Chương 9
Văn Minh Thánh Nhân
(2548 AD – 2549 AD)
Nền văn minh thánh nhân này chỉ kéo dài trong vòng 2 năm chắc sẽ
làm cho đa số chúng ta thắc mắc khó hiểu. Tuy nhiên, như đã giải
thích trong chương 1 về sự liên hệ theo tỷ lệ nghịch giữa năng lực
trí tuệ với thời gian vật lý. Cụ thể giống như năng lực lao động
chân tay tăng càng nhiều, thì thời gian làm xong công việc sẽ rút ngắn
lại. Tương tự, nếu so sánh năng lực trí tuệ con người trong thế kỷ
26, có thể tăng nhiều hơn cả trăm, ngàn lần năng lực trí tuệ của con
người hiện nay. Có thể dùng một thí dụ cụ thể so sánh để cho thấy
sự cách biệt lớn lao về trí tuệ như thế nào: Trí tuệ của con người
hiện nay, nếu so sánh với người sống trong nền văn minh Thánh của thế
kỷ 26, thì cũng cách biệt gần giống như
trí tuệ của những Dã nhân cách đây hơn triệu năm, so sánh với
con người hiện tại! Vì vậy, mới có thể được coi như là những thánh nhân
dưới cái nhìn ngưỡng mộ của trí tuệ con người hiện tại.
35.1 Siêu Thế Giới - 2548 AD
Bắt đầu từ nền văn minh thánh nhân này, toàn thế giới được coi
như là một tập thể xã hội duy nhất, không còn có những vấn
đề phân chia chủng tộc, văn hoá, kể cả các tranh dành quyền lợi kinh
tế, đất đai hay tài nguyên thiên nhiên gì nữa. Lý do duy nhất là đa số
con người hầu như là không còn có bất cứ nhu cầu nào về vật chất,
trừ một số ít năng lượng cần cho não bộ làm việc, và năng lượng đó
lại có sẳn sàng ở khắp mọi nơi, khá dư thừa.
Tất cả mọi chế độ cầm quyền hay các lực lượng an ninh
cảnh sát đều trở thành vô nghĩa và biến mất hết dần. Mọi xã hội
con người đều trở thành tự quản tự giác, mọi cá nhân đều có được
sự tự do bình đẳng và giải quyết những khác biệt với nhau một cách
nhanh chóng, nhờ có sự trợ giúp và tin tưởng vào những phán xét
thông minh của cộng đồng trí tuệ.
Trung tâm chính của nền văn minh thánh nhân này, cuối cùng
sẽ quy tụ về với không gian chung quanh đường xích đạo trong lục địa
Phi Châu. Đây chính là vùng đất thánh địa, cái nôi sinh ra nền văn minh
nhân loại, mà cũng là nơi cuối cùng để vĩnh biệt, đưa tiễn con người
đi tìm về nơi chốn thiên đàng trong cõi vĩnh hằng.
Không Chân Tay – Không Tình Dục – Không Ăn
Uống
Uống
Thời hạn cuối cùng cho những người còn
chần chờ chưa muốn quyết định dứt khoát, rời bỏ luôn trái đất để đi
tìm đến cõi vĩnh hằng, hay ở lại và tiếp tục đời sống ổn định
với nền văn minh thánh nhân trên trái đất(?) Dù tất cả tổ chức cộng
đồng trí tuệ hay thông minh nhân tạo đều cho ra một câu trả lời duy
nhất là nên đi tìm về chốn thiên đàng, nhưng vẫn có nhiều người thích
ở lại Trái Đất với đời sống quá quen thuộc.
Sự kiện phân chia ra có hai nhóm chọn lựa, đi luôn hay ở
lại, nếu xảy ra thì cũng không có gì mới, vì đã từng xảy ra rất
nhiều lần trong các nguyên đại trước đây. Đặc biệt giống tương tự là
đã có một số rất ít các loài lươn biển quyết định rời bỏ luôn đại
dương để lên sinh sống trên đất liền, ngược lại với đa số con người
trong nguyên đại này sẽ quyết định rời bỏ trái đất để du hành vào
không gian.
