📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

TỤC TÁI SANH DUYÊN 🔒

50 trả lời, 13.923 lượt xem — Trang 2 / 2
THD
cho hoi? sao cho~ bai` cuoi ay' sao ko lay' ten minh` ma` lay ten conbo2 vay? ma` cua? THD cung~ lay' ten cua? THD ay'. chi? ho minh` cai'
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-27 09:59:40ct.ly>
Chào Kim Dung ;

Những bài cuối, những bài của ai có ký tên conbo2 , vì CB là MOD trong những mục truyện, vì là những bài đó có những sai phạm gì, cb có thể vào bài của bạn sửa chửa dùm, nên mỗi khi MOD vào bài của ai sửa, thì thường hiện ra chữ ký của người đó ,

Chúc Kim Dung luôn vui , và xin bạn cố gắng học gõ chữ có dấu , cách gõ chữ có dấu, chắc bạn đã đọc qua trong diễn đàn rồi thì phải ;

Chúc bạn luôn vui

Thân ái
0
uh thanks CT.LY mình biết rồi, mình viết hôm đó vội để về nên viết theo thói quen ấy mờ[sm=1005.gif][sm=----.gif][sm=band.gif][sm=bicycle.gif]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-08 23:22:11Hoàng Dung>
hồi thứ mười hai
TRIỆU VƯƠNG VỊ NGHĨA MÀ KHỞI BINH
PHÒ MÃ TẬN TRUNG ĐỂ BÁO QUỐC


Lại nói chuyện bà Mai thái phi theo con là Triệu vương đi thụ phong ở Hà Nam, nghĩ đến thượng hoàng và thái hậu, vẫn ngày đêm mến nhớ, không thể nguôi lòng, nhưng việc rèn tập học nghiệp cho Triệu vương thì bà rất lấy làm nghiêm khắc.
Quan tán thiện ở phủ Triệu vương tên gọi Lưu Quí tức là con một người tiểu thiếp của Lưu Khuê Bích trước, tên gọi Đậu Hàm Hương. Bà Đậu Hàm Hương không cho con tập võ nghệ, bắt phải chuyên nghề kinh sử, sau thi đỗ vào toà Hàn lâm. Thượng hoàng thấy Lưu Quí là người luyện đạt lão thành, vừa có học thức vừa có phẩm hạnh, mới dùng làm chức sư bảo để dạy Triệu vương. Lưu Quí thông hiểu thiên văn địa lý, Mai thái phi vẫn có lòng kính trọng, thưởng tứ rất hậu, bao nhiêu chính sự trong phủ đều giao cho Lưu Quí chưởng quản. Lại thường sai người triệu bà Đậu Hàm Hương vào cung để nói chuyện. Triệu vương chính phi là A Lạp thị nhan sắc xinh đẹp, lại có học thức, tính vốn hiền hiếu, vẫn thường cùng Triệu vương ngày đêm hầu hạ Mai thái phi không hề trễ nải chút nào.
Đến khi nghe tin thượng hoàng bỏ đi thì Mai thái phi và Triệu vương đều kinh hồn tán đởm, ngày đêm khóc lóc, kể sao xiết nỗi thương tâm. Triệu phi hết sức khuyên can, bấy giờ mới hơi nguôi cơn sầu thảm. Sau bỗng nghe tin Hùng hậu bị biếm truất, toàn gia Hùng vương phải vào ngục thất và tin Phi Giao hoàng hậu lên cầm quyền chính thì Mai thái phi lại giọt lệ chứa chan.Bấy giờ Triệu phi sắp đến kỳ lâm sản, công việc trong cung chẳng có ai chủ trương. Lưu Quí thấy vậy luống cuống không biết làm thế nào mới về thuật chuyện với mẹ là bà Đậu Hàm Hương để nhờ mẹ vào cung khuyên bảo Mai thái phi đừng khóc lóc nữa.
Nguyên Lưu Quí lấy vợ là Bàng thị, con quan Lại bộ thượng thư, cha mạ mất sớm, chỉ có một em trai, toàn gia đều sang nương nhờ Lưu Quí cả. Lưu Quí sinh được ba trai một gái. Con gái tên gọi Diễm Tuyết vốn người có tài thông minh, Lưu Quí vẫn dạy cho học. Ba cậu con trai còn bé. Bà Đậu Hàm Hương thì rất yêu quý nàng Diễm Tuyết, nàng muốn điều gì bà cũng theo lời. Nàng Diễm Tuyết lúc bé vẫn thường theo thân phụ là Lưu Quí lên thiên văn đài. Lưu Quí trỏ bảo các vì tinh tú thì nàng có ý ghi nhớ, thành ra cũng hiểu biết thiên văn. Nàng Diễm Tuyết vốn tính điềm đạm, hay xem sách vở, lại nhiễm tư tưởng “Yếm thế”, những muốn bỏ nhà đi tu tiên. Cũng có lúc đã tỏ ý cho cha mẹ biết, nhưng chỉ vì ba em còn bé cho nên chưa dám dời chân. Bấy giờ nàng Diễm Tuyết thấy tổ mẫu là bà Đậu Hàm Hương sắp vào cung, mới tươi cười nét mặt mà thưa rằng:
- Đêm qua tôn nữ có xem thiên văn, thấy sao thái bạch suốt đêm ngang trời, đó là cái tượng sắp đổi dời ngôi bảo đại, nhưng sao tử vi còn thấy sáng tỏ thì vận mệnh thiên tử vẫn được vững vàng. Cái tai ách này chẳng qua chỉ trong vài ba năm, sẽ lại tránh khỏi. Tổ mẫu nên nói để thái hậu biết, xin thái phi cứ yên lòng chớ có lo ngại.
Bà Đậu Hàm Hương cười mà bảo rằng:
-Con bé này, mày lại hiểu biết thiên văn à! Vậy thì ngôi sao thượng hoàng nay ở phương nào? Ngôi sao nào ứng vào thái hậu, còn Hùng hậu thì tức là ngôi sao nào?
Nàng Diễm Tuyết đáp rằng:
- Sao lại không hiểu! Ngôi sao thượng hoàng bây giờ ở về phương tây, cứ theo phương ấy mà đi thì sẽ tìm thấy, nhưng ngày nay thời giờ chưa đến, tất nhiên phải đợi trong năm năm. Ngôi sao thái hậu bây giờ mây kéo tối rầm, quả nhiên là đang bị bệnh, nhưng mừng được có sao thái dương chính chiếu thì chẳng lo ngại gì. Mỗi khi tôn nữ theo chân thân phụ lên thiên văn đài mà thân phụ trỏ cho xem thì trông thật minh bạch.
Lưu Quí nói:
- Quả như thế thật! Con bé này nó trông các vì sao, có phần lạ tinh hơn tôi.
Bà Đậu Hàm Hương lại cười mà bảo Bàng thị rằng:
- Con bé này kháu khỉnh quá, sau này tất phải hơn người. Chưa biết anh chàng nào tốt phúc mà được cùng cháu gái ta kết duyên loan phượng.
Bàng thị phu nhân nói:
- Con bé này hay xem thiên văn quá, thành ra ngây ngốc cả người, chỉ muốn tu tiên. Bây giờ nó vẫn thường ăn chay. Con mắng nó mấy lần thì thân phụ nó lại bảo rằng: “Người ta mỗi người một chí hướng, ta không nên cưỡng. Huống chi một người tu tiên đắc đạo thì cả họ đều được phi thăng, chứ có can chi mà hại!” Vậy ngày nay xin bà phải nghiêm cấm nó mới được.
Bà Đậu Hàm Hương nghe nói, bảo nàng Diễm Tuyết rằng:
- Tôn nữ ơi! Tôn nữ năm nay còn đang đầu xanh tuổi trẻ, cớ lại lại nhiễm tư tưỏng chán đời. Phàm những kẻ xuất gia đầu Phật, học đạo tu tiên, phần nhiều là bởi có sự uất ức trong lòng, phẫn chí bỏ đi, để cầu tấm thân cho được thoát nợ. Nay tôn nữ không có điều gì thất ý, trên thì cha mẹ đoàn viên, dưới thì đàn em hãy còn nhỏ tuổi. Tấm thân nghìn vàng ấy, còn phải gác gương trong, treo giá ngọc để chọn lấy người đẹp đứa vừa đôi. Đã là người có học thức ít nhiều thì tư tưởng chán đời kia ta chớ nhiễm.
Đang nói chuyện thì có nữ tỳ bưng mâm bánh đến, cả nhà cùng ngồi vào ăn. Khi ăn bánh xong, bà Đậu Hàm Hương đội mũ mặc áo để sắp tiến cung. Cờ mở trống giong, tiền hô hậu ủng, cũng đường đường là một vị thái phu nhân. Nếu năm xưa không bền lòng thủ tiết thì ngày nay sao có được vinh dự này.Khi đến phủ Triệu vương, thủ môn quan vào bá, Mai thái phi cho hai tên cung nữ ra đón vào. Bà Đậu Hàm Hương làm lễ triều kiến, bà Mai thái phi mời ngồi uống trà và bảo rằng:
- Thái phu nhân ơi! Chẳng hay cớ sao đã lâu nay thái phu nhân không vào cung thăm tôi?
Bà Đậu Hàm Hương nói:
- Thần thiếp đã bị bệnh một tháng nay, bây giờ mới bình phục. Trong lòng thần thiếp vẫn nhớ mến thái phi, nghe tin vương phi sắp lâm sản, vậy nên thần thiếp vào đây để thỉnh an.
Mai thái phi nói:
- Hai vợ chồng Triệu vương đêm ngày túc trực ở đây, tôi giục chúng về phòng ngủ thì Triệu vương không nghe, cứ bảo vợ về, còn mình thì đêm nào cũng ở lại đây, quấn quít như đứa con thơ, nghĩ cũng nực cười. Tôi nay phiền muộn trăm chiều, đợi bao giờ cho thượng hoàng về đây thì họa may bấy giờ lòng tôi mới yên được.
Mai thái phi nói xong, hai hàng nước mắt lại chảy xuống ròng ròng. Bà Đậu Hàm Hương đứng dậy khuyên can mà rằng:
- Thái phi ơi! Nếu thái phi cứ khóc mãi như thế này, để đến nỗi Triệu vương lo phiền mà bỏ cả học nghiệp thì há chẳng uổng phụ lòng trông cậy của thượng hoàng và thái hậu lắm ru! Vậy xin thái phi nghĩ lại, chớ nên mua lấy những sự bi thương vô ích ấy làm gì!
Mai thái phi thở dài mà đáp lại rằng:
- Tôi cũng biết như vậy, chỉ vì trong lòng chua xót thì nước mắt khôn cầm, dẫu muốn cố gượng làm khuây cũng không thể làm cho được. Nay thái phu nhân đã nói, tôi xin vâng lời, nhưng thái phu nhân có ở đây với tôi, họa may tôi mới giải được cơn phiền muộn. Vả Triệu phi sắp đến ngày lâm sản thì thái phu nhân cũng ở đây mà trông nom giúp cho.
Bà Đậu Hàm Hương vâng mệnh ở đấy để trông nom hết thảy mọi việc trong cung. Còn việc ngoài thì đã có Lưu Quí chưởng quản, chỉ hiềm một nỗi chưa chọn được người nào trung dũng để làm nguyên soái mà chưởng quản binh quyền. Lưu Quí sực nghĩ đến Vệ Dũng Bưu, mới nói với Triệu vương sai Chúc Nhân đi triệu, vừa gặp lúc Vệ Dũng Bưu mới đánh quan khâm sai xong, Chúc Nhân không dám lưu lại, phải về trước để phúc chỉ.
Chưa đầy một tháng thì Vệ Dũng Bưu tới nơi, trước yết kiến Lưu Quí, sau vào yết kiến Triệu vương. Triệu vương thấy Vệ Dũng Bưu tướng mạo khôi ngô, râu dài người lớn biết là tướng tài có ý trọng đãi.Lưu Quí nói Triệu vương phong Vệ Dũng Bưu làm chức nguyên soái để chưởng quản năm ngàn vệ binh. Vệ Dũng Bưu khéo phủ dụ quân sĩ, đêm ngày luyện tập, không hề trễ biếng chút nào. Vệ Dũng Bưu nhớ ngoại sanh là Hùng Khởi Thần, vẫn định chỉnh đốn dinh thự cho được đâu đấy, rồi sẽ cho người về đón ngoại sanh cùng gia quyến một thể.
Bỗng thấy tên người nhà vào bảo rằng:
- Dám bẩm lão gia! Có quan phủ Kim Lăng họ Doãn, nói là thân thuộc với lão gia xin vào yết kiến. Lại có cả gia quyến đi theo nữa.
Vệ Dũng Bưu nghe nói, vừa mừng vừa ngờ, nghĩ thầm: “Cữu huynh ta cáo bệnh đã ba năm nay, về ở ẩn nơi thôn dã, không hề đi đến đâu bao giờ. Ngày nay bỗng đem gia quyến tới đây, tất là lại có việc gì nguy cấp vậy.” Vệ Dũng Bưu vừa ngẫm nghĩ vừa chạy ra đón thì quả nhiên trông thấy Doãn công. Vệ Dũng Bưu nghoảnh nhìn ra phía ngoài thấy một cái xa, trong xe có hai người đàn bà ngồi, liền hỏi:
- Có phải phu nhân và tiểu thiếp của cữu huynh đó không? Xin mời xuống xe.
Doãn công mỉm cười và khẽ đáp:
Tôi có tiểu thiếp nào đâu, người đi cùng với nội nhân tôi tức là lệnh sanh đó!
Vệ Dũng Bưu nhìn thì quả nhiên là Doãn công phu nhân cùng ngoại sanh Hùng Khởi Thần đó, vội vàng mời vào trong nhà để nói chuyện.
Vệ Dũng Bưu không hiểu cớ sao Hùng Khởi Thần lại cùng đi với Doãn công, cứ hỏi căn vặn mãi nhưng Hùng Khởi Thần vẫn hàm hồ không chịu nói. Đến canh khuya người đi ngủ hết rồi, Hùng Khởi Thần mới đóng cửa phòng lại mà thuật chuyện đầu đuôi cho Vệ Dũng Bưu nghe. Vệ Dũng Bưu nghe nói, hầm hầm nổi giận, đập bàn mà rằng:
- Thế thì còn nói chi nữa! Lã thị kia, thật là một đứa táng tận lương tâm! Con Văn Cơ dẫu ngu dại, nhưng trong lòng nó cũng hiểu đại nghĩa, chẳng qua chỉ vì Lã thị xúi giục, muốn cố tình làm hại Từ thị đó thôi. Không biết trưởng tử ta về tới nhà, có hiểu việc này không, hay lại ngờ cho ngoại sanh tư tình cùng Từ thị! Âu là sáng mai ta sai người về gọi cả nhà sang đây, rồi chém đôi đứa bất nhân kia ra thì lòng ta mới hả. Ngoại sanh chớ lo ngại, nay đã tới đây, ta sẽ đưa ngoại sanh vào yết kiến Lưu tướng công. Ta cứ bảo ngoại sanh là con trai Doãn công, đợi khi đại sự thành rồi, bấy giờ sẽ xuất đầu lộ diện.
Hai cậu cháu trò chuyện với nhau suốt đêm. Sáng hôm sau, Vệ Dũng Bưu đưa Doãn công và Hùng Khởi Thần sang yết kiến Lưu Quí, nói dối là hai cha con. Lưu Quí mừng rỡ vào tâu với Triệu vương xin phong chức cho. Vệ Dũng Bưu tức khắc viết một phong thư sai tên gia tướng về quê nhà gọi gia quyến. Gia tướng phụng mệnh đi suốt ngày suốt đêm chưa đầy nửa tháng đã về phúc mệnh. Gia tướng bẩm rằng:
- Dám bẩm lão gia! Khi con về tới dinh môn, thấy cửa dinh khóa chặt. Con tìm mãi mới gặp cụ già đần đó mà hỏi thăm chuyện thì cụ già ấy nói là toàn gia đều bị một đại tướng quân bắt đem đi rồi. Nô bộc trong nhà, cũng không biết đi đâu cả. Con lại vào trong thành dò hỏi thì thấy người ta nói có vị đại tướng quân nay làm tổng trấn Tam Giang thấy tiểu thư nhà ta có nhan sắc đã lấy làm phu nhân. Lã di nương cũng theo vào ở đấy. Còn công tử và gia quyến thì không biết ở đâu? Có kẻ nói đang bị giam, có kẻ nói đã xin gia nhập quân đội. Chúng con không dám chậm trễ, vậy phải về đây bẩm bạch cùng lão gia.
Vệ Dũng Bưu lúc đầu mới nghe chẳng còn hồn vía nào, đến khi nghe xong câu chuyện, liền đem lòng căm tức, dậm chân vò đầu, kêu trời kêu đất lên mà rằng:
- Trời ơi! Đất ơi! Nhà họ Vệ ta nối đời trung trinh, ngày nay bị tay đứa tiện tỳ và ác nữ kia làm cho phải bại hoại, ta đây còn mặt mũi nào mà đứng ở trên nhân thế này.
Nói xong, liền rút thanh bảo kiếm toan tự tử. Các gia tướng đang xúm lại can ngăn thì bỗng nghe báo ngoài cửa có Lưu tướng công, Doãn lão gia và công tử (trỏ Hùng Khởi Thần) cùng đến. Vệ Dũng Bưu vừa giận vừa thẹn, bất đắc dĩ phải đứng dậy ra nghênh tiếp. Lưu Quí nói:
- Triều đình vừa có chiêú đến, quan nguyên soái đã được biết chưa? Số là thượng hoàng chưa tìm thấy tông tích đâu cả. Vừa rồi con trai trưởng của Đồ Man Hưng Phục là Định Quốc tướng quân đã phụng mệnh triều đình, ra trấn thủ Tam Giang, bao nhiêu các quan văn võ ở đây, Định Quốc tướng quân được quyền “Tiền trảm hậu tấu”. Đó là giam mưu của Đồ Man Hưng Phục nó cho con nó ra đấy, để thành sự thì nó lên ngôi đại bảo, còn bại sự thì nó lui về cố thủ tai thành Kim Lăng. Ta chỉ nực cười cho Phi Giao chẳng biết chi chi, lại đặt cần câu sẵn cho người đánh cá. Phò mã Triệu Câu cũng vừa mới viết thư đến, nói là phò mã luyện tập binh mã đã ba năm nay, ngày nay ước định với Triệu vương đây, để cùng khởi nghĩa. Tôi đã phúc thư xin hoãn, bởi vì đế tinh còn mờ tối, tất phải đợi thời rồi sẽ cữ binh. Việc ấy nên chăng thế nào, chúng tôi muốn hỏi ý quan nguyên soái.
Vệ Dũng Bưu thở dài mà rằng:
- Đa tạ lòng tử tế của tướng công đã quá yêu mà tiến cử tôi, nhưng tự thẹn cái tài ngưu mã. Tề gia còn chẳng xong, lại bàn đâu đến việc cứu quốc. Ngày nay tôi xin từ chức, rồi tìm nơi hoang sơn dã tự nào để mà tu hành.
Lưu Quí và Doãn công đều kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Ô hay! Sự thế làm sao mà quan nguyên soái lại nói những câu kỳ dị như thế?
Vệ Dũng Bưu bất đắc dĩ phải thuật chuyện đầu đuôi cho mọi người nghe. Lưu Quí nghe nói cả cười mà rằng:
- Quan nguyên soái họ Vệ ơi! Tôi đây vẫn kính phục ngài là một bậc đại văn hóa, nên mới tiến cử ngài làm chức nguyên soái, nay ngài nói mấy câu ấy thì thật khiến cho các quan văn võ trong triều ai cũng phải tức cười. Tôi hãy xin hỏi quan nguyên soái một câu này, các bậc trung thần lương tướng thời xưa, biết bao nhiêu người vì nước mà phải xa cách cha mẹ, lìa bỏ vợ con, ngày nay quan nguyên soái mới vì một người tiểu thiếp và một vị tiểu thư mà đã vội chán đời muốn ẩn thân vào rừng rú. Thế thì chẳng những bỏ cái lòng “Trung quân ái quốc” mà đối với lệnh tỷ (Vệ Dũng Nga) không biết quan nguyên soái nghĩ thế nào. Tôi dám chê quan nguyên soái điều ấy.
Doãn công nói:
- Quan nguyên soái chớ nên lấy điều ấy làm sỉ nhục. Dẫu người vợ chính thất cũng còn ví như y phục, rách nát thì bỏ đi, huống chi là một người tiểu thiếp và một đứa con gái góa chồng ấy. Cũng vì lẽ ấy mà tôi không dám tưởng đến sự tiểu thiếp làm chi. Quan nguyên soái thử nghĩ đó mà coi: Phàm con gái của những người tiểu thiếp có mấy kẻ được nên người. Sao quan nguyên soái lại vì việc ấy mà phải ngã lòng nản chí.
Hùng Khởi Thần cũng hết sức tìm lời khuyên giải. Sau bốn người cùng nhau đàm luận quốc sự, và đem rượu ra uống. Khi uống rượu xong, Lưu Quí mới cáo từ ra về. Vệ Dũng Bưu ra sức luyện tập binh mã, ngày giờ thấm thoát lại vừa được năm năm. Một hôm, nàng Diễm Tuyết xem thiên văn, nói với thân phụ là Lưu Quí rằng:
- Đêm qua con xem tinh tượng, thấy vì sao thái hậu đã hiện ánh sáng, chắc chỉ trong một tháng nữa thì sẽ có việc binh đao. Vậy thì công việc ở vương phủ, thân phụ định giao phó cho ai?
Lưu Quí nói:
- Diễm Tuyết con ơi! Công việc ở vương phủ, ta đã nhờ có Doãn lão gia trông nom hộ. Lão gia vốn là một người lão thành luyện đạt, lại có Chu Nhân giúp đỡ còn lo ngại nỗi gì!
Nói chưa dứt lời thì bỗng nghe báo Triệu vương có lệnh triệu vào vương phủ. Lưu Quí vội vàng áo mũ đi ngay. Khi tới vương phủ lại có lệnh triệu vào nội cung, Lưu Quí biết là có biến cố, theo nội giám vào. Triệu vương trông thấy vội vàng đứng dậy nghênh tiếp và trap một phong thư cho Lưu Quí xem. Lưu Quí xem xong, vừa sợ vừa mừng. Mai thái phi ngồi trong rèm bảo Lưu Quí rằng:
- Lưu tiên sinh ơi! Mẹ con ta bây giờ không biết nghĩ thế nào, chỉ trông cậy ở tiên sinh đó! Ngày nay ta muốn tiến kinh để vấn an thái hậu. Nếu thượng hoàng không về thì ta cũng xin lưu tại nam nội, hầu hạ thái hậu, gọi là báo đáp nghĩa cũ tình xưa.
Mai thái phi nghĩ những nỗi thương tâm, lại ứa hai hàng nước mắt khóc. Lưu Quí còn đang tìm lời khuyên giải thì bỗng có tên cung nữ tươi cười hớn hở, chạy vào báo tin mừng. Tên cung nữ quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu thái phi! Vương phi vừa mới sinh hạ nam tử, mà thân thể rất khang kiện, thật là một việc đáng mừng.
Mai thái phi nghe nói mừng lòng, Lưu Quí vội vàng chúc mừng Triệu vương và sụp lạy làm lễ triều hạ, Triệu vương chối từ không dám nhận lạy rồi hai tay đỡ lấy Lưu Quí đứng dậy. Mai thái phi thở dài mà than rằng: Năm xưa vương phi sinh hạ thế tử, đã nhờ thái phu nhân trông nom cho, vậy nên lần này không dám phiền đến thái phu nhân nữa. Nhưng nay mai khởi binh thì công việc trong cung lại phải nhờ đến thái phu nhân trông nom giúp, vả ở đây làm bạn với vương phi cho vui.
Lưu Quí tâu rằng:
- Muôn tâu thái phi! Kẻ hạ thần xin về nói với thân mẫu kẻ hạ thần sửa soạn vào cung để trông nom các công việc.
Mai thái phi vui mừng mà bảo rằng:
- Nếu được như vậy thì ta còn lo ngại nỗi gì. Nhưng ta còn một việc muốn nói với tiên sinh. Số là ta vẫn nghe đồn lệnh ái là người đức mạo kiêm toàn, lại thông hiểu thiên văn. Hồi mười năm trước ta có được giáp mặt một lần, trong lòng vẫn lấy làm quý mến. Nay ta muốn tiên sinh lệnh ái cùng đi với ta để được thêm vui.
Lưu Quí ngẫm nghĩ, hồi lâu chưa trả lời. Mai thái phi hiểu ý lại nói:
- Lưu tiên sinh ơi! Xin tiên sinh cứ yên lòng, chớ thấy việc Phi Giao năm xưa mà lấy làm lo ngại. Nay ta xin lệnh ái làm nghĩa nữ, ta quyết không khi nào lại để di lụy như xưa.
Triệu vương nghe lời Mai thái phi, liền đứng dậy nói với Lưu Quí rằng:
- Lưu tiên sinh ơi! Xin tiên sinh cứ cho lệnh ái đi cùng với thân mẫu tôi cho vui.
Lưu Quí vâng mệnh về nhà nói với mẹ là bà Đậu Hàm Hương. Bấy giờ trong cung ngoài thành đều náo động về việc sắp khởi binh. Ôn thái phi ở phủ Hán vương cũng viết thư đến rủ Mai thái phi để cùng tiến kinh. Mai thái phi thấy Ôn thái phi cũng đồng ý với mình thì rất lấy làm vui mừng, trọng thưởng cho người mang thư và bảo nên mau mau về nói trước để sửa soạn đồ hành lý. Triệu vương chọn ngày khởi binh, Trương Vĩnh làm tiên phong, Vệ Dũng Bưu làm nguyên soái. Triệu vương phái một đạo hịch văn đi trước, nói là phụng mệnh thái hậu đem quân tiến kinh. Trương Vĩnh đi tiên phong bỗng thấy mặt người thám tử về báo nói rằng:
- Dám bẩm tướng quân! Đây đã đến địa giới Sơn Đông. Chúng tôi nghe tin quân Hán vương đã đóng ở trong thành, Hoàng Phủ phò mã đang đem quân đi đuổi Đồ Man Hưng Phục, vậy chúng tôi phải về đây bẩm bạch.
Trương Vĩnh nghe báo, quay ngựa lại bẩm với Vệ Dũng Bưu, Vệ Dũng Bưu truyền đóng dinh lại, rồi vào thương thuyết với Lưu Quí. Lưu Quí nói:
- Tôi vẫn biết là Hán vương tất thế nào cũng đến trước, bây giờ ta nên báo với Triệu vương và Mai thái phi để vào thành yết kiến Hán vương.
Ôn thái phi và Hán vương nghe tin Mai thái phi và Triệu vương đến, vội vàng ra đón. Bốn người cùng cầm tay nhau mà khóc. Bấy giờ bỗng có Tô Ánh Tuyết phu nhân và Lưu Yến Ngọc phu nhân đến. Hai phu nhân trông thấy bốn người kia đang khóc liền tìm lời khuyên giải. Mai thái phi lạo bảo nàng Diễm Tuyết lạy chào, rồi nói với mọi người:
- Đây là nghĩa nữ của tôi đó!
Mai thái phi lại nói với Lưu Yến Ngọc phu nhân:
- Nghĩa nữ tôi chẳng những tài mạo khác thường, mà lại thông hiểu thiên văn, thật không mấy người theo kịp. Trong mấy năm trời nay, chúng tôi vẫn phải theo lời nó chỉ bảo mà quyết định việc khởi nghĩa binh này.
Lưu Yến Ngọc phu nhân cầm lấy tay mà ân cần hỏi han, nàng Diễm Tuyết đối đáp được đâu ra đấy. Hán vương và Triệu vương vào một phòng riêng để nói chuyện, cùng nhau kể lể những nỗi tương biệt trong mấy năm trời. Bà Ôn thái phi mời hai bà phu nhân cùng Mai thái phi và nàng Diễm Tuyết vào nhà trong, để cùng nhau đàm luận. Mai thái phi hỏi rằng:
- Chẳng hay phò mã Triệu Câu bây giờ ở đâu? Độ bao giờ đến đây?
Ôn thái phi thở dài mà rằng:
- Từ khi tôi theo Hán vương đi thụ phong, vẫn một lòng mến nhớ thượng hoàng và thái hậu, không ngờ trời nghiêng đất đổ, mà cảy gặp bao nhiêu sự biến cố, khiến cho mẹ con tôi luống những đứt ruột héo gan. Trong mấy năm nay, phò mã Triệu Câu hết sức luyện tập quân sĩ, vẫn muốn khởi nghĩa đã lâu, nhưng Lưu tướng công thường viết thư đến can ngăn, nói là tinh tượng chưa nên làm vội. Ngày nay thật đã đến ngày nên khởi suư, không ngờ vừa đem quân đến địa giới Sơn Đông thì gặp Đồ Man Hưng Phục. Khi ấy Đồ Man Hưng Phục đi một cái loan giá, dùng nghi vệ thiên tử, thay mặt triều đình ra tế thần Thái Sơn. Phò mã Triệu Câu trông thấy, nổi cơn tức giận, liền sai tướng tiên phong là Tiêu Đại Hùng tiến binh vào đánh, Đồ Man Hưng Phục cũng có nhiều gia tướng giỏi, vậy nên đánh nhau trong ba ngày mà không phân được thua. Phò mã Triệu Câu tức giận bội phần, lên ngựa ra đánh, bấy giờ mới thắng được Đồ Man Hưng Phục. Đồ Man Hưng Phục thua trận bỏ chạy, phò mã Triệu Câu đang đem quân đi đuổi theo. Tôi cùng Hán vương ở đây, còn đợi phò mã Triệu Câu để cùng khởi hành. Hôm trước có tiếp được chiếu thư của thái hậu mới biết đích rằng ngày nay thái hậu đã lâm triều. Bây giờ lại có Triệu vương tới đây thì chắc chẳng bao lâu nữa, đại công sẽ thành được. Ước gì trời kia dun rủi, lại được thượng hoàng về triều thì vui vẻ biết là dường nào!
Lại nói chuyện quan trưởng sử ở phủ Hán vương, tên gọi Cao Bí vốn là người có tài “kinh thiên vĩ địa” năm ấy trạc độ năm mươi tuổi góa vợ, chỉ có một người con gái tên gọi Phật Châu. Phật Châu nhan sắc xinh đẹp, vừa có học thức vừa có phẩm hạnh. Cao Bí rất lấy làm yêu quý. Vì chưa có con trai, nên lại lấy nàng Thanh Mai làm tiểu thiếp. Cao Bí làm quan rất thanh liêm, ngoài sự lương bổng và thưởng tứ, không hề lấy của ai một đồng nào. Hán vương và phò mã Triệu Câu thấy vậy có lòng quý trọng, mà các quan văn võ cũng mến phục lạ thường. Cao Bí thấy Lưu Quí tài cao học rộng cho nên dẫu mới gặp nhau lần này là một, mà trong khi nói chuyện, đã cùng nhau ý hợp tâm đầu.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-23 13:44:38ct.ly>
hồi thứ 12b

Lại nói chuyện phò mã Triệu Câu đuổi theo Đồ Man Hưng Phục, bấy giờ đã tối sẩm, quân vây bốn mặt, mà tìm chẳng thấy Đồ Man Hưng Phục ở đâu. Phò mã Triệu Câu truyền quân soi khắp bốn mặt núi mà cũng không thấy. Phò mã Triệu Câu trong lòng nghi hoặc, truyền cho quân sĩ đóng dinh lại và nấu cơm ăn, rồi đến sáng ngày sẽ đi. Khi ăn cơm xong, om Triệu Câu nghĩ thầm: “Quái lạ! Không biết Đồ Man Hưng Phục ngày nay nó tẩu thoát phương nào. Nếu ta không đuổi bắt được nó thì tất nó lẩn trốn sang Kim Lăng. Có con nó là Định Quốc tướng quân ở đấy, nó sẽ lấy chỗ ấy làm nơi sào huyệt.”
Phò mã Triệu Câu còn đang ngẫm nghĩ thì bỗng thấy thám tử về báo:
- Dám bẩm phò mã! Chúng tôi đi dò thám thì thấy bốn mặt đều núi, chẳng có nhà cửa chi cả. Cách đây độ hai dặm. có có một cái miếu Quan Đế, cửa vẫn đón chặt, chạ thần gọi cửa hỏi thì trong có người đạo sĩ là chữ giữ miếu ấy trả lời rằng: “Ở đây hổ lang nhiều lắm, đêm khuya không dám mở cửa, mà cũng không có ai tới đây.” Bởi vậy chúng tôi phải về bẩm bạch.
Phò mã Triệu Câu nghĩ thầm: “Đứa lão tặc này có lẽ nó ở trong miếu, chứ ngọn núi này làm gì còn có lối ra. Vả rõ ràng ta trông thấy đứa lão tặc chạy vào ngọn núi này”. Phò mã Triệu Câu nghĩ vậy, truyền cho cận tướng phòng thủ đại binh, còn mình thì cùng mấy tên gia tướng và mấy trăm quân đi thẳng vào trong núi. Phò mã Triệu Câu cưỡi ngựa đi trước, hai bên quân sĩ cầm đuốc sáng trưng. Đi được độ một dặm, bỗng thấy con ngựa của phò mã Triệu Câu cưỡi đứng lại mà hý rầm lên, gia roi cũng không chịu đi nữa. Hai têm mã phu vội vàng giữ chặt lấy con ngựa. Phò mã Triệu Câu trong lòng nghi hoặc mới xuống ngựa mà rằng:
- Con ngựa này vốn là ngựa hay, nay bỗng thế này, tất có gian nhân ẩn trong bụi cây chăng, các tướng nên mau mau tra soát.
Các tướng vâng mệnh, vừa toan tiến lên thì bỗng nghe tiếng mũi tên bay vù, xuyên qua bên tai phò mã. Các tướng đều kinh ngạc mà kêu lên rằng:
- Quả có giặc! Quả có giặc!
Phò mã Triệu Câu cũng có ý kinh sợ, ngẩng đầu lên trông thì quả nhiên thấy ở trên ngọn cây cao có một đám đen. Bỗng lại có một phát tên nữa xuyên thẳng vào ngực phò mã Triệu Câu, phò mã Triệu Câu lấy thanh bảo kiếm gạt mạnh một cái thì mũi tên ấy rơi xuống đất. Một tên gia tướng khẽ nói với phò mã Triệu Câu rằng:
- Trên ngọn cây quả có người ngồi!
Nói chưa dứt lời thì bỗng nghe có tiếng tên bắn, phò mã Triệu Câu lại giơ thanh bảo kiếm lên xua. Phò mã Triệu Câu giận lắm, truyền quân sĩ giương cung ra bắn. Bắn trong hồi lâu, chẳng thấy tăm hơi gì cả, hình như các mũi tên chỉ xuyên vào các lá cây. Lại thêm một gia tướng nữa nói:
- Có lẽ ta trông lầm!
Nói chưa dứt lời thì thấy một phát tên bắn trúng vào tay tả tên gia tướng ấy. Tên gia tướng ngã lăn xuống đất. Quân sĩ đều kinh hoảng. Phò mã Triệu Câu giận lắm. Bỗng thấy tên đâu lại bắn xuống như mưa, ai nấy đều có ý sợ. Phò mã Triệu Câu truyền cho quân sĩ múa đao lên để gạt mũi tên. Lại truyền lấy hỏa sang ra bắn. Bấy giờ bóng cây tối đen quân sĩ cứ theo bóng ấy mà bắn vào. Cây dẫu cao lớn nhưng cành khô cũng nhiều, cho nên hỏa sang bắn vào đâu thì lửa cháy lên ngùn ngụt. Sau nghe trên ngọn cây có tiếng kêu to lên rằng:
- Ta bảo cho mà biết, ta mà nhảy xuống thì nhiều đứa bỏ đời!
Nói chưa dứt lời thì có một tướng ở trên cây nhảy xuống, mặt đen nhọ chảo, mắt trợn ốc nhồi, râu ria xồm xoàm, mình mặc áo giáp, hai tay cầm hai cái búa. Viên tướng ấy giơ búa. Phăm phăm chực bổ vào đầu phò mã Triệu Câu. Quân sĩ vội vàng xúm xít lại giơ giáo lên đỡ, vòng trong vòng ngoài vây chặt lấy viên tướng ấy. Mọi người hăng hái xông vào, viên tướng ấy cứ cười ha hả mà bảo rằng:
- Lũ bọ bấc kia hay múa rối làm chi cho phiền. Ta không chém giết bay, ta chỉ tặng cho Hoàng Phủ công tử một nhát búa.
Tướng sĩ bên Hoàng Phủ quát to lên mà mắng rằng:
- Hoàng Phủ phò mã đây là dòng dõi “kim chi ngọc diệp” khi nào lại chịu giao chiến với mày!
Nói xong, liền giơ đao đánh vào mặt viên tướng ấy. Viên tướng ấy lấy búa gạt đi, rồi xông vào đánh, không hề khiếp sợ chút nào. Vừa đánh vừa cười khanh khách mà nói khích rằng:
- Hoàng Phủ công tử nếu phải là tay anh hùng thì ra tay đánh với ta mấy hợp.
Viên tướng ấy nói chưa dứt lời thì bỗng có một phát tên trúng vào cánh tay tả. Viên tướng ấy vội vàng quay mình trở lại thì lại bị luôn một phát nữa trúng vào cánh tay bên hữu, rụng rời rơi cả hai búa xuống đất. Tướng sĩ xúm xít lại mà bắt trói lại. Viên tướng ấy vẫn còn hăng hái, lấy chân đá vung lên, miệng thì chửi mắng thậm tệ. Phò mã Triệu Câu vui mừng tra cung vào túi, rồi truyền bảo các tướng sĩ rằng:
- Các ngươi cứ bắt sống, chứ không được giết chết, bây giờ giải về dinh trước, canh giữ tại đấy để ta còn xét hỏi.
Khi gia tướng giải viên tướng giặc ấy về dinh rồi thì phò mã Triệu Câu lại đi thẳng đến miếu Quan Đế, quả nhiên thấy cửa miếu đóng chặt. Quân sĩ phá toan cửa ra, người chủ giữ miếu chẳng còn hồn vía nào nữa. Đồ Man Hưng Phục cùng các tướng bấy giờ cũng luống cuống không biết làm thế nào. Nguyên Đồ Man Hưng Phục khi tế thần ở núi Thái Sơn xong, xa giá quay về, bỗng thấy thám tử phi ngựa lũ lượt kéo đến báo tin kinh thành thất thủ. Đồ Man Hưng Phục kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Các ngươi có biết duyên cớ làm sao không?
Thám tử đều nói:
- Chúng tôi không được biết rõ, chỉ thấy nhân dân trong thành kéo nhau chạy trốn, huyên truyền rằng thượng hoàng đã về triều.
Đồ Man Hưng Phục chẳng còn hồn vía nào nữa, dẫm chân kêu trời mà rằng:
- Trời ơi! Công nghiệp của ta, mười phần đã được đến chín ai ngờ một sớm hóa không! Ngày nay ta dẫu có ba nghìn quân mã, nhưng tài nào mà tiến vào kinh thành cho được, gia quyến ta tính mệnh còn gì! Chỉ lạ thay con ta bấy lâu vẫn giữ binh quyền, cớ sao bây giờ lại về tay người khác.
Đồ Man Hưng Phục còn đang ngẫm nghĩ thì bỗng nghe báo có quan trưởng sử là Vương Nhân đến. Đồ Man Hưng Phục vội vàng gọi vào hỏi chuyện. Vương Nhân bước vào, liền khóc òa lên. Đồ Man Hưng Phục vội vàng hỏi:
- Sự thể đầu đuôi thế nào. Nhà ngươi nên nói cho ta biết.
Vương Nhân lại phủ phục xuống đất mà cười sằng sặc. Đồ Man Hưng Phục nổi giận mắng rằng:
- Ai trẻ con với nhà ngươi như thế! Sự thể trong kinh thành thế nào? Nhà ngươi nói mau!
Vương Nhân nói:
- Xin đại vương chớ nóng nảy! Tôi sở dĩ khóc lóc về nỗi đại vương không có con hiền thành ra tâm quyết trong mấy mươi năm trời cũng là uổng phí. Mà sở dĩ cười là mừng về nỗi đại vương dẫu không trở về kinh thành được, cũng còn có thể chạy sang Kim Lăng để nghĩ cách khôi phục.
Nói xong, liền đem những công việc của An Quốc tướng quân làm thuật rõ đầu đuôi cho Đồ Man Hưng Phục nghe. Đồ Man Hưng Phục nghe xong, ngồi ngẩn người ra, rồi ngã nhào xuống đất. Quân sĩ xúm lại gọi trong hồi lâu mới dần dần tỉnh dậy, ròi ứa hai hàng nước mắt xuống khóc mà than rằng:
- Thôi còn chi nữa mà mong, thật giết Đồ Man Hưng Phục này! Bấy lâu uổng phí bao nhiêu tâm huyết, chỉ những mong chiếm ngôi đại bảo, để lưu nền phú quý cho con cái mai sau. Ai ngờ loài súc sinh lừa cha phản anh, đến nỗi mắc mưu không biết. Ngày nay cửa nhà ta tan nát mà binh quyền đã mất thì loài súc sinh kia cũng tính mệnh khôn toàn. Vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa thật tốt lạ thường; con gái cầm quyền chính trị trong bấy nhiêu năm trời, mà con trai thì người nào cũng đáng bậc anh hùng tài giỏi. Bây giờ ta biết xử trí làm sao cho được, quay về kinh thành hay là chạy sang Kim Lăng? Quan trưởng sự vốn là người trí rộng mưu cao,, xin hãy vì ta mà quyết định phương kế.
Vương Nhân đáp rằng:
- Bây giờ cũng không còn phương kế chi cho được! Chỉ biết rằng hãy tạm rút về Kim Lăng, rồi sẽ liệu cách thi hành. Chứ quay về kinh thành thì cũng không thể nào về được. Xin đại vương quyết đoán, tức khắc hạ lệnh đi ngay.
Đồ Man Hưng Phục tức khắc gọi các tướng đến mà giải quyết về việc phải rút quân sang Kim Lăng. Đồ Man Hưng Phục lại ứa nước mắt khóc mà bảo rằng:
- Nếu các tướng không ai theo thì tùy ý, kẻo cha mẹ vợ con đều ở kinh thành.
Các tướng khóc mà bẩm rằng:
- Dám bẩm đại vương! Chúng tôi đội ơn đại vương trong bấy nhiêu lâu, cha mẹ vợ con nhà chúng tôi cũng đều đội ơn dại vương cả. Ngày nay gặp cơn hoạn nạn, khi nào chúng tôi dám bỏ, dẫu sao cũng quyết một lòng xin theo.
Trong khi đang đi, bỗng gặp quân Hán vương kéo đến, phò mã Triệu Câu đón đánh, ba nghìn quân của Đồ Man Hưng Phục chết mất quá nửa, còn một phần ít bỏ chạy tán loạn. Các tướng gia sức hộ vệ Đồ Man Hưng Phục để phá vòng vây mà chạy trốn.
Phò mã Triệu Câu truyền cho quan trưởng sử Cao Bí đưa Hán vương cùng Ôn Thái phi và hai bà phu nhân vào trong thành, còn mình thì đem quân đi đuổi theo Đồ Man Hưng Phục. Đồ Man Hưng Phục cùng các tướng cắm đầu chạy trốn, không ngờ mặt sau vẫn có quân đuổi theo, bất đắc dĩ phải chạy vào trong núi, nhìn quanh bốn mặt khó còn được lối nào mà ra. Trong các tướng có một người Mông Cổ, tên gọi Tốc Mộc. Mình cao tám thước, sức khỏe lạ thường lại giỏi nghề cung tên. Tốc Mộc trông thấy có một cây lớn, liền nói với Đồ Man Hưng Phục rằng:
- Đại vương để tôi trèo lên nấp ở trên ngọn cây này, đợi khi Hoàng Phủ công tử tới đây, tôi sẽ bắn cho một phát trúng bụng. Nếu Hoàng Phủ công tử chết thì bọn họ như rắn không đầu, còn đi sao được, bấy giờ ta quay lại đuổi đánh, tất bọn họ phải thua.
Đồ Man Hưng Phục gật đầu. Tốc Mộc vâng mệnh, tức khắc leo lên trên cây, ngồi nấp vào một chỗ, đứng dưới không trông thấy. Đồ Man Hưng Phục lại cùng mọi người đi thẳng đến miếu Quan Đế. Cửa miếu đóng chặt. Một viên gia tướng đạp toang cửa ra, trông thấy có một người đang thắp hương cúng lễ. Người ấy nghoảnh đầu trông lại, run sợ cầm cập, tưởng là quân cướp giặc đến chực lấy của, liền nói:
- Trăm lạy các quan! Trong miếu này thực không có vàng bạc chi cả, chỉ một mình tôi thắp hương ở đây mà thôi.
Gia tướng quát to lên rằng:
- Chớ nói càn! Đức đại vương đây là dòng dõi “kim chi ngọc diệp”. Người ngẫu nhiên đi qua đây, định vào tạm nghỉ trong miếu này rồi sáng mai sẽ trọng thưởng cho nhà ngươi, nhà ngươi chớ lo sợ!
Người thủ miếu ngẩn đầu nhìn thì thấy một vị đại vương mũ áo cân đai, trạc độ bảy tuần. Hai bên có tám chín người theo hầu, mà người nào cũng mũ mao giáp vàng, khí thế có vẻ hùng dũng.
Người thủ miếu quì xuống mà bẩm rằng:
- Dám bẩm đại vương! Chúng tôi ở rừng núi, không thuộc lễ phép xin đại vương rộng lượng mà tha thứ cho.
Đồ Man Hưng Phục nói:
- Ta đây qua đây, chẳng may gặp giặc. Đại đội quân mã còn ở phía sau cả. Nay ta vào trong miếu tạm nghỉ, hễ trời gần sáng ta sẽ khởi hành. Nhà ngươi mau mau nấu cơm cho chúng ta ăn, rồi hết bao nhiêu chúng ta sẽ phát tiền trả.
Người thủ miếu vâng vâng dạ dạ, vội vàng đi nấu cơm. Đồ Man Hưng Phục cố gượng ngồi ăn, nhưng không thể nào nuốt trôi cho được. Các tướng thì ai nấy đều đều ăn để lấy sức. Khi ăn cơm xong, Đồ Man Hưng Phục ngồi nghĩ thầm trong lòng rằng: “Không biết ta có trốn sang Kim Lăng được không? Mà sang tới đấy thì sông Trường Giang kia dẫu hiểm, nhưng không biết ta có thể cố thủ mà lập nên vương nghiệp được hay không?”
Đồ Man Hưng Phục còn đang ngẫm nghĩ thì bỗng nghe thấy cửa miếu mở toang, người đâu kéo vào một lũ, ai nấy đều reo lên:
May quá! May quá! Bắt được ở đây rồi!
Đồ Man Hưng Phục và các tướng đều bị trói cả. Người thủ miếu khiếp sợ, mồ hôi toát ra đầm đầm, vội vàng sụp lạy phò mã Triệu Câu mà kêu rằng:
- Dám bẩm phò mã! Xin phò mã rộng ơn mà sinh phúc cho cái thân giun kiến này!
Phò mã Triệu Câu tha cho người thủ miếu, còn thì truyền quân sĩ giải cả về đại dinh. Khi về tới dinh, Triệu Câu mừng quá, tức khắc truyền cất quân vào thành. Phò mã Triệu Câu trông thấy ngoài thành có cắm cờ Triệu vương, biết là Triệu vương đã đến, vội vàng tiến vào trong thành. Các quan văn võ trong phủ Hán vương đều ra nghênh tiếp và dâng câu chúc mừng rằng:
- Chúng tôi xin chúc mừng phò mã đã lập được một công lớn là bắt sống được Đồ Man Hưng Phục.
Phò mã Triệu Câu nói:
- Đó là nhờ hồng phúc của triều đình, chứ chúng tôi có công trạng gì!
Khi vào tới cửa phủ, Hán vương và Triệu vương ra đón. Phò mã Triệu Câu xuống ngựa, rồi làm lễ bái kiến. Hán vương cầm lấy tay phò mã Triệu Câu mà bảo rằng:
- Thân mẫu tôi mong đợi phò mã mãi!...
Nói xong, liền cùng Triệu vương đưa phò mã Triệu Câu vào. Hai vị Thái phi trông thấy, mừng rỡ lạ thường, vội vàng đứng dậy. Phò mã Triệu Câu trước làm lễ triều kiến Mai thái phi, sau làm lễ triều kiến Ôn thái phi. Hai bà Thái phi mời ngồi rồi ban trà cho uống. Bà Mai thái phi hỏi:
- Phò mã làm thế nào mà bắt sống được Đồ Man Hưng Phục?
Phò mã Triệu Câu thuật hết đầu đuôi cho nghe. Hán vương và Triệu vương khen rằng:
- Nếu Phò mã không lưu tâm thì chắc lão gian tặc kia đã tẩu thoát được rồi!
Hai bà Thái phi đều nghiến răng mà oán trách Đồ Man Hưng Phục. Hai bà Thái phi nói:
- Đứa lão gian ấy dẫu xả thây trăm mảnh, cũng chưa đáng tội. Bao nhiêu sự tàn bạo của con Phi Giao đều bởi tại nó xui giục, nay ta nên tức khắc đem nó ra chém đầu, bất tất phải đợi đến khi Thượng hoàng về triều.
Chuyện trò hồi lâu, rồi Phò mã Triệu Câu cáo từ lui ra. Tô Ánh Tuyết phu nhân và Lưu Yến Ngọc phu nhân cùng Hùng Khởi Thần nghe tin Phò mã Triệu Câu mới về, cũng đều kéo đến. Phò mã Triệu Câu trông thấy Hùng Khởi Thần, liền cầm lấy tay mà hỏi rằng:
- Công tử đến đây bao giờ thế? Lâu nay vẫn ở đâu? Công tử làm cho Mạnh biểu huynh xiết bao phiền não!
Hùng Khởi Thần thuật hết đầu đuôi sau khi tương biệt cho phò mã Triệu Câu nghe, và bảo rằng:
- Lưu công bảo tôi cứ nhận là con của Doãn công, không nên nói rõ họ tên, sợ bị Đồ Man Hưng Phục nó hãm hại. Hiện nay tôi đang giúp việc tại phủ Triệu vương. Vừa rồi tôi được gặp hại vị cữu mẫu, mới biết Chu Thông đã đi sang Triều Tiên, và Mạnh biểu huynh ngày đêm lo phiền, điều ấy là lỗi tại tôi, tôi rất lấy làm hối hận.
Hùng Khởi Thần nói xong, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Phò mã thở dài mà than rằng:
- Thôi còn nói làm chi nữa! Chẳng qua tội lỗi tự nhà Hoàng Phủ tôi cả, để di lụy đến nhà họ Hùng. Bây giờ công tử bất tất phải giấu họ tên, khi về tới kinh thành thì một nhà lại được cùng nhau sum họp. Tờ chiếu thư của Thái hậu ban tất là tự tay thân mẫu tôi thảo, con Phi Giao khó lòng mà được sinh toàn. Nhà Hoàng Phủ tôi sau này chưa biết trị đến tội gì cho đáng.
Tô Ánh Tuyết phu nhân và Lưu Yến Ngọc phu nhân nghe nói đều xó ý xót thương. Các nữ tỳ bày tiệc, mọi người cùng ngồi uống rượu. Khi uống rượu xong, nghe báo có các quan văn võ đến bái yết. Phò mã Triệu Câu sai người mời vào, ân cần trò chuyện. Vệ Dũng Bưu thuật nỗi gia biến cho nghe và nói:
- Nhà tôi chẳng may gặp nỗi biến cố như thế này, khi nào tới kinh thành, thật không mặt mũi nào mà trông thấy gia tỷ nữa. Tôi định chờ cho đại sự thành rồi, bấy giờ sẽ liều một lưỡi gươm mà xuống suối vàng cho rảnh!
Phò mã Triệu Câu khuyên giải mà rằng:
- Xin nguyên soái chớ lấy làm phiền não. Cái nữ họa này thật gây ra tự nhà Hoàng Phủ tôi.
Chuyện trò hồi lâu, Cao Bí đứng dậy nói với phò mã Triệu Câu rằng:
- Từ xưa đến nay, phép dùng binh bao giờ cũng cần phải thần tốc. Vậy sáng sớm ngày mai, phò mã nên khởi hành tiến kinh.
Phò mã Triệu Câu nói:
- Quan trưởng sử nói câu ấy thật là cao kiến, nhưng còn đất Thanh Châu này cũng cần phải tìm người phó thác mới được.
Cao Bí nói:
- Tôi dẫu bất tài, xin tình nguyện giữ Thanh Châu.
Phò mã Triệu Câu mừng rỡ mà rằng:
- Nếu quan Trưởng sử chịu giữ Thanh Châu cho thì tôi còn lo ngại gì nữa!
Sáng hôm sau, trời mới gần sáng, Phò mã Triệu Câu giao Thanh Châu cho Cao Bí, rồi truyền lệnh cho đại đội quân mã theo Hán vương và Triệu vương tiếng về kinh địa. Khi tới ngoài thành, phò mã Triệu Câu truyền đóng quân lại, sai người do thám xem tình hình trong thành thế nào. Lại nói với Hán vương và Triệu vương thảo một bản tâu dâng thái hậu xin vào triều kiến. Hán vương và Triệu vương khen phải, rồi bảo Hùng Khởi Thần thảo một bản tâu. Hùng Khởi Thần vâng mệnh tức khắc thảo ngay. Lời văn lưu loát, không cần phải chữa một chữ nào cả. Khi Hùng Khởi Thần thảo xong bản tâu, đưa cho Phò mã Triệu Câu xem. Phò mã Triệu Câu tấm tắc khen ngợi, rồi đệ trình Hán vương và Triệu vương. Hán vương và Triệu vương khen rằng:
- Văn tài mẫn tiệp, mà lời nói cũng đắc thể, nhưng còn việc đem bản tâu vào dâng thái hậu thì bây giờ biết sai ai.
Hùng Khởi Thần quì xuống, khóc mà nói rằng:
- Xin điện hạ sai kẻ hạ thần!
Phò mã Triệu Câu nói:
- Biểu đệ vào đến trong thành, nên bảo hai em tôi mau mau định ngày để mở cửa thành cho quân ta kéo vào, chớ khiến nhân dân phải phiền nhiễu.
Nói xong, liền đem bản tâu bỏ vào trong hộp, ngoài bọc một lần gấm, giao cho Hùng Khởi Thần. Lại sai tướng tiên phong là Trương Vĩnh đem quân đi hộ tống. Hùng Khởi Thần cáo từ ra đi, Phò mã Triệu Câu lại gửi một bức gia thư và dặn rằng:
- Công tử nên cẩn thận, chớ có nóng nảy vội đến ngục thất làm chi. Đợi khi đại sự thành rồi thì cô phụ và cô mẫu sẽ được ra cả, bấy giờ cốt nhục đoàn viên, lại cùng nhau một nhà sum họp vậy.
Hùng Khởi Thần lên ngựa đi, Trương Vĩnh đem một toán quân đi theo. Khi đến ngoài thành, Trương Vĩnh tiến ngựa lên trước, gọi viên tướng thủ thành mà bảo rằng:
- Hán vương và Triệu vương có phụng mật chỉ của thái hậu đòi về triều kiến, nay sai quan tham tán đây vào trước để dâng biểu, tướng quân nên mau mau mở cửa thành.
Quan thủ thành đô đốc truyền mở cửa dành cho một mình Hùng Khởi Thần vào mà thôi, còn bao nhiêu quân sĩ đều phải đứng ở ngoài thành cả. Hùng Khởi Thần vào đến triều đường, tay cầm bản tâu, đệ trình ở trước long án. Thái hậu mở xem, động lòng xót thương,ứa hai hàng nước mắt xuống mà khóc. Lại truyền tuyên đọc cho các quan cùng nghe. Các quan văn võ triều thần cũng đều gịot lệ chứa chan. Thái hậu phán hỏi các quan văn võ rằng:
- Nay Hán vương và Triệu vương đã về đây thì còn phải dùng ai làm giám quốc nữa. Từ khi ta lâm triều chỉ lo đứa lão gian là Đồ Man Hưng Phục kia, nhưng Phò mã Triệu Câu đã bắt được rồi thì thật là một phúc to cho triều đình vậy. Âu là ngày nay ta triệu Hán vương và Triệu vương vào đây để cùng coi giữ việc nước, các quan triều thần nghĩ thế nào?
Thái hậu nói xong, lại nức nở khóc hoài. Các quan văn võ cũng đều khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Các triều thần nói rất phải! Như thế mới thật là thuận theo ý trời. Xin Thái hậu không hồ nghi gì, nên mau mau sai hai quốc cữu đem quân đi bắt Đồ Man An Quốc.
Thái hậu nghe nói, gọi Nguyễn Long Quang tướng công đến mà bảo rằng:
- Các quan triều thần xin như vậy thì tiên sinh nghĩ thế nào?
Nguyễn Long Quang tướng công lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Thần đẳng nghe mấy lời trong bản tâu của Hán vương và Triệu vương, thật lấy làm hổ thẹn muôn vàn. Thần đẳng bấy lâu bị gian nhân lừa dối, luống những mê muội không biết chi cả, từ khi được hai quận chúa ngày đêm diễn dụ thì thần đẳng đã được hiểu đại nghĩa, vậy xin một lòng tận trung báo quốc, để chuộc tội lỗi bấy lâu. Ngày nay Hán vương và Triệu vương về đây, thần đẳng thiết tưởng không cần phải lập ai làm giám quốc nữa. Vả Đồ Man An Quốc là một kẻ chỉ bó tay chịu khúm núm ở dưới quyền sư tử cái, còn có làm nên được việc gì, xin thái hậu cứ giáng chỉ mà biếm truất ngay đi và sai người đem quân đến bắt bỏ vào ngục thất.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-23 14:05:13ct.ly>
Hồi thứ 12c
Thái hậu mừng lắm, liền giáng chỉ triệu Hán vương và Triệu vương vào thành. Lại một mặt sai Triệu Phượng và Triệu Lân đem quân đi bắt gia quyến Đồ Man An Quốc. Bấy giờ đại đội quân mã của Hán vương và Triệu vương kéo vào, thế mà Đồ Man An Quốc chẳng biết một tí gì cả, suốt ngày bị bà vợ giam cấm, đành chịu ngồi bó gối ở trong xó buồng. Đồ Man An Quốc dẫu không bị gông cùm nhưng cũng chẳng khác chi một đứa tội tù, ngày ăn ba bữa cơm no, rồi lại nằm co ngủ kỹ.
Đồ Man An Quốc vẫn phàn nàn một mình rằng:
- Trời ơi! Làm thân đàn ông mà lấy phải người vợ độc ác cũng khổ một đời!
Một hôm, bỗng nghe ở ngoài phòng có tiếng người náo động, lại có tiếng kêu khóc rầm rĩ, Đồ Man An Quốc trong lòng nghi hoặc, lẩm bẩm nói một mình rằng:
“Quái lạ! Vợ ta lại hành hung mà đánh đập người nhà đầy tớ đó chăng hay là ta thử gọi hỏi xem cái gì thế.”
Đồ Man An Quốc mấy lần toan cạy cửa ra hỏi, nhưng không thể cạy được, đành đứng nghển cổ ngồi chờ. Bỗng nghe tiếng người nhao nhao ở phía ngoài cửa, có một người quát to lên mà hỏi rằng:
- Đồ Man An Quốc bây giờ ở đâu, phải nói cho thật!
Lại nghe tiếng người đàn bà đáp rằng:
- Hiện ở trong phòng này!
Đồ Man An Quốc nghe tiếng nói đàn bà quả nhiên là tiếng vợ mình, mới giật mình kinh hoảng, vội vàng phá cửa bước ra. Khi cửa vừa mở thì trông thấy một vị tướng quân tướng mạo khôi ngô, mặt trắng râu dài, hai tay cầm hai cái búa. Lại thấy người vợ là Nguyên thị đầu tóc rũ rượi, tay chân bị xiềng, vừa khóc vừa kêu oan. Đồ Man An Quốc chẳng còn hồn vía nào, mà cũng không hiểu là quân mã ở đâu kéo đến. Vị tướng quân hỏi Nguyên thị rằng:
- Có phải chồng mày đó không?
Nguyên thị khóc mà đáp rằng:
- Chính phải! Cha con hắn lập mưu phản nghịch để bây giờ di lụy đến tôi.
Vị tướng quân ấy truyền cho quân sĩ bắt trói Đồ Man An Quốc. Đồ Man An Quốc lúc đầu còn ngạc nhiên không hiểu sự thể làm sao, đến khi nghe lời vợ nới mới biết là mình trúng kế. Đồ Man An Quốc hầm hầm nổi giận, lăn xả vào mà đánh các quân sĩ. May sao quân sĩ cũng toàn thị là những tay tinh nhuệ, cho nên Đồ Man An Quốc mới không chạy thoát. Vệ Dũng Bưu cầm hai ngọn búa tiến vào, Đồ Man An Quốc vốn có sức khỏe, liền cầm cái rõi cửa xua đỡ mà hai ngọn búa không vô được đến mình. Mặt ngoài lại có quân mã kéo đến, cũng xúm vào đánh, Đồ Man An Quốc cướp được một ngọn giáo, lại thấy gia binh của mình cũng cố sức đánh, vậy nên càng thêm hăng hái bội phần. Vệ Dũng Bưu thấy vậy lo sợ, vội vàng sai người phi báo với hai quốc cữu để mau mau đem quân ra cứu viện. Lại truyền cho quân sĩ giải vợ Đồ Man An Quốc về trước. Bỗng thấy viên tướng tiên phong là Trương Vĩnh đem quân đến trợ chiến. Trương Vĩnh nói với Vệ Dũng Bưu rằng:
- Xin quan nguyên soái chớ sợ! Hôm nay tiểu tướng này xin bắt cho được đứa gian tặc kia.
Nói xong, cầm kích xông vào đánh. Gia binh nhà Đồ Man An Quốc bị mũi kích đâm phải, ai nấy đều ngã lăn ra, máu chảy đầm đìa. Vệ Dũng Bưu mừng lắm, liền gọi Trương Vĩnh mà bảo rằng:
- Trương tướng quân ơi! Tướng quân mau mau bắt lấy Đồ Man An Quốc!
Trương Vĩnh vâng mệnh rảo bước tiến vào, tay cầm ngọn kích đâm giữa bụng Đồ Man An Quốc. Đồ Man An Quốc cũng giơ ngọn giáo lên đỡ, nhưng đỡ không kịp, thành ra trúng phải quả tim, ngã lăn xuống đấy mà chết ngay, tựa hồ như quả núi Thái Sơn sụt xuống vậy. Vệ Dũng Bưu khen ngợi mà rằng:
- Cái dũng của tướng quân thật đáng kính phục! Nếu không gặp có tướng quân đến thì tôi khó lòng mà bắt được đứa gian tặc kia.
Nói xong, liền sai quân sĩ cắt lấy thủ cấp Đồ Man An Quốc, lại tịch biên hết các đồ châu bảo trong nhà, Đồ Man Hưng Phục xưa nay dẫu có ăn hối lộ các quan văn võ triều thần, nhưng vì cấp dưỡng quân sĩ cũng nhiều vậy nên trong nhà chưa lấy gì làm trù phú cho lắm. Vệ Dũng Bưu và Trương Vĩnh trở về phúc mệnh, phò mã Triệu Câu mừng rỡ xiết bao, tức khắc sai người treo bảng an dân. Triệu Phượng và Triệu Lân vào yết kiến phò mã Triệu Câu. Ba anh em gặp nhau, sự vui vẻ ấy kể sao cho xiết! Phò mã Triệu Câu nói:
- Hai em hãy rút cấm binh về yên nghỉ còn quân hai phủ toàn thị là những quân trung dũng thì ta nên sai đi tuần tiểu trong thành. Bây giờ anh phải vào triều kiến Thái hậu.
Triệu Lân nắm lay áo phò mã Triệu Câu mà bảo rằng:
- Thân huynh ơi! Thân huynh hãy thư thả để em thưa hết một lời. Việc này trước kia em chưa dám thông báo cùng thân huynh là vì còn phải dấu kín, sợ người ngoài biết chuyện.
Nói xong, liền thuật chuyện đầu đuôi việc Hùng hậu sinh hạ hoàng tử và mình đã lập kế đem ra cho phò mã Triệu Câu nghe. Phò mã Triệu Câu nghe nói mừng rỡ bội phần, liền cầm lấy tay Triệu Lân mà bảo rằng:
- Tam đệ ơi! Ta đệ thật có công “Bổ thiên cứu nhật”! Công này chẳng những tận trung với nước, mà lại chuộc được cả tội lỗi cho mẹ cha. Anh đây không biết lấy gì tạ ơn em, chỉ cúi đầu sụp lạy.
Nói xong, liền quì xuống đất. Triệu Lân luống cuống không biết làm thế nào, cũng vội vàng quì xuống khóc mà thưa rằng:
- Thân huynh ơi! Nếu năm trước không nhờ có thân huynh tiến cử em vào làm Thái y quan thì dẫu mưu kế Trương Lương (tự là Tử Phòng, là một người giỏi mưu kế nhất thời Hán) cũng không thể nào mà thi hành cho được.
Triệu Phượng lại giục phò mã Triệu Câu vào bái yết Thái hậu cùng Hoàng tử.
Thái hậu trông thấy Phò mã Triệu Câu sụp lạy, liền lấy tay đỡ dậy mà bảo rằng:
- Phò mã Triệu Câu ơi! Ngày nay ta được gặp con, thật chẳng khác nào như người trong mộng!
Phò mã Triệu Câu ứa nước mắt khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu Thái hậu! Ngày nay kẻ hạ thần bái kiến Thái hậu, thật cũng tưởng tượng như người mới được tái sinh.
Thái hậu trỏ Hoàng tử cho Phò mã Triệu Câu xem mặt, Phò mã Triệu Câu sụp lạy làm lễ triều kiến. Hoàng tử vội vàng quì xuống mà đáp lễ lại. Thái hậu tỏ ý muốn lập Hán vương, Hán vương cố xin từ chối. Bà Ôn Thái phi quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Xin thái hậu phải quyết đoán mà lập Hoàng tử mới được. Hoàng tử còn bé thì chính trị trong nước Thái hậu hãy lâm triều mà chủ trương cho, để đợi đến không Thượng hoàng về triều. Nếu ngày nay Thái hậu lập Hán vương thì thiên hạ thần dân tất sinh lời dị nghị, bảo rằng Hán vương và Triệu vương đem quân về kinh địa là cốt ý thừa cơ chiếm đoạt, chứ không phải có lòng trung quân. Vả Thiên tử dẫu bị phế nhưng thực vô tội, chỉ vì Phi Giao lập mưu giam cấm một chỗ, rồi dùng lời sàm báng mà bảo rằng Thái hậu có lòng thiên dị, muốn giết Thiên tử để lập Hán vương. Vì thế Thiên tử sợ hãi, không dám vào triều kiến Thái hậu. Than ôi! Một ông vua nhân hiếu mà không ngờ chịu tiếng bất hiếu. Cứ lấy hai lẽ ấy thì thần thiếp thiết tưởng thái hậu không nên phế thiên tử mà lập người khác. Nếu Thái hậu không chuẩn tấu cho, thần thiếp xin quyết liều mình để tỏ lòng trung thành và đền ơn Thái hậu vậy.
Bà Ôn thái phi nói xong, nức nở khóc hoài. Bà Mai thái phi cũng khóc, Hán vương và Triệu vương cũng khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu Thái hậu! Nếu thái hậu không chuẩn tấu thì thần nhi không còn mặt mũi nào mà sinh tồn ở trên nhân thế này nữa. Xin thái hậu mau mau giáng chỉ, khiến cho thiên hạ thần dân biết rằng giang sơn đã có chủ trương. Dẫu khi thượng hoàng về triều, nghe danh nghĩa chính đáng này tất cũng sẽ vui lòng vậy.
Phò mã Triệu Câu cũng hết lời tâu xin thái hậu, bấy giờ thái hậu mới gật đầu. Ai nấy đều sụp lạy rồi lui ra.
Lại nói chuyện nàng Diễm Tuyết vào bái yết Mạnh Lệ Quân Vương phi, hai bà Thái phi cùng Hùng hậu cùng hai Công chúa (Gia Tường và Hưng Bình) đều quí mến nàng là người có tài học, vừa có đức hạnh. Bấy giờ mọi người đều được vui vẻ, chỉ có Mạnh Lệ Quân Vương phi áy náy nghĩ thầm:
“Việc này ta khó nghĩ quá! Chỉ sợ thượng hoàng mãi không về triều thì bao giờ cho Thiên tử lại được lên ngôi đại bảo. Thái hậu chỉ sinh hạ có một mình Thiên tử mà nay bị lãnh cung giam cầm thì tài nào không phải đau lòng. Sự biến này thật gây ra tự tay Mạnh Lệ Quân, còn biết tránh sao cho khỏi tội!”
Mạnh Lệ Quân vương phi nghĩ quanh nghĩ quẩn lại cau mày nghiến răng mà căm tức Phi Giao. Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Phi Giao mày hỡi mày! Mày thật làm hại cha mẹ. Khiến cho cha mẹ mang tiếng bất trung. Sao mày không chết đi cho rồi, một đứa con bất hiếu như mày còn sống làm chi! Phu quân ta từ khi bỏ đi, biệt vô âm tín. Tô phu nhân và Lưu phu nhân cũng vì mày mà phải chịu bao nhiêu nỗi đắng cay. Ngày nay con cái hai phu nhân đều giữ được tiết nghĩa vẹn toàn, không ngờ ta lại vô phúc sinh ra đứa con gái yêu quái như thế!
Mạnh Lệ Quân ngẫm nghĩ hồi lâu, lại thở dài mà than rằng:
- Quái lạ! Hay là cơ trời báo ứng chẳng ngoa! Chỉ vì năm xưa ta cứ nhẫn tâm mà tham luyến cái cái ngôi Thừa tướng mãi! Ta nhớ khi Hoàng Phủ Kinh vương sắp tạ thế, còn vì ta mà phàn nàn vì nỗi năm xưa ta ngang nghạnh, dám kháng cự cùng phụ huynh ở chốn triều đường.
Mạnh Lệ Quân Vương phi càng nghĩ lại càng hối hận, giọt châu lã chã khôn cầm. Thái hậu và mọi người thấy vậy, ai cũng kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Chẳng hay vì cớ chi mà Vương phi lúc nào cũng không ráo nước mắt.
Mạnh Lệ Quân Vương phi giải nỗi thương tâm của cho mọi người nghe. Mọi người đồng thanh mà rằng:
- Chẳng qua Vương phi quá nghĩ mà tự trách mình đó thôi, chứ Phi Giao dẫu là con Vương phi nhưng từ khi tiến vào hoàng cung, vẫn giữ được một lòng trinh tĩnh, nếu không có Mã Thuận và Đồ Man Hưng Phục đêm ngày xui giục thì Phi Giao cũng không đến nỗi làm càn.
Nói chưa dứt lời thì bỗng thấy Hùng hậu quì xuống mà tâu Thái hậu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Hai mẹ con thần thiếp sở dĩ còn sống đến ngày nay, đều là nhờ một tay Mạnh Vương phi cứu giúp. Thần thiếp không biết chi báo đáp, chỉ xin cúi đầu sụp lạy mà nhận Vương phi làm nghĩa mẫu. Nếu Thái hậu không ân xá cho nhà Hoàng Phủ thì cha mẹ thần thiếp tưởng cũng không bao giờ nên ân xá vậy.
Thái hậu nghe nói gật đầu. Hai bà thái phi cùng hai công chúa cũng mừng rỡ mà nói rằng:
- Đó là một việc ơn trả nghĩa đền, Hoàng hậu nghĩ chí phải.
Mạnh Lệ Quân vương phi cố ý chối từ, Hùng hậu cứ sụp lạy mà nhận nghĩa mẫu, hoàng tử cũng sụp lạy mà nhận là ngoại tổ mẫu. Hết thảy đều chuyện trò vui vẻ, rồi lại truyền bày tiệc để cùng nhau uống rượu.
Sáng hôm sau, rung chuông nổi trống thái hậu ra ngự triều. Hoàng tử cũng đội mũ ngọc mặc áo bào, ngồi một cái kiệu nhỏ theo Thái hậu ra Kim Loan điện. Các quan văn võ triều thần đã sắp hàng ở dưới sân rồng. Tả ban thì Hán vương và Triệu vương đứng đầu; hữu ban thì có Phò mã Triệu Câu và Tề vương đứng đầu, đều phủ phục làm lễ triều kiến. Bỗng thấy các nội giám truyền chỉ rằng:
- Thái hậu truyền chỉ Tề vương, Nguyễn Long Quang tướng công, Hán vương và Triệu vương cùng lên trên điện.
Mọi người vâng mệnh bước lên. Thái hậu nói:
- Nguyễn tướng công ơi! Việc đông cung hoàng tử thế nào, tướng công vốn đã biết rõ. Hôm trước hoàng tử đã tiếp kiến Hán vương và Triệu vương rồi, ngày nay ta cho hoàng tử ra tiếp kiến các quan văn võ triều thần, tướng công nên tuyên đọc tờ chiếu thư cho các quan nghe, và bảo các quan xét nghiệm cái vằn trên bàn tay cùng điểm thất tinh ở dưới bàn chân của hoàng tử để khiến các quan đều được biết rằng giang sơn đã có chủ trương; mà một nhà Hoàng Phủ công này cũng đủ chuộc với tội kia.
Nói xong, truyền gọi nội giám Lăng Mậu mời hoàng tử lên điện, Nguyễn Long Quang tay cầm tờ chiếu thư, cất cao tiếng mà tuyên đọc. Các quan văn võ triều thần nghe xong, ai nấy đều ngẩn mặt nhìn nhau. Bỗng thấy nội giám Lăng Mậu đưa Hoàng tử ra đứng trước điện. Các quan ngẩng nhìn thì trông thấy Hoàng tử mặt mũi khôi ngô, hai mắt sáng quắc, thật giống Thượng hoàng như đúc. Nội giám Lăng Mậu cầm tay Hoàng tử cho các quan triều thần xem, lại tháo bỏ giày ra thì dưới bàn chân quả nhiên có điểm thất tinh, ai lấy đều lấy làm kinh ngạc. Các quan văn võ triều thần phủ phục làm lễ triều kiến Hoàng tử, và dâng câu chúc mừng Thái hậu.
Thái hậu phán hỏi các quan triều thần rằng:
- Ngày nay Thiên tử đã bị phế, ta muốn lập Hoàng tử, các quan nghĩ thế nào?
Các quan triều thần đều một lòng ưng thuận. Hán vương cũng tâu rõ sự thể đầu đuôi. Thái hậu lại hỏi các quan trong tôn thất rằng:
- Nếu ai có còn nghi ngờ điều gì thì cứ nói.
Các quan tôn thất đều nín lặng không ai nói gì. Tề vương quì xuống tâu rằng:
- Xin thái hậu mau mau giáng chỉ ân xá cho nhà Hùng vương. Nhà Hùng vương thật là một nhà trung nghĩa, xưa nay ít có! Lại có một người tiểu thiếp họ Hạng, dẫu chưa kết hôn cùng họ Hùng, mà cũng tình nguyện vào nhà giam, để đêm ngày hầu hạ. Muôn tâu Thái hậu! Bấy giờ kẻ hạ thần quá nghe lời Đồ Man Hưng Phục đem quân đi nã tróc gia quyến nhà Hùng vương. Ba trăm gia binh nhà họ Hùng đã toan liều mình cứu chủ, Hùng vương phải gạt đi, rồi cúi đầu đành vào ngục thất, cam chịu cực khổ trăm chiều, nhất là Phi Loan quận chúa lại càng đáng khen, một lòng thủ tiết, tình nguyện vào nhà giam, mà không hề oán hận. Nay xin thái hậu tức khắc giáng chỉ ân xá, hà tất phải đợi đến khi Thượng hoàng về triều.
Thái hậu nghe lời tâu, chưa kịp phán bảo ra làm sao thì phò mã Triệu Câu cùng hai em phủ phục ở dưới sân rồng mà tâu rằng:
- Thần đẳng nghe lời tâu của Tề vương, tự biết tội ác của mình không để đâu cho hết, chút công nhỏ mọn kia sá kể làm chi. Ngày nay triều chính đã yên, xin thái hậu đem thần đẳng giam vào ngục thất với Mã Thuận và Đồ Man Hưng Phục, để sau này xét đoán tội trạng mà đem ra hành hình.
Thái hậu ngẫm nghĩ một chút rồi phán rằng:
- Phò mã Triệu Câu ơi! Ngày nay chưa bắt được Đồ Man Định Quốc thì toán giặc ở Kim Lăng kia ta còn phải nhờ sức phò mã mới xong. Vả hai quốc cữu cũng có nhiều công lao, nếu trị tội hai quốc cữu thì sau này còn lấy chi mà khuyến khích được người khác.
Nguyễn Long Quang tướng công lại quì xuống mà tâu rằng:
- Nhà Hoàng Phủ quyết không bao giờ nên trị tội. Nếu không nhờ có công xách giỏ thuốc ở trong cung ra thì Hoàng tử lấy đâu còn đến ngày nay. Huống chi công ly gián cha con Đồ Man Hưng Phục cũng tự Mạnh Lệ Quân vương phi bày ra mà một tay Vương phi đã cứu chữa cho Thái hậu và Tả cung Hoàng hậu, Hoàng Phủ Tương vương lại liều thân đi tìm Thượng hoàng đã tám năm nay, cửa nhà tan nát đều vì việc nước. Dẫu rằng gây vạ tự tay Phi Giao hoàng hậu, nhưng một nhà đều có công lao lớn như thế, nỡ nào mà để di lụy cho đành.
Hán vương khóc mà tâu rằng:
- Phò mã Triệu Câu thật là một người trung thành vị quốc, chớ nên trị tội.
Triệu vương cùng Hoàng tử đồng thành mà tâu rằng:
- Ngày nay triều đình còn đang hiếm người, phò mã Triệu Câu khác nào như một cái trụ đá cho nước nhà. Hai vị quốc cữu cũng đều tài cao trí rộng, nếu ngày nay giam vào trong ngục thất, thì còn lấy ai phò tá hoàng gia, huống chi loài gian chưa quét sạch, gánh giang sơn này còng phải ghé một vai, há nên đem cái tội lỗi tầm thường mà khắc trách nhà Hoàng Phủ. Còn chuyện Phi Giao lộng quyền chuyên chính , chẳng qua cũng là lỗi đạo với quân thượng, chứ chưa đến nỗi dâm độc như Võ Tắc Thiên đời Đường, dám xin Thái hậu xét rõ chân tình, chớ nên câu nệ tiểu tiết vậy.
Tề vương cùng các quan triều thần đều đồng thanh bảo tấu. Thái hậu truyền bảo phò mã Triệu Câu cùng hai quốc cữu rằng:
- Các quan triều thần đã đồng thanh tâu xin như vậy thì phò mã cùng hia quốc cữu cũng không nên nói gì nữa. Ngày nay truớc hết hãy xét đoán tội Mã Thuận và Đồ Man Hưng Phục, rồi sau sẽ ân xá Hùng vương. Còn việc đi đánh Kim Lăng, phò mã nghĩ sai ai cho được?
Phò mã quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu Thái hậu! Qua nguyên soái của Triệu vương là Vệ Dũng Bưu, trí dũng kiêm toàn lại có quan tán thiện là Hùng Khởi Thần vốn là người tài giỏi. Vả có Lưu Quí bày mưu lập kế thi chẳng bao lâu tất sẽ dẹp yên được Kim Lăng. Muôn tâu thái hậu! Còn các chính sự trong triều mà khi trước Phi Giao biến cải thì nay xin thái hậu giao cho tòa nội các chỉnh đốn lại, lại theo như qui tắc của tiên vương thuở xưa. Việc xét đoán tội ác Mã Thuận và Đồ Man Hưng Phục thì xin thái hậu giao cho Tề vương hội đồng cùng tam pháp ti đòi nội giám Lăng Mậu ra, bắt khai khẩu cung mà tra hỏi cho được thực trạng.
Thái hậu nghe nói chuẩn tấu, Tề vương phụng mệnh tức khắc đi thẳng sang Tam pháp ti, nội giám Lăng Mậu đã chờ sẵn tại đấy. Khi tới nơi Lăng Mậu và các quan trong tam pháp ti đều đứng dậy nghênh tiếp. Bấy giờ quân sĩ sắp hàng hai bên, gươm tuốt sáng loè, thủ ngục quan giải Mã Thuận vào để hậu chất. Mã Thuận thương tích chưa khỏi, xiết bao đau đớn, bỗng nghe Tề vương cất to tiếng lên mà rằng:
- Mã Thuận! Tội ác của ngươi trong mười năm nay, nhà ngươi nên cứ thực tường khai. Nếu dám ẩn nặc điều gì, ta sẽ đánh cho xương rơi thịt nát.
Mã Thuận nói:
- Dám bẩm đại vương! Kẻ nô tỳ này chẳng qua chỉ cung ứng cho những việc vặt như xuất nhập chiếu chỉ mà thôi. Còn các khác trong thì có Phi Giao hoàng hậu, ngoài thì có Đồ Man đại vương, chứ không can dự gì đến tôi vậy!
Tề vương nổi giận mà rằng:
- Tội ác nhà ngươi kể sao cho xiết! Nào phiến hoặc hữu cung và hãm hại chính cung, để cho di luỵ đến Hùng vương, khiến cho Lương thừa tướng tức giận mà tự tử. Nhà ngươi lại còn tự tiêu của kho, tính tham vơ vét, bán nước buôn quan và giao thông với đảng phản nghịch. Tội ác rành rành ra đó, sao nhà ngươi còn dám già mồm!
Nói xong, liền nghoảnh lại truyền cho quân sĩ lấy roi đánh. Mã Thuận máu chảy đầm đìa, mê rồi lại tỉnh. Tề vương lại quát to lên mà rằng:
- Nếu nhà ngươi còn không chịu thú cho thật thì ta sẽ phải dùng đến hình cụ.
Mã Thuận trước còn kêu khóc, sau chết ngất đi. Tề vương lại truyền cho quân sĩ lấy nước lã phun vào mặt cho tỉnh. Khi Mã Thuận tỉnh khóc mà kêu rằng:
- Trăm lạy đại vương! Kẻ nô tỳ này xin thú.
Mã Thuận thú hết mọi tội: Vì sao mà lập mưu hãm hại chánh cung; tại vì sao mà giao thông với Đồ Man Hưng Phục tâu xin gia phong “cửu tích” cho Hoàng Phủ Tương vương; lại vì sao mà bày kế sai quan Doãn Thượng Khanh tướng công cùng quan Trạng nguyên là Hùng Khởi Phượng đi sứ ngoại quốc. Mã Thuận lại thú nhận cả cái cớ vì sợ hai bà Thái phi bày lời sàm báng, vậy nên tâu xin cho Hán vương và Triệu vương phải đi thụ phong. Còn việc thượng hoàng bỏ đi và việc bùa dấu của chánh cung thì thật không hiểu ra làm sao cả.
Mã Thuận lại nói:
- Tôi trót dại làm liều, cũng vì tham lam của cải mà quá tin lời Đồ Man Hưng Phục. Bao nhiêu những việc tôi làm, toàn thị là bởi một tay Đồ Man Hưng Phục chủ trương mưu kế. Nay đại vương hỏi đến, tôi xin thú thực, còn sống chết còn nhờ lượng đại vương.
Tề vương truyền quân sĩ giải Đồ Man Hưng Phục vào để đối chất với Mã Thuận. Đồ Man Hưng Phục thở dài mà than rằng:
- Việc đã xảy ra dường này, chẳng lẽ tôi lại đổ lỗi cho một mình Mã Thuận. Nguyên tôi lúc trước chỉ cầu được thăng quan tiến chức, không ngờ khi hữu cung thay cầm quyền chính, lại được lên làm thừa tướng, phú quý đến thế tưởng cũng đã cùng cực lắm thay. Vả thượng hoàng bỏ đi, thái hậu bị bệnh, thiên tử nhu nhược, hữu cung dẫu có tài lược, nhưng bao giờ cũng là nữ lưu. Vì thế mà tôi mới mượn uy quyền của hữu cung để mưu toan đại sự, chẳng may bị đứa nghịch tử bất hiếu, lừa cha dối anh, để đến nỗi nên cơ hội này. Những lời Mã Thuận cung xưng, quả thật không sai chút nào vậy.
Sáng hôm sau, Tề vương đem những lời cung của Mã Thuận và Đồ Man Hưng Phục vào cung đệ trình Thái hậu. Thái hậu xem xong, nổi giận mà phán rằng:
- Nếu vậy thì tội ác của con Phi Giao, ta không thể nào mà khoan thức được. Lòng người nham hiểm, việc gia phong “cửu tích” cho Hoàng Phủ Tương vương, ta vẫn tưởng là Đồ Man Hưng Phục vì xiểm mị Thiên tử mà tâu xin, không ngờ lại là kế của con Phi Giao vậy. khi ấy Mai Thái phi cố can ta, không nên để cho Hoàng Phủ Tương vương cáo về, sợ trong triều thiếu người trông cậy, nhưng ta lại lo về nỗi nhà Hoàng Phủ ta thịnh mãn thái quá, vậy nên mới thuận cho Hoàng Phủ Tương vương cáo về. Ai ngờ đều mắc kế con Phi Giao vậy. Thế thì tài lược của con Phi Giao này, lại có phần hơn Võ Tắc Thiên thuở trước. Bây giờ các quan văn võ triều thần nên cùng nhau hội nghị xem con Phi Giao đáng trị tội gì?
Phò mã Triệu Câu và hai quốc cữu quì xuống tâu:
- Tội con Phi Giao không thể khoan thứ được, xin phân thây trăm mảnh, để làm gương cho đứa gian ác mai sau.
Thái hậu ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Con Phi Giao dẫu có tội, nhưng đã sắc phong làm hoàng hậu trong bấy nhiêu năm, vậy cũng nên khinh giảm một chút.
Phò mã Triệu Câu nói:
- Muôn tâu thái hậu! Kẻ hạ thần thiết tưởng nên gia trọng, chớ không nên khinh giảm.
Các quan văn võ triều thần đều đồng thanh mà tâu xin Thái hậu khoan tha cho Phi Giao.
o0o
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
hồi thứ mười ba
LỘ MƯU GIAN ĐỒ MAN VÀO NGỤC
VÌ VIỆC NƯỚC THƯỢNG HOÀNG VỀ TRIỀU


