Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

Tử vi tuổi tý

9 trả lời, 6.392 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-10 12:35:37rabinka>
Phần I

Cốt tuỷ khoa tử vi

Quý độc giả đã nghe nói không ít thì nhiều đến phái Đông A về phương diện Khoa Học Huyền Bí. Phái Đông A lưu truyền trải hai mươi lăm đời. Đến đời thân phụ tôi là đời thứ hai mươi sáu. Gia phả còn giữ đầy đủ.

Thời thơ ấu được ông cha dạy dỗ, khuyến khích, cùng vạch ra cho con đường đi. Con đường đó bắt tôi phải học, để có chỗ đứng trong xã hội mai sau, rồi sẽ phải viết bốn bộ trường thiên tiểu, thuật bốn thời Anh Hùng của tộc Việt là Anh Hùng Lĩnh Nam, Anh Hùng Đông A, Anh Hùng Lam Sơn, Anh Hùng Tây Sơn. Như một phép lạ, cũng được giáo huấn như tôi, nhưng tất cả các anh họ, anh ruột tôi đều cho rằng mình tân tiến, nhăn mặt không chịu theo khuôn khổ nho gia. Tôi thì ngược lại, tôi nghĩ: ông cha đều muốn mình hơn đời, hơn người, có đâu hại mình. Các ngài, ông thì đi vào tuổi cổ lai hy (70) cha thì đã tới tuổi bất hoặc (40), ngoài cái sở học, các người còn có kinh nghiệm sống. Nếu mình vừa học ở trường như bạn, vừa thu hái tất cả những gì ông cha truyền cho, thì mình sẽ có thể hơn ông cha; như thế nhà mới có phúc.

Sau khi học hết bậc trung học, tôi phải bôn ba xa nhà, tìm đường du học. Hai mươi lăm tuổi mới ra trường. Đã vậy, còn tham lam, ghi tên học chuyên khoa. Cho mãi đến năm hai mươi bẩy tuổi, mới được gần phụ thân. Năm đó, phụ thân bắt đầu dạy tôi về Khoa Học Huyền Bí. Người dạy tôi tất cả bẩy khoa: Tử Vi, Bói Dịch, Nhâm Độn, Thiên Văn, Điạ Lý, Tướng Mệnh, và Hình Tượng (xem chân gà).

Vốn có sở học uyên thâm về Bách Gia, Chư Tử, Cửu Lưu, Tam Giáo. Không kinh nào mà không thuộc làu, không bộ sử nào mà không thông, không thi tập nào mà không thuộc ít bài. Lại kiêm cái học thực tiễn của gần mười năm tại đại học y khoa. Vì vậy tôi học rất mau.

Khi mới học, tôi ngẫm ra rằng những thư tịch về Khoa Học Huyền Bí thực nhiều vô kể, thế mà không hiểu sao chưa ai dịch? Thảng hoặc có vài vị viết sách về loại này, lại quá sơ lược. Sơ lược đến nỗi gần như chưa nhập vào cửa của mỗi môn.

Trong lòng tôi nảy ra mối công phẫn, tự hẹn, mình sẽ dịch tất cả sang Việt ngữ. Nhưng nghề sinh nhai lối dọc đường ngang, tôi phải vật lộn với cuộc sống. Nào lo làm việc báo hiếu phụ mẫu, nuôi các em ăn học. Nào kiếm tiền thỏa mãn nhu cầu cho vợ, cho con. Thoáng một cái bốn năm đi qua, không làm được gì cả.

Tới ngày mùng mười tháng ba năm Mậu Thân (1968), mới khởi công viết năm giai đoạn lịch sử tiểu thuyết. Viết lịch sử tiểu thuyết để trả nợ dân tộc, trả nợ tổ tiên. Khi viết lịch sử tiểu thuyết, trong lòng tôi ngay ngáy, muốn viết về Khoa Học Huyền Bí. Song bị giòng lịch sử lôi cuốn, không ngắt ra được. Thảng hoặc lắm, các thân hữu xin bài cho số Xuân, tôi mới nhín chút thì giờ viết một vài bài. Hóa cho nên, trong suốt cuộc đời, tôi không uống rượu, chẳng hút thuốc. Bài bạc càng mù tịt. Giải trí của tôi, chỉ với công cuộc viết lịch sử tiểu thuyết. Đôi khi viết tiểu thuyết mệt, lại tìm cái giải trí trong cuộc giải trí, viết Khoa Học Huyền Bí, để ngẫm lẽ sinh, tử, vô thường của cuộc đời. Chính vì vậy, sau những cuộc giải trí đó, có tập sách này.

Đầu tiên, tôi viết về Tử Vi. Khoa Tử Vi có nhiều cốt tủy, mà chưa thấy ai nói đến. Tôi cố gắng viết ra hết. Quý độc giả đừng tìm trong bộ sách này dạy cách chấm số, an sao, tính chất các sao. Những điều đó nhiều vị đi tiên phong đã làm. Tôi không có thì giờ nhắc lại, vì tuổi năm mươi sắp đến, không viết mau, viết gấp, ra ngoài bẩy mươi, e chân tay run, trí minh mẫn không còn. Tôi chỉ viết những gì, chưa ai viết mà thôi.

Trong tập này, độc giả sẽ tìm thấy:

Lịch sử khoa Tử Vi

Cốt tủy của 12 con giáp

Nghiên cứu tổng quát về “Nguyên lý âm dương” của sáu mươi tuổi

Đây là khung. Độc giả theo đó, có thể tự giải lấy số của mình. Trong sáu mươi con giáp, con Tý đứng hàng đầu. Tôi xin trình làng trước. Tiếp theo tới con Sửu, Dần, v.v. Nhưng phải đợi đến khi xuất bản xong bộ lịch sử tiểu thuyết cuối cùng là Anh Hùng Tây Sơn, rồi mới viết tiếp được.

Khi tôi viết những giòng này, là lúc tôi làm thầy thuốc ở châu Âu. Trước hết tôi căn cứ vào thư tịch cổ, vào kinh nghiệm, rồi từ đó nhìn vào những người sống quanh tôi (giai đoạn 1976-1993). Tôi dùng máy điện toán ghi chú, thống kê, chi tiết từng tuổi, mỗi tuổi từ năm trăm tới nghìn người, rồi rút lấy những điểm giống nhau. Những người mà tôi lấy làm đích để nghiên cứu là người sống ở châu Âu, châu Mỹ, vì vậy tâm lý, hoàn cảnh của họ có đôi chút khác với người Việt mới ra ngoại quốc hoặc ở trong nước.

Tỷ như khi bàn về duyên tình nữ Mậu Tý (1948), tôi nghiệm ra rằng những phụ nữ này thường có ông chồng hiền lành làm cảnh, rồi lại có một người yêu bên cạnh. Nữ độc giả người Việt, Hoa, mới sống ở Âu, Mỹ sẽ không đồng ý với tôi. Tôi xin nhắc lại, phụ nữ Hoa, Việt ở trong nước khác hẳn phụ nữ Pháp, Mỹ vì giáo dục, vì tôn giáo. Lại nữa, nếu một phụ nữ Việt, Hoa tuổi Canh Tý (1960), sống ở Pháp từ 1980 trở về trước, thấy những điều tôi nói đúng với mình, thì những phụ nữ cùng tuổi, mới xuất ngoại sau 1985, tâm tính khác nhau rất nhiều là do hoàn cảnh chính trị, kinh tế, giáo dục tạo ra. Tuy vậy đại lược thì vẫn có nhiều điểm tương đồng. Bộ sách này muốn ghi lại những cái tương đồng đó.

Paris, ngày tiết Đông chí, năm Quý Dậu (1993)



Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Đăng nhập để trả lời
0
Lịch sử khoaTử Vi Trung Hoa và Việt Nam



Trong thập niên 1960 trở lại đây, Việt Nam ở hoàn cảnh chiến tranh, biến cố xảy ra liên miên. Hôm nay thế này, ngày mai bừng mắt dậy đã khác, nên khiến con người muốn đi tìm hiểu số mệnh mình bằng cách các Khoa Học Huyền Bí. Trong các Khoa Học Huyền Bí, thì khoa Tử Vi được coi là có nhiều tính chất khoa học, giải đoán được mọi sự kiện của cuộc đời và mở rộng. Bởi vậy khoa Tử Vi được nghiên cứu rất nhiều. Từ những người cao niên, học thức uyên thâm, tới những sinh viên học sinh, thi nhau tìm hiểu khoa này. Cho đến năm 1973-1975, một bán nguyệt san được xuất bản với tên là Khoa Học Huyền Bí do ông Nguyễn Thanh Hoàng sáng lập và làm chủ nhiệm. Tạp chí tuy mang tên Khoa Học Huyền Bí nhưng gần như là nơi qui tụ những kết quả của các nhà nghiên cứu Tử Vi. Người yêu khoa Tử Vi thì nhiều, mà sách vở ấn hành không được là bao. Tựu trung có các bộ sau đây:

Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Điền Thái Thứ Lang

Tử Vi Áo Bí của Hà Lạc Dã Phu

Tử Vi Hàm Số của Nguyễn Phát Lộc

Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của La Hồng Tiên do Vũ Tài Lục dịch nhưng chỉ có một phần ngắn

Trong bốn bộ sách Tử Vi trên thì từ tính chất các sao, đến cách an sao, giải đoán hầu như quá khác biệt nhau, khiến cho người nghiên cứu không biết đâu là phải, đâu là trái, đâu là sự thật mà đi theo. Thậm chí có sách đi vào những chi tiết thần kỳ chí quái, hoang đường, trái hẳn với khoa Tử Vi nguyên thủy.


Hiện khoa Tử Vi ở Việt Nam bị coi là một khoa nhảm nhí, bị cấm tuyệt, người coi Tử Vi bị kết tội ngang với những tội đại hình. Nhưng tại hải ngoại, người Việt Nam lại tiếp tục nghiên cứu khoa này, số người nghiên cứu đông đảo hơn hồi 1975 về trước nữa. Lý do: khi tiếp xúc với văn minh cơ giới Âu Mỹ, không giải quyết được lẽ huyền bí của con người, với vũ trụ. Hơn nữa khoa Tử Vi có tính chất khoa học hơn các khoa chiêm tinh khác. Lý do thứ ba khiến khoa Tử Vi được nhiều người nghiên cứu, là khi ra ngoại quốc, người Việt không ít thì nhiều đều tìm cách học thêm. Học nhiều thì kiến thức rộng, kiến rộng thì việc nghiên cứu càng sâu rộng hơn. Một vài nơi như Pháp, Gia Nã Đại, Úc, Hoa Kỳ, họ đã thành lập hội nghiên cứu Tử Vi, thực là một điều đáng khuyến khích.

Tuy nhiên trong hoàn cảnh khó khăn hiện tại, lấy đâu ra sách vở, tài liệu để họ nghiên cứu? Sách vở căn bản không có, rất dễ đi đến sai lạc, khiến cho khoa Tử Vi bị mất giá trị, mà mất luôn sự tin tưởng và mất luôn ngày giờ của người nghiên cứu.


Bởi vậy chúng tôi mạo muội mở đầu cho phong trào, bằng một bài nghiên cứu về lịch sử khoa Tử Vi, để độc giả có một cái nhìn tổng quát, khiến nó không bị ngộ nhận là nhảm nhí và đồng hóa với những khoa huyền bí thiếu biện chứng khác.



I. NGUỒN GỐC KHOA TỬ VI

Khoa Tử Vi bắt nguồn từ thời nào? Ai là người khai sáng ra nó? Cho đến nay sử sách không ghi lại. Các Tử Vi gia thường chỉ chú ý đến việc giải đoán Tử Vi hơn là đi tìm hiểu lịch sử. Bởi vậy cho đến nay, lịch sử khoa này vẫn còn lờ mờ. Thậm chí có người còn lầm lẫn khoa Tử Vi với những chuyện truyền kỳ chí quái ma trâu đầu rắn đầy hoang đường của tiểu thuyết Phong Thần hoặc Tây Du Ký và nói rằng: Khoa Tử Vi do một ông tiên tên là Trần Đoàn lão tổ đặt ra, và Trần Đoàn lão tổ là một tiên ông trường sinh bất lão, có tài hô phong hoán vũ, phép tắc nhiệm mầu. Nhiều vị còn thờ Trần Đoàn lão tổ. Khi xem số cho thân chủ, còn thắp hương khấn vái, để lão tổ linh ứng cho một quẻ, thực là nhảm nhí và vô lý hết sức.


Kể từ khi khoa Tử Vi được đắc dụng là niên hiệu Càn Đức nguyên niên đời vua Thái Tổ nhà Tống (863), cho đến nay trên một ngàn năm, chưa có một sử gia nào chép về lịch sử cả. Trên đường nghiên cứu, chúng tôi tìm được một số thư tịch rải rác sau đây, biên tập sơ lược về khoa này. Tôn trọng đúng nguyên tắc sử gia Đông phương, những gì nghi ngờ thì để nguyên, mà cổ nhân gọi là nghi dĩ truyền nghi.


1. TỬ VI CHÍNH NGHĨA


Bộ này do Hy Di tiên sinh truyền cho Tống Thái Tổ là Triệu Khuông Dẫn. Bản chúng tôi có là bản chép tay của HoaYên Tự. Bản này được tàng trữ tại Quốc sử quán triều Nguyên, năm 1955 trong cuộc chính biến lật đổ quốc trưởng Bảo Đại, chúng tôi sưu tầm được.


2. TRIỆU THỊ MINH THUYẾT TỬ VI KINH


Chúng tôi có hai bản. Bản chép tay gia truyền, cũng chép từ chính bản của Hoa Yên Tự. Một bản nữa Cẩm Chướng Thư Cục Thượng Hải ấn hành năm 1921. Hai bản không khác nhau làm bao. Bởi gốc của bộ sách này là bộ Tử Vi Chính Nghĩa. Sau khi được Hy Di tiên sinh truyền cho, Triệu Khuông Dẫn và con cháu nhà Tống nghiên cứu rộng ra, mới đặt cho một tên mới là Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh có nghĩa là học Triệu giảng nghĩa rõ ràng về bộ Tử Vi Kinh. Bộ này được Hoàng Bính truyền sang Việt Nam vào niên hiệu Nguyên phong thứ 7 đời vua Trần Thái Tông (1257). Hoa Yên Tự chép lại, và lưu truyền tới nay.


3. ĐÔNG A DI SỰ

Bộ này không phải là bộ sách nghiên cứu về Tử Vi, mà là bộ sách chép các học thuyết đời Trần, trong đó có phần chép về Tử Vi. Bộ sách do ba người liên tiếp chép, đó là Huệ Túc phu nhân, vợ của Trần Thái Tông, Đoàn Nhữ Hài, một vị tể tướng đời Trần, học trò của Huệ Túc, Trần Nguyên Đán, một vị bác học cuối đời Trần. Bản chúng tôi có là bản do Trần Nguyên Đán khắc bản mộc năm 1388.


4. TỬ VI ĐẠI TOÀN

Bộ này do các văn thần nhà Thanh nghiên cứu tổng hợp hết các sách cổ kim vể Tử Vi, chép lại. Đây không phải là bộ biên tập nghiên cứu mà chỉ là bộ sao chép lại mà thôi. Bản chúng tôi có là bản sao, đề rằng do Cẩm Chướng Thư Cục xuất bản tại Thượng Hải năm 1921?


5. TỬ VI ĐẨU SỐ TOÀN THƯ

Do La Hồng Tiên biên soạn, rất giản lược nhưng giống bộ Tử Vi Chính Nghĩa. Có thể nói đây là bộ Tử Vi Chính Nghĩa yếu lược. Bộ này do Cẩm Chướng Thư Cục xuất bản năm 1921 tại Thượng Hải. Sau này do ông Vũ Tài Lục dịch. Nhưng dịch phần ngắn và không có chú giải. La Hồng Tiên sống vào đời Minh.

Trên đây là 5 bộ Tử Vi được coi là chính thư hay do chính phái biên tập. Ngoài ra còn một bộ bị coi là tạp thư, nhưng chúng tôi vẫn nghiên cứu đầy đủ:


6. TỬ VI ÂM DƯƠNG CHÍNH NGHĨA

Bộ này do Lã Ngọc Thiềm và các Tử Vi gia thuộc Bắc phái biên tập, nên thường thêm chữ Bắc tông để phân biệt với Nam tông. Bản chúng tôi có là bản chép tay.


7. TỬ VI ÂM DƯƠNG CHÍNH NGHĨA

Do Ma Y biên soạn vào đời Tống, sau được các Tử Vi gia thuộc Nam phái bổ túc sửa đổi, nên thường thêm vào chữ Nam tông để phân biệt với Bắc tông. Bộ này khắc bản in vào thời Thanh Khang Hy, nhưng không ghi rõ năm nào.


8. TỬ VI THIỂN THUYẾT

Bộ tổng luận về Tử Vi, do Lưu Bá Ôn, một đại thần khai quốc nhà Minh biên soạn. Bản chúng tôi có là bản khắc in vào đời Thanh Khang Hy, nhưng không ghi rõ năm nào.


9. LỊCH SỐ TỬ VI TOÀN THƯ

Bộ này do Hứa Quang Hi đời Minh biên soạn. Bản chúng tôi có là bản chép tay.


Ngoài ra chúng tôi sưu tầm được khoảng trên 20 bộ sách khác, nhưng tựu trung đều mô phỏng các bộ sách trên đây cả, nên không bàn tới.


Về nguồn gốc khoa Tử Vi, thì bộ Tử Vi Kinh tức Tử Vi Chính Nghĩa, phần Hy Di tiên sinh liệt truyện viết:


“Tiên sinh lầu thông Dịch Lý, Thiên van, Hình Tượng, Lịch Số, Địa lý, nhân thấy các khoa đều có uyên nguyên tới số mạng nhân sinh, do vậy khải ngộ, soạn ra bộ Tử Vi Kinh truyền cho đức Thái Tổ nhà ta.”


Vì vậy nguồn gốc khoa Tử Vi, có thể kết luận rằng, đặt cơ sở trên:

- Học thuyết Âm Dương, Ngũ hành của Dịch Lý

- Từ Thiên Văn Học, với những biến chuyển của tinh đẩu

- Từ Hình Tượng Học, tức khoa nghiên cứu về hình dáng vũ trụ, con người và thú vật

- Từ Lịch Số, tức khoa nghiên cứu từ Thiên Văn, để tính sự tuần hoàn vũ trụ, tính ngày, tháng, năm

- Địa Lý, tức khoa nghiên cứu về con người tương ứng với địa phương hướng nhà, khí hậu v.v.


II. TIỂU SỬ HY DI TIÊN SINH


Tiên sinh họ Trần, húy Đoàn, tự Hy Di, người đất Hoa Sơn ngày nay về phía Nam huyện Hoa Âm tỉnh Thiểm Tây. Khi ra đời tiên sinh bị đẻ non tháng, nên mãi hơn hai năm mới biết đi. Thuở nhỏ thường đau yếu liên miên. Tiên sinh học văn không thông, học võ không đủ sức, thường suốt ngày theo phụ thân ngao du khắp non cùng thủy tận.


Thân phụ tiên sinh là một nhà Thiên Văn, Lịch Số đại tài đương thời. Về năm sinh của tiên sinh, không một thư tịch nào chép. Nhưng căn cứ vào bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh, khi tiên sinh yết kiến Tống Thái Tổ Triệu Khuôn Dẫn vào niên hiệu Càn Đức nguyên niên (963) có nói: “Ngô kim nhật thất thập hữu dư,” nghĩa là tôi năm nay trên 70 tuổi. Vậy có thể tiên sinh ra đời vào khoảng 888 – 893 tức niên hiệu Vạn Đức nguyên niên đời Đường Hy Tông đến niên hiệu Cảnh Phúc nguyên niên đời Đường Chiêu Tông. Tiên sinh bắt đầu học Thiên Văn năm 8 tuổi. Bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh thuật:

“Tiên sinh 8 tuổi mà còn tính thơ dại. Lúc nào cũng ngồi trong lòng thân phụ. Một hôm thân phụ tiên sinh phải tính ngày giờ mưa bão trong tháng, bị tiên sinh quấy rầy, mới dắt tiên sinh ra sân, chỉ lên bầu trời đầy sao rồi bảo:

- Con có thấy sao Tử Vi kia không?

Đáp:

- Thấy.

Lại chỉ lên sao Thiên Phủ mà hỏi:

- Con có thấy sao Thiên Phủ kia không?

Đáp:

- Thấy.

- Vậy con hãy đếm xem những sao đi theo sao Tử Vi và Thiên Phủ là bao nhiêu?

Thân phụ tiên sinh tưởng rằng tiên sinh có đếm xong cũng phải trên nửa giờ. Không ngờ ông vừa vào nhà, tiên sinh đã chạy vào thưa:

- Con đếm hết rồi. Đi sau sao Tử Vi là 5 sao, như vậy chòm sao Tử Vi có 6 sao. Đi sau sao Thiên Phủ là 7 sao, như vậy chòm sao Thiên Phủ có 8 sao.

Từ đấy tiên sinh được thân phụ hết sức truyền khoa Thiên Văn và Lịch Số.”


III. TRUYỀN CHO VUA TỐNG


Giai thoại kỳ thú mà hầu hết các nhà nghiên cứu Tử Vi đều biết đó là Hy Di tiên sinh đã dùng khoa Thiên Văn và Tử Vi đoán trước được hai đứa trẻ nghèo đói, sau đều trở thành vua. Bộ Tử Vi Chính Nghĩa phần Hy Di tiên sinh liệt truyện đã kể giai đoạn kỳ thú đó như sau:


Một hôm tiên sinh dẫn đệ tử ra sân xem Thiên Văn, chợt kêu lên rằng:

- Kìa quái lạ không?

Đệ tử xúm lại nhìn theo tay tiên sinh chỉ thấy sao Tử Vi, Thiên Phủ đi vào địa phận của sao Phá Quân và Hóa Kị, mà ánh sáng chiếu xuống núi Hoa Sơn, tiên sinh nói:

- Tử Vi, Thiên Phủ là đế vượng, tức là vua. Tử Vi bao giờ cũng đi trước, Thiên Phủ bao giờ cũng theo sau. Đây tức là anh em một gia đình nào đó, đang buổi hàn vi, sau sẽ làm nên sự nghiệp vẻ vang, vị tới đế vương. Phá Quân là Hao tinh chủ nghèo đói, Hóa Kị chủ bần hàn, kêu xin. Phá ngộ Kị thì nghèo đói phải đi ăn mày. Tử, Phủ ngộ Phá, Kị thì hai vị thiên tử chưa gặp thời phải đi ăn xin. Tất cả chiếu xuống Hoa Sơn thì hai vị Thiên tử sẽ qua đất Hoa Sơn ăn xin. Vậy nay các người theo ta xuống núi, giúp cho vị anh hùng vị ngộ, đang gặp lúc cùng khó.

Đệ tử thưa:

- Đệ tử nghĩ, thì nhân lúc Thiên tử chưa gặp thời, ta nên cho người vay nợ để mai đây có dịp đòi nợ, cứu giúp dân nghèo.

Tiên sinh đồng ý. Hôm sau thầy trò xuống núi, thấy một đoàn người chạy loạn đi qua. Tiên sinh để ý đến một thiếu phụ gánh hai chiếc thúng, trong mỗi thúng có một đứa bé khôi ngô, dung quang khác thường. Tiên sinh biết hai đứa trẻ này ứng vào sao Tử, Phủ trên trời đây. Mới hỏi thiếu phụ:

- Này bà ơi, bà có mệt lắm không? Bà gánh hai vị thiên tử đi đâu vậy?

Thiếu phụ đặt gánh xuống thưa:

- Con tôi đó, đứa lớn là Triệu Khuông Dẫn, đứa nhỏ là Triệu Khuông Nghĩa. Từ sáng đến giờ chúng tôi đói không có gì ăn. Tiên sinh bố thí cho chút đồ ăn được không?

Tiên sinh đáp:

- Tôi xem Thiên Văn, coi dung quang hai con bà khác phàm. Bà có nhớ ngày sinh của chúng không?

Thiếu phụ cho ngày giờ, năm sinh của hai con. Tiên sinh tính số Tử Vi, thấy cách của Khuông Dẫn là “Tử, Phủ, Vũ, Tướng, được Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc cung chiếu. Ngặt đại hạn đang gặp Hình, Kị, Kiếp, Không nên nghèo khó. Số của Khuông Nghĩa là Thiên Phủ lâm Tuất, ngộ Tả, Hữu, Khoa, Quyền, đại hạn cũng đang gặp Kiếp, Kị nên nghèo khó.” Tiên sinh nói với học trò:

- Hai đứa trẻ này chân mệnh đế vương, khi đại hạn đi đến gặp Khôi, Việt, Xương, Khúc là lúc thành đại nghiệp đấy. Ta phải giúp đỡ mới được, hầu mua lấy cảm tình, lúc thiên tử gặp thời, có thể nhân đó giúp dân vậy.

Tiên sinh nói với thiếu phụ:

- Tôi tính số, thấy hai con bà sau đều làm vua. Khi đã làm vua rồi, thì tất cả giang sơn vạn dặm đều là của con bà cả. Vậy bà bán cho tôi giải núi Hoa Sơn này lấy tiền mà tiêu.

Thiếu phụ tưởng ông đạo sĩ điên khùng mới mua núi. Bà đồng ý bán. Bởi bà không biết chữ, nên xé vạt áo hai con quấn vào đôi đũa, nhét trong một ống đũa, coi như văn tự, trao cho Hy Di tiên sinh và nhận 10 nén vàng.


Năm 960, Triệu Khuông Dẫn thống nhất giang sơn, lên ngôi vua, lập ra nhà Tống, sau là Tống Thái Tổ. Niên hiệu Càn Đức nguyên niên (963), quan trấn thủ vùng Hoa Sơn dâng biểu về triều rằng: Có một đạo sĩ Trần Đoàn, tự Hy Di, bao dưỡng dân chúng không nộp thuế. Đạo sĩ nói rằng Hoa Sơn là đất riêng của ông, đã được nhà vua bán rồi.

Tống Thái Tổ không nhớ chuyện cũ, nổi giận sai bắt Hy Di tiên sinh vào triều trị tội. Nhưng quan địa phương rất kính trọng tiên sinh, không dám trói, còn đưa lừa cho tiên sinh cởi để lai kinh. Tiên sinh được giải vào triều kiến. Thái Tổ hỏi:

- Đạo sĩ cũng phải tuân theo phép nước chứ? Hà cớ phao ngôn nói rằng đã mua đất của triều đình?

Tiên sinh đáp:

- Năm nay tôi đã trên 70 tuổi, đâu dám nói dối. Luật lệ của bệ hạ là: Đời cha mẹ vay nợ, thì đời con phải trả. Trước đây thái hậu qua Hoa Sơn có bán cho bần đạo toàn vùng này lấy 10 nén vàng. Văn tự còn đây.

Tiên sinh xuất trình ống đũa và vạt áo. Thái Tổ truyền đem vào hậu cung hỏi thái hậu. Thái hậu nhớ chuyện cũ vội kêu lên:

- Vị thần tiên ở núi Hoa Sơn đây mà, người đã cứu nạn cho nhà ta xưa đây.

Thái hậu kể truyện xưa, Thái Tổ và triều thần kinh sợ về tài tiên tri của tiên sinh, vội tạ lỗi, lưu tiên sinh tại kinh, kính như bậc thầy. Tống Thái Tổ hỏi tiên sinh về khoa Tử Vi, tiên sinh rút trong bọc ra tập sách nhỏ đề Tử Vi Chính Nghĩa trao cho Thái Tổ mà tâu rằng:

- Đây tất cả tinh nghĩa về khoa Tử Vi. Bần đạo không phải là người đặt ra khoa này. Nhân người trước đã nói về Tử Vi, đến bần đạo, nhận thấy Dịch Lý, Hình Tượng, Thiên Văn, Lịch Số, Địa lý đều có uyên nguyên với nhau, mới tước bỏ những rườm rá của người xưa, hợp thành khoa Tử Vi, mà thần viết trong tập này.Với khoa Tử Vi bệ hạ có thể biết kẻ trung, người nịnh, thời nào tốt, thời nào xấu mà mưu đại sự. Đó là học tới bậc sơ đẳng. Còn học uyên thâm hơn, có thể nhân số mạng xấu, dùng người nào thì cứu giúp được kẻ bị nạn, và cứu như thế nào? Thấy kẻ ác, thì dùng người nào cách nào thì trị được, đó là học tới trung đẳng. Còn học tới chỗ uyên thâm cùng cực, có thể làm đảo lộn cả thiên hạ, nắm thiên hạ trong bàn tay. Nhưng bần đạo kính dâng bệ hạ một câu, khi dùng tập sách này, đó là: Chữ Nhân, đừng nên dùng vào những việc ác độc, tổn âm đức.

Tiên sinh được các quan xin coi Tử Vi. Họ chỉ việc biên ngày sinh, tháng sinh, năm sinh và giờ sinh, tiên sinh sẽ kêu ra vị đó đang lĩnh chức gì trong triều, cùng sự lập thân ra sao, cuối cùng sự nghiệp kết thúc như thế nào. Triều thần không ai mà không kính phục.


IV. CÁI CHẾT CỦA HY DI

Sử sách không ghi tiên sinh ra đời năm nào, mà cái chết của tiên sinh cũng rất mơ hồ. Bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh viết:


“Niên hiệu Khai Bảo thứ ba (972), Thái Tổ sai sứ đến Hoa Sơn thỉnh tiên sinh, thì đệ tử cáo rằng tiên sinh ngao du sơn thủy đã ba năm không thấy trở về.”


Sau trên 10 năm không thấy tiên sinh trở về, đệ tử tiên sinh cho rằng thầy đã quy tiên. Họ họp nhau bầu lấy người chưởng môn. Nhưng khi sinh thời, tiên sinh gặp ai dạy người đó, trình độ học trò không đều nhau, mà họ không biết nhau nữa. Cuối cùng vì trong 10 năm xa sư phụ, mạnh ai nấy nghiên cứu, thành ra khoa Tử Vi có nhiều dị biệt. Các đệ tử tiên sinh tự ý thu đệ tử, truyền dạy, người có căn cơ thì dạy hết, người không có căn cơ thì dạy ít, thành ra khoa Tử Vi trở thành một khoa bí hiểm của riêng từng nhà, nhiều nhà còn giữ để làm kế sinh nhai, do vậy mới có nhiều khác biệt.



V. KHOA TỬ VI ĐỜI TỐNG

Tống Thái Tổ được truyền khoa Tử Vi bằng bộ Tử Vi Chính Nghĩa, giữ làm của riêng của hoàng tộc họ Triệu. Bộ sách chỉ được lưu truyền trong hoàng cung, để biết kẻ trung, người nịnh, để biết vận số mưu đồ đại sự. Tất cả công trình nghiên cứu của hoàng tộc nhà Tống, sau được chép thành sách gọi là Ngự Giám Tử Vi. Nhưng khi nhà Tống mất rồi, thì con cháu nhà Tống dùng bộ sách này làm kế sinh nhai, nên không dám dùng tên cũ nữa, mà đổi là Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh. So sánh giữa bộ Tử Vi Chính Nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh thì bộ thứ nhất có tính chất lý thuyết đại cương, như những định luật. Bộ thứ nhì có tính chất thực nghiệm, thu góp kinh nghiệm mấy trăm năm nghiên cứu lại. Như bộ thứ nhất không bàn đến việc:

- Hai người sinh cùng ngày, giờ, tháng, năm, nhưng số khác nhau. Bộ thứ nhì đi vào chi tiết này rất kỹ.

- Số người sinh đôi. Trong bộ thứ nhì lại nghiên cứu đến mấy trăm cặp sinh đôi.

- Số những người chết tập thể: như chết chìm đò, chết trong chiến tranh. Bộ thứ nhì nghiên cứu kỹ hơn, đưa ra giải quyết v.v...

Sau đây chúng tôi trình bày một giai thoại về Tử Vi đời Tống mà hầu như ai cũng biết, và sử Trung quốc cũng có chép:


“Khi còn cầm quân tranh thiên hạ, Tống Thái Tổ có người anh em kết nghĩa là Trịnh Ân. Ân là một võ tướng dũng mãnh tài ba, vợ Ân là Đào Tam Xuân cũng là một nữ tướng. Cả hai đã giúp cho Thái Tổ thành nghiệp lớn. Thái Tổ phong cho Trịnh Ân tước vương và thay vua trấn thủ ngoài biên trấn. Nhân đầu năm, Thái Tổ xem số các tướng sĩ, văn võ quần thần, thấy số Trịnh ân là Tướng quân, Thiên Tướng thủ mệnh, mà đại hạn gặp Kình dương, tiêu hạn gặp Thiên Hình. Lưu niên Thái Tuế gặp Kiết Kị, mới nói với quần thần rằng:

- Trịnh Ân do hai ông tướng thủ mệnh. Tướng sợ nhất kiếm và đao, không sợ Hỏa, Linh, Kiếp, Không. Nay đại hạn ngộ Kình là dao, tiểu hạn ngộ Hình là Kiếm. Ta e rằng Ân sẽ bị chém mất đầu. Đã vậy lưu niên Thái Tuế gặp Kiếp, Kị thì sẽ do tiểu nhân ám hại. Hơn nữa Kiếp, Kị lại ngộ Hồng, Đào, thì kẻ hại Trịnh Ân sẽ là đàn bà.

