Combray từ khoảng cách hai mươi dặm, như chúng tôi vẫn thường nhìn thấy từ cửa sổ xe lửa mỗi khi về đến đây vào tuần Thánh hằng năm, chẳng qua chỉ là một ngôi nhà thờ thu nhỏ cả thị trấn, đại diện cho nó, lên tiếng thay cho nó và vì nó trước đường chân trời. Và khi người ta tiến lại gần, nó gom quây quần lại dưới chiếc áo choàng dài sẫm màu, che gió trên đồng trống, hệt như một người mục tử gom bầy cừu, những chiếc lưng xám len lút của đàn nhà cửa san sát mà một đoạn thành lũy thời trung cổ bao bọc đây đó theo một đường cong chuẩn xác như đường viền của một thị trấn nhỏ trong bức tranh nguyên thủy. Để sống ở Combray thì hơi tẻ nhạt một chút, giống như những con đường ở đây với những ngôi nhà xây bằng đá đen vùng bản địa, bậc thềm nhô ra phía trước, mái đầu hồi hắt bóng dài xuống đất, tối tăm đến mức vừa lúc mặt trời lặn là người ta phải kéo rèm cửa sổ phòng khách lại. Những con đường mang tên các Thánh đầy vẻ uy nghiêm — không ít vị trong số đó từng xuất hiện trong lịch sử các lãnh chúa đời đầu của Combray, chẳng hạn như phố Saint-Hilaire, phố Saint-Jacques nơi tọa lạc ngôi nhà của dì tôi, phố Sainte-Hildegarde chạy qua sát hàng rào nhà dì, và phố du Saint-Esprit mà chiếc cổng vườn nhỏ mở ra hướng ấy. Những con đường Combray này hiện hữu ở một góc quá xa xôi trong ký ức của tôi, được tô vẽ bằng những sắc màu khác biệt hoàn toàn với thế giới đang trang hoàng trước mắt tôi hôm nay, đến nỗi tất cả các con đường ấy cùng ngôi nhà thờ sừng sững trên Quảng trường bỗng trở nên vô thực hơn cả những hình ảnh chiếu từ chiếc đèn ma thuật của tôi; có những lúc tôi cảm thấy chỉ cần được bước đi trên phố Saint-Hilaire một lần nữa, thuê một căn phòng ở phố de l'Oiseau trong quán trọ cổ Oiseau Flesché — nơi từ những ô cửa sổ sát mặt đường từng tỏa ra mùi thức ăn đôi khi vẫn thoang thoảng trong tâm trí tôi qua những đợt gió ấm áp dịu dàng — là đã có thể chạm tay vào thế giới vô hình một cách kỳ diệu siêu nhiên hơn cả việc làm quen với Golo và trò chuyện cùng Geneviève de Brabant.
Người em họ của ông ngoại tôi — theo phép xã giao thì tôi gọi là bà cô — người mà chúng tôi thường đến ở cùng, chính là mẹ của dì Léonie. Kể từ sau cái chết của chồng dì (cậu Octave của tôi), dì đã dần dần từ bỏ việc đi ra ngoài, trước tiên là khỏi Combray, rồi đến ngôi nhà của mình ở Combray, rồi phòng ngủ, và cuối cùng là chiếc giường của dì; giờ đây dì không bao giờ "xuống nhà" nữa mà cứ nằm lì mãi trong một trạng thái lửng lơ gồm nỗi buồn, sự kiệt quệ thể xác, bệnh tật, những nỗi ám ảnh và các nghi lễ tôn giáo. Căn phòng của dì nhìn ra phố Saint-Jacques — con đường kéo dài mãi rồi chấm dứt ở Grand-Pré (phân biệt với Petit-Pré, một khoảng không gian xanh ở trung tâm thị trấn nơi ba con đường giao nhau). Con đường ấy đơn điệu và xám xịt, với ba bậc thềm đá cao trước hầu như mọi cánh cửa, trông như một luống cày sâu do một nghệ sĩ điêu khắc tượng tích giáo khắc lên chính khối đá dùng để tạo nên đồi Can-vê hay máng cỏ Giáng sinh. Cuộc sống của dì giờ đây thực chất chỉ thu hẹp trong hai căn phòng thông nhau: vào buổi chiều, dì sẽ nghỉ ngơi ở căn phòng này trong lúc người ta dọn khí trời cho căn phòng kia. Đó là những căn phòng mang cái mùi của chốn nhà quê — cũng hệt như trong những vùng khí hậu nào đó mà toàn bộ bầu không khí hay đại dương bị chiếu sáng hoặc ướp hương bởi hà sa số động vật nguyên sinh mắt thường không thấy được — làm say đắm khứu giác chúng ta bằng vô vàn mùi hương phát xuất từ chính những phẩm chất, sự khôn ngoan, thói quen riêng biệt của chúng, một hệ thống đời sống bí ẩn toàn diện, vô cùng phong phú và thấm đượm đạo đức mà bầu không khí của chúng hòa tan trong đó. Quả thực đó là những mùi hương rất đỗi tự nhiên, được nhuốm màu bởi hoàn cảnh hệt như hương vị của vùng đồng quê lân cận, nhưng đã được nhân hóa, thuần hóa, kìm giữ; một thứ thạch tinh tế, khéo léo, trong trẻo, pha trộn tất cả những thứ quả theo mùa đã rời vườn orchard để vào kho chứa; những mùi hương thay đổi theo năm tháng nhưng là những mùi hương no đủ, đậm chất gia đình, bù đắp cho cái buốt giá của sương muối bằng hương thơm ngọt ngào của chiếc bánh mì ấm nóng, những mùi hương lười biếng và đúng giờ như chiếc đồng hồ làng, những mùi hương lang thang, những mùi hương ngoan đạo; hoan hỉ trong sự bình yên chỉ mang lại thêm phần lo âu, và trong một vẻ tầm thường bình dị vốn là nguồn thi ca sâu sắc cho người lữ khách đi ngang qua giữa họ mà chưa từng sống cùng họ. Không khí trong những căn phòng ấy bão hòa với hương thơm tinh tế của một sự tĩnh lặng giàu có đến mức, mọng nước đến mức tôi không thể bước vào đó mà không có một thứ khoái cảm tham lam nào đó, đặc biệt là vào những buổi sáng đầu tiên còn se lạnh của kỳ nghỉ lễ Phục sinh — lúc tôi có thể thưởng thức nó trọn vẹn hơn vì vừa mới đến Combray. Trước khi vào chúc sức khỏe dì, tôi thường phải đợi một lát ở phòng ngoài, nơi ánh nắng — vẫn là ánh nắng mùa đông — đã lẩn vào sưởi ấm trước lò sưởi vốn đã được nhóm lửa giữa hai vách gạch và trét lên khắp căn phòng cùng mọi vật ở đó mùi tro tảng, khiến căn phòng trông giống như những cái lò sưởi lớn lộ thiên tìm thấy ở vùng quê, hoặc một trong những chiếc bệ lò sưởi có mái che trong các lâu đài cổ mà người ta ngồi dưới đó và thầm mong bên ngoài trời đang mưa hay tuyết rơi, thậm chí ao ước một trận hồng thủy thảm khốc để thêm phần lãng mạn của sự che chở và an toàn vào sự thoải mái của một chốn ẩn náu ấm cúng; tôi cứ đi qua đi lại giữa chiếc bàn cầu nguyện và những chiếc ghế bọc nhung dập hoa, mỗi chiếc đều phủ tấm khăn trải lưng ghế đan bằng chỉóc; trong khi ngọn lửa nướng chín như chiếc bánh những mùi hương ngon lành đang đặc quánh trong không khí căn phòng — những mùi hương mà sự tươi mát đẫm sương và nắng sớm đã kịp "nổi bột" và bắt đầu "kết khuôn" — phồng chúng lên, tráng men chúng, uốn lượn chúng và thổi phồng chúng thành một chiếc bánh ngọt thôn dã tuy vô hình nhưng có thể cảm nhận được, một chiếc bánh ngàn lớp khổng lồ mà trong đó, chẳng buồn chờ đợi để thưởng thức những mùi hương cứng cáp hơn, tinh tế hơn, đáng kính hơn nhưng cũng khô khan hơn của chiếc tủ chén, tủ ngăn kéo và giấy dán tường có hoa văn, tôi luôn quay lại với một sự tham lam thầm kín để vùi mình vào mùi hương mập mờ, có nhựa cây, nhàm chán, khó tiêu và thơm mùi trái cây của chiếc chăn bông thêu hoa.
Ở căn phòng bên cạnh, tôi có thể nghe thấy dì lẩm bẩm trò chuyện một mình. Dì không bao giờ nói to mà chỉ thầm thì, bởi vì dì tin rằng có cái gì đó đã bị nứt vỡ trong đầu và đang trôi nổi lỏng lẻo ở trỏng, mà nếu nói to quá có thể làm nó dịch chuyển; thế nhưng dù ở một mình, dì cũng chẳng bao giờ chịu im lặng lâu mà cứ phải nói gì đó, vì tin rằng việc đó tốt cho cổ họng của mình và việc giữ cho máu lưu thông ở vùng đó sẽ làm giảm bớt những cơn nghẹn cùng các cơn đau khác mà dì hay mắc phải. Hơn thế nữa, trong lối sống hoàn toàn bất động mà dì đang theo đuổi, dì gán cho những cảm giác nhỏ nhặt nhất của mình một tầm quan trọng phi thường, phú cho chúng một sự có mặt khắp nơi biến hóa khôn lường khiến dì khó lòng giữ chúng làm bí mật; và nếu thiếu một người tâm sự để giãi bày, dì sẽ tự ban bố chúng cho chính mình trong một độc thoại không dứt vốn là hình thức hoạt động duy nhất của dì. Thật không may, vì đã thành thói quen suy nghĩ lớn tiếng, dì không phải lúc nào cũng cẩn thận để ý xem có ai đang ở căn phòng bên cạnh hay không, và tôi thường nghe thấy dì tự lẩm bẩy: "Mình không được quên rằng mình đã không chợp mắt được một tí nào cả" — bởi vì "không chợp mắt một tí nào" là niềm kiêu hãnh lớn nhất của dì, một điều được thừa nhận và tôn trọng trong từ vựng của gia đình chúng tôi; vào buổi sáng, Françoise sẽ không "gọi" dì mà chỉ "đến bên" dì; ban ngày, khi dì muốn chợp mắt một lát, chúng tôi chỉ nói rằng dì muốn "được yên tĩnh" hoặc "nghỉ ngơi"; và khi trong lúc trò chuyện, dì lỡ quên mình mà thốt lên "điều gì đã làm tôi tỉnh giấc" hay "tôi đã mơ thấy", dì sẽ đỏ bừng mặt và lập tức tự đính chính lại.
Sau khi chờ đợi một phút, tôi bước vào và hôn chào dì; Françoise đang pha trà cho dì, hoặc nếu dì cảm thấy "khó chịu", dì sẽ đòi đổi bằng thức uống thảo mộc tisane, và nhiệm vụ của tôi là lắc từ gói nhỏ của hiệu thuốc ra đĩa một lượng hoa đoạn vừa đủ để hãm trong nước sôi. Việc phơi khô đã uốn cong những cuống hoa thành một giàn leo kỳ quái, trong các khoảng trống của nó những bông hoa nhợt nhạt hé nở như thể một họa sĩ đã sắp đặt chúng ở đó, nhóm chúng lại trong những tư thế trang trí nhất. Những chiếc lá — vốn đã mất đi hoặc biến đổi diện mạo của mình — lại mang hình hài của những thứ kỳ cục nhất có thể tưởng tượng được, tựa như những chiếc cánh chuồn trong suốt, hay mặt phẳng của những tờ nhãn, hay những cánh hồng đã được thu gom và nghiền nát, hoặc đan cài vào nhau như cách loài chim dệt nguyên liệu làm tổ. Hàng ngàn chi tiết nhỏ nhặt vặt vãnh — sự hào phóng đáng yêu của người dược sĩ — những chi tiết lẽ ra đã bị loại bỏ trong một chế phẩm nhân tạo, lại mang đến cho tôi, giống như một cuốn sách mà người ta kinh ngạc khi đọc thấy tên của một người quen thuộc, cái niềm vui nhận ra rằng đây chính là những bông hoa đoạn thực sự, giống như những bông hoa tôi từng thấy khi từ nhà ga đi ra ở Đại lộ de la Gare, đã thay đổi nhưng chỉ vì chúng không phải là đồ giả mà chính là những bông hoa ấy, đã già đi. Và cũng như mỗi nhân vật mới chẳng qua chỉ là sự biến thái từ một cái gì đó cũ kỹ hơn, trong những quả cầu xám nhỏ này, tôi nhận ra những búp xanh bị hái non; nhưng trên hết thảy, ánh hào quang hồng hào, dịu dàng, phảng phất ánh trăng đã thắp sáng những bông hoa giữa khu rừng cuống mảnh mai mà từ đó chúng rủ xuống như những bông hồng nhỏ bằng vàng — đánh dấu, hệt như thứ ánh sáng trên bức tường cũ vẫn đánh dấu vị trí của một bích họa đã biến mất, sự khác biệt giữa những phần của cái cây từng "ra hoa" và những phần chưa từng — cho tôi thấy đây chính là những cánh hoa mà trước thời điểm trổ bông đã được gói thuốc của hiệu thuốc ướp hương trong những buổi tối mùa xuân ấm áp. Ánh nến hồng hào ấy vẫn là màu sắc của chúng, nhưng đã lụi tàn và chết lặng trong cỗ máy sự sống suy giảm giờ đây vốn là của chúng, và có thể gọi là hoàng hôn của một đóa hoa. Chẳng mấy chốc, dì tôi đã có thể nhúng vào bình nước hãm đang sôi — nơi dì sẽ nhấm nháp hương vị của những cánh hoa đã chết hoặc phai tàn — một chiếc bánh madeleine nhỏ, mà dì sẽ chìa một mẩu cho tôi khi nó đã đủ mềm.
Một bên giường của dì là chiếc tủ ngăn kéo lớn bằng gỗ chanh màu vàng, và một chiếc bàn vừa làm hiệu thuốc vừa làm bàn thờ cao, trên đó, đặt dưới bức tượng Đức Mẹ và một chai Vichy-Célestins, người ta có thể tìm thấy những cuốn sách cầu nguyện và các đơn thuốc của dì, tất cả những gì dì cần để thực hiện, ngay trên giường, các bổn phận đối với phần hồn và phần xác, để tuân thủ đúng giờ giấc uống thuốc pepsin và đọc kinh chiều. Bên kia giường của dì bị giới hạn bởi cửa sổ: dì có con đường nằm ngay trước mắt và từ sáng đến tối sẽ đọc nó để xua tan sự tẻ nhạt của cuộc đời mình, tựa như một vị hoàng tử Ba Tư, những biên niên sử hằng ngày nhưng mang tính bất tử của Combray — những thứ mà sau đó dì sẽ bàn tán tỉ mỉ với Françoise.
Tôi chưa ngồi với dì được năm phút thì dì đã giục tôi đi ra ngoài vì sợ làm phiền lòng tôi mệt mỏi. Dì chìa ra cho tôi hôn lên vầng trán buồn bã, nhợt nhạt và vô hồn của mình — nơi vào buổi sáng sớm này dì vẫn chưa chải bộ tóc giả và qua đó những chiếc xương nhô lên như các mũi nhọn của chiếc mão gai hay những hạt chuỗi mân côi — và dì bảo tôi: "Thôi, đứa con tội nghiệp của con, con phải đi đi; đi chuẩn bị đi lễ đi; và nếu con thấy Françoise ở dưới nhà, hãy bảo cô ấy đừng có la cà đùa giỡn lâu quá; cô ấy phải lên đây ngay để xem ta có cần gì không."
Françoise — người đã phục vụ trong nhà dì tôi nhiều năm và vào thời điểm đó không hề ngờ rằng có ngày mình sẽ được chuyển sang phục vụ hoàn toàn cho nhà chúng tôi — đôi khi có khuynh hướng bỏ bê dì tôi trong những tháng chúng tôi ở căn nhà của dì. Trong thời thơ ấu của tôi, trước khi chúng tôi đến Combray lần đầu tiên và khi dì Léonie vẫn còn quen trải qua mùa đông ở Paris với mẹ mình, đã có một thời gian tôi biết rất ít về Françoise đến nỗi vào ngày Năm Mới, trước khi bước vào nhà bà cô, mẹ tôi nhét vào tay tôi một đồng năm franc và dặn: "Nào, hãy cẩn thận. Đừng có nhầm lẫn gì đấy. Hãy đợi cho đến khi con nghe mẹ nói 'Chào buổi sáng, Françoise' và mẹ chạm vào tay con rồi hãy đưa tiền cho cô ấy." Chúng tôi vừa bước vào tiền sảnh tối tăm của dì thì đã thấy trong bóng râm, dưới những nếp ren của chiếc mũ trắng trinh nguyên cứng và mỏng manh như thể làm bằng đường kéo chỉ, những gợn sóng đồng tâm của một nụ cười biết ơn từ trước. Đó chính là Françoise, bất động và đứng thẳng, được đóng khung trong ô cửa nhỏ của hành lang hệt như bức tượng vị thánh trong hốc tường của mình. Khi chúng tôi đã quen hơn với bóng tối mang tính tôn giáo này, chúng tôi có thể nhận ra ở các nét mặt của cô ấy một tình yêu vị tha đối với toàn thể nhân loại, hòa quyện với sự tôn trọng dịu dàng dành cho "tầng lớp thượng lưu" — thứ đã nâng lên góc trang trọng nhất trong trái tim cô ấy niềm hy vọng nhận được phần thưởng xứng đáng. Má véo mạnh tay tôi một cái và cất giọng lớn: "Chào buổi sáng, Françoise." Theo hiệu lệnh ấy, những ngón tay tôi bợ ra và đánh rơi đồng xu, thứ đã tìm được chổ chứa trong một bàn tay đang khum lại đầy bối rối. Nhưng kể từ khi chúng tôi bắt đầu đến Combray thì không có ai mà tôi rành rẽ hơn Françoise. Chúng tôi là những đứa trẻ được cô ấy cưng chiều nhất, và ít nhất là trong những năm đầu, trong khi cô ấy thể hiện sự ân cần với chúng tôi cũng như với dì tôi, cô ấy lại tận hưởng chúng với một niềm vui đậm đà hơn, bởi vì ngoài phẩm giá là một phần của "gia đình" (vì cô ấy tôn trọng những sợi dây vô hình gắn kết các thành viên trong gia đình qua dòng máu chẳng kém gì bất kỳ nhà bi kịch Hy Lạp nào), chúng tôi còn mang theo cái vẻ quyến rũ tươi mới của việc không phải là những chủ nhân thông thường của cô ấy. Và thế là, với biết bao niềm vui, cô ấy sẽ chào đón chúng tôi, với biết bao nỗi buồn, cô ấy sẽ phàn nàn rằng thời tiết vẫn quá tệ cho chúng tôi, vào ngày chúng tôi đến ngay trước lễ Phục sinh khi thường có những cơn gió buốt giá; trong khi Má hỏi thăm về con gái và các cháu trai của cô ấy, và liệu cháu ngoại của cô ấy có khôi ngô không, và họ định hướng cho nó làm nghề gì, và nó có giống bà ngoại của nó không.
Sau đó, khi trong phòng không còn ai khác, Má — người biết rằng Françoise vẫn đang thương tiếc cha mẹ mình, những người đã qua đời từ nhiều năm trước — sẽ nói về họ một cách tử tế, hỏi cô ấy vô số câu hỏi nhỏ nhặt về họ và cuộc đời họ.
Má đã đoán ra rằng Françoise không mấy yêu quý con rể của mình, và rằng anh ta làm hỏng niềm vui mà cô ấy tìm thấy khi đến thăm con gái, vì cả hai không thể thoải mái trò chuyện khi có mặt anh ta. Và thế là vào một ngày nọ, khi Françoise chuẩn bị đến nhà họ cách Combray vài dặm, Má mỉm cười nói với cô ấy: "Này Françoise, nếu Julien phải đi vắng và cô có một mình Marguerite suốt cả ngày, chắc cô sẽ buồn lắm nhỉ, nhưng rồi cô cũng sẽ cố gắng chịu đựng phải không nào?"
Và Françoise vừa cười vừa đáp: "Phu nhân biết hết mọi chuyện; Phu nhân còn tệ hơn cả máy chụp X-quang" (cô phát âm chữ 'x' với một vẻ cố tình khó nhọc và một nụ cười nhún nhường vì một người đàn bà thất học như mình lại dám dùng một thuật ngữ khoa học) "cái máy người ta mang đến đây cho bà Octave ấy, cái máy nhìn thấu cả lòng dạ người ta" — rồi cô bước đi, vừa bối rối vì có người quan tâm đến mình, có lẽ lại vừa lo lắng kẻo chúng tôi nhìn thấy cô đang khóc: Má là người đầu tiên mang lại cho cô cảm giác rằng cuộc đời nhà nông của mình, với những niềm vui và nỗi buồn giản dị, có thể mang lại một chút quan tâm, có thể là nguồn cội của đau khổ hay niềm vui đối với một ai đó ngoài chính bản thân cô.
Dì tôi đành chấp nhận việc vắng bóng Françoise phần nào trong những chuyến thăm của chúng tôi, bởi vì dì biết mẹ tôi đánh giá cao sự phục vụ của một người đầy tớ năng nổ và thông minh đến nhường nào — người mà vào lúc năm giờ sáng ở trong bếp, dưới chiếc mũ có những nếp ren cứng và chói lọi trông như làm bằng sứ, vẫn tươm tắp chẳng kém lúc diện đồ đi lễ nhà thờ; người làm mọi việc đâu ra đó, làm việc như trâu như ngựa dù khỏe hay ốm, nhưng không một tiếng động, không hề ra vẻ mình đang làm gì; người hầu duy nhất của dì mà khi Má xin nước sôi hay cà phê đen thì sẽ mang ra thứ nước thực sự đang sôi sùng sục. Cô ấy thuộc về tuýp những người hầu trong một gia đình thoạt nhìn có vẻ ít làm hài lòng một người lạ nhất, không nghi ngờ gì nữa là vì họ không bận tâm lấy lòng người khách hay dành cho người ấy sự chú ý đặc biệt nào, thừa biết rằng họ chẳng thực sự cần đến người đó, rằng vị khách ấy sẽ thôi được mời đến nhà còn sớm hơn họ bị sa thải; mặt khác, họ lại là những kẻ gắn bó trung thành nhất với những ông chủ bà chủ đã thử thách và chứng minh được năng lực thực sự của họ, chứ không tìm kiếm thứ sự hưởng ứng hời hợt đó, thứ niềm nở nô lệ đó — những thứ có thể gây ấn tượng tốt với một người lạ nhưng thường che giấu một sự trống rỗng cùng tận trong tâm hồn mà không một sự rèn luyện nào có thể gieo nổi dù chỉ một dấu vết nhỏ của cá tính.
Khi Françoise, sau khi thấy bố mẹ tôi đã có đủ mọi thứ họ cần, quay lại lầu trên để mang thuốc pepsin cho dì tôi và hỏi xem dì muốn ăn gì vào bữa trưa, thì hiếm có buổi sáng nào trôi qua mà cô không được yêu cầu đưa ra ý kiến hoặc cung cấp lời giải thích liên quan đến một sự kiện quan trọng nào đó.
"Cậu mợ có tưởng tượng nổi không, Françoise, mợ Goupil đã đi qua muộn hơn mười lăm phút để đón chị mình đấy: nếu mợ ấy còn la cà dọc đường nữa thì tôi chẳng ngạc nhiên chút nào nếu mợ ấy đến nơi sau lễ Dâng hoa đâu."
"Chà, chuyện đó thì có gì lạ đâu ạ," câu trả lời sẽ là như thế. Hoặc:
"Françoise, nếu cô vào đây trước đó năm phút, cô hẳn đã thấy mợ Imbert đi qua với mấy cọng măng to gấp đôi măng của mẹ Callot: hãy cố mà tìm hiểu xem mợ ấy mua ở đâu từ đầu bếp nhà mợ ấy nhé. Cô biết là mùa xuân nào cô cũng cho măng vào tất cả các món sốt của mình mà; cô có thể kiếm ít măng giống thế cho khách nhà chúng ta chứ."
"Cháu chẳng ngạc nhiên nếu chúng xuất phát từ nhà cha xứ đâu ạ," Françoise sẽ nói, và:
"Ta cá là cô chẳng ngạc nhiên thật đấy, cô Françoise tội nghiệp của ta," dì tôi đáp lại, nhún vai một cái. "Từ nhà cha xứ cơ đấy! Cô thừa biết là ông ta chẳng bao giờ trồng được gì ngoài mấy nhánh măng còi cọc tội nghiệp, chứ măng ngóc ngác gì. Ta nói cho cô nghe, măng đợt này to bằng bắp tay ta cơ đấy. Đương nhiên là không phải bắp tay cô, mà là cái bắp tay tội nghiệp của ta, năm nay lại gầy đi nhiều rồi." Hoặc là:
"Françoise, cô có nghe thấy tiếng chuông vừa rồi không? Nó làm tôi nứt cả đầu ra đây này."
"Không ạ, thưa bà Octave."
"Ồ, cô bé tội nghiệp, đầu óc cô chắc phải dày lắm đấy; cô phải tạ ơn Chúa vì điều đó. Đó là con Maguelone đến gọi bác sĩ Piperaud đấy. Ông ấy lập tức đi ra cùng nó và họ đi dọc theo phố de l'Oiseau. Chắc là có đứa trẻ nào bị ốm rồi."
"Ôi chao ôi, sinh linh tội nghiệp!" một tiếng thở dài thốt ra từ miệng Françoise, người không thể nghe tin về bất kỳ tai họa nào giáng xuống một người xa lạ, ngay cả ở một góc xa xôi nào đó trên thế giới, mà không bắt đầu than van. Hoặc là:
"Françoise, người ta vừa gióng chuông cầu hồn cho ai thế nhỉ? Ồ chao, chắc chắn là cho mợ Rousseau rồi. Và nghĩ xem tôi lại quên béng mất là mợ ấy đã qua đời đêm hôm trước. Quả thực, Chúa gọi tôi về với Ngài cũng là vừa lúc rồi; tôi chẳng biết đầu óc mình đi đâu từ khi mất đi anh Octave tội nghiệp nữa. Nhưng tôi đang làm mất thời gian của cô đấy, cô gái ngoan của tôi ạ."
"Đâu có ạ, thưa bà Octave, thời gian của cháu đâu có quý giá gì; ai tạo ra thời gian thì đâu có đem bán cho chúng ta. Cháu chỉ định đi xem lò sưởi của mình có bị tắt không thôi."
Cứ như thế, Françoise và dì tôi cùng nhau đánh giá một cách phê phán những sự việc xảy ra sớm nhất trong ngày trong suốt những phiên họp buổi sáng này. Nhưng đôi khi những sự việc ấy mang một vẻ huyền bí hoặc đáng báo động đến mức dì tôi cảm thấy không thể chờ đến lúc Françoise lên lầu, và thế là một tiếng chuông bốn hồi vang dội sẽ vang lên khắp ngôi nhà.
"Nhưng thưa bà Octave, đã đến giờ uống pepsin của bà đâu ạ," Françoise sẽ mở lời. "Bà thấy mệt trong người à?"
"Không, cảm ơn cô, Françoise," dì tôi sẽ đáp, "à mà thôi, đúng thế đấy; vì cô thừa biết là rất hiếm khi có lúc nào mà tôi không thấy mệt trong người; có một ngày tôi sẽ ra đi giống như mợ Rousseau trước khi kịp nhận ra điều gì đang xảy ra; nhưng không phải vì thế mà tôi rung chuông đâu. Cô có tin nổi không, tôi vừa trông thấy rõ mồn một như nhìn thấy cô đây, mợ Goupil đang đi cùng một bé gái mà tôi hoàn toàn không quen biết. Hãy chạy ra tiệm của Camus mua một xu muối đi. Hiếm khi nào thằng Théodore không biết người ta là ai lắm."
"Nhưng chắc đó là con gái ông Pupin đấy ạ," Françoise sẽ nói, thích bám vào một lời giải thích ngay lập tức, vì cô có lẽ đã vào tiệm Camus đến hai lần trong sáng hôm đó rồi.
"Con gái ông Pupin ư! Ồ, nghe có lý thật đấy, cô Françoise tội nghiệp của tôi ạ. Cô nghĩ là tôi không nhận ra con gái ông Pupin chắc!"
"Nhưng ý cháu không phải đứa lớn đâu thưa bà Octave; ý cháu là đứa bé gái nhỏ ấy, con bé đi học ở Jouy. Cháu có cảm giác như đã trông thấy nó một lần sáng nay rồi."
"Ồ, nếu thế thì đúng rồi!" dì tôi sẽ nói, "chắc nó về nghỉ lễ rồi. Đúng thế rồi. Khỏi cần phải hỏi, chắc chắn nó về nghỉ lễ rồi. Nhưng thế thì chẳng mấy chốc chúng ta sẽ thấy mợ Sazerat đi ngang qua và bấm chuông cửa nhà chị mình để ăn trưa cho xem. Chắc chắn là thế! Tôi đã thấy cậu bé nhà Galopin đi qua với một chiếc bánh tart. Cô cứ chờ mà xem, chiếc bánh tart đó là dành cho mợ Goupil đấy."
"Một khi mợ Goupil có khách trong nhà thì thưa bà Octave, chẳng mấy chốc mà bà sẽ thấy tất cả họ hàng nhà mợ ấy kéo vào đấy ăn trưa đâu ạ, vì bây giờ cũng chẳng còn sớm nữa," câu trả lời sẽ là như thế, bởi vì Françoise đang nóng lòng muốn xuống dưới nhà để lo bữa ăn cho chúng tôi, nên cũng chẳng buồn phiền gì khi để lại dì tôi với viễn cảnh về một sự tiêu khiển như vậy.
"Ồ! Không trước buổi trưa đâu!" dì tôi sẽ đáp với giọng điệu nhẫn nhịn, liếc nhanh một cái đầy bất an về phía chiếc đồng hồ, nhưng liếc trộm thôi để không ai thấy rằng con người đã từ chối mọi niềm vui trần thế ấy lại tìm thấy một sự thỏa mãn sâu sắc khi biết rằng mợ Goupil đang mong khách đến ăn trưa, mặc dù than ôi, dì vẫn phải đợi thêm hơn một tiếng đồng hồ nữa mới được thưởng thức cảnh tượng đó. "Và nó lại đến đúng vào giữa bữa ăn của tôi chứ lị!" dì sẽ lẩm bẩm một mình. Bản thân bữa ăn trưa của dì đã là một sự tiêu khiển lớn đến mức dì không thích có bất kỳ sự tiêu khiển nào khác chen vào cùng lúc đó. "Ít ra thì cô cũng không quên dọn món trứng đánh kem của tôi vào một trong những chiếc đĩa phẳng chứ?" Đó là những chiếc đĩa duy nhất có hình vẽ trên đó, và dì tôi thường tự giải trí trong mỗi bữa ăn bằng cách đọc phần mô tả trên bất kỳ chiếc đĩa nào được mang lên cho mình. Dì sẽ đeo kính vào và đánh vần: "Ali Baba và bốn mươi tên cướp," "Aladdin và cây đèn thần," rồi mỉm cười nói: "Thật là hay quá đi."
"Cháu cứ sang tiệm Camus một chuyến cũng được..." Françoise đánh bạo nói, thấy rằng dì tôi không còn ý định sai cô đi nữa.
"Thôi, thôi; bây giờ thì không đáng nữa đâu; chắc chắn là con bé nhà Pupin rồi. Cô Françoise tội nghiệp của tôi ơi, tôi xin lỗi vì đã bắt cô lên lầu vô ích nhé."
Nhưng chẳng phải là vô ích chút nào đâu, như dì tôi thừa biết, khi dì rung chuông gọi Françoise, bởi vì ở Combray, một người mà người ta "hoàn toàn không quen biết" cũng khó tin chẳng kém gì bất kỳ vị thần thoại nào, và người ta hay quên mất rằng sau mỗi lần xuất hiện ở phố du Saint-Esprit hay ngoài Quảng trường một trong những hiện tượng gây hoang mang này, những cuộc tìm hiểu kỹ lưỡng và cặn kẽ trước sau gì cũng đưa con quái vật hoang đường ấy về đúng với tỷ lệ của một người mà người ta "có quen biết" — quen trực tiếp hoặc gián tiếp trên giấy tờ hộ tịch, với tư cách là họ hàng gần xa của một gia đình nào đó ở Combray. Hóa ra đó lại là con trai của mợ Sauton vừa xuất ngũ, hay cô cháu gái của cha xứ Perdreau vừa tu viện trở về, hoặc em trai của cha xứ, một nhân viên thu thuế ở Châteaudun vừa mới về hưu hoặc ghé qua Combray nghỉ lễ. Ngay lần đầu nhìn thấy họ, bạn đã bị ấn tượng bởi ý nghĩ rằng ở Combray có thể có những người mà bạn "hoàn toàn không quen biết", chỉ đơn giản vì bạn đã không nhận ra hoặc không định danh được họ ngay lập tức. Thế nhưng từ trước đó rất lâu, mợ Sauton và cha xứ đã báo trước rằng họ đang mong đợi những vị "khách lạ" của mình. Buổi tối, khi tôi đi về nhà và lên lầu kể cho dì nghe những chuyện xảy ra trong buổi đi dạo của chúng tôi, nếu tôi vô ý nói với dì rằng chúng tôi vừa đi ngang qua gần cầu Pont-Vieux một người mà ông ngoại không quen biết:
"Một người mà ông không quen biết chút nào cơ á!" dì sẽ thốt lên. "Nghe có lý thật đấy." Dù vậy, dì cũng sẽ hơi bối rối trước tin đó, dì muốn nắm rõ các chi tiết chính xác, thế là ông ngoại sẽ được gọi lên. "Ai thế nhỉ, người mà anh đi ngang qua gần cầu Pont-Vieux ấy, bác? Một người mà anh hoàn toàn không quen biết á?"
"Ơ hay, đương nhiên là tôi quen chứ," ông ngoại sẽ đáp; "đó là Prosper, em trai người làm vườn của mợ Bouilleboeuf mà."
"A, thế à!" dì tôi sẽ nói, bình tĩnh trở lại nhưng mặt vẫn còn hơi ửng đỏ; "thế mà thằng bé bảo tao là anh đi ngang qua một người mà anh hoàn toàn không quen biết cơ đấy!" Sau đó, tôi sẽ được cảnh báo là phải cẩn thận hơn với những gì mình nói, và đừng làm dì phiền lòng vì những lời nhận xét thiếu suy nghĩ như thế. Mọi người ở Combray đều quen thuộc đến mức, cả động vật lẫn con người, rằng nếu dì tôi vô tình thấy một con chó đi ngang qua mà dì "hoàn toàn không quen biết", dì sẽ suy nghĩ về nó không ngừng, dành trọn tài năng quy nạp và những giờ phút rảnh rỗi của mình để giải quyết bài toán khó hiểu đó.
"Chắc đó là con chó của mợ Sazerat đấy ạ," Françoise sẽ gợi ý, chẳng hề có chút xác tín thực sự nào nhưng với hy vọng giữ được sự bình yên, và để dì tôi không bị "nứt đầu".
"Làm như tao không biết con chó của mợ Sazerat ấy!" — bởi vì óc phán đoán của dì tôi không dễ dàng chấp nhận bất kỳ sự kiện mới nào như thế.
"À, nhưng chắc đó là con chó mới mà anh Galopin mang về cho mợ ấy từ Lisieux đấy ạ."
"Ồ, nếu thế thì đúng rồi!"
"Nghe nói đó là một con vật cực kỳ đáng yêu," Françoise tiếp lời, sau khi nghe câu chuyện từ Théodore, "khôn ngoan như người, lúc nào cũng vui vẻ, lúc nào cũng thân thiện, lúc nào cũng tuyệt vời. Hiếm khi thấy con vật nào ngoan ngoãn đến thế ở cái tuổi ấy. Thưa bà Octave, đã đến lúc cháu phải đi xuống rồi ạ; cháu không thể cứ đứng đây la cà mãi được; kìa, đã gần mười giờ rồi mà lò sưởi của cháu còn chưa nhóm, và cháu vẫn còn phải làm măng nữa."
"Gì cơ, Françoise, lại măng nữa á! Cô năm nay đúng là mắc bệnh ghiền măng rồi đấy: cô sẽ làm cho mấy vị khách Paris của chúng ta phát ngấy lên mất thôi."
"Không đâu thưa bà Octave, họ thích lắm chứ ạ. Họ sắp đi lễ về với cái bụng đói meo cho xem, và họ sẽ không ăn kiểu hời hợt đâu, bà cứ chờ mà xem."
"Đi lễ! Ơ hay, chắc bây giờ họ đang ở đấy rồi chứ; tốt nhất là cô đừng lãng phí thời gian nữa. Đi lo việc bếp núc của cô đi."
Trong lúc dì tôi cứ râm ran trò chuyện như thế với Françoise, tôi sẽ đi cùng bố mẹ đi lễ nhà thờ. Tôi yêu nơi ấy biết bao: giờ đây tôi vẫn còn thấy nó rõ mồn một, ngôi nhà thờ của chúng tôi ở Combray! Hiên nhà cổ nơi chúng tôi bước vào, đen đúa và thủng lỗ chỗ như cái rây lọc, đã bị mòn vẹt và khoét sâu thành những rãnh lớn ở hai bên (hệt như chiếc chậu đựng nước thánh mà nó dẫn chúng tôi đến) cứ như thể cái chạm vuốt ve nhẹ nhàng của tà áo những người phụ nữ nhà quê khi bước vào nhà thờ, và những ngón tay họ nhúng vào nước, qua hàng thế kỷ lặp đi lặp lại đã có được một sức mạnh hủy diệt, hằn lên trên đá, khắc những đường rãnh vào đó giống như vết bánh xe bò hằn lên các trụ cổng đá mà chúng đâm vào mỗi ngày. Những phiến đá kỷ niệm dưới chân — nơi tro tàn cao quý của các Viện phụ Combray được chôn cất ở đó, tạo cho phần ca đoàn một thứ vỉa hè tâm linh — bản thân chúng cũng không còn là vật chất cứng nhắc và vô tri nữa, vì thời gian đã làm chúng mềm mại và ngọt ngào, đã làm chúng tan chảy như mật ong và tràn lan vượt qua cả những đường viền vốn có của chúng, hoặc trào ra trong một con sóng bọt trắng sữa, cuốn phăng khỏi vị trí của nó một đầu cột kiến trúc Gothic hoa mỹ, dìm chết những bông hoa violet trắng trên sàn cẩm thạch; hoặc ngược lại, được hấp thụ trở lại vào trong giới hạn của mình, tiếp tục co rút một dòng chữ khắc tiếng Latinh cau có, mang thêm một nét chấm phá kỳ ảo vào cách sắp xếp những ký tự bị cắt xén của nó, khép lại gần nhau hai chữ cái của một từ nào đó mà phần còn lại đã bị phân tán không cân xứng. Những ô cửa kính màu của nhà thờ chưa bao giờ rực rỡ cho bằng những ngày mặt trời ít chiếu sáng, thế nên nếu bên ngoài trời ảm đạm, bạn có thể chắc chắn là bên trong nhà thờ thời tiết sẽ đẹp. Một trong số những ô cửa kính ấy được lấp đầy từ trên xuống dưới bởi một nhân vật cô độc, giống như vị vua trên một lá bài, người ngự trị ở trên đó dưới tán cây bằng đá của mình, giữa trời và đất; và trong ánh sáng xanh lam của chiếc bóng xiên lệch của nó, vào những ngày thường đôi khi lúc giữa trưa, khi không có buổi lễ nào (vào một trong những khoảnh khắc hiếm hoi ấy khi ngôi nhà thờ thoáng đãng, trống trải, dường như có phần gần gũi với con người hơn và lộng lẫy hơn với ánh nắng phô bày toàn bộ nội thất phong phú của nó, dường như mang một bầu không khí gần như có thể ở được, giống như sảnh đường — toàn đá điêu khắc và kính màu — của một trang viên thời trung cổ nào đó), bạn có thể thấy mợ Sazerat quỳ xuống trong giây lát, đặt lên chiếc ghế bên cạnh mình một gói bánh ngọt nhỏ được buộc dây gọn gàng mà mợ vừa mua ở tiệm bánh và đang mang về nhà ăn trưa. Ở một ô cửa kính khác, một ngọn núi tuyết hồng hào mà dưới chân nó một trận chiến đang diễn ra, dường như cũng làm đóng băng luôn cả khung cửa sổ, nơi nó phình ra và bóp méo bằng lớp mưa tuyết mây mù của mình, giống như một ô kính mà những bông tuyết đã trôi dạt và bám vào, nhưng là những bông tuyết được chiếu rọi bởi ánh bình minh — chắc chắn là cùng một ánh sáng đã nhuộm tím bức bình phong sau bàn thờ với những tông màu tươi tắn đến mức chúng có vẻ giống như được hắt lên đó trong chốc lát bởi một luồng sáng tỏa ra từ bên ngoài và sẽ sớm lụi tàn hơn là được vẽ và gắn chặt vĩnh viễn trên đá. Và tất cả những ô cửa ấy đều cũ kỹ đến mức bạn có thể thấy, đây đó, sự cổ xưa lấp lánh ánh bạc của chúng với bụi của nhiều thế kỷ và phô bày trong vẻ r Brillante sờn rách của mình chính những sợi dây trong tấm thảm kính tuyệt đẹp của chúng. Có một ô cửa trong số đó là một tấm bảng cao được hợp thành bởi một trăm ô cửa sổ chữ nhật nhỏ, chủ yếu là màu xanh lam, giống như một trò chơi kiên nhẫn lớn kiểu được thiết kế để làm khuây khẻo Vua Charles VI; nhưng hoặc là vì một tia nắng đã chiếu xuyên qua nó, hoặc là vì tầm nhìn thay đổi liên tục của tôi đã quét qua ô cửa sổ — nơi mà màu sắc lụi tàn rồi lại bùng lên thay phiên nhau — một ngọn lửa hiếm hoi và chớp nhoáng: ngay khoảnh khắc tiếp theo, nó đã mang tất cả ánh cầu vồng của chiếc đuôi công, rồi rung rinh và dao động trong một trận mưa rực lửa và kỳ ảo, nhỏ giọt và rơi rớt từ phần giáp ranh của vòm đá tối tăm xuống những bức tường ẩm ướt, cứ như thể tôi đang đi theo bố mẹ mình — những người đang bước đi trước với những cuốn sách cầu nguyện cầm chặt trong tay — dọc theo lòng của một hang động cầu vồng với những thạch nhũ uốn lượn; chỉ một lát sau, những ô cửa sổ hình thoi nhỏ đã khoác lên mình vẻ trong suốt sâu thẳm, độ cứng không thể phá vỡ của những viên ngọc bích tụ lại trên một chiếc ngực áo khổng lồ; nhưng xa hơn thế nữa, người ta có thể nhận ra, còn đáng quý hơn cả những báu vật ấy, một nụ cười thoáng qua của mặt trời — thứ có thể được nhìn thấy và cảm nhận ở đây, trong dòng chảy xanh lam và dịu dàng mà nó dùng để tắm gội khối gạch đá, cũng như trên mặt pavement của Quảng trường hay thảm rơm của khu chợ; và ngay cả vào những Chủ nhật đầu tiên của chúng tôi, khi chúng tôi về trước lễ Phục sinh, nó sẽ an ủi tôi vì sự đen đúa và cằn cỗi của mặt đất bên ngoài bằng cách làm bừng nở, hệt như trong một mùa xuân thuở xưa nào đó giữa những hậu duệ của Thánh Louis, tấm thảm hoa lưu ly bằng thủy tinh rực rỡ và mạ vàng này.
Hai tấm thảm dệt khung dọc miêu tả lễ đăng quang của Esther (nơi truyền thuyết kể rằng người thợ dệt đã gán cho Ahasuerus những nét mặt của một vị vua nước Pháp và cho Esther những nét của một phu nhân xứ Guermantes mà nhà vua từng là người tình); màu sắc của chúng đã hòa quyện vào nhau để tăng thêm biểu cảm, độ nổi, ánh sáng cho các bức tranh. Một chút màu đỏ trên môi Esther đã lan ra ngoài đường viền của chúng; màu vàng trên váy của cô được dàn trải với sự đầy đặn ngậy mỡ đến mức đạt được một độ đặc nhất định, và nổi bật một cách táo bạo khỏi bầu không khí đang lùi dần; trong khi sắc xanh của những tán cây — vẫn còn tươi tắn trong tơ và len ở các phần dưới của tấm thảm, nhưng đã hoàn toàn "bay màu" ở phần trên — tách ra trong một phác đồ nhạt hơn, phía trên những thân cây sẫm màu, những cành cây ngả vàng ở phía trên, bị nắng sém và nửa lu mờ bởi những tia nắng vô hình sắc bén nhưng xiên xéo. Tất cả những điều này và, còn hơn thế nữa, những báu vật đã đến với nhà thờ từ những nhân vật đối với tôi là những nhân vật gần như huyền thoại (chẳng hạn như cây thánh giá bằng vàng do chính Thánh Eloi chế tác và được dâng tặng bởi Dagobert, cùng lăng mộ của các con trai Louis người German làm bằng đá porphia và đồng tráng men) — chính vì những thứ đó mà tôi thường bước vào nhà thờ khi chúng tôi tiến về chỗ ngồi của mình hệt như bước vào một thung lũng bị ma ám, nơi người nhà quê kinh ngạc nhìn thấy trên một mỏm đá, một gốc cây, một đầm lầy, những bằng chứng hữu hình về sự hiện diện siêu nhiên của tiểu yêu tinh — tất cả những điều này đã biến nhà thờ đối với tôi thành một thứ hoàn toàn khác biệt với phần còn lại của thị trấn; một công trình kiến trúc chiếm giữ, có thể nói như vậy, bốn chiều không gian — với tên của chiều thứ tư là Thời gian — thứ đã vượt qua các thế kỷ cùng gian nôm cổ kính ấy, nơi từng gian vòm này đến gian vòm khác, từng nhà nguyện này đến nhà nguyện khác, dường như vươn dài ra, níu giữ và chinh phục không chỉ vài thước đất, mà là từng thời kỳ kế tiếp nhau mà toàn bộ công trình đã trỗi dậy một cách khải hoàn, che giấu sự dã man xù xì thế kỷ thứ mười trong độ dày của những bức tường — nơi không thể nhìn thấy gì ngoài những vòm cuốn nặng nề, lâu nay đã bị bịt kín và làm mù bằng những khối đá xám thô ráp, ngoại trừ chỗ gần hiên nhà, một rãnh sâu được khoét vào một bức tường bởi cầu thang tháp chuông; và ngay cả ở đó, sự dã man vẫn được che đậy bởi dãy hành lang gothic duyên dáng đang tựa mình một cách yểu điệu lên nó, giống như một hàng các chị lớn để che giấu người em trai nhà quê, thô lỗ và ăn mặc tồi tàn khỏi ánh mắt của người lạ, mỉm cười xếp hàng đứng trước mặt nó — vươn lên bầu trời phía trên Quảng trường một ngọn tháp từng ngắm nhìn Thánh Louis và dường như vẫn đang chiêm ngưỡng ngài; và đâm sâu cùng hầm mộ của mình vào bóng tối của một đêm đen thời Merovingian — nơi qua đó, dẫn dắt chúng tôi bằng những đầu ngón tay lần mò dưới vòm tối tăm được gân xương chắc chắn như một chiếc cánh dơi khổng lồ bằng ngọc — Théodore hoặc em gái cậu sẽ thắp nến cho chúng tôi xem lăng mộ của cô con gái nhỏ thuộc dòng Sigebert, nơi một cái hố sâu, giống như cái giường của một hóa thạch, đã bị khoan thủng, hoặc người ta nói thế, "bởi một chiếc đèn pha lê mà vào đêm công chúa người Frank bị sát hại, đã tự ý rời khỏi những sợi xích vàng treo nó ở nơi cung thánh ngày nay, và chẳng hề làm vỡ pha lê cũng như tắt lửa, đã tự chôn vùi vào trong đá, xuyên qua lớp đá một cách nhẹ nhàng."
Và rồi cung thánh của Combray: tôi phải nói gì về nó đây? Nó thật thô kệch, thật thiếu vắng vẻ đẹp nghệ thuật, thậm chí cả tinh thần tôn giáo. Từ bên ngoài, vì ngã tư đường mà nó hướng ra nằm ở độ cao thấp hơn, bức tường lớn của nó bị đẩy vọt lên từ một chân đế bằng đá xám chưa mài nhẵn, lởm chởm đá lửa, trong đó chẳng có gì mang tính nhà thờ đặc biệt cả; những khung cửa sổ dường như được trổ ở độ cao bất thường, và toàn bộ diện mạo của nó giống bức tường nhà tù hơn là một nhà thờ. Và chắc chắn là trong những năm sau này, nếu tôi nhớ lại tất cả những phần cung thánh lừng lẫy mà tôi từng thấy, tôi sẽ chẳng bao giờ có ý định so sánh bất kỳ cái nào trong số đó với cung thánh của Combray. Chỉ có điều, có một ngày, khi rẽ khỏi một con phố nhỏ ở một thị trấn đồng quê nào đó, tôi bắt gặp ba con ngõ hội tụ, và đối diện với chúng là một bức tường cũ, bị cọ xát, mòn vẹt, mục nát và cao bất thường; với những khung cửa sổ được trổ trên cao tít và có vẻ ngoài bất đối xứng y như cung thánh của Combray. Và vào khoảnh khắc ấy, tôi không tự nhủ với bản thân rằng, như tôi có thể đã làm ở Chartres hoặc ở Rheims, cảm giác tôn giáo đã được thể hiện mạnh mẽ nhường nào trong cấu trúc của nó, mà một cách bản năng tôi thốt lên: "Nhà thờ!"
Nhà thờ! Một người bạn thân thiết, quen thuộc; nép mình sát rạt trên phố Saint-Hilaire — nơi cửa phía bắc của nó mở ra — bởi hai người hàng xóm, ngôi nhà của mợ Loiseau và hiệu thuốc của ông Rapin, tựa lưng vào tường nhà thờ mà không có chút khoảng trống nào; một người dân bình dị của Combray, người lẽ ra có thể mang số nhà trên phố nếu các đường phố Combray có đánh số, và trước cửa nhà người ta cảm thấy bác đưa thư nên dừng chân trong vòng quay buổi sáng của mình, trước khi bước vào nhà mợ Loiseau và sau khi rời khỏi tiệm ông Rapin. Dù vậy, giữa nhà thờ và mọi thứ ở Combray không phải là nhà thờ vẫn tồn tại một ranh giới rõ ràng mà tôi chưa bao giờ thành công trong việc xóa nhòa khỏi tâm trí mình. Mợ Loiseau có uổng công trang trí bệ cửa sổ bằng những chậu hoa vân anh — loài cây có thói quen xấu là để cho các cành của chúng la đà mọi lúc mọi nơi, chúc đầu xuống đất, và những bông hoa chẳng có việc gì quan trọng hơn khi chúng đủ lớn để nếm trải niềm vui cuộc sống là đi làm mát đôi má tím tái, sưng húp của mình vào bức tường sẫm màu của nhà thờ; đối với tôi, hành động ấy chẳng hề làm cho hoa vân anh trở nên thanh tịnh chút nào; giữa những bông hoa và những hòn đá đen đúa mà chúng ngả đầu vào, nếu mắt tôi không thể nhận ra khoảng cách nào, thì tâm trí tôi vẫn bảo lưu ấn tượng về một vực thẳm.
Từ đằng xa, người ta có thể nhận ra và định danh ngọn tháp chuông của Saint-Hilaire khắc in hình dáng khó quên của nó lên đường chân trời bên dưới mà Combray vẫn chưa xuất hiện; khi từ chuyến tàu đưa chúng tôi từ Paris về vào dịp lễ Phục sinh, cha tôi nhìn thấy nó lướt vào từng nếp trời luân phiên, với con gà trống bằng sắt nhỏ cứ quay mòng mòng về mọi hướng, ông sẽ bảo: "Nào, thu dọn hành lý đi, chúng ta đến nơi rồi." Và trong một trong những chuyến đi dạo dài nhất mà chúng tôi từng thực hiện từ Combray, có một nơi mà con đường hẹp bất ngờ dẫn ra một khoảng đồng bằng mênh mông, khép kín ở đường chân trời bởi những dải rừng mà phía trên đó mọc lên và đứng sừng sững một mình điểm nhọn tinh tế của tháp chuông Saint-Hilaire, nhưng sắc nhọn và hồng hào đến mức có vẻ như nó chỉ được phác thảo trên bầu trời bằng móng tay của một họa sĩ muốn dành cho một phong cảnh như thế, một "bức tranh thiên nhiên" tinh khiết như thế, dấu hiệu nhỏ này của nghệ thuật, chỉ dẫn duy nhất về sự tồn tại của con người. Khi người ta tiến lại gần nó và có thể nhận ra dấu tích của ngọn tháp vuông nửa đổ nát vẫn đứng bên cạnh, dù không bì kịp về chiều cao, người ta sẽ bị ấn tượng trước hết bởi tông màu đỏ sẫm và u ám của những hòn đá; và vào một buổi sáng mùa thu sương mù, người ta hẳn sẽ gọi nó, khi thấy nó vươn lên trên đám mây dông màu tím của các vườn nho, là một đống đổ nát màu tía, gần như có màu của loài nho dại.
Thường thì ngoài Quảng trường, trên đường về nhà, bà ngoại sẽ bắt tôi dừng lại để ngước nhìn nó. Từ những ô cửa sổ của tháp chuông, được xếp thành từng đôi một cái chồng lên cái kia với tỷ lệ chuẩn xác và độc đáo trong khoảng cách của chúng — thứ tỷ lệ không chỉ khuôn mặt con người mới mang lại vẻ đẹp và phẩm giá — nó thả ra, để rơi xuống đều đặn những đàn chim cà cưỡng vút bay và kêu quác quác trong chốc lát, hệt như thể những hòn đá cổ xưa cho phép chúng vui đùa như thế mà dường như chẳng bao giờ nhìn thấy chúng, bỗng chốc trở nên không thể dung thứ và trút bỏ một yếu tố gây xáo trộn vô tận, đã đánh trúng và xua đuổi chúng đi. Rồi sau khi vẽ hoa văn khắp bầu trời nhung tím của buổi chiều, chợt dịu hẳn lại, chúng sẽ quay trở lại và được hấp thụ vào ngọn tháp, không còn chết chóc mà trở nên ơn phúc, vài con đậu đây đó (dường như không nhúc nhích, nhưng có lẽ đang đớp và nuốt chửng một con côn trùng bay qua) trên những chóp đỉnh tháp, hệt như một con mòng biển đậu với sự bất động của một kẻ câu cá trên đỉnh ngọn sóng. Không hiểu rõ vì lý do gì, bà ngoại tìm thấy ở ngọn tháp chuông Saint-Hilaire sự vắng bóng của vẻ tầm thường, sự phô trương và tính bần tiện — những điều khiến bà yêu mến (và cho là chứa đựng đầy rẫy những ảnh hưởng tốt lành) chính bản thân thiên nhiên khi bàn tay con người chưa hề tía tỉa như người làm vườn của dì tôi, và những tác phẩm của thiên tài. Và chắc chắn là mọi phần nhìn thấy được của nhà thờ đều góp phần làm cho toàn bộ công trình khác biệt với bất kỳ tòa nhà nào khác bởi một thứ cảm giác chung lan tỏa trong đó, nhưng chính ở tháp chuông, nhà thờ dường như thể hiện ý thức về chính mình, khẳng định sự tồn tại cá nhân và chịu trách nhiệm của nó. Chính tháp chuông là kẻ cất lời thay cho nhà thờ. Tôi cũng nghĩ rằng, một cách mơ hồ, bà ngoại đã tìm thấy ở tháp chuông Combray điều mà bà trân trọng hơn bất cứ thứ gì trên đời, đó là vẻ tự nhiên và vẻ cao sang. Không rành về kiến trúc, bà thường nói:
Này các con, muốn cười cứ cười mẹ đi; nó không đẹp theo kiểu quy ước, nhưng có cái gì đó trong cái mặt cổ kỳ quặc của nó làm mẹ thích thú. Nếu nó biết chơi piano, mẹ chắc chắn là nó sẽ chơi rất tuyệt." Và khi bà đắm chìm ngắm nhìn nó, khi đôi mắt bà dõi theo sức căng dịu dàng, độ nghiêng thành kính của những sườn dốc bằng đá đang chụm lại khi vươn cao, giống như đôi bàn tay chắp lại cầu nguyện, bà sẽ đắm mình hoàn toàn vào sự trào dâng của chóp tháp đến mức cái nhìn của bà dường như vọt vút lên theo nó; đôi môi bà đồng thời cong lên một nụ cười thân thiện dành cho những hòn đá cổ mòn vẹt mà ánh hoàng mặt trời lúc bấy giờ chỉ còn chiếu rọi những đỉnh cao nhất — những điểm khi chạm vào vùng ánh sáng mặt trời ấy, được làm cho mềm mại và ngọt ngào bởi nó, dường như đã vọt lên cao hơn hẳn, trở nên thực sự xa xôi, giống như một khúc ca mà người ca sĩ chuyển sang giọng giả thanh, cao hơn một quãng tám so với giai điệu đệm theo.
Chính tháp chuông Saint-Hilaire đã định hình, vương miện hóa và thánh hóa mọi sinh hoạt, mọi giờ phút trong ngày, mọi góc nhìn trong thị trấn. Từ cửa sổ phòng ngủ của mình, tôi chỉ có thể nhìn thấy phần chân tháp mới được lợp lại bằng những phiến đá phiến đen; nhưng khi vào những Chủ nhật, tôi nhìn thấy chúng dưới ánh sáng gay gắt của một buổi sáng mùa hè, chói lọi như một mặt trời đen, tôi sẽ tự nhủ: "Ôi trời đất ơi! Chín giờ rồi! Mình phải chuẩn bị đi lễ ngay thôi nếu muốn kịp vào chúc sức khỏe dì Léonie trước," và tôi sẽ biết chính xác sắc thái của ánh nắng trên Quảng trường là gì, tôi có thể cảm nhận cái nóng và bụi bặm của khu chợ, bóng râm sau tấm rèm của cửa hàng mà Má có thể sẽ ghé vào trên đường đi lễ, xuyên qua mùi vải mộc chưa tẩy để mua một chiếc khăn tay hay thứ gì đó mà chính người chủ tiệm sẽ cho mợ xem những gì ông có, cúi gập người chào — người sau khi đã chuẩn bị mọi thứ để đóng cửa, vừa bước vào căn phòng phía sau để mặc chiếc áo khoác ngày Chủ nhật và rửa tay, một thói quen mà cứ vài phút và ngay cả trong những dịp buồn bã nhất, ông lại cọ xát tay này vào tay kia với một vẻ đầy ý chí, ranh mãnh và thành công.
Và rồi, sau buổi lễ, khi chúng tôi ghé qua bảo Théodore mang một ổ bánh mì lớn hơn bình thường vì các anh chị em họ của chúng tôi đã tranh thủ thời tiết đẹp để từ Thiberzy sang ăn trưa, chúng tôi có trước mặt mình ngọn tháp chuông — bản thân nó cũng được nướng chín và rám nâu như một ổ bánh mì "thánh" lớn hơn nữa, với những mảnh vụn và giọt ánh sáng dính bết trên đó — đang đâm mũi nhọn của nó vào bầu trời xanh. Và vào buổi chiều, khi tôi đi dạo về và nghĩ đến khoảnh khắc sắp đến khi tôi phải nói lời chúc ngủ ngon với mẹ và không còn được gặp mẹ nữa, tháp chuông trái lại lại vô cùng thân thiện ở đó, vào lúc cuối ngày, đến nỗi tôi sẽ tưởng tượng nó được áp vào, giống như một chiếc gối nhung nâu — được ấn vào bầu trời nhợt nhạt vốn đã nhún xuống dưới sức nặng của nó, lún xuống một chút để nhường chỗ cho nó, và dâng cao tương ứng ở cả hai bên; trong khi tiếng kêu của những chú chim chao lượn quanh nó dường như làm tăng thêm sự tĩnh lặng của nó, kéo dài chóp tháp của nó hơn nữa, và phủ lên nó một phẩm chất vượt quá tầm ngôn từ.
Ngay cả khi những việc vặt của chúng tôi đưa đến những nơi nằm phía sau nhà thờ — nơi không thể nhìn thấy nó — quang cảnh dường như vẫn luôn được bố cục hướng về tháp chuông, thứ sẽ sừng sững, lúc ở đây, lúc ở kia giữa những ngôi nhà, và có lẽ thậm chí còn xúc động hơn khi nó xuất hiện theo cách ấy mà không có nhà thờ. Và quả thực, có rất nhiều ngọn tháp khác trông đẹp nhất khi được nhìn theo cách này, và tôi có thể gợi nhớ lại những bức tranh thu nhỏ về những mái nhà với các tháp chuông phía trên trong một thể loại nghệ thuật hoàn toàn khác với những con đường ảm đạm của Combray. Tôi sẽ không bao giờ quên, trong một thị trấn vùng Normandy kỳ quặc không xa Balbec, hai ngôi nhà thế kỷ XVIII duyên dáng đáng yêu, thân thiết với tôi và đáng kính vì nhiều lý do, giữa hai ngôi nhà đó, khi người ta ngước nhìn lên từ một khu vườn đẹp dốc thoạt xuống sông, tháp chuông gothic của một nhà thờ (bản thân nó bị che khuất bởi các ngôi nhà) vút lên bầu trời với hiệu ứng vương miện hóa và hoàn thiện mặt tiền của chúng, nhưng bằng một chất liệu rất khác, rất quý giá, ngập tràn nhẫn ngọc, hồng hào, được đánh bóng đến mức người ta nhận ra ngay lập tức nó chẳng hề thuộc về chúng nhiều hơn hai viên cuộn sỏi xinh xắn nằm cạnh nhau, giữa chúng nó đã bị sóng đánh dạt vào bờ bãi — ngọn tháp màu tím, nhăn nheo của một vỏ ốc biển nào đó được kéo dài thành một tháp pháo và vui tươi với màu sắc bóng loáng. Ngay cả ở Paris, tại một trong những khu vực xấu xí nhất của thị trấn, tôi biết một khung cửa sổ từ đó người ta có thể nhìn qua lớp mái nhà hỗn độn thứ nhất, thứ hai và thậm chí thứ ba, con phố nối tiếp con phố, một chiếc chuông màu tím, đôi khi đỏ rực, đôi khi cũng vậy, trong những bức tranh khắc đẹp nhất mà bầu không khí tạo ra từ nó, mang sắc tro của màu đen — thực chất chẳng là gì khác ngoài mái vòm của nhà thờ Saint-Augustin, và truyền cho góc nhìn này về Paris nét đặc trưng của một số bản khắc Piranesi về Rome. Nhưng vì trong bất kỳ bức tranh khắc nhỏ nào trong số này, bất kể gu thẩm mỹ mà ký ức của tôi có thể mang lại cho việc thực hiện chúng, nó không thể đóng góp một yếu tố mà tôi đã đánh mất từ lâu — cảm giác khiến chúng ta không chỉ xem một sự vật như một màn trình diễn, mà còn tin vào nó như một sinh vật vô song — nên không có bức nào trong số chúng giữ lại phụ thuộc vào nó toàn bộ một phần trong đời sống nội tâm sâu thẳm nhất của tôi như ký ức về những khía cạnh của ngọn tháp chuông Combray từ những con đường phía sau nhà thờ. Dù người ta nhìn thấy nó vào lúc năm giờ khi đi lấy thư ở bưu điện, cách đó vài cửa nhà về bên trái, nâng vút lên bằng đỉnh tháp cô lập của mình dải mái nhà; hay một lần nữa, khi người ta phải vào hỏi thăm tình hình mợ Sazerat, người ta dõi theo đường nét nơi nó thấp xuống lần nữa vượt qua sườn dốc xa hơn đang đi xuống, và người ta biết rằng đó sẽ là khúc rẽ thứ hai sau ngọn tháp chuông; hoặc lại một lần nữa, nếu tiến xa hơn đến nhà ga, người ta nhìn thấy nó xiên xéo, phô ra ở mặt nghiêng những góc và bề mặt tươi mới, giống như một khối rắn bị bắt gặp tại một điểm không xác định nào đó trong vòng quay của nó; hoặc từ bờ sông Vivonne, cung thánh được thu gọn lại đầy cơ bắp và được tôn cao trong phối cảnh, dường như vọt lên với nỗ lực mà tháp chuông bỏ ra để phóng mũi nhọn của mình vào tận trái tim thiên nhiên: thì vẫn luôn là tháp chuông mà người ta phải quay về, luôn là nó thống trị mọi thứ khác, tổng kết những ngôi nhà với một chóp đỉnh bất ngờ, dựng lên trước mặt tôi như Ngón tay của Chúa — Đấng mà Thân thể Ngài có lẽ đã ẩn giấu đâu đó bên dưới giữa đám đông thân thể con người mà tôi không sợ nhầm lẫn Ngài với họ vì lý do đó. Và thế là ngay cả ngày nay ở bất kỳ thị trấn tỉnh lẻ lớn nào, hoặc trong một khu phố Paris mà tôi không rành, nếu một người qua đường đang "chỉ đường đúng" cho tôi thấy từ đằng xa, như một điểm hướng tới, một cái gác chuông bệnh viện nào đó, hay tháp chuông tu viện đang nhô cái đỉnh mũ giáo sĩ của nó ở góc con đường tôi phải rẽ, ký ức của tôi chỉ cần tìm thấy ở đó một sự giống mờ ảo nào đó với đường nét thân thương và đã biến mất ấy, và người qua đường, nếu quay lại để chắc chắn rằng tôi không đi lạc, sẽ nhìn thấy tôi trong sự kinh ngạc, quên đi chuyến đi dạo tôi đã định thực hiện hoặc nơi tôi có mặt, đứng bất động tại chỗ, trước tháp chuông ấy hàng giờ liền, bất động, cố gắng nhớ lại, cảm thấy sâu thẳm trong bản thân mình một dải đất được khai hoang khỏi dòng nước sông Lethe đang từ từ khô cạn cho đến khi các công trình mọc lên trên đó lần nữa; và rồi chắc chắn, và rồi bất an hơn lúc nãy khi tôi hỏi đường ông ấy, tôi sẽ tìm lại con đường của mình, tôi sẽ rẽ qua một góc phố... nhưng... đích đến ở trong tim tôi...
