📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

ELON MUSK 🔒

54 trả lời, 174 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.05.2023 15:39:05 bởi Thanh Vân>
ELON MUSK
Tesla, SpaceX và sứ mệnh tìm kiếm một tương lai ngoài sức tưởng tượng

PDF https://thuvienpdf.com 
ASHLEE VANCE
MEGA Nhà xuất bản đại học Kinh Tế Quốc Dân
 
Dịch giả : Quang Thiệu
 
***
 
Mục lục
7 Lời giới thiệu
9 Cùng độc giả
11 1. Thế giới của Elon
41 2. Châu Phi
71 3. Canada
87 4. Lần khởi nghiệp đầu tiên của Elon
111 5. Ông trùm PayPal
139 6. Đàn chuột trong không gian
199 7. Hoàn toàn chạy điện
243 8. Tổn thương, đau khổ, và tồn vong
281 9. Cất cánh
343 10, Sự báo thù của xe hơi điện
409 11. Thuyết lĩnh vực hợp nhất của Elon Musk
464 Lời kết
469 Phụ lục 1
477 Phụ lục 2
483 Phụ lục 3
 
 
***
 
LỜI GIỚI THIỆU
Giữa thế kỷ 19, Hoa Kỳ còn là một quốc gia đang phát triển. Đầu thế kỷ 20, nước này đã chiếm lĩnh địa vị lãnh đạo thế giới và duy trì địa vị này cho tới ngày nay. Đâu là nguyên nhân dẫn đến kỳ tích trên của nước Mỹ trong suốt gần hai thế kỷ qua?
Một trong những nguyên nhân quan trọng đó là nước Mỹ và nền văn hóa của nó khuyến khích tất cả mọi người bộc lộ đầy đủ tài năng, tạo cho họ cơ hội như nhau để cạnh tranh trong một nền kinh tế tự do. Cơ hội lớn nhất sẽ dành cho những người sáng tạo nhất, không chấp nhận những phương thức cũ, vượt lên trên những lối mòn tư duy để tạo ra những sản phẩm mới-công nghệ mới, không chỉ thúc đẩy doanh nghiệp của họ phát triển mà còn tạo động lực để đưa xã hội và kinh tế tiến lên không ngừng. Có thể kể ra một loạt các doanh nhân như vậy: cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là Andrew Carnegie với ngành thép, George Eastman với ngành nhiếp ảnh, Henry Ford với ngành ô tô, tiếp đó là Thomas Watson với IBM, Robert Noyce với Intel, Bill Gates với Microsoft, Steve Jobs với Apple... Cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, chúng ta lại được biết dến một thế hệ doanh nhân Mỹ mới tạo ra những đột phá về công nghệ và có ảnh hưởng toàn cầu. Đó là Mark Zuckerberg với Facebook. Và đó là Elon Musk - nhân vật được mô tả trong cuốn sách mà các bạn đang cẩm trên tay.
Elon Musk là ai? Elon muốn một cách thức giao dịch mới trên Internet: anh sáng tạo ra PayPal. Elon muốn một chiếc xe hơi điện để bảo vệ môi trường: anh lập ra Tesla Motors. Elon muốn khơi dậy ước mơ đi tới không gian với chi phí rẻ hơn: anh hình thành SpaceX. Anh không bao giờ nói không với những ước mơ của mình. Anh sáng tạo để thay đổi thế giới. Khi nhìn lại lịch sử kinh doanh, thì đó chính là những điều mà các doanh nhân lớn của nước Mỹ đã làm trước đây.
Tôi mong rằng bất kỳ ai, nhất là các bạn thanh niên và những người đang trên bước đường khởi nghiệp, khi đọc cuốn sách này sẽ nhận thấy một điều rõ ràng: không quan trọng chúng ta đang làm lĩnh vực gì mà cách thức chúng ta tư duy và tạo ra những đột phá mới thực sự quan trọng, thậm chí là sống còn đối với một tổ chức, doanh nghiệp, tác động lớn lao đến sự phát triển chung của toàn xã hội. Và tôi hy vọng một ngày nào đó Việt Nam sẽ trở thành Quốc gia khởi nghiệp.
Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng các bạn độc giả!
Hà Nội, ngày 13 tháng Bảy năm 2016
Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn FPT
TRƯƠNG GIA BÌNH
*
CÙNG ĐỘC GIẢ
Cuốn sách này viết về một gã khùng. Phải, nhưng là một gã khùng có khả năng “khuynh đảo” cả thế giới. Với X.com, Elon Musk thay đổi tư duy của cả thế giới về dịch vụ ngân hàng. Với SpaceX, Musk đánh thức khát vọng của con người về một tương lai rộng mở ngoài Trái Đất. Với Tesla Motors, Musk làm chấn động toàn bộ ngành công nghiệp ô tô với những trạm sạc năng lượng miễn phí và hình thức bán trực tiếp thay vì thông qua các đại lý. Với Solar City, Musk đang dần hiện thực hóa tham vọng tạo dựng một thế lực chi phối cả ngành năng lượng mặt trời lẫn ngành công nghiệp năng lượng nói chung. Tất cả những gì Musk tham dự vào đều liên quan đến những ý tưởng lớn lao làm thay đổi thời đại.
Ashlee Vance, nhà báo công nghệ kỳ cựu đã bắt đầu cuốn sách này bằng câu hỏi mà Musk đặt ra cho anh “Anh có nghĩ tôi điên không?”, và dù không trả lời Musk lúc đó, ta có thể biết Vance nghĩ gì qua những chuyện anh kể về Musk. Có tới không dưới 40 từ “điên rồ” trong cuốn sách này, và quả thật bạn sẽ không thể ngăn mình thốt lên “Thật điên rồ!” khi đọc sách. Những gì Musk làm nằm ngoài khả năng tưởng tượng và cả ngoài kỳ vọng của hầu hết mọi người. Musk tạo dựng hai công ty công nghệ sạch thành công trong giai đoạn các doanh nghiệp công nghệ sạch lần lượt phá sản. Musk kiên định với sứ mệnh “cứu nhân loại thoát khỏi sự tự đày ải hay tai họa hủy diệt bất thường” dù suýt mất tất cả vì nó. Musk luôn đưa ra những đòi hỏi vô lý và những thời hạn không tưởng cho nhân viên...
Toàn chuyện điên rồ, nhưng cũng đầy cảm hứng. Musk là nguồn cảm hứng tạo dựng nhân vật Tony Stark trong bộ phim Iron Man (Người Sắt). Anh muốn truyền cảm hứng cho số đông và làm sống lại niềm đam mê của họ đối với khoa học, sứ mệnh chinh phục và những hứa hẹn của công nghệ. Với Musk, “Điều duy nhất có ý nghĩa chính là phấn đấu vì một sự khai sáng chung lớn lao hơn.”
Qua những câu chuyện, bạn sẽ thấy cách mà Musk tư duy: anh luôn hướng tới điều cốt yếu. Musk không bao giờ lẫn lộn cảm xúc hay mờ mắt vì tiền. “Theo cách nói của Musk, luôn phải bắt đầu từ những nguyên tắc đầu tiên của vấn đề. Đặc điểm vật lý của nó là gì? Nó sẽ mất bao lâu? Sẽ tốn bao nhiêu chi phí? Tôi có thể giảm bớt phí tổn đến đâu?” Nếu Musk có quan tâm đến tiền bạc hay luôn đòi hỏi giảm chi phí (như mỗi quan tâm của mọi doanh nhân khác) thì điểm khác biệt là vì điều đó giúp ích cho việc đạt được mục tiêu giải cứu thế giới của anh. Musk không mở công ty vì tiền.
Luôn đầy ắp ý tưởng, tràn trề nhiệt huyết, kiên định với mục tiêu và không bao giờ gục ngã, đó là cách Musk sống. Bạn có thể bắt gặp những cách nhìn khác về Musk, đủ cả khen chê, nhưng không ai có thể phủ nhận khả năng thay đổi thế giới của Musk. Và rất có thể, khi đọc xong cuốn sách này, trong bạn sẽ trào lên niềm hứng khởi muốn trở thành một anh hùng giải cứu nhân loại, một Iron Man - Elon Musk.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
 
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH ALPHA
(cho ấn bản in lần đầu)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.04.2023 13:22:20 bởi Thanh Vân>
1 - THẾ GIỚI CỦA ELON
 
“Anh có nghĩ tôi điên không?”
Elon Musk chợt hỏi tôi câu này khi chúng tôi sắp kết thúc bữa tối kéo dài tại một nhà hàng hải sản thượng hạng ở Thung lũng Silicon [1]. Tôi đến chỗ hẹn trước và yên vị với một cốc gin pha tonic, biết rằng Musk sẽ lại đến muộn - như mọi khi. Chừng 15 phút sau, Musk xuất hiện với đôi giày da, chiếc quần jeans thời thượng và áo sơ-mi kẻ ca-rô. Musk cao mét tám, nhưng nếu hỏi bất kỳ ai quen biết anh, họ sẽ khẳng định rằng anh còn to cao hơn thế. Anh có bờ vai rộng đến mức phi lý, dáng người đậm và chắc nịch. Bạn sẽ nghĩ rằng anh luôn biết cách tận dụng vóc dáng đó và toát ra phong thái “tôi là sếp” mỗi khi bước vào phòng. Nhưng kỳ thực anh rất hay ngượng ngùng. Một cái nghiêng đầu nhẹ khi bước vào, một cái bắt tay chào hỏi khi đến bên bàn, thế rồi anh ngồi xuống ghế. Tiếp đó, Musk cần vài phút làm quen để cảm thấy thoải mái hơn.
 
Musk mời tôi ăn tối để dàn xếp về vài vấn đề. 18 tháng trước, tôi đã thông tin với anh rằng tôi dự định viết một cuốn sách về anh, và anh cũng nói thẳng với tôi rằng anh không có ý định hợp tác. Lời khước từ khiến tôi đau nhói nhưng đã đánh thức bản năng phóng viên lì lợm trong tôi. Nếu tôi phải viết cuốn sách này mà không có anh, thì hãy cứ vậy đi. Tôi có thể liên lạc với vô số người từng rời bỏ hai công ty của anh, Tesla Motors và SpaceX, và quen biết rất nhiều bạn bè của anh. Các cuộc phỏng vấn từng người một cứ nối tiếp nhau, từ tháng này sang tháng khác, và sau khi tiếp chuyện khoảng 200 người, tôi lại được nghe giọng Musk một lần nữa. Anh gọi cho tôi từ nhà và tuyên bố rằng mọi chuyện chỉ có thể diễn ra theo một trong hai hướng: hoặc anh sẽ khiến đời tôi khốn khổ, hoặc anh sẽ giúp tôi thực hiện dự án này. Anh sẵn lòng hợp tác nếu được đọc qua cuốn sách trước khi nó được xuất bản và thêm chú thích trong toàn bộ nội dung. Anh sẽ không can thiệp vào bản thảo của tôi, nhưng muốn có cơ hội chú thích lại trung thực những điểm mà anh cho rằng không đúng như sự thật. Tôi hiểu vì sao anh có suy nghĩ đó. Musk muốn có một công cụ nhằm kiểm soát toàn bộ câu chuyên về cuộc đời anh. Anh như một nhà khoa học, bị ám ảnh và tự giày vò tâm trí mỗi khi thấy một lỗi sai sự thật. Chỉ một lỗi nhỏ trên trang giấy cũng có thể gặm nhấm linh hồn anh vĩnh viễn. Tuy hiểu cho lập trường của anh, nhưng tôi không thể để anh đọc cuốn sách vì nhiều lý do nghề nghiệp, cá nhân lẫn thực tế. Musk có phiên bản sự thật của anh, và không phải lúc nào đó cũng là phiên bản sự thật mà những người khác chia sẻ. Anh hay dùng những câu trả lời dài dòng cho ngay cả các câu hỏi đơn giản nhất; và hễ nghĩ đến 30 trang giấy đặc những chú thích, tôi lại thấy chúng có vẻ quá chân thực. Song, chúng tôi vẫn đồng ý hẹn nhau ăn tối để bàn về tất cả những vấn đề trên, và xem thử cả hai đã đi đến đâu.
 
Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu với cuộc thảo luận về các nhân sự cho mảng quan hệ công chúng (PR). Musk vẫn khét tiếng là đốt tiền cực nhanh vào đội ngũ PR, và Tesla vẫn đang trong quá trình săn tìm một giám đốc truyền thông mới. “Ai là người làm PR xuất sắc nhất thế giới?” Anh hỏi với một phong thái rất “Musk”. Rồi chúng tôi trò chuyện về vài người bạn chung, về  Howard Hughes [2] và nhà máy Tesla. Khi bồi bàn bước đến chờ gọi món, Musk liền nhờ anh ta gợi ý các món hợp với thực đơn low-carb [3] của anh. Anh hài lòng với vài khoanh tôm hùm rán rưới sốt mực đen. Cuộc dàn xếp vẫn chưa bắt đầu nhưng Musk đã sẵn sàng dùng bữa. Mở đầu câu chuyện, anh kể về  nỗi lo sợ ghê gớm khiến anh thao thức hàng đêm: Rất có thể Larry Page, đồng sáng lập kiêm CEO của Google, đang âm mưu xây dựng một binh chủng robot được tăng-cường-trí-tuệ-nhân- tạo có khả năng hủy diệt nhân loại. “Tôi thực sự lo lắng về điều này,” Musk nói. Tuy rất thân với Page và hiểu rằng Page thực chất là người tốt tính chứ không phải Tiến sĩ Evil [4] , nhưng Musk vẫn không cảm thấy an tâm. Trên thực tế, đó cũng là một phần của vấn đề. Bản chất tốt đẹp của Page khiến anh ta đinh ninh rằng mọi thứ máy móc sẽ mãi mãi tuân lệnh con người. “Tôi thì không lạc quan như thế,” Musk nói. “Anh ấy có thể ngẫu nhiên tạo ra thứ gì đó xấu xa lắm chứ.” Khi thức ăn đến, Musk liền ngấu nghiến ngay. Anh ăn rất nhanh, làm mọi thứ trên đĩa biến mất với vài cú ngoạm lớn. Liều mạng giữ cho Musk vui vẻ và có hứng trò chuyện, tôi chuyển cho anh khoanh thịt bò lớn từ đĩa của mình. Kế hoạch thành công... được tất cả 90 giây. Thịt. Miếng to. Mất hút.
Phải mất một lúc tôi mới kéo được Musk ra khỏi câu chuyện u ám về trí tuệ nhân tạo và chuyển sang chủ đề tiếp theo. Sau đó, khi chúng tôi cùng lướt qua cuốn sách, Musk bắt đầu thăm dò xem chính xác thì vì sao tôi lại muốn viết về anh và cân nhắc về ý định này của tôi. Khi thời khắc xuất hiện, tôi liền chớp ngay lấy lời anh. Với chút adrenaline trộn lẫn với hơi rượu gin, tôi bắt đầu tuôn một tràng kể lể suốt 45 phút về mọi nguyên nhân vì sao Musk nên để tôi đào sâu về cuộc đời anh, cũng như nên từ bỏ hẳn mọi sự kiểm soát anh mong muốn. Cuộc trò chuyện xoay quanh những hạn chế cố hữu của các chú thích, thói ưa kiểm soát đến gàn dở của Musk và việc thỏa hiệp với đức liêm chính nhà báo của tôi. Sau vài phút, Musk khiến tôi vô cùng kinh ngạc khi ngắt lời và nói một cách đơn giản, “Okay.” Mối bận tâm lớn nhất mà Musk giữ trong lòng đã được hóa giải, và anh khâm phục những ai vẫn tiếp tục cố gắng sau khi bị nói không. Trước đó, hàng tá phóng viên khác đã từng đến nhờ anh giúp viết sách, nhưng chỉ có tôi là kẻ phiền nhiễu duy nhất tiếp tục thuyết phục Musk sau lời khước từ ban đầu của anh, và có vẻ như anh thích điều đó.
Bữa tối lắng dần thành một cuộc trò chuyện thoải mái, và Musk cũng vứt luôn thực đơn ăn kiêng low-carb của anh. Người bồi bàn xuất hiện với món tráng miệng khổng lồ màu vàng được trang trí bằng kẹo bông, và Musk lao ngay vào nó, tay xé toạc từng nạm bông. Dàn xếp xong. Musk đã cho phép tôi tiếp cận các giám đốc trong công ty anh, bạn bè và gia đình anh. Anh sẽ dùng bữa tối cùng tôi mỗi tháng một lần, và ngồi bao lâu tùy thích. Lần đầu tiên Musk cho phép một phóng viên nhìn sâu vào bên trong thế giới của mình. Khoảng hai tiếng rưỡi sau khi chúng tôi bắt đầu, Musk đặt tay lên bàn, dợm người đứng dậy, rồi dừng lại, nhìn vào mắt tôi, và thốt ra một câu hỏi kỳ lạ: “Anh có nghĩ tôi điên không?” Khoảnh khắc kỳ quặc đó khiến tôi không nói nên lời, trong khi từng sợi dây thần kinh như bốc cháy vì cố nhận ra xem đó có phải một kiểu đánh đố hay không, và nếu đúng thế, thì nên trả lời sao cho khôn khéo. Nhưng sau giây lát, tôi mới nhận ra câu hỏi này có ý nghĩa với anh hơn với tôi. Tôi có im lặng cũng không thành vấn đề. Musk cũng im lặng, rồi tự hỏi thành tiếng liệu tôi có đáng tin không, và nhìn thẳng vào mắt tôi để ra phán quyết. Nửa giây sau, chúng tôi bắt tay và Musk vút đi trên chiếc sedan Tesla Model S màu đỏ chói.
 
Chú thích :
[1] Thung lũng Silicon nằm ở phía Nam Vịnh San Fransico, Bắc California (Mỹ) . Ban Đầu ; đây là tên gọi
dùng để chỉ các nhà phát minh và nhà sản xuất vi mạch Silicon, nhưng sau đó trở thành tên chung dành cho các doanh nghiệp và viện nghiên cứu công nghệ cao trong khu vực.
* Tất cả các chú thích chân trang đều là của người dịch, trừ những chú thích của người biên tập có mở ngoặc (BTV).
[2] Howard Robard Hughes,Jr. (1905 – 1976) : doanh nhân, nhà đầu tư, phi công, kỹ sư hàng không vũ trụ, nhà phát minh, nhà làm phim và nhà hảo tâm người Mỹ. Ông đuộc biết đến là người giàu có nhất thế giới trong thời đại của mình, với sản nghiệp có được từ hai bàn tay trắng.
[3] Phương pháp giảm cân bằng cách hạn chế tối đa lượng cabonhydrate ( chủ yếu là tinh bột) hấp thụ vào cơ thể.
[4] Nhân vật phản diện trong loạt phim Austin Pawers, do diễn viên Mike Myers thủ vai.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.04.2023 14:08:15 bởi Thanh Vân>
MỌI NGHIÊN CỨU VỀ ELON MUSK đều phải bắt đầu từ trụ sở của SpaceX tại Hawthorne, California - vùng ngoại vi Los Angeles cách Sân bay Quốc tế Los Angeles vài cây số. Đó là nơi khách ghé thăm sẽ nhìn thấy hai tấm áp-phích Hỏa tinh khổng lồ được treo hai bên bức tường dẫn lên phòng ngủ nhỏ ở nơi làm việc của Musk. Tấm áp-phích bên trái mô tả Hỏa tinh của hiện tại - một thiên thể đỏ lạnh lẽo và trơ trụi. Còn bên phải là hình ảnh Hỏa tinh với một lục địa bao la, xanh mướt được bao quanh bởi các đại dương. Hành tinh đỏ đã được làm ấm và biến đổi cho phù hợp với con người. Musk đang hết sức cố gắng để biến điều đó thành sự thật. Mục tiêu cả đời của anh là đưa con người định cư ngoài không gian. “Tôi muốn chết với niềm tin về một tương lai tươi sáng dành cho nhân loại,” anh chia sẻ. “Nếu chúng ta có thể giải quyết vấn đề năng lượng bền vững, trở thành giống loài đa tinh cầu và xây dựng được một nền văn minh tự cường trên một hành tinh khác — nhằm đối mặt với kịch bản tồi tệ nhất, trong đó loài người bị mất hết ý thức — thì,” đến đây, anh ngừng lại một lát, “tôi nghĩ điều đó thực sự tốt đẹp.”
Nếu Musk có nói hay làm điều gì có vẻ buồn cười, thì đó là do bạn cảm thấy thế. Chẳng hạn như lúc này, khi trợ lý của Musk đưa anh một cốc kem phủ vụn bánh bích quy và rắc hạt bên trên, rồi anh hào hứng kể về  sứ mệnh cứu rỗi nhân loại trong khi môi dưới vẫn thòng xuống vết dính của món tráng miệng.
Chính cá tính luôn sẵn sàng, sốt sắng của Musk khi xử lý những điều không thể đã biến anh thành một vị thánh của Thung lũng Silicon, nơi các CEO đồng cấp như Page nói về anh với sự tôn kính, còn các doanh nhân mới nổi lại phấn đấu “để được như Elon” giống như nhiều năm trước đây họ từng cố gắng nối gót Steve Jobs. Tuy nhiên, Thung lũng Silicon chỉ vận động trong một phiên bản méo mó, và bên ngoài khung cảnh của sự hào nhoáng bao trùm đó, Musk luôn xuất hiện với phong thái hầu như đối lập. Anh thuộc về những chiếc xe hơi chạy điện, những tấm pin Mặt Trời và những quả tên lửa gợi nhớ về một ước vọng đã sụp đổ. Hãy quên Steve Jobs đi. Musk là phiên bản viễn tưởng của p. T. Barnum [5] người đã trở nên cực giàu nhờ kiếm ăn trên nỗi sợ hãi và dằn vặt của con người. Hãy mua một chiếc Tesla. Hãy quên đi mớ hỗn độn bạn đã gây ra cho hành tinh này trong chốc lát.
Tôi đăng ký tham dự hội trại tại Silicon cách đây đã lâu. Musk gây ấn tượng với tôi như một kẻ mơ mộng có thiện chí - một thành viên cốt cán của câu lạc bộ “công nghệ không tưởng” tại Thung lũng Silicon. Hội này chủ yếu là một sự kết hợp của những kẻ hâm mộ Ayn Rand [6] với các kỹ sư theo chủ nghĩa tuyệt đối, những người xem thế giới quan siêu logic của họ là Câu trả lời cho tất cả. Chỉ cần ta không ngáng đường họ, họ sẽ xử lý mọi vấn đề cho chúng ta. Sẽ sớm có một ngày chúng ta có thể tải chính bộ óc của mình xuống máy vi tính, thư giãn, và để các thuật toán của chúng chăm lo mọi thứ. Phần lớn tham vọng của họ truyền được cảm hứng cho nhiều người, và cho thấy các công trình của họ mang lại lợi ích. Thế nhưng, các nhà công nghệ không tưởng này đã quá mệt mỏi vì sự tầm thường của bản thân cùng khả năng huyên thuyên hàng giờ mà chẳng nói vào thực chất. Trớ trêu hơn là thông điệp ẩn đằng sau của họ, theo đó con người là một tạo vật khiếm khuyết, và nhân tính của chúng ta chỉ là một gánh nặng phiền nhiễu cần được xử trí thông qua một tiến trình thỏa đáng. Mỗi khi tôi bắt gặp Musk tại các sự kiện của Thung lũng Silicon, bài phát biểu của anh có vẻ như luôn đánh thẳng vào sách lược của hội công nghệ không tưởng. Song, điều khó chịu nhất chính là các công ty giải-cứu- thế-giới của anh có vẻ không gánh vác nổi tất cả những sứ mệnh anh đã nêu ra.
Tuy nhiên, đến đầu năm 2012, những kẻ hoài nghi như tôi buộc phải chú ý đến các thành tựu mà Musk thực sự đạt được. Các công ty từng một thời gây rối của anh đang thành công chưa từng có. SpaceX đã chuyển một đầu tên lửa [7] mang hàng tiếp tế tới Trạm Không gian Quốc tế (ISS: International Space Station) và đưa nó trở về Trái Đất an toàn. Tesla Motors cung cấp mẫu xe Model S, một chiếc sedan đẹp đẽ chạy điện hoàn toàn khiến ngành công nghiệp xe hơi phải nín thở, và giáng một cái tát làm Detroit thức tỉnh. Hai kỳ tích đó đã nâng Musk đến tầm cao độc nhất vô nhị trong số các doanh nghiệp khổng lồ. Chỉ duy nhất Steve Jobs mới đạt đến những thành tựu tương đương trong hai ngành công nghiệp khác nhau, khi từng cho ra mắt một sản phẩm Apple mới và một bộ phim Pixar bom tấn trong cùng một năm. Song, Musk vẫn chưa dừng lại. Anh còn là chủ tịch kiêm cổ đông lớn nhất của SolarCity, một công ty năng lượng Mặt Trời phát đạt đang sẵn sàng phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO). Bằng cách nào đó, Musk đã đạt được những bước tiến quan trọng nhất, một kỳ tích mà các ngành công nghiệp không gian [8], xe hơi và năng lượng chỉ chứng kiến một lần trong hàng thập kỷ.
2012 cũng là năm tôi quyết định gặp Musk trực tiếp và viết một bài giới thiệu về anh trên tờ Bloomberg Businessweek. Đối với Musk vào thời điểm đó, mọi thứ đều phải thông qua người trợ lý kiêm phụ tá trung thành của anh, Mary Beth Brown. Cô mời tôi đến một nơi mà sau này tôi vẫn gọi là “Xứ Musk”.
Bất kỳ ai đến Xứ Musk lần đầu đều sẽ có cùng một trải nghiệm nhức nhối giống nhau. Bạn sẽ được hướng dẫn đỗ xe trên phố One Rocket tại Hawthorne, nơi SpaceX đặt trụ sở. Dường như không thể tìm ra được điểm nào tốt đẹp để có thể gọi Hawthorne là nhà. Đó chỉ là khu đất hoang vắng của hạt Los Angeles, nơi tập trung các ngôi nhà xiêu vẹo, các cửa hàng đổ nát và các quán ăn xuống cấp bao quanh những khu phức hợp công nghiệp rộng mênh mông; có lẽ chúng được xây dựng từ thời thịnh hành lối kiến trúc chữ nhật nhàm chán. Elon Musk thực sự muốn cắm công ty anh ngay giữa đống phế thải này ư? Nhưng rồi, mọi thứ sẽ dần trở nên hợp lý hơn khi bạn chứng kiến trên 5,1 hecta đất được sơn hàng chữ trắng lòe loẹt đầy phô trương: “Tâm, trí, thể hợp nhất.” Đây cũng là khu nhà chính của SpaceX.
Chỉ đến khi bước qua cửa trước của SpaceX, mới nhận thấy tầm vóc của những gì người đàn ông này đã làm được. Musk đã xây dựng nên một nhà máy sản xuất tên lửa đúng nghĩa ngay giữa lòng Los Angeles. Và nhà máy này không chỉ sản xuất mỗi lần một quả tên lửa. Không. Nó sản xuất nhiều tên lửa cùng một lúc — ngay từ đầu. Cả nhà máy là một khu vực vận hành khổng lồ. Nằm gần cuối là các gian giao nhận đồ sộ, cho phép từng khối kim loại cập sàn và được vận chuyển lên các máy hàn cao bằng tòa nhà hai tầng. Một bên là các kỹ thuật viên khoác áo choàng trắng đang lắp ráp các bo mạch chính, radio và nhiều thiết bị điện tử khác. Những người còn lại tập trung ở một gian kính đặc biệt, chế tạo các khoang hàng để tên lửa mang đến Trạm Không gian. Một toán đàn ông xăm trổ quàng khăn rằn đang mở nhạc Van Halen [9] inh ỏi và mắc dây điện quanh các động cơ tên lửa. Các thân tên lửa hoàn thiện đang xếp hàng sẵn sàng để được chuyển lên xe tải. Vẫn còn nhiều tên lửa tại một khu vực khác của tòa nhà đang chờ được sơn vỏ trắng. Thật khó bao quát toàn bộ khung cảnh nhà máy ngay lập tức. Có đến hàng trăm bộ phận chuyển động liên tục đang lượn quanh các cỗ máy kỳ quái khác nhau.
Đây chỉ là tòa nhà thứ nhất tại Xứ Musk. SpaceX đã mua lại một số khu nhà từng là một phần của một nhà máy Boeing, chuyên sản xuất thân máy bay 747. Một trong các tòa nhà này có mái vòm và trông như một nhà chứa máy bay. Nó đóng vai trò là nơi nghiên cứu, phát triển và xưởng thiết kế của Tesla. Đây cũng là nơi công ty chốt lại dáng vẻ cho mẫu xe sedan Model S và dòng xe tiếp nối, chiếc SUV [10]   Model X. Tại bãi đỗ xe ngoài xưởng, Tesla cũng xây dựng một trong các trạm sạc năng lượng của họ, nơi các tài xế Los Angeles có thể sạc đầy điện miễn phí. Trung tâm sạc điện này rất dễ nhận ra, vì Musk đã cho xây một ngọn tháp màu đỏ trắng với logo Tesla trải giữa bể bơi bao la bên dưới.
Đây là cuộc phỏng vấn đầu tiên của tôi với Musk, diễn ra ngay tại xưởng thiết kế; tôi bắt đầu cảm nhận được cách nói chuyện và hành xử của anh. Anh là người tự tin, nhưng không phải lúc nào cũng thể hiện tốt điếu đó. Khi gặp mặt lần đầu, Musk có thể tỏ ra ngượng ngùng và khá lúng túng. Tuy anh vẫn giữ được khẩu âm Nam Phi nhưng nó cũng đang mất dần, và sự quyến rũ của nó không đủ bù đắp cho thói ngắc ngứ trong cung cách trò chuyện của Musk. Như bao kỹ sư và nhà vật lý học khác, Musk sẽ ngập ngừng mỗi khi tìm kiếm cách diễn đạt chính xác, và anh thường ồm ồm đi thẳng vào một vấn đề khoa học thâm thúy, khó nuốt mà chẳng có lời mào đầu hay giải thích đơn giản nào trong suốt câu chuyện. Musk muốn bạn phải liên tục lắng nghe anh. Và điều này chẳng có gì khó chịu. Trên thực tế, Musk có thể tuôn ra hàng tràng câu nói đùa hết sức có duyên. Vấn đề là người đàn ông này luôn ý thức được mục đích và áp lực trong mỗi cuộc đối thoại của mình. Musk không ưa tán chuyện vô bổ. (Phải mất đến hơn 30 giờ phỏng vấn, Musk mới thực sự mở lòng và cho phép tôi chạm đến một phần khác biệt, sâu sắc hơn trong tâm hồn và tính cách của anh.)
Hầu hết các CEO lừng danh đều có một đội ngũ hỗ trợ xung quanh để giúp họ. Nhưng Elon Musk đa phần chỉ di chuyển một mình trong Xứ Musk. Anh không phải là kiểu người thích lượn lờ trong các buổi tiệc. Anh luôn là người điều khiển và sải những bước dài để đạt được mục tiêu. Trong lúc đi dạo quanh sảnh chính của xưởng thiết kế, kiểm tra các bộ phận mẫu và xe cộ, Musk đã trò chuyện với tôi. Tại mỗi trạm, nhân viên thường tới gặp anh và báo cáo thông tin. Anh chăm chú lắng nghe, tiến hành xử lý, và gật đầu khi hài lòng. Sau đó, các nhân viên rời đi và Musk tiếp tục với các thông tin tiếp theo. Một lần, Franz von Holzhausen, trưởng nhóm thiết kế của Tesla, muốn Musk tiếp nhận những chiếc lốp và vành bánh xe mới cho dòng Model S, cùng cách bố trí các hàng ghế cho dòng Model X. Họ thảo luận rồi bước vào căn phòng phía sau, nơi các chuyên viên của một hãng cung cấp phần mềm đồ họa cao cấp đã chuẩn bị sẵn bài thuyết trình với Musk. Họ muốn giới thiệu một công nghệ trình chiếu 3-D mới, cho phép Tesla tách riêng từng bộ phận ảo của thành phẩm Model S và xem thử các yếu tố như bóng đổ hay đèn đường sẽ thể hiện ra sao trên thân xe - với độ chi tiết rất cao. Các kỹ sư của Tesla rất muốn có hệ thống máy tính này và mong Musk chấp thuận ngay. Họ ra sức thuyết phục Musk về ý tưởng trên, trong lúc âm thanh của máy khoan và dàn quạt công nghiệp khổng lồ cứ át đi màn hùng biện này. Đóng bộ trong đôi giày da, chiếc quần jeans thời thượng cùng áo thun đen — vốn là trang phục làm việc của anh — Musk đeo cặp kính 3-D lên xem thử và tỏ ra khá thờ ơ. Anh bảo họ rằng sẽ suy nghĩ và bỏ đi về  phía phát ra âm thanh huyên náo - một phân xưởng nằm sâu trong xưởng thiết kế, nơi các kỹ sư Tesla đang dựng dàn giáo cho các ngọn tháp trang trí cao hơn chín mét, bao bên ngoài các trạm sạc điện. “Thứ đó hẳn sẽ đứng vững qua một cơn bão cấp 5,” Musk nhận xét. “Hãy bó gọn nó lại một chút.” Cuối cùng tôi và Musk cũng yên vị trong xe anh - một chiếc Model S đen - và quay lại khu nhà chính của SpaceX. “Tôi nghĩ có lẽ đang có quá nhiều kẻ thông minh theo đuổi các ngành về Internet, tài chính hay pháp luật,” Musk nói trên đường về. “Đó là một phần nguyên nhân vì sao chúng ta không có nhiều phát minh.”
Chú thích:
 [5] Phineas Taylor ‘P.T’ (1810 – 1891) : một chủ gánh xiếc và doanh nhân người Mỹ, nổi tiếng với các trò chơi khăm trứ danh. Ngoài sáng lập đoàn xiếc Barnum & Bailey, ông còn là tác giả sách, nhà từ thiện và đôi khi còn là triết gia. Ông nổi tiếng với câu nói : ‘‘Cứ mỗi phút lại có thêm môt( tên khờ.’’
[6] Ayn Rand (1905 – 1982) : tiểu thuyết gia và nhà lý luận người Mũ gốc Nga. Bà nổi tiếng nhờ phát triển học thuyết chủ nghĩa khách quan cùng một số tác phẩm như We the Living. The Fountainhead, Atlas Shrugged, For the new Intellectual…và truyện ngắn Anthem. Là người gây ảnh hưởng rộng lớn tới nước Mỹ thời hậu Thế chiến II, các tác phẩm của Rand đã nhận được sự mến mộ nhiệt thành cũng như phê phán nghiêm khắc
[7] Nguyên văn : capsule, đầu mang khí cụ hoặc người của tên lửa vào không gian
[8] Nguyên văn : space, không gian, hay còn gọi là vũ trụ.
 [9] Ban nhạc Rock người Mỹ thành lập tại California vào năm 1972) , trở thành ban nhạc đươc yêu thích nhất thế giới với nhiều ca khúc nổi tiếng và các buổi trình diễn rực lửa, Van Halen hiện là nhóm nhạc có nhiều bản hit đứng đầu nhất thuộc dòng Roch chính thống trenn6 bảng xếp hạng Billboard.
[10] Viết tắc của (sprt utility vehicle), tức xe thể thao đa dụng, nổi bật với không gian bên trong rộng rãi và đi được trên nhiều địa hình
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
XỨ MUSK LÀ SỰ MẶC KHẢI.
 
Tôi đến Thung lũng Silicon từ năm 2000, và sau cùng chuyển đến sống tại khuTenderloin của thành phố San Francisco. Dân cư trong thành phố sẽ van xin bạn tránh xa khu vực này. Bạn sẽ không khó phát hiện ra ai đó đang tụt quần phóng uế giữa hai chiếc xe đang đỗ, hay bắt gặp vài kẻ loạn trí đập đầu vào bên hông trạm xe buýt. Tại các quán bar chui gần mấy câu lạc bộ thoát y trong vùng, bọn biến thái thi thoảng lại chặn đường các doanh nhân tò mò, còn đám nát rượu thì ngủ gục trên ghế bành và tự bôi bẩn mình cứ như là một phần của nghi lễ Chủ nhật lười nhác nào đó. Khu vực cặn bã và dễ bị hành hung này của San Francisco hóa ra lại là nơi tuyệt vời để chứng kiến giấc mơ dot-com giãy chết.
Lịch sử của San Francisco từ lâu đã gắn với lòng tham. Nó trở thành một thành phố từ sau cơn sốt vàng, và ngay đến một thảm họa động đất cũng không thể kìm giữ nổi tham vọng kinh tế của San Francisco. Đừng để những rung cảm ngọt ngào đánh lừa bạn. Bùng nổ rồi phá sản là giai điệu của nơi đây. Năm 2000, San Francisco bất ngờ đón nhận đợt bùng phát kinh tế lớn hơn cả, để rồi bị thói hám lợi nuốt gọn. Đó quả là quãng thời gian sống tuyệt vời khi toàn bộ dân chúng đếu chìm trong ảo vọng — một làn sóng làm giàu nhanh điên cuồng nhờ Internet. Xung lực từ thứ ảo tưởng chung này mãnh liệt đến mức có thể sờ thấy được, và tạo thành lời đồn đại không dứt lan khắp thành phố. Và tôi đang ở giữa trung tâm của nơi tha hóa nhất San Francisco, quan sát xem người dân tại đây bị sự thừa mứa ít nhiều nuốt chửng ra sao.
Ai ai cũng biết những câu chuyện về thói điên rồ của các doanh nghiệp trong thời kỳ này. Để khởi sự một công ty phát đạt, bạn không cần phải tạo ra thứ gì đó mà mọi người muốn mua. Bạn chỉ cần nảy ra một ý tưởng nào đó về Internet và rêu rao cho cả thế giới, thế là các nhà đầu tư háo hức sẽ đua nhau tài trợ cho cuộc thử nghiệm bạn vừa nghĩ đến. Mục tiêu duy nhất là kiếm được càng nhiều tiền càng tốt trong khoảng thời gian ngắn nhất, vì chí ít trong tiềm thức của mỗi người, họ đều hiểu rằng sự thật cuối cùng sẽ phải phơi bày.
Cư dân trong Thung lũng đã thấm nhuần câu giáo điều “làm hết sức, chơi hết mình” từng lời từng chữ. Những người đang độ hai mươi, ba mươi, rồi đến bốn mươi, năm mươi đều làm việc thâu đêm suốt sáng. Khu làm việc trở thành nhà ở tạm, và vệ sinh cá nhân bị bỏ lửng. Lạ hơn nữa là đang từ không có gì lại hóa ra có vô số việc để làm. Nhưng đến khi thời gian thoải mái hơn, lại có nhiều lựa chọn để sa ngã. Các công ty đình đám và các thế lực truyền thông thời điểm đó dường như đã bị khóa chặt vào cuộc ganh đua hòng vượt trên kẻ khác, với những bữa tiệc hoành tráng chưa từng có. Để tỏ ra hợp thời, các công ty lạc hậu sẽ phải thường xuyên mua chỗ ở địa điểm hòa nhạc, rồi thuê vài vũ công, nghệ sĩ xiếc, các quầy bar phục vụ miễn phí, và cả nhóm Barenaked Ladies [11]. Các kỹ thuật viên trẻ sẽ xuất hiện để nốc sạch những cốc Jack and Cokes [12] và khịt cocaine ra đằng mũi tại các nhà vệ sinh công cộng. Đấy là thời buổi mà lòng tham và thói tư lợi là thứ duy nhất được coi trọng.
Trong khi thời kỳ hoàng kim được lưu vào niên sử, thì thời kỳ tăm tối sau đó lại bị lãng quên mà chẳng ai bất ngờ. Hồi tưởng một giai đoạn tăng trưởng phi lý bao giờ cũng vui hơn ngẫm nghĩ về mớ hổ lốn nó để lại.
Có thế nói rằng, chính sức công phá từ bên trong của trào lưu làm giàu nhanh một cách ngoạn mục nhờ Internet đã đẩy San Francisco và Thung lũng Silicon vào một cuộc suy thoái trầm trọng. Những bữa tiệc không hồi kết sau cùng đã chấm dứt. Gái bán hoa không còn rong ruổi khắp phố xá Tenderloin lúc 6 giờ sáng để ban phát tình yêu trước giờ công sở nữa. (“Đến đây nào cưng. Tốt hơn cà phê đấy!”) Thay vì nhóm Barenaked Ladies, bạn chỉ thỉnh thoảng bắt gặp một ban nhạc nhái Neil Diamond [13] tại một buổi ra mắt cùng vài chiếc áo thun miễn phí, và trên hết là nỗi hổ thẹn ngập tràn.
Ngành công nghệ không biết phải làm gì với chính mình. Các nhà đầu tư mạo hiểm kín đáo từng nếm đòn bởi bong bóng không muốn tỏ ra ngu dốt hơn nữa, nên họ quyết định dừng hẳn mọi dự án mạo hiểm mới. Các sáng kiến khởi nghiệp lớn lao nhất cũng bị thế chỗ bởi những ý tưởng nhỏ nhặt nhất. Cứ như thể Thung lũng Silicon đang đồng loạt khôi phục. Nghe có vẻ cường điệu, nhưng đó là sự thật. Đám đông gồm hàng triệu kẻ khôn ngoan những tưởng rằng họ đang kiến tạo nên tương lai. Rồi... đùng một cái! “Chơi an toàn” bất ngờ lại trở thành trào lưu.
Các công ty cùng những ý tưởng hình thành trong giai đoạn này đã minh chứng cho tình trạng đình đốn trên. Google xuất hiện và thực sự bắt đầu phất lên từ khoảng năm 2002, nhưng đó chỉ là ngoại lệ. Kể từ thời điểm Google thành lập cho đến khi Apple cho ra mắt iPhone vào năm 2007, nơi đây là vùng đất khô cằn của những công ty bạc nhược. Các tân binh năng nổ vừa bước vào thương trường như Facebook hay Twitter hiển nhiên cũng tránh tiếp bước các bậc tiên bối của họ — Hewlett- Packard, Intel và Sun Microsystem — trong việc chế tạo các sản phẩm hữu hình và thuê mướn đến hàng chục nghìn nhân công. Trong những năm sau đó, mục tiêu đã chuyển dịch từ chấp nhận rủi ro cao trong các ngành nghế và ý tưởng mới hoành tráng sang theo đuổi lợi nhuận dễ kiếm bằng cách làm vui lòng người tiêu dùng và ra mắt các ứng dụng, quảng cáo đơn giản. “Những bộ óc xuất chúng nhất của thế hệ tôi đang nghĩ cách thuyết phục mọi người nhấp quảng cáo,” Jeff Hammerbacher, một kỹ sư đời đầu của Facebook, nói với tôi. “Thật vớ vẩn.” Thung lũng Silicon bắt đầu trông rất giống Hollywood. Trong khi đó, những người tiêu dùng mà nó phục vụ lại ngày càng khép kín mình và đắm chìm vào cuộc sống ảo.
Jonathan Huebner, nhà vật lý học công tác tại Trung tâm Không chiến của Hải quân Mỹ tại hồ China, California, là một trong những người đầu tiên kiến nghị rằng giai đoạn đình trệ trong quá trình đổi mới này có thể báo hiệu cho một vấn đề lớn hơn rất nhiều. Bản thân Huebner là phiên bản Leave It to Beaver[14] của một nhà buôn cái chết [15] . Trung niên, gầy, và hơi hói, ông thích mặc bộ quần áo nhìn như bám bụi: quần tây màu vàng nhạt, áo sơ-mi sọc nâu, cùng áo khoác vải dù cũng vàng nhạt. Ông đã chế tạo các hệ thống vũ khí từ năm 1985, hiểu biết đích xác về các công nghệ tân tiến và vĩ đại nhất về vật liệu, năng lượng và phần mềm. Sau khi bong bóng dot-com vỡ, ông dần dần cảm thấy bức xúc trước sự nhạt nhẽo của những thứ được cho là đổi mới bày ra trước mắt mình. Năm 2005, Huebner đã công bố chuyên luận mang tên “Xu hướng đổi mới có thế suy giảm trên toàn cầu” — một bản cáo trạng dành cho Thung lũng Silicon, hay chí ít cũng là lời cảnh báo đáng lo ngại.
 
Huebner dùng hình ảnh một cái cây để phiếm dụ về thực trạng đổi mới mà ông quan sát được. Con người đã leo hết thân cây và vươn ra ngoài những cành lá to của nó, khai thác hầu hết những ý tưởng thực sự lớn lao và làm thay đổi thời đại - như bánh xe, điện, máy bay, điện thoại và bóng bán dẫn. Hiện tại, chúng ta đang đung đưa sát rìa các nhánh cây trên ngọn, và đa phần chỉ tinh lọc lại những phát minh trong quá khứ. Trong chuyên luận của mình, Huebner đã nhắc lại quan điểm này khi cho thấy tần suất xuất hiện các phát minh làm thay đổi cuộc sống đã bắt đầu chậm lại. Ông còn dẫn dữ liệu chứng minh rằng số lượng bằng sáng chế cấp trên đầu người đang giảm dần theo thời gian. “Tôi nghĩ xác suất chúng ta khám phá thêm một phát minh thuộc số 100 phát minh hàng đầu đang ngày càng nhỏ dần,” Huebner trả lời tôi trong một cuộc phỏng vấn. “Sự cách tân là nguồn tài nguyên có hạn.”
Huebner dự đoán rằng phải mất khoảng năm năm để mọi người bắt kịp quan điểm của ông, và dự báo này có vẻ rất chính xác. Khoảng năm 2010, Peter Thiel, đồng sáng lập PayPal và là nhà đầu tư sớm vào Facebook, bắt đầu nêu ý kiến rằng ngành công nghệ đã khiến con người thất vọng. “Chúng ta muốn những chiếc xe hơi bay được, thay vì chỉ có 140 ký tự,” câu nói này đã trở thành khẩu hiệu của Founders Fund, hãng đầu tư mạo hiểm do ông sở hữu. Trong bài tiểu luận mang tên “Điều đã xảy ra với tương lai,” Thiel và các đồng sự của ông đã chỉ rõ các thông điệp 140 ký tự của Twitter cùng những phát minh tương tự đã khiến công chúng thất vọng như thế nào. Ông lập luận rằng khoa học viễn tưởng, vốn một thời được ca ngợi, đã hóa thành địa ngục suy tàn vì con người không còn giữ được cái nhìn lạc quan về  khả năng thay đổi thế giới của công nghệ.
Tôi đã hết lòng tán thành lối suy nghĩ này cho đến khi ghé thăm Xứ Musk lần đầu tiên. Khi Musk rụt rè tiết lộ về mục tiêu anh đang hướng đến, thì một số vị khách đã đến xem các nhà máy, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) cùng các cửa hàng máy móc để chứng kiến tận mắt quy mô của những điều anh đang làm. Anh là người khá tuân thủ nguyên tắc của Thung lũng Silicon đằng sau việc tăng trưởng nhanh chóng và vận hành tốt các doanh nghiệp mà không cần đến hệ thống cấp bậc quan liêu, đồng thời áp dụng nguyên tắc này nhằm cải tiến các cỗ máy lớn hoành tráng và theo đuổi những thứ có khả năng trở thành bước đột phá thực sự mà chúng ta đã bỏ lở.
Musk suýt nữa đã trở thành một phần của thực trạng trì trệ. Năm 1995, anh nhảy vào cơn cuồng phong dot-com khi mới chân ướt chân ráo rời đại học và thành lập một công ty tên Zip2 - giống như khi Google Maps buổi nguyên sơ chạm trán Yelp [16]. Cú liều đầu tiên đó đã kết thúc với một chiến tích trọng đại và chóng vánh. Năm 1999, Compaq mua lại Zip2 với giá 307 triệu đô-la. Musk bỏ túi 22 triệu đô-la từ thương vụ này và dốc gần như tất cả vào khoản đầu tư mạo hiểm kế tiếp của anh, một công ty khởi nghiệp sau này vươn mình thành PayPal. Với tư cách cổ đông lớn nhất của PayPal, Musk đã trở nên cực kỳ giàu có sau khi eBay mua lại công ty này vào năm 2002, với giá 1,5 tỉ đô-la.
 
Thay vì lang thang quanh Thung lũng Silicon và nhập hội rầu rĩ cùng với đồng bọn, Musk đã nhổ trại đến Los Angeles. Thời đó, mọi người thường khuyên nhau rằng hãy hít một hơi thật sâu và chờ đợi một biến cố lớn đưa mọi thứ trở về đúng hướng. Musk đã bác bỏ thứ logic đó bằng cách ném 100 triệu đô-la vào SpaceX, 70 triệu đô-la vào Tesla và 10 triệu đô-la vào SolarCity. Nếu không thiết lập được một guồng máy in tiền thực sự, Musk có lẽ đã tự hủy đi tiền đồ của anh một cách chóng vánh. Anh trở thành chủ nhân của một hãng đầu tư mạo hiểm một thành viên, chấp nhận rủi ro tối đa và nhân đôi vốn liếng khi chế tạo các sản phẩm hữu hình siêu phức tạp tại hai khu vực đắt đỏ nhất trên thế giới, Los Angeles và Thung lũng Silicon. Các công ty của Musk luôn tìm cách xây dựng mọi thứ từ đầu và suy tính cặn kẽ mỗi khi có thể, trong khi toàn bộ ngành hàng không vũ trụ, xe hơi và năng lượng Mặt Trời thường xuyên gặp khó khăn.
Với SpaceX, Musk đang tham gia vào cuộc chiến của những gã khổng lồ trong giới liên hợp công nghiệp quân sự Mỹ, bao gồm Lockheed Martin [17] và Boeing. Anh còn đọ sức với nhiều quốc gia - đáng kể nhất là Nga và Trung Quốc. SpaceX đã tự tạo nên tên tuổi cho mình như một nhà cung cấp giá rẻ trong ngành. Nhưng chỉ thế vẫn không đủ để nó chiến thắng. Ngành kinh doanh không gian đòi hỏi bạn phải đối phó với một mớ hổ lỗn nào chính trị, nào đền đáp, nào chính sách bảo hộ vốn chỉ làm phai mờ các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Steve Jobs cũng từng đối mặt với những thế lực tương tự khi đứng ra chống lại ngành thu âm nhằm đưa iPod và iTunes ra thị trường. Song, những kẻ thủ cựu kỳ khôi trong ngành công nghiệp âm nhạc dẫu sao vẫn dễ ứng phó hơn so với kẻ thù của Musk, những kẻ kiếm sống bằng cách chế tạo vũ khí và tạo lập các quốc gia. SpaceX từng thử nghiệm các tên lửa tái sử dụng nhằm đưa các khoang chở hàng lên không gian trên các bệ phóng của chúng và quay trở về Trái Đất một cách chính xác. Nếu công ty hoàn thiện được công nghệ này, nó sẽ tạo ra một vụ nổ thổi bay mọi đối thủ và gần như chắc chắn sẽ loại bỏ một vài trụ cột trong ngành công nghiệp tên lửa, đồng thời thiết lập vị thế hàng đầu thế giới của Mỹ trong việc đưa khí tài và nhân lực ra ngoài không gian. Bản thân Musk cũng hiểu rằng mối đe dọa này sẽ tạo cho anh vô số kẻ thù. “Danh sách những kẻ không thèm bận tâm nếu một ngày nào đó tôi biến mất đang dài thêm,” Musk cho biết. “Gia đình tôi sợ rằng người Nga sẽ tìm cách ám sát tôi.”
 
Với Tesla Motors, Musk đã cố gắng đổi mới phương thức sản xuất và buôn bán xe hơi, đồng thời xây dựng một mạng lưới cung cấp nhiên liệu trên toàn thế giới. Thay vì dùng hybrids, điều mà trong ngôn ngữ của Musk là “sự thỏa hiệp tối ưu”; Tesla đang nổ lực chế tạo các loại xe hơi hoàn toàn dùng điện khiến người mua phải thèm muốn và đẩy xa giới hạn của công nghệ. Tesla không bán chúng thông qua các đại lý, mà đăng lên Web hay giới thiệu tại các phòng trưng bày như của Apple tọa lạc trong các trung tâm mua sắm cao cấp. Tesla cũng không kỳ vọng sẽ thu lời nhiều từ việc chăm sóc xe cộ của mình, vì xe hơi chạy điện không cần thay dầu và các hình thức bảo dưỡng khác như xe hơi truyền thống. Mô hinh bán hàng trực  tiếp mà Tesla theo đuổi chẳng khác nào sự sỉ nhục lớn với các đại lý buôn bán xe vốn đã quen mặc cả với khách hàng và kiếm lời từ phí bảo dưỡng cắt cổ. Các trạm sạc điện của Tesla nay đã chạy dọc nhiều tuyến quốc lộ chính tại Mỹ, châu Âu và châu Á, có thể bổ sung năng lượng cho hàng trăm cây số chạy tiếp vào bộ pin cường tráng của chiếc xe trong khoảng 20 phút. Các trạm mệnh danh siêu nạp này hoạt động nhờ năng lượng Mặt Trời, và Tesla chẳng tốn xu nào để nạp lại. Trong khi phần lớn cơ sở hạ tầng của nước Mỹ xuống cấp, thì Musk lại đang xây dựng một hệ thống vận tải từ điểm đầu đến điểm cuối cho tương lai, cho phép nước Mỹ “nhảy cóc” trước phần còn lại của thế giới. Tầm nhìn và cách thực thi (mới đây) của Musk đã tập hợp những gì tinh túy nhất từ Henry Ford và John D. Rockefeller.
Với SolarCity, Musk đã cấp vốn cho công ty lắp đặt và tài chính lớn nhất chuyên về tấm pin Mặt Trời dành cho người tiêu dùng và doanh nghiệp. Musk đã góp phần đề ra ý tưởng cho SolarCity và giữ vai trò chủ tịch, trong khi các anh em họ của anh, Lyndon và Peter, phụ trách điều hành công ty. SolarCity đã giảm chi phí cho hàng tá thiết bị, và bản thân nó cũng trở thành một tiện ích to lớn. Trong giai đoạn các doanh nghiệp công nghệ sạch lần lượt phá sản với tần suất đáng báo động, thì Musk lại thành lập hai công ty công nghệ sạch thành công nhất thế giới. Đế chế nhà máy Musk Co. với hàng chục nghìn công nhân đã hoàn thành tốt phận sự trong tiến trình trên, và biến Musk thành một trong những người giàu nhất thế giới với tổng tài sản vào khoảng 10 tỉ đô-la.
Chuyến ghé thăm Xứ Musk đã hé lộ cho tôi đôi chút về cái cách mà Musk đạt được tất cả những thành tựu đó. Tuy bài phát biểu “đưa người lên Hỏa tinh” có thể khiến một số người nghe có cảm giác bị đùa cợt, nhưng lại giúp Musk có được một lời kêu gọi độc đáo cho các công ty của anh. Nó chính là mục tiêu then chốt từ đó tạo nên nguyên lý thống nhất tất cả những gì anh thực hiện. Nhân viên của cả ba công ty đều ý thức rõ điều này, và biết rằng họ đang cố gắng chinh phục những điều không thể từ ngày này sang ngày khác. Khi Musk đặt ra các mục tiêu thiếu thực tế, hành hạ nhân viên bằng lời nói và dẫn họ đến cốt lõi vấn đề, họ sẽ hiểu ở chừng mực nào đó rằng đây chính là một phần của kế hoạch chinh phục Hỏa tinh. Một số nhân viên quý anh vì điều này. Những người khác ghét cay ghét đắng, nhưng vẫn dành sự kính nể và trung thành đến khó hiểu cho nỗ lực và sứ mệnh của anh. Yếu tố mà không ít doanh nhân tại Thung lũng Silicon còn thiếu, nhưng Musk lại hình thành được, chính là một thế giới quan đầy ý nghĩa. Anh là một thiên tài luôn bị ám ảnh bởi sứ mệnh vinh quang nhất mà ai đó từng ba hoa. Anh không phải là một CEO chạy theo tiền tài, mà giống với một vị tướng thống lĩnh đoàn quân đi đến thắng lợi. Trong khi Mark Zuckerberg giúp bạn chia sẻ hình chụp bé yêu của mình, thì Musk lại muốn... umm... cứu nhân loại thoát khỏi sự tự đày ải hay tai họa hủy diệt bất thường.
Musk đã tự tạo cho minh một cuộc sống ngược đời nhằm duy trì tất cả những nỗ lực trên. Một tuần bình thường của anh sê bắt đầu trong căn biệt thự tại Bel Air. Vào thứ Hai, anh thường làm việc cả ngày tại SpaceX. Sang thứ Ba, anh bắt đầu tại SpaceX, rồi nhảy lên máy bay riêng và đáp xuống Thung lũng Silicon. Anh dành thêm hai ngày làm việc tại Tesla, với văn phòng đặt tại Palo Alto và nhà máy tại Fremont. Do không có nhà riêng tại Bắc California, Musk đành lưu lại khách sạn xa hoa Rosewood hoặc ở nhờ nhà bạn bè. Để sắp xếp một buổi tối ở nhà bạn, trợ lý của Musk sẽ gửi một e-mail với nội dung, “Còn phòng cho một người không?” và nếu người bạn trả lời, “Còn,” Musk sẽ xuất hiện trước cửa lúc đêm muộn. Anh thường nghỉ tại phòng dành cho khách, nhưng cũng từng bị bắt gặp nằm vật trên ghế bành sau khi xả hơi với game điện tử. Sau đó, anh sẽ trở về Los Angeles và SpaceX vào thứ Năm. Anh chia sẻ quyền giám hộ năm cậu con trai nhỏ - một cặp sinh đôi và ba đứa sinh ba - với người vợ cũ Justine và chăm nom chúng bốn ngày mỗi tuần. Hằng năm, Musk lập bảng kê chi tiết thời gian bay mỗi tuần để nắm được anh đang mất kiểm soát mọi thứ ra sao. Khi được hỏi làm thế nào anh sống nổi với thời gian biểu đó, Musk đáp, “Tôi có một tuổi thơ khốn khó, nên điều đó có lẽ đã giúp ích.”
Trong một lần ghé thăm Xứ Musk, anh đã phải rút ngắn cuộc phỏng vấn của chúng tôi trước khi bay thẳng sang hội trại tại Công viên Quốc gia hồ Crater, Oregon. Khi ấy đã là 8 giờ tối thứ Sáu, nên Musk phải nhanh chóng dẫn các con anh và nhóm giữ trẻ vào chuyên cơ riêng, sau khi hạ cánh các tài xế xe hơi lại tiếp tục đưa anh đến chỗ nhóm bạn tại khu cắm trại; sau đó, bạn bè Musk sẽ giúp đoàn của anh dỡ đồ đạc và kết thúc chuyến đi giữa đêm tối như mực. Sẽ có chút thời gian leo núi vào cuối tuần. Rồi chuyến đi thư giãn cũng kết thúc. Musk lại cùng các con quay về Los Angeles vào chiều Chủ nhật. Tối đó, anh tiếp tục đáp xuống New York một mình. Ngủ. Tham gia các cuộc trò chuyện (talk show) vào sáng thứ Hai. Vài cuộc họp. E-mail. Ngủ. Sáng thứ Ba bay về Los Angeles. Làm việc tại SpaceX. Chiều lại bay sang San Jose, ghé qua nhà máy Tesla Motors. Bay đến Washington, D.C ngay đêm hôm đó để diện kiến Tổng thống Obama. Bay về Los Angeles đêm thứ Tư. Dành hai ngày làm việc tại SpaceX. Rồi đến tham dự một hội nghị cuối tuần do Eric Schmidt, Chủ tịch Google tổ chức tại Yellowstone. Lúc này, Musk vừa ly hôn với người vợ thứ hai của anh, nữ diễn viên Talulah Riley, và đang cố cân nhắc xem liệu anh có thể dung hòa cuộc sống cá nhân với tất cả những việc này không. “Tôi cho rằng mình đang phân bổ thời gian khá ổn cho việc kinh doanh và bọn trẻ,” Musk tâm sự. “Nhưng tôi vẫn muốn dành thêm thì giờ để hẹn hò. Tôi muốn tìm một cô bạn gái. Đó là lý do tôi cần ngắt thêm một ít thời gian nữa trong quỹ thời gian cho việc này. Tôi nghĩ có thể là thêm năm hoặc mười - phụ nữ cần bao nhiêu thời gian một tuần? Có thể là mười tiếng? Đó là tối thiểu? Tôi không biết.”
Musk hiếm khi có thời gian để thư giãn, nhưng nếu có, đó sẽ là những dịp lễ hội đình đám như thể anh đang sống hết phần đời còn lại của mình cho chúng vậy. Vào dịp sinh nhật thứ 30, Musk đã thuê một tòa lâu đài kiểu Anh cho khoảng 20 người. Từ 2 giờ đến 6 giờ sáng, họ chơi trò trốn tìm biến thể có tên là “cá mòi”, trong đó một người phải chạy đi trốn và tất cả những người khác sẽ đi tìm anh ta. Trong một buổi tiệc khác tổ chức tại Paris, Musk, em trai và các anh em họ của anh chợt tỉnh giấc giữa đêm và quyết định đạp xe quanh thành phố đến tận 6 giờ sáng. Họ ngủ cả ngày rồi bắt tàu tốc hành Orient vào buổi tối. Một lần nữa, họ lại thức trắng đêm. Nhóm Lucent Dossier Experience - một nhóm các nghệ sĩ trình diễn tiên phong - cũng có mặt trên chuyến tàu sang trọng đó, biểu diễn xem chỉ tay và nhào lộn. Khi tàu đến ga Venice ngày hôm sau, gia đình Musk dùng bữa tối và dạo chơi quanh sân trong khách sạn của họ - từ đây có thể nhìn ra Kênh đào Grand - đến 9 giờ sáng. Musk cũng rất yêu thích tiệc hóa trang, có lần đã đóng bộ như một hiệp sĩ rồi dùng cán ô đọ kiếm với một gã lùn trong trang phục Darth Vader [18].
Trong dịp sinh nhật gần nhất, Musk mời 50 người đến một tòa lâu đài - hay có vẻ giống lâu đài theo cách hiểu của người Mỹ - tại Tarrytown, New York. Buổi tiệc này mang chủ đề máy hơi nước viễn tưởng kiểu Nhật Bản, thứ văn hóa vốn chỉ có trong giấc mơ lãng mạn của những kẻ đam mê khoa học viễn tưởng - kết hợp giữa áo nịt, đồ da với lòng sùng bái máy móc. Musk chọn trang phục của một samurai [19]  
Chương trình buổi tiệc còn bao gồm phần trình diễn của The Mikado, một đoàn hát Opéra theo phong cách hoạt hình thời nữ hoàng Victoria do Gilbert và Sullivan thành lập tại Nhật Bản, có một nhà hát nhỏ tại trung tâm thành phố. “Tôi không nghĩ người Mỹ hiểu được nó,” Riley cho biết; Musk đã tái hợp với cô sau khi kế hoạch hẹn hò 10 giờ/tuần của anh thất bại. Nhưng người Mỹ và tất cả quan khách lại thích thú với sự kiện sau đó. Khi trở lại lâu đài, Musk đeo vải bịt mắt, bị đẩy lên quay lưng vào tường, mỗi tay cầm một chùm bong bóng và thêm một quả nữa kẹp giữa hai chân. Sau đó, nghệ sĩ phóng dao bắt đầu phần việc của mình. “Tôi đã gặp anh ta trước đó, nhưng vẫn lo rằng có lẽ mình nên cho anh ta nghỉ một ngày,” Musk thú nhận. “Tôi vẫn nghĩ anh ta có thể ném trúng một bên bi của tôi, chứ không đến nỗi trúng cả hai.” Người xem sửng sốt và khiếp hãi thay cho sự an toàn của Musk. “Quả là kỳ quái,” Bill Lee, nhà đầu tư công nghệ và là một trong số bạn bè tốt của Musk, cho biết. “Nhưng  Elon tin vào khoa học của vạn vật.” Một tay vật sumo hàng đầu thế giới cũng góp mặt tại buổi tiệc, mang theo vài anh chàng đồng hương. Sới vật đã được chuẩn bị sẵn trong lâu đài, và Musk mặt đối mặt với nhà vô địch. “Anh ta nặng đến 159 ký, bắp thịt không hể đong đưa,” Musk kể lại. “Lúc ấy adrenaline trong tôi đang dâng trào và tôi nhấc bổng được anh ta khỏi mặt đất. Anh ta để tôi thắng vòng đầu rồi sau đó hạ gục tôi. Tôi nghĩ lưng mình đến nay vẫn còn ê ẩm.”
Riley bắt đầu có ý định biến các kiểu tiệc tùng này của Musk thành một thứ nghệ thuật. Cô gặp lại Musk vào năm 2008, khi các công ty của anh đang sụp đổ. Cô chứng kiến anh đánh mất toàn bộ cơ đồ và bị báo chí nhạo báng. Cô hiểu rằng vết nọc của những năm tháng đó sẽ còn mãi và hợp chung với những đau thương khác trong đời Musk — bi kịch khi mất đi một đứa con còn ẵm ngửa, cùng một tuổi thơ lớn lên trong thô bạo tại Nam Phi - tạo thành một tâm hồn bị giày vò. Riley đã không quản ngại đường xa, cốt chỉ muốn biét chắc Musk đã thoát khỏi công việc; và chính nghĩa cử này đã khiến anh cảm thấy mình hồi phục, nếu không muốn nói là được chữa lành. “Tôi cố nghĩ đến những trò vui mà anh ấy chưa được tận hưởng trước đây tại những nơi anh ấy có thể thư giãn,” Riley nói. “Chúng tôi giờ đây đang cố gắng bù đắp cho tuổi thơ khốn khó của anh ấy.”
Bất chấp nỗ lực chân thành của Riley, kế hoạch của cô đã không thành công hoàn toàn. Không lâu sau buổi tiệc Sumo, tôi bắt gặp Musk đang làm việc tại trụ sở của Tesla ở Palo Alto. Hôm đó là thứ Bảy, nhưng bãi đỗ đã đầy xe. Trong các văn phòng của Tesla, hàng trăm thanh niên đang tích cực làm việc - một số đang thiết kế các bộ phận xe hơi trên máy tính, trong khi số khác tiến hành các thí nghiêm với thiết bị điện tử tại bàn làm việc. Cứ vài phút, tràng cười ha hả của Musk lại cất lên và lan khắp tầng lầu. Khi Musk bước vào phòng họp nơi tôi đang ngồi chờ, tôi mới thực sự ấn tượng trước cảnh nhiều người hăng hái làm việc vào thứ Bảy. Nhưng Musk lại nhìn cảnh tượng đó dưới một góc độ khác, khi phàn nàn rằng ngày càng có ít người chịu làm việc muộn vào cuối tuần. “Chúng tôi đang ngày càng yếu đi,” Musk đáp. “Tôi suýt nữa phải thông báo điều này trên e-mail. Chết tiệt, chúng tôi đang yếu đi.” (Một cảnh báo nhỏ: Sẽ có rất nhiều từ “chết tiệt” xuất hiện trong cuốn sách này. Musk thích nó, và đa số mọi người trong nhóm nòng cốt của anh cũng thế.)
Kiểu tuyên bố này dường như khá khớp với ấn tượng của chúng tôi về những nhân vật nhìn xa trông rộng khác. Không khó để hình dung ra cảnh Howard Hughes và Steve Jobs đày đọa nhân viên của họ theo cách tương tự. Xây dựng nên mọi thứ — đặc biệt là những thứ to tát - là một nhiệm vụ phức tạp. Trong hai thập kỷ dành ra để xây dựng các công ty, Musk đã bỏ lại phía sau một hàng dài những kẻ ngưởng mộ lẫn khinh miệt anh. Trong quá trình viết bài của tôi, những người này đã xếp hàng để kể với tôi những gì họ biết về Musk, cùng nhiều chi tiết kinh hồn về cách anh và các doanh nghiệp của anh hoạt động.
Các bữa tối với Musk và những chuyến ghé thăm Xứ Musk định kỳ của tôi đã hé lộ nhiều sự thật khác hẳn về người đàn ông này. Anh dự định sẽ làm nên một thành tựu với tiềm năng vượt trội so với tất cả những gì Hughes hoặc Jobs đã tạo ra. Musk đã chọn các ngành công nghiệp mà nước Mỹ có vẻ đã từ bỏ, như hàng không vũ trụ và xe hơi, và tái tạo chúng thành thứ gì đó mới mẻ đến không tưởng. Trọng tâm của tiến trình chuyển đổi này chính là kỹ năng viết phần mềm của Musk cùng năng lực áp dụng chúng vào các cỗ máy. Anh đã kết hợp nguyên tử với các bit dữ liệu theo những cách mà không ai cho là khả thi, và đạt được những thành quả ngoạn mục. Quả thực, Musk chưa từng đạt số lượng người đặt mua kỷ lục với một chiếc iPhone hay chạm mốc hơn 1 tỉ người dùng như Facebook. Hiện tại, anh vẫn đang chế tạo đồ chơi cho người giàu, và đế chế đang lớn mạnh của anh có thể sẽ trở thành một tên lửa nổ tung hoặc sự hồi tưởng về một Tesla hùng mạnh sau khi sụp đổ. Nhưng mặt khác, các công ty của Musk đã bỏ xa những kẻ gièm pha lắm lời hết mức có thể, và lời cam kết về tương lai sắp đến đã luyện cảm xúc lạc quan của họ trong suốt những thời điểm yếu đuối nhất. “Với tôi, Elon là một tấm gương sáng để Thung lũng Silicon dõi theo và tự làm mới mình, cũng như trở nên thức thời hơn thay vì cứ chạy theo các đợt IPO gấp rút và tập trung tạo ra những sản phẩm có lãi,” Edward Jung, kỹ sư phần mềm kiêm nhà phát minh nổi tiếng, nói. “Nhiệm vụ đó rất quan trọng, nhưng chưa đủ. Chúng tôi còn phải xem xét các mô hình thực thi khác mang tính dài hạn hơn về bản chất, trong bối cảnh công nghệ đang ngày càng hợp nhất.” Sự hợp nhất mà Jung đề cập - tức sự pha trộn nhuần nhuyễn giữa phần mềm, điện tử, vật liệu tiên tiến và năng lực tính toán - có vẻ như là biệt tài của Musk. Chỉ với một cái nheo mắt nhẹ, có vẻ như Musk có thể vận dụng các kỹ năng của mình để mở ra con đường hướng tới một thời đại của các loại máy móc khó tin và những giấc mơ khoa học viễn tưởng trở thành sự thật.
Vì lẽ đó, Musk giống với một Thomas Edison thứ hai hơn là Howard Hughes. Anh là một nhà phát minh, một doanh nhân lừng lẫy, một nhà công nghiệp có khả năng nắm bắt những ý tưởng lớn và biến chúng thành các sản phẩm quan trọng. Anh đã thuê hàng nghìn nhân công luyện kim tại các nhà máy ở Mỹ, trong khi không ít người nghĩ đó là điều bất khả thi. Sinh ra tại Nam Phi, nhưng giờ đây Musk đã có phong thái của một nhà công nghiệp cách tân nhất, một tư tưởng gia xuất chúng nhất nước Mỹ và cũng là người có triển vọng nhất để đưa Thung lũng Silicon đến với một hành trình tham vọng hơn. Nhờ có Musk mà trong mười năm tới, người dân Mỹ có thể thức giấc và ngắm nhìn con đường cao tốc hiện đại nhất thế giới: Một hệ thống giao thông được vận hành bởi hàng nghìn trạm sạc năng lượng Mặt Trời và những chiếc xe hơi điện qua lại trên đó. Khi ấy, rất có thể SpaceX đang phóng tên lửa mỗi ngày, vận chuyển người và mọi thứ đến hàng chục môi trường sống mới và chuẩn bị cho những chuyến du hành xa hơn đến Hỏa tinh. Rất khó đạt được tất cả những bước tiến trên cùng một lúc, nhưng có lẽ chúng sẽ là hiển nhiên nếu Musk có thể đơn giản mua được thời gian đủ để thực hiện. Như vợ cũ Justine của anh từng nói, “Anh ấy làm những gì minh muốn và nỗ lực không ngừng nghỉ. Đó là thế giới của Elon, và tất cả chúng ta sống trong thế giới ấy.”
Chú thích :
[11] Nhóm nhạc rock Canada thành lập, đã giành vô sô1 giải Juno và từng được đề cử giải Grammy
[12] Một loại coctail pha giữa Whiskey Jack Daniel’s và Coca Cola
[13] Ca sĩ, nhạc sĩ và nhạc công người Mỹ nổi tiếng của thập niên 1960. Ông đã có hơn 125 triệu bản thu được bán khắp thế giới và được tôn vinh như một trong những nghệ sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại.
[14] Tên một chương trình truyền hình Mỹ hồi thập niên 1950, mô tả một gia đình hoàn hảo với các thành viên sống hạnh phúc và no đủ, ngụ ý sự dễ chịu.
[15] Nguyên văn : merchant of death, chỉ một quốc gia, công ty hay cá nhân chuyên buôn bán vũ khí cho tất cả bên tham chiến.
[16] Một ứng dụng tìm kiếm địa điểm trên nền tảng Android và tích hợp bình luận của cộng đồng về địa điểm đó.
[17]. Hãng chế tạo máy bay, vũ khí, tên lửa, vệ tinh và các kỹ thuật quốc phòng tân tiến tại Mỹ.
[18] Nhân vật phản diện chính trong loạt phim Star Wars (Chiến tranh giữa các vì sao)
[19] Võ sĩ đạo Nhật Bản
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.04.2023 23:33:10 bởi Thanh Vân>
2. CHÂU PHI
 
