Chiếc Bảo Ấn Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 214 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phụ Lục D : Cái Đẹp Của Chữ Nho (Viết Để Tưởng Nhớ Phụ Thân)

❊ ❊ ❊

Phụ thân tôi hồi sinh tiền có thói quen mỗi khi viếng một ngôi đình, chùa, hoặc đền đài lăng tẩm, thường dừng chân rất lâu để ngắm nghía, chiêm ngưỡng những bức trướng, liễn, câu đối, nghi môn, hoành phi… khiến tôi, thuở ấy là một đứa bé, phải sốt ruột và ngạc nhiên.

Bây giờ thì tôi đã hiểu tại sao. Cái hiểu này đi kèm với nỗi nhớ, tiếc, thương, cảm phục. Phụ thân tôi là một trong những nhà nho cuối mùa của đất nước hồi đầu thế kỷ, khi nền học vấn chuyển từ bút lông qua bút sắt. Ân hận, lỡ dở, bơ vơ, lạc loài, câm nín… thôi thì ngổn ngang trăm mối trong lòng con người sống ở thể hệ « bản lề » của lịch sử. Tuy tiếc nuối là nền Nho học đã lỗi thời, không giúp ông lập thân như bao thế hệ trước, nhưng trong lòng ông vẫn ầm ỉ niềm tôn sùng không lay chuyển về cái đẹp cũ. Cái đẹp mà nhà văn Nguyễn Tuân mô tả là « vang bóng một thời ».

Một trong những sở thích của ông là ngắm những nét chữ Nho đẹp, đặc biệt là chữ đại tự. Ông bảo rằng, viết chữ Nho cho đẹp đã là một nghệ thuật đòi hỏi công phu luyện tập rồi, huống hồ là viết chữ đại tự ! Phụ thân tôi còn giảng nhiều điều lý thú linh tinh khác như muốn trút bao nhiêu tâm sự, cảm nghĩ, ưu tư cho thế hệ kế tiếp nhưng đầu óc ngây thơ của một đứa bé là tôi ngày đó không thể nào hiểu hoặc nhớ hết được ! Bây giờ, tra cứu về những sách dạy về thư pháp Trung Hoa, bao nhiêu kỷ niệm ấu thơ từ tiềm thức tôi có dịp trỗi dậy như đương xem lại một đoạn phim mờ mờ ảo ảo, vì cũ cũng có và cũng vì mắt lệ sương sương một màu thương tiếc ngậm ngùi !

Bài bút khảo này chỉ muốn đề cập đến một vài tính chất và kỳ công của kỹ thuật thủ pháp chữ Nho, đặc biệt đi vào kỹ thuật siêu thực chấm nét. Đối với thế hệ trẻ mà nền cổ học Đông phương đã bị đẩy lùi vào viện bảo tàng hay bị rơi vào quên lãng tàn nhẫn của thế nhân thì những dòng chữ dưới đây chỉ là một tiếng thở dài ngậm ngùi cho cái dĩ vãng một thời vang bóng ; nhưng đồng thời nó cũng là một đốm lửa nhỏ làm ấm lòng những tâm hồn hoài cổ.

Thủ pháp Trung Hoa hoàn toàn không phải là một kỹ thuật viết chữ máy móc mà là một nghệ thuật siêu đẳng. Người viết chữ Nho là một nghệ nhân qua một quá trình luyện tập lâu dài và liên tục, đem cả tâm huyết, tinh thần mình ký thác trên mặt giấy. Những món vật dùng để viết, do đó, được trân trọng kén chọn và gìn giữ. Văn phòng tứ bảo – như tên gọi – gồm bốn món quí sau : mực, nghiên, giấy, bút. Mỗi món được chế tạo đặc biệt theo nhiều trình độ khác nhau của người sử dụng.

Đại khái, mực tàu màu đen đúc thành từng thanh dẹp nhỏ hay tròn gọi là thoi (hay thỏi). Vật liệu làm mực thường là muội than của gỗ tùng và khói dầu, trộn với chất keo dẻo đun lỏng rồi đúc thành thoi để nguội. Mỗi khi sắp viết, người ta mài thỏi mực với một chút nước trong một cái nghiên.

