Đứt quân lương, Tôn Tẫn dọc đường giết ngựa
Đuổi kình địch, Bàng Quyên Mã Lăng sa cơ
Sau khi Điền Kỵ rời Sở, vì muốn chiếm lấy tiên cơ, Chiêu Dương thỉnh tấu Sở Vương, đích thân làm chủ tướng, dẫn sáu vạn quân, uy hiếp tới Hình Sơn. Đồng thời, Hoài Vương hạ chỉ cho văn học thị tùng Khuất Nguyên khởi thảo một bản hịch văn khai chiến lời lẽ hùng hồn, rồi đích thân chép lại, đóng ngọc tỷ, phái sứ giả mang tới Đại Lương.
Do mấy năm về trước từng được Tô Tần giao phó thảo minh ước sáu nước phạt Tần, nên Khuất Nguyên không chỉ danh vang liệt quốc, mà còn được trong triều ngoài nội nước Sở suy tôn là đệ nhất tài tử. Phạt Tần thất bại, Khuất Nguyên được thái tử Hoè giữ lại bên mình, hầu hạ sớm tối. Sau khi kế ngôi, trong danh sách nhiệm chức bãi chức đầu tiên, thái tử Hoè đã đặc cách cất nhắc Khuất Nguyên làm văn học thị tùng, liệt vào hàng trung đại phu, chuyên trách thảo các loại chiếu thư, dụ chỉ, tương đương với chức ngự sử của liệt quốc Trung Nguyên. Khuất Nguyên xưa nay tán thưởng sách lược hợp tung của Tô Tần, lấy làm đau lòng trước việc Ngụy hết phạt Triệu lại phạt Hàn, do vậy bản hịch văn đã bộc bạch được cảm xúc trong lòng, lời lẽ bén nhọn, ngôn từ hoa mỹ, dù là Ngụy Huệ Vương đọc nhiều hiểu rộng, cũng không kìm được mà tấm tắc ngợi khen, cứ đọc đi đọc lại mãi.
Trước khi hịch văn nước Sở kịp tới Đại Lương, Bàng Quyên đã nhận được mật báo của sứ Ngụy Phùng Hách, đồng thời thám mã các lộ cũng liên tục cấp báo về tình hình điều động của quân Sở.
Sở có nỗi đau Hình Sơn, điều binh lần này, hẳn là muốn đòi lại Hình Sơn. Bàng Quyên không dám coi thường, một mặt tạm thời trì hoãn tấn công Hàn, tăng cường dò la thám thính, củng cố phòng ngự Hình Sơn, mặt khác chuẩn bị sẵn sàng hai vạn nhuệ binh khinh kỵ mới được tổ chức phỏng theo người Tề, ngày đêm sẵn sàng chờ lệnh, hễ nước Sở tấn công Hình Sơn, lập tức điều động cánh kỵ binh do Tần chi viện, vượt đường xa đánh tập hậu quân Sở, cho Chiêu Dương một đòn trí mạng.
Tuy nhiên, một tháng sau, quân Sở vẫn chưa đánh Hình Sơn, chỉ đóng trại bên một đầm nước cách Hình Sơn chừng ba chục dặm, quân chủ lực vẫn co cụm trong Phương Thành. Lính thám mã ngày nào cũng báo tin về, quân Sở vẫn án binh bất động.
Chính vào lúc quân Ngụy bắt đầu lơ là, công tử Tự tới báo tin, nói là gần sáu vạn đại quân nước Sở hôm qua thình lình xuất phát, vòng qua trọng ải Hình Sơn, tiến về phía đông chọc thẳng vào Hạng Thành, Khổ Huyện.
Bàng Quyên vội vã bước tới trước sa bàn, sau một hồi xem xét, nhận định rằng Chiêu Dương tiến quân chỉ nhằm một mục đích, chính là né tránh Bàng Quyên và quân chủ lực nước Ngụy, thừa cơ tấn công Tương Lăng. Bàng Quyên hiểu rõ, nhiều năm qua, Chiêu Dương lúc nào cũng nhăm nhe đất Tống, mà Tương Lăng nước Ngụy giống như một mũi dao nhọn chặn đứng trước cửa ngõ tây nam nước Tống, chỉ cách kinh đô Tuy Dương nước Tống trong gang tấc, không chỉ khiến người Tống khó chịu, mà còn khiến người Sở phải kiêng dè.
Có được phán đoán này, Bàng Quyên không những không lo lắng, trái lại còn thở phào nhẹ nhõm. Lần trước người Tề cứu Triệu, Tôn Tẫn trận đầu đã đánh Tương Lăng, khiến Bàng Quyên bỗng chốc phát giác ra được tầm quan trọng của vùng đất này. Sau trận Quế Lăng, Bàng Quyên tăng cường phòng ngự Tương Lăng, đặc biệt tấu thỉnh Huệ Vương, cất nhắc tướng quân có công phá địch Trịnh Khắc làm quận thú Tương Lăng, chỉ huy gần bốn vạn quân trấn thủ của năm ấp vùng biên giới. Bên cạnh đó, Bàng Quyên sớm đã biết được, đứng phía sau Trịnh Khắc chính là Công Tôn Diễn, chỉ cần có Công Tôn Diễn ở đó, Chiêu Dương có muốn thừa cơ cũng không phải dễ dàng.
Tạm gác người Sở sang một bên, Bàng Quyên tập trung toàn bộ tâm trí vào người Tề.
Thực ra, Bàng Quyên thực sự lo lắng và cũng thực lòng muốn đánh, vẫn là người Tề. Trận chiến Quế Lăng thất bại trước Điền Kỵ vẫn luôn khiến Bàng Quyên canh cánh trong lòng. Dù biết đối thủ thực sự của mình là Tôn Tẫn, song suy cho cùng, Điền Kỵ vẫn là chủ soái trên danh nghĩa. Tôn Tẫn đã mất, lần này nếu quân Tề lại tới, Bàng Quyên vẫn hy vọng chủ tướng là Điền Kỵ, hắn muốn đánh một trận thực sự với Điền Kỵ, cho Điền Kỵ một lần nữa nếm mùi nhục nhã, nhân tiện lĩnh hội thế nào là chiến thuật.
Thật đáng tiếc, kế hoạch này đã bị Trương Nghi phá đám. Nếu Điền Kỵ không thể về Tề, Tề Vương sẽ không phái quân chi viện Hàn. Nước Sở không dám giao tranh, nước Triệu không còn thực lực, lại không có nước Tề chi viện, nước Ngụy độc chiến với Hàn, đối với Bàng Quyên, đúng là vô vị.
Tuy nhiên, đúng lúc Bàng Quyên đang cảm thấy buồn bực ít nhiều, thì Trương Nghi tới nơi, vừa đưa cho Bàng Quyên bản hịch văn do Khuất Nguyên thảo, vừa gõ lên mặt bàn mà nói: “Bàng huynh, tại hạ còn mang tới cho huynh hai tin nữa.”
“Nói mau!” Bàng Quyên đặt hịch văn xuống, nhìn thẳng vào Trương Nghi.
“Tin thứ nhất, vừa tốt vừa xấu, tức là không phải tin tốt với nước Ngụy, song lại chưa hẳn đã là tin xấu đối với một người hiếu chiến như Bàng huynh. Tại hạ nhận được tin báo, Tề Vương đã hạ chỉ xuất binh cứu Hàn, nếu không nằm ngoài dự liệu, quân năm đô nước Tề sau nửa tháng nữa sẽ tập kết ở A Ấp!”
“Hay lắm!” Bàng Quyên đấm thẳng xuống bàn.
“Bàng huynh đoán thử xem chủ tướng là ai?”
“Không phải Điền Anh chứ?”
“Là Điền Kỵ. Trần Chẩn kia không thể cầm chân Điền Kỵ, đã để hắn chuồn về Tề mất rồi.”
Bàng Quyên ngửa cổ phá lên cười một tràng dài rồi nói: “Mối làm ăn tới rồi, tại hạ đang đợi chính là người này!”
“Tin thứ hai không vui chút nào, e là Bàng huynh không muốn nghe.”
“Trương huynh cứ nói đừng ngại!” Bàng Quyên nói, song vẫn chưa thể thu lại nụ cười.
“Tôn huynh chưa chết!”
Nụ cười vụt tắt trên môi Bàng Quyên. Hắn trợn trừng hai mắt, chết lặng hồi lâu mới thốt được nên lời: “Chuyện này… chuyện này làm sao có thể?”
“Tại hạ nhận được nguồn tin rất đáng tin cậy.” Trương Nghi chậm rãi nói. “Tôn huynh chỉ giả chết. Sau khi Điền Kỵ ra đi, có người tặng Tô huynh một hoàn thuốc, sau đó không lâu, Tôn huynh đã chết. Nhân lúc đại quân ta phạt Hàn, Tô huynh tới Định Đào nước Tống, tìm thấy Tôn huynh ở một khu phố sầm uất, hai người cùng tới Lâm Truy. Không lâu sau đó, Điền Kỵ cũng trở về.”
Bàng Quyên cứ như không nghe thấy Trương Nghi nói gì, hồi lâu sau mới lên tiếng: “Là ai tặng thuốc cho Tô Tần?”
“Đoán là tiên sinh. Theo tin tình báo, người mang thuốc tới là đại sư huynh, nói rằng sư tỷ tặng. Nếu đúng như phán đoán của tại hạ, sư tỷ tặng thuốc, ắt có liên quan tới chuyện Tôn huynh giả chết.”
“Lão già chết tiệt!” Bàng Quyên rít qua kẽ răng.
“Bàng huynh?” Thấy Bàng Quyên buông lời bất kính với tiên sinh, Trương Nghi nghiêm mặt nhắc nhở.
Bàng Quyên lúc này mới bừng tỉnh, bèn cười gượng gạo tỏ vẻ hối lỗi, rồi siết chặt nắm tay, nói: “Tôn huynh chưa chết cũng hay. Tại hạ đang muốn chơi một trận minh bạch rõ ràng với hắn.”
“Cũng phải!” Trương Nghi nửa như phân tích, nửa như xúi bẩy. “Thất bại Quế Lăng lần trước, là do Bàng huynh không ngờ đối thủ lại là Tôn huynh. Tôn huynh ở chỗ tối, Bàng huynh ở chỗ sáng. Lần này Tôn huynh giả chết, hơn nữa cố ý giấu giếm tới tận ngày nay, rõ ràng muốn tái diễn màn kịch cũ, chỉ là không ngờ chúng ta đã biết tỏng chuyện này. Hiện giờ xem ra, tình thế đã hoàn toàn đảo ngược, Tôn huynh ở chỗ sáng, chúng ta lại ở chỗ tối. Hơn nữa, thứ Tôn huynh dựa vào là ‘Binh pháp Tôn Tử’ của tiên tổ, còn Bàng huynh trong tay cũng đã có đủ bộ ‘Binh pháp Ngô Tử’, ai thắng ai thua, phải thử mới biết!”
“Đúng vậy!” Bàng Quyên hào khí bừng bừng, lại siết chặt nắm tay. “Trời không thể có hai thái dương, rừng không thể có hai chúa tể. Khi còn trong Quỷ Cốc, tại hạ đã hiểu rằng, tại hạ và Tôn huynh không thể song hành trên đời. Trận chiến này, kiểu gì cũng khó lòng tránh khỏi.”
“Bàng huynh nói chí phải!” Giọng Trương Nghi cũng trở nên kích động, vung quyền hưởng ứng. “Tại hạ và Tô huynh cũng giống vậy. Tô huynh khởi xướng hợp tung, tại hạ lại khởi xướng liên hoành. Tung hoành không thể cùng tồn tại trên đời, tại hạ và Tô huynh, cũng nên quyết đấu. Lần trước cứu Triệu, Tô huynh tất bật ngược xuôi, đôn đáo khắp nơi. Nay cứu Hàn, Tô huynh lại càng là xắn tay vào trận, nghe nói hiện đã thay thế Trâu Kỵ, đích thân giúp Tôn huynh giám sát vận chuyển lương thảo. Tô huynh đã như vậy, tại hạ cũng không thể ngồi yên. Chúng ta liên thủ, cùng đấu một trận với Tô huynh, Tôn huynh.”
“Được!” Bàng Quyên giọng khàn đi, trên mặt đằng đằng sát khí.
***
Không nằm ngoài dự đoán của Trương Nghi, quân năm đô nước Tề một lần nữa hội tụ ở A Ấp.
Có lẽ đã coi trận chiến với Bàng Quyên sắp tới là trận quyết chiến cuối cùng, nên sau khi rời khỏi Lâm Truy, tâm tư Tôn Tẫn không được vui vẻ, lúc thì ngồi lì trong xe mặc cho lắc lư xóc nảy, lúc thì ngồi im trong doanh trại, nhắm mắt suy tư, cực kỳ ít nói, khác xa với lần vây Ngụy cứu Triệu trước đây cứ thao thao chỉ dẫn Điền Kỵ suốt dọc đường.
Có lẽ biết rõ Tôn Tẫn vẫn chưa mưu tính xong xuôi, Điền Kỵ không hề sốt suột, dặn dò bộ tướng, không ai được phép quấy rầy Tôn Tẫn. Tuy nhiên, toàn bộ đại quân đã đóng tại A Ấp, mà Tôn Tẫn vẫn án binh bất động, từ sớm tới tối cứ ngồi lặng phắc trong trướng, hết ngày này qua ngày khác, cuối cùng Điền Kỵ không nhịn nổi nữa, bèn kéo phó tướng Điền Anh tới trướng Tôn Tẫn, hỏi: “Lần trước cứu Triệu, quân sư vạch ra sách lược vây Ngụy. Lần này cứu Hàn, quân sư hẳn đã có diệu kế?”
“Vây Đại Lương!” Tôn Tẫn hiển nhiên đã tính toán xong xuôi, chỉ chờ hỏi đến.
“Chuyện này, chuyện này…” Điền Kỵ sửng sốt, quay sang Điền Anh, thấy Điền Anh cũng ngỡ ngàng chẳng kém, lại nhìn Tôn Tẫn, hồ nghi nói. “Quân sư không coi Bàng Quyên là kẻ ngốc đấy chứ?”
“Theo ý tướng quân, nên cứu Hàn thế nào?” Tôn Tẫn hé mắt, nhìn vào Điền Kỵ.
“Bàng Quyên lần trước phạt Triệu, lần này phạt Hàn, tình giống mà thế khác!” Điền Kỵ mưu định trong lòng, dõng dạc nói. “Lần trước phạt Triệu, Ngụy hợp sức với quân Tần, Trung Sơn, khí thế ngút trời; lần này phạt Hàn, Ngụy một mình giao chiến. Lần trước, nước Triệu chưa chuẩn bị đã ứng chiến, Bàng Quyên thắng do đánh bất ngờ, người Triệu đông tây chia lìa, bắc nam tan tác; lần này, người Hàn đã chuẩn bị từ trước, binh lính tinh nhuệ, lương thảo đầy đủ, tuy bại vài trận song khí thế chưa giảm. Chuyện này tạm chưa nói đến, người Sở giờ đã khai chiến với Ngụy, Chiêu Dương đóng quân ở Khổ Huyện, quân tiên phong tiến thẳng tới Tương Lăng, quân Sở ở Phương Thành cũng đang rình thời cơ hành động, bất cứ lúc nào cũng có thể uy hiếp Hình Sơn. Lại nhìn người Ngụy, tuy đã tấn công chiếm đất của người Hàn, song chỉ là thắng lợi nhỏ, Trịnh Thành, Dương Địch tới nay vẫn chưa suy suyển. Bàng Quyên bên trong có xương cứng chờ gặm, bên ngoài có địch mạnh nhòm ngó, lòng quân hoang mang, khó mà liệu việc vẹn toàn. Ta nên bắt tay với người Sở, mượn sức của người Sở, quyết chiến với Bàng Quyên ở đất Hàn. Ý tại hạ là, ta có thể chia quân thành hai lộ, một lộ cho quân khinh kỵ qua Tống, từ Tương Lăng đâm thẳng tới tây nam, lại từ đất Sở tiến vào đất Hàn, từ phía đông ép lại, kết hợp với quân Sở ở Phương Thành đánh giáp công vào Hình Sơn, bức bách quân Ngụy vây Dương Địch phải quay về ứng cứu, Dương Địch sẽ được giải vây. Lộ còn lại là quân chủ lực, từ Tương Lăng xuống phía tây, thẳng vào đất Ngụy, từ phía sau chặn đứng người Ngụy, cùng người Hàn đánh giáp công hai mặt, quyết chiến với Bàng Quyên dưới Trịnh Thành!”
Điền Kỵ nói liền một mạch, rồi nhìn Tôn Tẫn chờ đợi.
Tôn Tẫn im lìm bất động, hai mắt mịt mờ.
“Tôn huynh?” Điền Kỵ khẽ giọng thúc giục.
“Loại hết người già yếu, bệnh tật, nhỏ tuổi, tuyển lựa ra sáu vạn quân thiện chiến, vây Đại Lương!” Tôn Tẫn kiệm lời như vàng.
Bàng Quyên dưới trướng có tám vạn lính Ngụy, Tôn Tẫn lại chỉ điểm có sáu vạn, còn ít hơn hai vạn so với lần cứu Triệu trước đây, Điền Kỵ, Điền Anh trong lòng giật thót. Bất kể thế nào, dùng sáu vạn đối đầu với tám vạn võ binh, phần thắng gần như không có.
“Xin hỏi quân sư,” Điền Anh đã trấn tĩnh lại, cắt ngang, “vẫn giống như lần cứu Triệu trước đây, chỉ dùng kỵ binh dương công Đại Lương chăng?”
“Tam quân cùng tiến, dốc hết toàn lực, tấn công Đại Lương!” Tôn Tẫn gằn mạnh từng tiếng, nói xong, lại khép mắt lại.
Hiển nhiên, Tôn Tẫn mưu sách đã định.
Điền Kỵ kinh ngạc mất một lúc, nhìn sang Điền Anh: “Huy động tam quân, chọn ra sáu vạn binh sĩ cảm tử, ba ngày nữa, khởi binh tới Đại Lương!”
***
Chính vào lúc tam quân nước Tề theo mưu Tôn Tẫn, khởi binh tới Đại Lương, thì ở bên ngoài Trịnh Thành, trước đại sa bàn trong đại trướng trung quân nước Ngụy, Trương Nghi và Bàng Quyên cũng đang bàn bạc về động thái của quân Tề.
“Theo tính toán của Bàng huynh,” Trương Nghi chỉ vào sa bàn, nhìn Bàng Quyên hỏi, “lần này Tôn huynh sẽ dụng binh thế nào?”
“Ồ,” Bàng Quyên mỉm cười, đẩy ngược trở lại, “Trương huynh đã thuộc làu ‘Binh pháp Ngô Tử’, hẳn sớm đã suy đoán ra diệu kế của Tôn huynh, dám xin chỉ giáo!”