 
 Năm 1984, công chúng lần đầu tiên biết đến Elon Reeve Musk. Ấn phẩm thương mại của tờ PC and Office Technology tại Nam Phi đã cho đăng mã nguồn của một game điện tử do Musk thiết kế. Với tên gọi Biastar, game không gian lấy-cảm-hứng-từ-khoa-học-viễn-tưởng này cần 167 dòng lệnh để chạy. Thời đó, những người sử dụng máy tính đời đầu phải tự gỗ các dòng lệnh để những chiếc máy của họ xử lý nhiều thứ. Trong bối cảnh đó, game của Musk không rực sáng như một kỳ quan khoa học máy tính, nhưng nó thật sự vượt trội hơn hẳn những thứ mà những người 13 tuổi tạo dựng được khi ấy. Nhờ xuất hiện trên trang bìa tạp chí, Musk đã thu được 500 đô-la và để lại vài gợi ý ban đầu về tính cách của anh. Bài viết về Blastar chiếm trọn trang 69 của tạp chí cho biết thiếu niên này muốn được biết đến với cái tên rất kêu: E. R. Musk — tác giả khoa học viễn tưởng, và anh đã nhìn thấy viễn cảnh của những cuộc chinh phục vĩ đại nhảy múa trong tầm trí mình. Dòng chú giải vắn tắt viết, “Trong game này bạn phải tiêu diệt chiếc tàu không gian của người ngoài hành tinh, trong đó chở theo Bom Khinh khí và Máy bắn Tia
Trạng thái chết người. Game sử dụng hình ảnh chuyển động và quái vật rất sinh động; vì lẽ đó, đây là một tin tức đáng quan tâm.” (Theo bài viết này, ngay đến Internet cũng chẳng biết “Máy bắn Tia Trạng thái” nghĩa là gì.)
Một cậu bé mơ mộng về không gian và cuộc chiến giữa thiện và ác đã là cái gì đó đáng kinh ngạc. Nhưng một cậu bé suy nghĩ nghiêm túc về  những mơ tưởng đó lại càng khác thường hơn. Đó chính là trường hợp của chàng thiếu niên Elon Musk. Ngay từ giữa những năm tuổi teen, Musk đã hòa hợp hiện thực và mơ mộng trong tâm trí mình đến mức khó có thể tách rời. Musk dần xem vận mệnh của con người trong không gian như một bổn phận cá nhân. Nếu điều đó đồng nghĩa anh phải theo đuổi công nghệ năng lượng sạch hay chế tạo những con tàu không gian để mở rộng tầm với của loài người, thì anh sẽ làm thế. Musk sẽ tìm cách khiến những điều đó xảy ra. “Có lẽ thuở nhỏ tôi đã đọc quá nhiều truyện tranh,” Musk cho biết. “Trong truyện tranh, dường như lúc nào cũng có người cố gắng giải cứu thế giới. Dường như lúc nào cũng có người cố biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn, vì điều ngược lại chẳng có ý nghĩa gì cả.”
Đến khoảng năm 14 tuổi, Musk rơi vào khủng hoảng của tuổi mới lớn. Anh cố gắng đối phó với nó như bao thiếu niên tài ba khác vẫn làm, và chuyển sang nghiên cứu tài liệu về tôn giáo và triết học. Musk để ra một số tư tưởng, và ít nhiều anh đã quay lại xuất phát điểm khi chịu ảnh hưởng của khoa học viễn tưởng từ một trong những cuốn sách ảnh hưởng nhất đến cuộc đời anh: Cẩm nang chu du thiên hà của kẻ quá giang của Douglas Adams. “Ông ấy chỉ ra rằng một trong những nhiệm vụ thực sự khó khăn chính là nhận ra mình cần đặt câu hỏi gì,” Musk nói. “Một khi anh tìm đúng câu hỏi, câu trả lời sau đó sẽ khá dễ dàng. Tôi đã đi đến kết luận rằng chúng ta thực sự nên đặt tham vọng mở rộng phạm vi và trình độ nhận thức của con người nhằm hiểu rõ hơn những câu hỏi cần đặt ra.” Sau đó, chàng thiếu niên Musk đã rút ra một tuyên ngôn sứ mệnh cực logic của mình, “Điều duy nhất có ý nghĩa chính là phấn đấu vì một sự khai sáng chung lớn lao hơn.”
Rất dễ nhận ra một số căn cứ dẫn đến quyết định tìm kiếm mục tiêu của Musk. Anh sinh năm 1971 và lớn lên tại Pretoria, một thành phố lớn miền Đông Bắc Nam Phi, cách Johannesburg[1] một giờ xe chạy. Bóng ma của nạn phân biệt chủng tộc (apartheid) cứ lảng vảng bên anh suốt thời thơ ấu, thời điểm Nam Phi luôn trong tình trạng căng thẳng và bạo lực sôi sục. Người da đen xung đột với người da trắng, và với cả người da đen của những bộ tộc khác. Musk vừa tròn năm tuổi chỉ ít ngày sau khi cuộc nổi dậy Soweto [2] diễn ra, với hàng trăm sinh viên da đen thiệt mạng do chống lại các sắc lệnh của chính phủ da trắng. Suốt hàng năm trời, Nam Phi phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt do những quốc gia khác áp đặt bởi chính sách phân biệt chủng tộc. Thời điểm đó, Musk đã có cơ may được chu du nước ngoài từ bé, được nếm trải cách nhìn của người ngoài cuộc đối với Nam Phi.
Nhưng điều tác động hơn cả đến tính cách của Musk chính là thứ văn hóa thịnh hành của người Nam Phi da trắng gốc Âu tại Pretoria và các vùng lân cận. Họ tôn vinh cách hành xử trượng nghĩa và kính trọng những đấng nam nhi cứng cội. Tuy Musk được hưởng đặc quyền ở một mức độ nhất định, nhưng anh lại sống như kẻ ngoài cuộc, luôn giữ nguyên tính cách và những khuynh hướng lập dị của mình chống lại các quan điểm thịnh hành thời ấy. Quan niệm của anh rằng thế giới đã lệch lạc ở khía cạnh nào đó liên tục được củng cố, và Musk, gần như ngay từ những năm đầu đời, đã vạch đường thoát khỏi môi trường xung quanh và mơ về một nơi chốn cho phép cá tính và ước mơ của anh nảy nở. Anh quan sát nước Mỹ ở hình thái nguyên bản nhất của nó, như một mảnh đất đầy cơ hội và là sân khấu có khả năng hiện thực hóa cao nhất những mơ ước của anh. Đó chính là hành trình biến một cậu bé Nam Phi cô độc, rụt rè, luôn nói về sứ mệnh theo đuổi “sự khai sáng chung” với lòng chân thành hết mực, trở thành nhà cống nghiệp ưa mạo hiểm nhất của Mỹ.
Cuối cùng, Musk đã đặt chân đến Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ở tuổi đôi mươi, đánh dấu chuyến trở về  với cội nguồn tổ tiên. Gia phả của anh cho thấy những tiền nhân từng mang họ Đức gốc Thụy Sĩ Haldeman - thuộc về họ ngoại của gia tộc Musk — đã rời châu Âu đến New York trong Chiến tranh Cách mạng. Từ New York, họ tỏa khắp các thảo nguyên vùng Trung Tây — các bang Illinois và Minnesota. “Có vẻ như chúng tôi đã chiến đấu cho cả hai phe trong cuộc Nội chiến, và từng là một gia đình nông dân,” Scott Haldeman, cậu ruột của Elon và cũng là người viết sử không chính thức của gia tộc Musk, cho biết.
Suốt thời thơ ấu, bọn trẻ luôn trêu chọc Musk vì cái tên khác thường của anh. Tên Elon của anh được lấy từ người cụ cố John Elon Haldeman - sinh năm 1872 và lớn lên tại Illinois, trước khi chuyển đến Minnesota. Ở đó cụ gặp Almeda Jane Norman, người vợ kém cụ năm tuổi. Đến năm 1902, hai vợ chồng yên bề gia thất trong một ngôi nhà gỗ tại thị trấn Pequot, trung tâm Minnesota và hạ sinh người con trai Joshua Norman Haldeman, ông ngoại của Musk. Khi trưởng thành, ông trở thành một nhân vật kỳ quặc nhưng xuất chúng, và cũng là hình mẫu cho Musk [3].
Joshua Norman Haldeman được mô tả như một cậu trai cường tráng và tự lập. Năm 1907, gia đinh ông chuyển đến thảo nguyên Saskatchewan [4]; cha ông mất sau đó không lâu khi Joshua chỉ mới bảy tuổi, khiến cậu bé phải sớm phụ giúp gia đinh. Ông gắn bó với miền đồng cỏ rộng lớn và tập cưỡi ngựa hoang, quyền anh và đấu vật. Ông chuyên huấn luyện ngựa cho các điền chủ trong vùng, thường tự làm mình bị thương và là một trong những người tổ chức cuộc thi rodeo [5] đầu tiên tại Canada. Trong các bức ảnh gia đình, Joshua thường mặc một chiếc quần da sặc sỡ, trình diễn kỹ xảo tung thòng lọng của mình. Đến tuổi thiếu niên, Haldeman rời nhà để theo học ngành nắn xương khớp tại Trường Palmer, Iowa, rồi trở về Saskatchewan làm chủ trang trại.
Khi cơn suy thoái kinh tế ập đến vào thập niên 1930, Haldeman lâm vào khủng hoảng tài chính. Ông không đủ sức duy trì các khoản vay ngân hàng để mua trang thiết bị, và 5 nghìn mẫu Anh đất đai đã bị tước đi. “Kể từ đó, cha tôi không còn tin tưởng ở ngân hàng hay muốn nắm giữ tiền bạc nữa,” Scott Haldeman — người nhận bằng bác sĩ nắn xương tại ngôi trường nơi cha ông theo học, và trở thành một trong những chuyên gia về bệnh cột sống hàng đầu thế giới - cho biết. Sau khi để mất trang trại vào khoảng năm 1934, Haldeman sống cuộc đời du cư, một tình cảnh mà cháu trai ông đã tái hiện ở Canada những thập kỷ sau đó. Với chiều cao đến mét chín, ông xin làm những công việc lặt vặt như công nhân xây dựng hay người biểu diễn rodeo trước khi ổn định với nghề nắn xương khớp [6].
Năm 1948, Haldeman kết hôn với Winnifred Josephine Fletcher (còn gọi là Wyn), một vũ sư người Canada, phòng mạch nắn xương khớp rất phát đạt. Trong cùng năm đó, gia đình - vốn đã có một trai một gái - tiếp tục chào đón cặp chị em sinh đôi Kaye và Maye (tức mẹ của Musk). Bọn trẻ sống trong một căn hộ ba tầng và rộng đến 20 phòng, trong đó có một phòng tập nhảy để Wyn tiếp tục huấn luyện học viên. Trong lúc tìm kiếm điều gì đó mới mẻ để làm, Haldeman đã chọn thú vui bay lượn và mua một chiếc phi cơ riêng. Gia đinh ông bị mang tiếng vì người ta nghe đâu Haldeman và vợ ông thường nhét con cái vào chiếc máy bay một động cơ và lao vào những cuộc du ngoạn trên khắp Bắc Mỹ. Haldeman cũng thường xuyên xuất hiện trong các cuộc họp chính trị hoặc hẹn nắn xương khớp ngay trên máy bay, và sau này đã cùng vợ viết một quyển sách nhan đề The Flying Haldemans: Pity the Poor Private Pilot (Nhà Haldeman bay: Đáng thương thay người phi công tư).
Năm 1950, khi dường như đã có mọi thứ trong tay, Haldeman lại quyết định ném đi tất cả. Vị chính trị gia kiêm bác sĩ này từ lâu đã luôn lên tiếng chống lại hành động can thiệp của chính phủ đối với cuộc sống của người dân, và cho rằng thế chế quan liêu ở Canada quá nhũng nhiễu. Là người cấm tiệt trò văng tục, hút thuốc, Coca-Cola và bột mì tinh luyện ở nhà mình, Haldeman tin rằng phẩm chất đạo đức của người Canada đã bắt đầu tha hóa. Haldeman cũng có một khát khao phiêu lưu vô tận. Thế nên chỉ trong vài tháng, gia đình ông đã bán nhà, phòng tập nhảy cùng phòng mạch nắn xương khớp và quyết định chuyển đến Nam Phi — đất nước Haldeman chưa từng đặt chân đến. Scott Haldeman còn nhớ ông đã giúp cha mình tháo rời chiếc máy bay Bellanca Cruisair (đời 1948) của gia đình và xếp vào thùng gỗ trước khi chuyển nó đến châu Phi. Khi đến Nam Phi, cả gia đình đã ráp lại chiếc máy bay và dùng nó lùng sục khắp đất nước để tìm một nơi an cư tốt đẹp; cuối cùng, họ dừng chân tại Pretoria, nơi Haldeman lập một phòng nắn xương khớp mới.
Có vẻ như tinh thần phiêu lưu của gia đình Haldeman không có giới hạn. Năm 1952, Joshua và Wyn đã thực hiện chuyển hành trình hơn 35 nghìn km bằng máy bay của họ, bay qua châu Phi tới Scotland và Na Uy. Wyn giữ vai trò hoa tiêu, và tuy không có bằng phi công, vẫn thỉnh thoảng kiêm luôn nhiệm vụ lái máy bay. Năm 1954, hai vợ chồng đã đưa nỗ lực của họ đến đỉnh cao, khi bay hơn 48 nghìn km đến nước Úc rồi quay về. Báo chí đưa tin về chuyến hành trình của họ, và tin rằng họ là cặp phi công tư nhân duy nhất từng bay từ châu Phi đến châu Úc trên một chiếc máy bay một động cơ [7].
Khi không mải bay lượn, nhà Haldeman lại tìm đến những miền đồng cỏ xa xôi, thực hiện những chuyến thám hiểm vĩ đại suốt cả tháng trời để tìm kiếm Thành phố Thất lạc trên Sa mạc Kalahari[8] - một thành phố được cho là bị bỏ hoang ở phía nam châu Phi. Trong bức ảnh gia đình chụp một chuyến du ngoạn như thế là cảnh năm đứa trẻ đang ở giữa đồng cỏ châu Phi. Chúng vây quanh một chiếc ấm kim loại lớn được đun nóng trên than hồng lửa trại, ngồi trên ghế xếp, bắt chéo chân và đọc sách với vẻ thư thái. Phía sau là chiếc Bellanca màu đỏ ruby, một chiếc lều và một chiếc xe hơi. Nhưng khung cảnh thanh bình đó không nói lên được chuyến hành trình nguy hiểm ra sao. Trong một sự cố, chiếc xe tải của gia đinh đã đâm vào gốc cây, khiến thanh cản trước xuyên vào bộ tản nhiệt. Mắc kẹt giữa nơi vô định mà không có phương tiên liên lạc nào, Joshua phải dành ba ngày trời để sửa xe, trong khi các thành viên còn lại săn tìm thức ăn. Có những lúc, linh cẩu và báo đốm vây quanh đống lửa trại suốt đêm; và một buổi sáng, cả gia đình thức giấc, chợt thấy một con sư tử chỉ cách bàn ăn của họ chừng một mét. Joshua vớ ngay lấy thứ đầu tiên ông tìm được - một chiếc đèn ngủ - khua liên hồi, và bảo nó hãy đi đi. Và nó đã bỏ đi [9].
Vợ chồng Haldeman áp dụng phương pháp “không can thiệp” trong cách nuôi dạy con cái, và mở rộng sang các thế hệ sau tới tận Musk. Bọn trẻ không bao giờ bị trừng phạt, vì Joshua tin chúng sẽ tự biết cách cư xử sao cho đúng đắn. Khi bố mẹ mải mê với những chuyến bay hoành tráng, họ để bọn trẻ ở nhà. Scott Haldeman không nhớ nổi cha của ông có từng ghé qua trường ông lần nào không, dù ông là đội trưởng đội rugby (bóng bầu dục Anh) kiêm lớp trưởng. “Với ông, tất cả những điều đó đều đã định trước,” Scott Haldeman tâm sự. “Chúng tôi được để mặc với cảm giác rằng mình có thể làm bất cứ điều gì. Chỉ cần ra quyết định và hành động. Vì lẽ đó, cha tôi hẳn sẽ rất tự hào về  Elon.”
Haldeman mất năm 1974 ở tuổi 72. Khi đó, ông đang hạ cánh trên chiếc phi cơ của mình và không nhìn thấy sợi dây điện mắc giữa hai cây cột. Sợi dây vướng vào bánh máy bay và làm nó lật nhào, còn Haldeman bị gãy cổ. Elon khi ấy chỉ mới chập chững tập đi. Nhưng suốt thời thơ ấu, Elon đã nghe kể nhiều câu chuyên về các chiến tích của ông ngoại anh, và ngồi xem mê mệt vô số bức ảnh chiếu lại những chuyến viễn du và hành trình của ông trên miền đồng cỏ. “Bà tôi kể lại rằng họ đã có vài lần suýt chết trong những chuyến đi của mình,” Musk nói. “Họ cứ thế bay mà hoàn toàn không có thiết bị gì - kể cả radio liên lạc; họ chỉ có bản đồ đường bộ thay cho bản đồ hàng không, trong đó một số cái thậm chí còn không chính xác. Ông tôi có niềm khao khát thám hiểm, khám phá và làm những điều điên rồ.” Elon tin rằng khả năng chịu đựng rủi ro khác thường của anh có thể đã thừa hưởng trực tiếp từ người ông của mình. Nhiều năm sau khi xem loạt ảnh chiếu cuối cùng, Elon đã cố gắng tìm và mua được một chiếc phi cơ Bellanca màu đỏ, nhưng lại không có chỗ chứa nó.
Maye Musk, mẹ của Elon, lớn lên cùng với sự tôn sùng đối với cha mẹ bà. Khi còn trẻ, bà từng bị xem là con mọt sách. Bà thích môn toán và khoa học, luôn làm tốt các bài tập. Tuy nhiên đến năm 15 tuổi, mọi người mới chú ý đến một số phẩm chất khác của bà. Maye tuyệt đẹp. Ngoài dáng người cao và mái tóc màu vàng sẫm, Maye còn có gò má cao và những nét góc cạnh giúp bà nổi bật ở bất kỳ đâu. Một người bạn của gia đình mở một trường đào tạo người mẫu, và Maye đã đăng ký vài khóa. Cứ đến cuối tuần, bà lại khoe dáng trên sàn diễn, chụp ảnh cho tạp chí và thỉnh thoảng xuất hiện tại nhà riêng của thống đốc hoặc đại sứ nhân một sự kiện nào đó, cũng như lọt vào vòng chung kết của cuộc thi Hoa hậu Nam Phi. (Maye tiếp tục sự nghiệp người mẫu đến khi ngoài 60, xuất hiện trên trang bìa các tạp chí như New York hay Elle và trong các video ca nhạc của Beyoncé)[10].
Maye và Errol Musk, cha Elon, cùng lớn lên như hàng xóm của nhau. Họ gặp nhau lần đầu khi Maye, sinh năm 1948, tròn 11 tuổi. Là một cậu trai lạnh lùng, nhưng Errol lại phải lòng cô mọt sách như Maye suốt nhiều năm. “Ông ấy rơi vào lưới tình vì yêu đôi chân và hàm răng của tôi,” Maye nói. Cả hai cứ hẹn hò rồi lại chia tay suốt thời đại học. Và theo lời Maye, Errol đã phải cầu hôn bà hết lần này đến lần khác suốt bảy năm ròng, mong mỏi được nắm tay Maye trong lễ cưới, và sau cùng đã bẻ gãy ý chí của bà. “Ông ấy không bao giờ ngừng cầu hôn,” bà cho biết.
Hôn nhân của họ đã gặp rắc rối ngay từ ban đầu. Maye có bầu trong tuần trăng mật của cặp đôi và sinh Elon vào ngày 28 tháng 6 năm 1971, tức 9 tháng 2 ngày sau lễ cưới. Trong khi chưa được tận hưởng niềm hạnh phúc vợ chồng, cặp đôi đã phải chắt chiu dành dụm cho cuộc sống đầy đủ mai sau của họ tại Pretoria. Errol trở thành kỹ sư điện và cơ khí, phụ trách nhiều dự án lớn như các cao ốc văn phòng, các khu phức hợp bán lẻ, các khu dân cư và cả một căn cứ không quân, trong khi Maye chọn nghề chuyên gia dinh dưỡng. Em trai Elon, Kimbal, ra đời sau anh một năm, và chẳng mấy chốc họ lại chào đón cô em gái Tosca. 
  Chú thích :
[1] Thành phố miền Đông Bấc Nam Phi, là thủ phủ của tỉnh Gauteng
[2] Cuộc nổi dậy Soweto nổ ra vào ngày 16 tháng 6 năm 1976 tại Nam Phi, với hàng nghìn người da đen đứng lên chống lại các chính sách thuế bất công của chính phủ apartheid. Cuộc đụng độ đã khiến ít nhất 600 người thiệt mạng, trong đó phần lớn là vị thành viên.
[3] Hai năm sau khi con trai qua đời, John Elon bắt đầu có dấu hiệu bị tiểu đường. Thời đó, căn bệnh này chẳng khác gì bản án tử hình. Dù chỉ mới 32 tuổi, John Elon biết rằng nhiều khả năng mình chỉ sống thêm được sáu tháng hoặc hơn. Với chút kinh nghiệm chăm sóc người bệnh, Almeda đã tự mình khám phá ra một phương thuốc tiên, một cách điều trị nhằm kéo dài mạng sống của John Elon. Theo gia đình được biết, bà đã tìm ra một phương thuốc hiệu quả từ kỹ thuật nắn khớp xương, nhớ thế John Elon đã sống thêm được 5 năm nữa kể từ khi được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường. Kỹ thuật đem lại sự sống này đã làm nên truyền thống nắn khớp tại Minneapolis và được cấp bằng bác sĩ nắn khớp (DC) vào năm 1905. Sau đó, cụ cố của Musk mở phòng mạch riêng, trở thành chuyên gia nắm khớp đầu tiên hành nghề tại Canada được nhiều người biết đến
[4] Một tỉnh miền Trung Canada, có thủ phủ là thị trấn Regina.
[5] Rodeo có nguồn gốc từ môn bắt bò kiểu Mỹ, ra đời tại miền viễn Tây thời kỳ khai phá và rất phổ biến trong giới cao bồi thời đó. Theo thời gian, rodeo trở thành cuộc thi tài nhằm khích lệ tinh thần và sự cứng cỏi của các cao bồi trên thảo nguyên. Một sự kiện rodeo  chuyên nghiệp thường bao gồm các môn như quăng dây bắt bò, nhảy nai, cưỡi ngựa không yên, cưỡi bò tót, cưỡi nghựa phi vòng cột …
[6] Haldeman cũng tham gia vào chính trường khi cố gắng thành lập đảng phái chính trị của mình tại Saskatchewan, phát hành bản tin định kỳ và ủng hộ các tư tưởng bảo thủ, khó gần. Sau này, ông thất bại trong nỗ lực tranh cử vào Nghị viện và giành ghế trong Đảng Tín nhiệm Xã Hội  
[7]Chuyến hành trình đưa họ đến bờ biển châu Phi, băng qua Bán đảo Á Rập, ngang qua Iran, Ấn độ và Malaysia rồi vòng xuống Biển Timor đến Úc. Họ phải mất một năm chuẩn bị để có đủ visa và giấy tờ cần thiết, không những thế còn liên tục bị đau bao tử và thay đổi lịch trình suốt chuyến đi. ‘‘Cha tôi bị ngất khi cả nhà đang băng qua Biển Timor, và mẹ phải lái thay đến tận nước Úc. Ông tỉnh lại ngay khi chúng tôi sắp đáp xuống. Thật mệt mỏi,’’ Scott Haldeman cho biết.
[8] Sa mạc lớn trải dài khắp miền Nam Boswana, miền Đông Namibia và miền Tây Nam Phi, có diện tích khoảng 260 nghìn km2
[9] Cả Joshua và Wyn đều đạt đến đẳng cấp thiện xạ và từng đoạt giải vô địch bắn súng quốc gia. Hồi giữa thập niên 1950, họ cũng đoạt chức đồng quán quân trong giải đua Algies Motor Rally gần 13 nghìn km tại Cap Town (Nam Phi) sau khi đánh bại nhiều đối thủ chuyên nghiệp bằng chiếc xe Ford dòng wagon của mình.
[10] Beyocé Giselle Knowles (1981) : ca sĩ R&B, diễn viên kiêm nhà thiết kế thời trang nổi tiếng người Mỹ. Cô từng đoạt 13 giải Grammy và là một trong những ca sĩ có lượng album bán ra nhiều nhất mọi thời đại.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.04.2023 21:35:26 bởi Thanh Vân>
Elon phát huy hết mọi tố chất của một đứa trẻ hiếu kỳ và hiếu động. Anh nắm bắt mọi thứ rất dễ dàng, và như mọi bà mẹ khác, Maye tin chắc rằng con trai bà rất thông minh và lớn trước tuổi. “Có vẻ như nó hiểu mọi thứ nhanh hơn những đứa trẻ khác,” bà nói. Điều khó hiểu là dường như nhiều khi Elon bị rơi vào trạng thái ngẩn ngơ. Mọi người nói chuyện với anh, nhưng anh cứ bỏ ngoài tai tất cả với ánh mắt kiên định và xa xăm. Chuyện này xảy ra thường xuyên đến mức cha mẹ Elon và các bác sĩ đều nghĩ có thể anh bị điếc. “Đôi khi, thằng bé như không nghe thấy tôi nói,” Maye kể lại. Các bác sĩ đã tiến hành hàng loạt cuộc kiểm tra với Elon, và nhất trí loại bỏ tuyến adenoid [11] của anh để có thể cải thiện khả năng nghe. “Nhưng chẳng có gì thay đổi,” Maye cho biết. Tình trạng của Elon liên quan nhiều đến hệ thống mạch thần kinh trong não hơn là chức năng của hệ thống thính giác. “Mỗi khi thằng bé chìm vào suy nghĩ, cứ như thể nó đang trong một thế giới khác,” Maye giải thích. “Và nó cứ làm thế. Còn bây giờ tôi để mặc nó vì biết rằng nó đang thiết kế một tên lửa mới hay thứ gì đó.”
Những đứa trẻ khác không biết cách cư xử với tinh trạng lơ mơ của Elon. Chúng nhảy nhót bên cạnh hoặc hét vào tai, nhưng anh vẫn không chú ý. Anh cứ chìm trong dòng suy nghĩ, và bọn trẻ xung quanh bèn cho rằng anh quá thô lỗ hoặc quá kỳ quặc. “Tôi nghĩ Elon luôn có chút khác biệt nhưng theo kiểu mọt sách,” Maye chia sẻ. “Nó không được bạn bè đồng trang lứa quý mến cho lắm.”
Với Musk, những khoảnh khắc trầm ngâm như thế thật tuyệt vời. Khi lên năm, sáu tuổi, anh đã tìm ra cách khép lại thế giới quanh mình và dành hết sự tập trung cho một việc duy nhất. Khả năng này bắt nguồn một phần từ cách thức tư duy đẩy trực quan của anh. Anh có thể thấy được các hình ảnh từ “tâm nhãn” của minh với độ chi tiết và rõ ràng mà ngày nay chúng ta có lẽ phải nhờ đến công nghệ về kỹ thuật của phần mếm máy tính. “Cứ như thể phần não bộ thường được dành để xử lý thị giác — tức bộ phận chuyên xử lý hình ảnh xuất phát từ mắt tôi — đã bị tiến trình suy nghĩ nội tâm chiếm mất,” Musk nói. “Hiện nay, tôi khó mà làm được như thế vì phải chú ý đến quá nhiều thứ, chứ khi còn bé thì rất dễ dàng. Phần đại não vốn được dùng xử lý hình ảnh đi vào đó đã được tôi sử dụng cho suy nghĩ nội tâm.” Máy tính phân chia các phần việc khó khăn nhất của chúng cho hai loại vi mạch. Đó là vi mạch đồ họa chuyên xử lý hình ảnh xuất phát từ màn hình tivi hay game điện tử, và vi mạch máy tính chuyên xử lý các nhiệm vụ chung và các thuật toán. Theo thời gian, Musk cuối cùng đã kết luận rằng bộ não của anh chẳng thua kém gì một vi mạch đồ họa. Nó cho phép anh nhìn ngắm mọi thứ và tách chúng khỏi bối cảnh xung quanh, tái hiện chúng trong tâm trí và hình dung chúng sẽ thay đổi hay biến động thế nào khi tiếp xúc với các sự vật khác. “Tôi có thể lý giải những mối tương quan và mối liên hệ số học giữa các hình ảnh và số liệu,” Musk cho biết. “Ngoài ra còn có gia tốc, động lượng và động năng - tức cách thức những sự vật khác tác động đến chúng; tất thảy đều hiện lên trước mắt tôi hết sức sinh động.”
 
Điều đáng chú ý nhất trong tính cách của Elon từ khi còn là một cậu bé chính là thói quen tự ép mình đọc sách. Ngay từ khi còn rất nhỏ, dường như lúc nào anh cũng đem sách theo bên mình. “Thật lạ khi anh ấy có thể đọc sách những mười tiếng mỗi ngày.” Kimbal cho biết. “Nếu là cuối tuần, anh ấy có thể đọc hết hai quyển trong một ngày.” Cả gia đình đã phải tìm quanh vô số lần khi đi mua sắm do phát hiện Elon biến mất giữa chừng. Maye hoặc Kimbal tạt vào hiệu sách gần nhất và tìm thấy Elon ngồi đâu đó trên sàn, quay lưng lại và đang đọc với vẻ trầm tư thường thấy.
Khi Elon lớn hơn, anh tự mình đến hiệu sách khi tan học lúc 2 giờ chiều và ở đó đến tận 6 giờ tối, khi cha mẹ đi làm về. Anh ngấu nghiến từ sách viễn tưởng, rồi truyện tranh, rồi đến các tựa sách phi hư cấu. “Đôi khi họ tống tôi khỏi tiệm, nhưng thường thì không,” Elon chia sẻ. Anh xếp Chúa tể của những chiếc nhẫn, bộ Nền tảng của Isaac Asimov và Mặt trăng là người tình tàn nhẫn của Robert Heinlein vào danh mục yêu thích của mình, bên cạnh cuốn Cẩm nang chu du thiên hà của kẻ quá giang. “Khi ấy, tôi đã hết sách để dọc tại thư viện trường và thư viện địa phương,” Musk chia sẻ. “Lúc đó có lẽ tôi đang học lớp ba hoặc lớp bốn. Tôi còn cố thuyết phục thủ thư đặt sách hộ tôi. Sau đó, tôi bắt đầu đọc đến Bách khoa toàn thư Britannica [12]. Thật bổ ích. Bạn biết hết mọi thứ. Bạn nhận ra đấy là tất cả những gì ở ngoài kia.”
Thực tế, Elon đã “luyện” đến hai bộ bách khoa toàn thư - một kỳ tích góp phần giúp anh kết bạn. Một cậu bé có trí nhớ như máy ảnh, và các bộ bách khoa thư biến cậu thành một kho sự kiện. Anh trở thành một nhân vật “biết tuốt” điển hình. Bên bàn ăn tối, Tosca thắc mắc về khoảng cách giữa Trái Đất đến Mặt Trăng. Elon lập tức thốt ra số đo chính xác tại điểm gần nhất và xa nhất trên quỹ đạo. “Nếu chúng tôi có một thắc mắc, Tosca bao giờ cũng nói, ‘‘Chỉ việc hỏi thần đồng,” Maye nhớ lại. “Chúng tôi có thể hỏi thằng bé mọi điều. Nó nhớ tất cả.” Thế nhưng, Elon lại gắn tiếng tăm mọt sách của anh với sự vụng về. “Nó không giỏi thể thao lắm,” Maye cho biết.
Maye kể rằng có một đêm Elon ra ngoài chơi cùng với các em và anh em họ. Khi một đứa phàn nàn rằng nó sợ bóng tối, Elon bèn chỉ ra, “bóng tối chẳng qua là do không có ánh sáng,” nhưng chẳng làm đứa trẻ đang sợ hãi kia an tâm hơn chút nào. Khi còn bé, chính thói quen luôn muốn “chỉnh” người khác và cung cách dễ gây tổn thương của Elon đã đẩy những đứa trẻ khác ra xa anh và càng khiến anh cảm thấy bị cô lập. Elon thực lòng nghĩ rằng mọi người sẽ vui vẻ nghe về những thiếu sót trong cách suy nghĩ của họ. “Bọn trẻ không thích những câu trả lời như thế,” Maye cho biết. Chúng nói, ‘‘Elon này, chúng tớ sẽ không chơi với cậu nữa.’’ Là một người mẹ, tôi rất buồn vì nghĩ nó muốn có bạn. Kimbal và Tosca hay dẫn bạn về nhà chơi, nhưng Elon thì không, dù nó vẫn muốn chơi với chúng. Song, anh biết đấy, nó ngượng ngùng.” Maye từng bắt Kimbal và Tosca phải cho Elon chơi cùng, chúng đáp lại như bao đứa trẻ khác, “Nhưng mẹ ơi, anh ấy chẳng có gì vui cả.” Tuy nhiên, khi lớn hơn, Elon lại gắn bó rất khăng khít và tình cảm với các em và họ hàng - các cậu con trai của dì anh. Tuy vẫn khép mình khi ở trường, nhưng Elon lại bộc lộ tính cởi mở với các thành viên trong gia đình, thậm chí còn làm tốt vai trò anh cả và chuyên làm kẻ đầu trò trong nhóm.
Cuộc sống trong gia đình nhà Musk đã có lúc rất đầm ấm. Họ sở hữu một trong những ngôi nhà lớn nhất Pretoria nhờ công việc kỹ sư thành đạt của Errol. Trong bức chân dung chụp ba đứa trẻ nhà Musk khi Elon được tám tuổi, ba đứa bé tóc vàng khỏe mạnh ngồi cạnh nhau dưới một cổng vòm gạch, với những khóm lan dạ hương tím nổi tiếng vùng Pretoria làm nền phía sau. Elon có vóc người cao lớn, cặp má tròn phúng phính và đang nở một nụ cười rộng.
Nhưng chẳng bao lâu sau khi bức ảnh được chụp, gia đình anh tan nát. Cha mẹ anh ly thân rồi ly hôn chỉ trong một năm. Maye cùng các con chuyển đến sống ở ngôi nhà nghỉ của gia đình tại Durban, nằm bên bờ biển phía đông Nam Phi. Sau vài năm sắp xếp lại cuộc sống, Elon quyết định rằng anh muốn sống với cha. “Cha tôi có vẻ rất buồn và cô đơn; trong khi mẹ đã có ba đứa chúng tôi, còn cha chẳng có đứa nào,” Musk tâm sự. “Điều đó dường như không công bằng.” Một số thành viên trong gia tộc Musk tin rằng chính bản tính logic trong Elon đã đẩy anh theo hướng đó, trong khi những người khác quả quyết rằng Cora, bà nội anh, đã gây nhiều sức ép lên cháu mình. “Tôi không hiểu nổi vì sao nó lại rời bỏ mái ấm mà tôi tạo dựng cho nó — một mái ấm thực sự,” Maye chia sẻ. “Nhưng Elon có quyết định riêng của nó.” Justine Musk, vợ cũ của Musk và là mẹ năm đứa con trai của anh, đoán rằng Elon giống với mẫu đàn ông trụ cột trong gia đình và không bị bận tâm bởi yếu tố cảm xúc khi quyết định. “Tôi không nghĩ anh ấy đặc biệt gần gũi với cha hay mẹ,” Justine nói, trong khi miêu tả rằng người nhà Musk nhìn chung đều lạnh lùng và đối lập hẳn với sự yêu chìu. Về sau, Kimbal cũng chọn sống với Errol, và đơn giản nói rằng một đứa con trai hiển nhiên sẽ muốn sống với cha mình.
Mỗi khi nhắc đến Errol, các thành viên trong gia tộc Musk đều im thít. Họ cùng nhất trí rằng ông không phải là người dễ chịu đế sống cùng, nhưng cũng từ chối nói sâu hơn. Errol sau đó đã tái hôn, và Elon có thêm hai cô em gái cùng cha khác mẹ mà anh hết lòng che chở. Có vẻ như Elon và các em đều quyết tâm không kể xấu về cha mình cho người ngoài, và cũng là để các cô em kế không buồn lòng.
Bản chất vấn đề là đây: Nhánh của Errol trong gia tộc Musk có gốc gác Nam Phi sâu sắc. Người nhà Musk có thể lần theo sự hiện diện của họ tại đất nước này từ 200 năm trước và đòi phải có một mục dành cho họ trong quyển danh bạ đầu tiên của Pretoria. Cha của Errol, Walter Henry James Musk, là một trung sĩ quần đội. “Tôi nhớ rằng ông hầu như chẳng bao giờ lên tiếng,” Elon hồi tưởng. “Ông chỉ ngồi đó uống whiskey, cáu kỉnh và chơi giải ô chữ rất tài.” Cora Amelia Musk, mẹ của Errol, sinh ra trong một gia đình người Anh nổi tiếng là có gien thông minh. Bà rất thích được chú ý và quấn quýt với các cháu mình. “Bà nội chúng tôi có tính lấn át rất cao, và là một phụ nữ dám nghĩ dám làm,” Kimbal cho biết. “Bà có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời mỗi chúng tôi.” Elon cho rằng anh có mối quan hệ đặc biệt gắn bó với Cora - hay Nana, như anh thường gọi. “Sau khi cha mẹ ly hôn, bà đã chăm sóc tôi rất chu đáo,” anh nói. “Bà đưa đón tôi đi học, và tôi thường chơi xếp chữ Scrabble với bà và đủ mọi thứ khác.”
Bề ngoài, cuộc sống tại nhà Errol có vẻ rất tuyệt vời. Ông có dư sách để Elon đọc từ cuốn này sang cuốn khác, và có đủ tiền để mua một chiếc máy tính cùng những thứ khác mà Elon muốn. Errol còn đưa con đi du lịch nước ngoài vô số lần. “Đó là quãng thời gian vô cùng vui vẻ, tôi đã có rất nhiều kỷ niệm,” Kimbal tâm sự. Errol còn gây ấn tượng với con nhờ sự thông thái của ông, và dạy chúng một số bài học thực tế. “Cha là một kỹ sư tài ba”, Elon nói. “Ông biết rõ mọi thứ hoạt động thế nào.” Cả Elon và Kimbal đều được yêu cầu tham gia vào công việc kỹ thuật của Errol, học cách xây gạch, lắp đường ống nước, sửa cửa sổ và mắc đường dây điện. “Quả là những thời khắc vui vẻ,” Elon nhớ lại.  
Kimbal mô tả Errol là người “luôn luôn hiện diện và rất nghiêm khắc”. Ông bắt Elon và Kimbal ngồi xuống, giảng giải cho họ suốt ba, bốn tiếng liền mà cả hai không thể đáp lại một câu. Ông dường như rất thích tỏ ra khó khăn với bọn trẻ và tước hết niềm vui trong những trò chơi tuổi thơ đời thường. Hết lấn này đến lần khác, Elon thuyết phục cha chuyển đến Mỹ và thường kể về dự định sống ở Mỹ của anh trong phần đời sau này. Errol đã ngăn cấm những ước mơ đó bằng cách thử dạy cho Elon một bài học. Ông sa thải người giúp việc và bắt Elon làm hết việc nhà, để anh biết “chơi kiểu Mỹ” là như thế nào.
Tuy từ chối kể chính xác chi tiết, nhưng Elon và Kimbal quả thực đã trải qua điều gì đó rất tồi tệ và hằn sâu trong những năm tháng sống với cha mình. Cả hai đều kể rằng mình phải chịu đựng một dạng tra tấn tâm lý. “Ông chắc chắn có vấn đề nghiêm trọng về giao tiếp,” Kimbal nhận xét, “điều mà tôi dám đảm bảo mình và Elon thừa hưởng từ ông. Ông có cách nuôi dạy rất khó khăn về mặt tình cảm, nhưng chính nó đã làm nên anh em tôi như ngày hôm nay.” Maye lại nổi dóa mỗi khi nhắc đến Errol. “Không ai chịu nổi ông ta,” bà nói. “Ông ta chẳng tử tế với ai. Tôi không muốn nhắc lại những chuyên đó vì chúng kinh khủng. Anh biết đấy, đơn giản là không muốn nhắc đến nữa. Chúng liên quan đên con cháu của tôi.”
Khi được đề nghị kể về Elon, Errol đã phản hồi qua e-mail như sau: “Elon là một đứa trẻ rất độc lập và chăm chỉ khi sống ở nhà tôi. Nó yêu thích khoa học máy tính từ trước khi người dân Nam Phi biết đó là gì, và năng lực của nó cũng được nhiều người công nhận từ khi 12 tuổi. Các hoạt động hồi bé cũng như thời trẻ của Elon và Kimbal nhiều và phong phú đến nỗi rất khó kể tên dù chỉ một, vì chúng đã cùng tôi chu du khắp Nam Phi và cả thế giới, đều đặn ghé thăm tất cả các châu lục từ năm lên 6. Elon và hai em nó đã và đang tiếp tục là tấm gương mẫu mực trên mọi phương diện mà một người cha mong muốn. Tôi hết sức tự hào vì những gì Elon đã đạt được.”
Errol cũng copy cho Elon e-mail này, và Elon đã cảnh báo tôi về việc trao đổi thư từ với cha anh, quả quyết rằng những gì cha anh viết về các sự kiện trong quá khứ là không đáng tin. “Ông ấy là một người kỳ quặc,” Musk cho biết. Tuy nhiên, khi bị ép phải thông tin thêm, anh lại tránh né, “Thú thực, tôi có thể khẳng định chính xác rằng mình không có một tuổi thơ êm đẹp. Có thể tốt, hoặc không hẳn là không tốt, nhưng đó không phải khổ. Ông ấy rất biết cách khiến đời anh khốn khổ — chắc chắn đấy. Ông ấy có thể biến một tình huống dù tốt đến đâu trở nên tồi tệ. Ông ấy không hạnh phúc. Tôi không biết... chết tiệt... tôi không biết sao ông ấy lại trở nên như thế. Sẽ rắc rối to nếu kể thêm với anh.” Elon và Justine cũng giao ước rằng họ sẽ không cho phép con mình gặp Errol.
Khi gần 10 tuổi, Elon lần đầu tiên nhìn thấy một chiếc máy tính tại khu mua sắm Sandton City, Johannesburg. “Ở đó có một cửa hàng điện tử chủ yếu bán thiết bị âm thanh nổi, nhưng rồi họ bắt đầu chất vài chiếc máy tính vào một góc. Tôi như muốn thốt lên, ‘‘Ôi, trời ơi!’’ Musk kể lại. Anh cảm thấy bị hớp hồn bởi cổ máy được lập trình để làm theo mệnh lệnh của con người. “Tôi phải có nó và vì vậy đã giục cha tôi mua nó,” Musk nói. Chẳng mấy chốc, anh đã sở hữu một chiếc Commodore VIC-20, chiếc máy tính gia đình phổ biến được thanh lý vào năm 1980. Cỗ máy của Elon có bộ nhớ 5 kilobyte kèm một quyển hướng dẫn về ngôn ngữ lập trình BASIC. “Đáng ra phải mất đến sáu tháng mới xem hết các bài học,” Elon nói. “Nhưng tôi cứ như bị rối loạn xung lực ám ảnh (OCD: obsessive-compulsive disorder) vì nó, và thức trắng ba ngày không ngủ để đọc hết. Có vẻ như nó là thứ hấp dẫn nhất tôi từng thấy trong đời.” Tuy là một kỹ sư, nhưng cha Musk lại có vẻ phản đối và coi thường chiếc máy tính. Elon nói rõ hơn, “ông ấy bảo nó chỉ dùng để chơi game, và ta sẽ chẳng bao giờ thực sự chế tạo được thứ gì nhờ nó. Tôi chỉ nói, ‘‘Sao cũng được.’’
Tuy ham đọc sách và đắm chìm vào chiếc máy tính mới, nhưng Elon vẫn luôn là thủ lĩnh của Kimbal và các anh em họ của anh - Russ, Lyndon và Peter Rive (con dì Kaye) - trong những chuyến phiêu lưu. Họ dành cả năm trời để bán trứng Phục sinh đến từng nhà trong khu họ sống. Những quả trứng được trang trí không đẹp lắm, nhưng họ vẫn đẩy giá lên cao gấp vài lần khi bán cho những người láng giềng giàu có. Elon còn bày trò cho cả nhóm chế tạo thuốc nổ và tên lửa tại nhà. Ở Nam Phi không có các bộ tên lửa đồ chơi hiệu Estes phổ biến cho những người cùng sở thích, nên Elon đã tự điều chế các hợp chất hóa học và nhét chúng vào hộp cà phê. “Thật tuyệt vời khi ta có thể cho nổ biết bao nhiêu thứ,” Elon chia sẻ. “Diêm tiêu, lưu huỳnh hay than củi đều là những thành phần cơ bản của thuốc súng, và nếu kết hợp axit mạnh với kiềm đặc, chúng thường sẽ giải phóng rất nhiều năng lượng. Hay chất clo kết tủa trộn với dầu phanh - thật ấn tượng làm sao. Tôi thật may mắn vì vẫn còn đủ mười ngón tay.” Khi không điều chế thuốc nổ, các cậu trai lại mặc hàng lớp quần áo, đeo kính bảo hộ rồi lấy súng đạn nhựa bắn nhau. Elon và Kimbal còn đua xe đạp bám đầy đất cát trên sân cát, cho đến một hôm Kimbal bay khỏi xe và va mạnh vào hàng rào dây kẽm gai.
Nhiều năm sau, nhóm anh em họ này đã theo đuổi ý tưởng khởi nghiệp của mình nghiêm túc hơn, thậm chí đã bắt đầu với một cửa hàng game điện tử. Quyết không để phụ huynh biết, các cậu trai chọn địa điểm đặt máy, thuê chỗ và bắt đầu tìm cách lấy giấy phép kinh doanh. Rốt cuộc, họ phải nhờ một người trên 18 tuổi ký vào văn bản pháp lý, và cả ông bố nhà Rive lẫn Errol đều không muốn giúp. Mất đến vài thập kỷ sau đó, Elon và anh em nhà Rive mới có thể hợp tác kinh doanh cùng nhau.
Chiến công táo bạo nhất của các chàng trai có lẽ là những chuyến đi của họ giữa Pretoria và Johannesburg. Trong suốt thập niên 1980, Nam Phi là một nơi bạo động khủng khiếp, và tuyến tàu hỏa dài hơn 56 km nối Pretoria với Johannesburg cũng nổi tiếng là một trong những tuyến nguy hiểm nhất thế giới. Kimbal xem những chuyến tàu hỏa đó như những trải nghiêm để nên người đối với anh và Elon. “Nam Phi không phải là đất nước của vận may và hạnh phúc, và điều đó đã tác động đến chúng tôi. Chúng tôi đã chứng kiến những gian khổ thật sự. Chúng là một phần trong cách dạy dỗ khác thường nơi đây - chính những trải nghiệm điên rồ này đã thay đổi quan điểm của chúng tôi về rủi ro. Bạn không thế trưởng thành khi nghĩ rằng kiếm việc là nhiệm vụ khó khăn. Điều đó chẳng thú vị chút nào.”
Khi ấy, các chàng trai đang trong độ tuổi từ 13 đến 16, chạy theo một mớ hỗn hợp của những bữa tiệc và các chiến tích kỳ quặc tại Johannesburg. Trong một chuyến rong chơi như thế, họ tham gia giải đấu Bạo long & Ngục tối (Dungeons & Dragons [13). “Chúng tôi vào vai những chúa ngục mọt sách với quyền lực tối cao,” Musk kể. Tất cả các chàng trai đều bị cuốn vào trò chơi đóng vai, trong đó cần có một người giúp tạo không khí thi đấu bằng cách tưởng tượng ra và mô tả khung cảnh. “Bạn bước vào một căn phòng, và có một cái rương trong góc. Bạn sẽ làm gì?... Bạn mở rương. Bạn mắc bẫy. Hàng tá yêu tinh được giải thoát.” Elon vào vai Chúa ngục rất cừ và thuộc lòng mọi chỉ dẫn chi tiết về sức mạnh của lũ quái vật cùng các nhân vật khác. “Dưới sự dẫn dắt của Elon, chúng tôi đã nhập vai tốt và chiến thắng trong giải đấu,” Peter Rive cho biết. “Người chiến thắng cần có trí tưởng tượng phi thường, và Elon thực sự đã tạo được âm hưởng chung giúp mọi người nhập tâm và có cảm hứng.”
Thế nhưng, một Elon mà bạn bè anh gặp tại trường lại không gây nhiều cảm hứng. Suốt thời trung học cơ sở và phổ thông, Elon cứ chuyển loanh quanh mấy trường. Anh trải qua chương trình học tương đương lớp 8 và lớp 9 tại Trường Trung học Bryanston. Một buổi trưa nọ, khi Elon và Kimbal đang ngồi ăn trên đầu dãy cầu thang bê-tông, thì một cậu bé quyết định bám theo Elon. “Nói chung khi ấy tôi đang cố tránh mặt gã này; gã chết tiệt đó cứ săn đuổi tôi và có Chúa mới biết tại sao. Tôi đoán mình đã va vào gã trong buổi họp toàn trường sáng hôm đó và gã thì xem đó như tội lỗi gì ghê gớm lắm.” Cậu bé nọ lẻn đến phía sau Musk, đá vào đầu anh, rồi xô anh.
( thiếu trang 64)
 
cuộc sống của anh dễ thở hơn. Tuy là một trường công đúng nghĩa, nhưng Pretoria lại hoạt động giống với một trường tư thục hơn trong khoảng 100 năm trở lại đây. Đó là nơi bạn có thế gửi gắm một chàng trai trẻ để cậu ta sẵn sàng nhập học Oxford hoặc Cambridge.
Các nam sinh cùng lớp với Musk nhớ về anh như một học sinh dễ mến, trầm tính và không quá nổi bật. “Có bốn hoặc năm anh chàng được xem là sáng dạ bậc nhất,” Deon Prinsloo, người ngồi sau Elon trong vài lớp học chung, cho biết. “Elon không phải một trong số đó.” Những lời bình phẩm do nửa tá nam sinh truyền tai nhau — những người nhận thấy Musk không có hứng thú với các môn thể thao — đã khiến anh lạc lõng giữa một văn hóa học đường tôn thờ thể thao. “Thực lòng mà nói, chẳng có dấu hiệu nào cho thấy cậu ta sẽ trở thành tỉ phú,” Gideon Fourie, một bạn cùng lớp khác cho biết. “Cậu ấy chưa bao giờ giữ vị trí lãnh đạo trong trường. Tôi đã rất ngạc nhiên trước những gì xảy đến với cậu ấy.”
Tuy Musk không có bạn bè thân thiết nào trong trường, nhưng sở thích dị thường của anh đã để lại ấn tượng. Một cậu trai - Ted Wood - còn nhớ Musk đã mang các tên lửa mô hình vào lớp và làm nổ tung chúng trong giờ giải lao. Song, đây không phải điều duy nhất nói lên hoài bão của anh. Trong phần tranh biện tại lớp khoa học, Elon lại gây chú ý vì xỉ vả nhiên liệu hóa thạch và ủng hộ năng lượng Mặt Trời - đây kỳ thực là thái độ rất báng bổ trong một đất nước luôn dốc sức khai thác tài nguyên thiên nhiên của Trái Đất. “Cậu ấy luôn giữ quan điểm kiên định về mọi thứ,” Wood cho biết. Terency Beney, một bạn học khá gần gũi với Elon trong nhiều năm, cũng khẳng định rằng Musk
đã bắt đầu nghĩ đến việc định cư trên các hành tinh khác ngay từ thời trung học.
Trong một tiết lộ khác về  tương lai của anh, khi Elon và Kimbal đang tán gẫu ngoài lớp học giữa giờ giải lao, Wood đã cắt ngang và hỏi xem họ đang bàn về chuyện gì. “Họ bảo, ‘Chúng tôi đang thảo luân xem liệu chúng ta có cần đến chi nhánh ngân hàng trong ngành tài chính hay không, và sắp tới có nên chuyển sang hoạt động ngân hàng không cần đến giấy tờ hay không.’ Tôi nhớ lúc ấy mình đã nghĩ rằng đây quả là một nhận xét lố bịch, nhưng lại nói, ‘’Ừm, cái đó tuyệt đấy [14].’’
Tuy Musk có lẽ không thuộc nhóm ưu tú về thành tích học tập tại lớp, nhưng anh lại là một trong số ít học sinh có điểm số và sở thích phù hợp với chương trình máy tính thử nghiệm. Khi ấy, học sinh được chọn ra từ nhiều trường và tập trung lại để học về các ngôn ngữ lập trình BASIC, COBOL và Pascal. Musk tiếp tục nuôi dưỡng thiên hướng công nghệ này bằng lòng yêu mến đối với khoa học viển tưởng và tính mơ mộng, cũng như thử viết các câu chuyện liên quan đến lũ rồng và sinh vật siêu nhiên. “Tôi muốn sáng tác thứ gì đó kiểu như Chúa tể của những chiếc nhẫn,’’ anh nói.
Maye nhìn lại những năm tháng trung học này qua con mắt của một người mẹ, và thuật lại chi tiết nhiều câu chuyện về chiến tích ngoạn mục của Musk trong học tập. Theo lời bà, game điện tử anh viết đã gây ấn tượng với nhiều chuyên viên lớn tuổi và giàu kinh nghiệm hơn. Anh đạt điểm tối đa trong các bài thi toán vốn dành cho độ tuổi lớn hơn. Và anh có một trí nhớ đáng kinh ngạc. Lý do duy nhất khiến anh không trội hơn những nam sinh khác là vì anh không hứng thú với những hoạt động do trường quy định.
Như Musk nhận định về điều đó, “Tôi chỉ thắc mắc ‘Mình cần bao nhiêu điểm để đến được nơi mình muốn?’ Có những môn bắt buộc như tiếng Afrikaans[15], và tôi chẳng biết phải học nó để làm gì. Nó có vẻ lố bịch. Tôi chỉ đạt vừa đủ điểm đỗ và thế là ổn. Tôi luôn đạt điểm cao nhất có thể trong những môn như vật lý hay tin học. Phải có lý do nào đó để lấy điểm cao. Tôi thà chơi game, viết phần mềm và đọc sách còn hơn cố giành điểm A, nếu điểm A đó là vô nghĩa. Tôi còn nhớ trượt môn là thế nào thời học lớp 4 và lớp 5. Khi ấy, bạn trai của mẹ tôi bảo rằng tôi sẽ bị lưu ban nếu không đỗ. Tôi quả thực không hề biết rằng mình phải đỗ tất cả các môn để được lên lớp. Thế là kể từ đó, tôi luôn đạt điểm cao nhất trong lớp.”
Năm 17 tuổi, Musk rời Nam Phi đến Canada. Anh thuật lại chuyến đi này khá thường xuyên trên báo chí, và đặc biệt thường đưa ra hai cách mô tả về động lực cho chuyến bay của mình. Theo cách mô tả ngắn gọn, Musk muốn đến nước Mỹ càng nhanh càng tốt, và có thể dùng Canada làm bến đỗ nhờ gốc gác của anh tại quốc gia này. Cách mô tả thứ hai là câu chuyện mà Musk thường viện dẫn lại liên quan nhiều hơn đến luân thường đạo lý. Khi ấy, Nam Phi đang yêu cầu thực hiện nghĩa vụ quân sự. Musk từng nói rằng anh muốn tránh nhập ngũ, vì điều đó sẽ buộc anh trở thành một phần của chế độ phân biệt chủng tộc.
Một điều hiếm khi được nhắc đến chính là Musk từng nhập học Trường Đại học Pretoria được năm tháng trước khi rẽ sang cuộc phiêu lưu vĩ đại của mình. Anh bắt đấu theo đuổi ngành vật lý và kỹ thuật nhưng không đặt nhiều nỗ lực vào đó và sớm thôi học. Musk chỉ xem thời đại học như khoảng thời gian học hành cho có trong lúc chờ hoàn tất hồ sơ đến Canada. Hơn nữa, tuy là một phần vô nghĩa trong đời anh, nhưng những ngày tháng lười nhác của Musk tại trường còn nhằm tránh lệnh nghĩa vụ quân sự bắt buộc tại Nam Phi, và không làm phai nhạt đi câu chuyện về thời trai trẻ đầy phiêu lưu, nhiều ấp ủ anh vẫn hay kể; và có lẽ đó là lý do tại sao khoảng thời gian ngắn ngủi tại Đại học Pretoria dường như không bao giờ thỏa mân được anh.
Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng trong thâm tâm, Musk đã ghim chặt khát khao đến Mỹ trong suốt thời gian mãnh liệt về Thung lũng Silicon, và những chuyến đi khắp thế giới lại càng củng cố thêm tư tưởng rằng nước Mỹ là nơi biến mọi thứ thành sự thật. Trái lại, Nam Phi lại hiện lên như một mảnh đất ít cơ hội cho một tâm hồn mang khát vọng khởi nghiệp. Kimbal đã nhận xét, “Nam Phi chẳng khác nào nhà ngục đối với một người như Elon.”
Cơ hội trốn thoát đã đến với Musk khi một thay đổi trong điều luật cho phép Maye chuyển quyền công dân Canada của bà cho các con. Musk lập tức bắt tay vào nghiên cứu xem anh phải hoàn tất giấy tờ cho quá trình này như thế nào. Mất một năm, anh mới được chính phủ Canada chấp thuận và đảm bảo có hộ chiếu Canada. “Đó là khi Elon nói, ‘‘Con sẽ đi Canada,’’ Maye kể. Trong thời điểm Internet chưa xuất hiện, Musk phải chờ đợi suốt ba tuần khổ sở mới nhận được vé máy bay. Ngay khi có vé, không do dự, anh đã rời gia đình đi tìm những điều tốt đẹp.

Chú thích:
[11] Các tuyến nhỏ ở sau thanh quản
[12] Tên tiếng Anh là Encyclopedia Britannia, bộ bách khoa thư tiếng Anh do công ty Encyclopaedia Britannia, Inc biên soạn và xuất bản. Bộ sách này được cập nhật liên tục, và được nhiều ngyoi72 cho là một trong những bộ bách khoa toàn thư uy tín nhất.
[13]. Trò chơi nhập vai kỳ ảo do Gary Gygax và Dave Arneson thiết kế. Trò chơi gồm một quản trò và một lượng người chơi nhất định. Quản trò đóng vai người dẫn chuyện và trọng tài, trong khi người chơi tự do sáng tạo nhân vật, nhập vai, cùng nhau khám phá, giải quyết rắc rối, chiến đấu và truy tìm báu vật.
[14] Musk không nhớ rõ cuộc đối thoại đặc biệt này. ‘‘Tôi nghĩ những hồi tưởng của họ có vẻ sáng tạo’’, anh nhận xét. ‘‘ Có thể lắm chứ. Tôi có nhiều cuộc trò chuyện khó hiểu trong hai năm cuối thời trung học, nhưng tôi quan tâm đến công nghệ nói chung hơn là ngân hàng.’’
[15] Một ngôn nghữ bắt nguồn từ Hà Lan vào thế kỷ XVII, và là một trong 11 ngôn ngữ chính thức của Nam Phi.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.04.2023 13:44:34 bởi Thanh Vân>
3 - CANADA
 
 
Cuộc đào thoát vĩ đại của Musk đến Canada chưa được dự tính kỹ. Anh chỉ biết một ông bác tại Montreal [1], nhảy lên máy bay và hy vọng vào những điều tốt đẹp nhất. Sau khi hạ cánh vào tháng 6 năm 1988, Musk tìm thấy một buồng điện thoại công cộng và dùng dịch vụ danh bạ theo yêu cầu để tìm bác của anh. Khi không gọi được, anh gọi điện thoại (do người nghe trả tiền) cho mẹ. Bà báo với anh một tin xấu. Maye đã gửi thư đến người bác trước khi Musk đi và nhận thư trả lời khi con trai bà đã lên đường. Bác anh đã đến Minnesota, đồng nghĩa Musk chẳng có nơi nào tá túc. Với hành lý trong tay, Mask đành tìm đến một nhà trọ dành cho du khách trẻ.
Sau khi dành vài ngày tại Montreal và khám phá thành phố, Musk cố gắng vạch ra một kế hoạch dài hạn. Người thân của Maye sống rải rác khắp Canada, và Musk bắt đầu tìm cách đến chỗ họ. Anh mua một tập vé xe buýt cho phép mình tự do đi khắp vùng quê với giá 100 đô-la, và quyết định sẽ đến Saskatchewan, nhà cũ của ông ngoại anh. Sau hơn 3.000 km ngồi trên xe buýt, anh xuống bến Swift Current, một thị trấn khoảng 15 nghìn dân. Musk bất ngờ gọi cho cậu em họ từ trạm xe buýt và quá giang đến nhà cậu này.
 
Suốt một năm sau đó, Musk làm đủ các việc lặt vặt trên khắp Canada. Anh chăm sóc các luống rau và dọn sạch các thùng ngũ cốc tại nông trại của em họ trong thị trấn nhỏ Waldeck. Musk cũng ăn mừng sinh nhật thứ mười tám của anh tại đây, chia sẻ chiếc bánh kem với đại gia đình anh vừa hội ngộ và vài người lạ trong vùng. Sau đó, anh học xẻ gỗ bằng cưa xích tại Vancouver, British Columbia. Công việc khó khăn nhất đã đến với Musk sau khi anh ghé phòng hỗ trợ thất nghiệp. Anh yêu cầu một công việc với mức lương tốt nhất, và hóa ra đó là lau dọn phòng chứa nồi hơi theo hợp đồng tại một xưởng cưa với 18 đô-la/giờ. “Bạn phải mặc quần áo bảo hộ rồi trườn qua đường hầm nhỏ này, một đường hầm vừa đủ chui lọt người,” Musk kể lại. “Sau đó, bạn phải lấy xẻng xúc cát, chất nhờn và đủ loại cặn bã khác trong khi chúng vẫn nóng hôi hổi; và bạn phải đổ chúng qua chính cái lỗ mình vừa trườn qua. Chẳng còn đường thoát. Một người khác từ phía bên kia xúc chúng vào xe cút kít. Nếu ở trong đó quá 30 phút, bạn sẽ bị hun chết.” Đầu tuần, có 30 người bắt đầu nhận việc. Ngày thứ ba, còn năm người. Đến cuối tuần, chỉ còn lại Musk và hai người đàn ông nữa tiếp tục công việc.
Trong khi Musk đang trên hành trình vòng quanh Canada, mẹ, em trai và em gái của anh cũng tìm cách đến đó [2]. Cuối cùng, khi Kimbal và Elon hội ngộ tại Canada, đó là lúc bản tính ương ngạnh và ham vui trong họ bùng cháy. Năm 1989, Elon quyết định ghi danh vào Đại học Queen’s tại Kingston, Ontario. (Anh chọn trường Queen’s thay vì Đại học Waterloo vì cảm thấy trường này có nhiều bạn nữ ưa nhìn hơn.) Ngoài chuyên học hành, Elon thường đọc báo với Kimbal, và hai anh em chọn ra những nhân vật thú vị mà họ muốn gặp gỡ. Sau đó, họ thực hiện những cuộc gọi không hẹn trước đến những người này để hỏi xem họ có rảnh để ăn trưa không. Trong số những người bị làm phiền, có cả trưởng bộ phận marketing của đội bóng chày Toronto Blue Jays, phóng viên kinh doanh của báo Globe and Mail, và tổng giám đốc Ngân hàng Nova Scotia, Peter Nicholson. Nicholson vẫn nhớ rõ cuộc điện thoại của hai chàng trai. “Tôi không có thói quen nhận những lời đề nghị bất ngờ,” ông cho biết. “Nhưng tôi hoàn toàn sẵn lòng dùng bữa trưa với hai cậu trai dám nghĩ dám làm như thế.” Họ phải mất đến sáu tháng mới chốt lịch thành công với Nicholson, và anh em nhà Musk đã phải bắt chuyến tàu chạy suốt ba giờ đồng hồ để có mặt đúng hẹn.
Lần chạm mặt đầu tiên với anh em nhà Musk đã để lại trong Nicholson một ấn tượng mà nhiều người cũng có giống ông. Cả hai đều thể hiện tốt bản thân và khá lịch thiệp. Nhưng Elon rõ ràng có phần kỳ quặc và lúng túng hơn, trái ngược hẳn với một Kimbal đầy sức hút và có duyên. “Tôi càng lúc càng ấn tượng và thích thú hơn khi trò chuyện với họ,” Nicholson chia sẻ. “Họ rất quyết tâm.” Cuối cùng, Nicholson đã đề nghị với Elon một chuyến thực tập hè tại ngân hàng và trở thành cố vấn đáng tin cậy của anh.
Không lâu sau cuộc hẹn đầu tiên, Elon đã mời Christie, con gái Peter Nicholson, đến bữa tiệc sinh nhật của anh. Christie xuất hiện trước căn hộ của Maye tại Toronto với lọ mứt chanh nhà làm trong sự chào đón của Elon cùng khoảng 15 người khác. Tuy chưa từng gặp Christie trước đó, nhưng anh đã lập tức bước đến và mời Christie ngồi xuống ghế. “Tôi còn nhớ câu thứ hai của anh ấy là, ‘‘Tôi suy nghĩ rất nhiều về xe hơi điện,” Christie kể lại, “Rồi anh quay sang tôi và nói, ‘‘Cô có từng nghĩ về  xe hơi điện không?” Cuộc trò chuyện đã để lại trong Christie, nay là một người viết về khoa học, một ấn tượng rõ rệt rằng Musk là một chàng mọt sách điển trai, nhã nhặn và khác thường. “Không rõ vì lý do gì mà tôi như bị sét đánh vào khoảnh khắc ngồi trên chiếc sô-pha đó,” cô chia sẻ. “Phải nói rằng người đàn ông này rất khác biệt. Anh ấy đã hớp hồn tôi như thế.”
Với khuôn mặt góc cạnh và mái tóc vàng óng ả, Christie là mẫu người phù hợp với Musk, và cả hai luôn giữ mối quan hệ trong suốt thời gian Musk ở Canada. Họ chưa từng thực sự hẹn hò, nhưng Christie nhận thấy Musk đủ thú vị để trò chuyện với anh thật lâu trên điện thoại. “Một tối nọ, anh ấy bảo tôi, ‘‘Nếu có thể không ăn mà làm được nhiều việc hơn, anh sẽ nhịn ăn. Anh ước giá như có cách nào đó để hấp thụ dinh dưỡng mà không phải ngồi dùng bữa.’’ Thứ đạo đức công việc tàn nhẫn của anh ấy ở độ tuổi đó cùng với sức sống mãnh liệt cứ thế toát ra ngoài. Và những lời tôi nghe khi ấy có vẻ như chỉ là chuyện thường tình.”
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi tại Canada, giữa Musk và Justine Wilson, cô bạn học tại trường Queens, đã nảy sinh một mối quan hệ sâu đậm hơn. Chân dài, tóc nâu, từ Wilson toát ra vẻ lãng mạn và bốc lửa. Justine từng yêu một người đàn ông lớn tuổi, và đã bỏ ông ta để theo học đại học. Mục tiêu chinh phục kế tiếp của cô là một chàng trai khoác áo da đen và đầu bù tóc rối kiểu James Dean [3]. Song, có lẽ do duyên phận mà trên sân trường, Wilson đã lọt vào mắt xanh của anh chàng Musk luôn chỉnh tề, lịch lãm, và anh đã lập tức tìm mọi cách hẹn hò với cô. “Cô ấy trông thật tuyệt vời,” Musk nhớ lại. “Cô ấy cũng thông minh, và điều này có thể xem là lợi thế. Cô ấy có đai đen taekwondo và nửa dòng máu Bohemian; và, anh biết đấy, quả là một cô nàng nóng bỏng trên sân trường.” Anh đã thực hiện bước đầu tiên ngay bên ngoài ký túc xá của cô, khi giả vờ va vào cô bất chợt và nhắc cô nhớ rằng họ đã gặp nhau trong một buổi tiệc trước đó. Justine, vừa nhập học được một tuần, đã nhận lời mời ăn kem với Musk. Khi đến đón Wilson, Musk tìm thấy một mảnh giấy trước cửa phòng ký túc của cô, và nhận ra anh đã bị cho leo cây. “Nó viết là cô ấy phải ôn thi, không đi được và rằng cô ấy rất tiếc,” Musk nói. Sau đó, Musk tìm được bạn thân của Justine và tìm hiểu đôi chút, hỏi thăm xem Justine thường học ở đâu và vị kem yêu thích của cô ấy là gì. Thế rồi, khi Justine đang trốn trong trung tâm sinh viên để học tiếng Tây Ban Nha, Musk bỗng xuất hiện phía sau cô với hai chiếc kem ốc quế phủ hạt sôcôla mát lạnh trên tay. 
Wilson từng mơ về một cuộc tình cháy bỏng với một nhà văn. “Tôi từng ước chúng tôi như Sylvia và Ted [4],” cô tâm sự. Nhưng thay vì thế, cô lại phải lòng một chàng mọt sách cần cù và đầy tham vọng. Cặp đôi học chung lớp tâm lý học bất thường, và khi so sánh điểm bài thi kế tiếp, Justine được 97 điểm, Musk 98. “Anh ấy đến gặp giáo sư và trình bày tại sao mình đã để mất hai điểm, rồi được tròn 100,” Justine kể lại. “Tôi cảm giác như chúng tôi luôn ganh đua.” Nhưng Musk cũng có nét lãng mạn. Có lần, anh đã gửi tặng Wilson một tá hoa hồng với lời chúc riêng trên mỗi bông; và anh còn tặng cô cuốn sách Nhà tiên tri (The Prophet) với đầy những lời mùi mẫn viết tay. “Anh ấy có thể khiến bạn xúc động đến té nhào,” cô nói.
Suốt những năm đại học, đôi trẻ cứ hợp lại tan, và Musk phải cố gắng rất nhiều để níu giữ mối quan hệ. “Con bé buồn chán và hẹn hò với lũ con trai hào hoa nhất, và Elon không thích điều đó chút nào,” Maye nhớ lại. “Thế nên mọi chuyện rất khó khăn với nó.” Musk cũng theo đuổi vài cô gái, nhưng anh vẫn quay lại với Justine. Mỗi khi cô đối xử lạnh lùng với anh, Musk sẽ đáp lại bằng sức mạnh thường thấy ở anh. “Anh ấy sẽ gọi điện liên tục,” cô chia sẻ. “Bạn sẽ luôn biết đó là Elon vì chuông điện thoại không ngừng reo. Con người này không chấp nhân câu trả lời ‘không’. Bạn không thể đuổi anh ấy đi. Tôi nghĩ Elon chính là Kẻ hủy diệt. Anh ấy dán mắt vào thứ gì đó và nói, ‘Nó sẽ là của tôi.’ Từng chút một, anh ấy đã thắng tôi.” 
 Trường đại học là nơi phù hợp với Musk. Anh đã bớt cư xử như một kẻ “biết tuốt”, đồng thời cũng tìm được một nhóm bạn luôn thán phục năng lực trí tuệ của mình. Bạn bè đại học ít khi bật cười hay chế giễu mối quan tầm của anh đối với năng lượng, không gian, hay bất cứ điều gì thu hút anh trong khoảnh khắc. Musk đã tìm được những người hưởng ứng hoài bão của anh chứ không nhạo báng nó, và anh cũng được tiếp thêm sức mạnh nhờ môi trường này.
 
Mùa thu năm 1990, Musk ở cùng ký túc xá năm nhất với Navaid Farooq, một chàng trai Canada sinh trưởng ở Geneva. Cả hai được xếp vào nhóm sinh viên quốc tế, trong đó một sinh viên Canada sẽ ghép với một sinh viên đến từ quốc gia khác. Musk suýt nữa đã phá vỡ cách sắp xếp này, vì đúng ra anh vẫn là người Canada, nhưng hầu như chẳng biết gì về xung quanh. “Tôi có một bạn cùng phòng đến từ Hồng Kông, cậu ấy thật tử tế,” Musk cho biết. “Cậu ấy luôn chăm chỉ đến lớp, và điều đó giúp tôi rất nhiều vì tôi chỉ góp mặt với số buổi ít nhất có thế.” Có thời gian Musk còn bán linh kiện máy tính và máy PC nguyên bộ ở ký túc xá để kiếm thêm tiền. “Tôi có thể chế tạo vài thứ nhằm đáp ứng nhu cầu của họ, như máy game bịp bợm hay thiết bị xử lý văn bản đơn giản với giá rẻ hơn giá họ mua ở cửa hàng,” Musk kể. “Hay nếu máy tính của họ không khởi động tốt hoặc nhiễm vi-rút, tôi sẽ sửa chúng. Tôi có thể giải quyết mọi vấn đề.” Farooq và Musk trở nên thân thiết vì đều có xuất thân ở nước ngoài và có chung sở thích chơi game chiến thuật. “Tôi không nghĩ cậu ấy dễ kết bạn, nhưng cậu ấy lại rất trung thành với bạn bè mình,” Farooq nhận xét. Khi game điện tử Civilization (Nền vãn minh) được phát hành, hai anh chàng cùng phòng đại học này đã dành hàng giờ xây dựng đế chế của mình, mặc kệ cô bạn gái bị bỏ quên của Farooq đang hờn dỗi trong một phòng khác. “Elon có thể chơi quên mình suốt hàng giờ đồng hồ,” Farooq cho biết. Các sinh viên khác cũng thích thú trước cách sống thui thủi một mình của họ. “Chúng tôi là kiểu người có thể là chính mình trong một buổi tiệc mà không hể cảm thấy ngại ngùng,” Farooq chia sẻ. “Chúng tôi có thể đắm chìm trong suy nghĩ của riêng mình, và không cảm thấy lạ trước người khác về điều đó.”
Thời đại học, Musk có nhiều tham vọng hơn thời trung học. Anh theo học ngành kinh doanh, tranh tài trong các cuộc thi hùng biện trước công chúng, bắt đầu thể hiện bản tính quyết liệt và ganh đua, điều đã để lại dấu ấn trong cách cư xử của anh hiện nay. Sau bài thi kinh tế học, Musk, Farooq và vài sinh viên khác trở về ký túc xá và bắt đầu so sánh các ghi chép hòng cố xác định xem họ làm bài có tốt không. Chẳng mấy chốc, ai cũng biết rõ Musk chính là kẻ bám dính lấy mớ tài liệu này hơn ai khác. “Đó là nhóm những người đạt thành tích cao, nhưng Elon vượt xa cả tốp đầu,” Farooq nhớ lại. Bản tính quyết liệt của Musk vẫn tiếp tục giữ nguyên trong mối quan hệ lâu dài của họ. “Khi Elon đã nhắm đến điều gì, cậu ấy sẽ toát ra niềm hứng thú với mức độ khác hẳn những người khác. Và đó chính là điểm phân biệt Elon với phần còn lại của nhân loại.”
Sau khi trải qua hai năm ở Queens, năm 1992, Musk chuyển tiếp đến Đại học Pennsylvania theo diện học bổng. Musk nhận thấy ngôi trường Ivy League [5]  này có thể mở ra cho anh vài cánh   cửa khác, và bắt đầu hành trình theo đuổi văn bằng kép - trước tiên là bằng kinh tế học thuộc Trường Wharton và sau đó là bằng cử nhân vật lý. Justine vẫn ở lại Queen’s, theo đuổi ước mơ trở thành nhà văn và tiếp tục duy trì mối quan hệ từ xa với Musk. Cô thường đến thăm anh, và đôi khi cả hai sẽ đến New York tận hưởng một cuối tuần lãng mạn.
 
[5] Nhóm tám trường đại học và viện đại học với hệ thống, triết lý giáo dục và chất lượng đào tạo hàng đầu nước Mỹ, bao gồm các trường đại học Brown, Columbia, Cornell, Dartmouth, Harvard, Princeton, Pennsylvania và Yale.
Tài năng của Musk càng nở rộ hơn tại Penn, và anh cũng bắt đầu cảm thấy thực sự thoải mái khi chơi đùa cùng các bạn học chung lớp vật lý. “Tại Penn, nó gặp được những người có suy nghĩ giống mình,” Maye nói. “Ở đó có vài đứa mọt sách. Nó rất thích chúng. Tôi nhớ có lần mình đã ăn trưa với chúng, và chúng toàn nói về vật lý học. Chúng cứ thao thao, ‘A cộng B bằng pi bình phương’ hay đại loại thế. Chúng cười rất to. Thật vui khi thấy Musk hạnh phúc.” Song, một lần nữa, Musk vẫn không quen được nhiều bạn bè giữa ngôi trường rộng lớn. Thật khó tìm được những cựu sinh viên còn nhớ đến anh thời học tại trường. Nhưng anh vẫn có được một người bạn rất thân tên Adeo Ressi, người sau này cũng tự mình làm chủ một doanh nghiệp tại Thung lũng Silicon và gắn bó với Musk đến tận ngày nay hơn bất kỳ ai khác.
Ressi là một anh chàng gầy nhẳng, cao trên mét tám và cũng có vẻ lập dị. So với một Musk luôn kiệm lời và chăm chỉ học hành, anh có chất nghệ sĩ và đặc sắc hơn nhiều. Cả hai chàng trai trẻ đều là sinh viên chuyển tiếp, và được xếp chung vào một ký túc xá năm nhất hiện đại. Cảnh sống chung ảm đạm không thỏa mãn được mong muốn của Ressi, nên anh bàn với Musk thuê một ngôi nhà lớn bên ngoài khuôn viên trường. Họ tìm được một căn nhà mười phòng ngủ với giá tương đối rẻ, vì đó là nơi ở của hội nam sinh nhưng chưa có ai thuê. Musk và Ressi đi học suốt tuần, nhưng cứ đến cuối tuần, họ - cụ thể là Ressi - lại biến ngôi nhà thành một hộp đêm. Anh lấy các vỏ bao bì che hết các cửa sổ để bên trong tối đen như mực, rồi trang trí các bức tường bằng sơn màu sáng và mọi thứ anh có thể tìm được. “Đó còn là nơi bán rượu lậu trái phép khá ổn,” Ressi tiết lộ. “Chúng tôi tụ tập đến 500 người. Chúng tôi tính phí mỗi người 5 đô-la và họ có thể uống bao nhiêu tùy thích - nào bia, nào các ngụm Jell-O và các thứ khác.”
Cứ đến đêm thứ Sáu, mặt đất quanh ngôi nhà lại rung chuyển vì tiếng bass cường độ cao phát ra từ dàn loa của Ressi. Maye từng đến tham dự một buổi tiệc và nhận ra Ressi đã đóng các thứ linh tinh lên tường rồi quét lên chúng một lớp sơn phát sáng trong tối. Bà đứng chốt tại cửa với nhiệm vụ kiểm tra áo khoác, thu tiền, và chộp lấy chiếc kéo để bảo vệ chiếc hộp giày nhét đầy tiền mặt.
Ngôi nhà thứ hai có 14 phòng. Musk, Ressi và một người nữa sống tại đây. Họ tạo ra những chiếc bàn bằng cách lắp gỗ dán lên trên các két bia dùng rồi và nảy ra thêm vài ý tưởng bài trí tạm thời khác. Một hôm, Musk về nhà và trông thấy Ressi vừa đóng chiếc bàn học của anh vào tường rồi sơn nó bằng sơn huỳnh quang Day-Glo. Musk liền đáp trả bằng cách tháo chiếc bàn của anh xuống, sơn nó thành màu đen, rồi ngồi học. “Tôi chỉ biết chắt lưỡi, ‘Này anh bạn, đó là nghệ thuật sắp đặt cho ngôi nhà tiệc tùng của chúng ta đấy,’ Ressi kể. Anh cũng nhắc lại câu trả lời thản nhiên của Musk khi đó, “Nó là cái bàn học.”
Musk thỉnh thoảng cũng uống vodka và coca không đường, nhưng anh không phải người tham uống, và thực ra cũng chẳng quan tâm bia rượu có mùi vị ra sao. “Phải có ai đó tỉnh táo trong những buổi tiệc tùng thế này chứ,” Musk nói.
“Tôi đang tự lo học phí đại học và có thể trả hết tiền thuê nhà cho cả tháng chỉ sau một đêm. Adeo đảm trách những trò quái quỷ quanh nhà, còn tôi sẽ lo điều hành buổi tiệc.” Như Ressi từng nhận xét, “Elon là gã mẫu mực nhất tôi từng gặp. Cậu ta không khi nào quá chén. Cậu ta không khi nào làm gì quá trớn. Không. Hoàn toàn không.” Lần duy nhất Ressi phải can thiệp và xoa dịu cách cư xử của Musk là khi anh đắm chìm vào game điện tử suốt nhiều ngày.
Mối quan tâm từ lâu của Musk đối với năng lượng Mặt Trời và những cách mới để khai thác năng lượng đã mở rộng hơn tại Penn. Tháng Mười hai năm 1994, anh vạch ra một kế hoạch kinh doanh cho lớp học của mình và viết một bài luận nhan đề, “Tầm quan trọng của việc sử dụng năng lượng Mặt Trời’’. Bài luận mở đầu với chút hài hước châm biếm của Musk. Ngay đầu trang, anh viết: “Mặt Trời sẽ biến mất từ ngày mai...” - cô bé Annie mồ côi [6] đã nói như thế về chủ đề năng lượng tái tạo được. Bài luận dự đoán về sự lên ngôi của công nghệ năng lượng Mặt Trời dựa trên những cải tiến trong vật liệu và việc xây dựng các nhà máy pin Mặt Trời quy mô lớn. Musk đào sâu vào cách hoạt động của các tấm pin Mặt Trời cùng những hợp chất khác nhau giúp chúng đạt hiệu suất cao hơn. Và anh kết lại bài luận với một bản vẽ “trạm năng lượng của tương lai.” Nó mô tả hai hàng pin Mặt Trời khổng lồ lơ lửng giữa không gian - mỗi hàng rộng đến 4km - đang truyền năng lượng xuống Trái Đất bằng các tia vi sóng đến chảo ăng-ten tiếp nhận có đường kính 7km. Musk được 98 điểm cùng lời phê từ giáo sư rằng “bài viết rất tốt và rất thú vị.”
 
