước thời Colomho. Người châu Âu có kiến thức đầy đủ hơn về cao su thông qua công trình của La Condamine: năm 1839 Goodyear đã phát minh ra cách lưu hóa cao su.
Trở lại những ngôi nhà ở, chúng lớn và giống những lều trong một trại lính, "chúng không xếp theo hàng lối và do đó không làm thành những đường đi mà rải rác mọc lên tại bất cứ chỗ nào". Ngày 3 tháng 12, Colombo đã thấy trong một căn nhà những sợi cây cọ, những dây thừng, một luỡi câu làm bằng sừng, những lao móc làm bằng xương, những công cụ khác để đánh cá và nhiều bếp lửa ở phía trong. Ghế ngồi là những khúc gỗ đơn, đẽo thành những con vật có đuôi vươn cao lên làm chỗ để tựa đầu.
Vật khác thường nhất mà người châu Âu thấy trong nhà người Anh-diêng là cái võng. Ngày 18 tháng 10 lần đầu tiên Colombo thấy võng tên đảo Fernandina: "Những giường và tấm phủ để những người này ngủ là một loại lưới bông". Ngày 27 tháng 10 trên đảo Cuba, Colombo đã thăm hai ngôi nhà và ở cả hai nơi ông thấy "những lưới bằng sợi cây cọ". Ngày 3 tháng 11, ông xác định đó là những lưới họ nằm ngủ, những cái võng". Las Casas tỉ mỉ và chính xác hơn trong miêu tả của ông. Ông gắn nhận xét về tập tục ngủ võng với cấu trúc của ngôi nhà :
Võng có hình dáng một cái quai, những sợi dài của võng không dệt với nhau như lưới mà khá thưa để ngón tay có thể thò vào giữa. Những sợi này đan với những sợi khác to hơn giống như đăng ten ở Seviglia. Chúng dài và đảm bảo sự thoải mái khi nằm, đến đâu dây các sợi tách ra thành nhiều sợi. Mỗi sợi lại nối vào những sợi mịn khác bằng một chất liệu dai hơn bông giống như gai. Võng rộng 113 cm (khoảng 45 inch). Đầu võng kén thành nút to bằng nắm tay và buộc vào cột ở hai bên nhà để treo cái võng trong không khí và dùng nó ở vị trí đó. Võng dài 3-4 yard và khi dùng võng mở ra như một cái quai khổng lồ.
Những người Anh-diêng chứa nước trong những quả bí khoét rỗng. Họ quấn bông xe thành những cuộn tròn như quả bóng. Nhiều lần người Tây Ban Nha thấy trong nhà những tượng nhỏ bằng gỗ, những hình phụ nữ gọt sơ sài và những mặt nạ làm công phu. Nhưng họ không thể xác định được những tượng nhỏ đó mang tính chất tôn giáo hay nghệ thuật. Ngay từ đầu, ngày 12 tháng 10 Colombo nói về những mũi lao của họ trong Nhật ký. Ngày 15 tháng Giêng, ông lại nêu những thứ ấy trên đảo Haiti: "Những cái cung của người Anh-diêng to bằng những cái cung dùng ở Pháp và Anh, còn tên thì giống những mũi lao. Đầu mũi tên rất sắc, bằng gổ hay bằng răng cá. Tuy nhiên thường những cung tên đó không gây tác hại lớn. Cũng ngày 15 tháng Giêng Colombo nhắc lại rằng "những cư dân trên đảo này không có sắt, hoặc bất cứ kim loại nào khác mà người ta đã biết", điều ông đã nhận xét trên đảo San Salvador.
Chiếc thuyền độc mộc đã gây lên sự thích thú đặc biệt. Don  Fernando so sánh nó với chiếc artesa, khoét trong đoạn thân cây ở Castiglia. Có những thuyền lớn và nhỏ dài và hẹp , tất cả đều làm từ một thân cây khoét rỗng bằng những miếng đá sắc như lưỡi dao bào. Đầu thuyền hình chữ nhật. Các mái chèo đều có cán để cầm , đầu mái chèo dài hơn đầu mái chèo của người châu Âu và người Á rập thời đó và ngày nay vẫn dùng. Colombo nói về những chiếc thuyền độc mộc trong Nhật ký, ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên. Ngày 13 tháng 10 ông viết như sau:
Họ đến tàu của tôi trong những thuyền kiểu dáng đẹp, làm từ nguyên một thân cây. Có thuyền chứa được đến bốn mươi người. Những mái chèo của họ giống như những chiếc xẻng đưa bánh vào lò của người làm bánh mì và họ có thể chèo thuyền đi nhanh đến mức diệu kỳ. Nếu thuyền bị lật, mọi người trên thuyền bắt đầu bơi, lật thuyền lại và dùng những quà bi để tát nước ra.
Ngày 30 tháng 11 ông viết: "Gần một trong những con sông này, người ta trông thấy một almadia, hay thuyền độc mộc, dài 95 cây cọ. làm từ nguyên một thân cây rất đẹp, có thể chứa ít nhất 150 người’’. Con số này chắc không đúng khi sao chép lại. Gần với sự thật hơn là mục ghi vào Nhật ký ngày 3 tháng 12: Ho gặp một nhà thuyền làm cẩn thận, có mái che nắng mưa. Dưới nhà là một ca nô, làm từ nguyên một thân cây theo hình một chiếc gale, với 17 ghế dài cho người chèo thuyền: nhìn vẻ đẹp và kỹ xảo của nó là một sự thú vị. Đấy là những công cụ của những dân tộc mới. Thực ra còn rất ít, nhưng trong điều kiện khí hậu và thiên nhiên phong phú đó cũng đủ để đạt được một cuộc sống thích hợp.
Một sự kiện sẽ minh họa bản chất dễ bảo và nhút nhát của người Taino. Ngày 3 tháng 12 Colombo đi trên một chiếc thuyền trên một con sông ở đảo Haiti. Nhiều người Anh-diêng tụ tập trên bờ sông; một người trong số họ đi xuống sông và nói một câu de dọa. Anh ta giơ chiếc nỏ đã lắp tên chĩa vào người Tây Ban Nha và nói rằng bọn họ sẽ chết hết vì chiếc nỏ có thể giết người từ xa. Người Tây Ban Nha rút gươm ra khỏi bao, vung gươm và cũng nói như thế, đến đó tất cả những người Anh-diêng đều chạy trốn. Trước khi kể lại sự kiện này Colombo đã rút ra một kết luận cay nghiệt: "Những người Anh-diêng này rất hèn nhát và sợ sệt, mười người của chúng ta có thể làm cho một vạn người của họ chạy trốn". Đây chỉ là một trong nhiều hiểu lầm giữa thế giới của những người phát kiến và thế giới của những người bị phát kiến.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.08.2021 00:38:30 bởi Ct.Ly>
21. HUYỀN THOẠI VỀ VÀNG
 
 
Một số người đã nói không đúng là Colombo bị lừa về chuyện vàng trong chuyến đi thứ nhất. Đúng, Colombo đã không tìm thấy những mái nhà và những chiếc cầu bằng vàng, đồ sứ có khảm vàng, như Marco Polo miêu tả, hay những mỏ vàng. Nhưng ông cũng đã tìm thấy vàng ngay từ đầu. Dân cư thuộc quần đảo Bahamas và đảo Cuba có vàng, nhưng phải nhận là số lượng ít. Họ chất phác, gần như nguyên thủy trong cách ăn mặc. Colombo nhấn mạnh việc họ trần truồng làm một lý do. Hình như Colombo đã nghĩ rằng những người dân ở đây trần truồng và nghèo khổ, tự trang điểm cho mình bằng những miếng vàng nhỏ; ai biết chúng ta sẽ tìm thấy bao nhiều vàng tại một nơi mà nền văn minh và cách ăn mặc tương xứng với những miêu tả của Marco Polo? Thực tế có vẻ hỗ trợ cho lòng tin này. Trên đảo Haiti, đất đai được trồng trọt khắp nơi, những người Anh-diêng đẹp hơn, được ăn uống tốt hơn và là những người buôn bán sắc sảo hơn. Ở đấy trình độ văn minh tỏ ra cao hơn và nông thôn giống châu Âu, cuối cùng những người Genova đã tìm thấy vàng.
Ngày 12 tháng 12, thủy thủ đã bắt người phụ nữ đẹp nhất cuộc hành trình rồi thả người này ra; người phụ nữ này có một miếng vàng nhỏ trong mũi, ‘‘chứng cứ rõ rằng là có vàng trên đảo’’. Ngày 17   tháng 12 Nhật ký nêu một sự kiện đã được kể lại trước đó về một tù trưởng đổi chác một lá vàng cắt thành từng miếng nhỏ. Cùng ngày, những người Anh-diêng nói trên đảo Tortuga có vàng; đảo nhỏ này ở ngoài khơi phía Tây-bắc đảo Haiti sau này trở thành căn cứ nổi tiếng của bọn cướp biển. Ngày 18 tháng 12 một tù trưởng cho viên Đô đốc một thắt lưng có hai miếng vàng chạm trổ. Ngày 21 tháng 12 một thôn trưởng người Anh-diêng đã tiếp những đại diện của Đô đốc tại làng ông ta và ‘‘biếu họ một số mảnh vàng’’. Ngày 22 tháng 12 Nhật ký ghi lại rằng những người Anh-diêng đã đổi một số miếng vàng lấy sáu hột cườm bằng thủy tinh, và một tù trưởng đã cho những người Tây Ban Nha ‘‘ba con ngỗng rất béo và một số mảnh vàng’’. Ngày 23 tháng 12 viên Đô đốc cử hai người Anh-diêng đến những làng ở gần các tàu, khi trở về họ nói rằng ở những làng đó có nhiều vàng.
Những sự kiện tương tự xảy ra hàng ngày. Đặc biệt có ý nghĩa là món quà tù trưởng Guacanagari tặng Colombo ngày 22 tháng 12. Món quà ấy được gia công khéo léo tuyệt vời chưa từng thấy. Một dây đai bằng bông có dính những xương cá màu trắng và đỏ, dây đai dệt như một áo lễ Castiglia thêu bằng những chỉ vang. Dây đai rộng bốn ngón tay và dệt chặt đến nổi một phát súng hỏa mai cũng không chọc thủng được. Ở giữa dây đai là một mặt nạ có tai, lưỡi, và mũi bằng vàng đặc.
Colomho bắt đầu tin rằng cuối cùng ông đã tìm đến vùng đất ở đó vàng được khai thác từ các mỏ. Những cư dân vùng bờ biển bây giờ không chỉ ra các đảo nữa mà chỉ một vùng ở ngay trong đất liền mà họ cho nó một cái tên Cibao. Một lần nữa sự tình cờ lại lừa dối. Người Genova này cũng có phần trách nhiệm vì lúc nào cũng sẵn sàng tìm ngay điều ông đang mong ước. Những người Anh-diêng nói Cibao và ông dịch là "Cipango". Đó là ngày 28 tháng 12. Rôi tàu của ông bị hỏng (về sự kiện này tôi sẽ nói ở dưới). Người tù trưởng biết Colombo muốn nhiều vàng, cho nên ngày 26 tháng 12, để làm cho ông vui lòng người tù trưởng đã ra hiệu chỉ rõ địa phương có nhiều vàng không cách xa lắm và chắc Colombo hài lòng vì ông sẽ toại nguyện muốn có bao nhiêu vàng cũng được.
Nhật ký ngày 26 tháng 12 ghi rằng viên Đô đốc đã nhận "một mặt nạ lớn có những cục vàng lớn ở tai, mắt và những chỗ khác nữa; người tù trưởng cho ông cái mặt nạ cùng với những đồ trang sức bằng vàng mà ông ta đeo trên đầu và chung quanh cổ; ông ta còn cho những người Công giáo khác nhiều châu báu. Như thế viên Đô đốc hài lòng và được an ủi. Hai ngày sau, viên Đô đốc nhận được một "đĩa lớn bằng vàng".
Ngày 29 tháng 12, một người cháu trai của viên tù trưởng nói rằng một cuộc hành trình bốn ngay về phía đông sẻ dẫn đến một hòn đảo gọi là Guarione, và có những đảo khác trên đó người ta thấy vô số vàng …có rất nhiều và tại nhiều nơi, trên đảo Hispaniola này. Viên Đô đốc viết: "đến nỗi đó là một kỳ quan". Ngày 30 tháng 12 "hai tù trưởng đến Guacanagari vào buổi sáng và đến viên Đô đốc, mỗi tù trưởng biếu viên Đô đốc một cái đĩa lớn bằng vàng". Như vậy, Haïti có vàng, với số lượng đáng kể.
Vấn đề vàng có một vị tri đặc biệt và khác thường trong kinh nghiệm của Colombo, bắt đầu từ cuộc hành trình thứ nhất. Người ta có thể thảo luận dài dòng, và không bao giờ đi đến một câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi điều gì chiếm hàng đầu trong tâm trí ông: tham vọng hay tự hào, tính hiếu kỳ khoa học hay tinh thần mạo hiểm, một sự say mê với điều chưa biết hay cảm giác thần bí cho là mình được chọn cho một sứ mệnh thiêng liêng. Ở những thời gian khác nhau, một trong những động cơ này chiếm ưu thế, hoặc có lẽ tất cả những động cơ ấy cùng hiện diện đồng thời. Một điều chắc chắn là việc tìm vàng tự nó không phải là một mục tiêu. Là một người Genova thực sự Colombo biết cách theo những lợi ích riêng của bản thân; ông mong ước chiếm lĩnh của cải cho bản thân và cho con cháu. Điều đó không thể phủ nhận, nhưng không phải là mối quan tâm đầu tiên của ông. Đó không phải là động lực duy nhất mà là một trong những động lực, và cũng không phải là động lực quan trọng nhất. Những động lực quan trọng nhất- chúng ta phải nhắc lại những động lực ấy - là tham vọng, lòng tự hào, tính hiếu kỳ khoa học, tinh thần mạo hiểm, sự say mê với điều chưa biết và cảm giác thần bí rằng mình được chọn cho một sứ mệnh thiêng liêng. Động lực cuối cùng này là một phần của thế giới quan bắt nguồn từ Gioachino da Fiore, mà Colombo cũng như nhiều người thuộc dòng tu Francesco cùng thời với ông đã chịu ảnh hưởng một cách có ý thức.
Chắc chắn Colombo tìm vàng, một sự ám ảnh thần bí chiếm lĩnh tâm hồn ông. Điều đó có nghĩa là vàng đối với ông không có nghĩa là một nguồn của cải, một sự tiến triển kinh tế, mà trước hết một công cụ quyền lực đối với Thiên chúa giáo, một phương tiện giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống người Thổ Nhĩ Kỳ và trong việc chinh phục lại Mộ Chúa; thậm chí - tại sao không - đó là phương tiện cần thiết để mở ra thời đại Gioachino thứ ba, thời đại phúc lợi và hoàn thiện chung. Và như vậy người ta có thể coi việc tìm kiếm những vùng đất Ấn Độ là sự tái sinh phục hưng việc tìm kiếm hòn đá triết gia (chế tạo vàng) thời sơ kỳ trung cổ.
Không may thay, trong cuộc hành trình lần thứ hai vàng trở thành một sự ám ảnh độc hại đối với viên Đô đốc, một nguồn bất công bóc lột nô lệ, tàn phá và chết chóc. Trong chuyến du hành thứ nhất, không xảy ra một điều nào trong những điều này, nhưng trong Nhật ký về cuộc hành trình thứ nhất, Colombo nêu vàng 134 lần, trong khi ông chỉ nói có 36 lần về hương liệu, bằng những lời lẽ chung chung hay cụ thể. Như vậy bắt đầu với cuộc du hành thứ nhất, động lực hàng đầu là tìm một tuyến đường mới tới những vùng đất Ấn Độ đã thay đổi và chuyển một cách quyết định từ hương liệu sang vàng. Công cuộc này trở nên sôi động và bồng bột trong suốt cuộc hành trình thứ hai, nhưng từ cuộc hành trình thứ nhất người ta có thể thấy rằng sự chuyển từ hương Ịiệu sang vàng là sự thay đổi cơ bản và quyết định. Từ cây nhũ hương ở Chio đến những thùng vàng; người ta có thể tóm tắt việc chuyển từ mục tiêu này sang mục tiêu khác trong tâm trí của Colombo như vậy.
Nếu chúng ta muốn thấy mặt trái tấm mề đay
của cuộc phát kiến vĩ đại này và chú tâm đến những hậu quả kinh tế của việc chuyển từ hương liệu sang vàng, chúng ta phải lưu ý rằng không phải ngẫu nhiên mà một người Genova lại là người đóng vai chính trong những sự kiện này. Trong thế kỷ XV cũng như trong những thế kỷ sau, người Genova trở nên giàu có từ việc buôn bán trên biển của họ, không có cơ hội đầu tư vào nông nghiệp - cũng như những người Venezia - vì ở Liguria hiếm đất, và như vậy họ đã đầu tư vào những lâu đài, những bức họa, và những đồ quý giá có thể góp nhặt được, nhất là vàng. Họ phủ đồ đạc của họ và trần nhà của họ bằng vàng lá; họ chứa đầy những căn buồng của họ những đồ vật bằng vàng và những két của họ bằng những đồng tiền vàng. Nhằm làm cho vàng có tác dụng đối với họ, họ cho vay, trở thành những chủ nợ và do đó họ bị căm thù (hơn là được yêu) bởi những nhà doanh nghiệp, những đại gia tộc, những vua chúa, và những người có thế lực ở gần như khắp nơi của thế giới Công giáo.




0
22. ĐẮM TÀU
 
Đêm Giáng sinh, chiếc Santa Maria chuyển hướng dọc theo bờ biển đông bắc Haïti, đi ngược gió xích đạo đến từ hướng đông. Chiếc tàu Đô đốc tiến từ từ cho tới khi nó cách xa mũi đất ngày nay gọi là Punta Picoulet, phía tây-bắc Cap- Haïti
Mười một giờ. Người phục vụ trên tàu mở chiếc đồng hồ cát. Một người lái tàu mới nhận bàn giao nhiệm vụ. Viên Đô đôc đi vào phòng mình tụng kinh và ngủ. "Đã hai ngày một đêm ông ta không ngủ". Viên Đô đốc vừa đi khỏi xuống phía dưới thì những người trên boong tàu - những người gác và những người phục vụ - cũng nằm dài ra ngủ.
Juan de la Cosa, nhân viên tổ trực trên tàu đã chỉ cho người lái tàu hướng đi dễ dàng: theo chiếc Nina, buồm của chiếc tàu này căng gió và được ánh trăng mờ nhạt thấp dưới chân trời chiếu sáng. Biển lặng, nước trong, như "một chiếc bát yên tĩnh" Juan de la Cosa bảo người lái tàu gọi anh ta, nếu gió hay thời tiết thay đổi, hoặc có điều gì xảy ra, rồi anh ta cũng đi xuống. Người lái tàu cũng mệt lử và lay người phục vụ dậy; nhiệm vụ của người này chỉ là trông nom chiếc đồng hồ cát. Người lái tàu trao bánh lái cho người phục vụ, mặc dù Colombo đã có lệnh nghiêm cấm việc đó, rồi anh ta cũng nằm xoài ra ngủ. Thế là số phận của chiếc tàu Đô đốc nằm trong tay một người phục vụ, người duy nhất còn thức.
Mặt trăng quá thấp nên không thể thấy bọt trắng nơi mà đợt sóng dài đập vào vách san hô. Dù sao, người phục vụ đứng ở phần cuối tàu đã làm tất cả mọi điều có thể làm để điều khiển bánh lái, nhưng không nhìn thấy vách san hô. Dòng nước biển đưa chiếc tàu đến một trong những chỗ nông và gầm thét to đến mức cách xa cũng có thể nghe thấy nhưng chiếc tàu đã vượt qua vách san hô một cách lặng lẽ, người phục vụ không cảm thấy gì cả. Ông chỉ kêu lên khi cảm thấy bánh lái kẹt lại và nghe đánh ầm một tiếng. Colombo là người đầu tiên có mặt trên sân lái của tàu. Juan de la Cosa và những người khác cũng lên với ông. Tình hình thật rõ ràng. Chiếc Santa Maria đã đâm mũi vào vỉa san hô. Vì đuôi tàu hút nhiều nước hơn mũi tàu, để giữ cho chiếc tàu nổi phải ném neo ra quá vách san hô, đặt cáp qua tời lớn tại mũi tàu và kéo lùi tàu ra, đuôi tàu ra trước. Đó là những lệnh của Colombo cho Juan de la Cosa; đưa chiếc thuyền đi song song với con tàu (chiếc thuyền vẫn được kéo theo sau con tàu), cất neo và cáp lên và vượt qua vách san hô tìm một độ sâu để neo. Juan de la Cosa không làm như thế, ông ta lên chiếc thuyền rồi đi thẳng tới chiếc Nina. Người ta cho rằng hình như ông ta hoảng hốt vì chiếc Santa Maria là tài sản của ông ta. Vicente Yanez Pinzón trên chiếc Nina đã làm một việc đúng, không cho người này lên tàu và cử một số thuyền và thủy thủy đến giúp đỡ Đô đốc. Nhưng quá muộn. Đuôi tàu đã đổi hướng, chiếc tàu nằm chéo trên biển; một đợt sóng lại nâng chiếc tàu lên, hay nhấn nó xuống một cách nặng nề trên vỉa san hô. San hô, hơn hết mọi loại đá khác, chọc thủng lỗ trên thân tàu bằng gỗ.
Để làm nhẹ bớt chiếc tàu, viên Đô đốc đã cho dỡ cột buồm chính, nhưng chưa đủ. Nước thủy triều đang xuống và chiếc tàu "không nằm được yên; nó bập bềnh một cách nặng nề, những đường gán toác ra, và nước vào đầy từ phía dưới". Như vậy đã xảy ra một vụ đắm tàu châu Âu lần đầu tiên mà người ta biết ở châu Mỹ, gần Cap- Haïti ngày nay. Ngày Giáng sinh đã qua đi trong việc cứu hàng hóa của chiếc Santa Maria và chuyển viên Đô đốc và đoàn thủy thủ sang chiếc Nina. Dân đảo Guacanagari đã giúp những người Tây Ban Nha nhiệt tình và với lòng trung thực tuyệt đối. Kết thúc những hoạt động cấp cứu, Colombo đã ghi trong Nhật ký rằng họ không bỏ mất một tí gì cả.
Sau vụ đắm tàu thì sự kiện quan trọng nhất trong cuộc phát kiến vĩ đại là việc thiết lập thuộc địa La Navidad, thuộc địa đầu tiên của châu Âu tại Mỹ. Quyết định nhanh chóng, nó không thể giải thích được nếu Colombo không nghĩ đến việc ấy trước khi tàu bị hỏng. Hai dòng trong Nhật ký đã nói rõ rằng, không những ông đã nghĩ về thuộc địa đó, mà ông còn nói về việc lập một thuộc địa trước đó: "Tuy nhiên, một điều hoàn toàn có thực là nhiều người của tôi đã xin tôi và nhờ người khác xin hộ để họ được ở lại nơi này.
Ba mươi chín người ở lại, trong đó có Diego de Arana, sĩ quan lễ tân của đoàn tàu và là anh em họ của Beatrice de Arana, người yêu của Colombo ở Córdoba: Pedro Gutierrez, người phụ trách trang phục của nhà vua; và. Rodrigo d’ Escobedo, người thư ký.
Đối với ba người này, viên Đô đốc chuyển giao cho quyền lực mà Vua phong Hoàng hậu đã ban cho ông. Ông phong cho Diego de Arana làm Tổng chỉ huy. Trong số những người ở lại có Luis de Torres, người Do thái đi cải đạo làm nhiệm vụ phiên dịch; hai nhà giải phẫu, Juan và Alfonso; người thợ may Juan de Medina; người thợ đánh vec-ni Diego Pérez; người thợ xàm thuyền Lope; người thợ mộc của chiếc tàu Nina, Alonso Morales; người thợ đóng và chữa thùng Domingo Vizcaino; người thủy thủ Genova Jácome el Rico, và người quê ở Calabria Anton Calabres. Còn có một người
phụ trách súng trên tàu, Colombo để lại cùng một số người Lombardi và ra lệnh xây dựng một tháp, một pháo đài và một đường hào, một viên quản lý neo buồm chịu trách nhiệm một chiếc thuyền được để lại nhầm khảo sát bờ biển, phát hiện mỏ vàng, và thành lập một thuộc địa mới ở một địa điểm tốt hơn; vì thuộc địa hiện tại chỉ là tạm thời.
 Địa điểm chính xác của La Navidad chưa được xác minh. Chúng ta biết rằng nó ở một nơi nào đó trong vùng kéo dài khoảng bốn dặm dọc theo bờ biển và hai vùng trong đất liền. Trong phạm vi hình chữ nhật này ngày nay là một làng nhỏ Bord-de-Mer de Limonade, một nhà thờ, nhiều nhà nhỏ và một số thuyền nhỏ của ngư dân Haïti; đó là một khoang biển có đáy là cát, nối với biển bằng một dải đầm lầy với rừng nước ngập mặn.
Một lý do khác khiến cho khó xác vminh địa điểm chính xác của thuộc địa là đường bờ biển từ năm 1492 đến nay đã thay đổi. Đồng bằng, đất bồi đã mở rộng ra biển, và hướng nước chảy xuống từ những ngọn núi đã thay đổi; người Pháp đã đưa nước của con sông Lớn chảy về chi nhánh cực tây của chỗ hợp lưu hồi đó. Ngày nay, con sông Lớn chảy theo một đường thẳng từ Nam tới Bắc, hai bên người Pháp trồng hai hàng cây cao để đánh dấu rõ hướng mới của con sông. Về phía đông hai con kênh vẫn gần biển, những di tích của hai chi nhánh khác của con sông trước thời gian người Pháp đổi dòng. Gần một trong những dòng nước này mà trong thời Colombo có lẽ là nhánh sông chính, nổi lên làng của người Guacanagari. Như vậy, La Navidad ở vào khoảng một nửa dặm phía Đông của con kênh hiện nay thuộc sông Lớn và khoảng một dặm về phía Tây-nam của bãi biển hiện nay mang tên Bord-de-Mer de Limonade, gần bờ phải của một trong những con kênh ở phía Đông.
Người Tây Ban Nha là những chuyên gia xây dựng thành phố, thường họ không định cư trên đồng bằng đất bồi và một điều hoàn toàn họp lô-gích là Colombo đã nghĩ tới những nơi khác để lập thuộc địa vĩnh viễn. Điều này được nêu rõ trong Nhật ký. Ngày 31 tháng 12 Colombo chỉ rõ ý định của ông đi thuyền suốt dọc bờ biển Haïti "để tìm nơi tốt nhất thiết lập một trạm, tại đó người ta có thể nhập khẩu súc vật và những mặt hàng khác". Ngày 2 tháng Giêng. Colombo hy vọng rằng trên đường trở về "họ có thế chỉ cho ông nơi tốt nhất để thành lập một thành phố, vì nơi ông
đang rời đi này không thuận tiện .
Colombo để lại cho ba mươi chín người định cư một số lớn hàng hóa, tất cả những hàng hóa Vua và Hoàng hậu đã cho phép buôn bán, như vậy hàng hóa ấy có thể trao đổi lấy vàng; những người ở lại định cư còn được tất cả mọi thứ trên chiếc tàu Santa Maria: cung cấp lương khô (1) trong một năm, rượu và nhiều súng đạn. Là người rất sắc sảo và nhìn xa trông rộng, Colombo cảm thấy yên tâm. Ngày 4 tháng Giêng, khi ông đi xuống kênh Limonade về phía hiển khơi, ông đã trông thấy pháo đài La Navidad, từ sân lái của chiếc tàu Nina lần cuối cùng và không hình dung nổi số phận thuộc địa đầu tiên của người Âu tại những vùng đất mới tìm thấy sẽ buồn như thế nào.
Chú thích:
[1] Thức ăn cổ truyền của thủy thủ cho tới thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX (T.G).




