📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

TỤC TÁI SANH DUYÊN 🔒

50 trả lời, 13.925 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-25 01:28:44ct.ly>


Tục Tái Sanh Duyên

NGUYỄN ĐỖ MỤC



THẾ HỆ NHÀ HOÀNG PHỦ

Hoàng Phủ Kính , vợ là Doãn vương phi.
Sinh được:
1. Hoàng Phủ Trưởng Hoa. Sau vua Nguyên Thành Tôn lập làm hoàng hậu.
2. Hoàng Phủ Thiếu Hoa. Sau kết duyên cùng Mạnh Lệ Quân, Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc.

o0o
Hoàng Phủ Thiếu Hoa, vợ là Mạnh Lệ Quân
Tô Ánh Tuyết
Lưu Yến Ngọc
Sinh được năm trai
1. Hoàng Phủ Triệu Câu - con Mạnh Lệ Quân
2. Hoàng Phủ Triệu Phượng - con Mạnh Lệ Quân
3. Hoàng Phủ Triệu Lân - con Lưu Yến Ngọc
4. Hoàng Phủ Triệu Tường - con Tô Ánh Tuyết
5. Hoàng Phủ Triệu Thụy- con Tô Ánh Tuyết
Và hai gái:
1. Hoàng Phủ Phi Giao - con Mạnh Lệ Quân
2. Hoàng Phủ Phi Loan - con Tô Ánh Tuyết


o0o
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-18 07:35:06tieu hoang dung>
Hồi thứ nhất
Nguyên Thành Tôn truyền ngôi cho thái tử
Hoàng Phủ Kính cáo lão về nhà

Vua Thành Tôn nhà Nguyên lên ngôi làm vua, thiên hạ thái bình, quan tả thừa tướng là Lương Giám tạ thế, con là Lương Trấn Lân thăng chức long đồ các.Con Doãn Thượng Khanh là Doãn Chí thi đỗ đã lâu, bây giờ đang lĩnh chức tri phủ Giang Lăng. Vệ Hoán cáo lão hồi hưu, Vệ Võng Bưu về nhà để phụng dưỡng. Hùng Hiệu có người con gái là nàng Bội Ngọc được lập làm Thái Tử Nguyên Phi, còn hai con trai là Hùng Khởi Phượng (1) và Hùng Khởi Thần (2). Hùng Hiệu tự sỉ mình là một nhà con tướng, mới cho hai con trai đều theo học nghề văn. Hùng Khởi Phượng đến năm mười tám tuổi, thi đỗ trạnh nguyên, sau kết duyên với con gái Lương Trấn Lân là Cẩm Hà.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa cũng có con cái đề huề: Con trai trưởng là Triệu Câu, con thứ hai là Triệu Phượng, đều là con Mạnh Lệ Quân. Con trai thứ ba là Triệu Lân con Lưu Yến Ngọc, Tô Ánh Tuyết kỳ thủy sinh con gái, sau sinh luôn hai cậu con trai đặt tên là Triệu Tường và Triệu Thụy, còn con gái thì trưởng nữ là Phi Loan con Tô Ánh Tuyết, thứ nữ là Phi Giao con Mạnh Lệ Quân, Lưu Yến Ngọc không có con gái. Một nhà sum họp, vui vẻ muôn phần. Tô đại nương có một người con nuôi, sau đi tri huyện, Tô đại nương theo đi. Giang Tam tẩu tạ thế đã lâu, con trai là Giang Tiến Hỷ đổi tên Giang Vinh Quý, làm đến chức tổng binh, vợ là tỳ nữ Vinh Lan sau được phong làm lục phẩm an nhân, sinh được hai trai một gái, vợ chồng huởng phúc tại Nhạn Môn Quan. Mạnh Sĩ Nguyên cáo lão về hưu trí, con là Mạnh Gia Linh thì vẫn làm quan tại triều. Con trai trưởng Mạnh Gia Linh cũng thi đỗ, làm đến chức hộ bộ lang trung, lấy con gái Văn thượng thư.
Lại nói chuyện bà hoàng thái hậu là mẹ vua Thành Tôn bấy giờ đã băng hà. Vua Thành Tôn mỏi mệt đem hết triều chính giao phó cho các quan đại thần; văn ban có quan thừa tướng là Lương Trấn Lân, võ ban có Hùng Hiệu là họ quốc thích. Trên hàng văn võ thì có Trung Hiếu Vương Hoàng Phủ Thiếu Hoa, trong nước vẫn được yên lặng.
Một hôm vua Thành Tôn lui triều, vào Chiêu Dương cung. Bấy giờ có thái tử và nguyên phi đứng hầu, vua Thành Tôn vui lòng bảo Trưởng Hoa hoàng hậu:
- Trẫm đã gần tứ tuần, làm vua trong bấy nhiêu lâu, đã thấy mỏi mệt, nay được trông thấy con hiền dâu thảo này trẫm rất lấy làm hả lòng. Chi bằng trẫm truyền ngôi cho thái tử rồi hằng ngày cùng hoàng hậu vui chơi, để di hưởng tuổi già, há chẳng hay lắm ru.
Trưởng Hoa hoàng hậu can rằng:
- Thái tử hãy còn thơ ấu, chưa nên phó thác ngôi trời. Gián hoặc có sơ xuất điều gì thì lại thêm lo cho bệ hạ.
Thái tử nghe nói liền quì xuống tâu:
- Muôn tâu phụ hoàng! Phụ hoàng sức yếu, cần phải di dưỡng, nhưng vì con hãy còn ngây dại, đương sao nổi cái ngôi chí tôn. Xin phụ hoàng hãy rủ lòng thương mà dạy bảo cho con nên người, bấy giờ sẽ truyền ngôi thì thật là một mối hạnh phúc chung cho thiên hạ thần dân vậy.
Tâu xong, hai hàng nước mắt ròng ròng, rồi phủ phục xuống đất. Vua Thành Tôn đỡ dậy, cười bảo:
- Sao con nghĩ lẩn thẩn thế! Sau này cha tạ thế rồi mà con tức vị ở Bạch Hổ điện, sao bằng ngày nay con tức vị ở Kim Loan điện là có hiếu hơn. Ý cha đã quyết, con không nên nói. Huống chi năm nay con mười sáu tuổi, lên ngôi làm vua thì so với năm cha lên ngôi, lại còn hơn một tuổi vậy.
Ngày hôm sau, vua Thành Tôn ngự triều, phán hỏi các quan triều thần rằng:
- Trẫm lên ngôi vua trong hai mươi năm nay, may nhờ có các ngươi tả phù hữu bật, trong nước mới được thái bình vô sư như thế này. Ngày nay trẫm thiết nghĩ buộc thân vào chức trách nam diện (3), chi bằng truyền ngôi cho thái tử mà làm một vị thượng hoàng là được an nhàn sung sướng hơn. Dẫu là bậc trung tài, nhưng có các quan giúp đỡ, chắc cũng không hề chi, vậy quan Khâm Thiên giám nên chọn ngày lành tháng tốt, đễ trẫm truyền ngôi cho thái tử.
Quốc trượng là Hoàng Phủ Kính nghe nói, quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Thái tử dẫu rằng nhân hiếu, nhưng tuổi còn ấu thơ sợ chưa đương nổi ngôi trời, bệ ha hãy cố đợi khi mười năm nữa, rồi sẽ nên nói đến việc truyền ngôi vậy.
Hai quan đại thần họ Mạnh và họ Vệ cũng quì xuống mà tâu rằng:
Muôn tâu bệ ha! Việc ấy thần đẳng thiết tưởng ngày nay không nên nói vội. Lời quốc trượng vừa tâu, thật là chí phải, xin nghĩ đi nghĩ lại cho kỹ.
Vua Thành Tôn cười mà phán rằng:
- Trẫm lên ngôi vua từ năm mười lăm, trải bao những sự ưu tư phiền lự, khiến cho trẫm ăn không ngon miệng, ngủ không yên giấc. Trẫm thết nghĩ ngồi trên chín bệ mà ngày đêm khó nhọc, chi bằng ngao du bốn bể, thân lại được thanh nhàn. Người ta ở đời, vinh hoa phú quý mà làm chi, chỉ cầu sao cho được hưởng phúc thanh nhàn là hơn vậy. Khi trẫm mới lên ngôi vua, hãy còn ngây dại, dùng lầm phải những kẻ gian thần, trong nước sinh ra giặc giã mất mấy năm trời. Sau may nhờ có Mạnh Lệ Quân là vợ quốc cữu đây, gia công giúp đỡ, bốn phương mới được yên lặng.

Ngày nay, văn có Lương tiên sinh, võ có Hoàng Phủ quốc trượng và Bình Giang Vương lại có quốc cựu là văn võ toàn tài, cùng giúp thái tử thì chắc không đến nỗi sai lầm như trẫm thủa xưa vậy. Vậy ý trẫm đã quyết, các ngươi không nên can.
Vua Thành Tôn giáng chỉ cho toà Khâm Thiên giám chọn ngày làm lễ truyền ngôi. Bình Giang Vương là Hùng Hiệu về thuật chuyện cho vợ là Vệ Dũng Nga nghe. Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Sao phu quân không biết can thánh thượng, thái tử năm nay hãy còn trẻ tuổi, chưa có thể phó thác được. Vả con gái ta cũng đang độ ngây dại, bây giờ làm thái tử nguyên phi, ta còn đi lại trông nom giúp, chứ nếu một mai lên làm hoàng hậu thì chỉ những ngày nguyên đán hoặc khánh kiết nào, bấy giờ ta mới gặp mặt con. Chẳng những mẹ con xa cách nhau mà ta lại còn lo cho đứa con gái ta chưa thuộc nghi lễ. Âu là sáng mai tôi phải bàn với Mạnh vương phi ( tức là Mạnh Lệ Quân) cùng vào tâu hoàng hậu, để hoàng hậu khuyên can thánh thượng.
Hùng Hiệu nói:
- Nếu phu nhân cùng Mạnh vương phi vào tâu thì nên bảo các quan triều thần hãy hoãn việc chọn ngày.
Vệ Dũng Nga vương phi tức khắc đội mũ mặc áo, truyền nữ tỳ sắp kiệu đi sang vương phủ, đem việc trong triều thuật lại với Mạnh Lệ Quân nghe và bảo rằng:
- Chị định rủ em cùng vào cung tâu với hoàng hậu, để hoàng hậu khuyên can thánh thượng.
Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Bây giờ tâu sợ không kịp! Vì thánh thượng có chí muố nghỉ ngơi đã lâu. dẫu ta vào tâu. Dẫu ta vào tâu, quyết rằng thánh thượng cũng chẳng nghe nào!
Lưu Yến Ngọc hỏi:
- Sao chị lại biết là thánh thượng không nghe?
Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Số là thuở xưa em thường vào túc trực ở trong nội đình, vẫn thấy thánh thượng phàn nàn rằng: “Làm ông vua dẫu có tôn quý thật, nhưng một ngày xem xét muôn việc, cũng khó nhọc lắm thay, không bằng làm một người thư sinh đi ngao du sơn thủy, nay ngắm bạch vân phi, mai vui hoàng hạc, lại còn được an nhàn sung sướng hơn. Bao giờ trẫm trúc gánh nặng sơn hà này tức là ngày trẫm đươọc lên ngôi tiên giới đó”. Câu ấy, thánh thượng thường nói đến luôn, thế là thánh thượng vẫn có chí không muốn làm thiên tử đã lâu vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi thở dài:
- Có thật thế ! Làm vua khó nhọc hơn người thường!
Lưu Yến Ngọc bảo bảo Vệ Dũng Nga vương phi:
- Cô nương đã về đây, nếu không tiến cung thì hãy ở chơi mấy hôm đã.
Đêm hôm ấy, Vệ Dũng Nga ngủ ở Linh Phượng cung. Sáng hôm sau, Vệ Dũng Nga ngủ tỉnh dậy, đang đứng trước giá gương để chải đầu, bỗng thấy Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc bước vào, cười tủm tỉm và bảo rằng:
- Cô nương đã dậy rồi, hai chúng tôi đến hơi chậm.
Vệ Dũng Nga vương phi và Mạnh Lệ Quân vương phi đều nói:
- Sao hai phu nhân dậy sớm thế? Tôi chắc hôm qua không ngủ thì phải!
Các nữ tỳ pha trà uống. Bỗng thấy rèm lay động, có hai vị quận chúa (4) chạy vào. Mạnh Lệ Quân cười nói rằng:
- Chỉ vì có cô nương mà thành ra hôm nay ta dậy hơi trễ.
Vệ Dũng Nga vương phi cười mà bảo hai quận chúa rằng:
- Các cháu nghe đó! Thân mẫu chấu không nhận là mình lười, lại đổ lỗi cho ta.
Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Chỉ vì đêm qua nói chuyện thâu canh, thành ra hôm nay không dậy được sớm.
Tô Ánh Tuyết cười mà bảo rằng:
- Bây giờ mới giờ thìn, không trễ đâu! Chỉ vì Lưu phu nhân muốn trêu ghẹo cô nương, nên dặn em hôm nay dậy sớm, và dắt hai cháu vào đây để bày một trò đùa, không ngờ cô nương lại dậy sớm như thế.
Mạnh Lệ Quân vương phi cười mà hỏi rằng:
- Định đùa thế nào?
Phi Giao quận chúa nói:
- Lưu mẫu định mài mực rồi vẽ hề lên mặt cô nương, nhưng cô nương vốn hiểu võ nghệ, chỉ sợ khi tỉnh dậy lại nổi giận mà giở võ ra, vậy phải đem hai cháu đến để cứu đỡ.
Vệ Dũng Nga vương phi cười bảo:
- May mà tôi dậy sớm, chứ nếu còn không thì hai toán địch binh này, tôi đương sao nổi!
Mạnh Lệ Quân vương phi cả cười:
- Chỉ sợ cô nương giở võ ra thì dẫu tất cả chúng ta đây cũng không địch nổi huống chi là hai con.
Phi Giao quận chúa nói:
- Nhưng cô nương trông thấy chúng con thì tất cũng không nỡ đánh nhau vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi cười mà bảo rằng:
- Nếu vậy thì hai cháu hiểu lòng ta lắm!
Khi điểm trang xong, cùng sang Võ thái cung thăm bà Thái vương phi (5). Thái vương phi tủm tỉm cười mà hỏi Phi Giao quận chúa rằng:
- Tập tranh “Bách mỹ” của cháu vẽ để đâu, sao không đem ra cho cô nương xem.
Phi Giao quận chúa nói:
- Tập tranh vẽ của cháu không được đẹp lắm!
Lưu Yến Ngọc cười mà nói đùa rằng:
- Cô nương chỉ hiểu phép đấu gươm múa giáo, chứ có biết xem tranh vẽ bao giờ!
Vệ Dũng Nga vương phi cười mà đáp rằng:
- Ai lại có con mắt tinh đời như Lưu phu nhân! Kén chồng chọn ngay được một vị vương tước. Sau này tôi sẽ vì phu nhân treo một cái chiêu bài để đi xem tướng giúp thiên hạ.
Lưu Yến Ngọc nói:
- Sao cô nương lại nói như thế?
Vương thái phi nói:
- Không hề chi! Những chuyện về trước, ta đây thường vẫn ôn lại cho đàn cháu nghe.
Nói xong, truyền tỳ nữ đi lấy tập “Bách mỹ” để Vệ Dũng Nga vương phi xem. Bỗng thấy các vị công tử từ ngoài kéo vào, người thì chào tổ mẫu, kẻ thì chào cô nương. Thái vương phi gọi đến đứng chung quanh, khác nào như cây quỳnh cành dao bày ở bên cạnh.
Vệ Dũng Nga vương phi khen ngợi:
- Phúc đức quá! Lan Huệ một nhà sum họp, vui vẻ biết là dường nào!
Thái vương phi thở dài rồi than rằng:
- Tuy vậy mà ta vẫn kém vui, vì ta vẫn nhớ con gái ( trở Trưởng Hoa hoàng hậu) ta lắm. Mẹ con xa cách, ban ngày nghĩ đến còn khuây khỏa đi được, chứ đêm nằm thì lại luống những mơ màng trong giấc chiêm bao. Đủ biết rằng phú quý hoàng gia, vẫn không bằng sum họp vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi cũng thở dài mà than rằng:
- Con đây cũng buồn về nỗi ấy. Có một mụn con gái được lập làm thái tử nguyên phi, nhưng hãy còn ngây dại, chỉ sợ một mai thái tử lên ngôi đại bảo thì ba nghìn cung tần mỹ nữ, lòng thiên tử lại thêm say đắm, tình âu yếm, vị tất đã được đằm thắm như xưa.
Mạnh Lệ Quân vương phi cười mà đáp rằng:
- Cô nương khéo lo xa quá, khi nào...
Nói chưa dứt lời thì nữ tỳ đem tập tranh “Bách mỹ” đến, ngoài có bọc một bao gấm. Vệ DũngNga vương phi mở xem một lượt rồi khen rằng:
- Đậm đà nét bút cành nhìn càng tươi, cháu vẽ co khi lại sắc sảo hơn thân mẫu xưa mấy phần đó!
Trưởng công tử là Triệu Câu chạy đến gần xem, rồi nói:
- Em không nên vẽ Võ Tắc Thiên làm chi! Võ Tắc Thiên là một người dâm đãng. Vả lại là tội nhân đời nhà Đường.
Phi Giao quận chúa nói:
- Sao thân huynh lại nói như thế. Em thế nghĩ nhà Đường nếu không nhờ có bà Võ Tắc Thiên chuyên quyền độc đáo, cứ hèn mạt như vua Cao Tôn và Trung Tôn cả thì giang sơn chia xé đã lâu. Bà Võ Tắc Thiên tiếm vị lên làm vua, dẫu có đa sát thật, nhưng biết cách dùng người, dùng tài khiến việc đáng là một bậc minh chủ đời bấy giờ, các vua đời Đường về sau nàyphỏng có ai sánh kịp hay không? Vả trong khoảng hai mươi năm trời ấy, nếu cứ để cho Trung Tôn làm vua thì con Vi hậu kia đã lộng quyền như Già hậu thuở xưa vậy. Bà Võ Tắc Thiên thật là “Thiên cổ kỳ nhân” chứ không nên bảo là “Hôn quân dâm hậu” được. Em có một bài thơ vịnh Võ Tắc Thiên, nay xin viết để tổ mẫu cùng cô nương và ba vị mẫu thân đây cùng xem.
Phi Loan quận chúa cười mà bảo rằng:
- Bài thơ ấy để ở trang thứ ba trong tập tranh vẽ.
Nói xong liền rút ra cho mọi người xem.
“Nữ chủ ngự đương đương,
Uy danh nức bốn phương.
Hô hàn chịu khể thủ,
Cao ly phải đầu hàng.
Trong tay cầm quyền chính,
Ai kẻ dám khinh thường.
Nghiêm phòng việc nội sủng,
Sai khiến bọn Trương Lang.
Pháp luật quên tình ái,
Quan chức chọn trung lương.
Tri hiền khen quốc lão,
Đọc hịch tiếc Tân vương.
Đức tốt không tỳ vết,
Tài cao đủ chế cường.
Âu vàng giữ trọn vẹn,
Nghìn năm một nữ hoàng.”

Mọi người xem thơ đều nức nở khen ngợi:
- Bài thơ này ý tứ thật mới lạ. Quả nhiên các vì thiên tử đời nhà Đường đều phải thua một người đàn bà.
Chỉ có Triệu Câu tỏ ý không bằng lòng mà rằng:
- Thân muội chớ nói càn! Làm người con gái phải nghĩ đến “công, ngôn, dung, hạnh”. Võ Tắc Thiên là một đứa dâm đãng, trong hai mươi năm trời tiếm vị, giết hại con cháu nhà Đường hơn bốn trăm người. Gây tội đại ác như thế, sao hiền muội gọi là “Thiên cổ kỳ nhân”. Nếu người ngoài nghe thấy những câu thơ ấy thì lời nghị luận còn ra thế nào.
Phi Giao quận chúa cười mà đáp rằng:
- Ăn nhai nói nghĩ! Phàm việc gì cũng vậy, có kinh tất phải có quyền. Giả sử vua Cao Tôn là bậc minh chủ thì khi nào Võ Tắc Thiên lại sinh tài như thế. Bà chỉ sợ giang sơn đổ nát, nên phải ra tay để bảo thủ lấy thiên hạ, chứ còn những sự tình nhỏ nhặt thì chẳng kể chi.
Triệu Câu nổi giận mà nói với Mạnh Lệ Quân vương phi rằng:
- Thân mẫu ơi! Chết nỗi con nhà khuê các cớ sao lại có câu nói ấy! Mạnh Lệ Quân vương phi mắng Phi Giao quận chúa rằng:
- Con còn ngây dại, chỉ hay nói càn, từ sau cấm không được nói như thế nữa!
Lưu Yến Ngọc cười và nói:
- Người ta có câu nói rằng “Đọc sách gạt nước mắt, lo thay cho cổ nhân”. Anh em nhà ngươi can chi lại tranh luận phải trái cho Võ Tắc Thiên , thật là một câu chuyện đáng buồn cười.
Tô Ánh Tuyết cũng cười mà bảo rằng:
- Trưởng công tử là người cổ trực, mà quận chúa hãy còn tính trẻ, vậy nên mới sinh ra cãi nhau.
Thái vương phi bảo Triệu Câu rằng:
- Thôi, các cháu đi về phòng đọc sách đi, không được cãi nhau nữa!
Bấy giờ các vị công tử lui ra, hai vị quận chúa cũng ai về phòng nấy. Khi Phi Giao quận chúa về đến trong phòng, hầm hầm nổi giận mà nói một mình rằng:
- Ta căm tức thay cho thân huynh ta, luận lý không minh, lại cứ già mồm cãi. Đối trước mặt cô nương và thân mẫu ta chỉ giảng đạo đức hoài. Thân huynh ta xưa nay vẫn có lòng khinh rẻ ta, ta làm sao nhịn cho được! Cơm nặng áo dầy, chẳng qua cũng của cha mẹ, mà ta đây há phải là con thứ xuất(6) hay sao! Nghĩ càng căm tức thay! Ta đây không được ngôi hoàng hậu thì thôi, chừ nếu ta được làm hoàng hậu thì quyết không trọng tư tình như Võ Tắc Thiên đâu.
Lại nói chuyện vua Thành Tôn ra ngự Kim Loan điện, làm lễ truyền ngôi cho thái tử. Hôm ấy trên điện cắm cờ kết hoa, trần thiết một cách trọng thể. Khi làm lễ truyền ngôi thì vua Thành Tôn cầm hộp đựng ngọc tỷ, ngoài có bọc gấm trao cho thái tử là vua Anh Tôn. Vua Anh tôn nhận lấy, đặt lên long án, rồi sụp xuống lạy ta thượng hoàng ( tức vua Thành Tôn ).
Thượng hoàng đỡ dậy mà bảo rằng:
- Ta chúc cho nhà vua con cháu phồn thịnh để giữ lấy giang sơn cơ nghiệp mà khiến cho quốc thái dân an.
Vua Anh Tôn đáp lại rằng:
- Con xin chúc thượng hoàng hưởng phúc vô vô cùng, thọ bằng trời đất, để cho con là kẻ ngây dại bất tài này được nhờ ơn huấn dụ mà cai trị thần dân.
Bấy giờ văn võ bách quan đều quì xuống lạy, trước mừng thượng hoàng sau mừng tân quân, ai nấy cùng tung hô vạn tuế. Khi triều bái xong, thượng hoàng truyền chỉ cho các quan đại thần rằng:
- Các ngươi đã hết lòng trung thành giúp ta trong bấy nhiêu năm, công ấy kể sao cho xiết. Ngày nay ta mỏi mệt cần phải thoái vị, tân quân lên ngôi, hãy còn thơ ấu, nhờ các ngươi gia công mà tả phù hữu bật cho thì danh tiếng của các ngươi sau này sẽ được lưu truyền sử sách. Chỉ buồn một nỗi ta thoái vị về ở nam nội, không được hàng ngày hội diện với các ngươi.
Các quan đại thần nghe nói đều cảm kích mà ứa nước mắt khóc, quì xuống tâu:
- Muôn tâu thượng hoàng! Thần đẳng tài hèn sức mọn, chịu ơn triều đình hai mươi năm trời, tình khuyển mã chưa biết lấy chi báo đáp, ngày nay thượng hoàng lại truyền chỉ cho như thế thần đẳng dám chẳng hết lòng. Chỉ vì thiên tử còn đang độ thanh niên, vậy trong triều đình nếu có việc gì hệ trọng thì xin hoàng thượng cũng nên lưu tâm chỉ bảo.
Thượng hoàng gật đầu, rồi lại gọi tân quân mà phán bảo:
- Các quan đại thần đều là những bậc trung lương cả. Hễ có khuyên can điều gì nhà vua phải nghe theo, chớ nghe lời sàm nịnh mà khinh rẻ các quan đại thần thì thiên hạ mới thái bình được.
Bỗng thấy Võ Hiếu Vương là Hoàng Phủ Kính quì xuống tâu:
- Muôn tâu thượng hoàng. Nhà lão thần đội ơn triều đình đã mấy đời nay, tình khuyển mã chưa chút báo đền. Nay tuổi ngoại lục tuần, chẳng những tinh thần giảm kém, mà gân sức lại suy yếu, cũng chỉ bởi khi còn trẻ tuổi, đánh đông dẹp bắc, nhiều lần bị thương. Lão thần này sở dĩ chưa dám cáo từ là vì nghĩ đến thâm ân, bội phần cảm kích. Nay thượng hoàng đã trở về nam nội thì lão thần cũng xin lui về quê nhà để trông coi phần mộ tổ tiên vậy. Tân quân lên ngôi, đã có các quan đại thần họ Lương, họ Doãn, họ Mạnh và họ Hùng cùng gia công phù tá. Vả con trai lão thần là Hoàng Phủ Thiếu Hoa xin ở lại để một lòng giúp nước, thiết tưởng tân quân cũng chẳng lo ngại nỗi chi.
Tâu xong, sụp lại dập đầu. Thượng hoàng nghe lời tâu, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi phán:
Ngày nay quốc trượng cáo bệnh xin về thì sao cho tiện! Ta sở dĩ dám nhường ngôi cho tân quân là vì trông cậy có các bậc hoàng thân nguyên tể, nay quốc trượng lại cáo trước thì tân quân há chẳng kém phần trông cậy lắm ru! Vả quốc trượng cáo về thì trong nội cung cũng có chút thương tâm, ta không thể nào mà chuẩn tấu được.
Hoàng Phủ Kính tâu rằng:
- Muông tâu thượng hoàng! Lão thần vốn là võ tướng, ngày nay thiên hạ thái bình, không có giặc giã chi mà phải dụng võ. Vả lão thần gân sức đã suy yếu cũng không thể triều bái được, xin thượng hoàng cho lão thần về hưu. Còn con gái lão thần ở trong nội cung đã được mông ân vũ lộ, an hưởng phú quý, vợ chồng lão thần cũng chẳng cần lo ngại nỗi gì, cúi xin thượng hoàng rộng thương mà chuẩn tấu cho.
Thượng hoàng nge lời tâu, thở dài than rằng:
- Quốc trượng đã quyết chí như vậy thì ta còn biết nói như thế nào! Thôi thì ta cũng chuẩn tấu cho quốc trượng được về nghỉ, nhưng còn các quan đại thần, ta đem tân quân mà giao phó cho, cấm không ai cáo từ cả.
Lại nói chuyện trong cung Chiêu Dương treo đèn kết hoa trần thiết một cách trọng thể. Thái hậu (7) và hoàng hậu (8) cùng những phi tần ở các cung các viện đều đến họp cả tại đấy, chỉ đợi thượng hoàng và tân quân đến thì mở tiệc khánh hạ. trong khi ngự tiệc, thượng hoàng cười mà bảo thái hậu rằng:
- Ta làm vua trong hai mươi năm, chưa được cái chi lạc thú, ngày nay làm thượng hoàng mới biết mình là tôn quý vậy.
Bấy giờ các cung nữ dâng rượu, hai vị công chúa là Gia Tường công chúa và Hưng Bình công chúa ứng hầu. Thượng hoàng bỗng nói đùa với thái hậu rằng:
- Ta có một việc này muốn bàn với thái hậu. Nguyên Gia Tường công chúa con bà Ôn phi đây diện mạo đoan trang, tính hạnh thuần thục, mà trưởng điệt nhi (9 ) của thái hậu năm nay đã mười bảy tuổi, ta định kén làm phò mã, thái hậu nghĩ thế nào?
Thái hậu nghe nói, ngẫm nghĩ hồi lâu nói rằng:
- Nhà thiếp đã mấy đời chịu ơn triều đình, vinh hiển đến thế là cùng cực, nếu ngày nay điệt nhi thiếp lại làm phò mã thì e rằng phận hèn phúc bạc, con tạo lại có lòng ghen ghét chăng?
Thượng hoàng chưa kịp trả lời thì bà Ôn phi bỗng quì xuống mà tâu rằng:
- Thượng hoàng đã ban ơn mà kén con trai Trung Hiếu vương làm phò mã cho Gia Tường công chúa. Công chúa dẫu là con tôi, nhưng cũng là kim chi ngọc diệp của hoàng gia, xin thái hậu chớ lấy làm hiềm.
Thượng hoàng cười mà bảo vua Anh Tôn rằng:
- Sáng mai ra triều đường, con sẽ thương nghị việc ấy.
Bấy giờ thượng hoàng và thái hậu đã khởi giá về nam nội. Khi tới nam nội, thượng hoàng lại truyền mở tiệc. Trong khi ngự tiệc, thượng hoàng cười nói vẻ, chỉ có thái hậu ra ý buồn rầu, thỉnh thoảng lại thở dài. Thượng hoàng thấy vậy, mới dừng chén rượu mà hỏi rằng:
- Ngày nay thái tử lên ngôi đại bảo, đáng lẽ thái hậu lấy làm mừng rỡ mới phải, cớ sao lại có ý không vui, hay là còn có sự gì chưa hài lòng thì nên nói cho biết.
Thái hậu ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Nào phải thiếp có sự gì chưa hài lòng đâu! Chỉ vì hôm qua thiếp xem sử, thấy chép chuyện các vua đời trước cũng nhiều nhà vì sự truyền ngôi cho con, rồi sau gặp nghịch tử hãn hậu, để đến nổi giang sơn đổ nát. Nay thượng hoàng truyền ngôi cho tân quân, nên bắt hàng ngày phải vào triều kiến để nghe lời giáo huấn, cớ sao lại định mười ngày mới triều kiến một lần, khiến cho xa cách cha mẹ, thế thì còn vui nỗi gì, không bằng những kẻ thường dân, lại còn đước cốt nhục một nhà sum họp vậy.
Thái hậu nói xong, lại ứa hai hàng nước mắt xuống. Thương hoàng cả cười mà bảo rằng:
- Sao thái hậu lại lẩn thẩn như thế? Thái hậu chỉ nghĩ sự cốt nhục sum họp một nhà, không biết rằng người ta ở đời, khác nào như một giấc mộng, trăm năm cũng phải có ngày phân ly. Từ xưa có ai làm hoàng đế nghìn năm bao giờ, chi bằng ngày nay ta truyền cho con làm hoàng đế, rồi đây trong bảy dăm nữa thái hậu sẽ có cháu ẳm chơi. Bấy giờ ta đi ngao du sơn thủy, may ra tìm được chân tiên, học phép trường sinh, sau ta sẽ lên làm ngọc hoàng thượng đế. Khi đã làm ngọc hoàng thượng đế thì trên thiên cung biết bao nhiêu là tiên cơ, chỉ sợ thái hậu trông thấy, lại sinh lòng ghen tuông mà thôi...
Ta còn nhớ câu chuyện Mạnh Lệ Quân ngày nào, khiến cho thái hậu nổi tình nữ tướng quân lên mà tra khảo ta ở trong cung mãi, nghĩ đã nực cười. Thái hậu nên hiểu rằng vinh hoa phú quý cũng có khi cùng tận, thử ngẫm xem trong mười bảy bộ sử các vua đời trước, ngày nay có còn ai không?
Lại nói chuyện vua Anh Tôn ra ngự triều, truyền tuyên đọc tờ chiếu cho các quan nghe. Tờ chiếu như sau:
Thừa thiên hưng vận, hoàng đế chiếu rằng:
Trẫm tài hèn đức bạc, tuổi còng ấu thơ, phụng mệnh phụ hoàng lên ngôi đại bảo, tôn phụ hoàng làm thượng hoàng, mẫu hậu làm thái hậu, về ở nam nội. Hoàng đệ là Hán vương, Chu vương và Triệu vương cùng ở hầu thượng hoàng; Gia Tường công chúa và Hưng Bình công chúa thì cùng ở hầu thái hậu, còn trẫm đây cứ mười ngày một lần vào triều kiến.
Trẫm gia phong cho Võ Hiến vương là Hoàng Phủ Kính làm Kinh vương, Trung Hiếu vương là Hoàng Phủ Thiếu Hoa làm Tương vương, vợ là Mạnh Lệ Quân làm Trung Tĩnh chính phi, cùng với Lưu thị và Tô thị đều được thực ấp. Người con trưởng cho được lập tước và phong phò mã, người con thứ hai phong là thiên hộ tướng quân; người con thứ ba làm trung thư; con thứ tư làm cung phụng và con thứ năm làm chủ sự. Tương vương kiêm cả việc trong tư các và lục bộ.
Lương Trấn Lân thăng Bảo Hòa điện đại học sĩ kiêm binh bộ và Hộ bộ. Mạnh Gia Linh thăng Long đồ các đại học sĩ kiêm Lại bộ và Công bộ; Doãn Thượng Khanh thăng Văn Uyên các đại học sĩ kiêm Lễ bộ và Hình bộ; Bình Giang vương Hùng Hiệu và vợ là Vệ Dũng Nga vương phi đều được thực ấp. Con trưởng là Hùng Khởi Phượng làm Lễ bộ thị lang, con thứ là Hùng Khởi Thần làm Kỵ đô úy.
Lập nguyên phi là Hùng thị làm hoàng hậu, Ôn phi và Mai phi đều phong làm thái phi. Các quan văn võ đều được gia phong một cấp. Phóng thích cung nữ ba nghìn người. Những thuế tích khiếm (10) của nhân gian đều miễn tha cho cả. Lại ban yến cho các quan triều thần.”

Các quan triều thần đều tung hô vạn tuế. Khi bái mạng xong, cùng nhau dự yến, rất là vui vẻ. Ngày giờ thấm thoát đã gần được ba tháng, vợ chồng Hoàng Phủ Kính sửa soạn sắp nhề quê nhà, Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Ba người con dâu cần phải về hầu hạ cha mẹ. Chỉ có Triệu Câu là phò mã không thể về được, còn bao nhiêu con cái, xin cho theo tất cả.
Hoàng Phủ Kính nói:
- Hà tất phải như thế, chỉ đứa cháu nhỏ theo về là đủ, còn vợ chồng con đều ở tại đây.
Mạnh Lệ Quân nói:
- Con xin theo về, để cho hai chị Tô phu nhân và Lưu phu nhân ở đây.
Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc đồng thanh mà rằng:
- Chị không nên về, vì chị cần phải ở đây, một là để trông nom quốc chính, hai là để dạy bảo các con. Còn chúng em đây không có tài năng gì thì xin về hầu hạ cha mẹ ở quê nhà là phải!
Hoàng Phủ Kíng nghe nói ,liền gật đầu mà rằng:
- Đã như vậy thì để các cháu ở đây, còn hai con theo ta về quê nhà.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa vâng mệnh. Hôm ấy vương phủ sửa soạn các đồ hành trang. Chỉ có bà thái vương phi ra ý buồn rầu, ứa nước mắt khóc:
- Từ khi Trưởng Hoa lập làm hoàng hậu, đã hai mươi năm nay không về đến nhà, dẫu thỉnh thoảng có lễ khánh hạ, mẹ con cũng được gặp mặt nhau, nhưng sao bằng một nhà sum họp là vui vẻ hơn. Ngày nay ta trở về quê nhà thì biết bao giờ cho lại được gặp mặt con gái.
Cha con Hoàng Phủ Kính đều khuyên giải:
- Người ta ở đời, bi hoan tán tụ, chẳng qua cũng có số mạng cả. Huống chi nhà ta nhà ta bấy lâu đoàn viên sum họp, mông ân vũ lộ, tưởng cũng đã nhiều. Ngày nay dẫu cáo lão trở về quê nhà, nhưng sắc thư vẫn thường tới nơi thăm hỏi. Con làm hoàng hậu như thế, chẳng hơn gả chồng cho một viên quan chức nào mà phải theo chồng đi cung chức thì mẹ con cũng chẳng bao giờ được sum họp một nhà vậy.
Thái vương phi nghe lời không nói câu nào, chỉ lấy tay gạt nước mắt.Vệ Dũng Nga vương phi cùng Doãn Thượng Khanh phu nhân và Mạnh Gia Linh phu nhân đều đến vương phủ để tiễn biệt, náo nhiệt lạ thường. Đến ngày hai mươi bốn tháng ba, thái vương phi vào cung để từ giã thái hậu, Tô Yến Tuyết và Lưu Yến Ngọc cũng theo vào. Thái hậu gạt nước mắt mà nói với thái vương phi rằng:
- Thân mẫu ơi! Ngày nay thân mẫu bỏ con mà về quê nhà, biết bao giờ con lại được trông thấy thân mẫu.
Thái vương phi nghe nói lại càng đau lòng đứt ruột, thổn thức hồi lâu rồi nói:
- Con được lập làm hoàng hậu trong hai mươi năm trời nay, mẹ luống những lo âu, chỉ sợ lòng yêu dấu của quân vương có ngày phai nhạt. Ngày nay con được làm thái hậu, thế là toàn phúc, còn mẹ đây về nơi đất cũ, di dưỡng tuổi già, ơn vũ lộ tưởng cũng đã đằm thắm lắm thay, con chớ lấy làm phiền não. Vả thân phụ con gởi lời khuyên con trên giúp đức nhân từ của thượng hoàng, dưới thể lòng hiếu kính của thiên tử, đối với hoàng thân quốc thích, phải lấy lễ mà tiếp đãi, Hùng Hiệu cần phải giữ ở lại để lo phụ chính, còn Hoàng Phủ Thiếu Hoa thì chỉ trong mấy năm nữa cũng sẽ cho cáo quan trở về nhà, thế là bảo toàn được vinh dự cho nhà ta vậy. Danh tiếng của con lưu truyền sử sách thì cha mẹ lấy làm vui lòng.
Thái vương phi nói xong, thái hậu ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi gọi Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc mà bảo:
- Hai em khéo vì ta mà hầu hạ cha mẹ. Khi nào cha mẹ có nghĩ ngợi đến ta thì xin hai em tìm lời khuyên giải. Thế mới biết sinh con gái thật là vô ích, công cù lao cúc dục của cha mẹ cũng uổng phí mà thôi.
Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc đồng thanh tâu:
- Thái hậu cứ yên lòng chờ đến kỳ “tiên thu đại khánh” này, thái vương phi sẽ lại vào yết kiến thái hậu. Vả nhà ta được tôn quý như thế này đều nhờ ơn thái hậu, cho biết rằng “dương danh hiển thân” (11) tức là đại hiếu, mà “thần hôn định tỉnh” (12) chẳng qua là một điều hiếu nhỏ mà thôi.

Bỗng thấy nội giám quì xuống tâu:
- Muôn tâu thái hậu! Có hoàng hậu xin vào triều kiến.
Thái hậu mừng nói rằng:
- Nếu vậy hay, nhân tiện tiếp kiến ngoại tổ mẫu và hai vị cữu mẫu một thể.
Nói xong liền truyền chỉ cho vào. Hùng hậu rón rén bước vào, gót sen yểu điệu, mình liễu thước tha, quì xuống dâng lời chúc thái hậu.
Thái vương phi cùng Tô Lưu hai phu nhân đều đứng dậy làm lễ triều kiến hoàng hậu. Hùng hậu chối từ không dám nhận. Thái hậu truyền cung nữ bày tiệc. Lưu Yến Ngọc nhìn nét mặt Hùng hậu thấy có vẻ hối ám, biết là sắp có đại nạn; lại liếc mắt nhìn thái hậu thì thấy chỗ ấn đường cũng hôn hác, nghĩ thầm: Ta trông Phi Giao quận chúa có tướng làm hoàng hậu, mai sau tất phải ứng nghiệm, vì không hiểu cớ sao mà ngày nay ta trông tướng Hùng hậu dẫu không đến nỗi chết, nhưng sẽ có đại nạn trong mười năm thì cũng chẳng khác gì là chết vậy.
Thái hậu lại truyền gọi Ôn phi và Mai phi ra để tiếp kiến thái vương phi. Chuyện trò hồi lâu, thái vương phi đứng dậy cáo từ, thái hậu nắm lấy áo mà bảo rằng:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu nỡ lòng nào bỏ con đây mà đi, biết năm tháng ngày nào cho con lại được sum vầy dưới gối. Ngày nay con cùng cha mẹ từ biệt, con thật như dao cắt trong lòng.
Thái vương phi cũng ôm lấy thái hậu mà khóc, hai mẹ con không thể nào chia ly cho đang. Các cung nữ thấy bóng chiều đã ngã về tây, mới quì xuống tâu với thái hậu:
- Muôn tâu thái hậu, trời đã gần tối.
Thái hậu gạt nước mắt mà đứng dậy, bảo thái vương phi:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu đừng khóc làm chi nữa, cũng cầm bằn như con đã chết trận từ ngày đi đánh Phiên rồi! Giọt máu đẻ rơi, từ nay thân mẫu chớ nghĩ đến con vậy.
Thái vương phi và Tô Lưu hai vị phu nhân cáo từ lui ra.
Khi thái vương phi đi khỏi, thái hậu lại vật mình than khóc. Ôn phi và Mai phi hết sức khuyên giải mãi, bấy giờ mới nguôi.
Lại nói chuyện nhà Hoàng Phủ trong mấy hôm ấy, nào sửa soạn các đồ hành lý, nào tiếp đãi các quan triều thần đến tiễn biệt, huyên náo lạ thường. Hoàn Phủ Kính dặn bảo các con rằng:
- Các con nên một lòng trung thành mà báo đáp triều đình, tức là có hiếu với cha mẹ đó. Vì cha mẹ chịu ơn vua lộc nước trong bốn mươi năm nay cáo lão trở về điền lý, chỉ cốt trông cậy ở các con.
Thái vương phi cũng nói:
- Những lời nghiêm huấn, các con nên phải ghi lòng.
Vệ Dũng Nga vương phi nói với Hoàng Phủ Kính rằng:
- Tôi có một điều tâm phúc muốn giải bày, chẳng biết người có thuận cho được hay không?
Hoàng Phủ Kính nói:
- Có việc gì vương phi cứ nói, khi nào mà vợ chồng ta lại không thuận theo.
Vệ Dũng Nga vương phi cười mà nói rằng:
- Tôi không dám xin gì cả, chỉ muốn xin Phi Loan quận chúa cho Hùng Khởi Thần.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe nói, mừng rỡ mà bảo rằng:
- Em có ý ấy đã lâu, chỉ sợ chị không bằng lòng, vậy nên vẫn không dám ngỏ ý, nay chị lại nói ra trước thì hai thân tôi đây khi nào chẳng vui lòng, chỉ sợ Phi Loan người xấu tài hèn, không đáng sánh đôi cùng lệnh lang mà thôi.
Vợ chồng Hoàng Phủ Kính đều mừng rỡ mà nói:
- Thân thượng gia thân, còn gì hay bằng! Các con bất tất phải khiêm tốn quá.
Tô Ánh Tuyết đứng dậy nói với Vệ Dũng Nga vương phi:
- Em xin đa tạ, chị đã có lòng đoái thương đến thì cũng là một điều may cho con Phi Loan.
Mạnh Lệ Quân vương phi cười mà bảo Tô Ánh Tuyết:
- Tôi thấy người ta vì vợ mà phải bái tạ bà mẹ vợ, chớ chưa thấy ai vì con rể mà phải bái tạ bà thân gia bao giờ.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa cũng cười mà bảo rằng:
- Đó cũng là nhờ có công giáo hóa của Bảo Hòa công chúa (13) vậy.
Mọi người nghe nói đều cười rầm lên. Vệ Dũng Nga vương phi cũng cười mà bảo rằng;
- Đây là tôi hãy xin ngỏ lời cầu thân. Trước tạ phụ mẫu (14), sau tạ thân ông và các thân mẫu, rồi ngày mai tôi sẽ bảo phu quân tôi đến tạ thay con trai.
Lưu Yến Ngọc cười mà bảo rằng:
- Như thế sao được. Chưa dùng môi nhân nói trước, đã vội vàng làm lễ diện kiến.
Hoàng Phủ Kính nói:
- Phi Loan năm nay đã mười sáu tuổi, nếu định gả cho con trai Bình Giang vương (15) thì chỉ trong một vài năm, tất phải làm lễ thành hôn, vậy Tô phu nhân nên cho ở lại kinh địa mới tiện.
Mọi người nghe nói, chưa kịp trả lời thế nào thì Tô Ánh Tuyết nói:
- Đã có Mạnh vương phi, can chi phải bảo con ở lại.
Thái vương phi gật đầu, nói với Mạnh Lệ Quân rằng:
- Con trai lớn cần phải lấy vợ, con gái lớn cần phải gả chồng đó là lẽ thường. Bây giờ ta để Phi Loan lại đây cho được tiện việc.
Mạnh Lệ Quân vương phi cười rồi nói:
- Tiện thì tiện thật, nhưng nếu vậy há chẳng lợi cho Tô phu nhân lắm ru! Vì sau này bàn đến của hồi môn thì chị không phải lo chi cả.
Lưu Yến Ngọc nói:
Của hồi môn tất phải trọng hậu, chẳng biết sau này định những vật gì, nhưng ngày nay nên hỏi hỏi sẵn chị Tô phu nhân xem sao, chẳng lẽ chị nghiễm nhiên làm một bà mẹ vợ mà lại không phải chịu sự tôn thiệt.
Mọi người cùng nhau cả cười, ngoảnh lại nhìn đã không thấy Phi Loan quận chúa đâu cả. Thái vương phi cười mà bảo rằng:
- Cháu tôi thẹn mà chạy mất rồi! Bây giờ chúng ta nói vừa vừa chứ, hãy để sáng mai Bình Giang vương sang cầu thân, bấy giờ sẽ cùng nhau uống một tiệc rượu mừng thật say vậy. Con phải nhớ thế nào cũng đòi lấy mấy trăm lạng bạc, để biện một tiệc rượu ở đây.
Vệ Dũng Nga vương phi mừng rỡ nói:
- Tất phải như thế, con xin tuân lời thân mẫu. Còn của hồi môn, con không dám cầu những đồ kỳ trân dị bảo gì, chỉ xin lấy tập tranh “Bách mỹ” để sau này giữ làm của quý cho con cháu.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa cười mà bảo rằng:
- Một nhà vương phủ hoàng thân, nếu không nghìn khoảnh lương điền thì tất cũng có muôn chung thực ấp, để cho con cháu, sao lại muốn dùng đến tập tranh vẽ ấy.
Vệ Dũng Nga vương phi cười, nói:
- Đã đành rằng có, nhưng sao bằng nét bút thiên nhiên ấy là cái của vô giá ở trên đời.
Mọi người đều chuyện trò hồi lâu, rồi đều đứng dậy tan về. Mạnh Lệ Quân vương phi về đến trong phòng, đóng cửa phòng nằm nghĩ, bỗng thấy Lưu Yến Ngọc đẩy cửa bước vào, vén màn đứng ở bên cạnh giường, tủm tỉm cười mà nói rằng:
- Chị vậy, em muốn thưa một câu chuyện.
Mạnh Lệ Quân vương phi lấy làm ngạc nhiên, mặc áo đứng dậy, rồi hỏi:
- Chẳng hay việc gì, xin chị cứ nói.
Lưu Yến Ngọc liền ngồi xuống đấy, rồi khẽ nói rằng:
- Ngày hôm nay em vào cung triều kiến hoàng hậu, được biết hoàng hậu thật là người thuần thục, nhưng tính khí lại nhu nhược quá. Vả em nhìn tướng mạo có vẻ hắc ám, tất thế nào cũng sẽ có đại nạn trong mười năm trời. Còn Phi Giao quận chúa thì em thấy có tướng “hồng quang hiển hiện” chỉ trong nửa năm nữa, sẽ được hỷ tinh giáng lâm. Mà tin mừng này không phải tầm thường đâu, tất đến chiếm ngôi hoàng hậu, sau này nữ chủ cầm quyền mà có sát khí uy nghiêm vậy. Chúng em trở về quê nhà đã đành, còn chị ở đây, trong một hai năm nữa khó lòng mà tránh khỏi tai vạ. Đó là hiện tướng rõ ràng, em hơi biết như vậy nên em xin nói. Chị có đại tài thì xin chị nhớ mà đề phòng trước. Đến như việc nhà Vệ cô nương, cũng khó tránh khỏi ách vận, cơ trời huyền bí, dẫu sao cũng bởi sự tiền định tự nhiên.
Mạnh Lệ Quân vương phi giật mình kinh sợ mà hỏi rằng:
- Chị thử tính xem có thể cầu cúng cho qua tai nạn ấy được không?
Lưu Yến Ngọc lắc đầu mà bảo rằng:
- Không thể được! Phàm tướng mạo người ta, quan hệ với vận mệnh, hễ vận mệnh không hay thì trên nét mặt sẽ hiện có cái vết hắc ám. Cái vết ấy đã hiện thì tai nạn sắp tới nơi, chỉ trong năm năm là tất có ứng nghiệm vậy. Em thấy tướng mạo bọn ta hắc ám đã gần một năm nay, hôm nay trông thấy tướng mạo thái hậu và hoàng hậu, mới biết không phải là vận mệnh riêng của một người nào. Triều đình ngày nay đang trông cậy về tài xử đoán của chị, chị cũng nên phải gìn vàng giữ ngọc, chớ có lo nghĩ quá.
Mạnh Lệ Quân vương phi thở dài mà than:
- Nếu vậy thì cũng đành nhờ trời mà thôi. Nhưng chị xem tướng con Phi Giao có giống như Võ Tắc Thiên thuở xưa hay không?
Lưu Yến Ngọc nói:
- Phi Giao quận chúa có tướng mạo uy nghiêm, ai trông thấy cũng phải sợ, không chỉ bằng Võ Tắc Thiên mà thôi đâu.
Hai người trò chuyện thâu canh, rồi đều về phòng yên nghỉ. Sáng hôm sau, Bình Giang vương là Hùng Hiệu đến cầu thân, xin cho Hùng Khởi Thần kết duyên với Phi Loan quận chúa. Nhà Hoàng Phủ đều bằng lòng cả.
Đến hôm vợ chồng Hoàng Phủ Kính khởi hành, vua Anh Tôn truyền chỉ bày một tiệc rượu ở phía ngoài thành cho ba vị thân vương ra tiễn. Trong khi tiễn biệt Mạnh Lệ Quân nước mắt ròng ròng, Phi Loan quận chúa cũng nắm lấy bà sinh mẫu là Tô Ánh Tuyết mà khóc. Tô Ánh Tuyết khẽ dặn Phi Loan quận chúa rằng:
- Con ở lại đây, phải chăm chỉ hầu hạ cha mẹ, đối với anh em chị em trong nhà lại nên lấy tình thân ái mà cư xử, chớ vì sự hờn dỗi nhỏ nhặt, đã vội sinh lòng ghét bỏ lẫn nhau. Sang năm con về nhà chồng, nên kính mến cha mẹ chồng và một lòng thờ chồng cho phải đạo, để được nên người hiền phụ, khỏi phụ công giáo huấn của cha mẹ trong bấy lâu nay.
Một nhà Hoàng Phủ ai nấy đều ứa nước mắt mà thương ly tích biệt, chỉ có Phi Giao quận chúa là không hề có ý buồn rầu. Vợ chồng Hoàng Phủ Kính lên xe, ba vị thân vương cùng văn võ bách quan đều đi tiễn đông lắm. Khi đến bờ sông, vợ chồng Hoàng Phủ Kính từ giã các quan rồi xuống thuyền. Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân cùng Vệ Dũng Nga vương phi lại theo xuống dưới thuyền để bái biệt, còn văn võ bách quan đều đứng ở trên bờ sông, đợi cho đến khi thuyền quay mũi.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa dặn Tô Án Tuyết và Lưu Yến Ngọc rằng:
- Hai phu nhân về nhà, trên thờ cha mẹ, dưới khuyên dạy con, nên phải một lòng chăm chỉ. Công việc trong nhà giao phó cho Lã Xương chưởng quản. Lã Xương là nghĩa tử của Lã Trung tánh nết thực thà, lại có tài năng, đối với hắn cũng nên có lòng kính trọng.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại nói với vợ chồng Hoàng Phủ Kính rằng:
- Cha mẹ nên giữ gìn thân thể, sang năm đến kỳ “Vạn thọ” của thượng hoàng, con sẽ xin cáo quan về để phụng dưỡng cha mẹ.
Nói xong lại cùng Mạnh Lệ Quân và Vệ Dũng Nga đồng bái biệt rồi bước lên bờ. Thuyền quay mũi đi, các quan triều thần còn đứng đấy chưa về, bỗng thấy quan Lương thừa tướng ở trong thành lật đật cưỡi ngựa chạy đến, không hiểu vì cớ gì.
NGUYỄN ĐỖ MỤC dịch thuật
o0o

_______________

(1) Hùng Khởi Phượng: là con Từ thị
(2) Hùng Khởi Thần: là con Vệ Dũng Nga
(3) nam diện: tức là ngôi thiên tử ngoảnh mặt về phương Nam
(4) quận chúa: con gái một vị vương tước thì gọi là quận chúa, cũng như con gái vua thì gọi là công chúa.
(5) thái vương phi: tức là Doãng phu nhân, vợ Hoàng Phủ Kính
(6) con thứ xuất: con vợ lẽ.
(7) thái hậu: Trưởng Hoa
(8) hoàng hậu: Bội Ngọc
(9) điệt nhi: cháu gọi bằng cô.Trỏ Triệu Câu là con Hoàng Phủ Thiếu Hoa.
(10) Tích khiếm: (thuế) còng thiếu lâu năm tích lũy lại. Chú NXB.
(11) Dương danh hiển thân: Nêu cao danh mình và khiến cha mẹ cũng được vinh hiển.
(12) Thần hôn định tỉnh:Sớm hôm thăm hỏi, nói tới bổn phận người con quan tâm tới cha mẹ. (chú NXB)
(13) Mạnh Lệ Quân được mẹ vua Thành Tôn nhận làm con nuôi, đặt tên là Bảo Hòa công chúa (xem sự tích Mạnh Lệ Quân tức là bộ Tái Sanh Duyên)
(14) tạ phụ mẫu: trỏ vợ chồng Hoàng Phủ Kính.
(15) Bình Giang vương: tức Hùng Hiệu
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
Hay quá, chưa đọc xong Tái Sanh Duyên thì đã được đọc Hậu Tái Sanh Duyên.
Nếu bạn ở Hà nội thì chuyển truyện cho tôi tôi gõ hộ vài chương nhé?
Mà nghe giang hồ đồn là bạn gõ xong 2 chương rồi cơ mà?
0
Hồi thứ hai
TRIỆU CÂU PHÒ MÃ LO BIẾN LOẠN
PHI GIAO HOÀNG HẬU ĐƯỢC SÁCH PHONG

Quan Lương thừa tướng ở trong thành cưỡi ngựa ra đến bờ sông trông thấy Hoàng Phủ Thiếu Hoa, vội vàng xuống ngựa rồi nói:
-Tôi dở bận chút việc trong nội các, thành ra không kịp bái biệt lão vương. Khi hai cung giá hồi, bà thái hậu bỗng hôn mê hồi lâu, quan thái y tâu rằng “Luc mạch hư nhược, khó chữa lắm”. Bởi vậy thánh thượng sai tôi ra đây mời Mạnh vương phi vào ngay để bắt mạch, xin vương phi tức khắc khởi hành.
Mạnh Lệ Quân vương phi lên ngựa ra roi phóng thẳng một mạch vào thành. Vua Anh Tôn và Hùng hậu ở trong cung mong đợi Mạnh Lệ Quân không biết dường nào, sai nội giám ra cửa trông ngóng. Các quan thái y cũng đều túc trực tại đấy, không ai dám về. Đợi đến giờ thân, mới có tin báo là Mạnh Lệ Quân đã về tới nơi. Vua Anh Tôn mừng rỡ bội phần, tức khắc truyền chỉ miễn lễ triều kiến cho Mạnh Lệ Quân, và ban cho một chiếc ngọc câu mã, để Mạnh Lệ Quân cưỡi mà đi thẳng vào nam nội thăm bệnh thái hậu.
Khi nào tới nơi, trông thấy vua Anh Tôn và Hùng hậu đều đứng cạnh giường thái hậu, nước mắt ròng ròng. Vua Anh Tôn cứ ôm lấy thái hậu mà gọi, gọi hồi lâu cũng không thấy trả lời. Mạnh Lệ Quân giật mình kinh sợ, chẳng còn hồn vía nào, nhưng cố trấn tỉnh tinh thần, để quì xuống bắt mạch. May sao chứng bệnh không nguy lắm, chẳng qua chỉ vì khí uất, thành ra cấm khẩu.
Mạnh Lệ Quân vương phi mới tâu vua Anh Tông và Hùng hậu rằng:
- Xin thánh thượng và hoàng hậu cứ yên lòng, bệnh chứng không nguy lắm.
Nói xong, liền phụng kê một đơn thuốc. Vua Anh Tôn truyền một mặt sắc thuốc để thái hậu uống, và một mặt tâu trình để thượng hoàng biết. Thượng hoàng nghe lời tâu liền truyền cho Mạnh Lệ Quân phải ở luôn tại trong cung để nghe bệnh, còn thánh thượng và hoàng hậu cũng phải đến để trông nom.
Mạnh Lệ Quân ở đấy trông nom thuốc thang, thấm thoát thành ra đã đầy hơn một tháng trời chưa về tới nhà. Bấy giờ thái hậu bệnh thể hơi bớt, đã ngồi dậy được, trong tam cung lục viện đều lấy làm vui mừng. Hoàng Phủ Thiếu Hoa thấy Mạnh Lệ Quân không về thì ngày nào cũng chực ngày cửa cung, để hỏi thăm tin tức của thái hậu ra sao, nhưng vẫn không dò la được đích thực, kẻ thì nói bệnh thế đã hơi bớt, kẻ thì nói bây giờ lại nguy kịch hơn.
Từ khi Mạnh Lệ Quân vắng nhà, các con trong nhà sinh ra hiềm khích lẫn nhau, Triệu Câu vốn là người chính trực xưa nay, chỉ hay giảng đạo đức luôn mồm, không hợp tính với Phi Giao quận chúa. Còn Phi Giao quận chúa thì không chịu ngồi yên ở trong phòng mấy khi. Khi thì đánh đu ở ngoài vườn, khi thì bơi thuyền dưới ao, khi thì trèo lên kim tiền để bắn chơi, khi thì đem ngọc tiêu ra tập thổi, lại có khi lập ra khúc hát để dạy các tỳ nữ múa hát, v.v...Các tỳ nữ hễ đứa nào hơi trái ý một chút thì Phi Giao quận chúa dùng ngay cái thế lực “bà chúa mây” để ra oai, mà đã đánh ai thật đánh cho kỳ chết. Nói tóm lại Phi Giao quận chúa là một người võ tướng chứ không có chút gì là liễu bồ yếu đuối vậy. Phi Giao quận chúa xưa nay vẫn bị cha mẹ nghiêm cấm, không dám ra ngoài qui củ, bấy giờ gặp dịp cha mẹ đều vắng nhà cả, mới tha hồ mà tung hoành. Trong một tháng trời ấy, không hề bước sang đến cung Hoàng Phủ Thiếu Hoa ở, chỉ suốt ngày hành hạ các nữ tỳ. Triệu Câu đã nhiều lần can ngăn mà Phi Giao quận chúa không nghe lại lấy làm giận. Một hôm Phi Giao quận chúa vào chỗ giá sách, thấy có cái hộp, ngoài bọc lần gấm, liền mở ra xem thì cái hộp ấy khóa chặt. Phi Giao quận chúa nghĩ thầm:
“Quái lạ! không biết cái gì ở trong này. Làm thế nào được chìa khóa mà mở ra xem thì hay nhỉ.”
Bấy giờ có một nữ tỳ tên gọi là Hoa Nô đứng cạnh. Hoa nô rất lanh lợi, Phi Giao quận chúa vẫn có lòng yêu nói, mà nó lại hay tâng công. Khi nó trông thấy Phi Giao quận chúa ngắm nghía cái hộp, ra ý muốn mở xem thì nó liền nghĩ ra kế mà thưa rằng:
- Quận chúa muốn xem thì con đi lấy chùm chìa khóa, thử mở xem có cái nào vừa chăng.
Nói xong, chạy đi lấy chùm chìa khóa, ướm hết cái nọ đến cái kia, bỗng gặp một cái mở vừa cái hộp. Khi mở hộp ra xem thì trong có hai quyển binh thư. Phi Giao quận chúa mừng rỡ mà rằng:
- À! Cái này là binh thư của thân phụ ta từng đọc thuở xưa đây! Thân phụ ta thường nói những khoa học bí diệu này không nên để cho con cháu xem, vì sợ con cháu hiểu được pháp thuật, không theo chính đạo, lại sinh sự hung cường chăng. Từ bấy đến nay, ta vẫn không biết thân phụ ta giấu ở chỗ nào, ngày nay tình cờ lại bắt gặp thật là may mắn lắm. Trong hai quyển này có đủ các phép hô phong hoán vũ, chỉ đọc hết hai quyển, đủ làm một danh tướng “Bách chiến bách thắng” vậy.
Nói xong, liền cất lấy hai quyển binh thư ấy, lại khóa hộp để nguyên như cũ, rồi đem hai quyển binh thư về phòng mình châm đèn ngồi xem. Phi Giao quận chúa vốn là người thông minh lạ thường, xem luôn trong ba đêm, bao nhiêu pháp thuật nhớ thuộc lòng cả. Phi Giao quận chúa có tám tên nữ tỳ theo hầu, đều bắt học múa gươm đấu giáo. Hễ đứa nào nghe lời dạy mà không hiểu thì Phi Giao quận chúa lại nổi giận đánh đập một cách rất khổ sở.
Phi Loan quận chúa thấy vậy, liền khuyên bảo rằng:
- Em không nên nóng nảy như thế. Chúng ta là phận nữ lưu, nên học các việc nữ công thêu thùa nấu nướng là phải. Còn việc văn chương thi phú và kiếm kích cung đao, há phải là việc nữ lưu, sao em lại cứ hàng ngày học tập những nghề ấy. Nếu cha mẹ biết, chắc cha mẹ không được vui lòng. Vả ngày nào em cũng đánh đập các nữ tỳ, như thế thì sao hợp với tư cách một người khuê các vậy.
Phi Loan quận chúa nói xong thì Phi Giao quận chúa tức thì hầm hầm nổi giận, mặt đỏ bừng bừng, rồi quắc mắt lên mà rằng:
- Chị nói thật buồn cười! Từ khi tổ phụ và tổ mẫu trở về quê nhà, trong lòng em luống những buồn rầu tưởng nhớ, vậy phải nghĩ cách để tiêu khiển, nhưng cũng chưa hề có phạm đến “khuê trung nữ huấn” (1) bao giờ. Chị bảo rằng binh pháp không phải việc nữ lưu, thế thì cô nương nhà ta (2) khi trước sao lại đem thân ra chiến trận? Nếu không có nhờ cô nương thì thân phụ ta khi nào đã chóng thành đại công. Tẩy thị phu nhân và Bình Dương công chúa thuở xưa đều là những tay vũ dũng có tiếng, sao không thấy ai dị nghị điều chi vậy. Chị cũng khéo học đòi như lối anh em, chỉ “chi hồ dã giả” luôn mồm, rồi đồng lòng mà khinh rẻ em, em không thể nhịn được. Chị và anh đã coi em không ra gì thì nay em không có chị em anh em nào với ai nữa.
Phi Loan quận chúa cười mà bảo rằng:
- Sao em lại nói như thế! Tình chị em như tay chân, không bao giờ chị lại không quý em vậy. Em nghe hoặc chẳng nghe tùy ý, khi nào chị dám đồn lòng với anh mà khinh rẻ em.
Hai người nhũ mẫu cũng đồng thanh mà khuyên giải, bấy giờ Phi Giao quận chúa mới nín lặng, không nói câu gì. Bỗng thấy tỳ nữ vào báo rằng:
- Dạ dám bẩm hai quận chúa! Vương gia đã về, sai tôi vào gọi.
Phi Loan quận chúa và Phi Giao quận chúa mới cùng nhau tới Linh Phượng cung để bái yết Hoàng Phủ Thiếu Hoa. Khi vào tới nơi, hai chị em đồng thanh mà rằng:
- Thân phụ ơi! Chẳng hay thái hậu đã thuyên bệnh chưa?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Nghe như bệnh thế cũng có phần thuyên giảm, nhưng vì cung cấm nghiêm mật, vẫn chưa được tin đích thực. Mẹ con đã một tháng nay không về, công việc trong nhà không có ai chủ trương biết làm thế nào?
Phi Giao quận chúa nghĩ thầm: “Ta ở nhà chỉ bị anh chị nay nói điều này mai nói điều khác rất là khó chịu, chi bằng ta xin vào thăm thái hậu để nói lót với thân mẫu, kẻo khi thân mẫu ta về, anh chị ta lại thi nhau mà mách”. Phi Giao quận chúa nghĩ vậy, mới tươi cười mà nói với Hoàng Phủ Thiếu Hoa rằng:
- Không hiểu duyên cớ làm sao mà thân mẫu con lại ở trong cung bấy lâu ngày như thế! Hay là sáng mai thân phụ cho con vào cung thăm thái hậu, để con nói với thân mẫu con hãy tạm về nhà mấy hôm, hoặc có được chăng?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa gật đầu mà rằng:
- Ừ! Con nghĩ cũng phải! Từ khi thái hậu bị bệnh, thánh thượng chưa ra ngự triều lần nào, chẳng hỏi chi đến quốc chính cả. Lương thừa tướng và Mạnh thừa tướng phải thay quyền xử đoán, chỉ e người ngoài dị nghị, vẫn lấy làm lo sợ. Còn ta và Bình Giang vương đang bận về việc biên phòng. Con muốn tiến cung thăm thái hậu thì ngày mai nên dậy sớm mà đi.
Phi Giao quận chúa thấy cha thuận cho đi, mừng rỡ không biết dường nào. Sáng hôm sau, Phi Giao quận chúa dậy sớm, trang điểm rất lịch sự. Hoa cài lượt giắt, trong như một mỹ nữ trong bức họa đồ, thật là có vẻ nghiêng nước nghiêng thành vậy. Khi trang điểm xong, Phi Giao quận chúa vào nói với anh chị rồi bước ra lên xe, có các nữ tỳ theo hầu đi thẳng vào cung. Nội giám trông thấy, chạy vào tâu trước với thái hậu. Bấy giờ vua Anh Tôn và Hùng hậu đang vào vấn an, còn Mạnh Lệ Quân vương phi cùng Ôn phi và Mai phi thì đi ra cung khác. Thái hậu nghe báo có điệt nữ vào thăm mừng rỡ mà phán rằng:
- Hay lắm! Ta đang mong có thân thích vào để nói chuyện cho vui, lại được điệt nữ vào thì còn gì bằng.
Phi Giao quận chúa rón rén bước vào, trước làm lễ triều kiến thái hậu, sau làm lễ triều kiến vua Anh Tôn và Hùng hậu. Mặt tươi như hoa, da trắng như ngọc, dịu dàng mình liễu, thỏ thẻ tiếng oanh, thái hậu trông thấy rất lấy làm vui vẻ. Vua Anh Tôn liếc nhìn quận chúa rồi kinh ngạc mà nghĩ thầm rằng:
- Trẫm không ngờ Phi Giao quận chúa lại xinh đẹp đến như thế! Chẳng những trong tam cung lục viện không ai sánh kịp, mà so với nhan sắc của cữu mẫu khi xưa, cũng lại có phần hơn. Thiên hạ chẳng thiếu gì mỹ nữ, nhưng người này thật là tuyệt sắc trê đời! Trẫm vẫn tưởng nhan sắc Hùng hậu đã là xinh đẹp thay, nào biết đâu rằng hãy còn kém Phi Giao quận chúa.
Bấy giờ Hùng hậu dắt tay Phi Giao quận chúa ngồi ở bên cạnh thái hậu. Vua Anh Tôn bất đắc dĩ phải cáo từ thái hậu rồi lui ra. Chẳng qua tiền duyên túc đế chi đây, cho nên vua Anh Tôn trông thấy Phi Giao quâậ chúa lần đầu, mà đã hồn xiêu phách lạc vậy.
Thái hậu bảo Phi Giao quận chúa rằng:
- Điệt nữ ơi! Ta cách biệt con trong sáu năm trời nay, ngày nay ta bỗng được gặp mặt lấy làm vui mừng lắm. Nhan sắc con so với thuở nhỏ thật đã xinh đẹp hơn bội phần.
Nói chưa dứt lời thì Mạnh Lệ Quân vương phi đến, trông thấy Phi Giao quận chúa liền hỏi rằng:
- Con vào bao giờ thế!
Phi Giao quận chúa chưa kịp trả lời thì thái hậu cười mà bảo Mạnh Lệ Quân:
- Ngày thánh thoi đưa, chẳng bao lâu mà điệt nữ đã trưởng thành, trông chẳng khác gì vẻ mỹ lệ của em năm xưa vậy.
Hùng hậu cũng cười mà nói rằng:
- Cứ như ý con thiển nghĩ thì nhan sắc biểu muội ngày nay lại có phần sắc sảo hơn cữu mẫu thuở trước.
Các cung nữ pha trà uống, thái hậu hỏi thăm việc nhà, Mạnh Lệ Quân cũng hỏi. Phi Giao quận chúa ứng đối đều được trôi chảy mà rất có lễ phép. Thái hậu truyền bày tiệc cho Mạnh Lệ Quân và Phi Giao quận chúa cùng ngồi. Tiệc xong, Mạnh Lệ Quân cáo từ thái hậu xin trở về nhà.
Hùng hậu vội vàng tâu với thái hậu rằng:
- Muông tâu thái hậu! Biểu muội đã vào tới đây, con muốn lưu lại ở trong cung chơi bời mấy hôm, trước là để thái hậu vui lòng, sau là để con được tỏ tình thân ái xin thái hậu chuẩn cho.
Thái hậu đang yêu mến Phi Giao quận chúa, không muốn cho về, nghe lời tâu Hùng hậu, liền vui lòng mà chuẩn tấu ngay. Mạnh Lệ Quân không dám chối từ, mới bảo Phi Giao quận chúa ở lại trong cung, rồi cáo từ lui về. Khi về tới vương phủ, Phi Loan quận chúa cùng Triệu Câu, Triệu Lân mừng rỡ ra đón, lại vừa gặp Hoàng Phủ Thiếu Hoa ở trong triều ra, Mạnh Lệ Quân mới thuật chuyện thuốc thang trong một tháng trời cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe.
Mạnh Lệ Quân vương phi lại nói:
- Ngày nay thái hậu mới đi lại trong cung được, trông thấy Phi Giao vào, mừng rỡ không biết dường nào. Vậy hoàng hậu xin tạm giữ Phi Giao ở lại trong cung để được vui lòng thái hậu.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe nói chưa kịp trả lời thì Triệu Câu liền nói:
- Thân mẫu ơi! Con thiết tưởng thân mẫu không nên đễ Phi Giao ở lại trong cung, vì ngày nay thánh thượng đang độ thanh niên, hành ngày vào vấn an thái hậu, há chẳng bất tiện lắm ru! Ta cũng nên lo về sự hiềm nghi ấy. Vả con gái cần phải nghiêm cấm tại chốn thâm khuê, chớ nên cho tự do như thế.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe nói gật đầu, Mạnh Lệ Quân vương phi cười mà bảo rằng:
- Con nói như thế cũng phải lắ. Nhưng ngặt vì thái hậu và hoàng hậu cứ ân cần bảo mãi, chẳng lẽ ta lại chối từ. Vả thái hậu đang trong khi có bệnh, chỉ muốn được người thân thích để chuyện trò, vậy để vài hôm nữa rồi ta sẽ cho người đón nó về.
Phi Loan quận chúa vẫn định mách cho Mạnh Lệ Quân biết tình hình Phi Giao quận chúa hành hung ở nhà, nhưng thấy Triệu Câu đã nói như thế, cho nên lại không nói nữa, đợi khi cha mẹ vắng cả mới đem việc Phi Giao quận chúa tập trận ở trong vường hoa và đánh đập các nữ tỳ nói cho Triệu Câu và Triệu Lân cùng nghe. Triệu Câu nghe nói thở dài mà than rằng:
- Con bé ấy nhiều khi nó nói năng không có khuê phạm nào nữa, thế mà cha mẹ cứ nuông chiều, không lâý làm nghĩ. Đáng lẽ phải nghiêm cấm ở trong gia đình mới phải, ngày nay cho nó vào trong cung, ta chỉ e đó là khởi đầu mối họa vậy. Ngày trước nó bàn việc Võ Tắc Thiên, ta đủ hiểu tâm tính nó.
Triệu Lân cười mà bảo rằng:
- Người ta ở đời, muôn việc chẳng qua cũng bởi trời cả, hà tất ta phải lo xa quá. Vua Thái Tôn há chẳng phải là bậc minh chủ mà không xét đoán được Võ tài nhân ( tức là Võ Tắc Thiên ), Lý Thuần Phong xem hiện tượng đã biết trước là đã có cái tai vạ ấy. Phi Giao không phải là đứa tầm thường, tôi thiết tưởng còn các quan triều thần, cũng hiếm có mặt nào đáng sánh đôi với nó.
Triệu Câu nói:
- Em biết xem tướng à?
Triệu Lân cười mà đáp rằng:
- Em chẳng nói dấu gì anh, nguyên trước Lưu mẫu dạy em cách xem tướng thì em cũng hơi hiểu được một vài.
Mấy anh em trò chuyện hồi lâu rồi ai về phòng nấy. Cách mấy hôm sau, Mạnh Lệ Quân vương phi vào cung, định đem Phi Giao quận chúa về, không ngờ xảy ra có một việc lạ thường. Vua Anh Tôn từ khi trông thấy Phi Giao quận chúa thì bỗng thành ra tương tư, đêm mơ ngày tưởng, chẳng thiết gì ăn uống chi cả. Suốt ngày chỉ âu sầu ngẫm ngĩ, không nói không rằng. Các cung tần mỹ nữ không hề hỏi han đến ai nữa. Mỗi sáng sớm vào vấn an mà gặp mặt Phi Giao quận chúa thì ruột tầm chín khúc, lại bối rối vò tơ.
Một hôm, vua Anh Tôn định vào cung thăm thượng hoàng, bỗng gặp Phi Giao quận chúa. Phi Giao quận chúa liền quì xuống đất, rồi thỏ thẻ tiếng oanh mà tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Thần thiếp là Hoàng Phủ Phi Giao xin kính chúc thánh thượng vạn tuế!
Vua Anh Tôn tười cười mà cầm lấy tay, Phi Giao quận chúa chối từ không dám rồi vừa nói vừa lùi. Khi vua Anh Tôn vào triều kiến thượng hoàng và thái hậu thì thượng hoàng và thái hậu cho ngồi, truyền cung nữ pha trà uống. Thượng hoàng cười mà bảo vua Anh Tôn rằng:
- Phi Giao đánh cờ cũng cao lắm, chẳng khác gì Mạnh Lệ Quân thuở xưa. Sắc ấy tài này, thật là một tay tuyệt phẩm.
Thượng hoàng lại bảo thái hậu rằng:
- Khen cho nhà Hoàng Phủ, trai anh hùng gái thuyền quyên, bao nhiêu tinh túy ở núi sông, tưởng chừng như chung đúc cả vào một nhà ấy.
Thái hậu nghe nói cũng tủm tỉm cười. Vua Anh Tôn tâu với thái hậu rằng:
- Muôn tâu mẫu hậu! Có phải cữu mẫu con mộng thấy xích giao mà sinh biểu muội con đó không?
Thái hậu nói:
- Phải! Cữu mẫu con khi trước mộng thấy con xích giao hóa làm con rồng rồi bay lên trời, bởi vậy mới đặt tên là Phi Giao.
Nói xong, liền ngoảnh nhìn Phi Giao quận chúa thì thấy quận chúa mặt tươi như hoa. Thái hậu ngẫm nghĩ khen thầm. Vua Anh Tôn chú ý nhìn Phi Giao quận chúa không hề chớp mắt.
Bỗng thấy nội giám quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng và thái hậu! Có hoàng hậu vào vấn an.
Thượng hoàng truyền cho vào, Hùng hậu rón rén bước vào, làm lễ vấn an rồi đứng ở bên cạnh giường. Phi Giao quận chúa cũng làm lễ triều kiến Hùng hậu. Hùng hậu đỡ dậy, rồi cười mà bảo rằng:
- Chị miễn lễ cho em.
Thượng hoàng cũng cười mà bảo vua Anh Tôn rằng:
- Chúng ta lui ra, để nhường cho bọn nữ lưu nói chuyện.
Nói xong, liền đứng dậy lui ra. Vua anh Tôn cũng lui theo ra, đưa thượng hoàng về cung, rồi vào ngồi tại Bảo Hòa điện. Nội giám dâng ngự thiện, vua Anh Tôn lấy tay gạt đi không ăn. Một mình ngẫm nghĩ, luống những âu sầu, chỉ thỏ dài mà không nói câu gì cả. Trong nội giám có một người tên gọi Mã Thuận, nguyên là đứa gian hiểm. Mã Thuận trông thấy vua Anh Tôn có vẻ âu sầu, liền quì xuống mà tâu rằng:
- Muông tâu bệ hạ! Ngày nay thái hậu đã bình phục như thường, đánh lẽ bệ hạ nên lấy làm mừng rỡ mới phải, cớ sao lại có sắc không vui mà bỏ cả ngự thiện. Hay là có điều gì chưa vừa ý thì bệ hạ chỉ thị cho kẻ hạ thần được biết.
Vua Anh Tôn ngoảnh nhìn bốn mặt vắng vẻ không ai, mới thở dài mà bảo Mã Thuận rằng:
- Nhà ngươi ở trong cung, hẳn đã biết tính trẫm. Trong mấy hôm nay trẫm có một việc đau lòng, nhà ngươi có biết không?
Mã Thuận tâu rằng:
- Muông tâu bệ hạ! Hay là hoàng hậu chậm chưa có hoàng tử?
Vua Anh Tôn nói:
- Không phải!
Mã Thuận lại tâu rằng:
- Hay là tại quốc chính bề bộn,bệ hạ phải khó nhọc về việc xử đoán.
Vua Anh Tôn nói:
- Quốc chính bề bộn đã có Lương thừa tướng, Mạnh thừa tướng và Hoàng Phủ quốc cữu xử đoán, trẫm có khó nhọc gì.
Mã Thuận lại tâu rằng:
- Thế thì kẻ hạ thần đoán ra rồi, chắc là tại trong sáu cung biết bao nhiêu là mỹ nữ, mà xe dê ít khi được dạo chơi.
Vua Anh Tôn lại thở dài mà phán rằng:
- Cũng không phải! Chánh cung hoàng hậu vốn là người hiền thục, vẫn thuờng khuyên trẫm đi dạo chơi các cung.
Mã Thuận lạy rập đầu mà tâu rằng:
- Muông tâu bệ hạ! Vậy thì xin bệ hạ chỉ thị cho kẻ hạ thần được biết.
Bấy giờ vua Anh Tôn lại thở dài một tiếng mà rằng:
- Trẫm kết duyên cùng hoàng hậu từ năm mười lăm tuổi, bấy lâu vẫn một lòng thân ái. Trẫm tưởng nhan sắc của hoàng hậu đã vào bậc tuyệt vời, cho nên không hề nghĩ ngợi đến ai nữa. Ngờ đâu mới rồi trẫm trông thấy Phi Giao quận chúa, thật là một bậc đắm nguyệt ngây hoa, chim sa cá lặn. Chẳng những trong sáu cung không ai sánh kịp, mà trẫm thiết tưởng thần tiên trên trời cũng đến mỹ lệ như thế là cùng. Bởi vậy trẫm sinh tình luyến ái mà thành ra tơ lòng bối rối khó gỡ đó.
Mã Thuận quì xuống mà tâu rằng:
- Muông tâu bệ hạ! Nếu vậy thì quận chúa vào cung, phong làm quí phi, thiết tưởng cũng là một bậc tông quý chứ sao!
Vua Anh Tôn lắc đầu mà rằng:
- Không được! Quý phi cũng chẳng khác gì cung tần, nay phong Phi Giao quận chúa làm quý phi tất thái hậu không bằng lòng. Vả trẫm biết nói vì lẽ gì mà nạp vào cung cho được, bởi vậy trẫm còn ngần ngại chưa dám ngỏ ý. Mã Thuận ơi! Nhà ngươi nghĩ kế gì để thành toàn được việc này thì trẫm sẽ trọng thưởng và thăng quan tiến chức cho, trẫm quyết không sai lời vậy.
Mã Thuận nghe lời chỉ phán, liền cúi đầu mà ngẫm nghĩ hồi lâu, hớn hở tâu rằng:
- Muông tâu bệ hạ! Bây giờ bệ hạ muốn nạp Phi Giao quận chúa vào cung thì chỉ có một cách để cho hoàng hậu tâu trình thượng hoàng và thái hậu, nói là vì cớ chậm đường sinh nở, muốn tuyển thêm hiền phi vào cung. Danh phận dẫu chia ra đích thứ khác nhau, nhưng nghi tiết cũng xin theo như một, thế thì tất thái hậu bằng lòng, mà Tương vương cùng Mạnh vương phi cũng không thể nói sao được nữa.
Vua Anh Tôn nói:
- Kế ấy dẫu diệu, nhưng bây giờ ai nói với hoàng hậu cho được. Hoàng hậu vốn là người hiền thục, trẫm chắc rằng nếu có ai nói thì thế nào hoàng hậu cũng ưng thuận ngay.
Mã Thuận tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Kẻ hạ thần xin nói mà chắc rằng mười phần cũng êm được đến chín phần.
Nói xong lạy tạ vua Anh Tôn rồi đi sang Chiêu Dương cung để bái yết Hùng hậu. Bấy giờ Hùng hậu đang ngồi xem quyển kinh Thi, thấy trong sách chép chuyện đời Chu Văn vương có bà hậu phi hiền thục, không hề ghen tuông, cho nên được lắm con nhiều cháu, Hùng hậu rát lâấ làm kính phục và lại có ý ước ao. Bỗng thấy cung nữ quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Có nội giám Mã Thuận xin vào bái yết.
Hùng hậu truyền cho vào. Khi Mã Thuận vào tới nơi, Hùng hậu hỏi rằng:
- Mã Thuận! Nhà ngươi đến có việc chi đó? Bây giờ thánh thượng ngự ở cung nào, đã dùng ngự thiện chưa?
Mã Thuận sụp lại mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Trong mấy ngày nay thánh thượng có ý không vui. Ngự thiện dâng lên, ngài không hề động đến. Kẻ hạ thần thấy vậy có lời khuyên giải thì ngài than thở phàn nàn về nỗi trong sáu cung hiếm muộn, chưa được hoàng nam. Ngài muốn giáng chỉ trong thiên hạ, tuyển thêm mỹ nữ vào cung, nhưng lại sợ trái ý hoàng hậu. Vì thế kẻ hạ thần xin tâu riêng để hoàng hậu biết. Kẻ hạ thần thiết nghĩ ngày nay tuyển mỹ nữ vào cung thì sóng tình lai láng, bể ái đầy vơi, hoàng hậu cũng thêm bề khó xử.
Hùng hậu nói:
- Nhà ngươi nói dẫu phải, nhưng bây giờ biết dùng kế gì?
Mã Thuận lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu, kẻ hạ thần này không dám nói.
Hùng hậu hỏi:
- Cớ sao nhà ngươi lại không dám nói.
Mã Thuận tâu rằng:
Muôn tâu hoàng hậu! Kẻ hạ thần một lòng trung thành vì hoàng hậu nghĩ kế, nhưng tâu kế này chỉ sợ hoàng hậu lại bắt tội kẻ hạ thần mà thôi.
Hùng hậu nói:
- Mã Thuận! Nhà ngươi cứ nói, ta quyết không bắt tội.
Mã Thuận lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Trừ khi Phi Giao quận chúa vào cung, lệnh bà thái hậu trông thấy, cũng vui lòng mà chóng được khang kiện. Thái hậu yêu Phi Giao quận chúa chẳng khác gì các vị công chúa, lại thường khen tài mạo của quận chúa có phần sắc sảo hơn hoàng hậu. Vậy chi bằng hoàng hậu xin tuyển Phi Giao quận chúa vào cung một là được lòng thượng hoàng và thái hậu, hai là việc ấy thành ra tự ý hoàng hậu khởi xướng ra, ba là tình liên lạc của họ Hùng và họ Hoàng Phủ sau này lại càng thêm bền chắt. Chắc rằng Phi Giao quận chúa phải suy nghĩ mà không dám quên ơn của hoàng hậu. Kẻ hạ thần liều chết tâu bày việc ấy, xin hoàng hậu nên quyết đoán mà thi hành.
Hoàng hậu mừng rỡ mà phán rằng:
- Nhà ngươi nói rất phải! Nhưng chẳng lẽ ta lại dám tâu thái hậu xin lập Phi Giao quận chúa là quý phi hay sao?
Mã Thuận tâu rằng:
- Khó chi điều ấy! Đời trước cũng có khi lập tả hoàng hậu và hữu hoàng hậu, lại viện lệ ấy mà tâu xin thái hậu thì chẳng những thái hậu được vui lòng mà khắp các thần dân trong bốn bể, ai cũng phải ca tụng hiền đức của hoàng hậu vậy.
Hùng hậu nghe nói gật đầu mà rằng:
- Ừ ! Để sáng mai ta sẽ tâu với thượng hoàng và thái hậu.
Sáng hôm sau, Hùng hậu vào Võ Thái cung triều kiến thái hậu, gặp bấy giờ Phi Giao quận chúa đi sang cung khác, Hùng hậu liền tâu với thái hậu rằng:
- Muôn tâu thái hậu con được đẹp duyên cùng thánh thượng đã bốn năm nay mà chưa thấy sinh hạ hoàng nam, trong lòng con thật lấy làm áy náy. Nay con muốn tuyển thêm mỹ nữ vào cung thì thánh thượng lại không ưng thuận, vậy ý con trộm nghĩ có một việc này muốn xin thái hậu rủ lòng thương mà thành toàn cho.
Thái hậu khen rằng:
- Con thật là một người hiền đức! Con định xin việc gì? Nếu con muốn bắt chước như là hậu phi nhà Chu thuở xưa thì ta há lại chẳng mong có cảnh ngậm kẹo bỡn cháu hay sao! Con cứ nói cho ta nghe.
Hùng hậu tâu rằng:
- Con không muốn điều gì, chỉ muốn xin đem biểu muội vào cung để theo lệ như Nga Hoàng và Nữ Anh (3) thuở xưa mà cùng thờ một vị minh chủ vậy.
Thái hậu nói:
- Như thế sao được! Từ xưa đến nay chưa thấy có lập hai hoàng hậu bao giờ. Vả năm nay con còn trẻ tuổi, trong sáu cung cũng chẳng thiếu chi người, có lẻ nào lại không sinh nở hay sao, hà tất con phải vội vàng như thế.
Hùng hậu nói:
- Con cũng biết rằng đang độ xuân xanh, đã lo chi hiếm đường sinh nở. Nhưng sang năm đến kỳ “Vạn thọ” của thượng hoàng, nếu có sinh được hoàng nam thì cũng là một sự may cho thiên hạ thần dân vậy. Vả đời trước cũng có khi lập tả hoàng hậu và hữu hoàng hậu, xin thái hậu thành toàn cho.
Thái hậu nghe nói ngẫm nghĩ hồi lậu, rồi phán rằng:
- Con biết nghĩ như thế, thật là một người hiền đức ít có! Nhưng chỉ sợ các quan đại thần lại cố can ngăn thì việc này khó thi hành được. Phi Giao quận chúa dẫu nhan sắc vẫn xinh đẹp, nhưng ta trông nó có vẻ uy nghiêm khác với mọi người. Nó lại là chỗ tình cốt nhục với ta, nếu sau này có điều gì, ta càng thêm khó xử. Con nên nghĩ đi nghĩ lại cho kỹ, chớ vội vàng mà sinh hối hận về sau.
Hùng hậu nói:
- Muôn tâu thái hậu! Xin thái hậu cứ yên lòng, con quyết không hối hận.
Hùng hậu cáo từ về cung để định làm biểu tâu thượng hoàng. Thái hậu nghĩ thầm: “Từ khi Phi Giao vào tới đây, thiên tử liếc trông, vẫn có ý thầm yêu trộm nhớ, hoàng hậu biết tình, cho nên thừa cơ mà tâu xin như vậy. Việc này ta khó nghĩ quá, không biết nên làm thế nào. Đã đành rằng điệt nữ ta đẹp duyên với thiên tử là tôn quý thật, nhưng bao giờ cũng phận thứ phòng. Nếu theo như lời hoàng hậu xin mà lập hai hoàng hậu, lại e rối loạn cương thường. Vả nghĩa tỷ (4) ta có ơn to với ta, nay đã lập con gái lên làm hoàng hậu thì nỡ nào lại khiến cho có sự ngang trái. Thôi, âu là ta phải đem việc này bàn với thượng hoàng.” Thái hậu đang ngẫm nghĩ thì bỗng thấy thượng hoàng đến, lại có cả Ôn phi và Mai phi đi theo. Thượng hoàng tươi cười mà bảo với thái hậu rằng:
- Thái hậu ngày nay đã được bình phục như thường, ta lấy làm mừng lắm.
Nói xong liền cầm lấy tay thái hậu rồi ngồi xuống sập rồng. Ôn phi và Mai phi cũng ngồi ở bên cạnh. Cung nũ dâng trà uống. Thái hậu hỏi:
- Phi Giao quận chúa đâu?
Mai phi nói:
- Đang đánh đầu hồ với Gia Tường công chúa.
Thái hậu mới thuật hết những lời hùng hậu tâu xin cho thượng hoàng nghe. Thượng hoàng nghe nói, mừng rỡ mà phán rằng:
- Nếu vậy thì hoàng hậu thật là một người hiền thục đáng khen! Cổ lai mới có một! Chẳng qua cũng bởi phúc đức của liệt thánh tiền triều để lại, mà ngày nay trong cung có được một bà hoàng hậu chẳng kém gì phong hóa của hậu phi đời Chu Văn vương. Thái hậu ơi! Ta nói câu này, thái hậu hãy tha lỗi cho ta, chứ thái hậu cũng còn kém một vài phần vậy. Xem như việc Mạnh Lệ Quân thuở trước, thái hậu đã vội ghép cho ta tội tư tà. Máu ghen đâu có lạ đời, khiến cho ta khi nào nghĩ đến, trong lòng vẫn còn áy náy.
Thái hậu nghe lời cả cười mà không nói câu gì. Ôn phi cũng cười rồi tâu với thượng hoàng rằng:
- Mạnh Lệ Quân nguyên là quốc cữu phu nhân, nếu ngày ấy thượng hoàng có lòng tư tà thì quân đạo sao giữ được chính, bởi vậy mà thái hậu phải can gián, không muốn để cho thượng hoàng mang tiếng về sau. Giả sử có lòng ghen thì bọn chúng tôi hầu hạ trong hai mươi năm trời, sao được đội ơn đằm thắm vậy.
Mai phi cũng cười mà tâu rằng:
- Thượng hoàng thật là hay nhớ chuyện cũ, nhưng bọn chúng tôi nếu không được thái hậu rộng ơn che trùm thì trong chốn cung vi, sao được cảnh tượng êm đềm như thế này?
Thượng hoàng cả cười mà phán rằng:
- Khéo thay! Thái hậu lại được hai người rả phù hữu bật thì tài nào mà không khiến cho ta phải bó tay nghe lệnh vậy.
Thái hậu cũng cười mà rằng:
- Câu chuyện mua vui ấy thư phàn sẽ nói, bây giờ hãy sin thượng hoàng đem việc Phi Giao quận chúa mà hỏi ý quốc cựu và Bình Giang Vương xem sao.
Thượng hoàng phán rằng:
- Việc ấy rất dễ! Điệt nữ hiện đang chưa hứa gả, có lẽ nào lại chối từ. ngày nay hãy cho người đưa Phi Giao quận chúa về, rồi sau sẽ giáng chỉ hỏi ý quốc cữu.
Một hôm vua Anh Tôn ra ngự triều, có chiếu chỉ của thượng hoàng tuyên cáo việc lập Phi Giao quận chúa làm hoàng hậu. Các quan văn võ trong triều đều ngẩn mặt nhìn nhau, không ai dám nói câu gì. Hoàng Phủ Thiếu Hoa vội quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Con gái kẻ hạ thần tuổi còn ngây dại dung công ngôn hạnh còn nhiều điều khuyết liệt, có đâu đã xứng đáng với địa vị chí tôn. Vả lập hai hoàng hậu thì thiết tưởng xưa nay không có lệ ấy. Huống chi một nhà kẻ hạ thần, mông ơn vũ lộ, tưởng đã đầm thắm quá thịnh, kẻ hạ thần tự nghĩ vẫn lấy làm làm sợ. Thế thì chẳng những lập làm hoàng hậu, giả sử phong làm quý phi, kẻ hạ thần cũng không dám vâng mệnh. Cúi xin bệ hạ rộng ơn mà tâu lại với thượng hoàng cho, để bảo toàn phúc trạch cho một nhà kẻ hạ thần vậy.
Tâu xong phủ phục ở trước sân rồng. Bấy giờ bọn Mạnh Gia Linh, Lương Trấn Lân và Doãn Thượng Khanh đồng thanh mà tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Thần đẳng thiết tưởng việc ấy rất không nên, vì cổ lai chưa thấy có lệ lập hai hoàng hậu bao giờ.
Vua Anh Tôn phán rằng:
- Việc này là tự ý hoàng hậu tâu xin, rồi thượng hoàng và thái hậu ưng chuẩn, quyết định thi hành, trẫm cũng đã cố can mà không được.
Mạnh Gia Linh tâu rằng:
- Thượng hoàng và thái hậu giáng chỉ phong cho Hoàng Phủ Phi Giao làm quý phi thì còn khả dĩ, chứ quyết không nên lập hai hoàng hậu.
Doãn Thượng Khanh tâu rằng:
- Bệ hạ nghĩ tình thân của thái hậu và công to của Tương vương thì không nên lập Phi Giao quận chúa làm hoàng hậu, nghĩa là để bảo toàn phúc trạch cho nhả Hoàng phủ vậy.
Vua Anh Tôn không bằng lòng mà phán rằng:
- Việc này không phải tự ý trẫm. Nếu các ngươi không cho là phả thì nên cùng nhau làm một bản tấu để dâng thượng hoàng.
Vua Anh Tôn nói chưa dứt lời thì bỗng thấy có một viên triều thần chạy ra quì tâu. Viên triều thần ấy cũng về dòng tôn thất, họ Đồ Man tên Hưng Phục, hiện đang làm chức ngự sử, vốn tính quỷ quyệt, vẫn muốn cầu làm chức đại thần, nhưng bọn Lương thừa tướng ghét là người mưu tiến hiếu lợi, vậy nên không chịu thăng thiên cho. Đồ Man Hưng Phục lĩnh chức ngự sử trong mười mấy năm trời nhưng không hề dám khai khẩu tâu một việc gì cả. Bởi hắn thấy vua Thành Tôn khi trước tin dùng bọn Lương thừa tướng, dẫu có sàm báng cũng không có ích gì. Nay thấy vua Anh Tôn có ý không bằng lòng. Vả hắn lại thông giao với bọn nội giám là Mã Thuận hơi biết câu chuyện trong cung, vậy mới quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! kẻ hạ thần là Đồ Man Hưng Phục lĩnh chức giám sát ngự sử, xin cúi đầu để thánh thượng xét. Thượng hoàng đã giáng chỉ như vậy mà triều thần lại không vâng mệnh nghĩa là thế nào. Lập hai hoàng hậu dẫu có trái lẽ thật, nhưng chánh cung hoàng hậu ngày nay vốn là một bậc hiền đức đáng kính phục. Đạo thần tử nên phải để tiếng tốt cho vua, nay lập hai hoàng hậu thì nghìn năm về sau chánh cung hoàng hậu vẫn được tiếng thơm như bà hậu phi đời Chu. Các quan triều thần không thể tất ý tốt ấy mà lại câu nệ, cố giữ lệ thường, cũng đáng nực cười vậy. Xin bệ hạ cứ truyền cho lễ bộ quan phụng chỉ thi hành.
Lương Trấn Lân nghe lời tâu, nổi giận mà rằng:
- Đồ Man Hưng Phục! Nhà ngươi định làm cho thánh thượng để tiếng bát chính về sau hay sao! Có lẽ nào lại lập hai hoàng hậu?
Đồ Man Hưng Phục cười mà đáp rằng:
- Lương thừa tướng! Ngài câu nệ quá! Việc này chẳng những chánh cung hoàng hậu nổi tiếng là người hiền thục mà thôi, cả đến thánh thượng cũng được danh thơm muôn thuở, vì phong hóa ở chốn cung vi, đáng làm khuôn phép cho đời sau. Sao ngài lại bảo rằng bất chính?
Doãn Thượng Khanh nghe nói cũng nổi giận mà rằng:
- Đồ Man Hưng Phục! Nhà ngươi chớ đem những cách xảo ngôn mà làm mê hoặc thánh thượng. Việc này không phải tự ý thượng hoàng, chẳng qua vì chánh cung hoàng hậu yêu mến Phi Giao quận chúa mà tâu xin như thế. Thượng hoàng không nỡ trái ý, cho nên giáng chỉ để hỏi các quan triều thần, còn việc nên thi hành hay không thì tuỳ ý các quan đại thần xét đoán. Chúng ta là phận thần tử, nên phải một lòng trung trực, lấy lễ pháp mà khuyên ngăn, cớ sao nhà ngươi lại dùng cách ô mị gian hiểm như thế.
Doãn Thượng Khanh lại quì xuống tâu vua Anh Tôn rằng:
- Xin thánh thượng truất bỏ kẻ tiểu nhân ấy đi, khiến cho triều đình được trong sạch.
Đồ Man Hưng Phục nói:
- Doãn thừa tướng ơi! Tôi dẫu ngu hèn cũng là chi phái trong hoàng tộc, mà trước mặt thánh thượng đây, sao ngài dám chỉ trích nói càn.
Đồ Man Hưng Phục cũng quì xuống tâu với vua Anh Tôn:
- Doan thừa tướng muốn mua danh trung trực mà để tiếng xấu cho hai cung, tức là tội đại nghịch bất đạo. Kẻ hạ thần thiết tưởng nhà họ Doãn mấy đời chịu ơn triều đình mà nay dám khi mạn thánh thượng như thế. Trên trái lệnh thượng hoàng và thái hậu, dưới ẩn đức hiền thục của chánh cung, ngày nay thánh thượng không truất bỏ Doãn thừa tướng thì quốc pháp chẳng còn ra thế nào.
Vua Anh Tôn dẫu ngoài miệng không nói, nhưng mặt rồng cũng hơi có ý không vui. Bỗng thấy ngự sử là Nguyễn Long Quang quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Lời tâu của Lương thừa tướng thật là trung trực, xin bệ hạ nên để tai nghe. Nhưng kẻ hạ thần thiết tưởng việc này cũng tốt cho nhà Hoàng Phủ, từng chịu ơn triều đình rất to, dẫu dâng con gái vào làm cung phi, cũng là đáng lễ. Có vì cớ thân tình với thái hậu thì nghi tiết long trọng, chứ không nên để ngang hàng với chánh cung. Kẻ hạ thần tâu như thế thì không đến nỗi trái lệnh thượng hoàng xin bệ hạ lượng xét phê chuẩn.
Vua Anh Tôn nghe lời tau, cúi đầu ngẫm nghĩ. Đồ Man Hưng Phục lại thừa cơ mà tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Việc này đã khó quyết định thì xin bệ hạ phán hỏi Hùng quốc trượng, rồi theo ý quốc trượng mà thi hành.
Vua Anh Tôn gật đầu, truyền chỉ gọi Hùng quốc trượng. Hùng quốc trượng vâng mệnh bước ra, vua Anh Tôn có có hổ thẹn mà phán rằng:
- Việc này thực là thượng hoàng theo lời tâu xin của hoàng hậu, nay các quan triều đình cứ cố tình can ngăn, khiến cho trẫm không biết quyết đoán thế nào, vậy xin hỏi ý quốc trượng.
Hùng Hiệu nghe lời chỉ phán liền quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Thượng hoàng và thái hậu đã giánh chỉ thì kẻ hạ thần dám chẳng tuân theo. Vả đời xưa Nga Hòang Nữ Anh hai người cùng thờ một vị minh chủ, phỏng có hề chi. Huống chi kẻ hạ thần cùng nhà Hoàng Phủ, tình thân như thể tay chân thì dẫu lập hai hoàng hậu, tất cũng không tranh cạnh chút nào. Còn các quan đại thần can ngăn việc này, cũng vì một lòng trung thành vì vua vì nước, Đồ Man Hưng Phục há nên đem lời sàm báng mà chỉ trích các bậc nguyên huân. Kẻ hạ thần xin chúc thánh thượng vạn tuế!
Vua Anh Tôn mừng rỡ mà phán rằng:
- Quốc trượng thật là bậc hiền phụ, cho nên sinh được hoàng hậu cũng có đức hiền thục ấy. Thôi việc này các quan đại thần bất tất phải tâu bày nữa, mà Đồ Man Hưng Phục trẫm cũng tha lỗi cho.
Vua Anh Tôn lại truyền chỉ cho Khâm Thiên giám chọn ngày để lập Phi Giao quận chúa làm hoàng hậu. Khi bãi triều lui ra, các quan đại thần đều có ý không bằng lòng, nhất là Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại càng âu sầu buồn bã, cầm lấy tay Hùng Hiệu, rồi oán trách rằng:
- Sao hiền huynh lại tâu như thế, khiến cho ngu đệ không còn biết nói thế nào.
Hùng Hiệu khuyên giải mà rằng:
- Hiền đệ ơi! Bọn nhi nữ trẻ tuổi còn có lòng yêu mến lẫn nhau, huống chi giao tình của hai ta, bấy lâu thân mật, không nên vì việc này mà tranh biện ở chốn triều đường. Chi bằng ta thừa ý thánh thượng mà thành toàn việc này, để khiến cho trong ngoài khỏi thêm dị nghị.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nín lặng. Khi về tới vương phủ, thuật chuyện cho Mạnh Lệ Quân nghe và bảo rằng:
- Nhà ta phúc trạch quá thịnh, ta thường lấy làm lo. Không ngờ ngày nay lại thêm một sự hiển quý. Thánh ân to như trời bể, tình khuyển mã thật khó nỗi báo đền.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại bảo Phi Giao quận chúa rằng:
- Đó chẳng qua cũng là duyên số của con, nhưng chắc chắn hoàng hậu đã có lòng tử tế như thế thì con cũng phải nên học đức hiền thục của cô nương (5) con, để giữ cho trọn danh thơm muôn thuở vậy.
Phi Giao quận chúa nghe nói, nét mặt đỏ bừng, cúi đầu ngẫm nghĩ, luống những mừng thầm:
“Ngày nay quả nhiên thân này được gần gũi quân vương. Bấy lâu nay ta vẫn hâm mộ danh tiếng Võ Tắc Thiên, ngờ đâu bây giờ cờ đã đến tay vậy”. Mạnh Lệ Quân cũng ngẩn người ra mà nghĩ thầm:
“ Nếu như vậy thì tướng pháp của Lưu phu nhân thật là thần diệu. Con gái ta vốn tính cương cường vị tất theo được đức hiền thục như thái hậu”.
Mạnh Lệ Quân vương phi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói với Hoàng Phủ Thiếu Hoa rằng:
- Phu quân ơi! Sau khi tôi vào cung đem Phi Giao ra, không thấy thái hậu tỏ ý chi cả, thế thì việc này không biết có phải tự ý thượng hoàng và thái hậu hay không?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Việc này nguyên tự ý hoàng hậu, thái hậu không muốn để cho Phi Giao phải làm thứ cung, vậy nên mới tâu xin lập hai hoàng hậu.
Triệu Câu nói:
- Nếu thân phụ nhất định từ chối thì tất thánh thượng cũng phải bãi nghị.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Các quan đại thần cố tình can ngăn, mà thánh thượng còn không nghe, thế thì bảo ta từ chối làm sao cho được.
Triệu Câu nói:
- Kính trình hai thân! Không phải con đây dám cả gan nói bậy đâu. Thân phụ tài kiêm văn võ, thân mẫu học quán thiện nhân, há lại không biết rằng tự cổ đến nay, những họ ngoại thích mà phúc trạch quá thịnh, có mấy nhà được an toàn đâu. Nhà ta đây, cô làm thái hậu, cháu làm phò mã, ba đơì phong vương, thật là cổ lai ít có. Thân phụ chịu ơn triều đình to lắm, chưa có thể thoát vị được, cớ sao lại còn tiến con gái vào làm cung phi. Tiến lam cung phà còn không nên, huống chi lại lập hai hoàng hậu thì thật là một sự dị kỳ quá. Con thiết tưởng thân phụ nghĩ lầm, chứ quyết không nên tiến em con vào cung vậy.
Mạnh Lệ Quân nghe nói bảo Triệu Câu rằng:
- Triệu Câu con ơi! Người ta ở đời, dẫu từ miếng ăn hớp uống, cũng có tiền định, huống chi là việc nhân duyên. Thôi, việc đã xảy ra dường này, thân phụ con cũng không thể nói sao cho được.
Khi Phi Giao quận chúa lui ra, Mạnh Lệ Quân lại bảo Triệu Câu rằng:
- Con bất tất phải lo phiền và oán trách cha mẹ. Muôn sự chẳng qua cũng bởi tại trời. Hôm trước Lưu mẫu lâm hành, đã từng bảo ta là Phi Giao sau này sẽ làm hoàng hậu, xem thế thì số mệnh quả nhiên đã có tiền định, con chớ nên lấy làm lạ.
Triệu Câu đem việc Phi Giao quận chúa tinh nghịch trong một tháng trời những thế nào thuật hết cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe.
Mạnh Lệ Quân vương phi bảo rằng:
- Bây giờ nói cũng vô ích, chi bằng ta nên tùy cơ ứng biến.
Bấy giờ tới bữa ăn cơm. Khi ăn xong Triẹu Câu và Triệu Lân cùng nhau sanh Thụy Chi hiên nói chuyện. Triệu Lân nói:
- Anh chớ lo phiền! Lòng trời đã định, sức người không thể trái lại được. Giả sử nước nhà xó sự gì bất hạnh thì hai anh em ta đành phải tận trung báo quốc chứ sao. Ngày nay anh cũng chớ nên nóng nảy mà vội nói làm chi, khiến cho người ngoài thêm nghị luận.
Hai anh em Triệu Câu đang chuyện trò cùng nhau thì bỗng thấy có chiếu chỉ của thượng hoàng ban đến, lập Phi Giao quận chúa làm hoàng hậu.

Vua Anh Tôn phụng mệnh thượng hoàng và thái hậu sách lập Hùng hậu làm tả hoàng hậu, còn Phi Giao quận chúa làm hữu hoàng hậu.
Phi Giao hoàng hậu vào đến trong cung, một lòng nhu thuận, đối với kẻ dưới, lại có lượng khoan dung, và thưởng tứ rất phong hậu. Mọi người trong cung ai cũng ca tụng đức tính Phi Giao hoàng hậu rất vui vẻ dễ dàng, không như Hùng hậu ít nói ít cười. Phi Giao hoàng hậu đối với Hùng hậu lại càng một lòng tôn kính, biết giữ lễ phép , không dám đi cùng xe và ngồi cùng chiếu bao giờ. Thượng hoàng và thái hậu thấy vậy cũng được vui lòng.
Vua Anh Tôn từ khi được Phi Giao hoàng hậu vào cung, tình đằm thắm ấy kể sao cho xiết. Cách ba hôm sau, Vệ Dũng Nga vương phi và Mạnh Lệ Quân vương phi cùng vào cung để chúc mừng hai hoàng hậu. Hai người trông thấy Phi Giao hoàng hậu biết giữ lễ phép, cũng đều mừng lòng tự nghĩ hai hoàng hậu sau này cư xử với nhau, chắc được thủy chung như nhất. Hai người lại vào nam nội triều kiến thái hậu.
Vệ Dũng Nga tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu!Thần thiếp đã lâu không vào triều kiến, vẫn có lòng khát vọng, ngặt vì cung vi là nơi cấm địa, nên không dám sổ sàng. Mới đây trộm nghe ngọc thể khang cường, mừng rỡ xiết bao, thật là hạnh phúc cho nước. Còn như việc lập hai hoàng hậu thì trên nhờ ơn che trùm của thái hậu, dưới nhờ tình thân mật của Tương vương, con gái thần thiếp cũng được bội phần vinh dự vậy.
Thái hậu nói:
- Sao chị lại nói như thế! Năm xưa tôi tôi là thân mẫu tôi khi ở tù xa, nếu không có chịu cứu cho thì còn đâu đến ngày nay. Vả lại chị chiêu tập binh mã, đi cứu được thân phụ tôi về triều, ơn ấy kể sao cho xiết. Về sau chị kết duyên với một vị vương tước, tôi vào chốn hoàng cung dẫu rằng xa cách hai nơi, nhưng vẫn coi nhau như một. Vì nghĩa nặng ơn sâu ấy mà tôi xin lập lệnh ái làm hoàng hậu để cho được thêm thân. May sao lệnh ái lại có đức hiền thục, không hề ghen tuông, thượng hoàng và tôi lấy làm mừng rỡ. Khi Phi Giao vào đây, lệnh ái trông thấy, đem lòng quyến luyến, mới tâu thượng hoàng xin lập hai hoàng hậu, để muốn theo đòi như Nga Hoàng và Nữ Anh thuở xưa. Tôi cũng đã khuyên lệnh ái nên nghĩ cho kỹ, nhưng lệnh ái một lòng cố xin. Vậy hai hoàng hậu đã có tình yêu mến thì chị cũng chớ nghĩ ngợi chi điều ấy.
Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Tiện nữ Phi Giao bỗn phận liễu bồ, dung công ngôn hạnh còn nhiều điều khuyết điểm, dẫu cho vào hàng cung phi cũng chưa xứng đáng, huống chi nay lại ngự ngôi Chiêu dương. Tôi thiết tưởng Hùng quốc trượng không nên ưng thuận chỉ lập hai hoàng hậu mà khiến cho vợ chồng nhà tôi phải mang tiếng với đời.
Vệ Dũng Nga vương phi cười mà đáp rằng:
- Có bề chi điều đó! Con gái tôi cũng tức là con gái vương phi, hà tất lại phảii phân biệt. Vả thái hậu là bậc “Mẫu nghi thiên hạ” mà Tương vương là hàng quốc cữu, chẳng lẽ lại phong Phi Giao làm quý phi, thế thì tiện nữ xin tâu như vậy thật đã trọn cả đôi đường vậy.
Thái hậu truyền cung nữ bày tiệc, mời hai vị vương phi cùng ngồi lại cho hai hoàng hậu ngồi hầu. Phi Giao hoàng hậu chối từ, nhất định không dám ngồi ngang Hùng hậu. Vệ Dũng Nga cười mà bảo rằng:
- Cứ ngồi là phải! Có thế mới tỏ tình yêu mến lẫn nhau. Hai chị em cùng ngôi hoàng hậu thật là ít có!
Phi Giao hoàng hậu bảo cung nữ để dịch ghế ra một bên, mới dám vào ngồi. Cung nữ rót rượu. Vừa uống được ba tuần rượu thì có nội giám vào tâu với Phi Giao hoàng hậu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Thánh giá ngự đến Khôn Phúc cung, xin mời hoàng hậu về nghênh tiếp.
Hùng hậu liền bảo rằng:
- Thôi, em nên cáo từ đứng dậy rồi về nghênh tiếp thánh thượng.
Phi Giao hoàng hậu cáo từ đứng dậy, mặc hoa hớn hở, mày liễu nỡ nang, vội vàng lui về Khôn Phúc cung để nghênh tiếp thánh giá. Khi Phi Giao hoàng hậu lui ra, Vệ Dũng Nga đưa mắt nhìn theo, thấy vẻ khuynh thành ấy, trong lòng cũng lấy làm ngẫm nghĩ. Tiệc xong, Hùng hậu lại mời Vệ Dũng Nga về cung để hai mẹ con nói chuyện riêng. Hùng hậu liền đem những lời Mã Thuận nói hết đầu đuôi cho thân mẫu nghe. Vệ Dũng Nga nghe nói, biết là thánh thượng đã mật mưu với Mã Thuận, nhưng không nói gì, cùng Mạnh Lệ Quân đều ra về.
Khi về tới nhà, Vệ Dũng Nga thuật chuyện trong cung cho Hùng Hiệu nghe và bảo rằng:
- Hai hoàng hậu ngày nay cư xử với nhau rất tử tế, nhưng tôi liếc nhìn Phi Giao hoàng hậu thì nhan sắc xinh đẹp, đã nên một bậc nghiêng nước nghiênh thành. Phu quân ơi! Tôi dám chắc rằng ơn vũ lộ của cửu trùng đối với tân hoàng hậu sẽ bội phần âu yếm. Chi bằng ta bảo con gái ta nhường ngôi Chiêu dương đi, hà tất phải lập tả hoàng hậu và hữu hoàng hậu. Có như vậy thì may ra nhà ta mới bảo toàn được phúc trạch, mà con gái ta cũng lưu đước tiếng thơm hiền thục về mai sau.
Hùng Hiệu chưa kịp trả lời thì Hùng Khởi Phượng đứng dậy mà thưa rằng:
- Thân mẫu ơi! Chỉ có thượng hoàng nhường truyền ngôi cho thánh thượng được, chứ hoàng hậu mà nhưởng ngop6i Chiêu Dương thì thật con chưa hề nghe nói bao giờ. Con thiết tưởng cái gì còn có thể nhường được, đến như danh vị thì quyết không nên nhường. Nếu em con nhường ngôi Chiêu Dương thì tự xử vào ngôi vị nào, há chẳng để làm trò cười cho thiên hạ.
Hùng Hiệu nghe nói, liền gật đầu mà bảo rằng:
- Con nói rất phải! Nhưng ta cùng nhà Hoàng Phủ là chỗ bạn chí thân, Phi Giao há lại không nghĩ đến tình cũ. Huống chi chính sự trong nước đã có các quan triều thần xử đoán, ta không dự chi đến tất cũng chẳng lo cái họa ngoại thích về sau. Con gái ta đã được làm hoàng hậu thì số mệnh chẳng qua bởi trời, can chi ta phải bàn đi tính lại vậy.
Lại nói chuyện Phi Giao hoàng hậu ở trong cung đối với Hùng hậu thân mật nhau như chị em ruột. Bởi vậy công việc trong cung, Hùng hậu đều uỷ thác cho Phi Giao hoàng hậu cả. Tên nội giám Mã Thuận lại hết sức xu nịnh, hắn vẫn giao thông với Đồ Man Hưng Phục, hễ trong cung có chuyện gì lạ, đều mật báo cho nhau biết. Đồ Man Hưng Phục đệ bản tâu dâng vua Anh Tôn nói nhà Hoàng Phủ có hai hoàng hậu thì thật là thiên hạ ít có! Kẻ hạ thần thiết tưởng triều đình nên đặc cách gia phong “Cửu Tích” cho Tương Vương để khiến được long trọng như một bậc thiên tử mới phải. Phi Giao hoàng hậu thấy vậy, liền viết một bản tâu thượng hoàng torng bản tâu đại khái nói:
-“ Đồ Man Hưng Phục làm chức ngự sử, thiết tưởng không nên tâu việc này. Vả thân phụ thần thiếp có tài đức gì mà gia phong “Cửu Tích”, Đồ Man Hưng Phục tâu xin như thế há không phải có lòng phản nghịch hay sao. Việc này chẳng qua là bởi thần thiếp mông ân quá hậu, vậy nên khiến người ngoài nghi cho thân phụ thần thiếp đó thôi. Nay xin thượng hoàng và thái hậu biếm truất thần thiếp, đem giam vào lãnh cung thì trên mới khỏi phụ ơn to của triều đình, dưới mới bảo toàn được vinh dự cho nhà thần thiếp vậy.
Thượng hoàng thấy bản tâu, mừng rỡ khen ngợi mà rằng:
- Thật đáng mừng cho nhà Đại Nguyên ta! Đời nào cũng có một bà hoàng hậu hiền thục, mà người sau lại có phần hiền thục hơn người trước vậy.
Bấy giờ thái hậu và vua Anh Tôn đều ở trong nam nội, thượng hoàng mới đem bản tấu ấy trao cho thái hậu xem rồi cười mà bảo rằng:
- Thái hậu ơi! Thái hậu hãy thử đọc bản tâu này mà xem. Lệnh điệt nữ hãy còn trẻ tuổi mà sao có được đại kiến thức như thế!
Thái hậu xem xong liền hỏi vua Anh Tôn rằng:
- Việc này con nghĩ thế nào?
Vua Anh Tôn tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng và thái hậu! Cứ như ý con thiển nghĩ thì cữu phụ con công to đức trọng, dẫu gia phong “Cửu Tích” cũng là xứng đáng. Con muốn phê chuẩn lời tâu của Đồ Man Hưng Phục. Xin thượng hoàng và thái hậu giáng chỉ cho Phi Giao hoàng hậu biết là việc này không can ngại chi cả.
Thượng hoàng nghe nói gật đầu, đã toan giáng chỉ cho Phi Giao hoàng hậu thì thái hậu gạt đi mà rằng:
- Thượng hoàng không nên giáng chỉ chi vội, để thiếp xin giải tỏ đôi lời. Nhà thiếp mông ơn vũ lộ, ba đời phong vương tước, một nhà hai hoàng hậu, sự vinh hiển đã quá thịnh. Thiếp thấy các họ ngoại thích như họ Mã và họ Đặng thuở xưa, không mấy nhà được an toàn. Em thiếp làm quan với triều đình, dẫu rằng một lòng trung thành, nhưng con cái trong nhà thì giữ sao cho được mọi người đều hiền hòa tất cả. Gián hoặc kẻ nào trái phép thì thật là điếm nhục gia thanh. Khi ấy nếu triều đình vị tư tình mà khoan túng, há chẳng để một trò cười cho thiên hạ thần dân hay sao. Thượng hoàng ơi! Em thiếp có công gì hãy nên gia phong, chứ vì cớ ngoại thích mà gia phong thì sao cho phải. Thân phụ thiếp thuở xưa tận trung báo quốc, nay đã già yếu, nỡ nào mà để phải lo phiền. Vả nhà thiếp nếu bị tai họa thì thiếp đây cũng không thể yên lòng cho được. Thiếp nghe Đồ Man Hưng Phục là đứa gian hiẻm, em thiếp vẫn khinh bỉ hắn, vậy nên hắn đem lòng ghen ghét, chỉ vì thấy triều đình tin dùng, không dám buông lời sàm báng, mà cố ý dâng bản tâu này để muốn khiến cho nhà thiếp đeo tiếng bất quỹ (6) vậy. Thượng hoàng ơi! Từ xưa đến nay, các bậc phong thần gia phong “Cửu tích” mấy người còn đứng ở trong triều. Ngày nay trước hết nên cho em thiếp cáo quan về nghỉ, sau chém Đồ Man Hưng Phục về tội gian nịnh, để khiến thần dân khỏi có lòng nghi gnờ. Lại xin thượng hoàng đem những lời tâu của thiếp ban bố cho thiên hạ biết thì thiếp được đội ơn vô cùng vậy.
Thượng hoàng nghe nói lắc đầu mà rằng:
- Sao thái hậu lại quá lo như thế! Quốc trượng là một bậc trung thành, danh tiếng khắp trong bốn biển, còn quốc cữu thì trải thờ hai triều, hết lòng chăm chỉ, tưởng nên cùng hưởng lộc trời. Nay dẫu “Cửu Tích” gia phong, cũng không lấy chi làm quá đáng. Đồ Man Hưng Phục tâu xin, há phải là lòng gian nịnh, hà tất ta lại chém hắn. Còn như việc cho Tương Vương về nghỉ thì khó lắm, vì quốc chính bề bộn, nếu hiền thần bỏ chức thì con ta biết trông cậy vào ai.
Vua Anh Tôn nghe lời thượng hoàng chỉ phán liền nói:
- Thượng hoàng dạy chí phải con xin vâng mệnh.
Thái hậu không bằng lòng mà mắng vua Anh Tôn:
- Con đã biết phụ mệnh phải tuân phụng thì cũng nên biết mẫu mệnh chớ coi thường. Câu nói của ta là có quan hệ đến nước nhà, sao con lại cứ vô tình mà trái ý ta, nghĩ thật đáng cười. Ta chỉ lo cho con sau này khó lòng tránh khỏi được hai chữ “hôn quân” vậy.
Thái hậu nói xong, nét mặt lại hầm hầm nổi giận. Vua Anh Tôn giật mình kinh sợ, vội vàng quì xuống mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Xin mẫu hậu thứ cho con, con cam chịu tội bất hiếu, từ nay không dám trái ý mẫu hậu nữa.
Thượng hoàng cũng khuyên giải rằng:
- Làm con phải theo ý cha mẹ. Tuy vậy, Đồ Man Hưng Phục quyết không nên chém, vì hắn là một người chi phái trong hoàng tộc, phường tiểu nhân vẫn hay xu nịnh, thái hậu bất tất phải nghi ngờ.
Thái hậu không biết nói thế nào, mới đứng dậy về cung. Vua Anh Tôn đưa thái hậu về cung rồi lại sang nói chuyện với Phi Giao hoàng hậu. Phi Giao hoàng hậu mừng thầm:
“Thượng hoàng đã trúng kế của ta, nhưng thái hậu muốn chém Đồ Man Hưng Phục thì hình như hơi hiểu sự tình. Ngày nay dẫu thân phụ ta cáo quan về nghỉ, không ở trong triều, nhưng ta còn phải e sợ thái hậu ở trong cung vậy.”
Phi Giao hoàng hậu nghĩ vậy, liền thỏ thẻ tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Thái hậu thật là bậc thánh minh. Người dạy câu nào, cũng hợp lý với thần thiếp lắm. Nhưng thần thiếp thiết nghĩ thân phụ thần thiếp dẫu cáo quan về nghỉ thiên hạ vị tất đã nghi ngờ, chỉ có một cách là đem thần thiếp giam vào lãnh cung, may ra mới tạ tội với thiên hạ được vậy.
Nói xong, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng, rồi lại quì xuống mà tâu rằng:
- Bệ hạ ơi! Các bậc thánh quân phần nhiều vẫn phải dứt tình nhi nữ. Thần thiếp chịu ơn bệ hạ, dẫu một ngày cũng nên nghĩa, vậy xin nguyện cầu cho bệ hạ được hưởng phúc muôn năm.
Phi Giao hoàng hậu nói chưa dứt lời thì vua Anh Tôn vội vàng nâng đỡ mà bảo rằng:
- Ái khanh ơi! Ái khanh đừng nói những câu như thế. Ân tình của trẫm đối với ái khanh torng hai tháng trời nay thật là sông khô đá mòn, cũng không phai được. Vả ái khanh là một người hiền thục, thượng hoàng và thái hậu đều phải ngợi khen. Bây giờ tự nhiên vô cố đem biếm truất ái khanh thì khiến cho trẫm đeo tiếng hôn quân mãi mãi. huống chi trẫm từ khi trông thấy ái khanh, trộm nhớ thầm yêu, đem mơ ngày tưởng, nếu không có Mã Thuận bày mưu lập kế thì làm sao đem được ái khanh vào cung. Từ khi vào cung, cầm sắc hòa hợp, hết thảy mọi người ai cũng mến phục. Ngày nay tự nhiên vô cố Đồ Man Hưng Phục dám càn rỡ mà dâng bản tâu này, khiến cho thái hậu phải lo nghĩ. Ái khanh ơi! từ nay ái khanh chớ nói những câu như thế. Trẫm cùng ái khanh ngày đêm sum họp, mà tình đằm thắm vẫn hình như chưa đủ, còn phải cùng nhau thề nguyện câu: “Như chim liền cánh, như cây liền cành”, muôn đời nghìn kiếp, không bao giờ xa nhau vậy.
Phi Giao hoàng hậu nghe nói lại thỏ thẻ mà tâu rằng:
- Ngày nay thần thiếp nghe lời chỉ phán, ơn vũ lộ tưởng đã dồi dào, nhưng sợ lâu ngày thì lòng kia biến đổi, bây giờ hoặc vì điều này tiếng nọ mà bể ái lại có khi đầy khi vơi. Thần thiếp nghĩ vậy, có nên đêm ngày lo phiền, chỉ muốn bệ hạ dứt tình, còn hơn đeo đẳng.
Phi Giao hoàng hậu tâu xong, lại nắm lấy vạt áo vua Anh Tôn mà nức nở khóc. Tiếng kiều ti tỉ, dẫu gan sắc đá, cũng phải chuyển dời. Vua Anh Tôn lấy áo long bào chùi nước mắt cho Phi Giao hoàng hậu rồi khuyên giải mà rằng:
- Ái khanh nói thế thì trẫm biết làm thế nào cho giãi tỏ được tấm lòng. Âu là truyền nội giám bày hương án ra đây để trẫm cùng ái khanh ăn thề vậy.
Nói xong truyền chỉ cho nội giám sửa soạn hương án. Vua Anh Tôn cầm tay Phi Giao hoàng hậu rồi cùng sụp lại thiên địa để làm lễ phát thệ, xin đời đời kiếp kiếp cùng sum họp với nhau dẫu rằng đất lỡ trời long cũng không bao giờ biến đổi. Khi khấn xong các cung nữ đỡ vua Anh Tôn và Phi Giao hoàng hậu đứng dậy, Phi Giao hoàng hậu lại lạy tạ vua Anh Tôn mà rằng:
- Thần thiếp xin bái tạ ơn trời bể của thánh thượng, từ nay thần thiếp nằm ở trong cung , sẽ được ngủ yên giấc vậy. Nhưng muốn cho công tư vẹn cả đôi đường thì sáng ngày mai xin thánh thượng tức khắc giáng chỉ cho thân phụ thần thiếp được các quan về quê nhà, để bảo toàn lấy vinh dự một vị vương tước.
Vua Anh Tôn lấy tay đỡ dậy mà phán rằng:
- Việc ấy trẫm xin theo ý hoàng hậu.
Bấy giờ nội giám đã bày tiệc ngọc. Phi Giao hoàng hậu có tự chế ra một khúc “Dao lâu”, luyện tập mười hai tên cung nữ, múa hát rất khéo. Phi Giao hoàng hậu lúc đầu còn ngồi gõ nhịp cho các cung nữ múa hát. Sau lại tự mình đứng dậy múa theo cách “Phi tiến”. trông càng dịu dàng uyển chuyển lạ thường. Vua Anh Tôn vui vẻ tươi cười, tấm tăc ngợi khen mà rằng:
- Như thế mới thật là diệu võ! Cách múa này, dẫu nàng Triệu Phi Yến thuở xưa cũng không thể nào mà theo cho kịp.
Bấy giờ tình luyến ái của vua Anh Tôn đối với Phi Giao hoàng hậu thật rất thân mật. Vua Anh Tôn đứng dậy rót một chén rượu thưởng cho Phi Giao hoàng hậu mà bảo rằng:
- Ái khanh ơi! Trẫm thưởng cho ái khanh một chén rượu. Ái khanh thật là người vừa có nhan sắc, vừa có đức hạnh, lại đủ mọi tài, không biết trẫm đây tu từ kiếp nào mà được cùng với ái khanh sum họp một nhà vậy.
Sáng hôm sau, vua Anh Tôn ban một tờ chiếu chỉ ra chốn triều đường, các quan đại thần đều xúm lại xem. Trong tờ chiếu chỉ nói thái hậu tỏ ý muốn cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa về hưu dưỡng. Hoàng Phủ Thiếu Hoa thấy vậy mừng rỡ xiết bao, vì xưa nay vẫn có lòng muốn cáo về nhà mà chưa dám nói.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa về đến vương phủ, nói với Mạnh Lệ Quân rằng:
- May quá! Nếu con gái ta không dâng một bản tâu thì có lẽ ta bị đứa tiểu nhân kia dùng kế ly gián mà hại ta đó.Nay thái hậu lại giáng chỉ như thế thì thật là một nhà ta được hai hoàng hậu hiền thục khác người. Người ta ở đời, vinh hoa phú quý chẳng qua cũng là sự thường, chỉ có trung thần hiền hậu là cổ kim hiếm có vậy. Ngày nay ta cáo quan về nghỉ, trên phụng dưỡng hai thân, dưới dạy bảo con cái, một nhà sum họp, cùng nhau hưởng thụ cái phúc thanh nhàn.
Mạnh Lệ Quân vương phi nghe nói, mừng lòng mà đáp:
- Con Phi Giao biết lo trước tính sau như vậy, tôi cũng được yên lòng, tất nó không có thói ghen tuông mà để đến nỗi điếm nhục gia thanh. Đã lâu nay tôi vẫn có ý định về thăm nhà, nay phu quân được cáo quan về hưu thì tôi muốn tiện dịp trở về Vân Nam để thăm hai thân tôi vậy.
Hai người đang chuyện trò cùng nhau thì anh em Triệu Câu vào. Triệu Câu nói:
- Thân phụ ơi! Ngày nay thân phụ cáo quan về nghỉ đã đành, nhưng không chém Đồ Man Hưng Phục thì sau này khó lòng tránh khỏi tai vạ. Sáng mai thân phụ nên tiến cử Bình Giang vương (7) thay chức thân phụ để chưởng quản binh quyền, còn quốc chính thì đã có Lương thừa tướng cùng Doãn thừa tướng, cũng chẳng lo ngại chi.
Bỗng thấy Bình Giang vương Hùng Hiệu và Mạnh Gia Linh thượng thư vào. Hoàng Phủ Thiếu Hoa hỏi rằng:
- Chẳng hay hai hiền huynh tới đây hôm nay có chỉ giáo việc chi không?
Mạnh Gia Linh nói:
- Nào có việc chi lạ đâu, chỉ vì Đồ Man Hưng Phục dám càn rỡ dâng bản tâu ấy mà khiến cho Bình Giang vương đây tức giận vô cùng. Bình Giang vương rủ tôi cùng tới đây nói với hiền đệ, định đến sáng mai thì dâng biểu tâu thánh thượng xin chém Đồ Man Hưng Phục, mà hiền đệ thì cứ ở lại, để cùng nhau một lòng giúp nước, chớ nên cáo về quê nhà.
Mạnh Gia Linh nói chưa dứt lời thì Hùng Hiệu nói:
- Hiền đệ ơi! Hiền đệ là bật anh hùng, taìkiêm văn võ, cớ sao ngày nay vì một bản tâu của đứa tiểu nhân, đã vội muốn cáo quan về nơi rừng núi. Hiền đệ cáo về, một là trúng kế gian hiểm c3ua đứa tiểu nhân, hai là khiến cho thánh thượng thiệt mất một tay phò tá. Thôi thôi, hiền đệ chớ nên cáo về, để sáng mai ta sẽ tâu với thánh thượng xin chém đứa nịnh thần ấy.
Mạnh Gia Linh cũng nói:
- Chúng ta tài sơ học thiển, các việc quốc chính này nay phần nhiều nhờ tay hiền đệ, hiền đệ chớ nên cáo về.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Hai hiền huynh dạy quá lời, ngu đệ có tài đức gì. Trong hai mươi năm trời nay, cơm nặng áo dầy của triều đình, thật là quá lạm. Quân ân khác nào trời biển, phận khuyển mã vẫn chưa chút báo đền. Dẫu lời dị nghị không quản thị phi, nhưng ta cũng chẳng nên tham quyền cố vị. Huống chi từ khi hai thân tôi về quê nhà, giấc mộng năm canh, lòng tưởng vọng bồi hồi khôn xiết, đã đành rằng có đàn cháu sum vầy dưới gối, nhưng đạo làm con cũng nên nhớ đức sinh thành. Vả nhà Hoàng Phủ tôi, đội ơn triều đình, mấy đời đều phong vương tước, vinh quý tưởng đã quá thịnh. Nay một nhà tôi lại có hai hoàng hậu, thế thì tôi e con tạo cũng phải ghét ghen. Hai hiền huynh nên để cho tôi cáo về thì vinh quý ấy mới bảo toàn được.Hai hiền huynh nên biết rằng từ xưa đến nay, các nhà ngoại thích quá thịnh, phỏng có mấy nhà được an toàn.
Hùng Hiệu nghe nói gật đầu mà rằng:
- Nếu vậy thì sáng mai tôi cũng sẽ dâng một bản tâu xin từ quan, rồi cùng hiền đệ về chốn điền lý là hơn cả.
Mạnh Lệ Quân vương phi cười mà bảo rằng:
- Bình Giang vương! Sao lại ví như vợ chồng nhà tôi. Phu quân tôi là thân đệ thái hậu, là thân phụ hữu hoàng hậu, nay nhân có lời dị nghị, từ chức xin về là phải. Còn như Bình Giang vương trên không cao đường, dưới lại có lịnh ái làm tả hoàng hậu. Vả đang giữ chức cấm vệ, cớ sao lại nghĩ như thế. Huống chi nước nhà thái bình đã lâu, võ tướng thật hiếm tay giỏi, nếu ngày nay Bình Giang vương cáo về thì thánh thượng biết trông cậy vào ai.
Mạnh Gia Linh cũng nói:
- Em tôi nói phải đó! Lão quốc trượng chớ nên từ chức. Còn tôi đây vẫn muốn từ chức đã lâu, nhưng thân phụ tôi nhiều lần gửi thư đến, chỉ khuyên tôi nên hết lòng báo đáp triều đình, bất tất phải vì cớ cha già mà từ chức. Tuy vậy mà dưới gối hai thân tôi chỉ có một đứa cháu gái thì lòng tôi sao yên. Hôm trước nội nhân tôi đã bàn định muốn trở về quê nhà, chi bằng ngày nay tôi cũng xin về nghỉ tạm một năm vậy.
Hùng Hiệu cười mà nói rằng:
- Ừ các người ai cũng nên cáo về cả, chỉ có một mình tôi không nên cáo về.
Mạnh Lệ Quân vương phi cũng cười mà nói với Hoàng Phủ Thiếu Hoa rằng:
- Cảnh ngộ mỗi người một khác, không thể giống nhau được. Nay thân huynh tôi đã muốn cáo về thì tôi cung xin cùng về Vân Nam một thể, hoặc một năm hay nửa năm rồi tôi sẽ quay sang Hồ Quảng, phu quân nghĩ thế nào?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Hễ Mạnh thượng thư được cáo về thì phu nhân theo về để thăm hai thân cũng hay. Nhưng còn Phi Loan thì làm thế nào?
Hùng Hiệu nói:
- Mạnh vương phi về Vân Nam thì còn điệt nữ cứ giao cho nhà tôi cũng được.
Hùng Hiệu nói chưa dứt lời thì Mạnh Gia Linh cả cười mà nói đùa rằng:
- Bình Giang vương thật khéo thu xếp! Định đem con dâu về nuôi, để sau này cho được giản tiện.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân cũng đều cả cười, Hùng Hiệu lại cười mà bảo rằng:
- Tôi nói thực thà, lấy lòng thành lo tính giúp anh em, không ngờ Mạnh thượng thư lại đem dạ nhỏ nhen mà nghi cho tôi vậy. Nhưng bây giờ tôi mới nghĩ ra, hoặc giả ông môi nhân chỉ sợ về sau này thiệt mát món tiền hoa hồng tạ lễ chăng!
Nói xong, mấy người lại cùng nhau cả cười.