“Bàng huynh thế là ép tại hạ phải khoe xấu rồi!” Trương Nghi cười đáp, rồi thu thần nói. “Đất Hàn không giống đất Triệu. Triệu, Tề tiếp giáp, Hàn, Tề lại ngăn cách bởi Tống, Ngụy, nên quân Tề là vượt đường trường tập kích. Nếu tại hạ là Tôn huynh, vẫn sẽ bỏ xe dùng ngựa.” Tay chỉ vào sa bàn. “Tôn huynh có lẽ chia quân thành hai lộ, một lộ là khinh kỵ, từ chỗ này tới chỗ này, rong ruổi mà tới, kết hợp với người Sở, giáp công Hình Sơn, để giải vây Dương Địch. Còn ngả kia, từ đây tới Trịnh Thành, kết hợp với người Hàn, quyết chiến với quân chủ lực của ta.”
Bàng Quyên nhếch mép cười, rồi khẽ lắc đầu.
“Ồ…” Trương Nghi đảo con ngươi một vòng. “Tôn huynh có lẽ không đếm xỉa tới nước Hàn, hợp mưu với Sở, giáp công nam bắc, nhân lúc binh lực ta ở Hàn, không còn rảnh tay để nhìn tới việc khác, liền chia xẻ nước Tống, thuận đà cướp lấy Tương Lăng, ép ta rút quân cứu Tống và Tương Lăng, rồi cùng quyết chiến, nước Hàn do đó mà tự được giải vây.”
Bàng Quyên lại nhếch mép cười.
“Chà chà!” Trương Nghi trở nên hào hứng, đưa ra liền ba phương án, nào ngờ đều bị Bàng Quyên phản đối.
“Ồ!” Trương Nghi tắc tị, nhịp ngón tay lên giá sa bàn, nhìn Bàng Quyên với vẻ không phục. “Này Bàng huynh, thế này không đúng, thế kia cũng không phải, vậy theo ý Bàng huynh, Tôn huynh sẽ dụng binh thế nào?”
Bàng Quyên giơ tay chỉ vào Đại Lương, vẽ một vòng tròn quanh đó.
“Ý Bàng huynh là, Tôn huynh vẫn sẽ xuất binh tới Đại Lương?” Trương Nghi kinh ngạc hỏi.
Bàng Quyên gật đầu.
Trương Nghi hừ mũi một tiếng, mỉm cười nói: “Này Bàng huynh, hôm nay có uống rượu đâu, sao lại hồ đồ đến thế? Tôn huynh đã từng bao vây Đại Lương, dù có là kẻ ngốc cũng sẽ không lặp lại chiêu này!”
“Không giấu Trương huynh,” Bàng Quyên nhìn chăm chú vào sa bàn, nói, “tại hạ đã đứng trước sa bàn này vắt óc suy nghĩ suốt mấy ngày nay, đưa ra không dưới ba mươi phương án, nhưng rồi lại đều bác bỏ. Nhìn vào cách Tôn huynh dụng binh, chỉ có một diệu kế, chính là đánh vào chỗ buộc phải cứu. Năm xưa giao chiến Chiêu Dương, người này hiến kế ngoài đánh Hạng Thành, ngầm chiếm Hình Sơn. Lần trước cứu Triệu, mưu của người này vẫn là như vậy. Lần này cứu Hàn, nơi duy nhất ta phải cứu, ngoài chỗ này ra, không còn nơi khác.”
“Ha ha ha!” Trương Nghi cười nói. “Bàng huynh coi Tôn huynh là khúc gỗ đấy ư? Đạo trong trời đất, không nằm ngoài biến hoá. Quân tình vô thường, tuỳ cơ ứng biến, Tôn huynh thông thạo binh pháp, lẽ nào lại nhất thành bất biến, chỉ có một chiêu chế địch?”
“Còn cần xem là ai dụng binh, dụng binh với ai mới được.” Bàng Quyên đáp. “Chính vì Tôn huynh thông thạo binh pháp, tại hạ mới có suy đoán này!”
“Được rồi!” Trương Nghi phẩy tay, nói. “Bàng huynh đã khẳng định như vậy, hẳn đã có kế sách ứng phó?”
“Thứ nhất, tuyệt đường lương thảo. Thứ hai, uy hiếp Tống Vương, ép Tống Vương vào lúc quân Tề rút quân, không được mở đường tiếp nhận.”
Trương Nghi hít sâu một hơi, trầm ngâm hồi lâu, rồi tấm tắc khen ngợi: “Bàng huynh quả nhiên cao mưu. Sau đó thì sao?”
“Giống như cuộc chiến Hàm Đan lần trước, đại quân ta cứ án binh bất động, vây khốn nước Hàn, để mặc cho quân Tề bao vây Đại Lương. Tới lúc lương thực cạn kiệt, quân Tề ắt rối loạn, Điền Kỵ sẽ rút lui. Lúc đó, ta có thể khởi binh truy kích. Con đường nhanh nhất để về Tề chính là tiến vào đất Tống, do người Tống cung cấp lương thảo, từ đó mà quay về Tề. Người Tống nếu không cho mượn đường, Điền Kỵ hoặc sẽ khai chiến với Tống, hoặc phải đổi đường qua Vệ, từ Vệ trở về Tề, hoặc tới biên giới Sở, hợp quân với Sở. Tại hạ phán đoán, người Tề sẽ không khai chiến với Tống, cũng sẽ không chịu để Sở chế ước, ắt sẽ mượn đường nước Vệ. Lúc này, ta sẽ đuổi tới Vệ, quyết chiến với người Tề ở biên giới Tề, Vệ, bắt sống Điền Kỵ!”
“Quả là diệu kế!” Trương Nghi nghe mà con mắt trợn trừng. “Tuy nhiên, nếu Tôn huynh không tới Đại Lương thì sao?”
“Vừa rồi đã nói,” Bàng Quyên đáp, “tại hạ đã suy nghĩ rất nhiều, chiêu này là thượng thượng sách. Tôn huynh dụng binh, ắt theo đạo này, nếu không, người Tề càng không thể thắng!”
“Vậy sẽ đánh cược vào kế sách này vậy!” Trương Nghi chớp mắt vài cái, nói. “Dụng binh giao chiến, vẫn là Bàng huynh lợi hại, tại hạ xin nghe theo Bàng huynh. Bàng huynh chỉ cần ở đây yên tâm diệt Hàn, còn mọi chuyện Bàng huynh vừa nói, cứ để tại hạ lo liệu.”
Từ biệt Bàng Quyên, Trương Nghi thẳng tiến tới Tuy Dương, vào cung Tống bái kiến Tống Vương.
Tống Vương tên Yển, vốn là con trai thứ của Tống Tích Công, từ nhỏ vũ dũng hơn người, nghe nói sức lực có thể bẻ thẳng móc câu. Tống Tích Công băng hà, thái tử Tích Thành tức vị, công tử Yển không phục huynh trưởng, cậy mình vũ dũng, dẫn quân tập kích Tích Thành. Tích Thành chống cự không nổi, chạy trốn sang Tề, không lâu sau chết nơi đất khách. Yển bèn lên ngôi, sau khi Tề, Ngụy cùng xưng vương không lâu, ban chiếu thiên hạ, tuyên bố xưng tôn. Dù cho vương vị này bị khắp trong triều ngoài nội dè bỉu, cho tới nay, đừng nói là nước lớn trong thiên hạ, dù các nước nhỏ ở Tứ Thượng cũng không nhà nào thừa nhận. Song Tống Vương Yển vẫn dương dương tự đắc, không chỉ bỏ ra vô số tiền bạc chiêu mộ võ sĩ trong thiên hạ, tiêu diệt triều thần hai lòng, trọng dụng tiểu nhân a dua nịnh hót, mà ngay từ lúc mới xưng vương, đã bắn trời đánh đất ngay trước triều đường, tỏ thái độ coi thường lễ nhạc Đại Chu.
Trong thời Chiến Quốc, chuyện này đã thành quen thuộc, chẳng còn là sự lạ. Đuổi huynh trưởng, loạn lễ nhạc, khinh nhờn trời đất, ngông cuồng xưng tôn, không biết lượng sức mình như vậy, đáng lẽ thiên hạ phải hợp sức tiêu diệt mới phải. Tuy nhiên, Tống Yển mặc sức bạo ngược trên đất Tống đã hơn tám năm trời, mà cho tới nay, vẫn bình yên vô sự.
Không phải không ai muốn phạt, mà là có quá nhiều người muốn thảo phạt Tống Yển.
Chiêu Dương nước Sở là hăng nhất. Ngay sau khi Tống Yển chiếm ngôi Tích Thành một năm, Chiêu Dương đã dẫn quân phạt Tống, không ngờ Điền Kỵ nước Tề xuất quân chi viện, hai quân Sở, Tề giằng co hơn tháng trời bên bờ Tứ Thuỷ, Chiêu Dương không có cơ hội tấn công, chưa đánh đã phải rút lui. Sau khi Tống Yển xưng vương, Chiêu Dương nhân lúc người Tề đang dồn sức ứng phó với Việt Vương Vô Cương, không còn rảnh rang để ý đến chuyện khác, một lần nữa lại đánh Tống. Nào ngờ nước Ngụy xuất binh, Bàng Quyên, Tôn Tẫn liên thủ, bày mưu đánh vào chỗ buộc phải cứu khiến người Sở đại bại, Chiêu Dương một tấc đất cũng không chiếm được, lại tổn thất sáu vạn binh, đánh mất trọng ải Hình Sơn phía bắc.
Tống Vương Yển hiểu rằng, Tề, Ngụy bất chấp đổ máu tới cứu, không phải vì mình đức cao vọng trọng, mà là vì mình đang chiếm cứ vùng đất phì nhiêu vài trăm dặm vùng Tế Thuỷ, Tứ Thượng, đông tới Bành Thành, tây tới Tuy Dương (vốn là Tương Lăng, năm xưa đã bị tướng Ngụy Ngô Khởi chiếm đoạt), bắc tới Định Đào. Phía bắc có Hồng Câu, phía nam có Hoằng Thuỷ, phía đông có Tứ Thuỷ, ở giữa có Tuy Thuỷ, vùng đất bốn sông đan xen này đích xác là một vựa lương thực thiên nhiên. Bên cạnh đó, tiên tổ nước Tống là Vi Tử, vốn là thương nhân, buôn bán kinh thương là truyền thống đời đời của người Tống, Đào Ấp nơi biên giới phía bắc, cũng chính là Định Đào, lại càng là kinh đô thương nghiệp nức tiếng thiên hạ, ngay từ thời Xuân Thu đã sinh ra vị thương nhân giàu có nghiêng ngửa thiên hạ là Đào Chu Công. Thương nhân Bạch Khuê nước Ngụy mới qua đời trước đó không lâu cũng học được đạo kinh thương từ nơi này, tích luỹ gia tài hàng vạn.
Một miếng thịt béo bị bao vây giữa ba con cá sấu lớn là Tề, Ngụy, Sở, lại thành ra an toàn nhất. Trong ba con cá sấu lớn này, bất luận con nào mở miệng, Tống Yển đều có thể cầu hai con còn lại viện trợ, hơn nữa sẽ luôn luôn được chấp thuận. Có Tề, Ngụy, Tống Yển không sợ Sở; có Tề, Sở, Tống Yển cũng không sợ Ngụy. Chuyện này tạm chưa tính đến, Tống Yển còn nhiều lần phái sứ thần bợ đỡ nước Tần, khích lệ dân chúng trong nước thông thương với Tần. Trong mắt Tống Yển, những nước lớn trong thiên hạ, ông ta đều có thể đùa giỡn trong lòng bàn tay. Đây cũng là căn cơ giúp cho Tống Vương Yển có thể ung dung tự đắc giữa vòng vây nước lớn.
Điều Trương Nghi muốn phá huỷ, chính là cái căn cơ này của Tống Yển.
Tống Vương Yển hiểu rõ con người Trương Nghi, cũng hiểu rõ mục đích hắn tới đây. Thế nhưng, trước có thất bại của Ngụy ở Quế Lăng, nay có hai nước Tề, Sở xuất binh, Tống Yển đã chẳng còn coi người Ngụy ra gì. Vào buổi đại triều, Tống Yển cứ ra vẻ ngẩn ngơ, nhìn sững vào Trương Nghi hồi lâu, mới ngả người về phía trước hỏi, giọng điệu cực kỳ cung kính: “Tống Yển có một thỉnh cầu, không biết Trương Tử có nể mặt hay chăng?”
“Đại vương bất tất phải khách khí, Nghi xin rửa tai lắng nghe!” Trương Nghi cố tình nhấn mạnh hai chữ “đại vương”.
“Nghe nói Trương Tử lưỡi dài ba thước, Tống Yển rất đỗi hiếu kỳ, từ lâu đã muốn chiêm ngưỡng, tới tận hôm nay mới có cơ duyên, mong được Trương Tử nể mặt!”
“Đại vương xin hãy lại gần!”
Tống Yển quả nhiên rời khỏi chỗ, bước về phía Trương Nghi. Trương Nghi há ngoác miệng, thè lưỡi ra ngoài hết cỡ. Tống Yển ngắm nghía một lát, quay lại chỗ ngồi, ngửa cổ cười một tràng.
“Đại vương cười hẳn là vì cái lưỡi dài ba thước của Nghi?” Trương Nghi nghiêng đầu hỏi.
“Lưỡi của Trương Tử, chẳng qua cũng chỉ như người bình thường mà thôi.” Tống Yển thu lại nụ cười, đổi cách xưng hô “Tống Yển” thành “quả nhân”, lắc đầu mà nói. “Nếu không tận mắt chứng kiến, quả nhân suýt nữa tin vào lời đồn nhảm của người đời.”
“Nghi đã khiến đại vương thất vọng!” Trương Nghi nhếch mép cười một cái, khẽ vòng tay nói.
“Nghe nói Trương Tử ở Sở nhiều năm, rất am hiểu Sở. Từ lúc quả nhân tức vị, rất xem trọng người Sở, coi như mãnh hổ. Nào ngờ con hổ này hai lần phạt Tống, song cả hai lần đều phải chuốc nhục. Quả nhân kém cỏi, dám hỏi Trương Tử, là người Sở không tự lượng sức, hay là quả nhân…” Tống Yển cố tình bỏ lửng nửa chừng.
Trương Nghi mỉm cười, hơi ngả người ra phía sau.
“Không giấu Trương Tử, người Sở nhiều lần trêu cợt Tống, thần dân đại Tống cực lực tấu đòi phạt Sở, quả nhân vì chuyện này mà mưu tính nhiều năm, định vào mùa xuân năm sau khởi năm vạn đại quân phạt Sở, Trương Tử thấy có được chăng?”
“Nghe nói đại vương sức khoẻ bẻ thẳng móc câu, Nghi không dám tin, xin được tận mắt nhìn!” Trương Tử lảng sang chuyện khác.
“Mang móc câu lại đây!” Tống Yển quát lớn.
Có người dâng lên một cái móc câu, móc câu được làm bằng sắt ròng, to bằng quả hồ đào. Tống Yển hai tay nắm lấy, thủ thế sẵn sàng, âm thầm vận lực, trước bao nhiêu con mắt của quần thần, móc câu bằng sắt từ từ bị uốn thẳng.
Quần thần vỗ tay như sấm.
“Quả là lực sĩ, Trương Nghi thán phục!” Trương Nghi vòng tay, chỉ vào cây cột trụ bằng gỗ nam đầy một vòng ôm ở bên cạnh. “Xin đại vương hãy thử lay cây cột kia!”
“Ồ…” Tống Yển nhìn cây cột trụ, rồi lại nhìn Trương Nghi đầy khó hiểu. “Đây là cột trụ chống đỡ cung điện, sao có thể lung lay?”
“Đại vương lay chuyển một chút xíu thôi cũng được!”
“Đây là cột trụ gỗ nam, có thể chống đỡ vạn cân, cho dù có sức khoẻ phi thường, cũng không thể khiến nó mảy may xê dịch!”
“Đại vương thánh minh!” Trương Nghi thuận thế đáp. “Đại vương có thể bẻ thẳng móc câu, song không thể lay chuyển cột trụ gỗ nam dù chỉ mảy may. Đại vương trị vì Tống, giống như bẻ thẳng móc câu sắt, còn đại vương phạt Sở, cũng giống như lay chuyển cột trụ gỗ nam!”
“Trương Tử nói hay lắm!” Tống Yển cười lớn vài tiếng, rồi vòng tay nói. “Trương Tử đã nói vậy, quả nhân sẽ không phạt Sở nữa. Dám hỏi Trương Tử tới đây, hẳn có điều muốn chỉ giáo quả nhân?”
“Xin đại vương cho tả hữu lui ra!”
Tống Yển ngẫm nghĩ một lát, phẩy tay: “Chư vị ái khanh, bãi triều!” Rồi quay sang Trương Nghi. “Nếu Trương Tử rảnh rỗi, hãy theo quả nhân tới hậu hoa viên trò chuyện!”
Hai người đi tới hậu hoa viên, cùng ngồi trên một lầu gác bằng gỗ.
“Trương Tử, nơi này không có ai, có gì cứ nói!”
“Trước khi Nghi lên đường,” Trương Nghi khoé miệng mỉm cười, song hai mắt lại lộ rõ vẻ khinh miệt, “Ngụy Vương có ngâm một câu thơ cho Nghi nghe, Tống Vương có muốn biết không?”
“Ồ?” Tống Yển thoáng ngạc nhiên, không nén nổi tò mò hỏi. “Ngụy Vương ngâm thơ gì?”
“Mưa đổ dầm dề, sông sâu lại rộng, chỉ trời mà thề.” Trương Nghi khép mắt ngâm nga.
Tống Yển ngỡ ngàng không hiểu, bèn hỏi: “Dám hỏi Trương Tử, thơ này có ẩn ý gì?”
“Đại vương không biết thật ư?” Trương Nghi mở mắt, lấy làm kinh ngạc. “Nghe nói quý quốc có một thường dân tên gọi Hàn Bằng, Hàn Bằng có vợ tên là Tức Lộ. Tức Lộ ra ngoài hái dâu, nhà vua thấy nàng xinh đẹp, bắt nàng vào cung. Hàn Bằng oán hận, vua bèn thịnh nộ, phạt làm khổ sai, cho đi xây dựng môn lầu ở cung thành. Thơ này do vợ Bằng là Tức Lộ viết ra.”
“Ồ?” Tống Yển vò đầu bứt tai, ánh mắt sửng sốt. “Sao quả nhân lại không biết chuyện này nhỉ? Phải rồi, thơ này phải giải thích ra sao?”
“Mưa đổ dầm dề, ngụ ý nhà vua hiếu sắc dâm đãng. Sông sâu lại rộng, ngụ ý nhà vua thế lớn lực mạnh. Chỉ trời mà thề, ngụ ý người đàn bà này không thiết sống nữa, giao hẹn với chồng cùng chết.”
“Sau đó thì sao?” Tống Yển vội hỏi.
