Người Gia Sư, Agnes Grey

Lượt đọc: 160 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương XXI
Ngôi trường

❊ ❊ ❊

Tôi rời khỏi Horton Lodge và cùng mẹ chuyển đến một nơi ở mới ở A-. Tôi thấy sức khỏe của mẹ tốt, tinh thần của mẹ sẵn sàng đối mặt với mọi sự, thậm chí vui vẻ, mặc dù cách cư xử của mẹ điềm tĩnh và dịu dàng. Chúng tôi chỉ có ba học sinh nội trú và sáu học sinh học ban ngày để bắt đầu trường học của mình, nhưng bằng sự quan tâm và cần cù, chúng tôi hy vọng chẳng bao lâu nữa sẽ tăng được số học sinh lên gấp đôi.

Tôi bắt đầu bằng việc huy động năng lượng của bản thân để dồn cho các việc cần phải làm của cuộc sống mới. Tôi gọi đó là cuộc sống mới bởi vì thực ra có sự khác biệt đáng kể giữa làm việc với mẹ tôi trong ngôi trường của riêng chúng tôi và làm việc như một người được thuê mướn giữa những người lạ, bị khinh miệt, chà đạp bởi cả người già lẫn con trẻ, và trong những tuần đầu tiên tôi không hề cảm thấy hạnh phúc. “Có thể chúng ta sẽ còn gặp lại nhau”, và “Vậy theo cô chúng ta có gặp lại nhau nữa hay không?” − những lời nói đó cứ vang lên bên tai tôi và lưu trú trong tim tôi: chúng là niềm an ủi và sự khích lệ thầm lặng, bí mật của tôi. “Mình sẽ gặp lại anh ấy. − Anh ấy sẽ đến. Anh ấy sẽ viết thư cho mình.” Thực ra, không lời hứa hẹn nào là quá tươi sáng và quá phi lý đối với Hy Vọng đang thì thầm bên tai tôi. Tôi không tin một nửa những gì Hy Vọng sẽ tới với tôi: tôi giả vờ cười trước những lời thì thầm ấy, nhưng tôi cả tin hơn tôi nghĩ, nếu không, tại sao tim tôi lại đập rộn khi nghe tiếng gõ cửa và thấy chị giúp việc ra mở cửa, đến nói với mẹ tôi rằng có một quý ông muốn gặp bà? Tại sao trong suốt thời gian còn lại của ngày hôm đó tôi buồn, bởi vì đó chỉ là một thầy giáo dạy nhạc tới xin việc ở trường của chúng tôi? Điều gì khiến tôi ngừng thở trong tích tắc, khi người đưa thư mang hai bức thư tới, và mẹ tôi nói, “Agnes, thư của con này” rồi ném một lá thư cho tôi? Điều gì làm máu nóng dồn lên mặt tôi khi tôi nhận thấy đó là thư của một người đàn ông? Và tại sao − ôi! Tại sao cái cảm giác thất vọng, ớn lạnh lại dâng lên trong tôi, khi tôi xé bì thư và phát hiện ra đó là thư của chị Mary và vì lý do nào đó, chồng chị là người gửi thư giúp chị?