Trên đường đi lễ về, chúng tôi thường gặp ông Legrandin — người bị giữ lại ở Paris bởi công việc chuyên môn kỹ sư nên chỉ có thể (ngoại trừ các kỳ nghỉ định kỳ) về thăm nhà ở Combray giữa chiều thứ Bảy và sáng thứ Hai. Ông thuộc về tầng lớp đàn ông mà ngoài sự nghiệp khoa học có thể đã gặt hái thành công rực rỡ, họ còn tiếp thu một loại văn hóa hoàn toàn khác, văn học hoặc nghệ thuật, mà họ không dùng đến trong công việc chuyên môn chuyên biệt của mình nhưng cuộc trò chuyện của họ lại được hưởng lợi từ đó. "Văn sáu" hơn nhiều "nhà văn" (vào thời điểm này chúng tôi không hề hay biết ông Legrandin có một tiếng tăm nhất định như một nhà văn, và vì thế vô cùng kinh ngạc khi phát hiện ra một nhà soạn nhạc nổi tiếng đã phổ nhạc cho một số bài thơ của ông), được ban tặng sự lưu loát trong thể hiện hơn nhiều họa sĩ, họ tưởng tượng rằng cuộc sống họ buộc phải sống không phải là cuộc sống họ thực sự phù hợp, và họ mang đến những công việc thường nhật của mình hoặc một sự thờ ơ kỳ ảo hoặc một sự tận tụy bền bỉ và cao cả, đầy khinh miệt, cay đắng và tận tâm. Cao ráo, vóc dáng đẹp, gương mặt tuấn tú, suy tư, hàng ria mép vàng rủ xuống, ánh mắt vỡ mộng trong đôi mắt xanh, sự lịch thiệp tinh tế đến mức gần như phóng đại; một người trò chuyện chẳng giống ai mà chúng tôi từng nghe thấy; trong mắt gia đình tôi — những người không ngớt ca tụng ông làm gương — ông chính là hình mẫu của một quý ông, người đón nhận cuộc sống bằng cách cao cả và tinh tế nhất. Chỉ có bà ngoại là chê ông nói hơi quá chuẩn, hơi giống sách vở, không dùng từ vựng tự nhiên như chiếc cà vạt buộc lỏng kiểu Lavallière hay chiếc áo khoác ngắn, thẳng, gần như học sinh của ông. Bà cũng ngạc nhiên trước những lời lăng mạ giận dữ mà ông luôn trút vào tầng lớp quý tộc, vào đời sống thượng lưu và "thói trọc phú" — "chắc chắn rồi," ông thường nói, "đó là tội lỗi mà thánh Phaolô nghĩ đến khi ngài nói về tội lỗi không thể được tha thứ."
Tham vọng thế tục là thứ mà bà ngoại hoàn toàn không có khả năng cảm nhận, hay thậm chí hiểu được, đến mức bà thấy thật vô nghĩa khi bỏ ra nhiều sức lực để lên án nó. Hơn nữa, bà nghĩ không mấy hay ho khi ông Legrandin — người có em gái kết hôn với một điền chủ ở Hạ Normandy gần Balbec — lại đưa ra những lời tấn công bạo lực như vậy đối với giới quý tộc, thậm chí đi xa tới mức trách móc Cách mạng vì đã không mang tất cả bọn họ ra máy chém.
"Gặp nhau may quá, những người bạn của tôi!" ông thường nói khi tiến về phía chúng tôi. "Các bạn thật may mắn khi được dành từng ấy thời gian ở đây; ngày mai tôi phải trở về Paris, để chui rúc trở lại vào cái tổ của mình."
"Ồ, tôi thừa nhận đấy," ông tiếp lời với nụ cười đặc trưng của riêng mình, mang vẻ mỉm khan nhẹ nhàng, vỡ mộng và mơ hồ, "tôi có đủ mọi thứ vô dụng trên đời trong ngôi nhà của mình ở trỏng. Thứ duy nhất thiếu lại là thứ cần thiết, một khoảng trời rộng mở như thế này. Hãy luôn cố gắng giữ một mảnh trời bên trên cuộc đời các con, cậu bé nhé," ông nói thêm, quay sang tôi. "Cậu có một tâm hồn thuộc loại hiếm quý, bản chất của một nghệ sĩ; đừng bao giờ để nó chết đói vì thiếu những gì nó cần."
Khi chúng tôi về đến nhà, dì tôi sẽ sai người sang hỏi xem mợ Goupil có thực sự đến lễ muộn hay không, không một ai trong chúng tôi có thể thông tin cho dì được. Thay vào đó, chúng tôi làm tăng thêm sự lo lắng của dì bằng cách kể rằng có một họa sĩ đang làm việc trong nhà thờ để sao chép ô cửa sổ của Gilbert Kẻ ác. Françoise ngay lập tức được phái đến tiệm tạp hóa, nhưng trở về tay không do sự vắng mặt của Théodore — người kiêm nhiệm cả hai vai trò là ca viên trong đội ca đoàn, góp phần duy trì cấu trúc nhà thờ, vừa là nhân viên cửa hàng tạp hóa — đã mang lại cho anh ta không chỉ mối quan hệ với mọi tầng lớp xã hội mà còn một kiến thức bách khoa toàn thư về công việc của họ.
Ôi!" dì tôi sẽ thở dài, "tôi ước gì đến giờ Eulalie đến. Cô ấy thực sự là người duy nhất có thể cho tôi biết."
Eulalie là một trinh nữ thọt chân, năng nổ và điếc lác, đã "về hưu" sau cái chết của mợ de la Bretonnerie — người mà cô đã hầu hạ từ khi còn nhỏ — và sau đó đã thuê một căn phòng bên cạnh nhà thờ, từ đó cô sẽ không ngừng xuất hiện, hoặc để tham dự một buổi lễ nào đó, hoặc khi không có lễ thì để cầu nguyện một mình hoặc phụ giúp một tay cho Théodore; thời gian còn lại cô dành để thăm viếng những người ốm đau như dì Léonie của tôi, với họ cô sẽ kể lại mọi chuyện đã xảy ra trong thánh lễ hay giờ kinh chiều. Cô không ngại kiếm thêm tiền tiêu vặt bên cạnh khoản thu nhập nhỏ được gia đình chủ cũ chu cấp cho bằng cách thỉnh thoảng đến lo giặt giũ quần áo cho cha xứ, hoặc của một nhân vật có tiếng nào đó trong thế giới giáo sĩ của Combray. Phía trên chiếc áo khoác bằng vải đen, cô đội một chiếc khăn trùm đầu trắng nhỏ dường như gắn kết cô với một Dòng tu nào đó, và một chứng bệnh ngoài da đã làm nhuốm một phần má và chiếc mũi khoằm của cô thành màu đỏ rực của hoa bóng nước. Những chuyến viếng thăm của cô là niềm tiêu khiển lớn duy nhất trong cuộc đời của dì Léonie — người giờ đây hầu như chẳng gặp ai khác, ngoại trừ ngài cha xứ đáng kính. Dì tôi đã dần dần gạch tên mọi vị khách khác khỏi danh sách của mình, bởi vì tất cả họ đều phạm phải sai lầm chí mạng trong mắt dì, đó là rơi vào một trong hai nhóm người mà dì căm ghét nhất. Nhóm thứ nhất, tệ hơn trong hai nhóm và là nhóm bị dì loại bỏ trước tiên, gồm những người khuyên dì không nên chăm sóc bản thân quá kỹ, và rao giảng (ngay cả khi chỉ ngầm định và không có dấu hiệu bên ngoài nào ngoài một khoảng lặng không tán thành thỉnh thoảng hoặc một nụ cười nghi ngờ) cái học thuyết lãng phí rằng một buổi đi dạo nhanh dưới nắng và một miếng bít tết bò đỏ ngon lành sẽ làm dì khỏe hơn (một người mà đã uống hai ngụm nước Vichy khủng khiếp nằm trong dạ dày suốt mười bốn tiếng đồng hồ!) so với tất cả những chai thuốc và chiếc giường của dì. Nhóm thứ hai gồm những người có vẻ tin rằng dì bị bệnh nặng hơn dì tưởng, thực ra là nặng như những gì dì nói. Và thế là không một ai trong số những người được dì cho phép lên phòng mình, sau một thời gian do dự đáng kể và theo lời khẩn khoản của Françoise, và trong chuyến thăm đã thể hiện sự bất xứng thế nào với vinh dự dành cho họ bằng cách dám thốt lên một câu rụt rè: "Bà không nghĩ là nếu bà chịu khó ra ngoài vào những ngày thực sự đẹp trời..." hoặc ngược lại, khi dì bảo họ: "Tôi suy sụp lắm rồi, suy sụp lắm rồi; gần đến ngày rồi, các bạn thân mến ạ!", lại đáp rằng: "À vâng, khi người ta không còn chút sức lực nào! Tuy nhiên, bà vẫn có thể kéo dài thêm một thời gian"; cả hai nhóm đều có thể chắc chắn rằng cửa nhà dì sẽ không bao giờ mở ra cho họ lần nữa. Và nếu Françoise cảm thấy thú vị trước vẻ mặt sửng sốt của dì tôi mỗi khi nhìn thấy từ trên giường bất kỳ ai trong số những người này ở phố du Saint-Esprit, những người trông có vẻ như sắp đến thăm dì, hoặc nghe thấy tiếng chuông cửa nhà mình, cô ấy sẽ cười lớn hơn nhiều, hệt như một mưu mẹo thông minh, trước những mưu kế của dì (chưa bao giờ thất bại) để đuổi họ về, và trước vẻ mặt hụt hẫng của họ khi phải quay đầu đi mà không được gặp dì; và sẽ tràn ngập sự ngưỡng mộ thầm kín dành cho chủ nhân của mình, người mà cô cảm thấy vượt trội hơn tất cả những kẻ khác ở chỗ dì có thể và thực sự xoay sở để không phải gặp họ. Tóm lại, dì tôi đặt điều kiện, cùng một lúc, rằng bất kỳ ai đến thăm dì đều phải tán thành lối sống của dì, thương xót cho những nỗi đau đớn của dì, và đoan chắc với dì về một sự hồi phục cuối cùng.
Trong tất cả những điều này, Eulalie là người giỏi nhất. Dì tôi có thể nói với cô ấy hai mươi lần trong một phút: "Cuối cùng thì ngày tận thế cũng đến rồi, cô Eulalie tội nghiệp của tôi ơi!", thì hai mươi lần Eulalie sẽ bật lại bằng câu: "Hiểu rõ căn bệnh của mình như bà, thưa bà Octave, bà sẽ sống đến một trăm tuổi, hệt như mợ Sazerin đã nói với cháu ngày hôm qua vậy." Bởi vì một trong những niềm tin bám rễ sâu nhất của Eulalie, và là thứ mà danh sách đính chính khổng lồ do kinh nghiệm của cô biên soạn không sao nhổ rễ nổi, chính là việc họ của mợ Sazerat thực chất là mợ Sazerin.
Dì tôi sẽ nói: "Tôi không đòi hỏi phải sống đến một trăm tuổi đâu," bởi vì dì thích không có giới hạn nào được ấn định rõ ràng cho số ngày đời mình.
Và vì ngoài điều đó ra, Eulalie biết rõ hơn bất kỳ ai cách làm cho dì tôi khuây khỏa mà không làm dì mệt mỏi, nên những chuyến thăm của cô ấy — diễn ra đều đặn vào mỗi Chủ nhật, trừ khi có điều gì bất ngờ xảy ra ngăn cản — là một niềm vui đối với dì mà triển vọng của nó giữ cho dì trong những ngày đó ở trạng thái mong đợi đủ hấp dẫn để bắt đầu, nhưng ngay lập tức chuyển thành nỗi thống khổ của một cơn đói bị bỏ đói quá lâu nếu Eulalie đến muộn dù chỉ một phút. Bởi vì nếu kéo dài quá mức, sự ngây ngất khi chờ đợi Eulalie sẽ trở thành một sự tra tấn, và dì tôi sẽ không ngừng nhìn giờ, ngáp dài ngáp ngắn, và phàn nàn hết triệu chứng này đến triệu chứng khác của mình. Tiếng chuông của Eulalie, nếu vang lên từ cửa trước vào lúc cuối ngày khi dì không còn mong đợi nữa, suýt nữa đã làm dì ốm luôn. Sự thật là vào các ngày Chủ nhật, dì chẳng nghĩ gì ngoài chuyến thăm này, và ngay khi bữa trưa của chúng tôi kết thúc, Françoise sẽ trở nên sốt ruột giục chúng tôi rời phòng ăn để cô có thể lên lầu "chiếm giữ" dì tôi. Nhưng — và điều này càng đúng hơn bao giờ hết kể từ ngày thời tiết đẹp thực sự ổn định ở Combray — giờ trưa kiêu hãnh, hạ xuống từ tháp chuông Saint-Hilaire — nơi nó làm rực rỡ trong chốc lát với mười hai mũi nhọn của vương miện vang dội của nó — đã vang vọng quanh bàn ăn của chúng tôi từ lâu, bên cạnh ổ bánh "thánh" — thứ cũng đã bước vào, sau nhà thờ, theo cách quen thuộc của nó; và chúng tôi vẫn sẽ ngồi trước những chiếc đĩa nghìn lẻ một đêm, trĩu nặng bởi cái nóng trong ngày, và thậm chí còn trĩu nặng hơn bởi bữa ăn thị soạn của chúng tôi. Bởi vì ngoài nền tảng thường trực là trứng, sườn cút, khoai tây, mứt và bánh quy — những thứ mà cô không còn thông báo sự xuất hiện của chúng trên bàn ăn nữa — Françoise sẽ bổ sung thêm — tùy theo sức lao động của đồng áng và vườn orchard, mùa màng của thủy triều, vận may của các khu chợ, lòng tốt của hàng xóm và chính thiên tài của cô — và hiệu quả đến mức thực đơn của chúng tôi, giống như những ô cửa hoa bốn thùy được chạm khắc trên các hiên của các nhà thờ lớn thế kỷ XIII, phản ánh phần nào bước đi của các mùa và những biến cố của đời người — một con cá bơn, bởi vì cô hàng cá đã bảo đảm độ tươi ngon của nó; một con gà tây, bởi vì cô đã nhìn thấy một con rất đẹp ở chợ Roussainville-le-Pin; dọc mùng với tủy, bởi vì cô chưa từng làm món đó cho chúng tôi theo cách đó trước đây; một đùi cừu quay, bởi vì không khí trong lành làm người ta thấy đói và sẽ có dư dã thời gian để nó "tiêu hóa" trong suốt bảy tiếng đồng hồ trước bữa tối; rau chân vịt, cho đổi vị; mơ, bởi vì chúng vẫn còn khó kiếm; quả lý gai, bởi vì hai tuần nữa là sẽ hết sạch; mâm xôi, do chính tay ông Swann mang đến đặc biệt; anh đào, những quả đầu tiên hái từ cây anh đào vốn chẳng cho quả nào suốt hai năm qua; một miếng phô mai kem, thứ mà vào những ngày đó tôi cực kỳ ưa thích; một chiếc bánh hạnh nhân, vì cô đã đặt làm từ chiều hôm trước; một ổ bánh mì kiểu cách, bởi vì đến lượt chúng ta "dâng" bánh thánh. Và khi tất cả những thứ đó đã được ăn hết, một tác phẩm được soạn riêng cho chúng tôi, nhưng được dành tặng đặc biệt cho cha tôi — người có sở thích với những món như vậy — một món kem sô-cô-la, được truyền cảm hứng trong tâm trí, được tạo ra bởi đôi bàn tay của Françoise, sẽ được dọn ra trước mặt chúng tôi, nhẹ nhàng và lướt qua như một khúc nhạc "thỉnh thoảng", vào đó cô đã trút toàn bộ tài năng của mình. Bất kỳ ai từ chối thưởng thức nó bằng câu: "Không, cảm ơn, tôi ăn xong rồi; tôi không đói," sẽ ngay lập tức bị hạ xuống ngang hàng với những kẻ Philistine — những kẻ khi một nghệ sĩ tặng họ một tác phẩm của mình, lại đi săm soi trọng lượng và chất liệu của nó, trong khi thứ có giá trị chính là ý định và chữ ký của người sáng tạo. Để lại dù chỉ một mẩu nhỏ xíu trên đĩa sẽ bị coi là bất lịch sự chẳng kém gì việc đứng dậy và rời khỏi phòng hòa nhạc khi "khúc nhạc" vẫn đang được trình tấu, và ngay trước mắt nhà soạn nhạc.
Cuối cùng mẹ tôi sẽ bảo tôi: "Nào, đừng có ngồi lì ở đây cả ngày; con có thể lên phòng nếu ngoài trời nóng quá, nhưng hãy ra hít thở không khí trong lành trước đã; đừng có bắt đầu đọc sách ngay sau bữa ăn."
Và tôi sẽ đi ra ngồi xuống bên chiếc máy bơm và cái máng nước của nó, được trang trí đây đó, giống như một bồn rửa tội gothic, với một con kỳ nhông — loài vật tạo hình trên nền đá mục nát vẻ nổi bật nhanh chóng của thân hình thon thả, mang tính ngụ ngôn của nó; trên chiếc ghế không có tựa lưng, dưới bóng râm của một tán cây tử đinh hương, ở góc nhỏ của khu vườn thông qua một cửa phụ với phố du Saint-Esprit, và từ mảnh đất bị bỏ hoang của nó vươn lên, làm hai tầng, một phần nhô ra từ chính ngôi nhà và dường như là một tòa nhà riêng biệt, nhà bếp phụ của dì tôi. Người ta có thể nhìn thấy sàn lát gạch đỏ của nó lấp lánh như đá porphia. Nó trông không giống hang ổ của Françoise cho bằng một ngôi đền nhỏ thờ thần Vệ Nữ. Nó sẽ ngập tràn những sản vật dâng cúng của người giao sữa, người bán trái cây, người bán rau, đôi khi đến từ những ngôi làng xa xôi để dâng hiến ở đây những hoa quả đầu mùa của đồng ruộng họ. Và mái nhà của nó lúc nào cũng văng vẳng tiếng gù của một chú chim bồ tượng.
Ngày trước, tôi sẽ chẳng nán lại trong khu rừng thiêng bao quanh ngôi đền này đâu, bởi vì trước khi lên lầu đọc sách, tôi sẽ lén lút vào căn phòng khách nhỏ mà ông chú Adolphe — em trai của ông ngoại tôi, một cựu sĩ quan đã giải ngũ với hàm thiếu tá — từng chiếm giữ ở tầng trệt. Đó là căn phòng mà ngay cả khi những ô cửa sổ mở đón cái nóng, nếu không phải thực sự là những tia nắng vốn hiếm khi lọt vào sâu đến thế, thì vẫn luôn tỏa ra thứ mùi hương mơ hồ mà tươi mát, gợi lên cùng lúc một sự tồn tại ngoài trời và mang phong cách cổ xưa, thứ làm cho lỗ mũi ta mơ mộng khi bước vào một phòng chứa súng đã lâu không dùng đến. Nhưng từ vài năm nay, tôi không còn vào phòng chú Adolphe nữa, kể từ khi chú không còn đến Combray vì một cuộc cãi vã nổ ra giữa chú và gia đình tôi, do lỗi của tôi, trong hoàn cảnh như sau: Mỗi tháng một hoặc hai lần ở Paris, tôi được cử đến thăm chú khi chú đang dùng xong bữa trưa, mặc chiếc áo khoác vải alpaca giản dị và được phục vụ bởi người hầu mặc áo khoác làm việc bằng vải lanh kẻ sọc màu tím và trắng. Chú sẽ phàn nàn rằng tôi đã lâu không đến thăm chú; rằng chú đang bị bỏ rơi; chú sẽ mời tôi một chiếc bánh hạnh nhân hoặc một quả quýt, và chúng tôi sẽ băng qua một căn phòng không có ai ngồi bao giờ, lò sưởi không bao giờ nhóm lửa, tường được trang trí những đường gờ dát vàng, trần nhà sơn màu xanh lam giả bầu trời, và đồ đạc bọc sa tanh giống như nhà ông bà tôi, chỉ có điều là màu vàng; sau đó chúng tôi sẽ bước vào căn phòng mà chú gọi là "phòng làm việc", một căn phòng có những bức tường treo các bản khắc miêu tả trên nền tối một nữ thần bầu bĩnh, hồng hào đang lái xe ngựa, hoặc đứng trên một quả địa cầu, hoặc đeo ngôi sao trên trán; những bức tranh từng phổ biến dưới Đế chế thứ Hai vì người ta cho rằng có cái gì đó gợi nhớ đến Pompeii, nhưng sau đó bị chê bai chung, và giờ đây mọi người lại bắt đầu sưu tầm chúng vì một lý do duy nhất và nhất quán (bất kể lý do nào khác họ có thể đưa ra), đó là chúng gợi nhớ đến Đế chế thứ Hai. Và tôi sẽ ở lại đó với chú cho đến khi người đầy tớ của chú mang tin nhắn từ người đánh xe đến hỏi xem chú muốn dùng xe lúc mấy giờ. Chú tôi khi đó sẽ chìm đắm trong suy ngẫm trong khi người đầy tớ kinh ngạc đứng đó, không dám làm phiền chú dù chỉ bằng một cử động nhỏ, ngạc nhiên và chờ đợi câu trả lời của chú — thứ chẳng bao giờ thay đổi cả. Bởi vì cuối cùng, sau một cơn khủng hoảng do dự tột cùng, chú tôi sẽ thốt lên một cách chắc chắn những câu này: "Hai giờ mười lăm phút," người đầy tớ sẽ lặp lại với vẻ kinh ngạc nhưng không tranh cãi: "Hai giờ mười lăm phút! Thưa ngài... tôi sẽ đi báo cho anh ta biết..."
Vào thời điểm này, tôi là một người yêu thích sân khấu: một người yêu theo kiểu Plato, điều tất yếu vì bố mẹ tôi chưa cho phép tôi bước chân vào đó, và bức tranh tôi tự vẽ ra về những niềm vui được tận hưởng ở đó sai lệch đến mức tôi gần như tin rằng mỗi khán giả đều nhìn vào, giống như trong một chiếc ống kính lập thể, một sân khấu và phong cảnh chỉ tồn tại cho riêng mình họ, dù rất giống với hàng ngàn màn trình diễn khác được trình bày cho những khán giả còn lại một cách riêng biệt.
Mỗi buổi sáng, tôi sẽ vội vã chạy đến cột Moriss để xem nó thông báo những vở kịch mới nào. Không có gì vô tư hay hạnh phúc hơn những giấc mơ mà những thông báo này lấp đầy tâm trí tôi, những giấc mơ mang hình dáng từ sự liên tưởng tất yếu của những từ tạo nên tiêu đề vở kịch, và cả từ màu sắc của các áp-phích còn ẩm ướt và nhăn nheo vì hồ dán, trên đó những từ ấy nổi bần bật. Không có gì, ngoại trừ những tiêu đề kỳ lạ như Le Testament de César Girodot hoặc Oedipus Rex — được in không phải trên các áp-phích màu xanh lá của Opéra-Comique, mà trên các áp-phích màu rượu vang của Comédie-Française — không có gì dường như đối lập sâu sắc hơn với chiếc lông vũ trắng lấp lánh của Les Diamants de la Couronne so với lớp sa tanh mịn màng, huyền bí của Le Domino Noir; và vì bố mẹ tôi đã bảo rằng đối với chuyến đi xem kịch đầu tiên của mình, tôi sẽ phải chọn giữa hai tác phẩm này, tôi sẽ nghiên cứu cẩn thận và lần lượt tiêu đề của vở này và tiêu đề của vở kia (vì đó là tất cả những gì tôi biết về cả hai), cố gắng chắt lọc từ mỗi cái tên một dư vị của niềm vui mà nó mang lại cho tôi, và so sánh niềm vui này với niềm vui tiềm ẩn trong tiêu đề kia, cho đến cuối cùng tôi đã tự vẽ ra cho mình những bức tranh sống động và thuyết phục đến mức về một vở kịch rực rỡ ngạo mạn và một vở kịch dịu dàng, mượt mà đến nỗi tôi chẳng thể quyết định nổi mình thích xem vở nào hơn hệt như thể ở bàn ăn, họ buộc tôi phải chọn giữa cơm à l'Impératrice và món kem sô-cô-la nổi tiếng.
Tất cả các cuộc trò chuyện của tôi với những bạn chơi đùa đều xoay quanh các diễn viên — nghệ thuật của họ, dù tôi chưa có kinh nghiệm thực tế nào, là hình thức đầu tiên trong vô số hình thức mà Nghệ thuật cho phép tôi dự đoán sự tận hưởng của nó. Giữa những mẹo nhỏ về ngữ điệu và âm sắc của diễn viên này với diễn viên khác, những khác biệt nhỏ nhặt nhất cũng gây ấn tượng với tôi là vô cùng quan trọng. Và từ những gì người ta kể cho tôi về họ, tôi sẽ sắp xếp họ theo thứ tự tài năng trong những danh sách mà tôi lẩm bẩm suốt cả ngày: những danh sách cuối cùng đã hóa đá trong não tôi và là nguồn gây phiền toái vì không thể gỡ bỏ.
Và sau này, trong những ngày đi học, bất cứ khi nào tôi mạo hiểm trong lớp, khi thầy giáo quay đi, để giao tiếp với một người bạn mới, tôi sẽ luôn bắt đầu bằng cách hỏi xem cậu ấy đã bắt đầu đi xem kịch chưa, và liệu cậu ấy có đồng ý rằng diễn viên vĩ đại nhất của chúng ta chắc chắn là Got, thứ hai là Delaunay, cứ thế không. Và nếu theo phán quyết của cậu ấy, Febvre xếp sau Thiron, hoặc Delaunay xếp sau Coquelin, thì sự bay hơi bất chợt mà cái tên Coquelin — rời bỏ sự cứng nhắc như đá — sẽ tạo ra trong tâm trí tôi, nơi nó di chuyển lên vị trí thứ hai, sức sống phong phú mà cái tên Delaunay sẽ bất chợt được trang bị để trượt xuống vị trí thứ tư, sẽ kích thích và làm phong phú bộ não của tôi với một cảm giác về sự sống đang chớm nở và bung nở.
Nhưng nếu ý nghĩ về các diễn viên đè nặng lên tôi như thế, nếu hình ảnh Maubant bước ra một buổi chiều từ Théâtre-Français đã đẩy tôi vào những quằn quại và đau khổ của một tình yêu tuyệt vọng, thì huống chi là tên tuổi của một "ngôi sao" lấp lánh bên ngoài cửa nhà hát, huống chi là qua ô cửa sổ của một chiếc xe ngựa chạy ngang qua tôi trên đường, mái tóc trước trán rực rỡ hoa hồng, gương mặt của một người phụ nữ mà tôi sẽ nghĩ có lẽ là một nữ diễn viên, lại để lại cho tôi một sự xáo trộn kéo dài, một nỗ lực vô ích và đau đớn nhằm vẽ ra một bức tranh về đời sống riêng tư của cô ấy.
Tôi phân loại theo thứ tự tài năng những người xuất sắc nhất: Sarah Bernhardt, Berma, Bartet, Madeleine Brohan, Jeanne Samary; nhưng tôi quan tâm đến tất cả bọn họ. Chú tôi quen biết nhiều người trong số họ cá nhân, và cả những phụ nữ thuộc tầng lớp khác — không phân biệt rõ ràng với các nữ diễn viên trong tâm trí tôi. Chú thường tiếp đãi họ tại nhà mình. Và nếu chúng tôi đến thăm chú chỉ vào một số ngày nhất định, đó là vì vào những ngày khác có thể sẽ có những phụ nữ đến mà gia đình chú không thể gặp mặt được. Ít nhất chúng tôi nghĩ vậy; còn về chú tôi, sự dễ dãi chết người của chú trong việc dành cho những góa phụ xinh đẹp (có lẽ chưa từng kết hôn) và những nữ bá tước (những danh hiệu kêu gọi có lẽ chẳng hơn gì một cái tên giả) lời khen ngợi giới thiệu họ với bà ngoại hoặc thậm chí giới thiệu với họ một số trang sức gia đình của chúng tôi, đã nhiều lần khiến chú xung đột với ông ngoại. Thường thì, nếu tên của một nữ diễn viên nào đó được nhắc đến trong cuộc trò chuyện, tôi sẽ nghe thấy bố tôi mỉm cười nói với mẹ: "Một trong những người bạn của chú anh," và tôi sẽ nghĩ về thời kỳ tập sự đầy mệt mỏi mà, có lẽ suốt nhiều năm ròng, một người đàn ông trưởng thành, thậm chí một người đàn ông có tầm quan trọng thực sự, có thể phải trải qua, chờ đợi trước ngưỡng cửa của một người phụ nữ như thế, trong khi cô ta từ chối trả lời thư của anh ta và sai người gác cổng đuổi anh ta đi; và tưởng tượng rằng chú tôi có thể miễn cho một thằng nhãi ranh như tôi khỏi tất cả những nỗi thống khổ ấy bằng cách giới thiệu tôi ngay tại nhà chú với nữ diễn viên — người mà cả thế giới không thể tiếp cận được, nhưng đối với chú lại là một người bạn thân thiết.
Và thế là — với cái cớ rằng một bài học nào đó đã bị đổi giờ, nay lại rơi vào một thời điểm oái oăm đến mức đã nhiều lần ngăn cản tôi, và sẽ tiếp tục ngăn cản tôi gặp chú — một ngày nọ, không phải là một trong những ngày chú dành riêng cho các chuyến thăm của chúng tôi, tôi chớp lấy thực tế là bố mẹ tôi đã ăn trưa sớm hơn thường lệ; tôi lẻn ra ngoài và thay vì đi đọc các tờ quảng cáo kịch trên cột của chúng tôi — mục đích mà tôi được phép ra ngoài một mình — tôi chạy một mạch đến nhà chú. Tôi nhận thấy trước cửa nhà chú có một chiếc xe ngựa đôi gắn hoa cẩm chướng đỏ trên bộ đồ che mắt ngựa và khuy áo của người đánh xe. Khi bước lên cầu thang, tôi nghe thấy tiếng cười và tiếng phụ nữ, và ngay khi tôi bấm chuông, tiếng động im bặt và tiếng đóng cửa vang lên. Người đầy tớ ra mở cửa tỏ vẻ bối rối, và nói rằng chú tôi đang cực kỳ bận và có lẽ không thể gặp tôi được; tuy nhiên, anh ta vẫn vào thông báo sự có mặt của tôi, và chính giọng nói tôi vừa nghe lúc nãy cất lên: "Ơ, vâng! Cứ để em ấy vào đi; chỉ một lát thôi; sẽ thú vị lắm đấy. Có phải bức ảnh của em ấy kìa, trên bàn làm việc của anh không? Và mẹ em ấy (cháu gái anh phải không?) ở bên cạnh kìa? Giống hệt mẹ nó thế, phải không? Chị rất muốn gặp thằng bé, chỉ một giây thôi."
Tôi có thể nghe thấy chú tôi càu nhàu và nổi giận; cuối cùng người đầy tớ bảo tôi vào.
Trên bàn vẫn là đĩa bánh hạnh nhân quen thuộc; chú tôi mặc chiếc áo khoác alpaca giống như mọi ngày; nhưng đối diện với chú, trong chiếc váy lụa màu hồng với chiếc vòng ngọc trai lớn quấn quanh cổ, là một phụ nữ trẻ đang ăn nốt quả quýt. Sự bối rối của tôi không biết nên gọi cô ấy là Madame hay Mademoiselle khiến tôi đỏ bừng mặt, và không dám nhìn quá nhiều về phía cô ấy vì sợ phải bắt chuyện, tôi vội vã chạy đến hôn chú. Cô ấy nhìn tôi và mỉm cười; chú tôi nói "Cháu tôi đấy!" mà không nói tên tôi cũng như tên cô ấy, có lẽ vì từ sau những rắc rối với ông ngoại, chú đã cố gắng hết sức để tránh bất kỳ sự liên hệ nào giữa gia đình mình với tầng lớp quen biết này.
"Giống mẹ nó làm sao," người phụ nữ nói.
Chú tôi chen vào nhanh chóng với một nốt giận dữ: "Nhưng cô có bao giờ gặp cháu gái tôi đâu, ngoài ảnh chụp."
Tôi xin lỗi nhé, người bạn thân yêu, tôi đã gặp cô ấy trên cầu thang năm ngoái khi anh bị ốm nặng. Đúng là tôi chỉ nhìn thấy một thoáng và cầu thang nhà anh hơi tối; nhưng tôi nhìn đủ rõ để thấy cô ấy xinh đẹp thế nào. Cậu thanh niên này có đôi mắt đẹp của mẹ, và cả cái này nữa," cô tiếp tục, dùng một ngón tay vẽ một đường dọc theo phần dưới trán. "Nói cho tôi biết," cô hỏi chú tôi, "cháu gái anh có phải là Mme.... tên cô ấy có giống tên anh không?"
Chú tôi lầm bầm: "Nó giống bố nó nhiều hơn," chú không hào hứng gì với việc giới thiệu gián tiếp bằng cách thốt to tên Má ra, hay việc đưa hai người lại gần nhau bằng xương bằng thịt. "Nó giống bố nó đúc, và cũng giống người mẹ tội nghiệp của tôi nữa."
Người phụ nữ mặc váy hồng cúi đầu nhẹ nhàng: "Tôi chưa gặp bố em ấy, anh ạ, và tôi chưa bao giờ thấy người mẹ tội nghiệp của anh. Anh nhớ là chúng ta quen nhau ngay sau nỗi buồn lớn của anh mà."
Tôi có chút vỡ mộng, vì người phụ nữ trẻ này chẳng khác gì những phụ nữ xinh đẹp khác mà tôi từng thấy thỉnh thoảng ở nhà, đặc biệt là con gái của một người họ hàng mà tôi đến thăm mỗi dịp Năm Mới. Chỉ là ăn mặc đẹp hơn thôi; còn lại thì bạn của chú tôi cũng có ánh mắt nhanh nhẹn và nhân hậu đó, cách cư xử cởi mở và thân thiện đó. Tôi chẳng tìm thấy chút vẻ ngoài sân khấu nào ở cô ấy — thứ mà tôi ngưỡng mộ trong các bức ảnh của các nữ diễn viên — chẳng có chút biểu cảm ma quỷ nào vốn phù hợp với lối sống của cô ấy. Tôi khó lòng tin rằng đây là một trong "những người đàn bà ấy", và chắc chắn tôi sẽ không bao giờ tin cô ấy là một trong những "người phụ nữ sành điệu" nếu tôi không nhìn thấy cỗ xe ngựa đôi, chiếc váy hồng, chiếc vòng ngọc trai, nếu tôi không biết rằng chú tôi chỉ quen những người xuất sắc nhất trong số đó. Nhưng tôi tự hỏi làm thế nào mà gã triệu phú tặng cô ấy xe ngựa, căn hộ và trang sức lại có thể tìm thấy bất kỳ niềm vui nào trong việc vung tiền cho một người phụ nữ có vẻ ngoài đơn giản và đáng kính đến thế. Và tuy nhiên, khi tôi nghĩ về cuộc sống của cô ấy hẳn phải thế nào, sự vô đạo đức của nó làm tôi xáo trộn hơn, có lẽ, so với khi nó đứng trước mặt tôi dưới một hình thức cụ thể và có thể nhận ra được, bởi sự bí mật và vô hình của nó, giống như cốt truyện của một tiểu thuyết, sự thật ẩn giấu của một vụ bê bối đã đẩy một người phụ nữ ra khỏi ngôi nhà của cha mẹ trung lưu và dâng hiến cho sự phục vụ của toàn thể nhân loại — người đã mang đến điểm nở rộ của vẻ đẹp cô ấy, đã nâng cô ấy lên danh tiếng hoặc tai tiếng — trò chơi của các nét mặt, ngữ điệu giọng nói của cô ấy, giống như rất nhiều người khác mà tôi đã biết, khiến tôi bất giác coi cô ấy như một tiểu thư danh giá, dù cô ấy thực chất chẳng còn thuộc về gia đình nào nữa.
Lúc này chúng tôi đã bước sang "phòng làm việc", và chú tôi, có vẻ hơi bối rối vì sự hiện diện của tôi, mời cô ấy hút thuốc.
Cô ấy nói: "Không, cảm ơn anh, bạn thân. Anh biết là em chỉ hút loại Đại công tước gửi cho em thôi. Em bảo với ông ấy là chúng làm anh ghen đấy." Và cô rút ra từ chiếc hộp những điếu thuốc lá có chữ khắc bằng vàng bằng tiếng nước ngoài. "Ơ, vâng," cô bỗng nhiên bắt đầu lại. "Đương nhiên là em đã gặp bố của cậu thanh niên này với anh rồi. Không phải cháu anh đấy sao? Sao em lại có thể quên được nhỉ? Anh ấy rất tử tế, rất đáng yêu với em," cô tiếp tục, một cách khiêm tốn và đầy cảm xúc. Nhưng khi tôi nghĩ lại những gì thực sự hẳn là lời chào cộc cằn (mà cô ta bịa ra là rất đáng yêu), tôi — người biết sự lạnh lùng và kín đáo của bố — cảm thấy bị sốc, như trước một sự thiếu tế nhị nào đó từ phía ông, trước sự tương phản giữa sự công nhận thái quá dành cho nó và sự niềm nở chưa bao giờ đầy đủ của ông. Kể từ đó, điều này đập vào tôi như một trong những khía cạnh cảm động nhất của vai trò trong cuộc sống của những người phụ nữ nhàn rỗi, chăm chỉ này là họ cống hiến toàn bộ sự hào phóng, tài năng, những giấc mơ có thể chuyển dịch về vẻ đẹp tình cảm (vì giống như tất cả các nghệ sĩ, họ không bao giờ tìm cách nhận ra giá trị của những giấc mơ đó, hay gói gọn chúng trong khung vuông vức của cuộc sống hằng ngày), và vàng bạc của họ, vốn chẳng đáng là bao, vào việc tạo hình một bối cảnh đẹp đẽ và quý giá cho những cuộc đời bị cọ xát, trầy xước và mài giũa kém cỏi của đàn ông. Và cũng giống như người phụ nữ này lấp đầy phòng hút thuốc — nơi chú tôi đang tiếp đãi cô trong chiếc áo khoác alpaca — bằng con người đáng yêu của mình, chiếc váy lụa hồng, những viên ngọc trai, và sự tinh tế gợi ý từ sự thân thiết với một Đại công tước, theo cách tương tự, cô đã lấy một nhận xét bâng quơ nào đó của bố tôi, nhào nặn nó một cách tinh tế, cho nó một "bước ngoặt", một cái tên quý giá, đặt vào đó viên ngọc từ ánh mắt chính cô, một viên ngọc nước đầu, hòa quyện giữa sự khiêm nhường và lòng biết ơn; và như thế đã trả lại nó được biến đổi thành một món đồ trang sức, một tác phẩm nghệ thuật, thành một thứ vô cùng quyến rũ.
Chú tôi bảo: "Này con trai, đã đến lúc con phải đi rồi đấy."
Tôi đứng dậy; tôi khó lòng cưỡng lại mong muốn được hôn tay người phụ nữ mặc váy hồng, nhưng tôi cảm thấy làm điều đó đòi hỏi sự táo bạo ngang ngửa một vụ bắt cóc cô ấy. Trái tim tôi đập thình thịch trong lúc tôi đếm thầm "Mình có nên làm không, hay không?" và rồi tôi ngừng tự hỏi mình phải làm gì để ít nhất làm được điều gì đó. Một cách mù quáng, nóng bỏng, điên cuồng, vứt bỏ mọi lý do tôi vừa tìm thấy để ủng hộ hành động đó, tôi chớp lấy và đưa lên môi bàn tay cô chìa ra cho tôi.
"Đáng yêu làm sao chứ! Đã ra dáng sát gái rồi đấy; nó giống chú nó lắm. Nó sẽ là một "quý ông" hoàn hảo," cô tiếp tục, nghiến răng để phát âm từ đó theo kiểu Anh. "Bộ nó không thể đến chỗ em một "tách trà" vào một ngày nào đó sao, như cách nói của những người bạn bên kia bờ biển ấy chứ, em ấy chỉ cần gửi cho em một tấm "thẻ xanh" vào buổi sáng thôi?"
Tôi không có chút ý niệm nào về "thẻ xanh" là gì. Tôi không hiểu một nửa số từ người phụ nữ đó dùng, nhưng nỗi sợ rằng trong đó có thể ẩn giấu câu hỏi nào đó mà nếu không trả lời sẽ là bất lịch sự đã khiến tôi không rời mắt khỏi chúng, và tôi bắt đầu cảm thấy vô cùng mệt mỏi.
Chú tôi nhún vai: "Không, không; điều đó là không thể. Nó bận rộn ở nhà suốt cả ngày; nó có rất nhiều việc phải làm. Nó mang về tất cả các giải thưởng từ trường học," chú nói thêm với giọng nhỏ hơn để tôi không nghe thấy lời nói dối này và chen ngang phản đối. "Cậu không biết đâu; nó có thể trở thành một Victor Hugo nhỏ, một dạng Vaulabelle nào đó, cậu biết đấy."
Người phụ nữ mặc váy hồng đáp: "Ôi, tôi yêu những người nghệ sĩ; không ai hiểu phụ nữ bằng họ cả. Họ, và những người thực sự tử tế như anh. Nhưng xin lỗi vì sự dốt nát của tôi nhé. Ai, Vaulabelle là gì thế? Có phải những cuốn sách mạ vàng trong tủ kính nhỏ ở phòng khách nhà anh không? Anh biết là anh hứa cho tôi mượn rồi đấy nhé; tôi sẽ giữ gìn cẩn thận mà."
Chú tôi — người ghét cho mượn sách — im lặng và đẩy tôi ra hành lang. Yêu đến phát điên người phụ nữ mặc váy hồng, tôi phủ lên đôi má vấy thuốc lá của ông chú già những nụ hôn đầy đam mê, và trong khi ông, với vẻ vụng về vừa đủ để cho tôi hiểu (mà không thực sự nói ra) rằng ông thà tôi không kể cho bố mẹ nghe về chuyến thăm này, tôi quả quyết với ông, với đôi mắt đượm lệ, rằng sự tử tế của ông đã tạo ra ấn tượng mạnh mẽ đến mức một ngày nào đó tôi nhất định sẽ tìm cách bày tỏ lòng biết ơn. Ấn tượng mạnh đến nỗi hai giờ sau, sau một chuỗi những lời lấp lửng không làm tôi nghĩ là đã cung cấp cho bố mẹ một ý tưởng đủ rõ ràng về tầm quan trọng mới mà tôi vừa được trao, tôi thấy việc kể toàn bộ câu chuyện, không bỏ sót chi tiết nào về chuyến thăm chiều hôm đó, là đơn giản hơn cả. Khi làm điều này, tôi không hề nghĩ đến việc gây phiền phức cho chú. Sao tôi có thể nghĩ đến điều đó khi tôi không hề muốn thế? Và tôi không thể ngờ rằng bố mẹ lại thấy có hại gì trong một chuyến thăm mà chính bản thân tôi chẳng thấy có hại gì. Ngày nào chẳng có người bạn này hay người bạn nọ nhờ chúng ta gửi lời xin lỗi không trượt phát nào đến một người phụ nữ nào đó mà anh ta bị ngăn cản viết thư; và chẳng phải chúng ta quên làm điều đó sao, cảm thấy rằng người phụ nữ này không thể gắn kết tầm quan trọng lớn lao nào với một sự im lặng chẳng có ý nghĩa gì với chính chúng ta? Tôi tưởng tượng, giống như mọi người khác, rằng bộ não của người khác là những cái hộp vô tri và dễ bảo không có sức phản ứng đặc biệt nào đối với bất kỳ kích thích nào có thể áp dụng lên chúng; và tôi không mảy may nghi ngờ rằng khi tôi ký thác vào tâm trí bố mẹ tin tức về sự quen biết tôi vừa tạo ra ở nhà chú, tôi đồng thời truyền tải cho họ phán quyết tử tế mà chính tôi đã dựa vào đó để mở đầu cho sự quen biết. Thật không may, bố mẹ tôi lại viện đến những nguyên tắc hoàn toàn khác với những nguyên tắc tôi gợi ý họ nên áp dụng khi họ đưa ra đánh giá về hành vi của chú tôi. Bố và ông ngoại đã có những "lời qua tiếng lại" mang tính bạo lực với chú; như tôi được biết gián tiếp sau đó. Vài ngày sau, khi đi ngang qua chú trên đường trong một chiếc xe ngựa mui trần, tôi ngay lập tức cảm thấy toàn bộ nỗi buồn, lòng biết ơn, sự hối hận mà tôi muốn truyền tải đến chú. Bên cạnh sự mênh mông của những cảm xúc này, tôi cho rằng việc chỉ ngả mũ chào chú sẽ là bất tương xứng và nhỏ nhặt, và có lẽ khiến chú nghĩ rằng tôi coi bản thân mình không bắt buộc phải bày tỏ sự lịch thiệp thông thường nhất với chú. Tôi quyết định tránh một cử chỉ bất cập như thế và quay mặt đi. Chú tôi nghĩ rằng khi làm vậy là tôi đang vâng lời bố mẹ; chú không bao giờ tha thứ cho họ; và dù chú không qua đời cho đến nhiều năm sau, không một ai trong chúng tôi còn đặt chân đến nhà chú nữa.
Và thế là tôi không còn bước vào căn phòng khách nhỏ (nay luôn khóa kín) của chú Adolphe nữa; thay vào đó, sau khi la cà ở khu vực quanh nhà bếp phụ cho đến khi Françoise xuất hiện ở ngưỡng cửa và thông báo: "Tôi chuẩn bị để cô phụ bếp dọn cà phê và mang nước nóng lên đây; đã đến lúc tôi phải đi gặp bà Octave rồi," tôi sẽ quyết định bước vào nhà và đi thẳng lên phòng mình để đọc sách. Cô phụ bếp là một nhân tính trừu tượng, một thể chế thường trực được gán cho một tập hợp các thuộc tính bất biến, đảm bảo một thứ sự cố định, tính liên tục và đồng nhất xuyên suốt chuỗi dài các hình thái con người tạm bợ mà trong đó nhân tính ấy hiện thân; bởi vì chúng tôi chưa bao giờ thấy cùng một cô gái ở đó hai năm liền. Vào năm chúng tôi ăn quá nhiều măng, cô phụ bếp có nhiệm vụ làm sạch chúng là một sinh vật tội nghiệp, ốm yếu, đang mang thai "ở một giai đoạn nào đó" khi chúng tôi đến Combray nghỉ lễ Phục sinh, và quả thực thật ngạc nhiên khi Françoise lại để cô ta chạy vạy nhiều việc trong thị trấn và làm việc nhà nhiều đến thế, vì cô ta bắt đầu gặp khó khăn trong việc mang trước ngực chiếc hộp bí ẩn, ngày càng đầy hơn và lớn hơn mỗi ngày, có thể nhận ra đường viền lộng lẫy qua những nếp áo rộng thùng thình của cô ta. Những chiếc áo này gợi nhớ đến những chiếc áo choàng mà Giotto dùng để che đậy một số hình tượng ngụ ngôn trong các bức tranh của ông, mà ông Swann đã tặng tôi ảnh chụp. Chính ông là người chỉ ra sự giống nhau này, và khi hỏi thăm về cô phụ bếp, ông thường nói: "Nào, tình hình của Nữ bố thí nhà Giotto thế nào rồi?" Và quả thực, cô gái tội nghiệp với phần mang thai làm phồng và mập mạp mọi bộ phận trên cơ thể, thậm chí cả khuôn mặt, và những đường viền thẳng đứng, vuông vức trên má, rõ ràng gợi ý đến những trinh nữ mạnh mẽ và nam tính đến mức trông giống những người phụ nữ có gia đình hơn, trong đó các Nhân đức được nhân hóa tại Nhà nguyện Arena. Và giờ đây tôi có thể thấy rằng những Nhân đức và Thói xấu ở Padua đó còn giống cô ấy ở một điểm nữa. Cống hiến của cô gái này đã bị phình to bởi biểu tượng bổ sung mà cô mang trong cơ thể, mà dường như không hiểu nó có ý nghĩa gì, không có bất kỳ biểu hiện nào trên nét mặt về toàn bộ vẻ đẹp và ý nghĩa tâm linh của nó, nhưng được mang đi như thể đó là một gánh nặng bình thường và khá nặng nề, giống như không một chút nghi ngờ rõ ràng nào về những gì cô sắp làm, người nội trợ lực lưỡng được miêu tả ở Arena dưới nhãn "Caritas," và bản sao bức chân dung được treo trên tường phòng học của tôi ở Combray, nhân hóa nhân đức đó, vì có vẻ bất khả thi khi bất kỳ ý nghĩ bác ái nào lại có thể tìm thấy biểu hiện trên khuôn mặt thô tục và năng nổ của cô ta. Bằng một nét cọ tinh tế của nhà sáng tạo, cô đang đổ mọi báu vật của trái đất xuống dưới chân mình, nhưng chính xác như thể cô đang giẫm nho trong thùng ép để chiết xuất nước cốt của chúng, hay thậm chí hơn thế, như thể cô đang leo lên một đống bao tải để nâng mình lên cao hơn; và cô đang chìa trái tim đang bốc cháy của mình cho Chúa, hay chúng ta gọi là "trao" nó cho Ngài, chính xác như một người nấu ăn có thể chìa dụng cụ mở nút chai qua cửa sổ mái của tầng hầm bếp cho ai đó gọi xuống từ mặt đất phía trên. Tượng "Invidia" lại một lần nữa phải mang một nét mặt đố kỵ nào đó. Nhưng trong bức bích họa này, biểu tượng chiếm một vị trí quá lớn và được thể hiện với tính hiện thực cao độ đến mức con rắn đang rít lên giữa đôi môi của Thói ghen tị quá lớn, và lấp đầy hoàn toàn cái miệng há hốc đến mức các cơ mặt của cô bị căng và co giận, giống như một đứa trẻ đang thổi phồng quả bóng bằng hơi thở của mình, và Thói ghen tị, và chính chúng ta khi nhìn ngắm cô ta, vì toàn bộ sự chú ý của cô và chúng ta đều tập trung vào hành động của đôi môi cô, hầu như không còn thời gian để bận tâm đến những ý nghĩ ganh tỵ.
Bất chấp tất cả sự ngưỡng mộ mà ông Swann có thể tuyên bố dành cho những hình tượng của Giotto này, tôi đã mất một thời gian dài mới tìm thấy bất kỳ niềm vui nào khi nhìn thấy trong phòng học của mình (nơi các bản sao ông mang cho tôi được treo) bức Nữ bố thí thiếu lòng bác ái đó, vị Thói ghen tị trông chẳng khác gì một tấm hình trong sách y khoa minh họa sự nén ép của thanh môn hoặc lưỡi gà bằng một khối u ở lưỡi, hay bằng việc đưa dụng cụ của bác sĩ vào, một Vị Công lý có những nét mặt xám xịt và bình thường một cách bủn xỉn giống hệt những nét mặt tô điểm cho khuôn mặt của một số phu nhân Combray tốt bụng, ngoan đạo và hơi héo mòn mà tôi từng thấy đi lễ, nhiều người trong số họ từ lâu đã được ghi danh vào lực lượng dự bị của Tội ác. Nhưng trong những năm sau này, tôi hiểu ra rằng sự lạ lùng lôi cuốn, vẻ đẹp đặc biệt của những bức bích họa này nằm ở chỗ vai trò lớn lao mà các biểu tượng của chúng nắm giữ, trong khi thực tế là chúng được miêu tả không phải như các biểu tượng (vì tư tưởng được biểu tượng hóa không được biểu hiện ở bất cứ đâu), mà như những sự vật có thật, được cảm nhận thực tế hoặc được cầm nắm vật chất, đã thêm vào ý nghĩa của chúng một cái gì đó chính xác hơn và theo từng chữ hơn, một cái gì đó cụ thể hơn và nổi bật hơn cho bài học chúng truyền đạt. Và ngay cả trong trường hợp của cô phụ bếp tội nghiệp, chẳng phải sự chú ý của chúng tôi liên tục bị thu hút vào cái bụng của cô ta bởi gánh nặng lấp đầy nó sao; và theo cách tương tự, chẳng phải tư tưởng của nam giới và phụ nữ trong cơn hấp hối thường hướng về khía cạnh thực tế, đau đớn, mơ hồ, nội tạng, ruột gan của cái chết — cái "mặt trái" của cái chết hóa ra lại là mặt mà cái chết thực sự trình bày cho họ và buộc họ phải cảm nhận, một khía cạnh giống một gánh nặng nghiền nát, một khó khăn khi thở, một cơn khát hủy diệt, nhiều hơn là ý tưởng trừu tượng mà chúng ta quen gọi là Cái chết sao?
Hẳn phải có một yếu tố hiện thực mạnh mẽ trong những Nhân đức và Thói xấu của Padua đó, vì chúng xuất hiện trước mắt tôi sống động không kém cô hầu bàn mang thai, trong khi bản thân cô cũng chẳng kém phần ngụ ngôn so với chúng. Và hoàn toàn có thể, sự thiếu vắng (hoặc dường như thiếu vắng) sự tham gia của tâm hồn một người vào những dấu hiệu ý nghĩa của đức tính đặc biệt của chính họ có một thực tế, ngoài ý nghĩa thẩm mỹ của nó, nếu khôngStrictly tâm lý thì ít nhất có thể gọi là tâm lý học diện mạo. Sau này, khi trong suốt cuộc đời mình, tôi có dịp gặp gỡ, ví dụ như trong các tu viện, những ví dụ thực sự thánh thiện của lòng bác ái thực tế, họ thường mang cái vẻ lanh lợi, quyết đoán, điềm tĩnh và hơi tàn nhẫn của một bác sĩ phẫu thuật bận rộn, gương mặt mà người ta không thể nhận ra sự thương xót, sự dịu dàng khi nhìn thấy đau khổ của nhân loại, và không sợ hãi khi làm tổn thương nó, gương mặt không có sự dịu dàng hay đồng cảm, gương mặt cao cả của sự thiện lương đích thực.
Rồi trong lúc cô phụ bếp — người hoàn toàn không hay biết đã làm nổi bật thêm những phẩm chất ưu việt của Françoise, hệt như Sai lầm bằng cách đối chiếu đã tôn vinh chiến thắng của Chân lý — mang vào loại cà phê mà (theo Má) chẳng khác gì nước nóng, rồi mang lên phòng chúng tôi thứ nước nóng chỉ vừa âm ấm, tôi sẽ nằm dài trên giường, tay cầm cuốn sách, trong căn phòng rung chuyển vì nỗ lực bảo vệ sự mát mẻ mỏng manh, trong suốt của nó trước ánh nắng buổi chiều, sau những tấm chớp gần như khép kín mà qua đó, một phản chiếu của ánh sáng mặt trời vẫn luồn lách vào trên đôi cánh vàng của mình, nằm bất động giữa kính và gỗ trong một góc, giống như một con bướm đậu trên một bông hoa. Ánh sáng hầu như không đủ để tôi đọc sách, và cảm giác của tôi về sự rực rỡ và lộng lẫy trong ngày có được hoàn toàn từ những cú đập vang lên bên dưới, ở phố de la Cure, bởi Camus (người được Françoise đảm bảo rằng dì tôi không "nghỉ ngơi" và do đó có thể gây ra tiếng động), lên một số thùng các-tông cũ mà từ đó chẳng có gì bay ra ngoài bụi bặm, dù âm thanh ầm ĩ của chúng trong bầu không khí vang dội đi kèm với thời tiết nóng bức dường như tung ra khắp nơi một cơn mưa những ngôi sao đỏ máu; và từ những chú ruồi trình diễn cho tôi hưởng thụ, trong buổi hòa nhạc nhỏ của chúng, có thể coi là âm nhạc thính phòng của mùa hè; gợi lên cái nóng và ánh sáng hoàn toàn khác biệt với giai điệu âm nhạc con người — thứ mà nếu bạn vô tình nghe thấy trong một mùa hè đẹp đẽ, sẽ luôn gợi nhớ lại mùa hè đó trong tâm trí bạn, âm nhạc của loài ruồi gắn liền với mùa bởi một mối liên kết chặt chẽ hơn, sinh động hơn — sinh ra từ những ngày nắng, và sẽ không tái sinh nếu không có chúng, chứa đựng một phần bản chất thiết yếu của chúng, nó không chỉ gọi lên hình ảnh của chúng trong ký ức của chúng ta mà còn đảm bảo cho chúng ta rằng chúng thực sự tồn tại, rằng chúng đang ở ngay xung quanh chúng ta, có thể tiếp cận ngay lập tức.
Sự tươi mát mờ ảo này trong phòng tôi đối lập với ánh ban ngày rộng lớn của đường phố giống như bóng râm đối với tia nắng, nghĩa là cũng rực rỡ không kém, và trình bày trước trí tưởng tượng của tôi toàn bộ bức tranh toàn cảnh mùa hè mà các giác quan của tôi, nếu tôi đi dạo ngoài trời, chỉ có thể nếm trải và thưởng thức từng mảnh vụn; và do đó hoàn toàn hòa hợp với trạng thái nghỉ ngơi của tôi — thứ (nhờ những cuộc phiêu lưu được kể trong sách của tôi vừa kích thích nó) chịu đựng, giống như một bàn tay nghỉ ngơi bất động trong dòng nước chảy xiết, cú sốc và sự hoạt náo của một dòng thác hoạt động và sự sống.
Nhưng bà ngoại tôi, ngay cả khi thời tiết sau khi trở nên quá nóng đã chuyển biến, và một cơn bão, hoặc chỉ là một trận mưa rào vừa bùng nổ trên đầu chúng tôi, sẽ đi lên và nài nỉ tôi ra ngoài trời. Và vì tôi không muốn rời cuốn sách của mình, tôi sẽ tiếp tục đọc nó trong vườn, dưới gốc cây dẻ, trong một chiếc chòi canh nhỏ bằng vải bạt và chiếu, ở tận cùng những góc khuất nhất mà tôi dùng để ngồi và cảm thấy mình được che giấu khỏi tầm mắt của bất kỳ ai có thể đến thăm gia đình.
Và rồi những suy nghĩ của tôi, chẳng phải chúng tạo ra một thứ chỗ ẩn nấp tương tự, trong sâu thẳm nơi tôi cảm thấy mình có thể vùi mình và vẫn vô hình ngay cả khi tôi đang nhìn những gì diễn ra bên ngoài sao? Khi tôi nhìn thấy bất kỳ đối tượng bên ngoài nào, ý thức của tôi rằng tôi đang nhìn thấy nó sẽ nằm giữa tôi và nó, bao bọc nó trong một đường nét mỏng manh, vô hình ngăn cản tôi bao giờ được tiếp xúc trực tiếp với hình thức vật chất; vì nó sẽ tự bay hơi theo một cách nào đó trước khi tôi có thể chạm vào nó, giống như một vật thể nung đỏ được di chuyển hướng tới thứ gì đó ướt thực ra không bao giờ chạm vào độ ẩm, vì nó luôn được đi trước bởi chính một vùng bốc hơi. Trên loại màn hình được trang trí bằng các trạng thái và ấn tượng khác nhau mà ý thức của tôi sẽ lặng lẽ mở ra trong khi tôi đang đọc, và dao động từ những khát vọng được giấu kín nhất trong tim tôi đến tầm nhìn hoàn toàn bên ngoài về đường chân trời trải ra trước mắt tôi dưới chân khu vườn, thứ từ đầu là phần vĩnh cửu nhất và thân mật nhất của tôi, cái đòn bẩy mà những chuyển động không ngừng của nó kiểm soát mọi thứ khác, chính là niềm tin của tôi vào sự phong phú mang tính triết học và vẻ đẹp của cuốn sách tôi đang đọc, và mong muốn chiếm đoạt những điều đó cho chính mình, bất kể cuốn sách đó là gì. Vì ngay cả khi tôi đã mua nó ở Combray, sau khi nhìn thấy nó bên ngoài tiệm của Borange — người có cửa hàng tạp hóa nằm quá xa nhà chúng tôi để Françoise có thể mua sắm ở đó như với Camus, nhưng người thu hút lượng khách hàng đông hơn với tư cách là một tiệm văn phòng phẩm và nhà sách; ngay cả khi tôi đã nhìn thấy nó, được buộc bằng dây để giữ nó cố định trong bức tranh khảm gồm các số báo định kỳ và tài liệu quảng cáo trang trí hai bên cửa ra vào của ông, một cánh cửa còn bí ẩn hơn, tràn ngập gợi ý hơn cả cửa nhà thờ lớn — tôi hẳn đã nhận ra và mua nó ở đó đơn giản vì tôi đã nhận ra nó là một cuốn sách được ca ngợi trước mặt tôi bởi thầy giáo hoặc người bạn học — những người vào thời điểm cụ thể đó dường như được giao phó bí mật về Chân lý và Vẻ đẹp, những thứ được tôi cảm nhận một nửa, không thể hiểu nổi một nửa, sự thấu hiểu trọn vẹn là mục tiêu mơ hồ nhưng vĩnh cửu trong suy nghĩ của tôi.