Triều đình đề nghị gọi Trịnh Ân về triều để được bảo vệ. Bấy giờ Trịnh Ân đang trấn thủ ngoài xa, nghe lệnh triệu hồi về kinh thì tuân theo. Khi đến kinh, thấy một toán quân hầu hộ vệ kiệu vua, tiền hô hậu ủng. Ân tưởng Thái Tổ vội xuống ngựa phủ phục bên đường tung hô vạn tuế. Nhưng khi ngửng đầu lên thì không phải là vua mà là cha của một phi tần được Thái Tổ sủng ái. Chức tước địa vị của Trịnh Ân cao hơn nhiều, mà phải lạy phục xuống đất thì nhục quá. Trịnh Ân nổi giận, lôi vị quốc cữu kia xuống đất, đánh cho một trận về tội tiếm nghi vệ thiên tử. Vị quốc cữu bị đòn nhừ tử, về nhà báo cho con gái biết, khóc lóc đòi trả thù. Vị vương phi thấy cha bị đòn đau, trở vào cung, phục rượu cho Tống Thái Tổ say mềm, rồi dâng biểu nói Trịnh Ân làm phản, đập phá nghi trượng thiên tử. Tống Thái Tổ say quá, không tự chủ được, phê vào chữ “trảm.” Thế là Trịnh Ân bị mang ra chém đầu. Khi Tống Thái Tổ tỉnh rượu, được triều đình tâu tự sự, thì chỉ còn biết bưng mặt khóc lớn.

Đào Tam Xuân thay chồng trấn ngoài ải, thấy chồng bị chết oan, Tam Xuân truyền quân sĩ để tang, kéo quân về triều hỏi tội. Các tướng phần bất mãn với việc Thái Tổ giết Trịnh Ân, nên không quyết tâm chiến đấu, hơn nữa không địch nổi Tam Xuân nên thua chạy. Tam Xuân vây kinh thành rất gấp. Triều đình tâu giết thứ phi, giết cả nhà quốc cữu, để tạ tội với Tam Xuân. Nhưng Tam Xuân không lui binh.

Tình hình nguy ngập. Triệu Quang Nghĩa tâu với Thái Tổ (Quang Nghĩa là em Thái Tổ, sau được truyền ngôi vua):

- Thần xem số Tam Xuân, thấy Vũ khúc, Phá Quân thủ mệnh. Vũ khúc thì hay giận, Phá Quân thì nhẹ dạ. Tử Vi Kinh nói rằng: chỉ có Lộc Tồn chế được tính ác của Vũ khúc, Thiên Lương chế được tính điên của Phá Quân. Vậy ở đây có vị văn thần nào, Thiên Lương, Lộc Tồn thủ mệnh, đề nghị có thể thuyết phục được Tam Xuân.

Thái Tổ chuẩn tấu, tìm ngay ra vị văn thần tên Cao Hoài Đức có cách trên, sai ra ngoài thành, thuyết phục Tam Xuân. Quả nhiên Tam Xuân lui binh. Từ đấy trong suốt đời Tống, con cháu họ Trịnh được nối tiếp nhau phong tước.”


Như vậy thì Triệu Quang Nghĩa đã học tới trình độ khá uyên thâm khoa Tử Vi, nên dùng phá cách dữ tợn của Tam Xuân, và trợ cách giúp Thái Tổ. Nghiên cứu lá số của Thái Tổ, năm đó đại hạn ngộ Kị, tiểu hạn đi vào cung nô, gặp Thiên thương, Kiếp. Hân Thiên thương gặp Kiếp, Không thường là hạn bị hàm oan, nguy đến tính mệnh. Chính Khổng tử gặp hạn này, bị vây tại nước Tần, hút chết đói. Số của Cao Hoài Đức ngoài Thiên Lương, Lộc Tồn thủ mệnh đại hạn ngộ Quyền, Khốc, Hư, Xương. Lương, Lộc chỉ chế được Tam Xuân. Nhưng chính Quyền, Khốc, Hư, nói Tam Xuân nghe theo, và Văn xương là sao giải hạn Địa kiếp vậy.



VI. KHOA TỬ VI SAU HY DI

Hy Di tiên sinh chết, không chỉ định ai là chưởng môn, thành ra học trò tiên sinh mạnh ai nấy nghiên cứu, không thống nhất. Bản chính bộ sách chép tay lại nằm trong hoàng cung, thành ra trong các đệ tử tiên sinh, người được truyền nhiều thì giỏi, người được truyền ít thì dở nhưng vẫn tưởng mình được truyền đầy đủ. Năm 1127, quân Kim chiếm phía Bắc nước Trung Hoa, nhà Tống di cư xuống phương Nam. Khoa Tử Vi theo đó cũng chia làm Bắc tông và Nam tông. Bắc tông thì theo đúng Hy di không sửa đổi gì về các sao, an sao, chỉ nghiên cứu áp dụng rộng ra giống như hoàng tộc nhà Tống. Còn Nam phái bị ảnh hưởng của khoa bói dịch, nên đổi rất nhiều.


A. VÒNG THÁI TUẾ. Theo Hy Di có 5 sao là Thái Tuế, Tang Môn, Bạch Hổ, Điếu khách, Quan phù. Trong khi Nam phái thêm vào 7 sao nữa là Thiên Không, Thiếu Âm, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù. Vị trí chính của sao Thiên Không được thay bằng sao Địa Không.


B. GIẢI ĐOÁN VẬN HẠN. Theo Hy Di tiên sinh thì đại hạn thứ nhất bắt đầu từ cung huynh đệ hoặc phụ mẫu. Trong khi Nam phái đổi là khởi từ cung mệnh. Rồi họ thêm những thứ đặc biệt như hạn Tam tai, hạn Huyết lộ, hạn Ác thần, rồi căn cứ vào đó, coi mỗi vì sao như một ông thần, phải cúng bái trừ tà.


Người ta quen gọi chính phái là Bắc phái và Nam phái là phái Hà Lạc.


Đời nguyên khoa Tử Vi bị cấm ngặt, bởi dân Trung Hoa đồng hóa khoa Tử Vi với đời Tống, nên Nguyên triều cấm đoán cũng không có gì lạ. Suốt đời nhà Minh khoa Tử Vi không có gì đặc sắc, chỉ mô phỏng những điều đã có từ đời Tống. Đến đời nhà Thanh, vua nhà Thanh thấy rằng: Mấy ông Tử Vi thường được lòng dân chúng. Nhiều ông mượn cớ coi Tử Vi để khích dân chúng nổi dậy chống triều đình. Vua Khang Hi mời tất cả những nhà danh tiếng về kinh, phong cho mỗi vị một chức quan để biến các vị thành tôi tớ triều đình. Lại cử một người Thanh đứng ra cai quản các vị này soạn bộ Tử Vi Đại Toàn. Bộ này chưa in thành sách. Trong dịp bát quốc xâm lăng Trung Hoa, thì Pháp, Nhật mỗi nước lấy một bản.


(còn tiếp)


Đăng nhập để trả lời
0
VII. TỬ VI VÀO VIỆT NAM


Có hai thuyết nói về khoa Tử Vi truyền vào Việt Nam.

Thuyết thứ nhất nói rằng một nhân viên sứ đoàn Đại Việt thời Lý tên Trần Tự Mai đã trộm được trọn vẹn bộ Tử Vi Chính Nghĩa và bộ Ngự Giám Tử Vi, rồi đem về nước. Nhưng chính Tự Mai cũng chỉ nghiên cứu rồi truyền cho con cháu. Nên sau này Hoàng Bính đem Tử Vi cho vua Trần, thì có cuộc tranh luận về Tử Vi giữa Hoàng Bính với Chiêu minh vương Trần Quang Khải và Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc.


Một thuyết khác nói: Khoa Tử Vi truyền vào Đại Việt từ niên hiệu Nguyên phong thứ 7 đời vua Trần Thái Tông (1257). Người truyền sang Đại Việt là tiến sĩ Hoàng Bính. Hoàng Bính sinh vào niên hiệu Gia Thái thứ nhì đời Tống Ninh Tông (1203), đậu tiến sĩ, làm thị độc học sĩ (chức quan đọc sách và giảng sách cho vua nghe) thời Tống Lý Tông. Năm Bảo Hựu nguyên niên (1253) tiên sinh nhân ở chức vụ thị độc học sĩ, nên nghiên cứu, hiểu tường tận các bộ sách Tử Vi Chính Nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh, tiên sinh nghiên cứu số Tử Vi của vua, hoàng hậu, các vương thần, khanh sĩ văn võ đại thần, thì thấy số người nào cũng sắp tán gia bại sản, hoặc chết thê thảm, hoặc gia đình ly tán. Lúc đầu tiên sinh cho rằng có cuộc thay đổi ngôi vua trong triều, nhưng sau xem đến các vị trấn thủ đại thần, cũng đều tương tự cả. Tiên sinh cho rằng đó là vận nước sắp mất. Tiên sinh lại xem số của mình và vợ, con, đều thấy thân cư Thiên Di, mệnh lập tại Tý, cung Thiên Di ở Ngọ. Tiên sinh mới giải đoán rằng: Tý là phương Bắc, Ngọ là phương Nam, vậy gia đình mình có số lập nghiệp ở phương Nam. Lại xem Thiên Văn, thấy các tinh hoa đều tụ cả ở phương Nam, mới bàn với phu nhân rằng:

- Ta xem Thiên Văn thấy phương Nam sáng rực, tương lai thánh nhân đều xuất hiện ở đó. Nay quân Thát Đát (Mông Cổ) chiếm gần hết giang sơn rồi, mà triều đình trên thì hôn ám, các quan thì nhũng lạm, lòng dân đã mất, cái vạ vong quốc không xa cho lắm. Âu là ta cáo quan về hưu, rồi đem tộc thuộc xuống miền Nam lánh nạn.

Năm 1257, Hoàng Bính mang tộc thuộc hơn ba nghìn người đến biên giới Hoa Việt, xin được vào đất Đại Việt “làm cư dân”. Vua Thái Tông nhà Trần sai người lên tra xét, thấy họ quả thực tình, không có chi giả dối, mới thuận cho Hoàng Bính lập nghiệp ở vùng Yên Bang. Hoàng Bính dâng người con gái út 16 tuổi, nhan sắc diễm lệ, lầu thông thi thư và thuật số, Tử Vi. Vua Trần Thái Tông thu nhận, phong làm Huệ Túc phu nhân, rất sủng ái.

Khoa Tử Vi được triều Trần biết đến trong một trường hợp đặc biệt: Thái tử Hoảng bị bệnh, mê man suốt ba ngày rồi mắt trợn ngược, tưởng qua đời. Vua đem thanh Thượng Phương Bảo Kiếm và áo ngự bào để bên cạnh, rồi tuyên chỉ:

- Nếu tỉnh dậy thì ban cho.

Ý nói sẽ truyền ngôi. Nhưng thái tử mắt vẫn trợn ngược. Hoàng hậu, phi tần khóc lóc thảm thiết, chuẩn bị chôn cất, nhân thấy Huệ Túc phu nhân văn hay chữ tốt, có ý nhờ viết bài vị. Vì vậy phu nhân biết ngày, giờ, tháng, năm sinh của thái tử. Phu nhân bấm số, rồi tâu:

- Xin hoàng hậu đừng lo, thái tử chỉ mê man thôi, giờ Sửu ngày mai sẽ tỉnh dậy.

Vua và hoàng hậu đều tin tưởng và hỏi tại sao phu nhân biết, tâu:

- Thần tính số Tử Vi của thái tử, thấy Đồng, Âm thủ mệnh tại Tý. Cung phúc tại Dần, có Cự, Nhật. Tử Vi Kinh nói rằng:

“Phú, thọ, quí, vinh, yểu, bần, ai khổ,

Do ư phúc trạch cát hung.”

Nghĩa là: Giầu, sống lâu, làm lớn, tiếng tăm, chết non, đau thương, khổ, do cung phúc tốt hay xấu. Đây cung phúc của thái tử có Cự, Nhật tại Dần, lại có Tả, Hửu, Xương, Khúc hợp chiếu thì căn cơ là người thọ lắm. Mệnh lại được Đồng, Âm tại Tý...Thế thì thái tử không chết non, sau còn trở thành vị minh quân, anh hùng, tạo sự nghiệp rạng rỡ cho họ Đông A nhà Đại Việt nữa. Hiện thái tử bị hạn Tang, Hổ, Kiếp, Hình thì đau yếu nặng đó thôi. Vua, hoàng hậu phân vân, chờ cho đến giờ Sửu hôm sau thì thái tử tỉnh dần, rồi khỏi hẳn. Sau là vua Trần Thánh Tông, một vị anh hùng trong lịch sử Đại Việt.

Nhân đó vua Thái Tông mới hỏi lý do tại sao phu nhân biết, phu nhân mới trình bày khoa Tử Vi. Vua Thái Tông triệu Hoàng Bính vào cung, tiên sinh dâng lên hai bộ sách Tử Vi Chính Nghĩa và Triệu Thị Minh Thuyết Tử Vi Kinh. Vua Thái Tông và hoàng tộc nhà Trần lại đua nhau nghiên cứu Tử Vi, và dùng như một nguyên tắc để cử người giúp nước.


Qua những lá số được Huệ Túc phu nhân và vương hầu đời Trần chấm còn để lại, ngày nay chúng ta thấy được nhiều khía cạnh lịch sử. Như hiện trong văn học sử, người ta không biết vị thiền sư đắc đạo Tuệ Trung thượng sĩ đời Trần, bản sư của vua Trần Nhân Tông là Trần Quốc Tung anh ruột Hưng Đạo vương hay là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, con thứ nhì của Hưng Đạo vương? Căn cứ vào lá số Tử Vi do Huệ Túc phu nhân, người sống đồng thời với Hưng Đạo vương, lại là thím của ngài, là sư phụ của ngài về khoa Tử Vi, thì những gì do phu nhân viết về ngài phải đúng. Hơn nữa phu nhân lại la người tích cực tiến cử ngài giữ chức vụ Tiết Chế Quân Mã tức là Tổng Tư Lệnh Quân Đội; thì chắc chắn tình nghĩa thím cháu, vua tôi, thày trò, phu nhân viết về gia đình Hưng Đạo vương không sai. Phu nhân chấm số cho Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng (1252-1313) có phê như sau:


“...Kinh vân: Tử, Tham, Mão Dậu, đa vi thoát tục chi tăng. Ngô kim nhật kiến Tuệ Trung chi số: Tử, Tham ư Dậu, ngộ Quyền, Đào, tuấn nhã chi lang. Tả, Hữu hợp chiếu thị tất đa tài, đa năng. Đãn Hiềm Tử, Tham cư Dậu ngộ Không, Kị tất thoát tục vi tăng.”


Nghĩa là sách Tử Vi nói rằng: Người mệnh lập tại Dậu, hay Mão, mà có Tử Vi, Tham Lang thủ mệnh đa số là người thoát tục đi tu. Nay ta xem số của Tuệ Trung thì thấy mệmh lập tại Dậu, Tử Vi, Tham Lang thủ mệnh, còn gặp Đào Hoa, Hóa Quyền thì là người đẹp đẽ, được Tả, Hữu hợp chiếu thì là người đa tài, đa năng. Nhưng tiếc rằng cái số mà mệnh lập tại Dậu, Tử Vi, Tham Lang thủ mệnh, gặp Thiên Không, Hóa Kị thì thế nào cũng đi tu.

Từ sự kiện trên, thì ta tìm ra được Tuệ Trung thượng sĩ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng chứ không phải là Trần Quốc Tung.

Qua các tài liệu còn lại, thì khoa Tử Vi đời Trần có một sắc thái đặc biệt hơn ở Trung quốc, đó là vấn đề phá cách và trợ cách. Câu chuyện Đoàn Nhữ Hài là một bằng cớ. Nếu Tống Thái Tổ biết Trịnh Ân bị nạn mà cứu không được, thì vua Trần Nhân Tông biết Đoàn Nhữ Hài bị nạn mà cứu thoát. Câu chuyện như sau:


Đoàn Nhữ Hài là học trò trường Quốc Tử Giám ở Thăng long. Năm 20 tuổi, Hài chuẩn bị để thi thái học sinh (tiến sĩ). Muốn được thi thái học sinh thì Hài phải qua một kỳ khảo hạch của trường trước. Nếu thấy khá mới được cử đi thi. Một hôm ra chùa Diên Hựu (chùa một cột) chơi, thấy vị tăng ngồi nhìn trời, Hài hỏi:

- Bạch hòa thượng, tiểu sinh nghe rằng người tu hành có thể biết được vận số sau này sẽ ra sao, có đúng không?

Hòa thượng hỏi:

- Tiên sinh muốn biết điều gì?

- Tiểu sinh muốn biết mai sau hoạn lộ ra sao. Tiểu sinh mong sư phụ chỉ giáo cho tương lai.

Hòa thượng hỏi ngày, giờ, tháng, năm sinh của Hài rồi nói:

- Số tiên sinh là số tá cửu trung ư kim diện nghĩa rằng phò tá vua ở sân rồng, tức là số làm tới tể tướng. Mệnh lập tại Mùi; Tả, Hữu thủ mệnh là người đa tài đa năng. Tử Vi Kinh nói, Tả phụ, Hữu bật bỉnh tính khắc khoan khắc hậu, nên tính tình từ tốn, hành sự cẩn trọng. Cái cách Nhật tại Mão, Nguyệt tại Hợi chiếu là cách Nhật, Nguyệt tịnh minh, nên thì sớm gặp minh quân. Nhưng vì tiên sinh có một cách rất xấu: Đào Hoa, Hồng loan cư nô, lại gặp Hình, thì tất thế nào cũng vì đàn bà mà tan nát sự nghiệp, đến phải vong mạng. Đáng tiếc, đáng tiếc.

Hài mừng lắm trở về lo học hành, tháng sau trong kỳ thi khảo hạch của trường Quốc Tử Giám, Hài bị trượt, vì văn ngông nghênh, kênh kiệu quá. Hài giận lắm tìm vị hòa thượng hỏi:

- Hôm trước đại sư đoán rằng sau này tôi sẽ làm tể tướng, thế sao tôi thi trượt? Không đậu thì làm sau thi thái học sinh được? Không đậu thái học sinh thì sao có thể làm tể tướng?

Vị hòa thượng cười đáp:

- Từ xưa đến giờ có biết bao nhiêu vị tể tướng mà không đậu đại khoa? Bần tăng đoán tiên sinh làm tể tướng chứ có đoán tiên sinh thi đậu đâu? Này, năm nay tiểu hạn tiên sinh nhập cung Dậu được Thái Dương miếu địa, Hóa khoa từ Mão chiếu sang thì thanh vân đắc lộ, được gặp thiên nhan. Nhưng đại hạn đóng ở cung Tỵ, Thiên mã gặp Đà la là ngựa què. Ngựa đã què còn đi đến cung Dậu gặp Tuần thì ngựa bị chặt cụt chân. Vậy khi nào tiên sinh bị ngựa cắn hoặc đá là lúc gặp vua. Nhưng tiên sinh nhớ một điều: Khi được gặp vua, nếu hoàng thượng ban thưởng cho bao nhiêu vàng bạc, phải nộp cho lão tăng một nửa.

Hài mừng lắm, về nhà, đúng ngày mà hòa thượng đoán gặp vua, không thấy linh nghiệm. Hài tìm đến chùa Diên hựu để hỏi tội hòa thượng. Nhưng trên đường đi, Hài bị một người cưỡi ngựa đụng phải, té lăn vào bụi cỏ. Hài túm lấy dây cương hạch tội:

- Nhà ngươi đi đâu mà có mắt như mù, đụng phải ta?

Người cưỡi ngựa, mình chỉ có mặc áo lót, mũ đội phía sau ra trước, nhảy xuống ngựa tạ lỗi:

- Xin lỗi tiên sinh, tôi đi tìm cha để tạ lỗi. Tiên sinh có biết chữ không? Tôi muốn nhờ tiên sinh một việc đây!

Hài bực mình nói:

- Ta đã học trường Quốc Tử Giám, sắp thi thái học sinh, thì Bạch Gia, Chu Tử, Cửu Lưu Tam Giáo đều thông. Sao lại không biết chữ?

Người cưỡi ngựa tiếp:

- Vậy tiên sinh làm dùm tôi bài biểu tạ tội với cha tôi, tôi sẽ bảo quan Quốc Tử Giám tư nghiệp cho tiên sinh đậu. Năm sau thi thái hoc sinh tôi sẽ lấy tiên sinh đậu trạng nguyên, được chăng?

- Nhà ngươi điên à? Nhà ngươi có biết rằng chỉ có một người có thể cho học sinh đậu trạng nguyên , đó là vua. Nhà ngươi là ai mà dám nói lớn lối như vậy?

Người kia đáp:

- Tôi là vua đây.

Đoàn Nhữ Hài nhìn lại mũ người đó, quả là vua, vội thụp xuống đất tạ tội.

Người cưỡi ngựa chính là vua Trần Anh tông. Sau khi thắng quân Mông cổ, năm 1293 vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh tông rồi đi tu. Vua Anh Tông thường rượu chè say sưa. Nhân một hôm uống rượu Xương bồ sau quá nằm ngủ, thì Thượng hoàng từ Thiên trường về Thăng long. Quan trong triều không ai biết cả. Nhân Tông thong thả xem cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ. Thái giám dâng cơm. Thượng hoàng không thấy vua đâu, hỏi thái giám. Thái giám đánh thức vua dậy, nhưng vua say quá không tỉnh được. Thượng hoàng giận quá bỏ về, lệnh cho quan về Thiên trường họp, có ý truất phế Anh Tông. Đến giờ Mùi Anh Tông mới tỉnh dậy, cung nhân đem việc ấy tâu. Vua sợ quá không kịp mặc áo, nhảy lên ngựa, chạy tới chùa Tư phúc thì đụng phải Đoàn Nhữ Hài. Hai người xuống thuyền xuôi về Thiên trường. Dọc đường Đoàn Nhữ Hài làm tờ biểu dài hai nghìn chữ tạ tội. Nhưng thượng hoàng vẫn còn giận, không cho vào. Hai người phải quì ở ngoài. Các quan liếc mắt nhìn văn biểu, thấy văn hay, truyền nhau đọc.

Thượng hoàng nghe được hỏi:

- Văn ở đâu mà hay như vậy?

Các quan tâu rằng đó là đại biểu tạ tội của vua. Thượng hoàng truyền:

- Đưa vào đây!

Ý ngài muốn nói rằng đưa đại biểu vào, nhưng các quan hiểu lầm, đưa cả vua và Đoàn Nhữ Hài vào. Thượng hoàng thấy sự đã rồi, đành tiếp biểu xem, thấy lời văn điêu luyện, thống thiết, bèn xá tội cho vua Anh Tông. Ngài phán rằng:

- Ta đang cần một thiếu niên anh tài phụ tá cho con ta. Nay gặp tiên sinh ở đây thực là may mắn.

Hài trình việc gặp hòa thượng ở chùa Diên hựu, được hòa thượng đoán trước sự việc. Thượng hoàng phán:

- Khoa Tử Vi do Hoàng Bính truyền sang Đại Việt, khoa này đâu có truyền ra ngoài dân dã? Hòa thượng xem Tử Vi cho tiên sinh đó là sư phụ của ta, tức là Huệ Trung thượng sĩ đó (Trần Quốc Tảng).

Hài nghe xong hoảng sợ, nghĩ hôm trước nếu mình gây với hòa thượng thì ốm đòn rồi. Bởi Tuệ Trung là một vỏ học danh gia đời Trần.

Thượng hoàng hỏi số của Hài, rồi phán:

- Số của tiên sinh là số bậc tể thần. Sau này làm nên sự nghiệp hiển hách. Nhưng tiếc rằng Đào, Hồng cư nô thì thế nào cũng xảy ra việc bất chính trong tình trường, lại thêm Tham, Hình nữa thì thế nào cũng vì má đào mà sự nghiệp tan vỡ, chết vì nghiệp tình, đáng tiếc thay.

Vua Anh Tông tâu rằng:

- Thần nhi nghe nói căn cứ vào khoa Tử Vi có thể cải được số mạng. Thỉnh cầu phụ hoàng có cách nào cứu được Đoàn tiên sinh không?

Thượng hoàng bèn xé tờ bìa cuốn kinh Kim Cương viết mấy chữ Tứ đại giai không, miễn tử trao cho Đoàn Như Hài. Tứ đại giai không là chữ lấy trong kinh Kim Cương: “Vô nhân tướng, vô ngã tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tưởng, tứ đại giai không.” Nghĩa là không có Hình Tượng của người, của ta, của chúng sinh, không có gì lâu dài cả. Bốn cái đó đều là hư ảo.

Thượng hoàng phán:

- Ta xem số thấy cái vạ vì má đào của tiên sinh sắp tới. Nay ta trao cho tiên sinh mảnh giấy này, khi bị nạn có thể dùng đến để cứu mạng. Muốn giải cái hạn Đào, Hồng, Hình, Tham thì phải dùng đến Quyền. Nay ta viết chữ miễn tử tức là dùng quyền rồi, phụ với Hóa Quyền đóng chung với Tham Lang nữa. Muốn giải hạn Thiên Hình thì dùng đến Không vong. Ta dùng bìa cuốn kinh Kim Cương tức là dùng cái Không của đạo Phật. Như vậy mong có thể cứu được tiên sinh.

Trở về Thăng long, vua Anh Tông phong Đoàn Nhữ Hài làm Ngự sử trung tán, đây là lần đầu tiên một người không đậu đạt gì, tuổi 20 được phong làm Ngự sử trung tán. Người thời đó ganh ghét, làm thơ diễu Hài như sau:

“Phong kiến luận đàm truyền cổ ngữ,

Khẩu tồn nhũ xú Đoàn trung tán.”

Có nghĩa là ôn câu cổ ngữ tại đài ngự sử. Miệng của trung tán Đoàn Nhữ Hài còn hôi sữa. Ba năm sau, hạn của Đoàn Nhữ Hài qua cung Tý gặp Đào, Hồng, Tham, Quyền và Thiên thương, triều đình khám phá ra mối tình của Đoàn Nhữ Hài với cung nữ của vua Anh Tông.

Luật triều đình rất khắc khe với tội ngoại tình. Ngay với thường dân khi ngoại tình xẩy ra, thì gian phụ bị tội tử hình, dâm phụ tùy theo người chồng tha hay không. Nay tội đó xảy ra giữa một đại thần và cung nữ. Nên cả hai bị khép tội chém đầu. May nhờ có thủ bút của thượng hoàng, viết trên bìa cuốn kinh Kim Cương nên cả hai được miễn tử. Vua Anh Tông truyền cung nữ cho Đoàn Nhữ Hài.

Đoạn trên đây chúng tôi tóm lược trong sách Đông A Di sự, phần Đoàn Nhữ Hài liệt truyện.


VIII. KHOA TỬ VI ĐỜI TRẦN


Hầu hết những bậc vua chúa, vương hầu nhà Trần đều nghiên cứu Tử Vi, để làm chìa khóa để biết kẻ trung, người nịnh, biết vận hạn, mưu đồ đại sự.

Như khi triều đình đang phân vân không biết nên hòa với Mông Cổ, cho Mông Cổ mượn đường đánh Chiêm Thành, hay nhất định chống lại. Vua Anh Tông do dự không quyết. Huệ Túc phu nhân đã chấm số cho tất cả vua, hoàng hậu, vương hầu, tướng sĩ, thấy đa số là những vĩ nhân, làm lên những chuyện kinh thiên động địa. Có một số bị chết thảm, nhưng tiếng tăm vang dậy. Phu nhân quyết đoán rằng: Nên đánh. Bởi đánh thì sẽ thắng, thắng các vương hầu mới có những sự nghiệp vĩ đại như vậy. Một vài người tuy tuẫn quốc thực, nhưng danh thơm muôn thuở.

Có ai ngờ việc quyết định vận số quốc gia như thế, mà do khoa Tử Vi chiếm một phần.

Khoa Tử Vi đời Trần cũng dựa theo bộ Tử Vi Chính Nghĩa rồi nghiên cứu rộng ra về phá cách và trợ cách.

Tỷ dụ: Tử Vi Kinh nói rằng Thiên Hình, Thất Sát cương táo nhi cô. Nghĩa là người có Thiên Hình, Thất Sát thủ mệnh vì tính tình nóng nảy, cứng rắn quá mà hóa cô độc. Muốn khuyên răn, chế ngự bớt sự cuồng táo đó, phải dùng người có mệnh Thái Dương, Thiên Đồng, Thiên Lương, Văn xương, Văn khúc, Đào Hoa, Hồng loan. Bởi các sao này có thể giảm sức nóng nảy của Hình, Sát. Tuyệt đối không dùng người mệnh có Kiếp, Không, Kình, Đà, Tang, Hổ đã đành mà còn tránh dùng người mệnh có Tử Vi, Thiên Phủ, bởi vì Phủ kị Hình, Sát.

Như muón phá người mệnh có Tử, Phủ thì dùng người có Kiếp, Không, Kị, Hình thủ mệnh. Tử, Phủ thì ngay thẳng. Kiếp, Không thì gian trá, tiểu nhân. Vậy dùng những mánh lới hạ cấp sẽ làm cho người Tử, Phủ khốn khổ v.v.

Khoa Tử Vi còn đi sâu hơn nữa. Như người có cung Phúc Đức tại Thìn, được Thái Dương tọa thủ, tức là được hưởng phúc ngôi mộ ông hoặc bố. Muốn phá người đó, thì dùng cách ếm ngôi mộ ông nội hay cha y, thì y khốn khổ ngay. Lối này trước đây người ta đã dùng để ếm mộ ông nội nhà văn Phạm Quỳnh, sau này ếm mộ nhà Ngô. Khi cố tổng thống Ngô Đình Diệm tại vị, nhiều người thù ghét, sau biết ngôi mộ cụ tổ được “Long phụng triều” thì con trai, con gái, con dâu sự nghiệp đều được vĩ đại cả. Người ta đã ếm mộ này. Thành ra khi con long bị đau, nó dẫy lên, lại một người nam bị nạn, khi con phụng đau dẫy lên, thì có một người nữ bị nạn.

Cái lối ếm này rất thất đức, nên chúng tôi không trình bày chi tiết vào đây. Tỷ dụ: Nhà Trần đã dùng lối ếm đó, để triệt hạ giòng dõi Chế ở Chiêm Thành. Trần Khắc Chung vì thương yêu Huyền Trân công chúa, mà công chúa bị triều đình gả cho Chế Mân, Khắc Chung tìm biết số Tử Vi của Chế Mân, rồi tìm ngôi mộ cung Phúc Đức ếm, chỉ một năm sau Chế Mân chết.

IX. KHOA TỬ VI CÁC ĐỜI SAU

Khi nhà Trần bị nhà Hồ cướp ngôi (1400), con cháu họ Trần tản mác khắp nơi, có người dùng khoa Tử Vi làm kế sinh nhai, khoa này đã do nẻo đó truyền ra khắp dân chúng.

Tương truyền, Trần Nguyên Hãn, một danh tướng giúp vua Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh. Nhưng ông là cháu nội của Trần Nguyên Đán, một vị tể tướng cuối đời Trần, nên khi đuổi giặc Minh rồi, vua Lê Thái Tổ muốn giết ông. Ông biết ý, nói với bạn bè rằng: Ông xem số của Lê Thái Tổ là chỉ có thể ở với nhau khi hoạn nạn, lúc đại nghiệp thành thì nhà vua sẽ giết công thần. Vì vậy ông cáo quan về ở ẩn trong dân. Tuy vậy, nhà vua vẫn sai 42 vệ sĩ xá nhân về quê bắt ông. Khi đi đường về kinh, ông dùng võ giết các xá nhân rồi trốn đi (Sử chép thuyền chìm, xá nhân và ông đều chết hết.) Ông trốn vào Thanh hóa, ếm ngôi mộ kết long mạch của nhà Lê, nên sau khi vua Lê Thái Tổ chết, tiếp theo vua Lê Thái Tông bị thượng mã phong mà băng lúc 20 tuổi. Con vua Lê Thái Tông mới hai tuổi lên ngôi vua, sau cũng bị anh Lê Nghi Dân giết chết.

Một giai thoại nữa diễn ra dưới triều Lê:

Khi Lê Thái Tổ thành đại nghiệp, về quê tế tổ, một ông lão người cùng quê hỏi rằng:

- Tôi với bệ hạ, sinh cùng ngày, cùng giờ, cùng tháng, cùng năm, cùng quê, thế sao bệ hạ làm vua, mà tôi thì vẫn là dân?

Trần Nguyên Hãn đáp:

- Đó là cung phúc cả. Cung phúc của chúa tôi với ông đều có Thiên Đồng tọa thủ tại Hợi. Nhưng ngôi mả tổ ông lại không để trúng long mạch, ngược lại ngôi mộ của chúa tôi để trúng long mạch nên được hưởng. Bởi số giống nhau, nên tướng mạo của ông và chúa tôi tương tự. Tôi nghĩ, số ông cũng có phần nào giống chúa tôi chứ! Ông làm nghề gì nào?

Đáp rằng:

- Tôi làm nghề nuôi ong, hiện nuôi 9 tổ ong.

Trần Nguyên Hãn đáp:

- Đó, tôi nói có sai đâu. Bệ hạ làm chúa chín châu, thì ông làm chúa chín tổ ong. Tổ nào cũng có vua, có quan, có tướng mà.


Sau này, ông Lê Quí Đôn đi sứ Trung quốc mua được bộ Tử Vi Âm Dương Chính Nghĩa, Nam tông đem về nghiên cứu. Ông có diễn giải ra bằng thơ lục bát khá đầy đủ. Khoa Tử Vi theo Nam tông truyền vào Việt Nam từ đó.

Bởi sách của chính phái bí truyền, sách của Nam phái lại truyền ra khá nhiều, nên hầu hết các nhà Tử Vi sau này đều theo phái Nam cả.

Trước 1975, mỗi khi tiếp một vị nghiên cứu Tử Vi đến sưu tầm nhiều vấn đề, chúng tôi rất khổ tâm, khi phải tìm đủ cách phân biệt hai phái.


