📢 Hướng dẫn đăng bài viết Xem chi tiết »
📢 Diễn đàn Việt Nam Thư Quán đã hoạt động trở lại! Xem chi tiết »

Diễn Đàn » Sách truyện tự sáng tác

Luật Tiến-Hoá & Dịch-Lý (Chương 4)

0 trả lời, 9 lượt xem — Trang 1 / 1
Chương 4

Đất Liền

 

Kỷ Nguyên Paleosoic&Mesozoic (540-65 mya)
 
Cuối thời đại thuộc Kỷ nguyên Pre-Cambrian cách đây hơn 600 triệu
năm, đa số địa hình trên trái đất là núi và nước. Chỉ một số diện
tích rất nhỏ là đồng bằng, do phù sa trên các núi cao bị nước cuốn
trôi xuống và bồi đấp sau những trận mưa bão. Các lục điạ chính còn
nằm rải rác ở khắp nơi, cách  nhau
xa cả chục ngàn cây số so với vị trí hiện nay. Hơn phân nữa (1/2) các lục địa vẫn còn chìm sâu dưới mặt nước biển. Trong khi
đó, hai đại lục châu Phi và châu Á thì còn ở vùng cực Nam của trái
đất .

 

Trên mặt đất còn hạn hẹp lúc bây giờ, chỉ mới xuất hiện một số
rất ít các loài rong rêu và cỏ dại, chưa có rừng rậm hay những cây
cao to lớn như sau này. Lượng nước mưa lũ trong thời kỳ này rất cao,
vì chưa có nhu cầu tiêu thụ nước, nhất là có quá ít cây rừng để
hấp thu và giữ lại nước. Khắp nơi trên mặt đất đều bị ngập lụt
thường xuyên sau những cơn mưa bão. Hàng hàng lớp lớp các loại phù sa
từ các vùng núi cao chảy xuống theo các trận lũ, bồi đấp dần các
thung lũng và  nâng cao lên từ từ
các lớp đất cát thành những đồng bằng hay bình nguyên sau này. Nhờ
vậy nên hàng trăm triệu năm sau, những chỗ thấp trũng được nâng cao lên
dần, tạo thành những bình nguyên rộng mênh mông cả ngàn vạn dậm. Đổi
lại, những rạng núi thật cao trước kia cũng bị sạt lở hay sói mòn,
làm cho đỉnh núi tụt thấp xuống dần. Rất nhiều ngọn núi cao đã bị
biến mất luôn do những quá trình đồng-bằng hóa cuả cảc thung lũng
hay bờ biển.

 

Ngoài ra, từ những sự kiện nêu trên cũng cho thấy vào thời
Pre-Cambrian, các ngọn núi chính cao nhất trên thế giới hiện nay như
rặng Hi Mã Lạp Sơn (Himalaya) hay Kilimadjaro đều còn rất thấp, cao
chừng vài trăm mét. Nhưng nhờ có chứa nguồn nham thạch núi lửa nên sau mỗi lần phun trào, đã tích luỹ từ từ trên chóp núi và
nâng cao lên dần các đỉnh núi như chúng ta thấy hiện nay. Thời tiết
và mưa lũ cũng có đóng vai trò bào mòn bớt các đỉnh núi cho đến
khi xuất hiện chu kỳ phun lửa kế tiếp.

 

Hiện tượng tạo thành núi và cao nguyên nói trên cũng giải thích
luôn tại sao trên mặt Trăng không có các ngọn núi cao như trên mặt Đất.
Lý do như đã giải thích và minh chứng trong chương trước, mặt Trăng có
nguồn gốc từ một phần mảnh vỡ nằm phía bên ngoài của trái Đất, nên
không có chứa nhiều nham thạch lỏng như trong lòng trái Đất. Bằng
chứng trên cũng cho thấy rõ là chưa bao giờ có hiện tượng phun lửa
hay có núi lửa hoạt động trên mặt Trăng. Những vủng lồi lõm nếu có
trên mặt Trăng là do sự va chạm mạnh của rất nhiều đá thiên thạch bay
vào trong mấy tỷ năm qua, do mặt Trăng không có bầu khí quyển bao bọc
để che chắn.

 

Đa số các loài cây cỏ chưa xuất hiện trong thời Nguyên Đại
này.  Lý do là lớp đất đá trên mặt
đất cỏn rất thô sơ với nồng độ nham thạch và muối còn khá cao, chưa
có môi trường thuận lợi về dinh dưỡng cho các tế bào thực vật phát
triển. Phải mất thêm vài trăm triệu năm nữa để các cơn mưa bão lớn
rửa và xoá sạch dần các chất muối mặn, và cho ra thêm nhiều lớp
đất cát có chứa phù sa và khoáng chất.

 

Một yếu tố quan trọng khác và hơn tất cả chính là sự đóng góp
từ các xác chết động vật đã bị tan rã của hàng triệu con lươn biển
lên thám hiểm đất liền. Trong một số câu chuyện thần thoại của phương
đông có kể lại những câu chuyện về sự xuất hiện của một giống cây
bông hoa mới lạ sau khi có người nằm chết ngay tại chỗ gốc cây, như
chuyện trầu cau của Việt Nam, thí dụ. Khoa học ngày nay minh chứng cho
thấy đó là những hiện tượng có thật, còn gọi là hiện tượng kết
hợp ngoài luồn và đột biến (Mutation) di truyền giữa hai giống tế
bào xa lạ khác nhau.