Bên cạnh niềm tin trung tâm này — khi tôi đang đọc, sẽ không ngừng là một sự chuyển động từ con người bên trong ra thế giới bên ngoài, hướng tới việc khám phá Chân lý — là những cảm xúc do hành động mà tôi đang tham gia khơi dậy, bởi vì những buổi chiều này chật ních những sự kiện kịch tính và giật gân hơn những gì thường xảy ra trong cả một đời người. Đây là những sự kiện diễn ra trong cuốn sách tôi đang đọc. Đúng là những con người liên quan trong đó không phải là những gì Françoise gọi là "người thật". Nhưng không một cảm xúc nào mà niềm vui hay bất hạnh của một người "thật" đánh thức trong chúng ta có thể được đánh thức ngoại trừ thông qua bức tranh tinh thần về những niềm vui hoặc bất hạnh đó; và sự khéo léo của nhà tiểu thuyết đầu tiên nằm ở sự hiểu biết của ông rằng, vì bức tranh là yếu tố thiết yếu duy nhất trong cấu trúc phức tạp của cảm xúc chúng ta, nên sự đơn giản hóa của nó bao gồm việc loại bỏ hoàn toàn và thuần túy những người "thật" sẽ là một cải tiến quyết định. Một người "thật", dù chúng ta đồng cảm sâu sắc đến đâu, phần lớn chỉ có thể cảm nhận được qua các giác quan của chúng ta, nghĩa là người đó vẫn mờ đục, mang một trọng lượng chết mà khả năng cảm thụ của chúng ta không đủ sức nâng lên. Nếu một điều bất hạnh xảy ra với người đó, chỉ trong một phần nhỏ của ý tưởng hoàn chỉnh chúng ta có về người đó, chúng ta mới có khả năng cảm nhận bất kỳ cảm xúc nào; thực tế là chỉ trong một phần nhỏ của ý tưởng hoàn chỉnh người đó có về chính mình, người đó mới có khả năng cảm nhận bất kỳ cảm xúc nào. Phát hiện hạnh phúc của nhà tiểu thuyết là nghĩ đến việc thay thế cho những phần mờ đục đó, không thể xuyên thủng bởi tinh thần con người, bằng các phần tương đương phi vật chất của chúng, nghĩa là những thứ mà tinh thần có thể đồng hóa vào chính nó. Sau đó, không thành vấn đề gì nếu các hành động, cảm xúc của trật tự sinh vật mới này xuất hiện trước chúng ta dưới vỏ bọc của sự thật, vì chúng ta đã làm cho chúng trở thành của chính mình, vì chúng đang diễn ra trong chính chúng ta, đang nắm giữ trong sự kìm kẹp — trong lúc chúng ta lật giở từng trang sách một cách sốt sắng — hơi thở dồn dập và đôi mắt trợn tròn của chúng ta. Và một khi nhà tiểu thuyết đưa chúng ta đến trạng thái đó — trong đó, như trong tất cả các trạng thái thuần túy tinh thần, mọi cảm xúc đều được nhân lên gấp mười, nơi cuốn sách của nhà văn đến làm phiền chúng ta giống như một giấc mơ, nhưng là một giấc mơ minh bạch hơn, và có ấn tượng lâu dài hơn những giấc mơ đến với chúng ta trong giấc ngủ — thì, trong khoảng thời gian một giờ, ông giải phóng trong chúng ta mọi niềm vui và nỗi buồn trên thế giới, chỉ một vài trong số đó chúng ta phải dành nhiều năm thực tế cuộc đời để làm quen, và những thứ sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất trong số đó sẽ không bao giờ được tiết lộ cho chúng ta bởi vì dòng chảy chậm chạp của sự phát triển của chúng ngăn cản sự nhận thức của chúng ta về chúng. Điều đó cũng tương tự trong cuộc sống; trái tim thay đổi, và đó là điều tồi tệ nhất của chúng ta; nhưng chúng ta chỉ học được điều đó từ việc đọc hoặc bằng trí tưởng tượng; vì trên thực tế, sự thay đổi của nó, giống như sự thay đổi của một số hiện tượng tự nhiên, diễn ra từ từ đến mức, ngay cả khi chúng ta có thể phân biệt, lần lượt, từng trạng thái của nó, chúng ta vẫn được tha thứ khỏi cảm giác thực sự của sự thay đổi.
Bên cạnh, nhưng rõ ràng kém thân mật hơn yếu tố con người này, sẽ là quang cảnh, được chiếu rọi nhiều hay ít trước mắt tôi, của vùng đất nơi hành động của câu chuyện đang diễn ra, điều tạo ra ấn tượng mạnh mẽ hơn nhiều trong tâm trí tôi so với khung cảnh thực tế sẽ đập vào mắt tôi khi tôi ngước mắt khỏi cuốn sách. Bằng cách này, trong hai mùa hè liên tiếp, tôi thường ngồi trong cái nóng của khu vườn Combray, phát bệnh vì nỗi khao khát được truyền cảm hứng bởi cuốn sách tôi đang đọc lúc đó đối với một vùng đất của núi non và sông ngòi, nơi tôi có thể nhìn thấy một viễn cảnh bất tận của các xưởng cưa, nơi bên dưới những dòng suối trong vắt, những mảnh gỗ nằm mục rữa trong các luống cải xoong; và gần đó, lan man và mọc thành cụm dọc theo các bức tường thấp, những bông hoa màu tím và đỏ. Và vì luôn ẩn nấp trong tâm trí tôi là giấc mơ về một người phụ nữ sẽ làm phong phú tôi bằng tình yêu của cô ấy, giấc mơ đó trong hai mùa hè ấy thường được kích thích với sự tươi mát và mát mẻ của dòng chảy nước; và bất kể cô ấy là ai, người phụ nữ mà hình ảnh tôi gọi lên tâm trí, hoa tím và hoa đỏ sẽ ngay lập tức mọc lên ở cả hai bên cô ấy giống như những màu sắc bổ sung.
Điều này không chỉ bởi vì hình ảnh chúng ta mơ ước vẫn mãi mãi được phân biệt, được trang trí và làm phong phú bởi sự kết hợp của những màu sắc không phải của riêng nó có thể bao quanh nó trong bức tranh tinh thần của chúng ta; mà còn vì những cảnh trong những cuốn sách tôi đọc không chỉ là phong cảnh được tưởng tượng trí tưởng tượng phác họa sinh động hơn bất kỳ cảnh nào Combray có thể trải ra trước mắt tôi nhưng theo cách khác là cùng loại. Do sự lựa chọn mà tác giả đã thực hiện về chúng, do tinh thần đức tin mà tâm trí tôi sẽ vượt qua và dự đoán từ ngữ được in của ông, như thể đang giải thích một khải huyền, những cảnh này đã mang lại cho tôi ấn tượng — một ấn tượng mà tôi hầu như không bao giờ thu được từ bất kỳ nơi nào tôi có mặt, và không bao giờ từ khu vườn của chúng ta, sản phẩm không nổi bật của trí tưởng tượng hoàn toàn thông thường của người làm vườn mà bà ngoại rất khinh miệt — về việc chúng thực sự là một phần của Thiên nhiên, và xứng đáng được nghiên cứu và khám phá.
Nếu bố mẹ cho phép tôi, khi tôi đọc một sách, được đi thăm vùng đất nó mô tả, tôi sẽ cảm thấy mình đang tiến một bước khổng lồ hướng tới sự chinh phục cuối cùng của sự thật. Bởi vì ngay cả khi chúng ta có cảm giác luôn bị bao bọc, bao quanh bởi tâm hồn của chính mình, thì nó vẫn không giống một nhà tù cố định và bất động; thay vào đó, chúng ta dường như được mang đi cùng nó, và không ngừng đấu tranh để vượt qua nó, để bùng nổ ra thế giới, với một sự nản lòng liên tục khi chúng ta nghe không ngớt, xung quanh chúng ta, âm thanh không thay đổi đó không phải là tiếng vang từ bên ngoài, mà là sự cộng hưởng của một sự rung động từ bên trong. Chúng ta cố gắng khám phá trong các sự vật, được yêu mến vì điều đó, vẻ quyến rũ tinh thần mà chính chúng ta đã trút lên chúng; chúng ta vỡ mộng, và nhận ra rằng chúng vốn dĩ cằn cỗi và thiếu vắng vẻ quyến rũ mà chúng nợ, trong tâm trí chúng ta, sự kết hợp của một số ý nghĩ; đôi khi chúng ta huy động tất cả các lực lượng tinh thần của mình trong một đội hình lấp lánh để ảnh hưởng và khuất phục những con người khác mà chúng ta biết rất rõ nằm bên ngoài chúng ta, nơi chúng ta không bao giờ có thể với tới họ. Và vì thế, nếu tôi luôn tưởng tượng người phụ nữ tôi yêu ở trong một khung cảnh của bất kỳ nơi nào tôi khao khát nhất, vào thời điểm đó, muốn ghé thăm; nếu trong những khao khát thầm kín của mình, chính cô ấy là người thu hút tôi đến với chúng, người mở ra cho tôi cánh cổng của một thế giới chưa biết, điều đó không phải chỉ bằng sự ngẫu nhiên của một sự liên kết đơn giản của các suy nghĩ; không, đó là bởi vì những giấc mơ du lịch và tình yêu của tôi chỉ là những khoảnh khắc — mà tôi cô lập nhân tạo ngày nay như thể tôi đang cắt các đoạn, ở các độ cao khác nhau, trong một tia nước, lấp lánh cầu vồng nhưng dường như không có dòng chảy hay chuyển động — chỉ là những giọt nước trong một dòng chảy duy nhất, không lệch hướng, không thể cưỡng lại của tất cả các lực lượng cuộc đời tôi.
Và rồi, khi tôi tiếp tục theo dõi hướng bên ngoài của những ấn tượng này từ nguồn mật thiết đặc quánh của chúng trong ý thức tôi, và trước khi tôi đến đường chân trời của thực tế bao bọc chúng, tôi khám phá ra những niềm vui của loại khác, những niềm vui được ngồi thoải mái, nếm trải mùi hương thơm ngát trong không khí, không bị làm phiền bởi bất kỳ vị khách nào; và khi một giờ điểm từ tháp chuông Saint-Hilaire, quan sát những gì đã trôi qua của buổi chiều rơi từng giọt cho đến khi tôi nghe thấy tiếng chuông cuối cùng cho phép tôi cộng tổng số tiền, sau đó sự im lặng theo sau dường như báo hiệu sự khởi đầu, trên bầu trời xanh phía trên tôi, của phần dài trong ngày vẫn cho phép tôi đọc sách, cho đến khi bữa tối ngon lành mà Françoise thậm chí lúc này đang chuẩn bị sẽ đến để củng cố và làm tôi sảng khoái sau cuộc rượt đuổi căng thẳng nhân vật chính của nó qua các trang sách của tôi. Và, khi mỗi giờ điểm, có vẻ như với tôi chỉ có vài giây đã trôi qua kể từ giờ trước; giờ mới nhất sẽ khắc lên chính nó, gần với người tiền nhiệm của nó, trên bề mặt bầu trời, và tôi sẽ không thể tin rằng sáu mươi phút có thể bị ép vào vòng cung nhỏ màu xanh lam được bao gồm giữa hai con số vàng của chúng. Đôi khi thậm chí sẽ xảy ra trường hợp giờ sớm này sẽ điểm thêm hai nhịp so với giờ trước; khi đó chắc chắn đã có một giờ mà tôi không nghe thấy điểm; thứ gì đó đã diễn ra đã không diễn ra đối với tôi; sự say mê của cuốn sách của tôi, một ma lực mạnh mẽ như giấc ngủ sâu nhất, đã ngăn cản đôi tai bị mê hoặc của tôi và đã xóa sạch âm thanh của chiếc chuông vàng đó khỏi bề mặt màu xanh lam của sự im lặng bao bọc. Những buổi chiều Chủ nhật ngọt ngào bên dưới cây dẻ trong khu vườn Combray của tôi, nơi tôi cẩn thận loại bỏ mọi sự cố tầm thường trong cuộc sống thực tế của mình, thay thế chúng bằng một sự nghiệp gồm những cuộc phiêu lưu kỳ lạ và tham vọng ở một vùng đất được tưới tiêu bởi các dòng suối sống, các bạn vẫn gợi lại những cuộc phiêu lưu và tham vọng đó trong tâm trí tôi khi tôi nghĩ về các bạn, và các bạn hiện thân và bảo tồn chúng nhờ đã từng chút một vẽ quanh và bao bọc chúng (trong khi tôi tiếp tục đọc sách và cái nóng trong ngày giảm dần) trong sự kết tinh dần dần, từ từ thay đổi hình dạng và được đốm một hoa văn lá cây dẻ, của những giờ phút im lặng, vang dội, thơm ngát, trong trẻo của các bạn.
Đôi khi tôi sẽ bị dứt khỏi cuốn sách của mình, vào giữa buổi chiều, bởi con gái người làm vườn, người chạy điên cuồng như kẻ mất trí, làm lật úp một cây cam chậu, cắt đứt một ngón tay, gãy một chiếc răng, và thét lên "Chúng tới kìa, chúng tới kìa!" để Françoise và tôi cũng chạy theo để không bỏ lỡ cảnh tượng nào. Đó là vào những ngày khi lực lượng kỵ binh đồn trú ở Combray đi tập trận quân sự, thường đi qua phố Sainte-Hildegarde. Trong lúc các người hầu của chúng tôi, ngồi thành hàng trên ghế bên ngoài hàng rào vườn, nhìn chằm chằm vào những người dân Combray đi dạo Chủ nhật và bị nhìn lại, con gái người làm vườn, qua khoảng trống giữa hai ngôi nhà xa xa ở Đại lộ de la Gare, hẳn đã phát hiện ra ánh lấp lánh của mũ sắt. Những người hầu sau đó vội vã chạy vào với ghế của mình, vì khi các binh lính diễu hành qua phố Sainte-Hildegarde, họ lấp đầy nó từ bên này sang bên kia, và những con ngựa chen chúc của họ cọ sát vào tường của các ngôi nhà, che phủ và làm ngập lụt vỉa hè giống như các bờ kè trình bày một lòng dẫn quá hẹp đối với một dòng sông đang lụt.
Françoise thốt lên, nước mắt giàn giụa gần như trước khi cô đến được hàng rào: "Những đứa trẻ tội nghiệp, những chàng trai tội nghiệp, bị cắt cỏ như cỏ trong đồng cỏ. Thật là sốc khi nghĩ đến điều đó," cô tiếp tục, đặt một tay lên ngực, nơi có lẽ cô cảm thấy cú sốc.
Người làm vườn hỏi, chỉ để "kích" cô: "Một cảnh tượng đẹp phải không, thưa bà Françoise, tất cả những thanh niên này không màng gì đến mạng sống của họ?" Và anh ta sẽ không nói vớ vẩn.
Không màng đến mạng sống của họ á? Nào, trên đời này có cái gì mà chúng ta nên quan tâm nếu không phải là cuộc sống của chúng ta, món quà duy nhất mà Chúa không bao giờ ban tặng cho chúng ta lần thứ hai? Ôi trời ơi; dù sao anh cũng đúng; đúng thế đấy, họ không màng đến điều đó! Tôi có thể nhớ họ trong năm 70; trong những cuộc chiến khốn nạn đó, họ chẳng còn chút sợ hãi cái chết nào trong mình; họ chẳng khác gì những kẻ điên; và rồi họ chẳng đáng giá bằng một sợi dây để treo cổ họ; họ không còn là đàn ông nữa, họ là những con sư tử." Bởi vì theo cách suy nghĩ của cô, việc so sánh một người đàn ông với một con sư tử — mà cô phát âm là 'lie-on' — hoàn toàn không phải là một lời khen đối với người đàn ông đó.
Phố Sainte-Hildegarde rẽ quá gấp để chúng tôi có thể nhìn thấy mọi người tiếp cận từ bất kỳ khoảng cách xa nào, và chỉ qua khoảng trống giữa hai ngôi nhà đó ở Đại lộ de la Gare, chúng tôi mới có thể nhận ra những chiếc mũ sắt mới chạy đua về phía chúng tôi, và lóe lên dưới ánh mặt trời. Người làm vườn muốn biết liệu có còn nhiều người đến nữa không, và anh ta cũng khát nước nữa, với cái nắng đang đánh đập xuống đầu anh ta. Thế là, đột ngột, con gái anh ta sẽ nhảy vọt ra, hệt như từ một thành phố bị vây hãm, sẽ đột kích, rẽ qua góc phố, và, sau khi mạo hiểm tính mạng của mình hàng trăm lần, xuất hiện trở lại và mang cho chúng tôi, với một bình nước cam thảo, tin tức rằng vẫn còn ít nhất một nghìn người trong số họ, đổ ào ạt không đứt đoạn từ hướng Thiberzy và Méséglise. Françoise và người làm vườn, sau khi "hòa giải" bất đồng của họ, sẽ bàn luận về đường lối nên tuân theo trong trường hợp có chiến tranh.
Anh ta nói: "Cô không thấy sao, Françoise? Cách mạng sẽ tốt hơn, bởi vì khi đó không ai cần phải tham gia trừ khi họ thích."
Ồ, vâng, tôi thấy điều đó chứ, chắc chắn rồi; nó thẳng thắn hơn."
Người làm vườn tin rằng, ngay khi chiến tranh được tuyên bố, họ sẽ dừng tất cả các tuyến đường sắt lại.
Françoise nói: "Vâng, chắc chắn rồi; để chúng ta không thể trốn thoát."
Và người làm vườn sẽ đồng ý, với "Đúng thế, họ là những kẻ ranh mãnh," vì anh ta không cho rằng chiến tranh là gì ngoài một dạng trò lừa bịp mà nhà nước cố gắng chơi với người dân, hoặc rằng có bất kỳ người đàn ông nào trên đời này không chạy trốn khỏi nó nếu anh ta có cơ hội làm như vậy.
Nhưng Françoise sẽ vội vã quay lại với dì tôi, và tôi sẽ quay lại với cuốn sách của mình, và những người hầu sẽ quay lại vị trí của họ bên ngoài cổng để quan sát bụi lắng xuống vỉa hè, và sự phấn khích do sự đi qua của các binh lính lắng xuống. Lâu sau khi trật tự đã được khôi phục, một thủy triều nhân loại bất thường vẫn sẽ tiếp tục làm tối sầm các con đường của Combray. Và trước mọi ngôi nhà, ngay cả những nơi mà theo quy luật là không "làm" điều đó, những người hầu, và đôi khi thậm chí cả các ông chủ sẽ ngồi và nhìn chằm chằm, trang hoàng các bậc cửa của họ với một rìa đen, bất thường, giống như viền vỏ sò và rong biển mà một thủy triều mạnh hơn bình thường để lại trên bãi biển, như thể trang trí nó bằng vải tang thêu, khi chính biển đã rút lui.
Tuy nhiên, ngoại trừ những ngày như thế này, tôi thường được để yên đọc sách trong hòa bình. Nhưng sự gián đoạn mà một chuyến thăm của Swann từng thực hiện, và bài bình luận mà sau đó ông cung cấp cho tiến trình đọc của tôi — đã đưa tôi đến tác phẩm của một tác giả hoàn toàn mới đối với tôi, tên là Bergotte — có kết quả dứt khoát này là trong một thời gian dài sau đó, không phải trên một bức tường rực rỡ những bông hoa màu tím, mà trên một nền tảng hoàn toàn khác, hiên của một nhà thờ lớn gothic, mà tôi sẽ thấy phác thảo hình ảnh của một trong những người phụ nữ mà tôi hằng mơ ước.
Tôi đã nghe nói về Bergotte lần đầu tiên, bởi một người bạn lớn tuổi hơn tôi, người mà tôi dành sự ngưỡng mộ mạnh mẽ, một thanh niên quý giá tên là Bloch. Nghe tôi thú nhận tình yêu của mình dành cho Nuit d'Octobre, cậu ấy đã bật cười vang dội như một tiếng kèn đồng, và cảnh báo tôi: "Cậu phải chinh phục cái gu đê tiện của mình đối với A. de Musset, Esquire. Hắn là một quả trứng thối, một trong những tên tồi tệ nhất, một mẫu vật khá đáng ghét. Tôi buộc phải thừa nhận, dẫu vậy," cậu ấy nói thêm một cách ân cần, "rằng hắn, và thậm chí cả lão Racine, mỗi người trong số họ, một lần trong đời, đã sáng tác ra một dòng thơ không chỉ khá nhịp nhàng, mà còn có điều đối với tôi là công lao tối cao là hoàn toàn không có nghĩa gì cả. Một câu là
La blanche Oloossone et la blanche Camire,
và câu kia là
La fille de Minos et de Pasiphaë."
Chúng được đệ trình lên phán quyết của tôi, như bằng chứng bào chữa cho hai kẻ phản bội, trong một bài báo của người thầy rất thân yêu của tôi, Cha Lecomte, người được tìm thấy là làm vừa lòng các vị thần bất tử. Bởi vì bằng chứng đó, đây là một cuốn sách mà tôi không có thời gian, lúc này, để đọc, một cuốn sách được khuyến nghị, có vẻ như, bởi gã khổng lồ đó. Hắn coi, hoặc người ta nói với tôi thế, tác giả của nó, một Bergotte, Esquire, là một nhà văn tinh tế, tinh tế hơn thực sự bất kỳ con thú nào ngoài đồng ruộng; và, mặc dù hắn thể hiện đôi khi một chủ nghĩa hòa bình phê bình, một sự dịu dàng trong việc chịu đựng những kẻ ngốc, mà không thể giải thích được, và khó có thể tha thứ, nhưng lời nói của hắn vẫn có trọng lượng đối với tôi như thể Oracle Delphi. Vậy hãy đọc bạn bài văn xuôi trữ nghĩa này, và, nếu nhà kiến tạo vĩ đại của nhịp điệu Titanic, người đã soạn Bhagavat và Lévrier de Magnus không nói dối, thì, hỡi Apollo, bạn có thể nếm trải, ngay cả bạn, thưa thầy của tôi, những niềm vui ambrosia của Olympus." Đó là trong một mạch mỉa mai rõ ràng mà cậu ấy đã yêu cầu tôi gọi cậu ấy, và cậu ấy tự gọi tôi là "thưa thầy". Nhưng, trên thực tế, mỗi chúng ta đều thu được một lượng sự hài lòng nhất định từ cách cư xử đó, vẫn ở độ tuổi mà người ta tin rằng mình mang lại sự tồn tại thực sự cho một thứ bằng cách đặt cho nó một cái tên.
Thật không may, tôi không thể làm sáng tỏ, bằng những cuộc trò chuyện tiếp theo với Bloch — trong đó tôi có thể nhấn mạnh vào một lời giải thích — những nghi ngờ mà cậu ấy đã gieo rắc trong tôi khi cậu ấy nói với tôi rằng những dòng thơ hay (từ đó tôi, xin lỗi nhé, mong đợi không gì kém hơn sự tiết lộ của chính sự thật) sẽ hay hơn nữa nếu chúng hoàn toàn không có nghĩa gì cả. Bởi vì, tình cờ thay, Bloch không được mời đến nhà nữa. Lúc đầu, cậu ấy đã được đón tiếp tốt ở đó. Đúng là ông ngoại tôi bịa ra rằng, bất cứ khi nào tôi hình thành một sự gắn bó mạnh mẽ với bất kỳ ai trong số những người bạn của mình và đưa cậu ấy về nhà với tôi, người bạn đó luôn luôn là một người Do Thái; điều mà ông sẽ không phản đối về nguyên tắc — thực tế người bạn Swann của chính ông cũng có gốc gác Do Thái — giả sử ông không thấy rằng những người Do Thái mà tôi chọn làm bạn thường không phải là loại tốt nhất. Và thế là tôi hầu như không bao giờ có thể đưa một người bạn mới về nhà mà ông ngoại không ngân nga câu "Ôi, Chúa của tổ tiên chúng ta" từ La Juive, hoặc "Hỡi Israel, hãy phá vỡ xiềng xích của ngươi", tất nhiên chỉ hát giai điệu với câu "um-ti-tum-ti-tum, tra-la"; nhưng tôi thường sợ người bạn của mình nhận ra âm thanh đó, và do đó có thể tái tạo lại các từ.
Trước khi gặp họ, chỉ đơn giản bằng cách nghe tên của họ, mà thường xuyên không có gì đặc biệt mang tính Do Thái, ông sẽ đoán ra không chỉ nguồn gốc Do Thái của những người bạn của tôi có thể thực sự thuộc về dân tộc được chọn, mà thậm chí cả một bí mật đen tối nào đó được ẩn giấu trong gia đình họ.
"Và họ gọi người bạn sắp đến tối nay của cháu là gì?"
"Dumont ạ, thưa ông."
"Dumont! Ồ, ông sợ Dumont lắm."
Và ông sẽ hát:
Những cung thủ, hãy cảnh giác!
Canh gác không nghỉ ngơi, không âm thanh,
và rồi, sau vài câu hỏi khéo léo về các chi tiết cụ thể, ông sẽ gọi lớn "Cảnh giác! Cảnh giác", hoặc, nếu đó chính là nạn nhân đã đến, và buộc phải, một cách vô thức, bởi sự kiểm tra tinh tế của ông ngoại, thừa nhận nguồn gốc của mình, thì ông ngoại, để cho chúng ta thấy rằng ông không còn nghi ngờ gì nữa, sẽ chỉ nhìn chúng ta, ngân nga gần như không thể nghe thấy giai điệu của
Gì cơ! Anh dẫn bước chân đến đây
Của người Israel rụt rè này sao?
hoặc của
Thung lũng Hebron ngọt ngào, những cánh đồng tổ phụ thân yêu,
hoặc, có lẽ, của
Vâng, tôi thuộc về chủng tộc được chọn.
Những điều kỳ quặc nhỏ này từ phía ông ngoại không hàm ý chút thiện ý nào đối với bạn bè tôi. Nhưng Bloch đã làm gia đình tôi khó chịu vì những lý do khác. Cậu ấy bắt đầu bằng việc làm phiền bố tôi, khi thấy cậu ấy bước vào với quần áo ướt, đã hỏi cậu với sự quan tâm sâu sắc:
"Sao vậy, anh Bloch, có sự thay đổi thời tiết nào à, trời đang mưa phải không? Tôi không thể hiểu nổi; khí áp kế đã "đặt trời đẹp" rồi mà."
Điều đó chẳng mang lại từ Bloch gì mang tính hướng dẫn hơn là "Thưa ngài, tôi hoàn toàn không có khả năng cho ngài biết liệu trời có mưa hay không. Tôi sống tách biệt kiên quyết khỏi những sự ngẫu nhiên về thể xác đến mức các giác quan của tôi không còn bận tâm thông báo cho tôi về chúng nữa."
Bố tôi nói sau khi Bloch đã đi: "Con trai tội nghiệp của bố, bạn của con mất trí rồi. Tại sao, cậu ta thậm chí còn không thể cho bố biết thời tiết ra sao. Cứ làm như có điều gì thú vị hơn thế không bằng! Cậu ta là một kẻ ngốc."
Tiếp theo, Bloch đã làm bà ngoại khó chịu bởi vì sau bữa trưa, khi bà phàn nàn không thấy khỏe trong người, cậu đã nức nở kìm nén và lau những giọt nước mắt trên mắt mình.
Bà nhận xét với tôi: "Con không thể tưởng tượng được rằng cậu ta chân thành đâu. Tại sao cậu ta có chế nào biết tôi đâu. Trừ khi cậu ta điên, tất nhiên."
Và cuối cùng cậu đã làm xáo trộn toàn bộ hộ gia đình khi đến muộn một tiếng rưỡi cho bữa trưa và ngập bùn từ đầu đến chân, và không đưa ra lời xin lỗi nào, chỉ nói đơn giản: "Tôi không bao giờ cho phép bản thân bị ảnh hưởng dù chỉ một chút ít nhất bởi các rối loạn khí quyển hay bởi các bộ phận độc đoán của cái gọi là Thời gian. Tôi sẵn sàng tái giới thiệu với xã hội tẩu thuốc phiện của Trung Quốc hay chiếc dao găm Mã Lai, nhưng tôi hoàn toàn và tuyệt đối không có sự hướng dẫn nào trong những công cụ vô cùng nguy hiểm hơn (ngoài việc hoàn toàn tẻ nhạt theo kiểu tư sản) đó, chiếc ô và chiếc đồng hồ."
Bất chấp tất cả những điều này, cậu ấy vẫn sẽ được đón tiếp ở Combray. Cậu ấy, tất nhiên, khó có thể là người bạn mà bố mẹ tôi sẽ chọn cho tôi; họ cuối cùng đã quyết định rằng những giọt nước mắt mà cậu ấy đã rơi khi nghe tin về bệnh tình của bà ngoại là đủ chân thực; nhưng họ biết, hoặc bản năng hoặc từ kinh nghiệm của chính họ, rằng những cảm xúc bốc đồng ban đầu của chúng ta ít có ảnh hưởng đến các hành vi sau này và cách ứng xử trong cuộc đời chúng ta; và rằng sự tôn trọng các nghĩa vụ đạo đức, sự trung thành với bạn bè, sự kiên nhẫn trong việc hoàn thành công việc của chúng ta, sự vâng lời một quy tắc sống, có một nền tảng chắc chắn hơn trong các thói quen được hình thành vững chắc và được tuân theo một cách mù quáng hơn là trong những cơn bốc đồng tức thời này, nồng nhiệt nhưng vô sinh. Họ sẽ thích hơn Bloch, làm bạn đồng hành cho tôi, những cậu bé sẽ không cho tôi gì hơn những gì phù hợp, theo tất cả các định luật đạo đức tư sản, để các cậu bé dành cho nhau, những người sẽ không bất ngờ gửi cho tôi một giỏ trái cây bởi vì họ tình cờ, vào buổi sáng đó, đã nghĩ đến tôi với tình cảm, nhưng những người, vì không có khả năng nghiêng về phía tôi, bằng bất kỳ xung lực duy nhất nào của trí tưởng tượng và cảm xúc của họ, sự cân bằng chính xác của các nhiệm vụ và yêu cầu của tình친구, cũng không có khả năng làm lệch cán cân vì thành kiến của tôi. Ngay cả những tổn thương mà chúng ta gây ra cho họ cũng không dễ dàng làm chuyển hướng khỏi con đường làm tròn nghĩa vụ của họ đối với chúng ta những bản chất thông thường mà cô của tôi cung cấp một mẫu hình: những người — sau khi cãi vã nhiều năm với một đứa cháu gái, người mà cô không bao giờ nói chuyện lại — vẫn không thay đổi di chúc mà trong đó cô đã để lại cho đứa cháu gái đó toàn bộ tài sản của mình, bởi vì cô ấy là họ hàng gần nhất, và đó là "điều đúng đắn" phải làm.
Nhưng tôi yêu quý Bloch; bố mẹ muốn tôi hạnh phúc; và những vấn đề không thể giải quyết được mà tôi tự đặt ra cho mình trên các văn bản như vẻ đẹp "hoàn toàn vô nghĩa" của La fille de Minos et de Pasiphaë làm tôi mệt mỏi và làm tôi ốm yếu hơn so với những gì tôi sẽ cảm thấy sau những cuộc trò chuyện tiếp theo với cậu ấy, dù những cuộc trò chuyện đó có vẻ không lành mạnh đối với tâm trí của mẹ tôi. Và cậu ấy vẫn sẽ được đón tiếp ở Combray ngoại trừ một điều. Tối hôm đó, sau bữa tối, sau khi thông báo cho tôi (một mẩu tin có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời sau này của tôi, làm cho nó hạnh phúc hơn vào một thời điểm và sau đó bất hạnh hơn) rằng không có người phụ nữ nào nghĩ đến điều gì ngoài tình yêu, và rằng không có một ai trong số họ mà sự kháng cự của một người đàn ông không thể vượt qua, cậu đã tiếp tục đảm bảo với tôi rằng cậu đã nghe nói từ nguồn tin không thể chê trách rằng chính bà cô của tôi đã dẫn một cuộc sống "vui vẻ" trong những năm tuổi trẻ của mình, và từng nổi tiếng là được "nuôi dưỡng". Tôi không thể kìm nến việc chuyển tiếp một mẩu thông tin quan trọng như vậy cho bố mẹ; lần tới khi Bloch gọi cửa, cậu không được thừa nhận, và sau đó, khi tôi gặp cậu trên đường, cậu chào tôi với sự lạnh lùng tột độ.
Nhưng trong vấn đề của Bergotte, cậu đã nói sự thật.
Trong vài ngày đầu tiên, giống như một giai điệu cứ vang lên trong đầu và làm người ta phát điên chẳng mấy chốc, nhưng mà người ta chưa "nắm bắt" được cho lúc này, những thứ tôi sẽ yêu mến say đắm trong văn phong của Bergotte vẫn chưa lọt vào mắt tôi. Quả thực, tôi không thể đặt cuốn tiểu thuyết của ông xuống mà tôi đang đọc, nhưng tôi tưởng tượng rằng tôi chỉ quan tâm đến câu chuyện một mình, giống như trong buổi bình minh đầu tiên của tình yêu, khi chúng ta đi gặp một người phụ nữ mỗi ngày tại một bữa tiệc hoặc giải trí nào đó mà bằng sự quyến rũ của nó chúng ta tưởng tượng rằng chúng ta bị thu hút. Sau đó, tôi quan sát những cụm từ hiếm hoi, gần như cổ xưa mà ông thích sử dụng ở một số điểm, nơi một dòng chảy hòa hợp ẩn giấu, một khúc dạo đầu được chứa đựng và che giấu trong chính tác phẩm sẽ làm sinh động và nâng tầm văn phong của ông; và chính tại những điểm như thế này, ông cũng sẽ bắt đầu nói về "giấc mơ hão huyền của cuộc sống", về "dòng thác cạn kiệt của những hình thái đẹp", về "sự tra tấn cỗi cằn, lộng lẫy của sự thấu hiểu và yêu thương", về "những bức tượng di động làm sang trọng cho mọi thời gian những mặt tiền quyến rũ và đáng kính của các nhà thờ lớn của chúng ta"; rằng ông sẽ bày tỏ toàn bộ một hệ thống triết học, mới mẻ đối với tôi, bằng cách sử dụng những hình ảnh kỳ diệu, theo nguồn cảm hứng mà tôi tự nhiên gán cho âm thanh của tiếng hạc bắt đầu reo vang và vọng lại trong tai tôi, một phần đệm mà những hình ảnh đó thêm vào một cái gì đó thanh tao và siêu việt. Một trong những đoạn văn này của Bergotte, đoạn thứ ba hoặc thứ tư mà tôi đã tách ra khỏi phần còn lại, lấp đầy tôi với một niềm vui mà niềm vui nghèo nàn tôi đã nếm trải trong đoạn đầu tiên không thể sánh bằng, một niềm vui mà tôi cảm thấy mình đã trải nghiệm trong một căn phòng sâu thẳm nhất trong tâm hồn tôi, sâu sắc, không phân chia, mênh mông, từ đó mọi vật cản và vách ngăn dường như đã bị quét sạch. Vì điều đã xảy ra là, trong khi tôi nhận ra trong đoạn này cùng một gu thưởng thức các cụm từ khác thường, cùng những đợt bùng nổ âm thanh, cùng triết học duy tâm đã hiện diện trong các đoạn trước mà tôi không tính đến chúng như nguồn gốc của niềm vui của mình, tôi giờ đây không còn ấn tượng bị đối mặt với một đoạn cụ thể trong một trong các tác phẩm của Bergotte, vẽ ra một hình tượng hai chiều thuần túy trên bề mặt tâm trí tôi, mà đúng hơn là về "đoạn lý tưởng" của Bergotte, chung cho mọi cuốn sách của ông, và mà tất cả các đoạn tương tự trước đó, nay đang hòa nhập vào nó, đã thêm vào một loại mật độ và thể tích mà qua đó sự hiểu biết của chính tôi dường như được mở rộng.
Tôi hoàn toàn không phải là người ngưỡng mộ duy nhất của Bergotte; ông cũng là nhà văn yêu thích của một người bạn của mẹ tôi, một phụ nữ có học thức cao; trong khi bác sĩ du Boulbon đã bắt tất cả các bệnh nhân của mình phải chờ đợi cho đến khi ông hoàn thành tập sách mới nhất của Bergotte; và chính từ phòng khám của ông ấy, và từ một ngôi nhà trong một công viên gần Combray mà một số hạt giống đầu tiên của gu thưởng thức Bergotte đã được rải rác, một sự phát triển hiếm hoi trong những ngày đó nhưng nay đã được thích nghi phổ biến đến mức người ta tìm thấy nó nở rộ khắp nơi ở châu Âu và châu Mỹ, và ngay cả trong những ngôi làng nhỏ nhất, hiếm hoi vẫn trong sự tinh tế của nó, nhưng chỉ trong điều đó một mình. Những gì bạn của mẹ tôi, và có vẻ như những gì bác sĩ du Boulbon thích nhất trong các tác phẩm của Bergotte chính là những gì tôi thích, cùng một dòng giai điệu, cùng những cụm từ cổ xưa, và một số cụm từ khác, khá đơn giản và quen thuộc, nhưng được ông đặt ở vị trí như vậy, nổi bật như vậy để gợi ý về một chất lượng gu thưởng thức cụ thể từ phía ông; và hơn nữa, trong những phần buồn bã trong sách của ông, một loại sự thô ráp, một tông màu gần như gay gắt. Và bản thân ông, không nghi ngờ gì nữa, đã nhận thức được rằng đây là những điểm thu hút chính của ông. Bởi vì trong những cuốn sách sau này của ông, nếu ông đã vớ được một sự thật lớn nào đó, hoặc cái tên của một nhà thờ lịch sử, ông sẽ ngắt quãng câu chuyện của mình, và trong một lời cầu khẩn, một lời kêu gọi, một lời cầu nguyện dài dòng, sẽ cung cấp một lối thoát tự do cho luồng phát thải đó — mà trong các tập trước, vẫn chìm đắm bên dưới hình thức văn phong của ông, chỉ có thể phân biệt được ở một sự gợn sóng trên bề mặt của nó, và có lẽ thậm chí thú vị hơn, hài hòa hơn khi nó bị che khuất khỏi mắt như vậy, khi người đọc không thể chỉ ra chính xác âm thanh của dòng chảy bắt đầu từ đâu, hay nó chết đi ở đâu. Những đoạn văn này mà ông vô cùng thích thú cũng là những mục yêu thích của chúng tôi. Về phần mình, tôi thuộc lòng tất cả chúng. Tôi thậm chí cảm thấy thất vọng khi ông tiếp tục chuỗi câu chuyện của mình. Bất cứ khi nào ông nói về một cái gì đó có vẻ đẹp cho đến lúc đó vẫn ẩn giấu đối với tôi, về rừng thông hoặc bão đá, về Notre-Dame de Paris, về Athalie, hoặc về Phèdre, bằng một mảnh hình ảnh nào đó, ông sẽ làm cho vẻ đẹp của chúng bùng nổ và làm ướt sũng tôi với bản chất của nó. Và thế là, nhận ra một cách mơ hồ rằng vũ trụ chứa đựng vô số yếu tố mà các giác quan yếu ớt của tôi sẽ bất lực trong việc phân biệt, liệu ông có mang chúng đến trong tầm tay tôi không, tôi ước mình có thể có ý kiến của ông, một ẩn dụ nào đó của ông, về mọi thứ trên đời, và đặc biệt là về những thứ tôi có thể có cơ hội, một ngày nào đó, tự mình nhìn thấy; và trong số những thứ như vậy, đặc biệt hơn nữa là về một số công trình lịch sử của Pháp, về một số khung cảnh biển, bởi vì sự nhấn mạnh mà trong sách của ông, ông đề cập đến những thứ này cho thấy rằng ông coi chúng giàu ý nghĩa và vẻ đẹp. Nhưng, than ôi, về hầu như mọi thứ trên đời, ý kiến của ông đối với tôi là không biết. Tôi không nghi ngờ gì rằng nó sẽ hoàn toàn khác với của tôi, vì ý kiến của ông xuất phát từ một lĩnh vực không xác định hướng tới cái mà tôi đang phấn đấu để nâng bản thân lên; bị thuyết phục rằng những suy nghĩ của tôi sẽ có vẻ thuần túy ngốc nghếch đối với tinh thần được hoàn thiện đó đến mức tôi đã xóa sạch hoàn toàn tất cả chúng đi đến mức nếu tôi vô tình tìm thấy trong một cuốn sách của ông một cái gì đó đã xảy ra trong tâm trí của chính tôi, trái tim tôi sẽ phồng lên vì lòng biết ơn và niềm tự hào như thể một vị thần nào đó đã, trong lòng rộng lượng vô hạn của mình, khôi phục nó cho tôi, đã tuyên bố nó là đẹp và đúng. Thỉnh thoảng xảy ra trường hợp một trang sách của Bergotte sẽ bày tỏ chính xác những ý tưởng mà tôi thường dùng vào ban đêm, khi tôi không thể ngủ được, để viết cho bà ngoại và mẹ tôi, và ngắn gọn và hay đến mức trang sách của ông có vẻ ngoài của một bộ sưu tập châm ngôn để tôi đặt lên đầu thư của mình. Và thế là quá, trong những năm sau này, khi tôi bắt đầu soạn một cuốn sách của riêng mình, và chất lượng của một số câu văn của tôi có vẻ không thỏa đáng đến mức tôi không thể quyết định tiếp tục dự án, tôi sẽ tìm thấy sự tương đương của các câu văn của tôi trong sách của Bergotte. Nhưng chỉ khi đó, khi tôi đọc chúng trên các trang sách của ông, tôi mới có thể thưởng thức chúng; khi đó là chính tôi người soạn chúng, trong sự lo lắng của tôi rằng chúng nên tái tạo chính xác những gì tôi dường như đã phát hiện ra trong tâm trí mình, và trong nỗi sợ chúng không hóa ra "đúng với sự thật", tôi không có thời gian để tự hỏi liệu những gì tôi đang viết có dễ chịu để đọc không! Nhưng thực sự không có loại ngôn ngữ nào, không có loại ý tưởng nào mà tôi thực sự thích, ngoại trừ những thứ này. Những nỗ lực sốt sắng và không thỏa đáng của tôi tự thân chúng là một minh chứng cho tình yêu của tôi, một tình yêu mang lại cho tôi không niềm vui, nhưng đối với tất cả những điều đó, mãnh liệt và sâu sắc. Và thế là, khi tôi bắt gặp đột ngột những cụm từ tương tự trong các tác phẩm của người khác, nghĩa là được lột bỏ lớp đệm quen thuộc gồm các sự do dự và kìm nén và tự hành hạ bản thân, tôi được tự do đắm chìm trọn vẹn vào sự thèm thuồng của chính mình đối với những thứ như vậy, giống như một người nấu ăn, một lần nào đó, không có bữa tối để chuẩn bị cho người khác, có thể tìm thấy thời gian để tự mình phàm ăn. Và thế là, khi tôi tìm thấy, một ngày nọ, trong một cuốn sách của Bergotte, một trò đùa nào đó về một người đầy tớ gia đình cũ, mà phong cách trang trọng và tráng lệ của ông đã thêm một lượng lớn sự mỉa mai, nhưng về nguyên tắc là những gì tôi thường nói với bà ngoại về Françoise, và khi, một lần khác, tôi phát hiện ra rằng ông nghĩ không bất xứng để phản chiếu trong một trong những chiếc gương của Chân lý tuyệt đối vốn là các tác phẩm của ông, một nhận xét tương tự như nhận xét mà tôi có dịp thực hiện về người bạn M. Legrandin của chúng ta (và hơn nữa, các nhận xét của tôi về Françoise và M. Legrandin nằm trong số những nhận xét mà tôi kiên quyết hy sinh vì lợi ích của Bergotte, với niềm tin rằng ông sẽ thấy chúng hoàn toàn không có sự quan tâm); khi đó đột nhiên tôi nhận ra rằng sự tồn tại khiêm tốn của chính tôi và các Cõi Chân lý ít bị chia cắt rộng lớn hơn tôi đã tưởng tượng, rằng tại một số điểm chúng thực sự tiếp xúc; và trong niềm tin và niềm vui mới tìm thấy của mình, tôi khóc trên trang sách in của ông, như trong vòng tay của một người cha lâu năm thất lạc.
Từ những cuốn sách của ông, tôi đã hình thành ấn tượng về Bergotte như một ông già mỏng manh và thất vọng, người đã mất các con, và chưa bao giờ tìm thấy bất kỳ sự an ủi nào. Và thế là tôi sẽ đọc, hoặc đúng hơn là hát các câu văn của ông trong bộ não của mình, với nhiều dolce hơn, nhiều lento hơn bản thân ông, có lẽ, đã định ý, và cụm từ đơn giản nhất của ông sẽ đập vào tai tôi với một cái gì đó đặc biệt dịu dàng và yêu thương trong ngữ điệu của nó. Hơn bất cứ thứ gì trên đời, tôi trân trọng triết học của ông, và đã cam kết bản thân với nó trong lòng tận tụy suốt đời. Nó làm tôi mất kiên nhẫn để đạt đến độ tuổi khi tôi đủ điều kiện tham dự lớp học ở trường gọi là "Triết học". Tôi không muốn học hay làm gì khác ở đó, mà chỉ đơn giản là tồn tại và được hướng dẫn hoàn toàn bởi tâm trí của Bergotte, và nếu tôi được bảo khi đó rằng các nhà siêu hình học mà tôi thực sự sẽ theo đuổi ở đó không giống ông trong bất cứ điều gì, tôi hẳn đã bị đánh gục bởi sự tuyệt vọng mà một người tình trẻ cảm thấy khi đã thề trung thành suốt đời, khi một người bạn nói với cậu ta về những người tình khác mà cậu ta sẽ có trong thời gian tới.
Một Chủ nhật, trong khi tôi đang đọc sách trong vườn, tôi bị cắt ngang bởi Swann, người đã đến thăm bố mẹ tôi.
"Cậu đang đọc gì thế? Cho tôi xem được không? Ôi, hóa ra là Bergotte! Ai đã kể cho cậu nghe về ông ấy thế?"
Tôi trả lời rằng Bloch chịu trách nhiệm.
"Ồ, vâng, cái cậu bé tôi từng thấy ở đây, trông giống y như bức chân dung Bellini vẽ Mahomet II. Giống nhau đến kinh ngạc; cậu ta có cùng đôi lông mày cong và mũi khoằm và xương gò má nổi bật. Khi râu mọc, cậu ta sẽ chính là Mahomet. Dù sao cậu ta cũng có gu thẩm mỹ tốt, vì Bergotte là một sinh vật đáng yêu." Và thấy tôi có vẻ ngưỡng mộ Bergotte đến thế nào, Swann — người không bao giờ nói gì về những người ông quen biết — đã phá lệ vì lợi ích của tôi và nói: "Tôi quen ông ấy rõ; nếu cậu muốn ông ấy viết vài chữ lên trang bìa cuốn sách của cậu, tôi có thể xin ông ấy giúp cậu."
Tôi không dám chấp nhận một lời đề nghị như vậy, nhưng dội bom Swann với những câu hỏi về người bạn của ông. "Xin làm ơn cho tôi biết, ai là diễn viên yêu thích của ông ấy?"
"Diễn viên ư? Không, tôi không nói được. Nhưng tôi biết điều này: không có người đàn ông nào trên sân khấu mà ông ấy nghĩ sánh ngang với Berma; ông ấy đặt cô ấy lên trên mọi người. Cậu đã thấy cô ấy chưa?"
Không ạ, thưa ngài, bố mẹ tôi không cho phép tôi đi xem kịch."
"Thật là tiếc. Cậu nên nới lỏng. Berma trong Phèdre, trong Le Cid; chà, cô ấy chỉ là một nữ diễn viên, nếu cậu thích, nhưng cậu biết rằng tôi không tin lắm vào "hệ thống cấp bậc" của các loại hình nghệ thuật." Khi ông nói, tôi nhận thấy, điều đã đập vào tôi trước đó trong các cuộc trò chuyện của ông với các dì của bà ngoại, rằng bất cứ khi nào ông nói về các vấn đề nghiêm túc, bất cứ khi nào ông sử dụng một biểu hiện ngụ ý một ý kiến xác định về một chủ đề quan trọng nào đó, ông sẽ cẩn thận cách ly, tiệt trùng nó bằng cách sử dụng một ngữ điệu đặc biệt, máy móc và mỉm kana, như thể ông đã đặt cụm từ hoặc từ ngữ đó giữa dấu ngoặc kép, và lo lắng chối bỏ bất kỳ trách nhiệm cá nhân nào đối với nó; như ai đó có thể nói "hệ thống cấp bậc", cậu biết đấy, như những kẻ ngốc gọi nó." Nhưng rồi, nếu nó quá vô lý, tại sao ông lại nói là "hệ thống cấp bậc"? Một khoảnh khắc sau ông tiếp tục: "Diễn xuất của cô ấy sẽ mang lại cho cậu sự cảm hứng cao quý như bất kỳ kiệt tác nghệ thuật nào trên đời, như — ồ, tôi không biết —" và ông bắt đầu cười, "chúng ta nói các Nữ hoàng Chartres nhé?" Cho đến lúc đó tôi từng cho rằng nỗi kinh hoàng của việc phải đưa ra một ý kiến nghiêm túc của ông là thứ gì đó mang tính Paris và tinh tế, trái ngược với chủ nghĩa giáo điều tỉnh lẻ của các dì bà ngoại; và tôi cũng từng tưởng tượng rằng nó đặc trưng cho thái độ tinh thần đối với cuộc sống của vòng tròn nơi Swann di chuyển, nơi, bằng một phản ứng tự nhiên từ những nhiệt tình "trữ tình" của các thế hệ trước, một tầm quan trọng quá mức được trao cho những sự thật nhỏ và chính xác, trước đây được coi là thô tục, và bất cứ thứ gì có bản chất "làm cụm từ" đều bị cấm. Nhưng giờ đây tôi thấy mình hơi bị sốc bởi thái độ này mà Swann luôn áp dụng khi đối mặt với các khái niệm chung. Ông tỏ ra không muốn mạo hiểm ngay cả việc có một ý kiến, và chỉ thoải mái khi ông có thể cung cấp, với độ chính xác tỉ mỉ, một chi tiết chính xác nhưng không quan trọng. Nhưng khi làm như vậy ông không tính đến việc ngay cả ở đây ông cũng đang đưa ra một ý kiến, nắm giữ một bản tóm tắt (như người ta nói) cho cái gì đó, rằng độ accuracy của các chi tiết của ông có tầm quan trọng của riêng nó. Tôi nghĩ lại bữa tối tối hôm đó, khi tôi rất đau khổ vì Má sẽ không lên phòng tôi, và khi ông gạt bỏ các buổi khiêu vũ do Công chúa de Léon tổ chức như không quan trọng. Và tuy nhiên, chính loại giải trí đó mà ông đang cống hiến cuộc đời mình. Vì đối với loại sự tồn tại nào khác mà ông dành những nhiệm vụ nói một cách hoàn toàn nghiêm túc những gì ông nghĩ về mọi thứ, để định hình các phán quyết mà ông sẽ không đặt giữa dấu ngoặc kép; và khi nào ông sẽ thôi cống hiến bản thân cho những nghề nghiệp mà đồng thời ông làm ra vẻ chúng là vô lý? Tôi cũng nhận thấy, trong cách Swann nói chuyện với tôi về Bergotte, một cái gì đó, để công bằng với ông ấy, không phải là đặc trưng của riêng ông, mà được chia sẻ bởi tất cả những người ngưỡng mộ nhà văn đó vào thời điểm đó, ít nhất là bởi bạn của mẹ tôi và bởi bác sĩ du Boulbon. Giống như Swann, họ sẽ nói về Bergotte: "Ông ấy có một tâm trí quyến rũ, rất cá nhân, ông ấy có một cách nói riêng của mình, hơi xa vời nhưng rất dễ chịu. Cậu không bao giờ cần tìm tên ông ấy trên trang bìa, cậu có thể nhận ra tác phẩm của ông ấy ngay lập tức." Nhưng không ai trong số họ đi xa đến mức nói "Ông ấy là một nhà văn vĩ đại, ông ấy có tài năng lớn." Họ thậm chí không ghi nhận tài năng cho ông chút nào. Họ không nói, bởi vì họ không nhận thức được điều đó. Chúng ta rất chậm trong việc nhận ra trong diện mạo kỳ lạ của một nhà văn mới cái loại được gắn nhãn "tài năng lớn" trong bảo tàng ý tưởng chung của chúng ta. Đơn giản vì diện mạo đó mới mẻ và lạ lùng, chúng ta không thể tìm thấy sự tương đồng trong đó với những gì chúng ta quen gọi là tài năng. Thay vào đó chúng ta nói tính nguyên bản, sự quyến rũ, sự tinh tế, sức mạnh; và rồi một ngày nào đó chúng ta cộng tổng các thứ đó lại, và thấy rằng nó tương đương đơn giản với tài năng.
"Có cuốn sách nào trong đó Bergotte viết về Berma không?" Tôi hỏi ông Swann.
"Tôi nghĩ là có, trong tiểu luận nhỏ về Racine đó, nhưng chắc nó đã hết bản quyền in rồi. Tuy nhiên, có lẽ đã có một lần in thứ hai. Tôi sẽ tìm hiểu. Dù sao, tôi có thể hỏi chính Bergotte tất cả những gì cháu muốn biết lần tới khi ông ấy đến ăn tối với chúng ta. Ông ấy không bao giờ bỏ lỡ một tuần nào, từ đầu năm này sang đầu năm khác. Ông ấy là người bạn lớn nhất của con gái tôi. Họ đi cùng nhau, và ngắm nhìn các thị trấn cũ và nhà thờ lớn và lâu đài."
Vì tôi vẫn hoàn toàn không biết gì về các cấp độ khác nhau trong hệ thống phân cấp xã hội, thực tế là bố tôi thấy việc chúng tôi không thể thấy bất cứ điều gì về vợ và con gái của Swann có tác dụng ngược lại là làm tôi tưởng tượng họ bị chia cắt khỏi chúng ta bởi một vực thẳm lớn, điều làm tăng thêm đáng kể phẩm giá và tầm quan trọng của họ trong mắt tôi. Tôi xin lỗi vì mẹ tôi không nhuộm tóc và tô đỏ môi, như tôi từng nghe người hàng xóm của chúng tôi, mợ Sazerat, nói rằng mợ Swann làm, để làm vừa lòng không phải chồng mình mà là ông de Charlus; và tôi cảm thấy rằng, đối với cô ấy, chúng tôi chắc chắn là đối tượng của sự khinh miệt, điều làm tôi đau khổ đặc biệt vì lợi ích của cô con gái, một cô bé vô cùng xinh xắn, như tôi từng nghe, và là người mà tôi thường mơ về, luôn tưởng tượng cô ấy với các nét mặt và diện mạo giống nhau, mà tôi gán cho cô ấy hoàn toàn tùy ý, nhưng với một hiệu ứng quyến rũ. Nhưng từ buổi chiều này, khi tôi biết rằng tiểu thư Swann là một sinh vật sống trong những hoàn cảnh quý hiếm và may mắn như vậy, tắm táp, như trong môi trường tự nhiên của cô ấy, trong một biển đặc quyền đến mức nếu cô ấy hỏi bố mẹ mình liệu có ai đến ăn tối không, cô ấy sẽ được trả lời bằng hai âm tiết đó, rực rỡ với ánh sáng thiên đường, sẽ nghe thấy tên của vị khách vàng đó — người đối với cô chẳng hơn gì một người bạn cũ của gia đình cô, Bergotte; rằng đối với cô, cuộc trò chuyện thân mật tại bàn, tương ứng với những gì cuộc trò chuyện của bà cô đối với tôi, sẽ là những lời của Bergotte về tất cả những chủ đề mà ông không thể đưa vào các tác phẩm của mình, và về những chủ đề mà tôi ao ước được nghe ông thốt ra những lời sấm truyền; và rằng, trên hết, khi cô ấy đi thăm các thị trấn khác, ông sẽ đi bộ bên cạnh cô ấy, không được nhận ra và vinh quang, giống như các vị thần từng giáng thế, ngày xưa, từ thiên đường xuống sống giữa phàm trần: khi đó tôi nhận ra cả giá trị quý hiếm của một sinh vật như tiểu thư Swann, và đồng thời, tôi thô tục và dốt nát thế nào khi xuất hiện trước cô ấy; và tôi cảm thấy vô cùng dễ chịu nhưng bất khả thi biết bao để trở thành bạn của cô ấy đến mức tôi tràn ngập cả khao khát lẫn tuyệt vọng. Và thường thì, từ thời điểm này trở đi, khi tôi nghĩ về cô ấy, tôi sẽ thấy cô ấy đứng trước hiên của một nhà thờ lớn, giải thích cho tôi bức tượng nào có ý nghĩa gì, và, với một nụ cười là sự khen thưởng cao nhất của tôi, giới thiệu tôi, như một người bạn của cô ấy, với Bergotte. Và luôn luôn sự quyến rũ của tất cả những tưởng tượng mà ý nghĩ về các nhà thờ lớn từng truyền cảm hứng cho tôi, sự quyến rũ của các ngọn đồi và thung lũng Île-de-France và các đồng bằng Normandy, sẽ tỏa ra ánh sáng và vẻ đẹp qua bức tranh tôi đã hình thành trong tâm trí tôi về tiểu thư Swann; không còn gì sót lại ngoài việc biết và yêu cô ấy. Một khi chúng ta tin rằng một người bạn đồng loại có một phần trong một sự tồn tại vô danh nào đó mà tình yêu của sinh vật đó dành cho chúng ta có thể giành được quyền truy cập cho chúng ta, đó là, trong số tất cả các điều kiện sơ bộ mà Tình yêu đòi hỏi, điều kiện mà nó gắn bó tầm quan trọng lớn nhất, điều kiện làm cho nó hào phóng hoặc thờ ơ đối với phần còn lại. Ngay cả những phụ nữ giả vờ rằng họ đánh giá một người đàn ông bằng bề ngoài của ông ta thôi, cũng nhìn thấy ở bề ngoài đó một sự phát ra từ một lối sống đặc biệt nào đó. Và đó là lý do tại sao họ yêu một người lính hoặc một lính cứu hỏa, người có đồng phục làm họ ít kén chọn hơn về khuôn mặt; họ hôn và tin rằng bên dưới bộ ngực giáp nặng nề đập một trái tim khác với phần còn lại, dũng cảm hơn, phiêu lưu hơn, dịu dàng hơn; và chính vì vậy một vị vua trẻ hoặc một thái tử có thể đi du lịch nước ngoài và thực hiện những cuộc chinh phục đáng hài lòng nhất, và vẫn thiếu hoàn toàn cái hồ sơ đều đặn và cổ điển vốn sẽ không thể thiếu, tôi dám nói, đối với một nhà môi giới bên ngoài.
Trong khi tôi đang đọc sách trong vườn, một điều mà bà cô tôi sẽ không bao giờ hiểu được hành động của tôi ngoại trừ vào một ngày Chủ nhật, đó là ngày bị cấm indulge trong bất kỳ hoạt động nghiêm túc nào, và vào ngày đó bản thân cô sẽ gác lại công việc may vá (vào một ngày trong tuần cô sẽ nói, "Sao cháu có thể tiếp tục giải trí với một cuốn sách; không phải ngày Chủ nhật đâu, cháu biết đấy!" đặt vào từ "giải trí" một ngụ ý về sự trẻ con và lãng phí thời gian), dì Léonie của tôi sẽ trò chuyện với Françoise cho đến khi đến giờ Eulalie đến. Dì sẽ bảo cô rằng dì vừa thấy mợ Goupil đi qua "không có ô, trong chiếc váy lụa mà cô ấy vừa may hôm nọ ở Châteaudun. Nếu cô ấy phải đi xa trước giờ kinh chiều, cô ấy có thể bị ướt sũng."
"Rất có thể" (điều này cũng có nghĩa là "rất có thể không") là câu trả lời, vì Françoise không muốn loại trừ dứt khoát khả năng của một lựa chọn hạnh phúc hơn.
Dì tôi tiếp tục, đập trán: "Nào, thế đấy, điều đó nhắc nhở tôi rằng tôi chưa bao giờ nghe thấy liệu cô ấy có đến nhà thờ sáng nay trước lễ Dâng hoa không. Tôi phải nhớ hỏi Eulalie... Françoise, hãy nhìn đám mây đen phía sau tháp chuông kia, và ánh sáng nghèo nàn làm sao trên các phiến đá, cô có thể chắc chắn trời sẽ mưa trước khi ngày kết thúc. Nó không thể tiếp tục thế này mãi được, trời quá nóng rồi. Và càng sớm càng tốt, vì cho đến khi cơn bão bùng nổ nước Vichy của tôi sẽ không "trôi xuống"," dì kết luận, vì trong tâm trí dì, mong muốn đẩy nhanh quá trình tiêu hóa nước Vichy của mình quan trọng hơn vô hạn so với nỗi sợ thấy chiếc váy mới của mợ Goupil bị hỏng.
"Rất có thể."
Và cô biết là khi trời mưa ngoài Quảng trường thì chẳng có mấy chỗ trú ẩn đâu." Đột nhiên dì tôi tái mặt. "Cái gì, ba giờ rồi!" dì thốt lên. "Nhưng kinh chiều sẽ bắt đầu rồi, và tôi quên uống pepsin rồi! Giờ tôi mới biết tại sao nước Vichy đó cứ nằm lỳ trong dạ dày tôi." Và lao bổ nhào vào một cuốn sách cầu nguyện bọc nhung tím, có khóa vàng, từ đó trong sự vội vã dì để rơi một trận mưa những bức tranh nhỏ, mỗi bức trong một viền ren bằng giấy ngả vàng mà dì dùng để đánh dấu các ngày lễ lớn của nhà thờ, dì tôi trong lúc nuốt những giọt thuốc của mình, bắt đầu lẩm bẩm với tốc độ đầy đủ những từ của văn bản thánh, ý nghĩa của nó bị làm cho hơi mờ mịt trong não dì bởi sự không chắc chắn liệu pepsin, khi được uống quá lâu sau Vichy, có còn kịp đuổi theo nó và "đẩy nó xuống" không. "Ba giờ rồi! Thật không thể tin nổi thời gian trôi nhanh thế nào."
Một tiếng gõ nhẹ vào cửa sổ, như thể một vật thể bay đã đập vào nó, tiếp theo là một âm thanh rơi dồi dào, nhẹ nhàng tuy nhiên, như thể một trận mưa cát đang được rải từ một cửa sổ trên cao; rồi trận mưa lan rộng, mang theo một trật tự, một nhịp điệu, trở nên lỏng lẻo, lớn tiếng, đánh trống, âm nhạc, vô số, phổ quát. Đó là cơn mưa.
Kìa, Françoise, tôi đã bảo cô thế nào? Nó đang đổ xuống kìa! Nhưng tôi nghĩ tôi nghe thấy tiếng chuông ở cổng vườn: hãy ra xem ai ở ngoài thời tiết này thế."
Françoise đi rồi quay lại. "Đó là mợ Amédée" (bà ngoại tôi). "Mợ ấy bảo mợ ấy đi dạo. Dù sao trời đang mưa to đấy."
Dì tôi ngước nhìn lên trời nói: "Tôi hoàn toàn không ngạc nhiên chút nào. Tôi vẫn luôn nói rằng mợ ấy chẳng giống ai cả. Dù sao tôi cũng mừng là mợ ấy chứ không phải tôi đang ở ngoài đó trong thời tiết này."
Françoise nói: "Mợ Amédée lúc nào cũng hoàn toàn trái ngược với phần còn lại," không hề ác ý, kiềm chế cho đến khi cô ở một mình với những người hầu khác để tuyên bố niềm tin của mình rằng bà ngoại "hơi dở hơi".
Buổi kinh chiều kết thúc rồi! Eulalie sẽ không đến nữa đâu," dì tôi thở dài. "Chắc thời tiết làm cô ấy sợ hãi không dám đến rồi."
Nhưng chưa đến năm giờ đâu thưa bà Octave, mới có bốn giờ rưỡi thôi."
Chỉ bốn giờ rưỡi thôi! Và đây tôi, buộc phải kéo những chiếc rèm nhỏ lại, chỉ để lấy một vệt ánh sáng nhỏ. Lúc bốn giờ rưỡi! Chỉ một tuần trước những ngày Rogation. Ôi, cô Françoise tội nghiệp của tôi ơi, Chúa chắc đang vô cùng tức giận với chúng ta. Thế giới đang đi quá xa trong những ngày này. Giống như anh Octave tội nghiệp của tôi thường nói, chúng ta đã quên Chúa quá thường xuyên, và Ngài đang trừng phạt chúng ta."
Một ánh đỏ bừng làm sinh động đôi má dì tôi; đó là Eulalie. Thật trớ trêu làm sao, vừa mới được phép vào diện kiến thì Françoise xuất hiện trở lại và, với một nụ cười có ý định chỉ sự tham gia đầy đủ của cô vào niềm vui mà cô không nghi ngờ gì những tin tức của mình sẽ mang lại cho dì tôi, phát âm từng âm tiết để cho thấy rằng mặc dù phải dịch chúng sang lời nói gián tiếp, cô đang lặp lại, như một người hầu tốt nên làm, chính những lời mà vị khách mới đã hạ cố sử dụng, nói rằng: "Cha xứ sẽ rất vui mừng, rất hạnh phúc nếu bà Octave không nghỉ ngơi lúc này, và có thể tiếp ngài. Cha xứ không muốn làm phiền bà Octave. Cha xứ đang ở dưới nhà; cháu bảo ngài vào phòng khách rồi."