Chao ôi, tại sao tôi lại có cái cảm giác đó, tại sao tôi cảm thấy thất vọng khi nhận được thư từ người chị gái duy nhất của mình bởi vì đó không phải là thư được viết bởi một người dưng? Chị Mary thân yêu của tôi! Chị đã viết cho tôi thật ân cần − và đáng lẽ tôi phải vui khi nhận được thư chị mới đúng chứ! − Tôi không đáng được đọc bức thư đó! Và trong sự phẫn nộ đối với bản thân mình, tôi đáng lẽ phải đặt bức thư sang một bên cho tới khi tinh thần khá hơn, xứng đáng với vinh dự và đặc quyền được đọc nó, nhưng lúc đó mẹ tôi ngó vào, muốn biết thư của chị tôi nói gì, vậy nên tôi đọc và đưa thư cho mẹ, rồi đi vào phòng học với các học trò. Trong khi cho học trò tập viết và làm tính − giữa những lúc chỉnh sửa các lỗi sai, nhắc nhở học sinh tập trung làm bài tập, tôi nhủ thầm, bản thân mình phải tập trung vào công việc một cách nghiêm túc hơn. “Mi thật ngốc nghếch”, lý trí của tôi nói với trái tim, “làm sao mi dám mơ anh ấy sẽ viết thư cho mi chứ? Cơ sở nào khiến mi ôm một niềm hy vọng hão huyền như vậy − cũng như hy vọng anh ấy sẽ đến gặp mi, hoặc lo lắng cho mi − hoặc thậm chí nghĩ về mi?” “Dựa vào đâu mà mi ôm hy vọng hão huyền đó?” − và khi tôi chất vấn bản thân, Hy Vọng lại đặt ra trước mắt tôi những lời anh đã nói mà tôi luôn giữ trong tâm trí như báu vật. “Có gì ẩn chứa trong những lời nói đó chứ? Ai lại đi treo hy vọng lên cái cành mỏng manh như thế chứ? Có gì trong những lời nói mà những người quen nhau đều có thể nói với nhau như chuyện thường đó chứ? Tất nhiên, mi và anh ấy có thể gặp lại nhau. Anh ấy có thể đã nói như vậy nếu mi sắp sửa đi New Zealand, nhưng như thế không có nghĩa là anh có ý định gặp lại mi − ai cũng có thể đặt ra những câu hỏi đó, và mi sẽ trả lời như thế nào? Chỉ đơn giản bằng một câu trả lời chung chung, ngớ ngẩn, như câu trả lời mi sẽ đưa ra trước ông chủ Murray, hoặc với bất cứ ai khác đã đối xử với mi lịch sự đến mức không chịu nổi.” “Nhưng, vậy thì”, Hy Vọng khăng khăng nói, “vậy thì còn giọng nói và thái độ của anh ấy khi anh nói những lời đó”. “Ôi chao! Thật vớ vẩn! Lúc nào anh ấy chẳng nói một cách ấn tượng như thế. Vả lại, lúc đó có tiểu thư Matilda Murray và các tiểu thư nhà Green ở đằng trước, và có những người khác đi ngang qua, vậy nên anh ấy buộc phải đứng sát bên cạnh mi, nói rất nhỏ thôi, trừ khi anh ấy muốn tất cả mọi người nghe thấy những điều mình nói, những điều mà − mặc dù chẳng có gì đặc biệt − tất nhiên, anh ấy không muốn tất cả mọi người nghe thấy.” Trên hết, cái xiết tay vừa nhẹ nhàng vừa mạnh mẽ của anh dường như muốn nói “hãy tin cậy ở tôi” và nhiều điều khác nữa − khiến mi mê mẩn − có thể lặp lại với bất cứ ai. “Thật nực cười − quá ngu xuẩn − mi chắc chắn sẽ phải xấu hổ vì sự tưởng tượng vô căn cứ của mình. Nếu mi nhìn lại hình thức chẳng có gì hấp dẫn, sự kín đáo khó gây thiện cảm, sự thiếu tự tin ngớ ngẩn của mi − những điều chắc chắn khiến mi mang cái vẻ lạnh lùng, đần độn, vụng về, và có lẽ cũng bẳn tính: nếu mi tính đến những điểm bất lợi đó của bản thân ngay từ đầu, thì mi đã chẳng ấp ủ những ý nghĩ quá tự tin ấy, thì bây giờ mi đã cầu nguyện sự ăn năn, hối lỗi!”

Tôi không thể nói rằng tôi hoàn toàn tuân theo những mệnh lệnh của lý trí, nhưng theo thời gian, những lập luận ấy càng ngày càng trở nên có ảnh hưởng đối với tôi, trong khi tôi không gặp và cũng chẳng nhận được tín hiệu gì từ Weston. Và rồi cuối cùng, tôi từ bỏ hy vọng, bởi vì trái tim tôi thừa nhận rằng, có hy vọng cũng vô ích. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ về anh. Tôi nâng niu hình ảnh của anh trong tâm trí, trân quý từng lời nói, cái nhìn, từng cử chỉ của anh mà trí nhớ của tôi có thể lưu giữ được, và suy ngẫm về sự xuất sắc, những nét tính cách của anh mà thực tế tôi đã thấy, đã nghe, hoặc đã hình dung ra.

“Agnes, mẹ nghĩ không khí biển và sự thay đổi môi trường sống chẳng giúp ích gì được cho con. Chưa bao giờ mẹ thấy con trông thiếu sinh lực như thế này. Chắc là do con ngồi quá nhiều và quá lo lắng về các lớp học. Con phải học để biết cách thư giãn và sống vui vẻ, hoạt bát hơn. Con phải tập thể dục bất cứ khi nào có thể. Hãy cứ để những việc gây mệt mỏi đó mẹ lo. Chúng chỉ khiến mẹ có cơ hội rèn thêm lòng kiên nhẫn và chỉ thử thách tính khí của mẹ một chút thôi.”

Mẹ tôi nói như vậy vào một buổi sáng khi chúng tôi ngồi làm việc trong kỳ nghỉ lễ Phục sinh. Tôi khẳng định với mẹ rằng tôi không hề chịu áp lực từ công việc, rằng tôi khỏe, hoặc nếu có gì đó không ổn ở tôi thì nó sẽ sớm chấm dứt khi những tháng mùa xuân đầy thử thách trôi qua: khi mùa hè đến tôi sẽ khỏe mạnh và tươi vui như mẹ muốn. Nói như vậy, nhưng thực lòng, lời nhận xét của mẹ khiến tôi giật mình. Tôi biết sức khỏe của mình đang giảm sút, tôi ăn không ngon miệng, càng ngày càng trở nên bơ phờ, chán nản. Quả thực, nếu anh chẳng bao giờ quan tâm đến tôi, và tôi không bao giờ gặp lại anh nữa − nếu tôi không được phép chăm sóc cho hạnh phúc của anh − không được nếm những niềm vui của tình yêu, không được trao và nhận hạnh phúc − thì cuộc sống chắc chắn sẽ là gánh nặng đối với tôi, và nếu Đức Chúa Trời gọi tôi đi, tôi sẽ vui mừng được an nghỉ. Nhưng tôi không đành lòng chết đi và bỏ lại người mẹ thân yêu của tôi trên đời này. Đứa con gái ích kỷ, vô tích sự, trong khoảnh khắc đã quên mẹ mình! Chẳng phải niềm hạnh phúc của mẹ phần lớn phụ thuộc vào tôi sao? − Và còn lợi ích của những học trò nhỏ nữa? Chẳng lẽ tôi lại chùn bước trước công việc mà Chúa giao cho tôi sao, bởi vì nó không hợp với sở thích của tôi ư? Chẳng lẽ Ngài không phải là đấng biết rõ nhất tôi nên làm gì và tôi phải lao động ở lĩnh vực nào sao? Chẳng lẽ tôi bỏ dở công việc của Ngài và mong được an nghỉ ư? “Không, với sự che chở, giúp rập của Đức Chúa Trời, mình sẽ đứng dậy mạnh mẽ, toàn tâm toàn ý tập trung cho nhiệm vụ được giao phó. Nếu hạnh phúc trên đời này không dành cho mình, thì mình sẽ nỗ lực đóng góp cho hạnh phúc của những người xung quanh, và phần thưởng dành cho mình sẽ đến ở kiếp sau.” Tôi tự nhủ như vậy, và kể từ lúc đó tôi chỉ cho phép mình thỉnh thoảng nghĩ đến Edward Weston − hoặc ít nhất thỉnh thoảng dừng lại để nghĩ đến anh một chút − trong những dịp hiếm hoi, và dù có phải vì mùa hè đang đến gần hay vì kết quả của sự quyết tâm tích cực đó, hay do sự xoa dịu của thời gian, hoặc vì tất cả những lý do ấy, tĩnh tâm trở lại, và cùng với sự ổn định tinh thần, thể chất của tôi cũng dần hồi phục.