Khi Hùng Hiệu và Mạnh Gia Linh về rồi, Hoàng Phủ Thiếu Hoa viết một bản tâu nói cha mẹ già yếu, vẫn muốn từ chức đã lâu, nay nhân có lời thái hậu, vậy xin triều đình rộng ơn mà cho cáo về, để giữ trọn ơn vũ lộ. Mạnh Lệ Quân cũng phụ thêm vào một bản tâu xin về Vân Nam để thăm hai thân. Lại xin thiên tử định ngôi Chiêu dương, phong Phi Giao làm quý phi, chứ không nên để có hai hoàng hậu.
Sáng hôm sau, Hoàng Phủ Thiếu Hoa vừa đem bản tâu vào dâng triều đình thì có Vệ Dũng Nga vương phi đến, Mạnh Lệ Quân vương phi vội vàng đón vào, pha trà mời uống, rồi hỏi:
- Chẳng hay có việc chi mà hôm nay chị quá bộ đến chơi sớm như thế này?
Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Tôi nghe nói Tương Vương dâng biểu từ chức rồi toàn gia cùng về quê nhà, lòng tôi lấy làm áy náy, vậy phải sang đây để bàn xem thế nào. Vợ chồng tôi cũng muốn cáo quan vể nghỉ đây.
Mạnh Lệ Quân ngẫm nghĩ hồi lâu rồi đáp rằng:
- Bình Giang vương là tay hùng tài võ lược, triều đình ngày nay chính đang trông cậy, không thể từ chức được. Vả hai hoàng hậu còn đang độ trẻ dại, chắc đâu không có lúc bất hòa, nhờ có chị ở đây để điều đình cho thì mới yên việc được. Em dẫu xin về điền lý, chỉ sợ tả hoàng hậu tính khí nhu nhược, mà hữu hoàng hậu lại giở thói cương cường chăng. Đã đành rằng Nga Hoàng, Nữ Anh hai người ngày nay coi nhau như một, nhưng chị cũng nên đề phòng trước mới được. Em đây vì lời dị nghị, lại nhân có thái hậu quá lo mà muốn cho cáo về thì em quyết không nên ở lại.
Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Nỗi khỗ tâm của em, chị đã hiểu thấu, mà chị đây cũng không phải có tham gì cái ngôi vương hầu. Từ khi con gái được lập làm hoàng hậu, lại càng thêm lo nghĩ. Dẫu trên nhờ có ơn che trùm của thái hậu nhưng việc đời họa phúc bất thường, nào biết thế nào. Chị vẫn muốn bảo Bình Giang vương cáo về đã lâu, nhưng lại không muốn phải xa cách con gái. Vả thái hậu dẫu tôn quý mà đối với chị vẫn coi như tình chị em. Gần gụi cùng nhau, lại có Tương Vương và em, ngày nay bỗng bỏ về tất cả, lòng chị đây kể sao xiết nỗi bồi hồi. Huống chi việc hôn sự của Hùng Khởi Thần chưa xong, mà nay tiểu thư lại theo về thì biết thu xếp làm sao cho ổn.
Chuyện trò hồi lâu thì Hoàng Phủ Thiếu Hoa ở trong triều ra, Vệ Dũng Nga và Mạnh Lệ Quân đón mà hỏi rằng:
- Thế nào, việc dâng biểu xin cáo có được không?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Thánh thượng xem xong bản tâu thì tức khắc truyền chém Đồ Man Hưng Phục, tôi nghĩ lại thương tình mà xin tha cho. Tôi tâu xin cáo về để phụng dưỡng hai thân, nhưng cố tâu hai ba lần thánh thượng mới ưng chuẩn cho được nghỉ tạm một năm. Lại truyền phải làm lễ thành hôn cho Triệu Câu kết duyên với Gia Tường công chúa, để khiến thái hậu được vui lòng. Quốc chính giao cho Lương thừa tướng , còn binh quyền thì giao cho Bình Giang vương.
o0o
(1) khuê trung nữ huấn: Những lời răn dạy các cô gái phòng khuê (NXB)
(2) trỏ Vệ Dũng Nga nữ tướng, con nuôi của Thái vương phi Doãn thị (NXB)
(3) Nga Hoàng Nữ Anh: là hai con gái của vua Nghiêu, củng gả cho vua Thuấn (NXB)
(4) tức Vệ Dũng Nga
(5) tức Trưởng Hoa
(6) tức Vệ Dũng Nga và Mạnh Lệ Quân
(7 ) bất quỹ nghĩa là trái phép, không giữ đạo làm tôi.

NGUYỄN ĐỖ MỤC dịch thuật

về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
Hồi thứ ba
ƠN CÚC DỤC KHÔN ĐỀN ƠN TẤC CỎ
LÒNG NGHĨA HIỆP COI RẺ NGHÌN VÀNG

Thời giời thấm thoát đã đến ngày mồng một tháng mười, hôm ấy mới là ngày cử hành đại lễ để phong Triệu Câu làm phò mã. Phò mã Triệu Câu trước bái tạ thượng hoàng và thái hậu, sau bái tạ Ôn phi và Mai phi. Hết thảy mọi người trong cung ai trông thấy Triệu Câu cũng đều khen ngợi rằng:
- Dung mạo Triệu Câu thật giống Mạnh Lệ Quân như đúc:
Thái hậu vui cười, nghoảnh lại bảo Ôn phi rằng:
- Bà Ôn phi ơi! Bà xem cháu tôi có xứng đôi với Gia Tường công chúa đó không?
Ôn phi quì mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Thần thiếp xin cúi đầu bái tạ thâm ân của thái hậu đã rũ lòng thương Gia Tường công chúa mà kén phò mã cho. Phò mã nay văn tià võ lược, quả đã đáng mặt con nhà, Gia Tường công chúa được đẹp duyên với phò mã, thật là may mắn lắm thay. Cứ lấy dung mạo bề ngoài mà nói thì Gia Tường công chúa cũng không thể nào theo kịp.
Phò mã Triệu Câu sụp lại rồi xin lời huấn dụ. Thái hậu nói:
- Gia Tường công chúa vốn là người tính nết hiền thục thì cháu nên phải một lòng kính yêu. Còn Gia Tường công chúa kia đối với cha mẹ chồng, cũng nên phải giữ trọn đạo làm con dâu, chớ có cậy mình là kim chi ngọc diệp mà thất kính.
Thái hậu lại truyền nội giám đưa phò mã Triệu Câu vào bái yết tả hoàng hậu. Khi Triệu Câu vào tả cung thì Hùng hậu truyền miễn lễ, vì se mình, không thể ra tiếp kiến được. Triệu Câu lại lui ra sang hữu cung thì thấy rèm châu đã rũ, các cung nữ đứng sắp hàng hai bên, hình như có ý đợi Triệu Câu phò mã vào bái yết . Phò mã Triệu Câu thấy vậy có ý không bằng lòng, vì Phi Giao hoàng hậu là em, cớ sao lại bắt anh vào lạy. Triệu Câu bất đắc dĩ cũng phải sụp lạy mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Kẻ hạ thần là phò mã Triệu Câu vào bái yết.
Bỗng nghe phía trong rèm có tiếng oanh thỏ thẻ phán rằng:
- Triệu Câu thân huynh ơi! Em cách xa thân huynh mấy tháng nay vẫn lấy làm mong mỏi. Chắc ngày nay học nghiệp của thân huynh đã cao hơn trước. Trước kia thân huynh chỉ lo em tính nết cương cường, khó giữ trọn được nữ công và phụ đức. Ngày nay em đội ơn thánh thượng, được hầu hạ thượng hoàng và thái hậu, em tưởng cũng chưa có điều gì đã đến nỗi điếm nhục gia thanh, chẳng hay từ nay trở đi, thân huynh còn phải lo thay cho em nữa không? Xin thân huynh chỉ bảo cho biết.
Phò mã Triệu Câu lại tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Mấy lời kẻ hạ thần khuyên can thuở trước là muốn giữ cho trọn chức phận làm anh. Hoàng hậu cảm lời nói của kẻ hạ thần mà tu sửa thánh đức được trước sau như một thì chẳng những là hạnh phúc cho nước nhà, lại là hạnh phúc cho cả hoàng hậu nữa. Nếu hoàng hậu chỉ tạm dẹp vẻ uy nghiêm, giả bộ tu sức lể pháp thì mối lo của kẻ hạ thần cũng chưa lấy chi làm quá đáng vậy.
Phi Giao hoàng hậu nghe lời tâu, mặt đỏ bừng bừng, cau đôi mày liễu lại, rồi cười nhạt một tiếng mà phán rằng:
- Em xin tuân lời dạy. Nhưng thân huynh nên biết rằng muôn việc chẳng qua bởi trời, thí dụ như một mẹ sinh ra hai anh em ruột, nào ngờ đâu ngày nay em ngồi trên sập rồng để cho anh phải cúi đầu sụp lại bao giờ. Thế mới biết người ta chống nhau với trời sao được. Thôi, ngày nay là ngày cát kỳ, thân huynh hãy lui ra.
Mã Thuận đứng phía ngoài, liền nói:
- Thôi, phò mã lui ra, hoàng hậu bước vào rồi!
Triệu Câu hầm hầm tức giận mà lui ra. Khi đến cửa cung, nội giám dắt một con ngựa ngựa ngọc câu mã, yên gấm tua vàng, nói với Triệu Câu rằng:
- Dạ dám bẩm phò mã! Thượng hoàng sai tôi dắt con ngựa này ra để phò mã cưỡi về phủ.
Phò mã Triệu Câu về đến trong phủ, đã thấy đuốc hoa trăm ngọn, sáng như sao sa, đỉnh trầm hương bay, nhà vàng đỏ ối, mấy tên nội giám đến báo trước là Gia Tường công chúa đã sắp tới, có ba vị hoàng thân đi hộ tống. Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe báo, vội vàng cùng các con ra đón. Bấy giờ Gia Tường công chúa đi một chiếc loan giá, cung nga thái nữ vây kín chung quanh. Kiệu hoa ghé đến trước thềm, rồi Doãn Thượng Khanh phu nhân cùng Nguyễn Long quang phu nhân vén màn mời công chúa xuống kiệu. Phò mã Triệu Câu mình mặc áo long bào, cùng Gia Tường công chúa đốt hương làm lễ tham bái thiên địa lại cùng giao bái, rồi cùng dắt nhau vào động phòng. Hai bà phu nhân đưa công chúa vào trong phòng tháo mũ cởi áo cho công chúa, bấy giờ mới lui ra.
Lại nói chuyện Đồ Man Hưng Phục nguyên là một đứa đại gian hùng. Gia tư giàu kể hàng trăm vạn, chỉ mong có một sự thăng quan tiến chức mà thôi. Nay làm ngự sử đã lâu năm mà chưa được thăng, vẫn đem lòng oán giận Lương thừa tướng và Doãn thừa tướng. Đồ Man Hưng Phục thấy nội giám Mã Thuận là người đắc sủng ở trong cung, mới lấy vàng ngọc giao kết với Mã Thuận để phàm trong hai cung có tin tức gì thì Mã Thuận lại thông báo cho Đồ Man Hưng Phục được tường. Đồ Man Hưng Phục dò biết Phi Giao hoàng hậu tính tình cương cường , vẫn lấy Mã Thuận làm tâm phúc, hơi tỏ ý còn e nệ có phụ huynh. Bởi vậy Đồ Man Hưng Phục tâu xin gia phong “Cửu Tích” cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa, tức là kế ly gián để khiến cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa phải về hưu đó.
Đồ Man Hưng Phục sinh được hai con trai; con trưởng tên gọi là Định Quốc, con thứ tên gọi là An Quốc. Hai con đều giỏi võ nghệ, lại đang dự chức trong bộ ngự lâm. Nhà sẵn có của cải, mới quảng giao cùng các thân sĩ hào hiệp. Bấy giờ chỉ có Lương Trấn Lân vốn biết Đồ Man Hưng Phục là đứa gian hùng, vẫn dặn Hoàng Phủ Thiếu Hoa không nên cho hai con hắn vào nơi cấm vệ, lại dùng hắn làm chức ngự sử, để hễ hắn tâu bậy thì tìm cách trị tội mà trừ bỏ đi. Đồ Man Hưng Phục thấy Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Lương thừa tướng vẫn được triều đình tin dùng, cho nên phải nín lặng hơi tiếng trong bấy nhiêu năm, không dám nói câu gì cả. Bấy giờ giao thông được với Mã Thuận, dò biết ý vua Anh Tôn, mới dám ngang nhiên mà diện triết các quan đại thần như thế. Sau Đồ Man Hưng Phục thấy Phi Giao hoàng hậu không muốn cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa đứng tại trong triều, liền theo ý mà xin gia phong “Cửu Tích” , không ngờ thái hậu thánh minh, dẫu thuận cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa về hưu, nhưng lại truyền chỉ chém đưá gian nịnh. Đồ Man Hưng Phục vừa mừng vừa lo. Mừng là mừng Hoàng Phủ Thiếu Hoa đã về hưu không còn phải e sợ; lo là lo về nỗi suýt nữa thì uổng tính mệnh, may nhờ có thượng hoàng rộng ơn mà khoan xá cho, mới được cung chức như xưa. Người vợ chính thức của Đồ Man Hưng Phục tạ thế đã lâu, bây giờ chỉ có hai người thiếp; một người tên gọi Ngô Ngọc Phong; một người tên gọi là Mã Mị Nương. Mã Mị Nương nhân là họ Mã mới xin nhận làm con gái nuôi của Mã Thuận, để đi lại cho thêm thân mật. Đồ Man Hưng Phục là đứa bất lương có ý muốn chuyên quyền, chỉ ngày đêm bày mưu lập kế, muốn bỏ Lương thừa tướng và Doãn thừa tướng. Đồ Man Hưng Phục đem lời sàm báng nói với Phi Giao hoàng hậu, khiến cho Phi Giao hoàng hậu đối với Lương Doãn có ý không bằng lòng.
Lại nói chuyện Gia Tường công chúa cách mấy hôm sau đang cùng Vệ Dũng Nga vương phi và Phi Loan quận chúa nói chuyện ở Linh Phượng cung thì bỗng thấy phò mã Triệu Câu vén rèm bưóc vào mà bảo rằng:
- Có tin nhà ở Hồ Quảng đến, nói tổ mẫu bị cảm từ ngày mười sáu đến hai mươi sáu mà bệnh chưa khỏi, nên Tô mẫu và Lưu mẫu sai người phi báo cho ta biết.
Vệ Dũng Nga vương phi và Phi Loan quận chúa đều giật mình kinh sợ cùng nhau sang Võ Thái cung để hỏi Mạnh Lệ Quân. Bấy giờ Mạnh Lệ Quân vương phi đang ngồi một mình nức nở khóc thầm, trông thấy Vệ Dũng Nga vương phi vào vội vàng đứng dậy mà bảo rằng:
- Em xin chào chị! Chẳng hay chị đã biết tin nhà chưa?
Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Đã! Chẳng hay người nhà có nói bệnh nặng nhẹ thế nào không? Và trong thư hai phu nhân nói thế nào?
Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Cứ lời trong thư nói thì bệnh tình hơi nặng.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa vội vàng viết một bản tâu gọi viên đường quan là Cao Vinh Phúc bảo đem vào giao cho nội giám Lã Phúc đệ dâng thiên tử, còn mình thì sửa soạn đồ hành lý để sắp trở về quê nhà. Phi Loan quận chúa nắm lấy áo Mạnh Lệ Quân rồi nức nở khóc rằng:
- Thân mẫu ơi! Xin thân mẫu thế nào cũng cho con về, tổ mẫu bệnh nguy, con muốn được trông mặt, thân mẫu nỡ lòng nào mà bỏ con ở lại đây.
Mạnh Lệ Quân ôm lấy Phi Loan quận chúa rồi khóc mà bảo rằng:
- Phi Loan con ơi! Con chớ nên oán trách cha mẹ. Cha mẹ há muốn để ba anh em con ở lại hay sao! Chỉ vì đường thuỷ chậm trễ, mà đườngbộ thì núi rừng hiểm trở, các con không thể chịu được sự dầu dãi nắng mưa, vậy cha mẹ bất đắc dĩ phải gởi các con ở với cô mẫu, các con chớ nên phàn nàn. Nhờ trời, tổ mẫu được bình phục như thường, sau này ta sẽ cho đón các con về nhà cũng được. Con nên biết rằng lòng mẹ đau như dao cắt, nếu con không nghe lời mẹ thì sao cho phải. Con vốn là một người hiếu thuận, vậy thì chấp kính cũng phải có khi tòng quyền.
Vệ Dũng Nga vương phi cũng gạt nước mắt mà bảo Phi Loan quận chúa rằng:
- Ta cùng con, bề ngoài dẫu là mẹ chồng con dâu, nhưng tổ mẫu con khi xưa coi ta như con đẻ, không bao giờ ta dám quên ơn. Chỉ hiềm một nỗi phu quân ta còn vướng mình ở chốn triều đường, thành ra ta được về thăm tổ mẫu. Nay xảy gặp sự khó khăn này thì con nên tạm ở tại nhà ta, để cho cha mẹ trở lại quê nhà, chớ nên khóc lóc mà làm đau lòng cha mẹ vậy. Phi Loan con ơi! Ta cũng coi con như con đẻ, hà tất con phải e nệ nổi gì. Con cứ yên lòng sang năm ta cũng trở về nhà, bấy giờ sẽ đưa con về một thể.
Nói dứt lời thì Gia Tường chánh cung đến, Mạnh Lệ Quân vương phi liền thuận chuyện đầu đuôi cho công chúa nghe. Gia Tường công chúa nói:
- Nếu vậy thì hai thân nên tức khắc trở về quê nhà, chớ có chậm trễ. Còn việc tâu với thái hậu, con thiết tưởng không nên, vì thái hậu nghe biết tin này thì sự phiền não kể sao cho xiết. Cứ như ý con thiết nghĩ, chỉ nên nói là vương gia bị bệnh, xin cáo về nhà nửa năm để chữa thuốc, bất tất tâu rõ làm chi.
Sáng hôm sau, nội giám là Lã Phúc phụng mệnh thượng hoàng đến để truyền chỉ cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa biết rằng:
- Thái vương phi bị bệnh, mà Tương Vương tâu xin cáo về nuôi mẹ thật đáng thương. Vậy cho do dịch ( là đi đến cung trạm nào, sẽ được phép bắt lính trạm phải đuổi theo hầu) lên đường ngay hôm nay, hễ Thái vương phi khỏi bệnh thì sang đầu năm sau, sẽ cùng tiến kinh một thể.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân lạy tạ thánh ân. Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại căn dặn riêng Lã Phúc rằng:
- Hễ thái hậu có hỏi đến thì nhà ngươi cứ tâu là ta có bệnh, vậy phải cáo về ít lâu để chữa thuốc, chớ nên tâu rõ sự thực, sợ thái hậu lo phiền chăng. Nhà ngươi cũng đừng nói cho hữu hoàng hậu ( tức Phi Giao) biết, chỉ nên khuyên hữu hoàng hậu giữ lấy đức hiền hòa, để bảo toàn danh dự cho nhà Hoàng Phủ.
Lã Phúc nói:
- Xin vương gia và vương phi cứ yên tâm. Chỉ cầu sao cho Thái vương phi chóng được bình phục như thường thì phò mã ở đây mới khỏi ái náy lo ngại vậy.
Lã Phúc cáo từ lui ra. Bấy giờ có Doãn Thượng Khanh và Mạnh Gia Linh đến hỏi thăm, Hoàng Phủ Thiếu Hoa vội vàng ra nghiênh tiếp. Doãn Thượng Khanh và Mạnh Gia Linh thấy Hoàng Phủ Thiếu Hoa âu sầu buồn bã, đều kiếm lời khuyên giải. Người nhà Hoàng Phủ đã sắp sẵn ngựa xe, để Hoàng Phủ Thiếu Hoa cùng Mạnh Lệ Quân ra đi. Phi Loan quận chúa nắm lấy vạt áo mà khóc rằng:
- Cha mẹ ơi! Cha mẹ nỡ lòng nào mà bỏ con ở lại đây.
Nói xong, lại nức nở khóc hoài, Hoàng Phủ Thiếu Hoa bất đắc dĩ phải nổi giận quát mắng, rồi dứt áo ra đi. Gia Tường công chúa và Vệ Dũng Nga phải ôm lấy Phi Loan quận chúa mà dắt vào trong nhà. Hoàng Phủ Thiếu Hoa đi ra khỏi cửa thành được độ nửa dặm thì bỗng nghe phía sau có người cưỡi ngựa đuổi theo mà gọi rằng:
- Hoàng Phủ hiền đệ ơi! Hãy thư thả chờ ngu huynh với!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghoảnh lại, trông thấy Hùng Hiệu vội vàng xuống xe mà bảo rằng:
- Hiền huynh ơi! Thân mẫu em bị bệnh rất nguy, lòng em thật đau như dao cắt, chỉ sợ chậm trễ, cho nên không kịp đến cáo từ với hiền huynh. Em đã nhờ gia tỷ nói hộ, cớ sao hiền huynh lại còn vội vàng đuổi theo.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nhìn về phía sau, còn thấy có toán quân sắp tới mới hỏi Hùng Hiệu rằng:
- Còn toán quân nào đi theo sau thế kia?
Hùng Hiệu nói:
- Có thượng hoàng và thánh thượng ra tiễn đó!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe nói tức khắc truyền gia tướng báo Mạnh Lệ Quân xuống xe để cùng nhau cung nghênh thánh giá. Khi thượng hoàng và vua Anh Tôn tới nơi, Hoàng Phủ Thiếu Hoa cùng Mạnh Lệ Quân đều sụp lạy mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng và thánh thượng! Xin xá tử tội cho kẻ hạ thần.
Thượng hoàng xuống kiệu, rồi đỡ Hoàng Phủ Thiếu Hoa dậy mà bảo rằng:
- Hoàng Phủ quốc cữu ơi! Ngày nay ta không thể lưu quốc cữu ở lại được. Nhưng vua tôi cùng nhau trong hai mươi năm trời, thật là nghĩa nặng ân sâu, quốc cữu chớ nên vui thú lâm tuyền mà không đoái nghĩ đến triều đình vậy. Thiên tử ngày nay dẫu rằng nhân hiếu, nhưng vốn là người nhu nhược, ta chỉ trông có quốc cữu phù tá cho.. Một tay Bình Giang vương không thể coi sóc được cả quốc chính. Mấy lời gắn bó, xin quốc cữu ghi lòng, qua đầu năm sau, thế nào cũng lại tiến kinh giúp thiên tử.
Nói xong truyền nội giám lấy rượu, rót ba chén rượu tiễn Hoàng Phủ Thiếu Hoa, lại rót ba chén rượu ban cho Mạnh Lệ Quân. Mạnh Lệ Quân lạy tạ. Vua Anh Tôn cũng rót mấy chén rượu để tiễn Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân, lại thay lời Phi Giao hoàng hậu chúc cho hai thân thượng lộ được bình an.
Thượng hoàng lại cầm lấy tay Hoàng Phủ Thiếu Hoa mà dặn rằng:
- Quốc cữu ơi! Tình vua tôi cùng nhau, khác nào như tay chân, khi vui có nhau, khi buồn có nhau. Ngày nay quốc cữu về thăm hai thân, ta không dám ngăn trở, nhưng xin quốc cữu chớ quên mấy lời tống biệt hôm nay. Bây giờ ta lại lui về, để cho quốc cữu đi, kẻo đang việc vội.
Nói xong truyền nội giám quay kiệu về thành. Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân từ đấy theo đường thẳng dong chẳng quản dầm sương dãi gió. Một ngày một đêm đi được ba trăm dặm. Mạnh Lệ Quân mặt hoa cũng tiều tụy khác thường, dẫu rằng từ năm trẻ thơ, đã từng quen sự phong trần lưu lạc nhưng bấy lâu an hưởng phú quý, mà ngày nay bỗng gặp nỗi vất vả này thì trong lòng cũng không khỏi xót thương. Tuy vậy mà hai vợ chồng vẫn phải cố gượng ăn uống để giữ lấy sức khỏe. Đi trong nửa tháng mới tới Hồ Quảng, không kịp sai người báo trước, tức khắc thay ngựa để về cho mau. Khi về gần tới vương phủ, đã trông thấy một lá cờ trắng cắm ở trước cửa, gia tướng tấp nập, ai nấy đều đội khăn trắng. Hoàng Phủ Thiếu Hoa ngất người ngã xuống, người nhà vội vàng vực vào, lấy nước gừng cứu chữa. Mạnh Lệ Quân tới nơi trông thấy Hoàng Phủ Thiếu Hoa nằm lăn ra đấy, gọi mãi chưa tỉnh, mới ứa hai hàng nước mắt, rồi bảo nữ tỳ đem thuốc “An hồn định phách” đổ cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa.
Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc bấy giờ đang mặc đồ tang ở trong nhà chạy ra, trông thấy Mạnh Lệ Quân đều òa lên khóc, Mạnh Lệ Quân vẫy tay bảo nín khóc, rồi hết sức đổ thuốc để cứu chữa cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa. Bỗng thấy Hoàng Phủ Thiếu Hoa miệng chảy giãi trắng, lại thổ ra huyết, Mạnh Lệ Quân cùng Tô, Lưu hai phu nhân đều run sợ không biết dường nào, chỉ xùm lại nắm lấy Hoàng Phủ Thiếu Hoa rồi liền thanh mà gọi. Gọi trong hồi lâu, mới thấy Hoàng Phủ Thiếu Hoa thở dài một tiếng và hơi cựa quậy, lại ứa nước mắt khóc rồi nói:
- Thân mẫu ơi!...
Mạnh Lệ Quân cho uống mấy viên thuốc nữa thì bấy giờ mới hoàn hồn mà nói rõ được. Hoàng Phủ Thiếu Hoa đứng dậy, không kịp hỏi Tô, Lưu hai phu nhân, liền đi thẳng đến trước linh sàn thờ Thái vương phi mà vật mình lăn khóc, Mạnh Lệ Quân cũng quì khóc ở trước linh sàng.
Tô, Lưu hai phu nhân kiếm lời khuyên can Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân để khiến cho đừng quá thương khóc. Tô, Lưu hai phu nhân nói:
- Phu quân và chị chớ nên khóc nữa. Lão vương gia ngày nay cũng đang đau yếu, hằng ngày chỉ mong đợi phu quân và chị. Nay phu quân và chị nên thay đổi đồ tang phục rồi vào chào lão vương gia, để cho vương gia được vui lòng.
Bấy giờ Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân đều thay áo bận đồ tang phục, cùng nhau bước vào nhà trong để lạy chào lão vương gia (tức Hoàng Phủ Kính). Hai gia tướng cuốn rèm châu lên, Hoàng Phủ Kính đang ngồi ở trên giường, trông thấy Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân bước vào, mừng rỡ xiết bao, nhưng lại thương xót thay cho Thái vương phi đã từ trần, khiến mình luống một thân vò võ. Hoàng Phủ Kính nửa mừng nửa thương, chưa biết nói câu gì thì Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân đã sụp xuống lạy, rồi khóc mà thưa rằng:
- Thưa thân phụ! Đứa con bất hiếu này ngày nay được trông thấy thân phụ thật lấy làm mừng. Nhưng nghĩ đến sự thân mẫu con từ trần mà chúng con không được đứng bên trong khi khâm liệm thì tội thâm trọng ấy để đâu cho hết. Nay chúng con cúi xin thân phụ bảo dưỡng quý thể, khiến cho chúng con được hầu hạ ở bên cạnh mình mà hàng năm dâng chén rượu thọ vậy.
Hoàng Phủ Kính gạt tay mà bảo rằng:
- Các con chớ lấy làm phiền não. Từ cổ đến nay, anh hùng hào kiệt ai là người không chết. Người ta sống lão chẳng qua trong một trăm năm, rồi trước sau cũng có một lần. Ngày nay các con đã về đây, ta lấy làm vui vẻ lắm, nhưng ta nói để các con biết: Nhà ta đây một nhà hai hoàng hậu, mấy đời đều phing vương, thế thì phúc trạch quá thịnh, cũng là một điều đáng lo. Sau này dẫu hết tang phục, con cũng đừng làm quan nữa, nên ở nhà mà vui thú điền viên, dạy bảo con cái, chớ có mong tưởng những sự cao xa. Các con nên biết rằng thân mẫu con chính vì nhớ con gái mà thành bệnh. Có con gả chồng xa, cũng đã khổ thay, huống chi tiến vào hoàng cung thì thật chẳng còn bao giờ được gặp mặt. Trưởng tôn là phò mã Triệu Câu nên khuyên nó phải tận trung báo quốc. Cái gương ngoại thích như họ Mã và họ Đặng thuở xưa, nghĩ cũng hối hận.Một đời ta không có điều gì ân hận, chỉ hiềm về nỗi quốc ân chưa chút báo đền. Ơn triều đình to như trời bể, con cháu tất phải ghi lòng. Ta sở dĩ còn lưu lại đến ngày nay là đợi các về đây đó. Các con đã về thế là ta được yên lòng.
Nói xong truyền cho người nhà sắp xếp sẵn nước hương thang để tắm rửa. Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân đều ôm lấy mà khóc rằng:
- Thân phụ ơi! Thân phụ đợi con, cho con xin theo đi.
Hoàng Phủ lại cười mà bảo rằng:
- Các con chớ như thế! Số mệnh bởi trời, không ai có thể thay được. Thôi các con buông ta ra. Một đời ta thật không có tội lỗi gì. Kìa kìa, quan quân đã tới đón ta đó.
Mạnh Lệ Quân bất đắc dĩ cũng phải gạt nước mắt mà khuyên Hoàng Phủ Thiếu Hoa rằng:
- Thôi, giờ đăng tiên của lão vương gia đã đến, phu quân cũng chớ nên ngăn trở.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa buông tay ra, người nhà đem nước hương thang đến. Mạnh Lệ Quân Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc đều lui ra cả. Hoàng Phủ Thiếu Hoa cùng mấy người con xúm lại tắm rửa cho Hoàng Phủ Kính. Khi tắm rửa xong Hoàng Phủ Kính lại mũ áo chỉnh tề, đốt hương viết tờ biểu, viết thành ba bản, một bản dâng thượng hoàng, một bản dâng thái hậu và một bản dâng vua Anh Tôn.
Hoàng Phủ Kính cầm ba bản tâu giao cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa, rồi lại gọi ba người con dâu đến mà dặn bảo rằng:
- Mạnh Lệ Quân con ơi! Nhà ta đây nhờ con mà giãi được nỗi oan khổ. Con lại phù tá triều đình, làm nên nhiều công trạng. Cái tài cao tiết lạ của con, chẳng những trong bọn nữ nhi không ai sánh kịp, mà xem ngay trong bọn tu mi, cũng hiếm người được như con vậy. Dẫu năm xưa con có nhẫn tâm mà kháng nghị cùng ta ở chốn triều đường, nhưng sau này con làm dâu hai mươi năm, giữ được đức hiền hòa, cũng đủ chuộc lại lỗi trước. Còn Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc thì cái trinh tâm khổ tiết của hai con thật đã đáng khen. Hai con cũng một lòng hiếu kính cùng cha mẹ chồng, lại biết chiều chồng. Trong nửa năm trời nay, theo vợ chồng ta về quê nhà, hầu hạ thuốc thang, thức khuya dậy sớm, đàn bà mà được như hai con, tưởng cũng là hiếm có lắm thay.
Hoàng Phủ Kính lại dặn Hoàng Phủ Thiếu Hoa rằng:
- Thiếu Hoa con ơi! Con được ba người vợ hiền như thế, tưởng đã thỏa lòng, sau này cũng chớ nên nạp sủng làm chi nữa.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa khóc mà thưa rằng:
- Con xin vâng lời thân phụ!
Hoàng Phủ Kính cầm tay cháu bé mà dặn bảo rằng:
- Các cháu ơi! Chẳng hay các cháu có biết là đêm nay ông sẽ từ trần không?
Nói xong lại hỏi:
- Bây giờ là bao giờ?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Bây giờ mới là canh một.
Hoàng Phủ Kính nói:
- Nếu cậy còn sớm, ta hãy nằm nghĩ một chút.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa bưng chén sâm thang mời uống, Hoàng Phủ Kính cười mà gạt đi không uống. Hoàng Phủ Thiếu Hoa và ba vợ đứng ở cạnh giường. Nữ tỳ vào bẩm rằng:
- Các đồ khâm kiệm đã sửa soạn đủ cả rồi, xin mời vương gia và vương phi ra coi lại.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa xua tay không trả lời. Mạnh Lệ Quân bảo Tô, Lưu hai phu nhân rằng:
- Chúng tôi mới về, không thể rời bên thân phụ, vậy thì hai chị nên ra coi.
Bấy giờ Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc bất đắc dĩ phải ra trông nom liệu lý các đồ khâm liệm. Thân bằng cố hữu cùng các quan liêu đến hỏi thăm rất đông, Hoàng Phủ Thiếu Hoa không tiếp ai cả chỉ đứng luôn ở bên cạnh giường Hoàng Phủ Kính mà nước mắt đầm đìa. Mạnh Lệ Quân thì dạ đau như cắt, người nhà bưng nước trà đến, cũng không hề nhấp môi. Mãi đến cuối canh ba, Hoàng Phủ Kính bỗng ngồi dậy rồi chắp tay mà bảo rằng:
- Bây giờ đã tới giơ rồi, các con cháu ở lại ta về chầu trời!
Nói xong, liền hai tay buông xuôi mà nằm xuống giường hai mắt thiu thiu nhắm lại. Hoàng Phủ Thiếu Hoa cùng ba vị phu nhân và con cái họ hàng đều xúm quanh lại mà khóc. Hoàng Phủ Thiếu Hoa thì trong suốt bảy ngày, không ăn uống một tí gì, mặt mũi âu sầu, thân thể gầy võ. Ba phu nhân hết sức khuyên giải, bấy giờ Hoàng Phủ Thiếu Hoa mới chịu nhấp một lưng cháo, cả ngày chỉ kêu gào khóc lóc đến nỗi khan cả tiếng mà chẳng nói ra hơi. đến ngày cất đám Hoàng Phủ Kính, nghi tiết cũng theo cách giản dị, không bày vẽ những sự phiền văn. Hoàng Phủ Thiếu Hoa chẳng hỏi chi đến việc nhà, sai người làm nhà tại bên phần mộ mà ở để được gần gũi cha mẹ. Mạnh Lệ Quân tự nghĩ mình chưa được trọn đạo làm dâu, cũng xin theo Hoàng Phủ Thiếu Hoa ra ở mộ. Tô, Lưu hai phu nhân còn phải trông nom việc nhà, nhưng việc gì cũng tất bẩm mệnh Mạnh Lệ Quân rồi mới thi hành. Mấy tờ biểu tâu giao cho Lã Phúc đem về để dâng triều đình.
Phi Giao hoàng hậu từ khi vào cung một lòng kính thuận, Hùng hậu qua tin, giao hết quyền chính trong cung cho. Phi Giao hoàng hậu lại có tài, bao nhiêu công việc trong cung, chỉ trong chớp mắt là xử đoán xong ngay. Hùng hậu vốn tính ưa tĩnh, chỉ thích ngâm thơ đọc sử, nhờ có Phi Giao hoàng hậu xử đoán hộ thì lại lấy làm vui lòng. Phi Giao hoàng hậu lúc đầu xử đoán việc gì cũng tâu qua Hùng hậu rồi mới thi hành, dẫu Hùng hậu cũng không ra tới nơi, nhưng lễ nghi vẫn giữ như trước, không ngờ từ khi Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân về quê nhà rồi thì Phi Giao hoàng hậu không bẩm mệnh Hùng hậu nữa. Nơi tả cung kia, chẳng những vua Anh Tôn không hề giáng lâm, mà Phi Giao hoàng hậu thoái thác không bước chân đến bao giờ. Tả cung ngắt như tờ, mà hữu cung thì âm nhạc ríu rít, ngày đêm vui vẻ, các cung nữ đều lấy việc ấy làm căm tức, thường tâu với Hùng hậu.
Hùng hậu nghe nói ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi phán rằng:
- Các con nói có lẽ phải. Nhưng quyền chính trong cung bấy lâu nay vẫn giao phó cho hữu hoàng hậu, chẳng lẽ ngày nay ta biết nói thế nào.
Trong bọn cung nữ có một người tên gọi: Dương Nguyệt Anh nói:
- Muôn tâu tả hoàng hậu! Có khó chi việc ấy! Xin hoàng hậu cứ bảo hữu hoàng hậu: “Bấy lâu chị để phiền lụy cho em, lòng chị thật lấy làm áy náy không yên, vậy ngày nay hai chị em ta lại nên cùng nhau xử đoán”, như thế thì thiết tưởng hữu hoàng hậu cũng không thể trái lời được.
Lại có một người tên gọi là Trương Xảo Nhi cũng nói:
- Muôn tâu ta hoàng hậu! Xin hoàng hậu cứ đòi lại quyền chính, chớ có ngại phiền, về sau đã có chúng con xin tận tâm giúp đỡ.
Hùng hậu nghe nói gật đầu. Qua ngày hôm sau, truyền sắp kiệu đi sang hữu cung, các nội giám và cung nữ đều lấy làm mừng rỡ. Khi sang tới nơi thì Phi Giao hoàng hậu đã hiểu ý, vội vàng chạy ra nghênh tiếp. Phi Giao hoàng hậu nói:
- Muôn tâu chánh cung hoàng hậu! Bấy lâu nay thần thiếp chưa kịp sang bái yết, mà nay ngọc giá lại tới đây, thế là thần thiếp đắc tội nhiều lắm vậy.
Nói xong, truyền cung nữ đỡ Hùng hậu xuống kiệu, rồi mời vào trong cung. Phi Giao hoàng hậu nhường Hùng hậu đi trưóoc mà đi theo sau. Khi vào trong cung, mời Hùng hậu ngồi trên, lại sụp lạy hai lạy, làm lễ triều kiến. Hùng hậu vội vàng đỡ dậy mà bảo rằng:
- Hiền muội ơi! Chẳng hay thiên tử độ này bận gì mà đã nửa tháng nay không tới tả cung, vì thế chị phải sang đây để muốn vấn an cùng thiên tử.
Phi Giao hoàng hậu nghe nói, cau mày mà đáp rằng:
- Muông tâu hoàng hậu! Chẳng lẽ hoàng hậu lại chưa biết hay sao! Từ khi thân phụ thần thiếp trở về quê nhà, quốc chính bề bộn, Lương thừa tướng và Doãn thừa tướng không thể trông nom hết, thánh thượng phải tuân thủ phê án, có khi cả ngày không kịp ngự thiện. Đã đành rằng: “Nhất nhật vạn cơ ( là một ngày muôn việc) làm thiên tử ai cũng như thế, nhưng thánh thượng vốn người yếu đuối, vậy phải tĩnh dưỡng ở nơi thiên điện, mà tả cung và hữu cung đều chẳng hỏi chi. Nếu hoàng hậu có lòng tưởng nhớ long nhan thì sau không sai người thỉnh đến. Thần thiếp độ này cũng tưởng nhớ tổ phụ và tổ mẫu mà chẳng thiết ăn uống chi, nay nhân gặp hoàng hậu quá bộ tới đây, xin mời hoàng hậu ở lại ngự thiện, cho thần thiếp được hầu chuyện.
Nói xong, truyền chỉ cho nội giám sửa soạn ngự thiện. Phi Giao hoàng hậu nói năng ngọt ngào, làm cho Hùng hậu cũng phải tươi cười vui vẻ. Các cung nữ theo hầu đều đưa mắt giục Hùng hậu nói đến việc đòi lại quyền chính. Hùng hậu bất đắc dĩ mới nói:
- Hiền muội ơi! Hôm nay chị tới đây, một là định vấn an cùng thánh thượng; hai là bấy lâu nay chị giao phó hết công việc cho em, mà chị an hưởng thanh nhàn thì thiết tưởng sao cho phải lẽ. Vậy lòng chị áy náy mà lại muốn cùng em cùng xử đoán công việc trong cung.
Phi Giao hoàng hậu nghe lời nói, liền cười nhạt mấy tiếng, rồi nói:
- Nếu vậy thì lạ thật! Quả nhiên đúng như lời thánh thượng đã nói. Thánh thượng bảo với thần thiếp rằng:
“ Nên giao lại quyền chính đi là hơn, kẻo tất có kẻ buông lời sàm báng mà hoàng hậu lại sinh lòng nghi kỵ.” Thần thiếp trộm thấy hoàng hậu tính vốn nhân từ, lại ưa tĩnh mịch cho nên mới không quả công lao, mà thức khuya dậy sớm để đỡ chút khó nhọc cho hoàng hậu, khác nào như đạo thần tử đối với quân thượng vậy. Không ngờ hoàng hậu ngày nay lại có câu nói ấy. Hoàng hậu nguyên là người có lòng khoan thứ, vậy thần thiếp xin cứ thẳng mà giải bày. Bây giờ như thế này thì thần thiếp đối với thánh thượng, không biết nói thế nào cho được. Việc này tất có kẻ sàm báng, nó tâu với hoàng hậu, vu cho thần thiếp có lòng phản bạn mà vì hoàng hậu bày mưu lập kế đó thôi. Hoàng hậu ơi! Thần thiếp cùng hoàng hậu, há phải là người ở đâu. Hai nhà từ trước đến nay, vẫn thân ái liên kết như một, cũng tưởng rằng chị em cùng thờ một vị minh chủ, bắt chước như Nga Hoàng và Nữ Anh thuở xưa. Nếu thần thiếp còng chút lương tâm, khi nào lại dám khuynh phúc hoàng hậu. Ai ngờ có kẻ tiểu nhân buông lời sàm báng, ngày nay dẫu rằng trăm miệng, cũng khó giãi tỏ được oan tình. Thôi thì thần thiếp xin đập đầu mà chết ở trước mặt hoàng hậu, trước là tạ ơn của thái hậu, sau là tại lòng trung ái của thánh thượng đã biết trưóc mà chỉ bảo cho.
Phi Giao hoàng hậu vừa nói vừa ứa hai hàng nước mắt xuống, lại đứng dậy tháo bỏ các đồ châu ngọc trang sức ra, khiến cho Hùng hậu không còn hồn vía nào nữa, vội vàng ôm lấy Phi Giao hoàng hậu mà can ngăn. Hùng hậu nói:
- Hiền muội ơi! Chị có lòng nào mà nghi ngại em đâu, xin em chớ đem việc này mà tâu với thánh thượng. Từ nay trở đi, hai chị em ta một lòng hòa hiếu, cùng thờ thánh quân. Hiền muội bất tất lại nói đến sự trả lại quyền chính nữa!
Phi Giao hoàng hậu ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi lấy tay gạt nước mắt mà đáp rằng:
- Nếu hoàng hậu muốn xóa việc hôm nay, không muốn cho thần thiếp nói đến thì hoàng hậu nên phải nói rõ căn nguyên xem ai là người bày mưu lập kế mà muốn khiến cho hai chị em ta phải ly gián vậy.
Hùng hậu tính khí nhu nhược, lại thấy Phi Giao hoàng hậu nước mắt đầm đìa , chỉ sợ Phi Giao hoàng hậu lại nói đến tai thái hậu và thánh thượng thì mình không khỏi mang tiếng là người ghen tuông chăng, nên bất đắc dĩ mà phài nói tên hai người cung nữ là Dương Nguyệt Anh và Trương Xảo Nhi. Phi Giao hoàng hậu nghe nói , liền quay đầu lại mà hỏi rằng:
- Trực nhật quan đâu?
Trực nhật quan quì tâu:
- Muôn tâu hữu hoàng hậu! Kẻ hạ thần là trực nhật quan tên gọi là Uông Kim đây!
Phi Giao hoàng hậu nói :
- Nhà ngươi đem hai đứa Dương Nguyệt Anh và Trương Xảo Nhi mà căng xác nó ra, đánh cho bốn chục roi đòn, rồi sau sẽ tâu thánh thượng trảm thủ chúng nó.
Trực nhựt quan tuân lệnh, tức khắc cùng nội giám lôi Dương Nguyệt Anh và .Trương Xảo Nhi ra căn nọc giữa sân, rồi đánh. Bấy giờ hai tên cung nữ ấy kêu khóc ầm ĩ, thật là đào hoen quoẹn má liễu tan tác mày.
Dương Nguyệt Anh khóc mà kêu rằng:
- Chánh cung hoàng hậu ơi! Tiện tỳ chúng tôi vì lòng trung mà trần thuyết, cớ sao hôm nay hoàng hậu lại nói với Hoàng Phủ nương nương để hại mạnh tiện tỳ này. Còn Hoàng Phủ nương nương xin người mở lượng hải hà mà khoan thứ cho hai tiện tỳ chúng tôi. Chúng tôi xin cầu nguyện cho nương nương chóng sinh quý tử.
Trương Xảo Nhi cười mà bảo Dương Nguyệt Anh rằng:
- Chị Dương Nguyệt Anh ơi! Chị sợ đau lắm hay sao! Trước sau chẳng qua cũng một lần chết! Ta chỉ tiếc thay cho bà tả hoàng hậu, thật là một người si ngốc vậy.
Phi Giao hoàng hậu nghe nói, càng thêm tức giận lại thét đánh luôn, Hùng hậu vốn tính nhân từ, từ khi vào cung chưa trông thấy những sự đánh đập như thế bao giờ. Nay thấy hai tên cung nữ bị đánh, máu dây thịt nát thì cũng có lòng thương xót mà không dám nói ra. Khi đánh đủ bốn chục roi, nội giám lôi hai tên cung nữ ra khỏi rồi, Phi Giao hoàng hậu mới tươi cười mà nói với Hùng hậu rằng:
- Muôn tâu chánh cung hoàng hậu! Những đứa gian ác này quyết không nên dung thứ, vì chúng hay dùng kế ly gián, để làm cho chị em cốt nhục người ta nghi ngờ nhau. Ngày nay nếu không trừng trị một cách rất nghiêm thì về sau chúng lại còn bày ra lắm điều này tiếng nọ. Nếu hoàng hậu nghi cho thần thiếp có lòng nào thì chẳng thà thiếp xin chịu tội với hoàng hậu.
Nói xong, liền quì ở trước mặt Hùng hậu mà tâu rằng:
- Thần thiếp xin cam chịu tội rất nặng.
Hùng hậu bấy giờ luống cuống không biết làm thế nào, mới cúi xuống lấy hai tay đỡ Phi Giao hoàng hậu dậy mà bảo rằng:
- Hiền muội ơi! Chị đã biết lỗi rồi, thôi em đứng dậy. Từ đây trở đi, hai chị em ta sẽ coi nhau như một, không còn có điều gì nghi ngờ. Dẫu chị có sai lầm, em cũng nên chu toàn cho chị.
Phi Giao hoàng hậu tức khắc truyền gọi hai người cung nữ người tên gọi Bàng Nguyệt tố và một người tên gọi là Lý Hoa Quyên. Bàng Nguyệt Tố và Lý Hoa Quyên cùng nhau vào yết kiến. Phi Giao hoàng hậu trỏ mà nói với Hùng hậu rằng:
- Muôn tâu chánh cung hoàng hậu! Con Bàng Nguyệt Tố và con Lý Hoa Quyên này vốn người cẩn thận, xin hoàng hậu cho thay vào hai tên cung nữ kia.
Phi Giao hoàng hậu lại dặn Bàng Nguyệt Tố và Lý Hoa Quyên rằng:
- Hai con phải một lòng cẩn thận, hầu hạ chánh cung hoàng hậu đây, cũng như khi ở trước mặt ta vậy. Nếu hai con dám lười biếng hỗn hào, ta sẽ lấy đầu đi đó.
Hai tên cung nữ lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Hai tiện tỳ chúng tôi xin tuân lệnh.
Nói xong liền đến đứng ở bên cạnh Hùng hậu. Phi Giao hoàng hậu lại truyền bảo các cung nữ và các nội giám rằng:
- Việc Dương Nguyệt Anh và Trương Xảo Nhi bị trọng phạt vừa rồi, các ngươi đều được mắt trông thấy đó. Dẫu chánh cung hoàng hậu đây là người nhân từ, nhưng các ngươi cũng nên phải một lòng cẩn thận, chớ có đem lời sàm báng mà ly gián hai cung. Hễ đứa nào trái lệnh thì ta sẽ tâu thái hậu lấy đầu đi, quyết không khi nào khoan thứ được.
Các cung nữ cùng các nội giám đồng thanh mà tâu rằng:
- Xin tuân lệnh!
Phi Giao hoàng hậu lại đổi sắc mặt rồi tươi cười mà nói với Hùng hậu rằng:
- Những đứa tiểu nhân này, chúng thường hay đặt điều bịa chuyện. Chẳng những chốn hoàng cung này như thế, dẫu các nhà sĩ thứ mà vợ chồng sinh ghen tuông, chị em dâu bất hòa, anh em ruột bất mục, hoặc là đích thứ tranh cạnh nhau, cũng đều bởi những đứa tiểu nhân xúc xiểm. Nếu ta không nghiêm trị trước thì chúng cứ dần dà mỗi khi nói một câu, chẳng những thần thiếp đắc tội mà thánh đức của chánh cung hoàng hậu cũng khó lòng giữ trọn thủy chung vậy.
Hùng hậu nghe nói, có ý hổ thẹn , rồi đáp rằng:
- Từ nay chị xin vâng lời.
Bấy giờ các nội giám dã bày ngự thiện. Phi Giao hoàng hậu mời Hùng hậu ngồi vào dự tiệc. Trong khi ngự tiệc, Phi Giao hoàng hậu tiếp đãi rất cung kính. Tiệc xong, Hùng hậu truyền sắp kiệu về cung. Phi Giao hoàng hậu lại đứng dậy tiễn ra đến tận cửa ngoài. Khi Hùng hậu về tới cung, một mình ngẫm nghĩ có vẻ buồn rầu. Bàng Nguyệt Tố và Lý Hoa Quyên theo hầu bên cạnh thấy vậy, mới tìm lời khuyên giải rằng:
- Muông tau hoàng hậu! Xin hoàng hậu chớ nên nghĩ ngợi làm gì. Hoàng Phủ nương nương tính khí cương cường, ngày trước có một tên tiểu nội giám là Lý Vĩnh Phúc sảy tay đánh vỡ chén ngọc, Hoàng Phủ nương nương tức thì nổi giận , rồi truyền đánh bốn mươi ngự côn. Tên tiểu nội giám ấy là một đứa cận thần thân yêu của thánh thượng, thế mà thánh thượng chỉ đành ngồi nhìn, chứ không dám nói ra, lại phải dùng lời ngọt ngào mà khuyên giải, đợi khi Hoàng Phủ nương nguôi cơn tức giận, bấy giờ thánh thượng mới yên lòng. Hoàng Phủ nương nương thờ người trên đãi kẻ dưới thật rất ân cần chu đáo, nhưng hễ ai trái ý một chút thì tính nóng nảy, nghĩ lại đáng ghê! Từ nay hoàng hậu cứ việc hưởng phúc thanh nhàn, thế là yên thân vậy.
Hùng hậu thở dài mà than rằng:
- Ta vào cung bốn năm nay, Dương Nguyệt Anh và Trương Xảo Nhi vốn là người tâm phúc của ta, ta chưa hề có nói nặng đến chúng bao giờ, không ngờ ngày nay chúng lại bị trọng phạt như thế. Ta ngẫm nghĩ việc này thật là ta làm hại hai tên cung nữ ấy vậy.
Hùng hậu nói xong, ngồi tựa xuống ghế, chẳng buồn tháo mũ cởi áo nữa, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Bàng Nguyệt Tố và Lý Hoa Quyên thấy vậy liền mật báo cho Phi Giao hoàng hậu biết. Phi Giao hoàng hậu nghe được tin ấy, cau mày nghĩ kế mà rằng:
- Khen cho Hùng hậu! Giỏi cho Hùng hậu! nếu vậy được, người ta không chọc hổ, thì hổ khi nào lại hại người! Nếu nhà ngươi đã có lòng oán giận, rồi sẽ biết tay Phi Giao hoàng hậu này. Ta chắc rằng nhà ngươi chẳng bao giờ được sắc sảo bằng ta vậy. Phen này ta quyết làm cho công lao họ Hùng trong bấy lâu phải một sớm tiêu ma.
Phi Giao hoàng hậu đang hầm hè tức giận thì bỗng nghe báo có thánh giá đến, liền tức khắc đứng dậy ra đón, cứ để đầu tóc bơ phờ, không hề trang điểm. Khi trông thấy vua Anh Tôn tới nói, vội vàng tháo bỏ các đồ trâm nhị rồi phủ phục xuống đất mà tâu rằng:
- Muông tâu bệ hạ! Thần thiếp xin chịu tội rất nặng.
Vua Anh Tôn nói:
- Có việc chi? Ái khanh cứ nói rõ cho trẫm biết.
Phi Giao hoàng hậu nức hở khóc, gục đầu bên cạnh vua Anh Tôn, làm ra bộ hốt hoảng sợ hãi mà tâu rằng:
- Muông tâu bệ hạ! Thật là một việc không may! Vừa rồi thần thiếp vô tình mà thành ra đắc tội với chánh cung hoàng hậu!
Phi Giao hoàng hậu thuật hết đầu đuôi việc Hùng hậu đòi lại quyền chính v.v... Lại nói:
- Thần thiếp đã biết điều xin lỗi, không ngờ chánh cung hoàng hậu lại nổi cơn tức giận mà sỉ mắng thần thiếp chớ nên cậy yêu, kẻo có ngày lại phải vào lãnh cung khổ sở. Hoàng hậu nói là binh quyền đang ở trong tay quốc trượng ngày nay, nếu quốc trượng định diệt Nguyên triều thì thật dễ như trở bàn tay vậy. Trời ơi! Để cho hoàng hậu nói đến câu ấy thì quả là tội tại thần thiếp, xin bệ hạ đem giam thần thiếp vào lãnh cung, khiến cho chánh cung hoàng hậu khỏi phải nghi ngờ, mà giang sơn Nguyên triều ta, cũng sẽ được vững bền yên ổn.
Nói xong lấy tay đẩy xe vua Anh Tôn, cố xin quay đi, đừng vào hữu cung nữa. Vua Anh Tôn nghe nói nổi giận ngẫm nghĩ hồi lâu rồi phán rằng:
- Lạ thật! Nếu vậy thì lạ thật! Hùng hậu đã thất đức như thế, trẫm quyết không khi nào còn tới tả cung. Ái khanh chớ lo ngại, can chi mà sợ Hùng quốc trượng! Sáng mai trẫm sẽ cách chức đi, xem hắn còn đâu là binh quyền.
Phi Giao hoàng hậu tâu rằng:
- Thánh thượng chớ nên như thế. Hùng hậu nguyên là chánh cung, hầu hạ thánh thượng đã lâu ngày, nếu thánh thượng xử như thế thì thành ra lỗi tại thần thiếp không biết khiêm nhượng. Thần thiếp vẫn một lòng trung thành không ngờ đắc tội với hoàng hậu. Ngày nay thánh thượng quá giận mà không đến tả cung thì tội thần thiếp bao giờ chuộc được, chi bằng thần thiếp xin đập đầu chết ở trước mặt thánh thượng là hơn.
Vua Anh Tôn bất đắc dĩ phải theo lời đi sang tả cung, nhưng trong lòng buồn bã, kể sao cho xiết. Khi vua Anh Tôn quay xe đi rồi, Phi Giao hoàng hậu trở vào trong cung, truyền đóng cửa cung lại, cấm trong ba ngày, không ai được tâu báo việc gì. Lại phái hai tên nội giám tức khắc sang tả cung để dò la tin tức vua Anh Tôn và Hùng hậu. Phi Giao hoàng hậu dặn hai tên nội giám rằng:
- Hễ thánh thượng và Hùng hậu nói năng cử động những thế nào, hai người phải phi báo cho ta biết. Nếu bỏ sót một điều gì thì ta tức thì xử trảm. Ta chỉ cho bảo mẫu và tên cung nữ chực hầu ở đây mà thôi. Khi nào thánh giá giáng lâm thì bay cứ nói là ta hiện đang dưỡng bệnh, không thể nghênh tiếp được.
Vua Anh Tôn nghe tin Phi Giao hoàng hậu bị bệnh, trong lòng lo sợ, liền truyền đi triệu thái y quan để vào cung thăm bệnh cho Phi Giao hoàng hậu. Mã Thuận quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Hoàng Phủ nương nương tính khí nóng nảy, nay đã hạ lệnh cấm không đươc triệu thầy thuốc, vậy xin thánh thượng chớ nên cố cưỡng, lại càng thêm hại, chi bằng chiều ý Hoàng Phủ nương nương mà truyền chỉ cho hai tên cung nữ Dương Nguyệt Anh và Trương Xảo Nhi đươc tứ tử đi là hơn.
Vua Anh Tôn nghe lời, truyền “Tứ tử” (ban cho chết) hai tên cung nữ ấy. Đến ngày thứ ba, Phi Giao hoàng hậu lại vào vấn an thánh thượng và thái hậu. Nguyên là vua Anh tôn đã đem việc ấy tâu với thái hậu, thái hậu cũng có lòng nghi ngờ Hùng hậu nhưng chưa nói ra. Đến khi Phi Giao hoàng hậu vào vấn an lại tự nhận tội mình, mà nhất mực tôn quý Hùng hậu. Bởi vậy thái hậu càng cho là thực, mà mặt ngoài ai cũng ca tụng đức hiền thục của Phi Giao hoàng hậu. Các quan trong triều, lại còn có những phường cầu cạnh, đều theo ý thái hậu mà nghị luận là Hùng hậu có lòng ghen tuông. Hùng Hiệu đứng trong triều nghe được tin ấy, rất lấy làm buồn bã. Một hôm, Hùng Hiệu ở trong triều về, thuật chuyện cho phu nhân là Vệ Dũng Nga nghe. Vệ Dũng Nga nín lặng chưa nói câu gì thì con trai là Hùng Khởi Phượng cau mày mà thưa rằng:
- Dám thưa thân phụ và thân mẫu! Việc này chưa chắc đã thật như thế. Em con xưa nay vốn là người thuận tục, có lẽ nào tự nhiên lại biến ra tính cương cường. Con e rằng có đứa gian nhân bịa chuyện nói phao, mà thượng hoàng và thái hậu không xét chân tình, đó thật là một mối họa cho nhà ta vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi thở dài mà than rằng:
- Thế này mới thật là làm ơn nên oán! Việc đã xãy ra như vậy, biết nói thế nào. Thôi thì ta chỉ trông cậy về phúc đức của nhà ta đó mà thôi.
Hùng Hiệu cười mà bảo rằng:
- Có khó chi việc này. Ta bảo con gái ta nhường ngôi hoàng hậu đi cho rồi, à ta đây cũng cáo quan xin về, vợ chồng cùng nhau hưởng thú thanh nhàn ở chốn điền viên, thế là yên việc. Vương hầu phú quý, sao bằng sơn trung tể tướng ( thuở xưa có ông ẩn sĩ Đào Hoằng Cảnh người đời bấy giờ vẫn gọi là quan tể tướng ở trong núi) là được an lạc hơn.
Bỗng thấy nữ tỳ vào báo rằng:
- Có quan Tần học sĩ vào yết kiến.
Hùng Khởi Phượng nghe nói, vội vàng ra nghênh tiếp. Tần học sĩ tươi cười mà bảo rằng:
- Hôm nay tiết thu mát mẻ, tôi muốn mời niên huynh đi du ngoạn một chút. Độ này chúng ta cứ phải tu thư ở trong sử quán mãi, cũng nên có lúc giải trí.
Hùng Khởi Phượng vâng lời ra đi. Mỗi người cưỡi một con ngựa, đi dạo xem phong cảnh. Nguyên Tần học sĩ tên gọi Sĩ Thăng, tên tự là Lãng Vân. Người ở Tiểu Đường. Tức là một ông bảng nhãn đỗ đồng khoa với Hùng Khởi Phượng. Tấn Sĩ Thăng có tính hào hoa, đam mê phong nguyệt. Hôm ấy rủ Hùng Khởi Phượng đến Xuân Vân viện, rồi cho gia tướng vàotrước báo cho mụ chủ. Mụ chủ tất tả chạy ra, theo sau đó có bốn ả mày ngài, đón mời Tần Sĩ Thăng và Hùng Khởi Phượng vào trong nhà. Mụ lại vuốt ve bốn ả mày ngài rồi trỏ từng người mà trình với Tần Sĩ Thăng và Hùng Khởi Phượng rằng:
- Ả này tên gọi là Hoa Trung Cẩm; ả này tên gọi là Nguyệt Hạ Giao; ả này tên gọi Châu Liêm Tú; ả này tên gọi Bách Hoa Khôi.
Bấy giờ bốn ả đứng xùm chung quanh, ngọc nói hoa cười, mỗi người một vẻ. Bốn ả cùng liếc mắt nhì trộm Hùng Khởi Phượng mả nghĩ thầm rằng: Con mắt chúng ta được ngắm đàn ông tưởng cũng đã nhiều, nhưng chưa thấy ai đẹp như người này! Cứ như dung mạo người này thì chẳng những nam tử không ai bằng, mà dẫu đến trong bọn nữ lưu cũng khó có người đã sánh kịp vậy.
Bấy giờ bốn ả đua nhau mà hiếm cuộc vui.Câu chuyện pháo ran, vẻ cười hoa nờ. Một lúc, người nhà bày tiệc, tay tiên chuốc rượu, chén quỳnh đầy vơi, Tần Sĩ Thăng rượu đã ngà ngà say, truyền ca một khúc để nghe thử. Bốn ả vâng mệnh, hai người đàn hai người hát, Tần Sĩ Thăng gật gù khen rằng:
- Hay! Được đó!
Hùng Khởi Phượng chỉ ngồi tủm tỉm cươì, không nói câu gì, Tần Sĩ Thăng cả cười mà bảo rằng:
- Niên huynh ơi! Hoa nô thật đủ mọi tài, đem nay niên huynh cùng đệ hãy ngủ chơi tại đây đến sáng mai sẽ về.
Hùng Khởi Phượng nói:
- Niên huynh có lòng yêu mà lưu lại, đáng lẽ đệ phải vâng lời, nhưng hai thân đệ ở nhà, vẫn lấy việc “hiệp tà” làm nghiêm giới, vậy đệ cũng không dám trái lệnh.
Nói xong, đứng dậy cáo từ. Tần Sĩ Thăng vội nắm lấy áo mà bảo rằng:
- Sao niên huynh lại sơ tình với đệ như thế! Nếu không ngủ đây thì cũng hãy ngồi chơi thư thả, khi nào hứng tận sẽ về.
Mụ chủ hỏi dò các gia tướng, biết là Hùng quốc cữu, lại càng hết sức phụng thừa, khẻ bảo thầm mấy ả mày ngài kia cố tình mà vồn vã một cách rất đặc biệt, Hùng Khởi Phượng bất đắc dĩ lại phải ngồi vào chiếu rượu. Bỗng nghe văng vẳng có tiếng khóc, Hùng Khởi Phượng hỏi:
-Quái lạ! Tiếng ai khóc mả thảm thiết như thế?
Bách Hoa Khôi nói:
- Số là tháng trước, chủ nhân tôi mới mua được một người con gái quê ở Vân Nam, họ Hạng tên là Hoa Tu. Nàng không chịu theo vào khuôn phép, chủ nhân tôi đã dánh đập mấy lần, ba ngày nay không cho ăn uống chi cả. Nàng chỉ lăm le tìm dao chực đâm cổ mà chết. Chủ nhân tôi sai chúng tôi đến khuyên dỗ thì trăm phương nghìn kế, nàng cũng không nghe, lại nhiếc mắng chúng tôi là đồ bất lương vậy.
Tần Sĩ Thăng hỏi:
- Nàng nói những thế nào?
Bách Hoa Khôi đáp rằng:
- Nàng nói: “Đàn bà con gái chỉ quí về trinh tiết, nếu không giữ được trinh tiết thì đáng kể làm người. Tô đây hổ phận con nhà trâm anh, không thể đem thân làm nghề lá gió cành chim, sớm đào tối mận như ai được. Cái kiếp cười gượng này thật giết người không dao, làm cho đổ quán xiêu đình, thân nghìn vàng để ô danh má hồng. Huống chi dẫu sao cũng ở tay người, một cười nghìn lạng, chẳng qua chỉ cách làm giàu cho chủ, đến khi hương rơi phấn rụng, nào ai là kẻ tiếc lục tham hồng. Bấy giờ đầu bạc má nheo, con chẳng có, chồng cũng không, lại còn một nỗi xót xa là đeo thêm bệnh phong lưu thì dẫu than tÂy tử, mà người trông thấy, cũng phải nghoảnh lại làm thinh vậy”. Hai vị quý nhân ơi! M61y câu nàng nói, thật chẳng câu nào bỏ đi, khiến cho tiện thiếp nghe lời, khônác nào như người vầm chậu nước mà dội vào mình, giấc mê mộng bỗng thình lình sực tỉnh.
Nỗi riêng lưỡng lự tàn canh
Chim lồng khôn nhẽ cất mình bay cao!
Bách Hoa Khôi nói xong, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng, Hùng Khởi Phượng không mà rằng:
- Quái lạ! Chẳng hay người thế nào mà có những lời nghị luận cao kỳ như thế. Thử gọi nàng ra đây xem nào.
Hoa Trung Cẩm nói:
- Trong hai thánh nay nàng không chịu dời đi đâu một bước, bây giờ gọi vị tất đã ra.
Hùng Khởi Phượng đứng dậy mà bảo Tần Sĩ Thăng rằng:
- Niên huynh cùng đệ cùng đến xem sao.
Tần Sĩ Thăng đang đùa với Nguyệt Hạ Giao, đã toan không đi, nhưng chiều ý Hùng Khởi Phượng, cũng phải đứng dậy, Bách Hoa Khôi nói:
- Để tiện thiếp xin dẫn đường.
Tần Sĩ Thăng và Hùng Khởi Phượng theo Bách Hoa Khôi cùng đến tây lâu, quả nhiên thấy một người con gái ngồi ở trong phòng, đầu bù tóc rối, đang nức nở khóc. Dẫu biết có người đến mà vẫn không đứng dậy, tiếng kiều thổn thức, giọt lệ chứa chan, trông thật thương tình. Hùng Khởi Phượng chú ý mà nhìn, rồi nghĩ thầm rằng:
- Người con gái này quả là bậc ngọc nói hoa cười, chim sa cá lặn... Ta vẫn tưởng phu nhân ta đã vào hàng tuyệt sắc, ai ngờ so với người này hãy còn kém xa. Xinh đẹp thật! Người này xinh đẹp thật! Hạt châu lã chã lại càng xinh đẹp bội phần, trông như một bó hoa lê có điểm mấy giọt mưa xuân vậy.
Hùng Khởi Phượng ngồi ngây người ra đấy mà nghĩ. Bách Hoa Khôi bảo nàng Hạng Hoa Tu rằng:
- Đây là Tần học sĩ và Hùng quốc cữu, nghe tiếng chị mà đến xem mặt đó.
Nàng Hạng Hoa Tu xua tay mà đáp rằng:
- Chị Bách Hoa Khôi ơi! Em vẫn nói là em không tiếp ai cả, sao chị lại còn mời các người đến?
Bách Hoa Khôi:
- Hai vị quý nhân đây chẳng qua chỉ muốn đến hỏi chuyện chị đó mà thôi.
Nàng Hạng Hoa Tu nói:
- Người ta ai mất tiền hoài đến đây! Đã bước chân vào đây, ai cũng là khách cầu vui mua cười cả. Em tiếp mà làm gì!
Tần Sĩ Thăng cười mà bảo rằng:
- Con yêu quái này, dám nói những câu khinh người! Đã đành rằng ai cũng bước chân vào đây, cũng đều như thế, nhưng chắc đâu lại chẳng có người không như thế hay sao! Nàng hãy lại đây tiếp kiến vị quốc cữu này, hoặc giả duyên trời xui khiến mà người rủ lòng cứu vớt nàng, chẳng cũng hay lắm ru.
Nàng Hạng Hoa Tu nghe nói, ngẩng đầu nhìn hai người, rồi lại gạt nước mắt mà tâu:
- Vương hầu công khanh mà làm gì, nếu không có lòng hào hiệp thì dẫu tiếp kiến cũng vô ích!
Hùng Khởi Phượng cười mà bảo rằng:
- Sao nàng dám khinh trong bọn vương hầu công khanh không có tay hào hiệp. Bây giờ nàng muốn thế nào thì nàng cứ nói, tôi và ông Tần học sĩ đây họa may sẽ làm được một tay hào hiệp mà cứu vớt cho nàng chăng!
Nàng Hạng Hoa Tu nghe nói, mới đứng dậy sửa áo, khẽ rón rén đến gần trước mặt hai ngườicúi chào mà thưa rằng:
- Hai vị quý nhân đã có lòng đoái thương đến tiện thiếp, vậy tiện thiếp xin giải bày nguyên do: Thân phụ thiếp khi trước làm quan tri phủ Thanh Châu, phải bồi khoản tiền lương hơn mười vạn, thành ra gia sản đều bị tịch ký cả. Sau thân phụ cùng thân mẫu thiếp phút bỗng tạ thế, chỉ sót lại có một thân thiếp, phải nương tựa ở nhà cữu mẫu. Ai ngờ cữu mẫu chẳng chút lương tâm, đem thiếp bán vào chốn yên hoa này, nghe đâu thân giá được tám trăm lạng. Khi thiếp tới đây, mới biết nông nỗi, sống cũng dở mà chết cũng dở. Chủ nhân thiếp vẫn tưởng là một món buôn có lợi, ai ngờ vốn nhà khó thu lại được, thế thì của đau con xót, cái tay tàn nhẫn, thiếp đây cũng chẳng dám trách chi. Thiếp đến đây đã gần ba tháng, hàng ngày chỉ cầm hơi một vài lưng cháo, há còn biết sống là vui. Hai vị quý nhân ơi! Nếu thiếp liều mình chết đi thì cái nợ tiền kiếp của chủ nhân thiếp đời nào trả hết, bởi vậy thiếp ngần ngừ khó quyết, còn mong có tay hào hiệp nào chịu đem nghìn vàng mà chuộc cho thiếp thì cái ơn ngậm vòng kết cỏ ấy, sau này thiếp cắt tóc đi tu, xin đêm ngày cầu nguyện để báo đền đôi chút vậy.
Nàng Hạng Hoa Tu nói xong, hai hàng nước mắt lại chảy xuống đầm đầm... Tần Sĩ Thăng cả cười mà bảo rằng:
- Lạ thay cho nàng! Nàng muốn người ta bỏ nghìn vàng đê chuộc nàng, trừ phi những nhà vương hầu thì mấy người có nghìn vàng mà dám bỏ. Hiện nay Hùng quốc cữu đây có thể bỏ tiền giúp nàng được, nàng không biết cầu, lại dám khinh nhà vương hầu không có tay hào hiệp.
Nàng Hạng Hoa Tu nói:
- Không phải thiếp dám khinh các nhà vương hầu, chỉ vì nếu các nhà vương hầu đã bỏ tiền ra mà chuộc cho thiếp thì tất lại bắt thiếp dự vào trong màn ngoài trướng. Thế thì hoa mọc dưới bùn, còn có thể bất nhiễm được, chứ giấm chua lại tội bằng ba lửa hồng. Bể ái đầy vơi, hà tất còn mua lấy cơn phiền não. Vả thân phụ thiếp làm quan thuở xưa giữ được một niềm thanh bạch, nỡ nào mà để cho phải tủi nhục ở dưới suối vàng.
Tần Sĩ Thăng cười mà bảo rằng:
- Nghe lời nàng nói, nghĩ cũng buồn cười. Nàng đã bước chân vào chốn thanh lâu này, hồ dễ ai lại còn cùng nàng đẹp duyên cầm sắt.
Hùng Khởi Phượng bảo Tần Sĩ Thăng rằng:
- Người ba đấng của vạn loài, nếu vậy thì để đệ sẽ nói chuyện với nàng.
Tần Sĩ Thăng và Hùng Khởi Phượng đều ngồi xuống ghế. Nguyệt Hạ Giao nét mặt tươi cười, tay bưng chén trà mời uống. Hai người cầm chén lấy chén trà uống. Hùng Khởi Phượng bảo nàng Hạng Hoa Tu rằng:
- Nàng đã quyết chí như vậy thì sau này nàng chớ nên hối hận, để tôi sẽ bảo người đem món tiền ấy trả lại mụ chủ đây.
Nói xong, liền quay lại bảo tên tiểu đồng rằng:
- Mày ra nói với mụ chủ, rồi về nhà lấy một nghìn lạng bạc đến đây cho ta.
Tên tiểu đồn vâng lệnh đi ngay. Bách Hoa Khôi nói:
- Nếu vậy thật hay! Chị Hạng Hoa Tu đã sắp được lên tiên vậy. Bây giờ việc đã thành toàn, xin mời hai quý nhân lại về nhà khách, rồi chị Hạng Hoa Tu nên điểm trang sạch sẽ để ra lạy tạ quốc cữu đi.
Tần Sĩ Thăng và Hùng Khởi Phượng quay ra nhà khách. Bấy giờ trong nhà khách lại bày tiệc hoa, dẫu không dị phẩm kỳ trân, nhưng cũng gia hào mỹ vị. Bốn người ca nữ lại tây tiên nâng chén rượu đào, rồi cùng nhau chuốc rượu. Cung đàn êm ái, giọng hát nỉ non, thật là miệt mài trong cuộc truy hoan vậy. Tần Sĩ Thăng vui cười, lại trỏ Hùng Khởi Phượng mà rằng:
- Cuộc vui hôm nay là nhờ ơn huệ của Hùng quốc cữu!
Tiệc hoa đang nhiệt náo thì người nhà của Hùng Khởi Phượng đã đem một nghìn lạng bạc đến, cả thảy mười phong. Hùng Khởi Phượng gọi mụ chủ vào bảo rằng:
- Khi trước mụ mua nàng Hạng Hoa Tu, thân giá tám trăm lạng bạc, nay ta cứ nguyên ngân phát hoàn, nhưng thứ bạc khố ngân này so với thứ dụng ngân của mụ, còn cao hơn quá trăm lạng bạc nữa, thế thì tất mụ đã được vừa lòng. Còn hai trăm lạng này, mụ giao cho nàng, về sau xuất gia hay là tại gia, tùy nàng tự chủ. Mụ phải tiếp đãi nàng cho tử tế, nếu còn tham tâm mà ức hiếp nàng, ta sẽ nghiêm trị.
Mụ chủ cúi đầu lạy ta, lại gọi nàng Hạng Hoa Tu bảo đến tạ ơn Hùng Khởi Phượng. Bấy giờ nàng Hạng Hoa Tu đã trang điểm một cách nhã đạm, lững thửng bước vào. Tần Sĩ Thăng và Hùng Khởi Phượng lại chú ý mà nhìn thì quả nhiên là một bậc Vu Sơn thần nữ vậy. Khi ấy nàng không âu sầu như trước, hai má đỏ hồng hồng, trông lại càng kiều diễm. Nàng cúi đầu mà thưa rằng:
- Dám thưa quốc cữu! Ngày nay tiện thiếp được đội ơn to của quốc cữu đã bỏ nghìn vàng mà cứu vớt cho tiện thiếp ra khỏi lò lửa này, từ đây trở đi, tiện thiếp mới biết các nhà vương hầu cũng có tay đại hào hiệp, không dám khinh thường vậy.
Nói xong sụp xuống đất lạy, Hùng Khởi Phượng vội vàng đỡ dậy mà bao rằng:
- Có sá chi vậy ấy mà nàng phải thâm tạ. Thôi, từ đây nàng nên nghĩ tìm lấy chỗ nương thân.
Nàng Hạng Hoa Tu lại quì xuống mà thưa rằng:
- Dám thưa quốc cữu! Tiện thiếp này, cha mẹ tạ thế cả, chỉ có một thân một mình. Ngày nay quốc cữu đã bỏ nghìn vàng cứu cho tiện thiếp ra, nhưng bốn bể không nhà, thân này nào biết về đâu cho được. Vậy tiện thiếp xin cam tâm đem thân làm nô tỳ ở phủ quốc cữu, để gọi chút báo đền ơn to ấy.
Hùng Khởi Phượng chưa kịp trả lời thì Tần Sĩ Thăng cả cười mà bảo rằng:
- Nếu vậy thì câu nói lúc nãy đã khác nhau rồi! Vừa đây, nàng khăng khăng một mực khinh rẻ các bậc vương hầu, tình nguyện cắt tóc đi tu, ngày nay trông thấy nghìn vàng, đã vội đổi thay chủ ý.
Nàng Hạng Hoa Tu nói:
- Dám thưa quan Tần học sĩ! Ngài dạy thế là lầm. Lúc nãy khác, bây giờ khác, khi nào lại giống nhau được!
Hùng Khởi Phượng nói:
- Không phải là tôi có ý gì mà giúp nàng đâu. Tôi thấy nàng là người thanh trinh, vậy nghĩ thương tình, bỏ tiền ra giúp, nay nàng lại về với tôi thì trái với lòng tôi muốn giúp nàng. Vả nhà tôi xưa nay gia pháp rất nghiêm, thân phụ tôi đã làm đến vương tước mà cũng không có thị thiếp, thân mẫu tôi càng nghiêm khắc hơn. Nếu tôi đem nàng về thì tất hai thân tôi không bằng lòng. Tôi bị quở mắng đã đành, nhưng lại thêm dở dang cho nàng vậy.
Hùng Khởi Phượng nói xong, truyền đem hai mươi lạng bạc chi tiền rượu cho mụ chủ, rồi đứng dậy ra về. Tần Sĩ Thăng nắm lại mà bảo rằng:
- Niên huynh đã bỏ nghìn vàng ra cứu nàng, nay nàng đang độ tuổi xanh, nỡ nào mà để cho phải xuất gia đầu Phật. Đệ thiết tưởng niên hi cũng nên nghe lời nàng mà cứu nàng cho trọn.
Hùng Khởi Phượng nói:
- Nếu vậy thì niên huynh nên đem nàng về nhà, tôi nghe lệnh tẩu là người hiền thục, dẫu vườn có thêm hoa, chắc cũng không thị phi gì vậy.
Tần Sĩ Thăng nói:
- Có lẽ nào lại như thế! Nàng là người của niên huynh, khi nào đệ dám đoạt ái. Huống chi nàng chỉ yêu mến người hào hiệp, mà đệ nay là một kẻ hàn sĩ, dẫu trong nhà không nạn sư tử, nhưng cành hoa kia hồ dễ đem cắm cây này!
Nàng Hạng Hoa Tu nói:
- Tiẹn thiếp chỉ muốn được quý nhân hứa cho một lời thì dẫu phải chờ đợi trong tám năm hoặc mười năm, tiện thiếp cũng không quản, khi nào ngài bẩm với cao đường, có thể cho tiện thiếp về được sẽ hay.
Hùng Khởi Phượng cúi đầu ngẫm nghĩ, chưa kịp trả lời thì Tần Sĩ Thăng nói:
- Nàng Hạng Hoa Tu đã quyết chí như thế thì Tần Sĩ Thăng này dẫu không phải là tay hào hiệp, nhưng cũng chẳng đến nỗi máu lạnh như ai, vậy xin hãy tạm đem nàng về lưu trú tại nhà tôi, ở riêng một chốn tiểu lậu, đợi khi nào niên huynh bẩm với cao đường rồi, bấy giờ sẽ đón ngọc nhân về nơi kim ốc.
Mọi người nghe nói đều khen là diệu kế. Hùng Khởi Phượng cũng xin cảm tạ lòng quý báu ấy, lại bảo nàng Hạng Hoa Tu rằng:
- Quan Tần học sĩ đây vốn tính hiền hậu, vậy nàng cứ về đấy đợi tôi trong nửa năm hoặc một năm, nếu không được tin tôi thì đã có Tần học sĩ đây, nàng cũng không ngại. Tôi xin nói thực nàng chớ hiểu lầm.
Nàng Hạng Hoa Tu liền quì xuống lạy tạ, khóc mà nói với Hùng Khởi Phượng rằng:
- Tôi muốn xin quý nhân một vật làm kỷ niệm.
Hùng Khởi Phượng ngần ngừ không chịu cho, Tần Sĩ Thăng đứng gần đấy, liền cởi viên ngọc đeo lưng của Hùng Khởi Phượng mà đưa cho nàng Hạng Hoa Tu. Nàng cầm lấy xem thì tức là một viên “Song long bảo châu”, ánh sáng lóng lánh. Hùng Khởi Phượng toàn đòi lại, nàng Hạng Hoa Tu đã giắt ngay vào trong mình, rồi cúi đầu lạy tạ. Lại quay lại lạy ta Tần Sĩ Thăng. Tần Sĩ Thăng hớn hở mà bảo rằng:
- Nếu vậy hay! Bây giờ nàng đã chịu lạy tôi rồi đó.
Bấy giờ mụ chủ và các ca nữ cùng tiễn Hùng Khởi Phượng ra cửa. Hùng Khởi Phượng từ biệt Tần Sĩ Thăng rồi lên ngựa về thành. Tần Sĩ Thăng tức khắc truyền người sắp kiệu để đưa nàng Hạng Hoa Tu về. Mụ chủ giả cách khóc lóc mà thương tiếc nàng. Nàng Bách Hoa Khôi năm lấy vạt áo thổn thức mà bảo rằng:
- Hiền muội ơi! Ngày nay thật là ngày đăng tiên của em đó. Thương thay cho chị đây, bao giờ lại được sum họp cùng em. Sau này em về ở phủ quốc cữu, cũng chớ nên quên những lời đồng tâm với nhau trong mấy tháng trời vậy.
Nàng Hạng Hoa Tu ứa nước mắt mà đáp rằng:
- Chị Bách Hoa Khôi ơi! Trong mấy tháng trời nay chị có lòng tử tế mà chu toàn cho em, ơn ấy bao giờ quên được. Sau này còn mong có ngày gặp gỡ cùng nhau.
Trong khi tiễn biệt, ai nấy đều nước mắt sụt sùi. Tần Sĩ Thăng về trước, liền đem sự thể đầu đuôi thuật chuyện cho vợ là Trương phu nhân nghe. Trương phu nhân mừng rỡ, vội sai nữ tỳ ra đón nàng Hạng Hoa Tu vào. Khi nàng Hạng Hoa Tu bước vào. Trương phu nhân trông thấy vẻ ngọc nét hoa, cũng phải ngây người ra mà nhìn, lấy làm kinh ngạc. Nàng Hạng Hoa Tu liền sụp xuống đất lạy chào, Trương phu nhân vội vàng đỡ dậy mà bảo rằng:
- Tấm nhan sắc xinh đẹp tuyệt trần nà, chẳng hay Hùng quốc cữu khéo tu từ kiếp nào mà gặp gỡ duyên may ấy! Xin mời nàng ngồi!
Nàng Hạng Hoa Tu nói:
- Có lão gia và phu nhân, khi nào tiện tỳ nào dám ngồi.
Tần Sĩ Thăng cười mà bảo rằng:
- Để tôi lui ra cho nàng ngồi nói chuyện. Nàng Hạng Hoa Tu ơi! Nội nhân tôi đây cũng là một tay nữ sĩ, tính ham xem sách lắm, nàng ngồi nói chuyện với nội nhân tôi tôi cho vui. Nhà tôi vốn nho môn thanh bạch, ăn uống không được xa hoa như các bậc vương hầu, nhưng nàng cũng nên nhẫn nại ít lâu để chờ đợi Hùng quốc cữu.
Tần Sĩ Thăng vừa nói vừa đứng dậy lui ra. Trương phu nhân kéo tay nàng Hạng Hoa Tu mời ngồi. Nữ tỳ pha trà uống, rồi bẩm với Trương phu nhân rằng:
- Dám bẩm phu nhân! Phu nhân truyền cho nàng Hạng Hoa Tu ngủ tại chỗ nào, để chúng tôi sửa soạn!
Trương phu nhân truyền chọn chốn tây lâu, để cho nàng Hạng Hoa Tu ở. Các nữ tỳ vâng mệnh, tức khắc đem màn trướng gối nệm lên chốn tây lâu mà kê giường nằm. Nàng Hạng Hoa Tu cảm tạ Trương phu nhân mà rằng:
- Chúng tôi chút thân lưu lạc, hổ phận tôi đòi, nhờ lão gia đây nói với Hùng quốc cữu mà cứu vớt cho. Nay lại gặp phu nhân có lòng tử tế, kẻ hèn mọn này được chỗ nương thân.
Trương phu nhân nói:
- Nàng dạy quá lời! Nàng có mắt tinh đời mà biết được Hùng quốc cữu, vì Hùng quốc cữu còn sợ lệnh cao đường mà chưa dám đem nàng về. Phu quân tôi đây chẳng qua cũng là “Thành nhân chi mỹ” ( giúp nên sự tốt của người) mà khiến nàng phải tạm nương náu ở đây, lại thêm một sự buồn rầu cho nàng vậy.
Nàng Hạng Hoa Tu nghĩ thầm: “Phu nhân nói năng thật là khôn ngoan rất mực! Cứ xem nhan sắc thì phu nhân chẳng qua cũng thường bậc trung, nhưng đức hiền thục, quả đã hơn người vậy.” Trương phu nhân đưa nàng Hạng Hoa Tu lên chốn tây lâu, rồi hai người lại cùng ngồi nói chuyện. Nàng Hạng Hoa Tu khóc lóc mà kể hết nông nỗi trong mười năm trời cho phu nhân nghe. Từ khi cha nàng làm tri phủ Thanh Châu như thế nào, phải bồi khoản lương tiền những thế nào, cho đến khi người chết của hết, cửa nhà sa sút, nàng phải nương tựa ở cữu mẫu mà bị bán mình vào chốn yên hoa.
Nàng Hạng Hoa Tu nói:
- Phu nhân ơi! Thương hại cho thân tôi mới lên mười tuổi, đã lưu lạc vào nhà hồng lâu Khi tôi mới đến dấy, thật ngơ ngẩn chưa biết thế nào, học hát học đàn còn lấy chi làm vui thích. Mụ chủ coi tôi như mỏ vàng của mụ, mà trong bọn chị em hồng phấn đều phải nhường là bậc hoa khôi. Không ngờ năm tôi mười ba tuổi, mụ chủ đem tôi ép khách, tôi quyết chí không theo thì mụ đánh đập khổ sở, thấm thoát lại ba năm nữa cho đến ngày nay. Một hôm mụ đánh lừa tôi, giả cách thương xót tôi là con nhà trâm anh, muốn đem tôi gởi vào nhà chùa, để mụ giữ lấy chút âm đức. Tôi cũng nghĩ như vậy, ai ngờ mụ lòng lang dạ thú kia lại đem tôi bán vào Xuân Vân viện. Khi tôi vào tới đấy, chủ nhân tức khắc dùng cách nghiêm hình. Thương xót cho thân tôi, thịt nát máu dây, trăm phần đau đớn. Tôi phải nói chủ nhân khất lại ít ngày, để may ra có ai thương đến mà chuộc tôi chăng. Nhờ có chị Bách Hoa Khôi ở đấy cũng kêu van giúp, chủ nhân mới nghe. Phu nhân ơi! Vương tôn quý khách bước chân đến đấy, nào ai là người tiếc ngọc thương hoa. Ngờ đâu oan nghiệt đã qua, cho nên lòng trời xui khiến, có Hùng quốc cữu đến. Lại được lão gia đây nói giúp mà chút thân bèo bọt có chỗ nương nhờ. Nay gặp phu nhân lại là một đức Quan Âm hiện thân, xin phu nhân rộng lượng mà dạy bảo cho. Trong nghề mũi chỉ đường kim, tôi đã hơi am hiểu; vậy về việc may vá nếu phu nhân dùng đến, tôi cũng giúp được một vài.
Nói xong, quì xuống đất mà thưa rằng:
- Phu nhân ơi! Ngày nay tôi không gặp được phu nhân thì đành phải cắt tóc đi tu, đem thân nương nhờ bóng từ bi. Đó là câu tâm phúc của kẻ hèn mọn này, xin thực tình mà giải tỏ cùng phu nhân vậy.
Trương phu nhân nghe nói động lòng thương xót, cũng ứa hai hàng nước mắt xuống, và lấy tay đỡ nàng Hạng Hoa Tu dậy mà bảo rằng:
- Cảnh ngộ của nàng, nói ra càng thêm não lòng tôi nghe đã được hiểu hết. Nàng cứ yên tâm ở đây, cùng tôi kết làm chị em bạn. Nhà tôi dẫu thanh bạch, nhưng chưa đến nỗi phải lo sự ấm no. Nàng ở đây chờ đợi nửa năm hoặc một năm, hễ quốc cữu không đón nàng về thì tôi sẽ sang tận nơi mà mà nói giúp cao đường cùng phu nhân nhà quốc cữu, thế nào cũng yên việc. Duy có một điều này tôi xin nói thực: số là phu quân tôi vốn tính phong lưu, hay ham những đường hoa nguyệt. Đã đành rằng đối với quốc cữu thì tình bằng hữu là trọng, nhưng chỉ sợ trong khi quá chén, khó lòng giữ được chu toàn. Thế thì nàng nên ở biệt tại chốn tây lầu này, rồi hàng ngày tôi sang đây trò chuyện. Tôi thấy nàng là người trinh bạch, vậy phải nói thực, xin nàng nhớ lời.
Nàng Hạng Hoa Tu cúi đầu lạy tạ mà thưa rằng:
- Đạ tạ những lời huấn dụ của phu nhân, nếu vậy thì phu nhân thật là một người đại nhân đức.
Trương phu nhân đỡ dậy rồi cười mà bảo rằng:
- Hai ta đã kết giao với nhau thì nên phải thực tình, nhưng tôi mới được biết nàng, mà nói như thế: “giao thiển nhi ngôn thâm” ( mới kết giao mà nói những câu tâm phúc) vậy. Còn một điều này nữa tôi cũng xin nói:
- Tên nàng là hai chữ “Hoa Tu”, nhưng hoa nở rồi có lúc hoa rụng, khác nào cái gương bạc mệnh của khách hồng nhan. Đàn bà con gái, chỉ quý về có một điều giữ được danh tiết. Tấm lòng trinh bạch của nàng ví như là một viên ngọc trong giá trắng ngần, vậy nàng nên đổi tên làm hai chữ “Nhọc Thanh” thì mới quả là danh thực tương xứng vậy.
Nàng Hạng Hoa Tu mừng rỡ, liền cúi đầu lạy tạ. Trương phu nhân mà rằng:
- Đa tạ phu nhân đã đem hai chữ “Ngọc Thanh” ra mà đặt tên cho kẻ hèn mọn này. Tiện thiếp ngày nay chẳng những vượt khỏi nơi khổ hải, lại được bước chân vào chốn thiên đường. Phu nhân ơi! Hạng Ngọc Thanh này biết đời kiếp nào mà báo đáp được ơn trời bể ấy.
Hai người chuyện trò cùng nhau, đã gần hết canh ba, bấy giờ Trương phu nhân mới cáo từ lui ra, bảo một đứa nữ tỳ tên gọi Thúy Liễu ngủ tại đấy để hầu hạ nàng Hạng Ngọc Thanh. Nàng Hạng Ngọc Thanh thơ dài mà than rằng:
- Sao thế gian có người đại hiền như thế này! Tài trí khôn ngoan, tính nết lại trung hậu, Hạng Ngọc Thanh này phúc bạc, chẳng biết có được sum họp cùng một bậc đại hiền này hay không?
Nói xong, cởi áo ngoài đi nằm, , con nữ tỳ Thúy Liễu thì nằm ở một cái phản thấp. Bấy giờ nàng Hạng Ngọc Thanh vui lòng hả dạ, lại ngẫm nghĩ đến những việc ban ngày: “Ta chưa biết được cao đường nhà Hùng quốc cữu nghiêm khắc những thế nào, và chính thất phu nhân ra làm sao, giả sử ta chờ đợi trong tám năm hoặc mười năm mà việc không đâu thì há chẳng uổng phí một đời xuân xanh lắm ru!” Nàng Hạng Ngọc Thanh nghĩ quanh nghĩ quẩn, rồi lòng lại nhủ lòng rằng: “Hạng Ngọc Thanh ơi! Ngày nay chắc nàng đã được mãn nguyện còn áy náy chi nữa! Lúc đầu nàng có ngờ đâu là lại có tay hào hiệp chịu bỏ nghìn vàng ra để cứu vớt cho nàng. Nay gặp Hùng quốc cữu, lại gặp một vị phu nhân từ thiện này thì thân nàng khác nào như một người đã được đăng tiên, sao nàng lại còn tham cầu phú quý. Giả sử sau khi tám năm hoặc mười năm, Hùng quốc cữu có thất ước mà nàng phải cắt tóc đi tu nữa thì trước là sám hối tội ác của mình, sau là báo đền ân nghĩa của Hùng quốc cữu, há chẳng hay lắm ru!”
Bấy giờ chủ ý nàng Hạng Ngọc Thanh đã quyết định, mới nằm thiu thiu mà ngủ thiếp đi.
Lại nói chuyện Trương phu nhân về đến trong phòng, Tần Sĩ Thăng tươi cười mà đứng dậy đón, rồi bảo rằng:
- Phu nhân ơi! Phu nhân chuyện trò vui vẻ, không còn nghĩ thương đến kẻ ngồi một mình vò võ ở trong chốn phòng không mà chờ đợi thâu canh này. Bây giờ đã quá canh ba rồi, chẳng mấy lúc nữa là trời sáng. Thế nào, nàng Hạng Hoa Tu nói những chuyện gì, nàng đã từng trải được bao nhiêu vương tôn quý khách rồi hay là hoa thơm vẫn còn phong nhụy vậy.
Trương phu nhân ngồi xuống ghế, nghiêm sắc mặt mà thuật chuyện cho nghe và bảo rằng:
- Phu quân chớ nên khinh bỉ người con gái ấy! Người con gái ấy thật là một bậc kiên trinh tiết liệt, chẳng những trong bọn nữ lưu không ai sánh kịp, mà dẫu đến các bậc tu mi nam tử cũng hồ dễ đã được mấy người.
Trương phu nhân lại nói cho Tần Sĩ Thăng biết rằng đã đổi tên nàng Hạng Hoa Tu ra làm Hạng Ngọc Thanh. Tần Sĩ Thăng cười mà bảo rằng:
- Phu nhân cũng khéo đa tình mà lo thay cho nàng lắm nhỉ! Chắc rằng trong mười năm nữa, nàng có một lòng thủ tiết được với Hùng quốc cữu hay không? Huống chi mười năm nữa thì nàng hai mươi sáu tuổi, bấy giờ bóng thiều quang đã quá chiều xuân, Hùng quốc cữu vị tất đã còn có lòng yêu mến. Phu nhân ơi! Phu nhân chớ vội khen, tôi thiết nghĩ thủ tiết trong mười năm trời, cũng là một việc rất khó khăn vậy.
Tần Sĩ Thăng nói xong thì Trương phu nhân sầm nét mặt lại bảo rằng:
- Phu quân chớ nên nói những lời khinh bạc như thế. Sao phu quân không nhớ câu chuyện thuở xưa: Lương Hồng cử án vẫn vui cùng Mạnh Quang Tề; Tề vương khởi nghiệp cũng nhờ về Vô Diệm; duyên số người ta chẳng qua bởi trời, nhan sắc mà làm gì! Huống chi Hùng quốc cữu là người quân tử, khi nào lại vì cớ nhan sắc suy kém mà thay đổi tấm lòng vàng đá hay sao!
Tần Sĩ Thăng nghe nói cả cười mà rằng:
- Phu nhân ơi! Tôi nói đùa đó mà thôi, cớ sao phu nhân lại có ý giận. Phu nhân năm nay dẫu lớn tuổi, nhưng so với các cô thiếu nữ, hồ dễ đã kém vẻ xuân. Huống chi tôi cùng phu nhân là vợ chồng kết phát với nhau, dẫu cung tử tức có muộn màng, nhưng hai chữ “Tiểu tinh” tôi đây cũng chưa hề dám nghĩ đến. Thôi thì phu nhân cứ đi nghỉ, mặc chuyện nhà người ta,can chi mà bàn.
Sáng hôm sau, con tỳ nữ Thuý Liễu vào, tay cầm một trăm lạng bạc, trao cho Trương phu nhân mà bẩm rằng:
- Bẩm phu nhân! Nàng Hạng Ngọc Thanh bảo con đem món tiền này để nhờ phu nhân mua hộ cho mấy bộ áo vải thường và các thứ đồ dùng v.v...
Tần Sĩ Thăng cười mà bảo rằng:
- Nàng định sắm sửa lịch sự để nay mai sắp về phủ quốc cữu đó chăng, chứ áo mặc thường thì hà tất phải mua cho lắm.
Trương phu nhân nói:
- Đây là nàng định mua ác mặc thường đó thôi, chứ nếu sau này vê phể quốc cữu, lo gì chẳng có năm bảy bộ áo rất lịch sự đưa đến. Ta nhận món tiền này mà sắm sửa cho nàng còn thừa bao nhiêu thì để rồi nàng may áo mùa rét .
Từ đó nàng Hạng Ngọc Thanh cứ yên ở lại nhà Tần Sĩ Thăng. Lại nói về Hùng Khởi Phượng về phủ, vào yết kiến cha mẹ, bẩm rõ về việc thương tình nàng Hạng Hoa Tu, đã đem nghìn vàng chuộc cho nàng ra, mà gởi tại nhà Tần Sĩ Thăng, để Tần Sĩ Thăng thu xếp cho nàng sau này đi xuất gia đầu phật. Vợ chồng Hùng Hiệu nghe nói gật đầu, Hùng Khởi Phượng lại cáo từ lui vào nhà trong thăm vợ là nàng Lương Cẩm Hà. Bấy giờ Lương phu nhân vẫn ngồi nghiễm nhiên không ngồi cựa cậy, hình như không trông thấy Hùng Khởi Phượng đến.. Hùng Khởi Phượng khẽ vỗ vào vai, rồi cười mà hỏi rằng:
- Sao phu nhân lại ngồi một mình vò võ như thế, không cùng biểu muội ngâm thơ vịnh phú cho đỡ buồn.
Hùng Khởi Phượng vừa nói vừa cầm tay Lương phu nhân, rồi ngồi ở bên cạnh, Lương phu nhân cười nhạt mà bảo rằng:
- Lạ thật! Việc này lạ thật! Nghìn vàng mua một trận cười. Tôi đây là đàn bà con gái, chỉ được phép ngồi ở trong phòng, còn tha hồ co thiên hạ sung sướng.
Lương phu nhân vừa nói vừa có ý giận, mặt đỏ bừng bừng, đứng dậy đi chỗ khác. Hùng Khởi Phượng ngồi ngay người ra mà rằng:
- Phu nhân ơi! Phu nhân thấy tôi bỏ nghìn vàng mua một người mỹ nữ mà có ý ghen đó chăng. Tôi hãy xin hỏi phu nhân: nếu là người đắm nguyệt say hoa thì đêm nay khi nào tôi lại còn về đây, tất tôi đã ngủ tại Xuân Vân viện. Dẫu ngày mai tôi về thì hai thân tôi cũng cho là đi chơi phiếm một đêm, đã lấy chi làm tội nặng. Vả vừa rồi hai thân tôi không hề nói gì, mà bây giờ tôi vào đây, phu nhân lại nói lôi thôi như thế, thật là người không biết nghĩ. Nực cười thay cho đứa bất hiền này, tiếng đàn êm ái trong sáu năm trời, ai ngờ vì việc này mà thành ra ngang cung vậy.
Lương phu nhân nghe nói lại càng căm tức, cau mày nghiến răng mà rằng:
- Tôi đẹp duyên cùng phu quân trong sáu năm trời, nào tam tòng tứ đức, tôi đã có điều gì trái phép, mà nay phu quân nỡ mở miệng nó tôi là đứa bất hiền! Thôi bây giờ phu quân cứ đi mua một con kỹ nữ mà lập riêng vũ trụ giang sơn, còn tôi vẫn là đứa bất hiền, tôi há lại không biết hay sao! Nực cười thay phu quân sai người về nói dối hai thân như thế mà hai thân cũng tưởng thật! Chao ôi! Một con kỹ nữ mà bảo là con nhà lương gia! Một con kỹ nữ mà bảo là tình nguyện xuất gia đầu Phật! Có phải quả nhiên là kế lừa dối để đem nghìn vàng mà mua một con kỹ nữ đó chăng? Phun quân muốn mua kỹ nữ thì mặc phu quân, cớ sao lại buộc tôi cái tiếng ghen ghét. Trời ơi! Hà tất phu quân phải nhiếc mắng tôi là kẻ bất hiền, ân tình phu quân cùng tôi trong sáu năm trời, ngày nay cũng liều như ngọn nước thủy triều chảy xuôi vậy. Phu quân đã mắng nhiếc tôi là đứa bất hiền thì bây giờ phu quân cùng tôi lên nhà trên để bẩm xem hai thân phán đoán ra làm sao? Tôi đây có phạm tội gì trong lệ “Thất xuất” chăng?
Lương phu nhân nói xong, nước mắt ràn rụa chảy xuống như mưa. Hùng Khởi Phượng lại càng giận lắm mà rằng:
- Đàn bà chỉ một cái ghen tức là có tội! Bảo rằng bất hiền, lại còn nên oan hay sao! Dám đem bụng dạ nhỏ nhen của đàn bà mà lường cái lòng quang minh chính đại của người quân tử thì phỏng có đáng ghét hay không?
Hùng Khởi Phượng vừa nói vừa vùng vằng đứng dậy quay đi. Lương phu nhân liền nắm lấy áo, khóc òa lên mà rằng:
- Không! Không đi được! Phu quân cứ phải cùng lên nhà trên với tôi!
Bấy giờ Hùng Khởi Phượng hầm hầm nổi giận, quên không nhớ là Lương phu nhân đang có thai, mới lấy tay giẫy mạnh một cái mà bảo rằng:
-Đứa bất hiền này đã làm cho ta đau lòng, lại còn muốn làm cho hai thân ta thêm phiền não, mới hả dạ hay sao!
Nói xong, tức khắc đi sang thư phòng. Lương phu nhân nặng nề yếu đuối, bị Hùng Khởi Phượng giẫy ngã lăn xuống đất. Các nữ tỳ vội vàng xúm lại đỡ Lương phu nhân ngồi lên trên ghế, bỗng thấy nét mặt tái mét, chỉ nức nở khóc mà không nói câu gì. Các nữ tỳ sợ hãi, bảo nhau chạy lên nhà trên báo với vợ chồng Hùng Hiệu.
Khi Vệ Dũng Nga vương phi bước vào thì Phi Loan quận chúa đang ngồi bên cạnh Lương phu nhân mà nỉ non khuyên giải. Phi Loan quận chúa thấy Vệ Dũng Nga vương phi đến, vội vàng đứng dậy chào. Lương phu nhân có ý hổ thẹn, đang nằm gượng dậy mà nói với Vệ vương phi rằng:
- Vừa rồi con có vấp chân, nhưng chưa hề ngã, nữ tỳ thấy vậy vội vàng lên báo, để khiến cho vương phi kinh sợ mà tới đây, thật là lỗi tại con vậy.
Vệ vương phi dặn bảo các nữ tỳ phải trông nom cẩn thận, rồi cùng Phi Loan quận chúa quay ra. Vệ vương phi vừa đi vừa hỏi Phi Loan quận chúa rằng:
- Điệt nữ ơi! Con đến trước ta, vậy con có biết vì duyên cớ chi mà xảy ra việc này hay không? Phi Loan quận chúa nói:
- Điệt nữ chưa ngủ, có mụ Thôi mẫu vẫn hầu bên biểu tẩu (trỏ Lương phu nhân) con đến thuật chuyện cho con nghe rằng: Vì việc đem nghìn vàng mua một con kỹ nữ, nuôi giấu ở ngoài mà hai vợ chồng cãi nhau.
Biểu huynh con nổi giận, mắng biểu tẩu con là đứa bất hiền. Biểu tẩu con nắm lấy áo, định kéo kên nhà để mách cô mẫu. Biểu huynh con lại nhiếc mắng là đứa bất hiền kia đã phạm tội ghen tương là một điều trong “thất xuất”, nay lại còng muốn làm kinh động hai thân hay sao! Biểu huynh con nói thế, rồi giẫy một cái mà quay đi, biểu tẩu con nặng nề yếu đuối cho nên ngã lăn xuống đấy. Việc này thì biểu huynh và biểu tẩu đều có lỗ cả. Con thiết tưởng cô mẫu bất tất phải hỏi đến, chỉ nên gọi riêng biểu huynh con mà khuyên bảo từ rày chớ có như thế nữa, kẻo để lo sợ cho hai thân.
Vệ Dũng Nga vương phi nghe nói, vui vẻ mà bảo rằng:
- Con nói chí phải! Biểu huynh con thật nóng nảy quá, không nhớ vợ đang hoài thai. Còn con dâu ta xưa nay vốn tính hiền hòa, không biết cớ sao ngày nay lại xảy ra chuyện ghen tuông ấy. Âu là ta cũng phải nghoảnh mặt làm ngơ, để cho người ngoài khỏi sanh lời dị nghị. Điệt nữ ơi! Ta nhờ con sáng sớm ngày mai, lại vào mà liệu lời khuyên giải, khiến biểu tẩu con biết rằng biểu huynh con vốn tính nóng nảy, chứ xưa nay vẫn là người đứng đắn, không hề đắm nguyệt say hoa.
Vệ Dũng Nga vương phi lại tủm tỉm cười mà rằng:
- Điệt nữ ơi! Ta lạ cho tính của Hùng Khởi Thần thì nó lại không giống anh nó chút nào. Nết na hòa nhã, nói năng dịu dàng, sau này vợ chồng con cùng nhau sum họp một nhà, chắc được muôn phần vui vẻ.
Vệ Dũng Nga vương phi nói xong, về phòng yên nghỉ, Phi Loan quận chúa cũng trở về phòng mình. Khi về tới phòng Phi Loan quận chúa cứ trằn trọc mãi không ngủ được, chỉ thở ngắn than dài mà oán trách cha mẹ. Phi Loan quận chúa nói:
- Cha mẹ ơi! Cha mẹ nỡ lòng nào mà bỏ con ở nhà cô mẫu này, khiến thân con khác nào như chiếc én lạc đàn nương náu ở trước mái nhà người ta. Con dâu chẳng ra con dâu, mà con gái cũng chẳng ra con gái, thật là dở dở dang dang vậy. Lại còn nỗi tỏ mẫu ta ở tại quê nhà, chẳng biết đã được bình phục hay chưa? Đoái trông mây bạc, lòng thêm nỗi bồi hồi. Cha mẹ ơi! Chẳng biết thân con sau này rồi ra thế nào! Cứ như lời chị Lương Cẩm Hà nói thì anh Hùng Khởi Phượng là người tính khí cương cường, vợ đang có thai, bụng to vượt ngực, mà nỡ đang tay giẫy ngã, còn ân ái nỗi gì! Vừa rồi cô mẫu ta sơ lo nhị lang (Hùng Khởi Thần) cũng như thế, cho nên tìm lời nói giải, nhưng ta xem nhị lang thì phong độ còn kém anh. Nhu nhược như thể đàn bà, so với tính ta, lại ngang trái khác nhau, sau này cũng khó giữ được duyên ưa phận đẹp.
Phi Loan quận chúa ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nằm thiêm thiếp ngủ. Bỗng thấy mình đứng ở trên một ngọn núi cao, nhìn quanh bốn mặt, lặng ngắt như tờ, chỉ có các giống rằn rết kéo đến, mùi tanh hôi khó chịu. Phi Loan quận chúa đang luống cuống không biết làm thế nào thì bỗng thấy người anh là Triệu Câu một tay cầm thanh bảo kiếm, một tay nắm con xích giao rồi gọi:
- Phi Loan em ơi! Em chớ kinh sợ, anh đã bắt được con yêu quái ấy rồi! Cha mẹ và cô mẫu đều được cứu cả, anh em chị em cũng chẳng phải lo ngại nỗi gì.
Phi Loan quận chúa nghe nói, cúi nhìn con xích giao. Con xích giao ấy hai mắt sáng quắc, trông thấy Phi Loan quận chúa thì ngẩng đầu lên, rớt rãi chảy ra, gió tanh xông mũi. Phi Loan quận chúa kinh hồn mất vía, kêu to một tiếng, rồi sực tỉnh dậy, mồ hôi toát ra đầm đầm, bây giờ mới biết là mơ màng trong giấc chiêm bao vậy.
Lại nói chuyện Đồ Man Hưng Phục vẫn giao thông với Mã Thuận để bày mưu lập kế mà hại Doãn Thượng Khanh và cha con Hùng Hiệu. Một hôm, Mã Thuận đến nói với Đồ Man Hưng Phục rằng:
- Các quan đại thần trong triều, ai cũng cậy thế quan Doãn thừa tướng mà khinh chúng tôi là nội giám. Nhưng không biết rằng nội giám này mà một mai đắc thế thì dẫu uy quyền của quan thừa tướng cũng chẳng vững gì!
Đồ Man Hưng Phục cười mà bảo rằng:
- Chẳng qua tôn ông cũng hiền lành, chứ tôi xem như bọn Quyền Xương và Uông Kim, ai là người không xu phụng, quan Doãn thừa tướng có tiếng người nghiêm trực, mà trông thấy bọn họ, cũng phải chào hỏi tươi cười. Bình Giang vương thì lại càng quá lắm nữa!
Mã Thuận nghe nói, nổi giận mà rằng:
- Cũng là một bọn nội giám hầu cận thiên tử mà chúng lại kẻ trọng người khinh. Đồ Man tiên sinh ơi! Tiên sinh có nghĩ kế chi mà khiến cho tôi khỏi được cái tức này hay không?
Đồ Man Hưng Phục nói:
- Không thể làm gì được! Một người là phụ huynh tả hoàng hậu, một người là cữu tổ hữu hoàng hậu, thế thì tôi đây còn dám nói gì, mà dẫu có nói cũng không nổi. Ngày trước tôi tâu xin lập hữu hoàng hậu, suýt nữa đã bị bọn họ hại đến tính mệnh tôi, bây giờ tôi xin chịu thôi, không dám bàn việc chi nữa.
Mã Thuận nghe nói, đập bàn mà kêu rằng:
Nếu vậy đành để cho bọn họ khinh mình hay sao?
Đồ Man Hưng Phục nói:
- Cũng có cách làm được, nhưng chỉ sợ tôn ông không dám làm.
Mã Thuận mừng mà hỏi rằng:
- Thế nào! cứ nói! thử xem tôi có dám là hay không?
Đồ Man Hưng Phục nói:
- Tôn ông ơi! Vừa rồi có bản tâu ở Cao Ly gởi đến. Số là vua Cao Ly tạ thế, con hãy còn bé, vợ vua Cao Ly là nàng Nam Kim lên làm vua. Nam Kim nữ chủ sợ văn võ triều thần có lòng ly phản, muốn xin thiên triều ta phái cho mấy trọng thần đến để phong vương. Nam Kim nữ chủ thực lòng xin nội thuộc. Trong mấy hôm nay, triều đình đang bàn chưa biết phái ông nào đi. Bây giờ tôn ông nên tâu hữu hoàng hậu phái Doãn Thượng Khanh đi, rồi lại viết riêng một phong thư mật báo cho Nam Kim nữ chủ bảo giữ hắn ở lại Cao Ly để giúp việc chính trị.
Mã Thuận nghe nói, mừng rỡ mà rằng:
- Quả nhiên là một kế rất diệu! Nhưng chỉ hiềm về nỗi Doãn Thượng Khanh năm nay già yếu, mà lại là chỗ thân thích với thái hậu và hữu hoàng hậu, vị tất triều đình đã chịu để cho đi xa.
Đồ Man Hưng Phục cười mà đáp rằng:
- Tôi đã biết trưóc là tôn ông không thể làm nổi. Nhưng còn một kế này nữa.
Nói xong, liền ghé vào tai Mã Thuận mà bảo kế.
NGUYỄN ĐỖ MỤC dịch thuậto0o
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
PHẦN A

Hồi thứ tư
DOÃN THƯỢNG KHANH PHỤNG MỆNH ĐI SỨ
HÙNG KHỞI PHƯỢNG MẮC KẾ BỊ GIAM.


