Lạc vào khu rừng của đường nét

Chiếc Bảo Ấn Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6) Lạc Vào Khu Rừng Của Đường Nét
6

❊ ❊ ❊

Văn tự Trung Hoa có một đặc thù độc đáo là lấy sự Tượng hình (Pictograms) làm chủ chốt tiên khởi cho sự diễn tả, rồi từ đó mới chuyển qua Chỉ sự (Indicators), Hội ý (Ideograms), Chuyển chú (Deflectives), Hài thanh (Phonograms), Giả tá (Borrowed characters). Con người Trung hoa đời thái cổ đã dùng đôi mắt của mình thu nhận hình ảnh sự vật, rồi dùng bàn tay mà vẽ lại. Những ý niệm khác đều chỉ là sự dùng những hình vẽ tiên khởi mà biểu diễn ra, như ý niệm sáng (minh) là hình phép của hình mặt trời với mặt trăng, ý niệm mở (khai) là hình cánh cửa với bàn tay đẩy ra… (Xin nói trong dấu ngoặc rằng dân Việt nam mình có đặc điểm dùng tai để nghe và ghi chép sự việc nên mình có nhiều tiếng tượng thanh và ngôn ngữ của ta nhiều nhạc tính). Mỗi chữ của Tầu hầu như là một bức vẽ gồm sự bài trí của những đường nét… Chữ Triện là hình thức cô đọng những đường nét cụ thể. Ta có thể nhận định rằng thư pháp của Trung Hoa có một sức truyền cảm của trường phái hội họa ấn tượng siêu hình chăng ?

Người Trung Hoa có cái cầu kỳ riêng của họ qua những lối gọi như : thơ mà gợi nhiều hình ảnh thì nói là : thi trung hữu họa (trong thơ có vẽ) ; bức vẽ mà gợi nên nhiều tứ thơ thì lại nói : Vô thanh thi (thơ không có tiếng). Trên một khuôn triện có diện tích bằng một phân vuông, các nghệ nhân Trung hoa đã ký thác đủ thứ : họa, thi, triết lý. Những bậc hiền nhân quân tử ngày xưa ở Trung hoa, thấm nhuần triết lý sống theo Khổng giáo, thường cho vấn đề tu thân (sửa mình) là đầu mối ưu tiên trước khi đi đến sự tề gia (lo việc gia đình), trị quốc (cai quản nước), và cuối cùng là bình thiên hạ (đem lại thái bình cho nhân loại). Muốn tu thân, họ thường viết những bài « minh » để làm tiêu chuẩn mà răn mình.

Xin mời quí bạn nhìn vào vài giòng chữ triện minh họa sự kiện trên :

Image

Hình 1 : viết theo lối Huyền châm thư (hình những cái kim treo) của Tào Hỉ đời Hán sáng chế để chép nhan đề của những chương sách trong Ngũ kinh. Giòng chữ viết câu : « Phù danh nan đắc, nhi dị thất dã ». (Ôi ! Điều danh khó lòng có được nhưng lại dễ mất thay !) cũng như ta hay nói : Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng !

Hình 2 : viết theo Khoa đẩu văn (hình nòng nọc) do Thường Hiệt sáng chế viết thành câu : « Bất khả bất chí ». (« chẳng có thể chẳng quên » nghĩa là nhớ mãi luôn, nghĩ tới là nhớ !)

Hình 3 : viết theo lối Ngư thư (chữ hình cá) sáng chế do Vũ vương khi thấy điềm hên là con cá trắng nhẩy vào thuyền của ông. Giòng chữ là : « Vô Hành khả hối ». (Không làm gì để hối tiếc).

Hình 4 : viết theo Điểu thư (chữ hình chim) do Vũ vương khi thấy điềm hên là con chim đỏ bay vào nhà ông. Giòng chữ là « An lạc tất kính ». (Kính thay cho ai có được điều yên ổn, hạnh phúc).

Hình 5 : viết theo lối Phi Bạch thư (hình vệt trắng bay) do Thái Ung nhìn một người dùng bút lông viết nhanh như bay lướt trên mặt giấy nên nét bút chứa nhiều sợi trắng rất đẹp lẫn ở giữa. Câu viết chữ : « Hoàng hoàng như kính khẩu ». (Khi ta giầu sang phú quí huy hoàng, thiên hạ chỉ kính sợ ta ngoài miệng).

Hình 6 : viết theo Anh lạc văn (hình giải mũ) do ông Lưu Đức Thăng sáng chế sau khi ngắm nhìn chuôi sao Bắc đẩu giống như tua giải mũ. Câu này viết giòng chữ : « Hạnh đức tắc hưng ». (Sống đức hạnh ắt hưng thịnh).

Hình 7 : viết theo lối Tuệ thư (hình bông lúa) do Thần Nông sáng chế sau khi thấy ở vùng Thượng đảng cây lúa trổ được tám bông. Câu viết giòng chữ : « Sở giám bất viễn thị ». (những điều mình có nhiệm vụ coi sóc chẳng thể đứng xa mà ngó).

Hình 8 : theo lối Doanh Minh (bài minh khắc trên cột để nhớ mà răn mình), viết câu : « Hồ thương kỳ họa tương trường ». (dầu cho điều xui họa cứ kéo dài cho ta, đâu có sao).

Hình 9 : theo lối Quán bàn minh (bài minh răn mình khắc trên chậu rửa mặt), viết câu : « Nịch ư uyên do khả du ». (dẫu rớt chìm trong đáy vực sâu, ta cứ lội).

Hình 10 : theo lối Đái minh (bài minh răn mình đeo ở thắt lưng), viết câu : « Thận giới tất mãng mãng tắc thọ ». (Cẩn thận kiêng ăn cữ uống tất mang tiếng thô lậu… nhưng sống lâu).

Hình 11 : theo lối Trượng minh (bài minh răn mình khắc trên cây gậy), viết câu : « Ô hô nguy ư phẫn chí ». (Dễ cáu giận thực là nguy hiểm thay !)

Hình 12 : theo lối Cung minh (bài minh răn mình khắc trên cái cung) viết câu : « Phế hưng chi hành vô tự quá ». (Chuyện phế hưng cho đời mình – đừng quên rằng chính mình có phần lỗi).

Hình 13 : theo lối Đồng thủ triện (chữ triện theo hình đầu đứa trẻ – hay còn gọi là Hài nhi diện – mặt con nít) mà đời Hán quen dùng khắc triện, viết câu : « Kiến nhĩ tiền, lự nhĩ hậu ». (nhìn chuyện đã qua của mày mà lo chuyện sẽ xẩy ra sau).

Hình 14 : theo lối Thượng phương đại triện (lối chữ triện của thừa tướng Lý Tư được Trình Mạo tô điểm lại cho đẹp), viết câu : « Thực tự trượng, thực tự trượng ». (ăn thì tự lượng, ăn thì tự lượng) nghĩa là trong cuộc đấu tranh tự tồn, hãy tự trông vào tự lực !

LÊ VĂN LÂN —★— CHIẾC BẢO ẤN CUỐI CÙNG ebook©MotSAch TVE-4u© —★—
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lê Văn Lân

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.