Mùa thu năm 1973, Danny biết rõ mọi người sẽ chẳng bao giờ hiểu thấu toàn bộ mối quan hệ của ông với Amos. Mới năm học trước thôi, họ còn dạy chung trong một hội nghị chuyên đề tại Đại học Hebrew. Theo quan điểm của Danny, đó là một thảm họa. Sự ấm áp ông cảm nhận được trong những lúc ở một mình với Amos vụt tan mỗi khi Amos đứng trước khán thính giả. “Khi chúng tôi xuất hiện cùng người khác, cả hai là những thực thể riêng biệt”, Danny nói. “Chúng tôi hoàn thành câu nói của nhau và kể những câu chuyện đùa của người kia. Hoặc ganh đua nhau. Chưa ai thấy chúng tôi làm việc cùng nhau. Không ai biết chúng tôi như thế nào”. Họ giống như người tình về mọi nhẽ, nhưng không có luyến ái. Họ hiểu nhau sâu sắc hơn bất kỳ ai khác. Vợ của họ nhận thấy chuyện đó. “Mối quan hệ giữa hai người còn mãnh liệt hơn cả một cuộc hôn nhân”, Barbara nói. “Tôi nghĩ họ bị thu hút bởi trí tuệ của nhau theo cách chưa từng thấy. Cứ như thể cả hai đều chờ đợi điều đó”. Danny cảm thấy vợ mình có ghen tuông; sau lưng Barbara, Amos thật sự ca ngợi cô đã giải quyết rất khéo sự xâm phạm cuộc hôn nhân của họ. “Chỉ cần ở bên ông ấy”, Danny nói. “Tôi chưa bao giờ có cảm giác như thế với bất kỳ ai khác, thật sự là vậy. Bạn đang chìm trong tình yêu và công việc. Nhưng tôi rất hạnh phúc. Và nó là thế. Thực sự khác thường”.
Thế nhưng chính Amos mới là người cố gắng nhất để hai người ở bên nhau. “Tôi là người đã nén lòng lại”, Danny nói. “Tôi giữ khoảng cách vì sợ những gì sẽ xảy đến với mình nếu không có ông ấy”.
Lúc đó là 4 giờ sáng ở California khi quân đội Ai Cập và Syria tấn công Israel. Họ gây bất ngờ cho người Israel ở Yom Kippur. Dọc theo kênh đào Suez, 500 lính Israel đồn trú bị lực lượng 10.000 quân Ai Cập áp đảo. Từ Cao nguyên Golan, đoàn quân 177 xe tăng Israel đối mặt lực lượng tấn công gồm 2.000 xe tăng Syria. Amos cùng Danny, lúc ấy ở Mỹ, đang cố gắng trở thành các nhà phân tích quyết định, chạy vội ra sân bay và đáp chuyến bay sớm nhất đến Paris, nơi chị gái của Danny đang làm việc tại đại sứ quán Israel. Vào Israel trong thời chiến chẳng hề dễ dàng. Mọi chuyến bay về nước của hãng El Al đều chật cứng phi công chiến đấu và chỉ huy các đơn vị chiến đấu về thay thế cho những người thiệt mạng trong những ngày đầu của cuộc xâm lược. Đó là việc phải làm nếu bạn là một người Israel có khả năng chiến đấu vào năm 1973: Lao đầu vào chiến tranh. Biết chuyện này, Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat nói sẽ bắn hạ bất cứ máy bay thương mại nào định đáp xuống Israel. Khi họ đang đợi ở Paris để chị của Danny thuyết phục ai đó cho họ lên máy bay, Danny và Amos đã mua những đôi giày chiến binh. Chúng được làm từ vải dù – nhẹ hơn ủng da quân đội Israel phân phát.
Thời điểm chiến tranh nổ ra, Barbara Tversky đang trên đường đến phòng cấp cứu ở Jerusalem cùng con trai cả. Cậu bé đã chiến thắng một cuộc thi với em trai để xem ai có thể cắm quả dưa chuột vào mũi sâu hơn. Khi họ về nhà, mọi người vây quanh xe và quát Barbara vì bà đi ra đường. Đất nước đang trong tình cảnh hoảng loạn: Các máy bay chiến đấu gầm rú tầm thấp ở Jerusalem để báo hiệu cho tất cả lực lượng dự bị quay lại đơn vị. Đại học Hebrew đóng cửa. Các xe tải quân đội chạy rầm rầm suốt đêm quanh khu nhà vốn thường yên tĩnh của gia đình Tversky. Thành phố tối đen. Đèn đường vẫn tắt; ai có xe hơi đều phải dán băng dính che đèn phanh. Những vì sao lung linh hơn bao giờ hết, còn tin tức không thể đáng ngại hơn – bởi lần đầu tiên, Barbara cảm nhận chính phủ Israel đang che giấu sự thật. Cuộc chiến này khác hẳn những lần trước: Israel sẽ thua. Việc không biết Amos đang ở đâu hay dự tính làm gì cũng chẳng giúp ích. Tiền điện thoại đắt đến nỗi họ chỉ liên lạc với nhau qua thư khi ông ở Mỹ. Hoàn cảnh của bà cũng không có gì khả dĩ hơn: Có những người Israel chỉ biết người thân đang sống ở nước ngoài đã trở về Israel để chiến đấu khi được thông báo là họ đã hy sinh.
Để khiến bản thân có ích, Barbara tới thư viện để tìm tài liệu viết một bài báo về stress và cách thức đối đầu với nó. Cuộc chiến bắt đầu được vài hôm, khoảng 10 giờ khuya, bà nghe thấy tiếng bước chân. Bà đang làm việc một mình trong thư phòng, rèm kéo kín để ánh sáng không lọt ra ngoài. Các con đang say giấc ngủ. Người đi lên cầu thang đang chạy; rồi bất thình lình Amos lao ra từ bóng tối. Chuyến bay của hãng El Al mà ông và Danny đi chở toàn người Israel về nước để chiến đấu. Nó đáp xuống Tel Aviv trong bóng tối hoàn toàn. Thậm chí còn chẳng có đèn trên cánh máy bay. Một lần nữa, Amos đi vào buồng thay đồ lấy bộ quân phục, giờ đây đã mang lon đại úy, và một lần nữa nó lại vừa vặn. 5 giờ sáng hôm sau, ông rời đi.
Cùng với Danny, ông được điều về đơn vị tâm lý chiến trường. Đơn vị này đã phát triển từ giữa những năm 1950, khi Danny thiết kế lại hệ thống lựa chọn. Vào đầu năm 1973, một nhà tâm lý học người Mỹ tên James Lester, do Văn phòng Nghiên cứu Hải quân cử tới để nghiên cứu tâm lý của quân đội Israel, đã viết một báo cáo mô tả đơn vị họ sắp gia nhập. Lester lấy làm lạ trước cả xã hội này – một đất nước vừa có những bài sát hạch lái xe chặt nhất thế giới, vừa có tỷ lệ tai nạn xe cộ cao nhất hành tinh – nhưng dường như đặc biệt ấn tượng về niềm tin quân đội Israel đặt ở các nhà tâm lý học. “Tỷ lệ trượt ở khóa huấn luyện sĩ quan dao động ở mức 15-20%”, ông viết. “Quân đội tin tưởng vào những bí ẩn của nghiên cứu tâm lý học đến mức họ yêu cầu Ban Tuyển chọn cố gắng xác định 15% này trong tuần huấn luyện đầu tiên”.
Trưởng ban tâm lý quân đội Israel, Lester thuật lại, là một nhân vật mạnh mẽ lạ kỳ có tên Benny Shalit. Shalit đã tranh luận và giành được một vị thế mới, cao hơn cho tâm lý học quân sự. Đơn vị của ông mang một đặc tính nổi loạn; Shalit còn đính hẳn phù hiệu do chính mình thiết kế lên quân phục của đơn vị. Trên đó có cành ô-liu Israel và thanh kiếm, Lester giải thích, “trên đỉnh là một con mắt tượng trưng cho sự đánh giá, nhìn nhận thấu đáo hay đại loại như vậy”. Trong nỗ lực biến ban tâm lý thành một lực lượng chiến đấu, Shalit đã nảy ra những ý tưởng khiến ngay cả các nhà tâm lý học cũng thấy lập dị. Ví dụ như thôi miên người Ả Rập rồi phái chính họ đi ám sát các lãnh đạo của mình. “Ông ấy đã thôi miên một người Ả Rập thật”, Daniela Gordon nhớ lại, ông là cấp dưới của Shalit trong ban tâm lý. “Họ đưa anh ta đến biên giới Gioóc-đa-ni và anh ta chạy mất”.
Tin đồn lan truyền trong giới thuộc cấp của Shalit – và mãi không hết – rằng Shalit nắm giữ những bản đánh giá tính cách của tất cả các nhân vật tai to mặt lớn trong quân đội Israel, kể từ thời họ còn là tân binh trẻ, và ông ta cho họ biết mình không ngại công khai chúng. Dù lý do là gì, Benny Shalit cũng có khả năng đặc biệt trong việc có được những thứ theo ý mình trong quân đội Israel. Một trong những điều kỳ lạ Shalit từng đòi hỏi và đã nhận được là quyền đưa các nhà tâm lý học vào trong đơn vị quân đội, nơi họ có thể trực tiếp cố vấn cho các sĩ quan chỉ huy. “Các nhà tâm lý học chiến trường ở vị thế đưa ra các đề xuất về nhiều vấn đề khác thường”, Lester báo cáo cho các cấp trên ở Hải quân Mỹ. “Ví dụ, người ta nhận thấy các đơn vị bộ binh khi trời nóng, dừng lại để mở đồ uống có ga bằng băng đạn của mình, thường làm hỏng báng súng. Có thể thiết kế lại báng súng để tích hợp một dụng cụ mở chai”. Các nhà tâm lý học của Shalit đã loại bỏ những ống ngắm không sử dụng trên súng tiểu liên, đồng thời thay đổi cách thức tác chiến của các đơn vị súng máy, nhằm tăng tốc độ bắn. Tóm lại, các nhà tâm lý học trong quân đội Israel không còn bị hạn chế nữa. “Tâm lý học quân sự vẫn tồn tại và phát triển tốt ở Israel”, phóng viên hiện trường của Hải quân Mỹ kết luận. “Câu hỏi thú vị là liệu tâm lý học của người Israel có đang trở thành một đơn vị quân sự hay không”.