“Người đàn bà này bí mật nhờ người chuyển bài thơ cho Hàn Bằng. Hàn Bằng y hẹn dùng dải lụa treo cổ tự vẫn dưới lầu thành. Vua hay tin hả giận, dẫn Tức Lộ tới xem. Tức Lộ nhân lúc vua không để ý, lao mình nhảy xuống lầu. Vua nhanh tay túm lấy áo nàng, nào ngờ vải áo đã bị nàng cố tình làm mủn từ trước, vua giữ không được, chỉ biết giương mắt nhìn mỹ nữ rơi xuống chân thành. Nhà vua xót thương người đàn bà này, xuống thành xem xét, tìm thấy một vuông lụa giắt ở thắt lưng nàng, bên trên lại có một bài thơ nữa, đại vương có muốn nghe chăng?”
“Thơ thế nào?” Tống Yển lấy làm tò mò hỏi.
“Vua lợi lúc sống, thiếp lợi lúc chết, xin đưa xác thiếp, hợp táng cùng Bằng.”
“Vậy thi thể của họ có được chôn cùng không?” Tống Yển lại hỏi.
“Việc này phải hỏi vua mới phải!” Trương Nghi nhìn thẳng vào Tống Yển.
“Phải, phải!” Tống Yển vỗ vỗ đầu. “Trương Tử hãy kể tiếp.”
“Nhà vua ghen tức, không ban hợp táng, cố tình đặt hai ngôi mộ cách xa nhau vài trượng. Không ngờ chỉ trong một đêm, trên mỗi ngôi mộ mọc lên một cây, một đực một cái, chưa đầy mười ngày đã tán phủ rợp trời, bên trên cành lá nối liền, dưới gốc rễ lan quấn quýt, tình vợ chồng thắm thiết, khiến đất trời cũng phải nghẹn ngào, quỷ thần cũng phải khóc thương. Nghi hay tin, cũng khó tránh thổn thức.”
Tống Yển cũng xuýt xoa một hồi, rồi dường như đột nhiên bừng tỉnh, nhìn thẳng vào Trương Nghi, sắc mặt giận dữ: “Dám hỏi Trương Tử, Trương Tử thêu dệt nên chuyện này, hẳn là cố tình giễu cợt quả nhân?”
“Nghi không dám.” Trương Nghi đáp lời. “Nghi chỉ nghe Ngụy Vương kể lại.”
“Ngụy Vương nghe được từ đâu?”
“Chuyện này Nghi không rõ, có lẽ từ tiểu thuyết gia chăng? Trong ngoài thành Đại Lương, tiểu thuyết gia nhiều không đếm xuể, chuyên thêu dệt chuyện liệt quốc để kiếm cơm ăn.”
“Ha ha ha!” Tống Yển phá lên cười. “Đúng vậy. Có điều Ngụy Vương chỉ biết nghe tin đầu đường xó chợ mà đánh mất sáng trí, đợi quả nhân rảnh rỗi, cũng sẽ tới đầu đường xó chợ, tìm vài tiểu thuyết gia, thêu dệt nên mấy câu chuyện về Ngụy Anh chơi.”
“Đại vương có biết,” Trương Nghi hai mắt nhìn chằm chằm vào Tống Yển, “đám tiểu thuyết gia cớ sao lại thêu dệt chuyện này?”
“Quả nhân không biết!”
“Là vì đại vương thất đạo, đã không được lòng dân!” Trương Nghi gằn mạnh từng tiếng.
Tống Yển sững sờ.
“Từ cổ chí kim, được lòng dân thì được thiên hạ. Không được lòng dân, chết cũng không có chỗ chôn!”
“Ngươi…” Tống Yển tức uất. “Được lắm, Trương Nghi, dám thêu dệt câu chuyện không có thực trước mặt quả nhân, lại còn nói quả nhân thất đạo? Được, ngươi thử nói xem, quả nhân thất đạo ở đâu?”
“Nghe nói đại vương ỷ mạnh đuổi giết tiên quân Tích Thành, có chuyện này chăng?”
“Là người này vô đạo, không thương xót thần dân, đáng chết! Quả nhân giữ lại cho hắn một mạng đến Tề, đã là từ bi lắm rồi!”
“Nghe nói đại vương bắn trời đánh đất, thiêu huỷ xã tắc thần kỳ, có chuyện này chăng?”
“Trời đất bất nhân, xã tắc bất nghĩa, khiến lãnh thổ trù phú màu mỡ vài trăm dặm của quả nhân hạn hán ba năm liền, nhiều ấp không một hạt thóc, lẽ nào không đáng bị bắn, bị đánh, bị thiêu huỷ?”
“Nghe nói đại vương cắt lưng người gù, chặt chân người lội nước buổi sớm, có chuyện này chăng?”
“Nói bậy!” Tống Yển nổi trận lôi đình, đứng phắt dậy, chỉ mặt Trương Nghi. “Đến những lời độc địa ô uế nhường này mà ngươi cũng tin, còn dám nhận bừa là kẻ hùng biện trong thiên hạ!”
“Ha ha ha!” Trương Nghi phá lên cười một tràng dài. “Đại vương bớt giận! Đường ngang ngõ hẹp, đều lan tràn những lời đồn nhảm của đám tiểu thuyết gia, Nghi chỉ tiện miệng nói bừa, đại vương nghe tạm mà thôi.” Rồi chỉ vào chỗ ngồi. “Đại vương mời ngồi, Nghi có lời thực muốn nói!”
Tống Yển thở hồng hộc ngồi xuống.
“Việt Vương Vô Cương sở hữu giang sơn ba nghìn dặm, cai trị trăm năm mươi vạn thần dân, hiệu lệnh hai mươi vạn tinh binh, người Tề phải dốc toàn lực của cả nước ra ứng phó, vẫn không thể đề phòng cho xuể! Dám hỏi đại vương, có thể sánh với Việt Vương Vô Cương?”
Tống Yển thoáng bối rối, nói: “Quả nhân không bằng.”
“Hai vua Ba, Thục thống lĩnh Ba sơn, Thục thuỷ vài nghìn dặm vuông, núi cao vực sâu, tứ bề hiểm trở, lại có hơn hai trăm vạn dân Ba, Thục chưa được giáo hoá, Sở Vương chinh chiến vài trăm năm với Ba mà không làm gì nổi Ba Vương, Tần Quân hẹn Thục Vương dạo chơi ở Hán Trung, Tần Quân bị bỡn cợt. Dám hỏi đại vương, có thể sánh với hai vua Ba, Thục?”
Tống Yển ngoảnh mặt sang chỗ khác, hồi lâu sau mới lẩm bẩm một câu: “Quả nhân không bằng.”
“Không nói đến man di, chỉ nói tới liệt quốc Trung Nguyên, đại vương có thể sánh với Triệu Hầu? Nghe theo Tô Tần, dốc sức toàn quốc, hợp tung sáu nước chống Tần, đại quân kéo tới trước ải Hàm Cốc, nổi trống tiến công, chấn động ngũ nhạc.”
Tống Yển hít sâu một hơi, giọng nói càng thêm yếu ớt: “Quả nhân không bằng.”
“Không nói đến Triệu mạnh, chỉ nói đến Hàn yếu, sự giàu có của Định Đào, liệu có thể sánh với Dương Địch? Mảnh đất năm trăm dặm không có một nơi hiểm yếu để cố thủ, có thể sánh với nghìn dặm sông núi nước Hàn? Uy của đại vương có thể sánh với Hàn Vương?”
Giọng Tống Vương chỉ còn lí nhí trong cổ họng: “Quả nhân không bằng.”
“Đại vương hãy nghe!” Trương Nghi lời như thác đổ, khí thế hào hùng. “Nghi rời khỏi Quỷ Cốc, khiến Việt Vương Vô Cương dẫn theo hai mươi vạn đại quân thuỷ lục quay đầu, rời Tề đến Sở, tự lao vào đường chết. Nghi tới Tây Tần, trước hết phò tá Tần Quân dùng sức của một nước mà đẩy lùi quân sáu nước, tiếp đến dẫn đại quân vượt núi băng rừng, tiến sâu vào vùng đất khô cằn, trong vòng một năm mà tiêu diệt Ba, thu phục Thục, bình định nghìn dặm biên thuỳ tây nam. Nghi rời Tần đến Ngụy, khiến sư đệ Bàng Quyên hãm Triệu vào bước đường cùng, chiếm lấy Hàm Đan, nay lại phạt Hàn, hai vùng Trịnh Thành, Dương Địch, phóng mắt nhìn đi, mênh mông bất tận, đều là doanh trại võ binh Ngụy! Dám hỏi đại vương, miệng lưỡi của Nghi liệu có dài qua ba thước?”
Nghĩ tới lời lẽ khinh miệt của mình khi nãy, Tống Yển cúi gằm mặt xuống. Bất luận thế nào, lời Trương Nghi không hề giả, những điều vừa kể, Tống Yển cũng đều biết rõ.
“Không giấu đại vương,” Trương Nghi đổi giọng, “cách đây mười ngày, Nghi ở dưới chân Trịnh Thành, trong trướng Bàng Quyên, cùng bàn bạc về chuyện của đại vương. Bàng Quyên có ý trách cứ đại vương âm thầm trợ giúp người Tề trong lần phạt Triệu trước đây, nói rằng hạ được Trịnh Thành sẽ điều quân tới Tuy Dương, đích thân hỏi thử đại vương, nước Ngụy rốt cuộc đắc tội với đại vương vào lúc nào và vì chuyện gì? May sao Nghi kịp thời chen ngang một câu, lần này sẽ tới Tuy Dương tìm đại vương thương lượng.”
Nghe Trương Nghi hết dụ dỗ lại đe doạ một thôi một hồi, Tống Yển vốn miệng hùm gan sứa lập tức khí thế xẹp lép, vội vòng tay vái lia lịa mà rằng: “Quả nhân không biết, kính thỉnh Trương Tử chỉ giáo!”
“Chỉ giáo thì không dám, Nghi có vài lời muốn nói với đại vương. Dù là người Tề hay người Sở, đều đang nhòm ngó vùng đất quý báu mà đại vương đang chiếm cứ, đại vương ngồi trên đỉnh núi đao mà lại không hề hay biết. Mười năm về trước, Chiêu Dương phạt Tống, người Tề cứu viện, không phải vì cứu đại vương, mà vì không muốn để người Sở chiếm lấy đất Tống. Sau này quân Việt phạt Tề, Chiêu Dương thừa cơ lại khởi binh phạt Tống, là Bàng Quyên xuất binh, đánh bại Chiêu Dương, mới có thể đảm bảo đất Tống bình yên vô sự. Nay lại là Bàng tướng quân phạt Hàn, Chiêu Dương khởi sáu vạn binh, lấy danh nghĩa cứu Hàn, song lại đóng quân ở Khổ Huyện. Còn như người Tề, Nghi lại càng không phải nói. Lần trước người Tề phạt Ngụy, đại vương cho mượn đường, hẳn là vì muốn lấy Tương Lăng? Tuy nhiên, đường đã mượn rồi, còn Tương Lăng của đại vương đâu? Người Tề đưa binh lính già cả ốm yếu dương công Tương Lăng, chỉ là để đãi bôi với đại vương, song lại dùng quân chủ lực tấn công Đại Lương. Đại vương hãy tự hỏi lòng, trong bốn nước láng giềng, thực tâm giúp đỡ đại vương, phải chăng chỉ có Ngụy Vương? Sở dĩ đại vương được an cư một góc, bình yên vô sự cho tới nay, là vì có mười vạn võ binh Đại Ngụy sau lưng chống đỡ. Nếu đại vương nhìn mà không thấy, ngạo mạn vô tri, đến khi quân Sở, Tề lại sinh lòng, e là Bàng tướng quân...” Trương Nghi bỏ lửng giữa chừng.
“Không không không!” Tống Yển nghe mà mồ hôi đẫm trán, vội vòng tay nói. “Kính thỉnh Trương Tử chuyển lời tới Bàng tướng quân, nói là Tống Yển kính cẩn nghe lời Trương Tử, Bàng tướng quân, chỉ nhất nhất theo ý Trương Tử, Bàng tướng quân.”
“Đại vương nhất nhất theo ý không phải Nghi, cũng không phải Bàng tướng quân, mà là Ngụy Vương!”
“Phải phải phải, là Ngụy Vương! Kính thỉnh Trương Tử chuyển lời tới Ngụy Vương, nói là Tống Yển hồ đồ. Kể từ hôm nay, Tống Yển chỉ nhất nhất theo ý Ngụy Vương.”
Nói rồi, Tống Vương truyền chỉ bày tiệc, cùng Trương Nghi yến ẩm tới tận chập tối.
Trương Nghi thế cờ đã thắng, khe khẽ ngâm nga trở về trạm dịch, bất ngờ thấy công tử Hoa cung kính chờ sẵn ngoài sảnh. Công tử Hoa chuyển lời hỏi thăm của Tần Vương, rồi bẩm báo: “Đại vương hay tin Ngụy, Hàn đang trong thế giằng co, lo lắng Bàng tướng quân lương thảo thiếu thốn, lại điều động thêm ba vạn thạch lương, đủ cho tam quân Đại Ngụy dùng trong vài tháng!”
“Đại vương thánh minh!” Trương Nghi ngước lên bầu không cảm tạ, lập tức cho gọi tuỳ tùng, chuyển tin vui này thành cấp báo, lệnh cho thám mã hoả tốc mang tới cho Bàng Quyên và Ngụy Vương.
“Còn một chuyện nữa, Trương huynh có lẽ còn mừng hơn!” Công tử Hoa hạ giọng nói.
“Công tử cứ nói!”
Công tử Hoa lấy từ trong ống tay áo ra một vuông lụa. Trương Nghi nhận lấy, mở ra đọc kỹ một lượt, sửng sốt kêu lên: “Danh sách quan lại giám sát vận chuyển lương thảo quân nhu của năm đô, đường đi, số lượng, thời gian tới nơi? Mâu Tân? Tô Tần?”
Công tử Hoa gật đầu.
“Cơ mật đến vậy,” Trương Nghi kinh ngạc nói, “Công tử cớ sao lại có được thứ này?”
“Là Tô huynh của Trương huynh cung cấp đấy.” Công tử Hoa thản nhiên nói.
“Tô huynh?” Trương Nghi trợn tròn mắt.
“Không giấu Trương huynh,” công tử Hoa cười bí hiểm, “về Tô huynh của Trương huynh, tại hạ có thể nói là làu làu như lòng bàn tay. Đừng nói là danh sách này, đến cả chuyện ba ngày trước đây Tô huynh ăn phải cơm thừa mà đau bụng, nửa đêm đi ngoài bốn lần, tại hạ cũng đều nắm rõ.”
“Chà chà!” Trương Nghi tặc lưỡi, không thể tin nổi. “Hai nước khai chiến, lương thảo là chuyện hệ trọng, Tô Tần giám sát vận chuyển lương thảo, tất ru rú trong nhà, phòng vệ nghiêm ngặt, dám hỏi công tử, làm thế nào mà có được thứ này?”
Công tử Hoa bèn kể lại đầu đuôi chuyện Thu Quả, Trương Nghi nghe mà luôn miệng xuýt xoa, tấm tắc than thở: “Có Hắc Điêu này ở bên, Tô huynh có thể không bại?”
***
Tích Cương lệnh cho Tô Tần phụ trách vận chuyển lương thảo, quả là đã làm khó cho Tô Tần, bởi lẽ Tô Tần chẳng có căn cơ gì ở Tề, hơn nữa trong tay không có lấy nổi một thân tín tài giỏi đáng tin cậy, thông thạo tình hình các ấp. Tô Tần vốn định dùng Điền Văn, nào ngờ Điền Văn lại được Điền Anh điều làm chủ tướng của hai vạn quân các ấp Nam Đô. Tô Tần biết, Điền Văn bố trí thế này là vì con trai. Bất luận thế nào, trên sa trường sẽ có thể trực tiếp lập công, còn vận chuyển lương thảo, trên phải đối mặt với tam quân viễn chinh, dưới phải đối diện với bách tính các nơi, là công việc vất vả lại không được lòng người. Nếu làm tốt, hoặc giả có thể trở thành “anh hùng phía sau”, nếu làm không tốt, đặc biệt là làm lỡ kỳ hạn vận chuyển, dù là nguyên nhân nào, đều có thể phải gánh trọng tội.
Trong tay không có người, Tô Tần không thể không nhờ cậy vào Mâu Tân vốn đã đồn thú nhiều năm ở biên giới phía tây. Để trấn áp Tô Tần, Mâu Tân ra bài phô trương thanh thế, cho gọi toàn bộ đám quan lại phụ trách vận chuyển lương thảo của năm đô tới, đua nhau khoe khoang tài nghệ trước mặt Tô Tần, gảy bàn tính tanh tách, đối chiếu sổ sách, đưa ra đủ thứ số liệu. Cứ thế tính toán suốt ba ngày trời, Tô Tần quả nhiên đôi mày chau tít. Tam quân mười vạn, tuy tạm thời cắt bớt bốn vạn, song chưa giải tán, vẫn cần cơm ăn, cộng thêm gần năm vạn nhân công phục vụ hậu cần quân nhu các nơi, mỗi ngày tiêu tốn không dưới năm trăm thạch lương, lại cộng thêm những vật tư thiết yếu như rau thịt, củi rơm, thực là một con số khổng lồ tới kinh ngạc. Nước Tề gần đây tuy có tích trữ, song nhiều năm liền nuôi ngựa, ruộng vườn bị chiếm dụng rất nhiều, nông nghiệp hoang phế, lần trước khai chiến với Ngụy, gần như đã dùng hết lương thảo tích trữ trong kho, lại thêm năm ngoái nhiều nơi hạn hán, vụ thu mất mùa, vài tháng trước, các đô ấp chỉ chuyển vào kho lương A Ấp và các nơi khác không tới một vạn thạch lương, chỉ đủ cho tam quân cầm cự trong hai mươi ngày. Còn như cỏ rơm cho ngựa, lại càng thiếu thốn trầm trọng. Tô Tần lần đầu tiên hiểu ra, một cuộc đại chiến không phải trò đùa, cũng thấu hiểu sâu sắc các bậc thánh nhân xưa nay vì sao không tuỳ tiện khai chiến, thậm chí đã loáng thoáng hiểu ra, vì sao Trâu Kỵ vốn giỏi trị nước lại ra sức phản đối chiến tranh.
Khai chiến thông thường, tam quân chưa động, lương thảo đã phải lên đường trước. Lần này xuất chinh gấp rút, nước Tề còn chưa kịp chuẩn bị đầy đủ, cung ứng lương thảo lại càng thêm căng thẳng. Tô Tần lệnh cho Mâu Tân, trong vòng mười ngày phải vận chuyển thêm một vạn thạch lương tới A Ấp, bảo đảm tam quân đủ ăn trong bốn mươi ngày. Còn quân lương sau bốn mươi ngày, Tô Tần dự định sẽ mua của các nước ở Tứ Thượng, việc này do hắn và thái tử trù định.
