Mùa hè năm 1990, thế giới vẫn đang vui mừng trước sự kiện Chiến tranh Lạnh kết thúc và một thế giới mới, hòa bình đã mở ra trước mắt. Năm 1989 là một mốc thời gian đáng nhớ, một năm kỳ diệu khi trật tự thế giới thay đổi. Cuộc đối đầu Đông - Tây đã kết thúc. Chế độ Cộng sản ở Đông Âu đã sụp đổ cùng với bức tường Berlin, một biểu tượng của cuộc Chiến tranh Lạnh. Liên bang Xô Viết bắt đầu công cuộc thay đổi theo chiều sâu, không chỉ trên mặt trận kinh tế, chính trị mà còn ở lĩnh vực xã hội vốn bị những người theo chủ nghĩa dân tộc kìm hãm. Chế độ dân chủ đã được lập lại ở nhiều nước mà không lâu trước đó còn đang bị đàn áp tưởng như không bao giờ có thể vực dậy nổi. Một nước Đức thống nhất đã không còn là chủ đề tốn giấy mực và gây nhiều tranh cãi. Quốc gia này sẽ sớm trở thành một trong những thế lực lớn ở châu Âu. Nước Nhật lúc này đã là một trung tâm tài chính quyền lực trên thế giới. Trong tương lai, những cuộc đối đầu trên thế giới chắc chắn sẽ là những cuộc cạnh tranh về tiền tệ và thị trường. Một viễn cảnh đã hiện hữu rõ ràng đến nỗi mọi người còn cho rằng đó không chỉ đơn giản là kết thúc cuộc Chiến tranh Lạnh mà còn là “kết thúc một lịch sử.”
Dầu mỏ vẫn là yếu quan ngại lớn cho vấn đề môi trường, nhưng mặt khác vai trò của nó dần trở nên kém quan trọng, chỉ giống như những loại nhiên liệu, hàng hóa khác. Người tiêu dùng được hưởng lợi từ giá dầu thấp. Thực tế, đây là lần đầu tiên kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, chi phí xăng dầu mà những người sử dụng phương tiện giao thông ở Mỹ phải bỏ ra là thấp nhất. Những vấn đề có thể ảnh hưởng đến nguồn cung vẫn chưa có dấu hiệu xuất hiện, thêm nữa, lượng dự trữ dầu trên thế giới đã gia tăng mạnh, từ 670 tỷ thùng năm 1984 lên 1.000 tỷ thùng năm 1990.
Thế nhưng, giữa lúc thị trường đang ổn định, vẫn có những vấn đề cần phải xem xét thận trọng. Mặc dù trữ lượng dầu mỏ thế giới đã tăng đáng kể nhưng chủ yếu chỉ tập trung ở năm nước xuất khẩu dầu mỏ lớn ở khu vực Vùng Vịnh và Venezuela. Không có bất kì trữ lượng dầu mỏ lớn nào của một nước ngoài OPEC có khả năng góp phần vào hệ thống này giống như đóng góp của Alaska, Mexico, hay các nước khu vực Biển Bắc trong giai đoạn khủng hoảng 1973. Trữ lượng dầu mỏ của các nước Vùng Vịnh đã tăng tới 2/3 tổng trữ lượng dầu mỏ thế giới.
Trên phương diện kinh tế, tình hình dầu mỏ thế giới lúc này giống với những năm 1970, thời kỳ gây nên cơn sốt dầu năm 1973 hơn là những năm 1980. Thị trường dầu mỏ đang được thả lỏng hơn. Nguồn cầu đang tăng lên mạnh mẽ. Sản lượng dầu mỏ khai thác ở Mỹ từ cao điểm năm 1986 đến năm 1990 đã giảm 2 triệu thùng một ngày. Năm 1989, 10 trong số 13 quốc gia dầu mỏ OPEC có sản lượng thấp hơn mức kể trên. Lượng dầu mỏ nhập khẩu của Mỹ đã tăng tới mức cao nhất kể từ trước tới nay và vẫn không có dấu hiệu dừng lại. Thế giới lại phải phụ thuộc vào dầu mỏ ở Vùng Vịnh. Giới hạn an toàn, hay khoảng cách giữa nhu cầu và khả năng cung đã thu hẹp lại, điều này khiến cho thị trường trở nên dễ phải hứng chịu những cuộc xung đột và biến cố. Khoảng cách này vào thời kỳ đầu và giữa những năm 1980, khi Iran và Iraq xảy ra chiến tranh và giảm sản lượng khai thác, là rất lớn. Tuy nhiên, điều đó đến nay đã không còn.
Liệu giá dầu mỏ sẽ tăng đến đâu? Điều đó phụ thuộc vào mức độ tăng trưởng sản lượng trên toàn thế giới. Với giá thành hạ và nguồn cung đảm bảo, không có ai tính đến việc đề phòng những nguy cơ có thể xảy ra. Những nỗ lực nghiên cứu tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế trong thời điểm này càng trở nên mờ nhạt. Thêm vào đó, sự trì trệ diễn ra ở nhiều nước, thể hiện sự bất lực trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa vấn đề năng lượng và bảo vệ môi trường. Dù sao, khủng hoảng năng lượng đã là câu chuyện của quá khứ. Tại một phiên họp của Thượng viện Mỹ năm 1990, mọi người đã cho rằng khả năng xảy ra những biến động lớn trong thị trường dầu mỏ là rất thấp, ít nhất là trong vài năm tới. Một số người theo thuyết vị lai và các nhà phân tích đã tuyên bố vào mùa xuân năm đó rằng khủng hoảng năng lượng sẽ không thể xảy ra trong thập kỷ này.
Động thái của Iraq
Vào hồi 2 giờ sáng, ngày 2 tháng 8 năm 1990, ảo tưởng về sự ổn định đã tan biến. Một trăm ngàn quân Iraq bắt đầu xâm lược Côoét. Trước sự kháng cự yếu ớt của quân đội Côoét, xe tăng của Iraq đã nhanh chóng lăn bánh trên đường cao tốc sáu làn tiến vào thành phố. Vậy là cuộc khủng hoảng đầu tiên thời Hậu Chiến tranh Lạnh đã trở thành cuộc khủng hoảng dầu mỏ địa chính trị.
Trong vài năm trước đó, hầu hết các nước xuất khẩu dầu mỏ phải nỗ lực khôi phục lại mối quan hệ đã bị rạn nứt trong những năm 1970 với những nước tiêu thụ. Nhờ gia tăng trữ lượng dầu mỏ khổng lồ, các nước xuất khẩu đã không còn phải lo mình đang lãng phí nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt. Thay vào đó, các nước xuất khẩu một mặt muốn chứng minh họ là nhà cung cấp lâu dài và đáng tin cậy, mặt khác thuyết phục các nền công nghiệp trên thế giới nên coi họ là nguồn dự trữ năng lượng, đồng thời khẳng định dầu mỏ là loại năng lượng an toàn. Dầu mỏ cần thị trường và thị trường cần dầu mỏ, mối quan hệ qua lại đó là cơ sở để tạo dựng mối quan hệ ổn định, hòa thuận cho đến thế kỷ XXI.
Nhưng Iraq là một ngoại lệ. Nước này không che giấu thái độ thù địch ngay cả với những khách hàng của mình – các nước công nghiệp. Tháng 6 năm 1990, nhà độc tài Iraq, Saddam Hussein, đã cảnh báo với các nước phương Tây rằng Iraq có thể sẽ sử dụng dầu mỏ làm vũ khí một lần nữa. Mặc dù Saddam Hussein luôn tự cho rằng mình là người tiên phong, nhưng ông ta lại là một kẻ không thức thời, một kiểu người lạc hậu. Ông ta đã tự gắn mình với những luận điệu và nguồn cơn giận dữ mang màu sắc chủ nghĩa dân tộc vào những năm 1950 và 1960. Ông ta đã nói một trong những hình mẫu lý tưởng của ông là Joseph Stalin ngay cả khi những nước Đông Âu và khối Xô Viết đang cố gắng thoát khỏi tàn dư của thói đạo đức giả và những nỗi kinh hoàng mà thời Stalin để lại. Saddam Hussein đã tạo ra một kiểu sùng bái cá nhân riêng.
Không chỉ những bức chân dung lớn và hình ảnh của ông ta được đặt khắp nơi ở Iraq mà bản thân ông ta cũng tự hào thừa nhận sự hiện diện của mình vào năm 1990, một tháng trước cuộc xâm lược Côoét rằng, “Saddam Hussein sẽ xuất hiện trên mọi hộp sữa ngon dành cho trẻ em và trên cả những chiếc áo khoác mới của người Iraq.” Ông ta cũng có “danh tiếng” của riêng mình trong cách hành xử thô bạo. Đã có những cuốn băng được lưu truyền rộng rãi ở Trung Đông về một cuộc gặp mặt mà ở đó Hussein đã thanh trừng những kẻ chống đối, và cả thân thể của những sỹ quan quân đội đã bị xử treo trên giá. Quân đội của Hussein đã dùng khí độc để đối phó với cả người Iran lẫn những người phụ nữ và trẻ em theo đạo Kurd trên đất nước của ông ta. Vào cuối tháng 9 năm 1990, khi một vị khách đến từ Phương Tây hỏi thẳng ông ta về tai tiếng của những vụ việc vô nhân đạo đó, ông ta đã nhẹ nhàng trả lời rằng: “Sự yếu đuối sẽ không thể đảm bảo cho việc đạt được những mục tiêu mà người lãnh đạo đặt ra”
Cho đến năm 1985, Iraq đã là một quốc gia đi đầu trong việc mua trang thiết bị quân sự và cũng là nước rất tích cực trong các chiến dịch mua bán và phát triển vũ khí, đứng đằng sau là cả một mạng lưới mua bán quốc tế rộng khắp và bí mật. Dù Israel đã phá hủy cơ sở sản xuất nhiên liệu hạt nhân của Hussein vào năm 1981 nhưng ông ta vẫn nhất quyết theo đuổi con đường chế tạo vũ khí hạt nhân và thậm chí, còn khoe khoang về việc phát triển kho vũ khí sinh học. Iraq lúc này là một nhà nước khép kín, nhưng mục tiêu của Saddam Hussein lại rất rõ ràng: chinh phục thế giới Arập, bá quyền ở Vùng Vịnh, biến Iraq thành một thế lực thống trị dầu mỏ, và sau cùng sẽ biến nước Iraq vĩ đại thành thế lực quân sự toàn cầu. Nhưng Iraq lúc này cũng đang gặp phải những khó khăn tài chính. Cuộc chiến tranh Iran - Iraq mà Saddam Hussein gây ra khiến nửa triệu người chết và bị thương, cuối cùng cũng kết thúc trong bế tắc. Nhưng đất nước 18 triệu dân này lại đang phải gồng mình để nuôi lực lượng quân đội lên tới một triệu người. Hussein muốn đẩy giá dầu lên cao và Iraq nhanh chóng phải dành ra 30% tổng thu nhập quốc nội chi dung cho bộ máy chiến tranh của Saddam và thậm chí Iraq còn lùng sục khắp thế giới để mua những loại vũ khí mới, kì quái, thế nhưng nước này vẫn không chịu trả các khoản nợ quốc tế.