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.08.2021 12:34:40 bởi Ct.Ly>
23. TÌM ĐƯỢC CON ĐƯỜNG TRỞ VỀ
 
 
Sau khi rời đảo Hispaniola, Colombo muốn thăm một đảo khác trước khi hướng tới Đại Tây Dương, đảo Cariba, hay đảo Phụ Nữ. Ngày thứ tư, 16 tháng Giêng, ông thay đổi ý kiến, quyết định bắt đầu vượt Đại Tây Dương trở về nước. "Ông quay mũi tàu về phía Tây Ban Nha, hướng Đông Bắc về phía Đông". Nhật ký ghi như vậy. Mục tiêu là đi về phía Bắc của vùng gió xích đạo. Ông nhận ra rằng ông đã rời gió xích đạo vào khoảng ngày 23 tháng Giêng, vì ông viết trong Nhật ký- "Tối nay gió chuyển hướng nhiều". Từ điểm đó trở đi tàu đi xuôi gió, luôn luôn đi về hướng Đông và Bắc. Ngày 25 tháng Giêng họ ở 60° Tây, ngày 1 tháng 2 họ ở 55° và ngày 3 tháng 2 ở 50°. Tại điểm này "đối với viên Đô đốc hình như ngôi sao Bắc Đẩu cao như ở Capo San Vincenzo ở Bồ Đào Nha, "một sự quan sát rất gần thực tế, và đặc biệt khi nhìn bằng mắt trần. Colombo lúc đó ở 35° Bắc, trong khi Capo San Vincenzo ở 37° Bắc.
Từ lúc đó, Colombo không còn điều gì nghi ngờ nữa. Ông biết rằng điểm cực Tây của quần đảo Azzorre, nơi ông đã tới trước khi tiến hành ý đồ lớn của mình, ở trên cùng vĩ tuyến với Capo San Vincenzo và những đảo khác nằm ở phía Bắc một chút, như vậy ông đi về hướng Đông. Ngày 10 tháng 2 - hai chiếc tàu ở 31° Bắc. Colombo có muốn ghé lên quần đảo Azzorre hay không? Ngày hôm sau Colombo ở phía Nam đảo Fayal và Pico. Cho đến ngày ấy, ông đặc biệt may mắn. Ngày 22 tháng Giêng biển lặng đến nỗi "những người Anh-điêng nhảy xuống biển để bơi". Ngày tiếp theo biển luôn luôn phẳng lặng như một con sông, "cảm ơn Chúa vô cùng". Ngày 1 tháng 2 ông ghi "Cảm Ơn Chúa, biển luôn luôn cực kỳ tĩnh lặng"; ngày tiếp theo biển rất yên gió, cảm ơn Chúa, và nhiệt độ rất dễ chịu"; ngày tiếp theo, "biển rất lặng gió".
Ngày 12 tháng 2 biển bắt đầu nổi sóng. Colombo nhận thấy không khí của cơn bão sẽ bùng lên trong hai ngày sắp tới. Đêm đó "chớp lóe lên ba lần ở phía Đông Bắc", dấu hiệu của một trận bão lớn sẽ đến từ hướng đó hay từ hướng đối diện, ở thời điểm này trước  một trận bão, những tính toán và suy luận không còn hiệu lực nữa. Những lực lượng không thể hiểu được, hoặc không theo khuôn mẫu nào, đã tác động, đó là những lực lượng của tự nhiên. Trận bão nổ ra lần này là một trong những con bão tồi tệ nhất người ta có thể gặp trên Đại Tây Dương.
Chúng ta không có tài liệu, không có sự đề cập nào của Colombo hay của những nhà biên niên sử cùng thời nói đến những trận bão trước đó. Chắc chắn Colombo đã thấy nhiều trận bão ở Địa Trung Hải và Đại Tây Dương trong kinh nghiêm lâu năm về đi biển trước cuộc hành trình phát kiến lần này. Chúng ta biết trong tình huống khẩn cấp này, Colombo đã hành động một cách bình tĩnh và khéo léo. Trước hết, ông ra lệnh giữ buồm đi bão với buồm ngọn trước gió và bánh lái đặt đối diện với buồm ngọn. Ông chọn cách làm này khi gió và biển đã mạnh đến mức không còn giữ được những cánh buồm thông thường và không duy trì được hướng đi mà không gây nguy hiểm. Giữ buồm đi bảo có nghĩa là để cho chiếc tàu gần như đi ngược gió và chỉ giữ đủ buồm để cản chút ít lực của gió đối với buồm và thân tàu, chỉ làm cho tàu trôi ngang một ít sang một bên, chứ hầu như không tiến lên chút nào. Sự trôi dạt này tạo ra một luồng nước bảo vệ, sóng sẽ đập vào đó trước khi tới tàu.
Chiếc Nina tiếp tục trôi và tránh gió. Nhưng sức mạnh của gió tăng thêm và tốc độ tạt ngang của sóng biển trở nên đáng sợ hơn. Cho nên lúc đó viên Đô đốc chỉ giữ buồm ngọn rất thấp để cho chiếc tàu nhô lên trên sóng, sóng đập vỡ vào nhau mà không làm chìm tàu. Colombo nhận thấy giữ buồm đi bão, ông đã liều lĩnh cho nước vào đầy tàu Nina, vì thành tàu rất thấp. Ông quyết định lướt theo gió và ra lệnh cho người lái tàu hướng phần đuôi tàu theo hướng cơn bão, để mặc gió đưa con tàu đi. Con tàu lướt đi trước  gió, phải giữ một chút buồm để điều khiển và hướng sóng về đuôi, hoặc hông tàu, đồng thời giảm bớt tác động của gió càng nhiều càng tốt. Thiết kế của chiếc tàu rất hợp với sự điều khiển đó. Chiếc tàu không thể tồn tại lâu với chiếc buồm đi bão, nhưng nó có khả năng chịu đựng biển cả bằng cách lướt nhanh trước gió, nhờ đuôi tàu cao hơn nên có tác dụng bảo vệ.
Martin Alonso Pinzón, như một thủy thủ giỏi, Cũng lướt trước gió. Hai chiếc tàu không có phương tiện nào khác để thoát khỏi trận bão và bão lần nữa lại tách chúng ta. Lúc này Pinzón chắc chắn không muốn tách rời nhau bằng bất cứ giá nào. Ở sát bên nhau trong hoàn cảnh khó khăn khủng khiếp này thì rất tiện cho ông cũng như cho Colombo. Sự dữ tợn của cơn bão đã tách xa hai con tàu và không có dấu hiệu giảm bớt. Thay vào đó, mặc dù thiết kế của chiếc tàu và nghệ thuật đi biển của thời đại cho phép có những biện pháp đối phó hữu hiệu, sự nguy hiểm vẩn nghiêm trọng. Sự nguy hiểm tăng lên vì thiếu vật nặng làm đằm chiếc tàu; sự tiêu thụ thức ăn, nước uống và rượu đã giảm bớt trọng lượng của nó. Trước đó viên Đô đốc đã không chuẩn bị trọng tải dằn cho tàu, vì thời tiết tại các đảo luôn luôn lý tưởng, và theo kế hoạch ông sẽ lấy đồ dằn trên đảo Phụ Nữ. Nhưng ông không đến đó và đã vượt biển không có đồ dằn. Bây giờ cách bổ cứu là đổ đầy những thùng không có rượu và nước ngọt bằng nước biển, càng sớm càng tốt, và bằng cách đó vấn đề được bổ cứu (Nhậi ký, ngày 14 tháng 2).
Không còn gì để làm thêm bằng sức người nữa, Colombo và thủy thủ quay sang nhờ sự phù hộ của sức mạnh siêu nhiên. Họ đã rút thăm để xem ai sẽ đi hành hương tới đền thờ Santa Maria thuộc Guadalupe, ai sẽ đi đến Santa Maria thuộc Loreto, trong cuộc đi tới thành phố Ancona trong vùng đất thuộc đức Giáo Hoàng và ai sẽ thức đêm cầu nguyện tại nhà thờ Santa Clara thuộc Moguer. "Rồi viên Đô đốc và tất cả thuộc hạ thề trong chuyến đổ bộ đầu tiên, họ sẽ đi rước để cầu nguyện tại một nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh".
Colombo không sợ chết nhưng sợ mất cái danh tiếng đã làm cuộc phát kiến vĩ đại. "Vì thời gian không có nhiều, tôi đã viết tóm tắt trên một miếng da cừu, việc đi tìm ra nhưng vùng đất mà tôi đã hứa đi tìm như thế nào, hết bao nhiêu ngày và đường đi đến những vùng đất ấy, giá trị của những nước đã gặp, bản chất cư dân và họ đã biến thành bầy tôi của Bệ Hạ như thế nào". Miếng da lừa được quấn chặt gói trong vải có sáp, đặt trong một bánh sáp, để vào một thùng lớn, gắn kín và vứt xuống biển. Thủy thủ tin rằng đó là một nghi lễ tôn giáo và vì thế họ không sợ nữa.
Một thùng khác cũng đựng một miếng da cừu được buộc vào đỉnh của đuôi tàu, chiếc thùng ấy sẽ luôn nổi trên sóng, mặc cho số phận dun dủi nếu chiếc tàu bị đắm. Chiếc thùng này còn lại với tàu Nina. Chiếc thùng kia trao cho biển cả, không ai lấy lại được. Ngay cả trong trường hộp chiếc Nina đã bị chìm với viên Đô đốc. Vicente Yánez Pinzón, và những thủy thủ khác, vẫn còn chiếc Pinta của Martin Alonso Pinzón để mang tin lớn về châu Âu. Nhưng khi viết bản tường trình, Colombo đã biểu lộ lòng tin mà chúng ta đã quen thuộc: ông, và chỉ một mình ông, đã được chúa Thánh Thần chọn trước  để hoàn thành sự nghiệp vĩ đại này. Ông đã viết bản tường trình để báo được tin thắng lợi vĩ đại của ông với Vua, Hoàng hậu và thế giới, mặc dù ông có chết.
Nhưng ông đã không chết. Sau khi mặt trời lặn vào ngày 14 tháng 2 "bầu trời bắt đầu sáng về phía Tây". Vào lúc mặt trời mọc ngày hôm sau, họ đã nhìn thấy đất liền. Một số thủy thủ cho rằng đó là quần đảo Medera, số khác tin rằng đó là hòn Sintra, gần Lisbon. Colombo chắc chắn rằng ông ở gần đảo Azzorre. Ông không nghi ngờ gì về vấn đề này, ông chỉ không biết đó là đảo nào thôi. Họ trông thấy một hòn đảo khác ở phía tây bắc, trong khi họ đi vòng quanh đảo thứ nhất để đổi hướng tàu theo hướng gió. Hóa ra đó là đảo Santa Maria, còn đảo mà người ta nhìn thấy là đảo San Michele. Colombo cũng bị rắc rối với người Bồ Đào Nha trên đảo Santa Maria, và điều đó biện hộ giả thuyết cho rằng ông luôn luôn nghi kỵ và ông đã định tránh quần đảo Azzorre, ông chỉ đổ bộ lên đảo ấy vì cơn bão.
Viên thuyền trưởng thống đốc của đảo này đã rất kính trọng mời Colombo lên bờ, nhưng viên Đô đốc không chịu rơi vào bẫy và không rời khỏi boong chiếc tàu Nina. Mười người trong đoàn thủy thủ đã đổ bộ lên để thực hiện một trong những lời thề trong trận bão. Người Bồ Đào Nha đã cầm tù họ và chỉ thả họ khi họ nhận thấy viên Đô đốc tiếp tục đi về Tây Ban Nha và tố cáo việc lộng quyền của họ.
Ngày chủ nhật, 24 tháng 2, Colombo tiếp tục hành trình về nước. Trong ba ngày, chiếc tàu buồm, nay còn lại một mình, đã đi nhanh về hướng Đông trên biển cả lặng gió. Ngày 27 tháng 2 họ gặp khó khăn vì ngược gió và sóng biển dâng cao. Tình hình này còn tiếp tục ngày hôm sau nữa, nhưng đến ngày 1 tháng 3 thì đã lặng xuống. Vào lúc mặt trời lặn ngày chủ nhật, 3 tháng 3, khi đã có "dấu hiệu chỉ rõ đã gần đất liền, họ đã tới gần Lisbon", nhưng một trận bão khác lại nổi lên, mạnh và bất ngờ, "cơn bão đã xé rách tất cả những cánh buồm". Trong đêm, cơn bão càng hung hãn, có lẽ tồi tệ hơn cơn bão trước . Biển cả sực sôi dữ dội, gió thổi từ mọi hướng, tưởng như sẽ tung chiếc tàu lên trời, trong khi đó mưa đổ xuống như thác và chớp lóe lên mọi phía. Một lần nữa họ lại tìm sự giúp đỡ của thần thánh, kết quả là viên Đô đốc làm một cuộc hành hương mới và thủy thủ lại thề ăn chay bánh mì với nước. Cuối cùng trong canh một, đất liền xuất hiện.
Đó là Rock Sintra, ở cửa sông Tagos. Colombo muốn dừng lại ở cửa sông tại Cascais, nhưng cơn bão dữ dội đã buộc ông đi vào sông. Người trên bờ đã để cả buổi sáng cầu nguyện cho các thủy thủ trong chiếc tàu gặp nguy hiểm. Khi chiếc tàu đã an toàn vào sông Tagos, mọi người đã xuống tàu "để thăm họ và bày tỏ sự kinh ngạc hết sức về việc là họ đã tự cứu mình khỏi tình huống có vẻ chắc chắn là chết". Thế là kết thúc cuộc vượt biển trở về, nó gây ấn tượng mạnh mẽ hơn hành trình lượt đi và cũng không kém phần quan trọng, vì qua những sai lầm, những sự gần đúng, những thí nghiệm, và những cơn bão, Colombo đã thiết lập được con đường trở về châu Âu từ châu Mỹ.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.08.2021 14:37:59 bởi Ct.Ly>
24. SỰ CHẾ NHẠO VÀ THẮNG LỢI
 
 
Ngày 8-3-1493 Vua Giovanni II của Bồ Đào Nha đã đón tiếp Colombo. Tám năm trước Nhà Vua này đã bác bỏ đề nghị đi đến những vùng đất Ấn Độ bằng cách đi tàu biển về phía Tây. Không biết Nhà Vua và nhà Phát kiến nói gì trong những cuộc hội thoại ngày 9 và 10 tháng 3, nhưng có thể dễ dàng tưởng tượng ra nội dung của chúng. Nhà Vua quan tâm muốn biết có phải những vùng Đất Mới rộng lớn đã thực sự được phát kiến, như ông đã hy vọng, hay chỉ là một quần đảo xa xôi nào đó ngoài Đại Tây Dương như quần đảo Azzorre chẳng hạn. Colombo đã làm biến hết mọi nghi ngờ bằng cách cho Nhà Vua xem một bàn vẽ phác quần đảo Bahamas, đảo Hispaniola và đảo Cuba. Ông nói rằng đảo Cuba "rộng đến nỗi không biết đó là một hòn đảo hay một lục địa". Hai người Anh-điêng đã cho chứng cớ riêng, định vị trí hòn đảo trên bàn bằng những hột đậu lớn và nhỏ. Không còn nghi ngờ gì nữa chỉ còn hy vọng là những vùng này là ở miền Nam, trong vùng mà Tây Ban Nha đã có qui ước dành cho Bồ Đào Nha. Không, Colombo nói dối, như ông đã nói dối trong Nhật ký, những vùng ấy đất ở 42° độ vĩ Bắc, thuộc kinh tuyến Galizia của Tây Ban Nha.
Không còn làm gì được nữa. Thành công của người Genova là không thể tranh giành được, cũng không thể phủ nhận. Hoàng thái hậu, đang ở tu viện Thánh Antonio, muốn gặp ông. Ngày 11 tháng 3, Colombo đã đến tu viện đó và đưa những người Anh-điêng đến trình diện Thái hậu, Công tước Emanuele, anh của Vua và Hầu tước Villa Real. Có tin nói rằng vua Giovanni II đã vỗ vào ngực mình và kêu lên: "Ôi kém khôn ngoan! Tại sao ta đã không thực hiện một sự nghiệp quan trọng như thế?". Ông cảm thấy bị nhục và bàng hoàng. Mỉa mai của lịch sử đã làm nhục không chỉ một mình ông, mà cả dân tộc ông. Vài năm sau, Cabral sửa lại tình hình này, chiếm được Brazin, nhưng cơ hội đã mất vẫn ám ảnh cuộc sống của dân tộc đáng kính này trong nhiều thế kỷ.
Sáng sớm ngày thứ sáu, 15 tháng 3 năm 1493, chiếc tàu Nina đã vượt qua bờ các cửa sông Saltes và đến trưa tàu đi vào cảng Palos. Khi những cư dân Palos trông thấy chiếc tàu đã ra đi bảy tháng trước trong một cuộc vượt biển mà hầu hết mọi người nghĩ rằng không có ngày về, họ chạy xuống cầu tàu để gặp các thủy thủ, ôm chầm lấy những người thân, chào mừng họ, và hỏi tin tức về sự nghiệp kỳ diệu.
Công việc ngừng lại, cửa hàng đóng cửa, chuông rung lên liền hồi. Mọi người đi cùng với viên Đô đốc và thủy thủ tới nhà thờ chính và hát lên bài thánh ca Te Deum.
Để tăng hơn thêm sự phấn khởi chung, có tin rằng một chiếc tàu nữa đang vào cảng, chiếc Pinta của Martin Alonso Pinzón. Trong buổi chiều cùng ngày, ông ta đã từ Baiona(1) trên bờ biển Tây bắc Tây Ban Nha đến, sau khi hoàn thành cuộc vượt Đại Tây Dương. Điều gì đã xẩy ra lúc này giữa viên Đô đốc và Pinzón thì khó xác minh. Chúng ta chỉ có thể chắc chắn về hai việc: Ngay khi ông tới Baiona, Pinzón đã gửi một thông điệp đến Nhà Vua Thiên chúa giáo. Và vài ngày sau khi đến Palos ông đã chết không ai biết rõ vì bệnh gì. Với hai việc này, các nhà sử học đã tường tượng ra nhiều giải thích trái ngược nhau. Tuy nhiên, chắc chắn rằng Pinzón đã ốm nặng và chết trước khi ông có thể tham gia vào thắng lợi ở Barcellona - và có thể cả lễ mừng tại Palos ông cũng không
tham gia. Đó là sự kết thúc đau buồn và không xứng đáng nhất, vì ông đã đóng góp một cách quyết định vào việc tổ chức cuộc hành trình và đã chứng tỏ một cách không thể chối cãi rằng mình là một chuyên gia và một thủy thủ dũng cảm.
Colombo lưu lại ít nhất một tuần lễ tại La Rábida. Từ đó ông đi Seviglia. Tại đây, ngày lễ Phục sinh, 7 tháng 4, hay vào ngày thứ hai sau đó, ông đã nhận được thư của Vua và Hoàng Hậu. Bức thư mở đầu như sau: "Kính gửi Ngài Cristóbal Colón, Đô đốc của Đạị dương, Phó vương và Thông đốc những đảo Ấn Độ mà ông đã phát kiến", và kết thúc bằng chữ ký: "Tôi, Vua" và "Tôi, Hoàng hậu". Sau đó, ông lập tức được ban những chúc tước, thậm chí ông đã không phải đợi cho đến khi ông đưa ra những chứng cớ về phát kiến của mình: những người Anh-điêng, những con vẹt và những chiếc mặt nạ bằng vàng.
Ông lại khởi hành, đi từ Seviglia tới Córdoba và Valencia. Viên Đô đốc không bỏ qua một điều gì để làm cho việc ông vào Barcellona gây ấn tượng cho nhà vua, các triều thân và nhân dân. Những người Anh-điêng giảm xuống còn sáu - một người đã chết trong cuộc hành trình và ba người bị ốm - nhưng sáu người này gây ấn tượng sâu sắc, thân thể họ mang hình vẽ và trang điểm bằng những đồ trang sức nhỏ bằng vàng. Những thủy thủ Tây Ban Nha mang về những con vẹt, những động vật khác, cây cối và những thứ kỳ lạ thu thập tại những vùng Đất Mới. Viên Đô đốc đi sau cùng đám rước ngoạn mục và sinh động ấy.
Ferdinando và Isabella tiếp nhà phát kiến trong cung điện nhà vua, những nhà quý tộc và các quan chức cấp cao của Triều đình vây quanh. Colombo quỳ gối và xin hôn tay Vua và Hoàng hậu. Vua và Hoàng hậu đứng dậy, chìa bàn tay ra và mời Colombo kể chuyện về cuộc hành trình và những phát kiến của ông. Ngồi trước mặt vua là một dấu hiệu được tri ân đặc biệt. Colombo cảm động đến chảy nước mắt, giọng nói của ông rõ ràng và giòn giã, nhưng để lộ cảm xúc của ông.
Ông nói dài, đưa ra những đồ trang sức bằng vàng, những đồ vật thu thập được, những người Anh-điêng, ca ngợi sự vĩ đại và vẻ đẹp của những nước ông đã thăm. Vua và Hoàng hậu chỉ có thể có được một khái niệm mờ nhạt về của cải ở những nước này qua những thứ bày trước mắt họ. Colombo nói rằng ông chắc chắn có thể chở về Tây Ban Nha những kho Vàng thần kỳ, những đá quý và hương liệu, nếu ông có được phương tiện đầy đủ hơn cho một cuộc viễn chinh thứ hai. Ferdinando và Isabella, các triều thần đi đến nhà thờ nhỏ trong cung điện và cất tiếng hát bài thánh ca cám ơn Chúa, bài thánh ca Te Deum. Khi buổi lễ kết thúc, nhà Vua đi cùng viên Đô đốc tới một căn phòng lộng lẫy và suốt thời gian viên Đô đốc lưu tại Triều đình, ông được đối xử đặc biệt lịch thiệp và được hưởng mọi sự ưu đãi.
Sau đó Pedro Gonzáles de Mendoza. Hồng y giáo chủ và Tổng giám mục Tây Ban Nha. quen goi là "Vua thứ hai", đã thết cơm Colombo và mời Colombo và mời Colombo ngồi tại ‘‘một vị trí cao quý nhất, gần Giáo chủ, mời ông dùng một dĩa ăn có đậy kín và thức ăn dành cho Colombo được nếm trước để thử chất độc. Đó là lần đầu tiên thức ăn của Colombo được nếm thử trước  và đặt ở trong đĩa đậy kín và từ đó trở đi ông được mời ăn một cách trang trọng và cao quý theo đúng tước vị Đô đốc".
Las Casas kể lại như thế. Và Salvador de Madariaga bình luận: "Nêm thức ăn cho Colombo la thừa nhận cấp bậc của Colombo, vì chỉ có những nhân vật lớn mới có nguy cơ bị đầu độc". Như thế chỉ một sớm một chiều, một người nước ngoài có nguồn gốc khiêm tốn đã trở thành một trong những con người vĩ đại nhất Tây Ban Nha, và tin tức về cuộc phát kiến vĩ đại lan truyền khắp châu Âu.