Tuy nhiên, điều mà các nhà tâm lý học chiến trường của Benny Shalit có thể làm trong suốt trận chiến thực ra lại không rõ ràng. “Ban tâm lý không hề biết phải làm gì”, Eli Fishoff, cấp phó của Benny Shalit, thuật lại. “Chiến tranh hoàn toàn không thể nói trước. Chúng ta chỉ nghĩ biết đâu đó lại là kết thúc của mình”. Chỉ trong vài ngày, quân đội Israel mất khoảng 1% dân số, nhiều hơn cả số lượng lính Mỹ thiệt mạng trong toàn bộ chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến sau đó được chính phủ Israel mô tả là một “thảm họa nhân khẩu học” bởi những nhân vật nổi bật và tài năng của Israel đã bị giết chết. Tại ban tâm lý học, có người nghĩ ra ý tưởng thiết kế một bảng câu hỏi nhằm xác định những điều gì, nếu có, có thể thực hiện để nâng cao sĩ khí của binh lính. Amos nắm lấy cơ hội, giúp thiết kế các câu hỏi, sau đó sử dụng toàn bộ bài tập này ít nhiều như cái cớ để đưa ông tiến gần tới hành động hơn. “Chúng tôi lên xe jeep và đi khắp Sinai tìm kiếm những việc hữu ích để làm”, Danny nói.
Các nhà tâm lý đồng nghiệp của họ, những người quan sát Danny và Amos quăng súng trường lên ghế sau xe jeep và lên đường ra chiến trường, nghĩ rằng họ mất trí rồi. “Amos rất phấn khích – giống như một đứa trẻ nhỏ”, Yaffa Singer hồi tưởng. “Nhưng họ đúng là điên khi đến Sinai. Nơi đó quá nguy hiểm. Có điên mới phái họ mang những bảng câu hỏi đó đi”. Nhẹ nhất thì họ cũng có nguy cơ lao thẳng vào xe tăng và máy bay địch. Mìn gài dưới mặt đất ở khắp mọi nơi; rất dễ dính. “Họ không có đội hộ tống đi kèm”, Daniela Gordon, sĩ quan chỉ huy của họ nói. “Họ tự bảo vệ mình”. Tất cả đều quan tâm đến Amos ít hơn so với Danny. “Chúng tôi rất lo lắng về việc phái Danny đi”, Eli Fishoff, người đứng đầu bộ phận các nhà tâm lý học chiến trường nói. “Tôi không quá lo lắng về Amos – bởi Amos là một chiến binh”.
Tuy nhiên, vào lúc Danny và Amos ở trên chiếc xe jeep gầm vang băng vào Sinai, Danny trở nên hữu dụng. “Ông ấy nhảy xuống xe và chất vấn mọi người”, Fishoff nhớ lại. Amos có vẻ là người thực tiễn nhưng Danny, hơn cả Amos, có tài tìm ra giải pháp cho các vấn đề ở những nơi mà người khác thậm chí còn không thể nhận ra là có vấn đề. Khi họ lao nhanh ra tiền tuyến, Danny thấy những đống rác to bên đường: thức ăn thừa từ đồ ăn đóng hộp do quân đội Mỹ cung cấp. Ông kiểm tra xem binh lính đã ăn gì và vứt bỏ gì. (Họ thích bưởi đóng hộp). Khuyến nghị tiếp theo của ông, về việc quân đội Israel nên tiến hành phân tích rác và cung cấp cho binh lính những thứ họ thật sự muốn, đã lên khắp các mặt báo.
Lính lái xe tăng Israel ngay sau đó hy sinh với tỷ lệ chưa từng có. Danny đến khu vực đang huấn luyện lính lái xe tăng mới nhanh nhất có thể để thay thế những người đã hy sinh. Từng nhóm 4 người thay phiên nhau sau mỗi 2 giờ trên một xe tăng. Danny chỉ ra rằng mọi người học hiệu quả hơn trong những đợt ngắn và lính lái xe tăng mới có thể được huấn luyện nhanh hơn nếu luân phiên kíp sau mỗi 30 phút. Bằng cách nào đó ông cũng đã tìm ra cách cho Không lực Israel. Các phi công chiến đấu cũng hy sinh nhiều chưa từng thấy bởi Ai Cập sử dụng tên lửa đất đối không mới và được cải tiến do Liên Xô cung cấp. Một phi đội đã hứng chịu thiệt hại nặng nề. Vị tướng phụ trách muốn tiến hành điều tra và có thể kỷ luật đơn vị. “Tôi nhớ ông ấy nói với vẻ cáo buộc rằng một trong các phi công đã trúng ‘không chỉ 1 mà là 4 tên lửa!’. Cứ như thể đó là bằng chứng xác thực cho sự vô lý của ông ta”, Danny nhớ lại.
Danny giải thích với vị tướng rằng ông gặp vấn đề về quy mô mẫu: Những tổn thất mà một phi đội chiến đấu lạc lõng phải hứng chịu có thể chỉ xảy ra do xác suất ngẫu nhiên. Nếu điều tra đơn vị, ông ta chắc chắn sẽ tìm thấy những khuôn mẫu trong hành vi có thể xem như lời giải thích. Có lẽ các phi công trong phi đội đó về thăm gia đình nhiều hơn, hoặc mặc quần lót có màu sắc buồn cười hơn. Tuy nhiên, điều ông ta phát hiện có thể chỉ là một ảo tưởng vô nghĩa. Số phi công trong một phi đội không đủ để đạt được ý nghĩa thống kê. Trên hết, một cuộc điều tra, ngầm ý đổ trách nhiệm, sẽ rất tai hại đối với sĩ khí. Ý nghĩa duy nhất của một cuộc điều tra là giữ cho viên tướng cảm giác về quyền lực vô hạn. Vị tướng nghe lời Danny và ngừng điều tra. “Tôi đã xem đó là đóng góp duy nhất của mình cho cuộc chiến”, Danny nói.
Danny thấy công việc thật sự lúc này – đặt câu hỏi cho các binh lính chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu – thật vô nghĩa. Nhiều binh lính bị sang chấn tâm lý. “Chúng tôi đang thắc mắc phải làm gì hay thậm chí đánh giá ra sao với những người bị sốc”, Danny nói. “Mọi người lính đều kinh hãi nhưng có một số người không thể bày tỏ”. Các binh lính Israel bị sốc chiến tranh giống như những người trầm cảm. Có một số vấn đề Danny cảm thấy không có khả năng giải quyết, đây là một trong số đó.
Dù gì ông cũng không thật sự muốn ở lại Sinai, còn Amos có vẻ vẫn muốn ở lại. “Tôi nhớ cái cảm giác vô vị – rằng chúng tôi đang lãng phí thời gian ở đó”, ông nói. Khi chiếc xe jeep của họ cứ nảy lên nảy xuống liên tục gây khó chịu và làm Danny đau lưng, ông để mặc Amos tiến hành bảng câu hỏi. Từ những chuyến đi trên xe jeep, ông chỉ nhớ rõ một chuyện. “Chúng tôi đi ngủ gần một chiếc xe tăng”, ông hồi tưởng. “Dưới đất. Và Amos không thích chỗ tôi ngủ bởi ông ấy nghĩ xe tăng có thể di chuyển và nghiền nát tôi. Tôi nhớ mình đã rất, rất xúc động. Đó không phải là một lời khuyên hợp lẽ. Xe tăng kêu rất to. Nhưng vấn đề là ông ấy lo cho tôi”.
Sau đó, Viện Nghiên cứu Quân đội Walter Reed tiến hành một nghiên cứu về chiến tranh. Tiêu đề của nó là “Những thương vong gây sốc trên chiến trường trong cuộc chiến Ả Rập-Israel năm 1973”. Các chuyên gia tâm thần học soạn báo cáo nhận thấy cường độ chiến tranh thật khác thường – nó kéo dài đến 24 giờ một ngày, ít nhất là vào lúc bắt đầu cuộc chiến – thương vong cũng vậy. Báo cáo cũng nêu, lần đầu tiên, binh lính Israel được chẩn đoán sang chấn tâm lý. Các bảng câu hỏi Amos góp phần soạn đưa ra nhiều câu hỏi đơn giản cho binh lính: Bạn đã ở đâu? Bạn đã làm gì? Bạn đã thấy những gì? Trận chiến thành công chứ? Nếu không thì tại sao?” Mọi người bắt đầu nói về nỗi sợ hãi”, Yaffa Singer nhớ lại. “Về các cảm xúc của họ. Từ cuộc chiến giành độc lập cho tới chiến tranh 1973, họ không được phép sợ hãi. Chúng ta là siêu nhân. Không ai dám nói về nỗi sợ hãi. Nếu chúng ta nói về nó, có lẽ chúng ta sẽ chẳng thể sống sót”.