 

Sau cùng, có một sự liên tưởng rất dễ hiểu để so sánh. Nếu loài
giun biển (Hải-sâm) có thể tự hào với thành quả vĩ đại khi thám
hiểm vào được các hang động xa cách mặt nước chừng một vài mét,
thì chắc cũng xứng đáng được ca ngợi, không thua gì những thành công
khi con người thám hiểm đặt chân lần đầu lên mặt Trăng! Tuy vậy, không
giống như con người khi bắt đầu thám hiểm không gian cách đây hơn một
thế kỷ, tất cả loài động vật kể cả con người vào thời cổ đại
trước công nguyên, nếu có nhu cầu phải thám hiểm vào những vùng đất
mới, chỉ là thuần tuý do bàn năng sinh tồn bắt buộc phài làm, vì
bị đói ăn hay do bị săn đuổi, đe doạ đến mạng sống.

 

Ðộng Vật  Hạ Cấp

7.1  Bò sát - Nguyên Đại Cambrian (540-270 mya)

 

Cuộc đổ bộ lên đất liền của loài giun biển (Hải Sâm-Sea Cucumber)
đã mất khoảng chừng hơn 300 triệu năm để hoàn tất trong Nguyên Đại
Cambrian từ 540-270 mya, với sự hy sinh thân xác của cả hàng ngàn
triệu thế hệ, đã hy sinh lót đường cho những hậu duệ tiếp nối theo
sau được thành công. Dù sao, điểm chính cần được làm sáng tỏ ở đây
chính là lập luận của hầu hết các sách giáo khoa cho là các giống
sinh vật trong thời kỳ Cambrian đã từ dưới biển bò lên và sinh sống
ngay liền trên mặt đất, như các loài hải cẩu và các giống rùa.

 

Lập thuyết trên tuy không quá sai, nhưng có thể không hoàn toàn
đúng! Thật sự là các giống sinh vật đầu tiên lên sống trên đất liền
đã có nguồn gốc xuất phát từ các con sông lớn, dựa trên hai yếu tố
chính sau đây:

 

Phải có được bộ phận hô hấp để thở trực tiếp bằng không khí,
giống như nhiệm vụ của các lá phổi về sau này. Kế đến và quan
trọng hơn hết là cơ thể của loài sinh vật sống lâu được trên đất
liền đều phải làm quen với môi trường nước ngọt. Bằng chứng thấy rõ
là các sinh vật sống trên đất liền hiện nay đều dùng nước ngọt để
sinh sống.

      

Trở ngại thứ nhất khó khăn và tốn kém thời gian rất nhiều, qua
quá trình hơn cả trăm triệu năm để chuyển hoá dần từ bộ phận thở
bằng cách lọc nước biển qua bộ phận hô hấp toàn dùng bằng khí trời
như lá phổi hiện nay. Hãy thử tưởng tượng những con giun biển bị mắc
cạn, nằm ngay tại các bờ đất sát mặt nước đang bị chết ngạt vì cố
thở bằng không khí, và thỉnh thoảng lại được hồi sinh tạm thời bằng
những con nước thuỷ triều lên xuống ngập đầu.

 

Hiện tượng trên đã được lập đi lập lại qua hàng chục triệu năm
cho hàng triệu thế hệ của các loài giun biển phài sống gần ngay sát
biên giới của nước và đất liền, đã sản sinh ra những thế hệ giun
biển mới có khả năng thở luôn bằng khí trời, tiền thân của các con
“rắn Biển” hiện nay. Chính vì lý do nói trên nên các loài lươn biển
cùng thời tuy năng động và to lớn hơn vẫn không thể lên bờ và sống
được luôn trên đất liền.

Trở ngại thứ hai và cũng là minh chứng cho thấy tại sao cơ thể
của các sinh vật sống trên đất liền sau này phải được chuyển hoá và
thích ứng với đời sống bằng nước ngọt. Đơn giản là vì không có
biển hay nước mặn trong đất liền. Nhưng cũng giống như bộ phận hô
hấp, không thể thay đổi ngay liền được mà phải cần thời gian chuyển
tiếp.

 

May mắn lại đến với các loài giun 
biển sống gần ngay các cửa khẩu của các con sông đang chảy ra
biển, nên tạo thành một vùng nước lợ pha trộn. Nhờ vậy, các thế hệ
giun biển này đã có cơ hội làm quen và tập cho cơ thể thích ứng dần
với nước ngọt. Hậu duệ con sót lại của loài giun biển này phải kể
tới các loài cá Hồi với khả năng sống được trong cả hai môi trường biển và sông.

 

Trong nguyên đại này, những loài giun biển sống gần các cửa sông
cũng có một thay đổi rất ấn tượng về cơ thể. Do phần Đầu phải
thường xuyên chịu áp lực nước quá cao chảy ra cửa sông, nên đã được
tích luỹ thêm được nhiều các hợp chất vôi, làm cho cứng hơn bộ xương
bảo vệ cái Đầu. Ngược lại thì phần phía sau đuôi, do không cần phải
đương đầu với áp lực nước nên trở thành nhẹ nhàn và uyển chuyển
hơn, biến thành bộ phận vừa giữ thăng bằng cho cơ thể vừa làm mái
chèo tạo lực đẩy tiến tới cho các loài giun biển hay hậu duệ sau
này là các loài rắn. Đồng thời, cũng nhờ hấp thu nhiều chất vôi từ
các loại đá trầm tích gần cửa sông, nên phần xương cột chính mềm như
cái nang của loài mực, mới có thể cứng dần lên và trở thành hệ
thống xương cốt chính làm sống lưng, bảo vệ các dây thần kinh chuyên
tải tín hiệu hay mệnh lệnh từ não bộ cho các loài động vật sau
này.