Chú thích:
[1] Ở Galiza, chớ nhầm với Bayonne thuộc xứ Pháp, ở trong vịnh Biscaglia (T.G).




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.08.2021 20:46:09 bởi Ct.Ly>
25. CHUYẾN DU HÀNH THỨ HAI
 
 
Colombo mất bảy năm để thuyết phục những vị vua theo công giáo và để tổ chức chuyến du hành phát kiến đầu tiên. Colombo mất dưới bày tháng để tổ chức chuyến du hành thứ hai. Đội tàu cho cuộc khảo sát này tập trung tại Cádiz vì cảng Palos quá nhỏ. Có mười bảy chiếc tàu: ba chiếc nao , 12 chiếc tàu có trang bị buồm vuông và hai tàu buồm tam giác. Một số tàu rất nhẹ và có độ chìm nông, thích hợp khi đi ở những vùng có đá ngâm san hô và khi đi ngược dòng sông. Việc đo độ sâu của nước hồi đó cũng chưa tin cậy được. Tàu chỉ huy chiếc Santa Maria mới, biệt hiệu là Maria Galante - to hơn nhiều chiếc tàu bị hư hại tại vịnh Cáp Haïtien trong cuộc du hành đầu tiên. Có lẽ chiếc tàu mới này nặng khoảng hơn hai trăm tấn. Không biết rõ được nhưng các nhà sử học nhất trí cho rằng con số đó khoảng từ 1200 đến 1400 người, kể cả đoàn thủy thủ. Con số 1200 có lẽ đúng hơn. Có cả cha cố và thầy dòng, những người có học và những người không có học, những người sống trên biển và những người sống ở đất liền.
Tuyến đường lại theo hướng Tây-Nam tới quần đảo Canarie. Đoàn tàu mất sáu ngày đêm để tới đảo Grand Carnaria, tại đây đoàn tàu dừng lại một thời gian ngắn trong ngày 2 tháng 10 và nhổ neo vào nửa đêm. Ngày thứ bảy, 5 tháng 10, đoàn tàu đến San Sebastian thuộc Gomera. Tại dây, viên Đô đốc được đón tiếp bằng những phát súng Lombardia lửa hiệu và pháo hoa. Beatrice de Bobadilla đã không quên thần tượng năm trước, có lẽ bà muốn khoe với những nhà quý tộc đã ve vân bà và thi nhau lấy lòng bà, nên bà đã chọn người thuyền trưởng nước ngoài trong khi có ít người tin ông ta. Những nhà biên niên sứ không nói rõ trong thời gian ngắn ngủi lưu lại đây, mối quan hệ cũ có nối lại hay không. Thay vào đó họ nói về những đồ tiếp tế mà viên Đô đốc đưa lên tàu biển: hạt giống cam, chanh, thanh yên, dưa hấu và mọi loại rau. Họ mang lên tàu những con dê, cừu và tám lợn nái, mỗi con giá bảy mươi maravedis... Đây là "những hạt giống", sau này Las Casas viết: "Từ đó sinh ra tất cả những thứ ngày nay người ta thấy ở đây, gốc là từ Castiglia".
  Cuộc vượt biển hết 24 ngày, từ 12 tháng 10 đến 2 tháng 11. Cuộc hành trình chi bị trắc trở bởi một trận bão kéo dài bốn giờ vào ngày 26-10; nếu không có trận bão đó, biển luôn luôn "phẳng lặng như đá cẩm thạch đánh bóng". Gió xích đạo thổi liên tục và mạnh hơn trong cuộc hành trình trước. Trong cuộc hành trình đầu tiên những con tàu giữ vị trí ở giữa 28° và 26° Bắc cho đến khi trông thấy chim bay. mới xuống 24°; lần này đoàn tàu xuống 16° ngay sau khi khởi hành, một vùng gió xích đạo mạnh hơn.
Colombo đã vận dụng kinh nghiệm chuyến du hành đầu tiên, trong đó, như tôi đã nói nhiều lần, ông đã phát kiến ra không những châu Mỹ mà cả những con đường giữa châu Âu và châu Mỹ. Không có gì ngạc nhiên, con đường hoàn thiện trong chuyến đi thứ hai được giữ nguyên qua bốn thế kỷ tiếp theo - thật ra cho đến hôm nay - con đường vẽ trên các bàn đồ hàng hải là tốt và đã chỉ rõ phương hướng cho các nhà hàng hải dùng tàu đi tới bất cứ nơi nào ở những vùng giữa Mỹ và Nam Mỹ, phía Bắc đảo Barbados. Con đường sau khi rời đảo Hierro thì không đi thẳng phía Tây mà đi về phía Tây từ phía Nam..
Những con tàu đang ở 16° Bắc khi phát hiện thấy đất liền, vào buổi bình minh ngày chủ nhật, 3-11. Michele da Cuneo viết: ‘‘Vào ngày chủ nhật chúng tôi đã trông thấy đất liền, năm đảo chưa từng biết’’. Colombo đặt tên đảo thứ nhất có những ngọn núi cao là Dominica, vì người ta trông thấy đảo ấy vào buổi bình minh ngày chủ nhật. Hòn đảo mà họ đổ bộ lên được ông đặt theo tên chiếc tàu chỉ huy Maria Galante (ngày nay tên này viết theo tiếng Pháp là Marie Galante). Ông gọi tên hòn đảo nhỏ nhất mà họ thấy ở phía đông-bắc là Deseada (Mong ước) vì là hòn đảo xa nhất về phía đông, hòn đảo ấy gần Thế giới cũ nhất và do đó các nhà hàng hải đã vượt đại dương và sẽ vượt đại dương mong ước được tới đó.
Những hòn đảo ngày nay gọi là Les Saintes đã được viên Đô đốc đặt tên là Todos los Santos, vào sáng ngày 4 tháng 11, để kỷ niệm ngày lễ các thánh đã được tổ chức ở trên tàu ba ngày trước đó khi còn chưa thấy đất liền. Hòn đảo xinh đẹp nhất ông đặt tên là Santa Maria đi Guadalupe (ngày nay là đảo Guadeloupe), làm đúng lời ông hứa vơi các thầy ở tu viện, nơi ông đã thực hiện lời thề trong cơn bão khủng khiếp ở Đại Tây Dương. Đức Mẹ Đồng trinh Guadalupe là một trong những Nhà thờ Đức Mẹ nổi tiếng linh thiêng nhất ở Tây Ban Nha. Ngày nay có nhiều tu viện trên thế giới tín phụng và nhờ sự tôn kính đó mà lan truyền tại các nước châu Mỹ: Ngay cả trước khi Tòa thánh Mê-hi-cô được xây dựng vào năm 1531, sự lan truyền đó vẫn còn nổi tiếng hơn cả ở Tây Ban Nha, Colombo, một người hết lòng tin vào sự hiển linh của Đức Mẹ Đồng trinh, đã đóng góp vào việc lan truyền đó bằng cách đặt tên cho một trong những hòn đảo đẹp nhất trên thế giới... 
Colombo không tìm thấy một hải cảng nào ở bờ biển phía đông bắc của Dominica. Colombo đã cử một chiếc tàu đi tìm một hải cảng, nhưng khi chiếc tàu ấy hợp lại với đoàn tàu, thì ông đã tìm được một nơi bỏ neo bảo đảm khỏi bị những nguy hiểm của đá san hô tại một vũng tàu đậu trên bờ biển chắn gió của đảo Marie Galante. Tại đó Colombo đã lên bờ với một chiếc cờ của nhà vua, chiếm quyền sở hữu với danh nghĩa Vua và Hoàng hậu, dựng một cây thánh giá và làm lễ Mi-sa, buổi lễ đầu tiên tại châu Mỹ, kể từ buổi lễ trong thời kỳ thực dân Vi-king chiếm cứ đất tại Greenland.
Thiên nhiên trên quần đảo Tiểu Antilles đa dạng đến mức làm cho người ta sửng sốt. Đất đã góp phần vào tính đa dạng này, vì đất trên một số đảo đá vôi và trên một số đảo khác là đá núi lửa. Chế độ mua thay đổi làm cho người ta kinh ngạc cũng góp phần vào đó. Mây do gió xích dạo thổi vào từ Đại Tây Dương, bay trên những núi nham thạch, tỏa ra mát rượi. Lượng mưa từ 80 inh một năm trên những đồng bằng đến 300 inh trên những đỉnh núi cao. Lượng mưa cao tạo ra những cánh rừng có cây cối khổng lồ, những dây leo, những mùa hoa nở bất ngờ và có nhiều màu sắc khác nhau.
Dominica và khối núi lửa ở phía Tây đảo Guadeloupe hiện ra trước mắt Colombo như thế. Đối lập một cách rõ rệt là những đảo đá vôi thấp - đảo La Désirade(1), Les Saintes và nửa phía Đông đảo Guadeloupe -không có những điểm cao và vì vậy gió đưa mưa vào không bị cản, những bụi gai mọc tại những cành quan khô cằn, đôi khi là những thảo nguyên, đá trơ và những vách đá xám, hoặc nâu, rải rác đây đó trong đám xương rồng. Nhìn qua cũng có thế thấy năm sáu bảy đảo chúng tương phản nhau rõ rệt, từ rừng chưa khai phá đến sa mạc. Điều kỳ lạ là những tương phản này không chỉ xảy ra từ đảo này đến đảo khác mà trong phạm vi mấy dặm trên cùng một đảo. Thí dụ, bờ biển đậu tàu thuộc đảo Guadeloupe, dọc theo đó đoàn tàu đã đi vào, buổi sáng ngày 4 tháng 11, thì khô cằn, trong khi cách "ba dặm" trong đất liền các thủy thủ thấy "một vách núi cao, nhọn, từ đó một thác nước khổng lồ đổ xuống", "từ những tàu biển người ta có thể nghe thấy tiếng nước ào ào". Xung quanh đó là một cánh rừng mênh mông làm say mê lòng người. Đỉnh núi cao nhất là La Soufrière, một trong những kỳ quan của quần đão Tiểu Antilles.
 
Colombo không nói nhiều về La Soufrière; ông chỉ khen con thác đẹp. Don Fernando nói rằng ở đó người Tây Ban Nha thấy cây lô hội, cây nhũ hương, cây đàn hương, cây gừng, cây gỗ tràm, một số cây nếm vị và ngửi mùi hình như là quế và nhiều cây bông. Họ cũng trông thấy "diều hâu, chim ác là, quạ, chim bồ câu, chim gáy, gà gô, ngỗng, và chim sơn ca". Một thiên đường của người đi săn! Ngoài ngỗng, giống ngỗng của chúng ta, có nhiều vẹt, có màu khác nhau, xanh lá cây, trắng và đỏ, to như gà trống thông thường và cây bí và những quả trông giống như những quả thông màu xanh nhưng lớn hơn nhiều. Bên trong, ruột giống như dưa hấu. Quả này xuất xứ từ một giống như hoa huệ tây, hoặc cây lô hội. Đó là Don Fernando đang miêu tả quả dứa, một phát kiến khác nữa mà đảo Guadeloupe đã cho người Tây Ban Nha trong thời gian may mắn họ lưu lại đầu tháng 11 - 1493. Don Fernando báo cáo rằng người ta phát hiện cây dứa trồng sau này, có lẽ tốt hơn những cây dứa dại, nhưng ngay cả những cây dứa dại "ngửi và vị ngon hơn" những quả dưa hấu ngon nhất của vùng biển Địa Trung Hải.
Đảo Guadeloupe cũng cho người Tây Ban Nha một điều mới nữa, điều quan trọng nhất; tiếp xúc với những người Caribi, những kẻ ăn thịt người. Về cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa người Công giáo và người Caribi (hay Caniba hoặc Cannibali như Colombo gọi họ ở những lần khác nhau), cần thiết phải thận trọng, vì người ta không thể tránh ấn tượng cho rằng những người đương thời với Colombo không bám sát thực tế. Hình như họ có nói quá và sáng tạo ra những chi tiết, làm cho khó tránh sự nghi ngờ rằng trí tưởng tượng đã chiếm ưu thế.
Colombo lên bờ và thăm một số ngôi nhà không có người ở. Nhiều người Caribi vắng mặt. Họ đã đi lên trên muời chiếc thuyền độc mộc do vua của họ dẫn đầu trong cuộc lùng sục để kiếm nô lệ và tích trữ lại nguồn cung cấp thịt người, theo một phụ nữ Arawak trốn lên tàu kể lại. Một số ít đàn ông và vợ họ, cùng với vợ của những người đàn ông Caribi vắng mặt, đang ẩn náu trong rừng. Trong các ngôi nhà, Colombo thấy nhiều bông, vừa bông đã xe lẫn bông nguyên liệu, ông nhận thấy những khung cửi để dệt bông khác những khung củi dùng ở châu Âu. Ông cũng nhận xét rằng những ngôi nhà ở đây tốt hơn bất cứ những ngôi nhà nào khác mà họ đã trông thấy trong chuyến du hành đầu tiên và trong nhà có tích trữ đầy đủ thức ăn, đồ đạc và vũ khí – nỏ và tên. Ông thấy trong nhà có treo những đầu lâu và những hòm chứa xương người chết. Đó cũng là tất cả những vật mà Colombo thực tế đã trông thấy. Phần còn lại là từ những lời kể lại của «những người Tây Ban Nha khác, hay từ những lời khai của những người Arawak đã trốn.
Las Casas bám sát vào chi tiết cuối cùng này - những đầu lâu ,và những hòm đựng xương - luôn luôn sốt sắng bênh vực người bản xứ. Ông khẳng định rằng đó là những di vật của tổ tiên giữ lại vì lý do tôn giáo, không phải là những thứ còn lại của các bữa tiệc. Điều này có thể đúng với đầu người. Tuy nhiên Pietro Martire lại cho chúng ta một chi tiết khó hòa hợp với một giả thuyết ngoan đạo như thế: "Họ cũng thấy đầu lâu của một thanh niên mới bị giết treo trên một sàn nhà và vẫn còn đẫm máu", một thanh niên rõ ràng không thể là tổ tiên. Dù sao chăng nữa, bất cứ ở đâu có tục ăn thịt người thì việc đó ít nhiều đều có liên hệ đến những nghi lễ ma thuật hay tôn giáo, như vậy giải thích của Las Casas ít nhất cũng đúng sự thật một phần về những đầu người. Nhưng còn những hòm đựng xương; giải thích của Pietro Martire có vẻ đúng sự thực hơn: "Họ rất cẩn thận giữ lại xương cẳng chân và xương cẳng tay để làm đầu mũi tên. Quả thật họ làm những đầu mũi tên bằng xương, vì họ không có sắt".
Sau khi giải quyết vấn đề về đầu người và xương, chúng ta phải xem xét vấn đề quan trọng nhất: Những người Caribi có ăn thịt người hay không? Câu trả lời là có, họ ăn thịt người, và không phải chỉ thình thoảng mới ăn, hoặc coi như một phần của một nghi lễ. Họ ăn để dinh dưỡng. Những bản tường thuật của Bác sĩ Chanca, nhà phẩu thuật của đoàn tàu và Michele da Cuneo là những chứng cớ đầy đủ. Cần kể thêm những chứng cớ hổ trợ của những nhà khảo sát đi theo họ ở quần đảo Tiểu Antilles và trên bờ biển đối diện thuộc đại lục Nam Mỹ.
Sau khi kéo dài việc lưu lại trên đảo Guadeloupe, Colombo nhổ neo đi về phía tây-bắc. Miền bắc đảo Guadeloupe không phải là một vùng biển mở. Sau khi qua hành lang Guadeloupe; người ta đến một hòn đảo, cũng là nham thạch và do đó có cây cỏ bao phủ. Colombo đặt tên cho đảo đó là Santa Maria de Montserrat, theo tên một tu viện gần Barcellona, nổi tiếng hồi đó cũng như hiện nay không những của Tây Ban Nha mà trong khắp thế giới Công giáo. Tên này thích họp, vì hòn đảo nổi lên từ biển cả như một ngọn núi cao. Ngày nay đó là một trong những viên đá quý của quần đảo Tiểu Antilles. Thế kỷ XVII, người Anh đã biến đảo này thành thuộc địa, dân trên đảo da màu đen và biết trồng trọt; rừng vẫn còn nguyên vẹn. Cái tên mà Colombo đặt cho đảo vẫn còn, nhưng rút ngắn lại thành Montserrat.
Từ đảo Montserrat đến Puerto Rico, một dãy đảo trải ra, tất cả xinh đẹp và rất khác nhau về độ lớn và hình dáng. Những tên mà Colombo đặt cho các đảo này đã thay đổi nhưng vẻ đẹp mê hồn của chúng thì không thay đổi: Redonda, Antigua, Nevis, St.Kristopher, St. Eustatius, Saba, St.Barthelemy, St. Martin, Anguilla, Dog Island,St Croix và cuối cùng là những đảo Virgini tuyệt vời không thể tưởng tượng được. Colombo không dừng lại ở tất cả những đảo đó, ông nóng lòng đi đến đảo La Návidad. Colombo dừng lại một ngày và một đêm trên đảo Puerto Rico, đảo lớn nhất và đẹp nhất trong số những đảo này. Ông không thể cho phép mình bị lôi cuốn bởi những bãi biển, những cánh rừng, những vịnh và những đảo nhỏ của Puerto Rico, hàng nghìn sự quyến rũ làm say mê những nhà du lịch hiện đại.
Đế quốc Tây Ban Nha đầu tiên ở Địa Trung Hải của châu Mỹ có bốn trụ cột lớn: Hispaniola, hay Haïti, Cuba, Giamaica và Puerto Rico. Trong bốn đảo Iớn này, Puerto Rico, đảo gần châu Âu nhất, là đảo nhỏ nhất, nhưng chắc chắn không phải là có ít vẻ đẹp thiên nhiên nhất và ít tài nguyên kinh tế nông nghiệp nhất.
Đó là đảo duy nhất Colombo đã bỏ qua. Tuy vậy, dân cư Puerto Rico không phải là những người Caribi độc ác mà là kẻ thù của những người Caribi, do đó họ là bạn của những người Tây Ban Nha. Đảo của họ không đáng bị Colombo bỏ qua - điều đó là do một trong những trò đùa của ngẫu nhiên thường gặp trong lịch sử. Ngẫu nhiên Colombo đã tìm thấy Puerto Rico vào lúc mà tiếng gọi của La Navidad và hy vọng đi đến mục tiêu ông hằng mong ước là Cataio và Ấn Độ đang thôi thúc ông mạnh mẽ.
Chỉ mất một ngày (19 tháng 11) là đủ để chạy theo bờ biển phía Bắc đảo Puerto Rico. Chiều tối hôm đó Colornbo đi tìm một cái vịnh và đã tìm thấy ở bờ biển phía Tây, vào khoảng giữa Rincón và Rio Grande de Anasco. Đó là một con sông tốt để lấy nước và đủ rộng để thả neo, lại kín gió xích đạo và gió từ hướng Bắc. Đoàn tàu được cung cấp lại nước ngọt và thực phẩm - cá và vật săn bắn - và đã rời Puerto Rico buổi sáng sớm ngày 22 tháng 11 và khi màn đêm buông xuống, đoàn tàu đã thấy đầu phía đông đảo Haïti?
Colombo, Michele da Cuneo, bác sĩ Chanca, Pietro Martire, Don Pernando, La Casas, cũng như Nicolò Scillacio đều không nêu ý nghĩa của các đảo, từ Dominica đến Puerto Rico, trong toàn bộ bức tranh của cuộc phát kiến vĩ đại được phát hiện từ 3 đến 20 tháng 11 năm 1493.
Quần đảo Tiểu Antilles không phải là những đảo sản hô và không bằng phẳng như quần đảo Bahamas. Những đảo đó là phún thạch và thường có núi, một số ngọn núi rất cao. Tất cả các đảo đều có người ở và thường được trồng trọt. Quần đảo Tiểu Antilles khẳng định cho Colombo một thực tế không mấy thú vị là những vùng Đất Mới có những người "xấu", ngoài những người Taino ''tốt" trong cuộc hành trình thứ nhất. Colombo đã lường trước điều đó nhưng chỉ qua những báo cáo. Bây giờ điều đó đã được chứng minh.
 