Vào tháng 6 năm 1990, Iraq đã đưa 100.000 quân tới biên giới Côoét, nước đang có chiến lược hạ giá dầu. Đội quân này được xem là quân cờ trong cuộc chiến tâm lý, một công cụ mới của Saddam Hussein – kẻ đòi hỏi và áp đặt để đảm bảo rằng những nước như Côoét và các tiểu vương quốc Arập phải tôn trọng hạn ngạch của họ đồng thời ép giá dầu của OPEC phải tăng. Sau một thời gian do dự, Côoét đã phản ứng lại. Chính quyền Amir đã bất ngờ thay thế Bộ trưởng dầu mỏ Côoét, người đã hứng chịu nhiều nhất sự chỉ trích gay gắt của Iraq; và cùng với các tiểu vương quốc Arập kiểm soát sản lượng cũng như tuân thủ hạn ngạch của OPEC. Tính đến giữa tháng 6 năm 1990, chỉ còn duy nhất một nước vẫn gian lận, xuất khẩu quá mức hạn ngạch của OPEC. Đó chính là Iraq, nước tự cho mình quyền đòi hỏi OPEC. Theo suy đoán của nhiều người, quân đội Iraq cũng được dùng để đe dọa, buộc Côoét phải nhân nhượng trong cuộc tranh chấp vùng lãnh thổ có nhiều mỏ dầu và giao lại hai hòn đảo cho Iraq. Nhưng Baghdad còn có tham vọng lớn hơn. Đó là xâm lược và nuốt chửng toàn bộ Côoét. Và những gì đang xảy ra chỉ là bước dạo đầu trong chiến lược thâu tóm đó. Quân đội đã có mặt. Đó là bằng chứng cho những tham vọng và đe dọa xóa sổ đất nước nhỏ bé này. Có lẽ quân đội khó có thể nghĩ rằng họ bị lợi dụng cho mục đích này. Những lời cảnh báo khẩn vào phút cuối của các chuyên gia tình báo đã không được đếm xỉa đến do Saddam đã hứa hẹn với một số nhà lãnh đạo, trong đó có Tổng thống Ai Cập Mubarak và Vua Hussein của Jordan rằng ông ta sẽ không có ý định cho bất cứ hành động thù địch nào. Thất bại, Hoàng gia Côoét phải chạy trốn, đất nước rơi vào tay Iraq. Côoét đã tồn tại hơn hai thế kỷ nhờ sự khôn khéo và biết cách tỏ ra thân thiện và tránh đụng chạm tới quyền lực với các nước khác. Ngay cả khi quân đội Iraq tiến tới biên giới, Côoét vẫn nghĩ họ nghĩ có thể tránh được cuộc đối đầu như đã làm từ trước đến nay. Nhưng lần này, họ đã tính toán sai lầm.
Khủng hoảng Vùng Vịnh
Để biện minh cho hành động của mình, Hussein đã đưa ra một loạt các lý do và nguyên nhân. Ông ta tuyên bố rằng về mặt pháp lý, Côoét thuộc về Iraq và tuyên bố các nước đế quốc Phương Tây đã chia cắt khu vực này khỏi Iraq. Thực tế, nhà nước Côoét ra đời từ năm 1756, khoảng hai thập kỷ trước khi Hoa Kỳ công bố nền độc lập, và tất nhiên, rất lâu trước khi nhà nước Iraq hiện đại hình thành trên cơ sở gộp ba tỉnh vốn trước đó thuộc về đế chế Ottoman trong suốt bốn thế kỷ, và trong nhiều thế kỷ trước đó thuộc về nhiều đế chế khác nhau.Iraq đã cho rằng chính người Anh đã vẽ ra biên giới giữa Iraq và Côoét để phủ nhận quyền lợi cũng như dầu mỏ của Iraq. Trên thực tế, biên giới được thống nhất tại hội nghị 1922 (hội nghị đã lấy đi của Côoét 2/3 lãnh thổ) chỉ là bản copy biên giới mà người Thổ Nhĩ Kỳ đã thống nhất vào năm 1913, trước Chiến tranh thế giới thứ nhất. Hơn nữa, vào năm 1922, các chuyên gia cho rằng Côoét không có dầu mỏ.
Năm 1980, khi bắt đầu khai chiến với Iran, Saddam Hussein đã có những tính toán sai lầm chết người, một trong số đó đã suýt lấy mất vị trí của nhà độc tài này: ông ta cho rằng chỉ mất vài tuần là có thể hạ gục Iran. Đó là tính toán sai lầm và Iraq chỉ chút nữa đã bị thất bại. Một thập kỷ sau, năm 1990, ông ta lại nghĩ có thể nhanh chóng nuốt chửng Côoét và đặt thế giới vào “sự đã rồi.” Iraq cùng lắm là chịu vài lời chỉ trích và sẽ không có ảnh hưởng gì lớn. Như vậy, cùng một lúc, ông ta có thể giải quyết vấn đề tài chính một cách nhanh chóng và sẽ có đủ kinh phí trang trải cho quân đội cũng như những tham vọng chính trị của mình. Saddam Hussein sẽ là người hùng của thế giới Arập, Iraq sẽ là thế lực dầu mỏ số một và dù muốn hay không, các nước Phương Tây cũng phải cúi đầu trước Saddam.
Nhưng một lần nữa ông ta đã nhầm. Thật không thể ngờ rằng, cộng đồng thế giới và đa số các nước Ả Rập lại thống nhất và đoàn kết với nhau để chống lại âm mưu này. “Cuộc xâm lược sẽ không kéo dài đâu,” George Bush đã tuyên bố như vậy chỉ vài ngày sau khi xảy ra cuộc chiến. Và ông đã bắt tay vào hành động. Bush đã sử dụng mối quan hệ cá nhân với các nhà lãnh đạo mà ông đã phát triển trong suốt hơn 20 năm để chống lại Iraq. Điều này đã gặt hái được nhiều thành công trong lĩnh vực ngoại giao hơn những gì mà Saddam Hussein và rất nhiều người khác có thể ngờ tới. Mãi cho đến lúc đó, Liên Xô vẫn là một đồng minh, và Iraq đã không nhận ra quan điểm của Liên bang Xô Viết và những vấn đề mà nước này quan tâm đã có thay đổi lớn. Liên hợp quốc đã làm những việc mà trong những năm 1930 điều này là không thể, đó là ban hành lệnh cấm vận trừng phạt hành động xâm lược đó. Nhưng toan tính của Iraq vẫn chưa dừng lại ở Côoét. Thái độ của quân đội Iraq và cách mà họ hành động cho thấy nước này đang tấn công vào các mỏ dầu của Ả Rập. Lo ngại trước tình thế Arập Xêút có thể là nạn nhân tiếp theo trong danh sách của Hussein, nhiều nước đã khẩn cấp điều động quân đội tới khu vực này. Quân đội Mỹ chiếm đa số lực lượng để thực hiện lời cam kết bảo đảm trong lá thư mà Harry Truman gửi Ibn Saud vào năm 1950.
Nhiều khả năng cuộc khủng hoảng sẽ để lại những hậu quả nặng nề trong những năm 1990 và cả thế kỷ XXI. Nếu có được Côoét, Saddam Hussein sẽ nắm giữ 20% sản lượng của OPEC và 20% trữ lượng dầu mỏ thế giới, và sẽ là mối hiểm họa đối với các quốc gia láng giềng cũng như những nước xuất khẩu dầu mỏ lớn khác. Ông ta sẽ có tầm ảnh hưởng lớn đến khu vực Vùng Vịnh, sẽ có đủ cơ sở vật chất để quay lại cuộc chiến với Iran. Ông ta cũng sẽ có được sự tự chủ kinh tế để có thể tiến hành các bước tiếp theo.
Sau sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết, thế giới chỉ còn lại một siêu cường, đó là nước Mỹ. Nắm được Côoét sẽ mở đường cho Iraq trở thành một siêu cường thứ hai. Mười một năm trước đó, bốn trong năm nước xuất khẩu dầu mỏ lớn ở Vùng Vịnh đều thân phương Tây. Với việc Côoét thuộc về Iraq, sẽ có hai nước xuất khẩu giữ thiện chí với Liên Xô. George Bush đã nhận định tóm lược về những hiểm họa có thể xảy ra như sau: “Công việc của chúng ta, cuộc sống của chúng ta, sự tự do của chúng ta và của các nước bè bạn trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới rơi vào tay Saddam Hussein.”
Những cuộc tranh luận ở các nước phương Tây chủ yếu tìm kiếm một lý do để giải thích nguyên nhân khiến Bush đã phản ứng như vậy. Cũng như nhiều sự kiện lớn khác, không khó để có câu trả lời. Sự xâm lược, vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trật tự thế giới thời Hậu Chiến tranh Lạnh đều là tâm điểm được suy xét. Trong nước Mỹ tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Một số đã cảnh báo về một Việt Nam khác và Mỹ sẽ lại rơi vào tình cảnh sa lầy. Trong khi bản thân George Bush cho rằng sẽ cố gắng tránh “Việt Nam thứ hai”, George Bush cũng chỉ là một sản phẩm của thế hệ ông và của chính kinh nghiệm bản thân ông. Bush nghĩ về khoảng thời gian cuối những năm 1930, về Adolf Hitler và những căn nguyên của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Sinh mạng của 50 triệu người đã bị cướp đi trong cuộc chiến tàn khốc đó. Nếu Hitler bị ngăn chặn ngay ở Rhineland năm 1936 hay ở Cộng hòa Séc-Slovakia năm 1938 – thời điểm nước này có nhiều xe tăng hơn Đức thì con số thương vong có thể đã không lớn đến vậy. Một lần nữa, lại xuất hiện một kẻ độc tài dối trá, kẻ cai trị đất nước theo kiểu độc đoán và chuyên chế, kẻ bị ám ảnh bởi vũ khí và quyền lực, kẻ có tham vọng dường như không giới hạn. Học thuyết Ba’th đã cho thấy cơ sở để Iraq có thể vươn xa hơn biên giới hiện tại của mình. Một nước Iraq mạnh hơn, nước Iraq đã thành công trong việc xâm chiếm Côoét, sẽ dễ dàng bước tiếp trên con đường trở thành quốc gia nắm giữ vũ khí hạt nhân.
Đây mới là ý nghĩa thực sự của dầu mỏ, cách mà dầu mỏ có thể được quy đổi ra tiền và quyền lực: chính trị, kinh tế, quân đội. Saddam Hussein hiểu rằng có được Côoét đồng nghĩa với việc Iraq có thêm 10% trữ lượng dầu mỏ thế giới, điều này cực kỳ có lợi. Có được Côoét, Iraq sẽ là thế lực dầu mỏ số một hành tinh. Và những nhà sản xuất dầu mỏ khác sẽ chiều theo các mệnh lệnh của Saddam, đúng như những gì đã từng làm vào mùa hè năm 1990, trước khi cuộc xâm chiếm xảy ra. Ông ta sẽ có được tiếng nói quyết định đối với nền kinh tế thế giới. Giới lãnh đạo kinh tế và chính trị sẽ cố gắng tranh thủ cảm tình của Saddam Hussein. Hoạt động mua sắm vũ khí ngày càng được đẩy mạnh. Các nhà cung cấp hăm hở rót vào thị trường lớn nhất này các loại vũ khí và công nghệ tối tân nhất, sẵn sàng giao hàng tận nơi ngay khi có yêu cầu. Nhưng điều này không làm cản trở Saddam Hussein, người vốn được trang bị đầy đủ các bí quyết sản xuất vũ khí hóa học và hạt nhân. Ông ta nóng lòng muốn biến Iraq thành trung tâm quyền lực trong khu vực và nếu có thể, mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra toàn cầu. Sẽ rất tai hại và nguy hiểm nếu ai đó có ý định ngăn cản ông ta. Rõ ràng là, sau cuộc Chiến tranh Lạnh vào đầu năm 1990, thế giới đã đổi khác và trở nên ít nhân đạo hơn là người ta hy vọng hay tưởng tượng. Rốt cuộc, dầu mỏ là nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng này, hay nói một cách chính xác hơn, dầu mỏ là yếu tố then chốt trong cán cân quyền lực toàn cầu kể từ sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Đây là một trong những bài học đắt giá nhất của thế kỷ XX.
Cuộc khủng hoảng dầu mỏ mới
Do sự chia rẽ và cấm vận, bốn triệu thùng dầu đột ngột bị cắt giảm khỏi thị trường dầu thế giới ngang với quy mô cắt giảm của cuộc khủng hoảng năm 1973 và 1979. Tình thế rất bấp bênh và cũng như các cuộc khủng hoảng trước đây, các công ty và khách hàng thấy không an toàn, họ đua nhau xây dựng nguồn dự trữ. Giá dầu tăng đột biến, còn thị trường tài chính thì tụt dốc thảm hại. Đây thực sự là một cuộc khủng hoảng dầu mỏ mới, cuộc khủng hoảng thứ sáu kể từ sau chiến tranh.