Nếu sự thật được biết, những chuyến thăm của cha xứ không mang lại cho dì tôi niềm vui ngất ngây như Françoise tưởng, và vẻ mặt ăn mừng mà cô cảm thấy bắt buộc phải thắp sáng trên khuôn mặt mình bất cứ khi nào cô phải thông báo sự đến của ngài, không hoàn toàn tương ứng với những gì người bệnh cảm thấy. Cha xứ (một người đàn ông xuất sắc, người mà giờ đây tôi tiếc vì đã không trò chuyện thường xuyên hơn, vì ngay cả khi ngài chẳng quan tâm đến nghệ thuật, ngài biết rất nhiều từ nguyên), có thói quen hướng dẫn các du khách nổi tiếng tham quan nhà thờ của mình (ngài thậm chí đã lên kế hoạch biên soạn một lịch sử về Giáo xứ Combray), thường làm dì mệt mỏi với những lời giải thích bất tận của ngài, mà ngài không bao giờ thay đổi dù chỉ một chút ít. Nhưng khi chuyến thăm của ngài trùng khớp chính xác với Eulalie thì nó thực sự khó ưa đối với dì tôi. Dì thích tận dụng tối đa Eulalie, và không muốn có toàn bộ vòng tròn của mình xung quanh cô cùng một lúc. Nhưng dì không dám đuổi cha xứ đi, và phải tự hài lòng bằng cách ra hiệu cho Eulalie đừng rời đi khi ngài đi, để dì có thể có cô một mình một lát sau khi ngài đi.
Dì tôi với giọng điệu nhẫn nhịn hỏi, vì dì bắt đầu cảm thấy mình sắp "mệt": "Tôi nghe cái gì thế này, thưa cha, rằng một họa sĩ đã dựng giá vẽ trong nhà thờ của cha, và đang sao chép một trong các ô cửa sổ? Già thế này rồi, tôi dám chắc là tôi chưa từng nghe thấy điều gì như thế trong đời mình. Tôi tự hỏi thế giới này sắp tiến đến đâu nữa! Và lại là thứ xấu xí nhất trong toàn bộ nhà thờ nữa chứ."
"Tôi sẽ không đi xa đến mức nói rằng nó hoàn toàn xấu xí nhất, vì mặc dù có một số thứ ở Saint-Hilaire rất đáng đến thăm, có những thứ khác hiện rất cũ, trong vương cung thánh đường nghèo nàn của tôi, chiếc duy nhất trong toàn bộ giáo phận chưa từng được trùng tu. Chúa biết, hiên nhà của chúng ta bẩn thỉu và lỗi thời; tuy nhiên, nó mang một tính chất uy nghiêm; lấy ví dụ như các tấm thảm Esther, mặc dù cá nhân tôi sẽ không đổi một xu rách nào cho cặp của chúng nhưng các chuyên gia xếp chúng ngay sau những tấm ở Sens. Tôi cũng hoàn toàn hiểu rằng ngoài một số chi tiết — chà, hơi thực tế một chút — chúng thể hiện các tính năng chứng thực cho một sức mạnh quan sát chân thực. Nhưng đừng nói với tôi về những ô cửa sổ. Có phải lẽ thông thường không, tôi hỏi bà, khi để lại những ô cửa sổ chặn tất cả ánh sáng ban ngày, và thậm chí làm rối trí mắt bằng cách ném những mảng màu, mà tôi sẽ khó lòng đặt tên cho chúng, lên một sàn nhà trong đó không có hai phiến đá nào ở cùng một mức độ? Và tuy nhiên họ từ chối làm mới sàn nhà cho tôi bởi vì, xin lỗi bà, đó là những bia mộ của các Viện phụ Combray và các Lãnh chúa Guermantes, các Bá tước cũ, bà biết đấy, của Brabant, tổ tiên trực tiếp của Công tước Guermantes hiện tại, và của cả Nữ công tước của ngài nữa, vì bà ấy là một tiểu thư từ gia đình Guermantes, và đã kết hôn với anh họ của mình." (Bà ngoại tôi — người có sự từ chối kiên định trong việc không quan tâm đến "những con người" cuối cùng đã làm lẫn lộn tất cả các tên tuổi và tước hiệu của họ, bất cứ khi nào ai đó nhắc đến Nữ công tước Guermantes đều bịa ra rằng bà ấy hẳn phải có họ hàng với mợ de Villeparisis. Toàn bộ gia đình khi đó sẽ cười ồ lên; và bà sẽ cố gắng tự bào chữa bằng cách quay lại một lời mời làm lễ rửa tội hay đám tang nào đó: "Mẹ cảm thấy chắc chắn là có một người Guermantes trong đó đâu đó." Và một lần nữa tôi sẽ đứng về phía những người khác, và chống lại bà, từ chối thừa nhận rằng có thể có bất kỳ mối liên hệ nào giữa bạn học của bà và hậu duệ của Geneviève de Brabant.)
Cha xứ tiếp tục: "Nhìn Roussainville xem. Nó chẳng còn gì ngoài một giáo xứ nông dân ngày nay, mặc dù thời xưa nơi này hẳn đã có tầm quan trọng đáng kể từ thương mại mũ nỉ và đồng hồ của mình. (Tôi không chắc chắn, nhân tiện, về từ nguyên của Roussainville. Tôi rất muốn nghĩ rằng tên ban đầu là Rouville, từ Radulfi villa, tương tự, bà thấy không, với Châteauroux, Castrum Radulfi, nhưng chúng ta sẽ nói về điều đó vào lúc khác.) Rất tốt; nhà thờ ở đó có những ô cửa sổ tuyệt vời, hầu như tất cả đều khá hiện đại, bao gồm cả 'Sự gia nhập của Louis-Philippe vào Combray' ấn tượng nhất — thứ sẽ phù hợp hơn, chắc chắn rồi, tại chính Combray, và tốt đẹp không kém, tôi hiểu, so với các ô cửa sổ nổi tiếng ở Chartres. Ngay ngày hôm qua tôi đã gặp em trai của bác sĩ Percepied, người thích những thứ này, và anh ấy nói với tôi rằng anh ấy coi đó là một tác phẩm vô cùng đẹp. Nhưng, như tôi đã nói với họa sĩ này, người hình như là một người rất lịch sự, và là một nghệ sĩ biểu diễn thông thường, có vẻ như, với cọ vẽ của mình; tôi đã nói với anh ta, anh tìm thấy điều gì quá phi thường ở ô cửa sổ này, thứ mà nếu có gì thì mờ tối hơn phần còn lại một chút?"
Dì tôi với giọng điệu nhẫn nhịn đáp, vì cảm thấy sắp "mệt": "Tôi chắc chắn rằng nếu ngài hỏi Giám mục, ngài ấy sẽ không bao giờ từ chối ngài một ô cửa sổ mới đâu."
Cha xứ đáp: "Bà có thể tin tưởng vào điều đó, thưa bà Octave. Tại sao, chính ngài Giám mục đã khởi xướng vụ ồn ào về ô cửa sổ, bằng cách chứng minh rằng nó đại diện cho Gilbert Kẻ ác, một Lãnh chúa Guermantes và là hậu duệ trực tiếp của Geneviève de Brabant, người là con gái của Nhà Guermantes, nhận sự xá tội từ Saint Hilaire."
"Nhưng tôi không thấy Saint Hilaire xuất hiện ở đâu cả."
"Ồ có chứ, bà chưa bao giờ chú ý, ở góc ô cửa sổ, một người phụ nữ mặc áo vàng sao? Rất tốt, đó chính là Saint Hilaire, người cũng được biết đến, bà sẽ nhớ, ở một số vùng của đất nước như Saint Illiers, Saint Hèlier, và thậm chí, ở Jura, Saint Ylie. Nhưng những biến đổi khác nhau này của Sanctus Hilarius hoàn toàn không phải là kỳ lạ nhất đã xảy ra trong tên của các Thánh được ban phước. Lấy ví dụ, Eulalie ngoan ngoãn của tôi, trường hợp của thánh bảo trợ của chính cô, Sancta Eulalia; cô có biết cô ấy đã trở thành gì ở Burgundy không? Saint Eloi, không hơn không kém! Người phụ nữ đã biến thành một quý ông. Cô có nghe thấy điều đó không, Eulalie, sau khi cô chết họ sẽ biến cô thành đàn ông đấy!"
"Cha lúc nào cũng đùa dai."
"Anh trai của Gilbert, Charles Kẻ nói lắp, là một vương tử sủng đạo, nhưng vì sớm mất cha là Pepin Kẻ điên — người chết do bệnh tâm thần của mình — ông đã nắm giữ quyền lực tối cao với tất cả sự ngạo mạn của một người không chịu sự kỷ luật khi còn trẻ, đến mức bất cứ khi nào ông nhìn thấy một người đàn ông trong một thị trấn mà khuôn mặt ông không nhớ, ông sẽ tàn sát toàn bộ nơi đó, đến cư dân cuối cùng. Gilbert, muốn trả thù Charles, đã đốt cháy nhà thờ Combray, nhà thờ nguyên thủy, tức là, mà Théodebert, khi ông và triều đình rời khỏi biệt thự nông thôn ông có gần đây, tại Thiberzy (đương nhiên là Theodeberiacus), để ra chiến đấu với người Burgundian, đã hứa xây dựng trên ngôi mộ của Saint Hilaire nếu Thánh mang lại chiến thắng cho ông. Không còn gì ngoài hầm mộ của nó hiện nay, nơi Théodore có lẽ đã dẫn bà đi tham quan, vì Gilbert đã đốt cháy tất cả phần còn lại. Cuối cùng, ông đã đánh bại vị Charles bất hạnh với sự hỗ trợ của William" — mà cha xứ phát âm là "Will'am" — "Kẻ chinh phục, đó là lý do tại sao rất nhiều người Anh vẫn đến thăm nơi này. Nhưng ông dường như không quản lý được tình cảm của người dân Combray, vì họ đã lao vào ông khi ông vừa bước ra từ lễ lễ, và cắt đầu ông đi. Théodore có một cuốn sách nhỏ, mà cậu ấy cho mọi người mượn, kể toàn bộ câu chuyện.
"Nhưng điều chắc chắn là đáng chú ý nhất về nhà thờ của chúng ta là quang cảnh từ gác chuông, đầy sự hùng vĩ. Chắc chắn trong trường hợp của bà, vì bà không khỏe lắm, tôi sẽ không bao giờ khuyên bà leo lên bảy mươi chín bậc thang của chúng ta, chỉ bằng một nửa số bậc họ có trong nhà thờ lớn nổi tiếng ở Milan. Nó khá mệt mỏi cho người năng nổ nhất, đặc biệt là vì bà phải đi bằng bàn tay và đầu gối, nếu bà không muốn làm nứt hộp sọ của mình, và bà sẽ thu thập tất cả mạng nhện trên cầu thang lên quần áo của mình. Dù sao bà cũng nên mặc ấm vào," ngài tiếp tục, không chú ý đến sự tức giận của dì tôi trước gợi ý rằng bà có thể bao giờ, có lẽ, có khả năng trèo lên gác chuông của ngài, "vì có gió mạnh ở đó, một khi bà lên đến đỉnh. Một số người thậm chí đảm bảo với tôi rằng họ đã cảm nhận được cái lạnh của cái chết ở trên đó. Không sao, vào các Chủ nhật luôn có các câu lạc bộ và hiệp hội, đến, một số từ khoảng cách xa để chiêm ngưỡng bức tranh toàn cảnh đẹp đẽ của chúng ta, và họ luôn về nhà mê hoặc. Chờ đã, Chủ nhật tới, nếu thời tiết giữ vững, bà sẽ chắc chắn tìm thấy rất nhiều người ở đó, cho lễ Rogation-tide. Bà phải thừa nhận, chắc chắn rồi, quang cảnh từ trên đó giống như truyện cổ tích, với những gì bà có thể gọi là các viễn cảnh dọc theo đồng bằng, mang nét quyến rũ đặc biệt của riêng chúng. Vào một ngày quang đãng, bà có thể nhìn thấy xa tới Verneuil. Và sau đó một điều nữa; bà có thể nhìn thấy cùng lúc những nơi mà bà có thói quen nhìn thấy cái này không có cái kia, ví dụ như dòng chảy của Vivonne và các con mương tại Saint-Assise-lès-Combray, bị chia cắt thực sự bởi một màn chắn cây cao; hoặc, để lấy một ví dụ khác, có tất cả các kênh đào tại Jouy-le-Vicomte, chính là Gaudiacus vicecomitis, như đương nhiên bà biết. Mỗi lần tôi đến Jouy tôi đã thấy một chút kênh đào ở một nơi, và rồi tôi rẽ một góc và thấy cái khác, nhưng khi tôi thấy cái thứ hai tôi không còn thấy cái đầu tiên nữa. Tôi đã cố gắng vô ích để tưởng tượng chúng nằm cạnh nhau thế nào; nó không có tác dụng gì. Nhưng, từ đỉnh Saint-Hilaire, nó hoàn toàn là vấn đề khác; toàn bộ vùng nông thôn được trải ra trước mắt bà như một bản đồ. Chỉ là, bà không thể nhận ra nước; bà sẽ nói rằng có những vết nứt lớn trong thị trấn, cắt lát nó gọn gàng đến mức nó trông giống như một ổ bánh mì vẫn giữ nguyên hình dạng sau khi đã được cắt lát. Để có được mọi thứ hoàn hảo, bà phải ở cả hai nơi cùng một lúc; ở đây trên đỉnh Saint-Hilaire và dưới đó tại Jouy-le-Vicomte."
Cha xứ đã làm dì tôi kiệt sức đến mức ngay khi ngài đi, dì buộc phải đuổi cả Eulalie đi.
Dì nói với giọng yếu ớt, rút một đồng xu từ chiếc túi nhỏ nằm sẵn trong tay: "Nào, Eulalie tội nghiệp của tôi ơi. Đây chỉ là một chút để cô không quên tôi trong những lời cầu nguyện của mình."
Ồ, nhưng, thưa bà Octave, cháu không nghĩ cháu nên nhận; bà thừa nhận rất rõ là cháu không đến đây vì điều đó chứ!" Eulalie sẽ trả lời như thế, với sự do dự và bối rối giống nhau, mỗi Chủ nhật, như thể mỗi sự cám dỗ là lần đầu tiên, và với vẻ mặt không hài lòng làm cho dì tôi phấn chấn và không bao giờ xúc phạm dì, vì nếu tình cờ Eulalie, khi cô nhận tiền, trông ít cáu kỉnh hơn bình thường, dì tôi sẽ nhận xét sau đó, "Tôi không thể nghĩ điều gì đã xảy ra với Eulalie; tôi chỉ đưa cho cô ấy một chút ít như tôi vẫn luôn đưa, và cô ấy trông hoàn toàn không vui chút nào."
Françoise thở dài ủ rũ: "Dù sao cháu không nghĩ cô ấy có nhiều điều phải phàn nàn," vì cô có xu hướng coi là tiền lẻ tất cả những gì dì tôi có thể đưa cho cô hoặc các con cô, và là kho báu bị phung phí bừa bãi cho một cưng chiều vô ơn những đồng xu được nhét vào tay Eulalie, Chủ nhật qua Chủ nhật, nhưng được chuyển qua một cách kín đáo đến mức Françoise không bao giờ xoay sở để nhìn thấy chúng. Không phải cô muốn có số tiền mà dì tôi ban tặng cho Eulalie cho chính mình. Cô đã tận hưởng sự đầy đủ của tất cả những gì dì tôi sở hữu, trong việc biết rằng sự giàu có của chủ nhân tự động tôn vinh và làm vinh quang người hầu trong mắt thế giới; và rằng bản thân cô nổi bật và xứng đáng được ca ngợi khắp Combray, Jouy-le-Vicomte, và các thành phố khác của con người, nhờ những nông trại đông đúc của dì tôi, những chuyến thăm thường xuyên và kéo dài của cha xứ, và số lượng đáng kinh ngạc các chai nước Vichy mà dì tiêu thụ. Françoise chỉ keo kiệt đối với dì tôi; nếu cô nắm quyền kiểm soát tài sản của dì tôi (điều sẽ làm thỏa mãn hơn cả tham vọng cao nhất của cô) cô sẽ bảo vệ nó khỏi các cuộc tấn công của người lạ với một sự dữ dội của người mẹ. Tuy nhiên, cô sẽ không thấy có hại gì lớn trong những gì dì tôi — người mà cô biết là không thể chữa khỏi sự hào phóng — cho phép bản thân cho đi, nếu dì chỉ cho những người đã giàu có. Có lẽ cô cảm thấy những người như vậy, không thực sự cần những món quà của dì tôi, không thể bị nghi ngờ là giả vờ tình cảm với dì vì điều đó. Hơn nữa, những món quà dành cho những người có sự giàu có và địa vị cao, như mợ Sazerat, ông Swann, ông Legrandin và mợ Goupil, cho những người "cùng tầng lớp" với dì tôi, và những người sẽ tự nhiên "giao du" với dì, đối với Françoise dường như được bao gồm trong các phong tục trang trí của cuộc sống kỳ lạ và rực rỡ đó được dẫn dắt bởi những người giàu có, những người đi săn và bắn, tổ chức các bữa tiệc khiêu vũ và thăm viếng, một cuộc sống mà cô sẽ ngắm nhìn với một nụ cười ngưỡng mộ. Nhưng hoàn toàn không phải là một điều tương tự nếu cho sự trao đổi vương giả này của sự lịch sự, dì tôi thay thế bằng việc từ thiện đơn giản, nếu những người hưởng lợi của cô thuộc tầng lớp mà Françoise sẽ dán nhãn "những người như tôi", hoặc "những người không khá giả gì hơn tôi", những người mà cô thậm chí còn khinh miệt hơn nếu họ không luôn gọi cô là "mợ Françoise", chỉ để cho thấy rằng họ tự coi mình là "không bằng". Và khi cô thấy rằng, bất chấp mọi cảnh báo của mình, dì tôi vẫn tiếp tục làm chính xác những gì mình thích, và vung tiền ra với cả hai tay (hoặc thế, ít nhất, Françoise tin tưởng) cho những đối tượng không xứng đáng, cô bắt đầu thấy rằng những món quà cô nhận được từ dì rất nhỏ bé so với sự giàu có tưởng tượng bị phung phí cho Eulalie. Không có, ở vùng lân cận Combray, một trang trại nào có sự thịnh vượng và tầm quan trọng lớn đến mức Françoise nghi ngờ khả năng của Eulalie mua nó, mà không cần suy nghĩ lần thứ hai, từ nguồn vốn mà các chuyến thăm của cô đến dì tôi đã "mang lại". Phải nói thêm rằng Eulalie đã hình thành một ước tính tương tự chính xác về các kho báu khổng lồ và bí mật của Françoise. Vì vậy, mọi Chủ nhật, sau khi Eulalie đã đi, Françoise sẽ không thương tiếc tiên tri sự sụp đổ sắp tới của cô. Cô ghét Eulalie nhưng đồng thời cũng sợ cô, và do đó cảm thấy buộc phải, khi Eulalie có mặt, "tỏ ra dễ chịu". Nhưng cô sẽ bù đắp cho điều đó sau sự khởi hành của người kia; không bao giờ, đúng vậy, ám chỉ cô bằng tên, mà ám chỉ cô trong những lời sấm truyền Sibylline, hoặc trong những phát biểu mang tính toàn diện, giống như những người trong sách Giảng viên, Nhà thuyết giáo, nhưng được diễn đạt sao cho ứng dụng đặc biệt của chúng không thể thoát khỏi dì tôi. Sau khi nhòm ngó ở cạnh rèm để xem Eulalie đã đóng cửa trước đằng sau cô ấy chưa; "Những kẻ nịnh hót biết cách làm cho bản thân được chào đón, và nhặt nhạnh những mẩu vụn; nhưng hãy kiên nhẫn, hãy kiên nhẫn; Chúa của chúng ta là một Chúa ghen tị, và một ngày đẹp trời Ngài sẽ báo thù họ!" cô sẽ tuyên bố, với cái liếc xéo, ám chỉ của Joash, nghĩ về Athaliah một mình khi cậu nói rằng
....sự thịnh vượng
Của những kẻ ác trôi qua như dòng lũ,
Và chẳng mấy chốc sẽ tiêu tan.
Nhưng vào buổi chiều đáng nhớ này, khi cha xứ cũng đến và bởi chuyến thăm vô tận của ngài đã làm cạn kiệt sức lực của dì tôi, Françoise đi theo Eulalie ra khỏi phòng, nói rằng: "Thưa bà Octave, cháu để bà nghỉ ngơi; bà trông hoàn toàn kiệt sức rồi."
Và dì tôi không đáp lại cô lấy một từ, thở một tiếng thở dài nhẹ đến mức có vẻ như nó sẽ chứng minh là lần cuối cùng của dì, và nằm đó với đôi mắt nhắm nghiền, như thể đã chết. Nhưng chừng nào Françoise còn chưa xuống đến tầng dưới, bốn hồi chuông, được kéo hết sức bạo lực, vang vọng khắp ngôi nhà, và dì tôi, ngồi thẳng trên giường, gọi lớn: "Eulalie đi chưa? Các người có tin nổi không; tôi quên không hỏi cô ấy xem mợ Goupil có đến nhà thờ trước lễ Dâng hoa không. Đuổi theo cô ấy đi, nhanh lên!"
Nhưng Françoise trở về một mình, không đuổi kịp Eulalie. "Thật là khiêu khích nhất," dì tôi nói, lắc đầu. "Điều quan trọng duy nhất mà tôi phải hỏi cô ấy."
Theo cách này cuộc sống trôi qua đối với dì Léonie, luôn luôn như vậy, trong sự đồng nhất dịu dàng của cái mà dì gọi, với một sự giả vờ nhún nhường nhưng với một sự dịu dàng sâu sắc, là "nhịp điệu nhỏ bé" của mình. Được tôn trọng bởi tất cả mọi người, không chỉ trong ngôi nhà của mình, nơi mọi người trong chúng tôi, đã học được sự vô ích của việc đề xuất bất kỳ lối sống lành mạnh hơn nào, đã dần dần đầu hàng trước sự tuân thủ của nó, mà còn trong làng, nơi cách đó ba con đường, một thương nhân phải đóng đinh vào thùng các-tông sẽ gửi tin cho Françoise trước để đảm bảo rằng dì tôi không "nghỉ ngơi" — "nhịp điệu nhỏ bé" của dì không vì thế mà tránh khỏi việc bị xáo trộn một cách tàn bạo vào một dịp trong cùng năm này. Giống như một quả trái giấu mình giữa những chiếc lá, đã lớn và chín mọng mà con người không chú ý, cho đến khi nó tự rụng xuống, một đêm nọ, việc sinh nở của cô phụ bếp đã giáng xuống chúng tôi. Những cơn đau của cô ấy không thể chịu đựng được, và vì không có nữ hộ sinh ở Combray, Françoise đã phải khởi hành trước bình minh để đón một người ở Thiberzy. Dì tôi không thể "nghỉ ngơi", do tiếng khóc của cô gái, và vì Françoise, mặc dù khoảng cách chẳng là gì, đã trở về rất muộn, các dịch vụ của cô bị bỏ lỡ rất nhiều. Và thế là, trong suốt buổi sáng, mẹ tôi bảo tôi: "Con lên lầu xem dì có cần gì không."
Tôi bước vào căn phòng đầu tiên trong hai phòng của dì, và qua ô cửa mở của phòng kia thấy dì tôi đang nằm nghiêng, ngủ say. Tôi có thể nghe thấy tiếng thở của dì, gần như có thể phân biệt được như một tiếng ngáy. Tôi chuẩn bị lẻn đi thì có cái gì đó, có lẽ là tiếng bước chân của tôi, đã ngắt quãng giấc ngủ của dì, và làm cho nó "thay đổi tốc độ", như người ta nói về ô tô ngày nay, vì âm thanh ngáy của dì ngắt quãng một giây và bắt đầu lại ở một nốt trầm hơn; rồi dì thức dậy, và nửa quay khuôn mặt, mà tôi có thể nhìn thấy lần đầu tiên; một loại kinh hoàng được khắc lên đó; rõ ràng dì vừa thoát khỏi một giấc mơ đáng sợ nào đó. Dì không thể nhìn thấy tôi từ chỗ đang nằm, và tôi đứng đó không biết nên tiến lên hay lui về; nhưng đột nhiên dì có vẻ quay lại với ý thức về thực tế, và nắm bắt sự sai lầm của những ảo ảnh đã làm dì sợ hãi; một nụ cười vui mừng, một hành động tạ ơn sủng đạo với Chúa — Đấng vui lòng ban cho cuộc sống ít tàn nhẫn hơn những giấc mơ của chúng ta — chiếu rọi yếu ớt lên khuôn mặt dì, và, với thói quen dì đã hình thành là nói chuyện một mình, nửa lớn tiếng, khi tưởng mình ở một mình, dì lẩm bẩm: "Chúa phù hộ! Chúng ta chẳng có gì làm phiền ở đây ngoài đứa bé của cô phụ bếp. Và tôi đã mơ thấy anh Octave tội nghiệp của tôi đã sống lại, và đang cố gắng bắt tôi đi dạo mỗi ngày!" Dì vươn một tay về phía tràng hạt đang nằm trên chiếc bàn nhỏ, nhưng giấc ngủ lại một lần nữa giành quyền kiểm soát, và không để lại cho dì đủ sức mạnh để với tới nó; dì thiếp đi, bình tĩnh và mãn nguyện, và tôi rón rén lẻn ra khỏi phòng, mà không để dì hay bất kỳ ai khác biết, từ ngày đó cho đến nay, những gì tôi đã thấy và nghe.
Khi tôi nói rằng, ngoài những sự kiện hiếm hoi như việc sinh nở này, "nhịp điệu nhỏ bé" của dì tôi chưa bao giờ trải qua bất kỳ biến đổi nào, tôi không bao gồm những biến đổi — được lặp lại ở các khoảng thời gian đều đặn và theo hình thức giống hệt nhau — chẳng làm gì thực sự ngoài việc in một loại hoa văn đồng nhất lên sự đồng nhất lớn hơn của cuộc đời dì. Ví dụ như, mọi ngày Thứ bảy, vì Françoise phải đi chợ vào buổi chiều ở Roussainville-le-Pin, toàn bộ hộ gia đình sẽ phải ăn trưa sớm hơn một tiếng. Và dì tôi đã quá quen thuộc với thói quen hàng tuần này so với các thói quen chung của mình đến nỗi dì bám lấy nó nhiều như phần còn lại. Dì đã quá "quen thuộc" với nó, như Françoise sẽ nói, đến mức nếu vào một ngày Thứ bảy, dì phải đợi bữa trưa cho đến giờ thông thường, điều đó sẽ làm dì "buồn bã" giống như thể dì phải, vào một ngày bình thường, đẩy bữa trưa của mình lên giờ Thứ bảy. Nhân tiện, sự gia tăng tốc độ bữa trưa này mang lại cho ngày Thứ bảy, đối với tất cả chúng ta, một nét đặc trưng cá nhân, tử tế và khá hấp dẫn. Vào khoảnh khắc khi thông thường vẫn còn một giờ để sống trước khi giờ ăn vang lên, tất cả chúng ta đều biết rằng trong vài giây chúng ta sẽ thấy đậu đũa xuất hiện sớm, theo sau là sự ưu ái đặc biệt của một quả trứng ốp la, một miếng bít tết không xứng đáng. Sự trở lại của ngày Thứ bảy bất đối xứng này là một trong những sự cố vụn vặt, nội bộ, được bản địa hóa, gần như mang tính công dân, trong những cuộc đời không biến cố và các trật tự xã hội ổn định, tạo ra một loại đoàn kết quốc gia, và trở thành chủ đề yêu thích cho cuộc trò chuyện, cho những câu nói đùa, cho những giai thoại có thể được thêu dệt tùy theo người kể chuyện; nó sẽ cung cấp một hạt nhân, sẵn sàng cho một chu kỳ huyền thoại, nếu bất kỳ ai trong chúng ta có tâm hồn anh hùng. Vào lúc bình minh, trước khi chúng ta mặc quần áo, không có lý do gì, ngoại trừ niềm vui chứng minh sức mạnh của sự đoàn kết của chúng ta, chúng ta sẽ gọi nhau một cách vui vẻ, thân mật, yêu nước, "Nhanh lên; không còn thời gian để lãng phí; đừng quên, hôm nay là Thứ bảy!" trong khi dì tôi, trò chuyện với Françoise, và phản ánh rằng ngày sẽ còn dài hơn bình thường, sẽ nói, "Cô có thể nấu cho họ một ít thịt bê ngon, vì hôm nay là Thứ bảy." Nếu, lúc mười rưỡi, ai đó vô tình lôi đồng hồ ra và nói, "Này, vẫn còn một tiếng rưỡi trước bữa trưa," mọi người khác sẽ phát cuồng vì hạnh phúc khi có thể đáp lại ngay: "Sao, bạn đang nghĩ gì thế? Bạn quên hôm nay là Thứ bảy à?" Và một phần tư giờ sau chúng ta vẫn sẽ cười, và nhắc nhở nhau lên lầu kể cho dì Léonie nghe về sự nhầm lẫn ngớ ngẩn này, để làm dì vui. Bản thân khuôn mặt của bầu trời dường như cũng trải qua một sự thay đổi. Sau bữa trưa, mặt trời, ý thức được rằng hôm nay là Thứ bảy, sẽ rực rỡ thêm một giờ nữa ở đỉnh điểm, và khi ai đó, nghĩ rằng chúng ta đi dạo muộn, nói, "Cái gì, mới hai giờ thôi!" cảm nhận nhịp đập nặng nề từ các nhịp đôi của tháp chuông Saint-Hilaire (thường không vượt qua ai vào giờ đó trên các xa lộ, bị bỏ hoang vì bữa ăn trưa hoặc vì giấc ngủ trưa theo sau nó, hoặc trên bờ của dòng nước sáng ngời và chảy mãi, mà ngay cả người câu cá cũng đã bỏ rơi, và do đó trượt không có người đi kèm vào bầu trời trống rỗng, nơi chỉ còn vài đám mây vẩn vơ để chào đón chúng) toàn bộ gia đình sẽ hưởng ứng đồng thanh: "Sao, bạn quên mất rồi; chúng ta ăn trưa sớm hơn một tiếng; bạn biết rõ hôm nay là Thứ bảy mà."
Sự ngạc nhiên của một "kẻ dã man" (đó là cách chúng tôi gọi tất cả những ai không quen thuộc với các phong tục đặc biệt của ngày Thứ bảy) — người đã gọi cửa lúc mười một giờ để nói chuyện với bố tôi, và thấy chúng ta đang ở bàn ăn — là một sự kiện từng gây ra cho Françoise niềm vui sướng có lẽ chẳng kém bất cứ điều gì từng xảy ra trong cuộc đời cô. Và nếu cô thấy thú vị khi vị khách bối rối không biết trước rằng chúng ta ăn trưa sớm hơn một tiếng vào ngày Thứ bảy, thì thậm chí còn buồn cười không thể cưỡng lại được là chính bố tôi (dù cô đồng cảm sâu thẳm từ đáy lòng với chủ nghĩa Sô-vanh cứng nhắc thúc đẩy ông) chưa bao giờ mơ rằng kẻ dã man có thể không biết một vấn đề đơn giản như vậy, và do đó đã trả lời, mà không làm sáng tỏ thêm sự ngạc nhiên của người kia khi thấy chúng ta đã ở phòng ăn: "Bạn thấy đấy, hôm nay là Thứ bảy." Khi đạt đến điểm này trong câu chuyện, Françoise sẽ dừng lại để lau những giọt nước mắt vui sướng khỏi mắt, và sau đó, để thêm vào sự thích thú của chính mình, sẽ kéo dài cuộc đối thoại, bịa ra một câu trả lời tiếp theo cho vị khách mà từ "Thứ bảy" chẳng truyền tải điều gì. Và xa khỏi việc chúng ta phản đối những sự chèn vào này, chúng ta sẽ cảm thấy rằng câu chuyện vẫn chưa đủ dài, và sẽ trêu chọc cô với: "Ôi, nhưng chắc chắn ông ấy còn nói gì khác nữa. Có nhiều hơn thế, lần đầu tiên cô kể nó mà."
Bản thân bà cô cũng sẽ gác lại công việc, ngẩng đầu lên và nhìn chúng tôi qua cặp kính của mình.
Ngày hôm đó còn có một đặc điểm nổi bật nữa, đó là trong suốt tháng Năm, chúng tôi thường đi ra ngoài vào các tối Thứ bảy sau bữa tối để dự các buổi devotions "Tháng của Đức Mẹ".
Vì chúng tôi có nguy cơ gặp ở đó ông Vinteuil — người giữ quan điểm rất nghiêm ngặt về "sự bừa bộn đáng tiếc của giới trẻ, dường như được khuyến khích trong những ngày này" — mẹ tôi sẽ kiểm tra xem diện mạo của tôi có gì không ổn không, rồi chúng tôi khởi hành đến nhà thờ. Chính trong các dịch vụ "Tháng của Đức Mẹ" này mà tôi có thể nhớ mình đã yêu hoa táo gai lần đầu tiên. Hoa táo gai không chỉ có trong nhà thờ, vì ở đó, là đất thánh như vậy, tất cả chúng ta đều có quyền bước vào; nhưng được sắp xếp trên chính bàn thờ, không thể tách rời khỏi các mầu nhiệm trong lễ kỷ niệm mà nó đang đóng một vai trò, nó đâm chồi giữa các ngọn nến và các vật thánh hàng nhánh của nó, được buộc vào nhau theo chiều ngang trong một sơ đồ trang trí cứng nhắc, lễ hội; và chúng được làm cho đáng yêu hơn nữa bởi đường viền lượn sóng của những chiếc lá sẫm màu, trên đó được rải rác một cách dồi dào, như trên một chiếc khăn voan cô dâu, những chùm nụ nhỏ có màu trắng chói lọi. Dù tôi không dám nhìn chúng ngoại trừ qua các ngón tay của mình, tôi có thể cảm thấy rằng sơ đồ trang trí được cấu thành từ những sinh vật sống, và chính Thiên nhiên đã, bằng cách cắt tỉa hình dạng của tán lá, và bằng cách thêm vào vật trang trí vương miện của những nụ tuyết trắng đó, làm cho các trang trí xứng đáng với những gì vừa là niềm vui công cộng vừa là một mầu nhiệm trang nghiêm. Cao hơn trên bàn thờ, một bông hoa đã nở rộ đây đó với một sự duyên dáng bất cẩn, giữ một cách vô tư, giống như một sự trang hoàng cuối cùng, gần như dạng hơi nước, chùm nhị hoa của nó, mảnh mai như mạng nhện, làm mờ đi chính bông hoa trong một màn sương trắng, đến mức trong việc theo dõi những thứ này bằng đôi mắt của mình, trong việc cố gắng bắt chước, đâu đó bên trong bản thân mình, hành động bung nở của chúng, tôi tưởng tượng nó như một chuyển động nhanh chóng và vô tâm của cái đầu với một cái nhìn cuốn hút từ đồng tử co lại của chúng, bởi một cô gái trẻ mặc áo trắng, bất cẩn và tràn đầy sức sống.
Ông Vinteuil đã đến cùng con gái và ngồi xuống cạnh chúng tôi. Ông thuộc về một gia đình danh giá, và từng là thầy dạy nhạc cho các chị của bà ngoại; thế nên khi, sau khi mất vợ và thừa kế một số tài sản, ông nghỉ hưu về vùng lân cận Combray, chúng tôi thường mời ông đến nhà mình. Nhưng với tính prudish dữ dội của mình, ông đã từ chối đến, để không bị bắt buộc phải gặp Swann — người đã thực hiện cái mà ông gọi là "một cuộc hôn nhân cực kỳ không thích hợp, như dường như là mốt trong những ngày này." Mẹ tôi, khi nghe tin ông "sáng tác", đã bảo ông như một lời khen ngợi rằng, khi cô đến thăm ông, ông phải chơi cho cô nghe một cái gì đó của chính ông. Ông Vinteuil hẳn rất thích điều đó nhưng ông mang sự lịch sự và sự cân nhắc cho người khác đến một điểm tinh tế đến mức, luôn đặt mình vào vị trí của họ, ông sợ làm họ chán, hoặc xuất hiện sự ích kỷ, nếu ông thực hiện, hoặc thậm chí cho phép họ nghi ngờ mong muốn của chính mình là gì. Vào ngày bố mẹ tôi đến thăm ông, tôi đã đi cùng họ, nhưng họ cho phép tôi ở lại bên ngoài, và vì nhà của ông Vinteuil, Montjouvain, đứng trên một địa điểm thực sự được khoét rỗng từ một ngọn đồi dốc phủ đầy cây bụi, trong số đó tôi ẩn nấp, tôi thấy mình ở cùng cấp độ với phòng khách của ông, trên lầu, và chỉ cách cửa sổ của nó vài bước chân. Khi một người hầu bước vào báo với ông rằng bố mẹ tôi đã đến, tôi thấy ông Vinteuil chạy đến đàn piano và trải ra một bản nhạc để bắt mắt. Nhưng ngay khi họ bước vào phòng, ông đã giật phăng nó đi và giấu nó vào một góc. Chắc chắn ông sợ làm họ giả định rằng ông vui mừng gặp họ chỉ vì nó cho ông cơ hội chơi cho họ nghe một số sáng tác của mình. Và mỗi khi mẹ tôi, trong chuyến thăm của mình, quay lại chủ đề ông chơi đàn, ông sẽ vội vàng phản đối: "Tôi không thể nghĩ ai đã đặt cái đó lên piano; nó hoàn toàn không phải là vị trí thích hợp cho nó," và chuyển hướng cuộc trò chuyện sang các chủ đề khác, đơn giản vì những chủ đề đó ít gây hứng thú cho chính ông hơn.
Niềm đam mê duy nhất của ông là dành cho con gái mình, và cô ấy, với vẻ ngoài hơi giống nam giới, trông khỏe mạnh đến mức khó mà kìm được nụ cười khi người ta nhìn thấy những biện pháp phòng ngừa mà cha cô thường thực hiện cho sức khỏe của cô, với những chiếc khăn choàng dự phòng luôn sẵn sàng quấn quanh vai cô. Bà ngoại đã thu hút sự chú ý của chúng ta đến biểu hiện dịu dàng, tinh tế, gần như rụt rè thường có thể bắt gặp lướt qua khuôn mặt, phủ đầy tàn nhang, của đứa trẻ có vẻ thô kệch này. Khi cô nói, cô sẽ ngay lập tức tiếp nhận những lời nói của chính mình theo ý nghĩa mà khán giả của cô hẳn đã nghe thấy chúng, cô sẽ hoảng sợ trước khả năng hiểu lầm, và người ta sẽ nhìn thấy rõ ràng, như trong một tấm kính trong suốt, bên dưới khuôn mặt nam tính của "người tốt" mà cô là, những nét tinh tế hơn của một người phụ nữ trẻ đang khóc.
Khi, trước khi quay đi để rời nhà thờ, tôi quỳ gối trước bàn thờ, tôi cảm thấy đột nhiên, khi đứng dậy, một hương thơm ngọt ngào đắng ngắt của hạnh nhân len lỏi đến từ hoa táo gai và tôi nhận ra rằng trên chính những bông hoa có những đốm nhỏ màu kem hơn, trong đó tôi tưởng tượng hương thơm này nằm ẩn giấu, giống như hương vị của một chiếc bánh hạnh nhân nằm ở các phần bị cháy, hoặc sự ngọt ngào của má tiểu thư Vinteuil bên dưới những vết tàn nhang của chúng. Bất chấp sự im lặng nặng nề, bất động của những bông hoa táo gai, những đợt hương thơm này đến với tôi giống như tiếng thì thầm của một sinh lực mãnh liệt, mà toàn bộ bàn thờ đang run rẩy như một hàng rào ven đường được khám phá bởi những chiếc râu sống động, mà tôi được gợi nhắc bằng cách nhìn thấy một số nhị hoa, gần như có màu đỏ, dường như giữ lại sức sống mùa xuân, quyền lực kích thích của những côn trùng chích nay đã được biến đổi thành hoa.
Bên ngoài nhà thờ chúng tôi sẽ đứng trò chuyện một lát với ông Vinteuil, ở hiên nhà. Những cậu bé sẽ rượt đuổi nhau ngoài Quảng trường, và ông sẽ can thiệp, đứng về phía những đứa nhỏ và giáo huấn những đứa lớn. Nếu con gái ông nói, bằng giọng dày, thoải mái của mình, cô ấy vui mừng thế nào khi gặp chúng tôi, ngay lập tức có vẻ như có một người chị lớn hơn và nhạy cảm hơn, tiềm ẩn trong cô ấy, đã đỏ mặt trước lời nói trẻ con, suy nghĩ vội vàng này, điều mà có lẽ đã làm chúng tôi nghĩ rằng cô ấy đang câu dẫn một lời mời đến nhà. Cha cô khi đó sẽ sắp xếp một chiếc áo choàng qua vai cô, họ trèo lên một chiếc xe ngựa nhỏ mà cô tự lái, và cả hai cùng về nhà ở Montjouvain. Về phần chúng tôi, ngày mai là Chủ nhật, không cần phải thức dậy và hoạt động trước lễ lớn, nếu đó là một đêm trăng sáng và ấm áp, thì thay vì đưa chúng tôi về nhà ngay lập tức, bố tôi, trong cơn khát khao sự nổi bật cá nhân, sẽ dẫn chúng tôi đi một vòng dạo dài quanh đồi Can-vê — điều mà sự hoàn toàn bất lực của mẹ tôi trong việc định hướng, hoặc thậm chí biết mình đang ở con đường nào, khiến bà coi là một chiến công thiên tài chiến lược của ông. Thỉnh thoảng chúng tôi sẽ đi xa tới đoạn đường vượt, bắt đầu sải bước trên những đôi chân dài bằng đá của nó tại nhà ga đường sắt, và đối với tôi tiêu biểu cho tất cả sự khốn khổ của cảnh lưu đày ngoài các tiền đồn cuối cùng của nền văn minh, bởi vì mỗi năm, khi chúng tôi đi từ Paris xuống, chúng tôi sẽ được cảnh báo phải cẩn thận đặc biệt, khi đến Combray, không được bỏ lỡ nhà ga, phải sẵn sàng trước khi tàu dừng lại, vì nó sẽ bắt đầu lại trong hai phút và tiếp tục qua đoạn đường vượt, ra khỏi các vùng đất của Cơ đốc giáo, trong đó Combray, đối với tôi, đại diện cho giới hạn xa nhất. Chúng tôi sẽ trở về bằng Đại lộ de la Gare, nơi có những biệt thự hấp dẫn nhất trong thị trấn. Trong mỗi khu vườn của họ, ánh trăng, sao chép nghệ thuật của Hubert Robert, đã rải rác những chiếc cầu thang bằng đá cẩm thạch trắng bị hỏng, những đài phun nước và cổng hé mở một cách cám dỗ. Những tia sáng của nó đã quét sạch bưu điện. Tất cả những gì còn lại của nó là một cột trụ, bị vỡ một nửa, nhưng vẫn bảo tồn vẻ đẹp của một đống đổ nát tồn tại cho mọi thời gian. Lúc này tôi sẽ lê lết những bước chân mệt mỏi của mình, và sắp gục ngã vì buồn ngủ; hương thơm dịu mát của cây bồ đề dường như là một sự an ủi mà tôi chỉ có thể đạt được với giá của sự đau khổ và kiệt sức lớn, và không đáng với nỗ lực đó. Từ những chiếc cổng cách xa nhau, những chú chó canh gác, bị đánh thức bởi bước chân của chúng tôi trong sự tĩnh lặng, sẽ cất tiếng sủa đối đáp, như tôi vẫn nghe chúng sủa, đôi khi, vào các buổi tối, và chính trong sự giam giữ của chúng (khi các khu vườn công cộng của Combray được xây dựng trên vị trí của nó) mà Đại lộ de la Gare hẳn đã tìm thấy nơi trú ẩn, vì bất cứ nơi nào tôi ở, ngay khi chúng bắt đầu sự thách thức và chấp nhận luân phiên của mình, tôi có thể nhìn thấy nó một lần nữa với tất cả những cây bồ đề, và vỉa hè lấp lánh dưới ánh trăng.
Đột nhiên bố tôi sẽ đưa chúng tôi đến một điểm dừng và hỏi mẹ — "Chúng ta đang ở đâu rồi?" Kiệt sức hoàn toàn bởi chuyến đi dạo nhưng vẫn tự hào về chồng mình, bà sẽ thú nhận một cách yêu thương rằng bà hoàn toàn không có ý niệm gì cả. Ông sẽ nhún vai và cười. Và rồi, như thể nó rơi ra, cùng với chìa khóa nhà, từ túi áo ghi-lê của ông, ông sẽ chỉ cho chúng tôi thấy, khi nó đứng trước mắt chúng tôi, cánh cổng sau của khu vườn của chúng tôi, đã đi tay trong tay với góc quen thuộc của phố du Saint-Esprit, để đợi chúng tôi, để chào đón chúng tôi ở cuối những chuyến lang thang của chúng tôi trên những con đường chưa biết. Mẹ tôi sẽ lẩm bẩm ngưỡng mộ: "Anh thật sự tuyệt vời!" và từ khoảnh khắc đó tôi không phải bước thêm một bước nào nữa; mặt đất di chuyển tiến lên dưới chân tôi trong khu vườn đó nơi từ lâu các hành động của tôi đã ngừng đòi hỏi bất kỳ sự kiểm soát hay thậm chí chú ý nào từ ý chí của tôi. Thói quen đến ôm lấy tôi, bế tôi lên suốt đoạn đường đến giường tôi và đặt tôi xuống đó như một đứa trẻ nhỏ.
Mặc dù ngày Thứ bảy, bằng cách bắt đầu sớm hơn một tiếng, và bằng cách tước đi dịch vụ của Françoise, trôi qua chậm hơn các ngày khác đối với dì tôi, tuy nhiên, ngay khi nó qua đi, và một tuần mới bắt đầu, dì sẽ mong đợi sự trở lại của nó với sự thiếu kiên nhẫn, như một cái gì đó thể hiện tất cả sự mới lạ và tiêu khiển mà cơ thể mỏng manh và rối loạn của dì vẫn có thể chịu đựng được. Điều này không có nghĩa là, tuy nhiên, dì không khao khát, đôi khi, một số biến đổi thậm chí lớn hơn thế, rằng dì không trải qua những giờ phút bất thường đó trong đó người ta khao khát một cái gì đó khác với những gì mình có, khi những người đó, qua sự thiếu năng lượng hoặc trí tưởng tượng, không thể tạo ra bất kỳ động lực nào trong chính họ, kêu lên, khi đồng hồ điểm hoặc bác đưa thư gõ cửa, trong sự háo hức muốn có tin tức (thậm chí nếu đó là tin xấu), cho một cảm xúc nào đó (thậm chí là nỗi đau); khi những dây đàn tâm tính, mà sự thịnh vượng đã làm câm lặng, giống như một cây đàn hharp được đặt sang một bên, khao khát được gảy và vang lên lần nữa bởi một bàn tay, thậm chí là một bàn tay tàn bạo, thậm chí nếu nó sẽ làm đứt chúng; khi ý chí, vốn đã đấu tranh khó khăn để khuất phục xung lực của mình, để từ bỏ quyền tự do bỏ mặc bản thân cho những mong muốn không kiểm soát được của chính mình, và những nỗi thống khổ hậu quả, rất muốn ném dây cương hướng dẫn của mình vào bàn tay của hoàn cảnh, ép buộc và, có thể, tàn nhẫn. Tất nhiên, vì sức lực của dì tôi — vốn bị cạn kiệt hoàn toàn bởi nỗ lực nhỏ nhất — chỉ quay trở lại từng giọt vào hồ bơi nghỉ ngơi của dì, hồ chứa rất chậm đầy, và nhiều tháng sẽ trôi qua trước khi dì đạt đến thặng dư mà những người khác sử dụng trong các hoạt động hằng ngày của họ, nhưng dì không có ý niệm — và không bao giờ có thể quyết định cách sử dụng nó. Và tôi không nghi ngờ gì rằng sau đó — giống như mong muốn phục vụ khoai tây với sốt béchamel, để thay đổi, sẽ được hình thành, cuối cùng, từ niềm vui dì tìm thấy trong sự xuất hiện hằng ngày của những củ khoai tây nghiền đó mà dì không bao giờ "chán" — dì sẽ trích xuất từ sự tích tụ của những ngày đơn điệu đó (mà dì phụ thuộc rất nhiều) một kỳ vọng lớn lao về một tai cataclism gia đình, tức thì trong sự xảy ra của nó, nhưng đủ bạo lực để buộc dì đưa vào hiệu lực, một lần và mãi mãi, một trong những thay đổi mà dì biết sẽ có lợi cho sức khỏe của mình, nhưng dì không bao giờ có thể tự quyết định làm mà không có sự kích thích nào như vậy. Dì thực sự yêu quý chúng ta; dì sẽ thích sự xa xỉ lâu dài của việc khóc lóc cho sự chết yểu của chúng ta; đến vào một thời điểm khi dì cảm thấy "khỏe" và không đổ mồ hôi, tin tức rằng ngôi nhà đang bị phá hủy bởi một trận hỏa hoạn, trong đó tất cả phần còn lại của chúng ta đã chết ngạt, một trận hỏa hoạn mà, trong một thời gian ngắn, sẽ không để lại một hòn đá nào đứng trên hòn đá khác, nhưng từ đó bản thân dì vẫn sẽ có nhiều thời gian để trốn thoát mà không cần sự vội vàng không đáng có, miễn là dì đứng dậy khỏi giường ngay lập tức, hẳn đã thường ám ảnh những giấc mơ của dì, như một viễn cảnh kết hợp với hai lợi thế phụ là để cho dì nếm trải hương vị trọn vẹn của tình yêu của dì đối với chúng ta trong nhiều năm tang tóc dài, và gây ra sự sững sờ phổ biến trong làng khi dì sải bước ra để tiến hành lễ tang của chúng ta, suy sụp nhưng can đảm, sắp chết nhưng đứng thẳng, sự ban ơn tối cao và vô giá là buộc dì vào đúng thời điểm, không có thời gian để lãng phí, không có chỗ cho những sự do dự suy yếu, đi ra ngoài và trải qua mùa hè tại trang trại quyến rũ Mirougrain của mình, nơi có một thác nước. Vô số trường hợp không có gì kiểu này từng xảy ra, mặc dù dì hẳn thường xuyên suy ngẫm về sự thành công của một cuộc thao diễn như vậy khi nằm một mình đắm chìm trong các ván bài kiên nhẫn bất tận của mình (và mặc dù nó hẳn đã đẩy dì vào sự tuyệt vọng từ khoảnh khắc đầu tiên của sự nhận ra nó, từ những sự thật nhỏ bất ngờ đầu tiên, từ từ ngữ đầu tiên của tin tức thảm họa, có âm sắc không bao giờ có thể được xóa bỏ khỏi ký ức sau đó, mọi thứ mang trên đó dấu ấn của cái chết vật lý thực sự, vô cùng khác biệt so với sự trừu tượng logic của khả năng của nó) dì sẽ quay trở lại từ thời gian này sang thời gian khác, để thêm sự quan tâm cho cuộc đời mình, dựa vào việc tưởng tượng ra những thảm họa nhỏ khác, mà dì sẽ theo đuổi với niềm đam mê. Dì sẽ tự giải trí bằng sự nghi ngờ đột ngột rằng Françoise đã ăn cắp của mình, rằng cô đã giăng bẫy để chắc chắn, và đã bắt quả tang kẻ phản bội; và có thói quen, khi cô tạo ra một ván bài một mình, chơi tay của chính mình và đối thủ cùng lúc, trước tiên sẽ lẩm bẩm những lời xin lỗi vụng về của Françoise, và sau đó trả lời chúng với sự phẫn nộ bùng cháy đến mức bất kỳ ai trong chúng ta vô tình xâm nhập vào dì vào một trong những khoảnh khắc này sẽ tìm thấy cô đầm đìa mồ hôi, mắt bừng cháy, tóc giả bị xô lệch và làm lộ ra phần trán hói của mình. Françoise hẳn thường xuyên, từ căn phòng bên cạnh, đã nghe thấy những lời châm biếm sắc sảo này nhắm vào chính mình, việc tự mình lập khung những lời đó trong từ ngữ sẽ không làm giảm bớt cảm giác của dì tôi đủ, nếu chúng được phép ở lại trong một hình thức thuần túy phi vật chất, mà không có mức độ chất và thực tế mà dì thêm vào chúng bằng cách lẩm bẩm chúng nửa lớn tiếng. Thỉnh thoảng, tuy nhiên, ngay cả những bộ phim truyền hình trên giường này cũng không làm thỏa mãn dì tôi; dì phải nhìn thấy công việc của mình được dàn dựng. Và thế là, vào một Chủ nhật, với tất cả các cửa đóng kín một cách bí ẩn, dì sẽ tâm sự với Eulalie những nghi ngờ của mình về sự liêm khiết của Françoise và quyết tâm tống cổ cô đi, và vào một ngày khác, dì sẽ tâm sự với Françoise những nghi ngờ của mình về sự bất trung của Eulalie, người mà cửa trước chẳng mấy chốc sẽ bị đóng vĩnh viễn. Vài ngày nữa, và, cảm thấy ghê tởm với người tâm sự mới nhất của mình, dì sẽ lại "dính như sam" với kẻ phản bội, trong khi, trước màn trình diễn tiếp theo, cả hai sẽ lại đổi vai một lần nữa. Nhưng những nghi ngờ mà Eulalie thỉnh thoảng có thể gây giống trong dì không gì hơn là ngọn lửa rơm, chẳng mấy chốc sẽ lụi tàn vì thiếu nhiên liệu, vì Eulalie không sống chung nhà với dì. Đó là một vấn đề hoàn toàn khác khi kẻ bị nghi ngờ là Françoise, người có sự hiện diện dưới cùng một mái nhà với mình mà dì tôi liên tục nhận thức được, trong khi vì sợ cảm lạnh, nếu rời khỏi giường, dì sẽ không bao giờ dám xuống bếp để tự mình kiểm tra xem có thực sự có bất kỳ cơ sở nào cho những nghi ngờ của mình không. Và thế là dần dần, cho đến khi tâm trí cô không còn nghề nghiệp nào khác ngoài việc cố gắng, vào mọi giờ trong ngày, khám phá những gì đang được thực hiện, những gì đang bị che giấu khỏi cô bởi Françoise. Dì sẽ phát hiện ra chuyển động lén lút nhất của các nét mặt Françoise, một cái gì đó mâu thuẫn trong những gì cô đang nói, một mong muốn nào đó mà cô có vẻ đang sàng lọc. Và dì sẽ cho cô thấy rằng cô đã bị vạch trần, bằng một từ duy nhất, làm Françoise tái mặt, và điều mà dì tôi tìm thấy một sự thỏa mãn tàn nhẫn trong việc lái vào trái tim người hầu bất hạnh của mình. Và ngay Chủ nhật tiếp theo, một sự tiết lộ của Eulalie — giống như một trong những khám phá đột ngột mở ra một lĩnh vực chưa được nghi ngờ cho một khoa học mới nào đó mà cho đến nay chỉ theo dõi những con đường đã mòn — chứng minh cho dì tôi rằng những nghi ngờ tồi tệ nhất của chính dì rơi một khoảng cách dài ngắn hơn sự thật khủng khiếp. "Nhưng Françoise nên biết điều đó," Eulalie nói, "giờ khi bà đã cho cô ấy một cỗ xe."
"Giờ khi tôi đã cho cô ấy một cỗ xe!" dì tôi thở hổn hển.
"Ồ, nhưng cháu không biết; cháu chỉ nghĩ thế; cháu thấy cô ấy đi qua hôm qua trong chiếc xe mui trần của mình, tự hào như Artaban, trên đường đến chợ Roussainville. Cháu giả định rằng chắc chắn là mợ Octave đã tặng nó cho cô ấy."
Thế là dần dần, cho đến khi Françoise và dì tôi, con mồi và thợ săn, không thể ngừng cố gắng vượt mặt các thiết bị của nhau. Mẹ tôi sợ rằng Françoise có thể phát triển một sự căm thù thực sự đối với dì tôi, người đang làm mọi thứ trong khả năng của mình để làm phiền cô. Dù thế nào đi nữa, Françoise đã đến, ngày càng nhiều hơn, để chú ý vô cùng cẩn thận đến lời nói và cử chỉ nhỏ nhất của dì tôi. Khi cô phải hỏi dì bất kỳ điều gì, cô sẽ do dự, trước tiên, trong một thời gian dài, quyết định cách bắt đầu tốt nhất. Và khi cô đã thốt ra yêu cầu của mình, cô sẽ quan sát dì tôi một cách lén lút, cố gắng đoán từ biểu hiện trên khuôn mặt dì những gì cô nghĩ về nó, và cách dì sẽ trả lời. Và theo cách này — trong khi một nghệ sĩ đã đọc các hồi ký thế kỷ XVII, và muốn đưa bản thân đến gần Louis vĩ đại hơn, sẽ coi mình đang tiến bộ theo hướng đó khi anh ta xây dựng một phả hệ vinh danh dòng dõi của mình từ một gia đình lịch sử, hoặc khi anh ta tham gia vào thư từ với một trong các Chủ quyền trị vì của châu Âu, và do đó sẽ nhắm mắt làm ngơ trước sai lầm mà anh ta đang phạm phải trong việc tìm kiếm thiết lập sự tương đồng bằng một bản sao chính xác và do đó vô hồn của các hình thức bên ngoài — một phu nhân trung niên ở một thị trấn đồng quê nhỏ, bằng cách làm không có gì nhiều hơn là nhường chỗ cho sự vâng lời toàn tâm toàn ý đối với những sự kỳ quặc không thể cưỡng lại của chính mình, và đối với một tinh thần nghịch ngợm do sự nhàn rỗi hoàn toàn của sự tồn tại của cô ấy tạo ra, có thể nhìn thấy, mà chưa từng suy nghĩ đến Louis XIV, những nghề nghiệp tầm thường nhất của cuộc sống hằng ngày của cô ấy, nhà vệ sinh buổi sáng của cô, bữa trưa của cô, giấc ngủ trưa của cô, đảm nhận, nhờ vào sự độc đáo chuyên chế của chúng, một số sự quan tâm được tìm thấy trong những gì Saint-Simon thường gọi là "cỗ máy" của cuộc sống tại Versailles; và cũng có thể tự thuyết phục rằng sự im lặng của cô, một sắc thái của sự hài hước hoặc sự kiêu ngạo trên các nét mặt của cô sẽ cung cấp cho Françoise vấn đề cho một bình luận tinh thần căng thẳng với đam mê và khủng bố, hệt như sự im lặng, sự hài hước hoặc sự kiêu ngạo của Nhà Vua khi một người triều thần, hoặc thậm chí các quý tộc lớn nhất của ông, đã đệ trình một thỉnh nguyện thư cho ông, ở khúc ngoặt của một đại lộ, tại Versailles.
[TIET ĐỀ]: NONE
Một Chủ nhật nọ, khi dì tôi vừa tiếp chuyện cùng lúc cả hai vị là cha xứ và Eulalie, rồi sau đó ở lại một mình để nghỉ ngơi, cả nhà cùng lên lầu để chúc dì ngủ ngon, và má tôi đánh bạo chia sẻ nỗi niềm với dì về sự trùng hợp trớ trêu luôn đưa cả hai vị khách đến cửa nhà dì cùng một thời điểm.
– Em nghe nói hôm nay mọi chuyện lại không suôn sẻ lắm phải không Léonie, – má tôi ân cần nói, – tất cả bạn bè của chị lại ghé thăm một lúc rồi.
Và bà lớn của tôi ngắt lời: “Nhiều điều tốt quá đôi khi lại hóa hay...” bởi vì, kể từ khi con gái bà lâm bệnh, bà thấy mình có bổn phận phải giúp tinh thần cô tươi tỉnh hết mức có thể bằng cách luôn hướng sự chú ý của cô vào những mặt tươi sáng hơn của cuộc sống. Nhưng bố tôi đã cất lời.
– Anh muốn nhân cơ hội, – bố nói, – tất cả mọi người trong nhà đều có mặt ở đây đông đủ, để kể cho em nghe một câu chuyện, khỏi phải mất công kể lại từng người một cho mỗi người nghe riêng. Anh sợ rằng chúng ta đang mất điểm trong mắt ông Legrandin; sáng nay ông ấy hầu như chẳng thèm chào anh một tiếng.
Tôi không chờ để nghe đoạn kết câu chuyện của bố, vì lúc đó tôi cũng đi cùng bố sau buổi lễ và chúng tôi vừa đi ngang qua ông Legrandin; thay vào đó, tôi chạy xuống bếp để hỏi thực đơn bữa tối, điều này ngày nào cũng mới mẻ đối với tôi như tin tức trên mặt báo, và khiến tôi phấn khích chẳng khác nào chương trình của một ngày hội sắp tới.
Khi ông Legrandin đi sát qua chỗ chúng tôi trên đường từ nhà thờ về, đi cạnh một phu nhân vốn là chủ một dinh thự ở vùng lân cận mà chúng tôi chỉ biết mặt, bố tôi đã chào ông bằng một điệu bộ vừa thân thiện vừa kín đáo, mà không hề dừng bước; ông Legrandin hầu như không đáp lại sự lịch thiệp ấy, và rồi với một vẻ mặt ngạc nhiên, như thể ông không nhận ra chúng tôi, kèm theo cái nhìn xa xăm vốn là đặc điểm của những kẻ không muốn tỏ ra niềm nở, từ tận sâu đáy đôi mắt bỗng chốc lùi xa sâu thẳm, họ như thể nhìn thấy bạn ở tận cùng của một con đường thẳng tắp vô tận, ở một khoảng cách xa đến nỗi họ chỉ tự bằng lòng hướng về phía bạn một cử động khẽ khàng gần như không thể nhận thấy của đầu, tương xứng với kích thước nhỏ bé như búp bê của bạn.
Thế mà, vị phu nhân đi cùng Legrandin lại là một mẫu mực về đức hạnh, được biết tiếng và kính trọng sâu sắc; hoàn toàn không thể có chuyện ông đang đi tìm cuộc phiêu lưu tình ái nào đó mà lại thấy khó chịu vì bị phát hiện; và bố tôi tự hỏi không biết mình đã làm gì nên nỗi để vị bằng hữu phật ý.
– Anh càng thấy tiếc hơn nếu ông ấy giận chúng ta, – bố nói, – bởi vì giữa tất cả những con người xúng xính trong trang phục ngày Chủ nhật ấy, ở con người ông ấy, với chiếc áo khoác ngắn cũn cỡn và những chiếc cà vạt mềm mại, lại có một cái gì đó ít mang dáng vẻ “lên đồ” đến thế, vô cùng giản dị; một vẻ ngây thơ, gần như thế, thực sự rất cuốn hút.
Nhưng hội đồng gia đình đã đồng thanh biểu quyết rằng bố tôi đã tự tưởng tượng ra tất cả, hoặc giả lúc ấy Legrandin đang bận tâm suy nghĩ chuyện gì khác. Dù sao đi nữa, những lo âu của bố tôi đã được xóa sạch ngay vào tối hôm sau. Khi chúng tôi từ một chuyến đi dạo dài trở về, gần cầu Pont-Vieux, chúng tôi nhìn thấy chính Legrandin, người vì dịp nghỉ lễ nên ở lại Combray thêm vài ngày. Ông bước tới với bàn tay giơ sẵn:
– Anh có biết không, nhà thông thái yêu sách vở của tôi, – ông hỏi tôi, – câu thơ này của Paul Desjardins?
Giờ đây rừng thẳm tối om, nhưng bầu trời vẫn xanh ngắt một màu.
Đó chẳng phải là một cách diễn tả tuyệt vời cho một khoảnh khắc thế này sao? Có lẽ cháu chưa từng đọc Paul Desjardins. Hãy đọc ông ấy đi, cháu tôi ơi, hãy đọc đi; thời buổi này người ta bảo ông ấy đã cải đạo, trở thành một tu sĩ thuyết giáo rồi, nhưng xưa kia ông ấy có ngón nghề pha màu nước duyên dáng nhất—
Giờ đây rừng thẳm tối om, nhưng bầu trời vẫn xanh ngắt một màu.
Mong rằng cháu sẽ luôn nhìn thấy một bầu trời xanh ngút ngàn trên đầu, bạn trẻ của tôi ạ; và rồi, ngay cả khi thời điểm ấy đến, thời điểm mà bây giờ đang đến với ta, khi rừng thẳm tối om, khi màn đêm đang buông xuống nhanh chóng, cháu sẽ có thể tự an ủi mình, như bác đang làm, bằng cách ngẩng đầu nhìn lên bầu trời.
Ông lấy từ trong túi ra một điếu thuốc lá và đứng lặng ngẩn ngơ hồi lâu, đôi mắt đăm đăm nhìn về chân trời.
– Tạm biệt nhé, những người bạn! – ông đột ngột thốt lên rồi rời đi.