Lại nói chuyện Hùng vương bị giam cấm trong tám năm trời, mà không hề oán giận một câu gì. Ngày nay thái hậu lâm triều vẫn định tức khắc ân xá cho Hùng vương, nhưng Mạnh Lệ Quân vương phi tâu xin hãy xét đoán tội ác của Mã Thuận và Đồ Man Hưng Phục trước, vì thế mà Hùng vương lại phải chậm mất mấy ngày chưa được ân xá.
Khi xét đoán tội ác của Mã Thuận và Đồ Man Hưng Phục xong. Mạnh Lệ Quân vương phi tâu xin thái hậu tuyên bá cho thần dân biết rằng Hùng vương vốn người trung thành, chứ thật không phải có lòng phản nghịch. Hùng vương nghe được tin ấy mừng rỡ mà rằng:
- Nếu vậy thì Mạnh vương phi thật là tài cao trí rộng. Việc cứu cho vợ chồng ta khỏi chết, chưa lấy gì làm lạ, chứ việc rửa được tiếng oan cho vợ chồng ta thì ơn ấy dẫu mai sau ngậm vòng kết cỏ cũng chưa đủ báo đền.

Vệ Dũng Nga vương phi cũng gạt nước mắt mà rằng:
- Phu quân ơi! Bây giờ tôi trông thấy mạnh vương phi thì tôi biết nói làm sao cho được! Xót thương thay năm xưa ở chốn pháp trường ba mẹ con vương phi khóc than kể lể, mà tôi thì cứ oán trách nọ kia. Ai ngờ trong lòng Mạnh vương phi vốn đã có mưu kế từ ấy.
Hai vợ chồng Hùng vương đang cùng nhau trò chuyện thì Phạm lão bà đến, tươi cười hớn hở mà thưa rằng:
- Tôi xin có lời chúc mừng vương gia và vương phi. Chỉ trong một vài hôm nữa đã được thoát khỏi nơi ngục thất này. Lần lần tháng trọn ngày qua mà thành ra ở đây đã tám năm trời vậy. Vương gia và vương phi ơi! Tôi có đứa con trai tên gọi Phạm Kim, xin vương phi làm ơn cho ra theo hầu hạ tại nơi vương phủ, để khỏi đến nỗi làm nghề đầu trâu mặt ngựa ở trong ngục thất này. Than ôi! Cái nghề đầu trâu mặt ngựa kiếm được đồng tiền phân bạc, còn gì là chút lương tâm! Vậy tôi muốn xin cho nó vào hầu hạ vương gia và vương phi thì già này cũng được đành lòng yên dạ.
Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Mụ vốn có lòng tử tế với ta trong mấy năm nay, ngày nay vợ chồng ta được ra thì làm gì mà chẳng bao dung cho một đứa con mụ!
Phạm lão bà nghe nói mừng rỡ xiết bao, lại vội vàng đứng dậy hầu hạ cơm nước. Vợ chồng con cái nhà họ Hùng cùng ngồi lại ăn cơm, Hùng Khởi Thần kể lể những nông nỗi sau khi tương biệt. Khi thuật đến chuyện nàng Văn Cơ thì Hùng Khởi Thần không khỏi có ý giấu diếm một đôi chút., trước là sợ thân mẫu nghe chuyện mà tức giận, sau là sợ Phi Loan quận chúa lại đem lòng nghi ngờ cho mình chăng, vậy nên cứ hàm hồ không dám nói hết lời, chỉ nói là nàng Văn Cơ bị bắt mà thôi. Mãi đến buổi tối Hùng Khởi Thần mới nói riêng cho cha mẹ nghe. Vệ Dũng Nga nghe nói căm tức bội phần mà rằng:
- Nếu vậy thì Vệ Dũng Bưu thật không phải giống người! Dung túng cho đứa tiểu thiếp và đứa tiện nữ làm càn như vậy thì gia thanh họ Vệ còn ra thế nào! Xưa nay ta vẫn oán trách nhà họ Mạnh dung túng con gái làm càn, ai ngờ con gái họ Vệ lại bội phần nhơ nhuốc. Con Phi Giao chẳng qua chỉ lộng quyền chuyên chính, chưa đến nỗi điếm nhục khuê phòng, còn như con Văn Cơ này thì thất tiết phạm gian, lại là vợ đứa phản nghịch, trăm phần hổ thẹn, ta còn mặt mũi nào trông thấy Mạnh Lệ Quân vương phi nữa.
Hùng vương cũng thở ngắn than dài, Hùng Khởi Thần lại tìm lời khuyên giải hai thân. Hùng Khởi Thần nói:
- Nàng Văn Cơ là con một người tiểu thiếp, hà tất hai thân phải phiền lòng. Huống chi cữu phụ con cũng lấy việc này làm căm tức vô cùng, lúc thì toan cắt tóc đi tu, lúc thì toan liều mình tự tử. Vả việc này thật bởi con mà sinh ra rắc rối, vậy khi hai thân có giáp mặt với cữu phụ con, cũng chớ nên oán trách làm chi.
Đang nói chuyện thì bỗng thấy Phạm lão bà bước vào, nét mặt tươi cười mà rằng:
- Tôi xin chúc mừng vương gia và vương phi! Thái hậu đã ban chiếu thư đến. Mạnh vương phi, Hoàng Phủ phò mã và hai quốc cữu đã đem ngựa xe đến đón, trống giong cờ mở, huyên náo lạ thường! Tôi đến chực đây, chỉ cốt xin vương gia cho đứa con tôi theo vào nơi vương phủ để sau này được làm một chức quan nhỏ vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi cầm lấy tay mà bảo rằng:
- Phạm lão bà ơi! Hai mẹ con mụ tử tế với ta bấy lâu, ta rất lấy làm cảm tạ. Nhưng ta cùng vương gia ra chuyến này, đã quyết cáo về thì còn làm thế nào mà bổ quan chức được cho con mụ. Vậy ta sẽ thưởng tiền bạc cho, đã có tiền bạc, sau này muốn có quan chức cũng chẳng khó chi!
Nói chưa dứt lời thì bỗng thấy cửa ngoài lũ lượt kéo vào, nào Mạnh Lệ Quân vương phi, nào Tô Ánh Tuyết phu nhân, nào Lưu Yến Ngọc phu nhân. Vệ Dũng Nga vương phi không đợi cho vào tới nơi, vội vàng chạy ra cầm lấy tay Mạnh Lệ Quân vương phi mà bảo rằng:
- Mạnh vương phi ơi! Năm trước tôi oán trách vương phi ở chốn pháp trường, thật là tôi kiến thức hẹp hòi quá, ngày nay nghĩ lại, mới biết vương phi trí rộng tài cao! Vương phi đã làm ơn cho vợ chồng tôi nhiều lắm, nào giải tỏ tình oan cho vợ chồng tôi, nào chữa bệnh điên cho con gái tôi. Lệnh lang thì cứu được hoàng tử ở trong cung ra, lệnh ái thì cam chịu đắng cay ở nơi ngục thất. Vương phi đem tài lược nữ anh hùng mà phò vua giúp nước, còn hai vợ chồng tôi dẫu rằng trung thành, nhưng bẩm tính ngu ngốc, thì bấy lâu giam cấm thiết tưởng cũng chẳng đáng thương!
Vệ Dũng Nga vương phi vừa nói xong, vừa khóc vừa sụp lạy, Mạnh Lệ Quân vương phi cũng nước mắt chứa chan, liền quì xuống đất mà đáp rằng:
- Vệ vương phi ơi! Vương phi dạy quá lời, tôi đây thật là thiên thu tội nhân vậy. Trong bấy nhiêu năm trời nay, tôi uổng phí bao nhiêu tâm quyết, trước là muốn báo ơn triều đình, sau là muốn trả nghĩa vương phi đó. Ngày nay đại sự đã gần yên ổn, chỉ có thượng hoàng chưa biết tông tích ở đâu, phu quân tôi đi tìm thượng hoàng cũng chưa thấy về. Bây giờ mời vương gia và vương phi ra đứng làm thạch trụ cho triều đình, còn tôi và các con tôi sẽ xin cáo quan trở về, rồi chia nhau đi khắp góc bể chân trời, họa may tìm thấy thượng hoàng thì tội của Mạnh Lệ Quân này mới giảm bớt được đôi chút.
Phi Loan quận chúa cũng khóc mà sụp lạy. Tô Ánh Tuyết phu nhân và Lưu Yến Ngọc phu nhân liền cầm lấy tay mà rằng:
- Phi Loan con ơi! Xót thương cho con bấy lâu nay luống cam chịu trăm chiều cực khổ!
Mạnh Lệ Quân vương phi lại càng đau xót bội phần, ôm lấy Phi Loan quận chúa mà nức nở khóc, vừa khóc vừa nói:
- Phi Giao mày hỡi mày! Ta nghĩ bao nhiêu lại càng căm tức bấy nhiêu! Tội của Mạnh Lệ Quân này, biết bao giờ mà rửa cho sạch!
Bấy giờ nàng Hạng Ngọc Thanh ẵm tiểu công tử ra chào. Mạnh Lệ Quân vương phi và hai phu nhân đều kinh ngạc mà rằng:
- Ta không ngờ nàng lại là một người nhan sắc xinh đẹp tuyệt trần như thế!
Nàng Hạng Ngọc Thanh sụp lạy. Mạnh Lệ Quân vương phi sai người đỡ dậy mà bảo rằng:
- Nương tử ơi! Nương tử thật là một bậc kỳ nữ thế gian hiếm có! Chịu ngậm đắng nuốt cay để giữ trọn hai chữ “Tiết nghĩa” chẳng qua cũng vì vương gia và vương phi có lòng trung thành, cho nên trời sai một người kỳ nữ xuống để sớm khuya hầu hạ vậy.
Mạnh Lệ Quân vương phi trông thấy tiểu công tử mặt mũi khôi ngô, cũng xúc động trong lòng, rồi ứa nước mắt khóc mà rằng:
- Vệ vương phi ơi! Vương phi đã có cháu lớn, mà các con tôi thì phần nhiều vẫn còn phòng không, nhất là Triệu Lân lại càng đáng thương, mới ngần ấy tuổi mà trên đầu đã điểm tóc bạc. Rút lại thì chỉ bởi tội ác của Mạnh Lệ Quân này để di lụy đến con cái!
Khi xe Hùng vương ở trong ngục ra, người xem đông như kiến cỏ, già trẻ lớn bé, ai nấy đều trỏ mà bảo nhau rằng:
- Ngày nay Hùng vương được ra mà Mã Thuận và Đồ Man Hưng Phục thì phải vào ngục, đạo trời báo ứng rất ghê, chỉ trong vòng mười năm, đã trông thấy sự kết quả.
Phò mã Triệu Câu và hai quốc cữu nghe được câu ấy đều thở dài mà than rằng:
- Nếu Hùng vương không phải là người hiền đức thì khi nào nhân dân trong nước lại có những câu nói như thế!
Hùng vương vào ngồi trong một thư viện, kể lể những câu chuyện về trước. Mỗi khi nói đến chuyện quân thượng thì ai nấy đều hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Hùng vương lại thở dài mà than rằng:
- Xót thương cho Hùng Hiệu này năm xưa cũng ngu ngốc quá, sao không biết bỏ quan đi tìm thượng hoàng. Hễ tìm thấy thượng hoàng về là một cái may cho nước nhà, mà không tìm thấy thì chẳng thà liều thân ở nơi quê người đất khách!
Phò mã Triệu Câu và hai quốc cữu nghe nói, lại động lòng thương xót mà giọt châu lã chã khôn cầm.
Bỗng thấy một đứa tiểu đồng hoảng hốt chạy vào báo rằng:
- Dám bẩm vương gia! Có quan nội giám Lăng Mậu đến nói là Mạnh vương phi bị bệnh, đã sắp đưa về đây, xin mời phò mã và hai quốc cữu ra để thưa chuyện.
Phò mã Triệu Câu vội vàng ra tiếp kiến nội giám Lăng Mậu, Lăng Mậu trông thấy phò mã Triệu Câu, liền đệ trình một tờ biểu chương mà nói rằng:
- Dám bẩm phò mã! Đây là tờ biểu tạ ân của Phi Giao hoàng hậu trong khi từ trần đó. Khi thái hậu xem xong, cầm trao cho Mạnh vương phi, Mạnh vương phi trông thấy, bỗng thổ huyết ra, rồi ngất người đi mà ngã xuống đấy. Hai vị phu nhân cùng tả cung hoàng hậu đều xúm lại nâng đỡ. Gia Tường công chúa tâu thái hậu xin đưa Mạnh vương phi về tịnh dưỡng tại phủ phò mã, vậy nay đã sắp về tới đây. Phò mã ơi! Tôi nghĩ càng căm tức cho Phi Giao hoàng hậu, bấy lâu nỡ lòng nào mà giam cấm thái hậu cùng Mạnh vương phi. Ngày nay Phi Giao hoàng hậu phải vào lãnh cung thật đã đáng kiếp! Phi Giao trông thấy tôi đến, liền hỏi: “Có chiếu thư đến đó phải không?” Tôi đáp: “Thái hậu có chiếu thư đến, truyền cho lệnh bà nên tự tận.” Trời ơi thế mà Phi Giao hoàng hậu nét mặt vẫn không hề biến đổi. Thiên tử thì vật mình lăn khóc, lại ôm lấy Phi Giao hoàng hậu mà rằng: “Hoàng hậu ơi! Vì trẫm mà di lụy đến hoàng hậu! Chẳng thà ngày nay cùng chết cho rồi!” Phi Giao hoàng hậu sai hai người cung nữ vực thiên tử sang phòng bên cạnh, rồi ngồi viết tờ biểu tạ ân giao cho tôi. Lại chỉnh tề mũ áo, trước lạy tạ thượng hoàng và thái hậu, sau nghoảnh lại phòng bên lạy tạ thiên tử, rồi lạy đến cha mẹ. Khi lạy xong ,bấy giờ mới khóc òa lên mà daăn tôi nói với phò mã rằng: “Mấy câu phò mã khuyên bảo năm trước, ngày nay dẫu về nơi chín suối, vẫn còn ghi nhớ trong lòng". Phi Giao hoàng hậu lại dặn các cung nữ rằng: “Các con nên chăm chỉ hầu hạ thiên tử, đợi khi thượng hoàng về triều thì các con sẽ được theo thiên tử ra khỏi chốn lãnh cung này. Hễ thiên tử có tưởng nhớ đến ta thì các con nên tìm lời khuyên giải, nói là tội ta đáng chết”. Phò mã ơi! Phi Giao hoàng hậu dặn bảo xong thì đuổi mọi người ra, đóng chặt cửa lại, rồi dùng cái khăn là mà thắt cổ tự tử. Tôi đem tờ biểu về dâng thái hậu, thái hậu xem xong trao cho mọi người xem, ai nấy đều ứa nước mắt khóc. Mạnh vương phi nghe xong tờ biểu thì thổ huyết mà ngất người đi. Tả cung lại càng kinh hoảng bội phần, tâu xin thái hậu tức khắc cho triệu quốc cữu Triệu Lân vào cung để chữa thuốc, Gia Tường công chúa thì tâu xin được ra tịnh dưỡng tại phủ phò mã. Thái hậu chuẩn y lời tâu của Gia Tường công chúa. Tả cung hoàng hậu khóc mà tâu rằng: “Thần thiếp chịu ơn nghĩa mẫu, chưa báo đáp được tý gì, trong lòng nghĩ lấy làm áy náy. Việc này khởi hấn tự thần thiếp, nếu thần thiếp không quá nghe lời cung nữ mà đòi lại quyền chính thì có lẽ Phi Giao cũng chưa đến nỗi làm càn. Vả Phi Giao là chỗ thân tình, xin thái hậu đặc cách thi ân cho được mai táng theo lễ “Quý phi”, để yên lòng thiên tử. Hai bà thái phi cũng cố tâu xin như lời tả cung hoàng hậu. Bấy giờ thái hậu mới chuẩn tấu, sai nội giám Thẩm Nhân sửa soạn quan quách, theo lễ “Quý phi” để sau khi ba ngày thì đem an táng tại Tiểu Hoa Sơn. Khi khâm liệm Phi Giao thì tả cung hoàng hậu, Tô phu nhân và Lưu phu nhân đều đến khóc, chỉ có Gia Tường công chúa còn phải đưa Mạnh vương phi về phủ vậy.
Nội giám Lăng Mậu nói xong thì phò mã Triệu Câu và hai quốc cữu đều giậm chân khóc òa lên. Phần thì thương Phi Giao hoàng hậu; phần thì thương Mạnh Lệ Quân vương phi trên vì nước dưới vì nhà mà phải chịu bao nhiêu nỗi đắng cay khổ sở. Lao lực quá thành bệnh, chưa biết có chữa khỏi được hay không.
Lăng Mậu cáo từ lui ra. Phò mã Triệu Câu bảo Triệu Phượng và Triệu Lân rằng:
- Ngày nay anh em ta nên đem binh quyền giao cho Hùng vương thì triều đình mới không phải lo ngại. Bây giờ tam đệ mau mau đi đón thân mẫu, còn ta đây sẽ thảo một tờ biểu để sáng mai tâu thái hậu.
Triệu Lân vội vàng lên ngựa đi ngay. Phò mã Triệu Câu cầm tờ biểu của Phi Giao đem vào đưa cho Hùng vương xem.
Tờ biểu như sau:

“Tội thiếp là Hoàng Phủ Phi Giao xin cúi tâu để thái hậu soi xét:
Nguyên tôi thiếp này, từ thuở ngây thơ, vẫn giữ nếp nhà khuôn phép; đến khi khôn lớn, may được lượng thánh đoái thương. Nào ngờ tấc dạ nghĩ sai để đến nghìn thu đeo tiếng. Tự mình gây vạ, dẫu chết cũng cam. Hiềm một nỗi thiên tử vốn tính nhân từ, hết lòng hiếu kính. Vả lại thông minh ít có, chỉ trót vì ham sự vui chơi; chẳng qua phiến hoặc tại ai, nên đã quá nghe lời khuyên bảo.
Nay tội lớn đã có người đảm nhận, vậy ngôi trời chớ nên để chuyển đi. Huống chi thái hậu sinh được có một thiên tử, vạn nhất xảy ra sự gì thì trên phụ ơn đức thượng hoàng, dưới đau lòng cháu thái tôn biết là dường nào!
Cha mẹ anh em tội thiếp này, đã có công tận trung báo quốc, thiết tưởng cũng có thể đem công mà chuộc tội. Đó là tùy lượng hải hà của thái hậu, chứ không phải quan hệ ở mấy lời thô thiển của tội thiếp này.
Tội thiếp này xin kính chúc thái hậu và tả hoàng hậu đều được vạn thọ vô cương. Còn như cha mẹ anh em tội thiếp này, có nghĩ đến tình máu mủ mà rỏ giọt nước mắt để thay chén rượu chiêu hồn thì tội thiếp này ở dưới suối vàng cũng được ngậm cười vậy.”


Hùng vương xem xong thở dài mà than rằng:
- Khen cho con Phi Giao thật là một người tài giỏi hơn đời! Trừ phi Mạnh vương phi, khó ai địch nổi. Văn chương thì có phần lại xuất sắc hơn Mạnh vương phi, khôn ngoan rất mực nói năng phải lời, thế mới biết con tạo cũng khắt khe thật. Ngày nay Mạnh vương phi còn đang bị bệnh thì hiền điệt hãy nên chủ trương việc binh quyền.
Phò mã Triệu Câu và Triệu Phượng đồng thanh mà rằng:
- Chính vì thế mà chúng con muốn được cô phụ chủ trương binh quyền để giúp đỡ cho.
Nói xong, lại thuật hết đầu đuôi mọi lẽ cho Hùng vương nghe. Hùng vương chối từ mà rằng:
- Ta được ân xá, cũng đã quá lắm rồi, khi nào lại dám chủ trương binh quyền. Huống chi trong mười năm nay, thần trí giảm suy, sao được lanh lợi bằng phò mã cùng hai vị quốc cữu.
Phò mã Triệu Câu khóc mà đáp rằng:
- Cô phụ ơi! Nước nhà ngày nay mới gọi là tạm yên, nhưng hai đứa gian thần kia vẫn còn chưa chém, con sợ đảng võ của nó, hoặc giả lại gây ra cuộc binh đao. Nếu cô phụ không chịu chủ trương binh quyền cho thì chúng con e công lao bấy lâu cũng thành ra uổng phí cả.
Bỗng thấy mặt ngoài tiếng người huyên náo. Triệu Lân đã đưa Mạnh Lệ Quân vương phi về. Phò mã Triệu Câu cùng hai quốc cữu xúm lại đỡ Mạnh Lệ Quân vương phi vào trong phòng. Phò mã Triệu Câu cầm lấy tay Mạnh Lệ Quân mà gọi:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu ơi!
Mạnh Lệ Quân vương phi cứ đưa mắt nhìn mà không mở miệng nói được. Triệu Phượng thấy vậy, liền khóc òa lên. Triệu Lân vội vàng gạt đi mà bảo rằng:
- Chớ làm náo động! Thân mẫu ta dẫu mê mẫn nhưng mạch lý không hề chi, chẳng qua chỉ vì quá nghĩ mà can hỏa bốc lên đó thôi. Nếu tịnh dưỡng ít lâu, tinh thàn sẽ lại hồi phục.
Hùng vương ở trong triều về, phàn nàn với phò mã Triệu Câu rằng:
- Hôm nay thái hậu lại bắt tôi phải nhận chức cũ. Thiên tử thì cho sang ở Trường Thu viện cùng với Chu vương. Phi Giao trước bị biếm truất, nay đã chết rồi, cũng được khoan miễn. Lại ban chiếu thư đi khắp bốn phương: Hễ ai dò biết tin tức thượng hoàng ở đâu thì được phong quan và thưởng vàng vạn lạng; ai tìm thấy thượng hoàng đưa về thì được đời đời phong vương cùng nước cùng hưởng phúc lâu dài. Bấy giờ tôi tức khắc phải tới Bình Giang phủ để điều binh khiển tướng, sắp sửa đi đánh Kim Lăng. Nội nhân tôi thì thái hậu lưu lại trong cung chỉ có Lương Cẩm Hà và Hạng Ngọc Thanh ra về mà thôi. Nước nhà ngày nay trông cậy ở phò mã và hai quốc cữu, thế thì phò mã và hai quốc cữu nnê phải giữ gìn thân thể, trước là trông nom việc thuốc thang cho thân mẫu, sau là khiến cho thân phụ ở nơi góc bể bên trời cũng được yên lòng vậy.
Nói xong, lại vội vàng gọi Hùng Khởi Thần mà bảo rằng:
-Cữu mẫu ( trỏ Mạnh Lệ Quân) dẫu bị trọng bệnh, nhưng con bất tất phải lo ngại, một người tận trung báo quốc có lẽ nào trời hại bao giờ! Con nên mau mau sửa soạn để đi tòng quân, vừa rồi ở trước mặt thân mẫu con, ta đã thay lời mà cáo từ cho con rồi đó.
Hùng Khởi Thần vâng lời, liền vào nhà trong từ biệt cùng Mạnh Lệ Quân vương phi, vương phi ngây người ra nhìn mà kho nói chi cả. Hùng Khởi Thần cúi đầu sụp lạy rồi lại ứa nước mắt khóc mà theo thân phụ ra đi.
Ngày hôm sau, Hùng vương đã điểm duyệt đại đội quân mã để sửa soạn việc khởi binh. Lưu Quí làm tham mưu, mà tướng tiên phong thì đã có Trương Vĩnh, cũng là một tay anh hùng vô địch.
Đến ngày làm lễ an táng Phi Giao, trong sáu cung cũng đều phát tang cả. Phò mã Triệu Câu và hai quốc cữu vật mình lăn khóc, anh khóc em, em khóc chị, ai nấy đều hạt châu lã chã khôn cầm. Khi đặt áo quan xuống huyệt tại Tiểu Hoa Sơn, nhân vì có tội, không được phong thần và không được trồng cây. Phò mã Triệu Câu và hai quốc cữu thấy vậy trong lòng lại càng chua xót. Phò mã Triệu Câu nghĩ thầm: “Vừa mới ngày nào uy quyền nhất nước, nhan sắc nghiêng thành mà ngày nay đã một nắm cỏ xanh, chôn chặt trong ba thước đất!” Tả cung hoàng hậu phái người ra tế một tuần rượu. Lại cắt cung nữ và nội giám ra canh thủ nơi mộ địa. Tô Ánh Tuyết phu nhân và Lưu Yến Ngọc phu nhân cùng Phi Loan quận chúa thì còn ở đấy hết bảy ngày mới về.
Bấy giờ Mạnh Lệ Quân vương phi cứ ngày đêm li bì như người ngủ say, mọi người thấy vậy đều lấy làm kinh hoảng. Thái hậu cũng bội phần lo sợ, một ngày ba lần sai nội giám đến thăm, nhất là tả cung hoàng hậu lại càng phiền não.
Nàng Diễm Tuyết bỗng tâu với thái hậu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Thần thiếp ngắm xem tinh tượng thì thấy ngôi Thái thượng đế tinh đã có ánh sáng thẳng chiếu vào sao Tử vi, chắc rằng thượng hoàng sắp về, xin thái hậu sửa soạn lễ nghênh tiếp.
Thái hậu ngẫm nghĩ một lúc rồi thở dài mà phán rằng:
- Diễm Tuyết con ơi! Con sợ ta lo phiền mà nói như thế đó thôi, chứ mong gì còn có ngày ấy.
nàng Diễm Tuyết lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Thần thiếp không dám khi mạng! Cứ như tinh thượng thì ngày nay chẳng những thượng hoàng về triều, thần thiếp chắc rằng thiên tử cũng sẽ được phục vị.
Thái hậu nghe nói nửa tin nửa ngờ, mật sai Vệ Dũng Nga vương phi ra thuật chuyện cho Hùng vương nghe, bảo Hùng vương họp các quan văn võ triều thần bàn lễ nghênh tiếp, nhưng cấm không được tuyên tiết. Khi có đạo mật chỉ ấy ra, Nguyễn Long Quang tướng công cùng các quan văn võ triều thần bàn lễ nghênh tiếp. Hùng vương xướng nghị định: cứ cách năm dặm đường lại làm một cái nhà trạm để bái vọng,trên cắm cờ vàng, tàn vàng cho được trọng thể.
Lại nói chuyện Hoàng Phủ Thiếu Hoa từ khi đem đứa con nhỏ đi tìm thượng hoàng. Trong khi đi đường, cải dạng mặc đồ đạo phục, đi đến các nơi danh lam thắng cảnh, đều xin vào ngủ trọ một vài hôm để dò la tin tức. Trong mười ba tỉnh thành, đi chưa được nửa mà đã giày rách chân đau. Hoàng Phủ Thiếu Hoa dẫu nguyên là võ tướng, nhưng trong nước thái bình đã lâu, vả xưa nay động đi đến đâu thì xe xe ngựa ngựa, những nơi lâu các, ăn những vị cao lương, ngày nay bỗng lặn lội đường trường trong năm năm trời, tinh thần đã thấy mỏi mệt. Chỉ có ngũ lang còn bé, cho nên suốt ngày vẫn vui chơi, viên đất bắn chim. Một hôm đi đến tỉnh Hà Nam, bỗng nghe tiếng chuông ở phía ngoài thành, ngẩng trông một ngọn tháp cao, chùa đâu đã gần kề trước mặt. Nguyên chùa ấy tên gọi Ngõa Cung tự, đến đời nhà Tống, Lỗ Trí Thâm phóng hỏa đốt thành bình địa. Về sau các nhà phú hào ở trong hương thôn mới rủ nhau phát tâm quyên tiền tái tạo, lại thành ra một nơi thắng cảnh danh lam. Đến bây giờ gần được hai trăm năm. Trong chùa có hơn một trăm tăng nhân trụ trì, nhưng trong bọn từ bi không khỏi có phường gian ác. Hoàng Phủ Thiếu Hoa thấy trời gần tối, mới vào chùa ngủ trọ. Người giám tự đưa vào nói với sư cụ Trí Viên ở phòng số ba mươi lăm. Khi Hoàng Phủ Thiếu Hoa vào tới nơi thì có năm vị tăng hoan hỉ chạy ra mời ngồi rồi hỏi rằng:
- Chẳng hay tiên sinh tên họ là gì? Cậu nhỏ này có phải là học trò của tiên sinh đó không? Ngày nay tiên sinh định đi chơi đâu mà lại qua đây?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa đáp lại rằng:
- Tôi họ Doãn, đạo hiệu là Siêu Nhiên, đứa bé này là con tôi, chứ không phải học trò. Nó cũng ham sự nhàn du, cho nên mới theo tôi. Tôi vốn nghe chỗ này là nơi thắng cảnh, vậy xin ở chơi đây mấy hôm, rồi lại khởi hành.
Sư cụ Viên Trí đáp rằng:
- Được! Người cứ ở đây! Có cái phòng nhỏ tại phía tây này rất sạch sẽ.
Nói xong, liền bảo người đi sửa soạn cơm chay để khoản đãi. Sự cụ Trí Viên ngồi nói chuyện mãi, đã gần hết canh một Hoàng Phủ Thiếu Hoa nhọc mệt quá, cố gượng ăn được có một lưng cơm. Sau hai cha con Hoàng Phủ Thiếu Hoa cáo từ xin sang tây phòng yên nghỉ. Năm người tăng nhân cùng đưa sang, lại xếp dọn đây đấy rồi quay ra. Hoàng Phủ Thiếu Hoa không kịp cởi áo, cứ nằm nguyên như thế mà ngủ, Trương Thành cũng ngủ say thiếp đi. Ngũ lang Triệu Thụy trong lòng nghi hoặc, nghĩ thầm: “Năm vị tăng nhân này, ta xem ý không phải là người lương thiện. Vừa rồi chúng cứ chú ý mà nhìn vào những đồ hành lý của thân phụ ta, chắc là chúng có lòng gian tham vậy. Chi bằng ta thử nghe xem thế nào.”
Triệu Thụy nghĩ vậy, mới tắt đèn mà ngồi lặng thinh. Bấy giờ đã sang canh ba, bỗng nghe tiếng cạy cửa, hai cánh cửa đã thấy sọc sạch gần ngỏ. Triệu Thụy ở trong phòng, chẳng còn hồn vía nào. Vội vàng kéo áo gọi Hoàng Phủ Thiếu Hoa mà bảo rằng:
- Thân phụ ơi! thân phụ dậy mau có sự nguy cấp!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa giật mình tỉnh dậy liền hỏi:
- Cái gì thế?
Triệu Thụy nói chưa dứt lời thì cửa đã vở toang, thấp thoáng trông thấy có năm người, đều tay cầm lưỡi dao sáng loáng, chạy xô đến cạnh giường Hoàng Phủ Thiếu Hoa nằm. Hoàng Phủ Thiếu Hoa vùng dậy đá ngay một cái, một người ngã lăn xuống đất. Hai người nữa bị cung bắn vào mù mắt, cũng ngã lăn ra. Hoàng Phủ Thiếu Hoa liền rút thanh bảo kiếm chét luôn mấy nhát. Bấy giờ Trương Thành đã hoảng hốt vùng dậy, đi châm lửa soi, trông thấy bọn tăng nhân cả thảy năm người nằm ngang dọc ở dưới đất đều đầm đìa máu chảy. Hai người lòi mắt và ba người trọng thương. Hai người lòi mắt còn sống, trong miệng lúng búng không hiểu nói những câu gì. Năm lưỡi dao găm thì rơi ở mặt đất. Hoàng Phủ Thiếu Hoa thấy vậy tức giận không biết dường nào. Hoàng Phủ Thiếu Hoa lấy chân đá hai vị hòa thượng ấy bảo dậy, rồi quát mắng mà hỏi rằng:
- Mấy thằng sư hổ mang kia! Ta cùng các ngươi không có thù oán gì với nhau cả, cớ sao các ngươi lại sinh lòng độc ác như thế này? Các ngươi nên thú thật, ta sẽ tha chết cho.
Hai vị hòa thượng lòi mắt ấy vừa khóc vừa nói:
- Chúng tôi tu hành ở đây, không biết lấy gì làm sinh nhai, chỉ trông nhờ về những du khách qua lại ngủ trọ. Hễ ai có tiền của thì chúng tôi phải mưu hại để cướp lấy làm miếng ăn. Ngày nay chúng tôi trông thấy người theo hầu của tiên sinh gánh một cái đãi mà đến nỗi sụt bùn lên đến bụng chân thì đủ biết rằng trong đãy tất có nhiều vàng bạc. Bởi vậy sư phụ chúng tôi rủ chúng tôi đến giết tiên sinh, không ngờ tiên sinh là tay vũ dũng. Lại đã có biết trước, cho nên chúng tôi không địch nổi. Bây giờ ba người nằm chết đây tức là sư phụ và hai sư đệ chúng tôi, còn hai chúng tôi thì đều bị hỏng mắt. Xin tiên sinh rộng ơn mà tha chết cho.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa bảo Trương Thành thu thập các đồ hành lý, và gọi ngũ lang cùng nhau ra đi. Bấy giờ trời chưa sáng rõ không biết đi về lối nào, mấy người còn đang ngần ngại thì vị hòa thượng lòi mắt kia đã lóp ngóp đứng dậy, chực đi về phía nhà hậu, Triệu Thụy liền nắm lại mà bảo rằng:
- Nhà ngươi mau mau dẫn đường cho ta thì ta không giết nhà ngươi.
Vị hòa thượng ấy run sợ cầm cập mà nói rằng:
- Cái cửa vườn này có khóa, mà chìa khóa hiện bây giờ ở người giám tự giữ.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa bước đến cạnh cửa, lấy tay bẻ mạnh một cái thì cái khóa gãy tan ra. Vị hòa thượng ấy kinh ngạc mà rằng:
- Trời ơi! Tiên sinh thật là một bậc đại dũng lực!
Bấy giờ ba người ở trong vườn rau ấy, lối đi toàn thị là những non cao suối nước. Trời hây hẩy gió, phía đông đã rạng đi quanh đi quẩn, thế nào lại vòng về bên cạnh vườn rau. Hoàng Phủ Thiếu Hoa thấy vậy hầm hầm nổi giận ngẩng trông bốn mặt, cây cao rậm rạp, chân đi đã mỏi mà vẫn chưa tìm được lối ra. Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Quái lạ! Hay là ta bị thằng sư mù ấy lừa ta rồi! Bây giờ làm thế nào mà ra cho được, chi bằng ta quay về chùa Ngõa Cương Tự.

về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-08 08:49:03Hoàng Dung>
hồi thứ 13b