Trong một thời gian ngắn, những người quyết định du hành
vào không gian sẽ phải dùng đến những kỹ thuật tân tiến nhất có
sẳn, để loại bỏ dần các bộ phận trong cơ thể, từ phần cổ xuống
đến chân tay, chỉ còn lại phần não bộ và xương đầu. Từ thế kỷ 25
trước đây, con người đã không còn cần đến nhu cầu tính dục, không cần
ăn uống và hít thở khí trời nữa, nên việc loại bỏ dần các phần
thân xác dưới não bộ không có ảnh hưởng nhiều đến con người. Tất cả
các nhu cầu về dinh dưỡng hay năng lượng cần thiết cho não bộ phát
triển và làm việc bình thường, sẽ được thu gom từ sóng năng lượng
trong không gian cho trung tâm não hấp thu.
Đó cũng chính là trở ngại cuối cùng mà con người cần
phải vượt qua, trước khi có thể du hành vào không gian. Những chất
hữu cơ cấu tạo bằng nguyên tử nặng hơn O (Oxygen) như chất vôi (Calcium)
đều không thể tồn tại lâu dài mãi mãi trong không gian, sẽ bị phân
huỷ dần hay còn gọi là phóng xạ theo
thời gian, do thiếu lực hấp dẫn trọng trường đủ mạnh để giữ
cho cơ cấu nguyên tử được ổn định.
36.1 Siêu Thế Giới - 2549 AD
Không Cảm Xúc –
Không Cần Thân Xác
Cuốí cùng rồi các thiên tài của vùng đất thánh địa cũng
giải quyết được những khó khăn và trở ngại chính về kỹ thuật. Một
phát minh mới giúp tạo dựng ra một môi trường ảo bên ngoài, dùng để
sao chép và lưu giữ lại năng lượng toàn thể ký ức trong não bộ con
người. Phát minh này có thể sẽ giải phóng con người thoát ra khỏi
những liên hệ với cảm xúc và thân xác, nhưng đồng thời lại đặt ra
cho con người một sự lựa chọn khó khăn cuối cùng là có nên rời bỏ
luôn trái đất?
Sự Lựa Chọn Khó Khăn
Dù trí tuệ có đạt tới mức độ lớn mạnh hơn hiện tại cả ngàn
lần, có thể được coi như là những bậc thánh nhân, con người vẫn gặp
và đối diện với khó khăn khi có sự lựa chọn giữa hai quyết định đi
luôn hay ở lại trái đất:
Nếu ở lại trái đất, con người sẽ được tận hưởng một đời sống
hạnh phúc thần tiên kéo dài gần như bất tận, nhờ một phần thân xác
và não bộ với hệ thần kinh cảm xúc còn được giữ lại nguyên vẹn.
Tất cả ký ức và cảm xúc thuộc về thân xác sẽ được bảo trì tốt
và thay thế bằng bản sao chép bất cứ lúc nào cần đến.
Tuy nhiên, sẽ không có gì là
tuyệt đối an toàn nếu có những tai họa bất ngờ khủng khiếp
với xác xuất xảy ra khá cao. Trái đất có thể bị nổ tung toàn thể
hay từng phần vì va chạm bởi một thiên thạch lớn. Ngay cả một
trận siêu động đất hay siêu núi lửa bùng nổ, cũng có khả năng hủy
diệt mọi sinh vật, kể cả các phương tiện máy móc có sẵn để thu
hồi, tái tạo lại các hệ thần kinh và toàn bộ ký ức của con người.
Điều cụ thể nói trên cũng có nghĩa là con người không thể “Bất tử”
hay sống mãi mãi với thời gian vật lý, nếu muốn ở lại trái đất
với toàn thể hay một phần thân xác hữu cơ còn lại của con người.
Nếu du hành vào không gian chỉ với toàn bộ ký ức hay linh
hồn thì coi như là được “Bất Tử” với thời gian. Nhưng nếu xảy ra
trường hợp cứ đi mãi trong không gian vô tận mà không tới được nơi
chốn thiên đàng hay cõi vĩnh hằng (?). Thêm vào, cũng không thể loại
trừ luôn được những tai nạn bất ngờ trong không gian, như bị trọng
trường quá lớn của một hành tinh lôi cuốn vào trong quỹ đạo không
thoát ra được, cũng như bị lọt vào trong những lỗ đen (Black Holes),
v.v.