Nhiều ngày sau cuộc chiến, Amos ngồi lại với Singer cùng hai đồng nghiệp trong đơn vị tâm lý chiến trường và đọc hết các câu trả lời của binh lính. Họ nói về động cơ chiến đấu của mình. “Thông tin kinh khủng đến nỗi mọi người có xu hướng muốn chôn vùi nó”, Singer nói. Nhưng vì bất ngờ, những người lính đã tiết lộ cho các nhà tâm lý học về những cảm xúc mà khi hồi tưởng dường như vẫn rất rõ ràng. “Chúng tôi hỏi, tại sao lại chiến đấu vì đất nước Israel?”, Singer nói. “Cho đến thời điểm đó, chúng tôi chỉ là những con người yêu nước. Khi chúng tôi bắt đầu đọc các bảng câu hỏi thì rõ ràng: Họ chiến đấu vì bè bạn. Vì gia đình. Chứ không phải vì tổ quốc. Chẳng phải vì chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Vào thời điểm đó, đây là một nhận thức lớn lao”. Có lẽ lần đầu tiên, binh lính Israel nói chuyện cởi mở về cảm xúc của mình, khi họ thấy 5 đồng đội yêu mến cùng trung đội bị nổ tung xác, hay chứng kiến người bạn thân nhất trên đời thiệt mạng vì rẽ trái trong khi cần rẽ phải. “Thật đau lòng khi đọc những chuyện đó”, Singer nói.
Ngay khi giao tranh chấm dứt, Amos tìm kiếm những rủi ro không đáng gặp phải – thực tế là những người khác nghĩ thật ngu ngốc khi gặp phải. “Ông ấy quyết định muốn chứng kiến cái kết của chiến tranh dọc theo kênh đào Suez”, Barbara nhớ lại, “mặc dù thừa biết pháo vẫn tiếp tục nã sau thời điểm đình chiến”. Thái độ của Amos đối với rủi ro hiện hữu đôi khi cũng gây sốc cho cả vợ ông. Từng có lần, ông tuyên bố muốn lại được nhảy ra khỏi máy bay, chỉ để cho vui. “Tôi bảo anh có mấy đứa con rồi đấy”, Barbara nói, “thế là hết bàn cãi”. Amos không phải người thích cảm giác mạnh, chính xác là vậy, nhưng ông có những đam mê mạnh mẽ, gần như kiểu trẻ con, đôi lúc ông để chúng cuốn lấy mình và đưa ông đến những nơi hầu như chẳng ai muốn tới.
Cuối cùng, ông băng qua Sinai để đến kênh đào Suez. Có tin đồn là quân đội Israel có thể hành quân đến tận Cairo, còn Liên Xô đang điều vũ khí hạt nhân tới Ai Cập để ngăn chặn Israel. Lúc đến Suez, Amos nhận ra việc nã pháo không chỉ đang tiếp diễn; nó còn ác liệt hơn. Có một truyền thống tồn tại lâu đời ở cả hai phía trong cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel, đó là tranh thủ ngay trước khi đình chiến chính thức để bắn hết mọi loại đạn dược còn sót lại vào đối phương. Tinh thần của việc đó là: Giết được nhiều quân địch nhất trong lúc còn có thể. Lang thang gần kênh đào Suez, cảm giác có một tên lửa sắp phóng tới, Amos liền nhảy xuống hào trúng đầu một anh lính Israel.
Anh là bom à? Người lính kinh hãi hỏi.
Không, tôi là Amos, Amos nói.
Vậy là tôi chưa chết ư? Người lính lại hỏi.
Anh không chết đâu, Amos nói.
Đó là chuyện Amos kể lại. Ngoài chuyện đó ra, ông ít khi nhắc đến chiến tranh.
________________
Cuối năm 1973 hoặc đầu năm 1974, Danny có một buổi nói chuyện, điều mà ông muốn làm nhiều lần, có tiêu đề “Những hạn chế trong nhận thức và việc ra quyết định công”. Ông mở đầu rằng thật đáng lo khi phải xem xét “một sinh vật có hệ thống hoóc-môn dễ xúc động không khác nhiều so với của một kẻ bất chấp có khả năng hủy diệt mọi sự vật sống chỉ bằng cách nhấn vài cái nút”. Căn cứ vào công trình về phán đoán của con người mà ông và Amos vừa hoàn thành, ông thấy đáng lo hơn khi nghĩ đến “các quyết định trọng yếu được đưa ra, hôm nay cũng như hàng nghìn năm trước, dựa trên phán đoán trực giác và sở thích của một vài nhân vật có quyền đưa ra những quyết định quan trọng”. Việc những người ra quyết định không nắm bắt được cơ chế hoạt động trong tâm trí bản thân, cùng mong muốn thỏa mãn các cảm xúc bản năng, khiến “số phận của toàn thể xã hội rất có thể sẽ bị định đoạt bởi một loạt sai lầm vốn có thể tránh mà các lãnh đạo của họ phạm phải”.
Trước chiến tranh, Danny và Amos từng cùng hy vọng công trình của họ về phán đoán của con người sẽ được áp dụng vào việc ra quyết định rủi ro cao trong thế giới thực. Trong lĩnh vực mới được gọi là phân tích quyết định này, họ có thể biến các quyết định có tính rủi ro cao thành một dạng vấn đề kỹ thuật. Họ sẽ thiết kế các hệ thống ra quyết định. Các chuyên gia về ra quyết định sẽ ngồi lại với lãnh đạo doanh nghiệp, quân sự và chính phủ để giúp họ tạo lập mọi quyết định rõ ràng như một canh bạc, tính toán xác suất của chuyện này hay chuyện kia và gán các giá trị cho mỗi kết quả đầu ra khả thi. Nếu chuyển hướng bão, sẽ có 50% khả năng chúng ta giảm được tốc độ gió nhưng có 5% khả năng chúng ta sẽ ru ngủ những người thật sự nên di tản bằng cảm giác an toàn giả: Chúng ta làm gì đây? Thêm nữa, các nhà phân tích quyết định sẽ nhắc nhở những người có quyền đưa ra quyết định quan trọng rằng cảm giác bản năng có sức mạnh thần bí để lái cho họ sai. “Thay đổi chung trong văn hóa của chúng ta đối với các công thức số học sẽ nhường chỗ cho việc tham khảo rõ ràng về sự không chắc chắn”, Amos viết trong các ghi chép chuẩn bị cho buổi nói chuyện. Cả Amos và Danny đều nghĩ các cử tri, cổ đông và tất cả những ai chấp nhận hậu quả của các quyết định cấp cao có thể sẽ hiểu biết thấu đáo hơn về bản chất của việc ra quyết định. Họ sẽ biết cách đánh giá một quyết định không phải bằng các kết quả của nó – hóa ra là đúng hay sai – mà bằng cả quá trình dẫn dắt đến nó. Công việc của người ra quyết định không phải là để đúng mà là để chỉ ra xác suất trong bất cứ quyết định nào, và phải áp dụng thật tốt. Như Danny từng nói với khán giả ở Israel, điều cần thiết là một “thay đổi thái độ văn hóa đối với sự không chắc chắn và rủi ro”.
Cách một nhà phân tích quyết định thuyết phục được lãnh đạo doanh nghiệp, quân đội hay chính trị cho phép ông ta hiệu chỉnh tư duy vẫn chưa rõ ràng. Làm thế nào để thuyết phục một người ra quyết định gán các con số cho “độ thỏa dụng” của ông ta? Các nhân vật quan trọng không muốn kìm nén những cảm giác bản năng, ngay cả bởi bản thân họ. Và đó chính là khó khăn.
Sau này, Danny nhớ lại thời điểm mình và Amos mất niềm tin vào các nhà phân tích quyết định. Thất bại của tình báo Israel trong việc dự báo cuộc tấn công Yom Kippur đã dẫn tới biến động trong chính phủ Israel và một giai đoạn rà soát ngắn sau đó. Họ chiến thắng cuộc chiến nhưng cảm giác kết quả giống như thua vậy. Người Ai Cập, hứng chịu thiệt hại còn lớn hơn, lại đang ăn mừng trên đường phố cứ như thể họ chiến thắng, trong khi mọi người ở Israel đang ra sức xác định sai lầm nằm ở đâu. Trước chiến tranh, đơn vị tình báo Israel cứ khăng khăng, bất chấp nhiều bằng chứng ngược lại, rằng Ai Cập sẽ không bao giờ tấn công một khi Israel vẫn duy trì được ưu thế về không quân. Israel duy trì được thế thượng phong ấy nhưng Ai Cập vẫn tấn công. Sau cuộc chiến, với quan điểm có thể làm tốt hơn, Bộ Ngoại giao Israel đã thành lập đơn vị tình báo của riêng mình. Người phụ trách, Zvi Lanir, đã nhờ đến sự giúp đỡ của Danny. Cuối cùng, Danny và Lanir đã tiến hành một bài thực hành phức tạp về phân tích quyết định. Mục đích cơ bản là giới thiệu các tiêu chuẩn mới cao cấp hơn trong việc giải quyết những câu hỏi về an ninh quốc gia. “Chúng tôi bắt đầu với ý tưởng loại bỏ báo cáo tình báo thông thường”, Danny nói. “Các báo cáo tình báo trình bày theo dạng bài luận. Và đặc điểm của các bài luận là có thể hiểu theo bất cứ kiểu nào bạn muốn”. Thay cho bài luận, Danny muốn trao cho nhà lãnh đạo Israel kiểu báo cáo trình bày các khả năng dưới dạng số học.
