Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Ngôi Nhà Sặc Sỡ

35 trả lời, 110 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.09.2021 11:15:59 bởi Ct.Ly>

Nhà xuất bản Century London 2001.
Ngôi Nhà Sặc Sỡ
John Grisham
Dịch giả: Võ Hải Nga

Tiểu thuyết

 Nguyên bản tiếng Anh: A PAINTED HOUSE

NHÀ XUẤT BẢN PHỤ NỮ

- 1 -

Dân miền núi và người Mexico đến cùng một ngày. Hôm đó là thứ tư, đầu tháng Chín năm 1952. Đội Cardinal đã thua đội Dodger năm trận và trong ba tuần nữa, mùa bóng chày dường như không còn hy vọng. Tuy nhiên, bông đã cao đến ngang thắt lưng cha, gần vượt quá đầu tôi, và cha cùng ông-nội có thể nghe thấy những lời thì thầm bí ẩn hiếm hoi trước bữa tối. Có thể năm nay được “vụ mùa bội thu.’’
Ông nội và cha là những nông dân chăm chỉ, họ chỉ tỏ ra bi quan khi nói về thời tiết và mùa màng. Trời nắng gắt, hay mưa nhiều, nguy cơ lũ lụt ở vùng đất thấp, giá hạt giống, phân bón tăng lên, hay bất ổn của thị trường. Vào những ngày đẹp trời, mẹ tôi thường thì thầm với tôi.
- Đừng lo. Ông và cha sẽ tìm ra điều gì đó để nghĩ ngợi.
Pappy, ông nội tôi, đang lo về giá nhân công. Năm ngoái, theo lời ông, cứ một trăm pao ([1]) bông trả công 1,50 đô. Năm nay, ông nghe đồn có nông dân ở Lake City đã trả lên 1,60 đô.
Điều này tác động rất mạnh đến tâm trí ông khi chúng tôi trên đường tới thị trấn để tìm thuê nhân công. Trong lúc lái xe ông không bao giờ nói chuyện, theo như lời mẹ kể, là vì ông sợ các loại xe cơ giới. Ngay chính mẹ cũng ít khi được cầm lái. Xe tải hiệu Ford đời 1939, không kể đến chiếc mấy kéo John Deere cũ kỹ, là phương tiện giao thông duy nhất của chúng tôi. Không có gì đặc biệt trừ khi chúng tôí tới nhà thờ vào Chủ nhật. Những lúc đó mẹ và bà nội bị lèn chật khít phía trước còn hai cha con tôi ngồi sau thùng xe, chìm trong bụi đường. Các loại xe kín mui hiện đại ít khi xuất hiện ở vùng nông thôn Arkansas.
Pappy thường chạy xe với vận tốc ba mươi bảy dặm (2 ) một giờ. Theo ông, mỗi loại xe có một tốc độ hiệu quả nhất, và qua phương pháp xác định mơ hồ nào đó, ông khẳng định chiếc xe tải cũ này nên đi ở tốc độ ba mươi bảy dặm. Mẹ nói (với riêng tôi) là việc này khá buồn cười. Ngoài ra, ông nội và cha cũng đã từng tranh cãi nhiều về chuyện này. Nhưng cha ít khi lái xe, và nếu tôi có tình cờ đi cùng, cha sẽ vượt quá tốc độ của Pappy. Mẹ còn cho rằng cha sẽ phóng nhanh hơn khi chỉ có một mình.
Chúng tôi rẽ vào Xa lộ 135, và như thường lệ, tôi quan sát Pappy cẩn thận tăng tốc cho tới khi đạt đến mức lý tưởng. Sau đó, tôi dướn người lên trước kiểm tra côngtơmét: ba mươi bảy. Ông mỉm cười với tôi như thể cả hai ông cháu đều đồng ý là chiếc xe này thuộc về tốc độ đó.
Xa lộ 135 bằng phẳng và thẳng tắp, chạy ngang qua các trang trại thuộc châu thổ Arkansas. Hai bên đường là những cánh đồng bông trắng muốt. Bây giờ chính là thời điểm thu hoạch, và với tôi đây là vụ mùa tuyệt vời vì được
thoát khỏi trường học trong vòng hai tháng. Tuy nhiên, đối vối ông nội, đây lại là lúc dành cho những lo lắng bất tận.
Trên cánh đồng bên phải thuộc trang trại Jordan, một nhóm người Mexico đang làm việc. Họ cúi khom lưng, bao tải bông đeo trên vai, hai tay di chuyển khéo léo qua thân cây, giật mạnh quả nang. Pappy càu nhàu nho nhỏ. Ông không thích gia đình Jordan vì họ theo đạo Tin lành và hâm mộ đội Cubs. Bây giờ họ đã thuê được nhân công hái bông, thêm một lý do để ghét bọn họ.
Trang trại của chúng tôi cách thị trấn gần tám dặm, nhưng với tốc độ ba mươi bảy dặm một giờ, chuyến đi phải mất hai mươi phút. Luôn luôn là hai mươi phút, cho dù trên đường ít xe qua lại. Pappy không thích vượt những xe chạy chậm rì đằng trước. Dĩ nhiên, ông cũng luôn lái xe với tốc độ từ từ. Gần tới thị trấn Black Oak, chúng tôi theo kịp một toa moóc chất đầy bông vừa hái trắng nõn. Tấm bạt nhựa trùm nửa phía trước, và anh em sinh đôi nhà Montgomery, cùng tuổi với tôi, đang nhún nhảy đùa giỡn trong đống bông cho tới khi thấy chúng tôi phía sau. Hai đứa ngừng chơi và giơ tay vẫy vẫy. Tôi vẫy tay đáp lại, nhưng ông nội thì không. Khi lái xe, ông không bao giờ vẫy tay hay gật đầu chào ai, và điều này, theo mẹ, là vì ông sợ rời tay khỏi vô lăng. Mẹ bảo nhiều người nói sau lưng là ông bất lịch sự và ngạo mạn. Tôi biết, ông không thèm để ý tới những chuyện ngồi lê đôi mách.
Chúng tôi đi sau toa moóc nhà Montgomery tơi khi nó rẽ vào trạm tách hạt. Toa moóc được móc vào máy kéo Massey Harris cũ kỹ do Frank, con trai cả nhà Montgomery điều khiển. Anh ta đã bỏ học từ lớp năm và ở nhà thờ, mọi người đều cho rằng anh ta thường đầu têu nhiều trò nghịch ngợm.
Xa lộ 135 là trục đường chính xuyên qua Black Oak. Chúng tôi vượt qua Nhà thờ Cơ đốc Black Oak, hiếm khi chúng tôi đi ngang qua mà không dừng lại. Cửa hàng, cửa hiệu, nhà thờ, thậm chí cả trường học đều quay mặt ra đường. Vào các ngày thứ bảy, ôtô và xe tải nối đuôi nhau đi rầm rập trên đường khi cánh nông dân lũ lượt kéo nhau tới thị trấn mua sắm hàng tuần. Nhưng hôm nay là thứ tư. Vào đến thị trấn, chúng tôi đỗ xe ngay trước cửa hàng tạp hoá Pop & Pearl Watson trên phố Main.
Tôi chờ đợi bên vỉa hè tới khi ông nội hất đầu về phía cửa hàng. Đó là dấu hiệu cho phép tôi vào mua chịu một cái bánh Tootsie. Giá chỉ một xu, nhưng không phải lần nào tới thị trấn tôi cũng được phép có nó. Thông thường, dù ông không gật đầu, tôi cũng vẫn vào cửa hàng và đi thơ thẩn quanh máy tính tiền một lúc lâu, đủ để bà Pearl lén lút giúi cho một cái bánh, luôn kèm theo lời dặn nghiêm khắc không được nói cho ông tôi biết. Bà ngại ông nội. Eli Chandler nghèo, nhưng lòng tự trọng rất cao. ông thà chết đói chứ không thèm nhận thức ăn miễn phí, mà theo danh sách của ông, bao gồm cả bánh Tootsie. Ông sẽ đánh đòn nếu biết tôi nhận một cái kẹo nhỏ, vì thế bà Pearl Watson không gặp rắc rối khi yêu cầu tôi hứa giữ bí mật.
Nhưng lần này tôi được ông cho phép. Như thường lệ, bà Pearl đang lau bụi quầy hàng khi tôi bước vào và ôm chặt bà. Sau đó, tôi nhón lấy một cái bánh Tootsie trong lọ đặt gần máy tính tiền. Tôi ký số tiền nợ với vẻ rất thành thạo, và bà Pearl xem nét viết của tôi.
-    Chữ viết đẹp hơn rồi đấy, Luke.
-    Bảy tuổi viết thế là đẹp đấy ạ. - Mẹ đã bắt tôi phải tập viết tên mình trong suốt hai năm. - Ông Pop đâu hả bà?
Ông Pop và bà Pearl là hai người lớn duy nhất nhất định yêu cầu tôi gọi bằng tên, chỉ khi trong cửa hàng không có ai. Nếu người khách nào đó bước vào, thì tức nhiên phải là ông bà Watson ngay. Tôi không kể cho ai biết điều này ngoại trừ mẹ, và mẹ cho rằng không đứa trẻ nào khác có được đặc ân như vậy.
-    Ở đằng sau, đang sắp xếp trong kho, - bà Pearl nói. - Ông nội cháu đâu?
Đó là cách bà Pearl nắm bắt hoạt động của mọi cư dân trong thị trấn, câu trả lời lúc nào cũng kèm theo câu hỏi.
-    Ở Tea Shopped (3), đang xem xét đám người Mexico ạ. Cháu ra đó nhé?
-    Đừng đi. Gia đình cháu định thuê dân miền núi không?
-    Có thể. Eli nói giờ họ không xuống nhiều như trước. Ông còn nghĩ là họ hơi điên điên. Champ đâu ạ? - Champ là con chó săn thỏ già luôn kè kè bên ông Pop.
Bà Pearl cười sung sướng mỗi khi tôi gọi ông nội bằng tên. Bà định hỏi tiếp thì tiếng chuông nhỏ vang lên khi cánh cửa mở ra và đóng lại. Một người Mexico bước vào. Bà Pearl lịch sự gật đầu chào người khách mới.
Tôi hét to.
-    Buenos días, senor! (3)
Người Mexico cười hài lòng và có vẻ hơi ngượng ngùng.
-    Buenos días (4)! - Rồi biến vào sau cửa hàng.
-    Họ là những người tốt bụng. - Bà Pearl thì thầm như thể người kia nói được tiếng Anh và có thể bị xúc phạm vì lời nói của bà. Tôi cắn nửa miếng bánh, nhai chậm rãi, rồi gói nửa còn lại và đút vào túi.
-    Eli lo nghĩ rất nhiều về việc trả tiền công. - Tôi kể.
Một người khách nữa vào cửa hàng, bà Pearl bỗng nhiên lại bận rộn, lau chùi và sắp xếp ngay ngắn quanh máy tính tiền.
- Eli luôn lo lắng về mọi việc. - Bà nhận xét.
-    Ông là nông dân mà lại.
-    Cháu sẽ trở thành nông dân?
-    Không, thưa bà. Cháu sẽ là cầu thủ bóng chày.
-    Cho đội Cardinal?
-    Dĩ nhiên ạ.
Bà Pearl ậm ừ trong khi tôi đứng chờ người Mexico. Tôi biết vài từ tiếng Tây Ban Nha và muốn thử thực hành.
Trên những gíá hàng gỗ cũ kỹ là các loại rau quả tươi. Tôi thích cửa hàng này trong suốt mùa thu hoạch vì ông Pop chất đầy mọi thứ từ dưới sàn lên tới trần nhà. Vụ mùa đang tới gần, và tiền bạc đang thay tay đổi chủ.
Pappy mở cửa chỉ rộng đủ để ló đầu vào trong.
-    Chúng ta đi thôi, - sau đó ông nhìn bà Pearl. - Chào, Pearl!
-    Chào, Eli! - Bà vỗ nhẹ lên đầu tôi và đẩy tôi ra ngoài.
-    Nhân công Mexico đâu ạ? - Tôi hỏi Pappy khi chúng tôi bước ra ngoài.
-    Có thể chiều muộn mới đến.
Chúng tôi rời thị trấn và đi về hướng Jonesboro, nơi ông nội thường đến tìm thuê dân miền núi.
Chúng tôi đỗ xe trên đường quốc lộ, gần ngã ba rẽ vào con đường sỏi. Theo Pappy, đây là vị trí tốt nhất để đón dân miền núi. Tôi không chắc như vậy. Ông đã từng cố tìm thuê vài người trong một tuần mà không kết quả gì. Chúng tôi ngồi ở cửa sau, dưới ánh nắng mặt trời như thiêu như đốt, hoàn toàn im lặng trong suốt nửa tiếng đồng hồ trước khi chiếc xe tải đầu tiên dừng lại. Trông nó khá sạch sẽ và bộ lốp còn tốt. Nếu may mắn, chúng tôi sẽ thuê được nhân công miền núi, họ sẽ sống cùng chúng tôi trong hai tháng tới. Chúng tôi muốn thuê những người sạch sẽ, gọn gàng, và sự thật chiếc xe này còn ngon lành hơn xe của chúng tôi. Một dấu hiệu tốt.
-    Xin chào! - Pappy lên tiếng ngay khi động cơ tắt hẳn.
-    Chào ông! - Người lái xe đáp lại.
-    Các anh từ đâu đến? - Pappy hỏi.
-    Phía bắc Hardy.
Không có chiếc xe nào đi qua, ông nội đứng ngay bên lề đường, vẻ hài lòng trên gương mặt như đã chấp nhận chiếc xe tải cùng bầu đoàn. Người lái xe và bà vợ trong buồng lái cùng cô con gái nhỏ ngồi giữa. Ba cậu thiếu niên to cao đang ngủ phía sau. Tất cả đều khoẻ mạnh và ăn mặc tươm tất, Pappy cần những người này.
-    Anh chị đang tìm việc phải không?
-    Vâng. Chúng tôi đến trang trại Lloyd Crenshaw, phía tây Black Oak.
Ông nội chỉ đường và họ lái xe đi. Chúng tôi nhìn theo cho tới khi họ biến mất.
Pappy không thể trả công cho họ nhiều hơn ông Crenshaw được. Dân miền núi nổi tiếng về việc thương lượng giá công lao động. Năm ngoái, giữa vụ thu hoạch tại trang trại chúng tôi, gia đình Fulbright đến từ Calico Rock đã biến mất vào đêm chủ nhật và tới làm việc cho một nông dân cách chỗ chúng tôi mười dặm.
Nhưng Pappy không trí trá, ông cũng không muốn bắt đầu một cuộc chiến mời chào.
Chúng tôi tung tung quả bóng chày dọc bờ ruộng, và dừng chơi ngay khi thấy một xe tải tiến đến.
Găng tay bóng chày của tôi là của hãng Rawling do Ông già Tuyết tặng vào lễ Giáng sinh năm ngoái. Tôi ngủ cùng nó mỗi đêm, bôi dầu hàng tuần, và không có gì gần gũi thân thiết đối với tôi như nó. Ông dạy tôi cách ném, tóm và bắt trúng bóng mà không cần găng tay. Đôi bàn tay to, chai sần bắt gọn những cú ném của tôi mà không hề đau đớn gì.
Mặc dù ít lời, không bao giờ khoe khoang, Eli Chandler đã từng là cầu thủ bóng chày huyền thoại. Mười bảy tuổi ông đã ký hợp đồng chơi bóng chày chuyên nghiệp với đội Cardinal. Nhưng Thế Chiến Thứ Nhất xảy ra, ông phải nhập ngũ, và ít lâu sau khi trở về, cha ông mất. Pappy không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc trở thành ngươi nông dân.
Pop Watson thích kể cho tôi những câu chuyện tuyệt vời về Eli Chandler, ông có thể bắt trúng bóng với khoảng cách bao xa, có thể ném bóng mạnh đến cỡ nào.
-    Có lẽ ông ấy là cầu thủ vĩ đại nhất sinh ra ỏ Arkansas. - Ông Pop đã đánh giá như vậy.
-    Giỏi hơn cả Dizzy Dean? - Tôi hỏi.
-    Gần gần như thế, - ông Pop thở dài.
Khi tôi thuật lại câu chuyện, mẹ luôn mỉm cười.
-    Hãy cẩn thận. Ông Pop hay kể chuyện tào lao.
Pappy đang chà xát quả bóng chày trong đôi tay to, ngẩng đầu lắng nghe tiếng động cơ. Xe tải kéo theo toa moóc xuất hiện từ hướng tây. Dù còn cách xa một phần tư dặm, chúng tôi có thể biết chắc họ là dân miền núi, Chúng tôi bước ra giữa đường và đợi tài xế vê sô. Tiếng động cơ kêu lạo xạo, cót két khi xe dừng lại.
Tôi đếm được bảy cái đầu, năm trong xe tải, hai trong toa moóc.
-    Xin chào! - Người lái xe nói từ tốn, quan sát Pappy khi chúng tôi quay nhanh sang nhìn họ.
-    Xin chào! - Pappy bước tới gần hơn nhưng vẫn giữ khoảng cách.
Điếu thuốc nằm vắt vẻo trên môi dưới của tài xế. Một dấu hiệu xấu. Mẹ nghĩ phần lớn người miền núi thường ở bẩn và có những thói quen xấu. Ở nhà chúng tôi, thuốc lá và rượu chè hoàn toàn bị cấm. Chúng tôi là người theo đạo Cơ đốc.
-    Tôi là Spruill. - Ồng ta giới thiệu.
-    Eli Chandler. Rất vui được gặp anh. Các bạn đang tìm việc?
-    Vâng.
-    Các bạn từ đâu đến?
-    Eureka Spruillrings.
Chiếc xe này còn cũ hơn cả xe của ông nội, lốp mòn, kính chắn gió rạn nứt, chắn bùn gỉ sét và màu sơn xanh phai đi dưới lớp bụi. Một dãy hộp cáctông và bao bố nhét đầy đồ đạc trên thùng xe. Phía dưới, trên sàn, một tấm nệm được lèn chặt gần cabin. Hai cậu thiếu niên đang ngồi trên nệm và nhìn tôi chằm chằm. Phía sau là một thanh niên nặng nề với đôi vai thô, cổ to bè như một gốc cây, chân đất và cởi trần. Người anh ta toả ra mùi thuốc lá nồng nặc và dường như không thèm để ý tới ông cháu tôi. Anh ta chậm rãi đu đưa chân, sau đó đập chân, chăm chú nhìn xuống mặt đường.
-    Tôi đang tìm nhân công.- Pappy nói.
-    Ông trả bao nhiêu?- Ông Spruill hỏi.
“ 1,60 đô một trăm pao.
Ông Spruill nhíu mày và nhìn sang người phụ nữ bên cạnh. Họ thầm thì gì đó.
Đây chính là thời điểm, theo trình tự, những quyết định nhanh chóng được đưa ra. Chúng tôi phải quyết định xem có muốn những người này sống với chúng tôi không. Và họ cần phải chấp nhận hoặc từ chối giá công của chúng tôi.
-    Giống bông gì? - Ông Spruill hỏi.
-    Giống thường, - Pappy nói. - Quả nang đã chín. Sẽ rất dễ hái.
Ông Spruill có thể quan sát xung quanh và thấy rõ quả nang bông đang nở tung. Mặt trời, đất đai và mưa đã góp phần vào vụ mùa. Pappy, dĩ nhiên, luôn buồn phiền vì dự báo mưa rào trong cuốn Niên giám Nhà nông.
-    Năm ngoái chúng tôi đã được trả l,60 đô rồì.
Không quan tâm đến vụ bàn bạc về tiền công, tôi thong thả bước dọc lối đi giữa để xem xét toa moóc. Bộ lốp của toa moóc thậm chí còn mòn hơn ở xe tải. Một bánh gần như trơn tuột. May mà chuyến đi của họ dường như đã kết thúc.
Trong góc toa moóc là một cô gái xinh xắn. Đôi mắt nâu to tròn và mái tóc sẫm màu cột bổng. Cô gái trẻ hơn mẹ tôi rất nhiều, nhưng chắc chắn lớn hơn tuổi tôi, và tôi không thể không chăm chú nhìn.
-    Tên em là gì? - Cô gái hỏi.
-    Luke. - Hai má ngay lập tức nóng bừng. - Còn chị?
-    Tally. Em bao nhiêu tuổi?
-    Bảy. Còn chị?
-    Mười bảy.
-    Chị ngồi trên toa moóc này bao lâu rồi?
-    Một ngày rưỡi.
Tally đi chân đất, cái váy chật hơi bẩn, bó sát tới tận đầu gối. Đây là lần đầu tiên tôi quan sát kỹ một cô gái. Chị nhìn tôi với nụ cười ranh mãnh. Một thằng nhóc ngồi trên cái thùng bên cạnh, đang quay lưng về phía tôi, nó từ từ quay đầu lại và nhìn như thể tôi không có ở đó. Đôi mắt màu xanh lá cây và vầng trán rộng bao phủ bởi mái tóc đen nhớp nháp. Tay trái hình như không cử động được.
-    Đây là Trot, - cô gái giới thiệu. - Nó không được khỏe.
-    Chào cậu, Trot! - Tôi vui vẻ, nhưng cặp mắt kia đã quay đi. Nó tỏ vẻ như không nghe thấy tôi.
-    Nó mấy tuổi? - Tôi hỏi cô chị.
-    Mười hai. Nó bị tật.
Trot đột ngột quay phắt vào trong góc, cánh tay bị liệt thõng xuống, không sinh lực. Dewayne, bạn tôi, nói rằng dân miền núi thường kết hôn với anh em họ, và đó là lý do khiến nhiều gia đình sinh con dị tật.
Tuy nhiên, Tally có vẻ hoàn hảo. Chị nhìn kỹ khắp cánh đồng bông, còn tôi ngắm bộ váy bẩn bó sát lần nữa.
Tôi biết mọi người đã đi đến thỏa thuận vì ông Spruill bắt đầu nổ máy. Tôi bước qua toa moóc và bước tới đứng gần Pappy. Anh thanh niên to béo có vẻ hơi bừng tỉnh nhưng ánh mắt vẫn nhìn chằm chằm vào lề đường.
-    Chín dặm theo đường này, rẽ trái chỗ chuồng ngựa bị cháy, sau đó hơn sáu dặm nữa tới sông St. Francis. Chúng tôi là trang trại đầu tiên phía trái, bên kia sông.
-    Vùng đất trũng phải không? - Ông Spruill hỏi.
-    Một số chỗ thôi, nhưng đó là vùng đất màu mỡ.
Ông Spruill lại liếc nhìn vợ, sau đó ngoái sang chúng tôi.
-    Chúng tôi dựng trại ở đâu?
-    Ann sẽ thấy một chỗ râm mát ở đằng sau, ngay gần kho thóc. Đó là nơi tốt nhất.
Chúng tôi nhìn theo họ, tiếng vào số kêu lách cách, bánh xe đảo qua đảo lại, đống thùng, hộp cáctông và nồi niêu xoong chảo lắc lư.
-    Ông không thích họ, đúng không ạ? - Tôi hỏi.
-    Họ là người tốt. Họ chỉ hơi khác biệt một chút.
-    Cháu đoán là chúng ta may mắn khi thuê được họ?
-    Đúng vậy.
Càng nhiều nhân công có nghĩa là càng ít bông cho tôi hái. Tháng sau, tôi sẽ phải ra đồng vào lúc bình minh, đeo bao tải trên vai, chăm chú nhìn những luống bông dài vô tận, thân cây còn cao hơn cả tôi, sau đó xông vào cánh đồng và mất hút. Tôi sẽ phải hái bông, xé toạc quả nang đầy lông tơ theo tiến độ đều đặn, tống chúng vào bao, sợ hãi tìm kiếm giữa luống bông và không quên nhắc nhở mình là nó dài vô tận, lo lắng sẽ bị tụt lại phía sau. Ngón tay sẽ chảy máu, cổ sẽ cháy nắng, lưng sẽ đau nhừ.
Đúng, tôi muốn có nhiều nhân công làm việc trên đồng. Nhiều dân miền núi, nhiều người Mexico.

Chú thích :
[1] 1 pao bằng 0,454kg. (Chú thích trong sách đều của người dịch).
[2] 1 dặm bàng l,6km.
[3]Buenos días, senor = Chào buổi sáng thưa ngài
[4]Buenos días = Buổi sáng tốt lành




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.09.2021 21:10:09 bởi Ct.Ly>
                                             - 2 -


Bông đang chờ đợi, ông nội không phải là người kiên nhẫn.
Dù đang lái xe ở tốc độ thích hợp, ông vẫn thây bồn chồn vì những đồng bông khác đang được thu hoạch còn của chúng tôi thì chưa. Người Mexico đã đến chậm hai ngày. Chúng tôi lại đỗ xe gần cửa hàng Pop & Pearl, và tôi đi theo ông nội tới Tea Shoppe. Ông tranh luận với một người khác về giá thuê mướn nhân công.
- Thư giãn đi, Eli! - Người đàn ông nói. - Bọn họ sẽ có mặt ở đây bất cứ giờ nào.
Ông không thể yên tâm được. Chúng tôi quay lại trạm tách hạt Black Oak bên rìa thị trấn, một cuốc đi bộ dài, Pappy không muôn lãng phí xăng. Từ sáu tới mười một giờ sáng, ông đã hái được hai trăm pao bông, vậy mà ông vẫn đi rất nhanh khiến tôi phải chạy vội theo.
Con đường lát sỏi tới trạm tách hạt chen chúc các toa moóc chở bông, vài toa moóc trống không, một số khác đang chờ đến lượt. Tôi lại vẫy tay chào hai anh em sinh đôi nhà Montgomery khi họ rời đi, toa moóc nhà họ đã trống không, quay về nhà để chở tiếp đợt khác.
Trạm tách hạt chạy ầm ầm với dàn đồng ca các loại máy móc nặng nề. Chúng gây tiếng ồn ầm ĩ và nguy hiểm đến không ngờ. Mỗi mùa thu hoạch, có ít nhất một công nhân sẽ trở thành nạn nhân bị thương nặng bên trong cái trạm đó. Tôi sợ các loại máy móc, và khi Pappy yêu cầu đợi bên ngoài, tôi thấy rất mừng được nghe lời. Ông đi qua nhóm nhân công đang đứng chờ và không gật đầu chào hỏi ai. Ông đang suy tính gì đó.
Tôi tìm được một chỗ an toàn gần cây chút chít, nơi người ta đẩy những kiện bông đã xong ra và chất chúng lên xe moóc quay về hướng Carolinas. Tại góc cuối trạm, bông vừa hái được hút từ toa moóc qua một ống dẫn dài khoảng 12 insơ [1], sau đó biến vào trong toà nhà nơi máy móc hoạt động. Xuất hiện tại đầu bên kia là kiện bông vuông vắn bọc trong bao bì và được cột chặt bằng dây thép rộng 1 insơ. Một máy tách hạt vận hành tốt cho ra những kiện bông hoàn chỉnh có thể chất gọn như đống gạch.
Mỗi kiện bông trị giá 175 đô, lúc lên lúc xuống, tùy thuộc vào thị trường. Một vụ mùa bội thu có thể thu được một kiện trên mỗi mẫu [2]. Chúng tôi thuê tám mươi mẫu đất. Phần lớn bọn trẻ nông dân đều có thê làm được phép tính này.
Thực tế, phép tính dễ đến nỗi bạn tự hỏi tại sao vẫn có người muôn làm nghề nông. Mẹ chắc rằng tôi hiểu được những con số. Hai mẹ con có một hiệp ước bí mật là tôi sẽ không, cho dù bất cứ hòan cảnh nào, ở lại nông trại. Tôi sẽ tốt nghiệp lớp mười hai và chơi bóng cho đội Cardinal.
Hồi sháng Ba, Pappy và cha đã vay ông chủ trạm tách hạt 14 nghìn đôla. Đó là tiền vay cho vụ mùa, và được tiêu vào việc mua hạt giống, phân bón, thuê lao động, và những chi phí khác. Dầu sao chúng tôi cũng đã may mắn - thời tiết tương đối thuận lợi, và vụ mùa có vẻ khá. Nếu chúng tôi tiếp tục may mắn trong thời gian thu hoạch, và thu được sản lượng mỗi mẫu một kiện bông thì công việc đồng áng của gia đình Chandler sẽ tuyệt vời. Đó là mục đích của chúng tôi.
Nhưng, giống như phần lớn các nông dân, Pappy và cha mắc nợ từ năm trước. Họ đã nợ ông chủ trạm hai nghìn đô từ năm 1951, đó là năm có thu hoạch bình thường. Họ cũng nợ chủ cửa hiệu John Deere ở Jonesboro một số tiền, nợ trạm xăng Lance Brothers tiền mua nhiên liệu, nợ Hợp tác xã tiền hạt giống cùng các thiết bị, và nợ ông bà Watson tiền mua hàng hoá.
Tôi chắc chắn không được biết về khoản vay vụ mùa và những món nợ. Nhưng vào đêm khuya, cha mẹ thường ngồi trên bậc cầu thang trước nhà, chờ đợi bầu không khí mát mẻ để có thể ngủ, và họ đã nói chuyện. Giường của tôi ngay sát cửa sổ bên hành lang. Cha mẹ nghĩ tôi đã ngủ, và tôi nghe được nhiều hơn những gì được phép.
Mặc dù không chắc, tôi cho rằng Pappy cần mượn thêm tiền để trả công cho đám người Mexico và gia đình miền núi kia. Tôi không thể biết ông có mượn tiền hay không. Ông cau mày khi bước về phía trạm tách hạt, và lại nhíu mày khi chúng tôi rời khỏi đó.
Đã nhiều thập niên, dân miền núi từ Ozarks thường đến đây thu hoạch bông. Nhiều người sở hữu nhà cửa, đất đai, và thông thường họ có nhiều loại xe đẹp hơn của cánh nông dân thuê họ làm việc. Họ hái bông chăm chỉ, tiết kiệm tiền bạc, và có vẻ cũng nghèo như chúng tôi.
Khoảng từ năm 1950, tình trạng di cư giảm bớt. Ảnh hưởng thời hậu chiến cuối cùng cũng đã lan dần đến Arkansas, ít ra là đến một số nơi trong bang, và đám thanh niên miền núi không cần kiếm thêm tiền như cha mẹ. Họ chỉ muôn ở nhà. Hái bông là công việc không phải bất cứ ai cũng muôn làm. Nông dân phải đối mặt với việc ngày càng khan hiếm lực lượng lao động; sau đó có người phát hiện ra nhân công Mexico.
Chuyến xe chở người Mexico đầu tiên đến Black Oak vào năm 1951. Chúng tôi thuê được sáu người, trong đó có Juan, bạn thân thiết đã cho tôi thưởng thức cái bánh ngô đầu tiên trong đời. Juan và bốn mươi người khác đã trải qua ba ngày trên toa moóc dài, nhồi nhét chật ních, với ít thức ăn, không có gì che nắng che mưa. Họ gần như kiệt sức và mất phương hướng khi đến Xa lộ. Pappy nói toa moóc bốc lên mùi còn tệ hơn xe tải chở gia súc. Những ai đã nhìn thấy chiếc xe này kể lại cho người khác, rồi cánh phụ nữ tại nhà thờ Cơ đốc và Tin lành công khai phàn nàn về cách cư xử thô bạo đối với người Mexico.
Mẹ đã nói thẳng điều này, ít ra là với cha. Tôi nghe hai người tranh luận nhiều lần sau vụ mùa và người Mexico đã về nước. Mẹ muốn cha nói chuyện với các nông dân khác để buộc gã quản lý và tuyển chọn nhân công Mexico phải cam đoan cư xử tốt với họ. Mẹ cảm thấy đó là trách nhiệm của chúng tôi vì nông dân cần phải bảo vệ nhân công của mình, ý kiến mà cha cũng đồng ý theo khía cạnh nào đó, mặc dù cha dường như không hăng hái gánh vác trách nhiệm. Pappy không để ý tới chuyện này. Người Mexico cũng không, họ chỉ muốn làm việc.
Cuối cùng, họ cũng xuất hiện sau bốn giờ. Có tin đồn, họ sẽ đến bằng xe khách, và tôi hy vọng đó là sự thật. Tôi không muốn cha mẹ căng thẳng về chuyện này. Tôi cũng không muốn họ bị đối xử quá tệ.
Nhưng họ vẫn ngồi trên toa moóc cũ với những tấm ván bao quanh hai bên và không có mái che. Đúng là lũ gia súc còn có điều kiện tốt hơn.
Họ cẩn thận nhảy xuống và đứng bên đường, ba hoặc bốn người xuống một lúc, người này đỡ người kia. Họ tràn ra trước cửa hàng Hợp tác xã, và tập trung ngay bên lề đường thành từng nhóm nhỏ ngơ ngác. Đoàn người kéo dài và nhìn ngó xung quanh như thể vừa hạ cánh xuống hành tinh khác. Tôi đếm có tất cả sáu mươi hai người. Trái với mong đợi của tôi, Juan không có trong số đó.
Họ thấp hơn Pappy vài insơ. Tất cả đều gầy guộc, tóc đen và da nâu. Mỗi người khoác một túi nhỏ đựng quần áo và đồ dùng.
Pearl Watson đứng bên lề đường trước cửa hàng, hai tay chống hông, ánh mắt giận dữ. Họ sẽ là khách hàng của bà, và bà chắc chắn không muốn họ bị ngược đãi. Tôi biết là tại nhà thờ, vào chủ nhật, các quý bà sẽ lại tỏ thái độ phản ứng lần nữa. Và tôi biết mẹ sẽ căn vặn tôi ngay khi chúng tôi về đến nhà.
Lời lẽ cọc cằn phun ra giữa tay quản-lý lao động và gã lái xe tải. Ai đó ở Texas đã hứa là người Mexico sẽ được đưa đến trên xe khách. Đây là chuyến thứ hai trên toa moóc bẩn thỉu. Pappy không né tránh trận chiến, tôi thấy ông như muôn nhảy vào cuộc cãi lộn và giết chết gã tài xế. Ông cũng giận dữ với tay quản lý, rồi tôi đoán ông nhận thấy không việc gì phải xông vào hai gã kia. Chúng tôi ngồi trên xe và chờ hết bụi.
Khi tiếng la hét kết thúc, việc thoả thuận bắt đầu.
Đám người Mexico đứng sát nhau trên lề đường trước cửa hàng Họp tác xã. Như thường lệ, họ sẽ nhìn lướt qua chúng tôi và cánh nông dân đang tập trung dọc đường quốc lộ. Bất đồng ngôn ngữ - một đợt người mới đã đến.
Pappy nhận mười người đầu tiên. Nhóm trưởng là Miguel. Chú có vẻ lớn tuổi nhất, và như tôi nhận thấy ngay từ đầu, chú là người duy nhất đeo túi vải. Số còn lại mang theo đồ dùng cá nhân trong bao giây.
Vốn tiếng Anh của Miguel cũng tàm tạm, nhưng không khá bằng Juan trước kia. Tôi tán chuyện với chú trong khi Pappy hoàn tất việc ký hợp đồng. Miguel giới thiệu tôi với cả nhóm. Nào là Rico, Roberto, Jose, Luis, Pablo, và vài cái tên tôi không nhớ nổi. Năm ngoái, tôi đã phải mất một tuần để phân biệt được mọi người.
Mặc dù họ rất mệt mỏi, dường như phải cố gắng nở nụ cười - ngoại trừ một ngươi chỉ nhếch mép khi thấy tôi nhìn. Anh ta đội cái mũ kiểu miền tây. Miguel chỉ tay.
-    Anh chàng đó nghĩ mình là một gã chăn bò. Vì vậy chúng tôi gọi cậu ta bằng cái tên Cowboy.
Cowboy còn rất trẻ, cao lớn so với một người Mexico. Đôi mắt hẹp và có vẻ bần tiện. Bộ ria mỏng trông càng dữ tợn. Anh ta khiến tôi cảm thấy sợ hãi và muốn nói ý nghĩ thoáng qua này với Pappy. Tôi không muốn người này sống trong trang trại của chúng tôi trong nhiều tuần liền. Nhưng rồi tôi chỉ lùi lại và bỏ đi.
Nhóm người Mexico theo Pappy đến của hàng Pop & Pearl. Tôi, theo sau, cẩn thận không bước gần Cowboy. Bên trong cửa hàng, tôi đến ngay vị trí gần chỗ máy tính tiền, nơi bà Pearl đang đợi người để thì thầm trò chuyện.
-    Chúng cư xử với họ như lũ gia súc. - Bà phàn nàn.
-    Eli nói, họ chỉ hạnh phúc khi được ở đây. Tôi cũng thì thầm.
Ông tôi đang chờ ngoài cửa, khoanh tay trước ngực, quan sát đám người Mexico lựa chọn hàng hoá. Miguel bối rối giới thiệu những người còn lại.
Bà Pearl không định phê phán Eli Chandler. Nhưng bà ném về phía ông ánh mắt khó chịu. Tuy nhiên, ông không thấy. Pappy không để ý tới cả tôi lẫn bà Pearl, ông dang bực bội vì bông vẫn chưa được thu hái.
-    Việc này thật khủng khiếp. - Bà lầu bầu.
Bà khó lòng chờ chúng tôi đi khỏi để có thể tìm đám bạn nhà thờ và bàn luận vê chuyện này. Bà là người theo đạo Tin lành.
Khi đám người Mexico lấy hàng hoá rồi kéo nhau tới bên máy tính tiền, Miguel nói từng họ tên, và bà Pearl mở cuốn sổ ghi nợ. Bà viết số hàng, số tiền sau tên mỗi người, sau đó chỉ chỗ cho Miguel và người khách ký vào. Bán chịu ngay, kiểu người Mỹ.
Họ mua bột mì và mỡ để làm bánh ngô, thêm đậu và gạo. Ngoài ra, không mua gì thêm - không đường hay kẹo, không rau quả. Họ ăn ít hết mức có thể, vì thức ăn tiêu tốn tiền bạc. Mục đích của họ là tiết kiệm từng xu kiếm được và mang về nhà.
Dĩ nhiên, những con người khốn khó này không có ý niệm gì về nơi họ sẽ đến. Họ không biết rằng mẹ là một người làm vườn tận tụy, thường dành nhiều thời gian chăm sóc rau cỏ hơn chăm sóc bông. Họ là những người khá may mắn, bởi mẹ không để một ai sống trong trang trại bị thiếu thức ăn.
Cowboy đi cuối hàng, và khi bà Pearl mỉm cười với anh ta, tôi nghĩ anh ta sẽ nhổ vào bà. Miguel đứng gần đó, chú đã trải qua ba ngày trên xe moóc cùng anh chàng này và có lẽ biết rõ về anh ta.
Lần thứ hai trong ngày, tôi tạm biệt bà Pearl, điều này thật buồn cười vì tôi thường gặp bà chỉ một lần mỗi tuần.
Pappy dẫn mọi người ra xe. Họ trèo lên thùng sau, ngồi chen chúc, chân tay quàng cả vào nhau. Họ im lặng và nhìn chằm chằm phía trước như thể không ý kiến gì về nơi ở mới.
Chiếc xe tải cũ ì ạch với trọng tải nặng nhưng cuối cùng cũng đạt được tốc độ ba mươi bảy, và Pappy gần như mỉm cười. Chiều cũng đã muộn, thời tiết nóng và khô, thích hợp cho việc thu hái. Với gia đình Spruill và người Mexico, cuối cùng chúng tôi cũng có đủ nhân công để thu hoạch vụ mùa. Tôi thò tay lôi ra nửa cái bánh Tootsi còn lại.
Trước khi về tới nhà, chúng tôi thấy một làn khói và sau đó là cái lều. Chúng tôi sống gần con đường bụi bặm quanh năm, và Pappy đang đi chầm chậm để nhóm người Mexico không bị chết ngạt vì bụi.
-    Cái gì thế kia? - Tôi hỏi.
-    Trông như kiểu một cái lều. - Pappy nói.
Nó đuợc đặt gần đường, ngay cuối góc sân trước, dưới gốc cây sồi cổ thụ hơn trăm tuổi, gần với home-plate (3) của tôi. Xe chúng tôi đi từ từ. Gia đình Spruill đã chiếm mất nửa sân trước. Cái lều rộng màu cháo lòng, mái nhọn được dựng bằng gậy vót bằng tay và cọc kim loại vẹo vọ. Hai mặt cửa lều mở, đống hộp và chăn màn ngổn ngang trên đất. Tôi còn thấy Tally đang ngủ bên trong.
Xe tải của họ đỗ bên ngoài, và một cái lều khác đã được đậy trên sàn. Nó có hình mỏ neo với dây dù buộc vào cọc trên mặt đất để xe tải không thể di chuyển nếu không tháo lều. Toa moóc đã dỡ hết đồ, đống hộp và bao bì rải rác khắp nơi trên bãi cỏ như có một cơn bão vừa tràn qua.
Bà Spruill đang nhóm lửa nên tạo ra làn khói. Chẳng hiểu sao bà ta lại chọn ngay khoảng trống gần cuối sân. Đó chính là nơi Pappy và cha ngồi xổm mỗi chiều và bắt những cú đẩy bóng và cú ném bóng vòng của tôi. Tôi muốn gào lên. Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho bà Spruill vì chuyện này.
-    Cháu nghĩ, ông đã nói họ dựng lều sau kho thóc.
-    Đúng, - Pappy trả lời.
Ông từ từ điều khiển xe rẽ vào sân. Kho thóc ở đằng sau, gần chuồng bò, một khoảng cách đủ xa ngôi nhà. Chúng tôi yêu cầu bọn họ cắm trại chỗ đó, chứ không phải ở sân trước.
Ông nội dừng xe dưới gốc cây sồi hơn bảy mươi năm, theo lời bà nội. Đó là cây nhỏ nhất trong số ba cây che bóng mát cho ngôi nhà và khoảng sân. Chúng tôi lăn bánh đến đúng vết xe mà Pappy đã đỗ trong suốt mấy chục năm. Cả mẹ và bà đang đợi ngay bậc thang trước cửa bếp.
Gran, bà nội tôi, không thích sự thật là đám dân miền núi đã đòi dựng lều ở sân trước. Pappy và tôi biết được điều này trước khi ra khỏi xe. Bà chống hai tay bên hông.
Mẹ háo hức nhìn nhóm người Mexico và hỏi tôi về điều kiện đi lại của họ. Mẹ quan sát họ nhảy xuống từ xe tải khi bước lại chỗ tôi và ôm hai vai tôi.
-    Mười người, - mẹ nói.
-    Vâng ạ, - tôi trả lời.
Gran gặp ông ngay đầu xe.
-    Tại sao đám người đó lại ở sân trước nhà ta? ’ Giọng bà. nhẹ nhàng nhưng nghiêm nghị.
-    Tôi bảo họ dựng lều gần kho thóc, - Pappy không bao giờ chùn lại trước một ai, thậm chí với cả vợ. - Tôi không biết tại sao họ chọn chỗ dó.
-    Ông có thể yêu cầu họ chuyển đi không?
-    Không. Nếu phải đóng gói lại, họ sẽ bỏ đi. Bà biết dân miền núi là thế nào mà.
Bà nội không nói gì thêm. Hai người không định tranh cãi trước mặt tôi và mười người Mexico kia. Bà bỏ vào nhà, lắc đầu không hài lòng. Pappy thật sự không quan tâm tới vị trí dân miền núi dựng trại. Họ dường như khoẻ mạnh và sẵn sàng làm việc, không còn gì gây phiền phức cho ông.
Tôi nghĩ rồi bà nội cũng sẽ không quan tâm. Việc hái bông quan trọng đến nỗi chúng tôi sẽ tiếp nhận bọn họ miễn sao họ có thể thu hoạch trung bình ba trăm pao bông mỗi ngày.
Nhóm Mexico đi theo Pappy tới chuồng bò, cách hành lang sau đúng 352 bộ(4), ngang qua chuồng gà, máy bơm nước, dây phơi quần áo, và kho dụng cụ, qua cây gỗ thích ngọt sẽ biến thành màu đỏ nhạt vào tháng Mười. Một ngày tháng Giêng năm trước, cha dã giúp tôi đo khoảng cách chính xác. Nó như dài một dặm với tôi. Từ home- plate, chỗ phát bóng tới tường bên trái tại sân vận động Sportsman’s Park, nơi đội bóng Cardinal chơi, chính xác là 350 bộ. Và mỗi khi Stan Musial đánh trúng cú home- run (5), ngày hôm sau tôi sẽ ngồi xuống bậc thang và lấy làm kinh ngạc về khoảng cách. Vào giữa tháng Bảy anh đã đánh một cú bóng xa 400 bộ trong trận gặp đội Brave.
-    Cậu ta đánh bóng qua cả nóc nhà, Luke ạ. - Pappy đã nói như vậy.
Hai ngày trước, tôi đã ngồi trên bậc thang và mơ ước đến cú đánh bóng qua nóc nhà.
Khi nhóm Mexico đi qua kho dụng cụ, mẹ nhận xét.
-    Họ trông có vẻ rất mệt.
-    Họ đi trên một toa moóc, tất cả sáu mươi hai người. - Tôi háo hức kể, vì lý do nào đó, để khích động mọi thứ.
-    Mẹ thấy sợ việc đó.
-    Toa moóc cũ kỹ và bẩn thỉu. Bà Pearl đã điên lên vì việc này.
-    Việc này sẽ không xảy ra lần nữa, - mẹ nói, và tôi biết rằng cha sẽ lại bị điếc tai. - Con hãy đi giúp ông nội.
Suốt hai tuần trước, tôi và mẹ đã phải quét dọn, lau chùi chuồng bò, cố sắp xếp nơi ăn chốn ở cho những người Mexico. Phần lớn nông dân thu xếp cho họ ở trong những ngôi nhà tá điền bỏ không hoặc chuồng bò. Có tin đồn là trang trại Ned Shackleford cách ba dặm về phía nam đã cho nhân công ở cùng lũ gà.
Không phải ở trang trại Chandler. Vì thiếu một cái nhà tạm khác, những người Mexico đành phải sống trên gác xép, nhưng sẽ không thể tìm thấy một hạt bụi nào. Và căn gác xép luôn thơm tho, dễ chịu. Trong suốt một năm mẹ đã gom góp đống chăn mền cũ dành cho họ.
Tôi chạy vào chuồng bò, nhưng dừng ở dưới, ngay gần chỗ ngăn buồng của Isabel, con bò sữa của chúng tôi. Pappy tuyên bố ông đã thoát chết trong Thế chiến Thứ nhất nhờ một cô gái trẻ người Pháp tên là Isabel, và để tôn trọrg kỷ niệm, ông đặt tên cô gái cho con bò cái Jersey. Bà nội không tin chuyện này.
 Tôi nghe tiếng bước chân leo lên gác xép, đi lại, sắp xếp chỗ. Pappy đang nói chuyện với Miguel, người có ấn tượng về căn gác xép xinh xắn và sạch sẽ. Pappy tiếp nhận lời khen như thể ông và chỉ mình ông đã làm việc này.
Thực ra, ông bà nội đã hoài nghi nỗ lực của mẹ khi cố dọn dẹp chỗ ở tươm tất cho nhân công. Mẹ sinh ra tại một nông trại nhỏ gần Black Oak, vì vậy mẹ gần như là gái thị trấn. Mẹ đã lớn lên với đám trẻ không biết hái bông. Mẹ chưa bao giờ phải đi bộ đến trường - ông ngoại thường đưa mẹ đi học bằng ôtô. Mẹ đã từng tới Memphis ba lần trước khi lấy cha. Và mẹ được sinh ra trong một ngôi nhà có quét sơn.

Chú thích:
[1]  Insơ bằng 2,54cm
[2] 1 mẫu bằng 0,4 hecta
[3] Vị trí phát bóng
[4]1 bộ bằng 0,3048m
[5] Cú đánh cho phép người đánh chạy quanh ghi điểm mà không phải dừng lại.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.09.2021 22:19:28 bởi Ct.Ly>
                                                                    - 3 -


Gia đình Chandler thuê đất của ông Vogel ở Jonesboro, người tôi chưa bao giờ gặp. Tên ông hiếm khi được nhắc tới, nhưng mỗi khi được nói thoáng qua, trong câu chuyện thường đi kèm với sự kính trọng và nể sợ. Tôi nghĩ ông là người giầu nhất thế giới.
Pappy và bà nội đã thuê đất từ trước thời kỳ khủng hoảng kinh tế xuất hiện sớm và ra đi muộn ở vùng nông thôn Arkansas. Sau ba mươi năm lao động miệt mài, họ đã mua được của ông Vogel ngôi nhà và ba mẫu đất xung quanh. Họ cũng làm chủ máy kéo hiệu John Deere, hai đĩa bừa, máy gieo hạt, toa moóc chở bông, một xe moóc phẳng, hai máy kéo sợi, xe bò, và xe tải. Cha có một thoả thuận không rõ ràng cho phép quyền sở hữu vài tài sản trong số này. Các văn bản chứng từ về đất đai đều đứng tên Eli và Ruth Chandler.
Những nông dân duy nhất làm ra tiền là chủ đất. Còn nông dân thuê đất, giống chúng tôi, cố gắng để phá vỡ quy luật. Nông dân lĩnh canh nhận về mình phần cực nhọc nhất và bị cảnh bần cùng vĩnh viễn đe dọa.
Mục đích của cha là làm chủ bốn mươi mẫu đất, không phải trả tiền và không nợ nần. Giấc mơ của mẹ rất kín đáo, chỉ chia sẻ với tôi khi tôi lớn hơn. Tôi biết mẹ mong mỏi được thoát khỏi cuộc sống nông thôn và quyết định là tôi sẽ không phải làm nghề nông. Khi tôi bảy tuổi, mẹ đã đặt niềm tin vào tôi.
Mẹ thấy hài lòng khi những người Mexico đã sắp xếp xong xuôi và bảo tôi đi tìm cha. Chiều đã muộn, mặt trời đang khuất sau hàng cây dọc bờ sông St.- Francis, và cũng là lúc cha vác bao tải bông cuối cùng sau một ngày làm việc.
Tôi đi chân đất dọc theo đường đất giữa hai cánh đồng, nhớn nhác tìm cha. Đất sẫm màu và màu mỡ, đất trang trại vùng đồng bằng châu thổ cho hoa lợi đủ để cột chặt bạn vào nó. Phía trước, tôi thấy toa moóc chứa bông, và tôi biết cha đang tiến đến đó.
Cha tôi, Jesse Chandler, là con trai lớn của ông bà nội. Em trai cha, chú Ricky, mười chín tuổi, hiện đang chiến đấu tận Triều Tiên. Hai chị gái của cha đã rời trang trại ngay khi tốt nghiệp trung học.
Cha không trốn chạy. Cha kiên quyết trở thành nông dân giống ông nội và cụ cố, ngoại trừ cha là người Chandler đầu tiên được làm chủ vùng đất của mình. Tôi không biết cha có mơ về một cuộc sống thoát khỏi đồng áng không. Giống ông nội, cha cũng từng là cầu thủ bóng chày xuất sắc, và tôi chắc cha cũng từng ước đạt vinh quang. Nhưng cha bị một viên đạn Đức xuyên qua bắp đùi ở Anzio vào năm 1944, và sự nghiệp bóng chày kết thúc.
Cha đi hơi khập khiễng, nhưng phần lớn người lao động cần cù trên đồng bông đều có dáng đi như vậy.
Tôi dừng lại bên toa moóc vẫn gần như trống không. Nó đứng ngay bên đường bông hẹp, chờ được lấp đầy. Tôi trèo lên trên. Xung quanh tôi, khắp các phía, những luống bông màu xanh và nâu ngay ngắn trải dài đến tận hàng cây rìa trang trại. Trên ngọn, những quả nang phồng ra và nở tung. Từng giây phút, bông đến với cuộc sống, vì thế khi đứng trên toa moóc và quan sát xung quanh, tôi thấy cả một đại dương trắng xốp. Những cánh đồng yên tĩnh - không giọng nói, không động cơ máy cày, không ôtô trên đường. Trong một khoảnh khắc, khi đang dựa vào toa moóc, tôi gần như có thể hiểu được tại sao cha lại muốn trở thành nông dân.
Tôi phát hiện cái mũ rơm cũ ở phía xa, khi cha di chuyển giữa những luống bông. Tôi nhảy xuống và chạy vội tới chỗ đó. Bóng tối đang dần buông, khoảng trống giữa các luống bông tối hơn. Đám lá dầy xanh mướt, nhờ ánh mặt trời và mưa, đan xít quất ngược vào người khi tôi chạy nhanh.
-    Con đấy à, Luke? - Cha gọi, biết rõ không còn ai khác tới tìm cha.
-    Vâng ạ! - Tôi trả lời, đổi giọng nói. - Mẹ bảo đã tới lúc về rồi.
-    Vậy à?
-    Vâng, thưa cha.
Tôi chỉ còn cách cha một luống. Tôi vạch ngang qua những thân cây. Cha đây rồi. Cha đang cúi lom khom, hai tay di chuyển qua đám lá, khéo léo hái bông và nhét vào cái bao gần đầy đeo trên vai. Cha đã ra đồng từ lúc bình minh, chỉ nghỉ mỗi khi ăn trưa.
-    Ông và con tìm được nhân công chứ? - Cha hỏi mà không nhìn tôi.
-    Có ạ. - Tôi nói với giọng đầy vẻ tự hào. - Người Mexico và dân miền núi.
-    Bao nhiêu người Mexico?
-    Mười, - tôi nói như thể chính tôi đã tóm được họ.
-    Tốt rồi. Dân miền núi là gia đình nào?
-    Gia đình Spruill. Con không nhớ quê quán họ.
-    Bao nhiêu người? - Bao đã đầy và cha cúi về phía trước, kéo lê cái bao nặng trịch đằng sau.
-    Một xe tải đầy. Thật khó mà kể được. - Bà tức phát điên vì họ đã cắm trại ngay sân trước, thậm chí còn đốt lửa gần home-plate nữa. Pappy yêu cầu họ dựng trại gần kho thóc. Con đã nghe ông nói thế. Con không nghĩ họ lại láu cá như vậy.
-    Đừng nói thế.
-    Vâng. Nhưng dù sao bà nội cũng không hài lòng.
-    Bà sẽ ổn thôi. Chúng ta cần họ.
-    Vâng. Pappy cũng nói vậy. Nhưng con ghét họ đốt lửa gần home-plate.
-    Việc hái bông quan trọng hơn bóng chày trong những ngày này.
-    Con biết. Chỉ là theo ý của cha thôi.
-    Nhóm Mexico thế nào?
-    Không tồi lắm. Họ lại bị chất đống trên một toa moóc, và mẹ không hài lòng về việc này.
Đôi tay cha ngừng hái giây lát khi nghĩ đến mùa đông cùng những cuộc cãi vã chẳng đâu vào đâu.
-    Bon họ chỉ hạnh phúc khi ở đây. - Hai tay cha tiếp tục làm việc.
Tôi bước vài bước về toa moóc, rồi quay lại nhìn cha.
-    Cha hãy nói với mẹ như thế.
Cha nhìn tôi trước khi hỏi.
-    Juan có trong số đó không?
-    Không ạ.
-    Tiếc quá nhỉ.
Tôi đã kể chuyện về Juan suốt một năm qua. Mùa thu năm ngoái anh Juan đã hứa với tôi sẽ quay lại.
-    Điều đó cũng tốt, - tôi nói. - Một người mới là Miguel. Chú ấy cũng rất được.
Tôi kể về chuyến đi thị trấn, chúng tôi đã tìm thấy gia đình Spruill như thế nào, về Tally, Trot và anh chàng to béo trên thùng xe, sau đó quay trở lại thị trấn, nơi Pappy tranh cãi với gã quản lý nhân công, chuyến đi đến trạm tách hạt, sau đó về nhóm người Mexico. Tôi kể tất cả mọi chuyện vì ngày của tôi hôm nay chắc chắn nhiều sự kiện hơn ngày của cha.
Đến chỗ toa moóc, cha tháo dây cột bao và treo lên móc cân. Kim chỉ vạch năm mươi tám pao. Cha viết nguệch ngoạc con số vào cuốn sổ cũ, rách tả tơi buộc bên thành toa.
-    Bao nhiêu hả cha? - Tôi hỏi khi cha gấp cuốn sổ.
-    Bốn trăm bảy mươi pao.
-    Gấp ba lần rồi.
Cha nhún vai.
-    Cũng không tồi.
Năm trăm pao tưởng xứng với một cú home-run, điều cha có thể thực hiện được hàng ngày trước kia. Cha ngồi xuống.
-    Về thôi con.
Tôi nhảy lên lưng cha, và chúng tôi đi về nhà. Áo sơ mi và quần bảo hộ lao động của cha ướt đẫm mồ hôi, và đã qua cả ngày làm việc nhưng hai cánh tay cha vẫn cứng như thép. Ông Pop Watson kể cho tôi là Jesse Chandler có lần đã đánh một cú bóng ra tận giữa đường quốc lộ. Ngày hôm sau ông Pop và ông Snake Wilcox, thợ cắt tóc, đã đo khoảng cách đó và kể cho mọi người về cú đánh bóng với khoảng cách 440 bộ. Nhưng ở Tea Shoppe, ông Junior Barnhart nêu ý kiến phản đối khá ầm ĩ, là quả bóng đã nảy lên ít nhát một lần trước khi tới đường quốc lộ.
Ông Pop và ông Junior không thèm nói chuyện với nhau hàng tuần lễ. Mẹ đã xác nhận có cuộc tranh luận nhưng không nói gì về cú đánh tuyệt vời kìa.
Mẹ đợi cha con tôi gần máy bơm. Cha ngồi trên băng ghế dài và tháo ủng cùng bít tất, rồi đến quần bảo hộ và áo sơ mi.
Một trong những nhiệm vụ của tôi vào buổi sáng tinh mơ là đổ đầy nước vào chậu giặt và đặt dưới ánh nắng mặt trời cả ngày để có nước nóng cho cha mỗi chiều. Mẹ nhúng khăn vào chậu và nhẹ nhàng lau cổ cho cha.
Mẹ lớn lên trong một gia đình toàn con gái, và phần nào đó được nuôi dạy bởi hai bà cô già khó tính. Tôi nghĩ, họ tắm rửa nhiều hơn nông dân, và niềm say mê đối với sự sạch sẽ của mẹ đã lây sang cha. Tôi cũng phải tắm rửa sạch sẽ vào mỗi chiều thứ bảy, dù cần thiết hay không.
Khi cha rửa mặt và lau khô xong, mẹ đưa cho cha áo sạch. Đã tới lúc chào đón những người khách mới. Mẹ sắp xếp nhiều loại rau củ ngon nhất trong vườn vào một cái làn to, tất cả đều được chọn cẩn thận, dĩ nhiên, và rửa sạch trong suốt hai tiếng. Cà chua An, hành củ Vidalia, khoai tây, tiêu xanh và đỏ, rồi ngô. Chúng tôi xách làn đến sau chuồng bò, nơi nhóm người Mexico đang nghỉ ngơi, trò chuyện và chờ đợi đống lửa từ từ cháy lên để làm món bánh ngô. Tôi giới thiệu cha với Miguel, và chú đứng lên nói tên từng người trong nhóm.
Cowboy ngồi một mình, dựa lưng vào vách, không nhúc nhích tỏ vẻ chào hỏi. Tôi có thể thấy anh ta đang quan sát mẹ qua vành mũ. Việc này khiến tôi sợ hãi trong giây lát; sau đó tôi nhận ra Jesse Chandler sẽ bẻ gãy cái cổ nhỏ bé gầy nhom của Cowboy nếu anh ta có hành động sai trái.
Chúng tôi đã biết rất nhiều từ nhóm Mexico năm ngoái. Họ không ăn đậu bơ, đậu thường, bí, cà, hay củ cải, nhưng rất thích khoai tây, hành, cà chua, tiêu và ngô. Và họ sẽ không bao giờ ngỏ lời xin. Việc này phải được mời.
Mẹ giải thích với Miguel cùng mọi người là vườn nhà chúng tôi trồng nhiều rau và mẹ sẽ mang đến cho họ mỗi ngày. Họ không phải trả tiền. Đó là một phần trong thoả thuận.
Chúng tôi xách một làn khác tới trước nhà, nơi khu trại của gia đình Spruill dường như đang mở rộng thêm ra mỗi giờ. Họ đã lấn thậm chí ngang qua sân, hộp cáctông và bao tải rải rác khắp nơi. Bàn ăn được tạo thành từ ba tấm ván đặt ngang qua một cái hộp và thùng. Cả gia đình họ đang tụ tập quanh bàn ăn tối khi chúng tôi tiến đến gần. Ông Spruill đứng lên bắt tay cha tôi.
-    Leon Spruill, - ông ta nói, thức ăn còn dính trên môi. - Rất hân hạnh được gặp anh.
-    Tôi rất vui khi các bạn có mặt tại đây, - cha tỏ vẻ hài lòng.
-    Cảm ơn, - ông Spruill vừa nói vừa thở hổn hển. - Đây là vợ tôi, Lucy.
Bà mỉm cười và vẫn từ tốn nhai.
-    Đây là con gái tôi, Tally.  Ông chỉ tay.
Khi chị nhìn tôi, tôi có thể cảm thấy hai má mình nóng bừng.
-    Và đây là hai cháu trai, Bo và Dale.
Ông hất đầu về phía hai cậu thanh niên ngủ trên nệm khi họ dừng xe bên đường quốc lộ. Họ có lẽ khoảng mười lăm tuổi. Và ngồi gần họ là gã khổng lồ tôi đã thấy lần đầu trên thùng xe, nửa tỉnh nửa ngủ.
    - Đây là con trai tôi, Hank. - Hank ít nhất khoảng hai
mươi tuổi và chắc chắn đủ tuổi để đứng lên bắt tay khách. Nhưng gã vẫn tiếp tục ăn. Hai má phồng to vì cái bánh mì ngô. - Nó ăn được lắm.
Chúng tôi cố mỉm cười.
-    Còn đây là Trot, - ông tiếp tục.
Trot không thèm ngước lên. Cánh tay trái mềm rũ đung đưa bên cạnh. Cậu ta nắm chặt thìa bằng tay phải. Vị trí của cậu ta trong gia đình không được nêu ra.
Mẹ tôi đưa cái làn to đầy rau, trong một giây, Hank ngừng nhai nhồm nhoàm và ngước lên nhìn đống rau cỏ tươi. Sau đó anh ta quay lại với món đậu.
-    Cà chua và ngô năm nay rất ngon, - mẹ nói. - Và chúng tôi có rất nhiều. Chỉ cần cho tôi biết các bạn thích gì.
Tally nhai chậm rãi và nhìn tôi chằm chằm. Tôi cúi gằm mặt xuống đất.
-    Cô thật tốt bụng, thưa cô. - Ông Spruill lịch sự, và bà vợ nói thêm câu cảm ơn nhanh gọn.
Gia đình Spruill không thiếu ăn, họ chắc không bị đứt bữa. Hank khá lực lưỡng với lồng ngực dầy chỉ hẹp lại một chút đoạn cổ. Hai ông bà Spruill chắc nịch và có vẻ khỏe mạnh. Bo và Dale không gầy lắm. Tally, dĩ nhiên, hoàn toàn cân đối. Chỉ Trot là hơi gày gò và hốc hác.
-    Chúng tôi không định cắt ngang bữa tối của các bạn. - Cha nói và chúng tôi đi khỏi.
-    Xin cảm ơn lần nữa. - Ông Spruill với theo.
Theo kinh nghiệm, tôi biết chỉ trong thời gian ngắn chúng tôi sẽ biết rõ hơn về gia đình Spruill. Họ sẽ ở chung với chúng tôi, dùng chung nước ăn, chung nhà vệ sinh. Chúng tôi sẽ cho họ rau trong vườn, sữa bò, trứng gà. Chúng tôi sẽ mời họ ra thị trấn vào thứ bảy và đến nhà thờ vào chủ nhật. Chúng tôi sẽ làm việc cạnh họ trên đồng từ sáng tới tối. Và khi vụ thu hoạch kết thúc, họ sẽ rời khỏi đây và trở về miền đồi núi. Cây cối sẽ rụng lá, mùa đông sẽ đến, và chúng tôi sẽ trải qua nhiều đêm lạnh giá quây quần bên đống lửa kể những câu chuyện về gia đình Spruill.
Bữa tối gồm khoai tây rán thái mỏng, mướp tây luộc, ngô nướng, và bánh mì ngũ cốc nóng hổi - nhưng không có thịt vì nó ngày càng hiếm, và vì hôm qua chúng tôi đã được thưởng thức rồi. Mỗi tuần Gran làm món gà rán hai lần, nhưng không bao giờ vào thứ tư. Khu vườn của mẹ cung cấp đủ cà chua và hành củ để nuôi cả Black Oak, vì vậy bữa nào mẹ cũng thái mỏng mỗi loại một đĩa.
Nhà bếp nhỏ và nóng nực. Cái quạt quay chạy lọc xọc trên nóc tủ lạnh để lưu thông không khí khi mẹ và bà chuẩn bị bữa tối. Mọi cử động của họ chậm chạp, nhưng đều đặn. Họ mệt mỏi, và thời tiết quá nóng nên không thể vội vàng.
Thật ra, hai người không ưa nhau lắm, nhưng cả hai cố sống trong hòa bình. Tôi chưa bao giờ nghe bà và mẹ tranh cãi, không bao giờ nghe mẹ nói xấu mẹ chồng. Họ sống cùng nhà, cùng nấu ăn, cùng giặt giũ, cùng hái bông. Với nhiều công việc như vậy, làm gì còn thời gian để cãi nhau vặt?
Nhưng Gran sinh ra và được dạy dỗ trong trang trại trồng bông. Bà biết, bà sẽ bị chôn chặt với đất đai. Còn mẹ mong mỏi thoát khỏi cuộc sống này.
Theo thường lệ, họ im lặng sắp xếp công việc bếp núc một cách rõ ràng. Gran làm việc gần bếp, phụ trách món bánh mì ngũ cốc, rán khoai tây, luộc mướp tây, và ngô. Vị trí của mẹ ở bên bồn rửa, gọt cà chua và dọn dẹp đống bát đỉa bẩn. Tôi phát hiện ra sự phân bố công việc này khi ngồi tại bàn bếp và gọt dưa chuột vào mỗi tối. Cả bà và mẹ đều thích âm nhạc, thỉnh thoảng một người ậm ừ ngâm nga làn điệu nào đó trong khi người kia hát khe khẽ. Âm nhạc làm cho sự căng thẳng giảm đi.
Nhưng tối nay thì không như vậy. Cả hai rất lo lắng nên không có hứng thú hát hò và ngâm nga. Mẹ đứng ngồi không yên vì chuyện người Mexico bị chuyên chở giống lũ gia súc. Gran thì khó chịu vì gia đình Spruill đã chiếm mất sân trước.
Đúng sáu giờ, bà cởi tạp dề và ngồi xuống đối diện tôi. Cái đài RCA trong vỏ bao bằng gỗ óc chó nằm trên một giá rộng chất đủ mọi thứ ở cuối bàn. Gran bật nút và mỉm cười với tôi.
Chương trình thời sự của CBS (1) do Edward R. Murrow ở New York đọc bản tin. Trong tuần đã xảy ra trận chiến dữ dội ở Pyonggang, gần biển Nhật Bản, và từ tấm bản đồ cũ bà nội vẫn giữ trong ngăn kéo bàn trang điểm, chúng tôi biết sư đoàn bộ binh của chú Ricky đang ở chỗ đó. Lá thư cuối cùng của chú tới tay chúng tôi vào hai tuần trước. Đó chỉ là mẫu giấy viết vội, nhưng qua những dòng chữ vẫn chứng tỏ là chú có mặt giữa chiến trận.
Sau khi nói qua chủ đề chính về vụ tranh cãi với người Nga, Murrow bắt đầu đề cập tới Triều Tiên, và Gran nhắm mắt lại. Bà đan hai bàn tay vào nhau, đặt hai ngón trỏ lén môi, và chờ đợi.
Tôi không chắc bà đợi điều gì. Murrow sẽ không thông báo với cả nước là Ricky Chandler đã chết hay còn sống.
Mẹ cũng lắng nghe. Mẹ đứng dựa vào bồn rửa, lau tay, nhìn đăm đăm về phía bàn ăn. Việc này xảy ra hầu như mỗi tối mùa hè và mùa thu năm 1952.
Các nỗ lực hoà bình đã được khơi mào, sau đó bị gạt bỏ. Quân đội Trung Quốc rút lui, sau đó lại tấn công. Qua lời tường thuật của Murrow và thư từ của chú Ricky thì chúng tôi đang sống trong chiến tranh.
Pappy và cha không nghe tin tức. Hai người còn bận việc bên ngoài, tại kho dụng cụ hay máy bơm nước, làm những việc vặt, nói chuyện về vụ mùa, tìm xem có gì đáng lo lắng, ngoại trừ chú Ricky, cả hai đã tham gia chiến tranh. Họ không cần ngài Murrow ở New York đọc tin tức phóng sự của phóng viên từ Triều Tiên gửi về và kể cho cả nước điều gì đang xảy ra trong trận chiến này hay trận tiếp theo. Họ đã biết tất cả.
Trong bất cứ trường hợp nào, bản tường thuật ngắn tối nay nói về Triều Tiên, và được truyền đến trang trại bé nhỏ của chúng tôi như một điều tốt lành. Murrow chuyển sang đề tài khác, và cuối cùng Gran cũng mỉm cười với tôi.
- Ricky vẫn ổn. - Bà xoa xoa tay tôi. - Chú ấy sẽ về nhà trước khi cháu hiểu được điều này.
Gran luôn tin như vậy. Bà đã chờ đợi Pappy suốt Thế chiến thứ nhất, đã cầu nguyện cho con trai lớn suốt Thế chiến thứ hai. Những chàng trai của bà luôn trở về, và chú Ricky sẽ không để chúng tôi thất vọng.
Gran tắt đài. Khoai tây và mướp tây cần đến sự chú ý của bà. Gran và mẹ quay lại nấu nướng, và chúng tôi chờ Pappy bước vào qua cánh cửa màn che phía sau.
Tôi cho là Pappy đã nghĩ tới kết cục tồi tệ nhất của chiến tranh. Gia đình Chandler gặp nhiều may mắn trong thế kỷ này. Ông không nghe bản tin, nhưng ông muốn biết mọi việc tốt hay xấu. Thường thì ngay khi đài tắt, ông vào bếp. Tối hôm đó ông dừng lại bên bàn, và vò tóc tôi. Bà nhìn ông mỉm cười.
- Không có tin xấu.
Mẹ kể rằng mỗi đêm Gran và Pappy thường chỉ ngủ được vài tiếng rồi tỉnh giấc và lo lắng cho con trai út. Bà tin chú Ricky sẽ trở về. Pappy thì không.
Sáu giờ rưởi, chúng tôi ngồi quanh bàn, chắp tay và thì thầm lời cảm tạ Chúa đã ban cho thức ăn cùng sự may mắn. Pappy đọc lời cầu nguyện. Ông cảm ơn Chúa trời vì người Mexico, gia đình Spruill và những vụ mùa bội thu. Tôi yên lặng cầu nguyện, và chỉ duy nhất cho chú Ricky. Tôi biết ơn về thức ăn, nhưng dường như không quan trọng bằng chú tôi.
Mọi người ăn từ tốn và chỉ nói chuyện về bông. Tôi không được phép tham gia. Gran đặc biệt có quan điểm là trẻ con chỉ nên nhìn chứ không nên nghe.
Tôi muôn tới chuồng bò và kiểm tra nhóm người Mexico. Tôi cũng muốn lẻn ra sân trước và biết đâu lại bắt gặp ánh mắt thoáng qua của Tally. Mẹ nghi ngờ điều gì đó, và khi bữa ăn kết thúc, mẹ yêu cầu tôi giúp rửa bát đĩa. Tôi thích chuồn đi hơn, nhưng không có sự lựa chọn nào khác.
Mỗi tối chúng tôi thường ngồi ở hành lang trước nhà. Đó dường như một thói quen đơn giản, nhưng không hoàn toàn như vậy. Trước tiên, chúng tôi nghỉ một chút sau bữa ăn, rồi bàn luận về bóng chày. Chúng tôi sẽ mở radio và Hary Caray ở đài KMOX tại St. Louis sẽ bình luận trực tiếp về đội bóng Cardinal yêu thích của chúng tôi. Mẹ và bà lột vỏ đậu Hà Lan hoặc đậu bơ. Cuộc trò chuyện trong bữa tôi sẽ kết thúc. Dĩ nhiên, vụ mùa cũng không được đề cập tối.
Nhưng tối hôm đó ở St. Louis, cách chỗ chúng tôi hai trăm dặm, trời mưa, và trận đấu bị hoãn. Tôi ngồi trên bậc thang, nắm chặt găng tay Rawlings, bóp quả bóng chày bên trong, quan sát những bóng người trong gia đình Spruill từ xa và tự hỏi liệu còn ai vô ý đến mức đốt lửa bên cạnh home-plate không.
Cha dã mua cái radio này ở Boston sau khi rời bệnh viện. Mục đích duy nhất là mang đội bóng chày Cardinal đến với cuộc sống. Chúng tôi hiếm khi bỏ lỡ một trận đấu. Radio đặt trên thùng gỗ gần cái đu kẽo kẹt, nơi cha và ông đang nghỉ ngơi. Bà và mẹ ngồi trên ghế tựa gỗ độn bông cách đó không xa, ngay bên kia hành lang, và tách vỏ đậu. Tôi ngồi giữa, ngay bậc thang trước.
Trước khi người Mexico đến, cái quạt xách tay của chúng tôi thường đặt gần mành cửa. Tối tối, nó sẽ lặng lẽ quay ro ro và thổi tan bầu không khí nóng bức xung quanh nhưng cũng chỉ đủ làm cho mọi thứ có thể chịu đựng được. Nhưng, cảm ơn mẹ, bây giờ nó đang ở trên gác xép chuồng bò. Việc này đã gây ra xích mích, mặc dù phần lớn đều được dập tắt nhờ tôi.
Và đêm nay rất yên tĩnh - không bóng chày, không quạt – chỉ có tiếng nói chuyện thì thầm giữa những nông dân mệt mỏi đang chờ nhiệt độ hạ.
Mưa ở St. Louis khiến cánh đàn ông lo lắng về thời tiết. Sông và lạch ở đồng bằng châu thổ Arkansas thường bị ngập. Cứ bốn hoặc năm năm một lần chúng lại bị lở bờ và cuốn sạch mùa màng. Tuy không nhớ chính xác trận lụt nào, nhưng đã nghe kể rất nhiều khiến tôi cảm thấy mình giống người từng trải. Chúng tôi sẽ cầu nguyện hàng tuần lễ về một cơn mưa dễ chịu. Mưa sẽ đến, và ngay khi đất ướt đẫm, Pappy và cha sẽ bắt đầu quan sát trời mây và kể chuyện lũ lụt.
Gia đình Spruill yên ắng dần. Tôi có thể thấy vài cái bóng di chuyển quanh lều.
Tất cả trang trại Chandler chìm trong yên tĩnh. Chúng tôi đã thuê một gia đình miền núi. Chúng tôi thuê cả người Mexico. Cánh đồng bông đang chờ đợi.

Chú thích :
(1)    Columbia Broadcasting System: Mạng lưới.
 
Trang 42




Đăng nhập để trả lời
0
  - 4 -


Tại nơi nào đó trong bóng tối mênh mông của màn đêm, Pappy, đồng hồ báo thức của chúng tôi, tỉnh giấc, cho chân vào ủng, và bắt đầu đi lại với bước chân nặng nề tới bếp pha bình cà phê đầu tiên. Ngôi nhà không rộng lắm - ba phòng ngủ, một nhà bếp, một phòng khách - với những tấm ván sàn cũ kỹ đã lún nhiều chỗ. Thật dễ dàng nếu ai đó muốn đánh thức những người còn lại.
Tôi được phép ngủ dậy muộn hơn. Tuy nhiên, thật khó ngủ, với bao người lạ trong trang trại và đồng bông đang chờ thu hoạch. Tôi đã tỉnh giấc trước lúc cha đánh thức. Tôi mặc nhanh quần áo và gặp cha ở hành lang sau.
Chưa thấy dấu hiệu bình minh khi chúng tôi ngang qua sân sau, sương ướt đẫm ủng. Chúng tôi dừng lại gần chuồng gà, cha cúi người và đưa tay vào trong. Tôi đứng đợi bên cạnh. Tháng trước khi nhặt trứng trong bóng tối, tôi đã giẫm phải một con rắn lớn và gào khóc suốt hai ngày. Đầu tiên, cha không hài lòng; loài rắn vô hại này chỉ là một phần trong đời sống trang trại. Tuy nhiên, mẹ lại xen vào với vẻ giận dữ, và kể từ đó, tôi không được phép đi nhặt trứng một mình.
Cha đặt hơn chục trứng vào ổ rơm và đưa tôi. Chúng tôi đi về phía chuồng bò, nơi con bò Isabel đang đợi. Bây giờ là lúc đánh thức lũ gà, và gà trống bắt đầu cất liếng gáy.
Ánh sáng duy nhất hắt ra từ ngọn đèn lờ mờ treo trên vựa cỏ khô. Đám người Mexico đã thức giấc. Đống lửa được nhóm lên giữa chuồng bò và họ ngồi túm tụm xung quanh như để tránh lạnh. Tôi đã thấy hơi ấm từ sự ẩm ướt.
Việc vắt sữa bò buổi sáng đáng ra là của tôi. Nhưng con rắn vẫn làm tôi sợ, thêm vào đó chúng tôi đang vội vì cần phải ra đồng ngay khi bình minh. Cha nhanh chóng vắt được hai galông(1), nếu là tôi, sẽ mất nửa buổi sáng. Chúng tôi mang thức ăn vào bếp. Mùi thịt giăm bông rán thơm nức.
Bữa sáng gồm trứng tươi, sữa, giăm bông muối, và bánh bítcốt nóng làm bằng lúa miến. Khi mẹ và bà nấu ăn, tôi ngồi xuống ghế, cào ngón tay trên tấm khăn ẩm bằng vải dầu kẻ ca rô, và chờ đợi cà phê. Đây là một thói xấu nhưng mẹ cho phép.
Gran đặt tách và đĩa nhỏ trước mặt tôi, tiếp theo là bát đường và kem tươi. Tôi pha cà phê cho tới khi ngọt như mạch nha, sau đó mới nhấm nháp.
Vào bữa sáng, việc chuyện trò trong bếp được diễn ra ở mức tối thiểu. Thật thú vị khi có nhiều người lạ trong nông trại vào mùa thu hoạch, nhưng sự phân khích bị cắt ngang hơi thực tế là chúng tôi sẽ phải trải qua gần mười hai giờ liên tục dưới ánh mặt trời gay gắt, cúi gập người, thu hái cho tới khi ngón tay rỉ máu.
Chúng tôi ăn nhanh cho xong bữa. Lũ gà trống đang gây náo loạn ngoài sân. Bánh bítcốt của Gran to, khá tròn, và nóng đến nỗi khi tôi cẩn thận đặt mẩu bơ vào giữa, nó tan ra ngay. Tôi quan sát lớp kem vàng ngấm vào bánh, sau đó cắn một miếng. Mẹ công nhận là Ruth Chandler làm ra những cái bánh ngon nhất mà mẹ đã từng thưởng thức. Tôi rất muốn ăn hai hoặc ba cái, giống cha, nhưng đơn giản là bụng tôi không thể chứa nổi. Mẹ ăn một cái, bà cũng vậy. Pappy ăn hai còn cha ba. Vài tiếng sau, khoảng giữa sáng, chúng tôi sẽ nghỉ một lúc dưới bóng cây hoặc cạnh toa moóc và ăn nốt số bánh còn lại.
Vào mùa đông, bữa sáng thường kéo dài vì có ít việc làm. Tốc độ nhanh hơn một chút vào mùa xuân khi đang trồng trọt, và vào mùa hè khi phải chăm sóc bông. Nhưng trong vụ thu hoạch mùa thu, chúng tôi ăn cốt cho xong bữa.
Lại chuyện về thời tiết. Tối qua mưa ở St. Louis làm trì hoãn trận đấu của đội Cardinal đè nặng trong tâm trí Pappy. St. Louis khá xa nên không có ai ngồi bên bàn ăn, ngoại trừ Pappy, đã từng tới đó, tuy nhiên thời tiết của thành phố hiện nay là một yếu tố quyết định trong vụ mùa. Mẹ kiên nhẫn lắng nghe. Tôi không nói lời nào.
Cha đã từng đọc Niên giám nhà nông và cho là thời tiết sẽ thuận lợi suốt tháng Chín. Nhưng giữa tháng Mười có vẻ xấu đi. Thời tiết xấu đang xuất hiện. Chắc chắn là sáu tuần lễ tiếp theo chúng tôi phải làm việc cho tới khi kiệt sức. Chúng tôi làm việc nặng nhọc, nhóm người Mexico và gia đình Spruill càng phải cực nhọc hơn. Điều này là lời giải thích của cha trong những lần động viên mọi người.
Chủ đề tiếp theo là chuyện người làm thuê công nhật. Họ là người địa phương, họ đi từ trang trại này đến trang trại khác, tìm kiếm những nơi trả công cao. Phần lớn họ là người thị trấn nên chúng tôi quen biết. Mùa thu năm ngoái, cô Sophie Turner, giáo viên dạy lớp năm, lớp sáu, đã dành cho chúng tôi niềm vinh dự lớn khi tham gia làm việc trên cánh đồng của chúng tôi.
Chúng tôi cần cả người làm thuê công nhật, nhưng nói chung họ chỉ đến thu hái ở nơi họ muốn.
Khi nhai xong miếng bánh cuối cùng, Ông nội cảm ơn bà và mẹ vì bữa ăn ngon và để họ ở lại thu dọn đống lộn xộn. Tôi cũng khệnh khạng ra hành lang cùng cánh đàn ông.
Ngôi nhà quay về hướng nam, còn chuồng bò và cánh đồng về phía bắc và tây. Đằng đông đã có dấu hiệu đầu tiên của tia nắng màu da cam, chiếu qua vùng đất trang trại bằng phẳng châu thổ Arkansas. Mặt trời bắt đầu mọc, xua tan mây. Áo tôi đã ướt đẫm và dính chặt vào lưng.
Toa moóc phẳng được móc vào máy kéo John Deere, và đám người Mexico lên xe. Cha bước tới chỗ Miguel.
- Xin chào! Các anh ngủ thế nào? Các anh đã sẵn sàng làm việc chưa?
Pappy đi tới gọi gia đình Spruill.
Tôi có một chỗ kín đáo ẩn giữa chắn bùn và chỗ ngồi trên máy kéo. Tại đây tôi đã từng ngồi nhiều giờ, kiên  
nhẫn tìm hiểu chiếc cọc kim loại cắm ô che cho người lái, có thể là cha hoặc Pappy, trong khi chúng tôi cày, trồng cây hay rải phân bón trên đồng. Tôi lên chỗ của mình và nhìn xuống toa moóc đông đúc, nhóm Mexico một bên và gia đình Spruill một bên. Lúc đó, tôi thấy rất vinh dự vì được ngồi trên xe, và nó thuộc về chúng tôi. Thái độ kiêu căng của tôi, tuy nhiên, sẽ biến đi rất nhanh, vì niềm hãnh diện sẽ bị đống bao tải bông dập tắt.
Tôi tò mò không rõ, Trot khốn khổ có ra đồng không. Hái bông đòi hỏi những cánh tay khoẻ mạnh. Mà như tôi nhìn thấy, Trot chỉ có một tay. Nhưng cậu ta cũng có mặt, đang ngồi ngay gờ toa moóc, quay lưng lại với mọi người, chân đu đưa bên ngoài, một mình trong thế giới riêng biệt. Còn Tally đang đưa mắt nhìn mông lung.
Không nói một lời, Pappy nổ máy. Đoàn xe tiến về phía trước. Tôi kiểm tra để đảm bảo không ai bị rớt lại. Qua ô cửa sổ nhà bếp, tôi có thể thấy mẹ nhìn theo khi đang rửa bát đĩa. Mẹ sẽ kết thúc công việc vặt, làm vườn một tiếng, sau đó cùng chúng tôi tham gia vào một ngày làm việc cực nhọc trên đồng. Gran cũng vậy. Không ai được nghỉ ngơi khi bông đã chín.
Chúng tôi chậm chạp đi ngang chuồng bò, động cơ kêu ầm ĩ, toa moóc kêu kẽo kẹt, và rẽ về hướng nam, vùng đất thấp rộng gần nhánh sông Siler. Chúng tôi luôn hái tại bốn mươi mẫu đất thấp trước tiên vì lũ thường sẽ bắt đầu từ đó.
Chúng tôi có bốn mươi mẫu tại vùng đất thấp và bốn mươi mẫu phía sau. Tám mươi mẫu không phải là một trang trại nhỏ.
Sau vài phút, chúng tôi đến chỗ toa moóc bông, và Pappy dừng xe. Trước khi nhảy xuống, tôi quay về hướng đông nhìn ánh nắng từ phía nhà, cách xa gần một dặm. Xa hơn nữa, bầu trời sống động với những tia nắng vàng và da cam. Trên cao, không một áng mây, và điều này có nghĩa sắp tới sẽ chưa có lũ. Và điều này cũng có nghĩa không có bóng râm dưới ánh mặt trời thiêu đốt.
Tally bước tới bên cạnh tôi.
- Xin chào, Luke! - Tôi đáp lại lời chào. Chị mỉm cười như thể biết bí mật nào đó nhưng không bao giờ kể ra.
Pappy không định hướng dẫn cách làm việc, và cũng không ai cần nghe. Mỗi người sẽ chọn một luống bông ngay trước mặt và bắt đầu hái. Không tán gẫu, không căng thẳng cơ bắp, không lời dự đoán về thời tiết. Không nói một lời, mười người Mexico vắt bao tải qua vai, đứng thành hàng, và đi về phía nam. Đám người Arkansas đi về phía bắc.
Giữa một buổi sáng mờ sương tháng Chín nóng nực, tôi đứng thần người trong giây lát, nhìn chăm chú luống bông dài, thẳng tắp, đường như được ấn định dành cho tôi. Tôi nghĩ mình khó lòng đi tới được cuối luống, và bỗng dưng thấy mệt mỏi.
Tôi có vài anh chị họ ở Memphis, con của hai bác ruột, và họ chưa bao giờ phải hái bông. Những đứa trẻ thành phố, vùng ngoại ô, được ở trong ngôi nhả nhỏ xinh xắn. Họ trở về Arkansas vào dịp tang lễ - thỉnh thoảng vào lễ Tạ ơn. Khi nhìn chằm chằm vào luống bông dài vô tận, tôi nghĩ đến họ.
Hai điều thúc đẩy tôi phải làm việc. Thứ nhất, và quan trọng nhất, tôi bị ông nội và cha kèm hai bên, cả hai đều không chấp nhận tính lười biếng. Từ khi còn nhỏ họ  
đã làm việc trên đồng, và tôi chắc chắn cũng phải như vậy. Thứ hai, tôi được trả công thu hái, giống như các nhân công khác, 1,60 đôla cho một trăm pao. Và tôi có một kế hoạch lớn cho số tiền này.
- Chúng ta đi thôi. - Cha nghiêm khắc nói.
Pappy đã tiến vào giữa hàng. Tôi có thể thấy rõ hình dáng và cái mũ rơm của ông. Tôi cũng thoáng nghe tiếng chuyện gẫu của gia đình Spruill cách vài luống. Dân miền núi thích hát hò, chẳng có gì lạ khi họ vừa ngâm nga giai điệu trầm buồn, vừa hái bông. Tally phá lên cười vì lý do gì đó, giọng chị vang khắp cánh đồng.
Chị chỉ hơn tôi mười tuổi.
Cha của Pappy đã tham gia cuộc Nội chiến. Tên cụ là Jeremiah Chandler, và theo gia phả của gia đình, cụ gần như đã một mình chiến thắng trong trận Shiloh. Khi bà vợ thứ hai mất, cụ lấy vợ ba, một thiếu nữ địa phương ít hơn cụ ba mươi tuổi. Vài năm sau, cụ bà sinh ra Pappy.
 Khoảng cách ba mươi năm đối với cụ Jeremiah và cô dâu của cụ. Mười năm đối với Tally và tôi. Điều này có thể được chứ.
Hạ quyết tâm, tôi vắt bao tải dài chín bộ qua lưng, dây đeo bên vai phải, và tấn công quả nang đầu tiên. Nó còn ướt đẫm sương, và đó là một lý do chúng tôi bắt đầu công việc sớm. Trong hơn tiếng đồng hồ đầu tiên, trước khi mặt trời lên quá cao và thiêu đốt tất cả, bông rất mềm. và nhẹ nhàng trong bàn tay. Sau khi được đổ thành đống trong toa moóc, bông sẽ khô và có thể dễ tách hột. Bông bị ướt đẫm nước mưa không thể tách hạt, điều mà mỗi nông dân đều đã khó nhọc học được.
Tôi cố hái nhanh hết mức có thể, bằng cả hai tay, và tống bông vào bao. Tuy nhiên, tôi cũng phải cẩn thận. Hoặc Pappy hoặc cha, hoặc có thể cả hai, sẽ kiểm tra luống của tôi vào lúc nào đó trong buổi sáng. Nếu để sót lại quá nhiều bông trong quả nang, tôi sẽ bị quở trách. Mức độ nghiêm khắc trong lời trách mắng sẽ được quyết định bởi khoảng cách giữa mẹ và tôi tại thời điểm đặc biệt đó.
Cố khéo léo hết sức, tôi luồn đôi tay nhỏ qua đám thân cây hỗn độn, túm lấy quả nang, cố tránh những quả có gờ sắc vì chúng có thể làm chảy máu. Tôi lắc lư, đi len lỏi và lần từng bước dọc theo luống bông, cách xa phía sau cha và Pappy.
Bông được trồng khá dầy khiến thân cây quấn vào nhau, chúng quất vào mặt tôi. Sau tai nạn với con rắn, tôi quan sát mỗi bước chân quanh trang trại, đặc biệt trên đồng, vì có những luống bông gần bờ sông. Tôi đã thấy rất nhiều rắn từ trên máy kéo khi chúng tôi cày xới và trồng trọt.
Hiện giờ, tôi chỉ còn lại một mình, một đứa trẻ bị bỏ lại sau, còn người lớn tay nhanh hơn và lưng khỏe hơn. Mặt trời như quả bóng màu cam chói loá lên cao rất nhanh vào đúng vị trí để làm khô đất cho một ngày mới. Khi cha và Pappy biến mất khỏi tầm nhìn, tôi quyết định nghỉ giải lao một chút. Tally là người ở gần tôi nhất. Chị cách chỗ tôi năm luống. Tôi có thể nhìn rõ cái mũ bêrê vải bông chéo bạc màu đang nhấp nhô.
Dưới bóng cây bông, tôi cởi dây bao tải, sau một giờ mà vẫn lép kẹp đến phát chán. Thật ra trong đó cũng có một đống bông mềm mại, nhưng không đáng kể. Năm ngoái, mọi người quy định tôi hái năm mươi pao một ngày, và nỗi sợ hãi của tôi chính là mức chỉ tiêu này dự định tăng lên.
Tôi nằm ngửa trên đất, qua đám thân cây là bầu trời quang đãng, mong đợi những đám mây, và mơ đến tiền. Cứ đến tháng Tám, chúng tôi nhận qua đường bưu điện những ấn phẩm mới nhất của tờ Sears & Roebuck, và vài sự kiện quan trọng hơn, ít nhất là với cuộc sống của tôi. Nó in trên những tờ bìa nâu, tất cả đều tới từ Chicago, do Gran đặt mua và cất ở cuối bàn bếp, gần chỗ cái đài và tập Kinh Thánh. Phụ nữ thường nghiên cứu quần áo và đồ đạc gia đình. Đàn ông xem xét kỹ các loại công cụ và mặt hàng ôtô. Còn tôi chỉ chăm chú vào mục quan trọng - đồ chơi và hàng thể thao. Tôi có một danh sách quà Giáng sinh bí mật trong tâm trí. Tôi sợ viết ra tất cả mọi thứ mình mơ ước. Ai đó có thể thấy bản danh sách, và nghĩ là tôi vừa tham lam một cách tuyệt vọng, lại vừa có vấn đề về thần kinh.
Trên trang 308 trong cuốn catalog hiện nay là mục quảng cáo khá lạ về áo jacket bóng chày. Mỗi đội chuyên nghiệp đều có một mẫu áo riêng. Điều làm cho mục quảng cáo trở nên đáng kinh ngạc đó là một người mẫu nam mặc chiếc áo jacket đội Cardinal đầy màu sắc. Chiếc áo đỏ chói của đội Cardinal, chất liệu vải bóng, hàng nút trắng phía trước. Trong tất cả các đội bóng, ai đó tại Sears & Roebuck với sự hiểu biết kỳ lạ đã chọn đội Cardinal để trình diễn.
Chiếc áo giá 7,50 đô, gồm cả phí vận chuyển, có cả cỡ dành cho trẻ em, nhưng bắt buộc tôi phải lớn hơn và tôi muốn đuợc mặc áo jacket trong suốt quãng đời còn lại.
Mười ngày lao động cực nhọc, và tôi sẽ có đủ tiền mua áo. Tôi chắc chắn ở Black Oak, bang Arkansas chưa từng có cái áo nào như thế. Mẹ cho rằng nó khá loè loẹt, cho dù có bất cứ ý nghĩa gì. Cha nói tôi cần mua giầy hơn. Pappy nghĩ đó là sự lãng phí tiền bạc, nhưng tôi nghĩ ông cũng ngầm thích cái áo.
Ngay khi dấu hiệu đầu tiên của thời tiết mát mẻ xuất hiện, tôi sẽ mặc áo jacket tới trường mỗi ngày, và đến nhà thờ vào chủ nhật. Tôi sẽ mặc nó tới thị trấn vào thứ bảy, một mũi tên đỏ chói giữa đống quần áo tối tăm lảng vảng trên vỉa hè. Tôi sẽ mặc nó đi khắp nơi, và tôi sẽ trở thành nỗi ghen tỵ đối với đám trẻ ỏ Black Oak (cho cả nhiều người lớn nữa).
Họ sẽ không bao giờ có cơ hội chơi cho đội Cardinal. Tôi, trái lại, sẽ trở nên nổi tiếng tại St. Louis. Quan trọng là phải bắt đầu từng bước.
Lucas! - Giọng nói nghiêm khắc phá tan sự yên tĩnh trên cánh đồng. Đám bông dạt sang hai bên.
Vâng, thưa cha. - Tôi đứng phắt dậy, cúi khom người, thọc hai tay vào những quả nang gần nhất.
Cha bất ngờ đứng trước mặt tôi.
-Con đang làm gì?
-Con phải đi vệ sinh. - Tôi không ngừng tay hái.
-Mất nhiều thời gian quá đấy. - Cha tỏ vẻ nghi ngờ.
-Vâng, tất cả là do cà phê ạ. - Tôi ngước nhìn cha. Cha biết rõ sự thật.
Tiếp tục làm việc mau! - Cha quay đi.
Vâng, thưa cha. - Tôi nói với theo, và biết rõ mình không thể theo kịp cha.
*
Người lớn sử dụng loại bao tải dài mười hai bộ đựng được khoảng sáu mươi pao, vì thế khoảng tám rưỡi hoặc chín giờ cánh đàn ông đã sẵn sàng chuẩn bị cân bông. Pappy và cha sẽ dùng cân treo ở cuối toa moóc. Bao tải được kéo lên. Sợi dây thắt nút treo vào cái móc phía dưới. Kim đồng hồ dịch chuyển mạnh giống như kim dài của một đồng hồ lớn. Mọi người có thể thấy rỏ số lượng bông mình đã hái.
Pappy ghi con số vào cuốn sổ nhỏ treo gần đấy. Sau đó bao bông được đẩy lên cao và đổ vào toa moóc. Không có thời gian để nghỉ ngơi. Bạn bắt lấy cái bao rỗng khi nó được quăng xuống. Bạn lựa chọn luống bông khác và biến mất trong khoảng hai giờ tiếp theo.
Tôi ở giữa luống bông dài vô tận, mồ hôi đầm đìa, người nóng sôi dưới ánh mặt trời, cúi lom khom, cố hái thật nhanh, thỉnh thoảng dừng lại quan sát cử động của Pappy và cha để có thể tranh thủ giấc ngủ khác. Nhưng không có cơ hội tháo bỏ cái bao chết tiệt này. Thay vào đó, tôi dần dần nhích lên trước, làm việc chăm chỉ, mỏi mòn đợi đến lúc bao đầy, và lần đầu tiên tự hỏi mình có thật sự cần áo jacket Cardinal không.
Sau một lúc, chỉ còn lại một mình trên đồng, khi nghe tiếng xe John Deere nổ máy, và tôi biết đã tới giờ ăn trưa. Mặc dù vẫn chưa hoàn thành xong luống đầu tiên, tôi không thật sự quan tâm tới sự thiếu tiến bộ của mình. Chúng tôi gặp nhau chỗ máy kéo, và tôi thấy Trot co quắp trên sàn toa moóc phang. Bà Spruill và Tally đang vỗ về bên cạnh. Lúc đầu tôi nghĩ cậu ta có lẽ đã chết, sau đó tôi thấy cậu ta hơi cử động.
- Nó bị say nắng. - Cha thì thầm khi nhấc bao bông của tôi và xoay tít quanh vai như thể nó rỗng không.
Tôi theo cha tới chỗ cân, Pappy cân rất nhanh. Tất cả sức lao động từ sáng tới giờ chỉ được có ba mươi mốt pao.
Sau khi số bông của nhóm người Mexico và gia đình Spruill được cân xong, tất cả chúng tôi về nhà. Bữa trưa vào chính ngọ. Mẹ và bà đã rời đồng một tiếng trước để chuẩn bị.
Khi đến gần chuồng bò, tôi chợt phát hiện điều mà thoạt tiên tôi không tài nào hiểu nổi. Cowboy, ngồi cuối toa moóc, quay lại rất nhanh, và liếc nhìn Tally. Dường như đang chờ đợi ánh mắt này, vì ngay lập tức chị nở nụ cười rất dễ thương với anh ta, giống như đã cười với tôi. Mặc dù không đáp lại nụ cười, nhưng rõ ràng anh ta tỏ vẻ hài lòng.
Việc đó xảy ra trong chớp mắt, và không ai thấy, ngoài tôi.

