📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

sử kí Tư Mã Thiên

6 trả lời, 4.146 lượt xem — Trang 1 / 1
sử kí Tư Mã Thiên
tác giả: Tư Mã Thiên.


Lời giới thiệu_ Phan Ngọc

Đối với văn hóa thế giới, quyển Sử ký của Tư Mã Thiên chiếm một địa vị đặc biệt. Nó là công trình sử học lớn nhất của Trung Quốc và là một trong những quyển sử có tiếng nhất của thế giới. Nhưng một điều còn làm chúng ta ngạc nhiên hơn là công trình khoa học lớn lao ấy đồng thời lại là một trong những tác phẩm văn học ưu tú của nhân loại. Người TrungQuốc xem nó là tác phẩm lớn nhất về văn xuôi trong nền văn học cổ Trung Quốc, là tác phẩm cổ điển ngang hàng với thơ của Đỗ Phủ.
Sử ký là cả một thế giới. Nó làm thỏa mãn tất cả mọi người. Người nghiên cứu tìm thấy ở đấy một kho tài liệu vô giá, chính xác, với một giá trị tổng hợp rất cao. Nhà nghiên cứu tư tưởng tìm thấy qua Sử ký "một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại". Người bình thường tìm thấy vô số những hình tượng điển hình, những câu chuyện hấp dẫn, những con người đầy sức sống mãnh liệt. Họ thấy quá khứ sống lại. Và không phải chỉ có thế, người nghiên cứu văn học còn tìm thấy ở đấy một tác phẩm văn học mãi mãi tươi trẻ như sự sống, họ thấy ở đấy một tâm hồn, một tâm sự đau xót đầy sức mạnh của thơ trữ tình, "một tập Ly tao không vần" như lời đánh giá của Lỗ Tấn.

I-. Con Người

Tư Mã Thiên, tên tự là Tử Trường, sinh năm 145 trước công nguyên, ở Long Môn nay là huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây. Tổ tiên của ông từ đời Chu đã làm thái sử. Đến đời cha của ông là Tư Mã Đàm làm thái sử lệnh của nhà Hán. Đàm là một người học rất rộng, rất thích học thuyết Lão Trang. Chức sử quan ngoài việc chép sử còn coi thiên văn, làm lịch, bói toán. "Nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch thì cũng gần với bọn thầy bói, thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn nuôi như bọn con hát, còn thế tục vẫn coi thường". Tuy vậy, Tư Mã Đàm vẫn thấy cái nghề của mình là cao quý vì ông biết nó có tác dụng to lớn đối với sự thịnh suy, hưng vong của một nước. Trong các sử quan thời trước, cũng có những người dám hy sinh đời mình để viết sự thật, dù sự thật ấy làm vua chúa tức giận. Chẳng hạn khi Thôi Trữ giết vua Tề thì quan thái sử nước Tề viết: "Thôi Trữ giết vua của mình là Trang Công". Quan thái sử bị giết, người em lên thay vẫn viết như vậy nên bị giết luôn. Ngay lúc đó, người em thứ ba xin lên thay không thêm bớt một chữ. Thôi Trữ sợ không dám giết. Không Tử làm kinh Xuân Thu cũng là chép lại nhưng sự thực lịch sử cốt để "chê thiên tử, ức chế chư hầu, phạt tội các đại phu, nêu rõ vương đạo".
Tư Mã Thiên sống thời thơ ấu ở Long Môn, cày ruộng, chăn cừu, làm bạn với những người nông dân bình thường và học các sách sử cổ. Lên mười tuổi, ông đã học Tả truyện, Quốc ngữ, Thế bản và thuộc lòng hầu hết những bài văn nổi tiếng của thời trước.
Tư Mã Đàm hết sức chú ý đến việc giáo dục con. Năm Tư Mã Thiên hai mươi tuổi, ông bảo con lên đường đi du lịch để xem tận mắt những nơi sau này Tư Mã Thiên sẽ phải viết sư. Tư Mã Thiên trước tiên đi về Nam đến Trường Giang, vượt sông Hoài, song Tứ, thăm mộ mẹ Hàn Tín, đoạn lên núi Cối Kê xem nơi vua Hạ Vũ triệu tập chư hầu, vào hang Vũ Động tìm di tích vua Vũ. Ở Cối Kê ông đã nghe những chuyện kể về vua Việt Câu Tiễn. Ông lên Cô Tô tìm di tích Ngũ Tử Tư, đi thuyền trên Thái Hồ sưu tầm truyền thuyết về Tây Thi, Phạm Lãi. Sau đó ông đi ngược lên Trường Sa, đến bến Mịch La khóc Khuất Nguyên, đến sông Tương trèo lên núi Cửu Nghi nhìn dấu vết mộ vua Thuấn và khảo sát những tục cũ từ thời Hoàng Đế. Ông lên miền Bắc vượt sông Vấn, sông Tứ đến nước Tề, nước Lỗ, bồi hồi nhìn lăng miếu của Khổng Tử, say sưa nghe nhân dân kể chuyện Trần Thiệp, đến đất Tiết thăm hỏi di tích của Mạnh Thường Quân, lên Bành Thành quê hương Lưu Bang để tìm hiểu rõ thời niên thiếu của những con người đã dựng nên nhà Hán. Ông sang nước Sở thăm đất phong của Xuân Thân Quân, đến nước Ngụy hỏi chuyện Tín Lăng Quân rồi trở về TRàng An. Sau chuýến đi kéo dài ba năm ông còn đi những chuyến khác cũng để tìm tài liệu. Trong thời xưa việc đi lại rất khó khăn, trên dường giặc cướp rất nhiều, những nhà du thuyết cố bôn ba từ nước này sang nước khá ccũng chỉ ở trong một địa bàn rất hẹp chớ chưa có ai vì mục đíhc khoa học lại đi xa như vậy. Có thể nói trừ miền Quảng Đông, Quảng Tây, còn từ Vân Nam, Tứ Xuyên cho đến Vạn lý trường thành ở đâu cũng có vết chân của ông. Ông là một trong những nhà du lịch lớn nhất của thời cổ.
Những cuộc du lịch ấy đã cung cấp cho ông vô số tài liệu, truyền thuyết, giúp ông thấy được thái độ của nhân dân đối với những nhan vật, những biến cố lịch sử và cho ôgn rất nhiều chi tiết điển hình về đời sống từng người trong lúc còn hàn vi.
Chính những cuộc "đi chơi" như vậy đã làm cho Tư Mã Thiên thấy cái bao la hùng vĩ của dất nước, có được một ý thức sâu sắc về sự vĩ đại của tổ quốc về tất cả mọi mặt để thành sử gia vĩ đại của cả một dân tộc. Mã Tồn, một văn sĩ đời sau nói: "Muốn học cái văn của Tư Mã Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường". Câu nói đó không phải là quá đáng.
Sau lúc đi du lịch, ông làm lang trung. Lang trung là chức quan nhỏ có trách nhiệm bảo vệ nhà vua khi đi ra ngoài. Trong thời gian ấy ông biết Lý Lăng cũng làm lang trung như ông và thường gặp Lý Quảng.
Năm 110 trước công Nguyên, Vũ đế chuẩn bị làm lễ phong thiện ở Thái Sơn. Tư Mã Đàm trên đường đi theo nhà vua, mắc bệnh nặng, cầm tay con khóc mà dặn:
- Tổ ta đời đời làm sử quan. Sau khi ta chết đi, thế nào con cũng nối nghiệp ta làm thái sử. Khi làm thái sử chớ quên những điều ta muốn bàn, muốn viết... Hiện nay bốn biển một nhà, vua sáng tôi hiền, ta làm thái sử mà không chép được rất lấy làm xấu hổ. Con hãy nhớ lấy!
Ông khóc mà vâng lời.
Ba năm mãn tang, ông thay cha làm thái sử lệnh (năm 108 trước công nguyên) chuẩn bị viết bộ Sử ký, thực hiện cái hoài bão lớn nhất của người cha, đồng thời là điều mong ước duy nhất của mình. Từ năm 106 trước công nguyên ông không giao tiếp với khách khứa, bỏ cả việc nhà ngày đêm miệt mài biên chép. Như thế được bả ynăm thì xảy ra cái vạ Lý Lăng.
Năm 99 trước công nguyên, Vũ Đế sai Lý Quảng cầm ba vạn quân đánh Hung Nô. Bấy giờ Lý Lăng, cháu của danh tướng Lý Quảng, cầm năm vạn quân vào biên giới Hung Nô. Bị tám vạn quân Hung Nô bao vây, Lăng chỉ huy cuộc chiến đấu suốt mười ngày liền, giết hơn vạn quân địch. Nhưng cuối cùng vì cách xa biên giới, bị chặn mất đường về, quân sĩ chết hầu hết, mệt mỏi không còn sức chiến đấu, Lăng phải đầu hàng. Vũ Đế nổi giận muốn giết cả nhà Lăng, quần thần đều hùa theo ý nhà vua. Thiên biết Lăng từ hồi hai người còn làm lang trung, tuy không đi lại chơi bời, nhưng mến phục Lăng là người can đảm có phong thái của mộc người quốc sĩ nên tâu:
- Lý Lăng mang năm nghìn quân,t hâm nhập vào nước địch đánh nhau với quân địch mạnh luôn mười ngày liền, giết và làm bị thương vô số. Vua tôi Thuyền Vu sợ hãi đem tất cả kỵ binh toàn quốc bao vây. Lăn gmột mình hăng hái chiến đấu ở ngoài ngàn dặm, tên hết, đuờng về bị cắt, cứu binh không đến, người chết và bị thương chồng như núi, nhưng nghe Lý Lăng hô hào, binh lính đều phấn chấn vuốt máu, chảy nước mắt giơ nắm tay không xông vào mũi nhọn cùng Hung Nô quyết chiến. Thần cho rằng Lý Lăng có thể sánh với những danh tướng ngày xưa. Nay tuy thất bại nhưng xem ông ta còn muốn có cơ hội báo đáp nước nhà.
ÔNg hy vọng với lời nói của mình có thể giảm nhẹ tội Lý Lăng không ngờ Vũ Đế càng giận, cho ông cố ý đề cao Lý Lăng để chê Lý Quảng Lợi nhút nhát không lập nên công lao gì mà Quảng Lợi lại là anh của Lý phu nhân rất được nhà vua yêu quý. Vũ Đế sai bắt giam Tư Mã Thiên giao cho Đỗ Chu xét xử.
Nhân vật Đỗ Chu đã được Thiên nói đến trong Khốc lại truyện. Có người trách y: "Ông thay nhà vua coi pháp luật, tại sao không căn cứ vào pháp luật mà xét, trái lại chỉ lo chiều theo ý nhà vua?". Đỗ Chu đáp: "Luật lệ ở đâu mà ra? Chẳng phải do nhà vua mà ra đó sao?". Gặp phải bọn quan lại như vậy, cố nhiên ông không có cách nào khỏi tội. Bấy giờ có phép lấy tiền chuộc tội. Chỉ cần năm mươi vạn đồng tiền là chuộc được tội chết. Trong bức thư ông viết sau này cho Nhâm An, một người bạn cũ sắp bị chém, một người cũng cùng cảnh ngộ. Ông đã kể lại nỗi cay đắng của mình. Nhà ông nghèo, ông mải mê theo đủôi sự nghiệp của mình quên cả gia sản, nên không sao chuộc được tội. Bạn bè, thân thích không ai nói hộ một lời, không ai giúp cho một đồng. Kết quả con người ngang tàng, hai mươi ba tuổi đầu đã đi khắp TRung Quốc, học giả lớn nhất của thời đại, con người ôm cái hoài bão làm Chu Công, Khổng Tử, cuối cùng bị khép vào tội "coi thường nhà vua" và bị thiến!
Đã mấy lần uất ức quá, ông nghĩ đến việc tự vẫn. Nhưng ông thấy rằng nếu chết đi thì chẳng ai khen mình là tử tiết mà thế tục sẽ bảo đó là vì xấu hổ mà tự sát. Vả chăng, sự nghiệp chưa tròn, Sử ký còn dở dang, lời dặn của cha còn đó. Ông gạt nước mắt, nói: "Người ta ai cũng có một lần chết, có cái chết nặng như Thái Sơn, có cái chết nhẹ như lông hồng" và cố gắng gượng sống.
Cái ấn tượng sống nhục nhã, cô độc theo ông cho đến khi chết. mỗi khi nghĩ đến cái nhục bị hình phạt, mồ hôi vẫn cứ ướt đầm lưng áo! Nhưng ông không vì thế mà chán nản, trái lại ông càng tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Ôgn thấy rõ hình phạt đó là một thử thách đối với những "người trác việt phi thường". Ông càng thấy cần phải viết "cho hả điều căm giận". Và chính cái hình phạt nhục nhã ấy đã làm cho ông hiểu rõ cái mặt trái của xã hội phong kiến và dũng cảm đứng về phía nhân dân. Ông đã trở thành sử gia vĩ đại của một nhân dân vĩ đại.
Quyển Sử ký trước kia là ý nghĩa của đời ông, bây giờ còn là nơi ông giãi bày nỗi lòng uất ức. CÀng cảm thấy nhục nhã, ông càng thấy thiết tha với công việc, đem tất cả tâm huyết gửi vào cái tác phẩm vĩ đại, hy vọng rằng dù mình tàn phế, bị ô nhục, nhưng quyển sách kia sẽ thay mình nói với cuộc đời.
Ở ngục ra, ông được làm trung thư lệnh. Đó là một chức quan to, ở gần vua, được ra vào cung cấm, xem tất cả các tài liệu mật. Tuy ở chức quan cao như vậy nhưng ông chỉ cảm thấy xấu hổ vì đó là chức quan chỉ dành cho những hoạn quan.
HIện nay người ta vẫn chưa biết ông mất vào năm nào. Người ta chỉ biết ông viết bức thư trả lời cho Nhâm An năm 53 tuổi (năm 93 trước công nguyên) và sau đó không có những tài liệu gì về ông. Theo Vương Quốc Duy trong Thái sử công hành niên khảo có lẽ ông mất năm 60 tuổi (năm 86 trước công nguyên), cùng một năm với Vũ Đế.
Quyển Sử ký, như tác giả nói, không phải viết ra để mưu danh tiếng trước mắt. Sau khi ông chết cũng không mấy ai biết đến nó. Quyển này được cất kỹ mãi đến thời cháu ngoại của ông là Dương Vận, thời Tuyên Đế, mới được công bố. Ngoài Sử ký, ông còn làm một công việc khác cũng rất quan trọng. Năm 104 trước công nguyên, ông cùng Công Tôn Khanh, Hồ Toại sửa lại lịch cũ, chế định Hán lịch, Âm lịch còn dùng đến ngày nay, trong đó ông đóng vai trò chủ chốt.

II-. Tác Phẩm

Sử ký là một tác phẩm đồ sộ, tất cả 52 vạn chữ, 130 thiên, gồm năm phần: Bản kỷ, biểu, thư, thế gia, liệt truyện.
1/ Bản kỷ chép sự tích của các đế vương, gồm có:
1. Ngũ đế (Hoàng Đế, Chuyên Húc, Cố, Nghiêu, Thuấn).
2. Hạ, Thương, Chu mỗi thời đại một bản kỷ.
3. Tần hai bản kỷ, một bản kỷ từ khi có nước Tần đến Tần Thủy Hoàng, một bản kỷ về Tần Thủy Hoàng.
4. Hạng Vũ.
5. Các bản kỷ về nhà Hán: Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ.
Tất cả có 12 bản kỷ nhưng hiện nay thiếu mất bản kỷ Hiếu Cảnh và Hiếu Vũ. Vương Túc đời Ngụy nói: "Vũ Đế nghe nói ông ta viết Sử ký bèn lấy bản kỷ của Hiếu Cảnh và củ amình xem, giận lắm vứt đi cho nên phần này chỉ có mục đề thôi không còn gì". Về sau Chử Toại Lương lấy những phần này ở quyển Hán thư của Ban Cố để điền vào cho đủ. Điều đó không phải không có lý vì TƯ Mã Thiên có thái độ rất nghiêm khắc đối với các vua chúa, cũng không kiêng nể gì ông vua đang sống mà ông đã công kích mãnh liệt trong phần Phong thiện thư. Chính vì thế Vương Doãn đời Hậu Hán gọi Sử ký là một quyển "báng thư" (một quyển sách phỉ báng). Mục đích của bản kỷ là chép lại sự việc của những người, những nước có tác dụng chi phối cả thiên hạ. Ngay ở đây, trong cách sắp đặt của ông cũng có những điều đời sau không dám nghĩ đến. Ông chép riêng lịch sử nước Tần, trước Tần Thủy Hoàng thành một bản kỷ vì trong thời Chiến quốc nước Tần là nước chi phối vận mệnh của tất cả các nước. Ông làm bản kỷ Lữ Hậu mặc dầu Lữ Hậu chỉ là thái hậu chứ không trị vì trên danh nghĩa, Huệ Đế vẫn là vua. Đó là vì, tuy Huệ Đế làm vua nhưng tất cả quyền hành đều nằm trong tay Lữ Hậu. ĐẶt một người đàn bà lên địa vị "kỷ cương một nước" là điều không một sử gia nào đời sau dám làm. Táo bạo hơn, ông dành cho Hạng Vũ những trang đẹp nhất mặc dù Hạng Vũ chưa hề làm đế, là kẻ thù của nhà Hán. Đó cũng là vì ông tôn trọng sự thực khách quan. Hạng Vũ tuy về danh nghĩa không phải người làm chủ các chư hầu đánh lại nhà Tần (đó là địa vị của Nghĩa Đế) nhưng trong thực tế người có công lớn nhất trong việc tiêu diệt nhà Tần, người phong đất cho chư hầu cai trị thiên hạ trong năm năm chính là Hạng Vũ. Các bản kỷ cung cấp cho người đọc cái nhìn khái quát về từng thời đại để sau đó đi sâu vào từng sự kiện và từng nhân vật.
2/ Biểu: để có cái nhìn đối chiếu các sự kiện hoặc căn cứ vào niên đại, hoặc căn cứ vào sự tương quan đồng thời giữa các nước, Tư Mã Thiên lập ra mười biểu gồm có:
1. Thế biểu thời Tam đại.
2. Niên biểu mười hai nước chư hầu.
3. Niên biểu sáu nước thời Chiến quốc.
4. Nguyệt biểu những việc xảy ra thời Hán Sở.
5. Niên biểu các nước chư hầu từ thời Hán.
6. Niên biểu các công thần của Hán Cao Tổ.
7. Niên biểu các nước chư hầu từ thời Huệ Đế và Cảnh Đế.
8. Niên biểu các nước chư hầu từ niên hiệu Kiến Nguyên.
9. Niên biểu các vị vương thời Vũ Đế.
10. Niên biểu các danh thần từ khi nhà Hán lên.
Những bản biểu này là những công trình khoa học rất quý ghi chép năm tháng, biến cố giúp cho các nhà sử học hiểu được vị trí của từng sự kiện và sự tương quan của nó về thời gian cũng như về không gian với các sự kiện khác, đặc biệt ở trong một nước mênh mông lại chia cắt phân tán như Trung Quốc cổ.
3/ Thư: lịch sử một nước chủ yếu là lịch sử của những thiết chế của nó. Tư Mã Thiên nhận thấy điều đó nên viết tám "thư" dành cho tám mặt. Điều này cũng biểu hiện rằng ông có một kiến thức bách khoa. Tám thư ấy là:
1. Lễ thư
2. Nhạc thư
3. Luật thư
4. Lịch thư
5. Thiên quan thư
6. Phong thiện thư
7. Hà cừ thư
8. Bình chuẩn thư.
Phần này rất quý về mặt nghiên cứu. Tác giả nêu rõ sự biến đổi, những cống hiến về lễ, nhạc, luật lệ, việc làm lịch, thiên văn v.v... qua các thời đại. Điều này làm chúng ta hết sức ngạc nhiên là ông có những hiểu biết chính xác về mọi mặt và ở đâu ông cũng có những nhận xét tổng quát rất thấu đáo. Thiên "Phong thiện thư" nói về những chuyện mê tín, cúng tế của vua chúa với một giọng châm biếm chua chát. Thiên "Hà cử thư" nói về các con sông đào của Trung Quốc. Thiên "Bình chuẩn thư" nói về kinh tế. Những thiên này chính xác đến nỗi người đời sau thường dựa vào đó để đính chính những sai sót trong các sách cổ nói về những thể chế xã hội. Chúng làm ta thấy tác giả có một cái nhìn duy vật vào lịch sử và thấy tầm quan trọng của những sự kiện kinh tế, khoa học, văn học đối với lịch sử một nước. Rất tiếc vì phạm vi tuyển tập hạn chế, chỉ có thể giới thiệu được thiên "Bình chuẩn thư" và do đó, không thể nào nêu lên được một cái nhìn toàn diện của một bộ óc vĩ đại.
4/ Thế gia: Phần thế gia bao gồm 30 thiên, chủ yếu nói đến lịch sử các chư hầu, chẳng hạn các nước Tề, Lỗ, Triệu, Sở, v.v... Những người có địa vị lớn trong quý tộc như các thái hậu, những người được phong một nước, như Chu Công, Thiệu Công và những người có công lớn như Trương LƯơng, Trần Bình, v.v... Đáng chú ý nhất là tác giả xếp vào thế gia hai người thường dân không hề có một tấc đất phong. Đó là Khổng Tử, một người có địa vị đặc biệt trong lịch sử tư tưởng của TRung Quốc, và Trần Thiệp, anh chàng cố nông đã cầm đầu cuộc nông dân khởi nghĩa đầu tiên của lịch sử dân tộc Hán. CÁch nhìn như vậy chứng tỏ một tầm con mắt khác thường.
5/ Liệt truyện: Danh từ này do chính tác giả đặt ra. Phần này gồm 70 thiên khác nhau bao gồm những nhân vật khác nhau và những sự việc rất khác nhau. ĐÁng để ý là phần liệt truyện dành cho những nước ở ngoài địa bàn Trung Quốc mà ông là người đầu tiên đưa vào lịch sử với tính cách những bản khái quát đứng đắn và khoa học (Nam Việt, Đông Việt, Triều Tiên, Tây Di, Đại Uyển, Hung Nô). Cố nhiên một phần liệt truyện sẽ được dành cho những người tai mắt trong xã hội cũ như những danh tướng (Mông Điềm, Lý Quảng, Vệ Thanh), những người làm quan to (Trương Thích Chi, Công Tôn Hoằng v.v...) Điều đáng chú ý nhất ở đây là ông đã nhìn tháy vai trò to lớn của những con người bình thường, thường không có chức tước gì những có ảnh hưởng vô cùng sâu rộng với cả dân tộc. Đó là những du hiệp, những thích khách, trọng nghĩa khinh tài mà ông đã ghi lại trong những trang sôi nổi (Thích khách liệt truyện, Du hiệp liệt truyện). Đó là những nhà tư tưởng mà tác phẩm của ông đã ghi lại cuộc đời, hàng trạng và đánh giá học thuyết (Lão Tử, Trang Tử, Tuân Khanh v.v...) Đó là những nhà văn như Khuất Nguyên, Tư Mã Tương Như mà ông nêu lên giá trị và nhận xét về nghệ thuật. Đó là những thầy thuốc, thầy bói, thậm chí những anh hề mà trong con mắt của ông lời nói có thể xếp vào Lục kinh. Và cố nhiên một con người yêu nhân dân và sự thật như Tư Mã Thiên không thể nào quên những tên sâu mọt, dàn áp bóc lột dân chúng, những bọn "khốc lại" chỉ lo a dua nhà vua, tàn sát dân lành, những bọn ngoại thích lộng quyền và vô số những nhân vật ti tiện mà ông mạt sát bằng những lời phẫn nộ.
Thế giới của Tư Mã Thiên bao la như vậy! Quy mô của tác phẩm làm ta ngợp, bút lực của tác giả làm ta sợ. Đối với những người yêu văn học Trung Quốc, tác phẩm đưa đến một cảm giác lạ. Ở đây có cái biến ảo của Nam Hoa kinh, có cái rạch ròi của Hàn Phi Tử, có cái hoa lệ của Tả truyện, có cái nghiêm khắc của Xuân Thu. Nhưng còn một cái nữa mà văn học từ Hán trở về trước (trừ Kinh Thi) không thấy có, đó là ý thức bám chắc vào sự thực, không rời cuộc sống dù chỉ nửa bước. Chúng ta cảm thấy mình đứng cả hai chân trên miếng đất của sự thực.
Ấn tượng ấy đến với chúng ta không phải ngẫu nhiên. Đó là vì Sử ký chính là Tư Mã Thiên sống, và con người ấy sống với những tư tưởng lớn.