Triệu Thụy nói:
- Thân phụ giết chết ba mạng sư ở trong chùa ấy, khi nào chúng chịu thôi, tất chúng đã đi báo quan rồi. Đại vương mà phạm pháp thì cũng có tội. Vả ta lại không tiện nói ra. Con thiết nghĩ ngọn núi này tất cũng có lối đi, chỉ vì mây gai quá nhiều, thành ra lấp kín. Bây giờ thân phụ nên khấn trời xin bói, hễ phương nào phá được thì cứ theo phương ấy mà phá, thì có lối ra. Ta ra khỏi ngọn núi này thì chẳng còn lo ngại chi nữa!
Trương Thành nói:
- Công tử nói rất phải! Để tôi xin lấy đao phá một lối đi.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa cũng rút thanh bảo kiếm ra để chém các cây rậm. Chém một hồi lâu chỉ thấy lá rụng, còn gốc rắn kia thì không lay chuyển chút nào. Hoàng Phủ Thiếu Hoa thở dài mà rằng:
- Hay là trời định hại cha con ta ở chỗ này đây. Cha con ta một lòng tận trung báo quốc mà chết như thế này thì tính danh cũng mai một với cây cỏ. Vả Trương Thành đây có tội tình gì, vì ta để lụy đến người, thành ra cùng chết.
Trương Thành nói:
- Trăm lạy vương gia! Sao vương gia lại nói như thế! Vương gia tận trung báo quốc thì tôi đây cũng tình nguyện tận trung để báo vương gia chứ sao!
Bỗng thấy Triệu Thụy gọi mà bảo rằng:
- Thân phụ ơi! Đã tìm thấy lối đi đây rồi!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa vội vàng nghoảnh nhìn thì thấy mấy gai chỗ ấy phá đứt dễ lắm. Phía ngoài có một lối đi, rành rành vết chân người giẫm. Hoàng Phủ Thiếu Hoa mừng rỡ, vội gọi Trương Thành rồi mấy thầy trò cùng nhau phá rậm. Phá trong hồi lâu, thành được một lối đi. Trương Thành lại gánh đồ hành lý mà đi như trước. Mấy người đều bụng đói như cào. Triệu Thụy trông thấy núi cao cây lớn, mới nói với Hoàng Phủ Thiếu Hoa rằng:
- Xin thân phụ hãy ngồi nghỉ đây, để con cùng Trương Thành đi tìm thức ăn lót dạ.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa hỏi:
- Tìm đâu bây giờ?
Triệu Thụy trỏ phía trước mặt có hai con chim trĩ, rồi tức khắc giương cung ra bắn, hai con chim trĩ ấy rơi ngay xuống đất. Trương Thành đem mổ thịt, và dùng đá đánh lửa, lấy cành thông nướng hai con chim trĩ ấy để ăn. Quản chi sống chín dường nào, thôi cũng ăn cho đỡ đói. Hoàng Phủ Thiếu Hoa động lòng thương xót, lại thở dài mà than rằng:
- Không biết thượng hoàng ngày nay ở đâu. Ta đây còn có đứa con theo để cùng chia sự gian khổ, chứ như thượng hoàng thì chỉ có một mình nội giám Quyền Xương theo hầu. Vả lại mình già sức yếu, gần bảy mươi tuổi đầu, ăn đâu ngồi đâu, hay cũng gặp bọn gian ác lừa lấy hết tiền của rồi. Giả sử có sự hiểm nguy thì thượng hoàng sức yếu như sên, Quyền Xương còn làm chi nổi. Càng nghĩ càng thêm nóng ruột, bên trời góc bể, bấy giờ ta biết tìm đâu! Thượng hoàng ơi! Chẳng hay thượng hoàng nghĩ thế nào lại bỏ nước mà đi, để gây ra cuộc tang thương này. Mạnh Lệ Quân dẫu tiến kinh, nhưng chẳng bổ ích được việc gì mà nghe đâu lại bị giam cấm. Phi Giao ơi! Mẹ đẻ mày ra mà mày còn nhẫn tâm như thế, đủ biết những cách mày đối đãi với thái hậu ở trong cung. Vợ chồng Hùng vương có lẽ mày đã bức tử rồi. Nếu quả như thế thì Hoàng Phủ Thiếu Hoa này dẫu xả thây trăm mảnh, cũng không đủ chuộc tội. Tô Ánh Tuyết cùng Lưu Yến Ngọc ở nhà tất cũng bội phần thương xót, vì con trai mỗi người một ngả, mà con Phi Loan kia bây giờ cũng không hiểu tin tức ra làm sao. Trời ơi! Chín khúc sầu trường, thật đau như cắt, ta chỉ mong sau cho tìm thấy thượng hoàng thì muôn việc đều được ổn thỏa, không ngờ mấy năm lặn lội mà phương trời thăm thẳm, tịt mù nào thấy bóng hồng. Trời ơi! Ta còn muốn đâm cổ chết đi cho rồi, nhưng tội ác vẫn còn bề bề thì chết sao cho thoát. Vả chết một cách không minh bạch như thế, người đời không biết, lại nghi cho ta là kẻ sợ họa liều mình.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa đang âu sầu ngẫm nghĩ thì ngũ lang Triệu Thụy và Trương Thành tươi cười chạy đến mà bẩm rằng:
- Đi khỏi đây độ hai mươi dặm thì tức là Ngũ Đài Sơn ở tỉnh Sơn Tây, ta tìm đến đấy, rồi nghỉ một vài ngày mới được.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Ngũ Đài Sơn kia có Hợp Tôn đại sư tu ở đấy. Năm xưa ta đã có một lần theo thượng hoàng và thái hậu đến thiêu hương tại chùa ấy. Sư cụ Hợp Tôn biết mặt thượng hoàng, ta chắc thượng hoàng chẳng đến đấy đâu!
Triệu Thụy nói:
- Thân phụ ơi! Dẫu thượng hoàng không đến đấy nữa, ta cũng cứ đến để nghỉ ngơi mấy ngày.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe lời lại đứng dậy đi. Đi độ mười dặm đường, trông thấy trước mặt có mấy chữ vàng đỏ chói, đó tức là “Ngũ Đài Sơn” thẳng giữa có chín bậc xây cao, hai bên có nhiều người canh giữ. Khi Hoàng Phủ Thiếu Hoa tới nơi thì có người giám tự chạy ra hỏi rằng:
- Tiên sinh tự đâu đến đây? Xin bảo cho biết họ tên để tôi ghi vào sổ.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa đáp rằng:
- Tôi tự Hồ Bắc tới đây, sư phụ ở đây tức là bạn cũ của tôi.
Người giám tự nghe nói vội vàng mời vào ngồi ở chốn tây hiên mà bảo rằng:
- Mời tiên sinh hãy ngồi đây, để tôi vào bẩm sư phụ.
Nói xong, truyền người pha trà, rồi đi trở vào. Hồi lâu, thấy có một vị tăng nhân trẻ tuổi bước ra, tươi cười mà hỏi rằng:
- Chẳng hay quý tính phương danh người là gì, xin người cho biết, tiểu tăng đây tức là một người giữ về việc tiếp khách vậy. Bây giờ mời người theo tôi vào nội viện.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại theo như lời hôm trước mà nói họ tên quê quán cho vị tăng nhân ấy nghe, và nghoảnh lại bảo ngũ lang Triệu Thụy và Trương Thành rằng:
- Các ngươi hãy ngồi đây đợi ta, để ta vào trước.
Nói xong, liền theo vị tăng nhân ấy vào nội viện, để bái yết sư cụ. Đi qua các nơi phật điện, trông thấy toà rộng dãy dài trên tam bảo đèn thắp sáng choang, câu đối hoành phi thiếp vàng đỏ ối. Trong nội điện có một vị cao tăng ngồi giữa có các đệ tử đứng hầu chung quanh. Hoàng Phủ Thiếu Hoa bước vào cúi chào mà rằng:
- Sư phụ ơi! Hoàng Phủ Thiếu Hoa này cách biệt tôn nhân đã gần mười năm nay, chẳng hay sư phụ có còn nhớ được không?
Sư cụ Hợp Tôn đáp:
- Sao tôi lại không nhớ! Tôi vẫn đêm ngày mong vương gia đến để đón thượng hoàng về.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe nói mừng rỡ xiết bao, liền sụp xuống đất lạy. Sư cụ Hợp Tôn cũng đáp lễ lại, rồi mời ngồi nói chuyện. Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Dám bẩm sư phụ! Sư phụ bảo tôi đón thượng hoàng về, chẳng hay bây giờ thượng hoàng ở tại đâu? Xin sư phụ chỉ giáo cho biết, để tôi đi tìm đón.
Sư cụ Hợp Tôn cười mà đáp rằng:
- Can chi phải tìm! Thượng hoàng đến đây đã tám năm nay, hiện nay vẫn ở trong một cái phòng, quyết chí tu hành, những muốn thoát vòng trần tục. Khi thượng hoàng mới đến đây, đã nhất định xin thế phát, lão tăng này cố can mãi mới thôi. Nội giám Quyền Xương sức yếu tuổi già, hồi ba năm trước đã tạ thế, an táng tại phía sau núi. Thượng hoàng bội phần thương xót, tuế thời vẫn ra cúng tế Quyền Xương. Lão tăng này đã nói để thượng hoàng biết rằng: “Thượng hoàng còn vướng nợ hồng trần trong hai mươi năm nữa, rồi mới trọn được kiếp tu. Nhưng thượng hoàng nhất định khép cửa phòng thu, từ nay không nghĩ chi đến việc trong nước. Lão tăng này đã biết trước rằng thế nào vương gia tất phải đến đây. Mạnh Gia Linh tướng công chẳng bao lâu nữa rồi cũng tìm đến. Bấy giờ các ngài đón long giá về thì việc nước được yên mà thiên tử có cơ phục vị vậy.
Sư cụ Hợp Tôn nói xong, lại thở dài mà rằng:
- Hoàng Phủ Tương vương ơi! Các bậc trung thần về đời Nguyên này còn ai hơn vương gia nữa!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa mừng quá, không còn biết nói thế nào cho được, chi chắp tay mà lạy tạ sư cụ Hợp Tôn. Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại nói :
- Xin sư phụ cắt người đưa tôi vào, để tôi được triều kiến thượng hoàng.
Sư cụ Hợp Tôn sai một người tiểu đưa Hoàng Phủ Thiếu Hoa vào nơi đông phòng tại phía nhà hậu. Khi vào tới nơi, thấy cửa phòng khép chặt, trên cửa sổ có đề ba chữ: “Ẩn lạc cư”. Người tiểu đến gần, khẽ lấy tay gõ thì có một tên thư đồng ra mở.
Tên thư đồng hỏi:
- Tiên sinh có việc chi?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa rảo bước chân vào, trông thấy giữa phòng kê một cái giường trên giường có một tăng nhân đang ngồi nhắm mắt. Vị tăng nhân ấy dẫu ăn mặc nâu sồng nhưng mắt phượng râu rồng, trông vẫn ra một vị thiên tử. Bây giờ vị tăng nhân ngồi xếp bằng tròn, hai tay chắp vào trước ngực, mắt nhắm như người ngủ, chỉ hơi thoi thóp thở. Hoàng Phủ Thiếu Hoa trông thấy quả thật là thượng hoàng không sai, vội vàng quì ở bên cạnh giường mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Kẻ hạ thần này là Hoàng Phủ Thiếu Hoa ngày nay được triều kiến long nhan ở đây, tưởng tượng khác nào tái thế! Chẳng hay thượng hoàng vì cớ gì mà lại bỏ nước mà đi, không nghĩ chi công lao khai sáng của đức thế tổ thuở trước. Ngày nay thái hậu ngọa bệnh, thiên tử vô quyền. Chu vương còn nhỏ, hai thái phi và hai người công chúa thì ngày đêm nhớ mong thương khóc, mà sao thượng hoàng lại nỡ dứt tình! Thượng hoàng ơi! Tấm lòng tưởng vọng của thiên hạ thần dân trong bấy lâu nay, kẻ hạ thần thiết nghĩ thượng hoàng cũng chớ nên cô phụ.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa vừa nói vừa khóc, khiến cho thượng hoàng đang nhắm mắt để ngồi nhập định cũng phải giật mình.
Lại nói chuyện thượng hoàng từ khi bỏ đi, cùng nội giám Quyền Xương bàn định không biết đi về phương nào. Nội giám Quyền Xương quì xuống tâu rằng:
- muôn tâu thượng hoàng! Chỗ khác chẳng những thượng hoàng không hiểu, mà kẻ hạ thần cũng không thuộc đường, chỉ có Ngũ Đài Sơn là một nơi kẻ hạ thần đã hai lần được theo giá đến đấy, vậy kẻ hạ thần thiết tưởng thượng hoàng đến đấy là hơn. Sư cụ Hợp Tôn khi trước đã biết thượng hoàng đến tất người phải trọng đãi.
Thượng hoàng phán rằng:
- Đã đành đến đấy là tiện, nhưng ta e đường sá gần gụi, nếu có người biết thì chúng lại kéo đến mà nhiễu ta.
Nội giám Quyền Xương tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Bây giờ thượng hoàng hãy tạm lên Ngũ Đài Sơn, rồi vài ba năm nữa, kẻ hạ thần sẽ lần mò tìm đường nhận lối, bấy giờ lại đi sang tỉnh khác.
Thượng hoàng khen phải, liền thẳng đường đi lên Ngũ Đài Sơn. Khi đi tới nơi, thượng hoàng khai tên là Nguyên Uy, tình nguyện xuất gia và xin sư phụ thế phát. Sư cụ Hợp Tôn trông thấy, mời thượng hoàng ngồi, bảo đồ đệ lui ra cả, rồi cúi đầu sụp lạy, khiến cho thượng hoàng cùng nội giám Quyền Xương đều giật mình kinh sợ, phục sư phụ là một bậc tiên tri. Thượng hoàng vội vàng đỡ dậy mà bảo rằng:
- Sư phụ ơi! Tôi đây vì mến cảnh Phật mà xin đến tu hành, có phải đế vương gì đâu, sao sư phụ lại nhận lầm như thế? Hoặc giả khổ mặt tương tự đó chăng, đức Khổng Tử thuở xưa cũng có người nhận lầm là Dương Hổ.
Sư cụ chắp hai tay vào trước ngực mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Lão tăng này đã sửa soạn sẵn một nơi đông phòng để đợi thượng hoàng đó. Vận mệnh nước nhà ngày nay tất phải biến loạn trong mười năm trời, nhưng nhờ có bậc trung thành thì về sau cũng dẹp yên được. Bây giờ thượng hoàng cứ ở đây tĩnh dưỡng, còn việc thế phát thì lão tăng này xin can. Phi Giao hoàng hậu nguyên xưa là con xích giao ở Đông hải, giáng sinh làm Ô Tất Khải nguyên soái. Khi xuất hiện nguyên hình thì bị Hùng Hiệu chém chết tại trên mặt bể, rồi mổ lấy hạt châu. Vì thế con xích giao sinh oán, lại đầu thai vào nhà Hoàng Phủ định làm cho nhà Hoàng Phủ và nhà họ Hùng phải tuyệt diệt mới nghe. Nhưng chẳng qua cũng là một sự báo phục, vì thuở xưa thượng hoàng đam mê phong nguyệt, may mà Mạnh Lệ Quân giữ được trinh tiết, nếu không thì giang sơn Nguyên triều còn đâu đến ngày nay. Thế mới biết thiện ác báo ứng rành rành, chỉ mang lòng hiếu sắc trong nhất thời mà thành ra cũng có di họa. Tuy vậy tổ tôn công đức muôn đời chưa hết, bần tăng dám xin thượng hoàng cứ ở đây tĩnh dưỡng, còn nhiều hưởng phúc về sau.
Thượng hoàng nghe xong, chưa kịp trả lời thì sư cụ Hợp Tôn gọi đồ đệ đến, bảo đưa thượng hoàng vào nơi đông phòng. Nội giám Quyền Xương cũng theo vào, nằm một cái giường nhỏ bên cạnh. Bao nhiêu khí cụ vật dụng, đã sửa soạn sẵn sàng. Sư cụ Hợp Tôn lại cắt hai tên tiểu đồng hầu hạ thượng hoàng, lại cắt mấy người đầu bếp để nấu cơm ngự thiện. Thượng hoàng vốn là người thông minh, cho nên sư cụ Hợp Tôn giảng thuyết những chân lý trong kinh Phật, thượng hoàng đều hiểu cả. Bấy giờ thượng hoàng trần tâm rũ sạch, tam qui ngũ giới, chỉ theo phép nhập định mà nhắm mắt ngồi suốt ngày. Trong lòng đã giữ được anh nhàn thì tự khắc tấm thân khoan khoái lạ thường, tránh khỏi hết các bệnh tật. Một hôm thượng hoàng đang ngồi nhập định, bỗng có tên tiểu đồng vào báo rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Nội giám Quyền Xương tự nhiên vô bệnh mà hết. Sư phụ tôi đã sửa soạn các đồ khâm liệm quan quách, định đem an táng tại phía sau núi, vậy có sai tiểu tăng này đến tâu thượng hoàng.
Thượng hoàng nghe lời ứa hai hàng nước mắt xuống, khóc mà bảo rằng:
- Quyền Xương ơi! Vì ta mà làm di lụy đến nhà ngươi, khiến nhà ngươi phải bỏ thân chỗ này!
Thượng hoàng ngẫm nghĩ thương tình, lại vật mình lăn khóc. Sư cụ Hợp Tôn tìm lời khuyên giải, dần dần mới được nguôi lòng, nhưng lúc nào nghĩ đến việc nước nhà thì lại không ngăn được giọt lệ. Một hôm sư cụ Hợp Tôn vào tâu với thượng hoàng rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Ách vận mười năm của thượng hoàng đã gần qua. Xin thượng hoàng từ nay bất tất phải than phiền nữa!
Sư cụ Hợp Tôn dẫu tâu như vậy, nhưng thượng hoàng vẫn theo cách tham thiền mà hàng ngày chắp tay ngồi nhắm mắt, bỗng nghe thấy có tiếng người khóc nức nở, vội vàng mở mắt ra nhìn. Khi nhìn thấy Hoàng Phủ Thiếu Hoa thì thượng hoàng kinh ngạc mà ngẩn người ra, không biết nói thế nào cho được. Trong lòng ngẫm nghĩ lại càng chua xót muôn phần. Hoàng Phủ Thiếu Hoa thì cứ ôm chân thượng hoàng mà nức nở khóc hoài. Thượng hoàng cầm lấy tay Hoàng Phủ Thiếu Hoa rồi bảo rằng:
- Quốc cữu ơi! Chẳng hay ai bảo mà quốc cữu đến đây!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe tiếng nói, lại càng mừng rỡ bội phần, nét mặt tươi cười, liền phủ phục xuống đất lạy. Thượng hoàng dắt tay Hoàng Phủ Thiếu Hoa bảo ngồi một bên giường, rồi thở dài mà rằng:
- Quốc cữu ơi! Quốc cữu thật là một người tận trung báo quốc, thế gian ít có! Sự thế bề ngoài trong mười năm nay những thế nào ta đã hơi hiểu, vì sư cụ Hợp Tôn đây đã thuật rõ cho ta nghe, nhưng còn tình hình bề trong thì quốc cữu nên nói để ta biết.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Khi kẻ hạ thần nghe tin thượng hoàng xuất du thì tức khắc bỏ nhà đem một đứa con nhỏ đi tìm thượng hoàng. Nội nhân kẻ hạ thần cũng tiến kinh để tìm cách khuyên can con Phi Giao. Kẻ hạ thần đi khắp trong chín tỉnh, cả thảy hơn mười vạn dặm, nghe lời truyền thuyết thì câu được câu chăng? Người thì nói nội nhân kẻ hạ thần đang bị giam cấm; người thì nói hiện đã cùng vợ chồng Hùng vương đều bị xử tử rồi; người thì nói thái hậu lâm triều; người thì nói thiên tử thoái vị. Kẻ hạ thần chỉ cốt một lòng đi tìm thượng hoàng, cho nên những lời đồn nhảm đều không hỏi đến. Kẻ hạ thần thấy sư cụ Hợp Tôn ở Ngũ Đài Sơn này vốn là cố nhân thuở trước, vẫn tưởng rằng thượng hoàng vị tất đã có đến dây, cho nên cứ đi tìm những đâu đâu, nếu biết thế này thì rước thượng hoàng về đã lâu, can chi triều chính đến nỗi nhiều điều rắc rối.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại thuật đến chuyện bị nạn tại Ngõa Cương tự vừa rồi để thượng hoàng nghe và tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Trong khi nguy cấp, vào sinh ra tử, kẻ hạ thần ngờ đâu còn có ngày nay!
Thượng hoàng thở dài mà than rằng:
- Quốc cữu đã có lòng tận trung báo quốc như thế, tất quỷ thần cũng phải ủng hộ, khiến cho được tai qua nạn khỏi, há phải là việc ngẫu nhiên! Bây giờ ta về cũng không khó gì, nhưng ta còn mặt mũi nào mà trông thấy thái hậu cùng các quan văn võ triều thần nữa. Đứa con nhỏ của quốc cữu đâu, sao không bảo vào đây!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Đứa con nhỏ của kẻ hạ thần hãy còn bé dại, cho nên không dám tự tiện đem vào.
Thượng hoàng gọi ngũ lang Triệu Thụy vào. Triệu Thụy quì lạy làm lễ triều kiến, thượng hoàng vui cười mà phán rằng:
- Khá khen thay tường lân thụy phượng, sao khéo sum họp vào một nhà.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Kẻ hạ thần vô phúc mà sinh con Phi Giao, để gây vạ cho nước nhà, tội ác tày trời ấy biết biết bao giờ mà chuộc lại được!
Thượng hoàng thở dài mà than rằng:
- Sinh con ai có sinh lòng. Vua Nghiêu thuở xưa bất hạnh sinh ra Đan Chu cũng không thể sao mà cảm hóa được.
Trong khi vua tôi đang cùng nhau đàm luận thì tên tiểu đồng vào dâng cơm chay. Thượng hoàng truyền cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa và ngũ lang cùng ngồi ăn cơm, nhưng cha con Hoàng Phủ Thiếu Hoa không dám ngồi,, chỉ xin đứng hầu cơm ở bên cạnh.
Khi thượng hoàng dùng cơm xong, cha con Hoàng Phủ Thiếu Hoa mới theo tên tiểu đồng sang phòng bên ăn cơm. Cơm xong, lại vào hầu chuyện thượng hoàng, cùng nhau kể lể những nông nỗi sau khi tương biệt. Hôm ấy vua tôi trò chuyện suốt đêm không ngủ. Sáng hôm sau, Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại cố sức tâu xin thượng hoàng về triều, nhưng thượng hoàng vẫn nhất định từ chối. Khi thụ trai xong, bỗng thấy sư cụ Hợp Tôn đưa Mạnh Gia Linh tướng công vào. Mạnh Gia Linh trông thấy thượng hoàng, vội vàng chạy đến hai tay ôm lấy rồi reo lên rằng:
- Trời ơi! Ai ngờ bây giờ còn được trông thấy mặt trời!
Thượng hoàng động lòng thương xót, nhưng cố gượng cầm nước mắt, rồi khẽ cất tiếng mà phán rằng:
- Tiên sinh phải lặn lội đường trường, dầm mưa dãi gió, đều là lỗi tại ta đó!
Mạnh Gia Linh tướng công sụp lạy, làm lễ triều kiến. Sự vui sướng ấy kể sao cho cùng! Hoàng Phủ Thiếu Hoa cũng cúi chào Mạnh Gia Linh, rồi dắt ngũ lang đến cùng làm lễ tương kiến. Sư cụ Hợp Tôn chắp tay vào trước ngực mà tâu thượng hoàng rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Ngày nay Mạnh Gia Linh tướng công đúng hẹn tới đây, đó là những việc bần tăng này đã biết trước cả. Ách vận nước nhà đã qua khỏi, thượng hoàng nên mau mau về triều. Mạnh Gia Linh tướng công đến đây cũng có quân sĩ đi theo, vậy sáng mai được giờ tốt lành, xin long giá trở về kinh địa.
Thượng hoàng thở dài mà phán rằng:
- Về làm gì! Bây giờ ta về trong triều rất lấy làm hổ thẹn, vua chẳng ra vua, Phật chẳng ra Phật, luống để một trò cười cho đời sau. Hoàng Phủ quốc cữu ơi! Mạnh tiên sinh ơi! Hai người cứ về tâu với thái hậu, để một mình ta tu hành ở đây, đã tu thì tu cho trọn.
Thượng hoàng nói xong, mặt rồng có vẻ thảm đạm. Hoàng Phủ Thiếu Hoa cùng Mạnh Gia Linh đồng thanh mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Các đế vương từ xưa tới nay, có ai lại bỏ nước đi tu hành bao giờ! Ngày nay thượng hoàng giáng dụ như thế thì thiên hạ thần dân tài nào không sinh lời dị nghị, nhưng việc ấy còn là việc nhỏ, đến khi việc “Tam cương bất chính” thì kẻ hạ thần rất lấy làm một việc đáng lo! Thượng hoàng quyết chí tu hành dẫu lập địa thành Phật mặc lòng, chỉ e sử bút sau chép việc Nguyên triều, giữ sau cho khỏi di xú.
Hai vị đại thần tâu xong, cùng nức nở khóc hoài. Thượng hoàng nín lặng không nói câu gì, nhưng hai hàng nước mắt cũng ròng ròng chảy xuống. Sư cụ Hợp Tôn lại đứng dậy chắp tay mà tâu:
- Muôn tâu thượng hoàng! Bần tăng xin hiến một lời. Việc truyèn ngôi dẫu là một chuyện rất quý, nhưng thiếu đế hãy còn nhỏ tuổi thì tài duyệt lịch chưa đủ, khó lòng tránh khỏi được sự sai lầm. Vả việc xuất du cũng là việc bất đắc dĩ. Nếu bây giờ thượng hoàng quyết đoán mà giáng chỉ tuyên dụ thì Phi Giao hoàng hậu khi nào lại dám lộng quyền. Thượng hoàng đã quá ư nhân từ, không muốn nhìn thấy cảnh cốt nhục tương tàn, nên mới đoạn tuyệt tình duyên mà tìm nơi thanh tịnh. Thượng hoàng ơi! Thượng hoàng làm chủ tể trong thiên hạ mà có lòng nhân từ thì muôn dân sẽ được đội đức nhuần ơn, nhưng thượng hoàng nỡ lòng nào để cho trong nước xảy ra bao nhiêu nỗi biến loạn. May mà có nhà Hoàng Phủ tận trung báo quốc, nếu không thì giang sơn Nguyên triều còn ra thế nào. Vả các vua đời xưa, cũng có nhiều ông bỏ nước đi tu, nào đã mấy ai trông thấy sự bổ ích. Lão tăng này chẳng qua cũng chỉ vì thân thế trắc trở mà tìm cách cẩu hoạt, chứ lòng nào đã dám mong đến sự thành Phật thành tiên. Lão tăng tu luyện hơn ba mươi năm nay, những việc tương lai cũng hơi biết đôi chút, khi thượng hoàng mới đến, lãi tăng đã tâu hết mọi lẽ. Sau một lần Mạnh Gia Linh tướng công có tới đây nhờ bói thì lão tăng có hẹn cách ba năm nữa rồi sẽ đến đây. Bởi vậy Mạnh Gia Linh tướng công đúng hẹn tìm đến, lại vừa gặp cả Hoàng Phủ Tương vương. Ngày nay ách vận đã qua, xin thượng hoàng nên mau mau về triều, phúc nước lộc trời, trong hai mươi năm nữa, lão tăng sẽ được hội ngộ.
Nói xong, lại lạy dập đầu mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Lão tăng đã chọn được ngày mai là ngày đại cát, xin thượng hoàng kíp nên phản giá.
Thượng hoàng thở dài mà than rằng:
- Sư phụ đã dạy như thế thì tôi xin vâng lời, nhưng trong mười năm nay tôi chịu ơn sư phụ khoản đãi, không biết lấy chi mà báo đáp lại. Vậy từ nay bao nhiêu thuế má ở Ngũ Đài Sơn này xin miễn tất cả, khiến các tăng nhân sau này đời đời vẫn nhớ ân trạch của sư phụ để lại cho.
Sư cụ Hợp Tôn chắp tay mà cảm tạ thượng hoàng. Hơn năm trăm tăng nhân ở chùa ấy nghe lời phán chỉ, đều lấy làm hoan hỉ. Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Gia Linh thấy thượng hoàng nhận lời về triều, mừng rỡ không biết dường nào, mới cùng nhau sửa soạn để ngày hôm sau đi hộ giá. Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại sai người đi mua các đồ lễ vật để cùng Mạnh Gia Linh ra tế mộ Quyền Xương. Khi đã tới nơi, hai người sụp lạy khóc lóc thảm thiết. Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại sai Trương Thành tức khắc tiến kinh để báo trước cho thái hậu biết. Mạnh Gia Linh cũng sai mấy viên gia tướng phi báo cùng các quan văn võ sở tại, hẹn đúng đầu canh năm hôm sau phải đến nghênh tiếp thánh giá, nếu ai không đến sẽ có trọng tội. Mấy viên gia tướng vâng mệnh lên ngựa đi ngay. Trong chùa bấy giờ cũng sửa soạn các đồ tràng phan bảo cái, huyên náo lạ thường. Các tăng nhân đều thay áo cà sa mới, rung chuông đánh trống để lên lạy mừng thượng hoàng.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Gia Linh đều quì xuống đất, hai tay dâng bộ áo long bào. Ngũ lang thì đến cạnh thượng hoàng, cởi bộ tăng nhân ra, để lại mặc đủ ngự phục như trước. Thượng hoàng tay cầm chiếc mũ ni, thở dài mà phán rằng:
- Mũ ni ơi! Mũ ni ơi! Ta chán chốn bụi trần mà muốn đến đây để làm bạn với nhà ngươi, không ngờ phúc thanh phàn nay đã thành ra vô dụng. Vậy thì ta hãy tạm cùng nhà ngươi từ giã, nhưng sau này nhà ngươi tất phải tuẫn táng ( là đem chôn theo trong khi vua băng hà) theo ta.
Sư cụ Hợp Tôn đem bộ áo tăng nhân của thượng hoàng mặc xếp vào một cái rương nhỏ.Khi thượng hoàng thay mặc bộ áo long bào rồi ngồi ở trên giường, trông nghiễm nhiên là một bậc thánh minh thiên tử. Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Gia Linh lại sụp lạy, chúc câu “Vạn tuế”. Thượng hoàng truyền bảo Mạnh Gia Linh rằng:
- Mạnh tiên sinh ơi! Tiên sinh nên thảo ngay một tờ chiếu thư đưa về kinh thành trước, để cho thái hậu được yên lòng.
Mạnh Gia Linh tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Quốc bảo không có đây thì làm thế nào mà tả chiếu thư cho được, vậy kẻ hạ thần hãy xin viết một bản tâu sai người phi báo về kinh thành.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
hồi thứ mười 13c
Thượng hoàng cật đầu khen phải. Bấy giờ các quan văn võ đã kéo nhau đến. Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Gia Linh ra trước tuyên cáo cho mọi người nghe. Các quan nghe xong, biết chắc là thượng hoàng, không còn nghi ngờ gì nữa. Quan tổng đốc và quan tuần phủ sở tại đều quì xuống để thỉnh giá. bấy giờ phượng liễn loan nghi, đã sẵn sàng cả. Sư cụ Hợp Tôn cũng đem năm trăm tăng nhân ra quì lạy để tiễn tống thượng hoàng. Thượng hoàng châm hương lễ tạ đức Phật tổ. Hai bên nhạc công cử nhạc, chuông trống vang trời. Khi làm lễ xong, thượng hoàng lên ngồi bảo tọa. Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Gia Linh đứng hai bên. Sư cụ Hợp Tôn được ngồi một cái ghế trầm hương bên cạnh. Ngũ lang thì cầm gươm đứng hầu bên cạnh thượng hoàng. Thượng hoàng phán rằng:
- Ta có ý mỏi mệt, muốn thoát ly trần thế, từ khi xuất du đến đây đã mười năm, không ngờ thái hậu bị bệnh, thiếu đế vì có mục tật không ra ngự triều, để đến nỗi Phi Giao lộng quyền chuyên chính. Bọn gian áv ác lại nhân đấy mưu phản, ngu hoặc thần dân. Bởi thế ta tạm về để chỉnh đốn triều chính, hễ khi trong nước được yên ổn rồi, sẽ lại đến ở chốn này. Ngày nay các quan văn võ đều được cho giấy kỷ lục. Bấy nhiêu thuế má ở Ngũ Đài Sơn này đều miễn trừ cả. Lại ban cho tăng nhân mỗi người một lạng vàng để may bộ mũ áo cà sa mới, gọi là chút tình ta ở đây trong mười năm trời.
Các quan văn võ nghe lời chỉ phán, đều phủ phục tạ ơn. Quan tổng đốc đệ trình hai đạo chiếu thư đã nhận được từ trước: Một đạo nói việc thái hậu lâm triều, và một đạo nói về việc đi tìm thượng hoàng. Thượng hoàng mở xem, ứa nước mắt khóc. Khi xem tới nửa chừng thì hầm hầm nổi giận, nhưng sau xem hết, lại lẩm nhẩm gật đầu. Thượng hoàng ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi thở dài mà than rằng:
- Ai thảo đạo chiếu thư này khen cho cũng là một tay thông minh tài học, nhưng không khéo lại ngiò bút của Mạnh Lệ Quân vương phi, mới có được một giọng văn tâm huyết này. Xót thay Mạnh Lệ Quân! Thương thay thái hậu! Chẳng qua chỉ vì vụng nghĩ, để thất sách một chút mà di luỵ đến mọi người.
Nói xong, cầm chiếu thư trao cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa xem. Hoàng Phủ Thiếu Hoa xem xong, quì xuống mà tâu rằng;
- Muôn tâu thượng hoàng! Sự tai biến này chẳng mấy đời không có, nhưng không ngờ lại gây ra tự nhà kẻ hạ thần. Xin thượng hoàng chiếu theo quốc pháp mà trị tội kẻ hạ thần để làm gương cho thiên hạ.
Thượng hoàng phán rằng:
- Quốc cữu nói như thế thì lại càng tỏ cái lỗi của ta, nhưng thái hậu có tai tiên kiến, Mạnh Lệ Quân vương phi có công phục quốc, tội cũng đáng gọi là “Song tuyệt”, mà ta và quốc cữu đều phải chịu thua vậy. Lại nhờ có Mạnh Gia Linh tiên sinh đây là là một người tận trung báo quốc, cho nên âu vàng ngày nay mới được vẹn toàn. Phi Giao dẫu con nhà Hoàng Phủ, nhưng cũng nhờ có nhà Hoàng Phủ mà ngôi trời mới không đến nỗi chuyển di, thế thì công ấy cũng không nhỏ.
Nói xong, giám chỉ truyền khởi giá. Thượng hoàng đội mũ mặc áo triều phục ngồi trên một cái loan dư, hai bên che hai cái quạt vả, lại có các quan văn võ đi ủng hộ chung quanh. Sư cụ Hợp Tôn tiễn ra khỏi địa phận Ngũ Đài Sơn thì cúi đầu sụp lạy. Thượng hoàng gạt nước mắt mà từ biệt sư cụ Hợp Tôn rồi thẳng tiến vào tỉnh thành. Khi vào tới tỉnh thành, thượng hoàng không đóng ở nhà hành tại, tức khắc truyền chỉ tiến kinh. Đi suốc ngày đêm, đi đến đâu đã có địa phương quan nghênh tiếp. Đại đội quân mã kéo đến ngoài kinh thành đã trông thấy bốn mặt thành có cắm bốn lá cờ lớn, mỗi lá đề mấy chữ rằng: “Phụng mệnh thái hậu cung nghênh thượng hoàng".
Cửa thành bấy giờ đều rộng mở cả, các nhà đều căng vải ngất trời. Quân sĩ mặc áo giáp vàng, đứng sắp hàng hai bên vệ đường. Các quan văn võ triều thần thì đều mũ áo triều phục quì để nghênh tiếp. Hán vương, Triệu vương và Chu vương cũng quì một bên. ThhThượng hoàng 6ng thấy ba vị vương tử động lòng thương xót, thở dài mà phán rằng:
- Bây giờ các con đều đã trưởng thành cả!...
Ba vị vương tử nức nở khóc hoài. Tề vương là Yên Mộc Hiện, thừa tướng là Nguyễn Long Quang, và Bình Giang vương và Hùng Hiệu cùng các quan văn võ triều thần đều phủ phục chúc câu “Vạn Tuế”. Thượng hoàng giáng chỉ cho Tề vương, Nguyễn tướng công và Hùng vương đến gần trước mặt. Ba người rón rén đến trước mặt thượng hoàng rồi cùng quì xuống đất, trút mũ ra à xin tạ tội. Thượng hoàng phán rằng:
- Chẳng qua tại ta cả, các người có tội gì! Tề vương và Nguyễn tiên sinh đây đều một lòng tận trung báo quốc, còn Hùng vương lại vô tội mà bị giam cấm trong bấy nhiêu năm trời, ấy đều là lỗi tại ta đó!
Nói xong, truyền nội giám cầm mũ đội lại cho ba người ấy. Thượng hoàng phán rằng:
- Bây giờ ta hãy vào bái yết nhà thái miếu trước, rồi sau mới vào nội cung.
Thượng hoàng lại hỏi:
- Mạnh Lệ Quân vương phi ngày bệnh tình ra thế nào? Các con Hoàng Phủ Tương vương sao không thấy ra đây?
Nguyễn Long Quang tướng công tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Mạnh Lệ Quân vương phi bệnh đạ thuyên giảm, nhưng nghĩ mình đã phạm một điều đại tội tự xin vào ngục thất để đợi ngày hành hình.
Thượng hoàng kinh ngạc mà phán rằng:
- Ô hay! Sao lại có thể như thế được! Giả sử có phạm đại tội đi nữa thì công kia cũng đủ chuộc đền. Ai là người cứu hoàng tôn, ai là người phục quốc tộ, ai là người bỏ nhà đi tìm vua trong mười năm trời, lại thêm được một đứa con nhỏ, đã có lòng chí hiếu đi theo thân phụ. Một nhà trung hiếu như thế thì tội gì cũng đáng khoan tha!
Nói xong, tức khắc truyền cho ba vị vương tử vào tận ngục thất, mời Mạnh Lệ Quân vương phi ra, ra truyền bảo cho mấy anh em phò mã Triệu Câu đến sáng mai đều phải vào triều kiến. Thượng hoàng lại phán rằng:
- Ngày nay ta thật dở dang, Phật chưa thành Phật, mà vua cũng chẳng ra vua, chỉ vì muôn dặm giang sơn lại phải trút cái mũ ni ra, trở về nơi hồng trần thế giới. Từ nay các quan văn võ triều thần nên hết lòng giúp ta, để khiến cho trong nước được trị bình như cũ vậy.
Khi long giá thượng hoàng đi đến đâu thì già trẻ lớn bé đều phủ phục ở hai bên đường, rồi thì thào bảo nhau rằng:
- Thượng hoàng mắt phượng râu rồng vẫn như thuở trước, ta chắc rằng ngài ra tu ở Ngũ Đài Sơn, vị tất phải ngự một bữa cơm chay nào. Nếu không thì cớ sao trong mười năm nay mà dung nhan chẳng khác chi ngày bước ra.
Khi vào tới nhà thái miếu thì hoàng tôn đã phủ phục ở trước thềm mà chúc câu “Hoàng tổ vạn tuế”, lại khóc than kể lể mà xin thượng hoàng ân xá cho thiên tử được phục vụ.Thượng hoàng trông thấy, động lòng thương xót, cầm tay hoàng tôn dắt lại gần ngồi bên gối, ngắm nghía hồi lâu, rồi vui mừng mà phán rằng:
- Phải rồi! Chính hoàng tôn là cháu ta đây rồi! Hoàng tôn ơi! Sau này chớ quên công chăm nuôi của nhà Hoàng Phủ nhé!
Hoàng Tôn khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng tổ! Hai mẹ con tôn nhi này đều chịu ơn tái sinh của nhà Hoàng Phủ, dẫu rằng xương mòn thịt nát, cũng không bao giờ dám quên!
thượng hoàng nghe nói, mừng rỡ mà phán rằng:
- Ừ! Nói năng cũng khác thường! Trẻ thơ mà được như thế thì sau này tất phải vượt hơn ông cha vậy!
Các quan văn võ triều thần quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Hoàng tôn được như thế đều là nhờ về phúc trạch của thượng hoàng đó.
Thượng hoàng thở dài mà than rằng:
- Chẳng hay hoàng tôn đã mệnh danh là gì chưa?
Hoàng tôn khóc mà tâu rằng:
- Vì có tôn nhi mà khiến ngôi hoàng cực được lâu dài thì chi bằng ta mệnh danh cho là Hoàng Cực.
Thượng hoàng khởi giá vào nội cung. Các quan văn võ lui về triều đường hội nghị, định cùng nhau dâng một bản tâu, xin thượng hoàng ân xá cho thiên tử được phục vị. Nếu phế thiên tử để lập hoàng tôn thì hoàng tôn tất không yên lòng, mà bỏ hoàng tôn đi lập thứ chi thì lại e cương thường bất chính v5ây. Bấy giờ quan lại bộ thượng thư là Tần Sĩ Thăng đã được phục chức, cũng đến hội nghị ở chốn triều đường.
Lạo nói chuyện thái hậu ở trong nam nội, đã trút hết râm nhị, phủ phục ở trước thềm để nghênh tiếp thượng hoàng. Thượng hoàng vội vàng lấy tay đỡ thái hậu dậy mà bảo rằng:
- Thái hậu ơi! Bây giờ ta mới biết thái hậu có tài tiên kiến, việc này thái hậu biết trước đã lâu. Nếu không nhờ có thao lược của thái hậu thì tôn nhi ta còn đâu được đến ngày nay. Bây giờ ta nên bái tạ thái hậu mới phải, cớ sao thái hậu lại còn thỉnh tội! Nội giám đâu! Mau mau đem mũ áo ra đây, để ta mặc cho thái hậu, rồi ta sẽ ân xá cho thiên tử lại được phục vị.
Thái hậu lạy tạ. Thượng hoàng đỡ dậy mời ngồi. Hai bà thái phi và hai vị công chúa đến sụp lạy, chúc câu: “Vạn tuế”. Thượng hoàng lại vui cười mà bảo thái hậu rằng:
- Thái hậu ơi! Những việc khác không nói chi vội, bây giờ hãy mau triệu thiên tử vào đây.
Thượng hoàng nghoảnh lại bảo ba vị vương tử cùng hoàng tôn di triệu vua Anh Tôn vào triều. Thượng hoàng nói:
- Chẳng lẽ ngày nay sum họp một nhà như thế này mà lại để một người riêng chịu khổ sở.
Ba vị vương tử cùng hoàng tôn vâng mệnh đi ngay. Thái hậu ngậm ngùi thương khóc mà tâu với thượng hoàng rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Đứa con bất hiếu ấy, thần thiếp thiết tưởng phép nước không nên ân xá. Dẫu không đến nỗi hoang dâm như Kiệt, Trụ, nhưng ngu ngốc thái quá thì cũng không thể trị được ngôi trời. Vậy ngày nay cứ theo thứ tự bỏ anh dùng em, xin thượng hoàng lấp Hán vương và phải.
Thượng hoàng cả cười mà phán rằng:
- Thái hậu dạy quá lời! Con ta vốn tính nhân hiếu, chỉ vì là bậc trung tài, huyết khí chưa định. Vả bấy giờ thái hậu còn đang bị bệnh, cho nên những lời sàm báng có thể gây ra nhiều mối nghi kỵ, khiến con ta sợ chết mà đến nỗi không dám vào triều kiến nội cung. Nếu ta không xét chân tình, mà vội kết ngay tội bất hiếu thì cũng oan khổ cho con trẻ. Thí dụ như ta mới lên ngôi vua,chỉ vì quá nghe lời Lưu Tiệp để hắn lộng quyền chuyên chính, đến nỗi trong ba năm tung hoành giặc giã, suýt nữa thì nguy đến nước nhà. May sao trên nhờ có thánh mẫu ta, đêm ngày dạy bảo ân cần, mới giữ được khỏi sinh biến loạn. Sau ta mỏi mệt có lòng yếm thế, mới nhường ngôi lại cho con ta. Chẳng may bấy giờ thái hậu bị bệnh, các bậc danh thần lương tướng trong triều đều vì việc nọ việc kia mà đi vắng cả, chỉ còn một mình Nguyễn Long Quang tướng công thì một cây khôn chống nổi nhà, chẳng qua cũng nhờ có thái hậu mà giang sơn này mới được vô sự. Nếu ngày nay lập Hán vương làm thiên tử thì há chẳng khiến cho Hán vương mang tiếng như những lời nói phao thuở trước ha sao!
Thượng hoàng lại nói:
- Thái hậu ơi! Từ nay không nên cân nhắc đến việc trước nữa. Thái hậu chỉ nên cùng ta sum vầy ở trong nội cung, cảnh già vui thú, để ngồi mà xem con cái đề huề.
Thượng hoàng nói xong, bỗng lại ứa nước mắt khóc. Hai bà thái phi tâu với thái hậu rằng:
- Muôn tâu thái hậu! Mấy lời của thượng hoàng chỉ phán vừa rồi thật là đạt lý và thấu tình lắm, xin thái hậu chớ nên ngần ngại.
Lại nói chuyện vua Anh Tôn ở nơi biệt điện, từ khi Phi Giao tạ thế rồi, mấy anh em cùng nhau ngày đêm sum họp chuyện trò nhỏ to. Bảo mẫu đem hết những sự việc bùa dấu của Phi Giao thuở trước thuật lại cho vua Anh Tôn nghe. Vua Anh Tôn bấy giờ động lòng thương xót Hùng hậu, tự nghĩ mình ngu ngốc, lấy làm hối hận vô cùng. Trên thì phụ ơn cha mẹ, dưới sinh một đứa con nhỏ, năm nay đã lên tám tuổi mà chưa biết mặt mũi thế nào. Vua Anh Tôn nghĩ vậy, lại ứa nước mắt khóc. Bỗng thấy ba vị vương tử đưa hoàng tôn đến, mừng rỡ xiết bao, đang khóc lại có nét mặt tươi cười, vội vàng ôm lấy hoàng tôn mà kêu to lên một tiếng. Vua Anh Tôn nói:
- Con ơi! Con nhớ trách ta là người tệ bạc. Ta cũng nhờ có con để hầu hạ thượng hoàng và thái hậu thay ta.
Hoàng tôn cũng khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng phụ! Đó chẳng qua là số mệnh của con phải như thế. Ngày nay ách vận đã qua khỏi, hoàng phụ chớ nên nhắc đến việc trước, kẻo thượng hoàng và thái hậu không được yên lòng. Nay con phụng mệnh thượng hoàng đến triệu hoàng phụ về cung, xin hoàng phụ hãy bỏ qua những sự phiền não.
Vua Anh Tôn ở trong lãnh cung ra, vẫn mặc áo tù, không dùng loan xa, chỉ thủng thỉnh đi bộ. Ba vị nương tử và hoàng tôn theo sau. Khi tới nội cung còn đứng ở ngoài cửa để hậu chỉ. Thượng hoàng nghe báo liền truyền Hưng Bình công chúa cùng hai bà thái phi đem mũ áo thiên tử ra mặc cho vua Anh Tôn. Vua Anh Tôn trong lòng xót thương, vâng mệnh vào triều kiến thượng hoàng và thái hậu. Khi vào tới nơi, vua Anh Tôn phủ phục mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng và thái hậu! Thần nhi chịu tội bất hiếu, xin kính chúc thượng hoàng và thái hậu vạn tuế!
Nói xong, cứ gục đầu xuống đất mà khóc, hạc châu lã chã chứa chan. Thượng hoàng sai người đỡ vua Anh Tôn dậy, rồi phán bảo rằng:
- Thôi con đừng khóc lóc, bao giờ cha mẹ cũng có lòng thương con. Cha mẹ có phải là giống hổ lang đâu mà bảo rằng ăn thịt con vậy. Ngày nay con đã biết hối thì ta lại cho con được phục vị. Con nên giữ gìn tính hạnh, khiến sau này sử bút lại được ghi chép chuyện một vị hiền quân.
Thượng hoàng nói xong, lại nghoảnh lại cười mà bảo thái hậu rằng:
- Thái hậu ơi! Con hiền dâu thảo ngày nay vẫn như xưa. Bao nhiêu những việc đã qua thái hậu chớ nên lấy làm phiền não!
Nói xong, tức khắc truyền chỉ gọi Hùng hậu đến để cùng vua Anh Tôn làm lễ tương kiến. Lại truyền nội giám bày tiệc ở nam nội, để vợ chồng con cháu cùng nhau dự cuộc vui. Thái hậu truyền cho Hùng hậu cứ dùng đồ thường phục mà ra triều kiến thiên tử. Hùng hậu bước ra, trông thấy vua Anh Tôn vội vàng sụp lạy, vua Anh Tôn cũng lạy để đáp lễ lại. Hoàng tôn chạy đến đỡ vua Anh Tôn dậy. Thượng hoàng vui lòng mà phán rằng:
- Hoàng tôn thật là thiên tính chí hiếu. Con dâu ta cũng chớ đem lòng oán giận, từ nay lại nên hòa thuận như xưa.
Hùng hậu tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Thần tức khi nào dám oán giận, chỉ xin thượng hoàng ân xá cho cả các cung phi, từ nay thần tức được trọn đời hầu hạ dưới gối thượng hoàng và thái hậu, thế là mãn nguyện!
Thái hậu phán rằng:
- Việc ấy rất dễ! Nhưng con cũng phải giữ ngôi hoàng hậu thì hoàng tôn mới được yên lòng.
Thượng hoàng cười mà phán rằng:
- Ngày nay ta chỉ muốn được vui cảnh đoàn viên. vậy đã ân xá cho thiên tử phục vị, thế thì con dâu ta thiết tưởng cũng nên nguôi lòng.
Thái hậu cùng hai bà thái phi, hai công chúa và ba vị vương tử nghe nói, đều lấy làm vui mừng. Bấy giờ nội giám Lăng Mậu cầm một bản tâu quì dâng thượng hoàng, nói là bản tâu của các quan văn võ triều thần, hiện đang đứng cả ở ngoài cung môn để hậu chỉ. Thượng hoàng mở xem, vui mừng kể sao cho xiết, liền cầm bản tâu trao cho thái hậu, rồi cười mà bảo rằng:
- Thái hậu ơi! Thái hậu xem thế này thì còn nên nói chi nữa. Các quan văn võ triều thần đều tâu xin cho thiên tử được phục ị.
Thái hậu xem bản tâu, nín lặng không nói câu gì. Thượng hoàng cầm bút phê rằng:
- Các ngươi tâu xin, đều bởi lòng trung thành, để sáng mai ra triều sẽ nghị.
Thượng hoàng phê xong, giao trả bản tâu, rồi ngồi vào bàn ngự tiệc, cung đàn tiếng sáo réo rắt bên tai, chả phượng nem công la liệt trước mắt, mọi người dự tiệc ai nấy đều vui vẻ tươi cười, thật là cốt nhục vẹn toàn, một nhà sum họp vậy. Thượng hoàng cả cười mà phán rằng:
- Thế này thì thành ra ta chỉ có số được làm thượng hoàng chứ không có số được làm hòa thượng! Ta cũng không hiểu duyên cớ làm sao!
Bà Mai thái phi mỉm cười mà tâu rằng:
- Thượng hoàng đã là một bậc chí tôn ở nơi thanh tĩnh thế nào được!
Thượng hoàng nói:
- Không phải thế! Các ngươi có hiểu vì cớ chi mà ta đã quyết chí tu hành lại phải trở về nơi trần tục này hay không?
Vua Anh Tôn qui xuống tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Đó là thượng hoàng nghĩ thương thần nhi và thần dân trong nước, không nỡ để cho lầm than, vì lòng hiếu sinh mà phải trở về nợ trần tục vậy.
Thượng hoàng nói:
- Vì có Hoàng Phủ quốc cữu cùng Mạnh Gia Linh tướng công cố sức khuyên can, cho nên ta lại phải về triều một phen để chỉnh đốn các công việc trong nước đó!
Vua Anh Tôn nghe lời chỉ phán, toát mồ hôi ra, cúi đầu sụp lạy. Ba vị vương tử cũng đều phủ phục, Ôn thái phi đem bài tạ ân biểu của Phi Giao đệ trình để thượng hoàng xem. Thái hậu lại khóc mà kể lể sự tình trong khi Phi Giao sai người đem dâng ngọc tỷ. Thượng hoàng xem xong bài tạ ân biểu, thở ài mà than rằng:
- Văn này chẳng kém chi Mạnh Lệ Quân cữu phụ thuở xưa, tiếc thay lại thành ra một người nham hiểm. Nhưng chẳng qua cũng bởi quốc vận xui khiến mà nên nỗi nước này!
Nói xong, lại thuật những lời sư cụ Hợp Tôn dặn bảo cho thái hậu nghe. Thái hậu nói:
- Nếu vậy thì thần thiếp có thù hằn gì với nó mà nó cũng làm khổ như thế!
Thượng hoàng nói:
- Không phải nó định làm khổ, chỉ vì thái hậu không theo ý nó, cho nên nó phải giam cấm thái hậu vào một nơi. Vả cha mẹ nó mà ngang tai mắt, nó còn muốn triệt đi, huống chi là người khác. Thái hậu ơi! Một nhà họ hùng, nếu không phải lòng son dạ sắt, cảm động đến trời thì tất cũng đã tuyệt diệt từ bao giờ rồi, còn đâu đến ngày này nữa!
Thượng hoàng lại bảo Hùng hậu rằng:
- Con dâu ta ơi! Người ta ở đời, từ sang đến hèn, ai cũng phải cần lao mới được. Con vốn là người hiền hiếu, chỉ vì năm xưa con giao hết quyền chính cho Phi Giao mới đến nỗi thế này. Từ nay con nên chăm chỉ, theo gương tốt của thái hậu mà trông coi các việc nội chính ở trong cung. Bây giờ hai con nên vào ở cung Phỉ Thúy. Cái cung ấy là chỗ ta cùng thái hậu sum họp năm xưa, ta muốn cho vợ chồng cũng lại cùng nhau bách niên giai lão. Con ta lại làm thiên tử mà dâu ta thì lại giữ ngôi hoàng hậu, thế mới là vui vẻ một nhà vậy.
Thái hậu thuật đến chuyện chim quạ mang thư. Thượng hoàng nói:
- Việc ấy trong khi ta còn đang đi đường, cũng đã được nghe chuyện. Nhưng lạ thay, cái tin ta về triều, gia thư của Hoàng Phủ Thiếu Hoa hay là bản tâu của Mạnh Lệ Quân có đưa về trước nữa thì cũng chỉ trước được bốn năm ngày mà thôi, cớ sao các đồ nghi vệ nghênh tiếp lại sửa soạn được sẵn sàng như thế, hoặc giả thái hậu có tài tiên kiến biết trước rằng ta sắp về triều chăng?
Thái hậu thở dài mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Thần thiếp có tài năng gì mà biết trước được. Đó là nhờ về nàng Diễm Tuyết là con gái Lưu Quí, nàng xem thiên văn mà biết trước vậy.
Thượng hoàng kinh ngạc mà phán rằng:
- Một người con gái sao lại giỏi thiên văn được như thế! Lưu Quí có phải là con Lưu Khuê Bích đó không? Ta còn nhớ rằng năm xưa ta dùng Lưu Quí làm chức thái phó để dạy Triệu vương.
Mai thái phi tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Chính phái người ấy rồi! Thần thiếp từ khi tiếp được tin thượng hoàng bỏ đi, ngày đêm thương khóc. Triệu vương mới bàn với Lưu Quí bảo con gái vào cung để làm bạn cho vui. Thần thiếp thấy nàng là người học rộng tài cao, mới nhận nàng làm nghĩa nữ.
Thượng hoàng mỉm cười mà phán rằng:
- Nếu phải là con gái Lưu Quí thì tức là điệt tôn nữ của ta, sao lại nhận là nghĩa nữ được!
Thái hậu và Mai thái phi đều ngẩn người ra, rồi cười mà nói rằng:
- Thế ra thượng hoàng còn nhớ được thứ tự!
Thượng hoàng phán rằng:
- Người con gái ấy bây giờ ở đâu?
Mai thái phi tâu rằng:
Thái hậu có cho theo vào ở nam nội.
Thượng hoàng nói:
- Sao không triệu vào đây!
Mai thái phi vội vàng sai cung nữ đi gọi nàng Diễm Tuyết. Hồi lâu nàng Diễm Tuyết mình liễu thướt tha, gót sen rón rén, bước vào trước sân, khép áo cúi đầu sụp lạy. Nàng lạy xong khẽ cất tiếng oanh mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Thần thiếp là Diễm Tuyết, xin kính chúc thượng hoàng vạn tuế!
Thượng hoàng truyền cho đứng dậy. Khi nàng đứng dậy, mặt hoa da ngọc, trông lại càng mỹ lệ hơn trước, quả nhiên là một bậc “Tiên nữ giáng trần” vậy. Thượng hoàng kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Diễm Tuyết kia! Biết được thiên văn tất là nhờ có cha dạy. Chẳng hay đã đính hôn với ai chưa vậy?
Mai thái phi thay lời nàng Diễm Tuyết mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Nàng Diễm Tuyết từ thuở nhỏ vẫn quyết chí tu hành, người cha không nỡ trái ý, vậy nên chưa hứa gả cho ai cả.
Thượng hoàng lại phán rằng:
- Nếu vậy thì nàng thật là tiên phong đạo cốt, hay tiền thân nàng tức là một vị du tiên đó chăng! Nhưng nhan sắc “Đắm nguyệt ngây hoa” kia, sao lại bỗng mến thú “Hoa nội mây ngàn” vậy.
Nàng Diễm Tuyết ứng khẩu mà đọc một bài thơ:

“Nguyệt nọ còn khi khuyết
Hoa kia có lúc tàn
Mây ngàn cùng hạc nội
Muôn thuở vẫn anh nhàn”


Thượng hoàng vui cười mà phán rằng:
- Tài mẫn tiệp ấy thật cũng đáng khen! Nhưng ta hãy hỏi một điều...
Nói đến đấy, thượng hoàng lại đọc hai câu thơ:
“Cha mẹ công trời bể
Làm con chớ quên ân”


Nàng Diễm Tuyết tức thì đọc nối theo hai câu nữa:
“Phát phu * không dám hủy
Kính chúc chữ thiên xuân”


Thái hậu bật cười bảo rằng:
- Thượng hoàng thua rồi!
Thượng hoàng cũng cười mà phán:
- Tam giáo lấy nho làm đầu. Ta đây cũng chưa từng thế phát, thế thì một mình ta kiêm đủ tam giáo vậy. Khen cho Diễm Tuyết thật có tài đĩnh ngộ, há phải người trong cõi trần. Đợi khi thân phụ nàng về đây rồi ta sẽ bàn. Âu là ta lập một cái chùa ở trong đại nội, để hàng ngày nàng ra đấy mà giảng đàm đạo lý.
Mai thái phi bảo nàng Diễm Tuyết lạy tạ rồi lui ra. Sáng hôm sau, vua Anh Tôn cùng ba vị vương tử vào đón thượng hoàng ra ngự triều. Bây giờ ngoài chốn triều đường, rung chuông đánh trống, văn quan võ tướng đã sắp hàng cả ở dưới sân. Thượng hoàng ra tới nơi, các quan văn võ triều thần cúi đầu sụp lạy làm lễ triều kiến. Khi các quan làm lễ triều kiến xong bỗng thấy Ngọ Môn quan quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Một nhà Hoàng Phủ cùng Gia Tường công chúa đều quì ở ngoài cửa Ngọ Môn để xin xin chịu tội.
Thượng hoàng phán:
- Hà tất lại làm như thế,, khiến cho lòng ta thêm áy náy.
Nói xong, tức khắc truyền bảo Tề vương và Nguyễn Long Quang tướng công đem mũ áo ra ban cho nhà Hoàng Phủ và triệu vào triều bái, để đợi lệnh thiên tử gia quan ban tước cho. Hai người phụng mệnh ra Ngọ Môn tuyên truyền thánh chỉ, triệu vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa và mấy người con đều vào triều bái. Còn Gia Tường công chúa thì mời vào nam nội. Vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa cùng mấy người con đội mũ mặc áo, rồi kéo nhau vào trước sân rồng sụp lạy chúc câu “Vạn tuế” Thượng hoàng truyền cho đứng dậy, phán hỏi:
-Trong mấy người này người nào là Triệu Lân ?
Triệu Lân nghe lời phán hỏi, vội vàng tiến lên, rồi quì lạy ma tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Triệu Lân tức là kẻ hạ thần!
Thượng hoàng cầm lấy tay, ngắm nghía hồi lâu rồi phán rằng:
-Nhà ngươi thật đáng gọi là “Xã tắc trọng thần”! Việc cứu hoàng tôn còn gọi là việc nhỏ, chứ việc phục quốc tộ thì quả là “Đệ nhất kỳ công”! Hoàng Phủ Tương vương và Mạnh Lệ Quân vương phi tài giỏi hơn đời, nhưng rút lại cũng không bằng Triệu Lân. Triệu Lân mới ngần này tuổi đầu, mà đã trung lại trí, đến nỗi trên đầu tóc điểm hoa râm. Công này dẫu gia phong vương tước cũng chưa đủ báo đền, thôi thì ta cho ba vị vương tử cùng Triệu Lân kết làm anh em vậy.
Triệu Lân khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Cái công báo quốc của kẻ hạ thần, chưa đủ mà chuộc cái tội phụ quốc!
Thượng hoàng thở dài mà than rằng:
- Nhà ngươi chớ khiêm tốn quá! Vì ta vụng nghĩ một chút mà để di lụy đến nhà Hoàng Phủ, đợi khi thiên tử phục vị, bấy giờ sẽ công báo nghĩa đền.
Triệu Lân lại lạy dập đầu, rồi khóc mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Kẻ hạ thần còn có một việc muốn xin trần tấu.
o0o

_______
(*) Phát phu: tóc và da. Ý nói thể xác của ta là khí huyết cha mẹ ban cho, không được tự tiện hủy hoại (Chú nhà NXB)
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-27 09:12:01ct.ly>
hồi thức mười bốn
NHỚ ƠN SÂU, THIẾU HOA MỘ ĐẠO
BỎ THÙ CŨ, PHI GIAO HIỂN LINH