 

Cuối thời kỳ Cambrian, một số các giống lươn biển men theo các con
sông đã tiến dần vào sâu trong đất liền, nhưng vẫn còn sống ngay sát
gần bên bờ sông, trở thành các loài lươn nước ngọt, thuỷ tổ của các
loài lươn đất hay cá trê (Catfish) hiện nay đang sống bên các bờ đất,
cạnh ao hồ hay những chổ đầm lầy có nước.

 

Cũng trong giai đoạn hơn hai trăm triệu năm này, hệ thống hô hấp
thở bằng khí trời qua hai bên miệng đã được hoàn tất. Khởi đầu bằng
nhóm tế bào chuyên hấp thu khí Oxy từ các bọt nước chứa không khí,
rồi dần đến các tập hợp mô lớn hơn, sấp xếp chồng lên nhau như hình
mang cá ở hai bên miệng, rồi cuối cùng biến dạng thành ra những phế
nang phổi giống như hiện nay của các loài động vật cao cấp.

 

Trở lại câu chuyện của các loài lươn khi mới bắt đầu làm những
cuộc thám hiểm vào sâu trong đất liền. Không phải chỉ có trở ngại
khó khăn, mà còn coi như là một cuộc phiêu liêu quá nguy hiểm và đầy
tuyệt vọng. Giai đoạn này đã kéo dài trong vài chục triêu năm với
hàng ngàn tỷ các con lươn đất đã chết trong vòng vài ngày vì bị
thiếu nước uống. Nhưng cũng đã có bước đột phá kỳ diệu đánh dấu
một trong những khúc quanh quan trọng nhất cuả sự tiến hoá xảy ra.



                      





Trong số hàng triệu con giun đất bị chết khô vì thiếu nước trên
đất liền, có một số rất ít may mắn đang có mang những cái trứng đã
được thụ tinh. Nhờ vô tình được bảo vệ bởi xác chết của các con
lươn mẹ, các lươn con nở ra có thể được sống sót thêm một thời gian
ngắn, trước khi may mắn gặp được một cơn mưa lũ lớn kéo trôi xuống
các ao hổ gần đó. Chu kỳ này đã có thể tái diễn và lập lại trong
hàng chục triệu năm, trước khi bộ phận thở bằng khí trời cuả hậu
duệ lươn đất là các loài khủng long được thành hình và hoàn tất sau
hơn một trăm triệu năm, với hai lỗ mũi nằm ngay trên miệng.

 

Trước đây khi loài lươn còn sống trong nước biển hay ao hồ, để làm
nhiệm vụ sinh sản, các con lươn đực chỉ cần xịt ra tinh trùng trong
nước và con cái sẽ được thụ tinh khi bơi lại trong vùng nước đó. Môi
trường nước đã đóng vai trò bảo vệ rất tốt trong việc sinh sản của
các giống sinh vật thời đó. Nhưng ngay sau khi lên sống trên đất liền
trong giai đoạn đầu, các loài lươn đất đã gặp phải khó khăn rất
nhiều khi lươn đực phóng tinh lên mặt đất hay trong các vùng ao hồ.
Các con lươn cái sẽ có rất ít cơ hội hay thời gian thụ tinh vì tinh
dịch đã bị huỷ hoại hay mất đi mau chóng trên mặt đất. Hệ quả xảy
ra là trong một thời gian khá lâu, dân số các loài lươn đất bị giảm
xuống, do tỷ lệ hay xác xuất thụ tinh rất ít hay quá thấp.

 

May mắn hay tình cờ ngẩu nhiên lại xuất hiện trong thời gian kéo
dài hàng triệu năm nói trên, khi có một vài con lươn trong lúc chạy
thoát lũ lụt và tìm chổ trú ẩn tạm đã bị cùng đường, nên bị dồn
vào sống chung trong những hốc đá nhỏ hẹp. Do phải sống chui rúc
trong một không gian nhỏ hẹp và chung đụng đó, nên lươn đực đã phóng
tinh bừa bãi trên mình các con lươn cái. Nhờ vậy, vô tình đã giúp cho
công việc thụ tinh dễ dàng và thành công hơn những đồng loại khác.
Tiếp tục lập lại giống y hệt như vậy trong hàng triệu năm sau đó với
chu kỳ lũ lụt, chạy trốn vào hốc đá và thụ tinh, đã có thể giúp
giống lươn đất may mắn này sinh sản và phát triển thành loài bò
sát, duy trì nòi giống cho đến khi gặp được thêm một may mắn hiếm có
khác. Sự kiện vừa nói trên cũng là lần đầu tiên minh chứng cho thấy
ích lợi của việc sống chung trong các tổ chức xã hội.