Còn tiếp
Đăng nhập để trả lời
0
X. DỊ BIỆT CHÍNH, NAM PHÁI



A. SỰ KHÁC BIỆT VỀ SỐ SAO

1. BỘ TỬ VI CHÍNH NGHĨA. Được coi như là chính thư. Không nói về số sao. Song xét trong mục dậy an sao thì có 93 sao. Nhưng những lá số phụ lục thì chỉ chép có 89 sao. Không thấy an sao Thiên thương, Thiên sứ, Thiên la, Địa võng. Điều này dễ hiểu bởi 4 sao trên đều ở vị trí cố định, không cần thiết an vào. Theo Hy Di tiên sinh thì 93 sao đó là:

CÁC CHÒM.
Tử Vi. (6 sao)

Tử Vi

Thiên Cơ

Thái Dương

Vũ Khúc

Thiên Ðồng

Liêm Trinh

Thiên Phủ (8sao)

Thiên Phủ

Thái âm

Tham Lang

Cự môn

Thiên Tướng

Thiên Lương

Thất Sát, Phá Quân.

Thái Tuế (5 sao)

Thái Tuế

Tang Môn

Bạch Hổ

Điếu khách

Quan phù.

Lộc Tồn (17 sao)

Lộc Tồn

Kình dương

Đà la

Quốc ấn

Đường phù

Bác sĩ

Lực sĩ

Thanh long

Tiểu hao

Tướng quân

Tấu thủ

Phi liêm

Hỷ thần

Bệnh phù

Đại hao

Phục binh

Quan phủ.

Trường Sinh (12 sao)

Trường sinh

Mộc dục

Quan đới

Lâm quan

Đế vương

Suy

Bệnh

Tử

Mộ

Tuyệt

Thai

Dưỡng.

CÁC SAO AN THEO THÁNG - 7 sao:
Tả phù

Hữu bật

Tam thai

Bát tọa

Thiên Hình

Thiên riêu

Đẩu quân.

CÁC SAO AN THEO GIỜ -8 sao :
Văn xương

Văn khúc

Ấn quang

Thiên quí

Thai phụ

Phong cáo

Thiên Không

Địa kiếp.

TỨ TRỢ TINH- 4 sao :
Hóa khoa

Hóa Quyền

Hóa Lộc

Hóa Kị.

CÁC SAO AN THEO CHI- 17 sao:
Phong trì

Phượng các

Thiên đức

Nguyệt đức

Hồng loan

Thiên hỉ

Thiên mã

Hoa cái

Đào Hoa

Phá toái

Kiếp sát

Cô thần

Quả tú

Hỏa tinh

Linh tinh

Thiên khốc

Thiên hư.

CÁC SAO AN THEO CAN - 5 sao :
Lưu hà

Thiên khôi

Thiên việt

Tuần không

Triệt không.

CÁC SAO CỐ ĐỊNH - 4 sao :
Thiên thương

Thiên sứ

Thiên la

Địa võng.


2. BỘ TRIỆU THỊ MINH THUYẾT TỬ VI KINH. Đều ghi có 93 sao, giống như bộ Tử Vi Chính Nghĩa.


3. BỘ TỬ VI ĐẠI TOÀN. Ghi rõ ràng rằng trong lá số phải có 93 sao như Hy Di tiên sinh, kỳ dư an thiếu, đủ hay khác đi đều là tạp thư, ma thư của bọn thuật sĩ bịa đặt để lửa nhau, còn giả đạo đức tỏ ra là người bác học, song chẳng qua là phường lưu manh (!).


4. BỘ TỬ VI ĐẨU SỐ TOÀN THƯ. Nói về số sao rất lờ mờ. Phần dạy cách an sao, có ghi rõ 85 sao. Các sao cũng giống như ba bộ trên. Duy thiếu các sao sau đây: Đào Hoa, Phá toái, Kiếp sát, Ấn quang, Thiên quí, Cô thần, Quả tú và Lưu hà. Nhưng khi đọc bài phú nói về các sao, thì lại thấy nói tới Đào Hoa, Ấn quang, Thiên quí v.v.



5. BỘ ĐÔNG A DI SỰ. Thấy ghi đúng 93 sao như bộ trên, nhưng khi xét lá số để chiêm nghiệm thì thấy thiếu các sao: Bác sĩ, Thiên la, Địa võng, Thiên thương, Thiên sứ. Có lẽ các Tử Vi gia đời Trần quan niệm rằng các sao trên đều ở vị trí cố định, nên không cần an vào như sao Bác sĩ bao giờ cũng đóng chung với sao Lộc Tồn. Sao Thiên thương bao giờ cũng ở cung Nô, sao Thiên sứ bao giờ cũng ở cung Tật ách và sao Thiên la bao giờ cũng ở cung Thìn, sao Địa võng bao giờ cũng ở cung Tuất.


Trên đây là các bộ chính thư, dưới đây là các bộ tạp thư:


6. BỘ TỬ VI ÂM DƯƠNG CHÍNH NGHĨA BẮC TÔNG. Thấy ghi đến 104 sao. Các sao cũng giống như chính thư cả về số sao cũng như cách an sao, song thêm các sao sau đây: Thiên tài, Thiên thọ, Thiên y, Thiên trù, Thiên giải, Địa giải, Giải thần, Thiên lộc, Lưu niên văn tinh, Thiên quan quí nhân, Thiên phúc quí nhân.


7. BỘ TỬ VI ÂM DƯƠNG CHÍNH NGHĨA NAM TÔNG. Ghi tới 128 sao, các sao cũng giống như bộ Bắc tông nhưng thêm các sao sau đây: 24 sao là Thái túc, Thiên xá, Niên khôi, Nguyệt khôi, Niên thổ khúc, Nguyệt thổ khúc, Thiên thương (nghĩa là kho lúa, khác với Thiên thương ở cung nô như vậy trong lá số có 2 Thiên thương,) Thiên Phủ khố, Thiên tiễn, Địa Không, Hồng diệm, Phù trầm, Sát nhận. Vòng Thái Tuế được thêm vào 7 sao nữa cho đủ 12 sao, đó là các sao Thiế dương, Thếim âm, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù. Tứ phi tinh: Thiên trượng, Thiên dị, Mao đầu, Thiên nhận.


8. BỘ TỬ VI THIỂN THUYẾT. Gồm có 128 sao, giống như bộ Nam tông, nhưng thêm vào 13 sao nữa rất quái dị, không có trong Thiên Văn mà chỉ thấy trong tiểu thuyết thần kỳ chí quái, ma trâu đầu rắn. Đó là các sao: Nam cực, Đông đẩu tinh quân, Bắc đẩu tinh quân, Nam đẩu tinh quân, Tây đẩu tinh quân, Cửu thiên huyền nữ, Đao trì kim mẫu, Vũ tinh, Lôi tinh, Thiên vương tinh, Địa tạng tinh, Thái bạch kim tinh.


9. BỘ LỊCH SỐ TỬ VI TOÀN THƯ. Số sao cùng giống như bộ Tử Vi thiển thuyết song dạy an sao ngược lại với các bộ trên: như sao Trường sinh không những chỉ an ở Dần, Thân, Tị, Hợi mà còn thấy ở Tí, Ngọ, Mão, Dậu. Vòng Tử Vi an xuôi, vòng Thiên Phủ an ngược. Số sao cũng có 128 mà thôi.


B. SỰ KHÁC BIỆT VỀ SAO LƯU NIÊN

1. CHÍNH THƯ. Các sao lưu niên đều an giống nhau, số sao cũng giống nhau:

- Vòng Lộc Tồn với 15 sao, không có Quốc ấn, Đường phù. (Bộ Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ nói đến hai sao Kình, Đà thôi.

- Thiên khôi, Thiên việt, Thiên mã, Thiên khốc, Thiên hư và vòng Thái Tuế 5 sao, Văn xương, Văn khúc.

Tất cả 27 sao.


2. TẠP THƯ. Vẫn gồm các sao như bộ chính thư nhưng thêm: Hỏa huyết, Lan can, Quân sách, Quyện thiệt, Bạo tinh, Thiên ách, Thiên cẩu, Huyết nhận, Huyết cổ, Ngũ quỉ, và vòng Trường sinh 12 sao.




C. SỰ KHÁC BIỆT VỀ ĐẠI HẠN

Chính phái an đại hạn như sau:

- Từ lúc đẻ ra, tới số cục thì an tại cung mệnh.

Đại hạn thứ nhất sẽ an vào cung phụ mẫu hoặc huynh đệ.

Tỷ như: Người Hỏa lục cục, thì từ 1 tới 5 tuổi đại hạn ở cung mệnh. Từ 6 tuổi trở đi thì đại hạn ở cung huynh đệ hoặc phụ mẫu. Nhưng Nam phái lại an ngay đại hạn thứ nhất ở cung mệnh rồi đại hạn thứ nhì ở cung phụ mẫu hoặc huynh đệ. Như vậy từ lúc đẻ ra cho tới số tuổi “số cục” không có đại hạn.

Sự khác biệt đại hạn này, đã khiến cho Nam phái phải đi tìm nhiều sao khác, hoặc nhiều thuật khác, để đoán cho đúng, nhất là đoán vận hạn chết, rất quan trọng. Bắc phái đoán rất đúng, nhưng theo Nam phái lại khó khăn.

Sự khác nhau về hạn, khiến cho Nam phái không thể dùng các bài phú đoán của Hy Di tiên sinh được. Bởi phú đoán thì an đại hạn theo Bắc phái. Những người học theo Nam phái, thường tỏ ý nghi ngờ các bài phú. Họ phải dò dẫm tìm hiểu, nghiên cứu lâu năm mới đưa ra lối giải quyết. Trong khi những người học theo Bắc phái, thì sau khi học an sao, họ có thể học giải đoán bằng cách xử dụng phú đoán được.

Tỷ dụ. Chính phái, đoán số Hạng Vũ, căn cứ vào phú đoán:

Hạng Vũ Anh Hùng hạn ngộ Thiên Không nhi táng quốc. Thạch Sùng hào phú, vận phùng địa, kiếp dĩ vong gia.

Nghĩa là Hạng Vũ Anh Hùng, nhưng hạn ngộ Thiên Không nên mất nước. Thạch Sùng giàu có nhưng hạn gặp Đại kiếp nên tan nát nhà cửa.

Nếu xét theo Nam phái thì câu phú trên không đúng được.

- Thứ nhất là trong Bắc phái chỉ có sao Thiên Không, Đại kiếp đi đôi với nhau, không có sao Địa Không. Sao Thiên Không không đóng ở vị trí sao Địa Không của Nam phái và không có sao Thiên Không trước Thái Tuế một cung.

Hạng Vũ, đại hạn tới Dần gặp Địa kiếp, tiểu hạn ở Thân gặp Thiên Không. Đại tiểu hạn Kiếp, Không gặp nhau nên táng quốc. Dù đại hạn có Đồng, Lương, Quyền không giải nổi.

Bàn về số Thạch Sùng cũng tương tự. Nếu đoán theo Nam phái, bài phú trên không đúng:

- Đại hạn đang ở cung Mão, gặp Thái Tuế, mà Thiên Không đóng ở Thìn.

Như vậy không có vụ Hạng Võ chết về “Kiếp, Không lâm nạn, Sở vương táng quốc.” Mà chỉ có việc Hạng Võ gặp hạn Địa Không ở Thân mà thôi.

Hồi còn ở Việt Nam, chúng tôi dạy Tử Vi cho các vị yêu khoa này, thường thì những vị chưa biết gì học mau hơn. Còn các vị học theo Nam phái, học thêm mấy chục bài phú nữa, mất công chỉnh đốn lại. Bởi vậy chúng tôi có lời khuyên: Các vị học theo Nam phái thì không nên học những bài phú của Hy Di, mà nên học những bài phú của Ma Y thuộc Nam phái mà thôi. Nếu không đầu óc lộn tùng phèo.


D. SỰ KHÁC BIỆT VỀ AN SAO

Trong 93 tinh đầu, không có sự khác biệt. Nhưng duy sau này mấy bộ tạp thư đưa ra an những sao mới, hoàn toàn do họ đặt ra, có sự quái gở khi an vòng Trường sinh. Họ khởi Trường sinh cả ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Về an Khôi, Việt, thì chính thư, tạp thư chỉ khác nhau có tuổi Canh mà thôi. Chính thư thì Khôi ở Sửu, Việt ở Mùi. Trong khi tạp thư thì cho ở Dần, Ngọ. Về an thứ hóa thì tuổi Canh cũng bị lộn như Hóa Lộc đi với Thái Dương, Hóa Quyền đi với Vũ khúc, Hóa khoa đi với Thiên Đồng và Hóa Kị đi với Thái âm. Trong khi tạp thư lại an Hóa khoa đi với Thái âm, trong khi Hóa Kị đi với Thiên Đồng.


E. ĐỐI VỚI CÁC SÁCH TỬ VI HIỆN ĐẠI


Trừ bộ Tử Vi đẩu số toàn thư do Vũ Tài Lục lược dịch một vài đoạn, đúng với chính thư, còn các sách khác, chúng tôi không tiện phân tích xem sách của vị nào ảnh hưởng của phái nào bên Trung quốc!

Vân Điền Thái Thứ Lang là một đại đức phật giáo, ông bị tử nạn xe hơi đã lâu, nên chúng tôi có thể bàn về sách của ông. Sách của ông gần với chính phái. Vũ Tài Lục là con của cụ Kép Vũ Huy Chiểu, hiện ở Hoa Kỳ. Hà Lạc dã phu hiện cũng ở Hoa Kỳ, đang làm chính trị. Còn ông Nguyễn Phát Lộc với chúng tôi có chút duyên văn nghệ, trước đây ông là phó đặc ủy Trung ương tình báo VNCH, không rõ nay đâu, nếu ông còn ở VN thì có lẽ đã bị giết rồi.

Chúng tôi quan niệm dù tất cả Tử Vi gia thuộc phái nào chăng nữa, cũng cần có kinh nghiệm. Về phương diện nghề nghiệp, họ phải dùng đến coi Tử Vi lấy tiền làm kế sinh nhai là bất đắc dĩ, bởi bỏ tâm não ra, an sao, chấm số, giải đoán một lá số Tử Vi, không tiền nào, bạc nào trả nổi họ cả. Dù không trả tiền, với tinh thần khoa học, họ cũng say mê nghiên cứu. Chính chúng tôi, kiếm tiền rất dễ dàng, nhưng khi thấy một lá số kỳ lạ, cũng chẳng ngần ngại gì mà không bỏ ra cả ngày ngồi nghiền ngẫm cho ra nguyên lý.

XI. KẾT LUẬN

Tử Vi không phải là một khoa học độc lập, nó là kết tinh của nhiều khoa học khác trong học thuật tư tưởng Á Châu. Người sáng lập ra không phải là Hy Di tiên sinh. Ông chỉ là một người kết hợp các khoa lại. Chính ông, ông cũng công nhận khoa này có trước ông. Ông chỉ là người bổ túc và đưa nó trở thành một khoa nổi tiếng. Khoa Tử Vi truyền vào Đại Việt thời Lý do Trần Tự Mai hay do Hoàng Bính mang vào, không cần thiết. Dù Tự Mai hay Hoàng Bính thì Tử Vi đó cũng thuộc chính phái. Nhưng bí truyền trong dân gian. Đợi mãi đến khi Lê Quí Đôn đi sứ Trung hoa về mang theo bộ Tử Vi của Nam phái, bấy giờ khoa Tử Vi mới được đại chúng hóa. Nhưng cũng chính vì vậy khoa Tử Vi ở Việt Nam có hai trường phái: Một trường phái chính học rất mau, theo sát Hy Di tiên sinh. Một trường phái nữa ảnh hưởng Nam phái, vì thất truyền, thành ra không có hệ thống nào cả. Những người nghiên cứu Tử Vi cần phân biệt rõ hai hệ thống, để lúc học mới khỏi bở ngỡ. Tuy nhiên không phải những sách vở nào của Nam phái cũng hỗn tạp, không phải những vị nào của Nam phái đều đoán liều cả. Tử Vi cũng như y học, cần đi đến đối tượng là kết quả, ai đoán trúng, người đó đạt được học thuật. Cũng như y học nói, viết không phải là cứu cánh, mà ai trị khỏi bệnh, người ấy có lý.

Một vấn đề trước mắt của chúng ta là, làm sao có đủ sách vở cho các vị nghiên cứu tìm hiểu. Sách vở của cổ nhân chỉ là nền móng lúc đầu. Tại sao xưa kia Hy Di tiên sinh đã tìm ra được nhiều nguyên lý khác. Cái xe hơi thế kỷ 18 thô sơ, người sau cải tiến dần, nay trở thành những xe tối tân. Tử Vi là khoa học, chúng ta có thể tìm thêm, cứu rộng, để đưa ra những phát hiện mới; bấy giờ mới đi tìm vận số con người, lại có thể đi xa hơn, phát triển phá cách, trợ cách, một lối phát huy độc đáo đời Trần, cần được đào sâu, để đạt đến tuyệt đích khoa học vậy.


Viết tại Bruxelles, mùa đông, Tân Dậu (1981)

Trần Đại Sỹ



Đăng nhập để trả lời
0
Phần 2:

Tổng quát về tuổi Tý

I. ĐẠI CƯƠNG VỀ TUỔI TÝ

Trong mười hai chi, Tý đứng đầu. Đứng đầu, có nghĩa khởi từ đấy, như một ngày, khởi từ giờ Tý; chứ không phải tuổi Tý lớn hơn hết các tuổi khác. Tý thuộc dương, thuộc Thủy. Khoa Tử Vi gọi Tý là tuổi dương thủy. Trước hết hãy phân tích yếu tố âm dương.

Âm dương là học thuyết tổng quan tất cả các khoa học Á châu như y học, dược học, Thiên Văn, Lịch Số, võ học và Khoa Học Huyền Bí. Nói về học thuyết Âm Dương thực dài. Ở đây chỉ lược qua mà thôi.

Âm dương là học thuyết hỗ tương đối vị của sự vật và hiện tượng. Nói khác đi, đó là hai sự vật hỗ tương đối vị, bất đồng tính chất.

Trong thế gian, sự, vật phân như sau:

“Than dương vi thiên,

Trọc âm vi địa.

Địa khí thượng vi vân,

Thiên khí hạ vi vũ.” (1)

Nghĩa là: Phần trong của dương là trời. Phần đục của âm là đất. Khí của đất bốc lên thành dương. Khí trời đọng lại rơi xuống thành mưa.

Trong vũ trụ, có những sự vật tự nhiên đối vị thành âm, dương. Tỷ như:


Ban ngày trời sáng là dương.

Ban đêm trời tối là âm.

Viêm nhiệt là dương.

Hàn lãnh là âm.

Hoạt động là dương.

Tĩnh chỉ là âm. (2)


Khi áp dụng trong khoa học Tử Vi, học thuyết Âm Dương trở thành:

“Trong mười hai chi, thì Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thuộc dương. Trong mười can, thì Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thuộc dương. Một chi dương với một can dương hợp thành tuổi dương” (3).


Vì vậy chúng ta có các tuổi Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, và Nhâm Tý. Trong tập sách này, nghiên cứu về năm tuổi Tý trên.

Tuổi dương Tý có đặc tính gì?

1. Dương chủ động.

“Dương chủ động. Âm chủ tĩnh. Vì vậy người tuổi dương hiếu động hơn tuổi âm. Như người tuổi Mậu Tý, Kỷ Sửu, bản mệnh đều thuộc Tích lịch hỏa. Thế nhưng người tuổi Mậu Tý linh lợi, hoạt động hơn tuổi Kỷ Sửu” (4)

2. Dương chủ nóng nảy.

“Người tuổi dương, tính tình nóng nảy hơn người tuổi âm. Họ thiếu đức kiên nhẫn, chịu đựng. Ngược lại họ hành sự mau chóng. Quyết đoán dễ dàng” (5)

3. Dương chủ thăng tiến.

“Dương chủ thăng lên. Âm chủ giáng xuống. Người tuổi dương lúc nào cũng cầu tiến. Họ ít chịu an phận. Đôi khi gặp sát tinh, họ trở thành người quá khích, hay ganh tỵ, đua đòi” (6)

“Tuổi Tý thuộc dương thủy. Dương chủ nóng, thủy chủ lạnh. Dương chủ cứng. Thủy chủ dịu. Vì vậy người tuổi Tý hành sự cương quyết, khôn ngoan linh lợi. Nhưng họ không quá nóng nảy, khô khan, cứng rắn. Họ biết uyển chuyển, cân nhắc, để đi đến thành công” (7)


II. TƯƠNG QUAN TUỔI TÝ VỚI CÁC KHOA HỌC

Âm dương: thuộc dương

Ngũ hành: thuộc dương thủy

Ngũ quý: thuộc mùa Đông

Ngũ phương: thuộc phương Bắc

Ngũ khí: thuộc hàn (lạnh)

Ngũ hóa: thuộc tàng (ẩn, dấu)

Ngũ sắc: thuộc màu đen

Ngũ vị: thuộc hàm (mặn)

Lục phủ: thuộc bàng quang. Liên hợp với túc Thái Dương bàng quang kinh

Ngũ tạng: thuộc thận. Liên hợp với túc Thiếu Âm thận kinh

Ngũ quan: thuộc nhĩ (tai)

Hình thể: thuộc cốt (xương)

Tình chí: thuộc khủng (sợ)

Thời gian: giờ từ 23 tới 1 giờ. Tháng thuộc tháng 11 âm lịch

Con vật tượng trưng: con chuột

Đối vị: Tý đối vị với Ngọ. Ngọ thuộc dương, thuộc hỏa. Tý thuộc dương, thuộc thủy. Tuy cả hai cùng dương, song thủy hỏa tương khắc. Tý khắc Ngọ. (8)

III. ĐẶC TÍNH TUỔI TÝ THEO CÁC SAO

1. Tuổi Tý, Thái Tuế đóng tại cung Tý. Theo Tử Vi chính phái, thì vòng Thái Tuế chỉ có năm sao:

- Thái Tuế tại Tý

- Tang Môn tại Dần

- Bạch Hổ tại Thân

- Điếu khách tại Tuất

- Quan phù tại Thìn

2. Tuổi Tý hơn các tuổi khác, nhờ bộ Tang Hổ đắc địa

2.1 Người may mắn, mệnh lập tại Dần, Thân, được Tang, Hổ thủ mệnh, trở thành uy vũ quán thế. Vì Tang, Hổ ở mệnh đắc địa:

2.1.1 Có trí nhớ tốt.

2.1.2 Nói năng khúc triết.

2.1.3 Vận dụng trí óc tuyệt vời.

2.1.4 Có tài chinh phục chúng nhân, thu hút người đối diện. Vì vậy lợi cho người làm nhà văn, ký giả, chính trị gia, nhà tu, nghệ sĩ. Hay trong ngành chỉ huy quân sự, hành chính.

2.1.5 Dễ chiến thắng người.

2.1.6 Uy vũ.

2.1.7 Người mệnh lập tại Thìn, Bạch Hổ cư quan tại Thân đắc địa.

2.1.8 Tranh thắng với người, dễ thành công.

2.1.9 Làm việc, được chúng nhân kính trọng.

2.2 Tuy vậy, số này không mấy thú vị cho nam giới, vì có vợ ... dữ. Nếu là nữ giới, dễ gặp đấng phu quân thích thượng cẳng chân, hạ cẳng tay.

2.3 Người mệnh lập tại Ngọ, hay tại Tý, có Tang, Hổ cư tài, thuộc giới tranh thương mới tốt.

3. Long trì đóng ở Thìn. Phượng các đóng ở Tuất. Người nào mệnh lập ở Thìn, Tuất, có đôi mắt đẹp, khi cười đuôi mắt dài, rất duyên dáng. Có tài về văn chương, ca vũ. Người nào mệnh lập ở Dần, Thân, Tý, Ngọ cũng giống như người mệnh lập ở Thìn, Tuất, nhưng kém hơn.

4. Tuổi Tý, Cô thần đóng ở Dần ngộ Thiên mã, Tang Môn, Hỏa tinh. Quả tú đóng ở Tuất, ngộ Linh tinh, Phượng các. Người nào mệnh đóng ở Dần, hay Tuất, ắt hẳn thuộc loại lỗi lạc, hiếm có trên đời. Hay ít ra cũng văn chương quán thế, danh lưu muôn thủa. Chẳng may gặp sát tinh, e thành thứ giặc cướp làm nghiêng ngửa quốc gia.

5. Tuổi Tý, thì Thiên khốc, Thiên hư ở Ngọ. Dù mệnh ngộ sao xấu, hay tốt, họ cũng là người nói giỏi, nói rất hấp dẫn. Ở đâu có họ, là có tiếng cười. Bởi tuổi Tý khéo hài hước. Ngộ thiên tinh, cát tinh, họ nói nhiều về đạo lý, hay trở thành thầy giỏi. Ngộ sát tinh, họ cũng thành ký giả viết những bài đánh phá, công kích, châm biếm.

6. Đào Hoa đóng ở Dậu. Đào chủ duyên tình, thuộc mộc. Dậu thuộc Kim. Kim khắc mộc, nên tuổi Tý ít gặp may mắn về duyên tình. Hồng loan đóng ở Mão. Hồng chủ về duyên may gặp gỡ. Mão thuộc mùa Xuân. Vì vậy đa số duyên tình tuổi Tý khởi từ tháng giêng, hai, mà “lôi thôi” vào tháng tám, ở cung Dậu, ngộ cây đào bị đốn gốc.

7. Có năm con Tý khác nhau. Song Tý nào cũng giống nhau ở điểm: linh hoạt, khôn khéo, thông minh, và có óc hài hước. Gặp thiện tinh, thủ mệnh, họ thành người lỗi lạc. Gặp sát tinh, họ thành người tuyệt đỉnh xảo trá. Nhất thuở thiếu thời, thuở còn trẻ, họ không may mắn về tiền bạc. Càng lớn tuổi, họ càng giầu thêm lên.

8. Tuổi Tý thường thích ăn cá. Họ không tham ăn, cũng không ăn nhiều. Song họ rất sành ăn, hay gặp dịp may về ăn uống.

9. Tuổi Tý thường hay dấu kín tâm tư. Khi gặp điều bất hạnh, họ im lặng tự giải quyết. Giải quyết không được, họ câm nín chịu đựng, chứ họ không thố lộ, ầm ỹ như tuổi Mão. Bạn bè, thân hữu thấy họ gặp điều bất như ý, nên yên lặng, đừng hỏi thăm lôi thôi. Họ không những không vui lòng, mà còn bực mình.

10. Hầu hết tuổi Tý thích mầu đen, sau tới mầu trắng. Người phối ngẫu, người yêu của họ phải biết điều này. Họ trang phục giản dị. Muốn thu hút họ trong buổi sơ giao, nên mặc quần đen, áo trắng.

11. Tuổi Tý thường cứng đầu, bảo vệ lẽ phải, lập trường. Đừng ép họ phải thế này, thế nọ. Nếu làm chính trị, hay ký giả, họ dễ thành công, vì họ nói giỏi, can đảm. Tuy nhiên biết phục thiện. Khi vỡ lẽ ra mình lầm lỗi, họ hối hận, rồi sửa đổi ngay.


IV. KỶ NIỆM VỚI NHÀ CHUỘT

Tôi tuổi Mão. Người Trung hoa gọi Mão là con thỏ hay con mèo. Nhưng người Việt chỉ gọi là mèo. Từ thuở còn thơ, tôi bực bội về cái tên mèo mang trong số mệnh. Hễ quen bạn tuổi Tý là y như người ta cảnh cáo rằng đừng có ăn thịt bạn. Thực là oan. Tôi thì tôi cho mình là thỏ, nhát gan, chẳng những chuột không sợ thỏ mà còn bắt nạt thỏ nữa. Sau đây, tôi xin ghi lại những kỷ niệm với họ nhà chuột trong đời tôi.


1. Một kỷ niệm xa xưa với tuổi Giáp Tý

Cuối năm 1966, bấy giờ tuy tôi mới 28 tuổi, vốn có chút hoa tay về bút pháp, nên thường được thân chủ nhờ viết câu đói, chướng, cùng làm văn tế trong các dịp lễ lớn, hiếu hỷ. Bấy giờ tuy tôi mới học Tử Vi, nhưng nhờ chút tiếng tăm về bút pháp mà tôi nổi tiếng về khoa này. Dưới đây là một mẫu chuyện liên quan đến tuổi Tý, và nó liên quan đến thời cuộc Việt Nam từ 1966 cho tới nay vẫn chưa dứt. Một dược sĩ danh tiếng, giám đốc viện bào chế lớn nhất Việt Nam mời tôi đi ăn. Lúc đầu tôi những tưởng ông nhờ vả về việc phát triển thị trường thuốc của viện bào chế mà ông làm chủ. Nhưng, sau bửa ăn, ông nhờ tôi coi số Tử Vi cho hai người. Một tuổi Giáp Tý, một tuổi Canh Ngọ. Khi cầm lá số lên, tôi thấy ngay nét chữ phụ thân tôi chấm. Tôi lắc đầu từ chối, viện lẽ phụ thân tôi là sư phụ của tôi, kinh nghiệm hơn tôi nhiều, người đã giải, thì tôi không dám đụng vào.

Vị dược sĩ đàn anh nói:

- Chú phải hiểu cho anh một chút. Cụ tuy đã coi, nhưng cụ liếc mắt qua lập tức cụ lắc đầu, rồi bảo hai lá số khó đoán quá. Tôi năn nỉ mãi, cụ mới phê vào mấy chữ mà thôi. Tôi xin chú giải kỹ cho.


Tôi cầm lá số tuổi Giáp Tý lên, phụ thân tôi phê: “Vô học bất thuật, gian hoạt chi đồ. Loạn thế phùng thời, xuất võ nhi thành Hoàng Sào, Lý Sấm chi nghiệp.” Nghĩa là: đây là số của một người vô học bất thuật, thuộc loại chồn cáo xỏ xiên. Gặp lúc thời loạn, xuất ra làm quan võ, rồi thành nghiệp như Hoàng Sào, Lý Sấm.

Tôi hiểu ý phụ thân tôi muốn nói, người này vô học, tính tình gian xảo, nhưng xuất ra làm sĩ quan cao cấp rồi thành danh, nhưng là thứ giặc cướp như Hoàng Sào đời Đường, Lý Sấm đời Minh.

Tôi hỏi:

- Anh muốn biết gì về ông này?

- Ông ta có là giặc, là cướp thì để lịch sử phê phán. Anh chỉ muốn chú cho biết, sang năm ông ta mưu đồ lớn có thành công không? Thành công trong bao nhiêu năm?

Tôi xem lá số, tính lưu niên rồi nói:

- Ông ta đã thành đại nghiệp năm trước đây rồi. Nay sự nghiệp vẫn đang sáng chói. Sang năm tuy có rắc rối, nhưng ngôi vẫn sáng, địa vị không mất. Ông ta đang đắc thế, mạnh bất khả đương trong mười năm. Năm ngoái là một. Còn tám năm nữa.

Tôi cầm lá số thứ nhì lên coi, phụ thân tôi phê: “Gian nhân, đạo tặc, hiệp đảng, nhất thời đắc chí. Thành nghiệp do Khốc, Hư, ngộ tại Ngọ. Táng gia bại sản, thân bại danh liệt do Khốc, Hư”.

Nghĩa là: Đương số là loại trộm cắp, buôn lậu hợp đảng, đắc chí nhất thời do Thiên Khốc, Thiên Hư ngộ Thái Tuế thủ mệnh tại Ngọ. Sau này cũng chỉ vì nói năng tào lao, mà táng gia, bại sản, thân bại danh liệt.

Tôi xét kỹ lá số rồi nói:

- Người này thành danh hai năm rồi. Mệnh người này nhỏ hơn người Giáp Tý nhiều. Hiện đang đắc thế, tuy là người dưới, nhưng uy áp người trên. Ông ta có ba năm sáng chói. Nay sắp hết hai năm rồi.

Người đàn anh hỏi:

- Nói thực với chú, bây giờ hai người này đang tranh giành nhau, vậy chú bảo anh nên theo người nào?

Tôi nhẩm tính lãi số người đàn anh, biết rằng ông sống không được quá bốn năm nữa, nên khuyên ông:

- Cả hai đều không đáng cho chúng ta phù tá. Tiền của anh không tiếu, giầu đến chết, chết rồi còn giầu, thì việc gì phải theo phò ai chi cho mệt. Trừ phi anh muốn có chút công danh.

- Chú không biết gì về tình hình cả. Cái thế của anh bây giờ phải theo một trong hai người này., bằng không sẽ táng gia bại sản.

- Vậy anh nên theo người Giáp Tý, vì sự nghiệp của ông ta còn tới tám năm mạnh bất khả đương. Trong tám năm đó, ta sẽ liệu. Còn cái ông tuổi Canh Ngọ, chỉ là một thứ lưu manh, đạo tặc kết hợp với bọn đạo tặc mà bùng lên trong ba năm, rồi tàn. Cái tên này nói năng đao to, búa lớn, lại dốt nát, ngu đần, chỉ biết có mình. Tử Vi gọi là “Thị kỷ phi nhân”, nghĩa là cái gì của mình cũng phải, của người cũng trái.

- Đúng quá.

- Đã vậy, y giết người để đoạt vợ. Huênh hoang đem vợ ra khoe, đến năm Canh Ngọ (1990)
Đăng nhập để trả lời
0
Phần 3:

Tuổi Giáp Tý


Mệnh Hải Trung Kim (Kim ở trong biển).

Sinh từ:
5 tháng 2 năm 1924 đến 24 tháng 1 năm 1925.
2 tháng 2 năm 1984 đến 19 tháng 1 năm 1985.





I- Nghiên cứu ngũ hành

1. Giáp thuộc:

- Âm dương: Thuộc dương.

- Ngũ hành: Thuộc mộc.