Lại nói chuyện thượng hoàng ngự triều tuyên triệu một nhà Hoàng Phủ vào, cho hai vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa ngồi hai bên tả hữu, rồi phán hỏi các công việc về trước. Nào việc Mạnh Lệ Quân bị giam cấm và việc An Quốc làm giám quốc như thế nào.
Thượng hoàng lại hỏi đến việc hoàng tôn thì Triệu Lân tâu hết đầu đuôi từ khi đem ở trong cung ra, gặp vào tiết đoan ngọ. Hôm ấy trời mưa to gió lớn những thế nào. Hoàng tôn nằm trong giỏ thuốc, khi xách ra đến cửa cung, lại gặp An Quốc, suýt nữa lộ chuyện. Sau đem về giao cho Gia Tường công chúa nuôi dạy, v.v...
Triệu Lân tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Một nhà kẻ hạ thần thất đáng trị tội, nay thượng hoàng đã đặc cách mà ân xa cho, khiến cha mẹ anh em kẻ hạ thần đều được toàn tính mệnh. Ơn ấy dẫu ngậm vành kết cỏ, cũng chưa đủ báo đền, chỉ xin thượng hoàng thi ân cho một nhà kẻ hạ thần được từ chức về nơi điền lý thì đức trạch thánh triều, không biết kể sao cho xiết vậy.
Thượng hoàng nói:
- Có lẽ nào như thế được! Các ngươi trải bao gian khổ mới giữ cho nước nhà được vô sự, ngày nay nỡ nào vội bỏ mà đi. Việc này chẳng những ta quyết không ưng, ta thiết tưởng cha mẹ nhà ngươi cũnội giám không nỡ dứt tình mà bỏ ta và thái hậu mà về cho được!
Nói chưa dứt lời thì hai vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa sụp lạy tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Vợ chồng kẻ hạ thần già yếu, xin thượng hoàng cho về, đã có trưởng tử kẻ hạ thần ở lại cung chức. Còn các thứ tử kẻ hạ thần đều chưa có vợ, kẻ hạ thần xin về thu xếp việc nhà, rồi trong một vài năm lại sẽ vào triều bái.
Thượng hoàng phán hỏi rằng:
- Các thứ tử nhà ngươi đã đính hôn với ai chưa?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Bấy lâu chỉ những loa toan quốc sự, cho nên chưa kịp nghĩ đến việc hôn nhân.
Thượng hoàng thở dài mà than rằng:
- Ấy đều là lỗi tại ta đó! Hưng Bình công chúa là con bà Mai thái phi, năm nay đã mười tám tuổi, âu là ta gả cho Triệu Thụy tức là con thứ năm của nhà ngươi, vợ chồng nhà ngươi chớ nên từ chối. Việc ấy không phải để báo ơn nhà ngươi đâu, chẳng qua muốn kén một người giai tế vậy. Nhà Hoàng Phủ toàn trung tận hiếu, dẫu gia quan tiến chức đến đâu cũng chưa đủ báo đền. Huống chi vợ chồng nhà ngươi đã vì việc nước mà trải bao gian khổ, nay ta muốn lập một cái chùa ở trong đại nội, để thỉnh thoảng ta được ra đấy mà cùng vợ chồng nhà ngươi giảng đàm đạo lý. Vua tôi tương đắc, há chẳng phải là “Thiên thu giai thoại” đó ru! Vợ chồng nhà ngươi chớ nên cáo về điền lý mà thêm nặng tội cho thiên tử, lại khiến thái hậu phải đau xót trong lòng. Thuở trước cũng chỉ vì vợ chồng nhà ngươi cáo về, để đến nỗi bọn quyền gian thừa cơ nổi loạn. Nếu vợ chồng nhà ngươi không một lòng tận trung báo quốc thì muôn dặm giang sơn vị tất còn được có ngày nay. Hoàng Phủ quốc cữu ơi! Thiên tử là bậc trung tài, tất phải nhờ có Chu công (là bậc trung thần đời Chu, đã hết lòng giúp ấu chúa) giúp cho thì nước mới yên được. Ta xem bản tâu của các quan văn võ triều thần, rất hợp ý ta, vậy nên mau mau chọn ngày tốt để cho thiên tử làm lễ phục vị.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe lời chỉ phán, nín lặng không dám tâu nữa. Các quan văn võ triều thần đều reo mừng mà rằng:
- Thần đẳng xin phụng chỉ!
Triệu Phượng lại đem bức thư của Mạnh Lệ Quân vương phi buộc vào chim quạ thuở trước và một tờ kết minh cùng An Quốc trong khi khởi sự, đều đệ trình để thượng hoàng xem. Triệu Lân cũng đem cái áo lót mình, cái giỏ thuốc và cái ngọc bội của hoàng tôn năm xưa bày la liệt ở trên long án. Thượng hoàng cầm xem tất cả một lượt. Khi thượng hoàng xem xong, thở dài một tiếng, rồi giáng chỉ truyền các quan văn võ triều thần đều được tiến lên, quì trước thềm vàng mà trao tay cho xem. Thượng hoàng phán rằng:
- Các ngươi có đó mà xem. Một nhà Hoàng Phủ tận trung báo quốc như thế này thì dẫu gia phong tiến tước thế nào cũng chưa đủ đền công. Ngày nay ta nghĩ chỉ còn một cách cùng nhà Hoàng Phủ đính ước đời đời kết thân, bao nhiêu công chúa đều gả cho nhà Hoàng Phủ vậy.
Nói xong, lại truyền ghi câu nói ấy vào thiết khoán, bỏ trong hộp vàng. Thượng hoàng nói chưa dứt lời thì vua Anh Tôn vội vàng quì xuống mà tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Thượng hoàng đã chỉ phán như vậy thì trước hết dám xin thượng hoàng hãy giáng chỉ cho hoàng tôn được kết duyên với con gái phò mã Triệu Câu. Đôi vợ chồng ấy niêm mạo tương đương, thật đã đệp duyên phải lứa vậy.
Thượng hoàng nghe nói cả cười mà rằng:
- Nếu vậy thì ta già lẫn mất rồi, một đôi giai ngẫu như thế sao ta lại bỏ sót!
Nói xong, lại nghoảnh nhìn Hoàng Phủ Thiếu Hoa rồi cười mà phán rằng:
- Đã thân lại càng thân, việc này quốc cữu cũng chớ nên từ chối.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa khóc mà tâu rằng:
- Thánh ân gia hậu bao nhiêu thì tội lỗi của thần đẳng càng thêm thâm trọng.
Mạnh Lệ Quân vương phi cũng tâu rằng:
- Muôn tâu thượng hoàng! Thần đẳng đã dự hàng quốc thích, nay lại cầm quyền chính trong triều thì dẫu thượng hoàng là bậc thánh minh, nhưng thần đẳng đứng đầu trăm quan, lại càng thêm hổ thẹn. Xin thượng hoàng rộng ơn cho vợ chồng thần đẳng cáo quan lui về quê nhà, để được hưởng phúc thanh nhàn trong khi tuổi già, hễ gặp có thời tiết gì, vợ chồng thần đẳng lại sẽ xin vào triều kiến.
Thượng hoàng nghe lời tâu lẩm nhẩm gật đầu, rồi truyền cho công bộ mau mau lập một cái chùa ở chốn đế kinh, để khi nào làm sẽ đến đấy tu hành, không phải đi đâu nữa. Thượng hoàng lại truyền cho vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa đem Triệu Thụy vào triều kiến thái hậu. Bấy giờ trong cung đã tu tạo lại, lầu rồng gác phượng, lại có phần trang hoàng rực rỡ hơn xưa. Trong hoàng cung lại mới làm ra một cái điện gọi là “Hoa Ngạc Điện”. Vua Anh Tôn cùng ba vị vương tử hàng ngày sum họp tại đấy. Ngày ăn một mâm, đêm nằm một chiếu, cùng nhau thân ái bội phần.
Lại nói chuyện vợ chồng Hùng vương và vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa bấy giờ cùng nhau kể lể n! nông nỗi sau khi tương biệt. Trong mười năm trời đăng đẳng, biết bao đoạn khổ tình thương. Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe đến chuyện nàng Hạng Ngọc Thanh, liền vỗ tay khen ngợi và nói:
- Nàng thật là một người kỳ nữ! Nhưng chẳng qua cũng bởi lòng trung nghĩa của hiền huynh cảm động đến trời mà xui khiến nên có bật quần thoa ấy. Còn tôi đây vô phúc sinh phải một đứa con yêu quái, để di lụy đến hiền huynh, thôi thì nghĩa nặng tình sâu, sự báo đền đành để kiếp sau.
Hùng vương thở dài mà than rằng:
- Chẳng qua bởi số mệnh của tôi tất phải gặp tai ách ấy, nhưng cũng nhờ có hiền điệt đem hết tài kinh luân thao lược, cho nên mới còn được thấy ngày nay. Lại đáng khen thây tam điệt Triệu Lân đã bao phen ra vào trong cung chữa thuốc cho tiện nữ (Hùng hậu) mà khiến được bọn quyền gian vẫn không nghi ngờ. Đáng lẽ ngày nay tôi phải lạy dập đầu mà tạ ơn mới phải, cớ sao lại còn nói đến sự báo đền. Vợ chồng tôi khi ở trong ngục thật là ngu ngốc, vẫn oán giận các hiền điệt không vào thăm hỏi, ai ngờ mưu cao trí rộng, chẳng những cứu cho một nhà họ Hùng an toàn tính mệnh, mà nghìn thu sử bút lại còn giải được tiếng oan.
Chà con Hoàng Phủ Thiếu Hoa đều tỏ ý khiêm tốn mà rằng:
- Sao người lại dạy quá lời. Đó chính là bởi lòng trung quân ái quốc của họ Hùng đã cảm động đến trời vậy.
Đang nói chuyện thì gia tướng bày tiệc, mấy người cùng ngồi vào uống rượu. Trong khi uống rượu, Hùng vương thở dài mà than rằng:
- Doãn Thượng Khanh tướng công cùng tiện nhi Hùng Khởi Phượng bấy lâu nay cũng chư về, Hùng Khởi Phượng còn trẻ tuổi, chẳng nói làm chi, như Doãn Thượng Khanh tướng công thì là một bậc nguyên lão trọng thần, năm nay đã già yếu. Con Doãn Thượng Khanh tướng công cũng đã từ quan, vợ chồng đem nhau về chống sơn dã, nay làm chức trưởng sử ở Triệu vương phủ ngày đêm mong nhớ, đã biết bao nước mắt khóc thương cha già.
Hùng vương lại bảo Hoàng Phủ Thiếu Hoa rằng:
- Sáng mai vương gia nên vì tôi tâu với triều đình sai quan sang Cao Ly để hỏi Nam Kim nữ chủ về việc ấy.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa đáp rằng:
- Viếc ấy đã có Nguyễn Long Quang tướng công, hiền huynh bất tất phải lo ngại. Vợ chồng tôi ngày nay tuổi già sức yếu, từng trải bao phen gian nan hiểm trở, cái thân đa bệnh, cần phải tĩnh dưỡng, không dám lại hỏi đến việc quân quốc làm chi. Tôi đã xin cáo từ trở về quê nhà, nhưng thượng hoàng không cho định lập một cái chùa ở chốn đế kinh này, để cho vợ chồng tôi làm nơi vui thú cảnh già vậy. Vừa rồi, vợ chồng vào triều kiến thượng hoàng thì thiên tử khóc lóc mà hối hận việc năm xưa, xin từ nay cùng hoàng hậu bách niên giai lão. Hiền huynh bất tất phải lo ngại, tôi chắc rằng hết cơn bỉ cực tới tuần thái lai.
Khi uống rượu xong, Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại nói:
- Hiền huynh ơi! Tôi còn nhớ năm xưa tôi lưu lạc đến nhà hiền huynh, được hiền huynh trọng đãi, ăn một mâm nằm một chiếu, coi nhau hơn cốt nhục trong một nhà. Từ bấy đến nay thấm thoát đã ba mươi năm chẵn, tang thương mấy độ, mày râu bỗng thấy bạc phơ. Âu là đêm nay ta lại chung gối lên giường, cùng nhau chuyện trò cho bỏ bấy lâu mong nhớ.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa truyền rót rượu để cùng Hùng vương uống. Hai người đều bỏ mũ chỉ mặc bộ áo thường, cùng nhau chuyện trò rất thân mật. Sáng hôm sau, Hùng vương cáo từ ra đi. Phò mã Triệu Câu thì lại vào trong nội. hôm ấy vua Anh Tôn làm lễ phục vị. Hùng hậu lên ngôi hoàng hậu, hoàng tôn được gia phong làm đông cung hoàng thái tử. Các quan triều thần náo nhiệt lạ thường chỉ có Hoàng Phủ Thiếu Hoa là an nhàn vô sự. Khi Hùng vương về rồi, Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại vào nhà trong, hai vị phu nhân Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc đón mà hỏi rằng:
- Sao hôm nay phu quân không tiến triều?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa cười mà bảo rằng:
- Hai phu nhân đã hỏi đến để ta nói cho mà nghe. Ta nay là một người vô câu thúc, dẫu không cáo về điền lý, nhưng cũng chẳng dự gì đến việc triều đường, chỉ một mực vui chơi ở chốn đế kinh này mà thôi.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa vừa nói vừa đi vào nhà trong thăm Mạnh Lệ Quân vương phi. Khi vào tới nơi, Mạnh Lệ Quân vương phi ngồi ở trên giường, Hoàng Phủ Thiếu Hoa liền cầm lấy tay mà hỏi han ân cần. Bỗng thấy Vệ Dũng Nga vương phi bước vào, theo sau có mấy người nữ tử, đều là những bậc mặc hoa da ngọc, nhan sắc tuyệt trần vậy. Phi Loan quận chúa trông thấy thân phụ tức khắc vật mình lăn khóc. Hoàng Phủ Thiếu Hoa cũng ứa nước mắt mà bảo rằng:
- Phi Loan con ơi! Bấy lâu con thủ tiết với họ Hùng, tình nguyện vào nhà giam, thật đã chuộc được tội lỗi cho cha mẹ. Nếu không nhờ có con cùng các anh con thì ta đây hổ thẹn biết dường nào!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa trông thấy mấy người nữ tử theo sau Vệ Dũng Nga liền hỏi:
- Những ai đi theo sau vương phi thế kia?
Vệ Dũng Nga vương phi trỏ từng người mà đáp rằng:
- Đây là nàng Diễm Tuyết lệnh ái của quan trưởng sư Lưu Quí; đây là Hạng Ngọc Thanh kỳ nữ; còn đây tức là con dâu trưởng của tôi tên gọi Lương Cẩm Hà đó. Chúng theo tôi lại đây để bái yết vương gia và vương phi.
Lương Cẩm Hà phu nhân lạy chào rồi lại đưa tiểu công tử làm lễ tương kiến. Sau đến nàng Diễm Tuyết và nàng Hạng Ngọc Thanh, hai nàng cúi đầu sụp lạy, trông thật là một đôi nghiêng nước nghiêng thành. Mọi người đang làm lễ tương kiến thì bỗng nghe báo có Mạnh Gia Linh tướng công đến. Hoàng Phủ Thiếu Hoa cùng Mạnh Lệ Quân vương phi vội vàng ra nghênh tiếp. Mạnh Lệ Quân vương phi trông thấy Mạnh Gia Linh tướng công liền ứa nước mắt khóc, hai anh em cùng nhau kể lể những nông nỗi biệt ly trong mười năm trời. Mỗi khi thuật đến chuyện Phi Giao thì Mạnh Lệ Quân vương phi luống những thở ngắn than dài, càng nghĩ bao nhiêu thì lại càng đắng cay chua xót. Mạnh Gia Linh tướng công lại khuyên giải Mạnh Lệ Quân vương phi mà rằng:
- Thôi, câu chuyện đã qua, chớ nên nghĩ đến! Cho hay sinh con gái rất sợ về nỗi có tài. Vả cư cụ Hợp Tôn đã nói rõ cho ta biết tiền thân nó tức là con xích giao. Nhưng chẳng hay cớ sao binh thư của muội phu, lại để cho nó lấy trộm được. Nói rút lại thì cũng là lỗi tại em cả, vì em quá chiều vậy nên nỗi thế.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe nói, vội hỏi duyên cớ làm sao. Mạnh Lệ Quân vương phi liền khóc mà thuật hết đầu đuôi mọi nỗi cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe. Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Vì tội ác của con Phi Giao mà tôi đã phải thay thái hậu thảo một tờ chiếu thư để theo phép nghiêm trị. Vừa rồi thân huynh trách em quá chiều con Phi Giao, nhưng không phải thế. Con Phi Giao dẫu tính khí vẫn cương cường mà vẫn không hề trái lời huấn dụ, cho nên họ hàng cô cậu ai cũng mến nó như con. Không nhờ từ khi nó vào hoàng cung, bỗng biến tâm đổi tính, làm lắm điều càn rỡ, chẳng coi ai ra gì. Năm xưa tôi phải xa lìa cha mẹ, cải trang trốn đi, dẫu thi đỗ làm quan cũng là một sự bất đắc dĩ, nhưng nghĩ đến ơn cù lao chín chữ, vẫn thường áy náy trong lòng. Còn từ khi về nhà Hoàng Phủ Thiếu Hoa, một niềm hiếu thuận, thờ cha kính mẹ, xét mình chẳng có tội lỗi gì, không biết oan nghiệt gì đâu mà sinh ra đứa con yêu quái ấy! Hay là năm xưa tôi cưỡng lời cha mẹ, cố giữ ngôi thừa tướng trong mấy năm trời, không chịu cải trang, vậy nên quả báo không sai, đến nỗi sinh phải đứa con bất hiếu chăng! Trời ơi! Tôi nghĩ đến cha mẹ lúc nào, lòng tôi lại đau như cắt, những mong được sum vầy dưới gối, để cho trọn đạo thần hôn.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Nếu phu nhân muốn về Vân Nam thăm cha mẹ thì tôi cùng đi một thể, tôi còn muốn sang đấy để tế trước mộ Lương Trấn Lân tướng công một tuần và khuyên hai công tử nên ra làm quan. Tôi có tau xin mà thượng hoàng nhất định không cho đi, hiện đã sai sứ đi Vân Nam để tế Lương Trấn Lân tướng công và gia phong quan chức cho hai công tử nữa. Bài tế văn ở mộ thì thiên tử ngự chế rồi giao cho Triệu vương chép lại. Lại ban cho một trăm khoảnh ruộng để làm tự điền. Triều đình báo đáp như thế thì tướng công ở dưới suối vàng tưởng cũng hả dạ. Vì nhà Hoàng Phủ mà khiến cho bao nhiêu người phải khổ sở lầm than.
Mạnh Gia Linh tướng công nói:
- Việc ấy há phải lỗi riêng tại nhà Hoàng Phủ, chẳng qua là ách vận của nước nhà tất có một phen như thế.
Mạnh Gia Linh tướng công nghoảnh lại bảo Mạnh Lệ Quân vương phi rằng:
- Chẳng bao lâu nữa anh về Vân Nam vậy em cùng đi làm sao cho được.
Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Bất cứ lúc nào tất phải để cho em cùng đi.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Phu nhân chưa khỏi bệnh thì đi làm sao cho được, âu là để đến mùa xuân sang năm, rồi cùng tôi về Vân Nam.
Mạnh Lệ Quân vương phi lại đáp rằng:
- Đợi thế nào được! Năm nay hai thân thiếp tuổi già sức yếu, tấm lòng nhớ con gái, hồ dễ đã lúc nào nguôi, thế thì thiếp đây dâũ chưa khỏi bệnh mặc lòng, cũng tất phải về thăm mới phải. Vả công việc trong nhà đã có hai phu nhân cùng các con. Hai thân tuổi hạc đã cao, một ngày một ngã bóng dâu, ta về sớm ngày nào tức là hay ngày ấy vậy.
Mạnh Gia Linh tướng công gật đầu khen phải, rồi nói:
- Hễ thiên tử làm lễ phục vị xong thì ta sẽ sửa soạn khởi hành.
Bỗng nghe báo ngoài cửa có Nguyễn Long Quang tướng công đến. Mạnh Lệ Quân vội vàng đứng dậy lui vào nhà trong. Bấy giờ Vệ Dũng Nga vương phi cùng mọi người nói chuyện, trông thấy, lại thuật chuyện trong cung cho Mạnh Lệ Quân vương phi nghe.Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Vừa rồi thái hậu gia ân thải bớt các cung nữ ra. Trong bọn cung nữ có hai chị em họ Trần thuật chuyện khi trước vương phi cắt thịt đùi để nấu “Nhân cao” cho thái hậu uống. Thượng hoàng và thái hậu nghe nói đều động lòng thương xót mà ứa nước mắt khóc. Thiên tử bấy giờ cũng giọt lệ chứa chan, quì xuống tâu thượng hoàng và thái hậu rằng :
- “Con cam tội bất hiếu. Ơn sâu của nhà Hoàng Phủ thật không biết thế nào mà báo đáp cho cùng.”
Thiên tử cứ nức nở khóc hoài, thượng hoàng và thái hậu sai ba vị vương tử đỡ thiên tử dậy, rồi tìm lời khuyên giải. Thế mới biết bao giờ cha mẹ cũng có lòng thương con. Trưởng tử tôi là Hùng Khởi Phượng đi sứ Cao Ly đã mười năm nay mà chưa thấy về. Tôi đã phải tâu xin thiên tử giáng chỉ sai sứ đi hỏi Nam Kim nữ chủ. Xót thương con dâu tôi ngày đêm mong đợi, chỉ muốn được phu quân về để đem ngôi chính thất mà nhường cho nàng Hạng Ngọc Thanh, gọi là báo đền lòng tiết nghĩa của nàng đã tình nguyện vào nhà giam trong bấy nhiêu năm trời.
Vệ Dũng Nga vương phi nói xong hai hàng nước mắt lại ròng ròng chảy xuống. Lương Cẩm Hà phu nhân liền dắt tiểu công tử đến trước mặt để khuyên can tổ mẫu. Tiểu công tử nói:
- Tổ mẫu ơi! Xin tổ mẫu chớ lo phiền! Chẳng bao lâu nữa thân phụ con tất cũng được về nước. Vả thân mẫu con những lo cùng phiền nước mắt không lúc nào ráo, nay tổ mẫu lại thương khóc thì càng khiến cho thân mẫu con phải đức ruột đau lòng. Tiếc thay bấy giờ con đang đọ ngây thơ, chưa biết hăng hái tòng quân như Mộc Lan nữ tướng quân thuở trước.
Mọi người nghe nói đều khen ngợi mà rằng:
- Tiểu công tử còn nhỏ tuổi mà nói năng đã khác thường.
Mạnh Lệ Quân vương phi lại nói:
- Trong mấy năm trời nước Cao Ly không triều cống chi cả. Tôi nghe nói Nam Kim nữ chủ mỗi ngày một hoang dâm càn rỡ, mà Phi Giao cũng lười biếng cho nên không sai người đem quân sang hỏi tội. Mới đây lại nghe nói Nam Kim nữ chủ bị bệnh, còn việc tu bổ quốc sử chưa biết bao giờ xong. Ngày nay ta nên tâu với triều đình sai một viên đại tướng đem quân tới Áp Lục Giang. Hễ Cao Ly tha sứ thần ta về thì thôi bằng không thì sẽ tiến kinh hỏi tội.
Vệ Dũng Nga vương phi mừng mà nói:
-Vương phi thật là một tay thao lượt, ít người theo kịp! Việc ấy ta phải tâu với thiên tử điều binh khiển tướng ngay. Còn một việc nữa tôi xin nói để vương phi biết: Nàng Diễm Tuyết quyết chí tu hành, tổ mẫu nàng cùng thân phụ nàng đều quyết chiều ý nàng cả. Thái hậu định lập một cái chù ở trong cung, cho nàng ra đấy tu hành, vương phi nghĩ có nên không?
Mạnh Lệ Quân vương phi cười mà hỏi nàng Diễm Tuyết rằng:
- Nàng Diễm Tuyết ơi! Nàng nghĩ thế nào mà muốn đi tu?
Nàng Diễm Tuyết nói:
- Con chẳng có kiến thức chi cả. Từ bé đến nay vốn tính vẫn thích sự tu hành. Vả lại lười biếng chỉ hàng ngày theo thân phụ xem ngắm các tinh tượng lấy thế làm vui. Thân phụ có ý chiều con cho nên không nỡ trái ý. Tổ mẫu và thân mẫu con cũng bằng lòng, mới đem việc ấy tâu cùng thái hậu vậy.
Nói chưa dứt lời thì Lưu Yến Ngọc phu nhân gọi nàng Diễm Tuyết mà bảo rằng:
- Diễm Tuyết con ơi! Cha mẹ con đều bằng lòng cho con tu hành cũng chẳng qua cũng bởi duyên túc phúc của con đó! Ta vẫn biết đã lâu rằng con là người có tiên phong đạo cốt, ngày nay dẫu tạm xuống trần thế, nhưng sau này rồi sẽ lại bạch nhật phi thăng. Chúng ta đây không ai được bằng con vậy.
Mạnh Lệ Quân vương phi và Vệ Dũng Nga vương phi đều cười mà bảo rằng:
- Lưu phu nhân thật là một người rất tinh nghề xem tướng. Phu nhân thường nói nàng có tiên phong đạo cốt, chứ không phải người trần, ngày nay quả nhiên nàng ham sự tu hành, thế mới biết người ta ở đời. muôn việc đều có số mệnh. Chúng ta đây lòng trần mắt thịt, đắm chìm ở trong bể khổ, thời giờ thắm thoát, chẳng qua cũng lao lực một đời.
Nói chưa dứt lời thì nàng Hạng Ngọc Thanh đứng dậy, đến gần trước mặt Mạnh Lệ Quân vương phi và Vệ Dũng Nga rồi quì xuống mà thưa rằng:
- Bám bẩm hai vị vương phi! Tiện tỳ này có một nỗi riêng hơn hai mươi năm trời nay chưa hề ngỏ chuyện với ai, ngày nay sự thế đáo đầu, vậy xin cứ thực phân trần để hai vương phi lượng tình cho.
Mạnh Lệ Quân vương phi và Vệ Dũng Nga vương phi đỡ nàng Hạng Ngọc Thanh dậy rồi kinh ngạc mà hỏi:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh ơi! Nàng có việc gì xin nàng cứ nói!
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-27 09:11:59Hoàng Dung>
hồi thứ mười bốn b
Nàng Hạng Ngọc Thanh mới kể lể sự tình mà rằng:
- Hai vị vương phi ơi! Nam Kim nữ chủ thật là cô mẫu của tôi. Nguyên tổ phụ tôi buôn bán làm nên giàu có gia tư kể hàng trăm vạn. Tổ phụ tôi thấy cô mẫu tôi giống khổ mặt Mạnh vương phi, mới mạo nhận đưa về kinh thành để mong được kết duyên cùng nhà Hoàng Phủ. Sau việc không thành lại gặp thái tử Cao Ly mua về làm vợ, thành ra ngày nay làm nữ chủ ở nước Cao Ly. Năm xưa tổ phụ tôi có sang chơi, nhưng thủy thổ không quen, về được mấy năm thì tạ thế. Thân phụ tôi vốn con nhàu giàu không biết tiết kiệm, chỉ những cầu quan mua tước, tram nghìn đổ đi như không. Hai thân huynh tôi thì đêm ngày ở chốn bình khang, của ra có lối của vào thì không, còn chi mà chẳng phải khánh kiệt. Sau bỗng gặp cơn gia biến, hai thân tạ thế, sản nghiệp phải tịch ký sung công. Của nhà sa sút, mỗi người một nơi, tôi đến ở nhờ nhà ông cậu, chẳng may mắc mưu lừa đảo, lưu lạc vào chốn thanh lâu. Khi vào tới đó, vì cớ không chịu tiếp khách mà mụ chủ đã dùng hết cách tàn nhẫn, ngọn roi oan nghiệt thịt nát máu rơi. Về sau dẫu được thoát vòng, nhưng nghĩ đến lúc nào lại rùng mình sởn tóc. Cái thân bạc mệnh này, mai sau còn có mong gì. Vả nghe tin cô mẫu tôi hoang dâm càn rỡ, thì gia thanh nhà họ Hạng tôi một sớm bỏ đi. Nghĩ mình hổ thẹn trăm chiều, giọt lệ khôn cầm, chỉ những muốn theo cha mẹ xuống suối vàng cho rảnh. Nay dám xin hai vương phi cho tôi được theo nàng Diễm Tuyết để đêm ngày tu luyện mà đoạn tuyệt trần duyên.
Khi ăn cơm xong, Lương Cẩm Hà phu nhân lại nói với nàng Hạng Ngọc Thanh rằng:
- Hạng Ngọc Thanh ơi! Bây giờ nàng hãy về ở với tôi, không nào chùa mới làm xong, bấy giờ sẽ vào tu tại đấy.
Nàng Diễm Tuyết nói:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh sau khi thoái khỏi nơi Xuân Vân viện, những muốn cắt tóc đã lâu, chỉ vì nghĩ lòng hào hiệp của Hùng quốc cữu bỏ nghìn vàng ra chuộc mình về nên không nỡ phụ ơn, phải tạm ở nhà họ Tần, đợi nói với phu nhân, cam tâm làm tiểu tinh để báo đền ân nghĩa. Đến khi tình nguyện vào nhà giam, được hết sức khuyển mã, sớm khuya hầu hạ trong mấy năm trời thì ơn sâu kia cũng gọi là đã có chút đáp đền vậy. Vậy lúc này không cắt tóc đi tu còn đợi lúc nào! Nàng đã có đính ước riêng cùng tôi kết bạn đồng tâm, cũng là một cái duyên thanh tĩnh.
Mọi người chuyện trò hồi lâu, rồi cáo từ ra về. Bấy giờ Mạnh Gia Linh tướng công cũng cáo từ về phủ. Hoàng Phủ Thiếu Hoa ở nhà ngoài vào, lại cùng Mạnh Lệ Quân vương phi nói chuyện. Mạnh Lệ Quân vương phi thuật hết những lời nàng Diễm Tuyết và nàng Hạng Ngọc Thanh vừa nói cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe. Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Khi tôi mới trông thấy tướng mạo hai nàng cũng đã biết ngay là người có tiên phong đạo cốt vậy.

Lại nói chuyện phò mã Triệu Câu về phủ, Gia Tường công chúa đứng dậy đón vào, rồi hai vợ chồng cùng nhau trò chuyện. Phò mã Triệu Câu thuật hết mọi chuyện trong triều cho công chúa nghe. Phò mã Triệu Câu nói:
- Hôm nay triều đình đã định sai nhị đệ Triệu Phượng đem năm nghìn quân kéo sang Cao Ly hỏi tội. Đến ngày mười tháng này thì thánh thượng làm lễ phục vị. Lại còn một việc thật lạ lùng.
Gia Tường công chúa liền hỏi:
- Phò mã ơi! Chẳng hay việc chi mà lạ lùng?
Phò mã Triệu Câu nói:
-Số là các cung nữ và các nội giám canh giữ tại mộ địa Phi Giao tâu rằng: Đêm nào cũng thường thấy Phi Giao hiện hình lên, lúc thì mặc bộ áo triều phục y như khi còn ở trong cung, lúc thì mặc bộ áo trắng, xõa tóc đứng ở bên mộ. Mỗi khi nó hiện hình lên thì thường có mưa to gió lờn, hoặc sấm sét dữ dội. Nó vẫn không biết tự hối cái tội ác tày trời khi trước, lại còn nỉ non than khóc, chỉ một hai đòi lại hạt minh châu. Tôi nghe câu chuyện này luống khiến cho lòng tôi càng thêm áy náy.
Gia Tường công chúa nói:
- Phò mã ơi! Phi Giao thật là một người tàn ác, chẳng khác chẳng nói làm chi, hãy nói như một việc bùa dấu, làm cho Hùng hậu điên dại thì độc ác biết dường nào. Nếu không nhờ có thái hậu thì còn đâu sống đến ngày nay. Lại còn việc nghiêm cấm cung môn, khiến cho vương phi ta thật sống dở chết dở. Từ khi cắt thịt đùi nấu “Nhân cao” cho thái hậu, bấy giờ các cung nhân mới khỏi sanh nghi. Lúc nào nghĩ đến lòng tôi cũng đau như cắt. Phò mã ơi! Việc Phi Giao hiện hình này chớ để vương phi ta biết, kẻo người lại thêm thương xót trong lòng.
Phò mã Triệu Câu nghe nói, lẩm nhẩm gật đầu mà rằng:
- Công chúa nói rất phải. Nhưng bọn nội giám và cung nữ canh thủ tại mộ địa Phi Giao thấy vậy đều lấy làm kinh hãi. Chúng tâu trình thiên tử, nay thiên tử đã phải thêm quân sĩ ra canh thủ và cấm bọn họ nói phao những chuyện hoang đường.
Phò mã Triệu Câu cùng Gia Tường công chúa vợ chồng ly biệt nhau trong tám năm trời, bấy giờ mới lại được một nhà sum họp. Đêm ấy chuyện trò rất vui vẻ.Đầu canh năm hôm sau phò mã Triệu Câu trở dậy mũ áo tiến triều. Ngày hôm ấy là ngày vua Anh Tôn làm lễ phục vị. Nghi tiết trong triều náo nhiệt lạ thường. Khi vua Anh Tôn ra ngự triều có tuyên đọc tờ chiếu thư như sau:

"Thừa thiên hưng vận, hoàng đế chiếu rằng:
Khi trước thượng hoàng mỏi mệt, có giao việc nước cho trẫm, nhưng bấy giờ cũng chắc rằng tả phù hữu bật đã có các quan triều thần. Không ngờ Hoàng Phủ Thiếu Hoa cáo về, Doãn Thượng Khanh đi sứ, các vị lương tướng đã xa vắng, mà tâm thần trẫm khi ấy cũng hôn mê. Tội ác tày trời của trẫm chết chẳng đáng thương, thế mà thượng hoàng cùng thái hậu mở lượng hải hà, giáng chỉ ân xá, cho trẫm được phục vị, để đổi lỗi tự tận. Than ôi! Cha sinh mẹ dưỡng đất chở trời che, ngày nay thượng hoàng và thái hậu đối với trẫm thật là đã có công sinh dưỡng lại có lượng che chở vậy.
Phàm các quan văn võ triều thần, nên hết lòng giúp trẫm, trên thờ hai cung dưới trị muôn dân, để chuộc lại tội lỗi thuở trước. Nay trẫm xin gia tôn phụ hoàng mà Thần Vũ thái thượng hoàng đế; mẫu hậu làm Từ Nhân thái thượng hoàng hậu. Hùng hậu lại làm chánh cung hoàng hậu; còn Hán vương, Triệu vương, cùng Chu vương đều gia phong thái ấp, lại cho ở trong nam nội để hầu hạ hai cung. Hoàng Phủ Thiếu Hoa không còn biết gia phong tước gì cho được, vậy nay miễn cho không phải triều bái mỗi khi vào yết kiến thượng cung, cho được dùng lễ quốc thích.
Con trưởng Hoàng Phủ Thiếu Hoa là phò mã Triệu Câu phong Tương vương, trọng trấn Lưỡng Hồ; con thứ hai là Triệu Phượng, gia phong Hình vương; con thứ ba là Triệu Lân gia phong Tấn vương, trọng trấn Sơn Thiểm; con thứ tư là Triệu Tường , gia phong Hộ bộ tả thị lang; con thứ năm là Triệu Thụy, gia phong phò mã đô úy. Hữu thừa tướng là Nguyễn Long Quang gia phong Trung vương; Bình Giang vương là Hùng Hiệu gia phong Tần vương; con trưởng Hùng Hiệu là Hùng Khởi Phượng được kế tập làm Bình Giang vương. Nếu Hùng Khởi Phượng không về thì sẽ cho người con thứ hai là Hùng Khởi Thần được kế tập. Sinh mẫu Triệu Lân là Lưu Yến Ngọc cùng sinh mẫu Triệu Thụy là Tô Ánh Tuyết đều được gia phong.Mạnh Gia Linh được gia phong Lương Vương, con là Mạnh Khôi và Mạnh Đức cũng đều được gia phong.
Con Doãn Thượng Khanh là Doãn Thượng Chí phong Công bộ thượng thư. Vệ Dũng Bưu phong Lâm giang hầu; Lưu Quí phong Tinh trung hầu; Cao Bí phong Thọ địa hầu; Trương Vĩnh phong Hổ tướng quân. Các quan văn võ trong triều cùng các quan ngoài tỉnh đều được gia thăng ba cấp, và ban thưởng đồ ngân bạch. Lại xá thuế cho thiên hạ trong ba năm, Lăng Mậu, Thẩm Nhân, và Phương Khanh đều được gia phong quan chức. Khâm thử!”


Khi tờ chiếu thư tuyên đọc xong, các quan văn võ triều thần đều phủ phục mà tung hô. Bỗng thấy Nguyễn Long Quang tướng công sụp lạy tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Quan lại bộ thượng thư là Tần Sĩ Thăng khi trước vì cố sức can ngăn việc lập giám quốc mà bị cách chức, nay xin bệ hạ giáng chỉ lục dụng, để tỏ lòng chí công.
Vua Anh Tôn chuẩn tấu. Các quan văn võ lạy tạ lui ra. Bấy giờ Mạnh Gia Linh tướng công cũng đã tâu vua Anh Tôn xin về thăm quê nhà, Mạnh Lệ Quân vương phi quyết định theo đi, hiện đã sửa soạn các đồ hành lý. Mạnh Lệ Quân vương phi vào nam nội cáo từ thái hậu. Thái hậu ngẫm nghĩ chua xót trong lòng mà phán rằng:
- Mạnh Lệ Quân em ơi! Em trở về quê nhà thăm hai thân, ta không thể đi được, cũng xin gửi lời kính chúc người được trường thọ. Lại xin cảm tạ công khó nhọc của Mạnh Gia Linh tướng công đã hết sức đi tìm thượng hoàng. Ngày nay thiên tử phục vị, cần phải có các bậc lão thần giúp đỡ, vậy em nên khuyên Mạnh Gia Linh tướng công mau mau lại trở về kinh địa, để phù tá thánh triều.
Mạnh Lệ Quân vương phi sụp lạy xin vâng lệnh. Trong khi từ biệt, hai bà thái phi đều ứa nước mắt khóc, nhất là Hùng hậu lại càng giọt lệ chứa chan. Hùng hậu nói với Mạnh Lệ Quân vương phi rằng:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu vì con mà phải giam cấm trong cung bấy nhiêu năm trời, lại hết lòng trông nom thuốc thang để chữa cho con được hoàn hảo. Ơn ấy con chưa chút đền báo, bây giờ thân mẫu vội bỏ con mà đi. Thân mẫu về thăm quê nhà thì con không dám can ngăn, nhưng thân mẫu cũng nên mau mau tiến kinh để khiến con khỏi ngày đêm phiền muộn.
Mạnh Lệ Quân vương phi nói:
- Hoàng hậu nên giữ gìn thân thể, tôi đi chẳng qua chỉ trong nửa năm hoặc một năm thì lại sẽ tới đây. Bây giờ công việc trong triều, đều chỉnh đốn yên cả. Binh quyền hiện đã có Hùng vương chưởng quản. Vả Doãn Thượng Khanh tướng công nay mai cũng sắp về nước, lo gì chẳng có người phù tá thánh triều.Mạnh Lệ Quân vương phi nói xong, ứa nước mắt khóc. Hai bà thái phi đều nói:
- Mạnh Lệ Quân vương phi ơi! Người ta ai chẳng thương con, vương phi thật vì việc nước mà giết Phi Giao. Một tờ chiếu thư tụ tay vương phi thảo ra, đã giải được bao nhiêu nỗi trầm oan cho thiên hạ.
Hùng hậu cũng khóc mà nói với Mạnh Lệ Quân vương phi rằng:
- Thân mẫu ơi! Ơn sâu của thân mẫu, kiếp này con chưa trả được còn mong kết cỏ ngậm vành kiếp sau.
Mạnh Lệ Quân vương phi lại đến từ biệt Vệ Dũng Nga vương phi. Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Vương phi thật là hoàn phúc! Ngày nay được nhẹ bước tiêu dao. Đến như vợ chồng tôi, số phận long đong, hãy còn nặng nợ. Trưởng tử tôi ở Cao Ly, chưa biết bao giờ được về. Con dâu tôi thì chỉ đêm ngày khóc thương nàng Hạng Ngọc Thanh. Ngày nay dẫu không phải giam cấm như xưa, nhưng ăn chẳng ngon, ngủ chẳng yên, lòng này ngổn ngang trăm mối. Vương phi ơi! Vương phi còn được về thăm hai thân, chứ vợ chồng tôi đây thì hai thân quá cố rồi mà chưa hề được về thăm phần mộ lần nào vậy.
Mạnh Lệ Quân vương phi khuyên giải rằng:
- Vương phi ơi! Tôi thiết tưởng cảnh ngộ của vợ chồng tôi lại khổ não hơn vương phi nhiều. Có phải vợ chồng tôi tham sự an nhàn dật lạc đâu, chỉ vì tự nghĩ tội ác của mình, mặt mũi nào còn dám đứng ở trong triều đường cho thêm nhục. Ơn vua nợ nước, báo đền đành để đàn con. Còn như vợ chồng vương phi ngày nay thì nên hết sức phò tá thánh triều, để trừ cho tiệt những dư đảng Mã Thuận cùng Đồ Man Hưng Phục. Định Quốc cũng là tay vũ dũng, ta nên mau mau đem quân tiễu trừ. Bao giờ việc nước được yên thì tự khắc việc cũng sẽ được hoàn hảo. Thế mới biết cảnh ngộ mỗi người một khác, vương phi chớ nên quá nghĩ làm chi.
Người nhà bày tiệc, hai vương phi cùng ngồi uống rượu, Lương Cẩm Hà phu nhân cũng đứng hầu một bên. Khi uống rượu xong, Mạnh Lệ Quân vương phi cáo từ về phủ phò mã.
Lại nói chuyện phò mã Triệu Câu nói với Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân vương phi rằng:
- Từ đây về Vân Nam đường sá xa xôi, kể hàng muôn dặm, thân mẫu đi một mình làm sao cho tiện, âu là để con xin cáo, rồi theo thân mẫu cùng đi. Còn một việc này con muốn nói để hai thân biết. Số là quan trưởng sử ở Hán vương phủ tên gọi là Cao Bí, có một người con gái tính nết thuần hòa, năm nay mười chín tuổi. Nếu như hỏi cho tam đệ Triệu Lân lấy làm vợ thì thật xứng đôi. Đã nhiều lần con tỏ ý với Cao Bí thì Cao Bí cũng bằng lòng. Chẳng hay hai thân nghĩ thế nào?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe nói lẩm nhẩm gật đầu. Mạnh Lệ Quân vương phi cười mà bảo hai phu nhân rằng:
- Việc hôn giá của các con, tùy hai phu nhân đó, thế nào tôi cũng bằng lòng. Cứ như ý tôi thì bất cứ nghèo giàu, quí hồ được tính nết hiền hòa, là đẹp duyên phải lứa vậy.
Hai phu nhân đồng thanh mà đáp:
- Việc ấy hai chúng tôi không dám quyết định, vì chúng tôi chưa được rõ lai lịch nhà quan trưởng sử Cao Bí thế nào. Nhưng nay phò mã Triệu Câu đã nói thì tất cũng là chỗ đẹp duyên phải lứa.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa gật đầu khen phải, rồi lại bảo phò mã Triệu Câu rằng:
- Con bất tất phải theo thân mẫu con cùng đi, vì công việc trong triều ngày nay phần nhiều trông cậy ở tay con đó. Thân mẫu con vốn đã quen sự phong trần lao lực. Vả lại có cữu phụ con đi cùng thuyền thì dẫu đường sá xa xôi cũng không lấy chi là lo ngại. Người ta ở đời, muôn việc chẳng qua số mệnh can chi phải nghĩ sự đường trường.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại bảo Mạnh Lệ Quân vương phi rằng:
- Ngày nay phu nhân về thăm hai thân, xin thay lời Hoàng Phủ Thiếu Hoa này mà giải tỏ tấm lòng kính mến. Đợi trong một vài năm nữa, tôi cũng cố xin cáo thoái để về thăm nhạc gia.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói xong, Mạnh Lệ Quân vương phi lại ứa nước mắt khóc mà đáp rằng:
- Phu quân ơi! Tôi hiểu rồi! Đợi khi chí nguyện được hoàn toàn, thì bấy giờ phu quân sẽ trở về điền lý.
Mạnh Lệ Quân vương phi lại bảo hai phu nhân rằng:
- Hai phu nhân ơi! Tôi về Vân Nam chuyến này, còn lâu mới lại tới đây, có lẽ tôi phụng dưỡng hai thân tôi cho trọn thiên niên vậy. Tôi nghĩ đến việc con Phi Giao lúc nào, lại càng thêm đau đớn. Không biết oan nghiệt vì đâu, hay là tại tôi thuở xưa cưỡng lời cha mẹ tham quyền cố vị trong mấy năm trời, cho nên báo ứng không sai mà bỗng sinh ra đứa con yêu quái ấy! Hai phu nhân ơi! Thái hậu vốn là tay nữ tướng, mà thanh kiếm long tuyền kia không nỡ chém con Phi Giao, ai ngờ Mạnh Lệ Quân này đối với con lại dứt tình được đến như thế! Trời ơi! Gặp điạ vị tiến thoái lưỡng nan ấy thật đã như dao cắt trong lòng. Bây giờ tôi chỉ xin về phụng dưỡng hai thân, để chuộc lại tội lỗi của tôi về trước. Còn việc nhà việc nước, từ nay trông cậy ở hai phu nhân. Thôi thì nghĩa nặng ơn sâu, đành để kiếp sau báo đáp.
Mạnh Lệ Quân vương phi nói đến đến thì đứng dậy khép áo sụp lạy, khiến cho hai phu nhân đều luống cuống kinh hoàng. Hai phu nhân vội vàng đỡ dậy, rồi cũng quì xuống khóc mà thưa rằng:
- Vương phi ơi! Nỗi khổ tâm của vương phi, chúng tôi đã biết cả. Chúng tôi chỉ vâng lời dạy bảo, không bao giờ dám phụ lòng vương phi. Chỉ hiềm một nỗi cách nhau trong bấy nhiêu lâu, ngày nay mới được sum họp một nhà, ai ngờ lại bỗng xui nên ly biệt.
Mạnh Lệ Quân vương phi lại đỡ hai phu nhân dậy mà bảo rằng:
- Hai phu nhân ơi! Tấm lòng quý mến, xa cũng như gần, ngày xuân ta hãy còn dài, chắc lại sẽ được cùng nhau gặp gỡ vậy.
Mạnh Lệ Quân vương phi cùng hai phu nhân đều nức nở khóc hoài. Gia Tường công chúa dắt con gái là Trân Khanh quận chúa đến trước mặt để tìm lời khuyên giải.
Mạnh Lệ Quân vương phi liền cầm lấy tay Trân Khanh quận chúa mà bảo rằng:
- Trân Khanh nữ tôn ta ơi! Ta trông tướng mạo nữ tôn sau này cũng không tầm thường, công chúa nên phải khéo dạy bảo mới được! Đàn bà con gái cần nhất là một điều nhu thuận, chứ tài hoa cũng chẳng làm gì. Gương nữa họa vừa rồi, khiến cho nước hại nhà suy, sau này rất nên cẩn thận.
Nói dứt lời thì mấy anh em phò mã Triệu Câu đến. Gia Tường công chúa lui đứng ra một bên. Hết thảy mọi người đều có ý tích biệt thương ly, ai nấy năn nỉ xin Mạnh Lệ Quân vương phi chóng về kinh địa. Mạnh Lệ Quân vương phi chỉ lẩm nhẩm gật đầu. Bấy giờ trời đã gần sáng, xa giá đã sắp sẵn cả để thẳng đường đi ra bờ sông. Vệ Dũng Nga vương phi cũng đến tiễn. Bỗng nghe báo có Đông cung hoàng thái tử và ba vị vương tử đến, Mạnh Lệ Quân vương phi cùng mọi người vội vàng ra nghênh tiếp. Đông cung hoàng thái tử đi trước, ba vị vương tử theo sau. Bảo mẫu thì mình mặc áo lục phẩm, đi liền ở bên cạnh thái tử. Nội giám truyền thánh chỉ rằng:
- Thánh thượng giáng chỉ sai thái tử cùng ba vị vương tử đến đây để tiễn Mạnh vương phi. Lại truyền cho vương phi không phải triều bái, chỉ dùng lễ ngoại gia tiếp kiến mà thôi.
Mạnh Lệ Quân vương phi thở dài mà than rằng:
- Đã đành rằng thánh thượng ban ân như vậy, nhưng vợ chồng tôi bao giờ cũng phải giữ đạo thần tử mới nên.
Nói xong, liền bảo Gia Tường công chúa dắt Trân Khanh quận chúa vào nhà trong, rồi Mạnh Lệ Quân vương phi cùng mọi người đều làm lễ triều bái thái tử. Bấy giờ bảo mẫu đỡ thái tử ngồi, ba vị vương tử ngồi ở hai bên. Các cung nữ dâng trà uống. Mạnh Lệ Quân vương phi lại nói với ba vị vương tử rằng:
- Dám bẩm các vị đại vương! Tôi đi chẳng qua chỉ trong một vài năm lại về. Nay các vị đại vương cũng hạ giá mà chiếu cố đến thế này, tôi rất lấy làm cảm kích. Đến như Đông cung hoàng thái tử ngày nay tuổi hãy còn nhỏ, chớ nên khinh thường mà ra ngoài vậy.
Hán vương nói:
- Thái hậu có giáng chỉ sai tôi đến để bẩm với vương phi một việc. Số là việc hôn nhân của thái tử, chỉ vì Kim Lăng chưa dẹp yên được, cho nên còn phải tạm hoãn, chưa làm lễ kết thân. Nay nhân vương phi sắp về quê nhà, vậy thái hậu sai chúng tôi đưa thái tử ra chào để trước khi khởi hành, xin vương phi nhận lời hứa giá. Thái hậu lại trao hai cái ngọc bội để cho Trân Khanh quận chúa đeo làm của tin.
Hán vương nói xong, liền cầm hai cái ngọc bội Mạnh Lệ Quân vương phi. Mạnh Lệ Quân cầm lấy, giao lại cho Gia Tường công chúa mà bảo rằng:
- Sáng mai công chúa phải vào tạ ơn thái hậu.
Bảo mẫu chạy lại nói với Mạnh Lệ Quân vương phi rằng:
- Dám bẩm vương phi! Chánh cung hoàng hậu đã tâu xin thái hậu gia phong cho Trân Khanh quận chúa, nhưng thái hậu bảo hãy thư thả, không can chi mà vội, bây giờ nên đưa một vật gì làm kỷ niệm là đủ. Bởi vậy chánh cung hoàng hậu mới đưa ra hai cái ngọc bội, và sai lão tỳ này cùng theo ra đây, thay lời thái tử mà phân trần để vương phi được rõ. Chánh cung hoàng hậu lại có làm một bài thơ tiễn, giao cho thái tử đem ra đệ trình vương phi.
Bảo mẫu nói đến đấy thái tử cầm bài thơ đệ trình. Trong bài thơ tả ân tình Mạnh Lệ Quân vương phi đối với mình thương yêu như con, lại có ý khuyên Mạnh Lệ Quân vương phi nên mau mau trở về kinh địa. Mạnh Lệ Quân vương phi đọc xong, gật đầu mà đáp rằng:
- Tôi xin vâng mệnh.
Thái tử cùng ba vị vương tử đều khởi giá về cung. Bảo mẫu ở lại để từ biệt. Mạnh Lệ Quân vương phi hỏi việc trong cung. Bảo mẫu nói:
- Từ khi làm lễ phục vị đến giờ, thánh thượng lại có lòng quý mến thái hậu hơn cưa, và rất quý mến thái tử, mỗi khi trông thấy thái tử vào cung thì vuốt ve ôm ẵm, rồi ngậm ngùi xót thương. Thánh thượng vẫn phàn nàn không biết cớ sao năm xưa lại mê mẩn tâm thần mà quá nghe lời bọn quyền gian như thế. May nhờ có nhà Hoàng Phủ thì hoàng hậu và thái tử mới được an toàn. Thánh thượng không một lời nào oán giận Phi Giao, chỉ ngợi khen hoàng hậu là một người hiền đức. Mỗi ngày thánh thượng ba lần vào triều bái nam nội, cho nên thượng hoàng và thái hậu cũng rủ lòng thương. Hoàng hậu lại càng chăm lễ thần hôn, khiến hai cung đều được vui lòng vì đã có con hiền dâu thảo. mỗi khi hoàng hậu nói đến việc Phi Giao lại hối hận rằng giả sử năm xưa ta không đòi lại quyền chính thì vị tất Phi Giao đã đến nỗi hành hung. Hoàng hậu nói xong liền ứa nước mắt khóc, nhưng khí thấy thánh thượng vào thì lại làm ra nét tươi cười. Còn việc này nữa hoàng hậu rất lấy làm khó xử...
Bảo mẫu nói đến đấy thì bỗng có người vào báo với Mạnh Lệ Quân vương phi rằng:
- Dám bẩm vương phi! Quan Mạnh tướng công sai tôi đến đây để mời vương phi xuống thuyền vì ngày hôm nay thuận gió, nên muốn cho thuyền đi ngay.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-20 07:33:37conbo2>
hồi thứ 14c


Mạnh Lệ Quân vương phi từ giã mọi người rồi gạt nước mắt lên xa ra đi. Khi Mạnh Lệ Quân vương phi đi khỏi, Gia Tường công chúa hỏi bảo mẫu rằng:
- Vừa rồi mụ nói một việc khó xử là việc gì?
Bảo mẫu nói:
- Vừa rồi lão tỳ vui mồm kể chuyện trong cung, thành ra quên mất, không nhớ có Mạnh vương phi ngồi đấy. Công chúa ơi! Việc tôi nói tức là việc Phi Giao tác quái ở Tiểu Hoa Sơn. Có khi đang đêm mưa to gió lớn, sấm sét ầm ầm, hiện ra một con xích giao vật mình ở trên mặt đất, thành cái vũng nuốc sâu hai ba thước. Con xích giao đầu to bằng cái đấu, mình dài ba thước, hai mắt sáng quắc. Trong bọn nội giám ai cũng khiếp sợ, có một người táo gan đánh bạo lẻn đến bên rừng rậm để dòm xem thế nào, không ngờ bị con xích giao lấy đuôi cuốn tròn, rồi tung lên trên cao, người ấy vỡ đầu gãy xương mà chết. Bây giờ bọn nội giám khiếp sợ quá đành liều bỏ trốn, không ai dám ở giữ mộ cả. Công chúa ơi! Nội giám Lăng Mậu đã đem việc ấy tâu với hoàng hậu, hoàng hậu rất lấy làm buồn rầu, chưa biết nghĩ ra thế nào. Hôm trước hoàng hậu đem việc ấy bàn cùng nàng Diễm Tuyết thì nàng Diễm Tuyết tâu với thái hậu xin sang tu ở Bồng Lai trong cung để nhận tiện xem tình hình con xích giao như thế nào. Thái hậu truyền cho Toà Khâm Thiên giám xem ngày thì nàng Diễm Tuyết lại tâu đi tu không cần chọn ngày. Rồi nhất định đến ngày hôm sau là ngày mai. Nàng Diễm Tuyết sang ở Bồng Lai cung, Mai thái phi phái người sang hầu hạ thì nàng không nhận, chỉ đem có hai đứa tiểu tỳ, mấy nhiều lão ẩu trông coi việc bếp núc và mấy nhiều lão nội giám để canh cửa mà thôi. Sáng hôm nay đã sửa soạn đủ cả, để đến buổi chiều thì nàng Diễm Tuyết dời sang, không biét đêm nay con xích giao sự thế ra thế nào, sáng mai công chúa cùng vương phi vào cung, tự khắc biết được rõ chuyện. Lão tỳ này đã tâu hoàng hậu xin về quê nhà, nhưng hoàng hậu không nghe, bảo phải ở trông nom cho thái tử. Hễ các nội giám có ai dẫn dụ thái tử làm điều càn dỡ thì lão tỳ này lập tức phải tâu trình.
Gia Tường công chúa thở dài mà rằng:
- Thái tử cũng cần phải có mụ trông nom mới được, mụ nên hết lòng. Ơn ấy thái tử không bao giờ dám quên vậy.
Bảo mẫu nói:
- Xin công chúa chớ nói như thế! Lão tỳ này chịu ơn nhà họ Hùng và nhà Hoàng Phủ trong ba mươi năm trời nay, chưa biết lấy chi báo đáp, khi nào lão tỳ này lại còn dám quên công.
Vệ Dũng Nga vương phi nghe nói cũng thở dài mà rằng:
- Nhà họ Hùng tôi chẳng may để đến nỗi di lụy cho mụ!
Đang nói chuyện thì bỗng nghe có nội giám ra đòi Bảo mẫu vào cung, Bảo mẫu liền cáo từ lui ra.

Lại nói chuyện mấy anh em phò mã Triệu Câu tiễn Mạnh Lệ Quân vương phi xuống thuyền rồi trở về phúc mệnh để Hoàng Phủ Thiếu Hoa biết. Hoàng Phủ Thiếu Hoa nín lặng, không nói câu gì chỉ tủm tỉm cười . Hồi lâu mới thở dài mà rằng:
- Các con ơi! Mẹ con thuở xưa khéo đem một ngọn bút hoa mà kéo hết ruột tằm, chịu bao nhiêu những khổ não, bấy giờ cũng nên để cho được dưỡng nhàn một vài năm mới phải.
Nói xong, liền đứng dậy lui vào thư phòng ngồi dưới cửa sổ xem sách. Bấy giờ có hai tên tiểu đồng đứng hầu, Hoàng Phủ Thiếu Hoa mở xem bộ “Lưu hầu truyện” ( truyện chép về ông Trương Lương, phò Hán Cao Tổ, đến lúc đại sự hoàn thành chẳng ham phú quý lui về theo ông Xích Tùng Tử tu tiên. Chú NXB ), lại có ý cảm khái, nghĩ mình cũng là một tay anh hùng hào kiệt trong bấy nhiêu năm trời tận trung báo quốc, mà ai ngờ công không đủ chuộc tội, ngày nay bỗng đành chịu làm một người bó tay ngồi ở xó nhà. Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghĩ đến đấy thì trong lòng buồn bực, liền lấy tay đập mạnh xuống bàn, hai tên tiểu đồn không hiểu duyên cớ làm sao, đều giật mình kinh hoảng mà lui ra mấy bước. Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại thở dài mà rằng:
- Hoàng Phủ Thiếu Hoa ơi! Nhà ngươi mấy đời chịu ơn triều đình, phú quý vinh hoa, đến thế đã cùng cực. Dẫu có đôi chút công lao khuyển mã, thiết tưởng cũng chưa đủ chuộc tội Phi Giao. May thay thượng hoàng và thái hậu đều có lòng nhân từ, nếu không thì nhà Hoàng Phủ ta tất phải diệt tộc. Ngày nay ta đã được toàn tính mệnh, cớ sao lại còn có ý bất bình. Âu là ta nên tìm thú lâm tuyền, để cầu lấy phước thanh nhàn mà di dưỡng tuổi thọ.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghĩ vậy, liền gấp sách cởi áo đi nghỉ. Mấy anh em phò mã Triệu Câu cùng ngồi nói chuyện ở nhà ngoài. Phi Loan quận chúa thuật lời Bảo mẫu cho nghe, mọi người đều nín lặng.
Phò mã Triệu Câu bỗng nói với Vệ Dũng Nga vương phi rằng:
- Cô mẫu ơi! Tôi còn nhớ trong tập “Thái Bình quảng ký” có nói con rồng ở Ngọc Xuyên vì ngủ say đánh mất hạt minh châu mà ba năm không dám về. Sau Quan Âm đại sĩ tâu xin ngọc hoàng tha tội cho, lại phải tu luyện nghìn năm mới thành được hạt minh châu vậy. Nay Phi Giao nguyên là con xích giao giáng thế, tất cũng phải tu luyện nghìn năm mới có được hạt minh châu ấy. Vậy thì cô mẫu nên đem hạt minh châu ấy mà trả lại hắn, kẻo hắn mất hạt minh châu ấy thì dẫu luân hồi mấy kiếp mà linh hồn vẫn còn áy náy không yên.
Vệ Dũng Nga vương phi nghe nói, liền nghoảnh lại bảo Phi Loan quận chúa rằng:
- Hạt minh châu khi trước ta giao cho con đâu, con lấy ra đây, nhưng bây giờ muốn trả lại thì làm thế nào được?
Phi Loan quận chúa vội vàng sai người đi lấy hạt minh châu. Hồi lâu, đem hạt minh châu đến, mọi người xúm lại cùng xem. Ai nấy đều cầm để lên trên bàn tay, ánh sáng rực rỡ thật là một vậy chí bảo tu luyện nghìn năm mới thành được vậy. Vệ Dũng Nga vương phi lại bảo phò mã Triệu Câu rằng:
- Phò mã ơi! Sang mai tôi tới Tiểu Hoa Sơn, tế trước mộ Phi Giao một lần, để khấn cầu Phi Giao, nếu quả có lòng oán tôi thì tôi xin liều mình chịu chết, không để di họa cho người khác.
Vệ Dũng Nga vương phi nói xong lại thở dài mà than rằng:
-Tôi nay dẫu chết cũng chẳng tiếc đời, chỉ hiềm một nỗi trưởng tử tôi đi sứ chưa về thì vong hồn tôi không khỏi ngậm sầu ở nơi chín suối vậy.
Mấy anh em phò mã Triệu Câu nghe nói, đều tìm lời khuyên giải. Truyện trò hồi lâu, mấy anh em phò mã Triệu Câu lui ra. Hai phu nhân và Vệ Dũng Nga vương phi cùng ngủ tại đấy, ba người lại cùng nhâu chuyện trò mãi đến canh khuya. Sáng hôm sau Vệ Dũng Nga vương phi vào yết kiến Hùng hậu. Hùng hậu nghe báo vội vàng ra đón. Khi trông thấy Vệ Dũng Nga vương phi, Hùng hậu cúi đầu chào, rồi mời ngồi và truyền cung nữ pha trà uống. Hùng hậu nói:
- Thân mẫu ơi! Chẳng hay hôm qua thân mẫu đến tiễn biệt Mạnh Lệ Quân vương phi có chuyện gì lạ không?
Vệ Dũng Nga vương phi thuật chuyện cho nghe. Hùng hậu lại ứa nước mắt khóc, Vệ Dũng Nga vương phi tìm lời khuyên giải, rồi nói đến việc định đem hạt minh châu trả lại cho con xích giao. Hùng hậu lẩm nhẩm gật đầu rồi nói:
- Thân mẫu ơi! Đêm qua nàng Diễm Tuyết đã ngủ tại Bồng Lai cung, không biết sự thể thế nào, bây giờ thân mẫu thử sang chơi hỏi xem cho biết. Còn các đồ tế vật, để con xin bảo người sửa soạn mang ra.
Hùng hậu lại sai một tiểu nội giám đưa Vệ Dũng Nga vương phi sang Bồng Lai cung. Nàng Diễm Tuyết nghe báo, vội vàng ra đón vào. Vào đến nơi đại điện, mười hàng cột vẽ, chín bậc đá hoa, hai bên có treo các danh họa, trông thật là một cảnh thanh u nhã khiết vậy. Vệ Dũng Nga vương phi ngắm nghía các bức tranh vẽ, rồi lẩm nhẩm gật đầu. Nàng Diễm Tuyết cười mà thưa rằng:
- Vương phi đã quá bộ tới đây, xin mời vương phi vào trong nội điện.
Vệ Dũng Nga vương phi vâng lời, đứng dậy theo nàng Diễm Tuyết vào nội điện xem các bức tranh vẽ. Nào Ngọc Hoàng, nào Vương Mẫu, cũng đều có tranh vẽ cả. Hai bên tường lại có vẽ những cảnh bồng doanh hải đảo, nét bút thiên nhiên, trông rất thần tình. Nơi nội điện ấy chế tạo theo kiểu vương phủ, tráng lệ lạ thường. Trên có treo một bức biển hoành đề bốn chữ vàng “Báo đức thù trung” của thượng hoàng ngự tả, viết theo lối phi bạch. Hai bên có hai cái giá sách; bên tả thì để những tấu sớ chiếu chỉ vế việc chiến công của Hoàng Phủ Thiếu Hoa thuở trước; bên hữu thì để những cáo sắc văn từ của Mạnh Lệ Quân vương phi/ Chung quanh điện có trồng các thứ kỳ hoa dị thảo, hiu hiu gió thổi, ngào ngạt mùi hương, thật là một nơi tiên cảnh ở trong trần thế vậy. Nàng Diễm Tuyết lại đưa Vệ Dũng Nga vương phi sang một nơi tĩnh thất là nơi để nàng ở đấy mà tu luyện tinh thần. Khi vào tới nơi, nàng Diễm Tuyết mời Vệ Dũng Nga vương phi ngồi rồi sụp lạy làm lễ tương kiến. Vệ Dũng Nga vương phi đỡ dậy mà bảo rằng:
- Tôi tới đây hôm nay, trước là mừng tiểu thư đã được nơi tu luyện; sau là muốn biết đêm hôm qua Phi Giao còn hiện hình tác quái nữa hay không?
Nàng Diễm Tuyết nói:
- Vương phi không hỏi đến thì thôi, nay đã hỏi đến Diễm Tuyết xin nói thực. Đêm qua tôi đến đây, một mình treò lên tinh đài để đợi xem thế nào. Bấy giờ trời quang mây tĩnh, sanh hồi canh ba, bỗng có một đám mây đen ở Tiểu Hoa Sơn nổi lên. Vương phi ơi! Chỉ một chỗ Tiểu Hoa Sơn mưa to gió lớn, sấm chớp ầm ầm, còn trên tinh đài vẫn không mưa gió chi cả. Tôi trông thấy con xích giao hiện lên, mình dài ba trượng, khắp mình đều có vảy vàng, ánh sáng lóng lánh, lại có nanh vuốt dữ dội ghê gớm. Con xích giao vật mình ở trên ngọn núi, nghoảnh đầu trông thấy tôi, liền gục đầu xuống thì lúc ấy gió mưa sấm chớp lại yên lặng như không. Chỉ nghe văng vẳng tiếng khóc thương, tự hồ có ý oán giận.
Vệ Dũng Nga vương phi thở dài mà rằng:
- Tôi cũng hiểu cớ sao Phi Giao lại đem lòng oán giận nhà họ Hùng tôi đến như thế! Bấy giờ hắn giáng sinh làm nguyên soái bên Phiên tên gọi là Ô Tất Khải thì phu quân tôi chém hắn, chẳng qua chỉ vì việc nước, chứ có thù hiềm chi nhau. Nay hắn cố chí hại nhà họ Hùng, tưởng cũng là một điều lầm của hắn, cớ sao vẫn còn có ý bất bình. Tiểu thư ơi! Hắn hại một nhà họ Hùng tôi, chẳng nói làm chi, nhưng xót thương thay hắn lại hại cả vợ chồng Hoàng Phủ Tương vương nữa, khiến cho một người lặn lội đường trường, xa xôi muôn dặm, khổ sở về việc đi tìm thượng hoàng; một người thì giam cấm trong cung, thấm thoát hàng mươi năm trời, đã hoa tổn bao nhiêu nước mắt. Ngày nay tôi định đến tế Phi Giao một tuần để khấn nguyện rằng nếu quả có tiền oan nghiệt chướng thì riêng một mình tôi xin chịu hại, chớ đừng làm kinh hãi cho bọn nội giám kia.
Vệ Dũng Nga vương phi nói chưa dứt lời thì bỗng thấy người lão ẩu vào bẩm rằng:
- Dám bẩm vương phi và tiểu thư! Chánh cung hoàng hậu có sai nội giám Thẩm Nhân đem các tế vật ra để vương phi đến tế mộ Phi Giao.
Vệ Dũng Nga vương phi cùng nàng Diễm Tuyết nghe báo, vội vàng ra nghênh tiếp. Nội giám Thẩm Nhân nói:
- Tôi vâng mệnh chánh cung hoàng hậu đem các tế vật cùng một đạo tế văn ra đây. Hoàng hậu truyền tiểu thư tuyên đọc văn tế để vương phi vào làm lễ.
Vệ Dũng Nga vương phi cùng nàng Diễm Tuyết thủng thỉnh đi sanh Tiểu Hoa Sơn. Khi tới nơi nàng Diễm Tuyết trần thiết các đồ tế vật, châm đèn đốt hương để Vệ Dũng Nga vương phi vào tế. Nàng Diễm Tuyết mở đạo tế văn ra, rồi khẽ cất tiếng oanh tuyên đọc. Khi tuyên đọc xong, lại quì trước án, lẩm nhẩm tụng niệm một quyển đạo kinh. Vệ Dũng Nga vương phi cúi đầu sụp lạy, rồi cầm hạt minh để lên trên án mà khấn rằng:
- Phi Giao hoàng hậu ơi! Hoàng hậu vốn là một bậc thông minh cái thế, cớ sao lại quá nghe lời sàm báng, để gây tai vạ cho nước nhà. Còn như việc giao chiến ở trên mặt bể, thuở xưa bấy giờ hai bên đều vì việc nước mà phải tương tranh, cớ sao lại đem lòng oán giận. Khi ấy phu quân tôi chỉ biết tận trung báo quốc, chứ chưa hề có ý mong đoạt lấy hạt minh châu, thế mà hoàng hậu làm cho nhà họ Hùng tôi bị giam cầm trong bấy nhiêu năm, dẫu rằng tính mệnh được toàn, nhưng khổ sở xiết bao, thiết tưởng hoàng hậu cũng đã thỏa lòng hả dạ vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi cùng nàng Diễm Tuyết sụp lạy xong, lại rót rượu xuống đất làm lễ giáng thân, rồi đốt vàng mã và truyền cất hết các đồ tế vật, chỉ còn hạt minh châu thì để lại ở trên hương án mà thôi. Vệ Dũng Nga vương phi cùng nàng Diễm Tuyết lại trở về ngồi ở tại Bồng Lai cung, rồi sai bọn nội giám trực ở tại mộ Phi Giao để rình xem đêm ấy tình hình ra thế nào. Nàng Diễm Tuyết truyền nữ tỳ pha trà mời Vệ Dũng Nga vương phi ngồi uống, rồi đứng dậy đốt hương thỉnh chuông gõ mõ và tụng niệm một vài quyển đạo kinh. Khi tụng niệm xong, nàng cởi bộ áo pháp y ra, rồi ra ngồi trò chuyện. Vệ Dũng Nga vương phi thấy nàng mặt hoa da phấn, trong ngọc trắng ngà, mà vẫn có vẻ phiền muộn. Nàng Diễm Tuyết ngồi xuống ghế, tên nữ tỳ pha trà mời uống. Vệ Dũng Nga vương phi ngắm nghía hồi lâu, trong lòng có ý nghi ngờ. Vệ Dũng Nga vương phi liền hỏi:
- Tiểu thư từ thuở nhỏ vẫn quyết chí tu hành, lại được hai thân ưng thuận, thật là một thanh phúc ít có. Nhưng tôi nhìn nét mặt tiểu thư, dẫu tươi cười mà hình như vẫn có vẻ phiền muộn không vui, tôi chắc là ở trong tất có duyên cớ chi đây, xin tiểu thư cứ giải tỏ chân tình, hoặc giả tôi có vì tiểu thư mà mưu tính được chăng, quyết không bao giờ dám tiết lộ với ai vậy.
Nàng Diễm Tuyết nghe đến câu ấy, nét mặt bỗng thấy buồn rầu, rồi hai hàng nước mắt ròng ròng chảy xuống. Vệ Dũng Nga vương phi kinh ngạc mà rằng:
- Tiểu thư ơi! Tôi mới được biết tiểu thư mà dám nói những câu như thế cũng là cái tội đường đột, nhưng tiểu thư chớ nghi ngại, xin cứ giải tỏ chân tình cho nghe.
Nàng Diễm Tuyết lại nức nở khóc rồi nói:
- Vương phi ơi! Vương phi không hỏi đến thì thôi, chứ đã hỏi đến lại càng khiến cho tôi đứt ruột đau lòng. Số là câu chuyện của tôi cũng tương tự với câu chuyện Phi Giao vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi nghe nói lại bội phần kinh ngạc, rồi cầm lấy tay nàng Diễm Tuyết mà ân cần hỏi rằng:
Tiểu thư ơi! Sự thể thế nào xin tiểu thư cứ nói cho biết!
Nàng Diễm Tuyết thở dài mà than rằng:
- Việc này khó nói quá, vì câu chuyện khí hoang đường, nhưng vương phi đã hỏi đến thì tôi xin nói thực! Vương phi ơi! Tiền thân của Diễm Tuyết này nguyên là mộ vị hoàng hậu nhà Nam Tống, về đời vua Độ Tôn. Bấy giờ đang lúc quốc suy vận vi, chiếc thân bồ liễu đã từng ngậm đắng nuốt cay mà chết. Nhưng linh hồn chưa diệt cho nên lại được đầu sinh. Tôi thấy nhà họ Lưu vốn là một nhà từ thiện. Vả lại có lòng trung quân ái quốc, vậy mới giáng sinh vào nhà họ Lưu. Vẫn định đổi kiếp luân hồi để thành chánh quả, may mà hai thân tôi cũng ưng thuận, khiến tôi được quyết lòng tu hành. Tuy vậy, trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng, tôi không thể cầm được nước mắt cho được!
Nói xong, lại nức nở khóc hoài. Vệ Dũng Nga vương phi nghe nói, ngồi ngẩn người ra, như ngây như dại, nhìn nhưng hồi lâu, mới khẽ cất tiếng mà bảo rằng:
- Nếu vậy thì tiểu thư tức là Toàn thái hậu đời Tống, mà lại là thân mẫu của sự cụ Hợp Tôn vậy.
Nàng Diễm Tuyết gạt nước mắt rồi nói:
- Chính phải!
Vệ Dũng Nga vương phi thở dài mà rằng:
- Tôi vẫn được nghe Toàn thái hậu là bậc hiền minh, lại quyết chí tu hành cho thành chính quả. Khi tôi còn nhỏ tuổi, nghĩ lấy làm kính mến bội phần, chỉ tiếc rằng tôi đẻ muộn sinh sau, không được cùng cổ nhân tương tiếp. Nay tiểu thư còn nhớ việc kiếp trước mà ngỏ cho tôi biết thì tôi đây cùng tiểu thư vị tất không phải là cũng có tiền duyên. Tiểu thư đã là Toàn thái hậu thì ngày nay tôi xin sụp lạy làm lễ triều kiến.
Nàng Diễm Tuyết nói:
- Việc ấy là việc cách thế, sao vương phi lại dạy quá lời. Vương phi cũng chẳng phải là người đâu, vậy tôi mới dám đem chuyện thiên cơ mà tiết lộ cho vương phi biết.
Nàng Diễm Tuyết sai đứa nữ tỳ pha trà mời Vệ Dũng Nga vương phi uống, rồi hai người cùng nhau trò chuyện, bàn về những công cuộc thạnh suy thành bại trong đời nhà Tống thuở xưa. Vệ Dũng Nga vương phi hỏi:
- Vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa như thế tất cũng là thiên tiên giáng trần, chẳng biết sau này rồi thế nào?
Nàng Diễm Tuyết mới thuật chuyện cho Vệ Dũng Nga vương phi biết vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa đều là thần tiên giáng trần cả. Trong khi bị giáng phải chịu mọi nỗi đắng cay khổ sở, rồi sau sẽ trở về tiên cung. Nàng Diễm Tuyết lại nói:
- Vương phi cùng Hùng vương nguyên xưa cũng là tiên lại và tiên cơ ở Thượng Thanh cung, vì trông thấy các tiên giáng trần mà động lòng ham muốn sự vinh hoa phú quý, bởi thế cho nên Ngọc Hoàng thượng đế cũng bắt đày xuống trần thế vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi thở dài mà than rằng:
- Vợ chồng Hoàng Phủ Thiếu Hoa là thiên tiên giáng trần đã đành, còn như vợ chồng tôi mà tiền thân như thế thì cũng lạ thật. Tôi không dám hy vọng gì, chỉ xin hỏi trưởng tử tôi là Hùng Khởi Phượng sau này có về nước được không? Xin tiểu thư bảo rõ cho tôi được biết.
Nàng Diễm Tuyết nói:
- Vương phi ơi! Việc Hùng công tử đi sứ Cao Ly, chẳng bao lâu sẽ được về triều, vương phi bất tất phải lo ngại. Khi Hùng công tử trở về, chẳng những lập nên kỳ công, mà sẽ lại được phong thái ấp. Còn việc dẹp loạn ở Kim Lăng kia thì tất phải đợi đến cưú binh của Hùng vương thì mới xong.
Vệ Dũng Nga vương phi nghe nói mừng rỡ xiết bao, liền chắp tay khấn nguyện mà rằng:
- Nam Vô Phật! Tôi chỉ ước mong được như lời tiểu thư nói!
Nói chưa dứt lời thì bỗng trông thấy một tên tiểu nội giám canh thủ tại mộ Phi Giao xin vào yết kiến.
Vệ Dũng Nga vương phi cùng nàng Diễm Tuyết ở trong tĩnh thất đi ra. Tên nội giám nét mặt tươi cười cúi chào Vệ Dũng Nga vương phi và nàng Diễm Tuyết rồi thuật những chuyện trông thấy trong đêm hôm trước. Tên tiểu nội giám nói:
- Dám bẩm vương phi cùng tiểu thư! Hạt minh châu để ở trên án, đêm qua bỗng thấy phát quang, lóng lánh ngũ sắc. Đến hồi canh ba, hây hẩy nổi gió, trong bọn chúng tôi có người táo bạo đánh gan ra đứng nấp tại phía sau núi. Sang đến canh tư thì mưa to gió lớn sấm chớp ầm ầm, có một con xích giao hiện lên há miệng đớp hạt minh châu ấy. Dám bẩm vương phi và tiểu thư! Bấy giờ trời mưa trút, chỗ chúng tôi đứng nước ngập đến cổ chân, mình mẩy ướt đầm đìa. Chúng tôi trông thấy con xích giao đang múa lượn thì có một tiếng sấm vang dữ dội. Chúng tôi sợ quá phải ôm chặt lấy gốc cây. Khi mưa tạnh sấm yên, trời vừa sáng rõ, chúng tôi kéo đến trước mộ thì trông thấy con xích giao nằm cuộn khúc tại đấy, hai mắt mở trừng trừng. Chúng tôi trước còn khiếp sợ, không dám đến gần, sau thấy hắn không cựa quậy mới dùng gậy sắt khẽ chọc, thành ra đó là một cái xác con xích giao. Chúng tôi đến xem tận chỗ mộ phần thì quan quách bỗng thấy trống không. Thi thể Phi Giao không biết biến đâu mà các đồ châu bảo nhập quan khi trước, đều vất tung ra đấy. Quan nội giám Thẩm Nhân cũng có phụng mệnh hoàng hậu đến xem. Khi về phí báo thì hoàng hậu mừng rỡ mà phán rằng đó là con xích giao đã thoát xác thành con phi long bay về Đông Hải vậy. Nói xong, liền giáng chỉ cho quân canh mộ để xác con xích giao vào trong quan, rồi lại lấp đất, đắp thành mộ phần. Sự thể đầu đuôi như vậy, vậy chúng tôi phải sang đây bẩm bạch để vương phi cùng tiểu thư biết.
Vệ Dũng Nga vương phi nghe xong, nét mặt tươi cười, lại cảm tạ nàng Diễm Tuyết mà rằng:
- Nếu không nhờ tiểu thư tụng niệm cho mấy quyển kinh thì khi nào đã chóng được phi thăng như vậy.
Nàng Diễm Tuyết nói:
- Tôi có công gì, chẳng qua nhờ mấy lời chân thành cảm động trong bài tế văn của công chúa hoàng hậu đó!
Bỗng nghe báo có nội giám Lăng Mậu phụng mệnh thánh thượng đến triệu Vệ Dũng Nga vương phi. Lại báo tin Trương phi và Dư phi đã sinh được ba vị hoàng tử . Vệ Dũng Nga vương phi cười mà bảo rằng:
- Hai bà cung phi, cớ sao sinh được ba vị hoàng tử.
Nội giám Lăng Mậu cũng cười mà đáp rằng:
- Dám bẩm vương phi! Hồi giờ tý và giờ sửu hôm qua Trương phi sinh đôi được hai vị hoàng tử; đến hồi giờ dần thì Dư phi cũng sinh được một vị hoàng tử. Chánh cung hoàng hậu rất lấy làm mừng rỡ.
Nội giám Lăng Mậu lại nói:
- Khi thánh thượng lui triều, lại thuật chuyện cho chánh cung hoàng hậu biết rằng Doãn tướng công và Hùng quốc cữu ở Cao Ly, chẳng bao lâu cũng sắp về. Vậy việc này đầu đuôi thế nào, tôi không tường cho lắm, vương phi vào cung, tự khắc biết được rõ.
Vệ Dũng Nga vương phi không nghe nói mà rằng, khi đã nghe nói Hùng Khởi Phượng sắp về, mừng rỡ kể sao cho xiết.
o0o


