Nhìn lại đại khái về thể thức dùng ấn triện ngày xưa, ta thấy phản ảnh rất nhiều khía cạnh đặc thù về nền văn hóa cổ truyền khi mà tổ tiên chúng ta còn chịu ảnh hưởng của Nho học phát xuất từ cái nôi Trung Quốc.
Với tinh thần hoài cổ, và cũng là thắp một nén hương cho linh hồn Nho học cũ, tôi mạo muội viết loạt bài bút khảo về ấn triện để chia xẻ với quí bạn đọc, mặc dù tôi tự biết sở học của tôi còn thô lậu.
Sau đây là một vài mẫu triện mà tôi nghĩ rằng lý thú cho chúng ta nắm được tinh thần chơi triện của người Trung Hoa trên phương diện triết lý nhân sinh :
Triện số 1 : có hình đồng tiền, in chữ triện là câu châm ngôn : « duy ngã tri túc » (duy chỉ có ta biết thế nào là đủ).

Triện số 2 : có hình nậm rượu in chữ « nhất hồ thủy », nói lên hoài bão của một đệ tử Lưu Linh chỉ thích trăm năm thi túi rượu vò.

Triện số 3 : có hình vầng trăng lưỡi liềm, khắc chữ « ngọa nguyệt », có nghĩa là hoài bão của người chỉ thích hưởng nhàn nằm khểnh ngắm trăng.

Triện số 4 : có hình vuông, khắc chữ chìm (âm triện) những chữ cổ triện ngoằn nghoèo đọc là « Thời hồ ! Thời hồ ! Bất tái lai ! » mang ý nghĩa là Ôi thời gian ! Ôi thời gian ! chẳng bao giờ trôi trở lại, đúng là câu than của một người có triết lý nhìn đời trôi chảy nên chủ trương vui chơi với cuộc đời hiện tại.

Triện số 5 : Ấn khắc chữ nổi (dương triện), nét chữ thẳng đuột có nội dung : « nhân gian thiên thượng » nghĩa là cõi người sống có vòm trời ở trên, nói lên sự khiêm cung của nhân thế đối với trời cao !
Triện số 6 : Ấn hình thuẫn, khắc chữ cổ triện, mà chữ nào có gạch ngang bên dưới cần phải lập lại để hiểu ý nghĩa uyên sáo của câu. Đây là một câu châm ngôn của một người tìm cái vui trong sự học vì nội dung đọc là : « Lạc thị lạc thử học, học thị học thử lạc », tạm dịch là vui là vui được học làm vậy, học là học được cái học vui như thế.

Triện số 7 : Ấn có hình vuông, khắc chữ triện tối cổ gồm những nét tượng hình với nội dung đầy thi tứ : « Tịch dương giang thượng lâu », tạm giải thích là lên lầu nhìn nắng chiều chiếu rọi trên sông

Triện số 8 : Ấn hình tròn, khắc chữ cổ triện tượng hình với câu : « Nhật vân trung » (mặt trời nằm lẩn trong mây). Chữ vân chỉ viết đơn sơ phác họa bằng một nét uốn éo như một sợi mây.