[6] Nguyên văn : Little Orphan Annie, nhân vật chính trong loạt truyện tranh cùng tên của họa sĩ Harold Gray (1894 – 1968), được đăng lần đầu tiên trên tờ Daily News, New York năm 1924, và được dựng thành phim vào năm 1982. Câu nói trên của Annie được trích từ bộ phim này.
 
Bài luận thứ hai nói về việc nghiên cứu các tài liệu, sách báo, chụp lại chúng bằng công nghệ điện tử - sử dụng bộ nhận diện ký tự quang, rồi lưu toàn bộ thông tin vào một cơ sở dữ liệu duy nhất - giống như một sự kết hợp giữa Google Books và Google Scholar hiện nay. Bài luận thứ ba cũng tập trung vào một trong những chủ đề yêu thích của Musk - siêu tụ điện. Trong tài liệu dài 44 trang này, Musk đã thể hiện một cách mộc mạc sự hân hoan trước ý tưởng về một hình thức dự trữ năng lượng mới phù hợp với việc theo đuổi công nghệ xe hơi, máy bay và tên lửa của anh sau này. Nhấn mạnh vào nghiên cứu mới nhất từ một phòng thí nghiệm thuộc Thung lũng Silicon, anh viết: “Kết quả cuối cùng sẽ đại diện cho thiết bị mới đầu tiên nhằm lưu trữ các khối năng lượng điện đáng kể, nhờ bước phát triển trong công nghệ ắc- quy và pin nhiên liệu. Không những thế, vì siêu tụ điện vẫn giữ nguyên các đặc tính cơ bản của tụ điện, nên nó có thể truyền tải năng lượng nhanh hơn một ắc-quy cùng khối lượng đến 100 lần, và cũng được sạc đầy nhanh như thế.” Musk nhận được 97 điểm cho nỗ lực này và lời khen cho “một phân tích rất thấu đáo” với “các tính toán tài chính xuất sắc!”
Những nhận xét trên của vị giáo sư không hề cường điệu. Các bài viết rõ ràng, chính xác của Musk là thành quả từ một bộ óc logic, luôn chuyển từ luận điểm này sang luận điểm khác với độ chuẩn xác cao. Điểm nổi bật thực sự chính là khả năng làm chủ các khái niệm vật lý học khác nhau của Musk trong bối cảnh một dự án kinh doanh đích thực. Anh thậm chí còn thể hiện một biệt tài phi thường, đó là lĩnh hội được con đường áp dụng tiến bộ khoa học vào hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận.
 Khi bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc hơn về những điều anh muốn làm sau khi rời đại học, Musk đã nhanh chóng cân nhắc đến khả năng gia nhập ngành kinh doanh game điện tử. Game điện tử đã ám ảnh anh từ thuở bé và anh từng tham gia một khóa thực tập làm game. Nhưng anh cũng nhận ra đó không phải mục tiêu đủ lớn để theo đuổi. “Tôi thực sự thích game máy tính, nhưng giả sử tôi viết được những trò chơi vĩ đại đúng nghĩa, thì chúng sẽ ảnh hưởng đến thế giới nhiều đến đầu?” anh cho biết. “Nó sẽ không tạo được một ảnh hưởng lớn. Thậm chí dù tôi có một tình yêu tiềm ẩn với game điện tử, tôi không thể chọn nó làm sự nghiệp cho mình.”
Trong các cuộc phỏng vấn, Musk luôn khẳng định rằng mọi người đều biết anh đã ấp ủ một số ý tưởng thật sự to tát trong giai đoạn này của cuộc đời. Theo lời anh, anh thường mơ mộng viển vông hồi ở trường Queen’s và Penn, và thường thì cuối cùng rút ra được cùng một kết luận: Anh xem Internet, năng lượng tái tạo được, và không gian là ba lĩnh vực sẽ trải qua những biến đổi lớn trong những năm sắp tới, và đấy là các thị trường nơi anh có thể tạo ảnh hưởng lớn. Anh nguyện sẽ theo đuổi các dự án trong cả ba lĩnh vực. “Tôi luôn kể với các bạn gái cũ và vợ cũ của tôi về những ý tưởng này,” anh nói. “Nghe có vẻ như câu chuyện siêu điên rồ.”
Quyết tâm của Musk nhằm lý giải những căn nguyên ban đầu dẫn đến đam mê trong anh về xe hơi điện, năng lượng Mặt Trời và tên lửa có thể không vững lắm. Có cảm giác như Musk đang cố nhào nặn nên câu chuyên về cuộc đời anh một cách gượng gạo. Nhưng với Musk, sự khác biệt giữa việc tình cờ vấp phải một điều gì đó với việc có dự tính trước từ đầu mới là quan trọng. Từ lâu, Musk đã luôn muốn cả thế giới biết rằng anh khác với một doanh nhân tầm thường tại Thung lũng Silicon. Anh không chỉ đánh hơi xu hướng và cũng không để suy nghĩ làm giàu nuốt chửng lấy mình, mà anh đặt mục tiêu theo đuổi xuyên suốt một kế hoạch chủ đạo. “Tôi thực sự đã suy nghĩ về điều này từ thời đại học,” anh nói. “Đó không phải một câu chuyện nảy sinh từ thực tế. Tôi không muốn bị xem như kẻ đến sau, chạy theo xu thế hay cơ hội. Tôi không phải nhà đầu tư. Tôi chỉ muốn biến công nghệ thành sự thật, vì tôi nghĩ đó là điều quan trọng đối với tương lai và hữu ích theo cách nào đó.”
Chú thích :
[1] Thành phố miền Nam Quebec, cũng là thành phố lớn nhất Canada
[2] Reong khi Maye đến Canada tìm nơi định cư, thì cô con gái Tosca mười bốn tuổi của bà đã chớp lấy cơ hội và rao bvan1 ngôi nhà của gia đình tại Nam Phi. ‘‘ Con bé bán ca » xe hơi của tôi và đang chuẩn bị rao bán nốt đồ đạc trong nhà.’’ Maye kể lại. ‘‘Khi về nhà, tôi hỏi nó vì ao lại làm thế . Và con bé đáp : ‘‘Không trì hoãn nữa. Chúng ta phải rời khỏi đây ngay’’.
[3] James Dean (1931 – 1955) ngôi sao điện ảnh huyền thoại người Mỹ. Chỉ nổi danh với ba bộ phim kinh điển và mất vì tai nạn xe hơi khi mới 24 tưởi, nhưng James Dean vẫn là một trong những thần tượng của giới trẻ Mỹ và thế giới.
[4] Ted Hughes (1930 – 1998) người từng được Nữ hoàng Anh sắc phong làm Thi sĩ Hoàng gia năm 1984. Ted đã kết hôn với Sylvia Plath (1932 – 1963), người yêu thời đại học của ông và cũng là một thi sĩ, và viết nhiều bài thơ nổi tiếng về mối tình bi kịch của hai người từ khi kết hôn cho đến ngày bà mất.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.04.2023 15:39:10 bởi Thanh Vân>
4 . LẦN KHỞI NGHIỆP ĐẦU TIÊN
CỦA ELON
 
 
 
Mùa hè năm 1994, Musk và cậu em trai Kimbal đã bước những bước đầu tiên để trở thành những công dân Mỹ thực thụ. Họ làm một chuyến chu du xuyên quốc gia này.
Khi ấy, Kimbai đang là đối tác nhượng quyền của hãng sơn College Pro Painters và khá thành đạt trong vai trò điều hành một cơ sở tương đương một doanh nghiệp nhỏ. Anh đã bán phần nhượng quyền của mình và hùn tiền cùng Musk mua một chiếc BMW 320i tơi tả thời thập niên 1970. Hai anh em bắt đầu chuyến đi gần San Francisco vào tháng Tám, khi nhiệt độ tại California tăng vọt. Đoạn đầu của chuyến đi đã dưa họ đến Needles, một thành phố nằm giữa Sa mạc Mojave [1]. Tại đây, họ đã trải qua cảm giác vã mỗ hôi giữa thời tiết 49 độ C, trong chiếc xe hơi không máy lạnh và học được cách yêu quý các hầm nghỉ chân tại các điểm trung chuyển burger Carl’s Jr… nơi họ dành hàng tiếng đồng hồ lấy lại cái mát cho cơ thể.
 Chuyến đi có dư thời gian cho những trò nghịch ngợm điển hình của tuổi đôi mươi cùng những mơ mộng cuồng nhiệt kiểu tư bản. Thời ấy, người dân chỉ mới bắt đầu truy cập được Web nhờ sự xuất hiện của các trang danh bạ như Yahoo! và các công cụ trình duyệt như Netscape’s. Hai anh em nắm bắt được xu thế của Internet, và nghĩ rằng có lẽ họ muốn cùng nhau thành lập một công ty để làm một cái gì đó trên Web. Từ California, Colorado, Wyoming, South Dakota rồi đến Illinois, họ thay phiên nhau lái xe, động não và thảo luận vẩn vơ trước khi quay lại miền Đông để Musk kịp trở lại trường vào mùa thu. Ý tưởng hay ho nhất nảy sinh từ chuyến đi chính là một mạng trực tuyến dành cho các bác sĩ. Điều này không có nghĩa là nó có tham vọng trở thành một thứ giống như hồ sơ sức khỏe điện tử, nhưng vẫn tốt hơn hệ thống có tính vật lý để trao đổi thông tin và cộng tác. “Có vẻ như ngành y là lĩnh vực có thể gặp trở ngại,” Kimbal nhận xét. “Sau đó, tôi đã tiến hành lập kế hoạch kinh doanh cùng các phương án bán hàng và marketing cho nó, nhưng ý tưởng này đã không cất cánh được. Chúng tôi không thích nó.”
Musk đã trải qua khoảng thời gian đầu mùa hè năm ấy ở Thung lũng Silicon, do vẫn đang tham gia hai khóa thực tập. Ban ngày, anh làm việc tại Viện Nghiên cứu Pinnacle. Có trụ sở đặt tại Los Gatos[2], Pinnacle là một công ty khởi nghiệp được quảng cáo rầm rộ, với một nhóm nhà khoa học chuyên khám phá cách thức sử dụng siêu tụ điện như một nguồn nhiên liệu cách mạng dành cho xe cộ dùng điện hoặc hybrid [3] . Công trình này cũng chuyển hướng - chí ít về mặt ngữ nghĩa - sang một phạm vi khác thường hơn. Musk có thể thao thao bất tuyệt về cách sử dụng siêu tụ điện nhằm tạo ra các loại vũ khí giắt lưng dùng tia laser theo phong cách của loạt phim Chiến tranh giữa các vì sao (Star Wars), hay bất cứ bộ phim viễn tưởng nào khác. Súng laser sẽ giải phóng các vòng năng lượng khổng lổ, rồi xạ thủ sẽ thay tụ điện vào báng súng, hệt như cách thay băng đạn, và lại bắt đầu xả đạn liên tục. Siêu tụ điện cũng được xem là nguồn cung cấp hỏa lực đầy hứa hẹn cho các tên lửa. Chúng chịu lực tốt hơn pin ắc-quy thông thường dưới sức ép cơ học khi khai hỏa, và cũng sạc liên tục hơn trong thời gian dài. Musk rất yêu thích công việc tại Pinnacle và lấy đó làm nền tảng cho một số thử nghiêm về kế hoạch kinh doanh tại trường Penn, cũng như cho những mơ mộng của nhà công nghiệp trong anh.
  Vào các buổi tối, Musk chuyển sang làm tại Rocket Science Games, một công ty khởi nghiệp có trụ sở tại Palo Alto [4]  mong muốn tạo ra những game điện tử tiên tiến bậc nhất, bằng cách nén chúng vào các ổ và đĩa CD vốn lưu giữ được nhiều thông tin hơn. Trên lý thuyết, đĩa CD sẽ cho phép họ đưa chất lượng sản xuất và kể chuyện theo phong cách Hollywood vào các game. Một nhóm “siêu sao” mới nổi, bao gồm các kỹ sư và nhân vật trong ngành điện ảnh đã được tập hợp lại để hoàn thành công trình. Tony Fadell - người sau này đã thúc đẩy sứ mệnh phát triển các sản phẩm iPod và iPhone tại Apple - cùng các nhân vật từng phát triển phần mềm truyền thông đa phương tiện QuickTime cho Apple cũng làm việc tại Rocket Science.  
 Họ còn có những người chuyên tạo hiệu ứng nguyên bản cho bộ phim Chiến tranh giữa các vì sao từ công ty Industrial Light & Magic, và các nhà làm game từ LucasArts Entertainment. Rocket Science đã giúp Musk hiểu thêm về những gì Thung lũng Silicon đem lại từ lớp nhân tài và quan điểm văn hóa của nó. Có những người làm việc trong văn phòng suốt 24 giờ/ngày, và họ nghĩ chẳng có gì lạ khi Musk xuất hiện lúc 5 giờ chiều mỗi ngày và bắt đầu công việc thứ hai của anh. “Chúng tôi thuê cậu ta viết vài đoạn mã cấp thấp rất tầm thường,” Peter Barrett, một kỹ sư người Úc góp sức thành lập công ty này, cho biết. “Cậu ta không bối rối chút nào. Tôi không nghĩ đã có ai đó hướng dẫn cho, nhưng chỉ trong thời gian ngắn, cậu ta đã hoàn thành những gì cậu ta muốn làm.”
Cụ thể hơn, Musk đã được yêu cầu viết các driver cho phép tay cầm điều khiển game và con chuột tương tác với nhiều loại máy tính và garne khác nhau. Driver chính là thứ tập tin phiền phức mà bạn phải cài đặt cho máy in hay máy ảnh để chúng tích hợp với máy tính tại nhà — quả là đáng chán. Là một lập trình viên tự học hỏi, Musk cho rằng anh đã viết mã khá tốt rồi, nên xung phong đãm nhận những công việc tham vọng hơn. “Về cơ bản, tôi đang cố tìm hiểu xem chúng ta có thế xử lý nhiều việc một lúc như thế nào, nhờ thế anh có thể vừa đọc video từ đĩa CD vừa chạy game,” Musk chia sẻ. “Thời điểm đó, anh chỉ làm được việc này hoặc việc kia. Thế nên việc lập trình chắp nối mới mẻ này có chút phức tạp.” Quả là phức tạp. Musk phải gửi lệnh trực tiếp đến bộ vi xử lý chính của máy tính và tốn thời gian với hàng mớ chức năng cơ bản nhất để làm cỗ máy hoạt động. Bruce Leak, nguyên kỹ sư trưởng đứng sau thành công của QuickTime tại Apple, chính là người giám sát việc tuyển dụng Musk và rất kinh ngạc trước khả năng làm việc thâu đêm của anh. “Cậu ấy sở hữu nguồn năng lượng vô tận,” Leak cho biết. “Bọn trẻ thời đó chẳng biết phần cứng hay những thứ khác hoạt động như thế nào, ấy thế mà cậu ấy đã có kinh nghiệm của một hacker máy tính cá nhân và tìm tòi không chút e sợ.”
Musk nhận ra Thung lũng Silicon là nơi đầy ắp những cơ hội mà anh đang tìm kiếm và tương xứng với tham vọng của anh. Anh đã trở lại đây vào hai mùa hè liên tiếp rồi chuyển đến sống hẳn ở miền Tây sau khi tốt nghiệp với văn bằng kép tại Penn. Ban đầu, anh dự định theo đuổi bằng tiến sĩ khoa học vật liệu và vật lý tại trường Stanford, rồi nâng cấp công trình siêu tụ điện anh đã làm ở Pinnacle. Thế nhưng, anh đã thôi học tại Stanford chỉ sau hai ngày vì không cưỡng được tiếng gọi của Internet. Anh cũng bảo Kimbal chuyển đến Thung lũng Silicon, để hai anh em có thể cùng nhau chinh phục Web.
Những hiểu biết đầu tiên về  một ngành kinh doanh Internet độc lập đã đến với Musk trong hai kỳ thực tập. Có lần, một nhân viên kinh doanh từ Những trang vàng (Yellow Pages) bước vào văn phòng công ty khởi nghiệp của anh. Anh ta cố gắng bán ý tưởng về một danh bạ trực tuyến nhằm bổ sung cho danh bạ chính thức của công ty trong quyển Những trang vàng to tướng. Nhân viên này gặp khó khăn với màn chào mời của mình, và rõ ràng chẳng hiểu gì về bản chất của Internet cũng như làm thế nào để ai đó tìm thấy cơ hội kinh doanh từ nó. Lời chào mời nông cạn này khiến Musk suy nghĩ, và anh đến gặp Kimbal để trao đổi về ý tưởng giúp các doanh nghiệp xuất hiện trên mạng lần đầu tiên.
Elon nói, ‘Những gã này chẳng biết họ đang nói về cái gi. Có thể chúng ta sẽ làm được điều đó,’ Kimbal nhớ lại. Đó là năm 1995, và hai anh em đang chuẩn bị thành lập Global Link Information Network, một công ty khởi nghiệp sau này được đổi tên thành Zip2. (Chi tiết về những tranh cãi xung quanh việc thành lập Zip2 và học bạ của Musk, xem Phụ lục 1.)
Zip2 là một ý tưởng tài tình. Năm 1995, rất ít doanh nghiệp nhỏ hiểu được khả năng lan tỏa của Internet. Họ chẳng biết truy cập nó thế nào, và thực sự không thấy được giá trị từ việc tạo dựng một trang web cho doanh nghiệp của mình, hay thậm chí sở hữu một danh bạ trực tuyến kiểu Những trang vàng. Musk cùng em trai hy vọng sẽ thuyết phục được các nhà hàng, cửa hàng quần áo, tiệm hớt tóc đến với mình để được cộng đồng lướt Web biết đến sự hiện diện của họ. Zip2 sẽ xây dựng một danh bạ tra cứu dành cho các doanh nghiệp và kết nối danh bạ này với các bản đồ. Musk cũng thường mượn bánh pizza để giải thích khái niệm này, khi nói rằng ai cũng có quyền biết vị trí của tiệm pizza gần với họ nhất cũng như được chỉ dẫn từng bước để đến đó. Ngày nay, đây dường như là chuyện hiển nhiên - hãy nghĩ xem Yelp đã gặp gỡ Google Maps như thế nào - nhưng thời ấy, chẳng ai dám mơ đến một dịch vụ như vậy.
Anh em nhà Musk đã khai sinh Zip2 tại số 430 Đại lộ Sherman ở Palo Alto. Họ thuê một văn phòng rộng bằng một căn hộ studio - 6 mét x 9 mét - và sắm sửa vài thứ đồ đạc tối thiểu. Tòa nhà ba tầng này cũng có những hạn chế. Nó không có thang máy, còn nhà vệ sinh thì thường xuyên kẹt cứng. “Quả là một nơi làm việc tê hại,” một nhân viên đời đầu cho biết. Để kết nối Internet nhanh hơn, Musk phải thỏa thuận riêng với Ray Girouard, một doanh nhân điều hành dịch vụ cung cấp Internet ở tầng dưới văn phòng của Zip2. Theo lời Girouard,  Musk đã khoan một cái lỗ trên bức tường gần cửa văn phòng Zip2 rồi nối cáp Ethernet dọc cầu thang đến bộ phát Internet. “Họ đôi khi cũng thanh toán trễ, nhưng chưa bao giờ khiến tôi phải khó xử với hóa đơn,” Girouard nói.
Musk tự viết toàn bộ các đoạn mã gốc làm nên dịch vụ của anh, trong khi Kimbal nhã nhặn gõ cửa từng nhà để bán dịch vụ. Musk cũng mua được giấy phép giá rẻ để sở hữu cơ sở dữ liệu về  danh sách các doanh nghiệp trong khu vực Vịnh, cho phép họ lấy tên và địa chỉ của doanh nghiệp. Sau đó, anh liên hệ với Navteq - một công ty đã bỏ hàng trăm triệu đô-la để xây dựng các bản đồ và chỉ dẫn đường đi kỹ thuật số có thể sử dụng trên các thiết bị tìm đường kiểu GPS đời đầu - và đưa ra một đề nghị mặc cả hách dịch. “Chúng tôi truy xuất thông tin cho họ, còn họ sẽ giao công nghệ miễn phí cho chúng tôi,” Kimbal cho biết. Musk kết hợp hai cơ sở dữ liệu với nhau để khởi tạo một hệ thống sơ bộ rồi cho vận hành. Theo thời gian, các kỷ sư của Zip2 buộc phải làm đầy thêm khối lượng dữ liệu ban đầu với nhiều bản đồ hơn nhằm bao quát hết các khu vực bên ngoài những khu vực thủ phủ chính, cũng như lập các chỉ dẫn tùy chính có thể hiển thị và hoạt động tốt trên máy tính để bàn.
Errol Musk gửi hai cậu con trai 28 nghìn đô-la để giúp họ vượt qua giai đoạn này, còn họ it nhiều đã khánh kiệt sau khi thuê văn phòng, mua giấy phép sử dụng phần mềm và sắm sửa một số thiết bị. Trong ba tháng đầu thành lập Zip2, Musk và em trai phải sống ngay trong văn phòng. Họ chất quần áo trong một buồng nhỏ và phải tắm nhờ ở Hội Thanh niên Cơ đốc giáo (YMCA: Youth Men’s Christian Association). “Thi thoảng chúng tôi ăn bốn bửa một ngày ở quán Jack in the Box,” Kimbal kể. “Họ mở cửa 24 giờ nên hợp với lịch làm việc của chúng tôi. Có lần tôi uống sinh tố và cảm thấy có thứ gì trong đó, nên lấy nó ra rồi lại uống tiếp. Kể từ đó, tôi không thể ăn ở đấy nữa, nhưng vẫn có thế kể vanh vách thực đơn của họ.”
Kế đến, hai anh em thuê một căn hộ hai phòng ngủ. Họ không còn tiền hay tinh thần để sắm sửa đồ đạc nữa. Thế là chỉ có hai tấm nệm trên sàn. Bằng cách nào đó, Musk đã thuyết phục được một kỹ sư người Hàn Quốc đến thực tập tại Zip2 để đổi lấy tiền phòng và tiền cơm tháng. “Cậu bé khốn khổ đó cứ nghĩ rằng mình vừa nhận việc tại một công ty lớn,” Kimbal chia sẻ. “Cậu ấy cứ đến sống với chúng tôi mà chẳng biết mình đang đâm đầu vào đâu.” Một ngày nọ, chàng thực tập sinh đang lái chiếc BMW 320i tơi tả của Musk đến chỗ làm thì một chiếc bánh xe bỗng rơi ra. Trục xe mài ken két xuống mặt đường ngay giao lộ giữa đường Page Mill và El Camino Real, và vết rãnh nó tạo thành vẫn còn hiện rõ suốt mấy năm.
Zip2 có thể là một doanh nghiệp Internet năng động nhắm đến thời đại thông tin, nhưng họ phải giúp nó cất cánh bằng phương thức bán hàng gõ cửa từng nhà. Các doanh nghiệp cần được thuyết phục trước những lợi ích của Web và sẵn sàng trả tiền cho thứ họ chưa biết. Cuối năm 1995, anh em nhà Musk bắt đầu thuê các nhân viên đầu tiên và tập hợp được một đội bán hàng pha tạp. Jeff Heilman, một chàng trai 20 tuổi với tâm hồn bay bổng đang tìm kiếm hướng đi cho cuộc đời, đã đến với Zip2 với tư cách một trong những tân binh đầu tiên. Một đêm đã muộn, anh đang xem ti-vi với cha mình thì chợt thấy một dòng địa chỉ Web chạy dưới màn hình quảng cáo. “Đó là một công ty dot-com,” Heilman nói. “Tôi còn nhớ mình đang ngồi đó và hỏi cha mình rằng chúng tôi đang xem gì thế. Cha tôi nói ông không biết. Đó là lúc tôi nhận ra mình phải tìm thấy chính mình đâu đó trên Internet.” Heilman dành hai tuần cố gắng trò chuyện với những người có thể giải thích cho anh về Internet, và rồi chợt thấy mẩu tin tuyển dụng rộng 2x2 inch[5] của Zip2 trên tờ San Jose Mercury News: “Bán hàng qua Internet. Đăng ký tại đây!” Thế là Heilman tạm thời có việc. Một số nhân viên bán hàng khác cũng nhập hội cùng anh và làm việc hưởng lương theo hoa hồng.
Musk dường như chẳng bao giờ rời văn phòng. Anh ngủ trên chiếc ghế lười cạnh bàn làm việc chẳng khác gì một chú chó. “Tôi đến văn phòng lúc 7 giờ 30 hoặc 8 giờ sáng mỗi ngày, và hầu như luôn thấy anh ấy đang ngủ trên chiếc ghế đó,” Heilman cho biết. “Có lẽ anh ấy tắm rửa vào cuối tuần. Tôi chẳng biết nữa.” Musk đề nghị những nhân viên đầu tiên này của Zip2 đá anh một cái khi họ đến văn phòng, đánh thức anh dậy và trở lại làm việc. Trong khi Musk đảm trách công việc viết mã vốn thuộc về anh, thì Kimbal trở thành một trưởng nhóm bán hàng nhiệt tình. “Kimbal là người luôn lạc quan, và anh ấy rất, rất giàu sức sống,” Heilman nhận xét. “Tôi chưa từng gặp ai như anh ấy.” Kimbal phần công Heilman đến trung tâm mua sắm cao cấp tại Stanford và Đại lộ University, con đường chính tại Palo Alto, thuyết phục các nhà bán lẻ đăng ký hợp tác với Zip2, với lời giải thích rằng một danh bạ được bảo trợ sẽ giúp một công ty lọt vào nhóm kết quả được tìm kiếm nhiều nhất. Vấn đề lớn, tất nhiên, là chẳng ai chịu mua. Heilman gõ cửa từng nhà từ tuần này sang tuần khác và trở về văn phòng với rất ít tin tốt để báo cáo lại. Những phản hồi tử tế nhất lại đến từ những người bảo Heilman rằng quảng cáo trên Internet là điều ngớ ngẩn nhất họ từng nghe. Nhưng thông thường, các chủ tiệm sẽ bảo Heilman biến đi và đừng làm phiền họ. Khi đến giờ ăn trưa, anh em nhà Musk với lấy chiếc hộp xì gà đựng tiền, dẫn Heilman ra ngoài và nghe anh báo cáo về tình hình bán hàng đáng thất vọng.
 
 

Chú thích :
[1] Sa mạc nằm ở miền Nam California, phía đông Sierre Nevada, có diện tích 52.000km²
[2] Thị trấn thuộc Santa Clara (Tây California) cách San Jose 13 cây số
[3] Loại xe kết hợp nhiên liệu xăng điện.
(4] Thành phố miền Tây California bên bờ vịnh San Francisco, có dân số khoảng 59.000 người.
(5) 1 inch= 2, 54 cm
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.04.2023 10:30:01 bởi Thanh Vân>
Craig Mohr, một nhân viên đời đầu khác, cũng từ bỏ công việc buôn bán bất động sản để chạy theo dịch vụ của Zip2. Anh quyết định đón đầu các đại lý xe hơi vì họ thường chi rất nhiều tiền cho quảng cáo. Anh kể với họ về trang web chính của Zip2 — www.totalinfo.com - và cố gắng thuyết phục họ rằng nhu cầu có một danh mục dữ liệu như www.totalinfo.com/ toyotaofsiliconvalley là rất cao. Dịch vụ này không phải lúc nào cũng hiệu quả như Mohr mô tả, hoặc nó sẽ tải rất chậm - vốn là chuyện thường tình vào thời đó. Điều này buộc anh phải khuyến khích khách hàng mường tượng đến tiềm năng của Zip2. “Một hôm, tôi trở về với những tấm séc khoảng 900 đô-la,” Mohr kể lại. “Tôi bước vào văn phòng và hỏi mọi người xem họ muốn tôi làm gì với số tiền đó. Thế là Elon ngừng gõ phím, ngả người ra xa màn hình rồi nói, ‘‘Không thể nào, anh đã kiếm được tiền.’’
Chính những cải tiến liên tục của Musk dành cho phần mềm Zip2 đã đẩy tinh thần nhân viên lên cao. Dịch vụ của anh đã biến từ một “chứng minh bằng khái niệm” thành một sản phẩm đích thực, có thể sử dụng được và cho dùng thử. Tuy không hiểu biết về marketing, nhưng anh em nhà Musk vẫn cố gắng khiến dịch vụ Web của họ trở nên có vẻ quan trọng hơn bằng cách khoác lên cho nó một bộ dạng ấn tượng. Musk đã chế tạo một thùng lớn bao quanh chiếc PC tiêu chuẩn và kéo cả khối máy lên bệ đỡ có bánh xe. Khi các nhà đầu tư tiềm năng xuất hiện, anh sẽ đứng lên trình diễn và đẩy cỗ máy bề thế này ra, để nó xuất hiện như là Zip2 đang tiến vào trong một siêu máy tính nhỏ. “Các nhà đầu tư nghĩ nó thật ấn tượng,” Kimbal nói. Heilman cũng nhận thấy các nhà đầu tư tin vào sự hiến dâng tận tụy của Musk với công ty. “Khi ấy, với bản chất của một cậu sinh viên mặt chưa sạch mụn, Elon đã dốc hết tâm sức để thứ này - dù đó là gì đi nữa — nhất định phải thành công; và nếu không làm được, anh ấy sẽ bỏ lỡ mục tiêu,” Heilman nói. “Tôi nghĩ các nhà đầu tư mạo hiểm này đã nhận thấy điều đó - rằng anh ấy sẵn sàng đặt cược sinh mạng mình để xây dựng nên nền tảng mạng này.” Thực tế, Musk còn nói với một nhà đầu tư mạo hiểm rằng, “Tôi có tinh thần của một Samurai. Tôi thà mổ bụng tự sát còn hơn thất bại.”
Trong dự án Zip2 buổi đầu này, Musk đã kịp tìm cho mình một người bạn đường quan trọng, người đã hạ nhiệt một số cơn bốc đồng mãnh liệt. Greg Kouri, một doanh nhân người Canada tầm 35 tuổi, đã gặp gỡ anh em Musk tại Toronto và tin vào ý tưởng nhen nhóm ban đầu về Zip2. Một buổi sáng nọ, hai anh em đã xuất hiện trước cửa nhà Kouri và thông báo với ông rằng họ dự định đến California để tìm một cơ hội kinh doanh. Vẫn quàng trên mình chiếc khăn tắm đỏ, Kouri trở vào nhà, lục tìm đâu đó vài phút và trở ra với một xấp tiền 6 nghìn đô-la. Đến đầu năm 1996, ông chuyển đến California và gia nhập Zip2 với tư cách đồng sáng lập.
Kouri, người đã tiến hành một số thương vụ bất động sản trong quá khứ, có kinh nghiêm kinh doanh thực tế và kỹ năng nhìn người, đã đảm nhiệm vai trò giám hộ của người lớn tại Zip2. Người đàn ông Canada này có biệt tài xoa dịu Musk, và sau đó gần như trở thành cố vấn của anh. “Đôi khi, những người thông minh thực sự không hiểu rằng không phải ai cũng theo kịp họ hay hiểu nhanh như họ,” Derek Proudian, nhà đầu tư mạo hiểm, người về sau trở thành tổng giám đốc của Zip2, cho biết. “Greg là một trong số ít người mà Elon chịu lắng nghe và biết cách đặt mọi thứ vào đúng bối cảnh giúp cậu ấy.” Kouri cũng thường làm trọng tài trong các cuộc đọ sức giữa Elon và Kimbal ngay giữa văn phòng.
“Tôi chẳng ấu đả với ai cả, nhưng Elon và tôi không có khả năng cùng nhìn về một hướng,” Kimbal giải thích. Trong cuộc ấu đả đặc biệt kinh khủng về một quyết định kinh doanh, Elon đã bị rách da bàn tay và phải tiêm ngừa uốn ván. Sau đó, Kouri đã đặt dấu chấm hết các trận tranh cãi. (Kouri mất vì đau tim vào năm 2012 ở tuổi 51, sau khi may mắn đầu tư vào các công ty của Musk. Musk có mặt tại tang lễ của ông. “Chúng tôi nợ ông ấy rất nhiều,” Kimbal nói.)
Đầu năm 1996, Zip2 trải qua một sự thay đổi to lớn. Công ty đầu tư mạo hiểm Mohr Davidow Ventures nghe danh hai chàng trai Nam Phi đang nỗ lực đưa Những trang vàng lên Internet và đã đến gặp họ. Tuy kỹ năng thuyết trình còn non yếu, Musk vẫn giới thiệu khá tốt về công ty, và các nhà đầu tư cũng ấn tượng trước nhiệt huyết của anh. Mohr Davidow quyết định đầu tư 3 triệu đô-la vào Zip2 [6]. Với số vốn này trong tay, công ty đã chính thức đổi tên từ Global Link thành Zip2 — tức ý tưởng nén lại ở đây, nén lại ở kia - rồi chuyển đến số 390 Đại lộ Cambridge, Palo Alto và bắt đầu tuyển mộ những kỹ sư tài năng. Zip2 cũng thay đổi chiến lược kinh doanh của họ. Khi ấy, công ty đã xây dựng xong một trong các hệ thống dẫn đường tốt nhất trên Web. Zip2 dự định sẽ nâng cấp công nghệ này, đưa nó từ chỗ chỉ tập trung vào vùng Vịnh tới phạm vi cả nước. Tuy nhiên, trọng tâm chính của công ty sẽ là một cuộc chơi hoàn toàn mới. Thay vì rao bán dịch vụ đến từng nhà, Zip2 sẽ tạo ra một gói phần mềm để bán cho các tờ báo, để đến lượt họ tự lập danh bạ cho dịch vụ bất động sản, đại lý xe hơi hay các mục phần loại khác. Cuối cùng thì báo giới cũng hiểu Internet sẽ tác động thế nào đến việc kinh doanh của họ, và phần mềm của Zip2 sẽ giúp họ nhanh chóng xuất hiện trên mạng mà không phải tự phát triển công nghệ từ đầu. Về phần mình, Zip2 có thể đuổi theo con mồi lớn hơn và chiếm lấy một phần mạng lưới danh bạ dữ liệu toàn quốc.
 
Quá trình chuyển đổi mô hình kinh doanh và diện mạo công ty này chính là khoảnh khắc trọng đại trong đời Musk. Các chủ đầu tư mạo hiểm đã đặt Musk vào vai trò giám đốc công nghệ và tuyển Rich Sorkin làm CEO công ty. Sorkin từng công tác tại Creative Labs, một hãng sản xuất thiết bị âm thanh và điều khiển một nhóm phát triển kinh doanh tại công ty này, nơi ông đã hướng khá nhiều khoản đầu tư vào các dự án khởi nghiệp Internet. Các nhà đầu tư của Zip2 nhận thấy ông là người dày dạn kinh nghiệm và hiểu biết về Web. Tuy Musk đồng ý với cách sắp xếp này, nhưng anh lại không chấp nhận từ bỏ quyền kiểm soát Zip2. “Có lẽ điều khiến tôi hối tiếc nhất trong suốt khoảng thời gian làm việc với anh ấy là Musk đã chấp nhận thỏa thuận ma quỷ đó với Mohr Davidow,” Jim Ambras, phó chủ tịch phụ trách kỹ thuật tại Zip2, nói. “Elon không chịu bất kỳ trách nhiệm nào về hoạt động, anh ấy chỉ muốn làm CEO.”
Ambras từng làm việc tại Phòng thí nghiệm Hewlett- Packard cũng như Silicon Graphics Inc. (SGI), và là một nhân tài điển hình có tay nghề cao được Zip2 tuyển mộ sau đợt sóng đầu tư đầu tiên. Silicon Graphics, nhà sản xuất các máy tính công nghệ cao được yêu thích tại Hollywood, là công ty hào nhoáng bậc nhất thời đó và quy tụ được nhiều gã lập dị ưu tú cho Thung lũng Silicon. Song, Ambras lại hứa hẹn về sự giàu có của Internet để cuỗm lấy cho Zip2 những kỹ sư thông thái nhất của SGI. “Các luật sư của chúng tôi nhận được thư từ SGI viết rằng chúng tôi đang cướp đi những anh chàng xuất sắc nhất của họ,” Ambras nói. “Elon nghĩ điều đó thật tuyệt vời.”
Tuy Musk rất xuất sắc trên tư cách một người viết mã tự học, nhưng kỹ năng của anh lại không trau chuốt bằng những tân binh. Họ xem qua các đoạn mã của Zip2 và bắt tay vào viết lại gần hết phần mềm. Musk nổi đóa trước một vài thay đổi của họ, nhưng các nhà khoa học máy tính chỉ cần một phần nhỏ trong các dòng mã Musk sử dụng để hoàn thành công việc. Họ có khả năng phân chia các dự án phần mềm thành từng cụm nhỏ có thể thay thế và tinh lọc được, trong khi Musk lại sa vào cái bẫy kinh điển của những người tự học viết mã, đó là viết ra những gì mà giới phát triển phần mềm gọi là “những cuộn lông” - những cụm mã lớn nguyên khối rất dễ khiến ta cáu tiết vì lý do khó hiểu nào đó. Các kỹ sư cũng mang đến một cách thức làm việc chuyên nghiệp hơn cùng các thời hạn có tính thực tế cho nhóm. Đó là một thay đổi đáng hoan nghênh so với cách tiếp cận của Musk, vốn hay đặt ra các thời hạn lạc quan thái quá rồi ép các kỹ sư làm việc không ngừng ngày qua ngày nhằm đạt mục tiêu. “Nếu bạn hỏi Elon rằng phải mất bao lâu để hoàn thành một việc gì đó, câu trả lời sẽ là bất kỳ con số nào nảy ra trong đầu anh ấy, nhưng không bao giờ quá một giờ,” Ambras chia sẻ. “Chúng tôi đành diễn giải một giờ thành một hoặc hai ngày; và nếu Elon bảo việc đó mất một ngày, chúng tôi sẽ cho nó một hoặc hai tuần.”
 
Việc thành lập Zip2 rồi chứng kiến nó trưởng thành đã khiến Musk ngày càng tự tin. Terence Beney, bạn học của Musk thời trung học, đã đến California thăm anh và nhận ra sự thay đổi rõ ràng trong tính cách của Musk. Anh trông thấy Musk đe dọa một chủ nhà trọ đáng khinh, người đã gây khó dễ cho mẹ anh khi bà thuê trọ trên thị trấn. “Anh ấy nói, ‘Nếu anh muốn bắt nạt ai đó, thì bắt nạt tôi đây này.’ Thật ngạc nhiên khi thấy anh ấy làm chủ được tình huống. Lần cuối tôi gặp anh ấy, Musk vẫn là một anh chàng lập dị, hay ngượng ngùng và đôi khi nổi nóng. Bạn sẽ muốn chọn anh ấy để có người hùa theo. Nhưng giờ đây, anh tự tin và kiềm chế.” Musk cũng bắt đầu có ý thức kiểm soát những chỉ trích của anh dành cho người khác. “Elon không phải là kiểu người hay nói ‘Tôi thông cảm với anh, tôi hiểu quan điểm của anh,’” Justine cho biết. “Do anh ấy không biết cảm thông, nên có những điều tưởng như hiển nhiên với người khác nhưng lại khó hiểu với anh ấy. Elon phải biết rằng một gã tầm 20 tuổi không nên phá hỏng kế hoạch của người lớn tuổi hơn, người giữ chức vụ cao hơn, hoặc chỉ ra mọi điểm sai của họ. Anh ấy phải học điều chỉnh hành vi của mình theo những cách nhất định. Tôi nghĩ Elon chỉ nhìn thấy thế giới xung quanh thông qua chiến lược và trí tuệ.” Việc sửa đổi tính nết hiệu quả đã đem lại thành công trên nhiều mức độ. Musk 
vẫn khiến các kỹ sư trẻ phát điên với những đòi hỏi của anh trong công việc và thói chỉ trích lỗ mãng. “Tôi còn nhớ tại một cuộc họp thảo luận về sản phẩm mới - một thiết kế xe hơi mới,” Doris Downes, giám đốc sáng tạo tại Zip2, cho biết. “Ai đó phàn nàn rằng thay đổi kỹ thuật mà chúng tôi muốn là bất khả thi. Elon quay sang và nói, ‘Tôi thực tình không hiểu anh nghĩ cái quái gì,’ và bỏ ra khỏi phòng họp. Với Elon, từ không không hề tồn tại, và anh ấy kỳ vọng mọi người quanh mình có chung thái độ đó.” Musk cũng đều đặn làm lung lay những giám đốc cấp cao hơn. “Bạn phải thấy họ rời các cuộc họp với vẻ chán ghét ra mặt,” Mohr, nhân viên kinh doanh, nói. “Bạn sẽ không đi đến đâu với Musk nếu cứ luôn tỏ ra tử tế, và anh ấy chỉ cảm thấy thôi thúc và chắc chắn ở chính bản thân.”
Trong khi Musk cố gắng hòa nhập với những thay đổi mà các chủ đầu tư áp cho Zip2, anh cũng được hưởng một số đặc quyền nhờ có một túi tiền lớn hậu thuẫn. Bên cấp vốn đã giúp anh em nhà Musk có được thị thực. Họ cũng tặng mỗi người 30 nghìn đô-la để mua xe hơi. Trước đó, Musk và Kimbal đã đổi chiếc BMW xơ xác của họ lấy một chiếc sedan xơ xác khác và phun sơn màu với những chấm bi lên đó. Kimbal nâng cấp lên một chiếc BMW 3 Series, còn Musk mua một chiếc Jaguar E-Type. “Nó cứ hỏng suốt, và bò đến văn phòng trên cái lốp bẹp,” Kimbal nhận xét. “Nhưng Elon chỉ nghĩ đến những thứ to tát [7].” 
Trong một hoạt động tập thể vào cuối tuần, Musk, Ambras cùng vài nhân viên và bạn bè đã lượn xe đạp qua đường mòn Saratoga Gap và dãy núi Santa Cruz. Hầu hết những người tham gia đều đã qua luyện tập và quen với các buổi đạp xe khắc nghiệt dưới cái nóng mùa hè. Họ bắt đầu chinh phục dãy núi với một tốc độ điên cuồng. Sau khoảng một giờ, Russ Rive, em họ Musk, đã lên đến đỉnh và bắt đầu nôn ọe. Ngay phía sau anh là những thành viên còn lại trong đoàn. Rồi sau đó 15 phút, cả nhóm mới thấy Musk lộ diện. Mặt anh chuyển màu tím tái, còn mồ hôi tuôn ra như tắm, nhưng anh vẫn cố gắng lên được đến đỉnh. “Tôi luôn nhớ về buổi đạp xe đó. Anh ấy thậm chí còn chưa đủ điều kiện cần thiết để tham gia,” Ambras cho biết. “Người khác sẽ bỏ cuộc hoặc dắt bộ. Khi tôi chứng kiến anh ấy cố leo 30 mét cuối với vẻ mặt cực kỳ khổ sở, tôi đã nghĩ. Thế mới là Elon. Thành công hoặc chết chứ không từ bỏ.”
Musk vẫn tiếp tục là quả bóng năng lượng lăn khắp văn phòng. Trước các chuyến ghé thăm của các chủ đầu tư mạo hiểm và những chủ đầu tư khác, Musk sẽ tập hợp đội ngũ và chỉ thị tất cả họ dùng điện thoại để tạo không khí rì rầm. Anh cũng lập một nhóm chơi game điện tử để tham gia các cuộc thi đấu Quake — game bắn súng góc-nhìn-thứ-nhất. “Chúng tôi thi đấu tại một trong những giải game toàn quốc đầu tiên,” Musk cho biết. “Chúng tôi đã đoạt giải nhì, và đáng ra đã đoạt giải nhất, nhưng chiếc máy của một trong các đấu thủ hàng đầu của đội tôi đã hỏng vì anh ấy lắp thẻ đồ họa quá mạnh tay. Chúng tôi thắng được vài nghìn đô-la.”
Zip2 đã có những thành công đáng kể khi tranh thủ sự ủng hộ của các báo. The New York Times, Knight Ridder, Hearst Corporation và nhiều đơn vị truyền thông khác đã đăng ký dịch vụ của họ. Một số trong các công ty này còn đóng góp thêm 50 triệu đô-la vào vốn của Zip2. Các dịch vụ như Craigslist với thông tin phần loại trực tuyến miễn phí vừa manh nha xuất hiện, và báo giới cần phải hành động. “Các tờ báo hiểu rằng họ đang gặp rắc rối với Internet, và có ý định cho phép Internet gắn với báo chí càng nhiều càng tốt,” Ambras cho biết. “Họ muốn có thông tin được phân loại và danh bạ từ các công ty bất động sản, xe hơi, giải trí và có thể dùng chúng tôi như một nền tảng cho mọi dịch vụ trực tuyến như thế.” Zip2 đã tạo được dấu ấn thương mại nhờ khẩu hiệu “Chúng tôi mang đến sức mạnh cho báo chí,” và nguồn tiền mặt-đổ vào tiếp tục giúp Zip2 tăng trưởng nhanh chóng. Trụ sở công ty cũng sớm trở nên chật chội, đến mức một bàn làm việc phải đặt ngay trước nhà vệ sinh nữ. Đến năm 1997, Zip2 chuyển đến trụ sở mới khang trang và rộng rãi hơn ở số 444 đường Castro, khu Mountain View.
Musk phát bực khi Zip2 trở thành kẻ đứng sau hậu trường làm nên thành công của các tờ báo. Anh tin công ty mình có thể trực tiếp cung cấp những dịch vụ đáng quan tâm cho người tiêu dùng, và khuyến khích mua một tên miền có đuôi city.com với hy vọng biến nó thành một điểm đến tiêu dùng. Thế nhưng, sức cám dỗ của nguồn tiền đến từ các hãng truyền thông đã khiến Sorkin và ban quản trị níu giữ đường lối bảo thủ, và họ quyết định sẽ quan tâm sau đến lực đẩy từ người tiêu dùng.
Tháng Tư năm 1998, Zip2 đã tuyên bố một bước đi to tát nhằm đặt cược gấp đôi vào chiến lược của họ. Nó sẽ sáp nhập với đối thủ chính CitySearch trong một thỏa thuận trị giá khoảng 300 triệu đô-la. Công ty mới sẽ giữ tên CitySearch, trong khi Sorkin đảm trách phi vụ mạo hiểm này. Trên giấy tờ, liên minh mới này trông rất giống một cuộc sáp nhập giữa hai thế lực ngang hàng. CitySearch đã xây dựng một bộ danh bạ mở rộng cho nhiều thành phố trên khắp cả nước. Nó cũng sở hữu đội bán hàng và marketing mạnh, có thể bổ sung cho nhóm kỹ sư tài ba tại Zip2. Vụ sáp nhập được công bố trên khắp các báo và có vẻ như là chuyện đã rồi.
Có rất nhiều ý kiến khác nhau xung quanh sự kiện xảy ra tiếp theo. Trong tình hình đó, công tác hậu cần đòi hỏi cả hai công ty phải xem xét lại sổ sách và tìm ra những nhân viên buộc phải sa thải để tránh trùng lặp vai trò. Tiến trình này dấy lên nhiều câu hỏi rằng bộ phận tài chính trung thực của CitySearch sẽ ra sao, cũng như khiến một số giám đốc tại Zip2 phải lo ngay ngáy, vì họ thấy vị tri của mình đang mờ mịt hoặc sắp bị xóa bỏ hoàn toàn tại công ty mới. Một nhóm nhỏ trong Zip2 tranh luận rằng họ phải từ bỏ thỏa thuận này, trong khi Sorkin yêu cầu phải thông qua nó. Musk, người ban đầu ủng hộ thỏa thuận, cũng quay sang phản đối nó. Tháng Năm năm 1998, hai công ty đã xóa bỏ thương vụ sáp nhập khiến báo chí khốn đốn, gây nên sự hỗn loạn từ một thương vụ lớn bị đổ vỡ. Musk thúc giục hội đồng quản trị Zip2 tống khứ Sorkin và bổ nhiệm anh làm CEO trở lại. Nhưng hội đồng quản trị từ chối. Thay vào đó, anh mất ghế chủ tịch, còn Sorkin bị thay thế bởi Derek Proudian, một nhà đầu tư mạo hiểm bên cạnh Mohr Davidow. Sorkin đánh giá hành vi của Musk trong suốt vụ việc này là rất tệ, và sau đó khẳng định cách phản ứng của hội đồng quản trị và việc Musk bị giáng chức là bằng chứng cho thấy họ cũng cảm thấy như vậy. “Có nhiều phản ứng dữ dội và đổ lỗi,” Proudian cho biết. “Elon muốn làm CEO, nhưng tôi nói, ‘Đây là công ty đầu tiên của anh. Hãy tìm người mua lại nó và nhận tiền, rồi anh có thể làm CEO tại công ty thứ hai, thứ ba hay thứ tư của mình.’”
Do thỏa thuận đổ vỡ, Zip2 nhận ra nó đang trong tình thế khó khăn. Nguồn tiền đang mất. Musk vẫn muốn đi theo hướng tiêu dùng, nhưng Proudian sợ rằng hướng đi đó sẻ tốn quá nhiều vốn. Microsoft vừa nâng số vốn đầu tư vào cùng thị trường đó, và số các công ty khởi nghiệp với ý tưởng về tra cứu bản đồ, bất động sản và xe hơi cũng nhân lên gấp bội. Các kỹ sư của Zip2 mất tinh thần và lo rằng họ không thể thắng nổi đối thủ cạnh tranh. Rồi đến tháng Hai năm 1999, nhà sản xuất máy tính Compaq Computer bất ngờ đề nghị trả 307 triệu đô-la để mua lại Zip2. “Cứ như tiền trên trời rơi xuống vậy,” Ed Ho, cựu giám đốc của Zip2, nhớ lại. Hội đồng quản trị Zip2 đã chấp nhận lời đề nghị, thế là công ty thuê trọn gói một nhà hàng tại Palo Alto và tổ chức một buổi tiệc hoành tráng. Mohr Davidow lãi đến 20 lần từ số tiền đầu tư ban đầu của họ, còn Musk và Kimbal ra đi với lần lượt 22 triệu đô-la và 15 triệu đô-la. Musk chưa bao giờ thích ý tưởng gắn bó với Compaq. “Ngay khi biết rõ công ty sẽ bị bán, Elon đã lập tức lao vào dự án mới,” Proudian chia sẻ. Kể từ đó, Musk luôn đấu tranh để giữ vững quyền kiểm soát và chức vị CEO. “Chúng tôi bị áp đão và cứ nghĩ rằng những gã này nhất định phải biết họ đang làm gì,” Kimbal chia sẻ. “Nhưng họ không biết. Mọi viễn cảnh đều biến mất khi họ lên nắm quyền. Họ là chủ đầu tư, và chúng tôi phát triển cùng với họ, nhưng tầm nhìn của công ty đã biến mất.”
Nhiều năm sau, sau khi có thời gian suy ngẫm về tình trạng tại Zip2, Musk nhận ra đáng lẽ anh đã có thể xử lý một số tình huống với nhân viên tốt hơn. “Tôi thực tình chưa bao giờ điều hành một kiểu đội ngũ nào trước đây,” Musk thú nhận. “Tôi chưa bao giờ làm đội trưởng khi chơi thể thao hay bất kỳ hoạt động nào khác, hoặc quản lý dù chỉ một người. Tôi buộc phải suy nghĩ: Thôi được, vậy đâu là điều ảnh hưởng tới cách hoạt động của đội ngũ? Đầu tiên, rõ ràng bạn tưởng rằng người khác phải hành động giống như bạn. Nhưng không phải thế. Ngay cả khi họ muốn hành động giống như bạn, họ cũng không nhất thiết phải có cùng những giả định hay thông tin mà bạn đang nghĩ trong đầu. Thế nên, nếu tôi biết về  một điều nhất định, và trao đổi với bản sao của chính tôi nhưng chỉ truyền đạt một nửa thông tin, thì tôi không thể kỳ vọng bản sao đó cũng đưa ra cùng kết luận như tôi. Bạn phải tự đặt mình vào vị trí của người khác bằng cách tự hỏi, ‘Ừm, họ sẽ cảm thấy thế nào về  điều này dựa trên những gì họ biết?’
Các nhân viên của Zip2 về nhà mỗi tối, khi quay lại thì nhận thấy Musk đã thay đổi những việc họ làm mà không báo trước; và tác phong hay đối đầu của Musk cũng gây hại thay vì có lợi. “Đúng thế, chúng tôi sở hữu các kỹ sư phần mềm rất giỏi tại Zip2, nhưng tôi muốn nói rằng tôi có thể viết mã tốt hơn họ. Và tôi chỉ vào sửa lại mấy dòng mã chết tiệt của họ thôi,” Musk nói. “Tôi phải chờ đợi thành quả của họ trong tuyệt vọng, thế nên tôi đành sửa lại mã của họ và giờ thỉ nó chạy nhanh hơn gấp năm lần, lũ đần. Có một gã viết một phương trình cơ học lượng tử — hay xác suất lượng tử — lên bảng, và viết sai. Thế là tôi nói, ‘Sao cậu lại viết như thế?’ Rồi tôi chỉnh lại giúp gã. Kể từ đó gã đâm ghét tôi. Cuối cùng, tôi nhận ra, okay, mình có thể đã sửa được phương trình đó nhưng giờ mình lại tạo ra một kẻ làm việc kém năng suất. Đó không phải cách xử lý vấn đề tốt.”
Là người phấn đấu làm nên chuyện trong ngành công nghiệp dot-com, Musk hội đủ cả may mắn lẫn tài năng. Anh có một ý tưởng hay, biến nó thành một dịch vụ đích thực và đã thoát ra khỏi khối hỗn mang dot-com với tiền rủng rỉnh trong túi; nói cách khác, anh đã làm tốt hơn những gì mọi người vẫn nói. Đó là một quá trình khó nhọc. Musk khát khao được trở thành lãnh đạo, nhưng những người xung quanh anh lại cố chống mắt xem một CEO như Musk có thể điều hành thế nào. Song đối với Musk, họ đều sai, và anh đã tìm cách chứng minh cho quan điểm của mình bằng những kết quả thậm chí còn ngoạn mục hơn.

 
Chú thích:
[6]. Về điểm này, anh em nhà Musk vẫn chưa phải là những doanh nhân quái kiệt nhất. “Trong kế hoạch kinh doanh, tôi nhớ ban đầu họ chỉ yêu cầu số tiền đầu tư 10 nghìn đô-la cho 25% cổ phần,” Steve Jurvetson, một nhà đầu tư mạo hiểm cho biết. “Như thế quá rẻ mạt! Nên khi biết tin về khoản đầu tư 3 triệu đô-la, tôi tự hỏi liệu Mohr Davidow đã thực sự đọc qua kế hoạch kinh doanh chưa. Chẳng hiểu sao anh em nhà họ cuối cùng lại nâng mức dẫu tư dự án bình thường lên.”
[7] Musk cũng khoe văn phòng mới với bà Maye mẹ anh và Justine. Maye đôi lúc cũng tham gia các cuộc họp và nêu ý tưởng thêm nút ‘‘hướng ngyoc75 lại’’ cho các bản đồ Zip2 nhằm giúp ngyuoi72 dùng đổi ngyuo75c hành trình, ý tưởng này sau cùng đã trở thành chức năng phổ biến trong mọi dịch vụ tra cứu bản đồ.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
5. ÔNG TRÙM PAYPAL  
 
 
Thương vụ bán lại Zip2 đã truyền cho Musk một sự tự tin mới. Giống như các nhân vật game điện tử anh hằng ngưỡng mộ, Musk đã “lên cấp”. Anh đã tìm ra lời giải cho Thung lũng Slicon và trở thành một nhân vật mà ai ai cũng muốn trở thành vào thời đó - một triệu phú dot-com. Dự án mạo hiểm tiếp theo của anh phải thỏa mãn được tham vọng đang ngày càng lên cao. Điều đó thôi thúc Musk tìm kiếm một ngành công nghiệp với hàng tấn tiền nhưng thiếu hiệu quả để anh và mạng Internet có thể khai thác. Musk bắt đầu nhớ lại khoảng thời gian anh còn là thực tập sinh tại Ngân hàng Nova Scotia. Điều quan trọng anh rút ra được từ công việc đó, rằng các chủ ngân hàng đều là những kẻ lắm tiền nhưng xuẩn ngốc, giờ đây đã đưa đến cảm giác về một cơ hội lớn.
Đầu thập niên 1990, trong khoảng thời gian làm việc cho giám đốc chiến lược của ngân hàng này, Musk từng được yêu cầu xem xét danh mục nợ của công ty tại các nước thế giới thứ ba. Khối tiền này được đặt dưới cái tên chán nản: “Nợ của các nước kém phát triển”, và Ngân hàng Nova Scotia đang kẹt hàng 
tỉ đô-la trong đó. Các quốc gia khắp Nam Mỹ và nhiều khu vực khác đã vỡ nợ từ nhiều năm trước, buộc ngân hàng phải giảm bớt giá trị các khoản nợ. Sếp của Musk muốn anh đào sâu vào các khoản nợ mà công ty đang nắm giữ như một thử nghiệm để học hỏi và cố gắng xác định xem giá trị thực tế của khoản nợ là bao nhiêu.
Trong khi theo đuổi dự án trên, Musk đã tình cờ bắt gặp một cơ hội kinh doanh khá rõ ràng. Mỹ đang cố gắng giúp một số quốc gia đang phát triển giảm bớt gánh nặng nợ nần thông qua cái gọi là trái phiếu Brady, theo đó chính phủ Mỹ sẽ hỗ trợ các khoản nợ ở những nước như Brazil và Argentina. Musk đã nhận ra nó là một trò buôn chứng khoán. “Tôi tính toán giá trị hỗ trợ, và nó rơi vào khoảng 50 xu trên mỗi đô-la, trong khi khoản nợ thực tế đang được giao dịch ở mức giá 25 xu,” Musk cho biết. “Có vẻ đây là cơ hội lớn nhất từ trước đến nay, và dường như chưa ai nhận ra điều đó.” Musk cố gắng trấn tĩnh và bình thản khi anh gọi điện cho Goldman Sachs, một trong những nhà giao dịch chính trên thị trường này, và thăm dò xung quanh điều anh vừa nhận thấy. Anh hỏi thăm xem có thể mua được bao nhiêu tiền nợ ở Brazil với giá 25 xu. “Ông ấy bảo, ‘Cậu muốn bao nhiêu?’ và tôi đưa ra con số khá vô lý là 10 tỉ đô-la,” Musk nhớ lại. Khi nhà giao dịch khẳng định rằng có thể lo được, Musk liền gác máy. “Chết tiệt, tôi nghĩ họ hẳn đã phát điên rồi, vì bạn có thể kiếm được gấp đôi số tiền mua vào. Chú Sam đứng sau mọi thứ. Không cần động não.”
Musk đã làm cả mùa hè để nhận số tiền lương khoảng 14 đô-la/giờ và bị mắng vì dám dùng máy pha cà phê cao cấp cùng nhiều vi phạm khác, nhưng anh nhận ra đã đến thời khắc mình tỏa sáng và giành lấy một khoản thưởng lớn. Anh lao vào văn phòng giám đốc và đề nghị với ông một cơ hội cả đời. “Ông có thể thu về hàng tỉ đô-la mà chẳng mất gì cả,” anh nói. Sếp của Musk yêu cầu anh viết một báo cáo và nó nhanh chóng được chuyển tới CEO của ngân hàng; nhưng ông này lập tức bác bỏ vì cho rằng ngân hàng từng chuốc họa vì nợ nần ở Brazil và Argentina trước đây, nên ông không muốn dính dáng đến nữa. “Tôi cố thuyết phục họ rằng đó không phải vấn đề,” Musk cho biết. “Vấn đế là thứ chết tiệt đó được chú Sam chống lưng. Các nước Nam Mỹ làm gì không quan trọng. Bạn không thể thua lỗ trừ khi bạn cho rằng ngân khố Hoa Kỳ sắp vỡ nợ đến nơi. Nhưng họ vẫn không thông qua, và tôi đã bị choáng. Sau này trong đời, khi đấu tranh chống lại các ngân hàng, tôi lại nhớ về  khoảnh khắc này và nó đã cho tôi sự tự tin. Chủ ngân hàng nào cũng chỉ bắt chước điều mọi người khác đã làm. Nếu những người khác đua nhau nhảy xuống một vực thẳm đẫm máu, họ sẽ lập tức nhảy xuống cùng những người đó. Nếu có một đống vàng khổng lổ ở giữa phòng nhưng chẳng ai nhặt nó lên, họ cũng sẽ không nhặt.”
Những năm sau đó, Musk đã cân nhắc đến việc thành lập một ngân hàng trực tuyến và thảo luận công khai về ý tưởng này trong chuyến thực tập tại Viện Nghiên cứu Pinnacle năm 1995. Chàng trai trẻ Musk đã diễn thuyết trước các nhà khoa học về sự chuyển giao không thể tránh khỏi — chuyển sang các hệ thống trực tuyến - trong ngành tài chính, nhưng họ lại cố át lời anh, khi cho rằng khả năng bảo mật trên Web còn lâu mới đủ an toàn để chiếm được lòng tin của người tiêu dùng. Song, Musk vẫn tiếp tục thuyết phục họ rằng ngành tài chính có thể tiến hành một bước nâng cấp quan trọng, và anh có thể tạo ảnh hưởng lớn đến ngành ngân hàng với một khoản đầu tư tương đối nhỏ. “Tiền bạc là một dải băng thông chậm,” anh đã diễn tả suy nghĩ của mình như thế trong bài phát biểu tại Đại học Stanford năm 2003. “Các bạn không cần cải thiện cơ sở hạ tầng quá nhiều vì nó. Thực ra nó chỉ là cổng nhập trong một cơ sở dữ liệu.”
Kế hoạch thực sự mà Musk vạch ra còn hơn cả vĩ đại. Như các nhà nghiên cứu tại Pinnacle đã chỉ ra, mọi người ít khi cảm thấy thoải mái khi mua sách trực tuyến. Họ có thể thử vận may với con số trên thẻ tín dụng, nhưng ít ai dám nghĩ đến chuyện công khai tài khoản ngân hàng trên Web. Chà. Vậy thế nào đây? Musk muốn thành lập một tổ chức tài chính trực tuyến với đầy đủ dịch vụ: Một công ty có đủ từ tài khoản tiết kiệm, tài khoản séc cho đến các dịch vụ môi giới và bảo hiểm. Công nghệ có thể tạo dựng nên một dịch vụ như thế, nhưng việc thông qua các quy định cho phép thành lập một ngân hàng trực tuyến dường như là vấn để nan giải đối với những kẻ lạc quan nhất, và là điều bất khả thi đối với những ai biết nghĩ. Đó không còn là chuyện tung ra một mớ chỉ dẫn đến tiệm pizza hay đăng lên một danh bạ nhà đất. Đó là giao dịch với tài chính của mọi người dân, và sẽ gây ra những hậu quả thực nếu dịch vụ không hiệu quả như quảng cáo.
Không nản lòng, Musk đã bắt tay tiến hành kế hoạch mới này trước cả khi Zip2 được bán. Anh trao đổi với một số kỹ sư xuất sắc nhất công ty để tạo cảm hứng cho những ai sẵn sàng tham gia cùng anh trong một chuyến mạo hiểm khác. Musk cũng khoe ý tưởng của anh với vài nhân vật anh đã tiếp xúc hồi còn làm trong ngân hàng ở Canada. Tháng Một năm 1999, khi hội đồng quản trị Zip2 còn đang tìm kiếm người mua lại, Musk đã bắt đầu chính thức hóa kế hoạch ngân hàng của anh. Thỏa thuận với Compaq được công bố ngay tháng tiếp theo. Và đến tháng Ba, Musk thành lập X.com, một công ty tài chính khởi nghiệp có cái tên nghe khá khiêu dâm.
Musk chỉ mất chưa đến một thập niên để từ một khách du lịch ba-lô người Canada trở thành một triệu triệu phú ở tuổi 27. Với 22 triệu đô-la, anh đã chuyển ra khỏi căn hộ sống chung với ba người bạn cùng phòng và mua một căn hộ rộng 167m² rồi nâng cấp nó. Anh còn sắm một chiếc xe hơi thể thao McLaren Công thức 1 (F1) trị giá 1 triệu đô-la, cùng một chiếc máy bay phản lực cánh quạt loại nhỏ và học bay. Musk tận dụng ngay danh tiếng mới giành được với tư cách một thành viên trong dàn triệu phú dot-com. Anh cho phép đài CNN đến căn hộ của mình lúc 7 giờ sáng để quay cảnh chiếc xe hơi được giao đến. Một cỗ xe 18 bánh đen xì đỗ xịch trước cơ ngơi của Musk, rồi hạ dần một chiếc xế hộp màu bạc bóng loáng xuống mặt đường, trong khi Musk đứng há miệng nhìn, tay khoanh trước ngực. “Chỉ có 62 chiếc McLaren trên thế giới, và tôi sẽ sở hữu một trong số chúng,” anh nói với CNN. “Ôi chao, tôi không thể tin nó đã thực sự ở đây. Thật điên rồ.”
CNN đã phát xen kẽ cảnh giao xe với các cuộc phỏng vấn Musk. Lúc nào trông anh cũng như bức biếm họa về một kỹ sư thành đạt. Tóc Musk đã bắt đầu thưa dần, và mái tóc cắt ngắn lại càng làm nổi bật thêm khuôn mặt trẻ con của anh. Anh mặc một chiếc áo khoác thể thao màu nâu to quá khổ và kiểm tra điện thoại di động từ chiếc xe lắm tiền của mình, ngồi cạnh là cô bạn gái Justine lộng lẫy, và anh tỏ ra như bị mê hoặc bởi cuộc sống của mình. Musk cứ thốt ra hết lời nực cười này đến lời nực cười khác của giới trưởng giả, mở đầu bằng thương vụ Zip2 - “Nhận tiền mặt liền tay. Ý tôi là một con số lớn của những Ben Franklin [1]” - rồi đến cuộc sống trong mơ của anh - “Nó đây, thưa quý ngài, chiếc xe hơi nhanh nhất thế giới” - cùng một tham vọng to tát — “Tôi sẽ mua một hòn đảo tại Bahamas và biến nó thành thái ấp cho riêng mình, còn hiện giờ tôi khá hứng thú với việc cố gắng xây dựng và thành lập một công ty mới.” Nhóm quay phim theo chân Musk đến văn phòng X.com,  lối nói chuyện kiêu ngạo của anh đạt đến một tầm vóc mới với những tuyên bố đáng xấu hổ: “Tôi không hợp với hình ảnh một chủ ngân hàng,” “50 triệu đô-la chỉ là vấn đề của một loạt cú điện thoại, và thế là có tiền,” “Tôi tin X.com nhất định sẽ trở thành một doanh nghiệp nhiều tỉ đô-la phồn thịnh.”
Musk đã mua chiếc McLaren từ một người bán tại Florida, chộp lấy nó ngay trước mũi Ralph Lauren [2], người cũng hỏi mua nó. Ngay đến những đại gia như Lauren cũng muốn để dành một vật báu như chiếc McLaren cho những sự kiện đặc biệt hoặc một chuyến đi tùy hứng ngày Chủ nhật. Musk thì không. Anh lái nó vòng quanh Thung lũng Silicon và đỗ nó trên con đường cạnh văn phòng X.com. Bạn bè anh thất kinh khi chứng kiến một tác phẩm tuyệt mỹ như thế ngập dưới phân chim hoặc bị vùi trong bãi đỗ đầy xe của siêu thị Safeway. Một ngày nọ, Musk gửi e-mail cho một chủ xe McLaren khác — Larry Ellison, tỉ phú đồng sáng lập hãng sản xuất phần mềm Oracle - để bất ngờ hỏi liệu Ellison có muốn đua với anh một vòng cho vui hay không. Jim Clark, một tỉ phú đam mê tốc độ khác, nghe phong thanh được lời đề nghị trên và bảo một người bạn rằng ông phải lao ngay đến đại lý Ferrari gần đó để sắm một cái gi đó có thể so tài. Musk đã gia nhập câu lạc bộ của những ông trùm. “Elon vô cùng phấn khích trước mọi điều đó,” George Zachary, nhà đầu tư mạo hiểm và là bạn thân của Musk, cho biết. “Anh ấy cho tôi xem thư từ với Larry.” Năm sau, khi đang lái xe trên đường Sand Hill để đến gặp một nhà đầu tư, Musk chợt quay sang người bạn đi cùng và nói, “Xem này.” Anh đánh lái, đổi làn, mất kiểm soát, rồi đâm sầm vào bờ kè đường, khiến chiếc xe xoay vòng trên không trung như một chiếc đĩa bị ném. Cửa sổ và bánh xe vỡ tan thành từng mảnh vụn, còn vỏ xe thì bị hư hỏng nặng. Musk lại quay sang anh bạn đồng hành và nói: “Điều buồn cười là nó vẫn chưa được bảo hiểm.” Sau đó, hai người vẫy xe đi nhờ đến văn phòng của nhà đầu tư mạo hiểm.
 