Năm 1974, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đóng vai trò trung gian đàm phán hòa bình giữa Israel với Ai Cập và giữa Israel với Syria. Nhằm thúc đẩy hành động, Kissinger gửi cho chính phủ Israel bản đánh giá của CIA rằng, nếu nỗ lực gây dựng hòa bình thất bại, những sự kiện rất tồi tệ nhiều khả năng sẽ xảy ra. Danny và Lanir bắt đầu cung cấp cho Bộ trưởng Yigal Allon và Cục trưởng của Bộ Ngoại giao Israel các ước tính số học chính xác về khả năng xảy ra những điều tồi tệ cụ thể nào đó. Họ tập hợp một danh sách “các sự kiện hay mối quan tâm trọng yếu” có thể xảy ra: thay đổi chế độ ở Gioóc-đa-ni, Mỹ công nhận Tổ chức giải phóng Palestine, chiến tranh tổng lực với Syria… Sau đó họ khảo sát các chuyên gia và giới quan sát thạo tin nhằm xây dựng xác suất của từng sự kiện. Giữa các nhân vật ấy, họ tìm ra một sự đồng thuận đáng chú ý: Không có nhiều bất đồng về các xác suất. Chẳng hạn, khi Danny hỏi các chuyên gia rằng thất bại của những cuộc đàm phán của Kissinger có thể ảnh hưởng như thế nào đến khả năng xảy ra chiến tranh với Syria, các câu trả lời của họ đều xoay quanh “tăng 10% khả năng xảy ra chiến tranh”.
Danny và Lanir sau đó trình bày các xác suất của mình cho Ngoại trưởng Israel (Họ gọi báo cáo của mình là “Canh bạc Quốc gia”). Ngài Cục trưởng nhìn vào các con số và nói: “Tăng 10% thôi à? – khác biệt đó rất nhỏ”.
Danny sửng sốt: nếu tăng 10% xác suất xảy ra cuộc chiến tổng lực với Syria không đủ khiến Cục trưởng quan tâm đến tiến trình hòa bình của Kissinger thì bao nhiêu mới được? Con số đó đã thể hiện ước tính xác suất tốt nhất. Rõ ràng Cục trưởng không muốn dựa vào những dự báo tốt nhất. Ông ta ưa thích cái máy tính xác suất ở bên trong bản thân hơn: trực giác. “Đó là khoảnh khắc tôi từ bỏ việc phân tích quyết định”, Danny nói. “Không ai đưa ra quyết định vì một con số. Họ cần một câu chuyện”. Như Danny và Lanir viết, nhiều thập kỷ sau đó, sau khi Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ yêu cầu họ mô tả kinh nghiệm trong việc phân tích quyết định, Bộ Ngoại giao Israel đã “bàng quan trước các xác suất cụ thể”. Tính xác suất đánh bạc có ích gì nếu người đón nhận nó không tin hay cũng chẳng muốn biết về các con số? Danny nghi ngờ vấn đề nằm ở chỗ “hiểu biết về các con số ít đến mức chúng chẳng nói lên được gì. Mọi người cảm thấy các xác suất đó không có thật – chúng chỉ là thứ gì đó trong tâm trí con người”.
________________
Trong lịch sử của Amos và Danny, có những giai đoạn khó tách bạch nhiệt huyết của họ dành cho các ý tưởng và nhiệt huyết họ dành cho nhau. Sau này nhìn lại, những thời điểm trước và sau sự kiện Yom Kippur không giống một quá trình khai triển các ý tưởng mà là hai người đàn ông đang nhiệt tình yêu đương muốn tìm cớ để ở bên nhau. Họ cảm nhận mình đã hoàn thành việc khám phá những lỗi phát sinh từ các quy tắc ngón tay cái mà mọi người sử dụng để đánh giá xác suất trong bất cứ tình huống bất định nào. Họ cảm nhận việc phân tích quyết định đầy hứa hẹn nhưng rốt cuộc lại rất phù phiếm. Họ cứ viết tới viết lui một cuốn sách nhìn chung là thú vị về những cách thức khác nhau của tâm trí con người trong giải quyết sự không chắc chắn; vì một lý do nào đó, họ không bao giờ có thể cho qua một đề cương sơ sài và khởi đầu lỗi ở một vài chương. Sau trận Yom Kippur – cùng sự sụp đổ niềm tin tiếp sau đó của công chúng đối với phán đoán của các quan chức chính phủ Israel – họ nghĩ điều mình thực sự nên làm là cải cách hệ thống giáo dục để các nhà lãnh đạo tương lai được dạy cách tư duy. “Chúng tôi đã cố gắng dạy mọi người nhận thức các cạm bẫy và ngụy biện trong lập luận của chính họ”, Amos và Danny viết trong một đoạn thuộc cuốn sách nổi tiếng chẳng bao giờ thành hiện thực. “Chúng tôi đã cố gắng dạy mọi người ở các cấp khác nhau trong chính phủ, quân đội… nhưng thành công thu được chỉ có hạn”.
Tâm trí những người trưởng thành đã quá tự lừa dối bản thân. Tâm trí trẻ con lại là một vấn đề khác. Danny xây dựng một khóa học về sự phán đoán dành cho trẻ tiểu học, Amos dạy sơ lược một lớp tương tự cho học sinh trung học, họ cùng nhau đưa ra đề xuất về một cuốn sách. “Chúng tôi nhận thấy những trải nghiệm này rất đáng khích lệ”, họ viết. Nếu họ có thể dạy trẻ em Israel cách tư duy – cách phát hiện ra trực giác cám dỗ lệch lạc và sửa chữa nó – thì ai biết được nó có thể dẫn đến đâu? Có lẽ một ngày nào đó, những đứa trẻ đó sẽ trưởng thành để nhận ra sự khôn ngoan của việc thúc đẩy những nỗ lực của Henry Kissinger nhằm kiến tạo hòa bình giữa Israel với Syria. Nhưng chuyện này thì chúng cũng không bao giờ thực hiện trọn vẹn được. Chúng chưa từng ra nước ngoài. Cứ như thể cám dỗ trong việc lên tiếng với công chúng đã xen vào sự quan tâm đến suy nghĩ của nhau.
Thay vào đó, Amos mời Danny khám phá một câu hỏi khiến Amos vẫn giữ được niềm hứng thú với tâm lý học: Mọi người ra quyết định như thế nào? “Một hôm, Amos chỉ nói: ‘Chúng ta đã phán đoán xong. Giờ hãy ra quyết định’”, Danny nhớ lại.
Sự khác biệt giữa phán đoán và ra quyết định có vẻ mờ nhạt như khác biệt giữa phán đoán với dự báo. Nhưng đối với Amos, giống như các nhà tâm lý toán học khác, chúng là những lĩnh vực tham vấn khác biệt. Một người đưa ra phán đoán sẽ tính xác suất. Xác suất anh chàng đó trở thành một cầu thủ NBA giỏi là bao nhiêu? Nếu một khoản thế chấp dưới chuẩn được xếp loại AAA bảo lãnh cho một CDO1 thì rủi ro cỡ nào? Vết mờ trên hình ảnh X-quang có phải là ung thư? Không phải mọi phán đoán đều dẫn đến quyết định nhưng mọi quyết định đều ngụ ý một phán đoán. Lĩnh vực ra quyết định khám phá điều mọi người làm sau khi có phán đoán – sau khi họ biết xác suất, hoặc nghĩ mình biết xác suất, hay có lẽ đã phán đoán là không thể biết xác suất. Tôi có chọn cầu thủ đó không? Tôi có mua CDO đó không? Phẫu thuật hay làm hóa trị? Đó là việc tìm hiểu cách thức con người hành động khi đối mặt với các lựa chọn rủi ro.
1. Viết tắt của collateralized debt obligations – nghĩa vụ nợ thế chấp. (ND)
Các sinh viên học về ra quyết định hầu như đã từ bỏ điều tra thế giới thực và thu hẹp lĩnh vực nghiên cứu thành trò may rủi giả định, được thực hiện bởi những đối tượng trong phòng thí nghiệm, ở đó các xác suất được nêu rõ ràng. Vai trò của các trò may rủi giả định trong việc nghiên cứu ra quyết định giống như con ruồi giấm trong nghiên cứu về di truyền. Chúng đại diện cho các hiện tượng không thể tách bạch trong thế giới thật. Để đưa Danny đến với lĩnh vực của mình – Danny không biết gì về nó cả – Amos đưa ông một giáo trình cấp đại học về tâm lý toán học mà mình viết cùng thầy Clyde Coombs và một sinh viên khác của Coombs, Robyn Dawes, nhà nghiên cứu đã tự tin đưa ra phán đoán sai bét về “Nhà khoa học máy tính!” khi Danny đưa cho ông ta bản phác thảo về Tom W ở Oregon. Sau đó ông đưa Danny đến một chương rất dài có tên gọi là “Ra quyết định cá nhân”.
Lịch sử của lý thuyết về quyết định – cuốn giáo trình giải thích cho Danny – bắt đầu vào đầu thế kỷ XIX, khi đám quý tộc Pháp mê cờ bạc nhờ các nhà toán học trong triều đình giúp xác định cách đánh bạc. Giá trị kỳ vọng của một trò đánh bạc là tổng cộng các kết quả đầu ra của nó, mỗi kết quả có trọng số được tính theo xác suất. Nếu ai đó rủ bạn chơi trò tung đồng xu, bạn sẽ thắng 100 đô-la nếu đồng xu ngửa nhưng sẽ thua nếu nó sấp, giá trị kỳ vọng là $100 × 0,5 + (-$50) × 0,5 hay $25. Nếu bạn làm theo quy luật cá cược có giá trị kỳ vọng dương thì bạn sẽ chơi. Nhưng ai cũng có thể thấy khi chơi trò cá cược, không phải lúc nào mọi người cũng hành động như thể đang tìm cách tối đa hóa giá trị kỳ vọng của mình. Các con bạc chấp nhận những vụ cá cược có giá trị kỳ vọng âm; nếu không, các sòng bạc sẽ chẳng thể tồn tại. Và những người mua bảo hiểm trả phí cao hơn mức tổn thất dự kiến; nếu không, các công ty bảo hiểm sẽ chẳng làm ăn nổi. Bất cứ lý thuyết nào ra vẻ diễn giải cách một người duy lý nên đón nhận các rủi ro ít nhất cũng phải xem xét mong muốn thông thường của con người như mua bảo hiểm, cũng như xét đến cả những trường hợp khác mà ở đó, mọi người thất bại một cách có hệ thống trong việc tối đa hóa giá trị kỳ vọng.
