Ngày nay, các nhà thiên văn học có thể làm được những điều kỳ diệu nhất. Nếu có ai quẹt một que diêm trên Mặt Trăng, họ cũng có thể định vị được ánh lửa. Từ những rung động nhỏ nhất của những ngôi sao xa xôi, họ có thể suy ra được kích thước và đặc trưng của chúng, thậm chí cả điều kiện sống tiềm năng của những hành tinh quá xa để có thể nhìn thấy − xa đến mức chúng ta phải mất nửa triệu năm đi bằng tàu vũ trụ mới có thể tới nơi. Với kính viễn vọng vô tuyến, họ có thể bắt được các bức xạ yếu đến mức toàn bộ năng lượng thu được từ bên ngoài hệ Mặt Trời bởi mọi chiếc kính viễn vọng này cộng lại (bắt đầu từ 1951) “yếu hơn năng lượng của một bông tuyết rơi xuống mặt đất,” dẫn lời của Carl Sagan.
Tóm lại, nếu muốn thì ít có thứ gì trong vũ trụ mà các nhà thiên văn học không tìm được. Vì thế, cần nhắc lại rằng mãi cho đến năm 1978 chưa ai từng biết sao Diêm Vương cũng có một mặt trăng. Mùa hè năm đó, nhà thiên văn học trẻ James Christy thuộc đài quan sát Lowell, Flagstaff, bang Arizona, đang kiểm tra các bức ảnh chụp sao Diêm Vương như thường lệ và bất ngờ nhận thấy có một thứ gì đó mờ và khó xác định, nhưng chắc chắn không phải chính là hành tinh này. Sau khi trao đổi với đồng nghiệp là Robert Harrington, anh kết luận rằng đó là một mặt trăng. Hơn nữa, nó không phải một mặt trăng bình thường, vì xét theo tỷ lệ kích thước so với hành tinh mà nó xoay quanh thì đây là mặt trăng lớn nhất trong hệ Mặt Trời.
Đây thật sự là một cú trời giáng vào địa vị của sao Diêm Vương với tư cách là một hành tinh, vốn chưa bao giờ được xem là lớn. Bởi lẽ trước đây, người ta cho rằng không gian mà sao Diêm Vương và mặt trăng của nó chiếm chỗ vẫn chỉ là một, điều đó có nghĩa là giờ thì người ta biết rằng hành tinh này nhỏ hơn rất nhiều so với hình dung của bất cứ ai – thậm chí nhỏ hơn sao Thủy. Thật sự, có 7 mặt trăng trong hệ Mặt Trời, tính cả mặt trăng của Trái Đất, lớn hơn sao Diêm Vương.
Giờ đây, câu hỏi đặt ra là tại sao ta lại mất quá lâu để phát hiện ra một mặt trăng trong hệ Mặt Trời. Câu trả lời là một phần do vị trí mà các nhà thiên văn học hướng các dụng cụ của họ tới, một phần nữa là do các dụng cụ được thiết kế để dò tìm cái gì và một phần là do chính bản thân sao Diêm Vương. Dù sao, kết quả tìm kiếm đa phần phụ thuộc vào nơi mà chúng ta hướng thiết bị tới. Nói như nhà thiên văn học Clark Chapman: “Nhiều người nghĩ rằng các nhà thiên văn học hằng đêm đều lên đài quan sát và rà quét bầu trời. Nhưng không phải vậy. Hầu hết kính viễn vọng mà chúng ta có trên thế giới được thiết kế để quan sát một phần rất nhỏ bầu trời, nhằm phát hiện ra một chuẩn tinh hay tìm kiếm các lỗ đen, hoặc nhìn ngắm các thiên hà xa xôi. Hệ thống kính viễn vọng duy nhất thật sự rà quét bầu trời được thiết kế và do quân đội sử dụng.”
Chúng ta đã bị các họa sĩ đánh lừa, dẫn đến việc tưởng tượng về một độ phân giải cao không tưởng trong thiên văn học. Sao Diêm Vương hiện lên trong bức ảnh của Christy mờ như một mảnh vải lanh lạc giữa vũ trụ, và mặt trăng của nó không hề được chiếu sáng một cách lãng mạn từ phía sau, giống như một thiên thể rõ như bạn thấy trong các bức họa trên tạp chí National Geographic, mà thật ra lại chỉ là một bóng mờ khác rất nhỏ và cực kỳ khó phân biệt. Nó mờ đến mức để bất cứ ai muốn định vị lại mặt trăng này một lần nữa, trên thực tế phải mất 7 năm mới có thể đưa ra khẳng định độc lập về sự tồn tại của nó.