Vào đầu tháng Sáu, tôi nhận được một bức thư từ phu nhân Ashby, người đã từng là tiểu thư Murray. Trước đó cô đã viết thư cho tôi vài lần từ những nơi khác nhau trong các chuyến du lịch sau lễ cưới, luôn luôn trong tâm trạng tốt, và luôn tỏ ra rằng cô đang rất hạnh phúc. Lần nào tôi cũng ngạc nhiên vì trong hạnh phúc và ở những nơi khác nhau, cô đã không quên tôi. Thế rồi, bẵng đi một thời gian tôi không nhận được tin tức gì của cô. Dường như cô đã quên tôi, bởi suốt bảy tháng tôi không nhận được thư của cô. Tất nhiên, tôi không buồn đến mức trái tim tan vỡ vì điều đó, mặc dù tôi thường tự hỏi không biết cô hiện giờ ra sao, và khi, cuối cùng bất ngờ thư của cô đến, tôi không khỏi vui mừng. Thư đề ngày tháng ở Ashby Park, nơi cô đến sống, sau khi đã chia thời gian của mình giữa các lục địa và các thành phố. Trong thư nhiều lần cô xin lỗi vì đã lâu không viết cho tôi, khẳng định với tôi rằng cô không quên tôi, và thường có ý định viết cho tôi, nhưng luôn luôn có chuyện ngăn trở cô làm điều đó. Cô thú nhận rằng cô đang sống một cuộc đời uổng phí, và rằng có thể tôi sẽ nghĩ cô thật tồi tệ, thật nông nổi, song, thực ra cô đã suy nghĩ rất nhiều và cô rất muốn gặp tôi. “Em đã ở đây được vài ngày rồi”, cô viết. “Em không có một người bạn nào hết, và có lẽ cuộc sống ở đây rất buồn tẻ. Cô biết đấy, em chưa bao giờ thích sống với chồng em như đôi chim cu gáy trong cùng một tổ chim, cho dù ông ta là quý ông thú vị nhất chăng nữa. Vậy nên hãy rủ lòng thương và đến thăm em đi. Em đoán rằng kỳ nghỉ giữa hè của có sẽ bắt đầu vào tháng Sáu, giống như những người khác, vậy nên cô không thể nói rằng lúc đó cô không có thời gian. Cô phải đến và cô sẽ đến nhé − thực sự, nếu cô không đến em sẽ chết. Em muốn cô đến thăm em như một người bạn, và ở lại với em lâu lâu. Ở đây em chẳng có ai làm bầu bạn, như em đã kể với cô rồi đấy, ngoài ngài Thomas và bà già Ashby, nhưng cô đừng bận tâm đến họ − tiếp xúc với họ cô sẽ khó chịu đôi chút. Em có phòng riêng cho cô, bất cứ khi nào cô muốn nghỉ ngơi đều được, và em có rất nhiều sách để đọc khi những người xung quanh em không đủ thú vị. Em quên không biết cô có thích trẻ con không. Nếu cô thích, thì cô có thể ngắm con của em − đứa bé xinh đẹp nhất thế giới, chắc chắn đấy, và em muốn nói thêm rằng em không bận bịu với việc chăm sóc nó đâu − em đã quyết định sẽ không để mình bận bịu với việc đó. Thật không may, nó là con gái, và ngài Thomas không bao giờ tha thứ cho em, nhưng, tuy nhiên, nếu cô đến, em hứa cô sẽ trở thành gia sư của nó ngay khi nó biết nói, và cô sẽ hướng nó tới con đường mà nó nên đi, khiến nó trở thành một người phụ nữ giỏi hơn mẹ của nó. Và cô cũng sẽ được ngắm con chó xù của em, một con chó nhỏ được nhập khẩu từ Paris, có thể làm người ta thích mê, và hai bức tranh đắt giá của Ý − em quên không nhớ tác giả của chúng tên là gì. Chắc chắn cô sẽ có thể phát hiện ra những nét đẹp phi thường trong những bức tranh ấy, và cô sẽ chỉ cho em thấy, bởi em chỉ nghe lời người ta kháo nhau mà thích những bức tranh ấy thôi. Ngoài ra còn có nhiều món đồ quý hiếm mà em đã mua ở Rome và ở những nơi khác. Cuối cùng, cô sẽ được ngắm ngôi nhà mới của em − một ngôi nhà nguy nga và khu vườn cảnh bao quanh mà em từng ao ước, thèm muốn có được. Chao ôi! Sự háo hức mong chờ vượt trên cả niềm vui sở hữu! Tình cảm trong sáng đấy cô ạ! Em đảm bảo với cô em sẽ trở thành một mệnh phụ già trang nghiêm: xin cô hãy đến, dù chỉ để chứng kiến sự thay đổi tuyệt vời. Hãy hồi âm thư này nhé, và nói cho em biết ngày nào cô bắt đầu được nghỉ. Hãy nói với em cô sẽ đến ngay ngày hôm sau nhé, và sẽ ở lại với em cho đến tận cuối kỳ nghỉ nhé.