       

7.2   Lưỡng cư –Lươn Đất- Hai Chân
Trước

 

Như đã giải thích trong các chương trước, đây là thời kỳ bắt đầu
cho hào thứ 4 của Dịch lý, biểu tượng của phần trên thân thể thuộc
về bộ phận tiêu hoá, hay còn ám chỉ chuyện đi tìm thức ăn hay săn
mồi để sinh tồn. Vấn đề tìm kiếm thức ăn trên đất liền luôn là một
thử thách khó khăn rất nhiều so với môi trường sống dưới nước, nên cơ
thể cuả các loài sinh vật quen sống dưới nước cũng cần phài thay
đổi và thích ứng với đời sống trên đất liền.

 

Trước đây các giống lươn biển chỉ biết di chuyển theo chiều tiến
tởi bằng các động tác dồn nén hay co giản thân mình. Loài lươn mới
lên trên đất liền nhờ bộ xương sống cứng hơn nhiều, nên có thể cử
động và di chuyển mạnh hơn, bằng các động tác trườn mình qua lại như
hình chữ S để tiến tới. Hiện tượng di động trên có được phần nào
cũng là do nhiệt năng từ mặt trời tích tụ trên mặt đất, làm cho thân
thể lươn đất bị đốt nóng nên phải cựa quậy cho giảm bớt tiếp xúc với mặt đất.

 

Cùng với lý do nói trên, lợi ích nhất trong việc ngóc cao đầu lên
của các loài bò sát trên mặt đất là để có được lợi thế quan sát,
nhìn xa hơn trong việc săn mồi hay phát hiện ra được sự nguy hiểm sớm
hơn.

 

Điểm chính quan trọng trong thời kỳ này là xuất hiện ra hai chân
trước. Các loài lươn đất khi trườn mình trên cát, do sự đụng chạm
mạnh và cọ xát thường xuyên làm cho lớp tế bào da ngay dưới thân
trước bị tổn thương và chai dày ra. Lâu dần lớp da dày ở hai bên hông
nói trên trở thành chai cứng và biến thành lớp sụn bên trong, rồi
làm thành hai cái vảy lớn ở hai bên. Qua nhiều thay đổi và tiến hoá
hàng triệu năm, hai cái vảy ngày càng dài ra và chịu thêm sức nặng
cuả thân hình nên trở thành cứng hơn, biến lớp sụn thành bộ xương
của chân trước. Cụ thể cho thấy tổ tiên chúng ta đã biết mang giày
dép khoản một ngàn năm mà lớp da bàn chân vẫn còn dày lên thấy rõ,
trong khi nếu so với cả hàng trăm triệu năm của các loài lươn khi
trườn mình trên đất cát.



 

                        





Điều đáng chú ý là trong quá trình thám hiểm và sống luôn trên
đất liền kéo dài mấy trăm triệu năm sau thời đại Cambrian, cũng có
một số các loài bò sát bỏ cuộc vì nhiều lý do, trở về sống lại
với nước hay đai dương. Số động vật hồi cư đó chịu tiến hoá và thay
đổi luôn để cuối cùng biến thành các loài động vật lưỡng cư, có
thể sống được trong cả hai môi trường đất liền và đại dương. Cụ thể
cho thấy ngay sau thời kỳ này, một số lươn đất với hai cái vảy lớn,
đã về lại đại dương sinh sống để trở thành thuỷ tổ cuả các giống
Hải Cẩu hay Hà Mã sau này.

 

Lý do giải thích trên cũng còn đúng với các giống lưỡng cư về
sau này dù đã phát triển cả bốn chân, bao gồm các loài hải cẩu,
Ruà và Cá Sấu, v.v.

 

 Trong thời kỳ thuộc nguyên đại IV này, mắt của các giống
lươn đất còn rất nhỏ và hẹp, chỉ phát hiện ra được ánh sáng mắt
trời hay những hình bóng mờ nhạt trắng đen. Trong khi đó, bộ phận
cảm ứng rung động âm thanh của da cũng bắt đầu thành hình. Do phải chịu
cảm nhận những rung động thường xuyên kéo dài của lớp da trên đầu,
nên các lớp thịt hay tế bào ngay dưới lớp da bị mất dần và thành
chỗ trống. Kế là thay đổi bằng nhiều lớp tế bào có đặc tính đàn
hồi và chịu đươc độ rung mạnh, trở thành màng da mỏng bén nhạy hơn,
gọi là màn nhĩ cho các động vật sau này. Cũng trong quá tiến hóa
và thay đổi, hai lớp màn nhĩ đang nằm ngoài gần giữa trán, bị xương
sọ cuả các loài khủng long sau này đã phát triển quá lớn xung quanh,
đùn đẩy xuống thấp và chìm sâu dần vào phía dưới ở hai bên đầu,
trở thành hai lỗ tai. Bộ phận thính giác cũng được phát triển và
hoàn thành trong thời đại cuả các giống khủng long sau này.  

 

 8.1   Tiền Khủng Long –Triassic-Jurassic (270-135 mya)

Rắn Mối – Tứ Chi





                         



Đây là thời kỳ bắt đầu xuất hiện các loài rắn mối to lớn, thuỷ
tổ của giống khủng long sau này, được các nhà khoa học tìm hiểu chi
tiết và phim trường Hollywoods diễn tả lại khá chính xác theo như câu
chuyện trong phim “Jurassic Parks”. Nhưng trước hết, trong giai đoạn đầu
cuả thời kỳ này kéo dài khoảng chừng vài chục triệu năm, hai chân
sau của các loài lươn đất phải bắt đầu xuất hiện. Động lực để phát
triển hai chân sau cũng giống tương tự như hai chân trước. Thoạt đầu, do
hai chân trước còn yếu nên khi di chuyển, thân hình còn lại phía sau
của lươn đất phải tiếp sức đẩy bằng cách trườn mình qua lại như lúc
trước. Hệ quả sau cùng là cho ra hai chân sau, giống hệt như quá trình
sinh ra hai chân trước.