Truyện đã đưa vào đến đây - cảm ơn sự đóng góp của tỷ - CB
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
hồi thứ mười lăm
KHỞI PHƯỢNG LẬP CÔNG GIÚP CAO LY
HÙNG VƯƠNG ĐEM QUÂN ĐÁNH ĐỊNH QUỐC


Lại nói chuyện Nam Kim nữ chủ từ khi giam cấm Hùng Khởi Phượng trong lòng vẫn áy náy không yên, thỉnh thoảng lại di giá đến Đồng Tâm đình để cùng Hùng Khởi Phượng ân cần hỏi han trò chuyện.Có khi ban rượu, có lúc thưởng trà, Nam Kim hết cách kiều mị mà tấm lòng sắt đá của Hùng Khởi Phượng vẫn cứ trơ trơ không hề biến đổi vậy.
Hùng Khởi Phượng suốt ngày chỉ ngồi nghiễm nhiên xem sách và dạy bảo thái tử Cao Ly. Thế tử Cao Ly tư chất thông minh cho nên bảo đâu biết đấy, Hùng Khởi Phượng cũng không đến nỗi khó nhọc. Bấy giờ thế tử bị bệnh, nghỉ trong ít lâu, Hùng Khởi Phượng có ý buồn mới hàng ngày cùng Thuận Thiên vương giảng đàm binh pháp, để làm cách tiêu khiển. Hùng Khởi Phượng bảo Thuận Thiên vương tâu với Nam Kim nữ chủ rằng:
-Muôn tâu nữ chủ! Thế tử sau này có chức trách làm vua một nước, thiết tưởng cũng cần phải biết vũ lược mới nên. Vậy xin mở một nơi xạ trường ở trong ngự viên để Hùng Khởi Phượng dạy thế tử cưỡi ngựa và tập bắn.
Nam Kim nữ chủ nghe lời tâu ,ngẫm nhĩ mừng lòng nhưng vì thế tử hãy còn trẻ tuổi cho nên có ý ngần ngại chưa quyết. Bỗng nghe báo có quan hữu thừa tướng Khắc Lâm vào bái yết. Khắc Lâm nguyên xưa là một người ngoại sủng của Nam Kim nữ chủ. Khi Bách Hoa vương hãy còn, Khắc Lâm làm chức điện tiền cẩm vệ, quyền uy nhất nước. Khắc Lâm nói gì Bách Hoa vương cũng nghe. Đến khi Bách Hoa vương tạ thế, Khắc Lâm đã làm chức thừa tướng, đứng đầu hàng trăm quan, mới có lòng muốn phản nghịch. Nam Kim nữ chủ biết vậy, nghĩ cách kiềm chế, liền xin Nguyên triều cho sứ thần sang để thị uy. Không ngờ khi sứ thần là Hùng Khởi Phượng tới nơi thì Nam Kim nữ chủ lại đem tình luyến ái, chẳng tưởng gì đến quốc chính. Bởi vậy quyền chính về tay Khắc Lâm buôn tước bán quan, cửa dinh Khắc Lâm lúc nào cũng đông như chợ. Khắc Lâm biết Nam Kim nữ chủ có tư tình với Hùng Khởi Phượng, thường dùng lời nói mà châm chích, Nam Kim nữ chủ biết mình trái cho nên không dám hống hách như xưa. Vì thế mà Khắc Lâm không sợ hãi gì, sinh sát một tay, uy quyền càng ngày càng lừng lẫy. Bấy giờ Khắc Lâm nghe nói mở xạ trường để dạy cho thế tử, có ý không bằng lòng, mới tâu với Nam Kim nữ chủ rằng:
- Muôn tâu nữ chủ! Trong ngự viên không nên mở trường tập bắn. Vả lại thế tử hà tất phải tập bắn mà chi, gián hoặc không may mà gãy tay gãy chân thì lệnh bà còn mặt mũi nào đối với thần dân trong nước. Đến khi sứ thần Nguyên triều ở đây đã bấy nhiêu năm, lệnh bà dẫu có nhan sắc khuynh thành mà lòng hắn vẫn trơ trơ như sắt đá. Lệnh bà nên biết rằng ngày nay Nguyên triều có loạn, quốc chính cũng về tay một vị nữ hoàng. Lại nghe đồn một nhà Hùng vương đều bị giam cấm. Kẻ hạ thần thiết tưởng lệnh bà nên dùng kế phản gián, tâu với Nguyên triều rằng Hùng Khởi Phượng vì việc ấy mà đem lòng oán giận, muốn mượn quân nước tôi về báo thù. Mượn không được quân thì xúi người nước tôi nổi loạn. Nay xin giết Hùng Khởi Phượng và tha cho Doãn Thượng Khanh tướng công về để giữ tính hòa hiếu của hai nước vậy.
Nam Kim nữ chủ nghe lời tâu hầm hầm nổi giận:
- Nhà ngươi chớ tâu càn! Hùng quốc cữu là một người trung trinh ở đời ít có! Trong bấy nhiêu năm trời, vẫn giữ được trong sạch, coi sự phú quý như không. Ta yêu quý Hùng quốc cữu là yêu quý về tài năng kinh sư, lại hết lòng dạy bảo thế tử cho ta. Hùng quốc cữu nghiêm chính lạ thường không hề có chút dâm tà, vì thế mà ta càng thêm yêu quý. Một người như thế ai nỡ nào mà đem hại cho đang. Đã nhiều lần lần nhà ngươi nói châm chích ta, ta đây há lại chẳng biết hay sao, nhưng ta còn để tội cho nhà ngươi đó. Không ngờ ngày nay nhà ngươi lại dám tâu càn. Khắc Lâm kia! Nhà ngươi có còn nhớ không tiên đế toan chém mà ta phải hết lời tâu xin cho nhà ngươi hay không? Chẳng những ta cứu cho nhà ngươi tính mệnh an toàn, mà ta lại giúp cho nhà ngươi được an hưởng phú quý nữa. Nay nhà ngươi không nhớ ơn thì chớ, nỡ lòng nào còn dị nghị ta.
Nam Kim nữ chủ nói xong nét mặt tím bầm, hồi lâu chưa nguôi cơn giận. Khắc Lâm lại tâu:
- Muôn tâu lệnh bà! Chẳng hay vì ai tả phù hữu bật khiến cho trong ngoài được trị an. Nay kẻ hạ thần cứ thẳng khuyên can, lệnh bà chẳng nghe, lại còn nổi cơn giận. Trung ngôn thường hay nghịch nhĩ! Kẻ hạ thần chỉ e khi kẻ hạ thần đã cáo thoái thì giang sơn này sẽ phải đổ nát, lệnh bà cũng khó lòng mà giữ được ngôi trời.
Nói xong, cũng hầm hầm không cáo từ mà lui ra. Nam Kim nữ chủ càng nghĩ lại càng căm tức bội phần. Muốn trị tội Khắc Lâm dị tất đã trôi mà ngồi lặng làm thinh thì chẳng còn mặt mũi nào trông thấy các quan triều thần nữa. Nam Kim nữ chủ ngẫm nghĩ hồi lâu rồi lẩm nhẩm nói một mình rằng: “Khắc Lâm tâu cũng có lẽ phải. Ta để Hùng quốc cữu ở đây, cũng chẳng ra thế nào. Trong bấy nhiêu năm trời, ta uổng phí bao nhiêu tâm cơ, mà chàng vẫn ra tình hờ hững. Ta vì chàng mà bỏ cả triều chính, có khi nhân lúc phẫn uất, thành ra ghét lời can gián, thường giết hại kẻ trung thần. Hùng quốc cữu ơi! Thông minh như ta mà đến nỗi mang tiếng “hôn quân” là lỗi tại chàng đó. Vả ta ngày nay biếng ăn quên ngủ, tinh thần hao tổn, mười phần người đã gầy ba bốn phần. Thế thì dây oan nghiệt kia, ta cầm dao sắt mà cắt đứt đi cho rồi. Còn căm tức thay về một nỗi hùng quốc cữu lại hay đem sự xấu xa của ta mà nói với mọi người, để khiến ta phải đeo tiếng nhơ nhuốc. Thế thì bây giờ ta dẫu giết chàng, cũng không phải là ta bạc tình vậy.”
Nói xong, tức khắc đứng dậy lên xe đi thẳng tới Đồng Tâm đình. Các nội giám ở đấy toan truyền báo cho Hùng Khởi Phượng biết thì Nam Kim nữ chủ gọi mà bảo rằng:
- Các ngươi cứ yên lặng, không cần phải truyền báo!
Nam Kim nữ chủ rón rén đến ngoài cửa sổ đứng dòm thì thấy Hùng Khởi Phượng đang nghiễm nhiên ngồi giảng sách cho thế tử Người dẫu đứng tuổi nhưng phong lưu vẫn không giảm chiều xuân. Nam Kim nữ chủ mỗi khi trông thấy Hùng Khởi Phượng duỗi cánh tay ngọc cầm lấy quản bút, liếc mắt đưa vào cuốn sách thì trong lòng lại bội phần mến yêu. Bấy giờ Nam Kim nữ chủ mới lên tiếng bước vào. Thế tử vội vàng đứng dậy. Hùng Khởi Phượng cũng đứng dậy mà tâu rằng:
- Muôn tâu lệnh bà! Chẳng hay lệnh bà tới nơi sao không cho người truyền báo?
Nam Kim nữ chủ cười mà đáp rằng:
- Tiên sinh đang giảng sách khó nhọc, tôi sợ truyền báo lại thêm phiền cho tiên sinh. Xin mời tiên sinh ngồi, hà tất phải thủ lễ. bây giờ hãy cho thế tử lui vào trong cung.
H7Hùng Khởi Phượng chắp tay vái chào rồi ngồi xuống ghế. Nam Kim nữ chủ cũng ngồi một cái ghế gần đấy, dùng lễ “Tân chủ” mà tương tiếp. Các nội giám dâng trà. Hùng Khởi Phượng nói:
- Chẳng hay hôm nay lệnh bà di giá tới đây, muốn chỉ giáo điều gì chăng?
Nam Kim nữ chủ mỉm cười mà đáp rằng:
- Tiên sinh ơi! Tôi đến đây hôm nay trước là tạ ơn tiên sinh đã chịu khó dạy bảo thế tử, sau là nhân vừa rồi có sứ thiên triều đến, vậy tôi muốn thuật chuyện ở bên quý quốc cho tiên sinh nghe. Số là bên thiên triều ngày nay quyền chính về tay Phi Giao hoàng hậu, toàn gia họ Hùng đều bị giam cấm cả rồi. Phi Giao hoàng hậu lại sai sứ sang đây, bảo tôi giết tiên sinh đi. Bấy lâu tôi không dám nói là sợ tiên sinh nghĩ đến hai thân mà lo phiền chăng. Nay thấy tiên sinh muốn lập xạ trường để dạy thế tử tập bắn, thật là có lòng trung thành với nước tôi, vậy tôi muốn đem quyền chính trong triều mà trao cả cho tiên sinh. Tiên sinh nên biết rằng Cao Ly này dẫu là nước nhỏ, nhưng năm nghìn dặm dân giàu quân mạnh, cũng đủ mà vùng vẫy bể khơi. Hay là tiên sinh chê tôi tuổi quá chiều xuân thì bao nhiêu phi tần trong cung than cho tiên sinh thụ dụng. Đợi trong mấy năm nữa rồi tôi cùng tiên sinh trở về kinh địa, còn nước Cao Ly này thì lại giao trả cho thế tử Cao Ly. Nếu tiên sinh không nghe lời tôi thì chớ trách tôi đây là một đứa bạc tình vậy.
Nam Kim nữ chủ nói xong, lại tủm tỉm cười. Hùng Khởi Phượng nghe nói động lòng thương xót, liền ngẩn người ra như ngây như dại. Nét mặt tái mét, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Nam Kim nữ chủ thấy vậy, vội vàng chạy đến bên cạnh đưa tay đỡ lấy Hùng Khởi Phượng rồi ân cần bảo rằng:
- Hùng tiên sinh ơi! Tiên sinh chớ kinh hãi! Vừa rồi tôi nói bỡn tiên sinh đó mà thôi. Từ khi tiên sinh sang tới Cao Ly này, chỉ vì dung nhan của tiên sinh mà khiến cho tôi ngày đêm mơ tưởng, ăn không ngon miệng, ngủ không yên giấc. Tôi nỡ lòng nào mà hại tiên sinh, tiên sinh chớ kinh hãi.
Nam Kim nữ chủ cứ ghé miệng đến gần mà nỉ non dỗ dành mãi. Hùng Khởi Phượng dần dần hồi tỉnh, trông thấy Nam Kim nữ chủ đang ở cạnh mình vội vàng đứng dậy, ra phía xa, rồi cau mày nổi giận mà rằng:
- Sao lệnh bà lại như thế! Nhà họ Hùng tôi mấy đời chịu ơn triều đình, có công thì phong, có tội thì giết, tôi không dám oán giận. Từ khi tôi phụng mệnh triều đình bước chân ra đi thì thân này đã bỏ ngoài cái chết. Xin lệnh bà chớ dùng những câu ngụy ngôn mà dọa nạt kẻ hạ thần này.
Hùng Khởi Phượng nói xong, vẫn còn hầm hầm nổi giận, đặt mình ngồi phịch xuống ghế, không ngờ Nam Kim nữ chủ lại rón rén đến gần, miệng tủm tỉm cười mà bảo rằng:
- Hùng tiên sinh ơi! Lòng tôi đã quyết, hôm nay thế nào tiên sinh cũng phải theo tôi về chánh cung . Một đêm sum họp cùng nhau rồi sáng mai tôi nhường bảo bị cho tiên sinh. Làm vua ở Cao Ly này sung sướng kể sao cho cùng, xin tiên sinh chớ nên coi thường vậy. Các bậc anh hùng hào kiệt xưa nay muốn tranh bá đồ vương, còn phải tốn bao nhiêu công của, nay tiên sinh tự nhiên mà được an hưởng phú quý. Sự gặp gỡ may mắn ấy, ở đời phỏng có mấy người.
Nam Kim nữ chủ vừa nói vừa chạy đến giơ tay nắm chặt lấy áo Hùng Khởi Phượng, liếc mắt đưa tình, rồi khẽ cất tiếng oanh thỏ thẻ mà bảo rằng:
- Hùng tiên sinh ơi! Tiên sinh nghĩ thế nào? ....
Bấy giờ Hùng Khởi Phượng căm tức bội phần, vùng vằng đứng dậy, trừng mắt mà mắng rằng:
- Hạng Nam Kim kia! Nhà ngươi chớ càn rỡ! Người đâu mà lại vô sỉ đến như thế! Ta nghĩ nhà ngươi cũng là người Trung Quốc, cho nên đêm lời phải trái khuyên nhủ nhà ngươi, không ngờ nhà ngươi lại cứ một mực chấp mê, vẫn quen thói trăng hoa dâm đãng. Ta đây không phải sợ chết, chỉ vì có Doãn tướng công là bậc lão thành thạc đức ta không muốn di lụy đến người. Nay thiên triều đã giáng chỉ định bắt tội ta thì nhà ngươi cứ đem ra mà giết, chứ ta đây đường đường là thân nam tử, không khi nào chịu nhục với ai. Nhà ngươi mau mau cho ta ra nhà công quán, để ta được cùng Doãn tướng công cùng chết cho rồi.
Nam Kim nữ chủ cười mà bảo rằng:
- Hùng tiên sinh ơi! Điều ấy tôi khó vâng lời tiên sinh lắm. Ngày nay lòng tôi đã quyết. Tiên sinh nên biết rằng: Nghe hay không nghe tùy ý tiên sinh, nhưng giết hay không giết là quyền tại tôi vậy. Hùng tiên sinh ơi! Tiên sinh đường đường là thân nam tử thì tôi đây há không phải đường đường là một vị nữ vương, tiên sinh kết bạn cùng tôi, thiết tưởng chẳng lấy chi làm sỉ nhục. Nếu tiên sinh quả một lòng sắt đá, không nghe lời tôi thì tôi không giết tiên sinh làm gì, chỉ lột bỏ mũ áo, đem giam vào ngục thất, sai bọn ác thiếu vào làm cho cực khổ trăm chiều, thử xem tiên sinh, tính thế nào. Hùng tiên sinh ơi! Nên nghe lời tôi đi, kẻo sau này lại hối.
Hùng Khởi Phượng nổi giận mà rằng:
- Hạng Nam Kim kia! Mày tưởng ta không giết được mày hay sao! Trước sau cũng là một chết, ta giết mày rồi còn hơn sau này chết một cách ám muội mà chẳng ai hay.
Nói xong, liền rút thanh bảo kiếm treo ở trên tường toan chém Nam Kim nữ chủ. Nam Kim nữ chủ vội kêu cứu giá, thì bọn cung nữ chạy đến định giật lấy thanh bảo kiếm, nhưng không giật được, mới quì xuống mà rằng:
- Hùng tiên sinh ơi! Sao tiên sinh nỡ lòng nào như thế! Xin tiên sinh hãy nghĩ lại.
Bọn nội giám ở ngoài cũng lật đật chạy vào,nhưng tay không thì “cứu giá làm sao cho được, mới đều phải quì xuống mà kêu van Hùng Khởi Phượng. Bỗng thấy một tên lão nội giám cõng thế tử đến. Nguyên thế tử bấy giờ dẫu còn trẻ tuổi, mà tính khí khác phàm, trông thấy Nam Kim nữ chủ bước vào, dẫu đứng dậy lui ra nhưng có sai một tên lão nội giám dò la ý tứ. Khi nghe tin ấy thế tử không kịp lên xe, liền sai tên lão nội giám cõng đến. Thế tử vào tới nơi, trông thấy Nam Kim nữ chủ bị Hùng Khởi Phượng túm chặt lấy áo, mũ rơi xuống đất, đai cũng tuột lỏng, chẳng thành ra thể thống gì. Thế tử vội vàng chạy đến ôm Nam Kim nữ chủ rồi khóc mà nói với Hùng Khởi Phượng rằng:
- Hùng tiên sinh ơi! Thân mẫu tôi có điều gì lầm lỗi, tôi xin cam chịu. Xin tiên sinh giết tôi mà tha cho thân mẫu tôi!
Thế tử nói xong, lại nức nở khóc hoài. Bấy giờ Hùng Khởi Phượng mới buông Nam Kim nữ chủ ra, bỏ thanh kiếm xuống, rồi đỡ lấy thế tử và nói:
- Thế tử chớ lo phiền! Lệnh bà càn dỡ khiến cho tôi phải căm tức muôn phần! Tôi chắc hôm nay lệnh bà uống nhiều rượu quá, nếu không thì cớ sao lại đến nổi thất thường. Bây giờ tính mệnh tôi hoặc giết hoặc mổ tuỳ lượng quý quốc, lòng tôi đây thật không hề oán giận chút nào.
Thế tử cúi đầu sụp lạy mà thưa rằng:
- Hùng tiên sinh ơi! Có đâu lại dám như thế!
Các cung nữ cùng các nội giám xúm lại đỡ Nam Kim nữ chủ dậy rồi dắt ra xe đưa về trong cung vực nằm ở trên long sàng. Hồi lâu thế tử về cung, mở màn trông thấy Nam Kim nữ chủ cứ ngẩn người đứng nhìn. Bấy giờ các cung nữ dâng nước sâm thang để Nam Kim nữ chủ uống. Nam Kim nữ chủ nằm yên trong hồi lâu rồi bỗng ứa nước mắt khóc mà kêu to lên rằng:
- Hùng Khởi Phượng ơi! Ta cùng nhà ngươi tất có tiền oan nghiệt chứơng chi đây! Ta không ngờ nhà ngươi lại nỡ lòng xử với ta như thế! Cuộc ân ái từ nay đoạn tuyệt, ta không thể nào tha cho đứa bạc tình kia!
Nam Kim nữ chủ noí xong, lại cau mày nghiến răng, lấy tay vỗ xuống giường mà thở ngắn than dài, khiến cho thế tử cũng phải kinh hãi. Thế tử nói:
- Thân mẫu ơi! Sao thân mẫu lại nghĩ lẩn thẩn như thế? Hùng tiên sinh thật là một người chánh trực. Từ khi vào dạy con đến giờ, tiên sinh chỉ giảng đạo đức thuyết nhân nghĩa, chứ không hề cười đùa cỡn bợt bao giờ! Vả tiên sinh ngày nào cũng nghĩ đến vua, đến nước và nhớ cha mẹ, ruột tằm bối rối giọt lệ chứa chan, còn lòng tưởng đến sự vui thú ở nước ta nữa. Ngày nay thân mẫu giận mà đem chém thì tình thầy trò, con đây biết xử thế nào. Một ngày nên nghĩa, một chữ nên thầy, con xin thân mẫu nghĩ lại cho kỹ.
Thế tử còn đang khóc lóc tâu bày thì bỗng thấyng chạy vào báo rằng:
- Muôn tâu lệnh bà! Thuận Thiên vương xin vào yết kiến, nói có việc khẩn cấp quân sự.
Nam Kim nữ chủ thở dài mà than rằng:
- Ta còn mặt mũi nào trông thấy Thuận Thiên vương. Thôi thì nhà ngươi cứ ra nói là ta nay mệt nhọc, không thể tiếp kiến được.
Nội giám vâng mệnh lui ra. Hồi lại vào báo rằng:
- Muôn ta lệnh bà! Thuận Thiên vương nói là có việc khẩn cấp cần phải diện tấu.
Nam Kim nữ chủ bất đắc dĩ phải gượng ngồi ở trên sàng, rồi cho mời Thuận Thiên vương vào. Nam Kim nữ chủ lại bảo thế tử lui ra. Khi Thuận Thiên vương vào, Nam Kim nữ chủ hỏi rằng:
- Chẳng hay có việc chi mà khẩn cấp như thế! Sao đại vương không thay quyền tôi mà phê phó cho xong. Hôm nay tôi mệt nhọc trong mình, cần phải tịnh dưỡng.
Thuận Thiên vương nói:
- Muôn tâu lệnh bà! Việc này há phải việc thường mà bảo rằng kẻ hạ thần dám tự tiện phê phó. Số là Đông di nổi loạn, đã đem quân thẳng tới Thạch Sơn châu, có tuyên bá một đạo hịch văn, chỉ trích những tội lỗi của lệnh bà, nói nhiều câu rất càn dỡ.
Thuận Thiên vương nói xong, cầm đạo hịch văn đệ trình Nam Kim nữ chủ. Nam Kim nữ chủ mở ra xem, có ý hổ thẹn. Thẹn quá hóa giận, liền sầm nét mặt lại mà quát to lên rằng:
- Hay cho Đông di tặc tử! Dám cả gan đem quân xâm phạm đất ta. Lại còn thêu dệt những điều thị phi, ta không thẻ nào mà khoan thứ cho được. Đại vương ơi! Các quan triều thần xem đạo hịch văn này thì định xử trí ra thế nào?
Thuận Thiên vương nói:
- Các quan triều thần, người thì nói nên phủ dụ, người thì nói nên khai chiến, chỉ có Khắc Lâm quyết định phải đem quân đi ngay, chớ để cho quân giặc vào cõi. Vậy kẻ hạ thần thiết nghĩ lệnh bà nên sai Khắc Lâm làm thống soái, đem quân đi đánh giặc Đông di.
Nam Kim nữ chủ nghe lời tâu, nét mặt tươi cười mà phán rằng:
- Nếu vậy hay! Nếu vậy hay! Thật là diệu kế! Khắc Lâm ngày nay lộng quyền chuyên chính, sai hắn đi việc ấy cũng bớt được sự lo ngại cho ta. Còn như việc ta lưu sứ thần Nguyên triều ở đây, ta nghĩ lấy làm hối lắm. Bây giờ ta chỉ muốn chém Hùng Khởi Phượng và báo với Doãn Thượng Khanh là hắn bị bệnh chết, tất Doãn Thượng Khanh cũng chẳng hiểu ra thế nào. Rồi sau ta tha cho Doãn Thượng Khanh trở về nước nhà, bất tất phải tu bổ quốc sử Cao Ly nữa.
Thuận Thiên vương nghe lời phán chỉ lấy làm kinh ngạc vội vàng quì xuống tâu rằng:
- Muôn tâu lệnh bà! Nếu lệnh bà làm việc ấy thì tai vạ rất to. Số là Nguyên triều nước giàu dân mạnh, lại có những tay tướng giỏi như nhà Hoàng Phủ, văn võ toàn tài. Ô Tất Khải nguyên soái và Thần Vũ đạo nhân thuở xưa cũng còn không địch nổi. Nay nghe tin lệnh bà giết Hùng Khởi Phượng, tất phải cử đại binh sang hỏi tội. Khi ấy thì mặt trong Đông di quấy rối, mặt ngoài thì quân Nguyên triều kéo tới, ta biết xử trí làm sao. Và Hùng Khởi Phượng phụng mệnh lệnh bà vào dạy thế tử, thế thì thầy trò nghĩa nặng, nỡ nào đem ra hành hình. Kẻ hạ thần vì lòng trung thành mà cứ thẳng tâu ngay, xin lệnh bà nghĩ đi nghĩ lại cho kỹ.
Nam Kim nữ chủ lẩm nhẩm gật đầu mà phán rằng:
- Đại vương nói có lẽ phải. Nếu vậy thì lại cứ để Hùng Khởi Phượng dạy học như xưa, mà câu chuyện bí mật này, đại vương chớ có tiết lộ cho ai biết.
Thuận Thiên vương cáo từ lui ra, lại đến nhà công quán xin vào yết kiến Doãn Thượng Khanh tướng công. Doãn Thượng Khanh tướng công hỏi rằng:
- Đại vương mới vừa đi, bây giờ lại đến, tất là trong cung có sự quan trọng chi đây, xin đại vương ngỏ lời cho lão thần này được biết.
Thuận Thiên vương thở dài mà than rằng:
- Doãn tướng công ơi! Nước Cao Ly tôi ngày nay sắp có việc binh đao, giang sơn này khó mà giữ cho khỏi đổ nát.Thuận Thiên vương liền đem việc Đông di nổi loạn và lời Nam Kim nữ chủ nói thuật cho Doãn Thượng Khanh tướng công nghe. Doãn Thượng Khanh tướng công không nghe nói thì thôi, đã nghe nói thì lửa giận bừng bừng không thể nào mà dằn được nữa. Doãn Thượng Khanh tướng công nói:
- Nếu vậy thì tôi còn nhẫn nại làm sao được. Trong khi hai nước giao chiến, còn không chém sứ thần, huống chi chúng tôi phụng mệnh Nguyên triều sang đây là vì việc điếu tang, cớ sao lại dám tự tiện chém giết. Tôi ở đây chẳng khác nào như tù giam lỏng, chỉ mong bao giờ tu bổ xong bộ Cao Ly quốc sử để được trở về nước nhà. Ai ngờ nữ chủ hoang dâm, lại giam cấm sứ thần Nguyên triều mà làm lắm điều cực khổ. Ngày nay nữ chủ đã định giết Hùng quốc cữu thì thân già này còn tiếc làm chi.

Nói xong, đứng dậy, định vào chốn triều đường để liều mình với Nam Kim nữ chủ. Thuận Thiên vương kinh hãi, vội vàng nắm lấy áo mà bảo rằng:
- Doãn tướng công ơi! Tướng công hãy thư thả cho tôi được nói một lời. Tôi cùng tướng công kết bạn trong mấy năm trời, thật là một tâm phúc tương kỳ, không giấu nhau một điều gì cả. Nguyên nữ chủ nước tôi dẫu rằng hoang dâm, nhưng chính lệnh nghiêm minh, cho nên trị vì trong mấy năm nay mà nước nhà vẫn được yên ổn. Không ngờ ngày nay tinh thần giảm tổn, lại biến tâm cải tính, điên đảo thất thường, để đến nỗi trong thì Khắc Lâm chuyên quyền, ngoài thì Đông di nổi loạn, bây giờ việc nước bối rối, chưa biết tính làm sao. Doãn tướng công ơi! Tướng công chớ nên liều mình, tôi nghe nói bên quí quốc độ này quyền chính cũng về tay một bà hoàng hậu. Hồi tháng trước sứ thần nước tôi sang cống trở về, có thuật chuyện rằng thượng hoàng bỏ đi, thái hậu bị bệnh, còn thiên tử thì bị mục tật. Nay tướng công liều chết, phỏng có ích gì, nên lưu cái thân hữu dụng để bổ cứu cho nhà cho nước. Việc Hùng quốc cữu, tôi đã hết sức tâu xin nữ chủ, vậy nữ chủ vẫn để dạy thế tử như trước, cũng không phải lo ngại, khi nào tướng công tu bổ xong bộ quốc sử, bấy giờ hai người tất cùng được về. Còn một việc quan trọng ở nước tôi ngày nay, tôi rất lấy làm khó nghĩ, tướng công là bậc tài cao trí rộng, xin tướng công vì tình bạn hữu mà trừ tính giúp cho.
Doãn Thượng Khanh tướng công thở dài mà than rằng:
- Việc biến loạn ở nước tôi là bởi Phi Giao, nhưng vợ chồng Hoàng Phủ Tương vương về đến kinh thành thì tất cũng giữ được vô sự. Nay đại vương có điều gì muốn chỉ giáo xin đại vương cứ nói cho nghe.
Thuận Thiên vương đứng dậy mà thưa rằng:
- Việc này là một việc bí mật, vậy xin vào phòng riêng bấy giờ ta sẽ nói chuyện.
Doãn Thượng Khanh tướng công theo Thuận Thiên vương vào nơi phòng ngủ. Bỗng thấy Thuận Thiên vương ứa hai hàng nước mắt rồi kêu to một tiếng mà rằng:
- Doãn tướng công ơi! Để tôi kể hết đầu đuôi cho tướng công nghe. Số là ngôi thế tử con tiền vương nước tôi thuở xưa tạ thế. Bấy giờ thế tử có sinh được một người con tên gọi Thừa Hoàng tuôi hãy còn nhỏ. Tiền vương tôi vì cớ cháu nội tôn còn nhỏ, vậy nên mới truyền ngôi cho em là Bách Hoa vương. Bách Hoa vương yêu Thừa Hoàng như con, lập làm thế tử. Khi có Nam Kim nữ chủ vào cung thì quyền chính trong cung thu về một tay, làm lắm điều càn dỡ. Doãn tướng công ơi! Cao Ly nước tôi từ khi Cơ Tử thụ phong, vốn là một nước biết giữ lễ nghĩa. Thế mà ngày nay nữ chủ cử chỉ cuồng bội, thật là một điều sỉ nhục cho nước tôi. Nam Kim nữ chủ vào cung trong mười saú năm chuyên sủng, mà mãi đến năm cuối mới sinh được một vị công chúa, lại mạo tấu là hoàng nam. Bách Hoa vương chỉ ngày đêm đam mê tửu sắc, cũng chẳng biết chi cả. Đến lúc bệnh nguy, Nam Kim nữ chủ tâu xin lập con mình, nhưng Bách Hoa vương không nghe. Có dặn riêng chúng tôi rằng: “Các ngươi chịu ơi triều đình, nên hết lòng giúp cho thế tử được lên ngôi đại bảo”. Câu nói ấy, tôi và các quan văn võ triều thần đều được cùng nghe. Ai ngờ khi Bách Hoa vương tạ thế, thế tử ra làm lễ chủ tang, không biết Nam Kim nữ chủ cho uống thứ gì mà bỗng thành ra nói không được. Bởi vậy thế tử phải vào cung tịnh dưỡng mà Nam Kim nữ chủ thì lên quyền tạm ngôi trời. Nam Kim nữ chủ lại tuyên bá rằng: “cha truyền con nối là lẽ tự nhiên. Ngày nay quốc vương hiện có hoàng nam, cớ sao lại trả ngôi về dòng tiền vương được. Nếu các quan văn võ triều thần ai dám trái mệnh thì giao cho Khắc Lâm được quyền tức trảm.” Doãn tướng công ơi! Bấy giờ Khắc Lâm đem quân vào chốn triều đình, tuốt gươm đứng ở trên thềm mà quát to lên rằng: “Quốc vương đã có di mệnh thì các quan triều thần phải tuân theo. Ngày nay ngôi đại bảo đã có Nam Kim nữ chủ làm chủ trương, bất tất phải đề xướng việc tiền vương trước”, nói xong Khắc Lâm lại giơ thanh gươm lên mà chỉ trỏ, các quan triều thần phỏng ai còn dám nói gì, chỉ có Đông di và mấy nước nhỏ gần đây không chịu tiến triều, cho Nam Kim nữ chủ mới dâng biểu xin quí quốc sai sứ thần đến là cốt để thị uy với mấy nước kia vậy. Khi trông thấy Hùng quốc cữu đang độ thanh xuân liền đem tình luyến ái mượn sự tu bổ quốc sử để giữ Hùng quốc cữu lại một lòng sắt đá, chẳng chút chuyển dời, ngày nay Nam Kim nữ chủ lấy làm hối. Xin tướng công nhẫn nại một chút, tất thế nào cũng có ngày được về. Còn việc nước tôi, tôi lấy làm khó nghĩ quá, nếu cứ để yên như thế, thì thật tôi phụ lòng tiền vương. Xin tướng công đem kiến thức cao minh khải phát cho kẻ ngu muội này.
Doãn Thượng Khanh tướng công nghe nói, lẩm nhẩm gật đầu khen rằng:
- Thế mới biết nước nào cũng có người trung nghĩa! Đại vương muốn cho thế tử được phục vị, việc ấy đã đành, nhưng chẳng hay thế tử uống phải thức thuốc gì mà thành ra người câm. Nếu không chữa khỏi thì chẳng lẽ người lại làm chúa tể trong một nước. Cho biết rằng việc phục vị không khó mà chỉ khó về một nỗi làm thế nào chữa cho thế tử khỏi bị bệnh câm.
Thuận Thiên vương thở dài mà than rằng:
- Không ngờ Nam Kim nữ chủ diện mạo như thế mà thành ra người hiểm sâu, tôi nghe đâu đã dùng thứ sinh bán hạ mà cho thế tử uống.
Doãn Thượng Khanh tướng công mừng rỡ mà rằng:
- Nếu phải là sinh bán hạ thì có cách chữa được. Nguyên xưa Mạnh Lệ Quân rất tinh thông nghề thuốc, thường nói chuyện với tôi rằng: “Hễ ai uống lầm phải sinh bán hạ thì dùng lục đậu thang mà cứu giải”. Nay đại vương hãy dùng lục đậu thang mà hàng ngày cho thế tử uống, thử xem ra làm sao.
Thuận Thiên vương nói:
- Doãn tướng công ơi! Thế tử bị giam cấm ở trong cung đã mấy năm nay. Mà nữ chủ pháp lệnh rất nghiêm khắc, dẫu hàng ngày cho ăn uống tử tế, nhưng chỉ ngồi một xó, không hề được rời bước đến đâu. Thế thì bây giờ dẫu có thầy hay còn làm thế nào mà cho uống thuốc được.
Doãn Thượng Khanh tướng công nói:
- Đại vương chớ lo phiền! Người ta có chí thì việc gì cũng làm cũng xong được! Chẳng hay thế tử bị giam cấm ở cung nào? Người nào nào cai quản ở chỗ ấy?
Thuận Thiên vương nói:
- Cái cung ấy ở về phía đông vườn thượng uyển, cao ngất từng mây, có cửa sổ trông ra bốn mặt. Nội giám Vương Trung cai quản ở đấy. Người ấy là một người trung thành, cho nên thế tử cũng không đến nỗi khổ.


về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
hồi thứ mười lăm b

Doãn Thượng Khanh tướng công cười mà bảo rằng:
- Đại vương ơi! Nếu vậy thì ta truyền bảo nội giám Vương Trung cứ hàng ngày đem lục đậu thang mà cho thế tử uống, rồi dần dần tự khắc thế tử có thể nói được. Nếu đại vương không biết sai ai vào bảo Vương Trung thì tôi đây có một tên gia tướng, leo tường rất giỏi, dẫu cao ba bốn trượng mà vượt qua như không. Tôi sẽ viết thư trao cho hắn đem vào cho Hùng quốc cữu để Hùng quốc cữu tìm bảo Vương Trung cho thế tử uống kỳ bao giờ nói được mới thôi. Khi thế tử đã khỏi câm rồi thi đại vương đem các quan văn võ triều thần cùng vào tâu với nữ chủ phải trả lại ngôi trời. Nhưng ta lại đính ước với thế tử rằng khi đã lên ngôi làm vua rồi thì tất phải phụng thờ nữ chủ cho tử tế. Như thế thì tình trước nghĩa sau đều vẹn toàn cả. Tôi nay già lẫn thiết tưởng chỉ còn kế ấy, chẳng biết đại vương có dùng được hay không?
Thuận Thiên vương nghe nói mừng rỡ kể sao cho xiết, liền đứng dậy chắp tay mà nói với Doãn Thượng Khanh tướng công rằng:
- Đa tạ tướng công đã cho tôi một diệu kế!
Thuận Thiên vương vừa nói vừa cúi đầu sụp xuống đất lạy. Doãn Thượng Khanh tướng công đỡ dậy mà bảo rằng:
- Tôi nghe Khắc Lâm vốn là tay vũ dũng, chuyến này đi đánh Đông di, chẳng bao sẽ được thành công, đại vương lưu tâm chớ tiết lộ cho biết.
Thuận Thiên vương vâng lời, rồi cáo từ lui ra. Doãn Thượng Khanh tướng công tiễn ra đến phòng ngoài, bỗng thấy gia tướng chạy vào bẩm rằng:
- Dám bẩm tướng công! Có tên Chu Thống là gia tướng nhà Hùng vương xin vào yết kiến.
Doãn Thượng Khanh tướng công kinh ngạc mà rằng:
- Quái lạ! Sao Chu Thống sang tới đây! Nếu vậy thì tất có sự nguy cấp. Những lời thiên hạ truyền thuyết, chắc cũng không sai.
Nói xong, truyền gọi Chu Thống vào, Chu Thống mới kể lại đầu đuôi mọi việc, nào thượng hoàng bỏ đi, nào thái hậu bị bệnh, nào thiên tử bị mục tật, nào Phi Giao hoàng hậu lâm triều, nào Mã Thuận và Đồ Man Hưng Phục lộng quyền chuyên chính v.v... Chu Thống lại nói:
- Khi triều đình đem quân vây nã chủ nhân tôi là Hùng vương, gia binh trong phủ tức giận, mới tuốt gươm ra để cứu chủ thì cò nhiều người chết và bị thương. Mạnh vương phi nghe tin liền sai chúng tôi đưa đệ nhị công tử sang lánh nạn ở Vân Nam. Không ngờ đi đến Giang Ninh thì đệ nhị công tử bỏ trốn, chúng tôi tìm đâu cũng không thấy, vậy phải liều chết mà sang tới đây. Doãn tướng công ơi! Chúng tôi sang được tới đây thật là trải bao gian khổ. Khi tới Áp Lạc giang thì có quân canh giữ, không làm thế nào mà sang qua được. Sau nhân có sứ thần Cao Ly sang cống, tôi phải nhận một người lái thuyền làm nghĩa phụ, cho hắn vàng bạc để hắn vui lòng, vậy mới sang tới đây được. Khi sang tới đây, ngày núp đêm đi, hỏi thăm dò la mãi mới biết Hùng quốc cữu tôi bị giam cấm ở trong cung, còn tướng công và các tướng sĩ đều được bình yên cả. Chẳng biết Hùng quốc cữu tôi ở trong cung bây giờ có được yên ổn hay không, xót thương thay một nhà đều bị tai nạn!
Chu Thống nói xong thì Doãn Thượng Khanh tướng công ngồi ngẩn người ra có ý cắm tức. Hồi lâu bỗng kêu to lên một tiếng mà rằng:
- Thượng hoàng ơi! Chẳng hay thượng hoàng nghĩ thế nào lại bỏ muôn dặm giang sơn mà đi, để đến nỗi trong nước sinh ra rối loạn. Thái hậu dẫu là bậc minh thánh, nhưng chỉ sợ vì tình thân thuộc mà khó nỗi xử phân. Ta nay nghoảnh mặt trông về nước nhà, xa cách phương trời, càng nghĩ lại càng thêm đau ruột.
Doãn Thượng Khanh vừa nói vừa khóc, hai hàng nước mắt mắt chảy xuống ròng ròng. Hồi lâu lại nói:
- Ta thấy làm quái lạ! Không biết cớ sao các quan văn võ triều thần lại không có ai can ngăn Phi Giao hoàng hậu, Đồ Man Hưng Phục là đứa quyền gian trong nước, không khéo thì nó nhân dịp này mà chiếm đoạt giang sơn.

Doãn Thượng Khanh tướng công nói đến đây, lại vùng vằng đứng dậy, đập bàn mà kêu to lên rằng:
- Trời ơi! Ta là một bậc lão thần, trải thờ ba triều, lộc nước ơn vua, kể biết bao nhiêu, mà chưa báo đáp được chút nào cả. Chẳng thà ta đập đằu mà chết như Lương tướng công thuở trước thì nghìn thu sử sách, còn lưu lại được hai chữ “trung trinh”.
Nói xong, truyền cho Chu Thống lui xuống nhà dưới và dặn rằng:
- Nhà ngươi phải giữ kín, chớ tiết lộ cho ai biết, kẻo chúng lại đem lòng khinh bỉ thiên triều.
Chu Thống nói:
- Dám bẩm tướng công! Chúng tôi muốn vào thăm Hùng quốc cữu lắm, chẳng hay có thể nào được
Doãn Thượng Khanh thở dài mà bảo rằng:
- Nhà ngươi chớ lo phiền. Chủ nhân nhà ngươi bấy lâu dẫu bị nữ chủ Cao Ly giam cấm nhưng tấm lòng sắt đá vẫn không chịu đổi dời. Ta đã sai người dò la và tìm phương giải cứu, nhưng chưa có thể nói cho ngươi biết được.
Chu Thống vâng mệnh lui ra, Doãn Thượng Khanh tướng công vào thư phòng cầm bút viết một bức thư. Viết xong truyền gọi tên gia tướng là Tô Thành vào. Khi Tô Thành vào, Doãn Thượng Khanh tướng công dặn rằng:
- Tô Thành! Ta có một phong thư giao cho nhà ngươi đem vào cung đệ trình Hùng quốc cữu. Nhà ngươi nên cẩn thận và xin bức thư trả lời.
Doãn Thượng Khanh tướng công lại nói:
- Nhà ngươi chớ nói cho Hùng quốc cữu biết là có Chu Thống đến, kẻo quốc cữu lại thêm lo phiền.

Lại nói chuyện Hùng Khởi Phượng hàng ngày buồn bã, thường ra dạo bước quanh vườn, bỗng trông thấy một cái lầu cao ở về phía đông, văng vẳng xa nghe, trông có tiếng người khóc. Hùng Khởi Phượng trong lòng nghi hoặc, mới đi thẳng đến cửa lầu thì trông thấy chung quanh vắng vẻ không ai, mà cửa lầu lại khóa chặt. Hùng Khởi Phượng không hiểu thế nào, còn đang ngẩn ngơ đứng đấy, bỗng có một người lão nội giám tay xách giỏ đỏ vừa đi tới nơi. Tên lão nội giám trông thấy Hùng Khởi Phượng như người ngây dại liền hỏi:
- Dám thưa quốc cữu! Cớ sao hôm nay quốc cữu lại được thư nhàn?
Hùng Khởi Phượng nói:
- Mấy hôm nay thế tử không đến học, cho nên tôi cũng được thư nhàn, dạo bước chung quanh vườn, bỗng nghe có tiếng người khóc ở đây, mới lững thững lần đến. Chẳng hay trên lầu cao này giam cấm người nào? Và nhà ngươi tay xách cái chi thế?
Tên lão nội giám thở dài mà đáp rằng:
- Hùng quốc cữu ơi! Quốc cữu không hỏi đến mà rằng, chứ đã hỏi đến thì khiến cho tôi phiền muộn. Số là trên lầu cao này giam cấm ngôi thế tử, tức là cháu đích tôn tiền vương tôi thuở xưa. Câu chuyện dài ấy bây giờ nói không hết được. Xin quốc cữu cứ về, đến đêm khuya tôi sẽ lại hầu. Còn cái giỏ này là tôi mang cơm cho thế tử ăn đó. Việc này xin quốc cữu giữ kín cho, kẻo đến tai nữ chủ thì thế tử tôi khó toàn được tính mệnh.
Lão nội giám nói xong, mở khóa vào trong lầu, còn Hùng Khởi Phượng quay về chốn cũ. Khi ăn cơm xong, khép cửa đi nghỉ, truyền bảo các nội giám rằng:
- Đêm nay ta mệt nhọc, tha hầu cho các ngươi. Các ngươi phải yên lặng cho ta nghỉ, sáng mai cũng chớ có gọi cửa sớm vội.
Các nội giám đã biết tính Hùng Khởi Phượng xưa nay, đều vâng mệnh lui ra cả. Bấy giờ Nam Kim nữ chủ đang bị bệnh, cho nên các quân cấm vệ canh phòng cũng trễ nải, không được nghiêm túc như trước. Hùng Khởi Phượng thắp một ngọn đèn ngồi đợi tên lão nội giám đến. Sang đầu canh hai bỗng nghe tiếng gõ cửa thì có tên lão nội giám bước vào. Tên lão nội giám nói:
- Hùng quốc cữu ơi! Quả nhiên quốc cữu ngồi thắp đèn mà đợi tôi, thế mới biết người quí quốc thường hay tín thực.
Hùng Khởi Phượng hỏi:
- Nhà ngươi họ tên là gì? Vào cung đã được mấy năm nay? Mấy lời nhà ngươi ngỏ cùng ta, ta chẳng hiểu ra làm sao cả.
Lão nội giám thở dài mà đáp rằng:
- Hùng quốc cữu ơi! Tôi tên gọi Vương Trung. Vào cung từ đời tiền vương, bấy giờ tôi hãy còn nhỏ, mà nay đầu đã bạc trắng, bấm đốt ngón tay, gần năm mươi năm trời. Ngôi thế tử bị giam cấm ở trên lầu cao kia là về dòng đời tiền vương tôi thuở xưa. Nam Kim nữ chủ lập kế cho uống sinh hán hạ, để đến nỗi nói không được, rồi đem giam cấm vào đấy, mà chiếm đoạt ngôi vua. Tuy vậy thế tử tôi vẫn thông minh hiểu biết mọi việc. Từ khi quốc cữu đến tôi cũng thường đem tình hình trong cung mà nói cho thế tử tôi nghe. nữ chủ say mê những thế nào và quốc cữu nghiêm chính những thế nào, tôi đều nói hết.
Vương Trung nín lặng một lúc, rồi lại nói:
- Hùng quốc cữu ơi! Tôi thuật chuyện cho thế tử tôi nghe thì thế tử tôi lẩm nhẩm gật đầu, rồi lại ra hiệu bảo tôi đến nói với quốc cữu. Ngặt vì Nam Kim nữ chủ pháp lệnh nghiêm khắc lắm, cho nên bấy lâu tôi không dám đến. Độ này nữ chủ bị bệnh, chẳng để ý gì đến nơi cung cấm, mà cũng là lòng trời xui khiến mà hôm nay tôi bỗng gặp quí nhân, tôi có một việc muốn nhờ quí nhân, nếu quí nhân thành toàn cho được thì thật là một cái ơn tái tạo vậy.
Vương Trung vừa nói vừa khóc, lại sụp xuống đất lạy. Hùng Khởi Phượng vội vàng đỡ dậy mà bảo rằng:
Nếu việc như thế này mà nhà ngươi cầu ta thì há chẳng vô ích lắm thay. Ta đây cũng là một người bị giam cấm, còn cứu ai được nữa.
Vương Trung lại khóc mà thưa rằng:
- Chúng tôi không dám quấy việc gì cả, chỉ xin quốc cữu nói giúp với Nam Kim nữ chủ cho thế tử tôi được cắt tóc đi tu, thế là cứu cho thế tử tôi được toàn tính mệnh đó. Quốc cữu nói thế thì thế nào nữ chủ cũng vâng lời. Vừa rồi tôi đem cơm vào, thế tử tôi có viết mấy câu thơ bảo tôi đệ trình quốc cữu.
Nói xong, thò tay vào trong áo lấy ra một mảnh giấy đệ trình Hùng Khởi Phượng. Hùng Khởi Phượng mở ra xem, bài thơ như sau này:

Thượng khách ít khi gặp
Sự tình khó giải phân
Há phải tham cực lạc
Chỉ muốn trọn tiền nhân
Muôn thuở nước còn đó
Trăm năm đời mấy xuân
Lòng này xin phát nguyện
Rũ sạch bụi hồng trần.”


Hùng Khởi Phượng đọc xong tấm tắc khen ngợi mà rằng:
- Thế tử cũng có văn tài! Xem ý trong mấy câu thơ này thì là người chán đời, chỉ muốn cắt tóc đi tu mà thôi.
Hùng Khởi Phượng nói chưa dứt lời thì bỗng có một người ở ngoài bước vào, Vương Trung chẳng còn hồn vía nào, sợ toát mồ hôi ra. Hùng Khởi Phượng nghoảnh nhìn có ý mừng rỡ. Nguyên người bước vào đó tức là gia tướng Hùng Khởi Phượng tên gọi Tô Thành. Bấy giờ Tô Thành sụp lạy mà bẩm rằng:
- Tôi là Tô Thành xin cúi đầu lạy chào quốc cữu.
Hùng Khởi Phượng bảo Tô Thành dậy rồi nghoảnh lại nói với Vương Trung rằng:
- Người này là gia tướng của tôi, đã leo qua thành mà vào tới trong đây.
Vương Trung nghe nói bấy giờ mới yên lòng. Hùng Khởi Phượng thở dài mà hỏi Tô Thành rằng:
- Thế nào? Doãn tướng công độ này vẫn được an khang đó chứ! Ta thường hỏi Thuận Thiên vương cũng đã biết rằng quốc sử mới tu bổ được một nửa mà mọi người đều bình yên cả. Nhưng ta nghe đồn toàn gia họ Hùng ta đều bị giam cấm. Phi Giao hoàng hậu lộng quyền chuyên chính, làm nhiều sự hung tàn, chẳng biết có quả như thế không?
Tô Thành liền đứng dậy mà bẩm rằng:
- Dám dẩm Hùng quốc cữu! Chính vì việc ấy mà hôm nay tôi vào đây, Chu Thống vừa mới tới đây, đã kể hết sự tình trong nước. Doãn tướng công có viết một bức thư, sai tôi đem vào để đệ trình quốc cữu.
Nói xong, liền lấy bức thư giắt trong mình ra, đệ trình Hùng Khởi Phượng. Hùng Khởi Phượng trông thấy phong thư mấy lần gói kín, bỗng động lòng mà ứa nước mắt khóc, rồi mở ra xem. Bức thư như sau:

“Cách nhau trong gang tất mà tựa hồ góc bể chân trời. Thắm thoát bấy nhiêu năm, quốc cữu vẫn giữ được tấm lòng sắt đá thì cũng là một bậc vĩ nhân đời nay vậy.
Bấy lâu tôi vẫn nghe đồn Phi Giao hoàng hậu lộng quyền chuyên chính, ngày nay được tin, thật quả nhiên. Toàn gia họ Hùng đều bị giam cấm, may có thái hậu hết sức hộ trì, cho nên đã được an toàn, cũng không phải lo ngại. Ngày nay quốc sự biến thiên, thượng hoàng bỏ đi, thái hậu bị bệnh, việc nước như thế thì còn nghĩ chi đến việc nhà.
Tôi nghe nói thế tử Cao Ly về dòng tiền vương bị nữ chủ cho uống sinh bán hạ, đến nỗi câm không nói được, lại bắt đem giam cấm ở trong cung. Ta nên bảo tên lão nội giám ở dấy dùng lục đậu thang hàng ngày cho uống thì tự khắc dần dần sẽ khỏi được bệnh câm. Khi thế tử khỏi bệnh câm, bấy giờ các quan văn võ triều thần sẽ họp nhau tôn lên làm vua. Còn ngôi thế tử con nữ chủ kia tức là một vị công chúa cải dạng nam trang vậy. Thế tử đã làm vua thì hai ta tất được về nước. Việc này ta nên cẩn thận lắm mới được, kẻo đến tai nữ chủ thì tất có tai vạ về sau.
Nội giám Trương Thuận vốn người Bắc Kinh, theo Nam Kim nữ chủ sang đây, người ấy có thể tin cậy được. Nhờ hắn giao thông tin tức thì ra vào sẽ không trở ngại gì. Nếu có việc gì cần quân sĩ thì năm trăm quân theo ta sang đây, bấy lâu vẫn luyện tập chuyên cần, có thể giúp việc được. Đại trượng phu trong khi nguy cấp, nên phải bày mưu lập kế, chẳng lẽ cứ bó tay ngồi chịu chết oan hay sao. Nói thế là hết, quốc cữu nên lượng xét.”