Quần đảo Tiểu Antilles đã cho các thủy thủ của mười bảy chiếc tàu chiêm ngưỡng cảnh đẹp thiên nhiên có một không hai. Nhưng một trăm hòn đảo của quần đảo Tiểu Antilles đã nói gì với Colombo về mặt địa lý? Đặc biệt những đảo ấy nói gì với ông về địa lý biển, mà về môn này ông là người có giác quan thứ sáu? Nếu cộng một trăm đảo lớn và nhỏ của quần đảo Virgini với những đảo khác mà họ đã đi dọc theo bờ, hoặc trông thấy, từ Dominica đến Puerto Rico, thì có tới 130 hay 140 đảo. Quần đảo này rất khác những quần đảo đã biết trước tại Đại Tây Dương, quần đảo Azzorre, Canarie và Capo Verde. Giờ đây, Colombo nhận ra rằng xung quanh những vùng đất lớn phát hiện trong cuộc hành trình đầu tiên, Cuba và Hispaniola, có một vòng tròn các đảo từ Nam tới Đông-bắc: quần đảo Bahamas từ Bắc đến Đông nam, và quần đảo Tiểu Antilles ở miền Nam.
Một dãy đảo như thế phải là một-dấu hiệu, một tiền đồn của một lục địa gần đấy và Colombo tiếp tục tiếp nhận những dấu hiệu của vùng đất liền và những gợi ý mơ hồ được nhiều người bản xứ mà ông đã đưa lên tàu liên tục nhắc đi nhắc lại. Và những người Caribi hung dữ đã từ đâu đến, nếu không phải từ lục địa? Như vậy, chính cuộc phát kiến nhỏ nhưng quan trọng về quần đảo Tiểu Antilles và Puerto Rico đã giúp khẳng định sai lầm Iớn của Colombo. Ông nghĩ rằng ông đã đến châu Á, rằng ông đi qua vòng tròn các đảo mà ông đã được đọc trong sách của Marco Polo và thế giới công giáo đã biết, là tiền đồn phía Đông của lục địa châu Á.
 
Chú thích:
(1). Tên tiếng Pháp hiện đại của Deseada. (TG)




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.08.2021 10:50:23 bởi Ct.Ly>
26. THẢM KỊCH
 
 
Ngày 28 tháng 11 Colombo đã đến La Navidad và đã thấy tấn thảm kịch mà có lẽ ông đã cảm thấy những ngày trước đó. Ba mươi chín người di cư đến đất nước này đều đã chết, nhà và pháo đài của họ bị đốt cháy. Khó nói tấn thảm kịch đã xẩy ra như thế nào. Bác sĩ Chanca nói rằng "số tin tức ít ỏi được biết từ những người Anh-điêng và những lời giải thích không rõ ràng của họ càng làm cho tâm trí chúng tôi thêm bối rối, đến nổi cho đến tận bây giờ vẫn không thể biết được sự thật về cái chết của những người của chúng ta". "Cho đến tận bây giờ" người ta chưa biết toàn bộ sự thật.
Tuy nhiên một số sự việc đã rõ ràng. Hình như không còn nghi ngờ gì nữa là những lộn xộn ở La Navidad là do chính những người Tây Ban Nha gây ra giữa họ với nhau, về phụ nữ, về vàng và có lẽ về những vấn đề vụn vặt khác nữa, chứ không phải do người Anh-điêng gây ra. Ta phải dùng trí tưởng tượng để tái tạo hoàn cảnh cuộc phiêu lưu thứ nhất của người Âu tại những vùng đất mới được phát kiến. Ba mươi chín người này không phải là những tội nhân và cũng chẳng phải là thánh, thường bị những trận bão ở biển khơi dập vào, quen sống xa gia đình và sự thỏa mãn những khát vọng giới tính của họ bằng những phụ nữ họ gặp tại những hải cảng họ đến. Ở đây họ kiếm được phụ nữ theo sở thích và tất cả đều tự do.
Nhưng cuộc đời sẽ quá dễ dàng nếu sự tôn trọng lẫn nhau và tình yêu tự do gắn liền với nhau; điều đó đã không xảy ra và cũng sẽ chẳng bao giờ xảy ra. Những người Anh-điêng này không phải là những gái mại dâm, chỉ đơn giản là họ có mặt ở đó, nhưng thậm chí nếu họ có là những gái mại dâm đi nữa thì một người đàn ông vẫn có thể yêu một gái mại dâm, như những tường thuật trong lịch sử và thời nay đã chỉ rõ. Nhưng nếu một người đàn ông đòi quyền sở hữu một người đàn bà, chỉ cho riêng mình thì sẽ có sự tranh giành của một người đàn ông khác.
Có được vàng thì khó hơn; thèm khát và đánh nhau để lấy vàng, và ai cũng giấu giấu giếm giếm bí quyết kiếm được vàng. Khi một nhóm tìm được một số vàng, Cuộc tranh giành tất yếu sẽ nổ ra về việc chia vàng. Và khí hậu? Những tháng và những mùa qua đi, nhưng nhiệt độ thì luôn luôn không đổi, độ ẩm luôn luôn cao. Mưa rơi nặng nề, các mùa thay đối, cây cối nở hoa, nhưng khí hậu không chuyển biến. Đã hơn muời tháng mà không có một ngày mùa đông lạnh lẽo, dễ chịu như ở Castiglia, không có một ngày mùa hè khô, nóng, tốt đẹp như ở Andalusia.
 Đặc biệt đáng lưu ý là thực tế mười một người đã chết gần đây, bị giết cuối tháng 9 - 1493, chín tháng sau khi thành lập thuộc địa. Đó là một chỉ dẫn rằng bầu không khí trở nên nặng nề hơn với thời gian và khí hậu chắc chắn ảnb hưởng đến hệ thống thần kinh của người châu Âu. Về bản chất, những người Tây Ban Nha mạnh dạn, khí hậu đã làm tăng thêm những thiếu sót của họ và làm cho họ sa sút tinh thần. Những thủy thủ tốt thích ứng với công việc trên đất liền một cách khó khăn và chỉ khi bị bắt buộc. Ở đây họ không thể bị cưỡng bức, vì những người Anh-diêng ở làng gần đấy thuộc đảo Guacanagari là một nguồn lao động không bao giờ cạn để bóc lột.
Thêm vào đó, người lãnh đạo đám người Tây Ban Nha không thể bắt họ làm bất cứ việc gì và cũng không thể lãnh đạo họ. Diego de Arana không có kinh nghiệm làm người chỉ huy. Colombo đã chọn Diego de Arana, chỉ vì là bà con nên ông tin cậy. Napoléon cũng làm như thế trong nhiều thế kỷ sau. Người thành Genovavi đại nhất(1) và người đảo Corse (2) trong lịch sử là hai người trung thành với gia đình.  Cả hai ưu đãi những người bà con, đặt họ vào các địa vị quyền lực, mới khi họ có thể làm được (ngay cả khi đáng lẽ họ không nên làm). Ta có thể hiểu việc Colombo cử Arana làm quản trị trưởng của đoàn tàu trong chuyến du hành đầu tiên, nhiệm vụ của Arana là giám sát việc cung cấp nước ngọt cho toàn bộ đội tàu, một chức vụ tế nhị, đòi hỏi sự cần mẩn, nhưng không đòi hỏi thiên tài hoặc bản lĩnh. Tuy nhiên, ta không thể hiểu được việc cử ông làm người chỉ huy đảo La Navidad. Arana là người trung thành nhưng ông không khống chế được sự tranh giành của những người dưới quyền, hoặc kiềm chế được lòng tham- và tính dâm đãng của họ trong quan hệ với người Anh-diêng, đã tỏ ra là những người bạn chân chính.
Người ta có thể cảm thấy những người định cư ở đảo La Navidad đã trụy lạc tới mức độ nào trong một đoạn tường thuật ngắn, nhưng mạnh mẻ của Don Fernando và Las Casas: "Vì một trong những người đã chết đã thông báo sai cho Guacanagari về các vấn đề thuộc tín ngưỡng của chúng ta, nói rằng luật lệ của những người Công giáo là vô ích, rằng chính Colombo phải đứng ra bảo vệ tín ngưỡng đó". Không cần mất nhiều công tưởng tượng điều gì đã xảy. ra. Chính vì ông ta đã tự coi mình là bạn của Colombo và những người của Colombo, Guacanagari không thể không cảm thấy bị xúc phạm về thái độ của người Tây Ban Nha, vì qua nhiều tháng thái độ ấy ngày càng trở nên ngạo mạn và tồi tệ hơn. Rõ ràng, Guacanagan đã biểu lộ sự ngạc nhiên, nhận xét rằng loại thái độ đó không xứng với điều mà Colombo đã nói với ông ta về những ý định của họ và những ý định của Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha, chưa nói đến tôn giáo của họ, Chúa Giê-su, và Đức Mẹ đồng trinh. Những câu trả lời là sự khinh miệt đấng tối cao, và lời mỉa mai và sự nhạo báng.
Trong tình hình này, những quan hệ giữa những người Âu châu và những người Anh-diêng nhất định xấu đi. Làm sao có thể phê phán phản ứng đúng đắn của người Anh-điêng? Caonabó từ trên núi xuống để kết thúc thái độ bí ổi đó, giết những người da trắng còn sống sót, đốt làng và pháo đài của họ. Caonabó là một trong hai tù trưởng người Caribi, một người Caribi đảo Haïti đã bỏ thói quen ăn thịt người, nhưng chưa mất lòng dũng cảm và tính hiếu chiến của những người Caribi. Trong sự  kiện này Caonabó là người báo thù, không phải là một mối thù truyền kiếp mà chỉ là một việc trả thù, sự trừng phạt theo lô-gich của Chúa nghiêm khắc trong kinh Cựu ước.
Hình như Guacanagari không chống đối
Caonabó, và cũng không gọi Caonabó đến, vì chúng ta biết rằng quan hệ giữa những tù trưởng Caribi và Taino không thân thiện, Guacanagari đã trông thấy những diễn biến dẫn đến những sự kiện thê thảm, nhưng không thể ngăn chận chúng, thậm chí đã không cố gắng để giúp người Tây Ban Nha, điều đó đã giải thích câu của Bác sĩ Chanca: "Quả thật, những kẻ thù đã làm nhiều việc cho người Taino của Guacanagari". Nhưng cũng có thể là khi những người Caribi của Canabó từ trên núi xuống để tiêu hủy La Navidad, họ đã quấy rầy và gây thương tổn cho người Taino, mặc dù người Taino không liên minh với người da trắng và cũng không bảo vệ người da trắng. Sự thù địch truyền thống giữa hai tù trưởng và sự giúp đỡ của Guacanagari đối với người lạ sau khi tàu biển bị tai nạn dễ dàng giải thích những cuộc xung đột giữa người Taino và người Caribi.
Giả thuyết có khả năng nhiều nhất là Guacanagari vẫn trung lập trong sự kiện La Navidad, và những lời của Guacanagari và của bộ hạ nói với Colombo là nữa thật nửa dối, vì họ sợ bị trừng phạt. Sự sợ hãi đó không phải là không có cơ sở. Quả thật, cha Boil muốn bỏ tù Guacanagari và những người Tây Ban Nha khác cũng chia sẽ quan điểm đó. Một điều có thể hiểu được là những quý tộc Tây Ban Nha và các thủy  thủ theo quan điểm đó, nhưng nếu cha Boil được cử đi truyền đạo cho những người chưa theo tôn giáo nào mà cũng mang theo quan điểm đó thì không đúng đạo lý.
 
Dù sao báo cáo lại phản ánh đầy đủ lập luận mà La Casas gán cho Colombo về việc ông đã để cho Guacanagari được tự do; bỏ tù viên tù trưởng cũng không làm sống lại được những tín đồ Công giáo đã chết và cũng không đưa họ lên trời được nếu họ không ở đó rồi. Colombo thêm rằng nếu điều Guacanagari nói là đúng, thì bỏ tù ông ta sẽ là một bất công lớn, và tất cả những người Anh -diêng sẽ cảm thấy ác cảm và căm thù đối với những người Công giáo, và họ sẽ coi viên Đô đôc là vô ơn đối với sự giúp đỡ của họ trong cuộc hành trình đầu tiên và nguy hiểm mà Guacanagari đã chịu trong việc bảo vệ người Công giáo. Vua và Hoàng hậu đã cử ông đi chinh phục thuộc địa, và cần tránh bất cứ điều gì ngăn cản mục tiêu đó, tránh bất cứ điều gì gây ra xung đột và không hòa hợp giữa hai dân tộc. Sự thiệt hại đối với "đức tin của chúng ta, đức tin gần gũi nhất với tấm lòng của các vị vua Công giáo" sẽ còn lớn hơn nữa. Bài học đẹp đẽ này từ một người ngoại đạo cho một tín đồ có thể kết luận lịch sử bi thảm của La Navidad.
 
Không còn dấu hiệu nào về khu định cư. Xây bằng gỗ, khu ấy đã cháy hoàn toàn. Ba mươi chín cư dân của khu ấy chết tất cả, không để lại lời tường thuật nào bằng chữ viết hay bằng lời nói. Ngay cả vị trí khu định cư cũng khó xác minh. Những công trình nghiên cứu ưu việt nhất gần đây đã xác minh địa điểm của ngôi làng Guacanagari và địa điểm của thành phố Tây Ban Nha Puerto về sau này. Tuy vậy một điều gì đó vẫn còn chưa rõ, đúng vậy: những đứa trẻ em sinh ra từ những quan hệ tình yêu và những vụ hiếp dâm bạo lực của mười tháng đó, những đứa con của những người Tây Ban Nha và những người Anh-diêng. Một số trẻ em nhất định ra đời trước tháng 11 không may mắn, khi Colombo phát hiện ra thảm họa của các thuộc địa đầu tiên của ông. Nhiều đứa trẻ khác trong tử cung đang lớn dần của những người Anh-diêng có chửa, những trẻ em của một thảm họa. Chúng là những trẻ em đầu tiên của sự liên kết mà qua nhiều bi kịch khác, cuối cùng đã thành tựu, sự liên kết của các dân tộc Anh-diêng với nền văn hóa của châu Âu Công giáo, một sự liên kết mà người Tây Ban Nha, mặc dù có nhiều sai lầm và không ít hành động tàn ác, đã đạt được - không giống những người Anglo-Saxon.
Chúng ta hãy trở lại Colombo, phản ứng đầu tiên của ông không rõ ràng. Rõ ràng ông không xúc động, thậm chí còn lạnh lùng - ít nhất là vẻ bề ngoài. Ông ra lệnh cho những người của ông tìm vàng mà những người chết có thể đã chôn và tìm một địa điểm phù hợp hơn để làm một thuộc địa. Colombo đã che giấu bất cứ ảnh hưởng nào của thảm họa này đối với tâm hồn ông, ít nhất là trong thời gian trước mắt: sự bí mật là một trong những đặc tính nổi bật nhất của ông.
Nhưng cơn sốc chắc chắn đã làm ông chóang váng. Dễ dàng tưởng tượng những phản ứng của một nghìn hai trăm người đã nhiệt tình tình nguyện đi theo cuộc phiêu lưu thứ hai. Được đi, họ đã trông thấy nhiều cái mới, trong số đó không chỉ có những người Taino hiền lành được Colombo hết lời ca ngợi ở Tây Ban Nha, mà cả những người Caribi dữ tợn, ăn thịt người. Tuy nhiên, họ đã rời Tây Ban Nha không phải để thỏa mãn tính tò mò mà để làm giàu, để ở tại những vùng đất chưa có ai ở, hay do những người hiền lành và nhút nhát ở, loại người dễ dàng bị khuất phục và bị bóc lột.
Thay vào đó một tình huống khác đã xảy ra, họ không ở trong tay những người ăn thịt người ở đảo Guadeloupe, mà ở trong tay những người Anh-diêng của đảo Hispaniola, những người mà Colombo đã bảo đảm là những người hiền lành nhất trên trái đất. Những ngôi nhà đều bị cháy và cái giếng đáng lẽ phải đầy vàng thì rỗng tuếch, rỗng như hốc mắt lõm ở xác một người da trắng. Đó là điều mà Colombo phải chỉ cho những người Tây Ban Nha bị mất tinh thần và thất vọng thấy.
Từ thời điểm này ngôi sao Colombo bắt đầu đi xuống. Tại đây, ông ở trong một xứ sở thù địch, trong những cánh rừng không lành mạnh, với 1200 người để lãnh đạo. Ông là con người sinh ra để chỉ huy ở biển cả, ông chỉ có thể biểu hiện tài năng làm một người lãnh đạo thực sự, khích lệ được mọi người trên biển cả. Không làm gì khác được ngoài việc quay trờ lại dọc theo bờ biển phía Đông?
Colombo biết rất rõ rằng ở phía Tây nơi ông đã thành lập thuộc địa La Navidad là hải cảng tốt nhất trên toàn bộ bờ biển miền Bắc Haïti, hiện nay là Cap Haïtien. Từ cuộc hành trình thứ nhất ông đã phải biết điều đó. Dù sao, trong dịp này ông đã dùng hai chiếc tàu đi khảo sát bờ biển xung quanh La Navidad, một chiếc đi theo hướng Đông và chiếc kia đi theo hướng Tây.
Chắc chắn Cap Haïtien là nơi tốt nhất thiên nhiên đã chọn lựa, vì độ ẩm thấp, so với cánh đồng phía Đông, vì sự che chở của ngọn núi dốc đằng sau Cap Haïtien và vì hải cảng đep được bảo vệ bởi hai, có khi ba vách san hô. Đó là một nơi đặc biệt thích hợp cho việc định cư của người Âu và trong một vài thế kỷ sau này sẽ trở thành "Paris của vùng biển Caribê". Nhưng Colombo quyết định không dùng Cap Haïtien "vì nó ở xa mỏ vàng". Chắc chắn sẽ tìm thấy mỏ vàng trong đất liền, ở phía Đông cửa sông Yaque del Norte chạy dưới ngọn Monte Cristi, Colombo đã xác định điều đó trong chuyến du hành đầu tiên. Vì vậy ông đã quyết định định cư tại Cap Haïtien và quay trở lại, quày mũi tàu của ông về phía Đông.
 
Colombo nhớ hai nơi ở phía Đông La Navidad phù hợp cho một thành phố, vì đó là những hải cảng tốt: Bahia de Gracias, ngày nay là Luperón Puérto Plata, ở chân Monte Plata. Bahia de Gracias là hải cảng mà chiếc tàu Pinta đã lưu lại mười ngày; tại đó Martin Alonso Pinzón đã thu thập một số vàng, như vậy nó có vẻ là mục tiêu lý tưởng. Colombo viết trong Nhật ký của chuyến du hành thứ nhất: "Lối vào hẹp vì có một bờ chỉ có hai sải nước; tuy nhiên, ở bên trong là một hải cảng tốt, kín đáo và được bảo vệ tốt". Nhưng "nó có nhiều sương mù" và có nhiều con hà mã đã gây hư hại nhiều cho chiếc tàu Pinta, do đó Colombo không xem xét hải cảng đó, còn Puerto Plata thì sao? Ngày nay đó là thành phố đông dân nhất và nổi tiếng nhất trên bờ biển phía Bắc nước Cộng hòa Đô-mi-ních (Dominique). Cảng này đã hưởng vị thế đó từ lâu, trước  hết như một căn cứ quân sự chống lại bọn cướp biển và sau này trong những cuộc chiến tranh vùng Ca-ri-bê. Con mắt sắc sảo của nhà đi biển vĩ đại đã thấy những thuận lợi của Puerto Plata. Tại sao Colombo không thành lập một thuộc địa mới ở đó? Vì, xin nói thẳng ra, ông không thể làm dịu bớt nổi lo lắng của những người của ông. Có lẽ lần đầu tiên từ khi Colombo vạch ra một cách chính xác kế hoạch của ông về một cuộc phát kiến vĩ đại, Colombo đã phạm một sai lầm, không phải xuất phát từ tính ương ngạnh, hoặc kiêu hãnh, cũng không phải từ tính hám lợi, tham vọng, hay thậm chí sự cuồng tín về tôn giáo. Hình như đó là một sai lầm đặc trưng của những người không thể chịu được sự trì trệ, dù chỉ chút xíu, nhưng chúng ta sẽ thấy không phải như thế. Gió đã góp phần vào sai lầm này, gió xích đạo mà trong nhiều trường hợp khác đã là đồng minh tốt nhất của Colombo.
Ta chỉ thử phiêu lưu đi dọc theo bờ biển phía bắc Haïti và nước Cộng hòa Dominique trên một chiếc thuyền buồm để đánh giá những khó khăn của việc đi ngược gió xích đạo trên biển cả. Tuy nhiên, tháng Giêng 1493 chiếc tàu Nina đã mất bảy ngày để đi từ La Navidad đến Puerto Plata. Giờ đây, sau hơn mười tháng, Colombo đã rời La Navidad ngày 7 tháng 12 và tới núi Monte Cristi ngày hôm sau. Colombo lại ra đi, hoặc đúng hơn là tìm cách ra đi ngày 9. Mãi đến ngày 2 tháng 1 ông mới tới nơi sẽ lập ra thành phố Isabela. Chúng ta hãy xem xét những khoảng cách:
*    Từ La Navidad đến Monte Cristi là 30 dặm hiện đại (38 dặm Địa Trung Hải).
*    Từ Monte Cristi đến Isabela là 33 dặm hiện đại (42 dặm Địa Trung Hải) 
*    Từ Isabela đến Puerto Plata là 26 dặm hiện đại (32 dặm Địa Trung Hải).
Hai mươi lăm ngày để đi ba mươi ba dặm! Hơn một dặm một chút trong một ngày, không gặp cản trở, nhưng để tưởng tượng những tàu đó sẽ phải dùng bao lâu và thường xuyên như thế nào vì không có gió, có lẽ một, hoặc hai tuần lễ.
Colombo không nêu sự khổ thực sự này vì ông ngừng viết Nhật ký. Chứng cứ duy nhất là bằng chứng ngắn gọn nhưng mạnh mẻ của bác sĩ Chanca: "Gió ngược đến nỗi đi ba mươi hải lý trong hoàn cảnh đó thì khó khăn đối với chúng tôi hơn là đi toàn bộ đoạn đường từ Castiglia". Chanca, một bác sĩ hơn là một thủy thủ đã nhầm hải lý với dặm, không phải ba mươi hải lý mà là 120 dặm. Thực tế hơn 42 dặm một chút theo những tính toán của Colombo, đo bằng dặm Địa Trung Hải.
Những thủy thủ, những quý tộc, những binh lính, những người đi định cư ở Đất Mới và những con ngựa đã làm gì? Rõ ràng họ luôn luôn ở trên tàu. Họ không lên bờ, vì đến gần bờ biển từ bên ngoài vỉa san hô thì không thể. Một số thuyền có thể đã đổ bộ để lấy nước và người ta có lẽ đã bắt được nhiều cá. Nhưng ngựa không ăn cá, và hai mươi nhăm ngày đối với con người là một thời gian vô tận tuyệt vọng trong một khí hậu nóng nực và ẩm, rất khác khí hậu ở châu Âu. Thủy thủ kiệt sức vì liên tục làm buồm và chín trong số mười lần không đạt kết quả. Những người khác không hoạt động, không thể vận động, trừ chen chúc nhau trên boong tàu, cũng không thể bơi hay xuống nhúng nước vì biển có đầy có mập.
Đây là một tai họa khác nữa sau tai họa La Navidad, vì chỉ có Colombo biết, từ kinh nghiệm của ông trong năm trước, rằng đó là một tình hình khác thường có thể khắc phục. Puerto Plata gần, đi thuyền chưa đến một ngày, nếu họ có gió thuận lợi. Nhưng gió không đến. Như vậy làm thế nào họ đến được Puerto Plata? Bằng những con ngựa chết? Bằng sự nổi loạn của hàng trăm người?
Colombo đã phải bó tay, đã phải ngừng, cuối cùng đã phải lên bờ và đã tìm thấy thành phố mới, thuộc địa hứa hẹn. Nhưng ông nên chọn địa điểm ở đâu? Ông đã bác bỏ đồng bằng ở của sông Yaque del Norte; nước trong vịnh đó đầy bùn lầy.
Sau đó, dải đồng bằng đầu tiên trên bờ biển là ở của sông Bajabonico. Ngày nay nó đổ ra cách xa một dặm về phía Tây, rồi đập vào một cái gò, cao khoảng hai mươi thước Anh, ngay trên biển cả. Tại đó Colombo đi lên bờ và có một quyết định nhanh chóng vì cần thiết, thành lập thuộc địa mới. Colombo không đặt tên thuộc địa mới là Navidad mới, vì ngay cả cái tên của thuộc địa đã thất bại cũng cần phải biến đi khỏi trí nhớ. Ông đặt tên thuộc địa mới là La Isabela, Hoàng hậu đã hỗ trợ, giúp đỡ và bảo vệ ông. Như thế, hai lần không may mắn đã làm nảy sinh ra thàhh phố đầu tiên của Thế Giới Mới.
 