 

Một thắc mắc nhỏ cho thấy là nếu quá trình sinh ra 2 rồi 4 chân
cuả các loài lươn đất giống như vậy, thì tại sao chúng ta không có
các loải thú có 6 hay nhiều chân hơn nửa? Câu trả lời có thể là đã
xảy ra đúng như vậy, đã có những loài thú có nhiều hơn 4 chân xuất
hiện sau đó vài chục triệu năm. Nhưng có thể vì lý do không hiệu quả
để di chuyển hay chạy mau khi săn mồi, hay để tránh bị săn mồi, nên cuối
cùng đã bị tiêu diệt hay tuyệt chủng, đúng như lý thuyết về sinh tồn
đã đưa ra trong thuyết Tiến Hoá. Bằng chứng là trong các câu chuyện
thần thoại cổ cuả cả Đông lẫn Tây đều có nói về các con thú hay
giống quái vật có rất nhiều tay chân còn sống sót lại sau hàng
triệu năm trong các hang động xa xôi hẻo lánh và biệt lập.

     

8.2 Não Bộ -Hệ Thần Kinh

 

Một vài chi tiết khác đáng chú ý là trong thời đại này, hệ
thần kinh và não bộ của loài rắn mối đã được phát triển khá hơn
rất nhiều do nhờ tiếp xúc thường xuyên với nguồn nước ngọt từ các
dòng sông hay ao hồ. Từ đó, các loài rắn mối đã có thêm cơ hội để
thăm dò và tiếp tục tiến vào sâu trong đất liền, bằng cách di chuyển
lần dọc theo các bờ sông hay ao hồ.

 

Trong quá trình gần cả hai trăm triệu năm sau, các loài rắn mối
đã thay hình đổi dạng, trở thành to lớn và phát triển mau lẹ về
thể xác, nhất là bộ phận ngón và các móng chân, giúp rất nhiều cho
việc di chuyển mau hơn trên đất liền, biến dạng thành các loài bò
sát to lớn hơn. Những con rắn mối to lớn có hình dạng gần giống con
kỳ nhông mà một chi nhánh chính, hậu duệ sau cùng cuả những con rắn
mối này chính là loài cá sấu hiện đang sống trong các vùng đầm lầy
ngập mặn khắp nơi trên thế giới.

 

9.1 
Khủng Long - Nguyên Đại
Cretaceous
(146-65
mya)
 
Bộ Sinh Dục 
 
Các loài rắn mối mới này cũng gặp phải một trở ngại khác khi
phát triển thêm được hai chân sau. Do vì hai chân sau có khuynh hướng
nâng bộ phận sinh dục của con cái lên cao, nên thói quen phóng tinh lên
mình con cái lại trở thành ít hiệu quả hơn. Do đó, để bảo tồn nòi
giống, một trong các loài rắn mối khôn ngoan phải tìm ra được phương
cách hữu hiệu hơn để làm cho con cái thụ tinh.  Theo thời gian khi hai chân sau của các
loài rắn mối càng phát triển mạnh và dài hơn, nên có thể uyển
chuyển thay đổi vị trí cao thấp khác nhau, con cái có thể hạ thấp
phía đầu và nâng đuôi cao lên, trong khi con đực thì làm ngược lại là
cong đuôi xuống thấp hơn để bắn tinh vào. Nhờ cố gắng muốn làm cho
thành công nhiệm vụ giao phối trên, đồng nghĩa với việc phải đưa được
bộ phận bắn tinh vào gần hơn, nên có sự co giãn của cơ vòng ngay trên
lỗ bắn tinh cuả các con đực.





                      



Tất cả các diễn tiến giao cấu thuần thục nói trên của loài rắn
mối đã phải qua quá trình thay đổi từ từ theo tính chọn lọc ngẩu
nhiên mất hàng triệu năm. Sau cùng, loài rắn mối nào có bộ phận sinh
dục được thành hình, có nhiều cơ vòng mạnh khỏe, nhô ra nhiều và dễ
cho thụ tinh hơn, sẽ là giống rắn mối tồn tại và lớn mạnh, biến
thành các giống khủng long sau đó.

 
9.2 
Trứng

 
Nhờ những yếu tố thuận lợi như đã nói trong tiểu mục trước, thêm
vào là thay đổi cách giao cấu và nguồn thức ăn dồi dào, các giống
rắn mối sắp bị tuyệt chủng lại được phục hồi và phát triển vượt
mức để trờ thành các loài khủng long. Tuy nhiên cũng còn có một trở
ngại khá lớn nữa đã chận đứng lại sự phát triển lớn mạnh cuả các
loài rắn mối mới này trong một thời gian khá lâu.

 

Cho tới thời điểm này, các giống rắn mối sống trên đất liền đẻ
trứng ra, còn phài nhờ vào môi trường nước để bảo vệ vì các vỏ
bọc trứng quá mềm và dễ bị vỡ khi bị rơi xuống và chạm vào đất
đá. Một khi dân số các loài rắn mối phát triển quá nhiều, thì
nguồn nước ao hồ trở thành khan hiếm, làm cho hầu hết dân số các loài
rắn mối sống trên đất liền gần như bị tuyệt chủng hết, trừ một số
ít may mắn được sống gần các vùng có nhiều đá vôi. Các nguổn nước
uống có nhiều chất vôi này đã giúp cho lớp vỏ bọc trứng dày và
cứng lên, đủ để bảo vệ quá trứng trong một thời gian dài trước khi
được nở ra con.