 
Chú thích :
[1] Benjamin Franklin (1706 – 1790) một trong những nhà khai quốc của Mỹ, chân dung ông được in trên đồng tiền mệnh giá 100 đô la.
[2] Ralph lauren (1939) tỉ phú thời trang người Do Thái sinh trưởng tại Mỹ. Ông sở hữu tập đoàn tỉ đô Ralph Lauren cùng bộ sưu tập xe hơi cực lớn và quý hiếm.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.04.2023 17:20:28 bởi Thanh Vân>
Với uy tín của mình, Musk không hoàn toàn bị cuốn vào thứ tính cách dân chơi này. Thực tế, anh đã tái đầu tư số tiền kiếm được từ Zip2 vào X.com. Quyết định này xuất phát từ nguyên nhân thực tiễn. Các nhà đầu tư sẽ lách được thuế, nếu họ thu được lợi nhuận trời cho từ một dự án đầu tư mới trong vòng vài tháng. Nhưng dù xét theo chuẩn rủi ro cao của Thung lũng Silicon, thì việc đổ hết số tài sản vừa kiếm được vào một lĩnh vực bấp bênh như ngân hàng trực tuyến vẫn gây sốc. Tất cả đều nói, việc Musk đầu tư khoảng 12 triệu đô-la vào X.com sẽ mang lại cho anh 4 triệu đô-la sau thuế, hoặc chỉ đủ để chi tiêu cá nhân. “Đó chính là điểm phân biệt giữa Elon với người bình thường,” Ed Ho, cựu giám đốc tại Zip2 và đồng sáng lập X.com, cho biết. “Anh ấy sẵn sàng tự mình gánh lấy những rủi ro điên rồ. Nếu tiến hành một thương vụ như thế, hoặc lên đến đỉnh cao hoặc kết thúc ở một nhà chờ xe buýt trơ trọi đâu đó.”
Ngẫm lại, quyết định đầu tư một khoản tiền lớn vào X.com của Musk thậm chí còn hơn cả sự bất thường. Đa phần, mỗi thành công thời dot-com năm 1999 là một lần chứng tỏ bản thân, cất giấu hàng triệu đô-la và sau đó lợi dụng thành tích ấy để thuyết phục người khác đặt cược tiền của họ vào dự án mạo hiểm tiếp theo của mình. Musk hẳn nhiên vẫn dựa vào các nhà đầu tư bên ngoài, nhưng anh cũng đích thân dấn sâu vào cuộc chơi. Thế nên, mặc dù bạn có thể bắt gặp anh nói chuyện trên truyền hình như những kẻ đáng khinh chỉ biết đến mình của thời dot-com, nhưng anh lại hành xử như một kẻ thoái lui của Thung lũng Silicon những ngày đầu, khi mà các nhà sáng lập các công ty như Intel đang sẵn sàng lao mình vào những canh bạc lớn.
Trong khi Zip2 trở thành một ý tưởng sắc sảo và hữu ích, thì X.com lại hứa hẹn châm ngòi cho một cuộc cách mạng trọng đại. Lần đầu tiên, Musk sẽ đối đầu trực diện với một ngành công nghiệp nhiều tiền của nhưng khó thay đổi, và mang theo hy vọng thay đổi tất cả những kẻ đang gánh vác nó. Musk cũng bắt đầu mài sắc thứ phong thái đã trở thành thương hiệu của anh, đó là gia nhập một ngành kinh doanh siêu phức tạp nhưng không hề băn khoăn trước thực tế rằng mình hiểu biết rất ít về những sắc thái trong ngành. Anh ngờ rằng các chủ ngân hàng đều đang phạm sai lầm trong hoạt động tài chính, và anh có thể lèo lái ngành kinh doanh này tốt hơn bất kỳ ai khác. Bản ngã và sự tự tin của Musk đã bắt đầu lên cao đến mức anh có thể truyền cảm hứng cho một số người, đồng thời khiến những người khác nghĩ anh chỉ khoa trương và vô nguyên tắc. Cuối cùng, việc thành lập X.com đã tiết lộ rất nhiều về trí sáng tạo, nỗ lực không mệt mỏi, tác phong đối đầu cùng những điểm yếu trong cách lãnh đạo của Musk. Musk còn phải nếm cảnh bị gạt ra ngoài rìa công ty của chính anh, cũng như nỗi đau gắn liền với một viễn cảnh dở dang.
Musk đã tập hợp một đội hình tưởng như toàn sao để thành lập X.com. Họ làm việc tại SGI và Zip2 trong vai trò một kỹ sư, và khiến các đồng nghiệp hết sức kinh ngạc trước khả năng viết mã và quản lý nhóm của mình. Sau đó, một cặp đôi người Canada - Harris Fricker và Christopher Payne - đến gia nhập. Musk đã từng gặp Fricker trong thời gian anh thực tập tại Ngân hàng Nova Scotia, và cả hai thực sự tâm đầu ý hợp. Là một học giả đến từ đảo Rhodes, Fricker đã mang đến kiến thức về cơ chế của giới ngân hàng mà X.com rất cần. Còn Payne là bạn của Fricker trong cộng đồng tài chính Canada. Cả bốn người đều được xem là đồng sáng lập của công ty, trong đó Musk nổi lên như cổ đông lớn nhất nhờ khoản đầu tư trực tiếp cực khủng. Như nhiều công ty khác tại Thung lũng Silicon, X.com cũng khởi đầu trong một căn nhà, nơi các đồng sáng lập cùng nhau động não, rồi chuyển đến văn phòng tốt hơn tại số 394 Đại lộ University, Palo Alto.
Các nhà đồng sáng lập thản nhiên ủng hộ triết lý rằng ngành ngân hàng đã tụt hậu so với thời đại. Việc cất công đến một chi nhánh ngân hàng chỉ để trò chuyện với giao dịch viên giờ đây dường như đã quá xưa, khi Internet đã xuất hiện. Lối so sánh hoa mỹ đó nghe thật hay, và cả bốn người đều thích thú. Thứ duy nhất ngăn cản họ chính là thực tế. Musk chỉ có chút kinh nghiệm trong ngành ngân hàng và phải tính đến cách mua một quyển sách về ngành này để giúp anh hiểu hơn về cơ chế vận hành nội bộ. Càng suy nghĩ về kế hoạch tấn công của họ bao nhiêu, các nhà đồng sáng lập lại càng nhận ra các vấn đế quản lý đang ngăn cản sự thành lập ngân hàng trực tuyến khó khắc phục bấy nhiêu. “Bốn, năm tháng đã trôi qua, những lớp hành cứ được bóc mãi,” Ho cho biết [3].
Ngay từ đầu, tính cách của họ đã va chạm với nhau. Musk vừa trở thành một siêu sao mới nổi của Thung lũng Silicon và được báo chí xu nịnh. Điều này làm phật lòng Fricker, người đã chuyển đến đây từ Canada và nắm chặt lấy X.com làm cơ hội của mình nhằm ghi dấu với thế giới như một sự đánh thức ngành ngân hàng. Theo lời nhiều người, Fricker muốn điều hành X.com và điều hành theo cách thông thường. Anh nhận ra những tuyên bố hão huyền của Musk với cánh báo chí — rằng nên suy nghĩ lại về toàn bộ ngành ngân hàng - đều là ngớ ngẩn, vì công ty đang phải vật lộn với việc xây dựng hầu như mọi thứ. “Chúng tôi là Mặt Trời, Mặt Trăng và những ngôi sao đầy hứa hẹn trong mắt truyền thông,” Fricker nói. “Elon bảo rằng đây không phải môi trường kinh doanh bình thường, và bạn phải hoài nghi lối tư duy kinh doanh binh thường. Anh ấy nói, ‘Có một nhà máy tạo khí-ga-vui-vẻ nằm trên đồi, và nó đang bơm đầy ga xuống Thung lũng.’ Fricker không phải là người cuối cùng buộc tội Musk quảng cáo thái quá về sản phẩm và đùa giỡn với công chúng, mặc dù người ta vẫn tranh cãi phải chăng đây là thiếu sót, hay thực sự là một trong những khả năng xuất sắc của Musk trên tư cách một doanh nhân.
 Vụ ầm ĩ giữa Fricker và Musk đã kết thúc nhanh chóng và bê bối. Chỉ năm tháng sau khi X.com thành lập, Fricker đã khởi xướng một cuộc đảo chính. ‘Anh ta bảo hoặc anh ta giữ chức CEO, hoặc anh ta sẽ kéo mọi người rời công ty và lập ra một công ty khác của riêng mình,” Musk cho biết. “Tôi không giỏi đối phó khi bị đe dọa. Tôi bảo, ‘Anh cứ làm thế đi.’ Thế là anh ta làm thật.” Musk cố gắng thuyết phục Ho và một số kỹ sư nòng cốt khác ở lại, nhưng họ vẫn đứng về phía Fricker và bỏ đi. Cuối cùng, Musk chỉ giữ được lớp vỏ ngoài của công ty cùng một nhóm nhỏ nhân viên trung thành. “Sau khi mọi chuyện lắng xuống, tôi nhớ mình đã ngồi cùng Musk trong văn phòng của anh ấy,” Julie Ankenbrandt, một nhân viên đời đầu của X.com quyết định ở lại, cho biết. “Có cả triệu điều luật cản trở một công ty như X.com ra đời, nhưng Elon không quan tâm. Anh ấy chỉ nhìn tôi và nói, ‘Tôi nghĩ chúng ta nên tuyển thêm người [4].’”
Musk đã cố gắng huy động vốn cho X.com và buộc phải tìm đến các nhà đầu tư mạo hiểm, thú nhận rằng công ty chẳng còn lại gì nhiều. Mặc dù vậy, Mike Moritz, một nhà đầu tư danh tiếng từ Sequoia Capital, vẫn quyết định hậu thuẫn cho công ty, đặt cược vào Musk và hỗ trợ thêm chút ít. Musk lại khuấy động đường phố Thung lũng Silicon một lần nữa và thu hút được nhiều kỹ sư nhờ những phát biểu nhiệt tình về  tương lai của ngân hàng trực tuyến. Scott Anderson, một khoa học gia máy tính trẻ tuổi, đã gia nhập công ty vào ngày 1 tháng Tám năm 1999 — chỉ vài ngày sau cuộc di tản nhân viên - và lập tức tin vào viễn cảnh Musk vẽ nên. “Khi nhìn lại, tôi thấy nó hoàn toàn điên rồ,” Anderson thú nhận. “Những gì chúng tôi có chẳng khác nào một bộ phim Hollywood về một trang web. Nó chỉ vừa đủ thuyết phục các nhà đầu tư mạo hiểm thông qua.”
Hằng tuần lại có thêm nhiều kỹ sư mới gia nhập và viễn cảnh của Musk lại càng trở nên thực tế. Công ty tìm cách lấy giấy phép hoạt động ngân hàng, giấy phép quỹ tương hỗ và thành lập một hiệp hội với Barclays [5] . Đến tháng Mười một, nhóm lập trình nhỏ của X.com đã khai sinh một trong những ngân hàng trực tuyến hoàn chỉnh đầu tiên trên thế giới, với các tài khoản ngân hàng được FDIC (Federal Deposit Insurance Corporation - Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang) bảo hiểm cùng ba quỹ tương hỗ để các nhà đầu tư lựa chọn. Musk đã giao cho các kỹ sư 100 nghìn đô-la tiền riêng của anh để tiến hành các thử nghiệm. Vào đêm trước Lễ Tạ ơn năm 1999, X.com đã trở thành công ty cổ phần hóa. “Tôi ở lại đấy đến 2 giờ sáng,” Anderson cho biết. “Sau đó, tôi về nhà nấu bữa tối cho Lễ Tạ ơn.Ít giờ sau, Elon gọi tôi đến văn phòng để trấn an vài kỹ sư khác. Elon đã ở đấy suốt 48 giờ liên tục để đảm bảo mọi thứ diễn ra thông suốt.”
Chú thích:
[3]. Đã có thời điểm các nhà đồng sáng lập cho rằng cách giải quyết vấn đề đơn giản nhất chính là mua lại một ngân hàng và tân trang nó. Và khi không thực hiện được, họ đành tóm lấy một kiểm soát viên cao cấp từ Ngân hàng Mỹ, người đã giải thích cho họ, chi tiết đến mệt mỏi, về  tính phức tạp của việc tạo nguồn vay, chuyển tiền và bảo vệ tài khoản.
[4] Fricker bác lại chuyện anh muốn làm CEO, và bảo rằng chính những nhân viên khác đã động viên anh tiếm quyền vì Musk gặp khó khăn trong việc khởi động doanh nghiệp. Từng một thời là bạn thân, nhưng đến nay Frcker và Musk vẫn dửng dưng với nhau. ‘‘Elon có nguyên tắc đạo đức và danh dự riêng của anh ấy, và tham gia cuộc chơi theo cách cực khó’’. Fricker nhận xét. ‘‘Harris rất thông minh, nhưng tơi không nghĩ anh ta có trái tim cảm thông. Anh ta có khao khát chỉ huy thực sự mãnh liệt, và muốn đưa công ty theo những định hướng lố bịch.’’ Fricker đã có một sự nghiệp thành công trong vai trò CEO của GMP capital, một công ty dịch vụ tài chính Canada. Payne sáng lập một công ty cổ phần tư nhân tại Toronto.
[5] Một ngân hàng Anh chuyên điều hành dịch vụ tài chính trên toàn thế giới, được niêm yết tại London và thị trường chứng khoán New York. Barclays là nhà cung cấp dịch vụ tài chính lớn nhất toàn cầu với 3,7 nghìn tỉ đô la tài sản, và là ngân hàng lớn thứ hai của Anh cũng như thế giới dựa trên khố lượng tài sản
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Dưới định hướng của Musk, X.com đã kiểm nghiệm vài quan niệm cấp tiến trong ngành ngân hàng. Khách hàng sẽ nhận được 20 đô-la thẻ tiền mặt ngay khi đăng ký sử dụng dịch vụ, và 10 đô-la tiền mặt cho mỗi người họ giới thiệu. Musk đã loại bỏ các loại phí vụn vặt và tiền phạt thấu chi. Trong một thay đổi cập nhật hơn, X.com còn xây dựng một hệ thống thanh toán trực tiếp, theo đó khách hàng có thể gửi tiền cho người khác bằng cách nhập địa chỉ e-mail của họ lên trang web. Toàn bộ ý tưởng này đến từ việc khách hàng muốn thoát khỏi các ngân hàng trì trệ có hệ thống máy chủ phải mất nhiều ngày xử lý thanh toán, và tạo ra một kiểu tài khoản ngân hàng nhanh chóng, nơi bạn có thể chuyển tiền đi khắp nơi chỉ với vài cú nhấp chuột hay một e-mail. Đó quả là một ý tưởng cách mạng. Đã có hơn 200 nghìn người tin vào nó và đăng ký tài khoản trên X.com chỉ trong vài tháng đầu hoạt động.
Chẳng mấy chốc, X.com đã có một đối thủ đáng gờm. Hai chàng trẻ tuổi Max Levchin và Peter Thiel đã triển khai hệ thống thanh toán của mình tại một công ty khởi nghiệp tên Confinity. Thực ra, cặp đôi này đã thuê một văn phòng nhỏ - một kho để chổi được tô vẽ lại - từ chính X.com và đang cố gắng giúp những người sở hữu máy tính cầm tay Palm Pilot có thể trao đổi tiền thông qua các cổng hồng ngoại trên thiết bị. X.com và Confinity đã biến văn phòng nhỏ trên Đại lộ University trở thành cái nôi cuồng loạn của cuộc cách mạng tài chính Internet. “Đám thanh niên này làm việc rất chăm chỉ,” Ankenbrandt nhận xét. “Chỗ 
họ bốc mùi kinh khủng. Đến giờ tôi vẫn còn ngửi thấy nó - mùi pizza ăn dở, mùi cơ thể, mùi mồ hôi.”
Song, những câu pha trò giữa X.com với Confinity đã đột ngột chấm dứt. Các nhà sáng lập Confinity quyết định chuyển văn phòng xuống phố, và giống như X.com, họ cũng bắt đầu tập trung chú ý đến các phương thức thanh toán trên nền tảng Web và e-mail, với dịch vụ có tên gọi PayPal. Các công ty bị khóa chặt vào cuộc đua khốc liệt hòng sánh ngang với các tính năng của đối phương và thu hút thêm người dùng, vì đều biết rằng kẻ nào nhanh hơn, mạnh hơn sẽ chiến thắng. Họ đổ mười triệu đô-la vào quảng cáo, trong khi tiêu tốn hàng triệu đô-la khác nhằm chống lại tin tặc, những kẻ chộp ngay lấy các dịch vụ này và biến chúng thành sân chơi lừa đảo mới. “Nó hệt như trò vung tiền vào hộp đêm phiên bản Internet,” Jeremy Stoppelman, kỹ sư của X.com, người sau này đã thăng tiến thành CEO của Yelp, cho biết. “Bạn phải ném tiền đi càng nhanh càng tốt.”
Cuộc đua giành chiến thắng trong dịch vụ thanh toán trên Internet đã trao cho Musk cơ hội thể hiện khả năng suy nghĩ nhanh và nguyên tắc làm việc của anh. Anh liên tục nghĩ ra các kế hoạch nhằm đáp trả lại lợi thế mà PayPal đã tạo ra trên các trang web đấu giá như eBay. Anh tập hợp nhân viên tại X.com lại để triển khai các chiến thuật nhanh nhất như có thể, cũng như áp dụng các yêu cầu về thuật toán với tính năng cạnh tranh của chúng. “Anh ấy thực sự chẳng quan tâm đến gì nữa ngoài công việc,” Ankenbrandt nhận xét. “Tất cả chúng tôi đều làm việc 20 giờ mỗi ngày, còn anh ấy làm đến 23 giờ.”
Đến tháng Ba năm 2000, X.com và Confinity cuối cùng cũng quyết định ngừng cố gắng tiễn đối phương vào lãng quên:
Họ đã kết hợp lực lượng. Confinity dường như đang sở hữu thứ sản phẩm hot nhất tại PayPal, nhưng đang phải trả thưởng 100 nghìn đô-la/ngày cho khách hàng mới và không dự trữ đủ tiền mặt để duy trì. Trái lại, X.com vẫn còn dư tiền mặt dự trữ, nhưng lại có các sản phẩm ngân hàng phức tạp hơn. Các điều khoản sáp nhập đã được soạn thảo, và Musk trở thành cổ đông lớn nhất của công ty vừa được sáp nhập - với tên gọi X.com. Không lâu sau khi chốt xong thỏa thuận, X.com đã huy động được 100 triệu đô-la từ các nhà tài trợ, bao gồm Ngân hàng Deutsche, Goldman Sachs và khoe rằng họ đã có hơn 1 triệu khách hàng [6].
Hai công ty đã hết sức cố gắng gắn kết văn hóa của họ với nhau, nhưng chỉ đạt được thành công khiêm tốn. Các nhân viên từ X.com đã buộc chặt màn hình máy tính với ghế làm việc bằng dây cắm điện, rồi lôi chúng xuống đường tới văn phòng Confinity để làm việc cùng các đồng nghiệp mới. Nhưng hai nhóm chưa bao giờ nhìn vào mắt nhau. Musk tiếp tục bảo vệ thương hiệu X.com, trong khi hầu hết mọi người thích cái tên PayPal. Nhiều cuộc tranh cãi khác cũng nổ ra xung quanh chuyện thiết kế hạ tầng công nghệ của công ty. Phe Confinity do Levchin dẫn đầu muốn nâng cấp sang một phần mềm mã nguồn mở như Linux, trong khi Musk lại bênh vực cho phần mềm trung tâm dữ liệu của Microsoft vì có khả năng duy trì năng suất cao. Đối với người ngoài, vụ ầm ĩ này nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng đối với giới kỹ sư, nó chẳng khác gì một cuộc chiến tôn giáo - do nhiều người trong số họ luôn xem Microsoft là đế chế ma quỷ đã tàn lụi, còn Linux là phần mềm hiện đại cho mọi người. Hai tháng sau thương vụ sáp nhập, Thiel từ chức, còn Levchin dọa sẽ rời bỏ vì mâu thuẫn công nghệ. Còn lại Musk điều hành một công ty rạn nứt.
 
[6] Musk đã bị nhà đầu tư của X.com đẩy khỏi vị trí CEO, vì họ luốn một tổng giám đốc dày dạn hơn dẫn dắt công ty đến kỳ IPO. Tháng 12 – 1999, X.com thuê Bill Harris, nguyên CEO của hãng sản xuất phần mềm tài chính Intuit, làm sếp mới. Sau thương vụ sáp nhập, nhiều thành viên trong công ty đã chống lại Harris, ông từ chức, và Musk trở lại giữ chức CEO.
 
Vấn đế công nghệ mà X.com đối mặt còn trầm trọng hơn do hệ thống máy tính của công ty không thể duy trì một cơ sở dữ liệu khách hàng tăng đột ngột. Trang web của công ty mỗi tuần lại sập một lần. Đa số các kỹ sư được đặt hàng để thiết kế một hệ thống mới; chính điều đó đã làm phân tâm các nhân sự công nghệ chủ chốt và để kẻ gian dễ bề tấn công X.com. “Chúng tôi bị mất rất nhiều tiền,” Stoppelman cho biết. Do X.com đang trở nên phổ biến hơn và khối lượng giao dịch của nó bỗng tăng vọt, nên mọi vấn đề đều trầm trọng hơn. Những vụ lừa đảo xuất hiện nhiều hơn. Các ngân hàng cũng như công ty phát hành thẻ tín dụng đặt ra nhiều loại phí hơn. Các công ty khởi nghiệp cạnh tranh gay gắt hơn. X.com thiếu một mô hình kinh doanh chặt chẽ để bù đắp các khoản lỗ và tạo lợi nhuận từ số tiền nó kiểm soát. Roelof Botha, nguyên giám đốc tài chính của một công ty khởi nghiệp và hiện là nhà đầu tư mạo hiểm xuất chúng tại Sequoia, không tin Musk đã cung cấp cho hội đồng quản trị một bức tranh đúng đắn về những vấn đề của X.com. Ngày càng có nhiều người trong công ty hoài nghi về khả năng ra quyết định của Musk khi đối mặt với mọi cuộc khủng hoảng.
Điều đó đã kéo theo một trong những cuộc đảo chính bẩn thỉu nhất lịch sử Thung lũng Silicon, nơi từ lâu đã khét tiếng với những cuộc đảo chính kiểu này. Một đêm nọ, một nhóm nhỏ những người của X.com đã tập hợp tại Fanny & Alexander - một quán bar tại Palo Alto, nay đã đóng cửa - và bàn nhau làm sao để tống khứ Musk đi. Họ quyết định thuyết phục hội đồng quản trị kéo Thiel trở về làm CEO. Thay vì trực tiếp đối đầu với Musk trong kế hoạch này, những kẻ lập mưu quyết định sẽ hành động sau lưng anh.
Tháng Một năm 2000, Musk và Justine kết hôn, nhưng quá bận rộn nên chưa thể tận hưởng kỳ trăng mật. chín tháng sau — vào tháng Chín - họ dự tính kết hợp công việc với hạnh phúc riêng bằng cách cùng nhau đi huy động vốn, rồi kết thúc chuyến đi bằng một kỳ trăng mật tại Sydney để kịp dự Olympics. Khi hai người vừa lên máy bay vào buổi tối, các giám đốc của X.com đã gửi thư bất tín nhiệm đến hội đồng quản trị. Một số người trung thành với Musk cảm thấy có gì đó không ổn, nhưng đã quá muộn. “Tôi đến văn phòng lúc 10 giờ 30 tối hôm đó và thấy tất cả đều có mặt,” Ankenbrandt kể lại. “Tôi không thể tin nổi. Tôi điên cuồng tìm cách gọi cho Elon, nhưng anh ấy đang trên máy bay.” Ngay khi Musk hạ cánh, anh đã bị Thiel thế chỗ.
Cuối cùng, khi Musk biết được sự việc, anh lập tức nhảy lên chuyến bay tiếp theo về Palo Alto. “Thật là sốc, nhưng tôi để Elon làm thế - tôi nghĩ anh ấy sẽ xử lý tốt việc này,” Justine cho biết. Musk đã tìm cách phản công trong một thời gian ngắn. Anh thuyết phục hội đồng quản trị cần nhắc lại quyết định của họ. Nhưng khi biết rõ rằng công ty đã thông qua rồi, Musk đành đấu dịu. “Tôi trao đổi với Moritz cùng vài người khác,” Musk nói. “Không phải tôi thèm khát làm CEO đến thế, mà tôi chỉ muốn nói rằng, ‘Này, tôi nghĩ có vài chuyện khá quan trọng cần thực hiện, và nếu tôi không phải CEO, tôi không chắc chúng sẽ được thực hiện.’ Nhưng rồi tôi trao đổi với Max và Peter, và dường như họ vẫn đảm bảo được mọi thứ diễn ra. Thế nên, có nghĩa đây vẫn chưa phải tận thế.”
Nhiều nhân viên sát cánh với Musk từ ngày đầu cũng không kém phần sửng sốt trước điều vừa xảy ra. “Tôi bối rối và tức giận,” Stoppelman nói. “Đối với tôi, Elon như một ngôi sao nhạc rock vậy. Tôi dám nói thẳng rằng tôi nghĩ chuyện này thật nhảm nhí. Nhưng về cơ bản, tôi biết công ty đang làm đúng. Công ty là một chiếc tên lửa, và tôi sẽ không rời bỏ nó.” Stoppelman, khi ấy mới 23 tuổi, đã lao vào phòng họp quát tháo Thiel và Levchin dữ dội. “Họ để tôi trút hết tất cả, và chính phản ứng của họ là một phần lý do giữ tôi ở lại.” Những người khác cũng đành ngậm ngùi. “Thật phản phúc và hèn nhát,” Branden Spikes, một kỹ sư tại Zip2 và X.com nói. “Tôi sẽ ủng hộ quyết định đó nếu Elon có mặt trong phòng.”
Đến tháng Sáu năm 2001, ảnh hưởng của Musk tại công ty đã nhanh chóng phai nhạt. Cùng tháng đó, Thiel đổi tên X.com thành PayPal. Musk hiếm khi tha thứ dù chỉ một lỗi nhỏ. Nhưng trong suốt thử thách này, anh đã thể hiện sự kiềm chế phi thường. Anh gắn bó với vai trò cố vấn của công ty và vẫn tiếp tục đầu tư vào nó, nâng dần cổ phần của mình ở PayPal lên và trở thành cổ đông lớn nhất. “Bạn hẳn sẽ nghĩ một người ở vị thế của Musk phải rất đau khổ và căm thù, nhưng anh ấy không như thế,” Botha nói. “Anh ấy vẫn ủng hộ Peter. Musk quả là một quân tử.”
Những tháng tiếp theo đã trở thành chìa khóa mở ra tương lai của Musk. Thời kỳ dot-com “mượn tiền của người khác để tiêu xài” đã nhanh chóng kết thúc, và mọi người đều muốn rút tiền mặt bằng mọi cách có thể. Khi các giám đốc từ eBay bắt đầu tiếp cận PayPal với ý định mua lại, đa số mọi người đều có ý muốn bán và bán thật nhanh. Song, Musk và Moritz lại nài nỉ hội đồng quản trị khước từ một số đề nghị và chờ đợi để bán được nhiều hơn. PayPal có doanh thu thường niên 240 triệu đô-la, và có vẻ như nó sẽ vươn lên thành một công ty độc lập và cổ phần hóa. Sự nhẫn nại của Musk và Moritz đã đem lại thành quả và hơn thế nữa. Tháng Bảy năm 2002, eBay đề nghị mua lại PayPal với giá 1,5 tỉ đô-la; Musk và các thành viên hội đồng quản trị đã đồng ý thỏa thuận này. Musk thu về tổng cộng 250 triệu đô-la từ thương vụ bán lại cho eBay, hay 180 triệu đô-la sau thuế - đủ để biến những giấc mơ vô cùng hoang dại sau này của anh thành sự thật.
Đối với Musk, thời kỳ PayPal là một chương khá hỗn độn trong đời anh. Tiếng tâm lãnh đạo của anh đã bị tổn hại do hậu quả của thương vụ bán lại, và lần đầu tiên truyền thông cũng thực sự quay lưng lại với anh. Năm 2004, Eric Jackson, một nhân viên đời đầu của Confinity, đã viết cuốn The PayPal Wars: Battles with eBay, the Media, the Mafia, and the Rest of Planet Earth (Những cuộc chiến PayPal: Chiến đấu với eBay, truyền thông, mafia và tất cả), thuật lại hành trình nhiều điều tiếng của công ty. Cuốn sách đã khắc họa Musk như một gã ngốc ích kỷ và cứng đầu, bao giờ cũng đưa ra những quyết định sai lầm, trong khi tô vẽ Thiel và Levchin như những thiên tài quả cảm. Valleywag, một trang web lá cải trong ngành công nghệ thông tin, cũng hùa theo và quay sang vùi dập Musk trong các chuyên đề ưa thích của họ. Làn sóng chỉ trích dâng cao đến mức mọi người bắt đầu lên tiếng thắc mắc liệu Musk có được tính là một đồng sáng lập thực sự của PayPal không, hay chỉ dựa hơi Thiel để đạt được thành quả kỳ diệu. Năm 2007, giọng điệu của cuốn sách cùng những bài blog đã làm Musk phát cáu, khiến anh gửi một e-mail dài 2.200 từ đến Valleywag nhằm đính chính lại các sự kiện theo phiên bản của anh.
Trong e-mail, Musk đã để năng khiếu văn chương tuôn trào và cho công chúng nhìn trực diện vào cá tính thích gây gổ của mình. Anh mô tả Jackson là một “con lừa bợ đỡ” và “chỉ khá hơn một thực tập sinh một chút,” cũng như chẳng biết tí gì về những điều diễn ra tại cấp thượng tầng công ty. “Do Eric tôn sùng Peter, nên kết quả đã quá rõ ràng — Peter nổi lên như Mel Gibson trong phim Trái tim dũng cảm [7] còn vai trò của tôi thì vừa ít ỏi, vừa kém hiệu quả,” Musk viết. Sau đó, Musk trình bày chi tiết bảy lý do giải thích vì sao anh xứng đáng với tư cách đồng sáng lập PayPal, bao gồm vai trò cổ đông lớn nhất, công sức tuyển mộ nhiều nhân tài hàng đầu, để ra nhiều ý tưởng kinh doanh thành công nhất cho công ty, cùng khoảng thời gian anh giữ chức CEO khi công ty tăng từ 60 lên 700 nhân viên.
Khi được tôi phỏng vấn, hầu hết những ai làm việc tại PayPal thời gian đó đều thiên về đồng tình với đánh giá tổng thể của Musk. Họ bảo rằng lời kể của Jackson nghe như chuyện viển vông vì nó tán dương đội Confinity hơn đội X.com và Musk. “Nhiều nhân viên PayPal đến nay vẫn day dứt về những ký ức bị xuyên tạc đó,” Botha nói.
Nhưng chính những người này cũng đi đến một sự nhất trí khác, họ nói rằng Musk đã xử lý không thỏa đáng về mặt thương hiệu, hạ tắng công nghệ và các vụ lừa đảo. “Tôi nghĩ công ty sẽ đi đên hồi kết nếu Elon tiếp tục giữ chức CEO thêm sáu tháng nữa,” Botha nhận định. “Những sai lầm Elon phạm phải khi đó đã làm tăng thêm rủi ro kinh doanh.” (Để biết thêm về những năm tháng của Musk tại PayPal, xin xem Phụ lục 2.)
Ngẫm lại, những giả thuyết cho rằng Musk không đáng được xem là đồng sáng lập “thực sự” có vẻ xuẩn ngốc. Nhiều năm sau khi thương vụ eBay đóng lại, Thiel, Levchin và các giám đốc khác của PayPal đã nói như thế. Điều hữu ích duy nhất mà những lời chỉ trích này mang lại chính là các động thái phản công khoa trương của Musk, từ đó bộc lộ những nét mong manh và nghiêm túc ở anh - những yếu tố khiến Musk quả quyết rằng ghi chép lịch sử sẽ nói lên vai trò của anh trong các sự kiện. “Anh xuất phát từ tư tưởng về PR khi cho rằng: Không lỗi sai nào được phép cho qua,” Vince Sollitto, cựu giám đốc truyền thông tại PayPal, cho biết. “Điều đó tạo nên một tiền lệ, và bạn sẽ phản đối từng dấu phẩy đặt sai chỗ bằng bất cứ giá nào. Anh ấy xem đó là chuyện cá nhân và thường xuyên gây chiến.”
Trong giai đoạn này của cuộc đời, Musk còn nhận một lời chỉ trích mạnh mẽ hơn, rằng anh đã thành công trong hầu hết mọi phương diện, ngoại trừ chính bản thân. Những nét đặc trưng của một kẻ biết tuốt ưa đối đầu trong Musk cùng cái tôi quá lớn của anh đã tạo nên những rạn nứt sâu sắc, lâu dài trong doanh nghiệp của mình. Tuy Musk ý thức được và cố gắng kiềm chế hành vi của mình, nhưng những nỗ lực đó vẫn chưa đủ thuyết phục các nhà đầu tư và giám đốc lão luyện. Tại Zip2 lẫn PayPal, hội đồng quản trị hai công ty đều kết luận rằng Musk không có tố chất của một CEO. Cũng có thể lý luận rằng Musk đã trở thành một kẻ vụ lợi thái quá, một kẻ với quá cao và quá đề cao công nghệ của công ty mình. Những kẻ gièm pha Musk kịch liệt nhất đã nêu lên tất cả những lập luận này một cách công khai hoặc riêng tư; và khoảng nửa tá trong số họ còn kể với tôi những điều tồi tệ hơn về tính cách và hành động của anh, mô tả Musk như một kẻ vô đạo đức trong kinh doanh và hằn học khi bị công kích cá nhân. Nhìn chung, những người này đều không sẵn lòng để tôi ghi âm lại những bình luận của họ, khi tuyên bố rằng họ sợ Musk sẽ theo đuổi các vụ kiện chống lại họ hoặc hủy hoại việc làm ăn của họ.
Những lời chỉ trích này chắc chắn có sức nặng chống lại thành tựu quá khứ của Musk. Anh đã thể hiện khả năng nhìn người bẩm sinh và khuynh hướng công nghệ ngay từ những ngày đầu của thời Web tiêu dùng. Trong khi những người khác vẫn tự nhồi nhét vào đầu họ những hàm ý của Internet, thì Musk đã vạch ra một kế hoạch tấn công có mục đích. Anh mường tượng ra nhiều mảng công nghệ thời kỳ đầu - như danh bạ, bản đồ, trang web tập trung vào các thị trường theo chiều dọc [8] - mà về sau sẽ trở thành các trụ cột của Web. Sau đó, ngay khi mọi người đã quen mua hàng trên các trang như Amazon.com hay eBay, Musk lại làm cú nhảy vĩ đại sang mảng ngân hàng Internet đã đủ lông cánh. Anh đưa các công cụ tài chính chuẩn lên mạng rồi hiện đại hóa ngành này với một loạt khái niệm mới. Anh thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc đối với bản chất con người, từ đó giúp các công ty của anh đạt được những kỳ tích ngoại hạng về marketing, công nghệ và tài chính. Musk đã chơi game kinh doanh ở cấp độ cao nhất và gây ảnh hưởng đến truyền thông cũng như nhà đầu tư theo cách ít ai làm được. Anh có phóng đại mọi thứ lên và chọc tức mọi người không? Tất nhiên là có - và thu được những thành quả ngoạn mục.
Chủ yếu dựa trên sự chỉ đạo của Musk, PayPal đã sống sót qua sự kiện vỡ bong bóng dot-com, trở thành doanh nghiệp bom tấn đầu tiên tiến hành IPO sau các vụ tấn công ngày 11 tháng Chín, rồi bán lại cho eBay lấy một khoản tiền cực lớn, trong khi phần còn lại của ngành công nghệ lún sâu vào một đợt suy thoái trắm trọng. Tồn tại giữa chốn hỗn mang này gần như là điều không thể, chứ đừng nói đến việc trỗi dậy đơn độc như một kẻ chiến thắng.
PayPal cũng đại diện cho một trong những tập hợp nhân tài kinh doanh và kỹ thuật lớn nhất lịch sử Thung lũng Silicon. Cả Musk và Thiel đều để mắt đến những kỹ sư tài ba trẻ tuổi. Các nhà sáng lập những công ty khởi nghiệp đa dạng như YouTube, Palantir Technologies và Yelp đều từng làm việc tại PayPal. Một nhóm nhân vật khác - bao gồm Reid Hoffman, Thiel và Botha — lại nổi lên như những nhà đầu tư hàng đầu trong ngành công nghệ. PayPal đã đi tiên phong trong các kỹ thuật chống lừa đảo trên mạng, thiết lập nên phần mềm cơ bản được CIA và FBI sử dụng nhằm lần theo dấu quân khủng bố, cùng một phần mềm khác được các ngân hàng lớn nhất thế giới dùng để đối phó với bọn tội phạm. Tập thể những nhân viên tài trí bậc nhất của PayPal dần được biết đến với cái tên “Mafia PayPal” — hiện tại, họ ít nhiều vẫn là giai cấp thống trị tại Thung lũng Silicon - trong đó Musk là thành viên nổi tiếng và thành công nhất.
Giờ đây khi nhìn lại, thực tế cũng tiếp tục ủng hộ viễn cảnh phóng khoáng của Musk hơn so với thuyết thực dụng của các giám đốc tại Zip2 và PayPal. Nếu quyết định chạy theo người tiêu dùng như Musk từng thối thúc, Zip2 hẳn đã sở hữu một dịch vụ tra cứu bản đồ và đánh giá thuộc hàng bom tấn. Đối với PayPal, vẫn có thể lý luận rằng các nhà đầu tư đã bán công ty quá sớm và lẽ ra nên lắng nghe thêm những yêu cầu duy trì thế độc lập của Musk. Đến năm 2014, PayPal đã tích lũy được 153 triệu người dùng và đạt giá trị gần 32 tỉ đô-la nếu là một công ty độc lập. Một làn sóng các công ty khởi nghiệp thuộc mảng thanh toán và ngân hàng cũng xuất hiện - bao gồm “bộ ba chữ S” Square, Stripe và Simple — và tìm cách hiện thực hóa phần lớn viễn cảnh ban đầu của X.com.
Nếu hội đồng quản trị X.com kiên nhẫn hơn với Musk đôi chút, có lý do tốt để tin rằng anh sẽ tạo dựng thành công một “ngân hàng trực tuyến thống trị tất cả” đúng như anh đã dự định. Lịch sử đã chứng minh rằng tuy các mục tiêu của Musk thoạt nghe có thể rất buồn cười, nhưng anh luôn thật lòng tin tưởng chúng, và thường sẽ đạt được chúng nếu có đủ thời gian. “Anh ấy luôn làm việc với vốn hiểu biết về thực tại khác hẳn chúng ta,” Ankenbrandt nhận xét. “Anh ấy khác với chúng ta.”
Trong khi đang chèo lái việc kinh doanh giữa mớ hỗn loạn Zip2 và PayPal, Musk đã tìm được khoảnh khắc bình yên trong cuộc đời mình. Anh đã dành nhiều năm theo đuổi Justine Wilson dù phải yêu xa, và chở cô bay đây đó trong những chuyến thăm vào cuối tuần. Suốt một thời gian dài sống trong ngột ngạt với đám bạn cùng phòng của anh đã ngăn cản mối tình này. Nhưng sau khi bán Zip2, Musk đã mua được nhà riêng và quan tâm đến Justine nhiều hơn đôi chút. Như bất kỳ cặp nào, họ cũng sáng nắng chiều mưa, nhưng tình yêu trẻ trung, nồng nàn vẫn còn đó. “Chúng tôi cãi nhau suốt, nhưng khi mọi chuyện êm xuôi, chúng tôi luôn cảm nhận được một mối đồng cảm sâu sắc — một sự ràng buộc,” Justine tâm sự. Cặp đôi từng đấu khẩu vài ngày vì Justine vẫn nghe điện thoại từ bạn trai cũ - “Elon không thích thế” - và nhận một cái bạt tai mạnh khi hai người đang tản bộ gần văn phòng X.com. “Tôi nhớ mình đã nghĩ rằng điều đó thật quá quắt, và nếu tôi chịu tha thứ, chúng tôi sẽ có thể kết hôn. Tôi bảo anh ấy hãy cầu hôn tôi ngay,” Justine kể lại. Musk cần vài phút để hạ hỏa, rồi cầu hôn lập tức. ít ngày sau đó, một anh chàng Musk ân cần hơn đã xuất hiện trở lại trên vỉa hè, quỳ gối và trao nhẫn cho Justine.
Justine biết hết về tuổi thơ hãi hùng của Musk và những cảm xúc dữ dội anh có thể biểu hiện. Nhưng cảm xúc tình yêu trong cô đã gạt đi mọi e ngại trước xuất thần và tính cách của Musk, và thay vào đó chỉ tập trung vào điểm mạnh của anh. Musk thường trìu mến kể về Alexander Đại đế, và Justine xem anh như người hùng chinh phạt của riêng cô. “Anh ấy không sợ trách nhiệm,” cô nói. “Anh ấy không chạy trốn mọi thứ. Anh ấy muốn kết hôn và có con thật sớm.” Musk cũng toát lên sự tự tin và niềm đam mê khiến Justine tin rằng cô sẽ ổn khi sống với anh. “Tiền bạc không phải động lực của anh ấy, và thú thực, tôi nghĩ chúng cứ tìm đến Elon,” Justine nhận xét. “Thế đấy. Anh ấy biết mình có thể làm ra tiền.”
Tại sảnh tiệc cưới của họ, Justine còn bắt gặp một khía cạnh khác trong người hùng chinh phạt này. Musk kéo Justine vào sát mình khi họ đang khiêu vũ và nhắn nhủ với cô, “Anh sẽ là ‘kèo trên’ trong mối quan hệ này.” Hai tháng sau, Justine ký vào bản thỏa thuận tài chính sau kết hôn, thứ sẽ quay lại ám ảnh cô và tham gia vào một cuộc tranh giành quyền lực dai dẳng. Nhiều năm sau, cô đã mô tả lại tình cảnh đó trong một bài báo trên tờ Marie Claire, “Anh ấy liên tục nhắc nhở rằng anh thấy tôi còn thiếu sót. ‘Em là vợ anh,’ tôi nói đi nói lại với anh ấy, ‘chứ không phải nhân viên của anh.’ Thường thì anh ấy bảo, ‘Nếu em là nhân viên của anh, anh đã sa thải em rồi.’’
Sự tình tại X.com cũng không giúp được gì cho đôi vợ chồng mới cưới. Họ phải hoãn kỳ trăng mật, rồi lại hủy bỏ đột ngột vì cuộc đảo chính. Phải đến cuối tháng Mười hai năm 2000, mọi thứ mới tạm lắng đủ để Musk có kỳ nghỉ đầu tiên sau nhiều năm. Anh sắp xếp một chuyến du lịch dài hai tuần, với tuần đầu diễn ra tại Brazil và tuần thứ hai ở một khu bảo tồn động vật hoang dã Nam Phi gần biên giới Mozambique. Khi ở châu Phi, Musk đã nhiễm phải phiên bản hiểm nghèo nhất của sốt rét - sốt rét ác tính - thứ gây ra phần lớn các ca tử vong vì sốt rét.
Musk trở về California vào tháng Một, khi căn bệnh bắt đầu phát tác. Anh bắt đầu ốm và nằm liệt giường mất vài ngày trước khi Justine đưa anh đến bác sĩ; ông này yêu cầu xe cấp cứu đưa ngay Musk vào Bệnh viện Sequoia tại thành phố Redwood [9]. Các bác sĩ tại đây đã chẩn đoán sai và điều trị nhầm bệnh cho anh, đến mức Musk suýt tử vong. “Sau đó bỗng xuất hiện một bác sĩ được mời đến từ một bệnh viện khác, người đã từng chứng kiến rất nhiều ca sốt rét,” Musk kể lại. Ông này theo dõi kỹ hoạt động máu của Musk trong phòng thí nghiệm và kê một liều kháng sinh doxycycline tối đa ngay lập tức. Ông bảo Musk rằng nếu ông quay lại đây chậm một ngày, thì liều thuốc đó nhiều khả năng sẽ không còn hiệu nghiệm.
Musk trải qua mười ngày khổ sở trong phòng chăm sóc đặc biệt. Sự việc đã khiến Justine bị sốc. “Anh ấy như một cỗ xe tăng vậy,” cô nói. “Anh ấy có sức chịu đựng và khả năng đương đầu với mọi cấp độ căng thẳng mà tôi chưa từng thấy ở bất kỳ ai. Nhìn anh ấy nằm một chỗ, đau đớn toàn thân như thể vừa lạc vào một thế giới khác vậy.” Musk phải mất sáu tháng mới hồi phục. Anh sút mất 18 ký suốt thời gian ốm đau và cả một tủ đầy quần áo không còn mặc vừa. “Tôi suýt mất mạng,” Musk nói. “Đây là bài học của tôi từ kỳ nghỉ đó: Các kỳ nghỉ sẽ giết bạn.”
 
Chú thích:
[7] Tên tiếng Anh là Braveheart, bộ phim sử thi công chiếu năm 1995, trong đó nam diễn viên Mel Gibson thủ vai William Wallace, lãnh tụ người Scotland đã đứng lên giành độc lập cho dân tộc, thoát khỏi sự đô hộ của Vương quốc Anh.
[8] Tức định vị thị trường dựa trên lĩnh vực, nghành nghề hay sản phẩm cụ thể nào đó.
[9] Sau khi có cảm giác ốm vài ngày, Musk đến Bệnh viện Stanford và thông báo rằng anh vừa đến vùng có bệnh sốt rét, nhưng các bác sĩ không tìm thấy ký sinh trùng khi kiểm tra. Họ tiến hành chích tủy sống và chẩn đoán anh bị nhiễm vi rút viêm màng não. ‘‘Tôi rất có thể đã nhiễm bệnh này, thế là họ điều trị theo chẩn đoán, và tôi cảm thấy khá hơn’’ Musk kể lại. Các bác sĩ cho phép Musk xuất viện và cảnh báo anh rằng các triệu chứng có thể trở lại. ‘‘Ít ngày sau, tôi bắt đầu cảm thấy mệt và bệnh tình ngày càng tệ hơn’’, Musk cho biết ‘‘ Sau đó tôi không thể đi lại được. Tôi tự nhủ, ‘Okay, thế là tệ hơn lần đầu rồi.’’ Justine đưa Musk đến gặp một bác sĩ chuyên khoa bằng ta-xi, và anh ngồi bệt trên sàn phòng khám. ‘‘Tôi mất nước trầm trọng và cô ấy có cảm giác tôi như chết rồi,’’ Musk nói. Bác sĩ gọi xe cấp cứu để chuyển Musk đến bệnh viện Sequoia, thành phố Redwood với ống truyền máu cắm trên cả hai cánh tay. Musk lại bị chẩn đoán sai một lần nữa – lần này là một dạng sốt rét. Các bác sĩ từ chối cho Musk dùng thuốc mạnh hơn, vì có thể dẫn đến những tác dụng phụ kinh khủng như tim đập nhanh hay suy nội tạng.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
6. ĐÀN CHUỘT TRONG KHÔNG GIAN
 
 
 Năm 2001, Musk bước sang tuổi 30, và kỳ sink nhật đã giáng cho anh một đòn nặng. “Anh không còn là thần đồng nữa,” Musk nói với Justine, nửa đùa nửa thật. Đó cũng là tháng X.com chính thức đổi tên thành PayPal, và nhắc nhở Musk một cách cay nghiệt rằng công ty đã bị tước khỏi tay anh và trao cho người khác điều hành. Cuộc sống khởi nghiệp - từng được Musk mô tả như “ăn thủy tinh và nhìn xuống vực thẳm” - đã lùi về quá khứ, và Thung lũng Silicon cũng thế. Musk cảm giác như đang sống trong một buổi trình diễn thương mại, nơi mọi người đều làm việc trong ngành công nghệ nhưng toàn nói về vốn, IPO, và đuổi theo các kỳ kết toán cổ phiếu lớn. Mọi người thích khoác lác về hàng giờ làm việc điên cuồng của họ, còn Justine chỉ cười, vì cô biết rằng Musk có phong cách sống đậm chất Thung lũng Silicon hơn nhiều so với những gì họ có thể tưởng tượng. “Bạn bè tôi than phiền rằng chồng họ đến 7-8 giờ tối mới về nhà,” cô nói “Elon thường về  lúc 11 giờ đêm và vẫn tiếp tục làm việc. Không phải ai cũng hy sinh nhiều như Elon để trở thành người như anh ấy hiện giờ.”
Ý tưởng thoát khỏi cuộc đua xấu xa khó tin này nhằm tìm kiếm lợi nhuận ngày càng lớn dần và hấp dẫn hơn. Musk quyết dành cả cuộc đời đế theo đuổi một sân khấu lớn hơn, và Palo Alto dường như giống một bước đệm hơn là đích đến cuối cùng. Hai vợ chồng quyết định chuyển về phía Nam sinh sống và mở ra một chương mới cho cuộc đời họ tại Los Angeles.
“Một phần nào đó trong anh ấy thích phong cách, sự sôi động và màu sắc của một thành phố như L.A.,” Justine cho biết. “Elon thích sống ở nơi sôi động.” Một nhóm nhỏ bạn bè của Musk, vốn cùng chung sở thích, cũng nhổ trại đến Los Angeles đế tận hưởng những năm tháng cuồng nhiệt.
Không chỉ nét quyến rũ và vẻ hùng vĩ của Los Angeles lôi cuốn Musk, mà anh còn nghe theo tiếng gọi của không gian. Sau khi bị đánh bật khỏi PayPal, Musk bắt đầu quay lại với những mơ mộng thời thơ ấu, xoay quanh những con tàu tên lửa và chuyến du hành không gian, để rồi tin rầng anh có thể có một khởi đầu lớn hơn cả việc sáng tạo ra các dịch vụ Internet. Những thay đổi trong quan điểm và suy nghĩ của anh đã sớm trở nên rõ ràng trong mắt bạn bè, gồm các giám đốc tại PayPal, từng tụ tập ở Las Vegas vào một cuối tuần nọ để ăn mừng thành công của công ty. “Tất cả chúng tôi thì đang vui chơi trong một căn lều ở quán cà phê Hard Rock, còn Elon ngồi đọc một cuốn cẩm nang khó hiểu về tên lửa thời Xô-viết - nó trông thật cũ nát và có vẻ như được mua trên eBay,” Kevin Hartz, nhà đầu tư thời kỳ đầu của PayPal, cho biết. “Anh ấy nghiên cứu nó và trò chuyện cởi mở về chuyện du hành không gian và thay đổi thế giới.”
Musk chọn Los Angeles là có chủ ý. Nơi đây cho phép anh vươn đến không gian, hay chí ít là ngành công nghiệp không gian. Thời tiết êm dịu và ổn định của miền Nam California đã biến nó thành thành phố lý tưởng cho ngành hàng không từ thập niên 1920, khi Công ty Hàng không Lockheed (Lockheed Aircraft Company) thành lập xưởng tại Hollywood. Howard Hughes, Không quân Hoa Kỳ, NASA, Boeing cùng vô số cá nhân và tổ chức khác đã tiến hành hầu hết hoạt động sản xuất và thử nghiệm tiên phong của họ ở khu vực Los Angeles. Ngày nay, thành phố này vẫn là trung tâm lớn của hoạt động hàng không quân đội và thương mại. Tuy Musk không biết chính xác anh muốn làm gì trong không gian, nhưng anh nhận ra rằng chỉ có ở Los Angeles, anh mới được vây quanh bởi những nhà tư tưởng về hàng không đứng đầu thế giới. Họ có thể giúp anh tinh chỉnh bất kỳ ý tưởng nào, và ở đó sẽ có nhiều tân binh muốn tham gia cùng anh trong chuyến mạo hiểm sắp đến.
Những tiếp xúc đầu tiên của Musk với giới nghiên cứu hàng không là cuộc gặp gỡ với một nhóm người đam mê không gian có tư tưởng chiết trung, là những thành viên của một tổ chức phi lợi nhuận có tên gọi “Hội Hỏa tinh”. Với quyết tâm khám phá và định cư trên Hành tinh Đỏ, Hội Hỏa tinh dự định sẽ tổ chức một hoạt động gây quỹ vào giữa năm 2001. Một sự kiện với phí tham dự 500 đô-la/người đã diễn ra tại nhà riêng của một trong những thành viên giàu có trong Hội Hỏa tinh, thư mời được gửi cho nhiều nhân vật như thường lệ. Điều khiến hội trưởng Robert Zubrin sửng sốt là hồi đáp của một người tên Elon Musk, vì chẳng ai nhớ đã mời anh. “Anh ấy gửi cho chúng tôi một tấm séc 5 nghìn đô-la,” Zubrin cho biết. “Điều đó khiến mọi người chú ý.” Zubrin liền tìm hiểu về Musk, phát hiện ra anh rất giàu có, và mời anh dùng cà phê trước bữa tối. “Tôi muốn đảm bảo rằng anh ấy hiểu rõ các dự án chúng tôi đang tiến hành,” Zubrin nói. Ông làm Musk thích thú với những câu chuyện về trung tâm nghiên cứu được Hội xây dựng tại Bắc cực bắt chước những điều kiện khắc nghiệt trên Hỏa tinh, cùng những thử nghiệm họ đang tiến hành dành cho cái gọi là “Sứ mệnh đổi đời” — theo đó, sẽ có một đầu tên lửa quay quanh quỹ đạo Trái Đất do một đàn chuột điều khiển. “Đầu tên lửa sẽ quay để tạo nên 1/3 trọng lực cho đàn chuột - tương đương lực hút trên Hỏa tinh - nên chúng có thể sống trong đó và sinh sôi,” Zubrin nói với Musk.
Khi đến giờ dùng bữa tối, Zubrin xếp Musk ngồi tại bàn VIP gần với mình, với đạo diễn ghiền không gian James Cameron, và với Carol Stoker - nhà khoa học hành tinh tại NASA vốn quan tâm sâu sắc đến Hỏa tinh. “Elon trông khá trẻ và khi ấy nhìn giống như một cậu bé,” Stoker nhận xét. “Cameron lập tức bắt chuyện với anh ấy để mời đầu tư vào bộ phim tiếp theo của ông, còn Zubrin cố gắng thuyết phục anh quyên góp một khoản lớn cho Hội Hỏa tinh.” Đáp lại việc bị “săn tiền”, Musk đã thăm dò một số ý tưởng và nhân vật. Chồng Stoker là một kỹ sư hàng không vũ trụ tại NASA, người đang triển khai ý tưởng về một chiếc máy bay có thể bay lượn trên Hỏa tinh để tìm nước. Musk rất thích ý tưởng đó. “Anh ấy nhiệt tình hơn rất nhiều so với một số triệu phú khác,” Zubrin nhận xét. “Anh ấy không biết nhiều về  không gian, nhưng lại có bộ óc của một nhà khoa học. Anh ấy muốn biết chính xác chúng tôi đang có dự định gì với Hỏa tinh và ý nghĩa của chúng là gì.” Musk có thiện cảm với Hội Hỏa tinh ngay tức thì và quyết định gia nhập ban quản trị của hội. Anh cũng quyên góp thêm 100 nghìn đô-la cho một trạm nghiên cứu trên sa mạc.
Bạn bè Musk không hoàn toàn chắc chắn về trạng thái tinh thần của anh. Anh đã sút cân rất nhiều khi chống chọi lại bệnh sốt rét và trông gần như một bộ xương. Với chút nôn nóng, Musk bắt đầu nói về khao khát làm điều gì đó ý nghĩa trong đời mình — điều gì đó lâu dài. Bước tiếp theo của anh phải gắn với Mặt Trời hoặc không gian. “Anh ấy nói, ‘Theo logic, mục tiêu tiếp theo là Mặt Trời, nhưng tôi chưa nghĩ ra mình sẽ kiếm tiền với nó thế nào,’” George Zachary, một nhà đầu tư và cũng là bạn thân của Musk, hồi tưởng lại cuộc hẹn ăn trưa hồi đó. “Sau đó, anh ấy bắt đầu nói về không gian, và tôi cho là anh ấy muốn nói đến không gian văn phòng theo kiểu bất động sản.” Musk thực tế đã bắt đầu nghĩ xa hơn Hội Hỏa tinh. Thay vì gửi một đàn chuột lên quỹ đạo Trái Đất, Musk muốn gửi chúng lên tận Hỏa tinh. Một số tính toán ban đầu lúc đó đã chỉ ra rằng hành trình này sẽ tiêu tốn 15 triệu đô-la. “Anh ấy hỏi tôi có thấy chuyện đó điên rồ không,” Zachary nói. “Tôi hỏi lại, ‘Lũ chuột có quay về không? Vì nếu chúng không quay về, đa số mọi người sẽ nghĩ anh điên đấy.’” Hóa ra, đàn chuột sẽ không chỉ đến Hỏa tinh rồi quay về, mà sẽ còn sinh sôi trong suốt hành trình kéo dài nhiều tháng đó. Jeff Skoll, một người bạn khác của Musk từng tạo dựng sự nghiệp tại eBay, nói đùa rằng lũ chuột thông dâm này sẽ cần một địa ngục pho-mát khủng, nên đã mua cho Musk một bánh pho-mát Le Brouère khổng lổ - một loại pho-mát Gruyère.
Musk không ngại trở thành đích ngắm cho trò đùa pho- mát. Càng suy nghĩ về  không gian nhiều bao nhiêu, những khám phá về nó lại càng có vẻ quan trọng với anh bấy nhiêu. Anh cảm giác như công chúng đã đánh mất phần nào tham vọng và hy vọng vào tương lai. Một người bình thường có thế nghĩ rằng 
khám phá không gian chỉ lãng phí thời gian, công sức, và chế giễu Musk khi anh nói về chủ đề đó, nhưng Musk vẫn suy nghĩ về các chuyến du hành liên hành tinh một cách rất nghiêm túc. Anh muốn truyền cảm hứng cho số đông và làm sống lại niềm đam mê của họ đối với khoa học, sứ mệnh chinh phục và những hứa hẹn của công nghệ.
Một ngày nọ, nỗi lo sợ của Musk rằng nhân loại đã mất hết ý chí vượt qua những ranh giới đã được củng cố khi anh vào trang web của NASA. Anh từng mong đợi sẽ tìm được một kế hoạch khám phá Hỏa tinh chi tiết, nhưng lại chỉ thấy những thứ linh tinh. “Thoạt đầu tôi nghĩ, ‘Oái, có lẽ mình vào nhầm trang rồi,’” Musk kể với tờ Wired. “Sao không có kế hoạch, không có lịch trình? Chẳng có gì cả. Chắc điên mất.” Musk đã rất tin vào ý tưởng kết nối nước Mỹ với khát vọng khám phá của nhân loại. Và anh rất buồn khi thấy NASA, một cơ quan Mỹ chuyên phụ trách những nhiệm vụ táo bạo trong không gian và khám phá những chân trời mới như là sứ mệnh của nó, lại có vẻ như chẳng hề quan tâm nghiêm túc đến việc thám hiểm Hỏa tinh. Linh hồn của Sứ mệnh Hiển nhiên đã bị xẹp, hay thậm chí có thể đã đi đến hồi kết nghiệt ngã mà dường như chẳng ai thèm quan tâm.
Giống như bao cuộc chinh phục khác luôn đem lại sức sống mới cho tâm hồn Mỹ và mang lại hy vọng cho toàn nhân loại, chuyến hành trình của Musk đã khởi đầu tại một phòng hội nghị khách sạn. Khi ấy, Musk đã xây dựng được một mạng lưới liên lạc khá ổn trong ngành hàng không vũ trụ, và đã mời những người ưu tú nhất trong số họ đến một loạt cuộc họp - đôi khi diễn ra tại khách sạn Renaissance trong khuôn viên sân bay Los Angeles, hoặc đôi khi tại khách sạn Sheraton ở Palo Alto. Musk không có kế hoạch kinh doanh chính thức nào để những người này cùng tranh luận. Anh chủ yếu muốn họ giúp mình phát triển ý tưởng “đưa chuột lên Hỏa tinh”, hoặc chí ít cũng nảy ra một ý tưởng tương đương. Musk hy vọng sẽ tạo được một hành động thiện chí lớn vì nhân loại - một sự kiện nào đó thu hút được sự quan tâm của thế giới, khiến họ lại nghĩ về  Hỏa tinh và phản ánh tiềm lực con người. Nhưng các nhà khoa học và danh nhân tại những cuộc họp trên lại hình dung ra một cảnh tượng mà về mặt kỹ thuật có thể gắn với cái giá xấp xỉ 20 triệu đô-la. Musk đành từ chức giám đốc của Hội Hỏa tinh và công bố thành lập tổ chức của riêng anh - Quỹ Sự sống trên Hỏa tinh.
Tập hợp của những nhân tài tham dự các phiên họp năm 2001 quả thực rất ấn tượng. Có các nhà khoa học đến từ Phòng Thí nghiêm Động cơ đầy Phản lực (JPL — Jet Propulsion Laboratory) của NASA. James Cameron xuất hiện và mang lại chút tiếng tăm cho sự kiện. Cùng tham dự còn có Michael Griffin, người sở hữu những học vị Hàn lâm xuất sắc, bao gồm các bằng cấp trong ngành kỹ thuật hàng không vũ trụ, kỹ thuật điện, kỹ thuật dân dụng, và vật lý học ứng dụng. Griffin từng làm việc tại một đơn vị đầu tư mạo hiểm của CIA có tên gọi In-Q-Tel, tại NASA, tại JPL, và đang định rời khỏi Tập đoàn Orbital Sciences, một hãng sản xuất vệ tinh và tàu không gian, nơi ông từng làm giám đốc kỹ thuật kiêm tổng giám đốc của bộ phận hệ thống không gian. Có thể nói rằng không ai trên hành tinh này hiểu biết nhiều về thực tế của việc đưa mọi thứ vào không gian hơn Griffin, và ông làm việc cho Musk trong vai trò nhà tư tưởng hàng đầu về không gian. (Bốn năm sau, năm 2005, Griffin trở thành người đứng đầu NASA).
Các chuyên gia này đã xúc động trước việc có một gã giàu có xuất hiện và sẵn sàng quyên tiền cho điều gì đó thú vị trong không gian. Họ vui vẻ tranh luận về căn cứ và tính khả thi của việc gửi một đàn thú gặm nhấm lên không gian và quan sát chúng giao phối. Nhưng khi cuộc thảo luận trôi qua, họ lại bắt đầu nhất trí theo đuổi một dự án khác - được gọi là “Ốc đảo Hỏa tinh”. Theo kế hoạch này, Musk sẽ mua một tên lửa và dùng nó để mang thứ được cho là một nhà kính rô-bốt lên Hỏa tinh. Có một nhóm nhà nghiên cứu đã từng làm việc trên một buồng ươm cây trong không gian ở các dự án khác. Ý tưởng sẽ là điều chỉnh lại khối kiến trúc của họ, để căn nhà có thể mở ra trong thời gian ngắn và thu thập lớp đất phong hóa trên Hỏa tinh, tức đất trồng trọt, rồi dùng nó để trồng cây; đến lượt mình cây có thể tạo ra lượng khí oxi đầu tiên trên Hỏa tinh. Nhờ công kết nối của Musk, kế hoạch mới này có vẻ vừa phô trương lại vừa khả thi.
Musk muốn khối kiến trúc phải có một cửa sổ và gửi được video phản hồi về Trái Đất, từ đó mọi người có thể theo dõi được cây phát triển. Cả nhóm cũng thảo luận về việc gửi trang thiết bị lên để sinh viên trên cả nước có thể tự trồng cây cùng lúc và ghi chú lại, chẳng hạn như “trong cùng một khoảng thời gian, cây cối trên Hỏa tinh sẽ lớn gấp đôi bản sao của chúng trong bầu khí quyển Trái Đất.” “Đã có lúc khái niệm này được lan truyền theo nhiều hình thức khác nhau,” Dave Bearden, một nhân vật lão luyện trong ngành công nghiệp không gian từng tham gia trong các buổi họp, cho biết. “Phải, sự sống sẽ xuất hiện trên Hỏa tinh, và do chính chúng ta mang đến. Niềm hy vọng này có thể khai sáng cho hàng nghìn đứa trẻ rằng hành tinh này không hề có hại. Rồi chúng có thể bắt đầu nghĩ, ‘‘Có lẽ mình cũng nên đến đó.’’ Lòng nhiệt tình của Musk đối với ý tưởng trên đã dần truyền cho cả nhóm, trong đó có những người bắt đầu hoài nghi về một sự kiện mới mẻ lại sắp xảy đến trong không gian. “Anh ấy là một gã thông minh, có động lực và một cái tôi cực lớn,” Bearden nhận xét. “Khi ai đó bảo rằng anh ấy sẽ trở thành ‘Người đàn ông của năm’ trên tạp chí Time, anh sẽ thấy gương mặt anh ấy sáng bừng lên. Anh ấy tin rằng mình là người có thể thay đổi thế giới.”
Rắc rối chính với các chuyên gia không gian là ngân sách của Musk. Qua các cuộc họp, có vẻ như Musk muốn chi khoảng từ 20 triệu đến 30 triệu đô-la cho dự án mạo hiểm này, và tất cả đều biết rằng chỉ mỗi kinh phí của một vụ phóng tên lửa cũng đã ngốn hết khoản tiền đó và thậm chí còn hơn. “Theo ý tôi, bạn sẽ cần đến 200 triệu đô-la để làm được việc này,” Bearden nói. “Nhưng mọi người đều không muốn đề cập quá nhiều, quá sớm về thực tế trong tình hình đó, vì sẽ giết chết toàn bộ ý tưởng.” Sau đó lại có thêm những khó khăn ghê gớm về kỹ thuật cần giải quyết. “Gắn một cửa sổ lớn lên thứ này thực sự là một vấn đề về nhiệt,” Bearden cho biết. “Anh sẽ không thể giữ cho không gian bên trong đủ ấm để bất cứ thứ gì sống được.” Giữ đất Hỏa tinh trong khối kiến trúc không chỉ là khó khăn có tính vật lý, mà nó còn là một ý tưởng hết sức tệ vì đất phong hóa rất độc hại. Đã có lúc các nhà khoa học bàn nhau trồng cây vào một loại gel giàu dinh dưỡng để thay thế, nhưng lại cảm giác như thế là lừa dối và có thể phá hỏng toàn bộ ý nghĩa của nỗ lực này. Ngay đến những khoảnh khắc lạc quan nhất cũng bị ngập trong các ẩn số. Một nhà khoa học tìm thấy vài loại hạt giống mù tạc rất kiên cường và tin rằng chúng có thể tồn tại trong điều kiện đất trồng ở Hỏa tinh đã cải tạo. “Sẽ là một tai họa lớn nếu cây không sống nổi,” Bearden cho biết. “Anh sẽ có một khu vườn chết trên Hỏa tinh và gây ra hậu quả trái ngược với dự định [1].”
Musk không hế nao núng. Anh biến một số nhà khoa học tình nguyên thành cố vấn và sắp xếp để họ tham gia thiết kế cỗ máy trồng cây. Anh cũng bay đến Nga đế tìm hiểu xem một lần phóng tên lửa tiêu tốn chính xác bao nhiêu. Musk dự định mua một tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM: intercontinental ballistic missile) tân trang lại từ người Nga và sử dụng nó làm phương tiện phóng. Để có thêm sự hỗ trợ,
Musk đã tìm gặp Jim Cantrell, một anh chàng khác người từng làm những công việc bí mật lẫn không bí mật cho Mỹ và các chính phủ khác. Ngoài những lý do nổi tiếng khác, Cantrell còn bị kết tội hoạt động gián điệp và bị chính phủ Nga quản thúc tại gia vào năm 1996, sau khi một thương vụ mua bán vệ tinh đổ bể. “Sau hai tuần, Al Gore [2] gọi vài cuộc điện thoại và mọi chuyện êm xuôi,” Cantrell cho biết. “Tôi không muốn lại dính dáng bất kỳ cái gì với người Nga nữa - không bao giờ.” Musk lại có những ý tưởng khác.
 
Chú thích :
[1] Khi Zubrin và một số người đam mê Hỏa tinh nghe về dự án trồng cây của Musk, họ đã rất buồn . « Chẳng có nghĩa gì cả, » Zubrin nói. « Rõ ràng là chỉ làm cho có, vì ngay giây phút họ mở cửa sổ, hàng triệu vi khuẩn sẽ thoát ra ngoài và vi phạm mọi điều khoản về dịch bệnh của NASA ».
[2] Albert Arnold Gore, Jr. (1948) Phó tổng thống Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton (nhiệm kỳ 1993 -2001) Năm 2000, ông tham gia tranh cử tổng thống với George Bush nhưng thất bại sau một kết quả gây tranh cãi. Al Gore còn là một diễn giả và nhà hoạt động vì môi trường. Bộ phim tài liệu The Inconvenient Truth (Một sự thật khó chịu) – sản xuất năm 2006) của ông đã đoạt giải Oscar
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.04.2023 21:23:41 bởi Thanh Vân>
Một buổi tối tháng Bảy nóng bức tại Utah, Cantrell đang lái chiếc xe hơi mui trần của anh thì điện thoại chợt rung. “Với cái giọng buồn cười, gã nọ lên tiếng, ‘‘Tôi rất cần nói chuyện với anh. Tôi là một tỉ phú. Tôi đang chuẩn bị tiến hành một chương trình không gian.’’ Cantrell không nghe rõ tiếng Musk — anh còn tưởng tên người kia là lan Musk - và bảo rằng anh sẽ gọi lại khi về đến nhà. Mới đầu, hai người không hoàn toàn tin tưởng nhau. Musk từ chối cho Cantrell số điện thoại di động và gọi đến từ điện thoại trên máy fax của anh. Còn Cantrell nhận thấy Musk vừa lôi cuốn, vừa quá sốt sắng. “Anh ấy hỏi tôi có đang ở gần sân bay nào không và tôi có thể gặp anh ấy ngay hôm sau được không,” Cantrell kể lại. “Lá cờ đỏ trong tôi bắt đầu hạ dần.” Sợ rằng một trong các kẻ thù của mình đang cố sắp đặt một kịch bản công phu, Cantrell bèn nhắn Musk gặp anh tại sân bay Salt Lake City, nơi anh thuê một phòng họp gần phòng chờ Delta. “Tôi muốn anh ấy gặp tôi sau khi bước qua cổng an ninh và vì vậy anh ấy không thể mang theo súng,” Cantrell giải thích. Sau cùng, khi cuộc gặp diễn ra, Musk và Cantrell lại cảm thấy rất hợp nhau. Musk tiếp tục thao thao bài nói “nhân loại cần phải trở thành một giống loài liên hành tinh” của anh, và Cantrell bảo rằng nếu Musk thực sự nghiêm túc, anh sẽ sẵn sàng bay đến Nga — một lần nữa - và giúp mua một quả tên lửa.
Cuối tháng Mười năm 2001, Musk, Cantrell, và Adeo Ressi — bạn thời đại học của Musk - đã đáp một chuyến bay thương mại đến Moscow. Ressi sắm vai vệ sĩ của Musk và cố xác định xem anh bạn thân của mình đã bắt đầu mất trí hay chưa. Các đoạn phim tài liệu quay cảnh phóng tên lửa được dựng lên, bạn bè Musk cũng đã tìm cách can thiệp khi cố thuyết phục anh đừng lãng phí tiền của. Khi mọi biện pháp đều thất bại, Adeo đành theo đến Nga nhằm kìm hãm Musk hết sức có thể. “Adeo hay gọi tôi sang một bên và nói, ‘Những gì Elon đang làm thật điên khùng. Một cử chỉ hào hiệp ư? Rồ dại, » Cantrell kể lại. “Anh ấy vô cùng lo lắng, nhưng rồi điều đó đã giảm dần trong chuyến đi.” Tại sao lại không chứ? Họ đang hướng đến nước Nga thời hậu Xô-viết, nơi mà lối sống buông thả đang lên cao và những kẻ lắm tiền có thể mua vài quả tên lửa không gian trên thị trường công khai.
Đội Musk tăng lên khi có thêm Mike Griffin, họ đến gặp những người Nga ba lần trong khoảng thời gian bốn tháng [3]. Họ đã sắp xếp vài cuộc gặp mặt với các công ty như NPO Lavochkin — từng tiến hành thăm dò Hỏa tinh và Kim tinh cho Cơ quan Vũ trụ Liên bang Nga — và Kosmotras - một hãng phóng tên lửa thương mại. Tất cả các cuộc hẹn dường như đều diễn ra giống nhau, theo tác phong lịch thiệp của người Nga. Do thường bỏ bữa sáng, nên phía Nga đề nghị hẹn nhau vào lúc 11 giờ trưa tại văn phòng của họ để dùng bữa trưa sớm. Ở đó họ sẽ tán gẫu khoảng một giờ hoặc hơn, trong khi những người tham dự ăn vội một lát bánh kẹp, xúc xích, và đương nhiên có cả vodka. Thỉnh thoảng Griffin lại bắt đầu mất kiên nhẫn với kiểu làm việc này. “Ông ấy chịu đựng những gã ngốc rất kém,” Cantrell nhận xét. “Ông ấy cứ nhìn quanh quất và thắc mắc khi nào chúng tôi mới bàn vào vụ làm ăn chết tiệt này.” Câu trả lời không đến ngay. Sau bữa trưa là đến khoảng thời gian đốt thuốc và nhấp cà phê dài thượt. Một lần khi mọi thứ trên bàn ăn đã được dọn sạch, người đứng đầu bên phía Nga mới quay sang Musk và hỏi, “Anh muốn mua thứ gì?” Màn kết thúc quan trọng đáng ra đã không khiến Musk phiền lòng đến thế nếu phía Nga đáp lại anh nghiêm túc hơn. “Họ nhìn chúng tôi như thể chúng tôi là những kẻ không đáng tin,” Cantrell nói. “Một trong các thiết kế trưởng của họ phỉ báng tôi và Elon vì hắn nghĩ chúng tôi toàn một lũ vớ vẩn.”
 Cuộc hẹn căng thẳng nhất diễn ra tại một tòa nhà lòe loẹt, luộm thuộm thời tiền cách mạng gần trung tâm Moscow. Những ly vodka mở màn — “Vì không gian!” “Vì nước Mỹ!” - trong khi Musk đang ngồi trên 20 triệu đô-la, số tiền anh hy vọng sẽ đủ mua ba quả ICBM để trang bị lại và phóng vào không gian. Với giọng lè nhè vì vodka, Musk hỏi thẳng một quả tên lửa giá bao nhiêu. Đáp: 8 triệu đô-la một quả. Musk phản đối, đề nghị trả 8 triệu đô-la cho hai quả. “Họ ngồi đó và nhìn anh ấy,” Cantrell kể lại. “Rồi trả lời đại loại như, ‘Chàng trai. Không.’ Họ cũng nhắc khéo rằng anh ấy không có tiền.” Lúc đó, Musk đã kết luận rằng phía Nga hoặc không nghiêm túc về thương vụ này, hoặc quyết định sẽ bòn rút của tay triệu phú dot-com là anh càng nhiều tiền càng tốt. Anh lao ra khỏi phòng họp.”
Tâm trạng của đội Musk không thể tồi tệ hơn. Khi ấy đã gần cuối tháng Hai năm 2002, họ ra ngoài bắt một chiếc ta-xi rồi đi thẳng đến sân bay đang bị bao quanh bởi tuyết và bùn đất của mùa đông Moscow. Trong xe, chẳng ai nói gì. Musk đã đến Nga với đầy ắp sự lạc quan rằng anh sẽ lập được một chiến công vĩ đại vì nhân loại, nhưng giờ đây phải ra đi trong bực tức và nỗi thất vọng về  bản chất con người. Chỉ có người Nga mới sở hữu những quả tên lửa vừa với ngân sách của Musk. “Đó là một chuyến xe dài,” Cantrell hồi tưởng. “Chúng tôi ngồi đó trong im lặng và nhìn những nông dân Nga đang cặm cụi trong tuyết.” Tâm trạng sầu thảm còn bám theo họ suốt quãng đường lên máy bay, cho đến khi xe đồ uống tới. “Ta sẽ luôn cảm thấy thực sự nhẹ nhõm khi bánh máy bay rời đường băng ở Moscow,” Cantrell nói. “Kiểu như, ‘Lạy Chúa. Con thoát rồi.’ Thế nên Griffin và tôi chọn đồ uống rồi cạn ly với nhau.” Musk ngồi ở hàng ghế phía trước họ, mải gõ máy tính. “Chúng tôi nghĩ, ‘‘Đồ mọt sách chết tiệt. Giờ anh ta còn làm gì được nữa?’’ Ngay lúc đó, Musk liền quay người lại và trưng ra bảng tính anh vừa lập. “Này các anh,” anh nói. “Tôi nghĩ chúng ta có thể tự làm quả tên lửa này.”
Griffin và Cantrell lúc đó vừa nốc xong hai cốc và đã quá chán chường để hùa theo một trò viễn vông nữa. Họ thừa biết những câu chuyện về  đám triệu phú háo thắng tin rằng mình có thể chinh phục không gian, để rồi mất cả cơ đồ. Mới một năm về trước, Andrew Beal, một chuyên gia bất động sản và tài chính cừ khôi tại Tesax, đã phải đóng cửa công ty hàng không vũ trụ của ông ta sau khi đổ hàng triệu đô-la vào một thử nghiệm quy mô lớn. “Chúng tôi đang nghĩ, ‘Ừm, anh và đám quân đội chết tiệt của ai đó,”’ Cantrell kể lại. “Thì Elon liền nói, ‘Không, tôi nghiêm túc đấy. Xem bảng tính đây này,”’ Musk chuyển chiếc laptop cho Griffin rồi Cantrell, và cả hai chết điếng người. Bảng tính liệt kê chi tiết chi phí nguyên vật liệu cần thiết để chế tạo, lắp ráp và phóng một quả tên lửa. Theo tính toán của Musk, anh có thể loại bớt các công ty phóng tên lửa hiện có bằng cách chế tạo một quả tên lửa kích thước nhỏ để cung cấp cho mảng thị trường chuyên đưa các vệ tinh nhỏ hơn cùng trang thiết bị nghiên cứu vào không gian.
Bảng tính cũng trình bày các đặc tính hoạt động giả định của quả tên lửa với mức độ chi tiết khá ấn tượng. “Tôi hỏi, ‘Elon, anh lấy thứ này ở đâu thế?”’ Cantrell kể.
Musk đã dành nhiều tháng nghiên cứu về ngành hàng không vũ trụ và nền tảng vật lý học đứng sau nó. Musk đã mượn được từ Cantrell và những người khác các cuốn Rocket Propulsion Elements (Các yếu tố trong lực đẩy tên lửa), Fundamentals of Astrodynamics (Những nguyên lý cơ bản về động lực học vũ trụ), và Aerothermodynamics of Gas Turbine and Rocket Propulsion (Động lực học vũ trụ trong tua-bin xăng và động cơ đẩy tên lửa), cùng nhiều tài liệu ở dạng phác thảo khác. Musk đã trở lại thời tuổi thơ của mình như một cậu bé ngấu nghiến thông tin, và nổi lên từ quá trình suy tưởng này là ý nghĩ mình có thể và nên chế tạo những quả tên lửa với chi phí thấp hơn nhiều so với người Nga đề nghị. Hãy quên đi lũ chuột. Hãy quên đi vườn cây với vidéo chiếu cảnh chúng đang được nuôi lớn dần — hoặc có thể chết dần — trên Hỏa tinh. Musk đã truyền cảm hứng để mọi người nghĩ về sứ mệnh khám phá không gian một lần nữa, bằng cách giúp sứ mệnh này bớt tốn kém hơn rất nhiều.
 