Thân mến

Rosalie Ashby.”

Tôi đưa cho mẹ xem bức thư kỳ cục đó, và hỏi ý kiến mẹ xem tôi nên làm gì. Mẹ khuyên tôi nên đi, vậy nên tôi quyết định đi – đủ sẵn sàng để gặp phu nhân Ashby, thăm đứa con nhỏ của cô, và làm bất cứ điều gì có ích cho cô, bằng sự an ủi hoặc sự khuyên nhủ, bởi vì tôi nghĩ rằng chắc chắn cô đang buồn, nếu không cô đã không nài nỉ tôi như vậy − nhưng tôi có cảm giác rằng chấp nhận lời mời của cô, tôi đã hy sinh nhiều cho cô, và đã cưỡng ép tình cảm của mình theo nhiều cách, thay vì vui mừng với vinh dự đặc biệt mà phu nhân của một tòng nam tước dành cho tôi, khi cô mời tôi đến thăm cô với tư cách một người bạn. Tuy nhiên, tôi quyết định rằng chuyến thăm của tôi sẽ chỉ kéo dài vài ngày. Và tôi không phủ nhận rằng tôi tìm thấy niềm an ủi từ thực tế Ashby Park cách Horton không xa, và tôi có thể sẽ gặp Weston, hoặc ít nhất biết được chút thông tin về anh.

Ashby Park dĩ nhiên là một nơi rất đẹp. Dinh thự nhìn từ bên ngoài rất đồ sộ, còn ở bên trong rộng thênh thang, sang trọng và thanh lịch. Khu vườn cảnh rộng lớn, thoáng đãng và tươi đẹp chủ yếu nhờ những cây cổ thụ đứng sừng sững, và những đàn hươu nai đông đúc, hồ nước rộng, và những khu rừng nguyên sinh ở phía bên kia vườn. Vì khu đất vườn không gồ ghề mà chỉ có vài chỗ hơi nhô lên như gợn sóng khiến cảnh vật càng thêm hấp dẫn. Đây là nơi Rosalie Murray ao ước được sở hữu, hoặc đồng sở hữu với bất cứ điều kiện nào − với bất cứ cái giá nào mà cô phải trả để trở thành bà chủ, và chấp nhận bất cứ ai là bạn đời của mình miễn sao người đó có vinh dự và diễm phúc sở hữu nó! Giờ đây tôi không nỡ chỉ trích cô.

Cô đón tôi rất nồng nhiệt, và mặc dù tôi là con gái của một mục sư nghèo, chỉ là một gia sư, cô vẫn đón tôi với sự vui mừng thật sự. Điều khiến tôi ngạc nhiên là, cô đã cố gắng bằng nhiều cách để khiến chuyến thăm của tôi trở nên dễ chịu. Tôi có thể thấy rằng cô nghĩ tôi sẽ bị choáng ngợp với cảnh đẹp mê mẩn quanh cô, và tôi phải thú nhận rằng tôi cảm thấy khá phiền bởi những cố gắng của cô nhằm khẳng định điều đó và để tôi khỏi bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp hùng vĩ, không quá sợ trước ý nghĩ sẽ gặp chồng và mẹ chồng của cô, hoặc quá xấu hổ về vẻ bề ngoài của tôi. Tôi không hề xấu hổ về điều đó, bởi vì, mặc dù tôi ăn mặc đơn giản, tôi đã chú ý để bản thân không trở nên tiều tụy, và tôi khá xinh trong sự thoải mái tự nhiên, nếu bà chủ nhà không cố gắng làm tôi thoải mái một cách phô lộ, còn với cảnh đẹp ở xung quanh cô, không thứ gì tôi nhìn thấy có thể làm tôi choáng váng hoặc tác động đến tôi bằng nửa vẻ ngoài đã thay đổi của chính cô. Không rõ ảnh hưởng của sự phung phí về trang phục và phụ kiện, hoặc một điều tồi tệ nào khác, hay khoảng thời gian hơn mười hai tháng đã gây ra sự sa sút về vóc dáng, sự kém tươi trẻ của làn da, sự chậm chạp trong vận động, sự kém sôi nổi ở tinh thần của cô nhiều bằng sự tác động mà nhiều năm mới có thể gây ra.