Chú thích:              
(1). Tức Colotnbo.
(2). Tức Napoléon, quê ở đảo Corse.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.08.2021 16:29:22 bởi Ct.Ly>
27. MỎ VÀNG
 
 
La Isabela được thành lập ngày 2 tháng 1 năm 1494. Ngày 6 tháng Giêng, bữa tiệc lễ kết thúc mùa Giáng Sinh, đã chứng kiến lễ Mi-sa lần đầu tiên tại Thế Giới Mới. Cha Boil - một người thuộc tỉnh Catalan ở Đông bắc Tây Ban Nha, thuộc dòng tu thánh Bénédic, đại sứ của Đức Giáo hoàng - đã làm lễ. Cùng dự lễ là những cha thuộc dòng tu Francesco Juan de la Duela và Juan de Tisin, cha thuộc dòng tu khổ hạnh Roman Pane, bốn thầy tu thế tục, và năm thầy tu hành khất thuộc dòng tu Francesco từ tu viện Montserrat ở Catalogna. Lễ Mi-sa được tiến hành tại một nhà thờ nhỏ lập tạm, trang hoàng bằng những bức trướng màu đỏ sẫm sặc sỡ do Hoàng hậu Isabela người Công giáo đã lấy từ nhà thờ nhỏ của Hoàng gia ban cho để dùng trong nghi lễ.
Ngày 2 tháng 2 nhà thờ đã làm xong, nhà thờ gồm có nơi ở của các cha xứ và nơi thờ cúng, có tường bằng đá bao quanh để đề phòng những cuộc tấn công của người bản xứ. Những ngôi nhà công cộng khác cũng làm bằng đá; chỉ có những nơi ở riêng tư là bằng gỗ và rơm rạ. Ngày 24 tháng 4 năm 1494, theo các tài liệu, La Isabela đã có những công chứng viên, một thị trưởng và những ủy viên Hội đồng thành phố và những người giám sát việc cung cấp nước. Đó là chính quyền đô thị tự trị đầu tiên ở châu Mỹ.
Ngày 10 tháng 3 năm 1496, khi Colombo lên đường về Tây Ban Nha, kết thúc cuộc hành trình phát kiến thứ hai, ông đã cử hai người anh của ông là Bartolomeo làm toàn quyền và Diego làm phố toàn quyền. Việc trao quyền đã diễn ra tại La Isabela, gồm cả lễ phong chức thị trưởng cho Francisco Roldán. Những mối bất hòa giữa Roldán và Bartolomeo và sau này giữa Roldán và viên Đô đốc đã góp phần làm suy tàn La Isbela. Trong những năm cuối của thế kỷ XV thành phổ mới Santo Domingo trên bờ biển phía Nam đảo Hispaniola bắt đầu có tầm quan trọng ngày càng lớn. Nhưng những cuộc đấu tranh huynh đệ tương tàn cũng như sự cạnh tranh của Santo Domingo đều không giải thích được một cách đầy đủ sự suy sụp nhanh chóng của La Isabela. Năm 1499 thành phố đã hấp hối. Một năm sau những ngôi nhà đá, những chứng kiến buồn tẻ của một thời đã qua, đều im tiếng. La Isabela đã biến đi, không có vinh dự được chứng kiến sự kiện to lớn nào, dù nhân tạo hay tự nhiên.
Thành phố đầu tiên do Colombo xây dựng, một đô thị tự trị đầu tiên của Tây Ban Nha, góc rễ đầu tiên của thế giới châu Mỹ La tinh - rất nhiều cái đầu tiên cho La Isabela. Và còn một cái đầu tiên nữa - đó là chết đầu tiên, trong khoảng sáu năm. Thành phố đó không tái sinh. Tin cho rằng nơi này có ma đã lan truyền sớm và nhanh đến nỗi Las Casàs kể lại đã nghe thấy chuyện đó mấy năm sau: những người định cư ở đất mới đã chết tại đó lại đi bộ, lang thang khắp khu nhà đổ nát, chào một cách nghi thức những người liều đi vào những phố đã bị bỏ hoang, và sau đó tan biến thành bột khi có người ôm ghì họ, bắt tay họ, hay sờ vào họ bằng bất cứ cách nào.
Những chuyện nói rằng nơi này có ma không phải là yếu tố duy nhất ngăn cản sự tái sinh của La Isabela. Bờ biển phía Bắc đảo Hispániola chịu những cuộc lùng sục lặp đi lặp lại của bọn cướp và những ảnh hưởng của những cuộc chiến tranh giữa các cường quốc châu Âu nhiều hơn vùng bờ biển nhía Nam.
Ngày nay Isabela không phải là một đô thị, cũng không phải là một huyện và thậm chí một "làng" cũng không. Chỉ có những ngôi nhà nhỏ trên đồi, sáu trăm người bản xứ sống ở đó làm nghề đánh cá, nông nghiệp và kiếm một ít tiền từ những khách du lịch thỉnh thoảng đến đó thăm nguồn gốc của đế quốc Mỹ La tinh, một đế quốc đã suy tàn về chính trị nhưng về văn hóa thì rất sinh động và tốt đẹp.
La Isabela không hồi sinh, đầu tiên vì nó không có một hải cảng. Điều gì đã làm cho Colombo không chọn một hải cảng tốt? Ông không sinh ra để thành lập các thành phố mà là một nhà đi biển xuất sắc, ông là người xét đoán giỏi nhất về những hải cảng. Chỉ có một lý do: kinh nghiệm thử thách mà tôi đã nói đến rất dài dòng. Nỗi khổ tâm phải đi chỉ có ba mươi dặm trong hai mươi nhăm ngày đã buộc Colombo phải lựa chọn tồi. Việc lựa chọn đó không tốt, không phải vì đồi La Isbela không gợi cảm mà vì Vịnh không thích hợp cho một hải cảng và cũng không được kín gió.
Lễ Mi-sa kết thúc mùa Giáng sinh chưa kết thúc thì viên Đô đốc đã ra lệnh cho Alonso de Hojeda và Ginés de Gorvalán đi vào phía trong đảo để tìm mỏ vàng. Sau khi vượt qua "Dãy núi phía Bắc", họ đi xuống Vega Real, một cánh đồng rộng với "một dòng nước lớn, rộng hơn và lớn hơn dòng nước ở Siviglia", như Michele da Cunéo miêu tả dòng sông Rio Yaque del Norte. Năm trước Colombo đã đặt tên dòng sông này là Rio de Oro vì đã thu lượm được nhiều bột vàng ở đó. Nhiều con suối xuất phát từ những ngọn núi bên trái đảo Cibao chảy vào sông Rio Yaque. Như Pietro Martire viết: "Trong cát của những con sông này, những người Anh-diêng đi cùng với những người Tây Ban Nha đã thu lượm vàng bằng cách thọc tay tới một độ sâu khoảng một thước Anh và múc cát lên. Từ đáy lỗ họ xúc cát bằng tay trái và nhặt vàng bằng tay phải và, dễ dàng như vậy, họ để những cục vàng vào tay chúng tôi. Nhiều người nói họ đã trông thấy nhiều cục vàng to bằng hạt đậu. Chính tôi sau này đã trông thấy một cục vàng giống như một hòn đá trên sông nặng chín ao-xơ; chính Hojeda đã tìm thấy cục vàng đó .
Michele da Cuneo bảo đảm với chúng tôi rằng trong số những mẩu vàng tặng cho viên Đô đốc có ba miếng đáng giá 8,15, và 22 cástellanos (khoảng 165, 300 và 450 đô la Mỹ, theo giá đô la năm 1987). Ước tính của Cuneo về vấn đề vàng, hoặc tiền bạc, giống như những ước tính của mọi người Liguria, không nói quá mà thận trọng.
Như vậy là có vàng! Có những mỏ vàng! Như Cuneo đã viết: "Viên Đô đốc và tất cả chúng tôi, không quan tâm gì đến hương liệu nữa mà chỉ quan tâm đến sự may mắn tìm thấy vàng. Chúng tôi tổ chức ăn mừng thịnh soạn". Colombo lấy lại lòng tin và quyết định cử mười hai trong số mười bảy tàu trở về Tây Ban Nha. Nếu Colombo có thể gửi nhiều thùng vàng thay vì những mẫu vàng thì tốt hơn, nhưng những mẫu vàng vẫn chứng tỏ không phải ông đã bị lôi cuốn vì giàu trí tưởng tượng trong bản tường thuật cuộc hành trình thứ nhất. Cùng với những mẫu vàng, ông cũng cử Gorvalán, một trong những người chỉ huy cuộc thám hiểm trở về Tây Ban Nha. Cùng với người kia, Hojeda, Colombo đã đến Cibao để đích thân xác minh sự tồn tại của các mỏ vàng.
Đó là một cuộc khảo sát quan trọng, cuộc đi bộ đầu tiên vào trong đất liền, cuộc khảo sát đó được coi như là mô hình những người Tây Ban Nha chinh phục châu Mỹ thế kỷ thứ XVI, từ Balboa đến Cortés, Pizarro, Orellana và nhiều người khác cho đến khi người ta biết tất cả những con đường có thể qua lại được trong bán cầu từ 40° đến 50° Nam. Từ khi bắt đầu cuộc phát kiến lần thứ nhất đây là lần đầu tiên Colombo đã đi nhiều dặm cách xa biển và cũng là lần ông đi xa như vậy vào đất liền. Nơi ông đến mà tôi sắp nói, cách La Isabela gần bốn mươi dặm theo đường chim bay.
Năm trăm người đi khảo sát, chia theo hàng ngũ "như vẫn thường diễn ra khi họ đi ra chiến trận, kèn thổi lên và cờ mở ra". Họ mang súng hỏa mai, và khi đi vào làng, hoặc rời khởi các làng, họ thổi kèn và bắn những loạt đạn để những người Anh-diêng có thể thấy được "sức mạnh của những người Công giáo". Tuy nhiên, có vẻ người Anh-diêng ngạc nhiên hơn về những con ngựa. Ngoài bộ binh ra, Colombo đã mang theo kỵ binh và những thiết bị để xây dựng một pháo đài nhầm bảo vệ an ninh cho tỉnh Cibao, và giữ cho người Tây Ban Nha được an toàn không bị xúc phạm, hoặc tổn thương nào sau khi thu lượm vàng. Kinh nghiệm đáng buồn ở La Navidad đã dạy viên Đô đốc phải đề phòng trước.
Colombo ra đi ngày 12 tháng 3 năm 1494, lội qua Bajabonico, con sông cung cấp nước cho La Isabela. Rồi ông đi ngược dòng đến bên bờ trái một chi lưu của sông Bajabonico. Con đường hiện nay từ biển đi đến địa phương dễ chịu ở Los Hidalgos phần lớn theo cùng một con đường. Sát phía Nam Los Hidalgos con đường lên cao tới 1.640 thước Anh ở đèo, về phía Tây là một ngọn núi 2.700 thước Anh, ở phía Đông-nam nổi lên dãy CordiIlera, Settentrionale mà những ngọn hiểm trở và sắc cạnh, lởm chởm của nó tới 4.100 thước Anh. Ngày nay đèo có một đường rải nhựa tốt. Có lẽ hồi đó chỉ là một con đường mòn khiêm nhường mà người Anh-diêng đã đi qua và liên tục bị cản trở bởi cây cỏ xanh tươi bao phủ, mọc ra sau mỗi trận mưa.
Bên kia đèo một toàn cảnh thần thoại mở ra trước  những người Tây Ban Nha.
Như vậy ngày nay, bất cứ thời gian nào trong năm, nhưng nhất là trong tháng 3 và tháng 4, mưa làm cho mọi nơi của vùng nông thôn xanh tốt, và không khí dịu dàng tươi mát. Đó là cảnh Vega Real, cánh đồng lộng lẫy. Colombo đã đặt tên như vậy và có lý do, tên ấy đã sống qua nhiều thế kỷ vì trong số vô vàn kỳ quan của vùng biển Ca-ri-bê người ta hiếm thấy một đồng bằng rộng, phong phú, và trong xanh vây quanh bởi những ngọn núi xanh tươi đẹp đẽ. Đây là miêu tả của Lás Casas; ông đã trông thấy cánh đồng ấy mấy thập kỷ sau Colombo: "Đồng bằng tám mươi dặm, và từ trên ngọn núi nơi Colombo và những người của ông đứng, ta có thể thấy từ cạnh này sang cạnh kia hai mươi, hoặc ba mươi dặm. Ở đây tươi xanh và thoáng đãng, có nhiều màu chói lọi đẹp đến nỗi, người ta nghĩ ngay rằng mình đang đi vào một góc của thiên đường".
Đội quân bắt đầu đi xuống "với sự thích thú vui vẻ” vì sau khi xem toàn cảnh có một không hai của Vega Real, họ đi qua những cánh rừng làm cho người ta say mê. Ngày nay những cánh rừng vẫn còn quyến rũ và phát triển, mặc dù những cây bản xử đã được thay thế bằng những cây nhập khẩu từ vùng nhiệt đới châu Á và châu Phi, trước  hết là dừa, nhưng cũng có những cây bưởi, cây chuối, cây hạt tiêu, nhục đậu khấu và nhiều cây khác. Niềm vui đã chiếm lĩnh tâm hồn đội quân năm trăm người của Colombo, cũng làm siêu lòng người du khách ngày nay tới những vùng huy hoàng này của nước Cộng hòa Dominique.
Michele da Cunao, Don Fernando và Lás Casas không đồng ý sự tiến triển của các sự kiện sau khi đoàn khảo sát rời Vega Reál. Tuy nhiên họ đồng ý với nhau về nơi sắp tới có sự kiện, một vùng ngày nay gọi là Fortaleza, ở phía Tây nam thành phố Janico, trên một đường dốc chia lưu vực sông Rio Bao với lưu vực sông Rio Jánico.
Từ Jánico người ta có thể đi một phần đường bằng xe, rồi phải đi bộ hoặc cưỡi la. Như Don Fernando đã chỉ rõ, những vùng rộng lớn vẫn không có cây, nhưng dọc theo những bờ sông Jánico và sông Bao là rừng rậm. Sông Bao mang một khối nước lớn ngay trong mùa khô. Con sông này chảy xiết và có những ngọn núi có cây cối tươi tốt bao quanh. Đây là một phong cảnh náo động và thể nào cũng gây ấn tượng cho những người Tây Ban Nha, nhất là những người chưa đi lên bờ đảo Guadeloupe. Rừng ở vùng núi trung tâm sẫm hơn rừng ở dãy núi Settentrional và cũng làm say mê lòng người.
Tuy nhiên, không có gì lôi cuốn bằng vàng. Colombo đã thu thập mười kilogram vàng từ những người Anh-diêng và nhận thấy rằng đảo Cibao không giống quần đảo Bahamas, bờ biển đảo Hispaniola và cũng không giống Ghi-nê tại những nơi này người ta dùng vàng để buôn bán như ở Genova. Ở đây người ta tìm thấy vàng ở trạng thái tự nhiên; ở đây có các mỏ vàng. Người ta vẫn còn tìm thấy vàng ở đó, không phải ở đảo Cibao mà gần đấy. Năm 1983 nước cộng hòa Dominique báo cáo đã sản xuất số một lượng vàng quan trọng: 11.240 kilôgam
Đây là phát kiến vĩ đại thứ hai Colombo đã mong ước từ ngày 12 tháng 10 năm 1442, khi ông trông thấy một người Taino đeo vòng vàng ở mũi. Bây giờ ông rất phấn khởi và tin tưởng. Ông bố trí sơ đồ một pháo đài, chỉ huy việc khởi công xây dựng và quyết định để lại một đội kỵ binh cỡi ngựa làm cho những người Anh-diêng sợ và năm mươi người dưới quyền chỉ huy của Mosén Pedro Margarite (hay Margarit). Sau khi đào những hào và xây dựng hàng rào, họ bố trí lục lượng đồn trú ở pháo đài, làm nơi ẩn náu an toàn và trung tâm khai thác mỏ.
Colombo nhận ra rằng Cibao không phải là Cipango (Nhật Bản). Nhưng bây giờ Cipango làm cho ông ít quan tâm hơn. Cuộc du hành thứ hai đã làm ông rất yên lòng: tại những vùng đất mới có nhiều cây trước đây chưa biết, nhiều hương liệu, những khu rừng tuyệt diệu, những cánh đồng phì nhiêu hơn bất cứ cánh đồng nào ở châu Âu, mưa nhiều và nhiều sông, những biển làm say mê lòng người ở cả bên trong lẫn bên ngoài những vách san hô, nhiều thực phẩm biển phong phú, ngon và lạ. Nói tóm lại những vùng đất mới có tất cả lòng hào phóng của Chúa, trong đó có vàng đủ làm giàu nhà vua Tây Ban Nha và toàn bộ nước Tây Ban Nha. Còn lại gì để phát kiến nữa. Ấn Độ, mục tiêu của kế hoạch lớn. Tuy nhiên tới Ấn Độ đòi hỏi tìm ra đất liền. Đảo Cibao không phải là Nhật Bản, nhưng điều đó không còn làm cho Colombo lo lắng. Vấn đề là tìm ra lục địa Trung Hoa, để cuối cùng tới Ấn Độ.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.08.2021 11:46:22 bởi Ct.Ly>
28. KHÁM PHÁ CUBA VÀ GIAMAICA - NHỮNG
RỦI RO TẠI LA ISABELA.
 