Mâu Tân nhất loạt lĩnh mệnh, vâng dạ luôn miệng.
Trở về trong trướng, Mâu Tân trằn trọc mãi, cả đêm mất ngủ, bị dằn vặt bởi một nỗi kinh hoảng thấu tâm can. Mâu Tân hiểu, Điền Kỵ trở về, Tôn Tẫn sống lại, tuyệt đối không phải là chuyện hay ho với hắn.
Mãi đến khi trời sáng bảnh, Mâu Tân mới ngủ thiếp đi, quá trưa thì tỉnh dậy, nghe báo là có người đã đợi nhiều giờ liền ở trước trướng. Mâu Tân rửa mặt chải đầu xong xuôi, đủng đỉnh bước ra, thấy tham tướng phụ trách lương thảo và một người lạ vận trang phục thương nhân đang đứng ở ngoài trướng.
Hành lễ xong xuôi, Mâu Tân dẫn hai người vào trướng, tham tướng nói: “Bẩm chúa công, vị thương khách này từ Định Đào tới, hay tin chúng ta có ý định mua lương, nên đặc biệt tới hỏi thăm.”
Quái lạ, Tô Tần vừa dặn mua lương thực ngày hôm qua, vì sao hắn đã biết nhanh đến vậy? Mâu Tân giật thột trong lòng, nhìn sang kẻ đó, khẽ vòng tay, hỏi: “Vị khách thương kia, sao ông biết chúng tôi cần mua lương thực?”
“Ha ha ha!” Người kia cười nói. “Đã là người buôn bán thì mũi phải thính chứ, đặc biệt là chúa công nhà tôi.”
“Chúa công nhà ông quý danh là gì?”
“Chúa công đã dặn, tại hạ không dám nói bừa.”
“Được!” Mâu Tân gật đầu. “Dám hỏi chúa công nhà ông có bao nhiêu hàng tích trữ?”
“Thế này!” Người kia giơ ra ba ngón tay.
“Ba trăm thạch?”
Người kia lắc đầu.
“Ba nghìn thạch?”
Người kia vẫn lắc đầu.
“Không phải là ba vạn thạch đấy chứ?” Mâu Tân hít sâu vào một hơi.
“Chỉ nhiều không ít.” Người kia nở một nụ cười, nói. “Chúa công nhà tôi là nhà buôn gạo lớn nhất Tứ Thượng, có tới vài chục kho tàng, đừng nói là ba vạn thạch, dù là mười vạn thạch, cần ngay lúc này cũng là chuyện nhỏ, đương nhiên, giá cả cũng cần hợp lý.”
“Giá cả thế nào?” Mâu Tân vội hỏi.
“Chuyện này tại hạ không có quyền quyết định, nếu quý quân đưa ra số lượng khả quan, chúa công sẵn sàng gặp mặt tướng quân để bàn bạc.”
Mâu Tân trong lòng chấn động, nghĩ thầm: “Nếu ta mua được nhiều lương thảo đến vậy, ắt lập công lớn với Tề, Tô Tần hẳn sẽ nói giúp ta vài câu, như vậy, Điền Kỵ sẽ không làm gì được ta. Hơn nữa, bức thư kia cũng không phải do ta bịa tạc ra, cho dù không phải sự thực, cũng chẳng phải lỗi của ta. Hơn nữa, tướng quốc và đại vương cũng đã xem qua, sợ quái gì!”
Nghĩ là vậy, Mâu Tân cũng lấy lại chút can đảm, lập tức giữ người kia lại, cấp tốc tới trướng Tô Tần, kể sơ qua sự việc. Tô Tần mừng rỡ, sai hắn gấp rút tới Định Đào đàm phán, cố gắng hạ giá thấp nhất có thể, đặt mua trước ba vạn thạch, còn mình sẽ tới Lâm Truy xoay xở tiền nong.
Mâu Tân từ biệt Tô Tần, dẫn theo vài tuỳ tùng thân tín, cùng với thương khách kia tức tốc tới Định Đào nước Tống. Khi xe ngựa dừng lại trước một toà trạch phủ hào nhoáng nằm khá ẩn khuất, đã có người chờ sẵn ở bên ngoài, đích thân dẫn hai người vào trong sảnh phụ tiếp đón, sau đó chỉ đưa Mâu Tân vào trong sảnh chính.
Người ở trong sảnh chính, chính là Trương Nghi.
Trương Nghi lại không mặc trang phục thương nhân, mà mặc quan phục, khẽ nhổm người lên trước, tươi cười với Mâu Tân, chỉ tay vào chỗ ngồi dành sẵn.
Mâu Tân không hề biết Trương Nghi, thấy thế thì sững sờ, nhìn vào chỗ ngồi mà đối phương dành cho mình, miễn cưỡng ngồi xuống, quay đầu lại tìm vị thương khách dẫn mình tới, song không thấy đâu cả.
“Tại hạ Trương Nghi, cung kính chờ tướng quân ở hàn xá đã lâu rồi!” Trương Nghi vòng tay nói.
Biết được người ngồi trước mặt mình chính là tướng quốc nước địch Trương Nghi nức tiếng thiên hạ, Mâu Tân kinh hãi đến há hốc miệng, toàn thân cứng đờ. Còn chưa hết bàng hoàng thì vị thương khách kia đã bước vào, song lại mặc trên mình trang phục nước Tần.
“Mâu tướng quân!” Trương Nghi chỉ vào người mặc trang phục Tần. “Vị này là công tử Doanh Hoa, hai người hẳn đã quen biết nhau?”
Trời ơi, kẻ đích thân tới doanh trại Tề, dẫn mình tới đây lại chính là công tử Hoa đại danh đỉnh đỉnh, được Tần Vương sủng ái rất mực! Mâu Tân gần như ngộp thở.
“Vị này chính là chúa công của tại hạ!” Doanh Hoa mỉm cười với Mâu Tân, chỉ vào Trương Nghi, đi thẳng vào chuyện chính. “Mâu tướng quân giờ đã có thể bàn bạc chuyện lương thảo.”
“Lương… lương thảo…” Mâu Tân lắp bắp.
“Mâu tướng quân,” Trương Nghi chỉ vào Doanh Hoa, “kỳ thực, tại hạ không có lương thảo, người thực sự có lương thảo, là vị Doanh công tử này. Đã nghe nói về kho lương đất Thục chưa? ở đó, đừng nói là ba vạn thạch, dù là ba mươi vạn thạch cũng không thành vấn đề.”
Mâu Tân định đứng dậy, mà hai mông như thể nặng nghìn cân. Muốn ngồi tiếp, song không biết tiếp theo sẽ xảy ra chuyện gì.
“Trước khi bàn chuyện,” công tử Hoa nhìn thẳng vào Mâu Tân, “tại hạ muốn nhắc tướng quân cảm tạ một người.”
“Là… là ai?”
“Chúa công của tại hạ!” Doanh Hoa hất hàm về phía Trương Nghi, giải thích. “Còn nhớ bức mật thư không? Chúa công của tại hạ nghe nói Trâu công tử chết oan ức trong tay Điền tướng quân, hơn nữa còn liên luỵ tướng quân sa vào hiểm cảnh, cảm thấy bất nhẫn, nên mới viết ra thư đó!”
Mâu Tân lập tức bừng tỉnh, hoàn toàn hiểu ra, không nói thêm lời nào nữa, bèn đứng dậy khấu lạy sát đất: “Mâu Tân và toàn bộ gia quyến lớn nhỏ cảm tạ ân công!”
“Tướng quân mau đứng dậy,” Trương Nghi phẩy tay, “chúng ta cùng bàn chuyện mua bán!”
“Ân công có việc gì, xin cứ căn dặn.”
“Mua bán thì không có chuyện gì khác, chỉ hỏi tướng quân một câu, tướng quân muốn Điền tướng quân tuẫn thân vì nước trên sa trường, hay là muốn Điền tướng quân anh dũng khải hoàn?”
“Mâu Tân chỉ muốn hắn chết!” Mâu Tân rít qua kẽ răng.
“Được!” Trương Nghi dõng dạc đáp lời, quay sang Doanh Hoa. “Công tử sai người tới Cao Đường, đón toàn bộ gia đình Mâu tướng quân tới phủ tướng quốc Đại Lương, tại hạ đã bố trí người lo liệu!”
“Ân công…” Mâu Tân khóc không thành tiếng, lại bái lạy sát đất.
***
Hơn sáu vạn quân Tề, tung tin ra ngoài là mười vạn, thêm hơn một vạn nhân lực lo liệu quân nhu, khí thế hừng hực, bao vây Đại Lương. Cờ quạt đủ loại rợp đất, dễ đến cả vạn lều trại cắm dày đặc bên ngoài thành Đại Lương, từ trên thành nhìn xuống, uy thế ngút trời, khiến người ta nhìn mà choáng váng. Tuy nhiên, vài ngày sau đó, tình hình quân Tề vẫn không có động tĩnh gì, hoàn toàn rập khuôn theo chiến thuật cứu Triệu lần trước, đại quân ban ngày bao vây ngoài thành, hoặc luân phiên khiêu khích, hoặc thu cờ im trống, ban đêm số ít kỵ binh toả ra quấy nhiễu tứ bề.
Ngụy Huệ Vương đã rút ra kinh nghiệm từ trận chiến Hàm Đan, nên lần này hết sức bình tĩnh, không mảy may kinh hãi, cũng không đích thân lên thành khích lệ sĩ khí, mà ngày ngày ung dung ngồi trên đài câu trong hậu hoa viên, khép mắt câu cá. Khác với những lần buông câu bình thường trước đây, bất luận Huệ Vương câu được thứ gì, tỳ nhân lại lớn giọng ngâm nga cứ như là truyền chỉ, rồi lại được các cung nhân khác tiếp giọng tuyên lên, cứ thế cho tới tận tai từng tướng sĩ giữ thành. Chiêu khích lệ sĩ khí kiểu mới của Huệ Vương vô cùng hữu hiệu, thần dân khắp thành thấy đại vương điềm tĩnh tới vậy, cũng hết sức an tâm, ai lo việc nấy.
Vào lúc này, các ấp xung quanh sớm đã nhận được chỉ lệnh của Bàng Quyên, nhà nhà đóng cửa, ruộng vườn thu dọn sạch trơn, nếu có lương thực thừa, đều chôn kỹ dưới đất. Kỵ binh Tề quấy rối nhiều nơi, hầu như chẳng thu hoạch được gì. Lại thêm Tôn Tẫn nghiêm cấm nhũng nhiễu nhân dân, nên lương thảo cho sáu vạn quân Tề hoàn toàn do hậu cần cung cấp.
Hơn mười ngày liền, cuộc đại chiến bốn nước Tề, Ngụy, Sở, Hàn chìm trong trạng thái tĩnh lặng lạ thường. Quân Hàn co cụm trong thành ấp không ra, sáu vạn quân Sở nấp trong Khổ Huyện theo dõi từ xa. Tám vạn quân Ngụy lượn lờ ngoài thành Dương Địch và Trịnh Thành, chẳng khác gì mèo vờn chuột. Sáu vạn quân Tề trật tự bao vây Đại Lương. Trong thành Đại Lương, cuộc sống vẫn diễn ra bình thường, chỉ là cổng thành đóng chặt, trên tường thành chốc chốc lại vang lên tiếng ngâm nga Huệ Vương câu được mấy con cá, cá nặng mấy cân mấy lạng.
Tuy nhiên, phía sau tất cả sự tĩnh lặng này, một cánh quân Ngụy khoảng ba nghìn người, do tướng trấn giữ Tương Lăng Trịnh Khắc chỉ huy, dưới sự dẫn dắt của vài kẻ áo đen, ngày nghỉ đêm đi, bí mật vượt qua nước Tống, vòng qua phía đông đầm Đại Dã, chọc thẳng vào căn cứ lương thảo của quân Tề ở A Ấp, nhờ sự tiếp ứng của Hắc Điêu nước Tần do công tử Hoa thống lĩnh, bất ngờ đột kích trước lúc bình minh. Khi kho lương, rơm cỏ bốc cháy, lính gác quân Tề đa phần vẫn đang ngủ say sưa.
Cùng lúc đó, tất cả đều đúng như kế hoạch, ba cánh quân vận chuyển lương thảo của quân Tề đều bị quân Ngụy chia quân mai phục tấn công tại những chỗ khác nhau trên đường chuyển lương, vài trăm xe quân nhu gần như bị thiêu trụi cùng một lúc, khói bốc cuồn cuộn đến tận trời xanh, lửa cháy rừng rực suốt vài dặm vuông, cảnh tượng vô cùng kinh động.
Tô Tần sau khi đã xoay xở được một khoản tiền từ Lâm Truy, đang hoan hỷ trên đường trở về, từ xa nhìn thấy khói lửa ngút trời, kêu lên một tiếng “thôi rồi”, lập tức thúc ngựa lao đến. Khi tới nơi, chỉ còn một vạt hoang tàn, lương thảo đã bị thiêu rụi toàn bộ, lính Tề canh giữ hoặc chết hoặc bị thương, số sống sót đang hối hả dập lửa.
Tô Tần cuống cuồng cho gọi Mâu Tân, song hắn đã biến mất tự bao giờ.
Hay tin kho lương và lương thảo vận chuyển trên đường chỉ trong một đêm đã bị thiêu huỷ toàn bộ, Điền Kỵ, Điền Anh đều bàng hoàng kinh hãi, ngây ra như tượng. Tôn Tẫn hít sâu vào một hơi, nhắm mắt suy ngẫm.
Trong trướng trung quân, thời gian ngưng trệ.
Không biết đã trôi qua bao lâu, Điền Anh định thần lại đầu tiên, nhìn sang Tôn Tẫn: “Dám hỏi quân sư, trước mắt phải dụng binh thế nào?”
“Lui quân!” Tôn Tẫn bình thản đáp.
Điền Anh nhìn sang Điền Kỵ.
“Theo lời quân sư!” Điền Kỵ buông một câu, mắt ngấn lệ, ngửa cổ thở dài một tiếng, sắc mặt tràn đầy tuyệt vọng. “Trời không giúp ta, biết làm sao đây, biết làm sao đây?”
Điền Anh quay sang Tôn Tẫn: “Lui quân thế nào, lui về đâu, kính thỉnh quân sư nói rõ!”
“Bộ binh đi đầu, phu dịch quân nhu đi giữa, lính nỏ đi sau đoạn hậu, duy trì đội hình, ổn định lui về, đi đường gần nhất tới biên giới Tống. Mặt khác, cho kỵ binh quấy nhiễu tây nam, đột kích Hình Sơn, đánh được thì đánh, không đánh được thì lùi!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
“Còn nữa, chuyện lương thảo bị thiêu huỷ, cấm loan truyền trong tam quân!”
“Mạt tướng tuân lệnh!”
***
“Bà nó chứ!” Bàng Quyên hay tin kho lương của người Tề bị thiêu rụi, siết chặt nắm tay, đi quanh trướng trung quân vài vòng. “Họ Điền kia, và cả Tôn huynh nữa, lần này là do các người tự chuốc lấy, đừng trách Bàng Quyên ta vô tình!”
Sau một hồi hưng phấn, Bàng Quyên nhìn sắc trời, bình tĩnh trở lại, một mặt sai thám mã đi thông báo chư tướng tam quân tới trướng trung quân nghe lệnh, mặt khác ngồi đối diện sa bàn, suy tính lần nữa về kế sách bao vây tấn công mà mình đã hoạch định từ trước, chỉ lo vạn nhất có gì sơ suất.
Chập tối, chư tướng tam quân, bao gồm cả công tử Tự chỉ huy tả quân, đều tới đủ. Một sa bàn cỡ lớn được cố định bằng nhựa cây bày ở chính giữa đại trướng. Trên sa bàn, tất cả hình thế núi sông trong khoảng giao giới giữa Ngụy, Tống, Vệ, Hàn đều được tái hiện chi tiết, vừa nhìn đã thấy rành rành.
Nhận được tin vui kho lương người Tề bị thiêu rụi, chư tướng đều vô cùng phấn khích, đua nhau thỉnh chiến. Đang lúc ồn ào, thám mã bỗng vào cấp báo, nói rằng cả vạn quân Tề xuất hiện ở phía bắc Hình Sơn, nhân lúc đêm tối tấn công quân Ngụy, trong rừng chim bay tán loạn, cát bụi tung mù, dường như cũng có đại quân tập kết, trọng ải báo nguy.
Mọi người thảy đều rụng rời kinh hãi, đặc biệt là chủ tướng tả quân công tử Tự, đang định cấp tốc quay về, thì Bàng Quyên giữ lại. Bàng Quyên không hề lo lắng, ngược lại còn tỏ vẻ vui mừng, lệnh cho thám mã tiếp tục dò la, rồi quay sang thái tử Thân và chư tướng, nói: “Chư vị tướng quân, ta tuyệt đối không thể để đám kỵ binh kia làm lung lạc! Nếu không nằm ngoài suy đoán của bản tướng, lần này người Tề đã lui quân, ta nên dốc toàn lực truy kích!” Rồi quay sang thái tử Thân, vòng tay nói. “Dám hỏi điện hạ phán đoán thế nào?”
“Mọi việc trong quân, Thân nghe theo tướng quân!” Thái tử Thân đáp lễ nói.
“Thái tử có chỉ,” Bàng Quyên quay sang chư tướng, dõng dạc nói lớn, “xét thấy quân Tề cạn nguồn lương thực, toàn quân tan vỡ, ta lập tức nhổ trại, dốc toàn lực truy kích người Tề! Chư vị tướng quân nghe lệnh!”
“Mạt tướng nghe lệnh!” Chư tướng đồng thanh hô vang.
“Trở về bản doanh, đêm nay cho tướng sĩ ăn no ngủ say, chuẩn bị đủ lương khô ba ngày, sáng sớm mai nhổ trại, tiến quân về Đại Lương, truy kích bại binh Tề!”
“Mạt tướng tuân lệnh!” Chư tướng cùng hô lớn, tiếng như sấm rền.
***
Lính Tề vây khốn Đại Lương hơn nửa tháng trời, lương thảo mang theo đã gần cạn kiệt, đang đợi đoàn xe lương tới bổ sung, nào ngờ Mâu Tân cố tình dây dưa, đến khi tiền phương thôi thúc mới phát liền ba chuyến, giờ lại bị thiêu rụi hoàn toàn. Lương thảo chỉ đủ cho tam quân cầm cự ba ngày, mà trong ba ngày, tướng sĩ tam quân kiểu gì cũng không thể rút được về đến lãnh thổ của mình, bởi lẽ Tôn Tẫn, Điền Kỵ đều hiểu rõ, đại quân rút lui, quan trọng nhất là quy củ trật tự, nếu mất quy củ, sẽ thành tai hoạ. Nếu muốn đảm bảo quy củ, cần di chuyển chậm rãi, ổn định, đặc biệt là còn có một lượng lớn phu dịch phụ trách quân nhu không có sức chiến đấu rút lui cùng.