 

Nếu đúng theo các di tích khảo cổ được tìm thấy hiện nay với sự
công nhận của các nhà khoa học, khủng long đã là giống động vật có
thân xác lớn nhất trên trái đất. Có hai lý do giải thích như sau:



                        



Khủng long là hậu duệ trực tiếp cuả các giống rắn mối đầu tiên
sống trên đất liền, nên không có kẻ thù hay mối nguy hiểm trực tiếp
nào đe dọa đến sinh mạng, trừ các trở ngại về thiên nhiên. Thứ hai,
quan trọng hơn hết là trong thời đại này, nguồn thức ăn từ cây cỏ và
các loài rong rêu đều có quá nhiều, không phải giành giật hay đánh
nhau để có thức ăn. Nhờ có thức ăn dư thừa và không bị hạn chế, nên
thân xác loài khủng long đã phát triển và lớn mạnh gấp nhiều ngàn
lần. Theo như ước tính dựa trên những bộ xương hoá thạch tìm thấy,
trong vòng tiến hoá và phát triển hơn một trăm triệu năm, các loài
khủng long đã tăng trọng từ khoảng vài chục ký lô đến cả hàng chục
Tấn như các loài voi ma-mút còn còn sống sót ở Siberia.

 

Cũng nhờ các yếu tố thuận lợi nói trên nên dân số các giống
khùng long đã phát triển gần như vượt mức tối đa, đưa đến sự kiện
có thể nói là lạm phát hay bùng nổ về dân số cuả cà hàng trăm
loài khủng long khác nhau về trong kỷ nguyên này. Hệ quả đưa đến là
vào cuối thời đại kỳ này (Jurassic 270-135 Mya), đã có hiện tượng di cư lần đầu tiên của các giống khủng long ra khỏi Phi Châu, tản mác ra khắp nơi trên
thế giới.

 

Điều cần nhấn mạnh với bằng chứng rõ rệt, chính là sự trùng
hợp gần như chính xác giữa các chu kỳ băng giá (Ice Ages) và chu kỳ
di cư của các sinh động vật trên trái đất. Cuối thời kỳ băng giá,
thời tiết Phi châu hay các vùng miền gần xích đạo nóng dần lên, tạo
ra hạn hán hay thiếu nước lâu dài. Hiện tượng khô hạn có thể đã kéo
dài khá lâu làm giảm số lượng cây cối thực vật và cũng làm cho khan
hiếm luôn nguồn thực phẩm dồi dào có trước đây. Chiến tranh để dành
lấy thức ăn tất nhiên đã xảy ra cho các loài khủng long và hậu quả
là một số đã phải tháo chạy ra khỏi Phi Châu vì bản năng sinh tồn.

 

Dựa theo hình D ở đầu chương sách này, các đại lục vẫn còn dính
liền và nằm gần với nhau cách đây 160 triệu năm, nên theo dữ kiện của
hình E trên, minh chứng cho thấy tại sao trên hai châu Mỹ và châu Úc
chỉ có di tích của các loài khủng long hay rắn, đã di cư ra khỏi Phi
châu trước đó. Riêng các giống Khỉ hay Dã nhân nguyên thuỷ thì không
có mặt khi các hai châu lục đã bị tách ra quá xa bởi hai đại dương.

 

Ngược lại, vào thời kỳ bắt đầu băng giá, hầu hết trái đất bị
đóng băng nên cuối cùng chỉ còn các vùng đất gần đường xích đạo là
có thể tạm sinh sống được.  Do đó
đã có hiện tượng các giống sinh vật từ miền bắc chịu lạnh không
nỗi, phài di cư xuống trở lại phương Nam. Chu kỳ lên Bắc xuống Nam này
sẽ còn tiếp tục tái diễn hay lập lại rất nhiều lần, kéo dài mãi
cho đến hiện nay, thuộc giai đoạn cuối của thời kỳ băng giá tan ra
làm trái đất nóng dần lên. 

 

9.3 
Bộ Tiêu Hóa
 
Thời kỳ trước khi rời khỏi hẳn vùng sông nước, bộ phận tiêu hóa
của các loài giun biển chỉ có đơn giản là một ống dẫn thức ăn
thẳng từ miệng xuống tới hậu môn. Dọc theo trên thành của nữa ống
dẫn đầu tiên, là vô số các tế bào có chứa chất ác-xít để phân huỷ
thức ăn cho mau. Sau đó tiếp tục xuống phân nửa dưới là những tế bào
sợi li ti chuyên hấp thu lại các hợp chất bổ dưỡng để phân phối đi
khắp nơi nuôi cơ thể, cung cấp các nguyên tố cần thiết đã bị mất.