Cuộc xâm chiếm của Iraq đã đẩy tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa vào cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử. Vấn đề đặt ra bây giờ không phải là giá dầu mà là chủ quyền và sự tồn vong của dân tộc đang bị lâm nguy. Hầu hết các thành viên trong tổ chức đều thống nhất tăng cường sản xuất để bù lại phần sản lượng dầu thiếu hụt do Côoét và Iraq cắt giảm, siết chặt sự cô lập với Iraq và đồng thời củng cố cam kết của tổ chức với khách hàng.
Giá dầu tăng mạnh không chỉ bởi lượng cung cấp dầu bị sụt giảm mà còn do sự lo lắng, nỗi sợ hãi và trạng thái đề phòng trước cuộc chiến. Cuối tháng 9 năm 1990, khi Hussein đe dọa phá huỷ hệ thống cung cấp dầu của Arập Xêút, giá dầu trên thị trường kì hạn nhảy vọt lên 40 đô-la một thùng, gấp đôi giá trước cuộc khủng hoảng. Giá dầu tăng cao càng đẩy mạnh sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ. Khi giá dầu thô tăng, đương nhiên giá xăng dầu cũng tăng, kèm theo đó là những cuộc điều tra nghiên cứu và những lời chỉ trích. Tuy nhiên, thời gian này, khác với những năm 1973 và 1979, không hề có sự phân phối hay kiểm soát nào từ phía Chính phủ Mỹ để ngăn cản những phản ứng của thị trường. Các công ty xăng dầu không bị ảnh hưởng lớn cũng như chịu sự rối loạn đáng kể nào về nguồn cung cấp.
Hệ thống cung cấp dầu toàn cầu phải đáp ứng nhu cầu khẩn thiết tăng sản lượng dầu và hạn chế giá dầu tăng cao. Đến tháng 12 năm 1990, lượng dầu thiếu hụt đã được bù đắp bằng lượng dầu “cứu viện” từ các nguồn khác. Arập Xêút đã chủ động sản xuất 3 triệu thùng dầu mỗi ngày, bù đắp 3/4 lượng dầu thiếu hụt. Các nguồn cung cấp khác là Venezuela và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất. Không những thế, bất cứ quốc gia nào có khả năng tăng sản lượng tới 25 nghìn hay 50 nghìn thùng dầu mỗi ngày cũng gấp rút nâng cao sản lượng.
Cùng thời gian này, nhu cầu về dầu mỏ dần giảm sút vì Mỹ và các quốc gia khác đang rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế. Mặc dù Cơ quan năng lượng quốc tế đã không khởi động chương trình an ninh năng lượng khẩn cấp, tổ chức này vẫn giữ vai trò hàng đầu trong việc điều phối không chính thức.
Từ viễn cảnh tình hình dầu mỏ nêu trên, một câu hỏi lớn được đặt ra. Liệu Mỹ có sử dụng nguồn Dự trữ dầu mỏ chiến lược (SPR) trong trường hợp gián đoạn cung cấp dầu ngày càng tăng? Nguồn dự trữ này được tạo lập từ giữa những năm 1970 và bây giờ Mỹ đang nắm trong tay khoảng 600 triệu thùng dầu. Vài tháng gần đây, đã diễn ra một cuộc tranh luận mạnh mẽ xung quanh vấn đề “mục đích sử dụng SPR”. Nguồn dự trữ này chỉ được dùng khi xảy ra “thiếu hụt thực tế” hay nhằm ngăn chặn sự biến động mạnh về giá, điều mà có thể dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế. Một số người cho rằng thiếu hụt thực tế có thể xảy ra khi giá dầu ở mức 20 đô-la một thùng, nhưng sẽ bị loại trừ khi giá dầu ở mức 40 đô-la một thùng, mặc dù tại thời điểm này, việc giá dầu tăng gấp đôi sẽ là đòn giáng mạnh vào nền kinh tế. Tháng 10 năm 1990, cuộc tranh luận đã đi đến quyết định. Với tình hình cuộc chiến như hiện nay, nguyên tắc “giải tỏa sớm” sẽ được áp dụng dưới sự hậu thuẫn của chính quyền Reagan và SPR đã có thể rót dầu vào thị trường, ngăn chặn việc tăng giá dầu đột ngột, điều đã từng xảy ra vào những năm 1973 và 1979.
Đến cuối thu, tình hình cung cầu đã được cải thiện dần và giá dầu bắt đầu hạ xuống. Tuy nhiên, khi mà cuộc khủng hoảng kéo dài tới tận mùa đông, vẫn còn đó câu hỏi chưa có lời đáp: Chuyện gì sẽ xảy ra nếu cuộc chiến thực sự bắt đầu?
Những tính toán sai lầm
Câu hỏi đó tỏ ra không phù hợp, khi mà viễn cảnh về cuộc xung đột ngày càng trở nên hiện thực. Mặc cho sự lôi kéo và những thủ đoạn ngoại giao của các con tin phương Tây, Iraq không có mấy dấu hiệu cho thấy họ sẽ rút khỏi Côoét. Thoạt nhìn, có vẻ Saddam Hussein đang rất mạo hiểm nhưng ông ta không nghĩ thế. Ông ta hành động vào thời điểm ông ta cho là phù hợp. Iraq nhanh chóng nuốt chửng Côoét bằng những trò khủng bố tàn bạo và trục xuất người dân Côoét ra khỏi đất nước họ. Hussein tin rằng ông ta có thể tồn tại lâu hơn và làm mất nhuệ khí của bộ máy liên minh cồng kềnh đang chống lại mình. Vào năm 1956 khi cuộc khủng hoảng Suez xảy ra, Hussein 19 tuổi và ông ta được chứng kiến Nasser đã chia cắt liên minh phương Tây thành công như thế nào. Hussein tin rằng ông ta hoàn toàn có thể làm suy yếu cái liên minh cồng kềnh đang chống lại ông ta, và ông ta sẽ tồn tại lâu hơn nó. Ở một nơi nào đó, Hussein sẽ có cơ hội để chơi “quân bài Israel”và từ đó có thể buộc các quốc gia Arập phải rời bỏ liên minh. Hoặc ông ta cũng có thể tiến hành đàm phán và gây mầm chia rẽ. Hay ông ta có thể rút lui khỏi Liên bang Xô Viết. Với thời gian, Hussein tin rằng ông sẽ tìm ra kế sách hợp lý hoặc đơn giản hơn, hoặc liên minh có thể tự tan rã. Mỹ đã thua Việt Nam trong chiến tranh, hơn thế, họ đã rút lui vội vã khỏi Li Băng sau cái chết của vài trăm lính thuỷ đánh bộ vào năm 1983. Tất cả những điều này khiến Hussein ngờ vực quyết tâm của người Mỹ.
Chính quyền Bush cũng nhận thấy thời gian đang chống lại liên minh 33 quốc gia này. Liệu mặt trận chung này sẽ tồn tại được bao lâu? Sự ủng hộ sẽ kéo dài bao lâu? Và cần bao nhiêu thời gian để Saddam Hussein triệt phá Côoét và đồng hóa nó hoàn toàn? Liên bang Xô Viết đang trong tình trạng không ổn định, hệ thống chính trị bị đặt dưới một sức ép rất lớn. Nhưng quân đội Xô Viết lại có mối liên hệ mật thiết với Iraq. Liệu Liên bang này có rời bỏ liên minh để quay về với Iraq hay không? Và phải mất bao lâu để công chúng Mỹ ủng hộ lời cam kết đã được công bố từ ngày 2 tháng 8?
Chính quyền Bush không mấy vui vẻ khi phải chia sẻ quan điểm với Saddam Hussein rằng cuộc khủng hoảng càng kéo dài thì cơ hội đạt được mục đích của ông ta càng lớn. Đến cuối tháng 10, đầu tháng 11, Chính phủ Mỹ quyết định liên minh cần phải tăng cường bảo vệ Arập Xêút, phải luôn trong tình thế sẵn sàng tấn công. Mùng 8 tháng 10, Bush điều thêm quân đến vùng Vịnh “để đảm bảo liên minh có thể lựa chọn được đội hình tấn công hiệu quả nhất”. Điều đó đồng nghĩa với việc phải tăng gấp đôi lực lượng quân đội Mỹ tại khu vực này.
Tuy nhiên, chỉ có sự tuyên truyền chứ không có một động tĩnh nào từ phía Baghdad. Saddam Hussein đã lợi dụng con số thương vong 500 nghìn người Iraq trong cuộc chiến Iran-Iraq, nếu so sánh trên bình diện dân số thì tỷ lệ thương vong này tương đương với 7,5 triệu người chết ở Mỹ. Đó là hậu quả từ những sai lầm của chính Hussein, nhưng ông ta là người hiếm khi chịu thừa nhận lỗi lầm. Thực vậy, ông đã cho xây dựng một công trình vĩ đại để kỷ niệm chiến thắng cuộc chiến Iran-Iraq, hai bàn tay khổng lồ đang cầm hai thanh gươm lấy mẫu từ hai bàn tay của ông. Và trong khi tiếp tục gây ra thương vong ngày càng lớn cho binh lính của mình, Hussein tin rằng nước Mỹ sẽ không thể nào chấp nhận một tỷ lệ thương vong nào dù là nhỏ nhất. Ông ta lên mặt kẻ cả với Mỹ và cho rằng dân tộc này rặt một lũ người mềm yếu, uỷ mị. Saddam đã bộc lộ suy nghĩ đó trong chuyến viếng thăm của đại sứ Mỹ tại Iraq vào cuối tháng 7 đầu tháng 8 ngay trước khi cuộc chiến nổ ra. Ông ta đã khinh khi tuyên bố rằng Mỹ “là nước không thể chịu nổi 10 nghìn cái chết trong một trận chiến” và còn khoe khoang cách sử dụng vũ khí hóa học. Nhưng Hussein đã không xem xét nghiêm túc những động thái rõ ràng từ các nước thành viên trong liên minh và ông ta tiếp tục đánh giá thấp George Bush. Saddam Hussein lại tiếp tục phạm sai lầm.
Giờ đây, như những gì đã xảy ra trong thế kỷ XX, mọi việc lại diễn ra theo đúng trình tự khách quan của chúng. Ngày 29 tháng 10, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết 678, dành cho Iraq một “khoảng thời gian để Iraq bày tỏ thiên chí” – cho đến 15 tháng 1 năm 1991 – để tuân theo nghị quyết 600 và rút quân khỏi Côoét. Nói cách khác, “tất cả các phương tiện cần thiết” đã được huy động để đảm bảo sự ưng thuận từ phía Iraq. Rất nhiều các nhân vật công chúng, từ cựu thủ tướng các nước thành viên trong liên minh, các ứng cử viên tổng thống Đảng Dân chủ đến những người đã nghỉ hưu đã tập trung đến Baghdad để ủng hộ kế hoạch hòa bình và giúp giải phóng con tin. Đến tháng 12, Saddam đã trả tự do cho vài trăm con tin nước ngoài, hy vọng hành động này có thể làm giảm bớt quyết tâm của liên minh. Nhưng mọi việc không theo đúng như Hussein dự đoán, đặc biệt là khi những thông tin về sự tàn ác bạo ngược của quân đội Iraq ở Côoét đã lan rộng ra toàn thế giới.
Tiếp tục những giây phút chờ đợi. Tại tòa báo và đài truyền hình ở khắp nơi trên thế giới, người ta thành lập các phòng thông tin để cung cấp tin tức chiến tranh. Các biên tập viên và nhà sản xuất đều tìm cách triển khai đội ngũ nhân viên để lấy tin từ cuộc xung đột vũ trang này. Và cho dù nhiều người không tin rằng về cơ bản, các kế hoạch của liên minh đều đã được triển khai. Lẽ phải sẽ chiến thắng. Saddam Hussein buộc phải tìm cho mình một lối thoát, bỏ lại lãnh đạo quân đồng minh đứng ngây ngô.
Ngày 9 tháng 1 năm 1991, Ngoại trưởng Mỹ James Baker đã có cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao Iraq Tariq Aziz tại Sans-serif. Sự bế tắc liệu có được phá vỡ? Sau sáu giờ đối thoại, ông Baker kiên quyết đứng lên và tuyên bố ông không hề nhận thấy một sự nhân nhượng nào từ phía Iraq và Baghdad lại sắp mắc phải một sai lầm thảm hại khác. Baker đã cố gắng đưa lá thư riêng của Tổng thống Bush cho Aziz nhờ chuyển cho Hussein nhưng Aziz đã từ chối nhận nó.