Vào giờ mà tôi thường hay xuống bếp để dò xem bữa tối có món gì, việc chuẩn bị đã bắt đầu từ lâu, và thím Françoise, một vị đại tá thống lĩnh mọi sức mạnh của tự nhiên làm tùy phỏng cho mình giống như trong những câu chuyện cổ tích nơi các gã khổng lồ nhận làm chân phụ bếp, đang khuấy những hòn than hồng, bắc nồi hấp khoai tây, và vào đúng thời điểm thích hợp, hoàn thiện trên lửa những kiệt tác ẩm thuật vốn đã được sơ chế sẵn trong vô số chiếc chậu thố đủ loại, những chiến công của nghề làm gốm, trải dài từ thùng, nồi lớn, vạc, nồi nấu cá cho đến các hũ đựng thịt rừng, khuôn làm bánh ngọt, và những chiếc cặp nhỏ đựng kem, bao gồm cả một bộ sưu tập nguyên vẹn gồm các loại nồi niêu xoong chảo đủ mọi hình thù kích cỡ. Tôi thường dừng chân bên chiếc bàn, nơi cô bé phụ bếp đã bóc vỏ xong, để ngắm nghía những trung đội đậu Hà Lan xếp hàng ngay ngắn và được đánh số, giống như những viên bi xanh nhỏ xíu, sẵn sàng cho một trò chơi; nhưng điều làm tôi mê mẩn hơn cả lại là những ngọn măng tây, điểm những sắc xanh ánh ngọc lam và hồng thắm xuất phát từ phần đầu, được chấm phá tinh tế bằng các sắc tím hoa cà và xanh da trời, trải qua một loạt các chuyển đổi không thể nhận ra cho đến phần gốc trắng tinh, còn vương chút đất từ luồng vườn: một vẻ đẹp cầu vồng không thuộc về thế gian này. Tôi cảm giác rằng những sắc màu thiên giới ấy báo hiệu sự hiện diện của những sinh linh di dạng tuyệt mỹ đã hoan hỉ khoác lên mình hình hài thực vật, những kẻ qua lớp ngụy trang che phủ phần thịt săn chắc có thể ăn được ấy, đã cho tôi nhận ra trong ánh rạng đông sớm mai này, trong những chiếc cầu vồng thoắt ẩn thoắt hiện, trong những sắc bóng chiều xanh biếc ấy, thứ phẩm chất quý giá mà tôi sẽ lại nhận ra khi, suốt cả đêm dài sau một bữa tối mà tôi đã thưởng thức chúng, chúng nô đùa (vừa trữ tình vừa thô tục trong những lời trêu chọc như các nàng tiên trong Giấc mộng đêm hè của Shakespeare) biến căn phòng khiêm tốn của tôi thành một vòm cây ngát hương thơm.
Hình ảnh Bác ái của Giotto tội nghiệp, như cách gọi của Swann, được thím Françoise giao cho nhiệm vụ chuẩn bị chúng cho bữa ăn, đặt chúng nằm cạnh mình trong một cái giỏ; ngồi với vẻ mặt sầu muộn, như thể mọi nỗi buồn trên thế gian này đều chất đè lên người; và những chiếc vương miện xanh nhạt đội trên chóp măng tây phía trên chiếc áo khoác hồng của chúng sẽ được phác thảo tinh tế và riêng biệt từng cái một, ngôi sao này nối tiếp ngôi sao khác, y như trong bức bích họa của Giotto những bông hoa kết thành vòng quanh vương miện, hay làm họa tiết cho chiếc giỏ của nàng Đức hạnh tại Padua. Và trong lúc ấy, thím Françoise đang quay trên lò một trong những con gà ấy, loại gà mà chỉ một mình thím mới biết cách quay cho ngon tuyệt hảo, những con gà đã lan tỏa đi rất xa khỏi Combray hương thơm ngọt ngào của những phẩm chất tuyệt vời ở thím, và trong lúc thím dọn chúng lên bàn ăn, khiến cho phẩm chất tử tế bỗng chốc trở nên lấn át trong nhận thức riêng tư của tôi về tính cách thím; hương thơm của phần thịt chín ấy, thứ mà thím biết cách làm cho vừa béo ngậy vừa mềm mại, đối với tôi chẳng khác nào hương thơm đích thực thuộc về một trong vô vàn đức tính của thím.
Nhưng ngày hôm đó, trong lúc bố tôi đang bàn bạc với gia đình về cuộc gặp gỡ kỳ lạ của chúng tôi với Legrandin, tôi đi xuống bếp, lại là một trong những ngày mà nàng Bác ái của Giotto, vẫn còn rất yếu và mệt sau trận vượt cạn cách đó chưa lâu, không thể gượng dậy khỏi giường; thím Françoise, vì không có người phụ giúp, nên đã bị dồn ứ công việc. Khi bước vào, tôi nhìn thấy thím ở căn bếp sau mở thông ra khoảng sân trong, đang làm thịt một con gà; bằng sự kháng cự tuyệt vọng và hoàn toàn tự nhiên của nó, thứ mà thím Françoise, giận dữ đến mức mất kiểm soát khi cố cắt cổ nó ngay dưới tai, kèm theo những tiếng thét chói tai “Quân khốn kiếp! Quân khốn kiếp!”, đã làm cho sự tử tế thánh thiện và vẻ phúc hậu của người đầy tớ nhà chúng tôi bớt nổi bật đi phần nào so với ngày hôm sau khi dọn lên bữa tối, lúc nó xuất hiện trong bộ da thêu kim tuyến tựa như chiếc áo lễ của linh mục, và những giọt nước cốt quý giá của nó rỉ ra từng giọt một tựa như từ chiếc hộp đựng bánh thánh. Khi nó đã chết, thím Françoise lau sạch vũng máu đang chảy lê láng, tuy nhiên thím không để lòng hằn học của mình chìm nghỉm trong đó, bởi thím lại bùng lên một cơn thịnh nộ khác, và trừng trừng nhìn xác kẻ thù, thốt lên câu cuối cùng “Quân khốn kiếp!”
Tôi rón rén lẻn khỏi nhà bếp và đi lên lầu, run lập cập toàn thân; lúc ấy tôi chỉ ước sao thím Françoise bị sa thải ngay lập tức. Nhưng ai sẽ là người nướng cho tôi những chiếc bánh mì nóng giòn đến thế, pha cho tôi thứ cà phê thơm ngát đến thế, và thậm chí—quay cho tôi những con gà ngon đến thế? Và ngẫu nhiên thay, tất cả những người khác trong nhà cũng từng phải tính toán theo kiểu hèn nhát tương tự. Bởi dì Léonie thừa biết (dù lúc đó tôi hãy còn chưa hay biết chuyện này) rằng thím Françoise, người mà đối với con gái ruột hay các cháu trai của mình sẵn sàng dâng hiến cả sinh mạng không một tiếng thở than, lại tỏ ra vô cùng tàn nhẫn và không thể khoan nhượng trong cách đối nhân xử thế với phần còn lại của thế giới. Mặc dù vậy, dì tôi vẫn giữ thím lại, bởi vì dẫu nhận thức được sự tàn nhược ấy, dì vẫn biết trân trọng những đóng góp của thím. Dần dà tôi bắt đầu nhận ra rằng sự tử tế của thím Françoise, sự cắn rứt lương tâm của thím, tổng hòa những đức tính của thím đã che giấu biết bao thảm kịch chốn hậu bếp như thế, y hệt như lịch sử hé lộ cho chúng ta thấy triều đại của các vị vua và hoàng hậu được khắc họa trong tư thế quỳ gối chắp tay bên những khung cửa kính nhà thờ, vốn dĩ đã bị vấy bẩn bởi sự áp bức và những dòng máu đổ. Tôi đã ghi nhận một thực tế rằng, ngoại trừ những người thân thích ruột thịt của thím, những khổ đau của nhân loại lại khơi gợi ở thím một lòng thương hại tỷ lệ thuận với khoảng cách ngăn cách giữa những kẻ khốn khổ ấy với chính thím. Những giọt nước mắt tuôn rơi như thác từ thím khi đọc về bất hạnh của những con người xa lạ nào đó trên mặt báo, sẽ nhanh chóng khô cạn ngay khi thím có thể hình dung rõ ràng hơn trong tâm trí về những nạn nhân thực sự. Một đêm nọ, chẳng bao lâu sau kỳ sinh nở, cô bé phụ bếp lên cơn đau quặn thắt vô cùng khủng khiếp; má tôi nghe tiếng rên rỉ của con bé, bèn trở dậy gọi thím Françoise, nhưng thím chẳng mảy may động lòng, tuyên bố rằng tất cả những tiếng la hét ấy chỉ là giả vờ bệnh hoạn, rằng con bé muốn “làm ra vẻ làm chủ” trong cái nhà này. Vị bác sĩ, vốn e ngại một cơn phát bệnh như thế, đã để lại một tấm đánh dấu trang trong cuốn từ điển y khoa mà chúng tôi có, ngay trang miêu tả các triệu chứng, và dặn chúng tôi hãy giở đến đoạn đó, nơi sẽ tìm thấy các biện pháp “sơ cứu” cần được áp dụng. Má tôi sai thím Françoise đi lấy cuốn sách, đồng thời cảnh báo thím đừng để rơi tấm đánh dấu trang. Một tiếng đồng hồ trôi qua mà thím Françoise vẫn chưa quay lại; má tôi đinh ninh rằng thím đã quay lại giường ngủ liền đâm ra bực bội, bèn bảo tôi tự mình ra giá sách lấy cuốn từ điển ấy về. Tôi làm theo, và tìm thấy thím Françoise ở đó, vì sự tò mò muốn biết tấm đánh dấu trang chỉ điều gì, thím đã bắt đầu đọc phần miêu tả lâm sàng về những cơn đau sau sinh ấy, và đang nức nở khóc nghẹn ngào, giờ đây khi vấn đề lại là một loại bệnh lý mà thím chưa từng quen thuộc. Trước mỗi triệu chứng đau đớn được tác giả đề cập, thím lại kêu lên: “Ôi, ôi, Đức Mẹ Hằng Giúp Đỡ, có thể nào Chúa lại muốn một sinh mệnh khốn khổ nào đó phải chịu đựng nhường này không? Ôi, tội nghiệp con bé!”
Nhưng khi tôi cất tiếng gọi, và thím quay trở lại bên giường của nàng Bác ái của Giotto, nước mắt thím lập tức ngừng tu rơi; thím chẳng thể tìm thấy cớ gì để khơi gợi cảm giác dịu dàng và thương cảm dễ chịu vốn đã quá quen thuộc, từng bao lần được khơi nguồn qua việc đọc báo; hay bất kỳ niềm vui tương tự nào khác trong cảm giác mệt mỏi và bực bội vì bị lôi khỏi giường giữa đêm vì cô bé phụ bếp; thế nên trước chính những đau đớn ấy, thứ vốn từng khiến thím khóc ròng qua từng dòng chữ in, thím chẳng thể thốt ra điều gì ngoài những lời càu nhàu khó chịu, đan xen với sự mỉa mai chua chát, lẩm bẩm khi nghĩ rằng chúng tôi đã đi ra ngoài tầm nghe:
– Chà, có đời nào con nhỏ ấy phải làm cái việc mà nó buộc phải làm để gây ra cơ sự này đâu! Chắc hẳn nó thấy sướng lắm cơ chứ dự gì! Tốt hơn hết là đừng có lên mặt kiêu kỳ ở đây nữa. Dẫu sao đi nữa, chắc chắn cái thằng gã bỏ mẹ nào đó đã u mê lắm mới đâm đầu theo con này. Chao ôi, đúng như người ta vẫn hay truyền tai nhau ở xứ sở của người mẹ tội nghiệp tôi:
Đuôi cún con cùng móng với gai,
Và bao đứa lười nhơ nhuốc hoài,
Còn ngửi thơm hơn hoa hồng trước mũi thanh niên
Khi trái tim vừa tròn tuổi đôi mươi.
Mặc dù vậy, khi đứa cháu trai của thím bị cảm lạnh xoàng, thím sẵn sàng lên đường vào ban đêm, ngay cả khi bản thân cũng đang ốm đau, thay vì đi ngủ, để xem thằng bé có thiếu thứ gì không, đi bộ mười dặm đường trước khi trời hửng sáng để kịp giờ bắt đầu công việc, thế nhưng chính tình yêu thương dành cho người nhà và mong muốn gầy dựng tương lai hiển hách cho dòng họ trên một nền tảng vững chắc lại phản ứng ngược trong chính sách của thím đối với những người hầu khác, đúc kết thành một phương châm bất di bất dịch: không bao giờ để bất kỳ ai trong số họ đặt chân vào phòng của dì tôi; quả thực thím tỏ ra tự hào một cách kỳ lạ vì không cho phép bất cứ kẻ nào khác bén mảng đến gần dì, thà rằng khi chính bản thân đang ốm, thím tự lết xuống giường và tự tay mang nước Vichy lên cho dì, còn hơn là nhượng lại quyền bước vào sự hiện diện của nữ chủ nhân cho cô bé phụ bếp.
Có một loài côn trùng thuộc bộ cánh màng, được quan sát bởi Fabre, loại tò vò đào hang, để cung cấp nguồn thịt tươi cho đàn con sau khi mình chết đi, đã viện đến ngành giải khoa học giải phẫu để khuếch đại nguồn lực tàn ác bản năng của mình, và sau khi gom nhặt nào mọt, nào nhện, chúng tiến hành với sự hiểu biết và kỹ năng kỳ diệu để châm vào trung tâm thần kinh nơi khả năng di chuyển (nhưng không tổn hại đến các chức năng sống khác) của bọn chúng phụ thuộc vào đó, sao cho con côn trùng bị tê liệt, nơi quả trứng của con tò vò được đẻ cạnh bên, sẽ cung cấp cho ấu trùng khi nở ra một thứ mồi ngon đã được thuần hóa và vô hại, không thể bay cũng chẳng thể kháng cự, nhưng lại hoàn toàn tươi rói trong cái kho trữ thức ăn: cứ theo phương thức đó, thím Françoise đã áp dụng, nhằm phục vụ cho quyết tâm kiên định và không dao động của mình là biến ngôi nhà trở thành nơi không thể dung thứ cho bất kỳ người hầu nào khác, một loạt các âm mưu gian xảo và tàn nhẫn. Nhiều năm sau, chúng tôi mới phát hiện ra rằng, nếu suốt mùa ấy chúng ta cứ bị cho ăn măng tây ngày này qua ngày khác, đó chính là vì mùi hương của loài thực vật này gây ra những cơn suyễn dữ dội cho cô bé phụ bếp khốn khổ, người phải làm công việc sơ chế chúng, đến mức cuối cùng cô buộc phải rời khỏi sự phục vụ của dì tôi.
Than ôi! Chúng tôi đã phải thay đổi hoàn toàn quan điểm của mình về ông Legrandin. Vào một trong những ngày Chủ nhật tiếp sau cuộc gặp gỡ của chúng tôi với ông ở cầu Pont-Vieux, sau sự kiện mà bố tôi buộc phải thừa nhận là mình đã nhầm, khi buổi lễ thánh dần kết thúc, và cùng với ánh nắng mặt trời cùng thứ âm thanh của thế giới bên ngoài, một thứ khác tràn ngập vào trong nhà thờ, một bầu không khí chẳng màng chút gì đến chốn linh thiêng đến mức bà Goupil, bà Percepied (tóm lại là tất cả những người mà một khoảnh khắc trước, khi tôi đến muộn một chút, vẫn đang ngồi bất động, mắt dán chặt vào sách cầu nguyện; những người mà tôi thậm chí còn tưởng là không hề nhìn thấy tôi bước vào, nếu như đôi chân của họ không khẽ động đậy để đẩy cái ghế quỳ nhỏ đang cản đường tôi tiến tới ghế của mình) bắt đầu lớn tiếng bàn luận với tất cả chúng tôi đủ mọi đề tài hoàn toàn trần tục, tựa như thể chúng tôi đã ở bên ngoài quảng trường rồi, thì chúng tôi nhìn thấy, đang đứng trên những bậc thềm ngập nắng của hiên nhà thờ, bao trùm lên khung cảnh hỗn độn muôn màu của khu chợ, chính là Legrandin, người mà chồng của vị phu nhân chúng tôi đã gặp cùng ông trong dịp trước, đang chuẩn bị giới thiệu với vợ của một điền chủ lớn khác trong vùng.
Khuôn mặt của Legrandin lộ rõ vẻ sốt sắng và hoạt bát phi thường; ông cúi gập người sâu thẳm, kèm theo một cử động giật lùi bổ sung khiến phần cột sống của ông ngóc bật ngược về phía sau vị trí xuất phát, một điệu bộ mà chắc chắn ông đã được huấn luyện bởi người chồng của em gái ông, bà de Cambremer. Động tác hồi phục chớp nhoáng ấy tạo ra một làn sóng cơ bắp căng cứng gợn lăn tăn qua phần hông của Legrandin, thứ mà trước đó tôi không hề nghĩ là lại đầy đặn đến thế; tôi không rõ vì lý do gì, nhưng sự nhấp nhô của thuần túy vật chất ấy, sự uyển chuyển hoàn toàn mang tính xác thịt này, không hề vương vấn dù chỉ một chút ý nghĩa tâm linh nào, làn sóng ấy bị quất tơi bời bởi ngọn gió của sự nịnh nọt, một vẻ khom lưng uốn léo hạ tiện nhất, đã đánh thức tâm trí tôi đột ngột nhận ra khả năng về một con người Legrandin hoàn toàn khác biệt với kẻ mà chúng tôi từng biết. Vị phu nhân dặn dò ông vài điều dành cho người đánh xe của bà, và trong lúc ông đang bước xuống xe ngựa, ấn tượng về niềm vui, rụt rè và thành kính mà màn giới thiệu ấy vừa khắc họa lên vẫn còn vương vấn trên khuôn mặt ông. Bị cuốn đi trong một giấc mộng nào đó, ông mỉm cười, rồi bắt đầu vội vã quay trở lại phía phu nhân; ông bước nhanh hơn bình thường, và đôi vai lắc lư qua lại, sang phải sang trái, theo một cách thức ngớ ngẩn nhất; nói chung trông ông ta, do đã hoàn toàn phó mặc bản thân vào đó mà bất chấp mọi cân nhắc khác, giống như một con rối vô tri bị giật dây bởi chính hạnh phúc của mình.
Trong khi ấy, chúng tôi đang bước ra qua hiên nhà thờ; chúng tôi đi ngang qua rất sát ông; ông thừa lịch sự để không quay mặt đi; nhưng ông dán chặt đôi mắt vốn đã đột ngột biến đổi thành đôi mắt của một nhà tiên tri, chìm đắm trong sự sâu thẳm của tầm nhìn, vào một điểm quá xa xôi ở chân trời đến mức ông không thể nhìn thấy chúng tôi, và nhờ thế không phải chào hỏi sự hiện diện của chúng tôi. Khuôn mặt ông hiện ra, vẫn với vẻ ngây thơ, từ chiếc áo khoác thẳng thớm và mềm mại, trông như thể đang nhận thức được việc mình đã bị dẫn dắt đi lạc, bất chấp ý muốn, và bị ném vào giữa những chốn hào quang đáng ghét. Và chiếc cà vạt đốm, bị khuấy động bởi những làn gió ngoài quảng trường, vẫn tiếp tục bay lượn trước ngực Legrandin, như ngọn cờ hiệu cho sự kiêu hãnh cô lập, cho sự độc lập cao quý của ông.
Ngay khi chúng tôi về đến nhà, má tôi phát hiện ra rằng chúng tôi đã quên mua chiếc bánh 'Saint-Honoré', và liền bảo bố quay lại cùng tôi để dặn họ gửi lên ngay lập tức. Gần nhà thờ, chúng tôi gặp Legrandin đang đi về phía chúng tôi cùng vị phu nhân nọ, người mà ông đang hộ tống ra xe. Ông lướt qua chúng tôi và không hề ngắt quãng câu chuyện đang nói dở với bà, nhưng ném về phía chúng tôi, từ khóe mắt xanh ngắt của mình, một tín hiệu nhỏ, khởi đầu và kết thúc, có thể nói như vậy, ngay bên trong mi mắt, và vì nó không liên quan đến dù chỉ một cử động nhỏ của cơ mặt, nên đã qua mặt hoàn toàn vị phu nhân; thế nhưng, cố gắng bù đắp bằng sự mãnh liệt của cảm xúc cho cái không gian có phần chật hẹp mà chúng ta buộc phải biểu lộ, ông làm cho khe hở màu xanh ấy, thứ vốn dành riêng cho chúng tôi, lấp lánh tất cả sự hoạt bát của sự thân tình, vượt xa cả mức độ đùa cợt đơn thuần, và gần như chạm đến ranh giới của sự ranh mãnh; ông tinh tế hóa những nét tinh tế của tình bạn thâm giao thành một cái nháy mắt ngầm hiểu, một ẩn ý, một tầng nghĩa khuất lấp, một sự đồng lõa ngầm, tất cả những bí mật của sự đồng lõa trong một âm mưu, và cuối cùng tôn vinh những lời đảm bảo tình bạn của mình lên ngang tầm với những lời thề thốt ái tình, thậm chí là một lời tỏ tình, thắp sáng cho chúng tôi, và chỉ riêng chúng tôi mà thôi, bằng một ngọn lửa thầm kín và u buồn vô hình đối với vị phu nhân quyền quý ở phía bên kia, một học trò đang say đắm ẩn giấu đằng sau gương mặt lạnh như băng.
Mới chỉ hôm trước thôi, ông đã ngài mời bố mẹ tôi cho tôi sang ăn tối với ông vào chính tối Chủ nhật này.
– Hãy đến để bầu bạn với người bạn già của bác nhé, – ông đã bảo tôi như thế. – Giống như bó hoa tươi mà một du khách gửi tặng ta từ một vùng đất nào đó mà ta sẽ chẳng bao giờ đặt chân tới nữa, hãy đến và để bác được hít thở bầu hương vị của những đóa hoa xuân từ miền đất xa xôi của tuổi thiếu niên, nơi mà bác cũng từng lang thang dạo bước từ nhiều năm về trước. Hãy đến cùng hoa anh thảo, cùng râu linh mục, cùng hoa cúp vàng; hãy đến cùng loài sen đá, thứ tạo nên những bó hoa nhỏ, là minh chứng cho tình yêu, trong hệ thực vật của Balzac, hãy đến cùng đóa hoa của buổi sáng Phục sinh, hoa cúc dại trắng, hãy đến cùng những quả cầu tuyết của loài hoa tuyết cầu, thứ bắt đầu ướp hương thơm ngát các lối đi trong khu vườn của dì cháu trước khi những đợt tuyết cuối cùng của mùa Chay tan chảy khỏi đất vườn. Hãy đến cùng tấm lụa lừng lẫy của đóa bách hợp, trang phục xứng tầm vua Solomon, và với lớp men đa sắc của loài hoa păng-xê, nhưng hãy đến, trên hết thảy, với ngọn gió xuân, vẫn còn se lạnh bởi những đợt sương giá cuối đông, vạch rẽ ra, vì lợi ích của hai chú bướm đã mòn mỏi chờ đợi ở ngoài suốt cả buổi sáng, cánh cổng khép kín của đóa hồng Jerusalem đầu tiên.
Vấn đề đã được đặt ra trong nhà là liệu, suy cho cùng, tôi có nên tiếp tục được cử đi ăn tối với ông Legrandin hay không. Nhưng bà tôi từ chối tin rằng ông lại có thể bất lịch sự đến thế.
– Chính con cũng thừa nhận rằng ông ấy xuất hiện ở nhà thờ kia một cách hết sức giản dị, và tất cả những thứ đó; trông ông ấy chẳng giống một kẻ hay chưng diện chút nào cả.
Bà nói thêm rằng; dù thế nào đi nữa, giả sử trong trường hợp tồi tệ nhất, ông ấy cố tình thô lỗ đi chăng nữa, thì tốt hơn hết chúng ta vẫn nên vờ như không hề nhận thấy điều gì. Và quả thực chính bố tôi, dù cảm thấy khó chịu hơn bất kỳ ai trong chúng ta về thái độ mà Legrandin đã áp dụng, có lẽ vẫn giữ lại trong lòng một sự hoài nghi cuối cùng về ý nghĩa đích thực của nó. Nó giống như mọi thái độ hay hành động bộc lộ bản chất sâu kín và ẩn giấu của một con người; chúng chẳng hề có mối liên hệ nào với những gì anh ta từng nói trước đó, và chúng ta không thể củng cố những hoài nghi của mình bằng lời khai của kẻ phạm tội, vì hắn sẽ chẳng thừa nhận bất cứ điều gì; chúng ta bị đẩy về với bằng chứng từ chính các giác quan của mình, và tự hỏi bản thân, trước mảnh ký ức rời rạc và phi lý này, rằng liệu các giác quan của chúng ta có thực sự là nạn nhân của một cơn ảo giác hay không; hệ quả là những thái độ như thế, và chỉ duy nhất chúng mới có tầm quan trọng trong việc chỉ ra bản chất con người, lại là những thứ dễ để lại cho chúng ta sự bối rối tột cùng.
Tôi đã ăn tối với Legrandin trên hiên nhà ông, dưới ánh trăng.
– Có một phẩm chất vô cùng quyến rũ phải không cháu, – ông bảo tôi, – trong sự tĩnh lặng này; đối với những trái tim mang thương tích, như trái tim bác đây, một nhà tiểu thuyết mà cháu sẽ có dịp đọc trong tương lai, cho rằng chẳng có phương thuốc nào chữa lành ngoài sự tĩnh lặng và bóng tối. Và cháu thấy đấy, con trai ạ, trong mọi cuộc đời đều có một thời điểm, mà cháu hãy còn ở rất xa, khi đôi mắt mỏi mệt chỉ có thể chịu đựng được một loại ánh sáng duy nhất, thứ ánh sáng mà một buổi chiều đẹp trời thế này chuẩn bị sẵn cho chúng ta trong căn phòng tối tăm của bóng đêm, khi đôi tai chẳng thể lắng nghe bất kỳ thứ âm thanh nào khác ngoại trừ giai điệu mà ánh trăng thổi qua chiếc sáo của sự thinh lặng.
Tôi có thể nghe thấy những gì ông Legrandin đang nói; giống như mọi điều ông nói, nó nghe có vẻ hấp dẫn; nhưng tôi lại bị xao động bởi ký ức về một vị phu nhân mà tôi mới nhìn thấy lần đầu cách đó không lâu; và nghĩ rằng, giờ đây khi tôi đã biết Legrandin có quan hệ thân thiết với một số nhân vật thuộc tầng lớp quý tộc địa phương, biết đâu bà ấy cũng nằm trong số những người quen của ông, tôi bèn gom hết can đảm và nói với ông:
– Xin lỗi bác, bác có vô tình quen biết vị phu nhân... các vị phu nhân nhà Guermantes không ạ?
Và tôi cảm thấy hạnh phúc vì khi thốt lên cái tên ấy, tôi đã nắm giữ được một thứ quyền lực nào đó đối với nó, chỉ bằng hành động kéo nó lên từ những giấc mơ và trao cho nó một sự tồn tại khách quan trong thế giới của những lời nói.
Nhưng, khi nghe đến từ Guermantes, tôi nhìn thấy ngay giữa tròng mắt màu xanh của người bạn chúng ta xuất hiện một vết lúm nhỏ màu nâu, tựa như thể chúng bị đâm bởi một mũi kim vô hình nào đó, trong khi phần còn lại của đồng tử, phản ứng lại cú sốc, tiếp nhận và tiết ra dòng nước lam tràn trề. Hàng mi rậm của ông sầm xuống và khép rũ rượi. Miệng ông, vốn đang cứng đờ và hằn sâu những nét cay đắng, là bộ phận đầu tiên hồi phục và mỉm cười, trong khi đôi mắt vẫn dường như tràn ngập đau đớn, tựa như đôi mắt của một vị thánh tử đạo khôi ngô với cơ thể chi chít những mũi tên.
– Không, bác không quen họ, – ông nói, nhưng thay vì thốt ra một mẩu thông tin đơn giản đến thế, một câu trả lời chẳng có mấy điều khiến tôi ngạc nhiên, bằng giọng điệu tự nhiên và trò chuyện vốn dĩ phù hợp với nó, ông lại ngâm nga nó với một trọng âm riêng biệt trên từng từ, rướn người về phía trước, cúi gập đầu, mang theo sự mãnh liệt mà một người đàn ông thường đặt vào, để người ta tin, một lời khẳng định vô cùng phi lý (tựa như thể việc ông không quen biết nhà Guermantes chỉ có thể do một tai ác trớ trêu nào đó của định mệnh) đồng thời với sự nhấn mạnh của một người, khi nhận thấy bản thân không thể giữ im lặng về một hoàn cảnh đau đớn đối với mình, lại chọn cách lớn tiếng tuyên bố nó, nhằm thuyết phục người nghe rằng lời thú nhận mà ông đang đưa ra là một lời thú nhận không hề gây ra cho ông sự bối rối nào, mà trái lại rất dễ dàng, dễ chịu, tự phát, rằng hoàn cảnh đang xét đến, trong trường hợp này là sự vắng bóng các mối quan hệ với gia đình Guermantes, hoàn toàn có thể không phải do ép buộc, mà thực chất là do chính Legrandin tự chủ động thiết kế nên, có thể bắt nguồn từ một truyền thống gia đình, một nguyên tắc đạo đức hoặc một lời thề nguyền huyền bí nào đó tuyệt đối cấm kỵ việc ông tìm kiếm sự giao du với họ.
– Không, – ông nói tiếp, giải thích qua lời nói cho cái giọng điệu mà chúng vừa được thốt lên. – Không, bác không quen họ; bác chưa từng muốn quen biết họ; bác vẫn luôn giữ nguyên tắc duy trì sự độc lập hoàn toàn; thực tâm mà nói, như cháu biết đấy, bác hơi mang tư tưởng Cấp tiến một chút. Người ta cứ mãi đến gặp bác về chuyện đó, bảo rằng bác đã sai lầm khi không đến gặp nhà Guermantes, rằng bác tự biến mình thành kẻ thiếu giáo dục, bất lịch sự, thành một lão gấu già. Nhưng đó không phải là thứ tiếng tăm có thể dọa được bác; nó quá đúng cơ mà! Tận sâu thẳm trái tim, bác giờ đây chẳng bận tâm đến bất cứ thứ gì trên thế gian này ngoài một vài ngôi nhà thờ, sách vở – hai hoặc ba cuốn, tranh ảnh – có lẽ nhiều hơn chút ít, và ánh trang khi ngọn gió xuân tươi trẻ (như của cháu) thổi bay vào cánh mũi bác hương thơm của những khu vườn mà những chùm hoa của chúng đôi mắt già nua của bác giờ đây đã chẳng còn đủ tinh anh để phân biệt nữa rồi.
Tôi không hiểu rõ lắm tại sao, để có thể kiềm chế không đến nhà của những người mà người ta không quen biết, lại cần thiết phải bám lấy sự độc lập của mình đến thế, cũng chẳng hiểu điều đó có thể mang lại cho người ta vẻ ngoài của một kẻ hoang dã hay một con gấu ra sao. Nhưng điều mà tôi hiểu rõ chính là điều này: Legrandin không hoàn toàn trung thực khi ông nói rằng ông chỉ quan tâm đến nhà thờ, ánh trăng và tuổi trẻ; ông còn quan tâm, quan tâm rất nhiều nữa là khác, đến những con người sống trong các dinh thự miền quê, và sẽ vô cùng sợ hãi, khi ở bên cạnh họ, bị họ ghẻ lạnh đến mức ông chẳng bao giờ dám để họ nhìn thấy rằng trong số những người bạn của mình, ông cũng có cả tầng lớp trung lưu, gia đình của các luật sư và nhà môi giới chứng khoán, thà rằng, nếu phải nói rõ sự thật, để nó bị hé lộ lúc ông vắng mặt, khi ông đã ở ngoài tầm nghe, rằng phán quyết sẽ xử phạt ông (nếu buộc phải thế) khi vắng mặt: tóm một câu, ông là một kẻ hám danh. Tất nhiên ông sẽ chẳng bao giờ thừa nhận toàn bộ hay bất kỳ phần nào trong số những điều đó bằng thứ ngôn ngữ thơ ca mà gia đình tôi và tôi từng vô cùng ngưỡng mộ.
Và nếu tôi hỏi ông: “Bác có quen gia đình Guermantes không?” Legrandin ba hoa sẽ đáp: “Không, bác chưa từng bận tâm muốn quen biết họ.” Nhưng ngặt một nỗi, kẻ ba hoa giờ đây lại bị đặt dưới quyền của một Legrandin khác, kẻ mà ông vẫn cất giấu kỹ càng trong lồng ngực, kẻ mà ông sẽ chẳng bao giờ cố ý trưng ra, bởi vì kẻ kia có thể kể những câu chuyện về chính Legrandin của chúng ta và về tính hám danh của ông, thứ sẽ hủy hoại danh tiếng của ông ta vĩnh viễn; và chính Legrandin kia đã đáp lời tôi từ trước bằng cái nhìn đầy thương tích ấy, nụ cười cứng đờ ấy, sự nghiêm túc thái quá trong giọng điệu của ông khi thốt lên những từ ngữ ngắn ngủi ấy, bằng hàng ngàn mũi tên mà Legrandin của chúng ta đã lập tức bị đâm phập vào và phát ốm, tựa như một thánh Sebastian của thói hám danh:
– Ồ, cháu làm bác tổn thương biết bao! Không, bác không quen gia đình Guermantes. Đừng nhắc cho bác nhớ về nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời bác nữa.
Và vì kẻ kia, kẻ Legrandin bất trị, thống trị, độc tài ấy, nếu thiếu đi vốn từ vựng duyên dáng của Legrandin nhà ta, lại thể hiện một sự nhanh nhạy vô song trong việc biểu đạt bản thân, thông qua những thứ gọi là “phản xạ”, thế nên khi Legrandin ba hoa cố gắng bắt hắn phải im lặng, thì hắn đã kịp cất lời từ trước rồi, và sẽ là vô ích khi người bạn của chúng ta tỏ ra tiếc nuối về cái ấn tượng tồi tệ mà những sự thật phơi bày của bản ngã thứ hai của ông gây ra, bởi vì ông chẳng thể làm gì hơn ngoài việc cố gắng xoa dịu chúng.
Điều đó không có nghĩa là ông Legrandin không hề chân thành khi ông đả kích những kẻ hám danh. Ông không thể (ít nhất là theo nhận thức của riêng mình) nhận thức được rằng bản thân mình cũng là một kẻ như thế, bởi vì chúng ta chỉ thực sự quen thuộc với những đam mê của người khác mà thôi, và những gì chúng ta khám phá ra về đam mê của chính mình chẳng qua chỉ là những gì người khác đã cho chúng ta thấy. Đối với chính chúng ta, chúng chỉ phản ứng một cách gián tiếp, thông qua trí tưởng tượng của chúng ta, thứ thay thế cho những động cơ nguyên thủy, thực tế của chúng ta bằng những động cơ thứ cấp khác, ít gai góc hơn và do đó có vẻ đàng hoàng hơn. Chưa bao giờ thói hám danh của Legrandin thúc đẩy ông biến việc đến thăm một nữ công tước thành một thói quen với tư cách là một nữ công tước. Thay vào đó, nó xúi giục trí tưởng tượng của ông biến vị nữ công tước ấy xuất hiện trong mắt Legrandin, như một người được phú bẩm cho mọi vẻ duyên dáng. Ông sẽ bị thu hút về phía nữ công tước, đồng thời tự trấn an rằng mình đang khuất phục trước sự hấp dẫn từ trí tuệ và những đức tính khác của bà, những thứ mà cái giống loài hám danh đê tiện chẳng bao giờ có thể hiểu nổi. Chỉ có những kẻ đồng loại hám danh mới biết rằng ông nằm trong số họ, bởi vì, do không có khả năng đánh giá cao những nỗ lực can thiệp của trí tưởng tượng ông, họ nhìn thấy đặt cạnh nhau một cách khăng khít các hoạt động xã hội của Legrandin và nguyên nhân ban đầu của chúng.
Trong khi đó ở nhà, chúng tôi không còn nuôi dưỡng bất kỳ ảo tưởng nào về ông Legrandin nữa, và mối quan hệ của chúng tôi với ông đã trở nên xa cách hơn rất nhiều. Má tôi vô cùng thích thú mỗi khi bắt quả tang ông phạm tội, thứ mà ông vẫn tiếp tục gọi là tội lỗi không thể tha thứ của thói hám danh. Còn về phần bố tôi, ông cảm thấy khó lòng mà đón nhận những điệu bộ của Legrandin theo một tinh thần nhẹ nhàng, buông bỏ đến thế; và khi có dạo người ta bàn tán về chuyện gửi tôi đến nghỉ hè dài ngày ở Balbec với bà tôi, bố liền nói:
– Chắc chắn anh phải nói cho Legrandin biết việc con chuẩn bị đi Balbec, để xem ông ấy có ngỏ ý giới thiệu em gái mình cho con không. Chắc là ông ấy không nhớ chuyện từng bảo với chúng ta rằng bà ấy sống cách đó chưa đầy một dặm đâu.
Bà tôi, người luôn cho rằng khi người ta đi tắm biển, người ta phải ở trên bãi cát từ sáng đến tối để hít thở gió mặn, và người ta không nên quen biết bất kỳ ai ở nơi đó, bởi vì những buổi thăm viếng, tiệc tùng và du ngoạn chẳng qua chỉ là những khoảng thời gian bị đánh cắp khỏi thứ vốn dĩ thuộc về không khí biển một cách hợp pháp, đã nài nỉ bố tuyệt đối đừng đả động gì đến kế hoạch của chúng tôi với Legrandin; bởi vì ngay trong tâm trí, bà đã mường tượng ra cảnh em gái ông ta, bà de Cambremer, bước xuống từ xe ngựa trước cửa khách sạn của chúng tôi đúng lúc chúng tôi đang chuẩn bị đi câu cá, và buộc chúng tôi phải ở lại trong nhà suốt buổi chiều để tiếp đón bà ta. Nhưng má tôi cười trừ trước những nỗi sợ hãi của bà, bởi chính má cảm thấy rằng mối nguy hiểm ấy không đến mức đe dọa trực tiếp, và Legrandin sẽ chẳng biểu lộ sự sốt sắng thái quá nào trong việc làm quen chúng tôi với em gái mình. Và ngẫu nhiên thay, chẳng ai trong chúng tôi cần phải khơi mào chủ đề về Balbec, bởi chính Legrandin, mà không hề mảy may nghi ngờ rằng chúng tôi từng có ý định ghé thăm những vùng đất ấy, đã tự nguyện sập bẫy vào một buổi tối khi chúng tôi bắt gặp ông đang thong thả dạo bước bên bờ sông Vivonne.
– Chiều nay trên mây có những sắc màu, tím và xanh, rất đẹp phải không bạn tôi? – ông nói với bố tôi. – Nhất là một sắc xanh mang tính thực vật nhiều hơn là khí quyển, sắc xanh hoa cineraria, thật ngạc nhiên khi bắt gặp nó trên bầu trời. Và đám mây hồng nhỏ xíu đằng kia kìa, chẳng phải nó mang đúng sắc màu của một loài hoa nào đó sao, hoa cẩm chướng hay hoa cẩm tú cầu? Có lẽ chẳng ở đâu ngoài những bờ biển ở eo biển Manche, nơi vùng Normandie hòa vào vùng Bretagne, tôi mới có thể tìm thấy nhiều ví dụ phong phú đến thế về cái mà bạn có thể gọi là một vương quốc thực vật chốn mây trời. Ở dưới đó, sát cạnh Balbec, giữa tất cả những chốn hãy còn hoang sơ ấy, có một vịnh nhỏ, yên tĩnh đến mê hoặc, nơi những buổi hoàng hôn của thung lũng Auge, những buổi hoàng hôn rực rỡ sắc vàng đỏ (thứ mà dẫu sao đi nữa, tôi cũng chẳng hề chê bai) lại trở nên tầm thường và vô nghĩa; bởi vì trong bầu không khí ẩm ướt và dịu dàng ấy, những luống hoa thiên giới ấy sẽ bừng nở chỉ trong chốc lát vào những buổi chiều, đẹp đến mức không gì sánh bằng, và thường kéo dài suốt nhiều giờ trước khi phai tàn. Những đóa khác rụng cánh ngay tức khắc, và khi ấy ngắm nhìn bầu trời rải rác sự rơi rụng của vô số cánh hoa của chúng còn tuyệt vời hơn gấp bội, sắc vàng lưu huỳnh và sắc đỏ hồng. Tại vịnh đó, nơi người ta gọi là vịnh Opal, những bãi cát vàng trông càng quyến rũ hơn khi bị trói buộc, giống như nàng Andromeda xinh đẹp, vào những mỏm đá khủng khiếp của bờ biển bao quanh, vào bờ biển tử thần nổi tiếng với vô số vụ đắm tàu, nơi mỗi mùa đông biết bao con thuyền dũng cảm ngã gục trước hiểm nguy của biển cả. Balbec! Chiếc xương cổ nhất trong bộ khung xương địa chất nằm sâu dưới lớp đất của chúng ta, vùng Armor thực thụ, biển cả, tận cùng của đất liền, vùng đất bị nguyền rủa mà Anatole France – một bậc thầy phù thủy mà bạn trẻ của chúng ta nên đọc các tác phẩm của ông – đã miêu tả xuất sắc biết bao, ẩn mình dưới lớp sương mù vĩnh cửu của nó, tựa như thể đó thực sự là vùng đất của người Cimmeria trong sử thi Odyssey. Balbec; vâng, người ta đang xây dựng các khách sạn ở đó bây giờ, chồng chất chúng lên trên nền đất cổ xưa và quyến rũ của nó, thứ mà họ hoàn toàn bất lực trong việc thay đổi; thật tuyệt vời làm sao khi được ở dưới đó, có thể bước ra ngay lập tức đến những vùng đất nguyên thủy và say đắm đến thế.
– Thật vậy sao? Và ông có quen ai ở Balbec không? – bố tôi hỏi. – Cậu thanh niên này sắp sửa dành vài tháng ở đó cùng bà tôi, và cả vợ tôi nữa, có lẽ thế.
Legrandin, bị hỏi bất ngờ vào một thời điểm mà ông đang nhìn thẳng vào bố tôi, không thể quay đi hướng khác và đành dán chặt ánh mắt với cường độ tăng dần đều – đồng thời mỉm cười u buồn – vào đôi mắt của người đặt câu hỏi, với vẻ thân thiện, rạng rỡ và không hề sợ hãi khi nhìn thẳng vào mặt người ta, cho đến khi ông dường như đã xuyên thủng hộp sọ của bố tôi, như thể nó là một quả cầu thủy tinh, và nhìn thấy, vào khoảnh khắc đó, ở một nơi rất xa phía trước và đằng sau nó, một đám mây rực rỡ sắc màu, thứ cung cấp cho ông một bằng chứng ngoại phạm về mặt tinh thần, và sẽ cho phép ông thiết lập luận điểm rằng, đúng vào lúc ông được hỏi có quen ai ở Balbec hay không, ông đang mải nghĩ về chuyện khác nên chẳng hề nghe thấy câu hỏi. Theo quy tắc, chiến thuật này khiến người hỏi tiếp tục truy vấn: “Ơ hay, thế anh đang nghĩ gì thế?” Nhưng bố tôi, kẻ tò mò, khó chịu và tàn nhẫn, bưng lặp lại: “Thế anh có bạn bè nào ở vùng đất đó, mà sao anh rành Balbec thế?”
Trong một nỗ lực cuối cùng và tuyệt vọng, ánh mắt mỉm cười của Legrandin chật vật vươn đến tận cùng giới hạn của sự dịu dàng, mơ hồ, thành khẩn và đãng trí; rồi cảm thấy, chắc chắn rằng chẳng còn cách nào khác ngoài việc phải trả lời, ông bảo chúng tôi:
– Tôi có bạn bè khắp năm châu bốn bể, bất cứ nơi nào có những cụm cây cỗi cằn nhưng không chịu khuất phục, tụ họp lại để dâng lên một lời cầu khẩn chung, với sự bướng bỉnh đầy bi thiết, hướng về một bầu trời khắc nghiệt chẳng mảy nào rủ lòng thương xót chúng.
– Ý tôi không hẳn là thế, – bố tôi ngắt lời, bướng bỉnh như một thân cây và nhẫn tâm như bầu trời. – Tôi hỏi anh, nhỡ có chuyện gì xảy ra với mẹ vợ tôi và bà ấy muốn cảm thấy rằng mình không hoàn toàn cô độc ở tận cái xó xỉnh cùng trời cuối đất đó, là anh có quen ai trong số những người ở đó không.
– Ở đó cũng như mọi nơi, tôi quen tất cả mọi người và chẳng quen ai cả, – Legrandin đáp, người chưa hề sẵn sàng đầu hàng; – cảnh sắc thì tôi rành, còn con người thì rất ít. Nhưng ở dưới đó, chính cảnh sắc lại khiến tôi có cảm giác y hệt như con người, những con người hiếm có và tuyệt vời, mang một chất thanh cao vốn có lẽ đã bị hủy hoại và tàn lụi bởi món quà của sự sống. Có lẽ đó là một lâu đài mà bạn tình cờ bắt gặp bên mép vách đá; đứng sừng sững ở đó bên lề đường, nơi nó dừng chân để chiêm ngưỡng những nỗi buồn của mình trước một vòm trời chiều vẫn còn ửng hồng, nơi một vầng trăng vàng đang nhô lên; trong lúc những con thuyền đánh cá đang quay về bến, cào rách lớp lụa nước của eo biển, giương cao lá cờ hiệu của nó trên đỉnh cột buồm và mang theo những sắc màu của nó. Hoặc có lẽ đó là một ngôi nhà đơn sơ đứng lẻ loi một mình, trông có vẻ thô kệch nếu có gì đó, có vẻ rụt rè nhưng tràn ngập lãng mạn, che giấu khỏi mọi ánh nhìn thứ bí mật trường tồn về hạnh phúc và sự vỡ mộng. Vùng đất không biết đến sự thật ấy, – ông tiếp tục với sự ranh mãnh đầy tính Machiavellian, – vùng đất của những điều hư cấu vô tận ấy đọc không tốt cho bất kỳ thiếu niên nào; và chắc chắn không phải là thứ mà tôi sẽ chọn hay khuyên dùng cho người bạn trẻ của chúng ta đây, kẻ vốn dĩ đã có khuynh hướng u sầu, cho một trái tim vốn đã dễ dàng tiếp nhận những ấn tượng của nó. Những khí hậu phả ra những bí mật ái tình và những nỗi tiếc nuối vô ích có thể phù hợp với một người đàn ông già nua và vỡ mộng như tôi; nhưng chúng sẽ luôn chứng tỏ là chí mạng đối với một tính cách hãy còn non nớt. Tin tôi đi, – ông tiếp tục với giọng đầy sức nặng, – dòng nước của vịnh đó – thiên về tính Bretagne hơn là Normandie – có thể phát huy một ảnh hưởng an thần, dẫu rằng ngay cả điều đó cũng có giá trị đáng ngờ, đối với một trái tim mà giống như tim tôi, chẳng còn nguyên vẹn, một trái tim mà những vết thương của nó chẳng còn gì để bù đắp. Nhưng ở tuổi của cháu, con trai tôi ơi, những dòng nước ấy hoàn toàn chống chỉ định... Chúc hàng xóm ngủ ngon nhé, – ông nói thêm, bước ra xa chúng tôi với cái dáng vẻ đột ngột né tránh vốn đã quen thuộc; rồi quay người về phía chúng tôi, với một ngón tay giơ lên cảnh báo theo kiểu bác sĩ, ông tiếp tục buổi hội chẩn: – Tuyệt đối không tới Balbec trước khi năm mươi tuổi! – ông gọi với theo tôi, – và thậm chí lúc đó còn phải tùy thuộc vào tình trạng của trái tim nữa.
Bố tôi lại nhắc đến chuyện đó với ông, thường xuyên chừng nào chúng tôi còn chạm mặt ông, và tra tấn ông bằng vô số câu hỏi, nhưng đó chỉ là công cốc: giống như tên lừa đảo bác học từng cống hiến cho việc chế tác những bản thảo giả một gia tài kỹ năng, kiến thức và sự chăm chỉ mà chỉ một phần trăm trong số đó cũng đủ để giúp hắn lập nghiệp trong một nghề nghiệp sinh lợi hơn – nhưng lại đàng hoàng, ông Legrandin, nếu chúng tôi cứ khăng khăng gặng hỏi thêm, cuối cùng có lẽ sẽ dựng lên cả một hệ thống đạo đức học và cả địa chất thiên giới của vùng Hạ Normandie, còn hơn là thừa nhận với chúng tôi rằng, chỉ cách Balbec có một dặm, em gái ruột của ông đang sống trong chính ngôi nhà của bà; còn hơn là thấy mình buộc phải trao cho chúng tôi một lá thư giới thiệu, viễn cảnh về thứ đó sẽ chẳng bao giờ khơi dậy ở ông nỗi kinh hoàng tột độ như thế nếu ông hoàn toàn chắc chắn – như từ sự hiểu biết của ông về tính cách của bà tôi, lẽ ra ông phải hoàn toàn chắc chắn – rằng trong bất kỳ hoàn cảnh nào chúng tôi cũng sẽ chẳng bao giờ tơ tưởng đến việc dùng đến nó.
*
Chúng tôi luôn trở về từ những buổi đi dạo đúng giờ để ghé thăm dì Léonie trước bữa tối. Trong những tuần đầu tiên của kỳ nghỉ ở Combray, khi ngày tàn sớm, chúng tôi vẫn có thể nhìn thấy, khi rẽ vào phố Rue du Saint-Esprit, bóng phản chiếu của bầu trời phía tây hắt ra từ những ô cửa sổ của ngôi nhà và một dải màu tía ở chân ngọn đồi Calvary, thứ được phản chiếu xa hơn ở mặt hồ; một ánh hào quang rực rỡ, thường đi kèm với cái lạnh buốt giá tê tái, sẽ gắn kết trong tâm trí tôi với ánh lửa bập bùng trên chiếc lò nướng con gà, thứ sẽ cung cấp cho tôi, thay vì niềm vui thiêng liếm mà tôi tìm thấy trong buổi dạo chơi, những niềm vui xác thịt của việc ăn uống ngon lành, sự ấm áp và nghỉ ngơi. Nhưng vào mùa hè, khi chúng tôi quay trở lại ngôi nhà, mặt trời vẫn chưa lặn; và trong lúc chúng tôi ở trên lầu ghé thăm dì Léonie, những tia nắng của nó, hạ thấp dần cho đến khi chạm và nằm vắt ngang bậu cửa sổ của dì, sẽ bị tóm gọn và giữ lại bởi lớp rèm trong dày cùng những dải băng buộc chúng vào tường, rồi bị tách nhỏ, phân tán và lọc qua; và cuối cùng, sẽ rủ xuống và khảm lên những thớ gỗ chanh của chiếc tủ đựng quần áo những mảnh vàng nhỏ xíu, chiếu sáng căn phòng trên đường đi của nó bằng chính những tia sáng dịu dàng, xiên xéo, đầy bóng râm rọi qua những thân cây trong rừng.
Nhưng vào một số ngày, dẫu rất hiếm hoi, chiếc tủ đựng quần áo từ lâu đã rũ sạch những món trang sức thoáng qua của nó, sẽ chẳng còn nữa, khi chúng tôi rẽ vào phố Rue du Saint-Esprit, bất kỳ ánh phản chiếu nào từ bầu trời phía tây đang bùng cháy dọc theo đường viền các ô cửa kính; mặt hồ bên dưới ngọn Calvary sẽ đánh mất ánh hào quang rực rỡ của nó, thậm chí đôi khi đã chuyển sang sắc trắng nhợt nhạt ánh xà cừ, trong khi một dải ruy-bông ánh trăng dài, bị uốn cong, đứt đoạn và bè ra bởi từng gợn sóng lăn tăn trên mặt nước, sẽ nằm vắt ngang qua nó, từ đầu này đến đầu kia. Rồi, khi chúng tôi đến gần ngôi nhà, chúng tôi sẽ nhận ra một bóng người đang đứng trên bậc cửa, và má tôi sẽ nói với tôi:
– Trời đất ơi! Có thím Françoise đang đứng ngóng chúng ta kìa; dì con chắc đang lo lắng lắm đây; thế là chúng ta về muộn rồi.
Và không lãng phí thời gian bằng cách dừng lại để cởi bỏ ‘đồ đạc’, chúng tôi sẽ bay vút lên lầu phòng dì Léonie để trấn an dì, để chứng minh cho dì thấy bằng sự hiện diện bằng xương bằng thịt rằng mọi tưởng tượng ảm đạm của dì đều sai lầm, rằng trái lại, chẳng có chuyện gì xảy ra với chúng tôi cả, mà chúng tôi đã đi theo ‘lối Guermantes’, vàạy chà, khi người ta đi dạo con đường ấy, dì tôi thừa biết rõ là chẳng bao giờ người ta có thể đoán trước được mấy giờ sẽ về đến nhà.
– Kia rồi, Françoise, – dì tôi sẽ nói, – chẳng phải ta đã bảo với bà là thế nào chúng cũng đi lối Guermantes rồi cơ mà! Chúa ơi! Chắc chúng đang đói lắm đây! Và đùi cừu ngon lành của bà sẽ khô khốc lên mất sau bao nhiêu tiếng đồng hồ chờ đợi thế này. Giờ giấc về cái nỗi gì thế này! Chà, hóa ra là đi lối Guermantes hả?
– Nhưng, thưa Léonie, em tưởng chị biết rồi chứ, – má tôi sẽ đáp. – Em cứ nghĩ là Françoise đã nhìn thấy chúng em ra đi bằng cánh cổng nhỏ qua ngõ vườn rau.
Bởi vì quanh vùng Combray có hai ‘lối đi’ mà chúng tôi thường chọn cho những buổi dạo chơi của mình, và chúng đối lập nhau đến mức chúng tôi thực sự rời khỏi nhà bằng hai cánh cửa khác nhau, tùy thuộc vào lối đi đã chọn: lối hướng về phía Méséglise-la-Vineuse, mà chúng tôi còn gọi là ‘lối Swann’, bởi vì để đến đó, người ta phải đi dọc theo biên giới điền trang của ông Swann, và ‘lối Guermantes’. Về phần Méséglise-la-Vineuse, thành thật mà nói, tôi chưa từng biết bất cứ điều gì ngoài con đường dẫn đến đó, và những con người kỳ lạ thường đến vào các ngày Chủ nhật để hít thở không khí ở Combray, những con người mà lúc này, cả dì tôi hay bất kỳ ai trong chúng tôi đều ‘hoàn toàn không quen biết’, và vì thế chúng tôi mặc định họ là ‘những kẻ hẳn phải từ Méséglise sang đây’. Còn về Guermantes, tôi rồi sẽ được biết nó tường tận vào một ngày nào đó, nhưng ngày ấy hãy còn ở tương lai; và suốt cả quãng đời thiếu niên của tôi, nếu như Méséglise đối với tôi là một thứ gì đó xa vời không thể với tới giống như chân trời, thứ vẫn ẩn khuất khỏi tầm mắt, dẫu người ta đi xa đến đâu đi nữa, bởi những nếp gấp của một vùng nông thôn chẳng còn chút điểm tương đồng nào với vùng quê quanh Combray; thì Guermantes, mặt khác, chẳng có ý nghĩa gì hơn là đích đến cuối cùng, mang tính lý tưởng nhiều hơn thực tế, của ‘lối Guermantes’, một thứ thuật ngữ địa lý trừu tượng giống như Bắc Cực hay Xích Đạo. Và thế nên việc ‘chọn lối Guermantes’ để đến Méséglise, hay ngược lại, sẽ có vẻ với tôi là một hành động vô nghĩa chẳng khác nào quay mặt về hướng đông để đi tới hướng tây. Vì bố tôi vẫn hay nói về ‘lối Méséglise’ như là nơi bao hàm cảnh quan đồng bằng đẹp nhất mà ông từng biết, và ‘lối Guermantes’ như là điển hình cho phong cảnh sông nước, tôi đã phủ lên mỗi lối đi ấy, bằng cách hình dung chúng theo cách đó như hai thực thể riêng biệt, thứ sự gắn kết, thứ sự thống nhất chỉ thuộc về những sản phẩm của trí tưởng tượng; chi tiết nhỏ nhặt nhất của cả hai dường như đối với tôi là một thứ quý giá, biểu trưng cho vẻ xuất sắc đặc biệt của toàn bộ thể thống nhất ấy, trong khi ngay bên cạnh chúng, trong những chặng đầu tiên của buổi dạo chơi, trước khi chúng tôi đặt chân lên mảnh đất linh thiêng của cái này hay cái kia, những con đường thuần túy vật chất, tại những điểm xác định trên đó chúng được thiết lập như là cảnh quan đồng bằng lý tưởng và khung cảnh sông nước lý tưởng, chẳng đáng để bận tâm ngắm nhìn hơn là đối với một kẻ cuồng kịch và yêu nghệ thuật sân khấu, những con phố nhỏ lướt qua những bức tường của một nhà hát. Nhưng trên hết thảy, tôi đặt giữa chúng, rõ rệt hơn rất nhiều so với khoảng cách tính bằng dặm, bằng thước và bằng tấc tách rời cái nọ với cái kia, là khoảng cách tồn tại giữa hai phần trong bộ não nơi tôi dùng để suy nghĩ về chúng, một trong những khoảng cách của tâm trí mà thời gian chỉ làm cho dài thêm, tách biệt những thứ ra xa nhau một cách không thể cứu vãn, giữ cho chúng mãi mãi nằm trên những bình diện khác nhau. Và sự phân biệt này càng trở nên tuyệt đối hơn bởi thói quen chúng tôi chưa bao giờ đi cả hai lối trong cùng một ngày, hay trong cùng một buổi dạo chơi, mà đi ‘lối Méséglise’ vào một dịp và ‘lối Guermantes’ vào dịp khác, đã giam hãm chúng lại, có thể nói như vậy, cách xa nhau và không hề hay biết sự tồn tại của nhau, bên trong những chiếc bình được bị kín – giữa chúng không thể có sự giao tiếp – của những buổi chiều riêng biệt.
Khi chúng tôi quyết định đi ‘lối Méséglise’ chúng tôi sẽ khởi hành (không quá vội vã, và ngay cả khi trời mây âm u, bởi vì quãng đường đi dạo không quá dài và không đưa chúng tôi đi quá xa nhà), tựa như thể chúng tôi không đi đâu cụ thể, qua cửa chính căn phòng của dì tôi mở ra phố Rue du Saint-Esprit. Chúng tôi sẽ được người thợ súng chào hỏi, chúng tôi sẽ thả thư vào hòm thư, chúng tôi sẽ nhắn Théodore, từ thím Françoise, khi đi ngang qua rằng thím đã hết dầu hay cà phê, và chúng tôi sẽ rời thị trấn bằng con đường chạy dọc theo hàng rào trắng của công viên ông Swann. Trước khi đến đó, chúng tôi sẽ được chào đón trên đường đi bởi hương thơm của những khóm cây tử đinh hương của ông, nở hoa ra chào đón người khách lạ. Từ trong những chiếc lá xanh tươi mơn mởn của tán lá, những đóa tử đinh hương tò mò vươn lên cao hơn hàng rào công viên những chùm hoa trắng hoặc tím của chúng, tỏa sáng rực rỡ, ngay cả trong bóng râm, dưới ánh nắng mặt trời mà chúng đã đắm mình. Một vài khóm trong số chúng, bị che khuất một phần bởi ngôi nhà lợp ngói nhỏ mang tên Nhà trọ Cung thủ, nơi người gác rừng của Swann sinh sống, vượt lên trên phần mái đầu hồi theo kiến trúc gothic bằng những tháp nhọn hồng thắm của chúng. Các nàng tiên mùa xuân có lẽ sẽ trông thô kệch và tầm thường nếu đem ra so sánh với những thiếu nữ phương Đông này, những kẻ vẫn giữ được, trong khu vườn Pháp này, sắc màu tinh khôi và sống động của một bức tranh thu nhỏ Ba Tư. Bất chấp mong muốn được vòng tay ôm lấy những thân hình uốn lượn ấy và kéo sát về phía mình những lọn tóc đầy sao vương miện trên cái đầu ngát hương thơm của chúng, chúng tôi vẫn lướt qua mà không dừng lại, bởi bố mẹ tôi đã ngừng đến thăm Tansonville kể từ cuộc hôn nhân của Swann, và để tránh bị coi là đangòm ngó công viên của ông, thay vì đi con đường chạy dọc theo ranh giới của nó rồi leo thẳng lên những cánh đồng rộng mở, chúng tôi lại chọn một con đường khác, dẫn đến cùng một hướng nhưng vòng vèo hơn, và đưa chúng tôi ra ngoài có phần hơi xa nhà.
Một hôm, ông ngoại bảo với bố tôi:
– Con không nhớ hôm qua Swann bảo rằng vợ và con gái ông ấy đã đi Reims và ông ấy nhân cơ hội này để dành một hai ngày ở Paris sao? Chúng ta có thể đi dọc theo công viên, vì các bà không có nhà; như thế sẽ ngắn hơn một chút đấy.
Chúng tôi dừng lại giây lát bên hàng rào. Mùa hoa tử đinh hương sắp tàn; một vài cái cây vẫn vươn cao, trong những chiếc chùm đèn màu tía cao ngất, những chùm nụ hoa bé nhỏ của chúng, nhưng ở nhiều nơi giữa tán lá, nơi chỉ một tuần trước, chúng vẫn còn bùng nổ trong những con sóng bọt thơm ngát, giờ đây chúng đã tàn lụi, quắt queo và đổi màu, một lớp bọt rỗng tuếch, khô khốc và không còn hương thơm. Ông ngoại chỉ cho bố tôi thấy những điểm nào về diện mạo của nơi này vẫn giữ nguyên và mức độ thay đổi của nó kể từ buổi dạo chơi mà ông từng đi cùng cụ Swann già, vào ngày vợ ông qua đời; và ông chớp lấy cơ hội để kể lại cho chúng tôi nghe, một lần nữa, câu chuyện về buổi dạo chơi đó.
Trước mặt chúng tôi, một con đường mòn viền đầy hoa mười giờ dốc đứng dưới ánh nắng gay gắt hướng về phía ngôi nhà. Nhưng bên tay phải chúng tôi, công viên trải dài tít tắp về phía xa, trên một mặt đất bằng phẳng. Bị che khuất bởi những thân cây cao đứng sát rạt nhau, một ‘hồ nước kiểng’ đã được tạo dựng bởi cha mẹ của Swann nhưng, ngay cả trong những kiến trúc nhân tạo nhất của ông, tự nhiên vẫn là chất liệu mà con người phải nhào nặn; một số điểm vẫn ngoan cố nằm bao quanh bởi những kẻ chư hầu thuộc chủ quyền đặc thù của chính chúng, và sẽ giương cao những ngọn cờ bất diệt của mình giữa toàn bộ phong cảnh ‘được thiết kế’ của một công viên, y như thể chúng đã làm thế ở xa mọi sự can thiệp của con người, trong một chốn cô tịch nơi vây quanh chúng phải quay trở lại nuốt chửng mọi thứ, vọt lên từ những nhu cầu của vị trí lộ thiên của chúng, và chồng chất lên trên công trình bàn tay con người. Và thế là ở chân con đường mòn dẫn xuống hồ nước nhân tạo này, người ta có thể nhìn thấy, trong hai tầng được dệt từ những đóa lưu ly bò lan ở dưới và những đóa hoa dừa cạn ở trên, chiếc vòng hoa bằng lăng tự nhiên, tinh tế bao bọc lấy vương miện sáng rực, râm mát của các nàng tiên nước; trong khi đó loài hoa diên vĩ, với những thanh gươm vung vẩy theo mọi hướng với sự sung túc vương giả, vươn dài qua khóm long nha thảo và hoa cúc vàng thủy sinh những chiếc quyền sộ bằng hoa huệ, những vinh quang rách nát sắc vàng và tím của vương quốc hồ nước.