- Ngũ quí: Thuộc mùa Xuân.

- Ngũ phương: Thuộc phương Đông.

- Ngũ khí: Thuộc phong.

- Ngũ hóa: Thuộc sinh.

- Ngũ sắc: Thuộc màu xanh.

- Ngũ vị: Thuộc vị tuấn (chua).

- Lục phủ: Thuộc đởm. Liên hợp với túc Thiếu-dương đởm kinh.

- Ngũ quan: Thuộc mục (Mắt).

- Hình thể : Thuộc can (Gan).

- Tình chí: Thuộc nộ (Giận).

2. Tý thuộc:

- Âm dương: Thuộc dương.

- Ngũ hành: Thuộc thủy.

- Ngũ quí: Thuộc mùa Đông.

- Ngũ phương: Thuộc phương Bắc.

- Ngũ khí: Thuộc hàn (Lạnh).

- Ngũ hoá: Thuộc tàng (Ẩn, dấu).

- Ngũ sắc: Thuộc màu đen.

- Ngũ vị: Thuộc hàm (Mặn).

- Lục phủ: Thuộc bàng quang. Liên hợp với túc Thái-dương bàng-quang kinh.

- Ngũ quan: Thuộc nhĩ (Tai).

- Hình thể: Thuộc cốt (Xương).

- Tình chí: Thuộc khủng (Sợ).

- Thời gian: Từ 23 giờ tới 1 giờ, tháng thuộc tháng 11 Âm-lịch.

- Con vật tượng trưng: Con chuột.

II- Cá tính

1. Giáp thuộc dương, Tý cũng thuộc dương, kết lại thành tuổi thuần dương. Giáp đứng đầu 10 Can. Tý đứng đầu 12 chi. Tuổi Giáp Tý đứng đầu hoa giáp 60 năm. Dùng Can, Chi để ghi năm, tháng, ngày giờ là đặc thù của các nhà làm lịch Việt-Nam, Trung-Quốc. Trong khi Tây-phương dùng năm sinh của chúa Giê-su làm mốc để ghi thời gian. Năm đầu tiên lịch Việt-Hoa ghi là năm Giáp Tý, năm thứ nhất đời vua Hoàng-Đế.

1.1. Đây là nói về trước, sau chứ tuổi Giáp Tý không phải là tuổi đứng đầu về tài sản, hay công danh so với tuổi khác. Nhiều người lầm lẫn cho rằng tuổi Giáp Tý vượt lên trên 60 tuổi khác. Đó là một sự tưởng-tượng sai lầm, không căn cứ.

1.2. Giáp Tý mệnh hải-trung-kim (Kim trong biển). Chi Tý thuộc thủy. Kim sinh thủy, như vậy mệnh sinh Chi. Mệnh là thiên-tư, là bản-chất con người, là phần cố định không thể thay đổi. Chi là địa-bàn chủ thay đổi. Mệnh sinh Chi vì vậy tuổi Giáp Tý có tính quyết-đoán sáng suốt, có thiên-tư và năng khiếu đặc-biệt để nhận xét biến-chuyển, có năng-lực điều-khiển tình-thế, khi tình-thế thay đổi. Tử-vi-kinh nói rằng:

"Hành sự mẫn tiệp.

Phùng sự bất loạn.

Thích nghi nhi đắc thiên hạ" (1)

Nghĩa là: Giáp Tý hành-sự minh-mẫn, dựa vào biến-cố để thích-nghi mà trị được thiên-hạ.

2. Chi Tý thuộc thủy sinh ra Can Giáp thuộc mộc. Chi là địa-bàn chủ thay đổi. Giáp là biến-chuyển không-gian, thời-gian ảnh-hưởng vào người. Giáp-Tý có Chi chủ các thay đổi. Chính những thay đổi đó hợp với không-gian, thời-gian tác-dụng vào người. Đó là thuận-lý thành-công, cuộc đời đầy những biến chuyển may mắn thuận lợi cho mình. Mệnh kim, khắc Can Giáp thuộc mộc cho nên bản thân hay mâu-thuẫn với chính việc làm của mình.

2.1. Thế nào là mệnh sinh Chi, thế nào là có tinh-quyết sáng suốt? Trong khoa Tử-vi, mệnh là thiên-tư trời ban cho, là bản chất con người khó thay đổi. Muốn thay đổi thiên-tính phải nhờ hoàn-cảnh, giáo-dục. Hoàn-cảnh, giáo-dục cũng chỉ thay đổi được 40% bản-tính. Khi đứa trẻ ra đời, cha mẹ xem Tử-vi, vội lựa chọn một đường lối giáo-huấn theo chiều-hướng đặc biệt mong muốn. Trong Tử-vi gọi lối giáo-dục này là phương pháp "chuyển Mệnh".

2.2. Dưới đây xin trích dẫn hai cuộc chuyển mệnh trong lịch sử Á-châu:

Tuệ-trung Thượng-sĩ (Tục danh Trần-quốc-Tảng 1252-1313) là con thứ nhì Hưng-Đạo vương. Khi mới sinh ra được Huệ-túc phu-nhân chấm số. Phu-nhân giải rằng sau lớn lên Quốc-Tảng sẽ say mùi Thiền, đi tu, đắc đạo thành Phật. Bấy giờ đất Đại-Việt phía Bắc đang lo chống Mông-cổ xâm lược, phía Nam còn lo phòng Chiêm-thành đánh phá. Hưng-đạo-vương không muốn cho con đi tu, huấn-luyện Quốc-Tảng bằng lịch sử anh-hùng của dân Việt-Nam, và những cái nguy hại của Mông-cổ, Chiêm-thành, khích Quốc-Tảng nổi lòng hào-hùng muốn cứu dân Đại-Việt.

Đường lối giáo-dục đó làm thay đổi phần nửa cuộc đời của Quốc-Tảng. Nửa đầu cuộc đời, ngài làm đại-tướng chiến thắng Mông-cổ. Sau khi hết giặc, ngài đi tu, và đắc đạo.

2.3. Một tích khác, trong triết-học Á-châu:

Mạnh-Tử là một đại-triết gia Trung-Quốc, thủa nhỏ mồ côi cha, ở với mẹ. Nhà ông ở cạnh cửa hàng thịt. Hàng ngày ông sang cửa hàng thịt xem đồ tể giết heo. Ông bắt chước, về nhà rủ bạn, lấy đất nặn thành heo, rồi đem... giết, miệng kêu eng-éc như heo bị chọc tiết. Mạnh mẫu lo sợ, dọn nhà đi nơi khác. Nhà thứ nhì cạnh nhà đòn. Hàng ngày Mạnh-Tử xem người ta đưa đám. Trở về ông cùng bạn khóc lóc, đào đất chôn người nộm.

Mạnh mẫu lại dọn nhà lần nữa. Lần này dọn đến bên cạnh trường dạy học của Tăng-Tử. Hàng ngày Mạnh-Tử xem học trò Tăng-Tử học lễ nghĩa. Thấy thầy thì quì lạy, thấy bạn thì chắp tay xá. Ông cũng bắt chước.

Khi thấy Mạnh-mẫu về, ông cũng quì xuống hành lễ, thấy bạn hữu cũng chắp tay xá. Mạnh-mẫu mừng lắm, xin với Tăng-Tử cho con theo học. Sau Mạnh-tử trở thành nhà hiền-triết Trung-Quốc, được tôn là Á-thánh. Địa vị tôn kính chỉ thua Khổng-Tử được tôn là thánh.

3. Tuổi Giáp Tý thiên-tư sinh ra có tính quyết-đoán sáng suốt. Mọi quyết đoán của họ đều hợp tình, hợp lý. Họ thông-minh, mẫn-tiệp, họ biết nghe lời khuyên, lời cố-vấn, lời dạy-dỗ của người khác, rồi trở lại với suy-tư của chính họ, đưa ra quyết-đoán. Quyết-đoán bao giờ cũng là quyết-đoán thích-hợp với hoàn cảnh cá nhân, với không-gian, thời gian của họ để đi đến thành công.

3.1. Thiên-tư, năng-khiếu đặc biệt của Giáp-Tý là hiểu hết những gì đã, đang và sắp xẩy ra xung quanh họ. Nhờ đó khó có kẻ lừa dối, đâm sau lưng họ. Một việc, một sự việc xẩy ra, chỉ cần vài chi-tiết, họ hiểu nguyên-ủy vấn đề và nắm được ngay căn bản của biến-chuyển

3.2. Một tỷ dụ năm 1779 khi vua Quang-Trung mang 10 vạn quân ra Bắc-Hà đánh quân Thanh. Quân Thanh có 20 vạn người và 100 vạn dân phu, đã chiếm được nửa nước Việt-Nam. Nhưng chỉ một tin báo rằng Tôn-sĩ-Nghị dành ba đội quân tinh nhuệ nhất vào công tác giữ đường: một đạo giữ cầu phao bắc ngang sông Hồng-hà. Một đạo giữ ngả đường thông với Quảng-đông. Một đạo giữ ngả đường thông với Vân-Nam. Ngài có thiên-tư, năng khiếu đặc biệt để nhận xét biến chuyển, nên giải đoán rằng tuy với quân-số đông đảo, chiếm được nửa nước Việt, nhưng Tôn-sĩ-Nghị chưa nắm được phần thắng, trong lòng lo sợ, nên mới dành ba đạo quân tinh nhuệ nhất để bảo vệ đường rút quân.

Ngài biết rằng đạo làm tướng mà trong lòng trì nghi không quyết, thì chỉ cần dọa, tâm thần ắt rối loạn. Tướng rối loạn trong lòng hỏi sao quân-sĩ không bị mất quân khí? Chỉ cần vừa đánh vừa hư trương thanh-thế, giặc sẽ bỏ chạy.

Quả nhiên sau đó chỉ một trận, ngài quét sạch 20 vạn quân và 100 vạn dân-phu nhà Thanh ra khỏi đất nước.

4. Họ có năng-lực điều khiển được tình-thế trước hoàn cảnh cá nhân của mình, trước hoàn cảnh tập thể họ nào đó, hay lớn hơn trước hoàn cảnh quốc-gia và thế-giới.

4.1. Có tài quyết-đoán sáng suốt, có tài nắm được thời cuộc. Biết là một chuyện, làm là một chuyện khác. Hồ-quí-Ly chẳng biết rằng muốn chống quân Minh phải có lòng dân, mà không làm thế nào để lấy được lòng dân, để rồi bị Trương-Phụ bắt sống đem về Kim-Lăng (2) đấy ư?

4.2. Tuổi Giáp Tý có khả-năng đó. Chính vì ba năng khiếu:

- Quyết đoán sáng suốt.

- Thiên tư, năng khiếu nhận xét biến chuyển.

- Khả năng điều khiển tình-thế.

5. Giáp-Tý trở thành mẫu người thành-công trên đường đời. Dù cho số Tử-vi đặt họ vào địa vị nào chăng nữa, họ cũng thành công trong địa vị đó. Họ biết nhận xét biến chuyển, nên họ dễ thay đổi quyết-định để đi đến thành công. Người không hiểu họ, cho rằng họ tiền-hậu bất nhất, không lập-trường. Người hiểu họ thì khâm phục họ khôn ngoan, linh-động.

5.1. Giáp Tý không giống như Mậu Tý. Mậu Tý là số trời cho tự điều chỉnh được số-mạng, gặp biến chuyển, họ nhắm mắt quyết định liều, nhưng quyết định của họ bao giờ cũng là đường lối hành-động khôn ngoan nhất. Còn Giáp Tý thì suy nghĩ rồi quyết định trong tư-thái nhìn rõ mọi biến chuyển xung quanh, và từ đó họ xoay chuyển tình thế như ý họ muốn.

5.2. Giáp Tý cũng không giống tuổi Bính Tý. Bính Tý là tuổi minh-mẫn, gặp việc cần quyết đoán, họ suy nghĩ, luận cổ suy kim, cân nhắc nhiều đường lối khác nhau, rồi đưa ra nhiều đường lối với kết luận nhiều kết quả khác nhau. Như vậy tuổi Giáp Tý nên ở vào địa vị lãnh đạo tối-cao. Tuổi Bính-Tý ở vào địa-vị lãnh-đạo cao, làm cố-vấn. Vì Bính Tý là người lỗi-lạc quá, nếu ở địa-vị lãnh-đạo tối-cao, không có người dưới nào dám trình bày ý-kiến trước họ cả. Còn Mậu-Tý nên làm những chuyên viên cao cấp.

6. Khuyết điểm trầm-trọng của tuổi Giáp-Tý do mệnh thuộc kim, Can Giáp thuộc mộc. Mệnh là bản chất con người. Can là những biến chuyển ở ngoài tác dụng vào bản thân.

Khi mệnh khắc các biến chuyển ở ngoài tác dụng vào con người thì sẽ xẩy ra những gì? Thông thường gặp hạn tốt, họ điều khiển được tình thế.

Nhưng gặp hạn xấu, thì chính tính quyết đoán, làm chủ lấy mọi quyết định, họ không nghe lời người ngoài khuyên răn. Lúc vận hạn tốt, tuổi Giáp-Tý thực là thần thánh, quang-minh, lỗi-lạc. Hàng trăm người cố-vấn, họ biết lựa lấy lời cố-vấn siêu-việt nhất, để hành-sự. Khi hành sự họ khôn ngoan, uyển-chuyển. Khi thấy việc đang làm có cơ nguy hại, họ bỏ ngay, để làm lại từ đầu. Khi sai lầm, họ biết hối lỗi sửa đổi. Trong người họ như có hai linh hồn khác nhau. Một tốt, một xấu.

Nếu ở giới thợ-thuyền, thì họ là người siêng năng trau dồi nghề-nghiệp. Nếu là quốc-trưởng họ trông rộng nhìn xa, biết bỏ kiêu căng để nhận lấy lỗi lầm của mình.

Khi gặp vận hạn xấu, giới thợ-thuyền trở thành con người cộc cằn, thô-lỗ, ngoan-cố, khó chơi, ai khuyên không nghe, ai nói không chuyển. Nguyên-thủ quốc gia trở thành độc đoán, u-mê, tự-tin, tự-kiêu, nhận xét quyết-đoán tự chuyên. Nhất là họ tự mâu thuẫn với mình. Hôm qua đen, hôm nay trắng, rồi kiêu căng vỗ ngực rằng cả trắng lẫn đen đều như nhau hết. Ai phê bình thì trở thành kẻ thù, bạn hữu, vợ con xa lánh... nhưng họ vẫn không nhìn ra sự thật.

Điều này dễ hiểu, bởi các tuổi Giáp Tý có địa-vị lớn thường thuộc bộ Đế-tượng, Võ-cách. Khi vận hạn xấu, là lúc gặp hung tinh. Hung tinh phát tác thì tất cả mọi quyết định sẽ đưa đến thất bại.

7. Khi bổn mệnh khắc Can, tức là khắc những gì ở ngoài tác-dụng vào mình, tức những hào-quang được hưởng bị mất đi. Mất sự minh xét biến chuyển, quyết đoán đi đến sai lầm. Quyết đoán sai lầm thì điều khiển tình thế không còn hiệu-nghiệm nữa.

7.1. Trên thực tế, khi sắp đến chu-kỳ thất bại, Giáp Tý thường có quyết định mâu thuẫn, độc tài rồi đổ vỡ. Tử-vi kinh nói:

Thương, tang, hình, khổn. (3)

Nghĩa là bệnh tật, tang chế, tù tội, khốn khổ là do vận hạn sinh ra. Xem số tuổi Giáp Tý cần chú ý đến vận hạn. Khi vận số tốt thì bốc như lửa. Khi vận số xấu thì sự-nghiệp đổ vỡ mau chóng do chính họ gây ra.

7.2. Giáp Tý tan nát sự nghiệp khi họ ở tuyệt đỉnh thành-công. Trong lúc say sưa, huy hoàng, họ tự nhận xét biến chuyển dưới chủ-quan. Khi nhận xét tình thế sai, thì quyết-định cũng sai. Quyết-định sai thì khả năng điều khiển tình thế mất đi.

8. Tóm lại tuổi Giáp Tý là tuổi dễ thành-công trên đường đời. Họ thành-công do chính khả-năng tuyệt vời của họ. Họ quyết đoán sáng suốt, có thiên-tư nhận xét biến chuyển và từ đó họ điều khiển được tình thế. Khi gặp vận hạn xấu, họ trở thành độc-tài, quá khích, không nghe lời ai nữa, rồi đi đến đổ vỡ. Tuổi Giáp Tý tuy trời cho tính sáng suốt khác đời, nhưng họ cần phải thận trọng, luôn luôn nghe lời người khác. Lúc họ tự kiêu, tự đắc là lúc họ sắp sụp đổ.

9. Tuổi Giáp-Tý có ba loại:

- Loại thứ nhất là loại địa vị trung bình, thường họ làm văn-phòng, hoặc giáo-sư trung-học. Ở trong quân-đội, cảnh-sát họ cũng chỉ là cấp thừa hành.

- Loại thứ nhì ở nấc thang cao trong xã-hội: Giáo-sư đại-học, bác-sĩ, kỹ-sư cao cấp, dân-biểu, nghị-sĩ, luật-sư, thẩm-phán.

- Loại thứ ba ở nấc tuyệt đỉnh bộ-trưởng, thủ-tướng, tổng-thống.

9.1. Trong lịch sử thế-giới, có 8 vị hoàng-đế sáng lập cơ nghiệp, hằng trăm vị tể-tướng, tổng-thống, thủ-tướng tuổi Giáp-Tý. Nhưng hầu hết họ lập thân bằng võ-nghiệp, rồi từ võ-nghiệp sang nắm quyền điều khiển quốc-gia. Tại sao? Với khoa Tử-vi, có thể giải-thích được.

Dù con người gặp cách nào chăng nữa cũng phải nhờ Khoa, Quyền, Lộc mới đạt địa-vị cao. Mà tuổi Giáp thì Hóa-lộc đi với Liêm-trinh, Hóa-quyền đi với Phá-quân, Hóa-khoa đi với Vũ-khúc tức thuộc bộ Đế-tượng (Tử, Phủ, Vũ, Tướng), hay bộ Võ-cách (Sát, Phá, Tham). Những người Giáp-Tý thuộc bộ Văn-đàn (Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hay Cự-nhật) dù đắc địa chăng nữa, không có Khoa, Quyền, Lộc, cũng chỉ thuộc loại thứ nhất.

Còn những người thuộc bộ Văn-đàn, mà hội được Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Lộc-tồn, họ sẽ thuộc loại thứ nhì. Những người thuộc bộ Đế-tượng, Võ Cách, ở vào chỗ miếu, đắc-địa, thêm Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Lộc-tồn thì họ thuộc loại thứ ba. Loại thứ ba đa số xuất thân trong binh-nghiệp. Cho nên mới nói rằng các quốc-trưởng Giáp-Tý xuất thân võ-nghiệp rồi nắm quyền quốc-gia. Cổ nhân gọi cách của những nguyên-thủ quốc-gia từ võ sang văn là "Xuất tướng nhập tướng". Xuất tướng là tướng ra ngoài cầm quân, tức tướng võ, sau đó làm tổng-thống, thủ-tướng là tướng văn tức nhập-tướng.

9.2. Vua Lê Thái-tổ có các đại công-thần sau đây tuổi Giáp Tý là Trần-nguyên-Hãn, Lê-Sát, Trần-quang-Từ. Cả ba đều có số xuất thân làm tướng võ rồi làm tể-tướng.

Trong ba người, chỉ có Trần-quang-Từ giỏi Tử-vi, biết số mệnh bỏ đi tu được toàn vẹn.

Còn tả-tướng-quốc Trần-nguyên-Hãn oai-danh khuynh-quốc, chỉ sau vua Lê Thái-tổ, nên bị nghi-kị, bị hại.(4). Trước khi bị hại, ông đã được bạn là Trần-quang-Từ thuyết phục rằng nên rời bỏ danh vọng, vì số vua Lê Thái-tổ, có thể ở với nhau khi hoạn nạn, mà không thể ở với nhau khi sự-nghiệp đã thành. Trần-nguyên-Hãn đang ở cực điểm danh vọng, không tin, nên mới bị hại.

Còn Lê-Sát công trận thua Trần-nguyên-Hãn một bậc. Khi vua Lê Thái-tổ băng-hà ông được cử làm phụ chính đại-thần. Ở địa vị tối cao ông sinh kiêu-căng, chuyên-quyền, lấn át vua, hại biết bao nhiêu người. Giữa lúc uy quyền tuyệt-đỉnh đó, ông bị vua Lê-thái-Tông giết chết.

Người sau đọc sử, thương tiếc cho Trần-nguyên-Hãn, rằng sao không nghe lời Trần-quang-Từ để đến nỗi thân diệt, vợ con khốn khổ? Lại trách Lê-Sát không biết tự-chế, trong lúc say sưa quyền binh, thành u-mê đến nỗi nhà tan, thân chết không toàn vẹn?

9.3. Một số đông bạo chúa tuổi Giáp Tý. Họ lập thân bằng võ nghiệp. Với ba khả năng đặc biệt ở trên, họ chiến thắng, lập công, leo lên hàng tướng-lãnh. Từ hàng tướng-lãnh, họ khôn khéo nắm quyền quốc-gia họ được quân-đội ủng-hộ, được dân chúng tin tưởng.

Khi quyền vào tay, là lúc vận số đi vào các sao sát tinh. Hung-tinh khiến họ thành độc-tài, tàn bạo, chỉ biết uy-quyền mình là tuyệt đối. Cuối cùng họ bị phản-bội, bị lật đổ, hoặc bị giết chết. Sau khi họ bị thất bại, người hậu thế tiếc thương cho họ rằng phải chi lúc nắm quyền quốc-gia, họ biết thuận lòng dân, xây dựng văn-hoá, thực tâm làm lợi quốc-gia thì họ là anh hùng dân tộc.

Nhưng chẳng qua đó là số-mạng. Lịch sử nhân-loại có rất nhiều anh hùng dân tộc tuổi Giáp Tý. Họ cũng do võ nghiệp, thành nguyên-thủ quốc-gia, nhưng họ biết nghe lời cố-vấn, làm cho quốc-gia phú-cường, đến nay lịch sử còn ghi danh họ.

9.4. Kết lại, cá tính Giáp Tý dù ở địa vị nào, họ cũng có quyết định sáng suốt. Họ nhìn ngay ra chân tướng sự vật, nên họ thuận thời thế mà thành công. Dù là hoàng-đế, dù là bộ-trưởng, dù là thợ-thuyền họ cũng có khả năng giống nhau. Có điều hoàng-đế thì ôm vũ-trụ trong lòng. Bộ-trưởng thì nắm quốc-gia trong tay, còn thợ thuyền thì họ đi đến tuyệt kỹ của nghề.

Dù ở địa vị nào, họ cần nghe người cố-vấn, để đừng đi đến chỗ sai lầm mà hỏng tất cả. Gặp vận-hạn xấu, họ đừng bao giờ tự tin ở mình, phải tìm những người có cung mệnh lớn, đang ở đại-hạn tốt cố-vấn cho họ. Lúc đang thành-công, cần bỏ kiêu-căng, tự-phụ, quá khích.

III. Duyên tình Tuổi Giáp Tý

1. Giáp Tý là tuổi của hoạt-động xã-hội, sống cho danh-vọng, sự-nghiệp hơn là cho gia-đình. Con người Giáp-Tý là con người thiên về lý-trí, lấy lý-trí giải quyết mọi vấn-đề.

1.1. Trước khi hành-xử, họ cân nhắc, đắn đo, tính toán lợi hại, kể cả trong tình yêu. Các tuổi khác giải quyết vấn đề thường dựa trên hai căn-bản là tình-cảm, lý-trí.

Giáp Tý chỉ có một lý-trí. Giáp Tý sinh ra để chạy theo ảo-ảnh công-danh. Họ dành tất cả nỗ lực, để đi đến thành công, họ hơi khô khan. Có những tuổi Giáp Tý được sao "tình cảm" thủ mệnh như: Thiên-lương, Thiên-đồng, Văn-Xương, Văn-khúc, bản chất họ là người tình cảm. Nhưng khi giải-quyết sự việc vẫn thiên về lý-trí nhiều hơn.

Nhiều người thiên về lý-trí quá, họ thành cố-chấp, buộc mình trong những nguyên tắc, đôi khi thành máy móc.

1.2. Xét các sao chủ duyên tình của Giáp Tý:

1.2.1. Đào-hoa, đệ nhất chính tinh chủ tình, duyên đóng tại Dậu. Đào-hoa thuộc mộc. Dậu thuộc kim, kim khắc mộc, cây hoa đào bị chặt cành, cắt rễ, duyên tình kém các tuổi khác. Nếu Đào-hoa cư Dậu không thôi, thì cây Đào cũng chưa đến nỗi tan tác, khô héo. Tuổi Giáp-Tý còn bị Triệt đóng ở Thân-Dậu. Tử-vi kinh nói: "Triệt đáo kim cung" (5), hỉ bị cung kim phá, bị Triệt chặt, mệnh Giáp-Tý thuộc kim, thêm một phần khắc nữa.

1.2.2. Thiên-hỉ, chủ may mắn, kỳ-ngộ trong tình yêu đóng chung với Đào-hoa thành ra chịu cùng một nghiệp. Bản chất tình-duyên là Đào-Hoa, kỳ-ngộ tình yêu là Thiên-hỉ bị cung kim phá, bị Triệt chặt, mệnh Giáp-Tý thuộc kim, thêm một phần khắc nữa... cái khắc ở đây không do ngoại cảnh, mà do chính con người Giáp Tý khô khan, coi tình yêu như mây nổi, nhìn tình yêu là thứ xa-xỉ, không cần thiết cho đời sống.

1.2.3. Hồng-loan cũng chủ hỉ-sự, kỳ-ngộ trong tình yêu như Thiên-hỉ đóng ở Mão. Mão thuộc mộc, Giáp Tý thuộc kim, kim khắc mộc. Giáp-Tý khắc trú-địa của Hồng-loan, khiến cho Hồng-loan trở thành thứ tình yêu tạm thời, không căn-bản.

1.3. Bàn chung Giáp Tý là người quá thiên về kiến-tạo sự-nghiệp, không chú ý đến tình yêu. Họ méo mó nghề nghiệp, dù trong tình yêu họ cũng đặt ra nguyên tắc, rồi trói buộc mình vào nguyên tắc đó.

Đúng ra họ ít gặp may mắn trong tình yêu, nhưng hầu hết họ có địa-vị, có tiền bạc, lại khôn khéo, nên họ lôi kéo được nhiều người khác phái vào quỹ-đạo của họ. Người khác phái thường bị hào quang chói lòa của họ mà đến, hơn là vì tính nhu-nhã, lãng-mạn của họ.

Kinh-nghiệm thấy tuổi Giáp Tý thành-công nhiều về hôn nhân hơn là tình yêu. Khi Giáp Tý cùng một tuổi khác đến với người khác phái, thì tuổi khác sẽ đạt được tình yêu trước Giáp Tý. Nhưng nếu đặt vấn đề hôn nhân, thì Giáp Tý thành-công vì địa-vị, vì tiền bạc.


IV. Duyên tình nam mạng Giáp Tý

1. Giáp Tý là tuổi của xã-hội, không phải là tuổi của gia đình. Ngoài tính chất chung của tuổi Giáp Tý, nam mạng còn có nhiều dị biệt. Nam mạng thiên về lý-trí hơn nữ mạng rất nhiều. Họ say mê làm việc, dồn nỗ lực để tạo công danh địa vị. Họ lấy sự thành công của hoạt động nghề-nghiệp làm hạnh-phúc. Người yêu, vợ của họ chỉ là một thứ gì phụ thuộc trong đời.

2. Có những tuổi Giáp Tý sợ vợ như sợ cọp. Nhưng họ không sợ vợ theo kiểu lãng-mạn, săn sóc chiều vợ. Họ nhịn nhục vợ chỉ với mục đích yên thân, cho qua cơn sóng gió.

Hãy xét các sao duyên tình của nam Giáp Tý.

2.1. Đào-hoa, Thiên-hỉ đóng ở Dậu là cung kim bị khắc, ngộ Triệt, thêm vào bản mệnh thuộc kim, khắc nữa, họ còn mất đi sao Hỉ-thần. Hỉ-thần là sao chủ về diễm-phúc, cảm-giác, hạnh-phúc được hưởng. Cả ba sao kết lại thành ra Giáp Tý thiếu tất cả, mất tất cả.

2.2. Hồng-loan đóng tại Mão ngộ Kình-dương. Kình-dương chủ khô khan, thô bạo. Trong tình yêu hóa hình là dương-vật. Hồng-loan chủ may mắn, kỳ-ngộ trong tình yêu, đóng chung với Kình-dương, thì những gì xảy ra? Giáp Tý có nhiều kỳ-ngộ. Những kỳ-ngộ đó không phải là tình yêu, mà là những chuyện thỏa mãn cảm giác thân xác. Giáp Tý đến với phụ-nữ như người đói tìm đến quán ăn. Chứ thực sự họ không yêu say đắm, và họ cũng không biết yêu.

2.3. Thanh-long đóng ở cung Thìn ngộ Thiên-la là cái lưới nhà trời và Long-trì, Hoa-cái, Quan-phù. Thanh-long chủ những mối tình thoáng qua trong cuộc đời, hoặc những "nét đẹp" trong tình yêu, như măng non mới mọc, chưa cành, chưa lá. Thanh-long, ngộ Long-trì là sao chủ về cao sang. Hoa-cái là cái lọng che. Quan-phù chủ điều tiếng, kiện cáo.

Nếu là người ở địa vị thấp, hay trung bình họ sẽ được một vài phụ-nữ cao sang quyền-quí cảm tình, trong những vụ "cảm tình" đó có một vài vụ vỡ lỡ, khiến cho Giáp Tý gặp nguy hiểm.

Nếu Giáp Tý là người ở địa vị cao, thì họ sẽ là người dùng địa vị, dùng cường lực để nài ép ái-tình với những phụ-nữ dưới tay họ. Tệ hơn nữa họ hay "Xử dụng" vợ cấp dưới.

Họ ở địa vị cao, không thiếu gì phụ nữ đến với họ. Nhưng tại sao họ lại "mượn" vợ người, để gây nguy hiểm, để đi đến tan nát sự nghiệp? Không ai hiểu cả. Chính họ cũng không hiểu được họ.

Thanh-long ngộ Long-trì là hai con rồng. Nhưng hai con rồng bị lưới Thiên-la bó chặt, đó là lý-tính của những vụ "ăn vụng" bất chính.

3. Tóm lại Giáp Tý là tuổi:

- Khô khan trong tình yêu.

- Họ không để ai trọn vẹn trong tâm cả.

- Họ lại nhậy cảm, dễ rung động.

- Nhưng họ thành công trong tình yêu. Một là vì họ có địa vị lớn, nhiều phụ-nữ lóa mắt vì hào quang của họ, đến với họ vì địa vị, chứ không phải vì yêu thương.

- Họ dễ chiến thắng trong tình yêu, và họ hay dùng ưu điểm địa vị chinh-phục phụ-nữ.

- Họ chinh-phục chỉ vì hiếu-thắng, sau khi đạt được, họ bỏ rơi. Họ như con bò mộng, thấy mầu đỏ là húc, chứ khômg cần biết kết quả.

- Trong đời họ, họ có nhiều mối tình bất-chính, họ bất chấp đau khổ của người dâng hiến tình yêu cho họ.

- Họ say sưa khi chiếm được tình yêu của người khác.

Nếu họ không có tính xấu này, thì đời họ phải chôn hay bỏ vợ một hai lần. Những vị nào tuổi Giáp Tý mà chỉ biết có một bà vợ, chưa từng đi ngang về tắt với người đàn bà có chồng, hãy tự hào rằng mình là người thánh-thiện ít có trên đời; không có căn bản luân lý Phật-giáo, Khổng-giáo hay Thiên-chúa-giáo, thì cũng ở trong một gia đình có truyền thống giáo dục.

4. Giáp Tý nên lấy vợ tuổi nào, để gia đình êm ấm? Sự thực thì gần như tuổi nào họ cũng chinh-phục được để làm vợ, để sống trong hào quang của họ, và yên phận làm vợ hiền.

4.1. Mạng thổ. Thổ sinh kim. Giáp Tý mạng kim, được mạng của vợ sinh ra. Giáp Tý không mấy lo chuyện nhà, lấy vợ mạng thổ, họ sẽ được một người vợ tề gia nội-trợ, hầu yên thân kiến-tạo sự-nghiệp. Với người vợ mạng thổ, biết giữ gìn tiền bạc, tiết kiệm dành dụm cho chồng. Nhưng tuy được vợ hiền, họ vẫn không chú ý đến tình yêu. Vợ chỉ là đối tượng tình dục mà thôi. Con cái được hưởng cảnh đầm ấm gia đình.

4.2. Mạng kim. Giáp Tý mạng kim, hai vợ chồng đồng mạng. Vợ chồng hòa-hợp truyện chăn gối hứa hẹn hạnh-phúc. Với người vợ mạng kim, Giáp Tý đỡ phiêu lưu hơn. Họ khó có thể kiếm được người hợp gu trong phòng the bằng vợ. Dù họ phiêu lưu, rồi cũng nhận ra rằng chỉ có "cơm nhà" là ngon hơn cả. Với người vợ mạng kim, họ còn được vợ hòa hợp trong công ăn việc làm, thông-cảm, chia sẻ khó khăn với họ. Con cái được hưởng hạnh-phúc của cả hai người ban cho.

4.3. Mạng thủy. Kim sinh thủy. Giáp Tý mạng kim, như vậy mạng họ sinh ra mạng vợ. Vợ đến với họ bằng câu "Thân thượng thành thân", tức chồng ở vai cao hơn rồi đến với vợ. Vợ họ có thể là em bạn, con bạn, người dưới quyền v.v... Nhưng vợ đến với họ vì công-danh, tiền bạc hơn là vì tình yêu.