Chú thích :
[1] galông bằng 3,781ít.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.10.2021 14:18:34 bởi Ct.Ly>
  - 5 -


Bà và mẹ đều cho rằng giấc nghỉ trưa rất quan trọng đối với sự phát triển hợp lý của một đứa trẻ. Tôi hoàn toàn tin như vậy chỉ khi chúng tôi đang thu hoạch bông. Thời gian còn lại trong năm, tôi chống lại ý kiến này, như đã lập kế hoạch trở thành cầu thủ bóng chày nhà nghề.
Nhưng trong suốt vụ mùa, mọi người đều nghỉ ngơi sau bữa trưa. Nhóm Mexico ăn rất nhanh và nằm dài dưới bóng cây thích gần chuồng bò. Gia đình Spruill ăn giăm bông và bánh bích quy rồi cũng nghỉ ngơi dưới bóng mát.
Tôi không được phép lên giường vì người bẩn, nên thường ngủ ngay trên sàn. Người mệt mỏi và cứng đơ vì lao động nặng nhọc, tôi phát sợ khi nghĩ đến buổi chiều vì thời gian đường như dài hơn, và chắc chắn còn nóng nực hơn rất nhiều. Tôi chìm ngay vào giấc ngủ và thậm chí còn cảm thấy mệt mỏi hơn khi tỉnh dậy sau nửa giờ.
Trot đang thu hút sự quan tâm ở sân trước. Gran, vốn rất tự hào cho mình là thầy lang quê, tới khám cho cậu ta, rõ ràng với mục đích sử dụng một trong những loại thuốc pha chế đáng sợ của bà. Họ đặt Trot lên tấm nệm cũ dưới bóng cây, mảnh vải ướt đắp trên trán. Cậu ta không thể quay lại đồng, và ông bà Spruill đành miễn cưỡng để Trot ở nhà một mình.
Gia đình họ, dĩ nhiên, cần phải hái bông kiếm tiền. Tôi thì không. Một kế hoạch được đưa ra cho phép tôi ở nhà trông Trot trong khi mọi người làm việc dưới cái nóng suốt buổi chiều còn lại. Nếu Trot có biểu hiện xấu, tôi sẽ phải chạy nhanh tới chỗ bốn mươi mẫu đất thấp và tìm một nguời trong gia đình Spruill ở gần nhất. Tôi cố tỏ vẻ không vui với quyết định này khi nghe mẹ giải thích.
-Vậy còn áo jacket Cardinal của con? - Tôi hỏi mẹ với vẻ tập trung cao nhất.
-Vẫn còn khối bông dành lại cho con mà, - mẹ nói. - Con chỉ cần ngồi đó với cậu ấy chiều nay thôi. Ngày mai cậu ta sẽ khoẻ.
Dĩ nhiên, chúng tôi có đến tám mươi mẫu bông, tất cả phải hái hai lần trong khoảng hơn hai tháng. Nếu tôi lỡ mất cái áo đội Cardinal, chắc chắn không phải do Trot.
Tôi nhìn theo toa moóc, lần này có cả bà và mẹ ngồi cùng đám nhân công. Toa xe kêu cót két và lạch xạch rời khỏi nhà, ngang qua chuồng bò, rẽ xuống đường đồng và cuối cùng mất hút giữa những luống bông. Tôi không thể từ bỏ được ý nghĩ không rõ Tally và Cowboy còn nhìn nhau không. Nếu đủ can đảm, tôi sẽ hỏi mẹ điều này.
Khi tôi bước đến gần cái nệm, Trot vẫn nằm yên, mắt nhắm nghiền. Cậu ta có vẻ như không còn thở.
-Trot, - tôi gọi to, bỗng nhiên sợ cậu ta chết dưới sự giám sát của tôi.
Trot mở mắt, chầm chậm ngồi dậy và nhìn tôi. Sau đó cậu ta liếc nhìn xung quanh, như để chắc chắn là chỉ còn lại mỗi hai chúng tôi. Cánh tay trái teo tóp không to hơn cái cán chổi, bờ vai treo nó cũng không cử động. Mái tóc rễ tre cứng đơ.
-Cậu ổn chứ? - Tôi hỏi. Tôi muốn nghe tiếng cậu ta, tò mò muốn biết cậu ta có thể nói chuyện được không.
-Tắc trồi. - Trot ngọng nghịu lầm bầm, giọng mệt mỏi.
Tôi không rõ Trot có trở ngại về ngôn ngữ hay chỉ vì mệt mỏi và choáng váng. Cậu ta vẫn nhìn quanh, cử chỉ đó khiến tôi chợt nghĩ có lẽ Trot đã hơi giả bộ. Tôi bắt đầu thấy khâm phục cậu ta.
-Chị Tally thích bóng chày không? - Một trong hàng trăm câu tôi muốn khai thác từ Trot.
Tôi cho đó chỉ là câu hỏi đơn giản, nhưng cậu ta phớt lờ, lại nhắm mắt, quay người sang bên, sau đó co đầu gối lên sát ngực.
Cơn gió nhẹ thoảng qua khiến đám lá sồi kêu xào xạc. Tôi đến bên thảm cỏ dầy dưới bóng mát gần nệm, và nằm duỗi thẳng người. Nhìn ngắm những chiếc lá và cành cây trên cao, tôi suy nghĩ về vận may của mình. Mọi người đang ướt đẫm mồ hôi dưới ánh mặt trời trong khi thời gian thì trôi chậm như sên. Tôi cố cảm thấy mình có lỗi, nhưng không hiệu quả. Sự may mắn chỉ là tạm thời, vì vậy tôi quyết định hưởng thụ khoảnh khắc này.
Trot cũng vậy. Trong khi cậu ta ngủ như một đứa trẻ, tôi ngắm nhìn bầu trời. Tuy nhiên, nỗi buồn tẻ nhanh chóng ập tới. Tôi chạy vào nhà lấy bóng và găng tay. Tôi tự ném những đường bóng gần hành lang trước, việc tôi có thể làm được hàng giờ.
Suốt buổi chiều, Trot không rời khỏi nệm. Cậu ta ngủ, sau đó ngồi dậy nhìn quanh, rồi quan sát tôi. Tôi cố tìm cách nói chuyện, nhưng cậu ta co người lại và tiếp tục ngủ. Ít ra cậu ta cũng còn sống.
Nạn nhân tiếp theo chạy khỏi cánh đồng là Hank. Anh ta lạch bạch đi bộ về và không ngớt phàn nàn về sự nóng bức. Anh ta nói cần kiểm tra tình hình của Trot.
-Tao đã hái được ba trăm pao, - anh ta làm như con số này gây ấn tượng với tôi. - Sau đó cái nóng đánh gục tao.
Khuôn mặt bắt nắng đỏ bừng. Hank không đội mũ, điều này nói lên rất nhiều về trí tuệ của anh ta. Mọi người đều phải bao bọc kỹ khi làm việc trên đồng.
Anh ta lướt nhìn Trot, sau đó đến chỗ xe tải và lục lọi đống hộp, đống bao bố như con gấu đói. Anh ta nhét bánh quy lạnh vào cái mồm to tướng, nhai nhồm nhoàm, sau đó nằm dài dưới gốc cây.
Mang cho tao ít nước, thằng nhóc. - Hank đột ngột gầm gừ nhìn tôi.
Tôi đờ người kinh ngạc. Tôi chưa bao giờ nghe một người miền núi ra lệnh cho ai đó trong số chúng tôi. Tôi không biết phải làm gì. Nhưng gã lớn hơn, và tôi chỉ là một đứa trẻ.
-Cái gì? - Tôi nói.
-Mang cho tao chút nước! - Gã cao giọng nhắc lại.
Tôi chắc là bọn họ có dự trữ nước ở đâu đó trong đống đồ đạc. Tôi vụng về bước tới gần xe tải. Hành động này khiến gã khó chịu.
-Nước mát cơ, thằng nhóc! Nước nhà mày ấy. Nhanh lên! Tao đã làm việc cả ngày. Mày thì không.
Tôi chạy vội vào bếp, bà thường để bình nước trong tủ lạnh. Tay tôi run run khi rót nước. Tôi biết rằng nếu tôi kể lại sự việc này, sẽ có chuyện ngay. Cha sẽ nói chuyện với ông Spruill.
Tôi đưa cho Hank ly nước. Gã nốc sạch, chép chép môi.
-Mang cho tao ly nữa.
Trot đã ngồi dậy và đang nhìn. Tôi lại chạy về nhà và rót nước. Khi Hank uống xong ly thứ hai, gã nhổ nước bọt ngay sát chân tôi.
-Mày là thằng bé ngoan đấy, - gã ném cho tôi cái ly rỗng.
-Cảm ơn, - tôi bắt lấy cái ly.
-Bây giờ để tụi tao ở một mình. - Gã nói rồi nằm dài xuống bãi cỏ. Tôi rút lui vào nhà và đợi mẹ.
Bạn có thể thoát khỏi việc hái bông vào lúc năm giờ nếu muốn. Đó là lúc Pappy kéo toa moóc quay về nhà. Hoặc bạn có thể ở lại trên đồng cho tới khi trời tối, giống nhóm người Mexico. Sức chịu đựng của họ thật đáng kinh ngạc. Họ sẽ hái bông tới khi không thể nhìn rõ quả nang, sau đó mới đi bộ nửa dặm với bao tải nặng trịch về chuồng bò. Rồi họ sẽ đốt lửa và ăn vài cái bánh ngô trước khi lăn ra ngủ vì mệt mỏi.
Cả gia đình Spruill quây quanh Trot, chỉ trong giây lát cậu ta thậm chí trông có vẻ còn ốm yếu hơn. Khi thấy cậu ta vẫn ổn, họ vội vàng chuyển sự tập trung vào bữa tối. Bà Spruill nhóm lửa.
Tiếp theo, Gran tới bên Trot. Bà có vẻ thật sự quan tâm và tôi nghĩ gia đình Spruill cảm kích vì hành động này. Tuy nhiên, tôi biết, bà nội chỉ muốn tiến hành thí nghiệm trên cậu bé đáng thương với một trong những loại thuốc chẳng có giá trị do bà điều chế. Vì là nạn nhân nhỏ nhất ở đây, tôi thường xuyên là vật thí nghiệm cho mọi pha chế mới bà khám phá ra. Tôi biết, theo kinh nghiệm, bà có thể đưa ra loại thuốc trị bệnh khiến Trot bật dậy khỏi nệm và chạy như chó phổng nước sôi. Sau vài phút, Trot có vẻ nghi ngờ và bắt đầu quan sát bà kỹ hơn. Bây giờ cậu ta dường như nhận biết rõ hơn về mọi việc, và cử chỉ này là dấu hiệu để bà hiểu rằng cậu ta không cần bất cứ loại thuốc nào, ít ra không cần ngay. Nhưng Gran đặt Trot dưới sự giám sát, và bà sẽ kiểm tra lại kết quả vào ngày mai.
Vào chiều muộn, công việc vặt tồi tệ nhất của tôi là làm vườn. Tôi nghĩ thật quá tàn nhẫn khi bắt buộc tôi, hay bất kỳ đứa trẻ bảy tuổi nào, làm những việc như vậy: tỉnh giấc trước bình minh, hái bông cả ngày trên đồng, sau đó lại phải chăm sóc vườn tược trước bữa tối. Nhưng tôi biết chúng tôi may mắn có được một khu vườn đẹp.
Vào thời điểm nào đó trước khi tôi ra đời, cánh phụ nữ đã phân chia những khu đất nhỏ trong và ngoài nhà. Tôi không biết bằng cách nào mẹ nhận được toàn bộ khu vườn, nhưng rõ ràng là nó thuộc về mẹ.
Khu vườn nằm phía đông, khá yên tĩnh, cách xa cửa bếp, sân chuồng bò và chuồng gà. Cách xa khỏi ánh mắt Pappy và điểm đậu xe dành cho các vị khách hiếm hoi. Khu vườn được bao kín trong hàng rào dây thép do cha làm dưới sự chỉ dẫn của mẹ, mục đích là để ngăn lũ hươu nai và cáo.
Ngô trồng quanh hàng rào, và khi đã chốt cánh cổng ọp ẹp, bạn bước vào thế giới bí mật được giấu kín sau những thân cây.
Việc của tôi là xách làn theo sau trong khi mẹ hái những thứ mẹ cho rằng đã chín. Mẹ cũng mang theo một cái giỏ, và dần dần lấp đầy với cà chua, dưa leo, bí, tiêu, hành, và cà. Mẹ thầm thì nói chuyện, không chỉ là với tôi, mà với cả khu vườn.
-Nhìn hàng ngô kìa, thấy không? Chúng ta sẽ ăn chúng vào tuần tới.
-Vâng, thưa mẹ.
Mẹ chậm rãi tìm cỏ dại, những kẻ xâm hại bé nhỏ chỉ tồn tại tạm thời trong khu vườn. Mẹ dừng lại, chỉ chỏ.
-Con nhổ lũ cỏ dại kia đi, Luke, gần đám dưa hấu ấy.
Tôi đặt làn trên đất bẩn và nhổ cỏ với sự căm ghét.
Vào cuối hè, việc làm vườn không nhọc nhằn như mùa xuân, khi mặt đất cần được cày xới và cỏ dại mọc nhanh hơn cả rau.
Một con rắn xanh dài xuất hiện khiến hai mẹ con ớn lạnh trong giây lát, sau đó nó lẩn vào đám đậu leo. Khu vườn đầy rắn rết, tất cả đều vô hại, tuy nhiên, chúng vẫn là rắn. Mẹ sợ rắn, nhưng chúng tôi đã tạo cho chúng nhiều nơi ở. Tôi sống trong nỗi sợ hãi mỗi khi chạm vào quả dưa leo và cảm giác như những cái răng nọc cắm sâu vào mu bàn tay.
Mẹ yêu thích khu đất nhỏ này vì nó là của mẹ - không một ai thật sự muốn nó. Mẹ coi khu vườn như nơi trú ẩn. Khi nhà đông người, tôi có thể tìm thấy mẹ trong vườn, nói chuyện với rau củ. Loại từ ngữ khó nghe hiếm khi xuất hiện trong gia đình chúng tôi. Nhưng khi việc đó xảy ra, tôi biết mẹ sẽ biến vào trong nơi này trú ẩn.
Tôi gần như không thể vác nổi làn, khi mẹ kết thúc việc lựa chọn.
St. Louis đã hết mưa. Vào đúng tám giờ, Pappy bật đài, ông điều chỉnh hàng nút bấm và ăngten, giọng nói sôi động đầy màu sắc của Harry Garay vang lên. Mùa bóng năm nay vẫn còn hai mươi trận. Đội Dodger dẫn đầu, Giant thứ hai. Card đứng vị trí thứ ba. Các fan hâm mộ Cardinal tự nhiên thấy ghét Yankee, và cả hai đội bóng New York trong liên đoàn bóng chày. Chúng tôi cũng không thể chịu nổi bọn họ.
Pappy cho rằng huấn luyện viên Eddie Stanky đáng bị sa thải nhiều tháng trước. Khi đội Cardinal thắng, là nhờ công Stan Musial. Khi bị thua, vẫn với những cầu thủ đó trên sân, thì lại do lỗi của huấn luyện viên.
Pappy và cha cùng ngồi trên đu, những sợi dây xích gỉ rít lên khi họ đu đưa nhẹ nhàng. Bà và mẹ bóc vỏ đậu bơ bên kia hành lang nhỏ. Tôi ngồi uể oải trên bậc thang, vừa nghe đài vừa quan sát gia đình Spruill đón gió, cùng người lớn chờ đợi cái nóng giảm bớt. Tôi đã quên tiếng o o đều đặn của cái quạt cũ, nhưng tôi biết tốt hơn là không nên nêu ra vấn đề này.
Cuộc nói chuyện giữa Gran và mẹ nhẹ nhàng hơn khi bàn về nhà thờ. Một cô gái Black Oak sẽ kết hôn ở Jonesboro, tại nhà thờ lớn, với một thanh niên được cho là giàu có, và điều này cần phải được bàn luận mỗi đêm. Tôi không thể tưởng tượng nổi tại sao phụ nữ lại bị những chủ đề đó thu hút hết đêm này qua đêm khác.
Cánh đàn ông thật sự không có gì để nói, ít ra là những chuyện không liên quan tới bóng chày. Pappy có thể im lặng rất lâu, cha không làm được như vậy. Rõ ràng, họ đang lo lắng về thời tiết hoặc giá bông, nhưng họ quá mệt mỏi để bàn luận.
Tôi hài lòng với việc lắng nghe, nhắm mắt lại và cố hình dung ra Sportsman’s Park ở St. Louis, một sân vận động nguy nga có sức chứa ba mươi nghìn người đến xem Stan Musial và đội Cardinal. Pappy đã từng tới đó, và trong suốt mùa bóng tuần nào tôi cũng đề nghị ông miêu tả sân vận động cho tôi nghe không chỉ một lần. Ông nói mỗi khi thấy sân cỏ, nó dường như rộng ra. Có thể lăn tròn trên bãi cỏ xanh mượt. Sân trong rõ ràng được dọn kỹ cho tới khi không còn một cọng rác. Bảng ghi tỷ số ỏ giữa biên trái to hơn cả nhà chúng tôi. Những cư dân may mắn ở St. Louis vừa được xem đội Cardinal thi đấu vừa không phải hái bông.
Dizzy Dean, Enos Slaughter biệt danh “Đồng Quê” và Red Schoendienst, những cầu thủ nổi tiếng của Cardinal, cả nhóm Gashouse huyền thoại, đã chơi ở đó. Và vì ông nội, cha và chú Ricky đều chơi được bóng chày, trong tâm trí tôi, rõ ràng một ngày nào đó tôi sẽ thống trị sân Sportsman’s Park. Tôi sẽ lướt trên sân, trước ba mươi nghìn khán giả và một mình nhấn chìm đội Yankee xuống vũng bùn.
Cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại của đội Cardinal là Stan Musial, và khi anh tiến đến điểm phát bóng trong lượt phát bóng thứ hai, ngay lượt đầu anh đã có một cú home-run, tôi thấy Hank Spruill lủi trong bóng tối và ngồi vào chỗ khuất, lại gần hơn để lắng nghe.
-Đến lượt Stan à? - Mẹ hỏi.
Vâng ạ, - tôi trả lời.
Mẹ giả bộ quan tâm tới bóng chày vì mẹ không biết gì về nó. Và nếu tỏ ra chú ý đến Stan Musial chỉ là để sau đó mẹ có thể tham gia tán chuyện về chủ đề này quanh Black Oak.
Tiêng tách đậu bơ lạo xạo mềm mại dừng lại. Cái đu vẫn đưa qua đưa lại. Tôi siết chặt găng tay. Cha cho rằng giọng nói của Harry Caray trở nên bực bội khi Musial bước vào, nhưng Pappy không đồng ý.
Cú ném bóng thứ nhất của cầu thủ phát bóng đội Pirate là một đường bóng thấp và ra ngoài. Rất ít cầu thủ phát bóng thách thức được Musial với những đường bóng tại cú phát bóng đầu tiên. Năm ngoái, anh đã dẫn đầu Liên đoàn Bóng chày Liên bang với trung bình các cú đánh là 355. Năm 1952, anh cùng với Frankie Bauholtz của đội Cub dẫn đầu mùa giải. Anh có năng lực và tốc độ, chiếc găng vĩ đại, và thường xuyên tập luyện chăm chỉ mỗi ngày.
Tôi có một tấm danh thiếp của Stan Musial giấu trong hộp xìgà trong ngăn kéo, nếu chẳng may nhà bị cháy thì đó sẽ là thứ tôi cứu đầu tiên.
Cú phát bóng thứ hai bổng và cao, và bạn hầu như có thể nghe thấy tiếng các fan hâm mộ bật dậy khỏi chỗ ngồi. Trái bóng bay hết tốc lực vào điểm xa nào đó trong sân Sportsman’s Park. Không có cầu thủ phát bóng nào theo sau và vượt được Stan Musial trong thời gian quy định. Cú phát bóng thứ ba là cú bóng nhanh, và Harry Caray ngập ngừng vừa đủ để chúng tôi nghe thấy tiếng gẫy rắc của cây gậy. Đám đông dường như nổ tung. Tôi nín thở, chờ đợi giây lát để Harry tường thuật rõ quả bóng đáp xuống chỗ nào. Nó đập vào tường sân bên phải, và đám đông gào thét thậm chí còn to hơn. Hành lang trước cũng rất phấn khích. Tôi nhảy cỡn lên, như thể bằng cách đó tôi có thể thấy St. Louis. Cả Pappy và cha ngả người về phía trước ngay khi vang lên tiếng hò hét của Harry Caray. Mẹ cũng góp lời cổ vũ.
Musial cùng đồng đội Schoendienst đang dẫn đầu Liên đoàn Quốc gia trong trận đánh đôi. Năm ngoái, anh đã thắng mười hai lần ba, cầu thủ tuyệt vời nhất trong số những người tuyệt vời. Khi anh chạy vòng thứ hai, tôi có thể nghe thấy rõ giọng Caray vang lên từ đám đông, cầu thủ chạy ghi điểm lần đầu thật dễ dàng, và Stan chạy đến lần thứ ba, trong đám bụi mù, hai chân anh chạm vạch, nhưng cầu thủ thứ ba không may đã bắt được cú ném cuối và ném trở lại cho cầu thủ phát bóng. Tôi có thể tưởng tượng cảnh anh nhảy lên khi đám đông dường như phát cuồng. Sau đó bằng cả hai tay, anh phủi bụi trên bộ đồng phục trắng đỏ.
Trận đấu chưa kết thúc, nhưng đối với nhà Chandler, ít ra là đối với cánh đàn ông, hôm nay thế là hoàn hảo. Musial đã dội bom, và vì có ít hy vọng là đội Cardinal sẽ thắng hiệp phụ, chúng tôi vui mừng nắm lấy chiến thắng này. Đám đông ngồi xuống. Giọng nói của Harry cũng lắng xuống, và tôi lại ngả lưng trên hành lang, tiếp tục theo dõi. Stan tới lượt chơi thứ ba.
Nếu gia đình Spruill đáng ghét kia không có ở đây, tôi sẽ lẻn ra ngoài kia và chiếm vị trí tại home-plate. Tôi sẽ chờ đợi cú bóng nhanh, đập nó giống như người anh hùng của tôi, sau đó chạy quanh sân tới tận góc thứ ba, ngay nơi gã Hank quái vật đang lảng vảng trong bóng tối.
- Đội nào đang thắng? - Giọng ông Spruill vẳng ra từ bóng đêm.
- Đội Cardinal. Một không. Cuối lượt hai. Musial chỉ đánh được một lần ba. - Hank trả lời.
Nếu là fan hâm mộ bóng chày, tại sao họ lại đốt lửa ngay tại home-plate và dựng cái lều rách tả tơi quanh sân bóng của tôi? Bất cứ thằng ngu nào nhìn vào sân trước, mặc dù có cây cối, cũng thấy rõ nó là dành cho bóng chày.
Nếu không phải vì Tally, tôi sẽ đuổi toàn bộ cái đám kia đi. Và còn Trot nữa. Tôi cảm thấy thương cho cậu bé khốn khổ.
Tôi quyết định không kể lại chuyện Hank và ly nước mát. Tôi biết nếu nói lại cho cha, hoặc cho Pappy, sau đó sẽ xảy ra cuộc bàn chuyện nghiêm trọng với ông Spruill. Nhóm rgười Mexico biết rõ vị trí của mình, và dân miền núi cũng phải như vậy. Họ không được đòi hỏi gì từ gia đình chúng tôi, và họ không được ra lệnh cho tôi hay bất cứ ai.
Tôi chưa thấy người nào có cái cổ dầy như Hank, hai cánh tay và bàn tay đều to, nhưng cái làm cho tôi sợ lại là đôi mắt. Tôi nghĩ, chúng gần như trống rỗng và ngu ngốc, nhưng khi gã quát tôi đem nước, mắt gã hẹp lại và ánh lên vẻ ác độc.
Tôi không muốn Hank nổi điên với tôi, và cũng không muốn cha phải đối đầu với gã. Cha có thể đánh bất cứ ai, có lẽ chỉ ngoại trừ ông nội, người già hơn nhưng khi cần thiết cũng cừ hơn rất nhiều. Tôi quyết định bỏ qua chuyện này. Nếu xảy ra lần nữa, tôi sẽ không còn sự lựa chọn nào khác là kể cho mẹ.
Đội Pirate ghi hai điểm trong lượt chơi thứ tư, theo lời Pappy, rõ ràng là do Eddie Stanky không thay đổi cầu thủ phát bóng trong khi cần phải làm vậy. Sau đó Pirate lại ghi ba điểm trong lượt thứ năm, và Pappy quá điên tiết nên ông bỏ đi ngủ.
Vào lượt chơi thứ bảy, bầu không khí bớt nóng hơn và có thể đi ngủ. Đậu Hà Lan và đậu bơ đã bóc vỏ xong. Gia đình Spruill đã biến đi. Chúng tôi cũng thấy kiệt sức, và đội Cardinal sẽ chẳng đi đâu mất. Chẳng khó khăn gì khi rời khỏi trận đấu.
Sau khi mẹ kéo tôi vào phòng, chúng tôi cầu nguyện, tôi đá tung tấm khăn trải giường ra để có thể thở được. Tôi lắng nghe bản đồng ca ầm ĩ khi lũ dế gọi nhau trên đồng. Vào mùa hè, chúng tấu khúc nhạc này hằng đêm, trừ những hôm trời mưa. Tôi nghe thấy giọng nói xa xôi - một người nhà Spruill nói luyên thuyên, có lẽ là Hank đang lục lọi vét nốt cái bánh quy cuối cùng.
Trong phòng khách, chúng tôi có một cái quạt vuông, giống ô cửa sổ rộng, về lý thuyết, nhiệm vụ của nó là hút không khí nóng trong nhà và thổi ra sân chuồng bò. Nó làm việc khoảng nửa thời gian. Nếu cửa ra vào vô ý sập lại sẽ phá vỡ dòng di chuyển của không khí, và bạn sẽ đầm đìa mồ hôi khi chìm vào giấc ngủ. Gió từ bên ngoài sẽ làm cánh quạt quay thế nào đó, và không khí nóng sẽ tụ lại trong phòng khách, sau đó len lỏi vào các phòng làm cho
chúng tôi thấy ngột ngạt. Cái quạt thường xuyên gặp rắc rối - nhưng nó là một trong những tài sản đáng tự hào nhất của Pappy, và chúng tôi biết chỉ có hai gia đình nông dân khác gần nhà thờ sở hữu một tài sản sang trọng như vậy.
Đêm hôm đó cái quạt làm việc khá hiệu quả.
Nằm trên giường chú Ricky, lắng nghe lũ dế, cảm nhận lớp bã lúa mạch bên trong cái gối nhẹ vắt ngang người trong khi không khí mùa hè oi bức bị dồn về phía phòng khách, tôi thả hồn tới tận Triều Tiên. Cha không muốn kể cho tôi nghe chuyện về chiến tranh. Không một mảy may. Còn Pappy hay kể về cuộc phiêu lưu hết sức thú vị và chiến công của cụ cố nội trong cuộc Nội chiến, nhưng khi nói đến cuộc chiến trong thế kỷ này, ông lại nói rất ít. Tôi muốn biết Pappy đã bắn bao nhiêu người. Ông đã chiến thắng bao nhiêu trận. Tôi muốn nhìn những vết sẹo của ông. Có hàng nghìn câu tôi muốn hỏi.
- Không nói chuyện về chiến tranh. - Mẹ đã cảnh cáo tôi nhiều lần. - Nó quá khủng khiếp.

Và bây giơ Ricky đang ở Triều Tiên. Chú ra đi vào tháng Hai khi tuyết đang rơi, ngay sau lễ sinh nhật lần thứ mười chín ba ngày. Bây giờ thời tiết ở Triều Tiên cũng đang lạnh. Tôi biết nhiều tin tức qua đài. Tôi được an toàn và ấm áp trên giường của chú trong khi chú phải nằm dưới hầm, phải bắn người và bị người bắn lại.
Nếu chú không trở về thì sao?
Đó là câu hỏi tôi tự dằn vặt mỗi đêm. Tôi nghĩ đến cảnh tượng khủng khiếp nhất cho tới khi bật khóc. Tôi không cần giường, không cần phòng của chú. Tôi chỉ muốn Ricky về nhà, để chúng tôi có thể chạy qua các góc quanh sân trước, tập ném bóng và câu cá ở St. Francis, Đối với tôi, Ricky thật sự giống anh trai hơn là người chú.
Nhiều thanh niên đã chết ở đó, rất nhiều người. Chúng tôi thường cầu nguyện cho họ tại nhà thờ. Chúng tôi nói chuyện về chiến tranh tại trường học. Vào lúc đó, Ricky là chàng trai duy nhất ở Black Oak đang chiến đấu tại Triều Tiên, tạo cho gia đình Chandler chúng tôi sự kính trọng nực cười mà tôi không thèm quan tâm.
- Các bạn có tin tức gì của Ricky không? -Là câu hỏi chúng tôi thường xuyên nghe mỗi lần vào thị trấn.
Có tin gì không, điều đó không thành vấn đề. Hàng xóm láng giềng chỉ cố tỏ ra quan tâm. Pappy sẽ không trả lời. Cha sẽ lịch sự đáp lại. Bà và mẹ sẽ thì thầm tán chuyện trong vài phút về lá thư gần đây nhất của chú.
Tôi thì luôn khẳng định.
- Vâng. Chú ấy sẽ trở về sớm thôi.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.10.2021 19:13:20 bởi Ct.Ly>
-  6 –
 
Ngay sau bữa sáng, tôi theo Gran tới sân trước. Bà, với trách nhiệm của Bác sĩ Gran, làm một tua thăm bệnh sáng sớm đầy thiện ý.
Gia đình Spruill đang khom người quanh bàn ăn. Cặp mắt lờ đờ của Trot hồi tỉnh khi thấy chúng tôi.
-Xin chào! - Gran đi về phía cậu ta. - Trot thế nào?
-Tốt hơn rồi. - Bà Spruill trả lời.
-Nó khỏe. - Ông Spruill tiếp lời.
Bà sờ trán Trot.
-Có sốt không?
Trot lắc đầu khó chịu. Hôm qua nhiệt độ bình thường, sáng nay làm sao có thể sốt chứ?
-Cháu thấy đầu óc quay cuồng không?
Trot không biết điều đó có nghĩa gì, tất cả người nhà Spruill cũng vậy. Tôi hình dung ra cậu ta tỉnh lại trong trạng thái đầu óc luôn quay cuồng.
Ông Spruill dùng mu bàn tay chùi hạt lúa miến dính bên mép.
-Chúng tôi nghĩ sẽ đưa nó ra đồng và để nó ngồi dưới toa moóc, tránh ánh nắng.
-Nếu có bóng mây, nó có thể hái bông. - Bà Spruill nói thêm. Đó là bằng chứng cho thấy gia đình Spruill đã có kế hoạch cho Trot.
'Mẹ kiếp!' Tôi thầm rủa.
Chú Ricky đã dạy tôi vài câu chửi. Tôi thường luyện tập trong cánh rừng bên sông, sau đó cầu xin tha thứ ngay khi vừa chửi xong.
Tôi đã tưởng tượng một ngày lười biếng khác dưới bóng cây ở sân trước, trông chừng Trot lúc chơi bóng chày.
-Tôi nghĩ vậy. - Bà nhìn chăm chú vào một bên mắt mở to của Trot. Mắt bên kia ánh lên vẻ hoảng sợ.
-Tôi sẽ ở gần để theo dõi cậu bé. - Bà rõ ràng khá thất vọng.
Trong bữa sáng tôi đã nghe bà nói với mẹ, bà sẽ dùng loại thuốc gồm dầu, dấm ớt, chanh, và loại cỏ đen bà trồng bên cửa sổ. Tôi đã ngừng ăn khi nghe tới đoạn này. Đó là loại thuốc dự phòng cũ mà bà đã từng cho tôi sử dụng vài lần. Nó còn tác động mạnh hơn cả phẫu thuật. Bệnh tật của tôi thường được chữa trị bằng liều thuốc thiêu cháy từ lưỡi đến ngón chân, và vẫn còn cảm giác cháy bỏng.
Có lần, bà pha chế thuốc cho Pappy khi ông bị táo bón. Ông phải ở liền hai ngày trong nhà vệ sinh, không thể ra đồng, chỉ luôn uống nước, còn tôi thì chạy ngược chạy xuôi với bình sữa. Tôi nghĩ bà đã giết ông. Khi Pappy xuất hiện - xanh xao, mệt mỏi, và gầy tọp đi - ông lê bước vào nhà, giận dữ chưa từng thấy. Cha mẹ đã ném tôi lên xe và chúng tôi làm một chuyến đi dạo khá lâu.
Bà lại hứa sẽ trông chừng Trot cả ngày. Cậu ta không nói gì, chỉ ngừng ăn và nhìn chằm chằm ngang qua bàn về phía Tally, người đang giả bộ coi như tôi không tồn tại.
Chúng tôi quay về nhà. Tôi ngồi ngay bậc thang, chờ đợi ánh mắt thoáng qua của Tally và thầm nguyền rủa Trot quá ngu ngốc. Cậu ta sẽ lại gục thôi. Chắc chắn khi mặt trời lên cao quá đầu cậu ta sẽ không chịu nổi, và họ lại cần tôi trông chừng người ốm.
Khi chúng tôi tập trung tại toa moóc, tôi chào hỏi Miguel khi cả nhóm xuất hiện từ chuồng bò và chiếm một bên toa moóc. Gia đình Spruill chiếm giữ bên kia. Cha ngồi giữa, chen chúc giữa hai nhóm người. Pappy lái xe, và tôi quan sát họ từ chỗ ngồi lý tưởng ngay sát bên ông. Sáng nay tôi quan tâm đặc biệt đến mọi cử chỉ giữa Cowboy đáng ghét và Tally yêu quý. Tôi không phát hiện ra dấu hiệu nào. Mọi người đều mắt nhắm mắt mở và nhìn xuống, nghĩ tới một ngày làm việc cực nhọc dưới ánh mặt trời mà thấy sợ.
Toa moóc chuyển động và lắc lư tiến đến những cánh đồng trắng muốt. Khi nhìn chăm chú vào đồng bông, tôi không thể không nghĩ tới áo jacket bóng chày đội Cardinal đỏ chói. Tôi cố hết sức kìm nén hình ảnh về Musial vĩ đại cùng những đồng đội đầy cơ bắp đang chạy qua bãi cỏ xanh đươc cắt tỉa cẩn thận trên sân Sportsman’s Park. Tôi cố tưởng tượng ra tất cả bọn họ trong bộ đồng phục đỏ trắng và rõ ràng là với áo jacket bóng chày giống như trên tờ quảng cáo của Sears & Roebuck. Tôi cố hình dung ra cảnh này vì nó không bao giờ ngừng hấp dẫn tôi, nhưng xe đã dừng lại, tất cả những gì tôi có thể thấy là đồng bông mênh mông hiện ra, ngay tại đây, luống này tiếp luống kia, và đang chờ đợi.
 
Năm ngoái, anh Juan đã phát hiện ra tôi rất thích món ăn Mexico, đặc biệt là bánh ngô. Người Mexico ăn bánh ngô ba bữa mỗi ngày, vì thế tôi nghĩ là nó rất ngon. Một ngày, tôi ăn trưa với Juan và nhóm của anh, sau khi đã ăn trong nhà. Anh nhét vào tay tôi hai cái bánh ngô, và tôi ăn ngấu nghiến. Ba tiếng sau tôi bị phạt quỳ dưới toa xe moóc, khốn khổ như một con chó. Tôi bị tất cả người nhà Chandler trách mắng, đặc biệt là mẹ.
-Con không thể dùng thức ăn của họ! - Mẹ nói với thái độ khinh bỉ.
-Tại sao không ạ? - Tôi hỏi.
-Bởi vì chúng không sạch sẽ.
Tôi bị cấm tuyệt đối ăn bất cứ thứ gì do người Mexico nấu. Và điều này, dĩ nhiên, làm cho món bánh ngô, thậm chí, càng hấp dẫn hơn. Tôi bị bắt gặp lần nữa khi Pappy đột ngột xuất hiện tại chuồng bò để xem xét con Isabel. Cha lôi tôi ra sau kho công cụ và đánh tôi bằng thắt lưng.
Tôi buộc phải ngừng xơi món bánh ngô.
Nhưng một anh đầu bếp mới đang ở cùng chúng tôi, và tôi háo hức muốn so sánh tài làm bánh giữa Miguel và Juan. Sau bữa trưa, khi chắc chắn mọi người đang ngủ, tôi lén mở cửa bếp và rón rén đến chuồng bò. Đây là cuộc dạo chơi nguy hiểm vì Pappy và bà ngủ trưa không say lắm, ngay cả khi họ kiệt sức vì công việc đồng áng
Nhóm Mexico đang nằm dài dưới bóng mát cuối chuồng bò phía bắc, phần lớn đang ngủ trên đồng cỏ. Miguel biết là tôi sẽ đến vì sáng nay chúng tôi đã nói chuyện một lúc khi gặp nhau chỗ cân bông. Khối lượng của chú là bảy mươi pao còn tôi là mười lăm pao.
Miguel đang quỳ xuống bên đống than nhỏ và hâm nóng bánh ngô trong chảo. Chú lật bánh, và khi thấy mặt bánh ngả màu nâu, chú rắc thêm một lớp muối mỏng rồi thái cà chua, hành và tiêu, tất cả đều từ vườn của chúng tôi. Nó còn có cả bột tiêu đỏ, loại này chưa bao giờ được trồng tại Arkansas. Người Mexico mang theo loại tiêu này trong những cái túi nhỏ.
Hai người Mexico thích thú với sự thực là tôi khoái món bánh ngô. Những người còn lại đang say giấc. Cowboy không thấy đâu. Đứng ở góc chuồng bò, với tầm quan sát toàn cảnh ngôi nhà và bất cứ người Chandler nào có thể xuất hiện, tôi bắt đầu ăn. Bánh ngô nóng, có gia vị và bẩn. Tôi không thể nói được vị khác nhau giữa bánh của Miguel và Juan. Cả hai đều ngon. Miguel hỏi tôi muốn ăn nữa không, và tôi có thể xơi cái nữa ngon lành. Nhưng tôi không muốn lấy thức ăn của họ. Tất cả bọn họ đều nhỏ bé, gầy nhom và bẩn thỉu. Năm ngoái, khi bị bắt gặp, tất cả người lớn lần lượt trách mắng và chất lên tôi những lời đáng xấu hổ. Gran cho đó là tội lỗi khi nhận thức ăn từ người kém may mắn hơn. Là người Cơ đốc, chúng tôi không lúc nào thiếu cảm giác bị ám ảnh bởi tội lỗi.
Tôi cảm ơn Miguel, rón rén về nhà và đi vòng lối cổng trước mà không đánh thức một ai trong gia đình Spruill. Tôi nằm co người trên đu như thể đã ngủ trưa tại đó. Không ai động đậy, chỉ mình tôi vẫn không thể ngủ được. Cơn gió thoảng qua, tôi mơ màng nghĩ đến một buổi chiều lười biếng trên hành lang, không hái bông, không có việc gì làm nhưng có thể đi câu cá ở St. Francis và tập bắt bóng ở sân trước.
 
Suốt buổi chiều, công việc gần như đánh gục tôi. Chiều muộn, tôi khập khiễng đi về chỗ toa moóc, kéo lê bao tải phía sau, nóng nực và khát, mồ hôi ướt đẫm, ngón tay sưng phồng do những gờ sắc đâm vào. Tôi đã hái được bốn mốt pao. Chỉ tiêu của tôi vẫn là năm mươi, và chắc bây giờ trong bao cũng có ít nhất mười pao. Tôi hy vọng mẹ sẽ ở đâu đó gần chỗ cân bởi vì mẹ sẽ khẳng định là tôi được phép nghỉ và về nhà. Cả Pappy và cha sẽ bắt tôi quay lại hái thêm, dù đã đủ chỉ tiêu hay chưa.
Chỉ hai người được phép cân, và nếu họ đang mải mê hái bông ở đâu đó, bạn có thể tranh thủ nghỉ ngơi trong khi họ trên đường quay lại toa moóc. Tôi không thấy cả Pappy lẫn cha, và ý tưởng giấc ngủ tranh thủ xuất hiện trong đầu.
Gia đình Spruill đã tập trung bên toa moóc, dưới một bóng mát. Họ ngồi trên bao bông kềnh càng, nghỉ ngơi và nhìn Trot, người mà như tôi có thể nói, không hề dịch chuyển quá mười bước trong ngày.
Tôi tháo dây đeo ra khỏi vai và bước về phía cuối toa moóc.
-Xin chào, - một người nhà Spruill lên tiếng.
-Trot thế nào rồi? Tôi hỏi.
-Tôi đoán là nó sẽ ổn thôi. - Ông Spruill nói.
Họ đang ăn bánh quy và xúc xích, loại thức ăn ưa thích trên đồng. Ngồi sát bên Trot là Tally, tỏ ra hoàn toàn phớt lờ tôi.
-Mày có cái gì xơi không, nhóc? - Hank bất ngờ hỏi, đôi mắt gã sáng rực nhìn tôi.
Trong một giây, tôi quá kinh ngạc không thể nói được gì. Bà Spruill lắc đầu và nhìn xuống đất.
-Mày có không? - Gã dời chỗ để ngồi đối diện tôi.
-Ư, không. - Tôi lúng túng .
-Mày định nói “Không, thưa anh,” phải không, nhóc? - Gã giận dữ.
 -Thôi nào, Hank. - Tally xen vào.
Những người còn lại trong gia đình dường như không muốn tham gia. Tất cả đều cúi đầu nhìn xuống.
-Không, thưa anh. - Tôi nói.
-Không, thưa anh cái gì? - Giọng gã gay gắt hơn. Rõ ràng là Hank thích chọn kiểu giao tiếp hiếu chiến. Gã có lẽ đã đánh nhau nhiều lần.
-Không, thưa anh, - tôi nhắc lại.
-Đám nông dân chúng mày rõ là tự cạo tự đại, mày biết chứ? Mày nghĩ chúng mày hơn hẳn dân miền núi tụi tao vì có đất đai và vì trả công cho sức lao động của tụi tao. Phải thế không, nhóc?
-Đủ rồi đấy, Hank. - Ông Spruill xen vào, nhưng có vẻ thiếu sức thuyết phục.
Tôi bất chợt mong Pappy và cha xuất hiện. Tôi đã rất muốn đám người này rời khỏi trang trại nhà tôi.
Cổ họng tôi khô khốc, và môi dưới bắt đầu run run. Tôi bị tổn thương, bối rối và không biết nói gì.
Hank không định im lặng. Gã chống tay, và nở nụ cười thô tục.
-Tụi tao chỉ là bọn mọi rợ miền ngược, phải không nhóc? Chỉ là kẻ làm thuê. Chỉ là một lũ kém văn minh chuyên uống rượu lậu và lấy chị em họ của mình. Phải thế không, nhóc?
Gã dừng lại giây lát như đợi câu trả lời. Dù rất muốn bỏ chạy, nhưng tôi chỉ biết đứng im nhìn chằm chằm vào đôi ủng dưới chân. Những người Spruill còn lại có lẽ cảm thấy thương xót, nhưng không ai bước ra giải cứu cho tôi.
-Nhà tao còn đẹp hơn nhà mày, nhóc ạ. Mày có tin không? Đẹp hơn rất nhiều.
-Đừng nói nữa, Hank. - Bà Spruill lên tiếng.
-Rộng hơn, có hành lang trước dài, mái thiếc không có những miếng vá nhựa đường, và mày biết còn gì nữa không? Mày không thể tin nổi đâu, nhóc, nhưng nhà tao được sơn đấy. Màu trắng. Mày chưa bao giờ thấy sơn phải không, nhóc?
Bo và Dale, hai người hiếm khi nói chuyện, bắt đầu cười khẽ, như thể muốn khích lệ Hank trong khi bà Spruill không tỏ vẻ khó chịu.
-Hãy bảo anh ấy ngậm mồm lại đi, mẹ. - Tally nói, và nỗi nhục nhã của tôi tạm ngưng, nhưng chỉ trong một giây.
Tôi nhìn Trot, và trái với sự kinh ngạc của tôi, cậu ta chống khuỷu tay, hai mắt mở to, chăm chú quan sát cuộc chạm trán không cân sức. Cậu ta đường như đang thưởng thức nó.
Hank ném sang Bo và Dale nụ cười nham nhở ngu ngốc, và chúng thậm chí còn cười to hơn. Bây giờ ông Spruill cũng có vẻ vui thích. Có lẽ ông đã từng nhiều lần bị gọi là kẻ kém văn hoá.
-Sao gia đình mày không sơn những đám cỏ xanh kỳ quái lên ngôi nhà nhỉ? - Hank nhìn tôi nói ông ổng.
Từ “những đám cỏ xanh kỳ quái” đập vào dây thần kinh của cả bọn. Bo và Dale rung người vì cười. Hank rống lên với điệu cười như máy khoan. Cả lũ dường như sắp vỗ đầu gối khoái chí thì Trot lên tiếng, với âm lượng phải hết sức cố gắng.
-Câm đi, Hane!
Giọng nói hơi lắp bắp với âm “Hank” thành “Hane” nhưng rõ ràng tất cả đều hiểu. Bọn họ giật mình, và câu chuyện đùa bẩn thỉu đó đột ngột chấm dứt. Mọi người nhìn Trot, người đang chằm chằm nhìn Hank với ánh mắt đầy phẫn nộ.
Tôi sắp khóc đến nơi, vì vậy tôi quay đi và bỏ chạy dọc theo đường đồng cho tới khi cảm thấy an toàn, thoát khỏi tầm nhìn của bọn họ. Sau đó tôi ngụp lặn trong bông và chờ đợi những giọng nói thân thiện. Tôi ngồi trên mặt đất nóng, bao quanh là bông, và khóc, một hành động tôi thật sự căm ghét.
 
Toa moóc của các trang trại khấm khá hơn, thường có tấm che bằng vải dầu để giữ bông không bị thổi bay trên đường mang ra trạm tách hạt. Chúng tôi dùng tấm bạt cũ buộc cố định, giữ chặt thành quả lao động trong hai ngày qua, trong đó có cả công sức của tôi. Không ai trong gia đình Chandler dại gì đi rải đám bông trắng như tuyết trên đường. Nhiều nhà khác thì ngược lại, vì thế một phần mùa màng phủ trắng bờ cỏ dại và mương rãnh hai bên Xa lộ 135 khi các nông dân vội vã đưa sản phấm tới trạm tách hạt.
Toa moóc chất đầy bông làm công việc thu hoạch của chúng tôi có vẻ nhỏ lại. Pappy lái xe với tốc độ dưới hai mươi dặm một giờ trên đường ra thị trấn. Và ông không nói năng gì. Cả hai chúng tôi đều nhịn bữa tối. Tôi đang nghĩ về Hank và cố quyết định nên làm gì. Tôi chắc Pappy đang lo lắng về thời tiết.
Nêu kể cho ông về Hank, tôi biết rõ điều gì sẽ xảy ra. Ông sẽ bắt tôi cùng đến chỗ nhà Spruill, và sẽ xảy ra một cuộc chạm trán tồi tệ. Vì Hank trẻ và to lớn hơn, Pappy sẽ cầm trong tay một cái gậy, và ông rất vui khi được sử dụng nó. Ông sẽ yêu cầu Hank phải xin lỗi, và khi gã từ chối, Pappy bắt đầu đe dọa và lăng nhục.. Hank đánh giá sai đối thủ, và cái gậy sẽ vào cuộc. Hank sẽ không cần cầu nguyện. Cha bắt buộc phải bảo vệ phe Chandler với khẩu súng mười hai ly. Cánh phụ nữ sẽ an toàn ở hành lang, nhưng mẹ, một lần nữa, sẽ bị bẽ mặt bởi thiên hướng bạo lực của Pappy.
Gia đình Spruill sẽ liếm những vết thương và đóng gói đống đồ đạc rách rưới. Họ sẽ cuốn xéo đến một trang trại khác cần và đánh giá cao họ, còn chúng tôi sẽ thiếu nhân công.
Tôi sẽ phải hái nhiều bông hơn.
Vì vậy tôi im lặng.

 
Chúng tôi lái xe chầm chậm dọc theo Xa lộ 135, làm đám bông bên lề đường bay lên. Trên cánh đồng bên phải, một nhóm người Mexico vẫn đang làm việc, chạy đua với bóng tối.
Tôi quyết định mình nên tránh Hank và gia đình Spruill tới khi vụ thu hoạch xong xuôi và họ quay về miền núi, trở về với ngôi nhà sơn tuyệt vời, với rượu lậu và những cuộc hôn nhân với chị em họ. Và đến cuối đông, khi ngồi quanh đống lửa trong phòng khách nói chuyện về vụ thu hoạch, tôi sẽ tuôn ra hết những hành động xấu xa của Hank. Tôi sẽ có nhiều thời gian để tiếp tục câu chuyện của mình, và sẽ thêm thắt những tình tiết thích hợp. Đó là truyền thông của gia đình Chandler.
Tuy nhiên, tôi cần phải cẩn thận khi kể chuyện về ngôi nhà sơn.
Khi tới gần Black Oak, chúng tôi đi ngang qua trang trại Clench, nhà của Foy và Laverl Clench cùng tám đứa con. Tôi chắc là tất cả bọn họ vẫn còn trên đồng. Không một ai, thậm chí cả người Mexico, làm việc chăm chỉ hơn gia đình Clench. Cha mẹ rõ ràng là chủ đất, nhưng đám trẻ dường như thích việc hái bông và làm hết phần lớn việc vặt quanh trang trại. Đám bông quanh hàng rào sân trước đã được hái xong. Hàng rào nhà họ thẳng tắp và không cần sửa chữa. Khu vườn rộng và mang lại nhiều sản lượng. Thậm chí cái xe tải cũ của họ cũng luôn sạch sẽ. Một trong số đám trẻ lau rửa xe mỗi thứ bảy.
Và nhà của họ được quét sơn, ngôi nhà đầu tiên trên Xa lộ vào thị trấn. Sơn trắng với những đường kẻ xám quanh các góc. Hành lang và cầu thang trước sơn màu xanh đậm.
Gần thị trấn tất cả các ngôi nhà đều được sơn.
Nhà chúng tôi được làm từ trước Thế chiến Thứ nhất, khi chưa có hệ thống ống nước và điện trong nhà. Bên ngoài là những tấm gỗ ghép, có lẽ xẻ từ cây sồi tại khu đất hiện chúng tôi đang canh tác. Theo thời gian và dưới ảnh hưởng của thời tiết, những tấm ván ghép dần phai thành màu nâu nhợt nhạt, giống màu nhà ở những trang trại khác quanh Black Oak. Quét sơn là không cần thiết. Chỉ cần giữ cho những tấm ván ghép được sạch sẽ và sửa chữa nghiêm chỉnh. Hơn nữa, sơn chỉ tô tốn thêm tiền.
Ngay sau ngày kết hôn, mẹ quyết định ngôi nhà cần phải nâng cấp. Mẹ bàn chuyện với cha, và cha sốt sắng muốn làm hài lòng cô vợ trẻ. Tuy nhiên, ông bà nội lại không hào hứng. Pappy và bà, với tính cách bướng bỉnh đã ngấm sâu, thẳng thừng từ chối việc quét sơn. Chi phí là lý do chính. Cha thuật lại ý ông bà. Không có trận chiến nào xảy ra - không một từ nào. Chỉ một mùa đông căng thẳng trôi qua khi bốn người lớn sống trong ngôi nhà không quét sơn và cố tỏ ra thân mật với nhau.
“Sơn” là một từ nhạy cảm ở trang trại Chandler.

Khi tới trạm tách hạt, tôi đếm được mười một toa moóc chất đầy bông đang đứng chờ. Còn khoảng hai mươi toa xe rỗng đỗ bên cạnh. Chúng thuộc quyền sở hữu của đám nông dân khá giả. Họ có hai toa moóc, một nằm lại chờ tách hạt vào ban đêm trong khi cái thứ hai vẫn ở trên đồng. Cha rất muốn mua thêm toa moóc nữa.
Pappy xuống xe và bước tới nhóm nông dân túm tụm gần đó. Tôi biết là họ đang có chuyện lo lắng.
Trong suốt chín tháng, cái trạm này hoàn toàn yên ắng. Một tòa nhà cao, dài như cái hộp, và lớn nhất quanh vùng. Cứ đến đầu tháng Chín, khi vụ thu hoạch bắt đầu, nó dường như hồi tỉnh. Suốt vụ mùa, trạm tách hạt làm việc cả ngày đêm, chỉ nghỉ tối thứ bảy và sáng chủ nhật. Tiếng động cơ gầm rú vang khắp Black Oak.
Thấy anh em sinh đôi nhà Montgomery đang nghịch ném đá vào bãi cỏ dại, tôi chạy tới nhập hội. Chúng tôi kể cho nhau nghe chuyện về người Mexico và phóng đại về sản lượng hái bông của chính mình. Trời dần tối, và dòng xe moóc chậm chạp dịch chuyển.
-Cha tao nói giá bông đang hạ, - Dan Montgomery ném một hòn đá vào bóng tối. - Và đám lái bông ở Memphis đang đẩy giá xuống vì có quá nhiều bông.
-Năm nay là một vụ bội thu. - Tôi nhận xét.
Hai đứa sinh đôi nhà Montgomery định sẽ tiếp tục làm nghề nông. Tôi cảm thấy tiếc cho bọn nó.
Khi mưa lũ làm mất mùa, giá bông tăng lên vì đám lái buôn ở Memphis không thể thu mua đủ bông. Nhưng nông dân, dĩ nhiên, lại không có gì để bán. Còn khi mưa thuận gió hòa và vụ mùa thắng lớn, giá bông lại sụt xuống vì đám lái buôn ở Memphis có quá nhiều bông. Người lao động cực nhọc trên đồng bông không kiếm đủ tiền thanh toán phí tổn mùa màng.
Vụ mùa bội thu hay thất thoát, chẳng có gì khác nhau.

Chúng tôi nói chuyện một lúc vế bóng chày. Gia đình Montgomery không có đài, vì vậy kiến thức về đội Cardinal rất hạn chế. Lại lần nữa, tôi cảm thấy tiếc cho bọn nó.
Khi rời trạm, Pappy lặng thinh không nói gì. Vết nhăn trên trán ông nhíu lại gần nhau hơn, và cằm ông dường như nhô ra, vì vậy tôi biết ông đã nghe được tin xấu. Tôi đoán là có việc gì đó về giá thu mua bông.
Tôi cũng im lặng suốt quãng đường rời Black Oak. Khi ánh đèn đã lùi lại phía sau, tôi dựa đầu lên cửa sổ hứng gió. Không khí vẫn nóng nực, và tôi muốn Pappy lái xe nhanh hơn cho bớt nóng.
Ngày mai tôi sẽ cố dỏng tai nghe ngóng. Đợi cho người lớn có đủ thời gian thầm thì với nhau, sau đó tôi sẽ dò hỏi mẹ.
Nếu có tin không hay về việc trồng trọt, thế nào mẹ cũng sẽ cho tôi biết.





Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.10.2021 10:30:17 bởi Ct.Ly>
- 7 -


Sáng sớm thứ bảy, chúng tôi lại lên xe moóc để ra đồng, với nhóm Mexico ngồi dúi dụi một bên còn bên kia là gia đình Spruill. Tôi ngồi sát cạnh cha, vì sợ hãi gã Hank quái vật có thể lại bám theo khiêu khích. Lúc này, tôi thấy ghét tất cả nhà Spruill, có lẽ ngoại trừ Trot, người duy nhất đứng ra bảo vệ tôi. Bọn họ cũng tỏ ra phớt lờ tôi. Hy vọng là họ thấy ngượng với chính bản thân mình.
Tôi cố không nghĩ về gia đình Spruill. Hôm nay là thứ bảy. Một ngày kỳ diệu đối với những linh hồn khốn khổ phải làm việc vất vả. Ở trang trại Chandler, thường thì chỉ hái bông nửa ngày, còn buổi chiều chúng tôi cũng như các gia đình nông dân khác, kéo nhau vào thị trấn mua thực phẩm và đồ dùng. Chúng tôi có thể tha thẩn dọc phố Main, cùng tán gẫu, và thoát khỏi công việc vất vả cực nhọc trên đồng bông trong vài giờ. Nhóm người Mexico và dân miền núi cũng đi. Đàn ông tụ tập thành từng nhóm trước Tea Shoppe hoặc cửa hàng Hợp tác xã, hết so sánh với nhau sản lượng thu hoạch của trang trại mình lại thi nhau kể chuyện lũ lụt. Phụ nữ sẽ tập trung mua đồ trong cửa hàng Pop & Pear. Đám trẻ được phép chơi rong trên vỉa hè phố Main và những ngõ hẻm bên cạnh tới bốn giờ, khoảnh khắc tuyệt vời khi rạp Dixie mở cửa.
Xe vừa dừng, chúng tôi nhảy xuống và tìm ngay bao bông. Tôi vẫn mắt nhắm mắt mở, không để ý tới xung quanh, thì chợt nghe thấy một giọng nói ngọt ngào.
- Chào buổi sáng, Luke! - Tally đứng gần và mỉm cười với tôi. Chắc đó là cách thể hiện chị lấy làm tiếc vì chuyện hôm qua.
Là một người nhà Chandler, tôi cũng rất bướng bỉnh. Tôi quay lưng bỏ đi và tự nhủ mình ghét tất cả nhà Spruill. Tôi xông vào luống bông đầu tiên như thể sẽ hái sạch cả bốn mươi mẫu trước bữa trưa. Tuy nhiên, chỉ sau vài phút, tôi đã thấy mệt. Tôi bị lạc giữa đám thân cây, và dường như vẫn nghe thấy giọng nói, nụ cười của Tally.
Chị chỉ hơn tôi mười tuổi.

Tắm rửa vào thứ bảy là việc tôi ghét hơn cả. Việc này được tiến hành sau bữa trưa, dưới sự giám sát nghiêm khắc của mẹ. Chậu tắm, gần như khá rộng đối với tôi, sau đó đến lượt các thành viên còn lại trong gia đình. Nó được đặt trong góc khuất tại hành lang sau, quây xung quanh là cái khăn trải giường cũ.
Trước tiên, tôi phải xách nước từ chỗ máy bơm và đổ vào khoảng một phần ba chậu. Việc này mất đến tám chuyến vận chuyển, và tôi thấy kiệt sức trước khi bắt đầu tắm. Sau đó, tôi kéo tấm khăn ngang qua hành lang và khẩn trương cởi quần áo. Nước rất lạnh.
Tôi dùng xà phòng, khăn tắm kỳ cọ thật mạnh để gột sạch đất, sạch ghét. Tôi cố ý làm cho chậu nước nổi bong bóng đục ngầu để mẹ không thể thấy chỗ kín của tôi khi bước vào. Mẹ mang tới cho tôi bộ quần áo sạch và lấy đi bộ bẩn. Sau đó, mẹ đến bên xem xét hai vành tai và cổ tôi. Trong tay mẹ, khăn tắm trở thành một thứ vũ khí. Mẹ chà xát mạnh làn da mềm của tôi như thể mẹ khó chịu vì lớp đất tích tụ sau mấy ngày làm việc trên đồng. Suốt lúc tắm, mẹ luôn kinh ngạc là tại sao tôi có thể bẩn đến vậy.
Khi thấy cổ đã sắp trầy da, mẹ chuyển hướng tấn công sang tóc như thể chúng đầy chấy rận. Mẹ xối nước lạnh từ đầu xuống để gột sạch xà phòng. Tôi thấy rất ngượng khi mẹ bắt đầu lau chùi cánh tay và chân. Dường như có vẻ thông cảm, mẹ bỏ đi giữa chừng.
Tôi nhảy ra khỏi chậu nước đục ngầu - đầy bụi bẩn từ vùng châu, thổ Arkansas tích tụ trong cả tuần. Tôi giật cái nút rồi vừa quan sát nước thấm qua vết nứt trên hành lang vừa lau khô người và mặc quần áo. Tôi cảm thấy người sảng khoái, sạch sẽ, nhẹ đi đến năm pao, và đã sẵn sàng cho chuyến đi vào thị trấn.
Pappy quyết định là xe tải của chúng tôi sẽ chỉ đi một chuyến tới Black Oak. Điều đó có nghĩa là bà và mẹ sẽ ngồi trước với ông, còn cha và tôi sẽ ngồi sau cùng mười người Mexico. Bị nhét vào một cái hộp không làm cho họ khó chịu, nhưng chắc chắn khiến tôi tức tối.
Khi khởi hành, tôi thấy gia đình Spruill dỡ đống cọc, tháo dây chằng và vội vã giải phóng chiếc xe tải. Họ cũng vào thị trấn, Mọi người đều bận rộn, ngoại trừ Hank đang ngồi ăn gì đó dưới bóng cây.
Để tránh bụi đất bay mù mịt và làm chúng tôi ở đằng sau nghẹt thở, Pappy lái xe với tốc độ gần năm dặm một giờ. Nhưng dù ông đã cố thận trọng, việc đó cũng chẳng giúp gì nhiều. Chúng tôi thấy nóng bức và ngột ngạt. Việc tắm rửa vào ngày thứ bảy là một trình tự ở vùng nông thôn Arkansas, ở Mexico, rõ ràng, không như vậy.
Vào thứ bảy, một số gia đình nông dân tới thị trấn ngay từ buổi trưa. Pappy cho đó là hành động tội lỗi khi mất quá nhiều thời gian hưởng thụ ngày thứ bảy. Trong suốt mùa đông, ông thậm chí còn dọa chúng tôi về việc không nên tới thị trấn, ngoại trừ phải dự lễ nhà thờ vào chủ nhật. Mẹ kể đã có lần ông không hề rời khỏi trang trại trong suốt một tháng trời, dĩ nhiên kể cả việc không đi lễ nhà thờ vì mục sư đã làm gì đó khiến ông khó chịu. Không đi đâu cũng không làm cho Pappy bực bội mấy. Nhưng chúng tôi cũng còn may mắn. Một số nông dân lĩnh canh không bao giơ rời khỏi trang trại. Họ không có tiền mua thực phẩm và không có ôtô để vào thị trấn. Có vài người thuê đất giống chúng tôi và kể cả chủ đất cũng hiếm khi tới thị trấn. Theo lời bà nội, ông Clovis Beckly ở Caraway không vào thị trấn trong suốt mười bốn năm. Và cũng từng đó thời gian ông ấy không đến nhà thờ.
Tôi thích nhìn xe cộ qua lại, vỉa hè đông đúc và không biết có thể sẽ gặp ai tiếp theo. Tôi thích những nhóm người Mexico ngồi dưới bóng cây râm mát, ăn kem và chào đón đám dân quê từ các trang trại trong sự ồn ào thú vị với thứ tiếng Tây Ban Nha. Tôi thích những đám người lạ, dân miền núi không lâu nữa sẽ rời khỏi đây. Có lần, Pappy đã kể cho tôi khi ông ở St. Louis, thành phố có hơn nửa triệu dân, vào thời kỳ trước Thế chiến Thứ nhất và ông đã bị lạc trên phố.
Điều này sẽ không xảy ra đối với tôi. Khi tôi đi bộ trên các phố ở St. Louis, mọi người sẽ nhận ra.
Tôi theo mẹ và bà đến cửa hàng Pop & Pearl Watson. Cánh đàn ông tới cửa hàng Hợp tác xã, vì đó là nơi tất cả đám nông dân thường đến vào chiều thứ bảy. Mặc dù, không xác định được chính xác họ làm gì ở đó, nhưng tôi đoán chắc không gì ngoài việc nắm bắt giá bông và bàn về thời tiết.
Bà Pearl đang bận rộn gần máy tính tiền.
Chào bà Watson! - Tôi tiến đến gần. Cửa hàng đông nghẹt phụ nữ và người Mexico.
-Ồ, chào, Luke! - Bà nháy mắt. - Bông thế nào?
Đó là loại câu hỏi mà bạn được nghe đi nghe lại vào thời điểm này.
-Thu hoạch tốt lắm ạ. - Tôi nói như thể mình đã hái được cả tấn.
Bà và mẹ mất một tiếng đồng hồ chỉ để mua năm pao bột, hai pao đường, hai pao cà phê, một chai dấm, một pao muối và hai bánh xà phòng. Các lối đi chật cứng, chủ yếu cánh phụ nữ quan tâm tới việc chào hỏi hơn là mua hàng. Họ nói chuyện về vườn tược, thời tiết và nhà thờ, chuyện ai sắp sinh em bé và ai có thể. Họ nói chuyện như trẻ con về lề tang ở chỗ này, lễ phục hồi đức tin ở chỗ kia, đám cưới nào sắp tổ chức.
Không một lời về đội Cardinal.
Nhiệm vụ duy nhất của tôi trong thị trấn là mang đống hàng chất lên xe. Khi việc này hoàn thành, tôi được tự do tha thẩn chơi trên phố Main hoặc vào những ngõ hẻm cạnh đó mà không bị ai giám sát. Tôi uể oải lê bước về phía bắc Black Oak, ngang qua cửa hàng Hợp tác xã, hiệu thuốc, cửa hàng ngũ kim và Tea Shoppe. Dọc vỉa hè, từng nhóm đứng tán chuyện, không thèm chú ý tới người qua lại. Vùng này khá hiếm điện thoại, và cũng chỉ có một vài chiếc tivi, vì vậy thứ bảy là khoảng thời gian mọi người nắm bắt thông tin và sự kiện mới nhất.
Tôi bắt gặp cậu bạn Dewayne Pinter đang cố xin phép mẹ cho đi chơi. Cậu ấy lớn hơn tôi một tuổi nhưng vẫn đang học lớp hai. Cha Dewayne đã cho cậu lái máy kéo quanh trang trại, và điều này nâng cao vị thế của cậu ấy đối với tất cả đám học sinh khối hai, trường Black Oak. Gia đình Printer theo đạo Cơ đốc và là fan hâm mộ đội Cardinal, nhưng vì lý do nào đó, Pappy vẫn không thích họ.
-Chào, Luke! - Cô Pinter mỉm cười nhìn tôi.
-Chào cô Pinter ạ!
-Mẹ cháu đâu?
-Cháu nghĩ mẹ cháu vẫn trong hiệu thuốc. Cháu cũng không rõ nữa.
Với điều đó, Dewayne có thể được tự do. Nếu tôi có thể được tin tưởng đi trên phố một mình thì cậu ấy cũng vậy. Khi chúng tôi chạy đi, cô Pinter vẫn cố nói với theo lời dặn dò. Chúng tôi tới rạp Dixie, một đám trẻ đang đứng chờ tới bốn giờ. Trong túi tôi có mấy đồng - năm xu mua  
vé, năm xu cho lon Côca, ba xu mua bỏng ngô. Mẹ đã cho tôi số tiền này coi như tạm ứng khoản tôi kiếm được nhờ hái bông. Tôi sẽ phải trả lại, nhưng cả mẹ và tôi đều biết việc đó sẽ không bao giờ xảy ra. Nếu Pappy cố muốn lấy lại nó, ông sẽ phải bước qua mẹ.
Rõ ràng Dewayne đã trải qua một tuần hái bông tốt đẹp hơn tôi. Cậu ấy có một túi tiền căng phồng và không thể chờ để khoe chúng. Gia đình cậu ấy cũng thuê đất, nhưng họ làm chủ toàn bộ hai mươi mẫu, nhiều hơn gia đình Chandler.
Blenda, con bé mặt đầy tàn nhang, đang la cà gần chỗ chúng tôi, cố bắt chuyện với Dewayne. Nó đã kể cho tất cả lũ bạn là nó muốn lấy Dewayne. Nó đang làm cho cuộc sống của cậu ấy không thể chịu nổi bằng việc cứ lẽo đẽo đi theo khắp nhà thờ, theo dõi cậu ấy đi lên đi xuống trên phố Main mỗi chiều thứ bảy, và luôn đề nghị cậu ấy ngồi gần nó trong rạp phim.
Dewayne khinh thường nó. Khi một nhóm người Mexico đi ngang qua, chúng tôi vội hòa vào giữa bọn họ.
Có vụ đánh nhau đang diễn ra đằng sau cửa hàng Hợp tác xã, nơi chuyên dành cho đám trẻ lớn tụ tập và thể hiện những cú đấm. Việc đánh nhau xảy ra mỗi thứ bảy, và không có gì kích thích Black Oak bằng một trận đánh hay. Đám đông dồn đẩy trận đánh ngang qua ngõ hẻm rộng, gần cửa hàng Hợp tác xã, và trong lúc bị cuốn đi, tôi nghe thấy ai đó nói.
- Tao cá là có một thằng nhà Sisco.
Mẹ đã cảnh cáo tôi không được xem đánh nhau sau cửa hàng Hợp tác xã, nhưng đó không phải là lời ngăn cấm nghiêm khắc vì tôi biết mẹ sẽ không có mặt ở đó. Không một phụ nữ nào dám để bị bắt gặp đang xem đánh nhau. Dewayne và tôi luồn lách qua đám đông, háo hức xem những cú đấm bạo lực.
Gia đình Sisco là dân lĩnh canh nghèo sống cách thị trấn gần một dặm. Bọn chúng luôn lảng vảng trong thị trấn vào thứ bảy. Không ai biết rõ trong gia đình đó có bao nhiêu đứa con, nhưng tất cả đều có khả năng đánh đấm. Cha chúng nghiện rượu và thường xuyên đánh đập con cái, còn bà mẹ đã từng có lần chống lại cảnh sát khi họ định bắt ông chồng. Nhân viên cảnh sát ấy bị đánh gẫy tay, vỡ mũi và rời thị trấn trong nỗi hổ thẹn. Thằng con lớn nhà Sisco đang ở tù vì tội giết người ở Jonesboro.
Đám trẻ nhà Sisco không đến trường và đi lễ nhà thờ, vì vậy tôi cố tránh chạm mặt chúng. Khi chắc là đã đủ gần, chúng tôi hé mắt nhìn qua đám người xem, và thấy Jerry Sisco đang đấm vào mặt một người lạ.
-Ai thế? - Tôi hỏi Dewayne. Đám đông hò hét cổ vũ.
-Tao không biết. - Dewayne nói. - Có lẽ là dân miền núi.
Điều đó tạo nên khả năng phán đoán. Trong thị trấn toàn nhân công miền núi hái bông, việc này là hợp lý khi đám trẻ nhà Sisco đánh nhau với một ai đó không biết chúng. Dân địa phương đều biết chúng rất rõ. Mặt người lạ sưng húp, máu nhỏ xuống mũi. Jerry Sisco đâm một cú mạnh thẳng vào hàm khiến anh ta gục xuống.
Anh em nhà Sisco và đám bạn đứng ở một góc, cười cười nói nói và có lẽ đang nốc rượu bia thì phải. Tóc tai bọn chúng bờm xờm, bẩn thỉu, quần áo rách rưới và chỉ vài đứa đi giầy. Bản tính cố chấp của chúng là một truyền thuyết. Chúng gầy gò, đói rách và đánh nhau với mọi
ngón đòn bẩn thỉu rất bài bản. Năm ngoái, Billy Sisco gần như đã giết chết một người Mexico trong trận đánh nhau sau trạm tách hạt.
Phía bên kia vũ đài tạm thời là nhóm dân miền núi, tất cả đang hò hét cổ vũ người của họ.
- Doyle, cố lên!
Doyle xoa xoa cằm rồi đứng dậy và tấn công. Anh ta cố húc đầu vào bụng Jerry Sisco, khiến cả hai ngã lăn ra đất. Tiếng reo mừng vang lên từ phe của Doyle. Chúng tôi cũng muốn hò reo, nhưng không dám làm bọn Sisco khó chịu. Đây là trận đấu của chúng, và chúng sẽ theo đuổi bất cứ ngươi nào.
Hai người ôm chặt nhau, cào xé và lăn tròn ra đất như hai con thú hoang dại trong khi tiếng hò hét càng to hơn. Doyle bỗng nhiên giơ tay phải lên và tông một cú đấm chính xác vào giữa mặt Jerry, làm máu bắn ra tung toé. Jerry nằm im trong một giây. Tất cả chúng tôi thầm hy vọng có lẽ một đứa nhà Sisco đã gặp phải đối thủ. Doyle định tống một cú đấm nữa thì Billy Sisco bỗng nhiên nhảy vào cuộc và đá mạnh vào lưng Doyle. Doyle hét lên như con chó bị thương và quằn quại trên đất, hai đứa nhà Sisco ngay lập tức nhảy lên người Doyle, vừa đá vừa nện liên tục.
Doyle bị làm thịt mất thôi. Đây không phải là trận đấu công bằng, sẽ rất mạo hiểm nếu bạn đánh nhau với một đứa nhà Sisco. Nhóm dân miền núi im thin thít, và cũng không ai trong đám người địa phương đang theo dõi trận đấu bước ra can ngăn.
Hai đứa Sisco kéo lê chân Doyle, rồi với tất cả sự nhẫn nại của tên đao phủ, Jerry đá vào háng nạn nhân.  
Doyle hét lên và gục xuống đất. Đám nhà Sisco cười như điên.
Bọn Sisco tiếp tục đấm đá anh chàng đáng thương, thì Hank Spruill với cái cổ dầy cộp bước ra và đánh mạnh Jerry làm cho nó ngã xuống. Nhanh như một con mèo, Billy Sisco tung cú đấm bên trái vào quai hàm Hank. Nhưng một điều kỳ lạ xảy ra, cú đấm không trúng Hank. Gã quay lại túm tóc Billy và không cần cố sức nhiều quay tròn rồi quăng nó vào giữa bọn Sisco. Từ ngoài bước tới một đứa khác, Bobby Sisco, gần mười sáu tuổi, nhưng cũng tiều tụy như lũ anh em trai.
Ba đứa Sisco đánh lại Hank Spruill.
Jerry tiến tới gần, Hank đá mạnh vào xương sườn đối thủ với tốc độ không thể tin được. Tất cả chúng tôi đều nghe thấy tiếng kêu răng rắc. Sau đó Hank quay lại và dùng mu bàn tay tát mạnh vào Bobby khiến nó ngã lăn ra. Billy cố xông vào, còn Hank, giống như một diễn viên xiếc lực lưỡng, nhấc bổng thằng bé gầy nhom lên cao rồi ném về phía cửa hàng Hợp tác xã khiến Billy bị va đập mạnh, làm những tấm ván và cửa sổ kêu răng rắc, trước khi ngã đập đầu xuống vỉa hè. Tôi không thể ném được cú bóng chày nào dễ dàng hơn thế.
Khi Billy nằm trên đất, Hank túm cổ và lôi nó quay lại vũ đài. Bobby đang tựa vào bốn đứa khác, gượng đứng lên. Jerry ngã gục một bên, cố giữ chặt mạng sườn và rên rỉ.
Hank đá vào giữa hai chân Bobby, nó kêu rống thảm thiết. Hank cất tiếng cười ghê rợn.
Sau đó gã túm chặt cổ Billy và bắt đầu đánh vào mặt nó bằng mu bàn tay phải. Mặt Billy đỏ lòm và máu chảy ròng ròng xuống ngực.
Cuối cùng, Hank buông Billy và quay sang hai đứa kia.
-Còn thằng nào muốn nữa không? - Gã gào lên. - Nhào vào đi! Đấm xem nào!
Bọn Sisco còn lại sợ hãi núp sau lưng nhau trong khi ba vị anh hùng của chúng đang loạng choạng trên đất.
Trận đánh lẽ ra nên kết thúc, nhưng Hank có dự định khác. Với vẻ thích thú và rất khoan thai, gã đá vào mặt, vào đầu ba đứa kia cho tới khi chúng không còn cựa quậy, rên rỉ. Đám đông bắt đầu giải tán.
-Chúng ta đi thôi, một giọng đàn ông từ sau lưng tôi. - Bọn trẻ các em không được xem đánh nhau.
Nhưng tôi không thể nào nhúc nhích.
Sau đó, Hank thấy một cây gậy. Trong khoảnh khắc đám đông dừng lại, tò mò một cách bệnh hoạn.
Khi Hank phang vào mũi Jerry, một ai đó trong đám đông kêu lên.
-Ôi! Chúa ơi!
Một giọng khác nói đến việc tìm cảnh sát trưởng.
-Chúng ta rời khỏi đây thôi. - Một nông dân già lên tiếng, và đám đông bắt đầu bỏ đi, lần này nhanh hơn.
Hank vẫn không dừng tay. Khuôn mặt gã đỏ bừng giận dữ; mắt loé lên như yêu quái. Gã vẫn tiếp tục nện anh em Sisco cho tới khi cây gậy tan thành những mẩu nhỏ.
Tôi không thấy ai trong gia đình Spruill trong đám đông. Khi trận đánh trở thành giết chóc tàn sát, mọi người bỏ chạy. Không một ai ở Black Oak muốn dây vào nhà Sisco. Và bây giờ không ai muốn đối mặt với gã miền núi điên khùng.
Khi quay lại vỉa hè, những người vừa chứng kiến cảnh tượng hãi hùng kia đều im lặng. Trận đánh vẫn đang diễn ra. Tôi tự hỏi không rõ Hank có đánh chết bọn kia không.
Cả Dewayne và tôi đều không nói một lời khi phóng như bay qua đám đông và chạy về phía rạp phim.

Xem phim chiếu thứ bảy là khoảng thời gian đặc biệt dành cho tất cả đám trẻ nông dân. Chúng tôi không có tivi, và giải trí được xem như là tội lỗi. Trong khoảng hai tiếng chúng tôi được thoát khỏi sự vất vả nặng nhọc của cuộc sống trên đồng bông đến một vùng đất tuyệt vời, nơi ngươi tốt luôn chiến thắng. Phim cho chúng tôi biết bọn tội phạm đã hành động thế nào, cảnh sát tóm được chúng ra sao, chiến tranh đã xảy ra và chiến thắng thế nào, chuyện gì đã xảy ra ở miền Tây hoang đã. Thậm chí, qua một bộ phim tôi biết được sự thật đáng buồn là thực tế miền Nam đã thua trong cuộc Nội chiến, trái với những gì tôi đã được nghe kể, cả ở trường học lẫn ở nhà Nhưng hôm nay, bộ phim về miền tây Gene Autry làm Dewayne và tôi phát chán. Mỗi khi có cảnh đầu tiên trên màn hình, tôi đều nghĩ tới Hank Spruill và có thể thấy gã vẫn đang ở ngoài đó, sau cửa hàng Hợp tác xã và đang nện anh em Sisco. Cuộc hỗn chiến của Autry được so sánh với sự tàn sát thực sự mà chúng tôi vừa chứng kiến. Bộ phim sắp kết thúc và tôi lấy hết can đảm nói với Dewayne.
- Mày nhớ gã miền núi đánh nhau với anh em nhà Sisco không? - Tôi thầm thì. - Gã làm việc trong trang trại nhà tao đấy.
-Mày biết gã? - Cậu ta cũng thầm thì, tỏ vẻ không tin.
-Đúng. Tao biết rõ gã.
Dewayne sửng sốt và muốn hỏi nhiều câu, nhưng nơi đây đang đông người và ông Starnes, giám đốc rạp phim, thường đi qua đi lại với ngọn đèn pin, chỉ để xem xét có sự cố gì. Đứa trẻ nào nói chuyện sẽ bị xách tai và tống cổ ra ngoài. Brenda tàn nhang cũng cố chiếm được ghế ngồi ngay sau chỗ Dewayne, làm cả hai chúng tôi đều không thoải mái.
Trong số khán giả cũng có vài người lớn ngồi rải rác, họ hầu hết là ngươi thị trấn. Ông Starnes cho người Mexico ngồi ở ban công, nhưng điều đó dường như không làm họ khó chịu. Chỉ hơi khó chịu khi phải lãng phí tiền xem phim thôi.
Chúng tôi xô đẩy nhau ra khỏi rạp, và chỉ vài phút sau lại xuất hiện sau cửa hàng Hợp tác xã, mong rằng không thấy những xác chết đầy máu của anh em Sisco. Nhưng không còn ai ở đó. Không có dấu vết nào còn lại của trận đánh - không máu me, không một mảnh vỡ.
Pappy giữ nguyên quan điểm là vào thứ bảy người đứng đắn nên rời thị trấn trước khi trời tối. Những việc tồi tệ thường xảy ra vào tối thứ bảy. Tuy nhiên, chưa từng có gì tồi tệ hơn đánh nhau, tôi chưa bao giờ chứng kiến tội lỗi nào thực sự. Tôi có nghe nói về những cuộc thi uống và chơi súc sắc đằng sau trạm tách hạt, và thậm chí nhiều trận đánh nhau, nhưng tất cả thoát khỏi tầm mắt và chỉ rất ít người chứng kiến. Pappy vẫn sợ là chúng tôi bằng cách nào đó bị liên quan.
Ricky là kẻ lêu lổng trong gia đình Chandler, và mẹ kể rằng chú đã có tiếng về việc ở lại thị trấn quá lâu vào thứ bảy. Trong lịch sử gia đình, gần đấy hình như có xảy ra một vụ bắt bớ nào đó, nhưng tôi không biết chi tiết cụ thể. Mẹ nói rằng Pappy và Ricky đã tranh cãi về thời gian nên rời thị trấn trong nhiều năm qua. Tôi có thể nhớ vài lần chúng tôi rời thị trấn mà không có chú. Tôi đã khóc vì nghĩ là sẽ không còn gặp lại chú, nhưng sáng chủ nhật tôi lại thấy chú ngồi trong bếp uống cà phê, điềm nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Chú Ricky luôn về nhà.
Chúng tôi gặp nhau tại chỗ xe tải, lúc này được bao quanh bởi hàng chục loại xe cộ đỗ bừa bãi quanh nhà thờ Cơ đốc vì đám nông dân vẫn đang đi loanh quanh. Mọi người đông nghẹt dọc trên phố Main. Tôi chưa muốn về, và theo ý tôi, không việc gì phải vội vàng.
Bà và mẹ có chuyện gì đó trong nhà thờ. Cánh phụ nữ thường tìm thấy việc để làm trước ngày Xaba [1]. Từ bên kia xe tải, tôi nghe lỏm được câu chuyện giữa Pappy và cha về một vụ đánh nhau. Tôi gần như nín thở khi nghe thấy tên Sisco. Nhóm của Miguel xuất hiện và nói xì xồ liên tục bằng tiếng Tây Ban Nha, vì thế tôi bỏ lỡ mất khúc sau câu chuyện.
Vài phút sau, Stick Powers, một trong hai nhân viên cảnh sát của Black Oak, bước tới chào hỏi Pappy và cha. Ông Stick là một tù binh trong chiến tranh, bước đi khập khiễng. Ông tuyên bố đó là kết quả một hành động lăng mạ trong trại lính Đức. Còn Pappy thì nói, ông ta chưa bao giờ rời khỏi hạt Craighead, chưa bao giờ nghe thấy tiếng súng giận dữ của kẻ thù.
- Một đứa trẻ nhà Sisco sắp chết, - tôi cố nhích lại gần hơn để nghe. Giờ thì trời sắp tối, và không ai theo dõi tôi.
-Không có gì sai lầm về việc đó. - Pappy nhận xét.
-Họ nói rằng do thằng miền núi đang làm thuê tại trang trại của ông.
-Tôi không xem đánh nhau, Stick. - Có vẻ Pappy bắt đầu khó chịu. - Anh có một cái tên chứ?
-Hank gì đó hay đại loại như vậy.
-Chúng tôi có vô số thứ gì đó hay đại loại như vậy.
-Tôi có thể tới chỗ ông sáng mai và xem xét xung quanh được chứ? - Ông Stick hỏi.
-Tôi không thể cấm anh.
-Đúng, ông không thể. - Ông Stick xoay xoay bên chân lành lặn và nhìn về phía nhóm Mexico như thể họ có tội.
Tôi vòng qua phía bên kía xe tải.
-Có chuyện gì vậy?
Như thường lệ, khi có việc tôi không được phép biết hay nghe, mọi người luôn phớt lờ tôi.
Chúng tôi lên xe về nhà trong bóng tối, đèn đóm ở Black Oak mờ dần phía sau, cơn gió mát thổi bay tóc. Lúc đầu, tôi muốn kể cha nghe về trận đánh nhau, nhưng tôi không thể làm vậy trước mặt người Mexico. Sau đó, tôi quyết định mình không phải là một nhân chứng. Tôi sẽ không kể cho một ai bởi vì không có cách nào hay hơn. Bất cứ việc gì liên quan tới nhà Sisco cũng sẽ khiến cuộc sống của tôi trở nên nguy hiểm, tôi cũng không muốn gia đình Spruill phát điên và bỏ đi. Vụ thu hái đã bắt đầu, tôi thấy mệt mỏi vì nó. Và quan trọng nhất, tôi không muốn Hank Spruill giận dữ với tôi, với cha hoặc Pappy.
Xe tải của họ không thấy ở sân trước khi chúng tôi về tới nhà. Họ vẫn còn trong thị trấn, có lẽ đang thăm hỏi những ngươi đồng hương.
Sau bữa tối, chúng tôi ngồi trên hành lang và Pappy bắt đầu dò sóng radio. Đội Cardinal hiện ở Philadelphia, đang chơi dưới ánh đèn. Cầu thủ Stan Musial sẽ phát bóng đầu tiên trong hiệp hai, và tôi bắt đầu mơ mộng.