Sự vắng mặt của tiểu thư Swann, thứ – vì nó cứu tôi khỏi nguy cơ khủng khiếp là nhìn thấy cô xuất hiện trên một trong những lối mòn, và bị nhận diện rồi khinh miệt bởi cô bé quá ư đặc quyền này, kẻ có Bergotte làm bạn và từng cùng ông đi thăm các nhà thờ – đã biến việc khám phá Tansonville, lần đầu tiên được phép đối với tôi, thành một điều chẳng mảy mây quan trọng, tuy nhiên lại dường như trùm lên điền trang, trong mắt ông và bố tôi, một vẻ quyến rũ mới mẻ và thoáng qua (giống như một bầu trời hoàn toàn không một gợn mây khi người ta leo núi) để biến ngày hôm nay trở nên vô cùng thuận lợi cho một buổi dạo chơi theo hướng này; tôi đã ước gì những phỏng đoán của họ chứng minh là sai sự thật, để nhìn thấy, một cách thần kỳ, tiểu thư Swann xuất hiện, cùng cha cô, ở ngay sát chúng tôi đến nỗi chúng tôi không kịp trốn chạy, và nhờ thế buộc phải làm quen với cô. Và thế nên, khi tôi bất chợt nhận ra một chiếc giỏ mút rơm nằm lãng quên trên thảm cỏ bên cạnh một sợi dây câu có phao đang nhấp nhô dưới mặt nước, tôi đã nỗ lực hết sức để giữ cho bố và ông ngoại nhìn về hướng khác, tránh xa dấu hiệu này cho thấy có khả năng cô thực sự có mặt ở nhà. Mặc dù vậy, vì Swann từng nói với chúng tôi rằng thực ra anh ấy không nên đi vắng vào lúc đó, vì anh có một số khách đang ở lại trong nhà, chiếc cần câu hoàn toàn có thể thuộc về một trong những vị khách đó. Không một tiếng bước chân nào vang lên trên bất kỳ lối mòn nào. Đâu đó trên một trong những thân cây cao, tạo nên một nấc thang trong chiều cao của nó, một con chim vô hình, đang tuyệt vọng cố gắng làm cho ban ngày trôi qua nhanh hơn, đang khám phá bằng một âm thanh dài, liên tục sự cô tịch đang đè ép nó từ mọi phía, nhưng nó lập tức nhận lại một câu trả lời đồng thanh đến thế, một sự vang vọng mạnh mẽ đến thế của sự tĩnh lặng và bất động đến nỗi người ta sẽ phải thốt lên rằng, nó đã đóng băng vĩnh viễn khoảnh khắc mà nó đang cố gắng làm cho trôi qua nhanh hơn. Ánh nắng rọi xuống một cách không khoan nhượng từ một bầu trời cố định đến nỗi người ta tự nhiên nghiêng về phía muốn lẩn trốn khỏi tầm với của những sự chăm sóc ấy, và thậm chí mặt nước đang ngủ say, sự yên tĩnh của nó bị xâm lấn liên tục bởi lũ côn trùng đang lúc nhúc bên trên bề mặt của nó, trong lúc mơ màng, không nghi ngờ gì nữa, về một dòng xoáy nước tưởng tượng nào đó, lại càng làm gia tăng sự bất an mà hình ảnh chiếc phao nổi bồng bềnh ấy đã gây ra trong tôi, bằng cách dường như kéo nó đi với tốc độ tối đa băng qua những dải rộng tĩnh lặng của một bầu trời được phản chiếu gương soi; giờ đây gần như thẳng đứng, nó trông như sắp cắm đầu chìm khuất khỏi tầm mắt, và tôi bắt đầu tự hỏi bản thân liệu, gạt sang một bên nỗi khao khát và sự kinh hãi khi muốn làm quen với cô, có phải thực chất đó là bổn phận của tôi khi phải cảnh báo tiểu thư Swann rằng cá đang cắn câu hay không – thì tôi buộc phải chạy theo bố và ông ngoại, những người đang gọi tôi, và ngạc nhiên vì tôi không đi theo họ dọc theo con đường mòn nhỏ, leo dốc hướng lên những cánh đồng rộng mở, nơi họ đã rẽ vào từ trước.
Tôi thấy toàn bộ con đường mòn đang rung lên vì hương thơm của hoa táo gai. Hàng rào trông giống như một loạt những nhà nguyện, nơi những bức tường không còn nhìn thấy được bên dưới những núi hoa chất đống trên bệ thờ của chúng; trong khi ở phía dưới, mặt trời hắt một ô sáng xuống mặt đất, y như thể nó chiếu rọi vào bên trong chúng qua một ô cửa sổ; hương thơm quét qua người tôi từ chúng nồng nàn và bị giới hạn trong phạm vi của nó, y như thể tôi đang đứng trước bàn thờ Đức Mẹ, và những bản thân những đóa hoa, cũng được trang hoàng lộng lẫy, chìa ra mỗi cái từng chùm nhụy hoa lấp lánh với vẻ hờ hững, những 'sân kinh' mảnh mai, tỏa ra theo phong cách kiến trúc sặc sỡ, giống như những thứ trong nhà thờ đóng khung lối lên gác xép hay đóng kín tracery vuông góc của các ô cửa sổ, nhưng ở đây lại tràn lan thành những vũng trắng thịt thảm, giống như những luống dâu tây vào mùa xuân. Trông chúng mới mộc mạc và giản dị làm sao, khi so sánh với những đóa hồng dại, những thứ chỉ vài tuần nữa thôi sẽ leo lên cùng một con đường sườn đồi dưới cái nóng của mặt trời, khoác lên mình lớp lụa mịn của những chiếc áo cánh hồng ửng rực rỡ của chúng, thứ sẽ bị bung ra và phân tán bởi hơi thở đầu tiên của gió.
Nhưng thật vô ích khi tôi cứ nán lại trước những đóa măng tây gai, để hít hà, để sắp xếp trước tâm trí (thứ chẳng biết phải làm gì với nó), để đánh mất rồi tìm lại mùi hương vô hình và bất biến của chúng, để đắm chìm vào nhịp điệu sắp đặt những đóa hoa của chúng chỗ này chỗ kia với sự nhẹ nhõm của tuổi trẻ, và ở những khoảng cách bất ngờ như một số quãng nghỉ trong âm nhạc; chúng mang lại cho tôi sự tiếp nối vô tận của cùng một vẻ quyến rũ, trong một sự phong phú vô tận, nhưng không để tôi có thể đào sâu hơn vào đó nữa, giống như những giai điệu mà người ta có thể chơi đi chơi lại hàng trăm lần liên tiếp mà chẳng tiến lại gần hơn chút nào với bí mật của chúng. Tôi quay đi khỏi chúng trong khoảnh khắc để có thể quay trở lại với nguồn sức mạnh mới mẻ. Đôi mắt tôi dõi theo sườn dốc, bên ngoài hàng rào, dốc đứng lên những cánh đồng, một đóa hoa anh túc lạc lối và bị bỏ quên bởi những người bạn đồng hành, hoặc vài đóa hoa ngô tụt lại phía sau một cách uể oải, trang trí mặt đất chỗ này chỗ kia bằng những đóa hoa của chúng giống như viền của một tấm thảm, trong đó người ta có thể nhận thấy ở những khoảng cách đều đặn dấu vết của chủ đề mộc mạc xuất hiện đầy đắc thắng trong chính tấm thảm; vẫn thưa thớt, cách quãng như những ngôi nhà rải rác cảnh báo chúng ta rằng chúng ta đang đến gần một ngôi làng, chúng báo hiệu cho tôi không gian bao la của những cánh đồng lúa mì đang uốn lượn bên dưới những đám mây lông cừu, và khung cảnh của một đóa anh túc đơn độc đang giương cao trên giàn xỏ mảnh khảnh của nó và chống lại gió lá cờ đỏ thắm của nó, trên chiếc phao đất đen màu mỡ mà từ đó nó vọt lên, khiến tim tôi đập thình thịch y như tim của một kẻ lữ hành khi gã nhận ra, trên một vùng đất trũng nào đó, một chiếc thuyền cũ kỹ đã vỡ đang được trét lại và làm cho đủ sức đi biển, và thét lên, dẫu gã vẫn chưa nhìn thấy nó, “Biển kìa!”
Và rồi tôi quay lại với những đóa măng tây gai của mình, và đứng trước chúng giống như người ta đứng trước những kiệt tác hội họa mà, người ta tưởng tượng, mình sẽ có thể ‘cảm nhận’ tốt hơn khi nhìn sang chỗ khác trong khoảnh khắc; nhưng thật vô ích khi tôi khum các ngón tay thành khung hình, để không có gì ngoài những đóa măng tây gai trước mắt; cảm xúc mà chúng khơi dậy trong tôi vẫn mờ mịt và mơ hồ, chật vật và thất bại trong việc tự giải phóng, để trôi qua và hòa nhập vào những đóa hoa. Bản thân chúng chẳng mang lại cho tôi sự bừng ngộ nào, và tôi không thể kêu gọi bất kỳ đóa hoa nào khác để thỏa mãn nỗi khao khát huyền bí này. Và rồi, truyền cho tôi niềm ngây ngất mà chúng ta cảm nhận được khi nhìn thấy một tác phẩm của họa sĩ ưa thích hoàn toàn khác biệt với bất kỳ tác phẩm nào chúng ta đã biết, hay tuyệt vời hơn nữa, khi ai đó dắt chúng ta đặt trước một bức tranh mà trước đó chúng ta chưa từng thấy gì ngoài một bản phác thảo bằng chì, hoặc khi một đoạn âm nhạc mà chúng ta từng nghe chơi trên đàn piano bỗng bùng nổ trở lại bên tai với toàn bộ sự lộng lẫy và đầy đặn của một dàn nhạc, ông ngoại gọi tôi lại gần, và chỉ tay về phía hàng rào Tansonville, nói:
– Cháu thích hoa măng tây gai lắm phải không; hãy nhìn đóa hoa màu hồng này đi; chẳng phải nó rất đẹp sao?
Và đó quả thực là một đóa măng tây gai, nhưng có những cánh hoa màu hồng, và thậm chí còn đáng yêu hơn cả hoa trắng. Nó cũng xúng xính trong trang phục lễ hội, dành cho một trong những ngày thực sự là ngày lễ đích thực, những ngày lễ thánh của tôn giáo, bởi vì chúng không được định sẵn bởi bất kỳ tai nạn tùy tiện nào, như những ngày lễ thế tục được định sẵn, vào những ngày không được quy định đặc biệt cho những nghi lễ như thế, chẳng có gì mang bản chất lễ hội – nhưng nó thậm chí còn được trang hoàng lộng lẫy hơn những đóa khác, bởi vì những đóa hoa bám lấy cành của nó, lớp này chồng lên lớp khác, dày đặc đến mức không chừa lại phần nào của cái cây không được trang trí, giống như những chiếc tua rua quấn quanh chiếc gậy của một nàng mục đồng theo phong cách rococo, tất cả chúng đều ‘có màu sắc’, và hệ quả là có chất lượng vượt trội, theo tiêu chuẩn thẩm mỹ của Combray, so với hoa ‘thường’, nếu đánh giá theo thang giá cả tại các ‘cửa hàng’ ở Quảng trường, hoặc tại tiệm Camus, nơi những chiếc bánh quy đắt tiền nhất là những chiếc có đường màu hồng. Và về phần mình, tôi đánh giá cao phô mai kem hơn khi nó có màu hồng, khi tôi được phép nhuộm nó bằng dâu tây nghiền nát. Và những đóa hoa này đã chọn chính xác màu sắc của một thứ gì đó ngon lành có thể ăn được, hoặc của một sự bổ sung tinh tế cho trang phục của ai đó trong một dịp lễ lớn, những màu sắc ấy, chừng nào chúng làm sáng tỏ lý do cho sự vượt trội của chúng, là những thứ có vẻ đẹp hiển hiện nhất đối với mắt trẻ thơ, và vì lý do đó sẽ luôn có vẻ sống động và tự nhiên hơn bất kỳ sắc thái nào khác, ngay cả sau khi tâm trí đứa trẻ đã nhận ra rằng chúng không mang lại sự thỏa mãn nào cho vị giác, và không được chọn bởi người thợ may.
Và quả thực, tôi đã cảm nhận ngay lập tức, giống như trước những đóa hoa trắng, nhưng giờ đây còn kinh ngạc hơn nữa, rằng không phải bằng một phương thức nhân tạo nào, không phải bằng bất kỳ mưu mẹo kiến tạo nào của con người, mà ý định lễ hội của những đóa hoa này được hé lộ, mà chính là Bản thân Tự nhiên đã tự phát bày tỏ điều đó (với sự giản dị của một người phụ nữ từ một cửa hàng làng xã, đang miệt mài trang trí một bệ thờ đường phố cho một cuộc rước xá nào đó) bằng cách chôn vùi bụi cây vào những chiếc nơ hoa nhỏ xíu này, gần như quá mê hoặc về màu sắc, cái ‘pompadour’ mộc mạc này. Trên cao cành cây, giống như vô số những cây hoa hồng nhỏ bé ấy, những cái chậu của chúng được giấu trong những chiếc áo khoác bằng ren giấy, những thân cây mảnh mai mọc lên như một khu rừng từ bệ thờ vào các dịp lễ lớn, hàng ngàn nụ hoa đang phồng lên và hé nở, màu sắc nhạt hơn nhưng mỗi cái đều hé lộ khi bung nở, hệt như ở đáy của một chiếc chén bằng cẩm thạch hồng, vết máu đỏ của nó, và gợi ý thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả những đóa hoa nở rộ về phẩm chất đặc biệt, không thể cưỡng lại của cây măng tây gai, nơi nào nó đâm nụ, nơi nào nó sắp ra hoa, đều có thể đâm nụ và ra hoa duy nhất bằng những đóa hoa hồng. Chiếm vị trí trong hàng rào, nhưng khác biệt so với phần còn lại giống như một thiếu nữ xúng xính trong trang phục lễ hội giữa đám đông những người phụ nữ xuề xòa trong trang phục thường ngày, những người đang ở nhà, được trang bị và sẵn sàng cho ‘Tháng của Đức Mẹ’, thứ mà nó dường như đã hình thành một phần từ trước, nó tỏa sáng và mỉm cười trong bộ trang phục tươi mát, ửng hồng của mình, một bụi cây Công giáo thực sự, và hoàn toàn đáng yêu.
Hàng rào cho phép chúng tôi thoáng nhìn thấy, bên trong công viên, một lối đi viền đầy hoa nhài, hoa păng-xê và hoa cỏ roi ngựa, giữa những chiếc cây rọi mở ra những chiếc ví căng tròn tươi mát của chúng, mang sắc hồng ngát hương và phai nhạt như da thuộc Tây Ban Nha cổ, trong khi trên con đường rải sỏi, một ống nước tưới dài, sơn màu xanh lá cây, cuộn ngoằn ngoèo trên mặt đất, tuôn trào, ở những chỗ thủng của nó, lên những khóm hoa mà hương thơm của chúng được những lỗ thủng ấy hít vào, một chiếc quạt thẳng đứng và lăng kính gồm vô số những giọt nước nhỏ li ti đa sắc màu cầu vồng. Bất chợt tôi đứng sững lại, không thể nhúc nhích, giống như điều xảy ra khi có một thứ gì đó xuất hiện đòi hỏi không chỉ đôi mắt của chúng ta tiếp nhận nó mà còn bao hàm một dạng nhận thức sâu sắc hơn và chiếm hữu toàn bộ bản thể chúng ta. Một cô bé, tóc vàng hung, trông như đang trên đường đi dạo về, và cầm một chiếc bay làm vườn trên tay, đang nhìn chúng tôi, ngước lên về phía chúng tôi một khuôn mặt lấm chấm tàn nhang hồng nhạt. Đôi mắt đen của cô lánh ánh, và vì lúc đó tôi không biết, và thực sự chưa bao giờ học được cách quy giản thành các yếu tố khách quan của nó bất kỳ ấn tượng mạnh mẽ nào, vì tôi không có, như người ta vẫn nói, đủ ‘khả năng quan sát’ để cô lập cảm giác về màu sắc của chúng, nên suốt một thời gian dài sau này, bất cứ khi nào nghĩ đến cô, ký ức về đôi mắt sáng ngời ấy sẽ ngay lập tức hiện lên trong tôi như một sắc xanh da trời sống động, vì làn da cô rất trắng; đến mức có lẽ, nếu đôi mắt cô không quá đen – thứ đập vào mắt mạnh mẽ nhất khi lần đầu gặp gỡ – thì tôi đã không, như tôi từng thế, đặc biệt say đắm cái màu xanh tưởng tượng của chúng.
Tôi ngắm nhìn cô, thoạt đầu với ánh mắt không đơn thuần là một sứ giả từ đôi mắt, mà nơi khung cửa của nó tất cả các giác quan tụ họp và chồm người ra, hóa đá và lo âu, ánh mắt muốn vươn tới, chạm vào, tóm lấy, mang đi chiến thắng cơ thể mà nó nhắm đến, và cả tâm hồn cùng với cơ thể; rồi (vì tôi quá sợ hãi nhỡ bất kỳ lúc nào bố và ông ngoại, bắt gặp cô bé, sẽ giật phắt tôi đi khỏi cô, bằng cách bắt tôi chạy nhanh vượt lên trước họ) với một ánh mắt khác, một ánh mắt thỉnh cầu vô thức, có mục đích ép cô phải chú ý đến tôi, nhìn tôi, biết đến tôi. Cô liếc nhanh về phía trước và sang bên, để đánh giá bố và ông ngoại tôi, và không nghi ngờ gì nữa ấn tượng cô hình thành về họ là tất cả chúng tôi đều là những kẻ ngớ ngẩn, bởi vì cô quay đi với vẻ mặt thờ ơ và khinh miệt, rút lui để tha cho khuôn mặt mình sự sừng sượng khi phải ở lại trong tầm mắt của họ; và trong lúc họ, tiếp tục đi bộ mà không để ý đến cô, đã bắt kịp và vượt qua tôi, cô thả cho ánh mắt mình lang thang, qua khoảng không gian nằm giữa chúng tôi, về hướng tôi, không có biểu cảm đặc biệt nào, không có vẻ như đã nhìn thấy tôi, nhưng với một cường độ, một nụ cười ẩn giấu một phần mà tôi không thể lý giải, theo những chỉ dẫn mà tôi từng nhận được trong cung cách giáo dục nhã nhặn, ngoài một dấu hiệu của sự ghê tởm vô tận; và bàn tay cô, cùng lúc đó, phác họa trong không gian một cử chỉ bất nhã, thứ mà khi nó được hướng trực tiếp ở nơi công cộng tới một người mà người ta không quen biết, cuốn từ điển nhỏ về phép xã giao mà tôi mang theo trong tâm trí chỉ cung cấp một ý nghĩa duy nhất, đó là một hành động lăng mạ có chủ ý.
– Gilberte, lại đây nào; con đang làm gì thế? – một giọng nữ quyền uy the thé vang lên từ một phụ nữ mặc đồ trắng mà tôi chưa từng thấy cho đến khoảnh khắc đó, trong khi, cách cô ấy một đoạn ngắn, một quý ông mặc bộ đồ vải ‘duck’ linen, người mà tôi cũng không quen biết, trừng trừng nhìn tôi bằng đôi mắt có vẻ như muốn lồi cả ra ngoài; nụ cười của cô bé bỗng chốc vụt tắt, và, chộp lấy chiếc bay, cô chuồn mất không thèm quay đầu nhìn lại về hướng tôi, với một vẻ vâng lời, đầy khó hiểu và ma mãnh.
Và thế là cái tên Gilberte văng vẳng bên tai tôi, được ban tặng cho tôi như một lá bùa hộ mệnh có lẽ sẽ cho phép tôi một ngày nào đó tìm lại được người mà những âm tiết của cô vừa trao cho một nhân dạng rõ ràng, trong khi một khoảnh khắc trước, cô chỉ là một thứ gì đó được nhìn thấy mờ ảo. Nó đến với tôi, được thốt lên vượt qua những cụm hoa cây mộc tê và hoa nhài, hăng nồng và tươi mát như những giọt nước rơi xuống từ ống nước tưới màu xanh lá cây; thấm đẫm và tỏa sáng vùng không khí trong lành mà nó đã đi qua, thứ mà nó tách biệt và cô lập khỏi mọi bầu không khí khác, với sự huyền bí về cuộc đời của người mà những âm tiết của nó chỉ định cho những sinh linh hạnh phúc sống, đi lại và du hành cùng bầu bạn với cô; mở ra qua khung vòm của đóa măng tây gai màu hồng, thứ hé nở ngang tầm vai tôi, tinh hoa của sự thân mật của họ – đau đớn đến nao lòng đối với chính tôi – với cô, và với tất cả thế giới vô danh thuộc về sự tồn tại của cô, nơi tôi sẽ chẳng bao giờ đặt chân tới.
Trong khoảnh khắc (trong lúc chúng tôi bước đi xa dần, và ông ngoại lẩm bẩm: “Tội nghiệp Swann, họ đang đày đọa anh ta thế đấy; lại còn bắt anh ta đi vắng để cô ta ở lại một mình với Charlus – vì đó chính là Charlus: ta nhận ra ngay lập tức! Và cả đứa trẻ nữa; ở tuổi của nó, lại bị lôi kéo vào mớ hỗn độn đó!”) ấn tượng đọng lại trong tôi bởi giọng điệu hách dịch mà mẹ của Gilberte dùng để nói với cô, mà cô không hề đáp lời, bằng cách phơi bày cô cho tôi thấy như là kẻ buộc phải tuân theo sự sai khiến của người khác, như thể thực sự không phải là kẻ vượt trội hơn toàn bộ thế giới, đã xoa dịu những tổn thương của tôi phần nào, nhen nhóm lại chút hy vọng trong tôi, và làm dịu bớt ngọn lửa ái tình của tôi. Nhưng rất nhanh chóng, mối tình ấy lại trào dâng trong tôi như một phản ứng mà qua đó trái tim bị sỉ nhục của tôi đang cố gắng vươn lên ngang tầm với Gilberte, hoặc kéo cô xuống ngang mức của mình. Tôi yêu cô; tôi tiếc nuối vì đã không có đủ thời gian và cảm hứng để lăng mạ cô, để gây ra cho cô chút tổn thương nào đó, để ép cô phải giữ lại ký ức gì đó về tôi. Tôi biết cô xinh đẹp đến mức tôi ước gì mình có thể quay ngược bước chân để vung nắm đấm vào cô và thét lên, “Tôi thấy cô thật gớm ghiếc, dị hợm; cô đúng là đồ tởm lợm!” Tuy nhiên, tôi vẫn bước đi, mang theo bên mình, lúc đó và mãi mãi về sau, như minh họa đầu tiên cho một kiểu hạnh phúc bị tước đoạt đối với một cậu bé như tôi bởi những quy luật tự nhiên nhất định không tài nào vượt qua nổi, bức tranh về một cô bé tóc màu hung, với làn da lấm chấm tàn nhang hồng li ti, tay cầm chiếc bay làm vườn, và mỉm cười khi hướng về phía tôi một cái nhìn dài, tinh tế và vô biểu cảm.
Và giờ đây vẻ quyến rũ mà cái tên của cô, tựa như một đám mây trầm hương, đã lấp đầy khung vòm trong bụi măng tây gai màu hồng ấy nơi cô và tôi từng cùng nhau nghe thấy âm thanh của nó, đã bắt đầu chinh phục, bao trùm, ướp hương, làm đẹp mọi thứ mà nó có ông bà của cô, những người mà ông bà tôi đã vô cùng may mắn khi quen biết, nghề nghiệp lừng lẫy của một nhà môi giới chứng khoán, thậm chí cả khu phố sầu thảm dọc theo đại lộ Champs-Elysées, nơi cô sinh sống ở Paris.
– Léonie, – ông ngoại nói khi chúng tôi về đến nhà, – ước gì em có mặt cùng chúng tôi chiều nay. Em sẽ chẳng tài nào nhận ra Tansonville đâu. Nếu can đảm hơn một chút, anh đã cắt cho em một nhánh hoa măng tây gai màu hồng mà em từng thích đến thế rồi.
Và thế là ông ngoại kể cho dì nghe câu chuyện về buổi dạo chơi của chúng tôi, hoặc chỉ để làm dì vui, hoặc có lẽ bởi vì vẫn còn chút hy vọng rằng dì sẽ được kích thích để nhượng bộ việc rời khỏi giường và bước ra ngoài trời. Bởi vì những ngày trước đây dì từng rất yêu thích Tansonville, hơn nữa, những chuyến thăm của Swann là những lần hiếm hoi dì vẫn tiếp tục tiếp đón, vào thời điểm mà dì đã đóng cửa từ lâu đối với tất cả mọi người. Và y như lúc, khi ông ghé thăm, trong những ngày gần đây này (và dì vẫn là người duy nhất trong hộ gia đình chúng tôi mà ông gặng hỏi để gặp), dì sẽ sai người nhắn xuống rằng dì hiện đang mệt và đang nghỉ ngơi, nhưng sẽ rất vui lòng được tiếp đón ông vào dịp khác, thì tối nay, dì bảo với ông ngoại:
– Vâng, một ngày nào đó khi thời tiết đẹp, em sẽ đi xe ngựa ra đến tận cổng công viên.
Và khi thốt lên điều này, dì hoàn toàn chân thành. Dì rất muốn được nhìn thấy lại Swann và Tansonville; nhưng chỉ riêng mong muốn đó thôi cũng đủ vắt kiệt tất cả phần sức lực còn lại của dì, thứ mà việc thực hiện nó sẽ còn vắt kiệt nhiều hơn thế. Đôi khi một đợt thời tiết đẹp khiến dì tràn đầy năng lượng hơn một chút, dì sẽ trở dậy và mặc quần áo; nhưng trước khi kịp ra đến căn phòng bên ngoài, dì lại ‘mệt’ trở lại, và khăng khăng đòi quay về giường. Quá trình bắt đầu diễn ra trong cơ thể dì – và ở dì chỉ sớm hơn một chút so với điều phải đến với tất cả chúng ta – chính là sự từ bỏ lớn lao và tổng quát mà tuổi già thực hiện để chuẩn bị cho cái chết, giai đoạn nhộng của cuộc đời, thứ có thể quan sát thấy ở bất cứ nơi nào cuộc đời bị kéo dài quá mức; ngay cả ở những đôi tình nhân già từng sống vì nhau với cường độ đam mê tột độ, và ở những người bạn già gắn kết bởi những mối dây đồng điệu tinh thần khăng khít nhất, những kẻ sau một năm nhất định nào đó, ngừng thực hiện chuyến hành trình cần thiết, hay thậm chí ngừng băng qua đường để gặp nhau, ngừng thư từ qua lại, và biết rõ rằng họ sẽ chẳng thể giao tiếp thêm lần nào nữa trên thế gian này. Dì tôi chắc hẳn phải nhận thức rõ ràng rằng dì sẽ không bao giờ gặp lại Swann nữa, rằng dì sẽ chẳng bao giờ rời khỏi ngôi nhà của mình thêm lần nào nữa, nhưng sự cô lập tột cùng này dường như được dì đón nhận một cách dễ dàng hơn vì chính lý do đáng lẽ phải làm cho nó trở nên không thể dung thứ được trong tâm trí chúng tôi; cụ thể là, sự cô lập ấy bị áp đặt lên người dì bởi sự suy giảm dần dần và đều đặn trong sức lực mà dì có thể tự đo lường hàng ngày, thứ mà bằng cách biến mọi hành động, mọi cử động trở nên ‘mệt mỏi’ đối với dì dẫu không hoàn toàn đau đớn, đã mang lại cho sự bất động, sự cô lập và thinh lặng thứ sức quyến rũ diễm phúc, củng cố và làm sảng khoái của sự nghỉ ngơi.
Dì tôi không đi xem nhánh hoa măng tây gai màu hồng ở hàng rào, nhưng vào mọi thời điểm trong ngày, tôi đều gặng hỏi phần còn lại của gia đình xem dì có đi không, có phải ngày trước dì vẫn hay đến Tansonville không, cố gắng bắt họ nói về cha mẹ và ông bà của tiểu thư Swann, những người hiện lên trong tâm trí tôi vĩ đại và lừng lẫy tựa như các vị thần. Cái tên Swann, thứ đối với tôi đã trở thành gần như thần thoại – khi tôi trò chuyện với gia đình, tôi sẽ phát ốm vì khao khát được nghe họ thốt lên nó; tôi không dám tự mình phát âm nó, nhưng tôi sẽ lôi kéo họ vào một cuộc thảo luận về những vấn đề dẫn dắt một cách tự nhiên đến Gilberte và gia đình cô, những thứ mà cô có nhúng tay vào, trong khi nói về chúng, tôi sẽ cảm thấy bản thân mình không bị đày ải quá xa khỏi sự đồng hành của cô; và tôi sẽ bất chợt ép bố tôi (bằng cách vờ như, ví dụ, tin rằng cơ nghiệp của ông ngoại thuộc về gia đình chúng tôi từ trước thời ông, hoặc cái hàng rào có nhánh hoa măng tây gai màu hồng mà dì Léonie muốn đến thăm nằm trên phần đất chung) đính chính những tuyên bố của tôi, nói rằng, giống như phản đối tôi và hoàn toàn tự nguyện:
– Không, không, cơ nghiệp ấy thuộc về cha của Swann, hàng rào đó là một phần công viên của Swann.
Và rồi tôi sẽ buộc phải ngừng lại để lấy hơi; nghẹt thở biết bao là áp lực, đè nặng lên phần đó trong tôi nơi nó được khắc ghi vĩnh viễn, của cái tên đó, vào khoảnh khắc tôi nghe thấy nó, có vẻ đầy đặn hơn, kỳ vĩ hơn bất kỳ cái tên nào khác, bởi vì nó mang nặng sức nặng của tất cả những dịp mà tôi từng thốt lên nó một cách bí mật trong tâm trí. Nó mang lại cho tôi một niềm vui mà tôi thấy hổ thẹn vì đã dám đòi hỏi từ cha mẹ, bởi vì nó lớn lao đến mức việc mang lại nó cho tôi hẳn phải đòi hỏi họ một sự nỗ lực vô tận, và chẳng có chút đền đáp nào, bởi vì đối với họ chẳng có niềm vui nào trong âm thanh ấy cả. Và thế nên tôi sẽ thận trọng chuyển hướng câu chuyện. Và cũng bởi một sự cắn rứt lương tâm. Tất cả những sự quyến rũ kỳ lạ mà tôi đã tích trữ trong âm thanh của cái tên Swann ấy, tôi lại tìm thấy ngay khi nó được thốt lên. Và rồi tôi chợt nhận ra rằng bố mẹ tôi không thể nào không trải qua những cảm xúc tương tự, rằng họ hẳn phải thấy mình chia sẻ quan điểm của tôi, rằng họ nhận thức được theo lượt của họ, rằng họ dung túng, rằng họ thậm chí ôm ấp những khát khao ảo tưởng của tôi, và tôi đau khổ y như thể mình đã cướp đoạt và làm vấy bẩn sự ngây thơ trong trái tim họ.
Năm đó gia đình tôi ấn định ngày trở về Paris sớm hơn thường lệ. Vào buổi sáng ngày khởi hành, tôi đã được uốn tóc để sẵn sàng đối mặt với thợ ảnh, được đội cẩn thận một chiếc cài mũ mới trên đầu, và được cài khuy vào chiếc áo khoác nhung; một lát sau má tôi, sau khi tìm kiếm khắp nơi, đã tìm thấy tôi đang đứng đầm đìa nước mắt trên sườn đồi nhỏ dốc đứng gần Tansonville, đang nói lời từ biệt dài đằng đẵng với những nhánh hoa măng tây gai của mình, ôm chặt những cành gai nhọn vào ngực (giống như một nàng công chúa trong bi kịch, bị áp bức bởi sức nặng của tất cả những món trang sức vô lý của mình) mà không hề có chút lòng biết ơn nào đối với bàn tay nhiệt tình đã, trong lúc uốn những lọn tóc ấy, đã nhọc công gom nhược toàn bộ tóc tôi lên trán; giẫm đạp lên những tờ giấy uốn tóc mà tôi đã giật phăng khỏi đầu và cả chiếc mũ mới cùng với chúng. Má tôi hoàn toàn không mủi lòng trước những giọt nước mắt của tôi, nhưng bà không thể kìm ném được một tiếng thét khi nhìn thấy chiếc mũ móp méo và chiếc áo khoác tơi tả của tôi. Tuy nhiên, tôi chẳng nghe thấy bà.
– Ôi, những đóa măng tây gai tội nghiệp của tôi ơi, – tôi đang trấn an chúng qua những tiếng nấc, – không phải các cậu muốn làm tôi đau khổ, muốn ép tôi phải rời xa các cậu đâu. Các cậu, các cậu chưa từng làm hại tôi bao giờ. Thế nên tôi sẽ mãi mãi yêu thương các cậu.
Và gạt nước mắt, tôi hứa với chúng rằng, khi tôi lớn lên, tôi sẽ không bao giờ bắt chước tấm gương ngớ ngẩn của những kẻ khác, mà ngay cả ở Paris, vào những ngày xuân đẹp trời, thay vì đi thăm hỏi và lắng nghe những lời nhảm nhí, tôi sẽ thực hiện những chuyến du ngoạn ra vùng nông thôn để ngắm nhìn những khóm măng tây gai đầu tiên nở hoa.
Một khi đã ra đến những cánh đồng, chúng tôi không bao giờ rời khỏi chúng trong suốt phần còn lại của buổi dạo chơi Méséglise. Chúng bị cắt ngang liên tục, hệt như bởi những dòng xe cộ vô hình, bởi ngọn gió, thứ đối với tôi là vị thần hộ mệnh của Combray. Mỗi năm, vào ngày chúng tôi đến nơi, để cảm thấy rằng mình thực sự đang ở Combray, tôi sẽ leo lên ngọn đồi để tìm kiếm nó đang lướt qua quần áo tôi một lần nữa, và cuốn tôi chạy theo vạt áo nó. Người ta luôn có ngọn gió làm bạn đồng hành khi đi ‘lối Méséglise’, trên vùng đồng bằng nhô cao trải dài, dặm nối dặm, không một sự xáo trộn nào trên những đường viền dịu dàng của nó. Tôi biết rằng tiểu thư Swann thường đến và dành vài ngày ở Laon, và mặc dù nó cách xa hàng dặm, khoảng cách ấy bị xóa bỏ bởi sự vắng mặt của bất kỳ chướng ngại vật nào can thiệp; vào những buổi chiều nóng nực, khi tôi nhìn thấy một làn gió xuất hiện từ chân trời xa xôi nhất, uốn cong những ngọn lúa mì trên những cánh đồng xa, tràn qua như lũ lụt trên toàn bộ không gian bao la ấy, và cuối cùng ổn định lại, ấm áp và xào xạc, giữa cỏ ba lá và cỏ linh lăng dưới chân tôi, vùng đồng bằng vốn là của chung đôi chúng tôi khi ấy dường như kéo chúng tôi lại gần nhau, hợp nhất chúng tôi; tôi sẽ tưởng tượng rằng chính làn gió ấy cũng từng lướt qua cô ấy, rằng có thông điệp gì đó từ cô ấy trong những gì nó đang thì thầm với tôi, mà tôi không tài nào hiểu nổi, và tôi sẽ tóm lấy và hôn nó khi nó lướt qua. Bên trái tôi là một ngôi làng mang tên Champieu (Campus Pagani, theo lời cha xứ). Bên phải tôi, tôi có thể nhìn thấy qua những cánh đồng lúa mì hai ngọn tháp nhọn mộc mạc mang các họa tiết chạm trổ của nhà thờ Saint-André-des-Champs, bản thân chúng thuôn nhọn, có vẩy, được mạ, tổ ong, ngả vàng và sần sùi hệt như hai bông lúa mì.
Ở những khoảng cách đều đặn, giữa những lớp trang trí có một không hai trên lá của chúng, thứ không thể nhầm lẫn với bất kỳ cây ăn trái nào khác, những cây táo đang phơi bày những cánh hoa rộng bằng lụa trắng, hoặc rủ xuống thành từng chùm rụt rè những nụ hoa chưa nở còn ửng hồng. Chính trong lúc đi ‘lối Méséglise’ lần đầu tiên tôi chú ý đến chiếc bóng hình tròn mà những cây táo hắt xuống mặt đất ngập nắng, và cả những sợi tơ vàng vô hình ấy mà mặt trời lặn dệt xéo xuống từ bên dưới những tán lá của chúng, và tôi sẽ nhìn thấy bố mình chém phăng qua chúng bằng chiếc gậy dâng tay mà chẳng hề khiến chúng chệch khỏi đường thẳng tắp của mình.
Đôi khi trên bầu trời buổi chiều một vầng trăng trắng sẽ nhô lên như một đám mây nhỏ, lén lút, không phô trương, gợi nhớ đến một nữ diễn viên không có phần diễn xuất trong một lúc, thế nên cô ta bước ra ‘phía trước’ trong trang phục thường ngày để ngắm nhìn phần còn lại của đoàn kịch trong chốc lát, nhưng nấp ở phía sau, không muốn thu hút sự chú ý vào bản thân. Tôi rất vui khi tìm thấy hình ảnh của cô được tái hiện trong sách vở và tranh vẽ, dẫu rằng những tác phẩm nghệ thuật này rất khác biệt – ít nhất là trong những năm tháng đầu đời của tôi, trước khi Bloch điều chỉnh đôi mắt và tâm trí tôi hướng tới những hòa âm tinh tế hơn – so với những tác phẩm mà ở đó mặt trăng có vẻ đẹp đối với tôi ngày nay, nhưng tôi sẽ không nhận ra cô lúc đó. Đó có thể là, ví dụ, một cuốn tiểu thuyết nào đó của Saintine, một bức phong cảnh của Gleyre, trong đó cô hiện lên sắc nét trên bầu trời, dưới hình hài một lưỡi liềm bạc, một tác phẩm thô sơ và chưa hoàn thiện hệt như những ấn tượng của riêng tôi vào thời điểm đó, và điều đó khiến các dì của bà tôi vô cùng tức giận khi thấy tôi ngưỡng mộ. Họ cho rằng người ta chỉ nên đặt trước mặt trẻ thơ, và trẻ thơ thể hiện gu thẩm mỹ bẩm sinh của chúng trong việc ngưỡng mộ, chỉ những cuốn sách và bức tranh nào mà chúng sẽ tiếp tục ngưỡng mộ khi tâm trí chúng đã phát triển và trưởng thành. Không nghi ngờ gì nữa, họ coi các giá trị thẩm mỹ như những vật thể vật chất mà một tầm nhìn không mây che phủ không thể không nhận ra, mà không cần phải có sự tương đương của chúng trong trải nghiệm cuộc sống được tích lũy và chín muồi chậm rãi trong trái tim người ta.
Chính dọc theo ‘lối Méséglise’, tại Montjouvain, một ngôi nhà được xây dựng bên rìa một hồ nước lớn, và nhìn xuống bởi một sườn đồi dốc mọc đầy cây bụi, là nơi ông Vinteuil sinh sống. Và thế nên chúng tôi thường bắt gặp con gái ông lái chiếc xe ngựa chó của cô chạy như bay dọc theo con đường. Sau một năm nhất định nào đó, chúng tôi không bao giờ nhìn thấy cô đi một mình nữa, mà luôn đi cùng một người bạn, một cô gái lớn tuổi hơn cô, mang tiếng tăm xấu xa trong vùng, kẻ cuối cùng đã định cư vĩnh viễn, vào một ngày nọ, tại Montjouvain. Người ta đồn đại:
– Tội nghiệp ông Vinteuil chắc hẳn bị tình yêu làm cho mù quáng nên mới không nhận ra những gì mọi người đang bàn tán xôn xao, và để con gái mình – một con người vốn kinh hoàng nếu bạn dùng sai một từ ngữ – đưa một người đàn bà như thế đến sống dưới mái nhà của mình. Ông ấy bảo rằng đó là một phụ nữ vô cùng ưu tú, với một trái tim bằng vàng, và rằng cô ấy sẽ thể hiện tài năng âm nhạc phi thường nếu chỉ được đào tạo bài bản. Ông ấy có thể chắc chắn rằng đó không phải là âm nhạc mà cô ta đang dạy cho con gái mình.
Nhưng ông Vinteuil bảo đảm với họ rằng đúng là thế, và quả thực thật đáng chú ý khi người ta không bao giờ quên khơi dậy sự ngưỡng mộ đối với những phẩm chất bình thường của họ ở những người thân của bất kỳ ai mà họ có quan hệ thể xác. Đam mê thể xác, thứ từng bị chỉ trích một cách bất công, ép buộc các nạn nhân của sự say đắm ấy phải phô bày mọi vết tích của sự vị tha và lòng quảng đại bên trong họ, và làm điều đó một cách hiệu quả đến mức chúng tỏa sáng rực rỡ trong mắt tất cả mọi người chứng kiến.
Bác sĩ Percepied, người với giọng nói vang dội và đôi lông mày rậm cho phép ông đóng trọn vẹn vai trò ‘kẻ hai mặt’ theo ý thích của trái tim mình, một vai trò mà ông vốn không thích hợp cho lắm, mà không hề tổn hại chút nào đến danh tiếng vững như bàn thạch và hoàn toàn không xứng đáng của mình là một lão cáu kỉnh nhân hậu, có thể làm cho cha xứ và tất cả mọi người cười ngất đến chảy nước mắt khi nói bằng một giọng gay gắt:
– Mọi người tính sao về chuyện này nào? Hình như cô ta đang chơi nhạc cùng người bạn của mình, tiểu thư Vinteuil. Điều đó làm mọi người ngạc nhiên lắm phải không? Ồ, tôi chẳng biết gì cả, chẳng biết gì sất. Chính bố Vinteuil đã kể cho tôi nghe tất cả về chuyện đó ngày hôm qua đấy. Suy cho cùng, con bé ấy có mọi quyền được yêu âm nhạc chứ. Tôi sẽ chẳng bao giờ mơ đến việc cản trở thiên hướng nghệ thuật của một đứa trẻ; và cả Vinteuil hình như cũng thế. Và rồi ông ấy cũng chơi nhạc nữa, cùng với bạn của con gái mình. Ơ hay, Chúa tôi, đó hẳn phải là một chiếc hộp âm nhạc chính hiệu rồi, cái ngôi nhà ở ngoài kia ấy chứ! Mọi người đang cười cái gì thế? Tôi bảo là họ chơi nhạc hơi bị nhiều đấy, mấy con người đó. Tôi vừa gặp bố Vinteuil hôm nọ, gần nghĩa địa. Ông ấy suýt chút nữa không đứng vững nổi trên đôi chân của mình.
Bất kỳ ai, giống như chúng tôi, từng chứng kiến ông Vinteuil, vào khoảng thời gian này, né những người quen biết, và quay đi ngay khi bắt gặp họ, biến đổi chỉ trong vài tháng thành một lão già, bị nuốt chửng trong biển đau khổ, bất lực trước bất kỳ nỗ lực nào không nhằm mục đích thúc đẩy hạnh phúc của con gái, dành trọn vẹn cả ngày bên ngôi mộ của vợ, chắc chắn khó lòng không nhận ra rằng ông đang dần chết đi vì tan nát cõi lòng, khó lòng cho rằng ông không chú ý đến những lời đồn đại đang lan truyền. Ông biết, có lẽ ông thậm chí còn tin tưởng, những gì hàng xóm đang bàn tán. Có lẽ chẳng có ai, dù đức hạnh của hắn có cứng nhắc đến đâu, lại không có khả năng rơi vào cảnh ngộ, bởi sự phức tạp của các hoàn cảnh, sống ở cự ly gần với chính thói hư tật xấu mà bản thân hắn từng lên án gay gắt nhất, mà thoạt đầu không nhận ra nó bên dưới lớp ngụy trang mà nó khoác lên khi bước vào sự hiện diện của hắn, cốt để làm tổn thương và khiến hắn đau khổ; những lời kỳ quặc, thái độ không thể giải thích được vào một buổi chiều nọ của một người mà hắn có hàng ngàn lý do để yêu thương.
Nhưng đối với một người mang sự nhạy cảm như ông Vinteuil, chắc hẳn sẽ phải đau đớn hơn rất nhiều so với một kẻ từng trải cứng cỏi khi phải cam chịu một trong những hoàn cảnh vốn bị hiểu lầm là chỉ xảy ra trong giới bohemian; bởi vì chúng xuất hiện bất cứ khi nào cần thiết để thiết lập bên trong sự an toàn cần thiết cho sự phát triển của nó một thói hư tật xấu mà chính Bản thân Tự nhiên đã gieo trồng vào tâm hồn của một đứa trẻ, có lẽ không bằng gì ngoài việc pha trộn các đức tính của cha và mẹ nó, giống như cách tự nhiên pha trộn màu mắt của họ.
Và thế nhưng dẫu cho ông Vinteuil có biết bao nhiêu về hạnh kiểm của con gái mình đi chăng nữa, điều đó không có nghĩa là sự tôn sùng của ông dành cho nó trở nên suy suyển chút nào. Những sự thật của cuộc đời không thâm nhập vào không gian nơi những niềm tin của chúng ta được nâng niu; cũng như không phải chúng sinh ra những niềm tin ấy, chúng bất lực trong việc tiêu diệt chúng; chúng có thể giáng vào chúng những đòn mâu thuẫn và bác bỏ liên tục mà không làm chúng suy yếu; và một trận lở tuyết gồm những nỗi bất hạnh và bệnh tật ập đến hết cái này nối tiếp cái kia không gián đoạn vào lồng ngực của một gia đình sẽ không làm nó đánh mất niềm tin vào lòng nhân từ của Chúa hay năng lực của vị bác sĩ. Nhưng khi ông Vinteuil nhìn nhận con gái mình và chính bản thân từ góc độ của thế giới, và của danh tiếng của họ, khi ông cố gắng đặt bản thân bên cạnh cô ở vị trí mà họ chiếm giữ trong sự đánh giá chung của hàng xóm, thì khi đó ông buộc phải đưa ra phán quyết, phải thốt lên sự kết án xã hội của chính mình và của cô bằng chính xác những thuật ngữ mà kẻ thù ghét cay ghét đắng nhất đối với ông và con gái tại Combray từng sử dụng; ông nhìn thấy chính mình và cô rơi vào ‘vũng bùn’, chìm sâu vào ‘vũng bùn tồi tệ nhất’, mắc kẹt không lối thoát; và phong cách của ông thời gian gần đây đã phảng phất chút khiêm nhường ấy, sự tôn trọng đối với những người xếp trên mình và những kẻ mà giờ đây ông phải ngước nhìn (dù họ có thấp kém hơn ông đến đâu đi nữa trong quá khứ), xu hướng tìm kiếm một phương tiện nào đó để vươn lên ngang tầm với họ, thứ vốn là hệ quả gần như máy móc của bất kỳ bất hạnh nào của con người.
Một ngày nọ, khi chúng tôi đang đi dạo cùng Swann trên một con phố của Combray, ông Vinteuil, rẽ từ một con phố khác ra, bỗng thấy mình đối mặt với tất cả chúng tôi đột ngột đến mức ông không kịp né tránh; và Swann, với lòng bác ái mang tính ngạo mạn gần như của một người từng trải, giữa lúc tan rã của mọi thành kiến đạo đức của chính mình, lại tìm thấy trong sự ô nhục của người khác đơn giản là một lý do để đối xử với ông bằng sự tử tế thân thiện, những biểu hiện bên ngoài của chúng phục vụ để nâng cao và thỏa mãn lòng tự tôn của kẻ ban phát bởi vì anh ta cảm thấy rằng chúng càng quý giá hơn đối với kẻ được ban phát, đã trò chuyện hồi lâu với ông Vinteuil, người mà từ lâu ông hầu như chẳng thèm nói chuyện, và trước khi rời đi, đã mời ông cử con gái sang chơi nhà ở Tansonville một hôm. Đó là một lời mời mà hai năm trước đó hẳn sẽ khiến ông Vinteuil nổi giận lôi đình, nhưng giờ đây lại mang đầy lòng biết ơn đến mức ông cảm thấy mình buộc phải kìm nén sự thiếu suy nghĩ khi nhận lời. Sự quan tâm thân thiện của Swann dành cho con gái ông đối với ông dường như tự bản thân nó vô cùng cao quý, là một sự hậu thuẫn vô giá cho sự nghiệp của mình đến mức ông cảm thấy có lẽ tốt hơn hết là không nên sử dụng nó, để có được sự thỏa mãn thuần túy tính triết lý khi giữ nó lại trong kho dự trữ.
– Thật là một người đàn ông quyến rũ! – ông nói với chúng tôi, sau khi Swann đã rời đi, với cùng một sự nhiệt tình và tôn sùng từng khiến những người phụ nữ thông minh và xinh đẹp thuộc tầng lớp trung lưu gục ngã trước sự quyến rũ thể xác và trí tuệ của một nữ công tước, ngay cả khi bà ta xấu xí và ngốc nghếch. – Thật là một người đàn ông quyến rũ! Thật đáng tiếc khi anh ta lại vướng vào một cuộc hôn nhân tồi tệ đến thế!
Và thế nên, sự giả dối ẩn chứa mạnh mẽ đến thế trong ngay cả những người đàn ông chân thành nhất, những kẻ vứt bỏ, trong lúc đang trò chuyện với bất kỳ ai, cái quan điểm mà họ thực sự ôm ấp và sẽ bày tỏ khi người đó không còn ở đó nữa, gia đình tôi đã hùa theo ông Vinteuil để phàn nàn về cuộc hôn nhân của Swann, viện dẫn những nguyên tắc và quy ước (nhất là khi họ viện dẫn chúng chung với ông, tựa như thể tất cả chúng ta đều là những tay cừ khôi cùng hội cùng thuyền) mà họ dường như ám chỉ là không hề bị xâm phạm mảy may ở Montjouvain. Ông Vinteuil đã không cử con gái đến thăm Swann, một sự thiếu sót mà Swann là người đầu tiên tiếc nuối. Bởi vì liên tục, sau khi gặp ông Vinteuil, anh sẽ nhớ ra rằng mình đã định hỏi ông từ lâu về một người có cùng họ với anh, một người họ hàng của Swann, theo dự đoán của anh. Và nhân dịp này, anh quyết định rằng mình sẽ không quên những gì cần phải nói với ông khi ông Vinteuil xuất hiện cùng con gái tại Tansonville.
Vì ‘lối Méséglise’ là con đường ngắn hơn trong hai lối chúng tôi thường chọn cho những buổi dạo chơi quanh Combray, và vì lý do đó được dành riêng cho những ngày thời tiết bất trắc, hệ quả là khí hậu của Méséglise có lượng mưa cao bất thường, và chúng tôi sẽ chẳng bao giờ mất dấu rìu rừng Roussainville, để chúng tôi có thể bất cứ lúc nào chạy tìm chỗ trú ẩn bên dưới mái tranh lá rậm rạp của nó.
Đôi khi mặt trời sẽ biến mất sau một đám mây, thứ xâm lấn vào đường tròn của nó, nhưng mép mây lại được mặt trời mạ vàng trở lại. Độ sáng, dẫu không phải ánh sáng ban ngày, sẽ bị chặn lại từ một phong cảnh nơi mọi sự sống dường như bị đình chỉ, trong khi ngôi làng nhỏ Roussainville khắc nổi lên bầu trời khối màu trắng của những chiếc đầu hồi, với độ chính xác đến đáng ngạc nhiên trong từng chi tiết. Một cơn gió thổi bay một con quạ khỏi chỗ đậu của nó, khiến nó bay lơ lửng và đậu xuống ở một khoảng cách xa, trong khi bên dưới bầu trời nhợt nhạt, những cánh rừng ở chân trời mang sắc xanh đậm hơn, hệt như chúng được vẽ trên một trong những chiếc phù điêu ngọc bích mà bạn vẫn tìm thấy trang trí trên những bức tường của các ngôi nhà cổ.
Nhưng vào những ngày khác, những cơn mưa sẽ bắt đầu trút xuống, thứ mà chúng tôi đã nhận được cảnh báo đúng lúc từ hình nhân áp kế nhỏ mà người thợ làm kính treo ở ngưỡng cửa của anh ta. Những hạt mưa của nó, giống như những chú chim di cư bay thành một khối tại một thời điểm nhất định, sẽ đổ ào xuống từ bầu trời theo đội hình diễu hành sít sao. Chúng sẽ chẳng bao giờ dạt ra xa nhau, không thực hiện bất kỳ cử động ngẫu nhiên nào trong hành trình tốc độ của mình, nhưng mỗi hạt, giữ đúng vị trí của nó, sẽ kéo theo hạt mưa đang theo sau, và bầu trời sẽ tối sầm lại nhiều hệt như khi đàn én bay về phương nam. Chúng tôi sẽ tìm chỗ trú ẩn giữa những tán cây. Và khi có vẻ như chuyến bay của chúng đã hoàn tất, một vài hạt mưa cuối cùng, yếu ớt và chậm chạp hơn những hạt khác, vẫn sẽ rơi xuống. Nhưng chúng tôi sẽ bước ra khỏi nơi trú ẩn, bởi vì cơn mưa đang chơi trò chơi, giờ đây, giữa những cành cây, và ngay cả khi dưới chân đã gần như khô ráo trở lại, một hai hạt mưa lạc lõng, vương vấn trong hõm của một chiếc lá, sẽ chảy tuột xuống và lủng lẳng sáng lóng lánh từ đầu mút của nó cho đến khi bất chợt nó bắn tung tóe chùm lên những khuôn mặt ngước lên của chúng tôi từ toàn bộ chiều cao của cái cây.
Đôi khi, chúng tôi cũng sẽ vội vã chạy tìm chỗ trú ẩn, lộn nhào giữa tất cả những vị thánh và các bậc tổ phụ bằng đá của nhà thờ Saint-André-des-Champs. Ngôi nhà thờ mang đậm phong cách Pháp làm sao! Ngay trên cửa ra vào của nó, các vị thánh, các vị vua hiệp sĩ với hoa nhài trên tay, những khung cảnh đám cưới và tang lễ được chạm trổ y như thể chúng được khắc họa trong tâm trí của thím Françoise. Người thợ điêu khắc cũng ghi lại một số giai thoại về Aristotle và Virgil, chính xác như thím Françoise trong nhà bếp của mình sẽ thốt lên về Thánh Louis tựa như thể chính thím từng quen biết ngài, thường là để hạ thấp, khi so sánh với ngài, ông bà tôi, những người mà thím cho là kém ‘đức hạnh’ hơn. Người ta có thể nhận thấy rằng những ý tưởng mà người nghệ sĩ thời Trung cổ và người nông dân thời Trung cổ (người đã sống sót để nấu ăn cho chúng ta vào thế kỷ XIX) có về lịch sử cổ đại và Cơ đốc giáo thời kỳ đầu, những ý tưởng có sự thiếu chính xác được bù đắp bởi sự giản dị chân thật của chúng, được bắt nguồn không phải từ sách vở, mà từ một truyền thống vừa cổ xưa vừa trực tiếp, không đứt đoạn, bằng miệng, bị suy thoái, không thể nhận ra, và còn sống động. Một nhân vật khác ở Combray mà tôi cũng có thể nhận ra, tiềm ẩn và mang tính tiêu biểu, trong những tác phẩm điêu khắc theo phong cách gothic của Saint-André-des-Champs chính là cậu thiếu niên Théodore, người phụ việc trong tiệm của Camus. Và quả thực, chính thím Françoise thừa biết rằng thím có ở cậu ta một người đồng hương và đồng thời đại, bởi vì khi dì tôi quá ốm để thím Françoise có thể, một mình, nâng dì dậy trên giường hay dìu dì vào ghế, thà rằng để cô bé phụ bếp bước lên lầu và có lẽ ‘tạo ấn tượng’ với dì tôi, thím sẽ sai người đi gọi Théodore. Và cậu thiếu niên này, người bị coi là, và hoàn toàn chính xác, trong thị trấn như một ‘kẻ hư hỏng’, lại tràn ngập cái tinh thần từng được dùng để trang trí hiên nhà thờ Saint-André-des-Champs, và đặc biệt là trong những cảm xúc tôn kính vốn có, trong mắt thím Françoise, đối với tất cả những ‘bệnh nhân tội nghiệp’, và trên hết thảy, đối với ‘nữ chủ nhân tội nghiệp’ của chính thím, đến mức khi cậu cúi người xuống nâng đầu dì tôi khỏi chiếc gối, cậu mang cái vẻ giản dị và nhiệt thành mang phong cách tiền Raphael y như những thiên thần nhỏ trong các bức phù điêu nổi, những kẻ tụ họp lại, với những ngọn nến trên tay, xung quanh giường bệnh của Đức Mẹ, tựa như thể những khuôn mặt bằng đá được chạm trổ ấy, trần trụi và xám xịt như những thân cây mùa đông, cũng giống như chúng, chỉ đang ngủ say, tích trữ sự sống và chờ đợi để đơm hoa kết trái trở lại trong vô số khuôn mặt bình dân, đáng kính và ranh mãnh như khuôn mặt của Théodore, và tỏa sáng với ánh hào quang ửng đỏ của những quả táo chín mọng.
Ở đó, không được gắn vào tường giống như những thiên thần nhỏ, mà tách rời khỏi hiên nhà, cao hơn chiều cao của con người, sừng sững trên bệ đỡ của mình giống như trên một chiếc ghế đẩu, thứ đã được đặt ở đó để cứu đôi bàn chân của cô khỏi tiếp xúc với mặt đất ẩm ướt, đứng một vị thánh với đôi má đầy đặn, bầu ngực săn chắc căng phồng bên trong lớp vải drapery giống như một chùm nho chín mọng bên trong chiếc túi, trán hẹp, mũi ngắn và bướng bỉnh, đôi mắt sâu thẳm, và biểu cảm kiên cường, da dày, mạnh mẽ của những người phụ nữ làm nông vùng đất ấy. Sự tương tự này, thứ thổi hồn vào chính bức tượng một sự tử tế mà tôi không ngờ sẽ tìm thấy ở nó, thường được củng cố bởi sự xuất hiện của một cô gái nào đó từ các vùng đồng quê, đến, giống như chúng tôi, để tìm chỗ trú ẩn bên dưới hiên nhà, sự hiện diện của cô ở đó – giống như khi những lá của một loài cây leo mọc lên bên cạnh những chiếc lá được chạm khắc trên đá – dường như được định sẵn bởi định mệnh để cho phép chúng ta, bằng cách đối chiếu nó với nguyên mẫu của nó trong tự nhiên, hình thành một sự đánh giá mang tính phê phán về tính chân thực của tác phẩm nghệ thuật. Trước mắt chúng tôi, ở đằng xa, một vùng đất được hứa hẹn hoặc bị nguyền rủa, Roussainville, bên trong những bức tường mà tôi chưa từng đặt chân tới, Roussainville giờ đây, khi cơn mưa đã ngớt đối với chúng tôi, vẫn đang bị trừng phạt, giống như một ngôi làng trong Cựu Ước, bởi vô số những ngọn giáo và mũi tên của cơn bão, thứ đập xuống xiên xiên lên những ngôi nhà của cư dân nơi đây, hoặc giả đã nhận được sự tha thứ của Đấng Tối Cao, Đấng đã khôi phục lại cho nó ánh sáng mặt trời của Ngài, thứ rọi xuống nó bằng những tia sáng dài ngắn không đều, giống như những tia sáng của một chiếc mặt nhật trên bệ thờ.
Đôi khi, khi thời tiết hoàn toàn trở mặt, chúng tôi buộc phải về nhà và ở lỳ trong nhà. Đâu đó, ở đằng xa, trong một phong cảnh mà với ánh sáng đang lụi tàn và bầu không khí bão hòa, giống với một khung cảnh biển hơn, một vài ngôi nhà đơn độc bám vào sườn dốc thấp hơn của một ngọn hill mà đỉnh của nó bị chôn vùi trong bóng tối mây mù tỏa sáng rực rỡ như những chiếc thuyền nhỏ đã xếp buồm lại và thả neo, suốt cả đêm dài, trên mặt biển. Nhưng mưa hay bão thì có hề gì? Vào mùa hè, thời tiết xấu chẳng qua chỉ là một cơn giận dỗi hời hợt thoáng qua của thời tiết đẹp vĩnh cửu, nằm bên dưới; một điều hoàn toàn khác biệt so với ‘thời tiết đẹp’ lỏng lẻo và bất ổn của mùa đông, đích thực là sự đối lập của nó; bởi vì chẳng phải nó đã (được thiết lập vững chắc trong đất, nơi nó đã mang hình hài rắn chắc trong những khối tán lá rậm rạp nơi những cơn mưa có thể trút xuống xối xả mà không làm suy yếu sự kháng cự được hiến dâng bởi hạnh phúc thực sự và trường tồn của chúng) giương cao, để giữ cho chúng bay phấp phới suốt cả mùa, trong các con đường làng, trên tường những ngôi nhà và trong các khu vườn của chúng, những lá cờ bằng lụa của nó, sắc tím và trắng. Ngồi trong phòng khách nhỏ, nơi tôi sẽ giết thời gian cho đến bữa tối với một cuốn sách, tôi có thể nghe thấy tiếng nước nhỏ giọt từ những cây dẻ của chúng tôi, nhưng tôi biết rằng cơn mưa sẽ chỉ làm bóng bẩy và làm sáng bừng thêm sắc xanh của những chiếc lá dày, nhăn nheo của chúng, và bản thân chúng đã cam kết sẽ ở lại đó, giống như những vật chứng của mùa hè, suốt đêm dài mưa gió, để đảm bảo với tôi về sự tiếp tục của thời tiết đẹp; trời có thể mưa tùy thích nhưng ngày mai, qua hàng rào trắng của Tansonville, sẽ vẫn trào dâng và tuôn chảy, đông đúc như mọi khi, một biển những chiếc lá nhỏ hình trái tim; và không một chút lo âu nào, tôi có thể ngắm nhìn cây dương ở phố Rue des Perchamps đang cầu xin sự thương xót, cúi rạp trong tuyệt vọng trước cơn bão; không một chút lo âu nào, tôi có thể nghe thấy, ở tận cùng khu vườn, những tiếng sấm cuối cùng gầm gừ giữa những khóm tử đinh hương của chúng tôi.
Nếu thời tiết xấu suốt cả buổi sáng, gia đình tôi sẽ từ bỏ ý định đi dạo, và tôi sẽ ở nhà. Nhưng, sau đó, tôi hình thành thói quen tự mình ra ngoài vào những ngày như thế, và đi bộ về phía Méséglise-la-Vineuse, vào mùa thu năm đó khi chúng tôi phải đến Combray để giải quyết việc phân chia điền trang của dì Léonie; bởi vì cuối cùng dì đã qua đời, để lại cả hai phe trong số những hàng xóm của dì ở trạng thái đắc thắng trước cái chết của dì – những kẻ từng khăng khăng rằng lối sống của dì là làm suy nhược cơ thể và chắc chắn sẽ giết chết dì, và, tương đương thế, những kẻ luôn duy trì quan điểm rằng dì mắc phải một căn bệnh nào đó không phải tưởng tượng, mà là thực thể, bằng chứng hữu hình về điều đó khiến những kẻ hoài nghi nhất cũng phải thừa nhận là thuyết phục, một khi dì đã gục ngã trước nó; không gây ra nỗi đau đớn dữ dội cho bất kỳ ai ngoại trừ duy nhất một người trong số những người sống sót của dì, nhưng đối với người đó là một nỗi đau dữ dội tột cùng. Suốt hai tuần đằng đẵng của cơn bệnh cuối cùng của dì, thím Françoise không bao giờ rời khỏi phòng dì dù chỉ một giây, không bao giờ cởi quần áo, không cho phép bất kỳ ai khác làm bất cứ điều gì cho dì, và không rời khỏi thi thể dì cho đến tận khi nó thực sự nằm trong huyệt mộ.
Rồi, cuối cùng, chúng tôi đã hiểu ra rằng cái nỗi sợ hãi kiểu mà thím Françoise từng sống dưới đó trước những lời khắc nghiệt, sự nghi ngờ và cơn giận dữ của dì tôi đã nuôi dưỡng trong thím một thứ tình cảm mà chúng tôi từng hiểu lầm là lòng căm hận, nhưng thực chất lại là sự tôn kính và yêu thương. Nữ chủ nhân thực sự của thím, người có những quyết định không thể đoán trước, từ những mưu mẹo khó lòng trốn thoát, người mà sự tử tế của bà quá dễ để lợi dụng, vị nữ vương của thím, vị quân vương huyền bí và toàn năng của thím đã không còn nữa. So với một nữ chủ nhân như thế, chúng tôi chẳng có trọng lượng là bao. Thời gian đã qua lâu lắm rồi kể từ ngày, khi chúng tôi lần đầu đến nghỉ hè ở Combray, chúng tôi có tầm quan trọng ngang bằng, trong mắt thím Françoise, với dì tôi.