Lại nói chuyện Hùng hậu về cung, bỗng thấy thánh giá giáng lâm, dẫu phiền não mặc lòng, cũng phải gượng cười gượng nói, ai ngờ một đêm vui giả mà long thai bỗng báo tin mừng. Ngặt vì có pháp thuật của Phi Giao hoàng hậu làm cho Hùng hậu suốt ngày lẩn thẩn, hay nói nhảm một mình, có lúc lại ngồi khóc hu huynh. Thân thể mỗi ngày một gầy võ, chỉ còn da bọc xương. Phi Giao hoàng hậu cứ cách một hôm lại đến ân cần thăm hỏi, trông thấy Hùng hậu như thế, biết là pháp thuật của mình đã ứng nghiệm, nhưng vẫn giả cách buồn rầu mà tâu với vua Anh Tôn rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Cứ như bệnh tình của chánh cung hoàng hậu thì cũng hơi nặng, xin bệ hạ cho triệu thái y quan vào để chẩn mạch. Thần thiếp thiết nghĩ có lẽ là vì long thai mà nên bệnh chăng.
Vua Anh Tôn gạt tay mà phán rằng:
- Trẫm e vị tất đã thật bệnh, can chi phải triệu đến thái y qua. Bây giờ trẫm chán con người ấy lắm rồi, từ nay trở đi, xin ái khanh chớ nhắc đến nưa.
Phi Giao hoàng hậu nghe nói mừng thầm, lại vào nam nội thuật rõ sự tình để thái hậu biết và tâu rằng:
- Muông tâu thái hậu! Cứ như thế thì bệnh cũng lạ lắm, xin thánh mẫu cho triệu thái y quan vào, và truyền bảo Vệ vương phi vào ở trong cung để đêm ngày trông nom thuốc thang cho, khiến thần thiếp cũng được yên tâm vậy.
Phi Giao hoàng hậu vừa tâu vừa ứa hai hàng nước mắt xuống. Thái hậu tưởng là thực tình, mới phán bảo rằng:
- Việc đó chẳng qua bởi năm sung tháng hạn, con bất tất phải lo ngại. Vả con vốn là người hiền thục xưa nay, ai lại không biết. Bây giờ không cần hải truyền bảo Vệ vương phi vào cung vội, hãy cho triệu thái y quan vào xem mạch rồi kê đơn thuốc mà tâu với thiên tử.
Phi Giao hoàng hậu nghe nói biết là thái hậu đã trúng cơ mưu của mình, trong lòng mừng thầm, nhưng ngoài mặt vẫn làm ra bộ âu sầu mà tâu với thái hậu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Con đối với chánh cung hoàng hậu đã thực lòng quý mến, chỉ sợ Vệ vương phi lại nghe người ngoài dèm pha mà nghi con có dị tâm chăng. Nếu không có việc hai tên nữ tỳ Dương nguyệt Anh vàTrương Xảo Nhi kia thì con không lo ngại. Ngày nay chánh cung hoàng hậu xảy ra sự gì, con tránh sao cho khỏi mang tiếng là người vong ơn bội nghĩa.
Khi Phi Giao hoàng hậu đang nói thì có Gia Tường công chúa đến, thái hậu cho ngồi hầu một đên, cho nên những lời Phi Giao hoàng hậu tâu bày đều nghe rõ cả. Sau Gia Tường công chúa vào thăm bà Ôn phi, mới thuật chuyện mà ngợi khen Phi Giao hoàng hậu. Đến khi về phủ phò mã, lại thuật chuyện cho Triệu Câu nghe, Triệu Câu cười nhạt không nói câu gì.
Lại nói chuyện Phi Giao hoàng hậu đang ngồi ở trong cung, bỗng thấy nội giám Mã Thuận bước vào ra ý buồn rầu, rồi quì xuống đất mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Ngày nay Hùng hậu ngọc thể khiêm an, thái y quan vào xem mạch, nói vì cớ uất ức thành bệnh. Thế mà cha con Bình Giang vương ở trong triều đường lại nói năng càn dỡ. Chúng nói: “Hễ tả hoàng hậu có mệnh hệ nào thì...”
Phi Giao hoàng hậu hỏi:
- Thì ...thế nào?
Mã Thuận tâu rằng:
- Trăm lạy lệnh bà! Kẻ hạ thần không dám tâu.
Phi Giao hoàng hậu nói:
- Ta xá tội cho nhà ngươi, nhà ngươi cứ tâu.
Mã Thuận cúi lạy dập đầu rồi nói:
- Chúng nói hữu hoàng hậu phải thường mệnh. Sau chúng lại còn nói nhiều điều thậm tệ nữa.
Phi Giao hoàng hậu hỏi:
- Nó còn nói ta những thế nào?
Mã Thuận lại lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Trăm lạy lệnh bà! Chúng nói là lệnh bà làm mê hoặc thánh thượng, bề ngoại giả cách tôn kính tả hoàng hậu, mà bề trong thì dùng mưu gian để mua chuộc lấy cái tiếng hiền thục ở trong sáu cung. Chúng lại bảo là ngày nay triều đình có hai thánh thượng. Còn nhiều điều nói ra không tiện, chỉ xin lệnh bà từ nay nên phải lưu tâm một chút.
Phi Giao hoàng hậu cau mày nghiến răng, vùng vằng đứng dậy, đạp bàn mà nguyền rủa rằng:
- Hay cho Hùng Hiệu! Nhà ngươi dám cậy quyền ỷ thế mà coi thường ta, mối thù này thê tất phải báo. Ta chỉ nghĩ lời hai thân dặn bảo, cho nên không nỡ lòng nào, ai ngờ hắn lại dám nói năng càn dỡ như thế!
Phi Giao hoàng hậu vừa nói vừa ngồi xuống ghế cúi đầu ngẫm nghĩ, chưa biết dùng kế gì để hại họ Hùng, Mã Thuận lại tâu rằng:
- Muôn tâu lệnh bà! Lệnh bà chớ có nổi giận mà khiến cho người ta biết được ý mình, chỉ nên cứ cười nói như thường mới được. Hễ thánh giá giáng lâm thì lệnh bà cố tâu cho con Hùng Hiệu là Hùng Khởi Phượng phải đi sứ Cao Ly. Lại còn quan thừa tướng là Doãn Thượng Khanh cũng hay bè đảng ủng hộ cho Hùng Hiệu lắm. Hùng Hiệu dám cậy thế hành hung, cũng là nhờ có uy quyền của quan Doãn thừa tướng. Nguyên ngày nay Cao Ly nữ chủ là nàng Hạng Nam Kim dâng biểu cầu nội thuộc mà xin phái mấy viên đại thần sang để phong vương. Thánh thượng chưa biết phái ai, nếu lệnh bà bảo tấu thì tất thánh thượng phải nghe lời, dẫu thái hậu cũng không thể ngăn trở được.
Mã Thuận vừa lui ra khỏi thì có thánh giá đến. Phi Giao hoàng hậu vội vàng chạy ra quì xuống nghênh tiếp. Vua Anh Tôn nét mặt tươi cười, lấy tay đỡ dậy rồi cùng vào ngồi ở trong cung. Phi Giao hoàng hậu tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Thái y quan vào xem mạch nói bệnh tình của chánh cung nương nương không phải vì long thai chẳng biết có tin được hay không?
Vua Anh Tôn cả cười mà phán rằng:
- Ái khanh chớ lo ngại! Cần chi cái việc nhỏ mọn ấy mà ngày nào cũng nghĩ đến. Bây giờ trẫm có một việc đang muốn bàn với ái khanh. Nguyên là vua Cao Ly tạ thế, con hãy còn bé, mới lên sáu tuổi. Vợ là nàng Nam Kim lên làm nữ chủ, dâng biểu cầu nội thuộc, muốn xin mấy vị văn thần sang phong, cho trọng sư thể. Trẫm nghĩ cưa chọn được ai. Vừa rồi, Mã Thuận có tâu với trẫm rằng trong triều ngày nay chỉ có Doãn Thượng Khanh là người tài năng luyện đạt, đã trải thờ ba triều, hiện đang làm thừa tướng, nhưng chỉ e năm nay đã bảy mươi tuổi, mà lặn lội sang đến Cao Ly, tưởng cũng khó khăn lắm thay!
Phi Giao hoàng hậu nghe nói mừng thầm mà tâu rằng:
- Đã đành rằng chánh sứ thì có quan Doãn thừa tướng rồi, nhưng phó sứ đã chọn được ai chưa?
Vua Anh Tôn nói:
- Phó sứ chưa chọn được ai cả.
Phi Giao hoàng hậu liền tâu rằng:
- Quan bộ thị lang là Hùng Khởi Phượng tài kiêm văn võ, lại là một vị hoàng thân. Nếu được Hùng Khởi Phượng làm phó sứ thì cái mưu nội thuộc của Cao Ly nữ chủ kia, chắc phải thành công vậy.
Phi Giao hoàng hậu nói chưa dứt lời thì vua Anh Tôn đã tấm tắc khen phải mà rằng:
- Áci khanh bảo cử, quả được lương tài! Thế mà trẫm vẫn chưa nghĩ đến.
Nói xong, tức khắc ban chiếu thư xuống, sai Doãn Thượng Khanh và Hùng Khởi Phượng đi sứ Cao Ly. Hôm ấy cha con Hùng Hiệu ở trong triều về. Vệ vương phi nghe tin con Hùng Khởi Phượng phải đi sứ Cao Ly, ngồi ngẩn người ra. Hùng Hiệu gọi Hùng Khởi Phượng đến mà bảo rằng:
- Hùng Khởi Phượng con ơi! Cha con ta đội ơn triều đình, mũ cao áo rộng, trơng mấy mươi năm trời nay, chưa biết lấy chi mà báo đáp. Ngày nay có việc di làm phó sứ sang Cao Ly này, chính là dịp khiến cho con được “Tận trung báo quốc” đó, Doãn thừa tướng năm nay tuổi già, con đi với người, nên phải trông nom cẩn thận, bởi vì Nam Kim nữ chủ dẫu muốn nội thuộc, nhưng ta sợ người Cao Ly vị tất đã một lòng trung thành. Hoặc thần hạ không thuận theo, hoặc nữ chủ lại có ý hối chăng. Vậy con đến đấy, nên liệu thế mà làm, cốt sao cho người Cao Ly phải kính phục. “Dương danh hiển thân” tức là đại hiếu, con nghĩ sao cho khỏi thẹn là phường vá áo túi cơm vậy.
Hùng Hiệu nói xong Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Mấy lời cha dặn con, thật đã hết điều, ta không cần phải dặn thêm nữa. Nhưng đên nay con nên vào trong phòng mà ân cần từ biệt cùng vợ con, để sáng mai ra đi.
Hùng Khởi Phượng nói:
- Xin thân mẫu chớ nhắc đến đứa bất hiền ấy, con không muốn nhìn mặt nó nữa. Còn những lời huấn dụ, con xin ghi lòng tạc dạ, quyết không dám để di nhục đến hai thân.
Hùng Khởi Phượng lui ra, Hùng Hiệu mới hỏi duyên cớ làm sao. Vệ Dũng Nga vương phi phải kể hết đầu đuôi cho Hùng Hiệu nghe. Hùng Hiệu nghe xong tủm tỉm cười mà nói rằng:
- Nếu vậy thì con dâu ta thật là vô lễ! Không biế rằng con ta há phải như ai mà dám nói năng càn rỡ đến thế. Con ta đi chuyến này cũng chẳng lâu gì, chỉ trong nửa năm, sẽ lại về tới nơi. Tài trai nên có khí khái, ta chớ cưỡng bách nó phải chịu khuất phục một người đàn bà. Xem ngay như tôi cùng phu nhân thuở xưa, nói về võ công thì phu nhân đã nên một tay nữ tướng. Hai ta cùng làm tả hữu tiên phong mà bao giờ tôi cũng không bằng phu nhân. Thế mà từ khi triều đình giáng chỉ cho được cùng nhau đẹp duyên cầm sắt, cung đàn êm ái, trong hai mươi năm trời thường như một ngày.
Hùng Hiệu nghoảnh lại bảo Phi Loan quận chúa rằng:
- Điệt nữ ơi! Chỉ vì thế mà ta không bao giờ bàn đến sự thêm phòng, chứ nếu vương phi mà ra ý khắc nghiệt thì ta là kẻ vũ phu, vị tất đã chịu bó tay ở trong khuôn phép vậy.
Hùng Hiệu nói xong, lại nhoẻn mép cười. Vệ Dũng Nga vương phi cùng Phi Loan quận chúa cũng đều cười cả. Phi Loan quận chúa cáo từ lui ra, rồi vào trong phòng thuật chuyện cho Lương phu nhân nghe. Lương phu nhân nghe nói hạt châu lã chã khôn cầm, có ý hối hận, muốn nói mà không biết nói thế nào, nghĩ thầm: “Ai ngờ ngày nay phu quân ta lại phải đi sứ Cao Ly, khiến cho ta vì việc ấy mà không được cùng phu quân ta từ biệt”. Lương phu nhân thở ngắn than dài trong hồi lâu, rồi gọi người nhà vào sửa soạn các đồ hành trang cho Hùng Khởi Phượng. Bỗng nghe báo có quan thừa tướng Lương Trấn Lân đến. Cha con Hùng Hiệu vội vàng ra nghênh tiếp. Gia tướng pha trà uống. Lương Trấn Lân nói với Hùng Hiệu rằng:
- Thân ông ơi! Không biết cớ sao mà thánh thượng lại phê chuẩn cho Doãn thừa tướng đi sứ Cao Ly? Doãn thừa tướng là một bậc lão thần, trải thờ ba triều, tôi thiết tưởng không nên để cho đi như thế. Tôi đang dưỡng bệnh ở nhà, nghe được tin này, thật lấy làm căm tức.
Lương Trấn Lân vừa nói vừa hầm hầm nổi giận. Hùng Hiệu ngẫm nghĩ hồi lâu rồi đáp rằng:
- Khi thánh chỉ ban ra, Nguyễn trung đô đã cố sức can ngăn, nộp lại chiếu thư, xin chọn một vị đại thần khác. Một lúc lại có thánh chỉ ra truyền bảo Nuyễn trung đô rằng: “Nguyễn công cậy thế là lão thần, nhiều lần khinh nhờn quốc pháp. Thượng hoàng đã giao triều chính cho trẫm, cớ sao Nguyễn công lại dám coi thường. Vả việc đi sứ Cao Ly này rất hệ trọng. Một là truyền bá đức uy, hai là thâu lấy cương thổ, cớ sao lại còn ngăn trở. Triều đình cần nhất phải co pháp luật, nêú mà trái phép, trẫm đây khó lòng khoan thứ được”. Đạo thánh chỉ ấy mọi người đều biết phỏng tôi còn dám nói gì. Vả con tôi hiện sung chức phó sứ thì tôi lại càng không dám nói nữa.
Lương Trấn Lân nghe lời Hùng Hiệu nói, lại càng căm tức, hầm hầm đứng dậy ra ngay, đi thẳng đến phủ Doãn thừa tướng, không đợi cho người nhà truyền báo, đã xuống kiệu bước vào. Doãn Thượng Khanh vội vàng ra đón, cười mà nói rằng:
- Kính chào Lương thái sư!
Lương Trấn Lân nói:
- Tôi nghe tin quan thừa tướng sắp phải đi xa, vậy nên tới đây định hỏi xem tôn ý nghĩ ra sao mà lại không hề từ chối một câu nào vậy?
Doãn Thượng Khanh cười mà đáp rằng:
- Đạo làm thần tử, hễ vua sai chết, cũng phải liều chết, huống chi là đem việc ích quốc lợi dân mà sai kẻ lão thần này, khi nào kẻ lão thần này dám từ chối.
Doãn Thượng Khanh nói chưa dứt lời thì nghe báo có phò mã Triệu Câu đến. Phò mã Triệu Câu cúi chào mà nói với Doãn Thượng Khanh rằng:
- Dám thưa cữu tổ! Thái hậu sai tôi đến nói với cữu tổ rằng: Việc đi sứ Cao Ly này là một việ quan trọng của nước nhà, không dám lấy ý riêng mà ngăn cản, chỉ xin dặn người phải gìn vàng giữ ngọc trong khi đường sá xa xôi thiên sơn vạn thủy vậy. Cữu tổ đi Cao Ly rồi thì triều đình sẽ triệu biểu thúc vào làm quan kinh, để khi cữu tổ về, được có con cái sum vầy dưới gối .
Doãn Thượng Khanh cả cươì mà rằng:
- Quái lạ! Lão thần đây phụng mệnh đi sứ, sang phong vương cho nước Cao Ly, cũng là việc thường, không hiểu cớ sao mà thái hậu lấy làm lo nghĩ. Phò mã về tâu với thái hậu, nói Doãn Thượng Khanh này giả sử có như To Vũ bị giam hãm ở bên nước Phiên nữa thì cũng quyết không bao giờ chịu cam lòng phản chủ như ai.
Bấy giờ Doãn Thượng Khanh ngồi trên chiếc xe nệm bông, hai bên che hai chiếc quạt vả, uy phong lẫm liệt, trông như một vị thành hoàng, còn quan phó sứ là Hùng Khởi Phượng thì hãy còng trẻ, dung mạo đường hoàng, hai bên tả hữu có năm trăm quân ngự lâm đi theo. Lại có Trương Long và Triệu Hổ là hai tay võ tướng, dũng lực hơn người, cùng đi hộ vệ.
Nam Kim nữ chủ nghe báo, mới giáng chỉ rằng:
- Ngày nay có sứ thần ở thiên triều đến, các quan văn võ triều thần đều phải ra đón.
Các quan triều thần vâng mệnh, cùng nhau ra nghênh tiếp. Doãn Thượng Khanh cùng Hùng Khởi Phượng mỗi người tay cầm một cờ tiết mao đi thẳng vào chốn triều đường. Khi vào tới nơi, trông thấy đuốc hoa sáng rực, đỉnh trầm hương bay, giữa treo một cánh rèm châu, hai bên phía ngoài có các cung nữ đứng thị lập.
Doãn Thượng Khanh chờ mãi không thấy Nam Kim nữ chủ ra tiếp chiếu, mới hỏi rằng:
- Từ xưa tới nay, các vua nước Cao Ly này vẫn một lòng thủ lễ với thiên triều, cớ sao ngày nay có sứ thần ở thiên triều sang phong vương, mà nữ chủ ngươi lại không ra tiếp chiếu?
Các quan văn võ triều thần đều khúm núm mà đáp lại rằng:
- Nữ chủ tôi sở dĩ không ra tiếp chiếu, là vì hổ phận liễu bồ, sợ ra không tiện, hai là còn đang có tang, không thể thay thay mặc cát phục được.
Doãn Thượng Khanh nói:
- Nữ chủ dẫu hổ phận liễu bồ, nhưng lễ phong vương là một lễ rất quan trọng, không thể trốn không ra tiếp chiếu được. Cứ theo lệ thì xưa nay các nước phụ dung cáo tang mà có sứ thần ở thiên triều đến thì nước nào cũng phải đổi mặc cát phục để ra tiếp kiến. Vả nữ chủ các ngươi sinh trưởng trong Trung Hoa thì Đại Nguyên ta tức là tổ quốc của nữ chúa ngươi đó. Cớ sao lại dám khinh thường, hay là tưởng lưỡi gươm của kẻ sứ thần này không sắc đó chăng.
Nam Kim nữ chúa nghe nói, truyền cuốn rèm châu lên, rồi gót sen đủng đỉnh bước ra. Nữ chủ bấy giờ dẫu ngoài bốn mươi tuổi, nhưng phong tư chẳng kém chi một người thiếu nữ hãy còn đang xuân. Khi ra tới nơi, Nam Kim nữ chủ quì xuống làm lễ tiếp chiếu, chúc câu vạn tuế. Các quan văn võ triều thần, cũng đều phủ phục để nghe lời sứ thần tuyên chiếu.
Nam Kim nữ chủ nghe xong, cúi đầu lạy tạ. Các cung nữ xúm lại đỡ Nam Kim nữ chủ dậy, đứng ở trước thềm vàng, Nam Kim nữ chủ giơ tay tiếp lấy thánh chỉ rồi mời Doãn Thượng Khanh ngồi để lạy tạ và nói rằng:
- Chẳng mấy khi tướng công tới đây, khiến cho thiếp được thừa tiếp tôn nhân, thật thấy làm vinh hạnh lắm. Thiếp xin cúi đầu lạy tạ và tuân theo lời chỉ giáo của tướng công.
Doãn Thượng Khanh tỏ ra ý khiêm tốn mà đáp rằng:
- Tôi chỉ xin nương nương cố giữ cho trọn điều tín nghĩa.
Nam Kim nữ chủ lại mời Hùng Khởi Phượng ngồi để lạy tạ. Ai ngờ hai người ấy nguyên có phong lưu nghiệt trái từ trước, bấy giờ bỗng cùng nhau gặp gỡ, khiến cho mặt nhìn mặt thêm ngây.
Nam Kim nữ chủ nghĩ thầm: “Mắt này được nhìn đàn ông, tưởng cũng đã nhiều, nhưng chưa thấy ai đẹp như Hùng quốc cữu. Trời ơi! Mối tương tư này có lẽ thêm hại cho ta!”
Nam Kim nữ chủ nghĩ vậy, mới định thần mà nói rằng:
- Chẳng mấy khi quốc cữu lại di giá đến tiểu bang này, thiếp xin cúi đầu bái tạ.
Hùng Khởi Phượng đứng dậy chối từ mà rằng:
- Nương nương làm chủ trong một nước mà lại quá ư khiếm tốn như thế, có đâu tôi dám thụ lễ.
Nam Kim nữ chủ mời ngồi xuống ghế, rồi lui vào phía trong, lại bỏ rèm châu xuống, ngồi ở trong rèm ngắm nhìn Hùng Khởi Phượng mà nghĩ thầm rằng: “ Không ngờ thế gian lại có người đẹp đến thế này! Khuôn khổ người này thật giống Hoàng Phủ Thiếu Hoa năm xưa như đúc! Tơ tình vương víu, khiến cho lòng ta luống những bồi hồi.”
Nam Kim nữ chủ đang ngẫm nghĩ thì có nội giám quì tâu rằng:
- Muôn tâu lệnh bà! Hai sứ thần thiên triều đã ngồi vào ngự yến, xin lệnh bà ban rượu mời.
Nam Kim nữ chủ truyền đem chén ngọc rót rượu rồi sai cung nữ bưng ra. Hai tên cung nữ bưng hai chén rượu ra quì xuống dâng mà thưa rằng:
-Cúi chào hai vị sứ thần! Nữ chủ tôi sai đem hai chén rượu này ra để kính mời.
Doãn Thượng Khanh và Hùng Khởi Phượng đều cầm lấy chén rượu mà tỏ lời cảm tạ. Khi tiệc xong, hai vị sứ thần lui ra nhà công quán để yên nghỉ. Trong nhà công quán cũng trần thiết một cách long trọng, lại có bốn người mỹ nữ đứng hầu. Doãn Thượng Khanh nói:
- Đây ta có các gia tướng theo hầu, không cần phải dùng đến mỹ nữ.
Bốn người mỹ nữ đều cúi đầu lui ra, liếc mắt trông trộm Hùng Khởi Phượng, đều lấy làm khen ngợi mà nghĩ thầm rằng: “Sao thiên triều lại có người nam tử dung mạo tuyệt vời như thế!”
Lại nói chuyện Nam Kim nữ chủ lui vào trong cung, tháo mũ cởi áo, ngồi tựa xuống ghế mà thở ngắn than dài, không nói câu gì ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi lòng lại nhủ lòng rằng: “ Bây giờ ta biết dùng kế chi mà lưu Hùng Khởi Phượng ở lại đây được?”
Nam Kim nữ chủ nghĩ quanh nghĩ quẩn, lại nói một mình rằng:
- À, Cứ như lời trong chiếu thư của vua thiên triều nói thì hai vị sứ thần này đều là tay học rộng tài cao, vậy sáng mai ta cho triệu riêng Hùng Khởi Phượng vào cung để giảng sách cho ta nghe.
Sáng hôm sau Nam Kim nữ chủ truyền cho nội giám bày một tiệc ngọc yến ở trong điện thái cực, rồi sai triệu Hùng Khởi Phượng vào. Khi Hùng Khởi Phượng vào tới nơi, Nam Kim nữ chủ mừng rỡ xiết bao, truyền cuốn rèm châu lên, đứng dậy ra đón, miệng tủm tỉm cười mà bảo Hùng Khởi Phượng rằng:
- Hùng quốc cữu xin miễn lễ! Mời người ngồi cho.
Hùng Khởi Phượng ngồi xuống ghế, cung nữ dâng trà uống. Hùng Khởi Phượng nói:
- Chẳng hay nương triệu tôi vào đây có việc chi?
Nam Kim nữ chủ nói:
- Hùng quốc cữu ơi! Tôi sinh trưởng ở trong Trung Hoa, chẳng may xấu số, phải lưu lạc đến cõi xa xôi mọi rợ này, dẫu được làm hoàng hậu thật, nhưng cái mặt hoa da ngọc này há chẳng uổng phụ lắm ru! Tuồng gì là giống hôi tanh, thân nghìn vàng để ô danh má hồng! Cha mẹ tôi năm xưa cũng có mông ân vua Cao Ly được sang đây thăm tôi, nhưng vì không quen phong thổ lại phải trở về, bỏ một thân tôi ở đây. Mỗi khi tôi nghĩ đến quê cha đất tổ, trông đàn nhạn bay, luống nhỏ hai hàng nước mắt. Thấm thoát hơn hai mươi năm trời nay, tôi vẫn một lòng tận trung báo quốc, khiến cho nước Cao Ly phải hàng năm cống hiến thiên triều. Giả sử đem tôi mà so sánh với bà Chiêu Quân đời Hán (xem trong bộ tiểu thuyết song phượng kỳ duyên) thì công lao của tôi, lại còn có phần hơn vậy. Không ngờ ngày nay vua Cao Ly băng hà, thế tử hãy còn trẻ dại, mới lên sáu tuổi. Vì thế tôi phải tạm quyền ngôi vua, mà dâng biểu xin thiên triều cho mấy vị sứ thần tài cao học rộng sang phong vương, để trấn áp thần dân ở Cao Ly này. May sao duyên trời dung dủi mà quốc cữu lại cùng Doãn tướngcông phụng mệnh tới đây. Vậy hai ngài hãy nên tạm lưu ở đất man hoang nàytrong vài ba năm, tôi sẽ giao cả triều chính cho quan Doãn tướng công, còn quốc cữu thì cứ ở trong cung với tôi, tự khắc trong ngoài đều phải nhiếp phục.
Nam Kim nữ chủ vừa nói vừa tủm tỉm cười, hai mắt đưa tình, nhìn Hùng Khởi Phượng. Hùng Khởi Phượng nghiêm sắc mặt mà đáp rằng:
- Nương nương nghĩ thế là lầm! Tôi phụng mệnh thiên triều tới dây, cốt để giúp cho nước Cao Ly được yên tĩnh. Chỉ trong một vài tháng, hễ thần dân thiếp phục rồi thì chúng tôi phải vể phúc mệnh với thiên triều. Và Doãn tướng công là một bậc lão thần ở thiên triều, khi nào lại chịu làm tôi hạ quốc.
Nam Kim nữ chủ lại cười mà bảo rằng:
- Quan Doãn tướng công không thể lưu lại được, nhưng còn quốc cữu thì đang tuổi thanh xuân, cao đường ở nhà đều khoẻ mạnh cả, dẫu quốc cữu ở đây tám năm hoặc mười năm sẽ về cũng được chứ sao!
Hùng Khởi Phượng nghe nói, không bằng lòng mà đáp rằng:
- Nương nương không nên nghĩ như thế! Tôi đây là một nhà quốc thích ở bên thiên triều, khi nào lại chịu, làm tôi nước Cao Ly, dẫu nương nương muốn nói thế nào thì tôi đây cũng không dám vâng lệnh.
Nam Kim nữ chủ truyền đem chén ngọc ra để rót rượu mời Hùng Khởi Phượng. Nam Kim nữ chủ nói:
- Hùng quốc cữu ơi! Thiếp không dám có ý gì đâu, xin quốc cữu bớt giận làm lành mà uống chén rượu này. Hôm nay chỉ biết uống rượu cho thật say, còn việc ngày mai để đến ngày mai sẽ bàn.
Uống rượu được ba tuần thì có các ca nữ đến, người gảy đàn kẻ múa hát, thật là một cuộc vui hiếm có vậy. Nam Kim nữ chủ cầm chén rượu mời Hùng Khởi Phượng mà rằng:
- Khúc hát này là một khúc: “Dương Xuân” của thiếp đây tự chế ra đó. Nay đang mùa đông mà diễn khúc hát này để hiến quốc cữu, xin quốc cữu hãy gượng uống thêm mấy chén rượu.
Hùng Khởi Phượng nói:
- Đa tạ lòng quý báu của nương nương, khiến tôi đã được nghe giai âm, lại được xem vũ điệu. Bây giờ tôi say lắm rồi, tửu lực không thể chịu nổi, vậy xin cáo từ.
Nam Kim nữ chủ giữ lại mà bảo rằng:
- Quốc cữu hãy thư thả một chút. Số là tôi mới lập được một đình đài ở trong Xuân viện, mà chưa có biển đề chi cả. Chẳng mấy khi quốc cữu sang tới đây, mời quốc cữu đi dạo chơi, rồi phẩm đề xin một vài lời thêm hoa.
Nói xong, ngoảnh lại truyền bảo cung nữ rằng:
- Các con sắp đốt đèn lồng để ta cùng quốc cữu ra ngự chơi chốn Xuân viên đây!
Các cung nữ vâng mệnh,sửa soạn đồ hành nghi: nào là tàn vàng quạt vả, nào túi trầm lư hương, trông rất nghiêm chỉnh. Nam Kim nữ chủ ngồi trên một loan xa, Hùng Khởi Phượng cưỡi con ngựa hoa thông mã, cùng đi dạo xem phong cảnh ở trong Xuân viện. Nam Kim nữ chủ bảo Hùng Khởi Phượng:
- Hùng quốc cữu ơi! Tôi ngồi xe, quốc cữu cưỡi ngựa thì hai ta khó đi đôi mà nói chuyện cùng nhau được, chi bằng quận chúa cùng sang ngồi xe với tôi cho tiện nói chuyện.
Nam Kim nữ chủ vừa nói vừa có ý hổ thẹn, nét mặt đỏ hồng, Hùng Khởi Phượng cau mày mà đáp rằng:
- Nương nương vốn sinh trưởng bên nước Trung Hoa là một nước có lể nghĩa cớ sao lại nói những câu hoang đường như thế. Nương nương phải nghĩ mình là chủ thần dân trong một nước, càng nên nghiêm trang đứng đắn, chớ bắt chước những thói tư tà.
Nói xong, vẫn ngồi trên mình ngựa, từ từ đi theo sau xe. Bây giờ dẫu tiết đông tiêu sái, nhưng thanh tùng hồng mai trông cũng nhiều cảnh ưa nhìn. Khi đến một nơi lâu đài kia, nội giám quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu lệnh bà! Đây là Vọng tiên đài! Trèo lên trên đài có thể nhìn quanh bốn mặt, trông thấy cả sông Áp Lạc Giang vậy.
Nam Kim nữ chủ truyền dừng xe lại, rồi thủng thỉnh bước xuống, đi thẳng vào Vọng tiên đài. Hùng Khởi Phượng bất đắc dĩ cũng phải xuống ngựa theo vào. Khi lên đến trên đài,, nhìn quanh bốn mặt quả nhiên là một nơi danh thắng, núi xanh cao ngất, nước biết lượn vòng, càng nhìn càng thấy vẻ đẹp. Hùng Khởi Phượng nghĩ thầm: “Nước Cao Ly này tình thế cũng hiểm yếu lắm, thảo nào mà từ đời Tần, Hán cho cí Đường, Tống đã mấy lần quân Trung Hoa sang đánh đều bị thua trận. Ngaỳ nay ta đã nhân dịp tới đây, cũng nên khuyên Nam Kim nữ chủ đầu hàng, để cho yên bờ cõi. Chỉ hiềm một nỗi nữ chúa lại có lòng tư tà mà buông lời hoa nguyệt, vậy ta biết nói sao cho nữ chủ khỏi mếch lòng”. Hùng Khởi Phượng đang cúi đầu ngẫm nghĩ thì Nam Kim nữ chủ nói:
- Hùng quốc cữu ơi! Quốc cữu hãy nhìn về cửa sổ phía nam này mà xem, đứng một chỗ này có thể trông khắp được bảy mươi hai đảo.
Hùng Khởi Phượng chạy lại gần cửa sổ phía nam, nhìn ra mặt bể, quả nhiên trông thấy bảy mươi hai đảo, vây bọc lấy chung quanh nước Cao Ly. Hùng Khởi Phượng nghĩ thầm: “Một nơi hiểm yếu như thế này, dẫu trăm vạn hùng binh đến cũng không làm chi nổi. Chẳng biết hồi bốn năm trước, cữu phụ ta đem binh tới đây, dùng mưu kế chi mà khiến cho các nước man di phải khiếp phục!” Nam Kim nữ chủ cầm chén trà mời Hùng Khởi Phượng uống, miệng cười tủm tỉm mà bảo rằng:
- Đây là một thứ Dương Tiên trà ở Trung Hoa đem đến, mời quốc cữu xơi.
Hùng Khởi Phượng đỡ lấy chén trà, nét mặt nghiêm trang, lại càng thêm có vẻ đẹp. Nam Kim nữ chủ lại hỏi:
- Quốc cữu năm nay bao nhiêu tuổi?
Hùng Khởi Phượng:
- Năm nay tôi hai mươi bốn tuổi.
Nam Kim nữ chủ gật đầu nói:
- Hùng quốc cữu ơi! Nếu vậy thì năm quốc cữu còn để chỏm đang đi học, bấy giờ tôi đã hai mươi tuổi, giả sử tôi gặp quốc cữu thì tôi sẽ ẵm đi chơi, hoặc là mua đồ chơi cho quốc cữu. Ai ngờ thời giờ thấm thoát, chỉ trong chớp mắt, mà ngày nay quốc cữu đã trưởng thành, trở nên một người mỹ trượng phu. Quốc cữu ơi! Thật là duyên trời dun rủi, khiến cho tôi được cùng quốc cữu phỉ nguyện trăm năm.
Hùng Khởi Phượng nghe nói, giả cách như người không hiểu mà đáp rằng:
- Nương nương định bảo tôi đề biển chỗ nào thì xin nương nương cho di giá đến chỗ ấy.
Bấy giờ Nam Kim nữ chủ lại lên xe đi, Hùng Khởi Phượng cưỡi ngựa theo sau. Đi đến một nơi đình đài, chung quanh kể có nhìn gốc mai, lại có hai cây bách đứng ở hai bên, phía sau trồng toàn một thức trúc xanh, bóng râm che mát, còn phía trong đình đài thì sự hoa mỹ không biết thế nào mà kể cho cùng! Nội giám quì xuống tâu rằng:
-- Muôn tâu lệnh bà! Đây đã tới nơi đình đài tân tạo đó, xin lệnh bà vào ngự. Đình đài này hiện nay chưa đặt tên.
Nam Kim nữ chủ xuống xe, mời Hùng quốc cữu vào, truyền đem văn phòng tứ bảo và thứ giấy Cao Ly ra để xin chữ Hùng Khởi Phượng. Nội giám vâng mệnh, đem đủ nghiên bút giấy mực ra bày ở trên long án. Nam Kim nữ chủ nói với Hùng Khởi Phượng rằng:
- Hùng quốc cữu ơi! Quốc cữu học rộng tài cao xin vì tôi mà đặt tên cho đình đài tân tạo này. Chỗ này là chỗ để khi nào tôi giao quốc chính cho thế tử rồi thì về ở đây mà đi dưỡng tính tình.
Hùng Khởi Phượng ngắm ngía chung quanh, rồi cầm bút viết mấy chữ mà nói rằng:
- Tôi thiết nghĩ nương nương cố giữ sao cho trọn lòng kiên trinh vàng đá. Song the chiếc bóng, chỉ nên cùng mai hoa hay là tùng bách kết bạn đồng tâm. Vậy tôi xin đặt tên đình đài này gọi là “Tam hữu đồng tâm đài”.
Nam Kim nữ chủ có ý hổ thẹn, mặt đỏ bừng bừng, nhưng cũng mỉm cười mà tỏ lời cảm tạ. Lại nói:
- Hùng quốc cữu ơi! Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy, cảnh phù du trông thấy cũng nực cười. Người ta đang độ tuổi xuân mà gặp được bạn tri kỷ, biết yêu hương tiếc ngọc, để cùng nhau đẹp duyên cầm sắt thì giảu đồng tâm buộc chặt, tưởng không bao giờ còn nỡ phụ lời thề. Hiềm vì một nỗi hồng nhan bạc mệnh, rồng vàng lại thường phải tắm nước ao tù. Ngu đần mấy mặt ngẩn ngơ, chúng còn biết tình là cái chi chi nữa. Quốc cữu ơi! Người ta ở đời, công danh phú qúy, muôn vật toàn là già cả, có chăng chỉ một chữ tình!
Nam Kim nữ chủ nói dứt lời thì Hùng Khởi Phượng cười nhạt mà đáp rằng:
- Tô phụng mệnh thiên triều sang tới đây, trước là để viếng tang quốc vương, sau là để gia phong cho nữ chủ, vậy tôi chỉ biết lễ nghĩa là trọng, xin nương nương chớ nói đến chữ tình. Nương nương ở ngôi vương phi trong hai mươi năm trời nay, ân tình đối với quốc vương thuở xưa, thiết tưởng ngày nay chưa có thể quên được. Cao Ly đây nguyên là một nước lễ nghĩa, mà nương nương lại là một người Trung Hoa, xin nương nương phải nên tự trọng. Vả tôi cùng nương nương vốn không quen biết, cũng không thân thích chi cả, chỉ vì sứ mệnh mà gặp gỡ nhau, rồi đây kẻ bắc người nam, nghìn dặm cách xa, can chi nương nương lại nói đến chữ tình cho không hợp cảnh. Tôi khuyên nương nương nên một lòng thủ tiết, để hưởng lấy phúc thanh nhàn.
Nam Kim nữ chủ thẹn quá, thành ra có ý tức giận, nhưng cố nén cơn tức giận mà nói:
- Xin lĩnh giáo! Thiếp xin lĩnh giáo!
Nam Kim nữ chủ lại nói:
- Hùng quốc cữu ơi! Nghe lời quốc cữu nói, khiến cho tôi hối hận vô cùng, tiếc rằng bây giờ tôi mới được gặp. Thôi thì hôm nay tôi hãy xin cùng quốc cữu uống rượu vui, để kết làm bạn tri giao vậy.
Nói xong, truyền bày một tiệc rượu ở Đồng Tâm đình, mời Hùng Khởi Phượng. Trong khi uống rượu, Nam Kim nữ chủ dùng hết cách phong tình để trêu ghẹo Hùng Khởi Phượng, Hùng Khởi Phượng cứ nghiêm nét mặt mà ngồi, không hề ngẩn nhìn. Nam Kim nữ chủ nghĩ được một kế, mới cười mà bảo Hùng Khởi Phượng rằng:
- Hùng quốc cữu ơi! Mấy câu tôi nói vừa rồi là nói đùa đó thôi, xin quốc cữu chớ lấy làm nghĩ. Chẳng qua vì tôi quý mến tài năng của quốc cữu, mà muốn cùng quốc cữu trò chuyện trong ít lâu đó thôi. Nhưng sẫu sao cũng gọi là duyên, hôm nay nhân tiệc rượu ở Đồng Tâm đình này mà khiến cho tôi được trộm nghe lời cao luận.
Nói xong, truyền gọi cho bọn ngoại sủng vào mà phán rằng:
- Chẳng mấy khi có Hùng quốc cữu ở thiên triều tới đây, các ngươi phải quì dâng quốc cữu, mỗi người ba chén rượu. Hễ quốc cữu không uống thì ta đây cứ trách phạt các ngươi đó.
Bọn ngoại sủng vâng mệnh, lần lượt nhau mà mời rượu. Một người trước nhất mặt phấn môi son, tóc mây mườn mượt, trông như người cung nữ, hai tay bưng chén ngọc bôi, quì xuống mà tâu nói với Hùng Khởi Phượng rằng:
- Dám bẩm quốc cữu! Chúng tôi vâng mệnh nữ chủ tôi, xin kính dâng quốc cữu một tuần rượu.
Hùng Khởi Phượng mỉm cười mà bảo rằng:
- Các ngươi cứ mời nữ chủ uống, ta đây xin tự rót mà uống lấy, không cần các người phải mời.
Nói xong, liền rót một chén thật lớn, uống thẳng một hơi. Nam Kim nữ chủ kinh ngạc mà rằng:
- Hùng quốc cữu tửu lượng ghê lắm thay. Tôi đây chỉ uống được năm bảy chén mà thôi.
Nói xong, lại truyền cho bọn ngoại sủng rằng:
- Các ngươi lấy chén lớn mời quốc cữu, còn ta đây dùng chén nhỏ để ngồi tiếp rượu hầu quốc cữu cho vui.
Bấy giờ mọi người xúm lại mời Hùng Khởi Phượng. Hùng Khởi Phượng một lúc uống kể hàng nghìn chén rượu mà mặt vẫn không thấy đỏ, cứ nghiễm nhiên ngồi, không hề nói nhảm chút nào. Nam Kim nữ chủ đứng dậy lên xe về cung, truyền cho bọn ngoại sủng cắt bốn người ở lại để hầu hạ Hùng Khởi Phượng. Nam Kim nữ chủ lại tủm tỉm cười mà bảo Hùng Khởi Phượng rằng:
- Hùng quốc cữu ơi! Đêm nay quốc cữu ngủ tại Đồng Tâm đình này thì nghĩa đồng tâm là thế nào, tưởng cũng nên phải nghĩ đến.
Nói xong, quay xe về thẳng, để Hùng Khởi Phượng ngủ tại đấy. Hùng Khởi Phượng buồn rầu mà nghĩ thầm rằng: “Ta phụng mệnh đi sứ, ngờ đâu lại xảy ra việc này! Bây giờ ta bị khốn tại chỗ này, quan Doãn thừa tướng ở ngoài, tất người phải nóng lòng sốt ruột. Người lại đoán ta là phường niên hiếu, ham mê tửu sắc thành ra đắm đuối không về”.
Lại nói chuyện quan chánh sứ là Doãn Thượng Khanh ở ngoài công quán, nóng lòng sốt ruột, không hiểu cớ sao trời đã tối sẫm mà Hùng Khởi Phượng vẫn không thấy về. Doãn Thượng Khanh nghĩ thầm: “Hùng quốc cữu năm nay hãy còn trẻ tuổi, huyết khí chưa định, có lẽ vì ham mê tửu sắc mà vui chén quá say chăng. Nhưng quốc cữu xưa nay tính hạnh đứng đắn, khi nào lại đến nỗi như thế.” Doãn Thượng Khanh nghĩ vậy, mới gọi Phiên quan mà hỏi rằng:
- Cớ sao hôm nay nữ chủ ngươi lại triệu riêng một mình Hùng quốc cữu vào cung, mà đến bây giờ vẫn chưa thấy ra về.
Phiên quan nói:
- Cung cấm là nơi nghiêm mật, chúng tôi ở ngoài, nào được biết. Hoặc giả Hùng quốc cữu cùng nữ chủ tôi có thân tình gì chăng!
Doãn Thượng Khanh nổi giận mà mắng rằng:
- Các ngươi chỉ nói càn! Nếu vậy ta phải tức khắc vào yết kiến nữ chủ để hỏi xem cớ sao lại giữ Hùng quốc cữu ngủ đêm tại trong cung?
Nói xong, truyền gọi Trương Long và Triệu Hổ sắp xe để vào triều. Bỗng thấy nội giám ra truyền chỉ rằng:
- Dám bẩm tướng công! Nữ chủ tôi thấy Hùng quốc cữu học rộng tài cao, vậy lưu ở trong cung, để cùng nữ chủ tôi tu bổ lại bộ quốc sử của nước Cao Ly. Việc này trong độ vài ba năm mới xong, chúng tôi phụng mệnh nữ chủ tôi sai ra lấy các thứ y phục cần dùng mang vào cho quốc cữu.
Doãn Thượng Khanh nghe nói lại càng tức giận, quát tháo ầm lên mà rằng:
- Đứa nào dám lấy y phục của quốc cữu! Bay về kêu với nữ chủ bay tới đây mà lấy! Nếu định tu bổ quốc sử thì can chi phải giam hãm trong cung? Nữ chủ bay sao dám nói càn, hay là định u cấm sứ thần thiên triều đó chăng!
Nội giám cười mà nói rằng:
-Doãn tướng công ơi! Bay giờ nữ chủ tôi không có ở trong triều, tướng công vào cũng vô ích, xin tướng công để đến sáng ngày mai hãy vào.
Trương Long cũng nói:
- Nếu vậy thì xin tướng công đành để đến sáng mai.
Bấy giờ các Phiên quan đã bày tiệc rượu, sơn hào hải vị, dị phẩm kỳ trân không biết thế nào mà nói cho xiết. Lại có quan thừa tướng Cao Ly cùng các triều thần đến dự tiệc. Quan thừa tướng Cao Ly cầm chén rượu mời Doãn Thượng Khanh mà nói rằng:
- Chúng tôi phụng mệnh nữ chủ tôi ra hầu rượu tướng công. Xin tướng công cứ yên lòng, sáng mai vào triều, cùng nữ chủ tôi bàn việc quốc chính, đem tài kinh bang tế thế mà giúp cho nước chúng tôi. Đợi đến tiết nguyên đán tới nơi này, các đảo lại triều, sẽ cùng tiễn tướng công về nước.
Doãn Thượng Khanh bất đắc dĩ cũng phải nguôi cơn tức giận, rồi nói:
- Lão phu phụng mạng thiên triều sang đây, là muốn giữ tình bang giao được hòa hiếu. Nhưng nữ chủ ngươi lưu Hùng quốc cữu ở trong cung để tu bổ quốc sử, việc ấy thật là một việc vo lý. Nếu định tu bổ quốc sử thì sao không cho lão phu cũng dự vào một tay, trước là tránh những lời thị phi, sau là khiến hai nước khỏi sinh lòng nghi hoặc vậy.
Quan thừa tướng Cao Ly nói:
- Nữ chủ tôi vốn là người thông thái rộng xem các sách, hay khảo cứu những việc cổ sơ, cho nên muốn lưu Hùng quốc cữu ở luôn tại trong cung để tiện khi cò điều gì muốn hỏi.
Sáng hôm sau, Doãn Thượng Khanh dậy sớm, chỉnh tề mũ áo, định đi vào triều thì bỗng nghe báo có Thuận Thiên vương đến yết kiến. Thuận Thiên vương bước vào, cúi chào mà thưa rằng:
- Kính chào Doãn tướng công! Tôi ngưỡng mộ đại danh của tướng công đã lâu, nay tướng công lại phụng mệnh thiên triều sang tới đây, chẳng những may riêng cho phần tôi, lại là một cái may chung cho cả nước tôi vậy. Xin mời tướng công ngồi, cho chúng tôi được lạy mừng.
Doãn Thượng Khanh cũng từ tạ rồi đáp lễ lại và hỏi rằng:
- Chẳng hay đại vương có phải quốc thích đó không?
Thuận Thiên vương nói:
- Tôi cùng quốc vương tôi trước là anh em ruột. Ngày nay rôi phụng mệnh nữ chủ tôi đến đây thương thuyết với tướng công. Xin mời tướng công ngồi. Tôi đây là một kẻ vũ phu, rất vụng về khoa ngôn ngữ, chỉ xin thật thà nói thẳng mà thôi.
Doãn Thượng Khanh đáp rằng:
- Vâng! Mời đại vương ngồi. Có điều gì tôi xin lĩnh giáo.
Thuận Thiên vương cả cười rồi kéo ghế lui xuống một chút. Tả hữu pha trà uống. Doãn Thượng Khanh lại hỏi rằng:
- Chẳng hay có việc gì, xin đại vương cứ dạy.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-25 02:00:45ct.ly>
PHẦN B

Thuận Thiên vương đáp rằng:
- Nào có phải việc chi đâu. Nguyên là viếc thế tử mà tôi phải đến đây để cầu khẩn tướng công. Năm nay thế tử đã lên sáu tuổi, cần phải học vỡ lòng, lại gặp có Hùng quốc cữu tới đây, vậy nữ chủ tôi muốn lưu quốc cữu ở trong cung để dạy thế tử. Vả bộ quốc sử của nước Cao Ly tôi, mất mát nhiều chỗ, nếu muốn tu bổ lại, cần phải nhờ đến bậc đại nho. Nay dám phiền tướng công chủ trương việc ấy cho, để cùng các quan Hàn lâm nước tôi tu bổ quốc sử. Trong tòa Hàn Lâm cũng có nhiều sách vở, có thể đủ tài liệu mà nghiên cứu được. Bây giờ hãy xin dâng một nghìn lạng vàng để làm sính lễ, còn các tướng sĩ theo hầu, nước tôi xin cấp lương bổng một cách rất phong hậu.
Thuận Thiên vương nói xong, bỗng thấy mặt ngoài bưng lễ vật vào, Doãn Thượng Khanh từ chối mà rằng:
- Lão phu phụng mệnh thiên triều sang tới đây, cốt để giúp việc quốc chính. Tu bổ quốc sử cũng tức là một việc trong quốc chính, lão phu xin tuân mệnh, hà tất phải dùng đến lễ vật làm chi. Ngày nay lão phu hãy xin gởi vào trong kho, khi nào về nước sẽ bái lĩnh. Chỉ có Hùng quốc cữu vốn là một người tính khí khảng khái, nếu muốn giữ luôn tại trong cung, tất quốc cữu không chịu nào nên phải cho ra ở ngoài, mới có thể yên việc được.
Thuận Thiên vương nói:
- Tướng công bất tất phải lo ngại! Vừa rồi tôi có vào yết kiến Hùng quốc cữu thì thấy Hùng quốc cữu diện mạo khôi ngô, uy phong lẫm liệt, thật là một vì sao Văn xương ở trên trời giáng hạ trần thế. Vả nghe những lời nghị luận của quốc cữu, lỗi lạc hơn người, thế thì quốc cữu chẳng những là một bậc lương tá của thiên triều, lại là một ngôi phúc tinh cho tiểu bang chúng tôi vậy. Ngày nay tôi xin nói thật để cho tướng công biết, tướng công chớ có từ chối, anh hùng nên phải tùy cơ.
Nói xong, đứng dậy cáo từ lui ra. Doãn Thượng Khanh nghe nói, có ý nghi ngờ, nghĩ thầm: “Người này nói nhiều câu kỳ dị, chắc rằng ở trong chắc có ẩn tình, nhưng hắn lấy lễ nghĩa mà nói với ta thì ta cũng không nỡ cự tuyệt”. Doãn Thượng Khanh nghĩ vậy, liền gọi Trương Long và Triệu Hổ vào mà bảo rằng:
- Khi trước Bình Giang vương có nói chuyện cho ta biết rằng hai tướng quân sức khỏe một mình địch nổi muôn người, nay ta khuyên hai tướng quân cố làm nên công nghiệp như Ban Siêu thuở xưa, một là không phụ lòng Bình Giang vương, hai là về sau sẽ được tử ấm thê phong, nổi tiếng là một bậc anh hùng hào kiệt. Ta xem ý Nam Kim nữ chủ thì hình như muốn u cấm Hùng quốc cữu, chưa biết bao giờ mới cho về. Hai tướng quân nên nghĩ ơn triều đình, mà khuyên bảo quân sĩ, trên dưới một lòng, phòng khi xảy ra cớ sự gì thì ta phải hợp lực đồng tâm, để cùng nhau giữ lấy quốc thể. Ngày nay ta muốn cùng tướng sĩ uống máu ăn thề cho tỏ lòng sống chết có nhau vậy.
Nói xong, liền cởi áo bào ra, chích máu cánh tay rỏ xuống chén rượu. Trương Long Triệu Hổ thấy vậy liền hội họp các quân sĩ mà giải tỏ chân tình, đem lời Doãn Thượng Khanh nói, thuật lại cho quân sĩ nghe. Các quân sĩ nghe nói đều quì xuống khóc rằng:
- Chúng tôi nguyện một lòng vâng lời thái sư mà tận trung báo quốc.
Bấy giờ Trương Long và Triệu Hổ cùng các tướng sĩ đều chích máu phát thệ. Bỗng có mấy tên gia đinh cũng chạy ra quì xuống mà bẩm rằng:
- Dám bẩm thái sư! Chúng con dẫu tôi tớ phận hèn, cũng dám xin một lòng phát thệ.
Doãn Thượng Khanh thấy mấy tướng sĩ đều một lòng lấy làm mừng rỡ, lại dặn Trương Long và Triệu Hổ thỉnh thoảng phải luyện tập quân sĩ để phòng có việc. Mỗi khi Nam Kim nữ chủ sai nội giám đem nhân sâm và các thứ mỹ vị ra ban chi Doãn Thượng Khanh thì Doãn Thượng Khanh lại hỏi thăm Hùng Khởi Phượng.
Lại nói chuyện tòa Hàn lâm ở nước Cao Ly có một tên riêng gọi là Tu Văn quán. Một viên đứng đầu trong Tu Văn quán cũng gọi là chủ bút, đem các bạn đồng liêu đến bái yết Doãn Thượng Khanh, lễ mạo rất cung kính. Doãn Thượng Khanh mời ngồi, rồi pha trà uống, rồi ngắm nhìn các viên trong tòa Hàm lâm thì thấy viên nào cũng mặt mũi nhăn nhó kỳ hình quái trạng, không biết thế nào mà nói cho xiết. Bấy giờ bàn đến việc tu bổ quốc sử. Doãn Thượng Khanh hỏi về các kinh điển của nước Cao Ly trước, kẻ thì ngây ngô, cứ ngẩn mặt ra mà nhìn, kẻ thì khoe khoang, nói nhiều những câu hoang đường vô cứ, cũng có kẻ hơi am hiểu văn lý, trả lời được một đôi câu. Doãn Thượng Khanh chỉ bảo trước sau, chia ra từng tiết đoạn, mọi người nghe nói, ai nấy đều kinh sợ mà tán phục là một bậc thiên tài. Chúng tự biết mình học thiển tài sơ, nay được gặp Doãn Thượng Khanh, thì lấy làm mừng rỡ.
Bỗng thấy một tên gia binh đến gần quì xuống khẽ bẩm với Doãn Thượng Khanh rằng:
- Con là Tô Thành có một việc riêng muốn bẩm bạch.
Doãn Thượng Khanh vẫn biết Tô Thành là một người cẩn thận xưa nay, nay thấy mật bẩm như vậy, mới ngoảnh đầu lại bảo tả hữu lui ra, để cho Tô Thành nói. Tô Thành đến gần mà khẽ bẩm rằng:
- Từ khi Hùng quốc cữu vào cung, tôi vẫn hàng ngày đến chỗ cửa cung, dò la nội giám. Trong bọn nội giám có một người tuổi già tên gọi là Trương Thuận Nguyên người Trung Hoa, khi trước theo Nam Kim nữ chủ sang tới đây sung vào hàng túc trực, nhưng nữ chủ không tin dùng. Đến nay đã hơn hai mươi năm, vẫn bần cùng khổ sở. Tôi cũng tặng cho hắn bốn tấm lụa và một trăm lạng bạc, lại xin nhận hắn làm nghĩa phụ thì hắn mừng rỡ bội phần, đãi tôi rất tử tế. Có khi vui chuyện, hắn nói cho tôi được biết rằng Nam Kim nữ chủ rất có lòng yêu mến Hùng quốc cữu.
Nói đến đây thì Tô Thành lại rỉ tai bẩm nhỏ hồi lâu rồi lại nói:
- Hôm đầu Nam Kim nữ chủ để Hùng quốc cữu ngủ tại “Tam hữu đồng tâm đình” cho bốn người ngoại sủng vào hầu đến nửa đêm đều phải lui ra cả. Hôm sau lại cho bốn tên cung nữ vào thì quốc cữu cứ thắp đèn ngồi suốt sáng, nữ chủ không thể làm thế nào được. Độ này mới chịu để cho quốc cữu ngủ yên một mình. Tôi đã hỏi dò đường lối trong cung, định đêm hôm nay lẻn vào chỗ ở quốc cữu thử xem quang cảnh ra làm sao.
Doãn Thượng Khanh nói:
- Chết nỗi! Trong cung bao nhiêu quân canh thủ, vào thế nào nổi, không khéo mà bị chúng bắt được thì để tiếng xấu cho người Trung Hoa.
Tô Thành nói:
- Không hề chi! Chúng tôi đã có phép riêng. Xin thái sư ngồi đợi, chỉ độ quá canh ba, tôi sẽ đem được tin về.
Doãn Thượng Khanh gật đầu cho đi, rồi đêm hôm ấy ngồi đợi tin Tô Thành.
Lại nói chuyện Tô Thành thắt lưng gọn ghẽ, lấy vải cuốn chân thật chặt. Lại phủ khăn trùm đầu, chỉ hở có hai con mắt. Canh ba đêm hôm ấy, lẻn đến cửa cung treò qua tường vào. Khi vào tới nơi, trời tối như mực, chẳng có đèn đóm chi cả, chỉ văng vẳng nghe ở trên lầu cao có tiếng người khóc. Tô Thành cứ theo lời dặn của Trương Thuận hôm trước mà tìm đường lối, lần mò cho đến một nơi đình đài, khẽ đánh đá lửa lên soi, thấy có biển vàng đề năm chữ: “Tam hữu đồng tâm đình” Tô Thành chạy đến bên cửa, cố sức đẩy mạnh một cái, hai cánh cửa bật ra, trông phía trong có thắp ngọn đèn sáng rõ, mà Hùng Khởi Phượng đang ngồi xem sách ở bên cạnh cây đèn, vì cánh cửa ghép ván hai lần, cho nên đứng ngoài cửa không trông thấy ánh đèn sáng. Hùng Khởi Phượng thấy động vội vàng đứng dậy, Tô Thành chạy thẳng vào tới nơi rồi quì xuống đất mà bẩm rằng:
- Dám bẩm quốc cữu! Tôi là Tô Thành đây!
Hùng Khởi Phượng giật mình kinh sợ, ngắm nhìn thật kỹ, vội vàng đỡ dậy, và mừng rỡ bảo rằng:
- Ô hay! Tô Thành này! Nhà ngươi làm thế nào mà vào được đây, hay là ta chiêm bao đó chăng! Tô Thành gạt tay mà rằng:
- Xin quốc cữu chớ nói to tiếng.
Nói xong, liền rỉ tai mật bẩm mấy câu, lại đem phong thư của Doãn Thượng Khanh đệ trình cùng Hùng Khởi Phượng. Hùng Khởi Phượng mở ra xem, trong thư có mấy lời như sau:
- “Đã mắc vào vòng , không nên nóng nảy, chỉ cốt bền lòng gắn chí là hơn. Ta quyết chí thì không ai lay động nổi. Nên tùy cơ mà đợi thời, mới là tri sĩ. Thư này gửi ngày bính tý”.
Hùng Khởi Phượng xem xong, lẩm nhẩm gật đầu mà khẽ nói rằng:
- Quan thái sư nói chí phải! Nhưng từ khi ta bị khốn ở đây, lòng ta căm tức kể sao cho xiết! Tô Thành ơi! Ngày nay nhà ngươi vào đây, thật là một việc mạo hiểm, vì chốn cung cấm này canh thủ rất cẩn mật, chẳng hay cớ sao nhà ngươi vào tới đây, lại không ai biết cả, thế thì cũng là có trời giúp mà thôi.
Tô Thành cười mà đáp rằng:
- Không phải trời giúp, mà là tôi đốt thứ muộn hương, cho nên chúng đều ngủ say cả. Khi tôi mới vào khỏi cửa cung, nghe thấy ở trên lầu cao có tiếng khóc văng vẳng, tôi tưởng là quốc cữu bị giam tại đấy, nhưng lại không phải.
Hùng Khởi Phượng cũng cười mà bảo rằng:
-Thuở xưa vua Văn Vương bị giam bảy năm, ông Tô Vũ bị giam mười chín năm, Hoàng Phủ Kính vương bị giam ở nước Phiên ba năm, bấy giờ ngoại tổ ta (tức Vệ Hoán, cha Vệ Dũng Nga) cũng bị giam tại đây. Ta nay bị giam dẫu không khổ sở như các bậc tiền nhân, nhưng mưa Sở gió Tần, khiến cho ta càng thêm chua xót, biết làm thế nào?
Tô Thành nói:
- Quốc cữu muốn dặn bảo những gì, xin truyền phán mau kẻo muộn hương cháy hết thì e chúng lại tỉnh dậy chăng!
Hùng Khởi Phượng nói:
- Nhà ngươi ra nói với thái sư bất tất phải lo ngại, ta dẫu không giỏi võ nghệ, nhưng chõ này cũng không dùng đến sự chiến tranh. Thái sư yên lòng mà tu bổ quốc sử, càng thêm biết được địa dư nước Cao Ly. Ta đây cố giữ một lòng đoan trang, quyết không bao giờ chịu mắc vào cạm bẫy. Nếu có việc gì cấp bách thì nhà ngươi cứ ủy thác cho Trương Thuận. Hắn nguyên là người Trung Hoa, vẫn nhớ nước cũ, ta đã hứa với hắn là sau này cho theo về nước, hắn rất lấy làm mừng lòng. Đó là lời tâm phúc ta nói với nhà ngươi, nhà ngươi nên đợi thời, chớ thường hay vào đây mà lỡ có sự nguy hiểm. Còn chỗ cánh cửa long bật, nên chữa cho ngay ngắn, kẻo chúng sinh nghi.
Tô Thành đứng dậy chữa lại cánh cửa cho được ngay ngắn rồi cáo từ mà rằng:
-Trăm lạy quốc cữu! quốc cữu nên gìn vàng giữ ngọc, kẻo bọn gia đinh chúng tôi thật đã nát ruột héo gan. Không ngờ bây giờ được nhìn mặt quốc cữu đây, tôi mới yên lòng vậy.
Bấy giờ Tô Thành thuật lại đầu đuôi việc cùng nhau uống máu ăn thề cho Hùng Khởi Phượng nghe, Hùng Khởi Phượng nghe nói mừng rỡ mà rằng:
- Nếu vậy thì Doãn thái sư thật là bậc lão thành trì trọng. Tướng sĩ có một lòng mới không lo ngại. Ta đây ở trong cung cũng sẽ được yên tâm vậy.
Tô Thành vội vàng lui ra, Hùng Khởi Phuợng đứng dậy đóng cửa, rồi ngẫm nghĩ mừng thầm, lại đi nằm nghĩ. Sáng hôm sau, mặt trời đã cao hơn một trượng, bấy giờ bọn nội giám mới thức dậy, ai nấy đều kinh hãi, không hiểu cớ sao mà bỗng lăn ra ngủ một giấc say. Chúng sợ Nam Kim nữ chủ tới nơi, lại vội vàng đi sửa soạn các công việc. Hùng Khởi Phượng cũng giả cách giật mình tỉnh dậy, rồi khoác áo mà rằng:
- Quái lạ! Sao hôm nay ta ngủ trưa quá như thế này.
Mọi người không ai trả lời thế nào, rồi lại cùng nhau pha trà mời Hùng Khởi Phượng và dâng các đồ thực phẩm. Hùng Khởi Phượng đứng dậy nhìn xung quanh thì quả nhiên là một nơi đình đài rất hoa mỹ tráng lệ. Một tòa nhà bạc, bốn mặt rèm châu, gấm trải căn tường, thảm rồng giải đất, sự xa xỉ không biết thế nào mà nói cho xiết! Hùng Khởi Phuợng nghĩ thầm: “Không ngờ một nữ chủ ở nước Cao Ly này mà cách tự phụng lại lịch sự hơn vua Trung Hoa. Cứ lấy dung nhan mà nói thì Nam Kim nữ chủ cũng là bậc nghiêng nuớc nghiêng thành. Năm nay đã ngoài bốn mươi tuổi mà vẫn phong vận ưa nhìn, đủ biết thuở còn xuân xanh, tất phải chim sa cá lặn. Thảo nào khi nàng mạo nhận làm cữu mẫu (trỏ Mạnh Lệ Quân), suýt nữa khiến cho Hoàng Phủ Tương Vương phải mờ mắt mà nhận lầm. Ta nghe lời nữ chủ phàn nàn với ta hôm trước về sự gặp gỡ trái duyên, nghĩ cũng thương tình: “Ðem thân trong Ngọc trắng ngà, sánh đôi cùng kẻ vai u thịt bắp, cho hay trăng già khéo độc địa lắm vậy.”
Hùng Khởi Phượng lại nghĩ thầm: “Ta cùng phu nhân ta ở nhà, vợ chồng lấy nhau trong sáu năm trời, cầm sắt hòa hợp, không hề có một lời to tiếng. Ai ngờ chỉ vì một việc nhỏ mọn mà dám càn dỡ nói liều, đan bà nhu thế, sao gọi là hiền phụ được. Ta là bậc tu mi nam tử, chẳng lẽ lại chịu bó tay nhu ai. Bây giờ ta nóng tính quá,giẫy ngã phu nhân, chẳng biết sự thai sản có hề chi không. Tuy vậy ta cũng không nên vội trách. Phu nhân ta bụng dạ đàn bà, nghe thấy ta bỏ nghìn vàng mua một nguời kỹ nữ, đem gởi một nơi thì tài nào chẳng sinh lòng ghen tuông. Vì lòng ghen tuông mà thành ra nói liều, lại gặp ta nóng tính, đến nỗi mất hòa khí. Bây giờ nghi lại, thật hối muôn vàn. Hùng Khởi Phượng lại sực nhớ đến nàng Hạng Hoa Tu mà nghĩ thầm rằng: như nàng Hạng Hoa Tu kia cũng là hồng nhan đệ nhất. Ta đây không phải thảo mộc, há dễ vô tình. Chỉ vì ta vâng mệnh hai thân, vấy nữ sắc làm giới. Con nguời vưu vật ( nguời con gái tuyệt sắc ai cung phải mê, ví nhu loài yêu quái) ta chớ nên gần. Hùng Khởi Phuợng tưởng tượng đến quang cảnh khi nàng Hạng Hoa Tu than khóc với mình, lại ngẫm nghĩ khen thầm cái dung nhan xinh đẹp của nàng, thật ít nguời sánh kịp. Dẫu Phi Giao hoàng hậu là tay tuyệt sắc, nhung hai làn thu thủy, vị tất đã minh mị bằng nàng Hạng Hoa Tu. Con người như thế mà ta nỡ dứt tình thì ta cũng là kẻ nhẫn tâm vậy. Chẳng biết lời ước mười năm, nàng có giữ trọn được hay không? Lại chẳng biết phu nhân ta có lượng cả bao dung hay không?
Một mối tơ tình, luống khiến Hùng Khởi Phượng trăm phần phiền não. Hùng Khởi Phượng đang ngẫm nghĩ buồn rầu bỗng lại thở dài mấy tiếng rồi lẩm bẩm mà nói một mình rằng:
-Ô hay! Hùng Khởi Phượng ơi! Hùng Khởi Phượng ơi! Cha mẹ vợ con sao ngươi không nghĩ, mà ngươi lại nghĩ đến nàng Hạng Hoa Tu? Như thế trách nào mà vợ ngươi không phải sinh lòng ghen ghét! Thôi, thôi! Giả sử nàng Hạng Hoa Tu có một lòng thủ ước, ta cũng nên từ tạ, chớ có rước sầu mua não mà khiến cho ruột tằm bối rối vò tơ.
Bỗng thấy nội giám đem dâng mấy chiếc áo cừu mà bẩm rằng:
- Dám bẩm quốc cữu! Nữ chủ tôi thấy đem qua trời nổi gió bấc, sợ quốc cữu bị lạnh, vậy sai chúng tôi đem mấy chiếc áo hồ cừu này vào dâng quốc cữu.
Hùng Khởi Phượng cười mà bảo rằng:
- Ða tạ lòng tử tế của nữ chủ ngươi, nhưng ta đây lạnh ở trong tâm can, chứ không lạnh ở ngoài thân thể, dẫu khí tiết không bằng Hán Tô Vũ, cũng chưa phải dùng đến áo cừu. Các ngươi cứ đem về trả nữ chủ, nói áo cừu này đẹp thật, nhưng ta đây không dùng đến.
Nội giám nói:
- Hùng quốc cữu ơi! mấy chiếc áo cừu này, toàn là những đồ quý báu trong nội khố, giá đáng nghìn vàng mọt chiếc, quốc cữu mà mặc áo cừu này thì phẩm giá con người cũng tôn thêm lên vậy.
Hùng Khởi Phượng nổi giận quát mắng, mấy tên nội giám sợ hãi đem áo cừu ra, bấy giờ Hùng Khởi Phượng mới ngồi xuống ghế. Bỗng nghe báo có Thuận Thiên vương xin vào yết kiến. Hùng Khởi Phượng vội vàng nghênh tiếp. Thuận Thiên vương bước vào, nét mặt tươi cười mà nói với Hùng Khởi Phượng rằng:
- Tôi mắc bận mãi hôm nay mới vào bái yết quốc cữu được, thật là đáng tội.
Thuận Thiên vương vừa nói vừa sụp xuống lạy chào. Hùng Khởi Phượng vội vàng đỡ dậy mà đáp lễ lại, mới ngồi xuống ghế. Thuận Thiên vương ngẩn người ra nhìn Hùng Khởi Phượng không hề chớp mắt rồi khen rằng:
- Tôi trông quốc cữu tướng mạo đường hoàng, uy phong lẫm liệt, càng nhìn càng có vẻ đẹp, chẳng những nước tôi không ai sánh kịp, mà tôi thiết tưởng bên thiên triều cũng ít người được bằng vậy.
Hùng Khởi Phượng đáp rằng:
-Ngài dạy quá lời! Tôi phận hèn tài mọn, phụng mệnh thiên triều sang tới đây để tuyên dương đức hóa, không ngờ lại đem thân sang làm một kẻ tội tù. Tôi nực cười cho nữ chủ và các quan triều thần ở Cao Ly này thật toàn là những phường ngu muội. Tôi xin hỏi đại vương, như nữ chủ lưu tôi lại trong cung này là nghĩa thế nào, không sợ năm trăm quân thiên triều theo tôi sang đây, chúng lấy làm sĩ tiếu. Đại vương thử nghĩ mà coi: Từ đời ông Cơ Tử (Cơ Tử là anh em khác mẹ với vua Trụ nhà Ân. Thấy vua Trụ bạo ngược, nhiều kẻ trung thần bị giết. Cơ Tử đem theo một số người, bỏ sang nước Triều Tiên [Cao Ly]) thụ phong, khai sáng nước Cao Ly này vẫn lấy lễ nghĩa liêm sĩ làm trọng, nay nữ chủ làm càn như thế, chẳng những mua cười cho người trong nước, một mai đến tai thiên triều mà đem quân sang hỏi tội thì bấy giờ hối lại, phỏng có kịp không? Đại vương là một chi tộc trong hoàng phái, nỡ nào ngồi nhìn mà không ra tay cứu vớt cho nước nhà. Còn tôi đây dẫu sau cũng xin thủ tiết một lòng, tha hồ cho nữ chủ muốn dùng cách gì thì dùng, quyết không chịu vàng phai đá nát.
Hùng Khởi Phượng ơi! Xin quốc cữu bớt giận làm lành mà nghe tôi nói một lời. Cao Ly tôi là một nước nhỏ, khi nào dám trái mệnh thiên triều. Ngày nay nhân được quốc cữu tới đây, nữ chủ tôi muốn lưu lại trong cung, để cùng nhau đàm luận triều chính, quốc cữu không xét rõ, lại ngờ là có nhị tâm, thì thật rất oan cho nữ chủ tôi vậy. Năm nay thế tử nước tôi đã lên sáu tuổi, cần học vỡ lòng, vậy nữ chủ tôi sai tôi tới đây để bẩm bạch với quốc cữu muốn mời quốc cữu vỡ lòng cho thế tử, rồi qua đầu xuân sau, các đảo lại triều, sẽ cùng tiễn quốc cữu về nước.
Thuận Thiên vương vừa nói vừa tủm tỉm cười. Hùng Khởi Phượng lại hầm hầm nổi giận, đứng dậy mà hỏi rằng:
- Nữ chủ muốn lưu tôi lại để dạy thế tử phải không?
Thuận Thiên vương nói:
- Bẩm vâng!
Hùng Khởi Phượng nói:
- Đại vương ơi! Xin đại vương về tâu với nữ chủ, nói tôi đây dạ sắt gan vàng, dẫu nữ chủ dùng trăm phương nghìn kế gì, cũng không thể lay chuyển được. Từ khi tôi mới bước chân sang đất Cao Ly này thì lòng tôi đã bỏ cái chết ra ngoài vậy. Bây giờ không phải nói chi nữa, chỉ xin nữ chủ tha cho tôi ra khỏi chốn Xuân viên này, để hàng ngày được cùng Doãn thái sư cùng sum họp thì dẫu bắt tôi ở lại đây mấy năm, tôi cũng cam lòng.
Hùng Khởi Phượng nói xong thì Thuận Thiên vương lại tủm tỉm cười mà bảo rằng:
- Hùng quốc cữu ơi! Người ta có thức thời vụ mới gọi là tuấn kiệt. Nữ chủ tôi dẫu là đàn bà, nhưng rất có thao lược, quyết không bao giờ chịu theo ý quốc cữu nào. Đã đành rằng quốc cữu liều không sợ chết, nhưng phụng mệnh thiên triều tới đây, chưa được việc gì, mà đã khiến cho hai nước bất hòa thì sao tránh khỏi được tội “phụng sứ vô trạng”. Huống chi quốc cữu chết ở trong cung cấm, dẫu có một lòng trong sạch, nào ai là kẻ xét tình. Làm thân nam tử, vì việc ám muội mà chết thì tôi cũng tiếc cho quốc cữu vậy. Vả quan Doãn tướng công năm nay tuổi già, nếu quốc cữu bất hạnh làm sao thì tướng công khó lòng được an nhiên mà nước. Bấy giờ thiên triều tất cử binh sang đánh, tình hiếu hòa của hai nước trong mấy mươi năm trời, một sớm thành không, thế thì quốc cữu liều mình mà chết chẳng nên chút giá trị nào cả. Tôi là người Cao Ly, nói năng bộc trực, nửa vì quốc cữu, nửa vì nước tôi. Chi bằng quốc cữu vâng lời nữ chủ, tạm nhận chức tây tân ( tức ông thầy dạy học) này, rồi sau sẽ tùy cơ ứng biến, chắc cũng có ngày vén mây trông thấy mặt trời. Nếu quốc cữu thuận nghe lời tôi thì hôm nào thư thả, tôi xin cùng quốc cữu giải bày tâm sự. Có lẽ chỉ trong một năm, quốc cữu sẽ về nước được, mà cũng là hạnh phúc cho thần dân nước Cao Ly chúng tôi. Vừa rồi, tôi có vào yết kiến quan Doãn tướng công thì người nghe tôi nói cũng không hề nổi giận. Hiện đã nhận chức tu bổ quốc sử, và sai người mang biểu về dâng thiên triều. Tôi chắc thiên triều xem bản tâu ấy, cũng không khi nào có sự trở ngại.
Hùng Khởi Phượng nghe lời, nín lặng không nói câu gì. Thuận Thiên vương lại hỏi:
- Thế nào? Ngài có bằng lòng như thế không?
Hùng Khởi Phượng nói:
- Đại vương đã dạy, tôi xin vâng lời. Nhưng đại vương nên tâu với nữ chủ rằng: - đã cử tôi làm chức tay tân mà lại giam hãm tôi như thế này thì còn ra nghĩa lý chi nữa. Vậy nên để cho tôi được tự do đi ngao du trong nước. Ra vào hầu hạ, đã có nội giám, cấm không cho cung nữ đến quấy nhiễu tôi. Tính tôi ưa tĩnh, khi thế tử đến học, cũng không cho cung nữ đưa đến. Nếu trái lời tôi nói thì tôi xin từ chức tây tân.
Thuận Thiên vương cả cười mà đáp rằng:
- Nếu vậy hay! Quốc cữu thật là một ông mô phạm tiên sinh! Việc này tôi xin tuân mệnh, nhưng tôi có mấy lời tâm phúc ngõ cùng quốc cữu: Trong khi quốc cữu dạy bảo thế tử nên phải lưu ý một chút.
Nói xong, cáo từ lui ra. Lại vào tâu với Nam Kim nữ chủ rằng:
- Muôn tâu nữ chủ! Kẻ hạ thần phụng mệnh đến nói với Hùng quốc cữu. Lúc đầu quốc cữu cố chấp không chịu nhận lời về sau kẻ hạ thần hết sức khuyên nhủ, bấy giờ quốc cữu mới chịu nhận. Vậy nữ chủ nên truyền chọn ngày lành tháng tốt để cho thế tử đi học vỡ lòng.
Nam Kim nữ chủ nghe nói mừng lòng, nghĩ thầm: “Ngày nay ta hãy dùng cách giữ chàng ở lại, rồi dần dà sẽ liệu kế sau”. Bây giờ Nam Kim nữ chủ trọng thưởng cho Thuận Thiên vương và truyền chỉ cho Khâm Thiên giám tức khắc chọn ngày lành tháng tốt làm lễ vỡ lòng cho thế tử.
Lại nói chuyện trong triều nhà Nguyên, từ khi hai quan sứ thần đi sang Cao Ly rồi, chính sự khác trước hết cả. Đồ Man Hưng Phục thăng chức binh bộ thượng thư, hai con trai đều làm tổng trấn ngự lâm quân. Chúng ỷ thế nội giám Mã Thuận mà làm càn, Mã Thuận thì ngày đêm hết sức ô mị Phi Giao hoàng hậu, để mưu hại Lương thừa tướng. Một hôm, vua Anh Tôn tiếp được tờ biểu cáo tang của vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa gửi đến, động lòng thương xót. Thượng hoàng ở nam nội cũng thương khóc một vị hiền thần. Thái hậu lại càng đau xót không biết dường nào, suốt ngày cứ vật mình lăn khóc, Phi Giao hoàng hậu nghe được tin ấy mừng thầm mà nói một mình rằng:
- Nếu vậy hay! Cha mẹ ta có tang, không tới đây được thì chính sự trong triều sẽ về một tay ta quyết đoán.
Phi Giao hoàng hậu mặt ngoài cũng giả cách bi ai khóc lóc, mấy hôm không vào nam nội vấn an. Vua Anh Tôn giao cho Lễ bộ quan bàn việc tuất điển. Lễ bộ quan tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Kính vương nguyên là thân phụ thái hậu, lại là tổ phụ hữu hoàng hậu (Phi Giao) thì tuất điển phải đặc cách gia tăng.
Phi Giao hoàng hậu thấy tờ tâu cố ý can ngăn mà nói với vua Anh Tôn rằng:
- Bệ hạ nên truyền phán cho Lễ bộ quan cứ chiếu lệ thân phụ thái hậu mà định tuất điển, còn tôi đây là người thế nào mà dám viện lệ dự bàn đến việc ấy. Vả theo lệ thường thì trong cung chỉ có một hoàng hậu, nay tôi được phong làm hữu hoàng hậu, là quá lạm rồi. Dẫu sao cũng phận thứ phi quyết không nên việt lễ. Nếu như lời lễ bộ quan nói thì chẳng những trái với lòng khiêm tốn của tôi mà e rằng tổ phụ và tổ mẫu tôi ở dưới suối vàng, cũng không muốn vì tôi mà chia cái vinh quốc thích vậy.
Phi Giao hoàng hậu nói xong, nét mặt rầu rĩ, rồi thở dài một tiếng, hai hàng nước mắt lã chã tuôn rơi. Vua Anh Tôn thấy vậy vội vàng đỡ dậy mà khuyên giải rằng:
- Ái khanh ơi! Ái khanh chớ lấy làm phiền muộn. Hiện nay Hùng hậu đang bị bệnh, chưa biết sống chết thế nào. nếu Hùng hậu tạ thế thì ngôi chánh cung hoàng hậu kia không phải là ái khanh thì là ai...
Lại nói chuyện phò mã Triệu Câu nghe tin tổ phụ và tổ mẫu tạ thế , tức khắc dâng biểu về chịu tang. Thượng hoàng bất đắc dĩ cũng phải chuẩn tấu. Phi Loan quận chúa ngẫm nghĩ đứt từng khúc ruột. Bình Giang vương Hùng Hiệu thấy vậy, càng động lòng xót thương. Vệ Dũng Nga vương phi khóc lóc mà than rằng:
- Nghĩa phụ và nghĩa mẫu ta bấy lâu vẫn coi ta như con đẻ, ai ngờ đến lúc tạ thế mà ta không được đứng bên trong khi khâm liệm thì lòng này bao quản xót xa! Lương Cẩm Hà phu nhân thấy Phi Loan quận chúa thương khóc cũng tìm lời khuyên giải, còn Hùng Khởi Thần thì ra vào nâng đỡ hai thân. Hùng Hiệu nói với Vệ Dũng Nga vương phi rằng:
- Ngày nay phò mã Triệu Câu cáo về chịu tang, chi bằng ta cho Hùng Khởi Thần cùng đi luôn thể. Trước là viếng tang sau là về thăm quê nhà vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi nghe nói gạt nước mắt mà vâng lời. Hùng Khởi Thần vội vàng bẩm rằng:
- Dám bẩm hai thân! Việc viếng tang, sai một tên người nhà đem lễ vật đi cũng được, hà tất phải bắt con đi. Vả anh Hùng Khởi Phượng con đi vắng thì con đi sao tiện, lấy ai làm người hầu hạ hai thân. Huống chi con đang đi học, cũng không khỏi sao nhãng.
Hùng Khởi Thần nói chưa dứt lời thì Hùng Hiệu liền nổi giận mắng rằng:
- Ta sai đi viếng tang mà con dam trái lời hay sao! Con nên biết rằng Hoàng Phủ Tương Vương là bạn chí thân với ta, tức là nhạc phục của con đó. Bấy lâu ta xa cửa lìa nhà liều chết cố sống đem thân ra nơi chiến trường để giúp bạn, mà bạn ta cũng coi ta như tay chân, một lòng sống chết có nhau. Ngày nay bạn ta có tang, vợ chồng ta không thể đi được, mới phải sai con, cớ sao con lại từ chối.
Hùng Khởi Thần run sợ quỳ xuống mà thưa rằng:
- Con xin vâng mệnh! Con xin vâng mệnh!
Hùng Khởi Thần nói chưa dứt lời thì bỗng thấy gia tướng vào bẩm rằng:
- Bẩm lão gia! Có phò mã Triệu Câu xin vào yết kiến.
Vợ chồng Hùng Hiệu đứng dậy nghênh tiếp. Phò mã Triệu Câu nét mặt buồn rầu thưa rằng:
- Dám thưa cô phụ và cô mẫu! Sáng mai thì điệt nhi về chịu tang, xin cô phụ phải lưu ý việc quốc chính. Thái hậu quá bi thương ,ai là người khuyên giải. Còn Phi Giao độ này đã có ý lộng quyền, Đồ Man Hưng Phục giao thông với Mã Thuận mà ngày đêm làm mê hoặc thánh thượng, hai con trai hắn lại ra sức luyện tập quân mã, điệt nhi chắc sau này chúng tất làm càn. Điệt nhi đã mật bẩm với Lương thừa tướng, nhưng ngài chỉ một lòng tận trung mà không biết tùy cơ ứng biến, khó tránh khỏi tai vạ về sau. Hôm nay điệt nhi về quê nhà, chảng hay em Phi Loan có muốn nhắn câu gì chăng?
Vệ Dũng Nga vương phi mời phò mã Triệu Câu ngồi, rồi sai gọi Phi Loan quận chúa. Bây giờ Phi Loan quận chúa đã mặc đồ tang phục, trông thấy anh liền khóc òa lên, Triệu Câu cũng khóc. Hùng Hiệu khuyên giải mà rằng:
- hiền điệt ơi! Con chớ lo phiền, cứ để em con ở đây, không ngại chi cả. Con về chịu tang nên mau mau mà lại tới đây.
Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Điệt nhi về chuyến này, chớ tới đây vội, nên hãy ở nhà mà chờ tin tức xem sao. Nhà ta đây khó lòng tránh khỏi tai vạ, bấy giờ điệt nhi sẽ đem thân báo quốc về sau. Hùng Khởi Thần theo viếng tang, ta xin gởi lại đấy để giữ lấy dòng dõi họ Hùng, chớ khiến trở về kinh địa; còn như Hùng Khởi Phượng đi sứ, cũng vị tất đã được về nào.
Vệ Dũng Nga vương phi vừa nói vừa ứa hai hàng nước mắt xuống. Hùng Khởi Thần liền ôm lấy mà khóc rằng:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu nỡ lòng nào dứt tình bắt con phải đi nơi khác. Con há phải là phường tham sống, khi nào hịu rời bỏ hai thân. Thôi thì sống chết cố mệnh, con xin ở luôn dưới gối cha mẹ vậy.
Nói xong, hai tay cứ ôm chặt lấy mà nức nở khóc lóc. Tình cảnh ấy, khiến người trông thấy, dẫu gan sắt đá cũng phải xót thương. Vệ Dũng Nga vương phi đứng ngẫn người ra, không nỡ buông lời sỉ mắng.
Hùng Hiệu liền nổi giận mà rằng:
- Hùng Hiệu này, không ngờ lại sinh phải đứa con bất hiếu. Chẳng thà liều một mũi gươm, cho khỏi bị tay đứa quyền gian kia vậy.
Nói xong, tức khắc rút thanh bảo kiếm. Phò mã Triệu Câu quì xuống mà can rằng:
- Cô phụ ơi! Biểu đệ con hãy còn trẻ dại, xin cô phụ hãy dung thứ cho một phen.
Vệ Dũng Nga vương phi cũng nói:
- Vệ Dũng Nga vương phi cũng nói:
- Thôi, lần này là lần đầu, hãy tha thứ cho nó. Ta đã sửa soạn đồ tư trang, con nên mau mau khởi hành.
Hùng Hiệu buông thanh kiếm xuống, vẫn còn hầm hầm tức giận mà quay trở ra. Phò mã Triệu Câu cũng xin cáo từ.
Phi Loan quận chúa nói ra không tiện, chỉ gạt nước mắt khóc thầm. Vệ Dũng Nga vương phi đem tập tranh “bách mỹ” trao cho Hùng Khởi Thần mà bảo rằng:
- Đây là tập tranh của cô mẫu đưa cho, con nên giữ gìn luôn ở cạnh mình, chớ để thất lạc. Còn một hạt minh châu này, khi trước thân phụ con ra trận lấy được, đem dâng thiên tử, thiên tử lại ban cho thân phụ con. Về sau thân phụ con dùng làm đồ sính lễ để cưới ta đó, ngày nay ta bỏ vào trong cái túi nhỏ, để con đeo ở cạnh mình.
Hùng Khởi Thần vừa khóc vừa vâng lời dặn bảo.
Lại nói chuyện phò mã Triệu Câu về phủ, từ biệt cùng em là Triệu Lân. Triệu Câu nói:
- Hôm nay anh đã được thánh thượng phê chuẩn, sáng mai sẽ khởi hành. Nhưng anh xem thần sắc thái hậu độ này suy kém, không được lanh lợi như xưa, các thái y quan bốc thuốc, đều chẳng thấy công hiệu. Hôm trước anh đã tâu rõ với thượng hoàng là em có am hiểu y lý, vậy em nên vào cung trông nom việc thuốc thang. Lại còn một việc, em vốn tính ôn hòa, hoặc thừa cơ mà tâu bày bệnh tình của chánh cung hoàng hậu thực giả thế nào. Em xem hễ có long thai thì nên dùng cách mà bảo toàn cho được vô sự. Việc ấy chẳng những báo đáp triều đình, mà lại có thể bảo toàn được cho cha mẹ. Gia Tường công chúa vốn là người hiền đức, có thể tin cậy được, gặp việc gì khó khăn cũng nên báo cho công chúa biết.
Triệu Lân nghe nói gạt nước mắt mà nói:
- Thân huynh ơi! Em cũng lo cho nhà Hoàng Phủ ta lắm, không biết có bảo toàn được thủy chung hay không?
Hai anh em đàm luận cùng nhau hồi lâu, phò mã Triệu Câu lại trở vào trong phòng. Gia Tường công chúa đứng dậy đón, rồi cùng nhau ngồi nói chuyện. Tính trước bàn sau, than dài thở ngắn, hai vợ chồng đều nhỏ nước mắt khóc. Gia Tường công chúa truyền các nữ tỳ lui ra, rồi khẽ bảo phò mã Triệu Câu rằng:
- Hôm trước nội giám Quyền Xương thuật chuyện cho tôi nghe rằng: Phi Giao hoàng hậu tâu thánh thượng nói ba vị thân vương ở nam nội được thượng hoàng và thái hậu tin yêu làm nhiều điều trái phép, vậy thánh thượng nên nghĩ cách mà chia phong cho mỗi người đi một chỗ, cho được yên việc trong cung. Bà Ôn phi và Mai phi cũng xin cho đi theo con, để khỏi đem những lời sàm báng mà tâu với thái hậu. Thánh thượng nghe lời tâu, dẫu ngần ngừ chưa phán bảo thế nào, nhưng tiô chắc rằng ba vị thân vương tất không được ở nam nội nữa.
Phò mã Triệu Câu nghe nói mừng mà bảo rằng:
- Nếu vậy thì hay! Tôi đây sẽ có kế, nhưng bây giờ nói ra không tiện. Công chúa ơi! công chúa nên đề phòng cẩn mật chớ lộ hình tích cho ai biết, trước là khiến thượng hoàng và thái hậu được yên lòng, sau là hộ vệ cho Hùng hậu ở trong cung được an toàn vô sự. Còn ngoài ra đất lở trời nghiêng đã có Triệu Câu này. Ngày nay xin dặn một điều thiết yếu là nên tâu cho em tôi là Triệu Lân vào làm y quan, để trông nom việc thuốc thang co thái hậu và Hùng hậu thì họa may long thai của Hùng hậu mới khỏi bị hại vậy. Tôi chỉ nhờ công chúa một việc ấy, còn việc tôi đi chuyến này đường sá xa xôi, công chúa bất tất phải lo ngại.
Gia Tường công chúa nức nở khóc mà đáp:
- Phò mã ơi! Xin phò mã thay tôi dâng lời thăm hỏi hai thân, chỉ vì quốc thể mà tôi không thể cùng đi được. Phò mã nên khuyên hai thân chớ quá nghĩ, Phi Giao hoàng hậu lộng quyền như thế, nếu Mạnh vương phi ta tới đây thì có lẽ cũng bớt được một vài.
Hai vợ chồng đàm luận cùng nhau cho đến sáng. Sáng hôm sau, phò mã Triệu Câu khởi hành về chịu tang tổ phụ và tổ mẫu. Hùng Khởi Thần cũng theo về viếng tang luôn thể. Còn Triệu Lân thì được vào làm thái y quan.
o0o


Đã mang vào dến chương này
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-15 04:11:07tieu hoang dung>
PHẦN A

hồi thứ năm
THƯỢNG HOÀNG NHẸ BƯỚC CẦU TIÊN CẢNH
THÁI HẬU RA TAY CỨU TRUNG THẦN


Lại nói chuyện Triệu Lân từ khi phò mã Triệu Câu đi rồi, giả cách cung kính chịu lòn cúi nội giám Mã Thuận và nhà Đồ Man Hưng Phục, vì thế hai đứa gian quyền kia không có lòng nghi kỵ, vẫn cho được tự do ra vào trong cung. Một hôm, Triệu Lân viết một bản tâu nhờ bảo mẫu đệ trình Phi Giao hoàng hậu. Phi Giao hoàng hậu nghe nói là bản tâu của Triệu Lân đã có ý nghi, liền mở ra xem. Bản tâu như sau này:
“Ngự tiền đô úy là Triệu Lân xin có lời tâu bày để hữu hoàng hậu xét đoán: Nguyên các thái y quan xem mạch Hùng hậu, phần nhiều nói là có long thai. Nếu quả có long thai thực thì sau này tất bất lợi cho hữu cung. Chi bằng nhân lúc thai hình còn nhỏ này, thần đệ giả cách dâng thuốc “bảo thai” kỳ thực thì cứ dùng thuốc “sấu thai”dần dà mỗi ngày một chén, làm cho thai hình tiêu thước mà không thể kết quả được. Việc này là một việc bí mật chẳng lẽ bàn với các thái y quan, vậy xin tâu cho thần đệ vào trông nom thuốc thang, rồi thần đệ sẽ tùy cơ ứng biến.
“Có thế mới bảo toàn được ngôi hoàng hậu, mà thần đệ cũng được chia vinh. Thần đệ thiển nghĩ như vậy, còn nên chăng thế nào, xin lượng trên xét đoán.”

Phi Giao hoàng hậu xem xong mừng mà phán rằng:
- Nếu vậy thì rất hay! Quốc cữu Triệu Lân thật là một người có mưu lược, lại biết nghĩ tình chị em ruột thịt với ta. Kỳ thay, cùng trong cốt nhục một mẹ sinh ra, mà anh Triệu Câu coi ta như thù hằn. Từ khi ta vào cung tới nay, gần một năm tròn, anh ta vẫn có ý khinh bỉ và vô lễ với ta vậy. Ta nói thật cho mà biết! Chứ sau này hễ quyền chính về tay ta thì anh ta cũng khó lòng mà toàn được tính mệnh. Nay Triệu Lân xin vào trông nom việc thuốc thang, âu là để ta tâu cho.
Nói xong, tức khắc sai người vào nam nội tâu với thượng hoàng và thái hậu, còn mình thì vào cung tâu với vua Anh Tôn rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Em ruột thần thiếp là Triệu Lân cũng có am hiểu y lý, vì thuở nhỏ vẫn theo thân mẫu thần thiếp học tập nghề thuốc, cho nên mạch lý rất tinh thông. Thần thiếp đã viết bản tâu xin thái hậu cho Triệu Lân vào cung trông nom việc thuốc thang, chẳng hay thánh thượng có phê chuẩn cho không?
Vua Anh Tôn nghe nói gật đầu, rồi tấm tắc khen ngợi:
- Ái khanh thật là một người hiền đức! Lúc nào cũng ân cần lo nghĩ đến tả hoàng hậu, mà chẳng biết bụng dạ tả hoàng hậu có được như bụng ái khanh hay không?
Phi Giao hoàng hậu nói:
- Thần thiếp xin nguyện có trời trất lòng này quyết không bao giờ biến đổi.
Nói xong, liền ngoảnh mặt lại bảo nội giám Mã Thuận rằng:
- Nhà ngươi mau mau truyền trời quốc cữu Triệu Lân vào cung để xem mạch cho tả hoàng hậu.
Mã Thuận vâng mệnh, tức khắc đi ngay. Bấy giờ vua Anh Tôn cũng đi vào nam nội. hồi lâu, nội giám vào tâu, có quốc cữu Triệu Lân đã ứng hầu tại ngoài cửa cung. Phi Giao hoàng hậu truyền cho vào, Triêụ Lân bước vào, sụp lạy ở phía ngoài rèm mà tâu rằng:
Thần đệ là Triệu Lân đã vào bái yết.
Phi Giao hoàng hậu bằng lòng truyền cung nữ bắc ghế cho ngồi và ban trà uống. Phi Giao hoàng hậu hỏi rằng:
- Bệnh thể của thái hậu và tả hoàng hậu thế nào, em đã xem qua rồi phải không?
Triệu Lân tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Thái hậu vì bi thương quá độ mà thành bệnh, nhưng không hề chi, chỉ điều dưỡng trong ít lâu, tự khắc sẽ khỏi. Còn như tả hoàng hậu thì thần đệ hiện đã có kê một đơn thuốc đệ trình thượng hoàng và thái hậu xem.
Triệu Lân lại giả cách đem đơn thuốc đệ trình Phi Giao hoàng hậu. Khi Phi Giao hoàng hậu mở xem thì trong đơn viết như sau:
“Thần đệ là Triệu Lân cẩn tấu. Cứ như mạch lý của tả hoàng hậu thì quả nhiên là có long thai. Nếu sau này sinh được hoàng nam, tất bất lợi cho hữu hoàng hậu. Hữu hoàng hậu đã bất lợi thì nguồn lộc của nhà Hoàng Phủ ta khó lòng mà bảo toàn được. nay thần đệ xin cho uống bài sấu thai ẩm khiến ngày một hao mòn, không kết thành thai hình vậy.”
Phi Giao hoàng hậu mừng rỡ mà phán rằng:
- Nếu vậy thì em thật là am hiểu y lý mà biết nghĩ đến tình chị em ruột thịt cùng nhau. Trưởng huynh nhà ta lại kém em xa lắm. Ngày nay ta cố tâu cho em được vào cung trông nom việc thuốc thang, nhưng chỉ sợ tả hoàng hậu không chịu uống thuốc.
Triệu Lân mật tâu rằng:
- Muông tâu hoàng hậu! Bảo mẫu vốn là một người tâm phúc có thể tin cậy được. Sao hoàng hậu không sai sang để trông nom, nhưng kỳ thực thì để đề phòng tả hoàng hậu, và khiến cho Bình Giang vương cũng không có lòng nghi ngờ vậy.
Phi Giao hoàng hậu nghe nói rất lấy làm mừng lòng mà khen:
- Em quả là người có mưu lược.
Nói xong, truyền nội giám truyền đem các đồ châu bảo vàng ngọc ra ban thưởng cho Triệu Lân và dặn:
- Việc này ta ủy thác cho em, em nên phải hết lòng. Mã Thuận là người tâm phúc của ta, bất cứ việc gì em cũng nên bàn với hắn.
Triệu Lân vâng mệnh lui ra, về qua phủ phò mã, sai người vào nói với Gia Tường công chúa rằng:
- Có gia thư ở quê nhà ở tới, xin đệ trình để công chúa xem.
Cung nữ nhận thư đem vào, Gia Tường công chúa kinh sợ không biết việc gì, liền mở ra xem. Bức thư như sau:
“ Tôi là Triệu Lân xin nói để công chúa biết rằng tả hoàng hậu thật có long thai, chỉ vì đam trệ, cho nên thần trí không minh mà sinh ra hoảng hốt. Tôi đã tâu với hữu hoàng hậu xin cho uống bài “sấu thai ẩm” để haị long thai, nhưng kỳ thực thì dùng bài “bảo thai hóa đam” sẽ giữ được an toàn vô sự. Công chúa nên tâu rõ với thái hậu cùng hiệp lực để bảo vệ cho long thai, chớ có cùng hữu hoàng hậu tranh hành, mà nước nhà lại gây ra nhiều việc biến loạn”.
Gia Tường công chúa xem thư nửa mừng nửa lo. Xem xong, tra bức thư vào trong tay áo, truyền sắp xe vào bái yết thái hậu. Khi vào tới nơi Gia Tường công chúa làm lễ vấn an, rồi lại tâu với thái hậu rằng:
- Vừa rồi con có tiếp được gia thư tới nơi, vậy xin đệ trình để thái hậu rõ.
Nói xong, liền cầm bức thư dâng thái hậu. Thái hậu xem thư trước còn không hiểu, sau mới nghĩ ra thì nổi giận:
- Ta không ngờ Phi Giao lại độc ác đến như thế. Nếu vậy thì ta còn mặt mũi nào mà trông thấy Vệ vương phi nữa. Ta nhịn thế nào được! Cung nữ đâu, mau mau triệu Phi Giao hoàng hậu đến đây cho ta hỏi.
Gia Tường công chúa quì xuống mật tâu với thái hậu:
- Muôn tâu mẫu hậu! Xin mẫu hậu chớ nóng nảy. Việc này bại lộ, tất khó lòng bảo toàn được long thai. Vả nói ra bây giờ thì hữu hoàng hậu tất không chịu nhận lỗi, cũng không lấy lẽ gì mà biếm truất hữu hoàng hậu cho được. Chi bằng mẫu hậu hãy giả cách không biết, rồi tùy cơ ứng biến để bảo toàn cho tả hoàng hậu. Huống chi việc này là một việc trọng yếu, có quan hệ đến nước nhà, nay Mạnh vương phi lại không ở đây, cho nên việc cũng hơi khó. Xin mẫu hậu hãy nén lòng nghĩ kỹ, chớ khiến phong thanh bại lộ mà gây thành một vại tày trời.
Thái hậu nghe lời tâu, nín lặng không nói câu gì, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi phán:
- Người ta ở đời muôn việc chẳng qua cũng bởi số mệnh. Nhà Hoàng Phủ ta mấy đời trung hiếu, ai ngờ ngày nay lại sinh xuất ra một đứa nữ nhi tai quái như thế này. Nay bảo mẫu đang thừa trực tại trong cung, con nên gọi mụ đến mà mật bảo mụ phải giả làm hộ vệ long thai cho tả hoàng hậu.
Gia Tường công chúa nói:
- Con đã nghĩ được một kế. Bảo mẫu vốn có tài khéo bẻ bão, con giả cách đau bão, rồi triệu mụ đến, bấy giờ sẽ liệu cách mà nhủ bảo mụ, xin mẫu hậu chớ lo ngại.
Thái hậu gật đầu, cũng cố nén cơn tức giận. Gia Tường công chúa cáo từ lui ra, giả cách đau bão, sai người triệu bảo mẫu đến. Khi bảo mẫu đến, Gia Tường công chúa đuổi hết mọi người chung quanh, rồi hai tay ôm lấy bảo mẫu khóc mà bảo rằng:
- Mụ bảo mẫu ơi! Mụ nên phát khởi từ tâm mà cứu lấy hoàng hậu và hoàng tử.
Nói xong, thuật hết đầu đuôi cho bảo mẫu nghe. Bảo mẫu nghe nói giật mình kinh sợ, chẳng còn hồn vía nào, hồi lâu mới định thần mà nói với Gia Tường công chúa rằng:
- Trời ơi! Tôi không ngờ đến thế, nhưng tôi cũng hơi biết đã lâu mà không dám nói ra.
Bấy giờ bảo mẫu lại thuật chuyện Phi Giao hoàng hậu khi ở trong cung phù phép nguyền rủa Hùng hậu cho Gia Tường công chúa nghe và nói:
- Gia Tường công chúa ơi! Công chúa giao việc ấy, tôi thiết nghĩ khó bảo toàn được, vậy không dám nhận lời.
Gia Tường công chúa nói:
- Bảo mẫu ơi! Xưa nay mụ vốn là một người trung thành, cớ sao việc này mụ lại từ chối. Số là ta chỉ nhờ mụ có một việc cứ ngày ngày mụ đem thuốc cho Hùng hậu uống, và mụ trông nom săn sóc, đề phòng hai đứa Bàng Nguyệt Tố và Lý Hoa Quyên. Còn ngoài ra chẳng có hình tích gì, như thế thì Phi Giao hoàng hậu cũng quyết không nghi ngờ chi vậy. Bảo mẫu ơi! Hùng hậu không bảo toàn được long thai thì nhà Hoàng Phủ cũng khó lòng mà tránh khỏi tai vạ, mà công lao của bảo mẫu đối với nhà Hoàng Phủ từ xưa đến nay cũng uổng phí mà thôi.
Bảo mẫu cáo từ lui ra, về tâu với Phi Giao hoàng hậu, chỉ nói là việc bẻ bão, cho nên Phi Giao hoàng hậu cũng không ngờ. Ngày hôm sau, Võ anh điện đại học sĩ thân vương là Thiếp Mộc Nhĩ và các quan trong họ tôn thất đều dâng biểu nói ba vị thân vương nên cho thụ phong đi ở nơi khác, thượng hoàng xem biểu, liền trao cho vua Anh Tôn. Vua Anh Tôn phê rằng:
“Ba vị thân vương cần phải hầu hạ ở dưới gối thượng hoàng và thái hậu, không thể đi xa được, vậy việc này hãy đợi trong một vài năm nữa sẽ bàn
Bấy giờ Đồ Man Hưng Phục đã phụng mật chỉ của Phi Giao hoàng hậu, đem các đồ châu báu lễ đút lót cho thân vương Thiếp Mộc Nhĩ, lại đem vàng bạc tống cho cho các quan trong họ tôn thất. Vậy nên khi chúng thấy lời phê của vua Anh Tôn thì tức khắc họp nau hơn một trăm người tôn thất, kéo nhau đến cửa ngọ môn, khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Việc này là một việc trọng yếu có quan hệ đến nước nhà, vì các vị thân vương không nên ở lâu năm tại trong nội. Vậy xin thánh thượng phê chuẩn cho ba vị thân vương được thụ phong đi nơi khác. Còn hai bà Ôn phi và Mai phi cũng đều cho đi theo con.
Lương thừa tướng thấy vậy cố tâu xin hãy thư thả đến qua năm. Thiếp Mộc Nhĩ nói:
- Lương thừa tướng thật nhiều điều ngang ngạnh, làm bại hoại cả pháp luật hoàng gia.
Lương thừa tướng nổi giận tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Hán vương và Triệu vương hiện đã trưởng thành, thụ còn có lý, chứ Chu vương mới mười một tuổi thì kẻ hạ thần thiết nghĩ chưa nên cho đi.
Bấy giờ mọi người trong tôn thất đồng thanh mà tâu rằng:
- Lương Trấn Lân vào hùa với ba vị thân vương, không biết trên đầu có ai.
Vua Anh Tôn bất đắc dĩ mới phê rằng:
- Hán vương và Triệu vương theo như lời tâu, Chu vương còn nhỏ, nên để ở lại hầu hạ thượng hoàng và thái hậu, đợi khi trưởng thành, bấy giờ sẽ cho đi thụ phong. Còn Ôn phi và Mai phi cho đi theo con. Lại truyền bộ hộ quan trích tiền côn khố ra ban cấp.
Các tôn thất nghe lời thánh chỉ, đều lấy làm vui mừng tung hô vạn tuế. Từ khi Hán vương và Triệu vương đi khỏi rồi, thượng hoàng có ý buồn rầu, bà thái hậu cũng quá nghĩ mà thành bệnh, thường vẫn thở ngắn than dài, không được vui lòng vậy. Một hôm Bình Giang vương Hùng Hiệu điểm duyệt mười vạn quân ngự lâm, thấy thiếu mất năm trăm quân binh kỵ. Hùng Hiệu truyền hỏi thì Quân chính quan bẩm rằng:
- Dám bẩm lão gia! Tháng trước quan tả quân đô đốc là Đồ Man Định Quốc đến viếng lấy năm trăm quân đem vào cấm vệ.
Hùng Hiệu nghe nói nổi giận mà rằng:
- Sao dám tự tiện điểm lấy cấm binh mà không bẩm mệnh ta!
Quân chính quan nói:
- Dám bẩm lão gia! Vì bấy giờ lão gia đang nghỉ giả hạn, cho nên chưa kịp bẩm bạch.
Hùng Hiệu truyền đòi Đồ Man Định Quốc đến. Khi Đồ Man Định Quốc vào tới nơi, Hùng Hiệu quát mắng:
-Nhà ngươi nên tự biết tội mình mà quì xuống mới phải.
Đồ Man Định Quốc nói:
- Tiểu tướng này vô tội. Vả đang mặc quân phục, không có phép được quì.
Hùng Hiệu lại càng tức giận, nét mặt hầm hầm mà mắng rằng:
- Nếu vậy nhà ngươi to gan thật! Dám tự tiện điểm lấy cấm binh mà không bẩm mệnh ta, bây giờ nhà ngươi còn chưa biết là đại tội hay sao?
Nói xong, đập bàn quát to lên:
- Tội này đã đáng chém đầu chưa? Nhà ngươi thật không coi quốc pháp ra gì cả.
Đồ Man Định Quốc cũng nổi giận mà cãi lại:
- Lão gia chém thế nào được tôi! Tôi phụng mệnh thánh thượng điểm lấy cấm binh cào canh giữ trong cung, chẳng lẽ hiệu lệnh của lão gia, lại to hơn thánh thượng hay sao! Nay lão gia mắng tôi tức là tội tiết mạn thánh thượng đó.
Hùng Hiệu nghe nói lại càng tức giận bội phần, liền đứng dậy rút thanh bảo kiếm, đập bàn quát:
- Quân sĩ đâu! Trói cổ nó đem ra chém đầu cho ta.
Quân sĩ vâng mệnh, đem Đồ Man Định Quốc ra để sắp hành hình. Bỗng thấy một tên nội giám phi ngựa chạy đến mà quát to lên rằng:
- Khoan đã! Có thánh chỉ ban đến.
Hùng Hiệu chưa kịp chém Đồ Man Định Quốc, nghe nói có thánh chỉ, tức khắc quì xuống để nghênh tiếp. Nội giám truyên đọc thánh chỉ như sau này:
-“Trẫm có truyền chỉ cho Đồ Man Định Quốc điểm lấy năm trăm quân cấm binh, đem vào canh giữ ở trong cung, bấy giờ quốc trượng đang nghỉ giả hạn, vậy nên trẫm chưa tuyên dụ. Việc này không phải Đồ Man Định Quốc dám khinh thường quốc pháp, xin quốc trượng lượng tình mà tha thứ cho. Khâm tai.”
Hùng Hiệu lạy tạ thánh chỉ, rồi đứng dậy nói với nội giám:
- Ngự lâm quân nguyên để canh phòng đại nội, xưa nay chưa hề có điểm quân đem vào trong cung bao giờ, thánh thượng quá tin lời gian nịnh mà làm việc ấy. Nay dẫu có thánh chỉ ban đến truyền tha tử tội cho Đồ Man Định Quốc, nhưng còn tội hắn dám buông lời hỗn láo, chống cự với ta, cũng không phải là tội nhỏ. Thế thì ta tha cho tội chết, mà còn tội sống tất phải nghiêm trị mới được.
Nói xong, liền ngồi xuống ghế, truyền đánh cho Đồ Man Định Quốc bốn mươi côn và cách bỏ tên đi. Đánh xong, Hùng Hiệu trở về vương phủ, nét mặt vẫn còn hầm hầm tức giận, thuật chuyện đầu đuôi cho Vệ vương phi nghe. Vệ vương phi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Phu quân ơi! Tôi chỉ sợ gây ra thu oán, nhưng việc đã xảy ra dường này thì xin phu quân phải nhẫn nại mới xong, chờ vợ chồng Tương vương tới đây, bấy giờ sẽ tùy cơ ứng biến.
Hùng Hiệu nói:
- Tôi không thể nhịn được. Thôi thì tôi cũng liều mình để báo đáp triều đình. Việc này thượng hoàng và thái hậu không hiểu tình, âu là sáng mai tôi phải vào tâu rõ. Vợ chồng Tương vương còn thủ tang ba năm, chẳng lẽ cứ ngồi đây mà để cho bọn quyền gian làm mê hoặc thánh thượng.
Nói xong, tức khắc vào trong thư phòng, đốt hương viết bản tâu: trước tâu việc Đồ Man Hưng Phục giao thông với Mã Thuận, sau tâu việc Đồ Man Định Quốc dám trái phép đem cấm binh vào cung. Khi viết bản tâu xong, Hùng Hiệu dại thở dài mà than rằng:
- Triều chính đã không ở tay ta, mà binh quyền lại dần đã về tay những phường xiểm nịnh. Nay ta ngồi nhìn bọn quyền gian làm loạn, chi bằng liều một thân ta để báo đáp triều đình.
Sáng sớm hôm sau, Hùng Hiệu đem bản tâu vào dâng vua Anh Tôn, vua Anh Tôn không thi hành, chỉ sai nội giám truyền miệng rằng:
- Quốc trượng cứ yên lòng, trăm việc hãy trông vào trẫm. Việc điểm lấy cấm binh là lỗi tại trẫm, nhưng chưa đến nỗi biến loạn nào. Nay hãy xá tội cho Đồ Man Định Quốc được nguyên chức cũ, mà đổi sang làm cửu môn đề đốc.
Vệ Dũng Nga vương phi nghe nói thở dài mà than rằng:
- Nếu vậy thì thật là hỏng việc! Nay Đồ Man Định Quốc không bị trách phạt mà lại được thăng chức. Vả làm cửu môn đề đốc thì không thuộc quyền vương phủ càng chóng sinh ra biến loạn.
Lại nói chuyện thượng hoàng ở nam nội ngày đêm buồn rầu. Một hôm gặp tiết Nguyên đán, vua Anh Tôn vào triều kiến. Khi vua Anh Tôn lui về rồi, thượng hoàng ngồi nghĩ lại càng thêm buồn rầu, phần vì nhớ Hán vương và Triệu vương, phần thì nhớ Ôn phi và Mai phi. Vừa ngày nào sum họp một nhà, kẻ cười người nói, mà ngày nay chiếc thân vò võ biết cùng ai kể lể ngày xưa. Thượng hoàng nghĩ vậy mới thở dài than rằng:
- Năm trước thái hậu khuyên ta chớ nên truyền ngôi cho con, ngày nay ta nghĩ mới lấy làm hối. Thái hậu bị bệnh đã hai tháng nay mà thuốc thang chẳng có ai săn sóc. Hai vị thân vương đều phải thụ phong đi nơi khác, mà Ôn phi và Mai phi cũng phải đi theo con. Chỉ còn một đứa con nhỏ ở lại thì ngày đêm luống những ngẩn ngơ nhớ mẹ, khiến ta trông thấy càng thêm nỗi xót thương. Con ta lên nối ngôi, cũng bởi là bậc trung tài, cho nên một vị thiên tử đường đường mà phải bó tay chịu quyền hữu hoàng hậu. Chẳng lẽ bây giờ ta lại lập người khác. Thái hậu nguyên là một người có công với ta, từ khi vào cung đến giờ, vẫn một lòng hiếu thảo, nếu ngày nay ta lập Hán vương hoặc Triệu vương thì tất thái hậu không được yên lòng.
Thượng hoàng nói xong lại cúi đầu ngẫm nghĩ, bỗng cười một tiếng mà rằng:
- Ta truyền ngôi cho con là muốn để hưởng lấy phúc thanh nhàn, thế thì ngày nay ta chỉ nên đoạn tuyệt trần duyên mà đi tu là hơn cả. Ta nghe nói trên núi Ngũ Đài sơn có các vị cao tăng đắc đạo, âu là ta tìm tới đó, để tu luyện lấy phép trường sinh. Nhưng còn phiền về nỗi ta xưa nay vẫn ở trong cung, ngoài ra chẳng biết đường đi lối lại nào cả, chiếc thân vò võ, làm thế nào mà lần mò cho tới Ngũ Đài sơn được. Vả mỗi khi ra ngự lại có văn võ hộ vệ, biết dùng kế gì mà lẻn đi.
Thượng hoàng đang nghĩ quanh nghĩ quẫn, chưa quyết định bề nào thì bỗng thấy nội giám Quyền Xương quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Người là một bậc chí tôn vô thượng, chẳng hay cớ sao ngày nay kẻ hạ thần trộm thấy long nhan cũng có vẻ không vui?
Thượng hoàng thở dài mà than rằng:
- Quyền Xương! Nhà ngươi là người tâm phúc của ta mà sao nhà ngươi lại không biết bụng ta vậy. Nhưng ngày nay chí ta đã quyết, chẳng hay khi ta vắng mặt rồi thì nhà ngươi tự xử ra thế nào?
Quyền Xương nghe nói sợ toát mồ hôi ra, lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Chẳng hay cớ sao thượng hoàng lại nói câu ấy. Nay thượng hoàng dẫu có tuổi, mà dung nhan trông vẫn quắc thước, kẻ hạ thần thiết tưởng ngày xuân, xuân hãy còn dài.
Thượng hoàng lại cười mà phán rằng:
- Người ra dẫu thọ, chẳng qua trăm tuổi, rát lại cũng không tránh khỏi sự chết. Ngày nay ra làm thế nào mà tránh sự chết cho được.
Quyền Xương lại lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Khi thượng hoàng trăm tuổi, giả sử thân khuyển mã này còn sống thì cũng quyết xin bíu long giá mà đi theo.
Thượng hoàng nói:
- Quyền Xương! Nhà ngươi muốn bỏ sống mà theo ta chết thì chi bằng tránh sự chết mà theo ta sống là hơn, nhưng chẳng hay nhà ngươi có liều bỏ thân gia được không? Ta đây chán đời đã lâu, vẫn muốn tìm nơi thanh tĩnh, nghe nói trên núi Ngũ Đài sơn có nhiều cao tăng, vậy định lẻn đi một vài năm để tu luyện lấy phép trường sinh, rồi sau sẽ trở về cung, nhà ngươi có theo ta cùng đi có được không?
Quyền Xương nghe nói, lại lạy mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Nếu thượng hoàng đi tu, kẻ hạ thần cũng quyết lòng xin theo, nhưng chỉ sợ tu hành khổ hạnh, nâu sòng lam lũ, dưa muối lần hồi, thượng hoàng chịu sao cho nổi. Lại còn một nỗi rất khó chịu nữa là thất tình lục dục đều phải nghiêm giới thì quả tu mới giữ được trọn. Còn một việc này xưa nay thánh thượng vẫn không dám nói ra, ngày nay cũng xin tâu bày để thượng hoàng soi xét. Số là trong họ tôn thất, bây giờ bè đảng rất nhiều. Hữu hoàng hậu chỉ biết chuyên quyền mà quá tin lời những kẻ gian nịnh, hay dùng vàng bạc giao thông với các quan triều thần để làm điều trái phép, thế mà thánh thượng nào có thấu tình, kẻ hạ thần chỉ mong sao cho vợ chồng Tương vương tới đây, họa may việc này mới an toàn vô sự được.
Thượng hoàng cười mà bảo rằng:
- Nhà ngươi chắc chi đến việc ấy nữa, từ xưa các vua sáng nghiệp, hồ dễ mấy người truyền được vạn niên, chẳng qua muôn việc bởi trời, lòng ta đây đã quyết lánh ra ngoài vòng trần tục. Ta muốn lẻn đi mà không cho ai biết, vậy nhà ngươi nên vì ta mà nghĩ kế mau mau.
Quyền Xương lại tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Kẻ hạ thần nghĩ được một kế: Đến ngày nguyên tiêu này mở hội hoa đăng, kẻ đi người lại rất đông, hôm ấy thượng hoàng vi phục (mặc áo như người thường để cho không ai biết mình) cùng kẻ hạ thần lẻn đi thì quyết không ai biết, nhưng việc này phải phát xuất, tất thiên hạ lấy làm kinh dị, vậy thượng hoàng nên để một tờ thánh dụ lại, nói rõ việc đi tu hành trước là để yên lòng thái hậu và thánh thượng, sau là khiến thiên hạ thần dân khỏi phải nghi ngờ vậy.
Quyền Xương nói chưa dứt lời thì thượng hoàng đã vỗ đùi mà khen ngợi rằng:
- Hay lắm! Hay lắm! Kế ấy thật là thần diệu! Nhưng nhà ngươi nên cẩn thận, cứ sửa soạn đồ hành lý mà chớ tiết lộ cho ai biết.
Quyền Xương tâu rằng:
- Các đồ hành lý kẻ hạ thần xin sửa soạn sẵn ở nhà, bất tất phải lấy ở trong cung. Việc ấy đã có kẻ hạ thần, xin thượng hoàng chớ lo ngại.
Thượng hoàng gật đầu khen phải. Đến ngày nguyên tiêu thượng hoàng truyền mở hội hoa đăng. Thần dân mừng rỡ, kéo nhau đi xem hội. Vua Anh Tôn và Phi Giao hoàng hậu cũng có ý vui, chỉ có thái hậu không ra thưởng hoa đăng, thượng hoàng mới vào cung thăm thái hậu. Khi vào tới nơi, thấy thái hậu âu sầu buồn bã, liền cầm lấy tay mà an ủi rằng:
- Hôm nay có cuộc vui sao thái hậu lại không ra ngự thưởng? Thái hậu ơi! Thái hậu vốn là một bậc nữ trượng phu, vậy cũng nên đạt lý, chớ quá thương cha mẹ, không biết gìn vàng giữ ngọc, để thay ta mà lo vác việc ở trong cung. Con ta hãy còn ít tuổi, lên nối ngôi vua, cũng cần phải có thái hậu trông nom giúp. Vả ngày nay Hán vương và Triệu vương đi cả, Ôn phi và Mai phi đều đi theo. Trong cung vắng vẻ thái hậu cũng nên cố gượng tươi cười, để khiến cho ta được vui lòng vậy
Thượng hoàng nói xong, lại cười ha hả. Thái hậu nghĩ thầm: “Không hiểu cớ sao hôm nay thượng hoàng lại nói mấy câu kỳ dị như thế”. Ngẫm nghĩ hồi lâu, mới nói với thượng hoàng rằng:
- Thượng hoàng ơi! Thượng hoàng chớ thấy thiếp đau yếu mà có ý lo phiền. Thiếp sở dĩ không thưởng hoa đăng là vì có tang hai thân thiếp, chứ không phải thiếp quá ư bi thương vậy. Hán vương và Triệu vương dẫu ít tuổi, nhưng có Ôn phi cùng Mai phi đi theo thì cũng chẳng ngại gì. Hôm nay thượng hoàng đi thưởng cuộc hoa đăng, nên mau mau trở về, thiếp sẽ truyền nội giám đặt tiệc ở trong cung để đợi thượng hoàng đó.
Thượng hoàng mỉm cười mà bảo rằng:
- Đa tạ thịnh tình của thái hậu, nhưng đợi khi nào thái hậu thật được khỏe mạnh, bấy giờ ta sẽ cùng nhau uống rượu vui.
Bỗng thấy nội giám quì tâu, xin rước thượng hoàng ngự xem hội hoa đăng. Thượng hoàng đã đứng dậy, lại có ý ngần ngại mà bảo thái hậu rằng:
- Tôi đi! Thái hậu ở trong cung nên gìn vàng giữ ngọc nhé.
Thái hậu cũng đứng dậy tiễn mà đáp rằng:
- Thượng hoàng nên mau mau trở về, kẻo khiến thiếp mong đợi.
Thái hậu nói xong, thượng hoàng ngoảnh lại hỏi Hưng Bình công chúa rằng:
- Chu vương đâu?
Hưng Bình công chúa nói:
- Hiện tứ đệ đã ở Ngũ Phượng lầu để cùng hoàng huynh hậu giá thượng hoàng tại đó.
Thái hậu tiễn ra đến cửa cung, rồi trở vào ngồi một mình nghĩ quanh nghĩ quẩn, nghĩ thầm: “Quái lạ, mấy câu thượng hoàng nói vừa rồi, hình như có ý từ biệt ta vậy. Nào là dặn dò các công việc, lại cầm lấy tay ta, nước mắt chạy quanh, khiến ta ngẫm nghĩ, luống những đau lòng đứt ruột. Hay là tam điệt (trỏ Triệu Lân) xem mạch cho ta, tâu với thượng hoàng là ta bệnh nặng, cho nên thượng hoàng mới ân cần mà khuyên giải ta như thế. Thượng hoàng ơi! Ta cũng đa tạ lòng tử tế của thượng hoàng, nhưng nghĩ đến chín chữ cù lao thì không thể nào nguôi cho được. Nhà ta hiện nay dẫu rằng vinh quý, nhưng tai vạ chưa biết ngày nào. Ta vẫn tưởng Phi Giao hiền thục giống mẹ, cho nên mới tuyển vào cung, ai ngờ lại sinh ra lộng quyền, làm nhiều điều trái phép. Giả sử Hùng hậu có sự bất trắc, ta còn mặt mũi nào trông thấy Vệ vương phi. Nếu không có lời Gia Tường công chúa tâu thì Phi Giao kia ta chỉ đưa một lưỡi gươm cho rãnh chuyện. Chẳng lẽ ta đường đường là ngôi thái hậu, mà lại chịu để một con yêu quái làm nhiễm loạn chốn cung vi”.
Thái hậu ngồi đợi mãi cho đến hết canh ba, không thấy thượng hoàng về, mới sai nội giám sang cung thượng hoàng hỏi. Hồi lâu, bỗng thấy nội giám về hoảng hốt tâu:
- Muôn tâu thái hậu! Thật là một việc rất lạ!
Thái hậu liền kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Việc chi thế hở con? Mau mau nói cho ta nghe.
Nội giám tâu:
- Muôn tâu thái hậu! Không thấy thượng hoàng đâu cả.
Thái hậu nghe nói, nét mặt tái mét, đứng dậy hỏi:
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
PHẦN 5B

hồi thứ 5b

-Ô hay! Tại sao lại không thấy thượng hoàng đâu cả?
Nội giám tâu:
- Muôn tâu thái hậu! Kẻ hạ thần nghe thấy mọi người trong cung đều nhao nhao nghị luận, nói thượng hoàng vi phục cùng nội giám Quyền Xương đi xem hội hoa đăng, đến bây giờ chưa về cung. Hiện nay đuổi hết người xem ra ngoài, bốn phía cửa thành đều đóng kín cả. Hùng quốc trượng đã đem cấm binh đi nghênh giá mà chưa tìm thấy đâu.
Nội giám tâu dứt lời thì thái hậu đã lạnh ngắt cả người, mồ hôi toát ra như tắm. Người vừa yếu khỏi, lại bỗng gặp sự kinh khủng, cho nên ngất đi mà lăn ra. Các cung nữ xúm lại gọi. Gọi trong hồi lâu vẫn không thấy trả lời. Các cung nữ vội vàng đem nước gừng đổ cho thái hậu và một mặt phi báo vua Anh Tôn. Khi đổ nước gừng vào thì thái hậu mới dần dần hồi tỉnh, lại nức nở khóc, các cung nữ đều xúm lại khuyên giải. Một lúc, vua Anh Tôn đến, cũng quì ở bên cạnh khóc mà tâu rằng:
- Mãu hậu ơi! Xin mẫu hậu chớ phiền lòng. Để con xin hết sức dò tìm, phụ hoàng con chắc cũng đi dạo chơi quanh đây, chẳng bao lâu rồi sẽ về cung thôi.
Thái hậu vừa khóc vừa xua tay mà bảo vua Anh Tôn rằng:
- Thượng hoàng không về nữa đâu, con chớ mơ tưởng hão.
Nói xong, liền đem những lời thượng hoàng dặn bảo khi trước mà thuật cho vua Anh Tôn nghe. Vua Anh Tôn nghe nói đứt từng khúc ruột, lại tìm lời khuyên giải, khóc mà nói với thái hậu:
- Mẫu hậu chớ nghi ngờ, xon dám chắc không bao giờ có việc ấy. Xin mẫu hậu hãy cứ tịnh dưỡng, để con vời trăm quan vào hội nghị.
Nói xong, vội vàng vực thái hậu lên nằm trên giường, rồi truyền chỉ gọi Phi Giao hoàng hậu vào hầu hạ. Phi Giao hoàng hậu tới nơi trông thấy vua Anh Tôn, liền cúi đầu hô vạn tuế mà tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Chẳng hay thượng hoàng đã về cung chưa? Thần thiếp nghe nói thái hậu đã bình phục như thường, không biết vì cớ chi mà xảy ra việc này?
Vua Anh Tôn xua tay mà bảo rằng:
- Ái khanh ở đây hầu hạ thái hậu, để trẫm ra triều đường cùng trăm quan hội nghị, xem thượng hoàng đã đi đâu mà chưa thấy về.
Phi Giao hoàng hậu nghe nói cười nhạt mà rằng:
- Ngày nay bệ hạ cùng trăm quan hội nghị, chẳng lẽ lại lại yết bảng để tìm thượng hoàng hay sao! Thượng hoàng không về tất có ẩn tình. Thuở xưa vua Văn Đế đời Tùy nhân khi nổi giận, cưỡi ngựa đi chơi, đã toan không về, may nhờ có mấy người cận thần khuyên can, bấy giờ mới hồi tâm trở lại. Vậy bệ hạ nên hãy đợi xem sao, chứ tuyên bá việc này ra mà khiến cho thiên hạ thêm điều dị nghị.
Bỗng thấy nội giám quì xuống tâu với vua Anh Tôn rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Các quan văn võ đã họp đông cả, xin rước bệ hạ ra ngự triều.
Vua Anh Tôn tức khắc ra chốn triều đường, mấy viên lão thần quì xuống khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Việc này thật là một việc biến dị lạ thường. Kẻ hạ thần thiết tưởng trăm quan còn mặt mũi nào đứng ở triều đường nữa. Ngày nay xin bệ hạ trách phạt thần đẳng trước, rồi sau bệ hạ cũng nên giáng chỉ mà cam nhận tội lỗi về việc này.
Mấy viên lão thần tâu xong thì các hàng văn võ đêèu quì cả xuống. Vua Anh Tôn khóc mà phán:
- Việc này không phải lỗi tại các ngươi, chỉ bởi tội bất hiếu của trẫm đó. Nếu tìm không thấy thượng hoàng thì trẫm đây cũng chẳng thiết sống làm chi. Nhưng bay giờ không biết giáng chỉ thế nào, nhờ các ngươi bàn định giúp trẫm.
Vua Anh Tôn phán xong, bỗng thấy một vị đại thần quì xuống mà tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Kẻ hạ thần là Lại bộ thương thư tên gọi là Hoàng Kỷ, xin cúi tâu thánh thượng xét đoán: Nguyên thượng hoàng chán việc đời đã lâu, bởi vậy mới lui về nam nội. Hoặc giả có lòng mộ đạo, cho nên tạm lánh vào nơi rừng núi để tìm thú thanh tu. Kẻ hạ thần trộm nghĩ ngày nay chỉ nên tuyên bá là thượng hoàng tịnh dưỡng ở trong cung, khiến cho thiên hạ muôn dân khỏi nghi ngờ mà sinh lời dị nghị vậy.
Hoàng Kỷ vừa tâu dứt lời thì Lương thừa tướng bỗng khóc mà tâu rằng:
- Hoàng Kỷ tâu lầm! Thượng hoàng ta thuở trước làm vua trong hai mươi năm, công đức sánh bằng trời bể, khắp ngoài bốn cõi ai là người không ca tụng thánh quân. Vậy việc này kẻ hạ thần thiết nghĩ bất tất phải kiêng kỵ mà không dám nói ra, bệ hạ chỉ nên giáng chỉ cho quốc dân, tự trách lỗi mình, trước là tỏ đức cao thượng của thượng hoàng, sau là giải lòng ái luyến của bệ hạ đối với thượng hoàng vậy.
Lương thừa tướng vừa tâu xong, bỗng thấy Tề vương là một người trong tôn thất cũng vội quì xuống mà tâu rằng:
- Nếu giáng chỉ như thế thì bệ hạ còn ra thể thống nào nữa. Thiên hạ không biết, tất nghi là bệ hạ không khéo thờ phụng thượng hoàng, để đến nỗi thượng hoàng thất ý bỏ đi. Huống chi từ xưa đến nay,chưa thấy đời nào xảy ra một việc quái lạ như thế bao giờ. Nếu việc này tuyên bá ra thì chẳng những thần dân trong nước dị nghị mà thôi, dẫu các giống rợ mọi ở phương xa nghe thấy chuyện này, cũng phải lấy làm chê cười vậy. Bệ hạ chỉ nên giấu kín việc này, bất tất phải đi tìm cho thêm huyên náo.
Quan Nguyễn trung đô quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! đạo làm con phải tận hiếu, ngày nay nếu không đi tìm thượng hoàng thì chẳng những bệ hạ không được yên lòng, mà các quan triều thần tự nghĩ cũng chẳng ra thể nào. Kẻ hạ thần thiết tưởng bệ hạ nên phái các viên lão thần, mỗi người đi một phương, dò khắp các danh lam thắng cảnh. Mà đi đến đâu cấm không được nhũng nhiễu, như thế thì tất có ngày đón được thượng hoàng về cung.
Vua Anh Tôn ngẫm nghĩ gật đầu. Bỗng thấy nội giám Uông Kim tay cầm tờ long liên đệ dâng, tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Thượng hoàng đi chuyến này có lẽ không về, vì người có viết một bài thơ để lại. Thái hậu xem xong, truyền kẻ hạ thần đệ trình ngự lãm.
Vua Anh Tôn mở xem thì là một bài thơ thất ngôn nói về sự chán đời mà đi tu hành.
Hơn bốn mươi năm giấc mộng nồng,
Nghĩ mình thêm thẹn với ngôi rồng.
Vẫn chưa ân trạch đầm muôn họ,
Luống những ưu cần dối một lòng.
Bay bổng sá chi thân dã hạc,
Nỗi riêng bao quản chốn thâm cung.
Còn nhiều hưởng phúc về sau nhỉ,
Mây bạc xa trông cách mấy trùng.