Từ lúc tam quân xuất chinh tới lúc đại quân rút lui, thái độ của Tôn Tẫn đều hết sức lạ lùng, nếu Điền Kỵ, Điền Anh không hỏi đến, thì gần như rất ít mở lời, hoàn toàn khác biệt với thái độ sôi nổi thoả chí khi mưu tính kế sách cứu Triệu trước đây. Điền Kỵ, Điền Anh rõ ràng đã nhận thấy điều này, đặc biệt là sau khi kho lương bị thiêu rụi, đại quân rút lui, hai người ngày càng lo lắng, thậm chí có lúc còn cho rằng sở dĩ Tôn Tẫn hoàn toàn khác trước, có lẽ là do viên thuốc chết mà sư phụ tặng cho đã phá huỷ trí tuệ của Tôn Tẫn mất rồi. Thế nhưng, Tôn Tẫn ngoài lặng lẽ ít nói, mọi việc khác vẫn rất bình thường, đặc biệt là khi ban bố quân lệnh, vẫn lời lẽ súc tích, rành rọt sắc sảo, không hề có chút hàm hồ, càng không rườm lời rối rắm, dù là mệnh lệnh lui quân, cũng rất hợp tình hợp lý, không một sơ hở. Vì thế, tuy hai người có hồ nghi, cũng chỉ là nghĩ thầm trong dạ mà thôi.
Nơi gần Đại Lương nhất là Ngoại Hoàng, ấp biên giới của Tống, từ Đại Lương tới Ngoại Hoàng là một con đường cái quan rộng hơn một trượng, đủ cho hai cỗ xe chiến đi song song, bên cạnh vẫn còn chỗ cho người đi bộ. Sáu vạn đại quân Tề, cộng thêm hơn vạn phu dịch quân nhu, phía trước là bộ binh, ở giữa là xe quân nhu, sau cùng là xe chiến, kỵ binh bảo vệ hai bên, nối đuôi nhau như một con rắn dài dằng dặc, trước sau đến hơn hai mươi dặm, trật tự mà chậm rãi tiến bước. Với lộ trình hơn một trăm năm mươi dặm, tam quân đi suốt hai ngày trời, mới tới được đất Tống.
Tại vùng giáp ranh Tống, Ngụy, hai nước đều bố trí cửa quan. Cửa quan nước Ngụy, lính canh sớm đã kinh hãi mà chuồn sạch, cửa quan mở toang. Điều bất ngờ là cửa quan bên nước Tống lại đóng kín, không thể đi qua.
Điền Kỵ hay tin, bàng hoàng kinh hãi, vội vã chạy lên xem, quả nhiên bên trong cửa quan, người Tống canh phòng nghiêm ngặt, nhìn từ xa lại, phải có đến vài nghìn quân, rõ ràng đã có chuẩn bị từ trước.
Điền Kỵ đánh xe tới trước cửa quan, vòng tay nói: “Tại hạ tướng Tề Điền Kỵ, xin mời tướng Tống trên cửa quan mau ra nói chuyện!”
Một lát sau, trên lầu cửa quan xuất hiện một người dáng chừng là tham tướng, vòng tay đáp lễ nói: “Mạt tướng Sái Bằng bái kiến Điền tướng quân!”
“Tam quân Đại Tề viễn chinh Đại Lương nước Ngụy, hôm nay khải hoàn, muốn mượn đường quý quốc trở về, kính xin hãy mở cửa quan!”
“Điền tướng quân hẳn đã có giấy thông quan?”
“Đại quân quá cảnh, lấy đâu ra giấy thông quan?”
“Đại vương nước tại hạ có chỉ, không có giấy thông quan, bất cứ ai cũng không được phép qua!” Sái Bằng từ chối thẳng thừng.
“Ngươi… dám cản đường mười vạn tướng sĩ quân ta?” Điền Kỵ nổi cơn thịnh nộ, rút kiếm, cố tình khuếch trương quân tình.
“Điền tướng quân bớt giận!” Sái Bằng tươi cười nói, lại vòng tay. “Mạt tướng sức mọn, đã không dám cản đường tướng quân, cũng không dám làm trái vương chỉ. Tướng quân xin chờ bên ngoài cửa quan chốc lát, mạt tướng sẽ lập tức tấu báo đại vương, chờ chỉ đại vương tới rồi, mạt tướng sẽ lập tức mở cửa quan!”
Điền Kỵ tức uất, vung kiếm định xông lên, thì Điền Anh đã thúc ngựa lao đến, hô lớn từ xa: “Tướng quân hãy khoan, quân sư có lệnh, không cần vào Tống, khởi quân tới Tế Dương!”
Điền Kỵ lửa giận ngút trời, giậm chân bình bịch, vung kiếm chỉ thẳng vào lầu cửa quan: “Các ngươi nghe cả đây! Chuyển lời tới Tống Yển, sự việc hôm nay, bản tướng khắc cốt ghi tâm, sẽ có một ngày, lại dẫn ba quân tướng sĩ tới gọi cửa quan!” Nói rồi, quay ngoắt xe lại, cùng đại quân cuốn bụi mà đi.
Nhìn thấy quân Tề xa dần, phía sau lầu cửa quan bước ra hai người, một là Trương Nghi, một là công tử Hoa.
“Công tử!” Trương Nghi nhìn cát bụi mịt mù, khẽ giọng căn dặn. “Tiếp theo đã đến lúc dùng người của công tử rồi!”
“Tướng quốc yên tâm!” Công tử Hoa mỉm cười. “Tại hạ sớm đã sắp xếp ổn thoả!”
“Sao không nhìn thấy Mâu Tân kia đâu?”
“Tại hạ cũng lấy làm lạ, đã nói là hẹn ở Định Đào, chờ hắn hai ngày liền, vẫn không thấy bóng dáng đâu. Hay là, để tại hạ phái người đi tìm hắn?”
“Không cần. Chỉ là loài cặn bã mà thôi.”
Giữa hai cửa quan là một ngã tư, hướng đông tây là từ Đại Lương tới Ngoại Hoàng, thông thẳng đến kinh đô Tuy Dương nước Tống; hướng nam bắc, kẹp giữa vùng tiếp giáp giữa hai nước, từ Tương Lăng thông thẳng tới Tế Dương.
Hai nước lấy con đường này làm ranh giới, song ở cả hai đầu đường đều là ấp của người Ngụy, trên thực tế, con đường này phần lớn là do người Ngụy sử dụng. Vì là đường cái vùng biên nên hơi chật hẹp, chỗ rộng cũng không quá tám thước, do hai bên cần chừa chỗ trống cho người đi bộ, nên chỉ có thể đủ cho một xe chiến đi mà thôi. Vì thế đội ngũ quân Tề lại càng kéo dài lê thê hơn nữa.
Đi chưa tới nửa ngày, lương khô ba quân tướng sĩ mang theo đã dùng hết, gạo cũng cạn kiệt. Do các tướng lĩnh hay tin kho lương bị thiêu rụi đều nghiêm ngặt giấu nhẹm tình hình, nên vào buổi trưa, quân sĩ vẫn như thường lệ, vừa ngồi bên đường nghỉ ngơi, vừa đợi cơm ăn. Tuy nhiên, đừng nói là cơm, đến khói bếp cũng không thấy đâu. Binh sĩ đang băn khoăn nghi hoặc, thì lại có lệnh hành quân, đành phải ôm bụng đói mà đi. Lại qua nửa ngày nữa, binh sĩ bắt đầu đói lả, mệt mỏi khó kham. Ngựa cũng không chịu đi, hễ nhìn thấy cỏ là dừng lại gặm lấy gặm để, có quất roi cũng vô ích.
Binh sĩ nhao nhao đòi tướng lĩnh cơm ăn. Tướng lĩnh cũng đều đã đói meo, người nào biết chuyện thì giả vờ như không biết, tìm mọi cách vỗ yên, người nào không biết chuyện thì kéo nhau lên hỏi cấp trên.
Gió đông nam thổi đến, lay động cành cây, từ cánh rừng nơi đầu gió, đột nhiên xuất hiện rất nhiều quả bóng hơi, bên trên buộc những mảnh lụa mỏng, màu sắc sặc sỡ, bay lượn đầy trời, nhìn rất bắt mắt. Thấy những quả bóng hơi bay qua trên đầu, rất nhiều binh sĩ giương cung bắn rụng, hoá ra đều là bong bóng lợn thổi phồng. Nhìn lại những vuông lụa, có người biết chữ lẩm nhẩm đọc, lập tức rụng rời kinh hãi, bởi lẽ đều viết về chuyện kho lương A Ấp và xe chở lương của Tề đã bị thiêu rụi hoàn toàn. Nhớ lại ba ngày trước, đột nhiên có lệnh rút quân, hôm nay lại mãi không có cơm ăn, lính Tề lập tức bừng tỉnh, lòng quân náo loạn, nỗi hoang mang lập tức lan truyền khắp ba quân, đội ngũ không còn tề chỉnh, có người nhân lúc rối loạn bỏ trốn, song đa số quân sĩ đã được huấn luyện kỹ càng, vẫn giữ được bình tĩnh. Người có kinh nghiệm tìm chỗ ngồi xuống, nhắm mắt dưỡng thần, cố gắng giữ sức.
Điền Anh cấp báo lên Điền Kỵ. Điền Kỵ không biết làm thế nào, kéo Điền Anh nhảy lên cỗ xe tứ mã kéo dài chế riêng cho Tôn Tẫn.
Từ lúc rút quân đến giờ, bất kể ngày đêm, Tôn Tẫn không lúc nào rời khỏi cỗ xe này, cũng không muốn gặp bất cứ ai, kể cả Điền Kỵ. Cùng ở trên xe với Tôn Tẫn có hai tham quân tả hữu, sự tình bên ngoài đều do hai tham quân này bẩm báo với Tôn Tẫn, chỉ lệnh của Tôn Tẫn cũng được hai người này truyền đạt ra ngoài.
Nhìn thấy hai vị tướng quân, tham quân tả hữu đều xuống xe, nhường lại chỗ ngồi.
Tôn Tẫn hai mắt khép hờ, dường như mọi chuyện bên ngoài không hề liên quan tới mình.
“Quân sư!” Điền Kỵ nhìn Tôn Tẫn một lát, thấy Tôn Tẫn vẫn không mở mắt, sốt ruột kêu lên. “Tam quân đã cạn lương một ngày rồi, tướng sĩ đã biết chuyện lương thảo bị thiêu rụi, lòng quân hoang mang, sự tình nguy cấp, giờ phải làm thế nào đây?”
“Người Ngụy ở đâu?” Tôn Tẫn không trả lời, mà lên tiếng hỏi một câu không ăn nhập vào đâu.
“Theo thám mã báo tin, quân chủ lực của Bàng Quyên rút về từ Trịnh Thành tối qua đã tới Đại Lương, cánh quân của công tử Tự rút về từ Dương Địch đoán chừng tối mai sẽ tới.”
“Tốt quá!” Tôn Tẫn thình lình bật ra một câu không đầu không cuối, rồi quay sang Điền Anh. “Hiện tại còn bao nhiêu ngựa?”
“Do chinh phạt quá gấp, điều động không kịp, chỉ có chưa đầy ba vạn cỗ.”
“Ngựa xấu bao nhiêu?”
“Chưa đến bảy nghìn, số còn lại đều là ngựa chiến. Hai vạn để cưỡi, ba nghìn để kéo xe, bảy nghìn để chở quân nhu!”
“Giết một nghìn ngựa xấu, dựng ngay tại chỗ bếp ăn cho sáu vạn quân theo lối hành quân!”
“Giết… giết ngựa?” Điền Kỵ hít vào một hơi khí lạnh.
Tôn Tẫn không trả lời.
“Giết ngựa rồi, xe quân nhu biết làm thế nào?” Điền Kỵ hỏi tiếp.
“Vứt bỏ!” Tôn Tẫn trả lời dứt khoát.
Người Tề đều yêu quý ngựa, ba quân tướng sĩ hay tin giết ngựa, đều đau đớn cõi lòng. Đặc biệt là những con ngựa xấu dùng để kéo xe quân nhu, đều là bảo bối của nhà nông, mà binh sĩ cũng đa phần xuất thân từ nhà nông. Người nuôi ngựa thì khóc, người ăn thịt ngựa thì đau lòng, quang cảnh nơi bếp ăn ảm đạm thê lương, chẳng khác gì đang cử hành tang lễ.
Điền Kỵ, Điền Anh ngồi đối diện nhau, im lặng không nói, vừa ăn thịt ngựa vừa suy nghĩ mải miết.
“Chủ tướng!” Điền Anh như nghĩ ra điều gì, một lát sau, bỏ miếng thịt ngựa xuống. “Hay là quân sư đói quá đâm hồ đồ mất rồi. Giết ngựa thì cứ giết, chất củi nướng thịt là xong, sao lại nhất quyết bắt chúng ta dựng bếp ăn như lệ thường, xẻ thịt nấu nướng, chẳng phải là… rước thêm việc vào thân ư?” Dừng lại một lát, đột nhiên bừng tỉnh. “Phải rồi, quân sư hẳn là lo cho tướng sĩ quá đói, nếu chỉ ăn thịt nướng, sẽ bị mắc nghẹn, tức bụng.”
“Thượng đại phu chỉ nghĩ được những chuyện vặt vãnh thế thôi ư?” Điền Kỵ cười nhăn nhó, chau tít đôi mày. “Chỗ khó lớn nhất của chúng ta không phải ở đây! Lui quân kiểu này, đúng là không sợ người Ngụy rải quân đánh tạt sườn, cũng không dễ tan rã, nhưng… cứ chậm chạp như sên bò thế này, mỗi ngày đi chưa nổi năm mươi dặm, Bàng Quyên có ngốc nghếch đến đâu cũng sẽ đuổi kịp. Nếu như Bàng Quyên chia quân hai lộ, một lộ truy đuổi theo sau, một lộ phi ngựa cấp tốc tới Tế Dương, chắn đầu quân ta, ta trước không có đường đi, sau không có đường rút, bên trái là người Ngụy, bên phải là người Tống, chẳng phải sẽ rơi vào tuyệt địa ư?”
“Phải rồi!” Điền Anh cũng bắt đầu căng thẳng. “Theo kế của tướng quân, nên ứng phó thế nào?”
“Cho một vạn kỵ binh ra roi phi nhanh tới Tế Dương trước, đảm bảo đường lui quân của ta được thông suốt!”
“Tướng quân suy nghĩ rất đúng. Quân sư gần đây lạ lùng quá. Tại hạ sẽ lập tức đi truyền lệnh!”
Điền Kỵ gật đầu: “Cứ làm theo lời thượng đại phu, mau đi truyền lệnh!”
Điền Anh đang định truyền lệnh, thì tham tướng của Tôn Tẫn bước lại, hạ giọng nói: “Quân sư căn dặn, qua ba khắc nữa, tam quân nhổ bếp lên đường, duy trì đội hình, không được khinh suất tiến quân, trật tự tiến về Tế Dương, hạ trại bên bờ Tế Thuỷ nghỉ qua đêm!”
Điền Anh nhìn sang Điền Kỵ.
“Nghe lệnh quân sư!” Điền Kỵ hít sâu vào một hơi, nghiến răng nói.
***
Vào đêm quân Tề bắt đầu giết ngựa chống đói, năm vạn quân chủ lực của Bàng Quyên từ Trịnh Thành rút về đã tới Đại Lương trước một bước, cắm trại cách ngoài thành vài dặm.
Ngụy Huệ Vương vẫn bình thản như không trong suốt thời gian người Tề vây thành, lúc này mở rộng cổng thành, tinh thần phấn chấn, dứt khoát không cho Bàng Quyên vào cung yết kiến, mà khăng khăng ra ngoài thành khao thưởng tam quân. Người Ngụy giết lợn mổ bò, đại trướng trung quân tưng bừng tiếng nhạc.
Ngụy Vương cầm tay Bàng Quyên, giọng đầy hoan hỷ: “Bàng Nhi, con đánh hay lắm, dương đông kích tây, thiêu rụi lương thảo của Tề, người Tề cuống cuồng rút chạy, quả nhân tận mắt nhìn thấy chúng tan tác không thành đội ngũ!”
“Là nhờ phụ vương điềm tĩnh ngồi câu, thần dân Đại Lương ý chí tựa thành đồng, cầm cự với người Tề hơn hai mươi ngày, Trương tướng quốc đích thân tới Tống, Trịnh tướng quân nghìn dặm tập kích bất ngờ, Bàng Nhi không dám nhận công!”
“Ha ha ha, có công, có công!” Huệ Vương khen liền mấy tiếng, chỉ về phía đông mà nói. “Quyên Nhi, Điền Nhân Tề chuyên gây hiềm khích với quả nhân, quả nhân nhẫn nhịn người này đã nhiều năm rồi, trận chiến Hoàng Trì tuy đã hả giận, song hắn lại sai Điền Kỵ, Tôn Tẫn hai lần bao vây Đại Lương ta, làm hỏng việc tốt của ta, thực là đáng hận. Không ngờ ông trời lại không giúp hắn, nay người Tề trong không lương thảo, ngoài không viện binh, chỉ có nước giơ đầu chịu báng. Quả nhân muốn nhắc nhở con một câu, nhất thiết không được sinh lòng từ bi đối với loài quỷ dữ tham lam ấy, hãy dẫn quân đánh thẳng tới, giúp quả nhân trút bỏ nỗi uất ức này!”
“Phụ vương yên tâm, nhi thần sẽ lập tức dẫn quân truy kích, đánh thẳng vào Lâm Truy, bắt sống cả nhà họ Điền, cho phụ vương tuỳ ý xử trí.”
Huệ Vương phấn khởi, khen không ngơi miệng, rồi theo Bàng Quyên đi thị sát một vòng quanh trướng trung quân, sau đó hưng phấn mãn nguyện hồi cung nghỉ ngơi.
Bàng Quyên trở về trướng trung quân, vừa mới ngồi xuống, đã thấy Trương Nghi từ Ngoại Hoàng đất Tống trở về, kể lại tường tận với hắn từ đầu đến cuối chuyện quân Tề tới Tống thế nào, bị người Tống từ chối không mở cửa quan ra sao, rồi chuyện hắn sai người chia đường đốt cháy lương thảo của người Tề, khiến quân Tề kinh hãi ra sao, binh sĩ trốn chạy thế nào, cuối cùng kết luận: “Quân Tề đã tan rã, Bàng huynh có thể mau chóng cho xe nhẹ quân nhanh chọc thẳng vào Tế Thuỷ, chặn đầu người Tề ở phía tây đầm Đại Dã, là đã có thể báo thù trận Quế Lăng.”
“Quân Tề cả thảy bao nhiêu binh mã?” Bàng Quyên hỏi.
“Chưa tính cụ thể, ước chừng sáu vạn.”
“Tôn Tẫn có ở trong quân?”
“Có một cỗ xe dài hơn hẳn, hẳn là chở Tôn huynh!”
Lời nói vừa dứt, lính thám mã đã về báo tin: “Quân Tề bắt đầu giết ngựa, để lại xương ngựa chất đống!”
