Chỉ có hai cách sống: một là làm như không có điều gì kỳ diệu, hai là coi như tất cả đều kỳ diệu.
ALBERT EINSTEIN
Hàng tháng trôi qua.
Henri và tôi đã tái thiết nên một thứ càng lúc càng giống với một gia đình.
Chúng tôi vẫn chưa đến mức đó, bởi vì như tất cả những ai đã từng bị tổn thương sau cuộc chiến tranh ly hôn, chúng tôi ít vô tư lự hơn những người yêu nhau bình thường. Nhưng rốt cuộc, chuyện đó ngày càng đẹp ra.
Dĩ nhiên, chúng tôi vẫn giữ một vài bí mật với đối phương - sau khi đã bị xạc tơi bời vì nhận mình thường xem Bachelor, tôi không bao giờ dám thú thật với anh là tôi cũng thường theo dõi Mắt xích yếu[50] để trộ các con gái với kiến thức sâu rộng của mình - nhưng chúng tôi vẫn tặng cho nhau điều chính yếu: lòng tin.
Héloêse và Margot thường thêm từ “nhà mình” vào những câu chúng nói, và tôi cảm thấy chúng vui tươi hơn bao giờ hết. Tôi phát hiện ra chúng hay cười hơn, ít lo sợ hơn.
Cái này gọi là “điều cốt yếu”.
Về phần mình, tôi có một tấm chăn dày (chính là tấm lưng rậm lông của Henri) tôi có thể cuộn mình dựa vào đó mỗi khi đêm lạnh, và một người đàn ông nơi tôi lần lượt thống kê được những điều khiến tôi thích thú mà không biết chán. Cách anh ngước mắt nhìn lên phía bên trái khi anh nếm một món ăn. Dáng anh bước đi hơi cứng nhắc kiểu Kẻ Hủy Diệt. Giọng nói của anh trở nên rất mực dịu dàng, gần như thơ trẻ khi anh nói yêu tôi. Cách anh làm từng cánh mũi động đậy (mê hồn). Và nhất là, nhất là hai bàn chân hộ pháp của anh có hình chân nhái (cỡ 47) với những ngón chân dài hiếu động, như những cành dương xỉ bị gió thổi rạp. Tuyệt vời khủng khiếp. Hoặc ngược lại. Tôi phát điên vì chúng.
Sau chuyến đi dài xuyên qua sa mạc, rốt cuộc tôi đã tìm thấy người đàn ông của đời mình.
Nhưng thế thì từ giờ trở đi tôi biết làm gì với sự độc lập đẹp đẽ đã có được với cái giá quá đắt này, nếu tôi phải rời căn hộ riêng để dọn đến sống trong một căn rộng hơn, để lại những thứ đồ đạc, những kỷ niệm, lập lại một cặp đôi, tái thiết một gia đình, phải điều đình với một bà mẹ chồng, một đứa con riêng, một cô vợ cũ... Lo quá đi mất!
(... Nhưng ta sẽ không phàn nàn đâu nhỉ!)
Mời các bạn ghé thăm Đào Tiểu Vũ eBook để tải thêm nhiều eBook hơn nữa.

[1] Bầy Chuột Xinh, đồng âm với tên của nhân vật là Déborah (Chú thích không có lưu ý gì thêm là của người dịch).
[2] Ca sĩ kiêm diễn viên hài người Pháp.
[3] Viết tắt của Alien Life Form: tên nhân vật người ngoài hành tinh thân thiện trong xê ri phim truyền hình sitcom của đạo diễn Gordon Shumway.
[4] Tiểu từ “de” thường xuất hiện trong họ tên các nhà quý tộc Pháp.
[5] Nhân vật hư cấu trong xê ri phim sitcom Happy Days của Mỹ, với tạo hình quen thuộc là đầu tóc chải chuốt, cười nhe răng vào giơ một ngón tay cái.
[6] Trò chơi giống như Đuổi hình bắt chữ của Việt Nam, đoán biết một từ thông qua hình ảnh miêu tả.
[7] Thương hiệu kem và các chế phẩm từ kem nổi tiếng lâu đời tại Mỹ.
[8] Tên thật là Alice Sapric (1916-1960), nữ diễn viên người Armenia đã nhập quốc tịch Pháp.
[9] Còn gọi là Attila the Hun (406-453) lãnh tụ đế quốc Hung Nô.
[10] Nữ luật sư kiêm người dẫn chương trình “Sự lựa chọn của tôi” phát trên kênh France 3.
[11] Món nướng đặc trưng của Mexico, thành phần và gia vị hơi giống bánh pizza.
[12] 1939-1988, nhà trào phúng nổi tiếng người Pháp.
[13] Kích thích tố sinh dục nam.
[14] Một chương trình truyền hình Pháp ở thập niên 80 có tấu hài và những cô gái ăn mặc giống hệt nhau để làm đẹp sân khấu chứ không đóng vai trò gì cụ thể.
[15] 1919- 2004, diễn viên hài người Pháp, nổi tiếng với kiểu vai tự giễu bản thân.
[16] Vườn quốc gia ở phía Nam của tỉnh Krabi thuộc Thái Lan, bao gồm hai đảo lớn vào nhiều đảo nhỏ.