Chú thích :
[1] Ngày nghỉ ngơi và thờ phụng Chúa





Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.10.2021 14:26:11 bởi Ct.Ly>
- 8 -


Mới sáng sớm chủ nhật chúng tôi đã thức giác vì sấm chớp ầm ầm. Cơn bão từ hướng tây nam làm cản trở bình minh, và khi nằm trong bóng tối trong phòng chú Ricky, lại lần nữa tôi tự hỏi là tại sao trời lại mưa vào sáng chủ nhật. Tại sao không mưa suốt cả tuần, nhờ thế tôi sẽ không phải hái bông? Chủ nhật là ngày được nghỉ ngơi mà.
Gran rủ tôi cùng ngồi trên hành lang ngắm mưa rơi. Bà rót cà phê, bỏ thêm nhiều đường, và chúng tôi đu đưa nhẹ nhàng trên cái đu khi gió rít lên từng hồi. Gia đình Spruill đang chạy nhốn nháo, ném đồ đạc vào trong các thùng, cố tìm chỗ trú cách xa những cái lều dột nát.
Mưa ào ào từng đợt, như thể cố bù đắp cho thời tiết khô hanh suốt hai tuần trước. Một màn sương mờ buông trên hành lang, và trên đầu chúng tôi, mưa đập xuống mái thiếc kêu ầm ĩ.
Bà cẩn thận chọn thời điểm nói chuyện. Đôi khi, thường là một lần mỗi tuần, bà sẽ dẫn tôi đi dạo, hoặc gặp tôi trên hành lang, chỉ có hai bà cháu. Vì đã kêt hôn, đã sống với Pappy suốt ba mươi năm, bà cũng học được nghệ thuật im lặng. Bà có thể đi bộ hoặc ngồi đu rất lâu trong khi nói rất ít.
-Cà phê thế nào? - Bà hỏi, vừa đủ để có thể nghe thấy trong cơn bão.
-Ngon lắm, thưa bà.
-Cháu thích ăn sáng món gì nào?
-Bánh quy ạ.
-Vậy thì bà sẽ làm bánh.
Trình tự ngày chủ nhật tương đối thong thả. Nói chung, chúng tôi thường ra khỏi giường muộn hơn, mặc dù hôm nay mưa đã đánh thức chúng tôi dậy sớm. Bữa sáng, chúng tôi chỉ ăn bánh quy và mật, không trứng, không giăm bông. Công việc bếp núc cũng nhẹ nhàng hơn. Đây là, sau tất cả mọi thứ, một ngày nghỉ ngơi.
Cái đu chầm chậm đưa qua đưa lại, những sợi xích gỉ kêu cọt kẹt nhẹ nhàng trên đầu. Ánh sáng loé lên ngang qua đường về phía trang trại Jeter.
-Đêm qua bà mơ thấy Ricky. - Bà nói.
-Một giấc mơ đẹp?
-Đúng, rất đẹp. Bà mơ thấy chiến tranh bỗng dưng kết thúc, nhưng họ quên không báo cho chúng ta biết. Và một đêm chúng ta đang ngồi ở đây nghe đài, ngay trên hành lang này, thì một người đàn ông chạy về phía nhà chúng ta. Đó chính là Ricky. Chú ấy mặc quân phục, và hét to là chiến tranh đã kết thúc.
-Ước gì cháu cũng có giấc mơ như vậy.
-Bà nghĩ Chúa nghe rõ lời cầu nguyện của chúng ta.
Chú Ricky sẽ về nhà, phải không bà?
-Đúng. Có lẽ không phải ngay lúc này, nhưng chiến tranh sẽ sớm kết thúc thôi. Chúng ta sẽ chờ đợi đến ngày thấy Ricky bước qua sân kia.
Tôi nhìn ra sân. Những vũng nước nhỏ bắt đầu hình thành và chảy về chỗ gia đình Spruill. Cỏ hầu như không còn, và gió thổi bay những chiếc lá sồi khô.
-Cháu cầu nguyện cho chú Ricky hàng đêm, bà ạ. - Tôi nói, vẻ khá tự hào.
-Bà cầu nguyện cho chú mỗi giờ, - mắt rươm rướm ướt.
Chúng tôi ngồi đu đưa và ngắm trời mưa. Hiếm khi tôi nghĩ tới chú Ricky với hình ảnh trong bộ quân phục, đeo súng, nhảy từ hầm trú ẩn này sang hầm khác. Tôi vẫn nghĩ về chú như một người bạn thân thiết, người anh trai, với chiếc cần câu hay găng tay bóng chày. Chú chỉ mới mười chín tuổi. Đối với tôi, độ tuổi này vừa già vừa trẻ.
Rồi mẹ xuất hiện bên ngưỡng cửa. Việc tắm thứ bảy nối tiếp bằng việc lau rửa ngày chủ nhật, một trình tự nhanh chóng nhưng cũng tàn bạo khi cổ và tai bị vò nát.
-Chúng ta cần phải sẵn sàng. - Mẹ nói. Tôi đã thấy rất đau.
Tôi theo bà vào bếp để lấy thêm cà phê. Pappy ngồi tại bàn, đang đọc Kinh Thánh và chuẩn bị bài học ngày chủ nhật. Cha đang ở hành lang sau, ngắm nhìn bão và dòng sông ở xa, rõ ràng cha bắt đầu lo lắng về lũ lụt.
Khi chúng tôi dùng xong bữa trưa thì mưa tạnh. Đường đi lầy lội, và Pappy lái xe thậm chí còn chậm hơn bình thường. Chúng tôi thỉnh thoảng trượt vào vết xe lún sâu và vũng nước trên con đường cũ đầy bùn. Cha và tôi ngồi đằng sau, bám chặt vào hai bên sàn, mẹ cùng bà ngồi trước, mọi người đều mặc bộ quần áo đẹp nhất. Bầu trời đã quang đãng, và mặt trời lên cao đang nung nóng mặt đất ướt tạo ra hơi nước bốc lên từ những cây bông.
- Hôm nay nắng to đấy. - Cha tiếp tục dự báo thời, tiết, hệt như mọi ngày từ tháng Năm tới tháng Chín.
Khi tới Xa lộ, tôi đứng lên và dựa vào cabin để gió thổi vào mặt. Theo cách này, có thể thấy mát mẻ hơn rất nhiều. Những cánh đồng mênh mông; ngay cả người Mexico cũng không được phép làm việc vào ngày Xaba. Mùa thu hái năm nào cũng có tin đồn về nhiều nông dân ngoại đạo lén thu hái bông vào chủ nhật, nhưng bản thân tôi chưa bao giờ chứng kiến.
Hầu như mọi việc ở vùng nông thôn Arkansas đều chứa đầy tội lỗi, đặc biệt đối với người theo đạo Cơ đốc. Phần lớn nghi lễ tôn giáo trong ngày chủ nhật của chúng tôi do Cha Akers đảm trách. Đó là một người nóng tính, ồn ào và dành quá nhiều thời gian đề cập đến nguy cơ nảy sinh các tội lỗi mới. Dĩ nhiên, tôi không quan tâm đến việc giảng đạo - phần lớn những đứa trẻ đều như vậy - nhưng có nhiều việc để đến nhà thờ vào chủ nhật hơn là vì lễ nghi. Đó chính là lúc gặp gỡ, lan truyền tin tức và ngồi lê đôi mách. Mọi người tập trung đông đúc, vui vẻ, hoặc ít nhất cố tỏ ra như vậy. Khi ở trong nhà thờ, mọi lo lắng trong cuộc sống - cơn lũ sắp tới, chiến tranh ở Triều Tiên, giá bông thất thường - đều được gác qua một bên.
Chúa Trời không muốn các con chiên của Người phải lo lắng, bà luôn nói vậy, đặc biệt khi chúng tôi đang ở trong nhà của Người. Điều này luôn làm cho tôi thấy buồn cười, bởi vì bà cũng bắt đầu lo lắng chẳng kém gì Pappy.
Ngoài gia đình và trang trại, không có gì quan trọng đối với chúng tôi bằng Nhà thờ Cơ đốc ở Black Oak. Tôi biết tất cả mọi người trong nhà thờ, và dĩ nhiên, họ cũng biết tôi. Đây là một gia đình lớn, dù tốt hay không. Mọi người yêu quý nhau, hay ít nhất cố tỏ ra như vậy, và nếu một ai đó ốm đau, ngay sau đó tất cả sẽ cầu nguyện cho người đó. Lễ tang sẽ kéo dài một tuần, như là một sự kiện linh thiêng. Lễ phục hồi đức tin vào mùa thu và mùa xuân được lập kế hoạch hàng tháng trời và được mong đợi rất nhiều. Ít nhất mỗi tháng một lần chúng tôi có nghi thức ăn tối ngoài trời - một cuộc picnic cầu may dưới tán cây sau nhà thờ - và thường kéo dài tới tận chiều muộn. Đám cưới rất quan trọng, đặc biệt đối với phụ nữ, nhưng không nhiều kịch tính như đám tang và chôn cất.
Khi chúng tôi đến, bãi đỗ xe rải sỏi của nhà thờ đã gần như chật kín. Phần lớn là các loại xe tải cũ như của chúng tôi, xe nào cũng đầy bùn đất. Có vài xe ôtô mui kín của dân thị trấn hoặc chủ đất. Phía cuối đường là nhà thờ Tin lành, nơi đó ít xe tải nhưng lại nhiều ôtô hơn. Dường như có quy luật, dân làm ăn buôn bán và các thầy cô giáo thường đến cầu nguyện ở đó. Người Tin lành cho rằng họ thuộc đẳng cấp cao hơn, nhưng với người Cơ đốc, chúng tôi biết con đường riêng đến với Chúa.
Tôi nhảy xuống xe và chạy tìm lũ bạn. Ba đứa trẻ lớn hơn đang ném bóng đằng sau nhà thờ, gần nghĩa địa, và tôi tiến về phía chúng.
- Luke! - Một ai đó thì thầm. Đó là Dewayne, đang trốn sau gốc cây du và trông có vẻ sợ hãi. - Ở đây.
Tôi bước về phía cây.
-Mày đã nghe gì chưa? - Nó hỏi. - Jerry Sisco đã chết sáng nay.
Tôi cảm thấy như mình đã làm chuyện gì đó sai trái, và lặng câm không thể nói một lời. Dewayne chằm chằm nhìn tôi. Cuối cùng, tôi cố gắng đáp lại.
-Vậy thì sao?
-Vì vậy, họ đang cố tìm những ai đã chứng kiến sự việc xảy ra.
-Rất nhiều người xem mà.
-Đúng, nhưng không ai dám nói gì. Mọi ngươi đều sợ nhà Siseo, và sợ cả gã miền núi của mày.
-Không phải gã miền núi của tao.
-Được, dù sao thì tao cũng thấy sợ gã đó. Mày không sợ à?
-Có.
-Bây giờ chúng ta nên làm gì?
-Không gì hết. Chúng ta không được nói một lời, ít ra là vào lúc này.
Hai đứa quyết định im lặng. Nếu bị tra hỏi, chúng tôi sẽ nói dối. Và nếu nói dối, chúng tôi sẽ phải kèm theo lời cầu nguyện.
Những lời cầu nguyện dài và trống rỗng vào sáng chủ nhật hôm đó. Vì vậy có tin đồn và bàn tán về việc đã xảy ra với Jerry Sisco. Tin tức truyền đi rất nhanh trước khi bài giảng đạo chủ nhật bắt đầu. Dewayne và tôi nghe thấy từng chi tiết về trận ấu đả mà chúng tôi không thể tin là đang được tường thuật lại. Lúc này Hank trở nên to béo hơn.
-Hai bàn tay to như miếng giăm bông, - ai đó nói.
-Hai vai giống như bò mộng Brahma, - một người khác nói tiếp.
- Hắn ta phải nặng đến ba trám pao đấy.
Cánh đàn ông và đám trẻ lớn hơn tụ tập trước nhà thờ. Dewayne và tôi đi loanh quanh nghe ngóng. Tôi nghe trận đấu được miêu tả như một vụ ám sát, sau đó là vụ giết người, và tôi không rõ ràng về sự khác nhau cho tới khi nghe ông Snake Wilcox nói.
- Không phải ám sát. Chỉ người tốt mới bị ám sát. Còn đồ cặn bã như nhà Sisco là bị giết.
Vụ giết người đầu tiên xảy ra ở Black Oak từ năm 1947, trong cuộc cãi lộn tại một gia đình nông dân lĩnh canh ở phía đông thị trấn, vài người say rượu và viên đạn trúng vào một cậu thiếu niên. Nhưng không có lời buộc tội nào. Tất cả đã trốn chạy trong đêm, không ai nghe được điều gì về họ. Sau đó không còn ai có thể nhớ tới vụ giết người “thực sự” trong thời gian gần đây.
Tôi bị thôi miên bởi câu chuyện ngồi lê đôi mách. Chúng tôi ngồi ở bậc thang trước nhà thờ, nhìn xuống vỉa hè dẫn tới phố Main, lắng nghe đám đàn ông tranh luận và bàn tán về những việc nên hoặc không nên xảy ra.
Nhìn về phía trước cửa hàng Hợp tác xã, và trong một thoáng tôi nghĩ có thể thấy Jerry Sisco lần nữa, khuôn mặt bầy nhầy máu, khi Hank Spruill nện nó cho tới chết.
Tôi đã chứng kiến một người bị giết. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy một sự thôi thúc phải quay lại điện thờ và bắt đầu cầu nguyện. Tôi biết mình có tội gì đó.
Chúng tôi chia thành từng nhóm bước vào nhà thờ, đám con gái và phụ nữ túm tụm lại thành từng nhóm và thì thầm về vụ thảm kịch. Với họ, hình ảnh Jerry đang lớn dần lên. Brenda, con bé có khuôn mặt đầy tàn nhang phải lòng Dewayne, sống cách gia đình Sisco một phần tư  
dặm, đang được nhiều người chú ý. Phụ nữ rõ là nhiều cảm thông hơn nam giới.
Dewayne và tôi tìm thấy đám bạn ở sảnh hội họp, rồi đi vào căn phòng nhỏ, ngồi lắng nghe những bước chân.
Cô giáo lớp học chủ nhật tên là Beverly Dill Cooley, giáo viên trường trung học ở Monette, bắt đầu bằng lời chia buồn dài dòng và khá rộng rãi dành cho Jerry Sisco, một ngươi bất hạnh sinh ra trong gia đình nghèo, một thanh niên chưa bao giờ có một cơ hội. Sau đó cô Cooley yêu cầu chúng tôi nắm chặt tay, nhắm mắt lại trong khi cô cất giọng cầu xin Chúa đón nhận Jerry tội nghiệp vào vòng tay ấm áp và rộng mở của Người. Cô khiến cho chuyện của Jerry nghe như về một tín đồ Cơ đốc, một nạn nhân vô tội.
Tôi liếc sang Dewayne và cậu ấy cũng nhìn tôi.
Có cái gì đó buồn cười về việc này. Là người Cơ đốc, chúng tôi được dạy từ khi còn nằm trong nôi rằng con đường duy nhất lên được thiên đàng là tin vào đức Chúa Jesus và cố noi theo tấm gương của Người trong việc sống trong sạch, sống đạo đức. Đó là một thông điệp rất đơn giản, được giảng dạy vào mỗi sáng và tối chủ nhật, và mỗi cha giảng đạo phục hồi đức tin đi ngang qua Black Oak đều nhắc lại rõ ràng bức thông điệp. Chúng tôi nghe điều này tại lớp học chủ nhật, tại buổi lễ cầu nguyện tối thứ tư, và tại buổi học Kinh Thánh. Điều đó có trong các bài thánh ca, trong sự sùng đạo, trong nền văn hóa của chúng tôi. Đó là con đường thẳng phía trước, không thay đổi, và không có lối thoát, không thỏa hiệp, không nghiêng ngả.
Và bất cứ người nào không thừa nhận Chúa Jesus, và cuộc sống của một tín đồ Cơ đốc đơn giản sẽ bị dẫn tới địa ngục. Đó chính là nơi Jerry Sisco phải tội, và tất cả chúng tôi biết điều đó.
Nhưng cô Cooley vẫn tiếp tục cầu nguyện. Cô cầu nguyện cho tất cả người nhà Sisco trong thời gian này phải chịu đựng nỗi đau và sự mất mát, cô cầu nguyện cho thị trấn nhỏ của chúng tôi đưa tay ra giúp đỡ gia đình này.
Tôi không thể nghĩ tới một ai đó ở Black Oak sẽ đưa tay ra với gia đình Sisco.
Đó là một lời cầu nguyện lạ lùng, và khi cô nói lời cuối cùng “Amen!” tôi hoàn toàn thấy hoang mang. Jerry Sisco chưa bao giờ tới gần một nhà thờ, nhưng cô Cooley lại cầu nguyện như thể nó lúc nào cũng ở bên Chúa. Nếu những kẻ vô đạo như anh em nhà Sisco có thể tới được thiên đường, áp lực sẽ đè nặng lên tất cả chúng tôi.
Sau đó là chuyện về Jonah, về cá voi, và trong một lúc chúng tôi quên đi vụ giết người.

Một tiếng sau, trong suốt lễ cầu nguyện, tôi ngồi tại chỗ quen thuộc của gia đình Chandler, ở giữa bên trái, giữa bà và mẹ. Chỗ ngồi không đánh số hay dành trước, nhưng mọi người đều biết chỗ dành cho mỗi gia đình. Ba năm nữa, khi tôi mười tuổi, cha mẹ sẽ cho phép tôi ngồi cùng đám bạn, dĩ nhiên nếu như tôi cư xử nghiêm túc. Tôi đã cố nài khẩn cha mẹ để có được lời hứa này.
Các cửa sổ đều mở rộng, nhưng bầu không khí nặng nề vẫn không tan đi. Cánh phụ nữ thì quạt phành phạch, còn đàn ông thì ngồi yên nhưng mồ hôi đầm đìa. Khi cha Akers đứng lên bục giảng, áo tôi đã dính chặt vào lưng.
Như thường lệ, ông tỏ ra giận dữ và bắt đầu gào thét ngay. Ông nói đến tội lỗi khi ăn chơi phóng đãng, tội lỗi đã mang bi kịch tới Black Oak. Tội lỗi mang tới sự chết chóc tàn phá, vì nó luôn tồn tại và sẽ xuất hiện. Chúng tôi có tội khi uống rượu, đánh bạc, chửi nhau, nói dối, đánh đấm, giết chóc, dính vào tội ngoại tình vì tự cho phép mình tách rời Đức Chúa, và đó chính là lý do chàng thanh niên của thị trấn bị chết. Chúa trời không muốn chúng ta giết hại lẫn nhau.
Tôi lại cảm thấy khó hiểu. Tôi nghĩ chính Jerry Sisco đã tự giết mình bởi hắn đã gặp đối thủ. Việc này không liên quan gì tới cờ bạc, ngoại tình và phần lớn những tội lỗi cha Akers nêu ra. Và tại sao ông ta lại gào thét vào chúng tôi? Chúng tôi là người tốt. Chúng tôi đang ở trong nhà thờ.
Tôi hiếm khi hiểu được những lời cha Akers giảng giải, và thỉnh thoảng trong bữa tối chủ nhật Gran lầu bầu, là bà cũng bị xáo trộn tuyệt vọng khi nghe một trong những bài giảng đạo của ông. Ricky có lần đã nói với tôi, chú nghi ông già đó hình như sắp điên khùng.
Tội lỗi lại phát triển thêm cho tới khi hai vai tôi nghiêng lệch về một bên. Tuy nói dối về việc xem trận ấu đả, nhưng tôi đã bắt đầu cảm thấy nóng nực.
Sau đó, cha Akers bàn về chuyện giết người, bắt đầu với vụ Cain giết Abel, và vẽ lên cho chúng tôi thấy con đường tàn bạo của việc chém giết trong Kinh Thánh. Gran nhắm mắt, và tôi biết bà đang cầu nguyện - bà luôn luôn làm vậy.
Pappy nhìn chằm chằm vào bức tường, có lẽ ông đang nghĩ đến mức độ ảnh hưởng có thể của cái chết kia đối với vụ thu hoạch bông của ông. Mẹ dường như rất tập trung, còn tôi từ từ ngủ gà ngủ gật.
Khi tỉnh giấc, đầu tôi đang nằm trên lòng Gran, nhưng bà không để ý. Khi lo lắng cho chú Ricky, bà luôn muốn tôi ở bên cạnh. Lúc này, tiếng đàn dương cầm bắt đầu cất lên, và dàn hợp xướng đang chuẩn bị. Chúng tôi đứng lên và hát năm đoạn trong bài thánh ca Just as I am sau đó cha đạo cho phép chúng tôi giải tán.
Ra ngoài, cánh đàn ông lại tụ tập dưới bóng cây và bắt đầu tranh luận về việc gì đó. Pappy đứng ở giữa, vừa nói vừa vẫy tay với thái độ khẩn trương. Tôi biết tốt hơn là nên tới gần.
Phụ nữ tập trung lại thành từng đám nhỏ và bàn tán dọc bãi cỏ phía trước, đám trẻ con chơi đùa và cánh người già chia tay nhau. Vào chủ nhật, mọi người không vội vã rời nhà thờ vì ở nhà cũng chẳng có việc gì làm, ngoại trừ ăn trưa, nghỉ trưa, và lấy sức sẵn sàng cho một tuần thu hái bông tiếp theo.
Chúng tôi chậm rãi đi ra bãi đậu xe, tạm biệt bạn bè lần nữa, sau đó vẫy tay chào khi xe chuyển bánh. Một mình ngồi sau xe tải với cha, tôi cố lấy can đảm để kể cho cha về việc đã chứng kiến vụ ấu đả. Thật ra, cánh đàn ông ở nhà thờ chưa nói được gì nhiều. Tôi không chắc, bằng cách nào mình lại hình dung ra chỗ đó, nhưng bản năng nói với tôi là phải thú nhận hết với cha, và sau đó trốn sau lưng cha. Nhưng Dewayne và tôi đã thống nhất giữ im lặng cho tới khi bị đối chất. Và tôi đành im lặng.
Cách trang trại khoảng một dặm, chúng tôi đi trên con đường lát sỏi mỏng dẫn tới đoạn đường đất, sát sông St. Francis, rồi qua cây cầu gỗ nhỏ. Cầu được xây dựng vào những năm ba mươi, khá chắc chắn, chịu đựng được trọng tải máy kéo và xe moóc chất đầy bông. Nhưng những tấm ván dầy vẫn kêu cọt kẹt mỗi khi chúng tôi đi qua, và nếu nhìn xuống làn nước nâu phía dưới, bạn sẽ có cảm giác như cây cầu đang lắc lư.
Khi qua cầu, chúng tôi thấy gia đình Spruill dưới bờ sông. Bo và Dale cởi trần và đang nhảy nhót trong làn nước ngập tới đầu gối. Trot ngồi trên một cành cây, hai chân đu đưa nghịch nước. Ông bà Spruill ngồi dưới bóng cây. Thức ăn bày biện trên một tấm chăn.
Tally cũng ở dưới nước, chân trần tới bắp đùi, mái tóc dài buông xõa trên bờ vai. Tim tôi đập thình thịch khi nhìn thấy chị đang trầm tư trong thế giới riêng.
Ngay sát sông, một nơi rất ít khi cá xuất hiện, là Hank với cái cần câu nhỏ. Gã cũng cởi trần, và làn da hồng lên dưới ánh mặt trời. Tôi tự hỏi không rõ gã đã biết gì về cái chết của Jerry Sisco. Có lẽ là chưa.
Chúng tôi vẫy vẫy tay chào. Họ có vẻ bối rối như thể bị bắt gặp xâm nhập trái phép, sau đó cũng mỉm cươi và gật đầu chào. Nhưng Tally không nhìn lên. Cả Hank cũng vậy.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.10.2021 15:23:58 bởi Ct.Ly>
- 9 -


Bữa trưa chủ nhật luôn có gà rán, bánh quy và nước xốt. Mặc dù bà và mẹ cố nấu nướng hết sức khẩn trương, nhưng vẫn phải mất một tiếng đồng hồ. Khi ngồi vào bàn, chúng tôi gần như sắp chết đói. Tôi thường nghĩ, dĩ nhiên chỉ một mình thôi, nếu cha Akers đừng quát tháo và nói dông dài, chúng tôi sẽ không đến nỗi đói bủn rủn thế này.
Pappy đọc lời cầu nguyện. Thức ăn được dọn ra. Cả nhà vừa bắt đầu ăn thì nghe có tiếng đóng sầm cửa xe. Chúng tôi ngừng ăn rồi nhìn nhau. Pappy lặng lẽ đứng dậy và nhìn qua cửa sổ bếp.
-Là Stick Powers.
Sự ngon miệng của tôi biến mất. Luật pháp đã đến, và chắc sẽ không có điều gì tốt lành. Pappy bước ra hành lang sau gặp ông. Chúng tôi nghe rõ cuộc đối thoại.
-Xin chào, Eli!
-Stick. Tôi có thể làm gì cho anh?
-Tôi nghĩ, ông có nghe tin thằng bé nhà Sisco đã chết.
-Tôi có nghe, - Pappy không mảy may tỏ ra thương tiếc.
-Tôi cần phải nói chuyện với một nhân công của ông.
-Chỉ là trận ấu đả thôi, Stick. Sự ngu xuẩn thông thường trong ngày thứ bảy mà đám nhà Sisco thường làm trong nhiều năm. Anh chưa bao giờ ngăn được những trận ấu đã. Bây giờ một tên bị đánh gục, điều bọn chúng không hề nghĩ tới.
-Tôi vẫn phải điều tra.
Anh sẽ phải chờ tới sau bữa trưa. Chúng tôi vừa ngồi vào bàn. Chúng tôi còn đi lễ nhà thờ mà.
Mẹ co rúm người khi Pappy nói tới điều này. Gran chậm rãi lắc đầu.
-Tôi đang làm nhiệm vụ. - Giọng ông Stick nghiêm nghị.
Theo tin đồn, cứ bốn năm một lần Stick có một cuộc đọ sức với hồn ma. Và trong khoảng ba năm ruỡi sau đó ông không cảm thấy cần phải cầu nguyện. Tại Black Oak, nếu bạn không đi lễ nhà thờ, nhiều người biết ngay. Chúng tôi phải có một ai đó để cầu nguyện phù hộ trong những buổi lễ phục hồi đức tin.
-Anh được nghênh đón ngồi tại hành lang.
Pappy quay lại bàn. Khi ông ngồi xuống, mọi người lại tiếp tục ăn. Bây giờ tôi thấy có một cục mắc nghẹn trong cổ họng, và không thể nuốt trôi miếng gà rán.
-Anh ta đã dùng bữa chưa? - Gran thì thầm hỏi.
Pappy nhún vai như thể không thèm quan tâm. Nếu lúc này Stick không tìm thấy cái gì để ăn, tại sao chúng tôi phải lo lắng?
Nhưng Gran lại quan tâm. Bà đứng dậy lấy đĩa trong chạn và xúc khoai tây, nước xốt, cà chua, dưa chuột xắt mỏng, hai cái bánh quy đã cẩn thận quết bơ, miếng đùi và lườn gà rán. Bà rót đầy một cốc trà đá rồi mang ra hành lang sau. Lại lần nữa, chúng tôi nghe rõ từng lời.
-Xin mời, Stick. - Bà nói. - Không ai bỏ qua bữa trưa ở quanh đây cả.
-Cảm ơn, bà Ruth, nhưng tôi đã ăn rồì.
-Vậy thì dùng thêm một chút.
-Thật sự là không cần đâu.
Chúng tôi biết rằng, sau đó lỗ mũi béo núc ních của Stick đánh hơi thấy ngay mùi gà rán và bánh quy thơm phức.
-Cảm ơn, Ruth. Bà thật tốt.
Chúng tôi không ngạc nhiên khi bà quay vào tay không. Pappy có vẻ giận dữ nhưng cố kiềm chế không nói gì. Stick xuất hiện và sẽ gây rắc rối, trở ngại cho đám nhân công, điều này có nghĩa là ông ta đang đe dọa vụ bông của chúng tôi. Tại sao phải cho ông ta ăn?
Chúng tôi tiếp tục dùng bữa trong bầu không khí lặng lẽ, việc này cho phép tôi có thời gian tập trung suy nghĩ. Vì không muốn cư xử một cách đáng ngờ, tôi tống thức ăn vào miệng và từ từ nhai.
Tôi không chắc sự thật là gì, cũng không phân biệt được cái nào đúng cái nào sai. Anh em Sisco cùng đánh hội đồng một người miền núi đáng thương và Hank xông vào cứu anh ta. Ba anh em Sisco, còn Hank chỉ có một mình. Gã nhanh chóng ngăn được bọn kia, và trận ấu đả nhẽ ra nên dừng lại đó. Tại sao gã lại vớ được cây gậy? Dù dễ dàng thừa nhận là lũ nhà Sisco sai, nhưng Hank đã chiến thắng trước khi tiếp tục nện bọn chúng.
Tôi nghĩ đến Dewayne và bí mật của chúng tôi. Im lặng và làm như không biết gì vẫn là chiến lược tốt nhất, tôi quyết định.
Không muốn ông Stick nghe thấy tiếng, vì thế chúng tôi im lặng, không nói gì trong suốt bữa ăn. Pappy ăn chậm hơn thường ngày, vì ông muốn Stick ngồi đó, chờ đợi và sốt ruột đến phát điên rồi bỏ đi. Tôi nghi ngờ việc trì hoãn này sẽ làm Stick lo ngại. Tôi có thể nghe thấy tiếng liếm đĩa của ông ta.
Cha vừa nhai vừa nhìn chằm chằm xuống bàn, tâm trí có vẻ như đang thả tới tận bên kia thế giới, có thể là Triều Tiên. Cả mẹ và Gran trông rất buồn, không có gì bất thường sau những trừng phạt bằng lời của cha Akers mà chúng tôi nhận được mỗi tuần.
Phụ nữ tỏ ra thương xót nhiều hơn cho Jerry Sisco. Nhiều giờ trôi qua, cái chết của hắn trở nên buồn bã hơn. Tính cách hèn hạ và những đức tính không ai ưa, dần dần bị lãng quên. Hơn hết, hắn là người địa phương, một người chúng tôi biết rõ, và hắn đã nhận một kết cục khủng khiếp.
Và kẻ giết hắn ngủ ngay ở sân trước nhà Chandler.
Nghe thấy tiếng ồn ào. Gia đình Spruill đã trở về.
Cuộc thẩm tra diễn ra ngay dưới gốc cây sồi cao nhất, giữa hành lang trước và khu lều trại nhà Spruill. Cánh đàn ông tụ tập trước tiên, Pappy và cha xoa xoa bụng, còn Stick trông có vẻ đặc biệt no nê. Cái bụng phệ căng tròn làm bật tung hàng cúc áo màu nâu, và rõ ràng là Stick không phải làm việc cật lực trên đồng bông. Pappy nói ông ta rất lười biếng, ngủ gần như suốt ngày trên xe tuần tra, dưới bóng cây cạnh cửa hàng xúc xích Gurdy Stone ngoài thị trấn.
Phía cuối sân là cả gia đình Spruill, với ông Spruill dẫn đầu và Trot vặn vẹo lê chân, chốt đuôi. Tôi bước sau Gran và mẹ, hé mắt nhìn qua kẽ hở giữa hai người và cố giữ khoảng cách. Chỉ nhóm người Mexico là vắng mặt.
Đám đông lộn xộn vây quanh Stick; gia đình Spruill lảng vảng bên này còn nhà Chandler quanh quẩn bên kia. Nhưng dường như cả hai nhóm cùng đứng về một phe. Tôi không hài lòng khi phải liên kết cùng Hank Spruill, nhưng bông còn quan trọng hơn mọi việc khác.
Pappy giới thiệu cảnh sát Stick. Ông Spruill lúng túng bắt tay Stick rồi lùi lại vài bước. Có vẻ như gia đình Spruill đang chờ đợi điều tồi tệ nhất, và tôi cố nhớ xem có ai trong số họ chứng kiến trận ấu đả. Một đám đông lớn và mọi việc đã xảy ra quá nhanh. Dewayne và tôi như bị thôi miên bởi cảnh đổ máu. Tôi không thể nhớ rõ những gương mặt trong đám người xem.
Stick ngậm lá cỏ ló ra một bên mép, hai ngón tay cái ngoắc bên hông, và quan sát đám người miền núi. Hank đứng dựa lưng vào thân cây sồi, cười khinh bỉ vào những ai dám nhìn gã.
- Hôm qua trong thị trấn đã xảy ra một trận ấu đả lớn sau cửa hàng Hợp tác xã. - Ông Stick nhìn về phía gia đình Spruill. Ông Spruill chỉ gật đầu nhưng không nói gì.
- Vài cậu bé địa phương đánh nhau với một anh chàng miền núi. Một trong số chúng, Jerry Sisco, đã chết sáng nay tại bệnh viện ở Jonesboro. Bị vỡ sọ.
Tất cả gia đình Spruill bắt đầu lo lắng, ngoại trừ Hank. Gã đứng yên, không thèm xê dịch. Rõ ràng, bọn họ vẫn chưa nghe được tin mới nhất về Jerry Sisco.
Ông Stick nhổ nước bọt rồi nặng nề dời chỗ đứng, và dường như thích thú khi mình trở thành tâm điểm chú ý, tiếng nói của nhà chức trách với phù hiệu và khẩu súng.
-Nên tôi đang điều tra để tìm ra ai là người liên quan.
-Không có ai trong gia đình tôi đâu. - Ông Spruill nói. - Chúng tôi là những người thích hòa bình.
-Thật thế không?
-Vâng, thưa ngài.
-Hôm qua cả nhà anh vào thị trấn?
-Vâng, thưa ngài.
Bây giờ thì việc nói dối bắt đầu, tôi hé mắt nhìn qua khoảng trống giữa hai người phụ nữ và thấy gia đình Spruill. Rõ ràng, họ rất sợ hãi. Bo và Dale đứng sát nhau, hai mắt đảo quanh. Tally chăm chú nhìn lớp đất bẩn trên đôi chân trần. Ông bà Spruill đường như muốn tìm kiếm những khuôn mặt thân thiện. Trot, dĩ nhiên, đang ở một thế giới khác.
-Nhà có đứa nào tên là Hank không? - Ông Stick hỏi.
-Có lẽ, - ông Spruill nói.
-Đừng chơi trò đánh đố với tôi, - ông Stick gầm gừ với cơn giận dữ bất ngờ. - Tôi hỏi và anh hãy trả lời thật chính xác. Chúng tôi có nhà tù ở Jonesboro với rất nhiều phòng giam. Tôi có thể bắt giữ cả gia đình để thẩm vấn đấy. Anh hiểu chứ?
-Tôi là Hank Spruill. - Một giọng nói vang như sấm cắt ngang.
Hank khệnh khạng đi qua đám đông và đứng cách ra. Lúc này, trông ông Stick bé nhỏ hơn nhiều nhưng cố giữ vẻ tự phụ.
Viên cảnh sát nhìn Hank một lúc, sau đó hỏi.
-Hôm qua cậu có vào thị trấn?
-Đúng.
-Cậu tham gia vào trận ấu đả sau cửa hàng Hợp tác xã?
-Không. Tôi chỉ ngăn trận ấu đả.
-Cậu đã đánh anh em Sisco?
-Tôi không biết tên chúng. Tôi thấy hai đứa đánh một anh chàng miền núi. Tôi tới để can ngăn.
Mặt Hank vênh váo. Gã không hề sợ hãi, và tôi đành miễn cưỡng ngưỡng mộ gã vì cái cách đối mặt với luật pháp của gã.
Viên cảnh sát nhìn quanh đám đông, và hai mắt ông dừng lại chỗ Pappy. Ông Stick nóng lòng lần theo dấu vết và khá tự hào về bản thân. Ông dùng lưỡi di chuyển lá cỏ sang mép bên kia, sau đó lại nhìn Hank.
-Cậu đã sử dụng một cây gậy?
-Tôi không cần phải thế.
-Hãy trả lời câu hỏi. Cậu sử dụng gậy phải không?
-Không. Cây gậy đó là của bọn chúng. - Hank nói không hề lưỡng lự.
Điều này, dĩ nhiên, mâu thuẫn với lời người nào đó đã tường trình lại với ông Stick.
-Tôi nghĩ tốt hơn nên bắt giữ cậu. - Stick tuyên bố, nhưng không thấy ông động đến cái còng tay lủng lẳng bên thắt lưng.
Ông Spruill tiến lên một bước và quay sang Pappy.
-Nếu nó phải đi, chúng tôi cũng sẽ rời khỏi đây. Ngay bây giờ.
Pappy đã nghĩ tới tình huống này. Dân miền núi nổi tiếng về khả năng dỡ trại và biến đi rất nhanh. Không ai trong chúng tôi nghi ngờ lời ông Spruill. Họ sẽ thu dọn và bỏ đi trong vòng một tiếng, trở về vùng Eureka Springs, trở về với vùng đồi núi và rượu lậu. Rõ ràng, chúng tôi không thể thu hoạch tám mươi mẫu bông chỉ với sự giúp đỡ của nhóm Mexico. Mỗi một pao là yếu tố quan trọng. Mỗi nhân công cũng vậy.
-Từ từ nào, Stick, - Pappy nói. - Chúng ta cùng bàn về việc này. Anh và tôi, cả hai đều biết rõ đám nhà Sisco cũng chẳng tốt đẹp gì. Bọn chúng thường xuyên đánh nhau, và chúng hành động rất hèn hạ. Dường như, đối với tôi, bọn chúng là người xấu.
-Tôi có một xác chết đấy, Eli. Ông hiểu không?
-Hai đánh một nghe như là tự vệ vậy. Không có gì công bằng trong chuyện hai đánh một đâu.
-Nhưng trông cậu ta to lớn thế kia.
-Như tôi đã nói, anh em Sisco là đám người xấu. Cả anh và tôi đều biết bọn chúng chuyên khơi mào các trận ấu đả. Hãy để cậu bé này kể lại mọi chuyện.
-Tôi không phải cậu bé. - Hank giận dữ cướp lời.
-Hãy kể việc gì đã xảy ra.
Pappy cố trì hoãn thời gian, cố kéo dài sự việc và có lẽ ông Stick sẽ tìm ra lý do nào đó để rời khỏi đây và trở lại sau vài ngày.
-Được rồi, - ông Stick nói. - Hãy kể câu chuyện của cậu.
Hank nhún vai.
-Tôi tình cờ đi ngang qua một trận ấu đả, và thấy hai thằng nhóc đang đánh Doyle, vì vậy tôi ngăn lại.
-Doyle là ai? - Ông Stick hỏi.
-Anh chàng đến từ Hardy?
-Cậu biết cậu ta?
-Không.
-Vậy tại sao cậu biết cậu ta đến từ đâu?
-Chỉ vô tình thôi.
-Đồ trời đánh thánh vật! - Ông Stick khạc một bãi nước bọt ngay gần chỗ Hank. - Không ai biết. Không ai thấy. Cả nửa thị trấn ở đằng sau cửa hàng Hợp tác xã, nhưng không ai biết một chuyện đáng nguyền rủa như vậy.
-Nghe như là hai đánh một, - Pappy tiếp tục. - Và hãy xem lại lời nói của mình. Anh đang đứng trên vùng đất của tôi, và còn có sự hiện diện của phụ nữ nữa đấy.
-Xin lỗi, - ông Stick sờ tay lên mũ rồi gật đầu về phía mẹ và Gran.
-Cậu ta chỉ ngăn cản trận ấu đả. - Lúc này cha mới lên tiếng.
-Xa hơn việc ấy nữa cơ, Jesse ạ. Tôi đã nghe nói sau khi trận ấu đả kết thúc, cậu ta nhặt được cây gậy và nện anh em Sisco. Tôi đoán đó chính là lý do gây vỡ sọ. Hai đánh một là không công bằng, và tôi biết đó là anh em Sisco, nhưng tôi không chắc một trong số chúng phải chết.
-Tôi không giết ai cả, - Hank nói.- Tôi ngăn trận đấu. Và có ba đứa, chứ không phải hai.
Vậy là Hank nói thẳng ra sự việc. Đối với tôi, dường như hơi buồn cười là ông Stick không biết cả ba anh em Sisco bị tàn tật. Việc ông ta phải làm là đếm những khuôn
mặt méo mó. Nhưng bọn chúng có thể đã rút đến nhà bà con hoặc trốn sau nhà.
-Ba đứa? - Ông Stick nhắc lại vẻ không tin. Những người tập trung xung quanh dường như lạnh cứng người.
Pappy chớp ngay thời cơ.
-Ba đánh một, và không có cách gì anh có thể bắt cậu ấy vì tội giết người. Không vị bồi thẩm nào ở hạt này sẽ kết tội nếu đó là ba đánh một.
Trong một thoáng Stick có vẻ rất giận dữ, nhưng ông không muốn thừa nhận.
-Đó là nếu cậu ta nói sự thật. Cậu ta cần có nhân chứng, và ngay bây giờ lại có quá ít và ở xa. - Ông Stick quay lại nhìn Hank lần nữa. - Những ai mà ba?
-Tôi không biết tên chúng, thưa ngài. - Hank cười chế nhạo. - Chúng tôi không có cơ hội chào hỏi nhau. Ba đánh một nên mất nhiều thời gian, đặc biệt nếu như anh chỉ có một mình.
Cười to sẽ khiến Stick khó chịu, và không ai muốn mạo hiểm làm việc này. Vì vậy chúng tôi cúi thấp đầu và cố nín cười.
-Đừng có tỏ ra thông minh với tôi, cậu nhóc! - Ông Stick bực tức. - Cậu không hy vọng có nhân chứng nào chứ?
Sự hài hước biến mất trong một khoảnh khắc im lặng rất lâu. Tôi hy vọng có thể Bo hoặc Dale sẽ bước ra và tuyên bố mình là nhân chứng. Như vậy gia đình Spruill chỉ chứng minh rằng họ sẽ nói dối dưới áp lực, và dường như đối với tôi, một người trong bọn họ sẽ nhanh chóng xác minh chuyện của Hank. Nhưng không một ai cử động, không ai nói gì. Tôi lùi lại vài bước và đứng sau lưng mẹ.
Sau đó tôi nghe thấy lời nói làm thay đổi cuộc sống của mình. Giữa bầu không khí hoàn toàn im ắng, giọng Hank ồm ồm.  
-Thằng nhỏ nhà Chandler đã thấy việc này.
Thằng nhỏ nhà Chandler gần như thở hổn hển.
Khi tôi mở mắt ra, dĩ nhiên, mọi người đang chằm chằm nhìn tôi. Gran và mẹ có vẻ đặc biệt khiếp sợ. Tôi thấy mình như có tội và có vẻ có tội thật, và tôi biết ngay là mọi người đều tin lời Hank. Tôi là một nhân chứng.
-Lại đây, Luke, - Pappy gọi.
Tôi cố bước chậm rãi hết mức có thể ra giữa đám đông. Tôi liếc nhìn Hank, và ánh mắt trừng trừng của gã sáng rực. Vẫn nụ cười độc ác thường lệ, và ánh mắt gã nói với tôi rằng gã biết tôi bị bắt gặp. Đám đông dịch chuyển dần như thể vây quanh tôi.
-Cháu đã chứng kiến trận ấu đả? Pappy hỏi.
Tại buổi học chủ nhật tôi từng được dạy là tội nói dối sẽ đẩy bạn xuống thẳng địa ngục. Không sai đường lệch hướng. Không có cơ hội thứ hai. Thẳng vào vạc dầu bốc cháy, nơi quỷ Satăng đang chờ đợi. Điều này sẽ không hướng về nhân chứng sai, mà dĩ nhiên, nghe chính xác như lời ngăn cấm nghiêm khắc. Và tôi đã bị quất một đôi lần vì tội nói dối.
-Chỉ cần nói sự thật và mọi việc sẽ qua, - là câu nói ưa thích của Pappy.
-Vâng, thưa ông. - Tôi thú nhận.
-Cháu làm gì ở đó?
-Nghe nói có trận ấu đả nên cháu đến xem.
Tôi không định khai về sự có mặt của Dewayne, ít ra cho tới khi bị bắt buộc.
Stick khịu một đầu gối và khuôn mặt béo núc của ông ta ngang tầm với tôi.
-Hãy kể cho bác những gì cháu đã thấy. Và phải kể sự thật.
Tôi liếc sang cha, người đang trừng trừng nhìn tôi. Rồi tôi quay sang Pappy, thật kỳ cục, dường như không giận dữ với tôi lắm.
Tôi hít một hơi thở sâu cho tới khi hai lá phổi căng phồng, và tôi thấy Tally đang nhìn tôi rất thân thiện. Sau đó tôi nhìn vào cái mũi tẹt và đôi mắt đen sưng húp của Stick.
-Jerry Sisco đang đánh một người miền núi. Sau đó Bill Sisco cũng nhảy vào. Bọn chúng đánh anh ta rất đau thì Hank Spruill bước tới để giúp đỡ. - Tôi nói.
-Vậy thì, đó là hai đánh một, hay hai đánh hai? - Ông Stick hỏi.
-Hai đánh một.
-Điều gì xảy ra với anh chàng miền núi đầu tiên?
-Cháu không biết. Anh ta bỏ đi. Cháu nghi anh ta bị thương khá nặng.
-Được rồi. Tiếp tục đi. Và hãy nói sự thật.
-Nó đang kể sự thật! - Pappy càu nhàu.
-Tiếp tục đi.
Tôi liếc nhìn xung quanh lần nữa để chắc chắn là Tally vẫn đang quan sát. Không những thế, bây giờ chị còn nở một nụ cười hài lòng.
-Sau đó, rất bất ngờ, Bobby Sisco tiếp tục nhảy ra tấn công Hank. Đó là ba đánh một, giống như anh Hank đã nói.
Khuôn mặt Hank cau lại. Thậm chí gã còn nhìn tôi với ánh mắt hiểm ác hơn. Gã đang suy nghĩ, và gã không hài lòng với tôi.
-Tôi nghĩ câu chuyện đó giải quyết được việc này rồi, - Pappy nói. - Tôi không có luật sư, nhưng tôi có thể gây ảnh hưởng tới bồi thẩm đoàn nếu đây là vụ ba đánh một.
Hank bỗng nhiên gầm lên.
-Hãy kể cho ông ta sự thật, nhóc! Một đứa trong bọn Sisco đã nhặt được cây gậy, đúng không?
Tôi có thể cảm thấy ánh mắt chằm chằm của Gran và mẹ sau lưng. Và tôi biết Pappy muốn túm lấy cổ tôi và lắc cho tới khi lời nói bật ra.
Phía trước tôi, cách đó không xa, ánh mắt Tally nhìn tôi như nài xin. Bo và Dale, và thậm chí cả Trot, cũng đang dõi theo tôi.
-Chính nó, đúng không, nhóc? - Gã Hank lại gầm lên.
Tôi bắt gặp ánh mắt chăm chú của Stick và bắt đầu gật đầu, trước tiên từ từ, lời nói dối hơi rụt rè bằng cử chỉ. Và tôi vẫn tiếp tục gật đầu, tiếp tục nói dối, và khi làm như vậy nghĩa là tôi tạo nhiều cơ hội cho việc thu hoạch vụ bông của chúng tôi còn hơn cả sáu tháng thời tiết tốt.
Tôi đã đi tới gần thành vạc dầu nóng mất rồi. Quỷ Satăng đang chờ đợi, và tôi có thể cảm thấy hơi nóng. Tôi sẽ chạy ra khu rừng và cầu xin tha thứ ngay khi có thể. Tôi sẽ cầu xin Chúa trời bỏ qua cho tôi. Người đã cho chúng tôi bông; thì hãy cho phép chúng tôi được bảo vệ và thu hoạch nó.
Stick từ từ đứng dậy, vẫn nhìn tôi chằm chằm, mắt hai chúng tôi gặp nhau, vì cả hai đều biết tôi đang nói dối. Nhưng dù sao, ông Stick cũng chưa muốn bắt Hank Spruill. Thứ nhất, ông sẽ phải lôi ra cái còng tay để tóm gã, một nhiệm vụ có lẽ sẽ khó khăn. Thứ hai, ông sẽ làm
cho tất cả nông dân khó chịu.
Cha túm vai tôi và đẩy về phía sau với đám phụ nữ.
-Ông đã làm nó sợ chết khiếp, Stick. - Cha nói với nụ cười vụng về, cố phá vỡ bầu không khí căng thẳng và đấy tôi khỏi chỗ đó trước khi tôi nói ra câu gì sai sót.
-Cậu bé này ngoan không? - Ông Stick hỏi.
-Nó luôn nói thật. - Cha khẳng định.
-Dĩ nhiên nó luôn nói thật. - Pappy tỏ vẻ giận dữ.
Sự thật chỉ vừa được viết lại mà thôi.
-Tôi vẫn muốn hỏi han xung quanh, - Stick nói và bước về phía xe. - Tôi có thể quay lại sau.
Ông đóng sầm cửa và lái xe đi. Chúng tôi nhìn theo cho tới khi bóng xe mất hút khỏi tầm nhìn.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.10.2021 21:11:48 bởi Ct.Ly>
- 10 -
 
 
Vào chủ nhật, chúng tôi không làm việc nên ngôi nhà đường như nhỏ hẹp hơn khi cha mẹ và ông bà bận rộn với các việc vặt. Mọi người cố chợp mắt ngủ trưa nhưng không thể vì cái nóng oi bức. Thỉnh thoảng, khi tâm trạng bực bội, cha mẹ lôi tôi lên xe và chúng tôi dạo quanh một vòng. Không có gì để xem xét - tất cả đất đai bằng phẳng và bông bao phủ. Quang cảnh hoàn toàn giống như khi chúng tôi nhìn từ hành lang. Nhưng quan trọng là được đi đâu đó.
Một lúc lâu sau khi Stick bỏ đi, tôi phải vào vườn và hái rau củ. Mẹ sắp xếp đầy hai hộp cáctông các loại. Chúng nặng tới nỗi cha phải đặt ở sau thùng xe. Khi chúng tôi xuất phát, gia đình Spruill đã giải tán và rút vào lều. Tôi không muốn thấy bọn họ.
Tôi ngồi giữa đống hộp rau củ, và quan sát lớp bụi đất từ sau xe tạo thành một đám mây xám, bốc lên cao lơ lửng trên đường rồi từ từ tan đi dù không có gió. Mưa và bùn đất từ sáng sớm hoàn toàn bị quên lãng. Mọi thứ đều nóng bức: những tấm ván gỗ trên nền xe tải, khung không sơn và gỉ sắt, thậm chí cả ngô, khoai tây, cà chua mẹ vừa mới rửa sạch. Ở vùng này, mỗi năm hai lần tuyết rơi, và tôi mong tấm chăn lạnh và dầy phủ trắng cánh đồng mùa đông của chúng tôi, không phải màu trắng của bông.
Bụi cuối cùng cũng dừng lại bên bờ sông, và chúng tôi qua cầu. Tôi đứng lên nhìn mặt nước bên dưới, dòng nước màu nâu đang lững lờ trôi dọc hai bờ. Sau xe có hai cần câu, và cha hứa chúng tôi sẽ câu cá một lúc sau khi thực phẩm được giao.
Gia đình Latcher là nông dân lĩnh canh. Họ sống cách trang trại chúng tôi gần một dặm. Ngôi nhà xiêu vẹo nằm bên một eo sông, với hàng cây du và liễu cao bằng mái nhà và bông trồng tới tận hành lang trước. Quanh nhà không có bãi cỏ, chỉ một vòng bụi nơi lũ con nhà Latcher đang chơi. Tôi thầm thấy hạnh phúc là họ sống ở bên kia sông. Dù sao, tôi có thể đã mong muốn chơi với chúng.
Họ thuê ba mươi mẫu đất và chia sản lượng vụ mùa với chủ đất. Nửa ít ỏi còn lại cũng chẳng bao nhiêu, và gia đình Latcher khá nghèo. Họ không có đèn điện, ôtô hay xe tải. Thỉnh thoảng, ông Latcher đi bộ tới nhà tôi và đề nghị Pappy đưa tới Black Oak.
Con đường dẫn tới nhà họ đủ rộng cho xe tải. Khi chúng tôi dừng xe, trên hành lang lập tức xuất hiện những khuôn mặt bé nhỏ, bẩn thỉu. Tôi đã từng đếm được bảy đứa, nhưng không rõ con số chính xác. Thật khó nói đứa nào là trai, đứa nào là gái; tóc tai chúng đều rối bù, khuôn mặt nhỏ với đôi mắt màu xanh nhạt giống nhau như đúc, và tất cả đều quần áo rách rưới.
Bà Latcher xuất hiện trên hành lang mục nát, lau hai tay vào tạp dề. Bà mỉm cười với mẹ tôi.
-Xin chào, cô Chandler! - Bà nói giọng nhẹ nhàng. Hai bàn chân trần, và gầy như que sậy.
-Rất vui được gặp chị, Darla! - Mẹ nói.
Cha ngồi một mình trên thùng xe, nghịch nghịch đống hộp giết thời gian trong khi hai phụ nữ tán chuyện. Chúng tôi không mong đợi gặp ông Latcher. Tính kiêu hãnh sẽ ngăn ông ấy bước ra và nhận thực phẩm. Hãy để cho phụ nữ quan tâm tới việc đó.
Khi họ nói chuyện về vụ mùa và thời tiết oi bức, tôi ra khỏi xe trước ánh mắt theo dõi của đám trẻ. Tôi bước tới bên hiên nhà và thấy Percy, thằng bé cao nhất, đang chơi dưới bóng mát, cố tỏ vẻ phớt lờ chúng tôi. Percy nói nó mười hai tuổi, nhưng vì đám trẻ nhà Latcher không đi học, nên không thể xếp nó cùng nhóm với những đứa vào lứa tuổi đó. Nó cởi trần và đi chân không, làn da màu đồng sẫm lại do phơi nắng hàng giờ.
-Chào, Percy! - Tôi nói, nhưng nó không đáp lại.
Dân lĩnh canh đều buồn cười như vậy. Đôi khi họ nói chuyện, lần khác họ chỉ ngây ra nhìn bạn, như thể muốn bạn đế họ yên tĩnh một mình.
Tôi quan sát ngôi nhà, như một hộp vuông nhỏ, và tự hỏi làm sao một đống người có thể sống trong nơi ở chật chội như vậy. Kho công cụ của chúng tôi còn rộng hơn. Các cửa sổ đều mở, những tấm màn cửa rách lỗ chỗ. Không có khung lưới ngăn ruồi muỗi, và chắc chắn là không có quạt đẩy không khí nóng ra ngoài.
Tôi cảm thấy thương cho họ. Gran tự hào khi trích dẫn Kinh Thánh: “Các vị Thần là những người nghèo trong linh hồn, hởi vì linh hồn của họ ở trong vương quốc của thiên đàng,’’ và “Người nghèo sẽ luôn ở bên bạn.” Nhưng dường như tàn nhẫn đối với ai phải sống trong những điều kiện thế này. Họ không có giầy dép. Quần áo cũ và rách rưới, họ xấu hổ khi ra thị trấn. Và vì không có điện, họ không thể nghe nói gì về đội Cardinal.
Percy chưa bao giờ được làm chủ một quả bóng hay găng tay, chưa bao giờ được chơi ném bắt với cha, chưa bao giờ mơ ước đánh bại đội Yankees. Thực tế, cậu ta có thể chưa bao giờ mơ đến chuyện rời khỏi đồng bông. Suy nghĩ đó gần như tràn ngập tâm trí tôi.
Cha bê xuống hộp rau thứ nhất, trong khi mẹ nêu tên các loại thực phẩm, và đám trẻ nhà Latcher lần lần ra bậc thang trước, háo hức nhìn ngó nhưng vẫn giữ khoảng cách. Percy không nhúc nhích; cậu ta nhìn chằm chằm vào cái gì đó trên đồng, cái mà cả cậu ta lẫn tôi đều không thế thấy được.
Có một cô gái ở trong nhà. Tên chị là Libby, mười lăm tuổi, con gái cả, và theo tin đồn mới nhất ở Black Oak, chị đang có thai. Không ai biết tên bố đứa bé, và đám ngồi lê đôi mách hiện cho rằng Libby từ chối tiết lộ, kể cả với cha mẹ, tên người đàn ông đã làm cho chị mang bầu.
Tin tức chiến tranh, ấu đả, trường hợp bị ung thư,
chuyện ôtô hỏng, đứa trẻ sinh ra từ cha mẹ không hôn thú hợp pháp - tất cả các sự kiện này liên tục được đồn thổi ở Black Oak. Một cái chết theo sau là đám tang tốt đẹp, và thị trấn lan truyền trong nhiều ngày. Vụ bắt bớ, thậm chí nhỏ nhất, với các cư dân cũng là sự kiện được mô xẻ hàng tuần lễ. Nhưng chuyện cô gái mười lăm tuổi, con gái nông dân lĩnh canh, có con hoang là sự kiện đặc biệt mà thị trấn chưa bao giờ xảy ra. Vấn đề là, thời kỳ thai nghén không được xác nhận. Chỉ có tin đồn. Vì gia đình Latcher không bao giờ rời trang trại, nên khó tìm bằng chứng. Vì chúng tôi sống gần gia đình họ nhất, điều đó rõ ràng khiến mẹ muốn dò hỏi.
Mẹ đã yêu cầu tôi giúp mẹ xác minh. Mẹ đã kể tôi nghe vài tin đồn, và bởi tôi thường quan sát việc sinh đẻ của gia súc trong trang trại và biết rõ các nguồn gốc. Nhưng tôi vẫn miễn cưỡng tham gia. Không phải tôi hoàn toàn chắc chắn lý do cần phải xác nhận lại thời kỳ mang thai. Điều này được nói tới nhiều đến nỗi cả thị trấn tin là cô gái đáng thương đang mong đợi. Bí mật lớn là đặc điểm của ông bố?
-Họ không định đổ nó cho tôi. - Tôi đã nghe Pappy nói tại cửa hàng Hợp tác xã, và đám nông dân già phá lên cười thích thú.
-Vụ bông thế nào? - Tôi hỏi Percy. Như hai nông dân thực thụ.
-Vẫn còn ngoài kia, - cậu ta hất đầu về phía cánh đồng chỉ cách đó vài bước chân.
Tôi quay sang và nhìn chằm chằm vào cánh đồng, trông cũng giống như đồng bông của chúng tôi. Tôi hái bông được trả 1,60 đô một trăm pao. Đám trẻ này không được trả gì.
Sau đó, tôi quan sát ngôi nhà lần nữa, nhìn ngó vào cửa sổ, rèm rách và những tấm ván võng xuống. Tôi liếc qua sân sau với một dây phơi đầy quần áo. Tôi thấy con đường đất ngang qua nhà vệ sinh ra tới tận bờ sông, và không có dấu hiệu gì của Libby Latcher. Có lẽ họ đã nhốt chị trong phòng, còn ông Latcher thì cầm khẩu súng săn đứng gác bên ngoài. Sẽ tới ngày chị sinh đứa bé, và sẽ không ai biết được điều đó. Lại thêm một đứa trẻ nhà Latcher trần truồng chạy lông nhông.
-Chị gái tao không có ở đây, - cậu ta nói, vẫn đứng cách xa chỗ tôi. - Đó chính là cái mày đang tìm.
Mồm tôi há hốc, và hai má nóng rực.
-Cái gì? - Đó là tất cả những gì tôi có thể thốt ra.
-Chị ấy không có ở đây. Bây giờ thì quay lại chỗ xe nhà mày đi.
Cha kéo hộp thực phẩm còn lại vào trong hành lang, và tôi rời khỏi chỗ Percy.
-Con thấy cô gái đó không? - Mẹ thầm thì khi chúng tôi nổ máy. Tôi lắc đầu.
Khi chúng tôi vừa rời khỏi, gia đình Latcher bâu lại quanh hai cái hộp như thể họ không được ăn suốt một tuần lễ.
Vài ngày nữa chúng tôi sẽ trở lại cùng những sản phẩm khác với nỗ lực xác minh tin đồn lần hai. Nếu họ vẫn giấu Libby, cả nhà Latcher sẽ được nuôi nấng kỹ.

Theo lời cha, sông St. Francis sâu năm mươi bộ, xung quanh đáy trụ cầu có nhiều cá trê sông cân nặng tới sáu mươi pao và ăn mọi thứ trôi nổi trên sông. Chúng rất to và bẩn thỉu - loài vật ăn cả xác thối. Vài con sống tới hai mươi năm. Theo truyền thuyết gia đình, Ricky đã bắt được một trong những con quái vật đó khi chú mới mười ba tuổi. Nó cân nặng tới bốn tư pao, và khi chú dùng con dao sắc rạch bụng nó, tất cả các loại mảnh vỡ tràn ra thùng sau xe tải của Pappy: một phích cắm tia lửa, một hòn bi, lũ cá chép và các loài cá nhỏ, hai đồng xu
Kể từ đó Gran chưa bao giờ rán con cá trê nào khác. Pappy cũng bỏ không ăn cá sông.
Dùng giun đỏ làm mồi, tôi câu cá ngay chỗ nước đọng bên bờ, quanh bãi cát gần cửa sông toàn cá tráp, loài cá nhỏ, nhiều và dễ câu. Tôi cởi giầy, lội xuống làn nước ấm. Nước có xoáy và thỉnh thoảng nghe tiếng mẹ.
-Chỗ đó đủ xa rồi, Luke!
Bên bờ sông là hàng cây sồi và liễu, mặt trời ở sau lưng chúng tôi. Cha mẹ ngồi dưới bóng râm, trên tấm chăn mà phụ nữ đi lễ nhà thờ thường làm trong mùa đông, và đang ăn dưa đỏ trồng trong vườn nhà.
Hai người nói chuyện nhỏ, gần như thầm thì, và tôi không cố lắng nghe, bởi vì trong suốt mùa thu hoạch bông đây là một khoảnh khắc hiếm hoi cha mẹ có thể được ở riêng với nhau. Vào buổi tối, sau cả ngày trên đồng, giấc ngủ tới nhanh, mệt mỏi, và tôi hiếm khi thấy cha mẹ nói chuyện trên giường. Thỉnh thoảng, cha mẹ ngồi trên hành lang trong bóng tối, đợi cái nóng qua đi, nhưng họ không thật sự được ở một mình.
Tôi còn chưa biết bơi, tôi đang chờ chú Ricky trở về. Chú đã hứa sẽ dạy tôi vào hè năm tới khi tôi tám tuổi. Tôi ngồi sát bờ sông, và nước hoàn toàn bao phủ hai chân.
Chết đuối không phải là ít gặp, và cả cuộc đời tôi đã nghe nhiều về chuyện những người gặp phải bờ cát chảy và bị cuốn đi xa trong khi cả gia đình họ chỉ biết nhìn trong nỗi khiếp sợ. Dòng nước tĩnh lặng có thể lúc nào đó trở nên dữ dội, mặc dù tôi chưa bao giờ tận mắt chứng kiến. Những vụ chết đuối được cho là đã xảy ra ở sông St. Francis, mặc dù vị trí chính xác thay đổi theo mỗi người tường thuật. Một đứa nhỏ đang ngồi chơi thì bỗng nhiên bãi cát cửa sông lún xuống, đứa trẻ bị nước bao quanh và chìm rất nhanh. Thằng anh thấy cảnh đó vội lao xuống dòng nước xoáy, và dòng nước hung dữ cuốn trôi luôn cả nó. Tiếp theo, cô chị nghe thấy tiếng kêu của hai đứa em, cũng cố nhảy xuống và bị nhấn sâu đến tận ngực trước khi nhớ ra mình không biết bơi. Không sợ hãi, nó dũng cảm quẫy đạp về phía trước, kêu hai đứa nhỏ giữ bình tĩnh, nó sẽ cố đến. Nhưng bãi cát cửa sông hoàn toàn sụp xuống, giống như kiểu động đất, và dòng nước chảy xối xả về các hướng.
Ba đứa trẻ trôi ngày càng xa bờ. Bà mẹ, có thể có hoặc không mang thai, và có thể có hoặc không biết bơi, đang chuẩn bị bữa trưa dưới một bóng cây thì nghe tiếng gào thét của lũ con. Bà lao xuống sông, và thế là bà cũng gặp rắc rối.
Ông bố đang câu cá trên cầu thì nghe thấy sự rung chuyển. Không lãng phí thời gian, ông chạy ngay tới bờ và thấy hết sự việc, ông vội nhảy đâm đầu xuống sông St. Francis và bị gãy cổ.
Cả gia đình bỏ mạng. Vài cái xác đã được tìm thấy. Vài cái khác thì không. Có xác bị loài cá trê sông rỉa, có xác bị cuốn trôi ra biển. Trong nhiều thập niên, không thiếu những ý kiến về kết cục xảy ra đối với năm xác chết trong gia đình đáng thương đó.
Câu chuyện được kể lại để bọn trẻ giống như tôi biết rõ sự nguy hiểm của dòng sông. Chú Ricky thích dọa tôi bằng câu chuyện này. Mẹ nói tất cả chỉ là tưởng tượng.
Thậm chí cha Akers cũng cố thêu dệt câu chuyện qua một bài giảng đạo để minh hoạ là quỷ Satăng luôn bày ra nỗi bất hạnh và sự đau buồn quanh thế giới. Và khi ông nói đến đoạn ông bố bị gẫy cổ, tôi cũng nghĩ ông đang cường điệu.
Chắc chắn tôi sẽ không chết đuối. Cá đang cắn câu, tôi câu được một con cá tráp nhỏ và ném nó trở lại sông. Tôi tìm được một chỗ ngồi trên gốc cây và câu thêm được con nữa. Điều này cũng vui vui như chơi bóng chày vậy. Buổi chiều chầm chậm trôi qua, và tôi cảm ơn nơi vắng vẻ tĩnh mịch này. Trang trại của chúng tôi đông đúc toàn người lạ. Cánh đồng hứa hẹn về việc lao động đến kiệt sức. Tôi đã thấy một người bị giết, và không hiểu sao tôi đã để mình bị dính líu vào chuyện này.
Âm thanh nhẹ nhàng của dòng nước cạn nghe thật dễ chịu. Tại sao tôi không được ngồi câu cá cả ngày nhỉ? Ngồi bên bờ sông dưới bóng cây râm mát? Bất cứ gì ngoại trừ việc thu hái bông. Tôi sẽ không làm nông dân. Tôi không cần tập luyện.
-Luke! - Giọng cha cất lên từ bên bờ. Tôi thu nhặt cần câu, mồi và bước về phía cha mẹ.
-Vâng, thưa cha.
-Ngồi xuống đây, - cha nói. - Chúng ta cùng nói chuyện.
Tôi ngồi xuống bên mép chân, hơi cách xa cha mẹ. Hai người không có vẻ giận dữ; thực tế, mặt mẹ hết sức  
hài lòng.
Nhưng giọng cha lạnh lùng, nghiêm khắc khiến tôi lo lắng.
-Tại sao con không kể cho cha về vụ ấu đả?
Vụ ấu đả sẽ không kết thúc.
Tôi thật sự không ngạc nhiên khi nghe câu hỏi.
-Con sợ.
-Sợ cái gì?
-Sợ bị bắt gặp đã xem đánh nhau sau cửa hàng Hợp tác xã.
-Vì mẹ đã nói con không được phép, đúng không?
-Vâng, thưa mẹ. Con xin lỗi.
Xem đánh nhau không phải là một hành động không vâng lời, và cả ba chúng tôi đều biết vậy. Chiều thứ bảy, đám trẻ con còn có việc gì để làm khi thị trấn chật ních trong sự kích động cao như thế? Mẹ mỉm cười vì tôi đã xin lỗi. Tôi đang cố tỏ vẻ đáng thương nhất có thể.
-Cha không quá lo về việc con đã xem đánh nhau, - cha nói. Nhưng bí mật có thể đẩy con vào rắc rối. Con nên nói thật cho cha biết những gì đã thấy.
-Con thấy vụ ấu đả. Con không biết là Jerry Sisco chết.
Lời lẽ hợp lý của tôi khiến cha dừng lại một lúc.
-Con đã kể cho ông Stick Powers sự thật?
-Vâng, thưa cha.
-Đúng là một đứa nhà Sisco đã nhặt được cây gậy trước? Hay chính Hank Spruill?
Nếu nói thật, tôi sẽ phải thú nhận về lời dối trá lần trước. Kể ra sự thật hay nói dối, đó là một câu hỏi luôn đọng lại. Tôi quyết định che mờ mọi việc một chút.
-Ồ, thực ra, thưa cha, mọi việc xảy ra quá nhanh.
Những cái xác ngã xuống và tung lên khắp nơi. Hank chỉ ném bọn đó ra xung quanh như những món đồ chơi nhỏ thôi. Đám đông dịch chuyển và la hò. Sau đó con thấy một cây gậy.
Đáng kinh ngạc là điều này làm cho cha hài lòng. Hơn hết, tôi chỉ là đứa trẻ bảy tuổi, và đã bị bắt gặp trong đám người xem, tất cả đang xem vụ đánh nhau khủng khiếp đằng sau cửa hàng Hợp tác xã. Ai có thể trách mắng nếu tôi không chắc về mọi chuyện đã xảy ra?
-Không được nói với bất cứ ai về việc này, rõ chưa?
-Vâng, thưa cha.
-Trẻ con mà giữ bí mật với cha mẹ sẽ gặp rắc rối lớn đấy, - mẹ nói. - Con luôn phải kể cho cha mẹ.
-Vâng, thưa mẹ.
-Bây giờ câu thêm cá đi. - Cha gật đầu, và tôi chạy trở lại chỗ ngồi.




Đăng nhập để trả lời
0
-11-

Một tuần mới bắt đầu trong cảnh tranh tối tranh sáng vào sáng thứ hai. Chúng tôi gặp nhau tại chỗ toa xe để ra đồng. Mỗi ngày chuyến đi càng ngắn hơn vì việc thu hái dần chuyển từ sông quay trở về phía nhà.
Không ai nói một lời. Phía trước là năm ngày dài vô tận chúi đầu làm việc và chịu đựng oi bức, rồi sẽ tới thứ bảy. Mà bây giờ mới thứ hai, khoảng thời gian đến thứ bảy
dường như quá xa, giống như đến tận lễ Giáng sinh vậy.
Tôi nhìn xuống và cầu nguyện đến ngày gia đình Spruill rời khỏi trang trại. Họ tụ tập theo từng nhóm, cũng mắt nhắm mắt mở như tôi. Trot không xuất hiện, cậu ta sẽ không làm việc trên đồng cùng chúng tôi. Tối muộn hôm chủ nhật, ông Spruill đã xin phép Pappy cho Trot chơi quanh quẩn sân trước.
-Thằng bé không chịu được nóng, - ông Spruill nói.
Pappy không quan tâm việc gì xảy ra với Trot. Cậu ta không phải là một nhân công tích cực.
Khi xe dừng, chúng tôi cầm bao và biến vào những luống bông. Không ai nói một lời. Một tiếng sau, mặt trời nung nóng tất cả. Tôi nghĩ tới Trot, được cả ngày dưới bóng cây râm mát, ngủ trưa bất cứ lúc nào thấy thích, không buồn vì không phải làm việc. Cậu ta có thể có chút vấn đề trong đầu, nhưng ngay lúc này thì cậu ta là người thông minh nhất trong gia đình Spruill.
Thời gian trôi qua chậm như rùa khi chúng tôi hái bông. Ngày dài dằng dặc, sản lượng mỗi lúc một chậm hơn.

Sau bữa tối thứ năm, Pappy thông báo.
- Thứ bảy này chúng ta sẽ không vào thị trấn.
Tôi cảm thấy buồn muốn khóc. Việc này thật là tàn nhẫn, làm việc trên đồng cả tuần mà không được thưởng bỏng ngô và xem phim thì hết sức tàn nhẫn. Còn lon coca hàng tuần thì sao?
Sự im lặng kéo dài sau đó. Mẹ cẩn thận nhìn tôi. Mẹ đường như không ngạc nhiên, và tôi có cảm giác là người lớn đã bàn bạc về chuyện này. Bây giờ họ chỉ thông qua ý kiến vì lợi ích của tôi thôi.
Tôi nghĩ, còn gì để mất nữa đây? Vì thế tôi nghiến chặt răng và hỏi.
-Tại sao lại không ạ?
-Bởi vì ông đã nói vậy. - Pappy trừng mắt nhìn tôi, và tôi biết mình đang ở trong vùng nguy hiểm.
Tôi nhìn mẹ. Một nụ cười lạ lùng trên gương mặt mẹ.
-Không phải ông sợ gia đình Sisco, đúng không? - Tôi hỏi, và gần như mong đợi một trong hai người đàn ông túm lấy tôi.
Khoảnh khắc im lặng đến nghẹt thở. Cha hắng giọng.
-Tốt nhất gia đình Spruill nên tránh xa thị brấn một thời gian. Chúng ta đã bàn luận điều này với ông Spruill, và thống nhất sẽ ở nhà vào thứ bảy. Ngay cả nhóm Mexico cũng vậy.
-Ông không sợ ai hết, cháu trai, - Pappy lẩm bẩm ngồi xuống bàn. Tôi không thèm nhìn ông. - Và đừng có nói hỗn láo với ta.
Nụ cười của mẹ vẫn đọng trên gương mặt, hai mắt mẹ long lanh. Mẹ thấy tự hào vì tôi.
-Tôi cần mua vài thứ ở cửa hàng, - Gran nói. - Một ít bột và đường.
-Tôi sẽ đi. - Pappy đồng ý. - Tôi chắc là nhóm Mexico cũng cần gì đó.
Rồi mọi người ra hành lang trước theo thói quen, ngoại trừ tôi, vì còn thấy mình bị tổn thương. Tôi nằm trên sàn nhà trong phòng chú Ricky, trong bóng tối, lắng nghe đội Cardinal qua ô cửa sổ mở và không thèm nghe lỏm cuộc nói chuyện giữa người lớn. Tôi cố nghĩ ra cách để căm ghét gia đình Spruill, nhưng ngay lập tức tôi thấy khó chịu vì vô vàn hành động tệ hại của họ. Mới chập tối, tôi đã nằm yên lặng và ngủ ngay trên sàn.

Bữa trưa thứ bảy thường là khoảng thời gian hạnh phúc. Vừa qua một tuần làm việc nặng nhọc. Chúng tôi sẽ tới thị trấn. Nếu tôi có thể chịu đựng việc tắm rửa thứ bảy thì cuộc sống quả thực tuyệt vời.
Nhưng thứ bảy tuần này tôi không hề thấy phấn khích.
- Chúng ta sẽ làm việc tới bốn giờ. - Pappy nói, như thể ban cho chúng tôi ân huệ thực sự.
Chúng tôi sẽ được nghỉ sớm một tiếng. Tôi muốn hỏi ông xem có phải làm việc vào chủ nhật không, nhưng tôi đã nói đủ vào tối thứ năm rồi. Ông tỏ vẻ phớt lờ và tôi cũng vậy. Thái độ hờn dỗi này có thể tiếp tục trong nhiều ngày.
Vì vậy chúng tôi quay lại làm việc thay vì tới Black Oak. Ngay cả nhóm Mexico, dường như cũng phát cáu vì việc này. Khi xe moóc dừng lại, chúng tôi lấy bao tải và từ từ biến vào ruộng bông. Tôi hái được một ít, làm rơi cũng nhiều, và khi thấy an toàn, tôi tìm được một chỗ để đánh giấc ngủ trưa. Họ có thể không cho tôi vào thị trấn, có thể bắt tôi ra đồng, nhưng không thể bắt tôi làm việc cực nhọc. Tôi nghĩ mình sẽ làm một giấc ngủ trưa dài vào chiều thứ bảy tuần này.
Mẹ tìm tôi, và chúng tôi về nhà, chỉ hai mẹ con. Mẹ không thấy thoải mái, và mẹ cũng biết rõ nỗi bất công đối với tôi. Chúng tôi thu lượm rau củ trong vườn. Tôi đau khổ và qua được trận tắm kinh hãi. Khi đã sạch sẽ, tôi đánh bạo mò ra sân trước, nơi Trot đã canh giữ khu lều trại nhà Spruill trong nhiều ngày. Chúng tôi không biết cậu ta làm gì cả ngày; không ai thật sự quan tâm. Chúng tôi quá bận rộn và mệt mỏi để nghĩ về Trot. Tôi thấy cậu ta ngồi sau vô lăng xe tải, giả bộ như đang lái xe, mồm kêu thay cho tiếng động cơ. Cậu ta nhìn lướt qua tôi rồi vẫn tiếp tục lái xe say mê và thổi phì phì.
Nghe tiếng máy kéo đến gần, tôi vào nhà và thấy mẹ đang nằm trên giường, một việc chưa bao giờ xảy ra trong ngày. Nhiều giọng nói mệt mỏi ở sân trước, nơi gia đình Spruill nghỉ ngơi thư giãn sau ngày làm việc nặng nhọc, và ở đằng sau, nơi nhóm Mexico đang kéo nhau về chuồng bò. Tôi trốn trong phòng chú Ricky, một tay nắm chặt quả bóng, còn tay kia là găng tay. Tôi nghĩ về Dewayne, anh em sinh đôi Montgomery và đám bạn còn lại của tôi. Tất cả đang ngồi trong rạp Dixie xem phim thứ bảy và ăn bỏng ngô.
Cửa phòng mở và Pappy xuất hiện.
-Ông sẽ tới cửa hàng Pop & Pearl mua vài thứ. Cháu muốn đi không?
Tôi lắc đầu, không nhìn ông.
-Ông sẽ mua cho cháu coca.
-Không cần đâu ạ, cảm ơn ông. - Tôi vẫn nhìn chằm chằm xuống sàn.
Eli Chandler chưa bao giờ lên tiếng van vỉ xin lỗi trước một nhóm người giận dữ ngút trời, và cũng không định nài xin một thằng nhóc bảy tuổi. Cánh cửa đóng sầm, vài giây sau tiếng động cơ vang lên.
Cảnh giác nhìn quanh sân trước rồi tôi lò dò ra sân sau. Gần kho thóc, nơi gia đình Spruill được yêu cầu dựng trại, có một bãi cỏ có thể chơi bóng chày. Địa điểm này không dài và rộng như sân trước, nhưng cũng đủ thoáng đãng và chạy thẳng ra bờ ruộng. Tôi ném bóng lên cao hết mức có thể, và chỉ dừng lại sau khi bắt được bóng.
Miguel xuất hiện từ chỗ nào đó. Chú quan sát tôi, và trước sự chứng kiến của một khán giả, tôi chỉ bắt được dãy ba trái. Tôi ném bóng cho chú, nhẹ nhàng, vì chú không có găng tay. Chú bắt bóng dễ dàng và tung cho tôi. Tôi đỡ bóng rồi ném lại cho chú, lần này mạnh hơn.
Từ năm trước, tôi đã thấy khá nhiều người Mexico biết chơi bóng chày, và rõ ràng Miguel cũng trong số đó. Hai tay chú nhanh nhẹn và mềm mại, cú ném mạnh hơn tôi. Chúrg tôi ném bóng trong vài phút, sau đó Rico, Pepe và Luis cùng nhập bọn.
-Cháu có gậy không?
-Có chứ. - Tôi đáp ngay và chạy vội vào nhà.
Khi vôi quay lại, Roberto và Pablo cũng tham gia, và cả nhóm đang ném bóng.
-Cháu cầm gậy đi, - Miguel nói.
Chú đặt mau ván cũ trên đất, mười bộ phía trước kho thóc.
-Đây là home-plate. - Chú tuyên bố.
Mọi người còn lại đứng rải rác quanh khoảng đất gần sân trong. Pablo, đứng giữa, ngay bờ ruộng. Rico ngồi xổm sau lưng tôi, và tôi chọn vị trí bên phải chỗ phát bóng của bên đánh bóng. Miguel trình diễn một cú kết thúc ác liệt, làm tôi thoáng sợ hãi trong một giây. Sau đó chú ném một quả nhẹ, tôi cố hết sức vụt mạnh nhưng trượt.
Tôi lại đánh trượt ba cú tiếp theo, sau đó đỡ được cú đôi. Nhóm, người Mexico hò reo và cười vui khi tôi đánh trúng, nhưng không nói gì khi tôi đánh trượt. Sau vài phút rèn luyện đỡ bóng, tôi đưa gậy cho Miguel và chúng tôi đổi vị trí. Tôi bắt đầu ném những cú bóng nhanh, và chú có vẻ như không bị đe doạ. Chú đánh trúng những quả bạt thẳng hàng và những cú là là mặt đất, vài quả trong số đó bị nhóm Mexico chặn dễ dàng và ném trả lại, trong khi những người khác chỉ chạy đi nhặt bóng. Phần lớn họ đã chơi bóng chày trước đây, nhưng cú đôi chưa bao giờ được sử dụng.
Bốn người trong chuồng bò nghe tiếng ồn và đi ra. Cowboy cởi trần, ống quần xắn tới đầu gối. Chân anh ta dường như dài hơn so với những người khác.
Tiếp theo tới lượt Luis. Anh không có kinh nghiệm như Miguel, và tôi không gặp rắc rối khi đánh lừa anh với sự thay đổi. Đáp lại nỗi phấn khích của tôi, tôi để ý thấy Tally và Trot đang ngồi dưới bóng cây đu và quan sát trò chơi.
Sau đó cha tôi đi ngang qua.
Chơi càng lâu, nhóm Mexico càng trở nên sôi nổi. Họ la hét và cười giỡn mỗi khi ai đánh trượt. Chỉ Chúa mới biết họ đang nói gì về động tác ném bóng của tôi.
- Chúng ta cùng chơi một trận xem sao. - Cha đề nghị.
Bo và Dale xuất hiện, cũng cởi trần, chân đất. Miguel trao đổi ý kiến, và sau vài phút bàn tán, quyết định là đội Mexico sẽ chơi với đội Arkansas. Rico sẽ bắt cho cả hai đội, và một lần nữa tôi phải vào nhà, lần này là để lấy găng tay hở ngón cũ của cha và một quả bóng nữa của tôi.
Khi tôi trở lại, Hank cũng xuất hiện và cùng chơi. Tôi không vui về việc ở cùng đội với gã, nhưng không thể nói gì được. Tôi cũng không chắc Trot ở đội nào. Và Tally là con gái. Thật hổ thẹn khi có đồng đội là nữ. Đội Mexico vẫn đông hơn chúng tôi.
Sau một hồi bàn bạc, và quyết định là đội chúng tôi sẽ phát bóng trước.
-Đội anh có những đứa bé, - Miguel nói với nụ cười tươi.
Vài tấm ván được đặt quanh để đánh dấu các góc. Cha và Miguel đưa ra luật chơi, khá sáng tạo đối với một sân bóng không ra hình thù thế này. Đám người Mexico đứng rải rác quanh các góc, và chúng tôi sẵn sàng vào trận đấu.
Trái với sự ngạc nhiên của tôi, Cowboy bước tới ụ đất và bắt đầu khởi động. Gầy nhưng khoẻ mạnh, và khi anh ta ném bóng, các cơ bắp ở ngực, ở vai phồng lên rồi nhăn lại. Mồ hôi làm cho làn da sẫm màu sáng lên.
-Cậu ta khá đây. - Cha nói nhỏ.
Cú ném có chủ tâm nhịp nhàng uyên chuyển, cú phát bóng liền một mạch, động tác ném gần như không sơ suất, nhưng bóng phóng ra và rơi vào găng tay của Rico. Anh ta ném ngày càng mạnh hơn.
-Cậu ta giỏi đấy. - Cha lắc đầu. - Anh chàng đó chơi bóng chày nhiều rồi.
-Ưu tiên phụ nữ trước, - một ai đó nói.
Tally nhặt gậy và bước ra vị trí đánh bóng. Chân đất, quần chật xắn tới đầu gối, áo rộng thùng thình với hai vạt buộc phía trước. Bạn có thể thấy rõ khoảng bụng trắng ngần. Lúc đầu, Tally không nhìn Cowboy, nhưng chắc chắn anh ta nhìn chị chằm chằm. Anh ta di chuyển vài bước về phía vị trí phát bóng và ném cú bóng dưới vai đầu tiên. Chị vung gậy lên và đánh trượt, nhưng đó là cú đơ khá ấn tượng, ít ra đối với một cô gái.
Sau đó mắt hai người thoáng gặp nhau. Cowboy xoa xoa quả bóng, Tally xoay xoay cây gậy, chín người Mexico đang reo hò nhảy nhót như những con châu chấu.
Cú bóng thứ hai, thậm chí thấp hơn, và Tally đỡ trúng. Bóng lăn đến chỗ Pepe ở góc thứ ba, và chúng tôi có vòng chạy thứ nhất.
-Gậy, Luke!  Cha nói.
Tôi bước tới vị trí đánh bóng với tất cả sự tự tin của Stan Musial, hy vọng là Cowboy sẽ không ném mạnh về phía tôi. Anh ta đã cho Tally đỡ được một quả, chắc chắn là anh ta sẽ làm vậy với tôi. Tôi thấy hồi hộp, nghe như có hàng nghìn fan hâm mộ đội Cardinal điên cuồng hét gọi tên tôi. Đám khán giả đông đúc, Harry Caray gào vào micrô. Tôi nhìn Cowboy, và trái tim như ngừng đập. Anh ta không mỉm cười, không thân thiện. Anh ta giữ bóng bằng cả hai tay và nhìn tôi như thể đã thấy đầu tôi bị đứt rời chỉ với một cú ném.
Stan Musial sẽ làm gì? Đu đưa cây gậy chết tiệt!
Cú ném đầu tiên cũng là cú bóng dưới vai, vì vậy tôi bắt đầu thở lại. Cú bóng bổng, tôi không đỡ được, và dàn đồng ca người Mexico có rất nhiều điều để nói về cú bóng này. Cú thứ hai thấp giữa, và tôi chặn được lá chắn, cho bức tường sân bên trái, cách xa 350 bộ. Tôi nhắm tịt mắt và vung gậy lên vì ba mươi nghìn người may mắn ở sân Sportsman’s Park. Tôi cũng đánh trúng vì Tally, nữa.
-Điểm một! - Cha hét lên, hơi quá to, tôi nghĩ vậy. - Con sẽ bạt cú quyết định, Luke.
Dĩ nhiên, tôi đang cố. Tôi cũng cố tạt cú quyết định thứ ba, và khi Rico ném bóng lại, tôi đối mặt với nỗi sợ hãi bị thua hai điểm. Một điểm ra ngoài là không thể tưởng tượng nổi. Tally vừa đánh được cú bóng khá đẹp. Chi đang ở góc thứ nhất, lo lắng cho tôi khi đặt bóng vì thế chị có thể tiến tới trước. Chúng tôi đang chơi trên sân của tôi, với bóng và cây gậy của tôi. Tất cả mọi người đang quan sát.
Tôi bước tới đúng vị trí và rất sợ mình sẽ đánh ra ngoài. Cây gậy bỗng nhiên nặng hơn. Trái tim đập thình thịch còn miệng lại khô không khốc. Tôi nhìn cha cầu xin sự giúp đỡ.
- Chúng ta tiến hành thôi, Luke! Đỡ bóng nhé! - Cha ra lệnh.
Tôi nhìn Cowboy, và nụ cười tục tĩu của anh ta thậm chí còn thô bỉ hơn. Tôi không biết mình đã sẵn sàng chưa.
Tôi líu ríu bước lùi lại, nghiến răng, và cố nghĩ tới Stan Masial. Nhưng suy nghĩ duy nhất cũng tiêu tan, và tôi thấy một cú bóng rất thấp. Khi tôi đỡ trượt lần thứ ba, bầu không khí im lặng bao trùm. Tôi đánh rơi gậy, nhặt nó lên, và không nghe thấy gì khi bước lại chỗ đội mình. Hai môi run run, tôi cố buộc mình không được khóc. Tôi không thể nhìn Tally, và cũng không thể nhìn cha.
Tôi muốn chạy vào nhà và khoá trái cửa lại.
Trot tiến lên trước, và cầm gậy chỉ bằng tay phải. Cánh tay trái lủng lẳng, như thường lệ, và chúng tôi hơi bối rối khi nhìn cảnh cậu bé đáng thương cố đỡ bóng. Nhưng cậu ta mỉm cười hạnh phúc khi được chơi, và điều đó quan trọng hơn bất cứ thứ gì vào lúc này. Cậu ta vụt thử cây gậy vài lần, và tôi bắt đầu nghĩ đội Mexico sẽ đánh bại chúng tôi chỉ qua hai mươi vòng chạy. Tuy nhiên, không biết bằng cách nào cậu ta đỡ trúng quả thứ ba, một cú bóng vòng nhẹ, tới sau góc thứ hai, nơi ít nhất bốn người Mexico đang cố bỏ qua quả bóng. Tally nhảy quanh góc hai và tiến tiếp sang góc ba, trong khi Trot ở góc ba, chỉ một người bị loại.
Bo là người tiếp theo. Cowboy bước lùi lại và ném một cú bóng bổng. Cú ném đầu tiên không quá nhanh, nhưng Bo tội nghiệp đang vung vẩy cây gậy đúng lúc bóng bay ngang qua vị trí phát bóng đích. Cậu ta vung gậy sau khi Rico bắt được bóng, và Hank cười rống lên. Bo bực tức quát gã câm mồm; Hank lớn tiếng nạt lại, và tôi nghĩ có thể xảy ra một cuộc cãi cọ trong gia đình Spruill ở ngay lượt chơi thứ nhất.
Cú bóng thứ hai hơi nhanh hơn. Cú vung gậy của Bo lại hơi thấp.
-Yêu cầu thằng đó phải ném bóng dưới vai chứ! - Bo hét với chúng tôi, cố cười xoà.
-Đúng là thằng ẻo lả yếu đuối. - Hank nói.
Ông bà Spruill đã nhập vào đám khán giả, và Bo liếc nhìn họ.
Tôi chờ đợi cú bóng thứ ba thậm chí còn nhanh hơn, Bo cũng vậy. Cowboy vung tay, và Bo vung gậy trước khi bóng bay tới.
-Cậu ta rất giỏi. - Cha nói về Cowboy.
-Tao đỡ tiếp theo, - Hank bước lên phía trước Dale. - Tao sẽ trình diễn cho chúng mày thấy tao làm thế nào.
Cây gậy có vẻ giống que tăm khi Hank thử chém chặt rèn luyện cú vung, như gã có thể đánh bóng bay qua sông. Cú bóng thứ nhất của Cowboy là cú bóng nhanh, và Hank không đỡ kịp. Bóng rơi vào găng tay Rico, và nhóm Mexico như nổ tung với tiếng cười nhạo bằng tiếng Tây Ban Nha.
-Hãy ném bóng lên trên vị trí phát bóng ấy! - Hank hét lên khi gã nhìn chúng tôi. Tôi đang mong Cowboy sẽ khoan một cú bóng nhanh vào tai gã.
Cú thứ hai hiểm hơn nhiều. Hank vung gậy lên nhưng đánh trượt. Cowboy bắt bóng từ Rico, và lướt qua góc ba, nơi Tally đang đứng quan sát.
Sau đó Cowboy ném một cú bóng vòng, lao thắng về phía đầu Hank, nhưng khi gã cúi xuống và đánh rơi gậy, quả bóng yếu đi và rời xuống. Đám người Mexico vừa gào thét vừa cười ầm ĩ.
-Ra ngoài rồi! - Miguel hét lên từ góc hai.
-Ra ngoài cái quái gì! - Mặt Hank đỏ bừng.
-Không phải là ra ngoài trừ phi cậu ta đánh trúng. - Cha lên tiếng.
Thật tốt cho Cowboy. Anh ta ném một cú bóng vòng khác trong số những đường bóng hiểm. Lúc đầu có vẻ vô hại, một cú bóng chậm về phía tâm vị trí đánh bóng. Hank lại vung mạnh cây gậy. Tuy nhiên, quả bóng rơi xuống và nảy lên trước khi Rico cản được. Hank không đánh trúng cái gì ngoại trừ không khí. Gã mất thăng bằng và ngã lăn ra đất. Khi đám đông nói tiếng Tây Ban Nha lại hò reo lần nữa, tôi nghĩ gã có thể tấn công tất cả bọn họ. Gã đứng lên, nheo mắt nhìn Cowboy và lầm bầm gì đó, sau đó quay lại vị trí.
Hai cú ra ngoài, hai trượt, hai cú trúng. Cowboy kết thúc cú ném cuối cùng bằng một cú bóng nhanh. Hank cắm cây gậy xuống đất khi hoàn thành xong cú vụt.
-Không được ném gậy như vậy! - Cha nói to. - Nếu không phải cậu muốn giải trí, vậy thì đừng có chơi thể thao.
Chúng tôi bước vào sân khi nhóm Mexico vội vàng đi ra.
Hank nhìn cha với ánh mắt phẫn nộ, nhưng gã không nói gì. Vì lý do nào đó, rõ ràng tôi sẽ là người ném bóng.
-Con ném lượt đầu, Luke. - Cha nói.
Tôi không muốn. Tôi không phải là đối thủ của Cowboy. Chúng tôi sắp phải xấu hổ tại trận đấu của chính mình.
Miguel cho Roberto ra vị trí đánh bóng trước tiên, và tôi chắc việc này là có tính toán, bởi vì anh chàng đáng thương kia chưa bao giờ nhìn thấy quả bóng chày. Anh ta đập một cú uể oải mà cha tôi bắt được ngay. Pepe đập một cú bóng bổng mà cha bắt được sau góc hai. Hai quả trượt, hai quả ra ngoài, nhưng rồi may mắn của tôi sắp phải ra đi. Những người chơi khá tiến lên trước. Tôi cố ném những cú bóng nhanh, cú vòng, cú bổng, nhưng không thành vấn đề. Họ đánh trúng, và chơi rất tuyệt. Tôi cảm thấy khổ sở vì đang bị nã pháo, nhưng cũng buồn cười khi thấy đám người Mexico nhảy múa, tán dương và reo hò.
Mẹ và Gran ngồi dưới gốc cây, đang quan sát trận đấu cùng ông bà Spruill. Mọi người đều có mặt, ngoại trừ Pappy, vẫn còn trong thị trấn.
Khi đội Mexico được mười vòng chạy, cha yêu cầu hoãn lại và bước tới ụ đất.
-Con thấy đủ chưa? - Cha hỏi.
Một câu hỏi thật tức cười làm sao?
-Con nghĩ là đủ rồi. - Tôi nói.
-Nghỉ giải lao đi. - Cha nói.
-Tôi có thể ném bóng. - Hank hét lên từ góc đầu tiên.
Cha hơi lưỡng lự một giây, sau đó ném quả bóng cho gã. Tôi muốn đi tới sân bên phải, ra ngoài với Trot, nơi  
không có nhiều chuyện xảy ra, nhưng huấn luyện viên của tôi nói.
-Con lên trước đi.
Theo kinh nghiệm, tôi biết là Hank Spruill sẽ có những cú đập nhanh đáng kể. Gã đã hạ gục ba đứa nhà Sisco chỉ trong vài giây. Vậy thì không có gì ngạc nhiên khi gã ném bóng chày như thể đã từng chơi trong nhiều năm. Gã trông có vẻ tự tin và bắt bóng từ Rico. Gã ném ba quả bóng nhanh ngay gần chỗ Luis, và trận tàn sát lượt chơi đầu tiên đã qua. Miguel thông báo cho cha là họ đã đạt được mười một lượt chạy.
Cowboy quay trở lại ụ đất, và cha bước tới vị trí đánh bóng. Cha đánh giá cao cú bóng nhanh, và đỡ trúng một cú bóng dài hiểm hóc, và bóng bay vèo vào ruộng bông. Pablo chạy tìm bóng trong khi chúng tôi tiếp tục sử dụng quả bóng thứ hai. Cho dù bất kỳ tình huống nào chúng tôi sẽ rời khỏi trận đấu chỉ khi cả hai quả bóng đã được sử dụng.
Tiếp theo là một cú bóng vòng khá hiểm, và hai đầu gối cha oằn ra trước khi xác định được đường bóng.
-Tuyệt thật! - Cha lắc đầu nghi ngờ rồi như tự nói với chính mình. - Đó cũng là một cú bóng vòng ở Liên đoàn chính thức đấy.
Cha chạy nhanh tới giữa, nơi Miguel tóm bóng với cả hai tay, và đội Arkansas sắp sửa ngăn chặn không cho đối phương ghi bàn lần nữa. Tally bước tới vị trí đánh bóng. Thái độ cau có, giận dữ của Cowboy lập tức dịu xuống. Anh ta ném một cú đôi dưới vai, cố để trúng vào cây gậy trên tay Tally, và chị cuối cùng cũng đánh trúng một cú bóng xoay thấp đến góc hai, nơi hai người Mexico loay hoay với nó lâu đủ để người chạy được an toàn.
Tôi là người tiếp theo.
-Hơi bít chặt lại, - cha nói và tôi làm theo.
Thậm chí Cowboy còn ném thấp hơn, một cú móc lờ đờ, và tôi vụt mạnh vào giữa sân. Đám người Mexico trở nên hoang dại. Mọi người hò reo. Tôi hơi xấu hổ trước sự ồn ào này, nhưng chắc là một cú đánh thần sầu. Áp lực đã hết, tưởng lai cầu thủ đội Cardinal quay trở lại.
Trot vung gậy và đỡ trượt cả ba cú bóng.
-Bốn ra ngoài, - Miguel nói, và luật lệ lại được thay đổi.
Khi bạn dẫn trước mười một vòng chạy trong lượt chơi thứ hai, bạn có thể rộng rãi. Trot chặn được một cú, và bóng lăn lại chỗ Cowboy, người vừa mới cố ném bóng vào góc ba với mục đích được đến gần Tally. Đội Mexico đang cố nhường chúng tôi những vòng chạy. Bo bước tới vị trí đánh bóng, nhưng Cowboy không rút đến chỗ ụ đất. Anh ta ném vòng cầu một cú dưới vai, Bo đập một cú mặt đất hết tốc lực và Pablo lao lên để tránh. Tally ghi điểm và tôi chuyển tới góc ba.
Hank nhặt cây gậy và vụt vụt vài cái tập luyện, cả mấy góc đều đầy người nên gã chỉ nghĩ tới một điều duy nhất - một cú đánh tuyệt vời. Cowboy lại có kế hoạch khác. Anh ta lùi về sau và nụ cười tắt hẳn trên môi. Hank bay lượn quanh vị trí đánh bóng, nhìn chằm chằm cầu thủ ném bóng, thách thức anh ta ném gì gã cũng có thể đánh trúng.
Trong một lúc, tiếng ồn ào im bặt; những người Mexico nhích lên trước, háo hức tham gia cuộc đọ sức. Cú ném bóng nhanh và sắc bén đầu tiên bay vèo qua vị trí đánh bóng. Hank chưa bao giờ nghĩ đến việc vung gậy; gã chưa có cơ hội. Gã lùi lại sau và dường như thừa nhận là gã đã thua. Tôi liếc nhìn cha đang lắc đầu. Làm sao Cowboy có thể ném được cú bóng hiểm tới vậy?
Sau đó anh ta ném một cú bóng vòng đẹp, có vẻ như hấp dẫn nhưng rơi ra ngoài. Hank chạy hết tốc lực nhưng không lại gần được. Sau đó là một cú bóng vòng hiểm hóc phóng thẳng vào đầu Hank và, vào giây cuối cùng, rơi xuống ngang vị trí đánh bóng. Mặt Hank đỏ như gấc.
Một cú bóng nhanh khác và Hank lao lên. Hai cú trượt, các góc chất đầy, hai cú ra ngoài. Mím chặt môi, Cowboy quyết định chơi một chút. Anh ta ném một cú bóng vòng chậm, rồi một cú khó hơn làm cho Hank phải cúi nhanh. Sau đó, lại một cú bóng chậm khiến gã gần như bổ chặt. Tôi có ấn tượng là Cowboy có thể ném bóng bao phủ quanh đầu Hank nếu muốn.
Tiếp theo là cú ném bằng khớp đốt ngón tay bay tới vị trí đánh bóng và có vẻ chậm đủ cho tôi đỡ trúng. Nhưng rồi bỗng quay quay và rơi xuống. Hank vụt mạnh, suýt trúng vào chân, và lại lần nữa lăn đùng ra đất. Gã gào lên một câu tục tĩu và ném gậy tới gần chỗ cha.
- Chú ý lời nói của cậu! - Cha nhặt gậy.
Hank lầm bầm gì đó và tức giận bỏ đi. Một nửa lượt chơi chúng tôi đã thua.
Miguel bước tới vị trí phát bóng lần hai. Cú ném đầu tiên của Hank thẳng vào đầu chú, gần như trúng đầu. Bóng nảy vụt qua kho thóc và lăn tới điểm dừng gần góc ba. Đám người Mexico im phăng phắc. Cú bóng thứ hai thậm chí hiểm hơn, vào trong sân. Lại lần nữa, Miguel đánh trúng đất, và đồng đội của chú bắt đầu lầu bầu.
- Thôi cái trò dại dột đó đi! - Cha nói to. - Chơi cho đàng hoàng.
Hank phun ra những lời nói châm chọc quen thuộc. Gã ném bóng qua vị trí đánh bóng, và Miguel vung gậy sang phải, nơi Trot đang giữ vị trí bảo vệ, lưng quay về lưới nhà và nhìn chăm chú vào hàng cây xa xa bên bờ sông St. Francis. Tally chạy theo bóng và dừng lại khi chạm tới bờ ruộng bông.
Cú bóng tiếp theo là cuối cùng của trận đấu. Cowboy là cầu thủ đánh bóng. Hank lùi lại sau ngửa cổ tu ừng ực món nước ép, và ném mạnh một cú bóng nhanh tới thẳng chỗ Cowboy. Anh ta cúi nhanh nhưng không kịp lùi về sau, và quả bóng đập trúng xương sườn với âm thanh ghê rợn giống như quả dưa đập vào gạch. Cowboy hét lên một tiếng đồng thời ném cây gậy của tôi như ném cái rìu nhẹ, với tất cả tốc độ nhanh nhất có thể. Cây gậy không hạ cánh đúng nơi nên đến - ngay giữa hai mắt Hank. Thay vì thế, nó lại nảy vào chân gã và bật vào đúng cẳng chân. Gã rống lên câu tục tĩu và ngay lập tức gã xông lên tấn công như một con bò mộng điên cuồng.
Những người khác cũng xông vào. Cha nhảy tới gần. Ông Spruill cũng lao vào từ bên ngoài kho thóc. Thêm vài người Mexico. Còn tôi,- tôi không động đậy. Tôi vẫn ở nguyên góc thứ nhất, quá kinh hãi nên không thể bước thêm một bước nào. Mọi người dường như đang gào thét và chạy về phía home-plate.
Cowboy không lùi một bước. Anh ta vẫn đứng vững trong một giây, làn da nâu ướt đẫm, hai cánh tay dài gồng lên sẵn sàng, và hai hàm răng nhe ra. Khi gã bò mộng còn cách vài bước, hai tay Cowboy sục nhanh vào túi quần và lôi ra một con dao. Anh ta dứ dứ con dao bấm dài, sáng loáng, và rõ ràng rất sắc. Một âm thanh vun vút khi dao bật mở, một tiếng tách khô không khốc mà tôi sẽ còn nghe thấy trong nhiều năm sau này.
Anh ta giơ con dao cho tất cả mọi người cùng thấy, và Hank đứng khựng lại.
-Bỏ dao xuống! - Gã hét to.
Cowboy làm một động tác nhẹ nhàng bằng tay trái, vẫy vẫy ra hiệu, như thể nói, hãy xông vào đi, thằng béo. Xông vào và lãnh đủ đấy.
Con dao gây sốc cho tất cả, và mọi người gần như im lặng trong vài giây. Không ai nhúc nhích. Âm thanh duy nhất là tiếng thở nặng nề. Hank đứng nhìn chằm chằm vào lưỡi dao. Rõ ràng trong tâm trí bất cứ ai thì Cowboy đã từng sử dụng dao trước đây, biết rõ cách sử dụng có hiệu quả, và sẽ vui vẻ đâm Hank nếu gã kia tiến thêm bước nữa.
Sau đó là cha tôi, giữ chặt cây gậy và đứng giữa hai người, còn Miguel xuất hiện bên cạnh Cowboy.
-Hạ dao xuống! - Hank nói lại lần nữa. - Hãy đánh nhau giống một thằng đàn ông xem nào.
-Im đi! - Cha tôi vẫy vẫy cây gậy quanh cả hai người.
- Không ai được đánh nhau.
Ông Spruill túm tay Hank.
-Chúng ta đi thôi, Hank!
Cha tôi nhìn Miguel.
-Hãy đưa cậu ta quay lại chuồng bò.
Dần dần, nhóm Mexico tụ tập quanh Cowboy và cố xô đẩy anh ta. Cuối cùng, Cowboy cũng nhượng bộ và bước đi, con dao bấm vẫn thấy rõ. Hank, dĩ nhiên, vẫn không chịu nhúc nhích. Gã đứng yên và quan sát nhóm Mexico bỏ đi, như thể bằng việc đó gã đang tuyên bố chiến thắng.
-Tôi sẽ giết thằng đó. - Gã gầm gừ.
-Cậu đã giết đủ rồi. - Cha nói. - Bây giờ hãy rời khỏi đây. Và tránh xa khu chuồng bò đó.
-Chúng ta đi thôi! - Ông Spruill lặp lại lần nữa.
Trot,Tally, Bo và Dale bắt đầu lê bước về sân trước. Khi đám người Mexico khuất khỏi tầm nhìn, Hank giậm mạnh chân bỏ đi.
-Tôi sẽ giết nó. - Gã lầu bầu, chỉ đủ cho cha tôi nghe thấy.
Tôi nhặt bóng, găng tay, gậy, và vội vàng đi theo cha mẹ và Gran.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.10.2021 11:10:17 bởi Ct.Ly>
-12-