Hùng Khởi Phượng xem xong, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng rồi dậm chân đạp bàn tỏ ý tức giận. Vương Trung kinh sợ liền nói:
- Dám bẩm quốc cữu! Hai bên gần đây, đều có người túc trực, nếu chúng nghe tiếng thì hà chẳng nguy lắm thay!
Tô Thành nói:
- Không sợ!Tôi đã đốt mười nén muội hương thì có lẽ đến sáng mai chúng mới tỉnh được.
Hùng Khởi Phượng thở dài mà bảo Vương Trung rằng:
- Ai ngờ một lòng tận trung với nước, lại thành ra di lụy đến nhà. Thôi, việc ấy chẳng nói làm chi, bây giờ nhà ngươi thử dùng lục đậu thang mà hàng ngày cho thế tử uống. Nhà ngươi nên cẩn thận lắm mới được.
Vương Trung lạy tạ lui ra. Hùng Khởi Phượng lại hỏi đến những tình hình mặt ngoài; Tô Thành đều kể lể mọi việc. Tô Thành nói:
- Doãn tướng công tu bổ quốc sử, các quan hàn lâm nước Cao Ly này đều phái kính phục, ai cũng gọi tướng công là một vị thiên thần. Các quân sĩ theo sang đây, tướng công lại hàng ngày gia công luyện tập một người có thể địch nổi được nghìn người. Tướg công vẫn muốn khởi sự đã lâu, chỉ ngại về nổi quốc cữu ở trong cung, không có ai ủng hộ, luống sợ trong cung bối rối, khó lòng mà giữ khỏi “Ngọc đá đều chảy”.
Hùng Khởi Phượng thở dài:
- Hà tất phải như thế! Người ta sống chết chẳng qua đều bởi ở mệnh trời. Nay ta viết một bức thư, nhà ngươi mau mau đem ra đệ trình tướng công. Độ này có lẽ nữ chủ chỉ căm tức ta mà chết mất thôi!
Nói xong, liền lấy mảnh giảu viết thư giao cho Tô Thành. Lại dặn Tô Thành rằng:
- Nhà ngươi phải cẩn thận, ra nói với tướng công hễ có sự bí mật gì cứ bàn với Thuận Thiên vương cũng được, không phải lo ngại, vì hắn là một người trung nghĩa thành thực ở nước Cao Ly này đó. Lại xin tướng công nên giữ gìn thân thể, để tận trung báo quốc, chớ nghĩ đến ta làm chi.
Tô Thành lạy tạ lui ra. Bấy giờ đã sang đầu canh năm, Hùng Khởi Phượng đứng dậy đi ra mở cửa, trong lòng ngẫm nghĩ luống những âu sầu, nhớ thương cha mẹ. Hùng Khởi Phượng lại lẩm nhẩm nói một mình rằng:
- Biết bao giờ cho ta thoát khỏi cảnh dầu sôi lửa bỏng này! Hạng Nam Kim kia! Ta cùng mày có thù oán gì nhau, sao mày lại hãm hại ta thế này. Ta nghĩ bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu, dẫu chết bây giờ cũng thật là một sự ám muội. Trời ơi! Cha mẹ anh em không được gặp mặt, vợ con sinh sản cũng chẳng biết ra thế nào! Nhà ta, ta còn không cứu giúp đ, công đâu mà cứu giúp ai!
Hùng Khởi Phượng nghĩ quanh nghĩ quẩn, càng nghĩ càng căm tức Nam Kim nữ chủ mà rằng:
- Hạng Nam Kim kia! Mày làm hại ta đến thế này là cùng! Chẳng hay Hoàng Phủ Tương vương thủơ xưa cớ sao lại đem Hạng Nam Kim mà gả cho Bách Hoa vương làm gì, để di hại cho Cao Ly và sỉ nhục lây cả Trung Quốc. Thế mới biết cái thân vưu vật, ít người giữ được lòng trinh, nhưng ta lại lạ thay cho nàng Hạng Hoa Tu trong ngọc trắng ngà, há không phải là bậc nghiêng thành nghiêng nước, mà lòng son dạ sắt, dẫu tấm thân chìm nổi, cũng chẳng chút đổi dời.
Hùng Khởi Phượng còn đang một mình ngẫm nghĩ thì bỗng nghe mặt ngoài có tiếng người lao nhao gọi dậy mà rằng:
- Chết chửa! Trời sáng lắm rồi! mau mau dậy ngay, kẻo lỡ khi nữ chủ tới đây thăm Hùng quốc cữu thì chúng ta tất bị trọng phạt!
Bấy giờ mọi người mới kinh hoảng mà cùng nhau dậy. Một tên nội giám chạy vào bẩm với Hùng Khởi Phượng rằng:
- Dám bẩm quốc cữu! Nữ chủ tôi long thể khiếm an, thế tử còn phải trông nom thuốc thang, vậy hãy tạm xin quốc cữu cho nghỉ học.
Lại nói chuyện Nam Kim nữ chủ ở trong cung suốt ngày cứ li bì, ăn chẳng biết ngon, ngủ không yên giấc, có lúc thì nức nở khóc, có lúc thì khúc khít cười, cũng nhiều lúc thì hầm hầm nổi giận, dáng đập bọn cung nữ cùng các nội giám, có người đến thiệt mạng. Nam Kim nữ chủ bệnh nằm một chỗ, ngày giờ thấm thoát, bỗng chốc đã ba năm trời. Bao nhiêu việc trị trong triều, chẳng xem xét đến một tí gì cả. Nam Kim nữ chủ biết Khắc Lâm có ý muốn phản nghịch mới không tin dùng như trước, giao hết quyền chính cho Thuận Thiên vương. Vì thế Khắc Lâm lại đem lòng oán giận, mỗi khi vào cung vẫn mỉa mai cười cợt, ví Nam Kim nữ chủ cũng như nàng Hạ Cơ thuở xưa. Nam Kim nữ chủ rất lấy làm hổ thẹn, không biết nói thế nào. Muốn trị tội Khắc Lâm thì không trị nổi, mà cứ để cho hắn mỗi ngày một cương hoạch thì cũng khó lòng mà giữ trọn được ngôi trời. Nam Kim nữ chủ đã truyền đem năm trăm cấm binh vào canh thủ các cửa cung, nhưng ngặt vì ốm đau nằm một chỗ thì kỷ luật không được nghiêm minh, kẻ ra người vào chẳng ai tra xét cho kỹ lắm.
Nội giám Trương Thuận báo cho Doãn Thượng Khanh tướng công biết là thế tử ở trong cung đã khỏi câm rồi. Hùng Khởi Phượng cũng viết thư gửi ra bảo Doãn Thượng Khanh tướng công khởi sự. Khắc Lâm từ khi đi đánh giặc Đông di thắng trận rở về, Nam Kim nữ chủ thăng làm tướng quốc. Dẫu rằng thăng chức nhưng kỳ thực giảm mất binh quyền. Khắc Lâm cậy mình là người tài cao sức mạnh, vẫn chắc rằng nữ chủ ốm nặng thì tất phải truyền ngôi cho mình. Bởi vậy hàng ngày chỉ đam mê tửu sắc, hoặc lại bàn đến chuyện làm vua. Khắc Lâm thường định phong chức cho các bà vợ, hễ khi làm vua thì bà này làm hoàng hậu, người nọ làm tả phi, người kia làm hữu phi v.v... Khắc Lâm cười mà bảo rằng:
- Nam Kim nữ chủ thật là già mà vô sỉ! Các người dây ví như sen ngó đào tơ, ta còn không thiết, khi nào lại đam mêe đến đứa dâm phụ kia. Nếu ta không sợ chút thế tử con dòng tiền vương thì ta còn dùng cái con gái già ấy làm chi, chỉ nó một lưỡi gươm là xong việc. Ngặt vì còn ngôi thế tử ở trong cung, khi ta khởi sự tất thần dân không phục. Bởi vậy ta phải nhờ đến uy lệnh của con gái già ấy, khiến cho trong ngoài không ai dám nói câu gì.
Khắc Lâm hàng ngày bàn tính với vợ con như thế, vẫn đem câu chuyện ấy làm một trò cười. Bỗng nghe Thuận Thiên vương đem binh vào canh giữ các cửa cung, Khắc Lâm càng lấy làm căm tức vô cùng, mỗi khi ra chốn triều đường, lại hết lời sỉ mạ Nam Kim nữ chủ là một đứa dâm đãng. Nam Kim nữ chủ nghĩ càng uất giận, bệnh ngày một gia tăng. Lúc thì tay chân lạnh giá như đồng, lúc thì khắp mình nóng bừng như lửa. Trước còn gượng dậy đi lại được, về sau chỉ đành nằm liệt một nơi. Nam Kim nữ chủ ngày đêm mê mẩn, trông thấy những ma cùng quỷ mà phần nhiều là những oan hồn do chính tay mình đã giết hại chúng khi xưa. Nào các cung phi cùng các nội giám và các quan văn võ triều thần bị Nam Kim nữ chủ giết oan khi xưa, bấy giờ đều xõa tóc bù đầu, xúm xít lại mà bắt phải đền mạng. Nam Kim nữ chủ biết mình chẳng sống được bao lâu nữa, mới triệu Thuận Thiên vương vào cung mà bảo rằng:
- Đại vương ơi! Tôi cho đại vương đem cấm binh vào hộ vệ hoàng thành, chỉ vì sợ Khắc Lâm cậy thế làm càn đó. Hễ tôi đây hồn về chín suối thì tất hắn thừa cơ khởi sự, chiếm đoạt ngôi trời. Vậy việc này tôi trông cậy ở đại vương đó, đại vương nên lập kế giết Khắc Lâm rồi phù tiểu thế tử lên ngôi đại bảo.
Nói xong, truyền gọi tiểu thế tử đến để lạy chào thúc phụ là Thuận Thiên vương. Tiểu thế tử vâng mệnh, đến trước mặt Thuận Thiên vương cúi đầu sụp lạy. Thuận Thiên vương ngẫm nghĩ hồi lâu rồi thở dài mà tâu rằng:
- Muôn tâu lệnh bà! Lệnh bà đã truyền dụ, khi nào kẻ hạ thần lại dám không tuân. Ngặt vì Khắc Lâm đã yết thị để bá cáo cùng thần dân trong nước rằng tiểu thế tử đây đích thị là con gái. Ngay ngôi thế tử dòng tiền vương còn đó, cớ sao phế nam lập nữ cho được! Việc này trong ngoài ai cũng biết cả, vậy lệnh bà bảo kẻ hạ thần biết nói thế nào Muôn tâu lệnh bà! Chẳng hay khi trước lệnh bà nghĩ thế nào mà lại dùng thứ thuốc độc làm cho thế tử về dòng tiền vương kia đã mắc phải bệnh câm. Lệnh bà tự quyền tạm ngôi trời thì còn không ai dám nói, chứ bây giờ định lập công chúa lên làm vua mà nói dối là hoàng nam thì khó lòng ngăn cấm được miệng người. Việc này kẻ hạ thần không dám vâng mệnh, xin lệnh bà nghĩ kế khác.
Thuận Thiên vương nói chưa dứt lời thì bỗng nghe Nam Kim nữ chủ kêu to một tiếng, rồi đàm ở cổ kéo lên, mồ hôi toát ra đầm đìa. Bấy giờ Nam Kim nữ chủ người gầy như que củi, nét mặt tái mét, chẳng còn hột máu nào. Thuận Thiên vương thấy bệnh nguy đến nơi, liền truyền bảo mọi người chung quanh rằng:
- Các ngươi nên phải cẩn mật, cấm không được tuyên tiết cho bên ngoài biết.Thuận Thiên vương nói:
- Tôi vốn tính thô thiển, có nhiều điều không nghĩ tới, vậy xin nhờ quốc cữu bày mưu giúp; bây giờ lấy cớ gì mà đem chém Khắc Lâm cho được.
Hùng Khởi Phượng thấy Thuận Thiên vương báo tin Nam Kim nữ chủ chết, liền tươi cười mừng rỡ mà hỏi:
- Nữ chủ chết thật rồi à?
Thuận Thiên vương nói:
- Chính mắt tôi đã trông thấy vừa rồi, khi nào lại còn không thật! Bây giờ tôi đã truyền khóa chặt các cửa cung.
Hùng Khởi Phượng mừng lắm, lại nói:
- Nếu nữ chủ chết rồi thì thật là hạnh phúc cho tiền vương, hạnh phúc cho Cao Ly và cũng là hạnh phúc cho đại vương vậy. vậy. Nay đại vương truyền lệnh cho các cung phi và các vương tử vào làm lễ khâm liệm, lại tuyên ngôn trả ngôi vua lại cho thế tử cũ về dòng tiền vương. Như thế thì danh chính ngôn thuận, Khắc Lâm không theo thì ta có thể bắt đem chính pháp được. Nếu đại vương sợ hắn sinh biến thì nên sai người báo tin với Doãn tướng công đem quân bản bộ đến hộ cưú. Còn đại vương cùng tôi đem cấm binh phù tá thế tử lên ngôi đại bảo, chắc rằng các quan triều thần không ai dám nói câu gì. Đó là kế vạn toàn, đại vương nên đi ngay mới được.
Thuận Thiên vương nghe nói, lẩm nhẩm gật đầu mà rằng:
- Quốc cữu thật là một bậc kỳ tài, không kém gì Trần Bình thuở xưa vậy.
Thuận Thiên vương nói xong, tức khắc đứng dậy đi ngay. Hùng Khởi Phượng vội vàng đi viết một bức thư thuật rõ việc Nam Kim nữ chủ đã tạ thế rồi, tướng công nên mau mau đem quân giúp thế tử lên ngôi đại bảo. Hễ trừ được Khắc Lâm thì trong bọn các quan triều thần không ai còn dám nói gì nữa.
Hùng Khởi Phượng viết thư xong thì vừa gặp có nội giám Trương Thuận mà bảo rằng:
- May sao nhà ngươi vừa vào tới đây! Ta có bức thư này nhờ nhà ngươi đưa ra cho Doãn tướng công, nhà ngươi nên đi mau!
Nội giámTrương Thuận nói:
- Dám bẩm quốc cữu! Tô Thành ngày nào cũng đến nhà tôi hỏi tin quốc cữu,, tôi đã nói cho biêt là quốc cữu vẫn được an hảo, nữ chủ bệnh nặng, thế tử đã khỏi câm. Tô Thành mừng rỡ bội phần, liền đi báo để cho Doãn tướng công biết. Nay quốc cữu lại muốn nói có việc chi cần gấp, già này xin tức khắc đi ngay.
Nói xong, cầm lấy phong thư, tức khắc đi ra nhà công quán, đệ trình Doãn Thượng Khanh tướng công. Doãn Thượng Khanh tướng công xem thư, mừng rỡ xiết bao, liền bảo Trương Thuận ở đấy để dẫn đường. Doãn Thượng Khanh tướng công truyền gọi Trương Long Triệu Hổ vào, trao bức thư Hùng Khởi Phượng cho xem, rồi dặn đến đầu canh năm thì đem quân tiến vào triều đường để phù tá thế tử lên ngôi đại bảo. Doãn Thượng Khanh lại nói:
- Chúng ta nhờ việc này, may ra mới được sinh toàn vậy phải nên cố hết sức!
Trương Long và Triệu Hổ nghe nói, mừng rỡ bội phần, tức khắc đội mũ trụ và mặc áo giáp, và họp các quân để khởi sự. Người Cao Ly vẫn nghe tiếng quân Nguyên cường tráng, bỗng thấy khởi sự, ai nấy đều khiếp đảm kinh hồn. Bấy giờ Thuận Thiên vương ra chốn triều đường, tuyên chiếu cho các quan văn võ triều thần nghe. Các quan triều thần đều cúi mặt nín lặng, không ai dám nói gì cả. Chỉ có Khắc Lâm hầm hầm nổi giận, mà rằng:
- Nhà ngươi chớ nói càn! Nhà ngươi định nói ai, chứ nói dối ta sao được! Người đã có bệnh câm, khi nào lại còn biết nói, lục đậu thang há phải là một vị thuốc thần! Quả nhiên Thuận Thiên vương bịa chuyện nói càn, để muốn thừa cơ đem lòng phản nghịch. Nếu bảo ngôi thế tử là gái giả trai sao không đem ra chốn triều đường để khám nghiệm, còn như bảo ngôi thế tử trước nay đã nói được thì phỏng có ai nghe lọt vào tai!
Nói xong, tức khắc quay mình lui ra. Khi ra đến cửa ngoài thì vừa gặp Doãn Thượng Khanh tướng công. Khắc Lâm đã toan lánh mặt, nhưng bấy giờ không thể lánh vào đâu cho được. Doãn Thượng Khanh tướng công trông thấy liền quát to lên mà bảo các tướng rằng:
- Các tướng đâu! Chớ để cho đứa gian nhân tẩu thoát.
Trương Long và Triệu Hổ vâng mệnh, tuốt gươm ra mà cùng chém Khắc Lâm. Doãn Thượng Khanh tướng công truyền cắt lấy thủ cấp Khắc Lâm đem ra chốn triều đường, các quan văn võ triều thần trông thấy đều sợ run cầm cập. Doãn Thượng Khanh tướng công nói với các quan văn võ triều thần rằng:
- Thủ cấp Khắc Lâm đây rồi! Nếu ai còn dám nói ngang thì sẽ trông vào lưỡi gươm sắt này.
Các quan triều thần đều vâng vâng dạ dạ xin tuân lệnh, Doãn Thượng Khanh tướng công ngẩng người trông thấy Hùng Khởi Phượng và Thuận Thiên vương đang nửa mừng nửa thương, chưa biết nói sao cho xiết! Bỗng nghe ở mặt cửa ngoài có tiếng người huyên náo, Trương Long và Triệu Hổ quì xuống bẩm rằng:
- Dám bẩm tướng công và quốc cữu! Có người em Khắc Lâm tên gọi là Ma Y, nay đem cấm binh đến đánh báo thù.
Doãn Thượng Khanh tướng công cười nhạt mà bảo rằng:
- Làm chi lũ chuột nhắt ấy! Hai vị tướng quân nên mau mau dẹp ngay đi, chớ chậm trễ.
Trương Long và Triệu Hổ vâng mệnh ra đánh Ma Y, còn ở trong triều thì đang trần thiết các đồ nghi vệ để thỉnh tân quân lên ngôi đại bảo.

về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
hồi thứ mười lăm c

Lại nói chuyện Trương Long và Triệu Hổ phụng mệnh đem quân đi đánh, trông thấy Ma Y dữ dội lạ thường, mặt đen như cái chảo, hai mắt to như quả nhạc đồng. Ma Y quát to lên mà rằng:
- Đứa nam man kia! Sao mày dám giết anh ta! Mối thù này không thể đội trời chung được!
Nói xong, liền giơ hai lưỡi đao xông thẳng đến đánh. Trương Long và Triệu Hổ vội vàng cùng xúm lại đỡ. Hai bên giao chiến hồi lâu mà chưa phân được thua. Ma Y ham đánh, bỗng kêu to một tiếng, rồi ngã xuống đất, máu ở trong cổ họng đã chảy ra đầm đầm. Bấy giờ Ma Y quân như hổ không đầu, bỏ chạy tán loạn. Trương Long và Triệu Hổ bội phần hăng hái, đang thúc quân đuổi theo bỗng thấy nội giám Tô Thành tay cầm thanh kiếm giơ cao lên gọi mà bảo rằng:
- Hai vị tướng quân ơi! Doãn tướng công và Hùng quốc cữu truyền lệnh gọi hai tướng quân trở về, vì Ma Y đã chết rồi, không cần đuổi theo đánh những dư đảng.
Trương Long và Triệu Hổ liền quát to lên mà rằng:
- Đáng lẽ ta định đuổi theo mà giết cho hết bọn phản nghịch chúng vay, nhưng tướng công và quốc cữu ta đã mở lòng hiếu sinh mà truyền gọi ta về thì âu là ta cũng sinh phúc cho các ngươi vậy.
Nói xong, rút quân trở về. Khi về tới nơi, Trương Long Triệu Hổ nộp thủ cấp Ma Y, thế tử Cao Ly cúi đầu cảm tạ. Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng đều có ý vui mừng. Thuận Thiên vương nói:
- Hai tướng quân đã hết sức khó nhọc, nhưng Ma Y cũng là tay vũ dũng, nếu không nhờ mũi tên thần tiễn của quốc cữu bắn trúng thì vị tất đã được chóng thành công.
Bấy giờ Trương Long và Triệu Hổ mới biết là Hùng Khởi Phượng bắn chết. Thuận Thiên vương nói với Doãn Thượng Khanh tướng công rằng:
- Bây giờ trời gần sáng tỏ, triều nghi đã trần thiết sẳn sàng. Xin tướng công cho hai vị tướng quân hãy đóng quân tại ngoài Ngọ Môn, đợi khi tân quân làm lễ tức vị rồi, bấy giờ sẽ rút về công quán.
Doãn Thượng Khanh tướng công vâng lời, rồi đứng dậy cáo từ, cùng Hùng Khởi Phượng về nơi công quán trước. Các gia tướng trông Hùng Khởi Phượng, ai nấy đều hoa tay múa chân, mừng rỡ kể sao cho xiết. Doãn Thượng Khanh tướng công kể lể những công việc trong khi khởi sự cho mọi người nghe. Gia tướng nhà họ Hùng là Chu Thống bấy giờ cũng chạy ra cúi đầu lạy chào Hùng Khởi Phượng. Chu Thống nói:
- Dám bẩm quốc cữu! Chẳng bao lâu nữa quốc cữu sẽ được về triều, nhưng sau khi về triều vị tất đã được ân xá.
Chu Thống nói xong, lại nức nở khóc hoài. Hùng Khởi Phượng cũng gạt nước mắt mà bảo rằng:
- Chu Thống ơi! Bây giờ ta chỉ tiếc rằng không thể chắp cánh mà bay trở về nước nhà cho được, còn sự sống chết, ta chẳng nghĩ chi đến. Vậy tình hình nhà họ Hùng ta bị giam cấm những thế nào, nhà ngươi nên nói cho ta biết.
Chu Thống liền kể lể sự tình từ đầu đến cuối. Vừa kể lại vừa khóc, Hùng Khởi Phượng động lòng thương xót, hai hàng nước mắt cũng chảy xuống ròng ròng. Doãn Thượng Khanh tướng công khuyên giải mà rằng:
- Hùng quốc cữu ơi! Quốc cữu chớ nên thương khóc, trời nào phụ kẻ hiếu trung! Vả ta đã từng “cửu tử nhất sinh” mới còn được đến ngày nay, ta cần phải giữ ngọc gìn vàng, chớ nên thương khóc làm chi vô ích. Âu là hãy đợi khi về nước, bấy giờ ta sẽ liệu kế thi hành.
Hùng Khởi Phượng gạt nước mắt mà thưa rằng:
- Tướng công đã dạy như thế, tôi xin vâng mệnh!
Bấy giờ trong nhà công quán đã thấy bày một tiệc rượu rất long trọng. Có hai vị Phiên quan vào bẩm với Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng rằng:
- Dám bẩm tướng công cùng quốc cữu! Tôi vẫn định hôm nay thân hành ra đây để hầu rượu hai ngài, ngặt vì việc nước còn bề bộn chưa yên, vậy để sau khi ba ngày xin đến bái tạ.
Doãn Thượng Khanh tướng công nói:
-Quốc vương nhà ngươi cư xử như thế quá ư là thủ lễ. Nhưng ta thiết tưởng quốc vương nhà ngươi nên mau mau cho chúng ta về nước là hơn.
Quan Phiên bẩm xong, chắp tay đứng ra hai bên. Bỗng thấy có một bọn mười hai Phiên nữ, mình liễu gót sen, rón rén bước vào cúi đầu lạy mà bẩm rằng:
- Dám bẩm tướng công và quốc cữu! Chúng tôi xin kính chúc hai chữ “Kim an”.
Doãn Thượng Khanh tướng công cười mà bảo Phiên quan rằng:
- Tân quân mới lên ngôi, nên lấy việc nữ sắc làm răn mới phải. Huống chi ta cùng Hùng quốc cữu đây vốn không phải người ham mê nữ sắc, hà tất dùng đến bọn nữ nhạc ấy làm chi. Âu là nhà ngươi bảo bọn nữ nhạc lui ra, để chúng ta ngồi uống rượu nói chuyện cùng nhau cho được tĩnh mịch.
Phiên quan vâng mệnh bảo bọn nữ nhạc lui ra. Trong khi Doãn Thượng Khanh và Hùng Khởi Phượng uống rượu thì Phiên quan phi ngựa đem các món ăn ở trong ngự trù đến. Cách ba hôm sau, Trương Long và Triệu Hổ rút năm trăm quân về đóng tại nơi công quán, ai nấy đều hớn hở vui cười, mừng rằng sắp có cơ về nước.
Hai tướng quân vào bẩm với Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng rằng:
- Dám bẩm tướng quân và quốc cữu! Cao Ly quốc vương cũng sắp thân hành ra đây để bái yết hai ngài!
Nói chưa dứt lời thì bỗng thấy có long giá đến, các quan thị vệ xúm xít chung quanh, Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng vội vàng đứng dậy chạy ra nghênh tiếp. Cao Ly quốc vương sụp lạy mà thưa rằng:
- Doãn tướng công ơi! Hùng quốc cữu ơi! Hai ngài đã chữa khỏi bệnh câm của tôi, lại giúp cho tôi khôi phục được quốc tộ, tôi xin cúi đầu lạy tạ.
Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng xúm lại đỡ Cao Ly quốc vương mà nói rằng:
- Quốc vương dạy quá lời. Việc cứu tai tuyết nạn là bổn phận của chúng tôi. Chúng tôi đã phụng mệnh thiên triều sang tới đây, tất phải như thế. Ngày nay quốc vương mới lên ngôi đại bảo, chúng tôi thiết tưởng chớ nên khinh thường ra ngoài.
Nói xong, mời Cao Ly quốc vương ngồi, dùng lễ “Tân chủ” mà tương kiến. Doãn Thượng Khanh tướng công trông thấy quốc vương tướng mạo khôi ngô, mắt sáng mi dài, khổ mặt tròn trặn, biết là không phải người thường vậy, Doãn Thượng Khanh tướng công hỏi đến việc trong nước, Cao Ly quốc vương ứng đối được rất tinh tường. Cao Ly quốc vương lại nói:
- Ngày nay công việc trong triều mới gọi là tạm yên, tôi đã ủy thác cho Thuận Thiên vương tất cả. Tôi muốn mời hai ngài vào trong cung ở, để khiến tôi được hầu hạ sớm khuya.
Doãn Thượng Khanh tướng công đáp rằng:
- Xin đa tạ lòng tử tế của quốc vương! Nhưng chúng tôi bây giờ đêm ngày chỉ mong được về nước, nếu quốc vương nghĩ đến công lạo nhỏ mọn của chúng tôi thì nên mau mau cho chúng tôi trở về.
Cao Ly quốc vương lại thở dài mà rằng:
- Hai vị ân nhân ơi! Ơn sâu của hai vị ân nhân đối với tôi thật khác nào như trời cao bể rộng vậy. Từ khi tiền vương tôi tạ thế rồi, tôi chịu bao nhiêu nỗi đắng cay, vẫn tưởng rằng thân này đành chịu chết già ở trong thâm cung còn bao giờ trông thấy ánh sáng mặt trời nữa, không ngờ lòng trời dung rủi , bỗng lại gặp gỡ hai vị ân nhân. Hai vị ân nhân đã hết sức vì tôi lập kế bày mưu, khiến tôi thu phục được quốc tộ, thiết tưởng sau này ngậm vành kết cỏ, cũng chưa đủ báo đền. Tôi vẫn định rước hai ngài vào ở trong cung, để cho tôi được phụng thờ một vài năm, nay hai ngài lại nói như thế này thì tôi càng nghĩ càng thêm đau lòng, thật khó ngăn cầm giọt lệ vậy.
Quốc vương Cao Ly nói xong, lại ứa nước mắt khóc. Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng nghe nói cũng động lòng thương xót, liền khuyên giải mà rằng:
- Quốc vương chớ nghĩ như thế! Công lao nhỏ mọn của chúng tôi sá chi mà đáng kể! Chúng tôi bỏ nước xa nhà bấy lâu, ngày nay tất thế nào cũng phải xin về. Quốc vương đã là một vị cát nhân, chắc sau này sẽ được hưởng hậu phúc. Chúng tôi không thể tuân mệnh quốc vương mà ở đây chậm trễ được, chỉ xin quốc vương từ đây đối với thiên triều, nên hàng năm cống hiến như thường, để giữ trọn hai chữ “Trung thành” vậy.
Nói chưa dứt lời thì có Thuận Thiên vương đến. Thuận Thiên vương cúi chào Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng rồi làm lễ triều kiến quốc vương. Hùng Khởi Phượng nói với Thuận Thiên vương rằng:
- Tôi có một điều này muốn ngỏ cùng quốc vương. Số là hai chúng tôi phụng mệnh thiên triều sang đây, thắm thoát trong bấy nhiêu năm mà chưa lập nên công trạng chi cả. Nếu quốc vương muốn cho chúng tôi vẻ vang đôi chút thì xin cắt đất ở Áp Lục Giang mà dâng nộp thiên triều.
Cao Ly quốc vương và Thuận Thiên vương lại đồng thanh mà đáp rằng:
- Ân sâu của hai vị ân nhân, dẫu dâng nộp sáu trăm dặm giang san này cũng không dám tiếc. Ngày nay hai ngài đang nóng lòng muốn về nước, nhưng chúng tôi thiết tưởng hãy tạm lưu lại trong một tháng không hề chi!
Bấy giờ các nội giám đã đem các món ngự thiện bày la liệt ở trong phòng ăn. Cao Ly mời Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng vào để cùng ngồi uống rượu. Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng đồng thanh mà thưa rằng:
- Có đâu chúng tôi dám như thế! Quốc vương ban ơn mà cho chúng tôi uống rượu, chúng tôi xin bái lĩnh, nhưng chỗ này không phải là chỗ quốc vương nên ngồi. Nếu quốc vương cùng ngồi uống rượu với chúng tôi thì có ngại cho sự quan chiêm vậy.
Thuận Thiên vương nói:
- Doãn tướng công ơi! Hùng quốc cữu ơi! Dao hai ngài lại nói như thế! Nếu quốc vương chúng tôi không được hai ngài giúp chẳng lẽ thì bây giờ hiện còn đang câm và đang bị giam cấm ở trên lầu. Khắc Lâm cậy thế làm càn thì chẳng những tính mệnh khôn toàn, mà dòng dõi tiền vương tôi cũng sẽ trông thấy sự diệt vong vậy. Hai ngài đã không chịu vào ở trong cung thì quốc vương tôi thân hành ra đây để mời rượu hai ngài là phải.
Bấy giờ Cao Ly quốc vương, Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng cùng ngồi uống rượu. Thuận Thiên vương cũng được ngồi hầu. Cao Ly đứng dậy rót rượu mời Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng. Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng hai ba lần từ chối, bấy giờ mới thôi. Thuận Thiên vương nói:
- Hùng quốc cữu thảo giúp tờ chiếu thư để bá cáo cùng thần dân trong nước, hết thảy mọi người, ai nghe cũng phải giọt lệ chứa chan. Tờ chiếu thư ấy lời lẽ nghiêm minh, có phần lại hơn Lạc Tân vương thuở trước. Ngày nay nhờ quốc cữu thảo giúp cho một tờ chiếu thư nữa, để bá cáo cùng các nước phụ cận, khiến chúng một lòng qui thuận thì quốc vương tôi mới khỏi lo phiền.
Hùng Khởi Phượng nói:
- Có khó gì việc ấy, để tôi xin thảo ngay.
Khi uống rượu xong, các nội giám đem văn phòng tứ bảo đến trước mặt Hùng Khởi Phượng, Hùng Khởi Phượng tay cầm quản bút thảo tờ chiếu thư. Chén trà pha ở trước mặt vẫn còn chưa nguội, mà một tờ chiếu thư dài hiện đã thảo xong. Thuận Thiên vương thấy vậy cũng phải tấm tắc khen ngợi là một bậc thiên tài. Cao Ly quốc vương lạy tạ rồi cáo từ về cung.
Lần lần thỏ lặn ác tà, lại gần được một tháng. Doãn Thượng Khanh tướng công lại giục giã để định ngày khởi hành. Cao Ly quốc vương truyền đặt tiệc ở Ngân Loan điện để tiễn biệt. Trong khi ngự tiệc, Hùng Khởi Phượng nói với Cao Ly quốc vương rằng:
- Quốc vương ơi! Nam Kim nữ chủ trước có tội lỗi nhưng bao giờ cũng là quốc mẫu của quốc vương, quốc vương cũng nên theo lệ gia phong, để khỏi phụ tấm lòng tiền vương nhường ngôi cho em thuở trước. Còn vị công chúa con Nam Kim nữ chủ kia, đức tính hiền thục, tôi thiết tưởng cũng nên sách lập làm chánh cung. Thuận Thiên vương là một bậc trung trực đại thần, nước yên hay không, quan hệ ở người ấy, quốc vương chớ nên khinh phụ. Hai viên nội giám Vương Trung và Trương Thuận. Vương Trung kia có công hộ vệ, quốc vương nên phải hậu đãi; còn Trương Thuận có lòng nhớ quê cha đất tổ, quốc vương nên rộng ơn mà cho về. Trong bộ quốc sử Cao Ly sau này, chớ liệt tên tôi, vì việc tu bổ ấy nhờ tay quan Doãn tướng công, chứ tôi đây ngồi không ăn hại trong bấy nhiêu năm, nào có công gì với quốc sử. Muôn dặm xa xôi, mấy lời tặng biệt, xin quốc vương xét tình cho.
Cao Ly vâng dạ xin tuân mệnh,. Khi uống rượu xong, Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng đứng dậy cáo từ ra đi. Cao Ly tủm tỉm cười mà thưa rằng:
- Hai vị ân nhân ơi! Để tôi xin nói một lời. Ơn sâu của hai ngài, tôi không biết láy chi mà đền đáp. Ngày nay dẫu tôi muốn lưu hai ngài ở lại, chắc cũng không thể nào được. Tôi sở dĩ cố giữ hai ngài tạm lưu lại trong một tháng là vì tôi có làm cái sinh từ (đền thờ sống) để thờ hai ngài, cứ ngày sóc ngày vọng thì sẽ ra đấy bái yết. Nay sinh từ đã hoàn thành, mời hai ngài quá bộ giám lâm một chút, gọi là chứng giám lòng thành kính của chúng tôi.
Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng tỏ ý khiêm tốn mà rằng:
- Quốc vương đối đãi với chúng tôi như thế thì thật là quá hậu!
Bấy giờ xa giá sắp sẵn cả ở trước điện đình, Cao Ly mời Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng lên xe, rồi thân hành bước ra đẩy xe cho hai người đi. Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng hai ba lần từ chối mãi, Cao Ly mới chịu thôi. Bấy giờ Doãn Thượng Khanh tướng công đi xe trước, thứ hai đến xe Hùng Khởi Phượng, rồi mới đến xe Cao Ly quốc vương. Các quan văn võ triều thần thì lũ lượt theo sau, cứ thẳng đường đến nơi sinh từ là đền thờ sống của Doãn Thượng Khanh và Hùng Khởi Phượng. Nơi sinh từ ấy làm theo kiểu cung điện nhà vua, trông rất tráng lệ, ngoài cửa có treo một bức biển hoành thiếp vàng, trên đề bốn chữ “Báo đức thù ân” nét buú thật là kỳ dật.Doãn Thượng Khanh tướng công cùng Hùng Khởi Phượng bước vào trông thấy bàn thờ hương lửa tử tế, lại có tạc hai pho tượng dung y tướng mạo giống mình như đúc. Hai pho tượng ấy ngồi trên ngai rồng, hốt bạc đi vàng, trông như hai vị vương giả, tôn nghiêm rực rỡ. Nói tóm lại thì tạo thành một nơi sinh từ ấy tốn phí không biết mấy mươi vạn mà kể cho cùng. Doãn Thượng Khanh tướng công cười mà bảo rằng:
- Trời ơi! Diện mạo của kẻ hi sinh này không đáng lưu truyền hậu thế. Quốc vương đã tốn phí bao nhiêu tiền của, mà tạc hai pho tượng này làm trò cười cho thế gian. Ngày nay quốc vương nên cho phá cái sinh từ này đi thì hai chúng tôi mới khỏi áy náy.
Hùng Khởi Phượng cũng nói:
- Xin quốc vương cho phá đi là hơn!
Bấy giờ mặt ngoài đã sắp sẵn đồ nghi tiết để tiễn đưa Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng về nước. Cao Ly quốc vương đệ trình một quyển biên các đồ cống lễ. Lại cùng các quan văn võ triều thần tiễn đưa mãi ra đến ngoài thành. Cao Ly quốc vương vừa khóc vừa nói:
- Bây giờ tôi không biết nói thế nào cho được! Chỉ xin kính chúc hai ngài thượng lộ bình an vạn phúc vậy.
Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng cũng gạt nước mắt mà rằng:
- Nhân dân khổ về binh đao đã lâu, từ nay quốc vương nên hết sức duy trì, khiến cho nhân dân được yên nghỉ.
Thuận Thiên vương lại tiễn ra ngoài mấy mươi dặm đường, bấy giờ mới trở về. Các tướng sĩ Cao Ly thì đi hộ tống cho đến hết địa giới. Cao Ly quốc vương lại cắt đất ở bên Áp Lục giang dâng nộp Nguyên triều. Khi đi tới nơi, địa phương quan ở đấy lại nghênh tiếp Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng, rồi trao trả đồ bản. Doãn Thượng Khanh tướng công bảo Hùng Khởi Phượng rằng:
- Bây giờ ta nên cho Trương Long và Triệu Hổ đóng quân ở đây, chờ có thánh chỉ cho người đến thay, thì bấy giờ hãy về.
Hùng Khởi Phượng lẩm nhẩm gật đầu mà rằng:
- Tướng công nghĩ chí phải!
Bỗng thấy gia tướng chạy vào báo rằng:
- Dám bẩm tướng công và quốc cữu! Triều đình sai Hoàng Phủ đệ nhị quốc cữu đem năm nghìn quân tới đây nói là sang thăm tướng công và quốc cữu, nhưng định rằng hễ có sự bất trắc thì sẽ dùng quân ấy hỏi tội Cao Ly. Đại đội binh mã chẳng bao lâu nữa cũng sắp tới nơi vậy.
Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng đều mừng rỡ mà rằng:
- Nếu vậy thì may cho ta quá! Ta đang lo lắng không lấy quân đâu mà giữ nổi miền sông Áp Lục giang này, nay có năm nghìn quân tới đây thì còn lo ngại chi nữa.
Nói xong, truyền cho Trương Long và Triệu Hổ hãy tạm đóng quân tại đó, đợi khi có quân khác đến thay rồi sẽ về triều. Bấy giờ Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng cùng các gia tướng đi gấp ngày đêm qua sông Áp Lục giang về tới Đăng Châu. Khi tới Đăng Châu gặp Hoàng Phủ Triệu Phượng, Doãn Thượng Khanh tướng công và Hùng Khởi Phượng mừng rỡ bội phần. Ba người cùng nhau vào dinh quan tổng binh để nói chuyện. Triệu Phượng sụp lạy Doãn Thượng Khanh tướng công làm lễ bái yết cữu tổ, rồi sau lại vái chào Hùng Khởi Phượng làm lễ tương kiến. Các quan văn võ trong thành, ai cũng đều đến lại mừng. Khi các quan văn võ lui ra rồi, Doãn Thượng Khanh tướng công lại kể lể những nông nỗi biệt ly trong bấy nhiêu năm trời cho Triệu Phượng nghe. Hùng Khởi Phượng hỏi Triệu Phượng rằng:
- Hai thân tôi ở nhà sự thể thế nào? Xin quốc cữu thuật rõ cho tôi được biết.
Triệu Phượng thở dài mà rằng:
- Tai nạn trong bấy nhiêu năm trời, câu chuyện rất dài, bây giờ thuật lại làm sao cho xiết. Chỉ biết rằng người trung trực bao giờ cũng được trời giúp, ngày nay đã thoát vòng tai nạn, hiện đang làm thống soái chưởng quản binh quyền. Nói tóm lại thì câu chuyện rất dài ấy, thuật lại không xiết, đợi khi quốc cữu về nưóc, bấy giờ sẽ được biết một cách rõ ràng.
Hùng Khởi Phượng nghe nói, mới được yên lòng, không hỏi chi nữa. Quan tổng binh đệ trình hai tờ chiếu thư của thái hậu ban bố: Một tờ truất Phi Giao hoàng hậu và một tờ tìm thượng hoàng, mọi người xem thấy, ai cũng ứa nước mắt khóc. Doãn Thượng Khanh tướng công thở dài mà than rằng:
- Mạnh vương phi hạ thủ thảo mấy tờ chiếu thư này, trong lòng thật đã đau như cắt. Thế mới biết bốn chữ “Trung, hiếu, tiết, nghĩa”, nhà họ Hoàng Phủ chiếm mất tất cả, khiến cho già này luống những hổ thẹn trăm chiều. Mỗi khi nghĩ đến Lương tướng công già này càng thêm ngao ngán.
Doãn Thượng Khanh tướng công lại bảo Triệu Phượng rằng:
- Bây giờ ta cần phải sai quan đến trấn thủ những noi địa giới của Cao Ly mới dâng nộp.
Triệu Phượng nói:
- Trương Long và Triệu Hổ cùng năm trăm quân đi sang Cao Ly nay đã lâu ngày, tất phải có lòng nhớ nước, vậy ta nên tức khắc sai quan trấn thủ thay cho hai tướng về đây. Chúng ta tạm đóng tại Đăng Châu này, đợi khi hai tướng tới nơi sẽ cùng nhau trở về kinh điạ.
Nói xong, tức khắc thảo bản tâu sai người về trước phi báo triều đình.

Lại nói chuyện Hùng vương ở nhà, đang ngày đêm mong tin Hùng Khởi Phượng bỗng nghe báo có tờ văn thư đến cáo cấp. Trong tờ văn thư nói thành Kim Lăng hiểm trở không thể nào vây nổi. Vả Định Quốc tướng quân là tay vũ dũng, sức địch muôn người, bởi vậy quân ta đánh nhau mấy trận, đều bị thua cả, nay xin quan thống soái cử binh đến cứu, nếu không thì tất có sự nguy biến. Hùng vương xem tờ cáo cấp, hầm hầm nổi giận, tức khắc vào tâu vua Anh Tôn xin đem quân đi đáng. Vua Anh Tôn nghe lời tâu, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi phán:
- Quốc trượng ơi! Chẳng bao lâu nữa Doãn tướng công và Hùng quốc cữu về tới đây, bấy giờ cốt nhục sẽ được một nhà sum họp, vậy quốc trượng không cần phải đem quân đi đánh, để trẫm sai một viên đại tướng khác đi tiếp ứng, tất thế nào cũng được thành công.
- Hùng vương tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Thành Kim Lăng không phá được, tức là một tai họa đáng lo, còn như sự cốt nhục đoàn viên, kẻ hạ thần thiết tưởng cũng không cần chi việc ấy. Vả Định Quốc là tay vũ dũng, lại thêm thành bền quân mạnh, nếu không dùng trí khó lòng mà được thành công. Lưu Quí là kẻ thư sinh, Vệ Dũng Bưu cũng vốn tính nông nổi thì địch lại sao được. Muôn tâu bệ hạ! Xin bệ hạ cho kẻ hạ thần điểm lấy năm nghìn cấm binh để đi đánh Định Quốc. Chọn toàn những quân tinh dũng không cần phải đem nhiều, vì đem nhiều cũng vô ích.
Vua Anh Tôn chuẩn tấu. Hùng vương tức khắc ra chốn giáo trường, điểm lấy năm nghìn cấm binh, mỗi người đem theo quân lương trong ba tháng. Lại dùng quan đô đốc là Sĩ Quí làm tiên phong. Nguyên Sĩ Quí là gia tướng của Lưu Quí. Khi trước Lưu Quí sai Sĩ Quí tiến kinh, Hùng vương thấy là có tài vũ dũng, mới lưu ở cấm vệ để cung chức. Mấy anh em phò mã Triệu Câu cũng có lòng trọng đãi Sĩ Quí. Đến bấy giờ Hùng vương phụng mệnh đem quân đi đánh giặc, dùng Sĩ Quí làm tướng tiên phong đem năm nghìn quân đi trước. Hùng vương về phũ, dặn Vệ Dũng Nga vương phi rằng:
- Phu nhân ơi! Nay mai trưởng tử là Hùng Khởi Phượng về đây, dẫu tôi đi vắng, phu nhân cũng chớ lấy làm thương xót. Hễ nghe có tiếng tôi thua trận thì mau mau bảo trưởng tử đem quân đi đánh giải vây.
Hùng vương lại bảo Lương Cẩm Hà phu nhân rằng:
- Con dâu ta ơi! Nàng Hạng Ngọc Thanh nay đã quyết chí tu hành thì Hùng Khởi Phượng về tới đây con chớ nên nhắc đến hai chữ “nhân duyên” nữa. Cò tiểu công tử, con nên gia công rèn lập. Con không xem như Đông cung thái tử, dẫu còn ít tuổi mà tính khí đã nghiêm chính khác thường.
Vệ Dũng Nga vương phi nghe nói, gật đầu khen phải. Lương Cẩm Hà phu nhân lại dắt tiểu công tử ra để bái biệt Hùng vương. Trong khi Hùng vương uống rượu thì tiểu công tử chắp tay ngồi hầu một bên. Đầu canh năm hôm sau, Hùng vương dậy sớm để sửa soạn tiến binh. Ngoài cửa đã cờ mở trống rong và bắn ba tiếng đại pháo. Các quan văn võ triều thần đều phụng mệnh đi tiễn tống. Mấy anh em phò mã Triệu Câu cũng đi theo hai bên. Khi tiễn ra đến đình trường, phò mã Triệu Câu rót rượu mời Hùng vương, rồi lại ghé tai dặn thầm mấy câu. Hùng vương gật đầu, liền lên ngựa đi ngay. Hùng vương lại dặn bảo các tướng sĩ rằng:
- Cứu binh như cứu hỏa, không thể chậm trễ được, chúng ta nên ngày đêm đi gấp, để chóng tới nơi.
Nói xong, truyền cho quân sĩ cứ thẳng đường tiến sang Kim Lăng, đi qua các châu thành huyện lỵ cũng không nghỉ ngơi lại một ngày nào cả. Khi tới Kim Lăng, Lưu Quí đem các tướng ra bái yết Hùng vương và bẩm bạch những tình hình trong mấy trận cùng Định Quốc tướng quân giao chiến. Lưu Quí nói:
- Dám bẩm vương gia! Định Quốc thật là tay vũ dũng, một mình địch nổi muôn người. Chúng tôi sức mọn tài hèn, để đến nỗi giao chiến ba trận đều bị thua cả. Thời gian thấm thoát, trong bấy nhiêu ngày, tướng sĩ ở chốn chiến trường, xiết bao khổ sở. Nay nhờ có vương gia đến thì may mới trừ được Định Quốc vậy.
Hùng vương cười mà đáp rằng:
- Vị tất đã trừ được! Ta nay tuổi già sức yếu, về việc chiến trận, chắn chắc cũng kém xưa. Chỉ vì Định Quốc là đứa phản nghịch, dám công nhiên kháng cự với thiên tử trong bấy nhiêu ngày, mà ta đây chịu ơn triều đình, cơm nặng áo dầy đã lâu, vậy thế ta phải đem thân ra chốn chiến trường, để mong có cơ đền báo. Bây giờ hãy cho tướng sĩ nghỉ ngơi trong ba ngày nữa, rồi ta sẽ tiến đánh một trận xem ra làm sao!
Lưu Quí đặc tiệc ở trong quân để khoãn đãi các tướng sĩ. Cách ba hôm sau, Hùng vương truyền cho bản binh giữ trại, còn cấm binh thì ra trận để đánh giặc. Hùng vương đầu đội mũ trụ, mình mặc áo giáp, ngoài lại phủ một lần áo bào, lưng đeo đai ngọc, ánh sáng rực rỡ. Trước mặt có năm lá cờ đỏ phất phới gió bay. Hùng vương truyền bắn ba tiếng đại pháo, rồi chia quân làm hai hướng. Tả tiên phong và hữu tiên phong cũng đều mình mặc giáp vàng, tay cầm mũi bạc, thúc quân ra trận.
Khi hai bên giáp trận thì Định Quốc tướng quân ngang nhiên mà mắng rằng:
- Lưu Quí và Vệ Dũng Bưu kia! Hãy nghe ta nói mấy lời! Trong một tháng nay, các ngươi đã im hơi lặng tiếng, không dám cùng ta đối địch, cớ sao ngày nay lại bỗng liều thân quên chết, dám đem quân ra đây! Này này! Ta bảo cho mà biết, các ngươi nên mau mau về tâu với thiên tử, đem giang sơn mà chia đôi cho ta thì ta sẽ rút quân về, từ nay không quấy nhiễu nữa.
Định Quốc tướng quân nói xong, đang đắc chí mỉm cười thì bỗng nghe tiếng Hùng vương quát to lên mà rằng:
- Đứa phản nghịch kia! Chớ có cả gan nói càn! Ngày nay ta phụng mệnh triều đình đem quân tới đây để bắt sống nhà ngươi đưa về chính pháp cùng lão tặc (trỏ Đồ Man Hưng Phục) một thể.
Định Quốc tướng quân trông thấy Hùng vương giật mình kinh sợ, nhưng cũng gượng cười mà đáp rằng:
- Tôi cúi chào vương gia! Cứ như vương gia chỉ nên diễn tập võ nghệ ở chốn giáo đường là hơn, chứ dám đem quân tới đất này thì khen cho cũng cả gan thật .
Hùng vương nổi giận mà mắng rằng:
- Đứa phản nghịch kia, mày chớ khoe tài!
Nói xong, liền nghoảnh lại bảo tướng tiên phong là Sĩ Quí rằng:
- Nhà ngươi mau mau bắt đứa phản nghịch ấy!
Sĩ Quí vâng mệnh, phi ngựa tiến vào, giơ đao đánh Định Quốc tướng quân, Định Quốc tướng quân nổi giận mà rằng:
- Hùng Hiệu nếu là tay anh hùng thì nên ra đây cùng ta giao chiến, chứ đứa vô danh tiểu tốt này, há phải là địch tủ với ta? Chi bằng ta hãy giết chết nhà ngươi, rồi sau sẽ lấy đầu Hùng Hiệu.
Nói xong, hai tay cầm ngọn chùy thúc ngựa ra đánh Sĩ Quí, Sĩ Quí cố sức giao chiến trong ba mươi hợp, đã thấy hơi thỏ hồng hộc, mồ hôi ướt đẫm, Trương Vĩnh thấy vậy, vội vàng thúc ngựa cầm kích ra tiếp chiến. Định Quốc tướng quân cả cười mà rằng:
- Viên tướng bại trận kia! Ngày nay lại dám nho nhoe. Ta đã mấy lần tha chết cho nhà ngươi, lần này thì qưyết không thể tha được!
Nói xong, liền giơ hai ngọn chùy đánh vào mặt Trương Vĩnh. Trương Vĩnh cũng có ý run sợ. Hùng vương nổi giận cởi ngay áo bào ra, rồi cũng hai tay cầm chuỳ, thúc ngựa ra đánh, Định Quốc tướng quân thấy Hùng vương hăng hái bội phần, chỉ dùng hai ngọn chúy để đỡ, rồi vừa dỡ vừa nói:
- Hay cho Hùng Hiệu! Giỏi cho Hùng Hiệu! Ngày nay tuổi già mà sức khỏe có phần lại hăng hái hon xưa!

về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-18 09:14:40Hoàng Dung>
hồi thứ mười lăm d


Định Quốc tướng quân biết sức không địch nổi, mới gọi các tướng đến trợ chiến. Vệ Dũng Bưu thấy vậy cũng thúc các tướng ra đánh. Hai bên đánh nhau rất kịch liệt. Hùng vương càng giao chiến càng thấy hăn hái, đánh trúng luôn mấy ngọn chùy vào vai bên hữu Định Quốc tướng quân. Định Quốc tướng quân ngã ngựa kêu rầm lên thì bỗng có các tướng đến cứu. Hùng vương cùng Vệ Dũng Bưu thúc quân đuổi theo, giết chết không biết bao nhiêu mà kể. Thây chất bằng núi, máu chảy thành sông, trông rất ghê gớm. Khi đuổi tới cửa thành thì các tướng đã cứu được Định Quốc tướng quân đem vào trong thành, rồi đóng chặt cửa lại. Gỗ đá ở trên mặt thành ném xuống như mưa. Bấy giờ Hùng vương mới chịu thua quân về trại. Lưu Quí cùng các tướng đều ca tụng tài vũ dũng của Hùng vương mà rằng:
- Vương gia thật là một bậc thiên uy thần lực! Chúng ta chắc chẳng bao lâu nữa mà phá vỡ được thành Kim Lăng.
Hùng vương nói:
- Có đâu dễ được như thế! Thành Kim Lăng này cao lớn và bền chặt lắm. Vả trong thành lương thảo súc tích rất nhiều, có thể ăn đủ trong mười năm. Nếu quân giặc cứ đóng cửa thành dùng cách cố thủ thì ta cũng khó làm thế nào mà phá cho được. Ta ở đây lâu ngày, lương hết quân mệt. Khi nào quân ta rút về thì quân giặc lại kéo ra mà chiếm đoạt Chiết Giang. Ta bỏ Chiết Giang tức là mất của thiên hạ vậy. Huống chi ta xem tướng sĩ của quân giặc, ai nấy đều hết lòng vì chủ, thế thì vây cánh nó đã cường thịnh, khó lòng thành công được trừ phi có người nội ứng. Ngày nay mới thắng trận lần đầu cũng chưa lấy làm mừng rỡ.
Nói xong, truyền các tướng sĩ phải canh thủ rất cẩn mật. Hùng vương ghi công các tướng sĩ và cho uống rượu. Ngày hôm sau, lại sai tướng tiên phong đem quân đến ngoài thành khiêu chiến. Khi tới cửa thành thì đã thấy treo cao một cái biển “Miễn chiến”. Tha hồ cho mặt ngoài sỉ mắng, cửa thành cứ đóng chặt, im lặng không thấy tiếng người. Thời gian thấm thoát, đã hết một tháng mà trong thành vẫn không chịu đem quân ra giao chiến. Hùng vương càng nghĩ càng căm tức, không biết làm thế nào. Đã nhiều lần đem quân tới chân thành nhưng ngặt vì mặt thành cao ngất, không thể vượt qua được.
Một đêm Hùng vương ngồi ở trong quân, mở binh thư ra xem, vừa xem vừa nghĩ thầm: “Ngày nay ta biết dùng mưu kế chi mà phá vỡ được Kim Lăng? Muốn phá vỡ được Kim Lăng, tất phải dùng người nội ứng, mà người nội ứng thì làm thế nào vào được trong thành.” Bấy giờ đã sang canh hai. Hùng vương đang cau mày ngẫm nghĩ, bỗng thấy quân báo rằng:
- Dám bẩm vương gia! Quan nguyên soái là Vệ Dũng Bưu xin vào bẩm có việc khẩn cấp.
Hùng vương nói:
- Nhà ngươi ra mời vào đây!
Khi Vệ Dũng Bưu vào tới nơi, Hùng vương đứng dậy cúi chào rồi hỏi rằng:
- Chẳng hay có việc chi khẩn cấp, xin quan nguyên soái nói cho tôi nghe.
Vệ Dũng Bưu đệ trình một phong thư rồi nói:
- Dám bẩm vương gia! Vừa rồi tôi đi tuần, có nhặt được một phong thư buộc vào mũi tên bắn ra, tôi không dám tự tiện mở xem, vậy phải tức khắc đem về đây để vương gia xét đoán.
Hùng vương vội vàng cầm lấy phong thư rồi mở ra xem. Phong thư mấy lần gói thật kỹ. Khi mở hết mấy lần bọc ngoài thì thấy có đề một câu rằng:

“Đứa con bất hiếu là Vệ Ngọc đệ trình thân phụ đại nhân khai khán”.

Hùng vương kinh ngạc mà nói với Vệ Dũng Bưu rằng:
- Đấy là lá thư của lệnh lang gửi cho quan nguyên soái đó. Quan nguyên soái nên mở xem.
Vệ Dũng Bưu nói:
- Trong quân không có phép được gởi thư riêng, vậy vương gia cứ mở xem là phải.
Hùng vương mở xem, bức thư như sau này:

“Con là Vệ Ngọc có lời kính trình để thân phụ biết rõ.
Nhà ta chẳng may gặp phải sự tai biến này. Em gái của con là Văn Cơ bị Định Quốc bày mưu lập kế bắt đem về làm vợ. Con cũng chịu hắn lục dụng, cho nên gia quyến mới được an toàn. Từ khi hắn nghe tin thân phụ làm nguyên soái đem quân đến đánh thì tức khắc cách chức, không dùng con nữa. Hắn thắng luôn mấy trận có ý kiêu căng, chỉ say đắm tửu sắc, không nghĩ đến chính sự, quân dân đều sinh lòng oán giận.
Vừa rồi ra đối địch với Hùng vương một trận thì vai bên hữu bị trọng thương, chữa thuốc mãi chưa khỏi. Ngày nay bệnh tình càng dữ dội, thành ra kỷ luật không được nghiêm minh. Con thông nhau với quan giữ thành mới buộc được phong thư này vào mũi tên mà vắn ra để kính trình thân phụ. Xin thân phụ bẩm với Hùng vương hãy lập kế giả cách nói là có thánh chỉ truyền rút quân về.
Khi Hùng vương rút quân về thì trong thành tất mở cửa cho người ra kiếm củi, bấy giờ sẽ sai người thân tín lẻn cửa thành tiến vào. Đã có con ở trong làm nội ứng thì tất nên việc. Mấy lời tâm phúc, xin thân phụ lượng xét cho.”


Hùng vương xem xong, có ý mừng rỡ liền cầm bức thư trao cho Vệ Dũng Bưu. Vệ Dũng Bưu xem hết bức thư thì thở dài một tiếng thật to mà rằng:
- Trời ơi! Đất ơi! Vệ Dũng Bưu này có tội tình gì mà đến nỗi gặp phải tai biến này! Nay con tôi đã nói như thế thì vương gia nên mau mau trù liệu việc rút quân.
Hùng vương chưa kịp trả lời thì bỗng thấy quân dĩ ở ngoài thành chạy vào bẩm rằng:
- Dám bẩm vương gia! Có Hùng Khởi Thần quốc cữu phụng mệnh đi truyền hịch Tam Giang nay đã về phúc mệnh.
Hùng vương truyền cho vào. Hùng Khởi Thần bái yết thân phụ và cữu phụ là Vệ Dũng Bưu, bẩm bạch về việc đi truyền hịch Tam Giang, các địa phương quan đều xin một lòng tuân mệnh. Hùng vương ngẫm nghĩ hồi lâu rồi gọi Hùng Khởi Thần đến trước mặt mà bảo rằng:
- Con hãy xem bức thư này. Ngày nay ta muốn theo cái kế trong thư đã nói.
Nói xong, liền trao bức thư của Vệ Ngọc cho Hùng Khởi Thần xem. Hùng Khởi Thần cầm lấy bức thư xem, cúi đầu nín lặng, chưa biết nói thế nào. Hùng vương lại nói:
- Hùng Khởi Thần con ơi! Ta tưởng nàng Văn Cơ theo Định Quốc dẫu được phú quý nhưng trong lòng tất cũng áy náy không yên. Ngày nay con lẻn vào trong thành tìm biểu huynh con là Vệ Ngọc rồi thông tín với nàng Văn Cơ. Lại mượn điều nghĩa cũ tình xưa, cố lừa cho nàng phải đem lòng quyến luyến mà giúp cho mình được nên việc.
Hùng Khởi Thần nghe lời thân phụ nói nét mặt bỗng thấy đỏ bừng mà thưa rằng:
- Thân phụ ơi! Việc ấy năm xưa con đã không thuận, cớ sao ngày nay thân phụ còn bắt con vướng víu làm chi. Con dẫu sao cũng đường đường là một kẻ nam nhi, chẳng lẽ lại dùng kế trêu hoa ghẹo nguyệt.
Hùng vương nghe nói. hầm hầm nổi giận mà rằng:
- Đồ súc sinh kia! lại cưỡng lời cha hay sao! Năm xưa ta cho mày về Vân Nam là cốt muốn vì họ Hùng ta mà giữ gìn dòng dõi mai hậu, không ngờ mày chỉ biết điều hiếu nhỏ mà thành ra lại lưu lạc đến đất Giang Ninh. May gặp cữu phụ đây nghĩ chút tình thân, đem mày về nuôi. Cũng bởi thế mà di lụy đến cữu phụ phải cửa nhà tan nát. Thế thì mày là một đưá bất hiếu bất nghĩa, lại còn dám mở miệng nói những giọng hoang đường. Ngày nay nội ứng nếu không có người thì thành Kim Lăng khó phá vỡ được. Biểu huynh mày là Vệ Ngọc đã bày mưu cho kế ấy, ta há nên bỏ lỡ mất một cơ hội rất hay. Nay mày trái lệnh không chịu đi thì ta quyết dùng quân luật mà nghiêm trị.
Vệ Dũng Bưu vội vàng khuyên bảo Hùng Khởi Thần rằng:
- Hùng công tử ơi! Ngày nay việc quân đang lúc nguy cấp công tử chớ nên câu nệ những điều nhỏ nhặt làm chi!
Hùng Khởi Thần bất đắc dĩ phải xin vâng mệnh. Ngày hôm sau, Hùng vương ra lệnh rút quân. Tướng sĩ trong thành thấy vậy tức khắc vào báo với quan tổng binh tên gọi là Văn Anh. Vân Anh tất tả chạy vào báo với Định Quốc tướng quân. Định Quốc tướng quân nghe nói, trong lòng nghi hoặc, còn đang ngẫm nghĩ chưa biết quyết đoán ra sao. Bỗng thấy viên tri phủ là Bách Toàn vào bảo rằng:
- Dám bẩm tướng quân! Nhân dân trong thành than khan nước và củi đun lắm, đã hai ba lần rối loạn. Nếu tướng quân không cho mở cửa thành ra để gánh nước và kiếm củi thì khó lòng mà giữ cho khỏi sự biến động vậy.
Định Quốc tướng quân nghe nói bất đắc dĩ phải hạ lệnh cho mở cửa thành trong ba ngày rồi lại đóng chặt cửa như cũ. Nhan dân trong thành nghe lệnh ai nấy đều mừng rỡ, lũ lượt kéo nhau ra dể gánh nước và kiếm củi, kẻ đi người lại tấp nập. Hôm nào cũng mở cửa thành mãi cho hết canh ba mới đóng. Kim Lăng là một nơi đô hội, việc buôn bán rất phồn thịnh. Trong nửa năm nay cửa thành đóng chặt, đi lại không được giao thông. Ngày nay bỗng thấy cửa mở, quân ngoài lại rút thì người trong thành tranh nhau kéo ra, không thể ngăn cấm được. Hùng vương chọn các kiện tướng và dũng sĩ ước độ năm trăm người, đều cho cải dạng, theo bốn phía cửa thành lẻn vào trong. Hùng Khởi Thần cũng theo vào mà cải dạng một ông thầy bói. Hùng Khởi Thần vừa đi vừa hỏi thăm đường.Khi đến cửa dinh Định Quốc tướng quân, ngoài cửa có quân canh nghiêm mật, các hàng tướng sĩ đều gươm bạc tuốt trần. Hùng Khởi Thần vẫn tay cầm cái chiêu bài, vừa đi vừa nói lảm nhảm rằng:
- Thầy bói vô danh đây, ngày nay đã đến kỳ hảo vận, tất ta tìm thấy người quen!
Quân sĩ quát mắng mà rằng:
- Anh thầy bói mắt mù kia! Đây là nơi vương phủ, sao nhà ngươi dám đi liều.
Hùng Khởi Thần cười mà đáp rằng:
- Thưa các ngài! Tôi đến đây để tìm ông Vệ Ngọc. Nguyên năm xưa ông ta gặp lúc hoạn nạn, có nhờ tôi bói giúp một quẻ, hẹn rằng khi nào khá giả, sẽ xin trọng thưởng. Bây giờ tôi chỉ tìm ông ta để vay mấy trăm lạng bạc tiêu.
Quân sĩ cười mà bảo rằng:
- À thế ra nhà ngươi định tìm ông Vệ Ngọc phải không? Ông ta vừa mới đi khỏi đó!
Nói chưa dứt lời thì bỗng có một người trỏ mà bảo rằng:
- Kia kìa! Ông Vệ Ngọc đã đến kia!
Hùng Khởi Thần ngẩng đầu trông, quả nhiên thấy một người cưỡi ngựa, diện mạo khôi ngô, thân thể to lớn, thật giống Vệ Dũng Bưu như đúc. Lại thấy một người đón Vệ Ngọc mà bảo rằng:
- Ông Vệ Ngọc ơi! Có ông thầy bói này đang tìm ông để vay mấy trăm lạng bạc! Hắn loanh quanh chờ ông ở đây mãi!
Hùng Khởi Thần khẽ ra hiệu tay và bảo Vệ Ngọc rằng:
- Ông Vệ Ngọc ơi! Ông còn nhớ lời hẹn năm xưa hay không? Ông hẹn tôi cho nghìn lạng bạc, ngày nay tôi chỉ vay ông giăm trăm để tiêu.
Vệ Ngọc biết là Hùng vương sai vào, vội vàng xuống ngựa cầm lấy tay Hùng Khởi Thần mà bảo rằng:
- Ta mong mãi bây giờ mới thấy đây, mau mau theo ta về nhà, rồi ta sẽ y hẹn cho vay nghìn lạng.