Thứ bảy ngày 12 tháng 1, sau cuộc thảo luận kéo dài 3 ngày, Quốc hội Mỹ ra quyết định chính thức tiến hành chiến tranh với tỷ lệ phiếu bầu khá sít sao, 52/47 ở Thượng viện và 250/183 ở Hạ viện. Nhiều người đã bỏ phiếu ủng hộ quyết định này nhưng với thái độ hờ hững, và vẫn còn tiếp tục có ý kiến kêu gọi kéo dài lệnh trừng phạt. Sự phản đối lan rộng ở Hoa Kỳ và những cuộc biểu tình chống lại quyết định của liên minh diễn ra khắp Tây Âu. Tổng thống Bush dường như đơn thân độc mã và bị cô lập.
Ngày 15 tháng 1, hạn chót đã đến và đã qua đi. Không hề có việc rút quân nào, đúng hơn là chỉ có một sự im lặng rùng rợn. “Khoảng lặng thiện chí” đã trôi qua. Liên minh sẽ không lạm dụng quyền hạn của mình? Điều đó phụ thuộc vào George Bush. Có thể tổng thống sẽ cho thêm một vài tuần hoặc thậm chí một tháng và để mọi chuyện được xử lý theo pháp luật. Ngày 16 tháng 1, Bush nói chuyện với 2 mục sư. Và ông đã cảnh báo trước công chúng rằng nếu Iraq không chịu rút lui thì đòn đánh trả của liên minh đối với hành động xâm lược Côoét của Iraq sẽ rất nhanh và nặng nề. Quả đúng như thế. Sáng sớm ngày 17 tháng 1, theo giờ Vùng Vịnh, 700 máy bay của liên minh đã mở đầu cuộc tấn công lớn vào Iraq.
Nguyên nhân của mọi cuộc chiến
Cuộc khủng hoảng vùng Vịnh cuối cùng đã dẫn đến chiến tranh, mặc dù theo nhận định của một số người, chiến tranh đã thực sự bắt đầu kể từ khi Iraq xâm chiếm Côoét vào ngày 2 tháng 8. Cuộc chiến trên không chỉ kéo dài một tháng với những đòn tấn công có hệ thống vào trung tâm điều khiển và bộ tư lệnh của Iraq, lực lượng quân sự hùng hậu và các mục tiêu chiến lược. Đối với lực lượng không quân Hoa Kỳ, ngạc nhiên lớn nhất không phải là việc các máy bay và tên lửa của liên quân đã đánh bại khả năng phòng ngự của không quân Iraq mà là việc họ đã chiến thắng quá nhanh chóng và quá dễ dàng, chỉ có một vài tổn thất nhỏ về máy bay.
Quy mô và ảnh hưởng của cuộc tấn công bằng máy bay vào đêm đầu tiên là nguyên nhân chính dẫn đến những phản ứng từ thị trường dầu mỏ. Ban đầu, giá dầu, đúng như dự kiến, tăng 10 đô-la một thùng, từ 30 đô-la tăng lên 40 đô-la. Tuy nhiên, chỉ trong vòng vài giờ, giá dầu đã giảm mạnh tới 20 đô-la – chỉ còn 20 đô-la một thùng, thấp hơn cả trước thời điểm xảy ra cuộc chiến. Tình hình cung cấp dầu tiếp tục được cải thiện. Nguồn dự trữ dầu mỏ chiến lược sẽ được dùng đến khi cần thiết. Nhu cầu về dầu cũng đang đi xuống vì đã qua giai đoạn khắc nghiệt nhất của mùa đông. Những cuộc tấn công đầu tiên bằng máy bay đã làm Iraq hoàn toàn mất khả năng gây ra bất cứ một tổn thương nghiêm trọng nào đối với hệ thống cung cấp dầu của Arập. Do đó, nỗi sợ giá dầu tăng được dẹp bỏ và thực tế tình hình cung cầu khi đó đã khiến giá dầu hạ xuống. Kết quả là, ngay những ngày đầu tiên của cuộc chiến, nguyên nhân về giá dầu đã đươc loại bỏ, điều mà tưởng chừng như không thể chỉ trong 2-3 tháng trước đây.
Người Iraq đối phó với cuộc chiến trên không bằng một cuộc không chiến riêng của họ. Họ bắn loại tên lửa Soviet Scud vào Israel và Arập Xêút. Có lẽ họ hy vọng rằng tấn công vào Israel là một cách xúi giục nước này tham gia chiến tranh, khi đó Iraq có thể chia rẽ được các thành viên trong liên minh Ả Rập, đồng thời, tạo nên tình thế bấp bênh cho Arập Xêút. Hoặc có thể, Iraq sẽ châm ngòi sớm cho một cuộc chiến trên bộ với quân liên minh vốn được chuẩn bị yếu kém. Nhưng người Israel, dưới sức ép rất lớn,vẫn không nổ súng. Những cuộc tấn công bằng tên lửa Scud lúc đầu đã gây nên một nỗi kinh hoàng vì người ta sợ chúng mang theo chất độc hóa học. Nhưng, như thực tế đã chứng minh, khả năng tàn phá của loại tên lửa này rất hạn chế.
Chiến tranh trên không vẫn tiếp diễn. Saddam Hussein hứa hẹn rằng cuộc chiến tàn khốc nhất sẽ khởi đầu khi chiến sự diễn ra trên mặt đất. Nhưng năm tuần sau khi bắt đầu cuộc không chiến, khi cuộc chiến trên bộ xảy ra, thì quân đội Iraq đã phải chuốc lấy thất bại thảm hại. Binh lính Iraq nản lòng thoái chí. Bị áp lực của cuộc không chiến, ràng buộc bởi các học thuyết tôn giáo nhưng không phải tất cả họ đều sẵn sàng hiến mình cho vinh quang của Saddam Hussein.
Thêm vào đó, các nước đồng minh đã biết áp dụng những mánh khoé một cách bậc thầy. Tổng tư lệnh Mỹ tại Vùng Vịnh, tướng Norman Schwarzkopf giữ một cuốn sách do Erwin Rommel, một viên tướng người Đức viết. Rommel không chỉ giỏi về chiến tranh lưu động mà còn là bậc thầy về nghệ thuật đánh nhau trên sa mạc. Và ông cũng là người đầu tiên ở Nam Mỹ nghiên cứu về tầm quan trọng mang tính chiến lược của dầu mỏ. Schwarzkopf đã tiếp thu một cách say mê những bài học chiến lược này và ông không có ý định tấn công trực tiếp vào Iraq. Schwarzkopf đã từng nhận xét: “Một cuộc chiến tranh trên sa mạc là một cuộc chiến nguy hiểm chết người và biến đổi khôn lường.” Schwarzopf đã vạch ra một chiến dịch chi tiết, gồm nhiều các hoạt động tập trận, và thuyết phục Iraq tin rằng quân đồng minh sẽ tấn công phủ đầu ngay lập tức bằng một cuộc tấn công quy mô lớn của thuỷ quân lục chiến. Cùng thời gian đó, lực lượng quân đội chủ yếu bí mật rút sâu vào sa mạc Saudi và khi cuộc chiến trên bộ bắt đầu, họ quây thành đường hình cung rộng từ phía tây, tiến đến ngay đằng sau vị trí quân Iraq cố thủ, nhanh chóng kết thúc cuộc chiến. Cuộc chiến tranh trên cạn không dài hơn 100 giờ đồng hồ và kết thúc bằng việc rút toàn bộ quân Iraq.
Nhưng lực lượng quân đội của Saddam gây ra một vụ tràn dầu, cho đến nay là vụ lớn nhất trong lịch sử. Họ rút khỏi Côoét mang theo lòng thù hận và mong muốn báo thù. Nếu Hussein không thể có được Côoét, ông ta sẽ tìm mọi cách để phá huỷ nó. Khác với quân đội Hitler đã từ chối thi hành mệnh lệnh của Fuehrer năm 1944 – đốt cháy Paris trước khi rời khỏi thủ đô, các binh lính của Hussein đã dìm Côoét trong biển lửa. Hơn 600 giếng dầu bị đốt, tạo nên một cảnh tượng kinh hoàng với lửa, khói và bóng tối hòa quyện vào nhau. Môi trường bị huỷ hoại nghiêm trọng. Sáu triệu thùng dầu đã bị đốt cháy, nhiều hơn lượng dầu nhập khẩu một ngày của Nhật và gần bằng lượng dầu nhập khẩu của Mỹ.
Lệnh ngừng bắn có hiệu lực từ 28 tháng 2 năm 1991. Trong khi đó, đã xảy ra các vụ nổi loạn trong cộng đồng người Shia ở vùng đông nam Iraq và ở người Kurd ở phía nam Iraq (những người mà quê hương của họ, do triển vọng dầu mỏ, đã bị Iraq chiếm đóng, kể từ khi vùng đất này được phát hiện vào năm 1920.) Hai cuộc nổi loạn xảy ra ở những nơi tập trung hoạt động sản xuất dầu mỏ và đã bị Iraq dập tắt một cách tàn nhẫn khiến hàng triệu người phải trở thành dân tị nạn. Các đối tác đồng minh trông chờ vào lực lượng quân đội sẽ nhanh chóng lật đổ Saddam Hussein bằng một vụ đảo chính. Nhưng liên minh đã đánh giá thấp “cái đầu” của Hussein và khoản tiền khổng lồ ông ta bỏ ra nhằm mua lấy sự an toàn cho bản thân. Mặc cho những hậu quả nặng nề đã gây ra cho chính quê hương mình sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh, Saddam Hussein vẫn bám lấy quyền lực. Chỉ có điều, ông ta đã không còn bộ máy quân sự để tấn công.
Chúng ta đã thực sự vượt qua được cuộc khủng hoảng Vùng Vịnh hay chưa? Điều này vẫn chưa thể có câu trả lời chính xác. Tuy nhiên, một điều chắc chắn là chiến tranh kết thúc sẽ làm nảy sinh nhiều câu hỏi mới: Tổ chức chính trị của Iraq và vấn đề ai (lực lượng nào) sẽ lãnh đạo Iraq; vấn đề an ninh trong toàn bộ vùng lãnh thổ, kèm theo đó là vấn đề an ninh dầu mỏ; sự tái thiết đất nước và tương lai của Côoét; triển vọng hòa bình Trung Đông; mối quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu thụ dầu mỏ; đặc điểm của chiến lược và chính sách năng lượng; và tương lai phát triển của dầu mỏ sẽ như thế nào?
Hướng tới tương lai
Thế giới của chúng ta đang liên tục thay đổi nhờ công nghệ và sự sáng tạo. Hai yếu tố này đã kết hợp cùng nhau dẫn đến trào lưu tin học hóa, truyền thông toàn cầu, và “nền kinh tế thông tin” hiện nay tồn tại song song với “nền kinh tế công nghiệp” kế thừa từ thế kỷ XIX. Các yếu tố đóng vai trò dẫn đầu và linh hoạt trong nền kinh tế hiện đại giờ đã phải nhường chỗ cho cái mà người Nhật gọi là nền công nghiệp tri thức. Tuy nhiên, dầu mỏ vẫn giữ vai trò là động lực thúc đẩy xã hội công nghiệp phát triển và là huyết mạch của nền văn minh; là ngành kinh doanh lớn nhất thế giới, ngành hàng rủi ro cao nhưng đem lại lợi nhuận khổng lồ. Dầu mỏ vừa là yếu tố hỗ trợ vừa là nguồn gốc xung đột giữa kinh doanh cá thể và tập thể, giữa doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp tư nhân. Dầu mỏ cũng là nguyên nhân chủ đạo của việc tranh giành quyền lực, điều đã được chứng minh qua cuộc khủng hoảng Vùng Vịnh năm 1990, 1991. Hơn nữa, dầu mỏ còn đóng vai trò chính trong nền kinh tế thế giới, là nguồn gốc của chiến tranh, xung đột cũng như gây ảnh hưởng đến các quyết định liên quan tới những vấn đề toàn cầu.