Suốt mùa thu đó, bố mẹ tôi, thấy những ngày bận rộn ngập đầu với các thủ tục pháp lý phải hoàn tất, và những cuộc thảo luận với các luật sư và tá nông, đến mức họ có ít thời gian cho những buổi dạo chơi vốn, ngẫu nhiên thay, thời tiết làm cho bấp bênh, bắt đầu để tôi đi một mình, không có họ, dọc theo ‘lối Méséglise’, được quấn trong một chiếc khăn choàng lớn sọc Scotland bảo vệ tôi khỏi mưa, và tôi càng sẵn sàng vác nó lên vai hơn bởi vì tôi cảm thấy rằng những sọc tartan sặc sỡ của nó làm thím Françoise chướng mắt, người mà không tài nào thuyết phục được rằng màu sắc trang phục chẳng có chút liên quan nào đến tang lễ cho người đã khuất, và đối với người mà nỗi đau mà chúng tôi thể hiện trong cái chết của dì tôi là hoàn toàn không thỏa đáng, bởi vì chúng tôi đã không thết đãi hàng rào một bữa tiệc tang lớn, và không áp dụng một giọng điệu đặc biệt nào khi chúng tôi nói về bà, trong lúc thỉnh thoảng người ta vẫn nghe thấy tôi ngân nga một giai điệu. Tôi chắc chắn rằng trong một cuốn sách – và ở mức độ đó cảm xúc của tôi gắn kết chặt chẽ với thím Françoise – một quan niệm về tang lễ như thế, theo phong cách của Bài ca Roland và hiên nhà thờ Saint-André-des-Champs, sẽ có vẻ vô cùng hấp dẫn. Nhưng ngay khi bản thân thím Françoise tiếp cận, một thế lực tà ác nào đó sẽ xúi giục tôi cố gắng làm cho thím nổi giận, và tôi sẽ tận dụng cái cớ nhỏ nhặt nhất để nói với thím rằng tôi tiếc thương cái chết của dì tôi bởi vì bà là một người phụ nữ tốt bất chấp những thói ngớ ngẩn của bà, nhưng không hề vì bà là dì của tôi; rằng bà hoàn toàn có thể là dì của tôi và đồng thời lại đáng ghét đến mức cái chết của bà sẽ chẳng gây cho tôi một giọt nước mắt đau buồn nào; những tuyên bố mà, trong một cuốn sách, sẽ đập vào mắt tôi như hoàn toàn ngớ ngẩn.
Vyếu nếu thím Françoise khi đó, được truyền cảm hứng như một nhà thơ với một dòng thác những suy ngẫm hỗn độn về sự mất mát, nỗi đau buồn và ký ức gia đình, lại biện bạch cho sự bất lực của mình trong việc phản bác các lý thuyết của tôi, bằng cách nói: “Tôi không biết phải diễn đạt thế nào” – tôi sẽ đắc thắng lấn lướt thím bằng một thứ lẽ phải đời thường mỉm cười và tàn nhẫn xứng tầm với bác sĩ Percepied; và nếu thím tiếp tục: “Dẫu sao thì bà ấy vẫn là họ hàng về mặt địa chất; luôn có sự tôn trọng dành cho địa chất của cậu chứ”, tôi sẽ nhún vai và nói: “Thật là phúc đức cho tôi khi phải bàn luận vấn đề này với một mụ già mù chữ không biết nổi tiếng mẹ đẻ của mình”, áp dụng, để đưa ra phán quyết về thím Françoise, cái nhìn đê tiện và chật hẹp của kẻ hiếu học, kẻ mà những kẻ khinh miệt hắn nhất trong sự vô tư của tâm trí họ lại quá dễ dàng sao chép khi họ buộc phải đóng một vai trò trên sân khấu thô tục của cuộc đời.
Những buổi đi dạo của tôi, mùa thu năm ấy, càng thêm phần tuyệt vời bởi vì tôi thường thực hiện chúng sau những giờ dài chìm đắm trong một cuốn sách. Khi tôi đã mệt vì đọc, sau cả buổi sáng ở trong nhà, tôi sẽ quác chiếc khăn choàng qua vai và lên đường; cơ thể tôi, sau một khoảng thời gian dài bất động bị ép buộc đã tích trữ một năng lượng sống dồn ứ, giờ đây buộc phải, giống như một con quay được lên dây cót rồi thả ra, tiêu xưởng nó theo mọi hướng. Tường nhà, hàng rào Tansonville, những thân cây trong rừng Roussainville, những bụi cây mà Montjouvain tựa lưng vào, tất cả đều phải hứng chịu những đòn đánh từ cây gậy đi bộ hay chiếc ô của tôi, đều phải nghe những tiếng thét hạnh phúc của tôi, những cú đánh và tiếng thét chẳng qua cũng chỉ là sự bộc lộ của những ý tưởng hỗn độn làm tôi phấn khích, và không được phát triển đến mức độ mà chúng có thể phơi bày ra dưới ánh sáng ban ngày, thay vì chịu đựng một quá trình làm sáng tỏ chậm chạp và khó khăn, lại thấy việc trôi dạt vào một lối thoát tức thì trở nên dễ dàng và dễ chịu hơn. Và thế nên phần lớn những gì dường như là sự thể hiện cảm xúc của những cảm giác sâu kín nhất của chúng ta chẳng làm gì hơn ngoài việc giải thoát chúng ta khỏi gánh nặng của những cảm giác ấy bằng cách cho phép chúng thoát ra dưới một hình thức không rõ ràng, thứ không dạy chúng ta cách lý giải nó.
Khi tôi cố gắng tổng kết tất cả những gì tôi nợ ‘lối Méséglise’, tất cả những khám phá khiêm tốn mà nó là bối cảnh ngẫu nhiên hoặc là nguồn cảm hứng trực tiếp và nguyên nhân, tôi nhớ ra rằng chính vào mùa thu ấy, trên một trong những chuyến dạo chơi đó, gần vách đá mọc đầy bụi rậm bảo vệ Montjouvain từ phía sau, tôi đã bị ấn tượng lần đầu tiên bởi sự thiếu hài hòa này giữa những ấn tượng của chúng ta và các hình thức biểu đạt bình thường của chúng. Sau một tiếng đồng hồ mưa và gió, thứ mà tôi đã chống trả quyết liệt, khi tôi đến rìa hồ Montjouvain, và chạm tới một căn nhà nhỏ lợp ngói, nơi người làm vườn của ông Vinteuil giữ dụng cụ, mặt trời lại bừng sáng, và những tia nắng vàng của nó, được gột rửa sạch sẽ bởi cơn mưa, lại rực cháy một lần nữa trên bầu trời, trên những cái cây, trên bức tường của căn nhà nhỏ, và trên những viên ngói hãy còn ướt của mái nhà, nơi có một con gà đang đậu trên chóp đỉnh của nó. Ngọn gió kéo dạt sang một bên đám cỏ dại mọc trên tường và bộ lông tơ của con gà, cả hai thứ đều buông mình trôi theo hơi thở của sự tự do với sự phục tùng không kháng cự của vật chất nhẹ và vô tri. Mái ngói hắt xuống mặt hồ, nơi những phản chiếu giờ đây đã trong trẻo trở lại dưới ánh nắng, một ô vuông cẩm thạch hồng, thứ mà tôi chưa từng quan sát thấy trước đó.
Và, nhìn thấy trên mặt nước, nơi nó phản chiếu bức tường, một nụ cười nhợt nhạt đáp lại bầu trời mỉm cười, tôi đã thét lên trong sự phấn khích, vung vẩy chiếc ô cuộn chặt: “Mẹ kiếp, mẹ kiếp, mẹ kiếp, mẹ kiếp!” Nhưng đồng thời tôi cảm thấy rằng mình có bổn phận không được bằng lòng với những từ ngữ không có sự bừng ngộ này, mà phải nỗ lực nhìn thấu suốt hơn vào nguồn cội của niềm vui thích của tôi.
Và chính vào khoảnh khắc đó, nữa – nhờ một người nông dân đi ngang qua, có vẻ đang tâm trạng khá tồi tệ sẵn rồi, nhưng càng tồi tệ hơn khi anh ta suýt nhận trọn chiếc ô của tôi vào mặt, và đáp lại chẳng hề niềm nở chút nào trước câu chào “Ngày đẹp trời thật đấy! Thích hợp để đi dạo ghê!” của tôi – mà tôi đã học được rằng những cảm xúc đồng nhất không nảy nở trong trái tim của mọi người đàn ông cùng một lúc, theo một trật tự được thiết lập sẵn. Sau này tôi khám phá ra rằng, bất cứ khi nào tôi đọc quá lâu và đang ở tâm trạng muốn trò chuyện, người bạn mà tôi đang khao khát muốn thổ lộ sẽ vào lúc đó vừa kết thúc việc tự thưởng thức cho mình những niềm vui của sự trò chuyện, và chẳng muốn gì hơn ngoài việc được để yên cho đọc sách một cách không bị quấy rầy. Và nếu tôi đang nghĩ về cha mẹ mình với tình cảm, và vạch ra những kế hoạch hợp lý và đàng hoàng nhất để mang lại niềm vui cho họ, họ sẽ lại sử dụng chính khoảng thời gian đó để phát hiện ra một lỗi lầm nào đó mà tôi đã quên bẵng đi, và sẽ bắt đầu mắng mỏ tôi nghiêm khắc, đúng lúc tôi lao vào họ với một nụ hôn.
Đôi khi đi kèm với sự phấn khích mà tôi thu nhận được từ việc ở một mình lại là một cảm giác thay thế, đến mức tôi không thể rõ ràng trong tâm mình nên bỏ phiếu cho ai; một cảm giác được kích thích bởi mong muốn nhìn thấy hiện lên trước mắt mình một cô thôn nữ mà tôi có thể ôm chặt trong vòng tay. Đến một cách đột ngột, và không cho tôi thời gian để truy nguyên nó một cách chính xác về nguồn cội của nó giữa rất nhiều ý tưởng thuộc đủ loại khác nhau, niềm vui đi kèm với mong muốn này dường như chỉ cao hơn một bậc so với những gì được mang lại bởi những suy nghĩ khác của tôi.
Tôi tìm thấy một công trạng bổ sung trong mọi thứ đang nằm trong tâm trí tôi vào khoảnh khắc đó, ánh phản chiếu màu hồng của mái ngói, đám cỏ dại trên tường, ngôi làng Roussainville mà tôi từng khao khát được bước chân vào từ lâu, những cái cây trong rừng của nó và ngọn tháp nhà thờ của nó, được tạo ra bên trong chúng bởi cảm xúc mới mẻ này, thứ khiến chúng có vẻ đáng khao khát hơn đơn giản chỉ vì tôi nghĩ rằng chính chúng đã khơi mào nó, và thứ dường như chỉ muốn mang tôi lao đi nhanh chóng hơn về phía chúng khi nó thổi đầy vào cánh buồm của tôi một ngọn gió mạnh mẽ, vô danh và thuận lợi.
Nhưng nếu mong muốn này rằng một người phụ nữ nên xuất hiện mang lại cho tôi thứ gì đó nâng cao hơn cả vẻ quyến rũ của thiên nhiên, thì đổi lại thiên nhiên lại mở rộng những gì tôi có thể, trong vẻ quyến rũ của người phụ nữ, tìm thấy quá mức bị giới hạn. Dường như với tôi vẻ đẹp của những cái cây cũng là của cô ấy, và rằng, đối với tinh thần của những chân trời ấy, của ngôi làng Roussainville, của những cuốn sách mà tôi đang đọc năm đó, chính nụ hôn của cô ấy sẽ làm cho tôi làm chủ được tất cả bọn chúng; và trí tưởng tượng của tôi rút ra sức mạnh từ sự tiếp xúc với sự dâm dục của tôi, sự dâm dục của tôi lan tỏa qua tất cả các lĩnh vực của trí tưởng tượng tôi, mong muốn của tôi từ nay không còn bất kỳ giới hạn nào nữa.
Hơn nữa – y như trong những khoảnh khắc chiêm nghiệm trầm mặc về thiên nhiên, những hành động bình thường của tâm trí bị đình chỉ, và những ý tưởng trừu tượng của chúng ta về mọi thứ được đặt sang một bên, chúng ta tin tưởng với niềm tin sâu sắc nhất vào sự nguyên bản, vào sự tồn tại cá thể của nơi chốn mà chúng ta tình cờ có mặt – bóng dáng lướt qua mà mong muốn của tôi khơi gợi dường như không phải là bất kỳ ví dụ đơn lẻ nào về loại hình chung ‘phụ nữ’, mà là một sản phẩm tất yếu và tự nhiên của đất đai. Bởi vì vào thời điểm đó mọi thứ không phải là tôi, trái đất và các sinh linh trên đó, dường như đối với tôi quý giá hơn, quan trọng hơn, được phú bẩm cho một sự tồn tại thực tế hơn so với những gì chúng xuất hiện trước những người trưởng thành. Và giữa trái đất và các sinh linh của nó, tôi không tạo ra sự phân biệt nào. Tôi có khao khát một cô thôn nữ từ Méséglise hay Roussainville, cho một cô gái chài lưới từ Balbec, cũng giống như tôi khao khát Balbec và Méséglise. Niềm vui mà những cô gái đó được trao quyền mang lại cho tôi sẽ có vẻ kém chân thực hơn, tôi sẽ không còn niềm tin vào nó nữa, nếu tôi được tự do sửa đổi các điều kiện của nó theo ý muốn. Gặp gỡ ở Paris một cô gái chài lưới từ Balbec hay một cô thôn nữ từ Méséglise sẽ giống như nhận được món quà là một chiếc vỏ ốc mà tôi chưa từng thấy trên bãi biển, hay một chiếc dương xỉ mà tôi chưa từng tìm thấy giữa rừng sâu, sẽ tước đi khỏi niềm vui mà cô sắp mang lại cho tôi tất cả những niềm vui khác mà giữa đống đổ nát của chúng trí tưởng tượng của tôi đã bọc lót cô ấy. Nhưng lang thang như thế giữa những khu rừng Roussainville mà không có một cô thôn nữ nào để ôm ấp chính là nhìn ngắm những khu rừng đó mà vẫn chẳng hay biết gì về kho báu bí mật của chúng, vẻ đẹp ẩn giấu sâu thẳm của chúng. Cô gái đó, người mà tôi chưa từng nhìn thấy ngoại trừ bị vằn vện bởi những chiếc bóng từ tán lá của chúng, đối với tôi tự bản thân cô là một loài thực vật mọc tại địa phương, chỉ cao hơn những cây khác, và là một kẻ có cấu trúc sẽ cho phép tôi tiếp cận gần gũi hơn so với những cây kia đến hương vị mật thiết của vùng đất mà từ đó cô đã vọt lên.
Tôi có thể tin điều này dễ dàng hơn nhiều (và cũng rằng những cái ôm ấp mà qua đó cô sẽ mang hương vị ấy đến với các giác quan của tôi bản thân chúng mang một loại đặc thù, mang lại một niềm vui mà tôi không bao giờ có thể thu nhận từ bất kỳ ai ngoài chính cô) kể từ khi tôi vẫn đang, và sẽ còn lâu dài, ở giai đoạn cuộc đời mà người ta vẫn chưa tách rời thực tế của niềm vui thể xác này khỏi những người phụ nữ khác nhau trong công ty của người mà người ta đã nếm trải nó, khi người ta chưa quy giản nó thành một ý tưởng chung khiến người ta coi họ từ lúc đó trở đi như những công cụ biến đổi của một niềm vui luôn giống nhau. Quả thực, niềm vui đó không tồn tại, được cô lập và được công thức hóa trong ý thức, như mục tiêu cuối cùng mà người ta tìm kiếm sự đồng hành của một phụ nữ, hay như nguyên nhân của sự bất an mà, trong sự mong đợi, người ta sau đó cảm thấy. Hầu như thậm chí người ta không nghĩ đến bản thân mình, mà chỉ nghĩ làm thế nào để thoát khỏi chính mình. Được chờ đợi một cách mơ hồ, im lìm và che giấu, nó kích động đến mức bùng nổ, vào khoảnh khắc mà cuối cùng nó làm cho bản thân được cảm nhận, những niềm vui khác mà chúng ta tìm thấy trong cái nhìn dịu dàng, trong nụ hôn của người ở bên cạnh chúng ta, đến mức nó dường như đối với chúng ta, hơn bất cứ thứ gì khác, một dạng thăng hoa của lòng biết ơn đối với sự tử tế trong trái tim của người bạn đồng hành của chúng ta và đối với sự ưu ái cảm động của cô ấy dành cho chúng ta, thứ mà chúng ta đo lường bằng những lợi ích, bằng hạnh phúc mà cô ấy trút xuống chúng ta.
Than ôi, thật vô ích khi tôi khẩn nài tháp canh của Roussainville, rằng tôi nài nỉ nó cử ra để đón tôi một người con gái nào đó của ngôi làng của nó, kêu gọi nó như kẻ tâm tình duy nhất mà tôi từng thổ lộ mong muốn đầu tiên của mình khi, từ tầng cao nhất ngôi nhà của chúng tôi ở Combray, từ căn phòng nhỏ thơm mùi rễ diên vĩ, tôi đã ngó ra và chẳng nhìn thấy gì ngoài ngọn tháp của nó, được đóng khung trong ô cửa sổ hé mở, trong khi, với sự cạp bách anh dũng của một du khách lên đường đến những vùng đất chưa được biết đến, hoặc của một kẻ khốn khổ tuyệt vọng đang do dự bên bờ vực tự sát, ngây ngất vì cảm xúc, tôi khám phá ra, vượt qua ranh giới của trải nghiệm của chính mình, một con đường chưa từng in dấu chân mà tôi tin có thể dẫn tôi đến cái chết, thậm chí – cho đến khi đam mê lụi tàn và để lại tôi run rẩy giữa những chùm hoa lý gai đang nở hoa, thứ bò luồn qua cửa sổ, nhào lộn khắp cơ thể tôi. Thật vô ích khi tôi khẩn nài nó lúc này. Thật vô ích khi tôi nén toàn bộ phong cảnh vào tầm nhìn của mình, rút cạn nó bằng một cái nhìn kiệt quệ nhằm chiết xuất từ nó một sinh linh nữ giới. Tôi có thể đi một mình xa đến hiên nhà thờ Saint-André-des-Champs: chưa bao giờ tôi tìm thấy ở đó cô gái mà tôi chắc chắn sẽ gặp, giả sử tôi đi cùng ông ngoại, và do đó không thể bắt cô vào một cuộc trò chuyện. Tôi sẽ dán chặt đôi mắt mình, không giới hạn thời gian, vào thân của một cái cây xa xôi, từ phía sau nó cô chắc chắn phải xuất hiện và lao về phía tôi; sự soi mói cận kề nhất của tôi vẫn để lại đường chân trời cằn cỗi như trước; đêm đang buông xuống; không còn chút hy vọng nào nữa tôi sẽ tập trung sự chú ý của mình, tựa như để ép buộc trồi lên từ nó những sinh linh mà nó phải che giấu, lên mảnh đất cằn cỗi đó, mảnh đất cũ kỹ và tồi tàn đó; và đó không còn là sự nhẹ nhõm trong tâm hồn, mà là với cơn giận dữ u ám tôi nhắm những đòn đánh vào những thân cây trong rừng Roussainville, từ giữa những cái cây đó không có sinh linh nào xuất hiện thêm nữa giống như thể chúng là những cái cây được vẽ trên phông nền vải căng của một bức tranh panorama, khi, không thể cam chịu việc phải trở về nhà mà không được ôm chặt trong vòng tay người phụ nữ mà tôi khao khát đến thế, tôi lại buộc phải rảo bước quay về hướng Combray, và thừa nhận với bản thân rằng cơ hội cô xuất hiện trên con đường của tôi ngày càng thu hẹp qua từng khoảnh khắc.
Và nếu cô ấy đã xuất hiện, liệu tôi có dám nói chuyện với cô ấy không? Tôi cảm thấy rằng cô ấy sẽ coi tôi là kẻ điên, bởi vì tôi không còn nghĩ về những khát khao từng đến với tôi trên những buổi dạo chơi của mình, nhưng chưa bao giờ được hiện thực hóa, như là được chia sẻ bởi những kẻ khác, hay có bất kỳ sự tồn tại nào tách rời khỏi chính tôi. Chúng chẳng có vẻ gì hơn ngoài những sinh linh hoàn toàn mang tính chủ quan, bất lực, ảo tưởng thuộc về tính cách của tôi. Chúng hoàn toàn không có mối liên hệ nào với thiên nhiên, với thế giới của những thực tế, thứ kể từ lúc đó trở đi đánh mất toàn bộ vẻ quyến rũ và ý nghĩa của nó, và không có ý nghĩa gì hơn đối với cuộc đời tôi ngoài một khung cấu trúc thuần túy quy ước, y như hành động của một cuốn tiểu thuyết được đóng khung trong toa tàu hỏa, trên chiếc ghế mà một du khách đang đọc nó để giết thời gian.
Và có lẽ chính từ một ấn tượng khác mà tôi tiếp nhận được tại Montjouvain, một vài năm sau đó, một ấn tượng mà vào thời điểm đó không có ý nghĩa gì, đã nảy sinh, lâu dài sau này, ý tưởng của tôi về cái mặt tàn nhẫn của đam mê con người được gọi là ‘chủ nghĩa bạo dâm’ (sadism). Chúng ta sẽ thấy, đúng thời điểm, rằng vì một lý do hoàn toàn khác, ký ức về ấn tượng này sẽ đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời tôi. Đó là trong một đợt thời tiết vô cùng oi bức; bố mẹ tôi, những người buộc phải đi vắng cả ngày, đã bảo tôi rằng tôi có thể ở ngoài muộn tùy thích; và đã đi xa đến tận hồ Montjouvain, nơi tôi thích thú ngắm nhìn lại sự phản chiếu của mái ngói ngôi nhà nhỏ, tôi đã nằm dài trong bóng râm và chìm vào giấc ngủ giữa những bụi cây trên sườn dốc đứng mọc ngược lên phía sau ngôi nhà, ngay chỗ tôi từng đợi bố mẹ, nhiều năm trước, vào một ngày họ đến gọi cửa nhà ông Vinteuil. Trời gần tối khi tôi tỉnh giấc, và tôi muốn đứng dậy và bỏ đi, nhưng tôi nhìn thấy tiểu thư Vinteuil (hoặc nghĩ, ít nhất, là tôi nhận ra cô ấy, bởi vì tôi chưa từng gặp cô ấy thường xuyên ở Combray, và khi ấy chỉ khi cô ấy còn là một đứa trẻ, trong khi cô ấy giờ đây đang lớn thành một thiếu nữ), người có lẽ vừa mới về đến nhà, đang đứng trước mặt tôi, và chỉ cách tôi vài bước chân, trong căn phòng nơi bố cô từng tiếp đón bố tôi, và nơi cô giờ đây đã biến thành một phòng khách nhỏ cho riêng mình. Cửa sổ mở hé; ngọn đèn được thắp sáng; tôi có thể quan sát mọi cử động của cô mà cô không thể nhìn thấy tôi; nhưng, nếu tôi bỏ đi, tôi hẳn đã tạo ra một âm thanh sột soạt giữa những bụi cây, cô sẽ nghe thấy tôi, và có thể nghĩ rằng tôi đã trốn ở đó để rình mò cô.
Cô đang mặc tang phục đen tuyền, bởi vì bố cô vừa mới qua đời cách đó không lâu. Chúng tôi đã không đến thăm cô; má tôi đã không mến mộ việc đến, bởi vì cái đức hạnh duy nhất trong lòng bà thiết lập nên bất kỳ ranh giới nào cho sự nhân từ của bà – cụ thể là, sự khiêm nhường; nhưng bà thương xót cô gái từ tận đáy lòng. Má tôi đã không quên cái kết buồn thảm trong cuộc đời ông Vinteuil, sự đắm chìm hoàn toàn của ông, thoạt đầu trong việc phải đóng vai trò vừa là mẹ vừa là vú em cho con gái mình, và sau đó, trong nỗi đau khổ mà cô đã gây ra cho ông; bà có thể nhìn thấy biểu cảm bị tra tấn chưa từng rời khỏi khuôn mặt ông già trong những năm tháng cuối cùng khủng khiếp ấy; bà biết rằng ông đã từ bỏ hoàn toàn nhiệm vụ chép lại thành bản thảo sạch sẽ toàn bộ công trình sau này của mình, những bản nhạc nhỏ bé tội nghiệp, theo tưởng tượng của chúng tôi, của một người thầy dạy nhạc già, một nghệ sĩ organ làng về hưu, mà chúng tôi giả định là có ít hoặc không có giá trị tự thân, dẫu chúng tôi không khinh miệt chúng, bởi vì chúng có giá trị quá lớn đối với ông và là động lực chính trong cuộc đời ông trước khi ông hy sinh chúng cho con gái mình; những bản nhạc phần lớn thậm chí còn chưa được viết ra, mà chỉ được ghi nhớ trong trí nhớ của ông, trong khi phần còn lại được nguệch ngoạc trên những tờ giấy rời, và hoàn toàn không thể đọc được, giờ đây phải mãi mãi nằm lại trong bí mật; má tôi nghĩ đến cả sự từ bỏ khác và còn tàn nhẫn hơn thế nữa mà ông Vinteuil bị đẩy đến, đó là nhìn thấy đứa con gái được an bề gia thất một cách hạnh phúc, với một tương lai trung thực và đáng kính; khi bà gợi lại trong tâm trí tất cả nỗi khốn khổ tận cùng và đè nặng ấy đã giáng xuống người thầy nhạc cũ của các dì tôi, bà đã bị lay động bởi nỗi đau thực sự, và rùng mình khi nghĩ đến nỗi đau khác, quá khác biệt trong sự cay đắng của nó, mà tiểu thư Vinteuil hẳn đang cảm thấy lúc này, vương vấn sự cắn rứt vì đã thực sự giết chết người cha của mình.
– Tội nghiệp ông Vinteuil, – má tôi thường nói, – ông ấy sống vì con gái, và giờ đây ông ấy chết vì nó, mà chẳng nhận lại phần thưởng. Không biết ông ấy có nhận được nó bây giờ không, và dưới hình thức nào nhỉ? Nó chỉ có thể đến với ông từ cô ta mà thôi.
Ở tận cùng phòng khách của tiểu thư Vinteuil, trên bệ lò sưởi, đặt một bức ảnh nhỏ chụp người cha của cô mà cô hăng hái bước đi để lấy nó, đúng lúc âm thanh của những tiếng bánh xe ngựa vang lên từ con đường bên ngoài, rồi ngã nhào xuống chiếc ghế sofa và kéo sát lại bên mình một chiếc bàn nhỏ nơi cô đặt bức ảnh, y như ngày xưa, ông Vinteuil từng ‘đặt’ bên cạnh mình bản nhạc mà ông rất muốn chơi lại cho bố mẹ tôi nghe. Và rồi bạn của cô bước vào. Tiểu thư Vinteuil chào cô bạn mà không đứng dậy, đan hai tay sau đầu, và kéo cơ thể sang một bên của chiếc sofa, như thể để ‘nhường chỗ’. Nhưng ngay khi cô vừa làm điều này, cô dường như cảm thấy rằng có lẽ cô đang gợi ý một tư thế cụ thể cho người bạn của mình, với sự nhấn mạnh có thể dễ dàng bị coi là quấy rầy. Cô nghĩ rằng người bạn của mình chắc chắn sẽ thích ngồi xuống ở một khoảng cách nào đó tính từ cô, trên một chiếc ghế; cô cảm thấy mình đã bất cẩn; trái tim nhạy cảm của cô hoảng sợ; duỗi người ra một lần nữa trên toàn bộ chiếc sofa, cô nhắm mắt lại và bắt đầu ngáp, để ra hiệu rằng chính mong muốn được ngủ, và chỉ duy nhất điều đó, đã khiến cô nằm dài ở đó. Bất chấp sự thân mật thô lỗ và hách dịch mà cô đối xử với người bạn đồng hành, tôi vẫn có thể nhận ra ở cô những bước tiến xu nịnh và ngập ngừng, những sự ngập ngừng và kiềm chế đột ngột từng đặc trưng cho người cha của cô.
Chẳng mấy chốc cô đứng dậy và bước đến cửa sổ, nơi cô vờ như đang cố gắng đóng các cánh chớp lại nhưng không thành công.
– Cứ để mở đi, – người bạn của cô nói. – Tớ thấy nóng.
– Nhưng khủng khiếp lắm! Người ta sẽ nhìn thấy chúng ta mất, – tiểu thư Vinteuil đáp. Và rồi cô đoán, có lẽ, rằng người bạn của mình sẽ nghĩ rằng cô đã thốt ra những từ ngữ này đơn giản là để khơi gợi một lời đáp lại bằng một số từ ngữ khác, thứ mà cô dường như thực sự muốn nghe được thốt ra, nhưng vì sự thận trọng, sẽ để người bạn của mình là kẻ cất lời trước. Và thế nên, mặc dù tôi không thể nhìn thấy khuôn mặt cô đủ rõ, tôi chắc chắn rằng biểu cảm ấy hẳn đã hiện lên trên nó mà bà tôi từng tìm thấy vô cùng thú vị, khi cô vội vã tiếp lời:
– Khi tớ nói ‘nhìn thấy chúng ta’ ý tớ là, tất nhiên, nhìn thấy chúng ta đọc sách. Thật là khủng khiếp khi nghĩ rằng trong mọi việc nhỏ nhặt tầm thường mà cậu làm ai đó có thể đang giám sát cậu.
Với sự rộng lượng bản năng của bản chất cô, một sự lịch thiệp vượt ngoài tầm kiểm soát của cô, cô kiềm chế không thốt ra những từ ngữ đã được trau chuốt, thứ mà cô cảm thấy là không thể thiếu cho sự hiện thực hóa đầy đủ mong muốn của cô. Và liên tục, trong tận sâu thẳm bản thể của cô, một thiếu nữ rụt rè và khẩn nài sẽ quỳ gối trước yếu tố kia, lão binh sừng sỏ nhưng đắc thắng, sẽ can thiệp với lão ta và buộc lão phải rút lui.
– Ồ, vâng, đúng là rất có khả năng là mọi người đang nhìn chúng ta vào giờ này ban đêm ở khu dân cư đông đúc này nhỉ! – người bạn của cô nói, với sự mỉa mai chua chát. – Và lỡ họ có nhìn thì sao nào? – cô tiếp tục, cảm thấy có bổn phận phải chú giải bằng một cái nháy mắt vừa ác ý vừa âu yếm những từ ngữ này mà cô đang lặp lại, ra vẻ tốt bụng giống như một bài học được chuẩn bị từ trước mà, cô biết, sẽ làm tiểu thư Vinteuil vui lòng khi nghe. – Và lỡ họ có nhìn thì sao nào? Càng tốt chứ sao, để họ nhìn chúng ta chứ.
Tiểu thư Vinteuil rùng mình và đứng phắt dậy. Trong trái tim nhạy cảm và đầy cắn rứt của mình, cô không biết những từ ngữ nào nên tuôn trôi, một cách tự phát, từ đôi môi cô, để tạo ra khung cảnh mà các giác quan khao khát của cô đang gào thét đòi hỏi. Cô vươn tới xa nhất có thể vượt qua những giới hạn của bản chất thực sự của mình để tìm kiếm thứ ngôn ngữ phù hợp với một thiếu nữ sa đọa như cách cô khao khát được người ta nghĩ tới, nhưng những từ ngữ mà cô tưởng tượng, một thiếu nữ như thế có thể đã thốt ra với sự chân thành lại nghe có vẻ không thực trong chính miệng cô. Và có ít ỏi những gì cô cho phép bản thân thốt ra thì lại được thốt lên bằng một giọng điệu căng thẳng, trong đó sự rụt rè đã ăn sâu làm tê liệt khuynh hướng tự do và sự táo bạo trong lời nói của cô; trong khi cô liên tục ngắt quãng bản thân bằng:
– Cậu chắc là mình không lạnh chứ? Cậu không thấy quá nóng chứ? Cậu không muốn ngồi và đọc sách một mình à?...
– Suy nghĩ của phu nhân có vẻ hơi ‘nóng’ vào tối nay đấy nhỉ, – cô kết luận, không nghi ngờ gì nữa lặp lại một cụm từ mà cô từng nghe được sử dụng, vào dịp trước đó, bởi người bạn của mình.
Trong phần khoét chữ V của chiếc áo cổ tang phục, tiểu thư Vinteuil cảm thấy vết chích từ nụ hôn bất chợt của người bạn; cô thét lên một tiếng nhỏ rồi bỏ chạy; và rồi họ bắt đầu rượt đuổi lẫn nhau quanh phòng, trèo qua đồ đạc, những chiếc tay áo rộng của họ phấp phới như những đôi cánh, kêu cục cục và gáy rả rích giống như một đôi gia cầm đang ái ân. Cuối cùng tiểu thư Vinteuil ngã xuống kiệt sức trên chiếc sofa, nơi cô bị che khuất khỏi tôi bởi cái cúi người của người bạn cô. Nhưng kẻ sau giờ đây lại quay lưng về phía chiếc bàn nhỏ nơi bức ảnh của ông thầy dạy nhạc già đã được bố trí sẵn. Tiểu thư Vinteuil nhận ra rằng người bạn của cô sẽ không nhìn thấy nó trừ phi sự chú ý của cô ta bị kéo đến nó, và thế nên thốt lên, như thể chính cô vừa nhận ra nó lần đầu tiên:
– Ồ! Có bức ảnh của bố tớ đang nhìn chúng ta kìa; tớ không thể nghĩ ai lại có thể đặt nó ở đó; tớ chắc chắn là tớ đã bảo họ đến hai mươi lần rồi, đó không phải là chỗ thích hợp cho nó.
Tôi nhớ lại những từ ngữ mà ông Vinteuil từng dùng để nói với bố mẹ tôi khi xin lỗi vì một bản nhạc bất tiện. Bức ảnh này, tất nhiên, được sử dụng phổ biến trong các nghi lễ của họ, bị chịu đựng sự phàm tục hóa hàng ngày, bởi vì người bạn đã đáp lại bằng những từ ngữ rõ ràng là một lời đáp lễ phụng vụ:
– Cứ để ông ấy ở đó đi. Ông ấy không thể làm phiền chúng ta được nữa đâu. Cậu nghĩ ông ấy sẽ bắt đầu lầm bầm phàn nàn, cậu nghĩ ông ấy sẽ tống cổ cậu ra khỏi nhà nếu ông ấy có thể nhìn thấy cậu bây giờ, với cái cửa sổ mở toang kia, cái con khỉ già xấu xí này ư?
Đến lượt tiểu thư Vinteuil đáp lại, “Xin cậu đấy!” – một sự quở trách nhẹ nhàng minh chứng cho bản chất lương thiện thực sự của cô, không phải nó được thúc đẩy bởi bất kỳ sự oán giận nào khi nghe cha mình bị nói đến theo cách này (bởi vì đó rõ ràng là cảm giác mà cô đã tự huấn luyện bản thân, qua một quá trình ngụy biện dài dằng dặc, để giữ trong sự kìm kẹp chặt chẽ vào những khoảnh khắc như thế) mà đúng hơn bởi vì đó chính là chiếc dây cương mà, để tránh mọi vẻ ích kỷ, chính cô sử dụng để kiềm chế sự thỏa mãn mà người bạn của cô đang cố gắng mang lại cho cô. Rất có thể, nữa, sự mỉm cười ôn hòa mà cô đối mặt và trả lời những lời báng bổ này, rằng sự quở trách đầy ân cần và đạo đức giả này xuất hiện trước bản chất thành thật và quảng đại của cô như một hình thức đặc biệt đáng xấu hổ và quyến rũ của cái thái độ tội lỗi đối với cuộc đời mà cô đang cố gắng áp dụng. Nhưng cô không thể chống lại sự hấp dẫn của việc được đối xử trìu mến bởi một người phụ nữ vừa mới tỏ ra tàn nhẫn không khoan nhượng đến thế đối với người đã khuất không thể tự vệ; cô chồm lên đầu gối của người bạn và chìa ra một vương miện trinh trắng để được hôn; chính xác như một người con gái đã làm với mẹ mình, cảm thấy với niềm vui tinh tế rằng họ sẽ thế đấy, giữa họ, giáng đòn xoay chuyển cuối cùng của sự tàn nhẫn, khi cướp đoạt của ông Vinteuil, tựa như thể họ đang thực sự cướp phá ngôi mộ của ông, những quyền thiêng liêng của tình phụ tử. Người bạn của cô cầm lấy đầu cô gái trong hai tay và đặt một nụ hôn lên trán cô với sự ngoan ngoãn được thúc đẩy bởi tình cảm thực sự mà cô dành cho tiểu thư Vinteuil, cũng như bởi mong muốn mang lại bất kỳ sự xao lãng nào có thể vào cuộc đời buồn tẻ và sầu thảm của một đứa mồ côi.
– Cậu có biết tớ muốn làm gì với lão quái vật già đó không? – cô nói, cầm lấy bức ảnh. Cô thì thầm vào tai tiểu thư Vinteuil thứ gì đó mà tôi không thể phân biệt nổi.
– Ồ! Cậu sẽ không dám đâu.
– Không dám nhổ nước bọt vào nó ư? Lên cái thứ đó á? – người bạn hét lên với sự tàn bạo có chủ ý.
Tôi không nghe thêm được gì nữa, bởi vì tiểu thư Vinteuil, người giờ đây trông có vẻ mệt mỏi, lúng túng, bận tâm, chân thành và khá buồn bã, đã quay trở lại cửa sổ và kéo chặt các cánh chớp lại; nhưng tôi đã biết bây giờ phần thưởng mà ông Vinteuil, để đổi lấy tất cả những đau khổ mà ông từng chịu đựng trong đời, vì lợi ích của con gái mình, đã nhận được từ cô sau khi ông qua đời.
Và thế nhưng từ đó tôi đã ngẫm nghĩ rằng nếu ông Vinteuil có thể có mặt tại cảnh tượng này, ông có lẽ vẫn thế, và bất chấp tất cả, tiếp tục tin tưởng vào sự lành mạnh trong trái tim của con gái mình, và rằng ông thậm chí có lẽ, trong việc làm như thế, không phải hoàn toàn sai lầm. Đúng là trong tất cả các hành động của tiểu thư Vinteuil sự xuất hiện của cái ác mạnh mẽ và nhất quán đến mức sẽ khó lòng tìm thấy nó được trưng bày trong sự hoàn chỉnh như thế ngoại trừ trong cái mà ngày nay được gọi là một kẻ ‘bạo dâm’; đó là đằng sau ánh đèn sân khấu của một nhà hát Paris chứ không phải dưới ngọn đèn ấm cúng của một ngôi nhà nông thôn thực sự, nơi người ta mong đợi nhìn thấy một cô gái dẫn dắt bạn mình đi nhổ nước bọt vào bức ảnh của một người cha đã sống và chết vì không có gì và không có ai ngoài chính cô ta; và khi chúng ta tìm thấy trong đời thực một niềm mong mỏi hiệu ứng kịch tính, đó thường là bản năng ‘bạo dâm’ chịu trách nhiệm cho nó. Có thể là, mà không mảy may nghiêng chút nào về ‘chủ nghĩa bạo dâm’, một cô gái hoàn toàn có thể thể hiện sự tàn nhẫn tai họa y như tiểu thư Vinteuil trong việc báng bổ ký ức và thách thức những mong ước của người cha đã khuất, nhưng cô ta sẽ không ban cho chúng sự biểu đạt có chủ ý trong một hành động thô thiển đến thế trong tính biểu tượng của nó, thiếu sự tinh tế đến thế; yếu tố tội phạm trong hành vi của cô ta sẽ ít hiển hiện hơn đối với người khác, và thậm chí đối với chính cô ta, bởi vì cô ta sẽ không thừa nhận với bản thân rằng mình đang làm điều sai trái.
Nhưng gạt đi những vẻ bề ngoài, trong tâm hồn tiểu thư Vinteuil, ít nhất là trong các giai đoạn đầu, yếu tố cái ác có lẽ không phải là không được pha trộn. Một kẻ ‘bạo dâm’ theo kiểu của cô là một nghệ sĩ về cái ác, thứ mà một kẻ hoàn toàn độc ác không thể nào làm được, bởi vì trong trường hợp đó cái ác sẽ không nằm ở bên ngoài, nó sẽ có vẻ hoàn toàn tự nhiên đối với cô ta, và thậm chí sẽ không thể phân biệt được với chính bản thân cô ta; và đối với sự đức hạnh, sự tôn trọng người đã khuất, sự vâng lời của con cái, vì cô ta chưa bao giờ thực hành việc tôn sùng những thứ này, cô ta sẽ không tìm thấy niềm vui bất kính nào trong sự phàm tục hóa của chúng. Những kẻ ‘bạo dâm’ theo kiểu của tiểu thư Vinteuil là những sinh linh thuần túy mang tính cảm xúc, quá ư đức hạnh bởi bản chất đến mức ngay cả niềm vui thể xác cũng hiện lên trước họ như một thứ gì đó tồi tệ, một đặc quyền được dành riêng cho những kẻ độc ác. Và khi họ cho phép bản thân trong chốc lát được tận hưởng nó, họ nỗ lực hóa thân, khoác lên mọi vẻ bề ngoài bên ngoài của những kẻ độc ác, cho bản thân và những kẻ đồng lõa trong tội lỗi của họ, cốt để đạt được ảo tưởng chốc lát về việc đã trốn thoát vượt qua tầm kiểm soát của chính bản chất dịu dàng và cẩn trọng của họ vào thế giới vô nhân tính của niềm vui.
Và tôi có thể hiểu được cô ấy đã khao khát một sự trốn chạy như thế đến mức nào khi tôi nhận ra rằng việc thực hiện nó là bất khả thi đối với cô. Vào khoảnh khắc khi cô muốn được người ta nghĩ đến như là phản đề hoàn toàn của cha mình, những gì cô ngay lập tức gợi ý cho tôi chính là những điệu bộ, trong tư duy và lời nói, của người thầy dạy nhạc già tội nghiệp. Quả thực, bức ảnh của ông chẳng là gì cả; thứ mà cô thực sự báng bổ, thứ mà cô làm vấy bẩn thành phục vụ cho những niềm vui của mình, nhưng thứ vẫn nằm giữa chúng và cô và ngăn cản cô khỏi bất kỳ sự tận hưởng trực tiếp nào đối với chúng, chính là sự tương đồng giữa khuôn mặt cô và khuôn mặt ông, đôi mắt xanh của người mẹ mà ông đã truyền lại cho cô, giống như một món đồ trang sức nhỏ được giữ lại trong gia đình, những cử động và độ nghiêng thân thiện nhỏ bé ấy thiết lập giữa sự đồi bại của tiểu thư Vinteuil và chính cô một hệ thống ngôn từ, một thứ tâm lý không được thiết kế cho sự đồi bại, thứ khiến cô coi nó không hề khác biệt so với vô số những nghĩa vụ xã hội nhỏ nhoi và sự lịch thiệp mà cô phải cống hiến cho bản thân mỗi ngày. Không phải cái ác mang lại cho cô ý tưởng về niềm vui, thứ có vẻ hấp dẫn đối với cô; mà chính niềm vui, đúng hơn, mới có vẻ tồi tệ. Và như thế, mỗi khi cô chìm đắm trong nó, niềm vui đến với cô đi kèm với những suy nghĩ tồi tệ như thế, thông thường, không có chỗ đứng trong tâm trí đức hạnh của cô, cô cuối cùng nhìn thấy trong chính niềm vui thứ gì đó mang tính ma quỷ, đồng nhất hóa nó với Cái Ác.
Có lẽ tiểu thư Vinteuil cảm thấy rằng ở tận đáy lòng người bạn của mình không phải là kẻ hoàn toàn tồi tệ, không thực sự chân thành khi cô ta tuôn ra những lời báng bổ đó. Dù thế nào đi nữa, cô vẫn có được niềm vui khi nhận được những nụ hôn đó trên trán, những nụ cười, những cái nhìn; tất cả đều được giả vờ, có lẽ, nhưng tương đồng trong phương thức biểu đạt đê tiện và đồi bại của chúng với những thứ có thể nhận ra trên khuôn mặt của một sinh linh được hình thành không phải từ sự tử tế và lòng kiên nhẫn, mà từ sự buông thả bản thân và sự tàn nhẫn. Cô có thể đánh lừa bản thân trong chốc lát để tin rằng cô thực sự đang tận hưởng bản thân theo cách mà, với một kẻ đồng lõa phi tự nhiên như thế, một cô gái thực sự trải nghiệm ác cảm man rợ đối với ký ức của cha mình có thể tận hưởng bản thân. Có lẽ cô sẽ không nghĩ đến sự độc ác như một trạng thái quá ư hiếm hoi, quá bất thường, quá xa lạ, thứ quá sảng khoái để ghé thăm, nếu cô có thể phân biệt được trong chính bản thân mình, như trong tất cả đồng loại nam nữ của mình, sự thờ ơ đối với những đau khổ mà họ gây ra, thứ mà bất kỳ tên gọi nào khác được gán cho nó, chính là hình thức độc ác duy nhất đích thực, khủng khiếp và trường tồn.
Nếu ‘lối Méséglise’ dễ dàng bao nhiêu, thì lại là một câu chuyện hoàn toàn khác khi chúng ta chọn ‘lối Guermantes’, bởi vì điều đó đồng nghĩa với một chuyến đi dạo dài, và chúng ta phải chắc chắn trước tiên về thời tiết. Khi chúng ta có vẻ đã bước vào một đợt thời tiết những ngày đẹp trời, khi thím Françoise, tuyệt vọng vì không có lấy một giọt mưa rơi xuống ‘những mùa màng tội nghiệp’, ngước nhìn bầu trời và ở đó chỉ nhìn thấy một đám mây trắng nhỏ lơ lửng đây đó trên bề mặt tĩnh lặng, màu xanh da trời của nó, rên rỉ lớn tiếng và thốt lên:
– Người ta sẽ nói chúng chẳng khác nào một bầy cá nhám bơi lội tung tăng và chĩa mõm lên trời ấy chứ! À, chúng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện làm cho trời mưa một chút cho những người lao động nghèo cả! Và rồi khi lúa mì đã chín vàng rực, nó sẽ đổ sào xuống, ào ạt khắp nơi, và chẳng màng đến việc nó đang rơi xuống đâu y như thể nó rơi xuống biển vậy! – khi những lời cầu xin của bố tôi gửi đến người làm vườn đã gặp phải câu trả lời khích lệ tương tự vài lần liên tiếp, thì ai đó sẽ nói, trong bữa tối: – Ngày mai, nếu thời tiết giữ vững, chúng ta có thể đi lối Guermantes.
Và chúng ta sẽ lên đường, ngay sau bữa trưa, qua cánh cổng vườn nhỏ thả chúng ta xuống phố Rue des Perchamps, chật hẹp và uốn khúc ở một góc sắc bén, lấm chấm những bãi cỏ mà qua đó hai hoặc ba con ong vò vẽ sẽ dành cả ngày để làm công việc thực vật học, một con phố độc đáo y như tên gọi của nó, từ những đặc điểm kỳ lạ và tính cách của nó, tôi cảm thấy, được bắt nguồn; một con phố mà người ta có thể tìm kiếm trong vô vọng qua Combray ngày nay, bởi vì ngôi trường công lập giờ đây mọc lên ngay trên vị trí của nó. Nhưng trong những giấc mơ của tôi về Combray (giống như những kiến trúc sư, học trò của Viollet-le-Duc, những kẻ tưởng tượng rằng họ có thể phát hiện ra, bên dưới một gác xép thời Phục hưng và một bệ thờ thế kỷ XVIII, những dấu vết của một dàn hợp xướng phong cách Norman, khôi phục toàn bộ nhà thờ về trạng thái mà nó có lẽ từng có vào thế kỷ XII) tôi không để lại một hòn đá nào của công trình hiện đại đứng vững, tôi đâm thủng qua nó và ‘khôi phục’ phố Rue des Perchamps.
Và cho sự tái thiết như thế, ký ức cung cấp cho tôi sự hướng dẫn chi tiết hơn so với những gì thường có sẵn cho các nhà khôi phục; những bức tranh mà nó đã bảo tồn – có lẽ là những bức tranh tồn tại cuối cùng trên thế giới ngày nay, và chẳng mấy chốc sẽ đi theo phần còn lại vào sự lãng quên – về diện mạo của Combray trông ra sao trong những ngày thơ ấu của tôi; những bức tranh mà, đơn thuần bởi vì chính Combray cổ kính từng vạch ra những đường nét của chúng lên tâm trí tôi trước khi nó biến mất, mang tính xúc động đến thế – nếu tôi có thể so sánh một phong cảnh khiêm tốn với những tác phẩm lừng lẫy đó, những bản sao mà bà tôi rất thích ban tặng cho tôi – y như những bản khắc cũ của bức ‘Cenacolo’, hay bức tranh của Gentile Bellini, trong đó người ta nhìn thấy, ở trạng thái mà chúng không còn tồn tại nữa, kiệt tác của Leonardo và hiên nhà thờ Saint Mark.
Chúng ta sẽ đi qua, ở phố Rue de l'Oiseau, trước nhà trọ cổ Oiseau Flesché, vào trong khoảng sân lớn của nó, thuở xửa thu xưa, từng vang lên tiếng rầm rầm của những chiếc xe ngựa thuộc về các Nữ công tước de Montpensier, de Guermantes, và de Montmorency, khi họ phải về Combray để giải quyết một số tranh chấp pháp lý với các tá nông của họ, hoặc để tiếp nhận sự thần phục từ họ. Cuối cùng chúng ta sẽ đến Công viên Mall, giữa những tán lá cây mà tôi có thể phân biệt được ngọn tháp của nhà thờ Saint-Hilaire. Và tôi đã ước gì mình có thể ngồi xuống và dành toàn bộ ngày ở đó, đọc sách và lắng nghe những tiếng chuông, bởi vì nơi đó vô cùng quyến rũ và yên tĩnh đến mức, khi một tiếng đồng hồ điểm, bạn sẽ phải nói không phải là nó phá vỡ sự tĩnh lặng của ngày, mà là nó giải thoát ngày khỏi sự thừa thãi của nó, và rằng ngọn tháp, với sự chính xác lười biếng và tận tâm của một kẻ không có việc gì khác để làm, đã đơn giản, để vắt kiệt và thả rơi vài giọt vàng đã tích tụ một cách chậm chạp và tự nhiên dưới ánh nắng gay gắt, đã nhấn, tại một thời điểm nhất định, bề mặt căng phồng của sự tĩnh lặng.
Sự quyến rũ lớn lao của ‘lối Guermantes’ chính là việc chúng ta có ở bên cạnh mình, hầu như suốt thời gian, dòng chảy của con sông Vivonne. Chúng ta vượt qua nó lần đầu tiên, mười phút sau khi rời khỏi nhà, qua một chiếc cầu đi bộ mang tên Pont-Vieux. Và mỗi năm, khi chúng ta đến Combray, vào buổi sáng lễ Phục sinh, sau bài giảng đạo, nếu thời tiết đẹp, tôi sẽ chạy ra đó để nhìn ngắm (giữa tất cả sự hỗn độn ngự trị vào buổi sáng của một dịp lễ lớn, những sự chuẩn bị lộng lẫy của nó làm cho những dụng cụ gia đình thường ngày mà chúng không tài nào xua đuổi nổi trở nên tồi tàn hơn bao giờ hết) dòng sông đang chảy xiết, xanh ngắt màu trời bên cạnh những bờ sông hãy còn đen và trơ trụi, những người bạn đồng hành duy nhất của nó là một khóm hoa thủy tiên vàng, nở sớm trước thời hạn, một vài đóa hoa anh thảo, những đóa đầu tiên nở hoa, trong khi chỗ này chỗ kia cháy bừng ngọn lửa xanh của một đóa hoa violet, thân của nó uốn cong bên dưới sức nặng của giọt hương thơm được tích trữ trong cái sừng bé xíu của nó.
Cầu Pont-Vieux dẫn đến một con đường kéo thuyền dọc bờ sông, tại điểm này, sẽ bị rợp bóng vào mùa hè bởi những tán lá xanh lam của một cây phỉ, bên dưới một người câu cá đội mũ rơm dường như đã bám rễ ở đó. Ở Combray, nơi tôi quen biết mọi người, và có thể luôn phát hiện ra người thợ rèn hay cậu phụ việc tiệm tạp hóa đằng sau lớp ngụy trang đồng phục chủ sự hay áo thụng đồng ca, người câu cá này là người duy nhất mà tôi không bao giờ có thể nhận dạng được. Chắc chắn anh ta phải quen biết gia đình tôi, bởi vì anh ta thường ngả mũ chào khi chúng tôi đi qua; và khi đó tôi luôn suýt chút nữa định hỏi tên anh ta, thì ai đó sẽ làm hiệu bảo tôi giữ im lặng, hoặc tôi sẽ làm con cá hoảng sợ. Chúng tôi sẽ đi theo con đường kéo thuyền chạy dọc theo đỉnh của một bờ dốc đứng, cao hơn mặt dòng suối vài feet. Mặt đất ở phía bên kia thấp hơn, và trải dài trong một loạt các đồng cỏ rộng lớn kéo dài tận ngôi làng và thậm chí đến cả nhà ga xe lửa ở xa xôi. Rải rác trên đó là những tàn tích, bị chôn vùi một phần trong thảm cỏ dài, của lâu đài thuộc về các Bá tước Combray cổ đại, những người, trong suốt thời Trung cổ, từng có ở phía bên này dòng chảy của sông Vivonne như một hàng rào và sự phòng thủ chống lại các cuộc tấn công từ các Lãnh chúa Guermantes và các Viện phụ Martinville.
Chẳng còn lại gì ngoài vài mụn stump của tháp, những khối gò trên bề mặt rộng lớn của các cánh đồng, hầu như không thể nhìn thấy, những chiến lũy bị vỡ mà trong thời đại của chúng, các cung thủ từng hớt hỏi ném đá xuống, những lính canh từng phóng tầm mắt nhìn ra Novepont, Clairefontaine, Martinville-le-Sec, Bailleau-l'Exempt, những thái ấp toàn bộ đều thuộc về nhà Guermantes, một vòng vây mà trong đó Combray bị khóa chặt; nhưng đã rơi xuống giữa thảm cỏ lúc này, san bằng với mặt đất, bị trèo lên và thống trị bởi những cậu bé từ trường của các Sư huynh Cơ đốc, những người đến đó trong giờ giải lao, hoặc cùng với sách vở để học thuộc lòng; những biểu tượng của một quá khứ đã chìm xuống và suýt biến mất hoàn toàn dưới lòng đất, nằm bên bờ nước lúc này, giống như một kẻ nhàn rỗi đang hít thở không khí, thế nhưng mang lại cho tôi thức ăn tư duy mạnh mẽ, khiến cái tên Combray mang ý nghĩa đối với tôi không chỉ là thị trấn nhỏ ngày nay mà là một thành phố lịch sử hoàn toàn khác biệt, tóm lấy và giữ lấy trí tưởng tượng của tôi bởi những nét đặc trưng xa xôi, khó hiểu mà nó che giấu một phần bên dưới tấm màn thêu lấp lánh của hoa mao lương.
Bởi vì hoa mao lương mọc nhiều vô số kể trên điểm này, nơi chúng đã chọn cho những trò chơi của mình giữa thảm cỏ, đứng đơn lẻ, từng cặp, trong cả những đoàn thể lớn, vàng óng như lòng đỏ trứng, và tỏa sáng với ánh hào quang được bồi đắp thêm, tôi cảm thấy, bởi vì, bất lực trong việc tiêu thụ với vòm họng của mình niềm vui mà cảnh tượng của chúng chưa bao giờ thất bại trong việc mang lại cho tôi, tôi sẽ để nó tích tụ khi tầm mắt tôi quét qua không gian mạ vàng của chúng, cho đến khi nó đạt được sức mạnh để tạo ra trong tâm trí tôi một ví dụ tươi mới về vẻ đẹp tuyệt đối, không mang lại sản phẩm; và thế là nó đã diễn ra từ thời thơ ấu của tôi, khi từ con đường kéo thuyền tôi từng vươn đôi tay mình về phía chúng, trước cả khi tôi có thể phát âm nổi cái tên quyến rũ của chúng – một cái tên xứng tầm với vị Hoàng tử trong một câu chuyện cổ tích Pháp nào đó; những kẻ thực dân, có lẽ, trong một thế kỷ xa xôi nào đó từ châu Á, nhưng giờ đây đã được nhập tịch vĩnh viễn trong ngôi làng, hoàn toàn mãn nguyện với chân trời khiêm tốn của chúng, hoan hỉ dưới ánh nắng và mép nước, trung thành với khung cảnh nhỏ bé của nhà ga xe lửa; thế nhưng vẫn giữ lại, chẳng kém phần nào, giống như một số bức tranh cũ của chúng ta, trong sự giản dị bình dân của chúng, một ánh lấp lánh thơ ca từ phương Đông vàng son.
Tôi sẽ giải trí bản thân bằng cách ngắm nhìn những chiếc lọ thủy tinh mà lũ trẻ thường thả xuống sông Vivonne, để bắt cá con, và được lấp đầy bởi dòng chảy của dòng suối, nơi chính bản thân chúng cũng được bao bọc bên trong, lập tức vừa là ‘vật chứa’ có những bức tường trong suốt giống như nước đông đặc vừa là ‘nội dung’ được thả chìm vào trong một vật chứa thậm chí còn lớn hơn bằng chất lỏng, pha lê đang chảy, gợi ý một hình ảnh về sự mát lạnh ngon lành hơn và khiêu khích hơn so với cùng làn nước trong cùng những chiếc lọ đó, đứng trên một chiếc bàn được dọn sẵn cho bữa tối, bằng cách phơi bày nó như liên tục đang trốn chạy giữa làn nước vô hình, nơi đôi tay tôi không thể bắt giữ nó, và lớp thủy tinh không hòa tan, nơi vòm họng tôi không thể thưởng thức nó. Tôi quyết định rằng mình sẽ quay lại đó một lần nữa với một chiếc cần câu và bắt cá; tôi nài nỉ và thu được một mẩu bánh mì từ giỏ ăn trưa của chúng tôi; và ném xuống sông Vivonne những viên bột có quyền năng, có vẻ thế, mang lại một phản ứng kết tủa hóa học, bởi vì dòng nước ngay lập tức đông đặc lại xung quanh chúng thành những cụm hình bầu dục gồm những con nòng nọc gầy guộc, thứ mà cho đến lúc đó nó, không nghi ngờ gì nữa, đã giữ trong dung dịch, vô hình, nhưng sẵn sàng và cảnh giác để bước vào giai đoạn kết tinh.
Chẳng mấy chốc dòng chảy của sông Vivonne bị nghẹt bởi những thảm thực vật thủy sinh. Thoạt đầu chúng xuất hiện đơn lẻ, một đóa hoa súng, ví dụ thế, thứ mà dòng chảy, băng qua con đường mà nó đã không may mọc lên, sẽ chẳng bao giờ để cho nghỉ ngơi trong một khoảnh khắc, thế nên giống như một chiếc phà được đẩy bằng cơ học, nó sẽ trôi dạt sang bờ này chỉ để quay trở lại bờ kia, vĩnh viễn lặp lại hành trình kép của nó. Bị đẩy về phía bờ, cuống của nó sẽ được duỗi thẳng ra, kéo dài ra, căng thẳng đến mức gần như đến điểm đứt gãy cho đến khi dòng chảy một lần nữa tóm lấy nó, những mối buộc xanh của nó văng ngược lại qua các điểm neo của chúng và đưa thực vật bất hạnh đến nơi có thể gọi một cách thích hợp là điểm xuất phát của nó, bởi vì nó có số phận không được nghỉ ngơi ở đó một khoảnh khắc trước khi di chuyển một lần nữa. Tôi vẫn sẽ tìm thấy nó ở đó, trong buổi dạo chơi này nối tiếp buổi dạo chơi khác, luôn ở trong tình trạng bất lực tương tự, gợi ý đến một số nạn nhân của chứng suy nhược thần kinh, trong số đó ông ngoại tôi sẽ bao gồm cả dì Léonie, những kẻ trình diễn mà không có sự sửa đổi nào, năm này qua năm khác, cảnh tượng về những thói quen kỳ lạ và không thể giải thích của họ, những thứ mà họ luôn tưởng tượng bản thân đang ở trên bờ vực rũ bỏ, nhưng họ luôn giữ lại cho đến tận cùng; bị bắt vào cỗ máy xay của chính các căn bệnh và sự kỳ quặc của họ, những nỗ lực vô ích của họ để trốn chạy chỉ phục vụ để kích hoạt cơ chế của nó, để duy trì chuyển động của chiếc đồng hồ về vòng quay hàng ngày kỳ lạ, không thể tránh khỏi, định mệnh của họ. Giống như những kẻ đó chính là đóa hoa súng, và cũng giống như một trong những kẻ khốn khổ có những sự đày đọa kỳ lạ, được lặp lại vô thời hạn suốt cõi vĩnh hằng, đánh thức sự tò mò của Dante, kẻ sẽ gặng hỏi về chúng chi tiết hơn và đầy đủ hơn từ chính các nạn nhân, nếu như Virgil, sải bước phía trước, không buộc ông phải vội vã chạy theo ông ta với tốc độ tối đa, y như tôi phải vội vã chạy theo bố mẹ mình.
Nhưng xa hơn nữa dòng chảy chậm lại, nơi dòng suối chảy qua một điền trang được mở cửa cho công chúng bởi chủ nhân của nó, người có sở thích làm vườn thủy sinh, thế nên những chiếc hồ nhỏ mà sông Vivonne bị chuyển hướng ở đây nở rộ hoa súng. Vì các bờ ở điểm này được rợp bóng rậm rạp bởi những cái cây, bóng râm nặng nề của những cái cây mang lại cho dòng nước một phông nền thường là màu xanh lá cây đậm, mặc dù đôi khi, khi chúng ta trở về nhà vào một buổi chiều tĩnh lặng sau một buổi chiều bão bùng, tôi từng nhìn thấy trong độ sâu của nó một sắc xanh lam trong trẻo, thô sơ gần như màu tím, gợi ý một mặt sàn bằng men pháp lam Nhật Bản cloisonné. Đây đó, trên bề mặt, nổi bồng bềnh, đỏ ửng như quả dâu tây, trái tim đỏ thắm của một đóa hoa súng được đặt trong vòng tròn những cánh hoa trắng.
Vượt qua những thứ này, những đóa hoa xuất hiện thường xuyên hơn, nhưng nhợt nhạt hơn, ít bóng bẩy hơn, nhiều hạt hơn, được gấp nếp chặt chẽ hơn, và được sắp xếp, do sự tình cờ, trong những tràng hoa duyên dáng đến mức tôi sẽ tưởng tượng mình nhìn thấy nổi trên dòng suối, hệt như sau khi tước bỏ ảm đạm của những đồ trang trí được sử dụng trong một lễ hội Watteau, những đóa hoa hồng rêu trong những vòng hoa bị nới lỏng. Nơi khác một góc dường như được dành riêng cho những loại hoa súng phổ biến hơn; có màu hồng hoặc trắng gọn gàng giống như hoa mõm sói, được gột rửa sạch sẽ giống như đồ sứ, với sự cẩn trọng của người nội trợ; trong khi, xa hơn một chút nữa, là những đóa khác, được ép sát lại với nhau trong một luống hoa nổi, hệt như hoa păng-xê đã bay ra khỏi khu vườn giống như những chú bướm và đang lơ lửng với đôi cánh xanh lam và bóng loáng trên độ sâu trong suốt của viền nước này; viền bầu trời này nữa bởi vì nó thiết lập bên dưới những đóa hoa một lớp đất có màu sắc quý giá hơn, xúc động hơn so với chính chúng; và cả vào buổi chiều, khi nó lấp lánh bên dưới những đóa hoa súng trong ống kính vạn hoa của một niềm hạnh phúc thầm lặng, bồn chồn, và cảnh giác, và hướng về buổi chiều, khi nó được lấp đầy giống như một thiên đường xa xôi với những giấc mơ hồng hào của mặt trời lặn, thay đổi không ngừng và luôn giữ lại trong sự hòa hợp, về màu sắc vĩnh cửu hơn của chính những đóa hoa, với độ sâu tột cùng, sự thoáng qua, và sự huyền bí – với sự gợi ý tĩnh lặng về sự vô tận; buổi chiều hay buổi chiều tà, nó dường như đã thiết lập chúng nở hoa trong trái tim của bầu trời.