III-. Tư Tưởng

Tư Mã Thiên tự định nghĩa mình là một con người "bất cơ". "Bất cơ" tức là không chịu trói buộc mình theo tập tục, vượt ra ngoài lề thói. Chẳng hạn hai mươi tuổi, cha còn sống vẫn cứ "viễn du", đi khắp địa bàn TRung Quốc, đó là một hành động bất cơ. Nhà vua đặt chức sử quan chẳng qua chỉ để ghi chép việc làm của vua, ăn ở đâu, ngồi ở đâu, ngủ ở đâu, nói câu gì v.v... từng ngày một. Và thế là tròn trách nhiệm, nhưng ông lại muốn nối nghiệp Khổng Tử, soi sánh cho đời, chỉnh lý được Dịch truyện, tiếp tục được Kinh Xuân Thu năm được cái gốc của Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, tóm lại ông muốn làm Khổng Tử thứ hai ngay trong thời đại chuyên chế cực đố. Đó cũng là một ý nghĩa "bất cơ".
Tư Mã Thiên là con người của một giai đoạn lịch sử rất cụ thể. Lúc ông lên sáu thì Hán Vũ Đế lên ngôi, và ông chết cùng một năm với Vũ Đế. Thời Vũ Đế chính láuc uy tín nhà Hán đạt đến cực điểm, biểu lộ tất cả cái vĩ đại, huy hoàng làm cho người ta ngợp mắt. Trong Bình chuẩn thu, tác giả đã nói đến cái cảnh tượng phồn thịnh ban đầu, kho đụn đầy rẫy, tiền tiêu không thể hết, dân ăn gà, thịt, có ngựa hàng đàn. Uy tín nhà Hán đã đạt đến trình độ xưa nay chưa hề có. Biên giới phía Nam đến Nam Việt, phía Bắc đến Triều Tiên, buôn bán giao thông với Trung Á, Ấn Độ, La Mã, thành phố tấp nập, cung điện nguy nga. Năm 138 trước công nguyên, tRương Khi đi sứ về phía Tây, qua Hung Nô đến tận miền Trung Á (gọi gộp là Tây Vực). Nước nhà thống nhất, chế độ tập quyền cực thịnh tất nhiên đưa đến những sự thay đổi về văn hóa. Vũ Đế nghe lời Đổng Trọng Thư bãi truất bách gia, độc tôn Nho học. thời đại "trăm nhà đua tiếgn" đến đây chấm dứt. Văn học chuyển hẳn sang việc ca ngợi lâu đài ngựa xe, vườn tược nhà vua, mà tiêu biểu nhất là những bài phú của Tư Mã Tương Như. Bây giờ trước mắt những con người học rộng tài cao có hai con đường. Con đường thứ nhất là vứt bỏ cái mộng làm một sự nghịêp to lớn, thừa nhận trong hoàn cảnh này chỉ còn một cách là làm một anh hề, sống qua ngày đoạn tháng ở trước của Kim Mã. Đó là con đường sống của Đông Phương Sóc, và của hầu hết tất cả các học giả đương thời. Lại có một con đường khác "xét trong khoảng trời đất, thấu suốt sự biến đổi từ xưa đến nay, làm thành lời nói của một nhà". Đó là con đường làm một Khổng Tử thứ hai, không phải ở trong hoàn cảnh Xuân Thu, Chiến Quốc mà ở trong hoàn cảnh chuyên chế cực thịnh. Tư Mã Thiên đã chọn con đường ấy, và điều đó cắt nghĩa tại sao con người này sống bơ vơ, lạc lõng, tội nghiệp như vậy.
Cái gì đã khiến ông làm một việc bất cơ như vậy? Đó là vì ông thấy mình gắn liền với số phận của dân chúng. Ông thấy cái vẻ thái bình, phồn thịnh trước mắt chỉ là tạm thời. Bọn vua chúa lợi dụng hoàn cảnh yên ổn càng ra sức bóc lột, đàn áp nhân dân, gây chiến tranh để mở rộng đất đai, xây cung thất, dựng lâu đài, tế phong thiện... Cái cảnh phồn vinh tan đi như một giấc mơ. Nhân dân nhao nhác cùng cực, bọn khốc lại xuất hiện ra sức chém giết, hàng chục vạn người bị ù đày, trong ngoài điêu đứng tan hoang, làm cho nhà Hán tưởng chừng sẽ lao theo bánh xe nhà Tần đã mất. Ông không thể làm một anh hề như Đông Phương Sóc tìm cách sống an thân hay một thứ nhà văn như Tư Mã Tương Như lúc chết còn khuyên vua làm lễ phong thiện. Chính cái thời Vũ Đế đã làm cho ông thấy tất cả cái vinh dự được làm con người Trung Quốc. Nó đưa đến cho ông cái ý thức về sự vĩ đại, bao la và thống nhất của tổ quốc mà ông yêu quý. Nhưng càng yêu quý tổ quốc, ông càng gắn bó với nhân dân. Và do đó, bức tranh ông vẽ đương thời không phải là một bức tranh khoa tr ương tráng lệ như một bài phú của Tương Như, mà nó đầy vẻ bi hùng. Cái mâu thuẫn đau đớn này trong tư tưởng đã đẻ ra cách quan niệm về sử hết sức độc đáo, xứng đáng gọi là một cống hiến về tư tưởng.
Có thể nói Tư Mã Thiên là sử gia đầu tiên trên thế giới viết lịch sử một công quốc hay kể lại một vài biến cố quan trọng như Xuân Thu, Thượng Thư. Những bộ sử như Lịch sử của Hêrêđôt (481-425), Lịch sử chiến tranh ở Pétôpônne của Thuxiđit (460-396) trong văn học Hy Lạp hay Chiến tranh ở Gôlơ của Xêda trong văn học La Mã chẳng qua chỉ kể lại một trận đánh hay một chiến dịch. Quyển Lịch sử La Mã của Titut Livut (66-17) sau Sử ký viết toàn bộ lịch sử một đô thị nhưng đó chỉ là lịch sử một đô thị. Sử ký thì khác, nó là lịch sử của toàn bộ dân tộc Trung Hoa kéo dài trên ba ngàn năm từ Hoàng Đế đến Vũ Đế và bao gồm một địa bàn mênh mông. Chính cái ý thức rất rõ về tính chất thống nhất và tiếp tục của lịch sử, nên tác giả mới có hai phần khác nhau là biểu và bản kỷ, lại có phần thế gia nói những điểm chủ yếu trong lịch sử từng công quốc. Không như thế, ông cũng là người đầu tiên nói về những dân tộc mà người ta gọi là "mọi rợ" và ở đây tuyệt nhiên không có thái độ khinh miệt.
Ông cũng là người đầu tiên viết một quyển thôgn sử bao gồm mọi mặt của xã hội. Ông chú ý đến tất cả, đọc tất cả, biết tất cả kiến thức của thời đại. Những thiên Hà cừ thư, Bình chuẩn thư viết với nhãn lực của một nhà kinh tế học. Ông tìm thấy sự liên quan giữa kinh tế với luật pháp và chính trị. Ông đặc biệt chú trọng đến những thể chế về văn hóa như lễ, nhạc, văn học. Ông đã làm cái công việc phi thường là xem xét tất cả các học thuyết của bách gia, trình bày và phê phán, làm công việc của một nhà tư tưởng sử. Ông là người đầu tiên cho ta biết về Khuất Nguyên và sự đánh giá của ông về Khuất Nguyên là quyết định. Quả thực là ông đã làm được cái hoài bão to lớn nhất của một con người. Ông đã tổng kết văn hóa Trung Quốc lần thứ hai sau Khổng Tử và xứng đáng với lời khen của Quách Mạt Nhược "công lao của Tư Mã Thiên so với Khổng Tử không hơn không kém".
Phương pháp viết sử của ông rất đáng chú ý. Tư Mã Thiên nói: "Tôi chỉ thuật lại chuyện xưa, sắp đặt lại các chuyện trong đời chứ có phải sáng tác đâu". Câu nói này thể hiện đúng cái quan niệm của tác giả về sử. Ngày nay chúng ta không năm được tất cả những tài liệu ông đã dùng, nhưng có một điều chắc chắn là ông không giờ thay đổi tài liệu. Những nhân vật thời Ân, Chu chính là những nhân vật của Thượng Thư, những nhân vật thời Xuân Thu, Chiến quốc là những nhân vật của Xuân thu, Quốc ngữ, Tả truyện, Chiến quốc sách. Lời nói của họ là lời họ nói trong thực tế theo những tài liệu tin cậy nhất. Những bài văn bia của nhà Tần là do chính tay tác giả chép lại. Và ông đã để lại cho chúng ta một kho tàng văn kiện vô giá, nào chế, biểu, nào văn bia, thư, phú, bài hát, lời ca, cả những bài nghị luận dài, tất cả chiếm một phần ba tác phẩm, trong số đó phần lớn còn đến ngày nay vì nó gắn liền với số phận của Sử ký. Đành rằng đây đó, có những chi tiết sai lầm vì tài liậu lúc bấy giờ số lớn là tài liệu truyền miềng. Nhưng nói chung, ông hết sức nghiêm túc. Quan niệm viết sử này khác xã quan niệm những nhà viết sử cổ Hy Lạp, La Mã. Các nhà viết sử cổ đại, trừ Thuxiđit, thường xem sử là một công trình nghệ thụat. Những nhân vật của họ đọc những bài diễn văn rất hay, nhưng do họ sáng tác ra, những nhân vật ấy tồn tại với những giả thiết tiêu biểu cho chính kiến của họ. Chính vì vậy sử học hiện đại không xem đó là những công trình khoa học, không ai lấy đó làm cơ sở chính cho sự nghiên cứu La Mã, hy Lạp cổ. Trái lại Sử ký từ trước đến nay vẫn là uy tín lớn nhất của cổ sử Trung Hoa. Bất kỳ ai muốn nghiên cứu bất kỳ phương diện nào của Trung Quốc cổ cũng không thể coi thường nó. Trịnh Tiễu nói "Một trăm đời sau, các nhà sử quan không thẻ thay đổi cái phép tắc của ông, kẻ học giả không thể bỏ quyển sách của ông" chính là vì vậy.
Tư Mã Thiên là người cha của sử học Trung Hoa, nhưng là một ngừoi cha khó bắt chước nhất. Đối với sử học Trung Quốc, ông là người duy nhất nói về đương thời. Các sử gia đời sau chỉ viết về một triều đại khi triều đại ấy đã chấm dứt. Họ sợ hiện tại và lẩn tránh nó. Trái lại Tư Mã Thiên đã dành một nửa tác phẩm cho giai đoạn từ Hạng Vũ đến Vũ Đế, và việc càng gần ông càng chép rõ. Ông để lại những trang vô cùng sinh động về Cấp Ảm, con người dám nói thẳng sự thực, không kiêng nể gì Vũ Đế. Ông kế tội Lũ Hậu, nêu bản tính lưu manh của Cao Tổ, phơi bày một bức tranh đau thương về xã hội trước mắt. Ông đau xót trước cái cảnh vua chúa mê tín (Phong thiện thư), phung phí tài sản nhân dân (Bình chuẩn thư), ngoại thích lộng hành (Ngụy Kỳ Vũ An liệt truyện), quan lại tàn khốc (Khốc lại liệt truyện), nhà nho cầu an, giả dối (Công Tôn Hoằng truyện, Thích Tôn Thông truyện). Ông run sợ cho tương lai. Và chính ở đây người ta mới hiểu hết cái tâm sự của ông, lòng yêu nước, yêu nhân dân cũng như sự trung thực của một nhà khoa học.
Nhưng quan trọng hơn hết, ông hiểu tác phẩm của ông là viết cho ai. Ông nói quyển Sử ký viết cho "những người của nó". Người của nó đây không phải là một vị ân chủ, một mỹ nhân, mà là nhân dân vĩ đại và bất tử. Ông có ý thức rõ về việc đó nên hai ngàn năm sau đọc Sử ký ta thấy nó sinh động, mãnh liệt vô cùng, đồng thời tràn ngập cái hào khí của chính nghĩa. Nhìn vào quyển sách của ông ta thấy hiện lên rõ rệt sự bất bình đẳng trong xã hội, cảnh nghèo khổ của những nông dân mất hết đất đai, sự giàu có phè phỡn của bọn phong kiến, con buôn lớn. Ta thấy bứt tranh hiện thực về xã hội mà bọn bồi bút phong kiến cố hết sức che đậy bằng những danh từ trống rỗng. Cố Viêm Võ nói rất đúng: "Người xưa làm sử không cần bàn luận, nhận xét mà cái ý của tác giả thấy ngay trong việc trình bày thì chỉ có một mình Thái sử công làm được mà thôi". Cái khó ở đây không ở phuơng pháp mà ở con tim.
Cũng vì Tư Mã Thiên không viết tác phẩm theo những khuon khổ có sẵn về đạo đức phong kiến nên những nhận xét của ông về lịch sử rất là trác việt. Ông luôn lấy quyền lợi của nhân dân, lấy sự sống của họ để đánh giá nhân vật lịch sử. Đặc biệt khi viết lịch sử nhân vật nào, ông cũng nêu rõ sự gắn bó của nhân vật với số phận của dân chúng. Ông thấy rõ TRần Thiệp "tài năng ở dưới mức trung bình" nhưng đã làm được một việc oanh liệt chỉ vì được dân chúng ủng hộ. Sự phân tíchc ủa ông về sự thành công của Lưu Bang và sự thất bại của Hạng Vũ có ý nghĩa to lớn. Dưới con mắt của ông, Hạng Vũ là một con người phi thường "tài năng và chí khí hơn người", "từ cận cổ đến nay chưa có ai được như thế". Về tư cách cá nhân mà nói, thì Lưu Bang kém Hạng Vũ về mọi mặt. Hạng Vũ là viên tướng bách chiến bách thắng, quân chư hầu sợ Hạng Vũ đến nỗi "đi bằng đầu gối không ai dám ngẩn glên nhìn". Hạng Vũ thương người và trọng nghĩa. Trái lại Lưu Bang là một người "không lo làm ăn", "tham thiền và ham gái", ngạo mạn, thô lỗ: "Thấy khách đội mũ nhà nho, Bái Công liền giật lấy mũ đái vào trong". Thế nhưng cuối cùng Lưu Bang lại lấy được thiên hạ. Đó là vì Lưu Bang biết tự kiềm chế mình lắng nghe theo lòng dân, luôn luôn chú ý đến dân chúng cho nên dân tin. Đúng như Hàn Tín nói. Hạng Vũ chỉ có cái nhân của người đàn bà, cái dũng của kẻ thất phu, tiếc tiền, tiếc đất, chỉ tin vào tài năng của cá nhân mình, nghi ngờ tất cả, đã thế lại hiếu sát làm cho nhân dân thất vọng. Lưu Bang đã thắng vì biết dựa vào dân, tận dụng tài năng các tướng. Cách nhìn nhận như vậy rất dúng và khoa học. Nó làm người ta nhớ đến những tác phẩm của Makiaven, ở đây, Tư Mã Thiên có thể sánh với những nhà sử học lớn nhất của thời cổ đại.

IV-. Nghệ Thuật

Tư Mã Thiên đã để lại hàng ngàn nhân vật điển hình sống mãi trong văn học. Riêng về mặt này, ông có thể sánh với những nhà văn lớn nhất của nhân loại. Cả một nhân loại mênh mông hiện ra trước mắt chúng ta, đủ các thành phần, đủ các nghề nghiệp, đủ các tầng lớp. Hình ảnh những chàng nông dân như Trần Thiệp, Ngô Quảng, những người du thuyết như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Thư, những hiệp khách như Kinh Kha, Nhiếp Chính, những anh hàng thịt như Chu Hợi, Cao Tiệm Ly, những triết gia như Khổng Khâu, Trang Chu, những danh tướng như Hàn Tín, Lý Quảng, những công tử như Tín Lăng Quâng, Mạnh Thường Quân, những bạo chúa như Tần Thủy Hoàng, Nhị Thế v.v... và vô số những hình ảnh khác là những hình ảnh bất tử. Những hình ảnh ấy đã du nhập vào kho tàng văn học, làm thành nhân vật của những truyện kỳ, thoại bản, hý khúc, kịch, thơ, lời nói và hành động của họ nhờ Tư Mã Thiên nêu lên đã thành tài sản của dân tộc. Đó là một điều lạ. Nhưng điều lạ hơn là đời sau có thể tô điểm thêm bớt nhưng dường như khó lòng dùng năng lực hư cấu của mình để tạo nên một Kinh Kha, một Hàn Tín hay một Hạng Vũ khác hẳn hình tượng Tư Mã Thiên đã tạo nên mà cũng sinh động như vậy. Có thể nói những hình tượng Tư Mã Thiên tạo ra đã được nhân dân tiếp nhận toàn vẹn. Điều đó không phải là một hiện tượng thường thấy trong lịch sử văn học. Nếu ta xét những nhân vật lịch sử Âu Châu thì ta thấy rõ họ được biểu hiện trong văn học một cách rất khác nhau ở từng nhà văn. Hình tượng Catilina của sử gia La Mã Xanlut rất khác hình tượng Catilina của Ben Jonxôn. Hình tượng Catilina của Ipxen lại càng khác hẳn. Tư Mã Thiên đã làm thế nào cho nhân vật của mình sống mãnh liệt đến nỗi họ tồn tại khách quan ở ngoài nhà văn và dân chúng khó lòng chấp nhận sự thay đổi?
Khi miêu tả một nhân vật lịch sử, các sử gia chỉ xét họ trong những giờ phút họ đóng vai trò lịch sử, họ chỉ xét nhân vật trong "tư thế lịch sử" của nó. Nhưng làm như thế tức là cắt xén nhân vật, biểu hiện nó một cách phiến diện và thậm chí có khi xuyên tạc vì trong những lúc cá nhân có ý thức về vai trò lịch sử của mình, họ thường đóng kịch. Tư Mã Thiên không làm như vậy. Ông không chỉ nắm Hàn Tín khi làm thượng tướng quân của Lưu BAng, mà còn nắm Hàn Tín ngay từ khi ăn nhờ, chui qua háng người ta ở ngoài chờ. Nhờ sống trong nhân dân và đến tận nơi điều tra, nên ông thấy Trần Bình từ khi chia thịt, tháy Phàn Khoái từ khi bán thịt chó. Ông chú ý Trương Nghi từ khi anh chàng bị đánh gần chết, gãy hết cả răng, chú ý đến Lưu Bang từ khi ăn quỵt tiền rượu. Tư Mã Thiên theo dõi một nhân vật là cốt tìm cho được cái bản chất của nó. Chính vì thế ông khôgn bao giờ bỏ qua những cảnh thiếu thốn, nhục nhã mà nhân vật đã trải qua, vì ông biết bản chất con người thường lộ ra những lúc ấy. Đối với ông, nhân vật lịch sử vĩ đại đến đâu trước hết cũng là một con người bình thường. Khổng Khâu trước khi được tôn sùng như một vị thánh cũng chỉ là một người mong muốn được làm quan, phiêu bạt đi tìm công danh, mấy lần súyt theo những kẻ mà ông gọi là loạn thần, tặc tử. Trong khi theo dõi nhân vật, ông không chạy theo sự kiện mà cốt tìm được cái quyết định tính cách của con người. Ông thấy tính cách con người do nhiều yếu tố quyết định, có khi nó là một thiên hướng từ nhỏ. Nhân vật Trương Thang điển hình cho bọn quan lại tàn ác, lúc nhỏ giữ nhà để chuột ăn mất thịt bị cha đánh đòn. Thang bắt được con chuột làm một bản án kết tội chuột. "Người cha xem thấy lời văn quả là của một tay quan lại coi n gục sành sỏi cả kinh". Có khi nó là kết quả của nghề nghiệp, giáo dục. Lữ Bất Vi, một thương nhân giàu thấy Tử Tương, con vua Tần làm con tin ở Triệu thì nói: "Món hàng này có thể bán được đây". Y xuất tiền bạc quảng cáo cho hàng và cuối cùng được lãi to, làm tể tướng nước Tần. Ông thấy cái điều làm một vĩ nhân khác con người tầm thường là ở chỗ họ có một hoài bão lớn ngay trong những cảnh ngộ khốn khổ nhất. Ông lắng nghe chàng cố nông Trần Thiệp đang cày bỗng dừng lại nói với các bạn cày: "Sau này phú quý chớ quên nhau"; ông chú ý đến cậu bé Hạng Vũ học kiếm chẳng thành nhưng đòi "học cái đánh lại vạn người". Một khi tìm được tính cách của nhân vật, ông cố gắng tìm những câu nói điển hình và những hành động điển hình để làm cho hình tượng càng nổi bật. Nói đến Hàn Tín là người ta nhớ ngay đến câu "Nhà vua không muốn lấy thiên hạ sao, tại sao lại chém tráng sĩ?". Nói đến Lý Tư, không ai quên được câu: "Người ta ở đời hiền hay bất tiếu cũng như con chuột; chẳng qua do hoàn cảnh cả". Những câu như vậy có hàng ngàn. Có nhiều nhân vật chỉ xuất hiện trong một vài câu nhưng họ được điển hình hóa ngay vì tác giả đã nắm được câu nói điển hình của họ. Chẳng hạn những nhân vật như Cáp Nhiếp, Phàn Ư Kỳ trong Thích khách liệt truyện nói không quá hai câu, nhưng đủ làm người ta thấy rõ cái phong thái trọng nghĩa khi nh tài và lòng căm thù chồng chất của họ đối với nhà Tần. Những câu nói điển hình và những hành động điển hình thường không phải là những câu nói và những hành động gì có tầm quan trọng trong lịch sử. Tônxtôi trong bài nhận xét về Chiến tranh và hòa bình nói nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử miêu tả nhân vật lịch sử khi họ mang áo ngủ. Tư Mã Thiên còn đi xa hơn. Để miêu tả thái độ ngạo mạn của Vũ Đế, chỉ cần một chi tiết "Nhà vua có khi ngồi xổm ở bên giường để tiếp đại tướng quân Vệ Thanh". Để miêu tả sự suồng sã của Lưu Bang chỉ cần một chi tiết nhỏ: "Chu Xương có lần vào tâu thấy Cao Tổ đang ngồi ôm con gái. Xương chạy ra, Cao Tổ đuổi theo cưỡi lên cổ hỏi: "Ta là vị vua như thế nào? Xương ngẩng đầu lên đáp: Bệ hạ là ông vua Kiệt, Trụ. Nhà vua liền cười ha hả". (Trương thừa tướng truyện). Một chi tiết như vậy cũng đủ làm cho ngàn năm sau không ai có thể bênh vực cho Vũ Đế và Cao Tổ về việc quý trọng kẻ sĩ.
Một khi đã nêu lên tính cách chủ đạo của nhân vật, tác giả không bao giờ dừng lại để bàn bạc, trái lại ông trình bày dồn dập những sự việc điển hình tự bản thân nó có đủ sức thuyết phục hùng hồn hơn mọi lý luận. Đó là then chốt của phương pháp tự sự của ông mà đời sau không ai bắt chước được. Bản kỷ Hạng Vũ chẳng hạn, viết với lối văn khô khan của biên niên sử. Ở đây chỉ có sự kiện và năm tháng. Nhưng vì biết rút từ sự kiện ra cái làm thành cá tính của Hạng Vũ và thời đại Hạng Vũ cho nên cái lối trình bày đơn giản khách quan này lại lôi cuốn người đọc hơn mọi thứ từ chương.
Văn của Tư Mã Thiên là lối văn giản dị, chắc nịch của thời Tây Hán. Cách tự sự của ông có cái tính chất rắn chắc, khúc chíet của đương thời, nhưng còn một điều đặc sắc hơn là rất sinh động và đa dạng. Những con người của Tư Mã Thiên đồng thời biểu hiện những đặc sắc chung của thời đại họ, nhưng lại giữ được những nét nổi bật làm thành bản sắc của họ.
Muốn làm nổi bật cá tính của nhân vật cũng như màu sắc chung của thời đại, khôgn bao giờ tác giả xét nhân vật một cách cô lập, mà đặt nó trong sự đối lập với các nhân vật khác. Đọc Lý Tư, người ta nhất định phải thấy Triệu Cao, đọc Bì nh Nguyên Quân người ta thấy ngay Tín Lăng Quân, bên cạnh Lưu BAng luôn luôn có mặt Hạng Vũ. Để làm nổi bật sự đối lập, tác giả chú ý đến sự đánh giá về nhân vật của người đương thời. Mỗi nhân vật như vậy ít nhất cũng được vài ba người đánh giá. Để đánh giá Lưu Bang tác giả nhắc lại n hững lời đánh giá của Tiêu Hà, Phạm Tăng, Lịch Sinh , Trương Lương, Trần Bình, Hàn Tín v.v....; để đánh giá Tín Lăng Quân tác giả không quên những nhận xét của Hầu Sinh, Mao Công, Tiết Công, Bình Nguyên Quân v.v... Tác giả nhiều khi gộp họ vào một chương để càng làm nổi bật chủ ý của mình. Đó là những lúc đối lập rõ rệt. Những có những lúc đối lập kín đáo hơn thì thật thú vị. chẳng hạn, không phải ngẫu nhiên mà tất cả những quan lại tốt trong Khốc lại liệt truyện đều là những nhân vật thời Hán. Cũng vậy, ai cũng phải thừa nhận hình tượng về Vũ Đế sao mà giống Tần Thủy Hoàng làm vậy, cũng huênh hoang, tự đắc, thích chiến tranh, thích thần tiên, thích xây dựng, thích xu nịnh.
Chính cái phuơng pháp tự sự bậc thầy, công phu và chu đáo vô cùng đã làm cho nhânv ật sống một cách trọn vẹn, hoàn toàn khách quan, không có sự can thiệp của tác giả, và cũng do đó, đời sau không thể nào thay đổi được. Sự thực vốn hùng hồn hơn lời nói và khi các sự thực đã xếp thành hệ thống nguy nga thì tự nó sẽ nói lên tiếng nói của chân lý.
Phải chăng vì thế mà tác giả vắng mặt? Không, tác giả luôn luôn có mặt. HÌnh ảnh của Tư Mã Thiên rất rõ ở từng trang, tâm sự của ông hịên lên như một tiếng đàn tuy rất khẽ nhưng rất rền trong bản hợp tấu vĩ đại. Chúng ta biết bản thân sự đối lập là biểu hiện của thái độ. Ngoài ra tác giả còn sử dụng rất thạo phương pháp viết sử của Kinh Xuân Thu. Mục đích của nó là trình bày sự thực khách quan, nhưng bằng cách đối lập các việc khác hay thêm bớt một chữ mà tỏ thái độ của mình. chẳng hạn trong Hoài Âm Hầu liệt truyện để nói rằng Hàn Tín chết vô tội chứ không phải làm phản, ông gọi Tín là "Hoài Âm hầu" chứ không gọi Hàn Tín như gọi Kình Bố trong Kình Bố liệt truyện. Ông kể tỉ mỉ ba lần người ta thuyết phục Hàn Tín làm phản mà Tín không nghe, nhắc đến năm lần cái câu Hán Vương sợ Hàn Tín. Đến lúc Tín chết thì hối hận không biết trước thái độ lật lọng của Lưu BAng, trái lại Lưu Bang nghe tin vừa giận vừa mừng v.v... Lối bút pháp ấy rất là nghiêm và rất rõ ràng đối với những người quen đọc Xuân thu. Ngoài ra mỗi khi hết chương, tác giả thường đưa ra những nhận xét của mình để ký thác tâm sự hay đính chính lại những cách nhìn sai lầm của tập tục.
Sử ký là một tác phẩm khó nhưng rất hay. Nó làm cho mọi người đọc say mê và giáo dục họ rất nhiều. Nhưng vì nội dung phong phú, cách diễn đạt kín đáo nên phải đọc đi đọc lại nhiềulần mới thấy hết cái hay của nó. Chúng tôi cố gắng dịch những chương tiêu biểu, chương nào dịch thì dịch trọn vẹn, chỉ lược bớt những đoạn ít quan trọng đối với văn học. Vì cách hành văn theo lối Xuân thu rất xa lạ đối với chúng ta nên chúng tôi cố gắng chú thích, phân đoạn, tóm tắt để làm sao cho người đọc làm quen với tác phẩm một cách dễ dàng nhất. Tuy vậy chúng tôi cũng biết không thể nào giới thiệu hết cái hay của tác phẩm. Một ngày gần đây, khi TƯ Mã Thiên đã quen thuộc với bạn đọc hơn, chắc Sử ký sẽ được dịch toàn bộ.
Trong việc dịch, chúng tôi đã đuowjc cụ Phan Võ xem lại và cụ Phan Duy Tiếp giúp đỡ. Chúng tôi biết rằng vì trình độ dịch giả hạn chế, bản dịch thế nào cũng có nhiều thiếu sót. Nhưng chúng tôi tin rằng dù bản dịch có nhiều thiếu sót, các bạn sẽ thấy ở đây một tác phẩm vĩ đại và một con người lỗi lạc. Chắc chắn bạn đọc Việt Nam sẽ thấy Sử ký là quyển sách của mình và dành cho Tư Mã Thiên một mối tình nồng hậu như các bạn đã có đối với Khuất Nguyên và Đỗ Phủ. Súôt đời Tư Mã Thiên không muốn gì hơn là có những người hiểu mình. Chúng tôi tin chắc rằng sau hơn hai ngàn năm, con người vĩ đại ấy sẽ được yêu hơn bao giờ hết vì bạn đọc của ông là những con người của một thời đại huy hoàng và vô cùng vĩ đại.