Chiều muộn hôm đó, Tally tìm tôi ở sân sau. Đây là lần đầu tiên tôi thấy chị chạy quanh trang trại, mặc dù trong nhiều ngày qua, gia đình Spruill tỏ ra rất thích thám hiểm khu vực này.
Chị mang theo một cái túi. Chị đi chân không nhưng đã thay cái váy bó mặc lần đầu tiên tôi gặp.
- Em sẽ giúp chị, được không, Luke? - Chị hỏi rất ngọt ngào.
Hai má tôi ửng đỏ. Tôi không biết chị muốn giúp gì, nhưng rõ ràng chị muốn nhờ tôi.
-Cái gì? - Tôi hỏi, cố tỏ ra khó khăn.
-Bà em nói với mẹ chị là có một con sông nhỏ có thể tắm được. Em biết chỗ đó không?
-Dĩ nhiên. Sông Siler. Cách đây khoảng nửa dặm. - Tôi chỉ về phía bắc.
-Có rắn rết gì không?
Tôi mỉm cười như kiểu rắn rết không làm phiền tới ai.
-Có lẽ chỉ một hoặc hai con rắn nước nhỏ thôi.
-Và nước sạch, không bùn?
-Dĩ nhiên là sạch. Trời không có mưa từ chủ nhật mà.
Tally nhìn quanh để chắc là không ai nghe thấy.
-Em sẽ đi với chị chứ?
Tim tôi như ngừng đập, và cổ họng bỗng nhiên khô không khốc.
-Làm gì? - Tôi cố hỏi.
Chị lại cười tươi và đảo mắt đi chỗ khác.
-Chị không biết, - Tally thầm thì. - Để chắc chắn là không có ai nhìn chị thôi.
Chị có thể nói.
-Vì chị không biết con sông đó ở chỗ nào.
Hoặc:
-Để chắc chắn ở đó không có rắn.
Hoặc cái gì đó, bất cứ thứ gì không liên quan đến việc xem chị tắm.
Nhưng chị không nói vậy.
-Chị thấy sợ à?
-Có lẽ hơi sợ một chút.
Chúng tôi đi theo đường đồng tới khi ngôi nhà và chuồng bò khụất xa tầm mắt, sau đó rẽ vào một con đường hẹp. Khi chỉ còn mình chúng tôi, chị bắt đầu trò chuyện. Tôi không biết phải nói gì, và thấy yên lòng là chị biết cách nắm bắt tình huống.
-Chị thật sự xin lỗi về chuyện Hank. - Chị nói. - Anh ấy luôn gây rắc rối.
-Chị đã thấy trận ấu đả? - Tôi hỏi.
-Trận nào?
-Trong thị trấn.
-Không. Trận đó khủng khiếp lắm sao?
-Đúng, rất tồi tệ. Anh ta đánh bọn đó quá nặng. Anh ta nện chúng rất lâu sau khi trận đấu qua đi.
Tally dừng bước, sau đó tôi cũng vậy. Chị bước lại gần và cả hai chúng tôi thở rất nặng nề.
-Hãy nói cho chị sự thật, Luke. Có phải anh ấy đã nhặt cây gậy đó trước?
Nhìn sâu vào đôi mắt nâu đẹp, tôi gần như muốn nói. “Đúng.” Nhưng trong một thoáng, cái gì đó đã ngăn tôi lại. Tôi nghĩ, nên để chuyện này an toàn. Gã ta, sau hết, vẫn là anh trai Tally, và trong một trận cãi cọ của gia đình Spruill, chị có thể kể cho gã nghe mọi chuyện tôi đã nói. Một giọt máu đào hơn ao nước lã, chú Ricky vẫn luôn nói như vậy. Tôi không muốn gã Hank theo đuổi mình.
-Việc đó xảy ra quá nhanh, - tôi nói, và bắt đầu bước đi.
Chị đuổi kịp tôi ngay và không nói gì trong vài phút.
-Em có nghĩ là họ sẽ bắt anh ấy không?
-Em không biết.
-Ông nội em nghĩ gì?
-Làm sao em biết được cái chết tiệt đó.- Tôi nghĩ có thể gây ấn tượng với chị khi sử dụng từ ngữ của chú Ricky.
-Luke, chú ý tới cách nói của em đấy! - Tally có vẻ chẳng mảy may ấn tượng gì.
-Em xin lỗi. - Chúng tôi bước tiếp. - Trước đây anh ta đã từng giết ai chưa?
-Anh ấy đã từng phải đi lên miền Bắc. - Tally tiếp tục nói khi chúng tôi đến gần sông. - Có rắc rối gì đó. Nhưng bọn chị không được biết rõ chuyện.
Tôi chắc chắn là có rắc rối ở bất cứ nơi nào Hank xuất hiện.
Sông con Siler chạy ngoằn ngoèo dọc theo đường ranh giới phía bắc của trang trại Chandler và đổ vào sông St. Francis, tại một điểm nào đó mà bạn có thể thấy từ trên cầu. Hai bên bờ là những hàng cây um tùm, vì vậy đây là nơi mát mẻ lý tưởng để bơi và tắm vào mùa hè. Tuy nhiên, nhánh sông này cũng cạn rất nhanh và thường không có nhiều nước.
Tôi dẫn Tally đến cồn cát vàng ngầm có mực nước sâu hơn.
-Đây là chỗ tốt nhất. - Tôi nói.
-Nó sâu bao nhiêu? - Chị nhìn quanh hỏi.
Mặt nước trong và sạch.
-Khoảng tới đây.- Tôi chỉ vào dưới cằm.
-Không có ai ở quanh đây phải không? - Chị dường như hơi lo lắng.
-Không. Trang trại quay lưng về hướng này.
-Em quay lại gần chỗ toa moóc kia và trông chừng cho chị, được chứ?
-Được. - Tôi nói nhưng không hề nhúc nhích.
-Đi đi, Luke. - Tally đặt túi lên bờ.
-Được rồi. - Tôi bắt đầu bước đi.
-Và, Luke này, không được nhìn lén, rõ chưa?
Tôi thấy như mình vừa bị bắt quả tang. Tôi vẫy vẫy tay tỏ vẻ ý nghĩ đó không hề lướt qua tâm trí mình.
-Dĩ nhiên không.
Tôi lê bước về phía bờ sông và tìm một chỗ trên cành cây du to, cách đó vài bộ. Ngồi ở đây, tôi gần như thấy được nóc chuồng bò trong trang trại.
-Luke! - Tiếng Tally.
-Vâng!
-Mọi thứ đều sạch chứ?
-Vâng!
Tôi nghe thấy tiếng té nước nhưng cố hướng mắt về  phía nam. Sau một hai phút, tôi từ từ quay xung quanh và nhìn xuống sông. Tôi không thể thấy Tally, và cảm thấy hơi an tâm. Cồn cát ngầm khuất sau một khúc rẽ nhỏ, trong khi cây cối và cành cây to lại rất xum xuê.
Một phút nữa trôi qua, tôi bắt đầu thấy mình chẳng biết làm gì. Không ai biết tôi đang ở đây, vì vậy sẽ không ai lẻn lại gần để nhìn trộm Tally. Đâu phải dễ gì tôi có được cơ hội ngắm một cô gái dễ thương tắm? Rõ ràng không có lời ngăn cấm đặc biệt từ phía nhà thờ hay Kinh Thánh, mặc dù tôi biết làm vậy là sai. Nhưng có lẽ việc này không quá tội lỗi.
Vì liên quan tới trò tinh nghịch, tôi nghĩ ngay tới Ricky. Chú sẽ làm gì trong tình huống tương tự?
Tôi nhảy xuống, cúi người lom khom dưới đám cỏ dại cho tới khi lên phía trên cồn cát ngầm, sau đó bò từ từ qua những bụi cây.
Váy và đồ lót treo trên nhánh cây. Tally đang ở dưới nước, lớp bọt trắng bao phủ quanh đầu, hai tay nhẹ nhàng vò tóc. Tôi toát hết mồ hôi, và gần như nín thở. Bụng nằm ẹp trên cỏ, lén nhìn qua cành cây to, tôi không thể không thấy Tally. Đám cây cối còn động đậy nhiều hơn cả tôi.
Tally ngâm nga hát, cô gái xinh xắn đang tắm dưới sông, thích thú tận hưởng làn nước mát. Chị không sợ hãi nhìn xung quanh; chị tin tưởng tôi.
Tally nhúng đầu xuống nước, giũ sạch dầu gội, xua đám bọt trắng ra xa. Sau đó chị đứng lên và với lấy bánh xà phòng. Lưng chị quay về phía tôi, và tôi thấy toàn bộ phía sau của chị, tất cả. Chị hoàn toàn ở trần, giống kiểu của tôi mỗi khi tắm hàng tuần, và đó chính là điều tôi mong đợi. Nhưng phải thừa nhận là cảnh tượng khiến cảm giác rùng mình chạy xuyên suốt cơ thể tôi. Theo bản năng, tôi nhô đầu lên, và nghĩ tới một cự ly gần hơn, sau đó vội cúi nhanh xuống khi lấy lại được ý thức.
Nếu bị Tally bắt gặp, chị sẽ kể chuyện này cho ông bố và ông ta sẽ mách lại với cha tôi, và chắc chắn tôi sẽ bị nện một trận đến què giò. Mẹ sẽ trách mắng tôi trong suốt một tuần. Gran sẽ không thèm nói chuyện với tôi, bà sẽ bị tổn thương Pappy sẽ tổng xỉ vả tôi, nhưng chỉ vì lợi ích của những người khác. Tôi đã bị cám dỗ.
Trong làn nước tới ngang thắt lưng, Tally kỳ cọ hai cánh tay và ngực. Tôi có thể thấy rõ phía bên này. Trước đây, tôi chua bao giờ nhìn ngực một phụ nữ, và tôi tự hỏi có đứa trẻ bảy tuổi nào ở hạt Craighead đã từng được nhìn. Có lẽ đứa trẻ đó phải nhảy lên người mẹ, nhưng chắc chắn không một đứa nào ở tuổi tôi đã từng được thấy cảnh này.
Vì lý do nào đó, tôi lại nghĩ về chú Ricky, và một ý tưởng đồi bại chợt xuất hiện. Đã được thấy hết phần trên, bây giờ tôi muốn được nhìn hơn nữa. Nếu tôi hét lên “Rắn!” chị se kêu to trong nỗi sợ hãi. Chị sẽ quên mất xà phòng, khăn tắm, cơ thể trần truồng và mọi thứ. Chị sẽ chạy vội lên chỗ đất khô và tới chỗ quần áo, nhưng chỉ trong vài giây tuyệt vời tôi sẽ được thấy tất cả.
Tôi nuốt nước bọt một cách khó khăn, cố nuốt trôi cục nghẹn, nhưng cổ họng tôi hoàn toàn khô khốc. Tim đập loạn nhịp khiến tôi lưỡng lự, và việc này giúp tôi biết giá trị bài học về sự kiên nhẫn.
Tally bước gần lên bờ để kỳ chân. Với bánh xà phòng cùng miếng bông tắm chị từ từ cúi xuống, duỗi cẳng, vuốt ve đôi chân, mông, và bụng. Cả người chị hiện ra rõ mồn một trước mắt tôi. Tim tôi càng đập thình thịch.
Chị té nước lên người. Và khi kết thúc, chị vẫn đứng trong làn nước chỉ tới mắt cá chân, các đường nét trên thân hình thật hoàn hảo, Tally quay lại và nhìn thẳng về chỗ tôi đang núp.
Tôi vội cúi đầu và cố nằm ẹp xuống sâu hơn sau đám cỏ dại. Tôi chờ đợi tiếng chị hét lên giận dữ, nhưng không thấy gì. Tội lỗi này không thể tha thứ, bây giờ thì tôi biết chắc chắn.
Tôi chầm chậm lần từng bước lui về đằng sau, cố không gây tiếng động, tới gần bờ ruộng bông. Sau đó, tôi điên tiết bò dọc theo hàng cây và trở lại vị trí gần toa moóc, như thể không có việc gì xảy ra. Tôi cố tỏ vẻ buồn chán khi nghe tiếng bước chân chị.
Mái tóc ướt; chị đã thay bộ váy khác.
-Cảm ơn, Luke!
-À, vâng. - Tôi hắng giọng.
-Chị thấy dễ chịu hơn rồi.
Mình cũng vậy, tôi nghĩ.
Chúng tôi chậm rãi quay về nhà. Lúc đầu không ai nói gì; nhưng khi đi được nửa đường chị lên tiếng.
-Em đã nhìn chị, đúng không Luke? - Giọng nói nhẹ và khôi hài.
-Vâng. - Tôi không muốn nói dối.
-Được rồi. Chị không giận đâu. Đó chỉ là tự nhiên thôi, em biết đấy, việc các cậu bé nhìn trộm con gái ấy.
Chắc chắn là vậy. Tôi không thể nghĩ được mình phải nói gì. Tally tiếp tục.
-Nếu em đi cùng chị tới sông này lần sau, và canh chừng cho chị, thì em có thể làm lại việc đó lần nữa.
-Làm cái gì lần nữa?
-Nhìn chị ấy.
-Được rồi. - Tôi nói, khá nhanh.
-Nhưng em không được kể cho ai.
-Không đâu.
Trong bữa tối, tôi ăn uống nhỏ nhẹ và cố cư xử như thể không có gì xảy ra. Tuy nhiên, việc ăn uống thật khó khăn, với cái dạ dày vẫn đang giật giật. Tôi có thể thấy rõ Tally như thể vẫn còn ở dưới sông.
Tôi đã làm một việc tồi tệ. Và tôi không thể chờ đợi để làm việc đó lần nữa.
-Cháu đang nghĩ gì vậy, Luke? - Gran hỏi.
-Không có gì đâu ạ. - Tôi giật mình quay về thực tại.
-Thôi đi, - Pappy nói. - Có điều gì đó trong tâm trí cháu.
Cảm hứng biến mất rất nhanh.
-Là về con dao bấm ạ. - Tôi giả bộ.
-Hãy nghĩ đến những chuyện dễ chịu ấy. - Gran khuyên.
Mình không được lo lắng, tôi tự nhủ. Không được lo lắng.




Đăng nhập để trả lời
0
- 13 -


Ngày chủ nhật, sự chết chóc hoàn toàn ảnh hưởng tới buổi cầu nguyện của chúng tôi. Bà Letha Haley Dockery là một phụ nữ to béo và thường nói năng ầm ĩ. Mấy năm trước, ông chồng đã bỏ đi và chạy trốn tới California. Điều đó chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Theo như tin đồn thì ông ta đã từng làm việc ở đó, và một chuyện thú vị, mà tôi đã nghe được vài lần, là ông ta dính dáng tới một phụ nữ trẻ khác chủng tộc, có lẽ là người Trung Quốc. Tuy nhiên, giống như những chuyện ngồi lê đôi mách quanh Black Oak, việc này không thể xác minh rõ. Làm gì có ai đã từng đến California?
Bà Dockery nuôi nấng hai con trai, cả hai đều không có gì xuất chúng nhưng luôn mong muốn rời bỏ đồng bông. Một người ở Memphis; người kia ở đâu đó tận miền Tây.
Bà ta có người thân sống quanh vùng đông bắc bang Arkansas, và đặc biệt là người anh họ xa sống ở Paragould, cách đây khoảng hai mươi dặm. Theo lời Pappy, người không thích bà Dockery, thì đó là ông anh họ rất xa. Và cậu con trai của ông ta cũng đang chiến đấu tại Triều Tiên.
Mỗi khi chú Ricky được nhắc tới trong lời cầu nguyện tại nhà thờ, một sự kiện không mấy dễ chịu đã xảy ra lúc đó, bà Dockery vội nhảy nhổm lên trước và nhắc nhở mọi người rằng bà ta cũng có người thân trong chiến tranh. Bà ta dồn Gran vào thế bí và nghiêm trang nói về gánh nặng trong việc chờ đợi tin tức từ mặt trận. Pappy không hề nói với ai về chiến tranh, và ông đã quở trách Dockery sau khi bà ta cố tỏ vẻ ái ngại với ông. Cả gia đình chúng tôi luôn cố lờ đi sự việc đang diễn ra ở Triều Tiên, ít ra là trước mặt người khác.
Nhiều tháng trước, khi bà Dockery diễn vở kịch tỏ vẻ thông cảm, một người đã hỏi bà ta về bức ảnh của đứa cháu trai. Cùng ở nhà thờ, chúng tôi cũng thường cầu nguyện cho anh ta. Và bà Dockery đã bẽ mặt khi không thể đưa ra bức ảnh.
Lần đầu tiên xuống tàu xuất quân, anh ta tên là Jimmy Nance, và là cháu trai của ông anh họ thứ tư, “người anh họ rất gần.” Khi chiến tranh nổ ra, anh ta trở thành Timmy Nance, và không chỉ là cháu trai, mà chính là cậu em họ thân thiết. Chúng tôi không thể nắm rõ câu chuyện. Mặc dù bà ta thích cái tên Timmy hơn, thỉnh thoảng cái tên Jimmy vẫn được nhắc tới trong cuộc nói chuyện.
Cho dù tên thật là gì nhưng anh ta đã chết. Chúng tôi nghe được tin này trước khi ra khỏi xe.
Mọi người đưa bà Dockery vào phòng và cánh phụ nữ vây xung quanh. Tôi đứng quan sát từ xa trong khi Gran và mẹ chờ đến lượt được an ủi, và tôi thật sự cảm thấy thương bà Dockery. Dù là mối quan hệ họ hàng gần hay xa thì người phụ nữ này đang phải chịu đựng nỗi đau quá lớn.
Qua những lời thì thầm bàn tán thì Timmy lái xe chở viên sĩ quan chỉ huy và cán trúng mìn. Thi thể không thể đưa về nhà trong vòng hai tháng, hoặc có lẽ không bao giờ. Anh ta mới hai mươi tuổi và có cô vợ trẻ ở nhà, tại Kennett, bang Missouri.
Đức cha Akers bước vào phòng và ngồi xuống cạnh bà Dockery, ông giữ chặt bàn tay bà, họ lặng lẽ cầu nguyện rất lâu, rất nghiêm trang. Toàn bộ nhà thờ có mặt tại đó, quan sát, chờ đợi để tỏ sự cảm thông.
Sau vài phút, tôi thấy Pappy lặng lẽ ra khỏi phòng.
Vì cảnh này sẽ xảy ra tương tự, tôi nghĩ, nếu nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của chúng tôi trở thành sự thực: từ bên kia thế giới, họ gửi tin xấu là Ricky đã chết. Sau đó bạn bè sẽ tập trung quanh chúng tôi, và mọi người sẽ khóc.
Bỗng nhiên cổ họng tôi đau nhói và hai mắt bắt đầu rân rấn nước. Tôi tự nhủ, “Điều này không thể xảy ra với chúng tôi. Chú Ricky không lái xe jeep tới chỗ đó. Và nếu có, chú sẽ có ý thức tốt hơn để tránh mìn. Chắc chắn, chú sẽ trở về nhà.”
Không muốn bị bắt gặp đang khóc nên tôi lén trốn khỏi nhà thờ đúng lúc Pappy trèo lên xe và tôi bước tới chỗ ông. Chúng tôi nhìn chăm chú ra ngoài một lúc lâu; sau đó không nói một lời ông nổ máy và chúng tôi bỏ đi.
Chúng tôi đi qua trạm tách hạt. Mặc dù nơi đây thường yên tĩnh vào sáng chủ nhật, mỗi nông dân đều thầm mong nó đang gào rú hết công suất. Trạm chỉ hoạt động ba tháng mỗi năm.
Chúng tôi rời thị trấn nhưng không có đích tới rõ ràng trong tâm trí, ít ra là tôi không thể xác định được. Chúng tôi đi trên con đường lát sỏi và lầy lội với những luống bông cao gần tới vai.
- Kia là gia đình Sisco. - Ông hất đầu về phía trái, không muốn bỏ tay ra khỏi vô lăng.
Ở khoảng cách xa, vẫn có thể thấy giữa những mẫu bông là một ngôi nhà điển hình của dân lĩnh canh. Mái thiếc gỉ võng xuống, hành lang nghiêng ngả, sân nhà bẩn thỉu, và bông đã mọc cao gần tới dây phơi quần áo. Tôi không thấy bóng một ai, và đó là sự giảm bớt căng thẳng. Tôi hiểu rõ Pappy, ông có thể bị một thôi thúc bất chợt tiến vào sân trước và bắt đầu cuộc cãi cọ.
Chúng tôi chầm chậm di chuyển qua những cánh đồng bông bằng phẳng, vô tận. Tôi đang bỏ mất buổi học ngày chủ nhật, một hành động gần như không thể tin được. Mẹ sẽ không thích việc này, nhưng mẹ sẽ không tranh luận với Pappy. Chính mẹ đã nói với tôi là ông và Gran muốn ở bên tôi mỗi khi họ lo lắng cho chú Ricky.
Ông phát hiện ra cái gì đó, và chúng tôi đi chậm lại.
-Kia là nhà ông Embry. - Ông lại hất đầu. - Cháu thấy đám người Mexico không?
Tôi ló đầu ra ngoài, căng mắt nhìn và cuối cùng cũng thấy bốn, năm cái mũ rơm ở sâu trong biển bông trắng, cúi thấp xuống như thể đã nghe thấy chúng tôi và đang cố trốn.
-Họ hái bông vào chủ nhật sao? - Tôi hỏi.
-Đúng.
Chúng tôi lấy lại tốc độ, và cuối cùng họ thoát khỏi tầm mắt.
-Ông định làm gì? - Tôi hỏi, như thể qui định đang bị phá vỡ.
-Không gì hết. Đó là việc của Embry.
Embry là một thành viên của nhà thờ. Tôi không thể tưởng tượng là ông lại cho phép làm việc vào ngày Xaba.
-Cháu đoán ông ấy biết việc này?
-Có lẽ không. Ông nghĩ đơn giản là đám người Mexico lén ra đó sau khi ông ấy tới nhà thờ. - Pappy không tỏ vẻ kết tội.
-Nhưng họ không thể cân được số bông ấy. - Tôi nói, và Pappy rõ ràng mỉm cười.
-Không, ông nghĩ là không.
Vậy thì rõ ràng là ông Embry đã cho phép nhân công hái bông vào chủ nhật. Mùa thu hàng năm đều có những tin đồn về việc này, nhưng tôi không thể tưởng tượng được một người trợ tế tốt bụng như ông Embry lại tham gia vào tội lỗi thấp hèn này. Tôi thật sự bị sốc; Pappy thì không.
Những người Mexico đáng thương. Lôi kéo họ như lũ gia súc, làm việc cực nhọc như trâu bò, và ngày nghỉ duy nhất cũng bị tước bỏ trong khi ông chủ trốn trong nhà thờ.
-Hãy giữ im lặng về chuyện này. - Giọng Pappy độ lượng nhưng rõ ràng ông hài lòng khi xác định được một tin đồn.
Thêm nhiều bí mật.
Khi bước về phía nhà thờ, chúng tôi nghe thấy mọi người đang hát. Tôi chưa bao giờ ở ngoài khi không được phép.
-Chậm mất mười phút, - Pappy lẩm bẩm một mình khi mở cửa.
Mọi người đang đứng vì thế hai ông cháu có thể nhẹ nhàng chuồn vào chỗ mà không bị phát hiện. Tôi liếc sang cha mẹ, nhưng họ tỏ vẻ phớt lờ. Khi bài hát kết thúc, mọi người ngồi xuống, và tôi nhận ra mình đang ngồi chen giữa ông bà nội. Chú Ricky có thể đang gặp nguy hiểm, nhưng tôi chắc chắn chú sẽ được bảo vệ.
Đức cha Akers biết tốt hơn là nên đề cập tới chủ đề về chiến tranh và sự hy sinh. Ông bắt đầu với thông tin chính thức về Timmy Nance, điều mà tất cả mọi người đều đã nghe. Bà Dockery đã được đưa về nhà để bình tâm lại. Bữa ăn đang được lớp học chủ nhật của bà chuẩn bị. Đây là lúc, ông nói, dành cho nhà thờ đến gần với những người lính và an ủi một trong số họ.
Đây sẽ là thời điểm đau buồn của bà Dockery, và tất cả chúng tôi đều biết như vậy.
Nếu cứ mãi nhai đi nhai lại về đề tài chiến tranh, cha Akers sẽ phải nói chuyện với Pappy sau khi mọi việc xong xuôi, vì vậy ông bám chặt vào bức thông điệp đã được chuẩn bị. Chúng tôi, những người theo đạo Cơ đốc lấy làm tự hào trong việc gửi những người truyền giáo khắp nơi trên thế giới, và toàn bộ giáo phái đang trong chiến dịch lớn là quyên góp tiền ủng hộ. Đó là những lời cha Akers đang nói - đóng góp thêm nhiều tiền để có thể gửi nhiều nhà truyền giáo tới những nơi như Ấn Độ, Triều Tiên, Châu Phi, và Trung Quốc. Chúa Jesus đã dạy là chúng ta phải yêu thương tất cả mọi người, bất chấp sự khác biệt về chủng tộc.
Và nghĩa vụ của chúng tôi, những người theo đạo Cơ đốc, là làm biến đổi phần còn lại của thế giới.
Tôi quyết định mình sẽ không nộp một xu.
Tôi luôn được dạy phải nộp thuế một phần mười số tiền kiếm được của mình, và đành miễn cưỡng làm vậy. Tuy nhiên, điều đó có trong Kinh Thánh, và khó tranh cãi việc này. Nhưng cha Akers đang yêu cầu cái gì đó cao hơn nữa, nhưng không bắt buộc. Không một tý nào trong số tiền của tôi tới được Triều Tiên. Tôi chắc những người nhà Chandler còn lại cũng cảm thấy tưởng tự. Có lẽ toàn bộ nhà thờ này cũng vậy.
Sáng hôm đó cha Akers có vẻ dịu bớt. Ông chỉ giảng giải về tình yêu thương và lòng từ thiện, không phải tội lỗi và cái chết. Với không khí yên tĩnh hơn bình thường, tôi bắt đầu ngủ gà ngủ gật.

Sau buổi lễ, chúng tôi không có tâm trạng nói chuyện. Ông bà và cha mẹ đi thẳng tới chỗ xe tải, và chúng tôi về nhà trong vội vã. Khi đã ra khỏi thị trấn, cha hỏi.
-Con và Pappy đi đâu vậy?
-Chỉ lái xe loanh quanh thôi ạ.
-Đi đâu?
Tôi chỉ về hướng đông.
-Đằng kia. Thật sự không có chỗ nào cụ thể. Con nghĩ ông chỉ muốn trốn khỏi nhà thờ.
Cha gật đầu như thể cũng mong được đi cùng ông cháu tôi.

Khi vừa kết thúc bữa tối chủ nhật, chúng tôi nghe có tiếng gõ nhẹ vào cửa sau. Cha ngồi gần nhất, vì vậy cha bước ra hành lang sau và thấy Miguel cùng Cowboy.
-Mẹ, có người cần mẹ. - Cha gọi..
Gran vội ra khỏi bếp. Tất cả chúng tôi theo sau.
Cowboy cởi trần, ngực trái sưng phồng và trông rất khủng khiếp. Tay trái khó cử động nổi, và khi Gran yêu cầu giơ tay khiến anh ta nhăn mặt vì đau. Tôi cảm thấy thương cảm cho anh ta. Chính là vết thương, nơi quả bóng chày đập vào.
-Tôi có thể đếm được những vết sẹo.
Mẹ mang tới nồi nước nóng và khăn lau. Sau vài phút, Pappy và cha thấy chán ngán nên bỏ đi chỗ khác. Tôi chắc hai người lại lo về việc một người Mexico bị thương có thể ảnh hưởng đến sản lượng thu hoạch.
 Gran là người hạnh phúc nhất khi được đóng vai bác sĩ, và Cowboy nhận được sự chăm sóc đặc biệt. Sau khi băng bó vết thương, bà yêu cầu anh ta nằm trên hành lang sau, đầu đặt trên gối lấy từ ghế sofa.
-Cậu ta cần được yên tĩnh. - Bà nói với Miguel rồi quay sang Cowboy. - Đau nhiều không?
-Không đau lắm, - Cowboy lắc đầu.
-Mẹ tự hỏi không biết nên cho cậu ta thuốc giảm đau không. - Bà đăm chiêu nhìn mẹ.
Thuốc giảm đau của bà còn tệ hơn bất cứ cái xương gẫy nào, và tôi đưa ánh mắt khiếp sợ nhìn Cowboy. Anh ta hiểu ý.
-Không, không cần đâu.
Bà lấy đá cho vào túi vải và nhẹ nhàng đặt lên chỗ xương sườn sưng phồng.
-Giữ nguyên ở đây nhé.
Khi đá lạnh chạm vào người, toàn thân anh ta trở nên cứng đờ, nhưng rồi từ từ chùng xuống khi tình trạng tê liệt bắc đầu. Trong vài giây, nước nhỏ xuống hành lang. Anh ta nhắm mắt và thở sâu.
-Cảm ơn bà! - Miguel nói.
Tôi nói theo, và Miguel mỉm cười với tôi.
Chúng tôi để họ ở lại, và tập trung uống trà đá tại hành lang trước.
-Cậu ta bị gãy xương sườn, - Gran nói với Pappy đang ngồi trên đu.
Thật sự ông chẳng muốn nói gì, nhưng sau vài giây im lặng, ông càu nhàu.
-Việc này thật quá tệ.
-Cậu ta cần phải khám bác sĩ.
-Bác sĩ làm gì?
-Có lẽ chảy máu bên trong.
-Có lẽ không.
-Việc đó có thể rất nguy hiểm.
-Nếu bị chảy máu trong, cậu ta sẽ chết ngay, đúng không?
-Chắc chắn rồi, - cha thêm vào.
Có hai điều đang diễn ra ở đây. Thứ nhất và trên hết, cánh đàn ông sợ phải trả tiền khám bác sĩ. Thứ hai, và hầu như là quan trọng, cả hai từng chiến đấu dưới chiến hào. Họ đã thấy những phần thân thể vô danh, quân đoàn rệu rã, người mất chân mất tay, và họ không có kiên nhẫn với những chuyện nhỏ nhặt. Vết sưng và vỡ gẫy bình thường chỉ là sự may rủi của cuộc sống. Con người cần phải được tôi luyện.
Gran biết là bà sẽ không thể thuyết phục được ông.
-Nếu cậu ta chết, đó là lỗi của chúng ta.
-Cậu ta không chết đâu, Ruth, - Pappy nói. - Và nếu có vậy, đó cũng không phải lỗi của chúng ta. Hank chính là kẻ đã làm gẫy xương cậu ta.
Mẹ bỏ vào trong nhà. Mẹ có vẻ không khoẻ, tôi bắt đầu thấy lo lắng cho mẹ. Cuộc nói chuyện chuyển sang đề tài bông, và tôi rời khỏi hành lang.
Tôi trở lại chỗ Miguel đang ngồi cách Cowboy không xa. Cả hai có vẻ đang ngủ. Tôi lén bước vào nhà và tới chỗ mẹ. Mẹ đang nằm trên giường, hai mắt mở to.
-Mẹ ổn chứ?
-Dĩ nhiên, Luke ạ. Con không phải lo cho mẹ.
Mẹ hẳn sẽ nói rằng không có vấn đề gì. Tôi ngồi dựa vào thành giường một lúc, và khi chuẩn bị đi, tôi nói.
-Mẹ có chắc ổn không?
Mẹ vỗ nhẹ lên tay tôi.
-Mẹ khoẻ mà, Luke.
Tôi tới phòng chú Ricky, lấy găng tay và bóng. Miguel đã bỏ đi khi tôi lặng lẽ bước khỏi bếp. Cowboy đang ngồi trên thành hành lang, hai chân gác trên tấm ván, tay trái giữ túi đá vào chỗ vết thương. Anh ta vẫn làm tôi sợ hãi, nhưng trong điều kiện hiện nay, rõ ràng anh ta sẽ không thể làm hại ai.
Tôi nuốt nước bọt một cách khó khăn và giữ chặt quả bóng, giống như quả đã làm gãy xương sườn của Cowboy.
-Làm sao anh ném được cú bóng vòng đó? - Tôi hỏi.
Khuôn mặt độc ác hơi dãn ra, sau đó như mỉm cười.
-Lại đây, - anh ta gọi, và chỉ ra bãi cỏ gần hành lang.
Tôi nhảy lò cò xuống, và đứng gần đầu gối anh ta. Cowboy nắm chặt quả bóng với hai ngón tay đầu tiên ngay chỗ những vết sẹo.
-Như thế này này. Đó chính là cách Pappy đã dạy tôi.
-Và sau đó em thả ra.
Anh ta vặn cổ tay để ngón tay phía dưới quả bóng khi nó được thả ra. Việc này chẳng có gì mới mẻ. Tôi nhặt bóng và làm chính xác theo lời anh ta.
Cowboy im lặng quan sát tôi. Dấu hiệu nụ cười đã biến mất, và tôi có ấn tượng là anh ta đang rất đau.
-Cảm ơn! - Tôi nói. Anh ta chỉ gật đầu.
Sau đó, tôi thấy đầu con dao bấm lấp ló trong túi quần bên phải. Tôi không thể không nhìn chằm chằm vào chỗ đó. Tôi nhìn anh ta, và sau đó cả hai chúng tôi nhìn xuống con dao. Cowboy chậm rãi rút ra một con dao có cái cán xanh sẫm và nhẵn thín, với những nét chạm khắc bên trên. Anh ta giơ nó cho tôi nhìn, sau đó nhấn vào cái nút, và lưỡi dao bật mạnh ra. Tiếng tách sắc lạnh của nó khiến tôi giật mình lùi lại sau.
-Anh kiếm ra cái này ở đâu vậy? - Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn khiến anh ta không thèm trả lời.
-Anh làm lại lần nữa đi, - tôi đề nghị.
Rất nhanh, anh ta nhấn lưỡi dao lên chân để gấp vào sau đó vẫy nó trước mặt tôi và lưỡi dao lại bật ra.
-Em có thể làm được không?
Không, anh ta dứt khoát lắc đầu.
-Anh đã từng đâm ai bằng con dao này chưa?
Tay Cowboy đưa nó về gần người mình và nhìn tôi với ánh mắt ghê tởm.
-Nhiều người rồi.
Tôi đã nhìn thấy quá đủ, rời hành lang, rồi chạy nhanh ngang qua kho thóc, nơi tôi có thể được ở một mình. Tôi tập ném bóng trong một giờ, chờ đợi sẽ tình cờ bắt gặp Tally trên đường ra bãi sông lần nữa.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.10.2021 13:36:43 bởi Ct.Ly>
- 14 -


Sáng sớm thứ hai, chúng tôi yên lặng tụ tập chỗ máy kéo. Tôi rất muốn trốn vào nhà, vào phòng chú Ricky và ngủ li bì trong nhiều ngày. Không có bông, không có Hank Spruill, không có cái gì làm cho cuộc sống khó chịu.
- Chúng ta có thể nghỉ ngơi vào mùa đông, - Gran tự hào nói vậy.
Và đó là sự thật. Một khi đã thu hái xong bông và cánh đồng được cày xới, trang trại nhỏ bé của chúng tôi không có việc gì làm vào những tháng lạnh.
Nhưng mới giữa tháng Chín, thời tiết lạnh là một giấc mơ xa vời. Pappy cùng ông Spruill và chú Miguel hội ý gần máy kéo với vẻ mặt rất nghiêm túc trong khi những người còn lại cố dỏng tai nghe. Nhóm Mexico đang đứng đợi cách đó không xa. Một kế hoạch được đưa ra, trong đó nhóm Mexico sẽ bắt đầu với đám bông gần chuồng bò, vì vậy họ có thể chỉ cần đi bộ ra đồng. Chúng tôi, những người Arkansas sẽ làm việc xa hơn một chút, và xe moóc bông sẽ đóng vai trò là đường phân chia giữa hai nhóm. Đây là khoảng cách cần có giữa Hank và Cowboy, nếu không thì rồi cũng sẽ xảy ra đánh đấm.
- Tôi không muốn có thêm rắc rối, - tôi nghe Pappy nói.
Mọi người đều biết con dao sẽ không bao giờ rời khỏi túi quần Cowboy, và chúng tôi nghĩ rằng Hank, lầm lì như gã, sẽ ngu ngốc tấn công anh ta lần nữa. Trong bữa ăn sáng hôm đó, Pappy đã đoán Cowboy không phải là người Mexico duy nhất có vũ khí. Chỉ cần một cử động thiếu thận trọng của Hank, có lẽ dao bấm sẽ tung ra khắp nơi. Việc này đã được bàn bạc với ông Spruill và ông ta quả quyết với Pappy sẽ không để xảy ra thêm rắc rối. Nhưng ngay lúc đó không ai tin là ông Spruill, hay bất cứ ai khác, có thể kiềm chế được Hank.
Đêm qua mưa rất khuya, nhưng trên đồng không còn lại vết tích gì của mưa; bông đã khô, đất bụi mù. Pappy và cha nhận thấy cơn mưa như một lời cảnh báo đáng ngại về những trận lụt không thể tránh khỏi.
Vụ mùa của chúng tôi gần như hoàn chỉnh, và chỉ còn vài tuần thu hái nữa trước khi thời tiết thay đổi. Khi máy kéo dừng lại gần toa moóc, chúng tôi vội vàng túm lấy bao và biến vào đám bông. Không tiếng cười hay hát hò từ gia đình Spruill, không một tiếng động từ nhóm Mexico ở khoảng cách xa. Và về phía tôi, cũng không có giấc ngủ tranh thủ. Tôi cố hái bông nhanh hết mức có thể.
Mặt trời mọc nhanh và làm tan đi những giọt sương trên quả nang. Bầu không khí dầy đặc bám chặt vào da và làm ướt đẫm quần áo, từng giọt mồ hôi từ cằm nhỏ xuống. Một thuận lợi không đáng kể, khi có thân hình nhỏ bé là đa số thân cây đều cao hơn nên tôi được bông che mát phần nào.

Hai ngày thu hái nặng nhọc, và toa moóc đã đầy. Pappy là người chở bông vào thị trấn, không bao giờ là cha. Giống như mẹ và khu vườn, đây là một trong những việc đã được quy định từ rất lâu trước khi tôi ra đời. Tôi được đi cùng ông, một điều mà tôi luôn thích thú bởi việc đó có nghĩa là một chuyến tới thị trấn, dù chỉ là tới trạm tách hạt.
Sau bữa tối vội vàng, chúng tôi lái xe tải ra đồng và buộc toa moóc vào. Sau đó, chúng tôi trèo lên trên và siết chặt tấm vải bạt để những quả nang không bị thổi bay. Dường như là tội lỗi khi lãng phí một lượng rất nhỏ cái gì đó mà chúng tôi phải làm việc cực nhọc mới thu được.
Khi lái xe quay về nhà, tôi thấy những người Mexico ở sau chuồng bò, tụ tập thành từng nhóm nhỏ, chậm rãi ăn bánh ngô. Cha đang ở kho công cụ, thay săm cho chiếc máy kéc John Deere. Cánh phụ nữ đang rửa bát đĩa. Pappy bất ngờ dừng xe lại.
-Cháu ngồi đây, - ông nói với tôi. - Ông sẽ quay lại ngay.
Ông quên gì đó.
Khi quay trở lại, ông mang theo khẩu súng săn mười hai ly và lẳng lặng nhét xuống dưới chỗ ngồi.
Trong bữa sáng, mọi người không bàn bạc gì về chuyện nhà Sisco. Tôi nghĩ người lớn đã đồng ý để yên đề tài này, ít ra khi có sự hiện diện của tôi. Nhưng khẩu súng săn làm nảy ra rất nhiều khả năng.
Tôi nghĩ ngay tới trận đấu súng, theo kiểu Gene Autry, tại trạm tách hạt. Một bên là người tốt, dĩ nhiên, những nông dân đứng giữa dãy toa moóc; một bên là đám người xấu gồm nhà Sisco cùng đám bè bạn của chúng, và họ bắt đầu nổ súng. Bông bay tung toé trong không khí. Cửa sổ vỡ loảng xoảng. Xe tải nổ tung. Rồi sẽ có rất nhiều người bị thương.
-Ông không định bắn ai chứ? - Tôi hỏi, với nỗ lực buộc Pappy phải nói gì đó.
-Hãy chú ý tới công việc của chính cháu đi. - Ông nói cộc cằn khi sang số xe.
Biết đâu ông có lý do cần giải quyết với một người nào đó. Điều này gợi lên trong tâm trí tôi một trong những câu chuyện ưa thích của nhà Chandler. Khi còn trẻ, Pappy, giống như tất cả nông dân khác, thường cùng lũ la làm việc trên đồng. Đó là thời kỳ chưa có máy kéo, và tất cả việc trang trại đều do con người và động vật làm. Một ngày, một người hàng xóm không tốt tên là Woolbright thấy Pappy trên đồng, và rõ ràng là Pappy đã có một ngày tồi tệ với lũ la. Theo lời Woolbright, Pappy đã dùng cây gậy to đánh vào đầu những con vật đáng thương. Sau đó Woolbright đã kể câu chuyện này tại Tea Shoppe.
-Nếu lúc đó có bao bố ướt, tôi sẽ dạy cho Eli Chandler một bài học.
Câu nói đó được truyền miệng lại, và tới tai Pappy. Vài ngày sau, sau một ngày dài nóng nực trên đồng, Pappy xách theo bao tải đặt trong một bọc nước, và bỏ bữa tối, đi bộ ba dặm tới nhà Woolbright. Hay có thể là năm, hoặc mười dặm, phụ thuộc vào ai là người kể chuyện.
Khi tới đó, ông gọi Woolbright ra ngoài để giải quyết mọi việc. Woolbright vừa mới ăn xong bữa tối, và trong nhà ông ta có lẽ có hoặc không một đám trẻ. Dù sao, Woolbright bước ra cửa mành, nhìn ra sân trước, và quyết định là sẽ an toàn khi ở trong nhà.
Pappy hét gọi ông ta ra ngoài.
- Bao bố của mày đây, Woolbright! - Ông hét to. - Bây giờ hãy ra ngoài và kết thúc công việc đi nào.
Woolbright kiên quyết chốt chặt khoá cửa, và khi thấy rõ là ông ta không chịu ra ngoài, Pappy đã ném cái bao ướt qua cửa mành. Sau đó ông đi bộ suốt ba, năm hoặc mười dặm quay về nhà và đi ngủ, không thèm ăn tối.
Tôi đã nghe câu chuyện này và tin rằng đó là sự thật. Thậm chí mẹ cũng tin. Eli Chandler là người hay cãi nhau, tính khí nóng nảy khi còn trẻ, và vào lứa tuổi sáu mươi ông vẫn như một kíp nổ.
Nhưng ông sẽ không giết ai, trừ phi để tự vệ. Ông thích sử dụng nắm đấm hoặc loại vũ khí ít đe dọa giống kiểu cái bao bố hơn. Khẩu súng đi cùng với chúng tôi chỉ là để đề phòng. Nhà Sisco là những kẻ điên khùng.
Khi chúng tôi đến trạm tách hạt, máy móc đang gầm rú. Một hàng xe moóc dài phía trước và tôi biết chúng tôi sẽ phải chờ ở đó hàng tiếng đồng hồ. Trời đã tối, Pappy tắt máy và sốt ruột gõ tay vào vô lăng. Đội Cardinal đang thi đấu, và tôi háo hức muốn về nhà.
Trước khi ra khỏi xe, Pappy quan sát dãy toa moóc, xe tải và máy kéo. Ông chăm chú nhìn đám công nhân trạm tất bật chạy qua chạy lại. Ông đang chờ đợi rắc rối, nhưng không thấy gì.
-Ông sẽ đi kiểm tra qua. Cháu đợi ở đây. - Cuối cùng ông nói.
Tôi nhìn ông bước qua con đường sỏi và dừng lại chỗ nhóm người đứng bên ngoài văn phòng. Ông ở đó một lúc, nói chuyện và nghe ngóng. Một nhóm khác tụ tập gần toa moóc trong dãy xe phía trước, đám thanh niên đang hút thuốc, nói chuyện và chờ đợi. Trạm tách hạt là trung tâm của mọi hoạt động, và mọi thứ chuyển động chậm rãi.
Tôi bắt gặp ánh mắt thoáng qua của ai đó phía sau xe.
-Chào, Luke! - Một giọng nói cất lên.
Tôi giật mình nhìn quanh, và thấy khuôn mặt thân thiện của Jackie Moon, một thanh niên ỏ phía bắc thị trấn.
-Chào, anh Jackie! - Tôi thấy an tâm.
Lúc đầu tôi đã thoáng lo sợ khi nghĩ tới một đứa nhà Sisco bắt đầu cuộc mai phục. Anh dựa vào thành xe, lưng quay về phía trạm, và rút ra điếu thuốc đã cuộn tròn.
-Em có tin tức gì của Ricky không?
Tôi nhìn điếu thuốc.
-Không phải gần đây, nhà em nhận được thư từ hai tuần trước.
-Cậu ấy thế nào?
-Khoẻ, em nghĩ vậy.
Jackie bật diêm và châm thuốc. Anh có thân hình cao lớn, gầy và đã từng là ngôi sao bóng chày tại trường Trung học Monette. Anh và chú Ricky đã chơi bóng cùng nhau, cho tới khi Ricky bị bắt quả tang đang hút thuốc sau trường học. Huấn luyện viên, một cựu chiến binh đã mất một chân trong chiến tranh, tống cổ Ricky khỏi đội bóng. Pappy đã hầm hầm đi lại quanh trang trại Chandler suốt một tuần, đe dọa sẽ giết cậu con trai út, Ricky nói riêng với tôi, là dù sao chú cũng thấy mệt mỏi với môn bóng chày. Chú muốn chơi bóng đá, nhưng Monette không thể có được một đội bóng đá vì vụ thu hái bông.
-Anh có thể sẽ tới chỗ đó. - Jackie nói
-Tới Triều Tiên?
-Phải.
Tôi muốn hỏi tại sao, anh lại nghĩ là mình cần được ở Triều Tiên. Mặc dù tôi rất ghét việc hái bông, nhưng vẫn hơn là bị bắn chết.
-Còn bóng chày thì sao? - Tôi hỏi. Có tin đồn là đội bóng bang Arkansas đang tuyển mộ Jackie.
-Anh sẽ bỏ học. - Jackie thổi đám khói vào trong không khí.
-Tại sao?
-Anh thấy mệt mỏi vì nó. Đã mười hai năm rồi. Thế là đủ và nhiều hơn bất cứ người nào trong gia đình. Anh nghĩ mình đã học hành đủ.
Ở hạt này, trẻ em bỏ học vào bất cứ lúc nào. Chú Ricky đã cố bỏ học vài lần, và Pappy không thèm quan tâm. Trái lại Gran đã tuyên bố kỷ luật sắt, và cuối cùng chú cũng tốt nghiệp phổ thông.
-Rất nhiều thanh niên bị bắn ở đó. - Anh nhìn chằm chằm vào khoảng cách xa xôi.
Đó không phải là điều tôi muốn nghe nên tôi im lặng. Anh hút xong điếu thuốc và thọc hai tay vào sâu trong túi quần.
-Họ nói rằng em đã chứng kiến trận ấu đả với đám nhà Sisco. - Một lần nữa anh không nhìn tôi.
Tôi hình dung là trận ấu đả luôn được bàn tán trong thị trấn. Tôi nhớ lời cảnh báo nghiêm khắc của cha là không được nói về chuyện này với ai.
Nhưng tôi có thể tin ở Jackie. Anh và chú Ricky đã lớn lên cùng nhau.
-Rất nhiều người thấy mà.
-Đúng, nhưng không ai nói ra. Dân miền núi không hé môi bởi đó là một trong số người của bọn họ. Dân địa phương không nói bởi Eli đã yêu cầu mọi người ngậm miệng. Dù sao thì đó là những gì họ đang truyền nhau.
Tôi tin Jackie. Tôi không nghi ngờ là Eli Chandler đã sử dụng tình đồng đạo Cơ đốc để hạn chế những cuộc bàn tán, ít nhất cho tới khi bông thu hoạch xong xuôi.
-Còn nhà Sisco thì sao? -Tôi hỏi.
-Không ai trông thấy họ. Hiện họ đang ở thế yếu. Đám tang được tổ chức thứ sáu tuần trước. Gia đình Sisco tự đào huyệt; chôn thằng Jerry ngay sau nhà thờ Bethel. Ông Stick đang theo dõi họ rất sát.
Lại một khoảng trống dài trong cuộc nói chuyện bởi tiếng máy móc gầm rú ầm ĩ đằng sau, Jackie cuốn điếu thuốc khác, và châm lửa.
-Anh đã thấy em ở đó, tại trận ấu đả.
Tôi cảm thấy như mình bị bắt gặp gây tội ác.
-Vâng,- Tôi đành chấp nhận.
-Anh thấy em với cậu bé nhà Pinter. Và khi gã miền núi đó nhặt được cây gậy, anh nhìn hai đứa bọn em và tự nhủ là “Những cậu bé kia không nên xem cảnh tượng này ” Và anh đã đúng,
-Em ước gì không thấy cảnh đó,
-Anh cũng vậy, -Jackie phà ra một vòng khói uốn lượn.
Tôi nhìn về phía trạm tách hạt để biết chắc là Pappy không ở gần, ông vẫn đang ở đâu đó, trong văn phòng nhỏ của ông chủ trạm. Nhiều toa moóc khác tiến tới đỗ sau xe chúng tôi.
Anh đã nói chuyện với ông Stick?- Tôi hỏi.
-Không. Anh không định như thế. Còn em?
-Có, ông ta tới nhà em.
-Ông ấy nói chuyện với gã miền núi không?
-Có.
-Vậy là Stick biết tên gã?
-Em nghĩ vậy.
-Tại sao ông ấy không bắt gã?
-Em không rõ. Em kể với ông ấy là ba đánh một.
Jackie lầm bầm và giẫm giẫm chân lên đám cỏ dại.
-Đúng là ba đánh một thật, nhưng lẽ ra không ai đáng bị chết. Anh không thích nhà Sisco, không một ai thích, nhưng gã ta không cần thiết phải nện chúng như vậy.
Tôi im lặng. Anh hít một hơi thuốc và tiếp tục nói chuyện, khói toả ra quanh mũi và miệng.
-Khuôn mặt gã to đỏ như máu, hai mắt sáng rực, và bỗng nhiên gã dừng lại chỉ để nhìn xuống bọn kia, như thể một bóng ma chộp lấy và bắt mất hồn gã. Sau đó gã lùi lại và tiến lên trước, rồi nhìn bọn kia lần nữa như thể một ai đó đã làm việc đó chứ không phải gã. Cuối cùng, gã bỏ đi, quay lại phố Main. Tất cả đám nhà Sisco và bạn bè của bọn chúng chạy tới đỡ ba đứa kia lên. Họ mượn xe tải nhỏ của ông Roe Duncan và chở chúng về nhà. Jerry không hề tỉnh lại. Chính Roe lái xe đưa Jerry tới bệnh viện vào giữa đêm, nhưng Roe kể là nó đã chết. Vỡ sọ. May mắn là hai đứa kia không sao. Gã đã nện bọn chúng cũng nặng tay y như với Jerry. Mọi người chưa bao giờ thấy một cảnh tượng nào khủng khiếp như thế.
-Em cũng chưa.
-Anh sẽ bỏ qua những trận ấu đả nếu anh là em. Em còn quá nhỏ.
-Anh đừng lo. - Tôi nhìn vào trạm và thấy Pappy. - Ông nội em tới rồi.
Jackie vứt điếu thuốc và giẫm chân lên.
-Đừng kể cho ai lời anh, được không?
-Chắc rồi.
-Anh không muốn bị dính vào gã miền núi đó.
-Em sẽ không nói một lời.
-Hãy nhắn Ricky là anh gửi lời chào. Nói anh ấy hãy
giữ bọn họ thật chặt cho tới khi anh tới nhé.   
-Em sẽ nói, Jackie.
Anh biến mất lặng lẽ cũng như khi xuất hiện.
Lại thêm nhiều bí mật cần giữ kín.
Pappy tháo toa moóc và ngồi vào sau tay lái.
-Chúng ta không thể chờ đợi ba tiếng liền. - Ông lầu
bầu, và khởi động xe.
Ông lái xe rời trạm và ra khỏi thị trấn. Vào lúc nào đó, chắc rất muộn trong đêm, một công nhân sẽ móc máy kéo nhỏ vào toa moóc của chúng tôi và kéo nó về phía trạm máy. Bông sẽ được hút vào bên trong, và một tiếng sau hai kiện bông hoàn chỉnh sẽ xuất hiện. Chúng sẽ được cân, sau đó các mẫu hàng sẽ được cắt rồi và đặt sang một bên để người mua bông định giá. Sau bữa sáng, Pappy sẽ quay trở lại lấy toa moóc. Ông sẽ kiểm tra các kiện bông và mẫu hàng, rồi ông sẽ tìm ra cái để lo nghĩ.

Ngày hôm sau chúng tôi nhận được thư của chú Ricky. Khi bước vào bếp, qua cửa sau chúng tôi thấy ngay lá thư nằm trên bàn. Hai chân tôi nặng trịch và lưng thì đau mỏi. Hôm nay, tôi đã hái được bảy tám pao, một kỷ lục đặc biệt, chưa từng thấy đối với một đứa trẻ bảy tuổi, cả Pappy và cha hiện hái được năm trăm pao mỗi ngày.
Gran đang ngân nga hát và mỉm cười, vì vậy chúng tôi biết là thư có tin tức tốt lành. Bà cầm thư lên và đọc to cho cả nhà nghe. Vào lúc này, bà gần như đã thuộc lòng.
Cha mẹ, anh chị Jesse, Kathleen và cháu Luke yêu quý!
Con hy vọng là tất cả mọi việc ở nhà đều tốt đẹp. Con chưa bao giờ nghĩ là mình lại bỏ lỡ mất mùa hái bông, nhưng chắc chắn con mong ước được ở nhà vào lúc này. Con nhớ mọi thứ, trang trại, món gà rán, đội Cardinal, Mọi người có thể tin là đội Dodger sẽ đạt danh hiệu vô địch không? Điều này làm cho con phát ớn.
Dù sao đi nữa, con đang sống ở đây rất ổn. Mọi thứ đều yên tĩnh. Bọn con không phải ra trận. Đơn vị chúng con lùi lại phía sau khoảng năm dặm, vá chúng con đang được ngủ no giấc. Chúng con ấm áp, nghỉ ngơi, ăn uống đầy đủ, và ngay lúc này không có kẻ nào chĩa súng bắn vào chúng con cũng như chúng con không phải bắn ai.
Con thật sự nghĩ là mình sẽ được về nhà sớm. Dường như mọi việc đang từ từ chìm xuống. Chúng con nghe một số tin đồn về các cuộc đàm phán hòa bình và như vậy chúng con không phải động đậy tay chân nữa.
Con đã nhận được đợt thư cuối cùng của mọi người, và chúng có ý nghĩa rất nhiều đối với con. Vì thế mọi người tiếp tục viết thư nhé. Luke, lá thư của cháu còn ngắn quá, hãy viết cho chú dài hơn nữa.
Gửi tình yêu tới tất cả mọi người.
Ricky
Chúng tôi chuyền nhau lá thư và đọc đi đọc lại, sau đó Gran đặt nó vào hộp xì gà gần đài. Tất cả thư từ của chú Ricky đều ở đó. Không có gì bất bình thường khi đi ngang qua bếp vào ban đêm và bắt gặp Pappy hoặc Gran ngồi đọc lại đống thư cũ.
Lá thư mới làm cho chúng tôi quên đi bắp rã rời, làn da cháy nắng, và tất cả khẩn trương ăn uống để có thể ngồi quanh bàn và hồi âm ngay cho chú Ricky,
Sử dụng tấm bảng chữ cái lớn và một cây bút chì, tôi kể cho chú tất cả về Jerry Sisco, Hank Spruill, và không sót một chi tiết nào, Máu me, cây gậy, Stick Power, mọi thứ, Tôi không biết cách đánh vần nhiều từ, vì vậy tôi chỉ đoán, Nếu có ai đó tha thứ cho tôi việc viết sai chính tả, thì đó chính là chú Ricky. Không muốn mọi người biết là mình đang lan truyền toàn chuyện ngồi lê đôi mách đến Triều Tiên, nên tôi cố cất kỹ tấm bảng thật kỹ,
Năm lá thư được viết cùng một lúc, và tôi chắc là năm câu chuyện về những sự kiện giống nhau được miêu tả cho chú Ricky. Người lớn kể những chuyện vui. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc vào giữa vụ thu hoạch, Pappy mở đài, và chúng tôi theo dõi đội Cardinal khi những lá thư ngày càng dài hơn,
Ngồi quanh bàn bếp, cười nói, viết thư và lắng nghe trận đấu, rõ ràng ai cũng hy vọng chú Ricky sẽ sớm trở về nhà
Chú đã nói là chú sẽ trở về.
Đăng nhập để trả lời
0
-15-

Chiều thứ năm, mẹ tìm tôi và nói là chúng tôi có việc trong vườn. Tôi vui mừng cởi dây bao bông và rời khỏi đám nhân công đang ngập đầu trên đồng, Chúng tôi đi bộ về nhà, cả hai đều thấy khuây khoả vì ngày làm việc đã trôi qua.
- Chúng ta cần tới thăm gia đình Latcher, - mẹ nói,   
-Mẹ rất lo cho họ. Họ có thể chết đói mất, con biết đấy.
Gia đình Latcher có một khu vườn, tuy nhiên, không rộng lắm. Tôi tự hỏi không biết ở đó có ai sắp chết đói không. Chắc chắn họ không có ruột bánh mỳ chia sẻ với nhau, nhưng việc chết đói thì chưa từng nghe nói tới ở hạt Craighead. Thậm chí người nghèo khổ nhất trong số những nông dân lĩnh canh cũng cố trồng cà chua và dưa chuột. Mọi gia đình trang trại đều có vài con gà đẻ trứng.
Nhưng mẹ kiên quyết muốn gặp Libby để xác minh tin đồn.
Khi bước vào vườn, tôi nhận ra ý định của mẹ. Nếu khẩn trương, chúng tôi có thể mang rau củ tới nhà Latcher chính vào lúc cha mẹ và đám trẻ đang ở trên đồng. Libby, nếu thực tế là có mang, sẽ quanh quẩn ở nhà, chắc chắn là một mình. Chị ấy sẽ không có sự lựa chọn nào ngoại trừ việc bước ra khỏi nhà và nhận thực phẩm cứu trợ. Chúng tôi có thể quan sát, có thể bao quanh chị bằng lòng tốt của đạo Cơ đốc trong khi đám người bảo vệ không có mặt. Đó là một kế hoạch rất tuyệt.
Dưới sự giám sát nghiêm khắc của mẹ, tôi bắt đầu hái cà chua, dưa chuột, đậu, đậu bơ, ngô; gần như mọi thứ trong vườn.
-Hái quả cà chua nhỏ màu đỏ chỗ kia, Luke, bên tay phải con kìa. - Mẹ nói. - Không, không phải, đám đậu này có thể chờ.
-Không, quả dưa đó chưa chín đâu.
Mặc dù chính mình cũng hái rau củ nhưng mẹ vẫn thích bao quát mọi việc. Sự cân bằng đối với khu vườn có thể được giữ gìn nếu mẹ giữ khoảng cách, xem xét toàn bộ, và với con mắt của một nghệ sỹ chỉ huy nỗ lực của tôi, hoặc cha, trong việc hái những sản phẩm cây leo.
Dù ghét làm vườn, nhưng vào lúc này, tôi còn ghét đồng bông hơn nhiều. Bất cứ cái gì cũng còn tốt hơn việc hái bông.
Khi chạm tới bắp ngô, tôi thấy cái gì đó giữa những thân cây làm tôi lạnh toát người và dừng lại. Bên kia khu vườn là một dải cỏ nhỏ, quá hẹp để chơi trốn tìm. và cũng chẳng thể làm gì được. Gần đó là tường nhà phía đông, mặt khuất không quay ra đường. Mặt phía tây là cửa bếp, chỗ đỗ xe tải, lối nhỏ dẫn tới chuồng bò, khu nhà vệ sinh, và cánh đồng. Có cái gì đó xảy ra ở mặt phía đông.
Tại góc, đối mặt với khu vườn là thoát khỏi tầm mắt của mọi người, ai đó đã sơn một phần tấm ván dưới cùng. Sơn màu trắng. Phần còn lại của ngôi nhà đều là màu nâu xám, màu quen thuộc của những tấm ván gỗ sồi cũ.
-Cái gì vậy, Luke? - Mẹ hỏi.
Mẹ không bao giờ vội vàng khi ở trong vườn, bởi vì đây là nơi trú ẩn của mẹ, nhưng hôm nay mẹ đang dự định thực hiện một cuộc rình rập, và thời gian là yếu tố quan trọng.
-Con không biết, - tôi vẫn cứng đờ người.
Mẹ bước lại gần tôi và hé nhìn qua những thân cây ngô bao quanh vườn, và khi thấy tấm ván sơn, mẹ cũng đứng như trời trồng.
Lớp sơn dầy chỗ góc, nhưng được trải mỏng khi tấm ván chạy về phía sau nhà. Đây rõ ràng là một công trình đang trong giai đoạn thực hiện. Ai đó đang sơn ngôi nhà của chúng tôi.
-Đó là Trot, - mẹ nói, một nụ cười rạng rỡ trên khoé môi.
Tôi đã không nghĩ tới cậu ta, cũng không có thời gian để xem xét đến một thủ phạm, nhưng ngay lập tức mọi việc trở nên rõ ràng, Trot chính là thợ sơn. Còn ai có thể làm được việc nầy? Còn ai có thể chơi quanh quẩn quanh sân trước cả ngày trong khi những người còn lại làm việc đầu tắt mặt tối trên đồng? Còn ai làm việc với một tốc độ chậm như vậy? Còn ai lại ngu ngốc đi sơn nhà người khác mà không được sự cho phép?
Chính Trot là người đã hét kêu Hank dừng việc hành hạ tôi về chuyện ngôi nhà nhỏ rêu phong, không được sơn của chúng tôi, Trot đã giảỉ cứu cho tôi.
Nhưng Trot lấy đâu ra tiền mua sơn? Và tại sao cậu ta làm vậy? Trong đầu tôi có tới hàng chục câu hỏi.
Mẹ lùi lại một bước, sau đó rời vườn. Tôi bước theo sau đến góc nhà, và chúng tôi xem xét vết sơn. Chúng tôi có thể ngửi thấy mùi sơn, và nó có vẻ rất dính, Mẹ quan sát sân trước. Trot không thấy đâu.
-Chúng ta nên làm gì? - Tôi hỏi.
-Không gì hết, ít ra là không phải bây giờ,
-Mẹ định kể cho ai sao?
 Mẹ sẽ nói cho cha con, Trong lúc này, chúng ta hãy giữ bí mật nhé.
-Mẹ nói với con bí mật là không tốt cho trẻ con cơ mà.
-Không tốt khi con giữ bí mật với cha mẹ.
Chúng tôi chất đầy hai rổ rau củ lên xe. Mẹ được lái xe một lần mỗi tháng. Chắc chắn mẹ có thể điều khiển được xe của Pappy, nhưng mẹ không thoải mái khi ngồi sau tay lái. Mẹ nắm chặt vô lăng, đạp côn và nhấn phanh. Chúng tôi giật nảy người về sau rồi lảo đảo chạy lùi. Thậm chí chúng tôi cùng cười vang khi cái xe tải cũ kỹ từ từ khởi động. Khi rời khỏi nhà, tôi thấy Trot đang nằm dưới gầm xe của gia đình Spruill và quan sát chúng tôi từ sau chiếc lốp.
Trò chuyện vui đùa dừng lại khi chúng tôi tới bên bờ sông.
-Bám chắc vào, Luke! - Mẹ nói khi đi vào đoạn đường thấp và cúi người xuống tay lái, hai mắt đầy vẻ sợ hãi.
Bám chắc vào cái gì? Đây là cây cầu một chiều không có thành lan can. Nếu mẹ lao xe xuống sông thì cả hai chúng tôi sẽ bị chết đuối.
-Mẹ có thể làm được việc đó mà, mẹ. - Tôi động viên mẹ, không có nhiều sức thuyết phục cho lắm.
-Dĩ nhiên mẹ có thể, - mẹ khẳng định.
Trước đây tôi cũng đã từng qua cầu cùng mẹ, và đó luôn luôn là một sự mạo hiểm. Chúng tôi lên cầu, cả hai sợ hãi nhìn xuống dưới, nín thở cho tới khi chạm đất ở bờ bên kia.
-Mẹ lái tốt lắm. - Tôi nói.
-Không vấn đề gì. - Cuối cùng mẹ cũng thốt nên lời.
Lúc đầu chúng tôi không thấy ai trong gia đình Latcher trên đồng, nhưng khi tiến tới gần nhà, tôi thấy rải rác vài cái mũ rơm cúi sâu trong ruộng, và ở xa tận phía cuối cánh đồng. Tôi không biết họ có nghe thấy chúng tôi hay không, nhưng họ không dừng làm việc. Chúng tôi đỗ xe gần hành lang và đám bụi phủ mù mịt xung quanh. Chúng tôi chưa kịp xuống xe, bà Latcher đã xuất hiện ngoài hành lang trước, lau lau hai tay vào mảnh giẻ. Bà dường như đang nói chuyện một mình và có vẻ rất lo lắng.
-Xin chào, cô Chandler!
Tôi không biết tại sao bà không dùng tên mẹ. Bà lớn tuổi hơn và ít nhất có hơn mẹ tới sáu đứa con.
-Xin chào, chị Darla! Chúng tôi mang tới ít rau củ.
Hai người phụ nữ đối mặt nhau.
-Tôi rất mừng khi cô tới đây. - Giọng bà Latcher lo lắng.
-Có chuyện gì vậy?
Bà Latcher nhìn lướt qua tôi, nhưng chỉ một giây.
- Tôi cần sự giúp đở. Đó là Libby. Tôi nghĩ nó sắp sinh.
-Sắp sinh ư? - Mẹ ngạc nhiên như thể chưa từng biết.
-Vâng. Tôi nghĩ nó đang chuyển dạ.
-Vậy chúng ta phải gọi bác sĩ.
-Ôi, không. Chúng tôi không thể làm việc đó. Không ai có thể biết được việc này. Không một ai. Việc này cần giữ im lặng.
Tôi di chuyển xuống cuối xe, và hơi thu mình lại để bà Latcher không thể thấy. Theo cách đó, tôi nghĩ bà sẽ nói nhiều hơn. Một điều gì đó có vẻ nghiêm trọng hơn, và tôi không muốn bỏ lỡ thông tin.
-Chúng tôi quá xấu hổ, - giọng bà như vỡ ra. - Nó không cho chúng tôi biết ai là bố đứa trẻ, và ngay lúc này tôi cũng không quan tâm. Tôi chỉ muốn đứa trẻ sinh ra ở đây.
-Nhưng chị cần bác sỹ.
-Không đâu, thưa cô. Không ai có thể biết về việc này. Nếu bác sỹ tới, vậy thì toàn bộ hạt của chúng ta sẽ biết. Cô nên giữ im lặng, cô Chandler. Cô có thể hứa với tôi không?
-Để tôi xem cô bé nào, - mẹ không trả lời câu hỏi. Hai
người phụ nữ bước vào nhà và mẹ nói với lại. - Luke, con ở tại chỗ này nhé!
Ngay khi họ biến vào trong, tôi bước quanh nhà và hé mắt nhìn vào ô cửa sổ đầu tiên. Đó là phòng khách chật chội với những tấm đệm cũ bẩn thỉu trên sàn. Tại ô cửa kế tiếp, tôi nghe thấy giọng nói của họ. Tôi cứng người và lắng nghe. Cánh đồng bông ở đằng sau.
-Libby, đây là cô Chandler, - bà Latcher giới thiệu. - Cô ấy tới đây để giúp con.
Libby rên rỉ gì đó tôi không thể hiểu. Chị ấy dường như rất đau. Sau đó tôi nghe thấy chị lẩm bẩm.
-Cháu rất lấy làm tiếc.
-Việc này sẽ ổn thôi, - mẹ nói. - Hiện tượng chuyển dạ bắt đầu từ lúc nào?
-Khoảng một tiếng trước, - bà Latcher trả lời.
-Con sợ quá, mẹ ơi, - giọng Libby to hơn, rõ ràng rất sợ hãi. Hai người lớn cố an ủi Libby.
Tôi không có nhiều kinh nghiệm gì về vấn đề mổ xẻ phụ nữ. Tôi khá háo hức xem một cô gái mang thai. Nhưng tiếng chị ấy kêu ngay sát cửa sổ, và nếu bị bắt gặp nhìn trộm, tôi sẽ bị cha đánh suốt một tuần mất. Cảnh phụ nữ chuyển dạ không được phép nhìn, vậy đây chắc chắn là một trong số những tội lỗi kinh khủng nhất. Thậm chí tôi có thể bị đâm mù mắt mất thôi.
Nhưng tôi không thể kìm chế được bản thân. Tôi cúi mình và núp dưới cửa sổ. Tôi vừa cởi mũ rơm ra và chuẩn bị nhô lên thì một cục đất phóng tới, chỉ cách đầu tôi có hai bộ. Nó đập bộp vào một bên nhà, rơi xuống tấm ván ọp ẹp và làm cho cánh phụ nữ kinh hãi đến nỗi họ hét lên. Đất bắn tung toé và văng vào mặt tôi. Tôi vấp phải nền
đất và chuồn khỏi chỗ cửa số. Sau đó tôi quay lại và nhìn ra cánh đồng.
-Đó chính là thằng bé của mày đây, - một giọng nói cất lên.
Tôi nhìn vào cửa sổ và thoáng thấy đầu bà Latcher. Một lần nữa lại đụng đầu với Percy, và tôi chạy ra chỗ xe tải như một con chó bị bỏng nước sôi. Tôi trèo lên, đóng kín cửa, và chờ mẹ.
Percy biến vào đồng bông. Và tôi muốn rời khỏi đây trước khi đám người nhà Latcher còn lại kéo về.
Hai đứa trẻ, một trai một gái, chập chững xuất hiện trên hành lang, cả hai đều trần truồng, và tôi tự hỏi không rõ bọn chúng nghĩ gì về việc cô chị cả sắp sinh một đứa trẻ. Chúng chỉ nhìn tôi chằm chằm.
Mẹ bước ra vội vã, bà Latcher theo sát gót, và đang nói rất nhanh khi họ bước tới bên xe.
-Tôi sẽ gọi Ruth, - mẹ nói, có nghĩa là Gran.
-Hãy làm ơn, và nhanh lên nhé! - Bà Latcher khẩn cầu.
-Ruth đã làm việc này vài lần rồi.
-Làm ơn gọi bà ấy giúp tôi. Và làm ơn đừng kể cho ai. Chúng tôi có thể tin tưởng vào cô được không, cô Chandler?
Mẹ mở cửa xe và leo lên.
-Dĩ nhiên chị có thể.
-Chúng tôi rất xấu hổ, - bà Latcher lau nước mắt. - Làm ơn đừng nói gì cho ai nhé.
-Được rồi, chị Darla, - mẹ xoay chìa khóa. - Tôi sẽ trở lại trong vòng nửa tiếng.
Xe chạy lùi, sau vài lần chạy rồi khựng lại, chúng tôi cũng khởi động được xe và rời khỏi nhà Latcher. Mẹ lái xe nhanh hơn, và việc này khiến mẹ tập trung cao độ.
-Con có thấy Libby Latcher không? - Cuối cùng mẹ hỏi.
-Không, thưa mẹ, - tôi trả lời nhanh và quả quyết. Tôi biết là sẽ có câu hỏi này.
-Con chắc chứ?
-Vâng, thưa mẹ.
-Con làm gì bên ngoài?
-Con đang đi dạo quanh thì Percy ném đất vào con. Chính là cục đất đã đập vào nhà đấy. Đó không phải lỗi ở con, là do Percy. - Tôi khẳng định, và tôi biết mẹ muốn tin tôi. Còn có nhiều chuyện quan trọng hơn trong tâm trí mẹ.
Chúng tôi dừng lại bên cầu. Mẹ di chuyển xuống thấp, nín thở và lại nói.
-Bám chắc vào, Luke!

Gran đang rửa mặt mũi chân tay chỗ máy bơm và định chuẩn bị bữa tối. Tôi phải chạy mới theo kịp mẹ.
-Chúng ta cần tới nhà Latcher, - mẹ nói. - Cô bé đang chuyển dạ, và mẹ con bé muốn mẹ giúp đỡ.
-Ôi, chúa ơi! - Gran nói, đôi mắt mệt mỏi của bà ngay lập tức sáng lên. - Vậy là nó thật sự có mang.
-Chắc chắn rồi. Nó đã chuyển dạ hơn một tiếng.
Tôi cố lắng nghe và thấy thích thú vì mình có phần tham gia, thì bỗng nhiên và vì lý do không rõ ràng, cả hai người quay lại và nhìn tôi chằm chằm.
-Luke, đi vào nhà! - Mẹ nghiêm nghị hơn, và chỉ tay như thể tôi không biết ngôi nhà ở đâu.
-Con sẽ làm gì? - Tôi cảm thấy bị tổn thương.
-Đi đi. - Mẹ cương quyết, và tôi đành phải bỏ đi.
Việc tranh cãi sẽ không đưa tôi tới đâu. Hai người lại tiếp tục thì thầm nói chuyện. Và tôi ra ngồi ở hành lang cho tới khi nghe tiếng mẹ.
-Luke, chạy ra đồng gọi cha về đây! Mẹ và bà cần cha!
Nhanh lên đấy! - Gran tiếp lời.
Bà đang nóng lòng về viễn cảnh hành nghề bác sỹ với một bệnh nhân thực sự.
Tôi không muốn, quay lại cánh đồng, và tôi hẳn sẽ tranh cãi nếu Libby Latche không sắp sinh em bé vào bất cứ lúc nào.
-Vâng, thưa mẹ. - Tôi cố chạy hết tốc lực.
Cha và Pappy ở chỗ toa moóc, đang cân lượt bông cuối cùng trong ngày. Lúc này đã gần năm giờ chiều, và gia đình Spruill đang tập trung bên đống bao tải đầy. Nhóm Mexico vẫn chưa thấy đâu.
Tôi cố kéo cha sang một bên và giải thích tình hình. Cha nói gì đó với Pappy và chúng tôi chạy vội về nhà. Gran đang sắp xếp một số thứ - cồn khử trùng, khăn lau, thuốc giảm đau, các loại chai thuốc kinh khủng sẽ làm cho Libby quên đi việc sinh nở. Bà sắp xếp kho thuốc trên bàn bếp, và tôi chưa bao giờ thấy bà nhanh nhẹn như vậy.
-Rửa ráy tay chân đi! - Bà nói nhanh với cha. - Con lái xe đưa mẹ và vợ con tới đó. Nhanh lên!
Tôi có thể nói là dù không thích thú lắm khi phải dính vào việc này, nhưng cha không định tranh cãi với bà.
-Cháu cũng đi rửa ráy,
-Con sẽ không đi đâu hết, - mẹ nói với tôi.
Mẹ đang đứng bên bồn rửa trong bếp, thái cà chua. Pappy và tôi sẽ ăn nốt thức ăn từ bữa trưa cùng cà chua và dưa chuột.
Họ rời đi trong vội vã, cha lái xe, mẹ ngồi giữa cha và Gran. Cả ba người vội vàng tới cứu Libby. Tôi đứng trên hành lang trước và nhìn theo đám bụi đằng sau xe tải cho tới khi nó dừng lại bên bờ sông. Tôi thật sự muốn được đi.
Bữa tối gồm đậu và bánh quy nguội. Pappy ghét ăn thức ăn thừa. Ông nghĩ là nhẽ ra cánh phụ nữ nên chuẩn bị bữa tối trước khi tới nhà Latcher, sau đó, ông lại phản đối việc cung cấp cho họ thực phẩm.
-Ông không hiểu tại sao cả hai phụ nữ lại phải đi, - ông lầu bầu khi ngồi xuống. - Bọn họ tò mò như mèo, đúng không, Luke? Bọn họ không thể chờ đợi ở chỗ đó, và nhìn cô bé mang thai ấy.
-Đúng, thưa ông. - Tôi đồng tình.
Ông cầu Chúa phù hộ cho thức ăn với lời cầu nguyện nhanh, và chúng tôi ăn trong im lặng.
-Đội Cardinal đang đấu với đội nào? - Ông hỏi.
-Đội Red ạ.
-Cháu muốn nghe đài không?
-Có chứ ạ.
Mỗi tối chúng tôi đều nghe các trận đấu. Còn việc gì để làm hơn nữa đây?
Chúng tôi dọn bàn và xếp đống bát đĩa bẩn vào bồn. Không đời nào Pappy nghĩ tới việc rửa bát; đó là việc của phụ nữ. Sau khi trời tối, chúng tôi ngồi trên hành lang, ở vị trí thường ngày, chờ đợi Harry Caray và đội Cardinal. Bầu không khí nặng nề và vẫn nóng hầm hập.
-Sinh một đứa trẻ phải mất bao nhiêu thời gian hả ông? - Tôi hỏi.
-Cũng tùy.
Chờ đợi mãi không thấy ông nói gì thêm, tôi lại hỏi.
-Tùy vào cái gì ạ?
-Ồ, rất nhiều thứ. Đứa thì ra ngay, còn đứa khác có khi mất vài ngày.
-Sinh cháu mất bao lâu?
Ông suy nghĩ một lát.
-Ông không nhớ nữa. Con đầu thường sinh lâu hơn.
-Ông không có mặt ở đó à?
-Không. Ông ở chỗ máy kéo. - Việc ra đời của những đứa trẻ không phải vấn đề Pappy thích bàn luận, và cuộc nói chuyện chậm lại.
Tôi thấy Tally chuồn khỏi sân trước và biến vào trong bóng tối. Gia đình Spruill đang tụ tập nấu ăn bên đống lửa.
Đội Red đạt được bốn lượt chạy ngay ở lượt chơi đầu. Pappy khó chịu nên đi ngủ. Tôi tắt đài và ngồi trên hành lang, theo dõi Tally. Lúc sau, tôi nghe tiếng Pappy ngáy.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.10.2021 20:53:44 bởi Ct.Ly>
  - 16 -


Tôi quyết định ngồi đợi cha mẹ và Gran trở về từ nhà Latcher. Tôi gần như có thể thấy cảnh tượng ở đằng kia; cánh phụ nữ ở phòng sau với Libby, cánh đàn ông ngồi bên ngoài với đám trẻ, cách xa chỗ sinh đẻ. Nhà họ chỉ ngang qua sông, không xa lắm, và tôi đang bỏ lỡ việc này.
Sự mệt mỏi tác động mạnh, và tôi gần như thiu thỉu ngủ. Trại gia đình Spruill yên lặng và tối thui, nhưng tôi không thấy Tally quay trở lại.
Tôi rón rén nhón chân đi ngang qua nhà, nghe thấy Pappy vẫn trong giấc ngủ sâu, và đi tới hành lang sau. Tôi ngồi lên lan can và hai chân đu đưa. Cánh đồng ở bên kia chuồng bò, và kho thóc là một màu xám đen khi mặt trăng khuất sau những đám mây rải rác. Rồi tôi thấy Tally đang đi một mình trên đường đồng, khi ánh trăng quét trên mặt đất trong một giây. Chị đi rất thong thả. Sau đó mọi thứ lại tối đen. Một lúc lâu không có động tĩnh gì cho tới khi chị giẫm lên một cành cây gần nhà.
-Chị Tally! - Tôi thì thào.
Sau một lúc dừng lâu, chị trả lời.
-Là em phải không, Luke?
- Ở đây, - tôi nói. - Trên hành lang.
Tally đi chân đất và bước đi không một tiếng động.
-Em đang làm gì ở đây, Luke? - Chị đứng ngay trước mặt tôi.
-Chị đi đâu vậy?
-Đi dạo một lát.
-Tại sao chị lại đi dạo?
-Chị không rõ. Đôi khi chị cần phải thoát khỏi gia đình.
Điều đó chắc chắn tôi hiểu. Chị ngồi xuống cạnh tôi, kéo váy qua đầu gối, và cũng đu đưa chân.
-Thỉnh thoảng chị chỉ muốn thoát khỏi họ, - Tally nói nhẹ nhàng. - Em đã bao giờ muốn bỏ trốn chưa, Luke?
-Không hoàn toàn như vậy. Em mới bảy tuổi. Nhưng em sẽ không sống ở đây trong suốt quãng đời còn lại.
-Em định sống ở đâu?
-St. Louis.
-Tại sao lại ở St. Louis?
-Đó là nơi đội bóng Cardinal chơi.
-Và em muốn trở thành cầu thủ đội Cardinal?
-Chắc rồi.
-Em là cậu bé thông minh, Luke ạ. Chỉ thằng ngốc mới muốn suốt đời thu hái bông. Còn chị cũng muốn đi lên phương Bắc, nơi nào đó có thời tiết mát mẻ và nhiều tuyết.
-Ở dâu?
-Chị không chắc. Có thể là Montréal.
-Đó là đâu?
-Canada.
-Ở đó họ có chơi bóng chày không?
-Chị nghĩ là không.
-Vậy thì quên nó đi.
-Không, nơi đó rất đẹp. Bọn chị đã biết điều đó ở trường học, môn Lịch sử. Nơi đó do người Pháp định cư, và đó là những gì mọi người nói.
-Chị nói được tiếng Pháp?
-Không, nhưng chị có thể học.
-Việc đó thật dễ dàng. Em có thể nói được tiếng Tây Ban Nha. Anh Juan đã dạy em năm ngoái.
-Thật không?
-Sí.
-Nói câu gì nữa xem nào.
-Buenos días. Por favor. Adios. Gracias. Senor. Cómo está ?
-Ồ!
-Hãy xem, em nói với chị việc đó rất dễ. Montréal cách đây bao xa?
-Chị không biết. Rất xa, chị nghĩ vậy. Đó là một lý do khiến chị muốn tới đó.
Bỗng trong phòng ngủ của Pappy tháp thoáng ánh đèn. Nó lướt ngang qua cuối hành lang và làm chúng tôi giật mình.
-Yên nhé! - Tôi thì thào.
-Ai đấy? - Tally cũng thì thầm, cúi người xuống như thể đạn đang chuẩn bị bắn về phía chúng tôi.
-Pappy đi uống nước đấy. Ông thường đi lên đi xuống cả đêm.
Pappy tới bếp và mở tủ lạnh. Tôi quan sát ông qua bức mành cửa. Ông uống hai cốc nước, sau :đó quay lại phòng ngủ và tắt đèn. Khi mọi thứ lại chìm trong bóng tối và yên tĩnh, Tally lên tiếng.
-Tại sao ông ấy lại thức dậy cả đêm?
-Ông lo lắng nhiều việc. Chú Ricky đang chiến đấu tại Triều Tiên.
-Ricky là ai?
-Chú ruột em. Chú ấy mười chín tuổi.
Tally suy nghĩ một lúc.
-Anh ấy có đáng yêu không?
-Em không rõ. Em không thật sự nghĩ về việc này. Chú là người bạn tốt nhất của em, và em mong chú sẽ trở về nhà.
Chúng tôi nghĩ về Ricky một lúc trong khi hai chân vẫn đung đưa và đêm lặng lẽ trôi qua.
-Hãy nói xem, Luke, xe tải rời đi trước bữa tối. Mọi người đi đâu?
-Tới nhà Latcher.
-Họ là ai?
-Dân lĩnh canh ở ngay bên kia sông.
-Tại sao phải tới đó?
-Em không thể nói cho chị.
-Tại sao không?
-Vì đó là bí mật.
-Kiểu bí mật nào?
-Bí mật lớn.
-Thôi nào, Luke. Chúng ta đã có nhiều bí mật, đúng không?
-Em nghĩ thế.
-Chị không nói cho ai về chuyện em đã nhìn trộm chị tại con sông nhỏ, đúng không?
-Đúng.
-Và nếu chị làm thế, em sẽ gặp rắc rối lớn, đúng không?
-Đúng.
-Vậy đấy. Chị có thể giữ bí mật, em cũng có thể. Vậy cái gì đang xảy ra tại nhà Latcher?
-Chị phải hứa sẽ không kể cho ai.
-Chị hứa.
Dù sao, cả thị trấn đều đã biết việc Libby mang thai. Lợi lộc gì khi giả vờ như đó là điều bí mật nhỉ?
-Được rồi, đó là vì Libby Latcher. Chị ấy đang sinh em bé. Ngay lúc này.
-Chị ấy bao nhiêu tuổi?
-Mười lăm.
-Thật kỳ quá.
-Họ muốn giữ im lặng. Họ sẽ không gọi bác sỹ vì sợ mọi người biết chuyện. Vậy nên họ đề nghị Gran đến giúp.
-Tại sao họ muốn giữ im lặng?
-Libby chưa kết hôn.
-Đừng có đùa. Bố đứa trẻ là ai?
-Chị ấy không nói.
-Không ai biết à?
-Không ai, ngoại trừ Libby.
Em biết cô bé đó không?
-Em đã gặp chị ấy trước đây, nhưng nhà Latcher nhiều con lắm. Em biết Percy, em trai Libby. Thằng đó nói nó mười hai tuổi, nhưng em không tin. Thật khó có thế biết chính xác vì chúng nó không đi học.
-Em biết cô bé đó mang thai thế nào không?
-Không.
-Vậy thì chị không nên nói cho em.
Thật tốt đối với tôi. Có lần chú Ricky đã cố gắng kể về các cô gái, nhưng việc đó thật đáng ghê tởm.
Hai chân Tally đu đưa nhanh hơn trong khi đăm chiêu suy nghĩ. Đây sẽ trở thành một chuyện ngồi lê đôi mách tuyệt vời.
-Sông không xa lắm, - chị nói.
-Cách đây khoảng một dặm.
-Bên kia họ sống bao xa?
-Một đoạn đường đất.
-Em đã từng thấy trẻ sơ sinh chưa, Luke?
-Chưa. Em đã thấy bò và chó con nhưng một cứa trẻ thì chưa.
-Chị cũng chưa.
Tally nhảy xuống, nắm tay tôi và kéo mạnh. Sức khỏe của chị thật đáng kinh ngạc.
-Chúng ta đi nào, Luke, Xem chúng ta có thể thấy được gì. - Tally lôi tôi đi trước khi tôi có thể nghĩ ra điều gì.
-Chị điên rồi, Tally. - Tôi phản đối, cố ngăn lại.
-Không, Luke, - Tally thì thầm. - Đây là việc mạo
hiểm, chỉ giống như việc ra sông vào một ngày khác thôi. Em thích điều đó, đúng không?
-Chắc thế.
-Vậy hãy tin ở chị.
-Nếu chúng ta bị bắt gặp?
-Làm sao bị bắt gặp chứ? Mọi người quanh đây đều ngủ cả. Ông em vừa mới tỉnh giấc và không nghĩ tới việc xem xét em. Thôi nào, đừng như gà con nữa.
Tôi bỗng nhận ra là mình sẽ sẵn sàng theo Tally đến bất cứ đâu.
Chúng tôi cúi thấp người sau những gốc cây, ngang qua vết xe tải, dần dần cách xa khu trại nhà Spruill. Chúng tôi có thể nghe rõ tiếng ngáy và tiếng thở nặng nề của những con người mệt mỏi đang say giấc nồng. Chúng tôi bước ra đường không một tiếng động. Tally bước nhanh, và có vẻ quen với bóng tối. Chúng tôi rẽ về hướng sông. Mặt trăng ló ra sau đám mây và soi sáng đường đi. Đường một chiều đủ rộng cho hai xe tải tránh nhau, và bông mọc ngay sát bờ ruộng. Khi mây che khuất trăng, chúng tôi phải dò dẫm từng bước, nhưng với ánh sáng lờ mờ chúng tôi có thể thấy rõ phía trước, cả hai đều chân trần.
Tôi sợ hãi nhưng cố không thể hiện ra ngoài. Tally dường như không sợ hãi - không sợ bị bắt gặp, không sợ bóng tối, không sợ việc rình rập ngôi nhà có đứa trẻ sắp sinh. Đôi khi Tally thể hiện thái độ xa cách, hơi buồn buồn và dường như già gần bằng mẹ tôi. Sau đó chị có thể trở thành đứa trẻ cười tươi khi chơi bóng chày, giống như được thấy khi đang tắm, bước sải dài trong bóng tối, và quan trọng nhất, thích đi cùng một đứa trẻ bảy tuổi.
Chúng tôi dừng lại giữa cầu và cẩn thận nhìn ngó mặt nước phía dưới. Tôi kể cho Tally về loài cá trê sông, về kích cỡ, về những thứ rác rưởi chúng ăn, và về con cá bốn mươi bốn pao chú Ricky đã bắt được. Chị nắm chặt tay tôi khi chúng tôi tới bờ sông bên kia. Cái xiết tay dịu dàng, một thiện ý và không phải là sự che chở.
Đường tới nhà Latcher dần tối hơn. Chúng tôi đi chậm vì còn phải quan sát ngôi nhà. Xung quanh trang trại tối om bởi vì họ không có đèn điện. Không có gì ngoại trừ bóng tối.
Tally nghe thấy gì đó và cứng người dừng lại. Có nhiều giọng nói, ở khoảng cách xa. Chúng tôi bước về phía bờ ruộng và kiên nhẫn đợi ánh trăng. Tôi chỉ chỗ này chỗ kia và cố tỏ ra cho Tally thấy là tôi biết rõ mọi vị trí trong nhà. Giọng nói là của đám trẻ, rõ ràng là con nhà Latcher.
Cuối cùng, trăng cũng xuất hiện, và chúng tôi thấy rõ quang cảnh trước mặt. Bóng tối sẫm của ngôi nhà là khoảng cách giống như từ chuồng bò đến hành lang sau, khoảng 350 bộ, giống như từ home-plate đến tường sân ngoài trong sân Sportsman’s Park. Những khoảng cách xa nhất trong cuộc đời tôi được đo lường bởi bức tường đó. Xe tải của Pappy đỗ tại cổng trước.
- Chúng ta nên đi vòng đường này. - Tally bình tĩnh nói, như thể đã từng lãnh đạo nhiều cuộc tấn công bất ngờ giống thế này.
Chúng tôi lủi vào ruộng bông, im lặng bám sát nhau. Bông của họ đa phần cao bằng tôi. Khi tới một khoảng trống do đám thân cây mỏng, chúng tôi dừng lại và nghiên cứu địa hình. Một ánh đèn yếu ớt trong căn phòng phía sau nhà, nơi Libby đang ở. Chúng tôi lò dò cắt ngang qua những luống bông, lặng lẽ di chuyển lại gần nhà.
Cơ hội để ai đó bắt gặp chúng tôi là rất nhỏ. Dĩ nhiên, chúng tôi không mong đợi việc này, và mọi người còn đang lo nghĩ tới những chuyện khác. Hơn nữa, cánh đồng trong đêm cũng dầy đặc và tối om; một đứa trẻ có thể bò trườn ngang qua những thân cây mà không bị phát hiện.
Người bạn đồng hành của tôi di chuyển thật khéo léo. Tally vẫn để mắt quan sát ngôi nhà và cẩn thận vạch đám thân cây sang một bên, luôn dọn một lối đi cho tôi. Chúng tôi từ từ tiến tới gần hơn. Bông mọc gần khoảng sân đất hẹp. Khi còn cách đó mười luống bông, chúng tôi dừng lại và quan sát tình hình.
Chúng tôi có thể thấy đám trẻ nhà Latcher đang tập trung ngay gần xe tải nhà tôi. Cha và ông Latcher ngồi sau thùng xe, nói chuyện rất khẽ. Đám trẻ yên lặng, rồi tất cả cùng nói luyên thuyên. Mọi người dường như đang đợi, và sau vài phút tôi có ấn tượng là họ đã phải chờ khá lâu.
Trước mặt là ô cửa sổ, và từ chỗ núp này, chúng tôi ở gần với quá trình diễn biến hơn những người còn lại trong gia đình họ và cha tôi. Chúng tôi kiếm được một chỗ khá lý tưởng; dù có ngọn đèn pha rọi từ mái nhà cũng không thể phát hiện ra.
Trong khung cửa sổ, một ngọn nến đặt trên bàn. Cánh phụ nữ chạy qua chạy lại. Từ những bóng người cao lên và nhỏ đi, tôi đoán là có vài ngọn nến trong phòng. Ánh sáng yếu ớt, bóng người đậm rõ.
- Chúng ta tiến về phía trước đi, - Tally thì thầm.
Năm phút trôi qua, và mặc dù rất sợ hãi, tôi không nghĩ chúng tôi sẽ bị bắt gặp.
Chúng tôi tiến thêm mười bước, sau đó nấp vào một chỗ an toàn khác.
-Chỗ này đủ gần rồi. - Tôi nói.
-Có lẽ.
Ánh sáng từ căn phòng tỏa ra khu đất bên ngoài. Cửa sổ không màn che, không rèm. Trong khi chờ đợi, tim tôi đập chậm lại, hơi thở từ từ bình thường. Hai mắt tập trung quan sát xung quanh, và tôi bắt đầu nghe thấy âm thanh của màn đêm - dàn đồng ca của lũ dế, lũ ếch nhái bên sông kêu ộp oạp, tiếng lầu bầu nho nhỏ của cánh đàn ông ở khoảng cách xa.
Mẹ, Gran và bà Latcher cũng thì thào nói chuyện. Chúng tôi có thể nghe thấy loáng thoáng, nhưng không thể hiểu họ nói gì.
Tất cả yên tĩnh, im ắng. Rồi Libby gào lên trong đau đớn. Tôi gần như sởn hết gai ốc. Tiếng khóc đau đớn xuyên qua cánh đồng, và tôi chắc là chị sắp chết đến nơi. Sự im lặng bao quanh xe tải. Thậm chí lũ dế dường như dừng lại trong một giây.
-Điều gì xảy ra vậy? - Tôi hỏi.
-Hiện tượng co thắt chuyển dạ. - Tally không rời mắt khỏi ô cửa sổ.
-Cái gì cơ?
Tally nhún vai.
-Chỉ là một phần thôi. Việc này, thậm chí còn tồi tệ hơn.
-Một cô gái đáng thương!
-Cô ta cần gặp nó mà.
-Chị định nói gì?
-Không.
Mọi thứ yên tĩnh trong vài phút, sau đó chúng tôi lại nghe thấy tiếng kêu khóc của Libby. Bà mẹ và Gran đang cố động viên cô gái.
-Con thực sự xin lỗi. - Libby nói đi nói lại.
-Việc này sẽ ổn thôi mà. - Giọng bà Latcher.
-Sẽ không ai biết về việc này đâu. - Gran nói.
Rõ ràng là lời nói dối, nhưng có lẽ nó tạo ra niềm tin nhỏ bé cho Libby.
-Cháu sẽ sinh ra một đứa trẻ xinh đẹp. - Mẹ tôi lên tiếng.
Một đứa bé nhà Latcher đi tha thẩn và lén tiến tới gần cửa sổ, y như hành động của tôi vài tiếng trước và Percy đã suýt ném tôi bị thương. Thằng bé hay con bé - tôi không thể phân biệt được - bắt đầu rình mò và cố xem cảnh hấp dẫn thì một đứa lớn hơn gào lên phía cuối nhà.
-Lloyd, tránh xa ô cửa sổ đó ra.
Lloyd lập tức thụt xuống và chạy vội vào trong bóng tối. Hành động sai trái này nhanh chóng được báo lại cho ông Latcher, và một trận đòn dữ dội xảy ra sau đó.
-Lần sau cha sẽ sử dụng cái que to hơn đấy! - Ông tuyên bố.
Lloyd nghĩ tới cái que hiện tại đã là quá đủ. Tiếng kêu khóc của nó vang tới tận chỗ cây cầu.
Khi kết thúc trận đòn, ông Latcher nói to.
-Cha đã nói các con phải ở đây, và tránh xa ngôi nhà cơ mà!
Chúng tôi có thể không thấy đoạn này, cũng không phải nhìn mới biết kết quả.
Nhưng tôi sợ hãi hơn khi nghĩ về tính nghiêm khắc và thời gian trận đòn nếu cha biết tôi đang ở đây lúc này. Tôi bỗng nhiên muốn rời khỏi đây.
-Mất bao lâu mới sinh được em bé? - Tôi thì thầm hỏi Tally.
Nếu có mệt mỏi, chị cũng không thể hiện ra. Chị chống hai tay lên đầu gồi, người cứng đờ, mắt không rời cửa sổ.
-Cũng tùy. Con so thường ra lâu hơn.
-Đứa trẻ thứ bảy thì mất bao lâu?
-Chị không biết. Lúc đó nó chỉ tự rơi ra, chị nghĩ vậy. -Ai có đứa thứ bảy?
-Mẹ Libby. Bảy hay tám gì đó. Em nghĩ bà ấy đẻ mỗi năm một đứa.
Tôi vừa lơ mơ ngủ thì hiện tượng co thắt chuyển dạ lần hai xảy ra. Sự việc này lại làm căn phòng náo loạn với tiếng khóc lóc rồi tiếp đến là những lời nói dịu dàng. Sau đó mọi thứ trở lại bình thường, và tôi nhận ra việc này có thể tiếp tục trong một thời gian dài.
Khi không thể giữ nổi hai mắt mở to, tôi thu mình nằm trên lớp đất ấm giữa hai luống bông,
-Chị không nghĩ là chúng ta phải rời đi rồi sao? - Tôi thì thầm.
-Không. - Tally nói, người không động đậy.
-Đánh thức em dậy nếu có chuyện gì xảy ra nhé.
Tally thay đổi tư thế. Chị ngồi bệt xuống và nhẹ nhàng đặt đầu tôi lên đùi. Chị xoa xoa vai và đầu tôi. Tôi không muốn ngủ nhưng hai mắt díp tịt lại.