[17] Viết tắt của Patrick Poivre d'Arvor: nhà báo, nhà văn kiêm người dẫn bản tin thời sự của Pháp.
[18] Alain-CóvẻNgu.
[19] Viết tắt của Agence Nationale Pour l'Emploi: Sở Việc làm Quốc gia.
[20] Viết tắt của Association pour l'emploi dans l'industrie et le commerce: Hiệp hội việc làm trong ngành công nghiệp và thương mại.
[21] Nhãn hàng điện tử gia dụng phổ biến tại Pháp với các sản phẩm như: máy xay sinh tố, máy ép quả, máy hút bụi...
[22] Nhân vật lão hà tiện trong tác phẩm của Molière.
[23] Viết tắt của Société Protectrice des Animaux: Hiệp hội bảo vệ động vật.
[24] Phần mềm để trò chuyện trực tuyến giống với Yahoo Messenger, nhưng nick của ICQ chỉ có dạng dãy số, không chấp nhận chữ cái.
[25] Lễ trưởng thành của người con trai theo đạo Do Thái, thường là vào sinh nhật lần thứ 13.
[26] Màu pha giữa cam và nâu.
[27] Nhân vật con gái tù trưởng da đỏ thế kỷ XVII tại Bắc Mỹ trong bộ phim hoạt hình cùng tên của hãng Walt Disney.
[28] Ghép chữ A với Dieu (Chúa trời) sẽ được Adieu: Vĩnh biệt.
[29] Nhân vật chơi chữ đồng âm giữa tên mình là Déborah với Des Beaux Rats nghĩa là Bầy Chuột Xinh.
[30] Món ăn đặc trưng của cộng đồng người Do Thái tại Maroc.
[31] Tiếng Pháp nguyên bản là “nan, si”, đọc giống Nancy là tên cô giáo.
[32] Ảo thuật gia nổi tiếng người Pháp, được mệnh danh là Vua Đào Thoát với tiết mục thoát ra khỏi cabin ngập đầy nước trong tình trạng tay chân bị xích chặt.
[33] Tên một chú tinh tinh, ngôi sao của loạt phim Tarzan vào thập niên 1930, 1940.
[34] Tên thật là Jean Avril (1952): nhà hài hước nổi tiếng của Pháp.
[35] Nguyên bản tiếng Pháp là Vlad l'Empaleur: một ông hoàng của xứ Transylvanie thuộc Rumani, người thích tra tấn kẻ thù bằng những hình phạt dã man, được cho là nguyên mẫu của nhân vật Dracula.
[36] Nhà văn, nhà báo, kịch tác gia người Pháp (1802-1879).
[37] Nguyên bản tiếng Pháp: “messagerie rose”, từ chỉ dịch vụ điện thoại cung cấp các cuộc hẹn nhằm thỏa mãn tình dục.
[38] Ý nói Auguste Rodin (1840-1917): họa sĩ, nhà điêu khắc hàng đầu của Pháp, tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Người suy tư, Nụ hôn, Mùa xuân vĩnh cửu...
[39] Người dẫn chương trình nổi tiếng của Pháp, từng nhận được Huân chương Bắc đẩu bội tinh.
[40] Tiếng Pháp nguyên bản là lampe: nốt phỏng da, nghe giống như jambe: bàn chân.
[41] Ý nói Bianca Castafiore, nhân vật nữ nghệ sĩ opera trong xê ri truyện tranh Những cuộc phiêu lưu của Tintin.
[42] Tiếng Anh trong nguyên bản, chỉ những người nam giả nữ bằng cách trang điểm, trang phục và điệu bộ với mục đích để trình diễn mua vui.
[43] Lời trong ca khúc “Give me” của ban nhạc huyền thoại Abba.
[44] Nhân vật hoạt hình nổi tiếng của Mỹ với nước da vàng tươi, đôi mắt lồi và cái đầu lởm chởm.
[45] Cuộc gặp gỡ được tổ chức dưới dạng tiệc tự chọn dành cho những người muốn tìm ý trung nhân, trong đó một người có cơ hội làm quen với nhiều, người khác cùng lúc.
[46] Kênh truyền hình chuyên về văn hóa và nghệ thuật, sản phẩm hợp tác giữa Pháp và Đức.
[47] Trò chơi giải đố những kiến thức tổng quát, có nhiều phiên bản: sách, truyền hình, điện thoại...
[48] Thức ăn ưa thích của chú khủng long Casimir, nhân vật của chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi có tên là Đảo trẻ thơ. Thực ra đây là một thứ bánh ga tô rất khó ăn, chỉ mình Casimir thích thú.
[49] Michel Polnareff (sinh năm 1944), ca sĩ nhạc đồng quê nổi tiếng lập dị của Pháp.
[50] Một trò chơi truyền hình được phát sóng trên kênh TF1 từ năm 2001 đến năm 2007, bị coi là thiếu tính giáo dục vì trong số chín người chơi có quen biết từ trước, người thắng cuộc không phải người nhanh nhất hay nhiều kiến thức nhất mà là người nhiều mưu lược nhất để loại những người chơi cùng.