Vua Anh Tôn xem xong, trao cho các quan triều thần xem. Các quan triều thần ai nầy đều động lòng thương xót, chỉ có ba cha con Đồ Man Hưng Phục ngẫm nghĩ mừng thầm, mừng rằng thượng hoàng bỏ đi không về thì chúng càng dễ bề làm bậy.
Lương thừa tướng lại quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Đã đành rằng thượng hoàng quyết định đi tu hành, nhưng kẻ hạ thần thiết tưởng cũng nên phải phái người đi dò tim bốn phương, có thể mới trọn vẹn được đạo thần tử đối với quân phụ. Thượng hoàng sở dĩ chán đời, cũng vì bệ hạ không khéo phụng thờ mà xui nên có sự buồn bực. Hán vương và Triêu vương bắt đi thụ phong, để hai bà Ôn phi và Mai phi phải đi theo con. Trong cung chỉ có thái hậu, lại đang đau yếu. Bọn thị ngự dẫu không thiếu người, nhưng cần phải có kẻ biết tiên thừa chí (là kẻ làm con khéo đón ý cha mẹ mà chiều chuộng hầu hạ). Bệ hạ không lượng tình ấy, khiến cho thượng hoàng tức giận bỏ đi. Bệ hạ làm vua trong một nước mà không khéo chiều chuộng thượng hoàng thì không biết sau này thiên hạ bảo bệ hạ là một ông vua thế nào vậy.
Vua Anh Tôn bãi triều vào cung, Phi Giao hoàng hậu cố làm ra ý không vui, vua Anh Tôn hết sức tìm lời khuyên giải sau phải truyền chỉ nói là có bệnh, không ra ngự triều cứ, cứ hàng ngày ở luôn trong cung với Phi Giao hoàng hậu, cũng chẳng vào thượng cung thăm thái hậu nữa.. Bấy giờ vua Anh Tôn không ra ngự triều, bao nhiêu bản tâu phải đệ vào hữu cung, thành ra quyền chính đều do tay Phi Giao hoàng hậu. Đồ Man Hưng Phục vào làm thừa tướng, nội giám Mã Thuận thế lực rất to, hắn thù nhau với Uông Kim, liền đánh chết tại cửa cung, rồi nói đổ là Uông Kim trúng phong mà chết. Chúng kết đảng làm bậy, Thái hậu ở trong cung chẳng biết tí gì. Trong bọn nội giám, chỉ có Lăng Mậu nguyên là người cũ, hắn giả cách xu nịnh Mã Thuận, nhưng thấy việc gì lạ lại vào cung mật tâu để thái hậu nghe.
Một hôm, thái hậu ngồi ở trong cung nhân lúc vắng người, mới thở dài mà than rằng:
- Thiên hạ còn ai khổ hơn ta nữa không! Một mình vò võ trong cung, con cái chẳng nhìn đến! Ta nghĩ từ khi ta được phong làm hoàng hậu đến nay, thượng hoàng vẫn riêng lòng âu yếm, Ôn phi và Mai phi cũng đều có ý kính trọng ta. Ngày nay thượng hoàng bỗng bỏ ra đi, ta trông thấy hai đứa con nhỏ ( Trỏ Chu vương và Hưng Bình công chúa) khóc lóc thương cha nhớ mẹ, ta càng thêm nỗi đau lòng. Thôi thì một thác cho rồi, chẳng nên thiết sống làm chi nữa!
Thái hậu nghĩ vậy, đã toan liều mình tự tử, nhưng lại thở dài mà than rằng:
- Khoan đã! Ta còn nhớ những lời thượng hoàng dặn bảo ta trong khi ra đi. Nếu ngày nay ta chết rồi, thiên tử nhu nhược, đến nỗi mất thiên hạ thì ta đây há chẳng phải là một người đại tội ở Nguyên triều này hay sao!
Thái hậu lại gạt thầm giọt lệ, rồi thở dài mà than rằng:
- Con ta khi trước cùng Hùng hậu cũng không phải là không biết hiếu thuận, chỉ tại có con Phi Giao vào cung mà gây nên nỗi đau đớn này. Con Phi Giao từ khi cha mẹ nó xa vắng càng thêm lộng quyền, làm nhiều điều trái phép. Cứ như lời Gia Tường công chúa nói thì nó lại độc ác hơn Ly Cơ thuở xưa. Ta lo cho nhà Hoàng Phủ ta, khó lòng mà bảo toàn được danh dự.
Thái hậu nghĩ quanh nghĩ quẩn, nét mặt có ý buồn rầu. Gia Tường công chúa trông thấy, mới tìm lời khuyên giải mà rằng:
- Muôn tâu mẫu hậu! Xin mẫu hậu chớ quá nghĩ. Ngày hôm qua, Triệu Lân thuật cho con biết việc tòa Khâm Thiên giám đã tâu với thiên tử, nói cứ xem tượng yêu tinh hiện hình thì trong cung tất có kẻ nội phản. Vậy nay thiên tử đang truyền tra xét trong sáu cung đó.
Thái hậu than rằng:
- Yêu tinh hiện hình, quả có ứng nghiệm, nhưng chỉ sợ tra xét không ra được mà thôi.
Thái hậu nói chưa dứt lời thì bỗng thấy nội giám Lăng Mậu hoảng hốt quì xuống mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Thật là một việc không may!
Thái hậu cùng Gia Tường công chúa đều kinh ngạc hỏi:
- Việc chi vậy? Nhà ngươi mau mau nói cho ta nghe.
Lăng Mậu đứng thở một lúc mới tâu:
- Hữu hoàng hậu điểm lấy cấm binh đem vào trong cung ngày đêm luyện tập, thiên tử quá tin chẳng nghĩ chi đến chuyện làm gương cho thiên hạ noi theo. Lương thừa tướng thấy vậy bày tâu mọi lẽ thì thiên tử có ý hổ thẹn lại vừa tức giận rồi gạt nước mắt mà phán rằng “Tội trẫm như thế còn nói chi nữa! Nay một mặt y lời tâu, sai quan đi các tỉnh tìm thượng hoàng, và một mặt tâu với thái hậu xin nhường ngôi cho Hán vương hoặc Triệu vương để trẫm cũng bỏ đi mà cố tìm cho thấy thượng hoàng thì trẫm mới được hả dạ vậy? Các triều thần nghe lời chỉ phán, đều lấy làm kinh sợ mà phủ phục cả xuống.
Bấy giờ Tề vương tâu rằng:
- “Bệ hạ vốn là một ông vua nhân hiếu, xưa nay chưa có điều gì bất đức, mà sao Lương Trấn Lân dám tâu càn như vậy, dám xin triều đình phải nghiêm trị tội “Tiết mạn thánh thượng” ấy.”
Đồ Man Hưng Phục lại tâu rằng:
- “Lương Trấn Lân thật là tội đại bất kính. Cứ xem bài thơ của thượng hoàng để lại thì không có câu nào là không bằng lòng với thánh thượng cả, thế mà Lương Trấn Lân dám bày lời cưỡng lý, để tuyên bá tội bất hiếu của bệ hạ, và trái với ý cao thượng của thượng hoàng. Vậy xin triều đình nghiêm trị tội “Đại bất kính” ấy để răn bảo kẻ khác”. May nhờ có quan Nguyễn trung đô tâu can rằng:
- “Lương Trấn Lân vốn tính trung thực, không biết kiêng kỵ. Cũng vì bi thương quá mà mạo tội nói liều. Tuy vậy bệ hạ cũng không nên trách phạt một bậc lão thần, chỉ nên tự trách phạt mình, ngày đêm tu tỉnh, để đợi nghe tin tức của thượng hoàng. Lại nên tìm lời khuyên can, cho được yên lòng thái hậu, còn việc triều chính, điều gì nên cải thì cải, để khỏi phụ lòng thượng hoàng đã truyền ngôi cho, thế là toàn hiều đạo vậy”. Thiên tử nghe nói lẩm nhẩm gật đầu, rồi truyền sai quan đi bốn phương để dò la tin tức. Khi tan triều rồi, nhân dân lao nhao nghị luận về việc thượng hoàng chán đời bỏ đi tu. Chúng lại tiếc thay cho Quyền Xương đang được sung sướng mà sao cũng liều thân, chẳng thiết chi đến nhà cửa. Mỗi người bàn một cách, mà vẫn không ai hiểu rõ duyên cớ ra sao. Thiên tử âu sầu buồn bã, ứa hai hàng lệ, lại lui vào hữu cung. Phi Giao hoàng hậu đón hỏi đầu đuôi câu chuyện thì thiên tử thuật lời tâu của Lương thừa tướng cho nghe và lại hỏi rằng:
- Ái khanh nghĩ như thế thì trẫm còn mặt mũi nào mà ở lại ngôi vua nữa!.

Phi Giao hoàng hậu vừa nghe nói, liền hầm hầm nổi giận cau đôi lông mày lại, quắc hai con mặ lên mà hỏi rằng:
- Đã như thế thì bệ hạ xử ra thế nào?
Thiên tử lại thuật cho nghe những lời tự trách lỗi của mình và muốn nhường ngôi vua, v. v...
Phi Giao hoàng hậu bỗng cười nhạt mấy tiếng mà rằng:
- “Bệ hạ đã nhu nhược vô quyền thì còn nói làm gì nữa. Tội đại bất kính như thế mà không đem chém đầu đi, lại còn tự trách lỗi mình và muốn nhường ngôi cho người khác. Lương Trấn Lân kia! Hắn cậy mình là bậc lão thần, mà dám nói năng càn dỡ, ta nên giết một người để cho nghìn người phải sợ, nếu không thì quốc pháp còn ra thể nào!” Phi Giao hoàng hậu căm hờn muôn phần, kêu gầm lên rằng: “Thế này thì tức chết mà thôi”, làm cho thiên tử hoảng hốt sợ hãi, lại phải tìm lời khuyê giải khiến được yên lòng.
Vừa rồi kẻ hạ thần vào tả cung, bỗng thấy giường ghế lổng chổng, các cung nữ huyên náo lạ thường mà không thấy Hùng hậu và bảo mẫu đâu cả. Hỏi ra mới biết rằng tòa Khâm Thiên giám tâu thiên tử cho đi tra xét trong hai cung thì hữu cung không tìm thấy gì, mà tả cung lại thấy dưới long sàng có nhiều bùa dấu, viết tên thiên tử và tên Phi Giao hoàng hậu. Bấy giờ thiên tử nổi giận, nhất là Phi Giao hoàng hậu lại càng căm tức bội phần, nói rằng:
- “Không ngờ Hùng hậu ở trong cung, dám dùng bùa dấu để nguyền rủa thánh thượng. Việc này tất có ngoại thần lập mưu giao thông cùng các cung nữ”. Nói xong tức khắc bắt con Bàng Nguyệt Tố và con Lý hoa Quyên ra tra hỏi. Hai tên cung nữ ấy thú nhận là mưu khế tự Bình Giang vương Hùng Hiệu giao thông với nội giám Uông Kim. Bấy giờ Phi Giao hoàng hậu nổi giận, sỉ mắng Hùng vương và Hùng hậu mà rằng:
- “Thế này thì thiên đạo thật là chí công, lập tâm hại người, thành ra hại mình trước!”
Muôn tâu thái hậu! Thái hậu thử nghĩ xem Phi Giao hoàng hậu như thế, có phải là một tay đại quỷ quyệt hay không! Bấy giờ Phi Giao hoàng hậu rút ngay thanh bảo kiếm ra, chém chết hai tên cung nữ, lại cưỡng bách thiên tử phải truyền chỉ tức khắc tịch phong nhà Hùng vương và nã bắt toàn gia để trị tội. Muôn tâu thái hậu! Không ngờ Hùng vương có ba trăm gia binh, chúng cãi là chủ nhân vẫn một lòng trung thành, cớ sao thiên tử lại nghe lời sàm báng mà trị tội. Chúng tuốt gươm ra để giữ lấy vợ chồng Hùng vương, không cho các tướng vào bắt. Sau Mã Thuận tâu với Phi Giao hoàng hậu, tức khắc sai hai con của Đồ Man Hưng Phục là Đồ Man Định Quốc và Đồ Man An Quốc đem quân đến hễ kẻ nào kháng cự thì cho phép chém giết mà vaà bắt lấy vợ chồng Hùng vương. Bấy giờ ba trăm gia binh khóc lóc tan chạy, toàn gia Hùng vương đã phải giam vào ngục rồi. Thiên tử quá tin lời Phi Giao hoàng hậu, cho là Hùng vương có lòng phản quốc, định toàn gia tru lục. Còn Hùng hậu thì cứ giam vào lãnh cung, thử xem bệnh điên rồ kia thực giả thế nào. Lương thừa tướng thấy vậy định vào tâu can thì cửa cung đóng chặt mà không cho vào. Muôn tâu thái hậu! Lương thừa tướng vốn là người trung trực và nóng nảy. Trong khi tức giận, liền sụp lạy ở trước cửa cung mà than rằng:
- “Ta làm thừa tướng, chỉ chịu ngồi nhìn trong nước biến loạn không thể can ngăn được, thế thì trên phụ lòng ủy thác của thượng hoàng, dưới phụ lòng ngưỡng vọng của quốc dân, phỏng còn mặt mũi nào đứng tại chốn triều đường nữa!” Nói xong, đập đầu ở cửa cung mà chết.
Phi Giao hoàng hậu truyền chỉ đem thi thể đi chôn, lại vu cho Lương thừa tướng là đồng mưu với đảng phản nghịch. Muôn tâu thái hậu! Phen này thật là trời nghiêng đất lở, xin thái hậu nghĩ kế mau mau.
Thái hậu nghe nói, ngồi ngẩn người ra. Gia Tường công chúa cũng ứa nước mắt khóc mà bảo Lăng Mậu rằng:
- Lăng Mậu! Nhà ngươi lại đi dò la xem có tin tức gì lạ nữa không? Mau mau về báo.
Khi Lăng Mậu đi khỏi rồi, Gia Tường công chúa gạt nước mắtmà tâu với thái hậu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Mậu hậu chớ quá nghĩ. Ngày nay xin thái hậu hãy đến khuyên bảo Phi Giao hoàng hậu xá tội cho Hùng vương, rồi sau sẽ liệu kế.
Thái hậu thở dài mà than rằng:
- Ta nghĩ càng thêm hổ thẹn, chẳng còn mặt mũi nào! Sinh phải đứa con ngu ngốc như thế, để đến nổi lòai yêu quái dám lộng quyền. Bây giờ cũng không còn kế gì, âu là ta hãy đến hữu cung mà xem hình dáng con yêu quái ấy ra thế nào.
Nói xong, truyền sắp loan xa đi sang hữu cung. Nội giám vào tâu trước với vua Anh Tôn. Vua Anh Tôn biết là thái hậu vì việc Hùng hậu mà đến, mới cùng Phi Giao hoàng hậu ra nghênh tiếp, mời thái hậu vào ngồi trong cung. Thái hậu nét mặt âu sầu, vua Anh Tôn và Phi Giao hoàng hậu đều sụp xuống lạy mà tâu rằng:
- Muôn tâu mẫu thậu! Thần nhi nhân bệnh, chưa kịp vào vấn an mẫu hậu, nay mẫu hậu tới đây, thần nhi thật đắc tội.
Thái hậu nói:
- Ta đến đây trước là thăm bệnh các con, sau là ta nghe một việc lạ, vậy phải thân hành đến để hỏi huyện.
Vua Anh Tôn nói:
-Muôn tâu mẫu hậu! Chẳng hay việc gì, sao mẫu hậu không truyền gọi con đến mà phán hỏi.
Thái hậu nói:
- Ta nghe tả cung có phát ra việc bùa dấu, con đã giam Hùng hậu vào lãnh cung và nã tróc toàn gia Hùng vương để giam ngục. Những việc kinh thiên động địa như thế, mà sao con không tâu cho mẹ nghe.
Vua Anh Tôn liền cúi đầu mà thưa rằng:
- Muôn tâu mẫu hậu! Không phải thần nhi dám giấu mẫu hậu, chỉ vì đảng võ hắn nhiều lắm, cho nên thần nhi chưa dám tâu trình.
Thái hậu thở dài mà than rằng:
- Con nói rất phải! Không những các quan triều thần là đảng võ họ Hùng, có khi ta đây cũng tức là đảng võ họ Hùng đó, vậy nên con phải giấu.
Vua Anh Tôn run sợ lại quì xuống mà tâu rằng:
- Mẫu hậu dạy như thế thì thần nhi còn biết nói thế nào!
Thái hậu nổi giận mà rằng:
- Ta mới hỏi thử có một câu mà con đã không biết nói thế nào, vậy thì sao con dám truất ngôi hoàng hậu, giết kẻ công thần, mà dám không bẩm mệnh ta. Ta hỏi con: Con cho việc ấy là việc triều đình quân quốc, ta đây không được quyền can thiệp đến phải không? Dẫu nhà thường dân thì làm con cũng phải bẩm mệnh cha mẹ, huống chi là hoàng gia. Có lẽ nào Hùng hậu kia đang làm mẫu nghi trong sáu năm nay, tội ác chưa rõ ra làm sao, mà đã vội đem bỏ vào lãnh cung giam cấm. Thôi, thôi! Nào ai là người lập kế giao thông? Nào ai là người đem bùa dấu vào yếm tại đấy? Con bắt cả ra đây, để ta tra xét xem đầu đuôi thế nào, rồi sẽ bá cáo thiên hạ thần dân đều biết.
Phi Giao hoàng hậu không đợi cho vua Anh Tôn kịp trrả lời, liền khép vạt áo quì xuống mà tâu rằng:
- Muôn tâu mẫu hậu! Nguyên trước con có sai hai tên cung nữ sang hầu chánh cung hoàng hậu, con vẫn khuyên bảo chúng nó phải chăm chỉ phục dịch, cấm không được đem lời sàm báng mà làm cho hai cung thất hòa. Không ngờ hai tên cung nữ ấy lại táng tận lương tâm, dám giao thông với bọn gian tà, đem bùa dấu vào trong cung yếm. Chúng nguyền rủa con thì còn có thể tha thứ được, chứ ai lại dám cả gan mà nguyền rủa thiên tử. Bấy giờ con nghĩ quá giận, đã trót rút gươm chém chết hai tên cunội giámnữ ấy. Muôn tâu mẫu hậu! Hai tên cung nữ ấy lại có thú nhận là mưu này tự nội giám Uông Kim. Thảo nào Uông Kim hôm trước bỗng nhiên ngộ cảm mà chết, thế mới biết lòng trời không dung kẻ gian. Ngày nay dẫu chúng chết cả rồi, không lấy ai làm chứng cớ, nhưng tội phản nghịch ấy thật đã rành rành.
Phi Giao hoàng hậu tâu xong thì thái hậu cười nhạt mấy tiếng mà phán rằng:
- Không đủ chứng cứ mà ghép tội cho người ta thì dẫu đối với thường dân cũng không nên, huống chi đối với một bà chánh cung hoàng hậu! Hai tên cung nữ kia, tự ngươi sai sang, chẳng lẽ chúng lại phản chủ mà vào đảng với tả cung vậy. Xem thế có phải quả là mưu gian thuở xưa của Triệu Cao trỏ hươu làm ngựa đó không? Hứa hậu thuở xưa bị oan cũng vì kế ấy. Ta nực cười thay cho con ta làm vua mà không biết xét đoán, để đến nỗi bị dối lừa. Sao con không nghĩ tình ân ái vợ chồng trong sáu năm trời nay! Sao con không nghĩ khi trước tự ai tâu xin lập hữu hoàng hậu! Huống chi chánh cung hoàng hậu vốn là người hiền thục, ngày nay lại đang có thai, con nỡ lòng nào! Vả vợ chồng Hùng vương vốn có ơn to với nhà Hoàng Phủ ta, ta và thân mẫu ta thuở xưa nhờ tay Vệ vương phi mà sống. Hùng vương lại tận trung báo quốc trong bấy nhiêu năm trời không một tội lỗi gì, thật là trụ đá vững vàng của triều đình đó. Dẫu có tội lỗi cũng nên phải xét đoán cho minh, cớ sao lại nã tróc tức thì mà định ngày mai xử tử? Vậy thì con tránh sao cho khỏi tiếng hôn quân! Việc khác ta không nói làm chi vội, ngày nay ta chỉ xin xon hãy xá tội cho nhà họ Hùng. Nếu không thì con phải đem Uông Kim và hai tên cung nữ ra đây đối chứng cho ta coi!
Thái hậu vừa nói vừa hầm hầm nổi giận. Phi Giao hoàng hậu cười nhạt tâu:
-Muôn tâu mẫu hậu! Chẳng hay mẫu hậu trỏ ai là Triệu Cao, ai là kẻ bày mưu hại Hứa hậu? Từ khi con vào cung đến nay, chưa hề dám thất lễ với chánh cung hoàng hậu bao giờ. Con vẫn ngày đêm chăm chỉ, thay chánh cung mà trông nom các việc ở trong cung. Con đối đãi chánh cung hoàng hậu thật đã hết đạo thần thiếp. Chánh cung hoàng hậu nghe lời sàm báng có ý nghi con, con vẫn tưởng lâu ngày rồi cũng nguôi lòng. Ai ngờ lại lấy làm thâm thù mà dùng đến cách bùa dấu. Nguyền rủa con chẳng kể làm chi, nhưng nguyền rủa thiên tử thì thật là đáng tội. Hai tên cung nữ kia thông mưu hại chủ, giết chết cũng chẳng còn thương. Còn như cách con đối đãi với chánh cung hoàng hậu như thế nào thiết tưởng mẫu hậu đã thường trông thấy. Chẳng qua chỉ vì chánh cung hoàng hậu còn trẻ tuổi, chưa có định kiến. Mà tội vợ chồng Hùng vương dẫu bị toàn gia tru lục, cũng chẳng có oan! Thiên tử cũng nghĩ là bậc công thần, định bắt bỏ ngục rồi sẽ tâu trình mẫu hậu. Nhưng đến khi bắt thì hắn là đảng phản nghịch, cho nên gia binh mới dám tuốt gươm mà kháng cự với quan khâm sai. Muôn tâu mẫu hậu! Việc này bỏ đi làm sao cho được! một nhà thường dân dám kháng cư triều đình, tội còn gia đẳng, huống chi thân làm quốc trượng, chức trọng phiên vương, giả sử có biến cố nào thì nguy cho xã tắc. Vả đường đường thánh chỉ mà dám coi thường thì sao đáng làm gương cho triều thần vậy. Mẫu hậu bảo rằng Hùng vương có công lao với nước, con thiết tưởng triều đình báo đền cũng quá hậu lắm tay! Cha được phong vương, hai trai đều làm quan to, con gái lập làm chánh cung hoàng hậu. Toàn gia phú quý, nỡ nào còn mưu phản triều đình. May mà thiên tử có hồng phúc, khiến cho bùa dấu không ứng nghiệm. Một tội phản nghịch như thế, mẫu hậu còn bênh vực làm chi. Nay mẫu hậu xét đoán không minh, chỉ biết ơn riêng mà không nghĩ đến phép công việc nước, cưỡng lời trái lý, vì họ Hùng mà sỉ mắng thiên tử, còn chẳng ra thể thống nào.
Phi Giao hoàng hậu nói xong thì đứng phắt dậy mà quay mặt đi, làm cho thái hậu căm tức không biết dường nào. Thái hậu lại lôi đình nổi giận, rồi đập bàn quát mắng:
- Phi Giao kia! Mày không biết mình lại còn dám nói càn! Mày khinh miệt chánh cung hoàng hậu mà lộng quyền làm bậy, dám mượn uy thiên tử, chực giết oan kẻ công thần. Mày dùng Mã Thuận làm kẻ phúc tâm, để giao thông với bọn tôn thất, trong ngoài ai cũng biết cả. Ta nghĩ tình cô cháu mà ẩn nhẫn cho mày trong bấy nhiêu lâu. Ai ngờ mày mỗi ngày một tệ, mày dẫn dụ con ta làm điều thất đức.. Việc gì cũng mặc, nhưng ngày nay mày phải tha Hùng hậu và không giết nhà họ Hùng. Ta nhắm mắt đi thì thôi, chứ còn ta đây thì mày chớ nên làm bậy quá. Dẫu làm vua một nước thì cũng phải biết vâng lời mẹ cha. Phi Giao kia! Mày chớ hiểu lầm! Ta đây cũng là một tay nữ tướng, thế mà trong hai mươi năm nay ta ở trong cung, không hề trái lễ một tý gì. Mày chớ thấy ta nhân từ mà dám hỗn láo!
Thái hậu càng nói, lại càng căm tức muôn phần. Vua Anh Tôn run sợ quì ở trước mặt thái hậu mà tâu rằng:
- Muôn tâu mẫu hậu! Xin mẫu hậu bớt giận, con xin giáng chỉ xá tội cho nhà họ Hùng.
Thái hậu nói:
- Thả cả Hùng hậu nữa! Nếu không thì đem cả Phi Giao giam vào lãnh cung.
Phi Giao hoàng hậu cười nhạt:
- Mẫu hậu định giam con đó chăng! Vị tất đã giam nổi! Mẫu hậu ơi! Mẫu hậu có biết tự ai lập con làm hữu hoàng hậu, có phải tự thượng hoàng giáng chiếu cho khắp thần dân trong mười ba tỉnh đều biết đó không? Ngày nay mẫu hậu muốn biếm truất con sao cho được, nếu muốn biếm truất con tất phải đợi có lệnh thượng hoàng.

về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
hồi thứ 5c

Thái hậu quát to:
- Thượng hoàng giáng chiếu lập mày làm hữu hoàng hậu, thế thì tả hoàng hậu khi trước, dễ có khi không phải tự thượng hoàng giáng chiếu lập lên hay sao!
Phi Giao hoàng hậu nói:
-Hùng hậu phạm tội phản nghịch, quyết không thể tha được, ngày nay biếm truất vào lãnh cung, còn là khoan thứ đó. Đến như con đây, có tội lỗi gì mà mẫu hậu muốn phiếm truất.
Thái hậu nghe lời, cau mày nghiến răng mà rằng:
- Mày cãi là mày không có tội lỗi, nhưng mày thử tự nghĩ thân mày xem bao nhiêu tội: Mày làm mê hoặc thiên tử mà dung túng bọn quyền gian; không nghe lời trung ngôn, để đến nỗi một bậc lão thần phải dập đầu mà tự tử. Mày dùng Mã Thuận giao thông với bọn tôn thất, làm nhiều việc càn rỡ lạ thường. Mày chỉ biết cậy thế hành hung, còn giang sơn này dẫu về tay ai, mày cũng chẳng quản vậy.
Thái hậu nói chưa dứt lời thì Phi Giao hoàng hậu hầm hầm nổi giận:
- Con có cậy thế hành hung, khiến giang sơn này về tay bọn nội thất, há chẳng còn hơn mẫu hậu binh vực họ Hùng sỉ mắng thiên tử, muốn đem giang sơn này trao cho bọn ngoại thích, hay sao!
Thái hậu nghe nói, lại càng căm tức bội phần, không thể nào nhịn cho được, mới quát to:
- Thôi, thôi! Thế này thì còn nói chi nữa! Âu là ngày nay ta quyết vì nhà Hoàng Phủ ta mà trừ tai vạ này.
Thái hậu vừa nói, vừa rút thanh bảo kiếm treo ở trên tường, rồi xông đến trước mặt Phi Giao hoàng hậu mà giơ lên chém. Vua Anh Tôn trông thấy, chẳng còn hồn vía nào nữa, vội vàng lấy Phi Giao hoàng hậu và khóc mà tâu với thái hậu rằng:
-Muôn tâu mẫu hậu! Muôn điều lầm lỗi, con xin chịu cả. Nếu mẫu hậu giết hữu cung thì xin mẫu hậu giết con trước.
Các nội giám và cung nữ cũng đều run sợ, quì xuống mà đồng thanh tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Hữu hoàng hậu còn trẻ tuổi, có trót dại nói quá xúc phạm đến thái hậu, xin thái hậu cũng vì thánh thượng mà tha thứ một phen.
Vua Anh Tôn cũng khóc mà tâu rằng:
- Nếu mẫu hậu không xá tội cho hữu cung thì xin mẫu hậu giết cả con luôn thể, để trị tội bất hiếu của con.
Thái hậu nín lặng không nói câu gì, chỉ thở dài một tiếng, ném thanh bảo kiếm mà ngồi xuống ghế. Các cung nữ xúm lại đỡ Phi Giao hoàng hậu dậy. Bấy giờ Phi Giao hoàng hậu khiếp đảm kinh hồn, nét mặt tái mét, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng, bất đắc dĩ cũng phải quì ở bên cạnh vua Anh Tôn mà phủ phục xuống đất. Vua Anh Tôn vừa lạy vừa tâu rằng:
-Muôn tâu mẫu hậu! Xin mẫu hậu bớt giận mà khoan thứ cho chúng con được đổi lỗi từ đây. Con đã khẩu truyền cho nội giám tức khắc tha tả hoàng hậu rồi. Con xin cam chịu tội bất hiếu.
Vua Anh Tôn vừa tâu vừa phủ phục xuống đất mà khóc. Thái hậu thở dài một tiếng rồi phán:
- Phi Giao! Thân phụ con vốn là người trung hiếu, thân mẫu con cũng hiền thục lạ thường. Trong anh em chị em chẳng có ai ngỗ nghịch cả, mà sinh ra con có tính gian hiểm lắm thay. Nếu vậy là một tai vạ cho nhà cho nước, con nên phải đởi lỗi mới được.
Nói xong, lại ngoảnh lại bảo vua Anh Tôn rằng:
- Từ nay tả hoàng hậu theo sang ở cung ta, trước là ta trông nom bệnh trạng cho, sau là để tránh khỏi những lời sàm báng. Chờ khi tả hoàng hậu hạ sinh hoàng nam, bấy giờ sẽ hay.
Nói xong, tức khắc đứng dậy về cung.
Lại nói chuyện đến việc nã tróc nhà họ Hùng. Nguyên ngày hôm ấy, Hùng Hiệu tiếp được gia thư của Hùng Khởi Thần gửi đến, báo tin nhà Hoàng Phủ được bình an cả. Hoàng Phủ Tương vương và Mạnh vương phi thì làm nhà ra ở tại bên mộ hai thân, còn Lương phu nhân cùng Lưu phu nhân thì phải trông nom mọi việc ở trong vương phủ. Nếu triều đình không xảy ra sự biến cố gì thì con và biểu huynh (trỏ Triệu Câu) đến thu này sẽ trở về kinh địa. Vợ chồng Hùng Hiệu đang xem thư thì bỗng thấy phía ngoài nào động có một tì nữ chạy vào khóc mà bẩm rằng:
- Dám bẩm lão gia, không biết việc gì mà mặt ngoài có quan quân kéo đến, đang bắt trói các gia đinh. Sắp vào tới đây, nói là phụng mệnh thánh thượng.
Vợ chồng Hùng Hiệu nghe báo, đã hơi hiểu việc, tức khắc truyền gọi Lương Cẩm Hà phu nhân và Phi Loan quận chúa để cùng ra tiếp chiếu. Hùng Hiệu lại dặn người nhà cấm không được khóc lóc.
Khi ra đến Ngân An điện thì thấy khâm sai quan là Tề vương đứng giữa, còn nội giám Mã Thuận đứng một bên, nét mặt hớn hở. Hùng Hiệu quì xuống đất. Tề vương mở chiếu chỉ ra đọc. Tờ chiếu như sau:

“Thừa thiên hưng vận, hoàng đế chiếu rằng:
Làm tôi thờ vua, tất phải tận trung, làm con thờ cha tất phải tận hiếu, còn vợ thờ chồng, cũng tất phải một lòng kính thuận mới nên. Nay tả cung Hùng hậu bỗng đem lòng oán vọng hoàng gia, qua nghe lời những bọn tiểu nhân, làm nhiều điều trái phép. Thế mà Bình Giang vương Hùng Hiệu và vợ là Vệ thị không biết khuyên bảo con gái, lại còn xui giục làm càn, giao thông với bọn nội giám Uông Kim, mật bảo hai tên cung nữ đem bùa dấu yểm chôn ở dưới long sàng, đã ba tháng nay vậy. May mà đạo trời công chính, không dung kẻ gian, bỗng thấy tòa Khâm Thiên giám tâu rằng có yêu tinh hiển hiện, phải tra xét trong nội cung, bấy giờ mưu gian mới bại lộ.
Than ôi làm kẻ thần tử, dám nguyền rủa quân thượng thì tội ác ấy thật không sao có thể khoan tha. Hùng hậu kia nghĩ tình ân ái trong sáu năm, tha tội chết cho, hãy đem vào lãnh cung; còn vợ chồng Hùng Hiệu chịu ơn vua lộc nước đã hai mươi năm nay mà không biết tận trung báo quốc thì chết cũng đáng tội. Vậy trẫm sai Tề vương Hiển Khánh phụng mệnh đòi lại ấn kiếm nguyên soái. Lại tịch biên gia sản, và tróc nã toàn gia giao cho Tam pháp tư kết án trị tội. Khâm tai!”


Hùng Hiệu nghe xong sụp lạy, đứng dậy nộp trả ấn kiếm, rồi thở dài mà than rằng:
- Hùng Hiệu này cô phụ hoàng ân, dẫu chết cũng đáng, chỉ tiếc rằng lại mang tiếng phản nghịch thì thật là một sự di hận vô cùng vậy.
Mã Thuận bĩu môi, truyền cho quân sĩ lột bỏ mũ áo của Hùng Hiệu và xích tay lại. Bỗng thấy Vê vương phi cùng Lương phu nhân và Phi Loan quận chúa thủng thỉnh đi đến. Tề vương trông thấy, có ý không nỡ, mới truyền bảo quân sĩ rằng:
- Bọn vương phi kia, bất tất phải dùng đến xiềng sích.
Vệ Dũng Nga vương phi mỉm cười mà bảo rằng:
-Nói làm chi thế! Đã là kẻ phạm tọi thì dẫu xiềng xích cũng chẳng ngại chi, xin người cứ chiếu theo quốc pháp.
Mã Thuận nói:
- Vệ vương phi biết phép như thế là phải, còn Phi Loan quận chúa thì hữu hoàng hậu đã khẩu truyền cho được miễn giam chỉ đưa vào trong phủ phò mã, rồi cùng Hùng Khởi Thần ly hôn, đợi khi Hoàng Phủ Tương vương hết tang, bấy giờ sẽ gả cho người khác.
Mã Thuận nói chưa dứt lời thì Phi Loan quận chúa thẹn đỏ mặt lên, cau mày mà rằng:
- Phi Loan này đã ở nhà họ Hùng thì ngày nay cũng xin theo họ Hùng vào trong ngục luôn thể, không dám tuân chỉ về phủ phò mã làm chi. Nhà ngươi tâu giúp với hữu hoàng hậu rằng ta đây không mặt mũi nào mà xin từ hôn một lần nữa.
Phi Loan quận chúa nói xong hai hàng nước mắt chảy xuống đầm đầm. Bỗng thấy gia binh ở ngoài cửa kéo đến, vây kín bốn mặt. Chúng reo ầm lên rằng:
- Thánh thượng không minh, lại nghi cho Hùng vương là kẻ phản nghịch, vậy chúng ta nên liều chết mà giữ lấy chủ nhân, cấm không cho ai được động đến.
Nói xong, cùng tuốt gươm ra, rồi cầm ở tay. Tề vương run sợ, vội vàng nắm tay Hùng Hiệu mà kêu rằng:
- Quốc trượng ơi! Xin quốc trượng bảo toàn tính mệnh cho tôi. Tôi chỉ phụng mệnh thánh thượng, bất đắc dĩ mà phải tới đây, chứ thực tôi không có lòng nào dám hãm hại quốc trượng vậy.
Nội giám Mã Thuận trông thấy gia binh toàn thị những tay hùng dũng, cũng kinh hồn khiếp đảm, mới nhân lúc Tề vương còn đang giải quyết mọi lẽ, liền lẻn ra cửa ngoài, lên ngựa về phi báo. Hùng Hiệu truyền bảo các gia binh rằng:
- các ngươi còn ngu dại làm thế không được, sao lại dám cả gan mà kháng cự với triều đình. Đạo làm thần tử, phải vâng lời quân thượng, dẫu bắt mình chết mình cũng không dám chối từ. Nay triều đình đã giáng chỉ bắt ta, các ngươi chớ nên kháng cự.
Các gia đinh đều nói:
- Dám bẩm vương gia! Chúng con đội ơn vương gia đã lâu năm, trộm thấy vương gia thật là một người tận trung báo quốc. Ngày nay không biết tự ai sàm báng, mà thánh thượng lại nghi cho vương gia là kẻ phản nghịch. Cứ theo lời trong chiếu thư nói thì vương gia vào ngục chuyến này, khó lòng mong được toàn sinh, vậy ba trăm chúng con đây định liều chết giữ lấy vương gia, rồi theo vương gia cùng vào tâu thánh thượng xét nỗi oan tình mà giáng chỉ tha tội cho vương gia vậy.
Chúng nó xong liền quanh cả lại mà giữ lấy Hùng Hiệu, Hùng Hiệu nổi giận mắng giận rằng:
- Các ngươi làm bậy, khiến cho tấm lòng trung thành cùa Hùng Hiệu này vì các ngươi mà không giải tỏ ra được. Các ngươi không nghe lời ta thì chẳng còn ra thể nào!
Hùng Hiệu vừa nói vừa hầm hầm căm tức, lấy một thanh gươm toan đâm cổ tự tự. Tề vương luống cuống không biết làm thế nào, ngoảnh lại trông thấy Vệ Dũng Nga vương phi, liền kêu rầm lên mà bảo rằng:
- Vệ vương phi ơi! Ngày nay quốc trượng tự vẫn thì tôi biết phúc tấu thế nào cho được.
Vệ Dũng Nga vương phi chạy lại, giật lấy thanh gươm rồi quát mắng gia binh:
- Ngày nay triều đình giáng chỉ bắt vợ chồng ta bỏ ngục, không phải đã xử tử ngay đâu, cũng còn tra xét, nếu thật oan khuất, sẽ được khoan tha. Nay cứ theo như ý các ngươi làm thì thành ra các ngươi lại buộc cho vợ chồng ta vào tội phản nghịch đó. Các ngươi nên mau mau giải tán đi, kẻo ta cũng không thể tha các ngươi được.
Các gia binh nghe nói đều khóc oà lên mà rằng:
- Dám bẩm vương gia và vương phi! Chúng con chịu ơn cơm nặng áo dầy trong bấy nhiêu lâu, ngày nay vương gia và vương phi vào ngục thì chúng con xin tình nguyện cùng nhau theo chết.
Nói xong, liền bỏ cả gươm xuống. Tề vương thấy vậy cũng phải khen ngợi rằng:
- Quốc trượng đối với quân sĩ thật có lòng nhân từ, khiến cho chúng phải cảm phục như vậy thì khi nào nỡ phụ ơn triều đình. Nội giám Mã Thuận, thật đã vu oan cho kẻ trung thần. Ngày nay việc xảy ra dường này, khó cứu lại cho được, âu là tôi phải tâu với thánh thượng để giải oan cho quốc trượng mới xong.
Tề vương nói chưa dứt lời thì bỗng thấy mặt ngoài có ba trăm cấm binh kéo đến, vây kín cả chung quanh phủ. Đồ Man Định Quốc và Đồ Man An Quốc ngang nhiên bước vào, mở chiếu thư tuyên đọc. Tờ chiếu như sau:

“Thừa thiên hưng vận, hoàng đế chiếu rằng:
Hùng Hiệu phạm tội phản nghịch, đáng lẽ phải xử tử ngay, nhưng trẫm nghĩ thương là kẻ công thần, cho nên còn bắt giam để tra xét, không ngờ có chí phản nghịch đã lâu, vậy mới dám kháng nghịch thánh chỉ. Nay chuẩn bắt toàn gia Hùng Hiệu đem ra hành hình. Chỉ ban đặc ân cho vợ chồng Hùng Hiệu được toàn thi thể, đó cũng là lòng khoan thứ của trẫm vậy.
Còn bọn gia binh thì phải chém hết, để trị tội kháng cự triều đình. Khâm tai!”


Vợ chồng Hùng Hiệu nghe chiếu, nét mặt vẫn cứ nghiễm nhiên như thường. Hùng Hiệu lại nói với Tề vương rằng:
- Gia binh tôi quá ư ngu xuẩn, chúng xót thương vì chủ mà không biết thế nào là trái phép triều đình. Tôi thiết tưởng thánh thượng cũng nên rộng ơn mà khoan tha cho, chỉ trị tội một mình nhà tôi là đủ.
Vệ Dũng Nga vương phi cũng thở dài mà nói với Tề vương rằng:
- Con dâu tôi là Lương Cẩm Hà nên để theo tôi cùng chết, còn Phi Loan quận chúa thì chưa làm lễ thành hôn, chiếu luật chưa có thể trị tội được. Vậy nên tha cho quận chúa lại trở về nhà Hoàng Phủ.
Phi Loan quận chúa nghe lời liền nói với Vệ Dũng Nga vương phi rằng:
- Cô mẫu ơi! Lòng con đây quyết không bao giờ thay đổi dẫu sống hay chết cũng xin theo cô mẫu, để tỏ rằng nhà Hoàng Phủ con cũng chưa đến nỗi táng tâm.
Phi Loan quận chúa nói đến sự đau lòng ấy, lại vật mình lăn khóc. Vệ Dũng Nga vương phi không thể cầm nước mắt cho được, vội đỡ Phi Loan quận chúa dậy mà bảo rằng:
- Phi Loan quận chúa thật là một người hiền nữ, quả không phụ lòng tương tri của ta trong nửa năm trời nay.
Đồ Man Định Quốc truyền cho quân sĩ cứ theo phép công mà xích tay vợ chồng Hùng Hiệu, lại xích tay cả Phi Loan quận chúa và Lương Cẩm Hà phu nhân. Hùng Hiệu bấy giờ trong lòng chua xót, không thể nhịn được, mới phải nói với Đồ Man Định Quốc rằng:
- Đồ Man đại tướng quân ơi! Bọn nữ lưu kia không nên bắt chúng phải lột áo, xứ xích tay không cũng được.
Đồ Man Định Quốc nghe nói cả cười mà rằng:
- Bây giờ quốc trượng mới biết tôi là đại tướng quân! Quốc trượng vẫn tưởng rằng mặt trời cứ đứng ngọ mãi, ai ngờ cũng có lúc phải xế về tây. Quốc trượng ơi! Hôm trước quốc trượng đừng ra oai mà quát chém tôi thì làm chi đến nỗi khổ sở cho lắm.
Nói xong, truyền quân sĩ mau mau lột áo. Vệ Dũng Nga vương phi thấy vậy, trong lòng căm tức, liền quát một tiếng mà rằng:
- Anh em nhà ngươi chớ có cậy thế làm càmn! Nhà ngươi muốn lột áo, ra sẽ làm cho ngươi biết tay họ Hùng này!
Nói xong, quay mình trở lại, giật tun xiềng xích ra, rồi bước rảo mấy bước, hai tay nắm lấy hai anh em Đồ Man Định Quốc mà quát to lên rằng:
- Trước sau ta cũng một chết mà thôi, chi bằng ta giết hai đứa gian tặc này để đền ơn thánh thượng!
Quan quân bấy giờ đều kin sợ thất sắc. Tề vương vội vàng van lạy mà rằng:
- Trăm lạy vương phi! Xin vương phi tha cho hai tướng quân thì tôi được đội ơn vạn bội. Dẫu không lột áo, cũng chẳng hề chi. Việc này thật Đồ Man tướng quân có lỗi vậy.
Hùng Hiệu cũng khuyên bảo Vệ Dũng Nga vương phi rằng:
- Phu nhân ơi! Những đứa gian tặc rồi sau này nó cũng không tránh khỏi lưới trời. Nếu phu nhân giết nó thì tội kháng cự triều đình, ta đây khó lòng mà tránh khỏi. Cái tai vạ của nhà ta, tôi và phu nhân đều đã biết trước. Thôi thì chết cũng cam lòng, chỉ tiếc một điều rằng ta không biết nghe lời Hoàng Phủ Tương vương khuyên ta hôm xưa, để đến nỗi lại mang tiếng phản nghịch vậy.
Bấy giờ Vệ vương phi mới buông Đồ Man Định Quốc và Đồ Man An Quốc ra. Hai người đứng dậy, truyền quân sĩ cứ dể nguyên áo mà trói lại. Tịch biên hết tài sản trong vương phủ. Khi tịch biên xong, Tề vương toan trở về phúc chỉ thì bỗng lại có thánh chỉ đến. Mọi người đều quì cả xuống để nghe. Nội giám mở tờ chiếu ra tuyên đọc. Chiếu rằng:

“Bình Giang vương Hùng Hiệu tội ác rõ rệt, đáng lẽ phải xử quyết ngay, nhưng hai tên cung nữ thú nhận mưu gian ấy trong khi trẫm nổi giận thì chúng khiếp sợ mà chết. Còn kẻ đồng đảng là nội giám Uông Kim kia cũng bị trúng phong mà chết từ trước rồi. Vì cớ ấy thái hậu cho là chưa đủ chứng cứ, nên phải xét xử lại. Vậy trẫm hãy ân xá cho một nhà Hùng Hiệu được khỏi tội chết, tạm giam vào ngục, đợi khi pháp tư thẩm định rồi, bấy giờ sẽ thỉnh chỉ thái hậu mà nghị án. Hoàng Phủ Phi Loan không muốn ly hôn, xin theo họ Hùng vào ngục cũng cho được tùy ý. Khâm tai.”

Khi tuyên đọc chiếu thư xong, ai nấy đều tung hô vạn tuế. Tề vương truyền giải cả vào ngục, rồi về cung phúc chỉ. Khi Tề vương về khỏi rồi, nội giám Lăng Mậu nói với Hùng Hiệu rằng:
- Dám bẩm quốc trượng! Chẳng hay quốc trượng có biết việc quan Lương thừa tướng không?
Hùng Hiệu kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Việc gì vậy?
Nội giám Lăng Mậu khẽ thầm gạt nước mắt, thuật hết đầu đuôi việc Lương thừa tướng tự tử cho nghe. Vợ chồng Hùng Hiệu chẳng còn hồn vía nào. Lương Cẩm Hà phu nhân nghe tin thân phụ tạ thế thì vật mình than khóc. Hùng Hiệu cũng khóc mà rằng:
- Lương thừa tướng ơi! Thừa tướng vì họ Hùng ta mà đập đầu tự tử. Đã đành rằng sáu mươi tuổi đầu thì chết cũng đáng đời, nhưng htật để một mối thương tâm cho Hùng Hiệu này. Bao giờ còn được trông thấy một người trung quân vị quốc như thế! Còn như Hùng Hiệu này, khởi quân từ chốn thảo mao, trải thờ hai triều, phú quý đến thế này là cùng cực. Thế mà sống chẳng ích gì cho nước, chết lại mang tiếng bất trung, còn mặt mũi nào trông thấy ai nữa! Chi bằng ta cũng tâu xin thánh thượng tứ tử để được theo Lương thừa tướng cùng xuống suối vàng cho rồi.
Hùng Hiệu nói xong, lại vật mình lăn khóc. Đồ Man Định Quốc và Đồ Man An Quốc liền giục mau mau giải vào trong ngục. Hùng vương phủ đệ đều bị niêm phong cả, thuở trước lừng lẫy kể sao cho xiết, mà bây giờ cú kêu quạ đậu lạnh ngắt như tờ. Nhân dân trong nước ai cũng than thở mà thương Hùng Hiệu là người trung lương, từ khi chưởng quản binh quyền hơn hai mươi năm trời, không hề dung túng quân sĩ làm điều nhũng nhiễu như Lưu Tiệp thuở trước. Vẫn tưởng danh thơm ấy sử xanh ghi chép, ai ngờ hóa công cũng ghen ghét với kẻ trung lương.
Lại nói chuyện thi thể Lương Trấn Lân thừa tướng khi đưa về tướng phủ, hai mắt vẫn mở trừng trừng, lại hình như có giọt lệ nhỏ sa vậy. Mảnh đẩu vỡ toát, máu chảy đầm đìa, Lương Trấn Lân phu nhân chẳng quản chi cả, cứ ngồi ôm lấy mà khóc. Các nữ tỳ đều xúm lại khuyên giải rằng:
- Ngày nay hai vị công tử đều về quê nhà, ở đây chỉ trông cậy có mình phu nhân, xin phu nhân chớ lo nghĩ quá mà thành bệnh thì lấy ai là người trông coi các việc vậy.
Lương Trấn Lân phu nhân nghe nói mới lau nước mắt mà đứng dậy, bỗng mặt ngoài truyền báo có quan thừa tướng Nguyễn Long Quang đến. Khi Nguyễn Long Quang vào tới nơi, Lương Trấn Lân phu nhân quì xuống mà thưa rằng:
- Nguyễn tướng công ơi! Phu quân tôi chẳng may gặp phải tai nạn này, hai con tôi đều ở quê nhà tất cả, vậy công việc ngày nay, chờ tướng công trông nom giúp cho, còn thân già này xin cam lòng chịu theo phu quân tôi về nơi chín suối.
Nói xong, liền dập đầu sụp lạy. Nguyễn Long Quang nghe nói trong lòng đau xót lạ thường, cũng khóc mà đáp lễ lại, rồi bảo nữ tỳ đỡ Lương phu nhân dậy để nói chuyện, Lương phu nhân vâng lời đứng dậy. Nguyễn Long Quang nói:
- Lão phu nhân ơi! Lúc này không phải là lúc nên chết. Tôi chỉ tiếc thay cho Lương thừa tướng liều mình như thế mà không bổ ích gì cho nước nhà. Bây giờ còn nói chi được nữa. Nhưng tổ chim đã đổ, khi nào còn có trứng lành, phu nhân cũng đừng viết thư gọi các công tử tới đây làm chi. Ngày nay tiện nhi cáo quan trở về quê nhà, may còn chưa đi, để tôi bảo nó phù linh cữu quan Lương thừa tướng đây và đưa phu nhân về quê một thể. Các việc trong nhà đã có tiện nhi trông nom giúp. Phu nhân chớ nên liều mình mà lại di họa cho hai vị công tử nhà ta. Mấy lời Lương thừa tướng đây tâu bày hôm trước, Phi Giao hoàng hậu còn căm tức chưa nguôi. Phu nhân muốn bảo toàn tôn tự họ Lương thì xin đừng nói những lời oán vọng, kẻo đến tai Phi Giao hoàng hậu lại gây nên một vạ to. Vừa rồi thái hậu có quở trách thánh thượng và Phi Giao hoàng hậu. Bấy giờ Phi Giao hoàng hậu dẫu không dám nói, nhưng trong lòng căm tức bội phần. Mã Thuận đang ở trong cung, cũng khiếp sợ mà phải cáo ốm. Tuy vậy chưa lấy chi làm chắc, chẳng qua chỉ tạm yên ít ngày thôi. Phu nhân chớ ở lâu tại đây, nên kíp sửa soạn khởi hành, họa may thánh thượng có nghĩ lại mà giáng chỉ thương đến bậc lão thần chăng.
Nói chưa dứt lời thì bỗng nghe báo có thánh chỉ đến. Lương Trấn Lân phu nhân vừa khó vừa ra nghênh tiếp thánh chỉ. Nội giám Lã Xương mở tờ chiếu thư ra tuyên đọc. Chiếu rằng:

"Nội các văn uyên điện đại học sĩ là Lương Trấn Lân, trải thờ ba triều, xưa nay vẫn giữ một lòng trung trực, chỉ vì tính vốn nóng nảy, không được ôn hòa, trẫm nghĩ thương là bậc lão thần, cho nên thường hay khoan thứ. Mới rồi, bỗng giao thông với đảng phản nghịch, dám tâu bậy nói càn, trẫm cũng rộng ơn mà không trách chi cả. Ai ngờ Lương Trấn Lân tự biết tội ác của mình, khó lòng tránh khỏi lưới thép, bởi vậy mới đập đầu tại cửa cung mà chết, để mua lấy tiếng trung trực và đổ cho trẫm là một vị hôn quân. Than ôi! Chết thật đáng thương, nhưng lòng cũng quỷ quyệt, chiếu luật nên phải nghiêm trị, bắt vợ con ra hành tội, để làm gương cho người sau. Tuy vậy, trẫm xét công giúp nước đã lâu,, vậy phải giáng chỉ ân xá, vẫn cho được tặng thụy như lệ, truyền Lễ bộ quan tuân hành. Khâm tai!”

Lại nói chuyện Nguyễn Long Quang phu nhân là bà Vương thị, sinh được một người con trai tên gọi Nguyễn Thụy đã ba mươi sáu tuổi. Nguyễn Thụy lấy con gái Lưu Khuê Quang, chưa có con trai, chỉ sinh được hai gái: Một người tên gọi Phương Xuân, mới mười lăm tuổi, và một người tên gọi Thiều Xuân, mới mười ba tuổi, lại còn một người con trai thứ xuất tên gọi Quan Kha. Nguyễn Thụy đỗ sớm, làm quan đến trấn quản đạo, đủ lệ sáu năm được về kinh dẫn kiến. Bấy giờ đem Lưu phu nhân và con cái tiến kinh,. liền cáo nghỉ nửa năm, để về quê hương thăm phần mộ. Trong nhà đang đoàn viên sum họp vui vẻ lạ thường. Bỗng thấy Nguyễn Long Quang ở ngoài bước vào, hai mắt đầm đìa giọt lệ. Mọi người thấy vậy đều đứng cả dậy. Nguyễn Long Quang gạt nước mắt gọi Nguyễn Thụy đến thuật chuyện cho nghe và bảo rằng:
- Cứ như công việc trong triều ngày nay thì ta cũng nên liều mình tự tử là phải! Chỉ vì Lương thừa tướng đã chết mà ta lại chết thì giang sơn này biết trông cậy vào ai. Bởi vậy ta muốn theo gương quý báu của Địch Nhân Kiệt thuở xưa mà nương náu đứng ở trong triều đường, để sau này sẽ tùy cơ ứng biến.
Nói xong, lại thuật hết đầu đuôi mọi việc trong triều cho cả nhà nghe, ai nấy đều lấy làm kinh ngạc. Nguyễn Long Quang phu nhân nghe nói cũng ứa hai hàng nước mắt mà khóc thương. Nguyễn Thụy nói:
- Thân phụ ơi! Thân phụ đã quyết định như vậy, con xin vâng lời. Nhưng ngày nay con đi thì yên lòng làm sao cho được, chẳng may xảy gặp việc gian hiểm, thành ra con không được gần gũi dưới gối hai thân.
Nguyễn Long Quang phu nhân bảo rằng:
- Con cứ yên lòng. Thân phụ con không phải là người nóng nảy như Lương thừa tướng, tâm cơ kín đáo, chắc không khi nào đến nỗi bị hại vì bọn quyền gian. Con cứ vâng lời trông nom giúp tang sự cho Lương phu nhân, và trở về Vân Nam thăm mộ phần tổ tiên một thể. Thân phụ con chịu ơn triều đình quá hậu, thế tất phải ở đây, còn con nên mau mau trở về quê nhà, cũng là một kế hay cho ta vậy.
Nói xong, lại gọi người con dâu là Lưu phu nhân (vợ Nguyễn Thụy) đến mà dặn bảo rằng:
- Con nên sửa soạn đồ hành lý để sắp sửa troơ về quê nhà, ta còn phải sang giúp bà Lương thừa tướng.
Nguyễn Long Quang phu nhân đứng dậy lên kiệu đi sang Lương phủ, trông nom việc khâm liệm cho quan Lương thừa tướng.
Lại nói chuyện khi Lương Trấn Lân thừa tướng mới chết, chỉ có Nguyễn Long Quang và Hoàng Phủ Triệu Lân cùng vài ba người bạn thân đến viếng thăm mà thôi. Sau chúng thấy thái hậu có sai người phúng viếng và giáng chỉ uỷ dụ, bấy giờ mới lại kéo nhau đến thăm hỏi, náo nhiệt lạ thường. Trong tờ chiếu chỉ của thái hậu có nói rằng:
“Ta rất lấy làm thương xót cho nhà ngươi thật đã không may gặp lúc thiên tử chưa tỉnh ngộ. Đức trung trực của nhà ngươi, so với Long Bàng và Chu Vân thuở xưa chẳng khác gì nhau. Một vị hiền thần như thế ta rất cảm phục. Vậy nay ta xin lập miếu thờ và tế lễ một tuần, còn hai con đều được cho gia thăng. Chờ khi mãn tang, bấy giờ lại được tiến kinh cung chức. Vợ con Lương Trấn Lân, nếu xảy ra sự gì thì ta sẽ trách hữu hoàng hậu mà trị tội.”
Vua Anh Tôn cũng sai quan đem vang lạa ra ban cho và cắt người hộ tang. Vì thế các quan triều thần cùng các hoàng thân quốc thích lại đều đến phúng viếng. Người nào đem tiền bạc đến thì Lương phu nhân nhất định không chịu nhận của ai.
Nguyễn Long Quang phu nhân thấy vậy cũng ngẫm nghĩ khen thầm. Sửa soạn trong nử tháng, rồi định đưa linh cữu quan Lương Trấn Lân thừa tướng theo đường thủy về Vân Nam. Hôm ấy, Nguyễn Long Quang phu nhân và hai vợ chồng Nguyễn Thụy cùng hai cô con gái cùng đi hộ tang một thể. Chiếc thuyền để linh cữu Lương Trấn Lân thừa tướng thì có hai vợ chồng Nguyễn Thụy và hai bà lão phu nhân cùng hai cô bé gái cũng đi theo. Còn bọn nô ty lại đi riêng một chiếc thuyền khác. Các quan văn võ đi hộ tống, lại có riêng một chiếc thuyền, trống rong cờ mở, rất là náo nhiệt. Thuyền đi qua tỉnh nào thì địa phương quan ở đấy lập trạm ra để tế lễ, rồi thuyền cứ thẳng đường lần về Vân Nam. Về tới Vân Nam, hai cậu công tử con quan Lương thừa tướng đứng đón tại bên sông, vì Nguyễn Thụy đã sai người thông báo từ trước. Khi đến bến, hai cậu Lương công tử trông thấy linh cữu Lương thừa tướng ruột đau như cắt, liền vật mình lăn khóc. Các quan văn võ đi hộ tống đều xúm lại khuyên giải. Hai công tử lạy tạ Nguyễn Thụy và lạy tạ các quan văn võ, rồi xuống thuyền yết kiến thân mẫu. Lương phu nhân trông thấy Lương Anh và Lương Tuấn (tức hai vị công tử), liền ôm lấy mà khóc òa lên. Lương Anh và Lương Tuấn cũng quì xuống khóc. Cả thủy thủ thấy vậy ai nấy đều giọt lệ chứa chan. Nguyễn Long Quang phu nhân ở dưới thuyền bước lên, gạt nước mắt mà khuyên giải hai cậu Lương công tử. Lương phu nhân thuật chuyện đầu đuôi cho hai công tử nghe, hai công tử nghe nói, đứt từng khúc ruột, lại sụp lạy Nguyễn Long Quang phu nhân, để tạ công phu nhân đã hết lòng giúp đỡ. Nguyễn Thụy nói với Lương phu nhân rằng:
- Bẩm phu nhân! Bây giờ về tới đây, công việc trong nhà đã có hai công tử, tôi xin cùng thân mẫu tôi trở về thăm quê nhà trong ít ngày, hôm nào thư thả, sẽ sang hầu chuyện.
o0o


về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
phần a
hồi thứ sáu
TRIỆU LÂN TẬN TRUNG PHÒ ẤU CHÚA
NGỌC THANH VỊ NGHĨA BÁO TÌNH NHÂN


Một hôm Mạnh Sĩ Nguyên và Hàn phu nhân, hai vợ chồng già đang ngồi nói chuyện. Các cháu trai và các cháu gái đứng xúm xít cả xung quanh. Bỗng thấy Mạnh Gia Linh hốt hoảng chạy vào mà thưa rằng:
- Dám thưa hai thân! Việc này là một việc không hay!
Vợ chồng Mạnh Sĩ Nguyên vội vàng hỏi:
-Mạnh Gia Linh vừa khóc vừa thuật hết đầu đuôi mọi việc trong triều cho Mạnh Sĩ Nguyên nghe. Mạnh Sỉ Nguyên nói Lương Trấn Lân thừa tướng đập đầu tự tử, Bình Giang vương Hùng Hiệu bị giam, ngồi ngẫn người ra mà nghĩ, không nói câu gì. Hàn phu nhân hai hàng nước mắt khóc mà rằng:
- Ai ngờ tai biến đến như thế! Nếu vậy thì vợ chồng Hoàng Phủ Tương vương nghĩ uất mà chết mất thôi. Thượng hoàng bỏ đi không thấy về, thái hậu ở trong cung thì hiện nay vẫn đang bị bệnh. Thế mà thiên tử quá ư nhu nhược chẳng biết tý gì. Tôi e giang sơn này không khéo có ngày về tay người khác vậy.
Hàn phu nhân nói xong, liền ngoảnh lại bảo Mạnh Gia Linh rằng:
- Mạnh Gia Linh con ơi! Bây giờ không biết nghĩ thế nào cho được. Ta thiết tưởng con nên mau mau trở về kinh địa, để cùng Nguyễn Long Quang tướng công đồng tâm hiệp lực mà giúp triều đình, đợi khi Hoàng Phủ Tương vương mãn tang tiến kinh thì may ra bảo toàn được vô sự.
Mạnh Sĩ Nguyên nghe nói lẩm nhẩm gật đầu, rồi bảo Mạnh Gia Linh rằng:
- Thân mẫu con nghĩ phải, con nên vâng lời. Cha con ta chịu ơn triều đình trong bốn mươi năm nay, chưa biết lấy chi báo đáp, Lương thừa tướng vì nước tự tử, tiếng thơm ghi để nghìn thu. Nguyễn tướng công thì một lòng chính trực đứng ở trong triều. Doãn tướng công cũng muôn dặm xa xôi đang đi sứ ở ngoại quốc. Thế mà ta đây cứ điềm nhiên vui thú tự nghĩ sao cho an tâm. Vậy con phải vâng lời thân mẫu con mà tiến kinh, chớ nên ngần ngại.
Mạnh Gia Linh nói:
- Hai thân ơi! Con đi đã đành, nhưng dưới gối hai thân lấy ai hầu hạ. Trưởng tử con hiện đang đi sang Hồ Quảng, còn thứ tử con thì đầu xanh tuổi trẻ, nào đã biết gì. Thế thì ngày nay đi sao cho an tâm, hai thân nên trù tính đến điều ấy.
Mạnh Sĩ Nguyên chưa kịp trả lời thì Hàn phu nhân liền nói:
- Mạnh Gia Linh con ơi! Con nên nghĩ ơn sâu của triều đình trong mấy năm trời nay, ngày nay gặp cơn nguy hiểm, con nỡ lòng nào mà ngoảnh mặt làm thinh. Vả con là thân thích với Phi Giao hoàng hậu thì con có dâng lời can gián, tất cũng không lo ngại gì. Cha mẹ năm nay dẫu gần bảy mươi tuổi đầu nhưng nhờ trời vẫn được tráng kiện như thường, vậy con nên mau mau đi ngay, không phải phiền về nỗi cha mẹ già yếu.
Vợ Mạnh Gia Linh là Phương thị phu nhân cũng khuyên chồng mà rằng:
- Phung quân ơi! Phu quân nên mau mau trở về kinh địa, rồi tùy cơ ứng biến, tâu xin xá tội cho họ Hùng. May ra thánh thượng có hồi tâm lại chăng, nếu không thì dẫu phu quân vì việc ấy mà bị tội, thiết tưởng cũng nên cam lòng.
Mạnh Gia Linh lại nói với hai thân rằng:
- Dám thưa hai thân! Thượng hoàng là bậc thánh minh, thái hậu có tài võ đoán, thế mà cũng đành chịu bó tay. Thượng hoàng giận quá bỏ đi, thái hậu quá nghĩ thành bệnh. Lại còn các quan triều thần như Lương thừa tướng, Doãn thừa tướng Hùng vương và Nguyễn công cũng đều là bậc anh hùng hào kiệt, thế mà kẻ thì bị chết, người thì bị giam, huống chi một thân con về chốn triều đình, chắc chắc đã làm nên công trạng gì vậy.
Mạnh Gia Linh chưa nói dứt lời thì Hàn phu nhân nổi giận mà rằng:
- Mạnh Gia Linh con ơi! Không ngờ con dám cưỡng lời cha mẹ. con thử nghĩ nhà ta đây chịu ơi triều đình trong mấy mươi năm, mũ cáo áo rộng, chức trọng quyền tôn, vinh quý đến thế này là cùng cực. Huống chi Phi Giao hoàng hậu lại là sanh nữ ta, một may xảy có sự gì, chắc hẳn phải tru di đến hai họ. Sao con không nghĩ chữ: “Trung quân ái quốc”, mà lại bắt chước như con chim non mến tổ, không nỡ rời thì còn ra thế nào! Mạnh Gia Linh con ơi! Nếu ngày nay con không chịu vâng lời ta trở về kinh địa thì ta cũng liều nhịn đói để mà chết đi cho rồi!
Mạnh Gia Linh nói:
- Con xin vâng lời! Con xin vâng lời!
Nói xong, liền định đến ngày rằm tháng ấy thì sửa soạn tiến kinh. Khi Mạnh Gia Linh vào trong phòng, Phương thị phu nhân ứa hai hàng nước mắt, rồi khuyên giải:
- Phu quân ơi! Phu quân phải tùy cơ ứng biến, theo như Nguyễn Long Quang tướng công, chớ có liều chết mà chẳng bổ ích gì cho thánh thượng. Hai thân ta bảo phu quân đi là muốn phu quân nhẫn nại cho được nên việc, vậy phu quân không nên bắt chước tính nóng nảy của Lương thừa tướng vừa rồi.
Mạnh Gia Linh lẩm nhẩm gật đầu, rồi thở dài một tiếng, Mạnh Đức thấy vậy liền nói:
- Dám thưa thân phụ! Ngày nay thân phụ tiến kinh, một mình vò võ, muôn dặm xa xôi, mà con ở nhà thì lòng con sao đành. Xin thân phụ cho con theo đi, còn việc hầu hạ tổ phụ và tổ mẩu con thì chẳng bao lâu trưởng huynhcon cũng về tới đây vậy.
Mạnh Gia Linh nói:
- Con không nên đi! Ta để con ở nhà là co hai lẽ: Một là hầu hạ tổ phụ và tổ mẫu, hai là ta đi chuyến này, khó lòng bảo toàn tính mệnh. Anh con dẫu không liên lụy nữa thì bấy giờ cũng phải phù linh cữu ta về. Cái tin đau đớn ấy sau này con nên phải giấu tổ phụ và tổ mẫu, chớ để người biết mà người lại thêm lòng hối hận.
Sáng sớm hôm sau, người nhà báo có con quan Nguyễn Long Quang tướng công là Nguyễn Thụy đến. Mạnh Gia Linh vội vàng ra nghênh tiếp, rồi truyền người nhà pha trà mời uống. Khi uống trà xong, Nguyễn Thụy nói:
- Tôi xin vào bái yết Mạnh lão gia.
Mạnh Gia Linh từ tạ, liền sai người vào mời Mạnh Sĩ Nguyên. Một lúc Mạnh Sĩ Nguyên ở nhà trong chống gậy bước ra, có Mạnh Đức theo sau. Nguyễn Thụy trông thấy, vội vàng đứng dậy lạy chào. Mạnh Sĩ nguyên đỡ dậy, rồi mời ngồi nói chuyện, Nguyễn Thụy thuật chuyện trong triều cho Mạnh Sĩ Nguyên nghe.
Mạnh Sĩ Nguyên thở dài mà than rằng:
- Ngày nay tôi già yếu, không thể theo lệnh đường mà duy trì việc nước được. Vậy tôi đã định cho tiện nhi tiến kinh để tuù lệnh đường sai khiến, gọi là chút lòng trung ái của kẻ lão thần này.
Nguyễn Thụy nghe lời, mừng rỡ mà nói với Mạnh Gia Linh rằng:
- Nếy vậy thì lão gia là môt bậc trung thần, hết lòng vì nước! Những nơi than lửa như thế mà lại sai hiền huynh về. Thân phụ tôi một mình cô độc, khác nào một cây khó chống nổi nhà, nếu thêm được hiền huynh về, cùng nhau hiệp lực đồng tâm thì thế tất phải nên việc.
Bấy giờ Nguyễn Thụy lại thuật chuyện Phi Giao hoàng hậu kết liên thông với Mã Thuận cùng Đồ Man Hưng Phục để làm nhiều sự càn dỡ v.v... Nguyễn Thụy vừa nói vừa nhìn Mạnh Đức mà nghĩ thầm rằng: “Giả sử trưởng nữ ta đẹp duyên với cậu công tử này thì thật tốt đôi vừa lứa. Chỉ vì họ Mạnh đây là một nhà thế phiệt, vậy ta khó dám ngỏ lời, âu là ta thử dò ý xem sao mới được.” Chuyện trò hồi lâu, Mạnh Sĩ Nguyên bỗng đứng dậy nói:
- Tôi nay già yếu, không thể ngồi lâu được, xin thấtl ễ lui vào nhà trong. Hôm nay Nguyễn tiên sinh hãy ở chơi lại đây, rồi vào thư phòng xơi cơm, để cho tiện nhi được hầu chuyện.
Nguyễn Thụy vâng lời. Mạnh Sĩ Nguyên đứng dậy lui vào nhà trong. Cha con Mạnh Gia Linh mời Nguyễn Thụy vào thư phòng nói chuyện. Nguyễn Thụy nói:
- Cha con tôi đi xa lâu ngày, những con em các bạn thân ở nhà, thành ra không ai biết cả. Ngày nay tôi về đây, đang muốn nhờ hiền huynh kén chọn hộ cho một cậu rể, không ngờ hiền huynh lại sắp tiến kinh, thế thì việc này lại không biết trông cậy vào ai.
Mạnh Gia Linh:
- Hiền huynh có mấy lệnh lang và lệnh ái?
Nguyễn Thụy nói:
- Tôi được hai tiện nữ: Trưởng nữ mười lăm tuổi và thứ nữ mười ba tuổi, đều chưa đính hôn với ai. Còn một đứa con trai thứ xuất mới lên sáu tuổi. Tiện nữ dẫu chưa nói đến bậc công ngôn dung hạnh, nhưng nội nhân tôi ngày đêm khuyên nhủ vẫn giữ được thói băng tuyết, lại có theo đòi đôi chút bút nghiên. Chẳng hay trong gia hương ta có người nào đáng gả không? Xin hiền huynh chỉ bảo giúp.
Mạnh Gia Linh trỏ Mạnh Đức rồi cười mà bảo rằng:
- Như tiện nhi đây có thể cho vào bậc đồng sàng được không?
Nguyễn Thụy nói:
- Hiền huynh đây là một bậc hoàng thân, có đâu tiểu đệ dám với cao như vậy?
Mạnh Gia Linh nghiêm sắc mặt mà đáp rằng:
- Sao hiền huynh lại nói như thế! Thân phụ tôi cùng lệnh đường là anh em đồng triều trong bốn mươi năm, còn tiểu đệ đây bất tài, cùng hiền huynh cũng là tình thế nghị. Nay hiền huynh nói câu ấy thì thật khinh cha con tôi như phường thị khoái (là những kẻ ăn gian nói dối ở chợ) vậy.
Nguyễn Thụy nghe nói mừng lòng liền đứng dậy chắp tay mà rằng:
- Nếu hiền huynh ưng thuận như vậy thì tiện nữ thật có phận nhờ.
Mạnh Gia Linh vội vàng đáp lễ lại, rồi ngoảnh lại bảo Mạnh Đức rằng:
- Con quì xuống mà bái yết nhạc phụ đi!
Mạnh Đức từ từ bước đến trước mặt Nguyễn Thụy rồi sụp lạy mấy lạy mà rằng:
- Dám thưa nhạc phụ! Tiện tế xin lạy chào nhạc phụ!
Nguyễn Thụy mừng rỡ, đỡ dậy mà bảo rằng:
- Hiền tế ơi! Tôi vốn nhà hàn tiện, được lệnh đường đây có lòng yêu mến, lại đính ước Châu Trần thì thật vẻ vang cho nhà tôi quá lắm, mong rằng hiền tế cũng chớ thấy hàn tiện mà chê cười vậy.
Mạnh Gia Linh lại cười mà đáp rằng:
- Hiền huynh khiêm tốn thái quá! Tiện nhi được dự ngôi đông sàng như thế, chính là cái phúc cho nhà tôi.
Người nhà dọn tiệc, hai người cùng ngồi vào uống rượu, lại cho cả Mạnh Đức ngồi hầu. Khi uống rượu xong, Nguyễn Thụy lại cáo từ lui về. Về đến nhà nét mặt vẫn còn vui mừng hớn hở, Nguyễn Long Quang phu nhân ngạc nhiên mà hỏi rằng:
- Có việc chi mà con vui mừng thế? Hùng vương được xá tội hay là thượng hoàng đã hồi loan đó chăng? Con nên thuật chuyện cho ta được biết.
Nguyễn Thụy lại mỉm cười mà thưa rằng:
- Thân mẫu ơi! thượng hoàng đã về đâu, mà Hùng vương cũng chưa được tha. Ngày nay con vui mừng là mừng về nỗi đã chọn được một người giai tế.
Nguyễn Thụy nói xong, lại thuật chuyện đầu đuôi cho thân mẫu nghe, Nguyễn Long Quang phu nhân mừng rỡ mà rằng:
- Họ Mạnh nối đời là một nhà hiển loạn. Vả lại vốn dòng thi thư, con Phương Xuân nhà ta được về làm dâu nhà ấy thì đáng mừng cho ta biết là dường nào! Ta chỉ cầu nguyện cho Mạnh Gia Linh tiến kinh lần này được an toàn vô sự.
Bấy giờ cả nhà đều chuyện trò vui vẻ. Thiều Xuân tiểu thư cũng cười mà mừng cho chị là Phương Xuân tiểu thư. Nguyễn Thụy nhờ một người bạn đồng niên là Bách Quản sang làm mối để xin làm lễ kết thân.
Đến hôm Mạnh Gia Linh tiến kinh lại có đem theo một cái quan tài, nói thác là muốn phòng khi nhiễm bệnh, sợ ở kinh địa không mua được quan tài tốt chăng. Đó là một sự đáng nực cười.
Lại nói chuyện nàng Hạng Ngọc Thanh ở nhà Tần Sĩ Thăng. Tần Sĩ Thăng phu nhân đối đãi rất tử tế. Một hôm, Tần Sĩ Thăng ở trong triều về, thuật chuyện quốc cữu là Hùng Khởi Phượng phải phụng mệnh đi sứ nước Cao Ly. Nàng Hạng Ngọc Thanh nghe nói trong lòng phiền não, nghĩ thầm: “Ta xót thương cho Hùng quốc cữu, phong lưu niên thiếu, xưa nay chưa bước chân đi đâu bao giờ, mà ngày nay phải dãi gió dầm sương, xa xôi muôn dặm. Thư sinh thể cách, chịu sao nổi những sự đắng cay. Thôi chẳng qua cũng là số mệnh của ta chẳng ra gì! Từ khi gặp Hùng quốc cữu có lòng hào hiệp mà cứu vớt, ta vẫn tưởng được chỗ nương tựa tấm thân. Ai ngờ thân thế long đong, Hùng quốc cữu lại phải gửi ta ở nhà Tần học sĩ này. Hùng quốc cữu hẹn ta chờ đợi trong mười năm thì thiết tưởng ở đây cũng không tiện. Dẫu phu nhân có lòng biệt đải, nhưng tính phong nguyệt của Tần học sĩ, mỗi khi gặp mặt, ta vẫn phải cúi đầu. Bể sâu còn có kẻ dò, lòng người nham hiểm dễ đo cho cùng. Bây giờ muốn đi chẳng biết đi đâu, mà ở đây lâu ngày thì cũng khó yên thân cho được!” Nàng Hạng Ngọc Thanh tính quẩn lo quanh, ruột đau như cắt, dẫu không dám khóc ra tiếng, nhưng vẫn gạt thầm giọt châu. Tần Sĩ Thăng phu nhân thấy nàng mặt ủ mày chau, mới tìm lời khuyên giải mà rằng:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Nàng cứ yên lòng mà ở đay chờ đợi, tôi chắc chẳng bao lâu Hùng quốc cữu cũng sẽ về tới nơi.
Một hôm, Tần Sĩ Thăng phu nhân đang ngồi nói chuyện với nàng Hạng Ngọc Thanh, bỗng nghe tiếng giày lẹp kẹp thì Tần Sĩ Thăng ở ngoài bước vào, nét mặt có ý hoảng hốt, rồi ngồi ngẩn người ra mà rằng:
- Không may! Thật là một sự không may! Ai ngờ tai vạ tự trời rơi xuống vậy!
Tần Sĩ Thăng phu nhân kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Việc chi thế?
Nàng Hạng Ngọc Thanh cũng đứng dậy khép nép mà thưa rằng:
- Tôi xin cúi chào quan Tần học sĩ.
Tần Sĩ Thăng liền nói:
- Xin miễn lễ! Tôi có chút việc muốn ngỏ cùng nàng. Chẳng hay nàng có biết chuyện nhà Hùng vương hay không?
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói:
- Việc chi thế? Xin đại nhân chỉ bảo cho biết.
Tần Sĩ Thăng nín lặng hồi lâu, rồi thuật rõ đầu đuôi việc nhà Hùng vương bị nạn cho hai người nghe. Tần Sĩ Thăng phu nhân nghe nói, sợ tái mét mặt đi. Nàng Hạng Ngọc Thanh cũng đứng ngẩn người ra, không biết nói thế nào. Tần Sĩ Thăng dậm chân thở dài mà rằng:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Việc chung thân của nàng, bây giờ làm ra thế nào? Để nàng ở đây thì sợ liên lụy, mà không để nàng ở thì nàng biết đi đâu. Nàng nên lo tính mau mau, kẻo tai vạ đến nơi đó.
Tần Sĩ Thăng lại bảo phu nhân rằng:
- Phu nhân nên bàn giúp nàng, để tôi còn phải ra ngoài nghe nóng tin tức.
Nói xong, tức khắc lui ra. Tần Sĩ Thăng phu nhân thở dài mà bảo nàng Hạng Ngọc Thanh rằng:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Bây giờ nàng nghĩ thế nào, nên nó rõ cho tôi được biết.
Nàng Hạng Ngọc Thanh hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng, rồi vừa khóc vừa nói:
- Phu nhân ơi! Số mệnh tôi chẳng ra gì, còn kể chi nữa, nhưng chỉ lo liên lụy đến phu nhân. Cứ như lời quan Tần học sĩ vừa nói thì nếu chúng biết tôi ở đây, tất buộc cho người tội “Oa tang phản nghịch”, khó lòng mà an toàn được. Phu nhân ơi! Chi bằng tôi tự ra mà thú nhận đi. Một là nhà phu nhân đây tránh khỏi tai vạ; hai là tôi cũng nhân đấy mà được trông thấy Hùng vương, họa may vương phi thương lòng tôi thành mà cho được đêm ngày hầu hạ chăng. Phu nhân ơi! Trong số tội danh, thế nào chúng cũng ghi tên tôi làm tiểu thiếp của Hùng quốc cữu, thế là trọn ước trăm năm. Còn ơn sâu của phu nhân thì kiếp sau tôi xim làm trâu ngựa để báo đền vậy.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói xong, lại nức nở khóc hoài. Tần Sĩ Thăng phu nhân ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi bảo nàng rằng:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Nàng nói chí phải! Nhưng tôi còn một điều này muốn ngỏ cùng nàng: Số là nàng đến ở nhà tôi đây đã gần nửa năm, phu quân tôi vẫn có lòng trộm yêu thầm nhớ, chỉ ngại vì danh phận bạn hữu mà không dám nói ra. Từ khi Hùng quốc cữu đi sứ Cao Ly, phu quân tôi thường bàn riêng với tôi rằng: “Hùng quốc cữu đã bằng lòng tặng nàng Hạng Ngọc Thanh cho tôi đó!” Tôi nghe nói vẫn phải khuyên can. Ngày nay chỉ e sợ mắc tai vạ mà sinh ý khác chăng, vậy hãy để tôi về phòng, thử dò hỏi tâm sự của phu quân tôi xem thế nào sau ta sẽ liệu.
Nàng Hạng Ngọc Thanh gạt nước mắt rồi cảm tạ mà rằng:
- Ngày nay tôi chỉ trông cậy ở phu nhân đó!
Tần Sĩ Thăng phu nhân gật đầu lui ra, trở về phòng ngồi, sai người mời Tần Sĩ Thăng vào. Tần Sĩ Thăng nói:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh nghĩ thế nào? Ngày nay không khéo thì tai vạ đến nhà ta đó.
Phu nhân nói:
-Nàng chẳng biết nghĩ thế nào cả. Nàng chỉ nói rằng đã đem thân vào nhà họ Tần thì sống chết cũng chỉ nhờ họ Tần chủ trương cho mà thôi.
Tần Sĩ Thăng nghe nói, nét mặt hớn hở mà hỏi lại rằng:
-Phu nhân ơi! Thật nàng Hạng Ngọc Thanh nói thế phải không?
Tần Sĩ Thăng phu nhân nói:
- Khi nào tôi lại nói dối. Chẳng hay phu quân nghĩ thế nào?
Tần Sĩ Thăng cười mà đáp rằng:
- Phu nhân ơi! Nàng Hạng Ngọc Thanh đã nói như thế, việc này tùy lòng phu nhân. Nếu phu nhân rộng lượng hải hà thì cho nàng làm thiếp, người ngoài chẳng mấy kẻ đã hiểu đầu đuôi. Nàng cùng phu nhân xưa nay vẫn ý hợp tâm đầu, dẫu có sum họp một nhà, chắc cũng không điều kia tiếng nọ. Vả lại Hùng quốc cữu thường nói muốn tặng nàng cho tôi, sau này quốc cữu về đây tất cũng lấy việc này làm vui lòng vậy. Có như thế thì một là nhà ta đây tránh khỏi ta vạ; hai là nàng cũng được chỗ nương thân; ba là phu nhân vẫn định nạp tiểu tinh đã lâu, thế thì nay sẵn của nhà, lại còn phải tìm đâu hơn nữa. Một việc này có thể trọn vẹn được cả ba điều ấy, nhưng nên chăng thế nào thì còn quyền ở trong tay phu nhân.
Nói xong, liền ghé xuống ngồi ở bên cạnh phu nhân mà tỏ tình luyến ái. Tần Sĩ Thăng phu nhân nghe nói, trong lòng tức giận, nhưng vẫn giả cách tươi cười, rồi lẩm nhẩm gật đầu mà rằng:
- Nếu vậy rất hay! Phu quân hợp ý tôi lắm. Tôi cùng nàng Hạng Ngọc Thanh, chị em vẫn cùng nhau tương đắc, khi nào lại còn ghen tuông. Tôi chỉ lo nàng mà bỏ đi thì thật buồn cho tôi quá, nay phu quân nghĩ như vậy, lòng tôi bao xiết vui mừng. Âu là tôi bảo nàng Hạng Ngọc Thanh sửa soạn sắp làm tân nhân. Mà còn cái phòng phía tây kia, tôi sẽ truyền cho người quét dọn để làm nơi hoa chúc.
Tần Sĩ Thăng nghe nói, liền chắp tay đứng dậy vái mà thưa rằng:
- Đa tạ lượng hải hà của phu nhân, thật không bao giờ tôi dám quên ơn.
Tần Sĩ Thăng phu nhân nín lặng, chẳng nói câu gì, chỉ tủm tỉm cười. Tần Sĩ Thăng không biết là giả, suốt đêm luống những năn nỉ mà kể lể tâm tình. Sáng hôm sau, Tần Sĩ Thăng phu nhân dậy sớm, chưa kịp chỉnh trang thì Tần Sĩ Thăng lại giục đến việc ấy. Tần Sĩ Thăng phu nhân nói:
- Phu quân chớ nóng nảy. Nàng đã ở trong nhà mình thì lo gì chẳng nên việc. Bây giờ phu quân hãy chọn xem hôm nào tốt ngày.
Tần Sĩ Thăng cười mà rằng:
- Phu nhân nói chí phải! Ta phải chọn ngày trước rồi sau sẽ thỉnh môi nhân.
Nói xong, gọi nữ tỳ lấy quyển lịch ra xem. Xem xong, lại nói:
- Ngày hai mươi bảy tháng ba này là ngày thượng cát cho việc hôn nhân giá thú, tức là chỉ còn vài ba ngày nữa thôi.
Tần Sĩ Thăng phu nhân cười bảo:
- Chóng thế thì thật lợi cho phu quân!
Tần Sĩ Thăng cũng cười đáp:
- Phu nhân chớ ngăn trở việc này, tôi xin quì gối xuống mà lạy tạ phu nhân trước.
Tần Sĩ Thăng phu nhân đỡ dậy rồi cười mà bảo:
- Nếu vậy thì phu quân ngồi trong phòng này, để tôi sang nói chuyện với nàng. Đợi tôi về đây, bấy giờ phu quân hãy đi, phu quân chớ theo sang làm chi cho phiền.
Tần Sĩ Thăng nói:
- Vâng! Vâng! Tôi xin ngồi đây!
Tần Sĩ Thăng phu nhân sẽ dặn hai con nữ tỳ phải chực luôn tại trong phòng, không được đi đâu, rồi thủng thỉnh bước sang tây lầu để cùng nàng Hạng Ngọc Thanh nói chuyện. Nàng Hạng Ngọc Thanh đứng dậy chào rồi nói:
- Phu nhân ơi! Chẳng hay quan Tần học sĩ dạy thế nào?
Tần Sĩ Thăng phu nhân xua tay bảo nói nhỏ, rồi ngồi xuống ghế, có ý buồn rầu mà rằng:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Chủ ý của nàng, có lẽ không thể chậm được. Cứ như theo kế nàng nghĩ thì giữ được trong sạch danh giá, nhưng nàng đi chuyến này, khó lòng cho được sinh toàn. Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Tôi nỡ lòng mà để nàng tự nhiên vô cố phải dẫn thân đến chỗ chết. Tôi không ngờ rằng phu quân tôi lại bất nghĩa đến như thế!...
Tần Sĩ Thăng phu nhân nói đến sự thương tâm ấy, hai hàng nước mắt lại lã chã tuôn rơi. Nàng Hạng Ngọc Thanh nghe nói, liền quì xuống đất, rồi lại nức nở mà thưa rằng:
-Phu nhân ơi! Xin phu nhân đừng nghĩ chi đến tôi nữa. Tôi đội ơn sâu của phu nhân, vẫn tưởng có ngày báo đáp, ai ngờ hai chữ “bạc mệnh” cứ khư khư buộc mãi lấy người hồng nhan. Tôi đi chuyến này, vị tất đã được trùng phùng, vậy phu nhân nên giữ ngọc gìn vàng, tôi xin chúc cho phu nhân chóng sinh quý tử.
Tần Sĩ Thăng phu nhân khóc mà bảo rằng:
- Phu quân tôi lòng lang dạ thú đã lâu, tôi nói ra càng thêm hổ thẹn. Tôi để nàng đi thế này, dẫu là vì nàng, mà thực cũng là vì nhà tôi đó. Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Sau này nàng được gặp Hùng vương, cũng chớ nói chi đến chuyện ấy, một là giữ cho toàn nghĩa của vợ chồng tôi, hai là nàng cũng được tiết sạch giá trong vậy. Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Nơi ngục thất nhiều bề khổ sở, tôi nghĩ bao nhiêu lại thương nàng bấy nhiêu. Đường đi tất nàng cũng không thuộc, để tôi sẽ cho một tên người nhà dẫn lối giúp nàng. Y phục tư trang, nàng hãy để đây, khi vào ngục thất rồi, sau tôi sẽ sai người đưa đến.
Tần Sĩ Thăng phu nhân lại khẽ bảo nàng rằng:
- Hôm nay tôi đặt một tiệc rượu, đổ cho phu quân tôi thật say, rồi sang canh ba, tôi sẽ tới đay đưa nàng đi trốn.
Nàng Hạng Ngọc Thanh khóc mà thưa rằng:
- Đã đành tôi trốn thoát được, nhưng đến khi quan Tần học sĩ tỉnh rượu, tất thế nào cũng quở trách phu nhân, chi bằng để tôi vô bẩm rõ với người, nếu người không cho thì tôi xin liều mình tự tử.
Tần Sĩ Thăng phu nhân xua tay mà bảo rằng:
- Không nên! Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Nếu nàng nói rõ, tất phu quân cũng không dám cưỡng bách, nhưng tôi thường thấy phu quân tôi vẫn nói: “Hiện nay họ tôn thất có Đồ Man Hưng Phục quyền thế lừng lẫy, mà hắn lại hiếu sắc, nếu ta đem nàng Hạng Ngọc Thanh dâng hắn thì chẳng bao lâu sẽ được quan to, chỉ vì nghĩa bạn bè cho nên không nỡ. Nay nàng Hạng Ngọc Thanh thuận về với ta, cũng là theo lời Hùng quốc cữu chứ sao!” Tôi thiết tưởng nếu nàng nói ra mà phu quân tôi đem nàng dâng cho Đồ Man Hưng Phục thì chẳng những nàng chết không được trong sạch, mà lại ai là kẻ giải oan cho nàng. Chi bằng nàng cứ tự ra thú nhận là hơn. Khi nàng đi khỏi rồi thì tôi không phải e sợ chi cả.
Nàng Hạng Ngọc Thanh lạy tạ mà rằng:
- Phu nhân thật là cao kiến, tôi đây nông nổi không nghĩ tới điều ấy.
Tần Sĩ Thăng phu nhân đứng dậy lui ra, truyền cho người nhà sửa soạn bày tiệc để buổi chiều hôm ấy hai vợ chồng cùng nhau uống rượu vui. Khi ăn cơm sáng xong, Tần Sĩ Thăng phu nhân lại vội vàng sai mấy đứa nữ tỳ dọn dẹo tân phòng. Trong phòng trần thiết một cách rất lịch sự: Màn hoa giường chạm, nệm gấm gối thêu, đỉnh trầm khói bay, giá gương bóng lộn, thật là một nơi nhà vàng để sắp sửa tiếp đón con người ngọc vậy. Tần Sĩ Thăng mừng rỡ xiết bao, liền chắp tay vái mà nói với phu nhân rằng:
- Phu nhân vì tôi mà không quản sự tổn phí, tôi nghĩ càng thêm áy náy.
Tần Sĩ Thăng phu nhân cười mà bảo rằng:
- Chẳng qua việc cũng việc nhà, lo là thâm tạ! Chỉ xin phu quân chớ nên có mới nới cũ mà thôi.
Tần Sĩ Thăng cũng cười mà đáp rằng:
- Tôi đây há phải là người vong ân bội nghiã hay sao! Việc kết duyên với nàng Hạng Ngọc Thanh này, chẳng qua là bởi lượng hải hà của phu nhân, nếu phu nhân không hài lòng thì khi nào tôi dám nói đến. Thủy chung việc này đều trông ơn ở phu nhân, thật muôn đời nghìn kiếp, không bao giờ tôi dám quên ơn sâu ấy.
Tần Sĩ Thăng phu nhân cười mà bảo rằng:
- Đừng nói lôi thôi nữa! Chiều tối hôm nay tôi sẽ đặt một tiệc rượu để mừng phu quân về sự mới nạp tiểu tinh. Tôi chúc cho phu quân qua năm sau này sẽ được hát bài thơ “Chung tư” (là 1 bài thơ nói về sự lắm con) vậy.
Tần Sĩ Thăng nói:
- Sao phu nhân lại xa xỉ quá thế! Tôi đây cũng nên có chén rượu nhạt để tạ môi nhân.
Ngày vui ngắn chẳng đầy gang, thấm thoát trời đã gần tối, các nữ tỳ bày tiệc ở trong phòng, hai vợ chồng Tần Sĩ Thăng cùng ngồi uống rượu. Phu nhân vốn là người uống được rượu, chỉ vì thấy Tần Sĩ Thăng động uống rượu vào thì lả lơi trớt nhã, không được nghiêm trang, cho nên từ đó phu nhân chừa không uống một giọt rượu nào cả. Ngày nay vì nàng Hạng Ngọc Thanh mà lại phải rót chén rượu đầy để mời Tần Sĩ Thăng uống.
Tần Sĩ Thăng nói:
- Lạ lắm thay! Tôi không ngờ tửu lượng của phu nhân cũng ghê gớm như thế! Tôi cùng phu nhân kết duyên trong bấy nhiêu năm, chưa hề thấy phu nhân uống một chén rượu, chẳng hay cớ sao hôm nay phu nhân lại vui chén uống nhiều? Xin phu nhân ngỏ ý cho tôi được biết.
Tần Sĩ Thăng phu nhân cười mà đáp rằng:
- Lại còn cớ chi mà lại Chỉ vì cớ ngày mai có mừng tân nhân! Chút thân bồ liễu, chưa biết sau này thế nào, nay muốn cùng phu nhân uống một tiệc rượu thật say, để tỏ lòng hèn mọn này quả không tý gì là ghen tuông vậy.
Tần Sĩ Thăng nghe nói, lại khanh khách cười mà rằng:
-À! Thế ra phu nhân nghĩ như vậy! Nhưng phu nhân cứ yên lòng, tôi đã là người có cầm quyển sách. Vả cũng lạm dự một chiếu trong tòa Hàn Lâm, vậy “Tao khang chi thê bất khả hạ đường (nghĩa là người vợ hàn vi không nên bỏ), khi nào tôi lại quên cho được. Tôi xin phạt phu nhân mười chén rượu về tội dám nghi oan cho tôi.
Nói xong, lại lè nhè mà rằng:
- Phạt! Phạt nên phạt... Tần Sĩ Thăng phu nhân cười, rồi ngoảnh lại bảo nữ tỳ rằng:
- Quan Tần học sĩ đây đã định phạt ta thì con đi lấy một cái chén thật lớn ra đây để ta kính tạ lại.
Bấy giờ phu nhân cứ chén tạc chén thù mãi, làm cho Tần Sĩ Thăng say quá, không thể uống được, đã hai ba lần gọi cơm. Phu nhân lại tủm tỉm cười, rót một chén rượu lớn thật đầy rồi nói với Tần Sĩ Thăng rằng:
- Phu quân ơi! Nếu phu quân quyết không phụ tôi thì xin phu quân uống cạn chén này!
Bấy giờ Tần Sĩ Thăng đã say mèn cả người, chỉ chực ngã xuống, nhưng nghe câu nói ấy, bất đắc dĩ lại phải uống cạn chén đầy. Uống xong liền ngã lăn ra đấy, phu nhân và các nữ tỳ phải vực lên trên giường. Cởi mũ áo giày cho Tần Sĩ Thăng, rồi để nằm đấy. Phu nhân truyền các nữ tỳ cất dọn bàn ăn đi và đuổi người nhà ra ngoài hết cả, khóa chặt cửa lại.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
Đã mang đến Hồi thứ sáu ( A ) rồi đó THD ;

Truyện này nhiều gây ấn hơn Mạnh Lệ Quân đó THD nhỉ? [:D]
0
PHẦN 6B
hồi thứ 6b

Tần Sĩ Thăng phu nhân gọi một tên lão bộc họ Từ đến mà bảo rằng:
- Nhà ngươi mau mau đưa nàng Hạng Ngọc Thanh tới cửa Tam Pháp, rồi nhà ngươi đợi đấy, chờ xem tin tức thế nào sẽ về báo cho ta biết.
Tên lão xương đầu họ Từ vâng dạ, rồi theo Tần Sĩ Thăng phu nhân đi sang tây lầu. Nàng Hạng Ngọc Thanh gạt nước mắt mà hỏi rằng:
- Phu nhân ơi! Chẳng hay quan Tần học sĩ đã say rượu ngủ yên chưa? Tôi nghe bây giờ trống điểm canh tư rồi.
Tần Sĩ Thăng phu nhân nói:
- Bây giờ đi thì vừa, nếu để đến trời sáng không tiện.
Nàng Hạng Ngọc Thanh sụp xuống lạy tạ. Tần Sĩ Thăng phu nhân cầm lấy tay dặn dò mấy câu, hai hàng nước mắt chảy ròng ròng. Phu nhân nói:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Hai ta tương biệt chưa biết bao giờ mới lại trùng phùng, vậy tôi xin chúc cho nàng được những sự tốt lành vui vẻ. Đóa hoa khi nở khi rụng, người ta tất phải có lúc biệt ly. Hai ta sum họp trong nửa năm nay, thật coi nhau như chị em ruột thịt, ngày nay tôi khôn cầm giọt lệ để tiễn chân nàng. Nàng nên gắn chí bền lòng, chớ thấy khó khăn mà biến đổi. Tôi đây kính lòng trinh bạch của nàng, cho nên mong nàng giữ được tiết sạch giá trong vậy.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói:
- Mấy lời vàng ngọc tôi xin tạc dạ, quyết không bao giờ dám để phụ lòng phu nhân.
Hai người nhìn nhau cùng khóc, dùng dằng chưa nỡ rời tay, thì tên lão bộc dứng ngoài đã lên tiếng giục giã. Tần Sĩ Thăng phu nhân đưa nàng ra khỏi mái tường, rồi tên lão xương đầu kia tay xách lồng đèn nhỏ, dẫn đường cho nàng đi. Khi nàng đi xa rồi, Tần Sĩ Thăng phu nhân mới quay vào trong phòng, ngồi ngẩn người ra mà nghĩ. Nghĩ thầm:
- Hôm nay thật là nàng Hạng Ngọc Thanh tự dẫn thân đến chỗ chết, mà ta đã đi đưa đám nàng về đây!
Phu nhân càng nghĩ bao nhiêu, lại càng căm tức thay cho phu quân một người bất nghĩa. Phu nhân đang ngồi ngẫm nghĩ thì bỗng nghe tiếng Tần Sĩ Thăng trong màn gọi mà hỏi rằng:
- Phu nhân! Sao phu nhân hôm nay dậy sớm thế này?
Tần Sĩ Thăng vừa nói vừa trở dậy, vén màn bước ra, trông thấy phu nhân nét mặt hầm hầm, đôi lông mày cau lại, có ý tức giận. Tần Sĩ Thăng chẳng còn hồn vía nào nữa, liền hỏi:
- Phu nhân ơi! Chẳng hay có việc chi mà phu nhân lại ra ý tức giận như thế?
Phu nhân thấy Tần Sĩ Thăng hỏi, tức khắc đứng dậy túm lấy vạt áo, rồi nói:
- Hay cho phu quân! Bây giờ tôi mới biết là phu quân lừa tôi. Phu quân mau mau theo tôi vào triều, việc này tôi phải tâu thánh thượng mới được!
Nói xong, liền khóc òa, rồi đập đầu dậm chân, làm rất ghê gớm! Bấy giờ Tần Sĩ Thăng kinh sợ, vội hỏi:
- Quái lạ! Sự tình đầu đuôi thế nào? Phu nhân nói cho tôi nghe. Tôi có điều gì dám lừa dối phu nhân đâu, sao tự nhiên vô cớ phu nhân lại đặt để ra như vậy.
Tần Sĩ Thăng phu nhân cứ nổi tam bành lên rồi nói:
- Phu quân lại còn chối đó, phải không! Đêm qua phu quân ngủ rồi, nàng Hạng Ngọc Thanh có thuật chuyện cho tôi nghe, số là ngày trước phu quân đã hứa với nàng rằng nếu Hùng quốc cữu không lấy thì phu quân lấy nàng làm chánh thất rồi sắc phong sẽ xin cho nàng, còn tôi thì đuổi về quê nhà. Ngày nay nàng nhất định đòi lấy sắc phong, nếu không được sắc phong thì nàng quyết không thuận. Nàng lại nói đã cam chịu khổ trong nửa năm trời, để chờ Hùng quốc cữu cho được phú quý, bây giờ đã được phú quý thì quyết cũng không chịu làm bạn với một ông quan thanh đạm như ai. Nàng nói nhiều câu khiến cho tôi phải tức mà chết. Trời ơi! Ai ngờ phu quân lại lòng lang dạ thú, định lừa dối tôi như thế! Phu quân vì tính hiếu sắc mà đem một người mỹ nữ về, bắt tôi phải cung cấp như thờ bà mẹ chồng trong nửa năm nay. Ngày nay lại trang thần lộng quỷ, giả cách nói là sợ tai vạ, để nghiễm nhiên được hưởng phú quý phong lưu, mà tình phụ tôi là một người vợ đã kết tóc cùng nhau từ thuở còn nhỏ. Tôi vẫn tưởng phu quân là một người biết trọng trinh tiết! Tôi vẫn tưởng phu quân là một người đã dự ngôi trong tòa Hàn Lâm, tất phải biết trọng phẩm giá! Không ngờ phu quân lại táng lương tâm mà định bỏcon vợ tào khang này! Phu quân không nhớ những lúc hàn vi, từ khi tôi mới bước chân về nhà này, dậy sớm thức khuya, bữa rau bữa cháo, thế mà tôi vẫn thắt lưng buộc bụng, cố lần hồi cho phu quân được yên thân mà chăm việc sách đèn. Cũng mong rằng mai sau phú quý phụ vinh, một giải đồng tâm, cùng nhau gắn bó cho đến khi đầu bạc. Ai ngờ ngày nay phu quân mới được hiển đạt đã toan vợ nọ vợ kia. Tôi hỏi phu quân: đã đành tôi chưa có con là phạm một trong điều lệ “Thất xuất”, nhưng phu quân há lại không biết rằng một người vợ đã từng chịu tang cha mẹ chồng thì không bao giờ đáng kể vào lệ ấy được! Một tay tôi đã từng lo lắng công to việc lớn cho nhà phu quân, trong đạo làm dâu và làm vợ, thật tôi không hề trễ biếng chút nào. Tôi đã vì cớ hiếm muộn, khuyên phu quân mua thiếp thì phu quân lại nói là không muốn chia lòng riênt tây, đợi khi tôi bốn mươi tuổi rồi mà chưa sinh nở gì, bấy giờ vườn sẽ thêm hoa, cũng chẳng lấy chi làm muộn. Ngày nay tôi mới biết toàn là những câu lừa dối, thế mà tôi cứ mơ màng trong giấc chiêm bao.
Phu nhân vừa nói vừa khóc, khóc đến nỗi vạt áo bào của Tần Sĩ Thăng cũng ướt dầm. Tần Sĩ Thăng muốn cãi lại mà cãi không kịp miệng. Lại thấy phu nhân dọa tâu thánh thượng thì cũng lo thêm tội vào mình, bất đắc dĩ phải tìm lời ngọt ngào để khuyên giải cho yên chuyện. Bấy giờ Tần Sĩ Thăng đỡ phu nhân dậy, rồi thay bộ áo ướt cho phu nhân, và nói:
- Phu nhân ơi! Không biết tự ai bịa ra câu chuyện này. Tôi biết thế này thì thật cát vàng tôi cũng không đem nàng Hạng Ngọc Thanh về. Chẳng qua tôi lầm mà mến nhan sắc của nàng, để khiến cho phu nhân tức giận, nhưng còn câu bảo rằng tôi muốn bỏ phu nhân mà lấy nàng làm chính thất thì quả tôi không nói bao giờ. Nàng Hạng Ngọc Thanh khéo vu oan cho tôi, chứ tôi đây khi nào dám như thế. Xin phu nhân bớt giận, hãy nghe tôi nói một lời: Tôi cùng phu nhân lấy nhau từ khi hãy còn bần tiện, cho đến ngày nay, thật vẫn thủy chung một lòng kính yêu. Tôi đã biết cầm quyển sách vào tay, há phải là phường quên ơn bội nghĩa. Nếu phu nhân không tin lời tôi nói thì xin gọi nàng Hạng Ngọc Thanh ra đây để đối chất cùng tôi.
Phu nhân lại nổi giận mà bảo Tần Sĩ Thăng rằng:
- Tôi còn chứa ở nhà này làm gì nữa! Tôi đuổi nó bước rồi. từ nay tôi cũng đâm liều chẳng cần giữ thể diện chi cả. Bây giờ phu nhân phải theo tôi đến cửa Ngọ Môn, để tôi được giải oan.
Phu nhân nói xong lại túm áo Tần Sĩ Thăng mà rằng:
- Việc này thế nào tôi cũng phải tâu thánh thượng!
Tần Sĩ Thăng nghe nói, mặt tái mét đi, ngẫm nghĩ một chút rồi nói:
- Phu nhân ơi! Phu nhân hại tôi rồi. Nàng Hạng Ngọc Thanh bị đuổi,. chắc nàng tức giận mà đầu đơn kiện tôi, bấy giờ tôi mang tiếng là kẻ cưỡng bách một người trong đảng phản nghịch để làm tiểu thiếp, còn ra thế nào.
Tần Sĩ Thăng vừa nói vừa giậm chân mà phàn nàn rằng:
- Việc này thật là phu nhân hung ác quá, không định hại tôi mà thành ra hại tôi. Tôi vẫn tưởng nhờ lượng hải hà của phu nhân cho được một nhà sum họp, trước là khiến nàng lo chỗ nương tựa, sau là nhà ta tránh khỏi tai ương. Bây giờ xảy ra cớ sự này, thật tôi không còn mặt mũi nào mà trông thấy ai nữa! Phu nhân hại tôi...
Tần Sĩ Thăng nói xong, lại khóc òa lên mà rằng:
- Trời ơi! Chẳng qua vhỉ vì tôi ham sắc, đến nỗi thế này!
Bấy giờ Tần Sĩ Thăng nằm lăn ra giường, vừa khóc vừa nói:
- Tôi đành nằm đây mà đợi thánh chỉ đến bắt.
Phu nhân cứ mặc, không đến khuyên giải, lại đứng dậy trang điểm, truyền các nữ tỳ thu xếp đồ đạc trong nhà và nấu cơm ăn. Phu nhân nói:
- Ta nên ăn cơm cho no, kẻo chẳng bao lâu có thánh chỉ đến bắt.
Khi người nhà dọn cơm, phu nhân kéo Tần Sĩ Thăng dậy, bắt phải cùng ăn cơm vào bảo rằng:
- Tôi cùng phu quân vĩnh quyết là ngày hôm nay!
Tần Sĩ Thăng không chịu dậy, xua tay mà bảo rằng:
- Thôi phu nhân đừng ân cần hão nữa! Phu nhân nỡ lòng nào mà hại danh giá của tôi. Bây giờ tôi mới biết phu nhân là một hiền nội trợ... Tôi chết đã vậy, nhưng xót thương thay cho phu nhân sau này song le chiếc bóng, họ hàng vắng vẻ biết lấy ai mà nương tựa sớm khuya. Phu nhân tức giận trong một thời, mà khiến cho hai họ Tần và Trương này phải bại hoại danh giá.
Tần Sĩ Thăng vừa nói vừa khóc, hai hàng nước mắt lã chã tuôn rơi, rồi nằm thi thủi ngủ. Phu nhân nghĩ cũng thương tình, nhưng định để cho chàng hãy ngủ một giấc, liệu chừng nàng Hạng Ngọc Thanh đã vào Tam pháp rồi, bấy giờ sẽ hay. Phu nhân vẫn giả cách hầm hầm nổi giận, cứ đập bàn đập ghế mà mắng Tần Sĩ Thăng là kẻ bạc tình.
Lại nói chuyện nàng Hạng Ngọc Thanh đêm hôm ấy lủi thủi đi theo tên lão bộc, vừa đi vừa khóc. Tên lão bộc nói:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Nàng nên rảo bước đi mau kẻo trời sáng rõ thì nhiều điều không tiện. Khi đi tới đấy, hễ thấy xe ngựa các quan tiến triều, cứ kêu to lên, tự khắc quan phải hỏi.
Nàng Hạng Ngọc Thanh gật đầu, tay gạt nước mắt. Khi đi đến Ngọ Môn, trông thấy trước cửa thành cao lớn, có một dãy ngựa xe. Chỗ nọ mấy toán thị vệm mũ mao lông gà; chỗ kia mấy vị triều thần, đai vàng hốt bạc. Ông thì hình dung cổ quái, ông thì mặt mũi khôi ngô. Người đến dẫu đông, nhưng có vẻ rất nghiêm trang, ai nấy ngậm tăm, bốn mặt im phăng phắc. Bấy giờ nàng Hạng Ngọc Thanh nghĩ lại ghê sợ ngẫn người ra. Tên lão bộc lại giục nàng mà rằng:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Nàng cứ sấn đến mà kêu, kẻo chậm một nhátt, trống gióng chuông hồi thì các quan vào triều hết. Tôi xin đứng chực ngoài này để đơi nghe tin nàng. Nói xong, tức khắc đứng nép tại một bên cửa cấm. Nàng Hạng Ngọc Thanh run sợ, hai chân luống cuống, mồ hôi toát dầm. Sau nàng bỗng nổi giận mà nghĩ thầm rằng: Hạng Ngọc Thanh ơi! Hạng Ngọc Thanh ơi! Cớ chi hôm nay ngươi lại biến tâm mà rụt rè không dám bước bạo. Nếu ngươi đổi ý, lại chẳng uổng phụ tấm lòng hào hiệp của Hùng quốc cữu lắm ru. Nàng Hạng Ngọc Thanh nghĩ vậy, liền cau mày nghiến răng bước rảo mấy bước, tiến thẳng vào trước cửa thành. Quân thị vệ hai bên quát to lên mà rằng:
- Con mụ nào thế kia, dám cả gan tiến vào cửa cấm!
Chúng vừa quát mắng thì bỗng có một cỗ xe đi đến. Người ngồi trên xe tức là một vị tôn thất Tề vương. Bấy giờ nàng Hạng Ngọc Thanh gót sen rón rén quì ở ngang đường mà bẩm rằng:
- Tiện nữ nay có một việc muốn xin đại vương rủ lòng thương mà soi xét cho.
Các quân thị vệ đều tuốt gươm ra, quát to lên rằng:
- Quái lạ! Con mụ nào dám cả gan ngăn trở loan nghi như thế! Nhà ngươi muốn kêu việc gì thì đã có các nha môn, đức đại vương đây khi nào lại xét đến những việc tầm thường nhỏ nhặt.
Nàng Hạng Ngọc Thanh vừa khóc vừa nói:
- Vương hầu tể tướng có trách nhiệm thay quyền thánh thượng soi xét dân tình, tôi thiết tưởng việc gì lại không đáng tội. Huống chi tiện nữ đây lại là phản nghịch trọng tội, muốn nhờ đại vương tâu với thánh thượng cho tiện nữ được tự thú mà xin vào nhà giam.
Các quân thị vệ đều xua đuổi đi ra chỗ khác:
Nhà ngươi chớ ngăn trở loan nghi mà để đi lụy đến chúng ta.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nghe nói, liền đứng dậy mà rằng:
- Đại vương đã không xét cho thì tôi cũng chẳng tiếc chi cái thân sống thừa này nữa.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói xong, thò tau vào tay áo, rút một lưỡi dao con ra, toan liều mình tự tử. Các quân thị vệ thấy vậy, vội vàng giật lấy lưỡi dao thì nàng Hạng Ngọc Thanh lăn ra đấy mà khóc. Tề vương truyền dừng xe lại và bảo các thị vệ rằng:
- Các ngươi gọi người con gái ấy đến đây để ta hỏi xem việc chi.
Thị vệ vâng mệnh gọi nàng Hạng Ngọc Thanh lại. Nàng Hạng Ngọc Thanh mừng rỡ, liền gạt nước mắt, rồi theo thị vệ đến gần trước xe, phủ phục xuống đất, không dám ngẩng đầu lên. Tề vương ngẩng nhìn, chỉ thấy hình dung yểu điệu, chứ không hiểu nét mặt xấu đẹp thế nào, mới cất to tiếng mà mắng rằng:
- Nhà ngươi là một người con gái, có việc chi oan uổng, sao không làm giấy kêu các nha môn, mà dám cả gan ngăn đón xe ta. Lại toan liều mình rút dao tự tử, thế thì không thể tha tội được.
Nói xong, truyền thị vệ bắt giải ra pháp ti để nghị tội. Quân sĩ vâng lệnh, trăm miệng dạ ran, kẻ kéo người lôi, bắt nàng đem đi giải nạp. Nàng Hạng Ngọc Thanh lại kêu rầm lên mà rằng:
- Xin đại vương hãy cho tiện nữ được nói một lời dẫu xây chín bậc phù đồ, cũng không phúc bằng.
Tề vương nghe lời, lại truyền bảo các thị vệ rằng:
- Khoan đã! Nếu vậy thì hãy cho được nói một lời, để ta xem oan uổng những thế nào.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói:
- Tôi không có sự gì oan uổng, chỉ vì Hùng vương ngày nay bị tội sắp phải toàn gia tru lục, tiện nữ đây tức là một người tiểu thiếp chưa cưới của trưởng tử Hùng vương tên gọi Hùng Khởi Phượng. Từ khi cùng nhau đính ước vẫn để ở riêng một chỗ tại chốn hương thôn, vậy nên ngày nay tôi mới biết tin, thiết nghĩ không dám trốn tránh lưới trời, tự xin vào nhà giam chứ không hề có phạm tội chi cả.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói xong, nức nở khóc hoài. Tề vương nghĩ thầm:
- Nếu vậy thì đáng khen cho lòng trung nghĩa của Hùng vương cảm hóa được biết bao nhiêu kẻ! Nào ba trăm gia binh xin liều mình theo chết, nào một người tiểu thiếp chưa cưới cũng tự thú nhận chịu giam. Thế thì ta chắc Hùng vương quyết không có lòng phản nghịch. Tề vương nghĩ vậy, liền nói:
-Để ta tâu thánh thượng, có lẽ thánh thượng cũng ban đặc ân mà khoan xá cho nhà ngươi. Nhưng chẳng hay nhà ngươi tên họ là gì, mau mau nói rõ cho ta biết.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói:
- Nguyên tôi là họ Hạng, tên là Ngọc Thanh.
Tề vương gật đầu mà rằng:
- Ngọc khiết băng thanh, hợp mà làm một, nàng thật không hổ thẹn với tên nàng vậy.
Khi vào tới triều đường, Tề vương nói chuyện nàng Hạng Ngọc Thanh cho các quan triều thần nghe. Đồ Man Hưng Phục mỉm cười mà nói với tề vương rằng:
- Việc một người nữ tử, há phải là việc quan trọng, hà tất lại trần tấu.
Nói chưa dứt lời bỗng thấy nội giám Lã Xương ở trong cung ra truyền chỉ cho bãi triều.
Tề vương bất đắc dĩ phải thuật chuyện đầu đuôi việc nàng Hạng Ngọc Thanh cho Lã Xương nghe. Lã Xương nghe nói, cũng khen ngợi mà rằng:
- Nếu vậy để tôi xin thay đại vương mà tâu thánh thượng.
Lại nói chuyện Phi Giao hoàng hậu ở trong cung, từ khi bị thái hậu quở trách, uy phong giảm bớt đi một vài. Nét mặt lúc nào cũng rầu rĩ, lược không muốn chải, gương chẳng buồn soi, có lúc lại hầm hầm nổi giận, nằm ở trên long sàng mà nức nở khóc. Vua Anh Tôn thấy vậy, phiền não vô cùng, cả ngày chỉ quấn quýt cạnh mình Phi Giao hoàng hậu. Lúc thì thổi ống ngọc địch, vui chuyện mua cười; lúc thì mượn chén kim chi, làm phương giải muộn. Vì thế đã lâu không ra ngự triều. Phi Giao hoàng hậu nghĩ thầm: “Bây giờ ta chỉ ước gì cho thái hậu ốm nằm ở trong cung không dậy được thì ta chẳng còn phải e sợ người nào. Dẫu cha mẹ ta tới đây, ta cũng không ngại. Ta chỉ cốt làm sao cho quyền chính về một tay ta, bấy giờ họ Hùng kia ta quyết phải tru lục. Nhưng trước hết ta hãy nên thi ân mua chuộc lấy lòng người.
Phi Giao hoàng hậu nghĩ vậy, mới tăng lương cho các quân hộ vệ, phong Đồ Man Định Quốc và Đồ Man An Quốc là tả, hữu long võ tướng quân, để coi giữ ở trong cấm viện, lại tuyển trong các cung nữ, chọn riêng lấy ba mươi sáu người toàn là những người nhan sắc nghiêng thành nghiêng nước, chia ra làm ba mươi sáu cung, mỗi cung lại tuyển mười hai tên vũ nữ, y phục đều một sắc. Trong ngự viện có lập một toà đại điện gọi là Vạn Thọ điện, mỗi khi thiên tử và hoàng hậu ngự ra chơi đấy thì các cung phi phải đem vũ nữ ra múa hát, thật là cuộc vui hiếm có vậy. Vua Anh Tôn say đắm về các cung phi, chẳng thiết chi đến quốc chính, Phi Giao hoàng hậu tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Bệ hạ chớ lo nghĩ chi đến quốc chính cho thêm nhọc lòng, đã có thần thiếp xin vất vả lo tất cả.
Vua Anh Tôn vốn lười biếng, nay lại đam mê tửu sắc, chỉ muốn làm một vị quân chủ ở trong đội Đào hoa (tức là mỹ nhân), bởi vậy nghe lời Phi Giao hoàng hậu tâu thì vui lòng mà ưng thuận ngay. Từ đó bao nhiêu bản tâu, quyền xét đoán đều ở một tay Phi Giao hoàng hậu cả.
Lại nói chuyện Hùng hậu từ khi được thái hậu đem về cung, thuốc thang tẩm bổ thì tinh thần dần dần phục hồi, không đến nỗi mặt xanh người võ như xưa, mà ai hỏi câu gì đã biết trả lời, không phải là người ngây dại nữa. Còn thái hậu nghĩ vừa tức giận lại vừa hổ thẹn, bệnh trạng mỗi ngày một nặng, nằm liệt ở trên long sàng. Bấy giờ Gia Tường công chúa sắp đến kỳ lâm sản, mà long thai của Hùng hậu cũng đã gần tới tuần khai hoa. Triệu Lân chỉ sợ Phi Giao hoàng hậu biết chuyện, mới giả cách viết đơn thuốc đưa cho nội giám Lăng Mậu cầm vào dâng thái hậu. Thái hậu mở ra xem thì thấy mấy hàng như sau này:

“Kỵ đô úy kiêm chức thái y là Hoàng Phủ Triệu Lân xin cúi tâu để thái hậu xét. Kẻ hạ thần xem mạch tả cung hoàng hậu thì long thai vô ngại, sắp tới tuần khai hoa. Nếu nay sinh hạ hoàng nam, tất thế nào hữu hoàng hậu cũng hỏi đến. Ngày nay thánh thượng đam mê tửu sắc, quyền về hữu cung, mà thái hậu ngọc thể chưa an, biết lấy ai làm bảo hộ. Vậy kẻ hạ thần thiết nghĩ: Hễ khi Hùng hậu lâm sản, chớ có truyền gọi uẩn bà, chỉ nên dùng bảo mẫu đem hoàng tử đặt nằm tại trong giỏ thuốc, rồi một mặt truyền gọi kẻ hạ thần vào xem mạch thái hậu, để kẻ hạ thần đưa ra giao cho Gia Tường công chúa. Nếu sợ hoàng tử khóc thì xin đệm bông xung quanh và lấy đường bỏ vào miệng, tự khắc hoàng tử nín khóc. Việc này xin thái hậu nhẫn nại mà giữ kín cho, kẻo tuyên tiết ra thì chẳng những hoàng tử không bảo an, mà kẻ hạ thần cùng cha mẹ kẻ hạ thần đều khó toàn được tính mệnh.
“Khí số dẫu gặp tai ách, nhưng ta khéo lựa chiều bổ cứu, may ra cũng hồi được thiên tâm, tất có một ngày kia thượng hoàng về nước, thiên tử chuyển lòng, chỉ thương xót riêng cho nhà Hoàng Phủ xiết bao nỗi thảm sầu vậy. Kẻ hạ thần tận trung báo quốc ở một việc này, còn mưu kế khác thì bây giờ chưa có thể thi hành được. Khi nào Hùng hậu lâm sản rồi, kẻ hạ thần xin dâng một tể thuốc “An thần định phách” sẽ giữ được sức khỏe như thường. Bấy giờ thái hậu truyền chỉ báo với thiên tử là Hùng hậu sing được một cục máu, cũng không cho về tả cung nữa, cử ở đây để hầu hạ thái hậu mằ thôi. Kẻ hạ thần nghĩ đã kỹ lắm, xin thái hậu lưu bảng tâu này, để khi thượng hoàng về cung, biết cho cha con kẻ hạ thần không phải là phường bất trung hại nước. Cẩn tấu”.