Tôi muốn biết liệu có phải cô không được hạnh phúc chăng, nhưng tôi cảm thấy mình không có trách nhiệm để hỏi điều đó. Tôi có thể cố gắng giành được sự tin cậy của cô, nhưng nếu cô chọn giấu không cho tôi biết những nỗi lo âu, muộn phiền liên quan đến đời sống hôn nhân của mình thì việc tôi hỏi những câu hỏi đó chỉ gây khó chịu cho cô mà thôi. Vậy nên, lúc đầu tôi chỉ hỏi cô vài câu chung chung về sức khỏe, hạnh phúc, và nói vài lời khen ngợi về vẻ đẹp của vườn cảnh, về đứa con gái mà lẽ ra phải là con trai của cô: một đứa trẻ sơ sinh bé xíu, yếu ớt mới được bảy hoặc tám tuần tuổi, sinh linh dường như không được mẹ đẻ của nó dành cho sự quan tâm hoặc tình cảm đặc biệt nào, mặc dù tôi rất mong cô thể hiện điều đó.

Một lát sau khi tôi đến, cô sai người hầu gái dẫn tôi tới một căn phòng nơi tôi có mọi thứ tôi muốn. Đó là một căn phòng không hào nhoáng nhưng đầy đủ tiện nghi. Khi tôi đi tới đó − sau khi đã trút bỏ bộ đồ đi đường và rửa ráy trong khi suy nghĩ về những cảm xúc của bà chủ nhà − đích thân cô dẫn tôi tới phòng dành riêng cho tôi khi tôi chọn ở một mình, hoặc khi cô bận tiếp khách, hoặc buộc phải ở bên cạnh mẹ chồng, hoặc, như cô nói, khi tôi bị cản trở không được giao du. Đó là một phòng khách nhỏ xíu, yên tĩnh, và tôi không hề cảm thấy buồn khi được dành cho một chỗ ẩn dật như thế.

“Lúc nào đó”, cô nói, “em sẽ dẫn cô đến thư viện. Em chưa bao giờ nghiên cứu các giá sách trong thư viện, nhưng em dám nói rằng nó chứa đầy những cuốn sách trí tuệ, và cô có thể tới tìm hiểu chúng bất cứ khi nào cô muốn. Bây giờ cô sẽ dùng trà – chỉ lát nữa thôi là tới bữa tối, nhưng em nghĩ, vì cô quen ăn bữa chính lúc một giờ, nên có lẽ giờ này cô muốn dùng một tách trà hơn, và cô sẽ ăn bữa chính khi chúng em ăn trưa. Cô biết đấy, cô có thể dùng trà ngay trong phòng này, và như vậy cô khỏi phải dùng bữa chính với bà già Ashby và ngài Thomas. Dùng bữa với họ sẽ khiến cô khá lúng túng − thực ra, không lúng túng nhưng khá − cô biết em muốn nói gì rồi đấy. Em nghĩ cô sẽ không thích đâu − đặc biệt khi nhà này có các quý bà và các quý ông đến dùng bữa.”

“Tất nhiên”, tôi nói, “tôi muốn dùng bữa như cô nói, và nếu cô không phản đối, tôi thích dùng bữa ngay tại phòng này.”

“Tại sao vậy?”

“Bởi vì tôi nghĩ điều đó sẽ dễ chịu hơn cho bà Ashby và ngài Thomas.”

“Không phải như vậy đâu.”

“Dù sao như vậy cũng thoải mái hơn cho tôi.”

Cô phản đối một cách yếu ớt, và tôi có thể nhận thấy rằng lời đề nghị của tôi khiến cô nhẹ nhõm.

“Nào, hãy đến thăm phòng khách đi”, cô nói. “Có chuông báo giờ thay đồ để xuống ăn cơm tối rồi đấy, nhưng em sẽ không xuống ngay đâu. Mặc diện mà làm gì khi chẳng có ai ngắm nhìn mình, và em muốn nói chuyện với cô một chút.”

Phòng khách dĩ nhiên là một phòng lớn, được trang trí nội thất rất trang nhã, nhưng tôi nhận thấy khi chúng tôi bước vào, bà chủ trẻ của nó liếc nhìn tôi như thể muốn biết tôi bị những gì bày ra trước mắt mình gây ân tượng mạnh đến mức nào, còn tôi kiên định duy trì sự dửng dưng sắt đá, như thể tôi chẳng nhìn thấy gì đặc biệt. Nhưng thái độ đó chỉ kéo dài trong thoáng chốc, ngay lập tức lương tâm thì thầm với tôi: “Tại sao mi lại gây thất vọng cho cô ấy để giữ sự kiêu hãnh của mi? Không − mi nên hy sinh sự kiêu hãnh của bản thân để tặng cho cô ấy chút cảm giác hài lòng ngây thơ.” Và tôi nhìn quanh, nói với cô rằng đó là một căn phòng tuyệt vời, được bài trí thật đẹp. Cô không nói nhiều, nhưng tôi có thể thấy cô vui vì lời nhận xét ấy.