Hùng Khởi Thần tức khắc đi theo về nhà Vệ Ngọc. Khi vào tới trong nhà. Vệ Ngọc đuổi hết người nhà ra, đóng chặt cửa lại, Hùng Khởi Thần bỏ cái khăn che xuống, rồi nói:
- Biểu huynh ơi!
Vệ Ngọc mừng rỡ mà rằng:
- Thế ra Hùng công tử đó phải không! Công tử dám mạo hiểm vào đây thì thật là một người can đảm! Nhưng bây giờ định dùng mưu kế chi, công tử hãy nói cho tôi nghe.
Hùng Khởi Thần khẽ rỉ tai nói nhỏ mấy câu. Vệ Ngọc lẩm nhẩm gật đầu mà rằng:
- Nếu vậy thì thật là diệu kế! Nhưng việc này không nên chậm trễ, phải thi hành ngay mới được. Hôm nay trời gần tối, ta nên yên nghỉ sớm rồi sáng mai sẽ cải trang.
Bấy giờ Vệ Ngọc gọi người nhà vào, trỏ Hùng Khởi Thần mà bảo rằng:
- Ông thầy bói đây nguyên là nữ lưu, tức điệt nữ của phu nhân ta ở kinh thành lánh nạn tới đây đó! Vì sợ thân gái dặm trường, đi sao cho tiện, vậy nên phải cải trang nam tử. Đến sáng mai sẽ lại dùng nữ trang vào bái yết nàng Văn Cơ ở trong vương phủ đây.
Vệ Ngọc phu nhân là Liễu thị bước ra, cúi chào Hùng Khởi Thần, mời vào nhà trong, rồi bày tiệc rượu khoản đãi. Trong khi uống rượu, lại có hai công tử ra chào. Vệ Ngọc hỏi thăm đến những tình hình trong khi lưu lạc, Hùng Khởi Thần lại thuật hết đầu đuôi cho nghe. Vệ Ngọc thở dài mà than rằng:
- Đó cũng là lỗi tại nhà ta, khiến công tử chịu bao nhiêu nỗi cực khổ!
Vệ Ngọc lại thuật cho nghe những nông nổi trong khi về tới nhà bị bắt, Hùng Khởi Thần không nghe nói thì thôi, khi đã nghe nói thì càng đứt ruột đau lòng.
Hùng Khởi Thần thở dài mà than rằng:
- Từ di nương ơi! Di nương vì tôi mà phải đâm đầu xuống sông! Hùng Khởi Thần này thật là tài hèn sức mọn, để đến nỗi di lụy đến di nương. Không trách thân phụ ta bảo là đứa bất nghĩa, tưởng cũng không oan. Tôi nghĩ bao nhiêu càng căm tức cho Lã thị thật là một đứa gian ác. Khi bấy giờ dùng những lời thô bỉ mà sỉ mắng tôi, mỉa mai tôi, chẳng kể làm chi, cớ sao lại vu oan cho Từ di nương điều ô nhục. Đợi bao giờ thành Kim Lăng này phá vỡ, tôi sẽ đem Lã thị phân thây trăm mảnh mà tế trước linh sàng Từ di nương!
Hùng Khởi Thần nói đến đấy thì cau mày nghiến răng tỏ ra ý giận. Liễu thị lại đem bức thư tìm được ở trong mình Từ di nương từ khi vớt thi thể ở dưới sông lên, trao cho Hùng Khởi Thần xem, Liểu thị nói:
- Hùng công tử ơi! Công tử xem bức thư này thì thật khôn cầm giọt lệ.
Hùng Khởi Thần vừa xem vừa ứa nước mắt khóc. Khi xem xong, trong lòng thương xót lại thở dài mà rằng:
- Từ di nương ơi! Ơn sâu của di nương đã cứu sống Hùng Khởi Thần này sự báo đền đành để kiếp sau vậy.
Hùng Khởi Thần nghĩ rầu cả ruột, không ăn được cơm, rồi đứng dậy đi vào phòng ngủ. Khi vào trong phòng, Hùng Khởi Thần chỉ vật mình khóc lóc, rồi lại ôm gối thở dài. Hùng Khởi Thần lẩm nhẩm một mình rằng:
- Khi ta gặp nàng Văn Cơ thì biết xử trí ra thế nào! Ta chắc rằng nàng thế nào cũng lại đem những lời dâm đãng mà cợt ghẹo ta, bấy giờ ta biết gỡ làm sao cho thoát. Cứ như lời thân phụ ta nói thì định bắt ta phải dan díu với nàng. Đã đành rằng một là vì nước nhà, hai là vì cữu phụ, nhưng nông nỗi này ta biết tính làm sao. Âu là ta cự tuyệt đứa dâm đãng kia để khỏi phụ lòng trinh tiết của Phi Loan quận chúa vậy.
Hùng Khởi Thần nghĩ vậy, lại hăng hái bội phần. Sáng hôm sau, hai vợ chồng Vệ Ngọc đem quần áo đàn bà vào cho Hùng Khởi Thần mặc, lại dùng đồ nữ trang để tô điểm, trông rõ ra một bậc tiểu thư đắm nguyệt ngây hoa. Vệ Ngọc khen ngợi mà rằng:
- Nhan sắc khuynh thành này, dẫu có nghìn vàng cũng khó lòng mà mua được!
Hùng Khởi Thần thở dài mà thưa rằng:
- Làm thân nam tử mà phải cải dạng nữ trang thì tự nghĩ càng thêm hỗ thẹn.
Khi ăn lót dạ xong, Vệ Ngọc sai người sắp sẵn một chiếc kiệu hoa đưa Hùng Khởi Thần vào chốn vương phủ. Vệ Ngọc vào trước bẩm với Định Quốc tướng quân rằng:
- Dám bẩm tướng quân! Tôi có người biểu muội xin vào bái kiến Văn Cơ phu nhân!
Định Quốc tướng quân gật đầu cho vào. Vệ Ngọc tức khắc đưa Hùng Khởi Thần vào nhà trong. Nàng Văn Cơ hỏi rằng:
- Người con gái nhà ai mà nhan sắc đẹp như thế kia?
Vệ Ngọc cười mà bảo rằng:
- Em quên rồi à! Đây là người mà trong lòng lòng em hàng ngày vẫn thường nghĩ đến đó! Cách biệt trong bao lâu nay, bây giờ mới lại tới đây! Em thử nghĩ kỹ xem là ai nào!
Nàng Văn Cơ kinh ngạc, bước gần đến trước mặt, cầm lấy tay mà nhìn rồi nói:
- Trời ơi! Biểu muội đấy à! Ở đâu mà lại tới đây! Âu là ta cùng vào trong phòng nói chuyện.
Nói xong, liền dắt Hùng Khởi Thần vào trong phòng. Vệ Ngọc lui ra, nàng Văn Cơ tha hầu cho các tỳ nữ. Bấy giờ lại gặp Lã di nương bị bệnh không đến đấy, thành ra vắng vẻ chẳng có ai cả.
Hùng Khởi Thần cười mà bào Văn Cơ rằng:
- Tiểu thư ngày nay còn nhận được tôi à!
Nàng Văn Cơ nói:
- Khi nào tôi lại quên! Một chàng công tử phụ nghĩa bạc tình kia, dẫu đã chết rồi đem thiêu ra tro, tôi cũng vẫn còn nhận được. Nhưng tôi xin hỏi, công tử đã phụ nghĩa bạc tình thì bây giờ còn đến đây làm chi.
Hùng Khởi Thần nói:
- Năm trước tôi nương thân ở nhà tiểu thư, cảm thâm tình của tiểu thư đã đối với tôi, cho nên từ bấy đến nay tôi vẫn không thể quên được.
Nàng Văn Cơ nói:
- Thôi! Tôi cũng xin cám ơn công tử! Nếu công tử có nghĩ đến thâm tình của tôi thì năm xưa đã không giẫy tôi phải té nhào xuống đất.
Bấy giờ Hùng Khởi Thần không biết làm thế nào cho được, phải giả cách ôn tồn ghé ngồi lại gần mà bảo rằng:
- Tiểu thư ơi! Năm xưa vì sao mà tôi phải cự tuyệt, tưởng tiểu thư cũng lượng tình cho tôi. Ngày nay tôi đến đây là cốt để báo ơn tiểu thư đó!
Nàng Văn Cơ cười mà đáp lại rằng:
- Nay tôi đã được vinh hoa phú quý, cần chi phải mong công tử báo ơn.
Hùng Khởi Thần lại khẽ ghé tai thỏ thẻ mà nói nhỏ rằng:
- Tiểu thư ơi! Ngày nay tiểu thư dẫu được vinh hoa phú quý, nhưng nào ai có lòng yêu hương tiếc ngọc, tôi chỉ sợ tiểu thư không quên được tình người cũ mà thôi.
Nàng Văn Cơ nghe nói, nét mặt đỏ bừng, khẽ lừ hai con mắt rồi thở dài một tiếng mà rằng:
- Chẳng qua di nương tôi làm hại tôi, khiến tôi phải thất thân với đứa thô bỉ này! Mỗi không chung gối loan phòng thì hơi rượu sặc sụa, mật ngoài cười gượng mà trong lòng khóc thầm vậy. Từ khi tôi gặp công tử, vẫn tưởng rằng duyên trời đưa lại, hai sẽ sẽ được cùng nhau sum họp một nhà, không ngờ công tử phụ nghĩa bạc tình, khiến cho tôi uổng phí một đời xuân xanh, sa vào nơi khổ hải này, năm nay đã ngoài ba mươi tuổi. Câu thơ đắn đo, biết cùng ai đọc, tiếng đàn ngơ ngẩn, gảy để ai nghe. Dự đau đớn ấy công tử khó lòng mà hiểu cho thấu! Bây giờ công tử bảo định đến đây để trả ơn tôi, chẳng hay cách trả ơn thế nào, xin công tử nói cho tôi được biết.
Hùng Khởi Thần cười mà đáp rằng:
- Tiểu thư ơi! Số là đại binh ngày nay sắp phá vỡ thành Kim Lăng, tôi thì nghĩ thân tình của tiểu thư đối với tôi năm xưa, sợ khi “Ngọc đá đều cháy”, cho nên phải bẩm với thân phụ và cữu phụ mà lẻn vào đây để báo cho tiểu thư biết. Tiểu thư nên mau mau theo tôi đi trốn thì tính mệnh họa may mới toàn.
Nàng Văn Cơ run sợ cầm cập rồi hỏi rằng:
- Tôi nghe tin đại quân ở ngoài thành đã rút, cớ sao công tử lại nói như thế?
Nói chưa dứt lời thì bỗng nghe tiếng súng nổ, vang động trời đất. Các tỳ nữ vào báo rằng:
- Dám bẩm phu nhân! Đại binh lại đến đánh thành, lần này đánh rất dữ dội. Chúng bắc thang định trèo qua thành mà vào. Vương gia đã sai quan tri phủ Bách Toàn nghiêm tra những quân gian tế đã lẻn vào thành. Hiện nay ông Vệ Ngọc phải phòng giữ trong phủ, mà vương gia thì tự đem quân đi tuần tiễu mặt ngoài.
Nàng Văn Cơ nghe nói, tưởng chừng như sét đánh ngang đầu. Nét mặt tái mét, chẳng còn hột máu, vội vàng nắm lấy áo Hùng Khởi Thần mà bảo rằng:
- Hùng công tử ơi! Công tử nên nghĩ cách mà cứu lấy tôi.
Hùng Khởi Thần nói:
- Không sợ!Bây giờ ta phải lừa đứa phản nghịch kia mới được! Tiểu thư cứ lập kế lừa cho nó uống rượu thật say thì sau này cũng chẳng lo gì không được vinh hoa phú quý.
Nàng Văn Cơ nói:
- Bây giờ muốn lừa nó thì làm thế nào?
Hùng Khởi Thần cười mà đáp rằng:
- Tiểu thư lại dùng những lời âu yếm lả lơi mà nói với nó, khiến nó phải xiêu lòng.
Nàng Văn Cơ vừa cười vừa nói:
- Ừ! Phải đấy!
Bấy giờ nàng Văn Cơ truyền các nữ tỳ dọn cơm cùng ngồi ăn với Hùng Khởi Thần. Lại trỏ Hùng Khởi Thần mà bảo các nữ tỳ rằng:
- Tiểu thư đây là biểu muội của ta, đấy đây để chờ bái kiến vương gia đó.
Độ hết canh một đêm hôm ấy, có tin báo rằng Định Quốc tướng quân đã trở về phủ. Nàng Văn Cơ vội vàng sai nữ tỳ chạy ra mời vào tư thất để nói chuyện. Khi Định Quốc tướng quân tới nơi , mình mặc áo giáp, phía vai bên hữu vẫn còn buộc thuốc, nàng Văn Cơ chạy đến gần lấy tay vuốt ve, rồi mời vào phòng. Nàng Văn Cơ nói:
- Tướng quân ơi! Cái vai này thuốc chữa đã hơn một tháng mà vẫn chưa khỏi à? Thiếp đêm ngày mong nhớ không biết dường nào, vậy phải sai mời tướng quân vào để nói chuyện một chút.
Định Quốc tướng quân nói:
- Phiền lòng phu nhân quá! Ta bị thương không dám gần nữ sắc, nay nghe phu nhân cho gọi, vội lật đật vào đây, nhưng ta tất phải ra ngoài ngay. Phu nhân ơi! Quân giặc lại kéo đến chân thành thì ngủ yên sao được, âu là để đến hôm khác ta sẽ xin vào bồi tiếp phu nhân.
Nàng Văn Cơ giơ cánh tay ngọc ngà ra, nắm lấy Định Quốc tướng quân mà bảo rằng:
- Thiếp đã sửa soạn một bàn tiệc rượu đây, tướng quân hãy nán ngồi uống cạn mấy chén!
Định Quốc tướng quân thấy nàng Văn Cơ mặt hoa hớn hở, mày liễu nở nang, không thể cầm lòng cho được, bất đắc dĩ phải kéo ghế ngồi vào uống rượu. Nàng Văn Cơ tay rót miệng mời, mỉm cười mà bảo Định Quốc tướng quân rằng:
- Tướng quân ơi! Thiếp cùng tướng quân kết tóc se tơ trong bấy nhiêu năm trời, bể ái nguồn ân, chưa hề một ngày nào xa cách. Từ khi tướng quân bị thương, phải ngủ riêng phòng để chữa thốc, thời gian thấm thoát, bỗng chốc đã một tháng nay. Ngày nay thương tích đã gần khỏi rồi, tướng quân nên ở đây để thiếp được hầu hạ. Chẳng lẽ vợ chồng đầu gối tay ấp, lại không cùng nhau chia dự đau đớn hay sao! Thiếp e vị tất đã phải vì chữa thuốc, hoặc giả tướng quân còn chút đèo bồng chi đây. Thôi đừng bưng bít miệng bình, có thể nào nên mau mau thú thực!
Nàng Văn Cơ nói xong lại giả cách giận dỗi mà rằng:
- Những lời năm xưa chỉ non thề biển, không ngờ một sớm bỏ đi!
Định Quốc tướng quân thấy vậy luống cuống, vội vàng dịch lại bên cạnh mà dỗ bảo:
- Phu nhân ơi! Phu nhân chớ lấy tôi làm lạ! Phu nhân nên biết cho rằng trong nửa năm nay lòng ta thật rối như mớ bòng bong. Naò cha già phải giam, nào em ruột bị giết chết. Thành Kim Lăng ngày nay có đại binh đến đánh, ta vẫn tự chắc rằng võ nghệ vô địch, sức này chưa dễ làm gì được nhau! Nào ngờ Hùng Hiệu cũng là tay dũng lực, ta ra đánh một trận, liền bị trọng thương. Chỗ thương tích này chữa mãi chưa lành miệng, cho nên ta phải kiêng nữ sắc, chứ thực không dám lòng chim dạ cá, đa mang gì.
Nàng Văn Cơ nói:
- Ai bảo không được kiêng nữ sắc!
Định Quốc tướng quân nói:
- Bởi vậy ta cần phải ngủ riêng phòng!
Nàng Văn Cơ nói:
- Cứ phải ngủ riêng phòng mới được hay sao!
Định Quốc tướng quân cười mà bảo rằng:
- Nhưng nếu chung gối loan phòng thì nể lòng có dễ cầm lòng cho đang.
Nói xong, lại cười khanh khách. Nàng Văn Cơ cứ rót rượu mãi, Định Quốc tướng quân có ý nghi ngờ, mới dừng chén rượu không uống vội mà hỏi nàng rằng:
- Phu nhân ơi! Phu nhân làm bạn cùng ta trong bấy nhiêu năm, ta chưa thấy bao giờ phu nhân lại tươi cười hớn hở như hôm nay vậy. Chẳng hay hôm nay vì cớ chi mà phu nhân cứ đem lòng luyến ái, cố bắt ta phải ngủ lại đây.
Nàng Văn Cơ tủm tỉm cười mà đáp rằng:
- Số là đêm qua thiếp có một giấc mộng rất lạ! Mộng thấy tướng quân mọc cánh bay lên trên không, thế thì kết quả là cái triệu sắp làm thiên tử. Tướng quân làm thiên tử thì ngôi chánh cung hoàng hậu kia hẳn phải đến thần thiếp.
Định Quốc tướng quân nghe nói bằng lòng lại cả cười mà rằng:
- Đa tạ những lời vàng ngọc của phu nhân .
Vừa nói lại vừa cầm chén rượu uống. Khi rượu đã say, có ý buồn ngủ. các nữ tỳ xúm lại tháo mũ và cởi áo giáp ra. Nàng Văn Cơ cũng lấy tay xoa chỗ vai bị thương, rồi đỡ nằm xuống giường. Định Quốc tướng quân đặt mình xuống giường tức khắc ngủ ngay. Nàng Văn Cơ truyền các nữ tỳ triệt chiếu rượu ra, rồi đem ra ngoài cùng nhau ăn uống. Khi các nữ tỳ ra hết rồi, nàng Văn Cơ quay vào gọi Hùng Khởi Thần mà khẽ rỉ tai bảo rằng:
- Định Quốc say rượu ngủ yên rồi! Bây giờ công tử làm thế nào mà giết được nó.
Hùng Khởi Thần rón rén đến cạnh giường Định Quốc tướng quân nằm, khẽ vén màn dòm thì thấy hắn mặt đen mắt trợn, miệng thở hồng hộc như trâu rống. Hùng Khởi Thần lặng nghe mặt ngoài lại có tiếng súng nổ, bấy giờ canh ba đã điểm, chắc là bọn Trương Vĩnh đều khởi sự rồi. Hùng Khởi Thần mắm môi nghiến lợi, giơ tay rút rút thanh bảo kiếm treo ở trên tường, định đâm cho Định Quốc tướng quân một nhát. Hùng Khởi Thần tay cầm thanh kiếm, lúc đầu vẫn còn run lẩy bẩy, nhưng trong khi khẩn cấp, nếu không làm gấp thì sợ có người đến chăng, bất đắc dĩ phải hạ thủ. Định Quốc tướng quân bị mũi kiếm đâm thẳng giữa bụng, kêu to một tiếng, rồi ngã lăn xuống đất, máu chảy đầm đìa. Bấy giờ Định Quốc tướng quân vật mình giãy lộn trong hồi lâu rồi rống lên mấy tiếng. Nàng Văn Cơ thì chẳng còn hồn vía nào, cứ chạy quanh ở trong phòng, mồ hôi như tắm. Hùng Khởi Thần đứng xa trông thấy Định Quốc tướng quân nằm yên, bấy giờ mới rón rén đến cạnh. Vệ Ngọc ở bên ngoài cầm dao tiến vào, cắt lấy thủ cấp. Vệ Ngọc gọi nàng Văn Cơ mà bảo rằng:
- Em nên mau mau theo Hùng công tử chạy trốn.
Vệ Ngọc lại sai người đi bắt Lã thị. Mặt ngoài thì đại binh Hùng vương đã tiến vào trong thành, các quan văn võ trong thành bấy giờ đều bị nã tróc. Hùng vương tức khắc hạ lệnh treo bảng an dân, nghiêm cấm quân dĩ không được nhũng nhiễu, lại ghi công các tướng sĩ vào trong sổ. Còn Lã thị và nàng Văn Cơ thì giao cho Vệ Dũng Bưu đem về quê nhà, tế Từ di nương một tuần, khiến oan hồn khỏi ngậm ngùi ở nơi chín suối. Hùng Khởi Thần nói với Hùng vương rằng:
- Thân phụ ơi! Xin thân phụ cho con theo đi, để trước là đối chất cùng Lã thị, sau là gọi chút lòng thành về đấy để kính viếng Từ di nương vậy.
o0o
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
hồi thứ mười sáu
DỨT MỐI TÌNH VĂN CƠ QUI PHẬT
BÀY TIỆC VUI THÁI HẬU XEM TRANH


Lại nói chuyện Vệ Dũng Bưu về đến quê nhà, Vệ Ngọc đem vợ là Liễu thị và hai con ra lạy mừng, cùng nhau kể lể những nông nỗi sau khi tương biệt. Khi giải Lã thị và nàng Văn Cơ về tới nơi, Vệ Dũng Bưu trông thấy hầm hầm nổi giận, liền đứng ngay dậy quắt hai mắt lên, túm đầu Lã thị lôi tới trước linh sàng Từ di nương. Vệ Dũng Bưu vừa lôi vừa nói:
- Đứa tiện này mày làm hại nhà ta biết là dường nào! Ai ngờ lại có ngày nay.
Mọi người theo vào, Vệ Dũng Bưu truyền đem hình cụ ra để tra tấn Lã thị bắt phải thú thực hết đầu đuôi những thế nào. Xưa nay Lã thị vốn là một người lanh lợi, nói đâu ra đấy, thế mà bây giờ thì cứ ngây dại như người đã chết rồi. Lã thị bị tra tấn đau quá không thể chịu được, kều rầm lê, rồi nằm chết ngất đi, gia đinh lại lấy nước lã mà phun cho tỉnh. Khi Lã thị tỉnh dậy, khóc lóc kêu van. Vệ Dũng Bưu lại truyền tra tấn một hồi nữa. Nàng Văn Cơ cùng mọi người đều khiếp đảm kinh hồn. Vệ Ngọc can ngăn Vệ Dũng Bưu mà rằng:
- Thân phụ ơi! Xin thân phụ hãy nguôi cơn giận, khoan tay roi vọt, để cho hắn cứ thực cung xưng.
Vệ Dũng Bưu truyền bảo gia đinh hãy khoan tay cho Lã thị được nói, Lã thị đau đau quá nằm ngất đi, rồi lại hồi tinh. Hồi lâu mới gượng mà nói rằng:
- Lão gia ơi! Bây giờ lão gia bắt tôi phải cung xưng thì tôi biết cung xưng thế nào cho được. Số là hôm ấy tôi và tiểu thư đi thiêu hương vắng thì ở nhà Từ di nương đâm đầu xuống sông tự tử. Hoặc khi công tử về nhà, có sự gì ám muội mà nên thế chăng. Việc này nên tra hỏi vợ chồng hắn mới phải, cớ sao lại tra hỏi tôi.
Lã thị nói chưa dứt lời thì tự mình bỗng lại lấy tay mà vả vào miệng. Vừa vả vừa nói:
- Đứa tiện tỳ Lã thị kia! Này dám mở miệng nói càn! Mày định vu oan giá họa cho Vệ công tử phải Lã thị kia! Ta đã dung túng cho mày được sống sót trong mấy năm trời nay, bây giờ mày lại dám mở miệng nói càn! Ngày trước mày vu oan cho Hùng công tử có tư tình với ta, ta phải liều chết để tỏ tấm lòng trong sạch. Ta chắc rằng không lão gia ta xét đến thì nỗi oan tình sẽ giải được ra. Không ngờ đứa tiện tỳ gian ác kia ngày nay lại còn muốn đem miệng hùm nọc rắn mà hãm hại người ngay vậy.
Nói xong, cứ giơ hai tay mình lại đánh vào mình, đến nỗi máu tươi trong miệng chảy ra ràn rụa. Vệ Dũng Bưu cùng mọi người nghe nói đều biết là Từ di nương đã nhập vào Lã thị mà nói. Vệ Dũng Bưu nói:
- Từ di nương ơi! Nỗi oan tình của di nương, ta đã hiểu rõ. Ngày nay ta về triều tâu với thánh thượng xin lập một cái bia ở trước mộ di nương. Di nương hãy an tâm ở dưới suối vàng, rồi ta sẽ phanh thây đứa tiện tỳ này ra làm một trăm mảnh.
Lã thị sụp lạy, lại nức nở khóc mà rằng:
- Lão gia ơi! Bấy giờ tôi sắp đi đầu thai thì dẫu muốn gặp nhau trong giấc chiêm bao, cũng lấy làm khó lòng vậy. Các nghĩa nặng ơn sâu của lão gia, kể sao cho xiết, sự báo đền đành để kiếp sau!
Lã thị nói với vợ chồng Vệ Ngọc rằng:
- Tôi xin cám ơn vợ chồng công tử đối đãi với tôi thật là rất có lòng tử tế. Ai ngờ vì đứa tiện tỳ gian ác mà để đến nỗi tan cửa nát nhà. Công tử đã theo lời trong thư tôi dặn mà an táng tôi tại bên cạnh mộ bà Doãn phu nhân, nhưng thương xót cho vong hồn tôi ở đấy trong bấy nhiêu năm trời, trải bao gió thảm mưa sầu, không hề được một nén hương thăm viếng. Ngày nay oan đã giải thì vong hồn này ở nơi chín suối, cũng được ngậm cười.
Lã thị nói xong, nằm lăn ra đấy. Vệ Dũng Bưu biết là linh hồn Từ di nương đã siêu thăng rồi, mới rút thanh bảo kiếm quát to lên mà rằng:
- Đứa tiện tỳ gian ác kia! Bây giờ ta thư xem buồng gan mày thế nào!
Vệ Dũng Bưu vừa nói vừa giẫm chân mình lên Lã thị, rồi cầm thanh kiếm rạch bụng, cắt lấy quả tim để trước linh sàng thờ Từ di nương, máu tươi chảy ra lênh láng. Bấy giờ trong cuống họng Lã di nương vẫn còn khò khè. Nàng Văn Cơ thì sợ quá mà ngã lăn ra đấy, Vệ Dũng Bưu lại cầm lấy thanh kiếm chạy đến nắm đầu nàng Văn Cơ kéo dậy. Vệ Ngọc cùng mọi người đều quì xuống căn ngăn.
Vệ Dũng Bưu quát mắng rằng:
- Chúng bay còn thương gì nó nữa! Nó cũng là một đứa dâm đãng, không biết yên phận. Đã làm cho cửa nhà tan nát, lại đến nỗi thất thân với đứa giặc tặc kia!
Vệ Dũng Bưu nói chưa dứt lời Hùng Khởi Thần vừa ở cửa ngoài bước vào, vội vàng giật lấy thanh bảo kiếm mà thưa rằng:
- Dám thưa cữu phụ! Cữu phụ không nên giết nàng, vì nhờ có công nàng mới phá vỡ được thành Kim Lăng này. Khi trước tôi đã hứa lời xin bảo toàn tính mệnh cho nàng, nếu cữu phụ giết nàng thì khiến cho tôi thành một người thất tín. Vả nàng là một kẻ tội nhân trong đảng phản nghịch, còn phải tâu với thánh thượng để người định tội, chú cữu phụ cũng không có quyền được giết nàng.
Vệ Dũng Bưu nghe nói thở dài mà rằng:
- Đa tạ công tử đã chỉ bảo cho tôi được biết lẽ phải. Tôi đây là kẻ vũ phu, vậy nên chưa am hiểu pháp luật, nếu không nhờ có lời chỉ bảo của công tử thì trong khi nóng nảy chẳng khỏi đeo tội vào mình.
Nói xong, truyền gọi Vệ Ngọc bảo dắt nàng Văn Cơ đi chỗ khác, rồi đem giam vào một nơi. Vệ Dũng Bưu lại thuật chuyện vong hồn Từ di nương nhập vào Lã thị cho Hùng Khởi Thần nghe. Hùng Khởi Thần phàn nàn mà thưa rằng:
- Hoài của! Tôi đến chậm chân, thành ra không được xem lúc Từ di nương nhập hồn.
Vệ Dũng Bưu bảo Hùng Khởi Thần rằng:
- Hùng công tử ơi! Ngày nay tôi chỉ muốn chết, nhưng lại sợ thiên hạ nghi là tiếc người yêu. Tôi cũng không còn mặt mũi nào trở về kinh thành mà triều kiến thánh thượng nữa, nhờ công tử bẩm với tôn nghiêm đường tâu thay giúp tôi rằng hiện tôi bị bệnh thương hàn, xin cho Vệ Ngọc ở nhà trông nom thuốc thang để khiến tôi được di dưỡng trong khi tuổi thọ.
Hùng Khởi Thần lại khuyên giải mà rằng:
- Cữu phụ ơi! Xin cữu phụ chơ lo phiền! Hai chữ trung trinh từ xưa đến nay, hồ dễ đã mấy nhà giữ được trọn vẹn. Nay cữu phụ phụng mệnh triều đình lĩnh chức nguyên soái, đem quân đi đánh giặc. Đá đánh được giặc, tất phải về tâu với triều đình. Lệnh viên (trỏ nàng Văn Cơ) dẫu có thất thân với đứa phản nghịch, nhưng đem công chuộc tội, tất thánh thượng cũng lại cho lệnh viên sum họp ở dưới gối cữu phụ, để được chỗ nương thân vậy.
Vệ Dũng Bưu nhất định không nghe, Hùng Khởi Thần động lòng xót thương, cũng không nỡ bỏ đi. Vệ Dũng Bưu và Vệ Ngọc cứ giục giã Hùng Khởi Thần nên mau mau trở về kinh địa. Hùng Khởi Thần bất đắc dĩ mới cáo từ xin đi. Trước sụp lạy Vệ Dũng Bưu, sau lại đến sụp lạy ở trước linh sàng Từ di nương mà sụt sùi khóc than và làm lễ bái biệt. Vệ Ngọc khẽ rỉ tai mà bảo Hùng Khởi Thần rằng:
- Hùng công tử ơi! Tính mệnh xá muội, trông cậy ở nơi công tử đó! Khi nào tới kinh, công tử nên tâu triều đình cho nó được xuất gia tu hành là hơn, chứ nếu về ở nhà này thì thân phụ tôi không thể nào mà nguôi cơn giận.
Hùng Khởi Thần gật đầu xin vâng mệnh, rồi tức khắc lên ngựa đi ngay. Vệ Ngọc vội vàng thu xếp các việc trong nhà. Trước hết hãy đem thi thể Lã thị ra mai táng tại phía sau núi. Khi mai táng xong, mới đưa tờ cáo phó cho thân thích họ hàng biết. Lại đem việc Từ di nương thủ tiết thuật lại rõ cho mọi người nghe. Lân lý ra vào, ai cũng lấy làm khen ngợi. Chúng đều bảo nhau rằng:
- Từ di nương biết liều mình thủ tiết, thật không hổ gia thanh nhà họ Vệ vậy. Còn mụ đàn bà điêu ngoa kia thì ngày bị mổ, tưởng cũng đáng đời.
Từ đó Vệ Dũng Bưu không hề bước chân đi đâu. Vệ Ngọc thì ở nhà hầu hạ thân phụ và đón thầy về dạy cho con học.

Lại nói chuyện Hùng vương rút quân về kinh thành. Các quan văn võ tại Kim Lăng thành đều phải thay đổi cả. Lưu Quí tổng trấn ở đấy, Trương Vĩnh và Sĩ Quí thì chưởng binh quyền để phòng dư đảng của Đồ Man Định Quốc. Khi Hùng vương kéo đại binh về kinh thành, các địa phương quan đều bày hương án ở hai bên đường để bái vọng. Hùng Khởi Phượng ra cửa thành đón, hai cha con gặp nhau, mừng mừng rỡ rỡ, xiết bao là tình. Hùng Khởi Phượng nói với Hùng vương rằng:
- Thân phụ ơi! Thái hậu đã giáng chỉ bắt phải chọn ngày để làm lễ hoàn hôn cho thân đệ con là Hùng Khởi Thần kết duyên với Phi Loan quận chúa. Thái hậu nói là hai bên đều đã trưởng thành, trai tài gái sắc, xuân đang gặp thời, không nên để chậm trễ. Hiện nay các việc trong nhà đều sửa soạn sẵn sàng, chỉ đợi thân phụ về thì làm lễ hoàn hôn mà thôi.
Hùng vương cười mà bảo rằng:
- Cần chi phải vội như thế!
Nói chưa dứt lời thì bỗng thấy phò mã Triệu Câu đến, lại có các quan văn võ triều thần theo sau, đều nói là phụng chỉ thánh thượng cho ra nghênh tiếp Hùng vương. Hùng vương xuống ngựa cùng các quan văn võ triều thần làm lễ tương kiến. Bỗng nghe báo có Doãn Thượng Khanh tướng công đến. Hùng vương vội vàng đón chào. Doãn Thượng Khanh tướng công trông thấy Hùng vương, vỗ tay cười mà bảo rằng:
- Thế mới khỏi phụ là một đại trượng phu! Danh thơm ấy sẽ ghi chép nghìn năm ở trong sử sách. Từ xưa đến nay, các nhà quốc thích, hồ dễ mấy nhà được như nhà Hoàng Phủ và nhà họ Hùng ta vậy.
Doãn Thượng Khanh tướng công lại nói:
- Tôi dẫu chưa phụng chỉ triều đình, nhưng cũng xin ra đây để cởi áo giáp hầu đại vương.
Bỗng thấy hai tên nội giám dâng một bộ cẩm bào, Doãn Thượng Khanh tướng công mời Hùng vương thay áo, rồi vào trong một cái nhà rạp để dự yến tiệc. Khi vào tới nơi, ba vị vương tử đã đứng ở đấy. Hùng vương cùng các tướng trông thấy đều kinh hãi, vội vàng cúi đầu sụp lạy. Hùng vương nói:
- Chút công khuyển mã, chưa đủ báo đền ơn triều đình, nay ba vị vương tử giáng lâm như thế này, khiến cho tôi càng thêm áy náy.
Ba vị vương tử đỡ dậy mà rằng:
- Hùng quốc trượng ơi! Chúng tôi phụng mệnh thánh thượng ra đây để nghênh tiếp quốc trượng và dâng quốc trượng ba chén rượu mừng.
Hùng vương tạ ân bước vào chiếu rượu, ba vị vương tử rót ba chén rượu mời Hùng vương uống. Các tướng có công thắng trận cũng đều được uống rượu cả. Khi uống rượu xong, ba vị vương tử cáo từ về trước. Hùng vương lại đem các tướng vào bái mạnh thiên tử ở chốn triều đường. Vua Anh Tôn hủy lạo mấy câu rồi cho về nghĩ. Đợi hôm khác sẽ ban thưởng cho các tướng sĩ. Hùng vương và các tướng lạy tạ lui ra. Khi cha con Hùng vương về đến vương phủ, Vệ Dũng Nga vương phi và Lương Cẩm Hà phu nhân đều mừng rỡ bội phần. Cốt nhục đoàn viên, tiệc gia yến vui vẻ kể sao cho xiết! Bỗng nghe báo có mấy anh em phò mã Triệu Câu đến, người họ Hùng chưa kịp nghênh tiếp thì mấy anh em phò mã Triệu Câu vào tới nơi, ai nấy đều tươi cười hớn hở. Phò mã Triệu Câu nói:
- Dám bẩm cô phụ và cô mẫu! Ngày hôm nay chúng con kéo sang đây là cốt để uống rượu mừng cô phụ và cô mẫu đó!
Vệ Dũng Nga vương phi cùng mọi người đều đứng dậy mời ngồi. Khi nói chuyện nàng Văn Cơ thì Hùng Khởi Phượng bảo Hùng Khởi Thần rằng:
- Em chớ nên như thế! Ngày nay em lập nên công nghiệp để làm vẻ vang cho nhà họ Hùng ta. Nếu em đã có ước hẹn ới nàng, thì cũng nên xử trí thế nào cho nàng được chốn yên thân mới phải.
Hùng vương nói:
- Việc ấy nên xử thế nào cho tiện, âu là lại bảo nó trở về quê nhà.
Hùng Khởi Thần nói:
- Không thế được! Bởi vì cữu phụ con nóng tính quá, quyết không khi nào chịu nguôi cơn giận mà để cho sum họp một nhà. Cứ như ý con thi việc ấy cũng chẳng khó gì, thân mẫu chỉ nên bảo nàng quyết chí tu hành là tiện hơn cả.
Anh em phò mã Triệu Câu nghe nói, đều lẩm nhẩm gật đầu. Hùng Khởi Phượng nói với Vệ Dũng Nga vương phi rằng:
- Thân mẫu ơi! Thân mẫu nên theo cách ấy mà thi hành!
Vệ Dũng Nga vương phi nổi giận mà rằng:
- Con vật ô uế ấy, ngày nay ta không muốn trông thấy mặt nói làm chi!
Hùng vương nói với phò mã Triệu Câu rằng:
- Ta hãy tạm cho Văn Cơ ở một cái chùa nào, để khi làm lễ cưới Phi Loan quận chúa rồi, bấy giờ sẽ thương nghị.
Phò mã Triệu Câu lại nói:
- Cô phụ nghĩ như thế là chí phải! Lại còn một điều này nữa, con xin nói để cô phụ nghe:
“Số là thân phụ con đã tâu cùng thánh thượng, hễ khi cô phụ về đây thì xin đem binh quyền giao phó cho trưởng huynh con, tất cũng có thể giữ yên bốn phương, mà cô phụ trong khi tuổi già này, sẽ được cùng thượng hoàng sớm khuya sum họp, cùng hưởng phúc thanh nhàn vậy.
Hùng vương nghe nói mừng lòng cười mà bảo Vệ Dũng Nga vương phi rằng:
- Nếu vậy thì tôi cùng vương phi sẽ được hưởng phúc thanh nhàn, trong khi tuổi già cùng nhau hầu hạ thánh quân cũng là một sự “Thiên cổ ky phùng” vậy; còn việc Văn Cơ hà tất phải nghĩ ngợi đến.. Những cái tư tình của đàn con trẻ, ta cứ phó mặc cho chúng nó là hơn.
Hùng vương nói xong lại khanh khách cười. Vệ Dũng Nga vương phi cũng có ý vui vẻ. Vợ chồng Hùng vương và mọi người lại rót rượu uống, rồi cùng nhau kể lể các nông nổi sau khi tương biệt. Mỗi khi nói đến những sự thương tâm thì lại đều thở ngắn than dài. Hùng Khởi Phượng và Hùng Khởi Thần đi ra phòng ngoài yên nghỉ, cùng nhau nói chuyện nàng Hạng Ngọc Thanh và nàng Văn Cơ. Hai anh em suốt đêm hôm ấy không ngủ. Sáng hôm sau dậy sớm, lại vào hỏi thăm cha mẹ, Lương Cẩm Hà phu nhân cũng ẵm tiểu công tử vào. Hùng vương nghoảnh nhìn các con, rồi cả cười mà rằng:
- Ta đây cũng là một kẻ tài hèn sức mọn, chịu ơn triều đình mũ cao áo dài trong bấy nhiêu năm, chưa có chút chi đền báo. Vẫn tưởng rằng chết già trong ngục thất, ai ngờ còn gặp thánh quân hiền chúa, chẳng những toàn gia ân xá, mà lại được ân thưởng tôn vinh phú quý này. Bây giờ vợ chồng đoàn viên con cháu vui vẻ, thế thì ơn sâu của triều đình, ta cũng phải nghĩ thế nào. Các con ơi! Các con nên hết sức tận trung với triều đình, tức là tận hiếu cùng cha mẹ đó.
Bỗng thấy phò mã Triệu Câu đến. Hùng Khởi Phượng nói:
- Thân phụ tôi vừa định sang thăm phò mã, không ngờ phò mã lại tới đây!
Phò mã Triệu Câu cười mà đáp rằng:
- Số là nghe có tin mừng cho nên chúng tôi phải sang đây để báo tin với cô phụ.
Hùng vương nói:
- Phò mã nói khôi hài cho vui chuyện đó mà thôi, chứ ta đây còn có tin gì đáng mừng nữa!
Bấy giờ nữ tỳ bày tiệc, mọi người cùng ngồi uống rượu. Trong khi uống rượu, lại nói đến những việc mười năm về trước. Vệ Dũng Nga vương phi chỉ tấm tắc khen ngợi nàng Hạng Ngọc Thanh.
Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Con ta không được kết duyên cùng nàng Hạng Ngọc Thanh cũng là một điều đáng tiếc. Vì ai để lụy đến nàng, khiến nàng uống phí một đời xuân xanh, quyết chí tu hành, không thiết chi đến đường gia thất. Hôm nào ta còn phải tâu thái hậu cho con ta được vào yết kiến nàng. Ta có thuật chuyện Nam Kim nữ chủ cho nàng nghe thì nàng tất lấy làm cảm kích. Nàng cảm kích cái ơn con ta bảo toàn danh dự cho cô mẫu nàng, lại bảo Cao Ly quốc vương lập người con gái Nam Kim nữ chủ lên làm hoàng hậu, thế là khiến cho họ Hạng cũng được toàn thủy toàn chung vậy.
Vệ Dũng Nga vương phi lại thở dài rồi nói:
- Hạng Ngọc Thanh cũng là một người kỳ nữ mà sao biết giữ toàn được cái lòng tiết nghĩa như thế! Chỉ đáng thương cho nhà họ Vệ ta, ai ngờ ngày nay lại nảy ra một đứa con gái dâm đảng như con Văn Cơ này.
Vệ Dũng Nga vương phi nói xong, lại cau mày nghiến răng, tỏ ra ý căm tức. Hùng vương chỉ rót rượu ngồi uống. Phò mã Triệu Câu cũng phàn nàn mà rằng:
- Hai thân tôi ngày nay cũng lấy việc Phi Giao làm hổ thẹn, chẳng còn mặt mũi nào trông thấy các quan triều thần. Thân mẫu tôi về thăm quê nhà mà thân phụ tôi khi nào nghĩ đến Phi Giao cũng vẫn căm tức. Ngày hôm nay tôi vào triều kiến thánh thượng, thì thánh thượng đã truyền xá tội cho nàng Văn Cơ, vì nàng đã có công trong việc nội ứng. Bấy giờ nàng không biết về đâu cho tiện, vậy xin cô phụ hỏi nhị hiền đệ xem, nếu có ước hẹn với nàng thì tôi thiết tưởng cũng nên chứ sao!
Hùng Khởi Thần không đợi cho Hùng vương nói tức khắc đứng dậy mà thưa rằng:
- Phò mã ơi! Tôi xin thuật hết đầu đuôi việc nàng Văn Cơ cho phò mã nghe.
Nói xong, liền đem những lời Hùng vương dặn bảo khi trước mà kể cho phò mã Triệu Câu nghe và lại bảo rằng:
- Tôi vâng mệnh thân phụ bất đắc dĩ mà phải ước hẹn với nàng, chẳng lẽ ngày nay lại “Lộng giả thành chân” hay sao! Phò mã ơi! Tôi dẫu không dám sánh như phò mã là một bậc kỳ nam tử, nhưng cũng có đôi chút liêm sỉ, nếu bây giờ bắt tôi phải y lời ước hẹn thì năm xưa tôi còn phải cự tuyệt nàng làm chi.
Phò mã Triệu Câu gật đầu khen phải. Vệ Dũng Nga vương phi đỏ mặt tía tai, trỏ Hùng Khởi Thần mắng rằng:
- Mày thật là một đứa con bất hiếu! Không tuân lời nghiêm huấn, dám nhắm mắt đi liều. Nếu năm xưa mày cứ đi thẳng đường về nhà họ Mạnh thì khi nào đến nỗi gặp con Văn Cơ!
Bỗng thấy Lương Cẩm Hà phu nhân đến trước mặt vợ chồng Hùng vương, khép áo sụp lạy. Vợ chồng Hùng vương đều kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Có việc chi thế, con!
Lương Cẩm Hà phu nhân khóc mà thưa rằng:
- Dám thưa vương phi! Chỉ vì năm xưa con nghĩ lầm một chút mà để đến nỗi nàng Hạng Ngọc Thanh không được sum họp cùng phu quân con. Nay nàng quyết chí tu hành, đều là bởi con làm hại nàng đó. Bấy lâu con vẫn lấy điều ấy làm hối hận, chỉ vì còn phải đợi phu quân con về đây. May mà nhờ lòng trung nghĩa của hai thân cảm động đến trời, ngày nay lại được cốt nhục đoàn viên, một nhà sum họp. Con nghĩ công lao của nàng Hạng Ngọc Thanh ở trong ngục thất, vậy có nói với phu quân con, xin đem ngôi chính thất mà nhường cho nàng. Nào ngờ đâu rằng phu quân con không nghe, lại hầm hầm nổi giận, mắng con là đứa nói càn. Nay vương gia đã về đây, chẳng bao lâu nữa biểu muội (trỏ Phi Loan) con cũng về, việc nội chính đã có người trông coi, con xin phép trở về quê nhà để hầu hạ thân mẫu. Vả từ khi thân phụ con tạ thế, con cũng chưa về thăm quê nhà lần nào.
Lương Cẩm Hà phu nhân nói chưa dứt lời thì Hùng Khởi Phượng đứng dậy nói với vợ chồng Hùng vương rằng :
- Dám bẩm thân phụ và thân mẫu! Nội nhân con không hiểu chí khí của kẻ trượng phu, vẫn ngờ con là một người say đắm về nhi nữ tư tình vậy. Ngày nay con về đây, há con lại không biết nghĩ cong lao của nàng Hạng Ngọc Thanh hay sao! Nhưng từ khi con gặp mặt nàng, đã biết nàng là một con người có tấm lòng băng tuyết. Vả nàng đã chán nơi trần tục thì ngày nay ta để cho nàng được nương cảnh thanh tĩnh, cũng là một cách báo ơn. Nội nhân con không hiểu ý, lại bảo con có tính vu chấp, ngày nay muốn trở về quê nhà, há chẳng nực cười lắm ru.
Khi Hùng Khởi Phượng nói xong, Hùng vương nín lặng không bảo thế nào. Vệ Dũng Nga vương phi lại nói:
- Con ta nói có lẽ phải! Nàng Hạng Ngọc Thanh nguyên có tiên phong đạo cốt, không phải là người trần tục. Hồi trước Lưu Yến Ngọc phu nhân cũng đã nói cho ta biết rằng nàng là một vị du tiên, phải đày xuống cõi trần, bao giờ trọn vẹn kiếp tu, bấy giờ sẽ lại trở về tiên phủ. Thế thì ta cũng nên để nàng được toàn chí nguyện, chớ khiến nàng phải vương víu trần duyên. Vừa mới tháng trước đây, có tin ở quê nhà đến thì lệnh từ và hai công tử đều được bình yên cả. Hai công tử vì cớ lệnh từ tuổi già sức yếu, cho nên không muốn ra làm quan. Ngày nay con ta đi sứ Cao Ly, kể hàng mười năm với về, hai ta cũng chịu bao nhiêu nỗi khổ sở ở trong ngục thất, bấy giờ mới về đây. Thế thì con cũng hãy nên yên lòng trong một vài năm để cho ta được trông thấy cảnh đoàn viên vui vẻ, rồi sau ta sẽ đưa con về quê nhà thăm thân mẫu, bấy giờ tình kia nghĩa nọ, há chẳng trọn vẹn cả đôi đường.
Vệ Dũng Nga vương phi nói xong, lại giơ tay đỡ Lương Cẩm Hà phu nhân dậy. Hùng vương cười mà bảo rằng:
- Ta nghe mấy lời của thân mẫu con phân trần, thật là một người mẹ hiền, các con chớ nên trái ý!
Nói chưa dứt lời thì bỗng nghe báo có thánh chỉ đến. Cha con Hùng vương vội vàng đội mũ mặc áo và bày hương án để nghênh tiếp. Nội giám Lăng Mậu tuyên đọc tờ thánh chỉ như sau này:

“Thừa thiên hưng vận, hoàng đế chiếu rằng:
- Bình Giang vương Hùng Hiệu và vợ là Vệ Dũng Nga từ xưa chịu ơn triều đình vẫn một lòng tận trung báo quốc, dẫu được dự hàng ngoại thích mà cũng không hề có ý kiêu căng.Không ngờ thượng hoàng bỏ đi, tiểu tử này bất đức, để đến nỗi lão thần xuất sứ, lương tướng liều mình, gây nên bao nhiêu sự sầu thảm.
Ngày nay mây mù quét sạch, ánh sáng mặt trời lại rực rỡ như xưa. trẫm gia phong cho Hùng Hiệu làm Trương vương để đền lại lòng trung nghĩa. Trưởng tử là Hùng Khởi Phượng đi sứ nước ngoài, một lòng thủ tiết, lại cho được tập tước, chưởng quản cấm binh. Thứ tử là Hùng Khởi Thần thiên tính chí hiếu, mà gặp nhiều khổ sở, nghĩ thật đáng thương. Lại có công thu phục thành Kim Lăng, vậy phong làm Kỳ Anh Hầu, kiêm lĩnh Lễ bộ. Vợ Hùng Khởi Thần là Hoàng Phủ Phi Loan, tiết liệt đáng khen, cũng phong làm nhất phẩm phu nhân hiếu nghĩa quận chúa.
Cao Ly quốc vương mới đem cống dâng các đồ kim ngân cẩm bạch, vậy nay trích ra một trăm tấm gấm, mười nghìn lạng vàng, để làm liêm trang cho Phi Loan quận chúa. Lại phải mau mau chọn ngày làm lễ cưới khiến cho thái hậu được yên lòng. Các tướng có công trong việc thu phục Kim Lăng như Trương Vĩnh và Sĩ Quí đều được gia phong, lại theo lời xin của phò mã Triệu Câu, cho hai tên cung nữ để cùng hai tướng đẹp duyên cầm sắt. Văn Cơ dẫu là người bất chính, nhưng đã có công nội ứng, cũng được tha tội. Các quan văn võ đều được thăng tám cấp, Trương Long và Triệu Hổ phong làm chỉ huy sứ, Tô Thành làm chức thiên hộ, Trương Thuận được thưởng kim bạch. Khâm tai.”


Nội giám Lăng Mậu tuyên đọc xong, cha con Hùng vương đều cúi đầu lạy tạ thánh chỉ. Nội giám Lăng Mậu lại nói mấy lời chúc mừng. Hùng vương cầm một bản tâu trao cho Lăng Mậu mà bảo rằng:
- Nội giám Lăng Mậu ơi! Tôi có một bản tâu nhờ nhà ngươi đệ trình thánh thượng. Số là Hùng Hiệu này đã hết sức khuyển mã. Vả gần đây lại bỗng sinh đa bệnh mà vẫn chưa dám từ quan. Nay xin thánh thượng giáng chỉ cho tôi được theo hầu thượng hoàng thì thật là một cái ân đặc biệt. Hai con tôi xin để hầu hạ thánh thượng mà đừng cho chưởng quản binh quyền. Binh quyền nên giao cho phò mã Triệu Câu, phò mã thật là người có tài “kinh thiên vĩ địa” vậy.
Nội giám Lăng Mậu vâng dạ rồi nói:
- Mấy lời vương gia tâu xin, tất thế nào thánh thượng cũng phê chuẩn, nhưng còn một việc giao binh quyền cho Hoàng Phủ phò mã thì thái hậu vị tất đã ưng. Số là toi thấy Hoàng Phủ phò mã cũng đã mấy lần từ chối, nay vương gia lại tâu xin như thế thì chẳng lẽ binh quyền biết giao cho ai. Bảng tâu này tôi xin vâng lĩnh đem về dâng thánh thượng, nhưng trong hai việc ấy tôi chắc chỉ làm được một việc mà thôi.
Hùng vương lại đem một nghìn lạng bạc đưa tặng nội giám Lăng Mậu. Nội giám Lăng Mậu thở dài mà thưa rằng:
- Vương gia ban thưởng, tôi không dám từ chối, nhưng tôi thiết nghĩ một thân vò võ, cầu được nhiều của để làm chi! Kìa như nội giám Mã Thuận, trong nhà biết bao nhiêu châu bảo vàng bạc, ngày mai ra chốn pháp trường phỏng có đem theo được vật gì không! Bởi vậy mỗi khi thánh thượng và các vị vương hầu thưởng tứ cho tôi, tôi đem về đều phân phát cho thân thích họ hàng. Thân thích họ hàng tôi, ai nghèo thì tôi giúp tiền, chứ không giúp cho ai làm quan cả, còn như thân thích họ hàng Mã Thuận, bao nhiêu người làm quan, ngày nay lại cùng chịu cái nỗi đoạn trường ấy, khổ sở biết là dường nào!
Nội giám Lăng Mậu nói xong, cáo từ lui ra. Bấy giờ nhà họ Hùng cùng nhà Hoàng Phủ hai nhà đều nhiệt náo sửa soạn nghi tiết cho Hùng Khởi Thần là lệ thành hôn cùng Phi Loan quận chúa.

Lại nói chuyện nàng Văn Cơ từ khi về tới Bắc Kinh, vào ở trong ngục thất, đêm ngày ngẫm nghĩ, như dại như ngây. Nàng nghĩ thầm: “Ta đã đem thân vào đến chốn này thật là chỉ còn đợi ngày xử tử.” Nàng run sợ mà ngã lăn ra. Bấy giờ có các phụ nữ cùng bị giam ở đấy chạy đến khuyên giải rồi bảo nàng rằng:
- Chốn này là nơi khổ hải, chúng ta ở đây thật đã trăm cay nghìn đắng, chẳng hay nàng có tội tình gì mà con người ngọc cũng phải đi đến chốn này vậy.
Nói chưa dứt lời thì bỗng nghe mặt ngoài có tiếng người gọi mở cửa, để mau mau giải bọn phản nghịch đem ra pháp trường. Các phụ nữ dắt nàng Văn Cơ đứng nấp ra một bên để xem. Bấy giờ thấy có hai người đàn ông đầu bù tóc rối, mình mặc áo trắng, tay chân đều đeo xiềng sắt cả, ở trong ngục tối thẳng lối đi ra. Phía sau lưng hai người đàn ông đó lại có một bọn đi theo, vừa nam vừa nữ, ả thảy hàng mấy trăm người, đều bưng đầu khóc than, ai trông thấy cũng phải thương xót. Các phụ nữ lại bảo nàng Văn Cơ rằng:
- Hai người đàn ông kia tức là Mã Thuận và Đồ Man Hưng Phục đó! Còn một bọn theo sau là đồ đảng của hai người. Bây giờ giải ra pháp trường để xử quyết.
Nàng Văn Cơ nghe nói kinh hồn khiếp vía, nét mặt tái mét, mồ hôi toát ra đầm đìa, ngất người đi mà ngã lăn ra. Các phụ nữ vội vàng đỡ dậy, ngồi lặng hồi lâu, bấy giờ tinh thần mới lại hồi phục. Nàng Văn Cơ thở dài mà than rằng:
- Hùng công tử ơi! Nếu ta không nhờ công tử cứu cho thì có lẽ hôm nay cũng phải giải đi xử quyết rồi! Nhưng cái thân chết dở sống thừa này,chẳng biết mai sau rồi ra thế nào.
Nói xong, lại kéo vạt áo bưng mặt mà nức nở khóc. Từ đó nàng Văn Cơ thường suốt đêm không ngủ, năm canh vơ vẩn chỉ những nghĩ lo quanh: Hồi tưởng năm nào động phòng hoa chúc, một đôi trai tài gái sắc, vẫn tưởng rằng duyên ưa đẹp phận cùng nhau trọn ước trăm năm, ai ngờ trâm gãy bình rơi, để đến nỗi nên cơ hội này. Lại hồi tưởng đến khi gặp Hùng công tử. Thấy chàng, ta cũng đeo đai, không ngờ cánh hoa nguyên hữu ý mà dòng nước vẫn vô tình, khiến cho ta luống những bẻ bàng hờn duyên tủi phận. Lại hồi tưởng đến khi đem thân về với Định Quốc, chỉ vì ta quá nghe lời thân mẫu mà đến nỗi tan cửa nát nhà. Tội phản nghịch kia, nay đã cam chịu một lưỡi gươm oan nghiệt. Thế mới biết bốn chữ “Hồng nhan bạc mệnh”, cổ kim há có riêng ai. Chiếc thân chết dở sống thừa, không ngờ ngày nay thành ra một người tù tội. Nếu không được Hùng công tử đền ơn báo nghĩa thì tấm thân này còn gì.
Nàng Văn Cơ càng nghĩ lại càng oán giận Lã di nương, vì nỗi dầu ghét bỏ Hùng công tử mặc lòng, cớ sao lại buộc cho Từ di nương tiếng xấu xa nhơ nhuốc. Ngày nay Từ di nương oan tình đã giải, mà thm ta cũng hồn về chín suối, chẳng biết khi cùng nhau gặp gỡ thì mặt nào mà trông thấy nhau. Nàng Văn Cơ khóc than kể lể, các phụ nữ xúm lại mà nghe. Cách mấy hôm sau, bỗng thấy tên ngục tốt mở cửa chạy vào bảo nàng Văn Cơ rằng:
- Có một người lão ẩu nói là phụng mệnh Hùng vương đem kiệu tới đón tiểu thư đó. Kiệu hoa đã đợi ở ngoài cửa, mời tiểu thư mau mau đi ra.
Nàng Văn Cơ gạt nước mắt từ biệt các phụ nữ ở trong ngục rồi bước lên kiệu.

về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-27 07:30:41Hoàng Dung>
hồi thứ 16 b