Khi cộng đồng nghiên cứu không gian truyền tai nhau về kế hoạch của Musk, nói chung họ đều tỏ ra hờ hững. Những người như Zubrin đã chứng kiến cảnh này nhiều lần trước đây. “Có một loạt những kẻ giàu sụ sẵn sàng tin vào câu chuyện hay ho của một kỹ sư,” Zubrin nói. “Rằng nếu kết hợp tài trí của tôi và tiền bạc của anh, chúng ta có thể chế tạo một tàu tên lửa sinh lợi và mở rộng giới hạn cho không gian. Rốt cục, dân kỹ thuật thường sẽ phung phí tiền bạc của dân lắm tiền trong khoảng hai năm, rồi dân lắm tiền sẽ chán nản và dẹp bỏ mọi thứ. Nên khi nhắc đến Elon, mọi người đều thở dài và nói, ‘Ôi chao. Anh ta có thể chi 10 triệu đô-la để đưa lũ chuột lên đây, nhưng thay vì thế, anh ta sẽ chi đến hàng trăm triệu đô-la và có thể lại thất bại như bao người đi trước anh ta. ”
Tuy ý thức được rủi ro của việc thành lập một công ty sản xuất tên lửa, nhưng Musk vẫn có ít nhất một lý do để tin rằng anh sẽ thành công tại nơi mà những kẻ khác thất bại. Lý do đó tên là Tom Mueller.
Chú thích:
[3] Hầu hết những câu chuyện về Musk trong giai đoạn này đều viết rằng anh đã đến Moscow ba lần. Theo ghi chép chi tiết của Cantrell thì không phải như the-1. Musk đã gặp người Nga hai lần tại Moscow và một lần tại Pasadena, California. Anh cũng gặp Arianespace tại Paris, và Surrey Satellite Technology, Ltd, tại London ; đây là hai công ty Musk xem xét mua lại.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Mueller là con trai một tiều phu tại thị trấn Idaho xinh xắn vùng St. Maries, nơi anh bị mang tiếng là một kẻ lập dị. Trong khi những đứa trẻ khác ra ngoài tìm củi vào mùa đông, thì Mueller lại ngồi đọc sách trong thư viện ấm áp hoặc xem phim Star Trek (Du hành giữa các vi sao) ở nhà. Anh cũng thích sửa chữa đồ đạc. Một ngày nọ khi đến trường tiểu học, anh tìm thấy một chiếc đồng hồ vỡ nát trên lối đi và biến nó thành một trò tiêu khiển yêu thích. Mỗi ngày, anh lại sửa dăm ba chỗ của chiếc đồng hồ — lúc là bánh răng, khi lại lò xo — cho đến khi nó hoạt động được. Mueller cũng bày trò tương tự với chiếc máy cắt cỏ của gia đinh khi một buổi chiều đã tháo tung nó ở bãi cỏ trước nhà chỉ để cho vui. “Cha tôi về nhà và phát điên vì ông nghĩ sẽ phải mua chiếc máy cắt cỏ mới,” Mueller kể lại, “nhưng rồi tôi ráp lại nó, và nó lại hoạt động.” Mueller sau đó dính chặt với những quả tên lửa. Anh bắt đầu đặt hàng các gói bưu phẩm và làm theo hướng dẫn để chế tạo các tên lửa nhỏ. Chẳng mấy chốc, Mueller đã hoàn tất việc chế tạo được các thiết bị của riêng anh. Ở tuổi 12, anh đã lắp một mô hình tàu con thoi có thể gắn vào một tên lửa, phóng lên trời rồi đáp trở lại mặt đất. Vài năm sau, Mueller mượn của cha anh thiết bị hàn ôxi-axêtylen để làm một nguyên mẫu động cơ tên lửa cho dự án khoa học. Mueller làm mát thiết bị này bằng  cách đặt nó lộn ngược đầu vào một lon cà phê đựng đầy nước — “Tôi có thể chơi với nó như thế cả ngày” - và sáng chế ra những cách đo lường hoạt động của nó cũng sáng tạo không kém. Cỗ máy chạy tốt đến nỗi đem về chiến thắng cho Mueller trong hai cuộc thi tại hội chợ khoa học trong vùng và được chọn vào một sự kiện quốc tế. “Khi ấy, tôi lập tức cảm thấy mình được khích lệ,” Mueller chia sẻ.
Với vóc người gầy, cao lêu nghêu và khuôn mặt chữ điền, Mueller là kiểu người dễ chịu chuyên gây rối đôi chút ở trường đại học, dạy bạn bè cách làm bom khói, rồi thậm chí an phận làm một sinh viên ngành kỹ sư cơ khí. Vừa tốt nghiệp đại học, anh đã làm việc với các vệ tinh của hãng Hughes Aircraft - “Chúng không phải tên lửa, nhưng cũng gần như thế” - rồi chuyển đến TRW Space & Electronics. Đó là nửa cuối thập niên 1980, và chương trình “Chiến tranh giữa các vì sao”[4] của Ronald Reagan đã khiến giới chế tạo máy móc không gian mơ về các loại vũ khí động lực cùng đủ thứ linh tinh khác. Tại TRW, Mueller đã thử nghiệm nhiều loại chất nổ đầy điên rồ và giám sát tiến độ phát triển động cơ TR-106 của công ty, một cỗ máy khổng lồ hoạt động bằng ôxi và hyđrô lỏng. Mueller còn có sở thích cặp kè với vài trăm kẻ ái mộ tên lửa nghiệp dư đến từ Hội Nghiên cứu Phản ứng (RRS: Reaction Research Society), một nhóm được thành lập vào năm 1943 nhằm khuyến khích việc chế tạo và phóng tên lửa. Vào những cuối tuần, Mueller thường đi du ngoạn ngoài Sa mạc Mojave với vài thành viên RRS nhằm thử nghiệm về giới hạn  của các cỗ máy nghiệp dư. Mueller là một trong những nhân vật kiệt xuất của Hội, do có thể chế tạo ra những thứ thực sự hoạt động được, và có thể thử nghiệm một số ý tưởng cấp tiến hơn, nhưng đã bị các lãnh đạo bảo thủ tại TRW dập tắt. Thành tựu hoàn thiện của anh là một động cơ nặng 36 kg, có thể sản sinh ra lực đẩy tương đương 5,9 tấn và được tôn vinh là động cơ tên lửa chạy nhiên liệu lỏng lớn nhất thế giới được chế tạo bởi một kẻ nghiệp dư. “Tôi vẫn treo các tên lửa đó trong ga-ra của mình,” Mueller nói.
Tháng Một năm 2002, Mueller dạo qua xưởng của John Garvey, người đã từ bỏ công việc tại công ty hàng không vũ trụ McDonnell Douglas để bắt đầu chế tạo các tên lửa riêng. Cơ sở của Garvey đặt tại Bãi biển Huntington, nơi ông thuê một khu công nghiệp với diện tích bằng sáu ga-ra để xe hơi. Hai người loay hoay với chiếc động cơ 36 kg, rồi Garvey bảo rằng một anh chàng tên Elon Musk có thể sẽ ghé qua. Tình cảnh của giới chế tạo tên lửa nghiệp dư đang rất khó khăn, và chính Cantrell đã đề nghị Musk tìm hiểu phân xưởng của Garvey cũng như xem qua các thiết kế của Mueller. Vào một chủ nhật nọ, Musk đã ghé qua cùng với bà bầu Justine, anh khoác một chiếc áo choàng da đen kẻ vân sành điệu và trông như một sát thủ lão luyện. Trong khi Mueller mang chiếc động cơ 36 kg trên vai và đang cố gắn nó vào một cấu trúc hỗ trợ, thì Musk bắt đầu hỏi anh tới tấp. “Anh ấy hỏi tôi nó tạo được lực đẩy bao nhiêu,” Mueller kể lại. “Anh ấy muốn biết liệu tôi đã từng làm việc với thứ gì lớn hơn chưa. Tôi trả lời rằng có, tôi từng làm việc với một động cơ đẩy 29,5 tấn tại TRW và hiểu mọi thứ về nó.” Mueller đặt động cơ xuống và cố gắng theo kịp màn chất vấn của Musk. “Một dộng cơ lớn như thế tiêu tốn bao nhiêu?” Musk hỏi. Mueller đáp rằng TRW đã chế tạo nó với khoảng 12 triệu đô-la. Musk vặn lại: “Tốt, thế anh có thể thực sự tạo ra nó với chi phí bao nhiêu?”
Mueller đã trò chuyện với Musk hàng giờ. Cuối tuần sau đó, Mueller mời Musk đến nhà anh để tiếp tục thảo luận. Musk biết rằng anh đã tìm được một người thực sự hiểu rõ công việc chế tạo tên lửa từ trong ra ngoài. Sau đó, Musk giới thiệu Mueller với những người khác trong nhóm bàn tròn của anh gồm các chuyên gia không gian, và mời anh tham dự các cuộc họp kín của họ. Mueller rất ấn tượng trước năng lực của mọi người, dù trước đây anh từng từ chối lời đề nghị làm việc từ Beal [5] cùng nhiều ông trùm không gian đang nổi khác vì những ý tưởng quá điên rồ của họ. Trái lại, Musk dường như hiểu rõ mình đang làm gì, anh quét sạch những kẻ chống đối trong các cuộc họp và quy tụ được một nhóm kỹ sư thông thái đầy quyết tâm.
Mueller đã giúp Musk điền kín bảng tính hiệu suất và các thước đo chi phí dành cho một quả tên lửa mới có chi phí thấp, rồi sau đó tinh chỉnh ý tưởng này cùng với những thành viên khác trong đội Musk. Quả tên lửa sẽ không mang theo các vệ tinh lớn cỡ xe tải như các loại tên lửa khổng lồ do Boeing, Lockheed, người Nga, và những nước khác phóng lên. Thay vào đó, tên lửa của Musk sẽ nhắm đến phần khúc thấp hơn trong thị trưởng vệ tinh, nó có thể trở thành sản phẩm lý tưởng cho phần khúc mới nổi gồm các tàu trọng tải nhỏ, vốn tận dụng những tiến bộ to lớn xuất hiện trong ngành công nghệ máy tính và điện tử những năm gần đây. Quả tên lửa sẽ trực tiếp phục vụ cho một học thuyết trong ngành công nghiệp không gian, theo đó một thị trường hoàn toàn mới có thể sẽ mở ra cho các tàu trọng tải phục vụ mục đích thương mại lẫn nghiên cứu, nếu một công ty có thể giảm thiểu triệt để giá thành cho mỗi lần phóng và tiến hành phóng theo một lịch trình đều đặn. Musk thích thú với ý tưởng trở thành lá cờ đầu của xu hướng này và tạo ra một “con ngựa thồ” cho kỷ nguyên không gian mới. Tất nhiên, tất cả những điều này vẫn đang là lý thuyết - nhưng rồi bất chợt đã thay đổi. PayPal đã chính thức lên sàn vào tháng Hai với giá cổ phiếu tăng vọt 55%, và Musk biết rằng eBay cũng muốn mua lại công ty này. Trong khi đang nhấm nháp ý tưởng về tên lửa, tổng tài sản của Musk đã tăng từ hàng chục triệu lên hàng trăm triệu đô-la. Đến tháng Tư năm 2002, Musk đã hoàn toàn từ bỏ ý tưởng khiến công chúng sửng sốt và cam kết xây dựng một dự án không gian thương mại. Anh quy tụ quanh mình Cantrell, Griffin, Mueller và Chris Thompson, một kỹ sư hàng không vũ trụ đến từ Boeing, và tuyên bố với cả nhóm, “Tôi muốn thành lập công ty này. Nếu các anh tham gia, chúng ta sẽ cùng thực hiện.” (Griffin muốn tham gia, nhưng rốt cuộc lại từ chối vì Musk dứt khoát từ chối đề nghị chuyển đến sống tại Bờ Đông của ông, còn Cantrell chỉ trụ được khoảng vài tháng sau cuộc họp này, do nhận thấy dự án có quá nhiều rủi ro.)
Thành lập vào tháng Sáu năm 2002, công ty Space Exploration Technologies đã ra đời với một quy mô khiêm tốn. Musk mua lại một nhà kho cũ tại số 1310 Đại lộ East Grand, El Segundo, thuộc ngoại ô Los Angeles, nơi có những hoạt động tích cực trong ngành hàng không vũ trụ. Người chủ trước của khu nhà rộng gần 7.000 m² này chủ yếu chỉ hoạt động vận chuyển và sử dụng mặt phía Nam của cơ sở làm một trạm hậu cần, thiết lập vài gian nhận hàng cho các chuyến xe tải giao nhận. Nó cho phép Musk lái chiếc McLaren bạc của anh vào thẳng tòa nhà. Xa xa là một khung cảnh khá hoang sơ - chỉ có mặt sàn bám bụi và trần nhà cao 12 mét với các thanh dầm gỗ, cùng một tấm cách nhiệt lộ thiên uốn cong ở vòm mái tạo cho khu nhà cảm giác như một nhà chứa máy bay. Mặt Bắc của tòa nhà là khu văn phòng, với một không gian được ngăn thành các ô và phòng làm việc đủ chỗ cho khoảng 50 người. Trong tuần hoạt động đầu tiên của SpaceX, những chiếc xe vận tải thay nhau xuất hiện, chất đầy laptop Dell, máy in cùng những chiếc bàn gấp để làm bàn làm việc. Musk bước tới một xe, kéo cửa lên và tự mình dỡ các thiết bị xuống.
Musk đã nhanh chóng làm biến đổi văn phòng SpaceX với khiếu thẩm mỹ về  nhà xưởng đã trở thành dấu ấn riêng của anh: Một lớp phủ bóng loáng bằng nhựa dính trải khắp mặt sàn bê- tông, cùng một lớp sơn trắng tươi rói được quét vô tội vạ khắp các bức tường. Kiểu phối màu trắng này nhằm làm nhà máy trông sạch sẽ và tạo cảm giác phấn khởi. Bàn làm việc được đặt rải rác khắp nhà máy, nhờ thế mà các nhà khoa học máy tính và kỹ sư thiết kế máy móc từ Ivy League có thể ngồi cùng với các thợ hàn, thợ máy khi chế tạo phần cứng. Phương thức này đóng vai trò như một nét phá cách quan trọng tại SpaceX so với các công ty hàng không vũ trụ truyền thống, vốn rất ưa cách ly các nhóm kỹ sư với nhau, và thường tách biệt các kỹ sư với thợ máy xa nhau hàng nghìn dặm bằng cách đặt nhà máy của mình tại những địa điểm có giá thuê bất động sản và nhân công rẻ.
Khi khoảng một tá nhân viên đầu tiên bước vào văn phòng, họ được thông báo rằng sứ mệnh của SpaceX là trở thành “Southwest Airlines [5] trong không gian”. SpaceX sẽ tự chế tạo động cơ rồi ký hợp đồng với các nhà cung cấp những bộ phận tên lửa khác. Công ty sẽ tạo được lợi thế so với đối thủ bằng cách sản xuất một loại động cơ tốt hơn rẻ hơn, và bằng cách tinh chỉnh quy trình lắp ráp nhằm tạo ra những tên lửa bay nhanh hơn bất kỳ hãng nào khác với chi phí thấp hơn. Viễn cảnh này bao gồm cả việc lắp đặt một bệ phóng cơ động có thể di chuyển qua nhiều vị trí khác nhau, xoay tên lửa từ chiều ngang sang chiều dọc và phóng nó vào không gian - gọn gàng, êm thấm. SpaceX dự định sẽ tiến hành quy trình này thật tốt để có thể phóng nhiều đợt mỗi tháng, hái ra tiền từ mỗi lần phóng và không bao giờ phải trở thành một nhà thầu to sụ phụ thuộc vào nguồn vốn chính phủ.
SpaceX đang cố gắng trở thành một ứng viên sạch trong ngành kinh doanh tên lửa tại Mỹ, một bước tái khởi đầu được hiện đại hóa. Musk cảm thấy ngành công nghiệp không gian không thực sự phát triển trong khoảng 50 năm qua. Các công ty hàng không vũ trụ hầu như không có sự cạnh tranh và thường tạo ra những sản phẩm cực kỳ đắt đỏ để đạt thành quả tối ưu. Họ làm ra cả một chiếc Ferrari cho mỗi lần phóng, trong khi chỉ một chiếc Honda Accord cũng đủ hoàn thành nhiệm vụ. Trái lại, Musk đã áp dụng một số kỹ xảo khởi nghiệp anh từng học được ở Thung lũng Silicon để điều hành SpaceX một cách tinh gọn, nhanh chóng và tân dụng những tiến bộ to lớn của sức mạnh tin học cũng như vật liệu vốn đã chiếm thế chủ đạo trong vài thập kỷ qua. Là một công ty tư nhân, SpaceX cũng phải tránh những sự lãng phí và bội chi khi hợp tác với các nhà thầu chính phủ. Musk tuyên bố rằng quả tên lửa đầu tiên của SpaceX sẽ được gọi là Falcon 1 (Chim cắt 1), phỏng theo tàu vận tải Millennium Falcon trong loạt phim Chiến tranh giữa các vì sao, còn anh sẽ đóng vai trò kiến trúc sư của một tương lai kỳ thú. Tại thời điểm chi phí phóng một tàu trọng tải 250 kg là từ 30 triệu đô-la trở lên, anh cam kết rằng Falcon 1 có thể mang theo một tàu trọng tải 635 kg với chi phí 6,9 triệu đô-la.
 Đúng với bản chất của anh, Musk đã đặt ra một lịch trình tham vọng đầy điên rồ cho tất cả những điều này. Một trong những bài thuyết trình đầu tiên của SpaceX đã cho biết công ty sẻ hoàn thành động cơ đầu tiên vào tháng Năm năm 2003, động cơ thứ hai vào tháng Sáu, thân tên lửa vào tháng Bảy, và lắp ráp hoàn chỉnh mọi thứ vào tháng Tám. Bệ phóng cũng sẽ được chuẩn bị sân sàng vào tháng Chín, và đợt phóng đầu tiên sẽ diễn ra vào tháng Mười một năm 2003, tức khoảng 15 tháng sau khi công ty được thành lập. Lẽ tất nhiên, hành trình đến Hỏa tinh cũng được lên lịch vào thời điểm nào đó gần cuối thập niên. Musk quả là một kẻ lạc quan theo kiểu logic, ngây thơ, cứ mải mê lập bảng biểu xem sẽ mãt bao lâu để điều động nhân viên tiến hành toàn bộ công trình này. Đó cũng là vạch chuẩn để không ngừng đấu tranh đạt tới mà anh đặt ra cho bản thân và các nhân viên, với tất cả những khiếm khuyết rất con người của họ.
Khi giới đam mê không gian tìm hiểu về công ty mới này, họ thực sự không hề quan tâm liệu lịch trình chuyên chở của Musk nghe có thực tế hay không. Họ chỉ bị xúc động vì đã có người quyết định lựa chọn một phương pháp nhanh chóng và ít tốn kém. Một số nhân vật trong giới quân sự còn đề xuất ý tưởng cung cấp cho các lực lượng vũ trang thêm nhiều khả năng công kích ngoài không gian, hay như họ gọi là “đòn đáp trả từ vũ trụ”. Nếu xung đột bùng lên, giới quân sự muốn rằng họ phải có khả năng đáp trả bằng các vệ tinh được chủ ý chế tạo cho sứ mệnh này. Nó đồng nghĩa với sự thoát khỏi một mô hình vốn phải mất mười năm để tạo dựng và triển khai được một vệ tinh cho một nhiệm vụ cụ thể. Thay vào đó, giới quân sự mong muốn những vệ tinh rẻ hơn, nhỏ hơn có thể ngụy trang thông qua phần mềm và phóng lên mà không phải mất nhiều thời gian báo trước — rất a
giống với những vệ tinh dùng một lần. “Nếu chúng tôi làm được điều đó, cuộc chơi sẽ thực sự thay đổi,” Pete Worden, một tướng không quân về  hưu cho biết; ông từng gặp gỡ Musk khi còn làm công tác cố vấn cho Bộ Quốc phòng. “Nó có thể giúp chúng tôi đáp trả từ không gian hệt như những gì chúng tôi làm trên đất liền, trên biển hay trên không.” Công việc của Worden đòi hỏi ông phải quan sát những công nghệ cấp tiến. Trong khi nhiều người ông gặp đều trông như những kẻ mơ mộng lập dị, thì Musk lại dường như có căn cơ vững chắc, am hiểu và có năng lực. “Tôi đã trò chuyện với những người tự chế súng laser và những thứ khác trong ga-ra của họ. Và rõ ràng Musk khác hẳn. Cậu ấy biết nhìn xa trông rộng và là người thực sự hiểu về công nghệ tên lửa, và tôi có ấn tượng với cậu ấy.”
Giống như quân đội, giới khoa học cũng muốn thâm nhập vào không gian với chi phí thấp, nhanh chóng và có khả năng phóng lên các thiết bị rồi nhận dữ liệu chuyển về một cách đều đặn. Một số công ty trong ngành y tế và hàng tiêu dùng cũng hứng thú với những chuyến du hành vào không gian, nhằm tìm hiểu xem điều kiện thiếu trọng lực sẽ ảnh hưởng đến đặc tính cảc sản phẩm của họ ra sao.
Phương tiện phóng giá rẻ nghe có vẻ hay ho, nhưng khả năng một công dân có thể chế tạo riêng một chiếc hoạt động hiệu quả vẫn còn rất xa vời. Chỉ cần tra cứu nhanh trên YouTube cụm từ “các vụ nổ tên lửa” sẽ nhận được hàng nghìn video tổng hợp ghi lại những thảm họa phóng tên lửa của Mỹ và Liên Xô từng xảy ra qua nhiều thập kỷ. Từ năm 1957 đến năm 1966, chỉ riêng Mỹ đã cố gắng phóng hơn 400 tên lửa vào quỹ đạo, và khoảng 100 trong số đó đã vỡ và bốc cháy. Các tên lửa từng vận chuyển trang thiết bị lên không gian hầu hết đều là tên lửa chiến đấu được điều chỉnh và chế tạo qua nhiều lần thử và sai, được chính phủ trợ vốn hàng tỉ đô-la. SpaceX có lợi thế nhờ khả năng học hỏi từ thành tựu trong quá khứ và có vài nhân sự từng giám sát các dự án tên lửa tại các công ty như Boeing và TRW. Điều đó nói lên rằng, một công ty khởi nghiệp sẽ không có đủ ngân sách để có thể chịu đựng được một loạt vụ nổ như vậy. Khá nhất thì SpaceX chỉ có từ ba đến bốn lần phóng để làm Falcon 1 hoạt động được. “Mọi người nghĩ chúng tôi đã phát điên,” Mueller chia sẻ. “Tại TRW, tôi có cả một đội quân và nguồn vốn từ chính phủ. Còn bây giờ, chúng tôi đang chế tạo tên lửa giá rẻ từ những thứ tạp nham với một nhúm người. Không ai nghĩ nó sẽ thành công.”
Đến tháng Bảy năm 2002, Musk như chìm trong niềm phấn khích từ sự nghiệp đầy thách thức này, trong khi eBay tỏ ra quyết liệt hơn với lời chào mua 1,5 tỉ đô-la dành cho PayPal. Thương vụ này đã giúp Musk có thêm chút khả năng chi trả và cấp cho anh hơn 100 triệu đô-la để ném vào SpaceX. Với một khoản đầu tư trước lớn như thế, không ai còn có thể giật lấy quyền kiểm soát SpaceX từ tay Musk như họ đã từng làm với Zip2 và PayPal. Còn với những nhân viên bằng lòng đồng hành với Musk trong chuyến hành trình tưởng như không thể, “quả táo rụng” này sẽ đảm bảo việc làm trong ít nhất hai năm. Vụ mua lại cũng nâng cao hinh ảnh và danh tiếng của Musk, nhờ thế anh có thể tác động để giành được các cuộc hẹn với những quan chức chính phủ hàng đầu và thống trị các nhà phân phối.
Thế rồi, tất cả những điều đó bỗng chốc dường như chẳng còn ý nghĩa gì. Justine đã hạ sinh một cậu con trai - Nevada Alexander Musk. Cậu bé qua đời khi mới được mười tuần tuổi, cũng là lúc thương vụ với eBay được công bố. Gia đình Musk đã ủ Nevada lại để cậu bé chợp mắt một lát và đặt cậu nằm ngửa như các bố mẹ vẫn được hướng dẫn. Khi họ quay lại kiểm tra, Nevada đã không còn thở nữa; theo các bác sĩ, cậu đã gặp một tai nạn liên quan đến hội chứng chết đột ngột ở trẻ sơ sinh. “Nhân viên cấp cứu cố gắng hồi tỉnh thằng bé, nhưng nó đã thiếu khí ôxi quá lâu và bị chết não,” Justine viết trong bài báo của cô cho tờ Marie Claire. “Thằng bé phải dùng thiết bị duy trì sự sống suốt ba ngày trong một bệnh viện ở Hạt Orange trước khi chúng tôi quyết định rút ống thở. Nó đã ra đi trong vòng tay tôi. Elon thể hiện rõ rằng anh ấy không muốn nói về cái chết của Nevada. Tôi không hiểu điều này, rằng cứ như thể anh ấy không hiểu vi sao tôi lại thể hiện nỗi đau ra ngoài và bảo rằng tôi ‘bị tình cảm chi phối’. Thay vi thế, tôi phải chôn chặt cảm xúc của mình, đương đầu với cái chết của Nevada bằng cách lần đầu tiên bước vào trung tâm thụ tinh nhân tạo chưa đầy hai tháng sau đó. Elon và tôi quyết định có con thêm lần nữa càng nhanh càng tốt. Trong năm năm tiếp theo, tôi đã sinh đôi, rồi sinh ba.” Về sau, Justine đã ghi nhận phản ứng của Musk như một cơ chế phản vệ mà anh học được từ những năm tháng đau khổ thời thơ ấu. “Anh ấy không giỏi chống chọi với những thời khắc đen tối,” cô chia sẻ với tạp chí Esquire. “Anh ấy cứ tiến lên, và tôi nghĩ điều đó đã giúp anh ấy tồn tại.”
Musk chỉ mở lòng với hai người bạn thân và bày tỏ nỗi đau đớn sâu sắc của anh. Nhưng đa phần Justine đều đọc được tâm ý của chồng mình. Anh không thấy giá trị của việc bày tỏ nỗi đau công khai. “Khi nói về chuyện đó, tôi vô cùng đau khổ,” Musk chia sẻ. “Tôi không chắc vì sao mình lại muốn nói về những sự việc vô cùng đau xót. Chúng chẳng tốt lành gì cho tương lai cả. Nếu bạn có những đứa con khác và có nghĩa vụ với chúng, thì việc đắm chìm trong nỗi đau chỉ làm khổ mọi người xung quanh bạn thôi. Tôi không chắc nên làm gì trong những tình huống thế này.”
 
Chú thích:
[4] Tức hệ thống Sáng kiến phòng thủ chiến lược (SDI : Strategic Defense Initiative) do Tổng thống Mỹ Ronald Reagan đề xuất vào năm 1983, gồm một hệ thống laser và tên lửa dùng đánh chặn tên lửa đạn đạo xuyên lục địa. Nó được đặt tên « Star Wars » vì chịu ảnh hưởng của loạt phim đình đàm cùng thời.
[5] Hãng hàng không giá rẻ lớn nhất tại Mỹ.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Sau cái chết của Nevada, Musk vùi đầu vào SpaceX và nhanh chóng mở rộng các mục tiêu của công ty. Những cuộc trò chuyện với các nhà thầu hàng không vũ trụ xung quanh khả năng cộng tác của họ với SpaceX làm Musk tỉnh ngộ. Nghe có vẻ như họ đều tính phí rất cao và làm việc ì ạch. Kế hoạch hợp nhất các bộ phận tên lửa do những công ty này sản xuất đã dẫn đến quyết định tiến hành càng sát với thực tế càng tốt tại SpaceX. “Cùng với việc hình dung lại các ý tưởng từ nhiều chương trình sản xuất phương tiện phóng trước đây, từ tàu Apollo đến X-34/Fastrac, SpaceX vẫn tự chế tạo toàn bộ tên lửa Falcon từ đầu, bao gồm cả động cơ, bơm turbo, cấu trúc két đông lạnh lẫn hệ thống dẫn đường,” công ty thông báo trên trang web của mình. “Quyết định tự chế tạo trong nội bộ ngay từ đầu đã làm gia tăng khó khăn và vốn đầu tư cần thiết, nhưng không còn con đường nào khác để đạt được sự cải tiến cần thiết đối với chi phí bay vào không gian.”
Các giám đốc tại SpaceX mà Musk thuê được quả là một đội hình toàn sao. Mueller bắt tay vào chế tạo ngay hai động cơ - Merlin và Kestrel, đặt theo tên của hai loài chim cắt. Chris Thompson, người một thời là lính thủy đánh bộ và quản lý việc sản xuất các tên lửa Delta và Titan tại Boeing, tham gia vào hoạt động này với tư cách phó chủ tịch. Tim Buzza cũng đến từ Boeing, nơi anh được mệnh danh là một trong những nhà thử nghiệm tên lửa hàng đầu thế giới. Steve Johnson, từng làm việc tại JPL và hai công ty hàng không vũ trụ thương mại khác, được cất nhắc làm kỹ sư cơ khí cấp cao. Kỹ sư hàng không vũ trụ Hans Koenigsmann phụ trách phát triển các hệ thống điện tử, dẫn đường và điều khiển. Musk cũng chiêu mộ Gwynne Shotwell, một nhân vật kỳ cựu trong ngành hàng không vũ trụ, người khởi đầu tại SpaceX trong vai trò nhân viên kinh doanh đầu tiên, rồi trở thành nữ chủ tịch và là cánh tay phải đắc lực của Musk trong những năm sau đó.
Thuở ban đầu này cũng đánh dấu sự xuất hiện của Mary Beth Brown, một nhân vật nay đã trở thành huyền thoại trong lịch sử SpaceX lẫn Tesla. Brown — hay MB, như mọi người gọi cô - đã trở thành trợ thủ trung thành của Musk, tạo nên một phiên bản đời thực của mối quan hệ giữa Tony Stark và Pepper Potts trong Iron man [6]. Nếu Musk làm việc 24 giờ một ngày thi Brown cũng thế. Trong suốt nhiều năm, cô đã mang thức ăn đến cho Musk, đặt lịch hẹn làm việc cho anh, sắp xếp thời gian giữa anh với bọn trẻ, gom giặt quần áo của anh, xử lý các yêu cầu từ báo chí, và khi cần thì kéo Musk ra khỏi các cuộc họp để giúp anh đúng lịch trình. Cô đã trở thành chiếc cầu nối duy nhất giữa Musk với mọi mối quan tâm của anh, và cũng là tài sản vô giá đối với mọi nhân viên công ty.
Brown đóng vai trò then chốt trong quá trình phát triển văn hóa SpaceX từ những ngày đầu. Cô chú ý đến những chi tiết nhỏ như các thùng rác hình phi thuyền màu đỏ trong văn phòng và giúp cân bằng lại cảm xúc xung quanh đấy. Khi xảy ra vấn đề liên quan trực tiếp đến Musk, Brown sẽ đeo lên bộ mặt nghiêm nghị và thể hiện thái độ dứt khoát. Trong khoảng thời gian còn lại, cô luôn nở một nụ cười thoải mái ấm áp cùng nét duyên dáng làm nguôi giận bất kỳ ai. “Luôn là, ‘Ôi, bạn thân mến. Khỏe không, bạn thân mến?’” một kỹ thuật viên của SpaceX nhớ lại. Brown tập hợp những e-mail kỳ quặc gửi đến cho Musk và gửi chúng vào đống thư từ “Kẻ gàn dở của tuần” để mọi người cùng giải trí. Một trong những thư hay hơn cả là một phác họa chì về con tàu không gian hình lưởi liềm với một chấm đỏ trên mặt giấy. Người gửi đã khoanh tròn chấm đỏ này trong bức vẽ của mình rồi viết: “Cái gì thế? Máu?” ngay bên cạnh. Trong các bức thư khác là sơ đồ một cỗ máy chuyển động vĩnh cửu cùng bản đề xuất chế tạo một chú thỏ bơm phồng khổng lồ có thế dùng bít chặt các lỗ tràn dầu. Chỉ trong một thời gian ngắn, trách nhiệm của Brown đã mở rộng sang quản lý sổ sách của SpaceX và giải quyết luồng công việc khi Musk vắng mặt. “Cô ấy rất hay chỉ huy,” người kỹ thuật viên nọ cho biết. “Cô ấy luôn bảo, ‘Đây là điều Elon muốn.”
Tuy nhiên, biệt tài xuất sắc nhất của cô chính là đọc được tâm trạng của Musk. Tại SpaceX lẫn Tesla, Brown luôn đặt bàn làm việc của cô trước Musk vài mét để mọi người buộc phải bước qua cô trước khi gặp anh. Nếu ai đó cần yêu cầu anh cho phép mua một món đắt tiền, họ sẽ phải dừng lại trước mặt Brown trong chốc lát và chờ cô gật đầu mới vào gặp Musk, hoặc phải bỏ đi nếu cô lắc đầu vì Musk đang có một ngày không vui. Cơ chế “gật và lắc” này trở nên đặc biệt quan trọng trong suốt giai đoạn Musk trải qua những lần bất hòa như trong tiểu thuyết, hay những khi trạng thái tinh thần của anh mong manh hơn lúc bình thường.
Nhóm kỹ sư phổ biến tại SpaceX thường là những chàng trai trẻ luôn đạt thành tích vượt kỳ vọng. Musk đích thân đến các khoa hàng không vũ trụ của những trường đại học hàng đầu và hỏi han về các sinh viên vừa hoàn thành các bài thi với điểm số cao nhất. Đối với anh, việc gọi điện cho sinh viên khi họ đang trong phòng ký túc và tuyển về làm việc ngay trên điện thoại là chuyện thường tình. “Tôi đã nghĩ đó chỉ là một cuộc gọi chơi khăm,” Michael Colonno, một sinh viên từng nhận điện thoại của Musk khi đang theo học trường Stanford, cho biết. “Tôi không tin dù chỉ một phút rằng anh ấy sở hữu một công ty tên lửa.” Một khi các sinh viên đã trông thấy Musk trên Internet, họ sẽ dễ dàng tin tưởng SpaceX. Lần đầu tiên trong nhiều năm, nếu không muốn nói là nhiều thập niên, các thanh niên cừ khôi thuộc ngành hàng không học — vốn khao khát khám phá không gian — đã thực sự có một công ty tràn đầy hứng khởi để theo đuổi, bước vào con đường thiết kế một quả tên lửa hay thậm chí trở thành một phi hành gia mà không phải đầu quân cho một nhà thầu chính phủ quan liêu. Khi lời đồn thổi về tham vọng của SpaceX lan xa, các kỹ sư hàng đầu từ Boeing, Lockheed Martin và Orbital Sciences với tinh thần chấp nhận rủi ro cao độ cũng trốn đến nhập hội cùng chàng đại gia mới phất.
Suốt năm đầu tiên tại SpaceX, cứ mỗi tuần lại có một hoặc hai nhân viên mới gia nhập. Kevin Brogan là nhân viên thứ 23 và đến từ TRW, nơi anh từng nếm trải nhiều chính sách nội bộ khác nhau ngăn cản anh hoàn thành công việc. ‘‘Tôi gọi đó là câu lạc bộ nhà quê,” anh cho biết. “Chẳng ai làm gì cả.” Brogan bắt đầu làm tại SpaceX ngay sau cuộc phỏng vấn và được bảo hãy tự “săn” lấy một chiếc máy tính trong văn phòng để dùng. “Cứ như thể tôi phải đến cửa hàng điện gia dụng Fry’s để lấy những gì mình cần và đến hàng văn phòng phẩm Staples để lấy một chiếc ghế vậy,” Brogan kể lại. Anh lập tức tập trung làm việc suốt 12 giờ, lái xe về nhà, ngủ 10 giờ, rồi quay lại ngay nhà máy. “Tôi kiệt sức và đầu óc như bị bóp nghẹt,” anh nói. “Nhưng tôi đã nhanh chóng yêu quý nơi này và hoàn toàn bị chinh phục.”
Một trong những dự án đầu tiên mà SpaceX quyết định lao vào là chế tạo một máy phát khí đốt, một cỗ máy không khác gì một động cơ tên lửa nhỏ sản sinh ra khí đốt. Mueller, Buzza cùng hai kỹ sư trẻ đã lắp ráp máy phát này tại Los Angeles, để nó vào sau một chiếc xe tải nhỏ rồi lái đến Mojave, California để thử nghiệm. Mojave, thị trấn trên sa mạc cách Los Angeles khoảng 160 km, đã trở thành trung tâm của các công ty hàng không vũ trụ như Scaled Composites và XCOR. Nhiều dự án hàng không vũ trụ cũng được đặt tại sân bay Mojave, nơi các công ty thiết lập nhà xưởng của họ và phóng lên đủ loại máy bay cùng tên lửa tiên tiến. Nhóm SpaceX rất hợp với môi trường này và đã mượn tạm bệ phóng thử nghiệm của XCOR, thiết bị có kích thước hoàn hảo để giữ máy phát khí đốt của họ. Lần khai hỏa đầu tiên diễn ra lúc 11 giờ sáng và kéo dài 90 giây. Máy phát khí đã hoạt động, nhưng nó lại bốc ra một đám mây gồm toàn khói đen mù mịt lơ lửng ngay trên tháp không lưu trong cái ngày lặng gió ấy. Quản lý sân bay tới khu thử nghiệm và mắng mỏ Mueller cùng Buzza. Quan chức sân bay cùng một số người từ XCOR tham gia giúp đỡ đã thuyết phục các kỹ sư SpaceX hãy bình tĩnh và chờ đến hôm sau để thử thêm lần nữa. Nhưng thay vì thế, người chỉ huy mạnh mẽ là Buzza lại sẵn sàng thể hiện cá tính gan lì của SpaceX trong cuộc chơi, đã liên hệ với hai xe tải để mang đến thêm nhiên liệu, trấn an quản lý sân bay, và chuẩn bị bệ phóng thử nghiệm cho một đợt khai hỏa nữa. Trong những ngày kế tiếp, nhóm kỹ sư SpaceX đã hoàn tất thủ tục để được thử nghiệm nhiều lần mỗi ngày - chuyện chưa từng có trong thực tế ở sân bay — và khiến máy phát khí đốt hoạt động đúng ý họ sau hai tuần thử nghiệm.
Họ đến Mojave và một số địa điểm khác thêm vài chuyến nữa, bao gồm một bệ phóng thử tại Căn cứ Không quân Edwards và một bệ khác tại Mississippi. Trong chuyến “hành trình tên lửa miền đồng quê” này, các kỹ sư SpaceX đã đi ngang một khu thử nghiệm rộng hơn 120 hecta tại McGregor, một thành phố nhỏ gần trung tâm bang Texas. Họ thực sự thích nơi này và đề nghị Musk mua nó. Hải quân đã thử nghiệm tên lửa trên mảnh đất này từ nhiều năm trước và Andrew Beal cũng thế trước khi công ty hàng không vũ trụ của ông sụp đổ. “Sau khi Beal nhận ra ông ta sẽ phải mất đến 300 triệu đô-la đế chế tạo một quả tên lửa đủ sức phóng các vệ tinh khá lớn vào quỹ đạo, ông đành dừng lại và bỏ lại phía sau một cơ sở hạ tầng hữu ích dành cho SpaceX, gồm cả một tháp ba chân bằng bê-tông cao ba tầng với các chân to bằng kích thước những gốc cây gỗ đỏ,” phóng viên Michael Belfiore viết trong cuốn Rocketeers (Những chuyên gia tên lửa), cuốn sách ghi lại sự trỗi dậy của một nhóm công ty vũ trụ tư nhân.
Jeremy Hollman là một trong những kỹ sư trẻ sớm chuyển đến Texas sinh sống và đã điều chỉnh lại khu vực thử nghiệm theo nhu cầu của SpaceX. Hollman là ví dụ điển hình của kiểu người Musk muốn tuyển: Anh tốt nghiệp kỹ sư hàng không vũ trụ tại Iowa State University và bằng thạc sĩ kỹ thuật du hành vũ trụ tại University of Southern California. Anh đã dành vài năm công tác trong vai trò kỹ sư thử nghiệm tại Boeing, chuyên về  động cơ phản lực, tên lửa, và phi thuyền [7] .
Công việc tại Boeing đã giúp Hollman không còn bỡ ngỡ với ngành hàng không vũ trụ rộng lớn. Ngày đầu tiên anh đi làm chính là ngày Boeing hoàn tất thương vụ sáp nhập với McDonnell Douglas. Nhà thầu chính phủ khổng lổ được ra đời từ kết quả đó đã tổ chức một buổi dã ngoại nhằm nâng cao nhuệ khí cho nhân viên, nhưng lại thất bại ngay trong hoạt động đơn giản này. “Người đứng đầu một trong các bộ phận đã có bài phát biểu rằng đây là một công ty có tầm nhìn, rồi nói thêm rằng công ty rất khắt khe về chi phí,” Hollman kể lại. “Ông ta yêu cầu tất cả mọi người phải tự giới hạn với một miếng thịt gà.” Kể từ đó, mọi chuyện không có nhiều tiến triển. Mọi dự án tại Boeing đều tạo cảm giác to tát, cồng kềnh, và tốn kém. Chính vì thế, khi Musk đến thuyết phục về một sự thay đổi cấp tiến, Hollman đã chộp ngay. “Tôi tin đó là cơ hội mình không thể bỏ qua,” anh khẳng định. Ở tuổi 23, Hollman trẻ, độc thân và sẵn sàng từ bỏ mọi sự hào nhoáng của cuộc sống vì thích làm việc cho SpaceX không ngừng nghỉ, và đã trở thành “phó tướng” của Musk.
 
Mueller đã phát triển một cặp mô hình máy tính ba chiều cho hai động cơ anh muốn chế tạo. Merlin là động cơ cho tầng đầu tiên của Falcon 1 và đưa nó rời mặt đất, còn Kestrel là động cơ nhỏ hơn nhằm cung cấp năng lượng cho tầng thứ hai cao hơn của tên lửa và dẫn đường cho nó vào không gian. Hollman cùng Mueller đã xác định xem SpaceX sẽ tự chế tạo bộ phận nào của động cơ trong nhà máy và bộ phận nào sẽ phải mua. Đối với các bộ phận cần mua, Hollman phải đến nhiều cửa hàng máy móc khác nhau, đặt giá rồi định ngày giao hàng. Một số thợ máy thường xuyên phản ánh với Hollman rằng lịch trình của SpaceX thật dở hơi. Những người khác lại dễ tính hơn và cố điều chỉnh một sản phẩm có sẵn sao cho khớp với nhu cầu của SpaceX thay vì phải chế tạo thứ gì đó từ đầu. Hollman cũng nhận ra sự sáng tạo sẽ giúp anh thành công. Chẳng hạn, anh khám phá rằng việc thay đổi các vòng đệm trên một số bộ van xe hơi có sẵn sẽ làm chúng phù hợp với việc sử dụng nhiên liệu tên lửa.
Sau khi SpaceX hoàn thành động cơ đầu tiên tại nhà máy ở California, Hollman đã chất nó cùng hàng đống trang thiết bị khác lên một chiếc moóc U-Haul. Anh nối chiếc U-Haul vào sau một chiếc Hummer H2 màu trắng rồi chở hơn 1,8 tấn thiết bị [8]  xuyên đường Liên bang số 10 từ Los Angeles đến Texas, nơi có khu vực thử nghiệm. Sự xuất hiện của động cơ này tại Texas đã mở đầu cho một trong những hoạt động quan trọng gắn với lịch sử SpaceX. Ở giữa bầy rắn đuôi chuông, kiến lửa, sự cô lập, và cái nóng thiêu đốt, nhóm kỹ sư do Buzza và Mueller dẫn đầu đã bắt đầu quá trình tìm hiểu mọi sự phức   tạp của hai động cơ. Chính cú phóng áp suất cao chìm trong những tiếng nổ - hay như các kỹ sư lịch sự gọi là “những mảnh tháo rời nhanh không liệu trước” - sẽ quyết định liệu nhóm nhỏ kỹ sư này có thể thực sự sánh ngang với nỗ lực và khả năng của các quốc gia-dân tộc hay không. Các nhân viên SpaceX đã “làm phép rửa tội” cho khu thử nghiệm bằng một kiểu cách phù hợp: nốc cạn một chai cognac Rémy Martin 1.200 đô-la với mấy chiếc cốc giấy và vượt qua màn kiểm tra nồng độ cồn khi quay về khu căn hộ của công ty trên chiếc Hummer. Kể từ đó, hành trình từ California đến địa điểm thử nghiệm được biết đến với cái tên “Tuyến đường gia súc Texas” (Texas Cattle Haul). Các kỹ sư SpaceX sẽ làm việc mười ngày liên tục, trở về California vào cuối tuần, rồi quay trở lại. Nhầm giảm bớt gánh nặng khi di chuyển, Musk đôi khi để họ dùng máy bay riêng của anh. “Nó chở được sáu người,” Mueller cho biết. “Hoặc bảy người nếu ai đó chịu ngồi trong phòng vệ sinh, chuyện thường tình với chúng tôi.”
Tuy hải quân và Beal đã để lại một số đồ dùng cho việc thử nghiệm, nhưng SpaceX vẩn phải chế tạo phần lớn trang thiết bị theo ý mình. Một trong những cấu trúc lớn nhất trong số này là một bệ phóng thử nằm ngang dài 9 mét, rộng 4,5 mét và cao 4,5 mét. Tiếp đó là một bệ phóng thử khác nằm dọc cao đến hai tầng. Khi cần khai hỏa, động cơ sẽ được gắn vào một trong hai bệ phóng thử — được trang bị các bộ cảm biến nhằm thu thập dữ liệu, và được theo dõi qua một số máy quay. Các kỹ sư sẽ trú trong boong-ke với một mặt bên được bờ đất đắp cao bảo vệ. Nếu có gì đó không ổn, họ sẽ xem xét đường dẫn nhiên liệu từ webcam hoặc chầm chậm mở nắp boong-ke để lắng nghe xem có dấu hiệu gì không. Người dân địa phương ở thị trấn hiếm khi phàn nàn về tiếng ồn, mặc dù gia súc tại các nông trại gần đó có vẻ như hơi hoảng loạn. “Cơ chế phòng vệ tự nhiên của loài bò khiến chúng quây lại với nhau và bắt đầu chạy thành vòng tròn,” Hollman cho biết. “Mỗi khi chúng tôi khai hỏa động cơ, lũ bò lại chạy tán loạn và quây thành vòng tròn với các con non đứng ngay giữa. Chúng tôi đã lắp đặt một máy quay gắn trên lũ bò để quan sát chúng.”
Cả Kestrel và Merlin đều vấp phải những khó khăn, và chúng được thử nghiệm xen kẽ. “Chúng tôi cho chạy Merlin đến khi nào hết phần cứng hoặc phạm sai lầm tồi tệ,” Mueller cho biết. “Sau đó, chúng tôi cho chạy tiếp Kestrel và chẳng bao giờ hết việc để làm.” Trong nhiều tháng ròng, các kỹ sư SpaceX luôn có mặt tại khu thử nghiệm từ 8 giờ sáng và làm việc với các động cơ suốt 12 giờ đồng hồ, trước khi nghỉ ngơi và đến quán Outback Steakhouse dùng bữa tối. Mueller có biệt tài nhìn qua toàn bộ dữ liệu thử nghiệm và phát hiện ra động cơ bị nóng hay lạnh ở đâu khi chạy hay còn lỗi nào khác. Anh gọi về California và yêu cầu thay đổi về phần cứng, sau đó nhóm kỹ sư sẽ sửa sang lại các bộ phận và gửi chúng đến Texas. Thường thì công nhân tại Texas sẽ tự điều chỉnh bằng chiếc máy cán và máy tiện mà Mueller đề xuất. “Kestrel khởi đầu thực sự rất tệ, và một trong những khoảnh khắc tự hào nhất của tôi chính là nâng hiệu suất của nó từ tồi tệ thành tuyệt vời với những món đồ chúng tôi mua được qua mạng và qua cửa hàng máy móc,” Mueller nói. Một số thành viên của nhóm Texas đã cải thiện kỹ năng của họ tốt đến mức chế tạo thành công một động cơ thử nghiệm có giá trị chỉ trong ba ngày. Và tương tự, những người này được yêu cầu phải thông thạo về phần mềm. Họ đã thức thâu đêm để tạo ra một chiếc bơm turbo cho động cơ, rồi lại cắm cúi làm việc suốt đêm tiếp theo để trang bị lại bộ ứng dụng dùng điêu khiển động cơ. Hollman bao giờ cũng làm việc theo kiểu này và quả là một siêu sao, nhưng anh không phải là chàng kỹ sư trẻ trung, lanh lợi duy nhất dám bước qua luật lệ khi cần thiết và có tinh thần mạo hiểm. “Những gì trải qua ở đây khiến tôi gấn như bị nghiện,” Hollman cho biết. “Bạn chỉ 24 hay 25 tuổi, thế mà họ đặt hết niềm tin vào bạn. Nó trao quyền cho bạn tối đa.”
 
Chú thích:
[6]. Tony Stark và Pepper Potts là hai nhân vật trong loạt phim Iron Man (Người Sắt) do hãng Paramount Pictures và Marvel Studios sản xuất (Robert Downie Jr. và Gwyneth Paltrow lần lượt thủ vai). Trong phim, Potts là trợ lý cấp cao của Tony, người đứng đầu tập đoàn Stark Industry. Sau này, cô được Stark tin tưởng trao quyền CEO, và cũng trở thành người tình của anh.
[7] . Buzza biết về công việc của Hollman tại Boeing và đã thuyết phục anh đến với SpaceX sau khi công ty thành lập được sáu tháng.
[8] Bao gồm cả một khối đồng nặng gần 600 kg.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.04.2023 11:50:50 bởi Thanh Vân>
Để bay vào không gian, động cơ Merlin cần phải đốt cháy trong 180 giây. Đó dường như là con số vô tận đối với các kỹ sư vừa bắt đầu công việc của họ tại Texas, khi động cơ chỉ cháy đúng nửa giây trước khi tắt ngúm. Lúc thì Merlin rung lắc dữ dội trong các thử nghiệm. Lúc thì nó lại phản ứng xấu với vật liệu mới. Lúc khác, nó còn rạn nứt và cần nâng cấp những bộ phận cốt yếu, như chuyển từ đường ống nhôm sang đường ống Inconel lạ lẫm hơn, một loại hợp kim chịu được nhiệt độ cực cao. Một lần khác, van nhiên liệu không mở ra đúng lúc và khiến toàn bộ động cơ nổ tung. Một đợt thử nghiệm khác cũng kết thúc trong thảm họa, khi toàn bộ bệ phóng thử cháy rụi. Thông thường, Buzza và Mueller sẽ có nhiệm vụ gọi điện báo tin xấu về  cho Musk và tóm tắt lại những thất bại trong ngày. “Elon khá kiên nhẫn,” Mueller nói. “Tôi nhớ có lần chúng tôi đã dùng cả hai bệ phóng thử và làm nổ tung cả hai trong một ngày. Tôi bảo Elon rằng chúng tôi có thể đặt một động cơ khác lên đó, nhưng tôi thực sự, thực sự rất thất vọng, mệt mỏi và loạn trí, đến mức đã phần nào xẵng giọng với Musk, ‘‘Chúng tôi có thể đặt thêm một động cơ chết tiệt nữa lên đó, nhưng hôm nay tôi đã làm nổ tung đủ thứ quái quỷ rồi.’’ Anh ấy đáp, ‘‘Okay, được rồi, ổn thôi. Bình tĩnh đi. Ngày mai chúng ta sẽ làm lại.” Sau này, các đồng nghiệp tại El Segundo kể lại rằng Musk đã suýt bật khóc giữa cuộc điện thoại đó khi nghe thấy nỗi thất vọng và phiền não trong giọng của Mueller.
Nhưng Musk lại không dung thứ cho những lời bào chữa hay sự thiếu vắng một kế hoạch tấn công rõ ràng. Hollman là một trong nhiều kỹ sư nhận ra điều này sau khi đối diện với một trong những cơn thịnh nộ mang thương hiệu Musk. “Cuộc gọi tồi tệ nhất của tôi chính là cuộc gọi đầu tiên,” Hollman kể lại. “Có điều gì đó không ổn, và Musk hỏi tôi phải mất bao lâu nó mới hoạt động trở lại, nhưng tôi đã không có câu trả lời tức thì. Anh ấy nói, ‘‘Anh cần phải làm. Chuyện này rất quan trọng với công ty. Mọi thứ đều phụ thuộc vào nó. Vì sao anh không có câu trả lời?’’ Anh ấy liên tục tấn công tôi bằng những câu hỏi sắc nhọn, thẳng thắn. Tôi đã nghĩ rằng điều quan trọng là cho anh ấy biết mọi thứ sẽ được khắc phục nhanh chóng ra sao, nhưng rồi tôi nhận ra rằng điều quan trọng hơn cả là phải nắm được mọi thông tin.”
Musk cũng trực tiếp tham gia vào quá trình thử nghiệm hết lần này đến lần khác. Một trong những ví dụ đáng nhớ hơn cả là khi SpaceX cố gắng hoàn thiện các ngăn làm mát cho động cơ của họ. Công ty đã mua vài ngăn làm mát dạng này với giá 75 nghìn đô-la mỗi ngăn, và cần dìm chúng dưới áp suất nước nhằm đánh giá khả năng chịu áp lực. Trong thử nghiệm ban đầu, một trong các ngăn đắt tiền này đã bị nứt. Sau đó, ngăn thứ hai lại nứt đúng chỗ cũ. Musk ra lệnh thử lần thứ ba, và các kỹ sư đứng đó chứng kiến với vẻ hãi hùng. Họ nghĩ phép thử có lẽ đã đặt ngăn dưới áp suất quá lớn và Musk đang thiêu rụi hàng loạt thiết bị đắt tiền. Khi ngăn thứ ba cũng nứt, Musk quyết định đem chúng trở về California, mang vào xưởng, và cùng với sự trợ giúp của một số kỹ sư, bắt đầu đổ đầy các ngăn bằng nhựa dính xem có thể bịt kín nó không. “Anh ấy không ngại làm bẩn tay mình,” Mueller nhận xét. “Anh ấy đứng đó trong đôi giày Ý cùng bộ quần áo đẹp đẽ với nhựa dính đầy người. Họ ở lại đấy cả đêm và thử thêm một lần nữa, nhưng dù sao nó cũng vỡ rồi.” Trong bộ trang phục bị hủy hoại, Musk đã kết luận rằng các ngăn này có sai sót, đồng thời kiểm tra giả thiết của mình và xử lý nhanh chóng bằng việc yêu cầu các kỹ sư để ra một giải pháp mới.
Những tai nạn trên đều là một phần của một quy trình cực nhọc nhưng năng suất. SpaceX tạo cảm giác về một gia đình nhỏ gắn bó chống lại cả thế giới. Cuối năm 2002, kho hàng của công ty rỗng không. Nhưng chỉ một năm sau, cơ sở vật chất tại đây đã ra dáng một nhà máy tên lửa thật sự. Nhiệm vụ phát triển các động cơ Merlin được giao lại cho Texas, và kết nối với dây chuyền lắp ráp nơi các thợ máy có thể gắn chúng với phần thân chính - hay tầng thứ nhất - của tên lửa. Có nhiều trạm được thiết lập để gắn kết tầng thứ nhất với tầng cao hơn của tên lửa. Các cần trục được đưa vào xưởng để đảm nhiệm việc bốc dỡ những bộ phận nặng nể, và các đường ray vận chuyển bằng kim loại màu xanh cũng được bố trí nhằm điều hướng thân tên lửa từ trạm này sang trạm khác trong nhà máy. SpaceX cũng bắt đầu chế tạo các khung, hoặc thùng, nhằm bảo vệ các tàu trọng tải ở đầu tên lửa trong suốt quá trình phóng rồi mở ra như một con sò trong không gian để đưa kiện hàng ra.
SpaceX cũng đã có được một khách hàng. Theo lời Musk, quả tên lửa đầu tiên của họ sẽ phóng vào “đầu năm 2004” từ Căn cứ Không quân Vandenberg, mang theo một vệ tinh TacSat-1 cho Bộ Quốc phòng. Với một mục tiêu như thế đang đến gần, chỉ tiêu đặt ra cho họ là phải làm việc 24 giờ/ngày, 6 ngày/tuần, dù nhiều người thậm chí còn làm lâu hơn thế để có thêm thời gian. Thời gian nghỉ ngơi (nếu có) chỉ bắt đầu từ khoảng 8 giờ tối vào các đêm trong tuần, khi Musk cho phép mọi người dùng máy tính làm việc để chơi những game bắn súng góc-nhìn-thứ- nhất kiểu như Quake III Arena và Counter-Strike đấu với nhau. Vào đúng giờ đã định, tiếng lên đạn sẽ vang lên thành từng đợt khắp văn phòng, hệt như có 20 người được vũ trang cho trận quyết chiến vậy. Musk - dùng tay cầm điều khiển game Random9 - luôn giành phần thắng, chế giễu và bắn xả vào các nhân viên của anh không thương tiếc. “CEO bắn thẳng vào chúng tôi bằng tên lửa và súng plasma,” Colonno cho biết. “Tệ hơn là anh ấy chơi giỏi đến đáng lo ngại trong các game này và phản xạ nhanh đến điên rồ. Anh ấy biết mọi thủ thuật và biết hù dọa người khác như thế nào.”
Thời gian chờ phóng đã kích thích bản năng của người bán hàng trong Musk. Anh muốn công chúng biết rằng những công nhân cần mẫn của anh đã đạt thành quả và khua chiêng múa trống về không khí hứng khởi xung quanh SpaceX. Musk quyết định trưng bày nguyên mẫu của Falcon 1 trước công chúng vào tháng Mười hai năm 2003. Công ty sẽ rước Falcon 1 cao bảy tầng đi khắp đất nước trên một giàn khung được làm riêng và đặt nó - cùng hệ thống phóng cơ động của SpaceX - bên ngoài trụ sở Cục Quản lý Hàng không Liên bang (Federal Aviation Administration) tại Washington, D.C. Buổi họp báo bên lề sẽ tuyên bố rõ với Washington rằng một hãng sản xuất tên lửa hiện đại, khôn ngoan hơn và ít tốn kém hơn đã xuất hiện.
Điệu ca vũ marketing này dường như chẳng có ý nghĩa gì đối với các kỹ sư SpaceX. Họ đang làm việc hơn trăm giờ mỗi tuần để tạo ra một quả tên lửa thực thụ mà SpaceX cần cho việc kinh doanh. Musk muốn họ dựng nên một mô hình với vẻ ngoài hào nhoáng. Các kỹ sư lại được gọi về  từ Texas và nhận thêm một hạn chót chẳng khác nào mối ung nhọt: lắp ráp món đồ trang trí này. “Theo ý tôi, đó chỉ là chuyện vô bổ,” Hollman thẳng thắn. “Nó chẳng nâng tầm được thứ gì cả. Trong suy nghĩ của Musk, nó sẽ mang về cho chúng tôi nhiều hậu thuẫn từ những nhân vật quan trọng trong chính phủ.”
Trong khoảng thời gian dựng mô hình cho sự kiện, Hollman đã trải qua đủ mọi cung bậc thăng trầm khi làm việc cho Musk. Chàng kỹ sư đã đánh mất chiếc kính mình thường đeo từ mấy tuần trước, khi nó trượt khỏi mặt anh và rơi xuống ống dẫn lửa tại khu thử nghiệm Texas. Kể từ đó, Hollman đành đeo một cặp kính bảo hộ cũ theo chỉ định [9], nhưng nó cũng hỏng nốt do anh đã làm xước hai mắt kính khi cố hụp xuống dưới một động cơ tại nhà máy SpaceX. Do không có thời gian rỗi để đo thị lực, Hollman bắt đầu cảm thấy sự minh mẫn của mình giảm dần. Giờ làm việc kéo dài, rồi cặp kính xước, rồi trò quảng cáo cho công chúng - tất cả đã vượt quá sức anh.
Một đêm nọ trong nhà máy, anh đã trút bỏ mọi nỗi niềm mà không nhận thấy Musk đang đứng gần đó và nghe được tất cả. Hai giờ sau, Mary Beth Brown xuất hiện với một tấm thẻ hẹn gặp chuyên gia phẫu thuật mắt Lasik. Khi Hollman đến gặp bác sĩ, anh mới biết rằng Musk đã đồng ý thanh toán chi phí phẫu thuật. “Elon có thể đòi hỏi cao, nhưng anh ấy sẽ đảm bảo mọi chướng ngại ngáng đường mình đều bị loại bỏ,” Hollman nhận xét. Khi ngẫm lại, anh còn ấm lòng trước những suy nghĩ dài hạn đằng sau kế hoạch tại Washington của Musk. “Tôi nghĩ anh ấy muốn bổ sung thêm yếu tố hiện thực cho SpaceX, và nếu anh đáp một quả tên lửa xuống sân trước nhà ai đó, họ sẽ khó lòng phủ nhận nó,” Hollman nói.
Sự kiện tại Washington kết thúc với sự đón nhận nồng nhiệt, và chỉ ít tuần sau đó, SpaceX đã công bố thêm một tin sửng sốt khác. Mặc dù vẫn chưa phóng thậm chí dù chỉ một quả tên lửa, nhưng SpaceX đã tiết lộ kế hoạch dành cho quả thứ hai. Song song với Falcon 1, nó sẽ chế tạo Falcon 5. Như tên gọi, quả tên lửa này sẽ có năm động cơ và có thể mang theo khối lượng lớn hơn - khoảng 4,17 tấn - vảo tầng quỹ đạo thấp quanh Trái Đất. Điều quan trọng là về mặt lý thuyết, Falcon 5 còn có thể bay đến tận Trạm Không gian Quốc tế (ISS: International Space Station) với nhiệm vụ tái cung cấp - một khả năng có thể mở ra cho SpaceX những hợp đồng lớn với NASA. Để giải tỏa nỗi ám ảnh của Musk về độ an toàn, tên lửa này được cho là vẫn có thể hoàn thành sứ mệnh ngay cả khi 3/5 động cơ bị hỏng, điều giúp nó đạt đến độ tin cậy chưa từng có trong thị trường tên lửa trong những thập niên qua.
Cách duy nhất để theo đuổi tất cả những điều đó là thực hiện những gì SpaceX đã hứa hẹn từ ban đầu: hoạt động với tinh thần của một công ty khởi nghiệp từ Thung lũng Silicon. Musk luôn tìm kiếm các kỹ sư có đầu óc, những người không chỉ học hành tốt tại trường mà còn có tài năng xuất chúng. Khi đã tìm được ai đó đủ giỏi, Musk sẽ kiên trì tán tỉnh họ đến SpaceX làm việc. Chẳng hạn, Bryan Gardner đã gặp Musk lần đầu tại bữa tiệc lớn của giới mê không gian tại các nhà chứa máy bay của sân bay Mojave và bắt đầu thảo luận về công việc chỉ ít phút sau đó. Một số công trình của Gardner thời còn đi học từng được Northrop Grumman tài trợ. “Elon bảo, ‘‘Chúng tôi sẽ mua hết chúng,” Gardner cho biết. “Thế nên, tôi đã e-mail cho anh ấy hồ sơ của mình lúc 2 giờ 30 sáng, và nửa tiếng sau anh ấy hồi âm, giải quyết mọi điều tôi đề cập trong đó theo từng điểm một. Anh ấy bảo, ‘‘Khi đến phỏng vấn, cậu phải đảm bảo mình giải thích rõ những gì cậu làm thay vì chỉ nói chung chung.’’ Tôi như chết trân vì Musk đã dành thời gian hồi âm.” Sau khi được tuyển, Gardner được giao nhiệm vụ cải tiến hệ thống kiểm tra van trên động cơ Merlin. Có đến hàng tá van, và anh phải mất từ ba đến năm tiếng để kiểm tra thủ công từng cái. Sáu tháng sau, Gardner đã thiết lập xong một hệ thống kiểm tra van tự động chỉ trong vài phút. Máy kiểm tra sẽ theo dõi từng van một, nên một kỹ sư tại Texas có thể xem xét các tiêu chí theo từng bộ phận riêng biệt. “Tôi đã được trao cho đứa con ghẻ tóc đỏ mà chẳng ai muốn nhận và tạo dựng được uy tín cho mình trong giới kỹ sư,” Gardner nói.
Khi có thêm nhiều người mới tuyển, SpaceX liền chuyển ra khỏi tòa cao ốc ban đầu đến lấp đầy vài tòa nhà trong khu phức hợp El Segundo. Các kỹ sư đang chạy một phần mềm truy xuất, xuất các tập tin hình ảnh kích thước lớn và cần đường truyển tốc độ cao giữa các văn phòng của họ. Nhưng láng giềng của SpaceX lại chặn đứng sáng kiến kết nối mọi tòa nhà của công ty bằng đường truyển cáp quang. Thay vì dành thời gian thương lượng với các công ty khác để dọn đường, trưởng bộ phận IT Branden Spikes, người đã làm việc với Musk từ Zip2 và PayPal, lại nảy ra một giải pháp nhanh chóng và ranh mãnh hơn. Một người bạn của Spikes làm cho công ty điện thoại đã vẽ một sơ đồ hướng dẫn cách lắp đặt đường cáp mạng một cách an toàn giữa hàng mớ đường dây điện, cáp truyền hình và điện thoại trên một trụ điện thoại. 2 giờ sáng, một nhóm người bí mật xuất hiện cùng với xe nâng và chạy dây cáp đến các trụ điện thoại, rồi lại chạy dây cáp thẳng đến các tòa nhà của SpaceX. “Chúng tôi dành cả ngày cuối tuần để làm việc đó thay vì mất hàng tháng trời xin giấy phép,” Spikes cho biết. “Chúng tôi luôn có cảm giác mình đang đối mặt với một thách thức không vượt qua nổi, và phải đoàn kết với nhau để chiến đầu vì lẽ phải.” Chủ đất của SpaceX, Alex Lidow, cười khùng khục khi nhớ lại mọi trò khôi hài của nhóm Musk. “Tôi biết họ đã làm nhiều trò mờ ám vào ban đêm,” ông nói. “Họ thông minh, cần giải quyết mọi việc và không phải lúc nào cũng có thời gian chờ đợi những thứ như sự phê duyệt của thành phố.”
Musk luôn yêu cầu các nhân viên của anh làm nhiều hơn và làm tốt hơn, dù trong văn phòng hay trong các hoạt động ngoại khóa. Một phần trách nhiệm của Spikes bao gồm cả việc thiết kế máy PC chơi game cho nhà Musk, đầy năng lực xử lý của máy đến giới hạn và phải làm mát chúng bằng dàn ống chạy khắp bên trong máy. Khi mớ linh kiện chơi game này cứ hỏng suốt, Spikes mới nhận ra biệt thự nhà Musk có đường dây điện quá tệ, nên quyết định kéo thêm một đường dây chuyên dụng thứ hai cho phòng chơi game nhằm khắc phục vấn đề. Việc làm đó cũng không giúp Spikes được đối đãi đặc biệt. “Có lần, máy chủ lưu trữ thư của SpaceX bị hỏng, thế là Musk cứ nói đi nói lại, ‘‘Đừng để chuyện chết tiệt này xảy ra thêm lần nào nữa,” Spikes kể. “Anh ấy có kiểu nhìn bạn — nhìn trừng trừng — và cứ nhìn mãi đến khi nào bạn hiểu ý anh ấy.”
Musk cũng cố gắng tìm kiếm các nhà thầu có thể bắt kịp với trí sáng tạo và nhịp độ của SpaceX. Chẳng hạn, thay vì luôn đòi hỏi ở các công ty hàng không vũ trụ, anh lại định vị những nhà cung cấp có kinh nghiệm tương đương từ các lĩnh vực khác. Ngay từ đầu, SpaceX đã cần một người chuyên chế tạo các thùng chứa nhiên liệu - vốn dĩ là phần thân chính của tên lửa — và Musk phải đến vùng Trung tây thảo luận với những công ty làm ra các thùng chứa nông nghiệp lớn bằng kim loại dùng trong ngành kinh doanh sữa và chế biến thực phẩm. Các nhà cung cấp này cũng gặp khó khăn hòng bắt kịp lịch trình của SpaceX, và Musk phải đích thân bay khắp đất nước để ghé thăm các nhà thầu — đôi khi khá đột ngột - nhằm kiểm tra tiến độ của họ. Một chuyến kiểm tra như thế đã diễn ra tại công ty Spincraft, bang Wisconsin. Musk cùng hai nhân viên SpaceX đã đáp máy bay vượt chiều dài đất nước và hạ cánh vào đêm khuya, với hy vọng trông thấy một kíp công nhân làm việc tăng ca để hoàn thành các thùng chứa nhiên liệu. Khi Musk phát hiện thấy Spincraft đang chậm tiến độ, anh liền quay sang một nhân viên của Spincraft và thông báo, “Anh đang chơi chúng tôi sau lưng đấy, và chuyện đó không hay đâu.” Tổng giám đốc khi ấy của Spincraft, David Schmitz, bảo rằng Musk được mệnh danh là kẻ thương thuyết đáng sợ, một kẻ luôn tự mình theo sát mọi thứ. “Nếu Elon không vui, anh sẽ biết ngay,” Schmitz nhận xét. “Mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ.” Mấy tháng sau cuộc gặp gỡ đó, SpaceX đã tự nâng cao năng lực hàn nối trong nội bộ, nhờ thế có thể sản xuất thùng chứa nhiên liệu ngay tại El Segundo và tống khứ Spincraft.
Lần khác, một nhân viên bán hàng đã bay đến SpaceX để chào bán một loại thiết bị hạ tầng công nghệ nào đó. Anh ta áp dụng cách xây dựng mối quan hệ đúng chuẩn mà giới bán hàng đã tập thành thói quen suốt nhiều thế kỷ. Xuất hiện. Trò chuyện một lúc. Cảm nhận đối phương. Rồi bắt đầu vào việc. “Gã ấy bước vào và Elon hỏi gã vì sao họ phải gặp nhau,” Spikes kể. “Gã trả lời, ‘Để xây dựng một mối quan hệ.’ Elon đáp, ‘Okay. Rất vui được gặp anh,’ câu nói mà về cơ bản nghĩa là, ‘Biến khỏi phòng tao ngay, đố khốn.’ Gã này đã phải trải qua chuyến đi suốt bốn giờ đồng hồ chỉ để cuối cùng có được một cuộc hẹn hai phút. Elon không bao giờ dung thứ cho loại người này.” Musk có thể hành động nhanh không kém đối với các nhân viên nào không đáp ứng những tiêu chuẩn anh đặt ra. “Anh ấy thường nói, ‘Càng chờ đợi sa thải một người lâu bao nhiêu, bạn càng phung phí nhiều thời gian cho quyết định đó bấy nhiêu,”’ Spikes cho biết.
Đa số các nhân viên SpaceX đều hồi hộp khi trở thành một phần trong cuộc phiêu lưu của công ty và cố gắng không để những yêu sách mệt mỏi và hành vi cay nghiệt của Musk động đến họ. Nhưng vẫn có những thời điểm Musk đi quá xa. Các nhóm kỹ sư thường nổi cơn thịnh nộ tập thể mỗi khi bắt gặp Musk tuyên bố với báo chí rằng đã ít nhiều tự mình thiết kế tên lửa Falcon. Musk cũng từng thuê một nhóm làm phim tài liệu theo anh đi khắp nơi một thời gian. Điệu bộ trơ tráo này thực sự khiến những ai đang làm việc cật lực tại nhà máy SpaceX phải nghiến răng. Họ cảm thấy như thể cái tôi của Musk đã tước đi những gì tốt đẹp nhất ở anh, và rằng anh đang thể hiện SpaceX như kẻ chinh phục trong ngành hàng không vũ trụ ngay cả khi công ty vẫn chưa phóng thành công lần nào. Những nhân viên nào phản ánh chi tiết về các sai sót mà họ nhận thấy trong thiết kế của Falcon 5, hay trình bày các đề xuất thực tế nhằm giúp Falcon 1 hoàn thiện nhanh chóng hơn thường bị phớt lờ hay tệ hơn thế. “Cách đối xử với nhân viên như thế sẽ không có lợi về lâu dài trong thời đại này,” một kỹ sư nói. “Nhiều kỹ sư giỏi vốn được tất cả mọi người - ngoại trừ ‘cấp quản lý’ - xem là tài sản của công ty đều buộc phải ra đi hoặc đơn giản bị sa thải ngay lập tức sau khi bị quy trách nhiệm cho những việc họ không làm. Nhầm lẫn chết người này [10] chứng tỏ Musk đã sai ở đâu đó.”
 
Đầu năm 2004, thời điểm SpaceX hy vọng sẽ phóng thành công tên lửa của họ, đã đến và đã đi. Động cơ Merlin mà Mueller cùng đội của anh chế tạo hóa ra lại là một trong những động cơ tên lửa hiệu quả nhất từng được sáng chế. Musk phải mất nhiều thời gian hơn dự kiến để thông qua hết các đợt kiểm tra cần thiết và chuẩn bị động cơ sẵn sàng phóng. Cuối cùng, đến mùa thu năm 2004, các động cơ đã vận hành ổn định và đáp ứng mọi yêu cầu của họ. Điều này đồng nghĩa Mueller và đội của anh có thể thở phào và tất cả những người còn lại trong SpaceX nên chuẩn bị chịu khổ. Mueller đã đặt cược toàn bộ sự tồn tại của SpaceX cho “con đường tới hạn” - anh là người luôn chống đỡ cho công ty để đạt được những bước tiến tiếp theo - dưới sự soi xét của Musk. “Với động cơ đã sẵn sàng, đã đến lúc nỗi hoang mang bao trùm,” Mueller nói. “Không ai biết con đường tới hạn sẽ dẫn đến điều gì.”
Nhiều người đã sớm nhận ra khi những vấn đề nan giải cứ đầy rẫy. Vấn đề điện tử hàng không, bao gồm các linh kiện điện tử dành cho hệ thống dẫn đường, liên lạc và quản lý tổng thể trong tên lửa đã biến thành cơn ác mộng. Có vẻ như ngay đến những việc lặt vặt như gắn ổ lưu trữ flash để liên lạc với máy tính chủ của tên lửa cũng thất bại vì nguyên nhân nào đó không rõ. Phần mềm cần để quản lý tên lửa cũng trở thành gánh nặng chủ yếu. “Như trong mọi tình huống khác, anh phát hiện ra chỉ còn 10% cuối cùng là hoàn thành, là lúc để kết hợp mọi thứ lại, nhưng chúng lại không ăn khớp với nhau,” Mueller chia sẻ. “Và quá trình này tiếp diễn trong suốt sáu tháng.” Cuối cùng, đến tháng Năm năm 2005, SpaceX mới vận chuyển quả tên lửa đi gần 300 km về  hướng Bắc đến Căn cứ Không quân Vandenberg để phóng thử, và hoàn tất bước khai hỏa trên bệ phóng trong năm giây.
 
  Chú thích :
[9] Trước khi trở về El Segundo, Hollman đã dùng khoan áp suất để tháo bỏ lớp bảo hộ của cặp kính. « Tôi không muốn trông như một tên mọt sách trên chuyến bay về nhà », anh chia sẻ.
[10] Nguyên văn: The kiss of death.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.04.2023 15:44:32 bởi Thanh Vân>
Phóng tên lửa từ Vandenberg là quyết định rất thuận lợi đối với SpaceX. Địa điểm này gần ngay Los Angeles và có vài bệ phóng để lựa chọn. Tuy nhiên, SpaceX lại trở thành vị khách không được hoan nghênh. Lực lượng không quân chào đón vị khách mới một cách lạnh nhạt, và những người được giao nhiệm vụ quản lý bãi phóng cũng không hề có động thái hỗ trợ SpaceX. Lockheed và Boeing, hai hãng từng phóng các vệ tinh dọ thám trị giá tỉ đô cho quân đội từ Vandenberg, cũng không thèm đếm xỉa đến sự hiện diện của SpaceX - một phần vì SpaceX là hiện thân của mối đe dọa đối với việc kinh doanh, phần khác vì công ty khởi nghiệp này cứ lảng vảng gần kho hàng trước đây của họ. Khi SpaceX bắt đầu chuyển từ giai đoạn thử nghiệm đến phóng thật, họ được thông báo rằng phải “xếp hàng.” Họ đã phải chờ đợi hàng tháng trời để được phóng. “Tuy họ bảo rằng chúng tôi có thể phóng, nhưng rõ ràng là chúng tôi không thể,” Gwynne Shotwell nói.
Trong lúc tìm kiếm địa điểm mới, Shotwell và Hans Koenigsmann đã sử dụng phép chiếu Mercator [11] để dựng bản đổ thế giới lên bờ tường và nhận thấy một cái tên nằm trên đường xích đạo, nơi hành tinh xanh quay nhanh hơn và tiếp thêm đà phóng cho tên lửa. Cái tên đầu tiên bật ra ấy chính là đảo Kwajalein - hay Kwaj - hòn đảo lớn nhất thuộc quần đảo san hô nằm giữa Guam và Hawaii trên Thái Bình Dương, và là một phần của Cộng hòa Quần đảo Marshall. Chấm nhỏ này lọt vào mắt xanh của Shotwell vì quân đội Mỹ từng sử dụng nó làm khu thử nghiệm tên lửa trong nhiều thập kỷ. Shotwell tìm thấy tên một đại tá tại bãi phóng thử và gửi ông một e-mail; ba tuần sau đó, viên sĩ quan gọi lại và bảo rằng vui lòng cho phép SpaceX phóng tên lửa từ quần đảo. Tháng Sáu năm 2005, nhóm kỹ sư của SpaceX bắt đầu chất đầy trang thiết bị lên container để chuyển chúng đến Kwaj.
Quần đảo san hô Kwajalein được tạo thành từ khoảng 100 đảo lớn nhỏ. Nhiều đảo trong số này chỉ kéo dài chừng vài trăm mét và dài hơn bề rộng của chúng rất nhiều. “Từ trên không, chúng trông như những hạt cườm tuyệt đẹp đính trên một sợi dây,” Pete Worden, người từng ghé thăm đảo với tư cách cố vấn của Bộ Quốc phòng, cho biết. Đa số người dân trong khu vực đều sống trên dảo Ebeye, trong khi quân đội Mỹ chiếm đóng Kwajalein, hòn đảo cực nam và biến một phần thành thiên đường nhiệt đới, một phần thành sào huyệt bí mật của Tiến sĩ Evil. Trong nhiều năm, Mỹ đã rót các ICBM từ California vào Kwaj, và sử dụng hòn đảo này nhằm tiến hành các thử nghiệm vũ khí không gian trong suốt giai đoạn “Chiến tranh giữa các vì sao.” Họ nhắm tia laser vào Kwaj từ không gian trong một nỗ lực quan sát xem chúng có nhắm chính xác và đáp ứng đủ điều kiện để phóng ICBM trúng vào quần đảo hay không. Sự xuất hiện của quân đội đã kéo theo một dãy nhà kỳ quái, gồm các kiến trúc hình thang nặng nề, không cửa sổ, bằng bê-tông mà chỉ những kẻ tìm sống trong đất chết mới nghĩ ra nổi.
Để đến được Kwaj, các nhân viên SpaceX phải bay bằng chuyên cơ của Musk hoặc đáp các chuyến bay thương mại qua Hawaii. Nơi lưu trú chính trên Đảo Kwajalein là các căn hộ hai phòng ngủ trông giống ký túc xá hơn phòng khách sạn, cùng với các tủ quần áo và bàn làm việc kiểu quân đội. Nhóm kỹ sư phải vận chuyển mọi nguyên vật liệu cần thiết bằng máy bay của Musk, hoặc thường phải chở chúng đến bằng tàu từ Hawaii hoặc lục địa Mỹ. Mỗi ngày, đoàn SpaceX lại tập hợp hành trang và đón chuyến tàu 45 phút đến Omelek, một hòn đảo rộng chừng 3 hecta với hàng cọ và cây cối xanh mướt bao phủ được họ biến thành bãi phóng. Trong vòng vài tháng, nhóm người này đã dọn quang bờ bụi, đổ bê-tông để làm chắc bệ phóng, và hoán cải một chiếc xe moóc rộng gấp đôi cỡ thường thành văn phòng. Công việc nặng nhọc và diễn ra trong độ ẩm nhũn người, với ánh Mặt Trời gay gắt đủ sức đốt cháy da thịt dưới lớp áo phông. Cuối cùng, một số người thích qua đêm tại Omelek hơn là phải vượt sóng dữ trở về đảo chính. “Một số phòng làm việc còn được biến thành phòng ngủ với đầy đủ chăn nệm,” Hollman nói. “Sau đó, chúng tôi chuyển đến một chiếc tủ lạnh rất đẹp, một vỉ nướng loại tốt và nối cả vòi sen. Chúng tôi cố gắng biến nó thành ít nhất như là nơi cắm trại, còn khá hơn như là nơi để sống.”
 