Trong truyện Chữ Người Tử Tù của Nguyễn Tuân, qua miệng nhân vật Huấn Cao, câu khen : « Thoi mực thầy mua ở đâu tốt và thơm quá ? Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không ? » Mực sở dĩ thơm là vì lúc chế tạo, nó được trộn với xạ hương, do đó ở Huế, người ta quen gọi là mực xạ.

Nghiên mực là một phiến đá dẹp, trũng lòng. Ở một đầu nghiên có một cái lỗ khá sâu chứa nước. Đá làm nghiên thường là một loại đá đỏ được cắt và mài. Lòng nghiên không mài nhẵn thín, trơn tru nhưng cũng không để thô xảm mà phải vừa đủ để mài cho mực ra. Các nghiên đời Hán làm bằng gạch hay ngói nung thường rất quí. Khi mài mực, người ta cầm dựng đứng thỏi mực, mài chậm rãi, đều và chắc tay. Thời gian mài là lúc để tâm trí bình thản suy gẫm về kiểu thức những dòng chữ sắp viết. Số lượng mực mài ra chỉ nên vừa đủ viết ; mài nhiều để lâu mực sẽ khô đặc và biến màu làm sắc vẻ của các nét chữ không đều. Mực mài đặc quá sẽ quánh lại, ngòi bút khó chạy trên mặt giấy. Mài lỏng thì nước thấm vào giấy bản làm nét chữ bị nhòe. Tương truyền loại nghiên làm bằng ngói cung Vi Lương đời Hán có đặc tính kỳ lạ là hãm rất bền các chất mực cũ trong các lỗ nhỏ li ti của đất nung nên khi dùng, chỉ cần hà hơi cho ẩm là có đủ mực để viết một bài… tứ tuyệt.

Về giấy thì có nhiều loại. Thông thường giấy bản dùng để viết và vẽ có thớ hơi xảm và xốp. Sự kén chọn phẩm chất giấy tùy theo kinh nghiệm và sở thích của người viết.

Giấy ngày xưa có hiệu tùy theo gốc sản xuất. Hà Nội có phố Hàng Giấy chuyên bán các loại giấy, bút, mực cho các thầy khóa khi khoa cử còn thịnh. Miền Bắc có hai nơi làm giấy lâu đời là làng Phú Định, tỉnh Hưng Hóa và làng Bưởi gần Hà Nội. « Giấy Lịch Bưởi » là loại giấy trắng tốt. Vật liệu làm giấy ở Việt Nam là vỏ cây bồ đề (Ficus religiosa), cây dó (Rhamnoneuron balansae), cây giướng (Broussonetia papyrifera).

Ngòi bút lông chỉ dùng để viết chữ Nho. Đó là một chùm lông thú buộc từng bó nhỏ, nhét gắn vào một cái quản tre rỗng ruột. Cán bút có thể khảm vàng, bạc, ngọc, ngà. Lông ở ngòi bút cứng hơn bút lông vẽ tranh nước của Tây phương. Các loại lông có thể dùng là ngòi bút : trừu, nai, chồn, cáo, chuột, thỏ tùy theo loại. Nếu viết chữ nhỏ, mảnh, thì bút lông thỏ tốt hơn cả ; còn viết chữ lớn thì dùng lông trừu. Theo Nguyễn Tuân trong truyện Khoa Thi Cuối Cùng, thì các thầy khóa thường dùng các loại bút « Song lan, Thanh chi, Nhất chi, Kiều lan, Trúc lan… Tốt nhất là bút Tảo thiên quân lông trắng ».