Sau khi rời khỏi công viên này, sông Vivonne bắt đầu chảy nhanh hơn một chút. Biết bao lần tôi từng ngắm nhìn, và khao khát được bắt chước, khi tôi được tự do sống theo cách mình chọn, một tay chèo đã thu mái chèo của mình lại và nằm dài ngửa mặt, đầu cúi xuống, ở đáy thuyền, để cho nó trôi dạt theo dòng chảy, chẳng nhìn thấy gì ngoài bầu trời lướt nhẹ nhàng bên trên anh ta, phơi bày trên các nét mặt của anh ta một hương vị đi trước của hạnh phúc và sự bình yên.
Chúng tôi sẽ ngồi xuống giữa những khóm hoa diên vĩ ở mép nước. Trên bầu trời lễ hội một đám mây lười biếng trải dài đến tận chiều dài đầy đủ của nó. Thỉnh thoảng, bị nghiền nát bởi gánh nặng của sự lười biếng, một con cá chép sẽ trồi lên khỏi mặt nước, với một tiếng thở hổn hển đầy lo âu. Đã đến giờ chúng tôi ăn uống. Trước khi bắt đầu hành trình trở về nhà, chúng tôi sẽ ngồi trong một thời gian dài ở đó, ăn trái cây, bánh mì và sô-cô-la, trên thảm cỏ, nơi âm thanh của những chiếc chuông nhà thờ Saint-Hilaire vang đến tai chúng tôi, nằm ngang, mờ nhạt nhưng vẫn rắn chắc và mang tính kim loại, thứ đã không hề tan chảy chút nào trong bầu không khí mà nó đã quá quen thuộc để băng qua, nhưng, bị bẻ vụn thành từng mảnh bởi sự rung nhịp nối tiếp của tất cả những cú đánh vang dội của chúng, rung lên khi nó chà xát những đóa hoa dưới chân chúng tôi.
Đôi khi, ở mép nước và được nhúng vào trong những cái cây, chúng ta sẽ bắt gặp một ngôi nhà thuộc loại gọi là ‘nhà giải trí’, cô lập và lạc lõng, chẳng nhìn thấy gì trên thế giới này, ngoại trừ dòng sông tắm rửa cho đôi chân của nó. Một thiếu nữ trẻ, có khuôn mặt trầm ngâm và những chiếc mạng che mặt thời trang không gợi ý nguồn gốc địa phương, và không nghi ngờ gì nữa đã đến đó, theo cụm từ phổ biến, ‘để tự chôn vùi’, để nếm trải sự ngọt ngào cay đắng của cảm giác rằng tên của cô, và thậm chí hơn thế nữa tên của kẻ mà trái tim cô từng nắm giữ, nhưng đã không thể giữ lại, hoàn toàn không được biết đến ở đó, đứng được đóng khung trong một ô cửa sổ nơi cô không có tầm nhìn vượt ra ngoài chiếc thuyền được neo đậu bên cạnh cửa nhà cô. Cô ngước mắt lên với vẻ lơ đễnh khi nghe thấy, xuyên qua những tán cây lót bờ, giọng nói của những người qua đường mà trước khi họ xuất hiện trong tầm mắt, cô có thể chắc chắn rằng chưa bao giờ họ quen biết, cũng như họ sẽ không biết, gã người tình phản bội ấy, rằng không có gì trong cuộc đời quá khứ của họ mang dấu ấn của hắn, thứ mà không có gì trong tương lai của họ sẽ có dịp tiếp nhận. Người ta cảm thấy rằng trong sự từ bỏ cuộc đời của mình, cô đã sẵn lòng từ bỏ những nơi chốn mà ở đó ít nhất cô sẽ có thể nhìn thấy kẻ mà cô yêu thương, để đổi lấy những nơi khác nơi hắn chưa từng đặt chân tới. Và tôi ngắm nhìn cô, khi cô trở về từ một chuyến dạo chơi dọc theo con đường nơi cô biết rằng hắn sẽ không xuất hiện, kéo ra từ những ngón tay vâng lời của mình những chiếc găng tay dài mang một vẻ quyến rũ quý giá, vô dụng.
Chưa bao giờ, trong suốt những buổi dạo chơi của chúng tôi dọc theo ‘lối Guermantes’, chúng tôi có thể thâm nhập sâu đến tận nguồn của sông Vivonne, thứ mà tôi từng nghĩ đến rất nhiều, thứ có trong tâm trí tôi một sự tồn tại trừu tượng, lý tưởng đến mức tôi từng ngạc nhiên biết bao khi ai đó nói với tôi rằng nó thực sự được tìm thấy trong cùng một tỉnh, và ở một số dặm nhất định từ Combray, y như tôi từng ngạc nhiên vào ngày tôi học được rằng có một điểm cố định khác đâu đó trên bề mặt trái đất, nơi, theo những người cổ đại, mở ra những hàm của Địa ngục. Chúng tôi cũng không thể vươn tới đích đến khác đó, nơi tôi khao khát đạt đến biết bao, chính Guermantes. Tôi biết rằng đó là nơi cư trú của những chủ nhân của nó, Công tước và Nữ công tước de Guermantes, tôi biết rằng họ là những nhân vật thực sự tồn tại thực sự, nhưng bất cứ khi nào tôi nghĩ về họ, tôi tự tưởng tượng ra họ hoặc trong thảm thapestry, giống như ‘Lễ đăng quang của Esther’ treo trong nhà thờ của chúng tôi, hoặc trong những màu sắc thay đổi, cầu vồng, giống như Gilbert kẻ Xấu trong ô cửa kính của ông ta, nơi ông ta chuyển từ xanh lá bắp, khi tôi đang nhúng ngón tay vào bình nước thánh, sang xanh mận khi tôi đã đến hàng ghế của mình, hoặc lại hoàn toàn vô hình, giống như hình ảnh của Geneviève de Brabant, tổ tiên của gia đình Guermantes, thứ mà chiếc đèn chiếu ma thuật thả trôi dạt khắp những tấm rèm trong phòng tôi hoặc ném vút lên trần nhà – tóm lại, luôn được bao bọc trong sự huyền bí của thời đại Merovingian, và tắm đẫm, giống như trong một buổi hoàng hôn, trong ánh sáng cam tỏa ra từ âm tiết vang dội ‘antes’. Và nếu, bất chấp điều đó, họ vẫn là đối với tôi, với tư cách là một công tước và một nữ công tước, những con người thực sự, dẫu thuộc một loại chưa quen thuộc, nhân cách công tước này đến lượt nó lại bị phình to ra một cách khổng lồ, được phi vật chất hóa, để bao vây và chứa đựng cái Guermantes mà họ là công tước và nữ công tước của nó, toàn bộ ‘lối Guermantes’ ngập nắng trong những buổi dạo chơi của chúng tôi, dòng chảy của sông Vivonne, những đóa hoa súng và những cái cây rợp bóng của nó, và một chuỗi bất tận những buổi chiều hè nóng nực. Và tôi biết rằng họ không chỉ mang các tước hiệu Công tước và Nữ công tước de Guermantes, mà kể từ thế kỷ thứ mười bốn, khi, sau những nỗ lực vô ích nhằm chinh phục các lãnh chúa ban đầu của nó trong trận chiến, họ đã kết hôn với nhau, và do đó trở thành Bá tước Combray, những công dân đầu tiên, hệ quả là, của vùng đất ấy, thế nhưng là những kẻ duy nhất trong số các công dân của nó không sinh sống trong đó – Bá tước de Guermantes, sở hữu Combray, xâu chuỗi nó vào chuỗi tên tuổi và tước hiệu của họ, hấp thụ nó vào nhân cách của họ, và minh họa, không nghi ngờ gì nữa, trong chính bản thân họ sự u sầu kỳ lạ và sùng đạo mang tính đặc thù của Combray; chủ nhân của thị trấn, dẫu không thuộc về bất kỳ ngôi nhà cụ thể nào ở đó; cư trú, có lẽ, ở ngoài trời, trên đường phố, giữa thiên đường và mặt đất, giống như Gilbert de Guermantes đó, kẻ mà tôi có thể nhìn thấy, trong ô kính màu của nhà thờ chính tòa Saint-Hilaire, chỉ ‘mặt kia’ bằng sơn mài đen xỉn, nếu tôi ngẩng đầu lên để tìm kiếm ông ta, khi tôi đang đi đến tiệm của Camus để mua một gói muối.
Và rồi điều đó xảy ra là, đi ‘lối Guermantes’, tôi thỉnh thoảng đi ngang qua một dãy những khu vườn nhỏ được tưới tắm kỹ lưỡng, qua những hàng rào của chúng nhô lên những chùm hoa tối màu. Tôi sẽ dừng lại trước chúng, hy vọng thu được một sự bổ sung quý giá cho trải nghiệm của mình, bởi vì tôi dường như có trước mắt một mảnh của vùng đất ven sông mà tôi từng khao khát được nhìn thấy và biết đến rất nhiều kể từ khi bắt gặp một miêu tả về nó bởi một trong những tác giả yêu thích của tôi. Và chính với vùng đất trong câu chuyện cổ tích đó, với phần đất tưởng tượng được cắt ngang bởi hàng trăm dòng nước sủi bọt mà Guermantes, thay đổi hình hài trong tâm trí tôi, trở nên đồng nhất, sau khi tôi nghe bác sĩ Percepied nói về những đóa hoa và những khe suối và đài phun nước quyến rũ có thể nhìn thấy ở đó trong công viên của công tước. Tôi thường mơ rằng bà de Guermantes, nảy sinh một sở thích ngẫu hứng đột ngột dành cho chính tôi, đã mời tôi đến đó, rằng suốt cả ngày dài bà đứng câu cá hồi bên cạnh tôi. Và khi chiều về, nắm lấy tay tôi trong tay bà, khi chúng tôi đi qua những khu vườn nhỏ của các chư hầu của bà, bà sẽ chỉ cho tôi thấy những đóa hoa dựa những chiếc gai đỏ và tím của chúng dọc theo đỉnh của những bức tường thấp, và sẽ dạy tôi tất cả tên của chúng. Bà cũng sẽ bắt tôi kể cho bà nghe tất cả về những bài thơ mà tôi dự định sáng tác. Và những giấc mơ này nhắc nhở tôi rằng, vì tôi muốn, một ngày nào đó, trở thành một nhà văn, đã đến lúc phải quyết định loại sách nào tôi sẽ viết. Nhưng ngay khi tôi tự hỏi bản thân câu hỏi, và cố gắng khám phá một số chủ đề mà tôi có thể truyền đạt một ý nghĩa triết học có giá trị vô tận, tâm trí tôi sẽ dừng lại giống như một chiếc đồng hồ, tôi sẽ nhìn thấy trước mặt mình sự trống rỗng, không có gì, sẽ cảm thấy hoặc rằng mình hoàn toàn không có tài năng, hoặc rằng, có lẽ, một căn bệnh của bộ não đang cản trở sự phát triển của nó. Đôi khi tôi sẽ phụ thuộc vào việc bố tôi sắp xếp mọi thứ cho tôi. Ông quá quyền lực, có sự sủng ái lớn với những kẻ ‘thực sự có trọng lượng’, đến mức ông làm cho chúng ta có thể vi phạm những luật lệ mà thím Françoise từng dạy tôi coi là không thể tránh khỏi hơn cả các quy luật sống và chết, giống như khi chúng tôi được phép hoãn lại một năm việc sơn lại bức tường của ngôi nhà chúng ta, duy nhất trong số tất cả các ngôi nhà ở phần đó của Paris, hay khi ông thu được sự cho phép từ Bộ trưởng cho con trai bà Sazerat, người đã được lệnh đến một khu nghỉ dưỡng suối khoáng nào đó, được thi lấy bằng trước thời hạn hai tháng, cùng với những thí sinh có họ bắt đầu bằng chữ ‘A’, thay vì phải chờ đợi lượt của mình như một chữ ‘S’. Nếu tôi ngã bệnh nặng, nếu tôi bị bắt cóc bởi bọn cướp, tin chắc rằng sự thấu hiểu của bố tôi với các thế lực tối cao là quá hoàn chỉnh, rằng các bức thư giới thiệu của ông gửi cho Đấng Tối Cao là quá không thể cưỡng lại để căn bệnh hay sự giam cầm của tôi biến thành bất cứ thứ gì ngoài những ảo tưởng vô ích, trong đó không có mối nguy hiểm nào thực sự đe dọa tôi, tôi hẳn đã chờ đợi với sự bình tĩnh hoàn hảo thời điểm không thể tránh khỏi của việc tôi trở về với thực tế thoải mái, của việc được giải cứu khỏi vòng nô lệ hoặc khôi phục sức khỏe. Có lẽ sự thiếu tài năng này, cái hố đen ngòm há hốc trong tâm trí tôi khi tôi lục lọi nó để tìm chủ đề cho các tác phẩm tương lai của mình, bản thân nó cũng chẳng hơn gì, một ảo tưởng không có thực, và sẽ được đưa đến hồi kết bởi sự can thiệp của bố tôi, người sẽ sắp xếp với Chính phủ và với Chúa Phù Hộ rằng tôi sẽ là nhà văn đầu tiên trong thời đại của mình. Nhưng vào những lúc khác, trong khi bố mẹ tôi đang trở nên thiếu kiên nhẫn khi thấy tôi nán lại tụt lại phía sau thay vì đi theo họ, cuộc đời thực sự của tôi, thay vì có vẻ là một sự sáng tạo nhân tạo bởi bố tôi, và là thứ mà ông có thể sửa đổi theo ý muốn, lại xuất hiện, trái lại, được bao hàm trong một thực tế lớn lao hơn chưa từng được tạo ra vì lợi ích của tôi, từ những phán quyết của nó không có sự kháng cáo nào, ở trung tâm của nó tôi bị trói buộc, bất lực, không có bạn bè hay đồng minh, và vượt ra ngoài nó không còn khả năng nào khác ẩn giấu. Rõ ràng đối với tôi khi đó rằng tôi tồn tại theo cùng cách thức như tất cả mọi người đàn ông khác, rằng tôi phải già đi, rằng tôi phải chết giống như họ, và rằng trong số họ tôi chỉ được phân biệt đơn giản như một trong những kẻ không có năng khiếu viết lách. Và thế nên, hoàn toàn tuyệt vọng, tôi từ bỏ văn chương vĩnh viễn, bất chấp những sự khích lệ đã được ban cho tôi bởi Bloch. Cảm giác thân mật, tự phát này, ý thức này về sự vô hiệu của trí tuệ tôi, đã lấn át tất cả những bài phát biểu nịnh hót có thể được trút lên tôi, giống như một kẻ độc ác, khi mọi người lớn tiếng ca ngợi những việc làm tốt của hắn, bị gặm nhấm bởi sự cắn rứt bí mật của lương tâm.
Một ngày nọ má tôi nói:
– Con cứ luôn miệng nhắc đến bà de Guermantes. Chà, bác sĩ Percepied đã làm rất nhiều điều cho bà ấy khi bà ấy ốm, bốn năm trước, và thế nên bà ấy đang đến Combray dự đám cưới con gái bác ấy. Con sẽ có thể nhìn thấy bà ấy ở nhà thờ.
Chính từ bác sĩ Percepied, hóa ra, là nơi tôi đã nghe nhiều nhất về bà de Guermantes, và ông thậm chí từng cho chúng tôi xem số báo minh họa trong đó bà được miêu tả trong trang phục dự tiệc hóa trang do Công tước de Léon tổ chức.
Bất chợt, trong suốt thánh lễ cưới, viên chủ sự, bằng cách dịch sang một bên, đã cho phép tôi nhìn thấy, đang ngồi trong một nhà nguyện, một người phụ nữ tóc vàng và chiếc mũi lớn, đôi mắt xanh thẳm xuyên thấu, chiếc khăn choàng bằng lụa màu hoa cà bồng bềnh, bóng loáng và mới tinh rực rỡ, và một nốt ruồi nhỏ ở khóe mũi. Và bởi vì trên bề mặt khuôn mặt bà, đỏ bừng, như thể bà rất ấm áp, tôi có thể phân biệt được, loãng ra và hầu như không thể nhận ra, những chi tiết giống với bức chân dung từng được cho tôi xem; bởi vì, đặc biệt hơn thế, những nét đặc trưng cụ thể mà tôi nhận xét ở người phụ nữ này, nếu tôi cố gắng liệt kê chúng, tự hình thức hóa bằng chính xác những thuật ngữ tương tự – một chiếc mũi lớn, đôi mắt xanh, như bác sĩ Percepied từng dùng khi miêu tả trước sự hiện diện của tôi Nữ công tước de Guermantes, tôi tự nhủ: “Người phụ nữ này trông giống Nữ công tước de Guermantes.” Giờ đây nhà nguyện từ đó bà đang theo dõi nghi lễ chính là nhà nguyện của Gilbert kẻ Xấu; bên dưới những tấm bia mộ phẳng phiu của nó, ngả vàng và phồng lên như những ô tổ ong trong một tổ ong, nghỉ ngơi xương cốt của các Bá tước Brabant cổ đại; và tôi nhớ mình từng nghe người ta nói rằng nhà nguyện này được dành riêng cho gia đình Guermantes, bất cứ khi nào bất kỳ thành viên nào trong số họ đến tham dự một buổi lễ tại Combray; thực tế có, duy nhất chỉ một người phụ nữ giống với bức chân dung của bà de Guermantes, vào ngày đó, chính xác vào ngày mà bà được kỳ vọng sẽ xuất hiện ở đó, có thể ngồi trong nhà nguyện ấy: đó chính là bà! Nỗi thất vọng của tôi là vô bờ bến. Nó nảy sinh từ việc tôi đã không ghi nhớ trong tâm trí, khi tôi nghĩ về bà de Guermantes, rằng tôi đang mường tượng ra bà ấy trong sắc màu của một tấm thảm hoặc một ô cửa kính màu, như đang sống ở một thế kỷ khác, như thuộc về một chất liệu khác so với phần còn lại của nhân loại. Chưa bao giờ tôi tính đến chuyện bà có thể có một khuôn mặt đỏ bừng, một chiếc khăn choàng màu hoa cà giống như bà Sazerat; và đường cong hình trứng của má bà gợi nhớ tôi mạnh mẽ đến những con người mà tôi từng thấy ở nhà đến mức sự hoài nghi lướt qua tâm trí tôi (dù nó bị xua đi ngay lập tức) rằng người phụ nữ này trong nguyên lý sáng tạo của bà, trong các phân tử cấu thành thể xác của bà, có lẽ không thực chất là Nữ công tước de Guermantes, mà cái cơ thể của bà, trong sự thiếu hiểu biết về cái tên mà mọi người đã gán cho nó, thuộc về một loại nữ tính nhất định bao gồm cả vợ của các bác sĩ và thương gia. “Đó là, chắc chắn phải là bà de Guermantes, không thể là ai khác!” là những từ ngữ nằm bên dưới biểu cảm chú ý và kinh ngạc mà tôi đang dán chặt vào hình ảnh này, thứ đương nhiên, chẳng có điểm tương đồng nào với những hình ảnh từng, rất thường xuyên, dưới cùng cái tên ‘bà de Guermantes’, xuất hiện trước tôi trong những giấc mơ, bởi vì hình ảnh này không được hình thành, giống như những hình ảnh kia, một cách tùy tiện bởi chính tôi, mà đã vọt vào tầm mắt lần đầu tiên, chỉ một khoảnh khắc trước, ở đây trong nhà thờ; một hình ảnh không cùng bản chất, không có thể tô màu tùy ý như những hình ảnh khác cho phép bản thân thấm đẫm sắc cam của một âm tiết vang dội, nhưng thực tế đến mức mọi thứ, thậm chí đến cả nốt ruồi nhỏ bốc lửa ở khóe mũi bà, mang lại sự đảm bảo về sự tuân thủ của bà đối với các quy luật của sự sống, giống như trong một cảnh biến đổi trên sân khấu một nếp nhăn trên trang phục của một nàng tiên, một sự rung rinh của ngón tay bé xíu của bà, chỉ ra sự hiện diện vật chất của một nữ diễn viên sống động trước mắt chúng ta, trong khi chúng ta không chắc chắn, cho đến lúc đó, liệu chúng ta có đang chỉ nhìn vào sự chiếu sáng của ánh đèn pha từ một chiếc đèn lồng hay không.
Trong khi đó tôi đang nỗ lực áp dụng vào hình ảnh này, thứ có chiếc mũi nổi bật, đôi mắt xuyên thấu được ghim chặt và cố định trong tầm nhìn của tôi (có lẽ bởi vì chính chúng là những thứ đập vào mắt đầu tiên, đã tạo ra ấn tượng đầu tiên trên bề mặt của nó, trước khi tôi kịp tự hỏi liệu người phụ nữ xuất hiện trước mắt tôi lúc này có phải là bà de Guermantes hay không) vào hình ảnh tươi mới và không thay đổi này ý tưởng: “Đó là bà de Guermantes”; nhưng tôi chỉ thành công trong việc làm cho ý tưởng lướt qua giữa tôi và hình ảnh, giống như hai chiếc đĩa di chuyển trên các mặt phẳng riêng biệt, với một khoảng không gian ở giữa. Nhưng bà de Guermantes này, người mà tôi từng mơ mộng rất nhiều, giờ đây khi tôi có thể thấy rằng bà có một sự tồn tại thực tế độc lập với chính mình, đã thu được một sự gia tăng mới mẻ về sức mạnh đối với trí tưởng tượng của tôi, thứ bị tê liệt trong khoảnh khắc bởi sự tiếp xúc với một thực tế quá khác biệt so với bất kỳ thứ gì nó từng mong đợi, bắt đầu phản ứng và tự nhủ trong tôi: “Vĩ đại và lừng lẫy trước những ngày tháng của Charlemagne, nhà Guermantes có quyền sinh quyền sát đối với các chư hầu của họ; Nữ công tước de Guermantes hậu duệ của Geneviève de Brabant. Bà ấy không quen biết, cũng không chấp nhận quen biết, bất kỳ ai có mặt ở đây ngày hôm nay.”
Và rồi – ồ, sự độc lập kỳ diệu của cái nhìn con người bị trói buộc vào khuôn mặt con người bởi một sợi dây lỏng lẻo, dài, đàn hồi đến mức nó có thể lang thang, một mình, bao xa tùy thích – trong khi bà de Guermantes ngồi trong nhà nguyện bên trên những ngôi mộ của tổ tiên đã khuất của bà, ánh mắt của bà nán lại chỗ này và lang thang chỗ kia, vươn lên những đỉnh của các trụ cột, và thậm chí đậu lại trên chính tôi, giống như một tia nắng mặt trời lang thang xuống giáo đường, nhưng là một tia nắng mà, vào khoảnh khắc tôi nhận được sự vuốt ve của nó, tỏ ra có ý thức về nơi nó rơi xuống. Về phần bản thân bà de Guermantes, vì bà vẫn ngồi đó bất động, ngồi giống như một người mẹ làm ra vẻ không chú ý đến hành vi thô lỗ hoặc ngượng ngùng của những đứa con mình, trong lúc chúng chơi đùa, đang trò chuyện với những người mà bà không quen biết, thật bất khả thi đối với tôi để xác định liệu bà có chấp thuận hay lên án sự lang thang của ánh mắt bà trong sự tách rời bất cẩn của trái tim bà.
Tôi cảm thấy rằng điều quan trọng là bà không được rời khỏi nhà thờ trước khi tôi có thể nhìn ngắm bà đủ lâu, tự nhắc nhở bản thân rằng trong suốt những năm qua tôi từng coi cảnh tượng về bà là một điều vô cùng đáng mong đợi, và tôi giữ chặt đôi mắt mình dán vào bà, giống như bằng cách ngắm nhìn bà, tôi sẽ có thể mang theo và hợp nhất, tích trữ, để tham khảo sau này, bên trong chính mình ký ức về cái chiếc mũi nổi bật ấy, má đỏ bừng ấy, của tất cả những chi tiết đập vào mắt tôi như rất nhiều thông tin quý giá, chân thực, vô song liên quan đến khuôn mặt bà. Và giờ đây khi, bất cứ khi nào tôi tập trung tâm trí vào khuôn mặt ấy – và đặc biệt, có lẽ, trong sự quyết tâm của tôi, hình thức của bản năng tự bảo vệ mà qua đó chúng ta bảo vệ mọi thứ tốt đẹp nhất trong chính mình, không thừa nhận rằng mình đã bị lừa dối dưới bất kỳ hình thức nào – tôi chỉ tìm thấy vẻ đẹp ở đó; đặt bà một lần nữa (vì họ là một và cùng một người, người phụ nữ ngồi trước tôi và Nữ công tước de Guermantes đó, cho đến lúc đó, tôi từng quen mường tượng thành một hình hài tưởng tượng) tách rời khỏi và bên trên cái tầng lớp nhân loại thông thường mà cảnh tượng, thuần túy và đơn giản, về bà bằng xương bằng thịt từng khiến tôi nhầm lẫn bà trong khoảnh khắc, tôi phẫn nộ khi nghe mọi người nói, trong đám đông xung quanh tôi: “Bà ấy trông khá hơn bà Sazerat” hoặc “hơn tiểu thư Vinteuil”, như thể bà có thể so sánh được với họ dưới bất kỳ hình thức nào. Và ánh mắt của tôi đậu trên mái tóc vàng của bà, đôi mắt xanh, những đường nét trên cổ bà, và bỏ qua những nét có thể nhắc nhở tôi về khuôn mặt của những phụ nữ khác, tôi thét lên trong tâm tưởng, khi tôi chiêm ngưỡng bức phác thảo có chủ ý chưa hoàn thành này: “Bà ấy mới xinh đẹp làm sao! Thật là một sự cao quý đích thực! Quả thực là một dòng dõi Guermantes kiêu hãnh, hậu duệ của Geneviève de Brabant, mà tôi đang có trước mặt!” Và sự cẩn trọng mà tôi dùng để tập trung toàn bộ sự chú ý của mình lên khuôn mặt bà đã thành công trong việc cô lập nó hoàn toàn đến mức ngày hôm nay, khi tôi gọi lại lễ cưới đó trong tâm trí, tôi thấy bất khả thi để hình dung bất kỳ một người nào có mặt ngoại trừ bà, và viên chủ sự đã trả lời tôi bằng câu khẳng định khi tôi gặng hỏi liệu người phụ nữ đó có thực sự là bà de Guermantes hay không. Nhưng về phần bà, tôi vẫn có thể nhìn thấy bà khá rõ, đặc biệt vào khoảnh khắc khi đoàn rước di chuyển vào phòng thánh, được chiếu sáng bởi ánh nắng ngắt quãng, nóng nực của một ngày lộng gió và mưa, nơi bà de Guermantes thấy mình ở giữa tất cả những con người Combray đó, những cái tên của họ, thậm chí, bà còn không biết, nhưng sự thấp kém của họ tuyên bố sự ưu thế của chính bà lớn đến mức bà phải, đổi lại, cảm thấy một sự đồng cảm chân thực, đầy thương xót đối với họ, và những kẻ mà bà có thể tin tưởng sẽ gây ấn tượng mạnh mẽ hơn nữa nhờ vào sự giản dị và sự quyến rũ tự nhiên của mình. Và rồi, nữa, vì bà không thể mang vào chơi những cái nhìn có chủ ý, mang đầy ý nghĩa xác định mà người ta hướng tới, trong đám đông, đối với những người mà người ta quen biết, mà phải thả cho những suy nghĩ mơ hồ của mình thoát ra liên tục từ đôi mắt trong một dòng thác ánh sáng xanh lam mà bà bất lực trong việc kiểm soát, bà lo lắng không làm tổn thương bất kỳ ai, không làm ra vẻ đang khinh miệt những kẻ phàm trần khiêm tốn hơn ấy, những kẻ mà dòng chảy đó lướt qua, bởi những người mà nó bị chặn lại ở mọi nơi. Tôi có thể nhìn thấy lại ngày hôm nay, bên trên chiếc khăn choàng màu hoa cà của bà, lụa là và bồng bềnh, sự ngạc nhiên dịu dàng trong đôi mắt bà, thứ mà bà đã thêm vào, mà không dám hướng nó tới bất kỳ ai cụ thể, nhưng để mọi người có thể thưởng thức phần chia của họ trong đó, nụ cười gần như rụt rè của một vị nữ vương dường như đang đưa ra lời xin lỗi cho sự hiện diện của mình giữa các chư hầu mà bà yêu mến. Nụ cười này đậu trên chính bản thân tôi, kẻ chưa bao giờ ngừng theo dõi bà bằng đôi mắt của mình. Và tôi, nhớ lại cái nhìn mà bà thả xuống tôi trong suốt buổi lễ, xanh ngắt như một tia nắng mặt trời đã xuyên thủng ô cửa kính của Gilbert kẻ Xấu, tự nhủ, “Tất nhiên, bà ấy đang nghĩ về mình.” Tôi tưởng tượng rằng mình đã tìm thấy sự sủng ái trong tầm nhìn của bà, rằng bà sẽ tiếp tục nghĩ về tôi sau khi bà rời khỏi nhà thờ, và sẽ, có lẽ, lại trầm ngâm lần nữa, vào tối hôm đó, tại Guermantes, vì lợi ích của tôi. Và ngay lập tức tôi đem lòng yêu bà, bởi vì nếu đôi khi chỉ cần làm chúng ta yêu một người phụ nữ khi cô ấy nhìn chúng ta bằng sự khinh miệt, như tôi từng cho rằng tiểu thư Swann đã làm, trong lúc chúng ta tưởng tượng rằng cô ấy không bao giờ có thể là của chúng ta, thì cũng đủ, đôi khi, khi cô ấy nhìn chúng ta một cách tử tế, như bà de Guermantes đã làm khi ấy, trong lúc chúng ta nghĩ về cô ấy như gần như là của chúng ta rồi. Đôi mắt bà rực sáng sắc xanh như một đóa hoa dừa cạn, hoàn toàn vượt ngoài tầm với của tôi, thế nhưng được dâng hiến bởi bà cho tôi; và mặt trời, bùng nổ trở lại từ đằng sau một đám mây đe dọa và phóng toàn bộ lực lượng tia nắng của nó lên Quảng trường và vào phòng thánh, rải ánh sáng đỏ rực hệt như hoa phong lữ lên tấm thảm đỏ được trải sẵn cho đám cưới, dọc theo đó bà de Guermantes mỉm cười tiến bước, và bao phủ kết cấu len của nó bằng một lớp nhung hồng, một bông hoa ánh sáng, mang lại cho nó loại sự dịu dàng, của sự ngọt ngào trang nghiêm trong sự hoành tráng của một lễ kỷ niệm vui tươi mang lại đặc trưng cho một số trang trong Lohengrin, một số bức tranh của Carpaccio, và khiến chúng ta hiểu được cách Baudelaire có thể áp dụng cho âm thanh của kèn trumpet tính từ ‘ngon lành’.
Biết bao lần, sau ngày hôm đó, trong suốt những buổi dạo chơi của tôi dọc theo ‘lối Guermantes’, và với một nỗi u sầu mãnh liệt biết bao tôi ngẫm lại sự thiếu trình độ của mình đối với sự nghiệp văn chương, và rằng tôi phải từ bỏ mọi hy vọng về việc bao giờ trở thành một tác giả nổi tiếng. Sự tiếc nuối mà tôi cảm thấy vì điều này, trong lúc tôi nán lại một mình để mơ mộng một lát một mình, khiến tôi đau đớn dữ dội đến mức, để không cảm thấy nó, tâm trí tôi tự động, bằng một dạng sự ức chế vào khoảnh khắc của nỗi đau, ngừng hoàn toàn việc suy nghĩ về việc làm thơ, về tiểu thuyết, về tương lai thơ ca mà sự thiếu tài năng của tôi ngăn cản tôi trông cậy vào nó. Rồi, hoàn toàn tách rời khỏi tất cả những sự bận tâm văn chương ấy và không có sự gắn kết xác định với bất cứ thứ gì, bất chợt một mái nhà, một tia nắng phản chiếu từ một hòn đá, mùi hương của một con đường sẽ làm tôi đứng sững lại, để tận hưởng niềm vui đặc biệt mà mỗi thứ trong số chúng mang lại cho tôi, và cũng bởi vì chúng dường như đang che giấu, bên dưới những gì mắt tôi có thể nhìn thấy, thứ gì đó mà chúng mời gọi tôi tiếp cận và tóm lấy từ chúng, nhưng bất chấp mọi nỗ lực của tôi, tôi chưa bao giờ xoay sở để khám phá ra.
Khi tôi cảm thấy rằng đối tượng huyền bí có thể được tìm thấy trong chúng, tôi sẽ đứng đó trước chúng, bất động, ngắm nhìn, hít thở, nỗ lực thâm nhập bằng tâm trí mình vượt ra ngoài thứ được nhìn thấy hoặc ngửi thấy. Và nếu tôi sau đó phải vội vã theo ông ngoại, để tiếp tục hành trình của mình, tôi sẽ vẫn tìm cách khôi phục lại cảm giác về chúng bằng cách nhắm đôi mắt mình lại; tôi sẽ tập trung vào việc hồi tưởng chính xác đường nét của mái nhà, màu sắc của hòn đá, thứ, mà tôi không tài nào hiểu nổi lý do tại sao, từng có vẻ đối với tôi đang bừng sôi, sẵn sàng hé mở, để nhường chỗ cho tôi kho báu bí mật mà chúng tự bản thân chẳng là gì ngoài những lớp vỏ bọc bên ngoài. Chắc chắn đó không phải là bất kỳ ấn tượng nào dạng này có thể hoặc sẽ khôi phục lại hy vọng đã mất của tôi về việc thành công một ngày nào đó trong việc trở thành một nhà văn và nhà thơ, bởi vì mỗi thứ trong số chúng được gắn kết với một vật thể vật chất nào đó hoàn toàn không có giá trị trí tuệ, và không gợi ý bất kỳ sự thật trừu tượng nào.
Nhưng ít nhất chúng mang lại cho tôi một niềm vui vô lý, ảo tưởng về một dạng sự sung mãn của tâm trí; và bằng cách đó làm tôi xao lãng khỏi sự buồn tẻ, khỏi ý thức về sự bất lực của chính mình mà tôi từng cảm thấy bất cứ khi nào tôi tìm kiếm một chủ đề triết học cho một số công trình văn học lớn. Quá ư khẩn cấp là nhiệm vụ được áp đặt lên lương tâm tôi bởi những ấn tượng về hình thức hay mùi hương hay màu sắc này – để phấn đấu cho một nhận thức về những gì nằm ẩn giấu bên dưới chúng, đến mức tôi chưa bao giờ chần chừ lâu trong việc tìm kiếm một cái cớ cho phép tôi thư giãn một nỗ lực căng thẳng như thế và tha cho bản thân sự mệt mỏi mà nó bao hàm. May mắn thay, bố mẹ tôi gọi tôi; tôi cảm thấy rằng mình không có, trong khoảnh khắc đó, môi trường tĩnh lặng cần thiết cho sự theo đuổi thành công các cuộc nghiên cứu của mình, và rằng sẽ tốt hơn nếu không nghĩ thêm về vấn đề này cho đến khi tôi về đến nhà, và không vắt kiệt sức mình trong thời gian chờ đợi mà chẳng có mục đích gì. Và thế nên tôi không còn bận tâm đến sự huyền bí nằm ẩn giấu trong một hình thức hay một mùi hương nữa, hoàn toàn thoải mái trong tâm trí, kể từ khi tôi đang mang nó về nhà cùng mình, được bảo vệ bởi lớp vỏ bọc hữu hình và súc tích của nó, bên dưới đó tôi sẽ tìm thấy nó vẫn còn sống, giống như con cá mà, vào những ngày tôi được phép đi câu cá, tôi thường mang trở lại trong giỏ của mình, được chôn vùi trong một chiếc giường cỏ giữ cho chúng tươi mát.
Một khi đã ở trong nhà một lần nữa tôi sẽ bắt đầu nghĩ về thứ gì đó khác, và thế nên tâm trí tôi sẽ trở nên ngập rác (giống như căn phòng của tôi ngập rác với những đóa hoa tôi hái trên những buổi dạo chơi, hoặc những món đồ lặt vặt mà mọi người từng ban tặng cho tôi) với một hòn đá từ bề mặt của nó ánh nắng được phản chiếu, một mái nhà, âm thanh của một chiếc chuông, mùi hương của những chiếc lá rụng, một khối hỗn độn gồm những hình ảnh khác nhau, bên dưới đó hẳn phải đã tàn lụi từ lâu thực tế mà tôi từng có một số dự cảm, nhưng tôi chưa bao giờ có năng lượng để khám phá và đưa ra ánh sáng.
Một lần, tuy nhiên, khi chúng tôi kéo dài buổi dạo chơi vượt quá giới hạn thông thường của nó, và do đó rất vui mừng khi bắt gặp, nửa đường về nhà, khi buổi chiều sẫm dần thành buổi tối, bác sĩ Percepied, người lái xe lướt qua chúng tôi với tốc độ tối đa trong chiếc xe ngựa của ông, nhìn thấy và nhận ra chúng tôi, dừng lại, và ép chúng tôi nhảy lên ngồi bên cạnh ông, tôi đã tiếp nhận một ấn tượng dạng này mà tôi không từ bỏ mà không trước tiên tiến hành một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng hơn một chút.
Tôi đã được đặt ngồi trên thùng xe bên cạnh người đánh xe, chúng tôi đi như bay bởi vì Bác sĩ vẫn còn, trước khi quay về Combray, phải ghé qua Martinville-le-Sec, tại nhà của một bệnh nhân, trước cửa nhà người đó ông bảo chúng tôi đợi ông. Tại một khúc cua trên đường tôi trải nghiệm, bất chợt, niềm vui đặc biệt đó, không mang lại sự tương đồng nào với bất kỳ thứ gì khác, khi tôi bắt gặp các ngọn tháp đôi của Martinville, nơi mặt trời lặn đang chiếu rọi, trong khi chuyển động của chiếc xe ngựa và những khúc quanh của con đường dường như giữ cho chúng liên tục thay đổi vị trí; và rồi của một ngọn tháp thứ ba, đó là của Vieuxvicq, thứ, mặc dù bị tách khỏi chúng bởi một ngọn đồi và một thung lũng, và mọc lên từ vùng đất cao hơn chút ít ở đằng xa, vẫn dường như đang đứng bên cạnh chúng.
Trong việc xác định và ghi chú hình dạng của các ngọn tháp của chúng, sự thay đổi của khía cạnh, sự ấm áp đầy nắng trên bề mặt của chúng, tôi cảm thấy rằng mình không thâm nhập đến độ sâu đầy đủ của ấn tượng của mình, rằng có thứ gì đó lớn hơn ẩn giấu đằng sau sự lưu động đó, sự rực rỡ đó, thứ gì đó mà chúng dường như đồng thời chứa đựng và che giấu.
Các ngọn tháp có vẻ quá xa xôi, và bản thân chúng ta có vẻ tiến lại quá ít gần chúng đến nỗi tôi đã ngạc nhiên khi, vài phút sau đó, chúng ta dừng xe bên ngoài nhà thờ Martinville. Tôi không biết lý do cho niềm vui mà tôi từng tìm thấy khi nhìn thấy chúng trên đường chân trời, và công việc cố gắng tìm ra lý do đó là gì đối với tôi có vẻ rườm rà; tôi chỉ ước được giữ lại trong bộ não của mình những đường nét hội tụ đó, di chuyển dưới ánh nắng, và, trong thời gian đó, không nghĩ về chúng nữa. Và có lẽ, giả sử tôi làm thế, hai ngọn tháp đó hẳn đã biến mất vĩnh viễn, trong một mớ hỗn độn lớn gồm những cái cây và mái nhà và hương thơm và âm thanh mà tôi từng chú ý và đặt sang một bên vì ý thức mơ hồ về niềm vui mà chúng mang lại cho tôi, nhưng chưa bao giờ khám phá chúng sâu sắc hơn.
Tôi bước xuống thùng xe để trò chuyện với bố mẹ trong lúc chúng tôi chờ Bác sĩ xuất hiện trở lại. Sau đó đã đến lúc khởi hành; tôi trèo lên lại chỗ ngồi của mình, quay đầu lại để nhìn lại một lần nữa các ngọn tháp của mình, mà, một lát sau, tôi bắt gặp một cái nhìn thoáng qua từ biệt tại một khúc cua trên đường. Người đánh xe, người có vẻ ít muốn trò chuyện, khi hầu như không thừa nhận các nhận xét của tôi, tôi buộc phải, trong sự thiếu vắng xã hội khác, quay trở lại với chính mình, và cố gắng tái chiếm tầm nhìn về các ngọn tháp của mình.
Và chẳng mấy chốc các phác thảo và bề mặt ngập nắng của chúng, giống như thể chúng là một dạng lớp vỏ, bị tước rách rời; một chút những gì chúng che giấu từ tôi trở nên hiển hiện; một ý tưởng nảy sinh trong tâm trí tôi chưa từng tồn tại đối với tôi một khoảnh khắc trước, tự hình thức hóa thành các từ ngữ trong đầu tôi; và niềm vui mà cảnh tượng đầu tiên về chúng, lúc nãy, từng lấp đầy tôi đã được củng cố đến mức, bị áp đảo bởi một dạng sự say sưa, tôi không thể nghĩ đến bất kỳ thứ gì ngoài chúng.
Tại thời điểm này, mặc dù chúng ta đã di chuyển một chặng đường dài từ Martinville, tôi quay đầu lại và bắt gặp hình ảnh của chúng một lần nữa, hoàn toàn đen đúa lúc này, bởi vì mặt trời trong khi đó đã lặn. Cứ mỗi vài phút một khúc cua trên đường sẽ quét chúng khỏi tầm mắt; rồi chúng phô bày bản thân lần cuối cùng, và thế là tôi không nhìn thấy chúng nữa.
Không thừa nhận với bản thân rằng những gì nằm ẩn giấu bên trong các ngọn tháp của Martinville phải là thứ gì đó tương tự như một giai điệu quyến rũ, bởi vì chính dưới hình thức các từ ngữ mang lại cho tôi niềm vui mà nó đã xuất hiện trước tôi, tôi mượn một cây bút chì và một ít giấy từ Bác sĩ, và sáng tác, bất chấp sự xóc nảy của chiếc xe ngựa, để xoa dịu lương tâm của mình và để thỏa mãn sự nhiệt tình của mình, đoạn trích nhỏ sau đây, thứ mà tôi từ đó đã khám phá ra, và giờ đây tái sản xuất, chỉ với một sự chỉnh sửa nhỏ chỗ này chỗ kia.
Đơn độc, vươn lên từ bình diện của đồng bằng, và dường như bị lạc lõng trong không gian mở rộng lớn của vùng quê ấy, leo lên bầu trời các ngọn tháp đôi của Martinville. Chẳng mấy chốc chúng ta nhìn thấy ba: vọt vào vị trí đối đầu với chúng bằng một sự táo bạo, thứ ba, một ngọn tháp chậm chạp, đó là của Vieuxvicq, đã đến để gia nhập cùng chúng. Những phút trôi qua, chúng ta đang di chuyển nhanh chóng, và thế là ba ngọn tháp vẫn luôn ở một khoảng cách xa phía trước chúng ta, giống như ba chú chim đậu trên đồng bằng, bất động và nổi bật dưới ánh nắng. Rồi ngọn tháp của Vieuxvicq rút lui, chiếm lấy khoảng cách thích hợp của nó, và các ngọn tháp của Martinville vẫn đứng độc lập một mình, được mạ vàng bởi ánh sáng của mặt trời lặn, thứ, ngay cả ở khoảng cách đó, tôi có thể nhìn thấy đang chiếu rọi và mỉm cười trên các sườn dốc nghiêng của chúng. Chúng ta đã mất quá nhiều thời gian để tiếp cận chúng đến nỗi tôi đang suy nghĩ về khoảng thời gian vẫn phải trôi qua trước khi chúng ta có thể chạm tới chúng khi, đột ngột, chiếc xe ngựa, sau khi rẽ qua một góc phố, thả chúng ta xuống ngay dưới chân chúng; và chúng đã lao vút xuống một cách đột ngột đến mức trên con đường của chúng ta đến nỗi chúng ta suýt không có thời gian để dừng lại trước khi đâm sầm vào hiên nhà thờ.
Chúng ta tiếp tục hành trình; chúng ta đã rời khỏi Martinville một khoảng thời gian, và ngôi làng, sau khi đồng hành cùng chúng ta trong vài giây, đã biến mất từ trước, khi, nán lại đơn độc trên đường chân trời để quan sát chuyến bay của chúng ta, các ngọn tháp của nó và của Vieuxvicq vẫy chào một lần nữa, như một dấu hiệu từ biệt, những ngọn tháp ngập nắng của chúng. Đôi khi cái này sẽ rút lui, để hai cái kia có thể quan sát chúng ta trong khoảnh khắc tiếp theo; rồi con đường thay đổi hướng, chúng quay ngoắt trong ánh sáng giống như ba trục quay bằng vàng, và biến mất khỏi tầm mắt tôi. Nhưng, một lát sau, khi chúng ta đã ở gần Combray, mặt trời đã lặn trong khi đó, tôi bắt gặp cái nhìn thoáng qua cuối cùng về chúng, ở đằng xa, và dường như không còn hơn nữa ba đóa hoa được vẽ trên bầu trời phía trên đường viền thấp của các cánh đồng. Chúng khiến tôi nghĩ, nữa, đến ba thiếu nữ trong một truyền thuyết, bị bỏ rơi trong một chốn cô tịch nơi màn đêm bắt đầu buông xuống; và trong lúc chúng ta rời xa chúng với tốc độ phi nước đại, tôi có thể nhìn thấy chúng rụt rè tìm kiếm con đường của mình, và, sau một số cử động lúng túng, vấp váp của những siluet cao quý của chúng, xích lại gần nhau, trượt qua phía sau nhau, chẳng phô bày điều gì hơn nữa, lúc này, chống lại bầu trời vẫn còn ửng hồng ngoài một dạng hình đơn độc, quyến rũ và nhẫn nhục, và thế là biến mất trong màn đêm.
Tôi chưa bao giờ nghĩ lại về trang giấy này, nhưng vào khoảnh khắc khi, trên góc thùng xe của tôi, nơi người đánh xe của Bác sĩ có thói quen đặt, trong một chiếc giỏ, những con gà mà anh ta đã mua tại chợ Martinville, tôi đã viết xong nó, tôi tìm thấy một niềm hạnh phúc lớn lao đến mức, cảm thấy rằng nó đã giải phóng hoàn toàn tâm trí tôi khỏi sự ám ảnh của các ngọn tháp, và sự huyền bí mà chúng che giấu, rằng, giống như thể bản thân tôi là một con gà mái và vừa mới đẻ một quả trứng, tôi bắt đầu cất tiếng hát vang dội.
Suốt cả ngày dài, trong những buổi dạo chơi này, tôi từng có thể trầm mặc về niềm vui sẽ có trong tình bạn với Nữ công tước de Guermantes, trong việc câu cá hồi, trong việc trôi dạt một mình trên một chiếc thuyền trên sông Vivonne; và, khao khát hạnh phúc, tôi chẳng đòi hỏi gì hơn từ cuộc đời, trong những khoảnh khắc như thế, ngoài việc nó phải bao gồm luôn một chuỗi những buổi chiều vui tươi. Nhưng khi, trên đường về nhà, tôi bắt gặp một nông trại, bên trái con đường, ở một khoảng cách từ hai nông trại khác vốn nằm gần nhau, và từ đó, để quay trở lại Combray, chúng ta chỉ cần rẽ xuống một đại lộ sồi, được viền một bên bởi một loạt các vườn cây ăn quả, mỗi vườn được trồng ở những khoảng cách đều đặn với những cây táo ném xuống mặt đất, khi chúng được chiếu sáng bởi mặt trời lặn, stencil Nhật Bản của những chiếc bóng của chúng; thì, sắc bén, trái tim tôi sẽ bắt đầu đập, tôi sẽ biết rằng trong nửa giờ nữa chúng ta sẽ về đến nhà, và rằng ở đó, giống như quy tắc vào những ngày chúng ta chọn ‘lối Guermantes’ và bữa tối vì thế được dọn muộn hơn bình thường, tôi sẽ được cử đi ngủ ngay khi tôi nuốt xong bát súp, để má tôi, bị giữ lại ở bàn ăn, y như thể có khách đến dự bữa tối, sẽ không lên lầu để nói chúc ngủ ngon với tôi trên giường. Vùng đất u sầu mà tôi bước vào khi đó hoàn toàn khác biệt với vùng đất kia, nơi tôi từng nhảy cất tung tăng vì niềm vui một khoảnh khắc trước, y như đôi khi trên bầu trời một dải màu hồng bị tách biệt, giống như bởi một đường kẻ vô hình, khỏi một dải màu xanh lá cây hoặc màu đen. Bạn có thể nhìn thấy một chú chim bay ngang qua màu hồng; nó tiến gần đến đường biên giới, chạm vào nó, bước vào và lạc lối trên màu đen. Những khát khao mà tôi vừa mới bị hấp thụ vào đó, đi đến Guermantes, đi du lịch, sống một cuộc đời hạnh phúc – tôi lúc đó quá xa cách chúng đến mức việc thực hiện chúng sẽ chẳng mang lại cho tôi chút niềm vui nào. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả bọn chúng biết bao, chỉ để có thể khóc lóc, suốt đêm dài, trong vòng tay của Má! Run rẩy vì xúc động, tôi không thể rời đôi mắt đau đớn của mình khỏi khuôn mặt của má, thứ sẽ không xuất hiện vào buổi tối hôm đó trong phòng ngủ nơi tôi có thể nhìn thấy chính mình đang nằm sẵn, trong trí tưởng tượng; và chỉ ước rằng mình đang nằm chết. Và trạng thái này sẽ kéo dài cho đến ngày hôm sau, khi, những tia nắng buổi sáng dựa những thanh ánh sáng của chúng, giống như người làm vườn có thể tựa chiếc thang của mình, lên bức tường mọc đầy hoa mười giờ, loài leo lên nó tận bậu cửa sổ của tôi, tôi sẽ nhảy phắt khỏi giường để chạy xuống ngay lập tức vào khu vườn, không mảy may nghĩ đến thực tế rằng buổi chiều tối chắc chắn phải trở lại, và cùng với nó là khoảnh khắc tôi phải rời xa má. Và thế nên chính từ ‘lối Guermantes’ mà tôi học được cách phân biệt giữa những trạng thái trị vì luân phiên trong tâm trí tôi, trong suốt những giai đoạn nhất định, đi xa đến mức chia cắt mọi ngày giữa chúng, mỗi trạng thái quay trở lại để truất ngôi trạng thái kia với sự đều đặn của một cơn sốt rét run: tiếp giáp nhau, và thế nên quá xa lạ với nhau, quá thiếu vắng các phương tiện giao tiếp đến mức tôi không thể hiểu nổi, hay thậm chí mường tượng lại trong trạng thái này những gì tôi từng khao khát hoặc kinh hãi hay thậm chí thực hiện trong trạng thái kia.
Thế nên ‘lối Méséglise’ và ‘lối Guermantes’ vẫn luôn gắn kết trong tôi với rất nhiều những biến cố nhỏ nhặt trong cái cuộc sống đó trong số tất cả những cuộc sống song song mà theo các đường song song của chúng chúng ta được di chuyển, thứ phong phú nhất trong những cú đảo chiều bất ngờ của vận mệnh, giàu có nhất trong các tập phim; ý tôi là cuộc đời của tâm trí. Chắc chắn nó tạo ra ở chúng ta một tiến trình không thể nhận ra, và những sự thật đã thay đổi đối với chúng ta ý nghĩa và khía cạnh của nó, những thứ đã mở ra những con đường mới trước đôi chân chúng ta, chúng ta từng chuẩn bị trong một thời gian dài cho sự khám phá của chúng; nhưng sự chuẩn bị đó là vô thức; và đối với chúng ta những sự thật đó chỉ tính từ ngày, từ phút khi chúng trở nên hiển hiện. Những đóa hoa từng chơi đùa khi đó giữa thảm cỏ, dòng nước từng gợn sóng trôi qua dưới ánh nắng, toàn bộ phong cảnh phục vụ làm bối cảnh cho sự xuất hiện của chúng vẫn vương vấn xung quanh ký ức về chúng với vẻ vô thức hoặc lờ đờ của nó; và, chắc chắn, khi chúng được khảo sát chậm chạp bởi kẻ qua đường khiêm tốn này, bởi một đứa trẻ mơ mộng này – giống như khuôn mặt của một vị vua được khảo sát bởi một kẻ thỉnh cầu bị lạc giữa đám đông – mảnh tự nhiên đó, góc vườn đó không bao giờ có thể ngờ rằng chính nhờ vào cậu ta mà chúng sẽ được bầu chọn để sống sót trong tất cả các chi tiết mang tính thoáng qua nhất của chúng; thế nhưng hương thơm của hoa măng tây gai lang thang cướp bóc dọc theo hàng rào từ đó, trong chốc lát, những đóa hoa hồng dại sẽ xua đuổi nó, âm thanh của những bước chân không theo sau bởi tiếng vang, trên một lối đi rải sỏi, một bong bóng được hình thành ở bên cạnh một thực vật thủy sinh bởi dòng chảy, và chỉ được hình thành để vỡ tung – sự phấn khích tâm trí của tôi đã mang theo chúng cùng nó, và đã thành công trong việc khiến chúng băng qua tất cả những năm tháng nối tiếp này, trong khi xung quanh chúng những con đường từng được giẫm đạp đã biến mất, trong khi những kẻ từng chen chúc trên những con đường đó, và thậm chí ký ức của những kẻ từng chen chúc trên những con đường được giẫm đạp đó, đã chết.
Đôi khi mảnh phong cảnh được vận chuyển vào hiện tại sẽ tách rời ra trong sự cô lập lớn lao từ tất cả các hiệp hội đến mức nó trôi dạt một cách bất định trên tâm trí tôi, giống như một hòn đảo nở hoa của Đảo Delos, và tôi bất lực trong việc nói rõ từ nơi nào, từ thời điểm nào – có lẽ, hoàn toàn đơn giản, từ giấc mơ nào của tôi – nó đến. Nhưng nó là tiền đề vượt trội như là tầng sâu nhất trong đất tâm trí tôi, như những địa điểm vững chắc mà trên đó tôi vẫn có thể xây dựng, mà tôi coi Méséglise và Guermantes là những ‘lối’. Đó là bởi vì tôi từng nghĩ về những thứ nhất định, về những con người nhất định, trong lúc tôi đang lang thang dọc theo chúng, những thứ đó, những con người mà chúng dạy tôi biết, và chỉ những thứ này, tôi vẫn coi là nghiêm túc, vẫn mang lại niềm vui cho tôi. Dù là niềm tin sáng tạo đã ngừng tồn tại trong tôi, hay thực tế sẽ định hình trong ký ức một mình, những đóa hoa mà mọi người trưng ra cho tôi ngày nay lần đầu tiên không bao giờ có vẻ đối với tôi là những đóa hoa thực sự. ‘Lối Méséglise’ với những cây tử đinh hương, những nhánh hoa măng tây gai, những đóa hoa ngô, những đóa anh túc, những cây táo của nó, ‘lối Guermantes’ với con sông đầy nòng nọc, những đóa hoa súng, và những đóa hoa mao lương của nó đã cấu thành đối với tôi vĩnh viễn bức tranh về vùng đất mà tôi ao ước được dành trọn cuộc đời mình, trong đó các yêu cầu duy nhất của tôi là tôi có thể đi câu cá, trôi dạt lười biếng trong một chiếc thuyền, nhìn thấy tàn tích của một pháo đài gothic trong thảm cỏ, và tìm thấy được giấu giữa những cánh đồng lúa mì – giống như Saint-André-des-Champs từng ẩn giấu – một nhà thờ cổ, mang tính tượng đài, mộc mạc và vàng óng như một cối xay đá; và những đóa hoa ngô, những nhánh hoa măng tây gai, những cây táo mà tôi có thể tình cờ bắt gặp, khi tôi đi dạo trong các cánh đồng, bởi vì chúng nằm ở cùng độ sâu, trên bình diện của cuộc sống quá khứ của tôi, lập tức thiết lập mối liên hệ với trái tim tôi.
Và thế nên, bởi vì có một yếu tố cá tính ở những nơi chốn, khi tôi bị cơn thèm khát muốn nhìn thấy lại ‘lối Guermantes’ tóm lấy, nó sẽ không được thỏa mãn nếu tôi được dẫn đến bờ của một con sông trong đó có những đóa hoa súng đẹp đẽ, hoặc thậm chí đẹp hơn cả những đóa hoa trong sông Vivonne, cũng giống như khi tôi trở về nhà vào buổi tối, vào giờ khi thức tỉnh trong tôi nỗi đau khổ mà, sau này trong cuộc đời, chuyển dịch sang đam mê yêu đương, và thậm chí có thể trở thành người bạn đồng hành không thể tách rời của nó, tôi từng mong muốn bất kỳ người mẹ xa lạ nào bước vào và chúc ngủ ngon với tôi, dẫu cho bà ấy có xinh đẹp hơn và thông minh hơn má tôi đi chăng nữa. Không: y như điều duy nhất cần thiết để đưa tôi chìm vào giấc ngủ một cách mãn nguyện (trong sự bình yên không vẩn đục mà không một người tình nào, trong những năm tháng sau này, từng có thể mang lại cho tôi, bởi vì người ta hoài nghi về họ vào khoảnh khắc người ta tin tưởng vào họ, và không bao giờ có thể sở hữu trái tim họ giống như cách tôi từng nhận được, trong nụ hôn của bà, trái tim của má tôi, trọn vẹn, không mảy may cắn rứt hay dè dặt, không bị gánh nặng bởi bất kỳ trách nhiệm nào ngoại trừ đối với chính tôi) chính là việc phải là má tôi đến, rằng bà phải nghiêng về phía tôi khuôn mặt đó trên đó có, bên dưới đôi mắt bà, thứ gì đó có vẻ là một vết nhơ, và tôi yêu thích nó nhiều bằng tất cả phần còn lại – thế nên điều tôi muốn nhìn thấy lại chính là ‘lối Guermantes’ như tôi từng biết, với nông trại đứng hơi tách biệt khỏi hai nông trại lân cận, được ép sát vào nhau, ở lối vào đại lộ sồi; những đồng cỏ đó trên bề mặt của chúng, khi nó được đánh bóng bởi ánh nắng thành độ rạng rỡ như gương của một hồ nước, được phác thảo những chiếc lá của cây táo; toàn bộ phong cảnh đó có cá tính đôi khi vào ban đêm, trong những giấc mơ của tôi, trói buộc tôi bằng một sức mạnh gần như mang tính kỳ ảo, thứ mà tôi không thể khám phá ra bất kỳ dấu vết nào khi tôi thức giấc.
Không nghi ngờ gì nữa, bằng công đức của việc kết hợp vĩnh viễn và không thể tách rời trong tôi các nhóm ấn tượng khác nhau, vì không có lý do nào ngoại trừ việc chúng từng khiến tôi cảm thấy một số thứ riêng biệt cùng một lúc, các ‘lối’ Méséglise và Guermantes để lại cho tôi sự phơi bày, trong cuộc sống sau này, trước rất nhiều sự vỡ mộng, và thậm chí rất nhiều sai lầm. Bởi vì thường xuyên tôi từng muốn gặp lại một người nào đó mà không nhận ra rằng đơn giản là bởi vì người đó gợi nhớ tôi đến một hàng rào măng tây gai đang nở hoa; và tôi đã bị dẫn dắt để tin tưởng, và làm cho ai đó tin tưởng vào một hệ quả của tình cảm, bởi thứ không hơn gì một khuynh hướng du lịch. Nhưng bởi chính những phẩm chất tương tự, và bởi sự bền bỉ của chúng trong các ấn tượng của tôi, ngày nay, mà chúng có thể tìm thấy sự gắn kết, hai ‘lối’ mang lại cho những ấn tượng đó một nền tảng, chiều sâu, một chiều kích thiếu vắng từ phần còn lại. Chúng cũng bao phủ chúng bằng một sự quyến rũ, một ý nghĩa dành riêng cho tôi mà thôi. Khi nào, vào một buổi tối mùa hè, bầu trời vang dội gầm gừ như một chú sư tử da cam, và mọi người đang phàn nàn về cơn bão, chính dọc theo ‘lối Méséglise’ mà trí tưởng tượng của tôi lang thang một mình trong ngây ngất, hít thở, qua tiếng mưa rơi, hương thơm của những khóm tử đinh hương vô hình và kiên trì.
Và thế nên tôi thường nằm thao thức cho đến tận sáng, mơ mộng về những ngày xưa cũ ở Combray, về những buổi tối sầu thảm và trằn trọc ở đó; về những ngày khác nữa, ký ức về chúng từng được khôi phục gần đây hơn bởi hương vị – bởi thứ mà người ta từng gọi ở Combray là ‘hương thơm’ – của một tách trà; và, bằng một sự liên kết của các ký ức, về một câu chuyện mà, nhiều năm sau khi tôi rời khỏi chốn nhỏ bé ấy, đã được kể cho tôi nghe về một mối tình mà Swann từng vướng vào trước khi tôi chào đời; với độ chính xác chi tiết mà người ta dễ dàng đạt được hơn, thường là khi chúng ta nghiên cứu cuộc đời của những con người đã chết từ nhiều thế kỷ trước hơn là khi chúng ta đang cố gắng ghi chép lịch sử về cuộc đời của những người bạn thân thiết nhất của chính chúng ta, một độ chính xác mà nó dường như bất khả để đạt được giống như việc nó từng bất khả để trò chuyện từ thị trấn này sang thị trấn khác, trước khi chúng ta học được về phát minh qua đó sự bất khả thi đó đã được khắc phục. Tất cả những ký ức này, nối tiếp cái nọ sau cái kia, được ngưng tụ lại thành một chất duy nhất, nhưng không đến mức hòa quyện đến nỗi tôi không thể phân biệt giữa ba tầng địa chất, giữa những ký ức cổ xưa nhất, bản năng nhất của mình, những ký ức khác, được truyền cảm hứng gần đây hơn bởi một hương vị hoặc ‘hương thơm’ và những ký ức thực sự là ký ức của một người khác, từ kẻ mà tôi đã thu nhận chúng qua tay người thứ hai – không có vết nứt nào, quả thực, không có đứt gãy địa chất nào, nhưng ít nhất là những mạch máu đó, những vạch màu sắc đó trong các loại đá nhất định, trong các loại cẩm thạch nhất định, chỉ ra những khác biệt về nguồn gốc, tuổi đời và hình thành.
Đúng là khi bình minh đến gần, tôi từ lâu đã giải quyết xong sự bất định ngắn ngủi của giấc mơ tỉnh giấc, tôi sẽ biết mình thực sự đang nằm trong căn phòng nào, sẽ tái dựng lại nó xung quanh mình trong bóng đêm, và – xác định hướng đi của mình bằng trí nhớ đơn thuần, hoặc với sự hỗ trợ của một tia sáng mờ nhạt ở chân đó tôi đặt rèm cửa và cửa sổ – sẽ tái dựng nó hoàn toàn và với đồ đạc của nó, giống như một kiến trúc sư và một nhà trang trí nội thất có thể làm, làm việc trên một bản thiết kế ban đầu, đã bị loại bỏ của các cửa ra vào và cửa sổ; sẽ thay thế các tấm gương và đặt chiếc tủ đựng quần áo vào vị trí quen thuộc của nó. Nhưng hiếm khi ánh sáng ban ngày tự nó – chứ không phải tia sáng từ một hòn than sắp lụi cuối cùng trên thanh treo rèm bằng đồng, thứ mà tôi từng nhầm lẫn là ánh sáng ban ngày – vạch ra khắp bóng đêm, giống như bằng một nét phấn trên bảng đen, tia sáng sửa lỗi trắng đầu tiên của nó, khi cửa sổ, cùng với rèm cửa của nó, sẽ rời khỏi khung cửa nơi tôi từng đặt nó một cách sai lầm, trong khi để nhường chỗ cho nó, chiếc bàn viết, thứ mà trí nhớ của tôi từng cố chấp cố định nơi cửa sổ lẽ ra phải ở đó, sẽ vội vã chuồn đi với tốc độ tối đa, đẩy trước mặt nó chiếc lò sưởi, và quét sạch bức tường của hành lội; giếng trời của sân trong sẽ ngự trị trên điểm nơi, một khoảnh khắc trước, phòng thay đồ của tôi từng nằm, và chốn dung thân mà tôi từng tự dựng lên cho mình trong bóng đêm sẽ đi đến gia nhập tất cả những chốn dung thân khác mà tôi từng bắt gặp thoáng qua từ dòng xoáy của sự thức tỉnh; bị đánh đuổi bởi tấm bảng nhợt ngạt được vạch ra bên trên rèm cửa sổ của tôi bởi ngón trỏ vươn cao của ban ngày.