[←1]: Tức Tào Tháo người đời Tam quốc
[←2]: Khương Thái Công tức Lã Vọng, tên chữ là Tử Nha. Lúc hàn vi thường ngồi câu cá ở sông Vị. Sau giúp vua Văn Vương nhà Chu, đánh được nhà Ân, phong là thái sư.
[←3]: Thứ hương làm cho người ta ngửi thấy thì mê man bất tỉnh.
[←4]: Chữ trong Luận ngữ: cả đoạn này “Hậu sinh khả úy yên tri lai giả chi bất như kim dã. Tứ thập ngũ thập nhi vô văn yên, diệc bất túc úy yên nhi hĩ”, nghĩa là lớp trẻ là đáng sợ, biết đâu sau này không như ngày nay. Người bốn, năm mươi tuổi mà không có tiếng tăm gì, thì cũng không đáng sợ.
[←5]: Khi giảng tới câu này không phải kiêng kỵ
[←6]: Cũng ở trong Luận ngữ: Ta chưa thấy ai ham đức như ham sắc đẹp
[←7]: Một danh từ xem mạch của Đông y.
[←8]: Máu của thứ ba ba để sao với một số vị thuốc.
[←9]: Chu Bột là tướng nhà Tây Hán. Khi Lã hậu sắp cướp ngôi nhà Hán, Trần Bình lập mưu để Chu Bột vào trong quân, kêu gọi quân lính giết Lã. Ở đây ý nói dùng sài hồ chữa chứng thổ huyết là một mưu kế như là dùng Chu Bột để yên ngôi nhà Hán.
[←10]: Người xưa có câu “mạc tri kỳ tử chì ác” nghĩa là cha không biết cái xấu của con mình. Ở đây Giả Chính nói ngược lại nên Giả mẫu cười.
[←11]: Hai câu trên là Luận ngữ: “Ta mười lăm tuổi đã chăm chỉ việc học” và “Người ta không biết mình cũng không giận”, câu thứ ba là ở Mạnh tử: “Thì về họ Mặc”.
[←12]: Thánh nhân có chí về việc học ngay từ lúc còn bé.
[←13]: Không chăm lo việc học là thường tình của con người.
[←14]: Thánh nhân mười lăm tuổi mà đã có chí về việc ấy, chẳng cũng rất khó hay sao?
[←15]: Ai là không học, nhưng rất ít người có chí với việc học. Vì thế thánh nhân tự tin vào lúc mười lăm tuổi.
[←16]: Không giận vì điều người ta không biết mình, sẽ không bao giờ thay đổi điều vui thích của mình.
[←17]: Kẻ nào không có lòng giận người thì mới chuyên tâm về việc học.
[←18]: Không ai không giận khi mình không được người ta biết đến; vậy mà nay lại chẳng như thế. Nếu không phải do ưa thích mà vui, thì làm sao được như thế.
[←19]: Chẳng phải là người chuyên tâm về việc học đó ư?
[←20]: Ngoài việc bỏ họ Dương ra hình như không về với ai nữa.
[←21]: Không phải là người ta muốn về với họ Mặc đâu, nhưng học thuyết của họ Mặc đã lan nửa thiên hạ. Vậy thì một khi đã bỏ họ Dương, dù muốn không theo họ Mặc có được đâu.
[←22]: Chỉ có kẻ sĩ mới làm được.
[←23]: Đại ý: trong thiên hạ không phải ai cũng là kẻ sĩ, chỉ có người không có của mới có thể có được. (Theo chữ trong Mạnh Tử: “Vô hằng sản nhi hữu hằng tâm giả, duy sĩ vi năng”, nghĩa là: chỉ có kẻ sĩ thường không có của nhưng vẫn luôn luôn hảo tâm)
[←24]: Ngày xưa vợ chồng Khước Khuyết kính nhau như khách. Ở đây Phượng Thư mượn câu này để đùa Bảo Ngọc và Đại Ngọc.
[←25]: Tức Đại Ngọc.
[←26]: Tên một chức quan, ở đây ý nói được người giúp việc giỏi.
[←27]: Một hiện tượng không khí thường xuất hiện ở sa mạc hoặc ở bể, những khói mù nổi lên như lâu đài.
[←28]: Những danh từ trong bói số.
[←29]: Một khúc đàn do Khổng Tử khi ở nước Vệ về nước Lỗ thấy hoa lan ở trong hang núi mà làm ra.
[←30]: Nguyên là thể phú, vì hạn chế vần, chúng tôi dịch theo thể này.
[←31]: Tức Lý Dục, vua nước Nam Đường, bị Tống Thái Tông diệt mất nước.
[←32]: Ở hồi 77, theo lời Vương phu nhân nói, thì con Năm đã chết rồi, có lẽ là lầm.