Cách cầm bút là điều tối quan trọng. Như một cung thủ cần định rõ mục tiêu, thân hình vững vàng, tay nắm chắc cây cung, nhắm chính xác thì tên mới trúng đích ; người viết chữ phải định thần, thân hình ngay ngắn quân bình, quản bút cầm thẳng, viết chấm nào, nét nào xuống phải đúng nét ấy. Năm ngón tay cầm bút phải đặt thế nào để quản bút chuyển động theo ý muốn là do việc tập luyện từ nhỏ. Mỗi thư pháp gia có một lối cầm quản bút với các thế ngón riêng. Thông thường, ngọn bút phải dựng đứng, không nghiêng phải nghiêng trái. Ngón cái và ba ngón kế nắm lấy cán bút ở bốn phía, ngón út làm chỗ nâng. Ngón cái và ngón trỏ quan trọng nhất vì nhận sức lực của cổ tay và cả cánh tay để điều hòa áp lực của nét chữ. Ngón giữa và ngón áp út làm công việc xoay, chuyển. Ngón giữa vận cán bút xuống dưới hay quay qua phải ; ngón áp út nhấc lên hay quay qua trái. Khi ngón áp út đang nhấc bút lên thì ngón giữa điều chỉnh cho nó. Khi ngón giữa móc ôm lấy bút thì ngón áp út ngăn không cho nó tuột xa. Riêng ngón út thì làm nhiệm vụ của một tài công, khi thì kéo ngón áp út về phải, khi thì đẩy sang trái. Kỹ thuật về các chuyển thế của các ngón gọi là bát đăng. Đăng là cái bàn đạp ngựa ; bát là chuyển xoay, lái như trong câu « Cậy, bát thuyền trên nước ».

Bút tuy là để viết chữ nhưng không được cầm một cách khinh xuất mà phải được nắm chắc như cầm binh khí. Vương Hiến Chi, người con thứ bảy của thư pháp gia trứ danh Vương Hi Chi, lúc mới lên bảy, ngồi tập viết thì người cha lén đứng sau lưng, chụp lấy cán bút. Nhưng cậu con cầm chặt quá đến nỗi ông cha giằng mạnh cũng không ra. Vương Hi Chi bèn khen : « Thằng này về sau sẽ nổi danh trong giới thư pháp ».

Cầm bút phải theo những kỹ thuật sau : Lòng nắm tay phải trống rỗng (hư quyền) ; ngón tay phải chắc (thực chỉ) ; cổ tay phải ngang bằng (bình uyển) ; cán bút phải thẳng đứng (thụ phong).

Cổ tay cần ngang bằng (bình uyển) là điều tối thiểu phải làm khi viết dù với bất cứ kiểu chữ nào. Khi viết các chữ nhỏ li ti, muốn cho vững chắc, không run, người ta áp dụng lối chẩm quyền, nghĩa là để cổ tay phải gối lên bàn tay trái. Khi viết chữ cỡ trung thì áp dụng lối đề uyển, tức là tì khuỷu tay phải trên mặt bàn và để cánh tay nhấc lên với giác độ 25-30 độ. Còn viết đại tự thì bắt buộc phải theo lối huyền uyển, không có bộ phận nào của tay được chạm mặt bàn mà phải lơ lửng như được treo. Khi viết, nội lực toàn thân truyền qua vai, bắp tay, khuỷu tay, cánh tay, cổ tay và các ngón để dồn vào ngọn bút. Có như vậy nét chữ mới hoàn toàn linh động, vững mạnh. Lối huyền uyển đòi hỏi sự tập luyện lâu năm và liên tục, nếu tập lơ mơ sẽ viết ra những nét run…

Ngọn bút lông tạo ra trên mặt giấy những nét dày mỏng khác nhau tùy theo cách nhấn. Nếu nhấn dập đầu là đốn, nhấc nhẹ lên là đề, còn đè xuống cho tà đuôi ra thì gọi là nại. Nghệ thuật đốn, đề, nại áp dụng tùy theo diệu thủ : nét đề mảnh dẻ dùng cho chữ có nhiều nét ; nét nại mập dùng cho chữ ít nét ; nét đốn thì dùng để khởi đầu hay chấm dứt một vạch, khi chuyển, hoặc là ở chỗ tiếp nối hai vạch.

Chữ nhất là một chữ rất khó viết tuy chỉ có một vạch ngang. Nhìn theo thế bút thì nó khởi sự bằng nét đốn, rồi nét đề và chấm dứt bằng đốn.

Người ta ví von rằng, một nét vạch phải khởi đầu với sức mạnh chuyển núi mà lúc chấm dứt còn để lại dư hưởng dồn ở cuối nét thì mới gọi là tuyệt !