Mặt Trời lên lúc 7 giờ sáng mỗi ngày, và đó là khi toàn đội SpaceX bắt tay vào làm việc. Một loạt cuộc họp đã diễn ra, trong đó mọi người liệt kê những việc cần làm và thảo luận giải pháp cho những vấn đề còn tồn đọng. Khi các khối kết cấu lớn được chở đến, công nhân phải đặt nằm thân tên lửa trong một nhà 
chứa máy bay tự tạo và mất hàng giờ lắp ráp mọi bộ phận với nhau. “Lúc nào cũng có việc để làm,” Hollman cho biết. “Nếu vấn đề không nằm ở động cơ, thì hẳn các linh kiện điện tử hay phần mềm đang gặp vấn đề.” Đến 7 giờ tối, các kỹ sư sẽ tạm ngưng công việc. “Một hoặc hai người đến phiên nấu bữa tối, và họ sẽ nấu thịt bò với khoai tây và mì pasta,” Hollman nói. “Chúng tôi có một đống phim ảnh và một đầu DVD, còn một số người câu được rất nhiều cá ngoài vũng tàu đậu.” Đối với nhiều kỹ sư, đây quả là một trải nghiệm vừa khổ cực, vừa thần kỳ. “Tại Boeing, anh có thể sống rất tiện nghi, nhưng tại SpaceX thì không,” Walter Sims, một chuyên gia công nghệ SpaceX từng dành thời gian đề đạt chứng nhận lặn khi còn ở Kwaj, cho biết. “Mỗi người sống trên đảo đều là một ngôi sao chết tiệt, và họ luôn tổ chức các cuộc họp chuyên đề về tia X hoặc động cơ. Đây quả là một nơi tràn đầy sức sống.”
Các kỹ sư liên tục gặp trở ngại vì quyết định cấp hoặc không cấp vốn của Musk. Khi gọi về  trụ sở, ai đó sẽ yêu cầu anh mua một chiếc máy giá 200 nghìn đô-la hoặc một bộ phận đắt tiền nào đó mà họ cho là thiết yếu đối với thành công của động cơ Falcon 1, và Musk sẽ từ chối đề nghị. Song, anh lại hoàn toàn thoải mái khi bỏ ra khoản tiền tương tự để trải một lớp phủ sáng loáng lên mặt sàn nhà máy chỉ để cho đẹp. Tại Omelek, các công nhân muốn mở một con đường nhỏ dài gần 200 mét từ nhà chứa máy bay đến bệ phóng để vận chuyển tên lửa dễ dàng hơn. Musk từ chối. Điều này đã buộc các kỹ sư phải vận chuyển tên lửa và kết cấu hỗ trợ có bánh xe của nó theo cách của người Ai Cập cổ đại. Họ trải một dãy ván gỗ ra rồi lăn quả tên lửa trên đấy, bằng cách nhấc mảnh ván gỗ ở cuối đặt lên đầu theo một chu kỳ liên tục.
Toàn bộ cảnh tượng này thật lố bịch. Một công ty tên lửa khởi nghiệp mắc kẹt giữa một nơi vô định nào đó và đang cố gắng lập nên một trong những kỳ tích khó khăn nhất mà nhân loại từng biết đến, và thú thực, chỉ một nhúm người trong đội Musk biết cách phóng tên lửa ra sao. Hết lần này đến lần khác, quả tên lửa lại được diễu hành đến bệ phóng và dựng đứng lên trong hai ngày, trong khi các lượt kiểm tra kỹ thuật và độ an toàn cứ bộc lộ thêm một loạt vấn đề mới. Các kỹ sư phải cố gắng làm việc với quả tên lửa lâu nhất có thể, trước khi đặt nó nằm ngang trở lại và hành quân về nhà chứa máy bay nhằm tránh bị không khí mặn làm hư hại. Các nhóm từng làm việc riêng rẽ trong nhiều tháng trước đó tại nhà máy SpaceX — phản lực, điện tử hàng không, phần mềm - giờ đây bị đẩy lên đảo cùng nhau và buộc phải trở thành một tổng thể đa ngành. Tất cả trở thành một bài tập về sự học hỏi và liên kết cao độ, diễn ra như một vở hài kịch đầy sai sót. “Nó giống như Gilligans Island [12] ngoại trừ những quả tên lửa.” Hollman nói.
Đến tháng Mười một năm 2005, khoảng sáu tháng sau khi họ đặt chân lên đảo lần đầu tiên, đội SpaceX cảm thấy đã sẵn sàng cho một cú phóng. Musk bay đến cùng Kimbal, em trai anh, tham gia vào đội SpaceX đang ở trong những cái trại trên Kawj. Ngày 26 tháng Mười một, một vài người thức dậy vào lúc 3 giờ sáng và nạp đầy ôxi lỏng vào tên lửa. Sau đó, họ rút xa khỏi đảo gần 5 km để an toàn, trong khi những người còn lại trong đội SpaceX quan sát hệ thống phóng từ phòng điều khiển cách đảo Kwaj hơn 40 km. Quân đội cũng cung cấp cho SpaceX một cửa phóng trong sáu-giờ. Ai cũng hy vọng được chứng kiến tầng đầu tiên của tên lửa rời mặt đất với vận tốc xấp xỉ 11 nghìn km/giờ, trước khi nhường chỗ cho tầng thứ hai cháy tiếp trong khí quyển và đạt vận tốc trên 27 nghìn km/giờ. Thế nhưng, khi kiểm tra lần cuối trước khi phóng, các kỹ sư đã phát hiện ra một vấn đề nghiêm trọng: Một chiếc van trên thùng chứa ôxi lỏng (LOX) không đóng lại được, và LOX sẽ sôi và thoát ra ngoài khí quyển với tốc độ 2.273 lít/giờ. SpaceX dốc sức khắc phục vấn đề, nhưng bị mất rất nhiều nhiên liệu phóng trước khi cửa sổ được đóng lại.
Với sứ mệnh dở dang, SpaceX đặt hàng thêm LOX chi viện chủ yếu từ Hawaii và chuẩn bị cho một nỗ lực khác vào giữa tháng Mười hai. Song, gió mạnh, các van bị lỗi và những sai sót khác cũng cản trở nỗ lực phóng này. Một tối thứ Bảy nọ, trước khi tiến hành một nỗ lực khác, SpaceX phát hiện thấy hệ thống phân phối năng lượng của tên lửa bắt đầu trục trặc và cần các tụ điện mới. Đến sáng Chủ nhật, tên lửa được hạ xuống và tách làm hai tầng để kỹ thuật viên trườn vào và tháo bỏ các bảng mạch điện. Ai đó đã phát hiện bên cung cấp linh kiện điện tử vẫn mở cửa vào Chủ nhật tại Minnesota, thế là một nhân viên SpaceX tức tốc bay đến đó để lấy vài tụ điện mới. Đến thứ Hai, anh ta đã có mặt tại California và kiểm tra các bộ phận tại trụ sở SpaceX nhằm đảm bảo chúng vượt qua hết các mục đánh giá đa dạng về độ nóng và độ rung, rồi bay về lại quần đảo. Trong chưa đến 80 giờ đồng hồ, các linh kiện điện tử đã hoạt động chính xác trở lại và được cài đặt cho tên lửa. Quyết định vụt bay đến Mỹ và vụt trở về đã cho thấy sự can trường đúng nghĩa của đội SpaceX 30 người khi đối diện với nghịch cảnh, đồng thời truyền cảm hứng cho mọi người trên đảo. Một nhóm phụ trách phóng tên lửa thông thường gồm 300 người cừ khôi trong ngành hàng không vũ trụ sẽ không bao giờ cố sửa chữa một tên lửa như thế bằng các chuyến bay. Nhưng chí khí, trí thông minh và tài xoay xở của đội SpaceX vẫn không thể bù đắp cho sự non kinh nghiệm của họ trong điều kiện khó khăn. Nhiều vấn đề khác đã lại nảy sinh và chặn đứng mọi ý định đưa tên lửa vào không gian.
Rốt cuộc, đến tận ngày 24 tháng Ba năm 2006, toàn bộ hệ thống mới thông suốt. Chiếc Falcon 1 đứng trên bệ phóng hình vuông và bắt lửa. Nó bay vút lên bầu trời, biến hòn đảo bên dưới thành một chấm xanh lá nhỏ giữa biển xanh muôn trùng. Trong phòng điều khiển, Musk mặc quần cộc, mang dép lê và áo phông, đi tới đi lui quan sát diễn biến. Sau đó chừng 25 giây, rõ ràng mọi thứ đang trở nên không ổn. Một ngọn lửa phụt ra trên động cơ Merlin, và cổ máy vốn đang lướt đi thẳng tắp và đúng lộ trình bỗng dưng xoay tròn và lao đầu xuống mặt đất một cách không thể kiểm soát. Falcon 1 đã kết thúc khi rơi thẳng xuống bãi phóng. Hầu hết các mảnh vỡ dạt vào rặng đá ngầm cách bệ phóng 76 mét, còn kiện hàng vệ tinh thì đâm xuyên qua mái xưởng máy của SpaceX và đáp lơ lửng sát mặt sàn. Một số kỹ sư đeo ống thở và bình khí nén đi thu hồi các mảnh vỡ, gom nhặt toàn bộ tàn dư của quả tên lửa trong hai thùng linh kiện lớn bằng chiếc tủ lạnh. “Đáng lưu ý rằng những công ty phóng tên lửa thành công cũng từng trải qua những khó khăn như thế,” Musk viết trong báo cáo rút kinh nghiệm. “Một người bạn của tôi đã viết thư nhắc nhở tôi rằng chỉ có 5/9 tên lửa Pegasus đầu tiên phóng thành công; với Ariane là 3/5; với Atlas là 9/20; với Soyuz là 9/21, còn Proton là 9/18. Sau khi lần đầu trực tiếp cảm nhận việc đưa nó lên quỹ đạo khó khăn thế nào, tôi rất kính phục những người vẫn kiên trì sản xuất ra các phương tiện trụ cột của hoạt động phóng tên lửa không gian ngày nay.” Musk khép lại bức thư khi viết, “SpaceX đang bước vào một hành trình dài, và bất chấp mọi điều xảy ra, chúng tôi sẽ hoàn thành công việc này.”
 
Musk và các giám đốc khác của SpaceX quy trách nhiệm vụ đâm va cho một kỹ thuật viên không được nêu tên. Họ nói rằng người này đã điều chỉnh gì đó trên quả tên lửa một ngày trước hôm phóng và không siết chặt khớp nối trên ống nhiên liệu đúng cách, khiến khớp này bị nứt vỡ. Phần khớp nghi vấn này là một bộ phận khá cơ bản - một đai ốc nhôm cỡ b thường dùng để nối hai ống với nhau. Kỹ thuật viên đó là Hollman. Sau vụ đâm va tên lửa, Hollman đã đáp máy bay đến Los Angeles để trực tiếp đối mặt với Musk. Anh đã làm việc không kể ngày đêm suốt hàng năm trời vì Falcon 1 và cảm thấy rất phẫn uất vì Musk đã lôi anh cùng cả nhóm ra trước công chúng. Hollman biết rõ anh đã vặn chặt đai ốc b đó đúng cách và các quan sát viên của NASA cũng theo dõi ngay cạnh anh để kiểm tra tiến trình. Khi Hollman lao vào trụ sở SpaceX với cơn giận ngập đầu, Mary Beth đã cố xoa dịu và ngăn anh gặp Musk. Nhưng Hollman vẫn cứ bước tới, và hai người đã có một trận to tiếng trong ô làm việc của Musk.
Sau khi toàn bộ các mảnh vỡ được phân tích, hóa ra đai ốc b đó gần như đã nứt sẵn do bị không khí mặn ở đảo Kwaj ăn mòn từ mấy tháng. “Quả tên lửa đúng là bị đóng muối hết một bên, và bạn phải cạo chúng ra,” Mueller giải thích. “Nhưng chúng tôi đã thử khởi động tĩnh từ ba ngày trước đó, và mọi thứ đều ổn.” SpaceX đã cố gắng giảm bớt 22,6 kg trọng lượng bằng cách dùng linh kiện bằng nhôm thay vì thép không gỉ. Thompson, cựu lính thủy đánh bộ, từng chứng kiến các bộ phận nhôm này hoạt động tốt trên những máy bay trực thăng đỗ trên hàng không mẫu hạm, và Mueller cũng trông thấy máy bay đỗ ngoài Mũi Canaveral (Florida) suốt 40 năm mà các đai ốc b bằng nhôm này vẫn trong tình trạng tốt. Nhiều năm sau, một số giám đốc SpaceX vẫn còn thấy đau xót trước cách Hollman và nhóm của anh bị đối xử. “Họ là những người xuất sắc nhất, và họ đã bị đổ lỗi để chúng tôi có thể ăn nói với cả thế giới,” Mueller tâm sự. “Thật tồi tệ. Sau này chúng tôi mới biết đó là chuyện không may [13].”
Sau vụ đâm va, mọi người đã uống rất nhiều tại một quán bar trên đảo chính. Musk muốn phóng lại trong sáu tháng tiếp theo, nhưng việc lắp ráp hoàn chỉnh một cỗ máy mới sẽ tốn rất nhiều công sức. SpaceX có sẵn vài mảnh thiết bị tại Segundo, nhưng hiển nhiên không phải một tên lửa sẵn sàng được phóng. Khi họ cạn chén, các kỹ sư thề rằng họ sẽ để ra phương pháp quy củ hơn trong lần tới và sẽ làm việc tốt hơn như một tập thể. Worden hy vọng nhóm kỹ sư sẽ nâng tầm cuộc chơi như thế. Ông đã quan sát họ từ Bộ Quốc phòng và rất quý nghị lực của những kỹ sư trẻ này, nhưng phương pháp của họ thì không. “Nó trông như được chế tạo bởi một lũ trẻ con chuyên làm phần mềm ở Thung lũng Silicon vậy,” Worden nhận xét. “Họ cứ thức trắng đêm rồi thử thứ này thứ kia. Tôi đã chứng kiến hàng trăm kiểu hoạt động như thế, và chúng khiến tôi thấy ngay rằng không hiệu quả.” Trước lần phóng đầu tiên, Worden đã cố gắng cảnh báo Musk, gửi thư cho anh và giám đốc của DARPA, đơn vị nghiên cứu của Bộ Quốc phòng, để làm rõ quan điểm của ông. “Phản ứng của Elon không tốt. Cậu ấy nói, ‘Anh thì biết gì? Anh chỉ là một nhà thiên văn thôi,’” Worden kể lại. Nhưng sau khi tên lửa nổ tung, Musk đã đề nghị Worden tiến hành điều tra về phía chính phủ. “Tôi rất tin cậy Elon về điều đó,” Worden chia sẻ.
Gần đúng một năm sau, SpaceX mới sẵn sàng phóng lần nữa. Ngày 15 tháng Ba năm 2007, buổi phóng thử nghiệm đã diễn ra thành công. Sau đó, đến ngày 21 tháng Ba, Falcon 1 cuối cùng cũng hoạt động như ý. Từ bệ phóng với những hàng cọ bao quanh, Falcon 1 đã bay vút lên và hướng tới không gian. Nó bay được khoảng hai phút, giữa lúc nhóm kỹ sư liên tục báo cáo rằng hệ thống vẫn “bình thường” - tức vẫn ổn. Sau khi bay được ba phút, tầng thứ nhất của tên lửa tách ra và rơi trở lại Trái Đất, còn động cơ Kestrel khởi động đúng như dự kiến và đưa tầng thứ hai vào quỹ đạo. Tiếng reo hò ngất ngây vang khắp phòng điều khiển. Tiếp theo, khi đến cột mốc bốn phút, phần phụ ở đầu tên lửa cũng tách ra như dự kiến. “Nó hoạt động chính xác như chúng tôi kỳ vọng,” Mueller cho biết. “Tôi ngồi cạnh Elon, nhìn anh và nói, ‘Chúng ta đã làm được.’ Chúng tôi ôm nhau và tin rằng nó sẽ đến được quỹ đạo. Rồi nó bắt đầu lảo đảo.” Trong hơn năm phút huy hoàng đầu tiên, các kỹ sư SpaceX cảm giác như họ đã làm tốt mọi thứ. Máy quay gắn trên boong Falcon 1 hướng xuống và cho thấy Trái Đất ngày càng nhỏ dần, tên lửa đang bay đúng lộ trình vào không gian. Nhưng rồi, cú chao mà Mueller nhận thấy chợt biến thành cú quăng quật, rồi cổ máy lịm dần, bắt đầu vỡ thành từng mảnh và sau đó nổ tung. Lần này, nhóm kỹ sư SpaceX đã nhanh chóng nhận ra sai sót. Khi tên lửa đang tiêu thụ chất nổ đẩy, phần chất nổ còn lại bắt đầu lan ra xung quanh và dội lại các cạnh hệt như bọt rượu xoay vòng trong ly. Chất nổ đấy bị văng ra đã kích tên lửa chao đảo, và đến một lúc nào đó, chúng đã văng đủ để khiến khe hở của động cơ lộ ra. Khi động cơ hút vào một luồng không khí mạnh, nó liên bốc cháy.
Thất bại này là một đòn chí mạng khác với các kỹ sư SpaceX. Một số người đã bỏ gần hai năm đi lại giữa California, Hawaii và Kwaj. Thời điểm SpaceX có thể phóng thử một lần nữa cũng vượt quá mục tiêu ban đầu của Musk đến bốn năm, và công ty cứ nhai nát vận may Internet của anh với tốc độ đáng lo ngại. Musk đã công khai thề rằng anh sẽ chứng kiến điều này đến phút cuối cùng, nhưng mọi người trong và ngoài công ty vẫn lén tính toán và nói rằng SpaceX nhiều khả năng chỉ đủ sức tiến hành thêm một lần phóng nữa - hoặc có thể là hai. Thậm chí khi tình trạng tài chính khiến Musk nản lòng, anh vẫn hiếm khi để lộ điều đó với nhân viên. “Elon đã làm được một điều tuyệt vời, đó là không trút gánh nặng lên mọi người vì những mỗi lo như thế,” Spikes nhận xét. “Anh ấy luôn chia sẻ về tầm quan trọng của sự tình gọn và thành công, nhưng không bao giờ nói rằng 'nếu chúng ta thất bại, chúng ta sẽ tiêu tùng.’ Anh ấy rất lạc quan.”
Thất bại dường như chẳng thể che lấp đi viễn cảnh của Musk về tương lai hay dấy lên mối hoài nghi về năng lực của anh. Giữa tình thế hỗn loạn, anh vẫn bay một chuyến đến quần đảo cùng Worden. Musk bắt đầu nghĩ cách hợp nhất các đảo thành một vùng đất rộng lớn. Anh đề nghị nên xây tường xuyên qua những eo biển nhỏ giữa các đảo, và nước có thể được bơm ra từ các hệ thống nhân tạo như tại Hà Lan. Worden, vốn nổi tiếng với những ý tưởng điên rồ, đã bị vẻ hiên ngang của Musk hấp dẫn. “Cậu ấy nghĩ đến điều vớ vẩn này theo cái cách thật tuyệt vời,” Worden nhận xét. “Kể từ đó, cậu ấy và tôi bắt đầu thảo luận về việc định cư trên Hỏa tinh. Và tôi thực sự có ấn tượng rằng đây là một anh chàng biết nghĩ lớn.”
 
Chú thích 
[12] Bộ phim hài tình huống do Mỹ sản xuất vào thập niên 1960, kể về bảy hành khách đắm tàu dạt vào hoang đảo.
[13] Sau vụ tai nạn trên, Hollman đã rời bỏ công ty vào tháng 11 năm 2007, rồi quay lại một thời gian ngắn để huấn luyện nhân sự mới. Một số người tới phỏng vấn khi viết sách đã thú nhân( rag82 Hollman quan trọng với SpaceX đến mức họ sợ rằng công ty sẽ cháy thành tro bụi nếu không có anh.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
7. HOÀN TOÀN CHẠY ĐIỆN
 
 
 
J. B. Straubel có một vết thẹo dài hơn 5 phân cắt ngang má trái của anh. Anh lãnh nó trong một lần thí nghiệm tại lớp hóa thời trung học. Straubel đã trộn sai công thức pha chế hóa chất, khiến chiếc ống nghiệm anh đang cầm trên tay phát nổ và bắn mảnh kính văng tứ tung, trong đó có một mảnh chém qua mặt anh.
Vết thương vẫn còn lưu lại đến nay như huy chương danh dự của chàng thợ hàn. Nó xuất hiện khi anh gần kết thúc quãng đời niên thiếu của mình, đầy ắp những thí nghiệm với hóa chất và máy móc. Sinh ra tại Wisconsin, Straubel đã xây dựng được một phòng thí nghiệm hóa học lớn trong tầng hầm nhà mình, có cả những nắp đậy khói và các hóa chất đặt mua được, mượn được hoặc trộm được. Lúc 13 tuổi, Straubel tìm thấy một chiếc xe chơi golf cũ ở bãi rác. Anh bèn mang về và sửa mô-tơ điện để nó hoạt động trở lại. Có vẻ như Straubel luôn thích tháo thứ gì đó thành từng mảnh, lau chùi rồi ráp nó lại như cũ. Tất cả đều hợp với truyền thống tự lập của gia đình Straubel. Cuối thập niên 1890, cụ cố của Straubel đã khởi sự Công ty Straubel Machine, chế tạo một trong những chiếc động cơ đốt đầu tiên tại Mỹ và dùng nó để cung cấp năng lượng cho tàu thuyền.
Tinh thần ham học hỏi của Straubel đã đưa anh đến miền Tây và theo học Đại học Stanford, nơi anh ghi danh vào năm 1994 với ý định trở thành một nhà vật lý học. Sau khi trải qua những khóa học khó nhằn nhất, Straubel đã kết luận rằng vật lý không phải ngành học dành cho mình. Các khóa học nâng cao thiên về lý thuyết, còn Straubel thì lại muốn dùng đôi tay nhem nhuốc của mình. Anh đã tự hình thành một môn học riêng và gọi đó là hệ thống năng lượng và kỹ thuật. “Tôi muốn dùng phần mềm và điện để điều khiển năng lượng,” Straubel cho biết. “Đó là tin học kết hợp với năng lượng điện tử. Tôi dã tập hợp tất cả những gì mình yêu thích vào chung một chỗ.”
Thời đó vẫn chưa có trào lưu công nghệ sạch, nhưng đã có các công ty nhăm nhe phát triển những ứng dụng mới về năng lượng Mặt Trời và xe cộ dùng điện. Straubel săn tìm những công ty khởi nghiệp này, thường xuyên lui tới ga-ra của họ và làm phiền các kỹ sư. Anh cũng bắt đầu tập hàn trở lại tại nhà mình, cũng như tại ga-ra một ngôi nhà nơi anh sống chung cùng nửa tá bạn bè. Straubel đã mua “một phần của chiếc Porsche vớ vẩn” với giá 1.600 đô-la và biến nó thành một chiếc xe hơi điện. Điều này có nghĩa là Straubel phải chế tạo một bộ điều khiển để kiểm soát mô-tơ điện, tự tạo bộ nạp từ đầu và viết phần mềm để vận hành toàn bộ cỗ máy. Chiếc xe đã lập kỷ lục thế giới về  gia tốc đối với phương tiện dùng điện (EV: electric vehicle) khi đi được 400 mét trong 17,28 giây. “Những gì tôi đã rút ra được là điện tử thật tuyệt vời, và anh có thể đạt đến gia tốc đó với một ngân sách không đáng kể, nhưng pin thì thật tệ,” Straubel nói. “Nó chỉ chạy được trong phạm vi gần 50 km, nên tôi đã nhận ra ngay một số hạn chế của xe cộ dùng điện.” Straubel lắp thêm cho chiếc xe của mình một bộ gia tốc hybrid bằng cách chế tạo một thiết bị chạy xăng có thể gắn vào chiếc Porsche và được dùng để nạp lại năng lượng cho pin. Nhờ thế, Straubel có thể lái một mạch hơn 640 km đến Los Angeles và quay về.
Đến năm 2002, Straubel chuyển đến sống tại Los Angeles. Anh đỗ bằng thạc sĩ tại Stanford và quanh quẩn ở một vài công ty trong lúc tìm kiếm điều gì đó kêu gọi mình. Anh quyết định chọn Rosen Motors, công ty đã chế tạo một trong những chiếc xe hơi hybrid đầu tiên trên thế giới - chiếc xe được lắp một bánh đà, một tua-bin xăng và mô-tơ điện để quay bánh. Sau khi dự án bị dừng, Straubel theo chân Harold Rosen, một kỹ sư nổi tiếng nhờ phát minh ra vệ tinh địa tĩnh, để chế tạo máy bay điện. “Tôi là một phi công và yêu thích bay, nên đây là công việc hoàn hảo đối với tôi,” Straubel cho biết. “Ý tưởng là để máy bay lơ lửng trên trời suốt hai tuần mỗi lần rồi lượn đến một vị trí nhất định. Đấy là lộ trình của nó trước khi bay đều.” Để cân bằng thu chi, Straubel còn làm việc ban đêm và tư vấn về điện tử cho một công ty khởi nghiệp vào cuối tuần.
Trong lúc Straubel đang miệt mài với tất cả những dự án trên, bạn bè cũ của anh trong đội chế tạo xe năng lượng Mặt Trời tại Stanford đã ghé thăm anh. Nhóm kỹ sư Stanford ranh mãnh này đã từng chế tạo xe năng lượng Mặt Trời suốt nhiều năm, lắp ráp chúng trong một lán trại từ thời Thế chiến thứ Hai với đầy hóa chất độc hại và những góa phụ đen (nhện) bò lổm ngổm. Không như bây giờ, khi mà trường đại học sẽ nắm lấy cơ hội hỗ trợ cho một dự án như thế, Stanford đã cố dập tắt nhóm sinh viên dị hợm, quái gở và ưa phá luật này. Nhóm sinh viên đã chứng tỏ rằng họ thừa khả năng tự xử lý mọi việc và tranh tài 
trong các giải đua xe năng lượng Mặt Trời xuyên quốc gia. Thời còn học đại học, Straubel đã góp phần chế tạo những chiếc xe, và thậm chí sau đó còn thiết lập mối quan hệ với các kỹ sư sắp ra trường. Cả nhóm đã đua 7.000 km từ Chicago đến Los Angeles, và Straubel đã cung cấp cho lớp đàn em thiếu thốn, mệt lử này một chỗ trú chân. Khoảng nửa tá sinh viên đã xuất hiện tại nhà Straubel, được tắm vòi sen lần đầu trong nhiều ngày và sau đó nằm la liệt trên sàn. Khi họ trò chuyện lúc tối muộn, Straubel và nhóm năng lượng Mặt Trời này chỉ tập trung vào một chủ đề duy nhất. Họ nhận ra rằng pin lithium ion - cũng là loại pin lấy năng lượng từ Mặt Trời trong xe họ - cho hiệu quả tốt hơn đa số người vẫn nghĩ. Nhiều thiết bị điện tử dân dụng như laptop đang chạy bằng loại pin lithium ion 18650, vốn trông rất giống pin AA và có thể gắn lại với nhau. “Chúng tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu ta gắn 10.000 mảnh pin lại với nhau,” Straubel kể lại. “Chúng tôi đã tính toán và nhận ra mình có thể chạy được cả nghìn dặm. Đó hoàn toàn là chuyện vớ vẩn của đám mọt sách; cuối cùng mọi người đều cảm thấy buồn ngủ, nhưng ý tưởng này đã thật sự đeo bám tôi.”
Không lâu sau, Straubel quyết định bám theo nhóm chế tạo xe năng lượng Mặt Trời và cố thuyết phục họ chế tạo một chiếc xe điện chạy pin lithium ion. Anh bay đến Palo Alto, ngủ qua đêm trên máy bay rồi chạy xe đạp đến khuôn viên trường Stanford để chào bán ý tưởng cũng như giúp họ hoàn thành các dự án hiện tại. Thiết kế Straubel phác thảo là một chiếc xe siêu khí động học với số pin chiếm đến 80% khối lượng. Nó trông hệt như một quả ngư lôi đặt trên bánh xe. Không ai biết chính xác chi tiết tầm nhìn dài hạn của Straubel dành cho chiếc xe này là gì, kể cả bản thân anh. Theo kế hoạch, có vẻ như họ sẽ thành lập một công ty xe hơi thay vì chế tạo một chiếc xe chưa rõ tính khả thi chỉ để buộc mọi người suy nghĩ về  sức mạnh của pin lithium ion. May mắn lắm họ mới tìm thấy một cuộc đua để tranh tài.
Nhóm sinh viên Stanford đồng ý nhập hội cùng Straubel nếu anh có thể huy động chút tiền. Anh bắt đầu đến những hội chợ thương mại, cầm theo các tờ thông tin về ý tưởng của mình và gửi e-mail cho bất kỳ ai anh có thể nghĩ đến. “Tôi không xấu hổ,” anh chia sẻ. Vấn đề duy nhất là chẳng ai quan tâm đến điều Straubel đang rao bán. Các nhà đầu tư cứ từ chối anh hết lần này đến lần khác trong nhiều tháng. Và đến mùa thu năm 2003, Straubel đã gặp Elon Musk.
Harold Rosen hẹn ăn trưa với Musk tại một nhà hàng hải sản gần trụ sở SpaceX tại Los Angeles và đưa Straubel đi cùng nhằm thảo luận về ý tưởng máy bay điện. Khi Musk tỏ ra không hứng thú, Straubel liền giới thiệu thêm dự án xe hơi điện của anh. Ý tưởng điên rồ này đã đánh đúng tâm ý hiện thời của Musk, người đã trăn trở với những phương tiện chạy điện suốt nhiều năm. Tuy Musk đang tập trung chủ yếu vào việc ứng dụng siêu tụ điện cho những chiếc xe này, nhưng anh vẫn hồi hộp và bất ngờ khi biết rằng pin lithium ion đã có những tiến bộ lớn như thế. “Ai cũng bảo tôi điên, nhưng Elon yêu thích ý tưởng đó,” Straubel cho biết. “Anh ấy bảo, ‘Tất nhiên rồi, tôi sẽ cấp cho anh một số tiền.’’ Musk hứa với Straubel 10 nghìn đô-la trong số 100 nghìn đô-la anh đang cần. Và hai người đã lập tức tạo nên một mối quan hệ thân thuộc tồn tại trong hơn một thập niên, trải qua bao thăng trầm ghê gớm nhất với mục tiêu không gì khác hơn là thay đổi thế giới.
Sau khi gặp Musk, Straubel đã đến tìm bạn bè anh tại AC Propulsion. Công ty có trụ sở tại Los Angeles này thành lập vào năm 1992 và sở hữu công nghệ mới nhất về phương tiện chạy điện và chế tạo mọi thứ - từ các phương tiện sống động dành cho hành khách hạng trung cho đến xe hơi thể thao. Straubel rất muốn cho Musk thấy chiếc tzero (bắt nguồn từ “t-zero”) - chiếc xe cao cấp nhất trong lò sản xuất của AC Propulsion. Nó là một loại xe tự lắp ráp có phần thân làm từ sợi thủy tinh, đặt trên một bộ khung sắt và tăng tốc từ 0 đến 96 km/giờ chỉ trong 4,9 giây theo tiết lộ lần đầu vào năm 1997. Straubel đã dành mấy năm đi đây đó với đội ngũ của AC Propulsion và đề nghị Tom Gage, chủ tịch công ty, đưa chiếc tzero cho Musk lái thử. Musk lập tức bị chiếc xe hớp hồn. Anh nhận thấy nó có tiềm năng trở thành một cỗ máy cực nhanh và sẽ thay đổi nhận thức của mọi người về xe hơi điện từ nhàm chán, nặng nề sang một thứ gì đó đầy cảm hứng. Trong nhiều tháng, Musk đã đề nghị cấp vốn cho nỗ lực biến chiếc xe tự chế đó thành xe thương mại, nhưng lại bị từ chối nhiều lần. “Nó vẫn là mô hình thử nghiệm và cần được chế tạo như một sản phẩm thật,” Straubel giải thích. “Tôi rất thích các anh chàng quái quỷ tại AC Propulsion, nhưng họ thật vô vọng trong kinh doanh và từ chối chế tạo chiếc xe đó. Họ cứ cố bán cho Elon một chiếc xe tên eBox trông như một mớ rác rưởi, hoạt động kém và chẳng hấp dẫn chút nào.” Khi các cuộc hẹn với AC Propulsion không thể đi đến một thỏa thuận, họ đành củng cố mối quan tâm của Musk trong việc quay lại với một thứ còn hơn cả dự án khoa học của Straubel. Cuối tháng Hai năm 2004, trong một e-mail gửi Gage, Musk viết: “Tôi sẽ tìm kiếm sự lựa chọn tốt nhất cho một chiếc xe hơi cơ bản hiệu suất cao cũng như một hệ thống bánh răng truyền động chạy điện, và sẽ đi theo định hướng đó.”
Cùng thời điểm đó, Straubel không biết rằng có hai đối tác kinh doanh tại Bắc California cũng yêu thích ý tưởng chế tạo một chiếc xe hơi chạy pin lithium ion. Martin Eberhard và Marc Tarpenning đã thành lập công ty NuvoMedia vào năm 1997 nhằm sáng chế một trong những thiết bị đọc sách điện tử đầu tiên, gọi là Rocket eBook. Công việc tại NuvoMedia đã cung cấp cho hai chàng trai này những hiểu biết tiên tiến nhất về điện tử dân dụng, cũng như các khối pin lithium ion được cải tiến mạnh mẽ để cung cấp năng lượng cho laptop và nhiều thiết bị cầm tay khác. Tuy Rocket eBook đi trước thời đại và không đạt được thành công đáng kể về thương mại, nhưng nó vẫn đủ tiên tiến để thu hút sự chú ý của Tập đoàn Gemstar International, chủ sở hữu TV Guide và một số công nghệ hướng dẫn lập trình điện tử khác. Tháng Ba năm 2000, Gemstar đã mua lại NuvoMedia với giá 187 triệu đô-la. Chiến lợi phẩm đã có trong tay, hai nhà sáng lập vẫn liên lạc với nhau sau thương vụ trên. Họ đều sống tại Woodside, một trong những thị trấn giàu có nhất Thung lũng Silicon và trò chuyện với nhau hàng ngày, hàng giờ về mục tiêu tiếp theo là gì. “Chúng tôi toàn nghĩ về những chuyện dở hơi,” Tarpenning nói. “Trong đó có một kế hoạch xây dựng hệ thống tưới tiêu viễn vông cho các nông trại, hay một ngôi nhà có các mạng lưới cảm ứng nước thông minh. Nhưng không ý tưởng nào thực sự tạo được tiếng vang, và chúng tôi muốn làm điều gì đó quan trọng hơn.”
Eberhard là một kỹ sư cực kỳ tài năng với một ý thức xã hội đáng trân trọng. Những cuộc xung đột lặp đi lặp lại của nước Mỹ tại Trung Đông khiến anh bận lòng, và như bao bộ óc khoa học khác, anh đã phải chấp nhận tình trạng ấm lên toàn cầu như một thực tế vào năm 2000. Eberhard bắt đầu tìm kiếm giải pháp thay thế những chiếc xe hơi ngốn xăng. Anh tìm hiểu về tiềm năng của pin nhiên liệu hydrô nhưng nhận ra chúng không đủ hiệu quả. Anh cũng không xem việc General Motors cho thuê xe hơi điện EV1 là động thái có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, điều khiến Eberhard quan tâm chính là những chiếc xe hơi hoàn toàn chạy bằng điện của AC Propulsion mà anh thăm dò trên Internet. Khoảng năm 2001, Eberhard đã đến Los Angeles để ghé thăm công xưởng của AC Propulsion. “Nơi đó trông như một thị trấn ma, cứ như thể họ đã phá sản rồi vậy,” Eberhard nhận xét. “Tôi đã giải cứu họ bằng 500 nghìn đô-la để họ chế tạo xe hơi cho tôi với pin lithium ion thay vi pin axit chì.” Eberhard cũng cố gắng động viên AC Propulsion trở thành một doanh nghiệp thương mại thay vì một xưởng tự phát. Khi họ từ chối đề nghị của anh, Eberhard đã quyết định thành lập công ty của riêng mình và xem thử pin lithium ion thực sự làm được những gì.
Hành trình của Eberhard bắt đầu bằng việc dựng một mô hình kỹ thuật của chiếc xe hơi điện trên bảng tính. Việc này cho phép anh tháo lắp nhiều bộ phận khác nhau và quan sát chúng ảnh hưởng đến hình dáng cũng như hiệu suất của xe ra sao. Anh có thể điều chỉnh trọng lượng, số lượng pin, sức bền của lớp xe và thân xe rồi quay lại giải đáp xem mình cần bao nhiều khối pin để cung cấp năng lượng cho các thiết kế khác nhau. Mô hình cho thấy rõ rằng các loại xe thể thao đa dụng (SUV), vốn rất thịnh hành vào thời điểm đó, cùng các loại khác như xe vận tải đều là những ứng viên không phù hợp. Thay vì thế, công nghệ dường như lại ủng hộ các loại xe thế thao nhẹ cân, sành điệu vốn chạy rất nhanh, cảm giác lái thú vị, và đi được quãng đường xa hơn nhiều so với đa số người kỳ vọng. Các chi tiết kỹ thuật trên đã bổ sung thêm cho phát hiện của Tarpenning, người từng nghiên cứu về một mẫu xe hơi tiết kiệm. Khi ấy, dòng xe Toyota Prius đã bắt đầu xuất hiện tại California và được nhiều nhà vận động vì môi trường khá giả đặt mua. “Chúng tôi còn biết rằng thu nhập bình quân của các chủ xe EV1 là vào khoảng 200 nghìn đô-la một năm,” Tarpenning cho biết. Những người quen chạy theo các dòng xe như Lexus, BMW hay Cadillac luôn xem xe hơi điện và hybrid là một dạng biểu tượng đẳng cấp khác hẳn. Họ nghĩ rằng mình có thể tạo nên thứ gì đó cho thị trường xe hơi sang trọng ở Mỹ trị giá 3 tỉ đô-la/năm để những kẻ giàu có cũng cảm thấy vui vẻ và hài lòng về chúng. “Mọi người sẽ trả tiền cho cỗ máy mát lạnh, gợi cảm và đạt gia tốc ‘từ 0 đến 96 km/giờ’ đáng kinh ngạc này,” Tarpenning nói.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Ngày 1 tháng Bảy năm 2003, Eberhard và Tarpenning quyết định đồng sáng lập công ty mới của họ. Khi hẹn hò với vợ tại Disneyland vài tháng trước, Eberhard đã nảy ra cái tên Tesla Motors — vừa thể hiện lòng kính trọng với Nikola Tesla, nhà phát minh kiêm nhà sản xuất mô-tơ điện tiên phong, vừa chọn được một cái tên nghe rất “chất”. Hai nhà sáng lập đã thuê một văn phòng với ba bàn làm việc và hai phòng nhỏ tại số 845 Đại lộ Oak Grove, khu Menlo Park - vốn là một tòa nhà đổ nát từ thập niên 1960. Vài tháng sau, chiếc bàn thứ ba đã được Ian Wright, một kỹ sư sinh trưởng tại một nông trang ở New Zealand, sử dụng. Anh vốn là hàng xóm của các nhà sáng lập Tesla tại Woodside và từng làm việc với họ nhằm khởi sự một công ty nối mạng. Khi công ty này không thể huy động vốn từ các nhà đầu tư mạo hiểm, Wright gia nhập Tesla. Khi ba anh chàng bắt đầu chia sẻ với những người thân cận xung quanh về kế hoạch của mình, họ đã phải đối mặt với sự giễu cợt của mọi người. “Chúng tôi gặp một người bạn tại một quán rượu vùng Woodside này và kể cô ấy nghe về điều chúng tôi quyết định làm sẽ là một chiếc xe hơi điện,” Tarpenning cho biết. “Cô ấy nói, ‘Chắc các anh đang đùa tôi.’’
Bất kỳ ai cố gắng thành lập một công ty xe hơi tại Mỹ đều được nhắc nhở ngay rằng công ty khởi nghiệp cuối cùng thành công trong ngành này là Chrysler (thành lập năm 1925). Thiết kế và chế tạo một chiếc xe hơi từ đầu đến cuối là công việc đầy thách thức, nhưng thật sự hái ra tiền và biết cách chế tạo nhiều xe đã ngăn cản những nỗ lực trước đây để một công ty mới có thể tồn tại. Các nhà sáng lập Tesla ý thức được thực tế này. Họ biết Nikola Tesla từng chế tạo mô-tơ điện từ một thế kỷ trước và sáng chế một bộ truyền động để lấy năng lượng từ mô-tơ và truyền tới các bánh, nên họ cũng sẽ làm được. Điều thực sự đáng lo ngại chính là công ty của họ phải xây dựng một nhà máy sản xuất xe hơi cùng các phụ tùng đi kèm. Nhưng càng nghiên cứu về ngành này, hai chàng trai Tesla càng ý thức được rằng các hãng sản xuất xe hơi lớn thực ra không còn tự chế tạo xe nữa. Cái thời Henry Ford còn nhập nguyên vật liệu thô từ đầu vào rồi xuất xe hơi ở đầu ra của nhà máy Michigan đã qua từ lâu. “BMW không còn chế tạo kính chắn gió, chất liệu bọc ghế hay kính chiếu hậu nữa,” Tarpenning cho biết. “Công việc duy nhất mà các công ty xe hơi lớn còn duy trì chính là nghiên cứu sự cháy bên trong, bán hàng, marketing và lắp ráp thành phẩm. Chúng tôi cứ ngây thơ cho rằng mình có thể tiếp cận những nhà cung cấp tương tự cho các bộ phận của mình.”
Kế hoạch mà hai nhà sáng lập Tesla đề ra là xin cấp phép một vài công nghệ từ AC Propulsion liên quan đến chiếc xe tzero và sử dụng khung gầm Lotus Elise cho phần thân xe của họ. Lotus, một hãng sản xuất xe hơi Anh, đã cho ra mắt dòng xe Elise hai cửa vào năm 1996, và hãng này đã có lời chào mời ngọt lịm đến mức sẵn sàng cúi rạp để chào hàng với những khách mua xe sành điệu. Sau khi trao đổi với một số nhân vật trong ngành buôn bán xe hơi, đội Tesla đã quyết định không bán xe của họ qua các đại lý mà sẽ bán trực tiếp. Sau khi chốt lại những điều cơ bản trên trong kế hoạch, tháng Một năm 2004, họ bắt đầu săn tìm nguồn vốn đầu tư mạo hiểm.
Để làm mọi thứ có cảm giác xác thực hơn trong mắt nhà đầu tư, hai nhà sáng lập Tesla đã mượn một chiếc tzero từ AC Propulsion và lái nó đến con đường của giới đầu tư mạo hiểm tại phố Sand Hill. Chiếc xe tăng tốc nhanh hơn cả Ferrari, và cảnh tượng này gợi nên sự phấn khích bản năng ở các nhà đầu tư. Song, mặt trái nằm ở chỗ giới đầu tư mạo hiểm không phải là những kẻ quá mơ mộng, và họ khó lòng nuốt trôi thứ sản phẩm bằng nhựa xấu tệ là chiếc xe tự ráp được tô vẽ này. Hai nhà đầu tư hiếm hoi đặt cược vào nó là Compass Technology Partners và SDL Ventures, nhưng họ có vẻ không hoàn toàn bị ấn tượng. Đối tác hàng đầu tại Compass có thiện cảm với NuvoMedia và cảm nhận được phần nào lòng kiên định từ Eberhard và Tarpenning. “Ông ấy nói, ‘Thứ này thật ngu ngốc, nhưng tôi đã đầu tư vào mọi công ty khởi nghiệp trong ngành xe hơi suốt 40 năm qua, vậy tại sao lại không,’” Tarpenning hồi tưởng. Tesla vẫn cần một nhà đầu tư chính, người sẽ thanh toán khoản tiền kếch xù 7 triệu đô-la cần thiết để sản xuất ra thứ được biết đến như một chiếc xe lai, hay một chiếc xe nguyên mẫu. Đó cùng sẽ là cột mốc đầu tiên của họ, giúp họ có được thứ gì đó hữu hình để trưng ra và hỗ trợ cho vòng cấp vốn thứ hai.
Ngay từ đầu, Eberhard và Tarpenning đã nghĩ đến cái tên Elon Musk như một nhà đầu tư chính khả dĩ. Hai năm trước, họ đã cùng chứng kiến anh phát biểu tại hội nghị của Hội Hỏa tinh được tổ chức tại Stanford, nơi Musk vạch ra viễn cảnh đưa đàn chuột vào không gian; họ có ấn tượng rằng anh suy nghĩ khác người đôi chút và hẳn sẽ mở lòng với ý tưởng về một chiếc xe hơi điện. Ý tưởng giới thiệu với Musk về Tesla Motors được củng cố khi Tom Gage từ AC Propulsion gọi cho Eberhard và bảo rằng Musk đang tìm nơi đầu tư cho mảng xe hơi điện. Eberhard và Wright đã bay đến Los Angeles và gặp Musk vào thứ Sáu. Cuối tuần đó, Musk bỗng hỏi dồn Tarpenning — người vừa có một chuyến đi - về mô hình tài chính. “Tôi chỉ nhớ mình cứ thế trả lời, trả lời rồi trả lời,” Tarpenning kể lại. “Thứ Hai tiếp theo, Martin và tôi bay đến gặp anh ấy một lần nữa, và anh ấy đáp, ‘‘Okay, tôi tham gia.’’
Các nhà sáng lập Tesla cảm giác như họ đã may mắn có được một nhà đầu tư hoàn hảo. Musk có đội ngũ kỹ sư đủ thông minh để hiểu họ đang chế tạo thứ gì. Anh cũng chia sẻ mục tiêu lớn hơn của họ: cố gắng chấm dứt cơn nghiện dầu mỏ của nước Mỹ. “Bạn cần các nhà đầu tư thiên thần [1]  tin cậy đôi chút, và đối với anh ấy điều đó không đơn thuần là giao dịch tiền bạc,” Tarpenning giải thích. “Anh ấy muốn thay đổi sự cân bằng năng lượng của quốc gia.” Với khoản đầu tư 6,5 triệu đô-la, Musk đã trở thành cổ đông lớn nhất của Tesla kiêm chủ tịch công ty. Về sau, Musk đã tận dụng vị thế quyền lực của anh rất tốt khi đấu tranh với Eberhard nhằm kiểm soát Tesla. “Đó là một sai lầm,” Eberhard kể. “Tôi muốn có nhiều nhà đầu tư hơn. Nhưng nếu được làm lại, tôi vẫn nhận tiền của anh ấy. Anh biết đấy, như thể tay không bắt được chim trời vậy. Chúng tôi cần số tiền đó.”
Không lâu sau khi cuộc gặp gỡ diễn ra, Musk đã gọi cho Straubel và giục anh đến gặp đội Tesla. Straubel nghe nói rằng văn phòng của họ tại Menlo Park chỉ cách nhà anh chưa đến một ki- lô-mét; điều đó rất hấp dẫn anh, nhưng Straubeỉ vẫn thận trọng với câu chuyện của những người này. Không ai trên hành tinh này thông thạo bức tranh về xe hơi điện hơn Straubel, và anh cảm thấy thật khó tin khi có hai anh chàng đã đi xa đến thế mà chẳng có tin tức gì về dự án của họ lọt đến tai anh. Tuy nhiên, Straubel vẫn ghé đến văn phòng gặp họ, và lập tức được thuê vào tháng Năm năm 2004, với mức lương 95.000 đô-la/năm. “Tôi bảo họ rằng tôi đang chế tạo bộ pin họ cần dùng với nguồn vốn từ Elon,” Straubel kể lại. “Chúng tôi đồng ý kết hợp lực lượng và lập ra một nhóm những kẻ cùng đinh này.”
Thời điểm đó, nếu bất kỳ ai tại Detroit ghé qua cơ sở của Tesla Motors, hẳn họ sẽ rất phấn khích. Toàn bộ nhân sự chuyên môn mảng xe hơi của công ty chỉ gồm hai anh chàng Tesla cực kỳ mê xe và một người khác từng tiến hành một loạt dự án cho hội chợ khoa học, dựa trên thứ công nghệ mà ngành sản xuất xe hơi xem là lố bịch. Không những thế, nhóm sáng lập còn không thèm rẽ qua Detroit để xin lời khuyên về cách xây dựng một công ty xe hơi. Không, Tesla sẽ làm tất cả những gì một công ty khởi nghiệp khác tại Thung lũng Silicon từng làm trước nó, đó là thuê một nhóm kỹ sư trẻ trung, đầy khao khát và vừa tìm tòi vừa phát triển. Họ cũng không bận tâm về việc vùng Vịnh chưa từng ghi nhận một tiền lệ có thực nào về  một mô hình kinh doanh thành công với xe hơi, hay chế tạo một sản phẩm hữu hình phức tạp mà không hề có điểm chung với việc viết ứng dụng phần mềm. Trên tất thảy, điều Tesla làm được chỉ là nhận ra loại pin lithium ion 18650 thực sự hiệu quả và tiếp tục cải tiến chúng. Hy vọng rằng như thế là đủ, nếu kết hợp thêm với chút nỗ lực và tài trí của họ.
Straubel kể về Tesla với các kỹ sư thông minh và giàu nghị lực tại Stanford - nguồn cung nhân sự trực tiếp sẵn có. Gene Berdichevsky, một thành viên trong đội xe năng lượng Mặt Trời, vụt sáng ngời mắt khi hay tin này từ Straubel. Chàng sinh viên chưa tốt nghiệp Berdichevsky đã tự nguyện xin thôi học, làm việc không công và quét sàn văn phòng cho Tesla nếu cần phải như vậy để có việc làm. Các sáng lập viên rất ấn tượng trước tinh thần của anh và đã tuyển Berdichevsky sau một lần gặp. Điều này đã đẩy Berdichevsky vào thế khó xử, do phải gọi điện thông báo cho cha mẹ mình - những di dân người Nga vốn là kỹ sư tàu ngầm hạt nhân - rằng anh đã bỏ ngang Stanford để gia nhập một công ty khởi nghiệp về xe hơi điện. Là nhân viên thứ bảy của công ty, anh làm việc một phần thời gian trong ngày tại văn phòng Menlo Park và phần còn lại tại phòng khách của Straubel, thiết kế mô hình hệ thống bánh răng truyền động ba chiều cho chiếc xe trên máy tính cũng như dựng nguyên mẫu bộ pin trong ga-ra. “Chỉ bây giờ tôi mới nhận ra nó điên rồ thế nào,” Berdichevsky nói.
Không lâu sau, Tesla cần mở rộng cơ sở để cung cấp chỗ làm việc cho đội ngũ kỹ sư đang phình to và lập một phân xưởng để đưa Roadster, cái tên họ đặt cho chiếc xe hiện giờ, vào cuộc sống. Họ tìm thấy một khu nhà xưởng hai tầng tại San Carlos, số 1050 đường Commercial. 930 m2 không quá rộng, nhưng đủ để xây dựng một xưởng nghiên cứu và phát triển (R&D), và nhanh chóng cho ra lò vài chiếc xe nguyên mẫu. Có hai gian lắp ráp khá lớn cạnh lối đi của tòa nhà với hai cửa cuốn đủ rộng cho xe ra vào. Wright chia không gian mở của sàn nhà thành nhiều phân khu - mô-tơ, pin, điện tử năng lượng, và lắp ráp thành phẩm. Nửa còn lại của tòa nhà là khu văn phòng từng được đơn vị thuê trước, một công ty cung cấp ống nước, cải tạo theo cách rất kỳ quái. Phòng họp chính có sẵn quầy bar và bồn rửa với vòi nước kiểu mỏ vịt, cùng hai núm nóng lạnh bẻ ra hai cánh. Một tối Chủ nhật Berdichevsky sơn trắng cả văn phòng, và tuần tiếp theo các nhân viên có chuyến dã ngoại đến cửa hàng nội thất IKEA để mua bàn làm việc và nhảy lên mạng đặt mua máy vi tính từ hãng Dell. Về phần dụng cụ, Tesla chỉ có đơn độc một hộp dụng cụ hiệu Craftsman chứa đầy búa, đinh và những món đồ mộc cơ bản khác. Lúc này, Musk từ Los Angeles đến thăm họ và quay lại thêm lần nữa; anh không tỏ vẻ e ngại gl trước điều kiện cơ sở vật chất vì đã từng chứng kiến SpaceX trưởng thành trong bối cảnh tương tự.
Kế hoạch ban đầu về dựng xe nguyên mẫu nghe có vẻ đơn giản. Tesla sẽ lấy hệ thống bánh răng truyền động từ chiếc tzero của AC Propulsion rồi gắn nó vào phần thân chiếc Lotus Elise. Công ty đã mua một sơ đồ để phục vụ việc thiết kế mô-tơ điện, và nhận ra họ có thể mua một bộ truyền động từ một công ty Mỹ hoặc châu Âu cũng như thuê ngoài sản xuất mọi bộ phận khác tại châu Á. Các kỹ sư của Tesla chủ yếu chỉ cần tập trung phát triển hệ thống bộ pin, chạy dây điện trong xe, và cắt hàn kim loại khi cần để ráp mọi thứ với nhau. Các kỹ sư thích quanh quẩn với phần cứng, và đội Tesla xem Roadster hệt như một dự án biến đổi xe hơi có thế được hoàn thành với chỉ hai hoặc ba kỹ sư cơ khí, cùng một vài nhân sự lắp ráp.
Nhóm dựng mẫu chính bao gồm Straubel, Berdichevsky và David Lyons, một kỹ sư cơ khí khá thông minh và cũng là nhân viên thứ 12. Lyons đã có khoảng chục năm kinh nghiệm làm việc tại các công ty thuộc Thung lũng Silicon và từng gặp Straubel trước đây ít năm, khi hai người trò chuyện tại một tiệm tạp hóa 7-Eleven về chiếc xe đạp điện Straubel đang dùng. Lyons đã giúp Straubel kiếm thêm thu nhập bằng cách thuê anh làm cố vấn cho một công ty sản xuất thiết bị đo nhiệt độ bên trong cơ thể người. Straubel nghĩ anh có thể đền ơn Lyons bằng cách sớm mời anh này gia nhập một dự án hào hứng như của Tesla. Tesla cũng sẽ được lợi lớn. Như Berdichevsky chia sẻ, “Dave Lyons biết cách làm thế nào để thứ vớ vẩn thành hoàn hảo.”
Nhóm kỹ sư đã mua một thang nâng xe màu xanh và lắp đặt nó trong tòa nhà. Họ cũng mua một số dụng cụ cơ khí, dụng cụ cầm tay và đèn pha để làm việc về đêm và bắt đầu biến cơ sở này thành môi trường thuận lợi cho hoạt động R&D. Các kỹ sư điện nghiên cứu phần mềm Lotus ở cấp độ cơ bản nhằm tìm hiểu xem nó liên kết các bàn đạp, cơ cấu máy móc và các thiết bị đo trên bảng đồng hồ như thế nào. Công việc cao cấp thực sự là công đoạn thiết kế bộ pin. Chưa ai từng thử kết hợp hàng trăm khối pin lithium ion song song với nhau, nên rốt cục Tesla đã mở lối tiên phong cho công nghệ này.
Các kỹ sư bắt đầu bỏ công tìm hiểu xem nhiệt lượng sẽ tiêu tán ra sao và dòng diện sẽ chạy qua 70 khối pin như thế nào, bằng cách dùng keo thượng thặng dán chúng lại thành các khối được gọi là gạch. Sau đó mười khối gạch sẽ được xếp chung với nhau, rồi họ tiếp tục thử nghiệm nhiều cơ chế làm mát bằng gió, bằng chất lỏng khác nhau. Khi nhóm Tesla phát triển được một bộ pin hoạt động được, họ liền kéo giãn bộ khung gầm của chiếc Lotus Elise màu vàng thêm 12,7cm, dùng cần trục hạ khối pin xuống đặt vào phía sau xe — nơi đặt động cơ.[2] Các nỗ lực tuyệt vời này được bắt đầu ngày 18 tháng Mười năm 2004, và thật ấn tượng, đến ngày 27 tháng Một năm 2005, bốn tháng sau đó, một loại xe hơi hoàn toàn mới đã được 18 con người chế tạo thành công. Thậm chí, họ có thể lái nó chạy vòng quanh. Hôm đó, hội đồng quản trị Tesla đã tổ chức họp, và Musk cứ xuýt xoa về chiếc xe. Anh ra về trong tâm trạng vui sướng đủ để tiếp tục đầu tư. Musk bỏ thêm 9 triệu đô-la, như vậy Tesla đã nâng vốn lên khoảng 13 triệu đô-la. Giờ đây, công ty dự định sẽ mang chiếc Roadster đến với người tiêu dùng vào đầu năm 2006.
Vài tháng sau khi vừa hoàn tất việc chế tạo chiếc xe thứ hai, các kỹ sư Tesla đã quyết định rằng họ cần phải đối diện với một thiếu sót tiềm ẩn khá nghiêm trọng ở phương tiện chạy điện này. Ngày 4 tháng Bảy năm 2005, họ đến nhà Eberhard tại Woodside ăn mừng lễ Quốc khánh và nhận ra đây là thời điểm thích hợp để xem thử chuyện gì sẽ xảy ra khi các khối pin của chiếc Roadster bắt lửa. Ai đó đã ráp 20 khối pin lại với nhau, đặt một sợi dây đốt vào giữa rồi mồi lửa. “Nó bắn lên như một bó tên lửa bị kìm giữ,” Lyons thuật lại. Thay vì 20 khối pin, chiếc Roadster phải dùng đến 7.000, và chỉ cần nghĩ đến quy mô của một vụ nổ như thế cũng đã khiến các kỹ sư sợ run người. Một trong những ưu thế mà chỉ một chiếc xe hơi điện mới có chính là nó sẽ giúp con người tránh được thứ chất lỏng dễ cháy như xăng cùng những vụ kích nổ không ngừng diễn ra trong động cơ. Giới lắm tiền không thích phải trả giá cao cho một món hàng nguy hiểm, và kịch bản ác mộng đã hiện ra trước mắt các nhân viên Tesla ngay từ đầu: Đó là, một khách hàng giàu có và nổi tiếng sẽ bị bắt lửa vì chiếc xe của họ. “Đấy sẽ là một trong những khoảnh khắc ‘Ôi chết tiệt,’” Lyons nói. “Thế nên đây là lúc chúng tôi phải thật sự tỉnh táo.”
 
Chú thích :
[1]. Nguyên văn: angel investor, còn gọi là ‘‘mạnh thường quân”, tức nhà đầu tư sẵn sàng cấp vốn cho doanh nghiệp trong thời điểm ban đầu. Số vốn này không quá lớn như của nhà đầu tư mạo hiểm, nhưng họ cũng không quá quan tâm đến lợi nhuận thu được.
[2] Hầu hết các dòng xe hơi thông thường hiện nay động cơ được đặt ở phía trước, chỉ một số dòng xe được đặt ở phía sau và đó là trường hợp này.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Tesla đã thành lập một biệt đội sáu người để xử lý vấn đề pin. Họ được rút khỏi mọi công việc khác và được cung cấp tiền để bắt đầu tiến hành các thử nghiệm. Những tiếng nổ đầu tiên phát ra từ trụ sở Tesla, các kỹ sư quay phim chúng và chiếu lại với tốc độ chậm. Khi những ý kiến ôn hòa hơn thắng thế, Tesla đã chuyển bộ phận nghiên cứu này đến khu vực nổ phía sau một trạm điện nhỏ do sở cứu hỏa quản lý. Sau khi cho nổ hết lần này đến lần khác, các kỹ sư đã tìm hiểu được khá nhiều thứ về hoạt động bên trong của pin. Họ đã để ra các phương pháp sắp xếp chúng sao cho ngọn lửa không thể lan từ khối pin này sang khối pin bên cạnh, cũng như các kỹ thuật khác nhằm ngăn chúng nổ đồng loạt. Hàng nghìn khối pin đã được cho nổ trong suốt quá trình trên, và nổ lực này thật đáng giá. Hiển nhiên đây mới chỉ là bước đầu, nhưng Tesla đang sắp phát minh ra một công nghệ pin sẽ làm nó tách biệt khỏi các đối thủ giàu kinh nghiệm, để đi tới và trở thành một trong những lợi thế lớn của công ty.
Thành công bước đầu trong việc chế tạo hai chiếc xe hơi nguyên mẫu, cộng với những bước đột phá về mặt kỹ thuật của Tesla xung quanh vấn đề pin và các mảng công nghệ khác, đã tiếp thêm sự tự tin cho công ty. Đã đến lúc gắn nhãn hiệu Tesla cho chiếc xe này. “Kế hoạch ban đầu là chỉ cải tiến ở mức tối thiểu vừa đủ thôi, sao cho chiếc xe này càng ít khác biệt về  kiểu dáng so với một chiếc Lotus thông thường càng tốt, ngoại trừ việc chạy điện,” Tarpenning cho biết. “Nhưng rồi, Elon và các thành viên khác của hội đồng quản trị lại nói, ‘Anh chỉ phải làm việc này một lần thôi. Nó phải tạo được sự thích thú cho khách hàng, còn chiếc Lotus không đủ hay ho để làm được chuyện đó.’”
Khung gầm của chiếc Elise - hay còn gọi là khung sườn - hoạt động đúng với ý định của các kỹ sư Tesla. Nhưng phần thân xe lại vấp phải những vấn đề nghiêm trọng về  cả hình dáng lẫn chức năng. Cửa xe Elise cao hơn 30cm, có nghĩa là để vào xe bạn chỉ có thể hoặc nhảy hoặc rơi vào đấy tùy theo độ linh hoạt và tính cách của bạn. Thân xe cũng cần phải dài hơn để chứa được bộ pin và cốp xe Tesla. Và Tesla thích chế tạo chiếc Roadster hoàn toàn bằng sợi carbon hơn là sợi thủy tinh. Musk đưa ra nhiều ý kiến có ảnh hưởng đối với những đặc điểm thiết kế trên. Anh muốn một chiếc xe mà Justine có thể vào ngồi thoải mái cũng như mang tính thực tế nhất định. Musk đã nêu rõ những quan điểm này khi tham dự các cuộc họp hội đồng quản trị và khi đánh giá thiết kế.
Tesla đã thuê một nhóm chuyên gia thiết kế để giả lập một ngoại hình mới cho chiếc Roadster. Sau khi chốt lại kiểu dáng yêu thích, công ty đã cấp tiền cho họ dựng mô hình bằng 14 kích thước thật của xe vào tháng Một năm 2005, rồi dựng mô hình bằng kích thước thật vào tháng Tư. Quá trình này cũng mang đến cho các nhà điều hành Tesla một khám phá mới về tất cả những gì liên quan đến việc chế tạo một chiếc xe. “Họ bọc loại chất liệu Mylar chói lóa này quanh mô hình rồi hút bụi làm sạch nó, thế là ta có thể thực sự nhìn thấy toàn bộ những đường nét, ánh sáng và bóng đổ,” Tarpenning mô tả. Sau đó, mô hình màu bạc này được chuyển thành hình ảnh kỹ thuật số để các kỹ sư có thể xử lý nó trên máy tính. Một công ty Anh nhận file kỹ thuật số và dùng nó để chế tạo một phiên bản bằng nhựa của chiếc xe có tên gọi “anh chàng máy bay” nhằm thử nghiệm về khí động học. “Họ đặt nó lên thuyền và chuyển nó đến cho chúng tôi, rồi chúng tôi mang nó đến cho Ngài Cháy rực (Burning Man),” Tarpenning cho biết, ý muốn nói đến lễ hội sắc thuốc nghệ thuật được tổ chức thường niên tại sa mạc Nevada.
Khoảng một năm tiếp theo, sau nhiều lần thêm thắt và tốn nhiều công sức, Tesla cũng đã đến thời khắc chốt hạ. Đó là tháng Năm năm 2006, khi công ty đã phát triển đến cả trăm nhân viên. Họ đã chế tạo thành công phiên bản Roadster màu đen với tên gọi EP1 — nguyên mẫu kỹ thuật số 1. “Có thế nói rằng, ‘Giờ chúng tôi tin rằng mình đã biết phải chế tạo thứ gì,’ Tarpenning chia sẻ. “Bạn có thế cảm thấy điều đó. Đó là một chiếc xe thật sự, và nó mới thật phấn khích làm sao.” Sự xuất hiện của chiếc EP1 đã mang lại một cái cớ tuyệt vời để các nhà đầu tư hiện thời thấy tiền của họ đã mua được những gì, và công ty thì có thể huy động thêm vốn từ rất nhiều người khác. Giới đầu tư mạo hiểm giờ đang bắt đầu nắm lấy tiềm năng dài hạn của Tesla, họ đã ấn tượng đến mức lờ đi thực tế rằng nhóm kỹ sư đôi khi phải quạt thủ công để làm mát xe giữa các lần lái thử. Một lần nữa Musk lại đổ tiền vào Tesla — 12 triệu đô-la — và một nhóm các nhà đầu tư khác, bao gồm hãng đầu tư mạo hiểm Draper Fisher Jurvetson, VantagePoint Capital Partners, J.P. Morgan, Compass Technology Partners, Nick Pritzker, Larry Page, và Sergey Brin cũng tham gia với tổng cộng 40 triệu đô-la [3].
Đến tháng Bảy năm 2006, Tesla quyết định công bố với thế giới về những gì mình đạt được. Nhóm kỹ sư của công ty đã chế tạo một nguyên mẫu màu đỏ - EP2 - để bổ sung cho bản màu đen, và trưng bày cả hai tại một sự kiện ở Santa Clara [4] Báo chí quây ngay lấy công bố này và hoàn toàn bị cuốn hút trước những gì họ chứng kiến. Hai chiếc Roadster thật lộng lẫy, với hai chỗ ngồi có thể hoán đổi cho nhau và tăng tốc từ 0 lên 96 km/giờ chỉ trong bốn giây. “Trước đây, mọi chiếc xe hơi điện đều chỉ là rác rưởi,” Musk phát biểu tại sự kiện.
Những người nổi tiếng như đương kim thống đốc bang Arnold Schwarzenegger và cựu CEO của Disney, Michael Eisner cũng góp mặt tại sự kiện, nhiều người trong số họ đã lái thử hai chiếc Roadster. Hai cỗ máy mong manh đến nỗi chỉ có Straubel và hai trợ lý thân tín của anh mới biết cách vận hành, chúng được thay thế cho nhau năm phút mỗi lần để tránh cho máy bị quá nhiệt. Tesla tiết lộ rằng mỗi chiếc xe trị giá khoảng 90 nghìn đô-la và chạy được quãng đường hơn 400 km sau mỗi lần sạc pin. Công ty cho biết đã có 30 người cam kết sẽ mua một chiếc Roadster, trong đó có hai nhà sáng lập của Google là Brin và Page cùng một số tỉ phú công nghệ khác. Musk hứa hẹn sẽ cho ra mắt trong khoảng ba năm tới một mẫu xe rẻ hơn — có bốn chỗ ngồi, bốn cửa với chi phí dưới 50 nghìn đô-la.
Trong khoảng thời gian xung quanh sự kiện trên, Tesla đã có màn ra mắt công chúng bằng việc đăng tải một hồ-sơ- rút-gọn về công ty trên tờ New York Times. Eberhard đã hứa hẹn đầy lạc quan: sẽ bắt đầu giao Roadster cho khách hàng từ giữa năm 2007 thay vì đầu năm 2006 như từng dự kiến, và vạch ra chiến lược triển khai một sản phẩm giá cao, số lượng ít cho Tesla, rồi hạ dần xuống thành các sản phẩm phải chăng hơn theo thời gian nhờ những tiến bộ trong công nghệ cơ bản và năng lực sản xuất. Musk và Eberhard là những người tin tưởng nhiệt thành vào chiến lược này vì đã từng thấy nó tỏ ra hiệu quả đối với nhiều thiết bị điện tử. “Điện thoại di động, tủ lạnh hay ti-vi màu đều không được chế tạo như sản phẩm giá rẻ dành cho đại chúng ngay từ ban đầu,” Eberhard nói trên tờ báo. “Chúng khá đắt, chỉ dành cho những ai đủ tiền mua.” Tuy bài báo này là một bước tiến phi thường đối với Tesla, nhưng Musk lại không đánh giá cao nó vì anh hoàn toàn bị gạt ra ngoài. “Chúng tôi đã cố gắng nhấn mạnh và nói với phóng viên nhiều lần về anh ấy, nhưng họ lại không quan tâm đến hội đồng quản trị của công ty,” Tarpenning phần trần. “Elon rất điên tiết. Anh ấy giận tím mặt.”
 