Một sự trùng hợp thú vị là phát hiện của Christy xảy ra ở Flagstaff, vì cũng chính tại đây, vào năm 1930, sao Diêm Vương lần đầu được phát hiện. Sự kiện đặc biệt đó phần lớn nhờ công của nhà thiên văn học Percival Lowell. Lowell xuất thân từ một dòng họ thuộc loại lâu đời và giàu có nhất ở Boston. Tên ông được đặt cho một đài thiên văn nổi tiếng, nhưng điều làm ông được nhớ mãi chính là việc ông tin rằng sao Hỏa được bao phủ bởi những con kênh do các cư dân sao Hỏa cần mẫn đào nhằm dẫn nước từ hai cực về vùng đồng bằng màu mỡ dù thiếu nước ở gần xích đạo. Lowell còn đinh ninh rằng bên ngoài sao Hải Vương còn có một hành tinh thứ chín mà ông tạm đặt tên là X. Cơ sở của nhận định này là tính bất quy tắc trong quỹ đạo của sao Thiên Vương và sao Hải Vương. Vì thế, ông đã dành những năm cuối đời nhằm tìm ra gã khổng lồ mà ông chắc chắn phải ở đó. Không may, ông đột ngột qua đời vào năm 1916, một phần vì kiệt sức sau những nỗ lực của mình, và cuộc tìm kiếm bị trì hoãn trong khi những người thừa kế của Lowell mải tranh cãi về tài sản. Tuy nhiên, năm 1929, nhằm góp phần phân tán sự chú ý vào đề tài các kênh đào trên sao Hỏa (khi ấy đã trở thành một sự bẽ bàng thật sự), các nhà điều hành của đài thiên văn Lowell quyết định khôi phục lại cuộc tìm kiếm, và cuối cùng đã thu nhận một chàng trai trẻ đến từ Kansas mang tên Clyde Tombaugh.
Tombaugh không được đào tạo bài bản về thiên văn học, nhưng ông rất cần mẫn và khôn ngoan. Sau một năm nhẫn nại, bằng cách nào đó ông đã tìm thấy sao Diêm Vương, một điểm sáng mờ trên bầu trời lấp lánh. Đó là một phát hiện kỳ diệu, và bất ngờ hơn nữa là những phán đoán của Lowell về sự tồn tại của một hành tinh ngoài sao Hải Vương do đó đã được chứng minh là sai. Tombaugh thấy ngay rằng hành tinh mới này không hề giống một khối cầu bằng khí khổng lồ như Lowell đã nghĩ − nhưng bất cứ ý kiến bảo lưu nào của ông hay ai cũng sớm bị quên lãng trong một thời đại mà người ta rất dễ trở nên hào hứng đến mức mê sảng trước những tin tức trọng đại. Đây là hành tinh đầu tiên do người Mỹ phát hiện, và không ai bị phân tâm bởi ý nghĩ rằng thực ra nó chỉ là một chấm nhỏ giá lạnh xa xôi. Nó được đặt tên là sao Diêm Vương, một phần cũng bởi tên của nó trong tiếng anh là Pluto – hai chữ cái đầu tiên trùng với hai chữ viết tắt họ và tên của Percival Lowell. Lowell được hoan nghênh ở khắp nơi như đệ nhất thiên tài, còn Tombaugh thì gần như bị quên lãng, trừ trong giới thiên văn học hành tinh, những người có khuynh hướng tôn kính ông.
Một số ít các nhà thiên văn học vẫn tiếp tục cho rằng vẫn có một hành tinh X nào đó − một gã khổng lồ thật sự, có lẽ lớn gấp 10 lần sao Mộc, nhưng cho đến nay vẫn chưa ai nhìn thấy nó. (Có thể do nó nhận được quá ít ánh sáng Mặt Trời nên không thể phản chiếu). Theo họ, đó không phải một hành tinh bình thường như sao Mộc hay sao Thổ, mà giống một Mặt Trời hơn − nó cách đó rất xa, vào khoảng 4,5 triệu triệu dặm. Hầu hết các hệ hành tinh trong vũ trụ đều là các hệ đôi (quay quanh hai ngôi sao), nên hệ có một Mặt Trời duy nhất của chúng ta là khá kỳ lạ.