[←33]: Một đồ dùng người xưa thường làm để treo ở ngoài mái nhà có gió thổi thì chạm nhau kêu leng keng.
[←34]: “Ỷ Lan” đã chú thích ở hồi trên. “Tư hiền” là khúc đàn do Chu Văn Vương làm ra khi tìm được Lã Vọng.
[←35]: Gió vi vút chừ, khí thu già,
Người đẹp ngàn dặm chừ, một mình ngâm nga.
Trông vời quê hương chừ, đâu tá?
Đứng tựa lan can chừ, lệ nhỏ sa!
[←36]: Chủy là một trong năm âm luật của đàn (cung thương giốc chủy vũ).
[←37]: Khổng Dung người đời Tam quốc; Vương Tích Tân người đời nhà Đường đều là tay cao cờ.
[←38]: Lá sen bọc cua.
[←39]: Oanh vàng đâm thỏ.
[←40]: Ba mươi sáu nước đánh góc.
[←41]: Mười rồng duỗi ngựa. Các chữ trên này là thế cờ vây, do những tay cao cờ đặt ra.
[←42]: Thứ trò chơi tương tự đánh cờ. Có một cái bàn, trên bàn mỗi bên có 16 quân, người chơi gieo hai hạt xúc xắc, rồi cứ xem điểm số gieo được mà cho quân đi, ai đi đến đối phương trước là thắng.
[←43]: Bức tranh đua chịu rét.
[←44]: Ngày xưa Thái Ung thấy người ta đốt gỗ cây đồng khô, ông biết là gỗ tốt có thể dùng làm đàn, liền xin về làm một cây đàn; tiếng rất trong, nhưng đầu đuôi bị cháy sém, nên gọi là tiểu vĩ cầm (đàn sém đuôi).
[←45]: Hạc tiên, phương vĩ, long trì, nhạn túc, đều là những danh từ riêng dùng để chỉ các bộ phận trên cây đàn.
[←46]: Vằn gỗ trên đàn, cái nào như lông trâu là thứ đàn tốt.
[←47]: Khương Hậu là vợ vua Tuyên Vương nhà Chu. Vua Tuyên Vương thường dậy muộn ra hầu chậm. Khương Hậu cho là tội tự mình rút trâm, bỏ trang sức chịu tội.
[←48]: Bà Chung Lý Xuẩn là vợ của vua Tuyên Vương nước Tề, can ngăn vua Tề chăm nom công việc nước nhà. Bà được phong là Vô Diềm quân.
[←49]: Tào Đại Cô tức Ban Chiêu, em Ban Cố đời Hán, Ban Cố soạn bộ Hán thư chưa xong thì mất. Vua Hán cho Ban Chiêu làm tiếp. Ban Tiệp Dư là cung nữ đời Hán Thánh Đế giỏi về thi ca. Thái Văn Cơ tức là Thái Diễm đời Hán giỏi về âm nhạc. Tạ Đạo Uẩn là con gái Tạ Dịch đời Tấn, có tài hùng biện.
[←50]: Mạnh Quang người Đông Hán, ba mươi tuổi mới lấy chồng. Nàng ăn mặc lộng lẫy. Chồng bảy ngày không nói chuyện với nàng. Sau hỏi ra ăn mặc đồ vải, hết sức kính trọng chồng.
[←51]: Đời Hậu Hán, Bảo Tuyên lấy Hoàng Thiếu Quân. Khi về nhà chồng, Thiếu Quân đưa về những quần áo đẹp, của rất nhiều. Bảo Tuyên nói: “Nàng sống cảnh giàu sang đã quen. Nay ta nghèo hèn, không dám nhận những thứ ấy”. Thiếu Quân bèn thay quần áo vải, tự tay múc nước làm việc như mọi người.
[←52]: Đời Tần, mẹ Đào Khản thường mời những người có danh tiếng đến nhà để con học tập và kết bạn. Một hôm Phạm Quỳ đến chơi, bà ta không có tiền, liền cắt tóc bán cho người hàng xóm đế lấy tiền làm cơm rượu tiếp khách.
[←53]: Âu Dương Tu đời Tống, bố chết sớm, nhà nghèo, mẹ thường lấy cây lau vạch xuống đất thành chữ cho con học.
[←54]: Nhạc Xương công chúa là con vua Trần. Nàng lấy Trần Đức Ngổn. Biết nước Trần sắp mất, hai người không thể sống chung với nhau được. Liền bẻ mảnh gương làm đôi. Hẹn ngày nào đó sẽ gặp. Sau nàng bị Dương Tố bắt về làm nàng hầu, rất đỗi yêu mến. Đúng hẹn, Đức Ngổn đến kinh; thấy người bán hai mảnh gương, đem kháp thấy đúng. Nhân đề thơ, công chúa đọc thơ xong, khóc lóc không ăn uống gì. Dương Tố biết chuyện; liền gọi Đức Ngổn vào cho hai vợ chồng lại đoàn viên như cũ.