4.4. Mạng mộc. Kim khắc mộc. Giáp Tý mạng kim, chồng khắc vợ, thắng vợ là cặp vợ chồng lý-tưởng Đông-phương thời xưa. Thời mà chồng như ông vua, vợ như nữ-tỳ, chỉ biết vâng, dạ. Giáp Tý lấy vợ mạng mộc, thì vợ hoàn toàn bị họ khống-chế, nói sao nghe vậy. Thông thường đây là những người vợ nhỏ tuổi hơn họ rất nhiều. Khi Giáp Tý chẳng may lỗi nhịp cầu duyên: vợ chết, hoặc đứt gánh, thì chắp mối tơ duyên với người mạng mộc rất tốt. Nghĩa là họ chắp nối mối tơ duyên khi tuổi đã đứng, địa vị lên đã cao, họ chinh-phục bằng tiến bạc danh vọng. Con cái trung bình.

4.5. Mạng hỏa. Hỏa khắc kim. Giáp Tý mạng kim, bị mạng vợ khắc. Có khá nhiều cặp vợ chồng Hỏa-Kim như trên. Nhưng chỉ được ít lâu, vợ phản chồng, ngoại tình, dùng phương tiện, hào quang của chồng phục-vụ người yêu, giúp đỡ người yêu để phá sự nghiệp của chồng. Chúng tôi có khoảng gần trăm lá số vợ hỏa chồng Giáp Tý trong trường hợp này.

Có hai trường hợp vợ giúp tình địch giết chồng, hoặc làm cho chồng phải lâm vào vòng lao-lý. Giáp Tý có vợ mạng hỏa coi chừng mọc sừng đầy đầu. Con cái sống trong hỏa ngục thế gian.

5. Tóm lại Giáp Tý là người nhạy cảm, nhưng không thiết tha đến tình yêu, mà chỉ chú ý đến tình dục. Họ chiến thắng tình địch bằng địa vị, tiền bạc, uy-quyền. Đời họ ít nhất một lần đổ vỡ, hoặc điều tiếng về tình yêu. Họ hay phiêu lưu vào đường bất chính, thích "xài" vợ người, kể cả vợ của người tùy thuộc. Đời họ có một vài mối tình với những phụ nữ quyền quý, những mối tình này mang lại cho họ nhiều cay đắng.

(xem tiếp trang sau)



Đăng nhập để trả lời
0
V. Duyên tình nữ mạng Giáp Tý

1. Nữ mạng Giáp Tý ngoài những tính chất chung ở trên, họ có rất nhiều khác biệt với nam mạng. Họ không phải là người khô khan, coi thường tình-cảm, cũng không phải là người vô duyên.

Hãy xét những sao duyên tình của họ.

1.1. Đào-hoa, Thiên-hỉ, đóng ở Dậu bị khắc, bị Triệt, thì họ ít hấp dẫn, duyên may. Đào, Hỉ trong đời không còn, thì hoa tình yêu không nở trong lòng họ, họ thực tế. Đối với xã-hội Đông-phương, họ là người kém may mắn về duyên tình, muộn màng về chồng con, vì xã-hội Đông-phương, người phụ nữ thụ động trong hôn nhân. Họ phải chờ nam phái tới, rồi tùy nghi lựa chọn. Còn trong xã-hội Tây-phương, người phụ nữ đi tìm chồng là chuyện thường, nên họ ít bị cô độc, cũng vẫn lập gia đình sớm. Tuy nhiên họ tìm thì nhiều, mà kết quả lại ít và khó thành tựu.

1.2. Hồng-loan là sao thứ nhì chủ kỳ-ngộ, hỉ-sự trong tình yêu đóng ở Mão, ngộ Đà-la. Đà-la là sao chủ thị phi, lắm điều, trong tình yêu chủ tình dục. Vì vậy nữ mạng Giáp Tý không có tình yêu lý tưởng. Những gặp gỡ của họ hỗn-hợp cả "tình lẫn dục". Họ ít chịu khép mình, nhịn nhục. Khi gặp đối tượng, họ mở cửa lòng đón tiếp dễ dàng, hoặc có khi họ đi bước trước. Đối với người tình, họ mở rộng cửa và "cho" hết. Nữ mạng Giáp-Tý có đời sống tình dục rất dai, họ "khoẻ" và kéo dài cho tới 70 tuổi vẫn... còn được.

Lịch sử Trung-Quốc có một bà hoàng thái hậu cầm quyền, khi đi vào tuổi 70, mỗi đêm bà còn có thể giao-hoan với hai, ba thanh niên trẻ, thế mà bà vẫn ứng phó đầy đủ như hồi còn xuân.

1.3. Thanh-long đóng ở Tý với Nguyệt-đức, Thái-tuế. Thanh-long là con rồng xanh, chủ những tin vui, những gặp gỡ thoáng qua trong cuộc đời, những mối tình chớm nở, như măng mới mọc, như hoa còn nụ. Nguyệt-đức trong tình yêu là bà mai, đóng chung với Thanh-long, thì nữ mạng Giáp Tý luôn gặp người mai mối, cho nên họ có nhiều mối tình thoáng qua rất đẹp, hay nói khác đi họ được nhiều người cảm tình, phải lòng mặt.

1.4. Hỉ-thần là sao chủ về cảm-giác, diễm-phúc, rung-động trong tình-trường. Hỉ-thần đóng chung với Lưu-hà, Thiên-việt tại Mùi. Lưu-hà là giòng sông, trong tình yêu chủ bền vững, vô-tận. Thiên-việt là cái búa, trong tình yêu chủ được sủng ái. Cả ba kết lại nữ mạng Giáp Tý được hưởng những khoái-cảm tột đỉnh, vô-song. Chính vì vậy, khi giao-hoan với ai họ cũng buông thả, cũng "cho" hết. Người nào đã gần họ, khó mà xa được họ, đôi khi trở thành "ghiền họ".

2. Giáp Tý nữ được người yêu sủng ái đã đành, khi đi học họ được thầy (chứ không phải cô) thương. Đi làm họ được cấp trên cảm tình đặc biệt. Đối với xã-hội Đông-phương thời cổ, họ là thứ đàn bà trắc nết, hư thân, dâm đãng. Nhưng đối với xã-hội ngày nay, họ chẳng có gì đáng chê trách cả. Họ là người biết tìm phương thức hưởng thụ khoái cảm, nên họ thăng bằng, ít quạu cọ. Khi lớn tuổi, khoảng từ 60 trở đi, tuổi khác thì tình dục xuống, đôi khi khô cạn. Còn Giáp Tý thì hạnh-phúc hơn. Họ vẫn có nhiều người sủng ái họ. Họ hưởng thụ chuyện phòng the như hồi còn xuân.

3. Nữ mạng Giáp Tý không được may mắn trong duyên tình, họ không hấp dẫn, thu hút nam phái. Họ là người nhiều dương tính, thông minh, có địa vị, ngoại-giao rộng. Nếu họ ở xã-hội Đông-phương thì bị thiệt thòi, duyên nợ ba sinh muộn màng. Nếu ở xã-hội Tây-phương, họ tự đi tìm tình yêu, không bị muộn màng. Họ không có tình yêu lý-tưởng, tình yêu của họ là thứ tình yêu thực tế, yêu đi với dục. Họ dễ dàng chấp nhận tất cả những ai đến với họ. Khi họ gần đàn ông, họ cho hết, để cùng nhau lên đến đỉnh Vu-sơn.

4. Tình vợ chồng đối với nữ Giáp Tý, là chuyện phòng the. Người chồng cần phải cho họ "no đủ", để họ thiếu thốn, họ kiếm ăn ở chỗ khác. Họ được nhiều bạn hữu, người thân giúp đỡ họ, do đó họ có nhiều mối tình thoáng qua rất đẹp, được nhiều người yêu vụng nhớ thầm, phải lòng mặt.

5. Nữ Giáp Tý được hưởng tất cả những rung động mãnh liệt nhất của chuyện phòng the. Thành ra trong cuộc đời họ, họ coi chuyện phòng the là lẽ sống, không có không được. Họ chẳng chung tình với ai, kể cả chồng họ. Ai cho họ "ăn" thì họ đón nhận, khó có người đàn ông nào đủ khả năng cho họ "no đủ". Lịch sử, văn-học Trung-Quốc không ngớt nói đến người đẹp Dương-quí-Phi, cô tuổi Giáp Tý tháng giêng ngày 7 giờ Mùi. Cô được Đường Minh-Hoàng sủng ái cùng cực. Cả họ cô đều được hưởng ân-sủng. Anh cô là Dương-quốc-Trung làm đến tể-tướng, thế mà cô lại đi ngang về tắt với tướng An-lộc-Sơn, gây nên cuộc nổi loạn khiến mấy triệu người chết, kết quả cô bị thắt cổ ở Mã-ngôi.(6)

6. Tuổi Giáp Tý nữ cần chọn người yêu, chọn chồng tuổi nào để đời sống đỡ sóng gió, để "hợp gu":

6.1. Mạng thổ. Thổ sinh kim. Giáp-Tý mạng kim, được mạng chồng sinh ra. Giáp Tý là người thích tự lập, không muốn nhờ vả chồng. Nhưng nếu họ lấy chồng mạng thổ, người chồng cũng giúp đỡ họ trong việc làm ăn. Người chồng mạng thổ, tính tình nhu thuận, sẵn sàng chiều theo ý muốn của vợ, thì Giáp Tý có thể "đòi hỏi" tự do, có thể chủ động chuyện phòng the. Con cái tốt.

6.2. Mạng kim. Giáp-Tý mạng kim, vợ chồng hợp nhau về công ăn việc làm cũng như về đời sống tình cảm. Với người chồng, người yêu mạng kim, Giáp Tý không cần đòi cũng được "ăn". Kinh nghiệm thì người chồng mạng kim cung cấp cho Giáp Tý những khoái-cảm tuyệt đỉnh trong phòng the. Nhưng chỉ được một thời gian sau, trở thành yếu, Giáp Tý phải "kiếm ăn" chỗ khác. Con cái được hưởng hạnh phúc đầm ấm.

6.3. Mạng thủy. Kim sinh thủy. Giáp Tý mạng kim, mạng vợ sinh ra mạng chồng. Người chồng được vợ giúp đỡ, cuộc sống yên vui. Người chồng thủy của Giáp Tý bị thụ động trong phòng the, còn Giáp Tý lại đóng vai chủ động. Phỏng-vấn cả trăm người Giáp Tý có chồng mạng thủy, đều thỏa mãn công nhận rằng người chồng tử tế với họ. Hơn nữa nghe lời họ. Đôi khi chịu cho họ khống chế. Con cái đầm ấm, hạnh phúc.

6.4. Mạng mộc. Kim khắc mộc. Giáp Tý mạng kim, khắc chồng. Người chồng trở thành một thứ tùy thuộc của vợ, từ công ăn việc làm cho đến chuyện gia đình, vợ quyết định hết. Trong phòng the, vợ chủ động, chồng tuân theo. Thông thường đây là một thứ "nô bộc phòng the" của Giáp Tý. Người chồng mạng mộc, chỉ mang cái tên cho có danh nghĩa, còn họ luôn đi "ăn" ở ngoài. Kinh nghiệm thấy hằng trăm bà Giáp Tý ở tuổi 60, bỏ chồng, đi bao những người tình trẻ, người tình loại "nô bộc phòng the" đa số mạng mộc.

6.5. Mạng hỏa . Hoả khắc kim. Giáp Tý mạng kim, mạng chồng khắc vợ. Giáp-tý bị chồng chinh phục, bị cai trị. Nếu người chồng thuộc loại khỏe mạnh, đủ cho Giáp Tý hưởng thụ phòng the, thì thực là hạnh-phúc vô bờ bến. Còn trường hợp yếu đuối, không theo kịp vợ, tan vỡ mau chóng. Hoặc không thì Giáp Tý cũng vụng trộm với người khác. Con cái sống trong hỏa ngục.

7. Giáp Tý ở lớp sinh năm 1924, hiện (1983) đã đi vào tuổi 60, nam cũng như nữ còn mạnh về tình dục. Họ sống khá buông thả. Các nhà luân-lý kết tội họ. Họ là người ưu-thời, mẫn thế, họ bất cần, họ trả lời rằng: Luân-lý người đặt ra, thì họ cũng đặt ra luân-lý vậy: Luân-lý của họ là trở lại với con người mình, tìm kiếm hạnh phúc trong tình yêu, vừa lợi cho sức khỏe, vừa được hưởng những rung cảm mãnh liệt. Tội gì phải kiềm chế, bó buộc thân xác. Đời người như ngựa câu qua cửa sổ, chết đi là hết.

VI. Người cộng tác

1. Giáp Tý là tuổi có thiên-tư, có năng-khiếu nhận-xét biến chuyển, cho nên bất cứ người nào đến với họ, dưới hình-thức cấp trên, bạn-hữu, tùy thuộc, kẻ thù, họ đều nhận chân được bản-chất. Biết bản-chất thực sự về một người, họ định được thái-độ sáng-suốt về cách đối-xử, xử-dụng, phản ứng đối phó, cùng diễn biến những gì sẽ xảy ra.

2. Những người muốn được lọt mắt xanh Giáp Tý, được Giáp Tý coi là tri-kỷ, khi đến với họ nên tỏ ra chân thực. Người trên Giáp Tý không nên có thái độ coi thường họ. Hãy xét họ có khả-năng, đức-độ đến bực nào, thì dùng đến bậc đó. Không nên đặt họ vào địa vị quá cao, quá thấp.

3. Người dưới cần tỏ ra tuyệt-đối phục-tùng họ.

4. Giáp Tý có khả-năng nhìn thấu tâm-tư con người, phân biệt được kẻ trung người nịnh, kẻ tốt người xấu. Hãy đối xử với Giáp Tý bằng sự chân thật, đừng lợi-dụng, đừng qua mặt họ, họ nhận biết ngay.

5. Giáp Tý có thiên-tư trời cho để biết những gì xung quanh sắp xẩy ra, phản bội họ là rước lấy nguy hại cho mình. Giáp Tý cũng có tính dấu kín tâm tư như những tuổi Tý khác. Khi họ biết người nào phản họ, họ cho đó là điều xỉ-nhục, họ dấu kín không lộ cho người ngoài biết. Họ tự tìm đường lối phản-ứng. Khi Giáp Tý phản ứng một mình, không có người cố-vấn, thường rất khốc liệt.

6. Nếu Giáp Tý phản ứng qua những cố-vấn xung quanh, thường sáng suốt, minh-bạch dễ thành công. Khi họ quyết định một mình, thường sai lầm. Bởi vậy người phản bội Giáp Tý bị lãnh hậu-quả tai hại nhất.

7. Nhiều tuổi Giáp Tý ở địa vị cao như hoàng-đế, tổng-thống, thủ-tướng, bộ-trưởng, họ có nhiều tùy-thuộc trung-thành lâu năm. Nhưng rồi một ngày nào đó bất mãn, quay ra phản bội họ, họ phản ứng lại rất tàn bạo, thường là mất mạng, hoặc thân bại danh liệt. Người ngoại cuộc hoặc hậu thế phê-bình khắt khe Giáp Tý rằng sao không nghĩ đến trước mà có quyết định nặng tay như thế?

Sự thực đó là chỗ yếu điểm của Giáp Tý. Khi Giáp Tý nhận biết người nào trung-thành với họ, dù xấu xa, dù bất tài cũng được trọng-dụng. Những người Giáp Tý đã trọng dụng, dù người khác dèm pha, áp-lực nói xấu, họ vẫn tin tưởng và ban ân huệ.

8. Trong đời Giáp Tý họ thích những người trung thành. Họ quan niệm thà được con chó trung thành, còn hơn được con sư-tử mà họ không tin tưởng được.

- Giáp-Tý chỉ tin tưởng những người nào, mà họ có thể nắm được trong tay. Nhiều người không hiểu, cho rằng tại sao họ thích dùng những người tư cách hạnh kiểm, đức-độ không đủ?

- Cũng không hiểu rằng tại sao họ lại dùng những người mà không ai thèm dùng? Đặt vấn đề như thế là không hiểu Giáp Tý. Giáp Tý cần những người có thể sống chết với họ.

- Ngược lại có những người là bạn hữu tri-kỷ từ nhỏ, nhưng tỏ ra không giúp đỡ họ, không cùng đường lối với họ. Họ cũng không dùng.

- Giáp Tý là người biết ơn. Những ai giúp đỡ, ban ơn cho họ vào thời thơ ấu, hoặc thủa hàn vi, lúc thành danh, họ sẽ báo đáp đầy đủ. Họ không những báo đáp bản thân, mà còn báo đáp con cháu nữa.

-Giáp Tý ít coi trọng tình yêu. Nhưng những ai giúp đỡ họ trong lãnh vực tình yêu, hôn nhân, họ cũng coi là một mối ân huệ. Họ đền ơn xứng đáng.

8.1. Loại người trên.

Loại người trên gồm có thầy, cấp-trên, chủ-nhân. Người trên của Giáp Tý phải tự-hào rằng họ có một thuộc cấp tinh-minh, mẫn-cán, đáng tin cậy.

Ai là thầy của Giáp Tý thực sung sướng. Giáp Tý là người biết ơn thầy, biết nhận chân giá trị tinh thần, coi thầy là người làm ơn cho họ về mặt kiến thức. Họ biết ơn thầy khi đang học. Khi họ thành danh, họ tìm thầy để trả ơn, nếu thầy không còn, họ trả ơn vợ con thầy.

Giáp Tý có nhiều sáng kiến, vì vậy thầy của Giáp Tý chỉ việc giảng đại-cương, không cần đi vào chi tiết. Họ sẽ tự diễn-giải rộng theo sáng kiến của họ. Họ không phải là người kiêu-căng, họ chấp nhận tất cả những ai hơn họ là thầy họ. Họ sẵn sàng nghe người khác cố-vấn cho họ.

Ai cố-vấn cho Giáp Tý đừng hy-vọng họ chấp nhận ngay. Họ nghe lời khuyên, rồi so sánh với những lời khuyên khác, cuối cùng suy tư, đưa ra một quyết định. Quyết định đó bao giờ cũng sáng suốt, và đi đến thành công nhất.

Là cấp trên Giáp Tý phải biết tôn trọng họ, khai thác thiên tính biết những sự vật xung quanh họ, quyết định sáng suốt của họ, cho nên chỉ cần đưa ra đường lối đại-cương, rồi tùy họ làm việc. Họ trình bày nhận xét, đề nghị quyết định cùng diễn biến sẽ đến. Bấy giờ chỉ việc "đồng ý" hay "không" là đủ. Nếu ra lệnh cho họ, đi vào chi tiết, sáng kiến của họ bị chôn vùi, họ sẽ chẳng giúp ích gì hơn một người thường.

Tỷ dụ họ là một sĩ-quan cấp tướng, cấp trên chỉ việc ban lệnh "Nhu cầu trước mắt là đánh chiếm vùng X, rồi Y trước ngày N". Họ sẽ nghiên-cứu lực-lượng bạn, lực lượng địch, thời-tiết, địa-thế, rồi đưa ra đường lối tiến đánh và ước-lượng kết quả hai bên. Bấy giờ cấp trên của họ chỉ việc chấp nhận hay không.

Nếu họ là người thợ máy sửa xe hơi, ông chủ chỉ cho họ chiếc xe bị tai nạn nằm đó, yêu cầu họ sửa. Họ sẽ nghiên-cứu chiếc xe hư những gì, phải thay những gì, sửa như thế nào, thời gian sửa, tốn phí bao nhiêu.

Cấp trên Giáp Tý cần nhớ một điều quan trọng, họ biết uyển chuyển theo hoàn-cảnh để đưa ra quyết-định hành-động, nên họ không tuyệt đối tuân hành chỉ-thị của thượng cấp. Thông thường họ trung-thành với thượng cấp, với chủ. Nhưng họ biết nhận thức được thời cuộc, mà không tuyệt đối trung-thành với thượng cấp.

Giáp Tý khác với Bính Tý. Với Bính Tý dù thượng cấp, chủ nhân thế nào chăng nữa, là tri-kỷ của họ, thì sống chết có nhau, họ không đổi lòng. Giáp Tý thì không thế, thường ngày họ trung-thành, nhưng khi thấy thượng cấp sai lầm, họ không phò tá nữa.

Giáp-Tý cũng không ích kỷ như Mậu Tý cũng không hời hợt thiếu trung-thành như Canh Tý, cũng không thâm trầm như Nhâm Tý. Họ nhìn sự vật với năng-khiếu nhận xét biến-chuyển rồi quyết đoán sáng suốt. Khi thượng cấp, chủ nhân có khuynh-hướng vắt chanh bỏ vỏ, hoặc hại họ, thì họ trở mặt ngay, họ đang là người trung-thành, biến thành kẻ thù ghê gớm.

8.2. Loại ngang hàng.

Giáp Tý là tuổi thích hoạt động, sành ăn, thích đời sống bạn hữu, nên họ có nhiều bạn. Khi đi học, họ là học sinh thông-minh, nhưng họ lười học thành ra họ không phải là học sinh ưu tú nhất. Họ ham hoạt động nên những tổ chức sinh hoạt học đường họ đều tham dự. Dù tham dự tổ chức nào họ cũng sáng chói hơn các bạn. Họ biết trọng bạn, nên họ không bị ghen tị.

Giáp Tý thành công sớm về sự nghiệp. Họ có đủ thứ bạn. Bạn đồng học, đồng nghiệp, bạn tâm-giao, bạn du-hí và bạn... qua đường.

Họ tử tế với tất cả bạn hữu. Ai có mắt tinh đời, biết làm ơn cho họ, biết giúp đỡ họ, hiểu họ, họ cho lọt mắt xanh, thế là trong đời, sống, chết, ngọt, bùi có nhau. Họ biết dùng người, biết rõ khả năng từng người. Nhưng họ ưu tiên cho những người trung-thành với họ, chỉ biết có họ.

Bạn hữu giúp đỡ họ khi còn niên thiếu, lúc chưa gặp thời, hoặc giúp đỡ cho họ về duyên tình. Khi thành danh, họ trả ơn đầy đủ. Nếu họ ở vào địa vị lớn, cần đề cử những chức vụ cao, người đầu tiên họ nghĩ tới là bạn hữu. Trong bạn hữu thì người nào làm ơn cho họ sẽ được hưởng trước.

Bạn hữu cần biết rõ Giáp Tý là người linh-mẫn, hiểu được những gì biến đổi quanh mình. Vậy nên đối xử với họ thực tình, nhất là trung-thành với họ. Đừng dại dột đâm sau lưng họ, hay phản bội họ, nhất là mang ơn trả oán, dù làm bí mật, họ cũng biết, họ sẽ phản ứng khốc liệt.

Họ là người thích ban ơn cho bạn hữu. Bạn hữu đã giúp đỡ họ, được họ trả ơn đã đành. Còn những người chưa từng giúp họ, họ cũng ban ơn, để thu phục nhân tâm.

8.3. Loại người dưới.

Giáp Tý thích hoạt động xã-hội, chính-trị, nên họ cần có nhiều người tùy thuộc. Họ dùng đủ mọi phương thức, tiền bạc, danh vọng, cảm tình để thu phục nhân tâm. Những người có tài, có đức họ thu phục đã đành họ còn thu phục cả những người vô-tài, bất-đức.

Giáp Tý quan niệm xã-hội có muôn vạn hình trạng khác nhau, họ cần có nhiều loại người để xử-dụng. Nhiều người tuổi Giáp Tý làm nghề dạy học. Họ thương yêu học trò, dùng hết khả năng giúp đỡ hậu thế. Khi thành đại-nghiệp, họ dùng học trò vào chức vụ tín cẩn. Trong những người là học trò, bạn hữu, họ dùng tất cả, không loại bỏ một ai. Những ai tỏ ra trung-thành họ dùng trước, không cần căn cứ vào tài ba, đức hạnh.

Giáp Tý khác với Bính Tý. Bính Tý dùng người đầu tiên là đức-độ, tài ba rồi mới đến trung-thành. Còn Giáp Tý thì trung-thành trước rồi đến ân-nghĩa cũ, sau mới đến đức độ và tài ba. Thành ra trong những người dưới quyền Giáp Tý, người bất tài chỉ huy người tài. Người vô hạnh ở trên người đức hạnh. Đó chính là cái nguy của Giáp Tý. Lúc vận tốt thì không sao, khi gặp vận xấu thì dễ xụp đổ toàn vẹn.

Ngay những người được Giáp Tý tin tưởng, nếu tỏ ra không trung-thành, họ sẵn sàng vứt ra ngoài quỹ-đạo của họ, không cần nhớ đến những công lao đã từng lập được trong quá khứ.

Giáp Tý có thể tha thứ cho những người dưới tất cả những lỗi lầm, nhưng lỗi lầm về lòng trung-thành thì không bao giờ họ tha thứ cả.

9. Tuổi Giáp Tý nên chọn những loại người nào, để tránh bị phản bội, để dễ thành công?

9.1. Mạng thổ. Thổ sinh kim. Giáp Tý mạng kim, được mạng người cộng-tác sinh ra. Loại người này nên là bạn, là cấp trên của Giáp Tý, sẽ giúp đỡ, làm lợi cho Giáp Tý rất nhiều. Giáp Tý có duyên gặp sư-phụ, chủ-nhân, cấp trên mạng thổ họ sẽ được tin cậy, được xử dụng tài ba đúng chỗ, nhất là giữa hai người có sự tương hợp trong công việc. Những người là cố-vấn cho Giáp Tý thì cần mạng thổ, để Giáp Tý nghe lời. Nếu là người ngang hàng thì không mấy được Giáp Tý vui lòng. Người dưới thì càng không tốt, vì Giáp Tý tính thích ra lệnh cho người dưới hơn là nghe lời người dưới.

9.2. Mạng kim. Giáp Tý mạng kim. Người cộng-tác dù là cấp trên, ngang hàng, thuộc cấp đều có lợi cho họ. Cả hai sẽ cộng-tác với nhau được lâu dài. Nhưng nếu là bạn đồng-nghiệp, hoặc bạn hữu thì hợp nhau hơn. Giáp Tý là người thích quyết đoán, thích ra lệnh, mà người dưới mạng kim, thì không mấy hợp với tính họ. Nếu là người mạng kim, thì cần phải biết yên lặng, nghe và thi hành nhiều hơn là phát biểu ý kiến. Còn người trên Giáp Tý mạng kim, thì cần đối xử với họ như bạn hữu thì mới dễ hòa hợp công việc.

9.3. Mạng thủy. Kim sinh thủy. Giáp Tý mạng kim, sinh ra mạng người cộng-tác. Những người cộng-tác với Giáp Tý dù là người trên, dưới, ngang hàng đều được Giáp Tý ban ơn, làm lợi cho cả hai bên. Giáp Tý được người cộng-tác trung-thành, ngược lại người cộng-tác được Giáp Tý trả ơn, ban ơn huệ rất nhiều.

9.4. Mạng mộc. Kim khắc mộc. Giáp-Tý mạng kim, khắc mạng người cộng-tác. Người cộng-tác thuộc loại ngang hàng, người trên thì không được bền vững. Giáp Tý là tuổi thích lãnh-đạo, thích chỉ-huy, mà gặp bạn, người trên bị khắc, thì bị Giáp Tý lấn áp. Nếu là bạn, luôn luôn phải ở tư thế địa-vị kém họ mới được. Ngược lại người dưới Giáp Tý thì tốt. Những người này gặp Giáp Tý là bị chinh phục ngay, luôn luôn tuân hành lệnh Giáp Tý. Như vậy mới làm cho Giáp Tý vui lòng.

9.5. Mạng hỏa. Hỏa khắc kim. Giáp Tý mạng kim, bị khắc. Người cộng-tác không nên là cấp dưới, bạn hữu, sẽ làm hại cho Giáp Tý. Họ chỉ có thể là cấp trên, là thầy Giáp-Tý để Giáp Tý quy phục. Nhưng khi nào địa-vị Giáp Tý kém họ mà thôi. Khi địa-vị Giáp Tý lớn hơn rồi, thì lại trở thành xấu.

9.6. Tuổi Giáp Tý là tuổi lãnh-đạo, nên họ cần nhiều bạn, nhiều người cộng-tác. Họ biết ơn những ai đã giúp đỡ họ trong thời thơ ấu, thời hàn vi. Khi thành danh, họ trả ơn đầy đủ. Họ thích thu phục người, trong những người họ xử dụng, thì họ ưu tiên cho những người trung-thành, ơn nghĩa rồi mới đến tài năng và đức độ. Họ đa nghi, và thường tiêu diệt ngay những người nào phản bội họ. Người dưới quyền của họ hay có sự lục đục, vì người dở trên kẻ hay, người vô hạnh trên người đức độ. Nhưng đó là bản chất và cũng là khuyết điểm của Giáp Tý.


VII. Xe cộ, y phục

Trong khoa Tử-vi thì sao Thiên-mã tượng-trưng cho năng-lực cuộc đời, hóa hình là chiếc xe. Thiên-mã của tuổi Giáp Tý đóng tại cung Dần. Giáp Tý Thiên-mã tại Dần cùng với những sao khác:

1. Lộc-tồn chủ tài sản, chủ của chìm. Trong Tử-vi, Thiên-mã ngộ Lộc-tồn là xe chở vàng, chủ giàu có, thịnh vượng. Tuổi Giáp Tý suốt đời có xe đi, tậu được xe sớm hơn tất cả những tuổi Tý khác. Họ không tậu xe thì cũng được đi xe của sở làm việc.

2. Tang-môn chủ tan vỡ, hư hỏng. Giáp Tý đi xe hay bị đụng, bị hư, nhất là hay bị trầy sơn.

3. Hỏa-tinh, ngộ Mã thì xe hay bị hỏng điện, có thể bị cháy. Đèn bị bể, bị hư hại.

4. Cô-thần, chủ ít thay đổi. Giáp Tý trung-thành với loại xe mình đi.

5. Những năm Dần, Ngọ, Tuất, lưu niên Thiên-mã đóng ở Thân ngộ Triệt là ngựa què, xe hay bị hỏng, bị tai nạn. Nội cung còn Bạch-hổ là sao chủ bị đau đớn xương thịt, thì dễ bị thương do tai nạn xe.

6. Giáp Tý mạng kim, thuộc màu trắng. Giáp thuộc màu xanh. Tý thuộc màu đen, thế thì Giáp Tý đi xe màu gì thì hợp, để không bị tai nạn, để dễ làm ăn?

6.1. Màu trắng. Hợp với bổn mạng, sinh ra Chi Tý màu đen. Chi chủ thay đổi, hay chủ con đường. Đi xe màu trắng, Giáp Tý không bị lạc đường, dễ tìm đường. Làm ăn thuận lợi.

6.2. Màu đen. Bổn mệnh thuộc kim. Kim sinh thủy, tức màu đen, bổn mạng sinh ra cái xe, xe hút hết năng lực cuộc đời, tai nạn dễ xảy ra, chủ nhân hay bị thương, sức khoẻ yếu kém, làm ăn bế tắc, có khi chết vì tai nạn xe cộ.

6.3. Màu xanh. Giáp Tý mạng kim thuộc màu trắng. Kim khắc mộc thuộc màu xanh, xe bị bổn mạng khắc, đi xe hay bị hỏng, chính bổn mạng hay sinh tai nạn.

6.4. Màu đỏ. Thuộc hỏa. Khắc kim là bổn mạng Giáp Tý, xe khắc người, đi xe hay bị tai nạn, ông cò hỏi thăm liên miên.

6.5. Màu vàng: Thuộc thổ, sinh kim là bổn mạng. Đi xe ít tai nạn, sức khỏe tốt, ăn nên làm ra.

7. Màu sắc, đồ dùng, quần áo: Cũng như màu xe.


VIII. Nhà của tuổi Giáp Tý

1. Lộc-tồn là sao chủ bất động sản của Giáp Tý đóng ở Dần, ngộ Thiên-mã. Tử-vi kinh gọi cách Lộc-Mã đồng cung là xe chở vàng tức cách tốt cho nhà cửa. Nhưng tuổi Giáp Tý, Lộc-tồn còn ngộ thêm Tang-môn là sao chủ hư-tán, thì Giáp-Tý có nhiều bất động sản. Có bất động sản sớm là khác. Nhưng không nên mua nhà mới, hoặc làm nhà. Chỉ nên mua nhà cũ thì hay hơn. Giáp Tý thích nhà kiểu cổ, không thích nhà mới. Khi Lộc-Mã ngộ Hỏa thì hay đổi nhà, dọn nhà.

2. Tuổi Tý, Ngọ thường bị cái vạ Khốc, Hư đồng cung đóng ở Ngọ, Tý, khiến thời thơ ấu, thời trẻ họ gặp gian nan, nghèo khó. Từ 30 tuổi trở đi mới khá. Tuổi Giáp Tý không bị cái vạ đó, bởi Khốc, Hư ở Ngọ, được Lộc-tồn, Thiên-mã ở Dần chiếu lên, giải cái vạ nghèo khó trong 30 năm đầu cuộc đời. Tuy nhiên phần đông tuổi Giáp Tý có tài sản trước 52 tuổi, e khi nhập hạn 52-53 tuổi thường bị trắng tay, phải lập lại cuộc đời, bấy giờ mới yên.

3. Giáp Tý mạng kim, thuộc phương Tây. Chi Tý thuộc phương Bắc. Can Giáp thuộc phương Đông. Vậy Giáp Tý phải ở nhà hướng nào thì lợi cho sức khỏe, thuận cho công việc làm ăn.