Về phần sao Diêm Vương, không ai dám chắc nó lớn chừng nào và thật sự thì nó là gì. Rất nhiều nhà thiên văn học tin rằng nó không phải hành tinh mà thật ra chỉ là thực thể lớn nhất cho đến nay được tìm thấy trong một khu vực gồm các mảnh vỡ thiên hà được gọi là vành đai Kuiper. Lý thuyết về vành đai Kuiper được nhà thiên văn học F. C. Leonard đưa ra vào năm 1930, nhưng thuật ngữ này tôn vinh Gerard Kuiper, một người Hà Lan sống tại Mỹ, người đã có công phát triển ý tưởng. Vành đai Kuiper là nơi khởi nguồn của các sao chổi ngắn hạn1 − những ngôi sao chổi thường xuyên đến rồi đi – trong đó nổi tiếng nhất là sao chổi Halley. Các sao chổi dài hạn thì ít xuất hiện hơn (trong đó gần đây có Hale-Bopp và Hyakutake xuất hiện) và đến từ đám mây Oort xa hơn.
1. Sao chổi ngắn hạn có chu kỳ quỹ đạo nhỏ hơn 200 năm.
Đúng là sao Diêm Vương không giống các hành tinh khác. Nó không chỉ nhỏ bé và khó nắm bắt, mà sự di chuyển của nó còn luôn biến đổi, khiến không ai có thể nói với bạn một cách chính xác vị trí của nó sau khoảng một thế kỷ. Trong khi các hành tinh khác có quỹ đạo gần như nằm trên cùng một mặt phẳng, thì quỹ đạo của sao Diêm Vương nghiêng một góc 17 độ như vành của chiếc mũ được đội hững hờ trên đầu ai đó. Quỹ đạo này bất quy tắc đến mức có những lúc trong quá trình quay quanh Mặt Trời, nó còn ở gần chúng ta hơn cả sao Hải Vương. Trong suốt giai đoạn những năm 1980 và 1990, sao Hải Vương thật sự là hành tinh xa nhất trong hệ Mặt Trời. Chỉ đến ngày 11 tháng Hai năm 1999, sao Diêm Vương mới trở lại vành đai ngoài cùng và sẽ giữ khoảng cách đó trong vòng 228 năm.
Vì thế, nếu đúng là một hành tinh, thì sao Diêm Vương chắc chắn là một hành tinh kỳ lạ. Nó rất nhỏ: khối lượng chỉ bằng khoảng 0,25% Trái Đất. Nếu có thể trải nó ra trên lãnh thổ nước Mỹ, nó che kín chưa đến một nửa của 48 bang phía dưới. Bản thân điều này khiến nó hết sức bất thường; đồng nghĩa với việc hệ Mặt Trời của chúng ta bao gồm bốn hành tinh có lõi đá, bốn hành tinh khổng lồ có màn khí bao phủ, và một tảng băng nhỏ bé, đơn độc. Hơn nữa, có nhiều lý do để hình dung rằng chúng ta sẽ sớm tìm ra những khối cầu băng giá thậm chí còn lớn hơn trong cùng vùng vũ trụ này. Khi đó, chúng ta sẽ gặp phải trở ngại. Sau khi Christy tìm ra mặt trăng của sao Diêm Vương, các nhà thiên văn học bắt đầu chú tâm hơn tới khu vực này của vũ trụ. Tính đến tháng Mười hai năm 2002, họ đã tìm ra khoảng 600 vật thể ngoài sao Hải Vương (hoặc còn có tên gọi khác là Plutino). Một vật thể mang tên Varuna có kích thước gần bằng vệ tinh của sao Diêm Vương. Các nhà thiên văn học giờ đây cho rằng có hàng tỷ các vật thể như thế. Vấn đề là rất nhiều trong số đó hoàn toàn tăm tối. Thông thường, chúng có độ phản chiếu chỉ khoảng 4%, gần như một cục than – và tất nhiên các cục than này cách chúng ta 6 tỷ km.