Phan Ngọc
Đường và chân là đôi bạn thân. Chân đi chơi, chân đi học, đường ngang dọc đường dẫn tới nơi.
Đăng nhập để trả lời
0
Thái Sử Công đề tựa

Thái sử công nói:
Cha tôi có nói: "Sau khi Chu Công mất được năm trăm năm thì có Khổng Tử. Khổng Tử mất đến nay đã được năm trăm năm. Nếu có kẻ nối nghiệp, soi sáng cho đời, chỉnh lý được Dịch truyện tiếp tục Kinh Xuân thu, nắm được cái gốc của Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, thì là lúc này đây! Ở lúc này đây!".
Kẻ hèn mọn này dám đâu từ chối việc ấy.
Quan thượng đại phu là Khổn Toại nói:
- Tại sao ngày xưa Khổng Tử lại làm Kinh Xuân thu?
Thái sử công nói:
- Tôi nghe Đổng sinh nói: "Đạo nhà Chu bị suy bỏ, Khổng Tử làm tư khấu ở nước Lỗ, bị các nước chư hầu hại, các quan đại phu ngăn cản. Khổng Tử biết lời nói của mình không được dùng, đạo của mình không được thi hành, bèn phê phán những việc xảy ra trong hai trăm bốn mươi hai năm, để làm khuôn phép cho thiên hạ. Người chê thiên tử, ức chế chư hầu, phạt tội các đại phu, để nêu rõ vương đạo nên như thế nào". Khổng Tử nói: "Ta muốn lấy lời nói suông để chép về đạo, không bằng chứng minh ở việc làm thì càng sâu sắc, rõ ràng hơn". Kinh Xuân thu trên làm sáng tỏ đạo của Tam vương, dưới phân biệt quy tắc của con người, biện bạch chuyện hiềm nghi, soi sáng điều phải trái, quyết định điều còn do dự, khen điều hay, chê điều dở, tôn người hiền, chê kẻ bất tiếu, bảo tồn lấy cái nước đã mát, nối lại cái đời đã đứt, vá lại cái đã rách, dựng lại cái đã bị bỏ, đó là một điều lớn của đạo vương vậy!
Kinh Dịch chép trời đất, âm dương, bốn mùa, ngũ hành, cho nên giỏi về chỗ biến hóa, Kinh Lễ chép về luân lý con người cho nên giỏi về đức hạnh. Kinh Thư chép về việc làm của các vua đời trước cho nên giỏi về chính trị, Kinh Thi chép về núi, sông, hang, suối, chim muông, cây cỏ, trống, mái, đực, cái cho nên giỏi về nói bóng gió. Kinh Nhạc làm cho người ta vui, cho nên giỏi về hòa hợp, Kinh Xuân thu phân biệt phải trái, cho nên giỏi về việc trị người.
Vì vậy, Kinh Lễ là để giữ gìn con người, Kinh Nhạc là để làm cho hòa hợp, Kinh Thư để bàn việc, Kinh Thi để tỏ ý, Kinh Dịch để nói về sự biến hóa, Kinh Xuân thu để dạy việc nghĩa. Giúp đời loạn làm cho nó trở lại đường ngay thì không có sách nào cần thiết bằng Xuân thu.
Xuân thu chữ có mấy vạn, ý của nó mấy nghìn, vạn vật tan hợp đều ở Kinh Xuân thu. Trong Kinh Xuân thu ba mươi sáu vua bị giết, năm mươi nước bị mất, các chư hầu ngược xuôi chạy vạy không giữ nổi nước của mình không kể xiết. Xét tại sao như vậy đều là bỏ mất cái căn bản.
Vì vậy, nên Kinh Dịch nói: "Sai một ly, lầm đến nghìn dặm!". Cho nên nói: "Tôi giết vua, con giết cha, không phải duyên cớ một sớm một chiều mà ra, cái đó đã ngấm ngầm từ lâu rồi".
Cho nên, kẻ có nước không thể không biết Kinh Xuân thu: trước mặt có kẻ gièm pha mà mình không biết, sau lưng có quân giặc mà mình không hay. người làm tôi không thể không biết Kinh Xuân thu: nếu không gặp việc thường không biết nên như thế nào, gặp việc biến hóa không biết xoay sở ra sao. Làm vua làm cha mà không thông thạo về nghĩa lý của Xuân thu thì hẳn mang lấy cái tiếng gây ra tội. Làm tôi làm con, mà không thông thạo nghĩa lý của Xuân thu, thì hẳn hãm vào tội cướp ngôi giết cha, cái tiếng tử tội. Thực ra, họ vẫn cứ cho rằng đó là phải mà làm: vì không biết nghĩa lý, nên bị tai tiếng không sao tránh khỏi. Chỉ vì không hiểu cái thâm thúy của lễ và nghĩa mà đến nỗi vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con. Vua chẳng ra vua thì phạm tội với lễ nghĩa; tôi chẳng ra tôi thì phải giết; cha chẳng ra cha thì vô đạo; con chẳng ra con thì bất hiếu. Bốn điều ấy là những lỗi lớn ở trong thiên hạ. Buộc cho họ cái lỗi lớn ở trong thiên hạ mà họ không dám từ chối.
Cho nên Kinh Xuân thu là gốc lớn của lễ, nghĩa. Lễ là để cấm trước khi việc xảy ra, pháp luật là để trừng trị sau khi việc đã xảy ra. Công dụng của pháp luật dễ thấy, còn công dụng của lễ để ngăn cấm thì khó biết.
Khổn Tọai nói:
- Đời Khổng Tử, trên không có vua sáng, dưới không được tin dùng, cho nên người mới làm Kinh Xuân thu để lại cái lời suông đặng nối tiếp lễ, nghĩa, làm phép tắc của một vị vua. Nay ông ở trên thì gặp đức vua sáng suốt, ở dưới thì được giữ chức quan, muôn việc đều được sắp đặt đúng chỗ, vậy điều ông bàn đó là muốn soi sáng cái gì?
Thái sử công nói:
- Dạ, dạ! Không, không! Đâu phải thế! Tôi nghe cha tôi nói: "Phục Hy hết sức thuần hậu, làm ra tám quẻ kinh dịch: Thượng thư chép nền thịnh trị của đời Nghiêu, Thuấn, do đó mà làm ra lễ nhạc; công của Thàng Thang, Vũ vương được thi nhân ca tụng; Kinh Xuân thu khen điều thiện, chê điều ác, suy diễn cái đức thời Tam đại, khen nhà Chu, chứ nào chỉ có chê bai mà thôi đâu? TỪ khi Hán nổi lên, đến đức vua chúng a nay, được điền lành, làm lễ phong thiện, thay niên hiệu, đổi áo mũ chịu mệnh của cao xanh, ơn đức thấm đến chỗ vô cùng. Những người xa lạ ở ngoài bể hai ba lần dịch tiếng đều đến chầu, xin nộp cống, kể không hết. Trăm quan ở dưới ra sức tán tụng thánh đức cũng còn chưa nói hết ý.
Hơn nữa, có kẻ sĩ hiền và có tài mà không dùng là điều sĩ nhục của nước; chúa thượng có đức không được truyền rộng ra, thì đó là lỗi của kẻ bề tôi.
Vả chăng tôi làm chức ấy mà bỏ thánh đức không chép, hủy bỏ công nghiệp của các công thần, các đại phu hiền đức không thuật lại, bỏ lời cha dạy, thì tội gì nặng hơn? Tôi chỉ thuật lại chuyện xưa, sắp đặt lại các truyện trong đời, chứ có phải là tự làm ra đâu, ông đem sánh với Xuân thu thì lầm to.
Thế rồi biên chép sắp đặt văn Sử ký được bảy năm, thì Thái sử công gặp cái họa Lý Lăng, bị cùm trói trong tù.
Bèn bùi ngùi mà rằng:
- Đó là t ội của ta! Đó là tội của ta! Thân tàn không dùng đựoc nữa rồi!
Nhưng rồi lại suy nghĩ kỹ mà rằng: Ôi! Viết sách làm thơ, đó là điều những người trong lúc cùng dùng để truyền đạt cái ý nghĩ của mình. Xưa Tây Bá bị tù ở Dũ Lý nên diễn giải Chu dịch; Khổng Tử gặp nạn ở đất Trần, đất Thát nên viết Xuân thu; Khuất Nguyên bị đuổi viết Ly Tao; Tả Khâu Minh bị mù làm Quốc ngữ; Tôn TẪn bị cụt chân bàn binh pháp; Lữ Bất Vi bị đày sang Thục, đời truyền lại sách Lữ lãm; Hàn Phi bị tù ở Tần làm ra những thiên Thuyết nan, Cô phẫn; ba trăm bài ở Kinh Thi phần lớn đều do thánh hiền làm ra để giải bày các nỗi phẫn uất. Những người ấy đều vì có những điều uất ức không biểu lộ ra được, cho nên thuật lại việc xưa mà lo truyền lại người sau.
Do đó bèn soạn thuật cho xong từ thời Nghiêu cho đến năm được lân thì dừng bút, bắt đầu từ Hoàng Đế.
Đường và chân là đôi bạn thân. Chân đi chơi, chân đi học, đường ngang dọc đường dẫn tới nơi.
Đăng nhập để trả lời
0
Thư trả lời Nhâm An

Tôi, hạng trâu ngựa Tư Mã Thiên, Thái sử công, kính thưa Thiếu Khanh túc hạ.
Trước đây ông có hạ có gửi thư dạy phải cẩn thận về việc tiếp người, cốt phải tôn người hiền, tiến cử kẻ sĩ. Ý ông ân cần tha theíet, hình như trách tôi không nghe lời dạy mà lại theo lời bọn thế tục tầm thường. Tôi đâu dám thế.
Tôi tuy hèn nhát, nhưng cũng đã từng trộm nghe lời chỉ giáo của bậc trưởng giả. Vì một nỗi thân hình tàn phế, địa vị hẩm hiu, hễ động là bị chê trách, muốn đuọwc ích thì trở lại có hại, cho nên uất ức một mình không biết nói cùng ai.
Tục ngữ có câu: "Làm cho ai biết, nói cho ai nghe?". Chung Tử Kỳ chết rồi, Bá Nha suốt đời không gãy đàn nữa! Tại sao vậy? Vì kẻ sĩ ra sức với người tri kỷ; con gái làm dáng với kẻ yêu mình. Như tôi, thì cái thân này đã hỏng rồi, tuy tài có bằng châu của Tùy hầu, ngọc của Biện Hòa, hạnh có cao bằng Bá Di, Hứa Do, rút cục cũng không có cách gì mà lòe với ai chẳng qua chỉ để mua cười và tự làm ô nhục mình đó thôi!
Thơ của ông đáng lý phải đáp ngay, nhưng giữa lúc theo hoàng thượng sang đông, lại vì việc riêng cấp bách, ít có dịp gặp nhau. Vội vàng không có lúc nào rảnh có thể tỏ hết nỗi lòng. nay Thiếu Khanh gặp tội không biết đến thế nào. ngày qua tháng lại, cuối đông sắp tới... Tôi lại sắp phải theo nhà vua đi Ung Châu, sợ có sự chẳng may xảy ra thì tôi rút cục đành chịu không sao bày tỏ nỗi buồn bực để cho ông rõ, mà hồn phách kẻ vĩnh biệt sẽ riêng ân hận không cùng. Tôi xin trình bày qua tấc dạ quê mùa. Để lâu không trả lời, xin đừng bắt lỗi.
Tôi nghe: sửa mình là dấu hiệu của trí; yêu thương giúp đỡ người là đầu mối của nhân; định nên lấy cái gì, cho cái gì là biểu hiện của nghĩa; gặp cảnh sĩ nhục là điều quyết định của dũng; lập danh là cái cao nhất của đức hạnh. Kẻ sĩ có năm điều ấy thì mới có thể sống ở đời mà đứng vào hàng quân tử. Cho nên tai họa tệ nhất là thiếu tiền chuộc tội; đau không có gì thảm hơn là đau lòng; nết xấu nhất là nhục đến cha mẹ; nhục nặng nhất là bị cung hình! Con người bị hình phạt sống thừa không còn đáng đếm xỉa nữa, điều đó không phải chỉ ở đời này, mà đã có từ lâu. Ngày xưa Vệ Linh Công đi cùng với Ung Cừ, Không Tử bỏ sang nước Trần; Thương Ưởng nhờ Cảnh Giám được yết kiến Tần vương, Triệu Lương thấy lạnh cả ruột; Đồng tử ngồi bên xe, Viện Ti biến sắc mặt. Từ xưa đã từng lấy điều đó làm xấu hổ. Đến kẻ tài năng bậc trung, mà gặp việc dính líu đến bọn hoạn quan, còn không ai không mủi lòng, huống gì kẻ sĩ có chí khảng khái lại không biết hay sao?
Nay triều đình tuy thiều người, nhưng lẽ nào lại để kẻ bị cưa dao sống sót mà còn tiến cử kẻ hào kiệt trong thiên hạ?
Tôi nối nghiệp tiên nhân chầu chực dưới xe loan đã hơn hai mươi năm nay. Tôi vẫn thường tự nghĩ: mình trên đã không thể tỏ lòng trung tín, được khen là có tài, có sức , có mưu lạ để được bậc minh chủ đoái thương, lại cũng không biết lượm lặt cái bỏ sót, chắp vá cái thiếu thốn, đón người hiền, tiến cử người tài, làm vinh hiển kẻ sĩ ở ẩn trong chốn núi non; ở ngoài không thuộc vào hàng ngũ có công đánh thành xông trận, chém tướng giật cờ; cùng ra nữa cũng không ngày ngày tích lũy công lao, để được quan cao, lộc hạu, làm đẹp mặt họ hàng, bè bạn.
Cả bốn điều đó, tôi không được điều nào. Cho nên tôi đành nương náu qua thì, đó cũng đủ thấy tôi chẳng có gì là hay ho cả.
Tôi cũng đã thường mon men dự vào hàn ghạ đại phu, đựoc dự bàn ở ngoại đình. Lúc ấy, tôi chẳng biết trình bày mối giường, dâng lên những điều suy nghĩ. Đến nay thì thân hình đã sứt mẻ, làm ngươi tôi đòi, ở trong đám ti tiện, lẽ nào còn muốn ngửng đầu, làm xấu hổ cho kẻ sĩ trong đời này lắm sao! T han ôi! Than ôi! Như tôi đây còn nói năng gì nữa, còn nói năng gì nữa!
Vả chăng, việc của tôi gốc ngọn không dễ thấy rõ. Từ nhỏ, tôi mang cái tài phóng túng, lớn lên không đuợc làng xóm khen ngợi. May chúa thượng vì cớ cha tôi, cho tôi được trổ chút nghề mọn, ra vào nơi cấm vệ. Tôi nghĩ rằng con người đã đội chậu làm sao còn nhìn được trời; vì vậy cho nên không giao tiếp với khách khứa, quên việc sản nghiệp của gia đình. Ngày đêm đem hết cái tài sức kém cỏi của mình, chỉ cốt một lòng làm tròn chức vụ, để mong được chúa thượng thương đến. Thế mà lại gặp cái việc trái hẳn ý của mình:
Tôi và Lý Lăng đều ở dưới môn hạ chúa thượng, vốn cũng không quen thân nhau, chí hướng khác nhau, chưa từng nâng chén rượu, vui vẻ ân cần. Thế nhưng tôi thấy ông ta là kẻ sĩ kỳ lạ, biết tự giữ mình, thờ cha mẹ có hiếu, đối với kẻ sĩ thì tín, liêm khiết ở chỗ tiền tài, giữ nghĩa trong việc cho và lấy, biết phân biệt, nhường nhịn, khiêm tốn, cung kiệm, chiều người, thường lo hăng hái quên mình để tính việc cần kíp của nước nhà, đó là cái điều chứa chất ở trong lòng ông ta, tôi cho ông ta có cái phong thái của người quốc sĩ.
Ôi! Kẻ làm tôi biết liều trong lúc múôn chết không nghĩ đến sự sống của mình, lao vào nạn nước nhà như thế cũng đã là lạ vậy. Nay chỉ bị một lần hỏng việc, thế mà những người tôi lo giữ thân mình, giữ vợ con, cứ thêu dệt thêm cái lỗi ông ta, tôi lòng riêng thành thực đau xót về việc đó.
Vả chăng, Lý Lăng cầm khôgn đầy năm ngàn bộ binh, tiến sâu vào nơi chiến địa, chân đến nơi sân vùa Thiền Vu, như mồi treo miệng hổ, khiêu khích bọn Hồ mạnh. Ngẩng đầu đón lấy quân địch ức vạn, cùng quân Thiền Vu chiến đấu liên tiếp hơn mười ngày, giết được rất nhiều, giặc không kịp cứu người chết, khiêng kẻ bị thương. Các chúa Hung Nô mặc áo cừu run sợ bèn đem tất cả tả, hữu hiền vương, đem tất cả quân cung nỏ trong nước vây lại mà đánh. Lăng chiến đấu ở ngoài ngàn dặm, tên hết, đường cùng, cứu binh không đến, quân sĩ và bị thương chồng chất! Nhưng Lăng hô lên một tiếng, tát cả quân sĩ đều vùng dậy! Người đầy nước mắt, lau mặt bằng máu, uống bằng nước mắt, lại giơ nắm tay khôgn xông vào nơi mũi nhọn, quay về hướng bắc tranh nhau liều chết với giặc. Khi Lăng chưa bị thua, có sứ về báo tin, các công, khanh, vương, hầu nhà Hán đều nâng chén rượu chúc thọ thiên tử. Mấy ngày sau, nghe tin Lăng thua trận đưa về, chúa thượng vì vậy ăn không biết ngon, ra triều không vui, quan đại thần lo lắng không biết làm thế nào. Tôi trộm không tự liệu mình ti tiện, thấy chúa thượng đau xót buồn rầu, lòng muốn bày tỏ nỗi niềm ngu dại, cho rằng Lý Lăng vốn cùng cái sĩ, đại phu, chia miếng ngon, chịu phần thiệt, được người ta liều chết hết lòng, tuy danh tướng ngày xưa cũng không hơn được. Thân Lăng tuy hãm vào cảnh thất bại, nhưng xem ý ông ta là muốn có dịp lập công để báo ơn nhà Hán. Việc đã đành như thế rồi nhưng kể công đánh bại quân địch của ông ta, cũng đủ tỏ với thiên hạ. Trong lòng tôi muốn trình bày điều đó, nhưng chưa có dịp. Nhân gặp lúc nhà vua hỏi đến, tôi liền đem ý ấy ra, trình bày công lao của Lăng, muốn chúa thượng mở lượng khoan hồng, và ngăn chặn lời lẽ gièm pha. Tôi chưa nói được hết, chúa thượng không rõ, cho rằng tôi biện bạch hộ cho Lý Lăng , để cản trở Nhị sư bèn giao tôi cho pháp quan trị tội.
Nỗi lòng trugn u uất, rốt cục vẫn không sao tự trình bày được, do đó mang tội dối chúa thựơng, phải xử theo lời của hình quan! Nhà tôi nghèo không có đủ tiền để chuộc tội, bạn bè không ai cứu, tả hữu thân cận không ai nói hộ một lời! Thân mình không phải là gỗ đá, một mình phải chung chạ với bọn pháp lại, ở trong nhà giam âm thầm sâu kín, nỗi lòng biết tỏ cùng ai? ĐIều này thì bản thân Thiếu Khanh cũng tự thấy, việc làm của tôi há không đúng sao?
Lý Lăng đã cầu sống đầu hàng, gia thanh bị sụp đổ, và tôi lại bị đưa xuống nhà tằm, bị thiên hạ chê cười lần nữa. Than ôi, thương thay! Việc này không thể một hai nói cho bọn tục nhân nghe vậy!
Ông cha tôi không có công được chẻ phù phong tước, viết chữ son để lại. Nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch, thì cũng gần với bo jn thầy bói thầy cúng, chúa thượng vẫn đùa bỡi, nuôi như bọn con hát, còn thế tục thì vẫn coi thường. Giả sử tôi có phạm pháp bị giết, thì cũng như chín con trâu mất một sợi lông, có khác gì sâu kiến, mà thế tục lại không thể sánh với việc tử tiết. Họ chẳng qua chỉ cho rằng vì trí cùng, tội quá nặng không thể gỡ nổi cho nên chịu chết đó thôi. Tại sao vậy? ĐÓ là vì danh vị của mình khiến như vậy.
Ai cũng có một lần chết. Cái chết có khi nặng hơn núi Thái Sơn, có khi nhẹ hơn lông chim hồng. Đó là vì chỗ cách dùng nó khác nhau mà ra.
Cao nhất thì không làm nhục đến cha ông; thứ nữa thì khôgn làm nhục đến thân mình; thứ nữa thì không làm nhục đến lý lẽ và dáng mặt; thứ nữa thì không làm nhục đến lời lẽ. Thứ nữa khuất mình chịu nhục; thứ nữa đổi áo chịu nhục; thứ nữa chịu nhục đeo gông cùm, bị roi vọt; thứ nữa chịu nhục bị hủy hoại da thịt chặt chân tay. Hèn nhất là việc bị cung hình. Sách có nói: "HÌnh phạt không đụng đến bậc đại phu". Đó là nói làm kẻ sĩ phải cố gắng giữ lấy tiết tháo. Con mãnh hổ ở trong núi âu, trăm thú đều sợ hãi; nhưng khi nó đã vào cạm bẫy ve vẩy cái đuôi để xin ăn, thì cái oai mấy lâu nay đã mất hết! Cho nên kẻ sĩ có khi vẽ đất làm nhà ngục, mà cũng không thể vào, đẽo gỗ làm pháp lại, mà cũng không chịu đối đáp với nó, đó là vì phải định liệu từ trước.
Nay tôi đã bị trói tay chân, chịu roi vọt, bị giam trong tường ngục. Lấy bấy giờ thấy viên lại coi ngục thì quỳ gối dập đầu xuống đất, thấy bọn chúng canh ngục thì lòng lại bồi hồi. Tại sao vậy? Đó là vì cái uy cũ đã mất, thế đành phải chịu. Đã đến cảnh ấy mà còn nói không nhục, thì thật là hạng mặt dày mày dạn mà thôi! Có gì đáng quý!
Vả chăng, Tây Bá là bá bị giam ở Dũ Lý, Lý Tư là tướng mắc cả năm hình, HOài Âm làm vương, mang gông ở đất Trần; Bành Việt, Trương Ngao quay mắt phí anam tự xưng "Cô" đều bị bỏ ngục, chịu tội; Giáng Hầu giết bọn họ Lữ, quyền nghiêng cả ngũ bá, xưa đã từng bị tù ở Thỉnh thất; Ngụy Kỳ là đại tướng, mặc áo tù mang gông; Quý Bố xích tay làm tên nô lệ cho Chu Gia; Quán Phu chịu nhục trong dinh thừa tướng. Những người này thân đều làm đến vương, hầu, tướng quân, thừa tướng, danh tiếng vang lừng đến nước láng giềng, nhưng khi mắc vào tội, không cả quyết tự sát. Ở trong cảnh trần ai xưa nay đều như thế, nói là không nhục có được đâu!
Cứ thế mà xem, đủ thấy rõ dũng cảm hay nhút nhát, là ở cái thế mà ra, mạnh hay yếu là ở tình hình mà ra, chứ có gì đáng lạ? Con người ta không thể sớm giữ minh fở ngoài quy tắc, dần dần sa sút lâm vào cảnh roi vọt, khi ấy muốn làm cho ra khí tiết thì sao cho được? Cổ nhân sở dĩ cẩn thận về việc bắt đại phu chịu hình phạt, có lẽ là vì thế. Ôi! Nhân tình ai chẳng thích sống ghét chết, nhớ cha mẹ, thương vợ con, nhưng đến khi bị nghĩa lý khích động nên mới phải làm điều cực chẳng đã. Nay tôi không may sớm mất cha mẹ, khong có anh em thân thích, chỉ trơ trọi một mình. Thiếu Khanh xem tôi đối với vợ con như thế nào. Vả chăng kẻ dũng khôgn cần phải chịu chết để giữ khí tiết, kẻ nhát gan mến nghĩa, cái gì cũng gắng làm được. Tôi tuy hèn nhát, tham sống, n hưng cũng biết cái lẽ nên chăng, có đâu đến nỗi tự dìm mình vào trong cái nhục gông trói thế này! Kia hạng tỳ thiếp, tôi tớ, còn biết tự quyết, huống tôi lại không làm được sao? Sở dĩ tôi chịu nhục sống vơ vẩn, nín nhịn cố sống ở nơi dơ bẩn mà không từ chối, là vì lòng riêng có điều chưa làm được hết, cho rằng trọn đời rồi mà văn chương khôgn nên cho đời sau thấy là một sự nhục.
Người xưa giàu sang mà danh bị vùi dập kể không hết. chỉ có những người trác việt phi thường là đựoc người ta nhắc đến mà thôi. Văn Vương bị giam diễn giải Chu dịch. Trọng Ni gặp nạn làm Kinh Xuân Thu, Khuất Nguyên bị đuổi nên ngâm Ly Tao, Tả Khâu bị mù nên có Quốc ngữ, Tôn Tẫn bị c hặt chân, trình bày binh pháp, Bất Vi bị đày sang đất Thục, sách Lữ lãm còn truyền lại ở đời, Hàn Phi bị tù ở Tần, viết Thuyết nan, Cô phẫn, Kinh Thi ba trăm thiên phần lớn đều do thánh hiền phát phẫn mà làm ra. Những người này đều có cái uất ức trong lòng không bầy tỏ được đạo của mình, cho nên thuật việc cũ để lại cho người sau này vậy. Kia xem Tả Khâu khôgn có mắt, Tôn Tẫn bị ch ặt c hân, trọn đời khong thể làm được việc gì, nên lui về viết sách để hả điều căm giận, mong lấy câu văn suông để cho đời biết đến mình. Tôi trộm không chịu nhún nhường, cũng muốn ký thác mình vào n hững lời tầm thường, tìm kiếm thu nhặt những chuyện cũ bỏ sót trong thiên hạ, xét qua việc làm, tóm tắt trước sau, xét việc thành, bại, hưng, vong, trên từ Hiên Viên, dưới đến ngày nay, làm mười biểu, mười hai bản kỷ, tám thư, ba mươi thế gia, bảy mươi liệt truyện, công tất cả là một trăm ba mươi thiên. Ý tôi cũng muốn xét trong khoảng trời đất, thấu suốt sự biến đổi từ xưa đến nay, làm thành lời nói của một nhà. Nhưng khởi thảo chưa xong thì gặp pảhi cái họa này! Tiếc sách chưa xong nên chịu cực hình mà không có vẻ giận. Giá tôi đã làm xong sách ấy rồi, cất giấu nó vào nơi danh sơn, truyền cho con người của nó, phát khắp các ấp lớn, đo thị to, thì tôi cũng xin liều với cái nhục kia, dù bị giết vạn lần cũng có gì là hối hận?
Thế nhưng điều đó có thể bàn với bận trí giả chứ khó lòng nói với bọn tục nhân. Vả chăng đã thất bại rồi thì khó ăn nói, ở nơi thấp hèn bị lắm kẻ chê bai. Tôi vì nói năng mà mắc cái vạ này, lại thêm bị làng xóm chê cười, làm nhục cả cha ông, còn m ặt mũi nào mà lại bước đến nấm mồ của cha mẹ nữa! Tuy đến trăm đời cũng chỉ có thêm ô nhục mà thôi.
Cho nên, ruột một ngày chín lần quặn đau, ngồi bâng khuâng như mất cái gì, đi ra thì không biết đi đâu, mỗi khi nghĩ đến điều nhục đó thì mồ hôi vẫn cứ đầm lưng u ướt áo. thân mình làm quan ở nơi khuê các, muốn ẩn mình vào nơi hang sâu núi thẳm nào được đâu! Cho nên đành nổi chìm theo tục, luồn cúi theo đời để mong thỏa được cái điều điên dại này.
Nay tôi được Thiếu Khanh dạy phải cử người hiền tiến kẻ sĩ chẳng phải ngược với cái lòng riêng của tôi sao? Dù muốn tô vẽ những lời phù phiếm, để tự bào chữa, thì cũng vô ích, thế tục chẳng tin, chỉ thêm nhục nhã! Dẫu sao đợi đến ngày chết việc phải trái mới định.
Thơ không thể nói hết ý, chỉ bày qua lời lẽ quê mùa. Kính lạy hai lạy.
Đường và chân là đôi bạn thân. Chân đi chơi, chân đi học, đường ngang dọc đường dẫn tới nơi.
Đăng nhập để trả lời
0
Tần Thủy Hoàng Bản Kỷ