3.1. Thứ nhất nhà hướng Tây

Hợp với bản mệnh. Bản mệnh sinh ra Chi Tý thuộc phương Bắc. Chi chủ thay đổi. Nếu Giáp Tý làm chính-trị, quân-sự, hoặc làm các nghề như bác-sĩ, nha-sĩ, dược-sĩ, luật-sư, nghĩa là nghề cần đến bản mệnh tốt, nên ở nhà hướng Tây. Mọi sự hanh thông. Muồn dung hòa thì ở nhà hướng Tây-Bắc.

3.2. Thứ nhì nhà hướng Bắc

Được bản mệnh là kim sinh ra, hợp với Chi là Tý. Chi chủ thay đổi, vậy nếu gia chủ làm nghề thương mại, viết-văn, viết-báo, kỹ-sư v.v... nghĩa là những nghề không cần bản mệnh hiền lành nên ở nhà phương Bắc. Lợi cho tiền bạc, sức khỏe, con cái yên vui. Muốn thực phát tài thì ở nhà hướng Đông-Bắc, tiền vào như nước, nhưng phải tranh dành mà miệng tiếng cũng nhiều.

3.3. Thứ ba nhà hướng Đông

Thuộc mộc, bổn mệnh thuộc kim, khắc nhà ở, thì sức khỏe gia chủ tốt, bất lợi cho vợ con.

3.4. Thứ tư nhà hướng Nam.

Thuộc hỏa, khắc bản mệnh thuộc kim, làm ăn lụn bại, gia chủ bệnh tật liên miên.


IX. Bệnh tật tuổi Giáp-Tý

1. Tuổi Giáp Tý thuộc mạng kim, kim trong học thuyết Âm-dương, Ngũ-hành liên hợp với:

- Ngũ khí. Thuộc táo (Khô).

- Ngũ hóa. Thuộc thu (Co vào).

- Ngũ tạng. Thuộc phế, đại-trường. Liên hợp với thủ Thái-âm phế-kinh, thủ Dương-minh đại trường kinh.

- Ngũ quan. Thuộc tị (Mũi).

- Hình thể. Thuộc bì mao (Lông da).

2. Bản mệnh là con người thuộc kim, thuộc phế, đại-trường. Phế, đại-trường là hai tạng phủ tương thông biểu-lý. Phế thuộc tạng thuộc âm, thuộc lý, Đại-trường thuộc phủ, thuộc Dương thuộc biểu. Khi bệnh cập phế thì ảnh hưởng sang đại trường và ngược lại.

- Phế chủ khí, chủ hô hấp. Khi công năng của phế không điều hòa, thì hô hấp vô-lực, âm thanh nhỏ, toàn thân mê mệt. Nếu công năng gián đoạn, hô hấp đoạn tuyệt, thiên mệnh chấm dứt tức... chết.

- Phế chủ tuyên giáng, ngoại hợp với bì mao. Khi phế có bệnh thì ảnh hưởng tới bì mao. Ngược lại bì, mao có bệnh, thì ảnh hưởng tới phế.

- Phế chủ thông với thủy đạo, bởi vậy khi phế bị bệnh, cơ thể con người sinh ra phù thủng.

- Mũi là quan của phế, khi phế có bệnh ảnh hưởng tới mũi, ngược lại mũi có bệnh thì biết phế cũng có bệnh.(7)

3. Bệnh của phế có thể phân làm hai

3.1. Một là ngoại tà xâm nhập sinh ra các bệnh:

Nghẹt-mũi, đau cổ hầu, nghẹt thở, ho suyễn. Tương đương với Tây-y (Rhinites, Rhino-pharyngites, Corryza, Bronchites, Broncho- Asthmatiques), và một phần của các bệnh cảm, cúm (État grippal). Tất cả chia làm ba loại:

- Hàn tà phạm phế. Ho, suyễn, đàm trắng, miệng không khát, mũi nghẹt chảy nước trong, hoặc ác-hàn phát nhiệt, đầu, thân đau. Theo Tây-y là nhiễm trùng đường hô hấp. (Loại siêu vi trùng).(8)

- Nhiệt tà phạm phế, ho suyễn, đờm vàng, hầu đau, miệng khát, phát nhiệt, ác phong hàn, hoặc lồng ngực đau, thổ huyết. Đại tiện kết bón, tiểu tiện vàng đỏ. Theo Tây-y là nhiễm trùng đường hô hấp. (Loại vi trùng).

- Táo tà phạm phế, ho khan không đàm, đàm khò khè, khạc không ra, mũi khô, hầu khô, ho nặng thì đau ngực. Tây-y qui vào nhiễm trùng đường hô hấp. (9)

3.2. Hai là công-năng của phế suy yếu:

- Phế khí hư. Người mệt, suy nhược, ho suyễn vô lực, hoạt động càng thêm nặng, âm thanh vô lực, mồ hôi xuất, sợ lạnh, sắc mặt trắng nhợt. Tây-y qui vào phế viêm kinh niên. (10)

- Phế âm hư. Ho khô, hơi thở ngắn, đàm ít, hoặc đàm có huyết, miệng, hầu khô, âm thanh yếu, hình thể gầy gò, mồ hôi trộm, sau 12 giờ trưa sốt. Tây-y qui vào chứng ho lao. (11)

4. Bản chất cơ thể là kim, khi sinh bệnh thì diễn ra những chứng trên hoặc bệnh ngoài da.

Nếu bản chất cơ thể mạnh, thì phế không bệnh. Phế thuộc kim, kim khắc mộc. Can Giáp thuộc mộc bị bản mệnh khắc. Trong học thuyết Âm-Dương, Ngũ-hành, nếu tương-khắc thái quá gọi là tương-thừa. Tương-thừa là thừa cơ suy nhược mà xâm lấn. Phế mạnh thừa Can. Can chủ huyết, chủ âm. Khi phế khắc can huyết thì sinh ra huyết hư, chứng trạng như sau:

- Sắc mặt trắng nhợt, hoặc vàng úa.

- Mắt hoa đầu váng.

- Trong lòng hồi hộp lo sợ, mất ngủ.

- Chân tay tê dại.

- Phụ nữ kinh kỳ lượng ít, hoặc mất kinh.

Tây-y là chứng mệt mỏi (Asthénie), mất ngủ (Insomnie) hay thần kinh suy nhược (Neurathénie)(12)

5. Nếu tương-thừa mạnh quá, can âm đưa đến "Can dương thượng thăng", chứng trạng như sau:

- Huyết áp cao (Hypertention artérielle).

- Chóng mặt.

- Tai kêu.

- Nhức đầu.

- Dễ nổi giận.

- Mất ngủ.

- Mộng nhiều.

- Trí nhớ giảm thoái.

- Đau ngang lưng.

- Nặng quá sinh não xuất huyết (Hémorragies cérébralles) rồi sinh bán thân bất toại (Hémiplégies). (13)

6. Can là tác dụng của ngoại vật vào cơ thể, trong bệnh-lý là ngoại tà. Can Giáp thuộc gan. Thông thường phế khắc gan. Nhưng khi phế hư nhược, thì gan thừa cơ hư nhược mà uy hiếp. Học thuyết ngũ hành gọi là tương-vũ, tức cậy mạnh hiếp yếu. Khi gan-dương mạnh, uy hiếp phế, khiến phế âm hư, sinh ho, suyễn.

7. Nếu bản chất con người là phế hư nhược, không sinh ra được thận-thủy, đưa đến thận hư. Kinh-nghiệm cho thấy tuổi Giáp-Tý thường làm việc quá độ khiến phế hư sinh thận hư chứng trạng là:

- Mất trí nhớ.

- Đầu sớm bạc.

- Tuổi Giáp Tý thường vì phòng-sự quá độ sinh ra mất trí nhớ.

- Họ cần phải bồi bổ trí nhớ luôn luôn. Tuy họ không coi tình yêu là trọng, nhưng họ ham chuyện phòng the.

Leo núi Vu-sơn là lạc thú tuyệt đỉnh của Giáp Tý. Họ cần bổ thận đều đặn. Đừng đợi đến khi yếu rồi mới bổ thì đã trễ.

8. Những người tuổi Giáp Tý làm chính-trị, bị huyết áp cao. Khi bệnh khởi đầu, phải điều trị ngay. Để lâu sinh não xuất huyết, rồi đưa đến bán thân bất toại, mất hết linh-mẫn trời cho, lạc thú phòng the cũng mất theo.

9. Tuổi Giáp Tý Thiên-mã ngộ Tang-môn. Lộc-tồn, thì bệnh hay tai nạn thường dẫn đến chân tay đau đớn. Họ có thể bị phong thấp, khiến đi đứng khó khăn. Những người tuổi Giáp Tý có địa vị cao, họ phải thù tiếp nhiều, nhưng không bị bệnh bao-tử, mà bị hạc tất phong (Hyper-acides uriques).

9.1. Nếu cung tật ách của họ tại Tỵ, họ còn bị đái đường (Diabètes). Phần đông tuổi Giáp Tý là người có xương, có thịt, dù họ thích ăn cá hơn ăn thịt.

9.2. Tóm lại tuổi Giáp Tý bản mệnh là phế. Bệnh tật sinh ra khởi nguồn từ phế. Khi lớn tuổi họ bị chứng huyết-áp cao, đái-đường, hoặc bị chứng hạc-tất-phong. Họ thích chuyện phòng the, thì phải chú ý bồi bổ thận luôn luôn, đừng để tới khi... hết rồi mới lo bồi bổ thì đã trễ. Một số lớn tuổi này hay bị mập, dù họ thích ăn cá.

(xem tiếp trang sau)



Đăng nhập để trả lời
0
X. Vận hạn tuổi Giáp-Tý

1. Vận hạn theo tháng

1.1. Tháng 1, 2 thuộc mộc. Mệnh Giáp Tý thuộc kim, khắc mộc, thời gian lý-tưởng để tranh đấu. Thương-gia Giáp Tý nên khởi sự vào thời gian này. Tháng 1 gặp Lộc-tồn, Thiên-mã là tháng tốt nhất về tiền tài cũng như về danh-vọng, coi chừng đau yếu vì có Tang-môn. Tháng hai thêm Hồng-loan, nam ngộ Kình, nữ ngộ Đà nếu tranh dành thì thắng lợi. Có người khác phái giúp đỡ.

1.2. Tháng 3, 5, 9, 12 thuộc thổ. Thổ sinh kim là bản mệnh. Thời gian thuận lợi như nước thủy triều cuồn cuộn đổ. Tháng 3 có Long-trì, được quí-nhân giúp đỡ. Nam mệnh được 3 con rồng: Thanh-long, Long-trì và cung Thìn. Mọi sự toại ý, không gì mà không thành.

1.3. Tháng 4, 5 thuộc hỏa, hỏa khắc kim là bổn mệnh. Phải cẩn thận, nhất là tháng 4 dễ gặp tai nạn, vì ngộ Hao, cẩn thận xe cộ.

1.4. Tháng 7, 8 thuộc kim, hợp với bổn mệnh, tốt đẹp. Ngặt ngộ Triệt thành ra chỉ bình hòa. Đào-Hỉ ngộ Triệt, có sự buồn lòng về tình duyên.

1.5. Tháng 10, 11 thuộc thủy. Bản mệnh thuộc kim sinh thủy, thời cơ tốt, những quyết định sẽ hợp thời, thành-công.

Ở đây chỉ đưa ra những nét đại cương, cần xét đến tiểu-hạn, đại-hạn mới quyết định được.

2. Vận hạn theo đại, tiểu hạn.

2.1. Đại hạn đến cung Mão, hoặc tiểu hạn nam năm Tý, nữ mạng năm Mùi qua cung Mão thuộc mộc. Bổn mạng thuộc kim khắc mộc, thì công việc làm ăn có tính chất tranh dành, sẽ đạt thắng lợi. Nội cung còn có Kình-dương (Nam) Đà-la (Nữ) nếu tranh thương dưới hình thức nào cũng thắng. Hồng-loan ngộ Kình, Đà sẽ được người khác phái trợ giúp. Cẩn thận tránh bị cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi. Người sinh tháng 1, 7, hay giờ Thìn, Thân gia đạo bất an, duyên tình tan vỡ.

2.2. Đại hạn đến cung Tỵ. Hoặc nam mạng tiểu hạn năm Mùi. Nữ mạng tiểu hạn năm Tỵ đều qua cung Tỵ. Cung Tỵ thuộc hỏa, bản mệnh thuộc kim bị khắc. Nội cung ngộ Kiếp-sát, Phá-toái, Đại (Tiểu) Hao, phải cẩn thận. Chớ nên mưu đồ việc lớn, nhất là đừng bỏ vốn làm ăn chung, dễ bị tán tài, bị lừa đảo. Sức khỏe đáng ngại. Người sinh tháng 3, 9 kiện cáo, mổ xẻ, hao tán. Ngược lại sinh giờ Tý, Ngọ hoạnh phát tài danh.

2.3. Đại hạn tới cung Dậu, hoặc nam mạng tiểu hạn năm Hợi, nữ mạng tiểu hạn năm Sửu đều qua cung Dậu. Cung Dậu thuộc kim, bổn mạng cũng thuộc kim, có sự tương hợp. Tiếc rằng cung Dậu ngộ Đào, Hỉ, gặp Triệt, mọi sự bế tắc, phải cẩn thận, duyên tình, gia đạo có những điều làm buồn phiền. Người sinh tháng 1, 7 hoặc giờ Dần, Tuất kiện cáo khó tránh. Gia đạo bất toàn, duyên tình tan vỡ.

2.4. Đại hạn tới cung Hợi thuộc thủy. Bổn mạng thuộc kim sinh ra cung nhập hạn, việc làm, tranh thương tốt đẹp. Nội cung có Hao-tinh, nhưng đã có Tuần ngăn cản, không đáng lo ngại. Thời gian này bỏ vốn buôn bán thuận lợi. Nếu mua nhà thì tốt. Người sinh tháng 3, 9 kiện cáo, mổ xẻ đến sạt nghiệp. Ngược lại sinh giờ Tý, Ngọ, hoạnh phát tài danh.

2.5. Đại hạn tới cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, nam nữ tiểu hạn năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu cũng qua những cung trên. Bổn mệnh thuộc kim, cung nhập hạn thuộc thổ. Thổ sinh kim: Thời gian thuận lợi, làm việc được quí nhân giúp đỡ, mọi quyết định hanh thông. Nhất là hạn qua cung Thìn ngộ Long-trì, hạn qua cung Sửu, Mùi ngộ Khôi, Việt, những người làm chính-trị, quân-sự, chắc chắn thành công. Trừ trường hợp sinh giờ Dần, Tuất, hoặc Thân, Thìn ngộ Kiếp, Không tai vạ không nhỏ. Đại hạn tới cung Thìn, Tuất, mà sinh tháng 2, 8 càng đáng lo ngại vì đau đớn xác thịt hay hình sự. Đại hạn tới cung Sửu, Mùi mà sinh tháng 5, 11 bệnh tật, kiện tụng.

2.6. Đại hạn qua cung Tý, Ngọ, Dần, Thân, tiểu hạn năm Tý, Ngọ Dần, Thân phải rất cẩn thận:

- Nếu đại tiểu hạn qua một trong các cung trên, mà bản cung không ngộ Hình, Kị, Kiếp, Không, chỉ gặp khó khăn mà thôi. Nếu hạn qua cung Tý, Ngọ, sinh tháng 4, 10. Hoặc hạn qua cung Tý, sinh giờ Sửu, Hợi. Hạn qua cung Ngọ sinh giờ Tỵ, Mùi tai vạ thực không nhỏ. Hạn qua cung Dần, Thân, sinh tháng 6, 12 không đáng lo. Nhưng hạn qua cung Dần, Thân sinh giờ Mão, Dậu, tai vạ trùng điệp. Nhẹ thì đau yếu.

- Nếu đại hạn qua các cung trên, tiểu hạn cũng qua các cung trên, tai vạ không nhỏ. Ít ra là gia đình ly tán, kiện cáo, mất nghiệp.

- Nếu đại hạn qua một trong các cung trên. Tiểu hạn cũng qua một trong các cung trên, thêm vào các sao Kiếp, Không, Hình, Kị thì tai vạ càng nặng thêm lên.

- Nếu đại, tiểu hạn ở Tý, Ngọ hoặc Dần, Thân tương xung, đại bất hạnh. Nếu thêm sát tinh thì phải hiểu là chết.

Tuy nhiên đại hạn qua cung Dần. Hoặc tiểu hạn nam năm Thìn, nữ năm Thân ngộ Lộc-tồn, Thiên-mã làm ăn tương đối thịnh vượng, giải được tai ách. Thường thì mua nhà, mua xe. Nhưng hay bị đau yếu do ngộ Tang-môn.

3. Trên đây là đại cương về vận hạn Giáp Tý. Chúng tôi chỉ đưa ra những nét đại cương, để cho các vị nghiên cứu Tử-vi lấy đó làm mô-thức hầu giải đoán vận hạn. Chứ đừng coi những điều ghi trên là tuyệt đối.

XI. Kết Luận

1. Giáp Tý là tuổi dễ thành danh trên đường danh vọng so với 4 tuổi Tý khác. Họ có tính linh-mẫn, hiểu được những biến chuyển xẩy ra xung quanh, lại có khả năng quyết đoán sáng suốt và điều khiển được tình thế.

2. Về duyên tình, họ không thiết tha với gia đình, thích chạy theo công danh. Có nhiều vị hoàng-đế sáng nghiệp tuổi Giáp Tý. Cũng có nhiều minh-quân, bạo chúa tuổi này.

3. Tuổi Giáp Tý luôn luôn phải có cố-vấn bên cạnh. Nếu không họ sẽ bị đi vào đường độc đoán, tàn bạo, rồi xụp đổ hết.

4. Khi họ đi vào đại-vận xấu, thường vì quá tự đắc mà sụp đổ.



--------------------------------------------------------------------------------


Chú giải

(1) Trần-Đoàn, Tử-vi chính-nghĩa, chương "Can, Chi luận", cổ bản trang 23.

(2) Hồ-quí-Ly, nhân vật lịch-sử Việt-Nam. Trước họ Lê sau đổi ra họ Hồ. Có hai người cô lấy Trần-nghệ-Tông (1370-1371), tính gian xảo, nhờ địa vị hai bà cô, nắm được quyền bính triều Trần, cướp ngôi nhà Trần năm 1400. Dân chúng không phục. Năm 1407, tướng nhà Minh là Trương-Phụ sang đánh. Bại trận, bị bắt giải về kinh đô nhà Minh ở Kim-lăng.

(3) Tống Triều (960-1279), Triệu-thị minh thuyết Tử-vi kinh, quyển 2, chương "Đại vận minh nghĩa". Cẩm-chướng thư cục xuất bản năm 1921. Trang 89.

Phú, thọ, quí, vinh, yểu, bần, ai khổ, Do ư phúc trạch cát hung.
Thương, tang, hình, khổn, hạnh, lạc, hỉ, hoan, Thị tại vận hành cung cát.

Nghĩa : giầu có, sống lâu, quí hiển, vinh hoa, chết non, nghèo khó, đáng thương, khổ sở, do cung phúc tốt hay xấu. Đau đớn, tang chế, tù tội, cùng cực, gặp may, sung sướng, vui vẻ, vừa lòng do vận hạn tốt hay xấu. Hai câu trên dùng để giúp các Tử-vi gia phân biệt các vấn đề hầu giải đoán.

(4) Trần-nguyên-Hãn là cháu nội của Trần-nguyên-Đán, tể tướng cuối đời Trần. Trần-quang-Từ thuộc giòng dõi Hưng-nhượng-vương Trần-quốc-Tảng (1252-1313). Nguyễn-Trãi cháu ngoại Trần-nguyên-Đán. Năm 1418 cả ba rủ nhau vào Lam-sơn theo Lê-Lợi, mưu đồ chống quân Minh. Khi đi Trần-quang-Từ nói trước: Tôi xem tướng Lê-Lợi là tướng "Trường cảnh, điểu uế" tức cổ dài, miệng như mỏ chim. Đó là tướng hay giết những người có công với mình. Chỉ ở với nhau lúc hoạn nạn, mà không thể ở với nhau lúc sung sướng. Khi Lê-Lợi vây Đông-đô (Hà-nội). Quang-Từ biết sự nghiệp Lê-Lợi sắp thành. Xin cáo từ đi tu, pháp danh Quang-từ thiền-sư. Còn Trần-nguyên-Hãn mê muội ở lại. Sau bỏ quan về quê qui ẩn. Lúc sự nghiệp thành, vua Lê-thái-Tổ nghi nhờ ông, sai 42 vệ-sĩ xá nhân về ấp của ông bắt ông. Tịch thu tài sản. Vợ, người hầu, con gái chia cho các quan làm đầy tớ. Con trai thì bắt sung quân. Khi đi giữa đường, ông được Trần-quang-Từ giết vệ sĩ cứu thoát, tu ở Hoa-yên tự (Xin xem Anh hùng Lam-sơn cùng tác giả).

(5) Sách đã dẫn (3), chương "Phú giải". Quyển 9 trang 65.

Triệt đáo kim cung,
Tuần lâm hỏa địa,
Bất kị sát tinh, bại diệu, tai ương sở tác.

Nghĩa: khi Triệt đóng ở cung kim, Tuần đóng ở cung hỏa, thì không sợ sát tinh, bại điệu gây tai vạ.

Triệu-thị chú như sau: Khi Triệt đóng ở Thân-Dậu Tuần đóng ở Ngọ-Mùi, Thìn-Tỵ thì không sợ sát tinh trong cung như Kiếp, Không, Hình, Kị, Tang, Hổ, Kình, Đà tác hại, những sao trên chiếu thì cũng vô sự. Trong cung có những sao xấu, không đáng lo, tỷ như Liêm, Tham tại Tỵ ngộ Tuần. Ngược lại những cát tinh trong cung ngộ Tuần, Triệt thì vô lực.

(6) Dương-quí-Phi, sinh ngày 6 tháng 2 năm 724 sau Tây-lịch tức ngày 7 tháng 1 năm Giáp Tý, giờ Mùi tên là Thái-Trân, người đất Vĩnh-lạc, tự là Ngọc-Trân. Nhan sắc diễm lệ, giỏi ca, vũ. Làm cơ-thiếp của con thứ 18 Đường-huyền-Tông là Thọ-Vương. Lệnh tiến cung làm nữ-quan, sau Huyền-Tông chiếm làm quí-phi. Được sủng ái cùng cực. Cả họ lĩnh ân sủng. Anh là Dương-quốc-Trung giữ quyền tể-tướng. Ngọc-Trân dan díu với con nuôi là An-lộc-Sơn. Truyện bại lộ, An-lộc-Sơn làm loạn, vây Trường-An. Đường-huyền-Tông cùng các quan phải chạy vào Thục (Nay là Tứ-xuyên). Dọc đường quân sĩ không chịu tiến, cho rằng vì Ngọc-Trân mà sinh loạn. Huyền-Tông lệnh cho Ngọc-Trân thắt cổ chết ở Mã-ngôi.

(7) Trung Y Học Viện Bắc Kinh, Trung-y-học cơ sở, Viện khoa-học kỹ-thuật Thượng-hải xuất bản tháng 6-1978. Chương thứ 2 "Tạng-phủ" trang 11.

(8) Ác hàn là danh từ y học Á-châu. Khi thấy người lạnh, mặc thêm quần áo, đắp chăn thấy ấm , bệnh thuộc dương hư, cần bổ dương. Trường hợp trùm căn, mặc nhiều quần áo, cũng vẫn lạnh, bệnh thuộc cảm hàn. Y khoa có tên là ác hàn.

(9) Trần-đại Sỹ, Pneumologie par la médecine Asiatique, ARMA Paris 1978, chap. 2.

(10) Sách đã dẫn (7) chương thứ (6) "Biện chứng" trang 115.

(11) Sách đã dẫn (7) chương thứ (6) "Biện chứng" trang 114.

(12) Trần-đại-Sỹ, Hématologie par la médecine Asiatique ARMA Paris 1982, chap. 2.

(13) Trần-đại-Sỹ, Trần-mạnh-Cường, Pathologies d'hypertention artérielle par la médecine Asiatique, ARMA Paris 1985, chap. 3.

Đăng nhập để trả lời
0
Phần 4:

Tuổi Bính Tý


Mệnh Giản Hạ Thủy (Nước dưới suối)

Sinh từ 4 tháng 1 năm 1936 đến 10 tháng 2 năm 1937




I. NGHIÊN CỨU NGŨ HÀNH

1. Bính thuộc:

– Âm dương: Thuộc dương.

– Ngũ hành: Thuộc hỏa.

– Ngũ quí: Thuộc mùa Hạ.

– Ngũ phương: Thuộc phương Nam.

– Ngũ khí: Thuộc thử (nắng).

– Ngũ hóa: Thuộc trưởng (lớn).

– Ngũ sắc: Thuộc màu đỏ.

– Ngũ vị: Thuộc khổ (đắng).

– Lục phủ: Thuộc tiểu trường. Liên hợp với thủ Thái-dương tiểu trường kinh.

– Ngũ quan: Thuộc thiệt (lưỡi).

– Hình thể: Thuộc mạch.

– Tình chí: Thuộc hỉ (vui).

2. Tý thuộc:

– Âm dương: Thuộc dương.

– Ngũ hành: Thuộc thủy.

– Ngũ quí: Thuộc mùa Đông.

– Ngũ phương: Thuộc phương Bắc.

– Ngũ khí: Thuộc hàn (lạnh).

– Ngũ hoá: Thuộc tàng (ẩn, dấu).

– Ngũ sắc: Thuộc màu đen.

– Ngũ vị: Thuộc hàm (mặn).

– Lục phủ: Thuộc bàng quang. Liên hợp với túc Thái-dương bàng-quang kinh.

– Ngũ quan: Thuộc nhĩ (tai).

– Hình thể: Thuộc cốt (xương).

– Tình chí: Thuộc khủng (sợ).

– Thời gian: Giờ từ 23 tới 1 giờ, tháng thuộc tháng 11 Âm-lịch.

– Con vật tượng trưng: Con chuột.

II. CÁ TÍNH

1. Bính thuộc Dương, Tý cũng thuộc Dương, kết thành tuổi thuần Dương. Bính thuộc màu đỏ, thuộc hỏa, trong thế-gian làm gì có con chuột màu đỏ, nên người ta gọi Bính-Tý là con chuột lửa để phân biệt với các tuổi Tý khác.

1.1. Mệnh giản-hạ-thủy. Chi Tý thuộc thủy, đó là cách "Mệnh, Chi tương-hợp".

Mệnh là bản chất con người. Chi là địa bàn chủ thay đổi. Khi bản chất con người làm chủ hoặc hòa hợp được các biến cố trong đời, thì họ trở thành con người lỗi lạc, ôm gối, rung đùi, ôm vũ trụ trong lòng.

1.2. Tuổi Bính-Tý có tính quyết-đoán, nhưng không quá bảo-thủ lập trường của mình nên Tử-vi kinh gọi họ là: Lỗi-lạc, minh-mẫn, cương quyết và thông minh (1).

1.3. Tuổi Bính Tý xuất hiện trước công-chúng với một phong-độ tiêu-sái, khoan-hòa, trầm tĩnh lôi kéo được chúng-nhân tôn-phục, đặt họ vào chỗ ngồi xứng đáng. Cần phải phân-tích cái "Xứng đáng" đó như sau: Nếu là giới phu-xe, tuổi Bính Tý được tôn làm người lãnh-đạo đồng-nghiệp. Dù tuổi Bính Tý có thuộc quân trộm cướp cũng thành loại trùm ăn trộm, chúa đảng cướp.

Hầu như tuổi Bính Tý sinh ra để chỉ-huy hơn bị chỉ-huy. Trong gia-đình, ngoài xã-hội, nơi nào họ cũng là người sáng chói.

2. Tuổi Bính Tý có tài xét-đoán.

Khi mới gặp một người, chỉ qua vài câu nói, vài việc làm họ đã có nhận xét tinh-tế về tâm-tính, hành-động người đó. Cổ-nhân cho rằng tuổi Bính Tý có con mắt tinh đời. Nếu nói theo ngày nay họ có giác-quan thứ sáu: Chỉ nhìn mặt, nghe tiếng nói cũng đủ phân biệt kẻ trung, người nịnh. Chính vì điểm này tuổi Bính-Tý mới thành người lãnh-đạo, dùng người đúng chỗ để đi đến thành-công. Do đó chúng tôi mới nói tuổi Bính Tý "minh-mẫn".

3. Tuổi Bính Tý có tính cương-quyết, mà không ác-độc, tàn-nhẫn, hành-sự dung-hòa được lý-trí và tình-cảm.

Họ đã định làm gì, thì dồn mọi cố-gắng, nỗ-lực quyết-tâm tới đích.

Khi gặp khó-khăn, họ bền chí, không nản lòng, không bỏ dở. Ai đã lọt vào mắt xanh của tuổi Bính Tý, coi như cuộc đời hứa hẹn đầy hoa, tài-năng được xử-dụng đúng chỗ, được đãi-ngộ xứng-đáng. Ai là kẻ thù của tuổi Bính Tý e cuộc đời đầy chông gai, luôn luôn bị ách bên cạnh.

3.1. Tuổi Bính Tý là tuổi lỗi-lạc, minh-mẫn, nên biết rõ cái hay, cái dở của kẻ thù. Khi kẻ thù có những ưu điểm, Bính Tý cũng phán quyết là tốt, chứ không nói tốt ra xấu. Khi biết mình có khuyết-điểm, tuổi Bính Tý công nhận và sửa đổi. Họ dễ tha-thứ cho kẻ thù khi kẻ thù biết hối-hận.

3.2. Bính Tý là người can-đảm, đối đầu với họ rất khó. Muốn điều gì trình bày cho hợp lý, họ rất minh-mẫn, nên chấp nhận ngay. Còn muốn uy-hiếp, đe-dọa, thách-đố, thì chỉ rước lấy thất bại. Bởi họ không sợ, còn làm tới.

Khi thấy những điều mình yêu cầu quá đáng, không hợp lý, chạm đến quyền lợi tuổi Bính-Tý thì nên khuất mình khẩn cầu. Lập tức Bính Tý sẽ đáp-ứng ngay chứ đừng gây áp-lực, hoặc nhờ người xung quanh của họ, như thế không những không kết-quả, mà còn lãnh kết-quả ngược lại là khác.

4. Can Bính thuộc hỏa, trong khi mệnh thuộc thủy.

Chi cũng thuộc thủy, tức mệnh và Chi khắc Can. Mệnh Thủy, thì tính trầm lặng. Mệnh là lập trường, là con người. Chi là địa bàn, thường chủ sự thay đổi.

Nhưng Chi cũng thuộc thủy, cho dù hoàn-cảnh thời-cuộc thay đổi, con người Bính Tý vẫn không bị biến tiết, trung-thành với mọi người, dù trong hoạn nạn. Các trung-thần gian-nan phò chúa những lúc nguy khốn đều tuổi Bính Tý.

4.1. Can là hoàn cảnh bề ngoài tác dụng vào con người. Can và Bính thuộc Hỏa bị Chi Tý và bản mệnh thuộc Thủy khắc,tạo nên tuổi Bính Tý có tính cương-quyết và trung-thành là lẽ đó. Một số người tuổi Bính Tý, cương-quyết quá hóa ra tàn-nhẫn, hoặc cố-chấp. Họ giữ lập-trường, nhờ tính minh-mẫn, sau đó họ hiểu là "quá đáng". Họ sửa đổi. Trong khoa Tử-vi, Bính-Tý có hai loại người rõ rệt:

4.1.1. Một là những người đắc cách Văn-đàn (Cự, Nhật. Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương). Đây là những người có địa-vị lớn, thuộc giới trí-thức, hay doanh-thương như bác-sĩ, dược-sĩ, giáo-sư, luật-sư, thẩm-phán v.v... tức những nghề bằng trí óc, bằng cây viết.

Ít thấy tuổi Bính Tý làm nghề bằng chân tay (kỹ-sư, kiến-trúc-sư).

Nếu trong binh-nghiệp, hay cảnh-sát, họ là những người làm văn-phòng hơn cầm quân. Dù ở nghề nào, họ cũng nổi danh, sáng chói, khiến các đồng-nghiệp nể vì, khâm-phục.

Giải thích bằng khoa Tử-vi rất giản-dị, sự thành-công trong đời người là ở Khoa, Quyền, Lộc. Tuổi Bính Tý thì Hóa-lộc đi với Thiên-đồng. Hóa-quyền đi với Thiên-cơ, thành ra những người đắc cách văn-đàn thì được Quyền, Lộc.

Khi có Quyền, Lộc, dĩ nhiên đường mây nhẹ bước.

4.1.2. Một loại địa vị trung bình, đó là những người thuộc Võ-cách (Sát, Phá, Tham) và Đế-tượng (Tử, Phủ, Vũ, Tướng). Hai cách này không đắc Quyền, Lộc. Họ thường ở trong binh-nghiệp, cảnh-sát, hay kỹ-sư, thợ-thuyền. Đây nói là đại-cương chứ nhiều khi không có Quyền, Lộc, mà hội được nhiều cát tinh như Tả, Hữu, Khôi, Việt, Xương (thêm Hóa-khoa), Khúc hoặc Lộc-tồn, họ cũng có địa vị lớn. Địa vị của họ chỉ lên đến tột đỉnh khi đại-hạn đến bộ Văn-đàn, ngộ Quyền, Lộc phò tá, cho đủ bộ.

5. Tuổi Bính Tý có thời thơ-ấu, thời trẻ gian-nan, nghèo-khó, phải tới 40 tuổi trở đi mới bắt đầu phát. Nguyên do, trong khoa Tử-vi, tuổi Bính Tý có Quyền, Lộc đi với Cơ, Đồng. Mà bộ Văn-tinh thường phát rất chậm. Điều thứ nhì tuổi Tý có hai sao, Thiên-khốc, Thiên-hư đóng tại Ngọ. Tử-vi kinh nói:

"Khốc, Hư, Tý, Ngọ đồng cung, tiền bần hậu phú".(2)

Nghĩa là: Thiên-khốc, Thiên-hư đóng đồng cung tại Tý, Ngọ thì đầu cuộc đời nghèo, cuối đời mới giàu.