Tốc lực của những nét chữ cũng rất quan trọng. Nét nào cũng phải có chỗ viết chậm, chỗ viết mau. Lại còn nghệ thuật « dấu đầu kim trong nắm bông » là một tuyệt kỷ. Ngọn bút gọi là « hở hang » khi nét chữ có cạnh sắc như mỏ chim nhưng lại thiếu nét tim ở giữa do mũ bút lông tạo ra. Gọi là « kín đáo » khi trong nét viết, ở giữa tim có một lằn rõ. Muốn biết chữ viết có phải do bậc sư không, người ta soi tờ giấy lên ánh sáng, nếu thấy một lằn sẫm chạy đều ở tâm nét bút, còn mực chung quanh nhạt hơn là đúng.

Người Tàu nói sức mạnh của ngòi bút là « nhập mộc tam phân » nghĩa là xuyên gỗ sâu đến ba phân, đặc biệt khi viết với ngòi bút thẳng đứng. Tùy theo thế cán bút, người ta phân biệt ra hai lối viết : viên bút khi dùng kỹ thuật đề ; và phương bút khi dùng kỹ thuật đốn. Viên bút thì mềm, uyển chuyển ; còn phương bút thì chắc và vững. Phương bút thích hợp cho kiểu chữ Khải. Viên bút thì hợp với kiểu chữ Hành và Thảo. Tuy nhiên ở các bậc diệu thủ, phương bút và viên bút được sử dụng thích hợp và tài tình, không hẳn theo lệ trên.

Người Trung Hoa tôn sùng các diệu pháp của cổ nhân đến độ trong thư pháp hàng thế kỷ sau người ta vẫn mô phỏng các bậc thầy thuở trước bằng cách lấy mực thoa lên bia đá để chép lại kiểu chữ xưa.

Tuy nhiên, « mô phỏng » trong thư pháp Trung Hoa không có nghĩa là bắt chước đến độ hoàn toàn máy móc vì mỗi ngòi bút đều ít nhiều mang cá tính người viết. Một giai thoại lý thú về « bắt chước » chữ viết như sau : Vương Hiến Chi tuy nhỏ tuổi đã là một danh thủ thư pháp, tài gần bằng cha của mình là Vương Hi Chi. Một hôm Vương Hiến Chi đùa nghịch lấy trộm bức chữ của cha treo trong thư phòng rồi viết một bức thiếp khác hoàn toàn giống như vậy để trám vào. Hôm sau, Vương Hi Chi về nhà, thấy bức thiếp giả, bèn dừng chân ngắm nghía. Cậu con Vương Hiến Chi núp gần đó hồi hộp dọ nghe, thấy ông gật gù nói nho nhỏ : « Lạ nhỉ ! Khi ta viết bức thiếp này có lẽ ta chuếnh choáng say chăng ? »

Cái đẹp của chữ Nho nhiều khi còn tùy thuộc vào sự phối trí thành phần các nét. Thông thường là trong một khoảng vuông tiêu chuẩn như đoạn văn sau của Nguyễn Tuân :

« Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỷ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo, là có một vật báu trên đời ». (Chữ người tử tù)

Tuy nhiên « đẹp mà vuông » không nhất thiết là tiêu chuẩn để nhận định cái đẹp về « thế » của các nét chữ. Mỗi thư pháp gia đều có một phép phối trí riêng, tùy theo tâm trạng từng lúc của người viết, và tùy theo lối viết (Chân, Thảo chẳng hạn).

Chữ « túc » của Nhan Chân Khanh, bố trí cân cái, vững chãi như bước chân của một vị hòa thượng đang uy nghi cử bộ.

Image

Chữ « giới » của Triệu Chi Khiêm bố trí như một con cú đang cất cánh bay lên.

Image

Chữ « ý » của Tô Đông Pha gây ấn tượng về hình ảnh một người ngồi thoải mái, trầm tư mặc tưởng.

Image

Chữ « tùy » viết theo Thảo thư của Vương Hi Chi tạo ra hình ảnh một nữ vũ công đang múa, xiêm áo xoay chuyển theo nhịp múa.

Image

Chữ « di » (phép tắc) của Trương Di gợi nên hình ảnh một con cò đứng co một chân, trầm ngâm.

Image

Chữ đẹp « vuông » (chân phương) là đẹp tiêu chuẩn, nhưng nhiều thư pháp gia đã phá lệ, viết chữ rất đẹp trong khuôn khổ không cân đối.