Chuyện gì sẽ xảy ra vào những năm tiếp theo? Có thể nhận thấy tương lai đầy rủi ro của dầu mỏ và toàn xã hội. Nhưng chắc chắn, một trong những bài học rút ra từ lịch sử phát triển dầu mỏ là sẵn sàng cho những việc không lường trước, những “bất ngờ”. Điều này thấy rõ ngay sau cuộc khủng hoảng Vùng Vịnh. Bạo lực, chiến tranh, rủi ro kỹ thuật, bùng nổ chính trị, nhu cầu về kinh tế, cùng những xung đột xã hội, tư tưởng, tôn giáo và dân tộc – tất cả đều có thể dẫn đến những bất ngờ gây ảnh hưởng đến thị trường dầu mỏ. Nhưng những biến cố không lường trước này còn có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác. Ví dụ như sự thay đổi lớn trong mô hình phát triển kinh tế thế giới, hay có thể là một bước ngoặt kỹ thuật trong việc khám phá ra nguồn năng lượng thay thế khiến cho tầm quan trọng của dầu mỏ bị giảm sút. Nguồn năng lượng mới này có thể do người Mỹ hay người Nhật phát hiện ra. (Cuối những năm 1980, ngân sách chi dùng cho hoạt động nghiên cứu và phát triển năng lượng của Nhật Bản nhiều hơn cả Mỹ). Hơn thế nữa, điều bất ngờ còn có thể do khủng hoảng về ô nhiễm môi trường gây ra những biến đổi to lớn trong nền kinh tế năng lượng. Hoặc Liên bang Xô Viết có thể là nhân tố tạo nên bất ngờ cho toàn thế giới.
Hệ thống chính trị của Liên bang Xô Viết có ảnh hưởng quan trọng đến nguồn năng lượng thế giới. Xô Viết là nhà cung cấp dầu mỏ lớn nhất thế giới với sản lượng năm 1989 gấp đôi Arập Xêút. Quốc gia này cũng đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu dầu mỏ, chỉ sau Arập Xêút. Từ thế kỷ XIX, nguồn dầu mỏ dồi dào của Nga đã có tác động đáng kể đến nền kinh tế toàn cầu, khi sự phát triển của nền công nghiệp dầu mỏ ở Azerbaijan quanh Baku đã phá vỡ sự o bế của Công ty Standard Oil và trở thành nhà độc quyền ở Tây Pennsylvania. Cuộc cách mạng 1905 đã làm gián đoạn nguồn cung cấp dầu đáng kể này. Chiến dịch tăng cường xuất khẩu của Bolshevik những năm 1920 đã làm nổ ra cuộc chiến giá trên toàn cầu và dẫn tới cuộc họp bàn tại lâu đài Achnacarry ở Scotland năm 1928 và hiệp định "As-Is."
Ngày nay, thu nhập từ xuất khẩu dầu (và gas) của Liên bang Xô Viết đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế quốc gia. Đó là nguồn thu nhập chính, chiếm tới 60% ngân sách dùng để chi trả cho việc nhập khẩu kỹ thuật và lương thực. Nhưng nền công nghiệp dầu mỏ của Xô Viết cũng đang rơi vào vòng xoáy khủng hoảng bắt nguồn từ sức sản xuất thấp, khâu tổ chức kém, kỹ thuật lạc hậu, lãng phí và gây ô nhiễm môi trường. Chuyên gia Liên Xô, ông Thana Gustaston nhấn mạnh: “Kể từ giữa những năm 1970, chính sách năng lượng là yếu tố duy nhất cản trở nền công nghiệp Xô Viết và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây sa sút và kìm hãm kinh tế đất nước phát triển.” Có thể thấy rõ rằng năng lượng là một trong những trở ngại lớn nhất đối với cải cách kinh tế. Những khó khăn chồng chất và sự cắt giảm các khoản đầu tư đã cho thấy tình trạng sụt giảm sản lượng dầu mỏ ‒ điều được dự đoán trước đó đã thực sự bắt đầu. Sản lượng khai thác tuột dốc rất nhanh. Và nếu sản lượng xuất khẩu dầu cũng giảm đáng kể thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, không chỉ riêng đối với nước Nga mà kể cả nền kinh tế thế giới cũng bị ảnh hưởng.
Nền công nghiệp dầu mỏ của Xô Viết đang phải gánh chịu cuộc khủng hoảng và xã hội đã dần mất lòng tin vào chính quyền. Hiện tại, Liên bang Xô Viết đang nôn nóng muốn đưa vốn và công nghệ của các nước phương Tây vào khai thác gas và dầu mỏ. Điều này làm chúng ta nhớ đến Lenin, trong Dự án kinh tế mới đầu những năm 1920, ông đã sẵn sàng đặt “một phần tư Baku” lên bàn cân của cuộc bán đấu giá quốc tế. Động thái này khiến các công ty phương Tây rất quan tâm. Liên bang Xô Viết có nguồn dữ trữ khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới và họ tin rằng các mỏ dầu của liên bang cũng dồi dào như thế. Nhưng các công ty này, thực tế là các công ty thuộc các nước công nghiệp phát triển, gặp phải trở ngại do có sự rối loạn, những xung đột chính trị, sự nhầm lẫn, không chắc chắn, và rủi ro chứa đựng tại Xô Viết. Vấn đề năng lượng của liên bang cũng bị ảnh hưởng bởi các xung đột sắc tộc đã bùng nổ và lan rộng trên toàn quốc do sự buông lỏng quản lý của nhà nước. Trái với những ngày đầu của thế kỷ XIX, khi Baku là một trong hai nguồn cung cấp dầu mỏ chính trên thế giới. Ngày nay, Azerbaijan của Cộng hòa Xô Viết chỉ cung cấp được gần 3% tổng sản lượng dầu của liên bang, nhưng vẫn là nguồn dịch vụ và cung cấp chính cho nền công nghiệp toàn quốc. Và cuộc nội chiến nổ ra giữa người Azeris và người Armenia năm 1989 đã dẫn tới những vụ bạo lực đẫm máu vào những năm 1904, 1905. Những cuộc xung đột sắc tộc này cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng khai thác dầu mỏ, dẫn tới lượng dầu xuất khẩu bị giảm mạnh. Lo lắng về việc Xô Viết xuất khẩu quá nhiều dầu mỏ vào thị trường thế giới ‒ khuấy động nhiều sự kiện quan trọng trong lịch sử dầu mỏ ‒ có thể chuyển thành sự quan ngại về việc thiếu hụt dầu mỏ nghiêm trọng vào những năm 1990. Tuy nhiên, nếu tiếp tục phát triển, Liên bang Xô Viết có thể trở thành quốc gia xuất khẩu dầu mỏ tầm cỡ.
Liệu chúng ta đã chuẩn bị tốt để đối phó với những bất ngờ và khủng hoảng mới trong tương lai? Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, có thể thấy rõ là các công ty đang và sẽ không thể tự giải quyết được các nếu tiếp tục có khủng hoảng, và vai trò giải quyết này phải do chính phủ đảm nhận. Những năm sau này, các nước công nghiệp phát triển đã xây dựng hệ thống an ninh năng lượng gần Bộ Năng lượng quốc tế và phát triển các kho dự trữ chiến lược như kho dự trữ dầu chiến lược của Mỹ và những kho khác tương tự ở Đức hay Nhật Bản. Các kho này có vai trò dự phòng khi lượng dầu khai thác sụt giảm và đối phó với khủng hoảng. Cơ quan năng lượng quốc tế đã đưa ra kế hoạch phối hợp hành động và trao đổi thông tin nhanh chóng, chính xác giữa các quốc gia. Đây là điều kiện thiết yếu để đương đầu với khủng hoảng. Những năm xảy ra khủng hoảng dầu mỏ trong quá khứ đã chứng minh rằng cùng với thời gian, thị trường sẽ tự điều chỉnh và phân phối. Giai đoạn đó cũng đã chứng minh chính phủ làm rất tốt để kìm hãm sức cám dỗ tức thì muốn điều khiển và quản lý vi mô thị trường. Đương nhiên, các chính phủ sẽ rất khó cưỡng lại tác tình trạng không chắc chắn cao, hoảng loạn đang diễn ra và những cáo buộc cứ thế leo cao. Thế nhưng một loạt sáu vụ khủng hoảng lớn từ những năm 1950 đến 1991 đã cho thấy hệ thống cung cấp và hậu cần có thể tự điều chỉnh đến một mức độ nào đó mà tình trạng thiếu hụt sẽ có cái kết bớt thê thảm hơn người ta dự kiến. Trên thực tế, vấn đề thực trong thập kỷ 1970 hóa ra không phải là tình trạng thiếu hụt trầm trọng, mà là sự sụp đổ của hệ thống cung cấp và tình trạng hỗn loạn về quyền sở hữu dầu lửa, cùng với việc vội vã lập lại trật tự hệ thống trong điều kiện không chắc. Năm 1990 và 1991, bài học rút ra từ những cuộc khủng hoảng trước, cùng với cơ chế được thiết lập từ những năm 1970 và nguồn thông tin được cải thiện đã khiến tác động của vụ sụp đổ đi kèm với khủng hoảng Vùng Vịnh bớt trầm trọng.
Thậm chí nếu kinh nghiệm chỉ ra cách thức phản ứng hiệu quả hơn, vẫn có những câu hỏi quan trọng khác. Trong cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970, hệ thống chính trị của nước Mỹ đã bị tê liệt khi phải đối mặt với một trong những vụ sụp đổ lớn nhất và tốn kém nhất của thời kỳ hậu chiến tranh. Giận dữ, chỉ điểm, giơ đầu chịu báng – tất cả thay thế cho quá trình hình thành thái độ phản ứng hợp lý trước một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng. Tất nhiên, vụ Watergate là một phần nguyên nhân gây nên tình trạng này. Mặc dù vậy, thái độ phản ứng rời rạc, gây tranh cãi được tô điểm với ham muốn theo đuổi của một nhóm người xung đột về quyền lợi đặc biệt cũng là một lý do để cân nhắc về cách thức đối phó của nước Mỹ, thậm chí sau giai đoạn khủng hoảng Vùng Vịnh, kéo dài đến tình trạng khủng hoảng và nhu cầu năng lượng trong tương lai.
Trật tự mới
Saddam Hussein đã từng cảnh báo với cả thế giới rằng ông có thể tìm cách để giương vũ khí dầu lửa ra một lần nữa. Tuy nhiên, trong tình tiết diễn biến mới mẻ, mỉa mai thay, vũ khí đã chống lại chính ông khi Liên Hợp Quốc ra lệnh cấm vận xuất khẩu dầu lửa từ Iraq và nước Côoét bị chiếm đóng. Và ai sẽ sử dụng quyền lực dầu lửa hiệu quả nhất trong tương lai: các công ty dầu lửa, nước sản xuất, chính phủ của nước người tiêu dùng, hay thậm chí có thể là chính bản thân người tiêu dùng? Mặc dù nhờ vào quy mô và giàu có, các công ty dầu lửa tư nhân vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ, tuy nhiên các công ty này đã mất đi sức mạnh đã từng được coi là vô song của mình. Thời đại của những Rockefeller, Teagle và Deterding đã quá xa. Ở Mỹ, trong suốt thế kỷ XX, các công ty dầu lửa trở thành mục tiêu bị săm soi, nghi ngờ và không đáng tin cậy. Nguyên chủ tịch của ARCO, ông Robert O.Anderson đã nói: “Nền công nghiệp dầu lửa giống như một con nai sừng tấm Bắc Mỹ cố trốn trên một vùng đất cằn cỗi.” Và chỉ riêng hiện thực đó cũng sẽ tiếp tục kiềm chế quyền lực của những người khổng lồ trong ngành công nghiệp này.