[←55]: Tô Huệ người đời Tấn, thương chồng đi xa, nàng dệt bức gấm thành thơ gửi cho chồng.
[←56]: Mộc Lan không biết ở thời đại nào, thương cha già; nàng ra lính thay cha, mười hai năm trời ở nơi biên giới.
[←57]: Tào Nga, người Đông Hán. Cha Tào Nga chết đuối không tìm thấy xác. Nàng mới mười bốn tuổi, cứ theo bờ sông khóc. Sau nàng nhảy xuống sông chết. Ít ngày sau, người ta thấy xác Tào Nga ôm xác cha nổi trên mặt nước.
[←58]: Tào Thị tên là Lệnh Nữ lấy em Tào Sáng. Chồng nàng chết sớm. Người chú định đem nàng về gả chồng. Nghe tin, nàng cắt hai tai. Sau Tào Sáng bị giết, người chú lại định gả chồng cho nàng. Nhân lúc không đề phòng, nàng vào nhà ngủ đắp chăn kín rồi cắt mất mũi.
[←59]: Vương Tường tức Vương Chiêu Quân. Phàn Tố, Tiểu Man là gái hầu của Bạch Cư Dị.
[←60]: Nhiệm Hoàn đời Đường; được vua yêu và cho hai cung nữ. Vợ Nhiệm Hoàn là Liễu thị có tính cả ghen, bắt cạo trọc đầu hai cung nữ. Vua Đường nghe thấy cho Liễu thị chai rượu và dặn: “Uống vào sẽ chết, nếu thôi ghen thì không phải uống”. Liễu thị lạy và nói: “Tôi cùng Nhiệm Hoàn trước đây đều sống cảnh nghèo hèn; nay được vinh hiển, lại đâm có nhiều người yêu, chẳng thà chết đi cho xong”. Nàng uống hết chai rượu. Té ra không phải là thuốc độc.
[←61]: Ngày xưa những người diễn kịch viết các tên vở vào cái hốt ngà đưa cho người xem chấm vở nào là họ hát vở ấy.
[←62]: Lấy tích Tần Trọng, một anh bán dầu, lấy được nàng Dao Cầm là một hoa khôi trong đám làng chơi.
[←63]: “Tây bồi” là chữ Giả. “Thảo cân” là chữ Cần. Tức là nói về Giả Cần.
[←64]: Tức tháng mười một khi dưỡng sinh.
[←65]: Một nhân vật thần thoại trong số bát tiên mà người Trung Quốc nói đến và vẽ thành tranh.
[←66]: Tức Vương Tử Đằng.
[←67]: Khi sắp phong chức tể tướng, thì viết tờ chiếu bằng giấy to đọc cho các quan nghe, cho nên gọi là “tuyên ma”.
[←68]: Chứng bệnh bị đờm tắt các khiếu; đâm ra lạnh.
[←69]: Theo âm Trung Quốc thì chữ Vương và chữ Vong đều đọc như nhau, cho nên mượn chữ “Vương nhân” đồng âm để rủa Vương Nhân là người quên mất nhân nghĩa.
[←70]: Tức Vương Tử Đằng.
[←71]: Một danh từ Đông y, nghĩa là đường kinh lạc từ dạ dày đi xuống chân.
[←72]: Thầy bói dùng ba đồng tiền gieo xuống khay: ngửa cả ba đồng là “giao”, sấp một đồng là “đơn”, sấp hai đồng là “sách”, sấp ba đồng là “trùng”, rồi theo đó mà tính ra là quẻ gì.
[←73]: “Đơn chiết đơn” là cách tính các quẻ đơn trong Kinh Dịch.
[←74]: Tên một quẻ trong Kinh Dịch.
[←75]: Bói cỏ thi là đếm cây cỏ thi để mà bói theo phép Kinh Dịch.
[←76]: Các chữ như thế hào, bạch hổ, phách hoả, tử thần, tử sát, v.v. đều là danh từ riêng trong phép bói toán đời xưa.
[←77]: Tức Tiết Bàn.
[←78]: Tức Bảo Thoa.
[←79]: Tức Bảo Cầm.
[←80]: Cái bầu. Ở đây có ý nhắc đến cái miếu Hồ Lô mà Vũ Thôn trọ trước kia.
[←81]: Mộ hoá là một danh từ đạo Phật, nghĩa là tìm người có duyên tu hành, có khi chỉ việc tìm kiếm vật chất.