Kiệu đi như bay, hồi lâu đến một cái chùa ở trong quãng rừng. Người lão ẩu mời nàng Văn Cơ xuống kiệu. Nàng vừa xuống kiệu, bỗng có ba người ni sư ở trong chùa bước ra, nét mặt tươi cười đón mà bảo nàng rằng:
- Nàng là Vệ tiểu thư đó phải không? Chốn hoang am này may sao lại có thiên tiên giáng hạ!
Ba người ni sư vừa nói vừa mời vào. Nàng Văn Cơ bất đắc dĩ phải rón rén bước theo. Ba người ni sư lại cùng nhau tấm tắc khen ngợi mà rằng:
- Trời ơi! Xưa nay tôi chưa từng được trông thấy ai có nhan sắc xinh đẹp lạ thường như Vệ tiểu thư này!
Vào đến trước tam bảo, nàng Văn Cơ cuí đầu sụp lạy. Lạy xong, các ni sư vội vàng mời vào nhà trong. Nàng Văn Cơ cúi chào các ni sư rồi hỏi rằng:
- Bạch các sư! Chẳng hay cảnh Phật đây tên gọi chùa gì? Sư cụ đây pháp hiệu là gì? Tự ai bảo đưa tôi đến chốn này? Xin người nói rõ cho tôi biết để tôi được yên lòng.
Các sư đều tủm tỉm cười, mời nàng Văn Cơ ngồi rồi pha trà uống. Trong bọn các sư có một người độ trạc bốn mươi tuổi, bảo nàng Văn Cơ rằng:
- Vệ tiểu thư ơi! Tôi xin nói để tiểu thư nghe. Cảnh Phật đây nguyên vẫn gọi là chùa Thiên Hoa. Tự Hoàng Phủ vương gia lập nên, kể đã lâu năm. Sư cụ Phạm Như tôi, trước trụ trì ở đây, nay người đã về chầu Pật. Bây giờ truyền đến chúng tôi. Tôi tên gọi Trí Tu, về dòng họ Lý, còn đồ đệ tôi đây là tiểu Tam Chân cùng tiểu Kinh Viên. Hôm trước tôi có vào bái yết Vệ vương phi thì Vệ vương phi bảo tôi đón tiểu thư về đây, để cho tiểu thư được tiện chỗ tu hành, rồi mỗi năm sẽ cấp cho năm trăm lạng bạc.
Sư cụ Trí Tu lại nói:
- Vệ tiểu thư ơi! Tôi vẫn tưởng tiểu thư là một người tầm thường vậy, không ai ngờ lại có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành như thế này. Nhà chùa khổ hạnh, dưa muối nâu sồng, chẳng biết tiểu thư có cam chịu được hay không?
Nàng Văn Cơ nghe nói, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng, kêu lên một tiếng mà rằng:
- Trời ơi! Thế ra đưa tôi đến đây, để tôi tu hành phải không? Tôi vẫn tưởng lời ước hẹn của Hùng công tử là lời nói thực, cứ như lời cô mẫu tôi nói thì khi nào Hùng công tử kết duyên với tôi. Tôi còn nhớ những lời Hùng công tử ước hẹn cùng tôi rằng: “Tiểu thư cố làm thế nào lừa cho Định Quốc uống rượu ngủ say, để tôi vào giết được thì đem công chuộc tội, bấy giờ ta sẽ cùng nhau chắp cánh uyên ương”. Chẳng lẽ Hùng công tử lại phụ lời hay sao! Năm nay tôi dẫu ngoài ba mươi tuổi, nhưng Phi Loan quận chúa bây giờ tưởng cũng đã quá chiều xuân...
Nàng Văn Cơ một mình nghĩ quanh nghĩ quẩn, ruột đau như cắt, lại dậm chân xưống đất mà nức nở khóc hoài. Sư cụ Trí Tu kiếm lời khuyên giải, rồi dọn cơm chay mời ăn. Trong khi ăn cơm, các sư lại thuật chuyện nàng Lưu Yến Ngọc thuở xưa cũng vì thủ tiết mà đi ở chùa, chịu bao nhiêu nỗi đắng cay, rồi sau mới kết duyên cùng Trung Hiếu vương.
Các sư đều nói:
- Khi Lưu Yến Ngọc phu nhân tiến kinh, sư cụ Phạm Như tôi theo đi, cho nên mới thành ra tu ở chùa này.
Các sư lại thuật chuyện Phi Loan quận chúa cho nàng Văn Cơ nghe mà rằng:
- Phi Loan quận chúa thật là một người hiếm có! Khi Hùng vương bị nạn, quận chúa cùng Hùng công tử dẫu chưa thành hôn mà một lòng thủ tiết, tình nguyện vào nhà giam, để hầu hạ cha mẹ chồng ở trong ngục thất. Mấy lần Phi Giao hoàng hậu giáng chỉ ân xá, mà quận chúa cũng nhất định không về. Người có lòng nhân, trời nào nỡ phụ, ngày nay đã sắp làm lễ thành hôn cùng Hùng công tử vậy.
Các sư đều tấm tắc khen ngợi Phi Loan quận chúa, ngày nay sung sướng cho bỏ những lúc nhọc nhằn. Các sư lại thuật chuyện nàng Hạng Ngọc Thanh cho nàng Văn Cơ nghe. Sư cụ Trí Tu nói:
- Nàng Hạng Ngọc Thanh lại càng đáng khen lắm. Nàng có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành mà cũng một lòng thủ tiết cùng Hùng quốc cữu, tình nguyện vào nhà giam để hầu hạ vợ chồng Hùng vương. Ngày nay thượng hoàng và thái hậu rất trọng đãi nàng, lập riêng một nơi tĩnh viện ở Tiểu Hoa Sơn cho nàng ra ở đấy mà ngày đêm tu luyện. Sư cụ Trí Tu lại nói:
- Còn nàng Diễm Tuyết cũng có nhan sắc đắm nguyệt ngây hoa, mà từ bé đến giờ, chỉ dốc một lòng mộ đạo.
Tiểu Kính Viên cười mà bảo rằng:
- Chẳng những thế mà thôi! Còn Lương Cẩm Hà phu nhân cũng là một người hiền đức. Khi nàng Hạng Ngọc Thanh quyết chí đi tu, phu nhân chỉ thương tiếc nàng mà đêm ngày khóc lóc. Một nhà như nhà Hùng vương, thật là con hiền dâu thảo hay đủ mọi bề, chẳng ai còn chê được điều gì!
Nàng Văn Cơ nghe nói trong lòng sùng sục như bể dầu sôi. Nàng biết các sư có ý mỉa mai, nhưng cũng ngậm đắng nuốt cay, nín lặng không nói. Khi ăn cơm chay xong, tiểu Tam Chân tươi cười mà nói với nàng rằng:
- Vệ tiểu thư ơi! Tiểu thư chớ lo phiền, bây giờ hãy xin mời tiểu thư vào phòng yên nghỉ.
Nàng Văn Cơ bất đắc dĩ phải đứng dậy theo tiểu Tam Chân vào trong một cái phòng tại nhà hậu. Đường lối đi vào rất là khuất khúc. Khi vào tói trong phòng, giường gỗ, gối tre, màn xô nệm vải, các đồ trần thiết, trông rất nhã đạm. Trên giá áo lại có treo mấy chiếc mũ ni và cà sa. Tiểu Tam Chân mời nàng Văn Cơ ngồi, lại pha trà mời nàng uống, rồi bảo nàng rằng:
- Vệ tiểu thư ơi! Nếu tiểu thư buồn bã thì xin tiểu thư hãy xem cac bức tranh vẻ ở bên tường này. Các bức tranh vẽ đây, toàn là của Hùng vương bố thí, đem treo tại đó!
Tiểu Tam Chân vừa nói vừa đưa tay trỏ. Nàng Văn Cơ liền ngẩng đầu lên nhìn. Khi nàng nhìn thấy, bỗng giật mình kinh sợ, nét mặt tái mét, rồi ngất người đi ngã lăn xuống đấy. Tiểu Tam Chân thấy vậy, kể sao cho xiết nỗi kinh hoàng, liền ôm lấy nàng Văn Cơ mà kêu người mau mau đến cứu.
Sư cụ Trí Tu bấy giờ ở nhà ngoài đang nói chuyện với tiểu Kinh Viên rằng:
- Ta tiếc cho con người thế ấy mà số mệnh long đong, chỉ vì phạm một tội tà dâm thì dẫu nhan sắc khuynh thành, cũng là uổng phí! Vệ vương phi cũng quá ư nghiêm khắc, lại bảo chúng ta dùng những lời mỉa mai mà đối với nàng. Còn ba bức tranh vẽ bảo ta đem treo tại phòng kia là có ý khiến cho nàng trông thấy phải kinh sợ, liệu mà hồi tâm cái tính, rồi yên một phận ở đây tu hành. Nếu nàng chịu cắt tóc đi tu thì Hùng vương sẽ cấp cho chùa ta mỗi năm năm trăm lạng bạc, lại trông nom tu bổ, có lẽ chùa ta cũng nhờ đó mà hưng vượng lên nhiều.
Tiểu Kính Viên thở dài mà đáp lại rằng:
- Đã đành rằng như thế, nhưng tội nghiệp thay cho nàng mặt hoa da ngọc, nhan sắc khuynh thành, ai ngờ lại bị người cưỡng bách bắt phải cắt tóc. Chỉ sợ con người thế ấy, vị tất đã yên lòng mà đoạn tuyệt được trần duyên vậy.
Hai người đang chuyện trò cùng nhau thì bỗng nghe ở dưới nhà hậu có tiếng người kêu ầm ĩ:
Tôn sư ơi! Đồ đệ ơi! Mau mau đến để cứu nàng.
Sư cụ Trí Tu và tiểu Kính Viên chẳng còn hồn vía nào nữa, vội vàng tất tả chạy đến. Khi bước vào trong phòng, thấy nàng Văn Cơ đã trợn ngược mắt lên. Sư cụ Trí Tu nói:
Bây giò biết tính thế nào! Nhân mệnh chí trọng, việc này biết tính làm sao!
Tiểu Tam Chân và tiểu Kính Viên đều sụt sùi thương khóc. Bỗng có mấy bà vãi đến lễ chùa trông thấy, mới khẽ bảo rằng:
- Bách các sư! Xin các sư đừng nóng nảy! Mau mau đỡ nàng ngồi dậy, rồi bảo người vuốt ngực cho nàng. Đây là nàng khí uất mà kéo đờm lên, cho nên thành ra như thế!
Tiểu Tam Chân nghe lời, đỡ nàng Văn Cơ dậy, rồi các vãi xúm lại mà vuốt ngực cho nàng. Vuốt trong hồi lâu, quả nhiên nghe tiếng khò khè ở trong cuống họng. Các bà vãi nói:
- Nên mau mau lấy nước gừng mà đổ cho nàng.
Tiểu Kính Viên vội vàng đi sắc nước gừng đem đến. Khi đổ nước gừng cho nàng rồi thì nàng nấc lên mấy tiếng rồi khẽ động đậy mắt. Các bà vãi nói:
- May ra có thể chữa được! Bây giờ ta hãy vực nàng lên nằm ở trên giường.
Các sư xúm lại vực nàng lên giường. Bỗng thấy nàng kêu lên thật to một tiếng rồi nói:
- Trời ơi! Nếu biết trước như thế này thì chẳng thà năm xưa yên phận ở vậy cho xong. Hùng công tử ơi! Không ngờ công tử lại dùng những lời cam ngôn mật ngữ mà đánh lừa tôi! Công trạng lớn lao kia về tay họ Hùng, mà bao nhiêu nông nỗi cực khổ thì bắt tôi phải cam chịu. Thương xót cho thân tôi, ngày nay tôi cũng chẳng tiếc gì một chết, nhưng chỉ ngại về nơi chín suối, còn mặt mũi nào mà trông thấy đứa vũ phu thô bỉ kia!
Các sư đều xúm lại khuyên giải mà rằng:
- Vệ tiểu thư ơi! Tiểu thư vừa mới hồi tỉnh, chớ nên nghĩ ngợi mà chi cả.
Nàng Văn Cơ yên nghỉ hồi lâu thì các sư lại nấu cháo đem đến rồi bảo nàng rằng:
- Vệ tiểu thư ơi! Tiểu thư hãy gượng dậy ăn một lưng cháo!
Nàng Văn Cơ nể lời các sư, phải cầm lấy bát cháo gượng ăn. Các sư thấy nàng tinh thần đã hồi phục, mừng rỡ xiết bao, tức khắc chạy ra rung chuông đánh trống, tụng kinh niệm Phật, rồi ai nấy về phòng ngủ.
Nàng Văn Cơ đêm hôm ấy không thể chợp mắt được, hai hàng nước mắt ròng ròng chảy xuống, chỉ ngồi nghĩ quanh nghĩ quẩn, đường kia nỗi nọ, ngổn ngang trong lòng, không biết cái thân thể này rồi sẽ ra sao.
Nàng nghĩ thầm: “Bây giờ ta trở về quê nhà thì phụ huynh ta tất không nhận, mà chết xuống suối vàng thì mặt mũi nào trông thấy hai vị lang quân. Âu là ta quyết chí tu hành, nhưng muốn tu tất phải cắt tóc, con người mặt hoa da ngọc, nỡ nào cải dạng nâu sồng! Trời ơi! Ta cũng chớ nên oán tránh biểu đệ và cô mẫu, chẳng qua chỉ bởi ta nghĩ lầm một chút, đáng lẽ phu quân ta tạ thế, ta phải một lòng thủ tiết mới khỏi hổ thẹn con nhà thế gia. Nếu thân phụ có quá thương mà muốn cho ta cải giá thì ta cũng phải yên phận trong chốn khuê phòng, để tùy ý thân phụ ta kén chọn, cớ sao trông thấy biểu đệ lại đem lòng đeo đai. Trăm điều ngang ngửa vì ta, để đến nỗi Từ di nương bị oan mà chết. Xót thân lưu lạc, cát lấp sóng vùi, hồng nhan như ta, còn mong chi nữa. Ta nghe những lời các sư nói và xem mấy bức tranh treo đây thì quả nhiên là cô mẫu ta muốn bắt ta đi tu vậy”.
Nàng Văn Cơ nghĩ quanh nghĩ quẩn, trời đã sáng rõ. Nàng trở dậy ngồi dưới cửa sổ, chẳng buồn rửa mặt, ngẩng nhìn ba bức tranh thì không thấy đâu. Bỗng có sư cụ Trí Tu ở mặt ngoài bước vào, lên tiếng bảo rằng:
- Tiểu thư dậy sớm nhỉ, đêm qua ngủ có được yên giấc không?
Nàng Văn Cơ nghoảnh nhìn thì thấy sư cụ Trí Tu mình mặc bộ áo cà sa, nét mặt hiền lành, mới gạt nước mắt rồi thỏ thẻ mà bạch rằng:
- Dám bạch sư cụ! Đêm qua chắc người vì tôi mà phải một bữa sợ! Người đã hết lòng tử tế mà cứu tôi khỏi chết! Bây giờ tôi có một điều này muốn hỏi, xin người cứ lấy thực tình mà dạy bảo cho.
Sư cụ Trí Tu nói:
- Tiểu thư muốn hỏi điều gì, xin tiểu thư cứ nói.
Nàng Văn Cơ nói:
- Đầu đuôi việc này thế nào, tất người đã hiểu rõ! Cô mẫu tôi vẽ ba bức tranh ấy: Một cảnh vẽ “động phòng hoa chúc” của tôi năm xưa, và một bức vẽ trong khi tôi cưỡng bách Hùng công tử mà xé tập tranh “bách mỹ”; còn một bức còn lại vẽ Định Quốc tướng quân khi bị đâm. Quả nhiên là có ý khiến cho tôi phải hối hận. Nhưng tôi xin nói để người biết, tôi đây hối hận đã nhiều, muốn chết mà không thể chết được, chỉ xin hỏi hỏi người một câu rằng, cô mẫu tôi định xử trí tôi ra thế nào? Tất cô mẫu tôi có nói chuyện với người, vậy xin người hãy thuật rõ cho tôi nghe.
Sư cụ Trí Tu nghe nói, thở dài mà than rằng:
- Nếu vậy thì tiểu thư thật thông minh! Quả nhiên Vệ vương phi có nói chuyện với tôi. Vương phi tỏ ý cho tôi biết rằng cứ lấy tình thân thích mà nói thì đáng lẽ vương phi nên lĩnh tiểu thư về quê nhà là phải, nhưng ngặt vì có ba điđẻu không tiện.
Nàng Văn Cơ hỏi:
-Ba điều là những điều gì?
Sư cụ Trí Tu nói:
- Điều thứ nhất là Vệ vương phi xưa nay rất ghét những kẻ dâm tà không muốn nhìn mặt, mà tiểu thư không biết giữ thói nhà băng tuyết, lại cam lòng cải giá để sinh ra nhiều sự xấu xa. Điều thứ hai là tiểu thư hại anh hại cha như thế, còn mặt mũi nào trông thấy cha anh nữa. Chẳng những hại thân mà hại cả đến bà sinh mẫu, tội ác chất cao bằng núi, khiến cho bao nhiêu oan hồn quanh quẩn bên mình. Điểu thứ ba là vương phi nghe nói tiểu thư nhan sắc xinh đẹp, mà tư chất lại thông minh thì vị tất đã chịu ở yên một bề vậy. Huống chi ngày nay trong vương phủ toàn thị con hiền dâu thảo danh tiếng thơm tho, nếu đem tiểu thư về thì vương phi lấy làm một sự hổ thẹn. Bởi vậy vương phi nghĩ đi nghĩ lại, chỉ còn một kế này là hơn.
Nàng Văn Cơ hỏi rằng:
- Còn một kế gì?
Sư cụ Trí Tu nói:
- Chỉ còn một kế tiểu thư nên quyết chí tu hành. Nếu tiểu thư cứ yên phận ở đây trong ba năm thì bấy giờ vương gia sẽ thân hành tới đây, cô cháu gặp nhau, lại được vui vẻ như xưa vậy. Tiểu thư ở đây, mỗi năm vương phi sẽ cấp cho nhà chùa năm trăm lạng bạc, biều ấy hôm qua tôi đã nói để tiểu thư nghe.
Nàng Văn Cơ nghe xong thở dài một tiếng mà rằng:
- Có khó chi điều ấy! Nếu cô mẫu tôi đã muốn cho ở chủa thì tôi cắt tóc đi tu, phỏng có tiếc chi nữa!
Nói xong, liền đứng dậy, xõa bộ tóc mây, đến trước giá gương, ngắm nghía hồi lâu, trong lòng nghĩ xiết bao chua xót. Nàng thở dài nói:
- Vệ Văn Cơ ơi! Không ngờ nhan sắc đẹp tuyệt trần như thế này, mà kết cục lại đến cảnh đi tu ở chùa! Ta dẫu cam chịu phụ bạc với phu quân ta thuở xưa cùng gã thô bỉ là Đồ Man Định Quốc kia, nhưng ta chưa hề dám phụ bạc Hùng công tử.
Sự cụ Trí Tu nói:
- Tiểu thư nghĩ lầm! Nếu tiểu thư đã có lòng luyến ái Hùng công tử thì cớ sao lại cùng Đồ Man Định Quốc đẹp duyên loan phượng, đàn bà lấy chữ trinh làm trọng, chứ nếu như bông hoa theo chiều gió thôi thì chiếc thân phiêu bạt kia còn ra thế nào!
Nàng Văn Cơ nức nở khóc mà đáp rằng:
- Đó là lỗi tại thân mẫu tôi! Vì thân mẫu tôi cưỡng bách mà khiến tôi đến nỗi như thế! Thương xót thay cho thân mẫu tôi, dùng hết trăm phương nghìn kế, mà rút lại thì mưu gian có ngày bại lộ, cũng không thoát khỏi lưới trời.
Nàng Văn Cơ vừa nói vừa lấy kéo cắt tóc. Đầu xanh có tội tình gì, tóc mây một mớ, đã đau xót vì lưỡi đao oan nghiệt. Nàng thương thân tủi phận, liền ngẫm nghĩ mà khóc òa lên. Tiểu Tam Chân chạy vào nói với sư cụ Trí Tu rằng:
- Bạch lạy sư cụ! Con đã châm đèn đốt hương để làm lễ thế phát cho Vệ tiểu thư đó!
Sư cụ vội vàng đi lên trên tam bảo trước. Tiểu Kính Viên chạy vào trong phòng, lấy một bộ áo nâu sồng của nhà chùa đem ra cho nàng Văn Cơ mặc. Khi nàng Văn Cơ cải trang xong, tiểu Tam Chân và Tiểu Kính Viên đều reo lên mà rằng:
- Quả là một sư cô ở trên thiên cung mới giáng hạ!
Bấy giờ trên tam bảo đã rung chuông đánh trống, tiểu Tam Chân và Tiểu Kính Viên đều mở kinh quì đọc. Nàng Văn Cơ rón rén đến làm lễ ở trước phật đài. Khi làm lễ xong, nàng sụp lạy sư cụ Trí Tu mà rằng:
- Bạch lạy tôn sư! Tôn sư đã độ cho tôi được siêu thoát, tôi xin quyết chí tu hành từ đây.
Sư cụ Trí Tu đỡ nàng dậy mà bảo rằng:
- Vệ tiểu thư ơi! Bần đạo này xin đặc pháp danh cho tiểu thư là Tam Tu, nghĩa là đã tu thì tu trọn ba kiếp: kiếp trước kiếp này và kiếp sau. Vệ tiểu thư ơi! Tội nghiệp của tiểu thư nặng lắm, tiểu thư nên dốc lòng sám hối! hai vị lang quân ở nơi chín suối, nay đang cau mày mà căm tức tiểu thư, lại còn bà thân mẫu cùng Từ di nương nữa. Trăm điều ngang ngửa, vì đâu nên nỗi nước này! Từ đây tiểu thư nên đoạn tuyệt trần tâm, may ra cửa Phật từ bi, sau này cũng sẽ được siêu thăng tĩnh thổ. Đáng lẽ phải đại hội tăng chúng, mới được làm lễ thế phát, nhưng vì tiểu thư là con một nhà hầu tước, cho nên không theo lệ thường.
Nàng Văn Cơ chắp tay vào ngực mà tạ ơn sư cụ Trí Tu. Từ đó dốc một lòng ăn chay niệm Phật. Nàng Văn Cơ vốn tính minh mẫn, cho nên bao nhiêu kinh kệ, chỉ đọc qua một lượt là đã thuộc lòng. Nàng Văn Cơ dẫu ngày đêm niệm Phật, nhưng hiềm một nỗi lòng trần chưa dứt, đêm nào cũng giấc điệp mơ màng. Hoặc mộng thấy phu quân thuở xưa, hoặc mộng thấy Đồ Man Định Quốc, hoặc lại có khi mộng thấy cùng Hùng công tử chung gối loan phòng. Nào lúc thân mẫu là Lã thị đến kể lể những nỗi oan tình, nào lúc thì Từ di nương đến đòi phải đền mạng. Đêm nào cũng tinh thần mê mẩn, ngủ không yên giấc. Nàng Văn Cơ lại tự hỏi lòng, ruột đau như cắt, bỗng sực nghĩ mà kêu to lên rằng:
- Văn Cơ ơi! Nhà ngươi chẳng những hại thân, lại hại đến bao nhiêu người, chẳng qua đều chỉ bởi cái mặt hoa da phấn này! Bây giờ đã cắt tóc đi tu thì còn tiêc gì cái dung nhan này mà không hủy bỏ đi, để khiến cho mối trần tâm phải đoạn tuyệt!
Nàng Văn Cơ nghĩ vậy, mới tay cầm một lưỡi dao con, xăm xăm đến trước giá gương, nghiến răng rạch mặt ra, máu chảy đầm đìa xuống áo. Tiểu Tam Chân ở ngoài bước vào, trông thấy như vậy giật mình kinh sợ, hai tay ôm chặt lấy nàng Văn Cơ rồi giằng lấy lưỡi mà ném đi chỗ khác. Tiểu Tam Chân vừa ôm vừa kêu gọi đạo bà mau mau đến để cứu nàng!
Đạo bà nghe tiếng vội vàng chạy đến cứu, rồi lại thở dài mà than rằng:
- Sư cụ vừa mới đi vắng, mà không biết cớ sao Vệ tiểu thư lại làm như thế này? Trời ơi! Đầm đìa khắp người toàn những máu tươi vậy.
Đạo bà đi lấy tro rắc những chỗ máu rây ra đấy. Nàng Văn Cơ ngất người đi hồi lâu, bỗng lại tỉnh dần, cũng không biết gì là đau đớn. Nàng trông thấy tiểu Tam Chân đang ôm mình, mới thở dài một tiếng mà than rằng:
- Vì tôi lại để phiền lòng đến người! Tôi vì mối oan nghiệt mà đến nỗi này, cho nên tôi muốn hủy bỏ cái dung nhan này đi, để xin phát thệ từ đây sẽ quyết một lòng tu hành.
Nói xong, ngồi dậy thay aó, rồi ra làm lễ trước Phật đài. Nàng vừa làm lễ lại vừa nức nở khóc mà khấn rằng:
- Lạy Phật! Lạy tổ! Tiểu Tam Tu này không dám tham cầu phú quí, chỉ xin quyết một lòng tu hành để mong chuộc lại những lỗi lầm xưa.
Từ đó nàng Văn Cơ chỉ chăm việc tụng niệm, không còn nghĩ ngợi chi nữa. Nếu Vệ Dũng Nga vương phi không thì kế ấy, bao giờ nàng Văn Cơ biết đổi lỗi sửa mình.
Khi sư cụ trở về biết việc nàng Văn Cơ huỷ bỏ dung nhan, mới sai người báo tin cho nhà Hùng vương biết. Vệ Dũng Nga vương phi thấy vậy, động lòng thương xót, Phi Loan quận chúa nghe nói, cũng gạt thầm gịot châu. Phi Loan quận chúa cố gượng làm vui, để khuyên cho Vệ Dũng Nga vương phi được yên lòng. Nhưng khi trở về phòng riêng, nghĩ vẫn lấy làm áy náy. Phi Loan quận chúa nghĩ thầm: “Cứ như lời nàng Văn Cơ nói thì phu quân ta thật là một kẻ bạc tình. Người quân tử đã nói câu nào thì quyết không bao giờ đổi thay, cớ sao lại dùng lời ngọt ngào mà đánh lừa một người nữ tử”. Phi Loan quận chúa lẩm nhẩm nói một mình rằng: “Phu quân ta cùng ta sum họp trong một tháng nay, ta xem ra tính khí ôn hòa, và đối với ta có lòng luyến ái, không biết cớ sao đối với Vệ tiểu thư thì lại hững hờ nhạt nhẽo, coi như kẻ cừu thù”.
Phi Loan quận chúa nghĩ quanh nghĩ quẩn lại nói:
- Vệ tiểu thư ơi! Tiểu thư cũng không nên trách phu quân ta. Đàn bà lấy chữ trinh làm trọng, một đời chồng trước đã chẳng ra gì, đến đời chồng sau lại thêm sự xấu xa, tài nào mà không khiến cho vương phi phải tức giận.
Phi Loan quận chúa đang ngồi ngẫm nghĩ thì bỗng có người khẽ lấy tai vỗ vào vai. Phi Loan quận chúa nghoảnh đầu nhìn lại, trông thấy Hùng Khởi Thần, vội vàng đứng dậy mà hỏi rằng:
- Phu quân về bao giờ thế? Mấy hôm nay có Lưu cữu phụ về, thiếp đã bẩm vương gia cùng vương phi, xin đến sáng ngày mai về thăm nhà, để bái yết Lưu cữu phụ.
Hùng Khởi Thần mỉm cười mà đáp rằng:
- Lưu cữu phụ có diện tâu thánh thượng về việc các nước thuộc ở Tây Vực, Đông Di và Bắc Nhung đều xin vào triều cống, thật là một sự “Thiên thu thịnh điển” vậy. Hiện nay triều đình đang trù tính việc nghênh tiếp, sự tổn phí ấy chưa biết trích vào khoản nào. Các quan triều thần xin vay tiền của dân, hoặc giảm các khoản chi tiêu về quân bị nhưng Doãn tướng công cùng phò mã Triệu Câu không nghe. Quan thương thư Tần Sĩ Thăng thì định tăng thuế muối, nhưng chưa tâu xin. Hôm nay có đệ tứ công tử là Triệu Thụy về kinh, tình nguyện quyên cho công khố hai trăm vạn. Công tử thuật chuyện cho biết là trong bấy lâu nay vẫn lưu tâm kinh doanh về thương nghiệp, phát tài kể hàng mấy trăm vạn. Nay nghe triều đình có việc, vậy xin quyên tiền để giuqp. Thánh thượng nghe nói rất lấy làm mừng. Quận chúa ơi! một nhà Hoàng Phủ bao nhiêu những bậc anh tài! Tôi thiết tưởng quận chúa nghe được tin này, hẳn cũng phải vui lòng hả dạ.
Phi Loan quận chúa nét mặt tươi cười, rôì nói:
- Đời thánh quân vẫn thường có nhiều việc hay, nhưng cũng bởi cha mẹ thiếp biết hết lòng khuyên bảo con cái phải giữ trọn nghĩa vụ. Bây giờ phu quân về đay, đã vào bái yết cao đường chưa?
Hùng Khởi Thần liền cười mà đáp rằng:
- Đã! Có lẽ nào chưa bái yết cha mẹ mà đã vào thê phòng!
Bấy giờ hai người cùng ngồi trò chuyện vui vẻ. Các nữ tỳ pha trà uống, Hùng Khởi Thần vừa cầm chén trà uống, lại vừa hỏi Phi Loan quận chúa rằng:
- Thế nào? Quận chúa đã vẽ được mấy bức tranh “Bách mỹ” rồi?
Phi Loan quận chúa nói:
- Tôi vừa mới vẽ phát máy bức, nhưng bức tranh thái hậu thì thật khó vẽ lạ thường, tấm lòng trung hiếu, dẫu nét bút nào cũng không có thể tả hết được. Vì thế mà tôi còn ngần ngừ chưa dám hạ bút.
Hùng Khởi Thần lại cười mà đáp rằng:
- Quận chúa thật có đại tài, tôi chắc cũng là một bậc thiên tiên giáng hạ trần thế vậy. Nếu không thì cớ sao trung hiếu tiết nghĩa, giữ trọn mọi điều, mà lại có được nét bức thiên nhiên ấy. Kiếp tu xưa ví chẳng dày phúc nào đối với giá này cho cân!
Nói xong, dịch ghế lại gần, khẽ cầm lấy tay Phi Loan quận chúa, Phi Loan quận chúa nói:
- Phu quân hãy nghe tôi nói. Tôi còn có một sự nghi ngờ muốn hỏi phu quân.
Hùng Khởi Thần nói:
- Có việc gì? Xin quận chúa cứ nói cho nghe.
Phi Loan quận chúa tủm tỉm cười mà bảo rằng:
- Tôi nghe nói phu quân đứng đắn khác thường, giống tính Hùng quận chúa, thế mà trong một tháng nay, ở chốn khuê phòng, lúc nào cũng thấy phu quân cười đùa bỡn cợt. Thảo nào vương phi vẫn bảo phu quân là một người không được nghiêm trang.
Hùng Khởi Thần nói:
- Thế mới thật lạ! Tôi ở chốn khuê phòng thì hay cười đùa bỡn cợt, nhưng đi ra ngoài thì lúc nào cũng rất nghiêm trang. Còn như gia huynh tôi quận chúa biết đâu rằng trong khi ở chốn khuê phòng, lại không cười đùa bỡn cợt hay sao! Nếu quận chúa nghi tôi là người không nghiêm trang thì quận chúa hãy thử nghĩ đó mà coi; nhan sắc của Văn Cơ, thiết tưởng lại có phần hơn quận chúa, thế mà tôi cùng nàng gần gũi hơn nửa năm trời, nàng dùng hết cách tài tình để chiều chuộng hoặc cợt ghẹo tôi, tôi vẫn trơ trơ lòng sắt đá. Bởi vậy nàng mới nổi cơn tức giận tức giận mà xé rách tập tranh “Bách mỹ” này. Sau Lã thị lại dùng những lời thô bỉ đối với tôi, khiến cho tôi xót thân tủi phận, đã mấy lần muốn cắn lưỡi chết. Thời gian thấm thoát, bỗng chốc trong mười mấy năm trời, ngày nay mới được loan phượng đẹp duyên, một nhà sum họp, chẳng lẽ cứ bo bo như người ngây dại mãi ru! Đã không là loài một thạch tất phải có tình sao quận chúa lại trách tôi điều đó!
Phi Loan quận chúa nói:
- Đối với việc nàng Văn Cơ, phu quân thật là tệ bạc! Phu quân đã hứa lời thề nguyện với nàng, cớ sao bây giờ lại đổi trắng thay đen, mà cưỡng bách nàng phải cắt tóc đi tu, khiến cho nàng luống chịu trăm cay nghìn đắng.
Nói xong, lại thuật những lời sư cụ Trí Tu cho Hùng Khởi Thần nghe. Hùng Khởi Thần nghe xong, lẩm nhẩm gật đầu rồi thở dài mấy tiếng mà rằng:
- Vệ Văn Cơ ơi! Năm xưa ta đã từng khuyên bào nhà ngươi, sao nhà ngươi không biết nghe ta, ngày nay đã xảy ra cớ sự này, lại huỷ bỏ dung nhan mà đem lòng hối hận. Quận chúa trách tôi bạc hạnh, nhưng biết nàng Văn Cơ chẳng khác chi những phường liễu ngỏ hoa tường. Đàn bà con gái dẫu đến nhà thường dân cũng còn biết quý chữ “trinh” huống chi các bậc vương hầu tử đệ. Khi ở thành Kim Lăng, tôi vì việc nước nhà mà phải bày kế, cớ sao lại kể là những lời thệ hải minh sơn. Tôi dẫu không bằng gia huynh tôi, nhưng thiết tưởng trong bọn nam nhi, trừ tôi ra không kể, chưa dễ đã được mấy người. Nếu quận chúa đem lòng nghi tôi thì thật là kiến thức hẹp hòi vậy.
Phi Loan quận chúa nói:
- Không phải tôi có lòng nghi phu quân đâu! Chỉ vì tôi sực nghĩ câu chuyện trước khi mười năm, tai biến bất thường, một nhà giam cầm, nhờ có lòng trung nghĩa của cao đường cảm thấu đến trời, khiến cho hai ta ngày nay lại được đẹp duyên cầm sắt. Ta nỡ nào an hưởng phú quý mà chẳng nghĩ chi đến nàng Văn Cơ. Nhưng mỗi khi nhắc đến chuyện nàng thì vương phi ta lại hầm hầm nổi cơn tức giận, cho nên tôi không dám giải bày sau trước. Tôi thiết tưởng ta nên tâu xin với thái hậu giáng chỉ triệu nàng cho vào tu ở Tiểu Hoa Sơn, chẳng hay phu quân nghĩ thế nào? Nếu phu quân bằng lòng thì sáng mai tôi về thăm nhà, khẽ nói với thân mẫu tôi để tâu thái hậu.
Hùng Khởi Thần cười mà khen rằng:
- Quận chúa thật là một người hiền đức, thiên hạ ít có! Đã không lấy điều lễ nghĩa nghiêm trách nàng Văn Cơ, mà lại còn mở lượng nhân từ, nghĩ thương đến nàng. Việc ấy quận chúa hà tất phải đợi hỏi tôi trước mới được, cứ liệu lời mà bẩm với thân mẫu.
Nói xong, liền tháo mũ cới áo, vào màn yên nghỉ. Sáng hôm sau, Phi Loan quận chúa bẩm với Vệ Dũng Nga vương phi, xin phép cho về thăm nhà. Phi Loan quận chúa nói:
- Dám bẩm vương phi! Nhân có Lưu cữu phụ con tiến kinh, xin vương phi cho con về thăm nhà, để được bái yết cữu phụ.
Vệ Dũng Nga vương phi nói:
- Ta nghe nói tiểu nữ nhà Lưu vương, người rất đoan trang diễm lệ, Lưu phu nhân đã định làm mối để gả cho nhị lang. Con về chuyến này, tất thế nào cũng uống được rượu mừng.
Phi Loan quận chúa về đến nhà Hoàng Phủ vừa gặp Lưu vương ở triều về. Phi Loan quận chúa sụp lạy mà rằng:
- Con là Phi Loan xin lạy chào cữu phụ!
Lưu vương mừng rỡ mà rằng:
- Sanh nữ ơi! Ta vẫn nghe tiếng con là người đã có tài học, lại giữ trọn một lòng tiết hiếu, bấy lâu nay xa cách bây giờ mới được gặp đây. Còn biểu muội con tên gọi Phương Anh kia, từ thuở nhỏ cũng có theo đòi bút nghiên, ta đem tới đây để chị em được cùng nhau trò chuyện.
Phương Anh tiểu thư ra chào Phi Loan quận chúa. Bấy giờ Gia Tường công chúa gần đến tháng sinh, đang tĩnh dưỡng ở trong dinh phò mã. Phi Loan bẩm với Tô phu nhân và Lưu phu nhân, xin vào thăm Gia Tường công chúa. Hai phu nhân gật đầu cho đi. Trân Khanh quận chúa cùng mọi người cũng đi theo. Khi đến cửa dinh phò mã, các nữ tỳ trông thấy Phi Loan công chúa ai nấy đều lấy làm mừng rỡ. Chúng reo to lên mà rằng:
- Đaị quận chúa nhà ta đã về!
Nói xong, vội vàng vào báo với Gia Tường công chúa. Gia Tường công chúa nghe báo, cũng mừng rỡ mà rằng:
- Cô nương nhà ta đã về! Mau mau ra mời vào đây!
Khi vào tới nơi, hai người cùng nhau truyện trò vui vẻ. Các nữ tỳ pha trà uống. Gia Tường công chúa cười mà bảo Phi Loan quận chúa rằng:
- Cô nương ơi! Phương Anh tiểu thư theo Lưu vương tới đây thật là một người sắc sảo lạ thường, so với Phật Châu tiểu thư ( con Cao Bí) mới về làm dâu nhà ta đây, khác nào như xuân lan thu huệ một nhà sum họp vậy. Hôm trước tôi bẩm rõ với Lưu phu nhân muốn cho Phương Anh tiểu thư làm bạn cùng nhị thúc, dẫu nhị thúc dẫu có lớn hơn dăm bảy tuổi, nhưng trai tài gái sắc tưởng cũng đẹp đôi. Hôm nay cô nương về đây,cũng nên nói với cữu phụ, nếu cữu phụ bằng lòng thì nên tức khắc cho chọn ngày để làm lễ cưới.
Phi Loan quận chúa cười mà đáp rằng:
- Việc ấy tất thế nào cữu phụ tôi cũng ưng thuận.
Phật Châu tiểu thư nói:
- Nếu vậy thì còn gì hay cho bằng!
Phương Anh tiểu thư nghe nói nét mặt đỏ bừng, có ý hổ thẹn. Gia Tường công chúa mỉm cười rồi bảo Trân Khanh quận chúa rằng:
- Trân Khanh con ơi! Con đưa cô nương lên Xuyết Cẩm Các để xem hoa đào nở.
Trân Khanh quận chúa vâng mệnh rồi tủm tỉm cười, cầm tay Phương Anh tiểu thư mà dắt lên Xuyết Cẩm Các.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
hồi thứ 16c

Khi Phương Anh tiểu thư đi khỏi rồi, Phi Loan quận chúa mới nói với Gia Tường công chúa rằng:
- Thế mới biết thiên hạ cũng có nhiều người tuyệt sắc!
Gia Tường công chúa cười mà bảo rằng:
- Trong tập tranh “Bách mỹ” kia cô nương lại cần phải vẽ thêm một người ấy nữa!
Phi Loan quận chúa lại ân cần mà hỏi han các công việc trong nhà. Quận chúa nói:
- Thân mẫu tôi tất sang năm tiến kinh, có lẽ ngoại tổ phụ và ngoại tổ mẫu tôi cũng cùng đi, vì gặp tiết “Thiên thu đại thọ” của bà thái hậu.
Phi Loan quận chúa thuật đến việc nàng Văn Cơ đi ở chùa cho Gia Tường công chúa nghe. Công chúa thở dài mà than rằng:
- Chẳng qua là nàng lại tự làm hại nàng đó. Đàn bà con gái lấy “Tứ đức” làm đầu, cớ sao nàng không biết giữ gìn tính hạnh. Nhưng dẫu sao cũng là con một vị hầu tước mà để lưu lạc ở chùa, tất bị người ta dị nghị vậy.
Phi Loan quận chúa nói:
- Chính vì điều ấy mà tôi muốn tâu xin thái hậu rộng lượng mà đặc ân cho!
Gia Tường công chúa hỏi rằng:
- Cô nương muốn tâu xin thế nào?
Phi Loan quận chúa nói:
- Tôi muốn tâu xin thái hậu giáng chỉ cho nàng Văn Cơ được vào tu ở Tiểu Hoa Sơn.
Bấy giờ Lưu Yến Ngọc phu nhân đang rối rít lo nghĩ về việc hôn sự cho Phương Anh tiểu thư. Phi Loan quận chúa hỏi:
- Thưa thân mẫu! Chẳng hay cớ chi mà thân mẫu phải lấy việc ấy làm lo nghĩ?
Lưu Yến Ngọc phu nhân nói:
- Con không hiểu! Số là việc này cữu phụ con ( Trần Khanh) chẳng quản cố chi đến. bây giờ thành ra Tô phu nhân tức là nhà trai, mà ta đây tức là nhà gái thì thật rất phiền. Khi trước cưới con, còn có Tô phu nhân trông nom giúp ta được!
Phi Loan quận chúa cười mà thưa rằng:
- Thân mẫu chớ lo phiền! Ngày nay đã có con và em dâu con (Phật Châu tiểu thư) giúp thân mẫu chớ chi.
Phật Châu tiểu thư nói:
- Có đồ trang sức, nếu ngày nay không sắp kịp thì hãy đem của con mà đưa cho nhị tẩu dùng!
Phi Loan quận chúa nói:
- Cho sang bên nhà con lấy cũng được.
Tô Ánh Tuyết phu nhân cười mà bảo rằng:
- Thế ra còn ta thì chẳng ai giúp, lại chẳng biết đi giặt mượn vào đâu. Nhưng ta không ngại, hễ Lưu vương có phàn nàn oán trách câu gì thì ta nói là một mình ta, chỉ lo được như thế mà thôi.
Lưu Yến Ngọc phu nhân nói đùa rằng:
- các con nghe lời Tô mẫu nói, thật đã trây lười. au này Mạnh vương phi về, sắp lại khai một món tiền to vậy.
Lưu Yến Ngọc phu nhân nói xong, mọi người lại nhìn nhau cả cười. Nhà ngoài Lưu vương cùng mấy anh em phò mã Triệu Câu đã về. Doãn tướng công, Nguyễn tướng công, Tần thượng thư và Hùng vương cũng đều kéo đến cả. Người nhà bày tiệc, mọi người cùng ngồi vào ăn. Trong khi ăn tiệc lại có đem phường hát ở Lê Viên vào để diễn kịch. Lưu vương cả cười mà bảo rằng:
- Tôi đây vốn là vũ nhân thô lỗ, hay nói chân thật, không biết những giọng văn hoa. Lâu ngày cách xa, ngày nay gặp nhau, nên để nói chuyện vui, hà tất lại bày những trò múa hát.
Mọi người đều nói:
- Đã đành như vậy, nhưng một vị thân ông mới thì lễ nghênh tiếp cũng nên phải trọng thể chứ sao!
Lưu vương cười mà đáp rằng:
- Tôi là người nào mà dám đương lễ trọng thể ấy! Nay tôi được cùng các bậc quốc thích hoàng thân sum họp một nhà, thật là vinh hạnh cho tôi, không biết thế nào mà kể cho xiết! Sáng mai tôi xin vào Tiểu Hoa Sơn bái yết Hoàng Phủ vương gia rồi lại trở về quê nhà vậy.
Doãn Thượng Khanh tướng công liền nghoảnh lại bảo phò mã Triệu Câu rằng:
- Cung kính không bằng theo mệnh. Lưu thân ông đã bảo như thế thì phò mã nên truyền bãi phường hát đi.
Phò mã Triệu Câu tức khắc truyền cho phường hát lui ra. Bấy giờ tiệc tan, mọi người trở vào thư phòng uống trà, lại cùng nhau kể lể những chuyện sau khi tương biệt.
Lại nói chuyện Phi Loan quận chúa ở nhà trong bảo Gia Tường công chúa rằng:
- Nàng Văn Cơ ngày nay đã biết sửa mình đổi lỗi, hủy bỏ dung nhan đi, để quyết chí tu hành, thế thì công chúa nên thừa cơ tâu xin với thái hậu, xin cho nàng được theo vào tu ở Tiểu Hoa Sơn. Nàng Diễm Tuyết và nàng Hạng Ngọc Thanh tất cũng chẳng hẹp chi mà không cho nàng được nương thân ở đấy. Việc này chẳng những khiến nàng khỏi trầm luân tại nơi bể khổ, mà lại có thể che được những sự sỉ nhục cho nhà họ Hùng vậy.
Gia Tường công chúa đáp lại rằng:
- Đã đành như thế, nhưng thái hậu xưa nay vốn lấy chữ “trinh tiết” làm trọng. Nếu nghe biết những sự việc xấu xa của nàng Văn Cơ thì tất cũng hầm hầm nổi giận, chẳng khác chi Vệ vương phi vậy. Âu là đợi khi tôi lâm sản đã mãn nguyệt rồi, bấy giờ sẽ thừa cơ tâu xin thái hậu.
Gia Tường công chúa nói chưa dứt lời thì bỗng có người bộc phụ khúc khích cười chạy vào mà bảo rằng:
- Dám bẩm công chúa! Phương Anh tiểu thư bây đã thành ra người nhà ta rồi!
Phi Loan quận chúa cười mà bảo rằng:
- Đầu đuôi thế nào, mau mau nói lại chúng ta nghe.
Người bộc phụ nói:
- Vừa rồi Lưu phu nhân mời Lưu vương nói việc hôn sự Phương Anh tiểu thư với đệ nhị quận chúa. Lưu vương bằng lòng ngay. Lưu phu nhân lại xin chọn ngày làm lễ cưới. Lưu vương nói: “Gia quyến không có đây thì biết cưới ở đâu. Bây giờ phu nhân đã là cô mẫu nó thì phải nhận làm nhà gái mà Lương phu nhân tức nhà trai, vậy cứ chọn ngày rồi cưới từ đông phòng sang tây phòng cũng được". Lưu phu nhân mừng rỡ, đã nói chuyện với Lương phu nhân để sửa soạn làm lễ cưới đó.
Người bộc phụ nói xong, nét mặt tươi cười hớn hở, Gia Tường công chúa cùng Phi Loan quận chúa đều lấy làm mừng rỡ. Cách mấy hôm sau, nhà Hoàng Phủ sửa soạn làm lễ thành hôn cho Phương Anh tiểu thư kết duyên với nhị lang Triệu Phượng. Câu chuyện trong khi tiệc mừng, toàn thị nói những lời trung hiếu. Lưu vương hỏi những công việc ở bên nước Cao Ly, Doãn Thượng Khanh tướng công đều thuật hết đầu đuôi cho biết. Lưu vương nghe xong liền nói:
- Nếu vậy thì Hùng Khởi Phượng thật là một bậc kỳ nam tử, chẳng kém chi các công tử con nhà Hoàng Phủ chút nào, không biết Hùng vương khéo tu thế nào mà đẻ được người con như thế. Doãn tướng công ơi! Phò mã Triệu Câu đang kể là bậc xã tắc thần. Nhị lang Triệu Phượng cũng là một tay trung dũng. Lại được tam lang Triệu Lân kia có nhiều mưu sâu kế lạ, mới biết dùng cái giỏ đựng thuốc mà đem được hoàng tử ở trong cung ra. Tứ lang và ngũ lang thì hiếu thuận lạ thường. Thế thì một nhà Hoàng Phủ đã chung đúc biết bao nhân tài vậy.
Hùng vương cũng tấm tắc khen ngợi mà rằng:
-Chẳng những thế thôi. Khi Mạnh vương phi bày mưu lập kế, buộc thư vào chân con chim quạ để truyền bảo cho anh em Triệu Phượng và Triệu Lân biết. Lại khi thái hậu lâm triều, các tờ chiếu thư một tay Mạnh vương phi khởi thảo cả. Đàn bà như thế, thật khiến cho bọn tu mi nam tử ta phải hổ thẹn.
Nguyễn Long Quang tướng công nói:
- Mạnh vương phi thật là một người trí rộng tài cao, chẳng kém chi Khổng Minh thuở trước. Hãy xem như cái mưu “khổ nhục kế” ở chốn pháp trường, đủ biết là tay tài giỏi vậy.
Nếu không có cái mưu lạ ấy thì làm sao mà cứu thoát được Hùng vương đây và Vệ vương phi. Sử xanh chép để nghìn thu, ai không khỏi ca tụng công nghiệp họ Hùng họ Mạnh và nhà Hoàng Phủ. Ngày nay nhị lang đã kết duyên cùng Phương Anh tiểu thư, còn tứ lang chưa thành gia thất, vậy tôi có một chút con gái cũng có ý muốn ngưỡng phan, chẳng hay phò mã Triệu Câu nghĩ thế nào?
Phò mã Triệu Câu mừng rỡ, vội vàng đứng dậy rót một chén rượu đầy mời Nguyễn Long Quang tướng công mà rằng:
- Tướng quân đã có lòng hạ cố thì anh em chúng tôi cảm tạ xiết bao. Chúng tôi xin bẩm với cao đường để chọn ngày làm lễ.
Nguyễn Long Quang tướng công cầm lấy chén rượu uống. Lưu vương cười mà bảo Hùng vương rằng:
- Chỉ sợ chúng tôi đây lại phải làm môi nhân mà thôi.
Phò mã Triệu Câu lại rót rượu mời Lưu vương và Hùng vương làm chủ hôn. Tần thượng thư cùng Hùng quốc cữu làm tá lễ. Nguyễn Long Quang tướng công cười mà bảo rằng:
- Đem chén rượu lớn lại đây, để tôi rót mời mỗi ngài một chén.
Hùng vương bảo Nguyễn Long Quang tướng công rằng:
- Cứ như ý tôi thiển nghĩ thì nên bảo phò mã Triệu Câu viết thư nói với Mạnh vương phi để thương nghị cùng Doãn thân ông mà làm lễ cưới tại Vân Nam rồi qua sang năm sẽ theo Mạnh vương phi cùng tiến kinh một thể.
Nguyễn Long Quang tướng công nghe nói vui cười mà rằng:
- Vương gia nghĩ rất phải! Như thế thì được tiện việc cả cho hai nhà!
Tần thượng thư cười mà bảo rằng:
- Đã đành rằng tiện, nhưng trong một năm trời tứ huynh ở kinh mà tân nhân ở Vân Nam thì cầu Ô Thước bắc sao cho được.
Nhị lang nói:
- Đã chọn được giai ngẫu như thế thì chậm trễ cũng càng hay, chứ có hề chi!
Hùng Khởi Phượng mỉm cười mà hỏi rằng:
- Nếu vậy thì cớ sao quốc cữu lại nóng về việc chọn ngày làm lễ cưới.
Nhị lang nói:
-Việc ấy tự ý Lưu mẫu muốn cho tôi chóng thành, chứ không phải ở tôi vậy.
Lưu vương cũng cười mà rằng:
- Việc ấy chỉ có tôi là chẳng lo nghĩ chi cả, nghiễm nhiên được một ông đông sàng giai tế vậy.
Mọi người nghe nói đều cả cười. Bấy giờ Lưu vương lại hỏi Hùng vương rằng:
- Khoản tiếp sứ thần các nước, chẳng hay triều đình xử trí ra thế nào?
Hùng Khởi Phượng nói:
- Việc ấy chúng tôi đã tâu với thánh thượng rằng: “nếu ngày nay lập riêng nhà công quán cho đủ sứ thần các nước ở thì tổn phí không biết dường nào, vậy tạm lấy mấy nơi vương phủ để khỏan tiếp sứ thần các nước, mà giáng chỉ cho sứ thần các nước biết rằng mỗi vị vào thành, chỉ được đem theo mấy chục người hầu mà thôi, còn bao nhiêu quân sĩ đều phải đóng tại ngoài quan ải cả, như thế thì chẳng những công khố bớt sự tổn phí, mà quân dân cũng khỏi phải phiền nhũng. Thánh thượng hiện đã phê chuẩn, chẳng hay các ngài nghĩ thế nào.
Hùng vương nín lặng không nói, Doãn Thượng Khanh tướng công và Nguyễn Long Quang tướng công đều mừng rỡ mà rằng:
- Nếu vậy hay! Quốc cữu thật là có tài “kinh tiên vĩ đại”, bọn lão hủ này không thể theo kịp! Việc này chẳng những bớt sự tổn phí, mà lại khiến cho sứ thần các nước biết những nơi kiến trúc tráng lệ của nước ta.
Lưu vương khen rằng:
- Hùng quốc cữu thật đáng gọi là một tay lương tá.
Tần thượng thư cũng cười mà nói rằng:
- Tôi đã được biết Hùng quốc cữu xưa nay vốn là một bậc tài cao trí rộng hơn người.
Khi tiệc tan rồi, mọi người đều cáo từ lui ra. Lưu vương giữ Hùng vương ở lại, để đêm hôm ấy hai người truyện trò cùng nhau. Mấy anh em phò mã Triệu Câu lui vào nhà trong, đem những lời Nguyễn Long Quang nói thuật lại cho Tô phu nhân và Lưu phu nhân nghe. Hai phu nhân đều mừng rỡ mà rằng:
- Thế mới biết duyên trời đem lại thì dẫu xa xôi muôn dặm cũng thành ra sum họp một nhà.
Sáng hôm sau, Triệu Lân theo Lưu vương và Hùng vương vào Tiểu Hoa Sơn để thăm Hoàng Phủ Thiếu Hoa. Ba người đều ăn mặc thường phục, chỉ có mấy đứa đồng tử theo hầu. Phò mã Triệu Câu đã sai người báo trước cho địa phương quan phải ra nghênh tiếp. Đường đi cách kinh thành trong ba ngày trời. Khi gần tới nơi, Triệu Lân trỏ phía trước mặt mà bảo rằng:
- Thẳng phía trước mặt, trông có một dãy tường vàng kia, tức là chỗ thượng hoàng ở tu đó!
Triệu Lân vừa nói vừa dừng cương xuống ngựa. Bỗng thấy có một người cưỡi ngựa ra đón, vỗ tay cả cười mà rằng:
- Đêm qua tôi nhìn hoa đèn, đết ngay là hôm nay có người đến thăm tôi vậy. Tôi xin kính chào Hùng vương và Lưu vương. Triệu Lân chắp tay vái chào mà rằng:
- Con xin kính chào thân phụ!
Mấy người cùng nhau do cửa đông môn tiến vào. Nguyên chỗ ấy có ba cửa, cửa giữa chỉ khi nào thượng hoàng ngự giá ra vào thì mới được mở; cửa về phía tây thì để khi nào các quan văn võ triều thần đến thăm thượng hoàng; còn về cửa phía đông thì đi thẳng vào chỗ Hoàng Phủ Thiếu Hoa ở. Bấy giờ Hoàng Phủ Thiếu Hoa mời Hùng vương và Lưu vương vào trong trai phòng cùng ngồi. Trong trai phòng không trần thiết chi cả, chỉ có mấy cái giường tre ghế gỗ mà thôi. Lưu vương thấy vậy lẩm nhẩm gật đầu mà rằng:
- Cách tự phụng đơn sơ thế này thì thật quả nhiên là một bậc rất cao thượng!
Hùng vương cười mà bảo rằng:
- Mới cùng nhau cách biệt chưa đầy một năm, mà trông khí sắc đã quả nhiên là một người mộ đạo. Chẳng hay công tu luyện của vương gia những thế nào?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa đáp rằng:
- Tôi chẳng có công tu luyện chi cả, chỉ hàng ngày ra vườn cày cuốc trồng hoa vun trúc mà thôi. Có lúc thì cả ngày ngủ say, có lúc suốt đêm xem sách, nhơ ơn thánh thượng, di dưỡng tuổi thọ mà hưởng phúc thanh nhàn, nào dám nói chi đến sự đạo đuưc vậy.
Hùng vương cười mà bảo rằng:
Vương gia chớ nói dối tôi. Nếu không có công tu luyện sao được như thế!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Thật không dám nói dối, chẳng qua chỉ tĩnh hết trần tâm thì trong lòng tự khắc thấy được khoan khoái.
Lưu vương nói:
- Tôi cũng ưa cảnh thanh nhàn lắm. Bấy lâu nay sở dĩ chưa dám cáo lão về điền lý là vì còn muốn báo đáp ơn trời bể của triều đình, ngày nay thiên hạ thái bình, tôi muốn tâu xin thượng hoàng cho tôi được trở về quê nhà vậy.
Hùng vương nói:
- Tôi đến bái yết thượng hoàng lần này rồi cũng tâu xin trở về quê nhà.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Hùng vương thì khóc lòng xin về được. Số là hôm trước thượng hoàng có phán bảo rằng: “Hiện nay Doãn tướng công, Nguyễn tướng công và Mạnh tướng công đều xin cáo về, trong triều trừ Tề vương không kể, còn thì toàn thị là các quan trẻ tuổi cả, vậy cần phải có một vị lão thành đứng đầu mới được". Tôi tâu xin thượng hoàng giữ Hùng vương lại, thượng hoàng rất lấy làm vui lòng, định hôm nào về cung, sẽ bảo thiên tử không phê chuẩn cho Hùng vương cáo.
Hùng vương nghe nói, nét mặt buồn rầu mà đáp rằng:
- Hai vợ chồng tôi hàng ngày mong mỏi được trở về quê nhà, để cùng tiêu dao sơn thủy, nay vương gia tâu xin một câu như thế thì tôi làm sao mà xin được cáo về. Hoàng Phủ vương gia ơi! Vương gia thì biết vui thú cảnh thần tiên, mà để cho vợ chồng tôi không được thanh nhàn, lòng nào lại nỡ như thế, há chẳng bất công lắm ru!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa cười mà đáp rằng:
- Vương gia chớ lấy làm lạ! Ngày nay thiên tử mới phục vị, các nước ngoài đến cống, chính là lúc quan yếu của triều đình đó. Lệnh lang dẫu tài giỏi, nhưng quốc chính chưa từng trải, tất phải trông cậy có vương gia giúp đỡ thì trong ngoài mới được trị an. Còn như vợ chồng tôi, tội ác đã nhiều, mặt nào mà đứng ở chốn triều đường, vì thế nên tránh cho xa, chứ không phải dám mơ tưởng về sự thần tiên vui thú.
Lưu vương cười mà rằng:
- Hoàng Phủ vương gia khiêm tốn quá!
Triệu Lân lại đem việc hôn nhân của Phương Anh tiểu thư cùng nhị lang Triệu Phượng thuật cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe. Triệu Lân nói:
- Dám bẩm thân phụ! Đếm hôm làm lễ cưới, xin mời thân phụ về nhà!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe nói có ý mừng rỡ, vội vàng đứng dậy vái chào Lưu vương mà bảo rằng:
- Thế ra quanh quẩn một nhà, tình thân ái lại càng thêm mật thiết. Bây giờ năm đứa con tôi, bốn đứa có vợ rồi, chỉ còn đứa thứ tư vẫn chưa thành hôn!
Hùng vương cười mà bảo rằng:
- Xin chớ nóng nảy! Người phúc hậu tự nhiên đã có việc đem đến.
Nói xong, liền thuật chuyện cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa biết rằng Nguyễn Long Quang tướng công đã hứa gả nữ tôn cho tứ lang. Hoàng Phủ Thiếu Hoa mừng rỡ bội phần mà rằng:
- Nếu vậy thì còn gì hay bằng! Hôm nay ta nên uống bữa rượu thật say, vừa mừng thân ông, lại vừa tạ người mai mối vậy.
Nói chưa dứt lời thì có người nhà vào bẩm rằng:
- Bẩm vương gia! Vương gia truyền bày tiệc ở Vạn Xuân đình, hiện đã sửa soạn xong cả rồi.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa đứng dậy, mời mọi người ra Vạn Xuân đình uống rượu. Tam lang là Triệu Lân rót rượu, trước mời Hùng vương và Lưu vương, sau mời Hoàng Phủ Thiếu Hoa.
Các thứ mỹ vị gia hào, bày la liệt ở trên án, chung quanh nhà thì cỏ thơm hoa lạ, nhạc múa oanh ca, cảnh sắc trông thật khác thường, phảng phất như một nơi thiên cung nguyệt điện. Hùng vương thấy vậy khen ngợi mà rằng:
- Một nơi an tĩnh thế giới như thế này, ở cũng sướng đời, không biết khéo tu từ bao giờ mà ngày nay được hưởng phúc thanh nhàn ấy.
Nói xong lại uống luôn mấy chén rượu đầy, Lưu vương cũng vui vẻ mà rót rượu uống. Tình chí thân trong mười năm trời, bây giờ mới lại gặp nhau thì mừng rỡ kể sao cho xiết! Khi uống rượu xong, Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại đưa đi xem các nơi danh sơn thắng cảnh. Cách mấy hôm sau, bỗng thấy Triệu Lân chạy vào với Hoàng Phủ Thiếu Hoa bẩm rằng:
Dám bẩm thân phụ! Tứ đệ con nay đã đến để bái yết thân phụ đó!
Nói chưa dứt lời thì bỗng thấy tứ lang là Triệu Tường bước vào, Triệu Tường sụp xuống đất lạy. Hoàng Phủ Thiếu Hoa trông thấy động lòng thương xót, đỡ dậy mà ân cần hỏi han. Tứ lang Triệu Tường lạy chào Hùng vương và Lưu vương, rồi cùng Triệu Lân làm lễ tương kiến. Bấy lâu xa cách, ngày nay gặp gỡ, kể sao xiết nỗi bi oan. Hoàng Phủ Thiếu Hoa bảo ngồi, tứ lang Triệu Tường vội vàng bẩm rằng:
- Dám bẩm thân phụ! Tô mẫu và Lưu mẫu sai con mời thân phụ về ngay!
Hoàng Phủ Thiếu Hoa cười mà hỏi rằng:
- Gọi ta về có việc chi?
Lưu vương vừa cười vừa nói:
- Vì việc hôn lễ của các con, nên mời về để lo tính giúp đó chăng.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Việc ấy hà tất cứ phải tôi về mới được.
Tứ lang Triệu Tường nói:
- Số là cữu tổ phụ con đã tạ thế rồi.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa cùng Hùng vương và Lưu vương đều kinh ngạc mà hỏi rằng:
- Từ bao giờ thế!
Tứ lang Triệu Tường nói:
- Hôm qua con sang thăm cữu tổ phụ, bỗng nghe báo có biểu thúc tẩu ( con dâu Doãn Thượng Khanh ) về, ẵm tiểu công tử đến để cữu tổ phụ đặt tên. Cữu tổ phụ trông thấy, cả cười mà rằng:
- “Ai ngờ Doãn Thượng Khanh ngày nay lại còn có cháu trai, cũng là một sự lạ lùng vậy!” Cữu tổ phụ cười sằng sặc hồi lâu rồi bỗng tạ ththái hậu. Cả nhà xúm lại cứu chữa không được. Bây giờ Tô mẫu và Lưu mẫu đều sang nhà họ Doãn để lo tính tang sự, xin mời thân phụ về ngay.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa khóc mà bảo rằng:
- Năm trước cữu phụ ở Cao Ly về triều, ta mới được trong mấy ngày trò chuyện sum họp ai ngờ ngày may đã thành ra người thiên cổ rồi! Bây giờ ta tức khắc về trước, còn các con ở đây đến sáng mai sẽ theo Hùng vương và Lưu vương cùng về.
Nói xong, truyền người nhà thắng ngựa rồi tức khắc đi ngay. Buổi chiều hôm ấy, hai anh em Triệu Lân mời Hùng vương và Lưu vương ăn cơm. Hùng vương bỗng thở dài mà than rằng:
- Mới vừa vui vẻ lại bỗng xót thương! Con ta cùng Doãn tướng công đi sứ Cao Ly trong mười năm trời, nếu không nhờ có mưu sâu trí rộng của tướng công thì con ta cũng khó lòng đã được về nước.
Lưu vương cũng phàn nàn thương tiếc Doãn tướng công mà rằng:
- Đi sứ trong bấy lâu, vừa mới về nước thì đã tạ thế!
Mọi người tỏ ý buồn rầu, chỉ ăn cơm mà không uống rượu. Khi ăn cơm uống trà xong, Hùng vương và Lưu vương hỏi chuyện tam lang Triệu Lân cùng tứ lang Triệu Tường về những nỗi sau khi tương biệt.
Triệu Lân cùng Triệu Tường cũng kể hết đầu đuôi mọi việc về trước cho nghe. Tứ lang Triệu Tường khóc mà nói với tam lang Triệu Lân rằng:
- Tài trí như anh, thiết tưởng cũng ít có! Ngày nay chua bao nhiêu tuổi đầu mà hai mái tóc đã điểm hoa râm, thế mới biết cái nỗi khổ tâm cho những người tận trung báo quốc vậy. Còn như em đây, văn đã vô tài, võ lại bất lực, nhưng trông thấy huynh trưởng hàng ngày luyện tập binh mã thì cũng phải gia công cố sức, trú tính lương tiền để lo về việc chi dụng, gọi là một chút báo đền, không ngờ sau lại mông ân triều đình ban thưởng tước hàm, triệu về kinh thành, khiến cho em càng thêm hổ thẹn.
Hùng vương và Lưu vương bảo tứ lang Triệu Tường rằng:
- Tứ lang chớ khiêm tốn quá! Nếu chi dụng không đủ thìi lấy chi mà lo việc cần vương. Huống chi ngày nay tứ lang lại bỏ một món tiền to để quyên trợ cho nước, việc ấy khiến cho các nước ngoài nghe tiếng đều phải kính phục vậy.
Hùng vương và Lưu vương đi ngủ trước, hai anh em Triệu Lân cùng Triệu Tường lại còn ngồi nói chuyện với nhau cho đến suốt sáng. Sáng hôm sau, Hùng vương và Lưu vương cũng dậy sớm, rồi cùng nhau lên ngựa trở về kinh thành, đi thẳng đến Doãn tướng phủ. Khi tới nơi, trông thấy một lá cờ trắng phất phới ở trước cửa phủ, người ra vào tấp nập đông như kiến. Lại nghe nói thánh thượng ở đấy vừa về. Hùng vương và Lưu vương cùng hai quốc cữu xuống ngựa đi vào trong phủ, thay mặc đồ tang phục, rồi đến trước linh sàng để làm lễ bái yết Doãn tướng công. Hùng vương khóc lóc kể lể những công việc trong khi Doãn tướng công đi sứ ở nước Cao Ly, mọi người chung quanh ai nghe cũng phải cảm động lòng thương xót. Hiếu chủ là Doãn Thượng Chí ra lạy tạ Hùng vương và Lưu vương, vì thương xót quá độ mà đi đứng không vững, phải có người đỡ. Hoàng Phủ Thiếu Hoa mời Hùng vương và Lưu vương ngồi, tam lang Triệu Lân cùng tứ lang Triệu Tường thì đứng ở hai bên. Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại thuật chuyện thượng hoàng viếng tang cho Hùng vương và Lưu vương nghe.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Vừa rồi thánh thượng ra viếng tang, khóc thương thảm thiết. Lại giáng chỉ gia phong cho làm Lỗ quận thượng trụ quốc, và cho con cháu đời đời nối tập tước. Có ban cho một trăm khoảnh ruộng để làm tự điền. Lại phái lục phẩm văn võ quan hai người hàng ngày phải giúp việc tang lễ, và cho một số hai vạn lạng để là tiền tử tuất. Thượng hoàng và thái hậu muốn ra viếng khóc, thánh thượng phải can ngăn mới thôi. Sáng hôm nay thánh thượng ra đây, có cả ba vị vương tử cùng Đông cung hoàng thái tử đi theo thánh thượng lại hỏi đến tiểu công tử mới đẻ, rồi ẵm lên trên lòng, khóc mà bảo rằng: “Trẫm chúc mong nhà ngươi sau này lớn lên, lại làm trụ thạch cho nước, cũng noi theo được lòng trung thành của tổ phụ ngày nay.” Thánh thượng hỏi đã đặt tên gì chưa thì tôi phải thuật rõ để thánh thượng biết rằng Doãn tướng công chưa kịp mệnh danh cho, phút bỗng tạ thế. Thánh thượng lại phán rằng: “Doãn tướng công tài cao học rộng, lại là người tận trung báo quốc, trẫm mong ngày sau cháu lại giống như ông, vậy trẫm đặt tên cho là Doãn Thiệu Tiên.”
Hùng vương và Lưu vương đều nói:
- Chúng ta được gặp gỡ một vị thánh quân như thế, tưởng cũng may mắn lắm thay!
Mấy người trò truyện hồi lâu thì người nhà dọn cơm, Hoàng Phủ Thiếu Hoa mời Hùng vương và Lưu vương cùng ngồi vào ăn. Khi ăn cơm xong, Hoàng Phủ Thiếu Hoa lại nói với Lưu vương rằng:
- Việc tiện nhi cầu hôn, hôm trước lệnh muội (Lưu Yến Ngọc) đã có ước định đến ngày mồng hai này. Ngày nay tôi bỗng có tang, không tiện dự lễ, vậy đến hôm ấy đã có lệnh muội chủ trương, cũng là chí thân trong một nhà, xin cữu huynh tha thứ cho.
Lưu vương đáp rằng:
-Tôi nguyên là kẻ vũ phu, đ lạm dụng vào hàng chí thân, thật lấy làm vẻ vang lắm. Vương gia đã là bậc tu hành đạo đức, xin chớ nói những câu khách sáo ấy.
Hùng vương cũng cười mà bảo rằng:
- Đã là chỗ chí thân, không nên dùng những câu khách sáo.
Hùng vương cáo từ về phủ, còn Lưu vương thì về lại nhà Hoàng Phủ đế nói chuyện cùng Lưu Yến Ngọc phu nhân. Lưu Yến Ngọc phu nhân nói cho Lưu vương biết rằng mọi sự đều đã hoàn hảo cả. Phò mã Triệu Câu cũng đã viết thư về Vân Nam để nói với Mạnh vương phi. Đến ngày mồng ba là ngày định làm lễ cho Phương Anh tiểu thư kết hôn cùng nhị lang Triệu Tường. Hôm ấy lại vừa gặp hôm có sứ thần các nước đến, mấy anh em phò mã Triệu Câu đang bận vê việc nghênh tiếp, thành ra hôn sửa soạn đủ rồi mà tân lang vẫn chưa thấy về. Buổi chiều hôm ấy, Hùng Khởi Thần đến mừng, thuật chuyện cho Tô Ánh Tuyết phu nhân và Lưu Yến Ngọc phu nhân biết rằng thái hậu đã giáng chỉ cho nàng Văn Cơ vào tu ở Tiểu Hoa Sơn.
Hai vị phu nhân nghe xong, đều nói:
- Nàng Văn Cơ còn mặt mũi nào. Khi vào đến Tiểu Hoa Sơn mà trông thấy nàng Diễm Tuyết và nàng Hạng Ngọc Thanh thì thiết tưởng hổ thẹn không biết thế nào mà kể cho xiết. Hùng Khởi Thần cười mà đáp rằng:
- Cứ như lời thân mẫu tôi nói chuyện thì Lưu Diễm Tuyết và Hạng Ngọc Thanh cũng rủ lòng thương xót mà đối với nàng Văn Cơ rất tử tế.
Lưu Yến Ngọc phu nhân thấy nhị lang Triệu Tường mãi không về, nóng lòng sốt ruột mà rằng:
- Bây giờ biết làm thế nào? Hôn lễ đã chọn ngày hôm nay, nếu vậy thì thật là lỡ việc! Nghe nói các nước ngoài đến cống, còn hơn một tháng nữa mới tới nơi, không biết cớ sao mà hôm nay thình lình lại đến như thế?
Hùng Khởi Thần nói:
- Đi đường bể thường thường nhờ về sức gió. Hễ gặp gió thuận, mỗi ngày đi được mấy nghìn hải lý, nếu không thì hàng năm, bảy năm chưa đi đến nơi. Bây giờ cát kỳ đã lỡ, chẳng hôm nay thì hôm khác, chứ có hề chi, phàn nàn làm chi cho thêm vô ích!
Tô Yến Tuyết phu nhân nói:
- Hôm nay lễ nghi đã sửa soạn đủ cả, đổi ngày làm sao cho tiện. Quốc cữu nên tâu với thánh thượng cho nhị lang hãy tạm về làm lễ hợp cẩn rồi sau lại đi.
Hùng Khởi Thần mỉm cười mà đáp rằng:
- Nhưng tôi muốn đổi hôm khác, khiến cho tôi cũng được uống rượu mừng.
Lưu Yến Ngọc phu nhân nói:
- Khi nào triều đình vô sự rồi, ta sẽ sửa một tiệc rượu để mời quốc cữu.
Hùng Khởi Thần nói:
- Nếu vậy để tôi xin vào triều tâu với thánh thượng.
Nói xong, vội vàng lên ngựa đi ngay. Đợi trong hồi lâu nữa cũng chưa thấy về, Tô Ánh Tuyết và Lưu Yến Ngọc phu nhân đều lấy làm bối rối. Bỗng nghe báo tân lang đã về. hai phu nhân nghoảnh ra đã trông thấy nhị lang Triệu Tường bước vào, đầu đội mũ trụ, mình mặc áo giáp, lại có đeo một thanh bảo kiếm bên mình. Triệu Phượng nói với hai phu nhân rằng:
- Hôm nay có sứ thần các nước đến, đang lúc nguy nghi, cho nên mấy anh em chúng con về không được. Sau thánh thượng nghe nói hôm nay là ngày cưới của con, bất đắc dĩ mới cho về.
Nói xong, vào làm lễ bái thiên địa, rồi lại mời các bậc tôn trưởng ngồi để bái tạ. Tô Ánh Tuyết phu nhân và Lưu Yến Ngọc phu nhân đều từ chối mà rằng:
- Ngày nay Mạnh vương phi chưa về tới đây, chúng ta không dám nhận lạy.
Bấy giờ hai vợ chồng cùng nhau giao bái, rồi vào động phòng làm lễ hợp cẩn. Khi làm lễ sắp xong thì bỗng lại có nội giám đến triệu. Triệu Phượng vội vàng lên ngựa đi ngay. Cách ba hôm sau, sứ thần các nước đều xin cáo từ về, mấy anh em phò mã Triệu Câu bấy giờ mới được trở về phủ. Gia Tường công chúa lại sinh được một cậu con trai. Hoàng Phủ Thiếu Hoa sau khi đưa ma Doãn tướng công rồi, lại theo thượng hoàng trở về chốn cũ. Lưu vương cũng từ biệt con gái rồi trở về phiên bang.
Nàng Hạng Ngọc Thanh tâu với thái hậu, xin cho nàng Lý Hoa Khôi ở Xuân Vân viện được thoát tịch, rồi gả cho Tô Thành. Lý Hoa Khôi cảm kích không biết dường nào. Thời giờ thấm thoát, Phương Anh tiểu thư và Phật Châu tiểu thư đều sinh con trai. Hưng Bình công chúa cũng sinh được một trai một gái.
Năm sau tiết “Thiên thu thánh đản” của bà thái hậu, Mạnh Lệ Quân ơ Vân Nam cùng hai vợ chồng tứ lang Triệu Tường đều tiến kinh, thật là lan huệ sum họp một nhà vậy. hôm làm lễ “Thiên thu thánh đản”, thái hậu cho tất cả gia quyến nhà họ Hùng và nhà Hoàng Phủ đều được vào dự tiệc tại trong cung. Phi Loan quận chúa dâng tập tranh “Bách mỹ” để chúc thọ. Thái hậu xem xong, rất vui vẻ.
o0o
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
bộ truyện Tục Tái Sanh Duyên đến đây là hết. Cám Ơn sự theo dõi của các bạn[:D][;)]
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
0
Nội lực của Hoàng Dung lúc này coi thêm phần thâm hậu quá

Truyện Tục tái Sanh Duyên , đã được mang vào thư viện trọn bộ rồi đó Hoàng Dung
Chúc HD luôn vui nhé

Thân thương
0
«« « 1 2 » »»