Trong thời kỳ hoàng kim trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai, các công ty dầu lửa đa quốc gia quả thực dường như có những biểu hiện đặc trưng của một quốc gia có chủ quyền: có những điều khoản giao dịch riêng, đám đông quần chúng tận tuỵ, có ngân khố làm lu mờ tất cả hầu hết các quốc gia khác, có chính sách ngoại giao và thậm chí cả hạm đội máy bay riêng. Đó là thời kỳ khi các quốc gia sản xuất dầu lửa vẫn yếu kém hoặc vẫn là nước thuộc địa, và khi chỉ có một số ít công ty có quyền thâu tóm công nghệ, hậu cần, thị trường, vốn và quan điểm toàn cầu. Và đó là thời điểm các công ty được Chính phủ Anh và Mỹ hậu thuẫn mạnh mẽ hay ít nhất là có vẻ như được hậu thuẫn. Những năm sau chiến tranh, sự thống trị của các công ty lớn, và sức mạnh của họ lại tiếp tục được củng cố nhờ đặc điểm của trật tự tổng thể thế giới sau chiến tranh trong đó Mỹ là nước dẫn đầu.
Tuy nhiên, quyền lực của các công ty đã bắt đầu suy yếu vào cuối những năm 1950 với phong trào giải phóng thuộc địa và sự xuất hiện của các công ty mới – “những nhà vô địch quốc gia” châu Âu do nhà nước quản lý và các doanh nghiệp độc lập ở Mỹ – trong lĩnh vực dầu lửa thế giới. Vương quốc Anh từ chỗ nắm giữ quyền lực thống trị bị chuyển thành quốc gia đi mua dầu lửa luôn ám ảnh về cán cân thanh toán. Hệ thống chính trị Pháp bị suy sụp nặng nề do phong trào giải phóng thuộc địa cho đến khi nước này tìm được một vai trò mới ở châu Âu. Quyền lực và tầm ảnh hưởng của chính nước Mỹ đối với trật tự thế giới – cũng như khả năng duy trì trật tự – đã bị suy yếu trong thập kỷ 1960 và 1970. Thậm chí trong khoảng thời gian này các nước sản xuất dầu lửa còn giành được nhiều quyền lực hơn từ tay các công ty phương Tây thông qua việc ký kết các thỏa thuận mới hoặc thông qua quá trình quốc hữu hóa và tước đoạt thẳng thừng. Vậy nên, đến đầu những năm 1990, quyền lực chính trị của các công ty dầu lửa quốc tế lớn đã bị suy giảm đi rất nhiều, mặc dù vai trò thương mại, thậm chí chính trị của các công ty này vẫn còn tương đối quan trọng. Thế nhưng các công ty này không còn phản ánh ý muốn của một người nắm quyền duy nhất hoặc không thể được ví như con bạch tuộc nguy hiểm chết người. Thay vào đó, các công ty này trở thành những tập đoàn rất lớn với tư tưởng quan liêu, quản lý rủi ro trong phạm vi cơ cấu của tập đoàn và phân bổ các nguồn lực tài chính lớn, phục vụ chính phủ quốc gia với tư cách là người thầu khoán, tự sản xuất vì lợi ích cho riêng mình ở Mỹ, Biển Bắc và một số khu vực khác, huy động kỹ thuật công nghệ từ khắp nơi trên thế giới đồng sở hữu các nhà máy lọc dầu và trạm xăng.
Trong lúc đó, “nhân tố độc lập” ở Mỹ trở thành một thứ như kiểu động vật sắp bị tuyệt chủng, ít nhất là trong nửa cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, khi các mỏ dầu lửa của Mỹ không được rót vốn. (Như thể đặt dấu chấm hết cho sự suy tàn của các công ty độc lập ở Mỹ, chương trình truyền hình có tên “Dallas” đã kết thúc vào tháng 5 năm 1991, sau khi phát sóng được 13 phần.) “Bảy chị em” của Enrico Mattei – thực ra là 8, kể cả nhà vô địch nước pháp, CFP – cũng bị đặt dấu chấm hết. Gulf trở nên lu mờ, trong khi hầu hết các công ty khác – không chỉ các tập đoàn lớn mà ngay cả những công ty nhỏ, song vẫn được coi là công ty dầu lửa quốc tế rất lớn – đã trải qua giai đoạn rút lui và thu hẹp quy mô, rút khỏi rất nhiều khu vực. Lực lượng lao động bị cắt giảm từ cấp quản lý cấp cao cho đến “người bơm xăng” – khi đó 80% xăng được bán ở Mỹ là do khách hàng tự bơm tại các trạm xăng tự phục vụ. Thêm vào đó, chương trình nghị sự đã thay đổi. Có lẽ thách thức duy nhất, lớn nhất đối với toàn bộ nền công nghiệp không nằm ở vấn đề cung hay cầu, cũng không phải là mối quan hệ giữa các công ty và chính phủ, mà chính là việc đáp ứng được những yêu cầu môi trường ngày càng khắt khe trong khi vẫn phải tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ truyền thống của người cung cấp năng lượng. Và sự thật mới mẻ này đã đẩy toàn bộ nền công nghiệp vào thế phòng ngự.
Sau Chiến tranh Lạnh, một trật tự thế giới sẽ được lập lại triệt để. Có vẻ như các quốc gia tư bản phương Tây cùng với nó là hệ thống các doanh nghiệp tư nhân lại giành được vị trí dẫn đầu. Tuy nhiên, khó có thể đưa các công ty dầu lửa quay trở lại vị trí đầy quyền lực trước đây. Bởi vì dầu lửa ngày càng trở nên “giống với các hàng hóa khác,” nên nền công nghiệp dầu lửa cũng trở nên “giống với các lĩnh vực kinh doanh khác.”
Thế nhưng trong những năm 1970, các nhà xuất khẩu đã thu được quyền lợi dầu lửa gì mà có vẻ như sẽ lập lại trật tự kinh tế và chính trị thế giới? Kể từ khi Tờ-rớt Standard Oil sụp đổ năm 1911, lợi nhuận và quyền lợi trong nền công nghiệp không phải bắt nguồn từ dưới (lọc và tiếp thị dầu lửa) lên, mà là từ trên (sở hữu và quản lý dầu lửa trong lòng đất) xuống. Và điều này có nghĩa là các công ty nhà nước ở các nước xuất khẩu dầu lửa giành được vị trí hàng đầu như ngày nay. Đó là những tập đoàn đa dạng – chẳng hạn như Saudi Aramco, Petroleos của Venezuela, Pemex ở Mexico, công ty dầu mỏ của Côoét, Pertamina, Statoil ở Na Uy. Thế nhưng có lẽ quyền lực dầu lửa không lớn như những gì người ta tưởng tượng. Mặc dù trong những năm 1970, sở hữu dầu lửa được coi là điều kiện thiết yếu của quyền lực toàn cầu, song thành công trong lĩnh vực kinh tế của Tây Đức và một số nước ở khu vực Thái Bình Dương đã chứng minh hoàn toàn khác trong những năm 1980. Rút cuộc, Nhật Bản, cường quốc kinh tế mới, nhập khẩu hơn 99% nhu cầu dầu mỏ của nước này. Các nước xuất khẩu dầu lửa đã quốc hữu hóa cổ phần của các công ty Mỹ ngay trong phạm vi lãnh thổ của họ, thế nhưng giờ đây, chính các hãng bất động sản của Nhật, chứ không phải là các công ty xuất khẩu dầu lửa, mới là chủ sở hữu tòa nhà Exxon Building ở thành phố New York và ARCO ở Los Angeles. Sự suy vong của triều đại Vua Tư Ba ở Iran, hiện thân của quyền lực dầu lửa ở thập kỷ 1970, đã khẳng định việc tính toán quy mô và tuổi thọ của quyền lực dầu lửa phức tạp hơn rất nhiều so với những gì người ta tưởng tượng. Và trong những năm 1990, bằng một cách khác, người Côoét đã hiểu ra những giới hạn của quyền lực dầu lửa khi phải đối mặt với các loại quyền lực khác.
Vậy thì, liệu rằng quyền lực dầu lửa có phải chỉ là ảo tưởng hay là một sản phẩm của sự tổng hợp các hoàn cảnh kinh tế, chính trị và hệ tư tưởng? Liệu rằng đó có phải là một hiện tượng xưa cũ hay nó sẽ chứng minh là một hiện tượng bất di bất dịch xảy ra theo chu kỳ của đời sống quốc tế? Quyền kiểm soát, hay ít nhất là khả năng tiếp cận với các nguồn dầu lửa phong phú từ lâu đã trở thành một phần thưởng chiến lược. Chẳng có gì nghi ngờ về điều này. Phần thưởng đó giúp cho các quốc gia tích luỹ của cải, tiếp sức cho nền kinh tế, sản xuất và cung cấp hàng hóa và dịch, phát triển, mua, và sản xuất vũ khí để giành thắng lợi trong chiến tranh. Thế nhưng nó cũng có thể là một phần thưởng được đánh giá quá cao. Hơn nữa, chính hiện thực về một thế giới phụ thuộc vào dầu lửa cũng sẽ trở thành vấn đề cần phải bàn đến.
Làn sóng môi trường thứ ba
Thậm chí ngay khi thế giới tiếp tục chuyển hướng sang dầu mỏ và nền kinh tế sống dựa vào dầu mỏ, một thách thức mới đối với Xã hội Hydrocarbon đã nổi lên, lần này là từ bên trong, báo trước một trở ngại lớn có thể sẽ ảnh hưởng tới ngành công nghiệp dầu mỏ và cuộc sống của chúng ta sau này. Thế giới công nghiệp hiện đang phải đối mặt với sự trở lại của phong trào bảo vệ môi trường. Trước hết phải kể đến làn sóng đầu tiên, cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, chú trọng đến không khí trong lành và nước sạch cũng như có được nhãn hiệu danh tiếng “Sản xuất tại Mỹ” và phong trào này được gắn với nhãn hiệu “Sản xuất tại Mỹ”. Phong trào này có liên quan rất lớn đối với vấn đề năng lượng bởi nó thúc đẩy sự chuyển đổi nhanh chóng từ than đá sang dầu mỏ, là một trong những yếu tố chính thắt chặt thị trường dầu mỏ thế giới một cách nhanh chóng, tạo ra bối cảnh cho cuộc khủng hoảng năm 1973. Trong những năm 1970, khi vấn đề ổn định trở nên quan trọng hàng đầu và khó khăn kinh tế buộc phải chú trọng đến việc làm và hiệu quả sản xuất thì phong trào môi trường đã ít nhiều mất đi động lực. Làn sóng thứ hai thu hẹp hơn, tập trung và dành nhiều quan tâm đến việc làm chậm lại hay dừng hẳn chương trình phát triển năng lượng hạt nhân. Nó đã thành công khi tham gia vào hầu hết các công ty công nghiệp chính, đưa ra những thay đổi mang tính quyết định đối với những gì được coi là yếu tố quan trọng chống lại cuộc khủng hoảng dầu mỏ. Bằng cách này, phong trào đã đạt được thành công ở hầu hết các quốc gia công nghiệp lớn, thay đổi quyết định đối với vấn đề được cho là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu mỏ.
Làn sóng thứ ba bắt đầu nổi lên mạnh mẽ vào những năm 1980 và đang dần tới cao điểm. Nó tạo được sự ủng hộ rộng khắp, vượt qua những khác biệt về truyền thống, dân tộc và tư tưởng bè phái. Đây là một hiện tượng quốc tế, phát sinh rất mạnh ở châu Âu cũng như Bắc Mỹ, mà mối quan tâm của họ chủ yếu là các tác động xấu đến môi trường, từ việc phá bỏ rừng nhiệt đới cho tới xử lý các phế phẩm. Tóm lại, đó là việc quan tâm đến số phận của hành tinh chúng ta.