1. Tần Thủy Hoàng Đế là con của Trang Tương Vương nước Tần. Trang Tương Vương làm con tin của Tần ở nước Triệu, thấy người thiếp của Lữ Bất Vi, thích, nên lấy, sinh Tần Thủy Hoàng, vào tháng giêng năm thứ 48 đời Tần Chiêu Vương, ở Hàm Đan, đặt tên là Chính, họ Triệu. Khi lên 13 tuổi, Trang Tương Vương chết, Chính thay, được lập làm Tân Vương (năm 247 trước công nguyên).
Lúc bấy giờ Tần đã thôn tính các đất BA, T hục, Hán, Trung, Việt, Uyển; lại có đất Sính, ở đấy đặt Nam Quận. Miền bắc lấy Thượng Quận trở về phía đông, gồm có các quận Hà Đông, Thái Nguyên, Thượng Đảng; phía đông đến Huỳnh Dương; diệt hai nhà Chu, đặt quận Tam Xuyên, Lữ BẤt Vi làm thừa tướng được cấp mười vạn hộ làm đất phong, hiệu là Văn Tín hầu, mời các tân khách, du sĩ để lo việc lấy thiên hạ. Lý Tư là xá nhân của Bất Vi. Bọn Mông, Ngao, Vương, Ỷ, Biều Công làm tướng...
2. Năm thứ 26 (năm 221 trước công nguyên). Tề Vương là Kiến cùng thừa tướng là Hậu Thắng đem quân giữ biên giới phía tây, đoạn tuyệt với Tần. Tần sai tướng quân Vương Bôn đi qua phía nam nước Yên đánh Tề bắt được vua Tề là Kiến. Tần lần đầu tiên thôn tính được tất cả thiên hạ, ra lệnh cho thừa tướng và ngự sử như sau:
"Trước đây, vua Hàn nộp đất, hiến dâng ấn tín, xin làm bầy tôi ở ngoài rào giậu. Được ít lâu, vua Hàn bội ước, hợp tung với Triệu và Ngụy, phản lại nước Tần. Cho nên đem quân tiêu diệt, cầm tù vua Hàn. Quả nhân cho đó là việc tốt, hy vọng có thể dẹp tắt được binh nhung. Vua Triệu sai thừa tướng Lý Mục đến giao ước ăn thề, cho nên ta cho con của TRiệu đang làm con tin ở Tần về. Được ít lâu, vua Triệu lại bỏ lời thề, phản lại ta ở Thái Nguyên, cho nên ta đem quân tiêu diệt, bắt vua Triệu. Công tử nước Triệu là Gia lại tự lập làm Đại Vương cho nên ta đem quân đánh và tiêu diệt. Vua Ngụy lúc đầu giao ước phục tùng sáp nhập vào Tần, được ít lâu, lại bàn mưu với các nước Hàn, Triệu đánh úp nước Tần, nhưng bị quan quân của TẦn giết chết và đánh tan. Vua nước Kinh hiến đất đai từ Thanh Dương về phía Tây, được ít lâu, lại phản lời ước, đánh Nam Quận của ta, cho nên ta đem binh tiêu diệt, bắt đuợc vua Kinh, sau đó bình định đất Kinh. Vua nước Yên hôn ám làm loạn, thái tử nước Yên là Đan lại ngầm sai Kinh Kha ám sát ta, tướng sĩ của ta đánh tiêu diệt nước Yên. Vua Tề dùng mưu kế của Hầu T hắng, cắt đứt liên lạc với Tần và muốn làm loạn. Ta sai quân đánh cầm tù vua Tề, bịnh định đất Tề. Quả nhân, một người nhỏ bé hưng binh trừ khử bọn bạo nghịch làm loạn. Nhờ uy linh của tôn miếu, sáu nước đều chịu tội, thiên hạ bình định. Nay nếu không thay đổi danh hiệu thì không sao xứng với công lao đã làm được và truyền cho đời sau. Các ngươi hãy bàn nên đặt hiệu đế thế nào".
Thừa tướng là Vương Quán, ngự sử đại phu Phùng Kiếp, đình úy Lý Tư đều tâu:
- Ngũ Đế ngày xưa chỉ đất vuông ngàn dặm, ngoài ra là đất đai của chư hầu và của man di, họ vào chầu hay không thiên tử cũng không sao cai quản được. Nay bệ hạ dấy nghĩa binh, giết bọn tàn ác và nghịch tặc, bình định được thiên hạ, bốn biển thành quận và huyện, pháp luật và mệnh lệnh đều thống nhất ở một nơi, từ thượng cổ đến nay chưa hề có, Ngũ Đế đều không bằng. Bọn thần sau khi bàn bạc kĩ lưỡng với các bác sĩ thấy rằng: Ngày xưa có Thiên hoàng, Địa hoàng, Thái hoàng, nhưng Thái hoa nfg là cao quý nhất. Bọn thần liều chết xin dâng tôn hiệu của nhà vua là Thái hoàng, mệnh ban ra gọi là "chế", lệnh ban ra gọi là " chiếu", thiên tử tự xưng gọi là "trẫm".
Nhà vua nói:
- Ta bỏ chữ "thái", lấy chữ "hoàng", thêm chữ "đế" của những vị đế thời thượng cổ hiệu gọi là Hoàng đế còn những điều khác thì như lời các khanh tâu.
Một đạo "chế" ban ra chấp nhận điều đó. Truy tôn Trang Tương Vương làm Thái thượng hoàng.
Một tờ chế nói:
"Trẫm nghe nói thời thái cổ có hiệu nhưng không có hiệu bụt. Thời trung cổ có hiệu và sau khi chết người ta căn cứ vào việc làm của nhà vua mà đặt hiệu bụt. Làm như thế tức là con bàn bạc về cha, tôi bàn luận về vua, thật là vô nghĩa. Trẫm không chấp nhận điều ấy. Từ nay trở đi, bỏ phép đặt hiệu bụt. Trẫm là Thủy Hoàng đế, các đời sau cứ theo số mà tính: Nhị Thế, Tam Thế đến Vạn Thế truyền mãi mãi".
Thủy Hoàng xét việc năm đức lần lượt thay đổi nhau nên cho nhà Chu được "hỏa đức", nhà Tần thay đức nhà Chu thì phải theo cái đức mà "hỏa" không thắng được. Từ nay là "thủy đức" bắt đầu, đổi đầu năm, việc triều cống chúc mừng đều bắt đầu từ mồng một tháng 10. Áo, quần cờ tiết, cờ mao đều dùng màu đen, lấy số 6 làm đơn vị, các phù và các mũ đều dài sáu tấc, trục xe sáu thước, sáu thước làm một bộ, đi xe sáu ngựa, đổi tên sông Hoàng Hà là Đức Thủy vì cho rằng "thủy đức" bắt đầu. Cai trị thì cứng rắn nghiêm nghị, gay gắt, sâu sắc, mọi việc đều dùng pháp luật để quyết định, khắc bạc, không dùng nhân đức, ân nghĩa. Có thế mới hợp với con số năm đức.
Do đó, nhà Tần chú ý gay gắt về pháp luật, trong một thời gian dài không tha tội cho ai.
Bọn thừa tướng Vương Quán nói:
- Chư hầu vừa bị tiêu diệt. Nay các đất Yên, Tề, Kinh đều ở xa nếu không đặt vua thì không làm sao kiềm chế được họ, xin lập các con trong hoàng tộc làm vua. Xin hoàng thượng lập theo ý của mình.
Thủy hoàng đưa lời tâu ấy xuống cho các quan bàn bạc. Các quan đều cho là tiện, nhưng đình úy Lý Tư nói:
- Vua Văn Vương, Vũ vương nhà Chu phong con em cùng họ làm vua rất nhiều, nhưng về sau dòng họ càng ngày càng xa, họ đánh lẫn nhau, xem nhau như thù. Chu hầu càng giết nhau, đánh nhau, thiên tử nhà Chu không làm sao ngăn cấm được. Nay bốn bể đã nhờ thần linh của bệ hạ mà được thống nhất đều làm quận, huyện. Các con và các công thần đã được thu tô và thuế của nhà nước, và được trọng thưởng. Như thế là đủ lắm rồi. Làm thế thì dễ cai trị: thiên hạ không có ý gì khác. Đó là cái thuật trị an, vậy đặt chư hầu không tiện.
Thủy Hoàng nói:
- Thiên hạ đều khổ vì việc chinh chiến liên miên, đó là do có hầu có vương mà ra. Nay nhờ tôn miếu, thiên hạ vừa mới được bình định mà lại lập các nước lên thì cũng như là tự gây ra binh đao mà muốn được thái bình nghỉ ngơi, chẳng phải là khó lắm sao? Điều của đình úy nói là đúng.
Bèn chia thiên hạ làm 36 quận, đặt các quan thú, úy, giám, đổi gọi "dân" là "đầu đen". Mở một bữa tiệc lớn, thu tất cả binh khí trong thiên hạ tập hợp ở Hàm Dương, đúc làm chuông, giá chuông và mười hai người bằng kim khí mỗi người nặng 1000 thạch, đặt ở trong cung. Thống nhất pháp luật, các cân, phép đo lường, các thạch, trượng, thước; trục xe đều dài như nhau, chữ viết cùng lối như nhau.
Đất đai chạy dài phía đông đến biển và đất Triều Tiên; phía tây đến Lâm T hao, Khương Trung; phía nam đến miền cửa nhà quay mặt về hướng bắc; phía bắc lấy Hoàng Hà làm biên giới và men theo Âm Sơn đến tận Liêu Đông. Sai dời các nhà hào phú trong thiên hạ đến Hàm Dương tất cả 12 vạn nhà. Các miếu, cũng như điện Chương Đài, vườn Thượng Lâm đều ở phía nam sông Vị. Mỗi khi láy được chư hầu, Tần thường vẽ lại các cung thất của nước đó rồi dựng lên ở bờ phía bắc Hàm Dương, phía nam các cung điện này nhìn ra sông Vị. Từ cửa Ung Môn về phía đông đến sông Kinh, sông Vị, các điện, các cung thất các đường phức đạo và đường gác liền nhau. Bắt được bao nhiêu người đẹp và chuông trống của chư hầu đều đưa vào đấy.
Năm thứ 27, Thủy Hoàng đi tuần Lũng Tây, Bắc Địa, ra khỏi núi Kê Đầu Sơn đi qua Hồi Trung. Sai xây Tín cung ở phía nam sông Vị, sau lại đổi tên Tín cung là Cực miếu để bắt chước sao Thiên cực. Từ Cực miếu có con đường thông lên núi Ly Sơn, sai xây tiền điện Cam Tuyền, đắp đường ống chạy mãi đến Hàm Dương. Năm ấy thưởng tước một cấp, làm những con đường nhà vua đi.
Năm thứ 28. Thủy Hoàng đi về phía đôgn đến các quận và các huyện, lên núi Trâu Dịch, dựng đá cùng các nho sinh nước Lỗ bàn vie ẹc khắc vào đá để ca tụng công đức nhà Tần và bàn việc phong thiện.
3. Năm thứ 33, Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn bán đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải; cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ. Ở phía tây bắc, đánh đuổi Hung Nô từ Du Trung dọc theo sông Hoàng Hà đi về đông đến Am Sơn tất cả 34 huyện, xây thành trên sông Hoàng Hà để làm giới hạn. Lại sai Mông Điềm vượt sông Hoàng Hà lấy đất Cao Khuyết, Đào Sơn, Bắc Giã, xây đình và thanh flũy ở đấy để đuổi người Nhung và đưa những người bị đày đến đấy để ở và lần đầu những nơi này trở thành huyện. Cấm không được thờ. Sao sáng xuất hiện ở phương tây.
Năm thứ 34, đem đày những quan coi ngục không thanh liêm đi xây trường thành và đi thú ở đất Nam Việt. Thủy HOàng đặt tiệc rượu ở cung Hàm Dương, bảy mươi vị bác sĩ đến chúc thọ. Quan bộc dịch Chu Thanh Thần tiến lên ca ngợi:
- Ngày xưa đất Tần chẳng qua nghìn dặm, nay nhờ bệ hạ thần linh sáng suốt nên bình định được bốn biển, đuổi được man di, mặt trời mặt trăng chiếu đến đâu thì nơi ấy theo phục, đổi các nước chư hầu thành quận, huyện, mọi người thấy yên vui không phải lo về nạn chiến tranh, truyền đến vạn đời, từ thượng cổ đến nay, không ai uy đức bằng bệ hạ.
Thủy Hoàng bằng lòng, Thuần Vu Việt, người Tề, làm bác sĩ tiến lên nói:
- Tôi nghe nhà Ân và nhà Chu làm vua hơn nghìn năm, phong các con em và công thần làm chi nhánh để giúp đỡ cho mình. Nay bệ hạ có bốn biển nhưng con em vẫn là kẻ thất phu, nếu bỗng chốc có xảy ra việc như Diền Thường hay lục khanh, thì không ai giúp đỡ, làm sao có thể cứu lẫn nhau được. Trong công việc, khôgn bắt chước đời xưa mà có thể lâu dài thì đó là điều chưa hề nghe nói. Nay bọn Thanh Thần lại xiểm nịnh bệ hạ để làm cho điều sai lầm của bệ hạ thêm nặng. Như thế không phải là kẻ trung thần.
Thủy Hoàng đưa lời can của ông ta xuống các quan bàn. Thừa tướng Lý Tư nói:
- Ngũ đế không lặp nhau, Tam đại không bắt chước nhau, đời nào trị dân theo cách của đời đó, không phải vì họ phản lại nhau, chính vì thời thế thay đổi cho nên như vậy. Nay bệ hạ lần đầu tiên làm nên nghiệp lớn, dựng lên cái công vạn đời, đó không phải là điều bọn nhà Nho ngu ngốc biết được. Vả chăng, điều Thuần Vu Việt nói là những việc của thời Tam đại, làm sao có thể đủ cho ta bắt chước? Trước đây, các nước chư hầu tranh nhau, hậu đãi đón mời những người du thuyết. Nhưng bây giờ thiên hạ đã bình định, luật pháp, mệnh lệnh đều từ một nơi ban ra, trăm họ làm ăn ra sức lo về nghề nông, nghề công, kẻ sĩ thì học tập pháp luật, mệnh lệnh, những điều ngăn cấm. Nay các Nho sinh không theo thời nay mà học thời xưa để chê bai thời nay làm cho bọn "đầu đen" rối loạn, thần Tư này là thừa tướng xin liều chết nói rằng: Ngày xưa thiên hạ phân tán rối loạn không ai thống nhất dược. Vì vậy cho nên các chư hầu cùng trị vì một lúc, khi nói thì mọi người đều nói việc xưa làm hại việc nay, trau chuốt những lời nói suông làm loạn việc thực, mọi người đều lấy cái học riêng của mình để chê bai những điều nhà vua làm. Nhưng nay Hoàng đế đã thâu tóm cả thiên hạ, phân biệt trắng đen mà định ra điều duy nhất được tôn trọng. Những kẻ học Nho theo cái học riêng củ amình lại cùng nhau chê cười pháp luật rồi đem dạy cho người ta. Khi nghe lệnh ban xuống thì họd dều lấy cái học riêng của mình để bàn tán. Khi vào triều, thì trong bụng chê bai. Ra đường thì bàn bạc chê vua của mình để lấy danh, làm cho khác người để tỏ là cao, bày cho kẻ ở dứoi phỉ báng. Nếu như thế mà không cấm thì ở trên uy thế của nhà vua sẽ bị giảm sút; ở dưới các bè đảng sẽ nổi lên. Nên cấm làm hơn. Thần xin đốt tất cả các sách sử, trừ những sách sử của nhà TẦn. Trừ những người làm chức bác sĩ, ai cất giấu Kinh Thư, Kinh Thi, sách vở của trăm nhà thì đều đem đến các quan thú, quan úy mà đốt đi, hai người dám bàn nhau về việc Kinh Thi, Kinh Thư thì chém giữa chợ, lấ yđời xưa mà chê đời nay thì giết cả họ. Quan lại biết mà không tố cáo, thì cũng bị tội. Lệnh ban ra trong ba mươi ngày không đốt sách thì khắc vào mặt cho đi thú để xây và canh giữ trường thành. Những sách không bỏ là sách thuốc, sách bói, sách trồng cây. Ai muốn học pháp luật thì thờ quan lại làm thầy.
Chế của nhà vua nói: "Được".
Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Thủy Hoàng cho rằng ở Hàm Dương người thì đông mà cung đình các vua trứoc thì nhỏ, nói:
- Ta nghe vua Văn Vương nhà chu đóng đô ở đất Phong và Vũ vương đóng đô ở đất Cảo, miền giữa Phong và Cảo là đô của đế vương.
Bèn sai xây cung để tiếp các triều thần ở phía nam sông Vị. Trong vườn Thượng Lâm trước tiên sai xây cái điện đằng trước cửa cung A Phòng dài 500 bộ từ đông sang tây, rộng 50 trượng, từ nam đến bắc, ở trên có thể ngồi một vạn người, ở dưới có thể cắm cờ cao 5 trượng. Xung quanh sai làm đường gác từ dưới điện chạy thẳng cho đến đỉnh núi Nam Sơn. Sai dựng cái cửa ở núi Nam Sơn để ra vào, làm đường phức đạo từ cung A Phòng vượt qua sông Vị đi mãi đến Hàm Dương để bắt chưứoc con đường của sao Thiên cực, sao này qua sông Ngân Hà đến tận sao Dinh Thất. Khi cung A Phòng chưa xây xong, nhà vua muốn tìm một cái tên đẹp mà gọi. Vì cung này gần cung thất nhà vua cho nên thiên hạ gọi nó là cung A Phòng. Đưa những người bị tội thiến ở An Cung hơn 70 vạn người chia nhau xây cung A Phòng hoặc đắp núi Ly Sơn. Lấy cái quách bằng đá ở núi Bắc Sơn, lấy gỗ từ đất Thục, đất kinh chở về đến nơi ấy.
Ở Quan Trung, số cung đến 300 cái, ở ngoài Quan Trung hơn 400 cái. Thủy Hoàng bèn sai dựng đá ở bờ biển Đông Hải thuộc đất Cù để làm cửa phía đông của Tần, nhân đấy dời 3 vạn nhà đến Ly Ấp, 5 vạn nhà đến Vân Dương, những nhà này đều được tha việc công dịch mười năm.
Lư Sinh nói với Tần Thủy Hoàng:
- Bọn thần đi tìm cây "chi" là thứ thuốc lạ, nhưng thường không gặp "tiên", xem ra có vật gì cản trở. Trong pháp thuật có phép vi hành để tránh ác quỷ, tránh được ác quỷ thì "chân nhân" mới đến. Nếu kẻ bày tôi đều biết được nơi nhà vua ở thì có hại đến thần. Bậc "chân nhân" đi vào nước khôg ướt, đi vào lửa không cháy, bay lên mây, cùng trường thọ với trời đất. nay nhà vua cai trị thiên hạ vẫn chưa nghỉ ngơi đuợc chút gì. Xin nhà vua ở cung nào đừng cho ai biết, thì sau đó mới có thể được thuốc bất tử.
Thủy Hoàng nói:
- Ta rất thích bậc "chân nhân"
Và tự coi là "chân nhân" chứ không gọi là "trẫm".
Thủy Hoàng bèn ra lệnh: "Trong vòng hai trăm dặm xung quanh Hàm Dương, 270 cung điện ở đấy có đường phức đạo và đuờng ống liền nhau; đem màn trướng trống chiêng cùng gái đẹp đưa vào các cung không cho xê dịch. Vua đến đâu nếu có kẻ nào nói nơi nhà vua ở thì bị tội chết".
Thủy Hoàng đến cung Lương Sơn đứng trên núi thấy xe, quân kỵ của thừa tướng rất đông, không bằng lòng. Có kẻ nói với thừa tướng. Sau đó thừa tướng bớt xe và quân kỵ đi.
Thủy Hoàng nổi giận nói:
- Thế nào cũng có kẻ tiết lộ điều ta đã nói.
Khi tra xét thì không ai thú. Nhà vua bèn sai bắt tất cả những người ngồi cạnh lúc nhà vua nói câu đó và giết đi. Từ đó về sau, không ai biết nhà vua đi đâu. Khi nghe công việc thì quần thần chỉ nhận được những điều đã quyết định, mọi việc đều giải quyết ở trong cung Hàm Dương.
Hầu Sinh và Lư Sinh bàn nhau:
- Thủy Hoàng tính khí bướng bỉnh, gàn dở, chỉ nghe theo mình. Xuất thân là chư hầu, thâu tóm cả thiên hạ, ý chí tự đắc, muốn gì được nấy, tự cho rằng từ xưa đến nay không ai bằng mìinh, chuyên dùng bọn pháp quan. Bọn pháp quan được yêu quý, bác sĩ tuy có 70 người nhưng chỉ cho đủ số chứ không dùng. Thừa tướng và các quan đại thần đều nhận được nhữn gđiều đã quyết định xong còn việc làm là ở nhà vua. Nhà vua thích việc hình phạt chém giết để ra uy. Thiên hạ sợ tội múôn giữ bổn glộc không ai dám hết lòng trung. Nhà vua không nghe nói đến sai lầm của mình nên ngày càng kiêu ngạo. Ở dưới thì sợ nép một bề, nói dối để được dung thân. Theo phép nhà Tần không được làm hai nghề, làm sai là chết ngay. Những kẻ xem sao, khí mây có đến 300 người đều là những người giỏi nhưng đều sợ hãi, trốn tránh a dua, không dám nói đến những sai lầm của nhà vua. Công việc trong thiên hạ không kể lớn nhỏ đều do nhà vua quyết đoán. Đến nỗi nhà vua phải lấy thạch mà cân giấy tờ , một ngày một đêm không làm đủ một thạch thì không được nghỉ ngơi. Con người ham quyền thế như vậy không thể nào tìm thuốc tiên cho ông ta được.
Hai người bèn bỏ trốn. Thủy Hoàng nghe nói họ bỏ trốn thì nổi giận nói:
- Trước đây ta thu các sách trong thiên hạ, sách nào không dùng được thì bỏ đi, sai triệu tập tất cả những người có văn học và những phương sĩ, thuật sĩ rất đông, muốn làm cho thiên hạ thái bình. Ta triệu tập bọn thuật sĩ là muón họ tìm thuốc lạ, nay nghe nói bọn Hàn bỏ đi không báo với ta, bọn Từ Phúc làm ta tốn kém hàng ức vạn, nhưng cuối cùng vẫn không đuợc thuốc, ngày ngày chỉ nghe chúng nói với nhau về việc tham lợi riêng của chúng. Bọn Lư Sinh được ta tôn quý, thửong cho rất nhiều nhưng lại phỉ báng ta để làm nặng điều sai lầm của ta, bọn nhà Nho ở Hàm Dương được ta sai người hỏi thì có kẻ đặt ra những lời nói nhảm để làm loạn bọn "đầu đen".
Bèn sai ngự sử xét tất cả các nhà Nho. Các nhà Nho tố giác lẫn nhau, có hơn 460 người phạm điều đã cấm. Thủy Hoàng sai chôn sống tất cả ở Hàm Dương, báo cho thiên hạ biết điều đó để làm răn. Sau đó lại sai đày ra biên giới nhiều người bị tội để đi thú.
Con cả của Thủy Hoàng là Phù Tô can:
- Thiên hạ mới được bình định. Những kẻ "đầu đen" ở phương xa vẫn chưa theo ta. Các nho sinh đều học theo Khổng Tử, nay bệ hạ dùng pháp luật nặng để trói buộc họ thì thần sợ thiên hạ không yên, xin bệ hạ nghĩ đến điều đó.
Thủy Hoàng nổi giận sai Phù Tô đi lên miền bắc để giám sát Mông Điềm ở Thượng Quận.
Năm thứ 36, sao Huỳnh Hoặc ở vào khu vực của sao Tâm, có ngôi sao rơi xuống Đông Quận. Khi rơi xuống đất thì thành đá. Có bọn "đầu đen" khắc vào đá: "Thủy Hoàng chết thì đất bị chia". Thủy Hoàng nghe tin ấy, sai ngự sử tra hỏi , nhưng khôgn ai thú, bèn bắt tất cả những người ở gần đấy giét đi và đốt chảy hòn đá. Thủy Hoàng không vui, sai các bác sĩ làm thơ ca ngợi "tiên" và "chân nhân" cùng những nơi trong thiên hạ mà mình đã đi chơi. Sai nhạc công ca và đàn hát những bài ấy. Mùa thu, sứ giả đang đêm từ Quan Đông đi qua Hoa Âm trên đường Bình Thư. Có người cầm ngọc bích chặn đường sứ giả mà nói:
- Ông làm ơn đưa viên ngọc này cho vua Hạo Trì. Nhân đấy nói rằng: năm nay thì Tổ Long chết.
Sứ giả hỏi:
- Tại sao?
Người ấy biến mất để lại viên ngọc bích ở đấy. Sứ giả cầm ngọc bích kể lại đầu đuôi cho nhà vua nghe. Thủy Hoàng nín lặng hồi lâu nói:
- Quỷ núi chẳng qua chỉ biết việc xảy ra trong một năm mà thôi.
Khi vào cung nói:
- Tổ Long, đó là tổ tiên của người.
Vua sai ngự phủ xem ngọc bích thì đó là viên ngọc nhà vua để chìm khi vượt qua Trường Giang năm thứ 28. Thủy Hoàng sai bói, trong quẻ nói: "Đi chơi thì tốt". Thủy Hoàng bèn sai dời 3 vạn nhà đến Du Trung ở Bắc Hà, thưởng cho các quan thêm một cấp.
4. Tháng mười năm thứ 37 (năm 211 trước công nguyên) ngày quý sửu, Thủy Hoàng đi chơi, tả thừa tướng Lý Tư đi theo, hữu thừa tướng Khứ Tật ở nhà. Hồ Hợi, con nhỏ của Thủy Hoàng, được nhà vua yêu mến xin đi theo, vua bằng lòng. Tháng 11, đi đến Vân Mộng, tế vua Thuấn ở núi Cửu Nghi, đi thuyền qua sông Trường Giang xem Tích Kha vượt qua bãi ngoài biển, qua Đan Dương đến Tiền Đường, đi đến Chiết Giang gặp lúc sóng to nổi lên nên đi về phía tây một trăm hai mươi dặm, qua sông ở nơi dòng hẹp, lên Cối Kê tế vua Vũ, nhìn ra biển Nam Hải dựng đá khắc công đức nhà Tần.
Sau đó trở về, đi qua đất Ngô theo sôgn Trường Giang qua đò ở Giang Thặng và đi dọc theo bờ biển lên phía bắc đến đất Lang Gia.
Bọn phương sĩ Từ Phúc ra ngoài biển tìm thuốc thần mấy năm không được, tốn kém rấ tnhiều. Chúng sợ bị trừng trị bèn lừa dối nói rằng thuốc của Bồng Lai có thể lấy được, nhưng bị con cá giao lớn làm khổ, cho nên không đến được, xin nhà vua cấp cho người thiện xạ cùng đi, lấy cái nỏ bắn nhiều phát một lúc để bắn. Thủy Hoàng nằm mơ thấy mình đánh nhau với thần biển hình người. Bèn hỏi người đoán mộng.