“Giết ngựa lúc nào?” Bàng Quyên vội hỏi.
“Có lẽ là buổi trưa.”
“Là nướng thịt ngựa ư?”
“Nhìn vào dấu vết để lại, là dựng bếp nấu, trong chỗ canh thừa hắt bỏ dưới đất thấy có nhiều rau dại!”
“Đã đếm số bếp chưa?”
“Đã đếm sơ qua, không dưới hai vạn.”
“Hai vạn?” Bàng Quyên thoáng sửng sốt. “Người Tề bình thường năm người một bếp, hai vạn bếp, tương ứng với mười vạn quân mới phải!” Quay sang Trương Nghi. “Trương huynh, sao huynh nói chỉ có sáu vạn?”
“Tại hạ tận mắt nhìn thấy, hơn nữa, còn sai người nấp trong khu rừng phía xa đếm chừng số lượng, không thể sai lệch lớn đến thế được!”
“Tại hạ tin lời Trương huynh” Bàng Quyên ngẫm nghĩ một lát, gật đầu nói. “Hẳn là Tôn Tẫn cố tình dựng thêm bếp nấu để giở kế trá Ngụy!” Suy nghĩ một lúc, lại nói. “Trương huynh, người Tề đều yêu quý ngựa, hôm nay giết ngựa, cho thấy đã cạn sạch lương thảo, rất trùng hợp với dự đoán của ta trước đó. Một con ngựa bình thường, ít thì vài đĩnh vàng, nhiều thì vài chục đĩnh, ăn thịt ngựa sẽ tổn hại đến ngân khố quốc gia. Thêm nữa, thịt ngựa cũng không thể ăn thường xuyên, lại càng không thể ăn thay cơm, tin chắc người Tề sẽ không thể cầm cự được bao lâu nữa. Nếu không nằm ngoài dự đoán, người Tề hẳn là tiến thẳng tới Tế Dương, dọc theo Tế Thuỷ đi về phía đông, qua Hà Mật rồi tiến vào biên giới Tề. Dựa theo tốc độ hành quân hiện thời của người Tề, có lẽ tối mai sẽ tới Tế Dương, ngày kia tới Hà Mật, thêm một ngày nữa sẽ tới Chân Ấp ở biên giới nước Tề.”
“Bàng huynh phân tích rất đúng!” Trương Nghi khen ngợi.
“Trương huynh, việc quân quý ở thần tốc, chúng ta chia quân hai lộ, tại hạ và thái tử dẫn ba vạn xa kỵ truy kích trước, lập tức khởi hành, cố gắng cầm chân người Tề giữa Hà Mật và Chân Ấp. Còn Trương huynh dẫn bộ binh hợp với hữu quân của công tử Tự, tiếp ứng phía sau, hợp kích tiêu diệt Điền Kỵ ở biên giới Tề, thế nào?”
“Việc quân, xin nhất nhất nghe theo Bàng huynh!”
***
Hành quân đường trường suốt nhiều ngày liền, quân năm đô bình thường rèn luyện không đủ, lại thêm trước đó ăn toàn lương khô, bị bỏ đói một ngày, sau đó lại ăn quá nhiều thịt ngựa, nên bụng no tức, tốc độ hành quân chậm hẳn lại, dự kiến trước khi trời tối sẽ đến Tế Thuỷ, kết quả là qua canh một mới đến nơi, còn có rất nhiều người tụt lùi phía sau, vì phải dừng lại bên đường đi ngoài.
Điền Kỵ điểm lại binh mã, do có thịt ngựa chống đói nên binh sĩ bỏ trốn rất ít. Tôn Tẫn không nói gì thêm, Điền Kỵ hạ lệnh nghỉ ngơi tại chỗ, trước khi trời sáng vượt sông tiến về phía đông, men theo con đường cái quan ở bờ bắc Tế Thuỷ, đến trưa sẽ tới vùng ngoại ô Hà Mật của Ngụy.
Quân trấn thủ Hà Mật như gặp cường địch, đóng chặt cổng thành không ra.
Thịt ngựa tuy chống đói được lâu, song một ngày trời không ăn gì, quân Tề đều đã đói meo.
Tôn Tẫn lại hỏi về tình hình quân Ngụy, truyền lệnh hạ trại bên một đầm nước ngoài thành Hà Mật, vẫn giết nghìn ngựa, song chỉ cho dựng sáu nghìn bếp, vứt lại năm trăm bộ xương ngựa, năm trăm bộ xương còn lại chở theo xe, đồng thời sai kỵ binh bố trí nghi binh dọc theo các tuyến đường lân cận.
Những chuyện khác còn được, song chuyện chở theo năm trăm bộ xương ngựa quả là một mệnh lệnh hết sức kỳ khôi, Điền Kỵ và Điền Anh đều không thể hiểu nổi.
Điền Kỵ càng nghĩ càng băn khoăn, mặt mày rầu rĩ nói: “Quân sư, xe chở quân nhu đã vứt bỏ lại rồi, số còn lại dùng để vận chuyển binh khí, lều bạt, huống hồ binh sĩ đều mỏi mệt, sức ngựa phần nhiều cũng đã rã rời, liệu… liệu có thể đừng lôi theo mớ xương ngựa hay không!”
Tôn Tẫn từ từ khép mắt.
Điền Kỵ đợi thêm một hồi, Tôn Tẫn vẫn chẳng nói chẳng rằng, lại đưa tay kéo rèm xe xuống.
Hai người bước sang bên cạnh. Điền Anh liếc nhìn Điền Kỵ, khẽ nói: “Tướng quân, quân sư cứ khăng khăng ý mình, làm thế nào đây?”
“Cứ làm theo lệnh quân sư!” Điền Kỵ cười méo mó. “Tại hạ cũng muốn xem thử, quân sư muốn dùng đám xương ngựa kia vào việc gì?”
***
Đại Lương cách Tế Dương khoảng hai trăm dặm, Tế Dương cách Đào Ấp khoảng trăm dặm. Bàng Quyên bỏ lại bộ binh, cùng thái tử Thân dẫn ba vạn xa kỵ tiến thẳng tới Tế Dương. Ngựa nhanh xe chậm, song lần bị phục kích ở Quế Lăng vẫn gây ám ảnh sâu sắc trong tâm trí Bàng Quyên, do vậy, Bàng Quyên căn dặn xe chiến và kỵ mã không được tách rời nhau, tăng thêm ít xe quân nhu, lại vượt qua gần mười con sông, ba vạn đại quân tới gần trưa hôm sau thì đuổi tới nơi quân Tề đã hạ trại bên bờ Tế Thuỷ.
Người ngựa đều đã mệt mỏi, Bàng Quyên hạ lệnh nghỉ ngơi một lát, đích thân tới chỗ quân Tề hạ trại thám thính. Nhìn từ xa, lại không thấy có dấu hiệu cắm trại, chỉ thấy trên đất dọc ngang dấu vết binh lính nằm ngủ và một số vật dụng sinh hoạt không mấy quan trọng không ảnh hưởng tới hành quân. Hỏi dân địa phương, quả nhiên được biết đêm hôm kia có đại quân nghỉ chân ở đây, tính toán lộ trình, thấy mình chỉ tới sau người Tề có một ngày rưỡi. Dựa theo tốc độ hành quân năm mươi dặm một ngày của người Tề, thì hai quân chỉ còn cách nhau chưa đầy tám mươi dặm. Tám mươi dặm, đối với xa kỵ thì chưa mất đến nửa ngày.
Bàng Quyên thở phào một tiếng, truyền lệnh khởi hành, tam quân thẳng tiến về Hà Mật trước khi trời sáng, tính toán lộ trình, thấy chỉ còn cách người Tề hơn nửa ngày đường.
Thám mã về báo, các nẻo đường quanh đó đều thấy có kỵ binh Tề thoắt ẩn thoắt hiện, dường như nghi binh, phía trước không xa, có bếp nấu của quân Tề. Bàng Quyên vội tới nơi xem xét, quan sát từ xa, thấy tan hoang một vùng, khắp nơi vung vãi xương ngựa và các loại quân nhu, thậm chí còn thấy cả trong rừng cây và bụi cỏ cách đó rất xa. Xương ống đều bị đập vỡ để hút lấy tuỷ.
Bàng Quyên sai người đếm số bếp, thấy chưa đầy sáu nghìn, sai đếm xương ngựa, không quá năm trăm cỗ, lại đích thân kiểm tra phân ngựa và phân của lính Tề, thấy phần nhiều đen kịt, hỏi thầy lang, được biết người Tề do chỉ ăn thịt mà không có hạt ngũ cốc nào nên mới như vậy.
Không cần hỏi dân địa phương, chỉ nhìn vào phân là đã biết, người Tề mới rời khỏi đây chưa tới nửa ngày, nhiều lắm cũng chỉ đi được ba mươi dặm, nếu phi ngựa đuổi theo, hai canh giờ là kịp.
“Nhìn vào tình hình hiện tại,” Bàng Quyên bẩm báo với thái tử Thân, “Tề đã hoàn toàn cạn kiệt lương thảo, mỗi ngày chỉ nấu một bữa. Quân Tề nấu ăn, thường là năm người một bếp, hôm kia đếm thấy hơn hai vạn bếp, tương đương với mười vạn người ăn, hẳn là Tôn Tẫn hư trương thanh thế, kỳ thực số lượng ước chừng sáu vạn, đúng như Trương huynh quan sát. Hôm nay không tới sáu nghìn, nhìn vào thực tế, cho thấy quân Tề không tới ba vạn. Chỉ trong một ngày, quân Tề từ sáu vạn chỉ còn ba vạn, cho thấy đã trốn chạy quá nửa, chẳng mấy mà tan rã. Người Tề giết năm trăm ngựa, cũng là ứng với ba vạn quân, phù hợp với số lượng bếp. Đoán rằng binh sĩ đã đói khát rã rời, chẳng còn hơi đâu mà dựng bếp giả nữa. Rõ ràng, Tôn Tẫn đã biết nguy, nên cố tình bày kế nghi binh ở các nẻo đường để lung lạc quân ta, cố tìm cách kéo dài thời gian.”
“Người Tề đã tan rã, ta đuổi theo có ích gì?” Thái tử Thân chau mày hỏi.
“Đánh tới Lâm Truy, bắt sống Điền Kỵ!” Bàng Quyên gằn mạnh từng tiếng.
“Cổ nhân nói, quân tan rã chớ đuổi, kẻ tàn tật chớ đánh. Người Tề tự động rút quân, giờ lại đã tan rã, theo ý Thân, ta nên dừng lại thì hơn, thấy đủ là dừng!”
“Thần không cho là vậy!” Bàng Quyên hậm hực nói. “Quân Tề tuy tan rã, song chủ lực vẫn còn. Hai con hổ Điền Kỵ, Tôn Tẫn kia đã hai lần làm hỏng đại sự của ta, nay đã nằm trong tay ta, nhất thiết không thể thả chúng về rừng! Hơn nữa, quân Tề hai lần bao vây Đại Lương ta, gây kinh động đến phụ vương, cớ sao ta lại không thừa thắng mà truy đuổi đến Lâm Truy, cũng để cho Tề Vương nếm mùi bị vây khốn?”
“Tướng quân quyết ý như vậy, Thân cũng không nói gì thêm. Phải truy kích ngay trong đêm ư?”
“Người Tề tuy rơi vào thế bất lợi, song Tôn Tẫn dụng binh quỷ quyệt, chúng ta cũng nên đề phòng hắn. Giờ đã khuya rồi, cứ để tướng sĩ ngủ ngon một đêm, đợi tới sáng mai, dốc sức truy kích, xa kỵ đuổi theo bộ binh, tin rằng tối mai hai quân sẽ chạm trán. Chưa biết chừng tối mai, người Tề đã tan rã ngay trên đường rồi, chúng ta có thể thuận lợi thẳng tới Lâm Truy!”
***
Tam quân nước Tề lại một lần nữa ăn no thịt ngựa, sức khoẻ hồi phục, theo lời Tôn Tẫn, gia tăng tốc độ, chưa đầy ba canh giờ đã hành quân được sáu mươi dặm, vào giờ Nhân định thì tới Chân Ấp.
Chân Ấp là ấp ở biên giới nước Tề, cũng là nơi Tôn Tẫn từng cư ngụ.
Cuối cùng đã về đến nước mình, Điền Kỵ thở phào một tiếng, truyền lệnh hạ trại. Tô Tần sớm đã hay tin, dẫn theo dân chúng và lính hậu cần cầm đuốc xách đèn, đợi sẵn ở bên đường khích lệ lòng quân.
Dù phía Tô Tần đã chuẩn bị đầy đủ lương thảo, nấu nướng sẵn sàng, hơn nữa bữa trưa vừa mới ăn thịt ngựa, song Tôn Tẫn vẫn truyền lệnh, dựng ngay ba nghìn bếp, giết một trăm ngựa, róc thịt nấu ăn, vứt xương xuống đất. Lúc này lương thực đã đầy đủ, hoàn toàn không cần thiết phải giết ngựa, thế mà vẫn cứ giết, Điền Kỵ thực không tài nào hiểu nổi, bèn hỏi Tôn Tẫn, nhưng Tôn Tẫn vẫn ngồi im lìm trong xe, hai mắt khép hờ, cứ như nửa tỉnh nửa mơ, chẳng buồn để ý đến câu hỏi của Điền Kỵ.
Điền Kỵ bực bội trở về đại trướng, càng nghĩ càng hoang mang. Tuy nhiên, lệnh của quân sư, không thể không nghe. Ngộ nhỡ quân sư có kỳ mưu nào thì sao? Điền Kỵ suy nghĩ nát óc mà vẫn không thể lý giải. Vừa hay Tô Tần, Điền Anh đều tới trướng, Điền Kỵ bèn giãi bày mọi thắc mắc trong lòng, rồi nói: “Không giấu Tô huynh, lần này cứu Hàn, thái độ của Tôn huynh hoàn toàn khác với lần cứu Triệu trước đây, về chuyện này, không ai có thể hiểu rõ hơn tại hạ. Tại hạ cứ lo lắng, hay là cái này của quân sư…” chỉ vào đầu mình, “do uống phải viên thuốc chết kia mà hỏng mất rồi?”
Tô Tần nhìn sang Điền Anh.
“Chủ tướng nói đúng đấy!” Điền Anh hùa theo. “Quân sư quả thực rất lạ lùng, ngay cả khi biết tin lương thảo bị thiêu trụi, vẫn không hề hoảng loạn. Còn nữa, quân sư từ sáng tới tối chỉ ngồi lì trong xe mà không chịu ở trong trướng, cũng hiếm khi nói năng với đám tại hạ, lúc nào cũng nhắm mắt dưỡng thần, nửa như suy nghĩ, lại nửa như đang ngủ. Rất hiếm khi hạ lệnh, dù hạ lệnh, cũng thường rất kỳ quặc. Lần trước bao vây Đại Lương, quân sư giải thích rất tường tận, lần này lại bao vây Đại Lương, quân sư một câu cũng không nói. Còn nữa, lần trước bao vây Đại Lương là giả, lần này lại là thật, bảo phải dốc hết sức lực, kết quả là lương thảo bị thiêu rụi. Quân sư hạ lệnh rút lui qua Tống, song người Tống không chịu mở cửa, Điền tướng quân muốn đánh Tống, quân sư lại không cho. Kết quả phải đi đường vòng, buộc phải giết ngựa cứu đói. Quân sĩ đói lả, hành quân lại gấp rút, tốt nhất là nên nướng thịt cho nhanh gọn, vậy mà quân sư lại bắt dựng bếp nấu ăn, còn bắt dựng thêm gấp đôi số bếp, khiến quân sĩ oán thán. Lần thứ hai giết ngựa, quân sư lại bắt chở theo năm trăm bộ xương ngựa, nhìn xem, toàn bộ đều ở đây cả. Hôm nay lại càng kỳ quặc hơn nữa, Tô huynh hẳn đã thấy cả rồi đấy, không cần thiết phải giết ngựa, mà vẫn cứ đòi giết trăm con, còn bắt dựng bếp…”
“Việc quân, tại hạ không tiện hỏi nhiều,” Tô Tần trầm ngâm một lát, rồi chậm rãi nói. “Những gì hai vị tướng quân đây nhìn thấy và đang lo lắng, đều rất hữu lý, nhưng dù là vậy, tại hạ cũng xin hai vị hãy tin tưởng Tôn huynh. Tôn huynh hoàn toàn vẫn giống như trước khi uống thuốc. Nghe hai vị nói, theo tại hạ thấy, mệnh lệnh quân sư đưa ra trước đây, không có gì quá đáng. Lương thảo đã bị thiêu rụi, hoang mang cũng vô ích, quân sư lui quân là rất đúng. Rút lui tới Tống, cũng là hợp lý. Người Tống không cho qua, hẳn là nằm ngoài dự liệu của quân sư. Còn như quân sư không nói, cũng không chịu giải thích với hai vị, hẳn là có nỗi khổ riêng, không tiện nói ra. Cho tới nay, hai vị tuy hồ nghi, song vẫn làm theo lệnh, cho thấy hai vị vẫn rất tin tưởng quân sư. Niềm tin này không hề dao động. Đối phó với Bàng Quyên, ngoài Tôn huynh, thiên hạ không có người thứ hai. Phải rồi, tại hạ còn cần bẩm báo hai vị chuyện lương thảo bị hoả thiêu. Tại hạ đã điều tra rõ, là có Mâu Tân làm nội ứng. Mâu Tân quá ư so đo được mất, đã trúng kế của kẻ địch, lần trước hãm hại Điền tướng quân phải chạy tới Sở, lần này lại làm nội ứng cho người Ngụy, thiêu trụi lương thảo các nơi của ta, khiến đại quân ta phải rút về. Mâu Tân là do Trâu tướng quốc tiến cử, tại hạ đã hấp tấp dùng ngay, mà chưa điều tra cho kỹ…”
Lời còn chưa dứt, Điền Kỵ đã siết chặt nắm đấm, giáng thẳng xuống mặt bàn: “Ác tặc ở đâu?”
“Sau khi chỉ điểm cho người Ngụy hoả thiêu lương thảo của ta, định trốn sang nước Tống, đã bị tiền bối Mặc gia Khuất Tương Tử sai người bắt sống ở bên ngoài thành Đào Ấp. Tại hạ đã thẩm vấn kỹ lưỡng, tấu báo lên đại vương, áp giải tới Lâm Truy rồi!”
“Đợi tại hạ trở về Lâm Truy, sẽ đích thân róc xương lóc thịt hắn!”
“Hai vị tướng quân!” Tô Tần khẽ vòng tay, đứng dậy cáo từ. “Hai vị cứ ở đây bàn bạc việc quân, tại hạ tới chỗ Tôn huynh xem thế nào.”