Lý thuyết trọng yếu về ra quyết định, cuốn giáo trình của Amos diễn giải, đã được xuất bản vào những năm 1730 bởi một nhà toán học người Thụy Sĩ tên Daniel Bernoulli. Bernoulli tìm cách đo lường tốt hơn một chút so với các phép tính giá trị kỳ vọng đơn giản để biết con người thật sự hành xử như thế nào. “Chúng ta hãy cứ giả định một người nghèo khổ bất ngờ mua được tờ vé số mà xác suất trượt hay thắng 20.000 đồng ducat là như nhau”, ông viết, thời đó ducat là đồng tiền trao đổi. “Anh ta có phải tính giá trị của tờ vé số là 10.000 ducat, hay sẽ hành xử một cách ngốc nghếch là bán nó lấy 9.000 ducat?”. Để giải thích tại sao một người nghèo thích 9.000 ducat hơn một cơ hội 50-50 thắng được 20.000 ducat, Bernoulli đã dùng đến mánh khóe của bàn tay. Mọi người không tối đa hóa giá trị, ông nói, họ tối đa “độ thỏa dụng”.
“Độ thỏa dụng” của một người là gì? (khái niệm xác suất hơi khó nghe đó ở đây nghĩa là “giá trị một người gán cho tiền bạc”). À, điều đó phụ thuộc vào chuyện người ta bỏ ra bao nhiêu tiền lúc mới bắt đầu. Nhưng một người nghèo khổ cầm tờ vé số với giá trị kỳ vọng 10.000 ducat dĩ nhiên sẽ thấy tính hữu dụng của 9.000 ducat tiền mặt cao hơn.
“Mọi người sẽ chọn thứ họ muốn có nhất” không hoàn toàn giống như một lý thuyết hữu ích nhằm dự báo hành vi con người. Điều cứu rỗi “lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng”, về sau nó được gọi như thế, khỏi việc quá ư chung chung đến mức vô nghĩa chính là các giả định của nó về bản chất con người. Đối với giả định của ông rằng con người ra quyết định muốn tìm cách tối đa hóa độ thỏa dụng, Bernoulli bổ sung một giả định là mọi người đều “e ngại rủi ro”. Giáo trình của Amos định nghĩa sự e ngại rủi ro như sau: “Một người càng có nhiều tiền thì càng đánh giá thấp mỗi khoản tăng thêm, hoặc tương đương, độ thỏa dụng của mỗi đồng tiền được thêm sẽ giảm đi khi gia tăng vốn”. Bạn đánh giá 1.000 đô-la thứ hai mình kiếm được thấp hơn một chút so với 1.000 đô-la đầu tiên. Giá trị biên tế của những đồng đô-la bạn bỏ ra để mua bảo hiểm cháy nổ cho ngôi nhà của mình thấp hơn giá trị biên tế của số tiền bạn mất đi nếu nhà bị cháy – điều này lý giải tại sao mặc dù bảo hiểm là một khoản cược ngu ngốc (nói một cách xác đáng là vậy), bạn vẫn mua. Bạn đánh giá thấp 1.000 đô-la bạn có khả năng thắng bằng việc tung đồng xu so với khoản 1.000 đô-la đã có sẵn trong tài khoản ngân hàng mà bạn có thể mất đi – và thế là bạn từ chối cược. Một người nghèo khổ đặt quá nhiều giá trị lên 9.000 ducat đầu tiên mà anh ta có được đến nỗi nguy cơ không có được nó lấn át cám dỗ đánh bạc, với xác suất cao, để có được nhiều hơn.
Điều này không nói lên rằng những con người thật trong thế giới thật hành xử như thế bởi họ có những đặc điểm mà Bernoulli gán cho họ. Chỉ là lý thuyết dường như mô tả một số việc con người làm trong thế giới thật, với đồng tiền thật. Nó lý giải mong muốn mua bảo hiểm. Tuy nhiên, nó rõ ràng không giải thích cho khao khát mua tờ vé số. Nó đã làm ngơ trước trò may rủi. Kỳ lạ thay, việc tìm kiếm một lý thuyết về cách con người đưa ra quyết định mạo hiểm đã khởi đầu như một nỗ lực nhằm biến người Pháp thành những con bạc ranh mãnh.
Văn bản của Amos đã bỏ qua lịch sử lâu dài đầy tổn thương của lý thuyết về độ thỏa dụng sau thời của Bernoulli cho đến tận năm 1944. Một người Do Thái Hungary có tên John von Neumann và một người Áo bài Do Thái tên Oskar Morgenstern cùng trốn khỏi châu Âu để đến Mỹ, bằng cách nào đó đã cùng nhau xuất bản công trình gọi là các quy luật duy lý. Chẳng hạn, một con người duy lý đưa ra quyết định giữa những định đề rủi ro sẽ không vi phạm tiên đề bắc cầu của von Neumann và Morgenstern: Nếu anh ta thích A hơn B và thích B hơn C thì anh ta thích A hơn C. Một ai đó thích A hơn B và thích B hơn C nhưng rồi lại thích C hơn A thì người đó đã vi phạm lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng. Trong các quy luật còn lại, có lẽ quy luật quan trọng nhất – điều rồi sẽ đến – là thứ được von Neumann và Morgenstern gọi là “tiên đề độc lập”. Quy luật này là một lựa chọn giữa hai trò đánh bạc sẽ không bị thay đổi bởi sự có mặt của một phương án thay thế không liên quan. Ví dụ: bạn bước vào một quán ăn để mua một chiếc sandwich nhưng người đàn ông đứng sau quầy nói chỉ còn thịt bò và gà tây. Bạn chọn gà tây. Khi làm bánh sandwich cho bạn, ông ta ngẩng lên rồi nói: “À, phải rồi, tôi quên mất là có giăm-bông”. Thế là bạn nói: “Ồ, thế thì cho tôi thịt bò”. Tiên đề của Von Neumann và Morgenstern nói rằng, trên thực tế, bạn không thể được xem là duy lý nếu chuyển từ thịt gà tây sang bò chỉ vì người ta tìm thấy thịt giăm- bông trong bếp.
Và thật sự thì ai sẽ thay đổi? Giống như các quy luật khác về tính duy lý, tiên đề độc lập có vẻ hợp lý và rõ ràng không mâu thuẫn với cách thức hành xử chung của con người.
Lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng chỉ là một lý thuyết. Nó không giả bộ có thể giải thích hay dự báo mọi thứ con người làm khi đối mặt với một quyết định rủi ro nào đấy. Danny nhận thấy tầm quan trọng của nó không chỉ qua việc đọc mô tả của Amos trong giáo trình cấp đại học mà còn từ cách Amos nói về nó. “Đây là điều thiêng liêng đối với Amos”, Danny nói. Mặc dù lý thuyết không khẳng định thông tin tâm lý học, nhưng cuốn giáo trình mà Amos là đồng tác giả đã chỉ rõ nó được chấp nhận là đúng về mặt tâm lý học. Đa phần những ai ưa thích những thứ như thế, một nhóm bao gồm cả ngành kinh tế học, dường như coi nó là một mô tả công bằng về cách người bình thường đối mặt với các phương án thay thế rủi ro khi đưa ra lựa chọn. Niềm tin vội vàng ấy có ít nhất một hàm ý rõ ràng về kiểu lời khuyên mà các nhà kinh tế học tư vấn cho lãnh đạo chính trị: Nó nghiêng mọi thứ theo hướng cho con người quyền tự do lựa chọn và để mặc thị trường tự vận hành. Sau cùng, nếu con người được xem là duy lý một cách căn bản thì các thị trường cũng thế.
Amos rõ ràng đã thắc mắc về chuyện đó, ngay cả khi còn là một nghiên cứu sinh ở Michigan. Ông luôn mang trong mình bản năng tự nhiên là phát hiện điểm yếu trong ý tưởng của người khác. Lẽ dĩ nhiên, ông hiểu rằng mọi người đưa ra những quyết định mà lý thuyết có lẽ sẽ không dự báo được. Bản thân Amos từng khám phá ra cách con người có thể – điều mà lý thuyết cho rằng không phải – “bắc cầu” một cách đáng tin cậy. Là một nghiên cứu sinh tại Michigan, ông đã nhiều lần xúi các sinh viên sau đại học Harvard và tội phạm hình sự ở nhà tù Michigan lựa chọn trò đánh bạc A thay vì B, sau đó chọn trò B thay vì C – rồi quay lại chọn C thay vì A. Điều đó vi phạm quy tắc của lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng. Nhưng Amos chưa bao giờ theo đuổi những nỗi nghi ngờ của mình quá nhiều. Ông thấy con người thỉnh thoảng vẫn mắc sai lầm, cũng chẳng thấy có sự phi lý hệ thống nào trong cách họ ra quyết định. Ông không tìm được cách đem những am hiểu sâu sắc về bản chất con người vào trong nghiên cứu toán học về việc ra quyết định.