Image

Cái đẹp của thư pháp Trung Hoa đôi khi không nằm trong sự cân đối (symmetry) mà nằm trong sự không cân đối đầy động tính (dynamic asymetry) như tác giả Trương Di nhận định trong cuốn Chinese Calligraphy. Một chữ in thường có nét sắc, gọn, rõ ràng, đầy tính máy móc mà người ta có thể dùng compas, thước, bút chì nhọn để vẽ lại đúng như thế. Nhưng đó là những chữ « chết ». Ngòi bút lông thì khác, nó linh động với cái sống của nó. Sự sống bổi hổi bồi hồi của ngọn bút là làm ra những nét lúc dày lúc mỏng, lúc nhu lúc cương, lúc khoan lúc nhặc, lúc thẳng lúc cong để diễn tả dịch tính rất động của thiên nhiên.

Sự huyền diệu của thiên nhiên tẩm nhuần mọi ngành nghệ thuật, truyền cảm vượt ngoài năng lực của ngôn ngữ. Bá Nha đàn mà nghĩ đến núi thì Tử Kỳ khen « Nga nga hồ chí tại cao sơn » ; nghĩ đến sông thì Tử Kỳ khen « Dương dương hồ chí tại lưu thủy ». Trong thư pháp, ý tưởng xuất hiện từ đầu ngọn bút.

Trong thư pháp Trung Hoa, các nét chấm, nét vạch không phải là những đường thuần túy máy móc về kỷ hà học mà là những nét huyền diệu. Có bảy nét chấm và vạch căn bản để viết chữ Nho, gọi là thất diệu :

- Hoành

Image

(nét vạch ngang) : diễn tả như một đám mây trải dài thiên lý rồi ngừng lại.

- Điểm

Image

(nét chấm) : giống như một viên đá rơi toàn lực từ vách núi cao xuống.

- Phiệt

Image

(nét phết) : giống như một cạnh dao bén chém phạt xuống hay giống cái sừng tê giác.

- Trực

Image

(nét thẳng) : như một nhánh dây leo cố thủ, mạnh vững.

- Loan

Image

(nét cong) : như sợi gân và khớp nối của cánh cung, dẻo và dai.

- Nại

Image

(nét đè) : giống như đợt sóng thình lình trải ra hay một đám mây phát ra tiếng sấm báo cơn dông.

- Thích

Image

(nét đá) : giống như nhánh cây rủ với rễ chắc chắn.

Tuy nhiên, trong lịch sử Trung Hoa, các diệu thủ thư pháp đã chế biến nhiều nét hơn. Một ông vua đời Hậu Hán đã phân biệt ra 14 kiểu nét. Vi phu nhân nhận định 72 kiểu nét. Còn Vương Hi Chi lại gom thành 8 nét căn bản để viết một chữ mà ông cho là cốt tủy : chữ Vĩnh trong cuốn Vĩnh tự bát pháp. Tám nét là trắc, lặc, nỗ, địch, sách, lược, trác, trách.

Lý thuyết của Vương Hi Chi thâm sâu và khó nên vào đời Thanh, Lý Phổ Quang đem 8 nét trên khai triển thành 32 nét. Trương Di, trong cuốn Chinese Calligraphy, cho rằng chữ vĩnh không bao gồm đủ các nét cần thiết để viết nhiều chữ quan trọng nên ông trình bày kỹ càng hơn, nhiều nét hơn 8 nét của Vương Hi Chi và ít hơn 72 nét của Vi phu nhân. Mỗi chấm hay mỗi vạch cho nét chữ đều in đen nhưng có một lằn trắng có mũi tên chỉ hướng chuyển động của đầu ngọn bút. Tất cả gồm 21 điểm và 39 nét vạch.

Image

Tên và hình các điểm :

Image

1. Hướng tả điểm (giống vuốt cọp)

Image

2. Hướng hữu điểm (giống đầu rùa)

Image

3. Trực điểm (giống mỏ phụng)

Image

4. Trường điểm (chấm dài)

Image

5. Khúc bão điểm (chấm cong ôm)

Image

6. Lưỡng hướng điểm

Image

7. Tả hữu điểm

Image

8. Câu điểm (chấm móc)

Image

9. Bình điểm (chấm bằng)

Image

10. Hướng thượng điểm

Image

11. Vi điểm (chấm bé)

Image

12. Trác điểm (mỏ chim)

Image

13. Hai chấm bằng

Image

14. Ba chấm thủy

Image

15. Hai chấm mỏ chim banh ra

Image

16. Hai chấm mỏ chim túm lại

Image

17. Ba chấm hai mỏ chim và một vuốt cọp ở giữa

Image

18. Ba chấm hai chấm lưỡng diện và một mỏ chim

Image

19. Bốn chấm hỏa (thường viết phía dưới)

Image

20. Bối diện điểm

Image

21. Hợi tứ điểm

Ngoài ra còn nhiều kiểu như lá liễu, cánh hoa lan, trái hạt giẻ… phải chấm thật nhẹ, thật mau với bút lông khi viết.