 
[3] Trong thông cáo báo chí về đợt huy động vốn, Musk không được nêu tên như một nhà sáng lập của công ty. Trong mục « Về Tesla Motors », công ty cũng khẳng định, « Tesla Motors được Martin Eberhard và Marc Tarpenning thành lập vào tháng 6 năm 2003, với mục đích chế tạo xe hơi điện hiệu quả cho những ai yêu thích lái xe. » Về sau, Musk và Eberhard đã có màn đấu khẩu về vị thế sáng lập của Musk.
[4] Một thành phố thuộc Thung lũng Silicon.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.04.2023 19:04:17 bởi Thanh Vân>
8 – TỔN THƯƠNG, ĐAU KHỔ, VÀ TỒN VONG

 
Khi chuẩn bị quay bộ phim Iron man vào đầu năm 2007, đạo diễn Jon Favreau đã thuê một khu phức hợp tại Los Angeles từng thuộc về Hughes Aircraft, một nhà thầu hàng không vũ trụ và quốc phòng do Howard Hughes sáng lập khoảng 80 năm về trước. Cơ sở này có hàng loạt kho chứa đan xen nhau và trở thành xưởng sản xuất phim. Nó cũng mang lại cho Robert Downey Jr., người thủ vai Tony Stark - Iron man một niềm cảm hứng tuôn trào. Downey cảm thấy hoài cổ khi ngắm nhìn một trong những kho chứa lớn nay đã rơi vào tình trạng hoang tàn. Chỉ cách đó chưa lâu, khu phức hợp ấy là nơi nuôi dưỡng những ý tưởng vĩ đại từ một nhân vật vĩ đại đã làm chấn động mọi ngành công nghiệp và luôn làm mọi việc theo cách của mình.
Downey đã nghe phong thanh những lời ca thán về một nhân vật giống Hughes tên là Elon Musk, người đã tự mình xây dựng một khu phức hợp công nghiệp hiện đại cách đó chừng hơn mười cây số. Thay vì phải tưởng tượng xem cuộc sống của Hughes thế nào, Downey đã được nếm trải hương vị thực tế. Tháng Ba năm 2007, anh lên đường đến trụ sở của SpaceX tại El Segundo, và được Musk mời đi tham quan nhà máy với tư cách cá nhân. “Tôi không phải người dễ bị bất ngờ, nhưng nơi này và người đàn ông này thực đáng kinh ngạc,” Downey chia sẻ.
Với Downey, cơ sở của SpaceX trông hệt như một kho chứa hàng khổng lồ và lạ lùng. Những nhân viên hăng hái đang lao vun vút xung quanh, nghịch ngợm một thứ máy móc nào đó. Các kỹ sư trẻ cổ cồn trắng trao đổi với các công nhân dây chuyền lắp ráp cổ cồn xanh, họ dường như có chung một niềm phấn khích thật sự với những gì mình đang làm. “Tôi cảm giác đây như một công ty khởi nghiệp quyết liệt,” Downey nhận xét. Sau chuyến tham quan đầu tiên, Downey ra về với sự hài lòng vì khung cảnh anh hình dung ra tại nhà máy của Hughes cũng tương đồng với nhà máy của SpaceX. “Mọi thứ trong này thật điên rồ,” anh thốt lên.
Ngoài khung cảnh, Downey quả thực còn muốn lên nhìn vào tâm trí của Musk. Hai người đi dạo, ngồi trò chuyện trong văn phòng Musk rồi dùng bữa trưa với nhau. Downey đánh giá cao Musk vì đấy không phải là một gã làm nghề viết mã phần mềm, luôn bốc mùi và hay bồn chồn. Thay vì thế, Downey cảm nhận thấy “tính lập dị dễ gần” của Musk - mẫu người khiêm tốn có thể hòa hợp với mọi người trong nhà máy. Theo Downey, cả Musk và Stark đều là kiểu người “nắm lấy một ý tưởng để sống theo nó, và nắm lấy điều gì đó để cống hiến hết sức mình,” không bỏ phí một giây.
Khi trở lại xưởng sản xuất phim Iron man, Downey đã yêu cầu Favreau nhất định phải để một chiếc Roadster của Tesla trong xưởng của Tony Stark. Với vẻ hào nhoáng, nó sẽ là biểu tượng cho một Stark rất ngầu và liên tưởng đến việc anh ta có thể có một chiếc Roadster ngay cả khi nó chưa được bán. Tinh tế hơn, chiếc xe phải được đặt sao cho gần với bàn làm việc của Stark nhất, từ đó tạo nên sự gắn kết giữa diễn viên, nhân vật và Musk. “Sau khi gặp Musk và khẳng định với chính mình là anh ấy có thật, tôi như cảm thấy sự hiện diện của anh ấy trong xưởng này,” Downey nói. “Họ trở thành người sống cùng thời. Elon là người mà Tony muốn đánh bạn hay tiệc tùng cùng nhau; hoặc hơn thế nửa, họ có thể sẽ cùng du hành một chuyến vào rừng sâu để uống thuốc đã pha chế với các pháp sư.”
Sau khi bộ phim Người Sắt ra mắt, Favreau bắt đầu nói về vai trò của Musk như nguồn cảm hứng để Downey thể hiện nhân vật Tony Stark. Điều này nên được hiểu theo nghĩa rộng trên nhiều mức độ. Musk đúng ra không phải kiểu người sẽ nốc rượu scotch sau một chiếc Humvee cùng với đoàn hộ tống của quân đội tại Afghanistan. Nhưng báo chí vẫn cứ so sánh, và Musk bắt đầu trở thành nhân vật của công chúng. Những người từng biết đến anh như “gã PayPal đó” bắt đầu xem anh như một doanh nhân lập dị, giàu sụ đứng sau SpaceX và Tesla.
Musk khoái khi tên tuổi của anh lên như diều gặp gió. Nó thỏa mãn cái tôi của anh và đem lại sự thích thú. Anh và Justine đã mua một ngôi nhà tại Bel Air. Hàng xóm của họ có một người là Quincy Jones, nhà sản xuất âm nhạc, và người kia là Joe Francis, người chuyên dựng các video cho hãng phim khiêu dâm Girls Gone Wild tai tiếng. Musk và một số giám đốc cũ của PayPal, nay đã hòa giải những khác biệt giữa họ, cùng đứng ra sản xuất bộ phim Thank You for Smoking (Cảm ơn vì hút thuốc) và sử dụng phi cơ của Musk trong phim. Tuy không phải một tay rượu chè, nhưng Musk vẫn tham gia vào cuộc sống ban đêm của Hollywood và các buổi tiệc tùng. “Chúng tôi tham dự nhiều bữa tiệc,” Bill Lee, bạn thân của Musk, cho biết. “Elon là hàng xóm với hai người có thể xem là nổi tiếng. Bạn bè chúng tôi chuyên làm phim, họ trở thành cầu nối trong mạng lưới các quan hệ, nhờ đó chúng tôi luôn có dịp ra ngoài và vui chơi mỗi đêm.” Ở một cuộc phỏng vấn, Musk đã ước tính rằng trong cuộc sống của anh có 10% là dân chơi và 90% là kỹ sư. “Chúng tôi có năm nhân viên làm việc tại nhà; ban ngày, nhà của chúng tôi trở thành nơi làm việc,” Justine viết trong một bài gửi tạp chí. “Chúng tôi đến các buổi gây quỹ trang trọng, và đặt những bàn tốt nhất tại các hộp đêm đẳng cấp của Hollywood, bên cạnh là Paris Hilton và Leonardo DiCaprio cũng đang tiệc tùng. Khi Larry Page, đồng sáng lập Google kết hôn trên một hòn đảo riêng của Richard Branson [1] ngoài khơi Ca-ri-bê, chúng tôi cũng góp mặt, dạo chơi quanh biệt thự cùng John Cusack [2] và chứng kiến Bono [3] làm dáng với một đám phụ nữ kiêu sa ngoài lềutiếp tân.”
Justine tỏ ra thích thú với vị thế mới của họ còn hơn cả Musk. Là nhà văn chuyên viết tiểu thuyết viễn tưởng, cô vẫn duy trì một trang blog thuật lại chi tiết cuộc sống của hai vợ chồng và những cuộc phiêu lưu của họ trong thành phố. Trong một bài viết, Justine kể cô đã khiến Musk tiết lộ rằng anh thích ngủ với Veronica hơn là Betty trong loạt truyện tranh Archie, rằng anh thích thi thoảng đến khu vui chơi thiếu nhi Chuck E. Cheese.
Trong một bài khác, cô viết rằng mình đã gặp Leonardo DiCaprio tại hộp đêm và khiến tài tử này phải nài xin một chiếc Roadster miễn phí, để rồi bị từ chối phũ phàng. Justine chuyên đặt biệt danh cho những nhân vật thường xuyên xuất hiện trên blog, thế nên Bill Lee trở thành “Bill Khách sạn” vì anh sở hữu một khách sạn tại Cộng hòa Dominica, còn Joe Francis hiện ra như một “Gã hàng xóm Khét tiếng” (“NN: Notorious Neighbor”). Khó mà hình dung được Musk, một người kín tiếng, lại thân thiết và cặp kè với một kẻ ưa phô trương như Francis. Khi Francis tổ chức sinh nhật của mình tại một công viên giải trí, Musk đã đến chia vui và sau đó ở lại dự tiệc tại nhà Francis. Justine viết, “E ở đó một lát nhưng rồi anh nhận thấy nó ‘khá chán’ - tính đến nay, anh đã đến dự tiệc tại nhà NN đôi lần và luôn cảm thấy e dè, ‘vì dường như lúc nào cũng có mấy gã bê tha dạo quanh nhà và trêu chọc các cô gái. Anh không muốn bị đánh đồng là một kẻ trong số họ.’” Khi Francis muốn mua một chiếc Roadster, anh ta dừng xe trước cửa nhà Musk và chìa ra chiếc phong bì màu vàng với 100 nghìn đô-la tiên mặt bên trong.
Trang blog này từng có lúc cung cấp một cái nhìn thoáng qua, có tính gợi mở, hiếm hoi về cuộc sống của một CEO khác thường. Có vẻ Musk khá quyến rũ. Công chúng biết rằng anh đã mua tặng Justine một ấn bản quyển Pride and Prejudice (Kiêu hãnh và định kiến) từ thế kỷ XIX, rằng bạn bè thân đã đặt cho Musk biệt danh “Elonius”, và rằng Musk thích đặt cược một đô-la cho mọi thứ - Bạn có thể mắc bệnh mụn giộp ngoài Dải San hô Lớn [4] không? Liệu có cách nào giữ thăng bằng hai chiếc nĩa bằng một que tăm không? - mỗi khi anh biết mình sẽ thắng. Justine thuật lại một câu chuyện nhân dịp Musk ghé thăm Đảo Necker, thuộc Quần đảo Virgin của Anh, du ngoạn cùng Tony Blair và Richard Branson. Bức ảnh chụp ba người xuất hiện trên báo sau đó cho thấy Musk đang nhìn chòng chọc vào vô định. “Cái nhìn ngụ ý tôi-đang-suy-nghĩ-về-một-vấn-đề-tên-lửa của E khiến tôi chắc rằng anh ấy vừa nhận được một e-mail phiền phức liên quan đến công việc, và vẫn hoàn toàn ý thức được trên thực tế rằng mình đang được chụp ảnh,” cô viết. “Đó cũng là lý do khiến tôi chẳng thèm bận tâm đến nó - ông chồng trong ảnh chính là ông chồng mà tôi chạm mặt lúc đang bước vào phòng tắm tối qua, với điệu bộ khoanh tay đứng giữa hành lang.” Việc Justine cho phép cả thế giới bước vào phòng tắm của hai vợ chồng chính là lời cảnh báo cho những chuyện sắp xảy ra. Trang blog của cô sẽ sớm trở thành một trong những cơn ác mộng tồi tệ nhất của Musk.
Báo chí chưa từng đăng bài về ai đó trong suốt một thời gian dài như Musk. Vầng hào quang quanh anh với tư cách một tỉ phú Internet cứ thế càng tỏa sáng hơn, nhờ vào những thành công tiếp nối của PayPal. Anh vẫn còn có chút gì đó bí ẩn. Chưa kể đến một cái tên lạ. Và bên cạnh đó là sự sẵn lòng đổ hàng tấn tiền vào những con tàu không gian và những chiếc xe hơi điện, khiến anh được đồn đại như một sự kết hợp giữa tính liều lĩnh, khoa trương với việc làm người khác bị sửng sốt một cách thẳng thừng. “Người ta gọi Musk là gã ‘nửa dân chơi, nửa cao bồi không gian,’ một hình ảnh gắn liền với bộ sưu tập xe hơi xa xỉ gồm một chiếc Porsche Turbo 911, một chiếc Jaguar Series 1 năm 1967, một chiếc BMW Hamann M5 và một chiếc McLaren F1 - từng được anh lái với vận tốc xấp xỉ 346 km/giờ trên đường băng tư nhân,” một phóng viên người Anh đã viết một tràng như thế vào năm 2007. “Tiếp đến là chiếc phi cơ L39 của quân đội Xô-viết, và anh đã bán sau khi được làm cha.” Một sự thật mà báo chí vẫn chộp được nhưng cũng không mấy quan tâm, đó là Musk thường hay hứa hẹn về một cuộc chơi lớn để rồi sau đó phải vật lộn để giữ lời hứa đúng hạn. So với bất kỳ ai, cuộc chơi mà anh kể thường to tát hơn nhiều, nên cánh phóng viên cũng sẵn lòng dành thời gian cho anh. Tesla trở thành đứa con cưng của giới blogger tại Thung lũng Silicon, họ dõi theo từng động thái của nó và nín thở trước những tin tức về nó. Tương tự, các phóng viên vây quanh SpaceX cũng vui mừng khôn xiết khi công ty non trẻ và hiếu thắng này bắc đầu chọc tức Boeing, Lockheed và nhất là NASA. Sau cùng, tất cả những gì Musk phải làm là đưa vài thứ kỳ quan mà anh đang rót vốn này ra thị trường.
Tuy Musk xuất hiện khá ổn trước công chúng và báo chí, nhưng anh đã bắt đầu rất lo lắng về mấy doanh nghiệp của mình. Nỗ lực phóng thử lần thứ hai của SpaceX đã thất bại, các báo cáo về Tesla tiếp tục tồi tệ hơn. Musk khởi sự hai chuyến phiêu lưu này với tổng cơ nghiệp gần 200 triệu đô-la, và đã ngấu nghiến hơn nửa số tiền đó mà hầu như chẳng chứng tỏ được điều gi. Mỗi lần Tesla chậm trễ là một lần kéo theo sự thất bại về PR, hào quang của Musk lại lu mờ thêm. Mọi người tại Thung lũng Silicon bắt đầu bàn tán về vấn đề tiền nong của Musk. Cánh phóng viên mà cách đây vài tháng còn tới tấp bợ đỡ Musk giờ cũng quay lưng lại với anh. Tờ New York Times nhắm vào các trục trặc ở bộ truyền động của Tesla. Các trang web xe hơi thì quả quyết rằng Roadster không bao giờ có thể xuất xưởng. Đến cuối năm 2007, mọi thứ đã hiện rõ là một mớ bê bối. Valleywag, một trang blog lá cải của Thung lũng Silicon bắt đầu có mối quan tâm đặc biệt đối với Musk. Owen Thomas, cây bút chính của trang này, đã làm xói mòn hình tượng doanh nhân của anh khi đào sâu lịch sử của Zip2 và PayPal, đồng thời phóng đại về khoảng thời gian Musk bị tống khứ khỏi ghế CEO. Sau đó, Thomas lại bênh vực cho quan điểm rằng Musk là một kẻ thao túng bậc thầy, tiêu tiền của người khác như nước. “Thật tuyệt vời khi Musk hiện thực hóa đến từng chi tiết nhỏ nhất những điều anh mơ tưởng thời thơ ấu,” Thomas viết. “Nhưng anh lại liều lĩnh hủy hoại những ước mơ của mình vì không chấp nhận hòa hợp chúng với thực tế.” Valleywag đã “tấn phong” chiếc Roadster của Tesla là thất bại đứng số 1 năm 2007 trong những thất bại của các công ty công nghệ.
Trong lúc công việc và hình ảnh cá nhân trước công chúng đều bị sa lầy, cuộc sống gia đình của Musk cũng chẳng khá hơn. Ba đứa con sinh ba của anh - Kai, Damian và Saxon - chào đời gần cuối năm 2006 để nhập hội cùng hai anh trai Griffin và Xavier. Theo lời Musk, Justine đã trải qua chứng trầm cảm sau khi sinh vì sự kiện này. “Mùa xuân năm 2007, cuộc hôn nhân của chúng tôi thực sự có vấn đề,” Musk tiết lộ. “Nó rất bấp bênh.” Những bài blog của Justine càng minh chứng cho cảm nghĩ của anh. Cô mô tả một Elon Musk thiếu lãng mạn hơn rất nhiều và cảm thấy mọi người đối xử với cô như “một món đồ trang sức đeo tay không nói được điều gì hay ho” thay vì một nhà văn, và chồng cô cũng thế. Trong một chuyến đi đến St. Barts, gia đình Musk đã dùng bữa tối với vài cặp vợ chồng giàu có và có tầm ảnh hưởng. Lúc Justine thế hiện quan điểm chính trị của mình, một người đàn ông cùng bàn đã làm cô bị tổn thương khi cho rằng cô quá ngoan cố. “E cười thầm đáp lại, vỗ vỗ tay tôi như cách người ta dỗ dành một đứa trẻ,” Justine viết trên blog. Kể từ đó, Justine yêu cầu Musk giới thiệu cô như một tiểu thuyết gia đã có sách xuất bản, chứ không chỉ là vợ anh và mẹ của các con anh. Kết quả? “Suốt thời gian còn lại của chuyến đi, E thực hiện yêu cầu đó bằng cách nói rằng: ‘Justine muốn tôi bảo với các bạn rằng cô ấy từng viết tiểu thuyết,” khiến mọi người nhìn tôi kiểu như ồ, điều đó thật dễ thương, và nó thực sự chẳng giúp gì cho trường hợp của tôi.”

Chú thích :
[1] Tỉ phú người Anh và cũng là nhà sáng lập Tập đoàn Virgin, sở hữu hãng hàng không Virgin Airlines
[2] Nam diễn viên kiêm nhà biên kịch nổi tiếng người Mỹ, thủ vai chính trong bộ phim bom tấn 2012 (2009)
[3] Tức Paul David Hewson, được biết đến với nghệ danh Bono, là nhạc sị, ca sĩ, doanh nhân và nhà hoạt động xã hội người Ireland.
[4] Dải san hô ngoài khơi Queenland (Úc) và cũng là dải san hô lớn nhất thế giới, dài 2.010 cây số.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Từ năm 2007 sang 2008, cuộc sống của Musk ngày càng ồn ào hơn. Về cơ bản Tesla phải chế tạo lại Roadster gần như từ đầu, còn SpaceX vẫn có hàng tá nhân viên đang sống tại Kwajalein để đợi lần phóng tiếp theo của Falcon 1. Cả hai nỗ lực trên đều ngốn sạch tiền bạc của Musk. Anh bắt đầu bán lại những tài sản có giá trị như chiếc McLaren để xoay thêm tiền mặt. Musk không để cho nhân viên biết về tình hình tài chính nghiêm trọng, và vẫn luôn động viên họ làm việc hết sức. Đồng thời, anh còn tự mình giám sát các thương vụ quan trọng ở cả hai công ty. Musk cũng huấn luyện nhân viên cách cân bằng đúng đắn giữa việc tiêu tiền và năng suất. Đối với nhiều nhân viên tại SpaceX, điều này quả là một ý tưởng mới lạ, vì họ từng làm việc tại những công ty hàng không vũ trụ truyền thống, có các hợp đồng lớn kéo dài nhiều năm với chính phủ và không phải chịu áp lực tồn tại từng ngày một. “Elon luôn làm việc cả Chủ nhật, và chúng tôi từng tán gẫu xem triết lý của anh ấy là gì,” Kevin Brogan, một nhân viên SpaceX đời đầu cho biết. “Anh ấy nói rằng mọi điều chúng tôi làm đều là một hàm số gắn với tỉ lệ đốt tiền của công ty, và chúng tôi đang đốt hàng trăm nghìn đô-la mỗi ngày. Chính lối suy nghĩ theo kiểu doanh nhân Thung lũng Silicon này là điều mà không kỹ sư hàng không vũ trụ nào tại Los Angeles tiếp thu nổi. Đôi lúc, anh ấy sẽ không cho phép bạn mua một thứ với giá hai nghìn đô-la vì muốn bạn tìm được giá rẻ hơn, hoặc phát minh ra thứ rẻ hơn. Nhưng khi khác, anh ấy lại chẳng do dự trong việc thuê một chiếc máy bay với 90 nghìn đô-la để mang thứ gì đó đến đảo Kwaj, và thấy nó xứng đáng vi tiết kiệm được một ngày làm việc. Anh ấy luôn thúc giục, rằng anh ấy kỳ vọng doanh thu trong mười năm tới sẽ đạt mười triệu đô-la một ngày, rằng cứ mỗi ngày chậm hoàn thành mục tiêu là một ngày chúng tôi lại đánh rơi chừng ấy tiền.”
Musk trở nên héo hon với cả Tesla lẫn SpaceX hơn mức cần thiết, và hiển nhiên điều này có thể làm trầm trọng thêm những căng thẳng trong cuộc hôn nhân của anh. Gia đình Musk có cả một đội bảo mẫu giúp họ chăm lo cho năm đứa trẻ, nhưng Elon không thể dành nhiều thời gian ở nhà. Anh làm việc bảy ngày mỗi tuần và thường xuyên phải phân chia thời gian giữa Los Angeles và San Francisco. Justine cần một sự thay đổi. Những lúc tự ngẩm lại, cô thấy mệt mỏi, thấy mình chỉ là người vợ để trưng bày. Justine mong mỏi tái hợp với Elon một lần nữa để cảm nhận ánh lửa từ những ngày đầu chung sống của họ, trước khi cuộc sống rẽ ngoặt sang hướng lóa mắt và đòi hỏi quá nhiều. Musk chẳng cho Justine biết rõ về việc tài khoản ngân hàng của anh ngày càng thu hẹp đến mức nào. Từ lâu, cô đã đinh ninh rằng Musk vẫn giấu cô về các vấn đề tài chính của gia đình. Trong khi một số bạn bè thân thiết nhất của Musk lại lờ mờ nhận ra tình trạng tài chính đang xấu đi của anh. Vào nửa đầu năm 2008, Antonio Gracias, nhà sáng lập kiêm CEO của Valor Equity, đã hẹn Musk ăn tối. Gracias từng là nhà đầu tư tại Tesla và đã trở thành một trong những người bạn và đồng minh thân thiết nhất của Musk, nên anh nhận ra được Musk đang khổ sở về tương lai của mình. “Mọi thứ đang bắt đầu trở nên khó khăn với Justine, nhưng ít ra họ vẫn bên nhau,” Gracias nhận xét. “Trong bữa tối, Elon nói, ‘Tôi sẽ tiêu đến đồng đô-la cuối cùng của mình cho các công ty này. Nếu phải chuyển đến sống dưới tầng hầm nhà bố mẹ Justine, chúng tôi cũng sẵn lòng.”
Ý định chuyển đến sống với cha mẹ Justine của Musk đã phá sản vào ngày 16 tháng Sáu năm 2008, khi anh nộp đơn ly hôn. Đôi vợ chồng không để lộ ngay tình trạng này, dù Justine đã bóng gió trên blog. Cuối tháng Sáu, cô đăng một trích dẫn từ Moby mà không nói rõ thêm bối cảnh: “Không gì có thể điều chỉnh được người của công chúng. Nếu họ điều chỉnh được, họ đã không cố trở thành người của công chúng.” Bài viết tiếp theo cho biết Justine đang tìm nhà vì những lý do không thể tiết lộ giống như Sharon Stone, và hai bài viết sau đó cũng nói về một “sự việc hệ trọng” mà cô đang phải xử lý. Đến tháng Chín, Justine đăng bài blog đầu tiên nói thẳng về vụ ly hôn, “Chúng tôi đã có một chặng đường hạnh phúc. Chúng tôi kết hôn khi còn trẻ, níu giữ nhau lâu nhất có thể và giờ mọi thứ đã kết thúc.” Như lẽ tự nhiên, Valleywag bám ngay lấy câu chuyện ly hôn này và đưa tin rằng đã có người trông thấy Musk bên một nữ diễn viên chừng 20 tuổi.
Việc đưa tin của truyền thông và vụ ly hôn đã cho phép Justine viết về cuộc sống riêng tư của cô theo hướng thoải mái hơn rất nhiều. Trong các bài đăng kế tiếp, cô thuật lại cuộc hôn nhân đã kết thúc ra sao, quan điểm của cô về bạn gái và vợ tương lai thứ hai của Musk, cùng những nội tình của quá trình ly hôn. Lần đầu tiên, công chúng được tiếp cận với một chân dung vô cùng khó chịu của Musk và sự tổng kết đầu tay của vợ cũ về  tính cách dứt khoát của anh. Cách viết tuy có thể phiến diện, nhưng nó mở ra một cánh cửa soi vào hành động của Musk. Sau đây là một bài đăng về những sự việc dẫn tới vụ ly hôn và diễn biến nhanh chóng của nó:
Đối với tôi, ly hôn giống như một quả bom được châm ngòi khi mọi lựa chọn khác đều vô vọng. Tôi vẫn chưa từ bỏ lựa chọn dàn xếp, nên tôi vẫn chưa đệ đơn. Chúng tôi vẫn trong giai đoạn đầu của quá trình tư vấn hôn nhân (tổng cộng ba buổi). Tuy nhiên, Elon lại quyết định tự tay xử lý mọi vấn đề — như anh ấy vẫn thường làm - khi ra tối hậu thư cho tôi: “Hoặc chúng ta sửa chữa [cuộc hôn nhân] hôm nay, hoặc anh sẽ ly dị em ngày mai.”
Đêm đó và đêm sau đó nữa, anh ấy hỏi tôi muốn thế nào. Tôi khẳng định dứt khoát rằng tôi vẫn chưa sẵn sàng ly hôn; tôi đề nghị “chúng tôi” nên hoãn lại ít nhất thêm một tuần nữa. Elon gật đầu, gõ nhẹ vào đầu tôi rồi bỏ đi. Sau đấy, cũng trong sáng hôm đó, tôi cố gắng mua vài thứ và phát hiện anh ấy đã khóa thẻ tín dụng của tôi, nhờ đó tôi biết rằng anh ấy đã ra tay và gửi đơn (thế đấy, E đã không nói thẳng với tôi mà để người khác thu xếp mọi chuyện).
Đối với Musk, mỗi bức thư trực tuyến của Justine đều tạo thành một cơn khủng hoảng PR mới, gộp thêm vào những vấn đề cuồn cuộn như suối chảy mà công ty anh phải đối mặt. Hình tượng được anh chăm chút trong nhiều năm có vẻ như sắp vỡ vụn cùng với nghiệp kinh doanh của anh. Một kịch bản tàn khốc.
Chẳng mấy chốc, Musk và Justine đã được trải nghiệm tình cảnh của những người nổi tiếng vừa ly hôn. Các báo lớn cũng nhập cuộc cùng Valleywag săm soi các tài liệu của tòa án gắn với cuộc đổ vỡ, đặc biệt là chuyện Justine đấu tranh để đòi nhiều tiền hơn. Từ thời PayPal, Justine đã ký thỏa thuận sau hôn nhân, nhưng giờ lại tranh cãi rằng cô thực sự không có thời gian hoặc tâm trí để đào sâu vào các chi tiết giấy tờ. Justine đưa lên trang blog của mình một bài viết nhan đề “kẻ đào mỏ”, nói rằng cô đang đấu tranh dàn xếp ly hôn liên quan đến nhà cửa, tiền trợ cấp cho vợ cũ và cấp dưỡng cho con cái, 6 triệu đô-la tiền mặt, 10% cổ phần tại Tesla của Musk, 5% cổ phần tại SpaceX của Musk và một chiếc Tesla Roadster. Justine còn xuất hiện trên chương trình Cuộc chiến ly hôn của đài CNBC và viết một bài báo cho tạp chí Marie Claire nhan đề: “Tôi là người vợ đầu’: Nội tình vụ ly hôn ầm ĩ nhất nước Mỹ.”
Trong tất cả những chuyện này, công chúng có khuynh hướng đứng về phía Justine và hoàn toàn không hiểu vì sao một tỉ phú lại chống lại những đòi hỏi có vẻ công bằng của vợ mình. Thực ra, vấn đề cốt yếu đối với Musk chính là tài sản của anh chẳng còn gì ngoài tài sản lưu động mà phần lớn giá trị ròng gắn với cổ phần của Tesla và SpaceX. Sau cùng, hai người thỏa thuận để Justine lấy căn nhà, 2 triệu đô-la tiền mặt (trừ đi chi phí pháp lý của cô), 80 nghìn đô-la tiền trợ cấp cho vợ cũ và cấp dưỡng cho con cái mỗi tháng trong 17 năm, và một chiếc Tesla Roadster [5].
Nhiều năm sau cuộc dàn xếp, Justine vẫn gặp khó khăn khi kể về mối quan hệ của cô với Musk. Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi, cô đã bật khóc vài lần và cần chút thời gian trấn tĩnh để suy nghĩ. Cô kể rằng Musk đã giấu cô nhiều thứ trong suốt cuộc hôn nhân của họ và sau cùng đã đối xử với cô như một đối thủ cần khuất phục trên thương trường khi ly hôn. “Giữa chúng tôi nhiều lúc như có chiến tranh, và một khi đã gây chiến với Elon, kết cục sẽ rất tàn khốc,” cô cho biết. Sau khi hôn nhân của họ kết thúc, Justine vẫn tiếp tục viết blog về Musk. Cô viết về Riley và bình luận về cách làm cha của anh. Một bài đăng đã khiến Musk khốn đốn, do anh cấm mang thú bông ra khỏi nhà khi hai đứa con sinh đôi của họ lên bảy tuổi. Được hỏi về việc này, Justine cho biết, “Elon rất cứng rắn. Anh ấy trưởng thành trong một nền văn hóa và hoàn cảnh sống khắc nghiệt. Anh ấy buộc phải trở nên rất khắc nghiệt không chỉ để vươn lên, mà còn để chinh phục thế giới. Anh ấy không muốn nuôi dạy những đứa trẻ ngoan ngoãn được bao bọc thái quá mà không có định hướng.” Những bình luận như thế dường như ngụ ý rằng Justine vẫn ngưỡng mộ, hoặc chí ít là thấu hiểu ý chí vững vàng của Musk [6].
Trong nhiều tuần sau khi anh nộp đơn ly hôn lần đầu tiên vào giữa tháng Sáu năm 2008, Musk luôn chìm vào tâm trạng sầu muộn sâu sắc. Bill Lee bắt đầu lo lắng về trạng thái tinh thần của bạn mình, và là một trong những người bạn của Musk có tâm hồn tự do, Lee muốn làm điều gì đó để anh vui lên. Hết lần này đến lần khác, Musk và Lee - một nhà đầu tư - cứ đi nước ngoài liên tục và kết hợp công việc với thú vui của mình. Thời điểm này thật phù hợp cho một chuyến đi như vậy, thế là họ khởi hành đến London vào đầu tháng Bảy.
Chuyến đi giải khuây mở màn không tốt lắm. Musk và Lee đã ghé thăm trụ sở hãng xe Aston Martin nhằm gặp gỡ CEO công ty và tham quan nhà máy của ông này. Vị giám đốc đối đãi với Musk như một nhà sản xuất xe hơi nghiệp dư, lên giọng với anh và cho rằng ông ta biết nhiều về các phương tiện chạy điện hơn bất kỳ ai trên thế giới. “Ông ta đúng là một kẻ hợm hĩnh,” Lee nhận xét, và hai người đã tìm cách nhanh chóng rời khỏi đó để quay về trung tâm London. Trên đường đi, cơn đau bụng ầm ỉ của Musk bỗng trở nặng. Khi ấy, Lee đã kết hôn với Sarah Gore, con gái của cựu Phó Tổng thống Al Gore; cô từng là một sinh viên y khoa, thế nên anh vội gọi cho cô để xin lời khuyên. Họ kết luận rằng Musk có thể bị viêm ruột thừa, nên Lee liền đưa anh vào một phòng khám ngay giữa trung tâm mua sắm. Khi các xét nghiệm cho kết quả âm tính, Lee liền cố gắng giục Musk bước vào màn đêm đang bao phủ thành phố. “Elon không muốn ra ngoài, và tôi thực tình cũng không muốn,” Lee kể lại. “Nhưng tôi cứ than, ‘Thôi nào. Chúng ta đã cất công đến đây rồi.
Lee dỗ ngọt Musk vào một hộp đêm có tên Whisky Mist tại Mayfair. Mọi người bị dồn vào một sàn nhảy nhỏ nhưng sành điệu, và sau mười phút Musk chỉ muốn ra khỏi đó. Lee, một người quảng giao, liền nhắn tin cho một người bạn là chủ hộp đêm này, và người này đã tiếp tục giúp Musk được hộ tống vào khu VIP. Sau đó, chủ hộp đêm liên lạc với vài người bạn đẹp nhất của mình, trong đó có nữ diễn viên 22 tuổi đầy triển vọng tên Talulah Riley, và họ nhanh chóng đến hộp đêm. Riley cùng hai người bạn lộng lẫy của cô vừa trở về  từ một ngày hội từ thiện, trong những bộ áo dài thướt tha phủ cả thân người. “Talulah bước vào với bộ trang phục như của Cinderella,” Lee nhận xét. Những người trong hộp đêm giới thiệu Riley và Musk với nhau, và anh ngẩng đầu lên khi trông thấy thân hình lóa mắt của cô.
Musk và Riley ngồi tại bàn cùng bạn bè nhưng lập tức nhìn nhau không rời mắt. Riley vừa tạo tiếng vang với hình tượng nhân vật Mary Bennet của cô trong bộ phim Kiêu hãnh và định kiến và tự nhận mình là người khéo cư xử. Trong khi đó, Musk già dặn lại vào vai một kỹ sư ngọt ngào và nói năng nhỏ nhẹ. Anh rút điện thoại ra và khoe những tấm ảnh chụp Falcon 1 và Roadster, mặc dù Riley nghĩ rằng anh chỉ có chút đóng góp nào đó trong những dự án này, chứ không nhận ra anh đang điều hành các công ty sản xuất máy móc. “Tôi nhớ mình đã nghĩ rằng anh chàng này không hay trò chuyện với những nữ diễn viên trẻ và trông có vẻ khá bồn chồn,” Riley cho biết. “Tôi quyết định sẽ tỏ ra thật dễ thương với anh ấy và giúp anh ấy có một buổi tối vui vẻ. Tôi không hề biết rằng anh ấy đã từng trò chuyện với rất nhiều cô gái xinh đẹp trong đời [7].” Musk và Riley càng trò chuyện, Lee lại càng khuyến khích họ. Đây là lần đầu tiên trong nhiều tuần mà bạn anh tỏ ra vui vẻ. “Bụng anh ấy không còn đau; anh ấy cũng không còn khó chịu, thật tuyệt,” Lee nói. Với trang phục như bước ra từ một câu chuyện cổ tích, Riley không hề phải lòng Musk ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng đêm tiệc càng kéo dài, cô lại càng ấn tượng và thích thú hơn, đặc biệt sau khi chủ hộp đêm giới thiệu Musk với một người mẫu nóng bỏng, anh chỉ lịch sự nói “Xin chào” và trở lại ngồi cạnh Riley. “Sau chuyện đó, tôi nhận ra anh ấy có thể không hoàn toàn xấu,” Riley kể, sau đó cô đã cho phép Musk đặt tay lên đầu gối cô. Musk mời Riley ăn tối vào hôm sau, và cô đã nhận lời.
Với thân hình hấp dẫn, đôi mắt gợi tình và lối xử sự của một cô gái ngoan nhưng hài hước, Riley là một ngôi sao điện ảnh đang lên nhưng thực sự không hề tỏ vẻ ta đây. Cô lớn lên ở một miền quê bình dị nước Anh, học ở một ngôi trường hàng đầu, và cho đến trước tuần lễ gặp gỡ Musk, cô vẫn sống ở nhà cùng cha mẹ. Sau cái đêm tại Whisky Mist, Riley gọi điện cho gia đình để kể về anh chàng thú vị chuyên chế tạo tên lửa và xe hơi mà cô vừa gặp. Cha cô, người từng chỉ huy Biệt đội Chống Tội phạm Quốc gia, đã lập tức mở máy tính để điều tra thân thế của Musk, phát hiện ra anh là một tay chơi quốc tế đã kết hôn và có năm mặt con. Cha Riley trách mắng con gái khờ khạo, nhưng cô vẫn níu giữ hy vọng rằng Musk có thể giải thích và dù thế nào vẫn ăn tối cùng anh.
Musk đi cùng Lee đến bữa tối, còn Riley dẫn theo bạn cô, Tamsin Egerton, cũng là một nữ diễn viên xinh đẹp. Câu chuyện cứ nhạt dần theo bữa ăn, vì cả nhóm đã chọn dùng bữa ở một nhà hàng vắng vẻ một cách đáng buồn. Riley chờ để xem Musk nói gì về  đời tư của mình. Cuối cùng, anh cũng thông báo rằng mình có năm cậu con trai và đang tiến hành ly hôn. Lời thú nhận đã đủ để Riley tiếp tục hứng thú và tò mò về những gì diễn ra tiếp theo. Sau bữa ăn, Musk và Riley tự tách ra. Họ dạo qua khu Soho rồi dừng chân tại quán cà phê Boheme, nơi Riley, một người cả đời chưa từng nhấp một giọt rượu, đã uống một ly nước táo ép. Musk khiến Riley luôn phải chú ý, và câu chuyện tình chính thức bắt đầu.
Ngày hôm sau, đôi tình nhân ăn trưa cùng nhau rồi đến White Cube, một phòng triển lãm nghệ thuật hiện đại; sau đó, họ quay về khách sạn của Musk. Musk bảo Riley (khi ấy vẫn là trinh nữ) rằng anh muốn cho cô xem những quả tên lửa của mình. “Tôi hơi dè dặt, nhưng thực ra anh ấy chỉ muốn cho tôi xem những đoạn video quay cảnh tên lửa,” cô kể lại. Khi Musk trở lại Mỹ [8] , họ vẫn giữ liên lạc với nhau qua e-mail trong hai tuần, rồi Riley đặt chỗ trên chuyến bay đến Los Angeles. “Lúc đó thậm chí tôi không nghĩ mình là bạn gái hay đại loại thế,” Riley nói. “Tôi chỉ đang rất vui vẻ.”
Musk lại có những ý định khác. Khi Riley mới ở California được năm ngày, anh đã đưa ra một đề nghị khi họ đang nằm trên giường và trò chuyện trong một căn phòng nhỏ tại khách sạn Peninsula, Beverley Hills. “Anh ấy bảo, ‘Anh không muốn em đi. Anh muốn em lấy anh.’ Tôi nghĩ mình đã phì cười. Sau đó, anh ấy lại nói, ‘Không, anh nghiêm túc đấy. Anh xin lỗi vì chưa chuẩn bị nhẫn.’ Tôi nói, ‘Được, nếu anh thích thì mình cứ thỏa thuận như thế.’ Thế là chúng tôi đến với nhau. Tôi không nhớ khi ấy mình đang nghĩ gì nữa; tôi chỉ có thể nói rằng mình mới 22.”
 
Chú thích :
[5]. Musk đã đấu tranh để có một bản báo cáo trung thực - đúng như anh chứng kiến - trên tờ Huffington Post và viết một bài dài 1.500 từ. Musk xác nhận rằng những cuộc thương lượng kéo dài hai tháng với các bên độc lập đã đi đến một thỏa thuận sau hôn nhân, từ đó tách riêng tài sản giữa hai vợ chồng, để Musk có thể hưởng quyền lợi của anh từ các công ty và Justine hưởng quyền lợi từ sách của cô. “Giữa năm 1999, Justine đã nói rằng nếu tôi cầu hôn cô ấy, cô ấy sẽ đồng ý,” Musk viết. “Do việc cần ôn diễn ra ngay sau khi tôi bán công ty đầu tiên, Zip2, cho Compaq, rồi công ty tiếp theo do tôi đồng sáng lập là PayPal, nên bạn bè và gia đình đều khuyên tôi phân biệt rõ hôn nhân là vì tình hay vì tiền.” Sau khi dàn xếp, Musk đã yêu cầu chủ bút Arianna Huffington gỡ bài viết của anh về vụ ly hôn trên trang web. “Tôi không muốn khơi lại những chuyện không hay trong quá khứ,” Musk chia sẻ. “Bạn luôn tìm được mọi thông tin trên Internet. Nên không có nghĩa là nó biến mất. Nó chỉ khó tìm hơn thôi.
[6]. Giữa hai người vẫn tiếp tục phát sinh những khó khăn. Trong một thời gian dài, Musk đã chia sẻ lịch chăm sóc con thông qua trợ lý của anh là Mary Beth Brown thay vì làm việc trực tiếp với Justine. “Tôi thực sự phát bực về chuyện đó,” Justine cho biết. Trong suốt cuộc trò chuyện của chúng tôi, Justine chỉ toàn thổn thức nhắc đến những được mất khi bọn trẻ lớn lên trên một sân khấu lớn, nơi chúng vụt biến đi xem trận Super Bowl hay đến Tây Ban Nha trên phi cơ riêng mà chẳng thèm báo trước, hoặc đòi đến chơi tại nhà máy Tesla. “Tôi biết bọn trẻ thực sự trông đợi cha chúng,” cô thố lộ. “Anh ấy mang chúng đi khắp nơi và truyền lại cho chúng rất nhiều kinh nghiệm. Vai trò người mẹ của tôi là tạo dựng một cuộc sống bình thường và mang lại cho chúng cảm giác đời thường. Chúng không lớn lên trong một gia đình bình thường, với một người cha bình thường. Cuộc sống của chúng với tôi sẽ không quá sôi động. Chúng tôi xem trọng những điều khác. Tôi là người rất biết cảm thông.”
[7] Musk thuật lại cuộc gặp gỡ của họ như sau « Cô ấy trông thật tuyệt, nhưng điều thoáng qua trong suy nghĩ của tôi là ‘Ồ, mình đoán họ là hai người mẫu’ Bạn biết đấy, thực sự bạn không thể trò chuyện với hầu hết các người mẫu. Bạn không thể có một cuộc trò chuyện với bho5. Nhưng Talulah thực sự thích nói về những quả tên lửa và xe hơi điện. Điều dó thật thú vị. »
[8] Musk có mời Riley đi cùng anh, nhưng cô đã từ chối
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Cho tới lúc ấy, Riley vẫn là một cô con gái kiểu mẫu và chưa từng để cha mẹ mình quá phiền lòng về bất kỳ điều gì. Cô học giỏi ở trường, giành được một số hợp đồng đóng phim đình đám, và có một tính cách ngọt ngào, nhẹ nhàng, đến mức được bạn bè mô tả như nàng Bạch Tuyết giữa đời thực. Thế nhưng cô đã đứng trên ban công khách sạn, thông báo với cha mẹ mình rằng cô đã nhận lời kết hôn với một người đàn ông lớn hơn mình 14 tuổi, vừa nộp đơn ly hôn người vợ đầu, có năm đứa con và hai công ty, và cô thậm chí không hiểu sao mình có thể yêu anh khi hai người chỉ mới biết nhau được vài tuần. “Tôi nghĩ mẹ tôi đã suy nhược thần kinh,” Riley kể lại. “Nhưng tôi luôn là người vô cùng lãng mạn, và lạ thay điều này chẳng làm tôi bất ngờ.” Riley bay trở về  Anh để thu xếp mọi chuyện, sau đó cùng cha mẹ bay đến Mỹ để gặp Musk, người đã xin cha Riley ban phước cho hai người một cách muộn màng. Musk không có nhà riêng, nên hai người phải chuyển đến nhà của tỉ phú Jeff Skoll, bạn Musk. “Tôi sống ở đó được một tuần thì một người lạ bước vào,” Riley kể. “Tôi hỏi, ‘Anh là ai?’ và anh ta trả lời, ‘Tôi là chủ nhà. Thế cô là ai?’ Tôi nói với anh ta, thế rồi anh ta bỏ đi.” Sau đó, Musk đã cầu hôn Riley một lần nữa trên ban công nhà Skoll, với một chiếc nhẫn to tướng. (Anh đã mua cho cô đến ba chiếc nhẫn đính hôn, gồm một chiếc khổng lồ kể trên, một chiếc để cô đeo hằng ngày,  và một chiếc do Musk thiết kế với mười viên đá sapphire bao quanh một viên kim cương.) “Tôi nhớ anh ấy nói, ‘Sống cùng anh là em đã chọn con đường chông gai.’ Khi ấy tôi hoàn toàn không hiểu, nhưng giờ thì tôi đã hiểu. Đó quả là một hành trình khó khăn và điên rồ.”
Riley đã trải qua thử thách đầu tiên. Cuộc tình như gió cuốn đã đem lại cho cô ấn tượng rằng cô vừa đính hôn với một tỉ phú thích bay nhảy khắp nơi để chinh phục thế giới. Điều này đúng trên lý thuyết nhưng lại là một ngụ ý tối tăm về thực tế. Khi tháng Bảy dần qua đi, Musk nhận thấy mình chỉ có vừa đủ tiền mặt để sống lần hồi đến hết năm. Cứ cách một khoảng thời gian, cả SpaceX và Tesla đều cần xuất tiền để trả lương cho nhân viên, và chẳng rõ tiền sẽ đến từ đâu khi thị trường tài chính thế giới đang hỗn loạn và các khoản đầu tư đang bị đình đốn. Nếu mọi thứ diễn ra một cách trôi chảy hơn với hai công ty, Musk có thể cảm thấy tự tin hơn về việc huy động vốn, nhưng tình hình lại không như thế. “Mỗi ngày anh ấy trở về nhà và mang theo vài tai họa nào đó,” Riley cho biết. “Quý nào anh ấy cũng phải chịu sức ép ghê gớm. Thật kinh khủng.”
Lần phóng thứ ba của SpaceX tại đảo Kwajalein đã trở thành mối quan tâm lớn nhất đè nặng lên Musk. Đội kỹ sư của anh vẫn đang phải cắm trại trên đảo để chuẩn bị phóng thử Falcon 1 một lần nữa. Một công ty thông thường hẳn sẽ chỉ tập trung vào công việc trước mắt. SpaceX thì không. Nó đã chuyển Falcon 1 đến Kwaj cùng với một đội kỹ sư vào tháng Tư, rồi bố trí một nhóm kỹ sư khác tiến hành dự án mới — phát triển Falcon 9, một tên lửa có chín động cơ sẽ thế chỗ Falcon 5 và có khả năng thay thế cho tàu con thoi không gian sắp nghỉ hưu. SpaceX chưa thể chứng minh được nó có thể bay vào không gian thành công, nhưng Musk vẫn định vị công ty sẽ nhận thầu các hợp đồng bộn tiến của NASA[9].
Ngày 30 tháng Bảy năm 2008, Falcon 9 đã được khai hỏa thử nghiệm thành công tại Texas với cả chín động cơ đều cháy sáng và sản sinh ra lực đẩy tương đương 385,6 tấn. Ba ngày sau tại đảo Kwaj, nhóm kỹ sư SpaceX đổ đầy nhiên liệu vào Falcon 1 và sẵn sàng hành động. Quả tên lửa mang theo một vệ tinh của không quân cùng hai mẫu vật thí nghiệm từ NASA. Tổng trọng lượng của kiện hàng này là 171 kg.
SpaceX đã tiến hành những thay đổi quan trọng cho tên lửa của mình kể từ lần phóng thất bại gần nhất. Thường thì một công ty hàng không vũ trụ truyền thống sẽ không muốn gánh thêm rủi ro, nhưng Musk cứ nhất định muốn SpaceX phải phát triển công nghệ hơn nữa cùng với việc làm cho nó vận hành hiệu quả. Một trong những thay đổi lớn nhất của Falcon 1 chính là một phiên bản mới của động cơ Merlin 1 có hệ thống làm mát đã điều chỉnh.
Lần phóng thử đầu tiên vào ngày 2 tháng Tám năm 2008 đã phải bỏ dở tại khâu đếm ngược từng giây đến thời điểm bấm nút phóng. Đội SpaceX họp lại và thử phóng lần nữa trong ngày hôm đó. Lần này, mọi thứ có vẻ khá ổn. Falcon 1 bay vút lên trời một cách ngoạn mục mà không có dấu hiệu trục trặc gì. Từ California, các nhân viên Tesla theo dõi diễn biến trên màn hình liên reo hò và huýt sáo. Nhưng rồi, trong khoảnh khắc tầng thứ nhất và thứ hai tách ra, đã xảy ra sự cố. Một phân tích sau đó cho thấy các động cơ mới đã tạo ra lực đẩy ngoài dự kiến trong quá trình phần tách khiến tầng thứ nhất va chạm mạnh vào tầng thứ hai, phá hủy phần đầu tên lửa cùng động cơ của nó [10].
Lần phóng thất bại này đã khiến nhiều nhân viên SpaceX hụt hẫng. “Thật đau lòng khi phải chứng kiến khối năng lượng nổ tung bao trùm lên cả căn phòng trong suốt 30 giây,’’ Dolly Singh, một tân binh SpaceX nói. “Đó quả là ngày tồi tệ nhất từ trước đến nay. Bạn ít chứng kiến những người trưởng thành sụt sùi, chứ hôm ấy họ đã khóc. Chúng tôi mệt mỏi và có cảm giác sụp đổ.” Musk thảo luận với mọi người ngay lập tức và động viên họ trở lại với công việc. “Anh ấy nói, ‘Xem này. Chúng ta sẽ làm được điều đó. Mọi chuyện rồi sẽ ổn. Đừng hoảng hốt,’’ Singh thuật lại. “Nó như phép màu vậy. Mọi người lập tức trấn tĩnh và bắt đầu tập trung tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra và cần khắc phục ra sao. Từ tuyệt vọng đi tới hy vọng và tập trung.” Musk cũng thể hiện một sự lạc quan trước công luận. Trong một tuyên bố, anh khẳng định SpaceX vẫn còn một tên lửa nữa đang chờ phóng lần thứ tư, và lần phóng thứ năm cũng được dự kiến không lâu sau đó. “Tôi còn đánh liều bịa chuyện về lần phóng thứ sáu,” anh tiết lộ. “Công cuộc phát triển Falcon 9 sẽ vẫn tiếp tục chứ không chững lại.”
Trên thực tế, lần phóng thứ ba này là một thảm họa với những hậu quả kéo theo từng đợt. Do tầng thứ hai của tên lửa không được khai hỏa đúng lúc, nên SpaceX đã không còn cơ hội nhận ra liệu họ đã thực sự khắc phục được vấn đề tràn nhiên liệu từng gây thiệt hại cho lần phóng thứ hai hay chưa. Nhiều kỹ sư của SpaceX cho là họ đã giải quyết được vấn đề này và băn khoăn về lần phóng thứ tư, do tin rằng họ đã có được câu trả lời đơn giản cho vấn đề lực đẩy mới đây. Với Musk, tình thế có vẻ nghiêm trọng hơn. “Tôi cực kỳ thất vọng,” Musk chia sẻ. “Nếu chúng tôi không giải quyết được vấn đề nhiên liệu thừa ở lần phóng thứ hai, hoặc giả vẫn còn một sự cố ngẫu nhiên nào đó chực chờ phát sinh - chẳng hạn như một lỗi trong quá trình phóng hay quá trình sản xuất không liên quan đến bất kỳ vấn đề nào trước đó — thì cuộc chơi sẽ kết thúc.” Đơn giản là SpaceX không còn đủ tiền cho cố gắng lần thứ năm. Anh đã bỏ 100 triệu đô-la vào công ty này và chẳng còn dư được đồng nào vì những vấn đề tại Tesla. “Chuyến thứ tư là lần phóng quyết định,” Musk thừa nhận. Tuy nhiên, nếu SpaceX có thể thành công ở lần thứ tư, nó sẽ tạo được lòng tin với một bộ phận trong chính phủ Mỹ và các khách hàng thương mại, mở đường cho Falcon 9 và cả những dự án tham vọng hơn.
 
Chú thích:
[9]. Lúc đó, Musk đã nổi tiếng là kẻ tham vọng nhất trong lĩnh vực kinh doanh không gian. Trước khi triển khai dự án Falcon 9, Musk dã dự định chế tạo BFR (Big Falcon Rocket: Tên lửa Falcon Lớn). Musk muốn nó phải được trang bị động cơ tên lửa lớn nhất trong lịch sử. Tâm lý thích những thứ to hơn và nhanh hơn của Musk đã chọc cười, làm khiếp sợ và tạo ấn tượng với những nhà cung cấp mà SpaceX thỉnh thoảng phải nhờ giúp đở, như Barber-Nichols Inc., nhà sản xuất bơm turbo cho động cơ tên lửa cũng như các loại máy móc hàng không vũ trụ khác, có trụ sở tại Colorado. Một số giám đốc tại Barber-Nichols Inc. - Robert Linden, Gary Frey, và Mike Forsha — đã tử tế thuật lại cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa họ với Musk vào giữa năm 2002 và những thỏa thuận sau đó với anh. Dưới đây là một trích đoạn:
“Elon xuất hiện cùng với Tom Mueller và bắt đầu nói rằng định mệnh của anh là phóng những thứ đó vào không gian với chi phí thấp hơn và giúp chúng tôi trở thành những người du hành không gian. Chúng tôi đã nghĩ về viễn cảnh của Tom, nhưng không chắc có nên xem xét điều Elon nói một cách nghiêm túc hay không. Họ bắt đầu yêu cầu chúng tôi những điều bất khả thi. Họ muốn một chiếc bơm turbo được chế tạo chưa đầy một năm, với giá dưới 1 triệu đô-la. Boeing có thể tiến hành một dự án như thế trong hơn năm năm và với 100 triệu đô-la. Tom yêu cầu chúng tôi hãy làm sao cho tốt nhất, và chúng tôi đã chế tạo nó trong 13 tháng. Làm nhanh và học nhanh là triết lý của Elon. Anh ấy không ngừng muốn chi phí phải hạ thấp hơn nữa. Bất cứ tài liệu gì liên quan đến chi phí nguyên vật liệu mà chúng tôi đưa cho anh ấy xem, anh ấy đều muốn chi phí phải thấp hơn nữa, vì đó là một phần trong mô hình kinh doanh của anh. Làm việc với Elon có thể rất dễ nản. Anh ấy chỉ có một quan điểm duy nhất và sẽ không bước chệch khỏi nó. Chúng tôi không biết có bao nhiêu người làm việc cho anh ấy mà cảm thấy hạnh phúc. Nói cách khác, anh ấy đã hạ bớt chi phí và tuân theo đúng kế hoạch kinh doanh ban đầu. Boeing, Lockheed và mọi công ty khác đều trở nên thận trọng thái quá và chi rất nhiều tiền. SpaceX rất gan lì.”
[10] Để bạn nắm qua về vốn kiến thức tên lửa của Musk, đây là lời giải thích của anh khi nhớ lại vụ việc trên sau sáu năm : « Đó là do chúng tôi đã nâng cấp động cơ Merlin thành một động cơ tư làm mát, khiến cho lực đẩy nhất thời của động cơ kéo dài lâu hơn vài giây. Lực đẩy chỉ tăng thêm 1% tức thêm khoảng 1,5 giây. Và áp suất buồng đốt cũng chỉ tăng thêm 10 PSI (tương đương 1,78kg/cm²) làm tổng áp suất tăng 1%. Nhưng nó lại thấp hơn áp suất mực nước biển. Trên bệ  phóng thử, chúng tôi đã không nhận ra điều đó, nghĩ mọi thứ vẫn ổn. Chúng tôi cho rằng nó vẫn giống như lần trước, và thực  sự nó chỉ khác biệt đôi chút. Áp suất mực nước biển chung quanh chỉ cao hơn xấp xỉ 15 PSI (tương đương 2,67kg/cm²), điều đó đã che giấu vài tác động trong quá trình thử nghiệm. Lực đẩy tăng thêm đã khiến tầng thứ nhất tiếp tục di chuyển sau khi tách ra và lại tiếp xúc với tầng kia. Nó làm cho tầng trên khởi động động cơ liên tầng bên trong, làm bùng lên quả cầu plasme phá hủy tầng trên.’’
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Trong quá trình thực hiện lần phóng thứ ba, Musk đã thể hiện bản tính “chơi đến cùng” thường gặp của mình. Bất kỳ ai tại SpaceX tham gia thực hiện lần phóng đó đều có tên trong danh sách công việc ngặt nghèo của Musk. Musk sẽ săn đuổi từng người chịu trách nhiệm về những chậm trễ, nhưng thông thường anh cũng sẽ làm hết sức mình để giúp họ giải quyết các vấn đề. “Lần đó, chính tôi là người tổ chức cuộc phóng thử và phải cập nhật cho Elon hai lần mỗi ngày những gì đang diễn ra,” Kevin Brogan cho biết. “Nhưng Elon chỉ nói, ‘Công ty này có đến 500 người. Vậy anh cần gì ở họ?’” Một trong những cuộc điện thoại chắc chắn được gọi khi Musk đang tán tỉnh Riley, vì Brogan còn nhớ Musk gọi từ phòng tắm của một hộp đêm tại London để hỏi xem công đoạn hàn một bộ phận khá lớn của tên lửa đang tiến triển thế nào. Musk đã gọi tiếp một cuộc khác lúc nửa đêm khi đang ngủ cạnh Riley và phải thì thầm nhiếc móc các kỹ sư. “Anh ấy nói với chúng tôi bằng giọng khi đang làm chuyện gối chăn, nên chúng tôi đều phải túm tụm lại quanh một chiếc điện thoại mở loa; đúng lúc ấy, Elon nói, ‘Các anh cần phải hợp sức lại với nhau.’” Brogan kể.
Với lần phóng thứ tư, các yêu cầu và việc dự phòng đã siết chặt đến độ mọi người bắt đầu phạm những sai lầm ngớ ngẩn. Thông thường, phần thân Falcon 1 sẽ được chuyển đến đảo Kwaj bằng xà lan. Nhưng lần này, Musk và nhóm kỹ sư lại quá phấn khích và không muốn chờ đợi một chuyến hải hành. Musk đã thuê một máy bay chở hàng của quân đội để chuyển thân tên lửa bằng đường không từ Los Angeles đến Hawaii, rồi đến Kwaj. Đây đáng ra là một ý hay, ngoại trừ việc các kỹ sư SpaceX đã quên tính đến điều sẻ xảy ra với thân tên lửa — vốn chỉ dày chưa đến 0,3 cm — khi đặt trong một chiếc máy bay điều áp. Khi máy bay bắt đầu hạ cánh xuống Hawaii, mọi người ngồi bên trong đều nghe thấy những tiếng ồn lạ phát ra từ khoang hàng. “Tôi nhìn ra sau và thấy thân tên lửa đang bị vò nát,” Bulent Altan, nguyên trưởng bộ phận điên tử hàng không tại SpaceX, cho biết. “Tôi yêu cầu phi công bay lên và anh ta làm theo.” Tên lửa đã biến dạng hệt như một chai nước rỗng trên máy bay, do áp suất không khí ép lên bề mặt chai và khiến nó móp méo. Altan tính toán rằng họ chỉ có khoảng 30 phút để giải quyết sự cố trước khi phải hạ cánh. Họ rút dao bấm ra và cắt bỏ lớp bao bì đang siết chặt thân tên lửa. Sau đó, họ tìm thấy bộ dụng cụ bảo dưỡng trên máy bay và dùng cờ-lê mở vài đai ốc trên tên lửa để áp suất bên trong nó cân bằng với áp suất của máy bay. Khi máy bay đáp xuống, nhóm kỹ sư phân công nhau gọi cho các giám đốc cấp cao tại SpaceX để thông báo về tai họa. Khi đó là 3 giờ chiều tại Los Angeles, và một trong các giám đốc đã xung phong báo tin tức khủng khiếp này cho Musk. Lúc ấy mọi người chỉ nghĩ được rằng họ phải mất thêm ba tháng để sửa chữa thiệt hại. Thân tên lửa đã móp méo nhiều chỗ, các vách ngăn trong thùng nhiên liệu có tác dụng ngăn nhiên liệu tràn ra cũng bị ép vỡ, cùng một loạt vấn đề khác phát sinh. Musk ra lệnh cho nhóm kỹ sư tiếp tục bay đến Kwaj và gửi thêm một đội tiếp viện cùng với các thiết bị sửa chữa. Hai tuần sau, tên lửa đã được sửa xong trong nhà chứa máy bay tạm thời. “Cứ như chúng tôi lại kẹt trong hố lần nữa,” Altan nhận xét. “Bạn không thể từ bỏ và bỏ lại sau đồng đội bên cạnh mình. Khi mọi thứ được sửa xong, mọi người đều cảm thấy ngạc nhiên.”
Lần phóng thứ tư và có thể là lần phóng cuối cùng của SpaceX đã diễn ra vào ngày 28 tháng 9 năm 2008. Các nhân viên SpaceX đã làm việc không ngơi nghỉ dưới áp lực khổ sở trong suốt sáu tuần cho ngày này. Lòng tự hào của người kỹ sư đang hòa quyện cùng hy vọng và ước mơ. “Mọi người đang nhìn chúng tôi, nên chúng tôi đều cố gắng hết sức và không bỏ cuộc,” James McLaury, một thợ máy tại SpaceX, cho biết. Bất chấp những rắc rối đã qua, các kỹ sư tại đảo Kwaj tự tin rằng lần phóng này sẽ thành công. Sau mấy năm trên đảo, một số người đã vượt qua một hoặc nhiều hơn những đợt rèn luyện kỹ thuật lạ lùng trong lịch sử loài người. Họ bị tách khỏi gia đình, bị cái nóng thiêu đốt và bị đày đọa trên một bệ phóng bé tí ngoài khơi xa - đôi khi còn không có đủ thức ăn - ngày nối ngày, chỉ để chờ đợi các cửa phóng mở ra và xử lý những công việc dở đang tiếp theo. Không ai có thể quên được những cực khổ, những đau đớn và sợ hãi đó một khi lần phóng này thành công.
Chiều muộn ngày 28, SpaceX dựng chiếc Falcon 1 vào vị tri phóng. Một lần nữa, nó đứng ngẩng cao đầu, hệt như món tạo tác kỳ dị đặt giữa một bộ lạc trên đảo hoang, với những tán cọ đung đưa bên cạnh và những gợn mây bay ngang bầu trời xanh ngắt. Lúc này, SpaceX đã tham gia vào cuộc chơi truyền hình qua mạng, biến mỗi lần phóng thành một màn ra mắt ấn tượng đối với nhân viên của nó lẫn công chúng. Hai giám đốc marketing của SpaceX dành 20 phút trước khi phóng để kiểm tra mọi chi tiết kỹ thuật trong và ngoài của lần phóng. Lần này, Falcon 1 không chở theo một khoang hàng đúng nghĩa; cả công ty và quân đội đều không muốn chứng kiến thêm một vụ nổ nào đó hay bị lạc giữa biển khơi, thế nên quả tên lửa chỉ mang theo một tàu trọng tải rỗng nặng 163kg.
Việc SpaceX giảm bớt độ hoành tráng của lần phóng không khiến nhân viên bối rối hay làm suy yếu lòng nhiệt tình của họ. Khi quả tên lửa gầm lên và bay cao hơn, những người ngồi lại trụ sở SpaceX đều thốt lên những tiếng reo khẽ. Mỗi cột mốc được dõi theo - dọn quang hòn đảo, kiểm tra động cơ hoạt động tốt trở lại - đều gắn với những tiếng huýt sáo và reo hò. Khi tầng thứ nhất tách ra, rồi tầng thứ hai bắt lửa khoảng 90 giây trong khi bay, họ lập tức chuyển sang cổ vũ nhiệt liệt, và những tràng reo hò ngây ngất tràn đầy buổi truyền hình qua mạng. “Hoàn hảo,” một phát thanh viên thốt lên. Động cơ Kestrel tỏa sáng đỏ rực và bắt đầu cháy trong 6 phút. “Mãi đến khi nhìn rõ tầng thứ hai, tôi mới bắt đầu thở bình thường trở lại và đứng thẳng lên,” McLaury kể lại.
Bộ phận phụ mở ra trong ba phút và rơi trở lại Trái Đất. Rồi cuối cùng, sau khoảng chín phút hành trình, Falcon 1 đã tắt máy đúng như dự kiến và đi vào quỹ đạo, trở thành cỗ máy đầu tiên do tư nhân chế tạo chinh phục được kỳ tích này. SpaceX đã phải mất sáu năm — lâu hơn khoảng bốn năm rưỡi so với dự kiến của Musk - và 500 con người để tạo ra phép màu trong khoa học hiện đại và kinh doanh.
Sớm ngày hôm ấy, Musk đã tự kéo mình ra khỏi những áp lực ngày càng đè nặng bằng cách đến Disneyland cùng với em trai Kimbal và các con. Sau đó, Musk phải vội vàng quay lại cho kịp thời điểm phóng vào lúc 4 giờ chiều, và bước vào phòng điều khiển của SpaceX trên xe moóc chỉ hai phút trước giờ phóng. “Khi phóng thành công, mọi người đều rơi nước mắt,” Kimbai kể lại. “Đó là một trong những khoảnh khắc xúc động nhất mà tôi từng trải qua.” Musk rời phòng điều khiển và bước ra ngoài sảnh nhà máy, nơi anh được chào đón như một ngôi sao nhạc rock. “Phải, thật vô cùng tuyệt vời,” anh cho biết. “Rất nhiều, thực sự rất nhiều người nghĩ rằng chúng tôi không thể làm được, nhưng như chúng ta vẫn thường nói, ‘quá tam ba bận,’ đúng không? Chỉ rất ít quốc gia trên Trái Đất làm được điều này. Thông thường đó là sứ mệnh của cả một đất nước, chứ không phải của một công ty... Đầu óc tôi như muốn nổ tung, nên tôi khó mà nói được điều gì; nhưng, chà, đây chắc chắn là một trong những ngày trọng đại nhất đời tôi, và tôi tin đa số mọi người ở đây cũng thấy thế. Chúng tôi đã cho mọi người thấy rằng mình làm được. Và đây chỉ là bước đầu tiên của nhiều bước... Không biết các anh thế nào, nhưng đêm nay tôi sẽ mở tiệc lớn.” Mary Beth Brown sau đó phải vỗ vai Musk và kéo anh khỏi cuộc tụ họp.
Dư âm của thắng lợi to lớn này đã nhanh chóng tan biến sau khi buổi tiệc kết thúc, và tình hình tài chính nghiêm trọng của SpaceX liền trở thành mối bận tâm hàng đầu của Musk. SpaceX cần hỗ trợ cho những nỗ lực trong dự án Falcon 9 cũng như lập tức bật đèn xanh cho việc chế tạo một cổ máy khác — đầu tên lửa Dragon - dùng để mang trang thiết bị cung cấp cho Trạm Không gian Quốc tế, và một ngày nào đó sẽ là con người. Trong lịch sử, những dự án như thế sẽ tiêu tốn trên 1 tỉ đô-la để hoàn thành, nhưng SpaceX sẽ phải tìm cách chế tạo đồng thời cả hai cổ máy với chi phí chỉ bằng một phần nhỏ con số đó. Công ty đã tăng đáng kể tốc độ tuyển nhân viên và chuyển đến một trụ sở lớn hơn nhiều tại Hawthorne, California. SpaceX cũng nhận được một hợp đồng bay thương mại từ chính phủ Malaysia để đưa một vệ tinh của họ vào quỹ đạo, nhưng thời điểm phóng và thù lao cho việc này chỉ chốt vào giữa năm 2009. Trong khi đó, SpaceX đang gặp khó khăn trong việc trả lương cho nhân viên.
Báo chí không nắm rõ mức độ rắc rối về tài chính của Musk, nhưng những gì họ biết đủ để biến tình hình tài chính hiện thời của Tesla thành một trò tiêu khiển được ưa chuộng. Một trang web có tên gọi Sự thật về xe hơi đã khởi động sự kiện “Đếm lùi ngày chết của Tesla” và nối tiếp bằng hàng chục bài viết kéo dài cả năm. Trang này đặc biệt hứng thú với việc bác bỏ ý kiến cho rằng Musk là sáng lập viên thực thụ của công ty, khi mô tả anh như một kẻ lắm tiền, một vị chủ tịch đã ít nhiều đánh cắp Tesla từ tay kỹ sư tài năng Eberhard. Lúc Eberhard mở một trang blog liệt kê những được và mất khi trở thành khách hàng của Tesla, cũng trang này đã vui sướng lặp lại những lời ca thán của anh. Top Gear, một chương trình truyền hình phổ biến tại Anh, đã rã chiếc Roadster thành từng mảnh, làm cho nó nhìn có vẻ như cạn sạch nhiên liệu trong một thử nghiệm. “Mọi người cứ cười cợt mọi thứ về chiếc đồng hồ đếm ngược đó, điều đó thật nhẫn tâm,” Kimbal Musk nhận xét. “Có hôm có đến 50 bài báo về việc Tesla sẽ chết thế nào.”
Sau đó, vào tháng Mười năm 2008 (chỉ đôi tuần sau khi SpaceX phóng thành công), Valleywag đã tái xuất trên màn hình. Đầu tiên, nó nhạo báng Musk vì đã chính thức nhậm chức CEO và thay thế Drori, trên cơ sở cho rằng Musk chỉ gặp may với những thành công trước đây của anh. Nó tiếp tục bằng cách đăng một e-mail kể lể từ một nhân viên Tesla. E-mail viết rằng Tesla vừa trải qua một đợt cắt giảm nhân sự, đóng cửa văn phòng tại Detroit và chỉ còn 9 triệu đô-la trong ngân hàng. “Chúng tôi có hơn 1.200 đơn hàng, đồng nghĩa chúng tôi đã thu về hàng chục triệu đô-la tiền mặt từ khách hàng và đã tiêu hết,” nhân viên này viết. “Trong khi đó, chúng tôi chỉ mới giao được gần 50 xe. Thực ra, tôi đã từng khuyên một người bạn thân bỏ ra 60 nghìn đô-la cho một chiếc Tesla Roadster. Tôi không thể cố tình sắm vai một kẻ ngoài cuộc và cho phép công ty mình lừa dối dư luận và những khách hàng đáng mến thêm được nữa. Khách hàng của chúng tôi và công chúng nói chung là nguyên nhân giúp Tesla được yêu mến. Thật sai trái khi lừa dối họ [11].”
Phải, Tesla xứng đáng bị chú ý theo hướng xấu. Tuy nhiên, Musk lại cho rằng với tình hình năm 2008, anh đã bị biến thành một mục tiêu đặc biệt hấp dẫn trong làn sóng căm ghét các chủ ngân hàng và giới giàu có. “Tôi bị tấn công tới tấp,” Musk nói. “Khi ấy, có rất nhiều kẻ sung sướng trên nỗi đau của người khác, và điều đó thật đáng buồn. Justine đang hành hạ tôi trên báo chí. Tất cả những bài báo tiêu cực này luôn nhắm vào Tesla, và cả những câu chuyện về lần thất bại thứ ba của SpaceX. Chúng khiến tôi vô cùng đau lòng. Không khỏi có những hồ nghi ghê gớm rằng đời mình chẳng ra gì, xe mình không xuất xưởng được, mình đang trải qua cuộc ly hôn, v.v... Tôi cảm thấy mình như một gã tồi tệ. Tôi không dám tin chúng tôi có thể vượt qua nổi. Tôi nghĩ mọi thứ có lẽ đang bi đát.”
Khi Musk tiến hành những tính toán liên quan đến SpaceX và Tesla, anh chợt nhận ra rằng chỉ duy nhất một công ty có cơ hội sống sót. “Tôi có thể chọn giữa SpaceX hoặc Tesla, hoặc chia số tiền còn lại mình có cho cả hai,” Musk cho biết. “Đó là một quyết định nan giải. Nếu tôi chia tiền, có lẽ cả hai sẽ đến hồi cáo chung. Nếu tôi dồn tiền cho chỉ một công ty, khả năng sống sót của nó sẽ cao hơn, nhưng cũng đồng nghĩa với cái chết hiển nhiên dành cho công ty còn lại. Tôi cứ trăn trở mãi về điều đó.” Trong khi Musk trù tính điều này, nền kinh tế đã nhanh chóng sa sút và tình trạng tài chính của anh cũng thế. Khi năm 2008 dần kết thúc, Musk đã cạn sạch tiền.
Riley bắt đầu nhận thấy cuộc sống của Musk như một vở bi kịch của Shakespear. Đôi khi, Musk cũng trải lòng với cô về các vấn đề, nhưng những lúc khác anh chỉ thu mình lại. Riley đã dò xét Musk khi anh đọc e-mail và quan sát anh nhăn mặt khi tin xấu ùa đến. “Bạn sẽ nhận ra anh ấy đang tự đối thoại với mình trong đầu,” cô cho biết. “Thật khó khi chứng kiến người mình yêu thương phải vật lộn như thế.” Vì làm việc suốt nhiều giờ cùng thói quen ăn uống không điều độ, cân nặng của Musk cứ lên xuống liên tục. Mắt thì hùm hụp, còn sắc mặt trông cứ như thể một vận động viên điển kinh mệt lử trong vòng cuối của cuộc đua marathon ngoại hạng. “Anh ấy trông như sắp chết,” Riley nhận xét. “Tôi nhớ mình đã nghĩ anh ấy sẽ lên cơn suy tim và qua đời. Anh ấy như đang mấp mé bên bờ vực.” Lúc nửa đêm, Musk thường gặp ác mộng và la hét. “Thân xác anh ấy đau đớn,” Riley kể. “Anh ấy cứ trèo lên người tôi và bắt đầu gào thét trong khi vẫn mơ ngủ.” Hai người bắt đầu phải vay hàng trăm nghìn đô-la từ Skoll, bạn Musk, và cha mẹ Riley cũng thế chấp nhà của mình để giúp họ. Musk không còn qua lại giữa Los Angles và Thung lũng Silicon trên chiếc phi cơ riêng nữa. Anh đi hãng Southwest.
Đốt khoảng 4 triệu đô-la mỗi tháng, Tesla cần có một đợt huy động vốn quan trọng nữa để vượt qua năm 2008 và tiếp tục tồn tại. Musk phải nhờ cậy bạn bè để có tiền trả lương lần hồi từng tuần một, đồng thời thương lượng với các nhà đầu tư. Anh gửi những lời khẩn cầu tha thiết đến bất kỳ ai mà anh nghĩ có thể để dành cho mình chút tiền. Bill Lee đã đầu tư 2 triệu đô-la vào Tesla, và Sergey Brin cũng bỏ thêm 500 nghìn đô-la. “Các nhân viên Tesla cũng viết séc để duy trì hoạt động của công ty,” Diarmuid O’Connell, phó giám đốc phát triển kinh doanh tại Tesla, cho biết. “Những khoản này được chuyển thành vốn đầu tư, nhưng khi đó luôn có từ 25 nghìn đến 50 nghìn đô-la cứ một đi không trở lại. Cứ như thể chúng tôi đang ném tiền xuống miệng núi lửa vậy.” Kimbal đã mất phần lớn tiền bạc trong cuộc suy thoái khi các khoản đầu tư chạm đáy, nhưng vẫn bán tất cả những gì còn lại của mình và dồn hết vào Tesla. “Tôi gần như phá sản,” Kimbal cho biết. Tesla đã để riêng các khoản tiền trả trước của khách hàng cho những chiếc Roadster sang một bên, nhưng giờ đây Musk cần phải dùng số tiền đó để duy trì hoạt động của công ty, và nó cũng nhanh chóng tiêu tan. Những khoản huy động tài chính này khiến Kimbal lo lắng. “Tôi chắc là Elon sẽ tìm ra cách để giải quyết mọi thứ, nhưng anh ấy hẳn sẽ phải đối diện với những rủi ro như bị tống vào tù do sử dụng tiền bạc của người khác,” anh nói.
 
[11] Sau này, Musk đã khám phá ra danh tính của người nhân viên này một cách tài tình. Anh đã sao chép đoạn thư vào văn bản Wordn kiểm tra kích thuước tập tin rồi gửi nó đến máy in, sau đó, anh có thể tra ngược lại tên người đã in tập tin ban đầu. Người nhân viên đó đã phải viết thư cáo lỗi và xin từ nhiệm.




0
Đến tháng Mười năm 2008, Musk đã tiến hành cùng lúc những chiến dịch nhằm cứu cả hai công ty. Anh nghe đồn rằng NASA sắp cho thầu một hợp đồng tái tiếp tế cho trạm không gian. Lần phóng thứ tư của SpaceX đã giúp họ có khả năng nhận được khoản tiền này, nghe đâu hơn 1 tỉ đô-la. Musk đã tìm cách tiếp cận với các “cổng sau” tại Washington và nhận thấy SpaceX có triển vọng thành công trong thương vụ này. Musk bắt đầu làm tất cả trong khả năng của mình để đảm bảo rằng mọi người trong công ty có thể đáp ứng thử thách trong việc chế tạo đầu tên lửa mang thiết bị cho ISS. Đối với Tesla, Musk phải đến gặp các nhà đầu tư hiện tại và yêu cầu họ cấp cho một đợt vốn gần Giáng sinh để công ty không bị phá sản. Nhằm tạo thêm chút tin tưởng cho các nhà đầu tư, Musk đã nỗ lực đến tận cùng để huy động mọi khoản vốn cá nhân mà anh có được, rồi đặt cả vào công ty. Anh nhận một khoản vay từ NASA cho SpaceX, và dành khoản tiền đó cho Tesla. Musk tìm đến các thị trường thứ cấp để cố gắng bán một số cổ phần của anh tại SolarCity. Anh cũng túm ngay lấy 15 triệu đô-la vừa được chuyển đến khi Dell mua lại một công ty phần mềm khởi nghiệp về trung tâm dữ liệu có tên Everdream, do các em họ của Musk sáng lập và được anh đầu tư. “Nó như một ma trận chết tiệt vậy,” Musk chia sẻ khi nói về những khoản 
vận động tài chính của anh. “Thương vụ Everdream thực tình đã cứu mạng tôi.”
Musk đã gom được 20 triệu đô-la và yêu cầu các nhà đầu tư hiện tại của Tesla — vì chẳng có nhà đầu tư mới nào xuất hiện — đóng góp tương xứng với con số đó. Họ đồng ý, và đến ngày 3 tháng 12 năm 2008, khi họ bước vào quá trình hoàn tất giấy tờ cho đợt cấp vốn, thì Musk chợt phát hiện ra một vấn đề. Vantagepoint Capital Partners đã ký toàn bộ giấy tờ trừ một trang quan trọng. Musk vội gọi cho Alan Salzman, đồng sáng lập kiêm đồng quản lý của VantagePoint, để hỏi về vấn đề trên. Salzman thông báo với Musk rằng hãng gặp rắc rối với đợt đầu tư vừa qua vì đã đánh giá thấp Tesla. “Tôi liền nói, ‘Thế thì tôi có một giải pháp cực hay đây. Hãy lấy toàn bộ phần của tôi trong thương vụ này. Tôi đang thực sự rất vất vả để xoay tiền. Với số tiền mặt còn lại trong ngân hàng ngay lúc này, chúng tôi sẽ không trả nổi lương tuần tới. Thế nên trừ khi các ông có ý hay hơn, thì hoặc các ông hãy đóng góp nhiều như mình muốn, hoặc để đợt cấp vốn này qua đi và chúng ta sẽ phá sản.’” Salzman ngập ngừng và bảo Musk hãy đến vào tuần tới, lúc 7 giờ sáng để trình diện dàn lãnh đạo cấp cao của VantagePoint. Do không có cả tuần để chờ đợi, Musk đã xin gặp họ ngay ngày hôm sau, nhưng Salzman từ chối đề nghị đó, buộc Musk phải tiếp tục gánh các khoản vay. “Lý do duy nhất lão ấy muốn chúng tôi gặp nhau trong văn phòng lão là để tôi phải quỳ gối xin xỏ tiền bạc và lão sẽ nói. ‘Không,’” Musk lý luận. “Đúng là đồ khốn.”
VantagePoint từ chối nói về giai đoạn này, nhưng Musk tin rằng chiến lược của Salzman là một phần trong sứ mệnh ép Tesla phá sản. Musk sợ rằng VantagePoint sẽ hất cẳng anh khỏi ghế CEO, thay đổi cơ cấu của Tesla và trở thành chủ sở hữu chính của hãng sản xuất xe hơi này. Sau đó có thể bán Tesla cho một hãng xe hơi ở Detroit, hoặc tập trung bán các hệ thống truyền động dùng điện và các bộ pin thay vì sản xuất xe. Những lập luận trên có thể khá thực tế nếu đứng trên quan điểm kinh doanh, nhưng lại không phù hợp với mục tiêu của Musk tại Tesla. “VantagePoint đang ép buộc một doanh nhân, một người mong mỏi làm được điều gì đó lớn lao và táo bạo hơn, phải nuốt trôi thứ đạo lý này,” Steve Jurvetson, đối tác tại hãng Draper Fisher Jurvetson và cũng là một nhà đầu tư của Tesla, cho biết. “Nhưng nó có thể có tác dụng với một CEO thiếu kiên định, còn với Elon thì không.” Thay vì thế, Musk đã chấp nhận một rủi ro lớn hơn. Tesla đã xác định lại số vốn được cấp như một khoản nợ thay vì tài sản sở hữu, vì biết rằng VantagePoint không thể gây khó dễ cho một thỏa thuận vay nợ. Khó khăn trong chiến lược này chính là những nhà đầu tư như Jurvetson - những người muốn giúp Tesla - sẽ bị trói chặt, vì các hãng đầu tư mạo hiểm không được cấu trúc để tiến hành các thỏa thuận vay nợ, và việc thuyết phục các bên hậu thuẫn chịu thay đổi các điều luật cam kết thông thường đối với một công ty đang sắp phá sản từng ngày là rất nan giải. Hiểu rõ điều đó, Musk đã lừa họ. Anh bảo với các nhà đầu tư rằng mình sẽ vay thêm một khoản nữa từ SpaceX và tự mình đóng góp tất cả 40 triệu đô-la cho cả đợt cấp vốn. Chiến thuật này đã hiệu quả. “Khi anh thiếu thốn, lòng tham sẽ tự nhiên phát sinh và đem lại nhiều lợi ích hơn,” Jurvetson giải thích. “Chúng tôi sẽ dễ dàng quay lại hãng của mình và nói, ‘Thỏa thuận đây, chấp nhận hay không?’’ Thương vụ cuối cùng cũng chốt hạ vào lúc Giáng sinh đã cận kề, chỉ vài giờ trước khi Tesla đi đến phá sản. Lúc ấy Musk chỉ còn lại vài trăm nghìn đô-la và không thể trả lương vào ngày hôm sau. Musk đã đặt vào tổng cộng 12 triệu đô-la, còn các hãng đầu tư đóng góp phần còn lại. Khi nhắc đến Salzman, Musk nói, “Ông ta nên biết tự xẩu hổ.”
Tại SpaceX, Musk và các giám đốc đứng đầu công ty đã sống gần hết tháng Mười hai trong nỗi sợ hãi. Theo các bài tường thuật trên báo chí, SpaceX, từng một thời là ứng viên sáng giá cho hợp đồng lớn của NASA, đã bất ngờ đánh mất sự ủng hộ của cơ quan vũ trụ này. Michael Griffin, người trước đây gần như là đồng sáng lập SpaceX, hiện đứng đầu NASA và quay lưng với Musk. Griffin không quan tâm đến những chiến thuật kinh doanh quyết liệt của anh, mà chỉ xem anh là một kẻ vô nguyên tắc. Những người khác thì cho rằng Griffin đố kỵ với Musk và SpaceX [12]. Nhưng đến ngày 23 tháng Mười hai năm 2008, SpaceX đã nhận một cú sốc. Nội bộ NASA đã quay lại ủng hộ SpaceX làm nhà cung cấp cho ISS. Công ty nhận được 1,6 tỉ đô-la trả cho 12 chuyến bay tới trạm không gian. Đang đi nghỉ với Kimbal tại Boulder, Colorado, Musk đã bật khóc khi các khoản giao dịch tại SpaceX và Tesla được xử lý. “Tôi đã tưởng mình không còn cơ hội mua quà Giáng sinh cho Talulah hay bất kỳ thứ gì,” anh thú nhận. “Tôi chạy dọc con đường chết tiệt ở Boulder, và nơi duy nhất còn mở cửa chỉ bán những món nữ trang rẻ tiền này, họ cũng sắp đóng cửa. Thứ hay ho nhất tôi tìm được là những con khỉ với mấy quả dừa bằng nhựa - những con khỉ ‘‘không nghe, không thấy’’.  Đối với Gracias, nhà đầu tư của Tesla, SpaceX và là bạn của Musk, giai đoạn năm 2008 đã cho anh biết tất cả những gì cần biết về  con người Musk. Anh nhìn thấy một người đàn ông đến nước Mỹ với hai bàn tay trắng, đã mất một đứa con, bị báo chí và vợ cũ bêu riếu và suýt nữa mất nốt sự nghiệp. “Anh ấy có khả năng làm việc chăm chỉ hơn và chịu đựng áp lực tốt hơn bất cứ ai tôi từng gặp,” Gracias nhận xét. “Những gì anh ấy phải trải qua vào năm 2008 có thể đánh gục bất kỳ ai khác. Anh ấy không chỉ sống sót. Anh ấy vẫn làm việc và kiên định.” Khả năng kiên định trong khủng hoảng là một trong những lợi thế chủ yếu của Musk so với các giám đốc và đối thủ khác. “Hầu hết mọi người đều trở nên nóng nảy dưới những áp lực đó,” Gracias cho biết. “Họ sẽ ra những quyết định sai lầm. Nhưng Elon lại cực lý trí. Anh ấy vẫn có khả năng đưa ra những quyết định rất rõ ràng cho dài hạn. Càng khó khăn, anh ấy càng làm tốt hơn. Bất kỳ ai chứng kiến anh ấy vượt qua mọi khó khăn sẽ lập tức phải khâm phục con người này. Tôi chưa bao giờ thấy ai có khả năng chịu được gian khổ như anh.”
 