Cô chỉ cho tôi con chó xù giống Pháp mũm mĩm nằm cuộn tròn trên tấm thảm lụa, và hai bức họa của Ý, nhưng không cho tôi có thời gian để ngắm kỹ chúng, nói rằng việc đó để sau, rồi sốt sắng khoe với tôi chiếc đồng hồ đeo tay nạm ngọc mà cô đã mua ở Geneva. Sau đó cô dẫn tôi đi quanh căn phòng, chỉ cho tôi xem những món đồ cổ mà cô đã mang từ Ý về: một chiếc đồng hồ nhỏ trông thật tao nhã, một vài bức tượng bán thân, mấy bức tượng nhỏ xinh xinh, vài bình hoa, tất cả đều được tạo từ đá cẩm thạch. Cô nói về những thứ đó một cách hào hứng, và mỉm cười thích thú trước những lời nhận xét có tính khen ngợi của tôi. Tuy nhiên, nụ cười của cô sớm tắt, nhường chỗ cho tiếng thở dài buồn bã, như thể cô chợt nghĩ đến những gì mà những thứ lòe loẹt đó không thể có để đóng góp cho hạnh phúc của một trái tim, và sự thiếu khả năng đáp ứng những nhu cầu không bao giờ thỏa mãn của nó.

Sau đó cô nằm dài trên chiếc trường kỷ, ra hiệu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế tựa rộng kê ở phía đối diện − nhưng không phải trước lò sưởi, mà trước một ô cửa sổ lớn, bởi vì khi đó là mùa hè: một buổi chiều tối ấm áp và dịu êm vào nửa cuối tháng Sáu. Tôi ngồi đó một lát trong im lặng, tận hưởng không khí trong lành, yên tĩnh, và cảnh đẹp của vườn cảnh trải ra trước mắt mình với hoa lá tràn ngập sức sống tắm trong ánh nắng vàng, được làm nổi bật bởi những cái bóng dài của một ngày đang dần kết thúc. Nhưng tôi phải tận dụng khoảng ngừng nghỉ này. Tôi có những câu hỏi và như phần tái bút của một cô nương, điều quan trọng nhất cuối cùng đã đến. Vậy nên tôi bắt đầu hỏi thăm về ông bà Murray, tiểu thư Matilda và các công tử.

Cô nói cho tôi biết rằng cha cô bị bệnh gút, chứng bệnh khiến ông rất hay nổi cáu, và ông sẽ không từ bỏ những loại rượu mà ông đã chọn cũng như các bữa chính và bữa ăn nhẹ, đã cãi nhau với bác sĩ bởi vì ông ta dám nói rằng không có thuốc nào có thể chữa bệnh cho ông được nếu như ông cứ sống buông thả như vậy, còn mẹ cô và những người khác vẫn khỏe. Matilda vẫn hoang dã và hấp tấp như trước, nhưng cô đã có một gia sư hợp thời và cô đã tiến bộ đáng kể trong cung cách, và sẽ sớm được giới thiệu với thế giới. Hai công tử, John và Charles (hiện đang ở nhà nghỉ hè) đều “là những thằng bé khỏe mạnh, tinh nghịch, ngỗ ngược, chẳng biết sợ là gì.”

“Vậy còn những người khác thì sao?” Tôi hỏi − “gia đình nhà Green chẳng hạn?”

“A, ông Green buồn lắm, cô biết đấy”, cô vừa cười uể oải vừa nói, “ông ấy chưa vượt qua được nỗi thất vọng, và em cho rằng ông ấy sẽ chẳng bao giờ vượt qua được. Số phận bắt ông ấy sống độc thân đến già, còn các cô em gái thì đang cố gắng hết sức để lấy chồng.”

“Thế còn nhà Meltham thì sao?”

“Ồ, họ vẫn bình thường, nhưng em biết rất ít về bất cứ người nào thuộc nhà ấy – trừ Harry”, cô nói, hơi bối rối một chút rồi lại mỉm cười. “Em gặp ông ta nhiều lần khi ông ta ở Luân Đôn, bởi vì ngay khi nghe tin chúng em sang bên đó, ông ta giả vờ đi thăm anh trai và bám theo em như một cái bóng ở bất cứ nơi nào em đến. Cô không cần phải sửng sốt như vậy đâu, cô Grey ạ. Em cam đoan với cô rằng em rất kín đáo, nhưng cô biết đấy, người ta cứ ngưỡng mộ mình thì biết làm sao được! Gã đàn ông tội nghiệp! Ông ta không phải là người duy nhất tôn thờ em, mặc dù ông ta chắc chắn là người đáng chú ý nhất, và em nghĩ, là người nhiệt tình nhất trong số những người theo đuổi em. Và kẻ đáng ghét ấy − e hèm − ngài Thomas rất bực mình với ông ta − hoặc vì sự tiêu xài hoang phí của em, hoặc vì chuyện gì đó − em không biết chính xác là chuyện gì − vội đưa em về nước, thế là em phải sống cuộc đời ẩn dật.”

Cô cắn môi, chau mày đầy vẻ hằn học trước cái nơi đẹp đẽ mà cô đã từng ao ước được gọi là của mình.

“Thế còn ông Hatfield”, tôi hỏi, “ông ấy thế nào rồi?”