Bác sĩ nói:
- Thủy thần không thể trông thấy nên hiện thành con cá giao. Xin nhà vua cầu khấn, thờ phụng có đủ lễ vật thì mới trừ được thứ thần ác và làm cho thần thiện có thể đến được.
Nhà vua bèn sai người ra biển mang đồ bắt cá lớn, còn tự mình cũng làm nỏ bắn nhiều phát một lúc, chờ khi nào cá lớn xuất hiện thì bắn. Nhà vua đi từ Lang Gia về phía bắc đến núi Huỳnh Thành nhưng không thấy cá. Đến Chi Phù thì thấy cá lớn, giết chết một con. Sau đó đi dọc theo đường biển. Khi đi về phía tây đến bến Bình Nguyên thì bị bệnh.
Thủy Hoàng ghét người ta nói đến việc chết, cho nên quần thần không ai dám nói với nhà vua về việc chết. Khi bệnh càng nặng nhà vua bèn viết thư đóng dấu của vua gửi đến công tử Phù Tô nói: "Con về Hàm Dương với đám tang, và chôn cất ta ở đấy". Bức thư đã niêm phong ở trong phủ trung xa thuộc quyền Triệu Cao. Bức thư có dấu của nhà vua làm tin chưa giao cho sứ giả thì ngày bính dần tháng bảy, Thủy Hoàng chết tại Bình Đài thuộc đất Sa Khâu.
5. Thừa tướng Lý Tư thấy nhà vua chết ở xa kinh đô sợ các công tử và thiên hạ có biến loạn, bèn giấu kín điều đó, không báo tang, chở quan tài trong một cái xe mát, cho một người hoạn quan được vua yêu ngồi trong xe, đến đâu thì dâng thức ăn, trăm quan vẫn tâu việc như thường. Viên hoạn quan ở trong xe nghe lời tâu liền bảo: "Đuợc!". Chỉ có Hồ Hợi, Triệu Cao và một vài hoạn quan thân tín của nhà vua, tất cả có năm sáu người biết là nhà vua đã chết.
Triệu Cao trước đây đã có lần dạy Hồ Hợi học viết cùng với pháp luật, mệnh lệnh. Hồ Hợi yêu quý Triệu Cao. Triệu Cao bèn cùng công tử Hồ Hợi và thừa tướng Lý Tư âm mưu phá hủy bức thư của Thủy Hoàng gửi cho công tử Phù Tô mà bịa đặt thành ra chuyện thừa tướng Lý Tư đã nhận được tờ chiếu của Thủy Hoàng ở Sa Khâu trước khi chét bảo lập Hồ Hợi làm thái tử. Lại làm một bức thư khác gửi cho công tử Phù Tô và Mông Điềm kể tội hai người, ra lệnh cho hai người phải chết. Câu chuyện này nói kỹ trong truyện Lý Tư. Xe đi từ Tỉnh Hình đến Cửu Nguyên. Gặp lúc trời nắng, chiếc xe mát phát ra mùi thối, bèn sai các quan đi theo chở trên xe một thạch cá muốn để đánh lẫn mùi thối. Đi theo đường thẳng đến Hàm Dương, báo tang.
Thái tử Hồ Hợi lên nối nghiệp làm Nhị Thế hoàng đế.
Tháng 9, chôn Thủy Hoàng ở Ly Sơn. Khi Thủy Hoàng mới lên ngôi đã sai đào núi Ly Sơn. Đến khi thôn tính được thiên hạ, thì dời hơn 70 vạn người trong thiên hạ đào ba con suối, ở dứoi đổ đồng và đưa quách vào. Đem những đồ quý báu của các cung, của trăm quan xuống cất đày ở dưới. Lại sai thợ làm máy bắn tên có ai đào đến gần thì bắn ra. Sai lấy thủy ngân làm một trăm con sông, sông Trường Giang, sông Hoàng Hà và biển lớn. Cá cmáy móc làm cho nước sông và biển chảy vào nhau. Ở trên có đủ thiên văn, ở dứoi có đủ địa lý, lấy đầu cá nhân ngư để thắp đuốc, trù tính thế nào để cháy lâu không tắt.
Nhị Thế nói:
- Những người ở hậu cung của tiên đế nếu không có con mà cho ra ngoài thì không tiện.
Sai chôn theo tát cả. Số người chết rất nhiều. Sau khi chôn cất xong, có người nói: những người thợ làm máy và cất giấu đều biết chỗ cất giấu, thế nào họ cũng tiết lộ việc lớn. Cho nên sau khi cất giấu xong, sai đóng đường hầm đi đến huyệt, lại sai đóng cửa ngoài đường hầm. Những người thợ và những người cất giấu của cải không làm sao thoát ra được. Rồi sai trồng cây, trôgn cỏ lên trên để có vẻ như cái núi.
6. Năm thứ nhất, đời Nhị Thế hoàng đế (năm 209 trước công nguyên). Nhị Thế lên ngôi lúc 21 tuổi. Triệu Cao làm lang trung lệnh được tin dùng. Nhị Thế ra chiếu sai tăng thêm các vật tế ở miếu TẦn Thủy Hoàng cũng như nghi lễ tế các thần núi, thần sông. Ra lệnh cho quần thần bàn việc suy tôn miếu của Thủy Hoàng. Quần thần đều dập đầu nói:
- Ngày xưa thiên tử có bảy miếu, chư hầu có năm miếu, đại phu có ba miếu, tuy đến vạn đời cũng không bỏ cái lệ ấy. Nay Thủy Hoàn glàm cực miếu, trong bốn biển đều hiến cống vật, tặng các vật tế, lễ rất đầy đủ, khôgn còn gì thêm được nữa. Miếu của tiên vương hoặc ở Tây Ung hoặc ở Hàm Dương. Thiên tử theo nghi lễ chỉ nên hiến rượu ở miếu Thủy Hoàng thôi.
Bỏ tất cả nhóm bảy miếu xây từ Tương Công trở xuống. Quần thần đều theo lễ đến cúng để tôn miếu của Thủy Hoàng làm tổ miếu của các vị đế. Nhà vua lại tự xưng là "trẫm".
Nhị Thế bàn với Triệu Cao:
- Trẫm tuổi còn nhỏ mới lên ngôi, bọn "đầu đen" chưa theo. Tiên đế trước đây đi tuần hành các quận và các huyện để tỏ uy thế làm bốn biển phục tùng. Nay nếu trẫm để yên không tuần hành tức là tỏ ra mình yêu không làm cho thiên hạ thần phục.
Mùa xuân, Nhị Thế đi về hướng đông đến các quận các huyện, Lý Tư đi theo đến Kiệt Thạch; Nhị Thế đi theo bờ biển phía nam đến Cối Kê rồi khắc lên tất cả những cái bia Thủy Hoàng đã dựng nên. Bên cạnh những cái bia này, dựng một cái bia viết tên các vị quan to đi theo để nêu cao công lao và đức lớn của tiên đế.
Hoàng đế nói: Những điều khắc trên vàng trên đá đều là những điều Thủy Hoàng đế đã làm, ta nay tuy nối tước hiệu của người, nhưng những lời khắc trên vàng, trên đá đều còn rất xa không thể sánh với công đức của người. Những người làm vua sau này nếu khắc thì chờ sánh ngang với công lao và đạo đức to lớn của người.
Thừa tướng Lý Tư, Khứ Tật, ngự sử đại phu là Đức liều chết nói:
- Chúng tôi xin khắc chiếu thư này ở khắp nơi và khắc lên đá để cho sáng rõ. Chúng tôi liều chết xin làm thế.
Chế đưa ra nói: "Được".
Nhị Thế đến Liêu Đông rồi trở về.
Nhị Thế bèn theo mưu mô Triệu Cao tăng thêm nhiều luật lệ mệnh lệnh. Nhị Thế bàn mưu với Triệu Cao:
- Các quan đại thần không phục, quan lại còn mạnh, các công tử thế nào cũng tranh nhau với ta. BÂy giờ nên làm thế nào?
Triệu Cao nói:
- Thần vốn muốn nói điều ấy đã lâu nhưng chưa dám nói. Các quan đại thần của tiên đế, đều là những người có danh tiếng và quyền quý đã mấy đời, công lao chồng chất truyền lại đời đời. Nay Cao vốn là người hèn mọn được bệ hạ thương đến cho làm ở địa vị trên, lo những côgn việc quan trọng nhất, các quan đại thần đều bực bội chỉ theo thần ngoài mặt chứ trong lòng thực không phục. Nay bệ hạ đi ra, khôgn nhân cơ hội này xét những người làm thú, làm úy trong các quận, các huyện, thấy người nào có tội thì giết đi, trước hết để ra oai với thiên hạ, sau đó để trừ những người bình sinh bệ hạ không thích. Trong lúc này không thể theo văn mà phải dùng võ lực để quyết định, xin bệ hạ theo thời mà làm đừng nghi ngờ gì và quần thần không được bàn bạc. Vị vua sáng thu nhận, cất nhắc những người dân hèn; người nào hèn thì cho họ được sang; người nào nghèo thì cho họ được giàu; người nào xa thì cho họ được đến gần. Làm như thế, trên dứoi sẽ theo mà nước được an.
Nhị Thế nói:
- Phải đấy!
Bèn giết các quan đại thần và các công tử, tội lỗi liên lụy đến những viên quan nhỏ hầu hạ nên họ cũng đều bị giết. Các quan tam lang không còn ai sống sót, sáu vị công tử bị giết ở đất Đỗ. Công tử Tương Lư anh em ba người bị tù ở trong nội cung, bị luận tội sau cùng. Sau đó Nhị Thế sai sứ giả bảo với Tương Lư:
- Công tử khôgn làm tròn phận sự bầy tôi, tội đáng chết, quan lại đến thi hành pháp luật.
Tương Lư nói:
- Nghi lễ trong triều tôi chưa bao giờ khôgn theo, ngôi thứ ở chốn miếu đường tôi chưa bao giờ dám làm sai, nhận mệnh lệnh và ứng đối tôi chưa bao giờ dám lỡ lời. Bảo k hông làm nhiệm vụ bầy tôi là thế nào xin ông cho biết tội để rồi chịu chết?
Sứ giả nói:
- Tôi không được bàn việc ấy, chỉ mang thư đến đây làm tròn phận sự.
Tương Lư bèn ngẩng đầu lên trời kêu to ba tiếng rồi rút kiếm tự sát.
Cả tôn thất run sợ, quần thần ai ngăn cản thì phạm tội phỉ báng. Các quan đại thần thì lo giữ lộc để được yên thân, những kẻ "đầu đen" thì sợ hãi.
Tháng 4, Nhị Thế về đến Hàm Dương nói:
- Tiên đế cho triều đình ở Hàm Dương nhỏ, nên sai xây cung A Phòng. Nhà cửa chưa xong thì mất. Người ta bỏ việc ấy lo đổ đất lại lên Ly Sơn. Công việc ở ly Sơn đã xong. Nay nếu ta bỏ cung A Phòng khôgn làm thì tức là nêu rõ việc làm của tiên đế là sai lầm.
Vì vậy lại làm cung A Phòng, để bên ngoài ra uy với tứ di, như kế của Thủy Hoàng. Sai trưng tập tất cả những kẻ bắn giỏi gồm năm vạn người lập đồn để bảo vệ Hàm Dương. Sai dạy bắn. Lúc bấy giờ phải nuôi chó , ngựa, chim muông rất nhiều, việc cung cấp không đủ. Nhà vua sai các quận và các huyện chuyên chở đỗ, lúa, cỏ, rơm, người nào cũng phải thân hành mang lương thực mà ăn, không được ăn gạo trong vòng 300 dặm của thành Hàm Dương. Pháp luật lại càng nghiêm ngặt.
7. Tháng bảy, bọn lính thú là Trần Thắng làm phản ở đất Kinh ngày trước, hiệu là "Trương Sở", Trần Thắng tự lập làm vua Sở. Thắng ở đất Trần sai các tứong đi chiêu hàng các nơi. Những người trai tráng ở các quận, các huyện Sơn Đông bị khổ sở vì bị bọn quan lại nhà TẦn đều giết bọn thú, úy, lệnh, thừa làm phản để hưởng ứng TRần Thiệp lập nhau làm hầu vương, liên hợp với nhau đi về hướng tây, lấy danh nghĩa đánh Tần, đông không kể xiết. Quan yết giả từ hướng đông lại báo với Nhị Thế về việc dân làm phản. Nhị Thế nổi giận giao yết giả cho quan lại trừng trị. Sau đó có sứ giả đến, nhà vua hỏi thì họ đều nói:
- Bọn ăn trộm đang bị các thú và các úy ở quận đuổi bắt, bây giờ đã bắt hết không cần phải lo nữa.
Nhà vua b ằng lòng.
Vũ Thần tự lập làm Triệu Vuơng, Ngụy Cữu làm Ngụy vương, Điềm Đam làm Tề vương. Bái Công nổi dậy ở đất Bái. Hạng Vũ dấy binh ở quận Cối Kê.
Năm thứ 2 (năm 208 trước côgn nguyên) mùa đông, Trần Thiệp sai bọn Chu Chương đem binh đi về hướng tây đến đất Hý, binh mấy mươi vạn. Nhị Thế hoảng sợ bàn với quần thần:
- Bây giờ làm thế nào?
Chương Hàm làm thiếu phủ nói:
- Bọn giặc đã đông và mạnh. Nay nếu đem binh ở các huyện đến thì không kịp nữa. Những người bị đày phải làm ở Ly Sơn rất đông, xin tha cho họ, giao cho họ binh khí để đánh gaiực.
Nhị Thế liền đại xá thiên hạ, sai Chương Hàm cầm quân phá quân của Chu Chương. Chu Chương bỏ chạy. Sau đó giết Chu C hương ở Tào Dương. Nhị Thế sai thêm trưởng sử là Tư Mã Hân và đổgn Ế giúp Chương Hàm đánh quân giặc, giết tRần Thắng ở Tahnhf Phụ, phá tan quân của Hạng Lương ở Định Đào, tiêu diệt quân của Ngụy Cữu ở Lâm Tế. Các danh tứong của giặc ở đất Sở đều đã chết rồi. Chương Hàm bèn đem quân đi về hướng bắc vượt Hoàng Hà để đánh vua Triệu là Yết ở Cự Lộc.
Triệu CAo nói với Nhị Thế:
- Tiên đế cai trị thiên hạ đã lâu cho nên quần thần không dám làm bậy. Nhưng bệ hạ bây giờ còn trẻ, mới lên ngồi, lẽ nào lại bàn bạc công việc triều đình với các công khanh, lỡ ra mà có điều sai sót tức là để lộ chỗ kém của mình cho quần thần thấy. Thiên tử tự gọi là "trẫm" nghĩa là người ta không nghe tiếng nói.
Do đó Nhị Thế thường ở cung cấm quyết định mọi việc với Triệu Cao. Về sau các công khanh ít khi được triều kiến.
Giặc cứop ngày càng nhiều, binh của Quan Trung đưa ra hướng đông để đánh gaiực cứ phải đi mãi không thôi. Hữu thừa tướng là Khứ Tật, tả thừa tướng là Lý Tư, tướng quân là Phùng Kiếp can nhà vua nói: "Ở Quan Đông bọn giặc nhao nhao nổi lên, Tần đem quân trừ khử giết cũng nhiều nhưng vẫn không thôi. Giặc phần lớn là những người đi thú và lo vận chuyển trên cạn dưới nước, họ làm giặc vì việc xây đắp cực khổ vì thuế má nặng. Xin đình việc xây đắp ở cung A Phòng, giảm bớt lính thú ở các biên giới".
Nhị Thế nói:
- Ta nghe Hàn Phi nói, Nghiêu, Thuấn có kèo nhà bằng gỗ, đẽo mà không bào, tranh mái nhà không cắt phẳng, uống chén đất, ăn bát bằng sành, một người giữ cửa ăn cũng không đến nỗi kém như thế. Vua Hạ Vũ đục núi Long Môn để cho nước thông với Đại Hạ, khơi dòng cho nước ứ đọng ở sông Hà đi ra biển. Thân mình mang thuổng để đắp đất, chân không còn lông, dù bọn tôi tớ và bọn tù cũng không khổ sở đến thế. Con người có thiên hạ sở dĩ được tôn quý là vì có thể làm thỏa chí, theo sở thích của mình, muốn gì được nấy. Nhà vua cứ làm cho những pháp lụât rõ ràng thì ở dưới không ai dám làm điều bậy, và như vậy là khống chế được thiên hạ. Các vua như vua Thuấn, vua Vũ tuy có cái địa vị cao sang là làm thiên tử, nhưng thực ra họ ở nơi cùng khổ để nêu gương cho trăm họ. Như thế có gì đáng bắt chước? Trẫm được tiếng là Vạn Thặng (vạn cỗ xe) nhưng thực ra không có. Ta muốn làm một đoàn xe nghìn cỗ để đi theo sau là một vạn cỗ, để xứng với tôn hiệu của ta. Vả chăng, tiên đế nổi lên từ địa vị chư hầu rồi thôn tính cả thiên hạ. Thiên hạ đã được bình định rồi lại đuổi tứ di ở bên ngoài để giữ an biên giới, xây cung thất để nêu cao ý thích của mình. Người xem công nghiệp của tiên đế đã được tíep tục như thế nào. Nay ta lên ngôi trong vòng hai năm, bọn giặc nổi lên, nhà ngươi không cấm được họ lại múôn bỏ điều tiên đế làm, như thế thì trước hết không có gì báo ơn tiên đế, sau nữa không tận trung hết sức với trẫm, còn giữ chức làm gì!
Bèn giao cho quan lại bắt Khứ Tật, Lý Tư, Phùng Kiếp, xét các tội khác. Khứ Tật và Phùng Kiếp nói:
- Kẻ làm đến tuớng quân và thừa tướng không chịu nhục.
Bèn tự sát, Lý Tư bị tù và chịu năm hình phạt.
Năm thứ 3 đời Tần Nhị Thế, Chương Hàm cầm quân vây thành Cự Lộc, thượng tướng quân của Sở là Hạng Vũ cầm đầu quân Sở đến cứu Cự Lộc. Mùa đông, Triệu Cao làm thừa tướng, xét án Lý Tư rồi giết Lý Tư. Mùa hạ, bọn Chương Hàm đánh bị thua mấy lần, Nhị Thế cho người đến trách Chương Hàm, Chương Hàm sợ, sai trưởng sử là Tư Mã Hân đến trình việc. Triệu Cao không cho tiếp kiến, lại tỏ ra nghi ngờ. Tư Mã Hân sợ bỏ trốn. Triệu Cao sai người đủôi theo nhưng không bắt được. Tư Mã Hân đến gặp Chương Hàm nói:
- Ở trong triều, Triệu Cao hoành hành, tứong quân có công cũng bị giết, không có công cũng bị giết.
Hạng Vũ đánh quân TẦn rất gấp, cầm tù Vương Ly. Bọn Chương Hàm bèn đem binh đầu hành chư hầu.
8. Tháng tám ngày kỷ hợi, Triệu Cao muốn làm phản nhưng sợ quần thần không nghe, nên trước tiên phải thử. Y dâng Nhị Thế một con hươu và bảo rằng đó là con ngựa.
Nhị Thế cười nói:
- Thừa tướng lầm đấy chứ! Sao lại gọi con hươu là con ngựa? Nhị Thế hỏi các quan xung quanh. Những người xung quanh im lặng, có người nói là "ngựa" để vừa lòng Triệu Cao, cũng có người nói là "hươu". Nhân đấy Triệu CAo để ý những người nào nói là "hươu" để dùng pháp luật trị tội. Sau đó quần thần đều sợ Cao.
Trước đấy CAo thường nói: "Bọn ăn trộm ở Quan Đông không làm được gì". Nhưngd dến khi Hạng Vũ đã cầm tù được tướng Tần là Vuơng Ly ở chân thành Cự Lộc và đem quân tiến đánh, bọn Chương Hàm bị thua trận rút lui, dâng thư xin tiếp viện, các nước Yên, Triệu, Tề, Sở, Hàn, Ngụy đều lập vua, từ Quan Trung về phía đông phần lớn nhân dân đều chống lại quan lại nhà Tần , hưởng ứng theo chư hầu, chư hầu đều đem tất cả nhân dân đi về hướng tây. Bái Công cầm mấy vạn quân đã làm cỏ thành Vũ Quan, cho người bàn riêng với Triệu Cao, Triệu Cao sợ Nhị Thế giận giết cả mình bèn cáo bệnh không đi chàu. Nhị Thế nằm mộng thấy con hổ trắng cắn chết con ngựa bên trái trong cỗ xe của nhà vua, trong lòng không vui. Nhị Thế hỏi người bói mộng.
Người bói mộng nói:
- Nguồn gốc của tai họa là do sông Kinh.
Nhị Thế bèn ăn chay ở "Vọng di cung" muốn cúng sông Kinh, dìm bốn con ngựa trắng xuống sông và sai sứ giả trách Triệu Cao về việc giặc cướp. Triệu Cao sợ bèn bàn mưu với người rể là Diễm Nhạc làm quan lệnh ở Hàm Dương và em Triệu Cao là Triệu Thành, Triệu Cao nói:
- Nhà vua không nghe lời can ngăn. Nay việc đã gấp, nhà vua muốn quy tội cho chúng ta. Ta muốn thay đổi vua lập công tử Anh. Tử Anh là người nhân đức, cần kiệm, trăm họ đều kính trọng lời nói của ông ta.
Triệu Cao liền sai lang trung lệnh làm nội ứng giả vờ báo có giặc lớn, sai Diễm Nhạc triệu tập các tướng đem quân đuổi giặc. Ép mẹ của Diễm Nhạc đưa vào nhà của Cao, sai Diễm Nhạc cầm hơn một nghìn người đến cửa "Vọng di cung". Nhạc trói người vệ binh giữ cửa và các bộc xạ mà nói:
- Quân giặc đã vào thành, tại sao không ngăn cản chúng lại?
Viên quan giữ thành nói:
- Ở những nhà xung quanh thành tôi đã bố trí binh sĩ rất cẩn thận làm sao lại có giặc dám vào cung được?
Diễm Nhạc sai chém quan giữ thành rồi đem quân đi vào, vừa đi vừa bắn. Các quan lang và bọn hoạn quan hoảng hốt, có người bỏ chạy, có người kháng cự. Ai kháng cự thì chết, chết tất cả mấy mươi người. Lang trung lệnh và Diễm Nhạc đều bước vào, bắn vào cái màn Nhị Thế ngồi.
Nhị Thế nổi giận gọi những người hầu đến. Mọi người đều hoảng sợ không dám chống cự, chỉ có một viên hoạn quan hầu ở bên cạnh không dám bỏ đi. Nhị Thế bước vào cuối trướng nói:
- Tại sao nhà ngươi không báo với ta từ trước để đến nỗi gặp tình cảnh này?
Viên hoạn quan nói:
- Thần sở dĩ được sống là nhờ không dám nói. Nếu nói trước thì thần đã bị giết rồi, làm sao còn sống đến ngày nay được?
Diễm Nhạc tiến đến trước mặt Nhị Thế mắng:
- Túc hạ kiêu ngạo ngang ngược, giết người vô đạo, thiên hạ đều phản lại túc hạ. Túc hạ tự liệu xem mình nên như thế nào?
Nhị Thế nói:
- Ta có được gặp mặt thừa tướng hay không?
- Không được!
- Ta muốn làm vua một quận.
Diễm Nhạc không cho. Nhị Thế đành nói:
- Muốn làm vạn hộ hầu.
Cũng không cho. Nhị Thế nói:
- Xin làm bọn "đầu đen" với vợ con cũng như các công tử khác.
Diễm Nhạc nói:
- Tôi vâng lệnh thừa tướng vì thiên hạ giết túc hạ. Tuy túc hạ có nhiều lời, tôi cũng không dám báo lại.
Diễm Nhạc vẫy cờ cho binh sĩ tiến lên. Nhị Thế tự sát. Diễm Nhạc quay về báo lại với Triệu Cao. Triệu Cao bèn triệu tập tất cả các công tử và các đại thần, báo việc giết Nhị Thế, nói:
- Nguyên trước Tần là một vương quốc, Thủy Hoàng làm vua cả thiên hạ nên xưng đế. Nay sáu nước lại tự lập, đất đai của Tần càng nhỏ đi, làm đế là chỉ có cái tên hão mà thôi, như thế không nên, nên làm vương như trước.
Bèn lập con người anh của Nhị Thế là công tử Anh làm Tần Vương, sai chôn Nhị Thế theo lễ một thường dân ở phía nam đất Đỗ trong vườn Nghi Xuân, bảo Tử Anh, trước khi ra miếu để nhận ấn làm vua, phải ăn chay năm ngày.
9. Tử Anh bàn với hai người con:
- Thừa tướng Triệu Cao giết Nhị Thế ở "Vọng di cung" sợ bị quần thần giết nên giả vờ lập ta. Ta nghe nói Triệu Cao đã giao ước với Sở tiêu diệt dòng họ nhà Tần và làm vương ở Quan Trung. Nay ông ta bảo ta ăn chay ra miếu tức là muốn nhân đấy giết ta ở trong miếu. Ta cáo bệnh không đi, thừa tướng thế nào cũng thân hành đến, khi đến thì ta sẽ giết.
Triệu Cao sai người mời Tử Anh mấy lần. Tử Anh không đi. Quả nhiên Triệu Cao thân hành đến nói:
- việc tôn miếu là việc quan trọng. Tại sao nhà vua lại không đi?
Tử Anh bèn cầm giáo đâm chết Triệu Cao ở trai cung, giết ba họ Triệu CAo để nêu gương cho dân Hàm Dương.
Tử Anh làm vua Tần được bốn mươi sáu ngày thì tướng Sở là Bái Công đã phá quân Tần vào Quan Trung, sau đó đến Bái Thượng sai người bảo Tử Anh đầu hàng. Tử Anh bèn buộc dây ấn vào cổ, ngồi trên một chiếc xe gỗ khôgn sơn do một con ngựa trắng kéo mang ấn, phù của thiên tử đầu hàng ở gần Chỉ Đạo. Bái Công bèn vào Hàm Dương niêm phong cung thất, các kho rồi về đóng quân ở Bái Thượng. Được hơn một tháng thì quân chư hầu đến. Hạng Tịch cầm đầu chư hầu giết Tử Anh và các công tử của Tần, dịêt dòng họ nhà Tần, làm cỏ thành Hàm Dương, đốt cung thất, bắt con trai con gái làm tù, lấy của cải châu báu cùng chia nhau với chư hầu.
Sau khi diệt TẦn, Hạng Vũ chia đất Tần cho ba vua gọi là: Ung Vương, Tắc Vương, Địch Vương hiệu là Tam Tần. Hạng Vũ làm Tây Sở Bá Vương làm chủ việc chia thiên hạ, phong vương cho chư hầu. Thế là nhà Tần bị diệt.
Năm năm sau thiên hạ theo về nhà Hán.
Đường và chân là đôi bạn thân. Chân đi chơi, chân đi học, đường ngang dọc đường dẫn tới nơi.
Đăng nhập để trả lời
0
Hạng Vũ Bản Kỷ