Vào mùa hè năm 1973, Amos tìm cách sửa lỗi lý thuyết thịnh hành về việc ra quyết định, ngay khi ông và Danny hủy bỏ quan điểm phán đoán của con người tuân theo những quy luật của lý thuyết thống kê. Trong chuyến đi tới châu Âu cùng người bạn Paul Slovic, ông đã chia sẻ những suy nghĩ mới nhất về cách giành chỗ cho một quan điểm hỗn độn hơn về bản chất con người trong thế giới của lý thuyết ra quyết định. “Amos cảnh báo về việc đọ lý thuyết về độ thỏa dụng với một mô hình thay thế trong một bài kiểm tra thực nghiệm trực tiếp, đối đầu”, Slovic kể lại trong bức thư gửi một đồng nghiệp vào tháng 9 năm 1973. “Vấn đề nằm ở chỗ lý thuyết về độ thỏa dụng quá chung chung đến nỗi thật khó để bắt bẻ. Chiến lược của chúng ta nên là hăng hái xây dựng một trường hợp, không chống lại lý thuyết về độ thỏa dụng, mà cho một quan niệm thay thế nhằm giới thiệu những hạn chế của con người như một sự kiềm tỏa”.
Amos có một chuyên gia am tường về các hạn chế của con người. Giờ đây, ông mô tả Danny là “nhà tâm lý học đang sống vĩ đại nhất của thế giới”. Ông chưa từng trực tiếp nói điều gì tâng bốc với Danny. (“Nguyên tắc của đàn ông là ít nói”, Danny nói). Amos chưa từng giải thích đầy đủ với Danny lý do ông nghĩ đến việc mời Danny tham gia vào lý thuyết về quyết định – một lĩnh vực mang tính kỹ thuật và khá nhạt nhẽo Danny ít quan tâm, cũng không biết gì nhiều hơn Amos. Nhưng thật khó tin là Amos chỉ đang tìm ra một thứ gì đó để họ có thể làm cùng nhau. Điều dễ tin hơn là Amos ngờ vực chuyện có thể xảy ra sau khi ông đưa Danny cuốn giáo trình của mình về chủ đề đó. Khoảnh khắc đó giống như bộ phim cũ Ba chàng Ngốc, khi Larry chơi bài “Pop Goes the Weasel” khiến Curly đánh đấm điên cuồng.
Danny đọc cuốn giáo trình của Amos theo cách đọc một công thức nấu ăn do người sao Hỏa viết. Ông giải mã nó. Từ lâu ông đã nhận ra mình không phải là một nhà toán học ứng dụng, nhưng ông có thể hiểu tính logic của các phương trình. Ông biết mình phải tôn trọng, thậm chí tôn sùng chúng. Amos là thành viên có vị trí cao trong cộng đồng các nhà tâm lý toán học. Cộng đồng đó xem thường hầu hết giới tâm lý học. “Người ta cho rằng những ai sử dụng toán học thì có sức lôi cuốn nào đó”, Danny nói. “Cộng đồng được trọng vọng vì nó đi vay mượn hào quang của toán học và chẳng ai khác có thể hiểu những gì đang diễn ra ở đó”. Danny không thể thoát khỏi uy tín đang lên của toán học trong khoa học xã hội: Chính sự xa rời của ông đã làm hại ông. Nhưng Danny thực sự không ngưỡng mộ lý thuyết về quyết định, cũng chẳng quan tâm gì đến nó. Ông chú trọng đến lý do con người hành xử như cách của họ. Và trong lối tư duy của Danny, lý thuyết trọng yếu về ra quyết định không bắt đầu mô tả cách con người ra quyết định.
Chắc hẳn đã có điều gì đó khiến Danny nhẹ người khi đọc gần hết chương sách của Amos về lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng, rồi dẫn tới câu: “Tuy nhiên, một số người vẫn không bị các tiên đề thuyết phục”.
Maurice Allais là một người như thế. Allais là một nhà kinh tế học người Pháp không hề ưa thích việc các nhà kinh tế học người Mỹ luôn tự đắc. Ông đặc biệt không tán thành khuynh hướng đang phát triển trong kinh tế học, sau khi von Neumann và Morgenstern xây dựng lý thuyết của họ, coi mô hình toán về hành vi của con người như sự mô tả chính xác về cách thức con người lựa chọn. Tại một hội nghị của các nhà kinh tế vào năm 1953, Allais đã đưa ra điều ông hình dung là một lập luận sắc bén chống lại lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng. Ông yêu cầu khán giả tưởng tượng ra các lựa chọn của họ trong hai tình huống sau (số tiền tính bằng đô-la Allais dùng ở đây được nhân 10 để tính đến lạm phát và thể hiện cảm giác về vấn đề ban đầu của ông):
Tình huống 1. Bạn phải chọn giữa:
1. Chắc chắn có 5 triệu đô-la với canh bạc dưới đây:
2. 89% xác suất thắng 5 triệu đô-la
10% xác suất thắng 25 triệu đô-la
1% xác suất tay trắng
Đa số, rõ ràng bao gồm nhiều nhà kinh tế học người Mỹ trong số các khán giả của Allais, đều nói: “Dĩ nhiên tôi sẽ chọn ngay số 1, lấy 5 triệu đô-la cho chắc”. Họ thích việc chắc chắn giàu lên hơn khả năng thấp có thể giàu sụ hơn nữa. Allais đáp: “Được rồi, bây giờ hãy cân nhắc tình huống thứ hai sau”.
Tình huống 2. Bạn phải lựa chọn giữa việc có:
3) Xác suất 11% thắng 5 triệu đô-la, 89% trắng tay hoặc
4) 10% xác suất thắng 25 triệu đô-la, 90% xác suất tay trắng
Đa số, gồm cả các nhà kinh tế học Mỹ, xem xét lựa chọn này và nói: “Tôi sẽ chọn số 4”. Họ thích khả năng thấp hơn một chút để thắng được nhiều tiền hơn. Điều này không có gì sai; xét về bề nổi, cả hai lựa chọn đều có vẻ hoàn toàn hợp lý. Vấn đề, như giáo trình của Amos từng diễn giải, chính là “cặp ưu tiên tưởng như vô hại này lại xung khắc với lý thuyết về độ thỏa dụng”. Điều giờ đây được gọi là nghịch lý Allais đã trở thành điểm mâu thuẫn nổi tiếng nhất trong lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng. Vấn đề của Allais khiến ngay cả nhà kinh tế học máu lạnh nhất của Mỹ cũng phải vi phạm các nguyên tắc duy lý.1
1. Tôi xin lỗi vì điều này, nhưng tôi muốn hoàn thành nó. Những ai bị ‘đơ’ khi phải đối đầu với môn đại số có thể bỏ qua điều tiếp sau đây. Một bằng chứng đơn giản của nghịch lý, do Danny và Amos đưa ra, sẽ được bàn đến sau. Nhưng ở đây, hầu hết những gì được mô phỏng từ cuốn Mathematical Psychology: An Elementary Introduction (tạm dịch: Tâm lý toán học: Nhập môn sơ cấp), đều là bằng chứng về quan điểm của Allais mà Amos đã đề nghị Danny cân nhắc.
Cho u đại diện cho độ thỏa dụng
Trong trường hợp 1:
u (canh bạc 1) >u (canh bạc 2)
và do đó
1u(5) > .10u(25) + .89u(5) + .01u(0)
nên
.11u(5) > .10u(25) + .01u(0)
Bây giờ chuyển qua trường hợp 2, hầu hết mọi người chọn 4 thay vì 3. Điều này hàm ý
u (canh bạc 4) >u (canh bạc 3)
và do đó
.10u(25) + .90u(0) > .11u(5) + .89u(0)
nên
.10u(25) + .01u(0) > .11u(5)
Hoặc sự đảo ngược chính xác của lựa chọn trong canh bạc 1. (TG)
Lời mở đầu của Amos về tâm lý toán học đã phác họa nên cuộc bàn cãi và tranh luận vốn đã nảy sinh sau khi Allais đưa ra nghịch lý của mình. Ở đầu Mỹ, cuộc tranh cãi mang tính công kích được dẫn đầu bởi nhà thống kê và toán học tài năng người Mỹ L. J. (Jimmie) Savage, người đã có những đóng góp quan trọng cho lý thuyết về độ thỏa dụng, ông khẳng định từng bị Allais lừa cho mâu thuẫn với chính mình. Savage tìm ra một cách thậm chí còn phức tạp hơn để trình bày lại các canh bạc của Allais, vì thế ít nhất cũng có vài người sùng bái lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng, bao gồm cả ông, nhìn vào trường hợp thứ 2 và chọn số 3 thay vì 4. Điều đó nghĩa là ông chứng minh – hay nghĩ mình đã chứng minh – “nghịch lý” Allais không phải là một nghịch lý và mọi người hành xử đúng như độ thỏa dụng kỳ vọng đã dự báo. Amos và hầu hết mọi người quan tâm đến những thứ như vậy vẫn ngờ vực.
Khi Danny tìm hiểu bằng cách đọc lý thuyết về việc ra quyết định, Amos giúp ông hiểu ra đâu là điều quan trọng. “Ông ấy có gu không chê vào đâu được”, Danny nói. “Ông ấy biết vấn đề là gì. Ông ấy biết cách giành vị trí trong một lĩnh vực rộng lớn. Tôi thì không có được khả năng đó”. Điều quan trọng, Amos nói, là những vấn đề hóc búa nan giải. “Amos nói: ‘Đây chính là câu chuyện, đây là trò chơi. Trò chơi là giải nghịch lý Allais’”.