Cuối cùng, điều chắc chắn sẽ xảy ra
là không phải ai cũng muốn rời bỏ luôn trái đất để du hành vào không
gian vô tận. Mặt khác, nhờ có những đột phá về kỹ thuật sao chép
ký ức nói trên, nhiều người có thể tìm kiếm lại toàn bộ ký ức
của những người thân quen hay dòng họ tổ tiên đã từng sống trên trái
đất hơn mấy ngàn năm trước. Nếu những gì nói trên xảy ra theo diện
quy mô và rộng lớn khắp thế giới trong một thời gian ngắn, thì hiện
tượng trên có thể được coi như là “Ngày Phán Xét”, đã từng nói đến
trong Thánh Kinh của Thiên Chúa Giáo.
Thay Cho
Kết Luận
Chúng ta vừa đi lại con đường tiến hóa của nhân loại và các sinh
động vật, từ lúc khai sinh ra thái dương hệ cho đến ngày con người có
thể chính thức rời bỏ luôn trái đất. Tổng cộng thời gian tính ra là
hơn năm tỷ năm của quá khứ lịch sử đã đi qua, và độ chừng hơn năm
trăm năm còn lại trong tương lai.
Một lần nữa, dựa trên những minh chứng lịch sử đã được trình
bày trong các chương sách vừa qua, nếu luật tiến hoá đã được chứng
nghiệm thực tế là đúng bởi nhiều dữ kiện khoa học trong hơn năm tỷ
năm qua, thì không có lý do gì để cho thấy là nó sẽ không đúng trong
vòng hơn 500 năm còn lại.
Trên hết tất cả, cho dù kết quả của những dự đoán khoa học tương
lai nói trên có xảy ra đúng hay sai, nhiều hay ít như thế nào, cũng
không phải là điều quan trọng thật sự đáng được chú ý nhất. Điều
đáng nói hay quan tâm nhất ở đây, chính là chúng ta đã học được
những bài học quý giá nào từ kinh nghiệm lịch sử mấy tỷ năm của
các loài sinh động vật, kể cả cho con người trên trái đất. Rồi từ
đó, chúng ta có thể khách quan tìm hiểu và học hỏi thêm về con
đường có thể phải đi tới trong tương lai của nhân loại.
Chúng ta đã học được những bài học lịch sử nào?
Động Lực
Tiến Hóa
Thắc mắc đầu tiên của đa số khi đọc xong chương1 là: Nếu so
sánh định luật vật lý của sự rơi tự do và luật tiến hoá, thì động
lực chính nào đã tạo ra sự tiến hoá, so với lực hấp dẫn trọng
trường? Câu trả lời thẳng và chính xác nhất cho tất cả mọi sinh
động vật là: Cùng chung một lực hấp dẫn cơ bản, thu hút lẫn nhau
giữa hai nguyên tử Dương và Âm. Nhớ lại từ đầu, đời sống của các tế
bào, những cơ cấu hữu cơ bên ngoài đã phải “chộp” lấy bất cứ những
kết cấu hóa chất nào lại gần, để bổ xung cho các nguyên tố đã bị
lấy mất, hay thiếu. Nhưng nếu cùng câu hỏi đó và đặc biệt dùng riêng
cho con người, thì câu trả lời chính là lòng ham muốn, hay nói theo
ngôn ngữ triết học là dục vọng. Không có ham muốn hay dục vọng của
con người muốn thoả mản cho sự tò mò của kiến thức, hay muốn làm
giàu, thì chắc chắn đã không có nhiều những phát minh kỹ thuật làm
cho thăng tiến đời sống và phát triển xã hội.
Một điều nghịch lý khác lại xuất hiện ở đây. Chính những
cái ác, cái xấu đôi khi cũng đã có những đóng góp tích cực một
cách gián tiếp cho sự tiến hoá, nhiều cũng như là những cái thiện
và cái tốt đã từng làm. Cụ thể, nếu không có những tham vọng cuồng
của Hitler và những cuộc chiến tranh khốc liệt trong thế kỷ 20 vừa
qua, thì dám chắc nhân loại ngày nay vẫn chưa có được những tiện nghi
cao cấp đang dùng, như điện thoại di động hay máy tính xách tay, vv. Bởi vậy, có những ngôi đền trên
thế giới đã đặt luôn tượng của cả hai ông thần Thiện và thần Ác.