Hình các nét :

Image

1. Hoành họa (nét ngang)

Image

2. Thụ họa (nét sổ)

Image

3. Thùy lộ (giọt sương)

Image

4. Huyền cham (kim treo)

Image

5. Khúc đầu (đầu gẫu)

Image

6. Khúc bão phiệt (phết, phẩy)

Image

7. Đoản binh phiệt (phẩy thẳng ngắn)

Image

8. Trường trực phiệt (phẩy thẳng dài)

Image

9. Quyển phiệt (phẩy cong)

Image

10. Thụ phiệt (phẩy sổ)

Image

11. Khúc đầu phiệt (phẩy con đầu)

Image

12. Trường khúc phiệt

Image

13. Hồi phong phiệt

Image

14. Bình phiệt

Image

15. Lan diệp phiệt

Image

16. Nại (thụ nại) nét đè

Image

17. Bình nại (giống con cá lội)

Image

18. Trắc nại

Image

19. Phản nại (mũi cùn)

Image

20. Khúc đầu nại

Image

21. Kim đao nại (mũi sắc không tà)

Image

22. Thiên (nét phẩy)

Image

23. Trường thiên (nét khẩy dài)

Image

24. Trường câu (móc)

Image

25. Bình câu

Image

26. Hoành câu

Image

27. Qua câu (lưỡi mác)

Image

28. Nỗ câu

Image

29. Phương sí câu

Image

30. Nữu câu

Image

31. Long vĩ câu (móc đuôi rồng)

Image

32. Phù nga câu (móc cổ ngan)

Image

33. Thác câu (móc câu nâng lên)

Image

34. Viên câu (móc tròn)

Image

35. Bao câu (móc ôm)

Image

36. Hướng hữu câu

Image

37. Hí điệp (hình bướm bay)

Image

38. Bàn long (rồng cuộn khúc)

Image

39.Ngôn cung

Một chữ nho là một tập hợp của nhiều nét chấm và nét vạch. Khi viết phải tuân theo thứ tự trước sau của từng nét, đồng thời phối trí cho các nét thích hợp trong khuôn khổ của khoảng trống. Nếu viết không đúng thứ tự sẽ bị các cụ mắng là « viết trái cựa ». Để nhận định các chấm, nét, người ta dùng những danh từ : xương, thịt, bắp thịt, huyết.

Vi phu nhân nói : « Người viết biết dồn sức mạnh vào ngòi bút thì nét chữ có xương. Còn lối viết của kẻ kém tài, nét chữ đầy thịt. Viết mà nhiều xương ít thịt thì gọi là « gân guốc ». Viết mà nung núc thịt, xương yếu thì gọi là « mập như heo ». Chữ viết mạnh và gân guốc là thần bút, viết mà không có lực, chẳng có gân thì cũng giống như một phế nhân ». (Trích Dân tôi, nước tôi của Lâm Ngữ Đường)

Trong mọi nét chữ phải có « xương », tạo ra bởi sức mạnh của người viết, cho nên cách cầm cán bút rất quan trọng mà lối huyền uyển là cách viết hiệu quả nhất. « Thịt » của nét chữ tùy thuộc vào chiều dày của ngòi bút và cách đè mạnh hay nhẹ của bàn tay viết. Nó còn tùy thuộc vào số lượng nước trong mực. Thịt sẽ nhão nếu mực chứa nhiều nước, sẽ khô nếu ít nước, sẽ mập nếu nét mực quá dày, và ốm nếu nét quá mảnh. Còn ý niệm « bắp thịt » trong một nét tùy theo sự tưởng tượng. Nếu nét chữ có xương và vừa vặn thịt, thì chữ viết mạnh. Trong các chữ viết đẹp, người ta thấy các bắp thịt liền lạc nối nhau từ nét này qua nét kia và chữ này qua chữ khác. « Huyết » dùng để chỉ số lượng nước trộn hòa đều đặn với mực từ đầu đến cuối. Đúng ra phải gọi là huyết sắc, nghĩa là màu mực phải tươi nhuận thống nhất.