 
Từ 24 tháng 4 đến 29 tháng 9 năm 1494, Colombo khảo sát bờ biển miền Nam Cuba bằng ba chiếc tàu, đã phát hiện ra Giamaica và đi trở lại dọc bờ biển phía Nam của đảo Hispaniola, đi vòng đầu phía Đông của hòn đảo này. Trong quá trình cuộc thăm dò, ngày 12 tháng 6, Colombo đã gọi viên công chứng hoàng gia và ra lệnh cho ông ta hỏi các thuyền trưởng, hoa tiêu, thủy thủ của cả ba chiếc tàu, yêu cầu họ tuyên bố rằng Cuba là bắt đầu các đảo Đông Nam Á, đại lục châu Á. Nếu ai có ý kiến khác, Colombo thuyết phục người đó tin rằng mình sai lầm. Người nào ký tên vào bản tuyên bố mà sau đó phản bội lại sẽ bị phạt mười nghìn maravedis và bị cắt lưỡi. Bốn mươi hai người - thuyền trưởng, hoa tiêu và thủy thủ, trong đó có Juan de la Cosa - thề rằng họ chưa bao giờ trông thấy, hoặc nghe thấy, một hòn đảo kéo dài 335 dặm từ Đông sang Tây (Cuba thực tế dài hơn nước Anh, dù nhỏ hơn) hoặc bất cứ một đảo nào khác ở châu Âu; do đó đất này phải là một phần của đại lục. Nếu họ tiếp tục đi, chẳng bao lâu họ sẽ gặp "dân tộc văn minh và thông minh hiểu biết thế giới”. Thế là họ đã thề và ký tên.
Ngày nay việc làm trên đây có vẻ kỳ lạ và đã gây ra sự chế nhạo từ những người chê bai Colombo. Tuy nhiên, việc ấy đã được thực hiện trước bởi các nhà khảo sát khác. Bartolomeo Diaz cũng đã làm như thế, sau khi đi vòng quanh mũi Nam châu Phi và tin chắc rằng ông đang trên đường đi đến những vùng đất Ấn Độ, kết quả chỉ đưa đến việc đoàn thủy thủ buộc ông phải quay trở lại.
Colombo biết rõ sự kiện; việc ông làm không phải là trường hợp lạ kỳ đối với thời đại ông. Cách làm việc được xác nhận một cách nghiêm ngặt đã giúp giải thích một quyết định bất ngờ. Colombo đã nói dối và biết là mình nói dối. Biết rõ rằng mình đang nói dối, Colombo muốn chính thức hóa và hợp pháp hóa sự giả dối này và thỏa hiệp với những người có liên quan với ông tới một trong những sự kiện quan trọng nhất của cuộc phát kiến vĩ đại.
Cần cố gắng để hiểu đầy đủ và nếu có thể thâm nhập vào tâm trí của Colombo trong tháng 6 năm 1494 gian khổ đó: Giờ đây ông biết chắc chắn rằng những vùng Đất Mới không phải là vùng đất khác của nhiều quần đảo rải rác khắp Đại Tây Dương do trí tuởng tượng thời trung cổ của những nhà vẽ bản đồ. Colombo nói với Pietro Martire sau chuyến
đi thứ hai rằng ông đã gần đến Chersoneso tức Bán đảo Mã lai (Malacca). Nếu ông tin rằng ông đã đến Mã Lai, hoặc gần đến Mã Lai, Colombo cũng tin chắc rằng ông đang ở gần Ấn Độ. Theo địa lý thời trung cổ giữa Mã Lai, và Ấn Độ, trên thực tế là vịnh Bengal.
Colombo nói với Andrés Bernáldez rằng, với hy vọng Cuba là một bán đảo ở châu Á, đầu tháng 6 năm 1494 ông đã xem xét việc đi qua bán đảo ấy rồi vượt Ấn Độ Dương trở về Tây Ban Nha, từ Đông sang Tây, hoặc bằng cách đi vòng Hải Vọng Giác, hoặc bằng cách lên bờ ở Hồng Hải, đi trên đất liền, qua Gerusalemme và đi thuyền từ Jaffa đến Cadice. Đó là một kế hoạch đầy tham vọng, nghĩ lường trước cả Magellan. Colombo có thực sự nghĩ rằng ông có thể thực hiện được kế hoạch đó hay không? Ông có nghĩ rằng ông có thể thực hiện được việc đó trong dịp này không? Ông biết rằng ông không thể thi hành kế hoạch đó bằng ba chiếc tàu được trang bị tồi. Nhưng ông đã nghĩ đến kế hoạch đó. Và ông tin, ông hy vọng, ông đang đi dọc bờ biển bán đảo Mã Lai. Ông sẽ trở lại đó và cuối cùng thực hiện giấc mộng chưa hoàn thành được: Tới Ấn Độ và đi vòng địa cầu.
Nhưng ngày 11 tháng 6, tiền đề cơ bản của kế hoạch này đã tan biến khi Colombo được những người Anh diêng cho biết: Cuba là một hòn đảo. Ông ta phải chấp nhận thực tế đáng buồn là Cuba không phải là bán đảo Mã Lai. Ngày ấy ông đến Bahia Cortés, cách Cabo Corrientes (những dòng nước) là mũi phía Tây-nam của Cuba ngót một trăm dặm.
Các nhà sử học thích nói rằng với một chút kiên nhẫn Colombo đã có thể xác định rằng Cuba là một hòn đảo, và họ tha hồ tưởng tượng về điều gì sẽ xẩy ra tiếp theo đó. Sau một cuộc vượt biển ngắn, Colombo sẽ tới Yucatán, hay nếu ông tiếp tục đi theo bờ biển của hòn đảo dòng Golf Stream sẽ đưa những con tàu đến dãy đảo Florida Keys ở phía Nam Florida, ngay trong tầm mắt và từ đó Colombo dễ dàng tới một phần khác của đại lục: Florida.
Những kết luận dựa trên giả thiết "nếu" này rõ ràng là đa dạng. Tuy nhiên, có sự nhất trí đáng ngạc nhiên - so với những tranh luận về rất nhiều mặt khác của cuộc đời Colombo. Colombo đã có thể chứng minh Cuba là một hòn đảo. Tôi không đồng ý nói như vậy. Ông đã thôi không đi dọc bờ biển Cuba nữa, không những vì mệt mỏi, thiếu đồ tiếp tế, các đoàn thủy thủ kêu ca, và điều kiện tồi tệ của các tàu, mà trước  hết vì ông đã không muốn xác minh xem Cuba có phải là hòn đảo hay không.
Ông biết từ những người hướng dẫn Anh-diêng rằng ông đang ở gần mũi phía Tây của Cuba và ông tuyệt đối không muốn thừa nhận bằng kinh nghiệm của chính mình rằng Cuba không phải là bán đảo Mã Lai, như ông đã tin cho đến lúc đó. Ông tin rằng có đất liền, tin đến mức cho rằng dù Cuba và tất cả những đảo khác phát hiện cho tới lúc đó là những hòn đảo, thì những đảo ấy chỉ là vành đai vây quanh đại lục. Vì thế ông đã đòi phải thề. Ông đã bắt buộc những quý tộc, nhân viên và thủy thủ phải thề rằng Cuba là một bán đảo, không phải để tránh lời buộc tội ông là đã quay trở về quá sóm mà để làm dịu bứt sự nghi ngờ rằng những đảo đó là một quần đảo khổng lồ cách xa châu Á.
Giải thích này gần với giải thích của Madariaga, trừ việc Madariaga coi sự kiện đó như một chứng cứ trong nhiều chứng cứ về tính điên rồ của Colombo. Tuy vậy, không cần coi Colombo là một người điên để giải thích tâm lý của ông, trong trường hợp này cũng như trong nhiều trường hợp khác, chỉ là một sự pha trộn phức tạp, mâu thuẫn của những lòng tin cũ rích thời trung cổ và đoán trước những tư tưởng thời Phục hưng và hiện đại. Con người hiện đại biểu thị tính sắc bén và sự quan sát chính xác ở Colombo về mọi sự việc. Từ tính sắc bén và tinh thần quan sát đó, Colombo đã hình thành một ý nghĩ đứng đắn: những đảo được phát hiện đã báo hiệu một lục địa ở gần đó. Con người trung cổ thể hiện khi Colombo không dùng sự thật thực nghiệm mà dùng trực giác để chứng minh những tài liệu, khi trực giác và sự giả dối kết hợp làm một, khi những dấu hiệu biến thành chứng cứ, những giải thích sự việc biến thành bản thân sự việc có thực và trực giác biến thành thực tế. Khi Colombo trở lại Isabela ngày 29-9, ông biết rõ chưa tìm thấy đại lục, chưa nói đến Ấn Độ, bất chấp những lời thề giả dối.
Một điều thất vọng khác nữa đợi Colombo ở Isabela. Hàng trăm người, thực ra gần một nghìn người Tây Ban Nha đã định cư tại La Isabela vào đầu tháng giêng, rải rác từ La Isabela tới San Tomaro. Tất cả đều là đàn ông: thủy thủ, những người định cư, những nhà quý tộc, các cố đạo và các tu sĩ. Những người khác gồm có phụ nữ và trẻ em từ châu Âu đến trong các cuộc du hành sau này và cùng sống với họ. Những chuyến đến đầu tiên đã sống mười một tháng tại những vùng đất mới, chín tháng ở miền Bắc đảo Hispaniola, lấy La Isabela làm căn cứ. Chưa có ai hiểu biết một cách chính xác những vùng đất mới này. Những vùng đất mới ấy có phải là những tiền đồn phía Đông châu Á hay không, những vùng ấy có phải là một thế giới mới hay không, mới về khí hậu, biển cả, đất đai, hệ thực vật, hệ động vật và con người.
Trước hết nói về khí hậu, mười một tháng đủ để chứng minh rằng những vùng đất mới không có những mùa của châu Âu. Tại châu Âu, lạnh về mùa đông và nóng về mùa hè; ở vùng Ca-ri-bê suốt cả năm nhiệt độ chỉ thay đổi chút ít, giảm về mùa đông, nhưng không bao giờ xuống dưới 68°F. Nhiệt độ trung bình ở La Isabela là 73°F vào tháng Giêng và 80°F vào tháng 7. Không có mùa thu hoặc mùa đông. Cây cối nẩy mầm quanh năm, rất nhiều hoa nở, khi có những tia nắng đầu tiên sau một con mưa giông dữ dội, và những cánh đồng và đồi cỏ luôn luôn xanh. Rải rác đây đó trong những tháng không mưa có những mảng màu vàng hoặc xám, cách xa những con sông, nhưng ngay khi trời đổ mưa thì chỉ mấy ngày sau những mảng ấy lại xanh trở lại.
Tính chất màu mỡ lớn lao của những vùng đất mới phát kiến gây ấn tượng mạnh mẽ đối với những nhà sử học đương thời. Đây là bản tường trình của Don Fernando:
‘‘Khi viên Đô đốc từ đảo Cibao trở lại La Isabela vào ngày 29 tháng 3, ông thấy một số quả dưa đã chín, mặc dù chỉ mới trồng được hai tháng. Tương tự như vậy, những quả dưa hấu sau hai mươi ngày đã sẵn sàng ăn được và một cây nho dại đã sản sinh ra những quả nho tốt, tròn khi được chăm sóc. Ngày hôm sau 30 tháng 3, một nông dân đã thu hoạch lúa mì trồng từ cuối tháng giêng, và đậu hạt thu hoạch to hơn hạt giống đã gieo ban đầu. Mọi thứ đều nảy mầm trong phạm vi ba ngày sau khi trồng, và trong phạm vi mười lăm ngày, đã ăn được. Rễ cây đầy lên những chồi trong bảy ngày và cành nho mới cắt sẽ mọc lá trong bảy ngày. Mía cũng vậy’’.
Michele da Cuneo cho ta biết thêm nhiều chi tiết về những cây và quả mới phát hiện trên đảo Hispaniola, trong đó có những rễ cây rất to và thuộc nhiều loại, rất trắng, người ta làm bánh từ những rễ cây này". Ông cho biết thêm về nhiều hạt giống đã đưa từ Tây Ban Nha sang, những giống nào mọc tốt và những giống nào không tốt. Những hạt giống nẩy mầm tốt là dưa hấu và các loại dưa, bí, củ cải, những hạt giống nảy mầm không tốt là hành, các loại rau diếp, tỏi tây. Lúa mì, các loại đậu mọc nhanh, nhưng cũng héo và khô nhanh chóng, như vậy người ta phải thu hoạch nhanh để những cây ấy khỏi bị cháy khi nhiệt độ quá cao. Nói chung, độ phì nhiêu của đất và tiềm năng nông nghiệp rõ ràng là tích cực.
Nhưng còn một vấn đề khác, sức khỏe, điều kiện thể chất của những người định cư. Về mặt này bản tổng kết không chỉ là tiêu cực mà còn tai hại.
Khi từ Cibao trở về, Colombo đã thấy nhiều người ốm tại La Isabela; ngày 28 tháng 9, sau khi thăm dò Cuba và Giamaica trong năm tháng, ông đã thấy Isabela trở thành một bệnh viện, và thêm nhiều ngôi mộ tại Nghĩa trang Công giáo đầu tiên ở những vùng Đất Mới. Tại sao? Đặc biệt, tại sao cuộc hành trình thứ hai có ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe con người, khác với cuộc hành trình thứ nhất ?
Giải thích đầu tiên nằm trong lịch. Việc lưu lại lần thứ nhất tại châu Mỹ diễn ra từ 12 tháng 10 năm 1492 đến 14 tháng Giêng 1493 theo lịch Julius, hoặc từ 22 tháng 10 đến 24 tháng Giêng theo lịch Gregory dùng ngày nay.
Ngược lại, thời kỳ đầu tiên của cuộc hành trình thứ hai - lưu lại vào thời điểm chúng tôi đã nói tới trong bản tường thuật của chúng tôi - diễn ra từ 4 tháng 11 năm 1493 đến 29 tháng 9 năm 1494 (14 tháng 11 - 1493 và 9 tháng 10-1494). Mặc dù vùng Ca-ri-bê không có thay đổi thực sự về mùa, từ tháng 6 đến tháng 8 sức nóng rất ấm, ngột ngạt và căng thẳng. Thời gian ở lại châu Mỹ trong chuyến đi thứ nhất đã được hoàn thành ngoài những tháng đó, trong một mùa tốt nhất đối với những người quen với khí hậu Địa Trung Hải.
Một giải thích thứ hai về hậu quả khác nhau của hai chuyến đi, đó là trong chuyến đi thứ nhất có ít người tham gia (dưới một trăm người). Tất cả những người này là những thủy thủ (hầu hết đã quen sống trong những miền khí hậu khác nhau), Và họ đều sống toàn bộ thời gian trên tàu, trừ số người lưu lại La Navidad và một số được cử đi khảo sát sâu trên đảo Cuba để tìm đất nước "Đại Khan". Thủy thủ các tàu Santa Maria, Pinta và Nina không bao giờ ngủ trên bờ. Thức ăn trên tàu toàn những thứ họ đã quen ăn, khẩu phần tiêu chuẩn của thủy thủ Địa Trung Hải: bánh quy khô, hay bánh quy biển, dầu ô liu, dấm, rượu, tỏi và thịt muối. Họ không kiêng cá, hải sản, chim và những vật săn bắn được ở địa phương, nhưng đó là thức ăn bổ sung. Những món cơ bản trong khẩu phần của thủy thủ luôn luôn sẵn sàng trong chuyến đi thứ nhất. Không có dấu hiệu nào chứng tỏ là họ đã thiếu bánh quy khô, dầu hoặc rượu.
Trong chuyến đi thứ hai, tình hình hoàn toàn khác. Không thể nào chuẩn bị đủ bánh quy khô, dầu và rượu cho một nghìn hai trăm con người trong mười một tháng, thậm chí lâu hơn nữa. Bánh quy khô, thịt muối mang theo từ Tây Ban Nha, hoặc Gomera còn lại đã bị thối rữa do ẩm và nóng, rượu thì hóa chua. Những người định cư ở La Isabela lại phải làm quen với việc ăn bánh sắn. Chúng ta biết làm bánh sắn như thế nào, phải thái mỏng, rồi xay thành bột, nhưng giờ cũng phải dùng bột nhiều thứ củ: khoai từ, khoai lang, hay yuca, không có nhiều protéine như bột mì. Ngoài biển có nhiều cá, trai sò và các loài có vỏ khác, nhưng nhiều vị quý tộc và cả nông dân không quen xài hải sản, lại không biết thêm loại gia vị nào vào các món ăn này. Ngoài việc thiếu ngũ cốc và rượu, chất béo cũng khan hiếm. Còn rau và quả thì có đủ loại mọc trên ven sông Bajabonico và sông Yaque del Norte, nhưng người Tây Ban Nha lại chưa quen ăn. Dạ dày con người thường quen theo thói cũ, thay đổi món ăn khác thì sẽ sinh phản ứng. Vì vậy nhiều người bị đói và gầy sọm đi. Năm quả trứng gà phải hạn chế để dành cho người ốm, năm cân đậu hạt chỉ đủ cho 18 người ốm.
Tuy nhiên đất đai vẫn sản xuất ra ngũ cốc loại tốt nếu thu hoạch kịp thời. Viên Đô đốc ra lệnh cho mọi người phải lao động, kể cả quý tộc. Thế là họ cằn nhằn, bực dọc. Ông còn ra lệnh cho họ xây dựng những nhà máy chạy bằng sức nước để trị thủy sông Bajabonico. Nhưng họ không muốn làm; những nhà quý tộc thấy bị xúc phạm vì buộc phải lao động chân tay. Ngay cả những nông dân dẻo dai của miền Andalusia cũng cảm thấy yếu đi vì khí hậu. Họ không những không muốn làm việc mà còn là không thể làm việc được nữa.
Nhiều năm, nhiều thập kỷ trôi qua, người da trắng thích ứng với khí hậu nóng ẩm, tìm đủ các thứ thuốc chữa bệnh, kết hợp một cách có hiệu quả trái cây, cá và những sản phẩm khác của Thế Giới Mới với những thành phần cơ bản của khẩu phần châu Âu. Họ học cách tránh bệnh nhiệt đới bằng vệ sinh, thuốc và phát triển một phong cách sống khá dễ chịu, thậm chí thích thú trong môi trường về cơ bản là lành mạnh ở Haïti và Cộng hòa Dominicana, Cuba, Giamaica, Puerto Rico và quần đảo Tiểu Antille.
Nói tóm lại, họ giải quyết được tất cả những vấn đề môi trường của người châu Âu, trừ sự thích ứng với công việc. Công việc ở ngoài đồng, trong các đồn điền, trong xây dựng, những người định cư đất mới không thể thích nghi với lao động chân tay trong một khí hậu nóng và ẩm như thế. Chẳng bao lâu người ta đã cảm thấy hậu quả tai hại của hoàn cảnh này. Ở dây tôi sẽ xin nói là, mặc dầu viên Đô đốc đã ra lệnh rõ ràng, những người ở La Isabela không muốn, hoặc không thể làm việc, vì vậy họ đã không giải quyết được vấn đề bảo đảm thực phẩm. Đã đến lúc khẩu phần hàng ngày "gồm có một đĩa hạt ngũ cốc nghiền bằng máy quay tay (nhiều người đã luộc hạt để ăn), một miếng thịt lợn muối đã ôi, hoặc một miếng phó mát mốc với một ít đậu". Las Casas nói với chúng ta như vậy, và ông thêm rằng: "Còn về rượu, cứ như là không còn giọt nào trên thế giới". Để sống còn, người Tây Ban Nha đã ăn thịt một loài chó không sủa, và một loại thỏ nhỏ hơn thỏ châu Âu. Họ đã quen ăn những con kỳ đà và những loài bò sát khác. Với những động vật này và cá họ được thỏa mãn nhu cầu về thịt, nhưng không có gì để thay thế dầu và rượu. Sắn và Yuca chỉ là một thức ăn tạm thay thế cho bánh mì. Sự gầy yếu và nạn đói của những người định cư kéo theo những bệnh nhiệt đới phổ biến trong khí hậu ấy.
Những người định cư bị thiếu ăn yếu đi, đã dễ dàng trở thành nạn nhân của nhiều bệnh. Trong thời gian này - từ tháng Giêng đến tháng 9-1494 - "mụn mủ" đã xuất hiện. Đó có phải là bệnh giang mai hay không? Theo Lás Casas và Oviedo thì đó là bệnh giang mai, cũng theo Oviedo, bệnh đó đã được đưa sang châu Âu bởi những người trở về Tây Ban Nha với thuyền trưởng Antonio de Torres vào tháng 2-1494. Bác sĩ Tây Ban Nha Ruy Diaz de Isla đã viết một cuốn sách về chủ đề này năm 1539, bệnh giang mai đã đến châu Âu sau chuyến đi thứ nhất, những người Anh-diêng truyền bệnh cho gái mãi dâm à Barcellona năm 1493. Theo những học giả khác, có một hình thức giang mai truyền nhiễm ở cả châu Âu và châu Mỹ trước  cuộc phát kiến lớn. Tuy nhiên, có vẻ chắc chắn "mụn mủ" là bệnh giang mai. Dù do nguyên nhân gì đi nữa bệnh đã lây lan theo sự tiếp xúc giới tính ở châu Âu, chắc chắn bệnh "mụn mủ" lan tràn tại La Isabela vì những người Tây Ban Nha thường xuyên cưởng hiếp phụ nữ Anh-diêng.
Điều này đưa chúng ta đến chủ đề phong tục giới tính của người Anh-điêng trước khi người châu Âu đến và ảnh hưởng của những thủy thủ và người định cư Tây Ban Nha đối với thái độ giới tính của người Taino. Ở mọi nơi, những người Taino trên quần đảo Bahamas, Cuba và ở Hispaniola có một thói quen hoàn toàn tự do. Họ quan hệ tình dục hậu môn, và phụ nữ thì quan hệ tình dục với nhiều người. Sự trụy lạc của Anacaona, vợ của Caonabó, sau khi bà ta góa chồng đã trở nên mạnh mẽ và không kiềm chế được, đến nổi có thể so sánh bà ta với Semiramide. Tuy vậy cũng có giới hạn: không ai quan hệ tình dục với mẹ, con gái, hoặc chị em gái. Tất cả mọi người đều ghê tởm sự loạn luân. Có những phụ nữ kín đáo, nhưng ngay cả những người không công khai mong muốn về tình dục cũng dễ dàng quy phục những người Công giáo, không bao giờ từ chối.
Sự quan hệ tình dục đầu tiên được biết do Michele da Cuneo tường thuật. Sự kiện này xảy ra giữa tháng 11-1493 tại Vịnh St Croix, quần đảo Tiểu Antilles.
‘‘Trên thuyền tôi đã mang theo một phụ nữ Cannibale đẹp nhất mà viên Đô đốc đã cho tôi. Khi tôi có người ấy trong phòng, người ấy trần truồng như phong tục của họ, tôi cảm thấy muốn có thú vui với người ấy và muốn thực hiện ý định. Người phụ nữ ấy không muốn quan hệ tình dục với tôi và cào cấu tôi làm tôi nghĩ đáng lẻ tôi không bao giờ nên bắt đầu như thế. Để nói cho bạn biết việc đó kết thúc như thế nào tôi lấy một đoạn dây thừng quật mạnh và người đàn bà ấy thét lên những tiếng kêu sợ hãi mà bạn không thể tin được. Cuối cùng chúng tôi đi đến thỏa thuận, theo một cách mà tôi có thể bảo đảm với bạn là người phụ nữ đó hình như đã qua một trường huấn luyện gái mãi dâm.’’
Sự kết thúc có hương vị như trong truyện của Boccacio (1). Những truyện xảy ra ở La Navidad càng có tính chất Boccaccio hơn nữa. Như đã nói ở trên sự ghen tuông của những người đàn ông vì phụ nữ là một trong những nguyên nhân của tấm thảm kịch. Trong khi chắc chắn một số người Tây Ban Nha đã cãi cọ và đánh nhau, thậm chí giết nhau về phụ nữ, rõ ràng những người Anh-diêng đã trả đũa người Tây Ban Nha về sự ngạo mạn, vì những cuộc lùng sục và cướp bóc hơn là vì những vấn đề phụ nữ. Phụ nữ Anh-diêng rõ ràng thừa thải đến nỗi nam giới không bị công phẫn. Bị nhầm lẫn vì sự tụ do đó, những người định cư đương nhiên coi như không có giới hạn nào nữa, thậm chí không tôn trọng cả vợ và con gái những tù trưởng.
Đúng như họ đã lạm dụng phụ nữ, những người định cư lạm dụng sự mến khách ngây thơ của người Anh-diêng. Người Anh-diêng đã cho người Tây Ban Nha bất cứ những gì họ có.
Diego Colombo, người mà Colombo để lại để chỉ huy La Isabela và toàn bộ hòn đảo, đã không duy trì được sự kiểm soát. Người đương thời nói ông ta phù hợp với cuộc sống ở nhà tu hơn là hoạt động chính trị. Dù nguyên nhân là gì đi nữa, khi Colombo trở lại, ông thấy một tình hình đáng sợ: nạn đói, bệnh tật, sự thái quá về giới tính và không có hy vọng gì về bất cứ loại quan hệ có ý nghĩa nào với người Anh-diêng.
Một câu hỏi tự nhiên phải nêu ra là, làm sao sự việc có thể thay đổi một cách cơ bản như thế từ cuộc gặp thứ nhất tại Bahamas đến mối quan hệ của cuộc đi thứ hai? Hình như những đảo ở biển Ca-ri-bê lúc đó cũng như bây giờ là một thiên đường trên mặt đất. Tất cả đều đẹp. Nhưng ngay cả những điều tốt cũng lâu dần quen di. Ngủ đu đưa trong một chiếc võng là hay, tuy nhiên có bao nhiêu người châu Âu công nhận hoặc các nhà chuyên nghiệp sẵn sàng đổi giường lấy võng? Mùi vị dứa, đu đủ, quả mơ là tốt, nhưng nếu bạn đem những thứ đó cho binh lính Ý, hoặc Tây Ban Nha, đã quen với táo, lê, và cam, quả lạ sẽ bị vứt đi như một thứ bẩn thỉu. Bơi trong biển ngoài khơi La Isabela là tuyệt diệu, tôi đã hưởng thú vị đó nhiều lần, nhưng những nhà quý tộc, những nông dân thời đó tuyệt đối không ham thích bơi dưới biển. Đây là ba ví dụ chỉ rõ thiên đường trên mặt đất biến thành nơi chuộc tội đối với người Tây Ban Nha như thế nào?
Cũng nhớ lại nơi chuộc tội - nếu bản thân nó không phải là địa ngục - một cơn bão đã ập đến . La Isabela vào một ngày tháng không nhớ rõ, có lẽ vào mùa thu năm 1495, Pietro Martire viết: "Một trận gió dữ dội đã xuất phát từ phía Đông bắc, người ta chưa bao giờ thấy một trận bão như thế ở châu Âu .
Không ai có thể hồi tưởng lại một sự việc nào giống như thế, vì người ta chưa biết một sự việc nào giống như thế ở châu Âu. Chữ huracán là tiếng Maya và có nghĩa "người có một bàn chân", để chỉ vị thần bão. Người Tây Ban Nha đã chấp nhận tên gọi đó cho một loại bão lớn, gây tác hại nhiều hơn một trận động đất. Mùa thu năm 1495 một cơn lốc đã làm bật gốc những cây không lồ tại thung lũng Bajabonico, làm đứt những thừng néo tàu biển, và làm đắm hai ba chiếc tàu thả neo trong vịnh La Isabela. Pietro Martyre bình luận: "Một sự kiện kỳ lạ khủng khiếp". Đó không chỉ là một sự kiện kỳ lạ mà là một sự mới lạ nữa trong số nhiều cái mới lạ của cuộc phát kiến vĩ đại, một sự kiện làm cho cuộc gặp gỡ của những người Châu Âu với Thế Giới Mới càng thêm khó khăn hơn.