Nghe tôi nhắc đến cái tên đó, cô lập tức hào hứng trở lại, và trả lời bằng giọng vui vẻ: “À! Ông ấy được đánh mối cho một cô gái già và chẳng bao lâu sau đã cưới cô ta. Ông ta đặt vẻ đẹp tàn phai của cô gái già đó và cái ví nặng trịch của cô ta lên bàn cân, hy vọng tìm thấy trong vàng bạc niềm an ủi mà tình yêu đã từ chối không cho ông ta − ha ha!”

“Vậy là tôi đã biết tình hình của tất cả mọi người rồi − trừ ông Weston. Ông ấy thế nào?”

“Em không biết. Ông ấy đã rời khỏi Horton.”

“Ông ấy đi lâu chưa? Ông ấy đi đâu?”

“Em không biết gì về Weston”, cô đáp và ngáp dài − “ngoài việc ông ta đã đi khỏi đây khoảng một tháng trước − em không hỏi ông ta đi đâu” (Tôi đã có thể hỏi anh ấy rời khỏi đây để kiếm sống hay đơn giản để làm phó mục sư ở một chỗ khác, nhưng tôi nghĩ tốt nhất không nên hỏi); “và người dân ở đây nháo nhác trước việc ông ấy ra đi”, cô nói tiếp, “làm Hatfield bực mình lắm, bởi vì Hatfield không ưa Weston vì phó mục sư có quá nhiều ảnh hưởng đối với người dân ở đây, và bởi vì Weston không dễ điều khiển và không dễ sai khiến − và vì một số tội không thể bỏ qua, em không biết là những tội gì. Nhưng bây giờ em phải đi thay đồ đây. Chuông reo lần nữa rồi đấy, và nếu em xuống ăn tối với bộ dạng này thì em sẽ phải nghe bài ca không dứt của bà già Ashby. Thật kỳ cục là em không thể làm bà chủ trong ngôi nhà của mình! Cô cứ việc rung chuông nhé, em sẽ sai người hầu của em mang trà lên cho cô. Chỉ nghĩ đến bà già quá quắt đó em đã −”

“Ai cơ − người hầu của cô ư?”

“Không − mẹ chồng của em − và sai lầm đáng tiếc của em! Thay vì để bà ta biến đi nơi khác, như bà ta đề nghị khi em cưới, em lại đủ ngốc nghếch để bảo bà ta cứ sống ở đây, và cai quản các việc ở nhà này giúp em, bởi vì, ban đầu, em hy vọng phần lớn thời gian trong năm chúng em sẽ sống ở thành phố, ở ngôi nhà khác. Còn trẻ và thiếu kinh nghiệm, em sợ có một lô người hầu phải cai quản, và sợ phải quyết định các món ăn cho các bữa ăn hằng ngày, sợ phải tổ chức tiệc tùng, và em nghĩ với kinh nghiệm của mình, bà ta sẽ hỗ trợ em. Em đâu ngờ bà ta lại lộ rõ mình là một kẻ cướp ngôi, một bạo chúa, một cơn ác mộng, một tên gián điệp, và là mọi thứ đáng ghét khác. Em ước gì bà ta chết quách đi!”

Sau đó cô ra lệnh cho người hầu nam, đã đứng im như khúc gỗ ở trước cửa từ nửa phút trước, đã nghe lỏm được những lời cuối cùng cô nói, và tất nhiên có những nhận xét riêng của anh ta về họ, dù vẻ mặt anh ta biểu lộ sự nghiêm trang, vô cảm không thay đổi. Khi tôi nhắc cô rằng người gác cửa có thể nghe thấy những gì cô nói, cô đáp, “Chẳng sao! Em chẳng bao giờ quan tâm kẻ hầu người ở nghĩ gì. Họ chỉ như những cái máy thôi. Chủ của họ có nói gì hay làm gì cũng chẳng sao. Họ không dám đưa lời đâu. Và nếu họ có suy nghĩ gì, thì cũng chẳng ai thèm quan tâm đâu. Còn gì là thoải mái nếu chúng ta cứ phải giữ mồm giữ miệng vì kẻ hầu người ở!”

Nói rồi cô chạy vội vào phòng vệ sinh, để mặc tôi quay trở lại phòng bên cho kịp giờ uống trà. Sau đó tôi ngồi ngẫm nghĩ về quá khứ và tình trạng hiện tại của phu nhân Ashby cũng như chút thông tin tôi đã thu lượm được về Weston, và cơ hội gặp lại anh hoặc biết thêm tin tức của anh trong suốt cuộc sống lặng lẽ của mình. Từ nay về sau dường như không có sự thay đổi nào giữa những ngày mưa và những ngày đầy mây xám xịt. Tuy nhiên, cuối cùng, tôi bắt đầu chán những ý nghĩ của mình và ước giá mà tôi biết cái thư viện bà chủ trẻ đã nói tới ở đâu để tìm đến đó, ở trong đó, chẳng làm gì cả, cho tới giờ đi ngủ.