Danny không có khuynh hướng coi nghịch lý là một vấn đề của logic. Đối với ông, nó giống như một thứ kỳ quặc trong hành vi con người hơn. “Tôi muốn hiểu chuyện gì đang diễn ra trong tâm lý học”, ông nói. Danny cảm thấy bản thân Allais không nghĩ nhiều tới lý do con người có thể lựa chọn theo một cách thức vi phạm lý thuyết trọng yếu của việc ra quyết định. Nhưng đối với Danny, lý do dường như rõ ràng: nỗi tiếc nuối. Trong trường hợp thứ nhất, mọi người cảm thấy họ sẽ phải nhìn lại quyết định của mình nếu kết quả tệ hại và cảm thấy thất bại; ở trường hợp thứ hai thì không hẳn. Bất cứ ai không đón nhận món quà chắc chắn 5 triệu đô-la sẽ trải qua cảm giác tiếc nuối hơn nhiều, nếu cuối cùng anh ta chẳng được gì, so với một người từ chối canh bạc mà xác suất giành 5 triệu đô-la rất mong manh. Nếu mọi người đa số chọn phương án 1, đó là do họ cảm thấy nỗi đau đặc biệt sẽ phải trải qua nếu chọn phương án 2 để rồi chẳng được gì. Né tránh nỗi đau đó trở thành một mục khi tính toán độ thỏa dụng kỳ vọng trong lòng. Nỗi nuối tiếc chính là món giăm-bông trong quán ăn khiến người ta đổi từ gà tây sang bò.
Lý thuyết về quyết định đã tiếp cận thứ dường như mâu thuẫn trong nghịch lý Allais như một vấn đề kỹ thuật. Danny thấy điều đó thật ngớ ngẩn: Không hề có mâu thuẫn gì cả. Đó chỉ là tâm lý. Sự thấu hiểu mọi quyết định phải lý giải cho không chỉ các hậu quả tài chính mà cả hậu quả cảm xúc. “Rõ ràng sự nuối tiếc không định đoạt các quyết định – chính xác là phản ứng cảm xúc thật sự đối với các hậu quả do đã lựa chọn trước đó”, Danny viết cho Amos trong một bản ghi nhớ về chủ đề này. “Chính việc lường trước nỗi nuối tiếc đã ảnh hưởng tới các quyết định, cùng với việc dự báo những hậu quả khác”. Danny nghĩ mọi người dự báo sự nuối tiếc và điều chỉnh nó bằng cách không dự đoán hay điều chỉnh cho các cảm xúc khác. “Đó có thể là một thành phần thiết yếu của sự đau khổ”, ông viết cho Amos. “Có một sự bất đối xứng ở đây, bởi việc xem xét mọi việc có thể đã tồi tệ hơn đến mức nào không phải là một yếu tố nổi bật trong niềm vui và hạnh phúc của con người”.
Người hạnh phúc không đắm chìm vào nỗi bất hạnh tưởng tượng như cách người bất hạnh hình dung mình có thể làm khác đi để được hạnh phúc. Con người không tìm cách né tránh các cảm xúc khác bằng cùng một thứ năng lượng họ đã tìm kiếm để tránh nuối tiếc.
Khi ra quyết định, người ta không tìm cách tối đa hóa độ thỏa dụng. Họ tìm cách hạn chế tối đa sự nuối tiếc. Là xuất phát điểm cho một lý thuyết mới, nó có vẻ triển vọng. Khi người ta hỏi Amos cách ông đưa ra những quyết định quan trọng trong đời, ông thường nói chiến lược của mình là mường tượng ra điều sẽ khiến ông nuối tiếc sau khi đưa ra một lựa chọn nào đó, rồi chọn phương án khiến ông cảm thấy ít hối tiếc nhất. Danny, về phần mình, lại nhân cách hóa nỗi nuối tiếc. Danny sẽ không thay đổi đặt vé máy bay cho mình, ngay cả khi sự thay đổi ấy giúp đời ông trở nên dễ dàng hơn rất nhiều, bởi ông hình dung ra nỗi nuối tiếc mình sẽ phải cảm nhận nếu sự thay đổi dẫn tới thảm họa. Không thể nói rộng ra rằng Danny phán đoán về sự nuối tiếc dự tính. Ông hoàn toàn có khả năng dự báo về nỗi nuối tiếc gây ra bởi các sự kiện có thể không bao giờ xảy ra và những quyết định mà có khi ông chẳng bao giờ phải thực hiện. Một lần nọ, tại bữa ăn tối cùng Amos và hai bà vợ, Danny nói nhiều với vẻ rất chắc chắn về linh cảm rằng con trai ông, khi ấy vẫn còn bé, sau này sẽ gia nhập quân đội Israel, chiến tranh sẽ nổ ra và con trai ông sẽ hy sinh. “Xác suất cho tất cả những chuyện đó là bao nhiêu?”, Barbara Tversky hỏi. “Rất thấp. Nhưng tôi không thể thuyết phục anh ấy về chuyện đó. Thật khó chịu khi nói với Danny về những xác suất nhỏ này đến mức tôi bỏ luôn”. Cứ như thể Danny nghĩ rằng bằng cách dự báo những cảm giác của mình, ông có thể xoa dịu cơn đau mà chúng tất yếu sẽ đem đến.
Cuối năm 1973, Amos và Danny dành ra 6 giờ mỗi ngày để cùng nhau làm việc, hoặc trốn vào trong một phòng hội thảo hoặc trên những lối đi bộ dài ở Jerusalem. Amos ghét khói thuốc; ông ghét bị vây quanh bởi những người hút thuốc. Danny vẫn hút 2 bao thuốc một ngày nhưng Amos không bao giờ nói gì. Chỉ có cuộc trò chuyện là quan trọng. Khi không ở cùng nhau, họ viết các bản ghi nhớ gửi cho nhau để làm sáng tỏ và mở rộng những gì đã thảo luận. Nếu tình cờ gặp nhau tại một sự kiện xã hội đặc biệt, thế nào họ cũng vào góc phòng để nói chuyện với nhau. “Chỉ là chúng tôi nhận thấy hàn huyên cùng nhau thú vị hơn bất kỳ ai khác”. Họ trở thành một bộ óc duy nhất, tạo ra những ý tưởng về lý do con người làm những việc đang làm và sáng tạo các thí nghiệm kỳ quặc để kiểm nghiệm. Ví dụ, họ đặt ra tình huống sau đây cho các đối tượng:
Các bạn tham gia chơi xổ số tại hội chợ và mua một vé đắt đỏ với hy vọng trúng một giải thưởng lớn. Tờ vé số được rút đại ra từ một cái bình to và mang số 107358. Các kết quả xổ số được công bố và con số thắng cuộc hóa ra lại là 107359.
Họ yêu cầu các đối tượng đánh giá mức độ không hài lòng theo thang 1-20. Sau đó, họ đến với hai nhóm người khác và đưa cho họ cùng tình huống nhưng có một thay đổi: con số chiến thắng. Một nhóm đối tượng được cho biết con số thắng cuộc là 207358; nhóm thứ hai được cho biết số chiến thắng là 618379. Nhóm đầu bày tỏ sự không hài lòng nhiều hơn nhóm hai. Kỳ lạ thay – nhưng đúng như Danny và Amos từng nghi ngờ – con số thắng giải càng xa con số trên vé thì họ càng đỡ nuối tiếc. “Như một hành vi phủ nhận tính logic, có một cảm giác rõ ràng một người tiến gần hơn đến việc trúng xổ số khi con số trên vé tương tự con số thắng cuộc”, Danny viết trong một bản ghi nhớ gửi tới Amos, tóm tắt lại dữ liệu của họ. Trong một bản ghi nhớ khác, ông bổ sung “quan điểm chung là các tình huống giống nhau (mang tính khách quan) có thể được trải nghiệm ở những mức độ khổ sở rất khác nhau”, phụ thuộc vào việc người ta dễ mường tượng mọi thứ có thể khác như thế nào.
Nỗi nuối tiếc có thể được mường tượng trọn vẹn đến nỗi mọi người hình dung thấy nó từ những tình huống họ không thể kiểm soát. Nhưng dĩ nhiên là nó trỗi dậy vô cùng mạnh mẽ khi lẽ ra người ta có thể làm điều gì đó để tránh được nó. Điều con người nuối tiếc và mức độ họ nuối tiếc là không rõ ràng.
Chiến tranh và chính trị không bao giờ xa rời tâm trí của Amos và Danny hay những cuộc trò chuyện của họ. Họ dõi theo sát sao các đồng bào Israel sau trận chiến Yom Kippur. Đa số nuối tiếc rằng Israel đã bị tấn công bất ngờ. Một số người tiếc rằng Israel đã không tấn công trước. Vài người hối tiếc chuyện mà cả Danny và Amos đều nghĩ họ nên hối tiếc nhất: chính phủ Israel miễn cưỡng trong việc trao trả phần lãnh thổ giành được từ cuộc chiến năm 1967. Nếu Israel trao trả Sinai cho Ai Cập, Sadat sẽ khó mà cảm thấy cần tấn công trước. Tại sao mọi người không hối tiếc vì Israel chẳng hành động gì? Amos và Danny có một suy nghĩ: Mọi người hối tiếc về điều họ đã làm và những gì họ mong mình đừng làm hơn những điều họ chưa từng làm và lẽ ra nên làm. “Nỗi đau phải nếm trải khi tổn thất do một hành động làm thay đổi hiện trạng gây ra lớn hơn nhiều nỗi đau khi quyết định đưa ra dẫn tới việc duy trì nguyên trạng”, Danny viết trong một bản ghi nhớ gửi cho Amos. “Khi một người không thể thực hiện một hành động có thể tránh thảm họa, người ta sẽ không nhận lãnh trách nhiệm cho việc xảy ra thảm họa đó”.