Thái hậu xem xong, lẩm nhẩm gật đầu mà nghĩ thầm rằng:
- Ừ! Cái kế này cũng vạn toàn thật! Thái hậu lại mật bảo cho bảo mẫu biết, bảo mẫu cũng khen ngợi lấy làm diệu kế. Từ đó trong cung đã sửa soạn sẵn, chỉ đợi đến ngày hoàng tử giáng sinh. vừa gặp tiết đoan ngọ ngày năm tháng năm, Hùng hậu bỗng ứa nước mắt khóc, bảo bảo mẫu rằng:
- Hôm nay ta thấy trong lòng quặn đau, ngồi không yên mà ngủ cũng không được. Mụ nên xoa đỡ cho ta.
Bảo mẫu biết là Hùng hậu sắp lâm sản, tâu với thái hậu. Thái hậu giả cách truyền chỉ là nhân vì có bệnh lâu ngày, mọi người trong cung hết sức chăm chỉ hầu hạ, vậy đặt một tiệc rượu để thưởng công. Các cung nữ và các nội giám ai nấy đều vui mừng uống rượu, say mê chẳng biết chi cả. Trong cung đang vui mừng tiết đoan ngọ thì bỗng đâu trên không mây kéo tối rầm, một tiếng sấm vang, trời đổ mưa như trút. Bấy giờ tiệc xong, chén đĩa ngổn ngang, các cung nữ và các nội giám mỗi người đi ẩn núp một nơi. Vừa lúc ấy Hùng hậu ở trong cung đã sinh hoàng tử, nhưng đau đớn quá độ, hai tên cung nữ vực lên giường, liền ngủ thiếp đi. Bảo mẫu đã sắp sẵn một cái giỏ, trong đệm bông nõn, đặt hoàng tử nằm vào đấy, bỏ đường vào miệng, rồi lấy một vài vị thuốc giải rắr ở trên. Bảo mẫu báo cho thái hậu biết, thái hậu gưọng dậy trong mặt hoàng tử, ruột đau như cắt, ứa hai hàng nước mắt khóc mà than rằng:
- Trời ơi! Một đứa hài nhi mới lọt lòng mẹ, đã tội tình gì mà gặp bước gian nan này. Thương xót thay! Một bà hoàng hậu hạ sinh hoàng tử, mà không bằng một nhà thường dân lại còn kẻ thăm người mừng. Ta trông tướng mạo đứa hài nhi này, thật đáng một vị thái bình thiên tử, thế mà không biết cớ sao xấu duyên hẩm phận mới oe tiếng khóc đã phải ly biệt mẫu thân.
Thái hậu nghoảnh lại bảo bảo mẫu rằng:
- Mụ đưa cái vạt áo của Hùng hậu ra đây để ta đề một bài thơ, đến khi thượng hoàng về cung, hoặc giả ta có tạ thế rồi thì đem hoàng tử và bài thơ này ra để trình nghiệm.
Các cung nữ đem bút mực đến, thái hậu đề một bài thơ:

“Nước nhà gặp lúc biến
Số mệnh cũng lạ thường
Đặt nằm trong giỏ thuốc
Ngẫm nghĩ càng thêm thương
Giang san lời khấn nguyện
Cốt nhục mối tình vương
Báo phục cơ trời định
Công tội hẳn tương đương”


Đề xong, hai hàng nước mắt ròng ròng, càng nghĩ càng thêm đau ruột. Các cung nữ xúm lại khuyên giải, còn bảo mẫu thì xách giỏ thuốc đem ra. Bấy giờ Triệu Lân đứng trực ở ngoài, khi trông thấy bảo mẫu, liền hiểu ý ngay, đỡ lấy giỏ thuốc đem đi, không cần phải hỏi han lôi thôi chi cả. Khi ấy trời vẫn sấm chớp ầm ầm, mưa như đổ nước, Triệu Lân ướt đầm từ đầu đến cuối, nhưng chỉ mừng thầm rằng may sao trong cung không gặp một ai.
Đi được một quãng, bỗng gặp mấy viên nội giám. Chúng thấy lạ liền hỏi. Triệu Lân cười mà đáp rằng:
- Tôi phụng mệnh thái hậu định chế một tễ thuốc bổ vào giờ ngọ hôm nay, đang chế chưa xong. Lại được tin Gia Tường công chúa lâm sản, cho nên thái hậu bảo tôi phải tức khắc ra về, và đem giỏ thuốc này về để chế cho xong, đến mai dâng cho thái hậu.
Trong bọn có một tên tiểu nội giám cười mà nói rằng:
- Giỏ thuốc này, tôi xin mang hầu quốc cữu.
Triệu Lân nói:
- Thôi được, để tôi mang lấy!
Chúng đều quay đi, Triệu Lân lại cắm đầu rảo bước. Vừa đi vừa sợ, chi lo hoàng tử oe tiếng khóc mà lỡ gặp ai thì thật là nguy hiểm đến tính mệnh. Khi ra tới cửa cung, bỗng thấy một cái kiệu chung quanh có áo tơi che kín. Quân sĩ cầm giáo đi hầu hai bên. Trong kiệu có một vị đậi tướng quân, trông mặt đã ngà ngà say rượu. Triệu Lân chẳng còn hồn vía nào cả, cứ liều đánh bạo, tay xách giỏ thuốc, miệng gọi:
- Đồ Man tướng quân ơi!
Đồ Man Định Quốc trông thấy, vội vàng đứng lại hỏi:
- Trời đang mưa to, quốc cữu đi đâu mà vội thế?
Triệu Lân nói:
Xin tướng quân sai người tới Ngọ Môn gọi giúp mấy tên người nhà tôi đem kiệu tới đây đón. Trong giỏ này có tể thuốc của thái hậu, đang chế chưa xong, nhân có việc cần, nên phải đem về để chế nốt.
Đồ Man Định Quốc nói:
- Tôi sẵn có kiệu đi mưa này, xin nhường để quốc cữu về phủ.
Triệu Lân nói:
- Nếu vậy thì còn gì hơn nữa, xin đa tạ tướng quân.
Đồ Man Định Quốc vào dinh, rồi nhường kiệu cho Triệu Lân đi, lại mời Triệu Lân vào dinh thay đổi mũ áo, Triệu Lân nói:
- Thôi bất tất! Đa tạ thịnh tình của tướng quân, hôm nào thư thả, xin đến bái yết.
Triệu Lân lên kiệu đi ngay. Sau Đồ Man Định Quốc cưỡi ngựa về nhà, đem việc gặp Triệu Lân vừa rồi thuật cho thân phụ là Đồ Man Hưng Phục nghe.
Đồ Man Hưng Phục nói:
- Định Quốc con ơi! Trong triều ta hôm nay có một việc này: Cao Ly nữ chủ là nàng Hạng Nam Kim dâng biểu xin lưu Hùng Khởi Phượng ở lại để dạy ngôi thế tử, và Doãn Thượng Khanh ở lại để tu bổ quốc sử Cao Ly. Ta nghe lấy làm mừng. Nhưng việc này các quan đại thần còn can gián, không thuận theo lời Nam Kim, ta lại cần phải nói với Mã Thuận, để nhờ hắn tâu Phi Giao hoàng hậu cho hai người ấy lưu tại Cao Ly trong mấy năm. Còn việc hôm nay con gặp Triệu Lân, sao con không xem trong giỏ thuốc, ta chỉ e rằng Hùng hậu sinh hoàng tử mà đặt nằm ở trong giỏ thuốc chăng. Nếu không thì cớ chi lại dãi gió dầm mưa mà đi vội như thế.
Đồ Man Định Quốc nói:
- Thân phụ chớ nên đa nghi. Triệu Lân vốn tính ôn hòa, ra vào trong cung, vẫn cùng con thân mật, không giống như cha con họ Hùng kiêu ngạo lạ thường. Cha con họ Hùng hễ trông thấy con là gọi tên xách mé, chứ Triệu Lân thì bao giờ trông thấy cũng chắp tay vái chào, mà một điều “tướng quân”; hai điều “tướng quân”. Cười nói ngọt ngào, không bao giờ dám lên mặt hoàng thân quốc cữu. Vả hắn là em ruột Phi Giao hoàng hậu, khi nào lại vì Hùng hậu mà làm những việc nguy nan.
Bỗng nghe báo có nội giám Mã Thuận đến. Đồ Man Hưng Phục vội vàng ra nghênh tiếp, Mã Thuận nói:
- Quan thừa tướng đã biết việc nàng Hạng Ngọc Thanh tự xin vào nhà giam chưa? Hôm nay đã giam nàng vào ngục thất rồi. Chỉ sợ để lâu không đem chém gia quyến họ Hùng thì hoặc giả lại sinh biến cố.
Hai người đang ngồi nói chuyện thì có Đồ Man An Quốc vào. Bấy giờ Đồ Man Hưng Phục lại nói với Mã Thuận rằng:
- Ngày nay sứ thần Cao Ly sắp về, chẳng biết chủ ý Phi Giao hoàng hậu nghĩ thế nào.
Mã Thuận cười mà bảo rằng:
- Hữu cung hoàng hậu đã tâu thánh thượng là Hùng Khởi Phượng con nhà phản nghịch, chớ nên lưu lại Cao Ly mà lại gây vạ về sau. Nhưng nay không nên nói rõ ra vội, hãy tạm phê chuẩn cho hắn cùng Doãn Thượng Khanh ở Cao Ly trong ba năm, như thế thì thật “Nhất cữ lưỡng đắc” vậy.
Cha con Đồ Man Hưng Phục mừng rỡ mà rằng:
- Nếu thế thì còn gì vui sướng cho bằng.
Lại nói chuyện quân thị vệ giải nàng Hạng Ngọc Thanh vào ngục thất, gọi thủ ngục quan mà bảo rằng:
- Có một người con gái trong đảng phản nghịch tên gọi Hạng Ngọc Thanh tự nguyện và nhà giam. Tề vương truyền cho giam chung ở chỗ Hùng vương, và cấm thủ ngục quan không được tàn ngược, vì nàng là một người con gái tiết nghĩa song toàn vậy.
Thủ ngục quan vâng lệnh, nàng Hạng Ngọc Thanh theo thủ ngục quan vào trong ngục. Tối tăm lạnh lẽo, âm khí nặng nề, bốn mặt xa nghe ti tỉ tiếng khóc, thật là một nơi hắc ám địa ngục vậy. Nàng Hạng Ngọc Thanh trong lòng ngẫm nghĩ, xiết bao những nỗi thảm sầu. Thủ ngục quan bảo nàng Hạng Ngọc Thanh rằng:
- Nàng đã vào đây, nên phải biết quý lệ trong ngục thất.


về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
PHẦN 6C
phần 6c
Nàng Hạng Ngọc Thanh hiểu ý thò tay vào trong mình lấy ra hai gói bạc vụn trao cho thủ ngục quan. Thủ ngục quan chê ít mà rằng:
- Người ta ở đời ai làm nghề gì, ăn về nghề ấy. Bọn thủ ngục chúng tôi cả thảy mấy mươi người, mà nàng cho hai gói bạc này, còn chia nhau làm sao cho đủ. Nếu không có lệnh Tề vương thì nàng vào đây sẽ phải chịu trăm đường cực khổ. Nàng nên biết rằng hai cánh cửa ngục thất này ai muốn vượt qua, có lý cũng cần phải có tiền. Trung hiếu tiết nghĩa mà làm gì, chúng tôi đây chỉ biết tiền tài là trọng.
Nàng Hạng Ngọc Thanh không biết làm thế nào, bất đắc dĩ phải tháo cành thoa cài trên đầu trao cho bọn ngục tốt. Bấy giờ bọn ngục tốt mới cười ha hả, lại đưa nàng Hạng Ngọc Thanh đi. Đi đến mấy gian nhà thấp lụp xụp, trong có tiếng người đang ti tỉ than khóc, lại có tiếng một cụ già thở dài. Bọn ngục tốt mở cửa, rồi một người bước vào trước, báo cho Hùng vương biết.
Lại nói chuyện Hùng vương ở trong ngục, đang ngồi than thở một mình:
- Hùng Hiệu này đã từng oanh liệt trăm trận nơi chiến trường, ai ngờ ngày nay thui thủi ngồi đây, ba thước cùm lim, mấy làm xiềng sắt, những loài gian nịnh, lại đắc chí mà đem lời mai mỉa. Nếu không được Nguyễn tướng công tâu với thái hậu cho thì thật hồn đã về nơi chín suối. Đồ Man An Quốc là con đứa lão gian,, lại dùng thủ đoạn tàn ngược mà đối với ba trăm gia binh, khiến chúng đã chết đói mất hơn trăm kẻ. Trời ơi! Đó là tội của Hùng Hiệu này đã làm hại bao nhiêu nghĩa sĩ. Ta chỉ cầu trời một chết để rửa cái tội của ta. Tôi chết đã đành, nhưng ta làm di lụy đến hai người thiếu nữ. Một người là con dâu trưởng ta, hiện đang hoài thai, sắp đến kỳ lâm sản, một người là con dâu chưa cưới (trỏ Phi Loan quận chúa), cũng tình nguyện xin chết theo ta. Ước gì thánh thượng rộng ơn mà tha hai người ấy thì ta dẫu chết cũng được hả lòng.
Hùng Hiệu đang than thở thì Vệ Dũng Nga vương phi bỗng chạy đến mà bảo rằng:
- Phu quân ơi! Con dâu trưởng ta đang kêu đau bụng, hình như trở dạ đẻ, bây giờ gọi đâu cho được uẩn bà và lấy ai là người nấu cho lưng cháo. Hay là ta bảo thủ ngục quan nói với Nguyễn tướng công cho. Ngày nay phục dịch dẫu có Phi Loan, nhưng đêm ngày luống những lo phiền, người đã gầy còm chỉ còn một nửa, phỏng có cực không! Phi Giao mày hỡi mày! Mày giết vợ chồng ta đã đành, nhưng sao mày lại không thương đến Phi Giao là tình chị em ruột thịt. Nghĩ cũng nực cười, tôi không ngờ nhà Hoàng Phủ mà bây giờ lại sinh ra như thế!
Hùng Hiệu cũng thở dài mà than:
- Thôi nói làm chi nữa, chẳng qua tội ác tự mình. Nhưng bây giờ nghĩ sao cho có uẩn và, hay là ra gọi ngục tốt vào mà hỏi.
Vừa toan gọi ngục tốt thì bỗng thấy cửa mở sáng bừng, nàng Hạng Ngọc Thanh bước vào, sụp xuống đất lạy. Vợ chồng Hùng Hiệu đều kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Nàng là người ở đâu? Họ tên là gì?
Nàng Hạng Ngọc Thanh ứa nước mắt khóc rồi nói:
- Tên tôi là Hạng Ngọc Thanh thuở bé lưu lạc vào nơi hoa liễu, nhưng tôi quyết chí liều chết không chịu, mụ chủ dùng hết cách tàn ngược mà đối với tôi, may gặp Hùng quốc cữu cò lòng hào hiệp, bỏ nghìn vàng mà chuộc tôi ra, đem gởi tại nhà quan Tần học sĩ. Hùng quốc cữu rộng lượng bảo tôi đi lấy người khác, nhưng tôi đã chịu ơn sâu ấy thì thân này xin quyết một lòng. Tôi muốn đến hầu hạ đã lâu, nhưng sợ Hùng quốc cữu phu nhân nổi giận, cho nên trong nửa năm trời nay vẫn nương náu ở với Tần học sĩ phu nhân. Đến khi nghe Hùng quốc cữu đi sứ Cao Ly lại nghe tin lão gia bị nạn, tôi trộm nghĩ ơn sâu khó báo, đành liều thân này với giải lụa đào. Sau Tần học sĩ phu nhân khuyên tôi nên tự nguyện vào nhà giam, một là được bái kiến vương gia và vương phi; hai là thân danh lưỡng toàn, may ra Hùng quốc cữu phu nhân mở lượng hải hà mà thương cho thì ơn sâu mới có ngày báo đáp được. Vì thế tôi liều mình đến trước Ngọ Môn, nay được bái kiến vương gia và vương phi, thật là vén mây trông tỏ mặt trời vậy.
Hai vợ chồng Hùng Hiệu lẩm nhẩm gật đầu, rồi lại thở dài mà than rằng:
- Nàng nên tính kỹ, kẻo bước chân vào đây chưa biết bao giờ được ra, lại lo sau này tới chốn pháp trường thì uổng phí một đời xuân xanh của nàng vậy.
Nàng Hạng Ngọc Thanh cười mà đáp rằng:
- Ý tôi đã quyết, xin vương gia và vương phi chớ lo ngại. Tôi đến đây là để cầu chết, chứ không cầu sống. Kiếp này đã không được gặp thì xin theo Hùng quốc cữu phu nhân cùng quyết một lòng tử sinh.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói xong lại nức nở khóc, khiến cho vợ chồng Hùng Hiệu là gan anh hùng cũng phải giọt lệ nhủ sa. Hùng Hiệu nói với Vệ Dũng Nga vương phi rằng:
- Nàng đã quyết một lòng thì phu nhân cho nàng vào yết kiến Lương Cẩm Hà.
Vệ Dũng Nga vương phi ngẫm nghĩ một chút rồi nói:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Nàng đã quyết một lòng thì ta xin đem chân tình mà nói với nàng.
Nói xong, liền thuật rõ đầu đuôi câu chuyện Lương Cẩm Hà khi trước vì việc nàng mà nổi ghen cho nàng nghe, và lại bảo rằng:
- Huống chi ngày nay phu nhân đang sắp lâm sản mà nghe tin nàng đến thì chưa biết máu ghen rồi ra thế nào. Chi bằng nàng hãy hàm hồ nói là người nhà Nguyễn tướng công sai vào hầu hạ, đợi khi nào phu nhân mẹ tròn con vuông rồi, bấy giờ sẽ thuật rõ đầu đuôi.
Hùng Hiệu gật đầu mà rằng:
- Ừ! Nói cũng có lẽ! Nhưng con dâu ta vốn tính hiền thảo, há không biết trọng tiết nghĩa hay sao. Sau này ta chắc hai người phải cùng nhau tâm đầu ý hợp. Tiết nghĩa của nàng Hạng Ngọc Thanh này thật là ít có, thế thì ta cũng nên coi nàng như Phi Loan quận chúa vậy.
Vệ Dũng Nga đưa nàng vào yết kiến Lương Cẩm Hà phu nhân. Bấy giờ Lưong Cẩm Hà phu nhân đang kêu đau bụng, khúm núm không ngồi ngay được, hai hàng nước mắt lã chã tuôn rơi. Phi Loan quận chúa cũng run sợ mà mồ hôi toát đầm, miệng gọi:
Cô mẫu ơi, mau mau tới đây!
Vệ Dũng Nga vương phi vội vàng chạy đến thì tã lót không có, luống cuống chẳng biết làm thế nào. Nàng Hạng Ngọc Thanh trông thấy, liền chạy ngay đến, đỡ lấy Lương Cẩm Hà. Lại một mắt cởi áo lụa trong mình ra để làm lót đỡ. Lương Cẩm Hà đau quá bõng nghe tiếng trẻ con oe khóc, nàng Hạng Ngọc Thanh tay cầm cái áo lụa đỡ đón ngay lấy, rồi nói:
- Vương phi ơi! Mừng rỡ xiết bao, đã sinh hạ một công tử đây, thật giống Hùng quốc cữu như đúc!
Phi Loan quận chúa không dám đến gần. Vệ vương phi thì vực con dâu lên giường nằm nghỉ. Bấy giờ nước nóng không có, nệm đắp thì không, nàng Hạng Ngọc Thanh mới trao tiểu công tử cho Vệ Dũng Nga vương phi ẵm, rồi nói:
- Xin vương phi hãy ẵm cháu, để tôi ra nhờ ngục tốt mua mấy thứ cần dùng.
Nói xong, liền mở khăn gói lấy tiền, rồi gót sen thoăn thoắt chạy ra gọi ngục tốt, nhờ mua các thứ. Thế lực đồng tiền cũng thật mạnh, hồi lâu đem vào chẳng thiếu thứ gì. Vệ Dũng Nga vương phi khẽ rỉ tai thuật chuyện nàng Hạng Ngọc Thanh cho Phi Loan quận chúa nghe. Phi Loan quận chúa nói:
- Nếu vậy thì thật là người ít co Tôi xin trọng đãi nàng như hàng chị em.
Nàng Hạng Ngọc Thanh lại đem mấy chiếc áo quần khâu can lại để làm tã lót. Vệ Dũng Nga vương phi và Phi Loan cũng xúm vào khâu. Nàng Hạng Ngọc Thanh nấu nước tắm rửa cho tiểu công tử, rồi lấy lót quấn, trao cho Lương Cẩm Hà phu nhân ẵm. Lại đi bắc nồi cháo, lui cui nhóm bếp, nét mặt phù dung, than bụi lọ lem. Nàng dẫu thông minh, nhưng việc bếp núc chưa từng mó tay đến, thành ra cúi đầu thổi lửa, mồ hôi tầm tả mà lửa không cháy, sau đến Vệ Dũng Nga vương phi và Phi Loan quận chúa cũng đến thổi giúp. Ba người đang luống cuống thì có Phạm lão bà đến.Nguyên Phạm lão bà là mẹ một tên ngục tốt thấy con về nhà nói chuyện nàng Hạng Ngọc Thanh xinh đẹp lạ thường, mới định vào để xem mặt. Không ngờ khi vào tới nơi thì nàng Hạng Ngọc Thanh đang mặt mũi nhọ bẩn, trông như ma lem. Phạm lão bà bạt cười ma bảo rằng:
- Nàng thật là người không quen nấu bếp, để tôi làm giúp cho.
Nói xong, liền vén tay áo mà đun bếp hộ, bấy giờ lửa mới cháy đều. Phạm lão bà vừa đun bếp vừa tỉ tê hỏi chuyện nàng Hạng Ngọc Thanh. Nàng ứa hai hàng nước mắt, kể lể lai lịch cho nghe. Phạm lão bà lại khẽ bảo nàng Hạng Ngọc Thanh rằng:
- Nàng đã biết phu nhân tính nết thế nào mà nay cam lòng hầu hạ, nữa một mai không thể ở được thì há chẳng uổng công khó nhọc lắm ru.
Phạm lão bà nói đến đây thì cháo vừa nấu chín. Nàng Hạng Ngọc Thanh bưng cháo đến cạnh giường Lương Cẩm Hà phu nhân nằm. Bấy giờ phu nhân hai mắt đang nhắm, nét mặt âu sầu, thân thể gầy còm, đầu bù tóc rối. Nàng Hạng Ngọc Thanh trông thấy cũng phải động lòng thương. Phi Loan quận chúa khẽ bảo Lương Cẩm Hà rằng:
- Hiền tẩu ơi! Hiền tẩu hãy gương ăn lưng cháo!
Lương Cẩm Hà thở dài mà than rằng:
- Ở đây lấy đâu ra cháo. Thôi cô nương chớ nên làm phiền lòng vương phi.
Phi Loan quận chúa nói:
- Cháo đã nấu được rồi đây!
Nàng Hạng Ngọc Thanh đưa bát cháo lại, rồi khẽ nói:
- Phu nhân ơi! Xin phu nhân cố gượng mà xơi lưng cháo.
Lương Cẩm Hà phu nhân cầm lấy bát cháo, ăn vào đến đâu tỉnh người đến đấy. Ăn xong tinh thần hồi phục, mới ngoảnh nhìn nàng Hạng Ngọc Thanh mà hỏi rằng:
- Nàng là người ở đâu mà lại bưng cháo đến cho tôi ăn thế này?
Phi Loan quận chúa nói:
- Nàng là người nhà quan Nguyễn tướng công cho vào để phục dịch giúp ta đó.
Lương Cẩm Hà phu nhân nói:
- Quan Nguyễn tướng công có lòng tử tế quá! Khi trước đã cho vợ con giúp thân mẫu tôi đưa linh cữu thân phụ tôi về quê nhà, ơn sâu ấy chưa biết bao giờ tôi đã đền bồi cho được. Ngày nay tôi lâm sản, lại còn cho người đến hầu hạ, thế thì lòng “Cứu lai tuất hoạn” (là giúp người trong khi có tai vạ và thương kẻ hoạn nạn) thật không mấy người bằng. Nhưng người này bảo là nữ tỳ nhà quan Nguyễn tướng công thì vị tất đã phải, vì tôi không trông ra vẻ nữ tỳ. Vả Nguyễn tướng công phu nhân trở về quê nhà, mà tướng công lại không tiểu thiếp thì làm chi có nữ tỳ. Nàng là người ở đâu? Xin cứ nói thực cho tôi được biết.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói:
- Ngưyên tôi đến ở nhà quan Nguyễn tướng công đã lâu, tướng công tôi vẫn coi tôi như con gái, nay nghe tin phu nhân lâm sản, vậy tướng công sai tôi tới đây để hầu hạ sớm khuya.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói dứt lời thì bỗng thấy Vệ Dũng Nga vương phi bước vào mà bảo Lương Cẩm Hà phu nhân rằng:
- Vương gia nghe tin sinh hạ tiểu công tử, rất lấy làm mừng, đang định cầu ân xá cho đứa hài nhi ấy, còn một mình dẫu chết cũng xin cam lòng. Người ta ở đời, cũng thông bĩ thái cũng là lẽ thường, con chớ lấy làm nghĩ. Vả có nàng Hạng Ngọc Thanh đây sớm khuya làm bạn thì con cũng được yên lòng.
Vệ vương phi lại bảo nàng Hạng Ngọc Thanh rằng:
- Nàng cùng Phi Loan quận chúa ngủ chung một giường, còn ta và phu nhân thì cùng nằm với tiểu công tử. Bây giờ Phạm lão bà về rồi, nàng nên dọn dẹp chỗ bếp núc cho cẩn thận.
Nàng Hạng Ngọc Thanh vâng lời. Bấy giờ ngục tốt đưa cơm vào, Vệ vương phi bảo nàng Hạng Ngọc Thanh cùng ngồi vào bàn để ăn. Nàng Hạng Ngọc Thanh chối từ không dám ngồi. Phi Loan quận chúa nói:
- Nàng không ví như người khác được, vương phi đã cho ngồi thì nàng chớ nên khiêm tốn quá.
Nàng Hạng Ngọc Thanh bất đắc dĩ mới rón rén ghé ngồi xuống ghế. Mấy bát cơm vàng, vài ngọn rau héo, nàng cố gượng nuốt vào cổ họng, mà nuốt không trôi, lại phải thổ ra. Vệ Dũng Nga vương phi thấy vậy, trong lòng áy náy, liền nói:
- Chúng ta số phận không ra gì, phải chịu cực khổ đã đànhm nàng ở đâu cũng đến mà chia sự cực khổ. Bữa no bữa đói, chúng ta chỉ cầm hơi cho qua ngày, nay nàng mới ăn vào, chắc chưa được quen vậy.
Nàng Hạng Ngọc Thanh tươi cười mà đáp rằng:
- Con vẫn có bệnh ăn vào hay thổ, ngày nay chứng ấy bỗng tái phát, chứ không phải vì cơm rau mà ăn không được ngon miệng.
Nàng Hạng Ngọc Thanh bấm bụng mà cố gượng ăn một bát. Khi Vệ Dũng Nga vương phi và Phi Loan quận chúa ăn xong, nàng Hạng Ngọc Thanh dọn dẹp bát dĩa thì trời vừa tối. Tối đến, một ngọn đèn xanh, thỉnh thoảng nghe mấy tiếng trống canh điểm, có thủ ngục quan vào ngục để soát tù. Bấy giờ Vệ Dũng Nga vương phi và Phi Loan quận chúa đều ngủ yên cả, tiểu công tử khóc, Lương Cẩm Hà phu nhân ru con rồi lại thở dài than rằng:
- Nín, nín đi con ơi! Con đừng khóc nữa! Chẳng qua con cũng xấu số mà đầu thai lúc này! Trong tám năm trời nay, tổ phụ và tổ mẫu chỉ ngày đêm mong có cháu ẵm, ai ngờ ngày nay luống thêm một tên trong sổ tù tội.
Phu nhân nói đến sự thương tâm ấy, lại nức nở khóc hoài. Nàng Hạng Ngọc Thanh trở dậy, tìm lời khuyên giải Lương Cẩm Hà phu nhân, và ẵm lấy tiểu công tử đem ra chỗ đèn sáng xem thì đầu và mặt đều bị muỗi đốt, toàn những lấm tấm đỏ, thảo nào mà ngủ không yên giấc. Nàng Hạng Ngọc Thanh đưa tiểu công tử cho phu nhân xem, phu nhân lại khóc òa lên một tiếng. Vệ Dũng Nga vương phi và Phi Loan quận chúa giật mình tỉnh dậy, chạy lại hỏi han duyên cớ rồi cùng nhau thương khóc. Nàng Hạng Ngọc Thanh ẵm tiểu công tử, Phi Loan quận chúa đi hâm cháo và nấu nước. Vệ Dũng Nga vương phi lại ra bên ngoài thuật chuyện muỗi đốt tiểu công tử cho Hùng vương nghe. Hùng vương ngẩn người ra hồi lâu rồi thở dài mà than rằng:
- Thuơng xót thay cho một đứa hài nhi vừa mới lọt lòng mẹ đã phải chịu những sự cực khổ tại nơi ngục thất. Hùng Hiệu này từ khi còn ở quê nhà, vẫn có lòng trọng nghĩa khinh tài và chu cấp cho những người cùng khốn; sau lại vì tình bạn hữu mà không quản xa cửa lìa nhà. Đến khi làm quốc thích được phong hầu, dẫu rằng phúc quý vinh hoa, cũng không hề dám xa xỉ hoạc là những sự tàn bạo. Ai ngờ trời già độc địa lại khiến cho đứa hài nhi đến nỗi phải chịu khổ hình. Trời ơi! Đem thân bách chiến làm một kẻ tội tù, ngày xưa chỉ biết tướng quân là quý là tôn, ngày nay mới biết quyền thế của mấy chú ngục tốt vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi cũng thở ngắn than dài. Bên trong thì Phi Loan quận chúa luống những âu sầu buồn bã, chỉ có nàng Hạng Ngọc Thanh là vẫn vui vẻ như không, vừa ẵm tiểu công tử vừa xua muỗi, suốt đêm không ngủ. Dần dần đứa hài nhi đã sởn sơ. Lương Cẩm Hà phu nhân đã gượng dậy đi lại được. Bấy giờ Lương Cẩm Hà phu nhân ẵm lấy tiểu công tử mà bảo nàng Hạng Ngọc Thanh rằng:
- Bây giờ Vệ vương phi và Phi Loan quận chúa đều sang phòng ngoài cả, nàng hãy ngồi cuống đây mà nói chuyện cùng tôi. Nàng vì mẹ con tôi đến nỗi mặt hoa ủ dột, biết bao giờ cho tôi trả được nghĩa nàng. Quan Nguyễn tướng công có lòng tử tế quá, ơn sâu ấy thiết tưởng ngậm vành kết cỏ cũng khó báo đền.
Lương Cẩm Hà phu nhân nói xong, lại thổn thức khóc hoài. Nàng Hạng Ngọc Thanh lấy lời ngọt ngào mà khuyên giải rằng:
- Phu nhân ơi! Phu nhân chớ rước não mua phiền, thân nghìn vàng nên phải giữ gìn cẩn thận. Bởi vì tiểu công tử mới sinh, cần có sữa bú, nếu phu nhân phiền não mà mất sữa đi, bấy giờ làm thế nào. Phu nhân nên phải giữ gìn cẩn thận, hoặc giả triều đình giáng chỉ ân xá, mà được cùng nhau sum họp một nhà thì ngày xuân, xuân hãy còn dài.
Lương Cẩm Hà phu nhân khóc mà đáp:
-Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Nỗi thương tâm của tôi không thể nói cho nàng biết được. Nhà phu quân tôi chẳng may gặp tai nạn này, thân phụ tôi phải đập đầu ở trước cửa cung mà chết, nếu không nhờ có Nguyễn tướng công giúp đỡ thì thân mẫu tôi khó lỏng đã về được đến quê nhà. Từ khi thân mẫu tôi về quê nhà đến bây giờ, tôi chưa được tin tức hay dở thế nào, càng nghĩ càng thêm đau ruột. Phu quân tôi đi sứ, xa xôi muôn dặm, khiến cho mộng hồn tôi luống những năm canh vơ vẩn, lại thêm hôi về sự bất hòa thuở xưa.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói:
- Chẳng hay vì việc gì mà phu nhân và quốc cữu lại có sự bất hòa?
Lương Cẩm Hà phu nhân khóc lóc mà kể sự ghen tuông năm trước cho nàng Hạng Ngọc Thanh nghe, và bảo rằng:
- Bấy giờ thật tại tôi nông nổi chưa xét rõ lòng phu quân tôi.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nói:
- Cư như vậy thì phu nhân nổi giận là phải. Nàng Hạng Hoa Tu thật có một tội to. Hùng quốc cữu đã đem nghìn vàng mà chuộc cho nàng thì nàng nên xả tấm thân xin làm nô tỳ để hầu hạ phu nhân và quốc cữu, cớ sao lại nghiễm nhiên ở nhà Tần học sĩ, há chẳng đáng cười lắm ru! Hoặc giả cái chí “Tòng lương” (nghĩa là gài giang hồ mà tu chí theo nghề làm ăn lương thiện) của nàng, vị tất đã thực.
Lương Cẩm Hà phu nhân thở dài mà than rằng:
- Không phải lỗi tại nàng, chẳng qua chỉ tại tôi không minh. Vợ chồng lấy nhau trong tám năm tròi, cầm sắt can chi bỗng sinh ra lời kia tiếng nọ. Việc ấy tôi rất hối hận, vẫn định viết thư bảo nàng cứ vững lòng chờ đợi, hoặc giả triều đình ân xá, nàng được kết duyên cùng phu quân tôi thì tôi đây cũng chuộc được một phần tội lỗi vậy.
Nàng Hạng Ngọc Thanh nghe nói, nét mặt tươi cười mà thưa rằng:
- Phu nhân ơi! Phu nhân thật là đại hiền đại đức đã rủ lòng thương đến nàng Hạng Hoa Tu. Nhưng ngặt vì nàng Hạng Hoa Tu là phường ty tiện, chỉ đáng hầu hạ phu nhân và tiểu công tử, có đâu dám dự vào hàng trong trướng dưới màn. Phu nhân ơi! Phu nhân muốn viết thư bảo nàng, ai ngờ nàng tứ là kẻ hèn mọn này. Phu nhân ơi! Chính thực tôi ở nhà Tần học sĩ tới đây vậy.
Nói xong, liền quì xuống đất, kể lể đầu đuôi cho Lương Cẩm Hà phu nhân nghe. Lương Cẩm Hà phu nhân nghe nói vừa sợ vừa mừng, ngập ngừng không biết nói sao cho được, một tay ăm tẵểu công tử một tay ôm lấy nàng Hạng Ngọc Thanh mà rằng:
- Thế ra nàng là Hạng Hoa Tu tự nguyện vào nhà giam đó! Trong bọn quần thoa mà có được người tiết nghĩa kỳ nữ như thế thì thật khiến tôi phải hổ thẹn. Thôi, thôi! Nàng chớ gọi tôi là phu nhân, từ đây hai ta chỉ nên ngọi nhau bằng chị em mà thôi.
Lương Cẩm Hà phu nhân đứng dậy, đặt tiểu công tử xuống giường rồi sụp lạy nàng Hạng Ngọc Thanh mà thưa rằng:
- Hiền muội ơi! Xin cảm tạ lòng tiết nghĩa của hiền muội. Nếu không nhờ có hiền muội săn sóc trông nom cho trong bấy nhiêu ngày thì tính mệnh hai mẹ con tôi khó lòng đã còn đến ngày hôm nay vậy.
Nàng Hạng Ngọc Thanh chẳng còn hồn vía nào nữa, vội vàng đỡ dậy mà thưa rằng:
- Chết nỗi! Sao phu nhân lại xử như thế thì há chẳng khiến cho Hạng Ngọc Thanh này phải tổn thọ mất ru!
Vệ Dũng Nga vương phi và Phi Loan quận chúa bước vào thấy vậy, cũng biết ngay là Lương Cẩm Hà phu nhân đã hiểu chuyện nàng Hạng Ngọc Thanh. Lương Cẩm Hà phu nhân nói với Vệ Dũng Nga vương phi rằng:
- Hai mẹ con tôi chịu ơn nàng Hạng Ngọc Thanh đây to lắm, chưa biết lấy gì mà báo đáp cho được, vậy ngày nay ở trong ngục thất này, xin lấy thân tình mà gọi nhau bằng chị em.
Vệ Dũng Nga vương phi nghe nói có ý vui mừng mà rằng:
- Nếu vậy thì con và nàng Hạng Ngọc Thanh đây, hai người đều là bậc thế gian hiếm có! Con thì đức hạnh hiền hòa, nàng Hạng Ngọc Thanh thì tiết nghĩa trọn vẹn, chỉ xót thương cho nhà họ Hùng ta không may xảy ra sự tai biến này, khiến hai người đều phải chịu phần cực khổ.
Nàng Hạng Ngọc Thanh chối từ không dám, chỉ xin nhận làm nữ tỳ để để hầu hạ tiểu công tử mà thôi. Nàng Hạng Ngọc Thanh nói:
- Vương phi và phu nhân dạy như thế thì tỳ tử này không được yên lòng.
Phi Loan quận chúa thấy nàng Hạng Ngọc Thanh chân tâm chối từ, mới ngoảnh lại bảo Lương Cẩm Hà phu nhân rằng:
- Tiết nghĩa của nàng Hạng Ngọc Thanh thất ít người theo kịp. Nếu cách xưng hô ngang hàng như thế thì tôi e người ngoài lại chê nàng Hạng Ngọc Thanh là có ý vị danh. Vậy từ nay hiền tẩu nên gọi nàng là Hạng nương mà nàng thì cứ nên gọi hiền tẩu là phu nhân, mới được lưỡng tiện.
Nàng Hạng Ngọc Thanh lạy dập đầu mà rằng:
- Đó chính là lòng sở nguyện của tử tỳ vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Từ nay nàng chớ nên tự xưng là tỳ tử. Bởi vì ở đây đều những người cốt nhục trong một nhà, chứ người ngoài không ai được vào tới. Nàng được vào là nhờ có quan Nguyễn tướng công hết sức chu toàn, nói nàng tức là gia quyến đảng phản nghịch, nên mới cho giam lẫn cùng bọn chúng ta vậy. Chẳng qua lòng trời còn tựa, con dâu ta đến kỳ lâm sản thì gặp có nàng vào, khiến được mẹ tròn con vuông, còn là nhờ công săn sóc trông nom của nàng đó.
Lại nói chuyện quan thừa tướng Mạnh Gia Linh đi gấp trong hai tháng về đến Bắc Kinh, tức khắc vào thẳng phủ phò mã. Triệu Lân nghe báo, vội vàng ra đón, sụp lạy mà hỏi thăm tin tức quê nhà. Khi uống trà Mạnh Gia Linh hỏi đến tình hình tả cung Hùng hậu. Triệu Lân nghĩ thầm: “Việc này khó nghĩ quá, chẳng biết có nên nói không? Nói ra mà tiết lộ thì di lụy đến nhiều người lắm. Chi bằng ta đợi cho thân mẫu ta tới đây, bây giờ sẽ giải tỏ đầu đuôi”. Triệu Lân nghĩ vậy liền nói:
- Cữu phụ ơi! Tả cung hoàng hậu trước kia có phát ra chứng điên rồ thật, sau phải theo thái hậu vào ở nam nội, bây giờ chữa thuốc hiện đã gần yên. Chỉ phiền một nỗi bệnh trạng của thái hậu mỗi ngày một nặng, hơn một năm nay, lúc tỉnh lúc mê chữa mãi chưa khỏi. Thánh thượng thì nửa năm nay không vào triều kiến thái hậu. Tháng trước gặp ngày “Thiên thu thọ tiết” Tề vương cùng Nguyễn tướng công khóc lóc tâu can mà thánh thượng cũng không hề giáng lâm. Phi Giao hoàng hậu chuyên quyền, giết hại những người trung trực, hễ ai bảo tấu xin tha cho Hùng bá phụ thì tức khắc trị tội, hoặc cách chức, hoặc xử tử, không tha người nào. Phi Giao hoàng hậu ban chiếu rằng khi nào thượng hoàng về cung, bấy giờ sẽ xá tội cho họ Hùng. May mà thái hậu tiên kiến, có giáng chỉ rằng hễ Hùng Hiệu chết ở trong ngục thì tức khắc biếm Phi Giao hoàng hậu vào lãnh cung. Vì thế Đồ Man Hưng Phục không dám tàn ngược quá, tính mệnh họ Hùng còn được dai dẳng đến ngày nay. Tôi nghe nói vừa rồi Lương Cẩm Hà phu nhân mới sinh được một tiểu công tử. Lại có một người kỳ nữ Hạng Ngọc Thanh nhận là tiểu thiếp của Hùng quốc cữu, tự nguyện vào nhà giam. Phi Loan quận chúa cũng cố xin vào ngục thất, chứ không chịu tiếng ly hôn cùng họ Hùng vậy.
Mạnh Gia Linh khen ngợi mà rằng:
- Hùng vương thật là một người tận trung vị quốc, không ngờ ngày nay bỗng mắc phải tai nạn này! Ta tới đây bây giờ cũng không còn chủ ý gì, chỉ đành liều một chết ở trước mặt thánh thượng. Đêm nay ta ngủ tại đây, rồi sẽ viết bản tâu để sáng mai vào tâu triều đình.
Mạnh Gia Linh đang nói chuyện thì bỗng thấy hai người nhũ mẫu ẵm hai đứa hài nhi đến trước mặt bẩm mà bẩm rằng:
- Dám bẩm lão gia! Đây là hai con của công chúa tôi mới sinh, cho ra chào lão gia đó!
Mạnh Gia Linh cúi đầu nhìn hai đứa bé. Một đứa con trai thì diện mạo đường hoàng, và một đứa con gái thì nhan sắc kiều mỹ, rất lấy làm khen ngợi, rồi bỗng ngạc nhiên mà hỏi Triệu Lân rằng:
- Quái lạ! Không biết cớ sao đứa con trai này không giống mặt cha, mà lại giống thượng hoàng như đúc. Hiền sanh thủ nhìn xem. Này này Nghiêu my Thuấn mục (lông mày như vua Nghiêu, mắt như vua Thuấn) quả nhiên là chân tướng đế vương, chẳng lẽ lẽ cháu ngoại lại giống ông ngoại hay sao. Hiền sanh ơi! Việc này ta lấy làm nghi ngờ lắm.
Triệu Lân nghĩ thầm: “Việc này ta khó lòng mà giấu cữu phụ cho được”. Nghĩ vậy mới truyền bảo hai người nhũ mẫu rằng:
- Các ngươi vào nhà trong nói với công chúa bảo người nhà sửa soạn làm cơm.
Triệu Lân lại nói:
- Các ngươi để công tử lại đây, còn tiểu thư thì ẵm vào.
Mọi người vâng lời đi cả vào nhà trong. Triệu Lân ẵm hoàng tử đứng dậy, một tay cài chặt cửa lại, rồi quay vào nói với Mạnh Gia Linh rằng:
- Cữu phụ ơi! Cữu phụ đã có lòng nghi ngờ vậy con xin nói thực: đứa con trai này tức là hoàng tử đó!
Mạnh Gia Linh mừng rỡ mà hỏi rằng:
- Đầu đuôi thế nào, nói cho ta được rõ.
Triệu Lân mới thuật rõ lai lịch việc bỏ hoàng tử vào giỏ thuốc đem ra cho Mạnh Gia Linh nghe và nói rằng:
- Việc này trong ngoài không ai biết cả, chỉ nói là Gia Tường công chúa đẻ sinh đôi. Thái hậu đã mệnh danh cho hoàng tử là “Dục An”. Tháng trước Gia Tường công chúa có ẵm hoàng tử vào cung, hoàng tử ngắm nhìn Hùng hậu không hề chớp mắt, rồi bỗng oà khóc, khóc mãi không nín, khiến cho công chúa kinh sợ vô cùng, phải tâu với thái hậu xin ẵm ra, từ đấy không dám đem hoàng tử vào cung nữa.
Triệu Lân nói xong, Mạnh Gia Linh rất lấy làm kinh ngạc, rồi cầm tay Triệu Lân mà bảo rằng:
- Hiền sanh mới ngần này tuổi đầu mà đã lập được công “Bổ thiên cứu nhật”, chẳng những bảo toàn cho nước, mà nhà họ Mạnh và nhà Hoàng Phủ sau này cũng nhờ hiền sanh mà không đến nỗi tổn hoại thanh danh. Thôi, thôi! Hiền sanh ngồi lên đây để cho ta lạy tạ!
Nói xong, liền sụp xuống đất lạy. Triệu Lân kinh hoảng vội vàng đỡ dậy mà thưa:
- Chết nỗi! Xin cữu phụ tha cho, kẻo tiện sanh tổn thọ mất! Nhà Hoàng Phủ tiện sanh sinh ra con Phi Giao, thật là khởi đầu mối họa làm hại cho nước, nay tiện sanh dẫu cứu được hoàng tử, cũng chưa lấy gì làm công, chỉ xin một lòng tận trung để mong rằng sau này không đến nỗi diệt tộc vậy.
Mạnh Gia Linh ngồi viết bản tâu, vừa viết vừa thở dài. Khi viết bản tâu xong, lại ứa hai hàng nước mắt, rồi quẳng bút xuống bàn, đứng dậy mũ áo chỉnh tề, ngồi đợi đến sáng.
Mờ sáng hôm sau, Triệu Lân bước vào, Mạnh Gia Linh bảo rằng:
- Hiền sanh ơi! Ta tự quê nhà tới đây, thật đã quyết liều một chết, bởi vậy có đem theo một cỗ quan tài. Hôm nay vào tâu, lành dữ thế nào sẽ biết. Giả sử thánh thượng tứ tử hoặc trảm thủ thì hiền sanh nên bỏ ta vào quan tài ấy, lột hết triều phục, chỉ mặc một cái áo mỏng mà thôi. Sống không can gián được quân thượng, chết mặc mũ áo, cũng thêm nhục đến tổ tôn. Khi tiện nhi có đến đây để phù linh cữu về thì hiền sanh nên dặn phải dấu cao đường, chớ khiến cho lòng già lại sinh đau xót.
o0o

về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
7a

hồi thứ bảy
THIẾU HOA BỎ ĐI TÌM THƯỢNG HOÀNG
LỆ QUÂN LẬP KẾ CỨU HÙNG HIỆU


Lại nói chuyện vua Anh Tôn muốn vào nam nội triều kiến thái hậu. Phi Giao hoàng hậu nói:
- Muôn tâu bệ hạ! Không ngờ ngày nay thái hậu biến tâm, chỉ đợi bệ hạ đến thì hại bệ hạ rồi tha Hùng quốc trượng và lập vua mới.
Vua Anh Tôn trong lòng nghi hoặc, vì thế mới cáo bệnh không dám đến triều kiến thái hậu lần nào mà mọi việc triều chính giao cho một tay Phi Giao hoàng hậu tất cả. Suốt ngày chỉ nay ngự cung này, mai ngự cung khác, nghe đàn uống rượu, cùng bọn cung nga đùa bỡn mua vui. Phi Giao hoàng hậu lại gia thăng Đồ Man Hưng Phục và giao cho hai cha con hắn được quản lĩnh binh quyền, để nghiêm sát những trong cung ngoài thành, nhất là cung thái hậu, hễ có cử động việc gì phải tức khắc phi báo cho Phi Giao hoàng hậu biết.
Phi Giao hoàng hậu bảo bọn Mã Thuận rằng:
- Ngày nay các ngươi phải hết lòng, nếu ai trễ biến thì chớ trách ta tệ bạc. Gia Tường công chúa thì cấm không cho được vào cung,vua cho công chúa có ý muốn xui giục thái hậu phế thánh thượng mà lập bào đệ Hán vương lên làm thiên tử.
Một hôm, Phi Giao hoàng hậu ngồi trong cung, Mã Thuận đem các bản tâu vào trình. Phi Giao hoàng hậu đưa hai con mắt phượng nhìn khắp một lượt, rồi giơ tay búp măng sẽ cầm bút ngọc, phê phó mọi lẽ, giao cho đình thần, thật là một bậc “Nữ trung vương” vậy. Sau cùng lại có một bản tâu của cả mười ba tỉnh, nói nhân dân thấy thượng hoàng bỏ đi, có lòng oán giận, xin thánh thượng trù tính mau mau, nếu không thì trong nước tất có ngày biến loạn.
Phi Giao hoàng hậu xem xong, nghĩ thầm: “Dân tức là gốc của nước. Nếu lòng dân oán giận thì gốc nước tất phải lung lay, một mai gây việc binh đao, thân này khó lòng mà tránh khỏi tai vạ, thế thì ngày nay ta phải nghĩ cách an dân, mới giữ vững được ngôi “chí tôn” này”. Phi Giao hoàng hậu cau đôi lông mày lại, ngẫm nghĩ hồi lâu, không nói câu gì. Bỗng lại thấy Mã Thuận ở đâu lật đật chạy đến, tay cầm bản tâu quì dâng mà rằng:
- Muôn tâu lệnh bà, có quan Mạnh Gia Linh thừa tướng vừa hết hạn nghỉ, nay đã tiến kinh, xin vào bệ kiến, hiện còn chực tại ngoài Ngọ Môn, cho kẻ hạ thần đem bản tâu này vào trước để đợi lượng trên phán chỉ.
Phi Giao hoàng hậu phán rằng:
- Nếu vậy thì rất hay! Ta vẫn hiềm một nỗi thiếu người thân thuộc tay chân, may sao được cữu phụ ta đến. Cữu phụ ta thuở xưa vốn yêu mến ta, ta có thể đem ngoại sự mà ủy thác cho cữu phụ ta được.
Mã Thuận vội vàng quì xuống tâu rằng:
-Muôn tâu lệnh bà! Kẻ hạ thần trông thấy nét mặt quan Mạnh thừa tướng nghiêm nghị lạ thường. Mà nghe đâu người ở quê nhà tới đây, có đem theo một cỗ quan tài. Như thế thì tất có tình ý chi đây, xin lệnh bà xem bản tâu trước, sau sẽ liệu định.
Phi Giao hoàng hậu gật đầu, liền mở bản tâu ra xem. Bản tâu như sau này:

“Vân Uyên điện đại học sĩ kiêm Hộ Bộ thượng thư Mạnh Gia Linh xin cúi tâu để hoàng hậu lượng xét:
Kẻ hạ thần giả hạn về nghỉ trong một năm nay, không ngờ trong nước sinh ra lắm sư biến cố: Thượng hoàng bỏ đi, tả hậu điện dại, trung dũng như Bình Giang vương mà nhà bị giam, chính trực như Lương thừa tướng mà một thân chịu chết. Trên thì thái hậu phiền muộn dưới thì nhân dân oán giận, bởi vậy mà sinh ra nhiều tai dị như thủy lạo, đại hạn và cướp giặc v.v...
Ngoại nghị huyên truyền, đều đổ lỗi cho hoàng hậu, vì hôm trước thái hậu ban lời quở trách mà hoàng hậu dám vô phép chống cãi lại, từ đó bỏ cả lễ thần hôn không vào triều kiến lần nào. Cương thường đảo ngược thì muôn dân còn trông cậy vào đâu. Thiên tử bất hiếu, hoàng hậu bất đức, tội ác đã rõ rành rành. Trách nào nước nhà chẳng sinh ra nhiều việc. Họa hoạn sau này kẻ hạ thần không nỡ nói hết. Kẻ hạ thần thiết nghĩ hoàng hậu thuở nhỏ ở chốn khuê phòng vẫn có tiếng là người thục nữ; lúc lớn vào nơi cung cấm, cũng nổi danh là bậc hiền phi. Cớ sao tin dùng bọn nội giám Mã Thuận mà khinh rẻ các bậc lão thần. Hoàng hậu sai Đồ Man An Quốc và Đồ Man Định Quốc luyện tập cấm binh ở trong nội thì định chống cự với ai? Một vị lão thần, bắt phải đi sứ, quốc thể còn ra thế nào, thật khiến cho nước ngoài chê cười , tất có ngày sinh ra biến loạn.
Ngày nay chỉ có một kế: Thiên tử và hoàng hậu phải vào triều kiến thái hậu mà tạ tội đi. Lại đón Hùng hậu về chánh cung và tha cho gia quyến họ Hùng. Triệu Doãn thừa tướng ở Cao Ly về. Ban chiếu thư cho thiên hạ, tự hối các điều tội ác của mình. Như thế thì thượng hoàng tất về mà thiên tử cùng hoàng hậu mới được an toàn vậy. Kẻ hạ thần cũng biết chắc rằng hễ kẻ hạ thần nói ra thì sẽ có tai vạ, nhưng hổ mình là ngôi tể phụ lại lạm dự vào hàng quốc thích hoàng thân, vậy nên dẫu chết cũng cam, không dám ngoảnh mặt làm thinh, hiện khi kẻ hạ thần tự quê nhà tới đây, đã đem theo một cỗ quan tài, để đợi lệnh hoàng hậu đó.”


Phi Giao hoàng hậu xem xong, nghiến răng mà quát to lên rằng:
- Quái lạ! Ta vẫn tưởng là cữu phụ ta tới đây thì có thể giúp ta được một tay để chỉnh đốn triều đình, ai ngờ chưa đế nơi, đã dám dâng bản tâu nói càn, chê trách thánh thượng là kẻ bất hiếu, và bảo ta bất đức. Thế này thì ta nhịn làm sao cho được! Mạnh Gia Linh! Mạnh Gia Linh! Nhà ngươi chớ cậy là cữu phụ ta. Ta nói thật cho mà biết, chứ dẫu thân phụ cà thân mẫu ta tới đây, ta cũng không nể.
Nói xong, ngoảnh lại gọi Mã Thuận mà bảo rằng:
- Nhà ngươi ra lột mũ áo Mạnh Gia Linh, rồi tức khắc tống giam vào ngục thất.
Mã Thuận vâng lệnh vội vàng quay ra. Phi Giao hoàng hậu cúi đầu ngẫm nghĩ, bỗng gọi lại mà bảo rằng:
- Mã Thuận! Khoan đã! Hãy để ta ra tiếp kiến, xem hắn nói thế nào.
Nói xong, truyền triệu Mạnh Gia Linh vào. Mạnh Gia Linh tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Kẻ hạ thần mông ân về nghỉ, cũng muốn ở quê nhà để phụng dưỡng hai thân. Nhưng xa nghe chính sự trong triều, luống khiến cho lòng già đau đớn. Kẻ hạ thần bất đắc dĩ mà phải vào đây diện tấu. Nếu hoàng hậu không nghe lời thì xin giáng chỉ nghiêm trị. Kẻ hạ thần dẫu chết cũng còn hơn sống thừa vậy.
Phi Giao hoàng hậu nghe lời, bỗng biến nét mặt rồi cười nhạt mà bảo rằng:
- Cữu phụ ơi! Trong lòng tôi thật cay đắng muôn vàn. Tôi vẫn tưởng là được cữu phụ tới đây để giải oan cho tôi, ai ngờ cữu phụ lại quá nghe lời kẻ khác sàm báng mà đem lòng oán trách. Cữu phụ ơi! Từ khi tôi vào cung, vẫm một lòng tôn kính Hùng hậu, không ngờ đến khi hai thân tôi trở về quê nhà thì Hùng hậu bỗng biến tâm, tin lời cung nữ mà lập mưu hiểm độc, may nhờ có Tư Thiên giám tâu trình, mới xét ra được. Việc ấy chứng cứ rõ ràng, thế mà thái hậu bất công, cố ý binh vực Hùng hậu, toan tuốt gươm chém bỏ tôi đi. Cữu phụ ơi! Không bao giờ có sự lạ như bây giờ: Thái hậu nỡ lòng muốn phế thánh thượng! vì thế thánh thượng không dám đến triều kiến thái hậu. Cữu phụ ơi! Nếu thái hậu phế thánh thượng mà lập Hán vương hoặc Triệu vương thì còn ra thế nào. Cũng vì thế cho nên tôi phải tạm cầm quyền chính, kẻo thánh thượng nhu nhược, không chế nổi đình thần, mà Hán vương và Triệu vương có ý nom dòm chăng. Tôi đem cấm binh vào cung nội là để đề phòng thái hậu, chắc đâu thái hậu sinh lòng hại con. Tôi xem trong khi thái hậu tuốt gươm thì quả không còn tý gì là tình mẹ con nữa. Tôi đây trách nhiệm phải bảo vệ thánh thượng, nếu tôi không cầm quyền chính thì giang sơn này nay đã thuộc về tay ai. Cữu phụ trách tôi trọng dụng bọn tôn thất, nhưng cữu phụ nên biết rằng: muốn cho gốc vững tất phải nâng cành. Triều thần quá nửa là đảng cuả Hùng Hiệu, nếu hắn biết hết sức bảo hộ thánh thượng thì hắn tức là trung thần. Còn nội giám Mã Thuận chẳng qua sai khiến việc thường, có đâu lại được can dự đến triều chính. Cữu phụ quá tin những lời đồn phiếm, mà không hiểu rõ chân tình, cứ một mức buộc tội cho tơi, nói lắm câu thật buồn cười quá. Cữu phụ ơi! Sự thế tôi ngày nay thật là cưỡi hổ, không thể xuống được. Nếu cữu phụ muốn bắt tôi theo như lời tâu của cữu phụ thì xin đợi đến ngày thượng hoàng về. Ngày nay tìm khắp trong mười tỉnh mà không biết tông tích thượng hoàng ở đâu. May sao lại gặp cữu phụ tới đây, dám xin nhờ cữu phụ đi tìm thượng hoàng vậy.
Mạnh Gia Linh tâu rằng:
- Kẻ hạ thần dẫu được thờ thượng hoàng trong hai mươi năm trời, nhưng âm dung tiếu mạo, thật không được tường cho lắm, tất phải người nào xưa nay vẫn hầu cận, mới có thể không lầm. Huống chi thượng hoàng đã bỏ ngôi mà đi thì tất mộ đạo tu hành, cải dạng nâu sòng, kẻ hạ thần cũng khó nhận cho được. Nội giám Mã Thuận thuở nhỏ vẫn hầu cận ở bên mình thượng hoàng, xin hoàng hậu sai hắn đi thì mới được việc.
Mã Thuận đang luống cuống kinh sợ thì bỗng thấy Phi Giao hoàng hậu tỏ ý không bằng lòng, phán:
- Trong bản tâu của cữu phụ chỉ trích những tội lỗi của tôi, tôi không hề trách giận. Cữu phụ nói nên đi tìm thượng hoàng, nay tôi theo lời mà nhờ cữu phụ việc ấy, cữu phụ lại chối từ sợ khó, thế thì cữu phụ đem quan tài tới đây, chẳng qua chỉ là mua danh, để muốn cưỡng bách thánh thượng phải theo lời mình đó.
Phi Giao hoàng hậu nói khích như vậy khiến cho Mạnh Gia Linh phải nhận lời xin đi. Phi Giao hoàng hậu mừng lắm, liền cầm bút ngọc mà phê cho Mạnh Gia Linh được quyền đi kiểm soát các danh lam thắng tích trong mười ba tỉnh để tìm thượng hoàng. Phi Giao hoàng hậu gọi nội giám đem rượu đến, rồi rót ba chén rượu đầy, mời Mạnh Gia Linh uống mà bảo rằng:
-Cữu phụ ơi! Tôi mời cữu phụ hết lòng mà tìm thượng hoàng. Hễ được thượng hoàng về đây thì tôi xin tạ Hùng hậu, tha Bình Giang vương và trả lại quyền chính. Ai phải ai trái, bấy giờ sẽ được rõ ràng.
Mạnh Gia Linh ra đi, Phi Giao hoàng hậu quay vào trong cung, cười nhạt mấy tiếng mà rằng:
- Mã Thuận ơi! Ta sai Mạnh Gia Linh đi tìm thượng hoàng, nhà ngươi có hiểu là ý thế nào không?
Mã Thuận lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Muôn tâu lệnh bà! Kẻ hạ thần ngu muội, không hiểu được ý kiến cao minh.
Phi Giao hoàng hậu phán rằng:
- Quân dân các tỉnh ngày nay vì lòng quý mến thượng hoàng mà sinh ra oán giận, vậy ta sai quan đi tìm thượng hoàng, khiến cho chúng khó lường được cái chủ ý của ta. Vả Mạnh Gia Linh dâng biểu nói càn, ta giết thì mang tiếng ác, chi bằng sai hắn đi làm việc ấy, chắc rằng phương trời thăm thẳm, đã biết bao giờ tìm được thượng hoàng mà về. Hắn phải đi xa trước là khỏi ngăn trở việc ta, sau là đảng Hùng Hiệu không giao thông với hắn được.
Phi Giao hoàng hậu nói chưa dứt lời thì Mã Thuận đã vội vàng sụp lay mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Hoàng hậu nghĩ vậy, thật là diệu kế.
Lại nói chuyện phò mã Triệu Câu và Hùng Khởi Thần về tới quê nhà. Phò mã Triệu Câu thay áo chịu tang, Hùng Khởi Thần thì làm lễ viếng. Hoàng Phủ Thiếu Hoa hỏi Triệu Câu rằng:
- Từ khi ta cùng thân mẫu con trở về quê nhà, công việc trong cung, không hiểu một tý gì, chỉ nghe những lời truyền ngôn, vị tất đã đích thực. Chẳng hay Hùng hậu vì cớ chi mà thành ra bệnh điên dại, con nên thuật rỏ cho ta nghe.
Triệu Câu nghe nói, có ý buồn rầu, rồi thuật hết đầu đuôi mọi việc trong cung cho cha mẹ nghe, và nói:
- Ngày nay cô phụ và cô mẫu (trỏ vợ chồng Hùng Hiệu) con phiền muộn không biết dường nào, chỉ lo tất có ngày sinh ra tai vạ, bởi vậy mới cho anh Hùng Khởi Thần theo con về đây, cũng là cầu lánh nạn đó. Con về quê nhà lần này là muốn đem thân ra ngoài, để chiêu tập quân mã mà đợi đến ngày báo quốc. Con Phi Giao tất làm cho Nguyên triều đổ nát, con đây xin hết sức đem lại giang sơn.
Phò mã Triệu Câu nói chưa dứt lời Hoàng Phủ Thiếu Hoa thở dài mấy tiếng mà than rằng:
-Nhà Hoàng Phủ ta đời đời một lòng trung thành với nước, ai ngờ ngày nay lại bỗng sinh ra đứa nghiệt nữ này. Ta còn mặt mũi nào mà trông thấy ân huynh ta nữa.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại bảo Mạnh Lệ Quân rằng:
- Bây giờ phu nhân nghĩ thế nào? Chẳng lẽ cứ ngồi nhìn! Tôi còn phải thủ hiếu ở đây đẻ giữ phần mộ hai thân, vậy phu nhân nên tiến kinh mà khuyên bảo con gái.
Mạnh Lệ Quân nín lặng, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Phu quân ơi! Đành hãy thư thả mấy ngày để tôi còn phải thu xếp các công việc. Ngày nay nhân có Hùng Khởi Thần tới đây thì để chàng ở nhà rèn tập sự học hành cho các con nhỏ. Còn Triệu Câu phải đi chiêu tập quân mã, để phòng khi có sự động binh. Phu quân ơi! Phu quân chớ nên nóng nảy, cứ như lời Lưu phu nhân nói thì giang sơn này còn rối loạn trong mười năm. Tôi tiến kinh bây giờ cũng vô ích, nhưng chẳng lẽ ngồi nhìn, cho nên phải đi vậy.
Mọi người ngồi vào ăn cơm. Cơm xong, Mạnh Lệ Quân bảo đưa Hùng Khởi Thần sang tây phòng nằm nghỉ. Sáng hôm sau, mãi không thấy Hùng Khởi Thần dậy, Mạnh Lệ Quân vội vàng ra tây phòng thì thấy màn vẫn chưa cuốn. Mạnh Lệ Quân vén màn rồi khẽ cất tiếng gọi. Hùng Khởi Thần thở dài một tiếng mà thưa rằng:
- Không biết tại sao hôm nay con nhức đầu và nóng sốt quá, không thể dậy được.
Mạnh Lệ Quân bắt mạch rồi bảo rằng:
- Hiền sanh ơi! Con nay chẳng qua là bệnh thương hàn, nhưng vì ưu tư quá độ nữa. Bệnh thương hàn có thể chữa khỏi được, nhưng còn sự ưu tư thì con nên phải tự giải bày cho khuây. Hai thân con cho con về ở đây là muốn để giữ lấy dòng dõi mai sau, vậy con chớ nên nghĩ ngợi mà khiến cho thêm bệnh.
Bỗng thấy người nhà vào báo rằng:
- Dám bẩm vương gia và vương phi! Hán vương có phái người đến triệu phò mã.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe báo, liền giục phò mã Triệu Câu đi. Triệu Câu cáo từ cha mẹ, lại vào cáo từ Hùng Khởi Thần và dặn phải cố gìn vàng giữ ngọc, để khiến cho được chóng khỏi. Bấy giờ Mạnh Lệ Quân đã điều chế dược phẩm, đem hòa với nước trà cho Hùng Khởi Thần uống. Lại bắt một đứa tiểu đồng phải hầu luôn ở bên cạnh. Hai vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa ngày đêm khuyên giải. Tô phu nhân cũng thỉnh thoảng đến để trông nom. Hùng Khởi Thần thấy nhà Hoàng Phủ quí trọng mình như thế, rất lấy làm nể nang, cũng cố gượng làm khuây, thành ra bệnh đã dần dần khỏi. Qua ngày nguyên tiêu ít lâu, bỗng nghe báo có phò mã Triệu Câu về. Phò mã Triệu Câu nét mặt hoảng hốt, khi trông thấy cha mẹ, chưa kịp lạy chào, liền thò tay trong mình, lấy ra một phong thư, đệ trình mà thưa rằng:
- Thân phụ và thân mẫu ơi! Đêm nguyên tiêu vừa rồi, thượng hoàng đi xem cuộc hoa đăng rồi bỗng bỏ đi mất, vậy cô phụ (trỏ Hùng Hiệu) phải cho người phi báo.
vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe nói, giật mình kinh sợ, chẳng còn hồn vía nào. Hồi lâu, tinh thần lại trấn định, mới mở thư ra xem, bức thư như sau:

“Tôi là Hùng Hiệu xin có đôi lời kính trình để Hoàng Phủ vương gia biết chuyện: Đêm nguyên tiêu vừa rồi, thượng hoàng ra xem cuộc hoa đăng, rồi bỗng bỏ đi, nội giám Quyền Xương cũng đi theo. Quan dân nghị luận phân vân, không hiểu duyên cớ làm sao cả.
Sau hỏi ra mới biết rằng từ khi Triệu vương và Hán vương đi thụ phong, hai bà Ôn phi và Mai phi cũng theo đi, còn thái hậu thì ốm mãi không khỏi, cho nên thượng hoàng buồn bực, mới phẫn chí mà bỏ đi tu. Hiện nay quan quân rối loạn, vương phi nên mau mau tiến kinh, để tìm lời khuyên bảo Phi Giao hoàng hậu, nếu không thì cương thưòng đảo ngược mất. Tôi đây là kẻ vũ phu vô học, dẫu chết cũng không ích gì.
Hùng Hiệu thủ thư”


Hoàng Phủ Thiếu Hoa xem xong bức thư, dẫm chân vật mình, kêu trời kêu đất. Mạnh Lệ Quân cũng sợ tái mặt đi. Cả nhà đang hoảng hốt lo phiền thì Lưu Yến Ngọc nói:
- Bây giờ biết làm thế nào? Âu là Mạnh vương phi nên mau mau tiến kinh, kẻo ngày nay thái hậu ở trong cung thật khóc hết nước mắt.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Bây giờ không còn kế gì cho được! Chi bằng ta liều mình đi tìm thượng hoàng. Dẫu tang cha mẹ chưa trọn ba năm, nhưng ơn triều đình trong bấy nhiêu lần, thiết tưởng cũng cần phải báo đáp. Ta đi chuyến này, hễ tìm thấy thượng hoàng, ta sẽ trở về, nếu không thì thân này đành liều với mũi gươm bạc, để tỏ lòng báo quốc vậy.
Đệ ngũ công tử là Triệu Thụy bấy giờ hãy còn nhỏ tuổi, bỗng nắm lấy áo Hoàng Phủ Thiếu Hoa rồi khóc mà thưa:
- Thân phụ ơi! Thân phụ đi tìm thượng hoàng, xin cho con đi theo, để con được hàng ngày gần gụi thân phụ.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa khóc mà bảo rằng:
- Con ơi! Đường sá xa xôi, con còn bé nhỏ, đi làm sao cho được. Vả cha đi chuyến này, tất phải thay hình đổi dạng, mà cũng chưa biết đi về phương nào. Trải qua vạn thủy thiên sơn, thì đem con trẻ đi làm sao cho tiện.
Triệu thụy cứ lăn khóc đòi đi, Mạnh Lệ Quân nói:
- Phu quân ơi! Con trẻ dẫu dại, nhưng đã biết hiếu, chi bằng phu quân cho con đi theo. Vả xem ý trong bức thư này quả nhiên con Phi Giao hành hung, mà cứ theo lời Lưu phu nhân nói thì tai vạ của nhà ta mai sau chưa biết thế nào. Thế thì bớt được người nào là may người ấy, vậy phu quân nên cho con đi theo, rồi khi đến Vân Nam, sẽ gởi gia huynh tôi để cho nó học tập, có lẽ nào lại thiên ái mà giữ con.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa ra lạy trước mộ hai thân và khóc rằng:
- Thân phụ cùng thân mẫu ơi! Đứa con bất hiếu này, ngày nay vì việc nước mà không thể thủ hiếu ở đây trông nom phần mộ cho trọn tong ba năm được, vậy xin hai thân phù hộ, khiến con tìm thấy thượng hoàng.
Triệu Thụy bấy giờ cũng cải dạng làm một đứa đạo đồng. Có tên người nhà là Trương Văn đi theo, đem các đồ hành lý và vàng bạc. Phò mã Triệu Câu cầm tay em, rồi ứa nước mắt khóc. Mạnh Lệ Quân và Lưu Yến Ngọc cũng ôm lấy mà khóc và bảo rằng:
- Con ơi! Con đi theo thân phụ, nên phải cẩn thận. Hễ khi tới Vân Nam thì con sẽ lưu tại ngoại gia mà cố chí học hành.
Triệu Thụy cũng quì xuống đất khóc mà thưa rằng:
- Nàng Đề Oanh thuở xưa, mới lên chín tuổi mà đã biết dâng thư cứu cha, huống chi con là nam tử, chẳng lẽ lại không biết tận hiếu hay sao! Ngày nay con đi theo thân phụ con, dẫu đường sá xa xôi, nhưng chưa lấy chi làm khổ sở lắm. Con không kịp cáo từ thân mẫu (trỏ Tô Ánh Tuyết) con ở nhà, tức là có tội. Xin nói giúp cho. Hễ thân phụ con tìm thấy thượng hoàng, bấy giờ sẽ được một nhà sum họp, bằng không mà con đi mất nữa thì xin cũng coi con như hòn máu đẻ rơi vậy.
Triệu Câu nghe đến câu thương tâm ấy, liền ôm lấy em mà khóc òa lên, và bảo rằng:
- Thôi em cứ yên lòng mà đi theo thân phụ. Bên trời góc bể, em nên gìn vàng giữ ngọc. Còn Tô mẫu ở nhà, nếu có nhớ em, anh đây sẽ tìm lời khuyên giải.
Hùng Khởi Thần cũng khóc mà đi tiễn. Bấy giờ Hoàng Phủ Thiếu Hoa cùng Triệu Thụy dứt áo ra đi, khiến cho cả nhà xót xa thương khóc. Khi đi khỏi rồi, Triệu Câu và Hùng Khởi Thần cùng về phủ trước, Mạnh Lệ Quân và mọi người thu xếp về sau. Phò mã Triệu Câu thuật chuyện cho Tô Ánh Tuyết nghe. Tô Ánh Tuyết rất lấy làm vui lòng. Triệu Phượng và Triệu Tường nghe nói đệ ngũ công tử đi theo thân phụ, đếu oán trách Triệu Câu mà rằng:
- Sao trưởng huynh không cho người gọi chúng em, khiến chúng em được tiễn biệt thân phụ và ngũ đệ. Trưởng huynh ơi! Thân phụ đi chuyến này, biết bao giờ chúng em lại gặp mặt. Bây giờ chắc đi chưa xa mấy nỗi, âu là để cho chúng em cùng theo đi.
Phò mã Triệu Câu nói:
- Các em chớ nghĩ như thế! Thân phụ muốn đền ơn triều đình, nên quyết chí đi tìm thượng hoàng là phải, còn anh đây và tam đệ (trỏ Triệu Lân) thì đã xin liều mình tận trung báo quốc, chắc sau này cũng không ở nhà. Tai vạ tày trời, chưa biết ngày nào, vậy các em nên ở nhà chăm việc học hành trước là để hầu hạ sớm khuyên cho ba vị thân mẫu vui lòng, sau là để giữ lấy dòng dõi nhà Hoàng Phủ ta đó!
Sáng hôm sau, Hán vương cho người đến triệu phò mã Triệu Câu. Triệu Câu biết là vì việc thượng hoàng, mới nói với Mạnh Lệ Quân, rồi tức khắc đi ngay. Khi vào tới nơi, Hán vương trông thấy, liền nắm lấy tay đưa vào yết kiến bà thái phi (mẹ Hán vương). Bà thái phi đang ngồi ở trên giường, trông thấy phò mã Triệu Câu vào, vội vàng đứng dậy mời ngồi và bảo rằng:
- Phò mã ơi! Có một chuyện rất lạ lùng! Tôi nghe đồn đêm nguyên tiêu vừa rồi thượng hoàng ra xem cuộc hoa đăng, rồi bỗng bỏ đi mất, chẳng hay có đích thực như thế không? Xin phò mã nói cho tôi được biết.
Phò mã Triệu Câu nghe nói, ứa hai hàng nước mắt khóc mà thưa rằng:
- Việc thượng hoàng bỏ đi, hiện có phong thư của Hùng vương mới gởi tới đây, xin đệ trình để thái phi xem cho rõ chuyện.
Nói xong, liền cầm phong thư đệ trình. Bà thái phi cầm xem, rồi kêu lên một tiếng mà ngã lăn ra, tay chân lạnh giá như đồng, nét mặt tái mét. Hán vương và phò mã chẳng còn hồn vía nào nữa, liền gọi các cung nữ đến, cùng nhau vực bà thái phi lên trên giường, và đem nước gừng cứu chữa. Hồi lâu, bà thái phi mở mắt nhìn, thở dài một tiếng rồi khóc mà than rằng:
- Thượng hoàng ơi! Chẳng hay vì cớ gì mà thượng hoàng lại bỏ nước mà đi! Bây giờ đất rộng trời cao, còn biết đâu mà tìm cho được! Thái hậu thì bệnh lâu chưa khỏi, thánh thượng thì nhu nhược, chính sự chẳng ra thế nào. Ngày nay thượng hoàng bỏ đi chắc nước nhà khó lòng đã giữ cho khỏi rối loạn.
Hán vương cũng khóc rằng:
- Phụ hoàng ơi! Phụ hoàng nỡ lòng nào bỏ con mà đi! Giả sử con còn ở lại nam nội thì quyết không khi nào để đến nỗi như thế này.
Phò mã Triệu Câu nói với bà thái phi rằng:
- Xin thái phi nín khóc, cho kẻ hạ thần được trần thuyết mấy lời. Kẻ hạ thần thiết nghĩ sự thế ngày nay, không phải chỉ khóc mà khóc thể yên được.
Bà thái phi gạt nước mắt, bảo các cung nữ đỡ ngồi dậy. Phò mã Triệu Câu nói:
- Hiện nay cha con Đồ Man Hưng Phục ngoài mặt giả cánh giúp đỡ Phi Giao hoàng hậu, nhưng mặt trong có ý phản nghịch, vẫn liên kết bè đảng, chiêu tập quân mã, tất có ngày nó phải chiếm đoạt ngôi trời. Vậy nay đại vương nên tâu với triều đình rằng ở đây có nhiều giặc bể, xin chiêu tập thêm quân mã, để giữ cho được yên dân. Đại vương nên xuất của kho mộ quân, rồi giao cho kẻ hạ thần luyện tập. Hễ Đồ Man Hưng Phục nổi loạn thì ta sẽ cất quân về mà thu phục giang sơn. Có như thế thì thái hậu mới được an toàn, mà thượng hoàng nghe tin, tất cũng vui lòng mà về nước.
Hán vương nghe nói, khen ngợi mà rằng:
- Nếu vậy thì là mà mưu kế rất diệu! Việc nước sau này trông cậy ở tay phò mã đó!
Bà thái phi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Việc này ta phải bàn với Hoàng Phủ Tương vương mới được. Mạnh vương phi tài trí kiêm toàn, ít người sánh kịp, ta chắc thế nào cũng sẽ trù tính được việc này.
Phò mã Triệu Câu vừa khóc vừa thuật chuyện Hoàng Phủ Thiếu Hoa cải dạng đi tìm thượng hoàng cho bà thái phi nghe. Bà thái phi và Hán vương nghe nói, đều khen ngợi Hoàng Phủ Thiếu Hoa là một trung thần. Phò mã Triệu Câu cáo từ lui ra. Khi về tới phủ, trông thấy Mạnh vương phi và hai bà Tô, Lưu phu nhân đều ngồi ngẩn người ra, phò mã Triệu Câu kinh ngạc mà vội hỏi rằng:
Lưu Yến Ngọc nói:
- Ngày nay mở cái hộp vàng ra xem thì hai quyển binh thư không biết ai lấy trộm mất. Sau hỏi đứa nữ tỳ, mới biết là hồi năm trước, con Phi Giao có mở xem, mà không biết đã cất vào chưa. Vì thế mà vương phi buồn rầu, đến giờ vẫn chưa xơi cơm sáng.
Phò mã cười mà đáp rằng:
- Lo chi điều ấy mà lo! Từ xưa đén giờ kẻ tà không bao giờ thắng được người chính vậy.
Mạnh Lệ Quân lại thở dài mà than rằng:
- Triệu Câu con ơi! Con nói dẫu phải, nhưng con Phi Giao hành hung, ta tiến kinh chuyến này, có thể khuyen bảo được thì khuyên bảo, bằng không thì ta tâu với thái hậu mà truất đi hoặc giết đi, cũng chẳng tiếc chi. Nay nó lại thông hiểu các phép ho phong hoán vũ, khó lòng mà trị nổi, biết làm thế nào.
Mạnh Lệ Quân nói xong, lại vật mình lăn khóc. Phò mã Triệu Câu khuyên giải mà rằng:
- Muôn việc chẳng qua tại trời, xin thân mẫu chớ có lo phiền. hôm nay có dặn con bảo thân mẫu đến, để thái phi muốn giải bày mọi chuyện.
Triệu Câu lại thuật rõ đầu đuôi cho Mạnh Lệ Quân biết việc Hán vương định dâng biểu tâu triều đình, xin chiêu thêm quân mã v.v... Lưu Yến Ngọc gạt nước mắt mà nói với Mạnh Lệ Quân rằng:
- Ngày nay việc nước trông cậy ở trong tay vương phi. Một thân coi trọng hơn mấy vạn quân, xin vương phi phải giữ ngọc gìn vàng, chớ nên phiền muộn quá!
Sáng hôm sau, Mạnh Lệ Quân sang yết kiến bà thái phi. Thái phi giữ ở trò chuyện trong mấy hôm rồi mới về phủ. Phò mã Triệu Câu thì tán gia tài để chiêu tập quân mã, hàng ngày luyện tập ở phủ Hán vương. Công việc trong nhà đã có hai phu nhân Tô và Lưu trông nom thu xếp. Hùng Khởi Thần thì rèn tập cho con nhỏ học hành. Mạnh Lệ Quân truyền bảo đâu đấy, chỉ còn đợi chọn ngày để tiến kinh. Bỗng có Mạnh Khôi (con Mạnh Gia Linh) đến viếng tang. Mạnh Khôi nghe tin Hoàng Phủ Thiếu Hoa bỏ đi tìm thượng hoàng, mới thở dài mà than rằng:
- Thân phụ tôi ở nhà nghe biết việc này, tất thế nào cũng cũng thu xếp tiến inh. Vậy con làm lễ viếng tang xong, cô mẫu cho con xin cáo từ về ngay mới được.
Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Không đi đâu mà vội! Hàng mấy năm nay cháu mới gặp cô, âu là hãy ở đây mấy hôm để ta hỏi chuyện.
Nói chưa dứt lời thì có Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc bước vào. Mạnh Khôi quì xuống lạy chào, hai phu nhân đỡ dậy mời ngồi, rồi ân cần hỏi han trò chuyện. Bấy giờ Triệu Câu vẫn ở trong phủ Háng vương để luyện tập quân mã, có khi hàng tháng mới về một lần. Khi về tới nhà, trông thấy Mạnh Khôi liền giữ ở lại, không cho về vội, chẳng ngờ ngày tháng thoi đưa, thấm thoát đã đến cuối xuân vậy. Một hôm Triệu Câu về nói với Mạnh Lệ Quân rằng:
- Con nghe tin đồn Hùng hậu đem bùa dấu chôn ở trong cung, mà toàn gia họ Hùng đều phải trị tội, việc ấy chưa biết có được đích thực hay không.
Nói chưa dứt lời thì bỗng nghe báo có người nhà Hùng vương là Chu Thống xin vào yết kiến Mạnh vương phi cùng phò mã. Cả nhà nghe báo, đều lấy làm kinh ngạc, chưa biết việc lành dữ thế nào. Phò mã Triệu Câu nói:
- Ta cho gọi vào đây, tự khắc sẽ hiểu.
Nói xong, truyền người nhà cho Chu Thống vào. Nguyên Chu Thống là một người quản gia trong phủ Hùng vương. Khi Chu Thống vào tới nơi, trông thấy Mạnh Lệ Quân và phò mã Triệu Câu, liền quì xuống mà kêu:
- Trăm lạy vương phi! Trăm lạy phò mã! Mau mau cứu lấy toàn gia tính mệnh cho chủ nhân tôi.
Mạnh Lệ Quân kinh ngạc hỏi:
- Chủ nhân nhà ngươi có việc gì, mau mau nói cho ta nghe.
Chu Thống vừa khóc vừa kể lể đầu đuôi mọi việc Hùng hậu bị truất. Hùng vương bị giam và Lương Trấn Lân thừa tướng đập đầu chết ở cửa cung cho Mạnh Lệ Quân nghe. Cả nhà nghe nói, ai nấy đều ngẩn người, kinh hồn tán đởm. Bỗng thấy Mạnh Lệ Quân miệng phun máu ra, rồi nga lăn xuống đấy. Cả nhà xúm lại gọi. Nhưng may mà người vẫn tỉnh, mới xua tay khẽ bảo rằng:
- Không can chi!
Bấy giờ hai phu nhân đỡ Mạnh Lệ Quân dậy, đưa nước sâm thang cho uống. Hồi lâu, tinh thần mới dần dần trấn tĩnh. Bỗng thấy người nhà ở mặt ngoài hoảng hốt chạy vào, không biết là việc gì. Hai phu nhân đón hỏi thì chúng bẩm rằng:
- Dám bẩm hai phu nhân! Hùng công tử đang ngồi ở thư hiên, tiếp được tin nhà, bỗng ngất người ngã ra, Mạnh công tử sai chúng tôi về lấy nước sâm thang để đem cứu chữa.
Hai phu nhân sợ hãi, vội vàng chạy sang chốn thư hiên thì Mạnh Khôi đang cứu chữa cho Hùng Khởi Thần. Hồi lâu, Hùng Khởi Thần hơi tỉnh, mới nức nở khóc mà kêu rằng:
- Hai thân ơi!...
Hai phu nhân xúm lại khuyên giải mà rằng:
- Hiền sanh ơi! Hiền sanh phải vững lòng, chứ khóc thương lắm cũng không ích gì cho nước vậy. Sự tai biến này Hùng vương đã nghĩ đến từ trước, cho nên mới bảo hiền sanh về đây. Hiền sănh hay xem như phu quân ta thuở trước, trải bao gian khổ, mà vẫn một lòng sắt đá, chẳng chút chuyển dời.
Tô Ánh Tuyết bấy giờ dạ đau như cắt, phần thương nghĩa huynh là Lương Trấn Lân; phần nhớ con gái là Phi Loan quận chúa, ruột tằm bối rối, nỗi niềm càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Mạnh Lệ Quân vẫn còn thổ huyết, bảo Triệu Câu rằng:
- Triệu Câu con ơi! Con chớ lo sợ, ta vẫn có chứng “cấp huyết”. chỉ mấy ngày sẽ khỏi, chẳng có hề chi. Nhưng ta còn hiềm về một điều Hùng Khởi Thần ở đây, hoặc khi triều đình giáng chỉ mà tróc nã thì làm thế nào? Chi bằng cho chàng sang Vân Nam, thay họ đổi tên mà tạm trú ở ngoại gia, chờ đến khi họ Hùng được ân xá rồi, bấy giờ sẽ xuất đầu lộ diện.
Phò mã Triệu Câu và hai phu nhân nghe nói, đều lấy làm diệu kế. Tô Ánh Tuyết thở dài mà rằng:
- Con Phi Loan bây giờ tất cũng đang ở trong ngục thất.
Lưu Yến Ngọc nói:
- Khi nào đến nỗi thế! Chị em ruột thịt, chẳng lẽ lại nỡ lòng hại nhau.
Phò mã Triệu Câu nói:
- Con Phi Giao dẫu không nỡ lòng giam vào ngục thất, nhưng tôi chắc con Phi Loan tình nguyện xin theo họ Hùng thì thành ra cũng phải vào ngục thất vậy.
Cả nhà bàn tính hồi lâu, rồi mời Mạnh Khôi vào, bảo đưa Hùng Khởi Thần về Vân Nam. Mạnh Khôi nói:
- Tôi vẫn muốn trở về quê nhà, nay Hùng công tử đã được khỏe mạnh thì xin cho theo tôi xuống thuyền trở về Vân Nam một thể.
Mạnh Lệ Quân lại bảo hai phu nhân rằng:
- Việc này chớ chậm trễ, nên sửa soạn cho Hùng Khởi Thần đi ngay.
Nói xong, sai người mời Hùng Khởi Thần vào. Mạnh Lệ Quân gượng ngồi mà bảo Hùng Khởi Thần rằng:
- Hiền sanh ơi! Việc tai nạn này xảy ra, thật là lỗi tự ta trước, nhưng sự thể đã như thế này, cũng không thể làm sao cho được.. Có biết bảo thân mới là người minh triết, ngày nay hiền sanh nên theo Mạnh Khôi hãy tạm lánh mình về Vân Nam.
Hùng Khởi Thần nghe nói, giọt lệ chứa chan mà rằng:
- Tôi được đội ơn ba vị cữu mẫu bảo toàn cho, thật lấy làm cảm tạ lắm. Nhưng lòng tôi bây giờ đau như dao cắt, một nhà chết cả thì thân này xòn sống để làm gì! Huống chi tai nạn ngày nay so với tai nạn năm xưa lại còn hơn nhiều. Năm xưa thì vu oan giá họa chỉ có một mình họ Lưu, mà bấy giờ vua thánh tôi hiền, còn đang thời thịnh. Hễ oan kia giải tỏ tự khắc hắc bạch phân minh. Vả cữu phụ tôi là bậc đại tài, chứ ngu hèn như tôi thì cầm bằng sống mà chết già, chẳng thà tiến kinh đầu thú đi, để được theo hầu cha mẹ ở trong ngục thất. Cữu mẫu ơi! Cái thân sống thừa này, còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi!
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
hồi thứ 7b

Mạnh Lệ Quân nghe lời nín lặng, chưa biết nói thế nào thì Lưu Yến Ngọc nói:
- Hiền sanh nghĩ lầm! Hiền sanh cũng đường đường là thân nam tử, vậy cái hiếu nhỏ mọn ấy sá kể làm chi. Hiền sanh nên biết rằng dòng dõi họ Hùng trông cậy ở hiền sanh đó. Ngày nay hãy tạm lánh mình, cố chí học hành, rồi mai sau thay họ đổi tên, sẽ xuất đầu lộ diện mà dâng biểu giải oan cho thân phụ. Vả Mạnh vương phi chẳng bao lâu nữa cũng sẽ tiến kinh, tìm lời khuyên bảo con Phi Giao, hoặc giả nó hồi tâm mà ân xá cho họ Hùng chăng thì bấy giờ lại được cùng nhau một nhà sum họp vậy. Hiền sanh chớ nên trái ý hai thân, hãy tạm lánh mình sang Vân Nam, có Mạnh Gia Linh cữu phụ kia vốn là người trung trực lạ thường, đối với họ Hùng, xưa nay vẫn một lòng quý mến.
Tô Ánh Tuyết cũng khóc mà bảo rằng:
- Thôi, nói nhiều làm chi! Hiền sanh cứ nên sang Vân Nam là hơn. Nếu không khi triều đình giáng chỉ nã tróc hiền sanh thì bấy giờ dẫu muốn thoát thân, thiết tưởng cũng khó lòng mà gỡ cho được. Xót thương cho nghĩa huynh (trỏ Lương Trấn Lân) tôi đập đầu tự tử, ngày nay vợ con trăm phần khổ sở, mà tôi thì không giúp được tí gì. Tôi còn nhớn ngày nào tôi đâm đầu xuống sông, được nghĩa mẫu tôi cứu vớt, ơn sâu ấy luống đã phụ phàng. Lại xót thương cho con gái tôi là Phi Loan kia xấu duyên phận hẩm, gặp phải nhà chồng đang lúc hiểm nguy, chẳng biết con tạo xoay vần, sau này vợ chồng có được đoàn viên chăng tá! Năm trước ta từ biệt con gái mà về quê nhà, lòng ta đã đau như cắt, ngày nay thì một đứa con nhỏ lại theo phu quân ra đi khiến tôi càng thêm cay đắng muôn vàn. Nhưng chỉ vì công nghĩa không dám nghĩ đến tư tình, cho nên dẫu sao cũng bấm gan chịu vậy. Tôi là đàn bà còn như thế được, huống chi hiền sanh là bậc tu mi. Hiền sanh nên yên lòng mà sang Vân Nam lánh nạn.
Nói chưa dứt lời thì Mạnh Khôi vào cáo từ xin đi. Hùng Khởi Thần bất đắc dĩ cũng phải đi theo. Mạnh Lệ Quân cầm lấy tay Mạnh Khôi mà dặn rằng:
- Hiền điệt ơi! Hiền điệt về tới nhà cứ nói là ta vẫn được khỏe mạnh như thường, chớ đem những nỗi đau lòng mà nói cho tổ phụ và tổ mẫu biết, kẻo người tuổi già sức yếu, luống thêm một mối thương tâm. Hiền điệt lại nên mật bảo với thân phụ và thân mẫu rằng: Ngày nay chẳng may xảy ra tai nạn này, ta đây cũng chưa biết sống chết thế nào nữa.
Mạnh Lệ Quân nói đến câu thương tâm ấy, lại ngất người ngã ra. Cả nhà vào gọi và đổ nước sâm thang hồi lâu mới tỉnh. Khi Mạnh Lệ Quân tỉnh rồi lại giục Mạnh Khôi và Hùng Khởi Thần đi. Bỗng có phò mã Triệu Câu ở phủ Hán vương về. Phò mã Triệu Câu nói:
- Tôi nghe tin triều đình đã có giáng chỉ, chỉ sáng mai thì sẽ tới đây. Dẫu chưa biết có phải là nã tróc Hùng công tử hay không, nhưng chi bằng ta tiên cơ định liệu. Bây giờ Hùng công tử nên thay hình đổi dạng, cứ nói là con một người gia tướng, từ thuở nhở cữu phụ tôi nuôi làm nghĩa tử, đặt tên gọi Mạnh Vân.
Phò mã Triệu Câu lại gọi Chu Thống vào mà bảo rằng:
- Chu Thống nhà ngươi hãy theo Hùng công tử lánh nạn sang ở nhà họ Mạnh tại Vân Nam, để cho được yên việc.
Chu Thống vâng lời. Một lúc Hùng Khởi Thần cải trang xong đi lẫn với bọn gia bộc, phò mã Triệu Câu và hai em tiễn ra đến ngoài cửa phủ, rồi hai bên cùng gạt nước mắt mà từ biệt nhau. Khi phò mã Triệu Câu trở vào trong nhà đem bức thư của tam đệ là Triệu Lân đệ trình Mạnh Lệ Quân:

“Con là Triệu Lân có mấy lời kính trình để ba mẹ (tức ba bà mẹ) rõ chuyện:
Từ khi con tiếp được thư nhà, được biết tin thân phụ con đem ngũ đệ đi tìm thượng hoàng, xa cách hai phương, lòng con thật nóng như lửa đốt. Muốn về không được, mà ở đây thì cũng nguy hiểm lắm thay! Ngày nay biến cố lạ thường, Hùng Hiệu bị oan, toàn gia Bình Giang vương phải giam vào ngục. Lương thừa tướng đập đầu tự tử. Thái hậu đã nhiều lần phẫn uất, hết sức bênh vực, cho nên gia quyến họ Hùng mới chưa phải đem ra hành hình.
Đồ Man Hưng Phục làm thừa tướng, hai con làm Long Vũ tướng quân, đem cấm binh vào trong cung, giả danh là hộ vệ hoàng gia, nhưng kỳ thực có lòng phản nghịch. Xin thân mẫu mau mau thu xếp tiến kinh, kẻo con còn thơ ngây, một mình ở đây khó lòng mà bảo toàn được. Phi Giao giáng chỉ tha cho Phi Loan để định ly hôn cùng họ Hùng, nhưng Phi Loan không chịu cải giá, lại tình nguyện theo họ Hùng vào trong ngục thất. Hiện nay có giáng chỉ nã tróc biểu huynh con là Hùng Khởi Thần, chẳng bao lâu sẽ tới Vân Nam vậy ta nên phải đề phòng trước.
Độ này quan dân náo loạn, chỉ đêm ngày mong đợi thân mẫu về triều. Hùng hậu may nhờ được thái hậu đem vào ở nội cung, mà thái hậu thì bệnh nặng không dậy, thánh thượng cũng chẳng vào vấn an lần nào, Phi Giao lại truyền ngôn là thái hậu muốn hại thánh thượng để lập Triệu vương, như vậy thì thật nguy cho nước nhà lắm lắm.
Triệu Lân thủ thư”


Mọi người xem thư, ai cũng thở ngắn than dài, ngẩn mặt ra mà nhìn nhau. Phò mã Triệu Câu nói:
- Quái lạ! Không biết cớ sao trong thư lại không nói chi đến việc long thai. Mà thái hậu có lẽ nào lại biến tâm như thế. Tất có sự bí mật chi đây, cho nên không thể nào viết ra thư được.
Mạnh Lệ Quân vương phi căm tức bội phần, nghiến hai hàm răng mà ngất người đi. Cả nhà xúm lại gọi hồi lâu mới tỉnh. Khi Mạnh Lệ Quân tỉnh dậy, thở dài than rằng:
- Trời ơi! Cái tội làm hại nước, ta đây dẫu chết cũng không tránh khỏi. Tiếc thay những bậc hiền thần danh tướng ở Nguyên triều này, ai ngờ lại bị vùi dập về tay họ Mạnh.
Lưu Yến Ngọc gạt nước mắt mà tìm lời khuyên giải. Tô Ánh Tuyết thì nức nở khóc mãi không thôi. Bỗng nghe báo có thánh chỉ đến, phò mã Triệu Câu vội vàng ra nghênh tiếp. Trương Hổ đứng tuyên đọc tờ thánh chỉ. Phò mã Triệu Câu nghe xong liền nói:
- Trương Hổ! Nhà ngươi phụng chỉ đến bắt Hùng Khởi Thần nhưng ngày hai mươi tháng ba hắn đã đi sang nhà ông cậu rồi. Trương Hổ kinh ngạc mà bẩm rằng:
- Chết nỗi! Bây giờ biết làm thế nào? Ông cậu hắn quê quán ở đâu? Họ tên là gì? Làm chức nghiệp gì? Xin phò mã chỉ bảo cho, để chúng tôi theo đến đấy mà tróc nã.
Phò mã Triệu Câu nói:
- Ông cậu hắn là một quan tổng binh, nay đã cáo bệnh về nghỉ, hiện ở Giang Ninh, tên gọi Vệ Dũng Bưu, nhà ngươi nên tức khắc đi ngay, ta đây cũng sẽ có bản tâu về tâu thánh thượng.
Trương Hổ nghe nói có ý buồn rầu mà rằng:
- Bây giờ chúng tôi lại kéo nhau sang Giang Ninh thì biết lấy chi làm tiền lộ phí.
Phò mã Triệu Câu truyền người nhà đem hai trăm lạng bạc trao cho Trương Hổ, Trương Hổ cáo từ lui ra, rồi theo đường Giang Ninh cất quân thẳng bước.
Phò mã Triệu Câu thầm nghĩ: “May sao thân mẫu ta lại biết liệu trước, nếu không thì ngày nay có quan khâm sai đến, ta khó lòng mà giấu được Hùng Khởi Thần”. Phò mã Triệu Câu quay vào nhà trong thăm Mạnh Lệ Quân thì thấy thần sắc hôn quyện, lại chập chờn cơn tỉnh cơn mê. Cả nhà xúm quanh, đều lấy làm lo sợ. Các danh y trong tỉnh, mời đã gần khắp mà bệnh tình vẫn chưa thuyên giảm chút nào. Một hôm quan tuần phủ Thiếp Mộc Nhĩ đến thăm bệnh Mạnh Lệ Quân, nói với phò mã Triệu Câu rằng:
- Tôi có người bạn tên gọi Nhạc Hiệu. Ông ta tinh nghề làm thuốc nổi tiếng danh y gia truyền đã ba đời. Gần một năm nay ông ta vẫn ở với tôi, âu là phò mã thử dùng xem, biết đâu cũng có công hiệu.
Phò mã Triệu Câu nghe nói mừng lòng, liền gọi người nhà là Triệu Thành mà bảo rằng:
- Triệu Thành! Nhà ngươi cầm danh thiếp của ta đi theo đại nhân đây về nhà, để mời thầy thuốc.
Triệu Thành vâng lời, theo quan tuần phủ Thiếp Mộc Nhĩ về. Khi tới nhà, Thiếp Mộc Nhĩ bảo Nhạc Hiệu rằng:
- Đây là người nhà Hoàng Phủ phò mã sai đến đón tiên sinh để về chữa thuốc cho Mạnh vương phi đó!
Nhạc Hiệu nói:
- Tài học tôi chưa được bao nhiêu, chỉ sợ lại phụ công tiến cử của đại nhân vậy.
Quan tuần phủ Thiếp Mộc Nhĩ nói:
-Nghề là thuốc của tiên sinh, tôi vẫn kính phục đã lâu. Vả làm thuốc có người mát tay, hoặc giả tiên sinh cũng mát tay mà chữa khỏi bệnh cho Mạnh vương phi chăng.
Nhạc Hiệu vâng lời, liền đội mũ mặc áo đi theo Triệu Thành về nhà Hoàng Phủ. Triệu Câu nghe báo, vội vàng chạy ra nghênh tiếp, mời ngồi uống nước trà và kể bệnh trạng Mạnh Lệ Quân cho Nhạc Hiệu nghe.
Nhạc hiệu lẩm nhẩm gật đầu, rồi nói:
- Xin phò mã cho chúng tôi vào bắt mạch.
Triệu Câu đứng dậy đưa vào nhà trong, sai nữ tỳ cuốn màn để cho Nhạc Hiệu bắt mạch. Khi bắt mạch xong, Nhạc Hiệu không nói câu gì, lại cùng Triệu Câu đi ra nhà ngoài. Phò mã Triệu Câu hỏi:
-Tiên sinh xem mạch thân mẫu tôi thế nào, xin tiên sinh nói rõ cho biết.
Nhạc Hiệu nói:
- Cứ như bệnh trạng của Mạnh vương phi đây không phải là nhẹ. Số là vương phi đa tài, xưa nay vẫn dùng quá tâm lực. Tâm khí đã hư, can hỏa tất vượng. Ngày nay lại gặp có sự bất bình, cho nên huyết hải xung khai mà sinh ra thế. May sao nguyên khí vẫn vững, nhưng nay muốn tránh thổ huyết không nên dùng sâm. Các danh y đều cho là chứng huyết hư, bởi vậy càng bổ huyết thì càng vọng hành. Bây giờ nên dùng bài “Dẫn hỏa qui nguyên” thì tự khắc can hỏa bình tĩnh vậy.
Phò mã Triệu Câu gật đầu khen phải, rồi xin Nhạc HIệu kê đơn thuốc. Nhạc Hiệu kê đơn xong, lại nói với phò mã Triệu Câu rằng:
- Cái đơn thuố này bất tất phải đổi chi cả, cốt giữ làm sao cho vương phi đừng nghe thấy những tin tức buồn rầu thì chỉ trong trăm ngày, có thể bình phục như thường được. Nếu để cho có sự gì lo phiền giận dữ, bấy giờ thuốc tiên cũng chẳng công hiệu nào. Dẫu rằng không chết, nhưng sau này cũng thành ra phế nhân vậy.
Nhạc Hiệu nói xong, cáo từ lui ra. Phò mã Triệu Câu truyền đem tiền bạc ra để tiến tống. Mạnh Lệ Quân uống một nước thuốc rồi nằm thiu thiu ngủ. Cách mấy ngày hôm sau, bệnh thế đã bớt nhiều. Phò mã Triệu Câu dẫu thấy bệnh thế đã bớt nhiều, nhưng bao nhiêu tin tức ở trong nội cung, nhất thiết không dám cho biết một tý gì nữa. Công việc trong nhà đã có phu nhân lo liệu. Hai cậu đệ nhị và đệ tứ công tử thì lúc nào cũng hầu hạ luôn bên cạnh mình Mạnh Lệ Quân. Mạnh Lệ Quân tinh thần vẫn trấn định, trong khi nhàn hạ, mới hỏi hai công tử rằng:
- Chẳng hay ai bốc thuốc cho ta uống như thế?
Hai công tử mới thuật chuyện mời Nhạc Hiệu đến chữa thuốc cho Mạnh Lệ Quân vương phi nghe. Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Nếu vậy thì người ấy thật giỏi nghề thuốc, đoán bệnh không đế nỗi lầm. Ngày nay ta nghe trong mình đã khoan khoái lạ thường âu là ta phải sửa soạn tiến kinh mới được.
Lưu Yến Ngọc nói:
- Xin hãy thư thả, đợi đến xuân sau sẽ đi.
Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Không thể được! Ngày nay thái hậu luống những lo sợ, gia quyến Hùng vương thì bị giam ở trong ngục thất, ta nỡ lòng nào mà ngồi cho yên. Vậy ta nhất định đến ngày ba tháng chín này sẽ khở hành tiến kinh, còn công việc trong nhà đã có hai phu nhân lo liệu.
Nói chưa dứt lời thì bỗng thấy phò mã Triệu Câu bước vào mà nói với Mạnh Lệ Quân rằng:
- Tiết đoan ngọ vừa rồi, Gia Tường công chúa đã đẻ sinh đôi: Một trai và một gái. Hiện tam đệ là Triệu Lân đã sai người báo tin cho con biết.
Nói xong, liền đem bức thư của Triệu Lân đệ trình Mạnh Lệ Quân. Bức thư như sau này:

“Kính trình ba mẹ, (tức ba bà mẹ)
Nhà cửa vẫn được bình yên, chỉ có thái hậu bệnh nặng, một mình con không sao mà trông nom cho xiết, vậy xin thân mẫu mau mau tiến kinh.
Sự thể Phi Giao lộng quyền, con đã nói ở trong thư trước. Bây giờ gia quyến họ Hùng cực khổ trăm chiều. Chị Lương Cẩm Hà mới sinh con trai, trông nom nhờ có quan Nguyễn tướng công, chứ con đây tị hiềm, không dám đi lại hỏi han chi cả. Lại có một người kỳ nữ, nói là tiểu thiếp của biểu huynh Hùng Khởi Phượng, tình nguyện vào nhà giam. Xem thế thì biết nhà họ Hùng trung trực, đã cảm hóa cả đến bọn phụ nữ, mà Hoàng Phủ ta thật không được bằng. Cái họa “diệt tộc” sau này, con chỉ sợ để tiếng về thiên cổ.
Ký tên: Triệu Lân"