Dân ta thường vẫn tin rằng học trò chữ Nho không được gặm chân gà vì sợ run tay, viết chữ như « gà bới ». Trong thư pháp Trung Hoa có bát bịnh dùng để chỉ tám tật tiêu biểu các nét chữ xấu là :

Image

Đầu trâu

Image

Đuôi chuột

Image

Nọc ong

Image

Đốt tre

Image

Gai ấu

Image

Nhánh cây gãy

Image

Chân cò

Image

Đòn

Học trò xưa đi học cố dùi mài trau luyện sao cho được hai điều căn bản là văn hay chữ tốt. Về chữ tốt, ngoài sự luyện tập còn cần có hoa tay. Một người viết chữ đẹp thường rất kêu hãnh vì được thiên hạ chiều lụy xin chữ. Mỗi triều đại ở Trung Hoa chỉ sản xuất được vài thư pháp gia danh tiếng mà thôi. Qua Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, ta có thể thấy niềm kiêu hãnh cũng như sự trọng vọng của xã hội dành cho những tay diệu thủ về thư pháp :

« Ông Huấn Cao lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười : « Về bảo chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh trại về nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và một bó đuốc xuống đây rồi ta cho chữ. Chữ ta thì quý thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng chỉ mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi. Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các ngươi. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ… »

« …Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào : Kẻ mê muội này xin bái lĩnh ».

Cái đẹp của thư pháp Trung Hoa là cái đẹp không thể lấy tiêu chuẩn Tây Phương mà nhận định. Nó là cái đẹp không nằm trong khối thể (mass) mà nằm trong những nét (line). Các nét chỉ có hai loại : nét thẳng tạo ấn tượng mạnh, vững, nghiêm khắc, tĩnh ; nét cong tạo cảm giác động, bồng bềnh, dịu, tế nhị. Màu mực chỉ là đơn sắc tức là màu đen mà thôi. Chỉ với những nét chấm, phẩy, vạch ngang, vạch dọc và màu đen của mực mà những diệu thủ của thư pháp Trung Hoa đã cống hiến cho hậu thế nhiều nghệ phẩm. Chúng ta hãy duyệt qua một vài bức thư pháp của những thư pháp gia danh tiếng :

Image

Vương Hi Chi đời Tấn, đã nổi danh với vẻ đẹp toàn bích trong thư pháp. Bức thiếp trên gọi là Phụng cách thiếp viết vào thế kỷ thứ tư với kiểu chữ Hành thư cực kỳ linh động. Đây là duy vật duy nhất còn sót lại của tay thư pháp diệu thủ nổi danh qua bút pháp Lan Đình.

Image

Thư pháp của vua Tống Huy Tông có vẻ đẹp thanh nhã lạ thường. Nhà vua là một người đa tài : học giả, họa sĩ, thư pháp gia. Nét thư pháp của ông mảnh dẻ và cao quý như châu báu nên được mệnh danh là Slender gold style. Cũng như nét chữ, thể chất ông cao, mảnh, tuấn tú.

Tranh của ông cho đến nay vẫn được những tay sưu tầm kiếm mua với giá cao. Tiếc thay cái đa tài nghệ sĩ của ông đã bất phùng thời. Một nghệ sĩ tuyệt thế mà bị ép làm vua cho nên mới có cái án Huy Tông làm mất nước và án một trăm lẻ tám anh hùng Lương Sơn Bạc làm giặc. Ông là vị vua của thời mà Thi Nại Am đã chọn làm bối cảnh xã hội cho bộ truyện danh tiếng Thủy Hử.