Khi tỉnh giấc, lúc đầu tôi thấy mình đang ở trong một thế giới xa lạ, xung quanh là bóng tối. Tôi không động đậy. Mặt đất quanh tôi không còn ấm, hai chân lạnh toát. Tôi mở mắt và nhìn chằm chằm lên trên, cảm thấy kinh sợ cho tới khi nhận ra bên cạnh là những cây bông. Tôi nghe thấy những giọng nói khẩn trương ở rất gần.
-Libby!
Một ai đó kêu lên khiến tôi giật mình quay về thực tại. Tôi sờ quanh tìm Tally nhưng không thấy chị.
Tôi nhỏm dậy và hé mắt nhìn qua thân cây. Cảnh tượng không có gì thay đổi. Cửa số vẫn mở, nến vẫn cháy, nhưng mẹ, Gran và bà Latcher đang rất bận.
-Tally! - Tôi thì thầm, có lẽ là hơi to, nhưng chưa bao giờ tôi thấy sợ hãi hơn lúc này.
-Suỵt! - Một giọng nói đáp lại. - Chị ở đây.
Tôi có thể thấy rõ Tally đang ở bên phải. Dĩ nhiên, chị tranh thủ tìm chỗ quan sát tốt hơn. Tôi vạch đám thân cây và ngay lập tức đến bên Tally.
Chúng tôi tiến tới sát cửa sổ hơn. Khoảng cách giữa chúng tôi và gờ sân chỉ còn hai luống bông. Cúi mình thật thấp và nhìn qua thân cây, cuối cùng tôi có thể thấy khuôn mặt lờ mờ đẫm mồ hôi của mẹ, Gran và bà Latcher. Họ đang nhìn chằm chằm xuống phía dưới, dĩ nhiên, nhìn vào Libby, và chúng tôi không thể thấy được chị. Tôi không rõ mình muốn xem cảnh này, nhưng bạn đồng hành của tôi chắc chắn muốn.
Cánh phụ nữ đang thúc giục, hướng dẫn Libby rặn và hít thở, rặn và hít thở, đồng thời cũng thuyết phục chị là mọi việc sẽ tốt đẹp. Nhưng thực tế dường như không có vẻ như vậy. Cô gái đáng thương đang kêu la và rên rỉ, đôi khi gào rất to - tiếng hét ing tai the thé, âm lượng gần như không được giảm bớt qua bức tường phòng. Tiếng la đau đớn chìm sâu, xuyên qua màn đêm tĩnh lặng, và tôi tự hỏi đám em trai, em gái của Libby nghĩ gì về việc này.
Khi hết rên rỉ, gào khóc, Libby lại nói.
-Con xin lỗi, con rất xin lỗi. - Lời nói cứ tiếp tục tiếp tục, lúc này tiếp lúc kia, nhịp điệu đều đều đơn điệu từ một cô gái đang đau đớn.
-Được rồi, con yêu. - Bà mẹ cũng đáp lại hàng nghìn lần.
-Họ không thể làm gì sao? - Tôi hỏi.
-Không, họ không thể. Đứa trẻ sẽ ra khi nó thích.
Dù rất muốn hỏi Tally chính xác làm cách nào chị biết nhiều về chuyện sinh đẻ, nhưng tôi im lặng. Đó không phải là chuyện của tôi, và chị có thể sẽ nói với tôi như vậy.
Mọi thứ trong phòng trở lại yên tĩnh. Hai phụ nữ nhà Chandler cầm cốc nước và nghiêng người. Libby im lặng.
-Chuyện gì thế? - Tôi hỏi.
-Không có gì.
Khoảng yên lặng cắt ngang sự ồn ào, tạo cho tôi thời gian nghĩ tới những việc khác, việc bị phát giác. Tôi đã chứng kiến đủ rồi. Sự mạo hiểm đã đi quá xa. Tally so sánh việc này với chuyến đi tới sông Siler, nhưng hành động phiêu lưu này dường như làm chuyện đi kia bị lu mờ. Chúng tôi đã đi được vài tiếng. Nếu Pappy tình cờ bước vào phòng chú Kicky để kiểm tra tôi? Nếu một người nhà Spruill chợt tỉnh giấc và bắt đầu tìm Tally? Nếu cha thấy chán việc này và bỏ về trước?
Trận đòn chắc sẽ đau trong nhiều ngày, nếu thực tế là tôi có thể chịu dựng nổi. Tôi cảm thấy hoang mang khi Libby lại bắt đầu la hét, trong khi cánh phụ nữ khẩn nài chị hít thở và rặn.
-Nó đây rồi! - Tiếng mẹ, và ba người vội sáp vào quanh bệnh nhân.
-Tiếp tục rặn đi nào! - Gran kêu to.
Libby rên rỉ nhiều hơn.
-Đừng ngừng lại, con yêu! - Bà mẹ thầm thì. - Đừng ngừng lại.
Tally và tôi hoàn toàn bất động, như bị thôi miên trước vỡ kịch này. Tally nắm chặt tay tôi, hàm răng nghiến chặt, mắt mở to kinh ngạc.
-Nó đang ra đấy! - Mẹ nói.
Một khoảnh khắc ngắn ngủi trôi qua, chúng tôi nghe thấy tiếng khóc, một đứa bé Latcher mới đã ra đời.
-Con trai, - Gran reo to, và nâng cao đứa bé nhỏ tí, vẫn bao phủ trong máu me và đống nhau.
-Con trai, - bà Latcher nhắc lại.
Không có phản ứng gì từ Libby.
Tôi đã chứng kiến nhiều hơn những gì có thể tưởng tượng.
-Chúng ta về thôi! - Tôi nói, cố đi khỏi chỗ đó, nhưng Tally vẫn đứng nguyên.
Gran và mẹ tiếp tục săn sóc Libby trong khi bà Larcher lau rửa cho đứa trẻ. Nó đang giận dữ gì đó và gào khóc rất to. Tôi không thể không nghĩ là nó thật bất hạnh khi trở thành thành viên trong gia đình Latcher, sinh ra trong ngôi nhà nhỏ bé, bẩn thỉu với một lũ trẻ khác.
Vài phút trôi qua, và Percy xuất hiện gần cửa sổ.
-Tụi con có thể nhìn đứa trẻ không? - Nó hỏi, gần như sợ phải nhìn vào.
-Chờ một phút! - Bà Latcher trả lời.
Gia đình Latcher tập trung lại, kể cả ông bố, giờ đã trở thành ông ngoại, chờ đợi được nhìn đứa trẻ. Họ đứng ngay trước mặt chúng tôi, và tôi nín thở vì sợ họ sẽ nghe thấy hơi thở của mình. Nhưng họ không hề nghĩ tới những kẻ đột nhập mà đang nhìn vào cửa sổ, với sự kinh ngạc.
Bà Latcher mang đứa trẻ ra và cúi xuống để nó có thể gặp cả nhà. Nó gợi cho tôi nghĩ tới cái găng tay bóng chày; da gần như sẫm, và được bọc trong khăn tắm. Nó yên lặng một lúc và có vẻ không ấn tượng gì với đám đông đang quan sát.
-Libby thế nào? - Một người hỏi.
-Nó vẫn ổn. - Bà Latcher nói.
-Bọn con có thể nhìn chị không?
-Không, không phải lúc này. Chị đang rất mệt.
Bà giơ đứa trẻ lên, và đám người kia từ từ rút về trước nhà. Tôi không thấy cha, nhưng tôi biết cha đang trốn ở đâu đó gần xe tải. Cho tiền cùng không thể dụ dỗ được cha đến xem đứa bé đẻ hoang.
Trong vài phút, cánh phụ nữ dường như bận rộn như khi họ sinh đẻ, nhưng sau đó họ chậm rãi kết thúc các việc còn lại.
Trạng thái bị thôi miên của tôi biến mất, và tôi nhận ra là chúng tôi đã đi khỏi nhà quá xa.
-Chúng ta phải về thôi, Tally! - Tôi vội vã thì thào.
Tally cùng đã sẵn sàng và tôi theo sau chị khi quay về theo lối cũ, tắt ngang qua đám bông cho tới khi cách xa ngôi nhà, sau đó rẽ về hướng nam và chạỵ dọc theo luống bông. Chúng tôi dừng lại để định hướng. Không còn thấy ánh đèn từ cửa sổ. Mặt trăng biến mất. Không một hình thù hay bóng dáng nào từ phía nhà Latcher. Tất cả đều tối om.
Chúng tôi rẽ sang hướng tây, lại lần nữa cắt ngang qua đám bông, kéo chúng sang một bên để không bị quất vào mặt. Luống bông kết thúc, và chúng tôi tìm thấy con đường nhỏ dẫn tới đường chính. Hai bàn chân tôi đau rát,  
mỏi nhừ, nhưng chúng tôi không thể lãng phí thời gian. Chúng tôi chạy tới cầu. Tally muốn xem mặt nước xoáy phía dưới, nhưng tôi bắt chị phải đi nhanh.
-Chúng ta về thôi, - Tally nói.
Sang được bên này cầu, và trong một khoảnh khắc chúng tôi ngừng chạy. Chúng tôi bước đi trong im lặng, cả hai cố gắng lấy lại hơi thở. Sự mệt mỏi nhanh chóng ngấm vào cơ thể; việc mạo hiểm có cái giá của nó, và chúng tôi đang phải trả giá. Khi gần tới trang trại chúng tôi nghe có tiếng động cơ đằng sau. Ánh đèn pha! Trên cầu! Trong nỗi sợ hãi, chúng tôi vội trốn sau một ụ đất cao. Tally có thể dễ dàng chạy trước tôi, điều này thật xấu hổ nhưng tôi không có thời gian ngượng ngùng, và chị chạy chậm lại để không lạc mất tôi.
Tôi biết cha sẽ không lái nhanh khi đi trong đêm tối, trên con đường đất, với Gran và mẹ ngồi bên, nhưng ánh đèn pha vẫn chiếu vào chúng tôi. Khi tới gần nhà, chúng tôi nhảy qua đoạn rãnh cạn và chạy dọc cánh đồng. Tiếng động cơ ngày càng rõ hơn.
-Chị sẽ chờ ở đây, Luke! - Tally dừng lại gần mép sân. Xe tải gần như bắt kịp chúng tôi.
- Em chạy ra hành lang sau và chuồn vào nhé. Chị sẽ đợi tới khi họ vào trong. Nhanh lên đi!
Tôi tiếp tục chạy, và lao như bay qua góc sau nhà ngay lúc xe tải vào tới sân. Tôi gần như nín thở bò vào bếp, sau có lò dò về phòng chú Ricky, chộp vội cái gối và cuộn người nằm trên sàn, ngay sát cửa sổ. Người tôi bẩn, ướt át, và tôi cầu nguyện là Gran và cha mẹ đã quá mệt nên không ghé qua kiểm tra tôi.
Họ lặng lẽ vào bếp, thì thào nói chuyện khi cởi giầy. Một ánh đèn xiên vào phòng tôi. Những bóng người di chuyển, nhưng không ai ghé mắt xem bé Luke bé bỏng, Chỉ vài phút sau, họ lên giường, và ngôi nhà lại chìm trong im lặng. Tôi dự định chờ một chút, rồi lén vào bếp lấy khăn rửa mặt mũi chân tay, sau đó sẽ bò vào giường và đánh một giấc dài. Nếu ai nghe thấy tiếng đi lại, tôi chỉ cần nói là họ đã đánh thức tôi.
Thực hiện được kế hoạch này là điều cuối cùng tôi nhớ trước khi chìm vào giấc ngủ.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.10.2021 20:53:19 bởi Ct.Ly>
- 17 -


Tôi không rõ mình đã ngủ được bao lâu, nhưng cảm thấy như chỉ vài phút. Pappy đang cúi xuống bên tôi, hỏi tại sao tôi nằm ngủ trên sàn. Tôi cố trả lời, nhưng không thể. Tôi đờ người vì mệt mỏi.
-Chỉ có ông và cháu thôi. - Giọng ông nhát ngừng với vẻ coi thường. - Những người còn lại đang ngủ say như chết.
Vẫn không thể nghĩ ngợi hay nói năng gì, tôi theo ông tới bếp. Ông đã pha sẵn cà phê. Chúng tôi ăn bánh nguội và lúa miến trong im lặng. Dĩ nhiên, Pappy tức bực vì ông mong đợi một bữa sáng ngon lành. Và ông cáu tiết vì Gran và cha mẹ tôi đang ngủ thay vì chuẩn bị đi làm đồng.
-Con bé nhà Latcher sinh đêm qua. - Ông thông báo.
Con bé nhà Latcher cùng đứa trẻ mới sinh đang quấy rầy vụ bông và bữa sáng của chúng tôi. Pappy rõ ràng có thể kiềm chế được tâm trạng tức giận.
-Chị ấy đã sinh rồi ư? - Tôi cố tỏ vẻ ngạc nhiên.
-Đúng, nhưng họ vẫn không tìm ra bố đứa trẻ.
-Họ vẫn chưa ạ?
-Không. Họ muốn giữ bí mật, vì vậy đừng nói gì về việc này nhé.
-Vâng, thưa ông.
-Nhanh lên! Chúng ta phải đi rồi.
-Mọi người về lúc mấy giờ ạ?
-Khoảng ba giờ.
Ông rời bếp và bắt đầu khởi động máy kéo. Tôi xếp đống bát đĩa vào bồn và ghé qua phòng cha mẹ. Họ nằm im phăng phắc; âm thanh duy nhất là tiếng thở sâu. Tôi muốn cởi giầy, bò vào giường nằm cùng cha mẹ, và ngủ một tuần liền. Thay vì thế, tôi phải tự kéo lê mình ra ngoài. Mặt trời mới nhú đằng đông. Từ xa, tôi có thể thấy bóng những người Mexico đi bộ ra đồng.
Gia đình Spruill đang lê bước từ sân trước. Tally không thấy đâu. Tôi hỏi Bo, và anh ta nói chị bị mệt. Có lẽ, chị bị đau bụng. Pappy nghe thấy việc này, và tâm trạng thất vọng lên tới cực độ. Lại một nhân công nữa nằm trên giường.
Tất cả những gì tôi có thể nghĩ là: tại sao tôi lại không nghĩ ra một cơn đau bụng quằn quại?
Chúng tôi đi một phần tư dặm tới chỗ toa moóc bông đã chất đầy một nửa, nhô lên giống bức tượng giữa đồng và kêu gọi mọi người quay lại một ngày làm việc cật lực mới. Chúng tôi từ từ lấy bao và bắt đầu hái. Chờ Pappy tiến vào một luống bông, tôi liền di chuyển ra cách chỗ ông thật xa và xa hẳn gia đình Spruill.
Tôi làm việc chăm chỉ khoảng một tiếng hoặc hơn một chút. Bông ẩm ướt và mềm mại khi chạm tay vào, và mặt trời cũng chưa lên quá đỉnh đầu. Tôi không bị tác động bởi tiền bạc hay nỗi sợ hãi; hơn hết, tôi muốn có nơi nào đó mềm mại để đánh một giấc. Khi chìm sâu trong cánh đồng, không ai có thể tìm thấy, và bông trong bao cũng đủ tạo thành tấm nệm nhỏ tuyệt vời, tôi nằm lăn ra dât.
Cha xuất hiện vào giữa buổi, và trong số tám mươi mẫu bông, vô tình chọn ngay luống sát chỗ tôi.
-Luke! - Cha giận dữ khi vấp phải tôi.
Cha giật mình nên chưa kịp rầy la. Khi tỉnh hẳn, tôi liền giải thích mình bị đau bụng quằn quại, đầu cũng đau, và trong chừng mực cho phép tôi nói ra sự thật là đêm qua mình không ngủ được nhiều.
-Tại sao không?
-Con chờ cha mẹ. - Rõ ràng có một phần sự thật trong câu nói này.
-Tại sao phải đợi cha mẹ?
-Con muốn biết tin về Libby.
-Được, nó đã sinh em bé. Con còn muốn biết gì nữa?
-Pappy đã cho con biết rồi. - Tôi chầm chậm đứng dậy và cố tỏ vẻ ôm yếu.
-Về nhà đi. - Cha ra lệnh và tôi vội rời cánh đồng ngay, không nói một lời.

Các sư đoàn của Trung Quốc và Bắc Triều Tiên đã phục kích đoàn hộ tống của Mỹ gần Pyonggang, làm chết ít nhất tám mươi người và bắt nhiều tù binh. Edward R. Murrow mở đầu bản tin thời sự hàng đêm, và Gran bắt đầu cầu nguyện. Như thường lệ, bà ngồi bên bàn bếp, đối diện với tôi. Mẹ đang lúi húi bên bồn rửa, vội dừng tay, nhắm mắt cầu nguyện. Tôi nghe thấy tiếng Pappy ho ở hành lang sau. Ông cũng đang lắng nghe.
Cuộc đàm phán hòa bình lại bị bãi bỏ lần nữa, và người Trung Quốc đang chuyển thêm quân tới Triều Tiên. Murrow nói là hiệp ước ngừng bắn, đã từng có lúc đến rất gần, giờ dường như là không thể. Tối nay tin tức trở nên nặng nề hơn, hoặc có lẽ chỉ vì chúng tôi thấy mệt mỏi hơn bình thường. Chương trình quảng cáo thương mại kết thúc bản tin thời sự, sau đó Murrow trở lại với một câu chuyện về trận động đất.
Gran và mẹ đi lại quanh bếp khi Pappy bước vào. Ông xoa rối bù mái tóc tôi như thể mọi việc đều tốt đẹp.
-Bữa tối có món gì? - Ông hỏi.
-Sườn lợn, - mẹ trả lời.
Sau đó cha xuất hiện, và chúng tôi cùng vào bàn. Sau khi Pappy cầu Chúa phù hộ cho thức ăn, tất cả chúng tôi cầu nguyên cho chú Ricky. Chúng tôi lẳng lặng ăn, không trò chuyện; mọi người đều nghĩ tới Triều Tiên, nhưng không ai muốn nhắc đến.
Khi mẹ đang nói về một buổi học chủ nhật, tôi phát hiện có tiếng động khẽ ngay mành cửa ở hành lang sau. Không ai nghe thấy, trừ tôi. Trời lặng gió nên cửa không thể bị xô đẩy. Tôi ngừng nhai.
-Gì thế, Luke? - Gran hỏi.
-Cháu nghĩ, đã nghe thấy gì đó. - Tôi nói.
Mọi người nhìn ra cửa. Không có gì. Họ tiếp tục ăn.
Sau đó Percy Latcher bước vào bếp, và tất cả chúng tôi cứng đờ người. Cậu ta bước hai bước qua cửa rồi dừng lại, như thể bị lạc. Chân đất, từ đầu đến chân phủ đầy bụi, mắt đỏ quạch như thể đã khóc rất lâu. Cậu ta nhìn chúng tôi; chúng tôi nhìn cậu ta; Pappy đứng dậy.
-Đó là Percy Latcher. - Tôi nói.
Pappy đứng nguyên tại chỗ, tay phải vẫn nắm con dao. Đôi mắt Percy đờ đẫn, và khi cậu ta thở, tiếng than vãn trầm phát ra như đang cố nén giận dữ. Hoặc có lẽ cậu ta bị thương, hay ai đó bên kia sông bị đau và cậu ta chạy tới chỗ chúng tôi yêu cầu sự giúp đỡ.
-Có việc gì, cậu bé? - Pappy quát to.  Phong cách lịch sự tối thiểu là phải gõ cửa trước khi vào.
Percy đưa ánh mắt thản nhiên nhìn Pappy.
-Ricky đã làm chuyện đó.
-Ricky làm gì? - Giọng Pappy bỗng nhẹ nhàng hơn, có vẻ yếu thế.
-Ricky đã làm việc đó.
-Ricky làm gì? - Pappy nhắc lại.
-Đó chính là con anh ta, - Percy nói, - là của Ricky.
-Im đi, cậu bé! - Pappy hét lên và giữ chặt mép bàn như thể ông sắp lao ra đập thằng bé đáng thương kia.
-Chị ấy không muốn làm việc đó, nhưng anh ta đã lôi kéo. - Percy nhìn tôi chằm chằm thay vì nhìn Pappy. - Sau đó anh ta bỏ ra mặt trận.
-Đó là những gì cô ta nói? - Pappy giận dữ hỏi.
-Không phải gào lên, ông Eli. - Gran nói. Nó chỉ là đứa trẻ.
Gran hít hơi thở sâu, và dường như là người đầu tiên xem xét tới khả năng bà có thể đã có thêm đứa cháu nội.
-Đó là lời chị ấy kể, - Percy khẳng định. - Và chính là sự thật.
-Luke, đi về phòng và đóng cửa lại. Cha đẩy tôi ra khỏi trạng thái thôi miên.
-Không, - mẹ nói trước khi tôi đi. - Việc này ảnh hưởng tới tất cả chúng ta. Nó có thể ở lại.
-Nó không nên nghe chuyện này.
-Nó đã nghe rồi.
-Nó nên ở lại. - Gran đứng về phía mẹ.
Họ cho là tôi muốn ở lại. Điều tôi thật sự muốn vào lúc này là chạy ra ngoài tìm Tally, và đi dạo, tránh xa cái gia đình điên rồ của chị, tránh xa chú Ricky và Triều Tiên, tránh xa Percy Latcher. Nhưng tôi không nhúc nhích.
-Cha mẹ cháu đã bảo cháu tới đây à? - Mẹ hỏi.
-Không, thưa cô. Họ không biết cháu ở đâu. Đứa trẻ khóc suốt ngày. Chị Libby như muốn phát điên, luôn nói về việc nhảy cầu tự tử, và chị kể với cháu là Ricky đã làm việc đó.
-Chi ấy đã kể cho cha mẹ cháu?
-Vâng, thưa cô. Bây giờ mọi người đều biết.
-Cháu nói tất cả mọi người trong gia đình đều biết?
-Vâng, thưa cô. Chúng tôi không nói với ai khác.
-Không nói, - Pappy lẩm bẩm.
Ông lại ngồi xuống ghế, hai vai trũng xuống, nỗi thất vọng dâng lên rất nhanh. Nếu Libby Latcher tuyên bố Ricky là cha đứa trẻ, thì mọi người sẽ tin cô bé. Ricky không có ở nhà để bảo vệ mình. Và trong một cuộc tranh cãi nghiêm túc, Libby chắc chắn sẽ được nhiều người ủng hộ hơn Ricky. Chú sẽ trở thành kẻ gây tai hoạ.
-Cháu ăn tối chưa, bé trai? - Gran hỏi.
-Chưa ạ.
-Cháu đói không?
-Có, thưa bà.
Mặc dù bàn đầy thức ăn nhưng sẽ không ai muốn ăn nữa. Gia đình Chandler chúng tôi chắc chắn vừa mất đi sự ngon miệng. Pappy đứng bật dậy.
-Nó có thể dùng đĩa của tôi. - Ông rời bếp, và bước ra hành lang trước. Cha im lặng đi theo.
-Ngồi đây, con trai. - Gran chỉ ghế của Pappy.
Hai người chuẩn bị một đĩa đầy thức ăn cùng ly trà đường. Cậu ta ngồi xuống và từ từ ăn. Gran bước ra hành lang trước, bỏ tôi và mẹ ngồi lại với Percy. Cậu ta không nói gì ngoại trừ những câu cần thiết..

Sau cuộc tranh luận dài ở hành lang trước, cuộc gặp mà tôi và Percy bỏ lỡ vì bị đuổi ra hành lang sau, Pappy và cha gọi cậu ta lên xe để đưa về nhà ngay khi trời vừa tối, Tôi ngồi trên đu cùng Gran lúc họ lái xe đi còn mẹ đang bóc đậu bơ.
-Pappy sẽ nói chuyện với ông Latcher ạ? - Tôi hỏi.
-Mẹ chắc vậy. - Mẹ trả lời thờ ơ.
-Họ sẽ nói về chuyện gì? - Tôi muốn hỏi rất nhiều vì cho rằng bây giờ mình có quyền được biết.
-Ồ, bà chắc là họ sẽ nói về đứa bé. - Gran nói. - Và về Ricky cùng Libby.
-Họ sẽ đánh nhau?
-Không. Họ sẽ đi tới thỏa thuận.
-Mọi người muốn là không nói gì về chuyện đứa trẻ, và giữ cho tên Ricky tránh xa nó.
-Việc này gồm cả con nữa đấy, Luke, - mẹ nói. - Đây là một bí mật đặc biệt.
-Con không kể cho ai đâu. - Tôi cam đoan.
Ý nghĩ là mọi người biết gia đình Chandler có quan hệ nào đó với gia đình Latcher làm tôi thấy hoảng sợ.
-Chú Ricky thật sự đã làm việc đó đúng không?
-Dĩ nhiên không, - Gran khẳng định. - Gia đình Latcher không đáng tin cậy. Bọn họ không phải tín đồ Cơ đốc ngoan đạo; đó là nguyên nhân con gái mang thai. Có thể họ muốn moi tiền.
-Tiền ư?
-Chúng ta chưa biết họ muốn gì. - Mẹ nói.
-Mẹ có nghĩ chú ấy đã làm việc, đó?
Mẹ lưỡng lự giây lát trước khi nói nhẹ nhàng.
-Không.
-Con cũng không nghĩ chú ấy làm thế. - Tôi đồng tình.
Tôi sẽ luôn bảo vệ chú Ricky, và nếu ai đó đề cập tới đứa trẻ nhà Latcher tôi sẵn sàng đánh nhau ngay.
Nhưng Ricky là mối nghi ngờ có khả năng nhất, và tất cả chúng tôi biết điều đó. Gia đình Latcher hiếm khi rời trang trại. Có một anh chàng tên là Jeter ở cách đây hai dặm, nhưng tôi chưa bao giờ thấy anh ta lảng vảng gần bờ sông. Không một ai sống gần nhà Latcher ngoài chúng tôi. Chú Ricky là con mèo đực gần nhất.
Công việc nhà thờ bỗng nhiên trở nên quan trọng, và cánh phụ nữ liên tục nói về việc đó. Tôi muốn hỏi nhiều hơn về đứa trẻ nhà Latcher, nhưng không thể xen vào. Cuối cùng, tôi đành từ bỏ ý định và vào bếp nghe trận đấu của đội Cardinal.
Tôi rất muốn được cùng đến nhà Latcher, và nghe trộm cuộc nói chuyện giữa cánh đàn ông khi họ giải quyết vấn đề này.
Sau khi bị bắt đi ngủ một lúc, tôi tỉnh giấc, cố chống lại cơn buồn ngủ vì nghe thấy giọng nói. Khi ông bà nội nói chuyện trên giường, tôi có thể nghe được tiếng thì thầm qua hành lang hẹp. Nhưng tôi không hiểu được câu nào, vì họ cố nói nhỏ hết mức. Nhưng thỉnh thoảng, khi lo lắng hay khi nghĩ về chú Ricky, họ buộc phải nói chuyện vào đêm khuya. Nằm trên giường của chú, lắng nghe câu chuyện giữa ông bà, tôi biết mọi việc rất nghiêm trong.
Cha mẹ ngồi ở hành lang trước, chờ gió mát và khoảnh khắc dịu bớt sau cái nóng hầm hập ban ngày. Lúc đầu họ thì thầm, nhưng nỗi lo lắng dường như quá nặng nề, và những câu nói không tài nào kìm nén được. Chắc là tôi đã ngủ say, cha mẹ trò chuyện to hơn bình thường.
Tôi rón rén bò ra khỏi giường và trườn qua sân nhà như một con rắn. Qua cửa sổ, tôi liếc ra ngoài và thấy cha mẹ ngồi quay lưng về phía tôi tại chỗ quen thuộc, và chỉ cách vài bước chân.
Tôi nghe như nuốt lấy từng lời. Mọi chuyện không được thuận lợi tại nhà Latcher. Libby ở đâu đó đằng sau nhà với đứa trẻ gào khóc liên tục. Dường như tất cả người nhà Latcher xung đột với nhau và mệt lử bởi tiếng kêu khóc. Bà Latcher giận dữ với Percy vì đã tới nhà chúng tôi, nhưng cậu ta thậm chí còn giận dữ hơn khi nói chuyện về Libby. Libby kể là chị không muốn làm chuyện ngớ ngẩn ngu ngốc ấy với chú Ricky, nhưng chú đã ép buộc chị. Pappy phủ nhận việc này, nhưng ông không có đủ lý lẽ để bênh vực con trai. Ông nghi ngờ chuyện chú Ricky đã từng gặp gỡ Libby.
Nhưng gia đình Latcher có nhân chứng. Chính ông Latcher bắt gặp họ hai lần, sau lễ Giáng sinh, Ricky lái xe tải của Pappy tới sân trước nhà Latcher và đưa Libby đi dạo. Hai người tới Monette và Ricky đã mua cho Libby một lon soda.
Cha đoán nếu đúng vậy thì rõ ràng chú Ricky chọn thị trấn đó bởi rất ít người ở Monette biết chú. Ricky chưa bao giờ bị ai bắt gặp đi cùng con gái người lĩnh canh tại Black Oak.
-Cô bé. đó khá xinh. - Mẹ nhận xét.
Nhân chứng tiếp theo là thằng bé gần mười tuổi trong đám trẻ đứng túm tụm quanh cầu thang trước. Ông Latcher gọi nó ra và nó kể đã từng thấy xe tải của Pappy gần một bụi cây, cuối luống bông trên đồng. Nó đã lén trèo lên xe và thấy Ricky đang hôn Libby. Nó không nói ra vì sợ hãi, và nó mới tiết lộ chuyện này chỉ vài tiếng trước.
Gia đình Chandler, dĩ nhiên, không có nhân chứng. Bên bờ sông bên này, không hề có dấu hiệu nào về cuộc tình bắt đầu nảy nở. Chú Ricky chắc chắn không kể cho ai. Pappy sẽ đập chú ngay.
Ông Latcher khẳng định, đã từ lâu ông thấy nghi ngờ Ricky chính là cha đứa trẻ, nhưng Libby phủ nhận. Và thực tế là có hai chàng trai khác cũng tỏ ra quan tâm tới Libby. Nhưng hiện nay chị ấy đã kể hết mọi chuyện - chính Ricky đã cưỡng ép, và chị ấy không muốn có đứa trẻ.
-Họ muốn chúng ta nhận nó? - Mẹ hỏi.
Tôi gần như rên rỉ trong đau khổ.
-Không, anh không nghĩ vậy.
Mẹ nghĩ là đứa trẻ xứng đáng có được một gia đình tốt. Cha nói chuyện đó không phải là vấn đề cho tới khi Ricky công nhận nó là con chú. Nhưng chắc gì chú Ricky đã biết.
-Anh thấy đứa trẻ chưa?
-Chưa.
-Nó là bản sao của Ricky. - Mẹ khẳng định.
Hồi ức của tôi về đứa trẻ mới sinh nhà Latcher, một vật thể nhỏ bé, gợi cho tôi, vào lúc đó, nghĩ tới cái găng tay bóng chày. Nó rõ ràng trông như con người. Nhưng mẹ và Gran đã từng trải qua hàng giờ phân tích khuôn mặt của mọi người và xác định đứa trẻ giống ai, cặp mắt sống mũi và mái tóc thừa hưởng từ ai. Họ thường ngắm đám trẻ tại nhà thờ và nhận xét.
-Ồ, đứa trẻ rõ ràng là người nhà Chisehall.
Hay:
-Hãy nhìn vào đôi mắt này, nó giống hệt bà nội.
Đối với tôi, tất cả bọn trẻ mới sinh đều giống búp bê.
-Vậy em nghĩ nó là người nhà Chandler?
-Không nghi ngờ gì về chuyện này.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.10.2021 10:06:11 bởi Ct.Ly>
-18-
 
 
Lại một ngày thứ bảy, nhưng không có sự háo hức với chuyện đi thị trấn. Tôi biết chúng tôi sẽ đi bởi chưa bao giờ chúng tôi bỏ qua hai tuần liên tục. Gran cần mua một số hàng hoá, đặc biệt là bột mỳ và cà phê, còn mẹ cần tới hiệu thuốc. Cha không tới cửa hàng Hợp tác xã suốt hai tuần. Tôi không được quyền biểu quyết trong chuyện này, nhưng mẹ biết bộ phim ngày thứ bảy quan trọng thế nào đối với sự phát triển của một đứa trẻ, đặc biệt là trẻ nông dân có quá ít mối giao tiếp với thế giới bên ngoài. Vâng, chúng tôi sẽ vào thị trấn, nhưng không có vẻ hăng hái như tnường lệ.
Nỗi lo sợ mới bao trùm lên chúng tôi, nó còn khủng khiếp hơn chuyện Hank Spruill. Nếu ai đó nghe được chuyện nhà Latcher thì sao? Chỉ cần một người, một lời thì thầm cuối phố Main, và chuyện ngồi lê đôi mách sẽ ngay lập tức lan truyền khắp thị trấn. Cánh phụ nữ trong cửa hàng Pop & Pearl sẽ đánh rơi làn và bịt miệng vì sửng sốt. Cánh nông dân già tụ tập quanh cửa hàng Hợp tác xã sẽ cười mỉa mai.
-Tôi chẳng thấy ngạc nhiên.
Bọn thanh thiếu niên ở nhà thờ sẽ chỉ vào tôi như thể tôi chính là kẻ có tội. Thị trấn sẽ biết rõ tin đồn như là một sự thật đáng tin, và dòng máu nhà Chandler sẽ mãi mãi bị ô uế.
Vì vậy tôi không muốn tới thị trấn. Tôi muốn ở nhà, chơi bóng chày hay đi dạo với Tally.
Vấn đề này được bàn đến trong bữa sáng. Tâm trạng mọi người dịu bớt tí chút, và tôi nghĩ đó là vì tất cả chúng tôi đã biết sự thật. Chú Rickỵ để lại sau lưng một kỷ niệm nhỏ. Tôi tự hỏi không hiểu chú có biết chuyện Libby và đứa bé không, nhưng tôi không định nói ra băn khoăn này. Tôi sẽ hỏi mẹ sau vậy.
-Lễ hội Carnival đang ở trong thị trấn. - Pappy thông báo.
Bỗng nhiên hôm nay trở nên tươi sáng hơn. Sự lưỡng lự bị dập tắt giữa chừng.
-Chúng ta sẽ đi lúc nào ạ? - Tôi háo hức hỏi.
-Như thường lệ. Sau bữa trưa.
-Chúng ta có thể ở lại bao lâu?
-Chúng ta sẽ xem xét chuyện đó.
Carnival là lễ hội gồm các trò vui chơi giải trí do một nhóm người Gipxi du mục với giọng nói rất buồn cười, thường sống ở Florida vào mùa đông, và kéo đến các thị trấn trồng trọt nhỏ vào mùa thu, khi đang thời kỳ thu hoạch vụ mùa và người dân đã có tiền trong túi. Họ thường đến bất ngờ vào thứ năm và kéo dài qua kỳ nghỉ cuối tuần. Không có trò gì kích động Black Oak giống như lễ hội Carnival.
Mỗi năm một nhóm khác nhau tới thị trấn của chúng tôi. Nhóm thì có voi và rùa khổng lồ. Nhóm khác không có loài vật nhưng lại có những người kỳ lạ - anh chàng tí hon nhào lộn, cô gái có bàn tay sáu ngón, người có ba chân. Nhưng tất cả các nhóm hội Carnival đều có vòng đu, vòng quay ngựa gỗ, và hai hoặc ba người cưỡi kêu cót két, lách cách và nói chung thường khiến tất cả các bà mẹ khiếp sợ. Nhóm Sling có vòng đu quay với những dây xích quay càng lúc càng nhanh cho tới khi người cưỡi đu bay song song với mặt đất rồi kêu thét lên và van vỉ xin dừng lại. Hai năm trước ở Monette, khi một đây xích dứt một cô bé bị văng ra ngang chừng và rơi xuống lề đường, Thế mà ngay tuần sau nhóm Sling có mặt tại Black Oak, với những dây xích mỏi và vẫn nhiều người xếp hàng chờ tới lượt.
Tại nhiều quán lều, bạn có thể ném vòng, ném phi tiêu và bắn súng hơi trúng thương. Một số nhóm Carnival có thầy bói, nhóm khác có quán tranh ảnh, có nhóm còn có cả thầy phù thủy. Tất cả các nhóm đều ầm ĩ, sặc sỡ và đầy hứng thú. Thông tin lan truyền rất nhanh, mọi người ùn ùn kéo tới, và chỉ trong vài tiếng Black Oak sẽ đông nghẹt. Tôi rất muốn tham gia.
Có lẽ, tôi nghĩ, hứng thú với lễ hội Carnival sẽ át hẳn sự tò mò về Libby Latcher. Tôi nuốt vội miếng bánh và chạy ra ngoài.
-Hội Carnival đang ở thị trấn. - Tôi thì thầm với Tally khi chúng tôi gặp nhau bên máy kéo.
-Nhà em sẽ đi phải không?
-Dĩ nhiên. Không ai bỏ qua lễ hội Carnival cả.
-Chị biết một bí mật. - Tally thì thầm, hai mắt đảo quanh.
-Gì vậy?
-Chuyện chị nghe được đêm qua.
-Chị nghe ở đâu?
-Hành lang trước.
Tôi không thích sự tò mò của chị khiến tâm trí tôi căng thẳng.
-Cái gì?
Tally cúi sát hơn.
-Về Ricky và con gái nhà Latcher. Chị nghĩ là em đã có chú em họ mới.
Câu nói thật tàn nhẫn, và mắt Tally trông có vẻ hèn hạ. Đây không phải là Tally mà tôi quen biết.
-Chị làm gì ở đó? - Tôi bực tức hỏi.
-Không phải chuyện của em.
Pappy ra khỏi nhà và bước tới bên máy kéo.
-Chị không được kể cho ai. - Tôi nói qua hàm răng nghiến chặt.
-Chúng ta cùng giữ bí mật, nhớ chưa? - Tally quay người.
- Đúng.
 
Tôi ăn trưa rất nhanh, sau đó khẩn trương thực hiện nhiệm vụ tự kỳ cọ và tắm rửa. Mẹ biết tôi háo hức vào thị trấn, vì vậy mẹ không lãng phí thời gian với việc tắm rửa của mẹ.
Tất cả mười người Mexico cùng ngồi sau xe tải với hai cha con, và chúng tôi rời trang trại. Cowboy đã hái bông suốt cả tuần với xương sườn gẫy, một thực tế không được Pappy và cha để ý. Họ rất khâm phục sức chịu đựng của anh ta.
- Họ là người mạnh mẽ. - Pappy đã nói. vậy.
Gia đình Spruill cũng chạy nhanh, cố theo kịp chúng tôi. Tally đã kể về lễ hội Carnival, và thậm chí Trot cũng tham gia với vẻ thích thú.
Khi ngang qua sông, tôi nhìn chăm chú xuống con đường đồng dẫn tới nhà Latcher, nhưng không thể thấy rõ cái lều nhỏ bé của họ. Tôi liếc sang cha. Cha cũng đang nhìn, hai mắt nhíu lại, gần như giận dữ. Tại sao những con người đó có thể xâm phạm vào cuộc sống của gia đình Chandler?
Chúng tôi đi dọc theo đường lát sỏi, và rồi những cánh đồng nhà Latcher lùi lại phía sau. Khi dừng lại trên Xa lộ, một lần nữa tôi lại phấn khởi nghĩ tới lễ hội Carnival.
Dĩ nhiên tài xế của chúng tôi, không bao giờ vội vàng. Với chiếc xe chất đầy người thế này, tôi không rõ nó có thể đạt tới tốc độ ba bảy không, và Pappy chắc chắn không bao giờ tăng tốc. Dường như chúng tôi đi mất một giờ.
 
Xe tuần tra của ông Stick đỗ bên nhà thờ Cơ đốc. Xe cộ trên phố Main đã thưa thớt hơn, hai bên lề đường mọi người đi lại đông đúc. Chúng tôi dừng xe, và đám người Mexico tản ra tứ phía. Ông Stick xuất hiện và bước về phía chúng tôi. Gran và mẹ đi về phía dãy cửa hàng. Tôi ở lại với ông và cha. Chắc chắn sắp có chuyện nghiêm trọng.
-Xin chào, Eli, Jesse! - Ông Stick nói, mũ đội lệch sang một bên, một lá cỏ ló ra bên khóe miệng.
-Chào, Stick! - Pappy đáp lại.
Còn cha chỉ gật đầu. Họ không tới thị trấn để trò chuyện với Stick, và sự khó chịu được giấu kín dưới vẻ bề ngoài.
Tôi đang nghĩ tới việc bắt thằng bé nhà Spruill.
-Tôi không quan tâm anh làm gì. - Pappy phản ứng ngay, vẻ giận dữ tăng lên rất nhanh. - Chỉ cần đợi khi vụ mùa xong xuôi.
-Chắc là ông có thể chờ đợi một tháng nữa. - Cha nói thêm.
Ông Stick nhai nhai cọng cỏ.
-Tôi nghĩ vậy.
-Nó là một nhân công tốt, - cha nói. - Và còn rất nhiều bông. Ông bắt nó bây giờ, chúng tôi sẽ mất thêm sáu nhân công làm việc nữa đấy. Ông biết rõ những kiểu người ấy mà.
-Tôi nghĩ tôi có thể chờ. - Stick miễn cưỡng. Ông dường như sốt ruột muốn đi tới một thỏa hiệp. - Tôi đã nói chuyện với nhiều người, và tôi không chắc cậu bé nhà anh đã kể sự thật.
Ông ta nhìn tôi một lúc lâu khi nói điều này và tôi giả bộ chú ý đá đá viên sỏi.
-Hãy để nó ngoài chuyện này, ông Stick, - cha khó chịu. - Nó chỉ là trẻ con.
-Nó mới bảy tuổi. - Pappy bực tức. - Tại sao anh không đi tìm những nhân chứng thật sự.
Hai vai Stick kéo giật lại như thể bị đánh.
-Thế này nhé, - Pappy nói. - Anh hãy để Hank yên cho tới khi bông thu hoạch xong, rồi tôi sẽ tới thị trấn và báo cho anh biết. Lúc đó tôi không quan tâm anh sẽ làm gì với nó.
-Được đấy. - Ông Stick đồng ý.
-Nhưng tôi vẫn nghĩ anh không có vụ kiện nào đâu. Ba đánh một, Stick ạ, và không vị bồi thẩm nào muốn kết án vụ này.
-Chúng ta sẽ thấy thôi. - Stick vênh váo nói.
Ông ta bỏ đi, thọc hai tay vào túi quần, với thái độ nghênh ngang khiến chúng tôi khó chịu.
-Cháu có thể tới lễ hội Carnival? - Tôi xin phép.
-Dĩ nhiên. - Pappy gật đầu.
-Con muốn bao nhiêu tiền? - Cha hỏi.
-Bốn đô ạ.
-Cha nghĩ hai là đủ.
-Ba đô được không ạ?
-Hai đô rưỡi, được chứ?
-Vâng, thưa cha.
Tôi chạy len lỏi qua nhiều người, và tới ngay sân bóng chày ở giữa cửa hàng Hợp tác xã và rạp Dixie. Lễ hội Carnival bao kín sân bóng. Vòng đu quay đứng giữa, bao quanh là những ghế cưỡi nhỏ, và các quán lều. Âm nhạc inh tai phát ra từ những cái loa trên vòng quay ngựa gỗ và trò kéo quân. Hàng người dài đang chờ tới lượt. Tôi có thể ngửi thấy mùi bỏng ngô và cái gì đó rán trong dầu.
Tôi tìm thấy xe kẹo bông. Giá chỉ một xu. Tôi gặp Dewayne giữa đường khi đang xem vài anh lớn chơi trò bắn súng hơi vào lũ vịt bơi trong hồ. Họ không bắn trúng con nào, và điều này là vì, theo như lời Pappy, các nòng súng đã bị bẻ cong.
Táo ướp đường cũng giá một xu. Chúng tôi mua một miếng và cùng đi xem lễ hội Carnival. Một bà phù thủy mặc váy đen dài, tóc đen, mọi thứ đều đen, và. chỉ với hai mươi lăm xu bà ta có thể nói về tưởng lai của bạn. Một bà già có đôi mắt đen có thể làm việc tương tự, với giá tương tự, bằng quân bài. Một người đàn ông ăn mặc lòe loẹt với cái micro có thể đoán ra tuổi hay cân nặng của bạn với giá một hào. Nếu ông ta đoán lệch ba tuổi hay mười pao, bạn sẽ nhận được phần thưởng. Giữa đường có một loạt những trò chơi thông thường: trò bóng mềm ném bình sữa, ném bóng chày vào vòng nhỏ, ném phi tiêu vào bóng bay, và ném vòng cổ chai.
Chúng tôi đi dạo khắp sân, thưởng thức tiếng ồn ào và sự hứng thú. Đám đông tụ tập quanh một vũ đài có vẻ nhộn nhịp và chúng tôi chen vào xem. Tấm biển hiệu thông báo sự có mặt của Samson, đô vật vĩ đại nhất thế giới, đến từ Ai Cập" và phía dưới là tấm thảm vuông với các cọc lót ở bốn góc và dây thừng bao quanh. Samson không có trên vũ đài, nhưng sắp xuất hiện, theo như lời Delilah, một cô gái cân đối, cao lớn, đang nói vào micro. Quần áo để hở toàn bộ đôi chân và phần lớn vùng ngực. Tôi chắc chắn trước đây mọi người chưa bao giờ thấy quá nhiều da thịt phơi bày trước công cộng ở Black Oak. Cô ta giải thích với khán giả, một đám đông im ắng đa phần là đàn ông, luật chơi rất đơn giản. Samson trả một ăn mười cho ai có thể cầm cự trên sàn đấu với anh ta trong một phút.
-Chỉ sáu mươi giây! - Cô ta hét to. - Và số tiền thuộc về bạn!
Giọng nói rất lạ, đủ thuyết phục chúng tôi là họ đến từ nước khác. Tôi chưa bao giờ thấy người Ai Cập; mặc dù qua những bài học ngày chủ nhật tôi biết Đức Mose đã từng có vài cuộc phiêu lưu ở đó.
Cô ta diễu qua diễu lại trước vũ đài, tất cả các ánh mắt chăm chú dõi theo mỗi cử động của cô nàng.
-Trong chuyến đi của chúng tôi, Samson đã thắng ba trăm trận liền. - Cô ta nói giọng châm chọc. - Thực ra, lần cuối Samson đã bị thua ở Nga, khi ba người cùng xông vào đánh anh ấy, và họ đã phải chơi trò gian lận để được thắng cuộc.
Âm nhạc từ cái loa treo trên biển hiệu vang lên ầm ĩ.
-Và bây giờ, thưa các quý bà và quý ông! - Delilah gào to át tiếng nhạc. - Tôi xin giới thiệu với các bạn, đô vật duy nhất, vĩ đại nhất thế giới, Samson lạ thường!
Tôi nín thở.
Samson xuất hiện từ sau tấm màn và nhảy lên vũ đài giữa tiếng vỗ tay hờ hững. Tại sao chúng tôi phải vỗ tay tán thưởng? Anh ta đến đây để đánh bại chúng tôi. Mái tóc của anh ta là thứ đầu tiên tôi chú ý. Đen, quăn và buông dài xuống hai bờ vai giống như tóc phụ nữ. Tôi đã thấy tranh minh hoạ theo chuyện trong kinh Cựu ước và đàn ông đều có mái tóc như vậy, nhưng đó là năm nghìn năm trước. Samson trông giống người khổng lồ, với thân hình săn chắc, các đường cơ bắp nổi thành cục quanh bờ vai và dưới ngực. Hai cánh tay được bao phủ bởi một lớp lông đen trông khỏe mạnh, gân guốc. Và để chúng tôi có thể thấy rõ toàn bộ vóc dáng cơ thể, anh ta cởi trần. Thậm chí sau khi chúng tôi đã trải qua hàng tháng làm việc trên đồng, làn da của anh ta vẫn đen hơn chúng tôi nhiều, và bây giờ tôi thật sự bị thuyết phục là anh ta đến từ một nơi nào đó xa xôi. Anh ta đã đánh nhau với người Nga!
Samson đi khệnh khạng quanh vũ đài theo điệu nhạc, hai cánh tay gồng lên và làm nổi rõ cơ bắp. Anh ta trình diễn thể hình cho tới khi chúng tôi có thể thấy được tất cả những gì anh ta có, nhiều hơn là đủ, theo ý tôi.
-Ai là người đầu tiên? - Delilah hét to trong micro khi âm nhạc ngưng lại. - Tối thiểu hai đôla!
Đám đông bỗng nhiên lặng xuống. Chỉ thằng ngốc mới bò lên cái vũ đài ấy.
-Tôi không sợ. - Một ai đó kêu to.
Chúng tôi không tin nổi khi thấy một thanh niên tôi chưa từng gặp trước đây, bước ra phía trước và đưa hai đôla cho Delilah.
-Một ăn mười. Hãy ở trên sàn đấu trong vòng sáu mươi giây, và anh sẽ thắng được hai mươi đô. - Cô ta nhận tiền và đưa micro về phía anh thanh niên. - Anh tên gì?
-Farley.
-Chúc may mắn, anh Farley!
Anh thanh niên trèo lên võ đài như thể không sợ Samson, người cũng không mảy may lo lắng. Delilah cầm cái vồ và đập vào chuông bên võ đài.
-Sáu mươi giây! - Cô ta hô.
Farley hơi di chuyển xung quanh, sau đó lui về góc khi Samson tiến một bước về phía trước. Hai đối thủ đang nghiên cứu nhau, Samson nhìn xuống vẻ coi thường, còn Farley nhìn lên vẻ dè chừng.
-Bốn lăm giây! - Delilah thông báo.
Samson tiến tới gần hơn, và Farley lao sang bên kia võ đài. Vóc dáng nhỏ nhắn hơn Samson, anh ta cũng nhanh nhẹn hơn nhiều, và rõ ràng đang sử dụng chiến thuật né. Samson đuổi theo; Farley tiếp tục né.
-Ba mươi giây!
Võ đài không đủ rộng để chạy mãi, rồi Samson túm được Farley. Anh ta nhún nhảy nhẹ nhàng quanh Farley, và khi túm lấy Farley, anh ta quấn chặt một tay quanh đầu Farley và sử dụng miếng võ khóa đầu.
-Ôi, trông giống một cú chém! - Delilah phun ra một tràng, hơi có vẻ đóng kịch. - Hai mươi giây!
Samson vặn cánh tay đối thủ và nhăn mặt với vẻ hài lòng thích thú, trong khi anh chàng Farley đáng thương bị đánh bại.
-Mười giây!
Samson xoay tít và sau đó quăng Farley ngang qua sàn đấu. Trước khi Farley có thể hoàn hồn, đô vật vĩ đại nhất thế giới túm chân và nâng anh ta lên cao, rồi treo anh ta lên chỗ cái cọc, và qua hai giây, đặt anh xuống đất với vẻ đầy vinh quang.
-Ôi, hết giờ rồi, Samson! - Delilah nói trong micro.
Farley vẫn còn choáng váng, nhưng bỏ đi ngay và dường như có vẻ khá tự hào. Anh ta đã chứng minh lòng can đảm của mình, đã tỏ ra không sợ hãi. Với hai giây vượt quá anh ta thắng được hai mươi đô. Anh chàng tình nguyện tiếp theo cũng xa lạ đối với tôi, một thanh niên có vóc dáng to cao tên là Claude, đã trả ba đô mong có cơ hội thắng được ba mươi đô. Claude nặng gấp hai lần Farley
nhưng chậm chạp hơn, và chỉ trong mười giây Samson đã hạ anh ta bằng một cú bật nảy chớp nhoáng. Mười giây nữa, đô vật nhấc bổng Claude qua đầu, và trông một màn trình diễn tuyệt vời về sức mạnh, bước tới góc võ đài rồi quăng anh ta ra xa.
Claude, dù thua cuộc, cũng bỏ đi với vẻ tự hào. Rõ ràng là Samson, mặc dù thái độ đầy vẻ hăm dọa nhưng có nghệ thuật sân khấu và là một nhà thể thao giỏi. Anh ta sẽ không làm hại ai. Và vì phần lớn đám thanh niên muốn được tiếp xúc với Delilah, một dãy người xếp hàng ngay cạnh chỗ cô nàng.
Một cuộc biểu diễn khá hay, Dewayne và tôi ngồi khá lâu quan sát Samson xử lý hết người này tới người khác với những bước di chuyển theo từng tiết mục định trước. Gia đình Boston Crab, Scissor, Piledriver, Jackhammer, Body Slam. Delilah chỉ cần nói về những thế đánh qua micro và Samson nhanh chóng thao diễn.
Sau một tiếng đồng hồ, người Samson ướt đẫm mồ hôi và cần nghỉ giải lao. Dewayne và tôi chuồn ra chỗ đu quay chơi hai vòng. Chúng tôi đang tranh cãi xem nên hay không mua thêm kẹo bông thì nghe thấy vài thanh niên nói chuyện về buổi trình diễn khoả thân.
- Cô ta cởi hết sạch quần áo! - Một người kể khi bước gần chỗ chúng tôi.
Và chúng tôi quên ngay chuyện kẹo bông. Chúng tôi đi theo sau họ tới những toa xe của người Gipxi. Phía sau là một cái lều nhỏ dựng thẳng đứng để không ai nhìn được vào trong. Vài người đàn ông đang hút thuốc chờ đợi, và tất cả bọn họ đều có vẻ tội lỗi. Âm nhạc vẳng ra từ trong lều.
Vài lễ hội Carnival có những cuộc trình diễn khoả thân. Năm trước, chú Ricky, chẳng có gì ngạc nhiên, đã từng bị bắt gặp khi rời khỏi đó, và đã gây náo động trong gia đình chúng tôi. Chú sẽ không bị phát hiện nếu ông Ross Lee Hart không bị bắt gặp. Ông Hart là ủy viên trong nhà thờ Tin lành, nông dân được làm chủ đất đai của mình, một công dân ngay thẳng đã kết hôn với một phụ nữ lắm điều. Tối thứ bảy, vào giữa lễ hội Carnival, bà ta đi tìm chồng và tình cờ thấy ông vừa rời khỏi khu lều rạp bị cấm. Bà vợ than vãn khi bắt gặp ông chồng thay đổi; ông ta nấp vội sau những toa xe. Bà đuổi theo, gào thét, đe dọa, và khắp Black Oak có câu chuyện mới.
Bà Hart, vì nguyên nhân nào đó, kể lể cho mọi người về hành động ông chồng đã làm, và ông lão đáng thương trở thành người bị xã hội ruồng bỏ trong nhiều tháng liền. Bà ta cũng thao thao nói về người rời khỏi khu lều quái quỷ đó, ngay sau ông Hart chính là Ricky Chandler. Chúng tôi đã phải im lặng chịu đựng sự bẽ mặt. Không bao giờ được đặt chân tới buổi trình diễn khoả thân trong thị trấn quê bạn chính là một qui định không thành lời. Nếu muốn xem, hãy lái xe tới Monette hay Lake City hay Caraway, nhưng không được làm việc đó ở Black Oak.
Dewayne và tôi không nhận ra người nào quen lảng vảng quanh lều. Chúng tôi đi ngược qua dãy toa xe và lén vòng lại từ phía đối diện, nhưng một con chó to buộc xích nằm ngay chỗ đó, như thể trông chừng những anh chàng tò mò giống chúng tôi. Hai đứa bọn tôi đành phải rút lui và quyết định chờ tới khi trời tối.
Gần bốn giờ chiều, chúng tôi phải đưa ra một quyết định đau khổ: tới rạp xem phim hay ở lại lễ hội Carnival. Chúng tôi đang nghiêng về phía xem phim thì Delilah xuất hiện tại sàn đấu vật. Cô ta đã thay trang phục, và bây giờ là bộ quần áo hai mảnh màu đỏ, thậm chí còn phô bày da thịt nhiều hơn. Đám đông chen chúc quanh cô ta, và rất lâu trước khi Samson lại lần nữa lật nhào các anh nông dân, vài chàng miền núi và thậm chí cả một anh chàng người Mexico ra khỏi võ đài.
Thách thức duy nhất xuất hiện khi trời tối. Ông Horsefly Walker có cậu con trai bị câm điếc với cân nặng khoảng ba trăm pao. Chúng tôi gọi anh ta là Grunt (1)không phải vì bất kính hay nhẫn tâm, chỉ vì anh ta luôn được gọi như vậy. Horsefly đưa ra năm đôla, và Grunt nhảy lên võ đài.
-Anh chàng này to lớn đấy, Samson! - Delilah kêu vào micro.
Samson biết là trận này có thể phải lâu hơn một chút mới đẩy được khối thịt ba trăm pao bật khỏi sàn đấu, vì vậy quyết định tấn công ngay. Anh ta cúi xuống thấp với một cú võ tàu, bước di chuyển được thiết kế để đập cả hai mắt cá chân vào nhau và làm cho đối thủ ngã. Grunt ngã ngay, nhưng lại ngã đè lên người Samson khiến đô vật không thể làm được gì khác ngoài việc rên rỉ, đau đớn. Vài người trong đám đông cũng la hét và bắt đầu cổ vũ cho Grunt, nhưng dĩ nhiên, anh chàng to béo không thể nghe thấy sự động viên, cả hai người lăn tròn và vật lộn quanh võ đài tới khi Grunt ghìm chặt được Samson trong một giây.
-Bốn mươi giây! - Delilah thông báo.
Đồng hồ có vẻ chạy chậm hơn khi Samson đang nằm sóng sượt. Anh ta đá đá chân vài lần, nhưng không kết quả gì, sau đó sử dụng cú búng nhẹ, bước di chuyển nhanh nhẹn khi hai chân tung lên và túm được hai tai Grunt, sau đó lôi anh chàng câm điếc về phía sau. Samson bật mạnh hai chân trong khi Grunt cố thoát ra. Một cú bật nảy chớp nhoáng khiến Grunt choáng váng.
-Mười lăm giây! - Cô ta tuyên bố, đồng hồ một lần nữa lại đi nhanh.
Grunt tấn công như một con bò điên, và cả hai lại ngã lăn. Đám đông càng kêu gào cổ vũ. Horsefly nhảy nhót cuồng nhiệt phía ngoài sàn đấu. Họ ôm ghì lấy nhau một lúc, sau đó Delilah hét to.
-Mười giây!
Vài tiếng la ó phản đối về phía người bấm giờ. Samson vặn và giật mạnh cánh tay Grunt ra sau, tóm chân, và đẩy trượt anh chàng đáng thương qua võ đài, qua hàng dây thừng. Grunt hạ cánh ngay dưới chân ông bố. Horsefly hét to.
-Tụi mày chơi trò gian lận, đồ chó đẻ!
Samson nghe thấy câu nói và vẫy tay ra hiệu cho Horsefly bước vào võ đài. Horsefly tiến lên trước một bước và Samson giật giật sợi dây thừng. Delilah rõ ràng đã chứng kiến nhiều lần kiểu đe dọa này.
-Tôi sẽ không làm việc đó nếu là ông. Anh ấy sẽ làm mọi người bị thương mỗi khi giận dữ. - Cô ta can ngăn.
Ngay lúc đó Horsefly tìm được một lý do để đứng yên. Samson cao lừng lững mười bộ đang đứng bên gò võ đài, nhìn xuống và cười nhếch mép. Horsefly cúi xuống xem xét Grunt đang xoa hai vai và có vẻ sắp khóc đến nơi. Samson cười khẩy khi hai cha con họ bỏ đi. Và để chế nhạo chúng tôi, anh ta bắt đầu uốn cong bắp tay và đi khệnh khạng quanh võ đài. Vài người trong đám đông huýt gió phản đối, và đây chính là điều anh ta muốn,
Samson tiếp tục đấu với vài người nữa, sau đó Delilah thông báo đến giờ nghỉ ăn tối. Một tiếng sau, họ sẽ trở lại trong cuộc trình diễn cuối cùng.
Bây giờ trời đã tối. Cả không gian lấp đầy âm thanh náo nhiệt của lễ hội Carnival; tiếng kêu gào phấn khích của đám trẻ cưỡi đu quay, tiếng reo hò cố vũ những người thắng cuộc tại các quán lều, âm nhạc phát ra từ hơn chục cái loa đủ loại, tất cả đều mở với âm lượng tương đối, tiếng người rao hàng liến thoắng khi cố lôi kéo mọi người chi tiền xem con rùa to nhất thế giới hay chi tiền để giành được phần thưởng, và trên hết, là ánh đèn điện tràn ngập khắp nơi. Người người đông nghẹt khiến bạn cứng đờ không thể nhúc nhích, như lời Gran thích nói. Đám đông bu kín quanh các quán lều, xem xét và hò hét. Những hàng người dài xếp ngoằn ngoèo quanh đu quay. Từng nhóm người Mexico tha thẩn đi lại, nhìn chằm chằm mọi thứ với vẻ kinh ngạc, nhưng đa số đều cố giữ chặt tiền. Tôi chưa bao giờ thấy nhiều người ở cùng một nơi như thế này.
Tôi thấy cha mẹ ở gần đường, đang uống nước chanh và quan sát đám đông từ khoảng cách an toàn. Pappy và Gran đã ra xe, sẵn sàng về nhà nhưng cũng sẵn sàng chờ đợi. Lễ hội Carnival chỉ có một lần mỗi năm.
-Con còn bao nhiêu tiền? - Cha hỏi.
-Khoảng một đô ạ.
-Vòng đu quay đó có vẻ không an toàn, Luke. - Mẹ nói.
-Con đã lên đó hai lần rồi. Tuyệt lắm mẹ ạ.
-Mẹ sẽ cho thêm một đô nếu con không chơi trò đó lần nữa.
-Con đồng ý.
Mẹ đưa tôi một đôla. Cha mẹ cho phép tôi chơi thêm khoảng một tiếng. Tôi lại đi tìm Dewayne và chúng tôi quyết định đây là lúc điều tra về cuộc trình diễn khoả thân. Chúng tôi len qua đám đông và lò dò tới gần dãy toa xe của người Gipxi. Chỗ đó còn tối hơn. Bên ngoài lều có vài người đàn ông đứng hút thuốc, phía trước cửa một cô gái trong bộ quần áo thiếu vải, đang lắc hông và nhảy đầy vẻ khêu gợi.
Là một tín đồ đạo Cơ đốc, chúng tôi biết tất cả các kiểu nhảy nhót không chỉ xấu xa mà còn rất tội lỗi. Việc này tương đương với tội uống rượu và chửi tục trong bản danh sách tội lỗi.
Cô vũ công không hấp dẫn, cũng không phơi bày hở hang nhiều hay cử động duyên dáng bằng Delilah. Dĩ nhiên, Delilah có nhiều năm kinh nghiệm và đã đi khắp thế giới.
Chúng tôi lách qua và cố len lên từ từ tới khi nghe thấy một giọng nói từ chỗ nào đó.
-Thế là quá đủ rồi; Các con hãy ra khỏi đây.
Chúng tôi cứng đờ người nhìn quanh, và rồi chính giọng nói đó hét lên từ phía sau.
-Tội lỗi! Những con người tội lỗi! Tội lỗi!
Đó là đức cha Akers, đang đứng sừng sững, một tay cầm cuốn Kinh Thánh trong khi ngón tay dài, cong queo ở bàn tay kia chỉ chỏ.
-Các người là một lũ rắn độc! Ông hét lên giận dữ.
Tôi không biết cô gái trẻ kia có ngừng nhảy nhót hoặc có người đàn ông nào lảng ra chỗ khác không. Dewayne và tôi nằm rạp xuống đất và bò như con mồi bị săn đuổi ngang qua trạng thái hỗn độn giữa những toa xe và xe tải, tới khi thấy ánh đèn gần hai quán rạp khác. Chúng tôi đứng dậy và lủi vào đám đông.
-Mày nghĩ ông ta thấy chúng ta không? - Dewayne hỏi khi đã an toàn.
-Tao không biết. Tao nghĩ là không.
Chúng tôi đi loanh quanh và vòng lại một chỗ khá kín đáo gần dãy toa xe của người Gipxi. Cha Akers đã tiến tới gần lều và đang xua đuổi những yêu ma, theo như lời ông. Và ông có vẻ thành công. Cô vũ sư, và đám đàn ông hút thuốc lảng vảng quanh đó cũng tản đi. Ông đã phá được cuộc trình diễn xấu xa, mặc dù tôi cho là họ vẫn còn ở bên trong, đang ngồi sụp xuống và chờ ông bỏ đi.
Delilah đã quay lại với trang phục khác. Bộ quần áo được làm bằng da báo, rõ ràng chỉ bao phủ những chỗ cần thiết, và tôi biết cha Akers sẽ nói về chuyện này vào sáng mai. Ông thích lễ hội Carnival bởi nó mang lại cho ông nhiều tư liệu cho bài thuyết giáo.
Đám đông lại vây quanh sàn đấu, mọi người trố mắt nhìn Delilah và chờ đợi Samson. Một lần nữa, cô nàng giới thiệu chàng đô vật với những lời chúng tôi đã nghe. Cuối cùng anh ta nhảy lên võ đài, và cũng mặc bộ da báo. Quần soóc chật căng, cởi trần, đôi ủng da màu đen sáng bóng. Anh ta đi khệnh khạng, làm điệu làm bộ và cố khiêu khích chúng tôi la ó.
Anh bạn lớn của tôi, Jackie Moon, bước lên sàn đấu trước tiên, và giống như đa số nạn nhân, giao chiến với chiến thuật né tránh. Anh chạy quanh trong vòng hai mươi giây cho tới khi Samson thấy đã đủ thời gian. Một cú chém, sau đó là cú lật sấp kiểu Thổ Nhĩ Kỳ, như lời Delilah giải thích, và Jackie nằm trên bãi cỏ không xa chỗ tôi đang đứng.
Thật không tồi tí nào. - Jackie cười.
Samson không định làm ai bị thương; điều này sẽ có hại cho công việc của anh ta. Nhưng khi cuộc trình diễn cuối cùng tiếp tục, anh ta trở nên vênh váo hơn và gào thét liên tục vào đám người xem.
-Có người đàn ông nào trong số các bạn không? - Giọng nói là một kiểu lai tạp kỳ cục; sâu và đầy vẻ đe dọa. - Ở thị trấn Black Oak, bang Arkansas này không có chiến binh nào đúng không?
Tôi ước gì mình cao tới bảy bộ. Lúc đó tôi sẽ nhảy lên võ đài và tấn công Samson trong khi đám đông cổ vũ như điên. Tôi sẽ hạ anh ta ngon lành, cho anh ta bay lên, và trở thành anh hùng vĩ đại nhất Black Oak. Nhưng bây giờ, tôi chỉ có thể la ó phản đối.
Hank Spruill có mặt trong đám đông. Gã bước quanh võ đài giữa các trận đấu, rồi dừng lại để thu hút sự chú ý của Samson. Đám đông im phăng phắc khi hai gã gườm gườm nhìn nhau. Samson bước tới thành võ đài.
-Vào cuộc đi, anh chàng bé nhỏ! - Samson khiêu khích.
Hank, dĩ nhiên, chỉ cười khinh bỉ. Sau đó gã tiến tới chỗ Delilah và đưa tiền.
-Ô, la la, Samson! - Cô nàng nhận tiền và reo lên. - Hai lăm đôla!
Mọi người dường như lẩm bẩm không tin.
-Hai lăm đô! - Tiếng một người đàn ông đứng sau. - Đó là cả tuần làm việc.
-Đúng, nhưng hắn có thể thắng được hai trăm năm mươi đô, Người khác nói.
Đám đông chen lấn nhau, Dewayne và tôi chuồn lên phía trước để có thể xem rõ.
-Tên anh là gì? - Delilah giơ micro ra.
-Hank Spruill. - Gã lầu bầu. - Đằng đó vẫn đang chơi một ăn mười chứ?
-Đó là thỏa thuận mà, anh chàng to lớn. Anh có chắc là mình muốn đánh cược hai lăm đôla?
-Đúng. Và tất cả việc tôi phải làm là trụ được trên võ đài này trong vòng một phút phải không?
-Vâng, sáu mươi giây. Anh biết là Samson chưa từng thất bại trận nào trong suốt năm năm. Lần cuối cùng anh ấy thua là ở Nga, và họ đã chơi trò gian lận.
-Tôi không quan tâm tới người Nga. - Hank cởi áo. - Còn luật lệ nào nữa không?
-Không. - Delilah quay về phía đám đông, và hét to với vẻ rất kịch. - Thưa quý ông, quý bà! Samson vĩ đại đã nhận lời thách thức trận đấu lớn nhất từ trước tới nay. Ngài Hank Spruill đã đặt cược hai lăm đôla cho trận đấu một ăn mười. Trước nay chưa bao giờ có ai đặt số tiền lớn như vậy.
Samson đang làm bộ làm tịch trên võ đài, lắc lắc mái tóc dài và chờ đợi với vẻ thăm dò.
-Tôi muốn thấy số tiền. - Hank gầm gừ với Delilah.
-Nó ở đây, - cô ta nói vào micro.
-Không, tôi muốn thấy hai trăm năm mươi đô cơ.
-Chúng tôi sẽ không cần tới nó, - cô ta mỉm cười, chỉ thoáng chút lo lắng.
Rồi cô ta hạ thấp micro, và họ tranh cãi những chi tiết. Bo và Dale xuất hiện từ đám đông, và Hank bắt họ đứng canh cái bàn nhỏ, nơi Delilah giữ tiền. Khi gã được thuyết phục là tiền đang ở đó, gã bước lên võ đài, nơi Samson vĩ đại đang đứng với hai cánh tay săn chắc khoanh trước ngực.
-Hắn có phải là kẻ đã giết thằng bé nhà Sisco? - Ai đó hỏi.,
-Chính hắn đấy. - Một người trả lời.
-Hắn cũng to gần bằng Samson.
Hank thấp hơn Samson khoảng vài insơ, và ngực không nở bằng, nhưng Hank dường như quên mất mối nguy hiểm. Samson bắt đầu nhảy nhót quanh một bên võ đài trong khi Hank quan sát và dang hai cánh tay.
-Anh đã sẵn sàng chưa? - Delilah nói vào micrô, và rung chuông.
Hai đối thủ nhìn nhau ánh mắt dữ dằn. Tuy nhiên, Hank vẫn ở bên góc của gã. Sau vài giây, Samson, theo tôi nghĩ, đã biết mình đang gặp phải đối thủ. Anh ta nhún nhảy, dứ dứ nắm đấm và lắc lắc người giống động tác của một đô vật thật sự. Hank vẫn đứng yên.
-Vào đi, chàng trai! - Samson hét to, nhưng Hank vẫn đứng yên.
-Bốn lăm giây! - Delilah nói.
Sai lầm của Samson chính ở chỗ đã cho rằng đây là cuộc đấu vật chứ không phải đánh nhau. Anh ta cúi xuống thấp, cố tóm hoặc ôm được đối phương, và trong một giây đã để hở mặt. Hank xông vào tấn công giống loài rắn chuông. Bàn tay phải tung ra một cú đấm nhanh và hạ cánh ngay giữa hàm Samson.
Đầu Samson bật ngửa ra sau, mái tóc chải chuốt xổ  
tung. Sự va chạm gây ra âm thanh kêu răng rắc. Stan Musial cũng không thể đánh được một cú bóng chày mạnh hơn thế.
Hai mắt Samson trợn ngược. Phải mất một giây cơ thể Samson mới nhận ra cái đầu đã bị tê liệt. Một chân trở nên cứng đờ và đầu gối khuỵu xuống. Sau đó chân kia cũng đổ sụp, và đô vật vĩ đại nhất thế giới, đến từ Ai Cập, ngã uỵch xuống sàn. Võ đài nhỏ nảy lên và hàng dây thừng lúc lắc. Samson có vẻ như chết rồi.
Hank đứng thư giãn ỏ góc của mình bằng cách đặt tay lên dây thừng trên cao. Gã không có vẻ gì vội vàng. Delilah đáng thương không nói được lời nào. Cô nàng cố thanh minh với mọi người đây chỉ là một phần trong cuộc trình diễn, nhưng chính lúc đó cô ta rất muốn nhảy vào võ đài và chăm sóc Samson. Cả đám đông sửng sốt.
Giữa sàn đấu, Samson bắt đầu rên rỉ và cố đứng lên. Anh ta chống hai tay lên đầu gối, và lắc lắc đầu vài lần trước khi đưa một chân ra trước. Với dáng vẻ lảo đảo, anh ta cố đứng lên, nhưng hai chân không tuân theo ý muốn. Anh ta nhích vai về phía dây thừng và cố tóm lấy chúng để khỏi ngã. Anh chàng khốn khổ nhìn thẳng vào chúng tôi, nhưng không thấy gì. Hai mắt đỏ ngầu và hoang dại, Samson dường như không biết mình đang ở đâu. Anh ta túm lấy sợi dây thừng, đi lảo đảo, cố lấy lại ý thức.
Ông Horsefly Walker chạy tới gần võ đài và hét với lên chỗ Hank.
-Giết thằng chó đẻ đó đi! Tiến lên, kết thúc hắn ta đi!
Nhưng Hank không động đậy. Thay vì thế, gã chỉ la to.
-Thời gian!
Nhưng Delilah đã quên mất đồng hồ. .
Vài tiếng reo hò và tiếng cười chế nhạo từ đám đông, nhưng phần lớn đều tỏ vẻ thờ ơ. Đám khán giả bị sốc khi thấy cảnh Samson đang loạng choạng, các giác quan của anh ta dường như mất hết.
Samson quay lại và cố tập trung nhìn vào Hank. Nắm chặt hàng dây thừng để giữ thăng bằng, anh ta trượt chân hai bước, sau đó liều lĩnh xông lên tấn công. Hank chỉ cúi nhanh sang một bên, và Samson lao vào hàng dây thừng ở góc. Những sợi dây căng ra vì cân nặng và ba sợi dây dường như đà đứt. Samson rên rỉ và vùng vẫy như con gấu bị trọng thương. Anh ta gắng sức lê chân và cố đứng vững đủ để quay xung quanh. Nhẽ ra anh ta nên ở chỗ tấm thảm. Hank xông vào và tung một cú đấm tay phải từ trên xuống, cú đấm xuất phát từ giữa sàn đấu và tới được chính xác đích đầu tiên. Với mục đích không phòng thủ, gã tiếp tục tung cú đấm thứ ba và một đòn cuối cùng. Samson đổ sụp. Delilah kêu lên và bò vào trong võ đài. Hank lại đứng nghỉ tại góc của gã, hai cánh tay đặt trên hàng dây thừng, cười toe toét, không để ý tới đối thủ.
Tôi không biết phải làm gì, và phần lớn những người xem cũng im phăng phắc. Một mặt, việc này cũng tốt khi thấy một người Arkansas đánh bại anh chàng khổng lồ Ai Cập. Nhưng người đó lại là Hank Spruill, và gã đã sử dụng những cú đấm. Chiến thắng của gã thật nhơ bẩn, nhưng không vấn đề đối với gã. Tất cả chúng tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn, nếu một thanh niên địa phương đánh bại được Samson theo luật công bằng.
Khi thời gian đã kết thúc, Hank bước qua hàng dây thừng và nhảy xuống đất. Bo và Dale vơ lấy tiền, rồi ba tên biến mất.
- Hắn đã giết Samson rồi, - ai đó đứng sau tôi nói.
Đô vật vĩ đại nhất thế giới nằm ngay đơ, hai tay hai chân dang thẳng, cô nàng của anh ta cúí xuống bên cạnh, cố lay gọi. Tôi cảm thấy thương cho họ. Họ có một tiết mục đa dạng tuyệt vời, tiết mục chúng tôi sẽ không còn được xem trong thời gian tới. Thực tế, tôi nghĩ là Samson và Delilah sẽ không bao giờ trở lại Black Oak, bang Arkansas lần nữa.
Khi Samson ngồi dậy, tất cả chúng tôi thở phào. Một số người tốt bụng vỗ tay cổ vũ, sau đó đám đông bắt đầu giải tán.
Tại sao Hank lại tham gia vào lễ hội Carnival? Gã có thể được trả tiền cho việc đánh bại mọi người, và điều này sẽ khiến gã rời trang trại Chandler. Tôi quyết định nói chuyện này với Tally.
Samson khốn khổ đã làm việc cực nhọc cả ngày dưới cái nóng oi bức, và chỉ trong một giây đã mất sạch số tiền kiếm được. Đây là cách kiếm sống của họ. Cuối cùng, tôi cũng thấy một công việc còn tồi tệ hơn cả việc hái bông.