Khoảng cách này xa vượt ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Vũ trụ, như bạn thấy, thật sự rất bao la. Hãy tưởng tượng, vừa để học hỏi vừa để giải trí, rằng bạn đang sắp sửa du hành bằng tàu vũ trụ. Chúng ta không đi quá xa, mà chỉ tới rìa hệ Mặt Trời, nhưng chúng ta cần phải hình dung trước vũ trụ là nơi rộng lớn ra sao và không gian mà chúng ta chiếm chỗ bé nhỏ đến chừng nào.
Tin xấu là tôi e rằng chúng ta sẽ không kịp về nhà ăn bữa tối. Dù đạt vận tốc ánh sáng (300.000kmgiây), chúng ta cũng mất đến 7 giờ đồng hồ để tới được sao Hỏa. Nhưng tất nhiên, không có phương tiện nào đạt được tốc độ đó. Chúng ta sẽ phải đi với tốc độ của một con tàu vũ trụ, và nó hẳn là ì ạch hơn nhiều. Tốc độ tối đa mà con người có thể đạt đến hiện thuộc về các tàu du hành Voyager 1 và 2, đang bay xa khỏi chúng ta với tốc độ khoảng 56.000kmgiờ.
Lý do các tàu Voyager được phóng đi (vào tháng Tám và tháng Chín năm 1977) là do sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương và sao Hải Vương khi đó đang ở vị trí thẳng hàng – hiện tượng này 175 năm mới xảy ra một lần. Việc này cho phép hai tàu Voyager tận dụng kỹ thuật “lợi dụng trọng lực”, con tàu sẽ được đẩy từ hành tinh này sang hành tinh khác một cách dễ dàng. Dù vậy, vẫn mất 9 năm để chúng có thể tới được sao Thiên Vương và 12 năm để cắt qua quỹ đạo của sao Diêm Vương. Còn tin tốt là, đến tháng Một năm 2006 (vào năm này, tàu vũ trụ mới của NASA mang tên New Horizons cũng bắt đầu thám hiểm sao Thiên Vương), khi đó chúng ta có thể tận dụng vị trí thuận lợi của sao Mộc cùng một số tiến bộ công nghệ mới, và sẽ chỉ mất khoảng 10 năm để tới nơi – dù chặng đường trở về có lẽ sẽ dài hơn (tôi e là vậy). Dù thế nào, đó vẫn là một hành trình rất dài.
Bây giờ, điều đầu tiên bạn có thể nhận ra về vũ trụ là nó được đặt tên rất hay và yên ổn đến phát chán. Hệ Mặt Trời của chúng ta có lẽ là thực thể sống động duy nhất trong bán kính hàng triệu triệu dặm, nhưng tất cả những gì có thể thấy được trong đó – Mặt Trời, các hành tinh và các mặt trăng của chúng, hàng tỷ thiên thể đá, sao chổi và hàng tỷ các vật thể trôi nổi hỗn độn khác chiếm chưa đầy một phần triệu triệu của vũ trụ. Bạn cũng nhanh chóng nhận ra rằng không có tấm bản đồ nào về hệ Mặt Trời được vẽ đúng tỷ lệ khoảng cách. Các bảng biểu trong nhà trường cho thấy các hành tinh nối tiếp nhau với khoảng cách gần gũi như láng giềng − thậm chí trong nhiều minh họa, những hành tinh khổng lồ bên ngoài còn phủ bóng lên nhau. Tuy vậy, đây là một sự dối trá cần có để có thể đặt tất cả chúng lên cùng một trang giấy. Sao Hải Vương không phải chỉ cách xa sao Mộc một chút, mà là rất xa – gấp 5 lần khoảng cách giữa sao Mộc và Trái Đất, xa đến mức nó chỉ nhận được 3% ánh sáng mặt trời so với sao Mộc. Với khoảng cách như vậy, trong thực tế, việc mô phỏng hệ Mặt Trời theo đúng tỷ lệ là bất khả thi. Trên một sơ đồ của hệ Mặt Trời theo đúng tỷ lệ, trong đó Trái Đất có kích thước bằng hạt đậu, nó sẽ cách sao Mộc 300m, cách sao Diêm Vương 2,5km (khi đó, sao Diêm Vương có kích thước của một con vi khuẩn, và bạn cũng không thể nhìn thấy nó). Với tỷ lệ đó, ngôi sao gần nhất là Proxima Centauri sẽ cách chúng ta 16.000km. Thậm chí, nếu bạn thu nhỏ mọi thứ đến mức sao Mộc bé như dấu chấm cuối câu này và sao Diêm Vương không lớn hơn một phân tử, thì khi đó sao Diêm Vương vẫn cách chúng ta hơn 10m.