Nhưng không phải tất cả tuổi Tý đều thế. Chỉ khi Khốc, Hư đóng tại mệnh, tài, quan, mới bị cái ách trên. Còn Khốc đóng chỗ khác thì vô sự:

– Mệnh lập tại Ngọ, chắc chắn lâm cảnh tiền bần hậu phú.

– Mệnh lâp ở cung Tuất, thành ra cũng tài ở Ngọ, bị tiền bần hậu phú, nhưng

nhẹ thôi.

– Khi mệnh lập tại Dần, cung quan tại Ngọ, còn nặng hơn nữa. Bởi mệnh lập tại Dần, bị song Hao ở mệnh, phải tới 45 trở đi mới giàu. Nhưng công danh, vẫn ở đỉnh cao.

6. Tóm lại tuổi Bính-Tý là tuổi hơn đời, ở trong nhà hay ngoài xã-hội, nơi nào họ xuất hiện là lãnh vai trò quan trọng. Họ thông minh, chăm học, quyết tâm, nên họ học thì thành đạt. Họ thích yên lặng, sợ ồn ào. Họ nói rất giỏi, lôi cuốn người nghe, kéo thính chúng theo họ. Thời niên thiếu họ thường bị nghèo túng, tuy công danh họ có sớm. Họ là người thích độc lập, tự-ái cao, không muốn dựa vào gia đình bạn hữu. Đúng với câu ca dao cổ Việt-Nam:

Lên ra tay kiếm tay cờ,

Chẳng lên thì chớ, chẳng nhờ tay ai.

7. Họ là người dễ thắng mình, thắng được người ngoài. Họ không ham mê bất cứ cái gì ngoài sách vở. Tiền bạc có thì tốt, không có cũng chẳng sao.

– Công-danh lên càng hay, chẳng lên cũng coi thường. Họ làm việc có kế hoạch, thêm vào tính tự-tin, nên họ thành công.

Họ đối với thầy, bạn rất trung thành, nên họ có nhiều bạn tâm giao.

– Điều bất như ý của họ là họ gặp nhiều đấng má đào cho họ những nhu-tình tuyệt vời. Nhưng nếu cũng chính những má đào đó trở thành vợ họ, lại hóa ra những người thô lỗ cục cằn, gây cho họ biết bao phiền muộn.

– Có nhiều danh nhân tuổi Bính Tý, nhưng chưa thấy những hoàng-đế, thủ-tướng,

quốc-trưởng tuổi Bính Tý. Điều đó dễ hiểu, bởi họ chỉ thích làm việc, thỏa mãn tự ái trí thức, mà không muốn công danh, địa vị.

– Có nhiều bộ-trưởng, nghị-sĩ, bác-sĩ, bác-học, thi-sĩ, văn-sĩ, tài-tử tuổi Bính-Tý. Bính-Tý là tuổi đa-năng, nên trong lĩnh vực nào cũng có người nổi danh. Hình dáng, sức khỏe, cá tính của họ có thể khác nhau, nhưng có một điều mà tuổi Bính-Tý nào cũng có, đó là họ nói rất giỏi, rất hấp-dẫn.

III. DUYÊN TÌNH TUỔI BÍNH TÝ

1. Bính Tý là tuổi yêu nhiều, nhưng nhận không bao nhiêu, suốt đời long-đong. Xét kỹ bốn sao chủ duyên và tình của tuổi Bính Tý thì hết hai sao chính là Đào-hoa, Thiên-hỉ đã hỏng:

1.1. Đào-hoa, đệ nhất chính tinh chủ tình, và duyên đóng tại Dậu.

Đào-hoa thuộc mộc, Dậu thuộc kim.

Kim khắc mộc, ngôi sao Đào-hoa đã bị chặt đứt rễ, đứt cành, tình duyên lận-đận. Đã vậy còn bị Tuần-không bao vây, thì duyên nào thắm, tình nào nồng nữa?

1.2. Thiên-hỉ chủ may mắn, kỳ-ngộ trong tình-yêu đóng chung một chỗ với Đào-hoa, thành ra chịu chung một nghiệp.

Trong cung Dậu còn có sao Thiên-việt. Trong tình yêu, Thiên-việt chủ được sủng ái.

Đào, Hỉ, Việt kết thành một bộ sao tuyệt hảo trong tình-trường, nhưng tiếc rằng tất cả đều hóa hư-vô vì ngộ Tuần. Đào là duyên, Hỉ là kỳ-ngộ, Việt là sủng-ái, nếu không có Tuần thì hay biết bao. Nhưng Tuần trói buộc lại, thành ra yêu nhau nhiều mà phụ nhau cũng lắm.

1.3. Hồng-loan đóng ở Mão thuộc mộc, bổn mạng Bính Tý thuộc thủy, thủy sinh mộc. Hồng-loan chủ duyên may, hỉ-sự, thì tuổi Bính Tý chủ động trong các cuộc kỳ-ngộ.

2. Bàn chung thì Bính Tý gặp nhiều, yêu nhiều, nhưng kết quả lại đầy oán hận, và nước mắt.

2.1. Bính Tý là tuổi giàu tình cảm, nhạy cảm, tình yêu gặp được nhiều mà cái nợ phu-thê thì tan tác như hoa đào gặp bão tố. Người may mắn có cung phu-thê thực tốt, e cũng chịu cay đắng đôi ba phen vì cung đàn cầm-sắt bị lỗi nhịp điệu. Còn yêu nhau, phụ nhau kể sao cho hết.

Những người có cung phu-thê trung bình hoặc xấu ít ra phải ba hay bốn lần mới yên cửa nhà.

2.2. Tuổi Bính Tý là tuổi đại-lượng, giàu tình cảm còn thêm tính minh-mẫn, và cương-quyết. Nên khi người phối ngẫu thấy họ dễ, tử tế cho rằng họ ngu, đi quá trớn, đòi-hỏi quá đáng, hoặc phản bội họ. Với đầu óc minh-mẫn, cảnh-giác. Họ nhìn ra sự thật. Khi thấy mình bị lừa dối, bị dẫm lên tự-ái, danh-dự, họ can-đảm cắt đứt, để lập lại cuộc đời mới.

Không phải tuổi Bính-Tý thiếu đại-lượng, mà vì họ nhiệt-thành hết lòng hết dạ cho tình yêu. Họ mong được yêu lại, được đáp lại một phần. Vì Đào-hoa, Thiên-hỉ gặp Thiên-Việt ngộ Tuần, thành ra hoa nở đầy hương thơm chỉ có một chiều.

Khi cái minh-mẫn chiếu ra. Họ nhìn thấu tâm-can người phối ngẫu. Họ phản đối quyết-liệt, nhưng người phối ngẫu của họ được hưởng lòng quảng-đại đã quen rồi, cho rằng đâu lại vào đó, mọi truyện sẽ qua, sẽ êm đềm.

Thực không ngờ, Bính Tý làm việc kín đáo có kế hoạch đã quen, họ áp dụng vào tình yêu, bằng cách âm thầm làm cuộc cách mạng trong tình yêu.

Rồi một ngày nào đó họ cho nổ ra hết. Bây giờ người phối ngẫu của họ hối hận thì đã quá muộn. Ván cờ cũ xoa đi hoàn toàn, ván cờ khác đã được bày xong.

Người yêu, người phối ngẫu của Bính Tý phải biết tự-chế lấy mình trước mắt là một kho-tàng tình yêu phải biết giữ gìn, đừng để mất đi, rồi sau đó lại nhỏ lệ tự trách.

2.4. Sau khi đã cắt đứt với duyên cũ, Bính Tý có duyên mới, bắt đầu một cuộc hành-trình khác. Cuộc hành-trình của cái thuở ban đầu lưu luyến bao giờ cũng đầy hoa. Bính Tý lại dốc hết tài-sản trong tim cho người mới.

Người mới cảm thấy tràn ngập hoa-xuân, rồi dần dà họ quên mất rằng khó kiếm được người yêu như Bính Tý. Họ tưởng hạnh phúc trên trời rớt xuống, như Ali Baba được kho vàng, không biết ở đâu đến. Sau đó được voi đòi tiên, dẫm lên vết xe đổ cũ, tự chà đạp vườn hoa hạnh-phúc của mình. Giống như người đi đêm, phạm vào những điều Bính Tý cấm kị, rồi Bính Tý lại làm cuộc cách-mạng tâm-tư khác.

2.5. Cái vòng luân-hồi mà, tiền oan nghiệp-trướng mà Bính Tý phải chịu. Những người tuổi Bính Tý muốn thoát khỏi số mạng oan nghiệt, chỉ có một cách duy nhất. Ích-kỷ trong tình yêu như những tuổi khác. Mọi việc, mọi câu nói đều tính toán, gặp điều bất như ý, phản-ứng liền. Có như vậy người phối ngẫu mới không giám vượt qua giới hạn, tự hiểu lấy hoàn-cảnh của họ. Nhưng nói là một truyện, thực-hành là một truyện, khó lòng thay đổi tính cao-ngạo của Bính Tý.

IV. DUYÊN TÌNH NAM BÍNH TÝ

Bính Tý là tuổi thông-minh, tinh-tế, xét người chính-xác. Họ yêu nồng nàn, họ hy-sinh cho người yêu, "cho" người yêu tất cả những gì họ có. Ngược lại họ cũng đòi hỏi người yêu đáp ứng lại.

1. Bất hạnh là trong đời, họ chỉ gặp người yêu, mà không thể gặp người yêu và tri-kỷ cùng một lúc. Dù vợ hay người yêu thấy họ nhu-nhã, mặn mà cho rằng họ ngu, lấn nước, lừa dối, phản bội họ. Họ cả nể, tin người. Lúc sự mới diễn ra họ không nói gì, hoặc phản đối bằng hành vi tượng trưng. Nếu người yêu, người phối ngẫu hiểu ra ngừng lại thì thôi. Còn u-mê không hiểu tiếp tục, tức nước vỡ bờ. Họ lý-luận, họ có sức khỏe, có chân-tài, có tiền bạc, có đức-độ, tội gì mà phải giữ bên cạnh một người dữ dằn, hay lừa dối phản bội. Bản-tính thông-minh, cương-quyết giúp cho họ tưởng-tượng tương lai họ có thể tìm được hạnh phúc bên những đấng má đào khác...

Quá khứ và hiện tại, họ đã gánh vàng đi đổ sông Ngô, họ cần làm lại cuộc đời. Họ cắt đứt tình yêu cũ không hối tiếc.

2. Tình yêu nam mạng Bính-Tý xấu là do:

2.1. Đào-hoa, thuộc mộc đóng ở cung kim với Thiên-hỉ là cách xấu, còn thêm Tướng-quân đồng cung. Đúng ra Đào, Hỉ, Tướng đồng cung thì cuộc đời của họ sẽ đi trên con đường đầy hoa thơm cỏ lạ, hạnh-phúc lứa đôi khó kiếm. Chỉ vì Đào, Hỉ, Tướng lại ngộ Tuần. Tướng-quân thuộc mộc, đóng ở Dậu bị khắc, thì ông tướng hết vùng vẫy, lại lĩnh thêm Tuần bao vây nữa thì cả bộ ba Tướng, Đào, Hỉ không còn đất phát-triễn, khiến cho cuộc đời tình ái của tuổi Bính-Tý đầy phong ba.

2.2. Bính-Tý có cuộc đời xã-hội hơn người, địa vị họ sáng chói, công-danh, tiền-bạc, sức khỏe đều vượt lên trên thế gian. Chỉ có tình yêu, họ như vướng mắc vào lưới tơ hồng lúng túng không thoát.

2.3. Nam mạng Bính-Tý cần phải tìm hiểu thuyết Thiên-mệnh của Nho-gia hay thuyết Nhân-quả của nhà Phật mới mong tránh khỏi buồn phiền suốt đời vì tình duyên.

Ở đây chúng tôi xin trích một đoạn ngắn trong Đoạn-trường Tân-thanh của Tố-như-tử luận về "Thiên-mệnh và Nhân-quả"

Mới hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người cô thân,

Bắt phong-trần phải phong-trần,

Cho thanh-cao mới được phần thanh-cao.

Có đâu thiên-vị người nào,

Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai.

Có tài mà cậy chi tài.

Chữ tài liền với chữ tai một vần.

Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

3. Đây là bàn theo Tử-vi xa xưa, thời xưa tình-nghĩa tao-khang mặn mà, vợ chồng bỏ nhau thực hiếm hoi. Chứ hiện chúng ta đang ở giữa thời điểm của thập niên 90, việc vợ chồng bỏ nhau bằng pháp-luật, bằng tình cảm dễ dàng. Bính-Tý đang ở tuổi xấp xỉ 50 nhưng chưa chắc đã yên cửa nhà.

4. Tình yêu của Bính-Tý chỉ còn trông đợi ở các ngôi sao khác:

4.1. Hồng-loan chủ về sự may mắn, kỳ-ngộ trong tình yêu, lại gặp phải tên phản bội, lắm điều, đố kị là sao Phục-binh.

Do vậy tình yêu luôn luôn gặp những cái lưỡi xấu dèm pha, chia rẽ của bạn hữu, kẻ thù, gia đình nhà vợ.

4.2. Chỉ còn có sao Thanh-long, đóng ở Mùi với Lưu-hà khả dĩ cứu vãn được. Nhưng Thanh-long là sao chủ những tin vui, những gặp gỡ thoáng qua trong đời người. Thanh-long ngộ Lưu-hà như con rồng gặp giòng nước, vùng vẫy thênh thang. Nên Bính-Tý có nhiều duyên kỳ-ngộ, nhiều mối tình đẹp, hoặc nhiều má đào đến với họ đầy nhu tính như, học-trò, bạn học, bạn văn-nghệ, bút-nghiên. Chính loại người này là tri-kỷ của Bính-Tý, và Bính-Tý tìm được nhiều an ủi và can đảm.

4.3. Hỉ-thần chủ về hạnh phúc, cảm-giác, diễm-phúc được hưởng. Hỉ-thần đóng với Nguyệt-đức tại Tý. Nguyệt-đức là bà mai, là liên hệ bạn hữu giúp đỡ. Nguyệt-đức đóng với Hỉ-thần, thì Bính-Tý gặp được nhiều người yêu, mang cho họ những khoái-cảm lên tận đỉnh Vu-sơn. Buồn thay những tình cảm đó không tìm thấy ở người vợ, chồng.

Tuổi Bính-Tý chỉ yên cửa nhà sau tuổi 50.

5. Truyện vợ chồng tuy xấu, nhưng tình yêu thì vẫn có. Trong đời gặp biết bao má đào mang đến cho những mối tình nhu-mì có, cay đắng có, ngọt ngào có. Bính-Tý là tuổi đào hoa yêu nhiều, được yêu. Tuổi Bính-Tý thích yêu hơn là thích dục dù trong phòng the họ rất khỏe. Tùy theo hoàn-cảnh, nam mạng Bính-Tý có thể chọn người bạn trăm năm hoặc người yêu ở các tuổi như sau:

5.1. Mạng hỏa . Tuổi Bính-Tý thủy rất mạnh, mà thủy khắc hỏa. Nếu vợ mạng hỏa, tức là bản mệnh của tuổi khắc bản mệnh của vợ. Chồng thắng vợ là một điều tốt đẹp theo quan niệm Á-châu:

"Phu khắc thê nghi tài nghi tử"

Nghĩa là chồng thắng vợ, trở thành cặp vợ chồng tương-đắc, tài tử.

Tuổi Bính-Tý nên lấy vợ mạng hỏa. Bởi họ thông-minh, minh-mẫn, giàu tình cảm, dễ tha thứ thì họ lấy một người có địa vị nhỏ hơn họ, kém thông-minh hơn họ là một điều tốt.

Tuy nhiên, lấy vợ mạng hỏa thì cần ít tuổi hơn, càng trễ càng tốt. Như chọn vợ ở tuổi Mậu-Tý (mạng Tích-lịch-hỏa, lửa sấm sét ). Nữ mạng Mậu-Tý có chồng rồi, thích yên phận, không muốn thay đổi. Dù người chồng đó không hợp với ước mơ của họ. Mậu-Tý thường chọn một người hoạt động, thông-minh, đại-lượng làm người yêu, đi bên cạnh cuộc đời, khác với người chồng. Nếu gặp chồng Bính-Tý thì họ quá thỏa mãn, người yêu cũng là người chồng.

Tuy nhiên tuổi Mậu-Tý tính cương cường, đôi khi trong phòng the cũng có tiếng nặng tiếng nhẹ. Nhưng vẫn là cặp vợ chồng đẹp đôi nhất. Hoặc chọn vợ tuổi Kỷ-Sửu (Cũng mạng Tích-lịch-hỏa, lửa sấm sét như Mậu-Tý )

Tuổi Kỷ-Sửu vốn tính nhu-thuần, hết lòng hết dạ với chồng. Chồng tốt thì nhờ, chồng dữ thì chịu. Gặp chồng Bính-Tý đại-lượng, khoáng đạt, nồng nàn, Kỷ-Sửu cảm thấy mình được kho vàng.

Kỷ-Sửu biết người biết ta, sẽ giữ gìn kho vàng của mình bằng mọi giá, biết thưởng thức tính lãng-mạn của Bính-Tý.

Hoặc có thể lấy vợ trẻ hơn nữa, Bính-Tý là tuổi sinh dục mạnh, trẻ hơn các tuổi khác đến 15 năm. Họ có thể lấy vợ tuổi Bính-Thân hay Đinh-Dậu mạng Sơn-hạ-hỏa (Lửa dưới núi). Vợ sẽ phục tùng chồng, nhà cửa yên vui.

Bính-Tý chớ lấy vợ mạng hỏa, mà lớn tuổi hơn chồng, thế nào cũng tan vỡ. Kinh nghiệm, chúng tôi chưa thấy chồng Bính-Tý, có vợ mạng hỏa lớn tuổi hơn mà có thể chung chăn gối lấy năm năm, dù 5 năm đầy sóng gió.

5.2. Mạng kim. Tuổi Bính-Tý mạng thủy. Kim sinh thủy, mạng vợ sinh mạng của chồng. Tuổi Bính-Tý cần có vợ đảm đang. Lấy vợ mạng kim, thì vợ có thể giúp đỡ chồng trong việc làm. Với vợ mạng kim, bất cứ kim nào, cũng cho Bính-Tý nhiều hạnh-phúc, và cuộc tình duyên lâu dài hơn các tuổi khác.

Hãy xét một số tuổi mạng kim, gần với Bính-Tý.

– Tuổi Canh-Thìn, (Bạch-lạp-kim). Canh-Thìn là tuổi Dương-nữ, tính cương cường, e khó ở lâu bên cạnh Bính-Tý.

– Tuổi Tân-Tỵ, (Bạch-lạp-kim). Tuổi Tân-Tỵ có nhiều Âm-tính, lại dịu dàng, xinh đẹp, duyên dáng, rất dễ làm tuổi Bính-Tý say mê. Nếu kết hợp được hai tuổi này thì tốt.

5.3. Mạng thủy Tuổi Bính-Tý có vợ mạng thủy, sẽ làm dịu bớt tính cương quyết của chồng. Cặp vợ chồng đạt được hạnh-phúc tuyệt vời, nhưng vợ cần nhỏ tuổi hơn.

5.4. Mạng mộc. Bính-Tý mạng thủy, như vậy bổn mạng của chồng sinh ra bổn mạng của vợ. Người vợ sẽ nhận được sự che chở, khoan dung, chiều chuộng. Truyện phòng the giữa hai người hứa hẹn lên tới Vu-sơn, mặn nồng lâu dài.

5.5. Mạng thổ. Thổ khắc thủy. Bính-Tý mạng thủy. Vợ khắc chồng, duyên tình ví như hoa gặp bão táp, như cây giữa nắng hè, hạnh phúc không có, mà vợ hay lừa dối chồng. Bính-Tý là tuổi minh-mẫn, khám phá ra ngay rồi đi đến tan vỡ. Sự thực khi gặp gỡ, người mạng thổ với Bính-Tý khó mà đồng ca được bản nhạc yêu đương, chứ đừng nói đến thành lứa đôi.

6. Kết lại, Bính-Tý cần có vợ, người yêu nhỏ tuổi. Không bao giờ nên lấy vợ lớn tuổi hơn, mà đi đến cung đàn ngang điệu. Nhưng dù kén chọn, tính toán đến đâu chăng nữa, tuổi Bính-Tý cũng bị đổ vỡ mấy lần.

Bính-Tý chỉ nên đặt hy-vọng cuộc đời vào công-danh, tiền-bạc chứ đừng quá hy-vọng vào hạnh-phúc lứa đôi mà héo con tim.

Tuổi Bính-Tý lấy vợ tốt nhất là mạng hỏa, họ sẽ có người vợ hiền, phục tùng chồng.

Nói về duyên nợ ba sinh thì cần kén chọn, tránh sớm đổ vỡ, còn truyện yêu thương theo lối thanh mai trúc nhã thì can gì?

7. Người tuổi Bính-Tý mà đạt được hạnh-phúc, nhà cửa êm ấm, phải tự hào rằng mình có cung thê đắc địa, và khéo tu từ tiền kiếp.

Yêu, biết yêu, hy sinh cho tình yêu, nhưng đem hoa lan tặng người, họ chỉ nhận được hoa bản-hạ, đó là câu kết cho duyên tình Bính-Tý.

V. DUYÊN TÌNH NỮ BÍNH TÝ

1. Duyên-tình nữ mạng Bính-Tý có tính chất chung của tuổi đã trình bày trên. Phần chi tiết, nữ mạng Bính-Tý khác xa với nam mạng, họ gặp may mắn hơn.

1.1. Đào-hoa, Thiên-hỉ, Bệnh-phù, Thiên-việt đóng chung ở Dậu, nhưng không ngộ Tướng-quân như nam mạng. Bởi vậy họ ướt át hơn nam mạng. Họ có thể đi tìm tình yêu, họ tìm thấy, đạt kết quả, đó là người chồng của họ. Nhưng Đào-hoa, Thiên-hỉ ngộ Bệnh-phù, Thiên-việt, thì họ có một mối tình lãng mạn, được người yêu sủng ái... Thế rồi mối tình đó bị cắt đứt trong hoàn cảnh éo-le, đẫm lệ.

1.2. Hồng-loan chủ duyên may như Thiên-hỉ, đóng chung với Thanh-long là sao chủ những tin vui, những mối tình thoáng qua trong đời người. Hồng, Thanh kết thành hai sao đầy những kỳ ngộ, đầy những tình cảm nên thơ. Nhiều khi họ tự hỏi: Duyên đâu lạ lùng, hết duyên này tới kỳ ngộ khác. Gặp thì nhiều, yêu cũng nhiều, mà kết quả thì vẫn như hoa trong gương, hạnh-phúc xa vời. Trong đời, họ đã có lần bỏ chồng, đi với duyên tình mới. Họ cho rằng thơ mộng, nhưng chính duyên tình đó lại làm cho họ thất vọng. Họ chỉ có người yêu lý tưởng, mà không có người chồng lý tưởng.

1.3. Hỉ-thần chủ về hạnh-phúc, cảm-giác được hưởng trong đời. Hỉ-thần đóng ở Tuất với Đường-phù, Điếu-khách, Linh-tinh, Quả-tú. Phượng-các, Đường-phù chủ cao sang. Điếu-khách chủ tin buồn. Linh-tinh chủ tai họa. Quả-Tú chủ hiếm hoi. Và họ sẽ được một vài quí-nhân ở địa vị rất cao thầm yêu trộm nhớ. Nhưng cả hai đều chỉ "nhìn nhau qua mắt lệ than ôi".

2. Phụ nữ tuổi Bính-Tý nên chọn người yêu, kén chồng tuổi nào?

2.1. Mạng hỏa. Thủy khắc hỏa. Bính-Tý mạng thủy, vợ khắc chồng, họ có ông chồng kém hơn họ về trí thông-minh, năng-lực, tiền bạc. Họ phải đóng vai chủ động trong mọi việc. Nghĩa là họ phải làm chủ gia đình. Phụ nữ Bính-Tý vốn trọng tinh thần. Họ chỉ yêu khi họ kính phục. Đây người chồng họ phải chiếu-cố cho, sự kính yêu không có.

2.2. Mạng kim. Bính-Tý mạng thủy, tức bổn mạng chồng sinh ra bổn mạng vợ, rất tốt. Người phụ nữ Bính-Tý gặp người đàn ông mạng kim, thường bị chinh phục dễ dàng, rồi đi đến yêu. Tình vợ chồng hứa hẹn nồng nàn. Truyện gối chăn đi đến tuyệt đỉnh rung cảm.

2.3. Mạng thủy. Hai vợ chồng đồng mạng. Cuộc sống hứa hẹn những ngày mơ mộng, đằm thắm, khúc đàn Cầm-sắt kéo dài vô tận.

2.4. Mạng mộc. Bổn mạng Bính-Tý là thủy, sinh ra mộc. Họ có người chồng mà họ phải lo lắng, suốt đời phải hy sinh, phải chịu thiệt thòi cho chồng. Tuy nhiên, nếu họ biết tự chế lại, bỏ tham vọng, họ cũng tạo được cuộc sống đầm ấm.

2.5. Mạng thổ. bổn mệnh Bính-Tý thuộc thủy. Thổ khắc thủy. Như vậy chồng khắc vợ. Tuổi chồng cần lớn hơn. Phu khắc thê xưa nay vẫn thành duyên giai ngẫu. Người chồng cần có trình độ học vấn cao hơn vợ, tuổi lớn hơn vợ. Họ sẽ được người vợ, kiêm người yêu, người cộng tác đắc lực trong đời. Duyên tình hoà thuận đến khi tóc bạc, răng...giả.

3. Nữ mạng Bính-Tý là người có duyên, hấp dẫn nam phái. Họ là mẫu phụ-nữ đầy nghị-lực, nhưng cuộc đời họ không mấy may mắn. Họ yêu, hy-vọng có được người yêu cũng là người chồng, nhưng suốt đời họ không gặp. Họ chỉ bắt được bóng của tình yêu. Giữa đời người, khi truyên gia-thất, con cái đầy đàn, họ mới gặp người mà họ tìm, nhưng đành nuốt lệ cho qua.

4. Họ có công với chồng, trong việc dạy dỗ, nuôi dưỡng con cái. Nhưng chồng ít biết đến công lao họ. Đôi khi còn chà đạp lên thiện-tâm của họ, coi thường họ. Họ cho chồng, thương yêu chồng. Nhưng chồng vẫn ngồi xổm lên tấm lòng son của họ.

5. Các bà, các cô nào có người chồng bình-hoà, tế-nhị, gia-đạo yên vui, phải hiểu rằng kiếp trước đã khéo tu mới lãnh quả tốt như vậy.

(xem tiếp trang sau)


Đăng nhập để trả lời
0
VI. NGƯỜI CỘNG TÁC

1. Nghiên-cứu về người cộng-tác với tuổi Bính-Tý cần phải đi vào chi tiết. Bởi Bính-Tý là tuổi lãnh đạo.

1.1. Tuổi Bính-Tý minh-mẫn, can-đảm, kiên-nhẫn, quyết-đoán, nhưng vẫn không mất vẻ ôn-nhu văn-nhã. Các nhà lãnh-đạo cổ-kim, Đông-Tây thường gặp một khó-khăn chung, là làm sao điều-hoà được mâu-thuẫn, ganh-tỵ trong các thuộc-hạ. Làm sao giữ công-tâm, đãi ngộ xứng-đáng người cộng-tác với mình. Làm sao để những người cộng-tác không bị hiểu lầm.

1.2. Đối với tuổi Bính-Tý, trời cho họ có năng khiếu lãnh-đạo, nên họ biết người, biết mình, xét đoán mọi việc minh-mẫn. Thêm vào đó tấm lòng yêu người, thương người, nên thuộc hạ của họ tin tưởng họ tuyệt đối, phục tùng họ dễ dàng.

1.3. Bính-Tý minh mẫn, thì người có công được tưởng thưởng xứng đáng. Người có tội được cải-hóa trong nhân-từ, ít khi có nạn kẻ nịnh thành người có công. Người trung-tín lại bị nghi ngờ. Người cộng-tác với Bính-Tý cần chia làm ba.

1.3.1. Loại người trên

Gồm có thầy, cấp-trên, chủ-nhân của Bính-Tý. Họ được người cộng-tác trung-kiên. Nhưng họ không nên khai thác tính mẫn-cán của tuổi Bính-Tý quá đáng. Cũng đừng lợi dụng tính đa-hiệu nhất là đừng coi Bính-Tý như của riêng mình. Đối xử với Bính-Tý, nên tìm cách khai thác sáng kiến, khích động tính tự cao, như thế dễ đưa tuổi Bính-Tý đến chỗ tận tâm với mình. Đừng bao giờ dại dột, xử dụng tuổi Bính-Tý theo lối vắt chanh bỏ vỏ. Tính tự ái của họ nổi dậy, họ có phản ứng khốc liệt rất nguy hại.

Thầy của tuổi Bính-Tý sẽ được họ kính trọng, biết ơn, và trung thành. Hầu hết tuổi Bính-Tý đi học đều được thầy yêu. Không yêu sao được khi thấy học trò mình hiếu thảo, thông minh, cần mẫn, làm rạng danh thầy.

1.3.2.Loại ngang hàng

Tức bạn hữu, đồng-nghiệp. Bính-Tý là người hiếu hòa, không thích gây sự, và họ cũng không muốn ai gây sự với họ cả. Ai muốn gây sự thì họ sẵn sàng ứng phó và dùng tất cả thông minh, tài trí, sự bền bỉ để phản công. Họ phản công cho đến khi thỏa mãn tự ái hoặc chiến thắng mới thôi.

Lời khuyên chung cho những người có bạn tuổi Bính-Tý: Đối xử hiền hòa, tử tể, sẽ được đáp ứng gấp đôi, họ sẵn lòng xả thân với bạn hữu. Việc của bạn hữu, khó khăn của bạn hữu là khó khăn của họ. Bạn hữu chưa kịp bày tỏ ý muốn nhờ giúp đỡ, họ đã đoán ý và ngỏ ý trước. Ít khi bạn của họ xin giúp đỡ mà họ từ chối.

Tuổi Bính-Tý trọng danh dự, nếu họ có khuyết điểm, nói thẳng với họ, họ vui vẻ nhận lời, hứa sửa đổi, và biết ơn. Nhưng nói xấu vắng mặt họ, họ coi như một sự phản bội ghê gớm. Họ làm ơn tuy không cần báo đáp, nhưng họ không chịu làm ơn để nhận oán. Ai làm ơn cho họ, dù nói ra hay không, họ cũng nhớ trọn đời. Người ơn của họ luôn luôn được họ kính nể, trung thành và tìm đủ dịp báo đáp.

Ngược lại, những người hại họ. Hoặc chịu ơn của họ, rồi quay lại phản họ, sẽ bị họ trả thù bằng đủ mọi phương diện họ có. Họ không từ nan điều gì để trả hận, cho đến khi kẻ thù gục ngã, đầu hàng, hay ít ra tê liệt.

Tuổi Bính-Tý thích đời sống bạn hữu. Họ có nhiều bạn, đối xử tốt với bạn. Ít khi thấy tuổi Bính-Tý phản bạn.

Phải coi chừng, tuổi Bính-Tý có sao Kiếp, Không thủ mệnh, hay phản bạn. Tuổi Bính-Tý Kiếp, Không hoặc cả hai thủ mệnh. Dù ngộ cát tinh, chính tinh, phúc tinh, họ vẫn là người bạn xấu, ưa lợi dụng, lừa dối, dể trở mặt, mà lại trở mặt vô lý.

1.3.3. Loại người dưới

Tức là thuộc hạ, học-trò, con cháu, khách hàng. Cả ba loại người đều nhận được cách đối xử nhu-hòa, nhiệt-thành của tuổi Bính-Tý. Nếu là thân chủ của họ, thì khộng cần phải báo đáp, đến với họ, coi như đủ rồi. Thân chủ của tuổi Bính-Tý luôn luôn được đối xử niềm nở, vui vẻ hòa nhã, được chăm sóc tận tâm. Nếu Bính-Tý là bác-sĩ, nha-sĩ, luật-sư thì khách hàng quả đã gặp được người xứng đáng là "ông thầy".

Luật-sư thì họ tận tâm, an ủi, cần mẫn tranh đấu đến thắng cho thân chủ. Bác-sĩ, nha-sĩ Bính-Tý, họ trở thành người từ-mẫu, đôi khi họ nghiêm khắc bắt bệnh nhân tuân theo lệnh điều trị, để làm lợi cho bệnh nhân. Họ đại lượng, nếu bệnh nhân không có tiền, họ vẫn chăm sóc tận tâm. Gặp những bệnh khó khăn, họ nghiên cứu, tìm hiểu đi đến kết quả mới thôi.

Bính-Tý thông-minh, minh-mẫn, người dưới quyền của họ không phải lo lắng ông chủ, cấp trên đần độn, không biết giải-quyết công việc. Tuổi Bính-Tý thích tìm hiểu, nên những phần hành của người dưới họ đều nắm vững, luôn luôn họ cho ý kiến để người dưới thi hành. Người dưới gặp khó khăn, hay công việc quá bận rộn, họ vui vẻ tiếp tay, an ủi thực tình. Họ chăm sóc tinh thần, thể chất, đôi khi cả việc gia đình của thuộc cấp. Họ luôn tưởng thưởng

thuộc cấp xứng đáng đúng với công lao. Khi thuộc cấp có lỗi, họ khuyên răn sửa đổi.