Chú thích:
[1] ủn ỉn.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.10.2021 11:02:46 bởi Ct.Ly>
- 19 -


Vào mùa xuân và mùa đông, các buổi chiều chủ nhật thường được sử dụng như khoảng thời gian thăm viếng bạn bè, bà con. Sau bữa trưa chúng tôi thường nghỉ một chút, sau đó lên xe tải và đi tới Lake City hoặc Paragould, đến thăm một số người thân hoặc bạn bè cũ, những người luôn vui sướng khi gặp chúng tôi. Hoặc họ sẽ tới thăm chúng tôi. “Các bạn hãy tới thăm chúng tôi.” là một câu nói thông dụng, và mọi người thường nói như vậy. Không có sự sắp xếp hay báo trước. Chúng tôi không có điện thoại và người thân, bạn bè cũng không có.
Nhưng việc thăm viếng không phải là quyền ưu tiên hàng đầu vào dịp cuối hè và mùa thu, bởi công việc vất vả hơn và buổi chiều cũng rất nóng nực. Chúng tôi quên mất các bà cô, các ông chú trong một thời gian, nhưng chúng tôi biết sẽ gặp lại họ sau đó.
Đang ngồi trên hành lang trước, lắng nghe trận đấu của đội Cardinal và quan sát mẹ cùng Gran bóc đậu, tôi thấy một đám bụi từ phía cây cầu.
- Ôtô đang tới. - Tôi nói, và hai người nhìn về hướng đó.
Ôtô hiếm khi đi lại trên con đường của chúng tôi. Hầu như chỉ là xe tải nhà Jeter hoặc xe thuế vụ đi ngang qua. Thỉnh thoảng, có ôtô hay xe tải lạ phóng qua, chúng tôi sẽ im lặng dõi theo cho tới khi đám bụi tan hẳn, sau đó chúng tôi sẽ nói về nó trong bữa tối, và phán đoán nó thuộc về ai và họ đang làm gì tại hạt Craighead này. Pappy và cha sẽ đề cập đến nó tại cửa hàng Hợp tác xã, còn mẹ và Gran sẽ kể cho đám phụ nữ trước buổi học chủ nhật, và không sớm thì muộn họ sẽ tìm ra ai đó đã thấy chiếc xe lạ kia. Thông thường thì bí mật được giải quyết, nhưng đôi khi chúng tôi không bao giờ tìm ra được xuất xứ của nó.
Chiếc ôtô đi chầm chậm. Tôi thấy một khối màu đỏ ngày càng to hơn, sáng hơn, và sau đó một xe mui kín hai cửa sáng bóng đang rẽ vào con đường hướng tới nhà tôi. Cả ba người chúng tôi đứng trên hành lang, quá kinh ngạc nên không thể nhúc nhích. Rồi chiếc xe đỗ ngay sau xe tải của chúng tôi. Ở sân trước, gia đình Spruill cũng đang trố mắt nhìn một cách ngớ ngẩn.
Người lái xe mở cửa và bước ra.
-Ô, đó là Jimmy Dale. - Gran nói.
-Chắc chắn là anh ấy. - Mẹ hơi thất vọng.
-Luke, chạy đi tìm Pappy và cha cháu ngay. - Gran ra lệnh.
Tôi chạy hết tốc lực qua nhà và hét gọi ông, gọi cha, nhưng họ đã nghe thấy tiếng sập cửa và đi ra từ sân sau.
Tất cả chúng tôi gặp nhau ngay trước xe, trông mới cứng, sạch sẽ và rõ ràng là loại xe đẹp nhất mà tôi từng thấy. Mọi người ôm nhau, bắt tay và chào hỏi, sau đó Jimmy Dale giới thiệu Stacy, cô vợ mới cưới, một cô gái nhỏ, gầy gò, trông có vẻ còn nhỏ tuổi hơn Tally. Cô ta đến từ Michigan. Giọng nói nhanh và rõ, và mới vài giây cái giọng mũi đó khiến tôi nổi da gà.
-Tại sao cô ta lại nói giọng như vậy? - Tôi thì thầm hỏi mẹ khi mọi người kéo nhau tới hành lang.
-Bác ấy là người Mỹ chính gốc. - Đó là lời giải thích đơn giản.
Cha của Jimmy Dale là Ernest Chandler, anh trai của Pappy. Ông Ernest có một trang trại ở Leachville cho tới khi mất vì bệnh tim vài năm trước. Tôi không nhớ rõ ông Ernest, hay bác Jimmy Dale lắm, mặc dù đã nghe nhiều chuyện về họ. Tôi biết Jimmy Dale đã rời khỏi trang trại và di cư tới Michigan. Bác tìm việc làm tại hãng sản xuất ôtô Buick, kiếm được ba đô mỗi giờ, số tiền lương không thể tin nổi so với mức sống ở Black Oak. Bác đã giúp nhiều thanh niên địa phương khác kiếm việc làm ở đó. Hai năm trước, sau vụ mùa thất bại, cha đã trải qua một mùa đông khốn khổ ở Flint, làm việc lắp kính chắn gió vào xe Buick mới. Cha đã mang về nhà một nghìn đôla và tiêu hết vào việc trả những khoản nợ trồng trọt còn lại.
-Xe nào thế? - Cha hỏi ngay khi họ ngồi xuống bậc thang trước.
Gran ở trong bếp pha trà đá. Mẹ có nhiệm vụ không mấy dễ chịu là trò chuyện cùng Stacy, một người không thích nghi được với ngoại cảnh từ lúc bước ra khỏi ôtô.
-Xe mới đấy. - Jimmy Dale tự hào nói. - Tôi mua nó tuần trước, chỉ dùng khi lái xe về thăm nhà. Tôi và Stacy đã kết hôn tháng trước, và đây là món quà cưới của chúng tôi.
-Stacy và tôi đã kết hôn, chứ không phải tôi và Stacy, - cô vợ mới ngắt lời chồng từ hành lang.
Một khoảng ngưng ngắn khi tất cả chúng tôi nhận thấy sự thực là Stacy vừa sửa lỗi ngữ pháp cho chồng ngay trước mặt người khác. Trong cuộc đời, tôi chưa bao giờ thấy việc này.
-Nó là đời năm năm hai phải không? - Pappy hỏi.
-Không, nó thuộc đời năm ba, đời mới nhất hiện nay. Nó do chính cháu sản xuất ra.
-Cháu nói thật chứ?
-Vâng. Hãng Buick cho phép tự bọn cháu nhận đơn đặt hàng các loại ôtô, sau đó phải xem xét, chỉnh sửa ngay trên dây chuyền sản xuất. Cháu đã đặt một bảng đồng hồ.
-Cái đó giá bao nhiêu ạ? - Tôi hỏi, và nghĩ mẹ sẽ tới túm cổ tôi.
-Luke! - Mẹ la lên.
Cha và Pappy ném sang tôi ánh mắt khó chịu, và khi tôi chưa kịp nói gì thì Jimmy Dale lên tiếng.
-Hai trăm bảy mươi đô. Cái giá đó không phải là bí mật. Mỗi nhân viên bán hàng trong nước đều biết giá.
Lúc đó gia đình Spruill đang túm tụm xem xét quanh xe, tất cả, trừ mỗi Tally. Bây giờ là chiều chủ nhật, và theo như tôi nghĩ, thì đây là khoảng thời gian dành cho việc tắm gội tại sông con Siler. Tôi đi vẩn vơ quanh hành lang chờ chị xuất hiện.
Trot chạy vòng quanh xe trong khi Bo và Dale cũng tham gia nhìn ngó. Hank hé mắt vào bên trong xe, có lẽ là tìm chìa khóa. Ông bà Spruill thì ngắm nghía từ xa.
Jimmy Dale quan sát kỹ bọn họ.
-Dân miền núi à?
-Đúng, họ đến từ Eureka Springs.
-Bọn họ tốt chứ?
-Đa số thôi. - Pappy nói.
-Cái gã to lớn kia đang làm gì?
-Làm sao biết được.
Sáng nay, tại nhà thờ, chúng tôi đã nghe nói là cuối cùng Samson cũng đứng dậy được và rời khỏi võ đài. Nhờ thế Hank không ghi thêm số người chết vào bản danh sách của gã. Cha Akers đã giảng giải suốt một tiếng về tội lỗi của lễ hội Carnival: trò chơi đánh cuộc, đánh nhau, trò chơi mang tính dâm dục, những bộ quần áo thô tục, trộn lẫn với đám người Gipxi, cùng tất cả lời nói tục tĩu. Dewayne và tôi lắng nghe từng từ, nhưng tên chúng tôi không bị nhắc tới.
-Tại sao họ lại sống thế kia? - Stacy nhìn khu lều trại của gia đình Spruill. Lời nói sắc như dao, cắt ngang bầu không khí.
-Họ còn có thể sống thế nào được nữa? - Pappy khó chịu.
Ông cũng không thích bà Jimmy Dale Chandler mới kia. Bác ta ngồi phía trên giống con chim đậu trên gờ đá, nhìn xuống mọi vật xung quanh.
-Chú không thể cung cấp cho họ nhà ở sao?
Tôi có thể nói là Pappy bắt đầu nóng mặt.
-Dù sao, hãng Buick sẽ cho phép chúng tôi cấp tiền cho những chiếc xe trong vòng hai tư tháng. - Jimmy Dale nói.
-Thật sao? - Cha vẫn nhìn chiếc xe chằm chằm. - Tôi nghĩ đó là chiếc ôtô tuyệt nhất mà tôi đã từng thấy.
Gran mang khay trà đá với đường ra hành lang. Stacy nghiêng người.
-Trà đá ư? Không, xin cảm ơn. Thím có trà nóng không?
Trà nóng? Ai đã từng nghe câu nói nào ngu ngốc vậy chưa?
-Không, ở đây chúng tôi không uống trà nóng, - Pappy nói từ chỗ cái đu khi nhìn Stacy.
-Ồ, ở Michigan chúng tôi không bao giờ uống trà đá.
-Đây không phải Michgan. - Pappy phản ứng.
-Chị có muốn đi xem khu vườn của tôi không? - Mẹ đột ngột lên tiếng.
-Được, ý kiến hay đấy. - Jimmy Dale tán thành. - Đi đi, em yêu, Kathleen có khu vườn xinh xắn nhất Arkansas đây.
-Tôi sẽ đi với mọi người. - Gran cũng muốn đẩy Stacy khỏi hành lang và tránh xa cuộc tranh cãi.
Ba người phụ nữ biến mất, và Pappy đợi một lúc mới hỏi.
-Cháu moi cô ta ở đâu vậy, Jimmy Dale?
-Cô ây rất ngọt ngào, chú Eli ạ. - Bác trả lời không thuyết phục cho lắm.
-Cô ta là cái đồ dân Yankee (1) chết tiệt.
-Người Yankee không quá tệ đâu. Họ đủ thông minh để không dính dáng gì tới bông. Họ sống trong những ngôi nhà xinh xắn có hệ thống điện nước hiện đại, có điện thoại và tivi. Họ làm ra nhiều tiền và họ xây dựng những ngôi trường tốt. Stacy đã học hai năm đại học ở đấy. Gia đình cô ấy có tivi đã ba năm nay. Mới tuần trước cháu xem trận đấu giữa hai đội Indian và Tiger trên tivi. Cháu có thể tin được việc này không, Luke? Xem một trận đấu bóng chày qua truyền hình.
-Không, thưa bác.
-Ồ, vậy mà bác tôi đã xem. Bob Lemon phát bóng cho đội Indian. Đội Tiger không có nhiều; họ hiện lại đấu trận cuối cùng.
-Cháu không quan tâm nhiều tới giải Liên đoàn Mỹ. - Tôi nhắc lại những lời đã nghe từ cha và ông nội kể từ ngày bắt đầu nhớ được.
-Thật đáng ngạc nhiên, - Jimmy Dale cười. - Nói giống hệt một fan hâm mộ đội Cardinal. Bác cũng như vậy cho tới khi tới miền Bắc. Năm nay bác đã xem mười một trận trên sân Tiger, và Giải Liên đoàn Mỹ phần nào thừa thãi đối với cháu. Đội Yankee đến thị trấn hai tuần trước. Bọn họ mua được một cầu thủ mới, Mickey Mantle. Anh chàng khá hòa nhã, tài năng tuyệt vời, tốc độ tuyệt hảo, những cú bóng mạnh, mỗi khi anh ta đánh trúng, bóng lao vụt đi rất xa. Mickey sẽ trở thành một cầu thủ xuất sắc đấy. Và bọn họ còn mua cả Berra và Rizzuto nữa.
-Cháu vẫn không thích họ. - Tôi cương quyết, và Jimmy Dale lại cười.
-Cháu vẫn muốn chơi cho đội Cardinal?
-Vâng, thưa bác.
Cháu không muốn ở trang trại sao?
-Không, thưa bác.
-Cậu bé thông minh đấy.
Tôi đã nghe người lớn nói chuyện về Jimmy Dale. Bác khá thiển cận nhưng tự mãn khi cố thoát khỏi đồng bông và tạo lập cuộc sống tốt đẹp hơn ở miền Bắc. Bác thích nói về tiền bạc. Bác đã có được cuộc sống sung sướng hơn và thường khuyên bảo nhiều thanh niên nông dân khác.
Pappy thì nghĩ đồng áng là công việc đáng vinh dự duy nhất mà một người đàn ông nên làm, ngoài việc chơi bóng chày chuyên nghiệp.
Chúng tôi nhấm nháp thưởng thức trà, sau đó bác Jimmy Dale hỏi.
-Vụ bông thế nào?
-Cũng ổn, - Pappy trả lời. - Đợt gặt hái đầu tiên diễn ra thuận lợi.
-Rồi chúng tôi sẽ kết thúc vụ thu hoạch. - Cha nói thêm. - Có lẽ khoảng hơn tháng nữa.
Tally xuất hiện từ sau lều, tay cầm khăn mặt. Chị đi vòng qua chiếc xe màu đỏ, nơi cả gia đình chị vẫn đang đứng chắn ngữ; họ không thấy chị. Tally nhìn tôi từ xa nhưng không tỏ dấu hiệu gì. Tôi bỗng nhiên chán nói về bóng chày, về bông và ôtô nhưng tôi không thể bỏ đi được. Sẽ là bất nhã nếu bỏ đi, và cha sẽ nghi ngờ. Vì vậy, tôi ngồi yên quan sát Tally biến mất.
-Luther thế nào? - Cha hỏi.
-Làm việc tốt, - Jimmy Dale nói. - Tôi đã xin cho chú ấy vào bộ phận thiết bị. Chú ấy kiếm được ba đôla mỗi giờ, bốn mươi giờ một tuần. Luther chưa bao giờ có được nhiều tiền như vậy.
Luther là một anh họ khác, bà con xa trong họ Chandler. Tôi đã gặp bác ấy một lần, tại đám tang.
-Vậy là nó sẽ không về nhà phải không?  Pappy hỏi.
-Cháu nghĩ vậy.
-Nó lại sẽ cưới một cô Yankee nữa sao?
-Cháu không hỏi. Cháu đoán chú ấy sẽ làm việc gì chú ây muốn.
Cuộc nói chuyện lắng xuống một lúc, và sự căng thẳng dường như đỡ đi. Sau đó Jimmy Dale tiếp tục.
-Chú không thể trách Luther vì đã tới đó. Cháu định nói, thật tồi tệ, họ đã bị mất trang trại. Chú ấy hái bông thuê cho người khác, kiếm được một nghìn đô mỗi năm, nhưng không có nổi hai đô trong túi. Bây giờ chú ấy kiếm được hơn sáu nghìn đô mỗi năm, thêm cả tiền thưởng và chế độ hưu trí.
-Anh ấy có gia nhập liên đoàn không? - Cha hỏi.
-Chú ấy đã có quyển lợi chết tiệt ấy rồi. Tôi đưa tất cả thanh niên từ nơi đây vào liên đoàn.
-Liên đoàn là cái gì? - Tôi tò mò.
-Luke, ra xem mẹ cháu thế nào, - Pappy nói. - Đi đi!
Lại lần nữa tôi đã hỏi một câu ngây thơ, và vì nó, tôi bị đuổi khỏi cuộc nói chuyện. Tôi rời hành lang, sau đó chạy ra sau nhà với hy vọng thấy Tally. Nhưng chị đã đi mất, rõ ràng là xuống sông tắm mà không có một lính canh trung thực đi cùng.
Gran ngồi ngay ngoài cổng, bên hàng rào, quan sát  
mẹ và Stacy đi hết chỗ cây này sang cây khác. Tôi tiến đến bên bà, và bà xoa bù mái tóc tôi.
-Pappy nói, bác ấy là người Yankee chết tiệt, tôi thì thào.
-Không được nói lung tung.
-Cháu không nói lung tung. Cháu chỉ nhắc lại.
-Họ là người tốt, họ chỉ khác chúng ta thôi.
Tâm trí Gran hình như đang ở đâu đó. Thỉnh thoảng trong mùa hè năm nay, bà nói chuyện mà không nhìn tôi. Đôi mắt mệt mỏi nhíu lại khi suy nghĩ bay lơ lửng tách rời khỏi trang trại.
-Tại sao bác ấy nói như vậy? - Tôi hỏi.
-Bác ấy nghĩ là chúng ta nói chuyện buồn cười.
-Bác ấy như thế ạ?
-Dĩ nhiên.
Tôi không thể hiểu được điều này.
Một con rắn xanh dài gần một bộ, ló đầu ra từ đám dưa chuột, sau đó trườn xuống đường đất ngay gần chỗ mẹ và Stacy. Họ thấy nó ngay. Mẹ điềm nhiên chỉ.
-Kia là loài rắn xanh nhỏ.
Stacy phản ứng theo cách khác hắn. Mồm há hốc, nhưng vì quá sợ hãi nên phải mất vài giây không nói được lời nào, sau đó bác ấy hét to khiến gia đình Latcher cũng có thể nghe thấy - một tiếng kêu tắc nghẹn khủng khiếp.
-Rắn! - Stacy lại kêu lên lần nữa khi nhảy ra sau lưng mẹ. - Anh Jimmy Dale! Jimmy Dale!
Con rắn nằm im lìm trên đường và có vẻ như đang nhìn bác ấy. Đó chỉ là con rắn xanh nhỏ vô hại. Làm sao có người có thể sợ nó? Tôi lao vào vườn và nhặt con rắn lên, tôi nghĩ là mình đang giúp mọi chuyện. Nhưng cảnh tượng đứa bé cầm một sinh vật gây chết người còn tệ hơn những gì Stacy có thể chịu được. Bác ấy ngất xỉu và ngã lăn vào đám đậu bơ khi cánh đàn ông chạy tới.
Jimmy Dale đỡ cô vợ dậy trong khi chúng tôi cố giải thích chuyện xảy ra. Con rắn khốn khổ mềm oặt. Tôi nghĩ là bác trai cũng muốn ngất xỉu luôn. Pappy không thể giấu được nụ cười khoái chí khi chúng tôi đi theo Jimmy Dale và cô vợ quay lại hành lang trước. Bác đặt vợ nằm xuống băng ghế dài trong khi Gran đi lấy thuốc.
Sau đó Stacy tỉnh lại, khuôn mặt tái nhợt, làn da lạnh và ẩm. Gran lảng vảng quanh với mảnh vải ướt và có vị muối.
-Ở Michigan không có rắn sao? - Tôi thì thầm hỏi cha.
-Cha đoán là không.
-Chỉ là con rắn xanh nhỏ thôi mà.
-Tạ ơn Chúa là bác ấy không thấy rắn hổ mang. Bác ấy sẽ chết mất. - Cha nói.
Mẹ đun nước sôi và rót vào tách trà. Stacy ngồi dậy uống, và lần đầu tiên trong lịch sử, món trà nóng được tiêu thụ tại trang trại của chúng tôi. Bác muốn được ở một mình, vì vậy chúng tôi quay lại hành lang trong khi bác nghỉ ngơi.
Sau đó, cánh đàn ông tới chỗ chiếc xe sang trọng. Họ ngó nghiêng, sờ mó quanh xe. Khi không thấy ai chú ý tới mình, tôi rời hành lang và ra sau nhà tìm Tally. Tôi trốn gần kho thóc, địa điểm ưa thích mà tôi không thể bị phát hiện. Tôi nghe thấy tiếng động cơ khởi động, một âm thanh lớn êm ru, và biết đó không phải tiếng động cơ xe tải của chúng tôi. Họ định đi dạo, và tôi nghe cha gọi tên mình. Nhưng khi không thấy trả lời, chiếc xe lăn bánh.
Tôi bỏ việc tìm Tally và quay lại nhà. Stacy ngồi trên chiếc ghế đẩu dưới một gốc cây, đang đưa mắt nhìn khắp cánh đồng vẻ thất vọng, hai cánh tay bắt chéo như thể không vui. Chiếc xe Buick đã đi khỏi.
-Cháu không đi một vòng à? - Stacy hỏi.
-Không, thưa bác.
-Tại sao không?
-Cháu chỉ không đi thôi.
-Cháu đã từng được đi ôtô bao giờ chưa? - Giọng nói vẻ chế giễu, vì vậy tôi bắt đầu nói dôì.
-Chưa ạ.
-Cháu mấy tuổi?
-Bảy ạ.
-Cháu bảy tuổi, và cháu chưa bao giờ đi ôtô sao?
-Chưa, thưa bác.
-Cháu đã từng xem tivi chưa?
-Chưa, thưa bác.
-Cháu đã từng sử dụng điện thoại chưa?
-Chưa, thưa bác.
-Không thể tin nổi. - Stacy lắc đầu vẻ chán ghét, và tôi mong ước là mình đang ở gần kho thóc. - Cháu có đi học không?
-Có ạ.
-Tạ ơn Chúa vì điều đó. Cháu biết đọc chứ?
-Có ạ. Cháu cũng biết viết nữa.
-Cháu sẽ tốt nghiệp trường phổ thông?
-Chắc chắn rồi.
-Cha cháu đã tốt nghiệp phổ thông chưa?
-Rồi ạ.
-Còn ông nội cháu?
-Chưa, thưa bác.
-Bác cũng nghĩ là không. Quanh đây có ai học đại học không?
-Vẫn chưa.
-Nghĩa là sao?
-Mẹ nói cháu sẽ học đại học.
-Bác thấy nghi ngờ việc đó. Làm sao cháu có đủ khả năng học đại học được nhỉ?
-Mẹ nói cháu sẽ học.
-Cháu sẽ lại trở thành một chàng nông dân đáng thương thôi, giống cha và ông cháu vậy.
-Bác không biết được đâu. - Tôi khẳng định. Bác lắc đầu tỏ vẻ thất vọng.
-Bác đã học hai năm ở trường đại học. - Stacy nói vẻ tự hào.
Việc đó không làm cho bác thông minh hơn đâu, tôi muốn nói như vậy. Một khoảng ngưng lâu. Tôi muốn bỏ đi nhưng không biết bằng cách nào kéo mình ra khỏi cuộc nói chuyện. Bác gái ngồi trên ghế đẩu, nhìn chằm chằm vào khoảng cách xa xôi, đầy vẻ ác ý.
-Bác không tin nổi mọi người ở đây lạc hậu như vậy.
Tôi đứng dậy. Ngoài Hank Spruill, tôi chưa từng gặp một người nào khiến tôi ghét như bác Stacy. Chú Ricky sẽ làm gì trong trường hợp này? Có lẽ chú sẽ nguyền rủa Stacy, và vì không thể làm vậy, tôi quyết định bỏ đi chỗ khác.
Ôtô đang quay về, với cha ngồi sau tay lái. Cha dừng xe, và tất cả bước xuống. Jimmy Dale hét to gọi gia đình Spruill đến gần. Bác cho Bo, Dale và Trot ngồi lên băng ghế sau, Hank phía trước, và họ lại lái xe ra con đường đất, hưởng về phía bờ sông.

 
Cuối chiều, Jimmy Dale nói tới chuyện ra về. Chúng tôi đã sẵn sàng tiễn họ, và tôi đặc biệt lo là họ có thể lởn vởn ở đây tới tận bữa ăn tối. Tôi không thể tưởng tượng cảnh ngồi quanh bàn và cố nuốt trong khi Stacy bình phẩm thức ăn và các thói quen của chúng tôi. Rõ ràng bác ấy coi thường mọi thứ liên quan tới cuộc sông ở đây, vậy thì tại sao bác ấy lại muốn ở lại ăn tối?
Chúng tôi từ từ bước tới bên xe Buick, những lời chia tay uể oải lặp đi lặp lại, như thường lệ.
Không ai tỏ ra vội vàng. Chúng tôi bắt tay, ôm hôn thật chặt và trao nhau những lời hứa hẹn cho tới khi cả nhóm đến bên xe. Rồi toàn bộ cuộc diễu hành tạm ngưng lại khi có người nhớ ra chuyện gì đó. Thêm những cái ôm hôn, thêm nhiều lời hứa hẹn sẽ quay trở lại sớm. Sau nỗ lực đầy kết quả, hai người khách chui vào xe, sau đó ló đầu ra ngoài để nói tiếp một vòng tạm biệt.
Khi chúng tôi vẫy vẫy tay, Stacy thì thầm gì đó với Jimmy Dale. Bác quay sang mẹ và nói nhẹ nhàng.
-Cô ây cần tới phòng tắm.
Mẹ trông có vẻ lo lắng. Chúng tôi không có phòng tắm. Bạn muốn nhẹ người, hãy đến nhà vệ sinh nhỏ bằng gỗ trên một cái lỗ sâu, sau kho công cụ, ở giữa khoảng sân sau và chuồng bò.
-Chị đi với tôi. - Mẹ nói với bác gái, và họ bước đi.
Jimmy Dale bỗng nhiên nhớ ra chuyện về một thanh niên địa phương đã tới Flint và bị bắt trước mặt đông người vì say rượu ngay ngoài quán bar. Tôi bỏ đi rồi lén chuồn ra sân sau và chạy qua lối đi giữa hai chuồng gà, nơi tôi có thể thấy mẹ đang dẫn Stacy tới nhà vệ sinh. Bác ấy dừng lại, nhìn nó và dường như rất miễn cưỡng khi bước vào. Nhưng làm gì còn lựa chọn nào khác.
Mẹ tôi để Stacy lại đó và lui về sân trước.
Tôi vội tiến đến gần. Ngay khi mẹ vừa rời khỏi, tôi gõ cửa nhà vệ sinh. Tôi nghe thấy tiếng hét yếu ớt đầy vẻ tuyệt vọng.
-Ai đó?
-Bác Stacy, là cháu, Luke đây.
-Bác trong này rồi! - Lời nói sắc và rõ ràng như thường lệ nhưng lúc này có vẻ vội vã và tắc nghẹt bởi sự ẩm ướt, ngột ngạt của nhà vệ sinh. Trong đó tối thui, ánh sáng duy nhất từ vết nứt nhỏ giữa những tấm ván.
-Bác đừng ra ngoài ngay nhé! - Tôi vờ tỏ vẻ sợ hãi.
-Cái gì?
-Ngoài này có một con rắn đen to!
-Ôi lạy Chúa! - Stacy thở hổn hển. Bác ta sẽ ngất xỉu lần nữa, nhưng bác đã đang ngồi xổm rồi.
-Im lặng nhé! - Tôi nói. - Nếu không nó sẽ phát hiện ra bác trong đó đấy.
-Lạy Chúa tôi! - Giọng nói như vỡ òa. - Hãy làm gì đi!
-Cháu không thể. Nó rất to, và nó cắn đấy.
-Nó muốn gì? - Giọng cầu xin như thể sắp khóc.
-Cháu không rõ. Nó là loài rắn cứt, luôn lảng vảng quanh đày.
-Hãy gọi bác Jimmy Dale ngay!
-Được rồi, nhưng bác đừng ra ngoài nhé. Nó ở ngay ngoài cửa đấy. Cháu nghĩ nó biết bác đang ở trong đó.
-Ôi Chúa ơi! - Stacy lại kêu lên, và bắt đầu khóc.
Tôi cúi khom người giữa hai chuồng gà, sau đó vòng qua khu vườn phía đông. Tôi di chuyển chậm rãi và lặng lẽ dọc bờ rào chạy quanh trang trại tới một bụi cây, nơi có thể nấp và quan sát sân trước. Jimmy Dale đứng dựa người trên xe, đang kể chuyện, đợi cô vợ mới cưới xong việc.
Thời gian trôi qua. Cha mẹ, ông bà nội lắng nghe và cười khúc khích khi chuyện này nối tiếp chuyện kia. Thỉnh thoảng một người trong số họ liếc mắt về phía sân sau.
Cuối cùng mẹ bắt đầu lo lắng và rời sân trước để xem xét Stacy. Một phút sau có những giọng nói lao xao, và Jimmy Dale chạy như bay về phía nhà vệ sinh. Tôi nấp sâu hơn dưới bụi cây.

Khi trời nhá nhem tối tôi mới dám vào nhà. Tôi đã quan sát từ xa, từ bên kia kho thóc, và biết là mẹ và Gran đang chuẩn bị bữa tối. Tôi đã gặp đủ rắc rối rồi và đến bữa ăn muộn sẽ tăng thêm tội nữa.
Mọi người đã vào chỗ, Pappy chuẩn bị cầu Chúa ban cho thức ăn khi tôi bước qua cửa từ sân sau và lặng lẽ ngồi vào chỗ. Cả nhà nhìn tôi, nhưng tôi chọn cách cúi gằm xuống đĩa thức ăn. Pappy nói lời cầu nguyện ngắn gọn, và mọi người bắt đầu ăn. Sau một khoảng im lặng đủ lâu để gây căng thẳng, cha nghiêm giọng.
-Con đã ở đâu, Luke?
-Con ở dưới nhánh sông.
-Làm gì ở đó?
-Không làm gì ạ. Con chỉ nhìn ngắm vớ vẩn thôi.
Lời nói nghe có vẻ mập mờ, nhưng mọi người bỏ qua. Khi tất cả đã im lặng, Pappy, với sự điều chỉnh hoàn hảo và với vẻ giận dữ trong giọng nói.
-Cháu có thấy con rắn cứt nào ở sông không?
Ông buột miệng nói ra trước khi kịp dừng lại.
Tôi nhìn quanh bàn. Hai quai hàm Gran nghiến chặt như thể bà đang cố nín cười. Mẹ bịt miệng bằng khăn ăn, nhưng đôi mắt để lộ vẻ cũng muốn cười. Cha cắn một miếng to, và cố nhai trong khi vẫn giữ bộ mặt hình sự.
Nhưng Pappy vẫn la hét. Ông gào lên từ cuối bàn trong khi Gran và cha mẹ cố giữ bình tĩnh.
-Đó là một việc tốt, Luke! - Ông hổn hển nói. - Đối xử với cô ta đúng đấy.
Cuối cùng tôi phá lên cười, nhưng không phải vì hành động của chính tôi. Cảnh tượng Pappy cười như điên trong khi ba người còn lại cố kiềm chế, thật buồn cười.
-Đủ rồi đấy, ông Eli. - Gran cuối cùng cũng động đậy quai hàm.
Tôi cắn một miếng đậu to và nhìn chằm chằm vào đĩa. Bầu không khí lại trở nên yên tĩnh, và chúng tôi im lặng ăn tiếp.

Sau bữa tối, cha lôi tôi tới kho công cụ. Trên cửa có dắt cái que do cha tự làm. Nó là để dành cho tôi.
Tôi đã được dạy là phải chịu trừng phạt như một người đàn ông. Không được khóc, ít ra là không khóc công khai. Và chú Ricky luôn gây cảm hứng cho tôi, vì chưa bao giờ, theo lời ông bà và cha mẹ, chú rơi một giọt nước mắt.
-Việc con đã làm với bác Stacy thật hèn hạ, - cha bắt đầu. - Bác ấy là khách của chúng ta, và bác ấy đã kết hôn với bác họ của con.
-Vâng, thưa cha.
-Tại sao con làm vậy?
-Vì bác ấy nói chúng ta là những kẻ ngu ngốc và lạc hậu. - Thêm thắt một chút lúc này sẽ không gây tổn hại gì.
-Bác ấy đã nói thế?
-Vâng, thưa cha. Con không thích bác ấy, cả cha hay mọi người đều không thích mà.
-Đó là sự thực, nhưng con vẫn phải kính trọng người lớn. Con nghĩ việc này đáng bao nhiêu roi?
Tội lỗi và sự trừng phạt luôn được bàn luận trước. Khi cúi xuống, tôi đã biết chính xác mình sẽ nhận được bao nhiêu roi.
-Một ạ. - Một roi luôn là mức đề nghị phạt thường xuyên của tôi.
-Cha nghĩ là hai, - cha nói. - Còn tội ăn nói lung tung thì sao?
-Con nghĩ nói như thế không có gì xấu.
-Con đã sử dụng những từ không thể chấp nhận được.
-Vâng, thưa cha.
-Bao nhiêu roi vì chuyện đó?
-Một ạ.
-Chúng ta có thể đồng ý tất cả là ba roi, được chưa? - Cha hỏi.
Cha không bao giờ đánh tôi khi đang giận dữ, vì thế thường có một khe hở để thương lượng. Ba roi có vẻ là công bằng, nhưng tôi luôn đẩy xuống ít hơn. Sau hết, tôi cũng nhận được kết cục cuối. Tại sao không mặc cả?
-Hai roi thì hợp lý hơn. - Tôi nói.
-Ba roi. Bây giờ cúi xuống mau.
Tôi cố nuốt nước bọt, nghiến chặt răng, quay lại sau, cúi xuống và túm chặt hai mắt cá chân. Cha quất vun vút vào mông tôi ba roi. Tôi đau điếng người, nhưng cha không thèm quan tâm. Tôi đã từng bị đòn nặng hơn nhiều.
- Giờ đi ngủ ngay. - Cha ra lệnh, và tôi chạy về nhà.
Chú thích:
(1) Người Mỹ chính gốc.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.10.2021 13:36:40 bởi Ct.Ly>
- 20 -


Bây giờ trong túi Hank đã có thêm 250 đôla của Samson, gã thậm chí ít hăng hái với việc hái bông.
-Hank đâu? - Pappy hỏi ông Spruill khi chúng tôi nhận bao tải và bắt đầu công việc vào sáng thứ hai.
-Đang ngủ, tôi đoán vậy. - Câu trả lời cộc lốc, và không nói gì thêm.
Gã xuất hiện trên đồng vào giữa sáng. Không biết chính xác khi nào bởi tôi đang ở luống cách xa, nhưng ngay sau đó tôi nghe thấy những giọng nói và tôi biết là gia đình Spruill lại nổ ra chiến tranh.
Hơn một tiếng trước bữa trưa, trời đất bỗng dưng tối sầm, và một cơn gió nhẹ thổi từ hướng tây. Khi mây đen che khuất mặt trời, tôi ngừng hái và nhìn lên trời. Cách đó khoảng một trăm yard (1) tôi thấy Pappy cũng làm việc tương tự - hai tay chống hông, mũ rơm hất sang một bên, khuôn mặt nhăn nhó nhìn trời. Gió thổi mạnh và trời tối sầm hơn, một lúc sau cái nóng dường như biến mất. Các cơn bão thường tới từ Jonesboro, còn được gọi là Lốc xoáy Alley.
Đầu tiên là mưa đá dội xuống, những hạt nhỏ cỡ hạt sỏi đậu, và tôi chạy về phía máy kéo. Trời hướng tây nam xanh sẫm, gần như đen kịt, và mây thấp gần như sắp sập xuồng đầu. Gia đình Spruill chạy nhanh qua những luống bông, tất cả đều hướng về toa moóc. Nhóm Mexico chạy về phía chuồng bò.
Tôi chạy nhanh. Mưa đá quất vào sau gáy và đẩy tôi phi nhanh hơn. Gió rít lên qua hàng cây dọc bờ sông và cuốn những bao bông sang một bên. Ánh chớp lóe lên sau lưng, và tôi nghe thấy tiếng một người nhà Spruill, có lẽ là Bo, hét lên.
-Chúng ta không cần phải tới gần toa moóc. - Pappy nói khi tôi tới nơi. - Không, với ánh chớp thế này.
-Tốt hơn là nên về nhà, - cha yêu cầu.
Chúng tôi lên xe, tất cả chen chúc trong vội vã. và khi Pappy khởi động máy, mưa rơi như trút. Mưa nặng hạt, lạnh lẽo và ào ào trút xuống trong cơn gió mạnh. Chúng tôi dần dần ướt sạch; tôi cũng không thể ướt hơn nếu nhảy xuống sông.
Gia đình Spruill ngồi chen chúc, với Tally ở giữa. Còn cha ôm tôi vào ngực, như sợ gió có thể cuốn tôi đi mất. Mẹ và Gran đã rời đồng không lâu trước khi bão tới.
Mưa táp vào người từng đợt. Mưa dầy đặc khiến tôi không thể nhìn rõ những luống bông ngay trước mặt.
-Nhanh lên, Pappy! - Tôi thúc giục.
Bão ầm ầm khiến tôi không thể nghe thấy tiếng gõ tương tự vào động cơ máy kéo. Ánh chớp lại lóe lên, lúc này gần hơn, gần đến nỗi tai tôi thấy đau nhói. Tôi nghĩ chúng tôi sắp chết đến nơi.
Mãi rồi cũng về đến nhà, nhưng khi tới nơi, mưa bỗng tạnh hẳn. Nhưng trời tối sầm hơn, đen kịt tứ phía.
-Kia là một cái phễu! - Ông Spruill nói to khi chúng tôi vừa nhảy xuống xe.
Ở hướng tây, xa phía bên kia sông và phía trên hàng cây, xuất hiện một đám mây hình phễu. Nó có màu xám nhẹ, gần như trắng tương phản với nền trời đen kịt, rồi cái phễu dần to lên và ầm ầm hơn khi di chuyển từ từ về phía mặt đất. Nó chỉ cách chỗ chúng tôi vài dặm, và với khoảng cách đó, dường như nó không quá nguy hiểm.
Lốc xoáy là chuyện bình thường ở vùng chúng tôi, ở bang Arkansas này, và tôi đã nghe nhiều chuyện về chúng trong suốt cuộc đời. Nhiều thập niên trước, cha của Gran đã sống sót sau cơn gió xoáy khủng khiếp, một cơn gió quay vòng và tấn công vào trang trại nhỏ không chỉ một lần. Đó là câu chuyện dài bà thường hay kể. Gió xoáy là một phần cuộc sống, nhưng tôi vẫn chưa được chứng kiến cho tới tận bây giờ.
-Kathleen! - Cha hét to về phía nhà.
Cha không muốn mẹ bỏ lỡ việc chứng kiến cảnh này. Tôi liếc về phía chuồng bò, nơi nhóm Mexico vẫn đang bất động và kinh ngạc như chúng tôi. Hai người trong số họ chỉ chỏ.
Chúng tôi quan sát cái phễu trong sự thôi miên câm lặng, không sợ hãi kinh hoàng, bởi vì nó không ở gần trang trại và đã cuốn về phía bắc và phía đông. Nó di chuyển chậm, như thể đang tìm kiếm địa điểm thích hợp để hạ cánh. Cái đuôi của nó có thể thấy rõ trên đường chân trời, phía trên mặt đất, và kéo dọc giữa không trung, thỉnh thoảng cái phễu nhảy lên trong khi quyết định tấn công nơi nào và khi nào. Phần miệng phễu giống hình cái nón lộn ngược đang xoáy tít theo đường xoắn ốc dữ dội.
Bức mành cửa đóng sầm sau lưng chúng tôi. Mẹ và Gran đứng bên bậc thang, cả hai đang lau tay.
-Nó tiến về phía thị trấn, - Pappy nói với vẻ có kinh nghiệm, như là ông có thể đoán được cơn gió xoáy sẽ tấn công chỗ nào.
-Con cũng nghĩ vậy. - Cha nói thêm, bỗng chốc trở thành chuyên gia thứ hai về dự báo thời tiết.
Cái đuôi gió xoáy chìm xuống thấp hơn và dừng lại nhảy lò cò. Nó có vẻ như đã chạm xuống một chỗ nào đó ở xa, bởi vì chúng tôi không thể thấy nơi nó kết thúc.
Nhà thờ, trạm tách hạt, rạp phim, cửa hàng tạp hóa Pop & Pearl - tôi đang đếm những thiệt hại thì bỗng nhiên cơn gió xoáy bốc lên cao và dường như biến mất.
Lại có tiếng gào thét đằng sau. Ngang qua con đường, ở sâu trong khu đất của Jeter, một cơn gió xoáy khác xuất hiện. Nó đã cuốn tới chỗ chúng tôi trong khi chúng tôi vẫn đang quan sát cơn gió xoáy thứ nhất. Nó chỉ cách chỗ chúng tôi một hoặc hai dặm và dường như hướng thẳng tới nhà chúng tôi. Chúng tôi đứng nhìn trừng trừng trong nỗi khiếp sợ, không thể nhúc nhích được trong vài giây.
-Chúng ta vào chuồng bò mau! - Pappy hét to.
Vài người nhà Spruill chạy vội về phía lều, như thể họ sẽ được an toàn khi ở bên trong.
-Ở đằng kia! - Ông Spruill hét lên và chỉ chuồng bò.
Bỗng nhiên mọi người la hét, chỉ chỏ và chạy nhốn nháo. Cha túm chặt tay tôi, và chúng tôi bắt đầu chạy. Mặt đất rung chuyển, gió gào thét. Nhóm Mexico chạy phân tán tứ phía; vài người nghĩ cách tốt nhất là trốn trong cánh đồng, số khác lại chạy hướng về phía nhà chúng tôi cho tới khi thấy chúng tôi đang chạy tới chuồng bò. Hank cõng Trot trên lưng, phóng như bay qua chỗ tôi. Tally cũng chạy vượt chúng tôi.
Trước khi chúng tôi tới được chuồng bò, cơn gió xoáy rời khỏi mặt đất và bốc cao nhanh về phía bầu trời. Pappy dừng lại và quan sát, sau đó những người khác cũng hành động tương tự. Cái phễu lướt nhẹ về phía đông trang trại, và thay vì cuộc tấn công trước mặt, nó bỏ lại đằng sau một cơn mưa dầy đặc và những đống bùn. Chúng tôi quan sát nó bốc cao lên không trung, tìm kiếm nơi khác để hạ xuống, giống như cơn gió xoáy đầu tiên.
Trong vòng vài phút, chúng tôi quá sửng sốt và kinh hãi nên không thể nói được lời nào.
Tôi chăm chú nhìn những đám mây theo các hướng. Tôi không phải là người duy nhất đảo mắt nhìn xung quanh.
Sau đó trời lại mưa, và chúng tôi vào nhà.

Cơn bão quấy phá trong vòng hai tiếng, và ném gần như mọi thứ trong cơn thịnh nộ của thiên nhiên vào chúng tôi: gió mạnh và mưa tối mắt tối mũi, những cơn gió xoáy, mưa đá, sấm chớp và đôi lúc gần như khiến chúng tôi phải trốn xuống gầm giường. Gia đình Spruill trú ẩn trong phòng khách, trong khi chúng tôi ngồi co rúm trong phần còn lại của ngôi nhà. Mẹ ôm chặt tôi. Mẹ rất sợ bão và điều đó, thậm chí làm cho toàn bộ sự thử thách tồi tệ hơn.
Tôi không rõ chúng tôi sẽ chết như thế nào: bị gió thổi bay, bị sét đánh cháy xém hay bị nước cuốn trôi; nhưng rõ ràng đối với tôi sự kết thúc đã đến. Dù vậy, cha vẫn lim dim ngủ phần lớn thời gian, và sự khác biệt này là niềm an ủi lớn. Cha đã sống trong hầm cá nhân và đã bị người Đức bắn, thế này không có gì khiến cha sợ hãi. Ba chúng tôi nằm trên sàn nhà trong phòng ngủ của cha mẹ - cha đang ngáy, mẹ đang cầu nguyện, và tôi ở giữa lắng nghe âm thanh cơn bão. Tôi nghĩ đến cơn bão Noah suốt bốn mươi ngày mưa gió, và tôi chờ đợi ngôi nhà nhỏ bé của chúng tôi bị bốc lên và bắt đầu nổi.

Cuối cùng mưa gió cũng ngưng, chúng tôi ra ngoài để quan sát tình trạng thiệt hại. Ngoài những đám bông ướt, chỉ có sự thiệt hại nhỏ đáng ngạc nhiên - vài nhành cây rơi vương vãi, các rãnh ngập nước, và vài cây cà chua dập nát trong vườn. Khoảng sáng mai bông sẽ khô, và chúng tôi sẽ trở lại với công việc.
Trong suốt bữa ăn trưa muộn màng, Pappy nói.
-Tôi nghĩ, tốt hơn tôi nên đi kiểm tra trạm tách hạt.
Chúng tôi sốt ruột muốn vào thị trấn. Biết đâu nó đã bị gió xoáy san phẳng?
-Tôi muốn tới xem nhà thờ. - Gran nói.
-Cháu cũng vậy.
-Tại sao con muốn đi xem nhà thờ? - Cha hỏi
-Để xem gió xoáy có gây tổn thất gì không.
-Chúng ta đi thôi! - Pappy nói.
Đống đĩa bát bẩn được tống vào bồn và để lại đó, một việc mà tôi chưa từng thấy trước đây.
Con đường không có gì ngoài bùn, và ở nhiều chỗ mặt cắt rộng đã bị quét sạch. Chạy qua được một phần tư dặm thì chúng tôi bị sa xuống hố khi Pappy cố rẽ ngang qua một cái rãnh bên trái, gần ruộng bông của ông Jeter. Chiếc xe khựng lại, và chúng tôi bị sa lầy. Cha chạy về nhà lái máy kéo John Deere tới trong khi chúng tôi chờ đợi. Như thường lệ, tôi ngồi sau thùng xe, và vì vậy tôi có nhiều chỗ để cựa quậy. Mẹ bị nhét chật phía trước với Pappy và Gran. Tôi nghĩ chính Gran đã nói đây là hậu quả khi quyết định đi vào thị trấn sau tất cả những việc vừa xảy ra. Pappy bỏ ngoài tai.
Khi quay trở lại, cha móc sợi dây xích vào đằng trước và từ từ kéo chúng tôi ra khỏi cái rãnh. Cánh đàn ông quyết định, tốt nhất nên dùng máy kéo qua cầu. Nhưng đường ở bên này sông thậm chí còn tệ hơn, nên vẫn phải dùng máy kéo kéo xe tải đi khoảng hai dặm cho tới khi đến được đoạn đường sỏi. Chúng tôi để máy kéo lại và hướng về thị trấn, nếu như, thực tế, nó vẫn còn ở đó. Chỉ có Chúa mới biết cảnh tàn phá nào đang chờ đợi chúng tôi. Tôi rõ ràng có thể che giấu được sự thích thú của mình.
Cuối cùng cũng tới Xa lộ, và khi rẽ về hướng Black Oak, chúng tôi để lại một vệt bùn dài trên mặt đường nhựa. Tại sao các con đường không được lát nhựa nhỉ? Tôi tự hỏi.
Mọi thứ có vẻ bình thường khi chúng tôi lái xe ngang qua. Không có cây cối đổ hay bông ngã rạp, không có vôi gạch đổ nát quăng ra hàng dặm, không có những lỗ rộng ngoắc trên đất. Nhà cửa dường như vẫn nguyên vẹn. Cánh đồng trống không vì bông bị ướt nhẹp, nhưng rất may cuộc sống đã không bị xáo trộn.
Đứng sau xe với cha, qua nóc cabin, tôi căng mắt nhìn toàn cảnh thị trấn. Trạm tách hạt vẫn đang gầm rú tiếng động cơ quen thuộc. Chúa đã bảo vệ cho nhà thờ. Dãy cửa hàng dọc phố Main còn nguyên vẹn.
-Tạ ơn Chúa! - Cha nói.
Tôi không phải là không vui khi thấy những tòa nhà không bị ảnh hưởng, nhưng mọi thứ có thể thú vị hơn chứ.
Chúng tôi không phải là những người tò mò duy nhất. Xe cộ đông đúc trên phố Main, và người người chen chúc trên vỉa hè. Điều này không từng xảy ra vào thứ hai. Chúng tôi đỗ xe tại nhà thờ, và một khi đã xác định được là nó không bị tổn hại, tôi chạy vụt tới cửa hàng Pop & Pearl, nơi có vẻ đặc biệt đông người. Ông Red Fletcher có một nhóm vây quanh, và tôi tới đó đúng lúc.
Theo lời ông Red, sống ở phía tây thị trấn, ông ta biết trước về cơn gió xoáy chuẩn bị xuất hiện do con chó săn thỏ già của ông ta trốn dưới bàn bếp, một dấu hiệu báo điềm xấu. Nhận biết được tín hiệu từ con chó, ông Red bắt đầu quan sát bầu trời, và ngay sau đó không ngạc nhiên khi thấy trời tự nhiên đen kịt. Ông nghe thấy tiếng gió xoáy trước khi nhìn tận mắt. Nó lượn xuống từ đâu đó, đi thẳng tới trang trại nhà ông, và nằm trên mặt đất đủ lâu để san phẳng hai chuồng gà và làm tốc mái nhà. Một mẩu gương bắn vào bà vợ ông và gây chảy máu, vì thế chúng tôi có một người bị thương thật sự. Đằng sau tôi nghe thấy mọi người hào hứng rủ nhau tới nhà ông Fletcher để xem xét thiệt hại,
-Nó trông thế nào? - Ai đó hỏi.
-Đen sì như than, - ông Red nói. - Giống tàu lửa chở hàng.
Điều này thậm chí còn thú vị hơn vì hai cơn gió xoáy chúng tôi chứng kiến có màu xám nhạt, gần như trắng. Rõ ràng, nhiều loại gió xoáy đã tàn phá vùng nông thôn của chúng tôi.
Bà Fletcher xuất hiện bên cạnh chồng, cánh tay băng bó, và chúng tôi không thể làm gì được ngoài việc nhìn chằm chằm. Bà tỏ vẻ như thể chỉ đi được trên vỉa hè. Bà giơ vết thương ra và thu hút sự chú ý của mọi người cho tới khi Red nhận ra mình bị mất khán giả, vì vậy ông bước lên trước và tiếp tục bài tường thuật. Ông kể cơn gió xoáy của ông rời khỏi mặt đất và bắt đầu bốc lên cao. Ông nhảy lên xe tải và đuổi theo. Ông đuổi theo xuyên qua cơn bão, mưa đá dồn dập và gần như đã tóm được cơn gió xoáy khi nó vòng trở lại.
Xe tải của Red còn cũ nát hơn xe của Pappy. Vài người trong đám đông bắt đầu nhìn quanh vẻ không tin. Tôi muốn ai đó trong số người lớn hỏi.
- Ông sẽ làm gì nếu bắt kịp nó, Red?
Dù sao, theo lời ông, ngay sau đó ông bỏ cuộc và quay về nhà để xem xét bà Fletcher. Khi thấy nó lần cuối, cơn gió xoáy hướng thắng tới thị trấn.
Sau đó, Pappy tiết lộ với tôi là Red Fletcher nói dối.
Rất nhiều người nói dối vào chiều hôm đó tại Black Oak, hoặc có lẽ chỉ là lời phóng đại. Chuyện về gió xoáy được kể đi kể lại từ chỗ này tới chỗ kia trên phố Main. Phía trước cửa hàng Hợp tác xã, Pappy miêu tả cảnh tượng chúng tôi đã thấy, và trong phần lớn câu chuyện, ông cũng phóng đại sự thật. Câu chuyện hai cơn gió xoáy cùng lúc đã thu hút được sự chú ý của mọi người cho tới khi ông Dutch Lamb bước lên trước, và tuyên bố mình đã chứng kiến cơn gió xoáy thứ ba. Bà vợ ông xác nhận chuyện đó, và Pappy bỏ đi tới chỗ xe tải.
Khi chúng tôi rời thị trấn, thật kỳ diệu là hàng trăm người đã không bị chết.
Khi trời tối, đám mây đen cuối cùng cũng tan. nhưng cái nóng bức không trở lại. Sau bữa tối, chúng tôi cùng ngồi ở hành lang trước và chờ đợi đội Cardinal. Bầu không khí thoáng đãng và nhẹ nhàng - dấu hiệu đầu tiên của mùa thu.
Sáu trận đấu còn lại, ba trận với đội Red và ba với đội Cub, tất cả đều chơi tại sân nhà trên sân Sportsman's Park, nhưng với đội Dodger là sáu trận ở nơi đầu tiên, mùa bóng chày năm nay đã kết thúc. Stan Musial đang dẫn đầu giải về đánh bóng và phát bóng mạnh, và anh cũng có nhiều cú đánh trúng và cú đôi hơn các cầu thủ khác. Đội Cardinal sẽ không đoạt giải vô địch, nhưng chúng tôi vẫn có cầu thủ vĩ đại nhất trong giải. Theo lời Harry Caray, người thường xuyên nói lời chúc mừng chào đón và kể chuyện tầm phào như thể các cầu thủ sống ngay trong nhà mình, các cầu thủ hài lòng quay trở lại St. Louis sau chuyến thi đấu tại Chicago. Musial đã đánh trúng một cú đơn và cú ba, và điểm số hòa nhau tại vạch ba sau chín lượt chơi. Trời đã khuya, nhưng chúng tôi chưa thấy mệt. Cơn bão đã xua chúng tôi khỏi cánh đồng, và không khí mát mẻ là điều cần được tận hưởng. Gia đình Spruill đang ngồi quanh đống lửa, nói chuyện khe khẽ và thưởng thức khoảnh khắc không có Hank. Gã thường biến mất sau bữa tối.
Ở vị trí cuối - thứ mười, Red Schoendienst bị loại, và khi Stan Musial bước tới điểm phát bóng, theo lời Harry Caray, các fan hâm mộ trở nên cuồng nhiệt. Pappy nói Harry thường quan sát một trận đấu nhưng lại tường thuật trận đấu khác, số người tham dự gần mười nghìn người; chúng tôi có thể nói đám đông yên tĩnh. Nhưng Harry Caray đang hò hét ồn ào tương đương với hai mươi nghìn người. Sau 148 trận đấu, ông ta lúc nào cũng phấn khích như ngày khai mạc. Musial chạy hết tốc lực một cú đôi, cú đánh trúng thứ ba trong trận, dẫn trước đội Schoendienst và thắng bốn ba.
Nếu một tháng trước chúng tôi sẽ ăn mừng, cùng với Harry, ở ngay hành lang trước. Tôi hẳn sẽ chạy nhanh quanh sân, lướt đi trong giây lát, giống như Stan Musial vô địch. Một chiến thắng tuyệt vời như thế chúng tôi sẽ đi ngủ với vẻ sung sướng, mặc dù Pappy vẫn muốn sa thải huấn luyện viên.
Nhưng mọi thứ hiện nay đã khác. Chiến thắng có ý nghĩa ít hơn; mùa bóng đã kết thúc với đội Cardinal ở vị trí thứ ba. Sân trước thì toàn người nhà Spruill. Mùa hè sắp qua rồi.
Pappy tắt đài trong khi giọng Harry vẫn đang hổn hển.
- Không cách nào Baumholtz có thể bắt kịp được Stan. - Pappy nói. - Frankie Baumholtz của đội Cub được sáu điểm, đứng sau Musial trong cuộc đua ngôi vị đứng đầu.
Cha ậm ừ đồng ý. Trong suốt trận đấu, cánh đàn ông có vẻ im lặng hơn thường lệ. Cơn bão và thời tiết mát mẻ tác động tới họ như một cơn bệnh. Mùa màng đang thay đổi, tuy nhiên, gần một phần ba số bông vẫn còn ngoài kia. Chúng tôi đã gần như có được một vụ mùa tốt đẹp trong suốt bảy tháng; chắc chắn đây là lúc thay đổi.

Chú thích :
(1) 1 yard bằng 0,914m.




Đăng nhập để trả lời
0
- 21-
 
 
Mùa thu kéo dài chỉ gần hai tư tiếng. Khoảng trưa hôm sau bầu không khí trở lại nóng nực, bông đã khô, đất cũng cứng hơn, và tất cả ý nghĩ dễ chịu về những ngày mát mẻ và đám lá bay bay trong gió ngay lập tức bị lãng quên. Chúng tôi trở lại bờ sông để hái lượt thứ hai. Một phần ba còn lại có lẽ sẽ được hái sau đó vào mùa thu, một “vụ gặt hái Giáng sinh” như mọi người vẫn gọi, và số bông còn sót sẽ được thu hoạch lại. Đến lúc đó dân miền núi và người Mexico đã rời khỏi trang trại từ lâu.
Tôi hái gần chỗ Tally gần cả ngày và làm việc chăm chỉ để theo kịp chị. Vì lý do nào đó, chị tỏ vẻ xa cách, và tôi cố tìm hiểu nguyên nhân. Gia đình Spruill có vẻ căng thẳng, họ ít trò chuyện, không hát hò hay cười đùa trên đồng. Hank xuất hiện vào giữa sáng và bắt đầu hái bông với vẻ thong thả. Những người nhà Spruill còn lại dường như né tránh gã.
Chiều muộn tôi quay lại chỗ cân bông lượt cuối cùng. Chỉ còn một tiếng nữa đến giờ nghỉ, và tôi đi tìm mẹ. Thay vào đó tôi thấy Hank, Bo và Dale ngồi dưới bóng mát đối diện toa moóc, chờ Pappy hoặc cha tới cân bông. Tôi vội cúi người xuống thấp, dưới đám thân cây vì thế họ không thấy tôi và chờ đợi những giọng nói thân thiện.
Hank đang nói rất to, như thường lệ.
-Tao mệt mỏi với việc nhặt hái bông rồi. Mệt với cái việc chết tiệt này! Vì vậy tao đang nghĩ tới một công việc mới, và tao đã hình dung ra cách kiếm tiền mới. Rất nhiều tiền. Tao định đi theo hội Carnival kia, qua hết thị trấn này tới thị trấn khác, trốn trong bóng tối trong khi thằng Samson đáng thương và con đàn bà của nó gặt được nhiều tiền. Tao sẽ chờ cho tới khi tiền đầy thùng; tao sẽ quan sát thằng đô vật ném bọn kia ra khỏi sàn đấu, và tới tối, khi nó đã mệt lử, tao sẽ nhảy lên, giơ ra năm mươi đô, tống cho thằng ngu đó vài cú đấm, và bỏ đi với tất cả tiền bạc. Nếu làm vậy một lần mỗi tuần, tao sẽ kiếm được hai nghìn đô mỗi tháng, hai tư nghìn đô mỗi năm. Tất cả đều là tiền mặt. Tao sẽ giầu to.
Giọng nói toát lên vẻ ranh mãnh, Bo và Dale cười hô hố khi gã kết thúc. Thậm chí, tôi buộc phải thú nhận là nó cũng khá khôi hàì.
-Nếu Samson thấy mệt mỏi vì việc đó? - Bo hỏi.
-Mày đùa à? Nó là đô vật vĩ đại nhất thế giới, đến từ Ai Cập. Samson không sợ ai hết. Chết tiệt, tao cũng có thể giành lấy con đàn bà của nó. Cô ả trông rất xinh, phải không?
-Anh phải để cho anh ta thỉnh thoảng thắng chứ, - Bo nói. - Dù sao thì anh ta sẽ không đánh anh mà.
-Tôi thích cái việc chiếm lấy con đàn bà ấy, - Dale hưởng ứng. - Tôi thật sự thích đôi chân của cô ta.
-Những chỗ khác cũng chẳng tồi tí nào. - Hank khẳng định. - Hãy chờ đấy, tao làm được việc ấy! Tao sẽ đuổi cổ thằng cha đó và trở thành một Samson mới! Tao sẽ để tóc dài, nhuộm đen, kiếm cái quần soóc da báo, nói giọng lơ lớ, và bọn lỗ mãng ngu ngốc đó sẽ nghĩ tao cũng đến từ Ai Cập. Delilah sẽ không rời bàn tay cô ả khỏi người tao.
Cả bọn cười khằng khặc rất lâu, và sự thích thú của bọn họ thật dễ lây. Tôi thầm cười khúc khích, tưởng tượng ra hình ảnh Hank khệnh khạng đi quanh võ đài trong cái quần soóc bó, cố thuyết phục mọi người là gã đến từ Ai Cập. Nhưng gã quá ngu để có thể đóng vai nghệ sĩ trình diễn. Gã sẽ làm mọi người bị thương và gây cho những người muốn thử thách cảm giác sợ hãi.
Pappy đến bên toa moóc và bắt đầu cân bông. Mẹ xuất hiện và thì thầm với tôi là mẹ đã sẵn sàng về nhà. Tôi cũng vậy. Chúng tôi cùng đi bộ, trong im lặng, cả hai đều thấy vui sướng vì một ngày nữa đã trôi qua.

Việc sơn nhà lại tiếp tục. Chúng tôi nhận ra khi ở trong vườn và tiến tới gần hơn để xem xét công trình của Trot, chúng tôi vẫn nghĩ cậu ta chính là “thợ sơn”. Năm tấm ván từ dưới lên bằng khoảng diện tích một ô cửa sổ trắng bóng và hợp với lớp sơn trước. Mẹ chạm nhẹ, và sơn dính vào ngón tay.
-Sơn còn mới. - Mẹ liếc về phía trước sân, nơi, như thường lệ, không hề có dấu hiệu gì của Trot.
-Mẹ vẫn nghĩ là cậu ta? - Tôi hỏi.
-Đúng vậy.
-Cậu ta lấy đâu ra sơn?
-Tally mua cho Trot, bằng tiền cô bé kiếm được do hái bông.
-Ai nói với mẹ?
-Mẹ đã hỏi bà Foley tại cửa hàng đồ ngũ kim. Bà ấy kể có một cậu bé miền núi tàn tật và cô chị mua hai thùng sơn trắng phủ nhà và một cái chổi quét nhỏ. Bà. ấy nghĩ  
việc đó thật lạ; dân miền núi lại đi mua sơn nhà.
-Hai thùng sơn bao nhiêu tiền?
-Không nhiều lắm.
-Mẹ định kể cho Pappy?
-Chính thế.
Chúng tôi đi nhanh vào vườn và hái những thứ cần thiết: cà chua, dưa chuột, và hạt tiêu đỏ. Một lúc nữa, mọi người còn lại trong đội hái bông sẽ từ đồng về, và tôi lo lắng về cơn giận dữ sẽ xảy ra một khi Pappy biết là ngôi nhà của ông đang được sơn.
Trong vài phút, tôi nghe thấy những lời thầm thì trò chuyện bên ngoài. Tôi có nhiệm vụ thái dưa chuột trong bếp, một chiến thuật để buộc tôi tránh xa cuộc bàn luận. Gran lắng nghe tin tức trên đài trong khi mẹ nấu nướng. Lúc đó, cha và Pappy bước ra phía đông ngôi nhà và xem xét công trình dang dở của Trot.
Sau khi hai người vào bếp, chúng tôi ngồi xuống bàn, đọc lời cầu Chúa và bắt đầu ăn, không nói lời nào ngoài vấn đề thời tiết. Nếu giận dữ về việc sơn nhà, chắc chắn Pappy không thể hiện ra. Có lẽ ông đang quá mệt mỏi.
Hôm sau mẹ giữ tôi lại nhà và tất bật với các việc vặt. Mẹ rửa bát đĩa bữa sáng, giặt giũ, và chúng tôi cùng quan sát sân trước. Gran dọn dẹp xong xuôi rồi ra đồng, còn mẹ và tôi vẫn ở nhà, tiếp tục làm các việc vặt.
Trot không thấy đâu. Cậu ta biến mất khỏi sân trước. Hank lừng khừng ra khỏi lều lúc tám giờ và gõ gõ đống chai hộp tìm đồ ăn. Gã chén sạch mọi thứ, sau đó ợ lên một tiếng và nhìn vào nhà chúng tôi như thể gã có thể đột kích vào để kiếm thức ăn. Cuối cùng, gã bước ầm ầm qua kho thóc theo con đường dẫn ra đồng.
Chúng tôi chờ đợi, hé nhìn qua cửa sổ. Vẫn không thấy dấu hiệu gì của Trot. Cuối cùng, chúng tôi từ bỏ việc rình mò và ra đồng. Khi mẹ trở về nhà ba tiếng sau để chuẩn bị bữa trưa, lại có một vùng sơn mới trên vài tấm ván ngay dưới cửa sổ phòng tôi. Trot đang sơn từ từ về phía sau nhà, công trình bị hạn chế bởi độ cao và bởi ý định giữ bí mật. Theo tiến trình hiện nay, cậu ấy sẽ hoàn thành được nửa mặt phía đông trước khi gia đình Spruill đóng gói đồ đạc và trở lại miền núi.

Sau ba ngày làm việc yên ổn và nặng nhọc, bây giờ là lúc xảy ra nhiều xung đột. Miguel gặp Pappy bên máy kéo sau bữa sáng, và họ bước về hướng chuồng bò, nơi nhóm Mexico đang đợi. Trong cảnh tranh tối tranh sáng của bình minh, tôi lẽo đẽo theo sau, chỉ gần đủ để nghe thấy nhưng không bị ai bắt gặp. Luis đang ngồi dưới một gốc cây, đầu cúi thấp như thể bị ốm. Pappy xem xét anh rất kỹ. Luis bị thương.
Theo như giải thích ngắn gọn bằng tiếng Anh của chú Miguel, suốt đêm qua có ai đó đã ném đất vào chuồng bò. Cục đất đầu tiên đập vào bên vựa cỏ khô ngay sau khi nhóm Mexico đã ngả lưng. Nó nghe như tiếng súng - những tấm ván kêu lộp độp, và cả chuồng bò dường như tỉnh giấc. Vài phút trôi qua, lại cục đất khác. Rồi một cục khác nữa. Sau khoảng mười phút, bọn họ nghĩ có lẽ việc này đã qua, nhưng lại một cục đất ném lên mái thiếc ngay trên đầu. Họ vừa giận dữ vừa hoảng sợ, và giấc ngủ trở thành không thể. Qua những vết nứt trên tấm ván, họ nhìn ra cánh đồng sau chuồng bò. Kẻ quấy rối ở đâu đó ngoài kia, trốn sâu trong ruộng bông, không thể bị phát hiện trong bóng tối đen kịt, và trốn như một kẻ hèn nhát.
Luis từ từ mở ô cửa vựa cỏ để quan sát rõ hơn, và bị một cú như tên lửa phóng thẳng vào mặt. Đó là cục đá lấy từ con đường trước nhà chúng tôi. Kẻ ném đá đã giữ nó cho đúng lúc này, cú ném trực tiếp vào một người Mexico. Những cục đất chỉ là cách gây tiếng động, nhưng hòn đá được sử dụng với mục đích làm người bị thương.
Mũi Luis bị dập, và sưng phồng lên gấp hai lần bình thường. Pappy hét cha đi tìm Gran.
Miguel tiếp tục kể. Sau đó tất cả bọn họ tập trung vào Luis và làm cho anh ta dễ chịu, cuộc nã pháo lại tiếp diễn. Cứ mười phút một lần, chỉ khi họ chuẩn bị nằm xuống, một loạt khác lại tràn vào từ bóng tối. Họ cẩn thận quan sát qua những vết nứt nhưng không thấy gì trên đồng. Chỗ đó quá tối. Cuối cùng kẻ tấn công cũng mệt với trò chơi này và dừng tay. Đối với hầu hết bọn họ, giấc ngủ chỉ là chập chờn.
Gran đến và xem xét cái mũi của Luis. Pappy bỏ đi, lầm bầm chửi rủa. Tôi bị phân vân giữa hai sự việc đầy kịch tính: muốn xem bà chơi trò bác sĩ với Luis, hay muốn nghe Pappy xả cơn tức giận?
Tôi theo Pappy quay về chỗ máy kéo và càu nhàu với cha những lời tôi không thể hiểu. Sau đó ông xông tới chỗ toa moóc, nơi gia đình Spruill còn ngái ngủ, đang ngồi đợi.
-Hank đâu? - Ông cằn nhằn hỏi ông Spruill.
-Đang ngủ, tôi đoán thế.
-Hôm nay nó có làm việc không đấy? - Pappy gay gắt.
-Ông đi mà hỏi nó. - Ông Spruill đứng bật dậy đối mặt với Pappy.
Pappy bước tới gần hơn.
-Đêm qua nhóm Mexico không thể ngủ được vì ai đó ném đất vào chuồng bò. Ông nghĩ ai đã làm việc này?
Cha tôi, với thái độ bình tĩnh hơn, bước tới giữa họ.
-Không. Ông buộc tội ai? - Ông Spruill hỏi.
-Tôi không biết, - Pappy nói. - Mọi người đều làm việc chăm chỉ, ngủ say, mệt đứt hơi vào ban đêm. Mọi người, trừ Hank. Dường như với tôi, nó là kẻ duy nhất có nhiều thời gian động đậy tay chân. Và đó là kiểu việc ngu ngốc Hank sẽ làm.
Tôi không thích cuộc xung đột công khai với gia đình Spruill. Họ cũng đã quá mệt mỏi với Hank như chúng tôi, nhưng họ vẫn là gia đình của gã. Và họ cũng là dân miền núi, làm cho họ điên lên và họ sẽ bỏ đi. Pappy sắp nói quá nhiều.
-Tôi sẽ nói chuyện với nó. - Ông Spruill lập tức tỏ vẻ nhẹ nhàng hơn, như thể biết Hank chắc chắn là thủ phạm.
Cằm chảy dài, ông ta nhìn bà Spruill. Gia đình họ đang rối loạn vì Hank nên không sẵn sàng bảo vệ cho gã.
-Chúng ta làm việc thôi. - Cha nói.
Họ mong cuộc chạm chán kết thúc. Tôi liếc nhìn Tally, nhưng chị nhìn đi chỗ khác, chìm đắm trong suy nghĩ, phớt lờ tôi và mọi người. Pappy leo lên máy kéo và chúng tôi lại ra đồng.
Luis nằm ở hành lang suốt buổi sáng với bịch đá trên mặt. Gran chạy quanh và cố ép anh uống thuốc nhưng Luis từ chối. Khoảng gần trưa, Luis thấy phát ngán cách chữa trị kiểu Mỹ này và muốn trở lại làm việc, cho dù mũi vẫn đau.

Năng suất thu hoạch bông mỗi ngày của Hank giảm từ bốn trăm xuống gần hai trăm pao. Pappy giận tái mặt . Qua nhiều ngày như vậy, tình hình ngày càng khó chịu, và thêm nhiều lời thì thầm giữa người lớn. Chưa bao giờ Pappy được làm chủ liền một lúc toàn bộ số tiền 250 đô.
-Hôm nay nó hái được bao nhiêu? - Ông hỏi cha trong bữa tối.
-Một trăm chín mươi pao.
Mẹ nhắm mắt đầy vẻ thất vọng. Bữa tối được coi là khoảng thời gian dễ chịu nhất trong ngày, và mẹ ghét tranh cãi trong bữa ăn. Trò chuyện về thái độ, cách cư xử của những người quen hoặc không quen còn thú vị hơn, và mẹ không thích xung đột. Thức ăn không thể tiêu hóa nổi nếu cơ thể không được thoải mái.
Cha định ngày mai vào thị trấn, tìm Stick Power, và nói với ông ta chúng ta đã xong việc với thằng đó, - Pappy vẫy vẫy cái nĩa trong không khí.
Ông sẽ không làm việc này, và chúng tôi biết điều đó. Ngay cả ông cũng biết vậy. Nếu Stick, bằng cách nào đó, còng được tay Hank Spruill và tống cổ gã lên xe tuần tra, thì việc cuối cùng tôi sẽ phải chứng kiến chính là cảnh đám người nhà Spruill còn lại sẽ đóng gói đồ đạc và bỏ đi trong vài phút. Pappy không định mạo hiểm vụ mùa chỉ vì một kẻ ngu ngốc như Hank. Chúng tôi sẽ nghiến chặt răng và cố gắng chịu đựng sự hiện diện của gã. Chúng tôi hy vọng và cầu nguyện là gã sẽ không giết thêm ai, cũng không ai giết gã, sau vài tuần ngắn ngủi vụ thu hoạch sẽ hoàn tất, và gã sẽ ra đi.
-Ông không chắc đó là nó kia mà. - Gran nói. - Không ai thấy nó ném đất vào chuồng bò.
-Có vài thứ bà không tận mắt chứng kiến, - Pappy phản ứng. - Chúng ta không thấy Trot cầm chổi sơn, nhưng chúng ta hết sức vui mừng khi tin là nó đang làm việc đó. Đúng không?
Mẹ rụt rè xen vào.
-Luke, đội Cardinal đang đấu với đội nào? - Đó là kiểu của mẹ, một cách khôn khéo cho mọi người biết là mẹ muốn một bữa ăn trong yên bình.
-Đội Cub ạ. - Tôi trả lời.
-Còn bao nhiêu trận nữa? - Mẹ tiếp tục.
-Chỉ còn ba trận.
-Musial bỏ cách người kế tiếp bao xa?
-Sáu điểm. Anh ấy ở mức ba, ba sáu. Baumhokz ở mức ba, ba mươi. Anh ta không thể đuổi kịp Musial đâu.
Vào những lúc như vậy cha thường trợ giúp mẹ và lái cuộc nói chuyện xa hẳn vấn đề nặng nề. Cha hắng giọng.
-Con đụng phải Lou Jeffcoat thứ bảy tuần trước, con quên chưa kể với cha. Anh ta nói đội Tin lành có người phát bóng mới cho trận đấu ngày chủ nhật.
Pappy dịu bớt.
-Anh ta nói dối. Đó là những gì họ nói mỗi năm.
-Tại sao họ cần người phát bóng mới? - Gran hơi mỉm cười, và tôi nghĩ mẹ sắp phá lên cười.

Cuộc picnic Mùa thu sẽ được tổ chức vào chủ nhật tới, một sự kiện hết sức thú vị, nhấn chìm toàn bộ Black Oak. Sau buổi cầu nguyện, thường là rất dài, ít ra là đối với những người Cơ đốc, chúng tôi sẽ gặp những người theo đạo Tin lành tại sân bóng. Dưới bóng cây, cánh phụ nữ sẽ bày biện rất nhiều thức ăn ngon lành, và sau bữa ăn trưa cánh đàn ông sẽ thi đấu bóng chày.
Đây là một trận đấu không bình thường, vì quyền được hãnh diện là nguyên tắc. Người thắng sẽ được phép chế giễu kẻ thua trong suốt một năm. Ngay vào mùa đông tôi đã nghe cánh đàn ông ở Tea Shoppe nói về trận đấu.
Đội Tin lành đã thắng trong suốt bốn năm qua, tuy nhiên họ vẫn luôn tung tin về việc có người phát bóng mới.
-Ai sẽ phát bóng cho đội chúng ta? - Cha hỏi.
Pappy là người dẫn dắt đội Cơ đốc, và sau bốn trận thua liên tiếp, mọi người bắt đầu cằn nhằn.
-Ridley, cha nghĩ vậy. - Pappy không lưỡng lự. Ông đã nghĩ về trận đấu suốt cả năm.
-Cháu có thể loại bỏ Ridley! - Tôi khẳng định.
-Cháu có ý kiến nào tốt hơn sao? - Pappy vặn hỏi.
-Vâng, thưa ông.
-Được rồi, ông không thể chờ đâu.
-Người phát bóng là Cowboy. - Tôi nói và mọi người đều mỉm cười. Một ý kiến mới hay làm sao.
Nhưng người Mexico không được tham gia trận đấu, dân miền núi cũng vậy. Bản danh sách phân công vị trí chỉ dành cho thành viên nhà thờ chính thức - không nhân công trang trại, không người thân từ Jonesboro, không người tham gia gian lận dưới bất cứ hình thức nào. Có rất nhiều luật lệ và được viết ra rất rõ ràng, quyển sách luật lệ chắc rồi sẽ còn dầy hơn cả cuốn Kinh Thánh. Những trọng tài đến từ Monette và được trả năm đôla cộng với bữa ăn trưa no nê. Giả sử không ai quen biết trọng tài, nhưng sau bốn năm bại trận, đã có tin đồn, ít ra là quanh nhà thờ Cơ đốc của chúng tôi, trọng tài là người theo đạo Tin lành hay kết hôn với người Tin lành.
Việc đó sẽ tốt đẹp phải không?
Cha mơ tới cảnh Cowboy hạ đối thủ như rạ. Những cú bóng bổng liên tiếp. Những cú bóng cong mất hút từ khắp mọi phía.
Cuộc nói chuyện chuyển sang bầu không khí dễ chịu và cánh phụ nữ cùng tham gia. Bóng chày được đẩy sang một bên khi mọi người bàn về cuộc picnic, thức ăn, phụ nữ Tin lành sẽ mặc gì, và vân vân. Bữa tối trở nên khá gần gũi thân mật như thường lệ, rồi chúng tôi kéo nhau ra hành lang.

Tôi quyết định sẽ viết thư cho chú Ricky và kể về Libby Latcher. Tôi chắc là không người lớn nào làm vậy; họ muốn chôn chặt bí mật. Nhưng Ricky cần phải biết là Libby đã buộc tội chú. Chú cần phải đáp lại bằng cách nào đó. Nếu biết chuyện, có lẽ chú sẽ được phép về nhà để giải quyết việc này, và càng sớm càng tốt. Gia đình Latcher đang ở một mình, không nói chuyện với ai, như chúng tôi biết, nhưng những bí mật khó mà giữ nổi ở Black Oak.
Trước khi Ricky tới Triều Tiên, chú kể cho chúng tôi chuyện về anh bạn sống ở Texas chú đã gặp trong trại đóng quân. Anh ta mới mười tám tuổi, nhưng đã kết hôn, và cô vợ đang có mang. Quân đội cho anh ta tới California làm việc giấy tờ trong vài tháng để không phải ra chiến trường. Đó là trường hợp được ưu tiên, và anh ta sẽ quay về Texas trước khi cô vợ sinh con.
Bây giờ Ricky có được quyền ưu tiên; nhưng chú không biết điều đó. Tôi sẽ là người cho chú biết. Tôi lẳng lặng rút khỏi hành lang với vẻ mệt mỏi và về phòng chú Ricky lấy bảng chữ cái. Tôi mang nó tới bàn bếp; sáng rõ hơn; và bắt đầu viết từ từ với những nét chữ in to cồ cộ.
Tôi kể ngắn gọn về giải bóng chày, cờ hiệu thi đua, về lễ hội Carnival và Samson, rồi thêm hai dòng về cơn gió xóay hồi đầu tuần. Không bụng dạ nào nói tới gã Hank nên tôi bỏ qua. Tôi kể về chuyện Libby Latcher đã sinh em bé, mặc dù tôi không thú nhận mình đã có mặt ở đó khi mọi việc xảy ra.
Mẹ bước vào từ hành lang và hỏi tôi đang làm gì.
-Con đang viết thư cho chú Ricky. - Tôi trả lời.
-Hay đấy, - mẹ nói. - Nhưng con phải đi ngủ thôi.
-Vâng, thưa mẹ.
Tôi đã viết kín một trang và khá tự hào về mình. Ngày mai tôi sẽ viết tiếp. Sau đó có thể là một trang nữa. Tôi khẳng định đây sẽ là lá thư dài nhất mà chú Ricky nhận được.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.10.2021 17:42:06 bởi Ct.Ly>
- 22 -
 
Khi đang ở cuối luống bông dài hun hút, gần bụi cây gần nhánh sông Siler, tôi chợt nghe thấy giọng nói. Bông chỗ này rất cao và tôi bị lạc giữa những tán lá rậm rạp. Bao bông đã được một nửa, và tôi đang mơ tới buổi chiều trong thị trấn, nghĩ về bộ phim trong rạp Dixie với lon coca và bỏng ngô. Mặt trời vượt quá đỉnh đầu; chắc hẳn sắp trưa rồì. Tôi định quay trở lại gần chỗ toa moóc, làm việc chăm chỉ và kết thúc một ngày với sự thú vị. 
Lúc chợt nghe tiếng người nói chuyện, tôi đứng khuỵu một chân, rồi từ từ ngồi xuống đất không gây tiếng động. Một lúc lâu thấy im ắng, tôi bắt đầu nghĩ có lẽ mình đã nghe nhầm thì một giọng con gái xuyên qua đám bông tới tận chỗ tôi đang núp. Cô ta ở đâu đó bên phải; tôi không thể tính được khoảng cách bao xa.
Tôi nhỏm dậy và hé mắt nhìn nhưng không thấy gì. Sau đó tôi lại nép mình xuống và bắt đầu đi rón rén về phía cuối luống, cái bao tải cản bước nên tôi tháo nó ra. Lặng lẽ, tôi bò trườn và dừng lại, bò trườn và dừng lại, tới khi nghe thấy tiếng nói lần nữa. Cô ta cách chỗ tôi khoảng vài luống, đang trốn trong đám bông, tôi nghĩ vậy. Tôi cứng đờ người đến vài phút khi nghe thấy tiếng cười nhẹ nhàng bị bóp nghẹt bởi bông, và tôi biết đó chính là Tally.
Một lúc lâu tôi nhẹ nhàng bò bằng tay, bằng đầu gối và cố tưởng tượng xem Tally đang làm gì khi trốn trong cánh đồng, cách xa toa moóc. Sau đó tôi lại nghe một giọng nói khác, giọng đàn ông. Tôi quyết định di chuyển tới gần hơn.
Tôi phát hiện một khe hở rộng giữa hai thân cây và nhẹ nhàng đi cắt ngang qua luống đầu tiên. Không có gió để làm xào xạc những chiếc lá và quả nang, vì vậy tôi phải cố giữ thật yên lặng. Và kiên nhẫn nữa. Tôi trườn qua luống thứ hai và chờ đợi giọng nói.
Bọn họ im lặng một lúc lâu khiến tôi lo rằng có lẽ họ nghe thấy tôi. Sau đó có tiếng cười rúc rích, cả hai giọng nói thì thầm vang lên, nhưng tôi không nghe rõ. Tôi nằm ép bụng xuống đất, và quan sát mọi việc từ dưới những thân cây dầy đặc, không có quả nang cũng như đám lá. Chỉ cách vài luống, tôi gần như thấy cái gì đó, có lẽ là màu tóc sẫm của Tally, và cho là mình đã đến đủ gần.
Mọi người trong gia đình Spruill và gia đình Chandler đang làm việc phía sau toa moóc. Nhóm Mexico thì ở xa, không thể thấy gì ngoài những cái mũ rơm.
Mặc dù được che chắn, tôi vẫn toát mồ hôi ướt đẫm. Tim đập nhanh, cổ họng khô không khốc. Tally trốn sâu trong ruộng bông với một người đàn ông, và đang làm gì đó bậy bạ. Nếu không, tại sao họ phải trốn? Tôi muốn ngăn họ lại, nhưng tôi không có quyền. Tôi chỉ là trẻ con, một tên gián điệp đang rình mò bọn họ. Tôi nghĩ đến việc rút lui khỏi chỗ đó, nhưng những giọng nói giữ tôi lại.
Con rắn hổ mang nước, một trong rất nhiều loài rắn ở vùng này, thường sống quanh các nhánh sông con và đôi khi liều lĩnh bò lên cạn phơi nắng hoặc kiếm mồi. Mỗi năm khi bắt đầu trồng trọt vào mùa xuân, chúng tôi thường thấy chúng nằm ngay trên những luống đất đã cày xới. Ngắn, đen, dầy, hung hăng và đầy nọc độc. vết cắn của chúng không gây nguy hiểm, nhưng tôi cũng nghe kể nhiều chuyện về những cái chết khủng khiếp.
Nếu thấy một con rắn như thế, bạn chỉ đơn giản giết nó bằng cái que, cuốc hay bất cứ cái gì có thể túm được. Chúng không nhanh nhẹn như loài rắn chuông, màu da cũng không nổi bật, nhưng dơ dáy và bẩn thỉu.
Con rắn đang bò qua luống bông, thẳng chỗ tôi, cách chỉ khoảng năm bộ. Tôi và nó trố mắt nhìn nhau. Tôi đang bận rình Tally nên quên hết mọi thứ. Tôi kêu lên sợ hãi và cắm đầu chạy thẳng, qua một rồi hai luống bông.
Giọng đàn ông nói to nhưng không phải vào lúc tôi chú ý tới con rắn. Tôi cúi xuống bao bông, buộc dây qua vai và bắt đầu bò về phía toa moóc. Khi chắc chắn đã cách chỗ đó khá xa, tôi dừng lại và nghe ngóng. Hoàn toàn im ắng. Không có ai đuổi theo.
Từ từ, tôi đứng dậy và hé mắt nhìn qua đám bông. Bên phải, cách đó vài luống và quay lưng về phía tôi là Tally, bao bông sau lưng, mũ rơm hất sang bên, ung dung đi dọc luống bông như thể không có chuyện gì xảy ra.
Phía bên trái, Cowboy đang chạy cắt qua luống bông và lén lút giống một tên trộm.
 
Đa phần các buổi chiều thứ bảy, Pappy có thể đưa ra lý do nào đó để trì hoãn chuyến đi vào thị trấn, chúng tôi kết thúc bữa trưa, và tôi cũng đã chịu đựng nỗi khó chịu trong việc tắm rửa. Sau đó, vì muốn bắt chúng tôi phải đợi, ông sẽ tìm ra một việc gì đó để làm. Chẳng hạn máy kéo có vấn đề, và bỗng nhiên cần tới sự quan tâm của ông. Pappy bò quanh nó với cái cờ lê cũ, cương quyết là nó phải được sửa chữa ngay và ông có thể mua phụ tùng cần thiết trong thị trấn. Hoặc xe tải không khởi động được, và thời điểm thích hợp để kiểm tra động cơ là sau bữa trưa thứ bảy. Hoặc máy bơm có vấn đề gì đó. Thỉnh thoảng ông ngồi tại bàn bếp và tính tính toán toán giấy tờ về việc quản lý hoạt động trang trại.
Cuối cùng, khi mọi người gần như hết sức chịu đựng, ông sẽ thong thả tắm rửa. Và rồi chúng tôi tới thị trấn.
Mẹ háo hức đi xem thành viên mới nhất của hạt Craighead, mặc dù nó thuộc gia đình Latcher, vì thế trong khi Pappy làm những chuyện vớ vẩn trong kho công cụ, chúng tôi chất bốn hộp rau củ lên thùng sau và lái xe qua sông. Cha cố kiếm lý do để tránh chuyến đi này. Ông bố

 
“được cho là của đứa trẻ” chính là em trai cha, và như vậy, dĩ nhiên, làm cho cha trở thành ông bác “được cho là của đứa trẻ” và đó là điều cha không sẵn sàng chấp nhận. Hơn nữa, tôi chắc là cha không muốn chạm trán với ông Latcher.
Mẹ lái xe, tôi cầu nguyện, và chúng tôi cũng được an toàn khi qua cầu. Chúng tôi tới điểm dừng bên kia sông. Xe khựng lại, chết máy. Khi mẹ hít một hơi thở sâu, tôi quyết định nói.
-Mẹ, có việc con cần phải kể cho mẹ.
-Con có thể chờ được không? - Mẹ sờ vào bộ phận đánh lửa.
-Không.
Chúng tôi đang ngồi trong xe tải nóng nực, trên con đường đất một chiều không có nhà cửa và xe cộ. Đây chính là địa điểm và thời điểm lý tưởng cho một cuộc nói chuyện quan trọng.
-Gì vậy? - Mẹ khoanh tay trước ngực, nhìn tôi như thể tôi đã làm việc gì đó tồi tệ.
Có rất nhiều điều bí mật. Hank và anh em nhà Sisco đánh nhau. Tally tại nhánh sông. Việc ra đời của đứa trẻ nhà Latcher. Nhưng những việc đó được bỏ qua. Tôi đã trở nên lão luyện hơn trong việc giữ bí mật. Tuy nhiên, bí mật hiện nay cần phải được chia sẻ với mẹ.
-Con nghĩ là Tally và Cowboy thích nhau. - Tôi nói và ngay lập tức cảm thấy nhẹ người.
-Thật sao? - Mẹ mỉm cười, như thể tôi không biết gì nhiều vì chỉ là trẻ con. Sau đó nụ cười dần biến mất khi mẹ suy nghĩ lại. Tôi tự hỏi hay mẹ cũng biết gì đó về chuyện tình lãng mạn, bí mật này.
-Vâng, thưa mẹ.
-Cái gì làm con nghĩ vậy?
-Con bắt gặp họ trên đồng bông sáng nay.
-Họ đang làm gì? - Mẹ dường như hơi sợ là có lẽ tôi đã thấy cảnh gì đó không được phép nhìn.
-Con không biết, nhưng họ ở cùng nhau.
-Con thấy họ không?
Tôi kể cho mẹ nghe mọi chuyện về những giọng nói, về con rắn và sau đó là việc bỏ chạy của họ. Tôi không bỏ sót một chi tiết nào, và đáng kinh ngạc là tôi đã không hề cường điệu thêm. Có chăng thì chỉ về kích cỡ con rắn thôi, còn lại tôi kể sát sự thật.
Mẹ chăm chú nghe, và dường như thật sự sửng sốt.
-Họ đang làm gì vậy mẹ? - Tôi hỏi.
-Mẹ không rõ. Con không thấy gì hết phải không?
-Không, thưa mẹ. Mẹ nghĩ là họ hôn nhau à? .
-Có lẽ. - Mẹ nói nhanh.
Mẹ lại sờ vào bộ phận đánh lửa.
-Được rồi, mẹ sẽ nói chuyện này với cha.
Chúng tôi tiếp tục chuyến đi. Sau một, hai phút tôi thật sự không thể biết là mình có cảm thấy dễ chịu hơn không. Mẹ đã nói nhiều lần rằng trẻ con không nên giữ bí mật với cha mẹ. Nhưng mỗi lần tôi thú thực việc gì, mẹ lại nhún vai biểu lộ nghi ngờ và sau đó kể cho cha. Tôi không biết mình được lợi lộc gì khi quá thật thà như vậy. Nhưng đó là việc tôi có thể làm. Bây giờ, người lớn đã biết về mối quan hệ giữa Tally và Cowboy. Hãy để họ lo lắng đến chuyện rắc rối.
Gia đình Latcher đang hái bông gần nhà, vì vậy khi xe dừng, chúng tôi có cả một đám khán giả. Bà Latcher xuất hiện từ trong nhà và cố nở nụ cười, sau đó giúp chúng tôi khuân đống thực phẩm tới hành lang trước.
Tôi đoán là cô muốn thấy đứa bé. - Bà nói nhẹ nhàng với mẹ.
Tôi cũng muốn nhìn nó, nhưng tôi biết cơ hội này là rất nhỏ. Hai phụ nữ đi vào trong. Tôi tìm thấy một chỗ dưới gốc cây gần xe tải, và định vừa đi vẩn vơ một mình vừa suy nghĩ về chuyện của chính mình trong khi chờ mẹ. Tôi không muốn thấy bất cứ ai trong nhà Latcher. Giờ đây, sự thật là chúng tôi có thể liên quan máu mủ với họ khiến tôi phát ngán.
Bỗng nhiên, ba đứa trẻ với Percy dẫn đầu xuất hiện quanh xe tải. Hai đứa kia nhỏ và bé hơn nhưng cũng gầy gò và săn chắc như Percy. Bọn chúng im lặng tiến tới chỗ tôi.
-Chào, Percy! - Tôi cố tỏ ra lịch sự.
-Mày đang làm gì ở đây? - Cậu ta gầm gừ.
Hai thằng em trai đứng bên cạnh, cả ba dang hàng trước mặt tôi.
-Mẹ tôi bắt đi cùng.
-Mày không có chuyện gì chỗ này. - Nó rít lên qua hàm răng nghiến chặt, và tôi chỉ muốn chạy lui. Tôi thực sự muốn cúp đuôi bỏ chạy.
-Tôi đợi mẹ.
-Chúng tao lại muốn đập thằng ngu như mày đấy. - Percy nói và cả ba đứa nắm chặt bàn tay.
-Tại sao? - Tôi hỏi.
-Vì mày là người nhà Chandler, và chú Ricky của mày đã làm việc đó với Libby.
-Không phải lỗi của tôi.
-Không thành vấn đề.
Đứa bé nhất trông rất hung dữ. Nó nheo nheo mắt và mím chặt môi, gầm gừ nhìn tôi và tôi nghĩ cú đấm đầu tiên sẽ xuất phát từ nó.
-Ba đánh một là không công bằng. - Tôi nói.
-Chuyện xảy ra với Libby mới không công bằng. - Percy khó chịu.
Sau đó, nhanh như một con mèo, nó đấm vào bụng tôi. Ngựa cũng không thể đá được cú nào mạnh hơn, và tôi ngã lăn xuống đất với tiếng kêu thét.
Tôi đã từng đánh nhau ở trường học - cuộc vật lộn trên đất bị thầy cô giáo ngăn lại trước khi những cú đấm nghiêm trọng tung ra. Cô Emma Enos, cô giáo lớp ba, đã cho tôi ba roi vì cố đánh nhau với Joey Stallcup, và Pappy không thể nào tự hào hơn được. Chú Ricky đã từng dạy tôi môn đấu vật và đấm nhau. Tôi không lạ gì với việc đánh đấm. Pappy thích đánh nhau, và khi tôi ngã ra đất, tôi nghĩ tới ông. Một đứa đá vào người tôi, tôi túm chặt lấy chân nó. Rồi hai đứa kia xông vào, chúng đá, cào cấu và chửi rủa bằng những từ tục tĩu. Tôi túm chặt tóc một đứa trong khi bị hai đứa kia nện vào lưng. Tôi cố kéo mạnh đầu thằng kia xuống thì Percy tung một cú đấm khủng khiếp vào trúng mũi tôi. Mắt mũi tôi tối sầm trong một giây, bọn chúng la hét như con thú hoang, và lại xông vào.
Tôi nghe thấy tiếng phụ nữ hét to từ phía hành lang. Đúng lúc quá! Tôi nghĩ. Bà Latcher đến trước và vừa lôi ba thằng kia ra vừa la hét trách mắng chúng. Vì tôi đang nằm ở dưới nên là người đứng dậy sau cùng. Mẹ nhìn tôi kinh hãi. Bộ quần áo sạch sẽ giờ đã lấm lem đầy đất và mũi tôi đang rỉ máu âm ấm.
-Luke, con không sao chứ?  Mẹ túm chặt hai vai tôi.
Hai mắt rơm rớm nước, và tôi bắt đầu thấy đau. Tôi gật đầu tỏ ý không sao.
-Mang cho tao cái que! - Bà Latcher ra lệnh cho Percy. Bà gầm gừ và túm hai đứa nhỏ đẩy ra xung quanh. -
-Tại sao bọn mày lại đánh một đứa bé? Nó làm gì nên tội.
Bây giờ thì máu đã chảy ra thành dòng, rơi xuống cằm và nhỏ xuống áo tôi. Mẹ bắt tôi nằm xuống và đỡ đầu tôi lên để cầm máu. Trong khi mẹ đang chăm sóc tôi, Percy đã mang que ra.
-Bác muốn cháu thấy việc này. - Bà Latcher quay sang phía tôi.
-Không, chị Darla! - Mẹ tôi nói. - Chúng tôi về đây.
-Không, tôi muốn con cô chứng kiến việc này. - Bà kiên quyết. - Bây giờ cúi xuống, Percy.
-Con không định làm vậy, thưa mẹ. - Percy rõ ràng rất sợ hãi
-Cúi xuống, hay tao sẽ gọi cha chúng mày. Tao sẽ dạy cho chúng mày vài điều. Có được đánh trẻ con, khách của gia đỉnh không?
-Không. - Giọng Percy run run.
Bà giơ gậy phát mạnh vào Percy. Nó hét lên đau đớn, bà véo tai và bắt nó cúi xuống túm lấy mắt cá chân.
-Mày còn hét thì tao sẽ đánh mày suốt một tuần. -
Percy òa khóc khi bà bắt đầu quất mạnh. Cả mẹ và tôi kinh ngạc bởi cơn giận dữ và hành động hung bạo của bà. Sau tám hay mười que, Percy kêu la thảm thiết.
-Câm mồm! - Bà hét to.
Tay chân gầy như que củi, nhưng bà rất nhanh nhẹn. Cái que quất xuống vun vút, nhanh và mạnh, kêu bồm bộp như tiếng roi bịt đầu da. Mười, hai mươi, ba mươi roi, và Percy kêu rống lên.
-Làm ơn dừng lại đi, mẹ ơi! Con xin lỗi!
Trận đòn vẫn tiếp tục, quá mức trừng phạt. Khi tay đà mỏi, bà đẩy nó ra đất. Percy nằm co người lại như quả bóng và than khóc. Lúc đó mặt mũi hai đứa kia đã giàn giụa nước mắt. Bà túm tóc một đứa.
-Rayford, cúi xuống!
Rayford từ từ túm hai mắt cá chân và cố sức chịu đựng cuộc tra tấn tiếp theo.
-Chúng ta về thôi! - Mẹ thì thầm với tôi. - Con có thể nằm phía sau.
Mẹ đỡ tôi lên sau xe, và lúc đó bà Latcher lôi đứa cuối cùng ra, giật mạnh tóc nó. Percy và Rayford đang nằm co ro trên đất. Mẹ điều khiển xe rẽ lên đường, và khi chúng tôi đi khỏi bà Latcher đang nện đứa bé nhất. Những tiếng nói ầm ĩ, tôi ngồi dậy và thấy ông Latcher đang chạy qua nhà với một lũ trẻ phía sau. Ông ta hét lên can ngăn vợ nhưng bà phớt lờ chồng và tiếp tục đánh. Khi tới được chỗ vợ, ông ta túm chặt tay bà. Đám trẻ chạy toán loạn khắp nơi, và mọi người dường như đều kêu gào hoặc khóc lóc.
Bụi tung mù mịt phía sau, và tôi không thấy bọn họ nữa. Khi nằm xuống và cố lấy tư thế thoải mái, tôi thề rằng sẽ không bao giờ thèm đặt chân tới trang trại nhà họ. Tôi không bao giờ muốn nhìn thấy bất cứ ai trong đám người đó suốt quãng đời còn lại. Và tôi thành tâm cầu nguyện rất lâu, mong không một ai nghe được tin đồn là hai gia đình Chandler và Latcher có liên quan tới nhau.
Chuyến quay về của tôi khá vinh quang. Gia đình Spruill đã chuẩn bị xong và sẵn sàng tới thị trấn. Bọn họ đang đợi dưới gốc cây, uống trà đá với Pappy, Gran và cha khi hai mẹ con dừng xe. Giả bộ đóng kịch hết mức có thể, tôi đứng dậy sau xe tải, và với vẻ rất mãn nguyện quan sát vẻ kinh ngạc của mọi người khi thấy tôi. Luke, một đứa trẻ bảy tuổi, bị đánh, bị chảy máu, bẩn thỉu, quần áo rách toạc, nhưng vẫn đứng hiên ngang.
Tôi trèo xuống xe, và mọi người vây quanh tôi. Mẹ chạy ra phía trước.
-Mọi người không thể tin được những gì đã xảy ra đâu. Ba đứa chúng nó xông vào Luke. Percy và hai đứa nữa bắt gặp Luke khi tôi ở trong nhà. Những tên tội phạm nhí! Chúng ta mang thức ăn cho họ, và họ đáp lại như vậy đây.
Tally có vẻ quan tâm, và tôi nghĩ chị muốn bước tới gần và sờ vào người tôi, để chắc chắn là tôi vẫn ổn.
-Ba đứa? - Pappy nhắc lại, hai mắt trợn trừng.
-Vâng, và bọn nó đều to hơn Luke. - Mẹ khẳng định, và câu chuyện bắt đầu được tăng thêm lên. Hình dáng ba kẻ tấn công sẽ tăng lên khi nhiều ngày tháng trôi qua.
Gran đứng ngay trước mặt tôi, nhìn chằm chằm vào cái mũi bị xước.
-Có lẽ mũi bị vỡ rồi. - Bà nói.
Và mặc dù rất muốn nghe thấy điều đó, tôi cũng không mong sự chữa trị của bà.
-Cháu không bỏ chạy phải không? - Pappy hỏi. Ông cũng tiến đến sát hơn.
-Không, thưa ông. - Tôi tự hào nói. Nhưng tôi sẽ vẫn bỏ chạy nếu có cơ hội.
-Luke không bỏ chạy, - mẹ kể. - Nó đấm đá cũng rất hăng, như bọn kia vậy.
Pappy cười rạng rỡ, và cha mỉm cười.
-Ngày mai, chúng ta sẽ trở lại đó và giải quyết chuyện này với bọn họ. - Pappy tuyên bố.
-Cha không nên làm vậy. - Mẹ can ngăn.
Mẹ hơi khó chịu bởi ông nội thích cãi lộn ầm ĩ. Nhưng vì mẹ xuất thân từ một gia đình toàn con gái nên không thể hiểu chuyện đánh đấm.
-Cháu có nện được cú đẩm nào trúng đích không? - Pappy hỏi.
-Tất cả bọn chúng đều gào khóc khi cháu rời khỏi đó. - Tôi khoe.
Mẹ trợn mắt nhìn tôi.
Hank đẩy mọi người ra và cúi nhìn những vết thương.
-Mày nói ba đứa, đúng không? - Gã lầu bầu hỏi.
-Vâng. - Tôi gật đầu.
-May cho mày đó nhóc. Nếu mày muốn, tao sẽ chỉ cho mày vài cách giải quyết khi một mình chơi ba đứa. -
-Chúng ta đi lau rửa thôi. - Mẹ nói.
-Tôi nghĩ là mũi bị vỡ rồi. - Gran lên tiếng.
-Em ổn chứ, Luke? - Tally hỏi.
-Vâng. - Tôi nói với vẻ khó khăn hết mức có thể.
Mọi người dẫn tôi đi, một cách đầy vinh quang.