Họ bắt tay vào xây dựng một lý thuyết về nỗi hối tiếc. Họ sẽ, hay nghĩ mình sẽ khám phá những gì có thể trở thành quy luật của sự hối tiếc. Một quy luật là cảm xúc gắn chặt với cảm giác “suýt thành” và thất bại. Bạn càng sắp đạt được một thứ, bạn sẽ càng nuối tiếc hơn nếu không thể có được nó.1 Quy luật thứ hai: Nuối tiếc gắn chặt với cảm giác trách nhiệm. Bạn càng cảm thấy kiểm soát được kết quả của một vụ đánh bạc, bạn sẽ càng nuối tiếc hơn nếu kết quả canh bạc ấy không ra gì. Mọi người dự báo nỗi hối tiếc trong vấn đề của Allais không chỉ đến từ việc không thắng được trò đánh bạc mà còn từ quyết định vứt bỏ một đống tiền chắc ăn.
1. Hai thập kỷ sau, vào năm 1995, nhà tâm lý học người Mỹ Thomas Gilovich, người đã lần lượt cộng tác với cả Amos lẫn Danny, là đồng tác giả của một nghiên cứu về hạnh phúc tương ứng giữa các vận động viên giành huy chương bạc và đồng tại Thế vận hội Mùa hè năm 1992. Từ đoạn phim tư liệu, các đối tượng đánh giá những người giành huy chương đồng hạnh phúc hơn người giành huy chương bạc. Các tác giả cho rằng những người giành huy chương bạc phải đối mặt với nỗi nuối tiếc không giành được huy chương vàng, trong khi các chủ nhân huy chương đồng được đứng trên bục trao giải là đã hạnh phúc rồi. (TG)
Đó là một quy luật nữa của sự nuối tiếc. Nó làm méo mó bất cứ quyết định nào mà trong đó, một người phải đối mặt với sự lựa chọn giữa một thứ chắc chắn và một thứ may rủi. Khuynh hướng này không chỉ được giới học thuật quan tâm. Danny và Amos nhất trí rằng có một sự tương đương trong thế giới thật về “điều chắc chắn”: nguyên trạng. Nguyên trạng là thứ con người cho là sẽ có được nếu không hành động. “Nhiều trường hợp do dự kéo dài và tiếp tục miễn cưỡng hành động tích cực, có lẽ nên được giải thích theo kiểu này”, Danny viết cho Amos.
Họ xoay quanh ý tưởng rằng dự báo nuối tiếc có thể đóng vai trò thậm chí còn lớn hơn trong công việc của con người so với trước đây, nếu con người bằng cách nào đó có thể biết điều sẽ xảy ra nếu họ lựa chọn khác đi. “Thiếu thông tin xác đáng liên quan đến kết quả của những hành động mà một người không thực hiện, có lẽ là yếu tố quan trọng nhất giữ cho nỗi nuối tiếc nằm trong những giới hạn có thể chịu đựng”, Danny viết. “Chúng ta có thể chẳng bao giờ chắc chắn tuyệt đối mình sẽ hạnh phúc hơn nếu chọn nghề khác hay người bạn đời khác… Vì thế, chúng ta thường được bảo vệ khỏi việc nhận thức những điều đau thương liên quan đến chất lượng các quyết định của mình”.
Họ dành hơn một năm nghiên cứu qua lại một quan niệm cơ bản: Để giải thích các nghịch lý mà độ thỏa dụng kỳ vọng không thể lý giải và tạo ra một lý thuyết tốt hơn nhằm dự báo hành vi, bạn phải đan xen tâm lý học vào lý thuyết đó. Bằng cách kiểm tra xem con người lựa chọn thế nào giữa các lợi ích chắc chắn với những lợi ích chỉ có thể xảy ra, họ lần theo diễn biến của sự nuối tiếc.
Bạn thích món quà nào hơn?
Quà A: Một vé xổ số cho 50% xác suất thắng 1.000 đô-la
Quà B: 400 đô-la tiền mặt hoặc
Bạn thích món quà nào hơn?
Quà A: Một vé xổ số có 50% xác suất thắng 1 triệu đô-la
Quà B: 400.000 đô-la tiền mặt
Họ thu thập được rất nhiều dữ liệu: các lựa chọn của mọi người. “Luôn luôn nắm chắc dữ liệu”, Amos thích nói thế. Dữ liệu là thứ tách biệt tâm lý học với triết học, tách rời vật lý khỏi siêu hình học. Trong dữ liệu, họ nhìn thấy những cảm giác chủ quan của con người về tiền bạc có nhiều điểm tương đồng với các trải nghiệm nhận thức của họ. Con người bị bóng tối bao phủ trở nên cực kỳ nhạy cảm với chút tia sáng le lói đầu tiên, cũng giống như những ai đắm chìm trong không gian yên ắng sẽ nghe được cả âm thanh nhỏ nhất, và những người ở trong các tòa nhà cao sẽ mau chóng phát hiện ra sự lắc lư dù là nhẹ nhất. Khi bật đèn hay có tiếng động hoặc cử động, con người trở nên ít nhạy cảm hơn với thay đổi nhỏ. Đối với tiền bạc cũng vậy. Con người cảm thấy vui vẻ khi đi từ con số 0 lên 1 triệu đô-la nhiều hơn hẳn khi tăng từ 1 triệu đô-la lên 2 triệu đô-la. Dĩ nhiên, lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng cũng dự báo mọi người sẽ nhận phần lợi ích chắc chắn hơn một vụ cá cược đem lại giá trị kỳ vọng của khoản lợi ích thậm chí còn lớn hơn. Họ “e ngại rủi ro”. Nhưng sự “e ngại rủi ro” mà mọi người vẫn gọi đó là gì? Nó đồng nghĩa với khoản phí mọi người sẵn lòng trả nhằm né tránh rủi ro; một khoản phí chống nuối tiếc.
Lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng không hẳn là sai. Nó chỉ không hiểu được chính mình, đến mức không thể tự bảo vệ bản thân trước những mâu thuẫn bề nổi. Danny và Amos viết, thất bại của lý thuyết này trong việc giải thích các quyết định của con người “chỉ thể hiện những thứ có lẽ nên rõ ràng, rằng những hậu quả phi tiền tệ của các quyết định không thể bị bỏ qua, như thường lệ, trong ứng dụng lý thuyết về độ thỏa dụng”. Thế nhưng, họ vẫn không rõ làm thế nào để tích hợp một tập hợp những hiểu biết sâu sắc về cảm xúc vào trong một lý thuyết trình bày cách con người đưa ra những quyết định rủi ro. Họ đang dò dẫm. Amos thích sử dụng cách diễn đạt mà ông từng đọc ở đâu đó: “chia cắt bản chất đến tận cùng xương tủy”. Họ đang cố gắng chia cắt bản chất con người ra từng phần nhưng những gì tinh túy của cảm xúc thật khó hiểu thấu. Đó là lý do Amos không thích suy nghĩ hay nói chuyện cụ thể về một cảm xúc: ông không thích những thứ khó đo lường. “Đây quả thật là một lý thuyết phức tạp”, Danny đã thú nhận trong một bản ghi nhớ. “Trên thực tế, nó bao hàm nhiều tiểu lý thuyết, những thứ được gắn kết khá lỏng lẻo”.
Khi đọc lý thuyết về độ thỏa dụng kỳ vọng, Danny đã phát hiện ra nghịch lý cố làm ra vẻ mâu thuẫn lại không phải quá khó hiểu. Điều làm Danny bối rối chính là những gì lý thuyết đã không tích hợp. “Những con người khôn ngoan nhất trên thế giới đang đo lường độ thỏa dụng”, ông nhớ lại. “Vào lúc tôi đọc về nó, có thứ gì đó khiến tôi cảm thấy thật sự, thật sự rất khác thường”. Các lý thuyết gia dường như đưa nó tới ý nghĩa “độ thỏa dụng của việc có tiền”. Trong tâm trí họ, nó được kết nối tới mức độ giàu có. Nhiều hơn luôn tốt đẹp hơn. Ít hơn luôn tệ hại hơn. Điều này đánh động Danny nghĩ tới sự sai lầm. Ông tạo ra nhiều tình huống chỉ để xác định nó sai lầm như thế nào:
Hôm nay Jack và Jill mỗi người có tài sản trị giá 5 triệu đô-la
Ngày hôm qua, Jack có 1 triệu và Jill có 9 triệu.
Họ có hạnh phúc ngang nhau không? (Liệu họ có cùng độ thỏa dụng không?)
Dĩ nhiên họ không hạnh phúc ngang nhau. Jill buồn phiền, còn Jack hân hoan. Ngày cả khi bạn lấy đi 1 triệu đô-la khỏi tay Jack và để anh còn lại ít tiền hơn Jill, anh ấy vẫn hạnh phúc hơn cô. Trong nhận thức của con người về tiền bạc, chắc chắn cũng như trong nhận thức của họ về ánh sáng, âm thanh, thời tiết cùng mọi thứ khác trên đời, điều quan trọng không chỉ ở các cấp độ tuyệt đối mà còn ở những thay đổi. Con người khi lựa chọn, đặc biệt là lựa chọn giữa các canh bạc để lấy những khoản tiền nhỏ, thường chỉ nghĩ đến chuyện được và mất; họ không nghĩ về các cấp độ tuyệt đối. “Tôi mang câu hỏi đó quay lại tìm Amos, hy vọng ông ấy sẽ giải thích nó cho tôi”, Danny hồi tưởng. “Thay vì thế Amos nói: “Anh đúng rồi”.