Họ trọng trách nhiệm, nên nhận lỗi với cấp trên, khi thuộc cấp của họ sai lầm. Thuộc cấp của họ bị tai vạ, họ can đảm bênh vực, họ là người của nguy khốn, thích tế độ cho người. Thuộc cấp của họ có lỗi, họ bênh vực quyết liệt, rồi sau đó... tính tội riêng với thuộc cấp sau.

Tuổi Bính-Tý làm nghề dạy học cũng nhiều. Họ tận tâm với nghề nghiệp, yêu học trò như con, như em họ, họ đối xử với học trò từ ái ôn nhu. Họ muốn cho học trò tất cả kiến thức họ có, họ tin học trò, và được học trò kính nể, tuân phục. Trong đời, họ được học trò mang lại danh dự, kiêu hãnh. Tuổi Bính-Tý dành tất cả tình cảm cho ba loại người: Thầy, học trò và bạn hữu. Họ có nhiều điều kiện cấm kị, ai phạm vào thì khổ với họ. Nhưng ba loại người trên dù phạm cấm kị, họ cũng cười bỏ qua.

Học trò học xong. Họ vẫn theo dõi giúp đỡ đến nơi đến chốn. Họ cho học trò những gì họ có. Nếu họ đạt địa vị cao, thì học trò là những người đầu tiên họ nghĩ tới để ban ân huệ, xử dụng vào chức vụ tín cẩn như chánh-văn-phòng, cố-vấn, bí-thư riêng.

Tóm lại họ vừa tin vừa thương yêu học trò, thầy trò cùng hưởng. Ít khi thấy học trò phản bội họ. Dù có phản bội, sau đó hối lỗi, họ bỏ qua, tiếp tục thương yêu như xưa.

2. Bính-Tý cần chọn tuổi nào để cộng-tác? Loại khách hàng không cần thiết, bởi khách hàng là được Bính-Tý chiều chuộng. Còn lại các loại khác có nhiều dị biệt:

2.1. Mạng Thổ. Thổ khắc bổn mạng Bính-Tý là thủy. Người cộng-tác với Bính-Tý là cấp trên, là thầy thì tốt. Đó là những người hơn Bính-Tý, thắng Bính-Tý. Bạn hữu và học trò thì không nên, dễ đi đến xung đột nhau.

2.2. Mạng Kim. Kim sinh thủy. Bính-Tý mạng thủy, họ được người cộng-tác giúp đỡ đắc lực, cả đôi bên đều thỏa mãn, dễ thành công.

2.3. Mạng thủy. cả hai cùng một, thì công việc làm ăn ít bất đồng ý kiến, hơn nữa hòa hợp được quyền lợi giữa đôi bên.

2.4. Mạng mộc. Thủy sinh mộc. Bính-Tý mạng thủy, mạng Bính-Tý sinh ra mạng người cộng-tác, người cộng-tác được hưởng tính ôn-nhu, nho-nhã, được giúp đỡ tận tâm. Nếu là học trò, hoặc người dưới quyền, thì họ đã gặp ông phúc trong đời vậy.

2.5. Mạng Hỏa. Bính-Tý mạng thủy, khắc hỏa. Người trên không hợp với họ, dễ sinh ra chống đối nhau, không tốt cho công việc. Bạn hữu mạng hỏa còn tai hại hơn nữa. Còn người dưới, học trò, bị Bính-Tý chinh phục, ngay từ lúc mới gặp gỡ. Kinh-nghiệm thấy người dưới quyền họ mạng hỏa, dù có cứng đầu, thì cứng với ai kia, chứ đối với Bính-Tý lại mềm mỏng, tuân phục hơn bao giờ hết. Người mạng hỏa ở dưới quyền Bính-Tý coi như đã gặp một ông phúc trong đời. Nhưng đừng quên rằng Bính-Tý minh-mẫn, nịnh cũng không nên, mà phản bội thì càng nguy hại, mang ách vào người cả đời.

3. Tuổi Bính-Tý sinh ra để lãnh-đạo, có tài vá biển lấp trời thì họ lãnh-đạo thiên-hạ, có tài xuất-chúng thì họ lãnh-đạo quốc-gia, còn tài tầm-thường họ cũng lãnh-đạo được gia-đình, lân bang. Trong những người cùng một địa-vị với họ, bao giờ họ cũng là người sáng chói nhất.

3.1. Người trên họ lúc nào cũng có thể yên-trí rằng họ trung-thành, họ là người của những lúc nguy-nan. Thầy của họ thì được người học trò hiếu-dễ, làm rạng danh sư-phụ. Dù sau này họ đạt địa-vị nào chăng nữa họ cũng đối-xử với thầy như khi còn đang học.

3.2. Bạn của Bính-Tý, người dưới Bính-Tý coi như mình tìm thấy ông phúc trong đời. Tai vạ, khó khăn xảy đến, nhớ là được giúp đỡ đến nơi chốn.

3.3. Nếu là học trò, phải biết rằng ông thầy mình lúc nào cũng dành cho mình những tình-cảm thương mến nhất.

4. Đối xử với Bính-Tý đừng nên xử dụng lối qua sông phụ đò, hoặc lấy ơn làm oán, sẽ gặp phải phản-ứng khốc-liệt suốt đời.

VII. XE CỘ, Y PHỤC

1. Tuổi Bính-Tý, Thiên-mã đóng tại Dần ngộ Tạng, Hỏa, Hao, Cô thì xe cộ không mấy gì may mắn. Mã là năng lực cuộc đời, hóa hình là cái xe. Mã ngộ Hỏa thì là người có tài mẫn tiệp, biết điều khiển, xếp đặt công việc. Tiểu hạn nam năm Thìn. Nữ năm Thân đến cung Dần, ngộ Mã, Hỏa, lưu Mã, mà đại-hạn ngộ Kiếp, Không, Hình. Kị, thì xe bị cháy, mất.

1.1. Mã ngộ Hỏa đã xấu, lại thêm Tang chủ tan vỡ, chủ hư hại thì xe hay bị tai nạn, thêm Hao là sao chủ thất thoát, thì trong đời sẽ bị đụng xe nặng, hoặc cháy đến phải vứt xe đi một hai lần. Còn việc xe bị hỏng, chết máy, bể bánh là sự thường.

1.2. Cần chú ý các năm:

1.2.1. Năm Dần, Ngọ, Tuất, lưu niên Thiên-mã đóng ở Thân ngộ Tuần.

1.2.2. Năm Hợi, Mão, Mùi, lưu niên Thiên-mã đóng ở Tỵ ngộ Triệt.

Mã ngộ Tuần, Triệt là ngựa bị chặt chân, bị vây, những năm nầy hay gặp tai nạn xe hơi. Tuổi Bính-Tý bị hao tổn vì xe cộ, vì di chuyển là do cái vạ Thiên-mã ngộ Hao tức là vì xe mà phải tiêu nhiều.

2. Mạng thủy, thuộc màu đen, Tý cũng thuộc màu đen, Bính thuộc màu đỏ, thì họ dùng xe màu gì ?

2.1. Đỏ với đen thành màu tím, vậy đi xe màu tím hợp với Can, Chi thì tốt.

2.2. Màu đen. Hợp với mệnh và Chi, đều thuộc màu đen, như vậy thủy tính rất mạnh, khắc Can Bính thuộc hỏa, ít tai nạn.

2.3. Màu trắng. Thuộc kim sinh ra bổn mạng thuộc thủy. Nhưng bị Can Bính thuộc hỏa khắc xe, đi xe hay bị ông cò hỏi thăm, nhưng thuận lợi trong công ăn việc làm.

2.4. Màu xanh. Thuộc mộc, thủy sinh mộc, mà bổn mệnh và Chi Tý thuộc thủy. Đi xe màu xanh thì chiếc xe sẽ hút hết năng lực của chủ, làm ăn kiệt quệ, bệnh tật liên miên, đụng xe dễ bị thương tích.

2.5. Màu vàng. thuộc thổ. Thổ khắc thủy của bổn mạng và Chi. Không bao giờ dùng xe màu vàng, làm ăm bế tắc, mọi việc khốn cùng.

2.6. Màu đỏ. Đỏ thuộc hỏa, bị bổn mạng và Chi thuộc thủy khắc, thì chính mình thường gây tai nạn, hao tổn vì xe.

3. Màu sắc đồ dùng, quần áo.

Cũng như màu xe.

VIII. NHÀ TUỔI BÍNH TÝ

Tý thuộc phương Bắc, Bính thuộc phương Nam.

Vậy nhà của Bính-Tý theo hướng nào? Nhà không thể theo hai hướng trái ngược một lúc. Bản mệnh là thủy, hợp với Chi Tý thuộc thủy, thì thủy mạnh hơn.

1. Thứ nhất nhà hướng Tây

Thuộc kim, sinh thủy. Làm ăn thịnh vượng, ít bệnh tật.

2. Thứ nhì nhà hướng Bắc

Thuộc thủy, hợp với bản mệnh, và Chi Tý thuộc thủy, tốt bực nhì. Lợi cho công danh, tránh được tai họa, nhưng trong nhà thường có bất hòa nhỏ.

3. Thứ ba, nhà hướng Đông

Thuộc mộc. Bổn mạng thủy, Chi Tý thuộc thủy sinh ra hướng nhà, tối độc, làm ăn không phát đạt.

4. Thứ tư nhà hướng Nam

Thuộc hỏa, mệnh Bính-Tý thuộc thủy. Chi Tý thuộc thủy, tức bản thân khắc nhà:

Con cái hư đốn, vợ chồng lủng củng, tiền tài hao tán. Thân dễ bại, danh dễ liệt.

5. Thứ năm có thể ở nhà hướng Tây-Bắc, hay Đông-Bắc đều được.

IX. BỆNH TẬT TUỔI TÝ

1. Tuổi Bính-Tý mạng thủy, thủy trong học thuyết Âm-Dương, Ngũ-hành liên hợp với:

– Ngũ khí: Hàn (lạnh).

– Ngũ hoá: Tàng (ẩn).

– Tạng phủ: Thận, bàng-quang. Liên hợp với túc Thiếu-âm thận kinh và túc Thái-dương bàng-quang kinh.

– Ngũ quan: Tai.

– Hình thể: Xương.

2. Bản mệnh là con người, con người Bính-Tý mạng thủy, còn được thêm một lần thủy nữa là Chi Tý, có đầy đủ tính-chất như bản mệnh, khiến tất cả những tính-chất trên đây thêm mạnh. Về phương-diện y-học, thì thận và bàng-quang là hai tạng-phủ tương-thông biểu-lý. Thận chủ lý, chủ bên trong, bàng-quang chủ biểu chủ bên ngoài. Khi bệnh cập thận thì ảnh-hưởng sang bàng-quang và ngược lại.

Thận chủ:

– Thủy. Về phương-diện sinh-lý, thận chủ điều tiết lượng nước trong người. Khi thận khí-hóa thất điệu, sinh ra lương thủy đình lưu, thành giả mập hay phù-thủng. Tóm lại lượng nước ít, nhiều đều do thận.

– Khí. Phế chủ hô (thở ra) khí, thận chủ nạp khí.

– Thận chủ cốt, sinh tinh. Hoa của thận là tóc: Thận chủ tàng tinh, tinh sinh tủy, tủy ăn trong xương, xương được tủy nuôi dưỡng, do vậy nói thận chủ cốt. Óc là tủy, vậy thận chủ chỉ nhớ. Răng là phần dư của cốt, nên mới nói thận liên hệ tới răng. Hoa của thận là tóc, tóc rụng, tòc gãy, tóc sớm bạc là do thận.

– Thận tàng tinh: Thận chủ sinh-dục, sinh-tinh-khí, nên liên quan tới đời sống lứa đôi, đến sinh-sản, đến bệnh phụ-nữ.(3)

3. Tuổi Bính-Tý mệnh thuộc thủy. Mệnh là bản chất cơ-thể.

Chi là địa-bàn chủ thay đổi. Nhưng chi Tý cũng có cả tính chất sinh-lý, bệnh-lý, bệnh-biến như bản mệnh. Can Bính thuộc hỏa. Can là hoàn-cảnh, thời-khí ở ngoài tác-dụng vào cơ-thể. Hỏa của can bị bản mệnh và chi Tý thuộc thủy khắc. Vậy Bính-Tý có hai nguyên-do sinh bện, một là nội thương, hai là ngoại tà nhập.

3.1. Một là nội thương . Thận vừa chủ Dương lẫn Âm.

3.1.1. Thận Dương hư suy, có các chứng trạng.

– Sắc mặt trắng bệch,

– Thân thể lạnh, chân tay lạnh.

– Tinh thần ủy-mị.

– Đau ngang lưng, nam thì bất lực, nữ thì tử-cung lạnh không thụ thai.

– Tiểu tiện vặt.

– Nam thì xuất-tinh sớm (bệnh gà), nữ huyết trắng (leucorrhée), dễ xẩy thai.

– Tóc rụng.

– Răng lung lay.

– Tinh nhược (asthénospergie) (4)

3.1.2. Thận âm hư suy:

– Chóng mặt tai kêu.

– Trí nhớ giảm thoái.

– Mất ngủ.

– Đầu gối, lưng đau.

– Người gầy.

– Hầu khô.

– Sau giờ Ngọ (11-13 giờ),người như bị sốt, mồ hôi xuất.

– Nam di-tinh.

– Nữ bế-kinh (aménorrhée) (5)

3.1.3. Khi Thận-âm hư suy ảnh hưởng đến tâm, sinh:

– Huyết áp cao (Hypertension artériellle).

– Tim đập mau.

– Chóng mặt.

– Bệnh nặng sinh não xuất huyết, đưa đến bán thân bất toại.(6)

3.2. Hai là ngoại thương

Thận-âm hư, thì dương tà là phong, hỏa nhập cơ thể. Phong tương-đương với với y-học Tây-phương là vi-trùng, siêu-vi-trùng. Phong hợp với nhiệt sinh cảm, cúm (Siêu-vi-trùng và các loại vi-trùng) mũi nghẹt, sốt, đau cổ họng, ho.

3.2.1. Thận-dương hư, ảnh hưởng đến tâm dương hư:

– Tim đập chậm.

– Áp huyết thấp.

– Tóc rụng.

– Tai kêu, tai điếc.

– Răng lung lay.(7)

3.2.2. Khi Thận-dương hư thì hàn nhập cơ-thể, sinh ra

– Cảm cúm (Siêu-vi-trùng và vi-trùng).

– Nghẹt mũi.

– Sưng cổ hầu.

– Sốt-rét.

Nếu hàn nhập cùng với phong thì tai vạ không nhỏ. Sinh ra phong thấp (Rhumatisme) đau các khớp xương, đi đứng nặng nề. Hàn sinh ho, lâu ngày thành suyễn kinh-niên.

4. Bản chất Bính-Tý là bệnh thận, nhưng còn Can Bính thuộc hỏa, thuộc tâm. Bính ảnh-hưởng thời-khí ở ngoài vào tức là hỏa. Thủy khắc hỏa, nhưng khi hỏa mạnh quá có hiện-tượng tương-vũ. Ngũ-hành sinh khắc nói đến tương sinh tương khắc, còn tương vũ? Thông thường thủy khắc hỏa. Ngược lại nếu hỏa mạnh quá uy-hiếp thủy gọi là tương-vũ. Khi thời-khí, khiến hỏa mạnh tác dụng vào bản thân thành tương vũ, lấn át thân, khiến thận thủy khô liệt. Hỏa nhập tâm, thành tâm hỏa. Hiện tượng như sau: Tâm-phiền, mất ngủ, mặt đỏ, miệng khát, lưỡi có mụn, nặng thì hóa điên, tiểu tiện ra máu.

4.1. Nam mệnh Bính-Tý, sao Bệnh-phù đóng ở Sửu, thuộc thổ, thổ thuộc Tỳ-vị. Vậy khi thận-dương hư sẽ đưa đến tỳ-dương hư:

– Ăn vào đầy ứ.

– Mửa ra nước trắng.

– Chân tay lạnh.

– Đại tiện lỏng.

– Nữ huyết trắng nhiều (Leucorrhée).

– Đau vùng bao-tử, người như mập lên, phù-thủng.

– Bất-lực.

– Chóng mặt.(8)

4.2. Nữ mệnh sao Bệnh-phù đóng tại Dậu, thuộc kim, ngộ Tuần, không đáng sợ. Nếu có thì bệnh đường hô hấp. tai, mũi, họng và phổi.

5. Đại lược bệnh tật tuổi Bính-Tý thì thế, còn tùy số nữa. Như trong Tử-vi của họ cung Tật-ách ngộ Tuần, Triệt thì họ có nhiều cơ duyên chống bệnh hoặc khi bệnh, họ gặp thầy, gặp thuốc ngay. Cung Tật-ách cũng còn tùy bản mạng. Nếu bản mạng họ được những sao phúc tinh tọa thủ như Đồng, Lương, Xương, Khúc, Khoa, họ ít bệnh. Ngược lại mệnh họ ngộ Tạng, Hổ, Riêu, Ki, Hình, Kiếp, Không, Bệnh-phù, cái lý ngũ hành về bệnh tật sẽ tăng lên.

6. Phần trình bày trên đây là căn-bản con người bị bệnh. Nhưng không phải cả đời họ bị bệnh, mà tùy theo vận-hạn. Trong Tử-vi kinh nói rõ:

"Bản chất người có bệnh, muốn biết bao giờ bị bệnh thì xem vận-hạn".

Bản chất có bệnh gì, thì đến vận-hạn xuất hiện bệnh ấy. Theo nguyên lý trợ cách của khoa Tử-vi, thì tùy bản thân, vận-hạn mắc bệnh, nếu gặp thầy thuốc có sao thủ mệnh tốt thì giải được ách.

7. Kết lại tuổi Bính-Tý cần chú ý giữ gìn đừng để bị bệnh thận, bệnh tỳ, bệnh tim, đôi khi cả phong-thấp nữa.

X. VẬN HẠN TUỔI BÍNH TÝ

1. Vận hạn theo tháng.

– Tháng 1, 2 thuộc mộc, mệnh thủy, chi Tý thuộc thủy sinh mộc, làm ăn thăng tiến. Phải tiêu nhiều vì tháng mộc sinh ra hỏa, bị bản mệnh khắc.

Bính-Tý thường phải chi tiêu nhiều vào tháng 1, 2.

– Tháng 3, 6, 9 12 là tháng Thìn, Mùi, Tuất, Sửu thuộc thổ. Bổn mạng, chi Tý thuộc thủy bị khắc. Làm ăn khó khăn, bệnh tật, đau yếu. Gia đạo bất an. Nhưng duyên tình lại thường đến ở thời kỳ khó khăn. Đây là lẽ đi ngược số mệnh duy nhất của Bính-Tý.

– Tháng 4, 5 thuộc hỏa, bổn mệnh chi Tý thuộc thủy khắc hỏa. Mưu đồ đại sự, quyết định quan trọng, hoặc đấu tranh sẽ thành công. Phải ghi nhớ việc lớn nên khởi sự vào lúc mình có thể chiến thắng.

– Tháng 7, 8 thuộc kim. Kim sinh thủy của bổn mạng và chi Tý, việc nhà, việc ngoài đều tiến triển tốt đẹp.

– Tháng 10, 11 thuộc thủy, hợp với mệnh thủy, chi Tý thuộc thủy, công việc làm ăn kết quả, thời kỳ khởi sự mưu đồ lớn lao.

2. Vận hạn theo đại, tiểu hạn.

– Đại hạn đến cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hoặc tiểu hạn đến các cung đó. Cả nam lẫn nữ, tiểu hạn qua Thìn, Tuất Sửu, Mùi là năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là những cung thổ, khắc thủy của bổn mạng và chi Tý khiến thủy khô kiệt. Ngộ cát tinh thì giảm tốt, ngộ sát-tinh thì tai vạ trùng trùng điệp điệp.

– Đại hạn, qua cung Mão: Tiểu hạn nam mạng năm Tỵ, nữ mạng năm Mùi, qua cung Mão thuộc mộc. Mệnh thủy, chi Tý thuộc thủy sinh mộc, bị hút mất năng lực. Sức khỏe thường yếu kém, tiền bạc hao tán, công danh khó đạt. May nhờ Hồng-loan tọa thủ, cũng có nhiều may mắn. Nữ mạng hạn tới đây tốt hơn, vì được Thanh-long tọa thủ là ngôi sao chủ tin mừng. Nếu gặp cát tinh tọa thủ cũng chỉ khá vào 5 năm cuối đại hạn, và nửa năm cuối tiểu hạn.

Rủi ro ngộ Kiếp, Không, Hình, Kị thì họa trùng trùng.

– Đại hạn tới cung Tỵ. Nam mạng tiểu hạn năm Mùi, nữ mạng tiểu hạn năm Tỵ đều qua cung Tỵ. Cung Tỵ thuộc Hỏa, bị mệnh, chi Tý thuộc thủy khắc thì dễ thành công, chiến thắng. Tiếc rằng Triệt án ngữ, nên tuy Lộc-tồn tọa thủ ở trong cung mà không phát lớn.

– Đại hạn tới cung Dậu. Hoặc nam mạng tiểu hạn năm Hợi, nữ mạng năm Sửu tiểu hạn qua cung Dậu, thuộc kim. Kim sinh ra bổn mạng và chi thủy, dù ngộ Tuần, nhưng vẫn tốt.

– Đại hạn tới cung Hợi. Nam mạng tiểu hạn năm Sửu, nữ năm Hợi, tiểu hạn qua cung Hợi thuộc thủy, phò trợ cho bổn mạng. Chi Tý thuộc thủy, gặp sao tốt tọa thủ tốt hơn, sát tinh lâm cũng giảm xấu.

3. Phải nhớ tính chất đặc-thù của tuổi Tý: Khi đại tiểu hạn qua cung Dần, Thân, hay Tý, Ngọ rất xấu. Cái cách độc hại là đại, tiểu hạn tương xung ở Dần, Thân hoặc Tý, Ngọ, đáng sợ. Có sao tốt tọa thủ ở trong thì cũng nghiêng ngửa. Chẳng may sát tinh tọa thủ cả ở hai nơi, phải nói rằng đó là hạn chết.

Tử-vi kinh nói:

Nhân sinh Tý mệnh kị Dần, Thân.
Nghĩa là tuổi Tý kị hạn tới cung Dần, Thân.

Lại cũng nói:

Tý, Ngọ bất nghi đáo bản thân.

Nghĩa là tuổi Tý, Ngọ khi hạn đến cung Tý, Ngọ rất độc.

Vậy khi đại hạn qua Tý, Ngọ, Dần, Thân là xấu, còn tiểu hạn, nam hay nữ năm Tuất, Thìn, Dần, Thân qua cung Tý, Ngọ, Dần, Thân cũng xấu.

4. Trên đây là đại lược về đại-tiểu hạn Bính-Tý theo Âm-Dương, Ngũ-Hành. Như trong phần đầu chúng tôi đã nói: Âm-Dương, Ngũ-hành như cái dây lớn của lưới cá (Cương = dây lưới cá. Mục = Các mắt lưới cá) chỉ dùng đại-cương, còn phải tùy theo sao thủ hạn. Nếu theo Âm-Dương, Ngũ-Hành mà tốt, thì dù gặp sao tọa thủ xấu cũng không đáng sợ. Còn khi sao tọa thủ tốt, mà Âm-dương, Ngũ-hành xấu, thì xấu được giảm đi.

XI. KẾT LUẬN

1. Bính-Tý sinh ra dể hơn đời. Có nghĩa là ở hoàn cảnh nào chăng nữa, họ cũng vượt lên trên, vẫn sáng chói. Tuổi Bính-Tý thông-minh, lanh lợi, cần-mẫn, cương-quyết. Ở trong nhà họ là con hiếu-thảo. Ở học-đường họ là học trò thông-minh, ngoan-ngoãn. Đối với bạn bè, họ là người trợ-giúp đắc-lực. Đối với người dưới họ là ông phúc.

2. Trừ trường hợp tuổi Bính-Tý bị Kiếp, Không thủ mệnh. Hoặc cả Kiếp, Không đồng thủ mệnh, dù có phúc tinh là Thiên-Đồng thủ tọa trong, họ cũng là người khó chơi. Họ xử-dụng tài của họ, để lợi-dụng, để lừa đảo thiên hạ. Cổ nhân tượng trưng Bính-Tý có Kiếp, Không thủ mệnh là con gà trống, chỉ biết gáy, gáy lớn tiếng để loè đời, mà không có gì tốt cả.

3. Dưới đây chúng tôi xin dẫn một lá số loại tốt (Sinh ngày 15 tháng 10 năm Bính-Tý, giờ Tý). Thiên-đồng là đại phúc tinh thủ mệnh ở Hợi, vì sinh giờ Tý, nên Kiếp, Không thủ mệnh.

Số song lộc, Lộc-tồn cư thiên-di, Hóa-lộc thủ mệnh. Cung quan Hóa-quyền ngộ Cự, Cơ.

Tử-vi kinh nói:

Quyền hội Cự, Vũ anh hùng.

Nhưng chỉ vì bản chất cung mệnh có Kiếp, Không là hai sao lưu manh, hóa cho nên sự nghiệp toàn nhờ xảo trá mà thành nghiệp, rồi tan thành tro.

Sơ lược cuộc đời. Tên thực là Hoàng-đức-Ph. ( còn có tên là Phan-H.) Thủa nhỏ theo cha lưu lạc sang Trung-hoa, Pháp, sau ở với chị. Năm 1954 thi Tú-tài I bị rớt. Tiếp theo thi liên tiếp 6 năm 12 khóa cũng rớt. Hiếp chị ruột mang thai, đẻ con, trốn vào rừng theo đạo-tặc. Được đạo-tặc huấn-luyện, chửi cha, phản thầy. Năm 1962 bị giam ở khám lớn Nam-vang vì tội hoạt động gián-điệp và buôn lậu thuốc phiện cho đạo-tặc.

Năm 1965, đạo-tặc vận-động được thả ra đưa sang Pháp. Đạo-tặc giúp cho vừa làm vừa học.

Năm 1972 trình luận-án lấy bằng tiến-sĩ kinh-tế (tiến-sĩ tự-do, vì không có cử-nhân). Sỡ dĩ được học là do đạo-tặc gửi chính-phủ Pháp.

Năm 1973 lập hội võ. Dù không biết võ, nhờ hơi võ, mà trở thành giàu.

Năm 1980 bị khai-trừ khỏi hội võ. Mất bằng tiến-sĩ, mất luôn chức vụ về võ.

Vẫn tiếp tục hoạt động cho đạo-tặc ở Canada đội lốt võ đạo. Năm 1990 bị môn phái khai trừ về tội gian manh.

4. Trên đây chúng tôi chỉ đơn cử một trong hàng trăm hàng nghìn lá số của tuổi Bính-Tý, có sát tinh thủ mệnh, đi vào đường tà, nhưng vẫn làm lãnh-chúa, vẫn sáng chói hơn đời.

Tử-vi-kinh gọi Bính-Tý là:

Bính-Tý chi nhân tài nhiếp quần hào, nhược ngộ Kiếp, Không, đạo-tặc nhi khả thành nghiệp.

Nghĩa là người tuổi Bính-Tý tài của họ áp đảo các anh hào, nếu bị Kiếp, Không thủ mệnh thì đi làm đạo-tặc mà thành-công.

5. Đại cương về tuổi Bính-Tý, chỉ có thế. Tuy nhiên còn phải tùy thuộc vào số mới quyết đoán được. Những điều chúng tôi nói là tốt thì có nghĩa là gặp cát tinh tọa thủ sẽ tốt hơn, gặp sát tinh tọa thủ thì giảm tốt.

Ngược lại khi nói rằng xấu, gặp cát tinh tọa thủ giảm xấu, gặp hung tinh thì họa đến trùng trùng.

XII. KINH NGHIỆM VỀ TUỔI BÍNH TÝ

1. Nam mệnh Bính Tý, sinh ngày 18 tháng 6, giờ Tỵ. Đây là một kỳ nhân, dị sĩ. Chúng tôi xin ghi chi tiết để độc giả rút kinh nghiệm. Người Pháp.

– Thủa nhỏ bị ho gà.
– 3 tuổi bị thối tai phải.
– 5 tuổi bị chó cắn chân phải.
– 7 tuổi bị sốt rét ngã nước.
– 9 tuổi bị kiết lỵ (Ất-Dậu 1945)
– Bị gián đoạn học hành, phải làm việc giúp gia đình. Có thời gian phải đi ở. 14 tuổi đi học lại (Canh-Dần 1950)
– 18 tuổi ( Giáp-Ngọ 1954) phải xa gia dình. Đi làm việc nuôi gia đình.
– 21 tuổi (Đinh-Dậu 1957) tự học đậu BEPC.
– 22 tuổi (Mậu-Tuất 1958) tự học đậu tú tài I
– 23 tuổi (Kỷ-Hợi 1959) tự học đậu tú tài II. Làm giáo sư trung học.
– 24 tuổi (Canh-Tý 1960) nhập đại học quân y. Học cả y lẫn văn chương.
– 27 tuổi (Qúy-Mão 1963) đậu cử nhân văn chương. Cưới vợ tuổi Canh Thìn (1940).
– 30 tuổi (Bính-Ngọ 1966) ra trường. Phải đi trận. Bị thương.
– 31 tuổi (Đinh-Mùi 1967) trình luận án bác sĩ. Được phần thưởng Hàn-lâm viện y khoa. Được cử làm chỉ huy trưởng quân y viện. Xuất bản tác phẩm văn chương. Thăng cấp.
– 32 tuổi (Mậu-Thân 1968) bị thương.
– 33 tuổi (Kỷ-Dậu 1969) được cử làm giáo sư y khoa.
– 34 tuổi (Canh-Tuất 1970) được thăng cấp.
– 35 tuổi (Tân-Hợi 1971) ứng cử hạ viện, thất cử. Mất chức chỉ huy trưởng quân y viện. Thăng cấp.
– 36 tuổi (Nhâm-Tý 1972) đại phát tài. Đậu chuyên khoa y khoa.
– 37 tuổi (Quý-Sửu 1973) bị vu cáo. Bị tù. Tòa xử trắng án.
– 38 tuổi (Giáp-Dần 1974) nổi tiếng về... văn chương. Bị đuổi khỏi quân đội với cấp bậc đại tá.
– 39 tuổi (Ất-Mão 1975) bố chết. Vợ bỏ. Thi đậu Thạc-sĩ y khoa. Duyên tình mới.
– 40 tuổi (Bính-Thìn 1976) bỏ Pháp sang Hoa-Kỳ lập nghiệp. Được trọng dụng. Duyên tình đứt. Viết báo Hoa-kỳ nổi tiếng.
– 41 tuổi (Đinh-Tỵ 1977) bị vu cáo, mất chức giáo sư y khoa. Duyên tình mới, rồi bị cắt đứt.
– 42 tuổi (Mậu-Ngọ 1978) thất nghiệp. Duyên tình mới, bị đứt.
– 43 tuổi (Kỷ-Mùi 1979) được giải thưởng y khoa. Duyên tình mới. Cưới vợ.
– 44 tuổi (Canh-Thân 1980) bị thất nghiệp. Bị phản.
– 45 tuổi (Tân-Dậu 1981) đỗ... quốc tịch Hoa-Kỳ. Làm giám đốc y viện.
– 46-51 tuổi (Nhâm-Tuất 1982, Quý-Hợi 1983, Giáp-Tý 1984, Ất-Sửu 1985, Bính-Dần 1986, Đinh-Mão 1987) đại phát tài. Năm 1982 vợ bỏ.
– Đã xuất bản 34 tác phẩm y khoa, văn chương Anh, Pháp ngữ.

2. Nữ mệnh, Bính-Tý, người Việt-Nam. Sinh ngày 20 tháng 3, giờ Thìn.

– 18 tuổi (Giáp-Ngọ 1954) đậu tú tài. Du học Pháp.
– 19 tuổi (Ất-Mùi 1955) thi PCB trượt. Yêu, bị tan vỡ.
– 20 tuổi (Bính-Thân 1956) đậu PCP.
– 25 tuổi (Tân-Sửu 1961) đậu nội trú. Lấy chồng.
– 26 tuổi (Nhâm-Dần 1962) trình luận án y khoa, đậu hạng tối danh dự.
– 27 tuổi (Qúy-Mão 1963) ly dị.
– 29 tuổi (Ất-Tỵ 1965) được làm giáo sư phụ tá. Tái giá.
– Đặc tính: nhu thuận, xinh đẹp. Viết văn Pháp rất hay. Học gì cũng thành. Cho đến nay, ly dị lần thứ ba, trước sau 12 mối tình.

3. Trong năm mươi số nam Bính-Tý, người châu Âu, thuộc đủ mọi thành phần, thì:

– Cả năm mươi đều ly dị một hay hai lần.

– Cả năm mươi đều nổi danh trong lãnh vực của họ.

4. Trong năm mươi nữ Bính-Tý, thì 41 ly dị. Chỉ có hai người trọn vẹn.



--------------------------------------------------------------------------------




CHÚ GIẢI

(1) Hoàng-tộc Tống-triều, Triệu-thị minh thuyết Tử-vi kinh, chương Can-Chi luận, Trung-hoa thư cục xuất bản 1921, trang 64.

(2) Trần-Đoàn, Tử-vi chính nghĩa, chương Phú luận, cổ bản.

(3) Bắc-kinh, Trung-y học viện, Trung-y học cơ sở. Thượng-hải khoa học, kỹ thuật xuất bản xã 1978. Trang 14.

(4) Sách đã dẫn (1), trang 122.

(5) Sách đã dẫn (1), trang 123.

(6) Sách đã dẫn (1), trang 124.

(7) Sách đã dẫn (1), trang 125.

(8) Sách đã dẫn (1), trang 126.
Đăng nhập để trả lời
0