Đăng nhập để trả lời
0
- 23 -


Cuộc Picnic Mùa thu luôn được tổ chức vào chủ nhật cuối cùng trong tháng Chín, mặc dù không ai biết chính xác nguồn gốc sự kiện này. Đơn giản chỉ là truyền thống ở Black Oak, một nghi thức lâu đời như lễ hội Carnival và Lễ phục hồi đức tin mùa xuân. Đây được cho là thời điểm kết nối một mùa mới, mở đầu cho việc hoàn thành vụ mùa, và kết thúc mùa bóng chày. Không phải tất cả đều được làm trọn vẹn trong một buổi picnic, nhưng ít ra thì sự cố gắng đã được thực hiện.
Chúng tôi cùng chia sẻ ngày hôm đó với người theo đạo Tin lành, những người bạn và cũng là đối thủ thân thiện của chúng tôi. Black Oak quá nhỏ nên không thể phân cách. Ở đây không có các nhóm vô thần, không có người da đen, Do Thái hay Châu Á, không có nhiều nhóm người ngoài cuộc thường xuyên. Tất cả chúng tôi đều thuộc dòng giống Anh lai Ai Len, có lẽ một hoặc hai dòng máu Đức, và mọi người đều cày cấy trồng trọt hoặc bán đất cho nông dân. Mọi người đều là tín đồ Cơ đốc hay được cho là vậy. Sự bất hòa chỉ lộ ra khi một fan hâm mộ đội Cub nói quá nhiều tại Tea Shoppe, hay khi kẻ ngớ ngẩn nào đó tuyên bố John Deere kém hơn so với một loại máy kéo khác, nhưng đa phần cuộc sống là hòa bình. Đám thanh niên thích đánh nhau sau cửa hàng Hợp tác xã vào thứ bảy, nhưng chuyện đó thiên về rèn luyện thể thao. Một vụ ấu đả giống vụ Hank nện anh em nhà Sisco hiếm khi xảy ra nên đến bây giờ cả thị trấn vẫn còn bàn tán.
Đôi khi, chỉ vài mối ganh ghét cá nhân kéo dài một thời gian; Pappy thường giữ mối hiềm khích nhiều hơn người kia. Nhưng không có kẻ thù đặc biệt nào. Trật tự xã hội rất rõ ràng, giữa dân lĩnh canh bần nông và dân buôn bán trung lưu. Mọi người biết vị trí của mình và cùng sống hoà thuận.
Ranh giới giữa người theo đạo Cơ đốc và Tin lành không bao giờ phức tạp và căng thẳng. Nghi thức tôn giáo hơi khác nhau, với nghi lễ rửa tội cho trẻ nhỏ là khuynh hướng rõ ràng nhất theo Kinh Thánh. Người theo đạo Tin lành không gặp nhau thường xuyên, dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là họ không coi trọng niềm tin. Không ai gặp nhau nhiều như người theo đạo Cơ đốc. Chúng tôi rất tự hào về nghi thức cầu nguyện liên tục. Pearl Wason, người theo đạo Tin lành yêu quý của tôi, nói là bà thích đạo Cơ đốc, nhưng bà không thể cải đạo.
Ricky đã nói với riêng tôi là khi rời trang trại chú có thể sẽ theo đạo Thiên chúa bởi họ chỉ gặp nhau mỗi tuần một lần. Tôi không biết người Thiên chúa là thế nào, nhưng chú Ricky là người dễ dao động về tín ngưỡng nhất.
Sáng chủ nhật hôm đó, Mẹ và Gran dành nhiều thời gian hơn trong việc là ủi quần áo. Và tôi chắc chắn bị kỳ cọ với nhiều mục đích hơn. Trái với nỗi mong đợi, mũi tôi không bị vỡ, cũng không sưng phồng, nhưng vết xước có thể thấy rõ.
Chúng tôi cần phải ăn mặc trông tuyệt nhất bởi phụ nữ Tin lành thường có những bộ cánh đẹp hơn. Mặc những thủ tục rườm rà, tôi vẫn cảm thấy phấn khích và sốt ruột mong chờ được tới thị trấn.
Chúng tôi đã mời gia đình Spruill. Đây là thái độ tỏ tính thân thiện và sự quan tâm của tín đồ Cơ đốc, tuy nhiên tôi chỉ muốn xem xét và lựa chọn khách mời. Với tôi, Tally sẽ được chào đón; còn những người khác thì không. Nhưng khi quan sát căn lều sau bữa sáng, tôi không thấy có sự chuẩn bị. Xe tải chưa được tháo khỏi đống dây cọc.
- Gia đình họ sẽ không đi. - Tôi thì thầm với Pappy, đang nghiên cứu bài học ngày chủ nhật.
- Tốt. - Ông nói nhỏ.
Viễn cảnh Hank phá tan buổi picnic, nhìn chằm chằm từ bàn này sang bàn khác, ngốn một đống thức ăn và cố muốn gây ấu đả, không hấp dẫn cho lắm.
Nhóm Mexico thật sự không có sự lựa chọn nào khác. Ngay từ đầu tuần, mẹ đã gửi lời mời tới Miguel, rồi nhắc nhở nhẹ nhàng hai lần nữa khi chủ nhật tới gần. Cha đã giải thích với Miguel là sẽ có một buổi cầu nguyện đặc biệt bằng tiếng Tây Ban Nha, sau đó là một bữa trưa với nhiều thức ăn ngon. Họ không có việc gì vào chiều chủ nhật.
Chín người nhồi nhét lên sau xe tải; chỉ vắng mặt mỗi Cowboy. Điều này kích thích trí tưởng tượng của tôi. Anh ta đang ở đâu và làm gì? Còn Tally đâu? Tôi không thấy chị ở sân trước. Tim tôi trĩu nặng khi nghĩ rằng hai người lại lén lút ra đồng và làm việc gì mờ ám. Nếu bây giờ chị nhờ Cowboy làm lính cạnh trong khi tắm gội ở sông Siler thì sao? Tôi không thể chịu được ý nghĩ đó, và trong suốt quãng đường tới thị trấn tôi luôn thấy lo về Tally.

Đức cha Akers, với nụ cười hiếm hoi, bắt đầu bài giảng đạo. Nhà thờ chật kín, mọi người ngồi trên các dãy ghế hoặc đứng dọc tường. Cửa sổ mở toang, và phía bắc nhà thờ, dưới gốc cây sồi cao là một đám đông người Mexico đang ngồi. Tất cả đều bỏ mũ để lộ ra mái tóc sẫm màu tạo thành một biển màu nâu.
Đức cha Akers chào đón những vị khách. Như thường lệ, ông yêu cầu họ đứng dậy và phân biệt từng nhóm. Họ đến từ những nơi như Hardy Mountain Home, Calico Rock, và cũng ăn mặc chải chuốt như chúng tôi.
Loa phóng thanh đặt tại một ô cửa sổ, vì thế lời nói của cha Akers được truyền ra ngoài nhà thờ và tới thẳng chỗ những người Mexico, Ông Carl Durbin, thầy truyền giáo đã nghỉ hưu, đến từ Jonesboro, chịu trách nhiệm dịch bài giảng đạo sang tiếng Tây Ban Nha. Ông từng làm việc tại Peru trong ba mươi năm, sống trên núi cùng những người da đỏ thực thụ. Ông thường đến nói chuyện với chúng tôi trong tuần truyền giáo và cho chúng tôi xem những bức ảnh về vùng đất xa lạ nơi ông đã ở. Ngoài tiếng Tây Ban Nha, ông còn nói được tiếng thổ ngữ da đỏ, và điều này luôn mê hoặc tôi.
Dưới bóng cây, ông Durbin đứng giữa bãi cỏ còn đám người Mexico ngồi vây xung quanh. Quần áo trắng, mũ rơm trắng, và giọng nói của ông vọng lại nhà thờ cũng với âm lượng như cha Akers hét vào loa. Ricky từng nói rằng ông Durbin có ý thức hơn cha Akers, và chú đã đưa ra ý kiến này trong một bữa tối chủ nhật và lại gây ra rắc rối. Bạn có tội khi phê phán thầy giảng kinh của chính bạn, ít nhất là không được nói toạc ra như vậy.
Tôi ngồi cuối dãy ghế ngay sát cửa sổ, vì thế có thể quan sát và lắng nghe ông Durbin. Tiếng Tây Ban Nha của ông chậm hơn so với người Mexico. Họ thường nói rất nhanh khiến tôi luôn tự hỏi làm cách nào họ có thể hiểu được nhau. Ông Durbin nói năng trôi chảy, thong thả và đặc sệt chất giọng Arkansas. Mặc dù tôi không có một chút ý niệm về những gì ông đang nói, nhưng rõ ràng ông vẫn thu hút hơn so với cha Akers.
Không có gì ngạc nhiên, trước một đám đông lớn, bài giảng đạo buổi sáng tạo ra sinh khí và trở thành cuộc chạy trường kỳ. Đám đông nhỏ, bài giảng ngắn hơn. Với đám đông lớn, như trong Lễ Phục sinh, ngày Lễ của Mẹ và buổi Picnic Mùa thu, cha Akers thích trình diễn. Đôi khi, cha nói lan man dông dài khiến ông Durbin có vẻ phát chán. Ông phớt lờ bức thông điệp được truyền ra từ trong nhà thờ và bắt đầu bài giảng đạo của chính mình. Khi cha Akers dừng lại thở, ông Durbin vẫn thao thao nói. Và khi cha Akers lấy hơi tiếp tục bài giảng lê thê, ông Durbin lại nghỉ uống nước. Ông ngồi xuống bãi cỏ cùng đám người Mexico và dường như muốn hét to vào trong nhà thờ yêu cầu dừng lại.
Tôi cũng chờ đợi: Tôi chỉ nghĩ tới bữa ăn ngon lành sắp được thưởng thức - những đĩa thức ăn đầy tú hụ với gà rán và cốc kem tự làm.
   Người Mexico bắt đầu liếc nhìn vào cửa sổ nhà thờ. Tôi chắc là họ nghĩ cha Akers đã phát cuồng.
-Hãy thư giãn đi! - Tôi muốn nói với họ. - Việc này xảy ra thường xuyên đấy.
Chúng tôi hát năm khổ thơ trong bài Just as I am cầu xin Chúa ban phúc lành trước khi kết thúc buổi lễ. Và cha Akers miễn cưỡng cho giải tán. Tôi gặp Dewayne ngay cửa trước, và chúng tôi chạy thẳng đến sân bóng chày xem người Tin lành có mặt chưa. Dĩ nhiên là họ đã ở đó, họ không bao giờ hành lễ lâu như chúng tôi.
   Thức ăn được bày trên dãy bàn phủ khăn màu đỏ trắng. Người Tin lành đang tụ họp quanh đó, đàn ông và trẻ con bưng bê thức ăn trong khi phụ nữ sắp xếp bát đĩa. Tôi thấy bà Pearl Wason và tiến đến chỗ bà.
-Cha Akers sẽ tới chứ? - Bà mỉm cười hỏi.
-Ông ấy mới giải thoát cho chúng cháu xong.
Bà đưa cho Dewayne và tôi hai cái bánh sôcôla. Chỉ cần hai miếng tôi đã giải quyết xong cái bánh.
  Cuối cùng, nhóm người Cơ đốc bắt đầu tới, giữa một dàn đồng ca: “Xin chào”, “Anh đã ở đâu thế?” và “Sao mà lâu thế?” Ôtô và xe tải đậu san sát dọc hàng rào sân bóng. Hai năm trước, chiếc xe mui kín hiệu Chrysler mới cứng của ông Wilber Shifflett bị mất một kính chắn gió khi chú Ricky đánh trúng một cú home-run qua hàng rào bên trái sân. Vụ va chạm thật khủng khiếp - một tiếng uỵch to, sau đó là cảnh kính bắn tung toé khắp nơi. Nhưng ông Shifflett có tiền, vì vậy không ai phải lo lắng. Ông biết rõ sự mạo hiểm khi đỗ xe chỗ đó. Năm trước, đội bóng Tin lành cũng đánh bại chúng tôi với tỷ số bảy năm, và chú Ricky có ý kiến là huấn luyện viên, Pappy, nhẽ ra nên đổi người phát bóng ở lượt chơi thứ ba.
Hai cha con không nói chuyện với nhau một thời gian- vì chuyện đó.
Những bát rau to, đĩa gà rán, những giỏ bánh mỳ ngô, bánh mỳ cuộn và các loại bánh khác đã được bày biện trên bàn. Dưới sự chỉ dẫn của bà Orr, vợ mục sư đạo Tin lành, từng bát từng đĩa được chuyển tới chỗ này chỗ kia. Một bàn bày toàn các loại rau sống - hơn chục loại cà chua, dưa chuột, hành trắng vàng dầm dấm... kế đó là đậu - đậu mắt đen, đậu đông, đậu xanh trộn giăm bông, và đậu bơ. Mỗi cuộc picnic đều có salát khoai tây, và mỗi đầu bếp đều có cách chế biến khác nhau. Dewayne và tôi đếm được tất cả mười một bát, và không loại nào giống nhau. Trứng vật nuôi hầu như phổ biến, và những đĩa trứng chiếm mất gần nửa bàn. Cuối cùng, và quan trọng nhất, là món gà rán.
Phụ nữ chạy hối hả xung quanh, rối rít nhặng xị về  
thức ăn trong khi đàn ông nói chuyện, cười đùa và chào hỏi lẫn nhau, nhưng luôn để mắt vào món gà rán. Trẻ con có mặt ở khắp nơi, Dewayne và tôi chạy tới gốc cây đặc biệt, nơi vài phụ nữ đang sắp xếp món tráng miệng. Tôi đếm có mười sáu thùng ướp đá món kem tự làm, tất cả được bao chặt bằng khăn.
Sau khi công việc chuẩn bị đã được sự phê chuẩn của bà Orr thì chồng bà, mục sư Vernon Orr, cùng cha Akers đứng giữa dãy bàn, còn đám đông dần lắng xuống rồi trật tự. Năm ngoái, cha Akers đã nói lời cảm ơn Chúa trời vì những may mắn mà Người mang lại; năm nay vinh dự đó thuộc về người Tin lành. Cuộc picnic có một thể lệ không thành lời về chuyện này. Chúng tôi cúi đầu và lắng nghe khi mục sư Orr tạ ơn Đức chúa vì lòng tốt của Người, vì tất cả thức ăn ngon, vì thời tiết, vụ bông, và vân vân. Ông nói không sót thứ gì; Black Oak biết ơn Người vì mọi thứ.
Tôi có thể ngửi thấy mùi gà rán. Tôi có thể thưởng thức sôcôla hạnh nhân và kem. Dewayne đá vào chân tôi, và tôi muốn đập cho cậu ta một phát. Tuy nhiên, tôi không làm vậy bởi đã phải đấu tranh suốt lúc cầu nguyện.
 Khi mục sư Orr kết thúc lời tạ ơn Chúa, cánh đàn ông mời nhóm người Mexico. Đây là một truyền thống; người Mexico trước tiên, tiếp theo đến dân miền núi, rồi trẻ con, cuối cùng mới tới người lớn. Ông Stick Power xuất hiện từ đâu đó, dĩ nhiên, trong bộ quân phục, và cố cắt ngang hàng. Tôi nghe thấy ông giải thích là đang làm nhiệm vụ và không có nhiều thời gian. Ông ta mang đi hai đĩa - một đựng gà rán và đĩa kia chất đầy mọi thứ. Chúng tôi biết ông ta sẽ ăn cho tới khi no căng, sau đó tìm một bóng cây bên rìa thị trấn và đánh một giấc.
Vài người Tin lành hỏi tôi về Ricky - chú đang làm gì, chúng tôi có nhận được tin tức của chú không. Tôi cố tỏ ra dễ thương và trả lời câu hỏi, nhưng gia đình Chandler chúng tôi không thích sự chú ý. Và bây giờ, chúng tôi rất sợ bí mật nhà Latcher, lời nói nào đề cập tới chú Ricky ở nơi công cộng đều khiến chúng tôi sợ hãi.
-Hãy nói với Ricky, chúng tôi luôn nghĩ về cậu ấy.
Họ thường nói vậy, như thể chúng tôi có điện thoại và gọi điện cho chú mỗi đêm.
-Chúng tôi luôn cầu nguyện cho cậu ấy.
-Cháu cảm ơn ạ. - Tôi luôn trả lời.
Khoảng thời gian tuyệt vời trong buổi Picnic Mùa thu có thể bị phá hỏng bởi một câu hỏi không mong đợi về Ricky. Chú đang ở Triều Tiên, trong trại lính, giữa cuộc chiến, đang né tránh đạn và việc giết người. Không biết chú sẽ còn được về nhà để đi nhà thờ cùng chúng tôi, tham dự buổi picnic cùng cả thị trấn, chơi bóng với đội Tin lành nữa không. Giữa sự phấn khích, tôi bất chợt cảm thấy cô đơn, và rất sợ hãi.
-Hãy cứng rắn lên! - Pappy sẽ nói vậy.
Thức ăn làm giảm nhẹ nỗi lo trong tôi. Dewayne và tôi lấy đĩa và ngồi dưới một bóng râm nhỏ. Những tấm chăn được rải quanh, và các gia đình ngồi cùng nhau dưới ánh nắng mặt trời. Ô dù được dăng ra; phụ nữ phe phẩy quạt mát cho đám con nhỏ cùng những đĩa thức ăn. Nhóm Mexico tụ tập dưới một bóng cây bên sân phải, cách xa chỗ chúng tôi. Năm ngoái, anh Juan đã thú nhận với tôi là họ không thích món gà rán cho lắm. Tôi chưa bao giờ nghe câu nói nào vô lý như vậy. Nó còn ngon gấp bội lần bánh ngô, vào lúc đó tôi đã nghĩ như thế.
Cha mẹ và ông bà nội ngồi ăn trên một tấm chăn gần góc thứ ba. Sau nhiều lần mặc cả và điều đình, tôi được phép ngồi ăn cùng đám bạn. Một bước ngoặt lớn dành cho đứa trẻ bảy tuổi.
Dòng người không bao giờ dừng lại. Khi cánh đàn ông tới được bàn cuối cùng, đám trẻ con đã quay lại lượt sau. Đối với tôi một đĩa thức ăn là đủ. Tôi muốn bụng mình còn chỗ dành cho món kem. Ngay sau đó, chúng tôi ùa sang bàn tráng miệng, nơi bà Irene Flanagan đang đứng canh và cố  ngăn chặn sự tấn công ồ ạt từ những kẻ giống Dewayre và tôi.
-Bà có bao nhiêu món sôcôla? - Tôi nhìn bộ sưu tập các thùng kem xếp dưới bóng mát.
Bà mỉm cười.
-Ô ..,bà không biết nữa. Vài món thôi.
-Bà Cooper đã mang món kem hạnh nhân tới chưa ạ? - Dewayne hỏi.
-Rồi. - Bà Flanagan chỉ vào thùng nằm giữa.
Bà Cooper, bằng cách nào đó, đã trộn sôcôla với hạnh nhân vào kem, và kết quả thật lạ thường. Mỗi năm, mọi người đều la hét phản đối món kem đó. Năm ngoái, hai cậu bé, một theo đạo Cơ đốc và một theo đạo Tin lành, suýt lao vào đánh nhau để giành suất thứ hai. Trong khi mục sư Orr cố lập lại trật tự thì Dewayne vẫn kiên quyết giằng lấy hai bát. Cậu ta nhảy ra đường và trốn sau kho rồi ăn ngấu nghiến từng bát. Suốt cả tháng sau, giọng cậu ta lúc nào cũng khàn khàn.
Chồng bà Cooper đã mất. Bà sống trong ngôi nhà nhỏ hai tầng xinh xắn sau cửa hàng Pop*& Pearl, và khi cần thuê dọn dẹp sân bà chỉ cần làm một thùng kem bơ hạnh nhân. Bọn trẻ sẽ hiện ra từ nơi nào đó, và bà sẽ có được cái sân sạch gọn nhất trong thị trấn. Thậm chí vài thanh niên đã bị phát hiện khi ghé qua chỗ bà nhổ cỏ dại
-Các cháu phải đợi. - Bà Flanagan nói.
-Đến khi nào ạ? - Tôi hỏi.
-Tới khi mọi người ăn xong.
Chúng tôi chờ mãi. Vài thằng lớn hơn và đám thanh niên bắt đầu vươn vai và tung tung quả bóng. Người lớn vẫn cứ nói chuyện và thăm hỏi nhau, rồi lại nói chuyện và thăm hỏi nhau, khiến tôi sốt ruột sợ kem chảy mất. Hai trọng tài đến từ Monette, và gây ra tiếng rì rầm phấn khích trong đám đông. Dĩ nhiên, trọng tài được mời ăn trước tiên, và trong một lúc họ chú ý tới món gà rán hơn là trận bóng chày. Rồi đống chăn và ô dần được thu dọn khỏi khu vực xa cửa thành. Cuộc picnic đã kết thúc, sắp đến giờ đấu bóng.
Phụ nữ tập trung quanh bàn tráng miệng và bắt đầu phục vụ lũ trẻ. Cuối cùng, Dewayne cũng lấy được kem bơ hạnh nhân. Tôi tấn công ngay kem sôcôla hạnh nhân của bà Lou Kiner. Trong vòng hai mươi phút đã xảy ra một vụ ồn ào, nhưng trật tự vẫn được duy trì. Mục sư Akers và cha Orr đứng giữa các dãy bàn, cả hai cùng đang xơi kem cũng nhiều như mọi người. Hai trọng tài từ chối món tráng miệng, họ kêu ca cái nóng bức như một lý do khiến họ ngừng ăn.
Ai đó hét lên.
-Chơi bóng thôi!
Và đám đông di chuyển về phía sân. Đội Tin lành do ông Duffy Lewis, một nông dân ở phía tây thị trấn, huấn luyện. Và theo như lời Pappy, Lewis là người ít có năng khiếu về môn bóng chày. Nhưng sau bốn trận thua liên tiếp, sự coi thường của Pappy đối với ông Lewis gần như mất hắn. Hai trọng tài gọi hai huấn luyện viên đến trao đổi đằng sau home-plate, và họ tranh luận về luật lệ bóng chày ở Black Oak. Họ chỉ vào hàng rào và cột cùng nhánh cây to phía trên sân chơi - mỗi bên đều có quy luật riêng và lịch sử riêng. Pappy không đồng ý với phần lớn ý kiến của các trọng tài, và vụ điều đình vẫn tiếp tục, tiếp tục.
Năm ngoái, Cơ đốc là đội nhà, vì vậy chúng tôi đánh trước. Cầu thủ ném bóng đội Tin lành là Buck Prescott, con trai Sap Prescott, một trong những chủ đất lớn nhất ở Craighead. Buck mới hai mươi tuổi và gia nhập đội bóng bang Arkansas được hai năm. Anh đã tập luyện ném bóng ở trường đại học, nhưng gặp một số rắc rối với huấn luyện viên. Buck thuận tay trái, chỉ ném được những cú bóng cong, và năm ngoái đã đánh bại chúng tôi, với tỷ số chín hai. Khi anh bước ra ụ đất, tôi biết đội chúng tôi sẽ gặp nhiều khó khăn. Cú ném đầu tiên là một cú bóng cong chậm, và Pappy đang càu nhàu với trọng tài. Buck ném hai cú tiếp theo, sau đó rút về cho cha tôi một cú bóng bay đến giữa sân.
Cầu thủ ném bóng của chúng tôi là Duke Ridley, một nông dân trẻ có đến sáu đứa con, với cú bóng nhanh thậm chí tôi cũng có thể đánh trúng. Duke tuyên bố đã từng ném bóng ở Alaska trong thời kỳ chiến tranh, nhưng việc này không hề được xác minh. Pappy nghĩ đó là lời nói dối. Năm ngoái, sau khi quan sát những cú ném của Duke bị bắt gọn, tôi cũng thấy nghi ngờ lời tuyên bố kia. Duke bước tới ụ đất trong lượt đầu tiên và chỉ ném được một cú bóng cong. Tôi nghĩ, Pappy có thể xông tới ụ đất và làm chú bị thương đến nơi. Anh chàng tiếp theo nổi cơn hung hăng để làm trống bên trái. Chúng tôi may mắn khi cầu thủ số sáu của đội bạn, ông Lester Hurdle, người chơi già nhất ở độ tuổi năm hai, đánh trúng một cú bóng bay dài sang bên phải và người chặn bóng của đội chúng tôi, Bennie Jenkins, không găng tay, không giầy, đã bắt gọn.
Trận đấu là cuộc tranh chấp tay đôi của cầu thủ ném bóng, vì không đội nào có thể đánh trúng. Dewayne và tôi lại xông tới chỗ món kem đang được lau dọn. Vào lượt chơi thứ ba, cánh phụ nữ của cả hai đội đã tập trung thành từng đám trò chuyện và đối với họ, trận đấu ít quan trọng hơn. Cách đấy khồng xa, tiếng radio vang lên trong một ôtô nào đó, và tôi có thể nghe thấy giọng của Harry Caray. Đội Cardinal đang đấu với đội Cub trong trận cuối mùa bóng.
Khi lấy được cốc kem cuối cùng, Dewayne và tôi bước ra sau một tấm chăn với năm sáu phụ nữ đang nghỉ ngơi và trò chuyện.
-Này, cô bé Libby bao nhiêu tuổi? - Tôi nghe thấy một người hỏi.
Tôi dừng lại, xúc một miếng kem, nhìn lướt qua chỗ họ, giả bộ như đang theo dõi trận đấu và không quan tâm tới chuyện họ đang nói.
-Chắc chỉ khoảng mười lăm. - Người khác trả lời.
-Nó là người nhà Latcher. Nó có con là quá sớm.
-Trai hay gái?
-Tôi nghe nói con trai.
-Còn thằng bố thì sao?
-Không rõ là ai. Nó không chịu nói ra.
-Thôi đi. - Dewayne huých khuỷu tay vào người tôi.
Chúng tôi bỏ đi chỗ khác. Tôi không rõ là mình cảm thấy yên tâm hay sợ hãi. Lời bàn tán về đứa trẻ nhà Latcher đã xuất hiện, nhưng bố của nó thì vẫn chưa bị phát hiện.
Việc này cũng chẳng kéo dài lâu đâu, tôi nghi. Và chúng tôi sẽ bi hủy hoại thanh danh. Tôi có đứa em họ là người nhà Latcher, và mọi người sẽ biết việc đó.
Vụ tranh chấp tay đôi ném bóng căng thẳng đã kết thúc trong lượt chơi thứ năm khi cả hai đội qua sáu vòng chạy. Trong suốt ba mươi phút bóng bay khắp nơi - những quả bạt thẳng hàng, những cú ném hoang dại, những cú bóng cong. Đội chúng tôi thay đổi người ném bóng hai lần, và tôi biết là chúng tôi gặp vấn đề khi Pappy đi tới ụ đất và chỉ vào cha tôi. Cha không phải ở vị trí ném bóng, nhưng còn ai nữa đâu. Tuy nhiên, cha chuyên về những cú ném thấp, và chúng tôi sẽ sớm bị loại khỏi lượt chơi.
- Musial đang ném bóng đấy! - Ai đó hét lên.
Là câu nói đùa hay sự lầm lẫn? Stan Musial ở rất nhiều vị trí, nhưng trước đây anh chưa bao giờ ném bóng. Chúng tôi chạy ra sau hàng ghế ngồi ở khán đài không có mái che tới chỗ đỗ xe ôtô. Một đám đông nhỏ đang tụ tập quanh xe Dodge đời 48 của ông Rafe Henry. Radio trên ôtô mở rất to, và giọng Harry Caray đang gào lên cuồng nhiệt - Stan Musial đứng ở vị trí ụ đất, ném bóng cho Frankie Baumholtz, cầu thủ đội Cub, người anh đã phải cạnh tranh mỗi năm. Đám đông tại sân Sportsman's Park như điên cuồng. Harry đang gào thét vào micrô. Tôi sững người với ý nghĩ Musial đứng bên ụ đất.
Baumholtz đánh trúng một cú bóng mặt đất tới góc thứ ba, và họ đưa Musial quay trở lại giữa sân. Tôi chạy ra góc thứ nhất và kể cho Pappy là San Musial thật sự đã ném bóng, nhưng ông không tin. Tôi nói cho cha, và cha cũng có vẻ nghi ngờ. Đội Tin lành đã dẫn trước tám-sáu, cuối lượt chơi thứ bảy, và đội Cơ đốc đang rất căng thẳng.
Cầu thủ của hai đội ướt đẫm mồ hôi, quần áo ngày chủ nhật sạch sẽ và trắng tinh giờ đã dính chặt vào người. Họ di chuyển chậm hơn - cái giá phải trả cho món gà rán và salát khoai tây - và không chen lấn xô đẩy mạnh như Pappy mong đợi.
Cha của Dewayne không tham gia chơi, nên gia đình cậu ta ra về sau hai tiếng. Vài người khác cũng tản đi. Nhóm người Mexico vẫn ngồi ngổn ngang dưới gốc cây, và dường như đang ngủ. Cánh phụ nữ để hết tâm trí vào việc tán chuyện; họ ít quan tâm tới đội nào thắng, đội nào thua.
Tôi ngồi một mình chỗ khán đài không mái che và quan sát đội Tin lành ghi thêm ba điểm trong lượt chơi thứ tám. Tôi mơ ước tới ngày mình có mặt ở đó, đánh trúng một loại cú home-run và tạo ra những bàn thắng không thể tin nổi. Đội Tin lành đáng thương kia sẽ không còn cơ hội khi tôi khôn lớn.
Họ đã giành chiến thắng với tỷ số mười một tám, và trong năm năm liên tiếp Pappy dẫn dắt đội Cơ đốc thất bại. Các cầu thủ cười nói, bắt tay nhau khi trận đấu kết thúc, sau đó kéo nhau tới chỗ bóng mát uống trà đá. Pappy không cười, không nói, cũng không bắt tay ai. Ông biến đi đâu một lúc, và tôi biết là ông sẽ khó chịu suốt một tuần.
Đội Cardinal cũng thua, với tỷ số ba không. Họ đã kết thúc mùa bóng bốn trận đứng sau Giant và tám trận sau Brooklyn Dodger, đội sẽ đối mặt với Yankee trong trận chung kết tại giải New York World.
Thức ăn còn lại được thu dọn và chất lên xe. Người ta đã lau sạch bàn và thu dọn rác rưởi. Tôi giúp ông Duffy Lewis cào xới mô đất và home-plate. Khi chúng tôi làm xong, sân bóng lại trông đẹp mắt như mọi khi. Mất một tiếng đồng hồ để mọi người tạm biệt nhau. Lời đe dọa từ đội thua về chuyện sẽ xảy ra trong năm tới, và lời chế nhạo như thường lệ từ đội thắng. Nhưng tôi có thể nói, không ai tỏ vẻ khó chịu, trừ Pappy.
Khi rời thị trấn, tôi nghĩ về thời điểm kết thúc mùa bóng chày. Trận đầu tiên bắt đầu vào mùa xuân, khi chúng tôi trồng trọt với bao niềm hy vọng. Mùa bóng diễn ra qua mùa hè, và thường là trò giải trí duy nhất sau những giờ làm việc vất vả, cực nhọc trên đồng. Chúng tôi lắng nghe mỗi buổi tường thuật, sau đó bàn tán về trận đấu, cầu thủ và chiến lược cho tới khi có trận tiếp theo. Đây rõ ràng là một phần cuộc sống hàng ngày trong suốt sáu tháng, sau đó mùa bóng kết thúc. Bây giờ chỉ còn toàn chuyện về bông.
Tôi rất buồn khi về tới nhà. Không còn trận đấu nào để theo dõi. Sáu tháng thiếu giọng nói của Harry Caray. Sáu tháng không có Stan Musial. Tôi lấy găng tay và chạy ra đoạn đường đồng, ném bóng vào không khí, tự hỏi mình sẽ làm gì cho tới tận tháng Tư.
Lần đầu tiên, bóng chày khiến tim tôi tan nát.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.10.2021 10:58:32 bởi Ct.Ly>
- 24 -


Đầu tháng Mười, cái nóng dường như dịu bớt. Đêm mát mẻ, và những chuyến ra đồng vào sáng sớm có vẻ giá lạnh. Độ ẩm giảm xuống mức thấp, mặt trời bớt chói chang. Khoảng giữa trưa, trời lại nóng, nhưng không giống cái nóng tháng Tám, và khi trời tối, không khí nhẹ nhõm hẳn. Chúng tôi chờ đợi, nhưng cái nóng bức không quay lại. Mùa đang thay đổi, ngày dường như ngắn hơn.
Vì mặt trời không làm mất nhiều sức lực, chúng tôi làm việc chăm chỉ và hái được nhiều bông hơn. Dĩ nhiên, sự thay đổi thời tiết là điều Pappy quan tâm.
Sau một tháng trên đồng, tôi không tới trường. Giờ học sẽ bắt đầu lại vào cuối tháng Mười, và tôi cũng bắt đầu nghĩ đến sự dễ chịu khi được ngồi ở bàn học cả ngày, xung quanh là bạn bè thay cho những bao tải bông, và không có ai trong gia đình Spruill để phải lo lắng. Bây giờ, mùa bóng chày đã qua đi, tôi cần phải mơ ước về cái gì đó.
Việc đi học trở lại sẽ hết sức thú vị khi tôi được biểu diễn áo jacket bóng chày đội Cardinal mới cứng. Giấu kỹ trong hộp đựng xì gà ở ngăn trên cùng trong tủ của tôi là tổng số tiền 14,50 đô, kết quả của những ngày làm việc cực nhọc và chi tiêu dè sẻn. Tôi miễn cưỡng nộp tiền thuế ủng hộ nhà thờ, đầu tư một cách khôn ngoan vào các bộ phim thứ bảy và món bỏng ngô, nhưng đa phần số tiền được cất kín an toàn cùng tấm các của Stan Musial và con dao nhíp tay nắm nạm ngọc trai Ricky tặng tôi trước ngày chú lên đường tới Triều Tiên.
Tôi muốn đặt mua áo jacket từ tạp chí Sears, Roebuck, nhưng mẹ cho là tôi nên đợi tới khi vụ mùa kết thúc. Chúng tôi vẫn trả bằng tiền mặt khi đặt mặt hàng nào đó. Tầu hàng đi phải mất hai tuần, và tôi chắc chắn phải trở lại trường trong màu đỏ của áo jacket đội Cardinal.

Stick Power đợi chúng tôi vào một chiều muộn. Gran, mẹ và tôi vừa rời đồng vài phút trước những người khác. Như thường lệ, ông Stick đang ngồi dưới bóng cây, gần chỗ đỗ xe của Pappy. Đôi mắt ngái ngủ để lộ ra là ông đã có một giấc ngủ trưa đẫy tễ.
Ông nhấc mũ chào Gran và mẹ.
-Chào bà Ruth và cô Kathleen!
-Chào, Stick! - Gran nói. - Chúng tôi có thể làm gì cho anh đây?
-Tôi đang tìm Eli hoặc Jesse.
-Chút nữa họ mới về. Có chuyện gì sao?
Stick nhai nhai cọng cỏ lấp ló bên khoé môi và nhìn ra đồng như thể đang bị đè nặng bởi những tin tức nghiêm trọng, không thích hợp với phụ nữ.
-Việc gì thế, Stick? - Gran hỏi lại.
Khi con trai đang ở mặt trận, mỗi cuộc viếng thăm của một người mặc quân phục thật đáng sợ. Vào năm 1944, một trong những người tiền nhiệm của Stick đã thông báo tin cha tôi bị thương tại Anzio.
Ông Stick nhìn hai phụ nữ và cho là họ có thế tin tưởng được.
-Tuần trước, Grady, con trai lớn nhà Sisco, thằng bị án tù vì tội giết người ở Jonesboro, trốn tù. Người ta nói là nó đã quay lại nơi này.
Trong một khoảnh khắc, hai người phụ nữ lặng thinh không nói lời nào. Gran nhẹ người vì không phải tin xấu về chú Ricky. Mẹ chán ngán với đống lộn xộn nhà Sisco.
Anh nên nói chuyện với Eli. - Gran nói. - Chúng tôi phải chuẩn bị bữa tối.
Họ xin lỗi và vào nhà. Stick nhìn theo hai người, rõ ràng đang nghĩ tới bữa tối.
-Hắn đã giết ai thế ạ? - Tôi hỏi ông Stick ngay khi bà và mẹ vào trong.
-Bác không biết.
-Hắn giết người như thế nào?
-Bác nghe nói là đánh bằng xẻng.
-Ôi, đó hẳn là một vụ ấu đả.
-Chắc vậy.
-Bác nghĩ là hắn sẽ theo dõi Hank?
-Nghe này, bác nên tới gặp Eli đây. Chính xác thì ông ấy ở chỗ nào?
Tôi chỉ một điểm sâu trong cánh đồng. Từ đây, toa moóc có thể trông thấy rõ.
-Xa ra phết. - Stick lầu bầu. - Theo cháu, bác nên lái xe tới chỗ đó không?
-Chắc rồi. - Tôi nói và chạy tới bên xe tuần tra. Chúng tôi lên xe.
-Đừng chạm vào thứ gì nhé. - Stick căn dặn khi thấy tôi xông lên chỗ ngồi trước.
Tôi trố mắt nhìn những nút bấm và radio. Dĩ nhiên, ông Stick phải điều khiển phần lớn thời gian.
-Đây là nút bật radio, ông chỉ chỏ, vẻ phô trương. - Cái này là còi, đây là đèn. Còn đây là đèn pha.
-Bác nói chuyện với ai qua radio? - Tôi tò mò.
-Phần lớn là với HQ. Đó là Sở chỉ huy cảnh sát.
-Sở chỉ huy ở đâu ạ?
-Jonesboro.
-Bác có thể liên lạc với họ ngay lúc này được không?
Stick miễn cưỡng cầm micro, kéo nó tới gần miệng, nghênh nghênh đầu sang bên, và nhíu mày.
-Số bốn đang trên đường đây. - Giọng nói nhỏ hơn, nhanh hơn, với nhiều vẻ quan trọng hơn.
Chúng tôi chờ đợi. Khi HQ không trả lời, ông nghiêng đầu sang bên kia, nhấn một nút ở micro và nhắc lại.
-Số bốn đang gọi.
-Bác là số bốn? - Tôi hỏi.
-Đúng thế.
-Có bao nhiêu số tất cả ạ?
-Cũng tùy.
Tôi nhìn chằm chằm vào radio và chờ HQ trả lời đã nhận được tín hiệu từ Stick. Dường như đối với tôi, không thể có chuyện một người đang ngồi ở Jonesboro lại nói chuyện trực tiếp được với Stick.
Nhưng rõ ràng HQ không mấy quan tâm tới cuộc gọi của Stick. Đến lần thứ ba, ông vỗ vỗ vào micro.
-Số bốn đang gọi. Nhận máy đi.
Hình như, lời nói của ông hơi tác động tới họ.
Nhưng rồi, HQ lại phớt lờ ông. Sau vài giây, ông tiếp tục vỗ vỗ vào cái micro.
-Chắc là Theodore, lại ngủ gật đây.
-Theodore là ai ạ?
-Một trong những nhân viên trực ban. Anh ta ngủ gần như suốt ngày.
Ông cũng vậy thôi, tôi nghĩ.
-Bác có thể hú còi được không?
-Không. Nó có thể khiến mẹ cháu hoảng sợ.
-Còn đèn thì sao?
-Không, làm thế nhanh hết pin. - Ông với tay tới ổ khóa; xe nổ máy và rung lên nhưng không chuyển bánh.
Ông cố lần nữa, động cơ mãi mới nổ khục khặc. Hẳn HQ đã giao cho Stick chiếc xe tuần tra tệ nhất. Và rõ ràng Black Oak không phải điểm nóng về hoạt động tội phạm.
Trước khi xe có thể lăn bánh, tôi thấy máy kéo đang chầm chậm đi trên đường đồng.
-Họ về kia rồi. - Tôi chỉ.
Stick nheo mắt nhìn và sau đó tắt máy. Chúng tôi ra khỏi ôtô và quay lại dưới gốc cây.
-Cháu có nghĩ tới việc trở thành cảnh sát không? - Ông Stick hỏi.
Để lái chiếc xe tuần tra gỉ sắt, ngủ suốt nửa ngày, và giải quyết những kẻ giống như Hank Spruill và anh em nhà Sisco sao?
-Cháu sẽ chơi bóng chày. Tôi nói.
-Ở đâu?
-St. Louis.
-Ồ, bác biết. - Ông nở nụ cười khôi hài kiểu người lớn thường dành cho đám trẻ mơ ước viển vông. - Các cậu bé đều muốn trở thành cầu thủ đội Cardinal.
Tôi có rất nhiều câu hỏi, đa phần là liên quan tới khẩu súng và đạn. Tôi cũng muốn thấy cái còng tay để xem nó có thể khóa và mở bằng cách nào. Khi Stick quan sát toa moóc tiến lại gần, tôi chăm chú nhìn khẩu súng trong bao đeo ngang hông ông.
Nhưng Stick đã ngồi và nói chuyện với tôi cũng khá lâu rồi. Ông muốn tôi ra chỗ khác. Tôi đành chôn chặt những câu hỏi.
Khi máy kéo dừng lại, gia đình Spruill và vài người Mexico nhảy xuống. Pappy và cha đến thẳng chỗ chúng tôi. Một bầu không khí căng thẳng bao trùm.
-Anh muốn gì, Stick? - Pappy lầu bầu.
Pappỵ đặc biệt khó chịu với Stick và sự hiện diện rầy rà của ông trong cuộc sống của chúng tôi. Chúng tôi đang thu hoạch vụ mùa; những việc khác không quan trọng. Stick rình rập theo dõi chúng tôi, trong thị trấn và ngay trên vùng đất của chính mình.
-Có việc gì thế, Stick? - Pappy hỏi.
Thái độ coi thường thấy rõ trong giọng nói. Pappy vừa trải qua mười tiếng đồng hồ hái năm trăm pao bông, và ông biết viên cảnh sát không phải nhỏ giọt mồ hôi nào trong nhiều năm qua.
-Tuần trước, con trai cả nhà Sisco, thằng ở tù vì tội giết người, đã trốn thoát. Tôi nghĩ là nó sẽ trở về nhà.
-Vậy thì anh hãy đi mà bắt nó. - Pappy bực bội.
-Tôi đang. Nghe nói chúng bắt đầu gây rắc rối đấy.
-Ví dụ?
-Ai chả biết nhà Sisco. Chúng có thể theo đuổi Hank.
-Hãy để bọn chúng tới đây. - Pappy nóng lòng trông chờ một trận đánh ra trò.
-Tôi nghe nói bọn chúng có súng.
-Tôi cũng có súng, Stick ạ. Anh hãy nhắn với nhà Sisco nếu bắt gặp một ai trong gia đình họ bén mảng tới
gần nơi này, tôi sẽ bắn bay cái đầu ngu của nó đấy. - Pappy rít lên ngay khi Stick vừa ngừng lời.
Thậm chí, cha dường như cũng bị kích động bởi ý tưởng bảo vệ tài sản và gia đình.
-Việc đó sẽ không xảy ra ở đây đâu. - Stick nói. - Ông hãy nói cậu thanh niên của ông nên rời thị trấn.
-Anh đi mà nói với nó. - Pappy phản ứng lại. - Nó không phải là cậu thanh niên của tôi. Tôi không quan tâm tới việc sẽ xảy ra với nó.
Stick nhìn quanh sân trước, nơi gia đình Spruill đang tíu tít sửa soạn bữa tối. Ông không muốn mạo hiểm tới đó.
Ông nhìn sang Pappy.
-Hãy nói với nó, ông Eli. - Stick quay người và bước tới bên xe.
Xe lại nổ khục khặc rồi cuối cùng cũng chuyển bánh. Chúng tôi quan sát ông lái ra đường và dần dần mất hút.

Sau bữa tôi, tôi đang quan sát cha vá săm máy kéo thì Tally xuất hiện ở xa. Trời đã muộn nhưng chưa tối lắm, và chị dường như tận dụng những khoảng tối khi đi về phía kho thóc. Tôi nhìn theo cho tới khi chị dừng lại và vẫy vẫy tôi. Cha đang lầu bầu, việc vá săm không được tốt lắm, và tôi chuồn về nhà. Sau đó tôi chạy ra sau xe tải, men theo bóng tối, và chỉ mất vài giây chúng tôi đã bước đi dọc cánh đồng, thẳng tới hướng sông Siler.
-Chị đi đâu thế? - Cuối cùng tôi lên tiếng, sau khi thấy rõ là chị không có ý định mở lời trước.
-Chị không biết. Chỉ đi dạo thôi.
-Chị định ra sông à?
Chị cười nhẹ.
-Em thích thế, phải không Luke? Em lại muốn nhìn chị, đúng không?
Hai má nóng bừng, và tôi không biết nói gì.
-Có lẽ để sau nhé. - Chị nói.
Tôi muốn hỏi Tally về Cowboy, nhưng vấn đề đó dường như rất xâu xa và riêng tư nên tôi không đủ can đảm để nói ra. Tôi muốn hỏi tại sao chị biết Libby Latcher đã vu cho chú Ricky là bố đứa trẻ, nhưng một lần nữa, đó là điều tôi không thể đề cập đến. Tally luôn bí hiểm, luôn buồn rầu, và tôi hoàn toàn ngưỡng mộ chị. Đi dạo cùng chị trên con đường hẹp làm cho tôi thấy mình như một chàng trai tuổi hai mươi.
-Ông cảnh sát đó muốn gì? - Chị hỏi.
Tôi kể cho Tally nghe mọi chuyện. Stick đã không tiết lộ những bí mật bị cấm. Gia đình Sisco đang nói khắp nơi, chúng đã phát điên và sẵn sàng làm một việc gì đó. Tôi kể tất tật cho Tally.
Chị ngẫm nghĩ rất lâu.
-Stick có định bắt Hank vì tội giết người không?
Lúc này tôi cần phải thận trọng. Nội bộ gia đình Spruill đang hục hặc, nhưng nếu có dấu hiệu đe dọa từ bên ngoài thì họ sẽ lại đứng về phía nhau.
-Pappy lo lắng về chuyện cả nhà chị sẽ rời đi. - Tôi nói.
-Ông ấy định làm gì Hank?
-Nếu anh ta bị bắt, sau đó gia đình chị có thể bỏ đi.
-Chúng tôi sẽ không đi đâu cả. Chúng tôi cần tiền.
Hai chị em dừng bước. Tally nhìn tôi, và tôi chăm chú nhìn xuống hài bàn chân trần của mình.
-Em nghĩ Stick sẽ đợi tới khi vụ thu hoạch kết thúc.
Chị im lặng lắng nghe, sau đó quay người và bắt đầu bước về phía nhà. Tôi theo sau, và cho là mình đã nói quá nhiều. Chị chia tay tôi tại kho thóc và biến vào bóng tối.
Nhiều giờ sau, khi gần như đã ngủ, tôi nghe thấy qua ô cửa sổ mở, tiếng gia đình Spruill gầm gừ cãi cọ. Hank luôn là trung tâm mọi chuyện ầm ĩ. Tôi không thể nghe được hết nội dung, nhưng dường như mỗi cuộc cãi cọ mới đều bắt nguồn từ việc Hank đã nói hay làm gì đó. Họ thấy mệt mỏi; còn gã thì không. Họ tỉnh giấc trước khi mặt trời mọc và trải qua ít nhất mười tiếng trên đồng, còn gã ngủ muộn đến lúc nào gã muốn, sau đó hái bông với tốc độ chậm chạp. Và rõ ràng là gã lại đang gào lên trong đêm.
Miguel đang chờ ở cạnh bậc thang khi cha và tôi mở cửa bếp đi lấy trứng và sữa cho bữa sáng. Chú cầu xin sự giúp đỡ. Việc nã pháo lại tiếp tục; ai đó đã ném đất liên tục vào chuồng bò tới tận giữa đêm. Nhóm Mexico vừa mệt mỏi vừa giận dữ, và thế nào cũng xảy ra ấu đả.
Việc này trở thành chủ đề độc nhất trong suốt bữa sáng, Pappy rất tức giận và hầu như không ăn gì. Việc này quyết định chuyện Hank phải ra đi, và nếu những người còn lại trong gia đình Spruill cũng đi cùng gã thì bằng cách nào đó chúng tôi sẽ cố sắp xếp. Mười người Mexico chăm chỉ và làm việc cần cù còn giá trị hơn rất nhiều lần gia đình Spruill.
Pappy rời bàn ăn và đi thẳng tới sân trước với quyết định cuối cùng, nhưng cha cố làm cho ông dịu bớt. Hai người quyết định là sẽ chờ tới cuối ngày, theo cách đó còn vớt vát được một ngày lao động của gia đình Spruill. Thêm vào đó, chắc bọn họ sẽ không muốn nhổ trại khi trời đã tối.
Tôi chỉ lắng nghe. Tôi muốn kể lại cuộc nói chuyện với Tally, đặc biệt về chuyện gia đình Spruill cần tiền. Theo ý tôi, bọn họ sẽ không bỏ đi, nhưng sẽ rất vui khi thoát khỏi Hank. Tuy nhiên, ý kiến của tôi không bao giờ được tham gia trong những cuộc tranh luận căng thẳng của gia đình. Tôi nhai bánh và chăm chú ngóng chuyện.
-Còn Stick thì sao? - Gran hỏi.
-Anh ta cái gì? - Pappy quắc mắt nhìn bà.
-Ông định nói cho Stick biết khi nào chúng ta xong việc với Hank mà.
Pappy cắn miếng giăm bông, vẻ suy nghĩ.
Gran đã nêu ra trước một vấn đề, nhưng sau đó bà nghĩ tới việc thuận lợi khi không giận dữ. Bà vừa nhấm nháp cà phê vừa nói thong thả.
-Dường như với tôi việc cần làm là nên nói cho ông Spruill biết Stick đang theo dõi Hank. Hãy để thằng đó trốn khỏi đây vào ban đêm. Nó ra đi, mọi chuyện sẽ ổn thỏa, và gia đình Spruill sẽ biết ơn ông vì đã giữ cho nó không bị bắt.
Kế hoạch của Gran có vẻ hoàn hảo. Mẹ cười nhẹ. Một lần nữa, phụ nữ phân tích tình thế nhanh hơn đàn ông.
Pappy không nói gì. Cha vội vàng kết thúc bữa ăn và ra ngoài. Mặt trời vừa lấp ló phía trên những ngọn cây xa xa, một ngày mới báo hiệu nhiều sự kiện quan trọng.
Sau bữa trưa, Pappy nói ngay.
-Luke, chúng ta vào thị trấn thôi. Toa moóc đã đầy.
Toa moóc chưa thật sự đầy, và chúng tôi chưa bao giờ chở bông tới trạm tách hạt vào giữa trưa. Nhưng tôi không định từ chối.
Chỉ có bốn toa moóc đứng xếp hàng khi chúng tôi tới. Như thường lệ, vào thời điểm này trong vụ thu hoạch, phải có ít nhất mười xe, nhưng đó là sau bữa tối, khi chỗ này chật cứng nhân công.
-Buổi trưa là thời điểm lý tưởng để tới trạm tách hạt.
- Pappy nói.
Ông để chùm chìa khóa trên xe, và khi chúng tôi bước khỏi đó, ông nói.
-Ông cần tới cửa hàng Hợp tác xã. Chúng ta hướng ra phố Main đi.
Nghe có vẻ hấp dẫn đối với tôi. Thị trấn Black Oak có ba trăm người, và rõ ràng tất cả sống cách phố Main khoảng năm phút đi bộ. Tôi thường nghĩ sẽ rất tuyệt khi có ngôi nhà nhỏ sạch sẽ trên một con đường râm mát, chỉ cách cửa hàng Pop & Pearl và rạp phim Dixie một quãng ngắn, không có bông trong tầm mắt.
Giữa đường tới phố Main, chúng tôi đột ngột quay lại.
-Bà Pearl muốn gặp cháu. - Ông chỉ vào nhà ông bà Watson phía bên phải.
Tôi chưa bao giờ tới nhà ông Pop và bà Pearl, chưa bao giờ có lý do để tới đó, nhưng tôi đã thấy nó từ bên ngoài. Đó là một trong vài nhà gạch trong thị trấn.
-Việc gì ạ? - Tôi hoàn toàn ngơ ngác.
Ông không nói gì, và tôi đành im lặng đi theo.
Bà Pearl đang đợi trước cửa. Khi bước vào tôi có thể ngửi thấy mùi thơm béo ngậy và ngọt ngào của một món nướng. Tôi rất lúng túng nên không nhận ra bà đang chuẩn bị buổi chiêu đãi dành cho mình. Bà vỗ nhẹ lên đầu tôi và nháy mắt ra hiệu với Pappy. Trong một góc phòng, ông Pop ngồi khom người, lưng quay về phía chúng tôi, và  
đang nghịch nghịch gì đó.
-Vào đây, Luke! - Ông gọi mà không quay người lại.
Tôi đã nghe nói nhà ông bà có tivi. Chiếc tivi đầu tiên ở hạt của chúng tôi là của ông Harvey Gleeson, chủ nhà băng, mua năm trước, nhưng ông ấy là người thích ẩn dật, và theo như chúng tôi biết, không một ai được xem tivi của ông. Họ hàng của vài thành viên trong nhà thờ sống ở Jonesboro sở hữu những chiếc tivi, và bất cứ khi nào tới đó thăm bố con thì lúc quay về họ sẽ kể liên tục về cái phát minh kỳ diệu này. Dewayne thấy tivi trong một cửa hàng ở Blytheville, và đã vênh váo rêu rao quanh trường học suốt một thời gian dài.
-Ngồi xuống đây. - Ông Pop chỉ một chỗ trên sàn, bên phải phía trước tivi. Ông vẫn đang điều chỉnh những nút bấm. - Đây là giải bóng chày NewYork World. Trận thứ ba, đội Dodger trên sân vận động Yankee.
Tim tôi cứng đờ; miệng há hốc. Tôi quá sững sờ nên không thể nhúc nhích. Cách đó ba bước là một màn hình nhỏ với những đường kẻ ngang đang nhảy nhót. Nó ở giữa một ngăn gỗ sẫm màu với chữ Motorola viết bằng thuốc nhuộm vàng ngay dưới dãy nút bấm. Ông Pop nhấn vào một nút, và bỗng nhiên chúng tôi nghe thấy giọng nói lạo xạo của phát thanh viên đang miêu tả một quả bóng trên mặt đất. Sau đó ông Pop bật hai nút cùng một lúc, và hình ảnh trở nên rõ nét.
Đây là một trận bóng chày. Truyền trực tiếp từ sân vận động Yankee, và chúng tôi đang xem trận đấu ngay tại Black Oak, Arkansas.
Ghế dịch chuyển đằng sau, và tôi có thể cảm thấy Pappy tiến tới gần hơn. Bà Pearl không phải là fan hâm mộ môn thể thao này. Bà đang bận rộn trong bếp, sau đó xuất hiện với đĩa bánh sôcôla và ly sữa. Tôi nhận chúng và cảm ơn bà. Bánh vừa mới lấy từ lò ra, thơm phức. Nhưng tôi không thể ăn, không phải lúc này.
Ed Lopat đang ném bóng cho đội Yankee, cầu thủ phát bóng Roe cho đội Dodger. Yankee gồm Mickey Mantle, Yogi Berra, Phil Rizzuto, Hank Bauer, Billy Martin, còn Pee Wee Reese, Duke Snider, Roy Campanella, Jackie Robinson, và Gil Hodges chơi cho đội Dodger. Tất cả đều ở trong phòng khách nhà ông Pop và bà Pearl, đang thi đấu trước sáu mươi nghìn ủng hộ viên tại sân Yankee. Tôi bị thôi miên đến mức lặng câm. Tôi chỉ nhìn chằm chằm vào tivi, nhìn mà không thể tin nổi.
-Ăn bánh đi, Luke. - Bà Pearl nhắc khi đi qua phòng. Đó là yêu cầu nhiều hơn lời mời, và tôi cắn một miếng.
-Cháu bắt đội nào? - Ông Pop hỏi.
-Cháu không biết. - Tôi lẩm bẩm.
Thật sự là tôi không biết. Tôi đã được dạy phải ghét cả hai đội này. Thật dễ dàng ghét họ khi họ ở xa mãi tận New York, một thế giới khác. Nhưng bây giờ họ đang chơi môn bóng tôi ưa thích, được truyền trực tiếp từ sân vận động Yankee. Sự căm ghét của tôi biến mất.
-Đội Dodger, cháu nghĩ vậy.
-Chúng tôi luôn ủng hộ cho giải Liên bang. - Pappy giải thích sau lưng tôi.
-Tôi nghĩ vậy. - Ông Pop miễn cưỡng nói. Nhưng khó có thể ủng hộ cho đội Dodger được.
Trận đấu được truyền tới chỗ chúng tôi trên kênh 5 của đài truyền hình Memphis, một chi nhánh của Hãng Phát thanh Quốc gia. Có cả chương trình quảng cáo thuốc lá Lucky Strike, xe Cadillac, và nước ngọt Coca-Cola. Giữa các lượt chơi, màn hình thay đổi - một chương trình quảng cáo xuất hiện, rồi sau đó chúng tôi sẽ quay lại sân vận động Yankee. Đây là điều thật đáng kinh ngạc, thu hút tôi hoàn toàn. Trong suốt một tiếng tôi được đưa tới một thế giới khác.
Pappy có việc và rời khỏi nhà. Tôi không biết ông đi lúc nào, nhưng đến một chương trình quảng cáo tôi nhận ra sự vắng mật của ông.
Yogi Berra đánh trúng cú home-run, và khi thấy anh chạy vòng quanh các góc trước sáu mươi nghìn người cuồng nhiệt, tôi biết là mình sẽ không thế ghét đội Yankee được. Họ là những huyền thoại, những cầu thủ vĩ đại nhất của một đội bóng vĩ đại nhất trong môn thể thao nổi tiếng. Tôi thấy người mềm đi và thề sẽ giữ tình cảm mới mẻ này cho riêng mình. Pappy sẽ không cho phép ai có cảm tình với người Yankee ở trong nhà ông.
Đầu lượt chơi thứ chín, Berra bỏ lỡ một cú ném sượt qua người. Đội Dodger được hai vòng chạy và thắng trận đó. Bà Pearl gói bánh vào trong túi và đưa cho tôi. Tôi cảm ơn ông Pop đã cho tôi cùng chia sẻ cuộc phiêu lưu tuyệt vời này, và hỏi ông tôi có thể quay lại xem khi đội Cardinal thi đấu không.
- Chắc rồi. - Ông nói. - Nhưng có lẽ còn lâu đấy.
Quay lại trạm tách hạt, tôi hỏi Pappy khái niệm cơ bản trong việc phát sóng truyền hình. Ông nói về những tín hiệu và những cái tháp trong giới hạn rất mơ hồ, khó hiểu và cuối cùng ông thú nhận là mình cũng biết rất ít về lĩnh vực này, vì đó là một phát minh mới. Tôi hỏi khi nào chúng tôi có thể mua tivi.
- Một ngày nào đó. - Ông nói như thể điều đó sẽ không bao giờ xảy ra. Tôi cảm thấy hổ thẹn vì đã hỏi vậy.
Chúng tôi kéo toa moóc rỗng về trang trại, và tôi hái bông tới tận lúc nghỉ. Trong suốt bữa tối người lớn cho phép tôi phát biểu ý kiến. Tôi liên tục kể về trận đấu, các chương trình quảng cáo và mọi thứ mà tôi đã thấy trên tivi nhà ông bà Pop.
Nước Mỹ hiện đại đang từ từ lan đến vùng Arkansas quê mùa này.




Đăng nhập để trả lời
0
- 25 -


Trước lúc trời tối cha và ông Léon Spruill đi dạo qua kho thóc. Cha giải thích là Stick Power đang chuẩn bị bắt Hank vì tội giết Jerry Sisco. Dù sao Hank cũng đã gây ra quá nhiều chuyện rắc rối, giờ có lẽ là thời điểm thích hợp để gã trốn đi trong đêm và quay về vùng núi. Rõ ràng, ông Spruill cũng nhận thức rõ mọi chuyện và không có lời đe dọa nào về việc cả gia đình bỏ đi. Tally nói đúng; họ cần tiền. Và họ đã phát mệt với Hank. Có vẻ như họ sẽ ở lại và kết thúc vụ thu hoạch.
Chúng tôi ngồi ở hành lang trước, quan sát và lắng nghe. Không lời lẽ gay gắt, không dấu hiệu thu dọn, nhổ trại. Không hành động chứng tỏ Hank có thể ra đi. Nhìn những bóng người chúng tôi có thể thấy gã mọi lúc, đi lại quanh lều, ngồi xuống bên đống lửa, lục lọi tìm thức ăn. Rồi gia đình Spruill đi ngủ. Chúng tôi cũng đi ngủ.
Tôi kết thúc lời cầu nguyện và nằm xuống giường, hai mắt vẫn mở chong chong, suy nghĩ về đội Yankee và Dodger. Hình như có tiếng cãi vã. Tôi nhảy xuống giường và hé mắt nhìn ra cửa sổ. Tất cả tối đen và yên ắng, trong một lúc tôi không thể thấy rõ ai. Những cái bóng đi đi lại lại, rồi tôi thấy ông Spruill và Hank đang đứng đối mặt nhau, cả hai đang nói. Tôi không thể nghe rõ, nhưng rõ ràng họ đang giận dữ.
Chuyện này không thể bỏ lỡ. Tôi lén ra ngoài và dừng lại nghe ngóng để chắc chắn là người lớn vẫn đang ngủ. Sau đó tôi khom người đi qua phòng khách, qua mành cửa trước, tới hành lang, và lỉnh ra hàng rào phía đông. Trên trời chỉ có mảnh trăng lưỡi liềm và mây rải rác. Sau vài phút lén lút trong im lặng tôi tới gần con đường. Bà Spruill đã tham gia vào cuộc. Họ đang cãi nhau về chuyện đánh Sisco. Hank vẫn khăng khăng về sự vô tội của mình. Ông bà Spruill không muốn gã bị bắt.
-Tôi sẽ giết thằng cảnh sát béo phị đó. - Gã lầu bầu.
-Con chỉ được quay về nhà, con trai, hãy để mọi chuyện lắng xuống. - Bà Spruill vẫn cố thuyết phục.
-Gia đình Chandler muốn con rời đi. - Ông Spruill nói.
-Trong ví tôi có nhiều tiền hơn lũ người ấy. - Hank gầm gừ,
Cuộc tranh cãi đang quay vòng các hướng. Hank xổ ra mọi điều cay nghiệt về- chúng tôi, người Mexico, Stick Power, người dân nói chung ở Black Oak, và thậm chí gã còn nói vài câu xúc phạm dành cho cha mẹ gã, Bo và Dale. Chỉ Tally và Troy là không bị đụng đến. Lời lẽ của gã ngày càng tệ hơn và giọng nói to hơn, nhưng ông bà Spruill không nhượng bộ.
-Được rồi, tôi sẽ đi. - Cuối cùng gã đành chấp nhận.
Gã bực tức xông vào lều tìm gì đó. Tôi núp ở rìa đường sau đó chạy vụt qua và cúi rạp xuống đám bông nhà Jeter ở bên này đường. Từ vị trí này, tôi có được tầm nhìn rõ khoảng sân trước. Hank đang nhét thức ăn và quần áo vào cái túi bạt cũ. Tôi đoán là gã sẽ đi bộ ra đường quốc lộ và vẫy xe đi nhờ. Tôi chạy tắt qua những luống bông và cúi khom người dọc con mương, hướng về sông. Tôi muốn thấy Hank khi gã bỏ đi.
Họ tranh cãi thêm vài lời, sau đó bà Spruill nói.
-Mọi người sẽ về nhà sau vài tuần.
Cuộc nói chuyện kết thúc, và Hank với túi đeo trên vai, chạy vụt ra đường. Tôi đi lần từng bước đến cuối luống bông và quan sát khi gã hướng về phía cầu.
Tôi không thể không mỉm cười. Hòa bình sẽ được khôi phục lại trong trang trại. Tôi ngồi xổm tại chỗ một lúc lâu, sau khi Hank biến mất, và thầm cảm ơn những vì sao trên trời là ccuối cùng gã cũng ra đi.
Tôi định quay về theo lối cũ thì phát hiện có cái gì đó đột ngột chuyển động trực tiếp ngang qua đường. Đám bông kêu xào xạc rất nhẹ, một người đàn ông nhô lên và bước ra phía trước. Anh ta cúi khom người và di chuyển rất nhanh, rõ ràng đang cố tránh bị phát hiện. Anh ta liếc về phía sau, về hướng nhà tôi, và trong một khoảnh khắc ánh trăng soi rõ khuôn mặt. Đó chính là Cowboy.
Trong vài giây tôi quá sợ hãi nên không thể cựa quậy. Thật an toàn khi núp bên này đường, trốn sâu trong đám bông. Tôi muốn chạy về nhà, bò vào giường chú Ricky.
Và tôi cũng muốn xem Cowboy định làm gì.
Cowboy lom khom dưới đoạn mương sâu tới mắt cá
chân và đi nhanh, không một tiếng động. Anh ta tiến lên trước, sau đó dừng lại nghe ngóng. Tôi ở đằng sau, cách chỗ anh ta một trăm bộ, vẫn bên đất nhà Jeter, cũng di chuyển nhanh hết mức có thể. Nếu anh ta nghe thấy tiếng động, tôi sẽ cúi ngay xuống đám bông dầy đặc.
Sau đó tôi có thể thấy dáng người to lớn vụng về của Hank, vẫn ở giữa đường, đang đi rất thong thả. Cowboy chầm chậm đuổi theo, và tôi, cũng chầm chậm theo sau.
Tôi đi chân trần, và nếu giẫm phải một con rắn hổ mang thì tôi sẽ bị cái chết khủng khiếp đây. Hãy về nhà, cái gì đó nhắc nhở tôi. Hãy rời khỏi chỗ này.
Nếu Cowboy muốn đánh nhau, tại sao anh ta phải chờ đợi? Bây giờ trang trại của chúng tôi đã khuất xa tầm mắt và âm thanh. Dòng sông phía trước, và có lẽ đây là điều Cowboy muốn.
Khi Hank tới gần cầu, Cowboy tăng tốc và bước ra giữa đường. Tôi ở lại rìa đường, mồ hôi ướt đẩm, nín thở và tự hỏi tại sao mình lại làm một việc ngu ngốc thế này.
Hark đã tới chỗ sông và bước lên cầu. Cowboy bắt đầu chạy. Khi Hank đi được nửa cầu, Cowboy dừng lại và giơ tay ném một cục đá. Nó rơi xuống tấm ván ngay dưới chân Hank khiến gã dừng lại và xoay người nhìn quanh.
- Lại đây, thằng bẩn thỉu nhỏ bé kia. - Gã càu nhàu.
Cowboy không dừng bước. Anh ta đã lên cầu, hướng thẳng tới chỗ Hank, tỏ ra không sợ hãi trong khi gã kia đứng chờ và chửi rủa. Trông Hank to gấp đôi Cowboy. Họ đụng nhau ở giữa cầu, và chắc chắn một trong hai sẽ bị ướt.
Khi tiến tới gần nhau, Cowboy bỗng vung tay lần nữa và ném cục đá khác, gần như nhắm thẳng mục tiêu. Hank cúi xuống, và tránh được cục đá. Sau đó gã xông tới chỗ Cowboy. Trong nháy mắt, con dao bấm được rút ra. Cowboy giơ dao lên cao. Hank nhún nhảy qua lại làm cái túi lúc lắc mạnh. Nó sượt vào người Cowboy và hất tung mũ của anh ta. Hai người quay vòng tròn trong tư thế thế thủ trên cây cầu hẹp, cả hai đang cố tìm một cơ hội. Hank gầm gừ, văng tục và để ý trông chừng con dao, sau đó gã với cái túi và lấy ra một lọ nhỏ. Gã nắm chặt giống như nắm một quả bóng chày và sẵn sàng ném. Cowboy cúi thấp, ngồi sụp xuống, chờ thời điểm thích hợp. Khi lòng vòng đi quanh, cả hai từ từ nhích lại gần rìa cầu.
Hank chửi tục và ném mạnh cái lọ vào Cowboy đang đứng cách gần mười bộ. Nó đập trúng vào cổ hay cổ họng, tôi không thể nói chính xác, và trong một giây Cowboy loạng choạng suýt ngã. Hank ném túi vào Cowboy và xông vào. Nhưng với một động tác nhanh nhẹn đáng kinh ngạc, Cowboy đổi tay cầm dao, lôi ra cục đá trong túi quần phải, và ném thật mạnh, mạnh hơn tất cả những cú bóng anh ta đã từng ném. Nó trúng vào mặt Hank. Tôi không thể rõ nó trúng vào đâu, nhưng chắc chắn tôi nghe thấy tiếng va chạm. Hank thét lên ôm mặt, và khi gã có thể hồi phục lại được thì cũng đã quá muộn.
Cowboy cúi thấp rồi đâm lưỡi dao xuyên qua bụng và ngực Hank. Gã gục xuống với tiếng kêu đau đớn. khiếp sợ và sửng sốt.
Sau đó Cowboy rút mạnh dao ra và đâm tiếp vào người Hank lần nữa, lần nữa. Hank khuỵu một gối, rồi cả hai chân. Mồm gã mở to, nhưng không nói được tiếng nào. Gã chỉ nhìn Cowboy chằm chằm, khuôn mặt đờ ra trong nỗi khiếp sợ.
Với những cú đâm nhanh và nguy hiểm, Cowboy đâm liên tục và kết thúc công việc. Khi Hank đổ sập xuống và nằm bất động, Cowboy nhanh nhẹn lần túi quần gã lấy tiền. Sau đó hắn lôi xác Hank tới thành cầu và đẩy gã xuống dưới. Cái xác rơi tùm xuống nước và chìm ngay. Cowboy tới lục lọi cái túi, nhưng không thấy gì cần thiết nên hắn ném luôn xuống dưới. Hắn đứng trên rìa cầu và quan sát dòng nước một lúc lâu.
Không muốn chung cảnh ngộ với Hank, tôi ngồi sụp xuống giữa hai luống bông và trốn thật kỹ để không bị phát hiện. Tim tôi đập nhanh hơn bao giờ hết. Tôi run bắn người, ướt đẫm mồ hôi, vừa khóc vừa cầu nguyện. Nhẽ ra tôi nên nằm trên giường, an toàn và ngủ say với cha mẹ ở phòng bên cạnh và ông bà ở phòng dưới. Nhưng lúc này họ ở cách tôi quá xa. Mình tôi trong cái hố toi om, một mình, sợ hãi và đang trong nguy hiểm. Tôi vừa mới chứng kiến cảnh tượng kinh khủng.
Tôi không biết Cowboy đứng trên cầu bao lâu, quan sát mặt nước để đảm bảo là xác Hank đã biến mất. Mây tan dần, trăng khuyết hiện ra, và tôi có thể trông rõ hắn.- Cowboy vẫn đứng ở đó, cái mũ chăn bò bẩn thỉu hất sang bên. Sau một lúc lâu, hắn rời cầu và dừng lại bên bờ sông rửa dao. Hắn nhìn dòng sông thêm lần nữa, sau đó quay lại và bước xuống đường. Khi hắn đi cách chỗ tôi núp khoảng hai mươi bộ, tôi cảm thấy chân mình như bị chôn chặt xuống đất.
Đợi mãi, đợi mãi tới khi hắn khuất khỏi tầm mắt, tới khi hắn không thể nghe thấy gì tôi mới dám bò khỏi cái hố nhỏ và bắt đầu chạy về nhà. Tôi không biết mình sẽ làm gì khi về tới nhà, ngoài việc ở đó tôi sẽ được an toàn.
Tôi cúi khom người, lần từng bước qua đám cỏ cao dọc bờ ruộng. Là nông dân, chúng tôi rất ghét loại cỏ này, nhưng đây là lần đầu tiên trong đời tôi phải cảm ơn chúng. Tôi muốn chạy nhanh, chạy hết tốc lực ra giữa đường và về nhà nhanh nhất, nhưng tôi thấy sợ, và hai chân nặng chịch. Sự mệt mỏi, nỗi sợ hãi bám chặt lấy tôi, và đôi khi tôi không thể cục cựa gì được. Thời gian trôi qua chậm như rùa trước khi tôi thấy bóng ngôi nhà và khu chuồng bò. Tôi nhìn ra con đường trước mặt, chắc là Cowboy núp chỗ nào đó, đang quan sát đằng sau và hai bên. Tôi cố không nghĩ về Hank. Tôi chỉ quan tâm tới việc về được nhà.
Khi dừng lại để thở, tôi ngửi thấy cái mùi không thể lầm lẫn được của người Mexico. Họ hiếm khi tắm rửa, và sau vài ngày làm việc cực nhọc người họ tỏa ra một mùi đặc biệt.
Mùi khó chịu thoảng qua rất nhanh, và sau một hai phút thở nặng nề tôi tự hỏi phải chăng tôi đang tưởng tượng ra mọi thứ. Không phó mặc số phận, một lần nữa tôi lại lùi sâu vào đám bông nhà Jeter và từ từ hướng về phía đông, đi tắt qua từng luống bông không gây tiếng động. Khi thấy khu lều màu cháo lòng của nhà Spruill, tôi biết là mình gần về tới nhà.
Tôi sẽ kể về Hank thế nào? Sự thật, hay không gì cả. Tôi bị chất nặng với đủ những bí mật, không còn chỗ trống nào, đặc biệt một chuyện kinh khủng như thế này. Tôi sẽ bò vào phòng chú Ricky, cố dỗ mình vào giấc ngủ, và khi cha đánh thức dậy tôi sẽ kể lại toàn bộ câu chuyện. Mỗi bước đi, mỗi sự di chuyển, mỗi vết dao đâm - cha sẽ nghe tất cả. Cha và Pappy sẽ vào thị trấn gặp ông Stick Power và tường thuật lại vụ giết người, rồi họ sẽ bắt Cowboy vào trước bữa trưa, và có thể treo cổ hắn trước lễ Giáng sinh.
Hank đã chết. Cowboy sẽ bị ở tù. Gia đình Spruill sẽ đóng gói đồ đạc và bỏ đi, nhưng tôi không quan tâm. Tôi không muốn thấy người nhà Spruill nào nữa, thậm chí cả Tally. Tôi muốn mọi người biến khỏi trang trại và tránh xa cuộc sống yên bình của chúng tôi.
Tôi muốn chú Ricky về nhà và gia đình Latcher chuyển đi, sau đó mọi chuyện sẽ trở lại bình thường.
Khi còn cách hành lang trước một khoảng xa, tôi quyết định di chuyển. Các giác quan của tôi rối tung, sự kiên nhẫn không còn. Tôi đã trốn hàng giờ, và thấy mệt mỏi vì chuyện đó. Tôi chạy tới cuối luống bông và bước qua cái rãnh trên đường. Tôi cúi thấp người, lắng nghe một lúc, sau đó bắt đầu chạy. Sau hai hoặc ba bước, có tiếng động sau lưng, rồi một bàn tay túm lấy chân tôi và giật mạnh khiến tôi ngã lăn ra đất. Cowboy ở phía trên, đầu gối tỳ trên ngực tôi, con dao bấm cách mũi tôi một insơ. Hai mắt hắn long sòng sọc.
-Hãy im lặng! - Hắn rít lên.
Cả hai đều thở nặng nhọc, mồ hôi tuôn ra ướt đẫm, và cái mùi thủm thủm của hắn, chính là cái mùi tôi đã ngửi thấy lúc nãy, tỏa ra nồng nặc. Tôi thôi ngọ nguậy và nghiến chặt răng. Đầu gối hắn đè nghiến lên tôi.
-Mày đã có mặt ở sông phải không? - Hắn hỏi.
Tôi lắc đầu. Mồ hôi từ cằm hắn nhỏ xuống mắt tôi và nóng rừng rực. Hắn khua khua lưỡi dao, như thể tôi không trông thấy.
-Vậy mày ở chỗ nào?
Tôi lại lắc đầu; tôi không thể nói. Sau đó tôi nhận ra cả người tôi đang run bần bật trong nỗi kinh hoàng.
Khi biết là tôi không thể thốt ra được lời nào, hắn đưa mũi dao cà cà lên trán tôi.
-Mày mà tiết lộ một câu về chuyện tối nay, - hắn dằn từng tiếng, - thì tao sẽ giết mẹ mày. Hiểu chưa?
Tỏi vội gật đầu. Hắn đứng dậy bỏ đi, biến nhanh vào bóng tối và để tôi nằm lại trên con đường đất bùn. Tôi vừa khóc vừa bò lết, và cố lê tới chỗ xe tải trước khi kiệt sức.

Mọi người tìm thấy tôi nằm dưới gầm giường cha mẹ. Trong sự hỗn độn về thời gian, với cha mẹ đang gọi và căn vặn đủ thứ - nào là quần áo bẩn, những vết xước chảy máu trên cánh tay, tại sao tôi lại ngủ dưới gầm giường - tôi cố bịa ra chuyện mình đã có một giấc mơ khủng khiếp. Hank bị chết đuối! Và tôi đã ra xem.
-Con bị mộng du rồi! - Mẹ hoài nghi nói.
Tôi vớ lấy ngay câu nói đó.
-Con nghĩ vậy. - Tôi gật đầu.
Mọi thứ sau đó là một trạng thái mập mờ - tôi mệt muốn chết, sợ hãi và không chắc những gì tôi thấy bên sông đã thật sự xảy ra hay chỉ là giấc mơ. Tôi kinh hoàng khi nghĩ tới việc phải đối mặt với Cowboy lần nữa.
-Ricky cũng từng bị như vậy, - Gran nói từ ngoài cửa phòng. - Mẹ đã bắt gặp nó đi qua kho thóc vào ban đêm.
Điều này giúp mọi thứ trở nên dịu đi theo cách nào đó. Mọi người dẫn tôi ra bếp và ấn tôi ngồi xuống bàn. Mẹ rửa ráy cho tôi trong khi Gran xem xét những vết xước trên cánh tay. Sau khi thấy mọi việc đã ổn, Pappy và cha rời bếp đi nhặt trứng, vắt sữa.
Tiếng sấm vang rền khi chúng tôi chuẩn bị ăn, có vẻ  
như đối với tôi, đây là một cứu viện quan trọng. Chúng tôi sẽ không phải ra đồng trong vài tiếng. Tôi sẽ không phải chạm mặt Cowboy.
Mọi người nhìn khi thấy tôi gẩy gẩy từng miếng.
-Con ổn mà. - Tôi nói ngay.
Mưa đập ầm ầm trên mái thiếc, cắt ngang cuộc nói chuyện và chúng tôi ăn trong im lặng, cánh đàn ông lo lắng về vụ bông, cánh phụ nữ lo lắng về tôi.
Tôi có đủ nỗi lo có thể ảnh hưởng tới tất cả chúng tôi.
-Con có thể ăn sau được không ạ? - Tôi đẩy nhẹ đĩa ra xa. - Con thật sự cảm thấy buồn ngủ.
Mẹ cho phép tôi quay về giường nghỉ. Khi mẹ và bà dọn bàn, tôi thì thầm với mẹ và muốn mẹ nằm cùng tôi. Dĩ nhiên, mẹ đồng ý.
Mẹ ngủ trước tôi. Hai mẹ con nằm trên giường của cha mẹ, trong căn phòng ngủ tranh tối tranh sáng, yên tĩnh, mát mẻ và lắng nghe tiếng mưa, còn cách đó không xa, Pappy và cha đang ở trong bếp uống cà phê và chờ đợi. Tôi cảm thấy an toàn.
Tôi muốn trời mưa mãi. Người Mexico và gia đình Spruill sẽ rời khỏi đây. Cowboy sẽ lên tàu về nhà, quay trở lại nơi hắn có thể đâm chém tùy thích, còn tôi sẽ không bao giờ biết về điều đó. Và mùa thu hoạch năm sau, tôi chắc là Miguel và nhóm người Mexico sẽ không quay lại thị trấn của chúng tôi.
Tôi muốn mẹ ở sát bên tôi, cùng cha. Tôi muốn ngủ, nhưng cứ nhắm mắt lại thấy hình ảnh Hank và Cowboy trên cầu. Tôi bỗng hy vọng Hank vẫn ở đó, vẫn trong lều trại nhà Spruill lục tìm bánh qui, vẫn ném đá vào chuồng bò trong đêm tối. Sau đó, tất cả sẽ chỉ là một giấc mơ.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.10.2021 13:32:12 bởi Ct.Ly>
- 26 -


Suốt cả ngày, tôi bám lấy mẹ, sau cơn bão, sau bữa trưa, sau khi những người còn lại ra đồng và chúng tôi ở lại nhà. Có tiếng thì thầm giữa cha mẹ và cái nhíu mày của cha, nhưng mẹ cương quyết. Thỉnh thoảng, trẻ con chỉ cần được ở bên mẹ. Tôi sợ mẹ biến mất khỏi tầm mắt.
Ý nghĩ thôi thúc kể mọi chuyện đã chứng kiến trên cầu khiến tôi phát bệnh. Dù cố không nghĩ tới vụ giết người, nhưng những hình ảnh đó luôn hiển hiện trước mắt tôi.
Chúng tôi hái rau trong vườn. Tôi xách làn theo sát mẹ, hai mắt nhìn khắp các hướng, chỉ lo Cowboy núp chỗ nào đó và nhảy ra giết hai mẹ con. Tôi có thể ngửi thấy mùi của hắn, cảm thấy hắn, nghe thấy hắn. Tôi có thể thấy đôi mắt dơ dấy của hắn dõi theo mỗi bước chúng tôi đi. Sức nặng con dao bấm đè lên trán tôi trở nên nặng hơn.
Tôi không nghĩ được gì ngoài hắn, và tôi ở sát bên mẹ.
-Chuyện gì thế, Luke? - Mẹ hỏi đi hỏi lại.
Tôi biết là mình sẽ không thú nhận gì, ngoại trừ khi bắt buộc phải nói. Một tiếng chuông yếu ớt vang lên trong tai tôi. Cuộc sống trôi qua chậm chạp hơn. Tôi chỉ muốn có nơi nào đó để trốn thật kỹ.
-Không có gì đâu ạ. - Tôi trả lời. Thậm chí giọng nói của tôi cũng rất khác, thấp và trầm.
-Con vẫn mệt à?
- Vâng.
Và tôi sẽ mệt trong cả tháng nếu điều đó giúp tôi tránh xa cánh đồng và tránh xa Cowboy.
Chúng tôi dừng lại xem xét việc sơn nhà của Trot. Vì chúng tôi có mặt ở nhà và không hái bông, nên không thấy Trot đâu. Nếu chúng tôi rời khỏi nhà, cậu ta sẽ quay lại công việc ngay. Bức tường phía đông bây giờ đã có một đường sơn khoảng ba bộ, chạy từ đằng trước tới đằng sau. Vềt sơn sạch và gọn, rõ ràng công việc của một người không bị thời gian chi phối.
Với tốc độ hiện nay, Trot không thể hoàn thành được cả ngôi nhà trước khi gia đình Spruill rời đi. Việc gì sẽ xảy ra sau khi họ đi? Chúng tôi không thể sống trong ngôi nhà với tường phía đông có hai kiểu được.
Tôi còn có những việc quan trọng hơn để lo nghĩ.
Mẹ quyết định sẽ “đóng hộp” khoai tây. Mẹ và Gran đã mất rất nhiều thời gian trong hè và đầu thu để đóng hộp số rau củ trong vườn - khoai tây, đậu, mướp tây, rau mù tạc, ngô. Khoảng đầu tháng Mười một các giá chạn thức ăn sẽ xuất hiện một loạt các loại thực phẩm, đủ cho chúng tôi dùng qua hết mùa đông và đầu xuân. Và, dĩ nhiên, chúng sẽ được dành cho cả những người cần giúp đỡ. Tôi chắc chắn mẹ sẽ lại mang thực phẩm tới cho gia đình Latcher trong những tháng tới, bây giờ thì chúng tôi và họ là họ hàng rồi còn gì.
Ý nghĩ duy nhất làm tôi thấy giận dữ, nhưng lại lần nữa, tôi không còn thấy lo lắng về gia đình Latcher.
Nhiệm vụ của tôi là gọt khoai tây. Khi gọt xong, khoai tây được chẻ ra cho vào xoong to và nấu vừa đủ mềm, sau đó xếp vào trong các lọ, với một thìa muối, và cất vào chỗ kín với những cái nắp mới. Chúng tôi sử dụng lọ từ năm này sang năm khác, nhưng nắp thì luôn mới. Lỗ thủng bé quanh dấu niêm kín cũng khiến thực phẩm bị hỏng, và đó sẽ là khoảng thời gian tồi tệ trong suốt mùa đông khi Gran hay mẹ mở lọ ra và đồ bên trong không thể ăn được. Nhưng việc này không xảy ra thường xuyên.
Sau khi đóng hộp và niêm phong, lọ được xếp thành một dãy bên trong lò áp suất lớn với một nửa là nước. Chúng được đun sôi trong nửa tiếng, dưới áp suất, để rút hết không khí còn sót lại và niêm phong nắp. Gran và mẹ hay quan trọng hóa về việc đóng hộp. Đó là niềm tự hào đối với cánh phụ nữ, và tôi thường nghe nhiều phụ nữ quanh nhà thờ khoe về việc đóng hộp nhiều lọ đậu bơ hay các loại rau củ.
Việc đóng hộp bắt đầu ngay khi khu vườn bắt đầu ra hoa kết trái. Đôi khi tôi bị bắt phải giúp đỡ và luôn thấy ghét việc này. Hôm nay lại khác hẳn. Tôi thấy vui khi được ở trong bếp cùng mẹ, còn Cowboy thì ở trên cánh đồng, cách xa chúng tôi.
Tôi đứng bên bồn rửa với con dao sắc, và khi gọt củ khoai đầu tiên tôi nghĩ tới hình ảnh Hank trên cầu. Máu, con dao bấm, tiếng kêu đau đớn với cú đâm đầu tiên, sau đó là ánh mắt lặng câm trong nỗi hoảng sợ với những nhát đâm liên tiếp. Trong giây đầu tiên, tôi nghĩ Hank biết kẻ tấn công gã đã từng làm việc này trước đây. Gã biết mình sẽ chết.
Đầu tôi đập vào chân bàn bếp. Khi thức dậy, tôi thấy mình đang nằm trên ghế sofa, mẹ đang chườm đá lên khối u bên tai phải tôi. Mẹ mỉm cười.
- Con bị ngất, Luke ạ.
Tôi cố nói gì đó nhưng miệng khô khốc. Mẹ đưa tới ly nước và yêu cầu tôi nằm yên.
- Con mệt lắm không?
Tôi gật đầu và nhắm mắt.

Mỗi năm hai lần chính quyền địa phương lại cho rải sỏi trên con đường của chúng tôi. Xe tải chở sỏi tới và đổ thành một đống, ngay phía sau là máy ủi làm nhiệm vụ san phẳng đống sỏi. Otis, một ông già sống gần Caraway là người điều khiển máy ủi. Một mắt băng đen, mặt bên trái đầy sẹo và biến dạng luôn làm cho tôi phải co rúm người lại mỗi khi nhìn thấy. Ông bị thương trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pappy kể là biết ông già này rất rõ.
Ông Otis có hai con khỉ chuyên giúp ông san phẳng những con đường quanh thị trấn Black Oak. Chúng trông bé nhỏ, lông đen, đuôi dài, và thường chạy dọc theo khung máy, thỉnh thoảng lại nhảy lên nhảy xuống. Đôi khi chúng ngồi ngay trên lưng ông Otis. Khi ông Otis điều khiển máy ủi lên xuống, chỉnh những đòn bẩy, thay đổi góc và mức cánh, khạc nhổ nước thuốc lá, hai con khỉ nhún nhảy rất thích thú.