Vừa tiễn Tô Tần ra khỏi trướng, đã có thám mã về báo, nói là đại quân Bàng Quyên đã đuổi tới Hà Mật, chỉ còn cách đây không tới sáu mươi dặm, xe ngựa hai canh giờ nữa sẽ tới. Hai người nghe mà dựng tóc gáy. May mà buổi chiều hành quân cấp tốc, nếu không, đã bị người Ngụy đuổi kịp mất rồi.
“Sự việc nguy cấp,” Điền Anh quay sang Điền Kỵ, “đại quân nên ứng phó thế nào, chúng ta nên nghe theo quân sư, hay là…”
“Ý Điền huynh thế nào?”
“Xin nghe theo chủ tướng!”
“Bất luận Tô Tần nói thế nào,” Điền Kỵ dứt khoát, “theo trực giác của tại hạ, không thể nghe theo lệnh quân sư được nữa, tại hạ thấy đó là kế sách sai lầm nhất. Hiện tại quân nhu của ta đa phần đã vứt bỏ, lương thảo không còn, sĩ khí rệu rã, không nên giao chiến. Ngược lại nhìn quân Ngụy, nắm chắc phần thắng trong tay, sĩ khí hừng hực, nóng lòng tìm ta quyết chiến. Quân Ngụy chia quân ba lộ, Bàng Quyên dẫn quân chủ lực, đa phần là võ binh, sức mạnh lớn nhất, mục đích là cầm chân quân ta. Tiếp đến là bộ binh, cuối cùng chắc là quân bao vây Dương Địch. Nhìn vào đó, ta nên tránh địch, không nên giao chiến, dụ địch vào sâu trong vùng đất hoang vu. Theo ý tại hạ, sáng sớm ngày mai, tam quân canh năm khởi hành, rút về phía đông nam tới Lẫm Khâu, vòng qua đầm Đại Dã xuống phía nam, vừa ngăn cản quân Ngụy, vừa rút về Bình Lục. Bình Lục là Tây Đô của ta, tường cao hào sâu, xung quanh đầm Đại Dã lại có rừng rậm um tùm, đầm hồ ngang dọc. Ta bỏ hết quân nhu, di chuyển dễ dàng, ngược lại quân Ngụy giáp trụ nặng nề, đường sá không thông thuộc, đầm nước bùn lầy, xe chiến khó lòng thi triển, xem thử Bàng Quyên làm gì nổi ta?”
“Kế này rất hay, tại hạ chỉ có một băn khoăn, ngộ nhỡ Bàng Quyên không thèm để ý tới ta, cứ tiến thẳng tới Lâm Truy thì sao?”
“Hắn hẳn không dám!” Điền Kỵ tràn đầy tự tin nói. “Chỉ cần tại hạ và Tôn huynh còn quanh quẩn bên đầm Đại Dã, Bàng Quyên có nghìn lá gan cũng không dám bỏ qua mối uy hiếp sau lưng mà xông thẳng tới Lâm Truy!”
“Được, tại hạ sẽ lập tức truyền lệnh tam quân!”
Vào lúc gà gáy ngày hôm sau, tam quân chuẩn bị sẵn sàng, chờ lệnh xuất phát, theo lệnh của Điền Kỵ, sẽ tuần tự tiến về Lẫm Khâu. Sắp tới giờ khởi hành, tham quân của Tôn Tẫn bất ngờ truyền lệnh quân sư, phải hành quân lên phía bắc, trước khi trời tối, rút vào Tân Ấp, hơn nữa vẫn phải chở theo năm trăm bộ xương ngựa.
Điền Kỵ phát hoảng, đang định lờ đi quân lệnh của Tôn Tẫn, thì thấy Tô Tần hối hả bước tới, ghé sát tai thì thầm một hồi, Điền Kỵ thoạt tiên kinh ngạc sững sờ, tiếp đến vui mừng khôn xiết, quay sang Điền Anh nói: “Y lệnh quân sư, tiến quân về bắc tới Tân Ấp!”
***
Gần trưa ngày hôm sau, đại quân Bàng Quyên đã tới biên giới Tề. Chỉ thấy nơi đây tan hoang bát nháo, lính gác cửa ải đã bỏ chạy từ lâu. Tới buổi chiều, đại quân đã tới Chân Ấp, song chỉ thấy cổng thành khép hờ, không có lấy một bóng lính canh, dân chúng trong thành đa phần đã bỏ chạy hết, chỉ còn lại một số ít gia đinh trông nhà của các hộ giàu có và người già cả không nỡ bỏ nhà cửa vườn tược mà đi.
Bàng Quyên tìm thấy vài người, dò hỏi biết được về “thảm trạng” của quân Tề, hơn nữa còn được biết dân chúng sợ bị đánh, nên chút lương thực còn sót lại cũng đã bị đám lính Tề tan rã kia “vét sạch”. Sai người đi kiểm tra số lượng bếp ăn, báo rằng không đến ba nghìn, xương ngựa không quá trăm bộ. Bàng Quyên phân tích, ba nghìn bếp, giảm một nửa so với ngày hôm qua, cho thấy quân Tề đã tan rã rất nhiều, tàn binh sót lại không tới hai vạn, giết ngựa lại chỉ trăm con, hẳn là vì đã “cướp bóc” được lương thực. Sai người đi kiểm tra chỗ quân Tề hạ trại, quả nhiên thấy có ngũ cốc vương vãi dưới đất.
Bàng Quyên không còn nghi ngờ nữa, lúc này việc cần làm là phán đoán chính xác tàn quân chủ lực của Tề hiện rút về đâu. Bởi lẽ Chân Ấp là biên giới của Tề, cũng là đầu mối giao thông quan trọng, có rất nhiều tuyến đường, hai con đường cái quan giao nhau ở đây, hướng đông tây là đường cái quan nối liền hai nước, đủ rộng cho ba xe lớn đi song song; hướng nam bắc là đường cái quan nối liền hai thành, đủ rộng cho hai xe lớn đi song song. Quân Ngụy từ phía tây đuổi tới, hiện đang đứng trước ba ngả đường. Ngả đường thứ nhất tiếp tục đi về hướng đông, qua Lẫm Khâu phía bắc đầm Đại Dã tiến thẳng tới A Ấp, rồi tới Lâm Truy. Ngả đường thứ hai là hướng tây nam, tiến thẳng tới Thuỳ Đô và Thừa Khâu nước Ngụy. Ngả đường thứ ba là hướng bắc, tiến tới Tân Ấp và Cao Đường. Người Tề sẽ không quay về Ngụy nữa, nên ngả đường thứ hai không cần tính tới, trước mặt người Tề chỉ có hai con đường có thể đi, thứ nhất là tiếp tục tiến sang phía đông, rút về Lâm Truy; thứ hai là tiến lên phía bắc, rút tới Cao Đường.
Thám mã hồi báo, hướng đông và bắc đều có dấu xe và đồ vật vứt bỏ lại. Dấu xe ở hướng đông rõ rệt hơn, đồ vật bỏ lại đều là đồ dùng của người dân. Hướng bắc có ít dấu xe hơn, song đồ vật vứt lại đa phần là vật dụng của tam quân như cờ, mâu, kích.
Bàng Quyên cười nhạt một tiếng, nói: “Tôn huynh đúng là mưu cùng rồi, giờ là lúc nào mà còn lôi trò trẻ con này ra lừa ta! Truyền lệnh, dốc toàn lực truy kích về hướng đông, xem Điền Kỵ chạy đâu cho thoát?”
Gần ba vạn xa kỵ của Đại Ngụy tiến như vũ bão về phía Lẫm Khâu, đi khoảng hơn ba mươi dặm, cuối cùng cũng đuổi kịp người Tề, song lại chỉ là đám dân thường đi theo phía sau, có gia đinh, người già và trẻ nhỏ. Nhìn từ phía xa, dân chúng rất đông, chật kín cả đường sá. Thấy quân Ngụy sát khí đằng đằng, dân chúng không ai không kinh hoàng mất vía. Mấy người còn động đậy nổi đầu lưỡi bị đẩy tới trước mặt Bàng Quyên. Bàng Quyên dò hỏi, bách tính đều không nói lời nào, thần sắc hoảng loạn, nhớn nhác nhìn ngang ngó dọc. Bàng Quyên đoán ra nguyên nhân, rút kiếm bức bách, doạ dẫm nếu không nói sẽ chém ngay. Dân chúng hoảng vía, mới chịu nói ra “sự thực”: đi về phía đông toàn là dân thường, Tô đại nhân bảo họ đi về phía đông, lại cho họ mượn xe chiến chở đồ, căn dặn họ không được nói cho người Ngụy biết.
“Tô đại nhân đâu?” Bàng Quyên sầm mặt hỏi.
Đám người chỉ biết lắc đầu.
Hiển nhiên, Tôn Tẫn đã giăng sẵn cạm bẫy, khiến Bàng Quyên phải chui đầu vào rọ. Bàng Quyên giận đến sôi máu, lại không thể phát tiết ra, còn không kịp cả bày sa bàn, cứ thế trải bản đồ, đưa mắt lướt theo con đường phía bắc, dừng lại ở Tân Ấp, đột nhiên bừng tỉnh, nghiến răng trèo trẹo mà nói: “Truyền lệnh, hậu quân đổi thành tiền quân, quay về Chân Ấp.”
Hậu quân do thái tử Thân chỉ huy, nghe thấy lệnh của Bàng Quyên, cho rằng Bàng Quyên không truy kích nữa mà muốn rút lui, lấy làm phấn khởi, truyền lệnh quay đầu.
Lặn lội hơn một canh giờ, đại quân vừa mới về tới Chân Ấp, thái tử Thân đang định đánh xe thẳng tiến về đất Ngụy thì bị Bàng Quyên cấp tốc gọi lại. Một lát sau, Bàng Quyên đã tới trước xe thái tử Thân.
“Có chuyện gì vậy?” Thái tử Thân ngỡ ngàng hỏi thẳng.
“Hồi bẩm điện hạ,” Bàng Quyên vòng tay nói thực, “Quyên đã trúng kế Tôn Tẫn. Chủ lực quân Tề không phải rút lui về phía đông, mà đã rút lui lên phía bắc rồi.”
“Quân Tề cớ sao lại rút lui lên phía bắc?”
“Có hai ý đồ. Thứ nhất là không muốn chiến hoả lan tới Lâm Truy, thứ hai là áp sát vùng biên giới Triệu, Tề, mượn sức người Triệu đối kháng với ta. Người Triệu nợ ân tình của người Tề, lại có Tô Tần khéo ăn khéo nói, hẳn sẽ xuất quân chi viện!”
“Nếu chủ lực của quân Tề rút lên phía bắc, tướng quân đáng lẽ phải nhân cơ hội này đánh vào Lâm Truy mới đúng!” Thái tử Thân băn khoăn hỏi.
“Điện hạ nói chí phải!” Bàng Quyên đáp lời, rồi hậm hực nói. “Có điều, bắt sống Điền Kỵ và Tôn Tẫn, Quyên vẫn thấy hứng thú hơn là tấn công Lâm Truy. Chỉ cần bắt sống được hai người này, đánh tan tành chủ lực quân Tề, chiếm Lâm Truy sẽ dễ như trở bàn tay, muốn lấy sớm hay lấy muộn, chỉ chờ lệnh của điện hạ!”
“Tướng quân đã quyết, Thân chỉ biết nghe theo! Chỉ có điều, truy kích thế nào, còn đợi tướng quân chỉ giáo!”
Bàng Quyên lôi tấm bản đồ da dê ra, vừa chỉ vừa nói: “Chính là con đường này, tiến lên phía bắc thẳng tới Tân Ấp, đi qua Tân Ấp, là tới Cao Đường. Tân Ấp không đáng lo, song Cao Đường lại là Bắc Đô của nước Tề, thành cao hào sâu, dân cư đông đúc, lương thảo sung túc. Người Tề chỉ cần cố thủ mười ngày, viện quân nước Triệu sẽ tới. Nếu Tô Tần lại thuyết phục người Sở, từ phía nam tập kích ta, ta tất rơi vào thế bất lợi!”
“Tướng quân định dùng kế sách nào, xin hãy nói rõ!”
“Tạ ơn điện hạ tin tưởng!” Bàng Quyên vòng tay. “Trời không phụ ta, nay ban cho cơ hội tốt, có thể trút bỏ uất ức tích tụ bấy nay, không thể không theo ý trời. Tính theo tốc độ hành quân của người Tề, một canh giờ chỉ đi được mười lăm dặm, nay lại ôm bụng đói hành quân liên tục nhiều ngày, sức lực đã kiệt quệ, hiện không thể đi quá mười hai dặm. Người Tề xuất phát lúc sáng sớm, lúc này đã đi được bốn canh giờ, hẳn cũng chưa nổi năm mươi dặm. Nơi này cách Tân Ấp khoảng một trăm hai mươi dặm, nếu ta dùng xe chiến đuổi theo, ra roi thúc ngựa, chạy năm mươi dặm một canh giờ, thì chỉ trong vòng hai canh giờ, có thể đuổi kịp Điền Kỵ.”
“Ồ…” Thái tử Thân nhìn sắc trời, chau mày nói. “Giờ đã là nửa chiều, có vội cũng chẳng vội một lúc này, chi bằng tướng quân hãy nghỉ lại đây một ngày, rồi thong thả truy sát cũng chưa muộn!”
“Việc quân quý ở thần tốc, sự việc không thể chậm trễ!” Bàng Quyên rõ ràng đã nắm chắc phần thắng, dõng dạc nói. “Người Tề đã không còn tâm trí giao chiến, ta nên đuổi kịp người Tề nhân lúc chúng chưa kịp tới Tân Ấp! Điện hạ, để đảm bảo chắc chắn, Quyên sẽ dẫn quân hổ bôn truy kích trước, cầm chân quân Tề, điện hạ hãy dẫn quân theo sau. Nhìn vào tình hình trước mắt, chưa cần tới sự trợ giúp của Trương tướng quốc và công tử Tự, chúng ta vẫn có thể đánh cho quân Tề tan tác, bắt sống Điền, Tôn, rửa hận cho phụ vương!”
“Được, Thân nghe theo tướng quân.”
Thanh Ngưu một xe tiên phong đi đầu, Bàng Quyên đích thân dẫn theo hai trăm cỗ xe chiến, năm nghìn lính hổ bôn, gấp rút ruổi lên phía bắc tiến tới Tân Ấp. Thái tử Thân dẫn hai vạn quân, bám theo phía sau.
Thanh Ngưu đuổi miết không nghỉ, cứ thế chạy liên tục hơn một canh giờ, đến sẩm tối thì tiến vào đường Mã Lăng. Phóng mắt nhìn đi, phía trước dốc núi trập trùng cao chừng vài trượng, nhấp nhô như sóng, một con đường quanh co khúc khuỷu chạy ngoằn ngoèo giữa núi cao vực sâu, hai bên rừng rú rậm rạp, cây cao chọc trời, gai góc ken dày, địa thế khá là hiểm trở. Thanh Ngưu từng nếm mùi thất bại trong trận Quế Lăng, theo trực giác vội hô dừng xe ngựa, một mặt sai người lên trước dò đường, một mặt cấp báo Bàng Quyên.
Bàng Quyên đánh xe tới trước khe núi, rồi nhảy xuống khỏi xe. Nào ngờ do trời đã nhá nhem, Bàng Quyên lại quá nôn nóng, vừa nhảy xuống, đã giẫm ngay phải một bãi phân ngựa, trượt một cái, cả người loạng choạng chực ngã, may mà có Thanh Ngưu đỡ kịp. Bàng Quyên đứng vững trở lại, bực bội giơ chân đá bay bãi phân ngựa đi, bước vào trong khe núi, quan sát một lượt, lại leo lên đỉnh núi, phóng mắt nhìn ra xa, thấy con đường trước mặt quanh co ngoắt ngoéo, cây cối đen đặc, ngoài mấy chục bước, chẳng nhìn thấy gì. Lại quan sát những đồ vật bị bỏ lại trong cỏ rậm ven đường, thấy toàn là giáp trụ, đao thương chế tác tinh xảo. Chúng bị bỏ lại, chỉ là vì quá nặng, rõ ràng lính Tề đã không còn sức để mang vác nữa, nên mới lén lút vứt bỏ.
Đang quan sát, thì thám mã áp giải hai lính Tề quay về, báo rằng con đường phía trước càng đi càng hẹp, một số đoạn đường chỉ vừa cho một cỗ xe đi qua, nơi đường hẹp đều có cây cối chắn ngang, còn có vài xe chiến bị tháo bánh, vứt chỏng chơ giữa đường.
Bàng Quyên quan sát hai tên lính, thấy mỗi tên chỉ đi một chiếc giày, một tên đi chân bên trái, một tên đi chân bên phải, lấy làm ngạc nhiên, chỉ vào chân chúng, dịu giọng hỏi: “Bản tướng Bàng Quyên, muốn biết vì sao hai ngươi chỉ đi có một chiếc giày?”
Nghe nói người ở trước mặt chính là Bàng Quyên, hai tên lính đều giật mình kinh ngạc, mặt đầy hoảng hốt. Thấy Bàng Quyên vẫn mỉm cười, tên lính trông nhiều tuổi hơn mới bạo gan nói: “Hồi… hồi bẩm tướng quân, hai… hai chúng tôi là… huynh… huynh đệ kết nghĩa, lòng bàn chân bị phồng rộp, đi không nổi nữa!”
“Bản tướng muốn hỏi, vì sao hai ngươi chỉ đi có một chiếc giày?” Bàng Quyên thu lại nụ cười, nhắc lại câu hỏi.
“Vâng vâng vâng!” Tên lính run rẩy. “Tối qua ngủ ngoài trời, do quá mệt mỏi nên nghĩa đệ bị người ta tháo mất giày mà không hay biết, sáng nay không tìm thấy giày đâu, đại quân lại phải lên đường ngay, tiểu nhân thấy nghĩa đệ hai chân phồng rộp, bèn tháo giày, nhường cho nghĩa đệ đi. Nghĩa đệ khăng khăng không chịu, tiểu nhân cũng không nghe, hai người tiểu nhân đành phải mỗi người đi một bên giày, cứ năm dặm đổi một lần. Đi tới khe núi này, vết phồng rộp của nghĩa đệ bị vỡ, thực sự không thể đi nổi nữa. Tiểu nhân được tướng quân cho phép, ở lại đây để chăm sóc nghĩa đệ.”
“Nói xem, các ngươi có tổng cộng bao nhiêu người? Tới đây vào lúc nào?”
Thấy hỏi về việc quân, tên lính ngoảnh mặt nhìn sang hướng khác.
“Mau trả lời tướng quân!” Thanh Ngưu gằn giọng.
Tên lính run bắn, liếc nhìn Thanh Ngưu một cái, lại quay đầu đi.
Bàng Quyên hất hàm về phía tên nghĩa đệ đứng bên cạnh. Thanh Ngưu hiểu ý, liền kề kiếm vào cần cổ hắn.