Có lẽ sự kiện mang tính quyết định duy nhất châm ngòi cho làn sóng môi trường mới xảy ra vào tháng 4 năm 1986, khi những người điều khiển lò phản ứng hạt nhân Chernobyl, ở Ukrane không thể ngăn ngừa thảm họa. Lò phản ứng bị tan chảy một phần và những đám mây bụi phóng xạ đã trào ra ngoài, theo gió phát tán ra một vùng rộng lớn trên lục địa châu Âu. Phản ứng đầu tiên của Chính phủ Xô Viết là phủ nhận và cam đoan rằng báo cáo về thảm họa hạt nhân chỉ là trò lá cải của các phương tiện báo chí phương Tây. Tuy nhiên, nhiều ngày trôi qua, tin đồn về sự náo loạn tại nhà ga Kiev, những cuộc di tản hàng loạt, những xác chết và thảm họa đã lan đến tận Matxcơva. Quốc tế gia tăng chỉ trích. Đến lúc đó, bức màn che đậy sự thật vẫn chưa được dỡ ra, càng làm tăng thêm những phỏng đoán về thảm họa khủng khiếp. Cuối cùng, hơn hai tuần sau tai nạn, Tổng thống Mikhail Gorbachev xuất hiện trên truyền hình. Bài phát biểu của ông hoàn toàn không giống với phát biểu của một nhà lãnh đạo Xô Viết và khác biệt hoàn toàn so với cách mà Kremlin thường thể hiện với người dân cũng như cộng đồng thế giới. Không hề có sự tuyên truyền, không có sự phủ nhận, trong bài phát biểu, thay vào đó, là sự thừa nhận nghiêm túc rằng tai nạn thảm khốc thực sự đã xảy ra, nhưng hiện các bước kiểm soát đang được tiến hành. Chỉ lúc ấy, người dân Liên Xô và thế giới mới nhận ra tình hình thực tế nguy hiểm đến thế nào. Một số người trong giới lãnh đạo Xô Viết sau đó đã nhận định rằng Chernobyl đã tạo nên một bước ngoặt chính trị lớn đối với Liên bang Xô Viết bằng việc cải tổ kinh tế chính trị ở nước này và thực hiện công khai hóa. Những người ở Tây Âu trước đây từng đổ lỗi cho chủ nghĩa tư bản phương Tây về những hiểm họa môi trường giờ buộc phải xem xét lại quan điểm của mình. Chernobyl, với mối đe dọa tiềm ẩn chết người và những lời cảnh báo về nguy cơ không kiểm soát được công nghệ đã tạo nên một cú hích mạnh cho sự xuất hiện làn sóng bảo vệ môi trường mới. Tại Mỹ, một sự kiện khác khá quan trọng đã xảy ra mặc dù mức độ rủi ro tới sức khỏe và cuộc sống con người không bằng hiện tượng Chernobyl. Tình huống xuất hiện trong vòng bốn phút sau nửa đêm, vào ngày Thứ Sáu tuần Thánh, ngày 24 tháng 3 năm 1989, khi tàu dầu siêu tải Exxon Valdez đâm sầm vào mỏm đá Bligh Reef ở Prince William Sound của Alaska, làm tràn 240 nghìn thùng dầu vào nguồn nước tại khu vực đó. Chi phí làm sạch lên tới 2 tỷ đô-la và Mỹ không làm được gì để xóa vụ tai nạn Valdez khỏi bản đồ chính trị. Sự kiện này đứng đầu trong hàng loạt những mối quan ngại khác. Tai nạn tàu chở dầu càng dấy lên ý thức và mong muốn của nhiều người về việc cân bằng giữa sản xuất năng lượng và bảo vệ môi trường.
Dầu mỏ là yếu tố tối quan trọng trong nhận thức về môi trường, trong đó quan ngại lớn nhất là hậu quả của việc đốt cháy các chất hydrocarbon ‒ khói và ô nhiễm không khí, mưa acid, sự nóng lên của trái đất, lỗ thủng tầng ozone. Một trong số các vấn đề gây tranh cãi gay gắt nhất là tìm vị trí để tiến hành sản xuất dầu và khí gas, liệu rằng nên đặt ở ngoài khơi hay đặt tại Alaska. Cuộc tranh luận còn diễn ra xung quanh việc đặt các cơ sở mới sản xuất năng lượng, đặc biệt là các nhà máy điện. Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản, những nước có thể sẽ phải đối mặt với những áp lực nặng nề liên quan tới hệ thống cung cấp điện trong những năm 1990 buộc phải có những lựa chọn khó khăn và gây tranh cãi về việc làm thế nào để đáp ứng nhu cầu về điện ngày càng tăng nhưng chịu thiệt hại môi trường thấp nhất. Nhưng kết quả quan trọng nhất do sự đồng thuận của việc bảo vệ môi trường đem lại là việc chuyển hướng sang dùng khí tự nhiên, một nguồn năng lượng sạch hơn, đặc biệt là trong sản xuất điện. Và sẽ nhấn mạnh vào dự trữ năng lượng, không chỉ vì yếu tố an toàn hay giá cả như những năm 1970 và đầu những năm 1980 mà còn là biện pháp để hạn chế việc đốt các chất hydrocarbon ‒ làm chậm quá trình tác động xấu đến môi trường. Vận chuyển xăng dầu, một vấn đề nổi trội, đang gặp nhiều thách thức. Các công ty dầu đang tìm cách để sản xuất loại xăng dầu đã qua xử lý ít gây ô nhiễm hay còn gọi là xăng “xanh” để cung cấp cho thị trường, trong khi các cơ quan chính phủ đang khuyến khích dùng nhiên liệu thay thế đối với các phương tiện đi lại như khí đốt tự nhiên nén, methanol và nhiên liệu cồn ‒ và xe hơi chạy bằng điện, vốn đã thua trong cuộc cạnh tranh với loại xe chạy bằng xăng đầu thế kỷ XX.
Chương trình hành động môi trường mới sẽ khó được thông qua nếu không có những cuộc tranh luận về sự chính xác khoa học và dự đoán của nó, mức độ của những rủi ro, giải pháp phù hợp ‒ và chi phí. Mặc dù một tâm lý phổ biến cho rằng cải thiện môi trường hoàn toàn “miễn phí”, chỉ đơn thuần là vấn đề quy định, nhưng rõ ràng điều đó không đúng trong trường hợp này. Nếu không tính toán chính xác, cái giả phải trả sẽ là rất lớn. Môi trường cũng giống như vấn đề quốc phòng, chăm sóc y tế hay giáo dục, là một loại “hàng hóa” xã hội, nghĩa là người ta phải trả tiền cho vấn đề môi trường và khi chi phí tăng lên thì chi phí giữa các công ty, người tiêu dùng và chính phủ sẽ ngày càng có sự phân chia rõ ràng. Xã hội vẫn không biết làm thế nào để phân bổ chi phí của hiện tại ‒ ví dụ, hệ thống quản lý ô nhiễm đắt đỏ đối với các nhà máy năng lượng với chi phí trong tương lai chi phí không thể dự tính được và sự gián đoạn trong việc sản xuất nông nghiệp, thậm chí tại nơi cư trú của con người nếu có sự thay đổi thời tiết lớn.
Tuy nhiên, những năm 1990 không phải bắt đầu bằng thảm kịch môi trường khác mà bằng cuộc tranh giành nguồn dầu mỏ tại Vùng Vịnh, mà thế giới, một lần nữa, ngày càng trở nên phụ thuộc nặng nề vào nó. Cuộc khủng hoảng Vùng Vịnh đã đưa vấn đề an ninh năng lượng quay trở lại các chương trình nghị sự, khiến các chính phủ một lần nữa phải tập trung giải quyết việc bảo đảm nguồn cung. Điều này thúc đẩy sự khai thác và phát triển dầu mỏ trên khắp thế giới. “Quy luật của cuộc đua giữa sự tăng mạnh về nhu cầu và sản lượng vào những năm 1990 đã bị cuộc khủng hoảng Vùng Vịnh làm thay đổi”, Joseph Stanislaw, Giám đốc quản lý của Hiệp hội nghiên cứu năng lượng Cambridge, đã nhận xét khi mô tả cái mà ông gọi là “trật tự dầu mỏ thế giới mới” sau cuộc khủng hoảng Vùng Vịnh. “Giờ đây việc bảo đảm năng lực cung ứng sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố hơn. Hố ngăn cách đã mở ra trong thế giới dầu mỏ những năm 1970 sẽ bị thu hẹp trong những năm 1990 bằng hành động thực tế của cả quốc gia sản xuất và tiêu thụ. Chính sách bảo đảm nguồn cung của các quốc gia tiêu thụ dầu cùng với nhu cầu thu về nguồn tài chính, công nghệ và các nguồn lực nước ngoài của các quốc gia trong lẫn ngoài OPEC sẽ dẫn đến tăng cường sản xuất dầu mỏ ở nhiều quốc gia trên thế giới. Khủng hoảng Vùng Vịnh sẽ nhen nhóm lại những nỗ lực nhằm thúc đẩy phát triển năng lượng ở các quốc gia công nghiệp. Và các quốc gia công nghiệp cũng tự thấy mình bị cuốn vào cuộc cạnh tranh giữa hai vấn đề lớn ‒ năng lượng và an toàn, năng lượng và môi trường. Một cuộc đụng độ có ảnh hưởng sâu rộng giữa, một mặt là những lo lắng về an toàn năng lượng và tình trạng nền kinh tế, mặt khác là nỗi sợ hãi về môi trường dường như là điều không thể tránh khỏi. Điểm chung của hai vấn đề này là nhu cầu dự trữ năng lựợng và sử dụng khí gas ngày càng lớn. Bên cạnh đó, cần thiết phải có sự đồng thuận để giải quyết các vấn đề môi trường cũng như đáp ứng được yêu cầu an toàn tại và giữa các quốc gia mà chắc chắn là không dễ dàng đạt được như các hình thức hợp tác kinh tế, chính trị và hợp tác xã hội khác.
Nhưng có lẽ, tất cả điều này thậm chí có thể chỉ ra một hướng mới đối với xã hội công nghiệp và dẫn đến một giải pháp có lợi nhằm giải quyết xung đột giữa năng lượng và môi trường. Sự phát minh đáp ứng được nhu cầu; và nếu được đầu tư đúng cách, nghiên cứu và công nghệ sẽ đáp ứng được những đòi hỏi về môi trường và năng lượng. Tuy nhiên, tính đến thời điểm những đột phá về công nghệ mới ra đời như năng lượng tái sinh hay năng lượng mặt trời; xã hội công nghiệp chỉ có ba nhóm thay thế cơ bản có thể sử dụng để đáp ứng được nhu cầu năng lượng mới của mình là dầu mỏ, khí gas và than đá; năng lượng hạt nhân và cuối cùng là những hình thức cải tiến công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Vào những năm 1990, vấn đề sử dụng các nguồn năng lượng thay thế sẽ được đưa vào nội dung tranh luận về năng lượng và môi trường, thách thức các mối quan tâm truyền thống và cách suy nghĩ.
Xung đột sẽ diễn ra dưới nhiều hình thức: Sẽ có áp lực trong việc lựa chọn “lối sống” giữa một bên là những tiện lợi của xã hội tiêu dùng cùng với những sản phẩm nhựa, sự tự do di chuyển và “con đường mở” ‒ đối lập với “chất lượng cuộc sống”, và một bên là các nỗ lực áp đặt giới hạn đối với giao thông cũng như chú trọng đến bảo vệ thiên nhiên. Và trong cuộc chiến bảo vệ môi trường đã diễn ra hai xu hướng đối nghịch nhau; một nhóm người muốn sử dụng cơ chế thị trường, nghĩa là ủng hộ việc mua bán giấy phép khí thải, đánh thuế vào gas và ô nhiễm; và nhóm khác ủng hộ các quy định và hạn chế truyền thống hơn. Sẽ ngày càng phải nỗ lực nhiều hơn để giới hạn ô nhiễm và áp đặt quy định “không tăng trưởng” thậm chí cả đối với những thay đổi về kinh tế hay nhân khẩu học. Những cuộc tranh cãi sẽ tập trung vào câu hỏi liệu có nên tăng cường khai thác đất đai và biển vì mục đích kinh tế hay nên bảo tồn chúng trong điều kiện nguyên sơ. Việc áp đặt hạn chế đối với việc xây dựng các cơ sở và nhà xưởng – là những nhà máy dầu ngoài khơi hay các nhà máy năng lượng và nhà máy lọc dầu mới – có nghĩa là các quốc gia công nghiệp sẽ phải nhập khẩu nhiều năng lượng hơn, khiến cho khả năng độc lập về kinh tế và có thể cả về chính trị sẽ khó khăn hơn, phụ thuộc nhiều hơn. Làn sóng môi trường thứ ba cũng sẽ là thước đo đánh giá mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau. Họ sẽ phối hợp để cùng giải quyết những vấn đề chung? Hay sẽ lại cạnh tranh và xung đột như một vài quốc gia, vài nhóm trong quốc gia nhằm giải quyết vấn đề môi trường, trong khi các quốc gia khác cố tình xem nhẹ vấn đề và bỏ qua những áp lực về môi trường để thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nổi bật nhất là hai mối quan tâm cơ bản: Trước hết, xã hội hiện đại tìm kiếm sự an toàn và tăng trưởng kinh tế ở mức độ nào và nó theo đuổi các giá trị môi trường ở mức độ ra sao? Điều này đang gây ra một cuộc tranh luận ngày càng căng thẳng trong hơn hai thập kỷ qua nhưng có lẽ sẽ càng trở nên gay gắt hơn khi những năm 1990 đến gần. Thách thức, dĩ nhiên là để tìm sự cân bằng. Nhưng một điều chắc chắn là “môi trường” đã trở thành một trong những “yêu cầu” cơ bản của xã hội hiện đại.