Image

Thư pháp của Tô Đông Pha (1036-1101) có một vẻ đẹp lạ lùng. Ông cùng với cha và em được kể là ba đại văn gia đời Tống (Tam Tô). Ông đỗ tiến sĩ năm 20 tuổi, văn phong của ông mạnh mẽ, súc tích, trôi chảy. Qua nét chữ, con người thể chất của ông đã biểu lộ : « nhiều thịt » và dễ dãi hề hà. Tô Đông Pha có tư tưởng rất phóng khoáng. Ông chẳng những không hề gò bó trong Khổng giáo mà còn biết dung nạp các tư tưởng hay, đẹp của Lão giáo, Phật giáo. Ông cũng nổi danh là có tinh thần hài hước cao độ nên người Trung Hoa thường nói muốn sống lâu nên bắt chước thư pháp của Tô Đông Pha.

Image

Một Thư pháp gia danh tiếng là Mễ Phi. Bức thiếp của vị này biểu tượng được nét thanh thản, vô tư lự.

Không phải bất cứ ai cũng có khả năng thưởng lãm cái đẹp của thư pháp Trung Hoa. Nó đòi hỏi không những một kiến thức sâu rộng về thư pháp mà còn cả tinh thần say mê nghệ thuật nữa. Nếu câu « đàn gẩy tai trâu » để chỉ những người không có trình độ thẩm âm khi nghe nhạc, thì một bức thiếp của Vương Hi Chi cũng sẽ chỉ là một tấm giấy viết chữ ngoằn ngoèo, nhăng nhít dưới mắt một người bình thường.

Nhưng với những dân tộc chịu ảnh hưởng Nho học lâu đời như Việt Nam thì thư pháp Trung Hoa đã đi vào huyền sử qua nhiều giai thoại, vượt cõi nhân gian để tâm động đến quỉ thần và xúc cảm cả vạn vật.

Cửa bể Thần Phù huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam là nơi sông Đáy chảy ra biển, cực kỳ hiểm ác cho các thuyền bè, đến nỗi ca dao có câu :

« Lênh đênh qua cửa Thần Phù,

Khéo tu thì nổi, vụng tụ thì chìm ».

Vua Lê Thánh Tông lúc qua cửa biển này trên đường Nam chinh cũng có thơ rằng :

« Thử khứ hải môn tam thập cửu,

Kế trình hà nhật đáo Ô châu ? »

Trên vách đá cao vòi vọi dựng đứng nơi cửa biển, có hai chữ Nho thật lớn : Thần Phù, kích thước rất vĩ đại để tàu bè đi ngoài biển có thể thấy được. Nhưng chữ Thần không hiểu vì sao lại thiếu nét sổ dọc. Một nho sĩ gan dạ bèn buộc mình vào một sợi dây thừng dài, đầu kia buộc vào một gốc cây trên đỉnh vách. Một tay nho sinh cầm cái chổi lớn, một tay cầm một thùng vôi. Gió biển vù vù thổi mạnh như muốn hất ông ta vào vách đá nhọn nhưng ông vẫn cứ thòng người xuống từ từ. Một bên là vách đá lởm chởm, thẳng đứng ; dưới chân là sóng đánh ầm ầm. Trong tình trạng nguy hiểm như vậy, nho sinh đã định thần, viết một nét sổ dọc thật dài, thật thẳng, thật mạnh, thật gân cho chữ Thần.

Không biết có phải vì phù sa sông Đáy bồi đắp khiến lòng biển cạn dần, hay vì hành động phi thường của người nho sĩ trên đã tâm động đến quỷ thần mà từ đó những ngọn sóng thần trở nên dịu hẳn, không gây đắm thuyền nữa. Ngày nay, đi qua cửa Thần Phù, người ta vẫn còn thấy nét chữ trên đã đổi màu nâu sẫm.

Một giai thoại khác liên quan đến thư pháp như sau : Vào đời Ngụy Minh Đế, thư pháp gia Ngụy Đan tuân lệnh vua viết chữ trên một cái đài cao ngất từng mây có tên là Lĩnh Vân Đài. Ông phải làm một cái giàn tre cao cả trăm thước để leo lên viết ba chữ này. Khi viết xong leo xuống, tương truyền tóc của ông trở nên bạc phơ như cước. Về sau, trước khi chết, ông đã trối lại, bảo con cháu đừng nên lâm vào nghiệp dĩ viết chữ như ông !

LÊ VĂN LÂN —★— CHIẾC BẢO ẤN CUỐI CÙNG ebook©MotSAch TVE-4u© —★—
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lê Văn Lân

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.