“Này vị quân sĩ kia!” Bàng Quyên bình thản nói. “Nếu ngươi chịu nói ra sự thực, bản tướng không chỉ mở đường sống cho hai ngươi, mà còn trọng thưởng cho hai ngươi. Còn nếu không nói, nghĩa đệ của ngươi sẽ đầu lìa khỏi cổ ngay trước mặt ngươi.”
“Tướng… tướng quân!” Tên lính hốt hoảng quỳ sụp xuống. “Tiểu… tiểu nhân sẽ… sẽ nói… sự thực…”
Sau đó, tên này hỏi gì đáp nấy, thật thà kể hết “tình cảnh” của quân Tề, cuối cùng nói: “Bọn tiểu nhân hành quân suốt nhiều ngày trời thì tới khe núi này, thấy đường khó đi thì không muốn đi nữa, lại thêm trời đã tối muộn, bèn nhao nhao thỉnh cầu nghỉ đêm ở đây. Nào ngờ Điền tướng quân dứt khoát không chịu, nói là quân sư lệnh cho đại quân phải tới Tân Ấp trước khi trời sáng, ai trái lệnh chém đầu. Có người không chịu nổi…” đưa tay chỉ vào cánh rừng bên cạnh, “không giấu tướng quân, rất nhiều binh sĩ nhân lúc trời tối đã trốn vào trong cánh rừng này, nếu tướng quân không tin, cứ phái người đi tìm, chưa biết chừng lại bắt được thêm ối người đấy!”
“Con đường núi này dài bao nhiêu?” Bàng Quyên nhìn vào con đường phía trước, nheo mắt hỏi.
“Không dài lắm, chỉ tầm mười dặm đổ lại, đoán chừng đại quân lúc này hẳn đã ra khỏi khe núi rồi. Đoạn này khó đi nhất, Điền tướng quân nói, qua khỏi khe này, sẽ tới đường bằng.”
Bàng Quyên không nghi ngờ nữa, nói với tham tướng ở bên cạnh: “Thưởng hai quân sĩ đây mỗi người một đĩnh vàng, thả cho họ đi!”
Huynh đệ hai người dập đầu cảm tạ, nhận lấy hai đĩnh vàng, vội vã lủi vào trong cánh rừng bên cạnh, bất chấp chân đau, chuồn nhanh như mèo đêm.
“Thanh Ngưu tướng quân!” Bàng Quyên rút bảo kiếm, trỏ vào con đường núi trước mặt. “Truyền lệnh, dọn dẹp chướng ngại vật trên đường, dốc sức truy kích người Tề, bắt sống Điền Kỵ!”
Bàng Quyên vừa hạ lệnh, Thanh Ngưu không còn băn khoăn gì nữa, dẫn vài tướng sĩ lực lưỡng mở đường phía trước, xe ngựa theo sau. Tiến lên thuận lợi, đi khoảng mười dặm, quả nhiên thấy đường đã rộng hơn chút ít, hai xe có thể cùng đi, song còn lâu mới được coi là đường bằng, con đường vẫn bị kẹp giữa hai dãy núi thấp. Bàng Quyên cũng chẳng hề nghi ngờ, tiếp tục hạ lệnh tăng tốc truy kích.
Thanh Ngưu đánh xe đi thêm vài chục bước, đột nhiên thấy trên đường xuất hiện chướng ngại vật màu trắng lờ nhờ, giơ tay nhấc thử, hoá ra là xương ngựa. Ngước mắt nhìn lên, thấy con đường phía trước trắng rợn một màu, sai người đi dò la, thì ra tuyền là xương ngựa. Thanh Ngưu trong lòng giật thột, vừa sai binh sĩ dọn dẹp, vừa hồi bẩm Bàng Quyên. Bàng Quyên tiến lên phía trước, phóng mắt nhìn đi, quả nhiên rặt là xương ngựa, từng bộ từng bộ xếp nối tiếp nhau, trước mỗi bộ xương đều đặt một cái sọ ngựa.
Bàng Quyên chau tít đôi mày.
“Quái lạ thật đấy!” Thanh Ngưu vò đầu bứt tai nói. “Người Tề không thể giết ngựa ở đây, lấy đâu ra nhiều xương ngựa đến thế? Xem ra, không dưới vài trăm bộ.”
Chẳng hiểu vì sao, một cơn ớn lạnh bỗng trỗi dậy trong tâm can Bàng Quyên, chạy dọc sống lưng, khiến hắn bất giác rùng mình.
“Lẽ nào lần trước giết ngựa, quân Tề chưa ăn hết, nên mang theo tới đây?” Thấy Bàng Quyên không đáp, Thanh Ngưu hạ giọng nói khẽ, nửa như tự nhủ, nửa như giải thích, song lại lập tức phủ định. “Vậy cũng không đúng, nếu chưa ăn hết, mang theo thịt là được, còn chở theo xương làm gì? Dùng làm chướng ngại vật ư? Cũng không phải, chặt bừa mấy cây to ven đường, vần tới ít đá, còn tiết kiệm sức bằng mấy so với tha theo cả đống xương!”
Thanh Ngưu còn đang lẩm bẩm, bỗng một binh sĩ đi dọn xương ngựa hộc tốc chạy ngược lại, nói: “Báo cáo, phía trước có cây to chắn ngang đường, bên trên còn có chữ viết!”
Bàng Quyên vội vã chạy tới. Dưới ánh đuốc đám binh sĩ vừa châm lên, thấy rõ thân cây kia vốn dĩ mọc ở ven đường, chắc hẳn vừa bị đốn hạ, nằm chắn ngang đường, đoạn giữa thân cây bị cạo sạch vỏ, bên trên viết một dòng chữ: “Quân sư diệu đoán, đường Mã Lăng ba mươi dặm, bắt sống Bàng Quyên. Điền Kỵ.”
Nhìn thấy hàng chữ “Đường Mã Lăng ba mươi dặm”, Bàng Quyên mới sực tỉnh ra rằng đã bị hai tên lính kia lừa gạt, thì vỗ trán kêu lên: “Hỏng rồi!”
“Sao vậy?” Thanh Ngưu vội hỏi, thuận tay xoay chuyển trường thương, cảnh giác nhìn khắp tứ phía.
Bàng Quyên không trả lời, hai mắt trân trân nhìn vào những bộ xương ngựa la liệt đầy đường. Dưới ánh đuốc lờ mờ, những sọ ngựa trắng ởn ngỏng cao lạnh lẽo, giống như vô số ác ma đang hướng vào Bàng Quyên khiêu chiến.
Bàng Quyên hít ngược một hơi khí lạnh, trước mặt bỗng chốc hiện lên cảnh tượng trước khi xuống núi năm xưa, bên tai lại như văng vẳng lời nói của Quỷ Cốc Tử: “Hoa này tổng cộng có mười hai bông, ý chỉ con sẽ hưng thịnh mười hai năm. Hoa này hái ở Quỷ Cốc, thấy mặt trời mà héo úa, chữ ‘quỷ’ đặt cạnh chữ ‘uỷ’, ám chỉ nơi con thành công sẽ là nước Ngụy… Sau khi con hái được lại vứt đi, vứt đi rồi nhặt lại, là có hai lòng. Trước mặt lão hủ lại giấu giếm không nói, cho thấy con sau này ắt sẽ lừa dối người, cuối cùng bản thân lại bị lừa dối… Hoa này tên là mã đâu linh, ngựa thích ăn nó, nhưng dê thì không, vì vậy lão hủ tặng con một câu: ‘Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì tuyệt’…”
Nghĩ tới đây, tất cả những sự việc xảy ra sau khi xuống núi bỗng chốc nối tiếp nhau lướt nhanh qua trí não hắn. Bàng Quyên bất giác thầm kêu khổ trong lòng, lấy làm hối hận. Phải rồi, bây giờ nghĩ lại, đúng là muôn điều hối hận. Hối hận đã không tin vào chuyện bói hoa, ma xui quỷ khiến thế nào lại đi chọn mã đâu linh, mà thứ hoa hèn hạ này lại chỉ nở có mười hai bông. Hối hận đã xem thường lời dặn dò mà tiên sinh ban tặng trước khi ly biệt, “gặp dê thì vinh” đã ứng nghiệm rồi, vậy thì hắn phải đề phòng “gặp ngựa thì tuyệt” mới phải, tại sao hắn lại quên bẵng mất vào đúng thời khắc then chốt này? Tên hoa có chữ “mã” là ngựa, Tôn Tẫn lần trước dùng ngựa đánh bại hắn ở Quế Lăng. Lần này truy kích, trên đường gặp toàn xương ngựa, vừa rồi lại giẫm phải phân ngựa, ông trời đã liên tiếp cảnh báo, thế mà hắn lại… Than ôi, ngẫm nghĩ kỹ lại, tiên sinh đoán hắn sẽ hưng thịnh mười hai năm, nay đã hết kỳ hạn rồi, tiên sinh dùng từ “tuyệt”, xem ra là trời đã tuyệt đường hắn mất rồi…
“Thanh Ngưu!” Bàng Quyên giờ mới sực nhớ tới vài nghìn tướng sĩ, giật mình kinh hãi, vội vã truyền lệnh. “Ta đã trúng kế, mau, chạy khỏi khe núi!”
Thế nhưng, đã muộn mất rồi. Bàng Quyên còn chưa dứt lời, tiếng trống đã dồn dập tứ bề, tù và rúc vang, chỉ trong chốc lát, từ dãy núi hai bên, tên bắn rào rào như châu chấu. Quân Ngụy bị kẹt giữa đường hẹp, không kịp đề phòng, chắn đỡ không xuể, trúng tên ngã xuống như ngả rạ.
Ác mộng Quế Lăng tái hiện!
Thanh Ngưu không kịp nói năng, quát lên như sấm: “Mau, bảo vệ tướng quân!”
Nói rồi, đẩy mạnh Bàng Quyên tới bên một gốc cây to, lấy thân cây làm lá chắn, dùng thân mình và khiên che kín kẽ cho Bàng Quyên.
Đám lính Ngụy còn sống sót nghe tiếng cũng chạy lại, vây kín thành một vòng tròn lớn xung quanh Bàng Quyên, giơ khiên che chắn.
Trong khe núi, ánh lửa sáng rực tứ bề, muôn tên cùng bắn, tiếng kêu rú thảm thiết của lính Ngụy trúng tên, tiếng hô “bắt sống Bàng Quyên” dồn dập chấn động cả bầu trời đêm trên khe núi.
Khoảng cách chỉ chưa đầy ba mươi bước, hơn vạn xạ thủ của quân Tề hầu hết đều sử dụng nỏ mạnh cung cứng, giáp trụ của võ binh có dày đến đâu, khiên có chắc đến mấy cũng là vô ích. Mười dặm khe núi, chốc đã trở thành pháp trường đẫm máu. Chưa đầy nửa canh giờ, thương thay cho vài nghìn lính hổ bôn và hơn nghìn chiến mã, còn chưa kịp nhìn thấy mặt mũi quân Tề, đa phần đều đã bỏ mạng dưới tên sắc.
Xung quanh Bàng Quyên, lính Ngụy cầm khiên đã tử thương quá nửa, chỉ còn hơn chục người, vẫn đang liều mạng che chắn.
Quân Tề trùng trùng xuất hiện, bủa vây kín mít. Tên bắn như mưa, lửa đuốc sáng rực như ban ngày. Binh tướng Ngụy bên cạnh Bàng Quyên theo nhau ngã gục, cuối cùng chỉ còn lại Bàng Quyên và Thanh Ngưu, cũng đều đã trúng tên. Đặc biệt là Thanh Ngưu, khắp người tên găm chi chít như một con nhím khổng lồ, máu me bê bết, đến mắt cũng không mở nổi.
Một tràng cười vang lên, là tiếng của Điền Kỵ.
Trong vòng bảo vệ của chư tướng, Điền Kỵ tay cầm trường thương, từ trong lớp lớp xương ngựa tiến lại gần, giơ tay hô lớn: “Dừng bắn!”
Trận mưa tên lập tức dừng lại.
Điền Kỵ thủng thẳng bước từng bước về phía Bàng Quyên, còn cách hắn mười bước thì dừng lại, dài giọng mà hỏi: “Đây chẳng phải là Bàng tướng quân ư?”
Bàng Quyên lúc này đã trúng vài mũi tên, chống thương xuống đất, gắng gượng đứng dậy, quệt máu trên mặt, nhìn thẳng vào Điền Kỵ: “Tôn huynh đâu?”
“Tôn huynh?” Điền Kỵ cười nhạt một tiếng, chĩa thương vào hắn. “Ngươi hại quân sư ra nông nỗi này, còn mặt mũi mà gọi là Tôn huynh ư? Mau buông trường thương, giơ tay chịu trói!”
“Tôn huynh đâu?” Bàng Quyên cao giọng quát hỏi.
“Được!” Điền Kỵ lại cười nhạt một tiếng, nói. “Ngươi đã truy hỏi như vậy, Điền mỗ cũng sẽ giúp ngươi thoả lòng hiếu kỳ.” Rồi trỏ thương vào tầng tầng xương ngựa phía trước, “ở đây có năm trăm bộ xương ngựa, là Điền mỗ đã nghe theo lời dặn của Tôn huynh ngươi, cực nhọc chở theo tới tận đây. Tôn huynh của ngươi, và cả Tô huynh của ngươi nữa, đang bày tiệc rượu ở sau dãy xương ngựa này, kính chờ ngươi tới, để giúp ngươi tẩy trần!” Rồi tránh sang bên đường. “Bàng tướng quân, dù ngươi đã từng làm nhục bản tướng, song bản tướng độ lượng, lại nể tình quân sư và Tô tướng quốc năm lần bảy lượt cầu xin tha mạng cho ngươi, mới không so đo với hạng tiểu nhân như ngươi, mà nhường đường cho ngươi. Bàng tướng quân, mời!” Nói đoạn, quay sang quân sĩ. “Chư vị tướng sĩ, hãy nhường đường, đưa Bàng tướng quân tới nơi dự tiệc!”
Tướng sĩ lập tức theo nhau tránh sang bên đường.
“Ha ha ha!” Bàng Quyên cười dài một tràng, chẳng buồn ngó ngàng tới Điền Kỵ, nhìn thẳng vào con đường dằng dặc xương ngựa trắng rợn, không thấy điểm tận cùng. “Tôn huynh, Tô huynh, hai người hãy nghe đây, sư đệ Bàng Quyên xin đi trước một bước. Trước lúc lên đường, tại hạ có lời muốn nói với Tôn huynh. Huynh bị tẫn hình, là do tại hạ vu cáo hãm hại, chúng ta kết nghĩa, tại hạ lừa gạt huynh chỉ duy nhất lần này! Còn huynh giả điên một lần, giả chết một lần, là hai lần lừa tại hạ, cũng coi như đã hoà. Trận chiến hôm nay, và cả trận chiến Quế Lăng, Tôn huynh đã thắng, tại hạ thua rồi, tuy nhiên, tại hạ không phục, bởi Tôn huynh thắng ở chỗ tối, mà tại hạ thua ở chỗ sáng. Thất bại hôm nay, không phải do chiến lực, mà là ý trời diệt ta…” Nói đoạn ngửa cổ, gào lên thật lớn. “Ý… trời… diệt… ta…”
Khe núi giữa đêm khuya dội lại tiếng gào của Bàng Quyên, văng vẳng hồi lâu không dứt.
Tiếng vọng đã im bặt, khe núi lặng ngắt như tờ.
“Thanh Ngưu huynh đệ!” Bàng Quyên ném trường thương đi, nhìn thẳng vào Thanh Ngưu, vòng tay nói. “Là tại hạ đã làm liên luỵ tới huynh đệ và các tướng sĩ!” Nói đoạn, rút ngay bảo kiếm, cứa ngang cần cổ.
“Bàng tướng quân…” Thanh Ngưu rú lên một tiếng bi thiết, vứt thương xuống đất, quỳ sụp xuống, phủ phục lên người Bàng Quyên, hồi lâu không dậy.
Thình lình, Thanh Ngưu lảo đảo đứng dậy, hai tay bế xốc Bàng Quyên lên, loạng choạng bước từng bước về phía dãy xương ngựa dài dằng dặc. Hiển nhiên, hắn muốn đưa Bàng Quyên tới phía cuối con đường xương ngựa, đến chỗ hai vị huynh đệ, cũng đồng thời là đối thủ bình sinh.
Nhìn vào đệ nhất dũng sĩ nước Ngụy trên mình chi chít hơn chục mũi tên, áo giáp đẫm máu, quân Tề bên cạnh ai nấy phát run, cũng lấy làm kính phục, bèn kéo nhau đi theo sau hắn. Ngay cả Điền Kỵ mắt cũng ướt nhoà.
Một bước lại một bước, một bộ xương lại một bộ xương, Thanh Ngưu càng đi càng chậm. Cuối cùng, sau khi đã bước qua một trăm bộ xương ngựa, không biết vướng phải thứ gì mà ngã huỵch xuống đất.
Thanh Ngưu ôm chặt Bàng Quyên, muốn gượng đứng dậy, song hết lần này đến lần khác, đã dốc hết sức tàn mà vẫn không thể đứng lên.
“Bàng tướng quân!” Thanh Ngưu quỳ xuống đất, bật khóc thảm thiết. “Thanh Ngưu… hết sức rồi…”
Nói rồi, ngoái nhìn đám xạ thủ nước Tề phía sau lưng, gầm lên: “Bắn đi, lũ hèn!”
Đám xạ thủ không nỡ nhìn, đua nhau ngoảnh mặt đi chỗ khác.
Điền Kỵ lau nước mắt, cắm phập thương xuống đất, cầm lấy cung tên từ trong tay một binh sĩ, lắp tên, đi vòng tới trước mặt Thanh Ngưu, vái hắn một vái thật sâu, nói: “Thanh Ngưu tướng quân, bản tướng tác thành cho ngươi!” Rồi kéo căng dây cung, một tên xuyên thẳng giữa sống mũi.
Thanh Ngưu lảo đảo, rồi từ từ đổ gục xuống người Bàng Quyên.
Tận cùng đoạn đường xương ngựa là một bãi trống không quá rộng, vài ngọn đuốc chiếu sáng một tảng đá lớn bằng phẳng ở chính giữa bãi trống. Trên tảng đá, không bày thức ăn, không có đũa gắp, chỉ có ba bát rượu.
Tô Tần, Tôn Tẫn ngồi đối mặt nhau, im lìm như tượng. Hai cặp mắt đẫm lệ lấp loáng dưới ánh đuốc.
Bốn bề tĩnh lặng như tờ, tiếng dọn dẹp chiến trường trong khe núi nghe như vẳng đến từ một cõi khác.
Không biết đã qua bao lâu, Tô Tần gạt nước mắt, bưng bát rượu trước mặt lên, khẽ khàng tưới xuống đất, rồi ném cái bát không xuống mặt đá.
Tôn Tẫn cũng làm theo, tưới rượu, ném bát.
Chỉ còn một chiếc bát, vẫn đầy rượu, đơn độc phản chiếu ánh lửa đuốc sóng sánh trong bóng đêm lặng lẽ.