Thứ hai, một vấn đề có tính bao trùm hơn và có lẽ là vấn đề khó giải quyết nhất. Đó là làm sao để cân bằng “hiện tại” với “tương lai” ‒ giữa lợi ích của thế hệ những năm 1990 với lợi ích của thế hệ sống trong khoảng thời gian từ năm 2052 và 2092? Phải từ bỏ điều gì hôm nay vì lợi ích của thế hệ mai sau? Vấn đề càng trở nên phức tạp do đặc tính dự đoán trong công tác đánh giá môi trường toàn cầu, như hiện tượng nóng lên của trái đất hay khả năng phân tích rủi ro khi trường hợp dự báo là chính xác. Đó là câu hỏi có ảnh hưởng to lớn trực tiếp và tiềm tàng đối với dầu mỏ cũng như các nguồn nhiên liệu khác.
Làn sóng môi trường thứ ba với những cuộc đụng độ, mâu thuẫn sẽ gây tổn hại về kinh tế, quyền lực và địa vị chính trị không chỉ trong phạm vi các quốc gia mà ở cả tầm quốc tế. Và lối sống của chúng ta cũng sẽ chịu ảnh hưởng. Sự thực là số phận của hành tinh này cũng dường như đang bị động chạm đến, và bị nền văn minh hydrocarbon mà dầu mỏ xây dựng nên đang làm lung lay.
Thời đại Dầu mỏ
Vào tháng 8 năm 1859, tiếng kêu vọng lại từ những thung lũng hẹp của miền Tây Pennsylvania, nơi gã Yankee điên khùng, đại tá Drake khoan dầu, đã khơi thông một dòng dầu mỏ dồi dào mà kể từ đó đến nay chưa bao giờ ngừng chảy. Và sau này, trong chiến tranh hay hòa bình, người ta cho rằng dầu mỏ hoàn toàn có khả năng tạo dựng hoặc phá bỏ một quốc gia và sẽ là yếu tố quyết định trong các cuộc chiến về kinh tế và chính trị lớn của thế kỷ XX. Nhưng liên tục, qua nhiều cuộc tìm kiếm không có hồi kết, những điều trớ trêu mà dầu mỏ mang lại đã quá rõ ràng. Quyền lực của nó luôn đi kèm với cái giá phải trả.
Trong suốt gần một thế kỷ rưỡi, dầu mỏ đã mang lại những điều tốt đẹp và cả những điều tồi tệ nhất cho thế giới chúng ta. Nó vừa là ân huệ những cũng vừa là gánh nặng. Năng lượng là nền tảng của xã hội công nghiệp. So với các nguồn năng lượng khác, dầu mỏ gây ra những vấn đề lớn nhất và khó khăn nhất, do vai trò trung tâm của nó, tính chất chiến lược của nó, sự phân bổ về mặt địa lý của nó, tính cách tái diễn cuộc khủng hoảng nguồn cung mà nó gây ra – và sự cám dỗ không thể kháng cự được trước những lợi ích mà dầu mỏ mang lại. Sẽ thật may mắn nếu chúng ta sống đến cuối thế kỷ này mà không xảy ra một cuộc khủng khoảng chính trị, công nghệ, kinh tế hoặc môi trường nào do dầu mỏ đem lại – có thể cuộc khủng hoảng đó được báo trước hoặc diễn ra ngoài dự đoán. Chẳng thể kỳ vọng gì hơn nữa trong một thế kỷ mà dầu mỏ đã có tác động sâu sắc và rõ nét (đối với thế giới). Lịch sử dầu mỏ là bức tranh gồm những chiến thắng và một loạt các sai lầm phải trả giá đắt. Nó chính là sân khấu để phô diễn giá trị và nền tảng đạo đức con người. Sự sáng tạo, cống hiến, việc kinh doanh, kỹ năng khéo léo và những phát minh kỹ thuật đi cùng với thói hám lợi, tham nhũng, tham vọng chính trị mù quáng và bạo lực. Dầu mỏ đã giúp âm mưu thao túng thế giới trở nên khả thi. Nó hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày chúng ta, nói theo nghĩa đen, thông qua những hóa chất nông nghiệp, phương tiện đi lại và những nhu cầu hàng ngày của chúng ta. Nó cũng là nhân tố tạo nên những cuộc chiến toàn cầu về kinh tế và chính trị. Chỉ vì dầu mỏ mà bao máu đã phải đổ. Những cuộc tìm kiếm dầu mỏ, thậm chí đôi khi còn gây ra cả bạo lực – và quyền lực mà nó mang lại – sẽ vẫn tiếp diễn chừng nào dầu mỏ còn giữ vai trò trung tâm. Thế kỷ chúng ta đang sống là thế kỷ mà mọi khía cạnh của cuộc sống văn minh đã bị thay đổi bởi sự hiện đại và phép thuật thôi miên của dầu mỏ. Thời đại của chúng ta vẫn thực sự là thời đại dầu mỏ.
TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ VIỆT NAMPetroVietnam
Hơn 30 năm trước, ngày 3 tháng 9 năm 1975, Chính phủ ban hành Nghị định số 170/CP thành lập Tổng cục dầu mỏ và khí đốt Việt Nam, tiền thân của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam ngày nay. Một năm sau ngày thành lập, ngày 25 tháng 7 năm 1976, ngành dầu khí đã phát hiện nguồn khí thiên nhiên đầu tiên tại giếng khoan số 61 ở Vùng Trũng Sông Hồng. Năm năm sau, vào tháng 6 năm 1981, dòng khí công nghiệp ở mỏ khí Tiền Hải đã được khai thác để đưa vào phục vụ sản xuất; và 10 năm sau ngày thành lập, ngày 26 tháng 6 năm 1986, Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt - Xô đã khai thác tấn dầu đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ, ghi nhận một mốc dấu quan trọng – Việt Nam đã có tên trong danh sách các nước khai thác và xuất khẩu dầu thô thế giới, khẳng định một tương lai phát triển đầy hứa hẹn của cho ngành công nghiệp dầu khí đất nước. Từ khi thành lập, chúng tôi luôn kiên trì với mục tiêu chung: Phát triển ngành dầu khí Việt Nam trở thành ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng, đồng bộ, bao gồm: tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất, nhập khẩu. Xây dựng Tập đoàn Dầu khí mạnh, kinh doanh đa ngành trong nước và quốc tế.
Sau hơn 30 năm, toàn ngành dầu khí đã khai thác được 205 triệu tấn dầu thô và hơn 30 tỷ mét khối khí, mang lại doanh thu trên 40 tỷ đô-la, nộp ngân sách nhà nước gần 25 tỷ đô-la, tạo dựng được nguồn vốn chủ sở hữu trên 80 nghìn tỷ đồng và đội ngũ nhân viên hơn 22 nghìn người.
Trong quá trình hoạt động, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) không ngừng phát triển, mở rộng các lĩnh vực: tìm kiếm thăm dò dầu khí, thu hút vốn đầu tư, tăng cường hoạt động thăm dò - khai thác dầu khí ra nước ngoài, chế biến khí và hoá dầu. Lĩnh vực công nghiệp khí cũng đã được tích cực triển khai.
Cùng với sự phát triển các lĩnh vực trọng tâm của ngành công nghiệp dầu khí, để khép kín và hoàn chỉnh đồng bộ hoạt động của ngành, các hoạt động dịch vụ kỹ thuật phụ trợ, thương mại, tài chính, bảo hiểm… của ngành dầu khí đã được hình thành và phát triển, doanh số hoạt động ngày càng tăng trong tổng doanh thu của toàn ngành. Thực hiện mục tiêu xây dựng Tập đoàn Dầu khí trở thành tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước, công tác hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý và cơ cấu tổ chức, công tác đổi mới và cổ phần hoá doanh nghiệp đã được triển khai có hiệu quả, hoạt động SXKD của các đơn vị cổ phần hoá được cải thiện rõ rệt, hoạt động SXKD của tập đoàn đang được xác lập theo hướng hiệu quả nhất, phát triển thêm một số lĩnh vực hoạt động mới để tận dụng tiềm năng thế mạnh của ngành.

TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦNDỊCH VỤ KỸ THUẬT DẦU KHÍ PTSC
Là đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam với lĩnh vực hoạt động chính là cung cấp các dịch vụ kỹ thuật đa dạng cho ngành công nghiệp dầu khí, Tổng công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật dầu khí - PTSC (Petroleum Technical Services Corporation) rất hân hạnh được đồng hành cùng Công ty cổ phần sách Alpha trở thành nhịp cầu nối mang đến cho độc giả Việt Nam cuốn sách Dầu mỏ, tiền bạc và quyền lực (The Prize).
Trên hành trình của những người đi tìm lửa, đã từng thực hiện rất nhiều các dự án dầu khí lớn trong nước và quốc tế cùng nhiều loại hình dịch vụ kỹ thuật dầu khí đã phát triển, chuyên nghiệp hóa đạt trình độ quốc tế như dịch vụ tàu thuyền, dịch vụ căn cứ – cảng, dịch vụ chế tạo lắp đặt các công trình dầu khí, dịch vụ vận hành, bảo dưỡng các công trình dầu khí, dịch vụ cung cấp vật tư thiết bị dầu khí, dịch vụ khai thác dầu khí, dịch vụ quản lý và cung cấp cao ốc văn phòng…, Tổng công ty PTSC từ lâu đã rất coi trọng việc tìm hiểu và trau dồi tri thức cùng những kiến thức bổ ích cho ngành nghề, đặc biệt là những thông tin, những kiến thức trong lĩnh vực dầu mỏ.
Trước nay, những ấn phẩm xuất bản có nội dung về ngành dầu khí không nhiều, lại chủ yếu là sách khoa học - kỹ thuật, các công trình nghiên cứu thuần tuý. Chính vì thế, với nội dung độc đáo, Dầu mỏ, tiền bạc và quyền lực đã mang lại cho các độc giả một tầm nhìn mới, một suy nghĩ rộng mở, sinh động, toàn diện hơn về lĩnh vực mà mình quan tâm, nhất là khi vấn đề dầu mỏ trên thế giới hiện nay không chỉ còn là vấn đề năng lượng, kinh tế, mà đã trở thành mối quan tâm chung của bất kỳ quốc gia nào, trên nhiều giác độ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật toàn cầu…
Với tâm thế, tấm lòng của một đơn vị dịch vụ dầu khí luôn hướng tới cộng đồng, với Dầu mỏ, tiền bạc và quyền lực, Tổng công ty PTSC mong muốn được chia sẻ với bạn đọc, đặc biệt là với các đồng nghiệp, cộng sự, các đối tác dầu khí trong nước và tất cả những ai đang và sẽ hoạt động trong lĩnh vực dầu khí, hoặc quan tâm đến hoạt động của ngành dầu khí những thông tin hữu ích nhất về ngành dầu khí thế giới, cũng như ý nghĩa và tương lai dự báo của nền kinh tế dầu mỏ, bằng việc gợi mở ra những câu chuyện, gợi mở ra một thế giới chuyên biệt qua bức tranh dầu mỏ đầy hấp dẫn và nóng bỏng. Đó cũng là một trong những hành động của Tổng công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật dầu khí với mục đích tiếp cận gần hơn nữa và hòa chung với cộng đồng dầu khí thế giới qua nhịp cầu tri thức của nhân loại.
PHÙNG TUẤN HÀ
Phó Tổng giám đốc PTSC