Mạnh Lệ Quân xem xong, nửa mừng nửa lo, bàn đi tính lại hồi lâu, rồi nhất định phải tiến kinh mới được. Ngày hôm sau, Mạnh Lệ Quân sang phủ Hán vương yết kiến bà thái phi. Thái phi đứng dậy nghênh tiếp, mời ngồi mà bảo rằng:
- Hôm trước Triệu quốc thái phi (mẹ Triệu vương) có viết thư hẹn với tôi để cùng tiến kinh, không ngờ thánh thượng lại giáng chỉ cấm không cho hồi triều, nói thượng hoàng dẫu bỏ đi, nhưng các phiên vương đều phải yên phận mà giữ bờ cõi, chớ sinh lòng dòm dỏ, khiến cho náo loạn dân tâm. Như thế thì chúng tôi khi nào còn dám tiến kinh nữa. Thái hậu ơi! Bây giờ muốn vào vấn an mà cũng không được đó! Nói xong, hai hàng nước mắt lã chã tuôn rơi. Mạnh Lệ Quân cũng gạt nước mắt mà rằng:
- Xin thái phi cứ yên lòng. Ngày nay dẫu tai biến lạ thường, nhưng nhờ có ân trạch tiên triều thì giang sơn này chắc chưa đến nỗi đã nghiêng đổ. Còn như tội ác của nhà Hoàng Phủ tôi, dẫu muôn chết cũng không rửa sạch được nào. Thái phi có muốn nhắn điều chi gì xin người chỉ bảo.
Bà thái phi khóc mà đáp rằng:
- Tôi cũng chẳng có nhắn chi cả, chỉ xin cầu cho thái hậu chóng được bình phục như thường. Thượng hoàng tất có ngày về triều, mà thiên đạo khi nào lại có giúp đứa gian ác. Mạnh vương phi ơi! Vương phi là người trí rộng tài cao, việc nước sau này trông cậy ở trong tay vương phi đó. Tôi còn có một điều cốt yếu này, xin vương phi ngồi trên cho tôi lại rồi sẽ thưa: Vương phi ơi! Vương phi cùng Phi Giao dẫu là tình mẹ con ruột thịt, nhưng vương phi cũng nên phải nghĩ đến nghĩa vua tôi và ân tình của thái hậu đối với vương phi thuở xưa.
Bà thái phi vừa nói vừa phục xuống đất lạy Mạnh Lệ Quân. Mạnh Lệ Quân giật mình kinh sợ, cố hết sức đỡ bà thái phi dậy, rồi lại cúi đầu sụp lạy mà thưa rằng:
- Thái phi bất tất phải như thế. Tấm lòng trung thành của tôi, đã có hoàng thiên soi xét. Tôi quyết không khi nào dám quên công nghĩa mà vị tư tình. Nếu tôi nói chẳng như lời thì dám xin lôi thần đả tử. Tội ác của tôi dẫu chết cũng đáng, tôi còn mặc dầy chữa thuốc cho khỏi là còn mong rằng phen này tiến kinh, sẽ dùng lời khuyên bảo con Phi Giao. Nếu khuyên bảo không được, bấy giờ tôi cũng xin liều mình một chết, để đền ơn triều đình vậy.
Mạnh Lệ Quân nói xong, bà thì bà thái lại nức nở khóc hoài. Các cung nữ xúm lại khuyên giải, và pha trà mời uống. Trong khi uống trà, bà thái phi lại thuật chuyện bà Triệu quốc thái phi nghe tin Triệu vương nói, cũng vật mình lăn khóc, kể sao xiết nỗi thảm sầu. Mạnh Lệ Quân lại khóc mà rằng:
- Thôi thì trăm điều tội ác, tôi xin chịu cả. Vì tôi bất hiền, cho nên mới sinh ra một đứa con bất hiếu ấy. Nhà Hoàng Phủ tôi thật tận trung báo quốc đã mấy đời nay, nay phu quân tôi quyết chí đi tìm thượng hoàng, hễ tìm không thấy thì cũng liều chết không về nữa.
Chuyện trò hồi lâu, thái giữ ở ăn cơm, mãi đến chiều tối mới về. Khi về tới nhà, hai phu nhân đã sửa soặn đủ các đồ hành lý. Đệ nhị công tử là Triệu Phượng cũng quyết chí xin theo. Các quan văn võ trong thành nghe tin Mạnh Lệ Quân sắp tiến kinh, đều đưa các đồ lễ vật đến tiễn tống. Phò mã Triệu Câu lại sai người nhà đưa vàng lụa sang ta ơn Nhạc Hiệu, vì đã có công chữa khỏi bệnh cho Mạnh Lệ Quân. Trước khi khởi hành tiến kinh, Mạnh Lệ Quân cấp tiền lộ phí cho mười ba tên gia tướng đi mười ba tỉnh để tìm Hoàng Phủ Tương vương. Lại làm lễ bái yết tổ tiên và ủy thác mọi việc cho hai phu nhân. Mạnh Lệ Quân lại gọi đệ tứ công tử là Triệu Tường đến gần trước mặt mà bảo rằng:
- Con ơi! Con nên nghe lời ta mà ở nhà hầu hạ hai mẹ, bỏ nghề võ học nghề văn, để giữ lấy việc thờ cúng tổ tiên.
Phò mã Triệu Câu nói:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu phải cẩn thận, Phi Giao nó chẳng nghĩ chi đến tình cốt nhục đâu. Thân mẫu chớ nên khuyên bảo nó mà e lại bị nó hãm hại.
Mạnh Lệ Quân thở dài mà than rằng:
- Sống chết có mệnh, dẫu sao ta cũng đành lòng!
Đêm hôm ấy, cả nhà suốt đêm không ngủ. Sáng sớm hôm sau sửa soạn khởi hành. Hán vương gởi các đồ lễ vật để tiến cống thái hậu. Bà thái phi cũng gởi một biểu tâu. Các gia tướng theo hầu đều đeo cung tên và binh khí. Mạnh Lệ Quân không đi đường thuỷ mà đi đường bộ. Cả nhà đi tiễn, nghĩ nỗi “Sinh ly tử biệt” ai nấy cũng đều sa nước mắt. Triệu Phượng theo đi, hai phu nhân nức nở khóc mãi. Phò mã Triệu Câu và Triệu Tường cùng quì xuống đất lạy mà thưa rằng:
- Chúng con xin cầu trời phù hộ cho thân mẫu bình an vô sự, sau này cốt nhục lại có ngày đoàn viên. Chúng con không theo đi được, thật là đại bất hiếu.
Mạnh Lệ Quân vương phi thẳng đường tiến mau. Chẳng bao lâu vào tới kinh thành, đến phủ phò mã. Gia Tường công chúa nghe báo, vội vàng ra nghênh tiếp. Mạnh Lệ Quân cầm lấy tay Gia Tường công chúa, rồi hai hàng nước mắt chảy ròng ròng, ngậm ngùi nín lặng hồi lâu, không nói ra lời. Gia Tường công chúa lạy thưa:
- Bấy lâu xa cách dưới gối, tội bất hiếu đã cam, may sao ngày nay vương phi tới đây, cho con lại được sớm khuya hầu hạ.
Hai người nhũ mẫu lại ẵm công tử và tiểu thư ra chào. Mạnh Lệ Quân mừng rỡ, liền ẵm lấy tiểu công tử mà hỏi chuyện. Ngắm nghía hồi lâu, trong lòng lấy làm kỳ dị, nhưng bấy giờ chưa tiện nói ra. Mạnh Lệ Quân lại nghoảnh nhìn tiểu thư thì mặt ngọc da ngà, thật giống Gia Tường công chúa như đúc. Gia Tường công chúa truyền các nữ tỳ pha trà, rồi nhân khi vắng người, liền thuật chuyện đầu đuôi mọi việc cho Mạnh Lệ Quân nghe. Mạnh Lệ Quân nghe nói, vội vàng đứng dậy, nhìn lại tiểu công tử một lượt rồi ứa nước mắt mà rằng:
- Triệu Lân còn nhỏ tuổi, mà đã lập được cái công bổ thiên cứu nhật này. Ai ngờ con bà Lưu phu nhân biết tận trung báo quốc, mà con gái ta lại độc ác giống hổ lang. Thôi, thôi! Công chúa bất tất phải lo phiền, thế nào thượng hoàng cũng có ngày vài nước. Họa căn dẫu bởi tại nhà Hoàng Phủ, nhưng thương xót thay cho phu quân ta từ xưa vốn giữ một lòng trung thành. Ngày nay đã bỏ nhà đem một đứa con nhỏ đi tìm thượng hoàng, chưa biết lưu lạc phương nào vậy. Cái tội không biết dạy con của ta, thật đáng diệt tộc, may nhờ có Triệu Lân cứu được hoàng tử thì dòng dõi nhà Hoàng Phủ cũng chưa đến nỗi nào.
Mạnh Lệ Quân nói đến câu thương tâm ấy lại không thể cầm được nước mắt cho được. Gia Tường công chúa nghĩ cũng đứt từng khúc ruột, nhưng phải ngậm đắng nuốt cay mà tìm lời khuyên giải Mạnh Lệ Quân. Các cung nữ bày tiệc, Gia Tường công chúa mời Mạnh Lệ Quân ngồi trên, rồi tự mình ngồi hầu ghế dưới. Nhà ngoài cũng bày tiệc mời Triệu Phượng. Mạnh Lệ Quân truyền cho các cung nữ lui ra. Khi mọi người lui ra rồi, Gia Tường công chúa cùng Mạnh Lệ Quân kể lể những nỗi xa xưa. Trong khi đang nói chuyện thì bỗng nghe báo có Triệu Lân vào. Triệu Lân nét mặt tái mét mà kêu rằng:
- Thân mẫu ơi! Công chúa ơi! Thật là một việc không may! Gia quyến họ Hùng, chỉ sớm ngày mai thì phải đem ra hành hình đó!
Mọi người nghe nói, đều kinh hoảng lạ thường, nhất là Mạnh Lệ Quân thì run sợ không thể ngồi vững được. Gia Tường công chúa vội vàng đỡ lấy, Triệu Lân cũng xúm lại mà gọi. Gọi trong hồi lâu, Mạnh Lệ Quân mới tỉnh dậy, tựa mình vào Triệu Lân mà ngồi và bảo rằng:
- Triệu Lân con ơi! Cái tài cao trí rộng của con, cha mẹ cũng lấy làm khen ngợi. Vác việc khác, ta không cần hỏi vội, ngày nay con hãy kể cho ta nghe việc nhà họ Hùng chẳng biết cớ gì mà tự nhiên bây giờ lại phải đem ra hành hình, hay là các quan triều thần có ai nói gì chăng?
Triệu Lân thấy Mạnh Lệ Quân hỏi như vậy, bấy giờ mới yên lòng, liền thuật chuyện đầu đuôi mà rằng:
- Số là Đồ Man Hưng Phục tâu với triều đình, nói gia quyến họ Hùng ở trong ngục đã lâu, ngay nay đảng võ khắp bốn phương, cho nên sinh ra nhiều giặc cướp. Vậy xin chém vợ chồng Hùng Hiệu thì tự khắc giặc cướp phải tan. Vả vợ chồng Hùng Hiệu ở trong ngục, ngày nào cũng đàn hát vui cười, lại rung đùi ngâm thơ, ra ý kiêu ngạo tự đắc, không sợ hãi một chút nào cả. Nếu không trừ tiệt đi, tất sinh nội biến. Bản tâu ấy dâng lên thì Phi Giao hoàng hậu phê chuẩn ngay, định đến ngày tám tháng này, đầu trống năm canh sẽ đem chém vợ chồng Hùng Hiệu. Phi Loan quận chúa thì bắt phải về phủ Tương vương để hầu hạ cha mẹ, đợi khi hết tang, bấy giờ sẽ tiến kinh. Nàng Lương Cẩm Hà và nàng Hạng Ngọc Thanh cùng đứa con mới sinh thì hãy cứ giam ở trong ngục thất, đợi khi Hùng Khởi Phượng và Hùng Khởi Thần về đây, sẽ đem hành hình. Thân mẫu ơi! Phi Giao giáng chỉ chỉ như thế mà thái hậu không biết một tý gì. Nguyễn Long Quang tướng công và các quan đại thần cũng có can ngăn mà Phi Giao không nghe, lại giáng chỉ rằng:
- Nếu ai dám tâu xin nữa thì tức là thông đồng với lũ phản nghịch, cũng nhất loại xử trảm. Thân mẫu nghĩ như thế thì còn ai dám tâu xin nữa! Ngày nay gặp thân mẫu tới đây, họa may Hùng bá phụ có sinh toàn được chăng, nhưng dùng kế chi mà cứu cho được, xin thân mẫu phải mau mau trù tính. Còn như công việc của con về trước thì một là họca, hai là phúc, bây giờ cũng chưa biết thế nào.
Mạnh Lệ Quân nói:
- Bây giờ không có kế chi cho được, chỉ có một kế vào diện tấu thánh thượng, họa may mới cứu thoát Hùng vương.
Mạnh Lệ Quân hỏi Triệu Lân rằng:
- Chẳng hay giám trảm quan là ai?
Triệu Lân nói:
- Đồ Man Hưng Phục và Nguyễn Long Quang tướng công.
Mạnh Lệ Quân nghe nói cau mày ngẫm nghĩ:
- Bây giờ không có kế chi cho được, âu là ta phải dùng đến kế khổ nhục mới xong. Mạnh Lệ Quân nghĩ vậy, mới gọi Triệu Lân đến gần bên cạnh, rồi ghé tai bảo thầm. Triệu Lân lẩm nhẩm gật đầu mà nói rằng:
- Nếu vậy rất hay! Con xin sang bảo trước với Nguyễn Long Quang tướng công.
Triệu Lân cáo từ lui ra, Mạnh Lệ Quân cũng không nói cho Gia Tường công chúa biết, chỉ bảo công chúa sửa soạn một tiệc rượu để đầu trống canh năm ra pháp trường tiễn biệt vợ chồng Hùng vương. Hồi lâu, Triệu Lân về báo với Mạnh Lệ Quân rằng:
- Đồ Man Hưng Phục đã đem ba trăm cấm binh giải vợ chồng Hùng bá phụ ra rồi, chỉ đợi đến đầu trống canh năm thì hạ thủ mà cửa thành bấy giờ đóng chặt, không cho ai qua lại. Quan Nguyễn tướng công dặn con mời thân mẫu phải ra ngay, rồi y kế thi hành, chớ có chậm trễ.
Mạnh Lệ Quân vương phi đứng dậy ra đi. Vương phi ngồi xe trước, lại có hai công tử cùng gia tướng theo sau. Đèn lồng sáng như ban ngày. Khi tới pháp trường, thấy đình liệu đỏ rực, cấm binh vây kín xung quanh bốn mặt, tướng sĩ đều gươm tuốt trần. Triệu Lân cưỡi ngựa đi lên trước, các cấm binh trông thấy kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Có phải quốc cữu định đến tế vợ chồng Hùng vương đó chăng?
Triệu Lân nói :
- Chính phải! Đêm qua Mạnh vương phi vừa mới tới đây, nghe tin vợ chồng Hùng vương bị xử tử, vậy có đặt một tiệc rượu để tiễn tống, gọi là tỏ chút thân tình.
Nói chưa dứt lời thì xe Mạnh Lệ Quân đến. Hai anh em Triệu Lân đỡ Mạnh Lệ Quân xuống xe, rồi đi đến chỗ cái cọc trói vợ chồng Hùng Hiệu. Bấy giờ hai vợ chồng Hùng Hiệu đều quì mà nhắm mắt, nín lặng không nói câu gì. Mạnh Lệ Quân trông thấy không sao cầm, liền khóc òa lên một tiếng thật to chạy đến ôm lấy Vệ Dũng Nga vương phi mà bảo rằng:
- Hiền tỷ ơi! Em là Mạnh Lệ Quân đây, xin hiền tỷ mở mắt nhìn em một chút.
Vệ Dũng Nga vương phi đang mơ mơ màng màng, bỗng nghe tiếng gọi, mở mắt ra nhìn, trông thấy Mạnh Lệ Quân, ứa hai hàng nước mắt, rồi nhắm lại, nín lặng không nói, chỉ lấy tay xua mà gạt đi. Mạnh Lệ Quân khóc lóc kể những nông nỗi đoạn trường, nói:
- Hiền tỷ ơi! Hiền tỷ chớ oán ai, chỉ nên oán Mạnh Lệ Quân này! Mạnh Lệ Quân này thật đã phụ lòng một người ơn sâu nghĩa trọng! Hiền tỷ ơi! Ngày nay em xin theo hiền tỷ cùng xuống suối vàng.
Mạnh Lệ Quân vương phi vừa khóc vừa nói, đến nỗi các hàng quan quân đứng quanh đấy đều phải động lòng xót thương. Hùng Hiệu thấy vậy, cũng phải kêu lên một tiếng mà rằng:
- Mạnh vương phi ơi! Vương phi có tài: “Kinh thiên vĩ địa” cớ sao lại nói quẩn như thế! Người ta ở đời, nào ai không chết, bi hoan tán tụ, cũng là việc thường. Tôi xin dặn vương phi một việc khẩn yếu này: Đồ Man Hưng Phục vốn có lòng phản nghịch, trong triều chỉ e có vợ chồng vương phi và tôi. Nay vợ chồng đã chết mà vương phi cũng chết thì việc nước trông cậy vào ai. Chết có ích gì, giang sơn này vận mệnh ở trong tay vương phi đó! Nếu vương phi khuyên bảo Phi Giao hoàng hậu biết hối lỗi mà trả lại quyền chính thì Hùng Hiệu này ở dưới suối vàng cũng ngậm cười. Vương phi lại nên khuyên bảo Phi Loan quận chúa, kẻo quận chúa một hai xin tự tử, không muốn trở lại nhà mình. Hạng Ngọc Thanh và Lương Cẩm Hà cũng đã mấy phen khóc mà chết ngất đi. Bây giờ vợ chồng tôi ra đây, chưa biết ba mạnh ấy ở trong ngục sống chết thế nào vậy.
Hùng Hiệu lại dặn Triệu Lân và Triệu Phượng rằng:
- Hễ khi nào Hoàng Phủ Tương vương về thì hai công tử nên nói giúp tôi rằng: Tôi đây vốn người ở nơi thôn dã, không hiểu trung quân báo quốc là gì. Ngày nay xảy ra việc này, nghìn thu về sau, tất bị danh phản nghịch. Vậy thì khi nào thượng hoàng về, cũng nên vì tôi mà giải nỗi oan tình.
Mạnh Lệ Quân vương phi sụp lạy mà thưa rằng:
- Người dạy chí phải, nhưng lòng tôi nay rối loạn, chưa chắc đã làm gì nên. Ngày nay có mấy chén rượu để gọi là tỏ chút lòng thành trong khi tiễn biệt.
Mạnh Lệ Quân nghoảnh lại bảo Triệu Lân và Triệu Phượng rằng:
- Hai con rót rượu để mời bá phụ và cô mẫu!
Hai công tử rót rượu, rồi lấy mũi dao chích huyết cánh tay nhỏ vào chén rượu. Hùng Hiệu thấy vậy, dẫu gan sắt đá cũng phải đắng cay. Khi uống cạn ba chén rồi, tinh thần trấn định, lại cả cười mà rằng:
- Nếu vậy rát hay! Nhà Hoàng Phủ vẫn giữ được lòng trung thì Hùng Hiệu này dẫu chết xuống suối vàng, cũng không hối hận.
Hùng Hiệu nghoảnh lại bảo Vệ Dũng Nga rằng:
- Phu nhân ơi! Phu nhân cũng nên mở mắt mà uống một chén rượu. Những bậc trung nghĩa như thế này, ta thiết tưởng từ xưa cũng ít có! Ngày nay dẫu mang tiếng phản nghịch, nhưng người sau ai lại không thấu nỗi oan tình.
Hùng Hiệu nói chưa dứt lời thì bỗng lại nghe tiếng người mời uống rượu. Hùng Hiệu nghoảnh lại nhìn, rồi kinh ngạc mà rằng:
- Kìa, kìa, Tần Sĩ Thăng đấy phải không? Khi trước tiện nhi có đem nàng Hạng Ngọc Thanh đến phiền quấy hiền điệt, ơn ấy ta chưa báo đáp được. Ngày nay lại còn có lòng tử tế đến đây để tiễn biệt ta, ta cảm tạ biết dường nào.
Hùng Hiệu uống một hơi ba chén rượu, mọi người trông thấy ai cũng động lòng xót thương. Nguyễn Long Quang tướng công cũng đến, tay cầm chén rượu mà bảo Hùng Hiệu rằng:
- Tiểu đệ cũng có chén rượu để tiễn biệt hiền huynh.
Nói xong, nghoảnh lại bảo người nhà rằng:
- Bay rót rượu ra để ta cùng Hùng vương uống.
Ông bạn cũ của tôi ơi! Ngày nay ông cùng tôi uống rượu cảm khái ở trên pháp trường này cũng hay! Nguyễn tuớng công ơi! Ông có lòng tử tế chu toàn cho tôi trong bấy lâu nay, bây giờ lại ra đây cùng tôi uống rượu, tôi thật vui suớng muôn vàn. Trong khi chém tôi, xin ông chớ thương xót, vì tôi làm một con ma say rượu, dẫu hồn về chín suối cũng chẳng biết đau.
Hùng Hiệu vừa uống vừa gọi:
- Rót rượu mau!
Nguyễn Long Quang uống tiếp năm, bảy chén rượu luôn đã thấy ruột nóng như lửa. Hai hàng nước mắt ràn rụa xuống chén rượu. Nguyễn Long Quang vốn là người uống được rượu, bấy giờ uống mãi cho đến trời đã sáng tỏ. Đồ Man Hưng Phục thấy trời đã sáng rõ, mới sai người mời Nguyễn Long Quang. Nguyễn Long Quang chạy đến mà bảo rằng:
- Đồ Man tiên sinh ơi! Mạnh vương phi đêm qua bỗng tới đây, bây giờ đang rót rượu để tiễn biệt vợ chồng Hùng Hiệu, không biết vợ chồng Hùng Hiệu nói gì mà vương phi ngất nq ngã lăn quay ra đó. Hai vị công tử xúm quanh khóc lóc rầm lên. Trời đã sáng rồi, nếu ta chậm việc hành hình thì tất có tội cả, chi bằng tiên sinh chạy đến bảo hai vị công tử vực vương phi về, để ta hạ lệnh chém vợ chồng Hùng Hiệu cho được yên việc.
Đồ Man Hưng Phục đang nóng việc chém vợ chồng Hùng Hiệu, không biết là kế lừa vội vàng chạy đến, và toan cúi chào Mạnh Lệ Quân, chẳng ngờ Nguyễn Long Quang giả say, va ngay vào mình Đồ Man Hưng Phục. Đồ Man Hưng Phục đứng không vững, lại nhàođầu mà ngã vào Mạnh Lệ Quân. Hai công tử thấy vậy vội quát to lên rằng:
- Đồ Man Hưng Phục đánh chết vương phi rồi!
Hai công tử vừa quát vừa chạy lại đánh Đồ Man Hưng Phục. Nguyễn Long Quang giả cách kêu van, rồi tức khắc truyền cho quân sĩ giải vợ chồng Hùng Hiệu vào ngục thất. Còn mình thì phi ngựa về báo với Phi Giao hoàng hậu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Kẻ hạ thần phụng chỉ đi giám sát vợ chồng Hùng Hiệu. Không ngờ bỗng thấy Mạnh vương phi đến.
Phi Giao hoàng hậu kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Vương phi đến bao giờ thế? Sao không có ai vào tâu.
Nguyễn Long Quang tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Cứ như lời quốc cữu Triệu Lân nói thì vương phi mới đến đêm hôm qua. Nghe tin vợ chồng Hùng Hiệu bị chém có đặt tiệc để tiễn biệt. Đồ Man Hưng Phục giục vương phi về phủ, lấy tay gạt một cái, chẳng may vương phi ngã đập mặt mà máu me đầm đìa. Quốc cữu Triệu Lân và Triệu Phượng túm lấy Đồ Man Hưng Phục. Kẻ hạ thần luống cuống chỉ sợ sổng mất tội tù, vậy phải tức khắc lại giải vào ngục thất. Hiện đã vực vương phi lên xe để vào yết kiến hoàng hậu đó.
Phi Giao hoàng hậu nghĩ thầm:
- Thân mẫu ta nghe tin vợ chồng Hùng Hiệu bị chém tất lấy làm tức giận, cho nên mới không hỏi chi đến ta mà ra thẳng pháp trường để tế vợ chồng Hùng Hiệu. Cứ luật hễ tế lễ kẻ phản nghịch cũng phải đồng tội, nhưng tình mẹ con cốt nhục, chẳng lẽ ta nói thế nào. Làm vua trong một nước cần phải giữ trung hiếu, thế thì khi nào lại dám giết mẹ và anh em ruột thịt.
Phi Giao hoàng hậu đang cúi đầu ngẫm nghĩ thì bỗng thấy Ngọ Môn quan quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Mạnh vương phi cùng quốc cữu Triệu Lân và Triệu Phượng hiện đã trói Đồ Man Hưng Phục giải đến Ngọ Môn, để đợi lệnh trên chỉ phán.
Phi Giao hoàng hậu nghĩ thầm:
- Bây giờ ta xử thế nào, chẳng lẽ ta lại để cho thân mẫu ta cùng Đồ Man Hưng Phục đối chất hay sao? Lại còn lễ triều bái bây giờ định ra thế nào cho phải.
Phi Giao hoàng hậu cau mày ngẫm nghĩ hồi lâu rồi gọi hai tên nội giám mà bảo rằng:
- Nhà ngươi mau mau mời vương phi vào ngồi trong hữu cung, để ta ra ngự triều, cho hai quốc cữu cùng Đồ Man Hưng Phục đối chất.

o0o

NGUYỄN ĐỖ MỤC dịch thuật
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-06 08:14:26Hoàng Dung>
8a

hồi thứ tám
MẠNH LỆ QUÂN BỊ GIAM TRONG CUNG
HÙNG KHỞI THẦN CẢI TRANG GIẢ GÁI


Hai tên nội giám vâng mệnh Phi Giao hoàng hậu đưa Mạnh Lệ Quân vào thẳng trong nội cung. Phi Giao hoàng hậu ngự Kim Loan điện, cho đòi hai vị quốc cữu và Đồ Man Hưng Phục vào. Hai quốc cữu làm lễ triều kiến, rồi khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! đêm qua thân mẫu kẻ hạ thần tới đây, bấy giờ vào hồi canh ba, cho nên không tiện vào triều kiến hoàng hậu. Thân mẫu kẻ hạ thần nghe tin vợ chồng Hùng Hiệu bị chém, có đặt tiệc ra để tiễn biệt. Không ngờ Đồ Man Hưng Phục càn rỡ lạ thường, truyền cho quân sĩ xua đuổi. Thân mẫu kẻ hạ thần chưa chạy kịp thì hắn nỡ lòng nào đang tay dang roi da mà quất đánh ở chốn pháp trường. Thương xót thay cho thân mẫu kẻ hạ thần bệnh vừa mới khỏi, ngày nay xô đẩy, dập cả mặt mũi ra. Muôn tâu hoàng hậu! Vô luận thân mẫu kẻ hạ thần là hạng người nào, cũng chẳng nên xử tệ như thế mới phải. Huống chi hoàng hậu ngày nay đang ngự ngôi chí tôn, thay quyền thánh thượng. Đồ Man Hưng Phục dẫu sao cũng là đạo thần tử cớ chi lại dám hành hung. Kẻ hạ thần trộm dự vào hàng cốt nhục thâm tình tự nghĩ càng thêm hổ thẹn vậy.
Triệu Lân và Triệu Phượng tâu xong, đều phủ phục xuống đất. Phi Giao hoàng hậu sầm nét mặt trách mắng Đồ Man Hưng Phục rằng:
- Đồ Man Hưng Phục! Sao nhà ngươi dám giẫy ngã quốc mẫu và khinh bỉ hai vị quốc cữu đây. Sự thể thế nào phải tâu cho rõ.
Đồ Man Hưng Phục lạy dập đầu kêu oan mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Hoàng hậu là bậc thánh minh, xin soi xét cho kẻ hạ thần.Khi nào kẻ hạ thần lại dám vô lễ. Số là bây giờ đã quá canh năm, kẻ hạ thần vội vàng cùng Nguyễn Long Quang tướng công đến để giục vương phi trở về. Không ngờ Nguyễn Long Quang tướng công say rượu va phải kẻ hạ thần, để đến nỗi kẻ hạ thần trượt chân ngã vào vương phi. Muôn tâu hoàng hậu! Sự thực như vậy, thế mà hai vị quốc cữu nổi giận đấm đá kẻ hạ thần. Xót thương cho kẻ hạ thần tuổi già sức yếu, vô tâm nào biết thế nào, bây giờ mình mẩy đau dần, nhấc chân đi không được. Ngày nay lại còn vu tấu kẻ hạ thần những điều bất pháp, nếu vậy thì quả là bở Nguyễn Long Quang tướng công bày mưu lập kế xin hoàng hậu minh xét cho.
Triệu Lân và Triệu Phượng nói:
- Nhà ngươi chớ có nói càn. Nếu thân mẫu ta muốn cứu Hùng vương thì cứ thực mà bày tỏ cùng hoàng hậu. Tình mẹ con cốt nhục, trong mấy năm trời cùng nhau xa cách, tất thế nào hoàng hậu cũng nể lời mà ân xá, can chi phải bày mưu lập kế với ai. Giả sử Nguyễn Long Quang tướng công say rượu nữa thì nhà ơi đối với thân mẫu ta cũng phải giữ lễ. Nam nữ có biệt, cớ sao lại dám đến gần. Việc này xảy ra, chẳng những Hoàng Phủ ta bị nhục, mà Nguyên triều cung phạm cũng không ra thế nào.
Triệu Lân và Triệu Phượng lại tâu với Phi Giao hoàng hậu:
- Muôn tâu hoàng hậu! Nếu hoàng hậu không chém đầu Đồ Man Hưng Phục thì thân mẫu kẻ hạ thần còn mặt mũi nào mà trông thấy các quan triều thần nữa! Hoàng hậu xưa nay vốn là bậc thánh minh, cớ sao ngày nay lại quá tin lời đứa gian nịnh ấy. Đồ Man Hưng Phục có lòng phản nghịch đã lâu, vẫn giao thông với nội giám Mã Thuận. Chúng có hãm hại những người trung trực thì mới dễ lộng quyền. Trước chúng còn hãm hại các quan triều thần, ngày nay chúng định hãm hại đến kẻ chí thân, đến khiến cho khắp các hạng nhân dân trong nước đều qui oán hoàng hậu vậy.
Triệu Lân và Triệu Phượng nói xong lại ứa nước mắt khóc. Mã Thuận có ý run sợ, bỗng nghe tiếng Phi Giao hoàng hậu ở phía trong rèm phán rằng:
- Đồ Man Hưng Phục dẫu có tội, chẳng qua cũng là một sự xuất ư vô tâm mà thôi. Nay ta phạt bổng trong tám tám năm thì nhị huynh cùng tam đệ cũng nên bằng lòng vậy. Còn thân mẫu thì bây giờ nên lưu lại trong cung, để cho ta tiện việc sớm khuya thăm hỏi. Ta đây há lại đến nỗi không xét rõ được những phường gian nịnh, nhưng cha con Đồ Man Hưng Phục cũng không phải là người bất trung. Nguyễn Long Quang tham chén quá say, tội ấy đáng nên nghiêm trị, chỉ vì thương tình già yếu mà được khoan tha. Âu là ngày nay cha con Đồ Man Hưng Phục phải xin lỗi cùng hai vị quốc cữu, rồi ta truyền nội giám bày một tiệc rượu ở Văn Hoa điện, cha cho Đồ Man Hưng Phục cùng hai quốc cữu uống rượu giải hòa. Nguyễn Long Quang cũng cho đến dự tiệc. Nguyễn Long Quang tiên sinh ơi! Từ nay tiên sinh nên uống ít rượu mới được.
Phi Giao hoàng hậu đứng dậy lui vào trong cung. Mạnh Lệ Quân bấy giờ đầy bù tóc rối, áo mặc tả tơi, trông thấy Phi Giao hoàng hậu vào liền quì xuống đất. Phi Giao hoàng hậu đỡ dậy mà rằng:
- Thân mẫu ơi! Con trông dung nhan thân mẫu ngày nay kém trước nhiều lắm, chắc là bởi sự dãi gió sầm sương trong khi đường xa vậy. Thân mẫu tới đây đêm qua, sao không báo trước cho con biết? Nếu con được biết thì Đồ Man Hưng Phục khi nào lại dám làm càn. Xin thân mẫu cứ yên lòng, rồi con sẽ trách phạt Đồ Man Hưng Phục.
Phi Giao hoàng hậu gọi các cung nữ mà bảo rằng:
- Các con mau mau chải đầu thay áo cho quốc mẫu.
Nói xong, hai tay đỡ Mạnh Lệ Quân ngồi lên trên ghế. Hai tên cung nữ chải đầu thay áo. Dung nhan Mạnh Lệ Quân bây giờ dẫu kém trước, nhưng thể cách cũng nhã đạm như xưa. Phi Giao hoàng hậu đứng dậy hai tay nâng chén trà mời Mạnh Lệ Quân uống. Mạnh Lệ Quân ứa nước mắt mà hỏi rằng:
- Thần thiếp trộm nghe thánh thượng bị mục tật, chẳng biết bây giờ đã thuyên giảm hay chưa? Trong lòng thần thiếp rất lấy làm lo phiền. Thái hậu ở nội cung bây giờ thế nào? Thượng hoàng từ khi bỏ đi, có tin tức gì không?
Mạnh Lệ Quân nói xong nức nở khóc hoài. Phi Giao hoàng hậu nét mặt làm ra vẻ âu sầu, lại dâng chén sâm thang mà rằng:
- Thân mẫu ơi! Xin thân mẫu hãy uống chén sâm thang này, khiến cho tinh thần được trấn định, rồi con sẽ đem sự tình đầu đuôi giải tỏ để thân mẫu nghe.
Nói xong, liền thuật rõ đầu đuôi mọi lẽ cho Mạnh Lệ Quân nghe, câu nào cũng nói như thực cả. Phi Giao hoàng hậu lại nói:
- Con đây há chịu để cho ai đè nén! Hùng hậu vốn tính đa nghi, thấy con chỉnh đốn mọi việc trong sáu cung, lại vu cho con có lòng độc ác. Ai ngờ lưới trời khó tránh, Hùng hậu bị biếm mà toàn gia họ Hùng cũng bị nã tróc tống giam. Sau thái hậu bỗng biến tâm, cho nên thánh thượng phải cáo bệnh không dám vào triều kiến, lại quá nghĩ thành ra mục tật. Vì thế con phải tạm thay quyền chính, một thân liễu bồ yếu đuối, đã từng chịu bao nổi đắng cay. Thân mẫu ơi! Con không hiểu năm xưa thân mẫu nghĩ thế nào mà đưa con vào chốn hoàng cung, khiến cho con khổ nhục muôn vàn, luống mang tiếng là người bất đức. Lại đáng giận thay cho mấy viên đại thần, không hiểu đầu đuôi thế nào, cứ hàng ngày đem mấy tiếng trung hiếu khẩu đầu nay can mai gián. Con nghĩ bội phần căm tức, cho nên phải thi quyền quân chủ mà trước hết chém Hùng vương. Ngày nay có thân mẫu tới đây, con hãy tạm hoãn việc ấy.
Phi Giao hoàng hậu nghoảnh lại bảo các cung nữ rằng:
- Các con bày tiệc để ta ngồi hầu rượu quốc mẫu đây.
Trong khi uống rượu, Phi Giao hoàng hậu kể lể việc nước, rồi nói:
- Con đã nhờ Mạnh Gia Linh cữu phụ đi tìm thượng hoàng, chưa biết bao giờ cho được thượng hoàng về đây. Thân mẫu ơi! Địa vị con ngày nay không thể nhường người khác được. Nếu muốn cho con trả lại quyền chính, tất phải đợi không thượng hoàng về. Ngày mai thân mẫu có vào nội cung triều kiến thái hậu, nhờ thân mẫu kêu van hộ. Hễ thái hậu quả không biến tâm thì con và thánh thượng mới dám vào triều kiến. Con có lòng nào muốn giết vợ chồng Hùng vương, âu là đợi khi thượng hoàng về dây rồi sẽ ân xá. Từ khi con cầm quyền chính thì ngoài triều trong cung khuyết, pháp luật đều được nghiêm. Con vốn có tính điềm đạm từ xưa, không biết cớ sao ông trời lại để con vào địa vị này. Những lời anh Triệu Câu con nói khi trước, ai ngờ ngày nay sự đã quả nhiên. Thân mẫu ơi! Nếu thượng hoàng không về thì chẳng lẽ cứ ngồi mà nhìn giang sơn này vào tay người khác! Thân mẫu ơi! Kiến thức còn hẹp hòi của con như thế, dẫu rằng đá mòn sông cạn, lòng này cũng quyết chẳng đổi dời.
Nói xong, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng, rồi lại phàn nàn mà bảo rằng:
- Thân mẫu ơi! Nghìn thu về sau, con cũng khó tránh khòi là một người bạc ác vậy.
Mạnh Lệ Quân vương phi nghiêm nét mặt mà tâu rằng:
- Hoàng hậu nghĩ lầm! Thái hậu vốn là một người hiền đức, khi nào lại biến tâm như thế! Thần thiếp chắc rằng tất có kẻ đem lời sàm báng, để làm cho cốt nhục ly gián, mà giết hại những kẻ trung lương. Hoàng hậu quá tin bọn quyền gian Đồ Man Hưng Phục và Mã Thuận kia, để cho chúng ỷ thế làm càn, thành ra mang tiếng bất hiếu bất nghĩa. Việc hoàng hậu tiến cung thuở trước, chẳng qua cũng bởi tự ý trời, chứ khi bấy giờ Tương vương đã cố sức chối từ mà thái hậu cũng đã biết trước rằng sẽ có ngày nay vậy. Hoàng hậu là một người đã có học thức, chớ nên cậy tài mà để mang tiếng với đời. Một mai trong bọn tôn thất sinh lòng biến loạn thì bấy giờ hoàng hậu dẫu hối, thiết tưởng cũng không kịp. Xưa nay các bà hoàng hậu thay cầm quyền chính là vì thiên tử bằng hà, ấu chúa nối ngôi, chứ như thánh thượng ngày nay, đang độ tráng niên hoàng hậu chỉ nên ở trong cung mà giúp đỡ nội chính mới phải, cớ sao lại chuyên giữ quyền chính, coi thánh thượng như một người phế nhân. Nếu bảo rằng thái hậu biến tâm thì chẳng lẽ lại bỏ con mình mà lập con người khác. Hoàng hậu há phải là kẻ tham cầu phú quý. Vả đường đường một ngôi hoàng hậu thì sự phú quý cũng đã cùng cực lắm thay, can chi cứ chuyên giữ ngôi trời, để mang tiếng với thiên hạ hậu thế. Thần thiếp và hoàng hậu là tình trong cốt nhục, vậy mới dám cứ thẳng tâu bày. Nếu hoàng hậu chịu nghe lời thần thiếp, tức là một phúc to cho nhà Hoàng Phủ đó.
Phi Giao hoàng hậu nghe lời tâu, bỗng biến nét mặt, truớc còn cúi đầu không nói, hồi lâu hai má đỏ bừng, rồi cười gượng mấy tiếng:
- Đáng tiếc! Con lấy làm đáng tiếc! Tiếc rằng mấy lời vàng ngọc ấy con không được nghe từ mấy năm trước đây. Bây giờ đã trót gây ra bao nhiêu cuộc chông gai, dẫu muốn thôi cũng không thể thôi được. Thế thì di xú (để tiếng xấu) hay là lưu phương (để tiếng thơm), cũng cùng một lần chết, chi bằng con hãy thừa thế mà làm cho thiên hạ biết tay. Thân mẫu ơi! Thân mẫu bảo con không rộng lượng, nếu con không rộng lượng thì cớ sao vừa rồi con tuyển thêm cung nữ mấy nghìn. Thân mẫu bảo con lỗi đạo tam tòng, thế thì cớ sao thưở xưa thân mẫu lại dám nghiễm nhiên trách mắng thân phụ! Thân mẫu bảo con chuyên giữ ngoại chính, nhưng con chưa hề chen vai đụng xánh với bọn nam nhi. Thân mẫu bảo con phụ công cù lao, nhưng con cũng chưa hề có có giảm bổng lộc gì của nhà Hoàng Phủ! Thân mẫu ơi! Con hãy xin hỏi: Cớ sao thuở xưa thân mẫu cứ tham quyền cố vị làm thừa tướng mãi? Ngày nay con cũng đồng ý với thân mẫu mà thôi. Huống chi cảnh ngộ của con lại khác với cảnh ngộ của thân mẫu thuở xưa. Nếu con trao trả quyền chính lúc nào thì tức khắc sinh ra tai vạ. Cái tai vạ ấy chẳng những thân con không toàn, mà lại di lụy đến thánh thượng và hai thân vậy. Thân mẫu ơi! Con khuyên thân mẫu một điều: Việc đã qua rồi, chớ nhắc lại nữa. Giang sơn này mà giữ được âu vàng không mẻ, mai sau trả lại chủ cũ, bấy giờ tâm tích con sẽ được hiển nhiên. Sáng mai thân mẫu vào triều kiến thái hậu cũng nên vì con mà giải bày mọi nỗi để cho thái hậu nghe. Hôm nay chỉ xin cùng thân mẫu uống rượu vui, ngoài ra không nói đến việc chi cả.
Mạnh Lệ Quân vương phi thở dài mà than rằng:
- Hoàng hậu chớ nghĩ lầm. Ngày nay thần thiếp thật là một người đại tội với hoàng gia, đáng lẽ phải đem chấp pháp từ lâu, bởi vậy thần thiếp mới tiến kinh, để xin chịu tội ở trước mặt thái hậu. Nay hoàng hậu dãu có lòng tử tế mà ban yến, nhưng ruột tằm chín khúc, bao nỗi quặn đau thì dẫu bát ngọc mâm vàng cũng nuốt không trôi được. Trời ơi! Thượng hoàng bỏ đi, thái hậu bệnh nặng, còn lòng nào mà vui vẻ cho cam.
Mạnh Lệ Quân vương phi lại than thở ngắn dài, Phi Giao hoàng hậu không bằng lòng mà rằng:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu muốn vào yết kiến thái hậu, có khó chi việc ấy! Hôm nay muộn rồi, xin để đến sáng mai.
Khi tiệc xong, Phi Giao hoàng hậu mời Mạnh Lệ Quân sang ngủ tại thiên điện, rồi đuổi các cung nữ lui ra, một mình lặng ngồi ngẫm nghĩ: “Thân mẫu ta không nghĩ tình cốt nhục mà thương xót ta thì ta còn quản chi nữa, chi bằng ta giết sạch đi, thế là khỏi có kẻ ỳ èo bên tai. Nhưng ta còn ngại về nỗi mình làm vua một nước, tất phải lấy trung hiếu làm đầu. Nếu ta giết mẹ thì tự mình đã treo gương bất hiếu, tài nào mà khiến cho thần dân trong nước đều phải tận trung. Thế thì giết cũng không xong, bây giờ biết làm thế nào cho được? Phi Giao hoàng hậu đang cúi đầu ngẫm nghĩ thì bỗng thấy Mã Thuận ở ngoài bước vào. Mã Thuận quì xuống tâu rằng:
Muôn tâu hoàng hậu! Có bản tâu của Đồ Man Hưng Phục đệ trình ngự lãm.
Phi Giao hoàng hậu mờ xem, bản tâu như sau này:

“Bảo Hòa điện đại học sĩ cúi tâu để hoàng hậu lượng xét:
Kẻ hạ thần phụng chỉ đi giám trảm vợ chồng Hùng Hiệu, chỉ vì tài sơ trí thiển, đến nỗi lỡ việc. Lại xúc phạm đến quốc mẫu. May nhờ hoàng hậu rộng lượng, soi xét công minh mà khoan thứ cho. Cái trời bể ấy chưa biết lấy chi báo đáp.
Ngày nay quốc mẫu tới đây, phần nhiều là vì việc vợ chồng Hùng Hiệu, thế thì tất có những lời nguy ngôn khổ ngữ để mê hoặc thánh tâm. Kẻ hạ thần thiết nghĩ Hùng Hiệu bị giam đã mấy năm nay, khác nào như giam một con hổ dữ. Thả ra thì nó cắn nhiều, mà để đấy cũng khó lòng đã được yên việc. Nếu một mai nó xổng thì chẳng những thần đẳng thịt nát xương rơi mà hoàng hậu chưa chắc đã được an toàn vậy. Kẻ hạ thần trộm nghe “Đại công vô tư, đại nghĩa diệt thân”, xin hoàng hậu chớ nghĩ tình riêng mà uống phí mất cái công thay quyền cầm chính trong bấy lâu, kẻ hạ thần thật lấy làm đáng tiếc. Thần đẳng vô cùng sợ hãi, cúi đợi mệnh trên.”


Phi Giao hoàng hậu xem xong, liền đem những lời Mạnh Lệ Quân khuyên bảo thuật hết cho Mã Thuận nghe. Phi Giao hoàng hậu lại nói:
- Ta tưởng rằng thân mẫu ta tất đồng ý với ta, không ngờ ngày nay lại có lòng oán giận. Đáng lẽ làm con nên theo lời thân mẫu mới phải, nhưng nếu ta theo lời thân mẫu thì tất bội phần nguy hiểm cho ta. Bây giờ lòng ta bối rối, không biết nghĩ sao, nhà ngươi nên vì ta trù tính.
Mã Thuận lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Xin hoàng hậu cứ vững lòng. Trong mấy năm nay hoàng hậu lên ngự ngôi trời, kẻ hạ thần hết sức trung thành, thân khuyển mã này chỉ mong được báo đền đôi chút, mới đây bọn gian thần trừ đã gần hết, còn e có thế lực của họ Hùng nữa mà thôi. Kẻ hạ thần vẫn tâu xin hoàng hậu nên giết ngay đi mà hoàng hậu không quyết. Nay quốc mẫu nói như thế, kẻ hạ thần chỉ sợ trong ngoài giao thông nhau mà gây nên biến loạn thì thật là một tay vạ tày trời.
Phi Giao hoàng hậu thở dài mà than rằng:
- Mã Thuận! Nhà ngươi há lại không biết rằng ta đây hiểu ý quốc mẫu đã lâu. Ngặt vì quốc mẫu dẫu sao cũng là đạo mẹ, khi nào con dám định tội. Huống chi ta đối với thái hậu đã bỏ lễ thần hôn, mà nay lại trị tội quốc mẫu thì e rằng các bậc đế vương từ xưa đến nay chư có ai như thế này.
Mã Thuận lại tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Cứ như kẻ hạ thần thiển nghĩ thì ngày nay quốc mẫu vào nội cung, hoàng hậu nên giáng chỉ rằng: “Thái hậu bệnh đã lâu, mà thánh thượng đang có mục tật, hoàng hậu thì bận triều đình, vậy quốc mẫu nên ở luôn trong nội cung để sớm khuya mà làm bạn cùng thái hậu cho vui”. Hoàng hậu giáng chỉ như vậy, rồi truyền khóa chặt cửa cung lại, trong ngoài nghiêm cấm, không cho ai được ra vào, chỉ cho đưa các đồ thực dụng vào thôi. Hiện nay thái hậu không dậy được, có khỏi thì chóng ra cũng độ nửa năm, còn làm chi nữa. Các nội giám và cung nữ ở nội cung tháng trước đã giảm bớt một nửa, bây giờ chẳng qua chỉ độ gần một trăm người, còn lo ngại nỗi gì! Nếu để quốc mẫu ở ngoài thì rất không tiện.
Phi Giao hoàng hậu nghe nói liền vui mừng mà khen rằng:
- Kế ấy rất diệu! Ta vẫn giữ được lễ kính thờ người trên mà lại khiến cho trong ngoài không ai dám phao lời dị nghị. Việc này nhà ngươi cần phải bí mật lắm mới được, kẻo hai quốc cữu biết thì tất có sự chẳng hay.
Sáng hôm sau, Phi Giao truyền nội giám sắp xe giá đưa Mạnh Lệ Quân vào nội cung triều kiến thái hậu. Mạnh Lệ Quân vào tới nơi, thái hậu truyền miễn lễ, cho ngồi ở bên cạnh long sàng để nói chuyện. Mạnh Lệ Quân vội vàng bước đến bên cạnh long sàng thấy nét mặt thái hậu rầu rĩ, mày da nhợt nhạt, không được hồng hào như xưa. Thái hậu thấy Mạnh Lệ Quân đến gần, liền thò tay nắm lấy áo mà bảo rằng:
- Mạnh Lệ Quân em ơi! Em đấy có phải không? Thật hay là mộng?
Thái hậu vừa nói vừa nhìn đi nhìn lại thật kỹ, rồi hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Mạnh Lệ Quân cũng khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Thần thiếp là Mạnh Lệ Quân đã cam chịu tội mà vào triều kiến thái hậu đây, chứ không phải mộng. Thần thiếp xin kính chúc thái hậu quí thể an khang, giang sơn này trông cậy ở tay thái hậu đó.
Thái hậu gạt nước mắt xua tay mà bảo rằng:
- Em nói đến câu ấy, càng khiến cho ta hổ thẹn. Ta nghĩ quanh nghĩ quẩn, không biết oan nghiệt từ đâu mà nên nỗi này. Hay là khi ta đi đánh giặc Phiên thuở xưa có giết hại nhiều người chăng, nhưng bấy giờ ta một lòng cứu nước cứu cha, nếu không giết hại, làm sao cho được. Còn như việc giết Lưu Khuê Bích thì khi ấy ta cũng cố xin ân xá, chứ có dám vì thù riêng mà hại ai đâu. Hàng ngày ta chỉ lo về sự nhà ta thịnh mãn quá độ, cho nên vẫn phải tu nhân tích đức và hết sức cần kiệm, để lưu phúc về sau. Ai ngờ con tạo cơ cầu, mà nước nhà bỗng xảy nên tai vạ. Mạnh Lệ Quân em ơi! Cái tội lỗi ấy há những mình em, ta đây cũng dự một phần to vậy. Con gái em như hổ lang mà con trai ta cũng chẳng khác chi chó lợn. Thôi! Thôi! Nói lại càng hổ thẹn trăm chiều, ngày ăn hai bữa, bó gối ngồi đây, ngoài ra chẳng biết việc chi chi cả. Hùng hậu thì gần một năm nay như ngây như dại, ta nhìn thấy lúc nào, lại càng như dao cắt trong lòng. Từ khi em trở về quê nhà thì ta đây chẳng thấy thân thuộc nào vào thăm cả. Vừa rồi có việc rất lạ là nghiêm cấm không cho Gia Tường công chúa vào cung. May còn có tam điệt Triệu Lân thỉnh thoảng vào đây, nói cho ta biết giá quyến Hùng vương vẫn giam tại trong ngục. Lại nghe nói tin em ta đi tìm thượng hoàng, lòng ta mới được yên. Ngày nay em tới đây, ta lấy làm mừng lắm. Em nên nghĩ ơn triều đình mà khuyên bảo con Phi Giao, trước là bảo toàn lấy giang sơn Nguyên triều, sau là bảo toàn danh dự cho nhà Hoàng Phủ ta đó.
Thái hậu nói xong thì Mạnh Lệ Quân quì xuống khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Thái hậu không biết rõ. Con Phi Giao ngày nay không thể nào mà khuyên bảo được đâu.
Nói xong, liền đem những lời Phi Giao nói hôm trước thuật cho thái hậu nghe, và tâu rằng:
- Xem như thế khi nào nó chịu nghe lời khuyên bảo, nếu giết được thần thiếp, có lẽ nó cũng chẳng tha.
Thái hậu nghe xong, tím ruột tím gan, không biết nói thế nào cho được. Hồi lâu, mới bỏ mền ra, toan vùng đứng dậy, rồi nói:
- Ta quyết vào hữu cung mà chém đôi con yêu quái ấy!
Các cung nữ vội vàng đỡ hai bên, nhưng thái hậu lẩy bẩy không đứng dậy được, lại đành ngồi xuống đấy. Bỗng nghe báo có Mã Thuận phụng thánh chỉ đến, truyền gọi Mạnh Lệ Quân vương phi ra tiếp chiếu, Mạnh Lệ Quân bất đắc dĩ phải ra tiếp chiếu. Mã Thuận mở tờ chiếu ra tuyên đọc:

“Hoàng đế chiếu rằng:
Mạnh vương phi ngày nay hiện đang cư tang, mà chịu lặn lội đến kinh để triều kiến thái hậu lòng trung nghĩa ấy thật đã đáng khen.
Thái hậu bị bệnh ở nội cung, kể đã lâu ngày. Trẫm nay cũng bị mục tật chưa khỏi, mà hoàng hậu còn phải vì trẫm thay cầm quyền chính, không lấy ai ở luôn trong cung để sớm khuya hầu hạ thái hậu cho được.
Nay nhân có Mạnh vương phi vốn là người tinh hiểu y lý, vậy trẫm nhờ vương phi giúp việc ấy cho. Trẫm phái thêm hai tên cung nữ để vương phi sai khiến. Đợi khi nào trẫm khỏi mạc tật và thái hậu được bình phục như thường, bấy giờ vương phi mới được phép trở về nhà riêng vậy. Khâm tai!”


Mã Thuận tuyên đọc xong, tức khắc quay ra, rồi truyền cho cấm binh khóa chặt cửa cung lại. Bắn ba phát súng lớn và cắt người canh giữ xung quanh. Thái hậu nằm ở trên giường nghe tiếng súng nổ, liền hỏi các cung nữ rằng:
- Chẳng hay tiếng súng ở đâu thế các con?
Các cung nữ ngẩn mặt nhìn nhau mà không ai dám tâu, bỗng thấy Mạnh Lệ Quân chạy vào mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Thánh thượng thấy thái hậu bị bệnh lâu, sợ các nội giám và cung nữ sinh lòng trễ biếng, cho nên giáng chỉ nghiêm tra đó thôi, không có sự gì lạ cả. Mấy tiếng súng vừa rồi là Phi Giao hoàng hậu luyện tập quân sĩ ở trong cung đó.
Thái hậu nghe nói, nửa tin nửa ngờ:
- Vị tất đã phải như thê! Ta chỉ e nó mượn tay người khác để muống giết chết ta đó thôi. Nay ta ốm nằm đây, còn làm gì được nó.
Mạnh Lệ Quân vương phi liền tìm lời khuyên giải mà rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Xin thái hậu hãy gìn vàng giữ ngọc cho được bình phục như thường.
Nói chưa dứt lời thì nghe báo có Hùng hậu vào. Mạnh Lệ Quân vương phi đứng dậy làm lễ triều kiến. Hùng hậu không hề hỏi han ôn tồn chi cả, chỉ bưng miệng mà khúc khích cười. Mạnh Lệ Quân nghĩ thầm: “Quái lạ! Tất có tà ma ám ảnh chi dây”. Nghĩ vậy mới tâu với thái hậu xin cho bắt mạch Hùng hậu. Thái hậu khen phải, truyền cung nữ sửa soạn gối nệm, rồi bảo Hùng hậu ngồi cho Mạnh Lệ Quân bắt mạch. Mạnh Lệ Quân bắt mạch xong, lại nghĩ thầm: “Cứ như thế này thì con Phi Giao thật là một đứa đại tội ác, ta không thể nào mà thương nó được. May mà thái hậu chưa biết việc nó nghiêm cấm cung môn này, nếu không thì tất ngày càng thêm nặng bệnh. Âu là ngày nay ta phải chữa thuốc cho Hùng hậu và tìm lời khuyên giải thái hậu mới phải”. Mạnh Lệ Quân liền đem những lời của Lưu Yến Ngọc nói khi trước thuật rõ đầu đuôi cho thái hậu nghe và tâu rằng:
- Ngày nay thái hậu cần phải thuốc thang cho được khỏe mạnh, bấy giờ sẽ liệu kế trừ con Phi Giao. Bệnh tình của Hùng hậu là chỉ vì kinh hãi ưu phiền quá độ mà thành ra thương phế tổn can. Ngày nay trước hết cần phải thanh tâm thuận khí rồi sẽ dùng đến “Hạ đàm tễ” và “Bảo nguyên bổ dược”. Bệnh này một năm vị tất đã khỏi, có khi phải vài ba năm mới được bình phục.
Thái hậu nói:
- Nếu được như thế thì ta đối với Vệ vương phi mới khỏi hổ thẹn. Em giỏi nghề làm thuốc, cũng là một vị phúc tinh cho nhà Hoàng Phủ ta.
Bấy giờ trời đã gần tối, Mạnh Lệ Quân lui ra ngoại cung để ăn cơm. Hai cung nữ vào bái yết, Mạnh Lệ Quân không bảo chi cả, nghĩ thầm: “Con Phi Giao thật chẳng coi ta ra gì. Bây giờ ta ngồi đây, cũng là người ngồi trong ngục. Ngày nay trong ngoài xa cách biết làm thế nào. Tai nạn mười năm quả như lời Lưu phu nhân nói thì bây giờ chia ba đã được một phần, còn bảy năm nữa mới tai qua nạn khỏi. Ta làm thế nào mà cứu lấy thái hậu và Hùng hậu thì ta khỏi mang tiếng là người bội nghĩa vong ân. Trời ơi! Mạnh Lệ Quân này có tội, xin trời xứ trạch phạt Mạnh Lệ Quân, còn thái hậu, Hùng hậu, nhà họ Hùng và nhà Hoàng Phủ thì có tội tình gì mà sao cũng đến nông nổi này! Chẳng qua bởi tại Mạnh Lệ Quân này làm di lụy đến mọi người đó”. Khi ăn cơm xong, Mạnh Lệ Quân vào bắt mạch thái hậu thì thấy mạch thái hậu hư phù, bệnh thế nguy kịch, có ý lấy làm lo ngại. Mạnh Lệ Quân nghĩ thầm: “Một mai thái hậu có mệnh hệ nào, triều đình tất trách phạt ta về tội hầu hạ không chăm chỉ. Thế thì dẫu sao cũng chết, mà lại chết một cách hàm hồ. Lại thương xót thay cho Hùng hậu bấy giờ phỏng sống làm sao cho được.” Mạnh Lệ Quân nghĩ vậy, mới tâu thái hậu rằng:
- Muôn tâu thái hậu xin thái hậu yên lòng, chớ nghĩ ngợi chi thì tự khắc bệnh thế sẽ dần dần thuyên giảm. Thái hậu ơi! Thần thiếp lặn lội tới đây là cốt mong thái hậu chóng đến ngày khang cường. Thái hậu vốn là một tay nữ anh hùng chiếc thân liễu bồ đã từng bao phen xông pha tại nơi chiến địa. Nếu ngày nay thái hậu được khang kiện thì những loài yêu quái kia khó lòng trốn thoát ở dưới lưỡi gươm. Thái hậu ơi! Thần thiếp cẫn định liều mình một chết, nhưng còn phải nương náu cho đến ngày nay là còn muốn lưu cái thân già này để đợi có ngày báo đáp cho triều đình vậy.
Mạnh Lệ Quân tâu xong thì thái hậu thở dài mà phán rằng:
- Mạnh Lệ Quân em ơi! Ta nghe lời em nói, nghĩ càng căm tức trong lòng. Chẳng những căm tức mà lại thêm hổ thẹn. Đường đường là một vị thái hậu, mà đến nỗi vô quyền, ta còn mặt mũi nào trong thấy các quan triều thần nữa.
Mạnh Lệ Quân tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Nếu thái hậu bình phục như thường, bấy giờ thần thiếp sẽ xin hết lòng khuyển mã, chứ thái hậu cứ yếu mà một chỗ thì thần thiếp còn dám bày mưu lập kế gì!
Thái hậu lẩm nhẩm gật đầu, lại bảo Mạnh Lệ Quân khai đơn thuốc. Mạnh Lệ Quân còn đang ngẫm nghĩ, chưa biết khai đơn thế nào thì bỗng nghe văng vẳng xa đưa, có tiếng khóc than rên rỉ. Phần thì xót thương thái hậu khổ sở, phần thì oán giận Phi Giao hung tàn. Có ý căm tức thay con táo éo le, cớ sao để cho bọn gian quyền hãm hại được những người chính trực. Hùng hậu nhân từ như thế mà gặp cảnh ngộ này. Tiếc cho thái hậu ốm nằm một chỗ, nếu không thì khi nào Phi Giao lại dám làm càn...
Mạnh Lệ Quân thấy vậy, liền đặt bút xuống, rồi đi ra ngoài cửa mà lắng tai nghe. Bấy giờ đêm thanh cảnh vắng, bóng trăng lờ mờ, bọn cung nữ kia vẫn còn thì thào nói nhỏ nhau. Chúng nói:
- Ngày nay có Mạnh vương phi đến đây thì Phi Giao hoàng hậu tức khắc hạ lệnh khóa chặt cửa cung, nghiêm cấm trong ngoài, không cho ai qua lại. Nhưng ta cũng chưa dám chắc Mạnh vương phi tâm điạ thế nào. Mạnh vương phi đối với Phi Giao hoàng hậu bao giờ cũng là tình mẹ con. Ngày nay lại khai đơn bốc thuốc để thái hậu uống thì ta cũng lấy làm nguy hiểm cho thái hậu lắm. Dẫu thái hậu có mệnh hệ nào, Mạnh vương phi đã là người có tài hùng biện tất cũng dùng lời nói khéo mà cho được tội lỗi của mình. Chi bằng chúng ta cứ liều tâu với thái hậu, xin đừng uống thuốc là hơn.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-06 08:20:48Hoàng Dung>
hồi 8b
Mạnh Lệ Quân văng vẳng nghe những lời thì thào nghị luận ấy, giật mình kinh sợ, chẳng còn hồn vía chút nào. Gót sen rón rén, lui vào phía trong, đặt mình ngồi xuống bên giường, khiến cho tinh thần trấn định, rồi gọi tên cung nữ là Trần Xuân Anh đến gần mà bảo rằng:
- Trần Xuân Anh! Con đến Hưng Khánh cung về dãy phòng thứ ba, gọi hai tên cung nữ ở đấy ra đây cho ta hỏi.
Trần Xuân Anh vâng mệnh đi ngay. Mạnh Lệ Quân tra các vị thuốc vào nồi để nấu. Trần Xuân Anh đưa hai tên cung nữ vào, Mạnh Lệ Quân trông thấy, liền đứng dậy mà hỏi rằng:
- Hai ngươi tên họ là gì? Vào cung đã mấy năm nay?
Hai tên cung nữ thấy Trần Xuân Anh đến gọi, đã có ý lo, ngờ là câu nói của mình tiết lộ ra chăng. Bấy giờ nghe câu hỏi, mới biết đích thị chỉ vì cớ ấy. Một tên run sợ không dám trả lời; còn một tên ngang nhiên mà đáp rằng:
- Tiện tỳ họ Hồng tên gọi Tố Loan, vào cung đã ba năm nay. Còn chị tôi là Tố Phượng. Hai chị em chúng tôi giữ việc giặc giũ hầu thái hậu, chẳng hay ngày nay vương phi gọi chúng tôi có việc gì?
Mạnh Lệ Quân thở dài mà bảo rằng:
- Hai ngươi có lòng trung thành, khiến ta phải kính phục. Hai người lo nghĩ như thế là phải. Bây giờ ta dẫu trỏ mặt trời mà thề, vị tất hai ngươi đã tin. Ngày nay thái hậu bệnh thế rất nguy kịch, sâm linh cũng không làm gì, chỉ có nấu một nồi nhân cao thì mới có thể cứu được. Bấy giờ ta ngần ngại chưa quyết thế nào, mới chạy ra ngoài cửa đứng để ngẫm nghĩ. Bỗng nghe lời các ngươi bàn nói, vậy nhân đây ta cắt thịt để cho các ngươi xem.
Nói xong, liền lấy một con dao thật sắc, quì xuống khấn trời mà rằng:
- Tôi là Mạnh Lệ Quân, quả có lòng trung thành, xin hoàng thiên chứng giám mà phù hộ cho, khiến khi lưỡi dao hạ xuống không biết đau xót. Nếu câu nói của tôi không được chân thật thì chỗ cắt thịt này sẽ nguy hiểm đến thân.
Nói xong, một tay vén áo, và một tay cầm dao nghiến răng mà cắt lấy miếng thịt, đầm đìa máu chảy, không biết đau xót, chỉ thấy nét mặt hơi tái mà thôi. Các cung nữ trông thấy đều lấy làm khiếp sợ. Tố Loan và Tố Phượng ôm lấy Mạnh Lệ Quân mà khóc rằng:
- Trăm lạy vương phi! Vương phi thật là một lòng trung thành, chị em chúng tôi đây ngu muội chẳng biét, đã cam chịu tội, xin vương phi tha thứ cho.
Mạnh Lệ Quân đứng dậy, cầm miếng thịt bỏ vào trong nồi thuốc, rồi lại bảo Tố Loan và Tố Phượng rằng:
- Các ngươi đã có kiến thức ấy, tất được hưởng phúc trạch về sau. Việc này là bởi lòng sở nguyện của ta, chứ không phải tại các ngươi nói khích. Nhưng ta còn một việc, muống được các ngươi đồng tâm giúp ta, chẳng hay các ngươi nghĩ thế nào?
Bấy giờ có một tên cung nữ chạy đến, lấy vải trắng buộc chỗ thương tích cho Mạnh Lệ Quân. Tố Loan và Tố Phượng sụp lạy mà rằng:
- Vương phi muốn sai bảo việc gì, chúng con cũng xin vâng mệnh.
Mạnh Lệ Quân khóc mà bảo rằng:
- Ngaỳ nay Phi Giao hoàng hậu nghiêm cấm cung môn không cho ai ra vào, việc ấy ta phải giấu kín đừng để thái hậu biết thì chữa thuốc mới có công hiệu. Vả việc nghiêm cấm này tất còn lâu ngày, kho tàng trong cung phần nhiều khánh kiệt, âu là chúng ta phải nghĩ đường sinh kế, làm sao cho đủ áo mặc cơm ăn. Trong cung còn nhiều đất bỏ không, các ngươi nên bảo nhau cày cấy trồng trọt. Trong bọn các ngươi phải bàn lấy một người đứng đầu, để quản đốc công việc, thức khuya dậy sớm, chăm chỉ làm ăn. Đợi khi thái hậu và Hùng hậu đã bình phục như thường, bấy giờ sẽ mở cửa cung mà ra vậy.
Tố Loan và Tố Phượng nghe nói mừng lòng, lại lạy dập đầu mà rằng:
- Việc ấy rất dễ! Sáng mai chúng tôi sẽ xin họp nhau, uống máu ăn thề, một lòng vì nước, rồi khai liệt danh sách, để đệ trình vương phi.
Nói xong, liền hớn hở quay đi. Sáng hôm sau, Mạnh Lệ Quân nấu được nhân cao rồi, đem dâng thái hậu. Các cung nữ đỡ thái hậu ngồi dậy, thái hậu trông thấy chén thuốc, ứa nước mắt khóc mà rằng:
- Nay uống thuốc, mai lại uống thuốc, mà bệnh vẫn không thấy giảm bớt chút nào. Mạnh Lệ Quân em ơi! Chi bằng em dùng liều thuốc gì cho ta yên giấc trăm năm, khỏi phải hàng ngày cay đắng.
Mạnh Lệ Quân nghe lời thái hậu truyền phán, nét mặt đang đỏ, bỗng tái mét đi, rồi quì cạnh giường mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Tấm lòng trung thành của thần thiếp đã có quỷ thần chứng giám, xin thái hậu chớ nghi ngờ.
Thái hậu uống xong chén thuốc, nằm xuống ngủ yên. Mạnh Lệ Quân lại đi thăm bệnh cho Hùng hậu và cho Hùng hậu uống thuốc. Bấy giờ Tố Loan và Tố Phượng đem quyển sách tên các cung nữ vào đệ trình. Mạnh Lệ Quân chia cắt mỗi người một việc.

***

Lại nói Triệu Lân và Triệu Phượng thấy thánh chỉ giao việc thuốc thang thái hậu cho Mạnh Lệ Quân, đều lấy làm lo sợ mà bảo nhau rằng:
- Chết nỗi! Kế này thật là kế của con Phi Giao định giam lỏng thân mẫu ta đó. Đãi thân mẫu ta như mộ người tội tù.
Triệu Lân cùng Triệu Phượng vừa toan vào triều diện kiến thì Phi Giao hoàng hậu đã bãi triều vào cung rồi. Hai công tử luống cuống không biết làm thế nào, mới vào yết kiến Gia Tường công chúa. Bấy giờ có bảo mẫu đứng hầu ở bên cạnh. Gia Tường công chúa khóc mà bảo hai công tử rằng:
- Hai quốc cữu ơi! Bảo mẫu vừa vào đây nói cho tôi biết là thái hậu bệnh thế nguy kịch, mấy ngày hôm nay chẳng ăn uống tý gì. May sao lại gặp có thân mẫu vào, cũng là một điều đáng mừng vậy. Hôm nay hai quốc cữu vào trong triều, đã diện tấu ra làm sao chưa?
Triệu Lân cùng Triệu Phượng đồng thanh mà rằng:
- Thánh thượng giáng chỉ giao việc thuốc thang hầu hạ thái hậu cho thân mẫu, chính là dùng kế để buộc chân thân mẫu đó. Chúng tôi định vào diện tấu, hãy tạm xin cho thân mẫu về nhà tắm gội mấy hôm, không ngờ lại gặp lúc thái hậu bệnh tình nguy kịch, khó lòng về được. Bây giờ còn các đồ cống vật của Hán quốc thái phi gởi đến, chưa kịp đem vào đệ trình thái hậu, biết làm thế này?
Triệu Phượng lại lấy một phong gia thư đệ trình Gia Tường công chúa. Gia Tường công chúa xem xong hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng, liền nói:
- Bây giờ ta hãy sai bảo mẫu vào cung xem bệnh tình thái hậu và Hùng hậu thế nào, và dò la tin tức xem thân mẫu ta bây giờ đang làm gì.
Triệu Lân cùng Triệu Phượng đều nói:
- Công chúa nghĩ chí phải! Xin phiền bảo mẫu đi giúp.
Hồi lâu, bỗng thấy bảo mẫu hoảng hốt chạy vào, nét mặt tái mét, mở miệng hồng hộc rồi nói:
- Dám bẩm hai quốc cữu! Tôi phụng mệnh vào nội cung, bỗng thấy cửa cung khóa chặt, chung quanh có quân sĩ canh giữ, gươm giáo sáng quắc. Một vùng sát khí ngất trời, khiến cho già này khiếp sợ không biết dường nào, ngã lăn ra đấy. May gặp có nội giám Tăng Mậu đến, liền vực tôi vào trong hiên, kể lể sự tình cho tôi nghe, bấy giờ tôi mới biết răàng thánh chỉ nghiêm cấm cung môn. Việc này là bởi tại Mã Thuận vu tấu, nói Hùng hậu giao thông với ngoại thần, bày lời sàm báng khiến thái hậu nghĩ càng tức giận, cho nên bệnh trạng ngày càng thêm nguy. Nay có Mạnh vương phi vào vữa thuốc, cần phải nghiêm cấm cung môn. Các đồ thực dụng đều do Tăng Mậu đưa vào, dự tính số chi tiêu trong độ mười năm. Hai quốc cữu ơi! Phi Giao hoàng hậu đã phê chuẩn cho Mã Thuận đem ba nghìn cấm binh vào canh giữ cửa cung, không cho ai được qua lại cả.
Triệu Phượng nghe nói, hầm hầm nổi giận, bảo Triệu Lân rằng:
- Tam đệ ơi! Phi Giao đã vô đạo đến thế thì hai ta còn nghĩ chi nữa, âu là ngày nay ta đem gia binh tiến vào hoàng cung mà diện tấu cùng thánh thượng. Ta đành liều chết, còn hơn để cho miệng thế mỉa mai. Vả thân mẫu ta vào đấy, chưa biết năm nào được ra, chẳng lẽ ta cứ khoanh tay ngồi nhìn thì sao cho tiện!
Triệu Lân gạt tay mà bảo rằng:
- Không thế được! Con chuột đứng bên viên ngọc thì ta ném nó sao đang. Hai anh ta liều chết đã đành, nhưng còn thái hậu và hai thân thì nghĩ sao cho ổn. Vả Đồ Man An Quốc và Đồ Man Định Quốc đều vũ dũng lạ thường, lại thêm có cấm binh toàn là những quân tinh nhuệ, ta khó lòng địch nổi vậy. Huống chi trong chiếu thư vẫn nói là giao việc thuốc thang hầu hạ thái hậu cho thân mẫu ta thì ta cũng không lấy cớ chi mà sinh sự được. Chi bằng ta hãy thư thả, rồi tuỳ cơ ứng biến,trù tính lấy kế vẹn toàn.
***

Lại nói chuyện hai vợ chồng Hùng Hiệu giải vào trong ngục. Lương Cẩm Hà phu nhân và Phi Loan quận chúa mừng rỡ không biết nhường nào. Vệ Dũng Nga vương phi chỉ thở dài, không nói chi cả. Hùng Hiệu thì thuật chuyện đầu đuôi cho mọi người nghe và bảo rằng:
- Việc này chắc là mưu kế của Mạnh vương phi đó thôi, khiến cho vợ chồng ta đáng chết mà lại chưa chết. Nhưng cái thân sống thừa chết dở này chẳng qua chỉ thêm một trò cười cho thiên hạ đời sau vậy.
Phi Loan quận chúa nghe nói Mạnh Lệ Quân đến, động lòng thương xót mà ứa nước mắt khóc. Vệ Dũng Nga vương phi hỏi:
- Tiểu công tử thức hay ngủ?
Nàng Hạng Ngọc Thanh ẵm tiểu công tử trao cho Vệ Dũng Nga vương phi. Vương phi ẵm lấy cháu bé, trong lòng chua xót, xoa đầu đứa bé, rồi khóc mà bảo rằng:
Tôn nhi ơi! Ai ngờ ngay nay tổ mẫu lại còn được về dây mà nhìn mặt tôn nhi vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi cúi đầu nhìn tiểu công tử, vừa nói vừa khóc. Lương Cẩm Hà phu nhân và Phi Loan quận chúa nức nở khóc hoài. Nàng Hạng Ngọc Thanh nghĩ càng bội phần chua xót, hai hàng nước mắt cũng lã chã tuôn rơi. Thành ra mọi người đều khóc, không ai khuyên giải cả. Bỗng có Phạm lão bà bước vào khuyên giải mà rằng:
- Ngày nay đã có Mạnh vương phi tới đây thì chắc thế nào toàn gia họ Hùng ta đây cũng được ân xá, vậy ta nên giữ vàng gìn ngọc, chớ khóc lóc cho hao tổn tinh thần. Tôi có nấu nồi cháo đem sang đây, xin mời người hãy gượng xơi một bát.
Nói xong, liền ẵm lấy tiểu công tử, rồi bảo nàng Hạng Ngọc Thanh bưng cháo mời vợ chồng Hùng vương. Trong khi mọi người gượng ngồi ăn cháo thì Phạm lão bà bảo nàng Hạng Ngọc Thanh rằng:
- Không phải tôi hay nói lôi thôi, nhưng cứ như nương tử thì thật tự mình cầu lấy sự khổ não. Phu nhân và quận chúa đây đã từng được hưởng những vinh hoa phú quý của vương phủ, ngày nay chịu khổ đã cam, còn như nương tử chưa cùng quốc cữu thành thân mà cũng nguyện vào nhà giam thì sự khổ não này lại càng đắng thương lắm vậy.
Nàng Hạng Ngọc Thanh chưa kịp trả lời thì Lương Cẩm Hà phu nhân ứa nước mắt khóc mà rằng:
- Phạm lão bà ơi! Nàng Hạng Ngọc Thanh đây không phải là người thường vậy. Chẳng qua trời còn có lòng thương nhà họ Hùng tôi mà sai nàng làm một vị cứu tinh đó thôi. Nếu không có nàng vào đây thì tiểu công tử này còn đâu đến ngày nay, âu là chờ khi phu quân tôi về, tôi sẽ xin nhường nàng làm chính thất.
Nàng Hạng Ngọc Thanh khóc mà thưa rằng:
- Phu nhân ơi! Xin phu nhân chớ nói như thế. Ơn quốc cữu đối với tôi thuở xưa, chưa biết thế nào mà nói cho xiết. Việc quốc cữu bỏ nghìn vàng ra chuộc tôi, còn là việc nhỏ chứ bảo toàn cho thân danh tôi được trong sạch thì ơn ấy mới thật là to. Ngày nay tôi dẫu thịt nát xương mòn cũng chưa đủ báo đáp. Phu nhân đãi tôi như thế này, nghĩ đã quá phận lắm rồi.
Lương Cẩm Hà phu nhân gật đầu khen phải mà rằng:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Như nàng thật là chẳng những giữ được một lòng trinh tiết mà thôi, lại còn khôn ngoan rất mực nói năng phải lời vậy.

Khi ăn cháo xong, Phạm lão bà thu nhặt bát dĩa, rồi cáo từ lui ra.Bấy giờ Vệ Dũng Nga vương phi mới thuật những lời Mạnh Lệ Quân khóc than nơi pháp trường cho mọi người nghe và bảo rằng:
- Việc này ta chắc là mưu kế của Mạnh vương phi, chưa biết triều đình xử trí ra thế nào, nhưng ta thiết tưởng hà tất phải như thế. Khi Mạnh vương phi khóc than kể lể, thật đã vay đắng muôn vàng vậy.
Lương Cẩm Hà phu nhân nói:
- Con thiết tưởng ta cũng không nên ngờ cữu mẫu.
Vệ Dũng Nga vương phi lại nói:
- Ta dẫu không ngờ, nhưng bấy giờ ta còn biết trả lời thế nào cho được.
Phi Loan quận chúa nghe nói, khác nào như dao cắt vào ruột, giọt châu lã chã khôn cầm. Vệ Dũng Nga vương phi thấy vậy ngoảnh lại bảo Phi Loan quận chúa rằng:
- Điệt nữ ơi! Điệt nữ hãy nghe ta nói. Ngày nay Mạnh vương phi tới đây, nếu có sai người đón con thì con nên về. Cứ theo luật hễ chưa làm lễ cưới, chưa có thể gọi là vợ được. Huống chi thuở trước vương phi gởi điệt nữ ở tạm nhà ta, hà tất điệt nữ khư khư mà giữ cái tiểu tiết ấy cho uổng phí một đời xuân xanh, khiến ta trong lòng luống những áy náy không yên vậy.
Phi Loan quận chúa khóc mà đáp rằng:
- Cô mẫu ơi! Con đã theo vào nơi ngục thất này, trừ phi khi nào toàn gia họ Hùng cùng được ân xá, bấy giờ con mới trở về, nếu không thì quyết không bao giờ con lại theo thân mẫu con mà về trước. Nàng Hạng Ngọc Thanh còn biết tình nguyện vào nhà giam, sao cô mẫu nỡ bảo con như thế. Giả sử thân mẫu con và các anh con có đến đón, con cũng quyết xin liều chết mà theo họ Hùng ở trong ngục này.
Phi Loan quận chúa nói xong, nức nở khóc hoài, nàng Hạng Ngọc Thanh lại tìm lời khuyên giải. Vệ Dũng Nga vương phi vẫn còn oán trách Mạnh Lệ Quân:
- Họ Mạnh vốn là một người tàn nhẫn, thuở xưa đối với hai thân và phu quân cũng hờ hững như không, cho nên ngày nay sinh được một đứa nữ nhi, lại độc ác bội phần vậy. Vì nó mà khiến cho thượng hoàng phải bỏ đi, thái hậu thì nằm bẹp một chỗ, bao nhiêu quyền chính về tay nó tất cả. Nó cũng chẳng kém chi Võ hậu, thật quả như lời Triệu Câu nói năm trước. Toàn gia họ Hùng chỉ vì họ Mạnh làm hại, đến nỗi như thế, thế mà lại còn giả nhân giả nghĩa, khéo đem mấy hàng nước mắt để khóc hão thương vờ.
Vệ Dũng Nga vương phi nghĩ quanh nghĩ quẩn, suốt đêm không ngủ. Sáng hôm sau, Vệ Dũng Nga vương phi đi ra phòng ngoài, trông thấy Hùng Hiệu chưa dậy, liền chạy đến gần, lạy gọi mà bảo rằng:
- Phu quân ơi! Sao hôm nay phu quân dậy trưa như thế, hay là trong mình mệt nhọc đó chăng?
Hùng Hiệu nghe tiếng gọi, bừng mở mắt dậy, trông thấy Vệ Dũng Nga vương phi nước mắt chạy quanh, mới kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Phu nhân ơi! Sao hôm nay phu nhân dậy sớm thế? Chẳng hay có việc chi?
Hùng Hiệu vừa nói vừa đứng dậy mặc áo. Vệ Dũng Nga vương phi lại khóc than kể lể và có ý oán giận Mạnh Lệ Quân. Hùng Hiệu cả cười mà rằng:
- Phu nhân ơi! Phu nhân đẹp duyên cùng tôi trong bấy nhiêu năm, tôi thường kính phục phu nhân là một bậc nữ anh hùng , cớ sao ngày nay lại có kiến thức trẻ con như vậy. Hai vợ chồng ta không nên oán giận họ Mạnh, vì từ năm xưa họ Mạnh vẫn không thuận cho con Phi Giao vào cung. Sinh con ai có sinh lòng, họ Mạnh cũng chẳng muốn chi thế. Nếu phu nhân có lòng oán giận thì cái độ lượng há chẳng cũng có phần nhỏ nhen lắm ru!
Hùng Hiệu nói xong, Vệ Dũng Nga lại thở ngắn than dài mà rằng:
- Đã đành ta không dám oán ai, nhưng ta chỉ thương xót thay cho mấy kẻ vô tội kia mà cũng phải chịu trăm chiều cực khổ. Chồng nam vợ bắc, biết bao giờ cho được sum họp một nhà.
Hai vợ chồng đang chuyện trò cùng nhau thì bỗng thấy tên ngục tốt đưa một người gia tướng nhà Hoàng Phủ vào. Hùng Hiệu nhìn mặt, tức là Tôn Vượng. Tôn Vượng thò tay vào trong mình, lấy ra một phong thư và hai gói bạc đệ trình mà bẩm rằng:
- Dám bẩm vương gia và vương phi! Hai quốc cữu tôi vẫn có lòng nhớ mến, nhưng vì tị hiềm, cho nên chưa dám đến đây, đợi khi nào thánh thượng hồi tâm, bấy giờ sẽ xin vào bái kiến.
Hùng Hiệu thở dài mà rằng:
- Hai quốc cữu lại còn nhớ đến ta. Nhưng ta đã không thiết sống thì việc gì ta cũng không muốn hỏi đến. Ta chỉ xin hỏi việc Hoàng Phủ Tương vương đi tìm thượng hoàng, sự thể ra thế nào?
Tôn Vượng chắp tay thuật hết hết đầu đuôi mọi việc cho Hùng Hiệu nghe. Hùng Hiệu nghe nói cả mừng mà rằng:
- Nếu vậy hay! Hoàng Phủ Tương vương thật là một người bạn tốt của Hùng Hiệu này!
Nói xong, nghoảnh lại bảo Vệ Dũng Nga vương phi rằng:
- Phu nhân ơi! Phu nhân nghe nói mà mà coi, có phải Hoàng Phủ Tương vương là người một lòng trung thành không! Còn như vợ chồng ta thì tội ác khó lòng khoan thứ được. Đã không trừ nỗi bọn quyền gian cho nước, lại không biết liều mình đi tìm thượng hoàng, để đến nỗi bây giờ lực kiệt thế cùng, chỉ đành ngồi khoanh tay mà thở ngắn than dài vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi bấy giờ cũng khóc mà rằng:
- Hoàng Phủ Thiếu Hoa em ơi! Hai chữ “trung hiếu” em thật không hổ thẹn. Nhưng không biết cớ chi em lại sinh ra một đứa con gái yêu quái ấy, chẳng giống tính cha chút nào!
Tôn Vượng lại thuật cho vợ chồng Hùng Hiệu biết rằng hôm trước có quan khâm sai đến bắt, phò mã Triệu Câu nói dối là Hùng Khởi Thần đi sang thăm ông cậu ở Giang Ninh, nhưng kỳ thực thì Mạnh vương phi đã bày mưu lập kế cho Hùng Khởi Thần theo Mạnh Khôi trốn sang Vân Nam từ trước. Hùng Hiệu thở dài mà rằng:
- Ta vẫn biết Mạnh vương phi là một người tài trí cao rộng, cho nên ta mới đem Hùng Khởi Thần mà phó thác nhờ trông nom cho.
Tôn Vượng lại thuật cho biết việc phò mã Triệu Câu đang ra sức luyện tập quân mã để phòng khi có việc. Bấy giờ Vệ Dũng Nga vương phi mới nguôi cơn giận mà rằng:
- Nếu vậy thì một nhà Hoàng Phủ quả nhiên giữ trọn được bốn chữ “Trung hiếu tiết nghĩa”. Ta nghĩ lại hổ thẹn với Tô Ánh Tuyết phu nhân, vì ta mà khiến cho con gái phu nhân cũng bị cực khổ ở nơi ngục thất này.
Tôn Vượng cáo từ lui ra. Bấy giờ có tiền bạc của Triệu Lân và Triệu Phượng gởi vào, cho nên các đồ thực dụng không thiếu thứ gì. Thủ ngục quan và các ngục tốt lại hết sức phụng thừa, không dám trễ nảy như trước. Cách ba hôm sau, có thánh chỉ đến, vợ chồng Hùng Hiệu mặc áo tù nhân mà ra nghênh tiếp. Nội giám Lã Xương mở thánh chỉ ra tuyên đọc như sau:

“Thừa thiên hưng vận, hoàng đế chiếu rằng:
Cứ như tội ác của Hùng Hiệu và vợ là Vệ Dũng Nga đáng lẽ phải tức khắc đem ra hành hình. Nhưng trẫm hãy rộng lượng bao dung, đợi khi thượng hoàng về đây, bấy giờ sẽ xét xử. Nay tạm tha vợ chồng Hùng Hiệu không phải mặc áo tù nhân như trước, cho được tự do trong mấy gian nhà nhỏ, để mà sửa mình đổi lỗi.
Nếu vợ chồng Hùng Hiệu còn có lòng phản nghịch, xét được chứng cứ rõ ràng thì bấy giờ quyết không khoan thứ. Khâm tai”


Vợ chồng Hùng Hiệu lạy tạ thánh chỉ. Nội giám Lã Xương lại bẩm rằng:
- Dám bẩm vương gia! Đã mấy năm nay tôi không được thừa tiếp tôn nhan, vẫn lấy làm nhớ mến. Hôm nay tôi cố xin phụng chỉ tới đây là có ý muốn nói riêng mấy việc trong cung để vương gia vùng vương phi biết.
Vợ chồng Hùng Hiệu bảo mọi người lui tránh, rồi mời Lã Xương ngồi. Lã Xương thuật chuyện Hùng hậu nhờ có thái hậu đem về nội cung chữa thuốc, nhưng long thai cũng không bảo toàn được. Ngày nay bệnh tình thái hậu hiện đang rất nguy kịch .v.v... Vợ chồng Hùng Hiệu nghe nói đều ngẩn mặt nhìn nhau mà rằng:
- Thái hậu nguy kịch như thế, mà thánh thượng vẫn say đắm chưa tỉnh. Vợ chồng Hùng Hiệu ngày chết vẫn không tiếc, chỉ sợ rằng cha con Đồ Man Hưng Phục nhân cơ hội này chiếm đoạt ngôi trời, Phi Giao hoàng hậu mắc kế quân gian mà không tự biết vậy.
Lã Xương lại thuật chuyện Mạnh Lệ Quân bị giam cấm ở trong cung. Hai quốc cữu Triệu Phượng và Triệu Lân đêm qua xin vào vấn an mà cũng không được. Phi Giao hoàng hậu lại giả nhân giả nghĩa, đặt tiệc ở trong cung mời hai quốc cữu. Hai quốc cữu cố tâu xin Phi Giao hoàng hậu phải tha cho họ Hùng thì nhà Hoàng Phủ mới khỏi bị thiên hạ thóa mạ. Phi Giao hoàng hậu chỉ sợ vương gia và vương phi có sức khỏe địch nổi muôn người, cho nên chưa dám khoan thứ. Hai quốc cữu xin đem tính mệnh mà bảo nhận rằng họ Hùng quyết không có lòng phản nghịch. Hai quốc cữu lại nói: “Chẳng lẽ anh em ruột thịt trong nhà không ủng hộ cho nhau mà lại đi ủng hộ người ngoài hay sao! Hoàng hậu ngự ngôi chí tôn là một điều vinh quý cho nhà Hoàng Phủ. Nếu họ Hùng đắc chí thì thần đẳng khi nào được vẻ vang là hàng quốc thích hoàng thân vậy.” Phi Giao hoàng hậu nghe hai quốc cữu nói như thế, bấy giờ mới vui cười mà rằng: “ Nếu anh em ta biết cùng nhâu một lòng thì còn nói chi nữa! Vì thế mới có đạo thánh chỉ này. Hai quốc cữu lại gởi lời tôi đến bẩm vương gia và vương phi hãy cứ yên lòng, đợi khi thượng hoàng về triều, bấy giờ sẽ được thị phi biện bạch.
Vợ chồng Hùng Hiệu lẩm nhẩm gật đầu mà rằng:
- Nếu vậy thì mới không hổ thẹn là con nhà Hoàng Phủ!
Lã Xương lại xin phép yết kiến Phi Loan quận chúa. Vợ chồng Hùng Hiệu truyền gọi Phi Loan quận chúa ra. Lã Xương nói:
- Dám bẩm quận chúa! Thái hậu và Mạnh vương phi nếu trông thấy quận chúa lam lũ thế này, tất lấy làm đau lòng. Nhưng thôi quận chúa cũng chớ nên oán trời, chẳng qua chỉ tại Phi Giao hoàng hậu gây ra tai vạ này. Phi Giao hoàng hậu thật là người nhẫn tâm thái quá.
Nói xong, lại thò tay vào trong mình lấy ra một phong thư trao cho Phi Loan quận chúa:
- Đây là phong thư của hai quốc cữu gởi cho quận chúa. Xin quận chúa mở ra xem rồi y kế mà thi hành.
Phi Loan quận chúa cầm lấy phong thư, không hề mở ra xem, liền xé nhỏ ra, rồi khóc mà bảo rằng:
- Ta nhờ nhà ngươi nói với quốc mẫu và hai quốc cữu, bây giờ không nên hỏi han gì đến ta cả, chỉ nên nghĩ kế làm sao mà khiến cho họ Hùng được ra khỏi chốn này. Cứ như bây giờ thì dẫu quốc cữu đến đây ta cũng không tiếp. Ta là một người vô tội, bao giờ họ Hùng được ân xá, bấy giờ ta mới ra. Nếu hai quốc cữu có nghĩ tình cốt nhục trong nhà thì xin lấy việc nước làm trọng.

Lại nói chuyện Hùng Khởi Thần theo Mạnh Khôi về Vân Nam, trong khi đi đường luống những thở than khóc lóc. Ngày giờ thấm thoát, bỗng đã cuối thu. Bấy giờ thuyền tới phủ Giang Ninh, Mạnh Khôi vào thành dự tiệc, Hùng Khởi Thần một mình ngồi ở dưới thuyền, nghĩ quanh nghĩ quẩn: “Nay cả nhà ta đều phải vào ngục thất, chỉ có một mình ta làn nạn tới dây. Nhưng tham sống mà xa cách cha, chẳng thà liều chết cho được sum vầy dưới gối. Nay nhân lúc anh Mạnh Khôi ta vào trong thành vắng, chi bằng ta ta trẩy thuyền tiến kinh, rồi tình nguyện vào nhà giam cho được gặp mặt cha mẹ. Ngặt vì nỗi còn có Chu Thống theo đó, âu là ta phải lập kế sai hắn đi chỗ khác mới xong.” Hùng Khởi Thần nghĩ vậy, mới gọi Chu Thông vào mà bảo rằng:
Bây giờ anh Mạnh Khôi ta đi vắng, nhà ngươi nên mua giúp ta mấy thứ thực phẩm gì để ta uống rượu cho đỡ buồn.
Chu Thống nói:
- Các thứ thực phẩm trong thuyền đều có sẵn cả, can chi mà phải đi mua.
Hùng Khởi Thần nói:
- Ta ăn khô khan lắm, không thể chịu được, trong lòng rất lấy làm phiền muộn. Ta chỉ muốn ăn một vài quả lê hay quả cam gì đó mà thôi.
Chu Thống nói:
- Nếu vậy để tôi xin lên bộ đi mua.
Chu Thông nói xong, vội vàng cầm tiền đi ngay. Bấy giờ các thủy thủ đều đi vắng cả, gia tướng nhà họ Mạnh cũng đều đi theo hầu Mạnh Khôi. Hùng Khởi Thần cởi thuyền buông theo dòng nước, dẫu muốn tiến kinh, nhưng không biết đi lối nào. Lại sợ người nhà họ Mạnh đuổi theo, mới thuyền vào một nơi rừng rậm ở phía chân núi. Hùng Khởi Thần cắm thuyền bỏ đó, rồi lóp ngóp trèo lên, ruột đói như cào, vừa trèo vừa thở, nghe trong lòng đã mệt nhọc, mồ hôi ướt đầm. Bấy giờ trời tối đen, gió động cành cây, có tiếng sột soạt. Hùng Khởi Thần nghĩ thầm: “Quái lạ! Hay là có giống sài lang hổ báo chi đây! Nếu vậy thì ta khó lòng mà sinh toàn được. Thôi thôi cũng liều một chết, ai ngờ ta lại về trước ở nơi chín suối mà đợi hai thân”. Hùng Khởi Thần mệt quá, không thể đi được nữa, chịu nằm lăn ra đấy. Đang trong mơ mơ màng màng thì bỗng nghe có tiếng người lao nhao: Kẻ thì bảo người này chết rồi, kẻ thì bảo con mắt hãy còn mở. Chúng soi đèn đốt đuốc, kéo đến khám trong mình Hùng Khởi Thần, thấy có tiền đều chia nhau mà lấy. Chúng lại khám thấy tập tranh “Bách mỹ” cũng lấy đem đi, Hùng Khởi Thần cố gượng ngồi dậy, trông thấy ở trên đỉnh núi ánh lửa sáng rực, lại nghe có tiếng người bàn nói, không hiểu câu gì. Hùng Khởi Thần nghĩ thầm:
- Bọn này chắc là bọn cướp, nếu chúng bắt ta, quyết không khi nào để cho cho ta được toàn. Chi bằng ta nhân lúc chúng quay đi này mà lẩn trốn một nơi, họa may mới khỏi chết. Hùng Khởi Thần nghĩ vậy, liền đứng dậy toan chạy, nhưng bước không vững lại ngã gục xuống đấy. Chúng thấy vậy kéo ồ cả đến, bảo nhau bắt lấy để đem vào nhà nộp lão gia. Bấy giờ chúng xúm lại khiêng Hùng Khởi Thần đem lên trên đỉnh núi. Khi tới nơi trông thấy một viên võ tướng quân, thân thể tráng kiện, ước độ khoảng bốn mươi tuổi. Mình mặc áo tố bào, lưng đeo cung tên, lại có mấy chục gia binh đứng sắp hàng chung quanh. Viên tướng quân ấy đang cầm tập tranh tranh “Bách mỹ” mà ngắm nghía. Chúng đặt Hùng Khởi Thần xuống đây, rồi quỳ bẩm:
- Bẩm lão gia! Chính người này lấy trộm tập tranh “Bách mỹ”, chúng tôi đã bắt đem về đây, để lão gia xử phán.
Viên tướng quân ấy nhìn mặt Hùng Khởi Thần có ý ngần ngại, ngờ là ngoại sanh của mình, nhưng vì cách biệt đã sáu năm nay, cho nên chưa nhận được chắc. Bấy giờ cũng giả cách nổi giận mà mắng rằng:
- Đứa gia tặc kia dám lấy trộm tập tranh “Bách mỹ”, trong bấy nhiêu lâu, lẩn trốn nơi nào, ngày nay bỗng lại sa vào tay ta, thế mới thật là lưới trời khó tránh vậy. Họ tên là gì? Phải mau mau thú thật.
Hùng Khởi Thần nghe nói, đã toan cãi lại, nhưng bấy giờ người mệt nhọc quá, nói không ra tiếng. Nghĩ quanh nghĩ quẩn đành nhắm mắt nín lặng, tha hồ cho chúng muốn làm gì thì làm. Viên tướng quân bảo các gia đem về phủ. Chúng lại khiêng Hùng Khởi Thần đi. Đi độ mấy dặm đường đem vào một toà nhà lớn.
.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-06 08:36:53Hoàng Dung>
hồi 8c
Bấy giờ viên tướng quân đã thay bộ áo thường, trông thấy Hùng Khởi Thần liền truyền cởi trói, đuổi hết người nhà lui ra và tự mình đứng dậy đóng chặt cửa lại, rồi chạy đến đỡ Hùng Khởi Thần ngồi lên mà bảo rằng:
- Nhà ngươi chớ sợ hãi! Ta hỏi: tập tranh “Bách mỹ” này nguyên là gia bảo của nhà Hùng vương, cớ sao lại thành ra ở trong mình nhà ngươi?
Hùng Khởi Thần nghe nói, trong lòng nghĩ thầm: “Chi bằng ta cư thú thực cho chúng bắt ta giải kinh, sẽ được cùng chết với cha mẹ, còn hơn cứ nay lần mai lựa, lẩn lút trốn tránh như thế này”. Hùng Khởi Thần nghĩ vậy mới ứa hai hàng nước mắt khóc mà rằng:
- Người không hỏi tôi thì thôi, chứ đã hỏi đến càng khiến cho tôi đau lòng đứt ruột.
Nói xong liền thuật rõ họ tên lai lịch cho nghe. Viên tướng quân ấy mừng rỡ xiết bao, liền cầm lấy tay mà rằng:
- Hiền sanh ơi! Hiền sanh Hùng Khởi Thần ơi! Ta là cữu phụ Vệ Dũng Bưu đây! Hồi sáu năm trước ta về kinh, hiền sanh còn nhỏ tuổi, cho nên bây giờ ta không thể nhớ được. Nếu không nhờ có tập tranh “Bách mỹ” thì cậu cháu ta có không nhận được nhau.
Hùng Khởi Thần nghe nói, mới cất đầu lên nhìn, thấy quả là ông cậu thật, liền khóc oà lên mà rằng:
- Cữu phụ ơi! Chẳng hay cớ sao cữu phụ lại thành ra ở đây?
Vệ Dũng Bưu ôm lấy Hùng Khởi Thần rồi khóc mà bảo rằng:
- Hiền sanh ơi! Sự tình trong mấy năm nay, ta biết hết cả, chỉ vì sức không thể làm gì nổi, cho nên phải cáo bệnh trở về quê nhà. Ngày nay lại gặp hiền sanh ở đây, thật là may quá. Thôi, ta bây giờ chẳng bàn tính chi vội, hiền sanh hãy tạm lánh mình ở yên tại nhà ta ít lâu.
Hùng Khởi Thần sụp lạy. Vệ Dũng Bưu đỡ dậy mà rằng:
- Bây giờ hiền sanh theo ta vào nhà trong để chào biểu thư và hai di nương. Hùng Khởi Thần vâng mệnh vào nhà trong, trông thấy có một người con gái và hai đàn bà đứng tuổi. Người con gái ấy khẽ hỏi Vệ Dũng Bưu:
- Thân phụ ơi! Người nào lạ mặt thế?
Vệ Dũng Bưu nói:
- Văn Cơ con ơi! Đây là nhị biểu đệ nhà họ Hùng tên gọi là Hùng Khởi Thần mà mọi ngày ta vẫn nói chuyện cùng con đó.
Nói xong, nghoảnh lại bảo hai di nương rằng:
- Nào Lã di nương đâu! Lấy bộ áo khoát cho Hùng công tử thay. Còn Từ di nương đâu! Truyền người nhà dọn rượu uống.
Bấy giờ Hùng Khởi Thần thay bộ áo xong, Vệ Dũng Bưu trỏ nàng Văn Cơ mà bảo Hùng Khởi Thần rằng:
- Đây là tiện nữ tên gọi Văn Cơ đó! Hồi ba năm trước, ta gả cho con tham tướng, năm ngoái không ngờ bỗng góa chồng, lại về nhà. Năm nay hai mươi bốn tuổi, nguyên là con Lã di nương đây, còn Từ di nương chưa có con. Tiện nhi Vệ Ngọc là con cữu mẫu Doãn thị sinh ra, vì khi hết tang mẹ rồi lại đem gia quyến đi lĩnh chức ở Sơn Tây. Ngày nay việc nội trợ trong nhà, ta giao cho Lã di nương tất cả. Văn Cơ rất thông minh, có tài văn thơ tiếc thay số phận long đong đến nỗi góa chồng sớm.
Hùng Khởi Thần cúi chào mọi người. Vệ Dũng Bưu truyền người nhà xếp dọn phòng ngủ cho Hùng Khởi Thần ở liền ngay bên cạnh phòng mình. Lại gọi tất cả gia đinh đến mà dặn rằng:
- Đây là Hùng công tử, các ngươi gặp được mà đưa về đây, tức là có công. Những vàng bạc đem đệ trình ta, ta thưởng cho các ngươi tất cả, nhưng các ngươi phải bí mật, nếu tiết lộ cho ai biết, ta sẽ lấy đầu.
Các gia đinh đều một lòng vâng mệnh. Khi các gia binh lui ra, hai cậu cháu ngồi vào uống rượu. Vệ Dũng Bưu lại hỏi kỹ mọi việc trong mấy năm trời. Hùng Khởi Thần đều thuật rõ đầu đuôi cho nghe. Vệ Dũng Bưu nghiến răng đập bàn, lấy làm tức giận. Hai di nương cũng có ý xót thương mà bảo nhau rằng:
- Nếu vậy thì Phi Giao nhẫn tâm thái quá, mà Đồ Man Hưng Phục cũng là một đứa quyền gian.
Chỉ có Văn Cơ chẳng nói chi cả, cứ nghiễm nhiên ngồi lặng mà nhìn Hùng Khởi Thần, không hề chớp mắt. Nàng nghĩ thầm:
- Hùng công tử thật là một bậc phong lưu tài tuấn, không ngờ thế gian lại có người này! Phu quân ta thuở xưa tướng mạo dẫu khác thường, nhưng còn kém xa lắm. Nếu ta được kết duyên cùng công tử thì thật không uổng phụ một đời xuân xanh. Nhưng ta ngày nay dẫu sao cũng mang tiếng góa chồng, khi nào được cùng công tử đẹp duyên cầm sắt. Nàng Văn Cơ nghĩ vậy, đôi mày cau có, ra ý không vui. Vệ Dũng Bưu nghoảnh lại bảo Văn Cơ:
- Văn Cơ con ơi! Hùng công tử đây tức là biểu đệ, cũng trong thân thích há phải người xa lạ gì. Con chớ e lệ làm chi, nên hàng ngày cùng công tử giảng sách bàn văn cho khuây sự phiền muộn.
Nàng Văn Cơ nghe nói, mỉm cười mà rằng:
- Thân phụ ơi! Con là bậc nữ lưu, khi nào dám giảng sách bàn văn cùng công tử. Công tử có tài cao học rộng, muốn xin công tử giải bảo thêm cho.
Hùng Khởi Thần nghe nói tỏ ý khiêm tốn mà rằng:
- Học thức tầm thường của tôi đã được bao nhiêu mà nàng quá khen như vậy.
Lã di nương cười mà bảo rằng:
- Công tử chớ có khiêm tốn quá, từ nay tức là người trong một nhà, cũng nên chuyện trò đàm luận cùng nhau cho được vui vẻ.
Từ di nương cũng bảo rằng:
- Hùng công tử ơi! Công tử cứ yên lòng chớ nên phiền muộn. Tất có ngày họ Hùng được ân xá, bấy giờ sẽ lại cùng nhau sum họp.
Vệ Dũng Bưu gật đầu khen phải mà rằng:
- Hiền sanh bất tất phải tiến kinh, cứ ở yên đây, mà cũng đừng đi đâu, kẻo sợ tiết lộ.
Khi uống rượu xong, ai về phòng nấy. Hùng Khởi Thần luống chịu khó nhọc mấy đêm không ngủ, đêm ấy nằm ngủ thiếp đi, mãi đến khi mặt trời cao mấy con sào mà vẫn chưa dậy. Nàng Văn Cơ trang điểm xong, chạy vào vén màn gọi.
Hùng Khởi Thần nghe tiếng, giật mình tỉnh dậy, trông thấy Văn Cơ kinh hãi mà rằng:
- Sao nàng dậy sớm thế?
Vừa nói vừa vội vàng trở dậy mặc áo. Nàng Văn Cơ gọi nữ tỳ lấy nước rửa mặt, rồi ngồi xuống ghế, ôn tồn hỏi han mà rằng:
- Đêm qua công tử ngủ có được không?
Hùng Khởi Thần cảm tạ mà rằng:
- Mấy ngày nay tôi không ngủ, cho nên đêm qua nằm ngủ thiếp đi, mãi đến bây giờ mới dậy. Chẳng hay cữu phụ và hai di nương tôi đã dậy chưa?
Một nữ tỳ đứng cạnh bật cười mà thưa rằng:
- Lão gia tôi đã dậy đi chơi vắng, còn hai di nương tôi cũng đều đã ăn lót dạ rồi.
Bỗng thấy một tên bộc phụ bưng mấy đĩa bánh vào mà nói với Văn Cơ rằng:
- Dám bẩm tiểu thư! Lã di nương tôi bảo tiểu thư mời công tử xơi bánh.
Nàng Văn Cơ tủm tỉm cười, rồi mời Hùng Khởi Thần ăn lót dạ. Hồi lâu, hai di nương bước vào, lại ân cần hỏi han trò chuyện, cũng có ý trọng đãi. Lã di nương năm ấy đã bốn mươi tuổi, nguyên là một người bồi giá (theo tục nước Tàu thuở xưa, cô dâu về nhà chồng, thường có mấy người tỳ nữ theo hầu gọi là bồi giá) theo Doãn Lan Đài (vợ cả Vệ Dũng Bưu) tên gọi Xuân Hương. Sau Vệ Dũng Bưu nhận làm thiếp, sinh được nàng Văn Cơ, người có nhan sắc. Về sau lại mua thêm một người nữa tức là Từ di nương. Từ di nương cũng có nhan sắc, lại có theo đòi ít nhiều nghiên bút, nhưng đến nay đã bốn mươi tám tuổi mà vẫn chưa sinh nở, vì thế Lã di nương được chuyên sủng, bao nhiêu chính sự trong nhà quyền về một tay. Con trai Vệ Dũng Bưu là Vệ Ngọc vẫn có ý khinh Lã di nương là thiếp hầu, không chịu cho là thứ mẫu. Nàng Văn Cơ cậy mình tài mạo song toàn, thấy anh ( trỏ Vệ Ngọc) là võ biền, cũng có ý miệt thị, Vệ Ngọc thấy em gái được cha yêu dấu không khỏi đem lòng thù hiềm. Lã di nương lại xui giục Vệ Dũng Bưu bắt Vệ Ngọc phải đem vợ con đi theo, để trong nhà không còn ai dám chống cự cùng Lã di nương cả. Lã di nương tính vốn thâm độc, bề ngoài giả cách tử tế, nhưng bề trong vẫn muốn bày mưu lập kế để hại Từ di nương. Chẳng ngờ nàng Văn Cơ cùng Từ di nương lại tương đắc với nhau, cho nên Lã di nương hại không nổi. Vệ Dũng Bưu và Lã di nương thấy nàng góa chồng sớm, bội phần thương xót, cho nên hết sức chiều chuộng, muốn gì được nấy. Lại có ý muốn vì nàng kén chọn giai tế, để đợi khi hết tang chồng cũ thì dây loan lại nối cầm lành. Từ khi có Hùng Khởi Thần đến ở đấy, nàng Văn Cơ ra tình luyến ái. Khi cuộc cờ khi chén rượu cùng nhau ngày lại thêm thân, nhưng nghĩ đến cha mẹ lúc nào thì lại gạt thầm giọt lệ. Một hôm, Vệ Dũng Bưu ở ngoài về, nét mặt hoảng hốt mà bảo rằng:
- Nếu vậy thì thật là việc không may! Ta nghe tin quan khâm sai sắp tới nhà ta, bắt Hùng công tử, bây giờ biết làm thế nào?
Lã di nương và Từ di nương nghe nói đều ngẩn mặt nhìn nhau. Hùng Khởi Thần ứa nước mắt khóc mà rằng:
- Cữu phụ ơi! Xin cữu phụ chớ lo ngại! Con đây vẫn có lòng muốn được tiến kinh để cùng cha mẹ cùng chết, còn hơn sống thừa ở trên cõi đời này.
Vệ Dũng Bưu gạt tay mà bảo rằng:
- Không thế được! Khi nào ta nỡ để cho hiền sanh bị bắt giải kinh.
Lã di nương và Từ di nương đồng thanh mà rằng:
- Chi bằng lão gia để cho công tử trốn đi. Khi quan khâm sai tới đây, sục tìm không thấy thì chắc không liên lụy đến lão gia được.
Vệ Dũng Bưu nói:
- Cũng không thế được! Chẳng lẽ lại để cho hiền sanh đi đâu bây giờ!
Nàng Văn Cơ thấy vậy liền tủm tỉm cười, lấy tay bưng miệng, rồi sẽ cất tiếng oanh mà thưa rằng:
- Thân phụ ơi! Bây giờ có một kế quyền nghi này, quyết nhiên quan khâm sai không thể biết được.
Vệ Dũng Bưu vội vàng hỏi:
- Kế chi thế, hở con!
Nàng Văn Cơ lại cứ cười khúc khích, Lã di nương giục nói mà rằng:
- Sao lại cứ cười mãi thế! Có kế chi hay, nên nói mau mau.
Nàng Văn Cơ cười mà thưa rằng:
- Nào có kế chi lạ đâu! Con thiết nghĩ công tử nên cải dạng nữ nhi, rồi cứ nói là một người thân thuộc đến ở nhà ta thì quan khâm sai biết thế nào được.
Vệ Dũng Bưu và hai di nương nghe nói đều tấm tắc khen ngợi, lấy làm diệu kế. Hùng Khởi Thần nói:
- Việc ấy, tôi thiết tưởng không nên. Ví tôi cải dạng nữ nhi, chẳng hóa ra tham chút sống thừa mà để một trò cười về mai hậu. Vả nay lại vùi đầu ở trong nơi khuê các thì biết bao giờ mở mặt với người.
Nàng Văn Cơ lại mỉm cười mà bảo rằng:
- Ta tạm dùng cái kế quyền nghi này để che mắt quan khâm sai đó thôi, xin công tử phải quyết đoán, chớ có ngần ngại.
Vệ Dũng Bưu nói:
- Phải làm như thế mới được! Mau mau lấy bộ áo nữ lưu ra đây để cho hiền sanh mặc.
Bấy giờ Lã di nương tức khắc đứng dậy tháo khăn cởi áo của Hùng Khởi Thần ra, các nữ tỳ thì lấy lược chải đầu, bới tóc cài trâm. Nàng Văn Cơ vội vàng đì lấy bộ áo của mình đem ra cho Hùng Khởi Thần mặc. Khi trang điểm xong, cả nhà xúm lại ngắm nghía, quả nhiên là một nàng Văn Cơ thứ hai, chỉ hiềm về nỗi chân to, không thể đi đôi hài nhỏ được.
Nàng Văn Cơ cười mà bảo Hùng Khởi Thần rằng:
- Khi ấy công tử cứ khẽ rón chân mà đi từ từ.
Vệ Dũng Bưu mừng mà bảo rằng:
- Bất tất phải nói là người trong thân thuộc, bấy giờ cứ nói là đệ nhị tiểu thư nhà ta đó.
Sáng hôm sau, bỗng nghe gia đinh vào báo có quan khâm sai đem quân đến vây, hiện đã khóa chặt các cửa.
Vệ Dũng Bưu vội vàng chạy ra nghênh tiếp. Quan khâm sai hỏi đến Hùng Khởi Thần thì Vệ Dũng Bưu trả lời:
- Tịnh chưa thấy đến!
Quan khâm sai không tin, cho quân sĩ sục tìm. Hai di nương và hai tiểu thư đang luống xuống sợ hãi thì quân sĩ đã tiến đến tới nơi. Vệ Dũng Bưu trỏ mà bảo quan khâm sai rằng:
- Đây là hai tiểu thiếp của tôi và hai tiện nữ tôi đó! Nào có Hùng Khởi Thần ở đâu! Quân sĩ tìm sục khắp bốn mặt, chẳng thấy Hùng Khởi Thần đâu cả, Vệ Dũng Bưu cười mà bảo quan khâm sai rằng:
- Quan khâm sai uổng công khó nhọc tới đây mà thành ra không được việc. Trước tưởng vẫn tôi nói dối, bây giờ hẳn không còn nghi ngờ. Xin mời ngài ra nhà khách xơi nước.
Các quan phủ, huyện sở tại cũng không nói chi cả, đều theo Trương Hổ (tức là quan khâm sai) ra ngồi nhà khách. Khi uống trà xong, các quan phủ huyện hỏi Trương Hổ rằng:
- Bây giờ ngài định trở về phúc chỉ, hay là còn định đi tìm bắt ở nơi nào?
Trương Hổ cười nhạt mà rằng:
- Phò mã Triệu Câu bảo với tôi là Hùng Khởi Thần vừa rồi đã sang ngay bên nhà quan tổng binh họ Vệ đây, cớ sao lại chưa thấy đến. Quả nhiên là quan tổng binh họ Vệ đây đã đưa chàng trốn đi chỗ khác rồi. Bấy giờ ta cứ đòi cho được Hùng Khởi Thần, nếu không thì quan tổng binh phải theo ta về kinh để phúc chỉ.
Vệ Dũng Bưu nghe nói nổi giận mà rằng:
- Nhà ngươi phụng chỉ tới nhà phò mã, không thấy Hùng Khởi Thần, sao không bảo phò mã theo về kinh phúc chỉ, có được không?
Trương Hổ cũng nổi giận quát to lên rằng:
-Nói thế mà nghe lọt tai! Phò mã bảo là Hùng Khởi Thần tới đây, vậy nên ta mới đem quân tới. Nếu nay Hùng Khởi Thần đi đâu, nhà ngươi cứ bảo cho biết thì ta còn trách gì nhà ngươi. Chỉ vì nhà ngươi ẩn nặc không chịu nói ra, thế thì ta tất phải bắt nhà ngươi theo ta về kinh phúc chỉ.
Vệ Dũng Bưu xỉ mắng mà rằng:
- Nhà ngươi to gan thật! Ta có tội gì mà dám bắt ta giải kinh!
Trương Hổ nói:
- Nhà ngươi có hai tội to lắm: Một là ẩn nặc kẻ phản nghịch; hai là tội dám chống cự với quan khâm sai.
Nói xong, liền truyền quân sĩ mau mau trói Vệ Dũng Bưu lại để giải kinh phúc chỉ. Quân sĩ vừa xô đến thì Vệ Dũng Bưu hầm hầm nổi giận, lấy tay gạt ngã các quân sĩ, rồi túm đầu Trương Hổ, đánh tát một hồi. Trương Hổ nét mặt tái mét, miệng thổ ra huyết. Vệ Dũng Bưu lại còn đá luôn mấy cái thất điên bát đảo. Bấy giờ Trương Hổ mới kêu van mà rằng:
- Vệ tướng quân ơi! Chúng tôi biết tội đã nhiều, xin tướng quân tha chết cho.
Các quan phủ, huyện đều run sợ, chẳng còn hồn vía nào, chạy lại xin Vệ Dũng Bưu rằng:
- Vệ tướng quân ơi! Ngày nay quan khâm sai lầm lỗi, có xúc phạm đến tướng quân, nhưng vì là sứ mệnh của triều đình, vậy xin tướng quân nên rộng lượng tha cho, để được về kinh phúc chỉ.
Vệ Dũng Bưu vẫn còn căm tức:
- Không thể tha được! Tôi hãy đánh chết nó đã, rồi dẫu chết chém, tôi cũng cam tâm. Nó hăm doạ tôi hết điều, tôi vẫn chịu nhịn, nay nó lại còn muốn bắt tôi giải kinh. Nếu có thánh chỉ truyền bắt tôi thì tôi mới tha chết cho nó được.
Nói xong, lại đấm đánh một hồi nữa, Trương Hổ lại quằn quại kêu van. Các quan phủ, huyện lại nói:
- Vệ tướng quân ơi! Xin tướng quân rộng tha cho quan khâm sai thì chúng tôi được đội ơn nhiều lắm.
Bấy giờ Vệ Dũng Bưu mới chịu tha, lại quay lại xin lỗi cùng các quan phủ, huyện. Các quan phủ, huyện đỡ quan khâm sai dậy, trông thấy mặt mũi sưng vếu cả lên, thật đáng ghê sợ, vội vàng gọi người đem kiệu đưa về nhà công quán để mời thầy thuốc cứu chữa. Vệ Dũng Bưu vừa toan quay vào nhà trong thì bỗng nghe báo có khách lạ đến. Tên người nhà cầm danh thiếp đưa vào, Vệ Dũng Bưu mở xem, thấy đề ba chữ “Chúc Vô Nhân”, có ý nghi hoặc mà nghĩ thầm rằng: “ Quái lạ! Ta không quen người nào họ Chúc bao giờ, sao lại bỗng đến thăm ta”. Vệ Dũng Bưu còn đang ngẫm nghĩ thì bỗng thấy một ông cụ già mũ áo chỉnh tề, trông có vẻ văn nhã. Vệ Dũng Bưu cúi chào:
- Xin cúi chào tiên sinh! Chẳng hay tiên sinh tới đây có việc chi?
Ông cụ già ấy chăm chú nhìn Vệ Dũng Bưu mà hỏi rằng:
- Có phải người chính là quan tổng binh họ Vệ đó không?
Vệ Dũng Bưu nói:
- Chính tôi đây! Chẳng hay tiên sinh định chỉ giáo việc chi?
Ông cụ già ấy nói:
- Tôi vâng mệnh Triệu vương, đến đây yết kiến ngài đây!
Vệ Dũng Bưu giật mình kinh sợ, vội vàng làm lễ tương kiến. Chúc Vô Nhân nói:
- Tôi có một việc muốn nói riêng cùng tướng quân.
Vệ Dũng Bưu hiểu ý, tức khắc mời vào ngồi trong thư phòng. Chúc Vô Nhân thò vào trong tay áo lấy ra một phong thư trao cho Vệ Dũng Bưu mà bảo rằng:
- Đây là phong thư của Lưu Quí ở phủ Triệu vương gởi tôi đưa cho tướng quân đó. Lưu Quí nguyên làm chức trưởng sử ở phủ Triệu vương đã hơn mười năm nay. Từ khi thượng hoàng bỏ đi. Phi Giao chuyên quyền, gia quyến họ Hùng bị giam, Hán vương có mật ước với Triệu vương để cùng khởi binh. Lưu Quí vốn biết tướng quân đây là bậc vũ dũng, sức khỏe địch nổi muôn người, lại có lòng trung nghĩa, vậy mới thương nghị cùng tôi, để tâu với Triệu vương mời tướng quân đến giúp cho.
Vệ Dũng Bưu nghe nói, nửa mừng nửa sợ. Mở phong thư của Lưu Quí ra xem thì quả đúng như lời Chúc Vô Nhân nói, nghĩ thầm: “Nếu vậy cũng là một việc hay cho ta. Lần này quan khâm sai về kinh, tất Đồ Man Hưng Phục lại bày mưu mà hãm hại ta, chi bằng ta nhân dịp này đi theo Triệu vương. Gia quyến ta rồi sau cũng đem đi cả, chỉ hiềm một nỗi ngoại sanh ta ở đây, biết lấy ai hộ vệ. Âu là ta sai người gọi con trai ta tạm nghỉ một thời gian về nhà để hộ vệ lấy ngoại sanh. Vệ Dũng Bưu nghĩ vậy mới nói với Chúc Vô Nhân:
- Xin tiên sinh hãy ở lại đây mấy hôm, để tôi thu xếp việc nhà rồi sẽ theo tiên sinh khởi hành.
Vệ Dũng Bưu lại thuật hết đầu đuôi việc Hùng Khởi Thần đến cho Chúc Vô Nhân nghe. Chúc Vô Nhân thở dài mà rằng:
- Thương xót thay cho Hùng vương, bao giờ giải tỏ được nỗi oan tình. Nay công tử đến đây, hay là ta đưa sang ở Triệu vương phủ.
Vệ Dũng Bưu nói:
- Khó đưa đi lắm! Vì công tử vốn là một kẻ thư sinh yếu đuối không quen cưỡi ngựa, mà tôi cùng tiên sinh thì lại cần phải đi gấp mới được.
Vệ Dũng Bưu truyền người nhà dọn rượu uống. Trong khi uống rượu, Vệ Dũng Bưu hỏi thăm chuyện Triệu vương. Chúc Vô Nhân nói:
- Triệu vương vốn là người hiếu thuận, Triệu thái phi thì rất nhân từ. Quan trưởng sử là Lưu Quí cũng một mực công minh, cho nên nhân dân đều kính phục. Các tướng sĩ hết lòng trung dũng, bây giờ hiện đã có sẵn năm nghìn tinh binh, chỉ đợi tướng quân tới nơi thì sẽ đính ước cùng Hán vương để cầm quân dẹp loạn. Vệ Dũng Bưu nghe nói mừng rỡ mà rằng:
- Nếu vậy thì quan trưởng sử Lưu Quí thật là người đáng khen! Năm xưa thân phụ hắn là Lưu Khuê Bích càn dỡ lạ thường, ai ngờ sinh con lại biết tận trung báo quốc.
Khi uống rượu xong, Vệ Dũng Bưu từ biệt lui vào nhà trong, đem việc Triệu vương và quan trưởng sử Lưu Quí ước đính nói cho nàng Văn Cơ nghe và bảo:
- Thế này là một cơ hội rất tốt cho ta, nếu không thì quan khâm sai về tới kinh, tất nhiên lại có thánh chỉ đến nã tróc ta vậy. Ta đã sai người gọi anh con về. Các ngươi cứ ở nhà, đợi khi anh con về đây sẽ đưa các ngươi sang Triệu vương phủ.
Hùng Khởi Thần nghe nói, ứa hai hàng nước mắt xuống mà rằng:
- Cữu phụ ơi! Triệu vương đã cho người triệu thì cữu phụ cho con theo đi, kẻo con ở đây, lòng cũng không yên. Cứ bới tóc cài trâm, cải dạng nữ nhi, ăn rồi lại ngồi một chỗ thì con lấy làm hổ thẹn.
Vệ Dũng Bưu nói:
- Bây giờ chưa thể đi được! Nếu việc hiền sanh mà tiết lộ ra, tất có tai vạ. Vả hiền sanh vốn người yếu đuối thì chịu sao nỗi những sự khó nhọc khi đi đường. Vậy đợi tiện nhi về đây, bấy giờ cả nhà xuống thuyền cùng đi một thể.
Hùng Khởi Thần nín lặng, không biết trả lời thế nào. Nàng Văn Cơ có ý buồn rầu mà nghĩ thầm rằng: “Nếu vậy thì Hùng công tử nhẫn tâm thật, nỡ nào bỏ ta mà đi theo Triệu vương. Một mai công tử thoát thân bỏ đi thì duyên đôi lứa há chẳng bẻ bàng ta lắm ru, chi bằng ta nhân lúc này nói rõ sự thực, thử xem công tử định ra làm sao". Nàng Văn Cơ nghĩ vậy, mới thở dài mà nói với Vệ Dũng Bưu rằng:
- Thân phụ ơi! Công tử đến đây, thấm thoát đã nửa năm. Cũng trong thân thích một nhà, vốn chẳng e lệ chi. Nhưng con dẫu tuyết sạch giá trong, người ngoài dị tất đã không có lời dị nghị. Vả công tử lại cải dạng nữ nhi, cùng con khuya sớm ở chốn loan phòng, khi ăn ở lúc ra vào, nào ai biết cho rằng ngọc kia không vết. Bây giờ thân phụ đi vắng, anh con về đây, không khỏi nhiều điều điếc tai. Năm trước thân phụ đã bảo con rằng dây loan sẽ nối cầm lành. Từ bấy đến nay bao nhiêu chỗ cầu thân mà con đều không ưng thuận, cũng chỉ vì chưa được nơi xứng đôi vừa lứa. Ngày nay công tử tới đây lánh nạn, bất đắc dĩ mà phải dùng kế quyền nghi, tạm cải nữ trang, để che mắt quan khâm sai cho toàn mọi việc. Nhưng dẫu sao cũng chẳng qua duyên số, đã trót cùng nhau gặp gỡ thì tử sinh xin quyết một lòng.
Vệ Dũng Bưu nghe nói khen ngợi mà rằng:
- Con nói cũng có lẽ phải. Con thật là một người có học thức, biết nghĩ xa xôi. Thôi thì hiền sanh hãy cứ ở yên đây cho khỏi người ngoài nghi hoặc.
Hùng Khởi Thần nói:
- Cữu phụ ơi! Việc này con khó lòng mà vâng mệnh được, bởi vì con đã đính ước cùng Phi Loan quận chúa từ trước chẳng lẽ xon dám để tiểu thư đây làm thứ phòng hay sao! Dẫu cữu phụ và tiểu thư có ưng thuận, nhưng con cũng không đành lòng. Cửa nhà đâu tá, nghề nghiệp thì không, thân chết dở sống thừa, càng nghĩ càng thêm hổ thẹn.
Vệ Dũng Bưu chưa kịp trả lời. Lã di nương nghe nói đã có ý không vui mà rằng:
- Hùng công tử ơi! Công tử nên nghĩ cho kỹ. Con gái ta thật là một bậc thiên kim tiểu thư, lão gia tôi đây vẫn quý như viên ngọc trên tay, bao nhiêu các quyền quý đến cầu thân mà lão gia tôi chưa ưng thuận nơi nào cả. Nay lão gia tôi vì tình thân thuộc mà cứu công tử, công tử nỡ lại mà phụ tấm lòng.
Hùng Khởi Thần nói:
- Ơn sâu của cữu phụ và tiểu thư đây không bao giờ tôi dám quên. Ngặt vì cha mẹ tôi ngày nay đang ngồi ở trong ngục thất, chưa biết sống chết thế nào, lòng tôi thật đã tựa như lửa cháy, còn dám nghĩ đâu đến thú đoàn viên. Di nương lấy kiến thức đàn bà mà oán giận tôi, nhưng cữu phụ cũng nên lượng xét cho lòng đau xót ấy.
Nói xong, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Vệ Dũng Bưu cũng khóc mà bảo rằng:
- Hiền sanh ơi! Hiền sanh chớ nên khóc thương. Sự đau xót của hiền sanh, ta đã rõ biết. Hiền sanh hãy cứ yên lòng chịu vậy, trời kia sẽ có ngày mở cửa cho ta. Nhưng ta nói câu này, nếu hiền sanh nghe lời thì cũng là một việc hay. Giả sử sau này Phi Loan quận chúa đẹp duyên sắt cầm rồi, mà tiện nữ có làm thứ phòng cũng chẳng lấy chi làm ngại. Cốt cầu được môn đăng hộ đối, khiến cho tình trong thân thuộc ngày lại thêm thân vậy.
Vệ Dũng Bưu lại bảo Lã di nương rằng:
- Nhà ngươi chớ nên nói lôi thôi. Đợi khi hiền sanh tiến kinh, bấy giờ sẽ bàn tính đến hôn sự.
Hùng Khởi Thần chỉ ngậm đắng nuốt cay mà không biết nói thế nào. Nàng Văn Cơ miệng tủm tỉm cười, đứng dậy rót chén rượu mời Hùng Khởi Thần uống mà bảo rằng:
- Cứ như lời thân phụ tôi nói vừa rồi thì tôi cùng công tử tức là vợ chồng. Từ đây xin nguyện cùng nhau chắp liền cành, quyết không bao giờ chia rẽ.
Nàng Văn Cơ vừa nói, lại vừa nắm lấy áo rồi cười mà bảo rằng:
- Công tử nghĩ thế nào?
Hùng Khởi Thần buồn rầu đáp:
- Tiểu thư ơi! Lòng tôi bây giờ thật đã khô héo, không còn biết sống để làm vui. Chỉ mong cho bao giờ được trông thấy hai thân thì tôi mới đành dạ.
Hai người đang trò chuyện cùng nhau thì các tỳ nữ bày tiệc. Nàng Văn Cơ tươi cười nét mặt mà mời Hùng Khởi Thần ngồi uống rượu. Nàng nói:
- Hùng công tử ơi! Chén rượu hôm nay không như chén rượu mọi ngày, mà là chén rượu trăm năm của hai ta vậy.
Hùng Khởi Thần bất đắc dĩ cầm lấy chén rượu mà rằng:
- Tiểu thư ơi! Tôi chừa rượu đã lâu, cảm tạ thịnh tình của tiểu thư, xin tiểu thư ăn cơm.
Nàng Văn Cơ có ý không vui, cười nhạt một tiếng rồi gọi nữ tỳ lấy cơm. Hai người cùng ăn cơm. Khi ăn cơm xong , Hùng Khởi Thần đứng dậy, ra ngồi một chỗ, nét mặt buồn bã âu sầu. Vệ Dũng Bưu trao tiền cho một tên người nhà , dặn đến sáng hôm sau thì đi Sơn Tây gọi Vệ Ngọc. Lại gọi một tên người nhà là Vệ Phúc đến mà dặn rằng:
- Công việc trong nhà, ta giao cho nhà ngươi chiếu quản, đợi đến khi Vệ Ngọc về đây, bấy giờ sẽ hay, còn các gia đinh ai muốn đi tùy lòng, ta sẽ cấp vốn cho về nhà mà mưu sinh. Trong nhà chỉ cần mấy người lão bộc ở lại là đủ.
o0o
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-06 08:52:03Hoàng Dung>
hồi thứ chín
TỪ DI NƯƠNG THỦ TIẾT TỰ TỬ
HÙNG KHỞI THẦN GIẢ GÁI BỊ LỪA


