Dở đọc lại cuốn hồi ký của vị Hoàng đế cuối cùng của Việt nam, ta hãy nghe ông tâm sự chán ngán về vai trò của một ông từ giữ chùa :
« Sau ngày hồi loan, 9-1932, được trao nhiệm vụ bảo tồn nghi lễ triều Nguyễn, tôi đã hoàn tất một cách chân thành mẫu mực. Hàng ngày tôi mang lễ vật đến dâng kính trước bàn thờ Liệt thánh và tranh thủ ngồi trầm tư trong khu lăng tẩm giữa vùng quê tịch mịch tràn đầy chất thơ của chốn thần kinh ». (Le Dragron d’Annam)
Thật là một tâm sự của một người ở vào cái thế « chẳng đặng đừng » của một ông vua bù nhìn do người Pháp nặn ra mà sau này không ai hiểu chỉ thấy ông dùng thì giờ nhàn rỗi thể thao, du ngoạn, săn bắn, gán cho ông tiếng « vua playboy ». Dường như vua Bảo Đại càng ngày về sau càng không quan tâm đến chiếc ngai vàng định mệnh mà ông bất đắc dĩ phải ngồi… Một lời chua chát khác mà ông viết trong hồi ký của ông là :
« …họ (tức là người Pháp) đã đặt tôi vào địa vị trớ trêu này, tôi phải đành tâm sống như một vị vua ngoại quốc vậy. Hoàng đế bị đi đày – y như các tiên đế của tôi trước đây (ý ám chỉ các vua Hàm nghi, Thành thái, Duy Tân…) – nhưng là đi đày ngay trong nước mình, giữa thần dân của mình ».
Quyền hành của vị Hoàng đế cuối cùng của Việt nam là duy nhất dùng chiếc ấn « Sắc mạng chi bửu » không phải để ban hành những chỉ thị thực tế cụ thể về hành chánh nội trị, chọn Nội các, bổ nhiệm các quan chức cai trị như ngày xưa mà chỉ là để đóng trên những bằng sắc phong thần cho các thành hoàng, và phong hàm cho những người chết.