Hệ Mặt Trời thật sự khá khổng lồ. Khi tới được sao Diêm Vương, chúng ta đã đi xa đến mức Mặt Trời − nguồn sáng thân thương, ấm áp, đem lại cho con người sự sống và làn da rám nắng – trông rất nhỏ bé, chỉ nhỉnh hơn một ngôi sao sáng chút ít. Ở một nơi trống rỗng, cô độc như thế, bạn có thể bắt đầu hiểu vì sao những vật thể rất đáng kể – chẳng hạn mặt trăng của sao Diêm Vương – lại không được biết đến. Về khía cạnh này, sao Diêm Vương không phải là cá biệt. Cho đến khi tàu Voyager bắt đầu các chuyến thám hiểm, người ta nghĩ sao Hải Vương có hai mặt trăng, nhưng tàu Voyager đã phát hiện thêm 6 mặt trăng khác. Khi tôi còn nhỏ, hệ Mặt Trời được cho là có 30 mặt trăng. Tính đến nay, con số này ít nhất là 90, trong đó khoảng một phần ba được phát hiện trong vòng 10 năm qua. Tất nhiên, có một điểm cần nhớ khi xem xét vũ trụ nói chung, đó là chúng ta không thật sự biết có gì trong hệ Mặt Trời này.
Giờ đây, một điều khác nữa bạn sẽ phải chú ý khi chúng ta bay qua sao Diêm Vương, đó là chúng ta đang bay qua hành tinh này. Nếu kiểm tra lại lịch trình bay của mình, bạn sẽ thấy đây là một chuyến du hành tới tận cùng của hệ Mặt Trời, nhưng tôi e là chúng ta vẫn chưa thể tới đó. Sao Diêm Vương có thể là hành tinh cuối cùng được kể đến theo những sơ đồ trong sách giáo khoa, nhưng hệ Mặt Trời không kết thúc ở đó. Thậm chí, nó cũng chưa hề gần tới điểm cuối. Chúng ta vẫn sẽ không thể tới được rìa của hệ Mặt Trời nếu chưa đi qua đám mây Oort, một khu vực rộng lớn, nơi có các sao chổi trôi dạt, và tôi thật sự rất lấy làm tiếc là chúng ta cũng không thể đến được đám mây Oort mà không mất tới 10.000 năm nữa. Rõ ràng, không những không phải là tận cùng của hệ Mặt Trời như các hình vẽ vẫn thường khéo léo ám chỉ, sao Diêm Vương chỉ là điểm đánh dấu 1/50.000 chặng đường.
Tất nhiên, chúng ta khó có khả năng tiến hành một chuyến du hành như vậy. Chuyến bay dài 386.000km tới Mặt Trăng vẫn là thành quả rất lớn của loài người. Một chuyến thám hiểm có người tới sao Hỏa, như lời kêu gọi của Tổng thống Bush (cha) trong một phút bị váng đầu, đã âm thầm bị bỏ qua khi người ta tính rằng nó sẽ ngốn 450 tỷ đô-la, và toàn bộ phi hành đoàn sẽ phải chết (họ sẽ bị các hạt mang năng lượng mặt trời rất cao xé tả tơi vì không có cách nào bảo hộ cả). Dựa trên những gì chúng ta biết và có thể tưởng tượng phần nào, con người không bao giờ có khả năng viếng thăm vùng biên của hệ Mặt Trời. Nó quá xa xôi. Thậm chí với kính viễn vọng Hubble, chúng ta cũng không thể nhìn thấy đám mây Oort, vì thế không thật sự biết rằng nó ở đó. Nó rất có thể tồn tại nhưng vẫn chỉ là giả thuyết.1
1. Tên gọi chính xác của nó là đám mây Öpik-Oort, được đặt theo tên của nhà thiên văn học người Estonia Ernst Öpik, người đã đưa ra giả thuyết về sự tồn tại của nó vào năm 1932, và tên của nhà thiên văn học người Hà Lan Jan Oort, người có công tinh chỉnh các phép toán 18 năm sau.