1. Hạng tịch người đất Hạ Tương, tên tự là Vũ. Khi khởi nghĩa (năm 209 trước công nguyên), Tịch hai mươi bốn tuổi. Chú Tịch là Hạng Lương. Cha của Hạng Lương là Hạng Yên làm tướng nước Sở, bị tướng nước Tần là Vương Tiễn giết. Họ Hạng đời đời làm tướng nước Sở, được phong đất ở Hạng cho nên lấy họ là họ Hạng. Lúc còn nhỏ, Tịch học chữ, học chẳng nên, bỏ đi học kiếm thuật, cũng chẳng nên. Hạng Lương nổi giận, Tịch nói:
- Biết chữ chỉ đủ để viết tên họ mà thôi. Kiếm chỉ đánh lại một người, khôgn bõ công học. nên học cái đánh lại được vạn người!
Hạng Lương bèn dạy cho Tịch binh pháp. Tịch mừng lắm. Tịch chỉ học để biết qua ý nghĩa, chứ không chịu học đến nơi đến chốn.
Trước đấy, Hạng Lương phạm tội và bị bắt ở Lịch Dương. Lương nhờ quan coi ngục ở đất Kỳ là Tào Cữu viết thư cho Tư Mã Hân làm quan coi ngục ở Lịch Dương, nhờ vậy mà việc này thu xếp xong.
Hạng Lương có lần giết người, để tránh báo thù, Lương cùng Tịch bỏ trốn đến đất Ngô Trung. Các kẻ hiền sĩ và đại phu ở đất Ngô Trung đều thua kém Hạng Lương. Mỗi khi ở đất Ngô Trung có việc làm xâu hay tang lễ, Hạng Lương thường đứng ra lo liệu. Lương lén lút dùng binh pháp để tập hợp tân khách và trai tráng ở đấy, và nhờ đó, được biết năng lực của họ.
Tần Thủy Hoàng đi chơi đất Cối Kê, vượt qua Chiết Giang. Lương và Tịch cùng đi xem. Tịch nói:
- Có thể cướp và thay thế hắn!
Lương bịt miệng Tịch:
- Đừng nói bậy! Bị giết cả họ bây giờ!
Nhân việc này Lương coi Tịch là kẻ khác thường. Tịch , mình cao hơn tám thước, có sức mạnh cất nổi cái vạc, tài năng, chí khí hơn người. Các con em ở đất Ngô Trung đều sợ Tịch.
2. Tháng bảy, năm thứ nhất đời Tần Nhị Thế (năm 209 trước công nguyên), bọn Trần Thiệp khởi nghĩa ở Đại Trạch. Tháng chín năm ấy. thái thú quận Cối kê tên là Thông, nói với Hạng Lương:
- Dân giang Tây đều làm phản, nay chính là lúc trời tiêu diệt nhà Tần. Tôi nghe nói: "Ai đi trước thì làm chủ người khác; ai đi sau thì bị người khác làm chủ". Tôi muốn xuất quân, phong ông và Hoàn Sở làm tướng.
Bấy giờ Hoàn Sở đang trốn tránh trong chốn giang hồ. Lương nói:
- Hoàn Sở hiện nay đang trốn tránh, chẳng ai biết ở đâu; chỉ có Tịch biết chỗ ở của ông ta mà thôi.
Lương liền đi ra, dặn Tịch cầm kiếm đứng đợi ở ngoài. Lương lại quay vào, ngồi với thái thú. lương nói:
- xin cho gọi Tịch vào để giao cho y mệnh lệnh triệu Hoàn Sở về.
Thái thú nói:
- Phả!
Lương gọi Tịch vào. Lát sau, Lương đưa mắt ra hiệu cho Tịch , nói:
- Làm được rồi đấy!
Tịch liền túôt kiếm chém đầu thái thú. Lương tay càm đầu thái thú, mang ấn và dây buộc ấn của thái thú lên người. Bọn môn hạ hoảng hốt, rối loạn. tịch giết chết ngót trăm người, cả phủ đều sợ hãi, cúi đầu không dám chống cự. Lương liền triệu tập quan lại và hào kiệt đã quen biết từ trước, hiểu dụ duyên cớ khởi nghĩa rồi trưng quân ở Ngô Trung và sai người thu gọi các trai tráng ở các huyện trong phủ, được tám ngàn quân tinh nhuệ. Lương cất nhắc những hào kiệt ở Ngô Trung làm các chức hiệu úy, hậu, tư mã. Có một người không được dùng, đến nói với Lương. lương đáp:
- Trước đây có một lễ tang, ta cắt ông làm một việc gì đấy mà ông làm không xong, vì vậy ta không dùng ông...
Mọi người đều phục. Lương bèn làm thái thú Cối Kê. Tịch làm tì tướng, chiêu hàng các huyện trong quận.
3. Thiệu Bình, người Quảng Lăng, theo lệnh Trần Vương đi chiêu hàng đất Quảng Lăng, nhưng chưa hạ được thành. Nghe tin Trần Vương thua chạy, quân Tần sắp đến, Bình liền vượt Trường Giang , giả làm mệnh lệnh của Trần Vương, phong Lương làm thượng trụ quốc nước Sở. Bình nói:
- Đất Giang Đông đã bình định rồi! Mau mau đem binh về hướng tây đánh quân Tần!
Hạng Lương bèn đem tám ngàn người, vượt Trường Giang đi về hướng tây. Nghe tin Trần Anh đã lấy được huyện Đông Dương, Lương liền cho sứ giả đến giảng hòa để cùng nhau đem quân đi về hướng tây.
Trần Anh nguyên là thư lại huyện Đông Dương, ngày thường ở trong huyện là người tin cẩn, được khen là bậc trung hậu đứng đắn. Những người trai tráng ở huyện Đông Dương giết quan huyện, tụ họp đến mấy nghìn người, muốn cử một người cầm đầu, nhưng khôgn có ai xứng đáng. Họ bèn mời Trần Anh. Anh từ chối là không thể làm nổi. Họ bèn ép Anh làm thủ lĩnh. Người trong huyện theo Anh đến hai vạn. Họ muốn nhân tiện lập Anh làm vương luôn, quân sĩ đầu đội mũ màu lục để cho khác với các quân khác.
Mẹ Trần Anh bảo Anh:
- Từ khi về làm dâu ở nhà con đến nay, mẹ chưa hề nghe nói tổ tiên của con ngày trước đã có ai làm quan sang, nay bỗng dưng con được cái danh vọng lớn, đó là điều không may. Bây giờ chi bằng mình dựa vào người khác. Nếu công việc thành thì được phong hầu; nếu thất bại cũng dễ trốn tránh, khôgn bị người ta vạch mặt chỉ tên.
Do đó, Anh khôgn dám làm vương, nói với các quan lại:
- Họ Hạng đời đời làm tướng, nổi tiếng ở đất Sở. Nay múôn làm việc lớn mà không có người tướng giỏi thì khôgn xong. Chúng ta dựa vào một gia tộc có tiếng thì chắc chắn sẽ tiêu diệt được Tần!
Mọi người nghe theo lời Anh, giao quân cho Hạng Lương điều khiển. Hạng Lương qua sôgn Hoài. Kình Bố, Bồ tướng quân cũng đem quân theo Lương. Số quân được tất cả sáu bảy vạn, đóng ở Hạ Bì.
Bấy giờ Tần Gia đã lập Cảnh Câu làm Sở Vương, đóng quân ở phía đông Bành Thành, muốn chống lại Hạng Lương.
Hạng Lương nói với người quan lại:
- Trần Vương là người khởi nghĩa đầu tiên, vì chiến trận không lợi, nay không biết ở đâu. BÂy giờ Tần Gia phản Trần Vương lập Cảnh Câu, tức là phản nghịch vô đạo!
Lương bèn tiến quân đánh Tần Gia. quân của Tần Gia thua chạy. Lương đuổi đến Hồ Lăng, Gia quay lại đánh trong một ngày. Gia chết, quân đầu hàng. Cảnh Câu bỏ chạy, chết ở nước Lương. Sau khi đã sáp nhập thêm quân của Tần Gia, Lương đóng quân ở Hồ Lăng, định đi đến hướng tây.
Quân của Chương Hàm đến đất Lật, Hạng Lương sai biệt tướng là Chu Kê Thạch, Dư Phàn quân đánh lại. Dư Phàn Quân chết, quân của Chu Kê Thạch thua, bỏ chạy đến Hồ Lặng. Hạng Lương đem quân vào đất Tiết giết Kê Thạch.
Trước đấy, Hạng Lương đã sai Hạng Vũ đi một đường khác đánh Tương thành, Tương thành cố sức giữ nên Hạng Vũ không hạ được. Đến khi hạ được thành, Vũ sai chôn sống tất cả dân trong thành rồi trở về báo tin cho Hạng Lương. Hạng Lương nghe tin Trần Vương đã chết thật bèn gọi các biệt tướng họp ở đất Tiết để bàn bạc. Bấy giờ Bái Công đã khởi binh ở đất Bái, cũng đến họp.
Phạm Tăng người đất Cư Sào, bảy mươi tủôi, xưa nay ở nhà, thích mưu kế lạ, đến nói với Hạng Lương:
- Trần Thắng thua là phải lắm. Trong sáu nước bị Tần diệt thì nước Sở là vô tội nhất. từ khi vua Hoài Vương vào đất TẦn rồi không về nữa, người Sở vẫn còn thương xót ông ta cho đến ngày nay. Vì vậy Sở Nam Công nói: "Nước Sở dù chỉ còn ba hộ, nhưng tiêu diệt nhà Tần, chính là nước Sở".
Nay Trần Thắng khởi sự không lập con cháu vua Sở mà tự lập làm vương thì tình thế không thể lâu dài được. bÂy giờ ngài khởi nghĩa ở Giang Đông, các tướng nước Sở kéo đến theo ngài như ong về tổ, là vì nhà ngài đời đời làm tướng nước Sở, họ cho rằng ngài có thể lập lại con cháu vua Sở làm vua.
hạng Lương cho là phải, bèn tìm người cháu của Sở Hoài Vương tên là Tâm, chăn dê cho người ta, lập làm Sở Hoài Vương để thỏa lòng mong mỏi của dân chúng. Trần Anh làm thượng trụ quốc của nứơc Sở được phong năm huyện cùng đóng đô ở đất Vu Th ai với Hoài Vương, Hạng LƯơng tự xưng là Vũ Tín Q uân.
Được mấy tháng, Lương đem quân đánh thành Cang Phủ cùng với Điền Vinh và Tư Mã Long Thư nước Tề. Lương đem quân cứu Đông A, phá tan quân Tần ở Đông A. Điền Vinh liền đem quân về đuổi vua Tề là Giả. Giả chạy trốn sang nước Sở. Tướng quốc của Giả là Điền Giác chạy trốn sang nước Tề ở lại nước Triệu. Người em của Giác là Điền Nhàn trước kia là tướng nước Tề ở lại nước Triệu không dám về. Điền Vinh lập con của Điền Đam, tên là Thị, làm Tề Vương. Sau khi đã đánh phá quân Tần ở gần Đông A, Hạng Lương đuổi theo quân Tần. lương mấy lần sai sứ giả giục Điền vinh đem binh của nước Tề đến để cùng kéo quân sang hướng Tây. Điền Vinh nói:
- Nước Sở có giết Điền Giả, nước Triệu có giết Điền Giác, Điền Nhàn thì ta mới đem quân đến.
Hạng Lương nói:
- Điền Giả là vua một nước giao hiếu với ta ,cùng đường phải chạy đến đây theo ta, ta không nỡ giết.
Nước Triệu cũng không giết Điền Giác, Điền Nhàn để mua chuộc nước Tề, cho nên Tề không chịu đem quân đến giúp nước Sở. Hạng Lương sai Bái Công và Hạng Vũ đem binh đi theo đường riêng đến Thành Dương làm cỏ quân dân trong thành. Rồi tiến quân về hướng tây đánh phá quân Tần ở phía đông thành Bộc Dương. Quân Tần rút vào thành Bộc Dương. Bái Công và Hạng Vũ bèn đánh thành Định Đào. Chưa hạ được thành, họ liền bỏ đi, cướp đất đai ở phía tây cho đến Ung Khẩu, đánh quân Tần thua to, chém Lý Do, rồi quay lại đánh Ngoại Hoàng, nhưng chưa hạ được.
Hạng Lương đem quân từ phía tây đất Đông A qua hướng bắc đến Định Đào, đánh tan quân Tần lần thứ hai. Bọn Hạng Vũ giết đuọwc Lý Do cho nên Lương càng khinh thường quân Tần và tỏ ra kiêu căng.
Tống Nghĩa bèn can Hạng Lương:
- Nếu đánh thắng mà tướng kiêu căng, quân sĩ trễ nãi thì sẽ thất bại. Nay binh sĩ đã hơi trễ nải rồi đấy! Quân Tần ngày càng tăng, tôi lo cho ngài!
Hạng Lương không nghe, bèn sai Tống Nghĩa đi sứ nước Tề. giữa đường Nghĩa gặp sứ giả nứoc Tề là Cao Lăng Quân, tên là Hiển. Nghĩa hỏi:
- Ông định yết kiến Vũ Tín Quân phải không?
- Vâng.
- Tôi cho rằng Vũ Tín Quân thế nào cũng thua. Ông cứ thủng thẳng mà đi sẽ khỏi chết, nếu đi nhanh thì sẽ mắc tai họa đấy!
Tần quả nhiên đem hết quan tiếp viện cho Chương Hàm. Chương Hàm đánh quân Sở một trận tan tành ở Định Đào. Hạng Lương chết.
Bái Công, Hạng Vũ rời bỏ Ngoại Hàng đến đánh huyện Tràn Lưu, huyện Trần Lưu giữ vững không hạ được. Bái Công, Hạng Vũ bàn với nhau:
- Bây giờ quân của Hạng Lương đã tan vỡ, sĩ tốt đều lo sợ.
Hai người bèn cùng với quân của Lữ Thần đi về hướng đông. Lữ Thần đóng quân ở phía đông Bành Thành, Hạng Vũ đóng quan ở phía tây Bành Thành, Bái Công đóng quân ở đất Đường.
4. Sau khi đã đánh bại quân của Hạng Lương, Chương Hàm cho rằng quân của nước Sở không đáng lo, nên vựơt Hoàng Hà qua đánh nước Triệu, phá tan quân Triệu.
Lúc bấy giờ Triệu Yết làm vua, Trần Dư làm tướng quân, Trương Nhĩ làm tướng quốc, cả ba đều chạy vào thành Cự Lộc. Chương Hàm sai Vương Ly, Thiệp Nhân vây Cự Lộc. chương Hàm đóng quân ở phía nam thành này, xây một con đường ống để chuyên chở thóc, Trần Dư làm tướng, đem vài vạn quân đóng ở phía bắc thành Cự Lộc, toán quân ấy gọi là quân Hà Bắc.
Quân Sở đã bị thua ở Định Đào, Hoài Vương lo sợ, từ Vu Thai đến Bành Tahnhf, dồn cả quân của Hạng Vũ, Lữ Thần làm một và thân hành cầm quân. Hoài Vương cho Lữ Thần làm tư đồ, cha của Thần là Lữ Thanh làm lệnh doãn, cho Bái Công làm thái thú Đường Quận, phong làm Vũ An Hầu, coi đạo quân Đường Quận.
Sứ giả nước Tề là Cao Lăng quân tên là Hiếu, bấy giờ đang ở trong quân đội nước Sở. Tr ước đấy Hiển có gặp Tống Nghĩa, cho nên Hiển yết kiến vua Sở và nói:
- Tống Nghĩa nói rằng quân của Vũ Tín Quân nhất định thua, vài ngày sau quả nhiên quân ấy bị đánh bại. Quân chưa giao chiến mà ông ta đã thấy trước cái cơ thất bại như thế, có thể gọi ông ta là người biết binh pháp.
Hoài Vương gọi Tống Nghĩa vào cùng bàn công việc. Hoài Vương rất là đẹp lòng, bèn cho y làm thượng tướng quân, Hạng Vũ làm thứ tướng, phong làm Lỗ Công, Phạm Tăng làm mạt tướng để cứu nước Triệu. Các biệt tướng đều ở dưới quyền Tống Nghĩa đi đến An Dương, ở lại bốn mươi sáu ngày không tiến quân. Hạng Vũ nói:
- Tôi nghe nói quân Tần vây Triệu vương ở Cự Lộc, ngài nên mau mau đem quân qua sông, quân Sở đánh ở bên ngòai, quân Triệu tiếp ứng ở bên trong, thì chắc chắn phá được Tần.
- Không phải thế đâu. Phàm con mòng đốt trâu thì không thể nào giết được rận chấy. Nay TẦn đánh Triệu, nếu TẦn đánh thắng thì quân mệt mỏi, ta lợi dụng lúc nó kiệt quệ mà đánh, nếu Tần không thắng thì ta hợp quân kéo về hứong tây, chắc chắn cướp lấy được nước Tần. Vì vậy, không gì bằng trước tiên để cho TẦn và Triệu đánh nhau. Mang áo giáy dày, cầm binh khí sắc thì Nghĩa này không bằng ông, nhưng ngồi để trù tính sách lược thì ông không bằng Nghĩa.
Tống Nghĩa bèn ra lệnh trong quân:
- Ai mạnh như hổ, bướng như dê, tham như sói, cứng đầu không thể sai khiến được, đều chém tuốt!
Nghĩa bèn sai con là Tống Tương sang làm tướng nước Tề, thân hành tiễn y đến đất Vô Diệm, uống rượu hội họp linh đình. Trời lạnh, mưa to, quân sĩ đều đói rét. Hạng Vũ nghĩ thầm:
- Đáng lý phải cố sức đánh Tần, thế mà lại cứ dằng dai mãi không chịu đi. Nay năm đói, dân nghèo, sĩ tốt ăn rau ăn khoai, quân khôgn có lương thực sẵn sàng. Thế mà cứ uốgn rượu, hội họp linh đình, không đem binh vượt Hoàng Hà để dùng lương thực nước Triệu, cùng Triệu chung sức đánh Tần. Lại còn nói "lợi dụng khi nó kiệt quệ!". Một nước mạnh như Tần ,đánh nước Triệu là nứoc mới thành lập, thì nhất định là lấy đứt rồi. Nước Triệu Mất, Tần lại càng mạnh, chứ có mong gì nó kiệt quệ mà lợi dụng kia chứ? Vả chăng, quân ta vừa bị tan tác, vua ngồi không yên chiếu, vét tất cả binh lính lương thực trong nước, giao cho một mình tướng quân, nước nhà yên hay nguy là ở trận này. Nay không thương xót sĩ tốt, lại mưu đồ việc riêng, thật không phải hạng bầy tôi trung thành với nước.
Buổi sáng Hạng Vũ vào hầu thượng tướng quân Tống Nghĩa. Vũ bước vào trướng chặt đầu Nghĩa, liền ra lệnh trong quân:
- Tống Nghĩa mưu với Tề để phản lại nước Sở. Sở Vương ra lệnh cho Vũ giết hắn!
Bấy giờ các tướng đều sợ hãi cúi đầu khôgn ai dám ho he. Tất cả đều nói:
- Người đầu tiên lập nước Sở là gia đình tướng quân. Nay tướng quân lại giết được đứa loạn thần.
Họ bàn nhau lập Vũ làm quyền thượng tướng quân, sai người đuổi theo con của Tống Nghĩa, đến TÈ thì bắt được và giết đi. Vũ sai Hoàn Sở báo với Hoài Vương. Hoài Vương nhân đó phong Vũ làm thượng tướng quân, Đương Dương quân và Bồ tướng quân đều ở dứoi quyền Hạng Vũ.
Sau khi giết Khanh tử quán quân, uy thế của Hạng Vũ vang dội ở nước Sở, danh tiếng nổi khắp các chư hầu. Vũ liền sai Đương Dương quân, Bồ tướng quân cầm hai vạn quân vượt Hoàng Hà đến cứu Cự Lộc. Vì chiến sự còn ít thắng lợi, nên Trần Dư lại xin quân tiếp viện, Hạng Vũ liền đem tất cả quân vượt Hoàng Hà, bắt quân lính phải dìm đắm thuyền, đập vỡ nồi nấu cơm, đốt lều trại, chỉ mang lương thực trong ba ngày để tỏ rõ sĩ tốt quyết tâm liều chết, không chịu quay về. Vũ đến vây Vương Ly, gặp quân Tần, đánh chín trận, cắt đứt con đường ống, phá tan quần Tần, giết Tô Giác, bắt sống Vương Ly, Thiệp Nhàn không đầu hàng Sở, tự thiêu mình mà chết.
Bấy giờ thanh thế quân của Sở át cả quân các nước chư hầu. Quân của chư hầu đến cứu Cự Lộ đóng ở gần đó hơn mười doanh trại, nhưng không ai dám đem quân ra đánh. Đến khi Sở đánh Tần, các tướng đều đứng trên tường mà nhìn. Các chiến sĩ nước Sở ai cũng đủ sức một người chống lại mười người, tiếng reo hò của quân Sở vang trời, quân chư hầu khôgn ai không run sợ. Do đó, sau khi đã đánh tan quân Tần, Hạng Vũ triệu tập tướng các nước chư hầu. Khi vào cửa viên môn, mọi người đều quỳ gối xuống mà đi tới, không ai dám ngẩng lên nhìn!
Vì vậy, Hạng Vũ bắt đầu làm thượng tướng quân của chư hầu, chư hầu đều ở dưới quyền Vũ.
5. Chương Hàm đóng quân ở Cức Nguyên, Hạng Vũ đóng quân ở phía nam sông Chương. Hai bên cứ giữ thế nhau chưa giao chiến. Quân của Tần nhiều lần rút lui. Tần Nhị Thế sai người đến trách quở Chương Hàm, Chương Hàm sợ, sai trưởng sử là Hân đi yết kiến vua Tần để tâu xin định đoạt. Hân đến Hàm Dương đợi ở cửa tư mã ba ngày, Triệu Cao khôgn cho yết kiến, vì y có lòng ngờ. Trưởng sử Hân sợ hãi chạy về quân mình, nhưng không dám đi theo con đường lần trước. Quả nhiên Triệu Cao cho người đuổi theo, nhưng không kịp. Hân về đến doanh trại bảo rằng:
- Ở triều đình, Triệu Cao chuyên quyền, ở dưới quyền của nó không thể làm được việc gì. Nay nếu đánh mà thắng thì thế nào Cao cũng ghen ghét công lao của chúng ta; lỡ đánh không thắng thì không khỏi chết. Xin tướng quân suy nghĩ cho kỹ!
Trần Dư cũng đưa thư cho Chương Hàm nói:
"Bạch Khởi làm tướng nước Tần, phía nam chinh phục Yên Sinh, phía bắc chôn sống Mã Phục, đánh lấy thành, cướp được đất không biết bao nhiêu mà kể. Thế mà cuối cùng Tần ra lệnh cho tự sát. Mông Điềm làm tướng nước Tần, phía bắc giết quân Nhung mở mang đất Du Trung mấy ngàn dặm, thế mà cuối cùng cũng bị chém ở Dương Châu. Tại sao lại như thế? Họ lập nhiều công, nước Tần khôgn thể cấp đất đai cho hết, cho nên tìm cách giết họ đi. Nay tướng quân làm tướng nước Tần đã ba năm nay, quân chết và bỏ trốn tính đến chục vạn người, thế mà chư hầu nổi dậy càng nhiều. Tên Triệu Cao kia mấy lâu nay vốn hay nịnh hót, lừa dối nhà vua, nay việc gấp, cũng sợ Nhị Thế giết, cho nên hắn muốn tìm cách giết tướng quân để trút lỗi, rồi sai người thay thế tướng quân để tránh khỏi tai họa. Tướng quân ở ngoài đã lâu, ở trong triều đình có nhiều hiềm khích: có công cũng bị giết, không có công cũng bị giết. Vả chăng trời làm tiêu diệt nhà Tần, người ngud dộn hay khôn ngoan ai cũng đều biết như thế. nay tướng quân ở triều đình thì khôgn thể lấy lời thẳng để khuyên can ở ngoài biên cương thì làm vị tướng củ amột nước sắp mất. Cô độc đứng một mình mà muốn tồn tại đuợc mãi thì chẳng đáng thương lắm sao! Tại sao tướng quân khôgn đem quân quay lại liên hiệp với chư hầu, giao ước cùng nhau đánh Tần, chia đất Tần để làm vương, ngoảnh mặt về hướng nam để xưng "cô", điều đó chẳng hơn thân bị búa rìu, vợ con bị giết hay sao?
Chương Hàm còn do dự, bí mật sai vị quan là Thỉ Thành đi sứ đến chỗ Hạng Vũ, muốn cùng giao ước. Giao ước chưa xong, Hạng Vũ sai Bồ tướng quân ngày đêm đem quân vượt bến Tam Hộ đóng quân ở phía nam sông Chương, đánh nhau với quân Tần, lại đánh tan quân Tần lần thứ hai. Hạng Vũ đem tất cả quân đánh quân Tần trên sông Vu Thủy, phá tan tành.
Chương Hàm sai người yết kiến Hạng Vũ, muốn giao ước, Vũ triệu các quân lại đến bàn:
- Lương ta ít, ta muốn nghe theo giao ước của y.
Các quân lại đều nói:
- Phải.
Hạng Vũ bèn hẹn với Hàm gặp nhau ở Ân Khư phía nam sông Hoàn Thủy. Sau khi ăn thề, Chương Hàm nhìn thấy Hạng Vũ, chảy nước mắt ròng ròng, kể lại việc Triệu Cao, Hạng Vũ bèn lập Chương làm Ung Vương giữ lại ở trong quân đội của Sở, cho trưởng sử Hân làm thượng tướng quân, cầm quân Tần để đi tiên phong.
Quân Vũ đến Tân An, tướng sĩ các nước chư hầu xưa kia làm xâu hay đi thú ở trong đất Tần đều bị tướng sĩ của Tần đối đãi khôgn ra gì. Đến khi quân TẦn đầu hàng chư hầu, tướng sĩ của chư hầu lợi dụng lúc thắng thế, đối đãi với họ như là nô lệ, tù binh, tha hồ làm nhục tướng sĩ nhà Tần. Tướng sĩ nhà Tần nhiều người nói trộm với nhau:
- Bọn Chương tướng quân lừa chúng ta đầu hàng chư hầu, nên bây giờ họ có thể vào cửa quan đánh nước Tần. Nếu may mà đánh được nhà Tần thì tốt lắm, nếu không thì chư hầu sẽ bắt chúng mình đem về đông, còn Tần thì thế nào cũng giết hết cha mẹ, vợ con ta.
Các tướng nghe mang máng vịec họ bàn, đem báo lại với Hạng Vũ. Hạng Vũ liền gọi Kình Bố và Bồ tướng quân để bàn:
- Tướng sĩ của Tần vẫn còn đông, bụng chúng không phục ta , đến Quan Trung mà chúng không theo ta thì việc lớn sẽ nguy; chi bằng giết chúng đi, chỉ giữ lại Chương Hàm, trưởng sử Hân, đô úy Ế để cùng vào đất Tần mà thôi.
Bấy giờ quân đội Sở ban đêm đến đánh và chôn sống hơn hai mươi vạn lính Tần ở phía nam thành Tân An.
6. Vũ từ Tân An ra đi, muốn bình định được đất Tần nhưng cửa Hàm Dương có binh giữ cửa ải, Vũ khôgn vào đuợc. Lại nghe tin Bái Công đã phá Hàm Dương, Hạng Vũ nổi giận, sai bọn Đuơng Dương quân đánh cửa ải. Hạng Vũ bèn vào đến phía tây sông Hi Thủy.
Bái Công đóng quân ở Bái Thượng, chưa có dịp gặp Hạng Vũ. Quan tả tư mã của Bái Công là Tào Vô Thượng sai người đến nói với Hạng Vũ:
- Bái Công muốn làm vua ở Quan Trung, cho Tử Anh làm tướng quốc, lấy hết của cải châu báu.
Hạng Vũ nổi giận nói:
- Ngày mai cho quân sĩ ăn no để đánh quân của Bái Công!
Lúc bấy giờ, quân Hạng Vũ bốn mươi vạn đóng ở Bá Thượng, Phạm Tăng nói với Hạng Vũ:
- Khi Bái Công ở Sơn Đông thì tham của cải, thích gái đẹp. Nay vào Quan Trung, ông ta không lấy của cải gì, không thân cậnd dàn bà con gái, điều đó chứng tỏ chí của ông ta không vừa. Tôi sai người xem khí mây của ông ta thì đều là khí long hổ thành năm sắc, chính là khí tượng thiên tử đấy, phải đánh gấp chớ có bỏ qua.
Quan tả doãn nước Sở là Hạng Bá, chú của Hạng Vũ, vốn quen thân Lưu Hầu là Trương Lương. Lúc bấy giờ Trương Lương theo Bái Công, Hạng Bá bèn đang đem ruổi ngựa đến quân doanh Bái Công, gặp riêng Trương Lương báo cho Lương biết đầu đuôi câu chuyện, muốn gọi Lương cùng đi với mình cho thoát nạn. Hạng Bá bèn bảo Lương rằng:
- Chớ có theo mà bị chết cả đấy!
Trương Lương nói:
- Tôi vì vua Hàn mà theo Bái Công, nay Bái Công có việc nguy cấp, bỏ trốn đi là bất nghĩa, khôgn thể không nói với ông ta.
Lương bèn đi vào kể đầu đuôi cho Bái Công nghe. Bái Công hoảng sợ nói:
- Làm thế nào bây giờ?
Trương Lương hỏi:
- kẻ nào bày kế cho đại vương?
Bái Công nói:
- Cái thằng tiểu nhân ấy bảo ta rằng: "Giữ lấy Hàm Cốc quan, không cho quân của chư hầu vào, thì có thể làm vương trên toàn đất TẦn", vì vậy, ta nghe lời hắn!
Trương Lương nói:
- Đại vương thử liệu xem sĩ tốt có đủ để chống lại Hạng Vương không?
Bái Công im lặng một lúc, đáp:
- Cố nhiên là không bằng! Làm sao bây giờ?
Trương Lương nói:
- Thần xin đến nói với Hạng Bá rằng Bái Công không dám phản Hạng Vương.
- Nhà ngươi quen với Hạng Bá à?
- Trong thời nhà TẦn, Hạng Bá chơi với thần, ông ta giết người, thần cứu sống, cho nên ngày nay gặp việc nguy cấp, ông ta đến đây báo cho thần biết.
- Ông ta với nhà ngươi, ai lớn tuổi hơn?
- Ông ta lớn tuổi hơn thần.
- Nhà ngươi hãy thay mặt ta mời ông ta vào, ta sẽ đãi ông ta là bậc anh.
Trương Lương đi ra mời Hạng Bá. Hạng Bá liền vào yết kiến Bái Công. Bái Công bưng chén rượu chúc thọ, hẹn làm thông gia, Bái Công nói:
- Tôi vào Hàm Cốc quan, tơ hào không dám động, ghi danh sách quan lại và dân chúng vào sổ, niêm phong các kho tàng để đợi tướng quân. Tôi sai tướng giữ cửa ải chỉ là để đề phòng trộm cướp ra vào và những việc bất trắc mà thôi, ngày đêm mong tướng quân đến, chứ tôi đâu dám làm phản! Xin ông nói lại với tướng quân rằng tôi đâu dám vong ân bội nghĩa!
Hạng Bá nhận lời, nói với Bái Công:
- Ngày mai thế nào ông cũng phải đến sớm mà xin lỗi Hạng Vương!
Bái Công nói: "Vâng".
Hạng Bá liền ra đi trong đêm ấy. Về đến quân doanh Bá đem những lời nói của Bái Công báo lại với Hạng Vũ, nhân tiện nói:
- Nếu Bái Công không phá Quan Trung trước thì đại vương có dám vào không? Người ta có công lớn mà mình lại đánh là bất nghĩa, chi bằng đối đãi với họ cho tử tế!
Hạng Vương cho là phải.
Sáng hôm sau, Bái Công mang theo một trăm kỵ binh đến yết kiến Hạng Vương. Bái Công đến Hồng Môn xin lỗi:
- Tôi và tướng quân đều hết sức đánh Tần. Tướng quân đánh ở Hà Bắc, tôi đánh ở Hà Nam, không ngờ tôi vào Hàm Cốc quan trước, đánh phá nhà Tần, lại gặp tướng quân ở đây. Nay vì lời nói của kẻ tiểu nhân, nên tướng quân với tôi có hiềm khích!
Hạng Vũ nói:
- Đó là quan tả tư mã của Bái Công là Tào Vô Thượng nói đấy. Nếu không thì Tịch đây đâu làm như thế làm gì!
Hôm ấy Hạng Vương giữ Bái Công ở lại uống rượu. Hạng Vũ và Hạng Bá ngồi quay mặt về hướng đông. Á Phụ tức Phạm Tăng ngồi quay mặt về hướng nam, Bái Công ngồi quay mặt về hướng Bắc. Trương Lương chầu quay mặt về hướng tây.
Phạm Tăng đưa mắt nhìn Hạng Vương, đưa cái vòng ngọc quyết ra hiệu, như thế ba lần, nhưng Hạng Vương vẫn im lặng không để ý. Phạm Tặng đứng dậy đi ra, gọi Hạng Trang đến bảo:
- Quân vương là người bất nhẫn! Anh phải vào chúc thọ! Chúc thọ xong xin múa kiếm, nhân đó đâm Bái Công ở chỗ ngồi và giết đi. Nếu không, tất cả bọn anh đều bị ôgn ta bắt cầm tù cả đấy.
Hạng Trang liền vào chúc thọ. Chúc thọ xong, Hạng Trang nói:
- quân vương và Bái Công uống rượu, trong quân doanh khôgn có gì vui, tôi xin múa kiếm.
Hạng Vương nói:
- Đuợc!
Hạng Trang tuốt kiếm, đứng dậy múa, Hạng Bá cũng tuốt kiếm đứng dậy múa, luôn lấy thân mình che cho Bái Công nên Trang không đâm được. Trương Lương bèn ra đến cửa tìm Phàn Khoái, Phàn Khoái hỏi:
- Việc hôm nay ra sao?
Trương Lương nói:
- Nguy cấp lắm! HIện nay Hạng Trang tuốt kiếm đang múa, xem hắn cốt nhằm Bái Công mà đâm.
Phàn Khoái nói:
- Như thế thì gấp quá rồi! Tôi xin vào cùng liều chết.
Khoái liền mang kiếm, cắp khiên bước vào cửa viên môn. Vệ sĩ cầm giáo chéo nhau muốn cản không cho vào. Phàn Khoái cầm ngang cái khiên mà gạt, vệ sĩ ngã lăn ra đất. Khoái liền vào, vén màn đứng quay mặt về hứong tây, trợn mắt nhìn Hạng Vũ, khóe mắt rách toác! Hạng Vương chống kiếm quỳ nhổm dậy mà hỏi:
- Ông khách làm gì thế?
Trương L ương nói:
- Đó là Phàn Khoái, người thăm thặng của Bái Công.
Hạng Vũ nói:
- Tráng sĩ! Cho tráng sĩ chén rựou.
Liền cho Phàn Khoái một chén rượu. Khoái lạy ta đứng lên mà uống. Hạng Vương nói:
- Cho ông t amột vai lợn!
Lại cho Khoái một vai lợn sống. Khoái đặt cái khiên xuống đát, dặt vai lợn lên trên, tuốt kiếm xẻo thịt lợn mà nhai. Hạng V ương nói:
- Tráng sĩ! Có uống được nữa không?
Phàn Khoái nói:
- Thân chết còn chả tránh, dám đâu từ chối chén rượu. Vua Tần lòng lang dạ thú giết người nhiều không kể xiết, trị tội người như sợ không kịp. Thiên hạ đều nổi dậy làm phản. Vua Hoài Vương có giao ước với các tướng: "Ai phá được Tần, vào Hàm Dương thì phong vương". Ngày nay Bái Công là người đầu tiên phá được Tần, vào Hàm Dương, tơ hào không dám phạm, niêm phong các cung thất, đem quân vè đóng ở Bá Thượng để chờ đại vương đến. Bái Công sai tướng giữ cửa ải là chỉ để đề phòng bọn trộm cướp ra vào và những việc bất trắc mà thôi. Bái Công khó nhọc mà công to như vậy, nhưng vẫn chưa được phong thưởng gì! Nay đại vương nghe lời bọn tiểu nhân, muốn giết kẻ có công, tức là noi theo đừong lối nhà Tần đã mất! Tôi trộm nghĩ đại vương không nên làm như vậy!
Hạng Vương chưa biết lấy câu gì đáp lại, bảo:
- Ngồi xuống!
Phàn Khoái ngồi bên cạnh Trương Lương. Một lát, Bái Công đứng dậy đi ra ngoài. Nhân đó gọi Phàn Khoái ra, sau khi Bái Công đã ra, Hạng Vương sai đô úy là Trần Bình mời Bái Công vào, Bái Công nói:
- Nay ta đi ra, chưa có lời từ biệt, làm thế nào bây giờ?
Phàn khoái nói:
- Làm việc lớn thì không để ý đến những điều vụn vặt; làm lễ lớn không câu nệ những điều nhỏ. Nay người ta là dao là thớt, ta là cá là thịt, từ biệt làm gì?
Bái Công bèn ra đi, sai Trương Lương ở lại để xin lỗi, Lương hỏi:
- Đại vương đến đây có mang theo gì không?
Bái Công nói:
- Ta mang theo một cặp n gọc bạch bích, muốn để biếu Hạng Vương, một đôi chén ngọc muốn để biếu Á Phụ. Ta thấy họ nổi giận nên khôgn dám hiến. Nhà ngươi hiến hộ cho ta.
Trương Lương nói:
- Xin vâng.
Bấy igờ quân của Hạng Vương đóng ở Hồng Môn, quân của Bái Công đóng ở Bá Thượng, cách nhau bốn mươi dặm. Bái Công bỏ xe lại, một mình cưỡi ngựa đi thoát thân, bốn người: Phàn Khoái, Hạ Hầu Anh, Ngận Cương, Kỷ Tín mang gươm và khiên chạy bộ theo. Họ men theo chân núi Ly Sơn, đi qua Chỉ Dương, theo con đường nhỏ. Bái Công dặn Trương Lương:
- Đi theo đường này đến quân ta chỉ mất hai mươi dặm mà th ôi. Tính chừng khi nào ta đã về đến quân rồi thì nhà ngươi hãy vào.
Sau khi Bái Công chừng đã đi theo con đuờng nhỏ về đến trong quân, Trương Lương bước ra xin lỗi, nói:
- Bái Công quá chén, không thể vào từ biệt, có sai thần là Lương dâng một đôi ngọc bích để kính dâng đại vương, một đôi chén ngọc để kính dâng đại tướng quân.
Hạng Vương hỏi:
- Bái Công đâu rồi?
Trương Lương nói:
- Nghe đại vương có ý trách tội, Bái Công đã trốn thoát đi một mình, nay đã về đến quân doanh.
Hạng Vương bèn nhận ngọc bích đặt ở chỗ ngồi. Á Phụ cầm chén ngọc đặt xuống đát, tuốt kiếm đập chén vỡ tan, nói:
- Chà! Thằng trẻ con khôgn thể cùng bàn mưu kế! Người đoạt thiên hạ của Hạng Vương nhất định là Bái Công. Bọn ta sẽ bị bắt làm tù hết.
Bái Công về đến quân doanh, lập tức giết Tào Vô Thượng.
7. Mấy ngày sau, Hạng Vương đem binh về hướng tây làm cỏ thành Hàm Dương giết vua Tần đã đầu hàng là Tử Anh, đốt cung thất nhà Tần, lửa cháy liền ba tháng không tắt, thu của cải châu báu, phụ nữ đem về đông. Có người nói với Hạng Vương:
- Đất Quan Trung bốn phía có núi sông che chở, đất đai phì nhiêu, có thể đóng đô ở đấy để xây dựng nghiệp bá.
Hạng Vương thấy cung thất nhà Tần đều bị đốt phá lòng chạnh nhớ, muốn về miền đông, liền nói:
- Được phú quý mà không về làng cũ thì cũng như mặc áo gấm đi đêm, còn ai biết gì?
Người ấy nói:
- Người ta nói rằng: "Người Sở giống "những con khỉ đội mũ người". Quả thực là đúng!".
Hạng Vương nghe vậy bỏ người đó vào trong vạc dầu.
Hạng Vương sai người xin mệnh lệnh của Sở Hoài Vương, Hoài Vương nói:
- Cứ theo như lời ước cũ.
Hạng Vương bèn tôn Hoài Vương lên làm Nghĩa Đế. Hạng Vương múôn tự xưng vương, nên trước tiên phong các tướng văn võ làm vương. Hạng Vương nói:
- Khi thiên hạ mới bắt đầu khởi sự thì tạm thời lập các chư hầu để đánh TẦn, nhưng việc mình mặc áo giáp, tay cầm gươm giáo gánh vác việc lớn, ba năm xông pha ở chiến trường, diệt nhà Tần và bình định được thiên hạ đều là côgn lao của các vị tuớng, các quan văn võ và của Tịch này. Nghĩa Đế tuy không có công những cũng chia đất đai mà phong vương cho ông ta.
Các tướng đều nói:
- Phải đấy!
Hạng Vương bèn chia thiên hạ, lập các tướng làm vua các nước chư hầu.
Hạng Vương và Phạm TĂng lo ngại Bái Công sẽ lấy thiên hạ; nhưng trót đã điều đình xong, không múôn bội ước, sợ chư hầu làm phản, cho nên bí mật bàn nhau: đất Ba và đấ tThục đường sá hiểm trở, nhà TẦn đày người đến đất Thục. Bèn nói:
- Đất Ba và đất Thục cũng là đất Quan Trung. Cho nên lập Bái Công làm Hán Vương cai trị đất Ba, đất Thục và đất Hán TRung đóng đô ở Nam Trịnh, Hạng Vương chia Quan TRung làm ba phần, phong vương cho các tướng Tần đã đầu hàng, để họ chẹn đường của Hán Vương.
Hạng Vương lập Chương Hàm làm Ung Vương, cai trị từ Hàm Dương sang phía tây, đóng đô ở Phế Khâu. TRửơng sử Hân xưa làm quan coi ngục ở Lịch Dương vốn có ơn với Hạng Lương; đô úy Đổng Ế trước đã khuyên Chương Hàm đầu hàng nước Sở. cho nên Hạng Vương lập Tư Mã Hân làm Tắc vương, cai trị từ phía đông Hàm Dương cho đến Hoàng Hà, đóng đô ở Lịch Dương; Đổng Ế được làm Địch vương, cai trị đất Thượng Quận, đóng đô ở Cáo Nô, Hạng Vương đổi Ngụy vương là Báo làm Tây ngụy vương, cai trị đất Hà Đông, đóng đô ở Bình Duơng. Thân Dương ở Hà Khâu là người tôi yêu của Trương Nhĩ, đã lấy được quận Hà Nam, và đóng quân Sở trên Hoàng Hà, cho nên được lập làm Hà Nam vương, đóng đô ở Lạc Dương. Hàn vương tên là Thành vẫn ở đất cũ, đóng đô ở Dương Định. Tướng nước Triệu là Tư Mã Ngang đã lấy được Hà Nội và đã có nhiều lần lập công, cho nên được lập làm Ân vương, cai trị đất Hà Nội, đóng đô ở Triều Ca. Hạng Vương đổi Triệu Vương tên là Yết làm đại vương. Thừa tướng nước Triệu là Trương Nhĩ vốn hiền, lại theo Hạng Vũ vào Quan Trung cho nên được lập làm Thường Sơn vương cai trị đất Triệu đóng đô ở Tương Quốc, Đương Dương Quân Kình Bố làm tướng nước Sở, thường lập công đầu trong quân đội, cho nên được lập làm Cửu giang vương, đóng đô ở Lục Ngô. Nhuế làm lệnh ở Bá Dương, thường đốc suất Bách Việt để giúp chư hầu, lại theo Hạng Vũ vào Quan Trung cho nên được lập làm Hành sơn vương, đóng đô ở đất Trâu. Cung Ngao làm trụ quốc, cho nên được làm Lâm giang vương, đóng đô ở Giang Lăng. Hạng Vương đổi Yên vương Hàn Quảng làm Liêu Đông vương. Tướng nước Yên là Tang Đồ đã theo Sở cứu Triệu, sau đó lại theo Hạng Vũ vào Quan Trung cho nên được lập làm Yên vương, đóng đô ở đất Kế. Hạng vương đổi Tề vương là Điền Thị làm Giao đông vương. Tướng nước Tề là Điền Đô đã cùng Hạng Vương cứu Triệu sau đó lại theo Hạng Vương vào Quan Trung cho nên được lập làm Tề vương, đóng đô ở Lâm Tri. Điền An, cháu của TỀ vương Kiến bị Tần giết khi Hạng Vũ vượt qua sông cứu TRiệu, Điền An đã lấy lại được mấy thành ở Tế Bắc rồi đem binh đầu hàng Hạng Vũ, cho nên được lập làm Tế Bắc vương, đóng đô ở Bắc Dương. Điền Vinh đãm ấy lần không nghe theo Hạng vương lại không chịu đem binh theo Sở đánh TẦn cho nên không đựoc phong đất. Thành An quân Trần Dư bỏ tướng ấn mà đi, không theo Hạng vương vào Quan Trung, nhưng nghe nói ông ta là người hiền, có công với nước Triệu, lại nghe tin ông ta lúc bấy giờ ở Nam Bì cho nên phong cho ba huyện ở xung quanh đấy. Tướng của Phiên Quân là Mai Quyên lập được nhiều công, cho nên được phong thập vạn hộ hầu.
Hạng Vương tự lập làm Tây Sở Bá Vương, cai trị chín quận, đóng đô ở Bành Thành.
Năm thứ nhất, tháng tư, đời nhà Hán (năm 206 trước công nguyên) các chư hầu đều bãi binh và trở về nước mình, Hạng vương về nước, sai người đổi Nghĩa Đế đi nơi khác, nói:
- Các vị đế vương xưa nước vuông ngàn dặm đều ở thượng lưu dòng sông.
Cho nên Hạng vương sai đổi Nghĩa đế đi Trừơng Sa, ở Sâm huyện. Hạng vương lại giục Nghĩa Đế đi. Quần thần của Nghĩa đế dần dần trở mặt, Hạng Vương bèn bí mật sai Hành Sơn Vương và Lâm giang vương giết Nghĩa Đế ở trên Trường Giang. Hàn vương là Thành không có quân công, Hạng Vương không cho về nứoc, đưa về Bành Thành và giáng chức làm hầu, sau đó Hạng Vuơng lại sai người giết đi. Tang Đồ về nước mình, múôn đuổi Hàn Quảng đi Liêu Đông, nhưng Quảng không nghe, Tang Đồ giết Quảng ở Vô Chung và lấy luôn đất của Quảng để làm vương.
Điền Vinh nghe tin Hạng Vũ đã đổi vua Tề là Thị đi Giao Đông, và lập tướng nước Tề là Điền Đô làm Tề vương, liền nổi giận, không cho Tề Vương đi Giao Đông, rồi giữ lấy nước Tề làm phản và đón đánh Điền Đô. Điền Đô bỏ chạy sang Sở, Tề Vương là Thị, sợ Hạng Vương nên bỏ trốn về nước mình là Giao Đông, Điền Vinh nổi giận, đuổi theo, giết Tề vương ở Tức Mặc, Vinh bèn tự lập làm Tề vương, đem quân về hướng tây, giết vua Tề Bắc là Điền An, làm vua cả Tam Tề.
Vinh giao ấn tướng quân cho Bành Việt, ra lệnh cho y làm phản ở đất Lương. Trần Dư ngầm sai Trương Đồng, Hạ Duyệt nói với vua Tề là Điền Vinh:
- Hạng Vương làm chúa tể thiên hạ, nhưng khôgn công bình. Ông ta cho tất cả các vua cũ làm vương ở những đất xấu, còn cho quần thần, tướng tá của ông ta làm vương ở những nơi đất tốt, đuổi chủ cũ của mình là Trịêu vương lên phía Bắc, ở đất Đại, Dư này cho là không hợp lý. Nghe tin đại vương khởi binh, lại không nghe lối xử trí bất nghĩa, xin đại vương giúp binh lính cho Dư này. Tôi xin đánh Thường Sơn để phục lại Triệu vương. Tôi xin lấy nước ấy làm rào giậu cho nước đại vương.
Tề vương bằng lòng, bèn sai quân đi đến Triệu. Trần Dư đem tất cả quân của ba huyện cùng hợp sức với Tề vương đánh Thường Sơn, phá tan quân của Thường Sơn vương. Trương Nhĩ bỏ chạy theo Hán. Trần Dư đón Yết, trước đấy làm Triệu Vương ở đất Đại, đưa về Triệu vương bèn lập Trần Dư làm vương đất Đại.
8. Bấy giờ Hán quay về bình định Tam Tần. Hạng Vương nghe tin Hán vương đã lấy được Quan Trung, lại đem quân về hướng đông nước Tề, nước Triệu làm phản chống lại mình, liền nổi giận. Bèn phong Trịnh Xương trước kia làm huyện lệnh đất Ngô làm Hàn vương để chống lại Hán, sai bọn Tiêu Công Giác đánh Bành Việt. Bành Việt đánh bại bọn Tiêu Công Giác. Hán Vương sai Trương Lu ương đi chiêu hàng ở Hàn và đưa thư cho Hán Vương, nói:
- Hán vương không được đối xử như lời giao ước cho nên muốn lấy Quan Trung, nay được như lời giao ước cũ thì thôi, không dám đem quân sang hướng đông nữa.
Hán vương lại lấy thư của Tề và Lương làm phản đưa cho Hạng vương và nói:
- Nước Tề muốn cùng hợp sức với nước Triệu để tiêu diệt nước Sở.
Vì vậy, Sở không có ý định đem quân về hướng tây, lại đem quân về hướng bắc để đánh Tề, Sở đòi Cửu giang vương Bố đem binh đi theo, Bố cáo bệnh không đi, sai tướng mang mấy ngàn quân lại. Vì vậy Hạng vương oán Bố.
Mùa đông năm thứ hai nhà Hán (năm 205 trước công nguyên), Hạng vương đem quân về hướng bắc, đến Thành Dương, Điền Vinh cũng đem binh đến giao chiến. Điền Vinh đánh không lại, chạy đến Bình nguyên. Dân Bình Nguyên giết Điền Vinh. Hạng Vũ bèn đem quân đi theo phía bắc, san phẳng và đốt thành quách nhà cửa của Tề, chôn sống tất cả quân lính của Điền Vinh đầu hàng, trói và bắt những người già cả, đàn bà con gái làm tù, lấy đất từ Tề đến Bắc Hải, tàn sát rất nhiều. Người Tề hợp nhau lại làm phản. Vì vậy, em của Điền Vinh là Điền Hoành thu thập được mấy vạn lính Tề đã đi trốn từ trước, làm phản ở Thành Dương, Hạng vương vì vậy phải dừng lại, đánh mấy trận, nhưng không hạ được.
Mùa xuân, Hán vương cầm quân của năm nước chư hầu, tất cả năm mươi sáu vạn người, kéo về huớng đông để đánh Sở. Hạng Vương nghe vậy bèn sai các tướng đánh nước Tề, còn mình thì đem ba vạn tinh binh đi về hướng nam do đất Lỗ qua thành Hồ Lăng. Tháng tư, quân Hán đều đã vào Bành Thành, thu của cải châu báu, gái đẹp, ngày nào cũng đặt tiệc rượu hội họp linh đình. Hạng vương bèn đem quân về hướng tây, sáng sớm đi qua Tiêu huyện, đánh quân Hán, rồi kéo về hướng đông đến Bành Thành. Giữa trưa, Hạng Vũ phá tan quân Hán; quân Hán đều bỏ chạy, xô nhau nhảy xuống sông Cốc và sông Tứ. Hạng vương giết hơn mười vạn quân Hán, quân Hán đều bỏ chạy sang hướng nam về phía núi. Quân Sở lại truy kích đến phía đông Linh Bích trên sông Tuy Thủy. Quân Hán rút lui bị quân Sở đánh ráo riết, giết rất nhiều. Hơn mười vạn quân Hán đều nhảy xuốgn sông Tuy Thủy. Nước sông vì vậy khôgn chảy được. Hạng vương vây quân Hán ba vòng. Lúc bấy giờ, có một trận gió to thổi từ phía tây bắc, bẻ gãy cây, lật thốc mái nhà, làm bay cát đá, ban ngày tối đen. Gió thổi thẳng vào quân Sở, quân Sở rối loạn, tan rã. Nhờ thế, Hán vương mới trốn thoát với mấy mươi kỵ binh. Hán vương muốn đi qua đất Bái để đem cả gia đình về huớng tây. Quân Sở cũng cho người đuổi theo đến Bát, bắt gia đình Hán vương, cả nhà đều trốn và không gặp Hán vương, Hán vương gặp Hiếu Huệ, Lỗ Nguyên, ở trên đường cái bèn mang lên xe cùng đi. Kỵ binh của Sở đuổi theo. Hán vương vội vã quá đẩy Hiếu Huệ và Lỗ Nguyên xuốgn xe. Đằng Công bước xuốgn đưa hai người lên xe, làm như thế ba lần. Đằng Công nói:
- Tuy gấp, không thể đi nhanh, nhưng lẽ nào lại bỏ đi?
Thế rồi trốn thoát được. Hán vương cho tìm Thái Công và Lữ Hậu, nhưng không gặp. Thẩm Tự Cơ theo Thái Công và Lữ Hậu lén lút đi tìm Hán vương, không ngờ gặp quân Sở. Quân Sở bèn đưa họ về báo với Hạng Vương, Hạng Vương giữ họ lại ở trong quân.
Bấy giờ, anh của LỮ Hậu là Chu Lữ Hầu làm tướng Hán, đóng quân ở Hạ Ấp, Hán Vương lẻn đến đó theo Chu Lữ Hầu, dần dần thu lại được quân sĩ. Khi đến Huỳnh Dương, các quân bại trận trước đều tập hợp lại. Tiêu Hà cũng điều động tất cả những người già trẻ không đúng tuổi đăng binh ở quan Trung đến Huỳnh Dương. Thế quân Hán lại mạnh. Quân Sở xuất phát từ Bành Thành, thừa thắng đuổi theo, cùng quân Hán đánh nhau ở phía nam Huỳnh Dương, giữa miền Kinh Ấp và Sách Đình. Quân Hán đánh quân Sở thua. Vì vậy, Sở không thể đem quân đi về hướng tây.
Trong khi Hạ vương cứu Bành Thành, đủôi Hán Vương đến Huỳnh Dương, thì Điền Hoành cũng nhân đấy thu phục đựơc nước Tề, lập con của Điền Vinh là Quảng làm Tề vương. Sau khi Hán vương thất bại ở Bành Thành, các nứoc chư hầu lại theo Sở mà chống lại Hán. Hán đóng quân ở Huỳnh Dương, xây đường ống ra đến Hoàng hà để lấy lúa ở kho Ngao Thương.
Năm thứ ba nhà Hán (năm 204 trước công nguyên), Hạng vương mấy lần đem quân đánh cướp đường ống của Hán. Hán vương thiếu lương thực, lo sợ xin hòa, cắt đất từ Huỳnh Dương sang phía đông về Hán. Hạng vương muốn nghe theo. Lịch Dương Hầu là Phạm Tăng nói:
- Đối phó với Hán thì dễ thôi! Nay cơ hội này mà không lấy, về sau sẽ hối hận.
Hạng vương bèn cung Phạm Tăng vây Huỳnh Dương rất gấp, Hán vương lo lắng, bèn theo kế của Trần Bình để ly gián Hạng vương, Hạng Vương sai sứ giả đến. Hán vương sai làm cỗ thái lao đem đến, có vẻ muốn mời sứ giả ăn. Nhưng khi thấy sứ giả thì giả vờ kinh ngạc mà rằng:
- Ta tưởng là sứ giả của Á Phụ, lại hóa ra sứ giả của Hạng vương!
Liền bưng cỗ đi, đem thức ăn tồi ra cho sứ giả của Hạng vương ăn, sứ giả về báo với Hạng vương, Hạng vương bèn nghi Phạm Tăng tư thông với Hán nên tước bỏ quyền của Tăng. Phạm Tăng giận lắm, nói:
- Việc thiên hạ đã bình định xong rồi! Xin quân vương tự lo lấy. Cho phép thần được mang xác về làm một người lính.
Hạng vương bằng lòng. Phạm Tăng đi chưa đến Bành Thành , nổi ung ở lưng mà chết!
Tướng của Hán là Kỷ Tín nói với Hán vương:
- Nay việc đã gấp! Xin cho tôi vì nhà vua mà giả làm vua để lừa quân Sở. Như thế nhà vua có thể cải trang mà trốn thoát.
Hán vương bèn đang đêm cho đưa con gái ra cửa đông Huỳnh Dương và hai ngàn người mang áo giáp, quân Sở đánh vào bốn mặt. Kỷ Tín cưỡi xe Hoàng ốc, cắm cờ tả đạo, nói:
- Trong thành lương hết! Hán vương xin hàng!
Quân Sở đều hô "vạn tuế!".
Hán vương cùng vài mươi kỵ binh do cửa tây thành mà ra, chạy đến T hành Cao. Hạng vương thấy Kỷ Tín liền hỏi:
- Hán vương ở đâu?
Kỷ Tín nói:
- Hán vương đã ra rồi!
Hạng vương thiêu sống Kỷ Tín.
Hạng vương sai ngự sử đại phu là Chu Hà, Tung Công và Ngụy Báo giữ Huỳnh Dương. chu Hà và Tung Công bàn nhau:
- Khó lòng giữ nổi thành trì với một ông vua phản quốc.
Bèn cùng nhau giết Ngụy Báo. Quân Sở hạ thành Huỳnh Dương, bắt sống Chu Hà. Hạng vương bảo Chu Hà:
- Nếu ngươi chịu làm tướng của ta, ta sẽ cho ngươi làm thượng tướng quân, và phong cho ba vạn hộ.
Chu Hà đáp:
- Mày nếu không đàu hàng Hán, thì Hán sẽ cầm tù mày! Mày không địch nổi Hán đâu!
Hạng vương nổi giận, bỏ Chu Hà vào vạc sôi và giết luôn cả Tung Công. Hán vương thoát khỏi Huỳnh Dương, chạy về phía nam, vào đất Uyển và đất Diệp, gặp Cửu giang vương là Kình Bố. Hán vương thu thập quân đội, lại vào giữ Thành Cao.
Năm thứ tư nhà Hán (năm 203 trước công nguyên), Hạng vương tiến quân, vây Thành Cao, Hán vương bỏ trốn ra khỏi cửa bắc T hành Cao với Đẳng Công, vượt qua Hoàng Hà chạy đến Tu Vũ, nhập vào quân của Trương Nhĩ, Hàn Tín. Các tướng đều dần dần ra khỏi Thành Cao, đi theo Hán vương. Quân Sở lấy được Tahnhf Cao, muốn đi về hướng Tây. Hán sai quân chống lại ở đất Củng, làm cho quân Sở khôgn đi về hướng tây được.
Bấy giờ, Bành Việt đã vượt qua Hoàng Hà, đánh đất Đông A của Sở, giết tướng Sở là Tiết Công, Hạng vương liền thân hành đem quân về hướng đông đánh BànhViệt. hán vương được binh của Hoài Âm Hầu , múôn vượt qua Hoàng Hà đi về nam, Trịnh Trung nói Hán vương dừng lại, đóng quân ở Hà Nội sai Lưu Giả đem quân giúp Bành Việt, đốt lương thực của Sở. Hạng vương đem quân về hướng đông, đánh phá quân Bành Việt, Bành Việt bỏ chạy, Hán vương đem quân vượt qua Hoàng Hà, lấy lại được Thành Cao đóng quân ở Quảng Vũ, lấy lương thực ở kho Ngao Thương. Sau khi đã bình didjnh xong miền đông, Hạng vương đem binh sang hướng tây gặp quân Hán ở Quảng Vũ, hai bên giữ nhau mấy tháng.
Lúc bấy giờ , Bành việt thường làm phản ở đất Lương, cắt đứt lương thực của Sở, Hạng vương lo lắng, dựng một cái thớt cao, đặt Thái Công lên trên, và sai người nói với Hán vương:
- Nếu không đầu hàng ngay thì ta nấu chết Thái Công.
Hán vương nói:
- Ta và Hạng Vũ đều ngoảnh mặt về hướng bắc chịu mệnh lệnh của Hoài vương và đã " giao ước làm anh em". Cha ta tức là cha ngươi, ngươi múôn nấu cha ngươi thì cho ta một bát canh với!
Hạng vương giận, múôn giết Thái Công. Hạng Bá nói:
- Việc thiên hạ chưa biết như thế nào, vả chăng người đã lo việc thiên hạ thì không nhìn đến việc nhà, có giết ông ta cũng vô ích, chỉ tăng thêm tai họa mà thôi.
Hạng vương nghe theo.
Quân Sở và quân Hán giằng co nhau, chưa ai thắng ai, trai tráng khổ sở vì phải đi lính, người già yếu mệt nhọc vì lo vận tải lương thực. Hạng vương nói với Hán vương:
- Mấy năm nay, thiên hạ xao xuyến khốn khổ, chỉ vì hai chúng ta.
Hạng vương muốn cùng Hán vương khiêu chiến, quyết một phen sống mái, không nên làm khổ nhân dân thiên hạ nữa.
Hán vương cười mà nói rằng:
- Ta chỉ đấu trí , khôgn thèm đấu lực.
Hạng vương sai tráng sĩ ra khiêu chiến, Hán vương có viên tướng giỏi bắn là Lâu Phiền. Ba lần quân Sở ra khiêu chiến, đều bị Lâu Phiền bắn chết. Hạng vương trợn mắt quát. Lâu Phiền mắt không dám nhìn, tay không dám bắn, liền bỏ chạy vào thành, không dám ra nữa. Hán vương sai ngươi lẻn ra để hỏi, thì biết đó là Hạng vương. Hán vương hoảng sợ.
Thế rồi Hán vương cùng Hạng vương gặp nhau ở khe Quảng Vũ và nói chuyện với nhau. Hán vương kể tội Hạng vương, Hạng vương nổi giận, muốn đánh nhau một trận, Hán vương không nghe. Hạng vương dùng cái nỏ ngầm bắn trúng Hán vương. Hán vương bị thương chạy vào Thành Cao.
Hạng vương nghe tin Hoài Âm Hầu đã lấy được Hà Bắc, phá được Tề, Triệu, lại muốn đánh Sở, bèn sai Long Thư đến đánh. Hoài Âm Hầu cùng kỵ tướng là quán Anh đánh quân Sở thua to, giết Long Thư. Hàn Tín nhân đó tự lập làm Tề vương. Hạng vương nghe tin quân của Long Thư thua trận, sai Vũ Thiệp, người Vu Thai, đến khuyên dụ Hoài Âm Hầu, HOài Âm Hầu không nghe. Bấy giờ Bành Việt lại làm phản, lấy đựoc đất Lương, cắt đứt lương thựcc ủa Sở. Hạng vương bảo bọn Hải Xuân Hầu, đại tư mã là Tào Cửu rằng:
- Phải giữ T hành Cao cho cẩn mật! Nếu quân Hán khiêu chiến thì chớ đánh nhau với chúng, chỉ đừng cho chúng đi về hướng đông mà thôi. Sau mười lăm ngày, nhất định ta sẽ giết Bành Việt, bình định được đất Lương, và lại về đây với tướng quân.
Hạng vương đem quân về hứong đông đánh thành Trần Lưu, Ngoại Hoàng. Thành Ngoại Hoàng không hạ được. Phải đánh mấy ngày mới đàu hàng. Hạng vương nổi giận, bắt buộc tất cả con trai từ mười lăm tuổi trở lên đều phải đến phía đông thành ấy, múôn chôn sống họ. Con trai của huyện lệnh Ngoại Hoàng, mới mười ba tuổi, đến nói với Hạng vương :
- Bành việt cưỡng ép, Ngoại Hoàng sợ nên phải hàng, chờ đợi Đại vương. Nay đại vương đến lại chôn sống họ, trăm họ còn lòng nào muốn theo đại vương nữa! Nếu làm thế thì từ đây về hướng đông còn hơn mười thành của đất Lương sẽ đều sợ hãi, không ai chịu đầu hàng đâu.
Hạng vương cho là phải, bèn tha những người ở Ngoại Hoàng khỏi bị chôn sốgn. thế rồi các thành từ đó sang phía đông cho đến Tuy dương nghe vậy đều tranh nhau đầu hàng Hạng vương.
Quả nhiên, Hán mấy lần khiêu chiến với quân Sở, quân Sở khôgn chịu ra. Hán sai người mắng nhiếc năm sáu ngày. Đại tư mã giận đem quân vượt qua sông Tự Thủy ,quân lính vừa mới ra giữa sông, bị quân Hán đánh úp, phá tan quân Sở, lấy tất cả của cải tìên bạc của nước Sở. Đại tư mã là Cữu, trưởng sử là Ế, Tắc vương là Hân đều đâm cổ chết giữa sông Tự Thủy. Đại tư mã Cửu nguyên trước làm quan coi ngục ở đất Kỳ, trưởng sử Hân cũng là quan coi ngục ở đất Lịch Dương , hai người trước có ơn với Hạng vương cho nên được Hạng vương tín nhiệm. Lúc bấy giờ, Hạng vương ở Tuy Dương, nghe tin Hải Xuân Hầu thua, liền đem quân về. Quân Hán đang vây Chung Ly muội ở phía đông Huỳnh Dương. Hạng vươn đến, quân Hán sợ Sở chạy vào nơi hiểm trở hết. Lúc bấy giờ bên Hán quân thịnh , lương nhiều, quân của Hạng vương mệt nhọc, lương hết. Hán sai Lục giả nói với Hạng vương xin Thái Công. Hạng vương không nghe. Hán vương lại sai Hầu Công đến nói với Hạng vương. Hạng vương bèn giao ước với Hán vương chia khoảng giữa thiên hạ: từ Hồng Câu về tây là thuộc Hán, từ Hồng Câu về Đông là thuộc Sở, liền cho cha và vợ hán vương về. Quân sĩ đều hô: "Vạn tuế!". Hán vương bèn phong Hầu Công làm bình quốc công. Hầu công từ đó bị yên trí, không đựoc yết kiến nữa. Hán vương bảo:
- Đó là kẻ biện sĩ giỏi nhất thiên hạ, ở đâu thì nước ấy sẽ nghiêng đổ, cho nên hiệu là Bình quốc quân.
9. Hạng vương sau khi đã giao ước, rút quân về hướng đông. Hán vương muốn di vè hướng tay, trương lương, Trần Bình nói:
- Hán đã có được hơn một nửa thiên hạ, chư hầu đều theo. Nước Sở quân sĩ mệt, lương thực hết, chính là lúc trời làm mất nước Sở. Chi bằng nhân cơ hội này mà đánh lấy. Nay tha không đánh, tức như lời người ta nói "nuôi hổ để gây mối lo cho mình về sau"!.
Hán Vương nghe theo.
Năm thứ năm nhà Hán (năm 202 trước công nguyên), Hán vương theo đánh hạng vương đến phía nam Dương Hạ, đóng quân lại đấy, hẹn với Hoài Âm Hầu Hàn Tín, Kiến thành hầu Bành Việt hiệp sức để đánh quân Sở. Hán vương đến Cối Lăng, nhưng binh của Tín và Việt không đến. Quân Sở đánh quân Hán thua to. Hán vương lại vào thành đào hào sâu để giữ. Hán vương bảo TRương Tử Phòng:
- Chư hầu không theo lời giao ước, làm thế nào bây giờ?
Tử Phòng nói:
- Quân Sở sắp vỡ, nhưng Tín, Việt vẫn chưa được phong đất, họ không đến là phải. Nếu nhà vua biết chia thiên hạ cho họ thì gọi họ sẽ đến ngay. Không làm được thế, đại sự chưa biết như thế nào. Nếu nhà vua có thể phong cho Hàn Tín các miền đất từ Trần sang phía đông cho đến biển; phong cho BÀnh Việt các miền từ phía bắc Tuy Dương cho đến Cốc T hành, để cho họ tự chiến đấu, thì dễ đánh bại Sở lắm.
Hán vương nói:
- Phải đấy!
Hán vương bèn sai sứ giả đến nói với Hàn Tín, Bành Việt:
- Hãy chung sức đánh Sở. Nếu phá được Sở thì từ đất TRần về phía đông cho đến biển sẽ phong cho Tề vương; từ phía bắc Tuy Dương cho đến Cốc Thành sẽ phong cho Bành tướng quốc.
Sứ giả đến, Hàn Tín, Bành Việt đều báo:
- Xin tiến quân tức thì.
hàn Tín bèn từ Tề đến, hội với quân Lưu Giả, từ Thọ Xuân xuất phát rồi cùng kéo đi, làm cỏ T hành Phụ và đến Cai Hạ. Đại tư mã Chu Ân phản lại Sở, lấy quân của đất Thư đến tiêu diệt đất Lục, lại điều động cả quân Cửu G iang theo Lưu Giả và BÀnh Việt. tất cả đều họp ở Cai Hạ, hướng vào phía Hạng vương.
Hạng vương đóng quân ở trong thành Cai Hạ, binh ít, lương hết! Quân Hán và quân chư hầu bổ vây mấy vòng. Đang đêm, Hạng vương nghe quân Hán ở bốn mặt đều hát giọng Sở, Hạng vương liền kinh hoàng, nói:
- Hán đã lấy được Sở rồi sao? Sao mà người Sở lại đông như thế?
Đang đêm Hạng vương thức dậy, uống rượu trong trướng. Có mỹ nhân thường đi theo tên là Ngu Cơ, có con ngựa thừa cưỡi tên là Chuy, Hạng vương đau đớn cảm khái làm bài thơ:

Sức nhổ núi, khí trùm đời,
Ngựa Chuy chùn lại bởi thời không may!
Ngựa sao chùn lại thế này?
Nàng Ngu, biết tính sao đây hỡi nàng?

Hạng vương ca mấy lần, mỹ nhân họa theo. Hạng Vương khóc chảy nước mắt! Tả hữu đều khóc, khôgn ai có thể ngẩng lên nhìn!
hạng vương bèn lên mình ngựa, tráng sĩ cưỡi ngựa ở dưới cờ hơn tám trăm người, đang đêm phá vỡ vòng vây xông ra phía nam, phi ngựa chạy. Đến tảng sáng , quân Hán mới biết, sai kỵ tướng là Quán Anh mang năm ngàn kỵ binh
Đường và chân là đôi bạn thân. Chân đi chơi, chân đi học, đường ngang dọc đường dẫn tới nơi.
Đăng nhập để trả lời
0
STOP! PCCC VỪA THẤY CÓ TRONG THƯ VIỆN RÙI!
Hic! tại tra tên thì không thấy, nhưng lúc tra tên tác giả thì PCCC mới thấy!
Đường và chân là đôi bạn thân. Chân đi chơi, chân đi học, đường ngang dọc đường dẫn tới nơi.
Đăng nhập để trả lời
0
Thui ngồi luyện ngón một tí có sao đâu, lần sau tra cứu kĩ hơn nha, may CB chưa bị trường hợp này lần nào. [:D]
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0