Văn Minh Di Cư
Tất cả các nền văn minh lớn trong
lịch sử đều đã được khai sinh ra bởi những nhóm sắc dân yếu kém, bị
rượt đuổi hay phải bỏ chạy, đi ra khỏi những vùng đất cư trú ổn
định đã sống trước đây. Cụ thể như nền văn minh Ai Cập với các sắc
dân Phi châu yếu kém đã bị đuổi chạy về hướng bắc dọc theo con sông
Nile cách đây hơn 10.000 năm. Các sắc
dân nô lệ bị đày lên Âu châu bởi các triều đại của đế chế La Mã
cách đây gần 2000 năm, hay các sắc dân Âu châu yếu kém phải di cư qua
châu Mỹ trong thế kỷ 17 của đế quốc Anh, v.v. Nhìn ngược thời gian về trước nữa, xa
hơn cả vài chục triệu năm, điều nhận xét trên cũng áp dụng đúng cho
những loài khủng long yếu kém hơn đã bị rượt đuổi ra khỏi Phi châu,
để tiến hoá thành các loải thú cao cấp, có vú và sinh con sau này.
Nhưng dữ kiện thuyết phục nhất để hậu thuẩn cho các nhận xét
nói trên, thì phải kể đến hai sắc dân có thành tích di cư nhiều nhất
trên thế giới, cũng như những thành công tích cực của họ. Đó là dân
Do Thái và Trung Hoa. Cả hai sắc dân nói trên đều đã có những nguyên
nhân lịch sử đặc biệt để phải di cư, đi ra tản mác khắp nơi trên thế
giới. Những thành công đặc biệt của họ được nhắc tới rất nhiều
trong các lãnh vực như kinh doanh hay ngay cả trong giới khoa học và kỹ
thuật, nhất là dân Do Thái, cũng đủ để tạo ấn tượng cho thấy nhận
xét trên có cơ sở hậu thuẩn tốt, để được chấp nhận là hợp lý.
Ngược lại và đồng thời cũng cho
thấy, các xã hội hay cộng đồng dân tộc nào trong quá khứ có mức độ
di dân thấp nhất hay gần như không có, thì hậu quả đã cho thấy là
các tiến bộ của cộng đồng xã hội đó gần như là bị chậm lại, nếu
không muốn nói tụt hậu so với láng giềng hay các nước khác. Cụ thể
thí dụ như các nước Á Phi cách đây vài thế kỷ, với chính sách cô
lập hay bế quan tỏa cảng, đã làm cho đất nước trở thành suy kém,
biến thành mồi ngon cho chủ nghĩa thực dân của các đế quốc Âu châu
sau này.
Thiên Nhiên
Công Bằng
Nếu ai đó cho rằng đất nước này, hay lãnh thổ kia được thiên nhiên
ưu đãi, có những tài nguyên dồi dào phong phú hay địa hình thuận lợi
tốt đẹp, thì đó có thể là kết quả từ một tầm nhìn rất ngắn hạn
của một vài cá nhân nào đó thôi. Còn đối với các nhà hoạch định
sách lược quốc gia với tầm nhìn dài hạn, thì có thể họ hiểu rằng
không có mãnh đất hay đất nước nào được thiên nhiên ưu ái hơn đất
nước nào khác cả. Theo thứ tự thời gian, lâu hay mau, gần hay xa, bất
cứ vùng đất nào cũng có lúc phát lên để trở thảnh là mãnh đất
phì nhiêu, phát triển và thịnh vượng.
Lý do duy nhất để giải thích lập luận nói trên là dựa hoàn toàn
vào kinh nghiệm lịch sử. Cụ thể đơn giản như các vùng đất sa mạc bên
phi châu hay vùng Trung Đông, cách đây hơn thế kỷ, là những vùng đất
chết, ngay cả cây cỏ cũng không sống nổi, vì không có đủ nước sinh hoạt. Nhưng kể từ khi biết và
khai thác được dầu hỏa dưới lòng đất, thì cả vùng sa mạc trở nên sầm
uất và nhộn nhịp chưa từng thấy. Thậm chí còn họ còn xây dựng lên
một chỗ nghĩ mát có khu vực trượt tuyết quanh năm suốt tháng, dù bên
ngoài là sa mạc nóng đến cháy da thịt.