Tất cả những gì có thể nói chắc chắn về đám mây Oort là nó ở đâu đó bên ngoài sao Diêm Vương và trải dài khoảng 2 năm ánh sáng trong vũ trụ. Đơn vị đo lường cơ bản trong hệ Mặt Trời là đơn vị thiên văn [Astronomical Unit] hay AU, là khoảng cách từ Mặt Trời tới Trái Đất. Sao Diêm Vương cách chúng ta khoảng 40AU, còn tâm của đám mây Oort cách khoảng 50.000AU. Nói đơn giản, nó ở rất xa.
Nhưng hãy giả sử một lần nữa rằng chúng ta đến được Oort. Điều đầu tiên bạn có thể nhận thấy là nơi đây rất yên bình. Chúng ta đã ở quá xa mọi thứ – cách xa Mặt Trời đến mức nó thậm chí không còn là ngôi sao sáng nhất trên bầu trời. Đáng lưu ý là điểm sáng nhỏ lấp lánh kia không đủ lực hấp dẫn để giữ mọi sao chổi này ở đúng quỹ đạo. Mối liên hệ không đủ mạnh, vì thế các sao chổi này trôi dạt một cách chậm rãi, khoảng 3.520kmgiờ. Đôi lúc, các sao chổi cô đơn này bị kéo khỏi quỹ đạo của mình bởi một sự xáo trộn lực hấp dẫn nhẹ – có thể là bởi một ngôi sao bay ngang qua. Đôi khi chúng bị đẩy ra khoảng không vũ trụ và vĩnh viễn không ai còn nhìn thấy chúng nữa, nhưng có lúc chúng lại rơi vào một quỹ đạo dài xung quanh Mặt Trời. Khoảng ba hay bốn lần một năm, các sao chổi, được gọi là các sao chổi dài hạn, cắt qua hệ Mặt Trời. Đôi khi những vị khách đi lạc này sẽ va đập với các vật thể cứng, chẳng hạn như Trái Đất. Thế nên tôi muốn bạn hãy nhìn ra ngoài và quan sát – ngôi sao chổi chúng ta nhìn thấy vừa mới bắt đầu hành trình về phía tâm của hệ Mặt Trời. Nó có thể rơi xuống bất cứ đâu như Manson hay Iowa. Nhưng sẽ mất rất lâu để nó tới được đó – ít nhất là ba hoặc bốn triệu năm – vì thế chúng ta hãy tạm quên nó đi và sẽ trở lại với nó ở phần sau của câu chuyện.
Hệ Mặt Trời của chúng ta chính là như vậy đấy. Liệu còn gì bên ngoài hệ Mặt Trời nữa? Vâng, không có gì hoặc rất nhiều, tùy cách bạn nhìn nhận.
Trong ngắn hạn thì không có gì đáng kể. Môi trường chân không hoàn hảo nhất mà con người từng tạo ra cũng không trống rỗng bằng khoảng không giữa các vì sao. sẽ có cực nhiều thứ “hư vô” thế này cho đến khi bạn đến với một vài thứ tiếp theo. Hàng xóm gần nhất của chúng ta là Proxima Centauri, vốn là một phần của chòm ba ngôi sao được gọi là Alpha Centauri, với khoảng cách 4,3 năm ánh sáng, một khoảng cách có vẻ không đáng kể trong thuật ngữ thiên văn học, nhưng vẫn gấp 100 triệu lần khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trăng. Để tới được đó bằng tàu vũ trụ, sẽ mất ít nhất 25.000 năm, và thậm chí nếu tới được đó, bạn cũng sẽ chẳng thấy gì ngoài một nhúm các ngôi sao bơ vơ giữa khoảng không vô tận. Để tới được điểm tiếp theo, sao Thiên Lang, bạn sẽ mất thêm 4,6 năm ánh sáng nữa. Đó là nếu bạn muốn đi hái sao trời trong hành trình xuyên vũ trụ. Chỉ cần đến tâm của thiên hà, chúng ta cũng đã mất nhiều thời gian hơn cả thời gian con người từng tồn tại.
Vũ trụ, tôi muốn nhắc lại, thật sự khổng lồ. Khoảng cách trung bình giữa các ngôi sao là hơn 30 triệu triệu km. Ngay cả khi đạt được tốc độ ánh sáng, những khoảng cách đó vẫn thách thức bất cứ nhà du hành nào. Tất nhiên, cũng có thể có những người ngoài hành tinh đã đi hàng triệu dặm tới để mua vui bằng cách tạo ra những vòng tròn kỳ bí trên các cánh đồng ở Wiltshire, hoặc dọa một gã lái xe tải trên con đường vắng ở Arizona đến kinh hồn bạt vía (hẳn là họ cũng có bọn thiếu niên), nhưng dường như không phải thế.
