Trở về đề tài khắc ấn triện trên đá, ta thấy tinh thần của người Trung Hoa thường vẫn tôn sùng văn tự từ thời cổ, nên dụng cụ trong thư phòng như giấy bút mực nghiên được cầu kỳ kén chọn và được trịnh trọng gọi là Văn phòng tứ bảo. Do đó, đọc chuyện đá để khắc triện ấn, ta gặp toàn những điều huyền thoại, nhưng được họ tin tưởng một cách sắt đá. Chuyện cái nghiên quí của Vua Tự Đức mà theo cụ Vương Hồng Sển kể trong cuốn « Hơn nửa đời hư » là một thí dụ điển hình.
Hiện nay, các tiệm khắc ấn triện ở vài phố Tầu ở San Francisco và New York, Philadelphia vẫn dùng loại đá dảm thạch (soapstone) và loại đá vôi để khắc triện, mầu thường trắng trắng nâu nâu hay ngó giống huyết lươn, nhưng hỏi họ là đá gì, họ trịnh trọng gọi là « kim thạch ». Tôi thấy họ dùng các thứ đá trên để tiện thành hộp đựng và nhiều mẫu triện với đủ loại nuốm long li qui phụng, càng lớn khối thì lớn tiền. Họ lại có một cuốn album để khách chọn chữ, nhưng nếu để cho họ vẽ cho mình một kiểu chữ đặc biệt thì phải trả thêm 5-10 đô la. Giá biểu công khắc tính theo số chữ. Vài văn thi sĩ Việt nam ở hải ngoại (như Hồ Trường An, Phạm Thăng, Trần Quán Niệm, Nguyễn tấn Hưng…) còn hoài cổ cũng muốn đặt cho mình một chiếc ấn để đóng trên tác phẩm, giá biểu cũng xê xích trong vòng 50-100 đô la.
Tôi có hỏi ông bạn văn-thi-họa Nguyễn đức Hiển ở Houston về bí quyết khắc chữ triện trên thạch-ấn ở Phố Tầu, ông bạn có mách rằng ấn đá thường được ngâm nước chanh cho mềm trước khi khắc, sau đó thì lại ngâm trong dung dịch khác cho đá cứng lại. Về các kiểu chữ triện, thì có thể dò trong cuốn Lục thư thông, một loại tự biểu gồm đủ kiểu chân thảo triện lệ khải tống. Nếu hiểu thêm về thạch ấn thì có cuốn « Tề-Bạch-Thạch ấn ảnh » do Đới xuân Thanh trứ tác, in bởi nhà Vinh bảo trai, ngoài ra còn những số báo « Cố cung văn vật nguyệt san » của Đài Loan.
Ấn thường có hai phần là đế có mặt khắc chữ và phần nuốm để cầm hay đeo.
Ấn có thể mình trơn, không trang hoàng, nhưng phần lớn thì có nuốm tiện khắc nhiều hình như rồng, kỳ lân, tượng người, hoa trái. Có vài loại ấn đa diện để người ta thay đổi mặt chữ in, có ấn mang hai ba mặt in hoặc đến sáu mặt in. Trên vách thành của đế ấn, có thể để trơn hay điêu khắc phong cảnh tùy sở thích hay tùy văn thi xã, hoặc trường phái. Mặt ấn để in chữ thông thường là vuông hay chữ nhật, nhưng nó có thể tròn, hình thuẫn, hình trái bầu…
Ngoài ra, người ta còn thấy loại ấn « Mẹ Con », tức là chiếc ấn lớn rỗng lòng chứa một chiếc ấn con khác như hình búp bê Mẹ con của dân Nga vậy. Trong lịch sử quân sự của Trung Hoa, người ta còn thấy vài chiếc ấn bằng thau mềm được khắc một cách khẩn cấp cho nhu cầu hành quân hay bổ nhiệm các tướng cầm quân nơi trận tiền gọi là « cấp tựu ấn » như trường hợp những ấn của tướng Mã viện. Loại ấn này chỉ thấy ở đời Tần và Hán.
Đồ phụ tùng đi với ấn là hộp mực in : màu đỏ son là thông dụng, nhưng màu khác vẫn dùng, tuy nhiên màu đen và xanh thường dùng trong tang sự. Về màu đỏ, Son hay chu sa (mercuric sulfide) được dùng bằng cách nghiền ra với dầu mè (thảo ma du) rồi được tẩm vào những miếng nùi đệm bằng lá ngải diệp phơi khô xé tưa ra. Loại son chế tạo kỹ càng có thể lưu lại những dấu ấn bền cả mấy trăm năm không phai màu, chẳng hạn như vua Càn Long nhà Thanh đã nổi tiếng chế son bằng tám loại bảo thạch : đại để với trân châu, san hô, hồng bảo ngọc, chu sa… nên dù đến ba trăm năm sau, dấu son của ông vẫn tươi đỏ như mới vậy. Ở Việt nam, dấu son của chiếc « Sắc mạng chi bửu » đời Minh Mạng nhìn vẫn sướng mắt. Tôi cũng tra cứu thêm về huyền thoại của ông Trần Mậu đời Đường đã chế son bằng cách giã chu sa với phèn, rồi chế thêm xạ hương rồi cất trong hộp bằng sừng tê giác. Loại son này được gọi là « thấu vân hương » (thơm đến mấy từng… mây) nên thư tín của ông gởi xa đến mấy… ngàn dặm mở ra vẫn điếc mũi về mùi thơm của chất son. Nhiều sách Tầu lại nói về cách chế son đặc biệt khác nhau như dùng dầu nấu chu sa với bồ kết, hoặc trộn với mật ong, hoặc dùng mỡ của con trút (xuyên sơn giáp). Tôi cũng xin nói thêm cho đủ là son của Tàu đôi lúc được đựng trong hộp bằng sứ sản xuất bởi các lò sứ danh tiếng Thành hóa hay Tuyên Hóa ở xứ Định Châu. Nói như vậy để ta thấy nghề chơi triện ấn của Trung Hoa rất đỗi nhiêu khê vì tinh thần tôn sùng văn tự của họ.