Vệ Dũng Bưu thu xếp công việc trong nhà, rồi đi theo Chúc Vô Nhân. Hùng Khởi Thần từ đó suốt ngày ngồi ở trong phòng chẳng nói chẳng rằng, như ngây như dại.
Hùng Khởi Thần nghĩ thầm: “Ta cũng đường đường một thân nam tử, bỗng đâu nên nỗi, thành ra cải dạng nữ trang. Suốt ngày cứ bới tóc cài trâm mà ngồi ở đây thì xiết bao hổ thẹn. Huống chi Lã di nương từ khi thấy ta cự hôn thì chỉ thở ngắn than dài có ý oán giận, đối đãi với ta không được tử tế như mọi ngày, vậy ta ở đây làm sao cho yên được.”
Hùng Khởi Thần lại nghĩ thầm: “Ta nay cũng là một người quá ư vô tình! Cứ lấy nhan sắc của nàng Văn Cơ thì dẫu Phi Loan quận chúa cũng còn kém xa, ai ngờ ta nghe những lời khuyên bảo ngọt ngào của nàng, lòng ta vẫn tựa như tro nguội. Tuy vậy mà nàng vẫn không hề đổi ý, sớm khuya thăm hỏi, lại càng ân cần hơn xưa. Ta đã cải dạng nữ trang cùng nàng ở chốn loan phòng mà cữu phụ ta lại nói đến việc đính hôn thì sự hiềm nghi ấy tránh sao cho khỏi. Ngày dài đăng đẳng, không biết bao giờ cho biểu huynh (Vệ Ngọc) ta về tới đây!”
Hùng Khởi Thần luống những nghĩ quanh nghĩ quẩn, rồi lòng lại nhủ lòng rằng: “Hùng Khởi Thần ơi! Sao nhà ngươi lại táng tận lương tâm! Chẳng thà cứ đi Vân Nam cho rảnh! Hai thân ta đang chịu cực khổ nơi ngục thất, ta nỡ nào tham sống mà ngồi yên đây. Phi Loan quận chúa dẫu đính ước kết duyên cùng ta, nhưng chưa từng làm lễ thành thân, thế mà cũng cam tâm thủ tiết, không chịu ly hôn, quyết theo hai thân ta vào ngục thất để sớm khuya hầu hạ. Một người nữ lưu còn biết như thế, huống chi là nam tử, nếu không biết nghĩ đến cha mẹ, há chẳng hổ thẹn với mày râu.”
Hùng Khởi Thần đang nghiến răng ngẫm nghĩ, kể sao xiết nỗi đau lòng thì bỗng nghe mặt ngoài có tiếng Lã di nương quát mắng:
Thật chẳng ra thế nào! Tự nhiên tai bay vạ gió, lão gia ta lại nóng tính mà đánh quan khâm sai, việc này không phải là việc chơi. Vì việc cứu một đứa súc sinh ấy mà cả nhà ta phải đem nhau sang phủ Triệu vương chưa biết họa phúc rồi ra thế nào? Ta hết sức cứu nó mà nó không biết nghĩ tý gì. Gái này điên tiết lên, chỉ muốn đem nộp quan cho rảnh!
Nói xong, lại đập bàn ghế, tỏ ra ý tức giận. Từ di nương khuyên giải:
- Hùng công tử đang thương cha nhớ mẹ, ngày đêm khóc lóc, lòng nào mà nghĩ đến sự nhân duyên. Hãy đợi khi cùng đến phủ Triệu vương, bấy giờ sẽ chọn ngày làm lễ. Ta chớ nên tiết lộ kẻo tai vạ tới nơi.
Lã di nương nghe nói, bấy giờ mới nín lặng. Hùng Khởi Thần ở nhà trong, hai hàng nước mắt, chảy xuống ròng ròng, chỉ phàn nàn một mình rằng:
- Thân phụ ơi! Thân phụ bảo con đi lánh nạn, ai ngờ nhục nhã đến nỗi nước này. Vừa hôm nào người ta quý con như vàng, mà bây giờ rẻ con như bùn đất vậy. Thân phụ và thân mẫu thuở xưa đều là tay am luyện binh thư, cớ sao lại không cho con luyện tập võ nghệ. Ngày nay con trói gà không nổi đành chịu thân giun mật chuột, cúi đầu luồn dưới mái nhà.
Hùng Khởi Thần ngẫm nghĩ thương thầm, lại mở tập tranh “Bách Mỹ” ra xem mà thở ngắn than dài: “Trời ơi! Ta cùng Phi Loan quận chúa vẫn tưởng rằng loan phượng một nhà, ai ngờ hóa ra sâm thương đôi ngả, năm chờ tháng đợi, ruột tằm chín khúc, luống những quặn đau. Ta còn nhớ hôm nào thân phụ tuốt gươm đuổi ta, quận chúa đứng bên, nước mắt chứa chan, mấy lần toan chạy đến ngăn mà còn e lệ. Nàng Văn Cơ ngày nay thì bởi đâu nên nỗi, bỗng cùng ta sánh vai ở chốn loan phòng. Con tạo éo le, càng nghĩ càng thêm hổ thẹn”. Hùng Khởi Thần còn đang ngẫm nghĩ bỗng thấy nàng Văn Cơ thủng thỉnh bước vào, gọi mà bảo rằng:
- Hùng công tử ơi! Hôm nay công tử lại cao hứng mà xem tranh vẽ!...
Nói xong, liền ghé ngồi bên cạnh, cũng xem tranh vẽ mà tấm tắc khen ngợi rằng:
- Nét bút thiên nhiên, càng nhìn càng đẹp! Nhưng tiếc thay người trong tranh chỉ nhìn cho đẹp mắt mà không biết cử động. Hùng công tử ơi! Tôi lạ cho công tử, mỹ nhân thật thì hờ hững, mà mỹ nhân giả thì hàng ngày luống ngẩn ngơ trông. Trong tập tranh này cả thảy có trăm mỹ nhân, tôi đây dẫu chẳng dám khoe, nhưng vị tất đã ai ăn đứt! Hùng công tử ơi! Người trong tranh này chẳng kể làm chi, dẫu đến Phi Loan quận chúa kia cũng là xấu duyên hẩm phận. Từ khi trao lời vàng đá, nhà họ Hùng ta biết bao vạ gió tai bay. Nay công tử lạc bước tới đây, nếu không gặp được nhà tôi thì tính mệnh phỏng còn đâu nữa. Vả thân phụ tôi đã nói như thế thì ngày nay hai ta dẫu loan phòng chung gối, cũng không phải là không hợp lễ, cớ sao công tử lại đem lòng hờ hững, chẳng còn tôi cười nói như xưa. Công tử ơi! Công tử chớ phụ nghĩa quên ơn, chúa xuân sao khéo ỡm ờ, vườn xuân luống những đợi chờ gió đông...
Hùng Khởi Thần vội vàng đứng dậy mà thưa rằng:
- Tiểu thư ơi! Tiểu thư đã có lòng đoái thương, muốn cùng tôi đính ước trăm năm thì khi tôi bẩm mệnh hai thân cưới Phi Loan quận chúa rồi, bấy giờ sẽ cùng tiểu thư đẹp duyên cầm sắt vậy. Đó là tôi xin giải tỏ chân tình, xin tiểu thư hãy cam tâm chờ đợi.
Nói xong, quay đi chỗ khác. Nàng Văn Cơ nắm lấy áo rồi cười mà bảo rằng:
- Hùng công tử ơi! “Xuân tiêu một khắc đáng nghìn vàng” dẫu rằng ai có nghìn vàng, đố ai mua được! Tôi và công tử bây giờ thật là trai tài gái sắc, xuân đang gặp thời, thôi thì đêm nay tôi quyết vào đây mà chung gối loan phòng cùng công tử.
Hùng Khởi Thần nghe nói, không thể nhẫn nại được, liền hầm hầm nổi giận mà rằng:
- Tiểu thư ơi! Tiểu thư vốn dòng dõi một nhà danh gia. Vả cũng có nhiều học thức, đáng lẽ phu quân tạ thế, nên thủ tiết không lấy ai mới phải, cớ sao lại nói những giọng tà dâm. Nếu tiểu thư không chờ đợi được thì xin tiểu thư tìm người khác mà kết duyên cầm sắt.
Nàng Văn Cơ nghe nói quá hổ thẹn đâm ra căm tức, nét mặt đỏ bừng, rồi xỉ mắng Hùng Khởi Thần:
- Đứa phụ ơn bội nghĩ kia! Ta không ngờ nhà ngươi lại táng tận lương tam! Trong bấy nhiêu ngày cơm bưng tận miệng, nước rót tận nơi, ta ở với nhà ngươi thật như một bát nước đầy, ai ngờ nhà ngươi bỗng đem lòng rẻ rúng. Nỡ mở mồm ra mà bảo ta đi kết duyên với người khác, sự nhục nhã này ta nhịn được sao. Trời ơi! Một bậc nghiêng thành nghiêng nước như ta, biết bao nhiêu kẻ quyền môn đến cầu thân, ta đều không ưng thuận. Nhà ngươi chớ tự nghĩ mình cao quý mà coi ai làm thường. Thân phụ ta vì cứu tính mệnh cho nhà ngươi mà phải xa cửa lìa nhà, ta thiết tưởng nhà ngươi cũng chưa có thể quên ơn được. Ta nói thật cho nhà ngươi biết, chứ ta đây dẫu chút thân bèo bọt, cũng quyết không khi nào chịu nay Lý mai Trương.
Nàng Văn Cơ vừa nói vừa khóc, tay vẫn túm chặt lấy áo Hùng Khởi Thần. Hùng Khởi Thần cứ khư khư mà ôm tập tranh. Nàng Văn Cơ lại càng căm tức, dằng lấy tập tranh mà ném xuống đất. Hùng Khởi Thần vội vàng cúi nhặt thì tập tranh ấy đã bị nàng Văn Cơ xé tan ra. Hùng Khởi Thần cũng căm tức bội phần, chẳng nghĩ gì đến thân liễu bồ yếu đuối, liền giẫy mạnh một cái mà cướp lấy tập tranh “Bách mỹ” thì ra mới rách có một chỗ vẽ hình Võ Tắc Thiên. Nàng Văn Cơ ngã lăn ra đấy mà kêu ầm lên rằng:
- Trời ơi! Có ai đến cứu tôi với không?
Lã di nương và Từ di nương nghe tiếng, lật đật chạy vào, trông thấy nàng Văn Cơ nằm ở dưới đất, đầu tóc rũ rượi; lại trông thấy Hùng Khởi Thần đang ngẩn người ra mà đứng đấy, trên tay còn cầm tập tranh. Lã di nương vội vàng đỡ nàng Văn Cơ dậy. Từ di nương hỏi Hùng Khởi Thần rằng:
- Vì cớ chi mà đến nỗi ầm ĩ lên như thế?
Lã di nương cũng hỏi nàng Văn Cơ. Nàng Văn Cơ nín đi chẳng tiện nói ra ngại lời, chỉ vùng vằng mà rằng:
- Quân tàn nhẫn kia, không còn một chút lương tâm nào cả!
Lã di nương khuyên giải nàng Văn Cơ, rồi dắt nàng sang phòng bên cạnh mà tỉ tê hỏi chuyện. Nàng Văn Cơ nức nở khóc, vừa khóc vừa lể lể. Lã di nương nghe xong, cười nhạt:
- Văn Cơ con ơi! Con là một vị thiên kim tiểu thư, can chi lại mua lấy sự phiền não! Bây giờ con hãy thủ tiết thờ chồng, đợi khi hết tang, sẽ chọn một người xứng đáng, hà tất cứ phải Hùng công tử, mới được đẹp lứa vừa đôi. Hùng công tử dẫu mặt mũi khôi ngô, nhưng toàn gia đều là tù tội. Dẫu sao này có được ân xá thì ngôi chánh thất kia cũng đã có người. Mệnh phụ sắc phong, chưa khi nào đã đến phần con được. Ta đã khuyên bảo con người lần mà con không nghe, cứ khư khư một mực lấy Hùng công tử!
Lã di nương nói đến đấy thì lại khẽ rỉ tai mà bảo nàng Văn Cơ rằng:
- Ta nói thật cho con biết, chứ Từ di nương kia quả nhiên có tình ý với người ấy. Mỗi khi giáp mặt, hai bên vẫn liếc mắt đưa tình, con cứ thật dạ tin người, mà chẳng biết gì hết. Bây giờ con chớ nghĩ gì đến nó nữa, nên nhân lúc Vệ Ngọc chưa về, mà đuổi nó đi trước, rồi sau sẽ chọn một người nào môn đăng hộ đối để cùng nhau an hưởng phú quý, khiến mẹ đây cũng có chỗ nương nhờ. Nếu không, ngày nay đem nhau sang phủ Triệu vương nào đã biết năm nào cho được thành công. Xa cửa lìa nhà, lòng mẹ thật không khỏi áy náy.
Nàng Văn Cơ nghĩ thầm: “Câu nói này cũng có lẽ phải! Từ di nương và Hùng công tử vị tất đã không có chút tư tình. Ta cứ xem như mỗi khi nói đến dung nhan Hùng công tử thì Từ di nương vẫn tấm tắc ngợi khen. Chắc rằng đôi bên có thề thốt nặng lời, vậy nên Hùng công tử đối với ta mới ra tình nhạt nhẽo. Trời ơi! Từ di nương dẫu có nhan sắc, nhưng so với ta tất còn thua kém, khi nào Hùng công tử lại đem tình ái luyến, chẳng qua chỉ bởi tại lòng nghi ngờ của mẹ ta đó thôi. Không biết tiền duyên túc trái làm sao, mà thấy chàng ta bỗng đeo tai, khiến chàng lại đem lòng hờ hững. Chàng đã buông lời rẻ rúng thì về sau còn mặt nào trông thấy nhau./ Con tạo ghen chi với má hồng, ta dẫu có nhan sắc đắm nguyệt say hoa này cũng là uổng phí”. Nàng Văn Cơ nghĩ quanh nghĩ quẩn, hai hàng nước mắt lã chã tuôn rơi. Lã di nương thấy vậy, kể sao xiết nỗi đau lòng, liền ngồi ở bên cạnh nàng Văn Cơ, lấy tay vuốt ve, rồi tìm lời nỉ non khuyên giải. Sau đó Lã di nương đứng dậy đi sang tây phòng trỏ mặt Hùng Khởi Thần mà mắng rằng:
- Nhà ngươi thật không phải giống người! Từ khi bước chân đến nhà ta gây ra bao nhiêu nỗi lo sợ. Nếu không nhờ có tiểu thư bày mưu lập kế thì khi nào che mắt được quan khâm sai. Lão gia ta vì nhà ngươi mà phải xa cửa lìa nhà, lại đem tiểu thư hứa gả cho nhà ngươi. Thế mà nhà ngươi không biết ơn, còn dám buông lời rẻ rúng. Thôi bây giờ nhà ngươi bước đi đâu thì bước, hoài con mà gả cho đứa bất nhân!
Lã di nương quát mắng rầm rĩ, Hùng Khởi Thần căm tức quá mà chết ngất người đi, không còn biết nói thế nào. May được Từ di nương khuyên can, Lã di nương mới quay ra, không nói gì nữa. Hùng Khởi Thần kêu lên một tiếng mà rằng:
- Cha mẹ ơi! Cha mẹ có thấu nông nỗi này cho con hay chăng! Trăm đắng nghìn cay muôn phần tuổi nhục! Như thế này thì chẳng thà chết đi cho rồi, chỉ vì một nỗi không dám phụ lời cha mẹ!
Từ di nương khuyên giải hồi lâu, gặp đến bữa ăn, người nhà dọn cơm, Từ di nương lại cố mời Hùng Khởi Thần ăn cơm. Hùng Khởi Thần bất đắc dĩ cầm lấy bát cơm hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng, còn nuốt làm sao cho trôi được. Lã di nương ở ngoài lại quát mắng rầm rĩ:
- Đứa bất nhân kia, mọi ngày tiểu thư ta vẫn cùng nó ăn cơm, ngày nay nó đã buông lời rẻ rúng thì còn trọng đãi nó làm chi cho uổng. Nữ tỳ đâu! Bây bưng cơm ra, bảo nó xuống nhà bếp mà ăn.
Nói xong, lại nổi tam bành lên, tay cầm cái roi đuổi đánh các nữ tỳ, bắt phải bưng cơm xuống bếp. Các nữ tỳ bất đắc dĩ phải vào bưng mâm cơm ra. Từ di nương thấy vậy không bằng lòng mà rằng:
- Ta chớ nên nóng nảy quá như thế! Hùng công tử đây đối với lão gia dẫu sao cũng là ngoại sanh, ta nên phải trạng đãi. Huống chi khi lão gia ta ra đi, đã ân cần dặn bảo phải khuyên giải công tử, chớ để cho quá nghĩ mà lo phiền. Nay lão gia vừa đi được hai tháng trời, thiết tưởng ta chớ nên đem lời rẻ rúng. Chồng bát có khi xô lệch, công tử dẫu cùng tiểu thư to tiếng, cũng chẳng qua là vợ chồng chi thường tình, ta liệu lời ngăn cản, cớ sao lại nóng nảy, vội lấy làm thù oán. Chẳng bao lâu nữa Vệ Ngọc công tử cũng về tới đây, bấy giờ công việc trong nhà này vị tất ta đã có quyền tự chủ. Thế thì ta chỉ nên nhẫn nại, không nên gây cuộc phong ba.
La di nương nghĩ thầm: “Vệ Ngọc xưa nay vẫn thâm thù với ta, nếu Vệ Ngọc về đây mà biết những nông nỗi này thì tạt có thiệt hại cho ta vậy. Chi bằng ta nhân lúc lão gia đi vắng trừ tiệt mấy đứa oqan gia này đi là hơn”. Lã di nương nghĩ quanh nghĩ quẩn, bỗng sinh lòng hiểm độc hại người mà lại nghĩ thầm rằng: “Ta về nhà họ Vệ đã hai mươi bốn năm nay, chỉ sinh được có một mụn con gái. Chẳng may nó xấu duyên hẩm phận, bỗng góa chồng sớm, sau này còn biết trông cậy vào đâu. Nghe những lời lão gia ta nói trong khi ra đi, quả nhiên có lòng phản nghịch, một là thắng, hai là bại, họa phúc chưa biết thế nào. Giả sử thắng mà cầm quyền chính thì Từ di nương còn trẻ tuổi, một mai sinh hạ nam tử, bấy giờ lại đè nén được ta. Chi bằng ta nhân dịp này ra thú với quan sở tại, khiến cho Hùng Khởi Thần và Vệ Ngọc đều bị bắt cả. Khi ấy ta đem con gái ta tiến kinh, tìm một vị công tử nào mà gả. Trước là được nhiều tiền bạc, sau là mẹ con vẫn được sum họp với nhau, há chẳng tiện lợi cho ta lắm ru”.
Lã di nương nghĩ vậy, mới giả cách tươi cười nét mặt rồi lẩm nhẩm gật đầu mà bảo Từ di nương rằng:
- Em nghĩ chí phải! Chị nay nóng tính thấy hai bên to tiếng cũng có ý không bằng lòng.Nhưng xét thực ra thì chị có thù hằn gì, chẳng qua chỉ muốn cho Hùng công tử lại cùng tiểu thư hòa hợp như trước.
Nói xong, lại truyền cho người dọn cơm vào trong phòng để mời Hùng Khởi Thần. Hùng Khởi Thần không chịu ăn, sau Từ di nương khuyên giải mãi, mới gượng ăn lưng bát. Từ di nương về phòng, luống những thở ngắn than dài mà nói nhỏ một mình rằng: “Thương xót thay cho Hùng công tử phải chịu bao nhiêu nỗi đắng cay. Nhưng nghĩ cũng đáng khen! Văn Cơ kia dẫu đẹp như hoa, mà công tử vẫn cứ trơ trơ như đá vững như đồng, lòng tơ không hề lay chuyển.”
Từ di nương nghĩ quanh nghĩ quẩn, lại thở dài mà rằng: “Hùng công tử gặp sự đau đớn này, không khéo uất lên mà tự tử mất thôi, âu là ta lẻn sang tây phòng coi thử!”
Bấy giờ Từ di nương không gọi nữ tỳ và cũng không thắp đèn lửa, khẽ rón rén mà đi thầm. Khi đi qua đông phòng, bỗng nghe có tiếng người thì thào, Từ di nương mới dừng chân đứng lại, ghé vào bên cửa sổ để nghe trộm. Nguyên Lã di nương đợi khi mọi người ngủ yên cả, với vào phòng nàng Văn Cơ, đem chủ ý của mình thuật rõ cho nàng nghe và bảo rằng:
- Từ di nương tất có tư tình với Hùng công tử, cho nên mới gia ý hộ trì. Khi ta xuất thú thì ta cũng nên buộc tội cho Từ di nương. Bấy giờ ta sẽ lấy sạch tiền của trong nhà, rồi mẹ con ta đem nhau tiến kinh mà ở, kinh thành là một nơi đô hội, tha hồ cho con kén chọn lấy người vừa lòng.
Nàng Văn Cơ trước vẫn mong được đẹp duyên cầm sắt cùng Hùng Khởi Thần ra lòng hờ hững. Bởi vậy quá thẹn hóa giận, tấm lòng luyến ái, bỗng đổi ra thù oán, mới cũng lấy việc ấy làm một việc nên làm. Nàng Văn Cơ nghĩ vậy liền nói với Lã di nương rằng:
- Lã di nương! Di nương nghĩ kế dẫu cao, nhưng tiếc chưa được chu toàn. Ngày nay xuất thú với phủ đường thì thân phụ con khó lòng tránh khỏi tội phản nghịch.
Lã di nương nói:
- Đành vậy chứ biết làm thế nào! Ngày nay thân phụ con đi theo Triệu vương, nào đã biết bao giờ về. Mẹ con ta ở chốn hương thôn này hồ dễ đã tìm được một người môn đăng hộ đối. Thoi đưa thấm thoát há chẳng uổng phụ ngày xuân. Từ di nương kia nghĩ càng đáng giận thay! Dần dần có ý muốn đè nén ta đi! Hắn đem lòng luyến ái Hùng công tử, cho nên mỗi khi nói đến thì lại gia ý hộ trì. Dẫu con không nghe lời ta, ta cũng quyết phải xuất thú với phủ đường, bấy giờ vạ gió tai bay, con chớ nên hối hận.
Lã di nương nói xong liề đứng ngay dậy. Nàng Văn Cơ sợ hãi, vội nắm lấy vạt áo mà bảo rằng:
- Di nương ơi! Đã đành rằng con xin nghe lời, nhưng xuất thú cũng nên nghĩ cho kỹ. Bao giờ thì xuất thú? Xưa nay con chưa hề vào quan lần nào, biết cậy ai làm tờ trình bẩm. Mà cũng cần phải xuất thú ngay trước khi anh con chưa về đây.
Lã di nương nghe nói, mừng rỡ mà rằng:
- Con cứ yên lòng, không cần phải làm tờ trình bẩm chi cả. Mẹ con ta cứ đến phủ, đánh trống lên mà xuất thú, tự khắc phủ đường sẽ cho người về nã tróc. Vừa đi vừa về, chỉ trong ba ngày thôi.
Nàng Văn Cơ nói:
- Con cũng muốn tránh đi mấy hôm, để khỏi trông thấy mặt đứa oan gia ấy.
Hai mẹ con bàn định cơ mưu, chỉ cốt giấu kín không cho Từ di nương biết. Từ di nương đứng ở ngoài cửa nghe trộm kinh hồn táng đởm, mồ hôi toát đầm, mới quay về phòng mình, đóng chặt cửa lại rồi ngẩn người ngồi nghĩ. Từ di nương nói: “Lã di nương! Ta không ngờ nhà ngươi lại hiểm độc như thế! Nhà ngươi oán giận Hùng công tử đã đành, cớ sao lại vu hãm cho ta là có tư tình với Hùng công tử. Lời vu hãm ấy, ta biết làm thế nào mà giải tỏ được, thật lại bày trò cười cho thế gian. Huống chi ngyà nay chúng xuất thú với phủ đường thì tội phản nghịch kia thì tội phản nghịch kia tất toàn gia phải nã tróc. Trước sau cũng là một chết, chẳng thà ta chết ngay từ bây giờ. Thương xót thay cho thân ta! Từ khi về nhà họ Vệ trong mười năm nay, luống cam một phận tiểu tinh, phận bạc duyên ôi, con cái chẳng có. Ta vẫn định rằng hễ lão gia ta tạ thế thì chút ân tình bèo bọt quyết liều cắt tóc đi tu. Mai sau còn có ra gì, thì thì đành đêm nay ta xin từ giã cùng nhân thế!”
Từ di nương cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn, trong lòng chua xót, đã toan liều thân với dải lụa đào. Khóc lóc hồi lâu rồi lại thở dài mà rằng: “Trời ơi! Khi lão gia ta bước chân ra đi, ân cần dặn ta phải trông nom Hùng công tử, nay ta chết rồi, Hùng công tử cũng khó lòng mà được sinh toàn. Vì chúng xuất thú với phủ đường thì Hùng công tử sao cho thoát nạn.”
Từ di nương ngẫm nghĩ hồi lâu bỗng nghĩ ra một kế, lại tươi cười mà lẩm nhẩm nói một mình rằng: “Chi bằng ta đợi mẹ con hắn đi, rồi bảo Hùng công tử lẻ trốn là diệu hơn cả. Khi Hùng công tử đã lẻn trốn rồi, bấy giờ ta sẽ tự tử, thế thì dẫu chết cũng được phân minh.”
Từ di nương nghĩ vậy, mới đi nằm nghỉ, trằn trọc áy náy cho đến suốt sáng. Sáng hôm sau giả cách cảm hàn, nằm yên không dậy. Hôm ấy Lã di nương và nàng Văn Cơ đều dậy sớm, chạy vào trong phòng hỏi han và nói cho biết là sắp đi thiêu hương.
Lã di nương nói:
- Hôm nay chị cùng tiểu thư đi lễ chùa, phiền em trông nhà nhé! Ngày hôm qua em vẫn khỏe mạnh, cớ sao hôm nay lại mệt nhọc trong mình?
Từ di nương nói:
- Em cũng mệt xoàng đó thôi. Chẳng hay hôm nay chị đi thiêu hương vì việc gì thế?
Lã di nương nói:
- Vì hai vợ chồng tiểu thư bất hòa, cho nên chị muốn vào chùa Đại Bi ở trong thành, xin một thẻ quẻ, để bói xem mối nhân duyên ấy thế nào. Nếu không phải nhân duyên thìi bấy giờ sẽ thôi hẳn.
Nàng Văn Cơ trông thấy Từ di nương, có ý không nỡ. Lã di nương sợ lộ chuyện, vội giục kiệu đi ngay. Lại có đem mấy đứa nữ tỳ và mấy tên gia đinh theo hầu. Trong phòng chỉ có một người lão ẩu cùng môt nữ tỳ hầu Từ di nương mà thôi. Khi Lã di nương và nàng Văn Cơ đi khỏi rồi, Từ di nương trở dậy trang điểm, sai bảo người nhà làm các việc vặt và ăn lót dạ. Lại sai người lão ẩu đi mua chỉ khâu, rồi lửng thửng đi sang tây phòng. Hùng Khởi Thần đang ngồi ngẩn người, ứa nước mắt khóc. Từ di nương gọi mà bảo rằng:
- Hùng công tử ơi! Khóc làm chi nữa! Muốn khỏi chết thì mau mau trốn đi.
Hùng Khởi Thần kinh ngạc mà hỏi:
- Chẳng hay vì cớ chi thế?
Từ di nương đến gần trước mặt thuật hết những lời bàn định của Lã di nương và nàng Văn Cơ trong đêm hôm trước cho nghe. Hùng Khởi Thần nét mặt tái mét, rồi bỗng thở dài:
- Di nương! Di nương bất tất phải lo phiền. Nếu phủ đường bắt tôi giải kinh thì tôi càng chóng được gặp mặt cha mẹ.
Từ di nương nghiêm nét mặt mà bảo rằng:
- Công tử nghĩ lầm! Năm xưa vương gia và vương phi sai công tử đi lánh nạn là muốn vì họ Hùng lưu một chi phái về sau. Mạnh vương phi bảo người đưa công tử về Vân Nam, cũng là kế vẹn toàn. Công tử không biết nghĩ đại bản, chỉ muốn giữ tiểu hiếu, để đến nỗi lưu lạc tới đây. Lão gia tôi vì công tử đánh quan khâm sai, bỏ nhà xa cửa, nay công tử lại tự đưa mình vào lưới thì chẳng những vương gia và vương phi thất vọng, mà cũng phụ cả tấm lòng tử tế của lão gia tôi. Chiếc thân hệ trông dường bao, công tử nên lánh mình phương xa, rồi thay họ đổi tên, oan kia sẽ có ngày giải tỏ, công tử giắt một ít vàng bạc làm lộ phí mau mau đi ngay.
Hùng Khởi Thần nghe nói vội vàng sụp lạy:
- Đa tạ tấm lòng tử tế của di nương! Mấy lời dặn bảo đinh ninh tôi xin ghi nhớ.
Bấy giờ Hùng Khởi Thần lại cuốn tập tranh “Bách mỹ” vào trong mình, giắt ít vàng bạc để làm tiền lộ phí. Từ di nương thì đi xuống nhà bếp thưởng tiền cho bọn gia đinh, bảo đi mua rượu về uống, nói là của Hùng công tử đền ơn. Người lão ẩu và đứa nữ tỳ cũng đều có thưởng. Mọi người mừng rỡ, ai nấy cùng uống rượu say. Hùng Khởi Thần vẫn để nguyên nữ trang. Từ di nương đi khóa các nơi phòng ốc, trong lòng ngẫm nghĩ càng thêm cay đắng bội phần. Từ di nương nghĩ thầm: “Lão gia ta dẫu là võ tướng, nhưng bấy lâu đối đãi vớ ta thật ôn hòa. Mỗi khi Lã di nương đè nén ta thì lão gia lại tìm lời khuyên giải. Ai ngờ tai bay vạ gió, từ đây ly biệt, muốn được cùng nhau gặp gỡ, có chăng trong giấc chiêm bao.” Từ di nương vừa khóc vừa phàn nàn, Hùng Khởi Thần luống cuốn lo sợ, chẳng hiểu chi cả, khẽ hỏi rằng:
- Di nương ơi! Tôi biết trốn đi đâu bây giờ!
Từ di nương nói:
- Sẽ có nơi trốn! Nguyên tôi có một người vú nuôi họ Vương, nhà mụ chỉ có một con trai và một con dâu. Mụ vốn người lương thiện. Tôi đã viết một phong thư để công tử cầm đến, tất mụ phải trọng đãi và thuê thuyền đưa công tử sang Vân Nam.
Nói xong, liền dắt tay Hùng Khởi Thần lần theo ngọn tường hoa đi ra ngoài cửa. Từ di nương bảo Hùng Khởi Thần đứng đấy, quay vào trong nhà, khóa chặt mấy lần cửa, rồi lại quay ra trao phong thư cho Hùng Khởi Thần mà bảo rằng:
- Công tử đến đây đã gần nửa năm, tôi vẫn có lòng quý mến, nhưng đàn bà trọng nhất là điều trinh tiết, gan vàng dạ sắt, khi nào lại dám chuyển dời. Không nhờ Lã di nương hiểm độc lạ thường, bỗng vu cho tôi lấy sự nhơ nhuốc ấy. Đêm qua tôi nghĩ đã toan liều chết chỉ vì công tử mà sống đến ngày hôm nay. Khi công tử đi khỏi rồi, tôi sẽ tìm cách tự tử. Mai sau công tử xuất đầu lộ diện cũng được, cũng nên vì tôi giải tỏ oan tình. Hùng công tử ơi! Tôi nói thế là hết. Xin công tử rảo bước đi mau chớ có chậm trễ.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-06 09:09:11Hoàng Dung>
hồi thứ 9b
Hùng Khởi Thần nghe nói, trong lòng khác nào lửa cháy, liền khóc òa lên mà rằng:
- Di nương ơi! Di nương chớ nên như thế. Vì tôi để lụy đến người, lòng tôi sao đành, thôi thì tôi xin theo người cùng chết.
Từ di nương khóc mà bảo rằng:
- Hùng công tử ơi! Tôi đây một thân một mình, con cái chẳng có, sống cũng vô ích. Chỉ mong sao cho công tử xuất đầu lộ diện được thì tôi dẫu ngậm cười chín suối cũng lấy làm vui lòng.
Nói xong, liền giục Hùng Khởi Thần đi mau. Hùng Khởi Thần không nỡ, cứ dùng dằng đứng mãi. Từ di nương mới nghiêm nét mặt mà bảo rằng:
- Tôi thấy công tử là bậc đại trượng phu, vậy nên mới liều mình để cứu công tử, không ngờ công tử lại lẩn thẩn như thể đàn bà. Công tử không biết nghĩ hai thân đang trong lúc hiểm nguy, cữu phụ vì ai mà phải bỏ nhà xa cửa. Nay công tử cứ khư khư tiểu tiết, há chẳng hổ thẹn lắm ru!
Hùng Khởi Thần nghe nói nét mặt đỏ bừng, liền gạt nước mắt mà rằng:
- Tôi xin vâng lời dạy bảo!
Nói xong, vội xách khăn gói đi ngay. Đi được mấy bước quay đầu nhìn lại. Từ di nương thấy Hùng Khởi Thần đi đã xa rồi, mới lần bước đi ra bờ sông, đứng mà khóc rằng:
- Thương xót thay cho thân tôi, không ngờ dòng nước biếc này lại là mồ hồng nhan vậy.
Nói xong, liền đâm đầu xuống sông. Ngay lúc bấy giờ Vệ Ngọc đã về tới nhà. Nguyên Vệ Ngọc tiếp được thư của Vệ Dũng Bưu, mới cùng vợ là Liễu thị đem hai con về. Hai con Vệ Ngọc một đứa tên gọi Quan Xá đã mười hai tuổi; một đứa tên là Hoạn Xá, mới lên chín tuổi. Khi về tới nhà, trông thấy cửa nhà đóng, sai người đấm gọi, mãi chẳng thấy ai thưa. Vệ Ngọc nổi giận xuống ngựa đạp tung cửa ra. Vào đến trong nhà, trông thấy gia đinh nằm ngổn ngang ra đấy mà ngủ. Mâm nồi đũa bát còn bừa bãi chung quanh. Vệ Ngọc đi thẳng vào nhà trong thì thấy cửa nào cũng khóa, chẳng có ai cả. Vệ Ngọc kinh ngạc mà nghĩ thầm rằng: “Quái lạ! Chẳng lẽ thân phụ ta đã đón hai di nương ta đi rồi, nếu không thì sao các cửa phòng đều khóa chặt như thế”. Nhưng bẻ khóa ra xem thì những đồ trần thiết trong phòng đều la liệt y nguyên, lại hình như có người ở. Vệ Ngọc lại bẻ khóa phòng Từ di nương thì thấy người lão ẩu và đứa nữ tỳ ở đấy, mới quát to lên mà hỏi:
- Hai di nương đâu? Tiểu thư và Hùng công tử cũng đi đâu cả?
Người lão ẩu trông thấy, mới biết là Vệ Ngọc công tử đã về, vội vàng cùng đứa nữ tỳ sụp lạy mà bẩm rằng:
- Dám bẩm công tử! Lã di nương và tiểu thư tôi vào trong thành thiêu hương, còn Từ di nương cho chúng tôi tiền mua rượu uống, bảo là của Hùng công tử ban thưởng. Chúng tôi say rượu quá, không biết Hùng công tử và di nương đi đâu.
Vệ Ngọc kinh ngạc mà rằng:
- Quái lạ! Hay là hai người có tư tình mà đem nhau đi rồi. Nhưng Từ di nương trốn đi cớ sao đồ đạc áo quần lại không thấy mang cái chi đi cả.
Vệ Ngọc quay ra thì vừa gặp Liễu thị và hai con vào, Vệ Ngọc mới thuật chuyện cho Liễu thị nghe, Liễu thị ngẩn người hồi lâu rồi nói:
- Cứ như ý tôi thiển nghĩ thì Từ di nương không phải là người tà tâm. Hoặc giả ngẫu nhiên đi đâu, hay là có mưu kế chi đây, ta hãy nên xét kỹ. Từ di nương bấy lâu tiết trinh một dạ, cùng tôi ý hợp tâm đầu. Xa cách mấy năm, vẫn tưởng nay về lại được cùng nhau họp mặt, ai ngờ xảy sinh biến cố, âu là ta hãy sai người hết sức dò la.

Vệ Ngọc nín lặng không nói câu gì, lại quay ra nhà ngoài. Gia đinh tỉnh rượu trông thấy Vệ Ngọc ai nấy đều run sợ cùng nhau sụp lạy. Vệ Ngọc quát mắng, toan đánh. Các gia đinh kêu van:
- Trăm lạy công tử! Chúng tôi biết tội đã nhiều, xin công tử rộng thương mà tha thức cho.
Vệ Ngọc truyền cho gia đinh mau mau tìm Từ di nương và Hùng công tử. Gia đinh vội vàng đổ đi tìm khắp mọi nơi mà chẳng thấy tông tích đâu. Đêm hôm ấy, Vệ Ngọc áy náy ngủ không yên giấc. Mới mờ mờ sáng, đã nghe tiếng đấm cửa gọi mà bảo rằng:
- Thương xót thay cho Từ di nương! Tôi thấy thi thể nổi ở ngoài sông nọ!
Vệ Ngọc hoảng hốt chạy ra bờ sông thì thấy thi thể Từ di nương trôi nổi. Vệ Ngọc liền sai người vớt lên, nét mặt vẫn như lúc sống mà không hề nhắm mắt. Vệ Ngọc trông thấy, giọt châu lã chã khôn cầm, không hiểu vì duyên cớ làm sao đến nổi như thế.
Người lão ẩu ngồi cạnh thi thể Từ di nương mà khóc, trông thấy áo quần có chỗ khâu liền với nhau, lấy tay tháo, nhưng tháo không được, Vệ Ngọc thấy vậy cũng có ý ngờ. Mới sai người khiêng thi thể Từ di nương vào trong nhà. Mọi người hỏi:
- Sao công tử lại không bảo người đi trình quan?
Vệ Ngọc nói:
- Tôi còng đợi Lã di nương và em gái tôi về đây, để hỏi xem sự tình ra làm sao, rồi bấy giờ sẽ đi báo quan khám nghiệm.
Mọi người đều nói:
- Công tử nghĩ thế cũng phải! Chúng tôi hãy xin lui về, khi nào báo quan về khám nghiệm, bấy giờ sẽ lại đến giúp.
Vệ Ngọc cảm tạ mọi người rồi quay về. Khi thi thể Từ di nương khiêng về đến nhà. Liễu thị sai người lấy kéo cắt gỡ bỏ bộ áo ướt để thay áo khác, bỗng thấy trước ngực đính một phong thư, ngoài có giấy dầu bọc kín. Liễu thị thấy trên mặt phong thư đề: “Tiện thiếp phụng trình lão gia tứ lãm”, liền lấy phong thư giao cho Vệ Ngọc. Vệ Ngọc mở xem. Bức thư như sau:

“Tiện thiếp là Từ thị, khóc trình lão gia soi xét.
Thiếp về hầu lão gia từ khi mới mười sáu tuổi, nâng khăn sửa túi, chốc đã trong mười năm trời. Thiếp lấy xiểm nịnh làm hèn cho nên không hề điểm trang, chẳng ngờ vẫn được lão gia yêu dấu. Ngày nay tai bay vạ gió, chỉ vì Hùng công tử không thuận kết duyên với Văn Cơ tiểu thư mà sinh ra điều kia tiếng nọ. Lã di nương biến tâm, lại vu hãm cho thiếp có tư tình cùng Hùng công tử. Việc ấy dẫu rằng trăm miệng khó giải oan tình.
Hôm nay Lã di nương cùng tiểu thư giả cách vào thành thiêu hương, nhưng kỳ thực xuất thú với phủ đường, để khiến nhà họ Vệ ta vì tội phản nghịch mà toàn gia đều bị bắt. Đêm qua thiếp đứng ngoài cửa sổ nghe trộm được rõ ràng. Xót phận tủi thân, đã toan liều mình tự tử. Chỉ vì muốn cứu Hùng công tử, nên phải nhẫn nhục đến hôm nay, để khuyên Hùng công tử trốn đi. Còn thiếp thì gieo mình xuống sông, đành vùi tấm thân ở dưới đất bùn, chưa biết bao giờ cho được trong sạch. Nếu lão gia không tin lời sàm báng mà còn rũ lòng thương đến thì một nắm xương tàn này dám xin cho an táng ở bên mộ Doãn phu nhân, khiến cho thiếp đây dẫu rằng hồn về chín suối, cũng vẫn được ngậm cười vậy”


Liễu thị nghe mấy lời trong thư nói, liền nức nở khóc mà rằng:
- Di nương ơi! Cớ sao di nương không đợi vợ chồng tôi về tới nhà, đã vội liều mình tự tử!
Vệ Ngọc dậm chân mà phàn nàn:
- Bây giờ tôi không nghĩ thế nào cho được! Lã di nương đi đã hai ngày nay thì chỉ trong ngày mai sẽ có quan quân về nã tróc. Nếu mà ta bây giờ bỏ trốn thì còn thi thể Từ di nương nỡ nào để cho bộc lộ thế này!
Vệ Ngọc nghĩ quanh nghĩ quẩn lại thở dài:
-Ta đã là một bậc đại trượng phu thì dẫu sống chết ta cũng không quản. Nếu ta bỏ trốn còn ra thế nào. Bây giờ ta bất tất phải báo quan khám nghiệm làm chi, hãy đem thi thể mà khâm liệm tử tế rồi quàn lại một chỗ.
Vệ Ngọc gọi các người hầu hạ Từ di nương xưa nay ra hỏi chuyện. Chúng lại thuật chuyện nàng Văn Cơ luyến ái Hùng Khởi Thần như thế nào, Vệ Dũng Bưu hứa gả thế nào, Hùng Khởi Thần cải trang thế nào. Sau chỉ vì Hùng Khởi Thần không thuận mà Lã di nương sinh ra điều này tiếng nọ. Còn như việc vào thành xuất thúc cùng phủ đường thì chúng đều không hiểu.
Vệ Ngọc nghe nói hầm hầm nổi giận, đập bàn kêu to lên một tiếng mà rằng:
- Trời ơi! Nhà họ Vệ xưa nay vốn là một nhà trai trung gái liệt, không ngờ ngày nay bỗng sinh ra đứa con gái dâm ô này. Thân phụ ta cũng nghĩ lầm, cớ sao lại đem việc nhân duyên mà ép biểu đệ. Bây giờ chúng thẹn quá hóa giận, vậy mới bày mưu lập kế mà hãm hại ta. Vả Lã di nương từ khi thân mẫu tạ thế đi, vẫn coi ta như kẻ thù cố ý xúi giục thân phụ ta bắt vợ chồng ta phải đi xa, để cho một tay hắn được nắm quyền. Nay hắn thấy ta sắp về, mới đem lòng hiểm ác, bày ra kế hại người này. Thôi thôi, chẳng qua muôn việc tại trời, hễ ta bị giải kinh, được gặp mặt cô phụ và cô mẫu (trỏ vợ chồng Hùng Hiệu) ta thì ta sẽ đem sự tình biểu đệ mà thuật cho biết.
Vệ Ngọc đem vàng bạc trong nhà chia ra làm ba phần:
- Một phần thưởng cho các gia đinh trong ngoài; một phần thưởng cho người lão ẩu và đứa nữ tỳ, bảo tìm đi nơi khác, kẻo mai có quan quân đến thì khó mà thoát thân; còn một phần thì chia cho các nô tỳ theo hầu mới về, cũng bảo trốn đi nơi khác. Vệ Ngọc dặn bảo xong, chạy vào trong phòng, ngồi khóc Doãn phu nhân: “Thân mẫu ơi! Nếu thân mẫu hãy còn thì khi nào Lã di nương dám hành hung như vậy. Hiện nay cửa nhà tan nát, chưa biết kết quả rồi ra thế nào?”
Liễu thị thở dài mà rằng:
- Sao lão gia ta quẫn trí mà không nghĩ ra! Nếu đem Hùng công tử đi theo thì khi nào Từ di nương đến nỗi thiệt mạng.
Suốt đêm hôm ấy, hai vợ chồng Vệ Ngọc không ngủ. Mờ sáng hôm sau bỗng nghe có tiếng người ồn ào. Lã di nương và nàng Văn Cơ đã về. Vệ Ngọc bước ra trông thấy phủ đường đem quân vây bắt. Vệ Ngọc cúi đầu sụp lạy. Quan phủ là Trương Bốc Nhân kinh ngạc mà bảo:
- Có phải Vệ Ngọc đó không? Nhà ngươi về bao giờ thế?
Vệ Ngọc nói:
- Tôi mới cáo giả về tới nhà hôm qua.
Phủ đường nghe nói sầm nét mặt:
- Cha con nhà ngươi dám chứa kẻ phản nghịch là Hùng Khởi Thần, bây giờ lại định về đem nốt gia quyến đi phải không!
Nói xong, truyền quân sĩ trói Vệ Ngọc lại. Mẹ con Lã di nương thấy Vệ Ngọc đã về, trong lòng luống cuống, lại nghe tin Từ di nương đâm đầu xuống sông và Hùng Khởi Thần đã trốn đi mất, lại càng run sợ. Hai mẹ con cứ ngẩn mặt nhìn nhau, không biết nói thế nào. Bỗng thấy phủ đường truyền đòi Lã di nương. Lã di nương sụp lạy, phủ đường phán rằng:
- Nhà ngươi vào thành xuất thú mà nay ta về tới đây thì Từ thị chết rồi, Hùng Khởi Thần thì không thấy. Ta chắc là nhà ngươi tha Hùng Khởi Thần từ trước, rồi mới đi xuất thú để mong thoát họa đó!
Lã di nương sụp lạy dập đầu mà kêu rằng:
- Chúng tôi đã xuất thú, khi nào lại dám buông tha. Việc này thật quả là tại có Vệ Ngọc về, mới đem giấu đứa phản nghịch ấy. Còn Từ di nương nguyên tư tình với đứa phản nghịch, cho nên buồn bực mà đâm đầu xuống sông. Nay Vệ Ngọc về đây thấy Từ di nương đã chết, sao không báo quan khám nghiệm, mà dám ẩn nặc việc án mạng này đi, lại tự tiện đem tiền tài trong nhà phân phát cho các nô tỳ bảo tìm đường trốn.
Phủ đường nổi giận mà quát mắng rằng:
- Vệ Ngọc kia! Sao nhà ngươi dám càn dỡ như vậy! Thân phụ nhà ngươi khi trước đánh quan khâm sai, làm di lụy đến tiền quan phải cáo bệnh từ chức. Nay ta mới về trọng nhậm ở đây, nhà ngươi lại dám tự tiện hành hung, vậy thì ta chẳng hỏi lôi thôi làm chi, cứ bắt nhà ngươi giải kinh trị tội. Lã thị kia cũng tất phải theo vào kinh địa rồi bấy giờ các ngươi sẽ tranh biện với nhau.
Nói xong, lại truyền quân sĩ vào khám hết các nơi phòng ốc. Hai con Vệ Ngọc đều nức nở khóc hoài. Nàng Văn Cơ động lòng xót thương, cũng phàn nàn cùng chị dâu là Liễu thị. Lã di nương vào giục nàng Văn Cơ đi. Bấy giờ nàng Văn Cơ có ý hối hận, trong bụng oán trách Lã di nương: “Di nương thật nghĩ lầm! Bấy giờ Hùng Khởi Thần trốn mất rồi, chẳng còn nên công cán gì mà tự nhiên thành ra tan cửa nát nhà. Anh con gỡ sao cho khỏi tội, còn chị dâu và hai cháu bé thì biết nương tựa vào ai. Di nương thật là người hiểm ác lạ thường, sau này còn mặt mũi nào trông thấy thân phụ con nữa!”
Nàng Văn Cơ còn đang ngẫm nghĩ thì bỗng lại có lệnh phủ đường đòi hỏi. Nàng Văn Cơ gót sen rón rén ở nhà dưới bước lên, khép ngang vạt áo, cúi đầu sụp lạy. Phủ đường thấy nàng có nhan sắc khuynh thành, chim sa cá lặn, ngẩn nhìn hồi lâu, rồi mới khẽ cất tiếng hỏi:
- Nàng có phải là con gái Vệ Dũng Bưu đó không?
Nàng Văn Cơ khẽ nói:
- Bẩm vâng!
Phủ đường hỏi:
- Anh nàng là Vệ Ngọc mới tới đây ngày hôm qua phải không? Mẹ con nàng đã đi xuất thú cùng ta, cớ sao lại dám buông tha Hùng Khởi Thần?
Nàng Văn Cơ nói:
- Việc xuất thú này là tự ý di nương tôi, còn anh tôi về lúc nào tôi cũng không được biết.
Phủ đường còn đang tra hỏi thì bỗng nghe có mấy tiếng súng nổ, có thiên binh vạn mã ở đâu kéo đến, một viên võ tướng cưỡi con ngựa đỏ đi trước uy phong rất lẫm liệt tức là Định Quốc tướng quân. Phủ đường run sợ, chưa kịp ra đón thì Định Quốc tướng quân đã vào tới nơi. Nàng Văn Cơ cùng Lã thị không còn hồn vía nào. Phủ đường phải quì xuống đất nghênh tiếp.
Số là từ khi Trương Hổ về kinh, đem việc Vệ Dũng Bưu đánh mình bẩm với Đồ Man Hưng Phục. Đồ Man Hưng Phục nổi giận, định phái ngự lâm quân đi nã tróc. Bấy giờ Đồ Man An Quốc có ý ghét anh là Đồ Man Định Quốc, không muốn để cho ở kinh, sợ khi thân phụ chiếm ngôi thiên tử thì anh lại cướp mấp quyền mình, đang nghĩ kế để khiến cho anh phải đi xa. Nhân có việc quan khâm sai Trương Hổ về bẩm, Đồ Man An Quốc mới nói với thân phụ rằng:
- Sau thân phụ không tâu triều đình sai anh con đi nã tróc Hùng Khởi Thần và trấn thủ tại Giang Nam, để dò xét dân tình cùng tin tức thượng hoàng xem ra làm sao.
Đồ Man Hưng Phục khen phải, mới vào tâu Phi Giao hoàng hậu. Phi Giao hoàng hậu phê chuẩn, phong cho Đồ Man Định Quốc làm tổng đốc, trấn thủ tại Giang Nam, được quyền “Tiện nghi hành sự”. Đồ Man Định Quốc vẫn chưa lấy vợ, mới có bốn người thiếp hầu. Bấy giờ phụng mệnh triều đình đem quân theo đường bộ thẳng tới Giang Nam, còn gia quyến thì cho theo đường thủy đến sau. Khi cất quân đi, Đồ Man Hưng Phục dặn rằng:
- Giang Nam là một nơi thiên hiểm, ta cho con ra trấn thủ tại đấy. Hễ đại cục chưa thành thì con cứ đóng quân để làm hậu viện. Vậy con ra đấy cần phải mua chuộc lòng dân, chớ con đam mê tửu sắc. Một mai ta được lên ngôi thiên tử thì bấy giờ ta sẽ cho người triệu con về làm đông cung.
Đồ Man Định Quốc vâng lệnh, đem năm ngàn quân ra đi, toàn thị những quân cường tráng. Lại sợ Vệ Dũng Bưu biết mà trốn mất, cho nên khi tới Giang Nam, không vào phủ đường, cứ thẳng tiến về nhà họ Vệ. Có Trương Hổ đi dẫn đường. Bấy giờ phủ đường sụp lạy mà kêu rằng:
- Chúng tôi chưa thấy mã bài truyền báo không kịp ra viễn tiếp tôn giá, thật là đắc tội.
Định quốc tướng quân không trả lời, liền ngồi xuống ghế mà quát to lên rằng:
- Vệ Dũng Bưu đâu? Giải nó ra đây!
Phủ đường run sợ, quì xuống mà bẩm rằng:
- Dám bẩm tướng quân! Vệ Dũng Bưu đã bỏ nhà đi từ hai tháng trước.
Định Quốc tướng quân nghe nói nổi giận:
- Hắn cậy sức khỏe đánh quan khâm sai, nhà ngươi đã không nã giải, nay lại dám dụng tình buông tha.
Phủ đường lạy dập đầu mà bẩm rằng:
- Đó là việc của phủ quan trước chúng tôi không được biết.
Định Quốc tướng quân hỏi:
- Phủ quan trước bây giờ ở đâu?
Phủ đường nói:
- Hiện đã cáo bệnh về quê nhà rồi. Vệ Dũng Bưu dẫu đã trốn thoát, nhưng con trai hắn là Vệ Ngọc, tiểu thiếp là Lã thị và một người con gái còn ở nhà. Vừa rồi Lã thị cùng đứa con gái có đến phủ xuất thú việc Vệ Dũng Bưu ẩn nặc kẻ phản nghịch Hùng Khởi Thần nên chúng tôi tức khắc đem quân tới đây, không ngờ Vệ Ngọc đã đưa giấu Hùng Khởi Thần đi chỗ khác. Chúng tôi đang lấy khẩu cung Vệ Ngọc thì bỗng thấy tôn giá vừa đến.
Định quốc tướng quân trỏ nàng Văn Cơ mà hỏi:
- Có phải người này là tiểu thiếp của Vệ Dũng Bưu đó không?
Phủ đường nói:
- Đây là con gái Vệ Dũng Bưu tên gọi Văn Cơ.
Định Quốc tướng quân chú ý mà nhìn không hề chớp mắt, hồn xiêu phách lạc. Hồi lâu mới trấn định tinh thần mà phán rằng:
- Đem Vệ Ngọc ra đây.
Chúng giải Vệ Ngọc đến trước mặt thì Định Quốc tướng quân quát to lên rằng:
- Thân phụ nhà ngươi bây giờ trốn ở đâu? Sao dám cả gan đánh quan khâm sai và buông tha đứa phản nghịch. Nay ta đã tới đây tra hỏi, nhà ngươi nên thú thực thì khỏi tai vạ đến thân.
Vệ Ngọc sụp lạy mà bẩm rằng:
- Chúng tôi vẫn cung chức tại Sơn Đông, đường sá xa xôi, đã ba năm nay không được tin tức gì ở nhà cả, bởi vậy tôi mới cáo về để nuôi thân phụ, đêm qua vừa về tới nhà, tôi không biết thân phụ tôi đã đi đâu chỉ thấy người tiểu thiếp của thân phụ tôi chết ở dưới sông, chẳng hiểu đầu đuôi thế nào cả. Tôi ngờ là Lã thị uy bách, đến nỗi Từ thị tự tử, nhưng chưa được mục kích, cho nên không dám tố cáo, phải tạm khâm liệm Từ thị. Bỗng thấy phủ đường đem quân về nã tróc, nói là nghe báo có Hùng Khởi Thần. Tướng quân ơi! Thật là vạ gió tai bay, Lã thị cố ý vu oan cho tôi, xin tướng quân minh sát.
Lã thị nghe nói, có ý tức giận, nghĩ thầm: “Năm xưa hắn vẫn cậy thế thân mẫu mà đè nén ta, bây giờ đến thế này hãy còn già miệng!” Nghĩ vậy liền nói:
- Dám bẩm tướng quân! Vệ Ngọc kêu là không hiểu Từ thị vì đâu mà chết, thế thì cớ sao lại không đi báo quan về khám nghiệm ngay từ đêm hôm qua. Xem thế đủ biết rằng Vệ Ngọc buông tha Hùng Khởi Thần lại đẩy Từ thị xuống sông, để khỏi có người tiết lộ tin tức. Sau có ý muốn bỏ trốn, nên mới phân phát gia tài trong nhà. Mưu gian đã rõ rành rành. Dám xin tướng quân nghiêm trị.
Định Quốc tướng quân khen phải, truyền quân sĩ lột áo Vệ Ngọc ra, vật nằm xuống đất và đem côn ra đánh. Mỗi khi ngọn côn hạ xuống thì thân thể thâm tím, có khi lại bật máu tươi ra.
Vệ Ngọc kêu oan mà rằng:
- Trời ơi! Tướng quân ơi! Nếu đánh chết tôi thì lấy ai khai cung, Lã thị vu oan cho tôi, chứ thực tôi không hiểu tý gì cả, xin tướng quân minh sát.
Nàng Văn Cơ trông thấy, có ý không nỡ, cũng nghĩ thầm mà oán giận Lã di nương là người nhẫn tâm. Liễu thị nghe tiếng chạy ra, trông thấy Vệ Ngọc bị đánh, đến phục ở bên cạnh mà kêu rằng:
- Trăm lạy tướng quân! Nghìn lạy tướng quân! Tôi xin chịu tội thay cho phu quân tôi.
Nói xong, nghoảnh lại bảo nàng Văn Cơ rằng:
- Cô nương ơi! Cô nương nỡ lòng nào mà để cho thân huynh bị khổ nhục.
Nàng Văn Cơ khóc nức nở, đứng dậy mà kêu với Định Quốc tướng quân rằng:
- Trăm lạy tướng quân! Thân huynh tôi thật quả không hiểu gì cả. Di nương tôi vì sự hiềm khích cũ mà vu oan cho, dám xin tướng quân hãy rộng tha, đợi khi bắt được Hùng Khởi Thần, bâý giờ sẽ đối chất.
Nàng Văn Cơ tiếng oanh thỏ thẻ, Định Quốc tướng quân nghe thấy hồn xiêu phách lạc, chỉ những toan đứng dậy mà đỡ lấy nàng, nhưng lại còn ngại về nỗi trước mặt các hàng tướng sĩ. Bấy giờ Định Quốc tướng quân tươi cười mà hỏi rằng:
- Nàng và Vệ Ngọc là con cùng mẹ phải không?
Nàng Văn Cơ nói:
- Tôi là con Lã thị sinh ra.
Định Quốc tướng quân nói:
- Thế thì lại càng lạ lắm! Nàng không đồng đảng với sinh mẫu mà lại có ý bênh vực trưởng huynh là cớ làm sao?
Nàng Văn Cơ khóc lóc mà thưa lại rằng:
- Sinh mẫu tôi và thân huynh tôi chẳng qua vì sự hiềm khích nhỏ trong gia đình. Nay thân huynh tôi bị tội, cửa nhà tan nát thì sau này tôi còn mặt mũi nào mà trông thấy thân phụ. Vả thân huynh tôi thực không có tội, nỡ nào nín đi cho đành!
Định Quốc tướng quân lẩm nhẩm gật đầu rồi nói:
- Khen cho thực cũng nên rằng khôn ngoan rất mực nói năng phải lời, khi nào mà ta lại nỡ không nghe.
Nói xong, truyền bắt toàn gia họ Vệ tống giam, rồi cất quân về dinh tổng đốc. Khi về tới dinh, các quan văn võ trong thành kéo nhau đến bái yết. Định Quốc tướng quân suốt ngày thường hay gắt gỏng, nhất thiết không tiếp ai cả. Các quan văn võ thấy vậy ai nấy đều run sợ, không hiểu ra duyên cớ làm sao. Hỏi dò những người theo hầu thì chúng lại thừa cơ nạt mà bảo rằng:
- Chỉ vì khi tôn giá tới nơi, xác quan chậm ra nghênh tiếp. Cung ứng chưa được long trọng, lễ vật hãy còn đơn sơ. Tôi e ngài dâng một bản tâu thì các quan khó toàn được tính mệnh.
Cách ba hôm sau, có quan tham mưu tên gọi Bách Toàn vốn là người tinh ranh giảo hoạt, mới đánh bạo vào yết kiến Định Quốc tướng quân để dò la ý tứ. Bấy giờ Định Quốc tướng quân đang ngồi trong thư phòng, có bốn tên tiểu đồng đứng hầu. Đứa nào cũng đều nước mắt chạy quanh, ra ý khiếp sợ. Bách Toàn trông thấy, cũng lấy làm lạ, nhưng bất đắc dĩ phải tươi cười nét mặt mà bẩm rằng:
- Dám bẩm tướng quân! Chúng tôi là Bách Toàn đem đầu vào bái yết.
Định Quốc tướng quân đang ngẩn người ngồi nghĩ, sực trông thấy Bách Toàn vào, liền hầm hầm nổi giận:
- Trong ba ngày nay, nhà ngươi đi đâu mà mất mặt không thấy!
Bách Toàn nói:
- Chúng tôi có dám đi đâu. Số là chúng tôi nghe thấy quan dân ở ngoài thì thào nghị luận bảo nhau rằng không biết vì cớ gì tướng quân tới đây đã ba ngày nay mà chẳng tiếp ai cả. Vì thế quan dân náo loạn, cứ kéo nhau đến họp ở trước nha môn. Chúng tôi phải giảng giải để chúng nghe rằng tướng quân vì đường xa mệt nhọc, bấy giờ mặt ngoài mới khỏi có những lời nghị luận hoang đường. Hôm nay chúng tôi vào đây để thăm tướng quân, chẳng hay tướng quân ngọc thể khiếm an hoặc có điều gì tư lự?
Định Quốc nghe lời Bách Toàn nói đã hơi nguôi cơn giận, bảo rằng:
- Chỉ vì mấy hôm nay ta có một việc rất buồn trong lòng.
Bách Toàn nói:
- Bẩm tướng quân! Chẳng hay tướng quân có việc chi?
Định Quốc nói:
- Quan tham mưu Bách Toàn ơi! Số là hôm trước ta đến nhà họ Vệ, trông thấy một người con gái xinh đẹp như hoa cười ngọc nói, nghiêng nước nghiêng thành. Lòng ta luống những yêu vụng dấu thầm, chỉ vì nàng là tội nhân, ta chưa biết tính thế nào cho được. Nhà ngươi nên vì ta bày mưu lập kế, sau này ta sẽ trọng thưởng.
Bách Toàn cười mà bẩm rằng:
- Cứ lời tướng quân nói thì chắc là em gái của Vệ Ngọc đó thôi. Người ấy quả nhiên xinh đẹp bội phần, hôm trước bị tống giam, tôi có được trông thấy mặt.
Định Quốc tướng quân vui cười mà bảo:
- Nếu vậy thì nhà ngươi cũng có mắt tinh đời! Có phải thật đẹp không?
Bách Toàn nói:
- Đẹp thì có đẹp, nhưng việc này rất khó! Khó về nỗi tướng quân tới đây là để bắt kẻ phản nghịch, mà nay lấy con gái đứa phản nghịch, còn ra thể thống gì? Bách Toàn này cũng xin bó tay, chẳng còn mưu kế gì cho được!
Định Quốc lại nổi giận lên mà nói:
- Cứ như lời nhà ngươi nói thì ta quyết không thể lấy được nàng hay sao?
Bách Toàn nói:
- Có thể lấy được! Nhưng cần phải thông mưu với quan sở tại, bảo nàng cải khẩu cung, rồi bắt nàng phải nhập tịch vào giáo phường, khi ấy tướng quân sẽ xuất tiền mua đem về phủ.
Bách Toàn nói xong miệng tủm tỉm cười. Định Quốc tướng quân vỗ tay mà khen:
- Hay! Nếu vậy hay! Nhà ngươi nên mau mau vì ta mà bàn với quan sở tại.
Bách Toàn cười mà đáp:
- Khoan đã! Việc này các quan sở tại chưa ai biết cả. Ngày nay tướng quân nên đòi địa phương quan vào mà quở trách, rồi hạ lệnh cách chức quan tri phủ đi, cho tôi thay vào chức ấy, tôi sẽ y kế thi hành.
Định Quốc tướng quân vui cười, liền cầm lấy tay Bách Toàn mà bảo rằng:
- Nhà ngươi giúp ta được việc này thì không bao giờ ta dám quên ơn. Nhưng làm thế nào cho mau chóng mới được.
Bách Toàn cười mà nói rằng:
- Tướng quân cứ yên lòng, chớ nên nóng nảy vội!
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-06 10:05:22Hoàng Dung>
hồi thứ 9c
Ngày hôm sau, Định Quốc tướng quân ra công đường truyền đòi địa phương quan vào, rồi tức khắc cách chức quan thủ sở tại, lấy Bách Toàn thay quyền và giao cho xét án Vệ Ngọc. Bách Toàn phụng mệnh tra xét, bắt bọn phụ nữ phải nhập tịch vào giáo phường, còn Vệ Ngọc thì cứ tống giam, đợi khi bắt được Hùng Khởi Thần và Vệ Dũng Bưu, bấy giờ sẽ cùng đem xử quyết. Định Quốc tướng quân phê chuẩn cà lại phán bảo các quan văn võ:
- Các ngươi để cho đứa phản nghịch trốn thoát được, đáng lẽ đều phải cách chức cả, nhưng ta mới tới đây là lần thứ nhất, vậy hãy rộng ơn mà khoan thứ cho. Từ lần sau trở đi các ngươi nên cẩn thận.
Các quan vâng dạ, lạy tạ lui ra. Định Quốc trở vào nhà trong, chỉ chăm chăm mong đợi tin mừng.Từ xưa đến nay, nhân tình bao giờ cũng vậy, không mong đợi thì thôi, chứ đã mong đợi thì ngày giờ càng dài ghê. Cách mấy hôm sau, Định Quốc nóng tiết cho lệnh tiễn đi đòi quan phủ Bách Toàn đến.
Bách Toàn vào bẩm với Định Quốc:
- Chúng tôi đã vì tướng quân tuyển được mỹ nhân. Nguyên mỹ nhân đây là một người trong giáo phường, giá đáng nghìn vàng, vậy số tiền ấy xin tướng quân phát cho thì quan dân mới khỏi dị nghị.
Định Quốc tướng quân nghe nói tức khắc truyền trích tiền công khố, lấy một nghìn lạng vàng trao cho Bách Toàn làm sinh kim, lại thưởng cho năm trăm lạng để tạ môi nhân nữa. Bách Toàn sửa sang một nơi động phòng, đưa Lã di nương và nàng Văn Cơ vào ở đấy trước, cắt các nữ tỳ hầu hạ. Trong phòng trần thiết rất lịch sự: nhà vàng rực rỡ, trướng gấm trang hoàng, đỉnh trầm đốt hương, đài sen nối sáp, thật là một nơi phú quý vương phủ vậy. Lã di nương trông thấy, hóa cả mặt lên, rồi chúc mừng nàng Văn Cơ rằng:
- Văn Cơ con ơi! Con chớ nên phiền não! Con hãy nhìn đó mà coi, phú quý biết dường nào, thật con đã được chốn nương thân. Tướng quân đây dẫu người thô bỉ, nhưng nói năng cũng có vẻ nghiêm trang. Khi con tiếp kiến tướng quân, nên phải thủ lễ.
Lã di nương còn đang khuyên nhủ thì có nữ tỳ vào bẩm:
- Tướng quân đến, mau mau ra nghênh tiếp.
Lã di nương giục nàng Văn Cơ ra. Nàng không chịu ra lại đứng quay mặt vào mà khóc nức nở. Lã di nương luống cuống không biết làm thế nào. Bấy giờ Định Quốc tướng quân đã vào trong phòng, có bốn tên tiểu đồng xách đèn lòng đi theo. Lã di nương bất đắc dĩ phải quì xuống mà bẩm rằng:
- Tôi là Lã thị xin cúi chào tướng quân.
Định Quốc cúi đầu đáp lại, rồi mời Lã di nương đứng dậy mà bảo rằng:
- Lã di nương nhà họ Vệ ơi! Từ nay trở đi, di nương ở đây mà giúp con gái trông nom việc nội trợ cho tôi, tôi sẽ cho nàng làm chính thất phu nhân đó.
Lã di nương nói:
- Tướng quân đã có lòng đoái thương như vậy thì mẹ con tôi thật cảm tạ vô cùng.
Bỗng thấy các nữ tỳ bày tiệc. Định Quốc tướng quân ngồi xuống ghế, còn truyền mời phu nhân (trỏ Văn Cơ) đến để cùng uống rượu mừng. Lã di nương vội vàng đỡ nàng Văn Cơ và rỉ tai bảo thầm rằng:
- Những lời tướng quân nói vừa rồi, con có nghe tiếng không, con còn muốn chi nữa!
Bỗng nghe báo có Bách Toàn vào yết kiến. Định Quốc tướng quân hiểu ý, nét mặt hớn hở mà bảo rằng:
- Đạ tạ lòng tử tế của nhà ngươi, nhưng chẳng hay vì cớ chi mà chậm đến bấy nhiêu ngày?
Bách Toàn nghiêm nét mặt mà đáp:
- Chết nỗi! Tướng quân kêu chậm à! Tôi không dám khoe chứ việc này trừ phi tay Bách Toàn khó lòng xong được! Tướng quân dẫu quyền cao chức trọng thật, nhưng hồ dễ đã hiếp chế nổi một người mỹ nhân!
Định Quốc hỏi:
- Cớ sao?
Bách Toàn khẽ nói:
- Tôi vâng mệnh tướng quân, đòi mẹ con nàng vào, nào uy hiếp, nào dỗ dành, bấy giờ Lã thị mới chịu nộp con.
Định Quốc tướng quân tươi cười mà bảo rằng:
- Lo gì chẳng được phú quý!
Bách Toàn khẽ nói:
- Nhưng nào đã xong! Nàng Văn Cơ kia cứ cau mày nghiến răng mà nức nở khóc. Nàng nói nàng vốn là con nhà thế phiệt, khi nào chịu nhập tịch giáo phường. Nàng lấy việc ấy làm một việc xấu xa, chỉ một hai toan liều mình tự tử.
Định Quốc tướng quân nói:
- Trời ơi! Thế thì biết làm thế nào!
Bách Toàn cười mà bảo rằng:
- Tướng quân không ngại! Ba tấc lưỡi của tôi đã chịu dụng công thì dẫu thiên tiên cũng có thể chuyển lòng được! Tôi khuyên nhủ hai ba lần, bấy giờ nàng mới chịu nghe.
Định Quốc mừng rỡ mà khen:
- Ừ! Giỏi! Có thế mới được chứ!
Bách Toàn nói:
- Đã đành rằng được! Nhưng nàng còn đòi ba điều nếu tướng quân không chịu thì nàng quyết tự tử.
Định Quốc vội vàng hỏi:
- Ba điều là những điều gì? Ta xin ưng thuận tất cả!
Bách Toàn nói:
- Điều thứ nhất: Nàng xin ở tại quan xá, không muốn về Bắc Kinh, mà phải cho nàng làm chính thất phu nhân.
Định Quốc cười mà bảo rằng:
- Điều ấy thì hẳn hoi! Còn điều thứ hai?
Bách Toàn nói:
- Điều thứ hai: Nàng xin tướng quân phải bảo toàn cho cha mẹ và thân huynh nàng.
Định Quốc nói:
- Còn phải nói chi điều ấy! Nàng đã kết duyên với ta thì thế tất ta phải bảo hộ. Còn điều thứ ba?
Bách Toàn cười mà nói rằng:
- Khó nhất là điều thứ ba!
Định Quốc nói:
- Hai điều trước ta còn có thể ưng thuận được, còn điều thứ ba thế nào mà khó?
Bách Toàn nói:
- Có gì đâu! Nàng xin tướng quân đã kết duyên với nàng rồi thì cấm không được mua hầu lấy thiếp nữa.
Định Quốc nghe xong, cả cười mà rằng:
- Nhà ngươi cũng khéo trẻ con quá! Ta đã có một người tuyệt sắc như vậy, khi nào còn yêu mến ai. Thôi bảo nàng cứ lại đây!

Bách Toàn lui ra. Nàng Văn Cơ nghe nói, ngẫm nghĩ thương thầm: “Trời ơi! Không ngờ ngày nay ta lại phải kết duyên với một gã thô bỉ này! Hồng nhan từ xưa vẫn thường bạc mệnh, nhưng thiết tưởng bạc mệnh đến ta là cùng. Mười mấy tuổi đầu, bước chân đi lấy chồng, ông chồng cũng không đến nỗi đê liệt. Sau gặp Hùng công tử vẫn nghĩ được cùng nhau sum họp, cho khỏi uổng phụ một đời xuân xanh. Ai ngờ con tạo ghét ghen, tấm thân lưu lạc, cửa nhà tan nát, khéo thay lại buộc mình...!” Nàng nghĩ quanh nghĩ quẩn, ruột tằm bối rối, luống những chín khúc vò tơ, nghĩ thầm: “Thân này đã cam thất tiết cùng chồng thì dẫu kết duyên với ai cũng là cải giá. Cánh hoa rơi rụng, phỏng còn cao quý nỗi gì!” Nàng nghĩ vậy, mới gót sen rón rén, mình liễu thướt tha, đến gần mặt dp tướng quân mà khép áo cúi chào. Định Quốc tướng quân mừng rỡ xiết bao, liền cầm lấy tay nàng Văn Cơ mà nắm thật chặt. Nàng bị nắm mạnh quá, đau không thể chịu được, nhăn mặt lại mà nghĩ thầm rằng: “Một người thô bỉ như thế, vai u thịt bắp, nếu cùng nhau loan phòng chung gối, cũng cực suốt đời!” Nàng chua xót trong lòng rồi ứa nước mắt khóc.
Lã di nương vội vàng nói:
- Phu nhân rót rượu mời tướng quân đi!
Định Quốc ngắm đi ngắm lạ, bỗng cười khanh khách mà rằng:
- Hay! Hay cho ta! Trời đã sinh ra thân vưu vật này ai ngờ lại vào tay Đồ Man Định Quốc! Thôi! Thôi! Dẫu lấy nàng mà không được làm hoàng đế, cũng chẳng hề chi! Xin mời phu nhân ngồi, đã có nữ tỳ rót rượu.
Định Quốc nghoảnh lại bảo Lã di nương rằng:
- Xin mời Lã di nương sang tây phòng yên nghỉ.
Nói xong, lại truyền cho các nữ tỳ phải chăm chỉ hầu hạ Lã di nương. Các nữ tỳ đưa La di nương sang tây phòng. Nàng Văn Cơ ngẩng nhìn Định Quốc tướng quân thì thấy mắt to mày rậm, nét mặt bánh đúc, thô bỉ lạ thường. Nàng không uống rượu, chỉ ngồi nức nở khóc. Định Quốc tướng quân dịch ghế lại, rồi hai tay nâng chén rượu, cố ép nàng Văn Cơ uống. Nàng vừa tức vừa sợ, nghĩ thầm: “Một đứa tục trọc này, bây giờ nếu ta không nghe, chắn hắn đánh chết. Thôi thì cớ sự đã lỡ ra như thế, cũng đành nhắm mắt làm một con ma say rượu, để mặc nàng mưa Sở mây Tần. Nàng Văn Cơ nghĩ vậy, mới cầm lấy chén rượu uống. Uống luôn mấy chén, nét mặt đỏ bừng, trông như một đóa anh đào đang đợm hơi xuân vậy.
Định Quốc trông thấy, đầu mày cuối mắt, càng nồng tấm yêu. Định Quốc nói:
- Tửu lượng của phu nhân cũng ghê gớm lắm thay! Nếu vậy hay! Hai ta sẽ cùng nhau thù tạc!
Bấy giờ hai người cùng ngồi, nữ tỳ đứng hầu hai bên. Nàng Văn Cơ say lã người đi, Định Quốc cười ha hả, rồi vực nàng vào màn. Các nữ tỳ lui ra.
Sáng hôm sau, nàng tỉnh dậy, trông thấy Định Quốc đang ngáy như sấm, nỗi niềm càng nghĩ càng cay đắng lòng. Đến khi Định Quốc thức dậy, nàng Văn Cơ vừa thẹn vừa giận mà hỏi rằng:
- Bây giờ tôi là chính thất phu nhân phải không?
Định Quốc tướng quân cười mà bảo rằng:
- Là phu nhân chứ sao!
Nàng Văn Cơ nói:
- Đã là phu nhân thì chẳng hay mấy điều tôi nói xin hôm trước, phủ đường đã nói với tướng quân chưa?
Định Quốc tướng quân nói:
- Phu nhân muốn xin ba điều, ta cũng ưng thuận cả.
Nàng Văn Cơ nói:
- Hôm nay trước hết tướng quân hãy tha cho thân hi tôi về. Từ đây trở đi, tôi chỉ biết tướng quân mà thôi, nếu những tiểu thiếp của tướng quân tới đây, tôi cũng coi như nữ tỳ vậy. Hầu tạ trái ý, tôi sẽ trọng phạt, cấm tướng quân không được bênh.
Định Quốc tướng quân cười mà đáp rằng:
- Xin vâng tất cả!
Các nữ tỳ vào phòng, hai người cùng trở dậy. Định Quốc đội mũ mặc áo đi ra nhà ngoài. Lã di nương bước vào trong phòng hỏi han nàng Văn Cơ. Nàng Văn Cơ thở dài mà rằng:
- Di nương ơi! Di nương còn nói chi nữa! Thân con thôi có ra gì mai sau! Con trông thấy hắn lúc nào, thật lòng con lại đau như dao cắt! Di nương làm hại con đến thế này là cùng! Thôi thì cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay dần đến đâu!
Bỗng thấy nữ tỳ đem những đồ lễ vật của các quan văn võ đưa đến lễ mừng bày ở trên án. Nào đai vàng, nào mũ ngọc rực rỡ lạ thường. Lã di nương chạy đến gần để xem, tấm tắc ngợi khen, nắm lấy áo nàng Văn Cơ mà bảo rằng:
- Văn Cơ con ơi! Con thử nhìn đó mà coi: toàn những thứ tinh công mỹ xảo, giá đáng nghìn vàng, thật là phú quý vinh hoa, hồ dễ mấy người sánh kịp!
Lã di nương cầm trao cho nàng Văn Cơ xem. Nàng Văn Cơ cũng chẳng buồn xem, chỉ truyền cho các nữ tỳ cất đi, rồi vẫn cứ suốt ngày âu sầu buồn bã.

Lại nói chuyện Hùng Khởi Thần từ khi lạy tạ Từ di nương, xách khăn gói ra đi, bước thấp bước cao, lần theo một con đường nhỏ. Bấy giờ trời đã xẩm tối, trông thấy mấy gian nhà tranh ở cạnh đường đi, có mụ lão ẩu đứng tựa bên cửa, đang lảm nhảm nói:
- Không biết đứa chết tiệt ấy đi đâu mà bây giờ chưa về!
Mụ lão ẩu vừa ngẩng đầu lên thì sực trông thấy Hùng Khởi Thần. Mụ ngắm đi ngắm lại, rồi mỉm cười mà rằng:
- Trời ơi! Thiên tiên mới giáng hạ trần thế! Mặt hoa da ngọc, trông như một người trong tranh vậy!
Mụ vừa nói vừa lấy tay vén xiêm Hùng Khởi Thần mà nhìn hai chân xem nhỏ hay lớn, rồi bỗng phàn nàn rằng:
- Tiếc thay hai bàn chân hơi lớn! Tiểu nương tử ơi! Mời nương tử hãy vào chơi nhà tôi.
Hùng Khởi Thần thấy mời, trong lòng hớn hở liền theo ngay vào. Mụ lão ẩu mời ngồi rồi hỏi rằng:
- Tiểu nương tử ơi! Nương về họ gì? Năm nay bao nhiêu tuổi? Đi đâu mà lại qua đây? Một người mặt hoa da ngọc như thế này. Thân gái dặm trường, lỡ gặp phải đứa gian ác thì thoát làm sao cho được!
Hùng Khởi Thần nghe nói, buồn rầu mà đáp rằng:
- Tôi nguyên họ Từ, phu quân tôi họ Vệ. Từ khi tôi về nhà chồng, bị bà mẹ chồng tàn ngược quá lắm, tôi không thể ở được. Cha mẹ tôi xa cách, tôi có một người vú nuôi ở làng bên kia, định hãy sang tạm nhờ tại đấy, đợi khi cho người đến nói, họa may mẹ chồng tôi có bớt được phàn nàn chăng. Không ngờ đi đến dây, chân đau quá lắm, may gặp người có lòng lương thiện, xin người cho ăn một bữa, hết bao nhiêu tiền, tôi sẽ xin nộp. Chẳng hay người về họ gì? Năm nay đã bao nhiêu tuổi? Người được mấy vị lệnh lang?
Mụ lão ẩu nghe nói mừg rỡ xiết bao, tươi cười mà đáp rằng:
- Phu quân tôi họ Trương, đi buôn bán xa. Tôi được một đứa con trai tên gọi Trương Thất. Con dâu tôi là Chu thị tính nết hung ác, đêm nay nó đi sang ngoại gia vắng, già này mới khỏi điếc tai. Tiểu nương tử ơi! Nương tử ở lại đây mấy hôm, tôi sẽ đưa nương tử đi tìm nhà người vú nuôi ấy.
Nói xong, rót chén trà mời uống, ròi xuống bếp sửa soạn một mâm cơm bưng lên mời ăn. Hùng Khởi Thần vừa ăn được một bát, bỗng thấy có một người nam tử bước vào, mặt đen mắt sâu, người cũng vừa phải, trông thấy Hùng Khởi Thần có ý vui mừng. Mụ lão ẩu liền gọi tên mà hỏi rằng:
Trương Thất con ơi! Tiểu nương tử đây vào ngủ nhờ nhà ta một đêm, sáng mai sẽ đi sớm.
Mụ nghoảnh lại bảo Hùng Khởi Thần:
- Tiểu nương tử ơi! Đây là Trương Thát con tôi đó! Nương tử đứng dậy chào đi!
Hùng Khởi Thần bất đắc dĩ phải đứng dậy chào. Trương Thất chú ý nhìn kỹ hồi lâu rồi cả cười:
- Trời ơi! Tiên trên trời đấy à! Các vai nữ trong rạp hát không đời nào sánh kịp, thật là một dịp may cho ta!
Mụ lão ẩu khẽ lấy tay kéo vạt áo Trương Thất bảo y đừng nói, Trương Thất nổi giận mà rằng:
- Kéo cái gì thế! Khọm già kia, sao lại không đem rượu cho ta uống.
Nói xong, liền ghé ngồi bên cạnh, miệng cười nhí nhoẻn, buông lời ghẹo nguyệt trêu hoa. Hùng Khởi Thần luống cuống, nghĩ thầm: “Đêm nay ta biết xử trí làm sao bây giờ! Từ di nương trỏ đường cho ta đi,ai ngờ lại gặp đứa hung ác này! Nếu ta nói rõ ra tất chúng bắt ta đem nộp thì không khỏi phụ tấm lòng của Từ di nương.” Hùng Khởi Thần đang nghĩ quanh nghĩ quẩn thì Trương Thất đã rót rượu mời uống:
- Tiểu nương tử ơi! Tôi được gặp nương tử đây cũng là duyên hộingộ, đêm nay tôi cùng nương tử đồng sàng.
Hùng Khởi Thần đứng dậy toan chạy, Trương Thất lại cười mà bảo:
- Định chạy đi đâu! Nói xong, liền nắm lấy áo Hùng Khởi Thần. Hùng Khởi Thần khóc rầm lên mà rằng:
- Lão bà ơi! Lão bà có bảo lệnh lang không?
Mụ lão ẩu nói:
- Trương Thất con ơi! Con chớ sỗ sàng quá! Nương tử mới đến đây hãy còn lạ lùng, sao con lại làm như thế! Con buông tay ra rồi đi ngủ, của để trong nhà, lo gì mà vội!
Trương Thất quát to lên rằng:
- Khọm già! Đừng lắm điểu! Lại chực buôn đấy phải không?
Trương Thất lấy tay đẩy mụ lão ẩu ra, rồi chạy lại ôm chầm lấy Hùng Khởi Thần. Hùng Khởi Thần gỡ mình không được, liền kêu rầm lên rằng:
- Trời ơi! Có ai cứu tôi với không!
Bỗng nghe có tiếng người ở ngoài cửa quát to lên rằng:
- Đồ kẻ cướp! Mày dám ăn vụng gái già này!
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-08 20:39:52Hoàng Dung>
hồi 9d

Người ấy vừa quát mắng vừa đạp toang cánh cửa ra mà chạy vào. Hùng Khởi Thần ngẩng nhìn thì thấy một người đàn bà mắt trắng môi thâm, hơi dong dỏng cao, tay ẵm đứa con nít. Trương Thất và mụ lão ẩu đều luống cuống kinh sợ ngẩng mặt nhìn nhau, chẳng còn hồn vía nào. Người đàn bà ấy đặt đứa con nít xuống, mụ lão ẩu vội vàng chạy đến ẵm. Trương Thất vừa kêu được tiếng “Mẹ ơi” đã thấy bàn tay người đàn bà ấy in ngay vào má một cái thật mạnh. Trương Thất còn đang ằng ặc chưa nói ra tiếng thì lại in luôn bàn tay thứ hai. Trương Thất liền quỳ xuống mà kêu rằng:
- Tôi lạy mình rồi, xin mình tha cho tôí
Bấy giờ Hùng Khởi Thần mới biết người đàn bà ấy là vợ Trương Thất, nghĩ thầm: “Trời ơi! Vợ thế thì khác gì mẹ!” Hùng Khởi Thần nghĩ vậy, mới khóc mà nói với vợ Trương Thất rằng:
- Quý bà ơi! Tôi đi tìm người thân thuộc, trời tối vào ngủ nhờ đây một đêm, không ngờ quý ông càn dỡ, buông lời trêu ghẹo, rồi lại ra tay hung tàn. May sao quý bà về ngay, nếu chậm thì tôi khó lòng toàn được tính mệnh. Nay xin quý bà làm phú, đưa tôi sang nhà người vú nuôi tôi ở làng Đông Tinh bên kia, tiền ngủ trọ bao nhiêu tôi xin nộp lại.
Nói xong, cứ nức nở khóc hoài. Người đàn bà ấy nghe nói, lại nổi tam bành lên, dìm đầu Trương Thất xuống mà đấm đạp một hồi. Trương Thất kêu trời kêu đất mà rằng:
- Trời đất ơi! Tôi lạy mình rồi, mình tha cho tôi! Từ nay tôi xin đổi lỗi, yên phận một bề, không dám như thế nữa! Vừa rồi tôi trót mà nói đùa mấy câu cho vui chuyện đó thôi, chứ trong lòng tôi thật không có gì cả.
Người đàn bà ấy gầm lên một tiếng mà rằng:
- Lại còn chối phải không? Muốn sống hay là muốn chết!
Người đàn bà ấy còn đang hành tội Trương Thất thì mụ lão ẩu dắt Hùng Khởi Thần sang phòng bên cạnh mà khẽ bảo rằng:
- Nương tử mới đến đây, chưa rõ câu chuyện nhà tôi. Tội nghiệp cho thân tôi, ăn chay niệm Phật, không dám tham tiền tham của, chỉ mong được trông nhờ về con cái mai sau. Không ngờ con chẳng nên người, lấy được nàng dâu thì hung ác giống như hổ lang, coi mẹ chồng chẳng khác đứa ăn đứa ở. Hàng ngày nó vẫn kêu tôi là khọm già ma mọi, lại đơm đặt những chuyện buôn phấn bán hương. Tôi còn ở với nó ngày nào thì oan khổ ngày ấy, nương tử chớ nghe lời nó nói. Tôi xót thương cho nương tử, liễu bồ yếu đuối, sáng mai tôi sẽ đưa đi. Trương Thất nhà tôi uống rượu say, bạ đâu nói đấy, nhưng thực vô tâm, nương tử chớ ngờ nó là đứa hung ác.
Hùng Khởi Thần nói:
- Tôi không dám ngờ, nhưng xin người làm phúc mà đưa tôi đi.
Hùng Khởi Thần nghĩ thầm: “Mẹ chồng con dâu, người nào cũng nói phải cả, ta còn biết tin người nào. Chẳng qua chỉ tại Từ di nương không nghĩ kỹ, tự nhiên xui ta trốn đi, để đến nỗi gặp bao nhiêu sự khổ sở”. Hùng Khởi Thần suốt đêm hôm ấy trằn trọc không ngủ,đợi cho đến sáng, liền nói xin đi. Mụ lão ẩu còn phải nói với vợ Trương Thất để xin đưa Hùng Khởi Thần sang Đông Tỉnh. Vợ Trương Thất nổi giận mà mắng rằng:
- Thôi đi! Hôm qua tôi đánh đứa bất lương kia, thành ra con tôi khiếp sợ, hôm này nó phát bệnh hàn nhiệt, sốt mê sốt mẩn chẳng biết tí gì. Bây giờ tôi đi làm sao, mà tôi không đi thì bà lại sắp làm ma làm mãnh. Tôi khó nghĩ quá, nếu để nàng ở đây chỉ sợ đứa bất lương kia lại ngấp nghé giở trò!
Mụ lão ẩu nói:
- Chẳng lẽ ta lại không biết thương con cháu mà còn dám làm những sự thất đức hay sao. Con cứ yên lòng để ta làm phúc đưa người ta đi cho được việc.
Vợ Trương Thất nói:
- Tôi không dám tin.
Mụ lão ẩu lại thề rằng:
- Nếu ta nói chẳng như lời thì thân này xin bị hổ ăn thịt.
Vợ Trương Thất bất đắc dĩ mới phải bảo rằng:
-Ừ thì đưa người ta đi! Nhưng từ đây sang Đông Tỉnh cũng chẳng xa gì, rồi tôi sẽ ẵm con tôi đi dò la tin tức đó.
Mụ lão ẩu mừng rỡ quá, tức khắc xuống bếp ăn tạm lưng cháo, rồi cùng Hùng Khởi Thần ra đi. Hùng Khởi Thần đưa trả tiền trọ, nhưng vợ Trương Thất nhất định không chịu nhận, chỉ ân cần mà dặn mụ lão ẩu rằng:
- Phải mau mau về nhé!
Mụ lão ẩu xin vâng lời. Vợ Trương Thất lại quay mặt lại bảo người chồng rằng:
- Đêm qua tôi đứng rình ở ngoài cửa đã lâu, đứa bất lương này dám nắm lấy người ta để đến nỗi người ta kêu trời kêu đất. Tôi nói cho chàng biết: Năm trước chàng đã hà hiếp một người đàn bà. Hai mẹ con bày mưu lập kế, bị tôi xét ra. Tôi toan đi cáo giác thì chàng thì thốt van lạy, xin tha chết cho. Ai ngờ bây giờ lại táng tận lương tâm mà làm sự xấu xa ấy. May mà gái này về kịp, nếu không thì đứa bất lương này đã dập liễu vùi hoa.
Nói xong, lại túm lấy đầu Trương Thất mà đánh, Trương Thất hộc cả máu mồm máu mũi ra.
Hùng Khởi Thần đứng dậy khuyên can mà rằng:
- Thôi, xin quý bà! Bây giờ quý ông dẫu có càn dỡ, nhưng tôi đã quyết chí không theo, xin quý bà rộng lượng mà tha thứ cho, để từ nay quý ông được đổi lỗi. Nói cho phải thì việc này thật lỗi tại tôi, vì tôi ở đâu lại dẫn vào đây, đế đến nỗi gây ra nhiều chuyện rắc rối.
Hùng Khởi Thần vừa nói vừa ứa nước mắt khóc. Vợ Trương Thất mới khoan tay đòn. Trương Thất lóp ngóp bò dậy, mặt mũi sưng vếu, máu me đầm đìa, chạy thẳng vào trong phòng nằm lăn trên giường mà ngủ.
Bấy giờ người vợ Trương Thất lại hỏi chuyện Hùng Khởi Thần. Hùng Khởi Thần vừa nói vừa ứa hai hàng nước mắt khóc. Vợ Trương Thất thở dài mà bảo rằng:
- Xót thương cho thân nàng! May gặp tôi về, nếu không thì chẳng những nàng gặp đứa bất lương hà hiếp, mà khọm già kia lại còn bắt nàng đem bán lấy tiền. Mẹ con Trương Thất này gian ác lạ thường, xưa nay chỉ sinh nhai về nghề buôn hương bán phấn. Tôi làm tàn tệ, Trương Thất phải bỏ nghề, chỉ còn khọm già kia, thỉnh thoảng vẫn lừa người kiếm lời. Mụ làm những việc thất đức như thế thì con cháu còn có ra gì, cho nên tôi coi mụ không phải loài người vậy. Nếu tôi không mắc bận thì tôi sẽ đưa nàng đi.
Hùng Khởi Thần nghe nói rất lấy làm cảm tạ. Mụ lão ẩu chỉ lo vỡ chuyện ra, vội vàng đưa đứa con nít cho vợ Trương Thất, rồi mời Hùng Khởi Thần ra đi. Đi khỏi cửa, vẫn còn nghe tiếng vợ Trương Thất ở trong phòng đay nghiến chồng. Hùng Khởi Thần theo mụ lão ẩu đi, đi men sườn núi, gập ghềnh đường đá, chân càng đau dần. Vừa đi lại vừa hỏi:
- Lão bà ơi! Đã gần đến chưa!!
Mụ lão ẩu trỏ phía trước mặt mà bảo rằng:
- Còn xa! Bây giờ nương tử đau chân thì đi sao cho được. Cố đi tý nữa, khỏi đây có nhà, ta sẽ vào nghỉ chân.
Bấy giờ đi qua khu rừng, quả nhiên trông thấy có một ngôi nhà lớn. Mụ lão ẩu đưa Hùng Khởi Thần vào. Đi qua cầu đá ở bên ao sen thì vào đến nhà khách. Mụ lão ẩu bảo Hùng Khởi Thần rằng:
- Nương tử hãy ngồi đây. Để tôi vào nhà trong, hỏi thuê một cái kiệu đi mới được.
Hùng Khởi Thần nghe nói, có ý mừng thầm, liền ngồi cái ghế ở bên cạnh. Mụ lão ẩu đi thẳng vào nhà trong. Hùng Khởi Thần ngẩng đầu trông lên, thấy gian giữa nhà treo một bức hoành, trên đề bốn chữ: “Mây bạc xa xa”. Lại có đôi câu đối treo kèm như sau:

Thần hôn khó được nên người hiếu
Báo đáp sao cho vẹn chữ trung


Hùng Khởi Thần nghĩ thầm: “Xem khẩu khí đôi câu đối này hình như nhà một ông hưu quan vậy”. Hùng Khởi Thần còn đang ngẫm nghĩ thì bỗng thấy nhà trong có một người bộc phụ bước ra, ngắm nghía Hùng Khởi Thần hồi lâu rồi cười mà khen rằng:
- Khen cho cũng phong dáng con nhà khuê các!
Người ấy nói chưa dứt lời thì có hai đứa nữ tỳ nữa chạy ra, cũng nhìn Hùng Khởi Thần mà khúc khích cười. Hùng Khởi Thần thấy chúng nhìn mình một cách sỗ sàng như thế thi có ý thẹn, mới cúi đầu xuống. Hai đứa nữ tỳ cười mà bảo người bộc phụ rằng:
- Phu nhân bảo mụ đưa nàng vào nhà trong, sao mụ còn cứ ngẫm nghĩ mãi!
Người bộc phụ lại cười mà bảo rằng:
- Thảo nào mà phu nhân đứng trong rèm trông ra, cứ tấm tắc khen rằng: “Ví chăng có số giàu sang, giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên!”.việc này thật đáng mừng cho lão gia nhà ta vậy.
Hai đứa nữ tỳ nói:
- Lão gia ta cũng chưa già, năm nay mới ngoài bốn mươi tuổi, mặt mũi phúc hậu. Vả phu nhân đây lại là một người hiền thục, thật cũng may cho nàng!
Hùng Khởi Thần nghĩ thầm: “Sao lại có những câu nói lạ lùng này! Không khéo thì mụ lão ẩu kia lừa ta đem bán vào đây rồi, biết làm thế nào! Chi bằng ta đâm đầu xuống cái ao này mà chết đi cho rảnh!” Hùng Khởi Thần nghĩ vậy mới rón rén đứng dậy. Người bộc phụ cầm lấy tay mà bảo rằng:
- Cô nương ơi! Phu nhân cho gọi cô nương vào đó!
Hùng Khởi Thần nói:
- Tôi vì đau chân phải vào ngồi nhờ đây, để mụ lão ẩu đi thuê kiệu cho tôi. Cớ sao phu nhân lại gọi tôi vào làm chi Mà mụ lão ẩu kia đi vào nhà trong. chẳng hay cớ sao mãi không thấy ra?
Người lão bộc và các nữ tỳ đều kinh ngạc mà rằng:
- Ô hay! Thế ra nàng không phải là cháu gái của mụ lão ẩu ấy à!
Hùng Khởi Thần nói:
- Không! Có con cháu gì đâu! Số là đêm qua tôi vào ngủ trọ nhà mụ, sáng hôm nay nhờ mụ đưa tôi sang làng Đông Tỉnh, tìm người bà con. Ngặt vì đường xa chân đau- mụ bảo tôi vào nghỉ đây để mụ thuê kiệu. Bây giờ nhờ người giục mụ ra đây giúp tôi.
Người bộc phụ nói:
- Nếu vậy thì mụ lão ẩu ấy lừa người đem bán rồi, các ngươi mau mau vào bẩm với phu nhân.
Người bộc phụ lại thuật chuyện cho biết rằng:
- Mụ lão ẩu vừa vào nói với phu nhân, nhận nàng là cháu gái. Nguyên phu nhân tôi định mua một người tiểu thiếp mà tìm mãi chưa được. Nay mụ nói dối là có đứa cháu gái, vì thấy phu nhân vốn người hiền đức, vậy mới đem đến để bán, định giá ba trăm lạng. Mụ hãy lĩnh trước một trăm lạng, còn thì khi khác mụ sẽ đến lấy nốt. Mụ cũng nói là việc này mụ lừa cháu gái để mụ đi khỏi rồi, sẽ gọi nàng vào. Phu nhân tôi đứng phía sau bình phong mà xem mặt nàng. Mụ nói nàng là con người nàng dâu cả của mụ, bây giờ người nàng dâu thứ hai ác nghiệt, vậy nên mụ phải đem bán, để cho nàng được thoát thân. May gặp vào cửa phu nhân tôi đây, tất thế nào nàng cũng ưng thuận. Mụ nói xong thì nức nở khóc mà đi ra lối cửa sau, sao nàng lại bảo là không phải cháu gái mụ.
Hùng Khởi Thần liền khóc mà đáp rằng:
- Tôi có phải là cháu gái mụ đâu, sao mụ lại đem bán tôi!
Hùng Khởi Thần lại khóc lóc kể lể sự tình thì bỗng nghe báo có phu nhân ra. Người bộc phụ kéo áo Hùng Khởi Thần mà bảo rằng:
- Nàng đừng khóc nữa, hãy đem sự tình mà kêu với phu nhân.
Hùng Khởi Thần gạt nước mắt ngẩng nhìn thì thấy một bà phu nhân thủng thỉnh ở trong nhà bước ra, tướng mạo đoan trang, trạc độ ngoài ba mươi tuổi. Hùng Khởi Thần nghĩ thầm: “Người này tất cũng là một bà mệnh phụ âu là ta đem sự tình mà giải tỏ, để người rộng lòng thương mà cứu vớt cho”. Hùng Khởi Thần nghĩ vậy, mới khóc òa lên mà nói với phu nhân rằng:
- Phu nhân ơi! Tôi là một người đi lánh nạn, bị mụ lão ẩu ấy lừa tôi vào đây để bán cho phu nhân, xin phu nhân rủ lòng thương mà tha cho tôi được đi tìm người bà con tôi ở làng Đông Tỉnh.
Hùng Khởi Thần vừa khóc vừa nói. Nói xong, lại sụp xuống đất lạy. Phu nhân lấy tay đỡ dậy mà bảo rằng:
- Nàng chớ như thế! Phu quân ta đây, người rất hiền lành, xưa nay đối với nô tỳ trong nhà cũng không hề quát mắng ai bao giờ. Năm nay gần bốn mươi tuổi đầu, con cái hiếm hoi, mà bảo mua hầu vẫn nhất định không chịu. Nay ta cố dỗ dành để mua một người tiểu thiếp, có nhờ mụ lão ẩu ấy tìm giúp. Mụ nói nàng là cháu gái, ai ngờ đâu mụ lại lừa người. Đã đành rằng thế, nhưng nàng tới đây, vị tất không phải duyên trời. Thôi thì nàng chịu rầu lòng mà làm thứ phòng, ta sẽ xin đối đãi rất tử tế; trong trướng ngoài màn, kẻ hầu người hạ, ta thế nào thì nàng cũng như thế, chỉ cầu sao cho nàng chóng sinh quý tử, khiến ta được vui lòng. Nàng dẫu còn kém tuổi ta nhiều, ra cũng xin lấy tình chị em mà cư xử. Phu quân ta đây họ Doãn, nguyên trước làm tri phủ Giang Lạng, sau vì mẫu tang cáo về nơi sơn trại này. Nghiêm đường phu quân ta hiện đang đi sứ Cao Ly chưa về, cho nên phu quân ta buồn rầu, không muốn ra làm quan nữa, chỉ đợi nghiêm đường về nước thì cùng nhau trở về Vân Nam vậy.
Hùng Khởi Thần nghe nói ngẫm nghĩ mừng thầm: “Nếu vậy thì chính là nhà họ Doãn, thúc phụ ta đây rồi! Hồi mấy năm trước thúc phụ ta tới Giang Nam, cha mẹ ta vẫn khen ngợi là một người vừa có học thức vừa có phẩm hạnh. Ngày nay ta không cần phải tìm sang Đông Tỉnh nữa, cứ nói rõ sự thực, rồi ở đây mà nương thân. Nhưng bây giờ ta đã cải dạng nữ trang, lại đang lúc người này, nói sao cho tiện.” Hùng Khởi Thần nghĩ vậy, mới nói với phu nhân rằng:
- Phu nhân ơi! Tôi có một việc oan khổ chẳng hay bây giờ lão gia ngồi đâu, cho tôi được vào bái yết để tôi giải bày gốc ngọn.
Người bộc phụ và các nữ tỳ thì thào nói vụng với nhau rằng:
- Cô ả này nóng tính, chưa chi đã vội muốn xem mặt chồng!
Phu nhân nghoảnh lại bảo các nữ tỳ rằng:
- Các con! Mau mau ra mời lão gia vào đây!
Hồi lâu, nghe tiếng giày lẹp kẹp, có một vị hưu quan bước vào, tức là Doãn Thượng Chí, con Doãn Thượng Khanh tướng công. Hùng Khởi Thần nhận được rõ mặt, mới chạy đến nắm lấy áo mà khóc to lên rằng:
- Thúc phụ ơi! Thúc phụ có nhận biết được tiểu điệt đây là Hùng Khởi Thần hay không?
Doãn Thượng Chí và phu nhân đều có ý kinh ngạc. Các nữ tỳ cũng ngẩng mặt ra mà nhìn. Doãn Thượng Chí ngắm nghía thật kỹ, rồi mừng rỡ mà rằng:
- Ô hay! Thế ra Hùng Khởi Thần công tử đây! Chẳng hay cớ sao công tử lại lưu lạc đến chốn sơn thôn này?
Nói xong, liền đỡ Hùng Khởi Thần dậy, lại kể lể thân tình cho phu nhân nghe. Hùng Khởi Thần cũng đứng dậy vừa khóc vừa nói. Hai vợ chồng họ Doãn hạt châu lã chã khôn cầm. Doãn Thượng Chí nói:
- Hiền điệt ơi! Từ khi thân phụ ta đi, ta luống những ngày đêm mong nhớ, bất đắc dĩ phải tạm trú ở đây. Nay nghe Triệu vương sắp khởi binh, lại gặp có hiền điệt đến, âu là chúng ta đem hiền điệt cùng sang đấy để tìm cữu phụ.
Phu nhân vào phòng lấy bộ đồ đàn ông cho Hùng Khởi Thần thay, rồi bảo người nhà sửa soạn cơm rượu. Người bộc phụ và các nữ tỳ bưng miệng cười hoài. Phu nhân liền quát mắng rằng:
- Cười cái gì thế?
Chúng đều nhịn cười mà xuống bếp nấu cơm. Doãn Thượng Chí và Hùng Khởi Thần lại cùng nhau kể lể những lai lịch trong năm năm về trước. Khi cơm rượu xong, Doãn Thượng Chí vào thuật chuyện cho phu nhân nghe và bảo rằng:
- Ta cần phải cùng Hùng Khởi Thần đi để nhân tiện dò la tin tức thân phụ ta xem ra làm sao.
Phu nhân khen phải. Sáng hôm sau sửa soạn hành lý để định chọn ngày khởi hành, bỗng nghe báo có một người đàn bà bị hổ ăn thịt, chỉ còn chừa lại một mảnh đùi, mà ở mặt đấy bên cạnh đấy lại có trăm lạng bạc. Quan sở tại đã thu số bạc ấy và cho đem mảnh đùi mai táng tại trong rừng. Phu nhân nghe nói liền gọi Hùng Khởi Thần vào bảo rằng:
- Hiền điệt ơi! Đó tất là thi thể mụ lão ẩu lừa hiền điệt mà đem bán đó! Hổ thần đã hại đứa gian!
Hùng Khởi Thần nói:
- Xót thương thay cho mụ lão ẩu ấy, thế là xong một đời!
Doãn Thượng Chí niêm phong nhà cửa lại, rồi đem gia quyến cùng Hùng Khởi Thần đi sang Triệu vương phủ.
o0o
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-08 20:58:02Hoàng Dung>
hồi thứ mười
THAM PHÚ QUÝ AN QUỐC BỊ LỪA
VÌ NƯỚC NHÀ TRIỆU PHƯỢNG NGHĨ KẾ


Lại nói chuyện Phi Giao hoàng hậu từ khi lập kế giam cấm Mạnh Lệ Quân ở trong cung thái hậu, càng ngày càng lộng quyền hơn trước, chém chết nhiều người quá, các quan triều thần ai cũng khiếp sợ, không ai dám nói câu gì, Đồ Man Hưng Phục và Mã Thuận thừa thế vu hãm cho mọi người, vì thế khắp trong ngoài đều cho là một cảnh tượng nguy biến vậy. Triệu Phượng và Triệu Lân dẫu biết mưu của Đồ Man Hưng Phục và Mã Thuận, nhưng không dám nói. Vả có nói thì Phi Giao hoàng hậu vị tất đã tin, vì thế hai anh em thường cứ suốt ngày ngồi nhìn nhau rồi ngắn dài than thở. Một hôm hai anh em đang đi quanh quẩn ở trong thư phòng, ngẫm nghĩ việc đời, bứt đầu bứt tai, lấy làm căm tức, bỗng trông thấy một con quạ đen sa xuống dưới thềm. Triệu Phượng giận mà bảo rằng:
- Chúng ta đây dẫu sống, cũng như người bỏ đi,nhà ngươi còn định báo tin gì thế!
Nói xong, liền chạy ra lấy tay vồ bắt con quạ. Bỗng thấy chân quạ có sợi dây đen buộc một gói nhỏ. Triệu Lân vội vàng lấy xem thì ngoài gói giấy dầu, trong lại có một lần giấy bông bọc kín. Triệu Lân nói:
- Quái lạ! Quái lạ!
Triệu Phượng vội vàng buông con quạ ra rồi quay lại xem cái gói ấy, thấy ngoài có bút tích Mạnh Lệ Quân đề gởi cho mình. Hai anh em bấy giờ vừa mừng vừa sợ, liền mở ra xem. Bức thư như sau:

Ta vẫn định tiến kinh để tìm lời khuyên can, không ngờ lại mắc phải vào trong lưới cạm. Ta đã hết sức thuốc thang cho thái hậu và Tả hậu, nay thái hậu đã được khang kiện, mà Tả hậu cũng đã bình phục như thường. Vả việc dệt cửi cày ruộng, nay đều có người, áo mặc cơm ăn không đến nỗi lo thiếu. Thấm thoát đã ba năm nay, nghĩ đến việc nước lúc nào thì hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng, sống chẳng làm được việc gì, mà chết cũng không ích gì cho nước.
Nghĩ đi nghĩ lại cho kỹ, chỉ còn một kế có tán thành việc phế lập, khiến cho tội phản nghịch của chúng rõ rệt, bấy giờ các quân cần vương sẽ kéo thẳng về kinh thành vậy. Tin tức mặt ngoài thế nào, cũng nên phúc thư cho ta biết. Con quạ này hàng ngày vẫn lượn kêu ở trong cung, ta thấy vậy mới khấn rằng nhà ngươi có đem hộ thư cho ta được chăng thì thấy con quạ gật đầu mà sa xuống đất, hoặc giả là quỷ thần dun rủi cho nên có con quạ này”.


Hai anh em xem xong bức thư, ứa nước mắt khóc, lại thấy con quạ cứ nhìn mình ma gật đầu. Triệu Lân gạt nước mắt rồi bảo Triệu Phượng rằng:
- Thân huynh ơi! Con quạ này muốn đòi thư trả lời đây.
Triệu Lân cũng gật đầu mà bảo con quạ rằng:
- Linh điểu ơi! Nhà ngươi lại đưa hộ ta một phong thư về nhé!
Nói xong, quay lại bảo Triệu Phượng rằng:
- Thân đệ ơi! Thân đệ đi lấy gạo ra đây, để chim quạ ăn no mà bay cho được khỏe.
Nguyên hai anh em Triệu Lân và Triệu Phượng vẫn cùng nhau ở riêng tại trong thư phòng ấy, không dùng kẻ hầu người hạ. Bấy giờ Triệu Lân đi lấy gạo, rồi đóng kín cửa ngoài lại, rắt gạo xuống đất cho chim quạ ăn, Triệu Phượng thì vào trong phòng viết thư. Viết xong, đưa cho Triệu Lân xem. Bức thư như sau:

“Triệu Phượng và Triệu Lân lạy trình thân mẫu soi xét. Từ khi xa cách, thấm thoát đã được ba năm, chúng con nhớ mẹ thương cha, trong lòng luống những ngày đêm chua xót. Gia Tường công chúa vẫn được khang kiện. Hai thân mẫu ở nhà cũng được bình yên. Thân phụ con thì mãi chưa thấy về. Trưởng huynh con còn phải đợi thời, chưa từng dám vọng động. Ngày nay tiếp được thư thân mẫu xin y kế thi hành. Tình hình mặt ngoài bây giờ khác trước nhiều lắm, thân mẫu nên giữ gìn sức khỏe, trời nào nỡ phụ, tất có ngày lại được sum họp một nhà. Hòa nước mắt mà viết thư, vắn tắt mấy lời, dám xin thân mẫu soi xét”.