 
[12] Griffin hứa hẹn sẽ chế tạo một tàu không gian mới đồ sộ để củng cố danh tiếng của ông trong ngành. Nhưng khi Barack Obama đắc cử tổng thống năm 2008, người đàn ông được Bush bổ nhiệm này hiểu rằng thời kỳ nắm quyền của ông tại NASA đang đến hồi kết, rằng SpaceX đã xuất hiện và sẵn sàng chế tạo những cỗ máy thú vị nhất trong thời gian tới.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
9. CẤT CÁNH

 
 
Falcon 9 đã trở thành con trâu cày của SpaceX. Nhìn trực diện, quả tên lửa trông như một biểu tượng dương vật màu trắng. Nó cao đến 68,3 mét, bề ngang 3,6 mét và nặng gần 500 tấn. Sức mạnh của nó được tạo ra từ chín động cơ sắp xếp theo cấu trúc “hoa tám cánh” ở đuôi, với một động cơ ở trung tâm và tám động cơ khác xoay quanh. Các động cơ nối với tầng thứ nhất, tức phần thân chính của tên lửa, mang dấu hiệu màu xanh của SpaceX và hình quốc kỳ Mỹ. Tầng thứ hai ngắn hơn của tên lửa được đặt trên tầng thứ nhất, và chỉ có tầng này thực sự bay vào không gian. Nó có thể được trang bị một container tròn để mang theo vệ tinh hoặc đầu tên lửa có thể chở người. Theo thiết kế, bề ngoài của Falcon 9 chẳng có gì đặc sắc. Nó là con tàu không gian kiểu như chiếc laptop Apple hay ấm nước Braun - một cỗ máy tinh tế, thiết thực và loại bỏ mọi chi tiết phù phiếm, thừa thãi.
SpaceX đôi khi sử dụng Căn cứ Không quân Vandenberg tại Nam California để phóng những quả Falcon 9 này. Khi chưa thuộc quyền sở hữu của quân đội, căn cứ này là một khu nghỉ dưỡng. Nó có nhiều cây số bờ biển giáp với Thái Bình Dương, và trên mặt đất là những cánh đồng cây bụi mênh mông được tô điểm bằng các ngọn đồi xanh. Nép mình dưới một ngọn đồi, ngay sát bờ biển là một hàng các bệ phóng. Vào những ngày có lịch phóng, Falcon 9 màu trắng sẽ xé toang khung cảnh màu xanh lá và xanh biển, bay vút lên bầu trời và bỏ lại đằng sau những nghi ngờ về sứ mệnh của nó.
Khoảng bốn tiếng đồng hồ trước giờ phóng, Falcon 9 bắt đầu được đổ đầy những khối ôxi lỏng và dầu hỏa dùng cho tên lửa. Một lượng ôxi lỏng tràn ra ngoài tên lửa trong lúc chờ được phóng, và lạnh đến nỗi chúng lập tức sôi lên khi tiếp xúc với kim loại và không khí, tạo thành những vệt lông màu trắng chảy xuống bên cạnh tên lửa. Điều này tạo ấn tượng như thể chiếc Falcon 9 đang bốc hỏa và thở hùng hục khi khởi động trước cuộc hành trình. Các kỹ sư trong phòng điều khiển của SpaceX đang theo dõi hệ thống nhiên liệu này cùng mọi diễn biến của những hạng mục khác. Họ trao đổi với nhau qua tai nghe và bắt đầu duyệt qua danh mục kiểm tra trước khi phóng, thứ cảm giác mà giới kinh doanh hay gọi là “phát sốt” đã choán hết tâm trí họ mỗi khi chuyển từ mục này qua mục tiếp theo. Mười phút trước giờ phóng, con người tránh sang một bên và dành phần còn lại cho các máy móc tự động thực hiện. Mọi thứ diễn ra trong im lặng, và nỗi căng thẳng cứ dâng lên mãi cho đến khi bắt đầu sự kiện chính. Đó là lúc chiếc Falcon 9 xé toang sự yên tĩnh bằng một tiếng phụt lớn thoát ra ngoài.
Cấu trúc hỗ trợ hình mắt cáo màu trắng bị kéo rời khỏi phần thân tên lửa. Quá trình đếm giây ngược từ 10 về 0 cũng bắt đầu. Chẳng có gì quan trọng xảy ra từ giây thứ mười về giây thứ tư. Nhưng khi đếm đến 3, động cơ bắt lửa, và hệ thống máy tính tiến hành kiểm tra lần cuối độ an toàn cực nhanh. Bốn gọng kìm kim loại khổng lổ cố kéo tên lửa xuống, trong khi hệ thống máy tính đánh giá toàn bộ chín động cơ và tính toán xem việc sản sinh lực đẩy hướng xuống đã đủ chưa. Khi thời điểm về 0, kết luận được đưa ra là tên lửa đã sẳn sàng lên đường với sứ mệnh của nó, và các gọng kìm buông ra. Quả tên lửa xung trận với lực quán tính, với lửa bùng ra quanh bệ phóng, với hàng tia ôxi lỏng dày đặc như tuyết bay khắp không khí, nó bắn thẳng lên trời. Não bộ khó mà ghi lại được cảnh một vật thể lớn như thế bay thẳng đều đều và như lơ lửng giữa không trung. Thật lạ thường, thật ngoạn mục. Khoảng 20 giây sau khi cất cánh, những người chứng kiến đã ở lại an toàn và cách xa tiếng gầm thét rát mặt lúc đầu của Falcon 9 hàng cây số. Nó chỉ còn là âm thanh xa xôi - nghe như tiếng lách tách ngắt quãng phát ra từ hóa chất khi được đổ vào một dung dịch sôi sục điên cuồng. Đến ống quần người xem cũng lay động do sóng xung kích sinh ra từ những tiếng nổ trong khí thải của Falcon 9. Quả tên lửa màu trắng bay cao và cao hơn nữa với sự bền bỉ đầy ấn tượng. Sau khoảng một phút, nó chỉ còn là một chấm đỏ trên nền trời, và rồi - bụp - nó biến mất. Chỉ có kẻ hoài nghi ngốc nghếch mới không thể ghi nhận cảm giác này khi được chứng kiến kỳ quan mà con người đã đạt được.
Với Elon Musk, cảnh tượng trên đã trở nên quen thuộc. Từ chỗ là trò cười của ngành hàng không vũ trụ, SpaceX đã lột xác thành một trong những doanh nghiệp hoạt động bền vững nhất. Mỗi tháng, SpaceX lại phóng một tên lửa, mang theo vệ tinh của các công ty và quốc gia cũng như hàng tiếp tế cung cấp cho Trạm Không gian Quốc tế. Nếu Falcon 1 phóng lên từ đảo Kwajalein vẫn còn là sản phẩm của một công ty khởi nghiệp, thì chiếc Falcon 9 cất cánh tại Vandenberg đã là công trình của một siêu thế lực trong ngành hàng không vũ trụ. SpaceX có thể “cắt đuôi” những đối thủ tại Mỹ — như Boeing, Lockheed Martin, Orbital Sciences - về giá cả với khoảng cách không tưởng. Nó cũng làm cho các khách hàng tại Mỹ an tâm rằng những đối thủ khác không thể làm được như mình. Trong khi những đối thủ này phụ thuộc vào người Nga hay các bên cung cấp khác từ nước ngoài, thì SpaceX sản xuất toàn bộ máy móc của họ từ đầu đến cuối tại Mỹ. Nhờ chi phí thấp, SpaceX đã một lần nữa biến Mỹ thành đấu thủ đáng gờm trên thị trường phóng tên lửa thương mại thế giới. Chi phí 60 triệu đô-la trên mỗi lần phóng của họ thấp hơn rất nhiều so với giá thành tại châu Âu và Nhật Bản, đánh bại cả thỏa thuận tương quan giữa người Nga và người Trung Quốc, những người luôn hưởng lợi đã mấy chục năm qua từ sự đầu tư ngập tràn của chính phủ vào các chương trình không gian cộng với chi phí lao động thấp.
Nước Mỹ tiếp tục hãnh diện khi có Boeing cạnh tranh với Airbus và các hãng sản xuất máy bay nước ngoài khác. Song không rõ tại sao, các nhà lãnh đạo chính phủ và công chúng lại sẳn sàng từ bỏ phần lớn thị trường phóng tên lửa thương mại. Quả là một cách nhìn đáng chán và thiển cận. Tổng giá trị thị trường vệ tinh, các dịch vụ liên quan, và những đợt phóng tên lửa vào không gian từ khoảng 60 tỉ đô-la của thập niên trước đó đã tăng vọt lên hơn 200 tỉ đô-la. Nhiều quốc gia sẵn sàng trả tiền để phóng các vệ tinh do thám, truyền thông và thời tiết của họ vào không gian. Tiếp đó là những công ty tiến vào không gian để cung cấp các dịch vụ truyền hình, Internet, phát thanh, thời tiết, dẫn đường và chụp ảnh. Máy móc trên không gian đã thay đổi cấu trúc của cuộc sống hiện đại, chúng đang ngày càng trở nên hữu dụng hơn, thú vị hơn với tốc độ rất nhanh. Cả một thế hệ các nhà sản xuất vệ tinh mới đã xuất hiện với khả năng trả lời những thắc mắc “kiểu Google” về hành tinh của chúng ta. Những vệ tinh này có thể phóng lớn toàn cảnh Iowa và xác định xem cánh đồng ngô nào đạt hoa lợi cao nhất và sẵn sàng thu hoạch, cũng như có thể đếm số lượng xe hơi tại các khu đỗ xe của Wal-Mart trên khắp California để tính toán nhu cầu mua sắm trong mùa nghỉ lễ. Những công ty khởi nghiệp chế tạo ra các loại máy móc cách tân này thường phải tìm đến người Nga để phóng chúng vào không gian, nhưng SpaceX đang có ý định thay đổi điều đó.
Mỹ vẫn duy trì năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực sinh lợi nhiều nhất của ngành công nghiệp không gian, chế tạo nên các vệ tinh thực thụ và những hệ thống, dịch vụ phụ trợ để vận hành chúng. Mỗi năm, Mỹ sản xuất khoảng 1/3 tổng số vệ tinh và thu về khoảng 60% doanh thu từ vệ tinh trên toàn cầu. Phần lớn số doanh thu này đến từ các doanh nghiệp hợp tác với chính phủ Mỹ. Trung Quốc, châu Âu, và Nga cũng chiếm một doanh thu đáng kể trong thị trường vệ tinh và phóng tên lửa. Trong tương lai, vai trò của Trung Quốc trong ngành công nghiệp không gian sẽ tăng lên, trong khi Nga hứa hẹn sẽ chi khoảng 50 tỉ đô-la nhằm hồi sinh chương trình không gian của mình. Vì thế, Mỹ chỉ phải đối phó với hai quốc gia không đáng gờm trong lĩnh vực không gian, nên cứ hoạt động mà không có động lực mấy. Điển hình: Việc từ bỏ tàu con thoi đã khiến Mỹ hoàn toàn phụ thuộc vào Nga để đưa các phi hành gia lên ISS. Nga đòi 70 triệu đô-la cho mỗi người trong hành trình và sẽ cắt đứt với Mỹ nếu cần trong trường hợp có rạn nứt về chính trị. Hiện tại, SpaceX được xem là hy vọng lớn nhất để phá vỡ vòng lẩn quẩn này và trả lại cho nước Mỹ năng lực đưa con người vào không gian.
SpaceX đã trở thành doanh nghiệp cấp tiến tự do đang cố gắng gây dựng mọi thứ cho ngành công nghiệp này. Nó không muốn chỉ thực hiện vài đợt phóng mỗi năm hay dựa dẫm vào các hợp đồng với chính phủ để tồn tại. Mục tiêu của Musk là áp dụng những đột phá trong sản xuất và những tiến bộ của bệ phóng để giảm chi phí triệt để cho mỗi lần đưa vật gì đó vào không gian. Có ý nghĩa nhất là anh đang thử nghiệm loại tên lửa có thể đưa tàu chở hàng vào không gian, rồi quay lại Trái Đất và đáp xuống với độ chính xác cực cao trên một dàn phóng nổi ngoài biển, hay thậm chí trên chính bệ phóng ban đầu. Thay vì để tên lửa tan thành từng mảnh sau khi rơi xuống biển, SpaceX sẽ dùng phản lực để hạ cánh chúng dần dần và tái sử dụng chúng. Trong ít năm tới, SpaceX hy vọng sẽ cắt giảm chi phí ít nhất bằng 1/10 các đối thủ của họ. Việc tái sử dụng tên lửa sẽ kéo theo sự hạ thấp chi phí và lợi thế cạnh tranh cho SpaceX. Hãy thử hình dung một hãng hàng không cứ dùng lại một máy bay hết lần này đến lần khác và cạnh tranh với các hãng luôn phải thay thế tàu bay sau mỗi chuyến [1]. Thông qua các lợi thế chi phí này, SpaceX hy vọng sẽ giành được phần lớn các thương vụ phóng trên thế giới, và có bằng chứng cho thấy công ty đang làm được điều đó. Đến hôm nay, họ đã nhận phóng vệ tinh cho các khách hàng từ Canada, châu Âu, châu Á, và đã hoàn tất khoảng hai tá lần phóng. Danh sách công khai số lần phóng của họ cứ mở rộng trong nhiều năm, và SpaceX đã có hơn 50 đợt phóng được lên kế hoạch với tổng giá trị trên 5 tỉ đô-la. Công ty vẫn thuộc quyền sở hữu riêng của Musk với tư cách cổ đông lớn nhất, bên cạnh những nhà đầu tư bên ngoài — gồm các hãng đầu tư mạo hiểm như Founders Fund và Draper Fisher Jurvetson - mang lại cho nó đặc tính cạnh tranh mà các đối thủ không có. Sau khi trải qua kinh nghiệm suýt chết năm 2008, SpaceX đã liên tục sinh lãi và đạt giá trị ước tính 12 tỉ đô-la.
Zip2, PayPal, Tesla và SolarCity đều là những hiện thân của Musk. Nhưng SpaceX mới chính là Musk. Những nhược điểm cũng như thành công của nó đều trực tiếp đến từ Musk. Một phần của nó đến từ khả năng tập trung đến mê muội của Musk đến từng chi tiết, và sức ảnh hưởng của anh đối với mọi nỗ lực tại SpaceX. Anh năng động đến mức khiến Hugh Hefner [2] cũng cảm thấy không bì được. Một phần khác đến từ việc SpaceX luôn sùng bái “Giáo phái Musk.” Nhân viên sợ Musk. Họ cũng ngưỡng mộ anh. Họ phó mặc đời mình cho Musk, và họ thường làm tất cả những điều đó cùng lúc.
Phong cách quản lý hay đòi hỏi của Musk chỉ có thể được phát huy bởi thế giới khác — theo nghĩa đen - những khát vọng của công ty. Trong khi phần còn lại của ngành công nghiệp hàng không vũ trụ hài lòng với việc tiếp tục gửi những thứ trông như di tích của thập niên I960 vào không gian, thì SpaceX lại chủ ý làm điều ngược lại. Những quả tên lửa và tàu không gian tái sử dụng của nó trông như những cỗ máy thực thụ của thế kỷ XXI. Công cuộc hiện đại hóa thiết bị không chỉ là để phô diễn. Nó thể hiện sự thôi thúc không ngừng của SpaceX nhằm nâng cao công nghệ và thay đổi nền kinh tế của ngành này. Musk không chỉ muốn hạ chi phí triển khai vệ tinh và tiếp tế cho trạm không gian. Anh còn muốn giảm giá thành các lần phóng, làm cho việc tiến hành hàng nghìn chuyến cung ứng trang thiết bị lên Hỏa tinh và thành lập một khu định cư tại đó trở nên tiết kiệm và thực tế. Musk muốn chinh phục cả Thái dương hệ, và nếu có một ngày sứ mệnh đó đánh thức bạn vào buổi sáng, bạn chỉ có thể đầu quân cho một công ty duy nhất để thực hiện.
Nghe có vẻ khó hiểu, nhưng chính phần còn lại của ngành công nghiệp không gian đã khiến lĩnh vực này trở nên nhàm chán. Người Nga, vốn thống trị hầu hết ngành kinh doanh đưa khí tài và con người vào không gian, vẫn sử dụng các thiết bị lỗi thời suốt hàng thập kỷ. Đầu tên lửa Soyuz tù túng chuyên đưa người lên trạm không gian vẫn dùng những nút bấm cơ, và màn hình máy tính dường như không thay đổi kể từ chuyến du hành mở đầu năm 1966 [3] Các quốc gia mới gia nhập cuộc đua không gian cũng bắt chước y chang trang thiết bị lỗi thời của Nga và Mỹ đến điên rồ. Khi những người trẻ bước chân vào ngành hàng không vũ trụ, họ buộc phải cười ra nước mắt trước tình trạng của máy móc. Không gì buồn chán bằng việc phải điều khiển con tàu không gian được trang bị thứ máy móc của những năm 1960. Và môi trường làm việc thực tế cũng lỗi thời như chính thứ náy móc ấy. Các sinh viên tốt nghiệp đại học tốp đầu từ lâu đã luộc phải lựa chọn giữa vô số nhà thầu quân sự trì trệ với những ông ty khởi nghiệp thú vị nhưng kém hiệu quả.
Chú thích :
[1] Cần lưu ý rằng nhiều người trong ngành công nghiệp không gian thường hoài nghi các tên lửa tái sử dụng, là do lo lắng về sức ép mà máy móc và kim loại phải chịu trong mỗi lần phóng. Không ai rõ liệu các khách hàng sáng giá nhất có cân nhắc đến việc phóng các tàu không gian tái sử dụng vì rủi ro cố hữu này của chúng hay không. Đây chính là lý do quan trọng khiến các quốc gia và công ty khác chưa dám theo đuổi công nghệ này. Có hẳn một nhóm chuyên gia không gian nghĩ rằng Musk chỉ đang phí thời gian, và rằng các tính toán kỹ thuật đã chứng minh rằng tên lửa tái sử dụng chỉ là trò xuẩn ngốc.
[2] Hugh Hefner (1926) tỉ phú người Mỹ. Ông là nhà sáng lập kiêm giám đốc sáng tạo tạp chí khiêu dâm Playboy.
[3] Thực tế, chuyến bay vào không gian đầu tiên của con người diễn ra ngày 12 -4-1961 bởi phi hành gia người Nga Yuri Alekseievich Gagarin trên tàu vũ trụ Phương Đông (Vostok)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.04.2023 19:04:40 bởi Thanh Vân>
Musk đã biến những hạn chế xung quanh ngành linh doanh hàng không vũ trụ này thành lợi thế cho SpaceX. Anh đã giới thiệu công ty như một cái gì đó không giống một nhà thầu hàng không vũ trụ. SpaceX là một nơi tuyệt vời, nơi mọi người luôn nghĩ về tương lai và mang những đặc ân của Thung lũng Silicon - như sữa chua mát lạnh, các lựa chọn về cổ phiếu, ra quyết định nhanh, và một cấu trúc doanh nghiệp phẳng- đến với một ngành công nghiệp ù lì. Những ai biết rõ Musk thường có xu hướng mô tả anh như một vị tướng thay vì một CEO, và họ đã đúng. Anh đã gây dựng nên một đội quân kỹ sư bằng cách chọn ra chỉ những ai trong ngành này mà SpaceX muốn.
Mô hình tuyển dụng của SpaceX cho thấy nó chủ yếu chọn những sinh viên đạt thứ hạng cao nhất từ các trường hàng đầu. Nhưng, nó cũng chủ yếu tập trung vào việc phát hiện ra các kỹ sư loại A có những nét tính cách đặc trưng trong suốt cuộc đời họ. Bộ phận tuyển dụng của công ty chuyên tìm kiếm những cá nhân xuất sắc trong các cuộc thi chế tạo robot, hay những người có sở thích đua xe và làm ra những chiếc xe lạ thường. Mục tiêu là tìm ra những cá nhân có niềm đam mê âm ỉ, có thể làm việc nhóm tốt, và có kinh nghiệm nghịch ngợm với máy móc kim loại. “Ngay cả khi anh là người làm công việc viết mã, anh vẫn phải hiểu máy móc hoạt động như thế nào,” Dolly Singh, người có năm năm làm trưởng bộ phận thu hút nhân tài tại SpaceX, cho biết. “Chúng tôi tìm kiếm những người đã biết chế tạo mọi thứ ngay từ khi còn bé.”
Có lúc, những người này sẽ đi qua cửa trước. Nhưng lúc khác, Singh lại phải viện đến mọi kỹ thuật táo bạo để tìm ra họ. Cô nổi tiếng là người chuyên “bủa lưới” thông qua các bài viết có tính học thuật để tìm kiếm những kỹ sư có kỹ năng rất đặc biệt, mời chào qua điện thoại với các nhà nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, và túm lấy những kỹ sư nhiều đam mê bên ngoài trường đại học. Tại các triển lãm thương mại hay hội thảo, các nhà tuyển dụng của SpaceX sẽ tranh thủ làm quen với các ứng viên thú vị mà họ phát hiện ra bằng một chiêu trò đầy mưu mô. Họ sẽ đưa các phong bì trong đó có lời mời gặp tại một địa điểm và thời gian nhất định, thường là một quán bar hay nhà hàng gần sự kiện, để phỏng vấn lần đầu. Khi xuất hiện, ứng viên sẽ phát hiện ra mình nằm trong số những người được tuyển chọn từ các khách tham gia hội nghị. Họ sẽ lập tức cảm thấy mình đặc biệt và nổi bật.
Như nhiều công ty công nghệ khác, SpaceX sẽ đưa các ứng viên tiềm năng vào các buổi phỏng vấn và bài kiểm tra khắc nghiệt. Một số buổi phỏng vấn chỉ là các cuộc trò chuyện cởi mở để cả hai bên cảm nhận về  nhau; còn những buổi khác lại tràn ngập những câu đố khó giải. Các kỹ sư thường phải đối mặt với những câu thẩm vấn khắt khe nhất mà ngay đến giới kinh doanh và bán hàng cũng phải khổ sở. Những người viết mã mong đợi mình sẽ trải qua các thử thách bình thường sẽ bị thức tỉnh một cách thô bạo. Thông thường, các công ty sẽ thử thách các nhân viên phát triển phần mềm ngay lập tức bằng cách yêu cầu họ giải quyết các vấn đề chỉ bằng vài chục dòng mã. Nhưng các ứng viên vào đến vòng cuối trong tiến trình phỏng vấn của SpaceX sẽ phải giải quyết thêm một nhiệm vụ nữa. Họ được yêu cầu viết cho Musk một bài tiểu luận, giải thích vì sao họ muốn làm việc tại SpaceX.
Phần thưởng dành cho những ai giải đúng các câu hỏi khó, xử lý thông minh khi phỏng vấn, và hoàn thành một bài tiểu luận hay là được gặp Musk. Anh đã phỏng vấn gần như từng người trong số 1.000 nhân viên đầu tiên của SpaceX, bao gồm cả vị trí lao công và kỹ thuật viên, và vẫn đang tiếp tục phỏng vấn các kỹ sư - như các nhân viên công ty vẫn thổi phồng. Mỗi ứng viên đều nhận được một lời cảnh báo trước khi vào gặp Musk. Cuộc phỏng vấn, như họ được cho biết, có thể kéo dài từ 30 giây đến 15 phút. Vào đầu cuộc phỏng vấn, Elon có thể vẫn đang viết e-mail hoặc làm việc mà chẳng nói gì nhiều. Đừng hoảng. Đó là chuyện bình thường. Cuối cùng, anh ấy sẽ xoay ghế lại đối diện với bạn. Mặc dù vậy, anh ấy cũng có thể không nhìn thẳng vào mắt bạn hoặc không hoàn toàn ý thức được sự hiện diện của bạn. Đừng hoảng. Đó là chuyện bình thường. Khi đến lúc, anh ấy sẽ nói với bạn. Kể từ đó, những giai thoại về các kỹ sư từng phỏng vấn với Musk đã biến các trải nghiệm như tra tấn thành điều gì đó siêu phàm. Anh ấy có thể hỏi bạn một hoặc nhiều câu. Song, bạn có thể chắc chắn rằng anh ấy sẽ bật ra một câu đố: “Anh đang đứng trên bể mặt Trái Đất. Anh bước 1.609 mét về phía Nam, 1.609 mét về phía Tây, và 1.609 mét về phía Bắc. Nhưng anh vẫn đứng chính xác ngay chỗ ban đầu. Vậy anh đang đứng đâu?” Câu trả lời là Bắc cực, và hầu hết các kỹ sư đều đáp đúng. Đó là lúc Musk sẽ hỏi tiếp, “Còn ở đâu khác nữa?” Câu trả lời khác là đâu đó gần Nam cực, nơi mà nếu bạn bước 1.609 mét về phía Nam, thì chu vi tại đó vòng quanh Trái Đất sẽ bằng 1.609 mét. Số kỹ sư trả lời đúng câu này ít hơn hẳn, và Musk sẽ vui vẻ dẫn họ đi từ câu hỏi này đến những câu hỏi khác, và trích dẫn bất kỳ phương trình nào liên quan khi anh đang giải thích. Anh có xu hướng ít quan tâm liệu người đó có trả lời đúng hay không, mà chỉ chú trọng cách họ diễn tả vấn đề và phương pháp giải quyết nó.
Khi trò chuyện với các tân binh tiềm năng, Singh cố gắng tiếp thêm động lực cho họ và đồng thời tỏ ra thẳng thắn trước những đòi hỏi của SpaceX và Musk. “Khẩu hiệu tuyển dụng ở đây là: ‘SpaceX là lực lượng đặc biệt,’” cô cho biết. “Nếu anh muốn đương đầu với khó khăn, vậy thì tuyệt. Nếu không, vậy thì anh không nên đến đây.” Một khi đã đến SpaceX, nhân viên mới sẽ nhận ra rất nhanh là họ đã thực sự bước vào thử thách. Nhiều người bỏ cuộc chỉ trong vài tháng đầu tiên vì lịch làm việc hơn 90 giờ/tuần. Những kẻ khác từ bỏ vì họ không chịu đựng nổi cách tiếp cận trực tiếp của Musk và những giám đốc khác trong các cuộc họp. “Elon không biết bạn và cũng chẳng thèm nghĩ liệu có điều gì làm tổn thương tình cảm của bạn hay không,” Singh cho biết. “Anh ấy chỉ biết rằng điều chết tiệt anh ấy muốn phải được hoàn thành. Những ai không thể bình thường hóa với cách giao tiếp của anh ấy sẽ không thể làm tốt được công việc.”
Một điều ấn tượng là SpaceX đang trải qua một cuộc “thay máu” cực lớn, và chuyện công ty phải chém bay những cái tên là không lạ. Thế nhưng, nhiều giám đốc nòng cốt từng có công thành lập công ty vẫn trụ vững qua cả thập kỷ hoặc hơn. Trong nhóm kỹ sư vốn chiếm đa số, hầu hết họ đều công tác được ít nhất năm năm để có quyền lựa chọn mua cổ phần và chứng kiến các dự án được tiến hành. Đó là động thái điển hình tại bất kỳ công ty công nghệ nào. SpaceX và Musk dường như cũng khuyến khích lòng trung thành ở một mức độ khác thường. Musk đã gợi lên được thứ nhiệt huyết vốn chỉ có ở Steve Jobs trong đội ngũ của anh. “Tầm nhìn của anh ấy rất rõ ràng,” Singh nhận xét. “Anh ấy hầu như thôi miên bạn. Anh ấy sẽ trao cho bạn một cái nhìn điên rồ như muốn nói, phải, chúng ta sẽ đến Hỏa tinh.” Hãy thử tiến xa thêm một chút và bạn sẽ đạt đến cảm giác vừa sung sướng, vừa đau thương thống khổ khi làm việc với Musk. Vô số người được tôi phỏng vấn cho cuốn sách này đã công khai lên án thời gian làm việc, phong thái lỗ mãng của Musk, cùng những kỳ vọng đôi khi lố bịch của anh. Tuy nhiên, hầu hết mọi người - kể cả những người bị sa thải - vẫn khâm phục Musk và thường kể về anh như siêu anh hùng hay thần thánh.
Trụ sở ban đầu của SpaceX tại El Segundo không tương xứng với hình ảnh mà công ty mong muốn về một nơi mà những tân binh trẻ có tài muốn đầu quân. Nhưng đây không phải vấn đề đối với cơ sở mới của SpaceX tại Hawthorne. Địa chỉ tòa nhà là số 1 đường Tên lửa (Rocket), ngay cạnh họ là Sân bay thành phố Hawthorne, và hàng xóm là một số công ty sản xuất máy móc, thiết bị. Tuy tòa nhà SpaceX trông giống những cao ốc khác về kích thước và hình thù, nhưng nước sơn trắng toát lại khiến nó nổi bật hơn hẳn. Cả khối kiến trúc trông như một tảng sông băng khổng lổ hình chữ nhật, mọc lên ngay giữa khu dân cư hết sức ngổn ngang và vô hồn tại hạt Los Angeles mở rộng.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Khách tham quan SpaceX phải qua một nhân viên an ninh và một bãi đỗ xe cao cấp nhỏ, nơi Musk đỗ chiếc Model S đen bóng của anh bên hông lối vào tòa nhà. Cửa trước làm bằng kính phản chiếu và che đi khung cảnh bên trong còn trắng hơn. Đó là những bức tường trắng của phòng giải lao, âbàn màu trắng tân thời ngay khu vực ngồi chờ và bàn tiếp tân màu trắng với cặp phong lan được trồng trong hai chiếc chậu trắng. Sau khi qua khâu đăng ký, khách tham quan sẽ được trao một bảng tên và được dẫn vào khu văn phòng chính của SpaceX. Ô riêng của Musk — với kích thước quá khổ - tọa lạc ngay bên phải nơi anh treo hai bìa báo chúc mừng của tờ Aviation Week trên tường cùng với ảnh các con anh, cạnh đó là một màn hình phẳng lớn cùng mấy món lặt vặt trên bàn làm việc, gồm một chiếc boomerang, vài quyển sách, một chai vang và một thanh kiếm samurai khổng lổ có tên Quý cô Vivamus, phần thưởng anh nhận được khi chiến thắng Giải Heinlein — giải thưởng dành cho những thành tựu to lớn trong ngành thương mại không gian. Hàng trăm người khác làm việc trong các ô riêng, trong một không gian mở rộng mênh mông; đa số họ là các giám đốc, kỹ sư, nhân viên phát triển phần mềm và bán hàng đang gõ máy tính. Các phòng họp xung quanh khu làm việc đều được dặt tên trên phông nền không gian, như Apollo hay Wernher von Braun cùng các biển tên nhỏ giải thích ý nghĩa của chúng. Những phòng họp lớn nhất được trang bị bộ ghế ngồi tối tân — những chiếc ghế lưng cao, đỏ au, bao quanh một bàn kính lớn - trong khi những bức ảnh toàn cảnh chụp một chiếc Falcon 1 đang cất cánh từ đảo Kwaj, hay đầu tên lửa Dragon đỗ trên ISS được treo đầy các bức tường phía sau.
Nếu bỏ đi những thứ liên quan đến tên lửa và thanh kiếm samurai, thì khu vực trung tâm của văn phòng SpaceX trông cũng hệt như những gì bạn chứng kiến tại một trụ sở công ty bình thường ở Thung lũng Silicon. Nhưng nếu bước qua bộ cửa hai cánh vào trung tâm nhà máy SpaceX, khách tham quan sẽ không thể nói như vậy nữa.
Ta sẽ khó lòng bao quát hết hơn 50 nghìn m² diện tích nhà máy chỉ qua cái nhìn đầu tiên. Đó là một không gian vô tận với mặt sàn có hoa văn lục lăng màu xám, cùng những bức tường và cột đỡ trắng xóa. Những gì làm nên giá trị của thành phố thu nhỏ này - con người, máy móc, tiếng động - đều tập trung trong khu vực đó. Ngay gần lối vào, một trong những đầu tên lửa từng bay đến ISS và trở về Trái Đất đang treo lơ lửng trên trần nhà, với một vết cháy sém chạy dọc thân. Trên sàn gạch, ngay dưới đầu tên lửa là một cặp chân hạ cánh dài 7,6 mét do SpaceX chế tạo nhằm giúp tên lửa Falcon đáp êm ái trên mặt đất sau chuyến bay, để nó có thể cất cánh một lần nữa. Bên trái khu vực ra vào là một nhà bếp, còn bên phải là phòng điều khiển bay. Đó là một khu vực khép kín với những cửa sổ kính đắt tiền, chắn phía trước là những màn hình lớn cỡ bức tường để theo dõi tiến trình bay của tên lửa. Căn phòng có bốn dãy bàn làm việc với khoảng mười chiếc máy tính trên mỗi dãy dành cho những người điều khiển bay. Sâu hơn một chút trong nhà máy là các khu công nghiệp tách biệt với nhau một cách rất tương đối. Trên mặt sàn, cứ cách vài chỗ lại có những vạch xanh đánh dấu một khu vực, và tại những chỗ khác là các băng ghế làm việc màu xanh được sắp xếp thành các hình vuông bao quanh cả không gian. Động cơ Merlin được dựng giữa một khu làm việc với khoảng nửa tá kỹ thuật viên đang mắc dây và điều chỉnh các bộ phận của nó là cảnh tượng bình thường tại đây.
Ngay phía sau các khu vực làm việc là một nhà kính hình vuông đủ lớn để chứa được hai đầu tên lửa Dragon. Đó là phòng vô trùng, nơi mọi người phải khoác áo choàng trắng và đeo lưới bọc tóc để thao tác với các đầu tên lửa mà không dây bẩn vào chúng. Cách đó khoảng 12 mét về  phía bên trái là vài quả tên lửa Falcon 9 nằm ngang cạnh nhau, đã được sơn và đang chờ được chuyển đi. Có vài khu vực sơn tường xanh được bố trí ngay giữa không gian này, và được phủ vải. Đó là những khu tuyệt mật, nơi SpaceX có thể đang chế tạo một bộ quần áo phi hành gia kỳ quặc hay một bộ phận tên lửa mà họ phải giấu chúng khỏi khách tham quan và các nhân viên không tham gia dự án. Cạnh đó là một khu nhà lớn nơi SpaceX chế tạo toàn bộ các linh kiện điện tử, một khu vực khác chuyên chế tạo vật liệu hỗn hợp chuyên dụng, và một khu nữa để sản xuất các bộ phận phụ xung quanh vệ tinh. Hàng trăm người đang đi lại khắp nhà máy - một sự pha trộn giữa các kỹ thuật viên phong trần, xăm trổ, đeo khăn rằn và những kỹ sư trẻ tuổi cổ cồn trắng. Mùi mồ hôi của những cậu trai trẻ vừa rời sân trường cứ lan khắp tòa nhà như ám chỉ về hoạt động không ngừng tại đây.
Musk để lại dấu ấn cá nhân của anh trong khắp nhà máy. Có những chi tiết nhỏ như trung tâm dữ liệu được bao phủ trong ánh đèn xanh để tạo cảm giác như khoa học viễn tưởng. Những chiếc máy tính lớn cỡ tủ lạnh trong ánh đèn xanh cũng được in nhãn với những ký tự lớn hình khối, sao cho chúng trông như được sản xuất bởi Cyberdyne Systems, một công ty hư cấu trong loạt phim nhượng quyền Kẻ hủy diệt [4]. Musk cũng đặt một bức tượng Người Sắt phát sáng có kích cỡ bằng người thật gần các thang máy. Chắc chắn yếu tố mang đậm phong cách Musk nhất trong nhà máy chính là không gian văn phòng được xây ngay vị trí trung tâm. Đó là một kiến trúc ba tầng với các phòng họp và bàn làm việc mọc lên giữa các khu vực hàn và khu vực thi công khác nhau. Người xem sẽ có cái nhìn và cảm giác lạ lẫm khi nhìn xuyên khắp văn phòng từ bên trong “tổ ong” công nghiệp này. Tuy nhiên, Musk lại muốn các kỹ sư phải luôn quan sát mọi thứ đang diễn ra với các cỗ máy mọi lúc, và đảm bảo họ phải đi khắp nhà máy và trò chuyện với các kỹ thuật viên trên đường trở về bàn làm việc.
Nhà máy là cả một điện thờ được SpaceX dâng hiến cho thứ họ xem là vũ khí tối quan trọng trong cuộc chơi chế tạo tên lửa và tự sản xuất nội bộ. SpaceX sản xuất từ 80% đến 90% tổng số tên lửa, động cơ, linh kiện điện tử và những bộ phận khác của họ. Đó là chiến lược thực sự làm chết điếng các đối thủ của SpaceX như United Launch Alliance (ULA), vốn hay công khai về việc phụ thuộc vào hơn 1.200 nhà cung cấp chuyên chế tạo sản phẩm đầu cuối cho họ. (ULA, công ty hợp doanh giữa Lockheed Martin và Boeing, luôn tự xem mình là một cỗ máy tạo ra việc làm thay vì một mô hình thiếu hiệu quả.)
 Một công ty hàng không vũ trụ điển hình sẽ lập ra một danh sách các bộ phận cần thiết cho hệ thống phóng, rồi bàn giao thiết kế cùng các chi tiết kỹ thuật của họ cho bên thứ ba, vốn rất nhiều và chuyên sản xuất phần cứng. SpaceX lại có khuynh hướng mua càng ít càng tốt để tiết kiệm tiền bạc, và vì nó xem việc phụ thuộc vào các nhà cung cấp - đặc biệt là nhà cung cấp nước ngoài — là nhược điểm. Phương pháp này đã tỏ ra thái quá ngay từ ban đầu. Nhiều công ty đã sản xuất những thứ như radio và thiết bị phân phối năng lượng trong hàng thập kỳ, nên việc “phát minh lại bánh xe” đối với từng chiếc máy 
tính hay từng cỗ máy trên một quả tên lửa chỉ tạo thêm nhiều nguy cơ mắc lỗi và nhìn chung chỉ lãng phí thời gian. Nhưng với SpaceX, chiến lược này lại có hiệu quả. Ngoài việc tự chế tạo động cơ, thân và đầu tên lửa, SpaceX còn tự thiết kế các bảng mạch chính và mạng điện, các bộ cảm biến nhằm phát hiện độ rung, máy tính dùng cho chuyến bay, và cả những tấm pin mặt trời. Chẳng hạn, để hoàn thiện chiếc radio, nhóm kỹ sư của SpaceX phát hiện ra họ có thể giảm trọng lượng của thiết bị này xuống khoảng 20%. Và chi phí tiết kiệm được nhờ radio tự làm đã trở thành một khoản đáng kể, từ mức giá 50-100 nghìn đô-la cho một thiết bị đúng chuẩn — được nhiều công ty hàng không vũ trụ sử dụng — xuống còn 5 nghìn đô-la cho thiết bị của SpaceX.
Ban đầu, thật khó tin vào những khoản chênh lệch giá cả nói trên, nhưng có đến hàng tá, nếu không muốn nói là hàng trăm đầu mục mà SpaceX vẫn đảm bảo tiết kiệm được. Thông thường, thiết bị tại SpaceX khi xuất xưởng sẽ trở thành các linh kiện điện tử tiêu dùng sẵn sàng dùng ngay được, trái ngược với những thiết bị “đẳng cấp không gian” được các công ty khác trong ngành sử dụng. SpaceX đã phải làm việc hàng năm trời để chứng minh với NASA rằng linh kiện điện tử thông thường vẫn đủ sức cạnh tranh với những phụ tùng chuyên dụng đắt đỏ, vốn được tin tưởng trong quá khứ. “Giới hàng không vũ trụ truyền thống đã phát triển theo cùng một hướng trong suốt khoảng thời gian rất, rất dài,” Drew Eldeen, cựu kỹ sư SpaceX, cho biết. “Thách thức lớn nhất này đã thuyết phục được NASA chấp nhận thử nghiệm cái mới và tiến hành kiểm tra để cho thấy những bộ phận này vẫn đạt chất lượng cao.” Để chứng minh đây là lựa chọn đúng đắn cho NASA và chính mình, SpaceX thỉnh thoảng lại phóng một quả tên lửa có cả loại thiết bị theo chuẩn thông thường lẫn loại thiết bị do họ thiết kế để kiểm chứng trong quá trình bay. Sau đó, các kỹ sư sẽ so sánh đặc điểm hiệu suất của hai loại thiết bị. Một khi thiết kế của SpaceX sánh ngang hoặc vượt trội hơn các sản phẩm thương mại, nó sẽ trở thành thiết bị phần cứng thật sự.
SpaceX đã có vô số lần đi tiên phong trong các công trình nâng cao những hệ thống phần cứng cực kỳ phức tạp. Ví dụ kinh điển cho các công trình này chính là một trong những chiếc máy trông khá kỳ cục dùng để tạm thay thế, một cỗ máy hai tầng được thiết kế để thực hiện công đoạn mà ngày nay gọi là “hàn ma sát khuấy”. Cỗ máy này cho phép SpaceX tự động hóa quy trình hàn các tấm kim loại lớn để tạo nên phần thân tên lửa Falcon. Một cánh tay sẽ nhấc một tấm lên, xếp nó thẳng hàng với một tấm khác rồi nối chúng lại bằng một mối hàn có thể dài đến 6 mét hoặc hơn. Các công ty hàng không vũ trụ thường tránh dùng các mối hàn mỗi khi có thể vì chúng gây ra lỗi trên kim loại, và điều này đã giới hạn kích thước của các tấm kim loại họ có thể sử dụng, đồng thời dẫn đến những rào cản khác trong thiết kế. Từ những ngày đầu tại SpaceX, Musk đã thúc giục cả công ty phải thành thạo kỹ thuật hàn ma sát khuấy, trong đó mũi hàn xoay tròn sẽ đâm thẳng vào mối hàn giữa hai mảnh kim loại với tốc độ cao khiến các cấu trúc tinh thể của chúng kết hợp với nhau. Hệt như khi bạn đốt nóng hai tấm nhôm rồi nối chúng lại bằng cách ấn ngón cái vào đường nối, sau đó xoắn kim loại lại với nhau vậy. Kiểu hàn này có xu hướng tạo nên những mối gắn kết chắc chắn hơn rất nhiều so với các mối hàn truyền thống. Các công ty đã tiến hành hàn ma sát khuấy từ trước nhưng không phải trên các cầu trúc lớn như thân tên lửa hay đạt đến trình độ kỹ thuật như SpaceX sử dụng. Sau nhiều lần thử và sai, giờ đây SpaceX đã có thể nối các tấm kim loại lớn, mỏng lại với nhau và giảm bớt hàng trăm kg trọng lượng trên tên lửa Falcon, do có thể sử dụng các hợp kim có trọng lượng thấp hơn và không dùng đến đinh tán, chốt đóng hay những kết cấu hỗ trợ khác. Các đối thủ cạnh tranh của Musk trong ngành công nghiệp xe hơi có lẽ cũng sớm phải làm điều tương tự, vì SpaceX đã chuyển giao một số trang thiết bị và kỹ thuật cho Tesla. Hy vọng Tesla sẽ sản xuất được những chiếc xe nhẹ và mạnh mẽ hơn.
Sau khi được kiểm chứng, công nghệ này đã trở nên đắt giá đến mức đối thủ của SpaceX cũng bắt đầu sao chép nó và cố gắng lôi kéo một số chuyên gia của công ty trong lĩnh vực này. Blue Origin, công ty tên lửa bí mật của Jeff Bezos [5], đã từng rất quyết liệt giành lấy Ray Miryekta, một trong những chuyên gia hàn ma sát khuấy lừng danh nhất thế giới và làm nảy sinh rạn nứt nghiêm trọng với Musk. “Blue Origin đã thực hiện những đòn ‘tấn công phẫu thuật’[6] đối với các nhân tài đặc biệt [7]  mà họ chào mời, chẳng hạn như đề nghị tăng lương gấp đôi. Tôi nghĩ điều đó không cần thiết và có chút khiếm nhã,” Musk nói. Trong nội bộ SpaceX, Blue Origin được gọi một cách nhạo báng là BO, và có thời điểm công ty đã phải tạo một bộ lọc e-mail để phát hiện các tin nhắn chứa các từ “blue” và “origin” nhằm ngăn chặn trò lôi kéo. Quan hệ giữa Musk và Bezos cũng trở nên gay gắt, họ không còn chia sẻ với nhau về tham vọng đi tới Hỏa tinh nữa. “Tôi nghĩ khao khát vô hạn của Bezos là trở thành Vua Bezos,” Musk chia sẻ. “Anh ta có nguyên tắc làm việc không ngừng nghỉ và muốn tiêu diệt mọi thứ trong ngành thương mại điện tử. Nhưng thực lòng mà nói, anh ta không phải người vui vẻ nhất.”[8]
Trong những ngày đầu tại SpaceX, Musk biết rất ít về máy móc và công việc chế tạo ra những quả tên lửa. Anh dứt khoát từ chối những yêu cầu mua trang thiết bị đặc biệt, mãi cho đến khi các kỹ sư giải thích rõ với anh vì sao họ cần những trang thiết bị đó, và khi kinh nghiệm giúp anh sáng tỏ hơn. Ngày ấy, Musk cũng chưa thành thạo các kỹ năng quản lý đã làm nên danh tiếng của anh hiện giờ, và ở chừng mực nào đó là cả tai tiếng.
Quá trình trưởng thành của Musk với tư cách một CEO và chuyên gia tên lửa cũng diễn ra đồng thời với quá trình trưởng thành của SpaceX với tư cách một công ty. Từ buổi đầu của hành trình Falcon 1, Musk đã là một chuyên viên phần mềm mạnh mẽ luôn nỗ lực học hỏi từ những điều sơ đẳng trong một lĩnh vực lạ lẫm. Tại Zip2 và PayPal, anh cảm thấy thoải mái trong cương vị của mình và chỉ đạo các đội viết mã. Tại SpaceX, anh cũng phải nắm bắt mọi thứ thật nhanh để bắt kịp công việc. Ban đầu, Musk phải trông cậy vào sách để có được phần lớn kiến thức về tên lửa của mình. Nhưng khi SpaceX tuyển mộ hết nhân tài này đến nhân tài khác, Musk nhận ra anh có thể học hỏi từ kho kiến thức của họ. Anh “giăng bẫy” một kỹ sư trong nhà máy SpaceX và bắt đầu tra vấn anh ta về một loại van hay vật liệu chuyên dụng nào đó. “Ban đầu tôi nghĩ rằng anh ấy muốn thử xem tôi có hiểu rõ công việc của mình không,” Kevin Brogan, một trong các kỹ sư đời đầu, cho biết. “Nhưng rồi tôi nhận ra anh ấy đang cố gắng học hỏi chúng. Anh ấy sẽ đánh đố bạn đến khi nào tiếp thu được 90% những gì bạn biết.” Những ai ở bên Musk lâu sẽ được chứng kiến khả năng tiếp thu những lượng thông tin vô cùng tận của anh, cũng như nhớ lại mà hầu như không sai sót. Đó là một trong những kỹ năng ấn tượng và đáng sợ nhất của Musk; ngày nay, khả năng ấy có vẻ vẫn phát huy tốt như khi anh còn là một cậu bé ngấu nghiến hết câu chữ trong sách vào đầu mình. Sau vài năm điều hành SpaceX, Musk đã trở thành một chuyên gia hàng không vũ trụ đạt đến tầm vóc mà rất ít CEO công nghệ vươn đến được trong các lĩnh vực tương tự. ‘Anh ấy dạy chúng tôi về giá trị của thời gian, còn chúng tôi dạy anh ấy về  tên lửa,” Brogan chia sẻ.
 Chú thích:
[4]. Nguyên văn: Terminator, loạt phim khoa học viễn tưởng do hãng MGM phát hành từ năm 1984, gắn liền với tên tuổi của tài tử gạo cội Arnold Schwarzenegger. Trong phim, Cyberdyne Systems ban đầu là tập đoàn sản xuất robot chuyên phục vụ con người, nhưng sau đó đã âm mưu gửi một người máy hủy diệt về quá khứ để tiêu diệt mẹ của thủ lĩnh quân cách mạng là Sarah Connor, từ đó có thể tiêu diệt loài người.
[5] Doanh nhân và nhà đầu tư người Mỹ, là sáng lập viên kiêm CEO của công ty thương mại điện tử Amazon.com
[6] Nguyên văn : surgical strike, thuật ngữ quân sự chỉ chiến thuật tấn công nhắm vào những mục tiêu nhất định và giảm tồi thiểu thiệt hại cho các mục tiêu xung quanh.
[7] Blue Origin cũng cướp đi phần lớn đội ngũ phụ trách động cơ đẩy của SpaceX.
[8] Musk cũng phản đối việc Blue Origin và Bezos nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho công nghệ tên lửa tái sử dụng. ‘‘Bằng sáng chế của anh chỉ là một trò hề,’’ Musk khẳng định. ‘‘ Nhiều người đã đề xuất ý tưởng hạ cánh trên một mặt phẳng nổi trên biển từ nửa thế kỷ trước. Sẽ không có cơ hội nào để một người được cấp bằng sáng chế, vì đã năm thập niên trôi qua kể từ khi có người đệ trình công nghệ gốc nhiều lần cả trong thực tế lẫn hư cấu. Nó hệt như những quả trứng màu xanh và thịt lợn muối chết tiệt của Tiến sĩ Seuss vậy. Họ đã đề xuất nó không biết bao nhiêu lần rồi. Vấn đề là hãy bắt tay vào làm và thực sự chế tạo ra một quả tên lửa hạ cánh được như thế.’’
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Về mặt thời gian, Musk cũng là người chuyên đặt ra những mục tiêu xuất xưởng khắc nghiệt cho các sản phẩm khó-sản-xuất hơn bất kỳ giám đốc nào khác trong lịch sử. Cả nhân viên của anh lẫn công chúng đều nhận ra đây là một trong những nét khó chịu nhất trong tính cách của Musk. “Elon luôn lạc quan,” Brogan cho biết. “Đó là theo nghĩa tích cực. Nhưng anh ấy có thể trở thành một gã dối trá trắng trợn khi cần hoàn tất mọi việc. Anh ấy sẽ vạch ra thời gian biểu khắc nghiệt nhất có thế tưởng tượng ra nếu giả định mọi thứ vẫn ổn, rồi tiếp tục tăng tốc vì đoán là mọi người có thể làm việc năng nổ hơn.”
Musk cũng từng bị báo chí lên án vì đặt rồi trễ thời hạn giao sản phẩm. Đó là một trong những thói xấu khiến anh gặp rắc rối nhiều nhất trong khoảng thời gian SpaceX và Tesla cố gắng đưa các sản phẩm đầu tiên của họ ra thị trường. Hết lần này đến lần khác, Musk cứ xuất hiện trước công chúng để tuôn ra một tràng bào chữa mới cho việc chậm trễ. Khi nghe nhắc lại ngày phóng dự định hồi đầu vào năm 2003 của Falcon 1, Musk đã tỏ ra bị sốc. “Anh nghiêm túc chứ?” anh thốt lên. “Chúng tôi đã nói thế ư? Okay, thật lố bịch. Tôi nghĩ khi ấy tôi chẳng biết mình đang nói cái quái gi. Lĩnh vực duy nhất tôi có kinh nghiệm từ trước là mảng phần mềm, và phải rồi, trong một năm anh có thể viết một mớ phần mềm và mở một trang web. Chẳng sao cả. Nhưng thứ này không như phần mềm. Tên lửa không hoạt động như thế.” Đơn giản là Musk không thể tự ngăn mình được. Anh là kẻ lạc quan từ trong máu, và có vẻ như anh tính toán việc gì đó diễn ra trong bao lâu đều dựa trên suy nghĩ rằng việc đó sẽ tiến triển mà không vấp phải lỗi nào ở mọi bước, và rằng mọi thành viên trong đội của anh đều sở hữu khả năng và nguyên tắc làm việc như Musk. Brogan nói đùa rằng Musk có thể dự đoán một dự án phần mềm ra đời trong bao lâu bằng cách tính toán số giây thực tế để viết một dòng mã, rồi từ đó suy ra lượng thời gian khớp với số dòng mã mà anh dự kiến cho thành phẩm. Tuy đó là so sánh chưa chuẩn, nhưng dường như không quá xa lạ với thế giới quan của Musk. “Anh ấy làm mọi việc rất nhanh,” Brogan nhận xét. “Đi vệ sinh cũng nhanh. Như một chiếc vòi cứu hỏa - ba giây là xong. Anh ấy lúc nào cũng vội vã.”
Khi được hỏi về cách tiếp cận của mình, Musk đáp: “Thực chất, tôi không cố đặt ra những mục tiêu bất khả thi. Tôi nghĩ mục tiêu bất khả thi sẽ làm nản lòng. Bạn không muốn bảo mọi người đi xuyên tường bằng cách đập đầu họ vào tường. Tôi không bao giờ cố ý đặt ra các mục tiêu bất khả thi. Nhưng chắc chắn tôi luôn lạc quan về khung thời gian. Tôi đang cố gắng tự điều chỉnh sao cho thực tế hơn đôi chút.
Tôi không giả định rằng có đến 100 người giống như tôi hay đại loại thế. Ý tôi là, vào những ngày đầu tại SpaceX, chúng tôi không hiểu hết mình cần làm những gì để chế tạo một quả tên lửa. Trong trường hợp này, tôi phải nổ lực 200%. Tôi nghĩ các chương trình trong tương lai sẽ khiến nỗ lực này chỉ còn từ 25% đến 50%, chứ không phải 200%.
Thế nên nhìn chung, tôi nghĩ bạn sẽ muốn lập một thời gian biểu dựa trên mọi điều mình biết; thời gian biểu là ẩn số X, và bạn tuân theo nó nhưng vẫn hiểu rằng bạn sẽ bắt gặp đủ loại biến số mình chưa biết và chúng sẽ kéo dài thời hạn thêm ra. Điều này không có nghĩa rằng bạn không nên cố nhắm đến thời hạn đó ngay từ ban đầu, vì nhắm đến một thời hạn khác cũng sẽ làm tăng thêm một khoảng thời gian bất kỳ nào đó.
Điều đó khác với câu nói, 'Thôi được, anh hứa gì với mọi người nào?’ Vì bạn luôn muốn hứa hẹn với mọi người về điều gì đó kèm theo những chênh lệch trong thời hạn. Nhưng để hoàn thành thời hạn hứa hẹn với bên ngoài, bạn phải lập ra một thời hạn nội bộ khắt khe hơn thế. Và đôi khi, bạn vẫn trễ hạn với bên ngoài.
Tiện thể, SpaceX không phải trường hợp cá biệt ở đây. Chậm trễ là chuyện thường tình trong ngành hàng không vũ trụ. Vấn đề không phải là có chậm trễ hay không, mà là sẽ chậm trễ như thế nào. Tôi không tin một chương trình hàng không vũ trụ có thể hoàn thành đúng hạn kể từ thời Thế chiến thứ Hai đẫm máu.”
Để đáp ứng thời gian biểu cực kỳ khắt khe và những kỳ vọng của Musk, các kỹ sư tại SpaceX phải hình thành những kỹ năng sống còn phong phú. Musk thường yêu cầu các bản đề xuất hết sức chi tiết, giải thích dự án sẽ được hoàn thành như thế nào. Các nhân viên cũng hiểu rằng họ không bao giờ được phần thời hạn hoàn thành một việc gì đó theo tháng hay tuần. Musk muốn xem các dự báo hàng ngày, hàng giờ, thậm chí đôi khi đếm ngược từng phút; thế nên, hậu quả từ việc trễ hạn là rất khủng khiếp. “Bạn phải mặc sẵn quần áo khi vào phòng tắm,” Brogan nói. “Còn tôi thì, ‘Này Elon, đôi khi mọi người cần ‘giải quyết nỗi buồn’ lâu hơn đấy.’” Thực ra, các quản lý cấp cao tại SpaceX phải làm việc cùng nhau để lập ra các lịch trình giả, tuy làm Musk hài lòng, nhưng về cơ bản là không thể hoàn thành được. Tình huống sẽ không đến nỗi quá kinh khủng nếu các mục tiêu này được giữ kín trong nội bộ. Song, Musk lại hay nhắc đến các lịch trình giả này với khách hàng, do đó vô tình mang lại cho họ một hy vọng giả tạo. Thông thường, Gwynne Shotwell, chủ tịch của SpaceX, là người phải dọn dẹp mớ bừa bộn mà anh gây ra. Cô hoặc phải gọi điện cho khách hàng để thông báo lại một thời gian biểu thực tế hơn, hoặc phải bịa ra hàng loạt lời bào chữa nhằm giải thích cho những chậm trễ không thể tránh khỏi. “Tội nghiệp Gwynne,” Brogan nói. “Chỉ nghe tiếng cô ấy gọi điện cho khách hàng thôi cũng đủ xót xa rồi.”
Điều không thể nghi ngờ là Musk đã trở thành bậc thầy trong nghệ thuật thúc đẩy nhân viên của anh làm việc hết mình. Hãy thử phỏng vấn khoảng hơn 30 kỹ sư tại SpaceX, và mỗi người trong số họ sẽ chọn ra một chiêu thức quản lý mà Musk từng dùng để khiến nhân viên phải hoàn thành đúng hạn. Brogan nêu một ví dụ: Trong khi một nhà quản lý điển hình sẽ quy định thời hạn cho nhân viên, thì Musk lại hướng dẫn các kỹ sư tự làm chủ thời hạn giao hàng của chính họ. “Anh ấy không bảo, ‘Anh phải hoàn thành việc này trước 2 giờ chiều ngày thứ Sáu,”’ Brogan giải thích. “Mà anh ấy sẽ nói, ‘Việc này là không thể, nhưng tôi cần hoàn thành trước 2 giờ chiều ngày thứ Sáu. Anh làm được không?’ Và nếu bạn bảo được, thì bạn sẽ không làm việc cật lực vì anh ấy bảo bạn làm thế. Mà vì chính bạn. Đó là sự khác biệt mà bạn cảm nhận được. Vì bạn đã ‘‘ký nhận’’ sẽ làm phần việc của mình rồi.” Và thông qua tuyển dụng hàng trăm nhân sự sáng sủa, năng nổ, SpaceX đã gia tăng tối đa sức mạnh của cá nhân. Một người làm việc 16 giờ/ngày sẽ hiệu quả hơn rất nhiều so với hai người làm việc 8 giờ/ngày cùng nhau. Cá nhân đó không phải tổ chức họp hành, biểu quyết nhất trí, hay huy động thêm nhiều người khác để tăng tốc dự án. Anh ta chỉ cần làm việc, làm việc và làm việc. Một nhân viên SpaceX lý tưởng sẽ là người giống như Steve Davis, giám đốc phụ trách các dự án tiên tiến tại đây. “Anh ấy luôn làm việc suốt 16 giờ mỗi ngày trong nhiều năm,” Brogan cho biết. “Anh ấy làm được nhiều hơn 11 người cộng lại.”
Để tìm được Davis, Musk phải gọi cho một trợ giảng [9] thuộc khoa hàng không vũ trụ của trường Stanford và hỏi thăm xem có ứng viên nào cần mẫn, có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ sáng chói mà vẫn còn độc thân hay không. Người trợ giảng đã giới thiệu với Musk Davis, đang theo học cao học kỹ thuật hàng không để bổ sung vào các bằng cấp về tài chính, kỹ thuật cơ khí và vật lý hạt nhân. Musk gọi cho Davis vào thứ Tư và đề nghị ngay với anh một công việc vào thứ Sáu tiếp theo. Davis đã được SpaceX tuyển dụng chỉ trong 20 giây và trở thành nhân vật kỳ cựu nhất thứ 12 vẫn công tác tại công ty. Đến năm 2014, anh sang tuổi 35.
Davis đã có một chuyến công tác đến Kwaj và thừa nhận đó là quãng thời gian tuyệt vời nhất đời anh. “Mỗi đêm, bạn có thể ngủ ngon cạnh quả tên lửa trong chiếc lều trú ẩn này, nơi cả đàn tắc kè bò khắp người bạn, hoặc đi một chuyến tàu trong một tiếng để rồi say sóng suốt trên đường về đảo chính,” anh chia sẻ. “Mỗi đêm, bạn sẽ chọn ra cơn đau mà bạn muốn quên đi nhất. Bạn sẽ cảm thấy nóng nực và mệt lử. Thật đáng kinh ngạc.” Sau khi xong việc với Falcon 1, Davis lại chuyển sang Falcon 9 rồi đến Dragon.
Đầu tên lửa Dragon đã ngốn mất bốn năm thiết kế của SpaceX. Nhiều khả năng đây là dự án hoàn thành nhanh nhất trong lịch sử ngành hàng không vũ trụ nếu so với các dự án cùng loại. Dự án này khởi đầu với Musk cùng một nhóm kỹ sư, hầu hết đều dưới 30 tuổi, và đạt đến đỉnh điểm là 100 người.[10] Họ đã sao chép các công trình đầu tên lửa cũ và đọc từng trang viết do NASA xuất bản xung quanh các dự án như Gemini và Apollo. “Nếu anh tra cứu về thuật toán dẫn đường tái nhập của Apollo, thi cơ sở dữ liệu khổng lổ này sẽ cho anh câu trả lời,” Davis cho biết. Sau đó, các kỹ sư tại SpaceX phải tìm cách phát triển những nỗ lực trong quá khứ này và đưa đầu tên lửa vào thời hiện đại. Họ hiểu rõ và dễ dàng về một số hạng mục cải tiến, nhưng các hạng mục khác lại đòi hỏi sự tinh tế hơn.  
Saturn 5 và Apollo có những gian điện toán khổng lỗ, nhưng chỉ sản sinh được một “mã lực” máy tính khá nhỏ so với những gì mà một chiếc iPad hiện nay tạo ra. Các kỹ sư SpaceX hiểu rằng họ có thể tiết kiệm thêm nhiều không gian bằng cách giảm bớt một số máy tính, đồng thời nâng cao công suất với thiết bị mạnh hơn. Các kỹ sư kết luận rằng tuy Dragon trông rất giống Apollo, nhưng nó lại có những góc dốc hơn để dành chỗ trống cho thiết bị và các phi hành gia mà công ty hy vọng sẽ đưa lên không gian. SpaceX cũng có được công thức cho vật liệu cách nhiệt của mình - được gọi là PICA — thông qua thỏa thuận với NASA. Các kỹ sư SpaceX đã tìm ra cách giảm giá thành của vật liệu PICA và phát triển thêm từ công thức gốc để Dragon chịu được sức nóng trên đường trở về từ Hỏa tinh.[11] Tổng chi phí cho chiếc Dragon ở mức 300 triệu đô-la, thấp hơn từ 10 đến 30 lần so với các dự án chế tạo đầu tên lửa của những công ty khác. “Khi kim loại được chuyển đến, chúng tôi cuộn nó lại, hàn nó, và tạo ra thành phẩm,” Davis mô tả. “Chúng tôi hầu như tự chế tạo mọi thứ. Đó là nguyên nhân chi phí giảm xuống.”
Giống như Brogan và nhiều kỹ sư khác của SpaceX, Davis cũng được Musk yêu cầu những việc dường như không thể. Một đòi hỏi ưa thích của anh xảy đến vào năm 2004. SpaceX cần một bộ điều tiết để kích thích tác dụng khớp động năng nhằm điều khiển tầng phía trên của Falcon 1. Davis chưa từng chế tạo một mảnh phần cứng nào trong đời, và dĩ nhiên phải bắt tay tìm kiếm vài nhà cung cấp để họ sản xuất các bộ điều tiết cơ điện tử cho anh. Anh ước tính giá thành vào khoảng 120 nghìn đô-la. “Elon phá lên cười,” Davis nói. “Anh ấy bảo, ‘Bộ phận đó cũng đơn giản như thiết bị mở cửa ga-ra mà thôi. Ngân sách của anh là 5 nghìn đô-la. Hãy làm cho xong đi.’” Davis đã mất chín tháng chế tạo bộ điều tiết. Đến cuối công đoạn, anh lại bỏ ra ba giờ đồng hồ viết một e-mail gửi Musk, khái quát những ưu nhược điểm của thiết bị. Bức e-mail còn chi tiết đến mức giải thích Davis đã thiết kế bộ phận đó như thế nào, lý do anh đặt ra nhiều lựa chọn khác nhau và chi phí sẽ là bao nhiêu. Khi nhấn nút gửi, Davis cảm thấy nỗi lo lắng trào dâng khắp người, vì biết rằng mình vừa dành gần trọn một năm để thực hiện công việc mà không một kỹ sư ở một công ty hàng không vũ trụ nào dám thử. Musk đã tưởng thưởng cho tất cả những công sức và băn khoăn của Davis bằng một trong những cách hồi đáp đúng kiểu của anh. Anh viết trả lời, “Ok.” Bộ điều tiết do Davis thiết kế chỉ tiêu tốn 3.900 đô-la và đã bay cùng Falcon 1 vào không gian. “Tôi đã dốc hết mọi vốn liếng trí tuệ mình có vào e-mail đó, và nhận được hồi đáp đơn giản một phút sau đấy,” Davis kể lại. “Mọi người trong công ty đều đã có trải nghiệm tương tự. Một trong những điều tôi thích ở Elon là khả năng ra các quyết định quan trọng rất nhanh. Đến hôm nay vẫn thế.”
Kevin Watson có thể chứng thực điều này. Ông gia nhập SpaceX vào năm 2008 sau khi trải qua 24 năm tại Phòng Thí nghiệm Động cơ đẩy Phản lực của NASA (JPL: Jet Propulsion Laboratory). Watson đã tiến hành nhiều dự án khác nhau tại JPL, bao gồm chế tạo và thử nghiệm các hệ thống máy tính chịu được điều kiện khắc nghiệt của không gian. JPL thường mua các loại máy tính đắt đỏ và cực bền, khiến Watson chán nản. Ông đã “mơ giữa ban ngày” về những chiếc máy tính lắp ráp thủ công rẻ hơn nhưng vẫn cho hiệu quả tương đương. Khi phỏng vấn nhận việc với Musk, Watson mới biết rằng SpaceX đang cần chính lối tư duy này. Musk muốn có một hệ thống máy tính cho tên lửa với chi phí không vượt quá 10 nghìn đô-la. Đó là một con số điên rồ nếu xét theo chuẩn của ngành công nghiệp hàng không vũ trụ, nơi các hệ thống điện tử hàng không dành cho một quả tên lửa luôn vượt quá 10 triệu đô-la. “Đối với ngành hàng không vũ trụ truyền thống, sẽ phải tốn hơn 10 nghìn đô-la chỉ cho bữa ăn trong cuộc họp thảo luận về  chi phí điện tử hàng không,” Watson nhận xét.
Trong buổi phỏng vấn nhận việc, Watson đã hứa với Musk rằng ông có thể làm được những gì không thể, sẽ cung cấp một hệ thống điện tử hàng không trị giá 10 nghìn đô-la. Ông bắt đầu chế tạo các máy tính dành cho Dragon ngay sau khi được tuyển. Hệ thống đầu tiên có tên gọi CUCU “ phát âm là “cúc cu”. Chiếc hộp truyền thông này có thể được đặt vào trong Trạm Không gian Quốc tế và truyền tin ngược về Dragon. Một số người tại NASA gọi các kỹ sư SpaceX là “những anh chàng trong ga-ra” và hoài nghi rằng công ty khởi nghiệp này sẽ chẳng làm được trò trống gì, kể cả việc chế tạo loại máy tính này. Nhưng SpaceX đã sản xuất máy tính liên lạc trong khoảng thời gian kỷ lục, và trở thành hệ thống đầu tiên thuộc loại này vượt qua các khâu kiểm định giao thức của NASA ngay từ lần thử đầu tiên. Các quan chức của NASA buộc phải nói “cúc cu” hết lần này đến lần khác trong các cuộc họp — một động thái khiêu chiến nhỏ mà SpaceX đã dự trù từ lâu nhằm tra tấn NASA. Sau vài tháng, Watson và các kỹ sư khác đã hoàn thành việc chế tạo các hệ thống máy tính cho Dragon và áp dụng công nghệ đó cho Falcon 9. Kết quả là cả một nền tảng điện tử hàng không đầy đủ dồi dào, được kết hợp giữa thiết bị điện toán có sẵn và những sản phẩm do SpaceX sản xuất trong nội bộ. Chi phí tuy cao hơn 10 nghìn đô-la đôi chút, nhưng gần như đáp ứng mục tiêu của Musk.
SpaceX đã hồi sinh Watson, một người đã trở nên mất hết hứng thú trước sự dung dưỡng của JPL đối với thói chi tiêu vô tội vạ và quan liêu. Musk phải bác bỏ mọi khoản chi trên 10 nghìn đô-la. “Chúng tôi đang tiêu tiền của anh ấy, và anh ấy muốn để mắt đến chúng vì anh ấy nên làm thế,” Watson nói. “Anh ấy muốn đảm bảo không có chuyện ngu ngốc nào xảy ra.” Các quyết định được đưa ra rất nhanh trong các cuộc họp hằng tuần, và cả công ty đều tin tưởng chúng. “Thật ngạc nhiên là mọi người tiếp thu những gì từ các cuộc họp đó nhanh đến thế,” Watson nhận xét. “Toàn bộ hành trình có thể xoay chuyển 90 độ ngay lập tức. Lockheed Martin sẽ chẳng bao giờ làm được điều gì như thế.” Watson tiếp tục:
“Elon thật xuất sắc. Anh ấy dính líu đến mọi thứ. Anh ấy thấu hiểu mọi thứ. Nếu anh ấy hỏi bạn một câu hỏi, bạn sẽ biết ngay rằng mình không được trả lời liều lĩnh. Anh ấy muốn các câu trả lời phải tuân theo định luật cơ bản của vật lý học. Vật lý học tên lửa là lĩnh vực anh ấy hiểu rõ. Không ai hiểu rõ hơn anh ấy. Tôi đã chứng kiến anh ấy làm những điều điên rồ với đầu óc của mình. Anh ấy có thể tranh luận về việc phóng vệ tinh, rằng liệu ta có thể bay đúng quỹ đạo hay không, có thể mang theo Dragon cùng lúc hay không và có thể giải được mọi phương trình trong thực tế hay không. Thật phi thường khi mục kích lượng kiến thức mà anh ấy tích lũy được qua nhiều năm. Tôi không muốn trở thành người cạnh tranh với Elon. Bạn có thể bỏ công ty và tìm việc gì đó thú vị để làm. Nhưng anh ấy vẫn sẽ vượt trội hơn bạn, suy nghĩ sâu sắc hơn bạn và làm tốt hơn bạn.”
Một trong những khám phá hàng đầu của Watson tại SpaceX là chiếc bàn thử nghiệm trên tầng ba của nhà máy Hawthorne. SpaceX đã thử nghiệm mọi phiên bản phần cứng và linh kiện điện tử của tên lửa trên những chiếc bàn kim loại. Do đó phải phục dựng mọi bộ phận bên trong của tên lửa để tiến hành hàng nghìn chuyến bay mô phỏng. Một người sẽ “phóng” tên lửa từ máy tính rồi quan sát mọi phần cứng của máy móc và điện toán thông qua các bộ cảm biến. Một kỹ sư có thể ra lệnh cho một chiếc van mở ra, sau đó kiểm tra xem nó có mở hay không, mở nhanh ra sao và mức độ dòng điện chạy qua đó như thế nào. Dụng cụ kiểm tra này cho phép nhóm kỹ sư của SpaceX thực hành trước các lần phóng và tìm hiểu xem họ sẽ đối phó với đủ kiểu bất thường ra sao. Trong những đợt phóng thật, SpaceX cũng bố trí nhân sự thuộc khâu kiểm định, những người có thể tái hiện các sai sót từng xảy ra với Falcon và Dragon rồi điều chỉnh tương ứng. SpaceX đã có vô số thay đổi khi phóng nhờ hệ thống này. Có lần, ai đó đã phát hiện thấy một lỗi trong tập tin phần mềm chỉ vài tiếng đồng hồ trước giờ phóng. Thế là nhóm kỹ sư SpaceX liền thay đổi tập tin, kiểm tra xem nó sẽ tác động ra sao đến phần cứng thử nghiệm, và khi không phát hiện ra vấn đề gì, liền gửi tập tin đó đến chiếc Falcon 9 đang chờ đợi trên dàn phóng. Mọi thứ chỉ diễn ra trong chưa đầy 30 phút. “NASA không quen với điều này,” Watson nhận xét. “Nếu có gi đó không ổn với tàu con thoi, mọi người chỉ giải tán và chờ thêm ba tuần để thử nghiệm và phóng lại.”
 
Chú thích:
[9] Michael Colonno.
[10] Theo lời Musk, ‘‘Dragon phiên bản 1 sơ khai là đóng góp của tôi cùng ba hoặc bốn kỹ sư khác, vào lúc chúng tôi chỉ kiếm vừa đủ sống và không biết liệu NASA có trao cho mình một hợp đồng hay không. Đúng ra, trước đó đã từng có Magic Dragon, đơn giản hơn và không đáp ứng những đòi hỏi của NASA. Dự án Magic Dragon chỉ bao gồm tôi và vài chuyên gia về khí cầu tầng bình lưu từ Anh quốc.’’
[11] Các nhà nghiên cứu của NASA đã xem xét thiết kế của Dragon và chú ý đến vài tính năng được SpaceX chủ ý chế tạo ngay từ đầu nhằm chuẩn bị cho một cuộc đổ bộ lên Hỏa tinh. Họ đã đăng hai bài báo giải thích vì sao NASA nên cấp vốn cho sứ mệnh lên Hỏa tinh, tại đó đầu tên lửa Dragon sẽ lấy mẫu vật và đem chúng về Trái Đất.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
«« « 1 2 » »»