Cho tới nay, về mặt xác suất, vẫn có khả năng những sinh vật có trí tuệ tồn tại ở ngoài kia. Không ai biết có bao nhiêu ngôi sao trên Dải Ngân hà − ước chừng khoảng 100 tới 400 tỷ − và Dải Ngân hà chỉ là một trong số 140 tỷ các thiên hà khác, trong đó, nhiều thiên hà còn lớn hơn thiên hà của chúng ta. Vào năm 1960, giáo sư Đại học Cornell, Frank Drake, vì quá hứng khởi trước những con số khổng lồ này, đã đưa ra một phương trình nổi tiếng nhằm tính xác suất có sự sống bậc cao tồn tại trong vũ trụ, dựa trên một chuỗi các xác suất giảm dần. Theo phương trình của Drake, nếu bạn chia số các ngôi sao ở một phần nào đó của vũ trụ cho số ngôi sao có thể tồn tại ở dạng hệ hành tinh, rồi chia cho số hệ hành tinh về mặt lý thuyết có thể hỗ trợ cho sự sống, sau đó chia cho số hành tinh mà ở đó sự sống đã phát triển thành cộng đồng có trí thông minh; và cứ như thế. Sau mỗi phép chia, con số sẽ giảm đi khủng khiếp – nhưng dù với các đầu vào khắt khe nhất, thì số hành tinh có nền văn minh, chỉ riêng trên Dải Ngân hà, đã là hàng triệu.
Đúng là một ý tưởng thú vị và đầy ấn tượng. Chúng ta chỉ là một trong hàng triệu nền văn minh trong vũ trụ. Tiếc thay, vũ trụ quá rộng lớn, và khoảng cách giữa hai nền văn minh trong số đó ít nhất cũng là 200 năm ánh sáng, một khoảng cách xa hơn hẳn cảm giác mà nó đem lại cho bạn. Điều đó có nghĩa là dù những sinh vật này biết chúng ta ở đây và có thể bằng cách nào đó thấy được chúng ta qua kính viễn vọng, thì họ cũng chỉ đang ngắm nhìn những ánh sáng đã rời Trái Đất 200 năm trước. Nghĩa là họ sẽ không thấy bạn và tôi. Họ sẽ chỉ thấy cuộc Cách mạng Pháp và Thomas Jefferson cùng những người đi bít tất lụa và đội tóc giả rắc phấn bột − những người không biết gì về nguyên tử, gen, và là những người tạo ra điện bằng cách cọ xát một thanh hổ phách vào một mảnh lông thú rồi cho rằng đó quả là một xảo thuật. Bất cứ thông điệp nào chúng ta nhận được từ những nhà quan sát này sẽ bắt đầu bằng “Kính chào Ngài”, và họ sẽ chúc mừng chúng ta về những con tuấn mã hay hiểu biết sâu sắc của chúng ta về dầu cá voi. Hai trăm năm ánh sáng là một khoảng cách quá xa đối với tất cả chúng ta.
Vì thế, dù không thật sự là duy nhất, nhưng trong thực tế chúng ta vẫn cô đơn. Carl Sagan đã tính toán con số hành tinh có thể có trong vũ trụ, vào khoảng 10 tỷ nghìn tỷ, một con số vượt quá xa khả năng tưởng tượng của chúng ta. Tuy vậy, khoảng không gian mà trong đó chúng phân tán cũng nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. “Nếu chúng ta được xếp ngẫu nhiên vào vũ trụ,” Sagan viết, “(khả năng để bạn ở trên một hành tinh hoặc ở gần một hành tinh sẽ thấp hơn 10-33), các địa cầu là vô cùng quý giá.”
Do đó Hội Thiên văn Quốc tế đã chính thức công nhận sao Diêm Vương là một hành tinh vào tháng Hai năm 1999.1 Vũ trụ là một nơi rộng lớn và hẻo lánh. Chúng ta cần đến tất cả những láng giềng mà chúng ta có.
1. Mặc dù sau đó, vào năm 2006, nó lại bị tụt hạng thành một hành tinh lùn.