 
Chú thích :
(1)     Giovanni Boccacio (1313 - 1375), tác giả tập truyện Decameroni, có ý vị truyện tiếu lâm, đã được dịch sang tiếng Việt, với tựa sách Mười ngày, năm 1985, tái bản năm 1994.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.08.2021 10:48:12 bởi Ct.Ly>
29. CHIẾN TRANH VÀ NÔ DỊCH
 
 
Không những làm quen với khí hậu là việc khó khăn, phát triển quan hệ giữa người da trắng và người Anh-diêng, lúc đầu rất tình cảm nay biến thành chua chát và cay đắng. Như vậy đến cuối tháng 9-1494, tình trạng thuộc địa rất nghiêm trọng
Trước  khi rời đi Cuba và Giamaica, với cương vị là Tổng trấn, Colombo đã ra lệnh xây một con kênh từ Bajabonico đến trung tâm thành phố để cung cấp thêm nước và sức đẩy cho một máy xay. Mọi người đều phải làm việc, nhưng như đã nhận xét theo Las Casas, những người quý tộc "cảm thấy lao động chân tay là bất hạnh, cũng như chết hoặc tồi tệ hơn, nhất là họ không được ăn uống tốt". Những người định cư khác có thể muốn làm việc nhưng họ không thể làm việc vì khí hậu và dinh dưỡng tồi tệ, La Casas cũng tường thuật lại: "Như vậy Colombo phải dùng bạo lục để thực hiện ý muốn của mình". Oviedo còn nói tỉ mỉ hơn: "Colombo đã treo cổ một số người, đánh những người khác và trở nên nghiêm khắc và khắt khe hơn bình thường". Cha Boil, giáo chức đại diện phận Tòa thánh đã tố cáo Colombo quá nghiêm khắc. Như vậy bắt đầu một cuộc đấu bi hài giữa quyền lực tinh thần của Cha Boil và quyền lực trần tục của Colombo. Cha Boil cấm vị Tổng trấn tham gia những buổi lễ và hoãn những buổi lễ ban phuớc. Viên Tổng trấn đáp lại bằng cách cắt suất ăn của vị tu sĩ, suất ăn đã định khẩu phần một cách chặt chẽ. Đói đã buộc cha Boil phải đầu hàng.
Những hành động như thế không khuyến khích việc tôn trọng chính quyền và cũng không thúc đẩy sự phát triển khuôn phép của thuộc địa. Những sai lầm khác của Colombo cũng không giúp ích gì. Ông là một nhà hàng hải vĩ đại, không phải là một nhà chính trị. Ông đã sai lầm khi trao quyền hành cao nhất cho Don Diego không có khả năng khi ông vắng mặt lâu dài; một sai lầm khác là để cho Margarite chịu trách nhiệm thăm dò Vega Real. Khi cử đoàn tiến hành cuộc thăm dò đó, Colombo có ảo tưởng giải quyết mấy vấn đề cùng một lúc: hoàn thành việc khảo sát đảo, giữ cho mấy trăm người có việc làm, tránh căng thẳng về đồ tiếp tế tại La Isabela, và làm cho mọi người quen với thức ăn của người bản xứ. Thay vào đó, những người của Margarite đi lướt qua Vega Real, sống xa cách người bản xứ, gây ra mọi sự xúc phạm có thể tưởng tượng được.
Trước khi viên Đô đốc trở lại, Margarite và Cha Boil đã quyết định về Tây Ban Nha bằng những chiếc thuyền đã chở Bartolomeo là anh của Colombo và những người định cư mới đến. Họ định nói với Vua và Hoàng hậu rằng người Genova đáng nguyền rùa ấy đã lừa họ bằng những lời hứa hẹn sẽ có vàng, ngọc trai, hương liệu; vậy mà tất cả những cái họ thấy là nạn đói, bệnh tật, đau khổ và sự căm thù của người Anh-diêng. Khi viên Đô đốc trở lại sau khi khảo sát Cuba và Giamaica, những tội ác mà những người định cư tại La Naviđad đã phạm được lập lại trên một quy mô lớn hơn nhiều tại La Isabela. Những người Tây Ban Nha đã đi từng nhóm hai ba người trên đảo Vega Real và những ngọn đồi lân cận, hiếp phụ nữ, bắt một số và buộc những người đàn ông phải lao động nô lệ.
Tuy nhiên, viên Đô đốc thấy thoải mái khi gặp lại Bartolomeo, người đã đi nước Anh khi thấy Tây Ban Nha có vẻ không bảo trợ dự án lớn. Bartolomeo đã trải qua nhiều nghề làm cướp biển, ở lại Luân Đôn một thời gian dài làm nghề vẽ bản đồ, đi khắp nước Pháp - cho đến khi ông nghe tin về cuộc phát kiến vĩ đại, ông trở về triều đình Tây Ban Nha. Vua và Hoàng hậu Công giáo đón tiếp ông một cách thuận lợi, cho ông tước vị Don và cho ông chỉ huy ba chiếc thuyền chờ đồ tiếp tế đến Hispaniola.
Sự có mặt của Bartolomeo tại Thế Giới Mới là một may mắn bất ngờ. Tính tình ông không giống tính tình Diego. Colombo có ý thức gia đình rất lớn, suốt cuộc đời mình, Colombo giao những nhiệm vụ tế nhị nhất cho những người bà con. Ông đã làm như thế với Diego de Arana và Don Diego. Bây giờ ông lập tức cho Bartolomeo danh tước adelantado. Đó là sự sai lầm và lạm dụng về mặt quyền hạn. Vua và Hoàng hậu phật ý, vì chỉ có Vua và Hoàng hậu, chứ không phải Tổng trấn có quyền ban những tước vị cao như thế. Nhưng đó cũng là sự xét đoán sai lầm vì nó xúc phạm tính tự hào của Tây Ban Nha. Những nhà quý tộc Tây Ban Nha có thể chấp nhận người nước ngoài thực hiện phát kiến vì ông có may mắn tìm ra những vùng đất mới cho nhà vua Tây Ban Nha. Nhưng tại sao Bartomomec một người Genova khác lại có quyền hành cao hơn những đại diện chân chính của quốc gia Tây Ban Nha?
Sự bất mãn trong số những người định cư tăng thêm, tình hình không tốt lên mà trở nên tồi tệ hơn. Như thường vẫn xẩy ra, khi các vấn đề khó khăn phát triển đến lúc có vẽ không thể giải quyết được nữa thì những người cầm quyền dùng chiến tranh để giải quyết. Đó là trường hợp trên đảo Hispaniola vào cuối năm 1494 và đầu năm 1495. Tháng 3-1495 chiến tranh công khai đã nổ ra giữa những người Anh-diêng và những người Tây Ban Nha, Colombo không chủ tâm chọn chiến tranh; ông chỉ đơn thuần không biết sử dụng quyền lực chính trị. Trên tàu, ông đã giữ quyền thuyền trưởng, thi hành quyền đó một cách khéo léo, mạnh dạn và với trí tưởng tượng nhanh nhất. Nhưng quyền lực chính trị và quyền lực trên biển thì khác nhau hoàn toàn và Colombo không quen hoạt động chính trị. Do đó cần bác bỏ thuyết cho rằng ông muốn chiến tranh, ông cố tình chọn phương tiện tồi tệ nhất với hy vọng giải quyết mọi vấn đề bằng bạo lực. Trong thực tế, một cuộc chiến tranh du kích đã diễn ra trước khi viên Đô đốc trở về sau cuộc khảo sát hàng hải dài ngày của ông. Ông bị hoàn cảnh lôi cuốn vào chiến tranh: những sai lầm của ông và của những người giúp việc ông và nỗi lo sợ người Anh-diêng sẽ lợi dụng sự yếu kém của người Tây Ban Nha.
Đầu tháng Giêng 1494, trong khi soạn bản ghi nhớ để Antonio de Torres mang về cho Vua và Hoàng hậu, Colombo đã nhận xét rằng người Anh-diêng "chất phác và không có ác ý", nhưng ông lấy làm ngạc nhiên họ đã thay đổi và phá hủy mọi thứ, mạng nguời và đồ tiếp tế. Colombo viết tiếp: "Một người Anh-diêng có thể dễ dàng đốt những ngôi nhà, vì người Tây Ban Nha luôn luôn đi lại ngày đêm, vì như vậy chúng tôi phải gác khu vực xung quanh, bởi lẽ thành phố để ngỏ và không có phòng vệ". Vua và Hoàng hậu ghi chú ngoài lề "tốt", tức là, ông đặt những trạm gác là tốt. Cũng có ghi tên Caonabo, "rất xấu và rất mạnh dạn". Colombo giải thích rằng vì sợ người này, ông đã không thể liều đi sâu vào đất liền để góp nhặt thêm vàng. Bên cạnh đoạn này Vua và Hoàng hậu lại ghi "tốt".
Những trang đầu tiên của bản ghi nhớ Colombo gửi Torres cầm về, đề ngày 30 tháng 1-1495, cho biết rằng sợ hãi đã siết chặt người Tây Ban Nha và chính bản thân Colombo. Nổi sợ hãi đó là chính đáng, xét về số người bị ốm. Vì hiếm thực phẩm, nhất là thịt tươi, nhiều người ốm không thể khỏi, và nếu bệnh cứ tiếp tục không ngăn chặn được, người Anh-diêng có thể lợi dụng cơ hội tấn công La Isabela.
Nếu bản ghi nhớ phản ánh tâm trạng của Colombo trước khi ra đi khảo sát Cuba và Giamaica, chúng ta có thể tưởng tượng bảy tháng sau sẽ như thế nào khi không có biện pháp gì để giảm bớt nỗi sợ hãi, trong khi nguy cơ và hiểm nghèo tăng thêm. Trong thời gian Colombo đi vắng, người Anh-diêng đã có nhiều dấu hiệu cho thấy họ có thể trả đũa, họ biết họ có thể chiến đấu chống lại sự xúc phạm của những người định cư.
Không nên quên một động cơ khác nữa về hành động của Colombo hướng tới chiến tranh: sự mặc cảm mình là người nước ngoài, ông biết rằng bất cứ điều gì ông làm để bảo vệ người Anh-diêng và trừng phạt người Tây Ban Nha đều bị những người này giải thích bằng những từ ngữ mang tính chất dân tộc. Nghĩ rằng ông không bảo đảm lợi ích và những quyền cho những người dân của đất nước mà ông đã chấp nhận là Tổ quốc mình, thì họ sẽ phê phán ông và báo cáo với Vua và Hoàng hậu.
Dù nguyên nhân gì đi nữa, ông đã không trừng phạt những người quý tộc và những người định cư bất lương, ông đã đổ lỗi tất cả cho người Anh-diêng, chấp nhận chính sách khắc nghiệt của Cha Boil mà ông đã bác bỏ trước đó sáu tháng. Kết quả là người Tây Ban Nha đã bắt một nghìn năm trăm đàn ông, đàn bà và trẻ em Anh-diêng, dồn họ đến La Isabela. Đó thực sự là một trại tập trung những người buộc phải làm nô lệ. Colombo đã nghĩ đến chế độ nô lệ vào lúc ông phát hiện ra người Caribi ở quần đảo Tiểu Antilles. Những người Caribi là kẻ thù bất cộng đái thiên của người Taino, còn người Taino thì tỏ ra ngoan ngoãn, biết nghe lời và trung thành. Đối với Colombo nô lệ hóa người Caribi, những kẻ ăn thịt người, dữ tợn và không có chút lòng thương là việc có vẽ chính đáng và nên làm về chính trị. Ông đã gợi ý việc đó với Vua Ferdinand và Hoàng hậu Isabela trong giác thư gửi Antonio de Torres cầm về. Vua và Hoàng hậu đã ghi chú chấp nhận bên cạnh những đoạn khác của bức thư và biểu thị bằng lời lẽ rõ ràng việc cấm buôn bán nô lệ như đã được đề nghị, Vua và Hoàng hậu viết: "Dự án này phải để sang một bên .
Trả lời của Vua và Hoàng hậu đến Hispaniola nhanh chóng vào mùa thu 1494. Antonio de Torres đã mang bốn chiếc thuyền chở đầy thức ăn và dụng cụ và một bức thư của Vua và Hoàng hậu đề ngày 16 tháng 8. Sau khi tham khảo ý kiến với các cố vấn về giác thư của Colombo gửi hồi tháng 2 trước đó, Ferdinando và Isabela đã chấp nhận hầu hết những đề nghị và hành động của ông. Vua và Hoàng hậu muốn được báo cáo rõ ràng hơn về khí hậu của những vùng đất mới, vì điều đó là quan trọng nhất đối với những người di cư tương lai. Những cuộc thương lượng với Bồ Đào Nha thuận lợi đến nỗi Vua và Hoàng hậu đề nghị bắt đầu tổ chức hàng tháng chuyến tàu chở thư và hành khách trên tuyến đường cố định giữa Tây Ban Nha và Hispaniola. Vua và Hoàng hậu nói thêm rằng sẽ xác định một tuyến đường giới tuyến mới dứt khoát với Bồ Đào Nha càng sớm càng tốt, và vì vậy, họ mời Colombo về nước để tham khảo ý kiến. Tuy nhiên "nếu việc ông trở về sẽ gây khó khăn, hoặc phương hại đến công việc trước mắt của ông thì ông hãy chọn người anh của ông, hay một người thông thạo nào khác; hãy chỉ thị cho người đó bằng miệng, hoặc bằng giấy, về suy nghĩ của ông đối với vấn đề này, và cử người đó trở về bằng chiếc tàu đầu tiên có thể dành ra được.
Như vậy là Colombo có cơ hội thoát khỏi những vấn đề khó khăn của ông. Ông có thể giải thích bức thư là một mệnh lệnh trở về Tây Ban Nha; ông để Bartolomeo ở lại chỉ huy, và sẽ đích thân bác bỏ những lời vu cáo của Margarite và Cha Boil; hai người này sắp tới sẽ về đến triều đình. Nhưng ông đã bác bỏ giải pháp dễ dàng ấy; thay vào đó, ông quyết định ở lại để gánh vác những vấn đề nặng nề và nghiêm trọng đầu tiên về thuộc địa của lịch sử cận đại. Ông sẽ không trở về Tây Ban Nha. Nhưng ông có thể gửi thư cho Vua và Hoàng hậu bằng những chiếc tàu của Torres? Tháng ba ông đã gửi một bức thư hứa những mẫu vàng khổng lồ, những cây mới và những con vật thông thường có nhiều màu sắc. Còn có rất nhiều vẹt nhưng Colombo đã không thể tiếp tục gửi chúng về Tây Ban Nha. Colombo cũng không thể gửi vàng vì những mẫu vàng đã đến nơi rồi, còn tại San Tomaso thì chưa thu thập đủ để gửi. Mọi người Tây Ban Nha đều có nơi giấu riêng, trong quần áo hay chôn dưới đất, nhưng chưa thu được một thùng nào cho nhà Vua. Những nhà buôn Tây Ban Nha không đánh giá cao bất cứ một hương liệu hay tinh dầu nhiệt đới nào gửi về trước đó. Hàng bông sợi dễ bán nhưng mang lại ít lãi. Colombo phải gửi một cái gì về châu Âu để trang trải những chi phí và phản bác lại những gợi ý đê tiện rằng không nên quan tâm chút nào nữa đến những đảo vùng Indie. Hàng hóa duy nhất còn lại là nô lệ, nên Colombo gom nhặt một chuyến tàu nô lệ.
Như vậy, sau nhiều lần khẳng định rằng những người Taino tính tình rộng lượng, dễ bảo, không có gì để tự vệ và muốn trở thành những người đầy tớ tốt và những tín đồ Công giáo ngoan đạo, bây giờ Colombo đã quyết định gửi họ đến thị trưởng nô lệ ở Seviglia. Tôi đã nói 1500 người Anh-diêng đã bị bắt và giữ lại ở La Isabela. Trong số này năm trăm "đàn ông và đàn bà tốt nhất" đã bị đưa lên hầm chứa hàng của bốn chiếc tàu. Sau đó những công dân La Isabela tha hồ chọn bao nhiêu người cũng được. Còn lại khoảng bốn trăm người, nhiều người là phụ nữ có con còn bú. Michele da Cuneo kể lại rằng những người này "được phép tùy ý đi đâu thì đi". Những phụ nữ lại sợ "chúng ta bắt lại, họ bỏ con lại để có thể trốn đi không bị vướng víu, họ chạy như điên. Họ tuyệt vọng đến nỗi họ đi bảy tám ngày đường từ La Isabela, vượt qua nhiều núi cao, sông lớn".
Bốn chiếc tàu, dưới sự chỉ huy của Antonio de Torres, đã ra đi ngày 24 tháng 2 năm 1495. Trên tàu là Michele da Cuneo và Diego Colombo; Diego đại diện cho viên Đô đốc sẽ bảo vệ những quyết định của ông tại triều đình và chống lại những lời vu khống của cha Boil và Margarite. Michele da Cuneo kể lại: "Khi chúng tôi đến hải phận Tây Ban Nha, khoảng hai trăm người Anh-diêng đã chết, tôi cho rằng vì không khí lạnh hơn điều kiện quen thuộc của họ. Họ bị ném xuống biển. Chẳng bao lâu sau khi chúng tôi đến Cadice, tại đây chúng tôi đưa nô lệ lên bờ, tất cả đều ít nhiều bị ốm. Họ không quen lao động nặng, khổ sở vì thời tiết lạnh rét và chết sớm". Don Juan de Foneca đưa những người còn sống sót ra bán ở Seviglia. Bernádez nói rằng "họ trần trụi như lúc mới sinh và trơ như dã thú. Họ không đắt khách vì tất cả họ đều chết vì đất nước này không hợp với họ".
Những nô lệ xuống tàu ngày 17 tháng 2. Bốn mươi ngày sau, ngày 27 tháng 3, xảy ra trận chiến Iớn đầu tiên giữa người châu Âu và những người thổ dân châu Mỹ, hai bên đã dàn trận trước, nhưng trước hết chúng ta phải tìm hiểu xem điều gì đã dẫn đến đánh nhau. Khác với Guacanagari, Caonabó khỏe mạnh, dũng cảm và hiếu chiến. Ông thống trị những vùng núi từ trung tâm đảo xuống tận bờ biển phía Nam. Mặc dù hiếu chiến, Caonabó đã tiếp hai giáo sĩ dòng Francesco, Giovanni Borgognone và Juan de Tisin; hai người này đã truyền đạo và rửa tội cho một số người bản xứ. Khi Margarite và những người của ông sử dụng bạo lực và cướp bóc thẳng thừng, Caonabó trục xuất những người truyền giáo và yêu cầu những tù trưởng khác liên kết với ông. Ba tù truởng đã làm như vậy, nhưng Guacanagari đã từ chối, kể cả khi bị đe dọa; do đó Caonabó xâm chiếm lãnh thổ của Guacanagari, phá hủy nhiều làng và giết dân chúng. Guacanagari phải chạy trốn để thoát thân.
Một tùy thuộc của tù trưởng Guarionex, cai trị vùng đất xung quanh La Isabela, đã bao vây và giết mười người Tây Ban Nha đóng ở gần Rio Yaque và đốt một lán lớn dùng làm bệnh viện. Bốn mươi lính Tây Ban Nha ốm bị chết trong đám cháy. Caonabó đã tập hợp binh sĩ đóng gần Pháo đài Tomaso, hy vọng tấn công bắt ngờ trại lính và lập lại thảm họa La Navidad. Nhưng Alonso de Hojeda, rõ ràng là một quần nhân xuất sắc, đã giữ năm mươi người trong pháo đài và thận trọng theo dõi những người gác của ông, những người này luôn luôn giữ vị trí và đêm nào cũng cử người tuần hành trong rừng. Nhận thấy không thể trèo vào pháo đài, vì có hào sâu và con sông bao quanh, Caonabó tìm cách làm cho những người Tây Ban Nha bị chết đói. Ông chiếm những khu rừng xung quanh khống chế những con đường mòn, và đặt nhiều lính gác tại những nơi người Tây Ban Nha phải đi để tìm thức ăn. Hojeda không nản chí. Ông cắt bớt khẩu phần; thỉnh thoảng tiến công lùng sục bất ngờ, giết những người Anh-diêng. Cuộc bao vây kéo dài một tháng tròn. Lực lượng Anh diêng bị hao mòn trong chiến tranh, bị vất vả phải ngủ ở ngoài trời và ốm đau, Caonabó cuối cùng rút lui, quay sang chú ý đến La Isabela.
Trước khi tấn công, ông xuyên rừng đi xung quanh tường thành ban đêm, tìm những điểm yếu nhất. Thậm chí ông còn táo tợn đi vào La Isabela giữa ban ngày, giả thân thiện với người Tây Ban Nha. Thấy rằng La Isabela không có binh lính và hầu hết những người định cư đều ốm, tinh thần của họ sa sút vì bất đồng, ông quyết định cố gắng phá hủy khu định cư. Nhưng Guacanagari đã cứu Colombo và những người Tây Ban Nha lần thứ hai. Guacanagari đến, Colombo đang nằm trên giường vì bị viêm khớp, và tiết lộ âm mưu của những tù trưởng khác. Colombo tự hào đã bảo vệ Guacanagari khi những người của ông muốn lên án Guacanagari là một tên phản bội, Colombo chuẩn bị đối phó với tình huống khẩn cấp. Ông cử một lực lượng nhỏ đánh những bộ lạc đang bao vây một pháo đài ở vùng sâu, đánh bại họ, đuổi họ trở lại vùng đất của họ và khuất phục họ. Nhưng
Caonabó, kẻ thù hiếu chiến và nguy hiểm nhất của Colombo vẫn còn. Để cho Caonabó hồi phục sau khi bị Hojeda buộc phải rút lui thì cũng như để cho ông một trận địa để thực hiện những cuộc trả đũa mới và tuyệt vọng.
Sự táo bạo và lòng dũng cảm khác thường của Hojeda đã giải quyết vấn đề. Hojeda đề nghị bắt Caonabó tại nơi ẩn náu an toàn của y và tình nguyện đưa Caonabó trở về La Isabela. Colombo cho phép ông làm thử và Hojeda ra đi với chín kỵ sĩ Tây Ban Nha dũng cảm nhất và những món quà lòe loẹt để dử Caonabó. Sau khi đi hơn sáu mươi dặm, Hojeda tới làng của Caonabó. Trông thấy một toán nhỏ người Tây Ban Nha, Caonabó không nghi ngờ gì và đã tiếp Hojeda một cách lịch thiệp. Caonabó đã khâm phục lòng dũng cảm đặc biệt của Hojeda. Caonabó nhận những quà biếu và hỏi lý do cuộc đến thăm. Hojeda trả lời, mời Caonabó tới La Isabela, để có thể đích thân đề ra một hòa ước với Colombo, lại hứa sẽ thuyết phục lấy chuông nhà thờ cho Caonabó. Trước đó, khi Caonabó thăm dò La Isabela, ông đã rất ngạc nhiên rằng tiếng chuông báo hiệu thời gian cầu nguyện đã gọi tất cả những người Tây Ban Nha đến nhà thờ, ông tin tiếng chuông đã có sức làm cho họ nghe lời. Sau đó, Caonabó đã nhiều lần bày tỏ lòng mong muốn được mang chuông vào trong núi, và nói rằng ông sẽ cho hầu hết mọi thứ để lấy chuông. Hojeda biết ý muốn đó của Caonabó. Caonabó không thể cưỡng lại lời hứa cho chuông nhà thờ và đồng ý đi đến La Isabela, nhưng không đi một mình. Ông đi cùng một đám đông người Anh diêng trang bị cung tên.
Sau khi đi bộ nhiều ngày, nhóm người dừng lại ở gần Rio Yaque, tại đây Hojeda thi hành kế hoạch táo bạo của mình. Kéo Caonabó đến bên cạnh như để nói với ông một điều bí mật, Hojeda lấy hai đôi xiềng từ trong một bao tải và chỉ đôi xiềng đó cho Caonabó. Caonabó thán phục sự sáng loáng của đôi xiềng đó và hỏi những xiềng ấy để làm gì. Hojeda trả lời những xiềng ấy là những đồ trang sức Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha đeo vào tay và bàn chân trong những dịp lễ chính thức và đề nghị Caonabó cũng đeo những vòng tay đó, ngồi trên lưng ngựa để ra mắt nhân dân ông. Nghĩ rằng nhân dân ông sẽ ngạc nhiên và ông sẽ lừng danh vì cưỡi được một con vật hung dữ (người Anh diêng cho ngựa là hung dữ). Caonabó đã đồng ý. Những người Anh diêng chạy vòng quanh ngạc nhiên khi trông thấy chủ soái của họ trang điểm bằng những vòng sáng lớn như vậy, nhưng họ đứng sững lại vì sợ tiếng hí và chân dậm xuống đất của con ngựa. Hojeda cho con ngựa quay những vòng rộng hơn, tạo ra một khoảng trống khi binh lính Anh diêng dần dần lùi về phía sau vì sợ hãi và ngạc nhiên. Khi đến gần rừng, ông bất ngờ thúc ngựa về phía những người Anh-diêng, làm vỡ vòng tròn của họ. Hojeda cho ngựa thong thả chạy nước kiệu nửa vòng rồi phi nước đại khi có cây cối che phủ. Những kỵ sĩ của ông cũng chạy hết tốc độ theo ông và buộc Caonabó bằng những thừng chắc và dày. Rồi họ khởi hành nhanh về đến La Isabela.
Việc bắt Caonabó đã khơi lên sự ngạc nhiên và sợ hãi nhưng không chấm dứt được chiến sự. Người anh em của Caonabó và hai tù trưởng khác chuẩn bị trả thù. Họ tiến nhanh đến La Isabela với một số đông người. Các nhà sử học đương thời rõ ràng đã nói quá lên là có đến 100.000 binh sĩ, nhưng thực ra chỉ có mấy nghìn. Ngày 24 tháng 3-1495 Colombo rời La Isabela với người anh em Bartomomeo, hai trăm bộ binh, hai mươi kỵ sĩ, trang bị bằng nỏ, súng hỏa mai, giáo và kiếm. Cùng đi với họ là năm trăm binh lính Anh diêng do Guacanagari chỉ huy. Hai đội quân gặp nhau tại Vega Real. Bartolomeo, người được Colombo cửvlàm chỉ huy, chia người Tây Ban Nha làm hai đội,
một đội bố trí ở ngoài trời và một đội ở trong rừng, và ra lệnh cho họ tấn công bất ngờ vào kẻ thù. Còn phía người Anh diêng thì đằng sau có núi bảo vệ, họ đã tiến thành năm nhóm và chuẩn bị tấn công khi có tiếng súng nổ từ phía rừng. Nhiều người Anh-diêng bị bắn ngã, sự hỗn loạn và hoảng hốt lan tràn khắp nơi. Kỵ binh, dưới sự chỉ huy của Hojeda, tấn công vào trung tâm làm địch tan tác, gây nên cảnh tàn sát khủng khiếp bằng những thanh kiếm. Người Anh diêng bị đẩy vào cảnh hổn loạn và chạy trốn, La Casas kể lại rằng lúc này người Tây Ban Nha đã dùng những vũ khí gây khiếp sợ khác của họ sau những con ngựa là hai mươi con chó săn. Những con chó này được thả ra và tấn công những người Anh diêng, theo mệnh lệnh Tómalo: ("cắn chúng đi"). Trong một giờ, những con chó đã đuổi theo cắn chết một trăm người Anh diêng. Vì người Anh diêng có thói quen hoàn toàn trần truồng nên cũng dễ tưởng tượng những con chó săn hung ác đã làm gì. Người ta thúc đẩy chó cắn những cơ thể trần truồng có da mềm hơn nhiều so với những con lợn rừng mà chúng đã quen... Chiến thuật này, bắt đầu ở đây và được áp dụng vì tính ác độc, đã lan khắp những đảo giữa Bắc và Nam Mỹ này và chỉ chấm dứt khi không còn đất và người để khuất phục và phá hủy nữa ở bộ phận này của thế giới.
Đó là sự sáng tạo thứ nhất trong nhiều sáng tạo "man rợ được phát minh, áp dụng và mở rộng để hủy diệt toàn bộ nhân dân Anh-diêng".
Từ cuộc gặp gỡ đầy tình cảm trước đó hai năm ở San Salvador đến nay thật là một sự thay đổi to lớn. Trận chiến ở Vega Real đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong số phận thảm khốc của người Taino ở Haïti. Các tù trưởng quy phục nhanh chóng và không điều kiện. Để củng cố thắng lợi, Colombo đã thực hiện một cuộc diễu hành chiến thắng qua bên trong đảo, tại đây ông đã chỉ huy việc xây dựng ba pháo đài mới. Hojeda bảo đảm đường thông tin liên lạc bằng kỵ binh. Don Fernando viết: "Miền này từ đó trở nên yên tĩnh đến mức một người Công giáo có thể đi một mình đến bất cứ chỗ nào mà không sợ bị quấy rầy. Chính những người Anh diêng dẫn ông ta đi bất cứ nơi nào ông ta muốn, cõng ông ta trên vai như những con ngựa chở hành lý". Toàn bộ hòn đảo đã được bình định, nhưng với biết bao tổn thất!
Tại đây lại thêm một lạm dụng nữa ngoài việc buôn bán nô lệ gửi về Tây Ban Nha: chế độ cống nạp. Mọi người Anh diêng mười bốn tuổi, hoặc trên tuổi đó, ba tháng một lần phải cung cấp đủ bụi vàng để đổ đầy một cái chuông con buộc ở cổ con diều hâu. Ở đâu không có vàng thì có thể thay bằng hai mươi nhăm cân Anh bông đã xe hoặc dệt. Khi nộp cống vật mỗi người Anh diêng nhận một huy hiệu bằng đồng, hay đồng thau có in dấu đeo quanh cổ để chứng tỏ đã hoàn thành nghĩa vụ.
Guarionex là tù trưởng duy nhất có thể đáp ứng kỳ cống nạp đầu tiên, có lẽ ông đã lấy của bầy tôi số lượng vàng nhỏ nhoi chưa bị cướp bóc. Những chuổi hạt vàng đeo cổ đã gây ấn tượng lớn đối với Colombo thực tế là công việc của nhiều thế hệ. Khi chế độ cống nạp bắt đầu, người Tây Ban Nha đã chiếm hết, hoặc gần hết vàng của người Anh diêng. Người Anh diêng chỉ có thể lấy được thêm vàng bằng cách đãi cát và đá dăm ở lòng sông, hoặc bằng cách làm nặng nhọc và phức tạp hơn, nhổ hết cây cỏ và đào cho tới khi thấy vàng trong đất phù sa. Phương pháp thứ hai không thực tế với những công cụ của người Anh diêng. Ta phải thấy rằng để xới đất giồng, ngô và yuca họ chỉ có cái coa, một cái gậy bằng gỗ rắn có một đầu tôi lửa cho cứng. Phương pháp thứ nhất đãi cát, mất nhiều thời gian và đòi hỏi sự kiên trì khác thường. Thành quả đạt được thường khiêm tốn và không đoán trước được, Thỉnh thoảng một người tìm thấy một cục vàng lớn, nhưng thường những người Anh-diêng không thể sản xuất đủ số lượng cần thiết. Vì những lý do này, khi tới kỳ cống nạp đầu tiên, Guarionex đã đề nghị sự thay đổi này với Colombo: ông sẽ cung cấp đủ yuca để nuôi toàn thể nhân dân Tây Ban Nha, theo ông dân Tây Ban Nha cần thức ăn nhiều hơn khoáng sản. Viên Đô đốc không chấp nhận điều đó. Ông giảm lượng cống nạp xuống một nửa nhưng ngay cả số lượng đó cũng còn nhiều quá.
Một sai lầm có tính quyết định khác nữa về chính trị, không kể sai lầm đạo đức xuất phát từ chế độ cống nạp. Người Anh diêng bỏ làng mạc trốn vào núi hàng loạt. Người Tây Ban Nha săn đuổi họ xuống bằng chó, trong khi sự thiếu thốn và bệnh tật đã giết một số lớn những người đã tìm cách trốn được. Hàng trăm người nghèo khổ cực đã tự tử, tự đầu độc họ bằng sắn. Chiến tranh, nô lệ, diệt chủng - một chuỗi những thảm kịch xảy ra trong một khoảng thời gian mấy năm. Ước tính có khoảng 350.000 người Taino sống trên đảo Hispaniola khi người Tây Ban Nha đến. Năm 1508 có 60.000 người và năm 1548, Oviedo ước tính rằng chỉ còn không quá 500 người, còn sống sót trên toàn đảo.
Khi nhấn mạnh những sai lầm và tội ác trong những giai đoạn đầu tiên của công cuộc thực dân hóa, như ở đây, chúng ta không được quên bối cảnh trong đó những sai lầm và tội ác đã xảy ra. Colombo và Bartolomeo phải chịu trách nhiệm cá nhân về những tội ác đó. Ngay cả mặt ghê tởm nhất của cuộc gặp gỡ, việc gửi nô lệ đến Seviglia, ta phải xem xét thời gian khi việc này xảy ra, dù ngày nay việc này có tỏ ra đáng kinh tởm thế nào chăng nữa. Nói thế không phải đi biện hộ cho Colombo, vì ông chỉ thuần túy tuân theo những phong tục của thời đại đó. Bình luận về thái độ của Hồng y giáo chủ Federico Borromeo đối với việc truy tố và lên án phù thủy, Alessandro Manzoni đã nhận xét: Người muốn bảo vệ ông ta trong vấn đề này viện một lý do rất phổ biến, "đó là những sai lầm của thời đại chứ không phải của ông ta". Sau khi tìm hiểu thực tế. Lý do bào chữa này xem ra cũng có giá trị, có lẽ có nhiều giá trị. Nhưng nếu áp dụng một cách mù quáng, nó không có nghĩa gì, mà trong thực tế thường xảy ra như vậy.
Một lý do bào chữa như thế không có nghĩa gì trong trường hợp của Colombo. Thật vậy, không những ông mà những người thành Genova, người Bồ Đào Nha, người Firenze, những người trước ông và những người đương thời với ông đã buôn, hoặc đang buôn nô lệ. Tuy nhiên, thái độ của ông không giống thái độ của những người ấy vì mối quan hệ phát triển với những người Anh-diêng trong suốt chuyến đi thứ nhất và cho đến thời điểm đó của chuyến đi thứ hai nữa. Chúng ta cũng không nên quên rằng ngày 14 tháng 10-1492, viết về những ý nghĩ đầu tiên của ông về những dân tộc mới, trong Nhật ký Colombo thêm điều này: Nếu Bệ hạ ra lệnh đưa hết họ đến Castiglia, hoặc giữ họ trên hòn đảo của họ, việc đó có thể làm dễ dàng.
Cáptive có nghĩa là nô lệ, dùng từ đó chỉ là một từ nói xa xôi. Viên Đô đốc đối xử một cách cao thượng trong chuyến đi đầu tiên, đối xử tốt với những người Anh- diêng, không xúc phạm, trừng phạt những sai trái của thủy thủ và biểu thị một sự chiếu cố nào đó. Dứt khoát ông coi họ thấp hơn - ý nghĩ về bình đẳng không phù hợp với ông - nhưng thấp hơn với ý nghĩa là trẻ em thấp hơn người lớn. Ông coi họ ngây thơ và vô tội và đã đối xử với họ theo như thế; ông tiếp tục làm như vậy trong phần đầu cuộc hành trình thứ hai. Thái độ của ông đối với những người ăn thịt người rất khác. Khi Colombo lần đầu tiên nghĩ về việc bắt nô lệ tại những vùng đất mới, ông nghĩ đến những người Caribi man rợ và dữ tợn, những người ăn thịt người, kẻ thù truyền kiếp của những người Taino thân thiện. Ông cảm thấy họ xứng đáng sự trừng phạt khắc nghiệt nhất, như vậy chế độ nô lệ là thích hợp.
Tuy nhiên bây giờ, tại La Isabela, ông bất ngờ quyết định gửi nô lệ đến chợ tại Seviglia, ông đã chọn những người đàn ông, đàn bà và trẻ em Taino. Không dễ xét đoán quyết định này, hoặc xác định Colombo đã đi đến quyết định đó như thế nào. Có thể Colombo đã nghĩ rằng những người Taino không có quyền được tôn trọng như mọi con người xứng đáng được tôn trọng vì nó không được có một linh hồn bất tử như những người châu Âu, như có người sau này cố chứng minh? Những gì viên Đô đốc đã viết và đang viết về vấn đề này trong Nhật ký và giác thư chỉ rõ rằng ông không có những quan điểm đó, như vậy những câu trả lời như thế không thể giải thích một việc đáng khinh bỉ.
Có thể có một giải thích khác nữa, cho đến lúc đó quan hệ giữa những người Anh - diêng và những người Công giáo là nhân đạo, thân thiện và hòa bình. Nhưng từ khi ông trở lại La Isabela thì có chiến tranh. Trong thế kỷ thứ XV chế độ nô lệ là một kết quả truyền thống, không thể tránh khỏi của mọi cuộc chiến tranh diễn ra bên ngoài thế giới Công giáo. Tiêu chuẩn đó, có hiệu lực trong quan hệ giữa những người Công giáo và những người Hồi giáo, Colombo đã áp dụng nó trong quan hệ giữa những người Tây Ban Nha theo Công giáo và những người Taino không theo Công giáo khi chiến tranh diễn ra giữa họ.
Những xem xét như thế, giải thích nhưng không giải tội. Trong thế kỷ trước, một số nhà sử học Pháp và Genova nghiêm túc đề nghị phong thánh cho Colombo; điều đó quả lạ lùng và quả thật vô lý. Một số người có đi xa hơn gợi ý rằng Colombo kết hôn với Beatrice de Arana và do đó Fernando là con hợp pháp. Tuy nhiên dù cuộc đời riêng của Colombo không có lỗi lầm gì, một người chịu trách nhiệm đối với một số tội ác tại La Isabela năm 1494 không thể đòi tước thánh. Tính chất của Colombo phức tạp. Những sự kiện trong chuyến đi thứ nhất và thứ hai đã phơi bày những mâu thuẫn của ông, cho thấy ông là một con người cởi mở đối với tình yêu Công giáo, đồng thời có ý đồ vun vén của cải và quyền lực cho bản thân, cho Vua và Hoàng hận của ông. Nếu những mâu thuẫn có tính nhân bản này cho phép chúng ta vẫn cảm tình với Colombo vì lòng tin tôn giáo sâu sắc của ông, những quyết định chính trị khó khăn, những xúc cảm mạnh mẽ và những nhiệt tình thần bí, đó là những mâu thuẫn không để cho Colombo có địa vị của một vị thánh hay một chính khách; tuy ông là một thủy thủ có một không hai.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.08.2021 13:49:05 bởi Ct.Ly>
30. TRỞ VỀ TÂY BAN NHA TRONG SỰ MẤT THỂ DIỆN
 