Triệu Lân xem xong, gạt nước mắt mà đem phong thư ấy buộc cho con quạ, lại ân cần dặn bảo rằng:
- Linh điểu ơi! Linh điểu vốn là một giống chim có hiếu, hễ lớn lên thì biết mớm trả mồi cho mẹ. Còn như chúng ta đây, trời nam bể bắc, xa cách cha mẹ, dẫu muốn khuya sớm chăm nom cũng không thể được. Ơn nhà nợ nước ngày nay ta chỉ trông cậy ở nhà ngươi, khi nào thượng hoàng về triều, sẽ phong chức cho nhà ngươi, để đền công khó nhọc.
Con quạ nghe nói gật đầu, rồi vỗ cánh bay lên trên không. Hai anh em lại ngồi bàn nhau, mật báo cho Gia Tường công chúa biết để công chúa được yên lòng, kẻo những lo sầu mà ngày đêm thương khóc. Triệu Phượng và Triệu Lân lại mật sai người tâm phúc đi dò la tin tức xem Đồ Man An Quốc vì việc gì mà sắp mở tiệc ăn mừng. Lại một mặt sai người mang thư về quê nhà để phi báo cho Hoàng Phủ Triệu Câu biết. Bỗng thấy thám tử về báo rằng:
- Dám bẩm quốc cữu! Ngày mai là ngày sinh nhật An Quốc tướng quân, tại phủ thừa tướng có mở tiệc mừng, nghe đâu các quan văn võ triều thần đều rủ nhau đến bái hạ.
Triệu Phượng và Triệu Lân liền sai người nhà đi sửa soạn lễ vật để đem sang mừng. Sáng hôm sau, hai anh em cưỡi ngựa sang phủ thừa tướng. An Quốc tướng quân chạy ra đón mời vào trong điện. Khi vào tới nơi, Đồ Man Hưng Phục tươi cười mà tiếp chuyện. Triệu Phượng và Triệu Lân nói:
- Dám bẩm quan thừa tướng! Hôm qua chúng tôi có chút lễ mọn đưa sang mừng, chẳng hay cớ sao quan thừa tướng ngài lại không nhận?
Đồ Man Hưng Phục nói:
-Tiệc mừng sinh nhật của tiện nhi, có đâu dám nhận hậu lễ như thế. Hôm nay hai quốc cữu lại quá bộ tới đây thì già này lấy làm hân hạnh lắm, xin mời hai quốc cữu ở chơi xơi chén rượu nhạt.
Triệu Phượng và Triệu Lân cười mà đáp rằng:
- Anh em chúng tôi cùng đệ nhị tướng quân đây là chỗ thế giao, hôm nay gặp ngày sinh nhật, chúng tôi sang mừng, xin uống một bữa rượu thật say.
An Quốc tướng quân vui lòng mà đáp rằng:
- Nếu vậy thì vẻ vang cho chúng tôi lắm!
Nói xong, truyền người nhà bày tiệc, mời hai quốc cữu ngồi. Các quan văn võ triều thần, cũng ngồi hai dãy dài. Hải vị sơn hào la liệt trước mắt, ca nhi vũ nữ múa hát bên mình, thật là một cuộc vui hiếm có vậy. Bỗng thấy thủ môn quan vào báo với Đồ Man Hưng Phục rằng:
- Bẩm lão gia! Có quan nội giám họ Mã tới.
Cha con Đồ Man Hưng Phục đứng dậy ra nghênh tiếp. Khi Mã Thuận bước lên trên điện, văn võ triều thần đều đứng dậy cúi chào, Mã Thuận ngang nhiên bước vào, vẫy tay bảo ngồi xuống. Hai quốc cữu bất đắc dĩ cũng phải cúi chào. Mã Thuận ngòi ghế trên nhất, giọng cười khanh khách, tiếng nói choang choang, có ý tự đắc. Hai quốc cữu tức giận không thể nhịn được, phải đứng dậy cáo từ lui ra. Cha con Đồ Man Hưng Phục cố ý mời lại không được, bất đắc dĩ phải tiễn hai quốc cữu về phủ. Mã Thuận rượu đã ngà ngà say, nhìn các ca nữ rồi tủm tỉm cười, nghoảnh lại mà bảo Đồ Man Hưng Phục rằng:
- Những đứa ca kỹ này dẫu đẹp nhưng không khi nào bằng được đệ nhị phu nhân của quan thừa tướng. Tôi đây dẫu là nội giám,không hiểu nhân sự, nhưng mọi lần tôi cùng đệ nhị phu nhân uống rượu thì hai bên vui đùa thật lắm trò hay. Bây giờ trước mặt các quan đây, chẳng lẽ lại mời phu nhân không tiện, âu là để tôi vào nhà trong uống rượu.
Nói xong, quay lại gọi các tiểu nội giám mà bảo rằng:
- Các con! Đỡ ta vào nhà trong!
Đồ Man Hưng Phục thẹn đỏ mặt lên, không biết nói sao cho được. An Quốc tướng quân đứng cạnh, cũng căm tức bội phần. Bấy giờ các quan văn võ triều thần đều lục tục đứng dậy cáo từ xin về. Đồ Man Hưng Phục lui vào nhà trong, có đứa nữ tỳ khẽ rỉ tai bẩm rằng:
- Quan nội giám họ Mã dắt đệ nhị phu nhân vào trong màn.
Đồ Man Hưng Phục đến gần vén cửa màn xem thì thấy hai người đều ngủ say cả. Má hồng hoen hoẻn, tóc trắng bơ phờ. Đồ Man Hưng Phục bỗng nổi cơn ghen tức, liền giơ tay rút thanh bảo kiếm treo ở cạnh tường, không ngờ lóng cóng đánh rơi xuống đất. Nàng Mị Nương (tức đệ nhị phu nhân) ở trong màn giật mình sực tỉnh, trông thấy Đồ Man Hưng Phục, vội vàng trở dậy. Đồ Man Hưng Phục nhặt lấy thanh bảo kiếm, lại đến gần toan đâm chết Mã Thuận. Nàng Mị Nương kéo áo mà khẽ bảo rằng:
- Ô hay! cớ sao hôm nay lão gia lại nóng tính như thế! Năm xưa lão gia dặn tôi rằng: “Ngươi làm thế nào quyến dụ được lòng Mã Thuận thì khi chiếm ngôi trời, sẽ không dám phụ công.” Câu nói ấy còn nhớ hay quên, khiến cho tôi trong mấy năm uổng phí bao nhiêu tinh thần, mới quyến dụ được lòng Mã Thuận. Nay đại sự đã xong đến chín, cớ sao không cố nhịn cho thành. Lão gia ơi! Ngày nay lão gia giết Mã Thuận thì Phi Giao hoàng hậu khi nào để cho được yên, mà lão gia giết tôi thì mưu này thực tự lão gia, bắt tôi bấy lâu phải khổ sở. Nếu lão gia ngại về tai tiếng thì tôi thiết tưởng bể đang yên lặng, can chi gây cuộc phong ba. Vả thực sự không có, chẳng qua chỉ có hư danh, hà tất lại mua hờn rước dữ!
Nói xong, liền giật lấy thanh kiếm, rồi cười nhạt mà quay đi. Đồ Man Hưng Phục bất đắc dĩ phải chịu nhịn.
An Quốc tướng quân đêm hôm ấy trằn trọc không ngủ, nghĩ thầm: “Hai quốc cữu cùng ta tâm đầu ý hợp, vẫn tôn ta là bậc “Anh hùng đệ nhất” mà lại chê trưởng huynh ta là “Tửu sắc chi đồ”. Xưa nay chưa đến chơi bao giờ, hôm qua bỗng quá bộ đến mừng, ta lấy làm bằng lòng lắm. Không ngờ Mã Thuận ở đâu lù lù dẫn đến làm cho giảm mất cuộc vui. Hắn lại say rượu nói càn, khiến ta thẹn ê cả mặt. Vả một mai thân phụ lên ngôi thiên tử thì ngôi thái tử tất về phần trưởng huynh ta. Trong tay ta dẫu có binh quyền, nhưng còn thiếu người trí dũng thì ta lấy ai cho thêm vây cánh. Hai vị quốc cữu này tài kiêm văn võ âu là ta mật kết làm tâm phúc, họa may trưởng huynh ta mới không đè nén nổi ta. An Quốc tướng quân nghĩ vậy, sáng sớm hôm sau dậy sớm, truyền người nhà sắp xa giá đi sang phủ phò mã để tạ ơn hai quốc cữu. Khi sang tới nơi, Triệu Lân nghe báo vội vàng ra đón, mời vào nhà khách ngồi, rồi truyền người nhà pha trà uống. An Quốc tướng quân hỏi:
- Chẳng hay lệnh huynh đi đâu vắng?
Triệu Lân nói:
- Thân huynh tôi bị bệnh!
An Quốc tướng quân nói:
- Hôm qua lệnh huynh vừa sang mừng tôi, chẳng hay hôm nay bị bệnh gì như vậy?
Triệu Lân nói:
- Tướng quân hỏi đến, nghĩ càng đau xót trong lòng. Số là anh em tôi trong mấy năm nay, những mong thượng hoàng về triều, lập được vua hiền thì giang sơn Nguyên triều này họa may mới khỏi về tay họ khác. Chúng tôi xem trong tôn thất thì nên được đại sự có chẳng chỉ ở tướng quân, hôm qua thành tâm sang mừng, trông thấy tướng quân lẫm liệt dung nghi, thật đáng là vì thiên tử. Chúng tôi nghĩ thầm vẫn lấy làm vui sướng vô cùng, không ngờ đến lúc Mã Thuận tới nới thì tướng quân lại khúm núm cúi đầu, làm mất cả thể thống. Mã Thuận kêu ngạo tự đắc, chẳng coi tôn thất ra gì, thế mà tướng quân cứ chịu ép một bề, khiến cho chúng tôi xiết bao căm tức. Vì thế thân huynh tôi nghĩ quá thành bệnh, đã định từ chức lui về quê nhà.
An Quốc tướng quân nghe nói, trong lòng mừng rỡ, vội vàng đứng dậy mà hỏi rằng:
- Quốc cữu ơi! Lệnh huynh bây giờ ở đâu? Tôi muốn thưa một câu chuyện.
Triệu Lân ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Thân huynh tôi khó tính, chứ không nông nổi như tôi. Xưa nay đối với ai cũng thế, hễ bằng lòng thì giải bày hết ruột gan, mà không bằng lòng thì thật một câu không chịu nói. Chẳng hay tướng quân muốn hỏi chuyện chi, nếu vậy xin mời tướng quân vào trong thư phòng.
Nói xong, nghoảnh lại truyền người nhà vào báo trước với Triệu Phượng. Triệu Phượng mời An Quốc tướng quân vào. Khi vào tới nơi, An Quốc tướng quân trông thấy Triệu Phượng nét mặt rầu rĩ, liền cúi đầu chào. An Quốc tướng quân nói:
- Đa tạ quốc cữu hôm qua đã có lòng hạ cố đến mừng cho tôi.
Triệu Phượng cười nhạt mà đáp:
- Tướng quân ơi! Chúng tôi vẫn tưởng tướng quân là con một vị vương tước trong tôn thất, tài kiêm văn võ, và giữ chức nguyên nhung, tất phải xuất sắc hơn người, không ngờ lại sợ một tên nội giám, anh em chúng tôi rất lấy làm thất vọng.
Nói xong, kéo ghế mời ngồi. An Quốc tướng quân có ý hổ thẹn mà rằng:
- Quốc cữu ơi! Mấy lời vàng ngọc, tôi xin cảm tạ. Hôm nay tôi đến đây là có hai việc: Một là xin lỗi, hai là muốn trần thuyết cùng quốc cữu mấy lời chẳng hay quốc cữu có rộng lượng mà cho nói không?
Triệu Phượng nói:
- Anh em tôi đây giàu kể hàng vạn khoảnh, sang cũng chẳng kém ai, còn có cầu gì. Chẳng qua chỉ vì giang sơn Nguyên triều và địa vị nhà Hoàng Phủ tôi mà muốn kết giao cùng tướng quân vậy.
An Quốc tướng quân mừng rỡ:
- Quốc cữu đã dạy như vậy thì tôi xin hỏi quốc cữu muốn dùng kế chi để bảo toàn lấy giang sơn Nguyên triều.
Trong khi đang nói chuyện thì có đứa tiểu đồng dâng nước trà. Triệu Phượng nín lặng không nói, chỉ ngẩng mặt lên trên không mà nhìn đàn chim bay. Hồi lâu đứa tiểu đồng lui ra. Triệu Phượng lại nói:
- Tướng quân ơi! Chẳng hay tướng quân hỏi thực hay giả? Nếu tướng quân hỏi thực thì xin tướng quân ngồi lại cùng tôi uống mấy chén rượu nhạt, bấy giờ tôi xin giải tỏ chân tình.
An Quốc tướng quân nói:
- Tôi không dám nói dối. Tôi vốn biết người có chí anh hùng, cho nên tôi đến đây giải tỏ chân tình, xin hai quốc cữu chớ nghi ngại.
Triệu Lân liền nói với Triệu Phượng rằng:
- Tướng quân đã dạy như thế chắc là chân thành, vậy thân huynh cứ nên nói thực.
Triệu Phượng lắc đầu mà rằng:
- Thân đệ ơi! Tướng quân vui chuyện mà nói như thế đó thôi, chưa chắc trong lòng đã giữ được thủy chung như nhất. Huống chi chúng ta chỉ vì muốn bảo toàn giang sơn cho Nguyên triều mới phải bày mưu lập kế. Nếu sự cơ tiết lộ thì tai vạ theo liền, dẫu chết cũng chẳng ích gì. Một tấm nhiệt thành, chi bằng hãy trở về quê nhà để tĩnh dưỡng mà đợi thời vậy.
Nói xong, lại vuốt ngực thở dài. An Quốc tướng quân bằng lòng mà rằng:
- Quốc cữu ơi! Xin quốc cữu chớ phiền não! Tôi đến đây là thực lòng muốn hỏi kế sách bảo toàn tôn xã, xin quốc cữu lấy chân tình mà chỉ giáo cho. Nếu hai quốc cữu không tin lời thì tôi xin bẻ mũi tên phát thệ.
Nói xong, có sẵn bao tên treo ở cạnh tường, liền rút một chiếc, rồi bẻ đôi mà thề rằng: “Nguyện có hoàng thiên chứng giám. Tôi là Đồ Man An Quốc, nếu tôi nói chẳng như lời thì xin chết như mũi tên này!”
Hai quốc cữu nghe nói đều vui mừng mà rằng:
- Tướng quân đã lấy anh em tôi làm tâm phúc thì chúng tôi xin cùng tướng quân dốc một lòng để bảo toàn giang sơn cho Nguyên triều. Tướng quân ơi! Từ khi Phi Giao vào làm hoàng hậu, quá nghe lời Mã Thuận sàm báng, gây ra bao nhiêu sự tàn ác, khiến cho nhân dân ai cũng oán thù. Nếu trong triều không nhờ có tướng quân thì muộn dặm giang sơn này khó lòng khỏi về tay họ khác.
An Quốc tướng quân cười mà đáp rằng:
- Người dạy quá lời.
Triệu Lân nói:
- Không phải chúng tôi dám nói nịnh tướng quân, thực là thần dân trong nước, ai cũng có lòng kính phục tướng quân vậy. May nhờ có tướng quân giang sơn này mới bảo toàn được, chứ nữ chủ cầm quyền trong nước thì xưa mấy đời được lâu dài. Nếu tướng quân không giữ lấy giang sơn, một mai có người khác nổi lên thì nhà Hoàng Phủ tôi tất phải diệt tộc.
Triệu Phượng cũng nối lời mà rằng:
- Chẳng những thế mà thôi! Thân phụ tôi trước khi đi tìm thượng hoàng có dặn thân mẫu tôi về kinh, nếu thiên tử mục tật không khỏi thì nên xét xem trong họ tôn thất có người nào nhân đức, sẽ tâu thái hậu mà lập làm thiên tử để giữ lấy giang sơn nước nhà. Nào có biết đâu rằng khi thân mẫu tới nơi thì bị giam cấm trong cung, đã ba năm nay không thông tin tức. Chúng tôi xem trong tôn thất chỉ có tướng quân là người nhân khoan đại độ, anh em tôi vẫn tâm phục xưa nay. Hôm trước chúng tôi tôi sang mừng, không ngờ khi Mã Thuận tới nơi, tướng quân lại làm những sự khúm núm như hạng tỳ tất. Chúng tôi thấy vậy, nghĩ thầm đại sự khó thành, thôi thì đành lòng trở về quê nhà, mà tiêu dao cho qua này tháng.
Nói xong, lại cau mày thở dài, làm ra ý buồn rầu. An Quốc tướng quân nghe nói mừng lòng mà bảo:
- Xin hai quốc cữu chớ lo phiề! Hai quốc cữu đã lấy con mắt xanh mà đối với cha con tôi thì tôi xin hỏi: Bây giờ nên dùng kế chi cho được!
Triệu Phượng nói:
- Câu chuyện còn dài, âu là tướng quân hãy cùng anh em chúng tôi uống rượu vui, rồi sau sẽ thưa chuyện.
Nói xong, truyền người nhà bày tiệc, cùng An Quốc tướng quân uống rượu. Khi uống rượu xong hai quốc cữu truyền người nhà lui ra cả, rồi lại mời An Quốc tướng quân vào trong một cái gát nhỏ, cùng ngồi nói chuyện. An Quốc tướng quân nói:
- Hai quốc cữu cứ hết lòng chỉ giáo, tôi xin vâng lời.
Triệu Phượng nói:
- Bây giờ không còn kế gì bằng kế biếm truất Phi Giao hoàng hậu. Muốn biếm truất Phi Giao hoàng hậu thì tất phải phụng mệnh thái hậu, tuyên bố tội trạng rồi bỏ vua cũ lập vua mới thì trong tôn thất còn ai hơn tướng quân. Khi tướng quân đã lên ngôi thiên tử rồi, trước hết hãy giết Mã Thuận thì tự khắc thần dân trong nước ai cũng mến phục vậy.
An Quốc tướng quân ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Quốc cữu ơi! Quốc cữu lập kế dẫu cao nhưng cũng nên nghĩ ngợi cho kỹ. Như Phi Giao hoàng hậu bây giờ là cháu thái hậu, là con Mạnh vương phi, là chị ruột với quốc cữu thì khi nào chúng tôi lại thi hành được mưu phế lập ấy. Vả có phế lập thì còn Hán vương và Triệu vương đó, bao giờ đã đến phần tôi.
Triệu Lân nói:
- Việc có kinh quyền, lễ có thườg biến, Hán vương và Triệu vương thụ phong ở ngoài phương xa, nếu ngôi trời đã định rồi thì Hán vương và Triệu vương cũng không nói sao cho được. Ngày nay thái hậu ban chiếu, cứ nói là vì việc nước rối loạn, hãy tạm cho tướng quân quyền giữ ngôi trời, chớ khi thượng hoàng về triều, bấy giờ sẽ trù liệu. Thế thì danh chính ngôn thuận, quyết không ai dám nói. Đến khi thượng hoàng về nước, há lại quên công khó nhọc của tướng quân.
Triệu Lân lại nói:
- Tướng quân chớ sợ thái hậu và thân mẫu tôi làm ngăn trở việc này. Số là thân mẫu tôi thường vẫn nhiều lần phải cau mày nghiến răng về nỗi Phi Giao hoàng hậu gây vạ cho nước. Xem như một việc giam cấm thân mẫu tôi ở trong cung thì thật là tàn ngược, còn tình mẹ con nỗi gì! Thái hậu năm xưa đã từng tuốt gươm toan chém chết đi, khi nào bây giờ lại còn thương tiếc. Người ta làm việc gì cần phải quyết đoán, mới là tay anh vũ, tôi chỉ sợ tướng quân không quyết đoán mà thôi.
Triệu Lân nói xong thì An Quốc tướng quân đứng dậy vỗ tay tươi cười mà bảo rằng:
- Hay! Nếu vậy hay! Quốc cữu nghĩ được diệu kế, không khác gì Trương Lương thuở xưa. Chỉ sợ các quan văn võ trong triều chưa nhất tâm thì làm thế nào mà thỉnh chỉ thái hậu cho được.
Triệu Phượng nói:
Việc ấy rất dễ! Hôm nào khởi sự thì một mặt đem quan giam cấm Phi Giao hoàng hậu và một mặt mở cửa cung vào thỉnh thái hậu. Nhưng tôi thiết tưởng việc này cần phải giấu tôn đường, đợi khi hành sự rồi bấy giờ sẽ bẩm bạch. Đó là kế Đường Minh Hoàng giết Vi hậu thuở trước, anh em chúng tôi sỡ dĩ nhẫn tâm mà tán thành việc này, trước là vì công sau là vì tư. Chúng tôi bây nhiêu tuổi đầu mà trên cách biệt cha mẹ dưới chưa có vợ con. Mây bạc xa xa, chiếc thân vò võ, cứ như thế này thì hoàng thân quốc thích làm chi cho thêm nỗi đau lòng!
Triệu Phượng nói xong ứa nước mắt khóc. Triệu Lân cũng giọt châu lã chã mà rằng:
- Tướng quân ơi! Thế là anh em tôi đã giải tỏ hết chân tình, chữ hiếu chưa được toàn thì chữ trung cũng nên cố giữ cho trọn vậy.
An Quốc tướng quân tấm tắc khen ngợi mà rằng:
- Hai quốc cữu có lòng trung thành, tôi biết đã lâu. Nhưng việc này nếu giấu thân phụ tôi thì làm thế nào cho được!
An Quốc tướng quân ngẫm nghĩ một chút rồi nói:
- À! Hôm qua Phi Giao hoàng hậu giáng chỉ sai thân phụ tôi đi thiêu hương ở núi Thái Sơn, thân phụ tôi có bảo tôi cùng đi. Bây giờ tôi cáo bệnh thì tất thân phụ tôi phải đi một mình vậy, trong mấy hô ấy ta sẽ liệu mà khởi sự.
Triệu Phượng nói:
- Việc này cần phải bí mật lắm mới được, nếu không thì tất có tai vạ. Tướng quân về phủ, xin chớ tiết lộ. Bây giờ ngay trong tôn thất cũng có nhiều người nhòm ngó, nếu họ dò được tình hình thì tất thừa cơ khởi sự, chẳng những anh em chúng tôi khó toàn được tính mệnh, mà cũng lại rất nguy hiểm cho tướng quân vậy.
An Quốc tướng quân gật đầu khen phải mà rằng:
- Việc này là việc thế nào mà tôi dám tiết lộ?
Triệu Lân khóc mà nói rằng:
- Nay chúng tôi muốn cùng tướng quân phát thệ. Những lời nghị luận xin viết vào một tờ giấy rồi cùng ký tên, kẻo mai sau tướng quân lên trị ngôi trời, bấy giờ lại dễ quên công khuyển mã.
An Quốc tướng quân cười mà bảo rằng:
- Có lẽ nào lại như thế! Nếu tôi được lên ngôi trời thì tất phải chia đất mà phong cho hai quốc cữu.
Triệu Phượng đi lấy nghiên bút, Triệu Lân ghi những lời phát thệ, rồi bảo An Quốc tướng quân ký tên vào. Hai quốc cữu đều ký tên. Ký tên xong, cất bỏ vào trong một cái hộp nhỏ.
An Quốc tướng quân nói:
- Đến hôm thân phụ tôi đi vắng thì hai quốc cữu sẽ cùng tôi khởi sự. Nhưng trong các quan triều thần, chẳng hay có nên đem việc này bàn với ai không?
Ba người cùng nhau ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi hai quốc cữu đồng thanh mà bảo rằng:
- các quan triều thần chỉ có Nguyễn tướng công đức tôn vọng trọng hơn cả, quả nhiên là một ông Địch Nhân Kiệt đời nay. Tướng quân nên đến mà cầu, nếu được ông ấy giúp cho thì đại sự tất phải thành vậy.
An Quốc tướng quân mừng lắm, cảm tạ hai quốc cữu mà rằng:
- Xin đa tạ hai quốc cữu trước! Sau này muôn chung nghìn tứ ắt là có nhau!
Nói xong, cáo từ lui ra. Triệu Phượng và Triệu Lân bàn nhau viết thư gửi cho phò mã Triệu Câu, lại đính theo cả bút tích của Mạnh Lệ Quân nữa. Triệu Lân cũng viết riêng một phong thư gửi cho bà Lưu phu nhân. Hai phong thư ấy đều bao sáp cẩn thận, rồi gọi hai tên người nhà tâm phúc đến mà dặn rằng:
- Nước nhà hay dở, trông cậy vào bức thư này. Các ngươi nên hết lòng vì ta, mai sau thượng hoàng về triều ta sẽ trọng thưởng cho các ngươi vậy.
Hai tên người nhà vâng mệnh, tức thì phi ngựa đi ngay. Triệu Phượng và Triệu Lân cùng nhau bàn định muốn sang thương thuyết cùng Nguyễn Long Quang tướng công nhưng lại sợ có người truyền báo cho Mã Thuận biết. Triệu Phượng nói:
- Hay là ta nói với Gia Tường công chúa sai bảo mẫu đến.
Triệu Lân nói:
- Nguyễn tướng công chỉ có một mình ở đây, không gia quyến chi cả, vậy thì ta sai bảo mẫu đến cũng không tiện. Nếu Phi Giao biết tất lại sinh nghi.
Hai anh em luống cuống chưa biết nghĩ kế ra thế nào thì bỗng thấy tên người nhà mang phong thư và mà bẩm rằng:
- Bẩm quốc cữu! Mạnh tướng công ở Quí Châu sai tên người nhà là Ngũ Xương đệ trình phong thư này, hiện còn đang đứng chực tại ngoài cửa.
Hai quốc cữu mừng rỡ mà bảo rằng:
-Nếu vậy thì hay! Cữu phụ ta đi đã ba năm nay, chưa được tin tức chi cả, nay bỗng có người đem thư đến, chắc là đã tìm thấy thượng hoàng đó chăng.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-08 21:15:53Hoàng Dung>
hồi thứ 10 b

Hai anh em vội vàng cùng nhau xem thư. Bức thư như sau:

“Ta đi tìm thượng hoàng đã ba năm nay. Dò la trong mười vạn dặm trường, chẳng những chưa được gặp mặt người, mà thăm thẳm phương trời, dẫu đến tin tức cũng không thấy chi cả. Thân mẫu các ngươi tới kinh, mỗi người đồn một cách: Người thì bảo vào nam nội để hầu hạ thái hậu; người thì bảo hiện ở hữu cung để giúp Phi Giao; lại có người thì bảo đã bị giam vào trong ngục thất. Còn toàn gia họ Hùng, ta cũng nghe nói đều đã xử tử, không biết rằng thực hay hư. Chín khúc ruột tằm, luống những bối rối vò tơ, đành chỉ thở dài một tiếng. Gia Tường công chúa cùng các em nhỏ đều được bình yên vô sự, thế là ta được vui mừng.
Sau này chim trời cá nước, biết là về đâu, ta khuyên các ngươi nên phải tận trung báo quốc.
Ký tên Mạnh Gia Linh”


Triệu Phượng và Triệu Lân xem xong bức thư, hai hàng nước mắt ròng ròng chảy xuống, rồi gọi Ngũ Xương vào hỏi chuyện. Ngũ Xương thở dài mà bẩm rằng:
- Trong ba năm nay, lão gia tôi đi chẳng thiếu đâu. Trước hết đến chùa Ngũ Thái ở tỉnh Sơn Tây. Sư cụ mới ngồi nói chuyện trong nửa ngày trời, không biết nói những chuyện gì. Sau sư cụ giữ lão gia tôi ở đấy, nhưng lão gia tôi không chịu ở lại xuống núi đi ngay. Đi vượt qua hồ An Thiểm ở Tứ Xuyên, chẳng may gặp cơn phong ba, chiếc thuyền vỡ đắm, nhờ có người đánh cá cứu vớt, cho nên lão gia tôi mới được sinh toàn, lão gia tôi cảm nhiễm thành bệnh, phải nằm nhà trọ, chữa thuốc tại Thành Đô. Không ngờ bệnh mỗi ngày một nặng, thấm thoát đã hai tháng trời, hết cả tiền tiêu, chúng tôi phải cầm cố đến đồ đạc. Chỉ mong sao cho lão gia tôi chóng được bình phục, để lại đi tìm thượng hoàng. Trời ơi! Sau khi đắm thuyền, đồ đạc mất nhiều, còn sót cái nào thì cầm cố dần hết. Chúng tôi mỗi ngày chỉ ăn một bữa, mà vẫn không dám phàn nàn. Sau lão gia tôi thấy chúng tôi ngày một gầy mòn, hoặc nằm liệt không dậy được thì có hỏi đến, nhưng đang trong khi lão gia tôi bị bệnh cho nên tôi không dám bẩm trình. Đến khi đã cùng kiệt quá không biết làm thế nào, chúng tôi mới phải nói thực. Lão gia tôi bảo đem áo long bào đi cầm thì các cửa hàng cầm không ai dám nhận. Bất đắc dĩ lão gia tôi phải viết thư cho quan trấn thủ tại Nhạn Môn quan là họ Lưu thì quan trấn thủ tức khắc đem quân đến nơi đón rước lão gia tôi về phủ để chữa thuốc. Bấy giờ khỏi bệnh lão gia tôi lại đi tìm thượng hoàng, nhưng thải hết đầy tớ về chỉ có một tên lão bộc đi theo. Chúng tôi khóc mà khuyên can thì lão gia tôi lại mắng là phường tán tận lương tâm không muốn cho chủ được thanh danh tiết. Nay lão gia tôi một thân đi vào những nơi mường mọi, tưởng cũng nguy hiểm lắm thay. Quan trấn thủ dẫu không dám ngăn, những có phái ba trăm quân mật đi về vùng ấy để phòng sự tai biến.
Triệu Phượng và Triệu Lân nghe nói nước mắt ròng ròng, dẫm chân kêu trời một tiếng mà than rằng:
- Trời ơi! Thế này thì ra nhà Hoàng Phủ ta làm hại biết bao nhiêu người! Phi Giao ơi! Mày đày cha giam mẹ, lại làm khổ cả đến ông cậu. Ta không hiểu trong lòng mày nghĩ thế nào. Mày đã tuyệt tình nhẫn tâm như vậy thì còn anh em ruột thịt gì nữa.
Sáng hôm sau hai quốc cữu viết thư giao cho Ngũ Xương đi, để phúc đáp Mạnh Gia Linh, rồi chỉnh tề mũ áo sắp sang bái yết Nguyễn tướng công thì bỗng nghe báo có Nguyễn tướng công đến. Nguyễn tướng công nghoảnh nhìn bốn mặt, thấy vắng vẻ không ai, mới thở dài mà bảo rằng:
- Năm xưa thượng hoàng phong cho nhà Hoàng Phủ là “Trung Hiếu vương” bâý lâu vẫn giữ trọn được hai chữ “Trung hiếu”, không biết vì đâu oan nghiệt, mà nhà Hoàng Phủ bỗng mang tiếng hổ lang. Một tay Phi Giao gây ra bao nhiêu sự độc ác. Già này cố lòng kiên nhẫn, theo gương Địch Nhân Kiệt thuở trước, họa may còn có bổ cứu cho nước nhà được phần nào chăng. Đợi khi thượng hoàng về triều rồi, già này xin đập đầu trước thềm vàng, một là giải tỏ tấm lòng trung thành; hai là để được theo quan Lương thừa tướng về nơi chín suối. Nay chờ mai đợi, không thấy thượng hoàng ruột đứt lòng đau khôn cầm nước mắt. Tôi vẫn tưởng rằng hai quốc cữu đầu còn xanh tuổi còn trẻ, không nghĩ chi đến việc nước, đêm qua bỗng thấy Đồ Man An Quốc đem lời hai quốc cữu thuật cho tôi nghe, khiến tôi căm tức muôn phần mà không biết trả lời thế nào được. Chẳng thà liều thân chịu chết, chứ già này quyết không bao giờ lại chịu phù lập Đồ Man An Quốc lên trị ngôi trời.
Nói xong, liền đứng phắt ngay dậy. Hai quốc cữu vội nắm lấy áo mà thưa rằng:
- Nguyễn tướng công ơi! Ngày nay đảng phản nghịch vây cánh rất nhiều, từ khi hai anh em tôi tiến kinh, ruột rối như mớ bòng bong, chỉ đành ngồi bó tay mà không nghĩ mưu kế chi cho được. Trong mấy năm trời dài đăng đẳng, tưởng chừng như mấy mươi năm. Hai anh em tôi tóc đã điểm hoa râm, luống những cùng nhau thở than khóc lóc. May sao lòng trời dun rủi, bỗng có con chim quạ đem thư của thân mẫu tôi ở trong cung ra. Chúng tôi theo kế thân mẫu tôi mà xui Đồ Man An Quốc nói với tướng công đó. Chúng tôi vẫn biết là tướng công không thuận, định sang giải tỏ gót đầu, nhưng lại sợ tiết lộ cơ mưu thì tất có tai vạ. Cứ theo kế thân mẫu tôi thì trước nhất giết ho được đứa gian ác Mã Thuận, còn Đồ Man Hưng Phục là đứa vũ phu, ta muốn bỏ lúc nào cũng dễ. Hắn đã thụ ân thái hậu mà được tạm lập làm giám quốc thì tất không dám phạm đến tam cung và phải bảo toàn cho gia quyến họ Hùng vậy. Vả Hán vương và Triệu vương đem quân tới đây, nếu không có người nội ứng, cũng chưa chắc đã phá vỡ được. Vì thế nên chúng tôi giả cách vào đảng với hắn, để đợi khi trưởng huynh tôi đem quân về tới đây thì làm nội ứng, bấy giờ đại sự tất thành.
Nguyễn tướng công nói:
- Giả sử khi Hán vương và Triệu vương đem quân tới đây mà thượng hoàng chưa về, Đồ Man Hưng Phục đang làm giám quốc, thái hậu còn lấy lẽ gì mà cho thiên tử phục vị được. Tôi chắc bấy giờ cứ theo thứ tự mà lập thì tất phải lập đến Hán vương.
Triệu Phượng nhìn Triệu Lân mà nói:
- Tướng công trung thành như thế thì thật là ít có! vậy chúng ta nên giải tõ chân tình để cho tướng công khỏi phải ngờ.
Triệu Lân mời Nguyễn tướng công ngồi, rồi đến gần trước mặt mà thưa rằng:
- Nguyễn tướng công ơi! Tướng công chê nhà Hoàng Phủ tôi không giữ trọn được trung hiếy, nhưng thiết tưởng nỗi khổ tâm của anh em chúng tôi thì thật chưa mấy người đã hiểu rõ cho.
Nói xong, liền rỉ tai thuật việc khi trước đem được hoàng tử ở trong cung ra, hiện nay hoàng tử đã gần bảy tuổi. Triệu Lân nói chưa dứt lời thì Nguyễn tướng công có ý kinh ngạc vội cầm lấy tay mà bảo:
- quốc cữu ơi! Nếu vậy thì quốc cữu là người hay là thần giáng sinh để giúp nước đó! Lão phu đây dẫu lòng không quên nước, nhưng chỉ ngồi một chỗ than dài thở ngắn, phỏng có ích gì, còn như việc của hai quốc cữu làm, mới thật là công thần đệ nhất. Việc ấy chẳng những bảo toàn cho nhà, cho nước, mà lão phu đây cũng được chút thơm lây. Hai quốc cữu ơi! Xin hai quốc cữu cho tôi được yết kiến hoàng tử một chút.
Hai quốc cữu nói:
- Từ khi ẵm hoàng tử ra để cữu phụ tôi xem mặt đến giờ, chưa hề cho đi khỏi cửa. Nay tướng công muốn xem mặt thì âu là để chúng tôi lại xin đem ra.
Mụ bảo mẫu dắt hoàng tử ra. Triệu Lân đem sang chốn đông phòng, mời Nguyễn tướng công vào xem mặt, Nguyễn tướng công cố ý nhìn nhận hồi lâu, rồi tươi cười mà bảo rằng:
- Hay! Nếu vậy hay! Quả nhiên giống thượng hoàng như đúc! Kẻ lão thần này xin làm lễ triều kiến hoàng tử.
Triệu Lân nói:
- Xin tướng công chớ nói to tiếng! Những lúc này há phải là lúc thủ lễ.
Nguyễn tướng công gật đầu, rồi cầm lấy tay hoàng tử xem, nhìn kỹ bàn tay, thấy có dị tướng, vừa thương vừa mừng.
Triệu Lân nói:
- Chẳng những thế mà thôi, dưới bàn chân lại còn có bảy nốt ruồi, theo hình thất tinh nữa. Quả nhiên là một vị thái bình thiên tử, sau này chắc hẳn không ai còn dám nghi ngờ.
Nguyễn tướng công tủm tỉm cười mà hỏi hoàng tử rằng:
- Thế nào? Cậu đã đ học chưa? Mà học đến sách gì rồi?
Hoàng tử nói:
- Tôi đã học thuộc Ngũ kinh chính văn rồi. Mẹ tôi vẫn dạy tôi ở trong cung.
Nguyễn tướng công thở dài mà rằng:
- Thật là một việc hiếm có.
Nói xong, lại bảo Triệu Lân đưa hoàng tử vào. Hai quốc cữu bày tiệc mời Nguyễn tướng công uống rượu. Trong khi uống rượu, Triệu Lân đem phong thư của Mạnh Gia Linh và phong thư của Mạnh Lệ Quân ra cho Nguyễn tướng công xem. Nguyễn tướng công xem xong, lẩm nhẩm gật đầu mà rằng:
- Nếu vậy thì nhà Hoàng Phủ và nhà họ Mạnh thật là toàn được hai chữ “Trung, hiếu” không mấy người theo kịp.Bây giờ ta nên bảo Đồ Man An Quốc phao ngôn cho các quan văn võ triều thần biết rằng thượng hoàng đã có tin về, để đến khi khởi sự, dân tâm khỏi đến nỗi náo động.
Triệu Phượng và Triệu Lân nghe nói tấm tắc khen ngợi mà rằng:
- Kế này lại càng diệu lắm! Quả không phụ tài kinh luân của tướng công!
Ba người bàn định hồi lâu, mở lịch chọn ngày, định đến ngày hai mươi lăm thì khởi sự. Hai quốc cữu nghe tin Đồ Man Hưng Phục đi Thái Sơn vắng, liền đến phủ thừa tướng bàn mưu với An Quốc tướng quân. An Quốc tướng quân mừng rỡ xiết bao, lại nhờ hai quận chúa thảo giúp tờ biểu để tâu thái hậu. An Quốc tướng quân lấy cờ lệnh tiễn giao cho hai quốc cữu để trong khi khởi sự được quyền sai bảo các quân ngự lâm. Đến hôm khởi sự, hai quốc cữu vào thuật chuyện cho Gia Tường công chúa biết và bảo rằng:
- Nước nhà hay dở, quan hệ ở một việc này. Giả sử việc có không thành thì xin công chúa yên lòng, đến khi thượng hoàng về triều tất thế nào cũng xét công cho hai chúng tôi mà không nỡ trị tội nhà Hoàng Phủ vậy.
Hai quốc cữu nói xong đều cúi đầu từ biệt, Gia Tường công chúa đau xót trong lòng mà rằng:
- Hai quốc cữu ơi! Vạ gió tai bay, biết thế nào mà phòng trước được! Xót thương cho thân tôi, từ khi về làm dâu nhà Hoàng Phủ, luống chịu bao nhiêu nỗi đắng cay; cốt nhục phân ly, cửa nhà tan nát. Nay hai quốc cữu làm việc này cũng là liều chết để cho toàn trung hiếu. Tôi thiết tưởng cuộc đời dẫu thay đổi, nhưng trời nào nỡ phụ người ngay. Vạn nhát có mệnh hệ nào thì người ta ở đời ai là chẳng chết, còn hơn cứ đành ngồi một chỗ, chịu bó tay mà nhìn nhau.
Triệu Phượng và Triệu Lân hôm ấy đầu đội mũ trụ, mình mặc áo giáp, chân đi giày đen, lưng đeo cung tên và mỗi người lại có đeo một thanh bảo kiếm. Hai anh em cùng lên ngồi ở trên Ngân An điện, gọi các gia binh và nội giám, cả thảy hơn mấy trăm người đến gần trước mặt mà dặn bảo rằng:
- Hôm nay chúng ta đi nghênh giá thượng hoàng, hiệu lệnh cần phải cẩn nghiêm, các ngươi chớ có coi thường mà phạm tội lỗi.
Nói xong, cắt một trăm quân giữ cửa trước và một trăm quân giữ cửa sau. Quân sĩ nghe lệnh, đều tưởng là thượng hoàng sắp về thật, ai nấy hớn hở vui mừng. Hai quốc cữu dặn bảo xong, cưỡi ngựa đến phủ thừa tướng, không đợi có người thông báo, liền tiến thẳng vào tận nơi. Bấy giờ Mã Thuận đang ngồi nói chuyện với An Quốc tướng quân, thấy hai quốc cữu vào, đều đứng cả dậy. An Quốc tướng quân nói:
- Dám thưa hai quốc cữu! Chẳng hay hôm nay có việc chi mà hai quốc cữu mặc đồ nhung trang?
Triệu Phượng nói:
- Tướng quân còn chưa biết hay sao! Bên ngoài đều huyên truyền là thượng hoàng sắp về, thế thì những lờ nghị luận hôm trước, hôm nay tất phải thi hành, vậy chúng tôi đến đây để báo tin, chẳng hay tôn ý đã quyết định chưa?
An Quốc tướng quân nói:
- Tôi đang bàn với nội giám họ Mã đây. Quan nội giám định chờ khi thân phụ tôi về, nhưng tôi thiết tưởng lúc này đâu có thể trì hoãn được.
Triệu Phượng biến nét mặt mà đáp rằng:
- Nếu việc đã tiết lộ thì không thể tha hắn được!
Nói xong, liền tuốt thanh kiếm, giơ tay nắm lấy Mã Thuận. Mã Thuận chẳng còn hồn vía nào, vội vàng sụp lạy kêu rằng:
- Trăm lạy quốc cữu! Quốc cữu hãy tha chết cho tôi, tôi xin cùng quốc cữu biếm truất Phi Giao hoàng hậu. Nhưng khi nào thượng hoàng về nước thì xin quốc cữu bảo toàn cho.
Triệu Lân giật lấy thanh kiếm, rồi can ngăn mà nói rằng:
- Thân huynh ơi! Xin thân huynh lặng nghe em nói một một lời. Việc này không nào quan nội giám họ Mã đây lại không đồng ý, chỉ vì thấy anh em ta cùng Phi Giao hoàng hậu là tình trong cốt nhục, vậy nên còn ngần ngại chưa dám quyết định đó thôi. Nhưng nào có biết đâu rằng Phi Giao hoàng hậu từ khi lên chiếm ngôi trời, dẫu cha mẹ anh em trong nhà, đều coi như cừu thù tất cả. Nay quan nội giám chịu cùng anh em tôi đồng tâm hiệp lực thì mai sau kể đến các bậc công thần cứu nước, chắc quan nội giám cũng được dự một vai.
Mã Thuận vâng vâng dạ dạ. Triệu Phượng lại cầm lấy thanh bảo kiếm rồi nói:
- An Quốc tướng quân ơi! Bây giờ anh em tôi đi ra Ngọ Môn, tướng quân nên đem cấm binh tới nam nội, rồi runội giám chuông đánh trống mà vào tâu thái hậu. Còn Mã Thuận thì cùng các nội giám vây hữu cung, đợi khi có chiếu chỉ của thái hậu tới nơi, bấy giờ sẽ định hay dở.
Hai quốc cữu nói xong liền ngang nhiên đi ra. Bấy giờ trong phủ thừa tướng, quân đứng sắp hàng, gươm tuốt sáng quắc. An Quốc tướng quân mặc áo giáp lên ngựa. Mã Thuận cũng tay cầm một thanh bảo kiếm, nhưng trong lòng vẫn áy náy mà nghĩ thầm rằng: “Nguy cho ta lắm thay! Không ngờ ngày nay ta lại mắc phải mưu. Bây giờ ta đem quân vây giữ hữu cung, đến khi thái hậu tra hỏi Phi Giao mà Phi Giao thú nhận thì thành ra mưu kế phần nhiều ở ta xúi giục, ta khó lòng được toàn. Vậy biết tính làm sao bây giờ!”
Mã Thuận đang cau mày ngẫm nghĩ, bỗng tìm được một kế, lòng lại nhủ lòng rằng: “Âu là ta làm thế nào cho Phi Giao chết đi thì thật mất miệng, không còn lấy ai đối chứng. Họa may thái hậu mới không trị tội được ta.” Mã Thuận nghị vậy mới khỏi áy náy trong lòng, liền giơ roi đánh ngựa, cùng bọn nội giám thẳng tới hữu cung. Bấy giờ trước cửa Ngọ Môn, đều có cấm binh đứng, cờ bay phất phới, chuông trống kêu vang, thật là một cảnh tượng rất ghê sợ vậy. Các quan văn võ triều thần thì thào rỉ tai mà bảo thầm nhau rằng:
- bây giờ thượng hoàng về triều thì không biết Phi Giao hoàng hậu làm ra thế nào!
Nguyễn tướng công tay cầm hốt ngọc, bước lên trên điện nói với các quan triều thần rằng:
- Thượng hoàng sắp về tới nơi, An Quốc tướng quân đem cấm binh ra nghênh tiếp. Nhưng ngày nay trước hết phải tâu thái hậu tuyên bố tội trạng mà bỏ Phi Giao hoàng hậu, tạm lập giám quốc. Bây giờ tôi xin cùng các quan triều thần vào diện tấu thái hậu, nếu không thì khi thượng hoàng về đây, tôi cùng các ngài khó lòng mà được sinh toàn vậy.
Nguyễn tướng công nói xong, các quan văn võ triều thần đều biến sắc mặt. Bỗng thấy tả ban có một người bước ra mà rằng:
- Quan Nguyễn tướng công, xin ngài chớ nói càn! Tin thượng hoàng về triều chưa lấy chi làm đích xác. Nay tâu xin phế thiên tử và hoàng hậu để lập giám quốc, vị tất thái hậu đã chuẩn tấu cho. Nếu bảo là hữu cung hoàng hậu chuyên quyền thì từ khi thay cầm quyền chính đến giờ, vẫn một lòng chăm chỉ sớm khuya chăm chỉ để giúp đỡ thiên tử, chưa hề có làm điều gì trái phép. Bây giờ bàn lập giám quốc, giả sử thượng hoàng không về thì có phải tự nhiên thành ra thay bậc đổi ngôi, giang sơn này biết trông cậy vào ai vậy. Tướng công vốn là người trung thành vị quốc, sao lại xướng khởi làm một việc kỳ dị ấy.
Người đứng ra hỏi mấy câu ấy là ai? Tức là qua hộ bộ thượng thư Tần Sĩ Thăng.
Tần Sĩ Thăng từ khi nàng Hạng Ngọc Thanh đi khỏi rồi, suốt ngày cứ âu sầu buồn bã, cơm chẳng muốn ăn, ngủ không yên giấc, dần dần nghĩ quá mà thành bệnh. Tần Sĩ Thăng phu nhân cười mà hỏi rằng:
- Phu quân ơi! Chẳng hay vì đâu mà phu quân đến nỗi thành bệnh, hoặc là phu quân còn tưởng nhớ nàng Hạng Ngọc Thanh đó chăng? Nếu quả như vậy thì việc ấy rất dễ, để tôi cho người gọi nàng đến, có lẽ nàng cũng yêu mến phu quân. Khi trước tôi nói đuổi nàng là câu nói đùa đó thôi, chứ kỳ thực thì tôi còn đem gởi một chỗ.
Tần Sĩ Thăng nổi giậm mà mắng rằng:
- Phu nhân chớ nói càn! Phu nhân định làm cho danh giá tôi phải bại hoại hay sao! Các bậc tiên hiền, phẩm liễu bình hoa, cái thói đa tình cũng chưa mấy người thoát khỏi, không ngờ phu nhân nghi tôi tham mới bỏ cũ, gây nên một cuộc sư tử Hà Đông. Nói năng càn dỡ, tôi chẳng chấp chi, bây giờ lại còn muốn làm cho tôi bại hoại danh giá. Thế mới biết đàn bà thâm độc, thuốc nào chữa khỏi, máu ghen đâu có lạ lùng!
Tần Sĩ Thăng nói xong, nét mặt vẫn còn hầm hầm chưa nguôi cơn giận. Tần Sĩ Thăng phu nhân lại nói:
- Phu quân ơi! Thực phu quân không tưởng nhớ đến nàng Hạng Ngọc Thanh nữa phải không?
Tần Sĩ Thăng thở dài mà rằng:
- Phu nhân cũng si ngốc lắm thay! Nàng Hạng Ngọc Thanh kia dẫu xinh đẹp, chẳng qua cầu vui trong nhất thời mà thôi. Chứ danh giá của mình. cần phải giữ gìn, mới khỏi hổ thẹn là một bậc tu mi nam tử.
Tần Sĩ Thăng nói chưa dứt lời thì phu nhân tươi cười rồi sụp lạy mà thưa rằng:
- Đa tạ phu quân! Tôi được nghe mấy lời phu quân nói, rất lấy làm vui lòng!
Nói xong, liền thuật hết gót đầu về việc nàng Hạng Ngọc Thanh cho Tần Sĩ Thăng nghe. Tần Sĩ Thăng mừng rỡ, đứng dậy chắp tay vái mà khen rằng:
- Nếu vậy thì phu nhân là một người tài trí! Lúc trước tôi không hiểu rõ, thấy phu nhân làm như thế cũng có ý giận. Giận về một nỗi muốn cho chồng bại hoại danh giá hay sao. Ai ngờ phu nhân lượng cả trí cao, khiến tôi đây khác nào như một đứa trẻ thơ ngu dại. Tuy vậy, phu nhân cũng nhẫn tâm thái quá, nỡ đem những lời quá đáng mà sỉ mắng tôi. Tôi xin hỏi phu nhân vốn là một người thanh tao, cớ sao bấy lâu lại làm nét mặt hổ lang, để cho tôi luống những đau lòng héo ruột.
Tần Sĩ Thăng phu nhân nói:
- Phu quân không hiểu rõ. Người ta dẫu thuần cẩn đến đâu mà khi đã say đắm mê man thì những lời trung ngôn cũng khó lọt tai cho được, chỉ có búa rìu sấm sét, họa may mới tỉnh ngộ mà thôi. Nhưng nếu không phải là người có chút học thức, cũng không bao giờ biết tỉnh ngộ vậy. Vì thế tôi phải bắt chước thói sư tử Hà Đông, để khiến phu quân hồi tâm nghĩ lại. Thế là tôi biết phu quân mà phu quân không biết lòng tôi!
Tần Sĩ Thăng nghe nói, lại càng vui sướng trong lòng, bảo thuật chuyện nàng Hạng Ngọc Thanh tình nguyện vào nhà giam cho Tần Sĩ Thăng nghe. Tần Sĩ Thăng nói:
- Thế thì nàng Hạng Ngọc Thanh cũng là một người ít có. Hùng quốc cữu bỏ nghìn vàng ra mua nàng, thật đáng lắm thay!
Sau Tần Sĩ Thăng phu nhân bỗng thụ thai, bấy giờ đã bốn mươi tuổi, sinh đứa con trai. Tần Sĩ Thăng cho là vì có âm đức nên được hưởng báo, từ đó lại càng hết lòng trung thành để báo đáp thánh triều. Phi Giao hoàng hậu thấy Tần Sĩ Thăng là người có văn tài, mới thăng quan tiến chức cho, dần dần đến Hộ bộ thượng thư, Tần Sĩ Thăng chính trực cảm ngôn, cho nên các quan triều thần đều có ý sợ hãi. Hồi ba năm trước, Tần Sĩ Thăng có ra pháp trường, tiễn biệt Hùng quốc trượng. Từ đó sinh lòng chán nản, muốn cáo quan trở về. Phu nhân khuyên can mà bảo rằng:
- Phu quân chớ nên nóng nảy! Bấy lâu ơn vua lộc nước, ta chưa báo đáp tý gì, ngày nay triều chính đang buổi khó khăn, không nên lánh mình nơi điền lý. Làm thân nam tử, nếu không một trường oanh liệt, tận trung báo quốc, há chẳng thẹn với mày râu.
Tần Sĩ Thăng nghe lời vợ khuyên nhủ, cho nên vẫn làm quan. Bấy giờ vào triều, vẫn tưởng là để hội nhau đi nghênh tiếp thượng hoàng, không ngờ Nguyễn tướng công lại bàn đến việc lập giám quốc, Tần Sĩ Thăng tức giận không thể nhịn được, mới bước ra mà bẻ Nguyễn tướng công. An Quốc tướng quân nghe nói, sầm nét mặt xuống mà rằng:
- Đại sự đã định, sao quan thượng thư họ Tần còn dám ngăn trở, chớ tưởng là thanh bảo kiếm của ta không sắc đâu!
Tần Sĩ Thăng nổi giận mà mắng rằng:
- Cha con nhà ngươi dối vua hại nước, giao thông với Mã Thuận, xui giục Phi Giao hoàng hậu làm nhiều điều trái phép, nay lại còn đem lòng hiểm ác, dám làm một việc đại phản nghịch này. Nguyễn tướng công vốn là người “Trung quân ái quốc” xưa nay, mà sao cũng càn rỡ đến thế. Ta đây dẫu chết đành chịu, chứ quyết không bao giờ cúi đầu theo đứa quyền gian.
An Quốc tướng quân nổi giận truyền quân sĩ bắt Tần Sĩ Thăng đem ra ngoài Ngọ Môn để chém. Quân sĩ vâng lệnh, liền xúm lại, tháo mũ cởi áo Tần Sĩ Thăng mà đem ta ngoài cửa Ngọ Môn. Nguyễn tướng công vội vàng can rằng:
- Quan thượng thư họ Tần vốn là một người nho sinh, không biến quyền biến. Nhưng ngày nay ta mở cửa cung vào rước thái hậu, không nên chém quan đại thần, chi bằng cách chức đuổi về, đợi khi thái hậu lâm triều rồi, bấy giờ sẽ nghị tội.
An Quốc tướng quân gật đầu, truyền tha chém cho Tần Sĩ Thăng mà cách chức đuổi về.
Lại nói chuyện Phi Giao hoàng hậu từ khi giam cấm Mạnh Lệ Quân ở trong cung thái hậu, không còn e sợ ai nữa, lại càng hung ác lạ thường. Một hôm vua Anh Tôn đang ngự chơi trong vườn thượng uyển, có hai người cung phi quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Thần thiếp nghe nói Mạnh vương phi tới đây đã gần được hai năm, chẳng hay vì cớ chi mà hoàng hậu không tâu để bệ hạ biết?
Vua Anh Tôn kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Mạnh vương phi đến bao giờ thế? Năm trước hoàng hậu bảo trẫm là chỉ đợi Mạnh vương phi tới đây bấy giờ vào triều kiến thái hậu, sẽ giữ được vô sự. Vậy có lẽ nào Mạnh vương phi tới đây đã hai năm mà lại không cho trẫm biết! Âu là để trẫm sang cung hoàng hậu, hỏi xem sự tình đầu đuôi việc này ra làm sao.
Hai người cung phi run sợ mà tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Hữu cung hoàng hậu lâu nay tính khí khác thường, cho nên Mạnh vương phi tới đây, mọi người đều biết cả, mà không ai dám tâu bày cùng bệ hạ. Hai thần thiếp ngu dại, tiết lộ việc này, xin bệ hạ rộng lòng thương chớ nên hỏi vội. Nếu bệ hạ hỏi đến thì thần thiếp tính mệnh khó toàn.
Vua Anh Tôn động lòng xót thương, thở dài mà không nói câu gì. Từ đó cứ ngày đêm lo phiền, không được vui vẻ như trước. Một hôm, Phi Giao hoàng hậu ngự vào trong vườn, trông thấy các cung phi thân thể gầy mòn, y phục lam lũ, mới phán hỏi rằng:
- Lâu nay ta vì bận quốc chính, không ngự tới đây, chẳng hay cớ sao mà các cung phi đến nỗi như thế?
Các cung phi tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Hoàng hậu có đặt ra “Bốn mùa ban thưởng” nhưng lâu nay không thấy cấp phát cho.
Phi Giao hoàng hậu nói:
- Người nào thừa quản việc này?
Các cung phi tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Việc này do nội giám Phương Khâm thừa quản.
Phi Giao hoàng hậu nghe nói nổi giận, truyền đòi Phương Khâm đế để xét hỏi. Phương Khâm nghe nói tức giận mà tâu:
- Muôn tâu hoàng hậu! Kẻ hạ thần xin liều chết mà giải bày: Mã Thuận tham lam lạ thường, chẳng những khấu trừ thưởng lệ của các cung phi mà thôi, lại dám cả gan ăn bớt đến số tiền ngự thiện nữa. Trong ngoài ai cũng biết cả, nhưng hết thảy đều sợ uy mà không dám tâu. Hoàng hậu vốn là bậc thánh minh, không hiểu cớ sao lại bị đứa quyền gian ấy lừa dối. Mã Thuận giao thông với Đồ Man Hưng Phục, triều chính bất cứ việc to việc nhỏ, hễ hay thì chúng nhận là chúng tác thủ, mà dở thì chúng đều đổ lỗi cho hoàng hậu chuyên quyền. Kẻ hạ thần nói ra thật có nguy hiểm đến tính mệnh, nhưng vì hoàng hậu hỏi đến, cho nên kẻ hạ thần bất đắc dĩ mà phải tâu như vậy.
Phi Giao hoàng hậu ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi cười mà phán:
- Mã Thuận càn rỡ như thế, mà các ngươi đều không tâu thế thì các ngươi cũng không tránh khỏi tội ẩn nặc.

o0o
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-23 15:52:39ct.ly>
Hồi thứ Mười Một
MÃ THUẬN PHỤNG MỆNH VÂY HỮU CUNG
PHI GIAO SAI NGƯỜI DÂNG NGỌC TỶ


Phi Giao hoàng hậu trở về hữu cung, ngẩn người ngồi nghĩ, nghĩ thầm:
“Cứ như lời Phương Khâm và các cung phi nói, thì Mã Thuận thật là một đứa gian ác. Hắn giao thông với Đồ Man Hưng Phục, mượn uy quyền của ta mà chuyên cầm quốc chính, việc sinh sát dữ đoạt, phần nhiều bởi tay chúng mà ra. Ta khác nào như một đứa trẻ con bị chúng lừa dối. Bao nhiêu tội ác, chúng đều đổ cả cho ta. Bây giờ ta khó nghĩ quá! Ta muốn vào Nam nội thú tội với Thái hậu nhưng lại sợ lưỡi gươm năm trước, ai kẻ đỡ cho.” Phi Giao Hoàng hậu nghĩ vậy, truyền đòi các nội giám và các cung nữ vào để tra hỏi. Bây giờ cửa cung mở rộng, hai bên có hai đội nữ binh đứng sắp hàng, gươm tuốt sáng quắc. Phi Giao Hoàng hậu liền phán hỏi:
- Mã Thuận từ xưa đến nay làm những điều gì trái phép, các ngươi phải nói cho thật, nếu kẻ nào ấp úng che đậy, ta sẽ bầm nhừ người ra.
Mọi người nghe nói, nét mặt tái mét, ai nấy nhìn nhau, đều run sợ cầm cập mà không biết nói thế nào. Nói ra thì e Mã Thuận, mà không nói thì tính mệnh cũng khó toàn. Phi Giao hoàng hậu quát to lên mà rằng:
- Hỏi sao không nói!
Bấy giờ có tên nội giám Thẩm Nhân, vốn người can đảm, mới liều mình quì xuống mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Hoàng hậu bậc thánh minh, hà tất phải hỏi cho lắm. Mã Thuận nguyên vẫn giao thông với Đồ Man Hưng Phục, mà uỷ quyền cậy thế, để võng lợi thủ tài. Chúng làm nhiều điều càn rỡ lạ thường, nhưng các quan văn võ triều thần thấy chúng được tin dùng, cho nên không dám nói. Nay hoàng hậu hỏi đến, kẻ hạ thần liều chết tâu bày. Chẳng những thế mà thôi, chúng còn có ý dòm dỏ ngôi trời, sinh lòng phản nghịch nữa.
Phi Giao hoàng hậu không nghe nói thì thôi, khi đã nghe nói thì bội phần căm tức, như ngây như dại, cứ ngồi ngẩn người ra. Phi Giao Hoàng hậu nghĩ quẩn lo quanh, chỉ phàn nàn về nỗi bấy lâu đã quá tin mà nghe lời Mã Thuận. Bỗng thấy cung nữ quì dâng tờ biểu, mở xem lại càng kinh hồn. Nguyên tờ biểu ấy của An Quốc tướng quân tâu về việc nghe tin thượng hoàng sắp về, vậy phải rút quân cấm binh ra để phòng giữ kinh thành và sửa soạn lễ nghênh tiếp. Trong khi quyền biến, không kịp tâu trước, xin hoàng hậu xá tội cho.
Phi Giao hoàng hậu xem xong, thở dài mà than rằng:
- Thế này thì quả nhiên là chúng sinh lòng phản nghịch rồi! Giả sử Thượng hoàng có về triều thật nữa, cũng không cần phải rút cấm binh ra để phòng giữ kinh thành. Đồ Man An Quốc không đợi chiếu chỉ mà dám rút quân cấm binh, còn coi ai ra gì nữa. Mã Thuận chính là đứa đồng đảng với hắn, chuyến này chưa biết chúng xoay ra thế nào. Đã đành rằng ta ta lầm mà quá tin, nhưng chúng cũng tỏ ra bội bạc. Âu là sáng sớm mai ta ra ngự triều, rồi sẽ tùy cơ ứng biến.
Đêm hôm ấy, Phi Giao Hoàng hậu ruột tằm bối rối, ngủ không yên giấc, cứ tựa gối mà thở ngắn than dài. Các cung nữ đứng hầu hai bên, lặng nghe trống điểm canh năm, Phi Giao Hoàng hậu trở dậy, lượt không muốn chải, gương chẳng buồn soi, cũng không ngự ăn lót dạ như trước. Bỗng thấy tên nội giám hoảng hốt quì tâu:
- Muôn tâu Hoàng hậu! Nguy cấp đến nơi rồi! Ngoài cửa Ngọ Môn quan quân đứng sắp hàng, đều nói để nghênh tiếp Thượng hoàng về triều, lại có một toán quân vào nam nội rước Thái hậu.
Nói chưa dứt lời thì có mấy tên nội giám nữa chạy đến vừa khóc vừa tâu rằng:
- Muôn tâu Hoàng hậu! An Quốc tướng quân đem quân vây kín triều đường, tuyên ngôn vào thỉnh Thái hậu để lập giám quốc. Quan thượng thư họ Tần không chịu theo thì An Quốc tướng quân đã truyền chém. Mã Thuận lại sắp đem quân tới đây xin Hoàng hậu định liệu.
Phi Giao Hoàng hậu thở dài mà rằng:
- Ta lầm mà dùng phải đứa gian, bây giờ hối lại làm sao cho kịp!
Nói xong, liền gọi tên cung nữ Nguyệt Anh đến mà khẽ bảo rằng:
- Nguyệt Anh con ơi! Con hầu hạ ta gần mười năm nay, từ trước chí sau chưa hề có điều gì trái ý, ta chắc con là người có lòng trung thành với ta. Nay ta chỉ nhờ con một việc; con đem cái ấn ngọc tỷ này đệ trình Thiên tử.
Tên cung nữ Nguyệt Anh giắt cài ấn ngọc tỷ rồi gạt nước mắt đi ra. Phi Giao Hoàng hậu lại gọi Thẩm Nhân mà bảo rằng:
- Thẩm Nhân con ơi! Hôm nay Mã Thuận vào đây, tất hắn làm càn, con nên cùng đội nữ binh gia sức chống lại, hễ giết được Mã Thuận thì ta không dám quên công, Thẩm Nhân con ơi! nếu con không chịu giết Mã Thuận thì con đâm ta một nhát để ta chết đi cho rồi! Khi Thái hậu lâm triều, con sẽ vì ta mà trần tấu rằng bây lâu cái tội tàn dân hại nước, ta xin nhận cả, bất tất liên lụy đến ai.
Phi Giao Hoàng hậu nói xong hai hàng nước mắt ròng ròng chảy xuống. Thẩm Nhân lạy dập đầu rồi khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Xin hoàng hậu vững lòng, trời nào nỡ phụ người ngay! Mấy lời hoàng hậu dặn bảo, kẻ hạ thần xin vâng mệnh. Nay mai thượng hoàng về triều, kẻ hạ thần chắc rằng hoàng hậu cũng không hề chi vậy.
Phi Giao hoàng hậu gạt nước mắt mà bảo rằng:
- Thượng Hoàng chưa về đâu! Đấy là gian mưu của chúng phao ngôn để làm mê hoặc nhân tâm đó. Việc Thái hậu ra lâm triều thì hoặc có lẽ. Lòng ta dẫu minh bạch, nhưng nay cũng khó mà giải bày.
Nói xong, liền nghiêm nét mặt ngồi đợi Mã Thuận. Bỗng nghe tiếng người xôn xao kéo đến, Mã Thuận đi đầu, tay cầm thanh bảo kiếm, sau lưng lại có mấy trăm nội giám đi theo, mỗi người cũng đều cầm một thanh gươm tuốt trần.
Mã Thuận vừa bước lên trên thềm thì đội nữ binh quát mắng rằng:
- Có Hoàng hậu ngồi trên, sao nhà ngươi không làm lễ triều kiến, lại dám ngang nhiên như vậy!
Mã Thuận nói:
- Ngày nay Thượng hoàng sắp về triều, kẻ hạ thần phụng chỉ Thái hậu đến truyền cho lệnh bà phải tự vận. Lệnh bà tự vận đi thì sau này khỏi phục, kẻo đường đường một ngôi Hoàng hậu, lại phải đem ra tra hỏi tội lỗi trước sân rồng. Vả Thượng hoàng về triều quyết không thể nào tha thứ cho lệnh bà được, vậy nên Thái hậu mở lòng nhân đức, sai kẻ hạ thần đem thanh bảo kiếm này vào dâng lệnh bà.
Phi Giao hoàng hậu cười nhạt mà phán rằng:
- Ta có tội thật, nhưng tội ấy chẳng hay tự ai xui giục cho nên! Mã Thuận! Mày dám mạo lời thái hậu, đến hại ta đó chăng, vị tất đã hại nổi! Nếu quả Thái hậu lâm triều, muốn biếm truất ta thì tất đã có giáng chỉ. Khi nào một ngôi Hoàng hậu cầm quyền trong nước bấy nhiêu năm trời, mà bây giờ lại chịu chết một cách mập mờ thế này!
Mã Thuận nói:
- Thái hậu khẩu truyền cho kẻ hạ thần như vậy, vì sợ khi giáng chỉ biếm truất mà lệnh bà dám kháng cự thì lại thêm tội “Diệt tộc” đó thôi!
Phi Giao Hoàng hậu nghe đến câu ấy, nổi giận mà rằng:
- Mã Thuận! Mày dám nói hỗn với ta phải không! Mày nguyên là một đứa tôi tớ hèn hạ, ta cất nhắc cho mày được chưởng quản sáu cung, lại hàng ngày ban thưởng các đồ châu báu. Không ngờ mày tham lam không chán, ăn bớt tiền công, buôn tước bán quan, một năm bao nhiêu là của hối lộ. Mày giao thông với Đồ Man Hưng Phục, dám manh lòng phản nghịch, mượn tiếng nghênh tiếp thượng hoàng để biếm truất ta. Ta bảo thật cho mày biết; hễ khi thượng hoàng về đây thì tội ác của mày cũng khó lòng mà tránh thoát!
Mã Thuận nói:
- Kẻ hạ thần phụng chỉ Thái hậu tới đây, có lẽ lại về không hay sao! Lệnh bà đừng tiếc đời nữa, mới yên được lòng dân. Chẳng lẽ phạm tội ác tày trời mà còn được nghiễm nhiên ngồi làm Hoàng hậu! Lệnh bà dẫu có ơn riêng với kẻ hạ thần thật, nhưng kẻ hạ thần đành phụ lệnh bà còn hơn phụ nước. Xin lệnh bà mau mau tự vận, chớ khiến cho bọn tôi tớ lại phải động tay.
Phi Giao Hoàng hậu nổi giận, đập bàn mà quát mắng rằng:
- Đứa gian nô Mã Thuận kia! Mày tưởng bây giờ ta không giết được mày đó chăng! Nữ binh đâu! Đâm chết Mã Thuận cho ta!
Bọn nữ binh nghe lệnh, đều tuốt gươm ra. Mã Thuận vội vàng giơ kiếm đỡ và gọi bọn nội giám kéo lên. Hai bên xung đột nhau, bọn nữ binh thắng, Mã Thuận thấy cơ nguy cấp, toan lẻn ra cửa cung, không ngờ Thẩm Nhân lại cắp ngọn giáo đứng chắn ở đấy. Mã Thuận luống cuống quay trở vào thì giẫm phải đống tử thi, đầm đìa những máu. Phi Giao Hoàng hậu lại quát to lên rằng:
- Chúng bay chớ để cho đứa gian nô Mã Thuận nó trốn thoát!
Nữ binh nghe lệnh, tức thì xúm lại, Thẩm Nhân ở ngoài tiến vào, cầm ngọn giáo đâm thẳng vào đùi Mã Thuận. Mã Thuận ngã lăn quay ra đấy. Nữ binh toan giơ gươm chém thì Thẩm Nhân gạt tay mà bảo rằng:
- Chớ nên giết hắn! Để sau này còn phải lấy cung!
Bấy giờ Thẩm Nhân liền nắm lấy Mã Thuận mà trói chặt lại. Bọn nội giám đi theo Mã Thuận, còn sót người nào đều táng đởm kinh hồn. Thẩm Nhân quì xuống tâu Phi Giao Hoàng hậu:
- Muôn tâu Hoàng hậu! Nay Hoàng hậu đã bắt được đứa đầu đảng, còn bọn tùy tòng, xin rộng ơn mà xá tội cho. Vì chúng sợ uy Mã Thuận bất đắc dĩ phải theo, chức thực không dám có lòng phản nghịch.
Phi Giao Hoàng hậu ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Đáng lẽ ta giết tất cả, nhưng ta nể lời nhà ngươi mà tha chết cho, bắt chúng phải khiêng bỏ các tử thi đi. Còn Mã Thuận hãy đem giam vào một chỗ, phái người canh giữ cho cẩn thận.
Phi Giao Hoàng hậu ghi công bọn nữ binh vào sổ, vừa toan sai người đi dò la tin tức vua Anh Tôn thì bỗng thấy Nguyệt Anh hoảng hốt chạy đến, nét mặt tái mét. Phi Giao Hoàng hậu vội hỏi:
- Báo tin gì thế? Hay là Thánh thượng cũng bị nạn đó chăng!
Con Nguyệt Anh miệng thở hồng hộc, hồi lâu định thần mới quì xuống mà tâu rằng:
- Muôn tâu Hoàng hậu! Con giắt cái ấn ngọc tỷ sang đến vườn Thượng uyển thì trông thấy thiên binh vạn mã đã vây kín trong ngoài. Trời ơi! Con chẳng còn hồn vía nào nữa, lại phải chạy về đây để trình hoàng hậu.
Tâu xong, lại cầm cái ấn ngọc tỷ, để lên trên long án. Phi Giao Toàng hậu nghe nói, nét mặt rầu rĩ mà phán rằng:
- Ngày nay tất là An Quốc tướng quân sinh lòng phản nghịch. Định biếm truất thiên tử và ta đây. Mã Thuận tới cung ta, ta còn bắt sống được, chứ thiên tử địch sao cho nổi với quân cấm binh. Bấy giờ ta muốn đem binh sang cứu, lại sợ Thái hậu đã lâm triều rồi chăng. Mà sai người đi dò la thì không được tin đích thực. Chi bằng ta đem cái ấn ngọc tỷ này vào nam cung mà nộp Thái hậu.
Phi Giao Hoàng hậu nghĩ quanh nghĩ quẩn, cầm cái ấn ngọc tỷ mà ngắm nghía, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Phi Giao Hoàng hậu vừa khóc vừa nói:
- Ngọc tỷ ơi! Nhà ngươi làm bạn cùng ta trong tám năm nay, khiến cho uy quyền ta lừng lẫy khắp thiên hạ. Ta dẫu không dám khoe đức chính, nhưng cũng chưa đến nỗi hoang tàn, không ngờ ngày nay đất lở trời nghiêng, gặp sự nguy biến này, âu là ta lại đem nhà ngươi mà nộp trả Thái hậu.
Phi Giao Hoàng hậu lấy tay gạt nước mắt, rồi lại ngắm nghía cái ngọc tỷ, quyến luyến mãi không nỡ rời tay. Nguyệt Anh lại quì gần trước mặt mà tâu rằng:
- Muôn tâu Hoàng hậu! Xin Hoàng hậu mau mau trao cái ngọc tỷ cho tiện tỳ này, kẻo lại nghe có tiếng người xôn xao, hình như sắp đến.
Phi Giao Hoàng hậu bất đắc dĩ phải trao cái ngọc tỷ cho Nguyệt Anh. Nguyệt Anh chỉ sợ An Quốc tướng quân trông thấy, vội vàng rón rén lẻn trốn. Nghĩ thầm:
“Vạn nhất Phi Giao Hoàng hậu bị nạn thì cái ngọc tỷ này biết trao cho ai, âu là ta hãy đến nam cung xem sự thể ra làm sao.”
Nguyệt Anh nghĩ vậy, dời gót đi ngay.
Khi tới nam nội trông thấy bọn các quan văn võ triều thần, có quan Nguyễn tướng công đi đầu, đều đứng sắp hàng ở ngoài cửa cung. Nguyệt Anh nghĩ thầm:
“Đây tất là các quan văn võ triều thần vào rước thái hậu ra ngự triều, nhưng không có ngọc tỷ thì lấy chi mà tuyên bá quốc chính. Ngày nay hai Quốc cữu đã mở cửa cung vào rước Thái hậu thì đại sự tất thành.”
Bấy giờ mười vạn cấm binh đại nội ở chốn giáo trường, Triệu Phượng cùng Triệu Lân ở trên trướng đài xuống, bắn mấy phát đại pháo, rồi cùng các quan triều thần đi vào nam nội. Khi đến cửa ngoài, hai quốc cữu gõ cửa gọi, có tên lão nội giám chạy ra mở cửa. Tên lão nội giám liền ngẩn mặt nhìn mà rằng:
- Trời ơi! Đã mấy năm nay tôi không được trông thấy hai Quốc cữu, chẳng hay hôm nay hai Quốc cữu vào đây có việc chi?
Triệu Phượng nói:
- Hôm nay ta có một việc rất khẩn yếu, cần phải mật bẩm với thân mẫu ta.
Triệu Phượng vừa nói vừa đi thẳng vào. Triệu Lân cũng vào. Sau lưng lại có một bọn gia tướng đi theo. Tên nội giám quát to lên mà rằng:
- Các người theo hầu phải đứng cả lại. Đây là nơi cấm địa, chớ có vào liều.
Mọi người cứ lũ lượt kéo vào. Vào đến cửa trong, hai Quốc cữu ngẩng lên trông, bỗng ứa nước mắt khóc. Số là ở phía trên cửa mạng nhện giăng đầy, mà giữa cửa lại có một cái khóa đồng lớn, đã rỉ hoen. Còn phía chung quanh dưới chân tường đá thì cỏ mọc rậm rạp, dơ bẩn lạ thường. Hai Quốc cữu trông thấy, ruột đau như cắt. Các gia tướng theo sau, cũng đều thở ngắn than dài mà bảo nhau rằng:
- Thái hậu cùng Mạnh vương phi trong mấy năm nay sao xiết nỗi âu sầu buồn bã.
Triệu Phượng càng nghĩ càng căm tức trong lòng mà phàn nàn rằng:
- Phi Giao không phải là giống người! Dẫu kẻ tội tù bị giam trong ngục, cũng còn phải cho người nhà vào thăm nom và đưa nước, huống chi Thái hậu và vương phi mà nỡ nào lại nghiêm cấm thư thế này!
Nói xong, liền rút gươm ra chém cái khóa đồng, nhưng nào có chuyển. Triệu Lân nhìn cái khóa rồi nói với Triệu Phượng rằng:
- Thân huynh ơi! Thân huynh chớ chém mà quằn lưỡm gươm. Cái khóa này lâu ngày rỉ quyện, đã ăn liền với cánh cửa, xin thân huynh dùng búa mà bổ mới được.
Nói xong, truyền gia tướng lấy búa. Triệu Lân tay cầm cái búa ra sức bổ mạnh, bấy giờ cái khóa mới gãy. Gia tướng mở toang cửa tung ra, các nội giám ở trong đều run sợ cầm cập. Hai quốc cữu rảo bước vào thì thấy cung điện vẫn được trang hoàng sạch sẽ, ngoài sân không hề có cỏ mọc rêu phong. Các cung nữ đang quét dọn, trông không ra cảnh tượng một nơi bị nghiêm cấm lâu ngày vậy.
Hai quốc cữu hỏi:
- Mạnh vương phi ngồi đâu? Các ngươi vào bẩm giúp ta.
Bọn nội giám đều chú ý nhìn, mới nhận ra quốc cữu, liền hỏi:
- Trời ơi! Thế ra hai vị quốc cữu đây! Trong mấy năm nay, bây giờ chúng tôi mới lại được trông thấy. Chẳng hay hai Quốc cữu làm thế nào hôm nay lại vào tới đây được?
Triệu Lân nói:
- Các ngươi cứ vào bẩm, thân mẫu ta đã biết rõ cả rồi!
Các nội giám mừng rỡ, khoa tay múa chân, chạy vào phi báo. Hai Quốc cữu chắp tay đứng ở dưới thềm để đợi Mạnh vương phi. Bỗng thấy Mạnh Vương phi ở trong bước ra, hai Quốc cữu vội vàng chạy đến, vừa khóc vừa sụp lạy.
Mạnh Vương phi cũng khóc mà bảo rằng:
- Các con ơi! Ngày nay mẹ con ta gặp gỡ, rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao! Hôm trước chim quạ đưa thư của các con vào đây, Thái hậu vẫn bảo là vị tất đã thành sự. Ngày nay quả nhiên các con làm được nên việc, Thái hậu cùng ta đều mừng rỡ xiết bao! Việc trong mấy năm, chẳng hỏi chi vội bây giờ con hãy kể qua những việc trong mấy hôm nay.
Hai Quốc cữu gạt nước mắt, rồi đứng dậy thuật chuyện đầu đuôi cho Mạnh vương phi nghe. Mạnh vương phi thở dài mà bảo rằng:
- Các con ơi! Thân phụ các con thuở xưa cũng là một bậc kỳ tài, mà thành ra lại không bằng các con vậy. Khi nào Thượng hoàng về triều, nên chém vợ chồng ta mà xá tội cho các con.
Mạnh vương phi nói đến đấy, lại càng đau ruột héo gan. Có tên cung nữ chạy đến nói với Mạnh vương phi rằng:
- Dám bẩm vương phi! Thái hậu truyền mời Vương phi và hai Quốc cữu vào để hỏi chuyện.
Mạnh vương phi cùng hai quận chúa vào, trông thấy thái hậu đứng ở trên bảo điện, có ý mong đợi. Mạnh vương phi rón rén bước lên. Thái hậu hỏi:
- Mạnh Lệ Quân em ơi! Hai điệt nhi đâu? Sao em không đưa vào đây để cho hỏi chuyện.
Mạnh vương phi tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Hai tiện nhi có theo vào, nhưng vì là người có tội. Vả lại nam tử, cho nên chưa dám tự tiện bước lên thềm, còn phải đợi lệnh Thái hậu.
Thái hậu thở dài mà rằng:
- Em nghĩ lầm! Phàm trong nhà Hoàng Phủ bây giờ, ai không phải là người có tội, mà người có tội to nhất tức là ta đây.
Mạnh vương phi vâng mệnh gọi hai quốc cữu lên. Hai quốc cữu bước lên trên thềm, cúi đầu sụp lại. Thái hậu trông thấy nửa thương nửa mừng mà phán rằng:
- Xót thương cho hai điệt nhi,ngày nay đều đã trưởng thành, mà lại gặp lúc nước nhà nhiều nỗi gian truân, đến nỗi cha mẹ cách xa, vợ con không có. Ta nghĩ đến lúc nào trong lòng ta lại thêm áy náy.
Triệu Phượng và Triệu Lân quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Thần đẳng tội ác thâm vọng, ơn vua lộc nước bấy lâu chỉ đành ngồi ăn hại, không nghĩ được một kế gì. May sao có con chim quạ mang bức thư của thân mẫu thần đẳng đến, bấy giờ thần đẳng mới y kế thi hành. Một là nhờ hồng phúc của Thái hậu, hai là đứa gian tặc kia đã đến ngày tận số, cho nên mới được chóng thành công.
Triệu Phượng và Triệu Lân lại thuật rõ đầu đuôi sự tình để thái hậu nghe. Thái hậu mừng mà phán rằng:
- Nếu vậy hay! Ta lấy làm mừng lắm, không phải mừng về nỗi ngày nay ta được lâm triều, mà cũng không phải mừng về nỗi ta đã biếm truất được con Phi Giao đâu, chỉ mừng rằng nhà Hoàng Phủ ta giữ toàn được hai chữ “Trung, hiếu”. Đến khi Thượng hoàng về triều thì công này có thể chuộc được tội kia vậy. Còn việc lâm triều ngày nay, ta lấy làm khó nghĩ quá. Đã đành rằng con Phi Giao tội nên biếm truất, nhưng muốn biếm thiên tử, tất phải đợi khi Thượng hoàng về. Nay lập giám quốc, tôi còn Hoàng tử nhỏ kia, ta biết xử trí ra làm sao? Ta nay dâũ chưa phải là người góa chồng, nhưng chiếc thân vò võ ở chốn nam cung này, có con tưởng cũng như không. Ngaỳ nay ta lâm triều, cầm quyền trong nước thì còn trị tội con Phi Giao làm sao cho được. Vả ta cũng là một người có tội, nếu ta lâm triều, e các quan văn võ triều thần không chịu phục lòng. Chi bằng ta hãy cho con Phi Giao được đổi lỗi xưa mà hết sức phò tá thiên tử.
Thái hậu nói chưa dứt lời thì Mạnh Lệ Quân vương phi liền quì ở bên cạnh mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Sao thái hậu nói câu ấy. Ngày nay vợ chồng thần thiếp dẫu trong thấy con Phi Giao, cũng không khi nào nhận nó làm con nữa. Bấy lâu chỉ vì Thái hậu còn đang bị bệnh, vậy nên thần thiếp phải gia sức điều trị cho được bình phục như thường. Hôm trước con chim quạ gởi thư, thần thiếp đã tâu rõ với Thái hậu, cũng là một kế bất đắc dĩ phải thi hành. Bây giờ muốn cho nước nhà được an toàn, phải biếm truất Thiên tử và Hoàng hậu. Cha con Đồ Man Hưng Phục xưa nay vốn có lòng phản nghịch, nếu không dùng kế ấy thì đại sự khó thành. Muôn tâu thái hậu! Xin thái hậu chớ nghĩ tình riêng, tội ác con Phi Giao thật không thể nào mà tha thứ được.
Mạnh Lệ Quân vương phi nói xong, lại phục xuống đất mà khóc. Triệu Phượng và Triệu Lân cũng khóc. Thái hậu nói:
- Đã đành rằng thế, nhưng để ta còn xét xem sự tình trong triều ra làm sao.
Bỗng thấy nội giám quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Các quan văn võ triều thần xin mời Thái hậu lâm triều. Phi Giao Hoàng hậu ngày nay khí thế lại rất dữ dội, hiện đã giết chết Mã Thuận, còn một bọn nội giám đi theo Mã Thuận đều thịt nát như rây, Phi Giao Hoàng hậu lại nói:
-“Dẫu thượng hoàng về đây, cũng khó biếm truất nổi ta. Thái hậu lâm triều, ta đây đã có nữ binh, không việc gì phải lo sợ.”
Thái hậu nghe nói hầm hầm nổi giận, truyền cung nữ lấy nhung phục ra mặc, rồi đập bàn quát mắng mà rằng:
- Ngày nay, thế nào ta cũng phải giết chết con Phi Giao.
Bấy giờ Thái hậu cởi long bào ra, mặc đồ nhung phục vào, mũ ngọc sáng loè, giáp vàng đỏ ối, lại thêm đôi mắt phượng lóng lánh, trông rõ là một vị nữ tướng quân vậy.
Thái hậu gọi nội giám Lăng Mậu đến mà bảo:
- Nhà ngươi truyền cho các quan lui ra, rồi ta sẽ lâm triều.
Các quan văn võ nghe lệnh, sụp lạy lui ra. Thái hậu lên xe ngọc liễn. Trước sau đều có cấm binh đi hộ vệ, Mạnh Lệ Quân vương phi và hai Quốc cữu đi kèm hai bên. Đi được mấy bước thì bỗng có tên cung nữ Nguyệt Anh đón quì mà tâu rằng:
- Muôn tâu Thái hậu! Xin Thái hậu dừng xe cho tiện tỳ này được tâu bày.
Quân hộ vệ quát to lên mà mắng rằng:
- Nhà ngươi ở cung nào mà dám cả gan ngăn trở loan giá, không sợ phạm tội hay sao! Nếu có sự gì oan uổng, sao không kêu với quan nội sử?
Nguyệt Anh khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Tiện tỳ không có sự gì oan uổng cả. Số là hữu cung Hoàng hậu sai tiện tỳ mang ngọc tỷ đến dâng Thái hậu đây.
Thái hậu nghe nói truyền dừng xe lại, rồi gọi Nguyệt Anh đến gần trước xe mà hỏi rằng:
- Hữu cung hoàng hậu sai nhà ngươi đến đây phải không? Nào ngọc tỷ đâu?
Nguyệt Anh lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Tiện tỳ này trước phụng mệnh hữu cung Hoàng hậu đem ấn ngọc tỷ vào dâng Thiên tử, không ngờ khi tiện tỳ đến vườn thượng uyển đã thấy có quân cấm binh vây kín, lại phải quay về nộp trả hữu cung hoàng hậu. Nay hữu cung hoàng hậu lại sai tiện ty đem dâng thái hậu vậy.
Nguyệt Anh đem những lời Phi Giao Hoàng hậu dặn bảo tâu hết cho Thái hậu nghe và dâng cái hộp vàng ngoài bọc gấm rồng, trong có đựng ấn ngọc tỷ. Thái hậu mở xem, trông thấy cái ấn ngọc tỷ vẫn trong suốt không vết, liền động lòng thương xót, bỗng ứa hai hàng nước mắt xuống mà khóc rằng:
- Ngọc tỷ ơi! Từ bấy đến nay, bây giờ ta mới trông thấy mặt người! Bao giờ Thượng hoàng về tới đây, để mà nộp trả Thượng hoàng!
Nói xong, truyền con Nguyệt Anh đi theo để khi lui triều sẽ hỏi tường tất cả mọi sự. Thái hậu đem lời Nguyệt Anh thuật cho Mạnh Lệ Quân vương phi nghe và bảo rằng:
- Con Phi Giao biết như thế thì ta nên xử trí thế nào? Giống hổ lang dẫu dữ, cũng không ăn thịt con, chẳng lẽ ngày nay ta lại ác hơn giống hổ lang hay sao! Mạnh Lệ Quân em ơi! Em hãy nghĩ đi nghĩ lại cho thật kỹ, kẻo đến sau này hối lại không kịp!
Mạnh Lệ Quân tâu rằng:
- Muôn tâu Thái hậu! Việc này quyết không bao giờ hối lại, xin Thái hậu quả đoán mới xong. Khi nào tội ác như con Phi Giao mà lại khoan tha được. Nếu thái hậu còn nghi ngờ thì thần thiếp đã có thảo sẵn một tờ chiếu thư tuyên bá tội ác của con Phi Giao, xin dâng để Thái hậu xem.
Mạnh Lệ Quân liền thò vào trong tay áo lấy ra một tờ chiếu thư, hai tay cầm dâng thái hậu.
Tờ chiếu như sau này:

“Trộm nghe thiên tử là ngôi kiền tượng, quí hồ cương minh; hoàng hậu giữ đức khôn nghi, tất phải nhu thuận. Hữu hoàng hậu kia! Nhan sắc thì yêu diểm như hoa, tính nết lại nóng nảy hơn lửa. Miệng hùm nọc rắn, dạ thú lòng lang. Canh giường há chịu nhường ai, tranh đoạt đích hậu; buông rèm chiếm quyền tự chủ, ngu hoặc quân vưong. Hại kẻ trung lương, trong ngục trăm người oan khổ; cự lời can gián, trước thềm một lão thiệt thòi. Chẳng những chỉ thế mà thôi, lại còn nhiều tội hơn nữa:
Cấm cố thiên tử, ngược đãi cung phi. Làm hại của kho để nuôi đứa nịnh. Nghe lời sàm báng, đem cấm binh vào nam cung; mượn tiếng thuốc thang để giam thân mẫu ở nội điện.
Người đã đến thế ta biết nói sao. May nhờ tổ tông thiêng liêng, lại được triều thần giúp đỡ. Nay ta chủ trương việc nước, hãy tạm lâm triều; hỏi ai chiếm cứ ngôi trời, nên cùng thanh tội. Chỉ vì thiên tử không võ đoán, đến nỗi hữu hậu dám lộng quyền. Theo lệ Thái Giáp(1) thuở xưa, đều đem biếm truất; đợi khi Thượng hoàng về nước, rồi sẽ xử phân.
Mã Thuận kia! Lập kế bày mưu, cậy quyền ỷ thế. Dối vua hại nước, lưỡi gian xiết kể bạo tàn; buôn tước bán quan, túi tham bấy lâu vơ vét. Dẫu tha tử tội, cũng phải u tù. Các quan văn võ triều thần, vì sự cưỡng bách mà trót giao kết với Mã Thuận, ngày nay đều được ân xá.
Còn nhà Hoàng Phủ kia! Đáng lẽ cũng không khỏi tội, nhưng Hoàng Phủ Thiếu Hoa cùng đứa con nhỏ mới lên mười tuổi, đã biết đem nhau đi tìm Thượng hoàng thì tấm lòng trung thành ấy xưa nay ít có, không gọi là đảng phản nghịch được. Khi nào Thượng hoàng về, bấy giờ sẽ lấy công chuộc tội.
Gặp lúc nước loạn, nên gặp vua hiền. Nay Hán vương và Triệu vương đều xa vắng cả. Trong bọn Tôn thất có người con thứ hai của Đồ Man Hưng Phục là Đồ Man An Quốc kia, hãy cho tạm cầm quyền chính, đợi đến khi Thượng hoàng về, nhưng phàm quân quố đại sự, phải tâu trước cho bản cung biết. Các quan văn võ triều thần, không thượng hoàng về, sẽ bàn đến ân điển, thế nào cũng có xá thuế cho thiên hạ trong ba năm.
Than ôi! Trời đã không tựa, vận nước lắm sự gian nan; sinh chẳng gặp thời, việc nhà nhiều điều bói rối. Thần dân trong nước, cũng nên lượng khổ tâm cho bản cung vậy. Khâm thử!”


Thái hậu xem xong thở dài mà phán rằng:
- Mạnh Lệ Quân em ơi! Cứ như lời em nói thì con Phi Giao chết đã đáng tội!
Khi tới triều đường, hai quốc cữu lên trước, các nội giám cắp gươm đứng giàn hai bên. Thái hậu lên ngồi trên bảo tọa. Cái ngọc tỷ bày ở trước long án. Mạnh Lệ Quân vương phi bấy giờ cũng đeo một thanh bảo kiếm đứng cạnh. Bên tả có Nguyễn Long Quang tướng công, bên hữu có Đồ Man An Quốc tướng quân, còn các quan văn võ triều thần đều phủ phục ở dưới sân rồng mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Thần đẳng bấy lâu ăn hại lộc nước, thật là tử tội đã cam. Ngày nay nghe tin Thượng hoàng sắp về, dân gian phao ngôn, chưa biết rằng thực hay hư, vậy thần đẳng phải rước Thái hậu ra ngự triều để chủ trương việc phế lập.
Các quan triều thần tâu xong thì Nguyễn tướng công cũng khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu Thái hậu! Thiên tử chỉ vì nhân nhu thái quá, mà đến nỗi gây ra sự biến này. Ngày nay cũng chưa nên lập tân quân vội, hãy xin tạm lập giám quốc để quyền giữ việc nước. Thái hậu là bậc thánh minh, dám xin quyết đoán thi hành.
Thái hậu nghe lời tâu, gật đầu mà phán rằng:
- Nguyễn tướng công ơi! Lời tướng công nói chính hợp ý ta. Nhưng còn bảo rằng thiên tử nhân nhu thái quá, chứ không điều gì thất đức thỉ quả là tướng công có ý a hộ cho thiên tử mà thôi. Ai lại đường đường làm ngôi thiên tử, chủ trương thiên hạ, cứ bó tay ngồi ở trong cung như một đứa trẻ con. Như thế thì dẫu ta đây là mẹ, cũng không dung được, còn trách chi con Phi Giao! Một ông vua chỉ say đắm vui chơi, bao nhiêu chính quyền đều nghe mệnh ở tay hữu cung, sao gọi là vô tội được. Nguyễn tướng công ơi! Năm trước thượng hoàng nhân ngày nguyên tiêu bỏ đi, không hiểu là vì cớ gì khiến cho ta luống những nghĩ suy mà thành bệnh, tuổi già sức yếu, không ngờ còn có ngày nay! Nay tướng công và các quan triều thần đã hết lòng vì nước, thỉnh ta ra đây để tạm lập giám quốc, vậy ta cũng ưng thuận, nhưng chính sự trong nước, còn phần nhiều trông cậy ở các quan triều thần. Bây giờ các quan lặng nghe mấy lời trong chiếu thư sắp tuyên đọc ra đây, sẽ biết khổ tâm của ta vậy.
___________

(1)Thái Giáp: là cháu vua Thành Thang, vừa lên ngôi đã phạm nhiều lầm lỗi, ông Y Doãn phải biếm truất, cho ra trông coi mộ tổ để hối lỗi. Sau vua sửa đổi, lại được đón về (chú của NXB)
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-23 19:47:06ct.ly>
hồi thứ 11b

Nói xong, truyền nội giám đem tờ chiếu thư ra tuyên đọc. An Quốc tướng quân không hiểu ý tứ trong tờ chiếu thư, thấy tạm lập mình làm giám quốc thì lấy làm vui sướng. Các quan văn võ triều thần đều lạy dập đầu mà chúc câu “Thái hậu vạn tuế! Vạn vạn tuế!”
Thái hậu lại truyền gọi Nguyễn tướng công lại gần trước mặt mà khẽ dụ rằng:
- Nguyễn tướng công ơi! Con Phi Giao vừa mới sai người dâng nộp cái ấn ngọc tỷ này, âu là ngày nay ta cứ thu nhận.
Nguyễn tướng công tâu rằng:
- Cái ngọc tỷ này là đồ chí bảo của thiên tử, nay lập giám quốc, hạ thần thiết tưởng không được phép dùng, chỉ nên lưu để ở trong cung thái hậu.
Thái hậu gật đầu, truyền quan Hàn lâm học sĩ phải lục một đạo chiếu thư để tuyên đọc cho thiên tử và Phi Giao biết, lại ban thị khắp trong thiên hạ. Thái hậu toan sai nội giám phụng chiếu thư đem đi, nhưng sợ Phi Giao kháng cự hoặc sinh sự làm càn chăng, mà sai ngoại quan lại e có điều bất tiện. Thái hậu còn đang ngẫm nghĩ thì Mạnh Lệ Quân vương phi quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Việc đem tờ chiếu thư ấy đến tuyên đọc cho Phi Giao, xin thái hậu cứ sai thần thiếp.
Thái hậu mừng rỡ mà phán rằng:
- Mạnh Lệ Quân em ơi! Việc này em chịu nhận đi thì thật là hay lắm. Nhưng còn người theo hầu, chưa biết chọn ai.
Triệu Phượng và Triệu Lân cũng quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu Thái hậu! Chung quanh hữu cung đều có cấm binh vây kín, cũng tất phải thần đẳng mới vào qua được, vậy xin Thái hậu sai thần đẳng theo thân mẫu đến hữu cung là tiện việc hơn.
Thái hậu liền truyền dụ rằng:
- Tờ chiếu thư này giao cho Mạnh Lệ Quân đem đến hữu cung, còn Triệu Phượng và Triệu Lân thì đi hộ vệ.
Mạnh Lệ Quân Vương phi phụng mệnh ra đi, trước mặt có hai tên cung nữ cầm cờ tiết. Khi đi tới nơi, cửa cung đóng chặt, tiêu điều lạnh lẽo, trông thật có vẻ bi thương. Mạnh Lệ Quân vương phi nghoảnh lại bảo Triệu Phượng và Triệu Lân rằng:
- Hai con nên mau mau vào trong vườn thượng uyển thỉnh thiên tử ra đây.
Hai quốc cữu vâng mệnh, nhưng lại đồng thanh và nói với Mạnh Lệ Quân vương phi rằng:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu vào đây cũng nên phải cẩn thận đề phòng mới được!
Mạnh Lệ Quân vương phi lại bảo rằng:
- Ngày trước khác, bây giờ khác, hai con không can chi mà phải lo ngại!
Nói xong, cầm cờ tiết gõ cửa cung mà gọi. Gọi đã hồi lâu mới thấy ở trong cung có người chạy ra hỏi rằng:
- Có phải chiếu thư của thái hậu ban đến đó không? Lệnh bà chờ đã lâu lắm!
Bỗng thấy cửa cung mở rộng, có mấy tên nội giám chạy ra. Mấy tên nội giám trông thấy Mạnh Lệ Quân vương phi , liền chắp tay cúi chào, rồi chạy vào phi báo để cho Phi Giao biết. Mạnh Lệ Quân vương phi theo vào nội cung thì thấy ngôi bảo tọa để không, các cung nữ đứng chung quanh đều ứa hai hàng nước mắt. Hồi lâu, bỗng thấy Phi Giao ở phía trong bước ra, làn thu thủy nét xuân sơn, vẫn không hề giảm kém năm xưa chút nào vậy. Mạnh Lệ Quân vương phi trông thấy Phi Giao xót tình mẹ con, cũng hơi áy náy trong lòng, chiếu thư vẫn cầm ở tay, mà chưa biết nói thế nào cho được. Bỗng nghe có vua Anh Tôn đến, Mạnh Lệ Quân vương phi mới đứng ra giữa bảo điện, vua Anh Tôn và Phi Giao sụp lạy hai bên. Mạnh Lệ Quân ứa nước mắt khóc mà tuyên đọc tờ chiếu thư. Vua Anh Tôn và Phi Giao cúi đầu lặng nghe. Khi tuyên đọc xong, vua Anh Tôn và Phi Giao đứng dậy, Mạnh Lệ Quân đặt tờ chiếu thư xuống, lại toan sụp lại vua Anh Tôn để tạ tội. Vua Anh Tôn cúi đầu mà thưa rằng:
- Có đâu tôi dám thế, bây giờ tôi không phải là thiên tử, lại tức là cháu ngoại sanh vậy.
Phi Giao đến gần trước mặt Mạnh Lệ Quân vương phi rồi ôm lấy mà khóc:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu vốn có lòng nhân từ, xin thân mẫu thương lấy con. Con nghe những lời trong chiếu thư nói thì con dẫu chết cũng đáng tội. Nay con có một việc này muốn nhờ thân mẫu tâu thái hậu, xin cho thiên tử cùng ở với con một nơi. Con dẫu thừa ơn thiên tử trong bấy nhiêu năm trời, nhưng vẫn một mình vò võ ở riêng một cung, chưa được mấy ngày sum họp. Xin thân mẫu xót tình mẹ con mà giúp cho việc ấy.
Vua Anh Tôn cũng ứa nước mắt khóc mà nói với Mạnh Lệ Quân vương phi rằng:
- Cữu mẫu ơi! Tiện sanh đã phạm tội bất hiếu thì xin tâu thái hậu đem chính pháp đi, hà tất phải đợi đến khi thượng hoàng về. Cữu mẫu ơi! Ngày nay dẫu vì tình riêng mà khoan tha, nhưng tiện sanh cũng chẳng còn mặt mũi nào mà trông thấy hai thân nữa. Thôi thì bây giờ xin lập tân quân đi, hà tất phải lập giám quốc.
Nói xong, lại giẫm chân mà thở dài, Mạnh Lệ Quân vương phi động lòng thương xót, không thể chịu được, mới khóc òa lên một tiếng thật to mà bảo Phi Giao rằng:
- Phi Giao con ơi! Ta không hiểu cớ sao năm xưa con lại ngu ngốc như thế! Con quá tin lời đứa gian thần Mã Thuận mà khiến cho thiên tử mang tiếng bất hiếu, ngày nay dẫu hối cũng chẳng kịp nào. Thân phụ con còn đang đi tìm thượng hoàng có đem theo một đứa con nhỏ, cũng chưa biết bao giờ mới về. Bây giờ thiên tử cùng con lại bị giam cấm thì thái hậu và ta đây đều phải đứt ruột héo gan vậy.
Mạnh Lệ Quân vương phi nói xong, lại nức nở khóc hoài. Phi Giao cũng sụt sùi mà rằng:
- Thân mẫu ơi! Việc này dẫu khởi đầu tự con, nhưng gây vạ thực sự là Hùng vương đó. Số là bấy giờ Hùng hậu đòi lại quyền chính trong cung, con có nổi giận, nói quá mấy câu thì Hùng vương liền tuyên ngôn ở chốn triều đường rằng: “Hễ Hùng hậu có xảy ra sự việc gì thì con tất phải đền mạng mà chết theo.” Vì thế con lại càng căm tức, phải lập kế biếm Hùng hậu và giết Hùng vương, không ngờ thái hậu thiên vị tình riêng nỡ rút gươm mà toan chém con. Thiên tử nhân nhu thái quá, bất đắc dĩ con mới phải thay cầm quyền chính. Nếu không lưu phương thì đành di xú, con chỉ quyền nghi để có giết Hùng vương. Khi thân mẫu tới nới con luống cuống không biết làm thế nào thì Đồ Man Hưng Phục và Mã Thuận xui con đem giam cấm thân mẫu ở trong cung. Con tuy lộng quyền chuyên chính thật, nhưng về phần khuê đức thì con vẫn giữ được trọn vẹn, không dám để điếm nhục đến cha mẹ. Thân mẫu ơi! Con còn một điều rất khẩu yếu muốn nói, nghĩa là thái hậu nên ngẫm nghĩ cho kỹ, chớ lập giám quốc làm chi. Vả lập An Quốc tướng quân vị tất đã được như con. Còn như thân thể của con, thân mẫu bất tất phải thương xót, ngày nay dẫu chết đã từng được hưởng thụ bao nhiêu sự vinh hoa phú quý ở đời. Chẳng qua số mệnh bởi trời, Bành Tổ hay Cam La, cũng là một kiếp người vậy.
Phi Giao nói đến câu ấy thì lại nức nở khóc, Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Phi Giao con ơi! Ngày nay con nói ra bao nhiêu, khiến cho ta lại càng chua xót bấy nhiêu. Con nên biết rằng nỗi khổ tâm của Thái hậu dẫu người sắt đá cũng phải động lòng mà sa nước mắt.
Vua Anh Tôn vật mình lăn khóc mà rằng:
- Phụ hoàng ơi! Mẫu hậu ơi! Con đây thật là một đứa đại bất hiếu! Xót thương cho con mấy năm trời nay xa cách cha mẹ, có chẳng chỉ được gặp gỡ trong giấc chiêm bao.
Mạnh Lệ Quân cũng cứ gục đầu mà khóc. Phi Giao trông thấy như dao cắt ruột, không biết làm thế nào, mới khóc mà nói với Mạnh Lệ Quân rằng:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu làm thế nào để cứu thiên tử thì con đây dẫu xả thây trăm mảnh, cũng được cam lòng. Bao nhiêu tội ác, con xin nhận cả, xin thái hậu rộng ơn mà tha thiên tử, kẻo thái hậu chỉ có một mình thiên tử lòng nào lại nỡ dứt tình cho đang.
Mạnh Lệ Quân khóc mà bảo rằng:
- Bây giờ thái hậu cũng không thể quyết định được, tất phải đợi khi thượng hoàng về.
Vua Anh Tôn khóc mà nói rằng:
- Cữu mẫu ơi! Cữu mẫu tâu giúp với mẫu hậu rằng tôi dẫu là tội nhân, nhưng không dám tự liều mình để đau lòng mẫu hậu, xin đợi đến không thượng hoàng về triều, sẽ trị tội bất hiếu của mình.
Vua Anh Tôn nói xong thì Phi Giao nói:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu ra hôm nay, chưa biết hôm nào mới vào đây. Xin thân mẫu cứ yên lòng mà giữ gìn quý thể. Khi nào thân phụ con về thì thân mẫu nói giúp con mấy lời rằng công cù lao con chưa báo đáp, xin đành đợi đến kiếp sau. Còn anh chị em trong nhà, con cũng xin gửi lời từ biệt.
Hai mẹ con dùng dằng chưa nỡ rời tay thì bỗng thấy hai tên nội giám đến mà bẩm rằng:
- Dám bẩm vương phi! Thái hậu đã lui triều, có truyền lệnh gọi vương phi vào ngay để bàn các việc trọng yếu.
Mạnh Lệ Quân vương phi gạt nước mắt mà dời gót quay đi. Khi vào tới nam nội, chỉ tâu Thái hậu là thiên tử cùng Phi Giao sau khi nghe tờ chiếu thư thì cúi đầu lạy tạ, còn bao nhiêu những câu thương tâm đều giấu kín cả, kẻo sợ thái hậu đau lòng.
Triệu Lân đem năm trăm quân giả cách hộ vệ An Quốc tướng quân, nhưng kỳ thực thì canh giữ rất nghiêm mật không cho được giao thông với ai cả. Bấy giờ An Quốc tướng quân thành ra trong tay không có binh quyền, tiếng làm giám quốc nhưng Nguyễn tướng công cùng các quan văn võ triều thần chỉ vái mà không lạy. An Quốc tướng quân vẫn ngồi ở gian trên để tiếp kiến các quan triều thần, các quan triều thần đệ trình các việc khẩn yếu thì An Quốc tướng quân luống cuống không biết phê phó ra thế nào. Nguyễn tướng công lại cầm bút dâng để xin chữ phê. An Quốc tướng quân thẹn đỏ mặt lên mà khẽ nói rằng:
- Tôi nay mới lâm triều, chưa được am thuộc, nhờ tướng công hãy phê phò hộ cho.
Nguyễn tướng công liển nghoảnh lại bảo các quan văn võ trong triều thần rằng:
-Từ nay các quan cứ vào trong nội các làm việc cũng được.
Triệu Lân sai mấy tên gia tướng thân tín phải tra xét những người vào nhà An Quốc tướng quân, thành ra An Quốc tướng quân chẳng khác nào như mọt người tù tội vậy. Bao nhiêu những gia tướng tâm phúc của An Quốc tướng quân thì Triệu Lân sai đi giữ phía ngoài thành, An Quốc tướng quân thân cô thế cô, chỉ đành bó tay mà ngồi một xó. Bỗng nghe báo có hai quốc cữu đến. An Quốc tướng quân nghĩ thầm:
“Ta đợi hắn vào đây để xem hôm nay hắn bảo ra thế nào.”
An Quốc tướng quân ngẩng nhìn thì thấy Triệu Phượng mũ áo đại triều, tay cầm một quyển sổ, nét mặt tươi cười, ở dưới thềm bước lên.
Triệu Phượng nói:
- Tôi xin có lời chúc mừng tướng quân, chẳng bao lâu sắp được lên ngôi đại bảo.
An Quốc tướng quân vội hỏi:
- Quốc cữu thấy thế nào mà lại nói thế. Trong mấy hôm nay, tôi chẳng thấy tin tức gì đáng mừng cả, chỉ biết rằng tôi đã lừa dối thân phụ tôi mà lại tự nhiên trong tay mất hết binh quyền.
Triệu Phượng lại mỉm cười mà bảo rằng:
- Tướng quân chớ nóng nảy! Ngày nay công việc mười phần đã được đến chính phần rồi, chỉ còn một phần nữa là trọn vẹn, xin tướng quân cứ yên lòng chờ đợi một chút. Tướng quân hãy ngồi xuống đây mà xem quyển sổ này.
Nói xong, liền cầm quyển sổ trao cho An Quốc tướng quân. An Quốc tướng quân mở ra xem thì quyển sổ ấy biên chép các đồ vàng bạc châu báu trong nội khố, cả thảy đánh giá mấy mươi trăm vạn. An Quốc tướng quân xem xong, vừa sợ vừa mừng lại hỏi hai quốc cữu rằng:
- Quyển sổ này để làm gì?
Triệu Phượng nói:
- Phàm thiên tử truyền ngôi cho ai, trước hết phải đưa quyển sổ này để giao lại các vàng châu báu trong nội khố. Sáng ngày hôm nay thái hậu đã khen tướng quân là người hiền đức, nên truyền ngôi đại bảo cho tướng quân. Dẫu thượng hoàng về triều, tất cũng đồng ý, hiện đã sai tòa khâm thiên giám chọn ngày để sắp truyền ngôi đó. Việc này mười phần đã xong đến chín phần rồi, nay tướng quân ban yến cho các công thần thì tất anh em tôi sẽ được bữa rượu thật say vậy.
An Quốc tướng quân nghe nói hớn hở vui mừng, vội vàng đứng dậy, chắp tay vái lạy hai Quốc cữu mà rằng:
- Đa tạ hai quốc cữu! Việc này mà thành được, đều là trông cậy ở tài giỏi trí cao của hai quốc cữu đó!
Hai Quốc cữu cáo từ lui ra. An Quốc tướng quân tay cầm quyển sổ đi vào nhà trong. Người vợ chính thất của An Quốc tướng quân là Nguyên thị bấy giờ đang hầm hầm nổi giận, quát mắng om sòm, An Quốc tướng quân nhí nhoẻn mà bảo rằng:
- Phu nhân ơi! Phu nhân chớ nóng nảy! Ta sắp làm Hoàng đế thì phu nhân tức là ngôi Hoàng hậu đó! Ngày nay một quyển sổ biên chép các thứ vàng bạc châu báu trong nội khố đây, phu nhân hãy cầm lấy mà xem.
Nói xong, liền trao quyển sổ cho Nguyên thị, Nguyên thị chẳng thiết xem, giật ngay quyển sổ mà ném xuống đất, rồi nói:
- Gớm cho Mị nương! Mị nương là đứa hoang dâm! Lão tặc đi vắng chưa đầy mấy ngày sao đã điên cuồng đến thế! Cái quần lót của đồ khốn nạn kia, cớ sao lại thấy ở giường nằm Mị nương? Khi tôi trông thấy, nó còn già mồm cãi. Này đây, đã quả nhiên hay chưa!
An Quốc tướng quân còn đang luống cuống thì bỗng thấy trên mắt phía tả bị tát một cái thật mạnh, nước mắt ràn rụa, tưởng chừng như lòi con ngươi ra, An Quốc tướng quân chỉ lấy tay bưng mặt, mếu máo kêu khóc. Nguyên thị quát to lên rằng:
- Muốn sống thì quì ngay xuống đây!
An Quốc tướng quân khúm núm quì xuống. Nguyên thị gọi nữ tỳ lấy roi, trỏ mặt An Quốc tướng quân mà mắng rằng:
- Đồ khốn nạn kia, cứ lừa dối gái này mãi! Nay bảo sắp làm Hoàng đế, kỳ thực chứ tâm ngẩm để tư tình với đứa dâm phụ kia! Bây giờ chưa làm Hoàng đế còn dám to gan như thế, đến khi đã làm Hoàng đế thì trong tam cung lục viện, mặc sức tự do, còn coi tôi ra gì nữa. Thôi thì tôi chẳng thiết làm Hoàng hậu, mà tôi cũng chẳng muốn ai làm Hoàng đế, bây giờ tôi chỉ đánh cho nhừ đòn rồi giam vào một nơi.
Nói xong, liền cầm roi giương thẳng cánh mà quất, quất túi bụi một hồi. An Quốc tướng quân kêu ầm lên rằng:
- Trời ơi! Đất ơi! Tôi đau quá rồi, xin tha cho tôi!
Nguyên thị đánh chán lại nói:
- Đồ khốn nạn kia! Từ nay cấm không được bước chân ra khỏi cửa phòng! Vợ con không thiết, lại chỉ muốn yêu vụng giấu thầm cùng đứa dâm phụ.
An Quốc tướng quân van lạy mà rằng:
- Phu nhân muốn đánh thế nào thì đánh, nhưng xin phu nhân tha cho đừng giam.
Nguyên thị lại nổi giận mà mắng rằng:
- Đồ khốn nạn kia đã không sớ đánh thì tất thế nào cũng phải giam vào một chỗ mới xong.
Nói xong, liền bỏ cái roi xuống, đứng dậy nắm lấy cánh tay An Quốc tướng quân, lôi xềnh xệch vào trong phòng. An Quốc tướng quân vốn có sức khỏe địch nổi muôn người, mà bây giờ trông như con gà con bị người ta kéo lê vậy. Quyển sổ vất tung ra đấy, mấy đứa nữ tỳ nhặt lấy cùng nhau khúc khít cười thầm. Nguyên thị là cháu nữ tôn Thiết Mộc Nhĩ Mông Cổ, người khỏe và giỏi võ nghệ, tính rất hay ghen. Thiết Mộc Nhĩ gả Nguyên thị làm vợ chính thất An Quốc tướng quân, sinh được hai trai và một gái còn bé. Phàm các nữ tỳ, hễ đứa nào hơi cười nói với An Quốc tướng quân thì không bị đánh chết tất cũng nhừ đòn. Công việc trong nhà Đồ Man Hưng Phục lúc trước đều bởi một tay Mị nương chưởng quản. Từ khi có Nguyên thị về làm dâu thì cướp hết quyền chính trong nhà. Nàng Mị nương chỉ vì Đồ Man Hưng Phục đã hứa lời rằng hễ thành đại sự thì xin lập nàng làm hoàng hậu, cho nên nàng cũng cố nhịn. Vả nàng chắc rằng ngôi thái tử sau này là về phần Định Quốc tướng quân, chứ An Quốc tướng quân không dự chi đến. Ai ngờ ngày nay bị Nguyên thị trông thấy cái quần lót, thành ra che đậy không nổi, đành phải giả điếc giả ngây. Dần dần việc vỡ lở ra, Mị nương hổ thẹn quá, đến đêm vào phòng thắt cổ tự tử.
Lại nói chuyện Gia Tường công chúa từ khi Triệu Phượng và Triệu Lân đi khỏi rồi, nghĩ đến công việc nước nhà, luống những ngậm ngùi thương khóc. Hoàng tử dẫu còn nhỏ tuổi, nhưng thấy công chúa thương khóc thì cũng động lòng, liền chạy đến gần, nắm áo Gia Tường công chúa rồi quì xuống đất mà hỏi.
Gia Tường công chúa ngẫm nghĩ hồi lâu, mới gạt nước mắt thuật chuyện đầu đuôi cho hoàng tử biết mình là con Hùng hậu. Nào những khi mới sinh, để nằm trong giỏ thuốc mà xách ở trong cung đem ra. Từ bấy đến nay vẫn nhận làm con. Phi Giao hạ lệnh cấm không cho vào triều kiến tại nam nội. Vì thế nên âu sầu buồn bã mà không cầm nước mắt cho được. Hoàng tử nghe nói, vật mình lăn khóc:
- Tổ phụ ơi! Chẳng hay cớ sao tổ phụ lại nỡ bỏ muôn dặm giang sơn này mà đi cho đành!
Hoàng tử lại nói với Gia Tường công chúa rằng:
- Công chúa nuôi nấng con trong bấy nhiêu năm trời, quản bao nhọc nhằn, thật là coi con cũng như con đẻ vậy. Con có biết đâu sự thế như thế, thảo nào xưa nay công chúa không ẵm chị con mà chỉ hay ẵm con! Hôm trước Nguyễn tướng công vào đây, lại ngắm nghía bàn chân con, con nghĩ lấy làm lạ. Đã đành rằng ngày nay con được yên ổn, nhưng không biết thân mẫu con ở trong cung bay giờ thế nào? Chẳng thà con không biết thì thôi, nay con đã biết thì ngồi yên sao được, vậy công chúa cho con vào nam nội, để bái yết tô mẫu và thân mẫu.
Gia Tường Công chúa nghe nói lại khóc òa lên mà rằng:
- Hoàng tử ơi! Bấy nhiêu năm trời, tôi đây cũng nhớ hai thân mà không được vào triều bái. Hễ ngày nay biếm truất được Phi Giao thì toô sẽ đem hoàng tử vào nam nội, nhưng chỉ sợ An Quốc tướng quân biết chuyện thì thật tai vạ tày trời. Vậy hãy đợi xem tin tức thế nào, bấy giờ mới có thể quyết định được.
Bỗng thấy bảo mẫu ở đâu chạy đến, nét mặt hớn hở mà nói với Gia Tường công chúa rằng:
- Dám bẩm công chúa! Công chúa nên lấy làm mừng. Ngày nay thái hậu lâm triều, đã biếm truất Phi Giao hoàng hậu và nã tróc Mã Thuận, xin công chúa chớ lo ngại.
Hoàng tử nghe được tin ấy, mừng rỡ mà rằng:
- Công chúa ơi! Nếu vậy thì xin công chúa mau mau đưa con vào cung.
Gia Tường công chúa nói:
- Bây giờ triều chính chưa định, các quan triều thần chưa biết ai trung ai gian. Nếu hoàng tử vào cung thì khiến người sinh nghi, khó lòng mà bảo toàn được tính mệnh.
Bảo mẫu cười mà bảo rằng:
- Cũng chẳng khó chi điều ấy! Hoàng tử cứ nhận là con công chúa thì hồ dễ mấy kẻ đã biết được tường. Nhưng việc này tất phải đợi hai quốc cữu về đây, chứ bây giờ thì trước sao phủ phò mã này đều có cấm binh canh giữ.
Hoàng tử nghe nói không biết làm thế nào, chỉ đành lòng mà đợi hai quốc cữu. Đợi trong mấy ngày, không thấy hai quốc cữu vể, hoàng tử luống những sụt sùi thương khóc, chẳng thiết ăn uống chi cả.
Khi Triệu Phượng và Triệu Lân về. hoàng tử chạy đến bên cạnh quì xuống đất rồi nức nở khóc. Hai quốc cữu giật mình kinh sợ. Gia Tường công chúa gạt nước mắt mà thuật chuyện đầu đuôi cho hai quốc cữu nghe. Lại nói cho hai quốc cữu biết rằng trong mấy ngày nay hoàng tử chỉ những nhớ Hùng hậu mà biếng ăn quên ngủ. Hai quốc cữu chưa kịp trả lời thì hoàng tử phục xuống đất rồi nắm lấy áo Triệu Lân mà nói rằng:
- Tam thúc ơi! Con chịu ơi sâu của tam thúc dã bảo toàn tính mệnh giúp con, biết bao giờ cho con báo đáp được. Bây giờ con chỉ muốn vào nam nội để yết kiến thân mẫu con và tâu với tổ mẫu rộng ơn mà ân xá cho thân phụ của con vậy.
Hoàng tử nói xong lại nức nở khóc hoài. Triệu Phượng và Triệu Lân đều ứa nước mắt khóc rồi đồng thanh mà rằng:
- Hoàng tử ơi! Xin hoàng tử chớ thương khóc! Hoàng tử muốn như vậy cũng chẳng khó gì! Ngày nay Gia Tường công chúa vào cung sẽ đưa sẽ đưa hoàng tử vào bái yết tả hoàng hậu.
Hai quốc cữu thuật rõ đầu đuôi mọi việc đem quân và nam nội rước thái hậu ra ngự triều. Lại nói cho biết là quân dân ngày nay đều hiểu đại nghĩa, không ai chịu theo An Quốc tướng quân. Gia Tường công chúa vui mừng, chắp tay lạy tạ hoàng thiên đã có lòng phù trợ. Công chúa lại bảo hai quốc cữu rằng:
- Nhờ có tài giỏi trí cáo của hai quốc cữu mà khiến cho nhà Hoàng Phủ sau này giảm bớt được một phần tội lỗi.
Hai quốc cữu cáo từ lui ra, Gia Tường công chúa truyền sửa soạn áo quần cho hoàng tử cải cải dạng nữ trang để sắp sửa đưa vào triều kiến thái hậu. Khi sửa soạn xong, hoàng tử cùng đứng với Trân Khanh quận chúa. Quận chúa thì trông thật mặt hoa da ngọc, mà hình dáng hoàng tử thì lại rất giống thượng hoàng. Khi sắp khởi hành, bảo mẫu lại sực nhớ mà nói với Gia Tường công chúa rằng:
- Dám bẩm công chúa! Cái giỏ thuốc, cái áo lót mình và cái ngọc đeo là những kỷ niệm từ khi đem hoàng tử từ trong cung ra, ngày nay công chúa cũng nên đưa vào để trình thái hậu.
Gia Tường công chúa gật đầu, vội vàng đi lấy các đồ kỷ niệm. Khi Gia Tường công chúa trông thấy mấy hàng chữ chính tay thượng hoàng đề ở trong cái áo lót của mình kia thì lại động lòng xót thương. Bên ngoài sắp sẵn xa giá. Gia Tường công chúa cùng ngồi ngọc liễn với hoàng tử, còn Trân Khanh quận chúa thì giao cho bảo mẫu coi giữ ở nhà.
Các gia tướng và quân cấm binh thì đi kèm hai bên để hộ vệ. Khi đến nam nội, các cung nữ trông thấy hớn hở vui mừng, chạy vào báo với thái hậu và Mạnh Lệ Quân vương phi. Gia Tường công chúa tay dắt hoàng tử bước lên trên thềm, cúi đầu sụp lạy. Thái hậu ứa hai hàng nước mắt, rồi đỡ dậy mà bảo rằng:
- Gia Tường con ơi! Trong bấy năm nay xa cách, bây giờ ta lại gặp con!
Thái hậu thấy hoàng tử cải dạng nữ trang, lại trỏ mà hỏi rằng:
- Đây có phải là ngoại nữ tôn của ta đó không? Còn hoàng tử bây giờ thế nào, vẫn được an khang đó chứ!
Gia Tường công chúa chưa kịp trả lời thì hoàng tử vội vàng chạy đến, nắm lấy áo long bào của thái hậu, rồi khóc mà rằng:
- Tổ mẫu ơi! Tổ mẫu vẫn không quên tôn nhi này, ngày nay tôn nhi đã được vào đến đây để vấn an tổ mẫu đó!
Thái hậu vui mừng, hai tay ẵm lấy hoàng tử rồi ngắm nghía mà nói:
- Thế ra con tức là hoàng tử đó phải không?
Thái hậu vừa nói vừa khóc, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng, lại ẵm hoàng tử mà đặt lên trên lòng. Hoàng tử vừa khóc vừa hỏi:
- Tổ mẫu ơi! Chẳng hay thân mẫu con bây giờ ở đâu?
Thái hậu truyền cung nữ đi triệu Hùng hậu vào. Gia Tường công chúa lại bái yết Mạnh Lệ Quân vương phi. Mạnh Lệ Quân vương phi hỏi đến Trân Khanh quận chúa thì Gia Tường công chúa đáp rằng:
- Quận chúa dẫu nhỏ tuổi, nhưng tính nết thuần hòa, đối với hoàng tử, vẫn quý mến như tình cốt nhục.
Nói chưa dứt lời thì bỗng nghe báo có Hùng hậu đến, ăn mặc một cách nhã đạm nhưng mày ngài mắt phượng, dung nhan chẳng khác năm xưa. Hoàng tử nghoảnh nhìn xung quanh, toàn thị những người áo gấm xiêm hoa, chưa biết ai là thân mẫu. Thái hậu gạt nước mắt rồi gọi hoàng tử mà bảo rằng:
- Mẫu tử tình thâm, tất thế nào thiên tính cũng có cảm cách. Mấy người đứng đây, con thử nhìn xem ai là thân mẫu con?
Hoàng tử đứng dậy nhìn khắp một lượt, khi nhìn đến Hùng hậu thì bỗng òa khóc lên rồi quì xuống mà rằng:
- Thân mẫu ơi! Người có phải là thân mẫu con đó không?
Thái hậu cùng mọi người đều lấy làm lạ. Hùng hậu kinh ngạc nét mặt đỏ bừng, hai tay đỡ hoàng tử dậy mà bảo rằng:
- Ô hay! Tại sao xưng hô như thế! Huống chi tôi đây là một người có tội...
Thái hậu liền nghoảnh lại bảo Hùng hậu rằng:
- Đây chính là con trai của nhà ngươi sinh ra trong tiết đoan ngọ năm xưa đó! Ta giao cho Gia Tường công chúa nuôi đã gần được tám năm nay.
Hùng hậu nghe nói tức thì quì xuống khóc mà tâu với thái hậu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Việc này thần thiếp chưa hiểu làm sao. Nghe nói năm xưa thần thiếp lâm sản, chỉ là một hòn máu mà thôi, cớ sao ngày nay lại có đứa con này. Sự thể đầu đuôi thế nào, xin thái hậu chỉ bảo cho biết.
Thái hậu phán rằng:
- Việc này ta khó nói quá, âu là để Gia Tường Công chúa nói cho nhà ngươi nghe.
Gia Tường Công chúa vâng mệnh, thuật hết sự tình đầu đuôi cho Hùng hậu nghe. Hùng hậu nghe xong ôm lấy hoàng tử mà khóc nức nở. Con gọi mẹ, mẹ gọi con, khiến cho Thái hậu động lòng mà ứa nước mắt khóc. Mạnh Lệ Quân vương phi cũng giọt lệ chứa chan. Hùng hậu cúi đầu lạy tạ thái hậu, hoàng tử vội quì ở bên. Hùng hậu nói:
- Muôn tâu Thái hậu! Năm xưa con đang trong cơn mê hoảng, lâm sản cũng chẳng biết gì. May nhờ có Thái hậu và Công chúa nuôi nấng trông nom cho, mà ngày nay mẹ con lại được cùng nhau sum họp. Ơn sâu ấy biết lấy chi báo đáp, chỉ xin khấn trời cho Thượng hoàng mau mau về triều đình. Mạnh Lệ Quân vương phi chữa thuốc cho thần thiếp, hàng mấy năm trời quản bao khó nhọc, mà Hoàng Phủ Tương vương thì đem đứa con nhỏ đi tìm thượng hoàng, cũng là một người trung thần hiếm có xưa nay vậy. Muôn tâu thái hậu! Vì hai mẹ con thần thiếp mà để di lụy đến thánh thượng, ngày nay thần thiếp muốn xin thái hậu biếm truất thần thiếp vào lãnh cung mà ân xá cho thánh thượng, còn cha mẹ thần thiếp bây giờ hiện đang ở trong ngục thất, nhưng đạo làm tôi phải liều thân báo nước, sống chết cũng xin nhờ lượng chí tôn.
Hoàng tử nghe nói, cũng nức nở khóc mà xin theo mẹ vào lãnh cung, khiến cho Thái hậu không thể cầm nước mắt cho được. Giọt châu lã chã, ướt thấm mấy lần áo bào.
Mạnh Lệ Quân vương phi tâu với Hùng hậu rằng:
- Muôn tâu hoàng hậu! Việc này thái hậu không dám tự quyết, tất phải đợi thượng hoàng về triều. Nếu thượng hoàng chưa về thì không thể nào ân xá cho thiên tử được. Lễ nghĩa chung của thiên hạ, pháp luật chung của tổ tôn, thái hậu dẫu cao quý, nhưng cũng không vượt lễ nghĩa và bỏ pháp luật vậy. Hoàng hậu chớ nên tâu xin nữa mà khiến thái hậu thêm đau lòng. Vả hoàng tử đã vào đây, quyết không nên ra về, chỉ nên tâu thái hậu cho ở với Hưng Bình công chúa.
Mạnh Lệ Quân vương phi lại bảo các cung nữ rằng:
- Các con hầu hạ đã lâu năm, trải bao khó nhọc, chẳng bao lâu nữa thượng hoàng về triều, thái hậu sẽ trọng thưởng cho các con. Vậy công việc trong cung, các con chớ nên tiết lộ mà có tai vạ.
Các cung nữ nghe nói, đều vui lòng xin tuân mệnh. Thái hậu thở dài mà phán rằng:
- Ngày nay ta khóc mãi cũng khô nước mắt, thôi thì các ngươi cùng ngồi cả lại, để ăn yến cho đỡ buồn.
Bấy giờ hoàng tử bái yết Hùng hậu xong, lại bái yết Mạnh Lệ Quân vương phi. Thái hậu truyền gọi Chu vương và Hưng Bình công chúa đến để làm lễ tương kiến. Nội giám bày tiệc, thái hậu ngồi trên nhất, Hùng hậu và Mạnh Lệ Quân vương phi ngồi hai bên. Hai bà công chúa ngồi tiếp thái hậu. Chu vương thì cùng hoàng tử ngự yến ở cung bên. Bấy giờ hoàng tử đã hơi biết lễ phép, trong khi ăn tiệc, đối đáp nhiều câu rất dị kỳ, Chu vương năm ấy cũng mới mười lăm tuổi. Hai bên cùng nhau trò chuyện, thật hợp ý tâm đầu. Khi tiệc xong, Gia Tường công chúa cáo từ xin về, lại đệ trình cái thuốc và cái áo lót mình có mấy hàng thủ bút của thái hậu năm trước. Hùng hậu trông thấy, đau lòng đứt ruột, vừa đọc vừa khóc.
o0o
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
hey! THD
cho hỏi bạn có hay đọc truyện kiếm hiệp ko vậy? sao mà viết bài hay vãi.








📎 014|020|111111|014
0
oái mấy file của mình bị lỗi ko biết có xem đc ko vậy. chán[X(] [:&#39;(] [:&#39;(] [&amp;o]
0
Chaò Kim Dung tiên sinh! tiểu nữ chỉ mau sách về gõ rồi up lên thư viện thôi chứ đâu có viết biên gì đâu!

truyện này ông bà xưa còn gọi là truyện tàu đó tiên sinh á! Còn truyện của tiên sinh sáng tác gọi là truyện chưởng kiếm hịp á!

Mấy cái file của tiên sinh gửi lên bị hư rồi, tiên sinh vào xóa và upload lại đi. Cám ơn tiên sinh nhiều há

Chúc tiên sinh nội công thâm hậu viết truyện há.


về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
«« « 1 2 » »»