Nếu, vì lý do mệt mỏi nào đó, đám trẻ con không so sánh việc này với đội Cardinal, nhưng nhiều đứa trong số chúng tôi muốn trở thành thợ lái máy ủi. Đó là một khối máy kềnh càng chịu sự điều khiển của con người, và tất cả những cái đòn bẩy kia phải được làm việc với độ chính xác - tay chân di chuyển với sự phối hợp nhịp nhàng. Thêm vào đó, những đoạn đường bằng phẳng là quan trọng đối với nông dân ở miền ngoại vi bang Arkansas. Gần như chẳng có công việc nào quan trọng hơn, ít ra là theo ý kiến của bọn trẻ chúng tôi.
Chúng tôi không biết việc này được trả công theo kiểu gì, nhưng chắc chắn là sinh lợi hơn việc trồng trọt.
Khi nghe thấy tiếng động cơ, tôi biết ông Otis đã trở lại. Tôi nắm tay mẹ bước ra rìa đường, và phát hiện từ chỗ nhà tôi tới cầu đã xuất hiện ba ụ sỏi mới. Ông Otis đang san phẳng chúng, từ từ tiến lại gần chỗ chúng tôi. Hai mẹ con bước lùi về phía một gốc cây và chờ đợi.
Đầu tôi đã dỡ, và tôi cảm thấy khỏe hơn. Mẹ kéo vai tôi, hình như vẫn lo là tôi có thể lại bị ngất lần nữa. Khi ông Otis đến gần, tôi bước ra đường. Động cơ gầm rú; đòn bẩy khuấy tung đất sỏi. Chúng tôi sẽ có con đường rải sỏi mới. Đây mới là sự kiện quan trọng nhất.
Đôi khi ông Otis vẫy tay chào, đôi khi không. Tôi nhìn vào vết sẹo và cái băng đen trên mắt ông. Tôi có nhiều câu muốn hỏi người đàn ông này.
Và tôi chỉ thấy mỗi một con khỉ đang ngồi ở khung chính, ngay trên vô lăng, và trông có vẻ buồn buồn. Tôi nhìn chăm chú quanh máy ủi để tìm con còn lại, nhưng không thấy nó đâu.
Chúng tôi vẫy vẫy tay chào, ông Otis chỉ liếc sang nhìn chúng tôi nhưng không đáp lại. Đây là thái độ khiếm nhã khủng khiếp trong cuộc sống của chúng tôi. Nhưng riêng đối với ông Otis lại khác. Bởi những vết thương thời chiến tranh, ông không vợ con, không ai, ngoài sự cô độc.
Bỗng nhiên mảy ủi dừng lại. Ông Otis nhìn tôi bằng con mắt lành lặn, sau đó ra hiệu cho tôi trèo lên. Tôi tiến về phía ông, và mẹ chạy theo ngăn tôi lại. Ông Otis hét to.
- Được rồi! Nó sẽ ổn thôi.
Ông kéo tay và lôi tôi lên khoang lái.
-Ngồi đây,  ông nói cộc lốc, chỉ vào một chỗ sát bên cạnh. - Ở yên đó nhé!
Tôi bám chặt tay nắm gần sát một đòn bẩy mà tôi rất sợ khi chạm vào. Tôi thấy mẹ vẫn đang đứng chống hai tay bên hông. Mẹ lắc lắc đầu như thể tức giận với tôi, nhưng sau đó tôi thấy nụ cười thoảng qua trên môi mẹ.
Ông dịch chuyển cần lái, và động cơ gào rú ầm ĩ. Ông đẩy côn bằng một chân, sang số, và chúng tôi chuyển bánh. Tôi có thể đi bộ cũng nhanh hơn, nhưng với tiếng động cơ này, dường như chúng tôi đang chạy hết tốc lực.
Tôi ngồi bên trái, sát mặt ông Otis, nhưng tôi không dám nhìn vào những vết sẹo. Sau hai phút, ông dường như quên mất sự hiện diện của tôi. Tuy nhiên, con khỉ lại tỏ ra khá tò mò. Nó quan sát như thể tôi là kẻ xâm phạm, sau đó nó lén bò bằng cả bốn chân, từ từ, như định bất ngờ tấn công tôi. Nó nhảy lên bờ vai phải ông Otis, đi quanh sau gáy, và đứng lại bên vai trái, rồi nhìn tôi chằm chằm.
Tôi cũng nhìn con khỉ. Nó không to hơn con sóc, lông đen và hai mắt đen nhỏ bị chia đôi bởi sống mũi tẹt. Cái đuôi dài vắt vẻo phía trước áo ông chủ. Ông Otis đang điều khiển những đòn bẩy, san lấp đống sỏi, lầm bầm một mình, dường như không biết con khỉ đang ở trên vai.
Khi chắc chắn là con khỉ chỉ muốn dò xét mình, tôi tập trung chú ý vào các thao tác vận hành máy ủi. Ông Otis điều khiển hàng lưỡi răng cưa xục xuống dưới rãnh nông, rồi nghiêng một góc dốc để moi đất cỏ lên đẩy ra đường. Tôi biết từ lần quan sát trước là ông sẽ đi lên đi xuống vài lần, làm sạch những cái rãnh, chỉnh vào đúng điểm giữa và trải sỏi. Pappy cho rằng ông Otis và chính quyền địa phương nên san lấp đường thường xuyên hơn, và đa số các nông dân khác đều cảm thấy tương tự.
Ông cho máy ủi chạy quanh, hết rãnh này sang rãnh khác, rồi hướng trở lại phía nhà tôi. Con khỉ vẫn không động đậy.
-Con khỉ kia đâu rồi ạ? - Tôi hỏi to, nhướn lên sát tai ông Otis.
Ông chỉ xuống hàng lưỡi răng cưa bên dưới.
-Bị ngã xuống đó.
Mất một giây để nhận thức đầy đủ lời nói, tôi thấy sợ hãi với ý nghĩ con khỉ con đáng thương đã rơi xuống kia và phải chịu một cái chết khủng khiếp. Điều này dường như không ảnh hưởng tới ông Otis, nhưng con khỉ còn sống thì rõ ràng đang thương tiếc cho bạn. Nó vẫn ngồi yên, lúc nhìn tôi, lúc nhìn đi chỗ khác, có vẻ rất cô độc. Và chắc chắn là nó tránh xa hàng lưỡi kia.
Mẹ vẫn đứng nguyên chỗ cũ. Tôi giơ tay vẫy vẫy, mẹ đáp lại tôi, và lại lần nữa ông Otis không để tâm tới chúng tôi. Ông khạc nhổ liên tục, dòng nước thuốc lá màu nâu nhỏ xuống sàn ngay trước bánh lái. Ông lau miệng bằng ống tay áo bẩn, cả phải lẫn trái, phụ thuộc vào tay nào tình cờ bị mắc bận với một đòn bẩy. Pappy nói rằng ông Otis là người rất điềm đạm - bằng chứng là nước thuốc lá đang chảy xuống cả hai bên mép.
Ngang qua nhà, từ vị trí này, tôi có thể trông thấy toa moóc bông ở giữa cánh đồng và vài cái mũ rơm rải rác khắp nơi. Tôi quan sát hết xung quanh cho tới khi thấy đám người Mexico tại địa điểm thường lệ, và tôi nghĩ tới Cowboy với con dao trong túi đang ở đó, rõ ràng hắn rất tự hào về vụ giết người gần đây nhất. Tôi tự hỏi không rõ hắn có kể cho đám bạn nghe về chuyện kinh khủng ấy. Có lẽ là không.
Trong một thoáng tôi thấy sợ hãi bởi mẹ đang đứng một mình ở phía sau. Tôi biết rõ điều này không gây cảm giác gì, nhưng giờ đây các suy nghĩ của tôi thường không hợp lý.
Khi tôi trông thấy hàng cây dọc bờ sông, một nỗi lo sợ mới bóp nghẹt trái tim. Tôi bỗng sợ phải nhìn cây cầu, hiện trường vụ án mạng. Chắc chắn ở đó còn vết máu, bằng chứng của sự việc khủng khiếp đã xảy ra. Cơn mưa có xóa sạch chúng không? Nhiều ngày trôi qua nhưng không có ôtô hay xe tải nào đi qua cầu. Có ai phát hiện vết máu của Hank? Một cơ hội tốt để bằng chứng bị xóa sạch.
Chỗ đó thật sự đã xảy ra vụ giết người? Hay chỉ là giấc mơ hãi hùng?
Tôi cũng không muốn nhìn ra sông. Vào thời điểm này trong năm, dòng nước thường chảy chậm, còn Hank lại là một nạn nhân to béo. Xác gã có thể dạt vào bờ không? Bị tấp lên một cồn cát ngầm giống cá mập bị mắc cạn? Tôi chắc chắn không muốn ai đó tìm thấy gã.
Hank bị đâm nhiều nhát. Cowboy có con dao bấm và với nhiều động cơ. Đây là một tội ác mà ông Stick Powers có thể giải quyết được.
Là nhân chứng duy nhất, nhưng tôi đã quyết định sẽ chôn chặt bí mật tới khi xuống mồ.
Ông Otis nhấn số và rẽ ngang, hơi khó khăn với máy ủi, như tôi biết. Tôi thoáng thấy cây cầu, nhưng chúng tôi đã ở quá xa để nhìn rõ. Con khỉ bắt đầu chán việc theo dõi tôi và nhảy qua nhảy lại bên bờ vai ông chủ. Nó liếc nhìn tôi qua đầu ông Otis trong một phút rồi sau đó ngồi im như một con cú, quan sát đường đi.
Ôi, nếu Dewayne có thể thấy tôi lúc này! Cậu ta sẽ phải ghen tỵ. Cậu ta sẽ thấy bẽ mặt. Cậu ta sẽ cố vượt qua thất bại này bằng cách không thèm nói chuyện với tôi trong một thời gian dài. Tôi không thể chờ đợi tới thứ bảy. Tôi sẽ rêu rao kể chuyện này khắp phố Main là tôi đã được trải qua cả ngày ngồi trên máy ủi cùng ông Otis - ông Otis và con khỉ. Chỉ một con khỉ, tuy nhiên, và tôi sẽ bị nhiều người khác nữa bắt kể lại những việc đã xảy ra. Từ mặt đất, tất cả những đòn bẩy, nút điều khiển trông có vẻ đáng kinh hãi nhưng thực tế không có vấn đề gì đối với tôi. Tôi sẽ biết cách điều khiển chúng! Đây sẽ là một trong những khoảnh khắc đẹp nhất trong cuộc đời tôi.
Ông Otis dừng lại trước nhà. Tôi trèo xuống và hét to.
- Cảm ơn ông! - Nhưng ông đã lái xe đi mà không thèm gật đầu hay nói một lời.
Tôi chợt nghĩ về con khỉ đã chết, và bắt đầu khóc. Tôi không muốn và cố ghìm khóc, nhưng nước mắt cứ trào ra, tôi không thể điều khiển nổi bản thân mình. Mẹ chạy lại lo lắng hỏi han. Tôi không biết mình có chuyện gì; tôi chỉ khóc. Tôi thấy sợ hãi và mệt mỏi, gần như ngất lần nữa, và tôi chỉ muốn tất cả trở lại bình thường - nhóm người Mexico và gia đình Spruill không liên quan gì tới cuộc sống của chúng tôi; chú Ricky có ở nhà; gia đình Latcher biến mất; cơn ác mộng về Hank xóa sạch khỏi tâm trí. Tôi phát mệt với những bí mật, mệt vì phải chứng kiến cảnh không muốn thấy.
Vì vậy tôi chỉ khóc.
Mẹ ôm chặt tôi. Khi nhận ra mẹ cũng đang sợ hãi, tôi cố kể cho mẹ về cái chết của con khỉ.
-Con đã thấy nó? Mẹ hỏi trong sợ hãi.
Tôi lắc đầu và tiếp tục giải thích. Chúng tôi bước về hành lang và ngồi xuống một lúc lâu.

Mọi người thỉnh thoảng nhắc tới việc ra đi của Hank. Trong bữa tối, cha kể là ông Spruill thông báo với cha về chuyện đêm qua Hank đã rời đi. Gã vẩy xe đi nhờ và quay về nhà tại Eureka Springs.
Hank đang chìm dưới đáy sông St.Francis, và khi nghĩ về chuyện gã đang nằm dưới đó với những con cá trê kênh, tôi ăn mất cả ngon. Mọi người quan sát tôi kỹ hơn bình thường. Trong suốt hai tư giờ qua tôi đã bị ngất, gặp ác mộng, gào khóc vài lần, lại còn bị mộng du trong khi ngủ. Đã có chuyện gì đó xảy ra với tôi, và họ rất lo lắng.
-Chẳng rõ thằng bé đó có về nhà không? - Gran hỏi.
Câu nói này mở đầu cho một loạt chuyện về những người đã biến mất. Pappy có người em họ di cư cùng gia đình từ Mississippi tới Arkansas. Họ đi trên hai xe tải cũ tới đoạn đường bộ giao với đường tàu. Xe tải thứ nhất do người em họ của Pappy lái, vượt qua trước. Đoàn tàu ầm ầm chạy qua, và xe tải thứ hai phải chờ. Đoàn tàu khá dài, và khi nó chạy qua hết, mọi người không thấy chiếc xe thứ nhất ở bên kia đường rầy. Xe tải thứ hai đi qua và tới một ngã ba. Kể từ đó không một ai gặp lại người em họ, và câu chuyện đã xảy ra ba mươi năm trước. Không một dấu hiệu gì về ông hay chiếc xe tải.
Tôi đã nghe chuyện này nhiều lần. Tôi biết Gran sẽ kể tiếp theo, và chắc chắn, bà nói chuyện về ông ngoại của bà, ông lão đã có sáu đứa con sau đó nhảy lên một chuyến tàu và trốn tới Texas. Hai mươi năm sau, ai đó trong gia đình đã tình cờ gặp lại ông. Ông đã lấy vợ khác và sinh thêm sáu đứa con nữa.
-Cháu khỏe chứ, Luke? - Pappy hỏi khi ăn xong.
Tính cộc cằn của ông biến mất. Mọi người đang kể những chuyện có lợi cho tôi, cố làm tôi vui vì tôi khiến họ lo lắng.
-Cháu chỉ mệt thôi, ông ạ. - Tôi trả lời.
-Con muốn đi ngủ sớm không? - Mẹ hỏi.
Và tôi gật đầu.
Tôi về phòng chú Ricky trong khi mọi người rửa bát đĩa. Lá thư tôi viết cho chú hiện đã dài hai trang, một cố gắng phi thường. Nó vẫn còn nằm trong sấp giấy viết, giấu kỹ dưới đệm, và thư chủ yếu kể về mối mâu thuẫn với gia đình Latcher. Tôi đã đọc lại và khá hài lòng với chính mình. Tôi rất muốn kể cho chú Ricky về Cowboy và Hank, nhưng quyết định chờ tới khi chú về nhà. Khi đó, đám người Mexico đã đi khỏi, mọi việc sẽ an toàn, và chú Ricky sẽ biết phải làm gì.
Lá thư đã hoàn chỉnh rồi nhưng tôi bắt đầu lo không biết gửi thư bằng cách nào. Gia đình chúng tôi thường gửi thư trong cùng một phong bì lớn. Tôi quyết định sẽ hỏi ý kiến ông Lynch Thornton tại bưu điện trên phố Main.
Mẹ đọc cho tôi nghe chuyện Daniel trong hang sư tử, một trong những chuyện ưa thích của tôi. Mỗi khi thời tiết dễ chịu, đêm mát mẻ, chúng tôi ít ngồi ở hành lang hơn và thường dành thêm nhiều thời gian đọc sách trước khi đi ngủ. Mẹ và tôi đọc sách, những người còn lại thì không. Mẹ thích chuyện Kinh Thánh, và tôi cũng vậy. Mẹ sẽ đọc một đoạn, rồi giải thích. Sau đó lại đọc, rồi lại giải thích.  
Mỗi câu chuyện đều có một bài răn dạy, và mẹ phải chắc là tôi hiểu được. Không có gì khiến tôi bực bội hơn khi cha Akers phân tích từng chi tiết trong lúc giảng những bài kinh dài lòng thòng.
Khi chuẩn bị ngủ, tôi hỏi xem mẹ có thể nằm cùng, trên giường chú Ricky cho tới khi tôi ngủ không.
- Dĩ nhiên mẹ sẽ ngủ với con. - Mẹ đồng ý.




Đăng nhập để trả lời
0
- 27 -


Sau một ngày nghỉ ngơi, chắc chắn cha không cho phép việc vắng mặt trên đồng nữa. Từ năm giờ cha đã lôi tôi ra khỏi giường, và chúng tôi đi một vòng lượm trứng, vắt sữa.
Tôi biết mình không thể tiếp tục trốn mãi trong nhà với mẹ, vì vậy tôi đã sẵn sàng dũng cảm đi hái bông. Rồi cũng có lúc tôi phải đối mặt với Cowboy trước khi hắn rời khỏi đây. Bây giờ là thời điểm tốt nhất để giải quyết việc này và làm việc đó với nhiều người xung quanh.
Nhóm Mexico đã ra đồng. Họ có thể bắt đầu sớm hơn, thêm vào đó vị trí này tạo cho họ tránh xa gia đình Spruill. Chúng tôi rời khỏi nhà ngay trước khi mặt trời mọc. Tôi ôm chặt ghế ngồi của Pappy trên máy kéo và quan sát khuôn mặt mẹ từ từ biến mất sau cửa sổ bếp. Đêm qua tôi đã cầu nguyện rất lâu, rất thành tâm, và cái gì đó nói với tôi rằng mẹ sẽ được an toàn.
Trên đường ra đồng, tôi nghiên cứu kỹ máy kéo John Deere. Tôi đã trải qua hàng giờ với nó, khi cày xới, lúc trồng trọt, thậm chí khi mang bông vào thị trấn cùng cha hoặc Pappy. Điều khiển máy kéo dường như cũng phức tạp. Nhưng bây giờ, sau ba mươi phút được ngồi trên máy ủi, với một dãy toàn những đòn bẩy và nút phím, việc điều khiển máy kéo lại khá đơn giản. Pappy chỉ ngồi ở đó, hai tay nắm vô lăng, chân để nguyên, ngủ gà ngủ gật - trong khi ông Otis phải thao tác liên tục - thêm một lý do khiến tôi nên làm nghề san đường chứ không nên trồng trọt, dĩ nhiên, không tính đến việc chơi bóng chày.
Nhóm Mexico đã tới giữa luống, mất hút trong đám bông và không để ý tới chúng tôi. Tôi biết Cowboy đang ở cùng họ, nhưng trong ánh sáng mặt trời sớm thế này tôi không thể không thấy hắn.
Tôi cố tránh hắn cho tới lúc nghỉ ăn trưa. Rõ ràng hắn đã thấy tôi suốt buổi sáng, và tôi đoán hắn nghĩ rằng lời nhắc nhở sẽ được đánh giá cao. Trong khi mọi người trong nhóm ngồi ăn dưới bóng mát của toa moóc, Cowboy đi về cùng chúng tôi. Hắn ngồi một mình một chỗ và tôi phớt lờ cho tới khi hắn gần tới nhà.
Cố lấy hết can đảm nhìn sang hắn, tôi thấy hắn đang dùng con dao bấm cà cà móng tay. Hắn đang chờ tôi. Hắn mỉm cười - nụ cười độc ác chứa đựng hàng ngàn lời nói - và nhẹ nhàng vẫy vẫy con dao về phía tôi. Không có ai thấy hành động này, và tôi quay mặt đi ngay.
Thỏa thuận giữa hai chúng tôi được củng cố chắc hơn.

Khoảng chiều muộn, toa moóc đã đầy. Sau bữa tối khẩn trương, Pappy thông báo hai ông cháu tôi sẽ mang bông vào thị trấn. Chúng tôi ra đồng và móc toa bông vào xe tải, sau đó đi trên con đường mới lát sỏi. Ông Otis là người khá lành nghề. Con đường thật êm ái, thậm chí trên chiếc xe tải cũ kỹ của Pappy.
Như thường lệ, khi lái xe Pappy luôn im lặng, và như thế lúc này cũng tốt đối với tôi bởi tôi không có gì để nói. Rất nhiều bí mật nhưng không có cách nào đế trút bỏ. Chúng tôi từ từ qua cầu, Tôi chăm chú nhìn mặt nước sâu, chảy lờ đờ phía dưới nhưng không thấy gì bất thường - không vết máu hay dấu hiệu tội ác mà tôi đã chứng kiến.
Đã hơn một ngày kể từ khi vụ giết người xảy ra, một ngày làm việc bình thường và công việc vất vả trên đồng. Tôi nghĩ về bí mật này trong mỗi hơi thở, nhưng tôi đang che giấu rất kỹ, tôi nghĩ vậy. Mẹ được an toàn, và đó là tất cả vấn đề.
Chúng tôi đi qua con đường rẽ vào nhà Latcher, và Pappy liếc nhìn về hướng đó. Lúc này, đối với tôi, họ chỉ còn là nỗi khó chịu nho nhỏ.
Tôi bắt đầu nghĩ đến một ngày không xa tôi có thể tống khứ được những gánh nặng. Tôi có thể kể cho một mình Pappy, chỉ có hai ông cháu thôi. Khi Cowboy quay về Mexico, an toàn ở một nước khác. Gia đình Spruill sẽ trở về nhà, và Hank không có ở đó. Tôi có thể kể tất cả cho Pappy, và ông sẽ biết phải làm gì.
Chúng tôi đến Black Oak sau một toa moóc và đi theo nó tới trạm tách hạt. Khi xe dừng lại, tôi trườn người và tiến sát tới chỗ Pappy. Vài nông dân đứng lộn xộn ngoài văn phòng, và cuộc bàn cãi nghiêm trọng đã nổ ra được một lúc. Chúng tôi bước lại chỗ họ và lắng nghe.

Tin tức rất ảm đạm và đầy đe dọa. Đêm hôm trước, mưa to đã trút xuống thị trấn Clay County. Một vài nơi bị ngập trong suốt mười tiếng đồng hồ. Clay County ở phía bắc Black Oak, ngược trên sông St. Francis. Những nhánh sông nhỏ, suốt bị ngập và nước chảy vào sông lớn.
Mực nước vẫn đang dâng cao.
Cuộc tranh luận bàn về mức độ ảnh hưởng tới thị trấn chúng tôi. Ý kiến thiểu số cho rằng bão sẽ không ảnh hưởng mấy tới con sông gần Black Oak. Chúng tôi ở quá xa và, vẫn chưa bị mưa nhiều, lượng nhỏ nước tăng trên sông St. Francis sẽ không thể gây lũ lụt. Nhưng đa số tỏ ra bi quan hơn, phần lớn bọn họ thật sự thấy rất lo.
Một nông dân nói, lịch niên giám của ông có đề cập tới những trận mưa to vào giữa tháng Mười.
Người khác nói, nhà ông anh họ ở Oklahoma đang bị ngập, và vì thời tiết của chúng tôi xuất phát từ phía tây, ông ấy cảm thấy dấu hiệu mưa là không thể tránh khỏi.
Pappy lẩm bẩm gì đó về ảnh hưởng thời tiết ở Oklahoma sẽ đến nhanh hơn bất cứ thông tin nào.
Thêm nhiều tranh luận, thêm nhiều ý kiến, và giọng điệu nói chung đều có vẻ ảm đạm. Chúng tôi đã bị tấn công nhiều lần bởi thời tiết, giá cả thị trường, giá hạt giống, phân bón, và chúng tôi chờ đợi sự việc tồi tệ nhất.
- Hai mươi năm qua chúng ta không hề bị bão lụt vào tháng Mười. - Ông Red Fletcher tuyên bố.
Câu nói làm dấy lên một cuộc tranh luận nóng bỏng về lịch sử lũ lụt vào mùa thu. Rồi những chuyện kể, những hồi ức khác nhau khiến vấn đề càng rắc rối một cách vô vọng.
Pappy không tham gia vào cuộc tranh cãi, và sau nửa  
tiếng lắng nghe, chúng tôi bỏ đi. Ông tháo móc toa bông, và chúng tôi đi về nhà, dĩ nhiên, trong im lặng. Một đôi lần tôi liếc sang ông và thấy ông như tôi đã nghĩ - câm lặng, lo lắng, lái xe bằng cả hai tay, trán nhíu lại, tâm trí ông không có gì ngoài cơn lụt đang sắp tới.
Chúng tôi đỗ lại trên cầu và bước qua vũng bùn tới rìa sông St. Francis. Ông xem xét một lúc như có thể thấy được mực nước sông đang dâng. Tôi chỉ sợ xác Hank bỗng nhiên nổi lên và tấp vào bờ ngay trước mặt chúng tôi. Không nói một câu, Pappy nhặt một que gỗ dài khoảng ba bộ, buộc nó vào một hòn đá và cành cây rồi ném xuống bãi cát cửa sông. Ông đánh dấu mực nước bằng con dao bấm.
- Sáng mai chúng ta sẽ kiểm tra lại. - Câu nói đầu tiên của ông sau một thời gian dài.
Trong vài phút, chúng tôi xem xét chiếc máy đo mực nước mới, cả hai ông cháu đều chắc chắn là sẽ thấy nước sông dâng. Không thấy gì thay đổi, chúng tôi quay lại xe.
Dòng sông khiến tôi sợ hãi không chỉ vì nó có thể gây ngập lụt. Xác Hank đang ở dưới đó, bị đâm, đã chết và trương phềnh vì ngấm nước, sẵn sàng tấp vào bờ và ai đó sẽ thấy gã. Ngay tại trang trại của chúng tôi xảy ra vụ giết người thực sự, không giống vụ đánh nhau với anh em nhà Sisco, mà là một vụ giết người hung bạo.
Mưa sẽ xoá hết mọi vết tích của Cowboy. Mưa sẽ làm nước sông dâng lên và chảy nhanh. Hank, hay cái gì còn lại của gã, sẽ bị cuốn trôi xuôi dòng đến thị trấn khác, thậm chí có thể đến tận bang khác. Một ngày nào đó sẽ có người phát hiện ra xác gã, nhưng không có manh mối để xác định gã là ai.
Đêm hôm đó, trước khi đi ngủ, tôi đã cầu nguyện cho gã, thành tâm hết mức có thể. Tôi cầu xin Chúa trời cho xuống một trận lụt lớn nhất kể từ trận lụt Noah.

Thứ bảy, khi chúng tôi đang dùng bữa sáng thì Pappy sầm sầm bước vào từ hành lang sau. Nét mặt ông khiến chúng tôi tò mò.
-Mực nước sông đã dâng lên bốn insơ, Luke ạ.Ông nói với tôi ngay khi ngồi xuống và lấy thức ăn. - Và có chớp ở phía Tây.
Cha nhíu mày nhưng vẫn nhai. Khi nói về chủ đề thời tiết, cha luôn thấy bi quan. Nếu thời tiết tốt, thì chỉ là vấn đề thời gian trước khi nó trở nên xấu đi. Nếu thời tiết xấu, đó chính là những gì cha đã nghĩ. Gran không thể hiện thái độ gì khi tiếp nhận tin mới. Con trai út của bà đang đánh nhau ở Triều Tiên, và đó là việc quan trọng hơn so với trận mưa tiếp theo. Bà chưa bao giờ rời khỏi cánh đồng, và bà biết sau vài năm thời tiết thuận lợi thì cũng sẽ có những năm tồi tệ, nhưng cuộc sống vẫn cứ tiếp tục. Chúa trời cho chúng ta cuộc sống, sức khỏe và thức ăn, đó mới là điều quan trọng. Thêm vào đó, Gran ít kiên nhẫn với những phiền muộn vì thời tiết.
-Chúng ta không thể làm gì được. - Bà luôn nói vậy.
Mẹ không mỉm cười hay nhíu mày, nhưng có vẻ hài lòng lạ kỳ. Mẹ kiên quyết không chịu sống cả đời tằn tiện, nghèo nàn bằng việc trồng trọt. Thậm chí mẹ còn kiên quyết không cho tôi theo nghề nông. Những ngày tháng ở trang trại đều được mẹ đánh dấu. Một vụ mất mùa khác có lẽ chỉ thúc đẩy nhanh sự khởi hành của chúng tôi mà thôi.
Khi ăn xong, chúng tôi nghe thấy tiếng sấm. Gran và mẹ đã rửa sạch bát đĩa, sau đó pha ấm cà phê khác. Chúng tôi ngồi quanh bàn, nói chuyện và im lặng, chờ đợi xem cơn bão sẽ dữ dội tới mức nào. Tôi nghĩ lời nguyện cầu của tôi đã được đáp lại, và cảm thấy có lỗi vì mong ước không thành thật này.
Nhưng sấm và chớp di chuyển về hướng bắc. Không có mưa. Khoảng bảy giờ sáng, chúng tôi lại ra đồng, chăm chỉ hái bông và làm việc tới trưa.
Khi chúng tôi vào thị trấn, chỉ mỗi Miguel leo lên thùng xe. Những người Mexico còn lại đang làm việc, Miguel giải thích, chú cần mua vài thứ cho mọi người. Tôi thấy nhẹ hẳn người. Tôi sẽ không bị buộc phải đi chung trên thùng xe với Cowboy.
Chúng tôi gặp mưa tại rìa Black Oak, mưa phùn mát mẻ thay vì cơn bão giận dữ. Hai bên lề đường chật ních người đi lại chậm rãi dưới tán dù và ban công các cửa hàng. Mọi người cố gắng, nhưng không thể hoàn toàn, để không bị ướt.
Thời tiết làm nhiều gia đình nông dân không ra được thị trấn. Điều này thấy rõ khi suất chiếu bốn giờ chiều tại rạp Dixie bắt đầu. Nửa số chỗ ngồi còn trống, dấu hiệu chắc chắn đây không phải là một thứ bảy bình thường. Sau nửa buổi chiếu đầu, ánh đèn soi lối đi giữa các dãy ghế sáng lên lập lòe, sau đó màn hình trắng xóa. Chúng tôi ngồi trong bóng tối, cảm giác sợ hãi, muốn chạy trốn, và lắng nghe tiếng sấm.
- Điện tắt rồi. - Một giọng nói vang lên phía sau. - Xin quý khách từ từ rời khỏi rạp.
Chúng tôi túm tụm vào hành lang chật hẹp và quan sát mưa rơi như trút trên phố Main. Bầu trời xám xịt, và rất ít ôtô chạy qua sử dụng đèn pha.
Thậm chí, bọn trẻ chúng tôi cũng biết là có mưa nhiều, bão to, và những tin đồn về chuyện nước dâng. Lũ lụt thường xảy ra vào mùa xuân, hiếm khi vào mùa thu hoạch. Trong một thế giới, nơi người làm nghề trồng trọt hay buôn bán các sản phẩm nông trại, vụ mùa ướt át vào giữa tháng Mười là đáng thất vọng.
Khi mưa ngớt, chúng tôi chạy ra khỏi rạp và đi tìm cha mẹ. Mưa to có nghĩa là đường phố bùn lội, và thị trấn sẽ sớm vắng tanh khi các gia đình nông dân về nhà trước khi trời tối. Cha đã nói tới chuyện mua lưỡi cưa, vì thế tôi nhảy vào cửa hàng kim khí với hy vọng thấy cha. Ở đó rất đông, toàn những người chờ đợi và quan sát thời tiết bên ngoài. Từng nhóm nhỏ bàn tán, cánh người già đang kể chuyện về những trận lụt cổ xưa. Cánh phụ nữ băn khoăn không rõ những thị trấn khác - Paragould, Lepanto, và Manila - có mưa nhiều không. Các lối đi giữa cũng chật kín người, chỉ nói chuyện, không mua bán hay tìm hàng hóa.
Tôi len qua đám đông, tìm cha. Cửa hàng kim khí khá cũ, phía sau tối om. Sàn gỗ ướt do xe cộ và võng xuống vì đã qua nhiều năm sử dụng. Cuối một lối đi, tôi đối mặt với Tally và Trot. Chị xách một thùng sơn trắng. Trot cầm một bình. Họ tha thẩn giống mọi người, chờ cơn bão qua. Trot thấy tôi và cố trốn sau Tally.
-Chào, Luke! - Chị nở nụ cười tươi.
-Xin chào! - Tôi nhìn thùng sơn. Tally đặt nó xuống bên cạnh. - Sơn làm gì thế?
-Ồ, không có gì đâu, - chị lại mỉm cười.
Một lần nữa tôi nhớ ra rằng Tally là cô gái dễ thương nhất mà tôi từng gặp, và khi chị mỉm cười với tôi, tâm trí tôi trở nên trống rỗng. Một khi bạn đã được nhìn thấy thân hình khỏa thân của một cô gái xinh đẹp, bạn sẽ có tình cảm quyến luyến thật sự với cô ấy.
Trot nép chặt phía sau Tally, giống như cáo con trốn sau lưng mẹ. Tally và tôi nói chuyện về cơn bão, và tôi truyền đạt lại những thông tin về điện tắt giữa buổi chiếu phim. Chị lắng nghe với vẻ quan tâm, và tôi càng muốn nói nhiều hơn. Tôi kể cho chị tin đồn về mực nước tăng, về cái máy đo Pappy và tôi đã đặt ở sông. Chị hỏi về Ricky, và chúng tôi trò chuyện về chú một lúc lâu.
Tuy nhiên, tôi quên mất chuyện thùng sơn.
Ánh sáng lập lòe, và điện sáng trở lại. Trời vẫn đang mưa nên không ai rời cửa hàng.
- Cô gái nhà Latcher thế nào rồi? - Chị hỏi, hai mắt đảo quanh như thể ai đó có thể nghe thấy.
Đây là một trong những bí mật của chúng tôi. Tôi định trả lời thì bỗng nhiên cái gì đó nhắc nhở tôi là anh trai của Tally đã chết, và chị không hề biết gì. Có lẽ gia đình Spruill nghĩ rằng lúc này Hank đã về tới nhà, về tới Eureka Springs, về tới ngôi nhà sơn nhỏ xinh xắn. Họ sẽ gặp lại gã trong vài tuần nữa, sớm hơn nếu trời vẫn mưa. Tôi nhìn Tally và cố nói chuyện, nhưng tôi chỉ có thể tưởng tượng ra cảnh chị sẽ bị sốc thế nào nếu biết được những suy nghĩ của tôi lúc này.
Tôi ngưỡng mộ Tally, cho dù tính khí và những bí mật của chị, cho dù cái chuyện vớ vẩn giữa chị với Cowboy. Tôi không thể làm gì được ngoài việc tôn thờ chị, và chắc chắn tôi không muốn chị đau lòng. Ý nghĩ nói tuột ra rằng Hank đã chết khiến tôi muốn khuỵu gối.
Tôi nói cà lăm, lắp bắp và nhìn xuống sàn. Đột nhiên tôi thấy lạnh và sợ hãi.
-Gặp lại chị sau. - Tôi vội bước ra trước cửa.
Khi mưa tạnh, các cửa hàng trống trơn và mọi người chạy nhốn nháo ra lề đường, hướng về dãy ôtô và xe tải. Mây vẫn xám xịt, và chúng tôi muốn về nhà trước khi mưa lại trút xuống.




Đăng nhập để trả lời
0
- 28 -
 


Vào chủ nhật, trời u ám và nhiều mây. Cha không để ý đến việc bị ướt khi ngồi sau thùng xe trên đường tới nhà thờ. Thêm vào đó, xe tải của chúng tôi không phải là không thấm nước, và cánh phụ nữ thường bị nhỏ nước lên người khi ngồi trong cabin lúc trời mưa to. Chúng tôi hiếm khi bỏ buổi cầu nguyện ngày chủ nhật, nhưng đôi khi mưa to buộc chúng tôi phải ở nhà. Nhiều tháng nay chúng tôi không hề bỏ một buổi lễ nào, vì vậy khi Gran đề nghị dùng bữa sáng muộn và nghe đài, chúng tôi vội đồng ý ngay. Bellevue Baptist là nhà thờ rộng nhất ở Memphis, và các buổi lễ được truyền trên đài phát thanh WHBQ. Pappy không thích cha giảng đạo, ông cho rằng tư tưởng của ông ấy quá tự do, nhưng dù sao chúng tôi cũng thích nghe ông ấy. Dàn đồng ca với một trăm giọng hát, nhiều hơn hẳn tám mươi người so với dàn đồng ca tại nhà thờ Cơ đốc ở Black Oak.
Sau bữa sáng, chúng tôi ngồi quanh bàn bếp nhấm nháp cà phê (gồm cả tôi) và lắng nghe bài giảng đạo được phát tới một giáo đoàn gồm ba nghìn thành viên, và lo lắng về thời tiết đang thay đổi. Người lớn thì lo lắng; chỉ mình tôi, giả bộ không.
Bellevue Baptist có một dàn nhạc, gồm các loại nhạc cụ, và khi dàn nhạc chơi bài Kinh Tạ Ơn, Memphis dường như ở cách xa một triệu dặm. Dàn nhạc trong một nhà thờ. Con gái lớn của Gran, bác Betty, sống ở Memphis, và tuy không cầu nguyện tại Bellevue nhưng bác biết hết mọi người ở đó. Tất cả đàn ông đều mặc comlê. Các gia đình đều có ôtô đẹp. Đó quả thực là một thế giới khác hẳn.
Pappy và tôi lái xe ra bờ sông kiểm tra máy đo. Mưa làm xói mòn một vũng trên đoạn đường mới san của ông Otis. Nhiều rãnh nông bên đường chứa đầy nước, và cả những vũng bùn ngập nước. Chúng tôi dừng lại giữa cầu và chăm chú quan sát dòng sông ở cả hai bờ. Thậm chí tôi có thể nói mực nước đang dâng. Những bãi cát cửa sông và cồn cát ngầm bị phủ kín. Nước cao hơn và mầu nâu nhạt hơn, bằng chứng của việc rút nước từ những nhánh sông con chảy qua cánh đồng. Nước xoáy và chảy nhanh hơn. Những mảnh vỡ - gỗ trôi dạt, khúc gỗ mới đốn và thậm chí vài cành cây xanh - đang nổi trên mặt nước.
Máy đo bằng que của chúng tôi vẫn đứng, nhưng vừa đủ thấy Pappy lội ra và lôi nó lên để kiểm tra như thể nó đã làm gì sai sót, và nói thầm.
- Lên cao khoảng mười insơ trong hai mươi tư tiếng. - Ông ngồi xổm và cà cà cái que lên tảng đá.
Quan sát, tôi nhận thấy sự thay đổi của dòng sông. Nước không chảy ào ào, nhưng đã dâng lên bao phủ các cồn cát ngầm và va vào các trụ cầu. Nước bắn tung tóe đập vào đám cây bụi dầy đặc hai bên bờ và làm xói mòn những đoạn rễ cây liễu gần đó. Cảnh huyên náo đầy đe dọa. Một điều tôi chưa bao giờ nghe nói tới.
Pappy đang nghe ngóng. Ông chỉ cái que về phía khúc rẽ trên sông, xa phía bên phải.
-Nước sẽ ngập nhà Latcher trước tiên. Họ ở trên vùng đất thấp mà.
-Khi nào ạ? - Tôi hỏi.
-Tùy thuộc vào mưa. Nếu mưa tạnh, sau đó có thể không xảy ra lụt ở mọi nơi. Tuy nhiên nếu trời tiếp tục mưa, nước sẽ tràn bờ trong một tuần.
-Lần cuối cùng bị lụt là vào năm nào ạ?
-Ba năm trước, nhưng đó là mùa xuân. Trận lụt cuối cùng vào mùa thu xảy ra cách đây khá lâu.
Tôi rất muốn hỏi nhiều về. các trận lụt, nhưng đây không phải là chủ đề Pappy muốn nói. Chúng tôi nghiên cứu dòng sông trong một lúc, lắng nghe tiếng dòng chảy, sau đó trở lại xe và về nhà.
-Chúng ta tới nhánh sông Siler xem thế nào. - Ông nói.
Con đường đồng quá lầy lội đối với xe tải, vì thế Pappy khởi động máy kéo John Deere và chúng tôi rời sân trước ánh mắt tò mò của gia đình Spruill và nhóm người Mexico. Máy kéo không bao giờ được sử dụng vào chủ nhật. Chắc chắn Eli Chandler không định làm việc vào ngày Xaba.
Nhánh sông đã thay đổi. Làn nước trong, nơi Tally thích tắm, đã biến mất. Dòng nước mát rượi chảy quanh tảng đá đã biến mất. Thay vào đó, nhánh sông có vẻ rộng hơn và nước đục ngầu chảy về từ sông St. Francis, cách đó nửa dặm. Chúng tôi xuống xe và bước tới bờ sông.
-Đây là nơi lũ lụt xuất phát, Pappy nói. - Chứ không phải từ sông St. Francis. Đất ở đây thấp hơn, và khi nhánh sông này bị tràn bờ, nước sẽ hướng thẳng về cánh đồng của chúng ta.
Mực nước cách chỗ chúng tôi ít nhất mười bộ, vẫn được ngăn lại an toàn trong khe núi, cắt qua trang trại chúng tôi nhiều thập kỷ trước. Dường như nhánh sông này không thể dâng nước lên cao đủ để tràn ra ngoài được.
-Nó sẽ ngập đúng không, Pappy?
Ông suy nghĩ lâu và chăm chú, hoặc có lẽ không nghĩ gì cả. Ông quan sát nhánh sông và cuối cùng cũng nói với vẻ không thuyết phục cho lắm.
-Không, chúng ta sẽ ổn thôi.
Tiếng sấm vang rền phía tây.

Sáng sớm thứ hai, khi tôi vào bếp thì Pappy đã ngồi bên bàn, đang uống cà phê và bật đài. Ông cố dò sóng đài phát thanh ở Little Rock để kiểm tra tình hình thời tiết. Gran đang rán món thịt lợn muối gần bếp lò. Ngôi nhà rất lạnh, nhưng hơi nóng và mùi thức ăn làm cho mọi vật ấm lên nhiều. Cha đưa tôi cái áo khoác cũ, được thừa hưởng từ chú Ricky, và tôi miễn cưỡng mặc vào.
-Chúng ta sẽ hái bông hôm nay chứ, Pappy? - Tôi hỏi.
-Chúng ta sẽ biết chính xác thôi. - Ông nói mà không rời mắt khỏi cái đài.
-Đêm qua có mưa không ạ? - Tôi hỏi Gran vừa cúi xuống hôn lên trán tôi.
-Mưa suốt đêm, - bà nói. - Bây giờ cháu đi nhặt trứng đi.
Tôi theo cha rời khỏi nhà, đi xuống bậc thang sau, cho tới khi phát hiện có cái gì đó khiến tôi lạnh toát người. Mặt trời rõ ràng chưa mọc nhưng chỗ này có nhiều ánh sáng. Không thể nghi ngờ những gì tôi đang thấy.
Tôi cố thốt ra được câu.
-Nhìn kìa!
Cha đi trước tôi và đang hướng về phía chuồng gà.
-Gì vậy, Luke?
Dưới gốc sồi, nơi Pappy đỗ xe mỗi ngày trong suốt cuộc đời tôi, những vết lún trống không. Xe đã biến mất.
-Xe tải, - tôi lắp bắp.
Cha bước đến bên tôi, mắt mở to. Xe tải luôn ở chỗ đó, luôn luôn, giống như những cây sồi hay dãy chuồng gà kia. Chúng tôi thấy nó hàng ngày, nhưng chúng tôi không nhận ra bởi nó luôn ở chỗ đó.
Không một lời, cha quay lại hành lang, xông vào bếp.
-Tại sao xe tải biến mất? - Cha hỏi Pappy, người đang cố tập trung nghe bản tin từ nơi nào đó rất xa.
Gran cứng người và nghiêng nghiêng đầu sang bên như thể bà cần được nhắc lại câu hỏi. Pappy tắt đài đi.
-Con nói gì?
-Xe tải đã biến mất.
Pappy nhìn Gran, còn bà lại nhìn cha. Rồi tất cả nhìn tôi như thể tôi lại lần nữa làm việc gì sai trái. Đúng lúc ấy mẹ bước vào bếp, và cả gia đình kéo nhau tới thẳng chỗ vết bánh xe lầy lội, nơi xe tải nên có ở đó.
Chúng tôi tìm kiếm quanh trang trại, như thể bằng cách nào đó nó có thể tự di chuyển tới chỗ khác.
-Tôi đã đỗ đúng chỗ mà, - Pappy nói vẻ không tin.
Dĩ nhiên ông đã đỗ ở đó. Chúng tôi không bao giờ lái xe đi đâu vào ban đêm.
Cách đó một quãng ông Spruill gọi to.
-Tally!
-Ai có đã lấy xe của chúng ta, - Gran thì thầm.
 -Chìa khóa đâu? - Cha hỏi.
-Gần cái đài, như thương lệ, - Pappy nói.
Chìa khóa xe luôn để trong cái bát nhỏ bằng hộp thiếc gần chỗ đài, phía cuối bàn. Cha vào bếp kiểm tra rồi quay ra ngay.
-Không thấy chìa khóa.
-Tally! - Ông Spruill gọi to hơn.
Cảnh náo động bên trong và quanh khu lều nhà Spruill. Bà Spruill xuất hiện và bắt đầu bước nhanh về phía hành lang trước. Khi thấy chúng tôi đang trố mắt nhìn vào chỗ đỗ xe trống không, bà chạy tới.
-Tally đã biến mất. Chúng tôi không tìm thấy nó.
Đám người nhà Spruill còn lại ngay lập tức có mặt sau lưng bà, và hai gia đình nhìn nhau. Cha giải thích là xe tải của chúng tới biến mất. Ông Spruill thông báo cô con gái mất tích.
-Nó biết lái xe không? - Pappy hỏi.
-Không, nó không biết. - Bà Spruill nói, và điều này gây ra những vấn đế rắc rối.
Một lúc lâu mọi người im lặng khi suy nghĩ về tình huống này.
-Anh nghĩ là Hank không thể quay trở lại và lấy xe đi, phải không? - Pappy hỏi.
-Hank không ăn cắp xe tải của ông, ông Spruill nói với vẻ tức giận xen lẫn bối rối.
Vào lúc này, mọi việc đều có thể cũng như không thể.
-Bây giờ thì Hank đã có mặt ở nhà rồi. - Bà Spruill như muốn khóc.
Tôi chỉ muốn gào lên, “Hank đã chết!” sau đó chạy vào nhà và trốn dưới gầm giường.
Những con người đáng thương kia chưa biết là con trai họ sẽ không bao giờ xuất hiện. Bí mật này bỗng nhiên trở nên quá nặng nề khi gánh vác một mình. Tôi lùi lại sau lưng mẹ.
Mẹ nghiêng người gần cha thì thầm.
-Chúng ta nên kiểm tra Cowboy.
Tôi đã kể cho mẹ về Tally và Cowboy nên mẹ phỏng đoán tình hình.
Cha nghĩ ngợi vài giây, sau đó nhìn về hướng chuồng bò. Pappy, Gran và những người còn lại đều làm vậy.
Miguel đang tiến về phía chúng tôi, để lại những vết chân trên thảm cỏ ướt. Tay cầm mũ rơm bẩn, và điệu bộ khiến chúng tôi nghĩ rằng chú thật sự không muốn làm việc này.
-Chào, Miguel! - Pappy nói, thái độ như thựờng lệ.
-Senor !(Chào ông) - Chú gật đầu chào.
-Có vấn đề gì à? - Pappy hỏi.
-Sí, senor ( Vâng, thưa ông). Một vấn đề nhỏ.
-Gì thế?
-Cowboy đã biến mất. Tôi nghĩ cậu ta lén trốn đi trong đêm.
-Đây hẳn là bệnh dễ lây, - Pappy lẩm bẩm, sau đó nhổ nước bọt xuống bãi cỏ.
Phải mất vài giây để gia đình Spruill liên kết các sự việc. Lúc đầu sự biến mất của Tally không liên quan tới sự biến mất của Cowboy, ít ra là đối với họ. Rõ ràng họ không biết gì về cuộc tình bí mật của hai người. Gia đình Chandler đã hình dung ra mọi việc trước gia đình Spruill.
Sự thật từ từ hé mở.
-Ông nghĩ thằng đó đã bắt con bé theo? - Ông Spruill hỏi đầy vẻ sợ hãi. Bà Spruill sụt sùi, và cố ngăn nước mắt.
-Tôi không biết phải nghĩ gì. - Pappy trả lời.
Ông lo lắng nhiều cho xe tải của mình hơn là nghĩ tới việc tìm Tally và Cowboy.
-Cowboy mang hết đồ đạc đi chưa? - Cha hỏi Miguel.
-Sí, senor.(Vâng, thưa ông)
-Tally cũng đã mang hết đồ của nó? - Cha quay sang ông Spruill.
Ông ta không trả lời. Câu hỏi lơ lửng trong không khí cho tới khí Bo nói.
-Vâng, thưa ông. Túi xách của nó đã biến mất.
-Có gì trong túi?
-Quần áo và đồ lặt vặt. Cả lọ đựng tiền nữa.
Bà Spruill kêu khóc to hơn, sau đó rên rĩ.
-Ôi, con tôi!
Tôi chỉ muốn chui xuống dưới nhà. Gia đình Spruill trở thành một nhóm người nản chí. Những mái đầu cúi gằm, bờ vai so lại, mắt gần như nhắm tịt. Tally yêu quý của họ đã bỏ trốn cùng một kẻ mà họ cho là thuộc dòng máu bậc thấp, kẻ xâm phạm da ngăm đen đến từ một nước nghèo khổ. Rõ ràng họ thấy bẽ mặt trước chúng tôi, và rất đau đớn.
Tôi cũng thấy đau lòng. Tại sao chị có thể làm một việc khủng khiếp như vậy? Chị là bạn tôi. Chị cư xử với tôi như bạn bè thân thiết, và bảo vệ tôi như người chị cả. Tôi yêu Tally. Bây giờ chị bỏ đi với tên giết người tàn bạo.
-Nó đã bắt con bé theo! Bà Spruill nói oang oang.
Bo và Dale dìu bà ra chỗ khác, để lại ông Spruill và Trot đối mặt với vấn đề. Vẻ mặt trống rỗng thường ngày của Trot được thay bằng vẻ mặt đầy bối rối và buồn bã. Tally cũng là người bảo vệ Trot. Bây giờ chị đã bỏ đi.
Cánh đàn ông bàn bạc xem phải làm gì tiếp theo. Sự ưu tiên hàng đầu là tìm Tally, và xe tải, trước khi Tally có thể đi quá xa. Không có chút manh mối nào về thời điểm hai người rời khỏi đây. Rõ ràng bọn họ đã lợi dụng cơn bão để che giấu cuộc bỏ trốn. Suốt đêm gia đình Spruill không nghe thấy gì, ngoài mưa và bão, họ không nghe thấy tiếng xe nổ cách khu lều không xa.
Hai người đó có thể đã bỏ đi từ lâu, chắc chắn đủ thời gian để lái xe tới Jonesboro, Memphis thậm chí là tới tận Little Rock.
Nhưng cánh đàn ông dường như lạc quan cho là có thể nhanh chóng tìm thấy Tally và Cowboy. Ông Spruill đi tháo dây buộc xe tải của họ. Tôi xin phép cha đi cùng, nhưng cha không đồng ý. Mẹ cũng cương quyết từ chối.
- Đó không phải là chỗ của con,
Pappy và cha cùng ngồi chen chúc phía trước với ông Spruill và họ rời khỏi trang trại. Bốn bánh xe quay tròn, bùn văng lại sau.
Tôi đi qua kho thóc đến chuồng hun khói cũ um tùm cỏ dại và ngồi dưới mái thiếc mục nát, quan sát mưa rơi trong suốt một giờ. Tôi thấy yên lòng là Cowboy đã rời trang trại, và vì điều này tôi cảm ơn Chủa trời với lời nguyện cầu thành thật. Nhưng cảm giác nhẹ bớt về việc bỏ đi của hắn lại bị lu mờ bởi nỗi thất vọng về Tally. Tôi cố ghét chị vì những gì chị đã làm. Tôi nguyền rủa Tally, sử dụng các câu chú Ricky đã dạy, và khi nói ra những lời tục tĩu có thể nhớ được, tôi cầu xin Chúa trời tha thứ.
Và tôi cầu xin Người bảo vệ cho Tally.

Cánh đàn ông mất hai giờ mới tìm ra Stick Power. Ông nói rằng mình đang trên đường về từ trụ sở cảnh sát tại Jonesboro, nhưng Pappy kể ông ta trông có vẻ như đã ngủ li bì suốt một tuần. Rõ ràng Stick rất hồi hộp khi xảy ra một vụ phạm tội lớn trong khu vực thuộc phạm vi quyền hạn của mình. Theo bộ luật, ăn cắp xe tải của nông dân chỉ ở cấp độ thấp hơn so với giết người, và Stick khá sốt sắng, Ông gọi điện báo tin tới một số khu vực qua radio liên lạc cũ, và ngay sau đó tin tức này được lan truyền ở phần lớn vùng tây bắc Arkansas.
Theo lời Pappy, Stick không quá lo lắng về nơi ở của Tally. Ông ta đoán chính chị đã tự nguyện bỏ trốn cùng một người Mexico. Đó là việc hèn hạ và đáng hổ thẹn, nhưng không phải là tội ác, cho dù ông Spruill vẫn tiếp tục dùng từ “bắt cóc.”.
Không chắc hai người kia sẽ mạo hiểm thực hiện một chuyến đi dài bằng xe tải. Họ chỉ muốn chạy trốn khỏi Arkansas, và Stick suy luận phương tiện chắc chắn nhất sẽ là xe khách. Họ sẽ bị nghi ngờ khi đón xe đi nhờ; các tài xế bang Arkansas chắc sẽ không chở một kẻ da ngăm đen như Cowboy, đặc biệt lại đi cùng cô gái da trắng.
- Chúng có lẽ lên xe khách đi miền Bắc. - Ông Stick phỏng đoán.
Khi Pappy kể tới đoạn này, tôi nhớ lại ước mơ sống ở Canada của Tally, thoát khỏi cái nóng nực và ẩm ướt. Chị thích tuyết, và vì lý do nào đó chị đã lựa chọn Montréal là nơi sinh sống.
Cánh đàn ông bàn về vấn đề tiền bạc. Cha làm phép tính và đoán là Cowboy kiếm được gần bốn trăm đôla công hái bông. Tuy nhiên, không ai biết hắn đã gửi về nhà bao nhiêu. Tally kiếm được khoảng một nửa số đó và có lẽ tiết kiệm phần lớn. Chúng tôi biết chị đã mua sơn cho Trot, nhưng không rõ những khoản chi tiêu khác.
Đôi lúc, giữa câu chuyện của Pappy, tôi muốn thố lộ bí mật về Hank. Cowboy đã cướp tiền của Hank sau khi giết gã. Không biết Hank tiết kiệm được bao nhiêu tiền công hái bông, nhưng tôi biết chắc chắn là 250 đô của Samson hiện đang trong túi Cowboy. Tôi chỉ muốn nói ra điều này khi chúng tôi ngồi quanh bàn bếp, nhưng tôi vẫn thấy sợ hãi. Cowboy đã bỏ đi, nhưng cảnh sát có thể bắt được hắn ở đâu đó.
Hãy chờ đợi, tôi tự nhủ. Nên chờ đợi. Thời điểm tôi có thể trút bỏ gánh nặng rồi sẽ đến.
Cho dù vốn tiền bạc thế nào, rõ ràng Tally và Cowboy cũng có đủ tiền đi xe khách trong một thời gian dài.
Và rồi chúng tôi giải tán. Ông bà và cha mẹ có nói tới chuyện thay thế xe tải bằng cách nào trong trường hợp không tìm ra, nhưng chủ đề này quá đau lòng nên không ai muốn tiếp tục bàn bạc. Thêm vào đó, tôi lại đang lắng nghe.
Chúng tôi ăn trưa sớm, sau đó ngồi ở hành lang sau ngắm mưa rơi.




Đăng nhập để trả lời
0
- 29 -


Xe tuần tra cảnh sát cũ rích, kêu ầm ĩ của ông Stick xuất hiện ở sân trước, và xe tải bị lấy cắp của chúng tôi đi ngay đằng sau. Stick bước ra, mặt đầy vẻ quan trọng vì ông đã giải quyết được phần cấp bách nhất trong vụ này. Một nhân viên cảnh sát khác của Black Oak đang lái chiếc xe tải, mà như chúng tôi có thể nói, không hề thay đổi chút gì. Gia đình Spruill, chạy ùa ra, sốt sắng với tin tức về Tally.
-Chúng tôi đã thấy nó tại bến xe khách ở Jonesboro. - Stick thông báo khi đám đông nhỏ tụ tập xung quanh. - Đúng như tôi đã phỏng đoán.
-Chìa khóa đâu? - Pappy hỏi.
-Dưới ghế ngồi. Và thùng đầy xăng. Tôi không biết xăng có đầy khi họ rời khỏi đây không, nhưng bây giờ thì vẫn đầy.
-Chỉ còn một nửa thôi, - Pappy nói với vẻ không tin.
Tất cả chúng tôi đều kinh ngạc, không chỉ vì thấy lại chiếc xe và nó chẳng có gì thay đổi. Chúng tôi đã trải qua cả ngày lo lắng về tương lai không có xe tải, không có phương tiện đi lại. Chúng tôi sẽ giống như gia đình Latcher, bắt buộc phải đi ké bất cứ ai ngang qua để vào được thị trấn. Tôi không thể tưởng tượng ra cảnh ngộ như vậy, và bây giờ, hơn lúc nào hết, tôi cương quyết về việc sẽ sống trong thành phố, nơi mọi người đều có ôtô.
-Tôi nghĩ là chúng chỉ mượn xe thôi. - Ông Spruill gần như nói với chính mình.
-Đó chính là điều tôi đã thấy, - Stick đồng ý. - Ông vẫn muốn buộc tội chứ, Pappy?
Ông và cha nhìn nhau.
-Tôi nghĩ là không, - Pappy nói.
-Có ai thấy chúng không? - Bà Spruill hỏi nhỏ.
-Có. Chúng mua hai vé đi Chicago, sau đó lởn vởn quanh bến xe suốt năm tiếng đồng hồ. Nhân viên bán vé biết có chuyện, nhưng nghĩ không phải là việc của mình. Bỏ trốn với người Mexico không phải là chuyện khôn ngoan nhất trong cuộc sống, nhưng cũng không phải là phạm tội. Anh chàng bán vé nói đã quan sát hai đứa suốt đêm, và chúng làm bộ phớt lờ nhau như không hề quen biết. Chúng sẽ không ngồi gần nhau trên xe. Nhưng khi xe đỗ, chúng sẽ đi cùng nhau.
- Xe khách khởi hành lúc mấy giờ? - Ông Spruill hỏi.
-Sáu giờ sáng nay. - Stick lấy ra một phong bì dán kín và đưa ông Spruill. - Tôi thấy cái này ở ghế trước. Tôi nghĩ là thư Tally viết cho ông bà. Tôi chưa đọc đâu.
Ông Spruill chuyển thư cho vợ. Bà vội vàng mở thư, chăm chú đọc, và lau nước mắt. Mọi người quan sát bà, im lặng chờ đợi. Thậm chí cả Trot đang trốn sau Bo và Dale, cũng nghiêng người tới, theo dõi cảnh đọc thư.
-Đây không phải việc của tôi, thưa bà, - Stick nói. - nếu trong đó không có thông tin hữu ích mà tôi cần biết.
Bà Spruill tiếp tục đọc, và khi kết thúc, bà nhìn xuống đất.
-Nó nói nó sẽ không về nhà. Nó nói nó sẽ kết hôn với Cowboy và đến sống ở miền Bắc, chúng có thể sẽ tìm được công việc tốt.
Nước mắt và tiếng sụt sịt bỗng nhiên biến mất, lúc này bà Spruill tỏ ra giận dữ hơn bao giờ hết. Con gái bà  không phải bị bắt cóc; con bé chạy trốn với một tên Mexico, và nó sẽ lấy thằng đó.
-Chúng định sống ở Chicago? - Ông Stick hỏi.
-Không nói như vậy. Chỉ nói là sẽ ở miền Bắc.
Gia đình Spruill bắt đầu tản đi, rút lui trong buồn bã. Cha cảm ơn ông Stick và nhân viên cảnh sát vì đã mang trả lại xe tải.
-Chỗ các bạn có vẻ nhiều mưa hơn những nơi khác, - Stick nhận xét khi mở cửa xe.
-Nó sẽ ướt khắp nơi thôi. - Pappy phản ứng lại.
-Sông đang dâng lên ở phía bắc. - Stick nói như thể là một chuyên gia dự báo. - Tình trạng này sẽ tiếp tục mưa nhiều đấy.
-Cảm ơn, Stick. - Pappy lặp lại.
Ông Stick và nhân viên cảnh sát chui vào xe, Stick ngồi sau tay lái. Chỉ khi định đóng cửa, ông ta chợt nhớ ra.
-Nghe này, ông Eli, tôi đã gọi điện cho cảnh sát trưởng tại Eureke Springs. Ông ấy không thấy thằng nhóc to béo, Hank. Nhẽ ra lúc này nó phải về nhà rồi chứ, ông nghĩ vậy knông?
-Đúng. Nó đã rời đây từ tuần trước.
-Ông nghĩ nó ở đâu?
-Không phải việc của tôi.
-Tôi chưa xong việc với nó đâu, ông biết rồi đấy. Khi tìm nó, tôi sẽ tống con lừa béo đó vào tù ở Jonesboro, và chúng ta sẽ có một vụ xử án.
-Cứ tự nhiên, Stick. Anh đi mà làm việc đó.
Lốp xe mòn, trơn trượt và quay tít trong bùn, nhưng cuối cùng cũng ra tới đường. Gran và mẹ quay về bếp.
Pappy lấy dụng cụ và mang lại cốp sau xe tải. Ông mở nắp và bắt đầu xem xét động cơ. Tôi ngồi trên thành cản sóc, đưa ông cờ lê, và quan sát ông làm việc.
-Tại sao cô gái dễ thương như Tally lại muốn lấy người Mexico nhỉ? - Tôi hỏi.
Pappy đang vặn chặt lại dây cua roa. Không có dấu hiệu gì chứng tỏ Cowboy đã dừng lại, mở nắp và chọc ngoáy vào động cơ khi đang chạy trốn cùng Tally, nhưng dù sao Pappy vẫn muốn điều chỉnh, xem xét và sửa chữa như thể xe đã bị làm hỏng.
-Đúng là phụ nữ, - ông lầu bầu.
-Ông định nói gì ạ?
-Phụ nữ thường làm những việc ngu ngốc.
Tôi chờ đợi lời giải thích, nhưng câu trả lời của ông đã kết thúc.
-Cháu không hiểu. - Cuối cùng tôi nói.
-Ông cũng không. Cháu sẽ càng không. Cháu không thể hiểu được phụ nữ đâu.
Ông di chuyển cái lọc khí và nhìn chăm chú bộ chế hòa khí với vẻ nghi ngờ. Trong một thoáng, có vẻ như ông đã tìm ra bằng chứng về sự sờ mó vào động cơ, nhưng sau đó ông siết lại đinh vít và dường như hài lòng.
-Ông nghĩ họ sẽ tìm ra chị ấy không? - Tôi hỏi.
-Họ sẽ không tìm. Chúng ta đã lấy lại được xe tải, vì thế không có gì phạm tội, cảnh sát không cố tìm chúng đâu. Ông nghi ngờ gia đình Spruill sẽ đi tìm họ. Tại sao phải phiền phức chứ? Nếu họ may mắn và tìm ra chúng, họ định sẽ làm gì?
-Họ không thể bắt chị ấy về sao?
-Không. Một khi con bé kết hôn, nó đã là người trưởng thành. Cháu không thể bắt người đã kết hôn làm một việc ngớ ngẩn như vậy.
Ông lắp tay quay động cơ và lắng nghe. Đối với tôi, tiếng nổ vẫn như cũ, nhưng Pappy cho là ông nghe thấy có tiếng lách cách mới.
-Chúng ta thử đi dạo một vòng. - Ông đề nghị.
Lãng phí xăng là một tội lỗi trong nguyên tắc của Pappy, nhưng ông dường như muốn dùng hết chỗ xăng miễn phí mà Tally và Cowboy đã để lại.
Chúng tôi lên xe. Tôi ngồi đúng chỗ Tally đã ngồi, nhiều giờ trước, khi họ lén bỏ trốn trong cơn bão. Tôi không nghĩ được gì ngoài chị, và tôi thấy hoang mang hơn bao giờ hết.
Đường đi ướt và lầy lội nên Pappy không thể đạt tới tốc độ lý tưởng: ba mươi bảy dặm một giờ, nhưng ông vẫn cho là có gì đó trục trặc với động cơ. Chúng tôi dừng lại bên cầu và nhìn dòng sông. Những cồn cát đã biến mất; không còn gì ngoại trừ nước giữa hai bờ - nước và những mảnh vỡ vụn từ thượng lưu. Nước chảy rất nhanh, nhanh hơn tôi đã từng thấy. Cái que - máy đo mực nước của Pappy - đã biến mất. Nó bị dòng nước đang chảy cuồn cuộn cuốn trôi. Chúng tôi không cần nó vẫn biết là sông St. Francis sắp ngập.
Pappy dường như bị thôi miên bởi dòng nước và tiếng động. Tôi không thể biết ông muốn chửi rủa hay kêu khóc. Dĩ nhiên, cả hai việc đó cũng chẳng giúp đỡ được gì, và tôi nghĩ Pappy, có lẽ lần đầu tiên, nhận ra là ông sắp bị thất thu một vụ mùa khác.
Cho dù có vấn đề gì với động cơ thì khi chúng tôi về tới nhà, nó đã trở lại bình thường. Trong bữa tối, Pappy thông báo là xe tải vẫn tốt, rồi chúng tôi bàn về chuyện Tally và Cowboy, về nơi họ có thể ở và họ có thể làm gì. Cha nghe nói rất nhiều người Mexico tới Chicago, cha đoán rằng Cowboy và cô dâu mới sẽ hòa vào cái thành phố rộng lớn đó và sẽ không bao giờ bị phát hiện.
Tôi rất lo về Tally nên không thể nuốt trôi thức ăn.

Sáng muộn hôm sau, khi ánh mặt trời le lói mờ nhạt qua đám mây, chúng tôi lại ra đồng. Chúng tôi đã thấy mệt mỏi cảnh ngồi quanh nhà quan sát trời đất. Thậm chí, bây giờ tôi muốn hái bông.
Đặc biệt, người Mexico rất mong làm việc. Họ đang ở cách xa nhà hai nghìn dặm và không được trả đồng nào.
Nhưng bông quá ướt và đất cũng quá mềm. Bùn bám thành đống trên ủng và dính chặt vào bao bông, vì vậy sau một tiếng đồng hồ tôi cảm thấy như mình đang kéo lê một thân cây. Sau hai tiếng chúng tôi dừng tay và về nhà. Một đoàn người rệu rã, chán nản.
Gia đình Spruill đã quá thất vọng. Không có gì ngạc nhiên khi thấy họ nhổ trại. Họ chậm rãi thu dọn đồ đạc, như thể chỉ miễn cưỡng chấp nhận thất bại. Ông Spruill nói với Pappy là sẽ chẳng ích gì khi họ ở lại mà không thể làm việc. Họ mệt mỏi vì mưa liên miên và chúng tôi không thể trách họ. Trong sáu tuần gia đình họ đã dựng trại ở sân trước nhà tôi. Những cái lều cũ rách tơi tả dưới sức nặng của mưa gió. Những tấm nệm sắp trơ lõi vì thời tiết và bùn bắn tung tóe. Nếu là tôi, hẳn đã bỏ đi từ lâu rồi.
Chúng tôi ngồi trên hành lang, quan sát họ đóng gói đồ đạc và vứt bừa tất cả lên xe tải, lên toa moóc. Bây giờ sẽ còn nhiều chỗ trống vì thiếu Hank và Tally.
Tôi bất chợt sợ hãi trước sự ra đi này. Họ sẽ về nhà sớm, và Hank không có ở đó. Họ sẽ chờ đợi, tìm kiếm, sau đó bắt đầu dò hỏi. Tôi không chắc nếu như và bằng cách nào sự việc này có thế ảnh hưởng tới tôi một ngày nào đó, nhưng tôi thấy hoảng sợ.
Mẹ đề nghị tôi cùng vào vườn và hái đủ thực phẩm cho hai mươi người. Chúng tôi rửa ngô, dưa chuột, khoai tây, mướp tây, và rau xanh trong bồn bếp, sau đó mẹ cẩn thận sắp xếp tất cả vào hộp cáctông. Gran thêm vào chục trứng gà, hai pao thịt lợn muối sấy khô, một pao bơ, và hai lọ mứt dâu. Gia đình Spruill sẽ không bị thiếu thức ăn trong chuyến đi.
Khoảng giữa chiều họ đã sắp xếp xong xuôi. Xe tải và toa moóc bị chất nặng - những hộp giấy và bao bì dính hai bên thành xe, buộc lỏng lẻo và trông như sắp rơi. Đến giờ họ định khởi hành, chúng tôi bước tới chia tay gia đình. Ông bà Spruill nhận và cảm ơn thực phẩm của chúng tôi. Họ xin lỗi vì đã rời đi trước khi hái xong bông, nhưng tất cả chúng tôi đều biết là vụ thu hoạch dù sao cũng gần như kết thúc. Họ cố mỉm cười hòa nhã, nhưng nỗi đau hiện rõ trên gương mặt. Quan sát họ, tôi không thể nào không nghĩ là họ sẽ luôn hối hận cái ngày họ quyết định làm việc tại trang trại của chúng tôi. Nếu hái bông cho trang trại khác, Tally sẽ không gặp Cowboy. Và Hank có thể vẫn còn sống, cho dù tính cách đầy bạo lực nhưng gã cũng không đến nỗi bị giết quá sớm. “Kẻ sống với gươm dao sẽ chết vì gươm dao,” Gran tự hào về lời trích dẫn này.
Tôi cảm thấy có tội về những suy nghĩ tội lỗi mà tôi đã từng nghĩ chống lại họ. Và tôi thấy mình giống một tên trộm vì biết rõ sự thật về Hank, còn họ thì không
Tôi chia tay với Bo và Dale, cả hai không nói gì nhiều. Trot trốn sau toa moóc. Khi cuộc chia tay đang hồi cao trào, cậu ta lê chân về chỗ tôi và lẩm bẩm gì đó tôi không thể hiểu. Sau đó cậu ta giơ bàn tay và đưa tôi cái chổi sơn. Tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc cầm lấy.
Tất cả người lớn đều chứng kiến cảnh này, và không ai nói năng gì.
-Ờ đằng kia, - Trot lẩm bẩm, và chỉ vào xe tải của họ.
Bo theo dấu chỉ và lục lọi trong thùng xe, lôi ra một thùng sơn trắng Pittsburgh còn mới nguyên. Anh ta đặt ngay trước mặt tôi, sau đó xách ra thêm một thùng khác.
-Cái này dành cho cậu. - Trot nói.
Tôi nhìn hai thùng sơn, sau đó nhìn Pappy và Gran. Trong những ngày này, tuy việc sơn nhà chưa được bàn đến, nhưng chúng tôi cũng biết là Trot sẽ không bao giờ có thể hoàn thành nổi kế hoạch. Bây giờ cậu ta đang bàn giao công việc lại cho tôi. Tôi liếc nhìn mẹ và thấy một nụ cười khó hiểu.
-Tally đã mua nó đấy. - Dale nói thêm.
Tôi đập nhẹ chổi sơn vào chân và cuối cùng cũng thốt lên được câu.
-Xin cảm ơn.
Trot nhìn tôi cười ngớ ngẩn, khiến tất cả mọi người cũng phải mỉm cười. Lại lần nữa họ hướng về chỗ xe tải, nhưng lần này là để khởi hành. Trot một mình leo lên toa moóc. Tally đã ngồi cùng cậu khi chúng tôi thấy họ lần đầu. Trot trông rất buồn và như bị bỏ rơi.
Xe tải khởi động với vẻ miễn cưỡng. Côn kêu lạch cạch, rồi đoàn xe lắc lư tiến về phía trước. Gia đình Spruill đi khỏi, xoong chảo kêu loảng xoảng, đống hộp lắc lư từ bên này sang bên kia. Bo và Dale nhún lên nhún xuống trên nệm, còn Trot ngồi thu mình một góc toa moóc đằng sau. Chúng tôi vẫy tay cho tới khi họ đi khuất.
Mọi người không nói gì về chuyện hẹn năm sau gặp lại. Gia đình Spruill chắc chắn sẽ không quay trở lại. Chúng tôi biết sẽ không bao giờ gặp họ nữa.
Trên sân trước chỉ còn lại bãi cỏ bị phẳng dẹt, và khi quan sát những thiệt hại tôi dần dần cũng thấy mừng vì họ đã ra đi. Tôi đá tung đống tro ngay gần home-plate và một lần nữa thấy kinh ngạc vì họ không hề nhạy cảm chút nào. Vệt bánh xe và chi chít lỗ cọc cắm lều. Năm tới, tôi sẽ đặt một hàng rào để ngăn người miền núi tránh xa khu vực chơi bóng chày của tôi.
Tuy nhiên, kế hoạch lúc này của tôi là hoàn thành nốt những gì Trot đã bắt đầu. Tôi xách dần từng thùng sơn tới hành lang trước, và ngạc nhiên vì chúng rất nặng. Tôi mong đợi Pappy phát biểu ý kiến, nhưng ông không bình luận gì. Mẹ yêu cầu cha làm việc, và cha vội vàng dựng ngay một dàn giáo bên mặt phía tây. Đó là tấm ván sồi dài khoảng tám bộ với giá cưa và thùng đựng dầu rỗng chống làm trụ ở hai đầu. Nó hơi nghiêng về phía cái thùng, nhưng không thể làm cho thợ sơn mất thăng bằng. Cha mở thùng sơn đầu tiên, lấy que khuấy đều, và giúp tôi leo lên dàn giáo. Cũng có vài lời hướng dẫn ngắn gọn, nhưng vì chúng tôi không biết mấy về việc sơn nhà nên tôi được phép làm theo ý mình. Nếu Trot làm được, chắc chắn tôi cũng làm được.
Mẹ quan sát tôi từng bước và nhắc nhở vài câu ví dụ như ‘‘Đừng để sơn nhỏ xuống” và “Chú ý vào.” Bên mặt phía tây, Trot đã sơn được sáu tấm ván phía dưới, từ trước ra sau nhà, và với dàn giáo này tôi có thể với tới những nơi trên cao. Dù không biết mình sẽ sơn chỗ giáp mái bằng cách nào, nhưng tôi quyết định sẽ lo lắng tới chuyện đó sau.
Những tấm ván cũ thấm ngay ở lượt sơn đầu tiên. Lượt thứ hai tiếp tục nhẹ nhàng và trắng hơn. Sau vài phút tôi đã cảm thấy thích thú với công việc vì kết quả hiện ngay trước mặt.
-Con làm thế nào? - Tôi hỏi mà không nhìn xuống.
-Đẹp lắm, Luke! - Mẹ nhận xét. - Chỉ cần làm từ từ thôi, và chú ý nhé. Cẩn thận không ngã đấy.
-Con sẽ không ngã đâu.
Tại sao mẹ cứ luôn cảnh báo tôi trước những mối nguy hiểm quá rõ ràng vậy nhỉ?
Buổi chiều hôm đó cha phải chuyển dàn giáo hai lần, và trước bữa tối tôi đã dùng hết một thùng sơn. Dù đã rửa bằng xà phòng giặt, nhưng sơn vẫn dính trên ngón tay. Tôi cũng không thèm quan tâm. Tôi thấy tự hào vì công việc mới của mình. Tôi đang làm một việc mà chưa ai trong gia đình Chandler từng làm.
Việc sơn nhà không được đề cập tới trong bữa ăn tối. Cả nhà bàn bạc đến những vấn đề quan trọng hơn. Nhân công miền núi của chúng tôi đã rời khỏi, họ ra đi trong khi một số lượng lớn bông vẫn chưa được hái. Chưa từng có tin đồn về chuyện nhân công bỏ đi vì lý do bông ướt. Pappy không muốn mọi người biết tình trạng hiện thời của chúng tôi. Thời tiết sắp thay đổi, ông khẳng định vậy.
Chưa bao giờ nhiều mưa bão vào mấy tháng cuối năm.
Khi trời nhá nhem tối, chúng tôi bước ra hành lang trước, bây giờ có vẻ yên tĩnh hơn. Đội Cardinal là một kỷ niệm xa vời, và chúng tôi ít khi nghe tin gì khác sau bửa tối. Pappy không muốn lãng phí điện, vì thế tôi ngồi trên bậc thang nhìn ra sân trước. Yên tĩnh và trống trải. Suốt sáu tuần qua, nó bị bao quanh với đống lều trại và đồ đạc. Bây giờ thì không còn gì.
Lá rụng nằm rải rác trên sân. Đêm mát mẻ và trời khá trong. Điều này khiến cha dự đoán ngày mai sẽ là cơ hội tốt để hái bông trong suốt mười hai tiếng, Nhưng việc tôi muốn làm là sơn nhà.




Đăng nhập để trả lời
0
- 30 -


Khi đang ăn, tôi liếc nhìn đồng hồ treo phía trên bếp. Mới có bốn giờ mười, bữa sáng sớm nhất tôi có thể nhớ được. Theo dự báo thời tiết của cha, trời hôm nay sẽ mát mẻ, trong lành, không có mây, đất mềm vừa đủ.
Cánh người lớn rất lo lắng. Vụ mùa chưa thu hoạch được nhiều, và nếu thời tiết vẫn như vậy, trang trại nhỏ bé của chúng tôi sẽ phải chịu nhiều nợ nần hơn. Mẹ và Gran rửa bát đĩa xong với thời gian kỷ lục, và chúng tôi rời khỏi nhà với đống bao tải. Đám người Mexico ngồi túm tụm về một bên thùng xe và cố ngồi sát nhau cho ấm.
Thời tiết khô ráo, trời quang đãng giờ đây trở nên hiếm hoi, và chúng tôi tranh thủ làm việc như thể đây có thể là ngày cuối cùng. Tôi thấy mệt mỏi vì ánh nắng mặt trời, nhưng việc phàn nàn sẽ chỉ khiến tôi nhận một bài học nghiêm khắc. Hiểm họa mùa màng khác đang hiện ra lờ mờ, và chúng tôi cần phải làm việc hết sức. Mong muốn được nghỉ trưa mỗi lúc một dâng cao, nhưng tôi biết cha sẽ cho no đòn nếu bắt gặp tôi ngủ.
Bữa trưa chỉ có bánh quy nguội và thịt lợn muối hun khói, chúng tôi ăn vội vàng dưới bóng toa moóc. Giữa trưa, trời ấm áp và giấc ngủ sẽ thật tuyệt vời. Thay vào đó, chúng tôi ngồi trên đống bao tải bông mềm mại, gặm bánh quy, và nhìn trời. Ngay cả khi nói chuyện, hai mắt vẫn như muốn díp lại.
Dĩ nhiên, một ngày trong lành có nghĩa là bão sắp tới nơi, vì thế sau hai mươi phút ăn trưa, cha và Pappy tuyên bố giờ nghỉ đã hết. Gran và mẹ đứng bật dậy nhanh như nam giới, sốt sắng chứng minh là họ cũng có thể làm việc chăm chỉ. Tôi là người duy nhất tỏ vẻ miễn cưỡng
Việc này có thể còn tệ hơn: nhóm Mexico thậm chí còn không nghỉ ăn trưa.
Tôi đã trải qua cả buổi chiều chán ngắt nghĩ về Tally, về Hank, rồi lại quay về Tally. Tôi cũng nghĩ về gia đình Spruill và ghen tỵ vì họ đã chạy trốn. Tôi cố tưởng tượng họ sẽ làm gì khi trở về nhà và Hank không đợi ở đó. Tôi cố tự nhủ là mình không thật sự quan tâm.
Vài tuần nay chúng tôi không nhận được thư chú Ricky. Tôi đã nghe người lớn thì thầm về việc này. Tuy nhiên, tôi cũng chưa gửi câu chuyện dài của tôi cho chú, đơn giản chỉ vì không biết gửi bằng cách nào mà tránh bị bắt gặp. Và tôi suy nghĩ về việc chất gánh nặng lên vai chú với tin tức gia đình Latcher. Chú đã có đủ việc nghĩ ngợi rồi. Nếu Ricky ở nhà, chúng tôi sẽ đi câu cá và tôi sẽ kể cho chú tất cả. Tôi sẽ bắt đầu từ vụ giết người nhà Sisco và nói rõ từng chi tiết - đứa trẻ nhà Latcher, Hank và Cowboy, và tất tật mọi chuyện. Chú Ricky sẽ biết phải làm gì. Tôi mong ước chú được trở về nhà.
Tôi không biết mình đã hái được bao nhiêu bông trong ngày hôm đó, nhưng tôi chắc nó hẳn là kỷ lục thế giới đối với một đứa trẻ bảy tuổi. Khi mặt trời khuất sau rặng cây dọc bò sông, mẹ đi tìm tôi, và chúng tôi đi bộ về nhà. Gran vẫn ở lại, tốc độ hái bông nhanh bằng cánh đàn ông.
- Mọi người sẽ làm việc trong bao lâu nữa? - Tôi hỏi mẹ. Chúng tôi đã quá mệt và việc đi bộ là một vấn đề.
- Tới tối, mẹ nghĩ vậy.
Trời đã gần tối khi chúng tôi về tới nhà. Tôi muốn lăn đùng ra ghế sofa và ngủ li bì trong một tuần, nhưng mẹ yêu cầu tôi rửa tay và giúp mẹ chuẩn bị bữa tối. Mẹ làm bánh mỳ ngô và hâm nóng đồ ăn còn lại trong khi tôi thái gọt cà chua. Chúng tôi nghe đài - không một tin tức về tình hình Triều Tiên.
Dù cả ngày mệt nhọc trên đồng, Pappy và cha vẫn luôn là những tâm hồn ngoan đạo khi chúng tôi ngồi xuống bàn ăn. Hôm nay cả hai đã hái được một nghìn một trăm pao. Mưa gần đây khiến giá bông trên thị trương Memphis tăng lên, và nếu thêm vài ngày khô ráo, chúng tôi có thể tồn tại được trong năm tới. Gran chăm chú lắng nghe từ khoảng cách xa, nhưng có lẽ không nghe thấy gì. Tôi biết tâm trí bà đang phiêu du tới tận Triều Tiên. Mẹ cũng quá mệt mỏi nên không tham gia trò chuyện.
Pappy không thích dùng thức ăn từ bữa trước, nhưng ông vẫn tạ ơn Chúa. Ông cũng cảm ơn Người vì thời tiết khô ráo và cầu xin thêm nhiều ngày khô ráo. Chúng tôi ăn chậm rãi; cuối cùng thì một ngày mệt nhọc cũng qua đi. Cuộc nói chuyện nhẹ nhàng và ngắn gọn.
Tôi nghe thấy tiếng động trước tiên. Tiếng sấm ấm, trầm, xa xa, và tôi liếc quanh bàn để xem mọi người cũng nghe thấy không. Pappy đang nói chuyện về thị trường bông. Vài phút sau, tiếng ầm ầm gần hơn, và khi ánh chớp xuất hiện ở khoảng cách xa, chúng tôi ngừng ăn. Gió thổi mạnh, mái thiếc trên hành lang sau bắt đầu khua lạch cạch. Chúng tôi không dám nhìn nhau.
Pappy đan hai bàn tay và chống tay lên bàn như có vẻ muốn cầu nguyện lại lần nữa. Ông đã cầu xin Chúa trời cho thêm thời tiết tốt. Bây giờ chúng tôi sắp sửa bị một trận mưa như trút.
Hai vai cha trĩu xuống. Cha xoa xoa trán và nhìn chằm chằm vào tường. Mưa bắt đầu rơi xuống mái nhà, kêu ầm ĩ.
- Mưa đá rồi. - Gran lên tiếng
Mưa đá có nghĩa là gió mạnh, mưa dữ dội, và có lẽ là cả một cơn bão gầm rú qua trang trại. Chúng tôi ngồi bên bàn một lúc lâu, lắng nghe tiếng sấm, tiếng mưa, và quên mất bữa tối dở dang trước mặt, tự hỏi bao nhiêu lượng nước sẽ rơi xuống và mất bao lâu chúng tôi mới có thể tiếp tục hái bông. Sông St. Francis không thể chứa thêm, và khi nước tràn ra, vụ mùa coi như kết thúc.
Cơn bão qua đi, nhưng vẫn mưa, thỉnh thoảng còn to hơn. Cuối cùng, chúng tôi rời nhà bếp. Tôi bước ra hành lang trước cùng Pappy và không thấy gì ngoài một ao nước ngăn cách giữa nhà và đường. Tôi thấy thương cho Pappy khi ông ngồi trên đu và hoài nghi nhìn làn nước Chúa trời đang gửi xuống cho chúng tôi. Sau đó, mẹ đọc cho tôi nghe chuyện Kinh Thánh. Giọng mẹ nghe rõ trong tiếng mưa rơi trên mái nhà. Câu chuyện về Noah và lụt lội không được phép nói tới. Tôi chìm vào giấc ngủ trước khi chàng David trẻ tuổi đánh bại gã khổng lồ Guliath.

Hôm sau, cha mẹ thông báo là sẽ vào thị trấn. Tôi được phép đi cùng - sẽ là quá tàn nhẫn nếu từ chối tôi chuyến đi này - nhưng Pappy và Gran không tham gia. Đây là một cuộc đi chơi của gia đình nhỏ. Kem được nói tới như một khả năng có thể. Cảm ơn Cowboy và Tally, chúng tôi có một ít xăng miễn phí, và không có việc gì để làm quanh trang trại. Nước đang ngập giữa các luống bông.
Tôi ngồi phía trước cùng cha mẹ và chú ý quan sát công tơ mét. Một khi ra tới Xa lộ, cha sẽ tăng tốc lên đến bốn mươi lăm dặm một giờ. Như tôi có thể nói, chiếc xe này luôn chạy ở tốc độ cố định ba mươi bảy, nhưng tôi không định kể điều này với Pappy.
Thật là niềm an ủi kỳ cục khi những trang trại khác cũng không làm gì được vì mưa. Không thấy ai lê bước chậm chạp hái bông trên cánh đồng. Ngay cả người Mexico cũng không thấy đâu.
Vùng đất chỗ chúng tôi thấp, thường bị ngập trước tiên. Trước kia, chúng tôi đã bị mất mùa trong khi những nông dân khác không bị ảnh hưởng gì mấy. Bây giờ có vẻ như bông của ai cũng sắp bị ướt đẫm ở mức độ như nhau.
Nửa ngày trời không làm gì ngoài chờ đợi, vì thế các gia đình đều tập trung trên hành lang, quan sát xe cộ qua lại. Phụ nữ bóc vỏ đậu. Đàn ông nói chuyện và lo lắng. Bọn trẻ ngồi trên bậc thang hoặc chơi nghịch trong bùn. Chúng tôi biết tất cả mọi người, mọi gia đình. Chúng tôi vẫy tay chào, họ đáp lại, và chúng tôi có thể gần như nghe thấy họ nói.
- Đoán xem tại sao nhà Chandler lại vào thị trấn?
Phố Main khá yên ắng. Chúng tôi đỗ xe trước cửa hàng kim khí. Trước cửa hàng Hợp tác xã, một nhóm nông dân mặc quần áo lao động đang bàn chuyện quan trọng. Cha thấy buộc phải tường thuật lại cho mọi người trước tiên, hay ít nhất phải lắng nghe suy nghĩ và ý kiến của họ về chuyện khi nào mưa có thể kết thúc. Tôi theo mẹ tới hiệu thuốc, nơi có thể mua kem tại quầy nước giải khát ở phía sau. Một cô gái thị trấn xinh xắn tên là Cindy đã làm việc tại đó từ rất lâu. Vào lúc này, Cindy không có khách, và tôi nhận được một phần kem vani ngon đặc biệt với những quả sơri bao quanh. Tôi ngồi trên ghế đẩu. Khi thấy rõ là tôi đã tìm được chỗ ngồi yên trong ba mươi phút, mẹ bỏ đi mua vài thứ khác.
Anh trai của Cindy đã chết trong một vụ tai nạn ôtô khủng khiếp, và mỗi khi nhìn chị tôi đều nghĩ về những chuyện tôi được nghe. Đã xảy ra một đám cháy, và họ không tài nào lôi được anh trai chị ra khỏi đống đổ nát. Cả một đám đông chứng kiến, và dĩ nhiên, có nghĩa là rất nhiều câu chuyện về cảnh tượng đó thật sự kinh khủng tới mức nào. Cindy khá xinh, nhưng đôi mắt rất buồn, và tôi biết đó chính là vì bi kịch kia. Chị không muốn nói chuyện, và thế cũng tốt. Tôi ăn từ từ, cố liếm từng thìa kem trong khỏang thời gian kéo dài, và quan sát chị.
Tôi đã nghe được câu chuyện thầm thì giữa cha mẹ và biết là họ dự định gọi điện cho ai đó. Vì không có điện thoại, chúng tôi sẽ phải gọi nhờ. Tôi đang nghĩ đó sẽ là điện thoại tại cửa hàng Pop & Pearl.
Phần lớn các gia đình trong thị trấn đều mắc điện thoại để giải quyết công việc. Vài nông dân sống cách thị trấn hai, ba dặm cũng có, vì đường dây có thể chạy khá xa. Mẹ có lần nói với tôi sẽ phải mất nhiều năm đường dây điện thoại mới tới được chỗ chúng tôi. Dù sao, Pappy cũng chẳng muốn. Ông nói rằng nếu có điện thoại thì sẽ phải nói chuyện với mọi người bất cứ khi nào thích hợp với họ, chứ không phải với mình. Tivi có thể còn thú vị, nhưng hãy quên chuyện điện thoại đi.
Jackie Moon bước qua cửa và vòng lại quầy giải khát.
-Chào, cậu nhỏ Chandler! - Anh xoa rối bù tóc tôi và ngồi xuống bên cạnh. - Cái gì mang em tới đây thế?
-Món kem ạ. - Tôi trả lời và anh mỉm cười.
Cindy bước tới trước mặt chúng tôi.
-Vẫn như thường lệ chứ?
-Vâng, thưa cô. - Anh nói. - Tình hình cô thế nào?
-Tôi vẫn khỏe, Jackie ạ, - chị thầm thì.
Họ nhìn nhau đăm đăm, và tôi cảm giác như có gì đó đang sắp xảy ra. Chị quay lại chuẩn bị đồ uống, và anh Jackie chăm chú quan sát chị.
-Em nghe tin gì về Ricky không? - Jackie hỏi tôi nhưng hai mắt vẫn nhìn Cindy.
-Không phải gần đây. - Tôi cũng nhìn chị chằm chằm.
-Ricky là chàng trai mạnh mẽ. Cậu ấy sẽ ổn thôi.
-Em biết. - Tôi nói.
Anh châm thuốc và rít từng hơi ngắn.
-Chỗ em bị ướt sạch phải không?
-Bị ngấm nước hết.
Cindy đặt ly kem sôcôla và tách càphê trước Jackie.
-Người ta nói có lẽ sẽ mưa trong hai tuần nữa, - anh nói. - Anh không nghi ngờ việc này.
-Mưa, mưa, mưa, - Cindy bực bội. - Đó là điều mà tất cả mọi người luôn nhắc tới trong những ngày này. Anh không thấy mệt khi nói về thời tiết sao?
-Còn đề tài nào khác nữa đâu. - Anh trả lời. - Không hề, nếu cô làm nghề trồng trọt.
-Chỉ có người ngớ ngẩn mới làm nghề này, - chị ném khăn lau tay lên mặt quầy và bước lại chỗ máy tính tiền.
Jackie xúc nốt miếng kem cuối cùng.
-Có lẽ cô ấy nói đúng.
-Có lẽ vậy.
-Cha em sẽ đi miền Bắc chứ?
-Sẽ đi đâu cơ?
-Tới miền Bắc, tới Flint. Anh nghe vài thanh niên đã gọi điện thoại, cố xin được vào hãng sản xuất ôtô Buick. Họ nói là năm nay tìm việc làm rất khó, không dễ kiếm nhiều như trước, vì thế mọi người đang tranh giành nhau để kiếm chỗ đấy. Vận may về bông tàn lụi rồi. Mưa liên miên và nước sông tràn hai bờ. Nếu ai may mắn thì vớt vát được nửa vụ. Thật ngu ngốc, phải không? Làm việc như điên suốt sáu tháng trời, rồi đánh mất mọi thứ, sau đó chạy bổ tới miền Bắc làm việc và mang về tiền mặt để chi trả nợ nần. Sau đó lại trồng vụ bông khác.
-Anh sẽ tới miền Bắc? - Tôi tò mò.
-Anh đang nghĩ tới việc đó. Anh còn quá trẻ để chết gí tại trang trại trong suốt quãng đời còn lại.
-Đúng, em cũng vậy.
Jackie nhấm nháp cà phê, và chúng tôi yên lặng, trầm ngâm nghĩ về sự ngu ngốc trong việc làm trang trại.
-Anh nghe nói thằng cha miền núi to con đã biến rồi.
May mắn là lúc đó mồm đang ngập đầy kem nên tôi chỉ gật đầu.
-Anh hy vọng người ta sẽ bắt gã. Anh muốn thấy gã phải ra tòa, nhận sự trừng phạt thích đáng. Anh mới kể cho ông Stick Powers toàn bộ sự việc đã chứng kiến. Rồi những người khác cũng sẽ làm vậy, họ sẽ nói ra sự thật. Gã không cần phải giết Sisco.
Tôi xúc thìa kem khác và lại gật đầu. Tôi biết cách ngậm miệng và trông có vẻ ngớ ngẩn khi đề cập tới chủ đề Hank Spruill.
Cindy đi đi lại lại sau quầy, lau lau chùi chùi và cố ý làm mạnh tay. Jackie quên mất chuyện về Hank.
-Khi nào em xong? - Anh nhìn ly kem của tôi.
Tôi đoán là Jackie và Cindy có chuyện gì đó muốn nói với nhau
-Một tý nữa thôi.
Chị lau mạnh, và anh nhìn tôi chằm chằm cho tới khi tôi giải quyết xong ly kem. Rồi tôi chào hai người và tới cửa hàng Pop & Pearl với hy vọng biết thêm về cuộc gọi điện. Bà Pearl đang ở một mình sau máy tính tiền, cặp kính lão nằm trên chóp mũi, ánh mắt chăm chú nhìn ngay khi tôi bước vào. Điều đó nói lên là bà biết rõ tiếng mỗi xe tải đi ngang qua phố Main và không những bà có thể phân biệt được chủ xe mà còn nói được nó đã có mặt trong thị trấn bao lâu. Bà không bỏ qua điều gì.
-Ông Eli đâu?  Bà hỏi sau khi chúng tôi đã trao đổi lời nhận xét hài hước.
-Ông cháu ở nhà ạ. - Tôi đưa mắt nhìn lọ bánh Tootsie.
-Cháu lấy một cái đi. - Bà nói.
-Vâng, thưa bà. Bà thấy cha mẹ cháu không?
-Không, chưa thấy. Họ đang mua tạp hóa à?
-Vâng. Và cháu nghĩ cha cháu cần gọi nhờ điện thoại.
Câu nói khiến thái độ lạnh nhạt của bà mất hẳn khi nghĩ tới lý do cha tôi cần gọi điện. Tôi mở lọ bánh Tootssie.
-Cha cháu gọi điện cho ai? - Bà hỏi.
-Cháu không biết.
Thật đáng thương cho kẻ khốn khổ nào gọi nhờ điện thoại của bà Pearl và muốn giữ bí mật nội dung cuộc gọi. Bà còn biết nhiều hơn người ở đầu dây bên kia.
Bà liếc ra ngoài cửa sổ, chầm chậm lắc đầu khi nghĩ tới viễn cảnh vụ thu hoạch ảm đạm khác,
Tuy nhiên, tôi chưa từng chứng kiến một trận lụt - ít ra là tôi có thể nhớ được - vì thế tôi không có gì để nói. Thời tiết đã làm nản tinh thần của mọi người, bao gồm cả bà Pearl. Với những đám mây xám xịt lơ lửng trên trời, thì thật khó lạc quan được. Một mùa đông u ám nữa sắp tới.
-Cháu nghe nói vài người sẽ tới miền Bắc, - tôi nói.
Tôi biết là bà Pearl nắm được ngay thông tin nếu tin đồn dúng là có thực.
-Bà cũng nghe nói vậy. Họ đang cố tìm việc phòng trường hợp mưa vẫn tiếp tục.
-Những ai sẽ đi ạ?
-Bà chưa biết.
Nhưng tôi có thể đoán qua âm điệu giọng nói, rõ ràng là bà đã nghe được chuyện ngồi lê đôi mách gần đây nhất. Nhiều nông dân có thể đã sử dụng điện thoại nhà bà.
Tôi cảm ơn bà và rời cửa hàng. Hai bên đường vắng tanh. Thật tuyệt khi có được thị trấn cho riêng một mình. Vào các ngày thứ bảy, bạn khó có thể đi bộ vì quá đông người. Tôi thấy cha mẹ trong cửa hàng ngũ kim.
Cha mẹ đang mua sơn, rất nhiều sơn. Một dãy gồm năm thùng sơn Pittsburgh trắng xếp thẳng trên quầy, cùng hai chổi quét trong gói bọc nhựa. Người bán hàng đang tính tiền khi tôi bước vào. Cha lần lần gì đó trong ví, mẹ đứng cạnh, dáng vươn thẳng đầy vẻ tự hào. Rõ ràng đối với tôi, chính mẹ đã thúc đẩy việc mua bán này. Mẹ mỉm cười nhìn tôi với vẻ rất hài lòng.
-Mười bốn đô tám mươi xu.
Cha rút tiền và bắt đầu đếm.
-Tôi có thể ghi vào sổ gia đình. - Người bán hàng nói.
-Không, lần này không ghi vào đó, - mẹ từ chối.
Pappy sẽ lên cơn đau tim nếu nhận được bản thống kê hàng tháng cộng thêm khoản chi cho việc mua sơn.
Chúng tôi mang sơn ra xe.




Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»