Ngạn ngữ trong tiếng Việt có câu: “Sông có khúc, Người có
Lúc”, áp dụng rất đúng cho trường hợp này. Lịch sử nhân loại hơn
10000 năm qua đã minh chứng cho thấy, các nền văn minh luôn di động và
thay đổi qua từng vùng miền khác nhau rõ rệt theo thời gian. Mỗi lục
địa, từng quốc gia hay mỗi dân tộc, đều có một thời đóng vai trò là
cường quốc văn minh tiến bộ nhất trên thế giới. Do đó, nếu lịch sử
qua mấy ngàn năm đi đúng như đã nói ở trên, thì điều hiển nhiên cho
thấy là các quốc gia mới xuất hiện ở vùng Nam bán cầu và các nước
chậm tiến lạc hậu trong vùng nhiệt đới Á Phi, sẽ có ngày được tham
dự vào vai trò lãnh đạo thế giới, nếu còn tồn tại cho tới thời
điểm đó. Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh một lần nữa là vào thời điểm
đó, cả thế giới coi như là một thế giới đại đồng, các quyền lực
chính trị hay quyền lợi về vật chất không còn có giá trị vật chất
thực tế nữa, nên vị trí của các nước lãnh đạo thế giới trong hai
thế kỷ sau cùng chỉ có tính cách danh dự và tượng trưng mà thôi.
Luật Nhân Quả
Có thể thấy rõ nhất qua các chương sách, luật nhân quả đã xảy ra
và lập lại không biết bao nhiêu lần trong suốt chiều dài lịch sử mấy
trăm triệu năm, không chỉ dành riêng cho con người mà cỏn đúng luôn cho
các loài sinh đông vật khác. Ra đi hay bỏ chạy với thân phận nô lệ hay
những kẻ hèn kém, để rồi một thời gian mấy trăm, ngàn năm sau,
những hậu duệ của họ lại trở về trong tư thế của kẻ mạnh để chiếm
đoạt và thống trị lại hậu duệ của những kẻ thù cũ, và chu kỳ hay
cái vòng xoay lịch sử đó cứ tái diễn mãi không bao giờ ngưng nghĩ.
Cuối cùng thì những gì đã hay sẽ xảy ra cho con người đều
đúng như đã viết ra trong các kinh sách của các tôn giáo lớn. Hầu như
tất cả triết lý chính yếu về nhân sinh quan của các tôn giáo đều
xảy ra đúng với thực tế được chứng minh.
Phật giáo đưa ra triết lý về tính “Sắc, Không”, đều xảy ra
đúng hoàn toàn cho con người vào cuối nền văn minh này. Chính xác
nhất là giáo lý Phật khuyên con người cần phải diệt trừ hay bỏ luôn
“Tham Sân Si”, được hiểu như là dục vọng hay tất cả các phần tử vật
chất từ thân xác của con người, nếu muốn đi vào cõi niết bàn.
Thiên Chúa Giáo có nhấn mạnh đến hai hiện tượng sẽ xảy ra
trong tương lai là “Ngày Tận Thế” và mọi linh hồn của con người sẽ
sống lại và chịu sự phán xét cuối cùng, v.v. Dĩ nhiên, ngày tận
thế ở đây phải được hiểu như là: “Những ngày tận cùng của thế giới
con người trước khi rời bỏ trái đất”, hơn là ý nghĩ về một sự huỷ
diệt hoàn toàn của trái đất và con người. Ngoài ra, khi toàn bộ ký
ức của một người được phục hồi, lưu giữ hay sao chép lại được, thì
không có một tội lỗi nào đã làm trong quá khứ có thể được che dấu,
hay tránh sự phê phán của mọi người được nữa.
Hết
23 H 59’57” Ngày 31 Tháng 12 Năm 2014 ̣(- 2549)
Tham Khảo
1. I_Ching,
Wikipedia
Wikipedia
2. Nguyễn Ðăng Thục, Lịch Sử Triết Học
Ðông Phương, Xuân Thu,1990 In lại.
Ðông Phương, Xuân Thu,1990 In lại.
3. Sào Nam Phan Bội Châu, Chu Dịch,
Khai Trí, 1969.
Khai Trí, 1969.
4. Ngô Tất Tố, Kinh Dịch Toàn Bộ, Ðại
Nam, 1973.
Nam, 1973.
5. Nguyễn Mạnh Bảo, Dịch Kinh Tân
Khảo, 1958.
Khảo, 1958.
6. Nguyễn Duy Cần, Dịch Học Tinh Hoa,
1969
1969
7. Đoàn Văn Thông, Kinh Dịch Ứng Dụng, 1997
8. Introduction to
the book “Understanding the I Ching”: http://www.mcelhearn.com/yijing.html
the book “Understanding the I Ching”: http://www.mcelhearn.com/yijing.html
....as a certain nuclear physicist
working at the CERN in Switzerland said, "a charming intellectual
mistress, that we are ashamed to go out in public with."
working at the CERN in Switzerland said, "a charming intellectual
mistress, that we are ashamed to go out in public with."