 

Một chi tiết khác là trước khi đổ bộ lên bờ, thức ăn cuả các
loài lươn đất đều có độ mềm cao nhờ có tác dụng của nước. Nhưng
trên đất liền vì thức ăn khô cứng hơn nhiều, nên bộ phận tiêu hóa đã
phải làm việc nhiều hơn nữa. Trước tiên là hệ nước giải thấm nước
lảm mềm thức ăn ngay tại miệng. Nên nhớ là trong thời đại này các
giống bò sát hay khủng long cũng còn dùng thực vật cây cỏ làm thức
ăn chính, chưa biết ăn thịt. Chỉ xảy ra trong kỷ Jurrasic sau khi vụ va chạm
mạnh với thiên thạch xảy ra, ảnh hưởng tới biến đổi khí hậu và làm
khan hiếm các nguổn thực phẩm, nên các loài khủng long vì quá đói,
phải tìm cách ăn thịt lẫn nhau để sống còn. Từ đó, để thích ứng
với nhu cầu ăn thịt, những thay đổi tiếp theo sau của hệ thống tiêu
hóa trong nguyên đại này kéo dài gần hơn 200 triệu năm đã hình thảnh
thêm một số các cơ quan khác như Bao tử, Gan, Mật, v.v, để giúp tiêu
hoá các loại da thịt hay mỡ.

 

Cụ thể thí dụ cho việc hình thành bao tử sơ khai của loài rắn
mối sống trên đất liền. Do thức ăn khô cứng khó tiêu, bị tích luỹ lâu
ngày ở phần giữa cuả ống dẫn, nên bị lên men căng cứng và trương
phình ra. Một số lớn rắn mối đã chết vì lý do trên, nhưng trong số
rất ít may mắn thì lâu ngày, phần ống dẫn bị trương phình và mất
dần tính đàn hồi, nên phần ruột đó bị dãn ra luôn và có hình dạng
gần giống như bao tử của đa số động vật hiện nay.

Thoạt đầu, chỗ phình ra do thức ăn mắc kẹt lại và bị phân huỹ,
đã là một tai nạn nguy hiểm làm cho đa số rắn mối chết do không ăn
uống được. Nhưng thời gian dài về sau thì cơ thể của một ít rắn mối
làm quen dần và phản ứng lại được bằng cách làm cho thức ăn phân
huỷ mau hơn để đẩy xuống tiếp, vào được phân nữa ruột còn lại ở
dưới và tống ra ngoài sau khi  hấp
thu một số nguyên tố hay thức ăn.

 

Cụ thể minh chứng cho hệ thống tiêu hoá nói trên là cách tiêu thụ
con mồi cuả các loài Trăn, hậu duệ còn sống sót lại duy nhất của
các con lươn đất.

 

9.4  Máu – Ăn Thịt

 

Như đã nói đến trong tiểu mục trước, đây là giai đoạn 3, nguyên
đại thứ Tư thuộc biểu tượng của bộ phận tiêu hoá hay bao tử và cái
bụng, nên các loài thú như Khủng long đã phát triển đến tột đỉnh về
thể xác.  Một trở ngại khác xuất
hiện khi các bộ phận cuả thân xác phát triển lớn dần ra, làm cho
thức ăn từ các mao dẫn li ti không chuyển kịp thức ăn đến những nơi
cách quá xa đường ruột.

 

Theo luật sinh tồn và để giải quyết trở ngại nói trên, cơ thể
của các loài bò sát đã phải hoạt động nhiều để tạo ra một áp
suất thật cao, đẩy các thức ăn đi mau hơn. Nhưng có một yếu tố khác
quan trọng không kém chính là độ chảy lỏng của dung dịch thức ăn.
Càng có độ lỏng cao thì mức thẩm thấu và di chuyển thức ăn càng
mau, và sau một thời gian dài thay đổi trở thành dòng chất lỏng mà
ngày nay gọi là Máu.

 

Trong thời đại này, máu cuả các loài bò sát chỉ có màu xanh
đậm hay xám đen, còn gọi là động vật có máu lạnh, chưa có màu
huyết đỏ như loài có máu nóng sau này của những loài động vật cao
cấp, kể cả con người. Nhiệm vụ chính của máu là mang chất dinh
dưỡng đi nuôi tất cà các bộ phận khác trong cơ thể, qua dạng sinh hoá
kể cả các hợp chất dưới dạng kích thích tố hay chất béo.

 

Dù vậy, có nhiều người vẫn còn thắc mắc là trái tim đã được
thành hình như thế nảo(?) Trong quá trình hơn mấy trăm triệu năm, bất
cứ bộ phận nào trong cơ thể cuả các loài động vật, kể cả con người
hiện nay, cũng đều là do nhu cầu cần thiết cho sự sinh tồn hay đời
sống ngay tại thời điểm nó xuất hiện. Lý thuyết minh chứng cũng cho
thấy không phải muốn là có ngay liền được. Đa số là phải xuyên qua
quá trình thay đổi từ từ và luôn được điều chỉnh cho đến khi hoàn
hảo, mất cả hàng triệu năm hay lâu hơn nữa.

 

Trong việc hình hành trái tim, thoạt đầu là nhu cầu cần đẩy nhanh
máu hay thức ăn hấp thu từ đường ruột, tới khắp nơi trong cơ thể cuả
các loài rắn mối ngày càng lớn mạnh. Tuy là nhờ có hai chân trước
và hai chân sau nâng cao hay hạ thấp xuống, dung dịch lỏng cuả máu đã
có thể di chuyển bằng trọng lực hấp dẫn của trái  đất. Do các loài rắn mối có chân phải
thường xuyên nâng cao hay hạ thấp đầu xuống để làm cho máu được lưu
thông và khỏi bị nghẹt, nên đã tạo ra nhịp kéo và đẩy cuả máu.