 
Ngày 10 tháng 3-1496, Colombo khởi hành đi Tây Ban Nha. Tại đó ông phải tự bảo vệ mình chống lại những lời tố cáo của Cha Boil, Margarite và rất nhiều người khác bị vỡ mộng, hoặc bị ốm, đã bỏ những đảo giữa Bắc và Nam Mỹ để trở về quê hương họ.
Khi lên đường trở về Tây Ban Nha, Colombo đã giao nhiệm vụ cho Bartolomeo xây dựng một thủ đô mới. Bartolomeo đi đến bờ biển phía Nam và chọn một hải cảng thiên nhiên rất tốt tại một cửa sông, đất đai đặc biệt phì nhiêu với nhiều dòng nước chảy qua, và cát thì chứa nhiều vàng. Ông đặt tên cho vùng định cư mới này là Santo Domingo để tưởng nhớ cha của họ là Domenico. Ngược lại Colombo luôn luôn dùng những tên để tỏ lòng tôn kính Thiên Chúa giáo hay nước Tây Ban Nha. Ông ta chỉ phá vỡ thói quen ấy một lần, khi ông đặt tên Savona, và như ông đã nói rõ, là để tưởng nhớ Michele da Cuneo là bạn ông ở Savona, chứ không phải vì bản thân ông hay gia đình ông. Phải quên đi nguồn gốc ngoại quốc của ông và sự tôn trọng của ông đối với xứ sở mà ông đã nhận làm sinh quán là tuyệt vời. Bartolomeo không có những đắn đo như thế và chỉ muốn tưởng nhớ người cha mình khi đặt tên thủ đô mới. Một đôi khi Colombo gọi thủ đô ấy là Isabela Nueva. Trong khi dân chúng ở Isabela cũ liên tục sụt giảm cho đến khi thành phố bị bỏ hoàn toàn. Thành phố mới nhanh chóng nẩy nở và phát triển; đó là một thủ đô thực sự. Philip II gọi đó là "cái thang, là hải cảng, là chìa khóa đến tất cả các đảo giữa Bắc và Nam Mỹ".
Cuộc vượt biển trở về Tây Ban Nha rất dài ngày, kết thúc ngày 11 tháng 6 tại Vịnh Cádice. Cùng đi với Colombo là 125 người Công giáo và một số ít người sống sót trong số 30 người Anh- diêng đã lên tàu tại La Isabela. Khó hiểu tại sao hai chiếc tàu nhỏ mà theo thường lệ chỉ chở khoảng hai mươi bốn thủy thủ, đã có thể chở nhiều người như thế, những điều đó cho thấy nhiều người Tây Ban Nha rất muốn rời khỏi quần đảo Antilles. Những người đã di cư đi tìm thiên đường theo sự miêu tả của Colombo nay trở về mặt mũi và thân hình gầy mòn hốc hác do chịu khổ cực lâu ngày.
Lần này Bernaldez trông thấy viên Đô đốc của Đại Dương, Phó vương và Tổng trấn của những đảo giữa Bắc và Nam Mỹ, "mặc quần áo màu của những tín đồ Francescani ngoan đạo, với quần áo vải bao bì và dây thừng của thánh Francesco để thực hiện một lời nguyền". Quả thật Colombo có mang một dây thừng để thực hiện một lời thề, nhưng mặc quần áo của một thủy thủ bình thường may bằng vài thô dễ lẫn với quần áo của tín đồ Francescano. Tuy nhiên đó là quần áo khiêm tốn của một thủy thủ, không thích hợp với một thuyền trưởng hay Đô đốc. Hy vọng gây ấn tượng khi ông đến thăm Vua và Hoàng hậu, ông đã đeo lên cổ con trai Caonabó một dây xích vàng nặng sáu trăm castellanos.  -
Cuộc đến thăm Vua và Hoàng hậu cũng rất khác cuộc đến thăm sau chuyến đi thứ nhất. Colombo báo tin cho Vua và Hoàng hậu biết việc ông đã về, ngay khi ông xuống tàu ở Cadice và ông đi Seviglia để đợi lệnh gọi của Vua và Hoàng hậu. Đó là một thời gian chờ đợi lâu dài. Boil và Margarite đã có âm mưu tại triều đình trong nhiều tháng và bây giờ Aguado cũng tham gia với họ bằng một tập hồ sơ tố cáo và tường trình. Về vấn đề quan hệ giữa Colombo với Vua và Hoàng hậu Công giáo, một số nhà sử học cố đối lập thái độ của vua Ferdinando với thái độ của Hoàng hậu Isabella, mô tả nhà vua thành người nghi ngờ, không bao dung, và thù địch còn Hoàng hậu thì nhạy cảm, có cảm tình và khâm phục. Lập trường đó không có chứng cớ đáng tin cậy.
Tuy nhiên có một giả thuyết có thể tin cậy được cho rằng Colombo có nhiều kẻ thù trong đám người Catalani hơn là trong những người Castigliani. Thậm chí một số người còn nói về bè lũ Catalani tại triều đình, không những vì những người hữu quan mà còn vì sự nghiệp của cuộc phát kiến vĩ đại trở nên một thành tựu riêng biệt của nhóm người Castigliani: "Thông qua Castila và Leon, Colombo đã phát hiện ra một thế giới mới". Nhưng nếu Margarite và Cha Boil là người Catalani Aguado rất đối địch lại là người Castigliani gốc Siviglia, cũng như người thợ vàng Zedo. Zedo bị trừng phạt và đưa về nước vì đã phao tin rằng những cục vàng và những đồ châu báu Hispaniola là hợp kim thường. Lời tố cáo đó dễ dàng chứng minh là một lời nói dối, nhưng lời vu cáo bay đi xa, không những lời vu cáo của Zedo mà cả của những người khác cũng lan truyền. Lúc này Colombo đã mất sự ủng hộ của dư luận công chúng. Vua và Hoàng hậu vẫn tỏ lòng kính trọng và biết ơn ông, điều đó thể hiện rằng trong bức thư viết từ Almazan ngày 12 tháng 7 năm 1496. Bức thư ấy lịch thiệp và nhân từ, tuy nhiên nó hoãn cuộc tiếp kiến. Tháng 8 Colombo nhận được một bức thư khác đặc biệt quan trọng. Trong thư Isabella hỏi ý kiến ông về con đường tốt nhất cho những tàu biển rời vịnh Biscaglia với Công chúa Juana và những người hầu cận của công chúa, đưa công chúa đến Flanders để kết hôn với Hoàng tử nước Áo Philip. Hoàng hậu vẫn còn kính trọng tài năng về đi biển của Colombo. Colombo đã gợi ý ngay tức khắc và phúc đáp của Isabella ngày 18 tháng 8 lời lẽ nhã nhận đầy lòng biết ơn.
Mùa thu Vua và Hoàng hậu ở Burgos, tại dây họ tổ chức một đám cưới khác, đám cưới của hoàng tử Don Juan với Công chúa Margaret, con gái Hoàng đế Maximilian. Cuối cùng tại đó Colombo đã được yết kiến Vua và Hoàng hậu. Vua và Hoàng hậu bày tỏ thiện chí và trìu mến đối với ông, bác bỏ những lời tố cáo và vu khống của Cha Boil, Margarite và Aguado. Những lời phê phán đó, một số không phải là không có cơ sở, đã không phá được lòng biết ơn và sự tin cậy của Vua và Hoàng hậu. Kẻ thù và những người bôi xấu Colotnbo chỉ đạt được một điều là nhà vua chưa thừa nhận tước adelantado của Bartolomeo. Ban thưởng tước đó không phải là quyền của Colombo mà là quyền của Vua và Hoàng hậu. Năm sau, ngày 22 tháng 7 năm 1497 Vua và Hoàng Hậu mới ban tước đó, làm ngơ trước thực tế là Colombo đã ban tước đó trước rồi.
Tại cuộc tiếp kiến thứ nhất ở Burgos, Colombo đã yêu cầu tàu và đồ tiếp tế cho cuộc du hành thứ ba. Ông ta theo đuổi ý tưởng cố định của mình, mục tiêu mà ông chưa đạt tới: Ấn Độ. Colombo phải tới Ấn Độ. Người ta bắt đầu nói về chuyến đi thứ ba vào mùa thu 1496, nhưng Colombo gặp phải những khó khăn và những vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều so với việc chuẩn bị cho chuyến đi thứ hai. Cuối cùng sự bền bỉ của ông đã vượt mọi trở ngại, và ngày 13 tháng 5- 1498 ông đã khởi hành chuyến đi phát kiến thứ ba.




0
«« « 1 2 » »»