9. John Blofeld, I Ching (The Book of Change),
Dutton & CO., Inc. 1968.
Dutton & CO., Inc. 1968.
10. Sternheim and Kane, General Physics, Wiley,
1986.
1986.
11. Ralph H.
Petrucci, General Chemistry, Macm, 1986.
12. Use of the I Ching in the Analytic Setting, D L.
Merritt, Ph.D.
http://www.dennismerrittjungiananalyst.com/ China_paper.htm
“China has given the West has been given a precious gift in
the form of the I Ching. The world view and wisdom of the I Ching mirrors
essential elements of Jungian theory and practice. A fruitful exchange
between Jungians and Chinese scholars could serve as a synergistic
cross-pollination between two cultures, using the I Ching as the bridge
for a mutual consideration of some of humankind’s most profound questions”
13. I Ching Hexagrams, Sally Painter
http://feng-shui.lovetoknow.com/yin-yang/i-ching-hexagrams
14. I ching |
theAbysmal
http://theabysmal.wordpress.com/tag/i-ching-2/
15. Boning up on
Neanderthal: DNA to offer new clues- The Journals Nature and Sci ence,
November, 2006
16. Fossil may be link
from sea to land- The Journal Nature- April, 2006
17. The Search for Our
Earliest Ancestors in Kenya’s- Leakey G. M., April, 12, 1997
18. Human brain still may
be evolving, Bruce Latin. Nature-Journal of Science, Sep tember, 2005
19. Timeline of human
evolution
http://en.wikipedia.org/wiki/Timeline_of_human_evolution
20. Ethiopia is top choice for cradle of Homo sapiens, Michael Hopkins, Nature- Journal of Science,
2005.
21. Human Evolution Timeline Interactive
Smithsonian-Museum of Natural History
http://humanorigins.si.edu/evidence/human-evolution-timeline-interactive
22. Human Evolution
http://en.wikipedia.org/wiki/Human_evolution
23.
Is the human
brain still evolving? Molly Edmonds
http://health.howstuffworks.com/about-author.htm#edmonds
24. Generalized Theory of Global Climate Change, 2002, Barry Saltzman
25. Up to half of Earth's water is older than Sun, AFP
http://news.yahoo.com/half-earths-water-older-sun-215812677.html
26. Stephen Hawking Says 'There Is No God,'- Huffington Post
http://www.huffingtonpost.com/2014/09/25/stephen-hawking-atheist_n_5882860.html?ncid=txtlnkusaolp00000592
." In 2007, he told the BBC that he was "not
religious in the normal sense," adding, "I believe the universe is
governed by the laws of science. The laws may have been decreed by God, but God does not intervene to break
the laws."
27. Neanderthal Museum
28. New-York Museum of
Natural History
The Virtual Fossil Museum-
www.fossilmuseum.net
29. The Virtual Fossil Museum-
www.fossilmuseum.net
30. The ZoomSchool.com
31. The World Almanac and Book of Facts. 1996
32. Brain Change / David Perimutter, MD. PBS, 2014
33. The Nile –
Documentary Films – NATGW, 2014
34. The Mississippi River– Documentary Films – NATGW, 2014
35. Charles
Darwin Biography
http://en.wikipedia.org/wiki/Charles_Darwin
36. List of
Rivers in length
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_rivers_by_length

Tác Giả : Nguyễn Cường
Sinh tại: Ninh Hòa, Khánh Hoà
Cựu Học Sinh: Trường Nam
Tiểu Học, Bá Ninh, Võ Tánh - NhaTrang
Cựu Sinh Viên: Đại Học
Khoa Học, Kỹ Thuật Phú Thọ – SàiGòn
University of
Michigan, Ann Arbor
California State
University, Sacramento
Nghề Nghiệp: Kỹ Sư Công
Chánh - Nghiên Cứu Khoa Học - California
Đã đóng góp nhiều khảo
luận khoa học và bài viết tham luận trên các Tạp Chí, Đặc San, Tuần
Báo Việt Ngữ, và các Trang Mạng tại Hải Ngoại cũng như Trong Nước.