 

Cũng vì nhờ máu thường bị nghẹt lại gần sát cổ họng, trước khi
được đưa lên đầu, nên lâu dần các tế bào máu chết bên ngoài đã tạo
thành một lớp màng hữu cơ hay bắp thịt bao bọc xung quanh để bào vệ.
Trải qua thêm khoảng vài chục triệu năm thay đổi, bộ máy gồm những cơ
bắp thịt đàn hồi để bơm máu làm thành một bộ phận mới thô sơ có
tên là Trái Tim. Thêm một vài lần thay đổi và dưới ảnh hưởng môi
trường thiên nhiên trong khoảng vài chục triệu năm nữa, trái tim mới
có thể đạt tới cơ cấu đơn giản như của loài chim hôm nay. Điều đáng
ghi nhận là quả tim chỉ xuất hiện trong cơ thể của các loài động
vật có khả năng di chuyển mau lẹ với vận tốc nhanh. Cụ thể thí dụ
như các loài chim đều có trái tim nhưng thô sơ và không phức tạp bằng
các loài động vật có vú sinh con xuất hiện sau này trong nguyên đại
V.

 

10.1  
Hậu Khủng-Long - Kỷ Nguyên Tertiary (65-38mya)
 
Động Vật Sơ Cấp - Hệ Thần Kinh
 

                



                            



Hệ thống giác quan trong các kỷ nguyên đại trước 1, 2, và 3 chỉ
tập trung vào xúc giác, ví giác và khứu giác theo thứ tự. Phát
triển nhiều và mạnh nhất trong kỷ nguyên này là thính giác hay khà
năng nghe và nói (tiếng kêu hú). Các loài động vật chính trong kỷ
nguyên này là các loài khủng long hay các loài thú đang phát triển
và tiến gần tới xử dụng cả bốn chân, nhất là hai chân trước để giử
lấy con mồi, như giống chồn nguyên thuỷ sau đó. Nguyên nhân chính của
sự tăng trưởng về khả năng nghe cho các loài động

vật 4 chân trong thời đại này chính là nhờ sự cố gắng phát ra âm
thanh tối đa cuả các hệ cơ vòng trong cổ họng cuả các con thú, bị
quá đau đớn vì thương tích khi chiến đấu tranh dành thức ăn.  

 

Cho tới thời đại trước đây (60 mya), các giống khủng long cỏn sống
sót sau vụ va chạm thiên thạch chỉ có thể phát ra tiếng gầm gừ hay
rống lên để bày tỏ thái độ thích hay không. Trong thời đại sau đó,
các hậu duệ khủng long đều có thể phát triển nhiều âm từ khác nhau
ra ngoài, nhờ những thay đổi đáng kể cuả các cơ vòm họng chung quanh
yết hầu gần thanh quản. Do đó, mỗi tần số âm sắc xuất hiện trong
thời đại hậu khủng long này đểu mang theo một tín hiệu nào đó.

 

Gạch Nối Quan
Trọng
(IDA- 47 mya)

 

Chỉ mới phát hiện trong vài năm nay (2009), một bộ xương hoá thạch
của một loài động vật có thân hình gần giống với loài khủng long
và chồn, được đặt tên là IDA, có niên đại 

vào khoảng chừng 47 triệu năm.    

           



                                      





Đây là di tích hoá thạch duy nhất được tìm thấy trong khoảng niên
đại này (64 – 32 mya), ngay sau kỷ nguyên khủng long và trước thời
nguyên đại cuả động vật cao cấp, có vú và sinh con (Mammal). Điều
đáng nói là thân xác của con IDA chỉ nhỏ bằng con mèo, quá nhỏ nếu
so với khủng long có thân hình ít nhất là vài trăm ký lô vào thời
kỳ trước đó.

 

Một bằng chứng hiển nhiên về vụ va chạm mạnh của một thiên thạch
khá lớn vào trái đất cách đây khoảng 65 triệu năm. Đám mây bụi khổng
lồ lẫn đất đá bắn ra không gian làm bao phủ hơn nữa vòng trái đất,
tạo ra hiệu ứng lồng kính làm cho khí hậu nóng hơn bình thường, đã lkhô
cạn nhiều nguồn nước, huỷ diệt đa số các cây cối và thực vật  dùng làm thức ăn cho loài khủng long.
Từ sự khan hiếm thức ăn với số lượng khủng long quá nhiều, đã cho ra
một số các hậu quả sau:

 
Các loài khủng long phải chiến đấu tiêu diệt lẫn nhau để dành
lấy thức ăn. Đa số các giống khủng long yếu kém hơn đã bị tiêu diệt
hay đánh đuổi, bỏ chạy thoát ra khòi lục địa Phi Châu, phân tán ra
khắp các châu lục về phương Bắc. Đây là lần đầu tiên một loài động
vật sống trên đất liền đã đi ra tản mát khắp nơi trên trái đất. Bằng
chứng cho thấy là chỉ có các bộ xương hoá đá cuả nhiều giống khủng
long đã được tìm thấy ở châu Mỹ và châu Úc. Chính nhóm khủng long
yếu kém nhỏ con   (như loài IDA trong
hình 22) đã tiếp tục đi về hướng Bắc, thay hình đổi dạng từ từ
trong môi trường sống, để cuối cùng sẽ biến thành các loài động vật
cao cấp sau này.  
Đăng nhập để trả lời
0