[←82]: Hai câu thơ cũ của Giả Vũ Thôn ngâm hồi ở trong miếu Hồ Lô (xem hồi một).
[←83]: Đây là chuyện của Giả Liễn chứ không phải Giả Vân.
[←84]: Trong bảng kê này có một số không rõ là vật gì, chúng tôi lược đi không dịch.
[←85]: Sau khi vâng chỉ nhà vua đi làm việc xong, trở về tâu lại với vua.
[←86]: Nơi biên phòng ngày xưa.
[←87]: Bổng lộc tập chức.
[←88]: Bị khí ngược lên, giá lạnh chân tay.
[←89]: Chỉ Bảo Thoa.
[←90]: Đời Hán Cao Đế, có bốn ông già ở ẩn trong núi Thương.
[←91]: Theo truyền thuyết, Lưu Thần, Nguyễn Triệu vào khoảng đời Hán, nhân ngày đoan ngọ, vào núi Thiên Thai hái thuốc, gặp tiên, rồi lấy nhau. Sau Lưu, Nguyễn về nhà. Đến khi quay lại thì không tìm ra lối nữa.
[←92]: Trương Sương người đời Hán Tuyên Đế, nổi tiếng là người vẽ lông mày cho vợ.
[←93]: Theo tục phong kiến Trung Quốc: khi có tang cha mẹ, thì con cái nằm đất để tỏ lòng thương xót. Lúc này Giả Chính đang chịu tang Giả mẫu nên cũng trải chiếu ngồi giữa đất.
[←94]: Theo chế độ khoa cử đời Thanh, những người học thi Quốc tử giám gọi là giám sinh. Có tư cách giám sinh mới được đi thi cử nhân. Nhưng hầu hết chỉ cần quyên nạp một số tiền là được.
[←95]: Một thiên trong “Nam hoa kinh” của Trang Tử. Đoạn này ý là muôn dặm giáo lời như Phật nói chuyện Bảo Tháp.
[←96]: Gặp nhau chỉ để chia ly. Cuộc đời chớp nhoáng.
[←97]: Sào Phủ và Hứa Do là những người cao sĩ đời nhà Đường, ở ẩn trong núi. Vua Nghiêu nhường thiên hạ cho Sào Phủ. Sào Phủ không nhận, nhượng lại cho Hứa Do. Hứa Do cũng không chịu, rồi bỏ trốn đi cày. Bá Di và Thúc Tề là con vua Cô Trúc đời nhà Thương. Anh em nhưng ngôi Vua cho không nhận rồi đều bỏ trốn. Khi Chu Võ Vương đánh Trụ, Bá Di, Thúc Tề can không được, liền bỏ vào trong núi Thú Dường ăn rau mà chết đói…
[←98]: Sách này có hai loại, một loại nói về phép luyện đan của Đạo học, một loại bàn về đạo lý nhà Phật.
[←99]: Một thứ sách chuyên nói về những điềm lạ lùng, những ước đoán trước.
[←100]: Sách chép về hệ thống tông phái của Phật giáo Công danh có số, thi đậu hay hỏng, cũng không phải do học sớm hay muộn.
[←101]: Ngày giỗ.
[←102]: Xem lại hồi thứ 35.
[←103]: Ý nói được đội mũ mệnh phụ vì có con ra làm quan.
[←104]: Cố nhi từ hoặc cổ tử từ tên một từ khúc đời xưa, vừa dùng lời nói vừa hát, do nhiều khúc điệu và nhiều đoạn văn xuôi kết hợp lại.
[←105]: Ý nói theo lệ lương tháng của bọn vợ lẽ, mỗi tháng hai lạng.
[←106]: Việc Tưởng Ngọc Hàm tặng thắt lưng cho Bảo Ngọc và Bảo Ngọc đưa thắt lưng ấy cho Tập Nhân, xin xem lại hồi thứ 28.
[←107]: Sở Văn Vương lánh nạn, vợ vua nước Tần, Tức phu nhân bị bắt về làm thiếp, sinh được hai con. Sở Văn Vương hỏi phu nhân, sao vẫn không chịu nói năng gì. Phu nhân nói: “Tôi là một người đàn bà đã phải lấy hai lần chồng, chỉ còn khác một cái chết, có gì đáng nói nữa?” Đời sau tôn là Đào Hoa phu nhân, lập miếu thờ phụng.
[←108]: Cũng như chú thích ở hồi một. Chữ “Giả ngữ thôn ngôn” (nói bịa) với “Giả Vũ Thôn ngôn” (Giả Vũ Thôn nói) đọc giống nhau. Tác giả lấy chữ “Giả Vũ Thôn ngôn” thay cho “Giả ngữ thôn ngôn”, chữ nọ đánh ra chữ kia.