Vì tôi không đủ giàu có để sở hữu một chiếc đồng hồ đeo tay, tôi không biết mấy tiếng đồng hồ đã trôi qua, ngoài việc dựa vào những cái bóng đổ dài từ ô cửa sổ phản chiếu một phần quang cảnh bên ngoài gồm một góc vườn cảnh, một lùm cây có những cành cao bị chiếm bởi một đàn quạ ồn ào đông vô kể, và một bức tường cao có cánh cổng gỗ lớn, chắc hẳn dẫn tới chuồng ngựa, bởi có một con đường rộng dành cho xe ngựa từ cổng vào. Chẳng bao lâu sau, bóng của bức tường đã trùm lên toàn bộ khuôn viên rộng đến hết tầm mắt, buộc ánh hoàng hôn vàng ruộm phải lùi từng phân, và cuối cùng phải trú trên những ngọn cây. Chẳng bao lâu sau, ngay cả những ngọn cây cũng bị bỏ lại trong những cái bóng − bóng của những ngọn đồi, hoặc trong bóng của chính Trái Đất, và trong sự đồng cảm của những cư dân bận rộn giữa những lùm cây. Tôi không khỏi chạnh lòng khi thấy nơi cư trú của những con quạ, mới đó còn tắm trong ánh nắng vàng rực rỡ, giờ đây đã nhuốm một màu ảm đạm của thế giới u tối, và thế giới ở trong lòng tôi cũng vậy. Vừa mới đây thôi, những con chim bay phía trên tổ vẫn có thể nhận được ánh hoàng hôn rực rỡ chiếu xuống đôi cánh của chúng, chiếu tới bộ lông tối màu của chúng, nhưng rồi cuối cùng ánh sáng đó cũng rời bỏ chúng. Bóng tối lẻn đến. Những con quạ trở nên im lặng hơn. Tôi cảm thấy mệt mỏi và muốn lên đường về nhà vào ngày mai. Cuối cùng trời cũng tối hẳn và tôi đang định rung chuông gọi người hầu mang một ngọn nến đến phòng mình, và muốn đi ngủ, thì bà chủ nhà xuất hiện, xin lỗi đi xin lỗi lại vì đã bỏ tôi một mình quá lâu, rồi đổ lỗi tất cả chỉ tại “bà già xấu tính”, người mà cô gọi là mẹ chồng.

“Nếu em không ngồi với bà ta ở phòng khách trong khi ngài Thomas uống rượu”, cô nói, “thì bà ta sẽ không bao giờ tha thứ cho em. Nếu em rời khỏi phòng lúc ông ta đến − như em đã làm một hoặc hai lần − thì đó sẽ là một tội lỗi không thể tha thứ đối với Thomas yêu quý của bà ta. Bà ta chưa bao giờ tỏ ra bất kính như thế với chồng mình, và bà ta nghĩ những người vợ thời nay không bao giờ nghĩ đến điều đó, nhưng bây giờ mọi chuyện khác với thời của bà ta − như thế nếu em ở lại trong phòng thì có nhiều việc hay ho để làm, trong khi ngài Thomas chẳng làm gì ngoài việc càu nhàu và trách mắng khi ông ta ở trong tâm trạng không vui, nói những điều vớ vẩn đáng ghê tởm khi ông ta vui, và nằm ngủ trên ghế xô pha khi ông ta quá buồn chán, và bây giờ ông ta thường xuyên ngủ như thế, khi chẳng có gì để làm ngoài việc say rượu bí tỉ.”

“Nhưng cô không thể cố gắng thu hút tâm trí của ông ta bằng việc gì đó tốt hơn, và thuyết phục ông ta bỏ những thói quen xấu ấy ư? Tôi chắc chắn rằng cô có khả năng thuyết phục, và có khả năng làm cho một người đàn ông cảm thấy vui, những khả năng mà nhiều tiểu thư muốn sở hữu.”

“Vậy cô nghĩ em sẽ cố gắng hết mình vì sự vui vẻ của ông ta á! Còn lâu! Đó không phải là quan niệm về một người vợ của em. Theo em, chồng phải làm cho vợ vui chứ làm gì có chuyện vợ phải làm cho chồng vui. Và nếu người chồng không hài lòng với vợ mình như cô ta vốn thế − và không cảm thấy biết ơn vì có được cô ta − thì ông ta không xứng đáng với vợ mình, vậy thôi. Và em cam đoan với cô rằng em sẽ không bận bịu với việc đó đâu. Em đã phải chịu đựng con người vốn có của ông ta rồi, và con người đó không hề cố gắng sửa đổi. Em xin lỗi đã để cô ở một mình quá lâu, cô Grey ạ. Cô đã giết thời gian bằng cách nào?”

“Chủ yếu bằng cách ngắm đàn quạ.”

“Trời ạ, chắc hẳn cô phải buồn chán lắm! Em phải dẫn cô đi thăm thư viện mới được, và cô phải rung chuông gọi bất cứ thứ gì cô muốn, như cô đang ở trong khách sạn để bản thân được thoải mái chứ. Em có những lý do ích kỷ vì muốn làm cho cô vui, bởi vì em muốn cô ở lại đây với em, và em không đầu hàng trước lời đe dọa khủng khiếp sẽ bỏ trốn trong một hoặc hai ngày tới của cô đâu.”

“Đừng vì tôi mà vắng mặt ở phòng khách lâu hơn nữa, bởi hiện tại tôi đã mệt và muốn đi ngủ rồi.”

THƯ VIỆN EBOOK (TVE-4U) Tác phẩm Người Gia Sư - Agnes Grey Tác giả Anne Brontë Người dịch Nguyễn Bích Lan Tủ sách Văn học nước ngoài Thể loại Kinh điển phương Tây Phát hành LimBooks NXB NXB Hà Nội 08/2017 —✥— EBOOK©VCTVEGROUP 20-05-2019
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.